TLHNM – Chương 1 – Sự Tăng Trưởng của Ảnh hưởng Linh hồn

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn II – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

II. The Seven Laws of Soul or Group Life

We come now to a section of our study of the soul and its life which is of real moment to all who live (or begin to live) and function as conscious souls, through definite alignment and at-one-ment. This section will, however, be relatively abstruse to all those whose lives are centred in the personality. Down the ages, the Scriptures of the world and those who have attempted to elucidate them, have been occupied with imparting to humanity an understanding of the nature of those qualities and characteristics which should distinguish all true believers, all true aspirants and all sincere disciples, whether Christian or otherwise. The teaching has always been given in terms of good behavior and of right action, and therefore given in terms of effects, produced by inner causes which have not always been specified. Basically, all such virtues, good inclinations and attempted sound qualities represent the emergence into expression upon the physical plane of certain energies and tendencies, inherent in the soul itself. These, in their turn, are governed by energies and laws which are of a nature different from those governing personalities. It is important to emphasise this and to bear in mind that the powers of the soul, as they are appearing in the world today, constitute (in their working out) a body of phenomena which would have been regarded as magical, impossible and superhuman several centuries ago. The discoveries of science, the adaptation of the laws governing matter and directing material energy to the service and the growing needs of mankind, the subtle and delicate apparatus of the human body and the steadily increasing sensitivity of [86] the human mechanism, have brought about a world consciousness and a civilisation which—in spite of its glaring defects, all based on the separative and selfish attitudes of the personalities through which the soul has yet to work—are a guarantee of the innate divinity of man, with all that may be inherent in, and inferred from that phrase.

Giờ đây chúng ta đến với một phần trong việc nghiên cứu linh hồn và đời sống của nó, phần này thực sự quan trọng đối với tất cả những ai sống (hay bắt đầu sống) và hoạt động như những linh hồn hữu thức, thông qua sự chỉnh hợp rõ rệt và sự hợp nhất. Tuy nhiên, phần này sẽ tương đối khó hiểu đối với tất cả những ai có đời sống tập trung trong phàm ngã. Trải qua các thời đại, Kinh điển của thế giới và những người đã cố gắng làm sáng tỏ chúng đều bận tâm đến việc truyền đạt cho nhân loại một sự thấu hiểu về bản chất của những phẩm tính và đặc điểm cần phải phân biệt mọi tín đồ chân chính, mọi người chí nguyện chân chính và mọi đệ tử chân thành, dù là Cơ Đốc giáo hay không. Giáo huấn luôn luôn được đưa ra dưới dạng hạnh kiểm tốt và hành động đúng đắn, và vì thế được trình bày dưới dạng các kết quả, do những nguyên nhân bên trong tạo ra mà không phải lúc nào cũng được nêu rõ. Về căn bản, mọi đức hạnh, khuynh hướng tốt và những phẩm tính lành mạnh được cố gắng đạt tới như thế đều biểu hiện sự xuất hiện để được biểu lộ trên cõi hồng trần của một số năng lượng và khuynh hướng nhất định, vốn tiềm ẩn trong chính linh hồn. Đến lượt chúng, những điều này được chi phối bởi những năng lượng và định luật có bản chất khác với những gì chi phối các phàm ngã. Điều quan trọng là phải nhấn mạnh điều này và ghi nhớ rằng các quyền năng của linh hồn, như chúng đang xuất hiện trong thế giới ngày nay, cấu thành (trong sự triển khai của chúng) một tập hợp hiện tượng mà vài thế kỷ trước hẳn đã bị xem là huyền thuật, bất khả và siêu nhân. Những khám phá của khoa học, sự thích ứng các định luật chi phối vật chất và điều khiển năng lượng vật chất vào việc phụng sự và đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của nhân loại, bộ máy tinh vi và nhạy bén của cơ thể con người và tính nhạy cảm ngày càng gia tăng của [86] cơ cấu con người, đã mang lại một tâm thức thế giới và một nền văn minh mà—dù có những khuyết điểm hiển nhiên, tất cả đều dựa trên các thái độ phân ly và ích kỷ của những phàm ngã mà qua đó linh hồn vẫn còn phải hoạt động—vẫn là một bảo chứng cho thiên tính bẩm sinh của con người, cùng với tất cả những gì có thể tiềm ẩn trong, và được suy ra từ, cụm từ ấy.

What has not yet been grasped is that these emerging “godlike” qualities, these beneficent characteristics, and the slowly appearing virtues of humanity are only indications of hidden potentialities, which have not been scientifically studied. The qualities of goodness are so called because they are, in essence, the energies controlling group relations; the powers, called superhuman, are fundamentally the powers which express group activity, and the virtues are only effects of group life, rightly handled, which are attempting to express themselves on the physical plane. The growing science of social relations, of social responsibility, or coordinated civic life, of scientific economics and of human inter-relations, the steadily developing sense of internationalism, of religious unity, and of economic interdependence, are all of them indications of the energies of soul life upon the physical plane, and within the human family. Hence the conflict of ideals in the world today; hence the massed dualism which produces such bewilderment; hence the compromises and hence the inconsistencies. Here is to be found the cause of all the divergencies in the world of civilised ideals, and the conflicting and widely differing motives which impel people of good motive and intention and of high principle into antagonistic activities.

Điều chưa được nắm bắt là những phẩm tính “giống thần thánh” đang xuất hiện này, những đặc tính từ thiện này, và những đức hạnh của nhân loại đang chậm rãi hiển lộ chỉ là những dấu hiệu của các tiềm năng ẩn giấu, vốn chưa được nghiên cứu một cách khoa học. Những phẩm tính của điều thiện được gọi như thế vì tự bản chất, chúng là các năng lượng kiểm soát những tương quan nhóm; những quyền năng được gọi là siêu nhân về căn bản là những quyền năng biểu lộ hoạt động nhóm; và những đức hạnh chỉ là những hiệu quả của đời sống nhóm, khi được xử lý đúng đắn, đang cố gắng biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần. Khoa học đang tăng trưởng về những tương quan xã hội, về trách nhiệm xã hội, hay đời sống công dân phối hợp, về kinh tế học khoa học và về những tương quan nhân loại, ý thức quốc tế tính, về sự hợp nhất tôn giáo, và về sự tương thuộc kinh tế đang phát triển đều đặn, tất cả đều là những dấu hiệu của các năng lượng của đời sống linh hồn trên cõi hồng trần, và bên trong gia đình nhân loại. Do đó có sự xung đột của các lý tưởng trong thế giới ngày nay; do đó có tính nhị nguyên tập thể gây ra biết bao hoang mang; do đó có những sự thỏa hiệp và do đó có những sự bất nhất. Chính ở đây có thể tìm thấy nguyên nhân của mọi sự phân kỳ trong thế giới của các lý tưởng văn minh, và những động cơ xung đột và rất khác biệt thúc đẩy những người có động cơ và ý định tốt đẹp cùng nguyên tắc cao cả đi vào những hoạt động đối kháng.

Two sets of principles are to be found controlling human life—the selfish and the unselfish, the individual good and the group good, the objective goal and the subjective goal, the material incentive and the spiritual impulse, national patriotism [87] and the world ideal, separative religious belief and the federation of religions, and all the many massed dualities which simply indicate the realism of people who are personalities (integrated and separative) or of souls (aligned and group-conscious). Here is the major divergence in the world today; with the weight of the power on the side of separation, as it is the line of least resistance, and of critical differentiations. A balancing of the two will gradually take place, with the weight of world idealism gradually shifting into the realm of soul unification, until eventually (but not for quite a while) the emphasis of world thought will be definitely and permanently on “the side of the angels.” Note the occult truth of that familiar phrase. Therefore we can look for the new laws, governing soul life, which is group life, to begin to function and make their presence felt. This will at first increase the world difficulty; hence the need to make the meaning of these laws clear, their objectives simple and their potencies understandable.

Có thể thấy hai tập hợp nguyên lý đang kiểm soát đời sống con người—ích kỷ và vô kỷ, thiện ích cá nhân và thiện ích nhóm, mục tiêu khách quan và mục tiêu chủ quan, động lực vật chất và xung lực tinh thần, lòng ái quốc dân tộc [87] và lý tưởng thế giới, tín ngưỡng tôn giáo phân ly và liên hiệp các tôn giáo, cùng tất cả vô số những nhị nguyên tập thể chỉ đơn giản cho thấy tính hiện thực của những người là các phàm ngã (tích hợp và phân ly) hay là các linh hồn (chỉnh hợp và có tâm thức nhóm). Đây là sự phân kỳ chủ yếu trong thế giới ngày nay; với sức nặng của quyền lực đứng về phía phân ly, vì đó là con đường ít trở ngại nhất, và của những sự biến phân phê phán. Một sự quân bình của hai bên sẽ dần dần diễn ra, với sức nặng của chủ nghĩa lý tưởng thế giới dần dần chuyển vào lĩnh vực hợp nhất linh hồn, cho đến cuối cùng (nhưng chưa phải trong một thời gian khá lâu nữa) trọng tâm của tư tưởng thế giới sẽ dứt khoát và thường trực ở “về phía các thiên thần.” Hãy lưu ý chân lý huyền bí của cụm từ quen thuộc ấy. Vì vậy chúng ta có thể trông đợi những định luật mới, chi phối đời sống linh hồn, tức là đời sống nhóm, bắt đầu vận hành và làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận. Lúc đầu điều này sẽ làm gia tăng khó khăn của thế giới; do đó cần phải làm cho ý nghĩa của những định luật này được sáng tỏ, các mục tiêu của chúng trở nên đơn giản và các mãnh lực của chúng trở nên có thể thấu hiểu.

Beginning of LOTSWC 2 EP II p. 87

Beginning of LOTSWC 2 EP II p. 87

1. The Law of Sacrifice—Định luật Hi Sinh

The section upon which we now enter in our studies will be difficult and controversial. The thread which will guide us out of the bewildering maze of thought into which we must perforce enter, is the golden one of group love, group understanding, group relations and group conduct.

Phần mà giờ đây chúng ta bước vào trong việc nghiên cứu sẽ khó khăn và gây tranh luận. Sợi chỉ sẽ dẫn dắt chúng ta ra khỏi mê cung tư tưởng đầy hoang mang mà chúng ta buộc phải đi vào là sợi chỉ vàng của tình thương nhóm, sự thấu hiểu nhóm, những tương quan nhóm và cách ứng xử nhóm.

No

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

1.

The Law of sacrifice

The Law of those who choose to die.

A rosy Cross with a golden bird.

Outpouring fourth ray, at-one-ing energy.

Định Luật Hi Sinh

Định luật của những ai chọn chết.

Một Thánh Giá hồng với con chim vàng.

Năng lượng tuôn đổ cung bốn, năng lượng hợp nhất.

This law of sacrifice, which is the first of the laws to be grasped by the human intelligence, and is therefore the easiest for man to understand (because he is already governed by it [88] and, therefore, aware of it) came to its first major expression during this slowly disappearing age, the present age, the Piscean age. This law has always been functioning and active in the world, for it is one of the first of the inner subjective laws to express itself consciously, and as an active ideal, in human life. The theme of all the world religions has been divine sacrifice, the immolation of the cosmic Deity through, the process of universal creation, and of the world Saviours, by Their death and sacrifice as a means of salvation and eventual release and liberation. Such is the blindness and such is the contaminating influence of the lower separative man, that this divine law of sacrifice is wielded with the selfish intent of personal and individual salvation. But the travestied truth remains the unsullied truth on its own plane, and this dominant world law governs the appearing and the disappearing of universes, of solar systems, of races and of nations, of world leaders and world rulers, of incarnating human beings and of revealing Sons of God.

Định luật hi sinh này, là định luật đầu tiên trong các định luật được trí tuệ con người nắm bắt, và vì thế là định luật dễ hiểu nhất đối với con người (vì y đã được nó chi phối [88] và do đó ý thức được nó) đã đi đến biểu hiện lớn đầu tiên trong thời đại hiện nay đang chậm rãi biến mất, tức thời đại Song Ngư. Định luật này luôn luôn vận hành và hoạt động trong thế giới, vì nó là một trong những định luật chủ quan nội tại đầu tiên biểu lộ chính mình một cách hữu thức, và như một lý tưởng hoạt động, trong đời sống con người. Chủ đề của mọi tôn giáo thế giới là sự hi sinh thiêng liêng, sự hiến tế của Thượng đế vũ trụ qua tiến trình sáng tạo phổ quát, và của các Đấng Cứu Thế thế gian, bằng cái chết và sự hi sinh của Các Ngài như một phương tiện cứu rỗi và cuối cùng là giải thoát và giải phóng. Tính mù quáng thật lớn lao, và ảnh hưởng ô nhiễm của con người thấp kém phân ly thật mạnh mẽ, đến nỗi định luật hi sinh thiêng liêng này bị sử dụng với ý đồ ích kỷ là sự cứu rỗi cá nhân và riêng biệt. Nhưng chân lý bị xuyên tạc ấy vẫn là chân lý không hoen ố trên cõi riêng của nó, và định luật thế giới chi phối này cai quản sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ, của các hệ mặt trời, của các nhân loại và các quốc gia, của các nhà lãnh đạo thế giới và các nhà cai trị thế giới, của những con người đang lâm phàm và của các Con của Thượng đế đang tự mặc khải.

Let us see if we can interpret or define the true significance of this law, which is in reality the expression of a divine impulse, leading to a defined activity, with its consequent and subsequent results and effects. It was this aspect of sacrifice which led to the creation of the worlds and to the manifestation of the divine Creator.

Hãy xem liệu chúng ta có thể diễn giải hay định nghĩa thâm nghĩa chân thực của định luật này, vốn thực ra là sự biểu lộ của một xung lực thiêng liêng, dẫn đến một hoạt động xác định, cùng với các kết quả và hiệu quả hệ quả và tiếp theo của nó. Chính phương diện hi sinh này đã dẫn đến sự sáng tạo các thế giới và đến sự biểu hiện của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng.

It might help to a better understanding of the Law of Sacrifice if it were expressed through synonymous words and terms.

Có lẽ sẽ giúp ích cho việc thấu hiểu Định luật Hi Sinh tốt hơn nếu nó được diễn đạt qua những từ và thuật ngữ đồng nghĩa.

a. THE SIGNIFICANCE OF THE LAW OF SACRIFICE—Ý NGHĨA CỦA ĐỊNH LUẬT HI SINH

It means the impulse of giving. The whole secret of the doctrines of “the forgiveness of sins” and of the “at-onement” lies hid in this simple phrase. It is the basis of the Christian doctrine of love and sacrifice. Hence the emphasis [89] laid, in the Piscean Age and through the influence of Christianity, upon just these two things, — forgiveness and atonement. That man, as usual, distorted and misinterpreted the teaching and the truth, and that it fell, as does all else at present, under the glamour and illusion of the astral plane, plus the Piscean influence, is true. Man’s thought dominated and distorted the ideal and produced such a damnable doctrine as the elect of God, the chosen of the Lord, or the sole people to benefit by the sacrifice and death of the great Son of God, and who pass, due to the merits of that vicarious death, into a state of bliss in heaven, simply because of an emotional choice, which ignores millions of those who have made no such choice, nor had the opportunity to do so. The symbolic activity of the great Teacher of Nazareth will be properly understood and its significance will be properly appreciated only when group implications are more carefully studied, the meaning of sacrifice and of death come into their rightful place in the human consciousness, and the law of giving, with all that that entails, is correctly understood and applied. Those who thus sacrifice are:

Nó có nghĩa là xung lực cho đi. Toàn bộ bí mật của các giáo lý về “sự tha thứ tội lỗi” và về “sự hợp nhất” đều ẩn giấu trong cụm từ đơn giản này. Đó là nền tảng của giáo lý Ki-tô giáo về tình thương và sự hi sinh. Do đó có sự nhấn mạnh [89] được đặt vào, trong Thời Đại Song Ngư và qua ảnh hưởng của Ki-tô giáo, đúng trên hai điều này,—sự tha thứ và sự hợp nhất. Việc con người, như thường lệ, bóp méo và hiểu sai giáo huấn và chân lý, và việc nó rơi vào, như mọi thứ khác hiện nay, dưới ảo cảm và ảo tưởng của cõi cảm dục, cộng thêm ảnh hưởng Song Ngư, là điều đúng. Tư tưởng của con người đã chi phối và bóp méo lý tưởng, và tạo ra một giáo lý đáng nguyền rủa như những kẻ được Thượng đế tuyển chọn, những người được Chúa chọn, hay dân tộc duy nhất được hưởng lợi từ sự hi sinh và cái chết của Con vĩ đại của Thượng đế, và những người nhờ công đức của cái chết thế mạng ấy mà bước vào một trạng thái chí phúc trên thiên đàng, chỉ đơn giản vì một sự lựa chọn cảm xúc, vốn phớt lờ hàng triệu người không hề có sự lựa chọn như thế, cũng chẳng có cơ hội để làm như vậy. Hoạt động biểu tượng của vị Huấn sư vĩ đại ở Nazareth sẽ chỉ được hiểu đúng và thâm nghĩa của nó sẽ chỉ được đánh giá đúng khi những hàm ý nhóm được nghiên cứu cẩn trọng hơn, ý nghĩa của sự hi sinh và của cái chết đi vào đúng vị trí của chúng trong tâm thức con người, và định luật cho đi, cùng với tất cả những gì nó bao hàm, được hiểu và áp dụng một cách đúng đắn. Những ai hi sinh như thế là:

{END of LOTSWC 2, EP II p. 89

{END of LOTSWC 2, EP II p. 89

Beginning of LOTSWC 3, EP II p. 89

Beginning of LOTSWC 3, EP II p. 89

The Solar Deity who gave His life to the universe, to the solar system, to the planet, and the manifested worlds consequently appeared. The cosmic Deity has likewise done the same. But what does this mean to us? Naught, except a symbol. It was His impulse, His will, His desire, His incentive, His idea and purpose to appear. The creative act then took place, and the process of manifestation began its cyclic evolutionary existence. The Cosmic Christ was crucified upon the cross of matter, and by that great sacrifice opportunity was offered to all evolving lives in all kingdoms of nature and in all created worlds. Thus they could progress. The work, in space and time, and the stupendous march of living beings towards an at present unrealised goal, began. We can [90] give no reason for the choice made by Deity thus to act. We do not know His ultimate purpose or plan; and only aspects of His technique and method begin to appear to the illuminated mind. It has been hinted by Those Who know so much more than we, owing to their longer life cycle and experience, that some glimmering of that eternal and cosmic Intent is beginning to dawn in the consciousness of Those who have taken some of the higher initiations. Their nature must necessarily remain incomprehensible to mankind. All that the intelligent human being can grasp as he looks back over the history of the planet (as far as modern history can give it to him) is that there has been:

Thượng đế Thái dương đã ban sự sống của Ngài cho vũ trụ , cho hệ mặt trời, cho hành tinh, và do đó các thế giới biểu hiện đã xuất hiện. Thượng đế vũ trụ cũng đã làm như vậy. Nhưng điều này có nghĩa gì đối với chúng ta? Không gì cả, ngoại trừ một biểu tượng. Đó là xung lực của Ngài, ý chí của Ngài, dục vọng của Ngài, động cơ của Ngài, ý tưởng và mục đích của Ngài muốn xuất hiện. Khi đó hành vi sáng tạo đã diễn ra, và tiến trình biểu hiện bắt đầu sự tồn tại tiến hoá theo chu kỳ của nó. Đức Christ Vũ trụ đã bị đóng đinh trên thập giá của vật chất, và nhờ sự hi sinh lớn lao ấy, cơ hội đã được trao cho mọi sự sống đang tiến hoá trong mọi giới của bản chất và trong mọi thế giới được sáng tạo. Nhờ thế chúng có thể tiến bộ. Công việc trong không gian và thời gian, và cuộc tiến bước kỳ vĩ của các hữu thể sống hướng tới một mục tiêu hiện nay chưa được chứng nghiệm, đã bắt đầu. Chúng ta không thể [90] đưa ra lý do nào cho sự lựa chọn mà Thượng đế đã thực hiện khi hành động như thế. Chúng ta không biết mục đích hay Thiên Cơ tối hậu của Ngài; và chỉ những phương diện của kỹ thuật và phương pháp của Ngài mới bắt đầu xuất hiện trước trí tuệ được soi sáng. Những Đấng biết nhiều hơn chúng ta rất nhiều, do chu kỳ sống và kinh nghiệm dài hơn của Các Ngài, đã gợi ý rằng một vài tia sáng le lói của Ý Định vĩnh cửu và vũ trụ ấy đang bắt đầu ló rạng trong tâm thức của Những Đấng đã trải qua một số điểm đạo cao hơn. Bản chất của các điểm đạo ấy tất yếu vẫn không thể hiểu nổi đối với nhân loại. Tất cả những gì con người thông minh có thể nắm bắt khi nhìn lại lịch sử của hành tinh (trong chừng mực lịch sử hiện đại có thể cung cấp cho y) là đã có:

1. Progress in the human power to be conscious.

1. Sự tiến bộ trong năng lực có tâm thức của con người.

2. A growing and paralleling refinement of the forms of life in the various kingdoms of nature.

2. Sự tinh luyện ngày càng tăng và song hành của các hình tướng sự sống trong những giới khác nhau của bản chất.

3. An intensification of conscious activity, on a developing scale of rapid living, that tends constantly to transcend time as we know it.

3. Sự tăng cường hoạt động hữu thức, trên một thang phát triển của đời sống nhanh chóng, luôn luôn có xu hướng vượt lên trên thời gian như chúng ta biết.

4. An expanding realisation of progress from one dimension to another, until today we talk in terms of a fourth dimensional state of consciousness and can grasp the fact that five or six dimensions are beautifully possible.

4. Sự chứng nghiệm ngày càng mở rộng về tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác, cho đến ngày nay chúng ta nói theo những thuật ngữ của một trạng thái tâm thức bốn chiều và có thể nắm bắt sự kiện rằng năm hay sáu chiều là điều hoàn toàn có thể.

5. An increasingly scientific control of the elements in which we live, and of the forces of nature. Today we talk in terms of air mastery just as five hundred years ago (when such a thing was deemed impossible) they talked in terms of the mastery of oceans. We are offsetting the gravitational pull of the earth so that we can “fly into the face of the sun.”

5. Sự kiểm soát ngày càng khoa học đối với các nguyên tố mà chúng ta sống trong đó, và đối với các mãnh lực của bản chất. Ngày nay chúng ta nói theo những thuật ngữ của việc làm chủ không khí, cũng như cách đây năm trăm năm (khi điều ấy bị xem là bất khả) người ta nói theo những thuật ngữ của việc làm chủ đại dương. Chúng ta đang hóa giải lực hút trọng trường của trái đất để có thể “bay đối mặt với mặt trời.”

6. From the instinctual life of sense consciousness in material forms, we have progressed to the intellectual life of self-conscious human beings and to the intuitive [91] realisations of those who are beginning to function as superhuman entities.

6. Từ đời sống bản năng của tâm thức giác quan trong các hình tướng vật chất, chúng ta đã tiến tới đời sống trí tuệ của những con người tự ý thức và tới những chứng nghiệm trực giác [91] của những ai đang bắt đầu hoạt động như những thực thể siêu nhân.

All this has been brought about as the result of the determined, conditioned activity of a Great Life, Which chose to make a major sacrifice and to be crucified upon the cardinal Cross of the Heavens, and thereby pass through a cosmic initiation; Which, from our minor and relatively uninformed angle, stands today crucified upon the fixed Cross in the Heavens, and through the medium of the mutable Cross is nevertheless producing changes in the evolutionary cycle, increasing refinement of form, and that intensification of life which distinguishes His creation.

Tất cả điều này đã được mang lại như kết quả của hoạt động kiên định, được tác động của một Sự sống Vĩ Đại, Đấng đã chọn thực hiện một sự hi sinh lớn lao và bị đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu của các tầng trời, và nhờ đó đi qua một điểm đạo vũ trụ; Đấng mà từ góc nhìn nhỏ bé và tương đối thiếu hiểu biết của chúng ta, ngày nay đang đứng bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định trên các tầng trời, và tuy vậy qua trung gian của Thập Giá Biến đổi vẫn đang tạo ra những thay đổi trong chu kỳ tiến hoá, sự tinh luyện hình tướng ngày càng tăng, và sự tăng cường của sự sống vốn phân biệt công trình sáng tạo của Ngài.

A study of those expressed objectives—

Một nghiên cứu về những mục tiêu đã được biểu lộ ấy—

1. A development of consciousness.

1. Sự phát triển của tâm thức.

2. A refining of forms.

2. Sự tinh luyện các hình tướng.

3. An intensification of realised life.

3. Sự tăng cường của sự sống được chứng nghiệm.

will convey to the earnest student a meagre understanding of the lowest aspects of the divine purpose. The wonder of the idea staggers human imagination. If this is a statement of fact, and if these ideas are but the expression of still deeper and more beautiful cosmic purposes, may not the goal be realised as being far beyond human computation, when its lowest expression embraces the highest intuitive and abstract concepts of which the most elevated human consciousness is capable? I commend this thought to your deep consideration.

sẽ truyền đạt cho đạo sinh chí thành một sự thấu hiểu ít ỏi về những phương diện thấp nhất của mục đích thiêng liêng. Sự kỳ diệu của ý tưởng ấy làm cho sự tưởng tượng của con người choáng váng. Nếu đây là một phát biểu sự kiện, và nếu những ý tưởng này chỉ là sự biểu lộ của những mục đích vũ trụ còn sâu xa và đẹp đẽ hơn nữa, thì chẳng phải mục tiêu ấy có thể được chứng nghiệm là vượt xa mọi tính toán của con người sao, khi biểu lộ thấp nhất của nó bao trùm những khái niệm trực giác và trừu tượng cao nhất mà tâm thức con người cao nhất có thể đạt tới? Tôi xin giao phó tư tưởng này cho sự suy xét sâu xa của các bạn.

It will be apparent, therefore, why it is the energy of the fourth ray which is related to this Law of Sacrifice, and who in this fourth planetary scheme and in our fourth globe, (the earth globe) so much emphasis is laid upon this Law of Sacrifice, “the Law of those who choose to die.” The fourth ray [92] of conflict (conflict with a view to eventual harmony) is at present not one of the manifesting rays, yet—in the light of the larger cycle—this ray is a major controlling factor in our earth evolution and in the evolution of our solar system, which is one of the fourth order. The realisation of this may indicate why our little planet, the Earth, is of such apparent importance in the solar system. It is not simply because we choose to think so and thus feed our own arrogance, but it is so primarily because the fourth ray of conflict and this first law are—in time and space—dominating factors in the fourth kingdom in nature, the human kingdom. Our planet, the fourth in the series of divine expression with which we are associated, has a peculiar relation to the position of our solar system in the series of solar systems which constitute the body of expression for The One About Whom Naught May Be Said.

Do đó, sẽ hiển nhiên vì sao năng lượng của cung bốn có liên hệ với Định luật Hi Sinh này, và vì sao trong hệ hành tinh thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, (bầu địa cầu) lại có quá nhiều sự nhấn mạnh được đặt lên Định luật Hi Sinh này, “Định luật của những ai chọn chết.” Cung bốn [92] của xung đột (xung đột nhằm hướng tới sự hài hòa cuối cùng) hiện nay không phải là một trong những cung đang biểu hiện, tuy nhiên—dưới ánh sáng của chu kỳ lớn hơn—cung này là một yếu tố kiểm soát chủ yếu trong tiến hoá địa cầu của chúng ta và trong tiến hoá của hệ mặt trời chúng ta, vốn là một hệ thuộc bậc thứ tư. Sự chứng nghiệm điều này có thể cho thấy vì sao hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, lại có tầm quan trọng hiển nhiên như thế trong hệ mặt trời. Không chỉ vì chúng ta chọn nghĩ như vậy và do đó nuôi dưỡng tính kiêu ngạo của chính mình, mà chủ yếu là vì cung bốn của xung đột và định luật thứ nhất này là—trong thời gian và không gian—những yếu tố chi phối trong giới thứ tư của bản chất, giới nhân loại. Hành tinh của chúng ta, hành tinh thứ tư trong chuỗi biểu lộ thiêng liêng mà chúng ta có liên hệ, có một tương quan đặc biệt với vị trí của hệ mặt trời chúng ta trong chuỗi các hệ mặt trời cấu thành thể biểu lộ cho Đấng Bất Khả Tư Nghị.

It must never be forgotten that this fourth ray of conflict is the ray whose energies, rightly applied and understood, bring about harmony and at-one-ment. The result of this harmonising activity is beauty, but it is a beauty that is achieved through struggle. This produces a livingness through death, a harmony through strife, a Union through diversity and adversity.

Không bao giờ được quên rằng cung bốn của xung đột này là cung mà các năng lượng của nó, khi được áp dụng và thấu hiểu đúng đắn, mang lại sự hài hòa và sự hợp nhất. Kết quả của hoạt động hài hòa hóa này là vẻ đẹp, nhưng đó là một vẻ đẹp đạt được qua đấu tranh. Điều này tạo ra sự sống động qua cái chết, sự hài hòa qua xung đột, sự Hợp Nhất qua dị biệt và nghịch cảnh.

The sacrifice of the solar angels brought the fourth kingdom in nature into being. The “returning nirvanis” (as they are called in esoteric literature), with deliberation and full understanding, took human bodies in order to raise those lower forms of life nearer to the goal. These were and are ourselves. The “Lords of Knowledge and Compassion and of ceaseless persevering Devotion” (who are ourselves) chose to die in order that lesser lives might live, and this sacrifice has made possible the evolution of the indwelling consciousness of Deity. This consciousness, having worked its way through [93] the subhuman kingdoms in nature, needed the activity of the solar angels to make further progress possible. Herein lies

Sự hi sinh của các thái dương Thiên Thần đã đưa giới thứ tư của bản chất vào hiện hữu. Những “nirvani trở lại” (như chúng được gọi trong văn liệu huyền bí) với sự cân nhắc và thấu hiểu trọn vẹn, đã nhận lấy những thể người để nâng những hình tướng sự sống thấp hơn ấy đến gần mục tiêu hơn. Những vị ấy đã là và đang là chính chúng ta. Những “Đấng của Tri Thức và Từ Bi và của Sự Sùng Kính bền bỉ không ngừng” (là chính chúng ta) đã chọn chết để những sự sống nhỏ bé hơn có thể sống, và sự hi sinh này đã làm cho sự tiến hoá của tâm thức nội tại của Thượng đế trở nên khả hữu. Tâm thức này, sau khi đã tự mở đường qua [93] các giới dưới nhân loại trong bản chất, cần đến hoạt động của các thái dương Thiên Thần để làm cho sự tiến bộ xa hơn trở nên khả hữu. Chính trong đây có

a. Our service to God, through sacrifice and death;

a. sự phụng sự của chúng ta đối với Thượng đế, qua hi sinh và cái chết;

b. Our service to other souls, through deliberate self-sacrificing purpose;

b. sự phụng sự của chúng ta đối với các linh hồn khác, qua mục đích tự hi sinh có chủ ý;

c. Our service to other forms of life in other kingdoms.

c. sự phụng sự của chúng ta đối với các hình tướng sự sống khác trong các giới khác.

{END LOTSWC 3, EP II p. 93

{END LOTSWC 3, EP II p. 93

Beginning with LOTSWC 4 EP II p. 93

Beginning with LOTSWC 4 EP II p. 93

All this involves the death and sacrifice of a Son of God, a solar angel, for, from the angle of Deity, descent into matter, manifestation through form, the taking of a body, extension of consciousness through the process of incarnation, are all occultly considered to be death. But the angels “chose to die, and in dying, lived.” Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven. It is this theme which fills the pages of The Secret Doctrine, and which is discussed in greater elaboration in A Treatise on Cosmic Fire. The sacrifice of the angels, the death of the Sons of God, the immolation of the mystic Christ, the crucifixion in time and space of all living entities, called souls—this is the theme of those books. This is the mystery hinted at in the world of Scriptures, and this is the secret of the ages, which is only discovered by the souls of men as each of them enters individually into conscious relation with his own soul and discovers that which he has joyously done in the past, and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation. in the early dawn of time itself and which, at some point in his career as a soul on earth, he consciously and symbolically re-enacts for the benefit of other souls, in order to hasten their progress towards their goal. Then comes a life wherein, in some form or another, he portrays or works out within himself, but also before the watching world, that great symbolic drama which we call

Tất cả điều này bao hàm cái chết và sự hi sinh của một Con của Thượng đế, một thái dương Thiên Thần, vì từ góc độ của Thượng đế, sự giáng xuống vật chất, sự biểu hiện qua hình tướng, việc nhận lấy một thể, sự mở rộng tâm thức qua tiến trình nhập thể, tất cả đều được xem một cách huyền bí là cái chết. Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong khi chết, đã sống.” Qua sự hi sinh của họ, vật chất được nâng lên Thiên Đàng. Chính chủ đề này tràn ngập các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, và được bàn đến chi tiết hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự hi sinh của các thiên thần, cái chết của các Con của Thượng đế, sự hiến tế của Đức Christ thần bí, sự đóng đinh trong thời gian và không gian của mọi thực thể sống được gọi là các linh hồn—đó là chủ đề của những quyển sách ấy. Đây là huyền nhiệm được gợi ý trong thế giới Kinh điển, và đây là bí mật của các thời đại, chỉ được khám phá bởi những linh hồn của con người khi mỗi người trong họ đi vào tương quan hữu thức với chính linh hồn mình và khám phá điều mà y đã hân hoan làm trong quá khứ, và nhờ đó đi đến sự chứng nghiệm về sự hi sinh tối thượng mà y đã thực hiện với sự cân nhắc. vào buổi bình minh sơ khai của chính thời gian và mà, tại một điểm nào đó trong sự nghiệp của y như một linh hồn trên trái đất, y tái diễn một cách hữu thức và biểu tượng vì lợi ích của các linh hồn khác, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu của họ. Khi ấy đến một đời sống trong đó, dưới hình thức này hay hình thức khác, y diễn tả hay thể hiện bên trong chính mình, nhưng cũng trước thế giới đang quan sát, vở kịch biểu tượng vĩ đại mà chúng ta gọi là

The Sacrifice of a World Saviour. This is the theme of the [94] historical romance of all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word incarnated through a planet, of those solar angels who are themselves, the Word incarnate through a human form. Whether they enact this drama, as did the Christ, so as to present to man the symbolism of death and sacrifice, or whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha), the theme remains the same,—the death of that which is lower in order to release that which is higher, or—on a larger scale—the death of that which is higher in the order and scale of being, in order to release that which is lower.

Sự Hi Sinh của một Đấng Cứu Thế Gian . Đây là chủ đề của [94] thiên tình sử lịch sử của tất cả những Con vĩ đại của Thượng đế, những vị qua các thời đại đã đi đến sự thấu hiểu thâm nghĩa của mục đích thiêng liêng của Thượng đế, của Linh từ nhập thể qua một hành tinh, của những thái dương Thiên Thần vốn chính là Linh từ nhập thể qua một hình tướng con người. Dù họ diễn lại vở kịch này, như Đức Christ đã làm, để trình bày cho con người biểu tượng của cái chết và sự hi sinh, hay dù họ diễn lại vở kịch này, như Đức Phật đã làm, để chứng minh cho con người sự hi sinh và cái chết của dục vọng cá nhân (chỉ nêu hai trong số các Con của Thượng đế đã biểu hiện, Đức Christ và Đức Phật), chủ đề vẫn là một,—cái chết của điều thấp hơn để giải phóng điều cao hơn, hay—trên một quy mô lớn hơn—cái chết của điều cao hơn trong trật tự và thang bậc hiện hữu, để giải phóng điều thấp hơn.

But the lesson needs to be learned (and it is the lesson which man is now engaged in learning) that death as the human consciousness understands it, pain and sorrow loss and, disaster, joy and distress, are only such because man, as yet, identifies himself with the life of the form and not with the life and consciousness of the soul, the solar angel, whose awareness is potentially that of the planetary Deity, Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity. The moment a man identifies himself with his soul and not with his form, then he understands the meaning of the Law of Sacrifice; he is spontaneously governed by it; and he is one who will with deliberate intent choose to die. But there is no pain, no sorrow, and no real death involved.

Nhưng bài học cần phải được học (và đó là bài học mà con người hiện đang dấn thân học hỏi) là cái chết như tâm thức con người hiểu nó, đau đớn và buồn khổ, mất mát và tai họa, hoan hỉ và khổ sở, chỉ là như thế bởi vì con người, cho đến nay, đồng hoá với đời sống của hình tướng chứ không phải với đời sống và tâm thức của linh hồn, của thái dương Thiên Thần, mà sự nhận biết của vị ấy có tiềm năng là sự nhận biết của Thượng đế hành tinh, Đấng mà sự nhận biết lớn hơn của Ngài (đến lượt Ngài) có tiềm năng là sự nhận biết của Thượng đế Thái dương. Ngay khi một người đồng hoá với linh hồn mình chứ không phải với hình tướng mình, thì y hiểu ý nghĩa của Định luật Hi Sinh; y được nó chi phối một cách tự phát; và y là người sẽ với chủ ý có cân nhắc chọn chết. Nhưng không có đau đớn, không có buồn khổ, và không có cái chết thực sự nào liên hệ ở đây.

This is the mystery of illusion and glamour. From these two imprisoning factors all World Saviours are free. They are not deceived. It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of this term World Saviour. At present we apply it predominantly to those souls who emerge upon the teaching ray, the second or [95] Christ ray. They enact the drama of salvation. But this is an error, due to the overpowering emotional glamour of the Piscean Age. This astral influence has its roots in the past Atlantean civilisation, which preceded ours. In that age, the astral body was the subject of attention. Much that happens today, and which may develop, has its roots in that aspect of energy. Seeds sown at that time are now brought to flower. This is very good and necessary, even if distressing in experience.

Đây là huyền nhiệm của ảo tưởng và ảo cảm. Khỏi hai yếu tố giam hãm này, mọi Đấng Cứu Thế Gian đều tự do. Các Ngài không bị lừa dối. Nhân đây, cũng nên chỉ ra rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng quan niệm của mình về thuật ngữ Đấng Cứu Thế Gian này. Hiện nay chúng ta áp dụng nó chủ yếu cho những linh hồn xuất hiện trên cung huấn dạy, cung hai hay [95] cung Christ. Họ diễn lại vở kịch cứu rỗi. Nhưng đây là một sai lầm, do ảo cảm cảm xúc áp đảo của Thời Đại Song Ngư. Ảnh hưởng cảm dục này có gốc rễ trong nền văn minh Atlantis quá khứ, vốn đi trước nền văn minh của chúng ta. Trong thời đại ấy, thể cảm dục là đối tượng được chú ý. Nhiều điều xảy ra ngày nay, và có thể phát triển, có gốc rễ trong phương diện năng lượng ấy. Những hạt giống được gieo vào thời đó nay đang nở hoa. Điều này rất tốt và cần thiết, dù gây khổ sở trong kinh nghiệm.

But the World Saviours must be recognised as coming forth to serve the race, with sacrifice of some kind along many lines and in many forms. They may be great rulers, or dictators, politicians, statesmen, scientists and artists. Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation and revelation, and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it. As such, they must be recognised for what they are. Now they are misunderstood, misinterpreted, and judged by their mistakes more than by their aims. But they are dedicated souls. They rescue; they lift; they integrate; they illumine; and the net result of their work, from the angle of ultimate history, is good.

Nhưng các Đấng Cứu Thế Gian phải được nhìn nhận là xuất hiện để phụng sự nhân loại, với sự hi sinh thuộc một loại nào đó trên nhiều đường lối và dưới nhiều hình thức. Họ có thể là những nhà cai trị vĩ đại, hay những nhà độc tài, chính khách, nhà khoa học và nghệ sĩ. Công việc của họ là công việc cứu vớt, hoàn nguyên, hay canh tân và mặc khải, và qua sự hi sinh của chính mình, họ hoàn thành điều đó. Vì thế, họ phải được nhìn nhận đúng như họ là. Hiện nay họ bị hiểu lầm, bị diễn giải sai, và bị phán xét bởi những sai lầm của họ nhiều hơn là bởi những mục tiêu của họ. Nhưng họ là những linh hồn tận hiến. Họ cứu vớt; họ nâng lên; họ tích hợp; họ soi sáng; và kết quả ròng của công việc họ, từ góc độ của lịch sử tối hậu, là thiện.

{END of LOTSWC 4, EP II p. 95

{END of LOTSWC 4, EP II p. 95

Beginning with LOTSWC 5, EP II p. 95

Beginning with LOTSWC 5, EP II p. 95

This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom and through the water which he drinks, and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness.

Định luật Hi Sinh này và xung lực cho đi cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong bản chất. Nó được tiêu biểu cho chúng ta trong những sự hi sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính cốt yếu của các khoáng chất và hóa chất của trái đất là một ví dụ điển hình. Chúng cần thiết cho những hình tướng sự sống khác và được ban cho con người qua trung gian của giới thực vật và qua nước mà y uống, và như thế, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất trong bản chất (mà tâm thức của nó xa cách tâm thức chúng ta đến thế) thì tiến trình cho đi này vẫn đúng. Nhưng việc truy tìm Định luật Hi Sinh này trong các giới dưới nhân loại là điều không thể [96] thực hiện ở đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào thế giới của đời sống và tâm thức con người.

b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION—CÔNG VIỆC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI

The Law of Sacrifice means also salvage and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world, and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper, are all expressions of this sacrificial instinct. This factor, though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised. This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth. It is the expression of a still greater factor in the creative process. It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life; which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,” as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. The prodigal son sacrificed the Father’s home when he chose to wander forth into the far country. He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. Such is the life story of all the [97] sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. But the theme in all the world Bibles is the same.

Định luật Hi Sinh cũng có nghĩa là cứu vớt và làm nền tảng cho mọi tiến trình tiến hoá, và đặc biệt điều này xuất hiện với thâm nghĩa rõ ràng trong gia đình nhân loại. Bản năng hướng tới cải thiện, sự thôi thúc tiến bộ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực cải thiện các điều kiện, khuynh hướng từ thiện đang nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, và ý thức trách nhiệm thực sự khiến con người nhận ra rằng họ là người giữ gìn huynh đệ mình, tất cả đều là những biểu lộ của bản năng hi sinh này. Yếu tố này, tuy không phải không được tâm lý học hiện đại nhận ra, có thâm nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với điều đã được chứng nghiệm cho đến nay. Khuynh hướng bản năng này chính là điều chi phối Định luật Tái Sinh. Nó là sự biểu lộ của một yếu tố còn lớn lao hơn trong tiến trình sáng tạo. Nó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy chính Linh Hồn của Thượng đế đi vào đời sống hình tướng; thúc đẩy sự sống, trên cung giáng hạ tiến hoá, tiến xuống vật chất, nhờ đó tạo ra tính nội tại của Thượng đế. Chính điều đó cũng đẩy nhân loại tiến lên trong cuộc đấu tranh dữ dội của họ vì phúc lợi vật chất. Chính điều đó nữa cuối cùng thúc đẩy con người quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,” như Tân Ước nói, và định hướng mình về những điều có tầm quan trọng tinh thần. Người con hoang đàng đã hi sinh ngôi nhà của Cha khi anh ta chọn lang thang đến xứ xa. Anh ta đã phung phí và hi sinh chất liệu của mình qua cách anh ta sử dụng kinh nghiệm của đời sống trên trái đất, cho đến khi đã cạn kiệt mọi nguồn lực và không còn gì ngoài sự hi sinh cuối cùng của điều mà anh ta từng giữ rất quý nhưng đã khám phá là quá không thỏa mãn. Vì những điều có giá trị thấp hơn ấy, anh ta đã hi sinh những giá trị cao hơn, và đã phải trở về nơi mình đã ra đi. Đó là câu chuyện đời sống của tất cả các [97] Con của Thượng đế đã đi vào nhập thể, như được trình bày cho chúng ta dưới biểu tượng của Kinh Thánh. Nhưng chủ đề trong mọi Kinh Thánh của thế giới đều là một.

This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain,—such is the underlying story of evolution. This needs psychological understanding. It is a governing principle of life itself, and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity.

Sự thôi thúc hi sinh này, từ bỏ điều này để lấy điều kia, chọn một con đường hay một đường lối ứng xử và do đó hi sinh một con đường khác, mất đi để cuối cùng đạt được,—đó là câu chuyện nền tảng của tiến hoá. Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý học. Nó là một nguyên khí chi phối của chính sự sống, và chạy như một mô hình vàng của vẻ đẹp xuyên qua những chất liệu tối tăm mà lịch sử loài người được cấu thành từ đó. Khi sự thôi thúc hi sinh để giành được, đạt được hay cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn được thấu hiểu, thì toàn bộ đầu mối của sự khai mở của con người sẽ được mặc khải. Khuynh hướng hay sự thôi thúc này là điều gì đó khác với dục vọng, như dục vọng được hiểu và nghiên cứu theo học thuật ngày nay. Điều mà nó thực sự hàm ý là sự xuất hiện của điều thiêng liêng nhất trong con người. Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là mặt năng động, hoạt động chứ không phải mặt cảm giác, cảm quan. Nó là đặc tính nổi trội của Thượng đế.

It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. Each Ray Lord of a scheme, manifesting through a planet, expresses this urge in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [98] innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” It is, therefore, a tendency greater than the individual unit. It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm đối với các đạo sinh huyền bí học là lưu ý rằng sự thôi thúc cứu vớt và hi sinh để cứu chuộc này được thể hiện theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ, biểu hiện qua một hành tinh, biểu lộ sự thôi thúc này theo những cách khác nhau, và mỗi biểu lộ khác biệt với những biểu lộ khác đến mức một con người khó có thể làm hơn là cảm nhận phương pháp tồn tại trên chính hành tinh riêng của chúng ta. Các điểm đạo đồ biết rằng những đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự sống cung tác động một cách rất đặc thù lên phương pháp biểu lộ sự hi sinh trong tiến trình biểu hiện. Dòng năng lượng sống vĩ đại đang biểu hiện trong hệ tiến hoá Địa Cầu của chúng ta được tác động bởi một khí chất, một thái độ và một định hướng là của một “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng.” Chỉ sự phản kháng mới tạo ra đau đớn và buồn khổ, nhưng sự phản kháng này vốn có và [98] bẩm sinh trong chính Thượng đế của hành tinh chúng ta, “Đấng trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Vì vậy, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá nhân. Chỉ có thể diễn đạt chân lý đáng kinh ngạc này về Sự sống hành tinh dưới một bức màn biểu tượng và theo những thuật ngữ của tư tưởng con người. Trong điều này luôn luôn có một nguy cơ, vì con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và kinh nghiệm theo những thuật ngữ của chính họ.

The Old Commentary says:

Cổ Luận nói:

“He entered into life and knew it to be death.

“Ngài đi vào sự sống và biết đó là cái chết.

“He took a form and grieved to find it dark.

“Ngài nhận lấy một hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm.

“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.

“Ngài tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật và tìm kiếm nơi ánh sáng, và ánh sáng phơi bày tất cả những gì y ít tìm kiếm nhất.

“He craved permission to return.

“Ngài khao khát được phép trở về.

“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.’

“Ngài tìm kiếm Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. Ngài nói: ‘Ta không tìm điều này. Ta tìm sự bình an, ánh sáng, phạm vi để phụng sự, để chứng minh tình thương của ta và để bộc lộ quyền năng của ta. Không có ánh sáng. Không tìm thấy bình an. Hãy để ta trở về.’

But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’

Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không quay đầu. Ngài dường như thậm chí không lắng nghe hay nghe thấy. Nhưng từ khối cầu thấp hơn của tối tăm và đau đớn, một tiếng nói cất lên và kêu rằng: ‘Chúng tôi đau khổ ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế đi vào. [Tôi không thể tìm được từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên Đàng. Hãy đi vào, lạy Chúa, ngôi mộ. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hi sinh. Hãy phá đổ bức tường ngục tù cho chúng tôi và đi vào đau đớn.’

The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.”

Đức Chúa của Sự Sống đã trở lại. Ngài không thích điều đó, và do đó có đau đớn.”

The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. They are not found on the other planets. Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire with understanding know that our Earth is not a sacred planet. However, Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, the [99] personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third Ray. There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, and in three cases, (those of the three major rays) three planets constitute the personality of each ray Life. Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. The personality of this third ray Life functions through the following planets:

Những điều kiện tương tự vốn hòa trộn Định luật Hi Sinh với đau đớn, buồn khổ và khó khăn cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và trên hành tinh Sao Thổ. Chúng không được tìm thấy trên các hành tinh khác. Những ai đã đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ với sự thấu hiểu đều biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tuy nhiên, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta cấu thành, theo một cách huyền bí kỳ lạ, [99] phàm ngã của một Sự sống cung kỳ vĩ, mà năng lượng của Ngài là năng lượng của cung ba. Như đã được nói ở nơi khác, có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười hệ hành tinh, và trong ba trường hợp, (những trường hợp của ba cung chính) ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Sự sống cung. Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xét đến trong hệ mặt trời của chúng ta, và có cơ sở cho kết luận của họ. Phàm ngã của Sự sống cung ba này hoạt động qua các hành tinh sau đây:

1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn.

1. Thể trí biểu lộ chính nó qua trung gian của hành tinh Sao Thổ.

2. The astral body expresses itself through the planet Mars.

2. Thể cảm dục biểu lộ chính nó qua hành tinh Sao Hỏa.

3. The physical body expresses itself through the planet Earth.

3. Thể xác biểu lộ chính nó qua hành tinh Trái Đất.

The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life.

Mãnh lực của Sự sống này lớn lao đến mức Ngài cần đến ba hệ hành tinh hoàn chỉnh—cả ba đều liên hệ mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau—để biểu lộ Chính Ngài. Uranus, Jupiter và Venus cũng liên kết tương tự để biểu hiện hay diễn đạt một Sự sống vĩ đại.

{END of LOTSWC S, EP II p. 99

{END of LOTSWC S, EP II p. 99

Beginning with LOTSWC 6, EP II p. 99

Beginning with LOTSWC 6, EP II p. 99

These facts constitute a tremendous mystery, and in no way negate the truth that Venus has a peculiar and intimate relation to the Earth. The point here being stressed is difficult to express, but of great importance. Let me be more explicit, by means of the following statements:

Những sự kiện này tạo thành một huyền nhiệm to lớn, và tuyệt nhiên không phủ nhận chân lý rằng Venus có một mối liên hệ đặc biệt và mật thiết với Trái Đất. Điểm đang được nhấn mạnh ở đây khó diễn đạt, nhưng lại hết sức quan trọng. Hãy để tôi nói rõ hơn bằng những phát biểu sau đây:

1. Only three planetary schemes are aware of pain and sorrow as we understand those terms; none of them know it so well or feel it so much as does our planetary Logos.

1. Chỉ có ba hệ hành tinh nhận biết đau đớn và buồn khổ như chúng ta hiểu các thuật ngữ ấy; không hệ nào trong số đó biết rõ hay cảm nhận chúng nhiều như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

2. Pain and sorrow are the result of rebellion, and of divine discontent. The instinct to betterment, based on discontent, has necessarily involved the planetary temperament or attitude which recognises the dualities.

2. Đau đớn và buồn khổ là kết quả của sự phản kháng và của sự bất mãn thiêng liêng. Bản năng hướng tới sự cải thiện, dựa trên bất mãn, tất yếu đã lôi cuốn khí chất hay thái độ hành tinh vốn nhận ra các nhị nguyên tính.

[100]

[100]

3. There is a stage to be reached in the human consciousness, where that which lies behind the dualities—the stage of essential oneness—can, and will be recognised.

3. Có một giai đoạn phải đạt tới trong tâm thức nhân loại, nơi điều nằm sau các nhị nguyên tính—giai đoạn của tính nhất thể cốt yếu—có thể, và sẽ được nhận ra.

4. When this takes place, the consciousness of our humanity will then merge with that underlying consciousness of the whole, which recognises no pain or sorrow and has, therefore, slipped out of the realisation which predominantly governs the consciousness of the three great Lives in our solar system.

4. Khi điều này xảy ra, tâm thức của nhân loại chúng ta khi ấy sẽ hòa nhập với tâm thức nền tảng của toàn thể, vốn không nhận biết đau đớn hay buồn khổ và vì thế đã vượt khỏi sự chứng nghiệm vốn chi phối chủ yếu tâm thức của ba Sự sống vĩ đại trong hệ mặt trời chúng ta.

5. It is this dimly sensed truth which lies behind the highest type of metaphysical thought, such as Christian Science, Unity, Divine Science, and the emphasis laid by Christianity and the esoteric schools upon the at-one-ment.

5. Chính chân lý được cảm nhận mơ hồ này nằm sau loại tư tưởng siêu hình cao nhất, như Christian Science, Unity, Divine Science, và sự nhấn mạnh mà Cơ Đốc giáo cùng các trường phái huyền bí đặt trên sự hợp nhất.

This instinct towards betterment through sacrifice is itself diverse.

Bản năng hướng tới sự cải thiện thông qua hi sinh này tự nó cũng đa dạng.

There is, first of all, the instinct towards individual betterment, which leads to selfishness, to a grasping, and to an orientation of the materially-minded towards material possessions.

Trước hết là bản năng hướng tới sự cải thiện cá nhân, dẫn đến ích kỷ, đến sự chiếm đoạt, và đến sự định hướng của những người có trí hướng vật chất về phía của cải vật chất.

There is, secondly, the instinct towards an ameliorating of the conditions of other people, first from a selfish motive (the avoiding of personal distress at the sight of suffering), and secondly, through pure, disinterested service, which is a quality of the soul.

Thứ hai là bản năng hướng tới việc cải thiện các điều kiện của người khác, trước tiên từ một động cơ ích kỷ (tránh sự đau khổ cá nhân khi nhìn thấy đau khổ), và thứ hai, thông qua phụng sự thuần khiết, vô tư, vốn là một phẩm tính của linh hồn.

There is, finally, the active application and the complete sacrifice of the lower separated self through the power to “stand in spiritual being” which necessarily infers that one has reached that state of consciousness which transcends what may be called, symbolically the “Earth, Saturn and Mars” state of consciousness.

Sau cùng là sự vận dụng tích cực và sự hi sinh trọn vẹn của phàm ngã biệt lập thấp hơn nhờ năng lực “đứng vững trong bản thể tinh thần”, điều tất yếu hàm ý rằng người ta đã đạt tới trạng thái tâm thức vượt lên trên điều có thể được gọi, một cách biểu tượng, là trạng thái tâm thức “Earth, Saturn and Mars”.

Let it not, however, be forgotten that the contribution to these three great planetary Lives, as They embody pre-eminently [101] the Law of Sacrifice, through pain and rebellion, is a major contribution to the whole, and greatly enriches the sum total. The units of divine life and the atoms of electrical energy who pass through these three planetary schemes are subject to them in order to acquire that psychic sensitivity which would otherwise be impossible. Only those units of life who are coloured predominantly by the third ray of activity pass for any length of time through these three schemes. A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found. We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence expressing itself through

Tuy nhiên, đừng quên rằng sự đóng góp cho ba Sự sống hành tinh vĩ đại này, khi Các Ngài hiện thân một cách nổi trội [101] Định luật Hi Sinh, thông qua đau đớn và phản kháng, là một đóng góp lớn lao cho toàn thể, và làm phong phú rất nhiều tổng thể chung. Các đơn vị của sự sống thiêng liêng và các nguyên tử của năng lượng điện đi qua ba hệ hành tinh này phải chịu sự chi phối của chúng để đạt được tính nhạy cảm thông linh mà nếu không thì không thể có được. Chỉ những đơn vị sự sống được nhuốm màu chủ yếu bởi cung ba hoạt động mới đi qua ba hệ này trong một thời gian đáng kể. Ở đây có một gợi ý về sự phổ biến của các chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung của trí tuệ linh hoạt, biểu lộ qua bảy loại cung, trên hết mọi sự là cung mà đa số các chân thần nhân loại sẽ được thấy thuộc về, đặc biệt vào lúc này. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy các loại hình tâm lý sau đây nhuốm màu phần lớn nhân loại chúng ta, và cung của trí tuệ linh hoạt biểu lộ qua

{END of LOTSWC 6, EP II p. 101

{END of LOTSWC 6, EP II p. 101

Beginning of LOTSWC 7, EP II p. 101

Beginning of LOTSWC 7, EP II p. 101

1. Will, evoking divine purpose.

1. Ý chí, gợi lên Thiên Ý.

2. Love, expressing divine quality.

2. Bác ái, biểu lộ phẩm tính thiêng liêng.

3. Intellect, as the reflector of the Intuition.

3. Trí năng, như sự phản chiếu của Trực giác.

4. Conflict, producing harmony.

4. Xung đột, tạo ra hài hòa.

5. Knowledge or science, leading to radiance.

5. Tri thức hay khoa học, dẫn đến sự rạng ngời.

6. Idealism, establishing the divine pattern.

6. Lý tưởng chủ nghĩa, thiết lập mô hình thiêng liêng.

7. Ritual or organisation, manifesting Deity.

7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu hiện Thượng đế.

Therefore, psychologically speaking, and when greater knowledge has been gained of the energies determining the type of a man, a person, for instance, whose Monad is presumably upon the third ray, his ego being on the fourth ray, and his personality on the seventh ray, will be described as a Three, IV.7. Within this simple formula there will be lesser differentiations and a seventh ray personality may have a first ray mental body, a fifth ray astral body, and a third ray [102] physical body. The formula which would describe him would be

Vì vậy, xét về mặt tâm lý học, và khi đã đạt được tri thức lớn hơn về các năng lượng quyết định loại hình của một người, chẳng hạn một người mà chân thần được giả định là thuộc cung ba, chân ngã của y ở cung bốn, và phàm ngã của y ở cung bảy, sẽ được mô tả là Một Ba, IV.7. Trong công thức đơn giản này sẽ có những biến phân nhỏ hơn, và một phàm ngã cung bảy có thể có một thể trí cung một, một thể cảm dục cung năm, và một thể xác cung ba [102] . Công thức mô tả y sẽ là

Three, IV. 7. [Symbol — Page 102] 1, 5, 3

Ba, IV. 7. [Symbol — Page 102] 1, 5, 3

This, when interpreted, means

Điều này, khi được diễn giải, có nghĩa là

Monad

third ray.

Chân thần

cung ba.

Ego

fourth ray.

Chân ngã

cung bốn.

Personality

seventh ray.

Phàm ngã

cung bảy.

Mental body

first ray.

Thể trí

cung một.

Astral body

fifth ray.

Thể cảm dục

cung năm.

Physical body

third ray.

Thể xác

cung ba.

Students may find it of value to study themselves and others in conformity with the above, and to establish their personal formulae. This should be done in conjunction with a consultation of their horoscopes. This will be discussed more at length after we have considered the astrological implications of the rays, in the succeeding volume.

Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nghiên cứu chính mình và người khác theo sự phù hợp với điều trên, và thiết lập các công thức cá nhân của mình. Điều này nên được thực hiện cùng với việc tham khảo lá số chiêm tinh của họ. Điều này sẽ được bàn đến dài hơn sau khi chúng ta đã xem xét các hàm ý chiêm tinh học của các cung trong tập kế tiếp.

The Law of Sacrifice, therefore, can never be eliminated in our Earth scheme, as far as the human and subhuman reactions to sorrow and pain are concerned, nor can it be eliminated on the planets Saturn and Mars. It is relatively unknown in the other schemes. Bliss and Sacrifice are synonymous terms as far as our solar Logos is concerned, and also for the majority of the planetary Logoi. This must be remembered. A touch of this freedom from the limitations of pain and sorrow can be found among the more advanced sons of men on Earth, who know the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate, and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation. When this point has been reached, the mechanism of suffering and the ability to register sensuous perception is transcended, and momentarily the man escapes on to the plane of unity. [103] Here there is no pain, no sorrow, no rebellion and no suffering. When the living, vibrating antaskarana or bridge is built, this “way of escape” becomes the normal path of life. Escape from pain is then automatic, for the centre of consciousness is elsewhere. In the cases mentioned above, and where the antaskarana is not a consummated, established fact, the tiny thread of the partially constructed “way of escape”, under tremendous pressure and excitation, shoots forward like a quivering band of light, and momentarily touches the light that is the Self. Hence ecstasy and exaltation. But it does not last, and cannot be consciously recovered until the third initiation has been taken. After that the “way of escape” becomes the “way of daily livingness” (to translate inadequately the occult and ancient phrase). Then pain is steadily transcended, and the pairs of opposites—pleasure and pain—have no longer any hold over the disciple.

Do đó, Định luật Hi Sinh không bao giờ có thể bị loại bỏ trong hệ Địa Cầu của chúng ta, xét theo các đáp ứng của con người và dưới nhân loại đối với buồn khổ và đau đớn, cũng như không thể bị loại bỏ trên các hành tinh Saturn và Mars. Nó tương đối không được biết đến trong các hệ khác. Chí phúc và Hi Sinh là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và cũng vậy đối với đa số các Hành Tinh Thượng đế. Điều này phải được ghi nhớ. Một chút ít sự tự do khỏi các giới hạn của đau đớn và buồn khổ này có thể được tìm thấy nơi những người con tiến bộ hơn của nhân loại trên Trái Đất, những người biết sự xuất thần của nhà thần bí, sự siêu thăng của điểm đạo đồ, và nỗi thống khổ tinh tế của hi sinh hay của bất kỳ cảm xúc nào được đưa tới điểm thăng hoa. Khi điểm này đã đạt tới, bộ máy của đau khổ và khả năng ghi nhận tri giác cảm quan được vượt qua, và trong chốc lát con người thoát lên cõi nhất thể. [103] Ở đây không có đau đớn, không có buồn khổ, không có phản kháng và không có đau khổ. Khi antaskarana hay cây cầu sống động, rung động được xây dựng, “con đường thoát ra” này trở thành con đường sống bình thường. Khi ấy, sự thoát khỏi đau đớn là tự động, vì trung tâm tâm thức ở nơi khác. Trong các trường hợp được nhắc đến ở trên, và khi antaskarana chưa là một sự kiện hoàn tất, được thiết lập, thì sợi chỉ nhỏ bé của “con đường thoát ra” được kiến tạo một phần, dưới áp lực và kích thích mãnh liệt, phóng tới như một dải ánh sáng rung động, và trong chốc lát chạm tới ánh sáng là Bản Ngã. Do đó mới có xuất thần và siêu thăng. Nhưng điều đó không kéo dài, và không thể được phục hồi một cách có ý thức cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận. Sau đó, “con đường thoát ra” trở thành “con đường sống hằng ngày” (một cách dịch chưa đầy đủ cụm từ huyền bí và cổ xưa ấy). Khi ấy đau đớn được vượt qua một cách vững chắc, và các cặp đối đãi—khoái lạc và đau đớn—không còn nắm giữ đệ tử nữa.

All this constitutes the theme of esoteric psychology and, when rightly understood, will explain

Tất cả điều này tạo thành chủ đề của Tâm Lý Học Nội Môn và, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ giải thích

1. The Saturnian influence in human life.

1. Ảnh hưởng của Saturn trong đời sống con người.

2. The cessation of rebellion, or the ending of the Martian influence.

2. Sự chấm dứt phản kháng, hay sự kết thúc ảnh hưởng của Mars.

3. The building of the antaskarana, which releases the man from the control of personality life.

3. Việc xây dựng antaskarana, giải thoát con người khỏi sự kiểm soát của đời sống phàm ngã.

4. The evocation of the group consciousness.

4. Sự gợi lên tâm thức nhóm.

5. The consequent negation of pain and sorrow.

5. Sự phủ nhận đau đớn và buồn khổ là hệ quả tất nhiên.

6. Entrance into Nirvana, and the beginning of the real Way.

6. Sự bước vào Niết Bàn, và sự khởi đầu của Con Đường thực sự.

{END of LOTSWC 7, EP II p. 103

{END of LOTSWC 7, EP II p. 103

Beginning with LOTSWC 8, EP II p. 103

Beginning with LOTSWC 8, EP II p. 103

The Law of Sacrifice means also

Định luật Hi Sinh cũng có nghĩa là

c. THE RELINQUISHING OF GAIN—SỰ TỪ BỎ THU HOẠCH

This is the basic theme of The Bhagavad Gita. In that treatise on the soul and its unfoldment, we are taught to “perform action without attachment,” and thereby lay the foundation for later relinquishings which can be effected without [104] pain and the sense of loss, because we have acquired the power, latent ever within ourselves, to detach ourselves from achieved possessions.

Đây là chủ đề căn bản của The Bhagavad Gita. Trong bộ luận về linh hồn và sự khai mở của nó, chúng ta được dạy phải “hành động mà không dính mắc”, và nhờ đó đặt nền tảng cho những sự từ bỏ về sau, có thể được thực hiện mà không có [104] đau đớn và cảm giác mất mát, bởi vì chúng ta đã đạt được năng lực, vốn luôn tiềm tàng trong chính mình, để tách rời khỏi những sở hữu đã đạt được.

This law works out in many ways, and it is not possible to do more than indicate a few of those general significances which embody the major lessons of every disciple.

Định luật này vận hành theo nhiều cách, và không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một vài thâm nghĩa tổng quát trong số đó, những điều bao hàm các bài học chính của mọi đệ tử.

First, the soul must relinquish the personality. For ages, the soul has identified itself with the lower personal self, and through the agency of that lower self has gained experience and acquired much knowledge. The time has to come when that agency is “no longer dear” to the soul, and their respective positions are reversed. No longer is the soul identified with the personality but the personality becomes identified with the soul and loses its separate quality and position. All that has been acquired through age-long struggle and strife, through pain and pleasure, through disaster and satisfied desire, and all that the wheel of life, which has turned ceaselessly, has brought into the possession of the soul—All has to be relinquished. Life, for the disciple, becomes then a series of detaching processes, until he has learnt the lesson of renunciation.

Trước hết, linh hồn phải từ bỏ phàm ngã. Trong nhiều thời đại, linh hồn đã đồng hoá với phàm ngã thấp hơn, và thông qua tác nhân của phàm ngã thấp hơn ấy đã thu được kinh nghiệm và tiếp nhận nhiều tri thức. Thời điểm phải đến khi tác nhân ấy “không còn thân yêu” đối với linh hồn nữa, và vị trí tương ứng của chúng bị đảo ngược. Linh hồn không còn đồng hoá với phàm ngã nữa, mà phàm ngã trở nên đồng hoá với linh hồn và mất đi phẩm tính cùng vị trí riêng biệt của nó. Tất cả những gì đã được thu nhận qua cuộc đấu tranh và xung đột kéo dài nhiều thời đại, qua đau đớn và khoái lạc, qua tai họa và dục vọng được thỏa mãn, và tất cả những gì bánh xe sự sống quay không ngừng đã mang vào quyền sở hữu của linh hồn—Tất cả đều phải được từ bỏ. Khi ấy, đời sống đối với đệ tử trở thành một chuỗi những tiến trình tách rời, cho đến khi y đã học được bài học về sự từ bỏ.

The sequence is, first dispassion, then discrimination, and finally detachment. On these three words must all disciples meditate, if they are ever to reap the fruits of sacrifice.

Trình tự là, trước hết vô dục, rồi đến phân biện, và sau cùng là tách rời. Mọi đệ tử phải tham thiền trên ba từ này, nếu họ muốn gặt hái hoa trái của hi sinh.

“Having pervaded the worlds with a fraction of Myself, I remain.” Such is the theme of the soul’s endeavor, and such is the spirit which must underlie all creative work. In this thought lies the clue to the symbol of the Law of Sacrifice—a rosy cross with a bird flying over it. This is the loved cross (rose being the colour of affection), with the bird (symbol of the soul) flying free in time and space.

“Sau khi thấm nhuần các thế giới bằng một phần của Chính Ta, Ta vẫn còn đó.” Đó là chủ đề của nỗ lực của linh hồn, và đó là tinh thần phải làm nền cho mọi công việc sáng tạo. Chính trong tư tưởng này có đầu mối cho biểu tượng của Định luật Hi Sinh—một thập giá hồng với một con chim bay phía trên. Đây là cây thập giá được yêu mến (màu hồng là màu của tình cảm), với con chim (biểu tượng của linh hồn) bay tự do trong thời gian và không gian.

Secondly, the soul has also to relinquish not only its tie and its gain through contact with the personal self, but it has most definitely to relinquish its tie with other personal selves. It must learn to know and to meet other people only on the plane of the soul. In this lies for many a disciple a hard lesson. They may care little for themselves and may have learnt much personal detachment. Little may they cherish the gain of contact with the lower personal self. They are learning to transcend all that, and may have transcended to a great degree, but their love for their children, their family, their friends and intimates is for them of supreme importance and that love holds them prisoners in the lower worlds. They do not stop to recognise that their love is primarily love for the personalities, and only secondarily for the souls. Upon this rock, many disciples are for lives broken, until the time comes when, through pain and suffering and the constant losing of that which they so much cherish, their love enters into a newer, a higher and a truer phase. They rise above the personal, and find again—after felt loss and suffering—those whom now they love as souls. Then they realise that there has been gain and not loss, and that only that which was illusory, ephemeral and untrue has disappeared. The real Man has been gained and can never be lost again.

Thứ hai, linh hồn cũng phải từ bỏ không chỉ mối ràng buộc và thu hoạch của nó qua tiếp xúc với phàm ngã, mà còn phải dứt khoát từ bỏ mối ràng buộc của nó với các phàm ngã khác. Nó phải học cách biết và gặp gỡ người khác chỉ trên cõi linh hồn. Chính trong điều này có một bài học khó khăn đối với nhiều đệ tử. Họ có thể ít quan tâm đến chính mình và có thể đã học được nhiều về sự tách rời cá nhân. Họ có thể rất ít trân quý thu hoạch từ sự tiếp xúc với phàm ngã thấp hơn. Họ đang học cách vượt lên trên tất cả điều đó, và có thể đã vượt lên ở mức độ lớn, nhưng tình thương của họ dành cho con cái, gia đình, bạn bè và người thân cận lại có tầm quan trọng tối thượng đối với họ, và tình thương ấy giữ họ làm tù nhân trong các cõi thấp. Họ không dừng lại để nhận ra rằng tình thương của họ trước hết là tình thương dành cho các phàm ngã, và chỉ thứ yếu mới là dành cho các linh hồn. Trên tảng đá này, nhiều đệ tử bị đập vỡ qua nhiều kiếp sống, cho đến khi thời điểm đến mà, qua đau đớn và khổ đau cùng sự mất mát liên tục điều họ hết sức trân quý, tình thương của họ bước vào một giai đoạn mới hơn, cao hơn và chân thực hơn. Họ vượt lên trên cái cá nhân, và lại tìm thấy—sau mất mát và khổ đau được cảm nhận—những người mà giờ đây họ yêu như các linh hồn. Khi ấy họ nhận ra rằng đã có thu hoạch chứ không phải mất mát, và rằng chỉ điều gì hư ảo, phù du và không chân thật mới biến mất. Con Người thực sự đã được tìm lại và không bao giờ có thể mất đi nữa.

This is most frequently the problem of parents who are upon the Path of Discipleship, and it is through their children that the lesson is learnt which can release them for initiation. They hold their children to them, and this, being counter to the law of nature, works out disastrously. It is the height of selfishness. And yet, did they but know and see aright, they would realise that to hold, one must detach, and to keep, one must release. Such is the law.

Đây thường là vấn đề của các bậc cha mẹ đang ở trên Con Đường Đệ Tử, và chính thông qua con cái mà bài học được học, bài học có thể giải thoát họ cho điểm đạo. Họ giữ con cái bám chặt vào mình, và điều này, vì đi ngược định luật của bản chất, nên dẫn đến hậu quả tai hại. Đó là đỉnh cao của ích kỷ. Tuy nhiên, nếu họ chỉ cần biết và thấy đúng đắn, họ sẽ nhận ra rằng muốn giữ thì phải tách rời, và muốn lưu giữ thì phải buông ra. Đó là định luật.

The soul has also to learn to relinquish the fruits or gains of service and learn to serve without attachment to results, to means, to persons or to praise. This I will deal with later.

Linh hồn cũng phải học cách từ bỏ các hoa trái hay thu hoạch của phụng sự và học cách phụng sự mà không dính mắc vào kết quả, vào phương tiện, vào con người hay vào lời khen. Tôi sẽ bàn đến điều này sau.

{Grasping prevents us from identifying as the larger Whole….

{Grasping prevents us from identifying as the larger Whole….

END of LOTSWC 8, EP II p. 105 27Sepl3

END of LOTSWC 8, EP II p. 105 27Sepl3

[106]

[106]

In the fourth place, the soul has to relinquish also the sense of responsibility for that which other disciples may do. So many earnest servers hold on to their fellow workers, and do not relinquish their hold upon them or upon their activities upon the outer plane. This is a subtle error, for it masks itself behind a sense of righteous responsibility, an adherence to principles as they appear to the individual, and the accumulated experience of the disciple,—which is necessarily incomplete experience. The relation between disciples is egoic and not personal. The link is of the soul and not of the mind. Each personality pursues its own course, must shoulder its own responsibilities, work out its own dharma, and fulfil its own karma, and so answer for itself to its Lord and Master, the Soul. And answer there will be. Does this itself sound of the nature of separation and aloneness? It does, as far as outer activities are concerned. Only as servers cooperate from the standpoint of an inner subjective linking can a united world be carried forward.

Thứ tư, linh hồn cũng phải từ bỏ cảm giác trách nhiệm đối với điều mà các đệ tử khác có thể làm. Rất nhiều người phụng sự chí thành bám giữ các bạn đồng lao của mình, và không từ bỏ sự nắm giữ của họ đối với những người ấy hay đối với các hoạt động của họ trên cõi bên ngoài. Đây là một sai lầm vi tế, vì nó tự che đậy sau cảm giác trách nhiệm chính đáng, sự bám chặt vào các nguyên lý như chúng xuất hiện đối với cá nhân, và kinh nghiệm tích lũy của đệ tử,—vốn tất yếu là kinh nghiệm chưa trọn vẹn. Mối liên hệ giữa các đệ tử là chân ngã chứ không phải cá nhân. Mối liên kết là của linh hồn chứ không phải của trí tuệ. Mỗi phàm ngã theo đuổi lộ trình riêng của mình, phải gánh lấy trách nhiệm riêng, giải quyết dharma riêng, và hoàn tất karma riêng, và như thế tự mình đáp ứng trước Chúa Tể và Chân sư của mình, tức linh hồn. Và sẽ có sự đáp ứng. Điều này tự nó có mang tính chất chia cách và cô độc chăng? Có, xét theo các hoạt động bên ngoài. Chỉ khi những người phụng sự hợp tác từ quan điểm của một sự liên kết chủ quan bên trong thì một thế giới hợp nhất mới có thể được đưa tiến lên.

At this time in the history of the world and its periodical salvaging from conditions which are wrecking the current civilisation, it is necessary that aspirants grasp the fact that that salvaging process must be carried on under the Law of Sacrifice, and that only a relative outer unity can be at this time achieved. Not as yet is the vision seen with a sufficient clarity by the many servers, to make them work with perfect unanimity of purpose and objective, of technique and method, or complete understanding and oneness of approach. That fluid, perfect cooperation lies as yet in the future. The establishing of an inner contact and relationship, based on a realised oneness of purpose and soul love, is magnificently possible, and for this all disciples must struggle and strive. On the outer plane, owing to the separative mind during this age and time, a complete accord on detail, on method, and [107] on interpretation of principles is not possible. But—the inner relationships and cooperation Must be established and developed, in spite of the outer divergences of opinion. When the inner link is held in love, and when disciples relinquish the sense of authority over each other and of responsibility for each other’s activities, and at the same time stand shoulder to shoulder in the One Work, then the differences, the divergences, and the points of disagreement will automatically be overcome. There are three rules which are important to disciples at this time.

Vào lúc này trong lịch sử thế giới và trong giai đoạn cứu vãn định kỳ của nó khỏi những điều kiện đang tàn phá nền văn minh hiện tại, điều cần thiết là những người chí nguyện phải nắm được sự kiện rằng tiến trình cứu vãn ấy phải được tiến hành dưới Định luật Hi Sinh, và rằng hiện nay chỉ có thể đạt được một sự hợp nhất bên ngoài tương đối. Nhiều người phụng sự vẫn chưa thấy linh ảnh với đủ sự sáng tỏ để khiến họ làm việc với sự nhất trí hoàn toàn về mục đích và cứu cánh, về kỹ thuật và phương pháp, hay với sự thấu hiểu trọn vẹn và sự nhất thể trong cách tiếp cận. Sự hợp tác linh động và hoàn hảo ấy vẫn còn thuộc về tương lai. Việc thiết lập một tiếp xúc và mối liên hệ bên trong, dựa trên sự chứng nghiệm về tính nhất thể của mục đích và tình thương linh hồn, là điều có thể thực hiện một cách huy hoàng, và vì điều này mà mọi đệ tử phải đấu tranh và nỗ lực. Trên cõi bên ngoài, do trí tuệ chia cách trong thời đại và thời kỳ này, sự hòa hợp hoàn toàn về chi tiết, về phương pháp, và [107] về sự diễn giải các nguyên lý là không thể. Nhưng—các mối liên hệ và sự hợp tác bên trong phải được thiết lập và phát triển, bất chấp những khác biệt ý kiến bên ngoài. Khi mối liên kết bên trong được giữ vững trong tình thương, và khi các đệ tử từ bỏ cảm giác uy quyền đối với nhau và trách nhiệm đối với hoạt động của nhau, đồng thời đứng vai kề vai trong Một Công Việc, thì những khác biệt, những phân kỳ, và những điểm bất đồng sẽ tự động được vượt qua. Có ba quy luật quan trọng đối với các đệ tử vào lúc này.

First, see to it that you permit no rift to appear in the inner relation in which you stand to each other. The integrity of the inner band of servers must be preserved intact.

Thứ nhất, hãy bảo đảm rằng các bạn không để bất kỳ rạn nứt nào xuất hiện trong mối liên hệ bên trong mà các bạn đang đứng với nhau. Tính toàn vẹn của nhóm người phụng sự bên trong phải được giữ nguyên vẹn.

Secondly, pursue your own duty and task, shoulder your own responsibility, and then leave your fellow disciples to do the same, free from the impact of your thought and criticism. The ways and means are many; the points of view vary with every personality. The principle of work is love for all men and service to the race, preserving at the same time a deeper inner love for those with whom you are destined to work. Each soul grows into the way of light through service rendered, through experience gained, through mistakes made, and through lessons learnt. That necessarily must be personal and individual. But the work itself is one. The Path is one. The love is one. The goal is one. These are the points that matter.

Thứ hai, hãy theo đuổi bổn phận và nhiệm vụ riêng của các bạn, gánh lấy trách nhiệm riêng của các bạn, rồi để các đệ tử đồng môn của các bạn cũng làm như vậy, không bị tác động bởi tư tưởng và sự chỉ trích của các bạn. Các đường lối và phương tiện thì nhiều; các quan điểm thay đổi theo từng phàm ngã. Nguyên lý của công việc là tình thương đối với mọi người và phụng sự nhân loại, đồng thời vẫn giữ một tình thương bên trong sâu sắc hơn đối với những người mà các bạn được định mệnh làm việc cùng. Mỗi linh hồn lớn lên vào con đường ánh sáng qua sự phụng sự được trao ban, qua kinh nghiệm đạt được, qua những sai lầm phạm phải, và qua những bài học được học. Điều đó tất yếu phải mang tính cá nhân và riêng biệt. Nhưng bản thân công việc là một. Con Đường là một. Tình thương là một. Mục tiêu là một. Đó là những điểm quan trọng.

Thirdly, preserve ever in work the attitude of mind which must grow out of the two rules above, faithfully followed. Your point of view and consciousness are your own, and therefore, are for you, right. Not necessarily is that which seems so clear to you and of such vital importance to you, of the same value or importance to your brothers. Your important principle may be realised by an abler mind than [108] yours and by a more advanced disciple as embodying an aspect of a greater principle, an interpretation of a principle, correct and proper at a certain time, but capable of a different application at another time, and by another mind. Under the Law of Sacrifice these three rules might be interpreted thus:

Thứ ba, trong công việc hãy luôn giữ thái độ trí tuệ phải phát triển từ hai quy luật trên, khi được tuân theo một cách trung thành. Quan điểm và tâm thức của các bạn là của riêng các bạn, và vì thế, đối với các bạn, là đúng. Điều có vẻ rõ ràng với các bạn và có tầm quan trọng sống còn đối với các bạn không nhất thiết có cùng giá trị hay tầm quan trọng đối với các huynh đệ của các bạn. Nguyên lý quan trọng của các bạn có thể được một trí tuệ có năng lực hơn [108] trí tuệ của các bạn và bởi một đệ tử tiến bộ hơn nhận ra như là hiện thân của một phương diện của một nguyên lý lớn hơn, một sự diễn giải của một nguyên lý, đúng đắn và thích hợp vào một thời điểm nhất định, nhưng có thể được áp dụng khác đi vào một thời điểm khác, và bởi một trí tuệ khác. Dưới Định luật Hi Sinh, ba quy luật này có thể được diễn giải như sau:

1. Relinquish or sacrifice the age-old tendency to criticise and adjust anothers work, and thus preserve the inner group integrity. More plans for service have gone astray and more workers have been hindered by criticism than by any other major factor.

1. Hãy từ bỏ hay hi sinh khuynh hướng lâu đời là chỉ trích và điều chỉnh công việc của người khác, và nhờ đó bảo toàn tính toàn vẹn của nhóm bên trong. Nhiều kế hoạch phụng sự đã đi chệch hướng và nhiều người hoạt động đã bị cản trở bởi sự chỉ trích hơn là bởi bất kỳ yếu tố chính yếu nào khác.

2. Relinquish or sacrifice the sense of responsibility for the actions of others, and particularly of disciples. See that your own activity measures up to theirs, and in the joy of struggle and on the way of service the differences will disappear and the general good will be achieved.

2. Hãy từ bỏ hay hi sinh cảm giác trách nhiệm đối với hành động của người khác, và đặc biệt là của các đệ tử. Hãy bảo đảm rằng hoạt động của chính các bạn tương xứng với hoạt động của họ, và trong niềm vui của đấu tranh cùng trên con đường phụng sự, những khác biệt sẽ biến mất và thiện ích chung sẽ được đạt tới.

3. Relinquish the pride of mind which sees its way and its interpretations to be correct and true, and others false and wrong. This is the way of separation. Adhere to the way of integration which is of the soul and not of the mind.

3. Hãy từ bỏ sự kiêu hãnh của trí tuệ vốn cho rằng con đường và các diễn giải của nó là đúng và thật, còn của người khác là sai và giả. Đây là con đường của chia cách. Hãy gắn bó với con đường của sự tích hợp, vốn là của linh hồn chứ không phải của trí tuệ.

These are hard sayings, but they are the rules by which the Teachers on the inner side, guide Their actions and Their thoughts, when working with each other and with Their disciples. The inner integrity is necessarily a proven fact to Them. To the disciple it is not. But to the inner Teachers, the outer differences are abhorrent. They leave each other free to serve the Plan. They train Their disciples (no matter what their degree) to serve that Plan with freedom, for in freedom and in the sense of joy and in the strength of inner cooperative love is the best work done. It is sincerity for which They look. The willingness to sacrifice the lesser [109] when the greater is sensed is that for which They search. The spontaneous relinquishing of long-held ideals when a greater and more inclusive presents itself is Their guide. The sacrifice of pride and the sacrifice of personality when the vastness of the work and the urgency of the need are realised, sway Them to cooperation. It is essential that the disciples shall learn to sacrifice the non-essential in order that the work may go forward. Little as one may realise it, the many techniques and methods and ways are secondary to the major world need. There are many ways and many points of view, and many experiments and many efforts—abortive or successful, and all of them come and go. But humanity remains. All of them are in evidence of the multiplicity of minds, and of experiences, but the goal remains. Difference is ever of the personality. When this Law of Sacrifice governs the mind, it will inevitably lead all disciples to relinquish the personal in favor of the universal and of the soul, that knows no separation, no difference. Then no pride, nor a short and myopic perspective, nor love of interference (so dear to many people), nor misunderstanding of motive will hinder their cooperation with each other as disciples, nor their service to the world.

Đây là những lời khó nghe, nhưng đó là những quy luật mà các Huấn sư ở phía bên trong dùng để hướng dẫn hành động và tư tưởng của Các Ngài khi làm việc với nhau và với các đệ tử của Các Ngài. Tính toàn vẹn bên trong đối với Các Ngài tất yếu là một sự kiện đã được chứng minh. Đối với đệ tử thì không phải vậy. Nhưng đối với các Huấn sư bên trong, những khác biệt bên ngoài là điều đáng ghê sợ. Các Ngài để cho nhau tự do phụng sự Thiên Cơ. Các Ngài huấn luyện các đệ tử của Các Ngài (bất kể cấp độ nào) phụng sự Thiên Cơ ấy trong tự do, vì trong tự do và trong cảm nhận hoan hỉ cùng trong sức mạnh của tình thương hợp tác bên trong mà công việc tốt nhất được thực hiện. Điều Các Ngài tìm kiếm là sự chân thành. Điều Các Ngài dò tìm là sự sẵn lòng hi sinh cái nhỏ hơn [109] khi cái lớn hơn được cảm nhận. Sự tự phát từ bỏ những lý tưởng được giữ lâu dài khi một lý tưởng lớn hơn và bao gồm hơn xuất hiện là kim chỉ nam của Các Ngài. Sự hi sinh kiêu hãnh và sự hi sinh phàm ngã khi sự bao la của công việc và tính cấp bách của nhu cầu được chứng nghiệm, khiến Các Ngài nghiêng về hợp tác. Điều cốt yếu là các đệ tử phải học cách hi sinh điều không cốt yếu để công việc có thể tiến lên. Dù người ta có thể ít nhận ra điều đó đến đâu, nhiều kỹ thuật, phương pháp và đường lối vẫn chỉ là thứ yếu so với nhu cầu lớn lao của thế giới. Có nhiều đường lối và nhiều quan điểm, nhiều thử nghiệm và nhiều nỗ lực—thất bại hay thành công, và tất cả đều đến rồi đi. Nhưng nhân loại vẫn còn đó. Tất cả chúng là bằng chứng của tính đa tạp của các trí tuệ và của các kinh nghiệm, nhưng mục tiêu vẫn còn đó. Sự khác biệt luôn luôn thuộc về phàm ngã. Khi Định luật Hi Sinh này chi phối trí tuệ, nó tất yếu sẽ dẫn mọi đệ tử đến chỗ từ bỏ cái cá nhân để ưu tiên cho cái phổ quát và cho linh hồn, vốn không biết chia cách, không biết khác biệt. Khi ấy, không kiêu hãnh, cũng không một viễn cảnh ngắn ngủi và cận thị, cũng không lòng thích can thiệp (rất được nhiều người ưa chuộng), cũng không sự hiểu sai động cơ sẽ cản trở sự hợp tác của họ với nhau như những đệ tử, hay sự phụng sự của họ đối với thế giới.

{End of LOTSWC 9,109—End of the Law of Sacrifice

{End of LOTSWC 9,109—End of the Law of Sacrifice

Beginning of LOTWC 10 109, Beginning of the Law of Magnetic Impulse

Beginning of LOTWC 10 109, Beginning of the Law of Magnetic Impulse

2. The Law of Magnetic Impulse—Định luật Xung Động Từ Tính

No

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

2.

The Law of Magnetic Impulse

The Law of Polar Union.

Two fiery balls and triangle.

Radiatory Energy. Second Ray manifesting Energy.

Định Luật Xung Động Từ Tính

Định luật của Sự Hợp Nhất Hai Cực.

Hai quả cầu lửa và tam giác.

Năng lượng Phóng Xạ. Năng lượng Biểu Lộ Cung Hai.

It would be well to remember that we are not considering here that aspect of the second ray which is peculiarly concerned with form, and which constitutes the cohering, magnetic [110] agent in any form, whether atom, man or solar system. We are not here concerned with the relation between forms, even though due (as is essentially the case) to second ray energy. Nor are we occupied with considering the relation of soul to form, either that of the One Soul to the many forms, or of an individualised soul to its imprisoning form. The laws we are considering are concerned entirely with inter-soul relationship, and with the synthesis underlying the forms. They govern the conscious contact existing between the many aspects of the One Soul. I have expressed this phrase with care.

Cần nhớ rằng ở đây chúng ta không xem xét phương diện ấy của cung hai vốn đặc biệt liên quan đến hình tướng, và tạo thành tác nhân kết dính, từ tính trong bất kỳ hình tướng nào, dù là nguyên tử, con người hay hệ mặt trời. Ở đây chúng ta không quan tâm đến mối liên hệ giữa các hình tướng, dù điều đó là do năng lượng cung hai gây ra (như thực chất vẫn vậy). Chúng ta cũng không bận tâm xem xét mối liên hệ của linh hồn với hình tướng, dù là của Một Linh Hồn với nhiều hình tướng, hay của một linh hồn biệt ngã hóa với hình tướng giam hãm nó. Các định luật mà chúng ta đang xem xét hoàn toàn liên quan đến mối liên hệ giữa các linh hồn, và đến sự tổng hợp nằm dưới các hình tướng. Chúng chi phối sự tiếp xúc có ý thức hiện hữu giữa nhiều phương diện của Một Linh Hồn. Tôi đã diễn đạt cụm từ này một cách cẩn trọng.

This Law of Magnetic Impulse governs the relation, the interplay, the intercourse, and the interpenetration between the seven groups of souls on the higher levels of the mental plane which constitute the first of the major form differentiations. These we can only study intelligently from the angle of the seven ray groups, as they compose the spiritual aspect of the human family. This law governs also the relationships between souls, who, whilst in manifestation through form, are en rapport with each other. It is a law, therefore, which concerns the inter-relation of all souls within the periphery of what the Christians call “the Kingdom of God.” Through a right understanding of this law, the man arrives at a knowledge of his subjective life; he can wield power subjectively, and thus work consciously in form and with form, yet holding his polarisation and his consciousness in another dimension, and functioning actively behind the scenes. This law concerns those inner esoteric activities which are not primarily related to form life.

Định luật Xung Động Từ Tính này chi phối mối liên hệ, sự tương tác, sự giao tiếp, và sự thâm nhập lẫn nhau giữa bảy nhóm linh hồn trên các cấp độ cao hơn của cõi trí, vốn tạo thành sự biến phân hình tướng lớn đầu tiên. Chúng ta chỉ có thể nghiên cứu chúng một cách thông minh từ góc độ của bảy nhóm cung, vì chúng cấu thành phương diện tinh thần của gia đình nhân loại. Định luật này cũng chi phối các mối liên hệ giữa các linh hồn, những linh hồn mà trong khi đang biểu lộ qua hình tướng, vẫn có sự tương thông với nhau. Vì vậy, đây là một định luật liên quan đến mối tương liên của mọi linh hồn trong chu vi của điều mà người Cơ Đốc gọi là “Thiên Giới.” Qua sự thấu hiểu đúng đắn định luật này, con người đạt đến tri thức về đời sống chủ quan của mình; y có thể vận dụng quyền năng một cách chủ quan, và như thế làm việc một cách có ý thức trong hình tướng và với hình tướng, nhưng vẫn giữ sự phân cực và tâm thức của mình trong một chiều kích khác, và hoạt động tích cực đằng sau hậu trường. Định luật này liên quan đến những hoạt động huyền bí nội môn bên trong, vốn không chủ yếu liên hệ đến đời sống hình tướng.

This law is of major importance because of the fact that Deity itself is on the second ray; because this is a second ray solar system, and therefore all rays and the varying states or groupings of consciousness, and all forms, in or out of physical [111] manifestation, are coloured and dominated by this ray, and therefore again finally controlled by this law. The Law of Magnetic Impulse is in the soul realm what the Law of Attraction is in the world of phenomena. It is, in reality, the subjective aspect of that Law. It is the Law of Attraction as it functions in the kingdom of souls, but because it is functioning on those levels where the “great heresy of separateness” is not to be found, it is difficult for us—with our active, discriminating minds—to understand its implications and its significance. This Law governs the soul realm, to it the Solar Angels respond, and under its stimulation, the egoic lotuses unfold. It could perhaps be best understood if it is considered as—

Định luật này có tầm quan trọng lớn lao vì chính Thượng đế thuộc cung hai; vì đây là một hệ mặt trời cung hai, và do đó mọi cung cùng các trạng thái hay nhóm tâm thức khác nhau, và mọi hình tướng, trong hay ngoài sự biểu hiện hồng trần, đều được nhuốm màu và chi phối bởi cung này, và vì thế rốt cuộc lại bị kiểm soát bởi định luật này. Định luật Xung Động Từ Tính là trong lĩnh vực linh hồn điều mà Định luật Hấp Dẫn là trong thế giới hiện tượng. Thực ra, nó là phương diện chủ quan của Định luật ấy. Nó là Định luật Hấp Dẫn khi vận hành trong giới linh hồn, nhưng vì nó đang vận hành trên những cấp độ nơi “Đại Tà thuyết về sự chia cách” không còn được tìm thấy, nên đối với chúng ta—với các trí tuệ linh hoạt, phân biện của mình—thật khó hiểu được các hàm ý và thâm nghĩa của nó. Định luật này chi phối lĩnh vực linh hồn, các Thái dương Thiên Thần đáp ứng với nó, và dưới sự kích thích của nó, các Hoa Sen Chân Ngã khai mở. Có lẽ có thể hiểu nó rõ nhất nếu xem nó như—

a. The impulsive interplay between souls in form and out of form.

a. Sự tương tác xung động giữa các linh hồn trong hình tướng và ngoài hình tướng.

b. The basis of egoic recognition.

b. Nền tảng của sự nhận biết chân ngã.

c. The factor which produces reorientation in the three worlds.

c. Yếu tố tạo ra sự tái định hướng trong ba cõi thấp.

d. The cause of the magnetic rapport between a Master and His group, or a Master and His disciple.

d. Nguyên nhân của sự tương thông từ tính giữa một Chân sư và nhóm của Ngài, hay một Chân sư và đệ tử của Ngài.

It has an occult name, and we call it “the Law of Polar Union.” Yet when I say to you that this implies the binding of the pairs of opposites, the fusion of the dualities, and the marriage of souls, I have uttered meaningless words, or words which—at the best—embody an ideal which is so closely tied up with material things in the mind of the aspirant, and so connected with the processes of detachment (at which disciples work so strenuously!) that I despair of presenting the truth as it concerns souls and soul relationships.

Nó có một tên gọi huyền bí, và chúng ta gọi nó là “Định luật Hợp Nhất Phân Cực.” Tuy nhiên, khi tôi nói với các bạn rằng điều này hàm ý sự ràng buộc của các cặp đối đãi, sự dung hợp của các nhị nguyên tính, và cuộc hôn phối của các linh hồn, thì tôi đã thốt ra những lời vô nghĩa, hoặc những lời—cùng lắm—chỉ bao hàm một lý tưởng gắn quá chặt với các sự vật vật chất trong trí tuệ của người chí nguyện, và liên hệ quá nhiều với các tiến trình tách rời (mà các đệ tử nỗ lực mãnh liệt đến thế!) đến nỗi tôi tuyệt vọng trong việc trình bày chân lý như nó liên quan đến các linh hồn và các mối liên hệ linh hồn.

This law governs also the relation of the soul of a group to the soul of other groups. It governs the interplay, vital but unrealised yet as a potency, between the soul of the [112] fourth kingdom in nature, the human, and the soul of the three subhuman kingdoms, and likewise that of the three superhuman kingdoms. Owing to the major part which humanity has to play in the great scheme or Plan of God, this is the law which will be the determining law of the race. This will not, however, be the case until the majority of human beings understand something of what it means to function as a soul. Then, under obedience to this law, humanity will act as a transmitter of light, energy and spiritual potency to the subhuman kingdoms, and will constitute a channel of communication between “that which is above and that which is below.” Such is the high destiny before the race.

Định luật này cũng chi phối mối liên hệ của linh hồn một nhóm với linh hồn của các nhóm khác. Nó chi phối sự tương tác, sống động nhưng chưa được nhận ra như một tiềm năng, giữa linh hồn của [112] giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, và linh hồn của ba giới dưới nhân loại, cũng như của ba giới siêu nhân loại. Do vai trò lớn lao mà nhân loại phải đảm nhiệm trong đại hệ hay Thiên Cơ của Thượng đế, đây là định luật sẽ là định luật quyết định của nhân loại. Tuy nhiên, điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi đa số con người hiểu được phần nào ý nghĩa của việc hoạt động như một linh hồn. Khi ấy, dưới sự tuân phục định luật này, nhân loại sẽ hành động như một kẻ truyền dẫn ánh sáng, năng lượng và mãnh lực tinh thần đến các giới dưới nhân loại, và sẽ tạo thành một kênh giao tiếp giữa “điều ở trên” và “điều ở dưới.” Đó là định mệnh cao cả đang ở trước nhân loại.

Just as certain human beings have, through meditation, discipline and service, most definitely made a contact with their own souls, and can therefore become channels for soul expression, and mediums for the distribution into the world of soul energy, so men and women, who are oriented to soul living in their aggregate, form a group of souls, en rapport with the source of spiritual supply. They have, as a group, and from the angle of the Hierarchy, established a contact and are “in touch” with the world of spiritual realities. Just as the individual disciple stabilises this contact and learns to make a rapid alignment and then, and only then, can come into touch with the Master of his group and intelligently respond to the Plan, so does this group of aligned souls come into contact with certain greater Lives and Forces of Light, such as the Christ and the Buddha. The aggregated aspiration, consecration and intelligent devotion of the group carries the individuals of which it is composed to greater heights than would be possible alone. The group stimulation and the united effort sweep the entire group to an intensity of realisation that would otherwise be impossible. Just as the Law [113] of Attraction, working on the physical plane, brought them together as men and women into one group effort, so the Law of Magnetic Impulse can begin to control them when, again as a group and only as a group, they unitedly constitute themselves channels for service in pure self-forgetfulness.

Cũng như một số con người, nhờ tham thiền, kỷ luật và phụng sự, đã hết sức rõ rệt tạo được sự tiếp xúc với chính linh hồn mình, và do đó có thể trở thành những kênh dẫn cho sự biểu lộ của linh hồn, và là những trung gian để phân phối năng lượng linh hồn vào thế gian, thì cũng vậy, những người nam và nữ hướng về đời sống linh hồn trong tổng thể của họ, hợp thành một nhóm các linh hồn, có tương giao với nguồn cung ứng tinh thần. Với tư cách một nhóm, và từ góc độ của Thánh Đoàn, họ đã thiết lập được một sự tiếp xúc và đang “liên hệ” với thế giới của các thực tại tinh thần. Cũng như đệ tử cá nhân làm ổn định sự tiếp xúc này và học cách chỉnh hợp mau lẹ, rồi khi ấy, và chỉ khi ấy, mới có thể tiếp xúc với Chân sư của nhóm mình và đáp ứng một cách thông tuệ với Thiên Cơ, thì nhóm các linh hồn đã chỉnh hợp này cũng tiếp xúc với một số Sự sống và Mãnh lực Ánh sáng lớn lao hơn, như Đức Christ và Đức Phật. Khát vọng, sự thánh hiến và lòng sùng tín thông tuệ được kết hợp của nhóm nâng những cá nhân cấu thành nhóm lên những đỉnh cao lớn hơn điều họ có thể đạt được nếu đơn độc. Sự kích thích của nhóm và nỗ lực hợp nhất cuốn toàn thể nhóm vào một cường độ chứng nghiệm mà nếu không thì không thể có được. Cũng như Định luật [113] Hấp Dẫn, hoạt động trên cõi hồng trần, đã đưa họ lại với nhau như những người nam và nữ trong một nỗ lực nhóm, thì Định luật Xung Động Từ Tính cũng có thể bắt đầu chi phối họ khi, một lần nữa với tư cách một nhóm và chỉ như một nhóm, họ cùng nhau tự cấu thành những kênh dẫn phụng sự trong sự quên mình thuần khiết.

END of LOTSWC 10, 109-113

END of LOTSWC 10, 109-113

Beginning of LOTSWC 11,113

Beginning of LOTSWC 11,113

This thought embodies the opportunity immediately before all groups of aspirants and allied men of good will in the world today. If they work together as a group of souls, they can accomplish much. This thought illustrates also the significance of this law which does produce polar union. What is needed to be grasped is that in this work, there is no personal ambition implied, even of a spiritual nature and no personal union sought. This is not the mystical union of the scriptures or of the mystical tradition. It is not alignment and union with a Master’s group, or fusion with one’s inner band of pledged disciples, nor even with one’s own Ray life. All these factors constitute preliminary implications and are of an individual application. Upon this sentence I ask you to ponder. This union is a greater and more vital thing because it is a group union.

Tư tưởng này bao hàm cơ hội đang trực tiếp ở trước mọi nhóm người chí nguyện và những người thiện chí liên kết với nhau trên thế giới ngày nay. Nếu họ cùng làm việc như một nhóm các linh hồn, họ có thể hoàn thành được nhiều điều. Tư tưởng này cũng minh họa ý nghĩa của định luật này, định luật thực sự tạo ra sự hợp nhất cực tính. Điều cần được nắm bắt là trong công việc này không hàm ý tham vọng cá nhân nào, dù mang bản chất tinh thần, và cũng không tìm kiếm sự hợp nhất cá nhân nào. Đây không phải là sự hợp nhất thần bí của kinh điển hay của truyền thống thần bí. Đây không phải là sự chỉnh hợp và hợp nhất với nhóm của một Chân sư, hay sự dung hợp với đoàn đệ tử nội tâm đã thệ nguyện của riêng mình, cũng không phải ngay cả với sự sống cung của chính mình. Tất cả các yếu tố này tạo thành những hàm ý sơ bộ và có tính áp dụng cá nhân. Tôi yêu cầu các bạn suy ngẫm về câu này. Sự hợp nhất này là một điều lớn lao hơn và thiết yếu hơn bởi vì đó là một sự hợp nhất nhóm.

What we are seeking to do is to carry forward a group endeavor which is of such moment that, at the right time, it could produce, in its growing momentum, such a potent, magnetic impulse that it will reach those Lives Who brood over humanity and our civilisation, and Who work through the Masters of the Wisdom and the assembled Hierarchy. This group endeavor will call forth from Them a responsive and magnetic impulse, which will bring together, through the medium of all the aspiring groups, the overshadowing beneficent Forces. Through the concentrated effort of these groups in the world today (who constitute subjectively One Group) light and inspiration and spiritual revelation can be released in such a flood of power that it will work definite changes [114] in the human consciousness and help to ameliorate conditions in this needy world. It will open men’s eyes to the basic realities, which are, as yet, only dimly sensed by the thinking public. Humanity itself must apply the necessary correctives, believing it can do so in the strength of its own sensed wisdom and strength; yet all the time, behind the scenes, stand the grouped world aspirants, working silently, in unison with each other and the Hierarchy, and thus keeping the channel open through which the needed wisdom, strength and love can flow.

Điều chúng ta đang tìm cách thực hiện là thúc đẩy một nỗ lực nhóm có tầm quan trọng đến mức, vào đúng thời điểm, nó có thể tạo ra, trong đà tăng trưởng của nó, một xung động từ tính mạnh mẽ đến nỗi sẽ vươn tới những Sự sống đang phủ bóng lên nhân loại và nền văn minh của chúng ta, và đang hoạt động thông qua các Chân sư Minh Triết và Thánh Đoàn tập hợp. Nỗ lực nhóm này sẽ khơi dậy từ Các Ngài một xung động đáp ứng và từ tính, xung động này sẽ quy tụ, thông qua trung gian của mọi nhóm chí nguyện, các Mãnh lực từ bi đang phủ bóng. Nhờ nỗ lực tập trung của các nhóm này trên thế giới ngày nay (những nhóm chủ quan cấu thành Một Nhóm), ánh sáng, cảm hứng và sự mặc khải tinh thần có thể được giải phóng trong một dòng tuôn đổ mãnh lực đến mức nó sẽ tạo ra những thay đổi rõ rệt [114] trong tâm thức nhân loại và giúp cải thiện các điều kiện trong thế giới đang thiếu thốn này. Nó sẽ mở mắt con người trước những thực tại căn bản mà hiện nay công chúng biết suy nghĩ mới chỉ cảm nhận được một cách mơ hồ. Chính nhân loại phải áp dụng những biện pháp điều chỉnh cần thiết, tin rằng họ có thể làm như vậy bằng sức mạnh của minh triết và sức mạnh mà họ cảm nhận nơi chính mình; tuy nhiên, suốt thời gian ấy, phía sau hậu trường là những người chí nguyện thế giới đang làm việc theo nhóm, âm thầm hoạt động, đồng tâm nhất trí với nhau và với Thánh Đoàn, nhờ đó giữ cho kênh dẫn luôn rộng mở để minh triết, sức mạnh và tình thương cần thiết có thể tuôn chảy qua.

There are, therefore, to be found in this great task the following relations and groupings. These must be considered, and are as follows:

Vì vậy, trong nhiệm vụ lớn lao này có thể thấy những tương quan và những nhóm sau đây. Chúng phải được xem xét, và như sau:

1. The Forces of Light and the Spirit of Peace, embodied Lives of tremendous group potency.

1. Các Mãnh lực Ánh sáng và Đấng Tinh thần Hòa Bình, những Sự sống nhập thể có mãnh lực nhóm vô cùng lớn lao.

2. The Planetary Hierarchy.

2. Thánh Đoàn Hành Tinh.

3. The Buddha.

3. Đức Phật.

4. The Christ.

4. Đức Christ.

5. The New Group of World Servers.

5. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

6. Humanity.

6. Nhân loại.

You will note that the Buddha focusses in Himself the downpouring forces, whilst the Christ focusses in Himself the outgoing demand and the spiritual aspirations of the entire planet. This makes a planetary alignment of great potency. Should the needed work be accomplished, the needed adjustments in the world can be made. The success or failure lies largely in the hands of those scattered but spiritually aligned men and women whom we call the New Group of World Servers.

Các bạn sẽ lưu ý rằng Đức Phật tập trung nơi Chính Ngài các mãnh lực tuôn đổ xuống, trong khi Đức Christ tập trung nơi Chính Ngài nhu cầu hướng ra ngoài và các khát vọng tinh thần của toàn thể hành tinh. Điều này tạo nên một sự chỉnh hợp hành tinh có mãnh lực rất lớn. Nếu công việc cần thiết được hoàn thành, những điều chỉnh cần thiết trong thế giới có thể được thực hiện. Thành công hay thất bại phần lớn nằm trong tay những người nam và nữ phân tán nhưng được chỉnh hợp về mặt tinh thần mà chúng ta gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

In the above tabulation, there is portrayed a little of what is implied in the words “The Law of Polar Union.” The whole process concerns consciousness, and the results worked [115] out in consciousness, with the subsequent physical plane happenings, dependent upon the conscious realisations of the men of good will in, or out of, the New Group of World Servers.

Trong bảng liệt kê trên, một phần nhỏ của điều được hàm ý trong những lời “Định luật Hợp Nhất Cực Tính” đã được phác họa. Toàn bộ tiến trình liên quan đến tâm thức, và các kết quả được thực hiện [115] trong tâm thức, cùng với những biến cố tiếp theo trên cõi hồng trần, đều tùy thuộc vào những chứng nghiệm có ý thức của những người thiện chí ở trong hay ngoài Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

This work, carried forward successfully and intelligently, should make it possible to inaugurate a new relation between the Hierarchy and mankind. This effort could mark (and let us hope it will) the beginning of a new type of mediatory work—a work carried forward by a salvaging group of servers, who are in training for the establishing of that group which will eventually save the world under the Law of Sacrifice. This mediatory work, however, involves the recognition of the Law of Magnetic Impulse, and a desire to understand it, and to cooperate with Those Who wield it. Through its medium and the right understanding of the Law, it should be possible to establish the needed union between the liberated souls (who are in themselves the symbol of the Soul in all forms) and the souls in prison. Much of the success of this planned endeavor depends upon the intellectual grasp of the members of the New Group of World Servers in connection with the necessary technique. It will depend also upon their willingness to accept the idea of the opportunity, and upon their readiness to work along the indicated lines. They have no guarantee as to the accuracy of claims made regarding the importance of this period, nor have they any personal knowledge of the situation as it is here described. Some do not even know that there is a watching Hierarchy, but they are consecrated and selfless souls, and as such, belong to the New Group of World Servers. If they can aspire, pray, meditate and serve, focussing always in unison with all other servers, the salvaging of humanity will go forward with much greater speed than heretofore, and to this call many will respond.

Công việc này, nếu được tiến hành thành công và thông tuệ, sẽ làm cho việc khai mở một mối liên hệ mới giữa Thánh Đoàn và nhân loại trở nên khả hữu. Nỗ lực này có thể đánh dấu (và chúng ta hãy hy vọng là sẽ như vậy) sự khởi đầu của một loại công việc trung gian mới—một công việc được tiến hành bởi một nhóm phụng sự cứu vớt, những người đang được huấn luyện để thiết lập nhóm mà rốt cuộc sẽ cứu thế giới dưới Định luật Hi Sinh. Tuy nhiên, công việc trung gian này bao hàm việc nhìn nhận Định luật Xung Động Từ Tính, cùng với ước muốn thấu hiểu nó và hợp tác với Những Đấng vận dụng nó. Thông qua trung gian của định luật này và sự thấu hiểu đúng đắn về Định luật, sẽ có thể thiết lập sự hợp nhất cần thiết giữa các linh hồn được giải thoát (vốn tự thân là biểu tượng của Linh hồn trong mọi hình tướng) và các linh hồn bị giam cầm. Phần lớn thành công của nỗ lực có kế hoạch này tùy thuộc vào sự nắm bắt bằng trí tuệ của các thành viên trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian liên quan đến kỹ thuật cần thiết. Nó cũng sẽ tùy thuộc vào sự sẵn lòng của họ trong việc chấp nhận ý tưởng về cơ hội này, và vào sự sẵn sàng của họ để làm việc theo những đường lối đã được chỉ ra. Họ không có bảo đảm nào về tính chính xác của những khẳng định được đưa ra liên quan đến tầm quan trọng của giai đoạn này, cũng không có tri thức cá nhân nào về tình hình như được mô tả ở đây. Một số người thậm chí còn không biết rằng có một Thánh Đoàn đang quan sát, nhưng họ là những linh hồn thánh hiến và vô ngã, và với tư cách đó, thuộc về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nếu họ có thể khát vọng, cầu nguyện, tham thiền và phụng sự, luôn luôn tập trung trong sự hợp nhất với mọi người phụng sự khác, thì công cuộc cứu vớt nhân loại sẽ tiến triển nhanh hơn nhiều so với trước đây, và nhiều người sẽ đáp ứng lời kêu gọi này.

[116]

[116]

For the individual disciple, the significance of this Law of Magnetic Impulse and the corresponding relationships in his own life might also be shown in tabulated form:—

Đối với đệ tử cá nhân, ý nghĩa của Định luật Xung Động Từ Tính này và những tương quan tương ứng trong chính đời sống của y cũng có thể được trình bày dưới dạng bảng như sau:—

1. The world of souls on the higher mental levels.

1. Thế giới các linh hồn trên các cấp độ thượng trí.

2. The Master of his group.

2. Chân sư của nhóm y.

3. The solar angel.

3. Thái dương Thiên Thần.

4. The aspiring disciple on the lower mental levels.

4. Đệ tử chí nguyện trên các cấp độ hạ trí.

5. The personality, integrated and often troublesome.

5. Phàm ngã, đã tích hợp và thường gây rắc rối.

6. The aspirant’s environing associates.

6. Những người cộng sự chung quanh người chí nguyện.

It is useful for students to have these analogies in mind, for they can often arrive at release from the limitations of their lives and at a truer comprehension of the larger issues, when they see that their little, unimportant lives are only the reflection of greater and more important factors.

Việc để các đạo sinh ghi nhớ những tương đồng này là hữu ích, vì họ thường có thể đạt đến sự giải thoát khỏi những giới hạn của đời mình và đạt đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về những vấn đề lớn lao hơn, khi họ thấy rằng những cuộc đời nhỏ bé, không quan trọng của họ chỉ là sự phản chiếu của những yếu tố lớn lao và quan trọng hơn.

It is wise always to remember that on the plane of soul existence there is no separation, no “my soul and thy soul.” It is only in the three worlds of illusion and of maya that we think in terms of souls and bodies. This is an occult platitude and well known, but the re-emphasis of the well known truth will sometimes serve to bring home to you its exactitude.

Điều khôn ngoan là luôn ghi nhớ rằng trên cõi hiện hữu của linh hồn không có sự phân ly, không có “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn.” Chỉ trong ba cõi của ảo tưởng và ảo lực mà chúng ta mới suy nghĩ theo các thuật ngữ linh hồn và thể xác. Đây là một lời sáo ngữ huyền bí học và ai cũng biết, nhưng việc nhấn mạnh lại chân lý quen thuộc này đôi khi sẽ giúp các bạn nhận rõ tính chính xác của nó.

The second illustration which may perhaps make clearer the meaning and purpose of this law, and which will be of deep interest to esotericists, is to be found in connection with the symbol that specifies this law in the sacred records and in the archives of the Lodge. It is the symbol of the two balls of fire and the triangle. This has not only a planetary and cosmic significance, but has a very definite relation to the individual unfoldment (in the physical body) of the spiritual life of the disciple. Let me put it very simply. Students know that there are in the head two centres, the ajna centre and the head centre,—two balls of fire, symbolic of the fiery [117] consciousness of the soul, and not of the animal consciousness of the body.

Minh họa thứ hai, có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn ý nghĩa và mục đích của định luật này, và sẽ đặc biệt gây quan tâm sâu sắc cho các nhà bí truyền học, được tìm thấy liên quan đến biểu tượng chỉ rõ định luật này trong các biên niên thiêng liêng và trong các văn khố của Thánh đoàn. Đó là biểu tượng của hai quả cầu lửa và tam giác. Biểu tượng này không những có ý nghĩa hành tinh và vũ trụ, mà còn có một liên hệ rất xác định với sự khai mở cá nhân (trong thể xác) của đời sống tinh thần của đệ tử. Hãy để tôi trình bày thật đơn giản. Các đạo sinh biết rằng trong đầu có hai trung tâm, trung tâm ajna và trung tâm đầu,—hai quả cầu lửa, tượng trưng cho tâm thức rực lửa [117] của linh hồn, chứ không phải của tâm thức thú tính của thể xác.

These two centres (externalised by the two glands, the pineal gland and the pituitary body) become vibrant and alive and intensely active, through service and meditation and right aspiration. A line of contact between them is eventually set up and established with increasing potency. There is also another line of outgoing fiery power toward the top of the spinal column. As the life of the soul gets stronger, the radiance of the centres increases, and the periphery of their sphere of influence is set up, creating a dual magnetic field. Speaking esoterically they are “magnetically impelled towards each other” and towards the stored up energy to be found in the spine, and localised in the five centres up the spine. Eventually the interplay is so powerful that a triangle of force appears within the radius of the magnetic field, and this triangle of light, of living fire, links the three “laya centres.” The symbol is then completed, and the indication is that the disciple is now controlled by the subjective side of his nature. He is now governed by the Law of Magnetic Impulse (as the linking of the head centres demonstrates) and the two aspects of his nature, higher and lower, which constitute the two poles with which he is concerned, are now united. The polar union has been brought about. The subject of this magnetic interplay offers food for thought and indicates the way of group, and of individual service. As the individual aspirants lose sight of self in service, and as they arrive at the stage of indifference to personality claims and happenings, they learn to cherish a spirit of confidence, of joy and of love, deep and lasting, for each other; they learn to work together whole-heartedly for the helping of the world and the assistance of the Hierarchy.

Hai trung tâm này (được ngoại hiện qua hai tuyến, tuyến tùng quả và tuyến yên) trở nên rung động, sống động và hoạt động mãnh liệt nhờ phụng sự, tham thiền và khát vọng chân chính. Một đường tiếp xúc giữa chúng cuối cùng được thiết lập và củng cố với mãnh lực ngày càng tăng. Cũng còn có một đường mãnh lực lửa khác hướng ra ngoài về phía đỉnh cột sống. Khi sự sống của linh hồn trở nên mạnh hơn, bức xạ của các trung tâm gia tăng, và chu vi của khối cầu ảnh hưởng của chúng được thiết lập, tạo nên một từ trường kép. Nói theo cách huyền bí, chúng “được xung động từ tính thúc đẩy hướng về nhau” và hướng về năng lượng tích trữ được tìm thấy trong cột sống, được định vị trong năm trung tâm dọc theo cột sống. Cuối cùng, sự tương tác trở nên mạnh mẽ đến mức một tam giác lực xuất hiện trong bán kính của từ trường, và tam giác ánh sáng này, của lửa sống, nối kết ba “trung tâm laya.” Khi ấy biểu tượng được hoàn tất, và dấu hiệu cho thấy đệ tử hiện nay được kiểm soát bởi phương diện chủ quan của bản chất mình. Giờ đây y được chi phối bởi Định luật Xung Động Từ Tính (như sự nối kết của các trung tâm đầu chứng minh) và hai phương diện của bản chất y, cao và thấp, vốn cấu thành hai cực mà y quan tâm, nay đã được hợp nhất. Sự hợp nhất cực tính đã được mang lại. Chủ đề về sự tương tác từ tính này đem lại nhiều điều đáng suy ngẫm và chỉ ra con đường phụng sự của nhóm và của cá nhân. Khi những người chí nguyện cá nhân không còn để mắt đến bản thân trong phụng sự, và khi họ đạt đến giai đoạn điềm nhiên trước những đòi hỏi và biến cố của phàm ngã, họ học cách nuôi dưỡng nơi nhau một tinh thần tin cậy, hoan hỉ và tình thương sâu xa, bền vững; họ học cách cùng nhau làm việc hết lòng để giúp đỡ thế giới và hỗ trợ Thánh Đoàn.

{END LOTSWC 11, 113-118

{END LOTSWC 11, 113-118

Beginning of LOTSWC 12,118—Law of Service

Beginning of LOTSWC 12,118—Law of Service

[118]

[118]

3. The Law of Service—Địnhluật Phụng sự

No.

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

3.

Law of Service.

Law of water and the fishes.

A man with a pot of water

Outpouring Energy Sixth Ray. Vivifying Life

3.

Định Luật Phụng Sự.

Định luật của nước và cá.

Một người đàn ông với bình nước

Năng lượng Tuôn Đổ Cung Sáu. Sự Sống Làm Sống Động

We come now to the consideration of the third Law of the Soul, which is intended to govern all soul activity. It is the Law of Service. However, before we elaborate this theme, there are three things which I seek to say and which merit our careful attention.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét Định luật thứ ba của Linh hồn, định luật được dự định để chi phối mọi hoạt động của linh hồn. Đó là Định luật Phụng sự. Tuy nhiên, trước khi khai triển chủ đề này, có ba điều tôi muốn nói và đáng để chúng ta chú ý cẩn trọng.

First, is the fact that the result of all contact achieved in meditation and the measure of our success, will be determined by the ensuing service to the race. If there is right understanding, there will necessarily be right action.

Thứ nhất là sự kiện rằng kết quả của mọi tiếp xúc đạt được trong tham thiền và mức độ thành công của chúng ta sẽ được quyết định bởi sự phụng sự tiếp theo dành cho nhân loại. Nếu có sự thấu hiểu đúng đắn, tất yếu sẽ có hành động đúng đắn.

It has previously been pointed out that the three great sciences which will come to the fore in the New Age, and which will lead humanity from the unreal to the real, and from aspiration to realisation are

Trước đây đã chỉ ra rằng ba khoa học lớn sẽ nổi lên trong Kỷ nguyên Mới, và sẽ dẫn dắt nhân loại từ cái không thực đến cái thực, và từ khát vọng đến chứng nghiệm là

1. The science of Meditation, the coming science of the mind.

1. Khoa học Tham Thiền, khoa học sắp đến của trí tuệ.

2. The science of Antaskarana, or the science of the bridging which must take place between higher and lower mind.

2. Khoa học Antaskarana, hay khoa học về sự bắt cầu phải diễn ra giữa thượng trí và hạ trí.

3. The science of Service, which is a definite technique of at-one-ment.

3. Khoa học Phụng sự, vốn là một kỹ thuật xác định của sự hợp nhất.

We shall now consider the broad outlines of this science, for it is the major releasing factor in the disciple’s life.

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét những nét đại cương của khoa học này, vì nó là yếu tố giải phóng chủ yếu trong đời sống của đệ tử.

Secondly, this Law of Service is something which may not be escaped. Evasion brings its penalties, if that evasion is conscious. Ability to serve marks a definite stage of advance upon the Path, and until that stage is reached, spontaneous [119] service, rendered in love and guided by wisdom, cannot be given. What is found up to that time is good intention, mixed motives, and oft fanaticism. This we will later elucidate.

Thứ hai, Định luật Phụng sự này là điều không thể trốn tránh. Sự né tránh mang lại những hình phạt của nó, nếu sự né tránh ấy là có ý thức. Khả năng phụng sự đánh dấu một giai đoạn tiến bộ xác định trên Con Đường, và cho đến khi đạt đến giai đoạn ấy, sự phụng sự tự phát [119] được thực hiện trong tình thương và được minh triết hướng dẫn không thể được ban ra. Điều được tìm thấy cho đến lúc đó là thiện ý, động cơ pha tạp, và thường là cuồng tín. Điều này chúng ta sẽ làm sáng tỏ sau.

This law is the imposition upon the planetary rhythm of certain energies and impulses which emanate from that sign of the zodiac into which we are steadily moving. Therefore, there is no escape. It is the effect of this force which, in some countries, is regimenting the masses in such a way that the individual serves the group by a forced negation of his personal self. His own ideas, his own personal well being and his own individuality are subordinated to the whole, and he is rendered relatively futile from the angle of his soul unfoldment. He is forced to conform, willingly or unwillingly to group conditions. This is one of the lowest manifestations of the impact of this law upon the human consciousness. In its highest expression, we have the service rendered upon the planet in all the kingdoms of nature by the Hierarchy of Masters. Between these two extreme expressions, there is a vast distinction, but both are equally brought about by response (the one consciously rendered and the other unconsciously directed) to the Law of Service.

Định luật này là sự áp đặt lên nhịp điệu hành tinh của một số năng lượng và xung động phát ra từ dấu hiệu hoàng đạo mà chúng ta đang đều đặn tiến vào. Vì vậy, không có lối thoát. Chính tác động của mãnh lực này, tại một số quốc gia, đang tổ chức quần chúng theo cách mà cá nhân phụng sự nhóm bằng sự phủ nhận cưỡng bách bản ngã cá nhân của mình. Những ý tưởng riêng của y, phúc lợi cá nhân riêng của y và cá thể tính riêng của y bị đặt dưới toàn thể, và y trở nên tương đối vô dụng từ góc độ sự khai mở linh hồn của mình. Y bị buộc phải tuân theo các điều kiện nhóm, dù muốn hay không. Đây là một trong những biểu hiện thấp nhất của tác động của định luật này lên tâm thức nhân loại. Trong biểu hiện cao nhất của nó, chúng ta có sự phụng sự được thực hiện trên hành tinh trong mọi giới của thiên nhiên bởi Thánh Đoàn các Chân sư. Giữa hai biểu hiện cực đoan này có một sự khác biệt rất lớn, nhưng cả hai đều được mang lại như nhau bởi sự đáp ứng (một bên được thực hiện có ý thức và bên kia được hướng dẫn vô thức) đối với Định luật Phụng sự.

Thirdly this Law of Service was expressed for the first time fully by the Christ two thousand years ago. He was the forerunner of the Aquarian Age, and hence His constant emphasis upon the fact that He was the “water of life”, the “living water” which men needed. Hence the esoteric name of this law is that of “water and the fishes.” The Piscean age slowly, very slowly, prepared the way for the divine expression of service, which will be the glory of the coming centuries. Today, we have a world which is steadily coming to the realisation that “no man liveth unto himself”, and that only as the love, about which so much has been written and [120] spoken, finds its outlet in service, can man begin to measure up to his innate capacity.

Thứ ba, Định luật Phụng sự này đã được Đức Christ biểu lộ trọn vẹn lần đầu tiên cách đây hai ngàn năm. Ngài là vị tiền phong của Kỷ nguyên Bảo Bình, và do đó Ngài luôn nhấn mạnh sự kiện rằng Ngài là “nước sự sống”, là “nước hằng sống” mà con người cần đến. Vì vậy, tên gọi huyền bí của định luật này là “nước và những con cá.” Kỷ nguyên Song Ngư đã chậm rãi, rất chậm rãi, chuẩn bị con đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của phụng sự, điều sẽ là vinh quang của những thế kỷ sắp tới. Ngày nay, chúng ta có một thế giới đang dần đi đến chứng nghiệm rằng “không ai sống cho riêng mình”, và chỉ khi tình thương, điều đã được viết và [120] nói đến quá nhiều, tìm được lối thoát trong phụng sự, thì con người mới có thể bắt đầu đo lường đúng năng lực bẩm sinh của mình.

The sign for the Aquarian Age is that of a man, carrying on his shoulders a jar of water so full that it pours over to all and sundry, and yet it diminishes not. The sign for this Law of Service is very similar, but the difference lies in this; that the man stands, perfectly balanced in the form of a cross, with arms stretched out and with the water pot upon his head. In this difference there lies much of real significance. The jar of water, posed upon the shoulders, is a sign of the burden of service. It is not easy to serve. Man is today only beginning to learn how to serve. The jar of water upon the head of the man, who has been upon the cross of sacrifice for so long a time that the position has become to him perfectly natural, indicates that the cross, which has upheld him for so long, has now disappeared. The man with the water jar upon his head indicates to us poise, equilibrium and balance. For this balance, the understanding of the Law of Magnetic Impulse has prepared him. That is the Law of Polar Union and its symbol is the originator of the zodiacal sign for the constellation Libra—balance and service. These are the two expressions of Divinity which are, today, man’s next great objective.

Biểu tượng của Kỷ nguyên Bảo Bình là một người đàn ông mang trên vai một vò nước đầy đến nỗi tràn ra cho mọi người, mọi nơi, mà vẫn không vơi. Biểu tượng của Định luật Phụng sự này rất tương tự, nhưng khác biệt nằm ở chỗ này: người ấy đứng, hoàn toàn quân bình trong hình dạng một thập giá, hai tay dang rộng và vò nước đặt trên đầu. Trong sự khác biệt này có nhiều thâm nghĩa chân thực. Vò nước đặt trên vai là dấu hiệu của gánh nặng phụng sự. Phụng sự không phải là điều dễ dàng. Ngày nay con người mới chỉ bắt đầu học cách phụng sự. Vò nước trên đầu người đã ở trên thập giá hi sinh quá lâu đến nỗi tư thế ấy đã trở nên hoàn toàn tự nhiên đối với y, cho thấy rằng thập giá đã nâng đỡ y quá lâu nay đã biến mất. Người mang vò nước trên đầu cho chúng ta thấy sự điềm tĩnh, quân bình và thăng bằng. Chính sự thấu hiểu Định luật Xung Động Từ Tính đã chuẩn bị y cho sự quân bình này. Đó là Định luật Hợp Nhất Cực Tính và biểu tượng của nó là nguồn gốc của dấu hiệu hoàng đạo cho chòm sao Libra—sự quân bình và phụng sự. Đó là hai biểu lộ của thiên tính mà ngày nay là mục tiêu lớn kế tiếp của con người.

Service is usually interpreted as exceedingly desirable and it is seldom realised how very difficult service essentially is. It involves so much sacrifice of time and of interest and of one’s own ideas, it requires exceedingly hard work, because it necessitates deliberate effort, conscious wisdom, and the ability to work without attachment. These qualities are not easy of attainment by the average aspirant, and yet today the tendency to serve is an attitude which is true of a vast majority of the people in the world. Such has been the success of the evolutionary process.

Phụng sự thường được giải thích là điều hết sức đáng mong muốn và hiếm khi người ta nhận ra phụng sự về bản chất khó khăn biết bao. Nó bao hàm quá nhiều sự hi sinh thời gian, mối quan tâm và những ý tưởng riêng của mình; nó đòi hỏi công việc cực kỳ nặng nhọc, vì nó cần đến nỗ lực có chủ ý, minh triết có ý thức, và khả năng làm việc mà không dính mắc. Những phẩm tính này không dễ đạt được đối với người chí nguyện trung bình, thế nhưng ngày nay khuynh hướng phụng sự là một thái độ đúng với đại đa số con người trên thế giới. Đó chính là mức thành công của tiến trình tiến hoá.

[121]

[121]

Service is frequently regarded as an endeavor to bring people around to the point of view of the one who serves, because what the would-be server has found to be good and true and useful, must necessarily be good and true and useful for all. Service is viewed as something we render to the poor, the afflicted, the diseased and the unhappy, because we think we want to help them, little realising that primarily this help is offered because we ourselves are made uncomfortable by distressing conditions, and must therefore endeavor to ameliorate those conditions in order ourselves to be comfortable again. The act of thus helping releases us from our misery, even if we fail to release or relieve the sufferers.

Phụng sự thường được xem như một nỗ lực nhằm đưa người khác đến với quan điểm của người đang phụng sự, bởi vì điều mà người muốn phụng sự đã thấy là tốt, đúng và hữu ích thì tất yếu cũng phải tốt, đúng và hữu ích cho mọi người. Phụng sự được nhìn như một điều chúng ta làm cho người nghèo, người đau khổ, người bệnh tật và người bất hạnh, bởi vì chúng ta nghĩ rằng mình muốn giúp họ, mà ít nhận ra rằng trước hết sự giúp đỡ này được đưa ra vì chính chúng ta cảm thấy khó chịu trước những hoàn cảnh đau lòng, và do đó phải cố gắng cải thiện những hoàn cảnh ấy để chính mình lại được dễ chịu. Hành động giúp đỡ như thế giải thoát chúng ta khỏi nỗi khổ của mình, ngay cả khi chúng ta không giải thoát hay làm vơi nhẹ được nỗi khổ của những người đang đau đớn.

Service is frequently an indication of a busy and overactive temperament, or of a self-satisfied disposition, which leads its possessor to a strenuous effort to change situations, and make them what he feels they should be, thus forcing people to conform to that which the server feels should be done.

Phụng sự thường là dấu hiệu của một khí chất bận rộn và quá năng động, hoặc của một tính nết tự mãn, khiến người sở hữu nó nỗ lực căng thẳng để thay đổi các tình huống và làm cho chúng trở thành điều y cảm thấy chúng phải là, do đó ép buộc người khác phải tuân theo điều mà người phụng sự cảm thấy cần phải làm.

Or again, service can grow out of a fanatical desire to tread in the footsteps of the Christ, that great Son of God Who “went about doing good”, leaving an example that we should follow in His footsteps. People, therefore, serve from a sense of obedience, and not from a spontaneous outgoing towards the needy. The essential quality for service is, therefore, lacking, and from the start they fail to do more than make certain gestures. Service can likewise be rendered from a deep seated desire for spiritual perfection. It is regarded as one of the necessary qualifications for discipleship and, therefore, if one is to be a disciple, one must serve. This theory is correct, but the living substance of service is lacking. The ideal is right and true and meritorious, but the motive behind it all is entirely wrong. Service can also be rendered because [122] it is becoming increasingly the fashion and the custom to be occupied with some form of service. The tide is on. Everybody is actively serving in welfare movements, in philanthropic endeavors, in Red Cross work, in educational uplifts, and in the task of ameliorating distressing world conditions. It is fashionable to serve in some way. Service gives a sense of power; service brings one friends; service is a form of group activity, and frequently brings far more to the server (in a worldly sense) than to the served.

Hoặc nữa, phụng sự có thể phát sinh từ một ước muốn cuồng tín là bước theo dấu chân của Đức Christ, Con vĩ đại của Thượng đế, Đấng “đi khắp nơi làm điều lành”, để lại một tấm gương mà chúng ta phải noi theo dấu chân của Ngài. Vì vậy, người ta phụng sự từ ý thức vâng phục, chứ không phải từ một sự hướng ra tự phát đến với người đang cần. Do đó, phẩm tính cốt yếu cho phụng sự bị thiếu vắng, và ngay từ đầu họ đã không làm được gì hơn ngoài một vài cử chỉ nhất định. Phụng sự cũng có thể được thực hiện từ một ước muốn sâu kín về sự hoàn thiện tinh thần. Nó được xem là một trong những điều kiện cần thiết cho địa vị đệ tử, và vì vậy, nếu một người muốn là đệ tử, người ấy phải phụng sự. Lý thuyết này là đúng, nhưng chất liệu sống động của phụng sự lại thiếu vắng. Lý tưởng là đúng, chân thực và đáng khen, nhưng động cơ đằng sau tất cả lại hoàn toàn sai lầm. Phụng sự cũng có thể được thực hiện vì [122] ngày càng trở thành mốt và tập quán khi bận rộn với một hình thức phụng sự nào đó. Làn sóng ấy đang dâng lên. Mọi người đều đang tích cực phụng sự trong các phong trào phúc lợi, trong những nỗ lực từ thiện, trong công tác Hồng Thập Tự, trong việc nâng cao giáo dục, và trong nhiệm vụ cải thiện những điều kiện đau khổ của thế giới. Phụng sự theo một cách nào đó là điều hợp thời. Phụng sự đem lại cảm giác quyền lực; phụng sự mang đến bạn bè; phụng sự là một hình thức hoạt động nhóm, và thường đem lại cho người phụng sự (theo nghĩa thế tục) nhiều hơn cho người được phụng sự.

And yet, in spite of all this which indicates wrong motives and false aspiration, service of a kind is constantly and readily being rendered. Humanity is on its way to a right understanding of services; it is becoming responsive to this new law and is learning to react to the steadily imposing will of that great Life who informs the constellation Aquarius, just as our solar Logos informs our solar system and our planetary Logos informs our earth planet.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả những điều này vốn cho thấy những động cơ sai lầm và khát vọng giả tạo, một loại phụng sự nào đó vẫn đang liên tục và dễ dàng được thực hiện. Nhân loại đang trên đường đi đến một sự thấu hiểu đúng đắn về phụng sự; họ đang trở nên đáp ứng với định luật mới này và đang học cách phản ứng trước ý chí ngày càng áp đặt của Sự sống vĩ đại đang thấm nhuần chòm sao Aquarius, cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta thấm nhuần hệ mặt trời của chúng ta và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thấm nhuần hành tinh Trái Đất của chúng ta.

The idea of service is, at this time, the major idea to be grasped for (in grasping it) we open ourselves wide to the new incoming influences. The Law of Service is the expression of the energy of a great Life, who, in cooperation with Him “in Whom we live and move and have our being”, is subjecting the human family to certain influences and streams of energy which will eventually do three things:—

Ý tưởng về phụng sự, vào lúc này, là ý tưởng chủ yếu cần được nắm bắt vì (trong việc nắm bắt nó) chúng ta mở rộng chính mình trước những ảnh hưởng mới đang đi vào. Định luật Phụng sự là sự biểu lộ năng lượng của một Sự sống vĩ đại, Đấng, trong sự hợp tác với Đấng “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”, đang đặt gia đình nhân loại dưới những ảnh hưởng và những dòng năng lượng mà cuối cùng sẽ làm ba điều:—

1. Awaken the heart centre in all aspirants and disciples.

1. Đánh thức trung tâm tim nơi mọi người chí nguyện và đệ tử.

2. Enable emotionally polarised humanity to focus intelligently in the mind.

2. Làm cho nhân loại phân cực cảm xúc có thể tập trung một cách thông tuệ trong trí tuệ.

3. Transfer the energy of the solar plexus into the heart.

3. Chuyển dịch năng lượng của tùng thái dương vào tim.

This unfolding of what we might call “the consciousness of the heart” or the development of true feeling is the first step towards group awareness. This group awareness and this [123] identification with the feeling aspect of all groups is the quality which leads to service—a service to be rendered as the Masters render it, and as the Christ demonstrated it for us in Galilee.

Sự khai mở của điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm thức của tim” hay sự phát triển của cảm nhận chân thực là bước đầu tiên hướng tới nhận thức nhóm. Nhận thức nhóm này và sự [123] đồng hoá với phương diện cảm nhận của mọi nhóm là phẩm tính dẫn đến phụng sự—một sự phụng sự được thực hiện như các Chân sư thực hiện, và như Đức Christ đã minh chứng cho chúng ta tại Galilee.

a. SOME QUESTIONS ON SERVICE—MỘT SỐ CÂU HỎI VỀ PHỤNG SỰ

Therefore, the service rendered today is what it is because the response of men to these new Aquarian influences is being registered at present in the astral body and is working out through the solar plexus. This accounts for the emotional nature of most of the service rendered in the world at this time; it is responsible for the hatred engendered by those who react sensitively to suffering and who, because of their emotional identification with suffering, lay the blame for the distressing conditions encountered upon a person or a group of persons. It is responsible also for the generally unsatisfactory nature of much of that which is now being done to relieve conditions. It is unsatisfactory from the higher angle of the soul.

Vì vậy, sự phụng sự được thực hiện ngày nay là như thế bởi vì sự đáp ứng của con người đối với những ảnh hưởng mới của Bảo Bình hiện đang được ghi nhận trong thể cảm dục và đang biểu lộ qua tùng thái dương. Điều này giải thích bản chất cảm xúc của phần lớn sự phụng sự đang được thực hiện trên thế giới vào lúc này; nó chịu trách nhiệm cho lòng căm ghét được khơi lên nơi những người phản ứng nhạy bén trước đau khổ và những người, vì đồng hoá cảm xúc với đau khổ, quy trách nhiệm về những điều kiện đau lòng mà họ gặp phải cho một cá nhân hay một nhóm người. Nó cũng chịu trách nhiệm cho bản chất nhìn chung không thỏa đáng của phần lớn những gì hiện đang được làm để làm nhẹ bớt các điều kiện ấy. Nó không thỏa đáng từ góc độ cao hơn của linh hồn.

When, however, the service rendered is based upon a mental response to humanity’s need, then the whole problem is lifted out of the veil of illusion and out of the valley of the world glamour. Then the impulses to serve are registered in the heart centre and not in the solar plexus, and when this is more generally the case, then we shall have a happier and more successful demonstration of service.

Tuy nhiên, khi sự phụng sự được thực hiện dựa trên một sự đáp ứng trí tuệ đối với nhu cầu của nhân loại, thì toàn bộ vấn đề được nâng ra khỏi bức màn ảo tưởng và ra khỏi thung lũng ảo cảm của thế gian. Khi ấy, các xung động phụng sự được ghi nhận trong trung tâm tim chứ không phải trong tùng thái dương, và khi điều này trở nên phổ biến hơn, thì chúng ta sẽ có một sự biểu lộ phụng sự hạnh phúc hơn và thành công hơn.

In this Treatise I seek to be intensely practical, for this new science of service must be based on right foundations and on sound understanding. Perhaps the simplest way in which I can handle a theme so new and yet so hackneyed is by formulating certain questions and then answering them as fully and as concisely as possible.

Trong bộ Luận này, tôi tìm cách hết sức thực tiễn, vì khoa học mới về phụng sự này phải được đặt trên những nền tảng đúng đắn và trên sự thấu hiểu vững chắc. Có lẽ cách đơn giản nhất để tôi xử lý một chủ đề vừa mới mẻ vừa đã bị nói đến quá nhiều này là nêu ra một số câu hỏi rồi trả lời chúng đầy đủ và ngắn gọn nhất có thể.

[124]

[124]

1. How do we define the word “service”?

1. Chúng ta định nghĩa từ “phụng sự” như thế nào?

2. What is the field of this science and why do we call it a science?

2. Lĩnh vực của khoa học này là gì và tại sao chúng ta gọi nó là một khoa học?

3. What are the characteristics of the true server?

3. Những đặc tính của người phụng sự chân chính là gì?

4. What effect does service have?

4. Phụng sự có tác động gì?

a. On the mind?

a. Đối với trí tuệ?

b. On the emotions?

b. Đối với cảm xúc?

c. On the etheric body?

c. Đối với thể dĩ thái?

5. Does this science prove that the seven key or ray types employ distinctive methods in their service?

5. Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại chủ yếu hay các loại cung sử dụng những phương pháp đặc thù trong sự phụng sự của họ không?

The consideration of these questions will enable me to do three things:

Việc xem xét những câu hỏi này sẽ cho phép tôi làm ba điều:

1. Show in my answers to each question that service is not a sentiment or an ideal, but that it is an effect and a scientific procedure at the same time.

1. Chỉ ra trong các câu trả lời của tôi cho từng câu hỏi rằng phụng sự không phải là một tình cảm hay một lý tưởng, mà đồng thời là một hiệu quả và một tiến trình khoa học.

2. Indicate the need today for the right understanding of a technique which, when applied by the New Group of World Servers, will lead humanity into the world of true meaning and of real values. I will seek to show how the New Group of World Servers will work.

2. Chỉ ra nhu cầu ngày nay về sự thấu hiểu đúng đắn một kỹ thuật mà khi được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian áp dụng, sẽ dẫn dắt nhân loại vào thế giới của ý nghĩa chân thực và của những giá trị thực sự. Tôi sẽ tìm cách chỉ ra Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ hoạt động như thế nào.

3. Give some idea of how certain groups of the Masters of the Wisdom serve upon our planet at this time.

3. Đưa ra một vài ý niệm về cách một số nhóm của các Chân sư Minh Triết đang phụng sự trên hành tinh của chúng ta vào lúc này.

[End LOTSWC 12, 124,

[End LOTSWC 12, 124,

Beginning LOTWC 13, EP II 124

Beginning LOTWC 13, EP II 124

In answering these questions, we will proceed to take them one by one.

Khi trả lời những câu hỏi này, chúng ta sẽ lần lượt xét từng câu một.

How do we define the word “Service”?

Chúng ta định nghĩa từ “Phụng sự” như thế nào?

The definition of this word is not easy. There has been too much attempt to define it from the angle of personality knowledge. Service can be briefly defined as the spontaneous effect of soul contact. This contact is so definite and fixed that the life of the soul can pour through into the instrument [125] which the soul must perforce use upon the physical plane. It is the manner whereby the nature of that soul can demonstrate in the world of human affairs. Service is not a quality or a performance; it is not an activity towards which people must strenuously strive, nor is it a method of world salvage. This distinction must be clearly grasped, or else our whole attitude to this momentous demonstration of the success of the evolutionary process in humanity will be at fault. Service is a life demonstration. It is a soul urge, and is as much an evolutionary impetus of the soul as the urge to self-preservation or to the reproduction of the species is a demonstration of the animal soul. This is a statement of importance. It is a soul instinct, if we may use such an inadequate expression and is, therefore, innate and peculiar to soul unfoldment. It is the outstanding characteristic of the soul, just as desire is the outstanding characteristic of the lower nature. It is group desire, just as in the lower nature it is personality desire. It is the urge to group good. It cannot, therefore, be taught or imposed upon a person as a desirable evidence of aspiration, functioning from without and based upon a theory of service. It is simply the first real effect, evidenced upon the physical plane, of the fact that the soul is beginning to express itself in outer manifestation.

Việc định nghĩa từ này không dễ. Đã có quá nhiều cố gắng định nghĩa nó từ góc độ tri thức của phàm ngã. Có thể định nghĩa ngắn gọn phụng sự là hiệu quả tự phát của sự tiếp xúc với linh hồn. Sự tiếp xúc này rõ rệt và vững chắc đến mức đời sống của linh hồn có thể tuôn chảy qua vận cụ mà linh hồn bắt buộc phải sử dụng trên cõi hồng trần. Đó là cách mà bản chất của linh hồn ấy có thể biểu lộ trong thế giới của các công việc nhân loại. Phụng sự không phải là một phẩm tính hay một sự thực hiện; nó không phải là một hoạt động mà con người phải cố gắng căng thẳng để đạt tới, cũng không phải là một phương pháp cứu vớt thế giới. Sự phân biệt này phải được nắm bắt rõ ràng, nếu không toàn bộ thái độ của chúng ta đối với sự biểu lộ trọng đại này của thành công của tiến trình tiến hoá trong nhân loại sẽ sai lệch. Phụng sự là một sự biểu lộ của đời sống. Nó là một thúc đẩy của linh hồn, và cũng là một xung lực tiến hoá của linh hồn y như thúc đẩy tự bảo tồn hay sinh sản nòi giống là một biểu lộ của hồn thú. Đây là một phát biểu quan trọng. Nó là một bản năng của linh hồn, nếu chúng ta có thể dùng một cách diễn đạt không đầy đủ như vậy, và do đó là bẩm sinh và đặc thù cho sự khai mở của linh hồn. Nó là đặc tính nổi bật của linh hồn, cũng như dục vọng là đặc tính nổi bật của bản chất thấp. Nó là dục vọng nhóm, cũng như trong bản chất thấp đó là dục vọng phàm ngã. Nó là thúc đẩy hướng đến thiện ích của nhóm. Vì vậy, nó không thể được dạy hay áp đặt lên một người như một bằng chứng đáng mong muốn của khát vọng, hoạt động từ bên ngoài và dựa trên một lý thuyết về phụng sự. Nó chỉ đơn giản là hiệu quả thực sự đầu tiên, được biểu lộ trên cõi hồng trần, của sự kiện rằng linh hồn đang bắt đầu biểu lộ chính nó trong sự biểu hiện bên ngoài.

Neither theory nor aspiration will or can make a man a real server. How then is it that there is so much activity in service demonstrating in the world today?

Không lý thuyết cũng không khát vọng nào sẽ hay có thể làm cho một người trở thành một người phụng sự chân chính. Vậy thì tại sao ngày nay lại có quá nhiều hoạt động phụng sự đang biểu lộ trên thế giới?

Simply because the life, words and deeds of the worlds first Great Server, of the One Who came to make clear to us what service essentially is, has necessarily had an effect, and men today are earnestly attempting to imitate His example, little realising that imitation does not net them the true results, but only indicates to them a growing possibility.

Chỉ đơn giản vì đời sống, lời nói và hành động của Đấng Phụng Sự Vĩ Đại đầu tiên của thế giới, của Đấng đã đến để làm sáng tỏ cho chúng ta phụng sự thực chất là gì, tất yếu đã tạo ra một ảnh hưởng, và ngày nay con người đang tha thiết cố gắng bắt chước tấm gương của Ngài, mà ít nhận ra rằng sự bắt chước không đem lại cho họ những kết quả chân thực, mà chỉ cho họ thấy một khả năng đang lớn dần.

[126]

[126]

All these laws of the Soul (and the Law of Service is no exception) manifest inevitably in two ways. First, there is their effect upon the individual. This occurs when the soul has been definitely contacted and the mechanism of the soul begins to respond. Evidence of this should work out now among the esoteric students, scattered over the world, for they have reached a point where the true server can emerge from their ranks, and give evidence of an established soul contact. Secondly, these soul laws are beginning to have a group effect in humanity itself, and to influence the race of men as a whole. This effect is somewhat in the nature of a reflection in the lower nature of a higher consciousness, and therefore today we have much running after service, and much philanthropic effort. All of it is, however, deeply coloured by personality, and it often produces much harm, for people seek to impose their ideas of service and their personal techniques upon other aspirants. They may have become sensitive to impression, but they oft-times misinterpret the truth and are biassed by personality ends. They must learn to lay the emphasis upon soul contact and upon an active familiarity with the egoic life, and not upon the form side of service. May I beg those of you who respond to these ideas and are sensitive to soul impression (oft-times misinterpreting the truth, being biassed by personality ends) to lay the emphasis upon soul contact and not upon the form side of service. Activity of the form side lays stress upon personality ambition, veiling them with the glamour of service. If care over the essential of service—soul contact—is taken, then the service rendered will flow with spontaneity along the right lines and bear much fruit. Of this, the selfless service and the deep flow of spiritual life, which have been demonstrated in the world work of late, is a hopeful indication.

Tất cả các định luật này của linh hồn (và Định luật Phụng sự cũng không phải là ngoại lệ) tất yếu biểu hiện theo hai cách. Thứ nhất, đó là tác động của chúng lên cá nhân. Điều này xảy ra khi linh hồn đã được tiếp xúc một cách rõ rệt và bộ máy của linh hồn bắt đầu đáp ứng. Hiện nay, bằng chứng về điều này cần phải được thể hiện nơi các đạo sinh huyền bí học, rải rác khắp thế giới, vì họ đã đạt đến một điểm mà người phụng sự chân chính có thể xuất hiện từ hàng ngũ của họ, và chứng tỏ một sự tiếp xúc linh hồn đã được thiết lập. Thứ hai, các định luật linh hồn này đang bắt đầu tạo ra một tác động nhóm trong chính nhân loại, và ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại nói chung. Tác động này phần nào có tính chất như một sự phản chiếu trong bản chất thấp của một tâm thức cao hơn, và vì vậy ngày nay chúng ta thấy có rất nhiều sự chạy theo phụng sự, và nhiều nỗ lực từ thiện. Tuy nhiên, tất cả điều đó đều bị nhuốm đậm bởi phàm ngã, và thường gây ra nhiều tổn hại, vì người ta tìm cách áp đặt các ý tưởng của mình về phụng sự và các kỹ thuật cá nhân của mình lên những người chí nguyện khác. Họ có thể đã trở nên nhạy cảm với sự cảm ứng, nhưng nhiều khi họ diễn giải sai chân lý và bị thiên lệch bởi các mục đích của phàm ngã. Họ phải học cách đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc linh hồn và vào sự quen thuộc năng động với đời sống chân ngã, chứ không phải vào phương diện hình tướng của sự phụng sự. Tôi có thể khẩn cầu những ai trong các bạn đáp ứng với những ý tưởng này và nhạy cảm với sự cảm ứng của linh hồn (nhiều khi diễn giải sai chân lý, bị thiên lệch bởi các mục đích của phàm ngã) hãy đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc linh hồn chứ không phải vào phương diện hình tướng của sự phụng sự. Hoạt động của phương diện hình tướng nhấn mạnh tham vọng của phàm ngã, che phủ chúng bằng ảo cảm của sự phụng sự. Nếu người ta chú ý đến điều cốt yếu của sự phụng sự—sự tiếp xúc linh hồn—thì sự phụng sự được thực hiện sẽ tuôn chảy một cách tự phát theo những đường lối đúng đắn và mang lại nhiều kết quả. Về điều này, sự phụng sự vô ngã và dòng chảy sâu xa của đời sống tinh thần, vốn đã được chứng minh trong công việc thế giới gần đây, là một dấu hiệu đầy hy vọng.

[127]

[127]

What is the field of this science, and why do we call it a science.

Lĩnh vực của khoa học này là gì, và tại sao chúng ta gọi nó là một khoa học .

The next point to consider is the field of this service, and its nature as a science. The field of service, first of all, demonstrates as the life of the Spirit, working within the region of a man’s own nature. The first thing the soul has to do when contact has been made and the man knows it in his brain consciousness and owing to the active impression of the mind, is to make the man aware that he is a living principle of divinity, and then to prepare the lower threefold nature so that it can automatically submit to the Law of Sacrifice. Then it will offer no impediment to the life which must and will pour through it. This is the first and hardest task, and with this task the aspirants of the world are at this time engaged. This indicates, does it not, the point of evolution reached by the majority? When the rhythm of this law has been imposed and the natural impetus of the man in incarnation is to be an expression of the soul, and when this rhythm can be established as a natural daily expression, the man begins to “stand in spiritual being” and the life which pours through him, gently and naturally, will then have an effect upon his environment and his associates. This effect can then be called a “life of service “

Điểm kế tiếp cần xem xét là lĩnh vực của sự phụng sự này, và bản chất của nó như một khoa học. Trước hết, lĩnh vực của sự phụng sự biểu hiện như đời sống của tinh thần, hoạt động trong phạm vi bản chất riêng của một con người. Điều đầu tiên mà linh hồn phải làm khi sự tiếp xúc đã được thiết lập và con người biết điều đó trong tâm thức não bộ của mình và nhờ sự cảm ứng năng động của trí tuệ, là làm cho con người nhận biết rằng y là một nguyên khí sống động của thiên tính, rồi chuẩn bị bản chất tam phân thấp để nó có thể tự động quy phục Định luật Hi Sinh. Khi đó nó sẽ không còn gây trở ngại cho sự sống vốn phải và sẽ tuôn chảy qua nó. Đây là nhiệm vụ đầu tiên và khó khăn nhất, và hiện nay những người chí nguyện trên thế giới đang dấn thân vào nhiệm vụ này. Điều này chẳng phải cho thấy điểm tiến hoá mà đa số đã đạt tới sao? Khi nhịp điệu của định luật này đã được áp đặt và xung lực tự nhiên của con người đang lâm phàm là trở thành một biểu hiện của linh hồn, và khi nhịp điệu này có thể được thiết lập như một biểu hiện tự nhiên hằng ngày, con người bắt đầu “đứng trong bản thể tinh thần”, và sự sống tuôn chảy qua y, một cách dịu dàng và tự nhiên, khi đó sẽ có tác động lên môi trường và những người cộng sự của y. Khi ấy tác động này có thể được gọi là “đời sống phụng sự”

Too much emphasis has been laid upon the process whereby the lower nature is to be subjugated to the higher Law of Service, and the idea of sacrifice, in its worst implications, has been developed. This idea emphasises the necessary and inevitable clashing between the lower nature, working under its own laws, and the higher aspects as they work under the spiritual laws. Then the sacrifice of the lower to the higher assumes great proportions, and the word becomes quite suitable. There is sacrifice. There is suffering. There is a painful [128] process of detachment. There is a long effort to let the life flow through, whilst steadily the personality throws up one barrier and obstruction after another. This stage and attitude we can view with sympathy and understanding, for there are those who have so much theory about service and its expression that they fail to serve and also fail to comprehend with understanding the period of pain which ever precedes enlarged service. Their theories block the way to true expression and shut the door on real comprehension. The mind element is too active.

Đã có quá nhiều sự nhấn mạnh vào tiến trình mà qua đó bản chất thấp phải bị chế ngự dưới Định luật Phụng sự cao hơn, và ý niệm về sự hi sinh, trong những hàm ý tệ hại nhất của nó, đã được phát triển. Ý niệm này nhấn mạnh sự xung đột cần thiết và không thể tránh khỏi giữa bản chất thấp, hoạt động dưới các định luật riêng của nó, và các phương diện cao hơn khi chúng hoạt động dưới các định luật tinh thần. Khi đó sự hi sinh cái thấp cho cái cao mang tầm mức lớn lao, và từ ngữ ấy trở nên hoàn toàn thích hợp. Có sự hi sinh. Có đau khổ. Có một tiến trình đau đớn của sự tách rời. Có một nỗ lực lâu dài để cho sự sống tuôn chảy qua, trong khi phàm ngã đều đặn dựng lên hết rào cản và chướng ngại này đến rào cản và chướng ngại khác. Giai đoạn và thái độ này chúng ta có thể nhìn với sự cảm thông và thấu hiểu, vì có những người có quá nhiều lý thuyết về sự phụng sự và sự biểu hiện của nó đến nỗi họ không phụng sự được, đồng thời cũng không thể thấu hiểu một cách cảm thông giai đoạn đau đớn luôn luôn đi trước sự phụng sự mở rộng. Các lý thuyết của họ chặn đường sự biểu hiện chân chính và đóng cánh cửa đối với sự thấu hiểu thực sự. Yếu tố trí tuệ quá hoạt động.

When the personal lower self is subordinated to the higher rhythms and obedient to the new Law of Service, then the life of the soul will begin to flow through the man to others, and the effect in a man’s immediate family and group will be to demonstrate a real understanding and a true helpfulness. As the flow of life becomes stronger through use, the effect will spread out from the small surrounding family group to the neighborhood. A wider range of contacts becomes possible, until eventually (if several lives have been thus spent under the influence of the Law of Service) the effect of the outpouring life may become nationwide and worldwide. But it will not be planned, nor will it be fought for, as an end in itself. It will be a natural expression of the soul’s life, taking form and direction according to a man’s ray and past life expression; it will be coloured and ordered by environing conditions,—by time, by period, by race and age. It will be a living flow, and a spontaneous giving forth, and the life, power and love demonstrated, being sent forth from soul levels, will have a potent, attractive force upon the group units with which the disciple may come in contact in the three worlds of soul expression. There are no other worlds wherein the soul may at this time thus express itself. Nothing can stop or arrest the potency of this life of natural, loving [129] service, except in those cases wherein the personality gets in the way. Then service, as the Teachers on the inner side of life understand it, gets distorted and altered into busy-ness. It becomes changed into ambition, into an effort to make others serve as we think service should be rendered, and into a love of power which hinders true service instead of into love of our fellow men. There is a point of danger in every life when the theory of service is grasped, and the higher law is recognised; then the imitative quality of the personality, its monkey nature, and the eagerness of a high grade aspiration can easily mistake theory for reality, and the outer gestures of a life of service for the natural, spontaneous flow of soul life through its mechanism of expression.

Khi phàm ngã thấp cá nhân được đặt dưới các nhịp điệu cao hơn và vâng phục Định luật Phụng sự mới, thì đời sống của linh hồn sẽ bắt đầu tuôn chảy qua con người đến với người khác, và tác động trong gia đình trực tiếp và nhóm của một người sẽ là biểu lộ một sự thấu hiểu chân thực và một sự trợ giúp chân chính. Khi dòng chảy của sự sống trở nên mạnh hơn nhờ được sử dụng, tác động sẽ lan rộng từ nhóm gia đình nhỏ chung quanh đến khu lân cận. Một phạm vi tiếp xúc rộng hơn trở nên khả hữu, cho đến cuối cùng (nếu nhiều kiếp sống đã được trải qua như vậy dưới ảnh hưởng của Định luật Phụng sự) tác động của sự sống tuôn đổ có thể trở thành toàn quốc và toàn cầu. Nhưng điều đó sẽ không được hoạch định, cũng không bị tranh đấu để đạt được như một cứu cánh tự thân. Nó sẽ là một biểu hiện tự nhiên của đời sống linh hồn, mang hình thức và phương hướng tùy theo cung của một người và biểu hiện trong các kiếp sống quá khứ; nó sẽ được nhuốm màu và sắp xếp bởi các điều kiện chung quanh,—bởi thời gian, bởi thời kỳ, bởi nhân loại và thời đại. Nó sẽ là một dòng chảy sống động, và một sự ban phát tự phát, và sự sống, quyền năng và tình thương được biểu lộ, được phát ra từ các cấp độ linh hồn, sẽ có một mãnh lực hấp dẫn mạnh mẽ đối với các đơn vị nhóm mà đệ tử có thể tiếp xúc trong ba cõi thấp của sự biểu hiện linh hồn. Không có những thế giới nào khác mà trong đó linh hồn hiện nay có thể biểu hiện như vậy. Không gì có thể ngăn chặn hay cản trở hiệu lực của đời sống phụng sự tự nhiên, đầy tình thương này, ngoại trừ trong những trường hợp phàm ngã xen vào. Khi đó sự phụng sự, như các Huấn sư ở mặt bên trong của sự sống hiểu nó, bị bóp méo và biến đổi thành sự bận rộn. Nó biến thành tham vọng, thành một nỗ lực khiến người khác phụng sự theo cách mà chúng ta nghĩ rằng sự phụng sự nên được thực hiện, và thành lòng ham muốn quyền lực, điều cản trở sự phụng sự chân chính thay vì trở thành tình thương đối với đồng loại của chúng ta. Có một điểm nguy hiểm trong mỗi đời sống khi lý thuyết về sự phụng sự được nắm bắt, và định luật cao hơn được nhận ra; khi đó phẩm tính bắt chước của phàm ngã, bản chất khỉ vượn của nó, và sự hăng hái của một khát vọng cao độ có thể dễ dàng lầm lẫn lý thuyết với thực tại, và những cử chỉ bên ngoài của một đời sống phụng sự với dòng chảy tự nhiên, tự phát của đời sống linh hồn qua bộ máy biểu hiện của nó.

The need for an increasing subtlety of discrimination is constant, and all dedicated students are urged to take stock of themselves at this time. They face a new cycle of service and must avail themselves of a new day of opportunity. There is a great need to stand in spiritual being; where there is this poised standing, there will be no need for others to incite one to service. Let the “Forces of Light” flow through, and the ranks of the world servers will be rapidly filled. Let the “Spirit of Peace” use the lower nature as an instrument, and there will be peace and harmony within the personal field of service. Let the “Spirit of Good Will” dominate our minds and there will be no room for the spirit of criticism and the spreading of destructive discussion. It is for this reason and in order to develop a group of servers who can work along true and spiritual lines, that there must be increasing emphasis upon the need for Harmlessness. Harmlessness prepares the way for the inflow of life; harmlessness dissipates the obstructions to the free outpouring of love; harmlessness is the key to the release of the lower nature from the grip of the world illusion and from the power of phenomenal existence.

Nhu cầu về một sự phân biện ngày càng tinh tế là điều thường hằng, và mọi đạo sinh tận hiến đều được thúc giục tự kiểm điểm mình vào lúc này. Họ đang đối diện với một chu kỳ phụng sự mới và phải tận dụng một ngày cơ hội mới. Có một nhu cầu lớn lao là phải đứng trong bản thể tinh thần; ở đâu có sự đứng vững quân bình này, ở đó sẽ không cần người khác thúc đẩy ai đó phụng sự. Hãy để “Các Mãnh Lực của Ánh Sáng” tuôn chảy qua, và hàng ngũ những Người Phụng Sự Thế Gian sẽ nhanh chóng được lấp đầy. Hãy để “Đấng Tinh thần Hòa Bình” sử dụng bản chất thấp như một công cụ, và sẽ có hòa bình và hài hòa trong lĩnh vực phụng sự cá nhân. Hãy để “Tinh thần Thiện Chí” chi phối trí tuệ của chúng ta và sẽ không còn chỗ cho tinh thần chỉ trích và sự lan truyền những cuộc bàn luận có tính phá hoại. Chính vì lý do này và để phát triển một nhóm những người phụng sự có thể hoạt động theo những đường lối chân chính và tinh thần, mà cần phải ngày càng nhấn mạnh đến nhu cầu về tính vô tổn hại. Tính vô tổn hại chuẩn bị con đường cho sự tuôn vào của sự sống; tính vô tổn hại làm tiêu tan những chướng ngại đối với sự tuôn đổ tự do của tình thương; tính vô tổn hại là chìa khóa để giải thoát bản chất thấp khỏi sự kềm giữ của ảo tưởng thế gian và khỏi quyền lực của sự tồn tại hiện tượng.

[130]

[130]

We have expressed our belief that one of the major sciences of the coming age will be built up around the active rendering of service. We have used the word “Science” because service, as a spiritual quality, will rapidly be recognised as the phenomenal expression of an inner reality, and along the line of a right understanding of service will come much revelation as to the nature of the soul. Service is a method of producing phenomenal outer and tangible results upon the physical plane; I call your attention to this as an evidence of its creative quality. By right of this creative quality, service will eventually be regarded as a world science. It is a creative urge, a creative impulse, a creative momentous energy. This creativity of service has already been vaguely recognized in the world of human affairs under varying names, such as the science of vocational training. Recognition of the impetus coming from a right understanding of social relations and their study is not lacking. Much is also being studied along this same line in connection with criminology and the right handling of the youth of any nation and national group.

Chúng tôi đã bày tỏ niềm tin của mình rằng một trong những khoa học lớn của thời đại sắp đến sẽ được xây dựng quanh việc phụng sự một cách tích cực. Chúng tôi đã dùng từ “Khoa học” vì sự phụng sự, như một phẩm tính tinh thần, sẽ nhanh chóng được nhìn nhận như biểu hiện hiện tượng của một thực tại nội tại, và theo đường lối của một sự thấu hiểu đúng đắn về sự phụng sự sẽ đến nhiều sự mặc khải về bản chất của linh hồn. Sự phụng sự là một phương pháp tạo ra những kết quả hiện tượng, bên ngoài và hữu hình trên cõi hồng trần; tôi lưu ý các bạn điều này như một bằng chứng về phẩm tính sáng tạo của nó. Nhờ phẩm tính sáng tạo này, sự phụng sự cuối cùng sẽ được xem như một khoa học thế giới. Nó là một thúc đẩy sáng tạo, một xung lực sáng tạo, một năng lượng sáng tạo trọng đại. Tính sáng tạo này của sự phụng sự đã được nhận biết một cách mơ hồ trong thế giới nhân sự dưới nhiều tên gọi khác nhau, chẳng hạn như khoa học hướng nghiệp. Sự nhìn nhận xung lực phát sinh từ một sự thấu hiểu đúng đắn về các quan hệ xã hội và việc nghiên cứu chúng không hề thiếu. Cũng đang có nhiều nghiên cứu theo cùng đường hướng này liên quan đến tội phạm học và việc xử lý đúng đắn giới trẻ của bất kỳ quốc gia hay nhóm quốc gia nào.

Service is, par excellence, the technique of correct group relations, whether it be the right guidance of an anti-social child in a family, the wise assimilation of a trouble-maker in a group, the handling of anti-social groups in our big cities, the correct technique to be employed in child guidance in our educational centres or the relation between the religious and political parties, or between nation and nation. All of this is part of the new and growing Science of Service. The imposition of this soul law will eventually bring light into a distracted world, and release human energies in right directions. It is not here possible to do more than indicate this briefly. The theme is too large, for it includes the awakening of the spiritual consciousness with its responsibilities, and the welding of the individual into an awakened group; it involves [131] the imposition also of a newer and a higher rhythm upon world affairs. This constitutes, therefore, a definitely scientific endeavor and warrants the attention of the best minds. It should also eventually call forth the consecrated effort of the world disciples.

Sự phụng sự, trên hết, là kỹ thuật của những quan hệ nhóm đúng đắn, dù đó là sự hướng dẫn đúng đắn một đứa trẻ phản xã hội trong gia đình, sự đồng hóa khôn ngoan một kẻ gây rối trong một nhóm, việc xử lý các nhóm phản xã hội trong các thành phố lớn của chúng ta, kỹ thuật đúng đắn cần được sử dụng trong việc hướng dẫn trẻ em tại các trung tâm giáo dục của chúng ta, hay mối quan hệ giữa các đảng phái tôn giáo và chính trị, hoặc giữa quốc gia này với quốc gia khác. Tất cả điều này là một phần của Khoa Học Phụng Sự mới mẻ và đang phát triển. Việc áp đặt định luật linh hồn này cuối cùng sẽ mang ánh sáng vào một thế giới rối loạn, và giải phóng các năng lượng nhân loại theo những hướng đúng đắn. Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra điều này một cách vắn tắt. Chủ đề này quá rộng lớn, vì nó bao gồm sự thức tỉnh của tâm thức tinh thần cùng với các trách nhiệm của nó, và sự hàn gắn cá nhân vào một nhóm đã thức tỉnh; nó cũng bao hàm việc áp đặt một nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên các công việc thế giới. Vì vậy, điều này cấu thành một nỗ lực rõ rệt có tính khoa học và xứng đáng nhận được sự chú ý của những trí tuệ ưu tú nhất. Cuối cùng nó cũng nên khơi dậy nỗ lực thánh hiến của các đệ tử thế giới.

{End of LOTSWC 13, p. 131

{End of LOTSWC 13, p. 131

Beginning with LOTSWC 14, p. 131

Beginning with LOTSWC 14, p. 131

What are the characteristics of the true server?

Những đặc tính của người phụng sự chân chính là gì?

These characteristics can be easily and briefly noted. They are not exactly what one may have been led to believe. I am not here speaking of the qualifications required for the treading of the Path of Discipleship or the Probationary Path. These are well known. They are the platitudes of the spiritual life, and constitute the battleground, or the Kurukshetra of most aspirants. We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. They will appear when he is a real channel for the life of the soul. His major characteristics will then be three in number:—

Những đặc tính này có thể được ghi nhận một cách dễ dàng và ngắn gọn. Chúng không hoàn toàn là điều mà người ta có thể đã được dẫn dắt để tin như vậy. Ở đây tôi không nói về những phẩm chất cần có để bước đi trên Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những điều đó đã được biết rõ. Chúng là những điều sáo thường của đời sống tinh thần, và cấu thành chiến trường, hay Kurukshetra, của phần lớn những người chí nguyện. Ở đây chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người đang hoạt động dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Chúng sẽ xuất hiện khi y là một kênh dẫn thực sự cho đời sống của linh hồn. Khi đó những đặc tính chính của y sẽ là ba điều:—

1. He will be distinguished, as might be expected, by the quality of harmlessness, and by an active refraining from those acts and that speech which might hurt or cause any misunderstanding. By no word, suggestion, implication, innuendo or voiced dissatisfaction will he hurt his group. You will note that I do not say “will not hurt any individual.” Those working under the Law of Service need no reminder not to hurt any individual. They often need, under the exuberance of spiritual stimulation and the intensity of their aspiration, to be reminded to demonstrate group harmlessness.

1. Như có thể được mong đợi, y sẽ nổi bật bởi phẩm tính vô tổn hại, và bởi sự chủ động kiềm chế khỏi những hành động và lời nói có thể làm tổn thương hoặc gây ra bất kỳ sự hiểu lầm nào. Bằng không một lời nói, gợi ý, hàm ý, bóng gió hay sự bất mãn được thốt ra nào, y sẽ làm tổn thương nhóm của mình. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào.” Những người hoạt động dưới Định luật Phụng sự không cần được nhắc nhở là không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào. Dưới sự dồi dào của kích thích tinh thần và cường độ khát vọng của mình, họ thường cần được nhắc nhở phải biểu lộ tính vô tổn hại đối với nhóm.

2. The second characteristic is a willingness to let others serve as seems best to them, knowing that the life flowing through the individual server must find its own [132] channels and outlets, and that direction of these currents can be dangerous and prevent the rendering of the intended service. The server’s efforts will be turned in two directions:—

2. Đặc tính thứ hai là sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách dường như tốt nhất đối với họ, biết rằng sự sống tuôn chảy qua người phụng sự cá nhân phải tự tìm lấy các kênh và lối thoát riêng của nó, và rằng việc chỉ đạo các dòng chảy này có thể nguy hiểm và ngăn cản sự phụng sự được dự định. Những nỗ lực của người phụng sự sẽ được hướng theo hai chiều:—

1. To the task of helping others to “stand in spiritual being”, as he himself is learning to stand.

1. Vào nhiệm vụ giúp người khác “đứng trong bản thể tinh thần”, như chính y đang học cách đứng như vậy.

2. To aiding the individual to express his service in his chosen field as he desires to express it, and not as the onlooking helper deems that he should do it.

2. Vào việc trợ giúp cá nhân biểu lộ sự phụng sự của mình trong lĩnh vực mà người ấy chọn, theo cách người ấy muốn biểu lộ, chứ không phải theo cách mà người trợ giúp đứng ngoài cho rằng người ấy nên làm.

One point might here be made clear. The task of those who are working under the Law of Service is not exerted primarily with that group in the world today which is working under the effect of that general response to which we earlier referred. These effects are easily shepherded into those activities which, en masse, work out as philanthropic endeavor, as educational experiments, or social efforts in the life of the community. The name of those who thus respond is legion, and the will to serve in this particular way needs no impetus. The remarkable response to the many recent campaigns to good will definitely evidenced this. But the work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law. This centres around the capacity to stand, not only in spiritual being, but together with others, working with them subjectively, telepathically, and synthetically. This distinction merits attention for one can easily waste effort by entering fields already well handled from the point of view of the attainment of the units in that field.

Ở đây có thể làm sáng tỏ một điểm. Nhiệm vụ của những người đang hoạt động dưới Định luật Phụng sự không chủ yếu được hướng đến nhóm người trong thế giới ngày nay đang hoạt động dưới tác động của sự đáp ứng tổng quát mà trước đây chúng ta đã đề cập. Những tác động này dễ dàng được dẫn dắt vào những hoạt động mà xét trên diện rộng biểu hiện thành nỗ lực từ thiện, những thử nghiệm giáo dục, hay những nỗ lực xã hội trong đời sống cộng đồng. Số người đáp ứng theo cách đó thì vô số, và ý chí phụng sự theo cách đặc biệt này không cần thêm xung lực nào. Sự đáp ứng đáng chú ý đối với nhiều chiến dịch thiện chí gần đây đã chứng minh rõ điều đó. Nhưng công việc của loại người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc linh hồn và do đó có thể hoạt động dưới Định luật Bảo Bình mới đang đi vào. Điều này tập trung quanh năng lực đứng, không chỉ trong bản thể tinh thần, mà còn cùng với những người khác, hoạt động với họ một cách chủ quan, bằng viễn cảm, và một cách tổng hợp. Sự phân biệt này đáng được chú ý vì người ta có thể dễ dàng lãng phí nỗ lực khi bước vào những lĩnh vực đã được xử lý tốt từ quan điểm thành tựu của các đơn vị trong lĩnh vực đó.

3. The third characteristic of the new server is joyfulness. [133] This takes the place of criticism (that dire creator of misery) and is the silence that sounds.

3. Đặc tính thứ ba của người phụng sự mới là sự hoan hỉ. [133] Điều này thay thế cho sự chỉ trích (kẻ tạo ra khổ đau khủng khiếp ấy) và là sự im lặng phát ra âm thanh.

It would be well to ponder on these last words, for their true meaning cannot be conveyed in words, but only through a life dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole. Then that “sounding joy” and that “joyful sounding” can make its true meaning felt.

Sẽ là điều tốt nếu suy ngẫm về những lời cuối này, vì ý nghĩa chân thực của chúng không thể được truyền đạt bằng lời, mà chỉ qua một đời sống tận hiến cho những nhịp điệu mới hơn và cho sự phụng sự toàn thể. Khi đó “âm vang hoan hỉ” ấy và “sự hoan hỉ vang lên” ấy mới có thể làm cho ý nghĩa chân thực của nó được cảm nhận.

What effect does service have upon the mind, the emotions and the etheric body?

Sự phụng sự có tác động gì lên trí tuệ, cảm xúc và thể dĩ thái?

It must be remembered that it is through its effects that the scientist of the future will begin to deduce the effectual existence of an inner cause, of an inner reality, or of a self or soul. We have seen that service is not simply an activity of some person or group doing something with good intention for another person or group. Service itself is definitely the result of a tremendous inner happening, and when that result is brought about, it will be found to have produced a number of creative secondary causes. These are, primarily, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions (through creative activity) which is the demonstration of something dynamically new. As this inner event stabilises into an equilibrised inner condition, the demonstration of the above changes becomes more regular and less spasmodic and the effects of the new forces flowing into the personality to be later used creatively, will be seen in all three bodies. Thus the true server comes into possession of his instruments for service, and thenceforth creative work in accordance with the Plan can go forward on all three planes. Thus has God, in His wisdom, chosen to [134] limit Himself, and the work of evolution proceeds solely through the medium of His chosen builders and under the direction—on this planet—of those men whose lives are being transformed through soul contact and creative service, and who constitute the planetary Hierarchy.

Cần nhớ rằng chính qua các tác động của nó mà nhà khoa học của tương lai sẽ bắt đầu suy ra sự hiện hữu có hiệu lực của một nguyên nhân bên trong, của một thực tại nội tại, hay của một bản ngã hoặc linh hồn. Chúng ta đã thấy rằng sự phụng sự không chỉ đơn giản là một hoạt động của một người hay một nhóm làm điều gì đó với thiện ý cho một người hay một nhóm khác. Bản thân sự phụng sự rõ rệt là kết quả của một biến cố nội tại to lớn, và khi kết quả đó được tạo ra, người ta sẽ thấy rằng nó đã sản sinh ra một số nguyên nhân thứ cấp có tính sáng tạo. Trước hết, đó là một sự thay đổi trong tâm thức thấp, một khuynh hướng quay lưng khỏi những điều thuộc về bản ngã cá nhân để hướng đến những vấn đề lớn hơn của nhóm, một sự tái định hướng có thực và có tính biểu hiện, và một quyền năng thay đổi các điều kiện (thông qua hoạt động sáng tạo), vốn là sự biểu lộ của một điều gì đó mới mẻ một cách năng động. Khi biến cố nội tại này ổn định thành một trạng thái nội tại quân bình, sự biểu lộ của những thay đổi nói trên trở nên đều đặn hơn và bớt co giật hơn, và các tác động của những mãnh lực mới tuôn vào phàm ngã để sau này được sử dụng một cách sáng tạo sẽ được thấy trong cả ba thể. Như vậy người phụng sự chân chính nắm được các công cụ phụng sự của mình, và từ đó công việc sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trên cả ba cõi. Như vậy Thượng đế, trong minh triết của Ngài, đã chọn cách tự giới hạn chính Ngài, và công việc tiến hoá chỉ tiến hành thông qua trung gian là các đấng kiến tạo được Ngài chọn và dưới sự chỉ đạo—trên hành tinh này—của những con người mà đời sống của họ đang được chuyển đổi nhờ sự tiếp xúc linh hồn và sự phụng sự sáng tạo, và những người ấy cấu thành Thánh Đoàn hành tinh.

When alignment has been effected, when the at-one-ment has been more constantly made, and when the antaskarana (the bridge connecting the higher and the lower) is in definite process of construction, the true nature of service, as practiced by any individual begins to emerge. The first effect of the inflowing force of the soul, which is the major factor leading to demonstrated service, is to integrate the personality, and to bring all the three lower aspects of the man into one serving whole. This is a difficult and elementary stage from the angle of the student in the Hall of Wisdom. The man becomes aware of his power and capacity, and, having pledged himself to service, he begins furiously to serve; he creates this, that and the other channel for the expression of the force which is driving him; he tears down and destroys just as fast as he creates. He temporarily becomes a serious problem to the other servers with whom he may be associated, for he sees no vision but his own, and the aura of criticism which surrounds him and the strenuous push of the assertive force within him produces the stumbling of the “little ones” and there has to be constant repair work undertaken (on his behalf) by older, more experienced disciples. He becomes the victim, for the time, of his own aspiration to serve, and of the force which is flowing through him. This stage will in some cases fan into flame the latent seeds of ambition. This ambition is, in the last analysis, only the personality urge towards betterment, and in its right place and time is a divine asset, but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. In other cases, the server [135] will come into a wider and more loving vision, and, taking his eyes off his own accomplishment, will go to work in silent unison with the groups of all true servers. He will submerge his personality tendencies, his ideas and his ambitions in the greater good of the whole, and self will be lost to sight. Perhaps no better suggestion can be made to the man or woman who seeks to function as a true server than to ask them to repeat daily, with their whole hearts and minds behind the words, the dedication at the conclusion of the Esoteric Catechism, which is included at the end of Initiation, Human and Solar. I would remind such servers that if they revolt or are dismayed by the ideas embodied in the words, that is perhaps an indication of how much they need the impression of this life objective upon their consciousness. That pledge runs as follows:

Khi sự chỉnh hợp đã được thực hiện, khi sự hợp nhất đã được tạo ra thường xuyên hơn, và khi antahkarana (cây cầu nối cái cao với cái thấp) đang ở trong tiến trình xây dựng rõ rệt, thì bản chất chân thực của sự phụng sự, như được thực hành bởi bất kỳ cá nhân nào, bắt đầu xuất hiện. Tác động đầu tiên của mãnh lực tuôn vào từ linh hồn, vốn là yếu tố chính dẫn đến sự phụng sự được biểu lộ, là tích hợp phàm ngã, và đưa cả ba phương diện thấp của con người vào một toàn thể phụng sự duy nhất. Đây là một giai đoạn khó khăn và sơ đẳng theo góc nhìn của đạo sinh trong Phòng Minh triết. Con người trở nên nhận biết quyền năng và năng lực của mình, và, sau khi đã hiến mình cho sự phụng sự, y bắt đầu phụng sự một cách mãnh liệt; y tạo ra kênh này, kênh kia và kênh nọ cho sự biểu lộ của mãnh lực đang thúc đẩy mình; y phá đổ và hủy diệt cũng nhanh như y sáng tạo. Tạm thời y trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với những người phụng sự khác mà y có thể liên kết cùng, vì y không thấy tầm nhìn nào ngoài tầm nhìn của riêng mình, và hào quang chỉ trích bao quanh y cùng với sức đẩy mãnh liệt của lực khẳng định bên trong y gây nên sự vấp ngã của “những kẻ bé mọn”, và các đệ tử lớn tuổi hơn, giàu kinh nghiệm hơn phải liên tục thực hiện công việc sửa chữa (thay cho y). Trong một thời gian, y trở thành nạn nhân của chính khát vọng phụng sự của mình, và của mãnh lực đang tuôn chảy qua mình. Trong một số trường hợp, giai đoạn này sẽ thổi bùng những hạt giống tiềm ẩn của tham vọng. Xét cho cùng, tham vọng này chỉ là sự thôi thúc của phàm ngã hướng đến sự cải thiện, và ở đúng chỗ đúng lúc của nó, đó là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn. Trong những trường hợp khác, người phụng sự sẽ đi vào một tầm nhìn rộng lớn hơn và đầy tình thương hơn, và, rời mắt khỏi thành tựu riêng của mình, y sẽ bắt tay làm việc trong sự hợp nhất thầm lặng với các nhóm của mọi người phụng sự chân chính. Y sẽ dìm các khuynh hướng phàm ngã, các ý tưởng và các tham vọng của mình vào thiện ích lớn hơn của toàn thể, và bản ngã sẽ biến mất khỏi tầm nhìn. Có lẽ không thể đưa ra gợi ý nào tốt hơn cho người nam hay người nữ đang tìm cách hoạt động như một người phụng sự chân chính hơn là yêu cầu họ lặp lại hằng ngày, với trọn cả tâm hồn và trí tuệ đặt sau lời nói, lời hiến dâng ở phần kết của Giáo Lý Vấn Đáp Nội Môn, được đưa vào cuối cuốn Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Tôi muốn nhắc những người phụng sự như vậy rằng nếu họ phản kháng hoặc nản lòng trước những ý tưởng hàm chứa trong những lời ấy, thì đó có lẽ là một dấu hiệu cho thấy họ cần sự cảm ứng của mục tiêu sống này lên tâm thức của họ đến mức nào. Lời cam kết ấy như sau:

“I play my part with stern resolve; with earnest aspiration; I look above, I help below; I dream not, nor I rest; I toil; I serve; I reap; I pray; I am the Cross; I am the Way; I tread upon the work I do, I mount upon my slain self; I kill desire, and I strive, forgetting all reward. I forego peace; I forfeit rest, and, in the stress of pain, I lose myself and find Myself and enter into peace. To all this I solemnly pledge myself, invoking my Higher Self.”

“Tôi đóng vai trò của mình với quyết tâm nghiêm nghị; với khát vọng tha thiết; tôi nhìn lên trên, tôi giúp xuống dưới; tôi không mơ mộng, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao động; tôi phụng sự; tôi gặt hái; tôi cầu nguyện; tôi là Thập Giá; tôi là Con Đường; tôi bước lên trên công việc tôi làm, tôi leo lên trên bản ngã đã bị giết của mình; tôi giết dục vọng, và tôi phấn đấu, quên hết mọi phần thưởng. Tôi từ bỏ bình an; tôi từ khước nghỉ ngơi, và, trong sức ép của đau đớn, tôi đánh mất mình và tìm thấy Chính Mình và đi vào bình an. Tôi long trọng cam kết với tất cả điều này, khẩn cầu Bản Ngã Cao Siêu của tôi.”

As the work of learning to serve proceeds and the inner contact becomes more sure, the next thing which will occur will be a deepening of the life of meditation, and a more frequent illumining of the mind by the light of the soul. Thereby the Plan is revealed. This will not be the shedding of that light upon the plans of the server either for his own life or upon his chosen field of service. This must be clearly grasped. That might only indicate (if it seems to occur) the mental agility of the server to find means for the justification of his own ambition. It will be the recognition, in the mind, of the Plan of God for the world at the particular time in [136] which the server is existing, and the part that he may play in furthering the ends of those who are responsible for the carrying forward of that Plan. He then becomes willing to be a tiny part of a greater Whole, and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom. He is then in contact with a still vaster concept of the Plan and His humility and His sense of proportion remain unchanged.

Khi công việc học cách phụng sự tiếp diễn và sự tiếp xúc bên trong trở nên chắc chắn hơn, điều kế tiếp sẽ xảy ra là sự đào sâu đời sống tham thiền, và trí tuệ được ánh sáng của linh hồn soi sáng thường xuyên hơn. Nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. Đây sẽ không phải là việc ánh sáng ấy soi rọi lên các kế hoạch của người phụng sự cho đời sống riêng của y hay lên lĩnh vực phụng sự mà y đã chọn. Điều này phải được nắm rõ. Nếu điều đó dường như xảy ra, thì có thể nó chỉ cho thấy sự lanh lợi trí tuệ của người phụng sự trong việc tìm phương tiện biện minh cho tham vọng riêng của mình. Đó sẽ là sự nhận biết, trong trí tuệ, về Thiên Cơ của Thượng đế dành cho thế giới vào thời điểm đặc biệt mà người phụng sự đang tồn tại, và phần việc mà y có thể đảm nhận trong việc thúc đẩy các mục tiêu của những Đấng chịu trách nhiệm đưa Thiên Cơ ấy tiến lên. Khi đó y trở nên sẵn lòng là một phần nhỏ bé của một Toàn Thể lớn lao hơn, và thái độ này không bao giờ thay đổi, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một Chân sư Minh triết. Khi đó Ngài tiếp xúc với một quan niệm còn bao la hơn nữa về Thiên Cơ và sự khiêm nhường cùng ý thức về tỉ lệ của Ngài vẫn không đổi.

An integrated, intelligent personality is adequate to deal with the working out of the server’s part in the active work of the world, provided his vision is not blurred by personal ambition nor his activity such that it degenerates into a sense of rush and a display of busy feverishness. It takes the soul itself to reveal to the poised and peaceful mind the next step to be taken in the work of world evolution, through the impartation of ideas. Such is the Plan for humanity.

Một phàm ngã tích hợp, thông minh là đủ để đề cập đến việc triển khai phần việc của người phụng sự trong công tác năng động của thế giới, miễn là tầm nhìn của y không bị làm mờ bởi tham vọng cá nhân và hoạt động của y không đến mức thoái hóa thành cảm giác vội vã và biểu hiện của sự bận rộn sốt sắng. Chính linh hồn phải mặc khải cho trí tuệ quân bình và an tĩnh bước kế tiếp cần được thực hiện trong công việc tiến hoá thế giới, thông qua sự truyền đạt các ý tưởng. Đó là Thiên Cơ cho nhân loại.

As the force pours through the personality and gives to the server this necessary vision and the sense of power which will enable him to cooperate, it finds its way into the emotional or astral body. Here again the effect will be dual, owing to the condition of the server’s astral body and his inner orientation. It may enhance the glamour and deepen the illusion, swinging the server into the psychic illusory effects there to be found. When this happens, he will emerge upon the physical plane glamoured by the idea, for instance, of his amazing personal contacts, whereas he has only contacted some group thought-form of the Great Ones. He will be under the illusion that he is a chosen vessel or mouthpiece for the Hierarchy, when the truth is that he is deceived by the many voices, because the Voice of the Silence has been dimmed by the clamour of the astral plane; he will be deluded by the idea that there is no other way but his way. Such an illusion and deception is common among teachers and workers everywhere [137] today, because so many are definitely making a contact with their souls, and are being swept then into the desire for service; they are not yet free, however, from ambition, and their orientation is still basically towards personality expression, and not to the merging of themselves in the Group of World Servers. If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. There will then be no room for self-interest, self-assertiveness, or selfish ambition. All that is considered is the need and the driving necessity to take the next immediate step to meet that need as it demonstrates before the server’s eyes.

Khi mãnh lực tuôn qua phàm ngã và ban cho người phụng sự tầm nhìn cần thiết này cùng ý thức về quyền năng sẽ giúp y hợp tác, nó tìm đường đi vào thể cảm dục hay thể cảm xúc. Ở đây một lần nữa tác động sẽ có hai mặt, do tình trạng của thể cảm dục của người phụng sự và sự định hướng bên trong của y. Nó có thể làm tăng cường ảo cảm và đào sâu ảo tưởng, cuốn người phụng sự vào những hiệu ứng ảo tưởng thông linh có thể tìm thấy ở đó. Khi điều này xảy ra, y sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần bị ảo cảm bởi ý tưởng, chẳng hạn, về những tiếp xúc cá nhân kỳ diệu của mình, trong khi thực ra y chỉ mới tiếp xúc với một hình tư tưởng nhóm nào đó của Các Đấng Cao Cả. Y sẽ ở dưới ảo tưởng rằng mình là một vận cụ hay phát ngôn viên được chọn cho Thánh Đoàn, trong khi sự thật là y bị lừa dối bởi nhiều tiếng nói, vì Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ bởi tiếng ồn ào của cõi cảm dục; y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của mình. Ảo tưởng và sự lừa dối như vậy ngày nay rất phổ biến nơi các huấn sư và người hoạt động ở khắp nơi, vì rất nhiều người đang thực sự tiếp xúc với linh hồn của mình, và rồi bị cuốn vào khát vọng phụng sự; tuy nhiên, họ vẫn chưa thoát khỏi tham vọng, và sự định hướng của họ về căn bản vẫn hướng đến biểu hiện phàm ngã, chứ không phải đến việc hòa nhập chính mình vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh được ảo cảm, và có thể phân biện giữa Thực và không thực, thì mãnh lực tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vô ngã hữu hiệu và bằng sự tận tụy đối với Thiên Cơ, đối với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và đối với Những Đấng phụng sự Thiên Cơ. Hãy lưu ý trình tự của những thái độ này, và tự điều chỉnh mình cho phù hợp. Khi đó sẽ không còn chỗ cho tư lợi, sự tự khẳng định, hay tham vọng ích kỷ. Tất cả những gì được xét đến là nhu cầu và sự cấp bách thôi thúc phải thực hiện bước kế tiếp ngay tức thì để đáp ứng nhu cầu ấy như nó biểu lộ trước mắt người phụng sự.

With the heart and mind then functioning together (either in selfish coalition for the presentation of an active personality, or in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance) the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. Then, automatically, the physical body will respond. There is, consequently, a great need for the server to pause upon the astral plane, and there, in a holy and controlled silence, wait, before permitting the force to pour through into the centres in the etheric body. This point of silence is one of the mysteries of spiritual unfoldment. Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked on its way through into physical manifestation—has reached the etheric body, there is nothing more to be done by the average disciple. The result, when it reaches that point, is inevitable and effective. The inner thought and the desire life determine the activity which will be expressed physically. When the force comes through in purity, it brings the centres above the [138] diaphragm steadily into activity; when it comes through, tainted by personality trends, it uses primarily the solar plexus, and then sweeps into manifestation all the astral illusions, the grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena, using the word “egoistic” in its usual worldly, psychological connotation. This can easily be seen today among the leaders of various groups.

Khi tim và trí tuệ cùng hoạt động (hoặc trong sự liên minh ích kỷ để trình bày một phàm ngã năng động, hoặc trong sự vô ngã tận hiến và thái độ được định hướng về sự hướng dẫn của linh hồn), mãnh lực tuôn qua người phụng sự sẽ làm cho thể dĩ thái của y hoạt động mạnh lên. Khi đó, thể xác sẽ tự động đáp ứng. Do đó, người phụng sự rất cần phải dừng lại trên cõi cảm dục, và ở đó, trong một sự im lặng thiêng liêng và được kiểm soát, chờ đợi trước khi cho phép mãnh lực tuôn qua vào các trung tâm trong thể dĩ thái. Điểm im lặng này là một trong những huyền nhiệm của sự khai mở tinh thần. Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được giữ trong sự tinh tuyền của nó, hoặc bị nhiễm bẩn và bị chuyển hướng trên đường đi vào biểu hiện hồng trần—đã đến thể dĩ thái, thì đệ tử trung bình không còn gì để làm nữa. Kết quả, khi nó đạt đến điểm đó, là tất yếu và hữu hiệu. Tư tưởng bên trong và đời sống dục vọng quyết định hoạt động sẽ được biểu lộ về mặt hồng trần. Khi mãnh lực đi qua trong sự tinh tuyền, nó đưa các trung tâm phía trên cơ hoành dần dần vào hoạt động; khi nó đi qua, bị nhuốm bởi các xu hướng phàm ngã, nó chủ yếu sử dụng tùng thái dương, rồi cuốn vào biểu hiện tất cả các ảo tưởng cảm dục, những hoang tưởng tự đại và các ảo cảm của những hiện tượng vị ngã, dùng từ “vị ngã” theo hàm nghĩa tâm lý thế tục thông thường của nó. Điều này ngày nay có thể dễ dàng thấy nơi các lãnh đạo của nhiều nhóm khác nhau.

b. DISTINCTIVE METHODS OF RAY SERVICE—NHỮNG PHƯƠNG PHÁP PHỤNG SỰ ĐẶC THÙ CỦA CÁC CUNG

Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service?

Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại cung sử dụng những phương pháp phụng sự đặc thù không?

As time goes on this will be proved decidedly, and each ray worker and server will be found to render his service along peculiar and specific lines. These indicate for him the line of least resistance and, consequently, of the greatest efficiency. These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service, and they will be discovered through the admission of the Ray hypothesis and an observation of the methods employed by these clearly isolated Ray types and groups. These differing ways of service, all of them, work in conformity with the Plan, and together produce a synthetic whole. The ray or rays in manifestation at any one time will determine the general trend of the world service, and those servers whose egoic ray is in incarnation, and who are endeavoring to work with right activity, will find their work facilitated if they understand that the trend of affairs is with them and that they are following the line of least resistance at that period. They will work with greater facility than will the disciples and aspirants whose egoic ray is out of manifestation. This recognition will lead to a careful study of times and seasons, thus there will be no waste effort, and real advantage can be taken of the qualifications and aptitudes of the servers available. All will [139] be in conformity with the Plan. A consideration of the rays in or out of manifestation, and a recognition of the disciples and servers available on the physical plane at any one time, is part of the work of the Masters in the Hierarchy.

Theo thời gian, điều này sẽ được chứng minh một cách rõ rệt, và mỗi người hoạt động và người phụng sự theo cung sẽ được thấy là thực hiện sự phụng sự của mình theo những đường lối đặc biệt và chuyên biệt. Đối với họ, những đường lối này chỉ ra con đường ít trở ngại nhất và do đó là hiệu quả lớn nhất. Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa Học Phụng Sự sắp đến, và chúng sẽ được khám phá thông qua việc chấp nhận giả thuyết về cung và sự quan sát các phương pháp được sử dụng bởi những loại cung và nhóm cung được biệt lập rõ rệt này. Tất cả những cách phụng sự khác nhau này đều hoạt động phù hợp với Thiên Cơ, và cùng nhau tạo ra một toàn thể tổng hợp. Cung hay các cung đang biểu hiện vào bất kỳ thời điểm nào sẽ quyết định xu hướng chung của sự phụng sự thế giới, và những người phụng sự có cung chân ngã đang lâm phàm, và đang nỗ lực hoạt động một cách đúng đắn, sẽ thấy công việc của mình được thuận lợi hơn nếu họ hiểu rằng xu hướng của các sự việc đang đứng về phía họ và rằng họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất trong thời kỳ đó. Họ sẽ hoạt động dễ dàng hơn các đệ tử và người chí nguyện có cung chân ngã đang ở ngoài biểu hiện. Sự nhận biết này sẽ dẫn đến việc nghiên cứu cẩn trọng các thời kỳ và mùa vụ, nhờ đó sẽ không có nỗ lực nào bị lãng phí, và người ta có thể thực sự tận dụng các phẩm chất và năng lực của những người phụng sự hiện có. Tất cả sẽ phù hợp với Thiên Cơ. Việc xem xét các cung đang ở trong hay ngoài biểu hiện, và việc nhận biết các đệ tử và người phụng sự hiện có trên cõi hồng trần vào bất kỳ thời điểm nào, là một phần công việc của các Chân sư trong Thánh Đoàn.

[End of LOTSWC 14, p. 139

[End of LOTSWC 14, p. 139

Beginning with LOTSWC 15, p. 139

Beginning with LOTSWC 15, p. 139

The emergence of the New Group of World servers today is an indication that there are enough egoic ray types in physical manifestation, and that a sufficient number of personalities are responding to soul contact, so that a group can be formed that can be definitely impressed as a group. This is the first time that such a situation has been possible. Up till this century, individuals could be impressed, here and there, in different parts of the world, and at widely separated times and periods. But today a group can respond and their numbers are relatively so great that there can be formed upon the planet a group composed of a number of persons of such radiatory activity that their auras can meet and contact each other. Thus one group—subjective and objective—can be functioning.

Sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ngày nay là một dấu hiệu cho thấy có đủ các loại cung chân ngã đang ở trong biểu hiện hồng trần, và có đủ số phàm ngã đang đáp ứng với sự tiếp xúc linh hồn, để một nhóm có thể được hình thành mà có thể rõ rệt được cảm ứng như một nhóm. Đây là lần đầu tiên một tình huống như vậy trở nên khả hữu. Cho đến thế kỷ này, các cá nhân có thể được cảm ứng, đây đó, ở những nơi khác nhau trên thế giới, và vào những thời điểm và thời kỳ cách xa nhau. Nhưng ngày nay một nhóm có thể đáp ứng và số lượng của họ tương đối lớn đến mức trên hành tinh có thể hình thành một nhóm gồm một số người có hoạt động bức xạ đến mức các hào quang của họ có thể gặp gỡ và tiếp xúc lẫn nhau. Như vậy một nhóm—chủ quan và khách quan—có thể hoạt động.

There are today enough centres of light, scattered all over the world, and enough disciples and aspirants, that the little beams or threads of light (speaking symbolically) which radiate from each of them, can meet and interlace, and form a network of light in the world. This constitutes the magnetic aura of the New Group of World Servers. Each individual in the group is sensitive to the Plan, either through his own personal knowledge through contact with his soul, or because his intuition tells him that what the Group, which attracts him, accepts as its immediate work is for him true and right, and with it all that is highest and best in him can cooperate. Each individual in that Group will work in his own particular surroundings according to his ray and type. That again will be coloured by his race and nation. But the work is the better carried forward as the units in the Group meet the [140] need in their own peculiar environment, in the manner that is, for them, the simplest and best way, belonging as they do by habit and training in that particular setting. This should be remembered.

Ngày nay có đủ những trung tâm ánh sáng, rải rác khắp thế giới, và đủ những đệ tử cùng người chí nguyện, để những tia sáng hay những sợi ánh sáng nhỏ bé (nói theo biểu tượng) phát ra từ mỗi người trong họ có thể gặp nhau, đan xen nhau, và tạo thành một mạng lưới ánh sáng trong thế giới. Điều này cấu thành noãn hào quang từ tính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Mỗi cá nhân trong nhóm đều nhạy cảm với Thiên Cơ, hoặc qua tri thức cá nhân của chính y nhờ tiếp xúc với linh hồn mình, hoặc vì trực giác của y cho y biết rằng điều mà Nhóm, vốn thu hút y, chấp nhận như công việc trước mắt của mình thì đối với y là chân thật và đúng đắn, và với điều đó tất cả những gì cao quý nhất và tốt đẹp nhất trong y đều có thể hợp tác. Mỗi cá nhân trong Nhóm ấy sẽ làm việc trong hoàn cảnh riêng của mình tùy theo cung và kiểu của y. Điều đó lại còn được nhuốm màu bởi nhân loại và quốc gia của y. Nhưng công việc sẽ được tiến hành tốt hơn khi các đơn vị trong Nhóm đáp ứng [140] nhu cầu trong môi trường đặc thù riêng của họ, theo cách đối với họ là đơn giản nhất và tốt nhất, vì theo thói quen và sự huấn luyện họ vốn thuộc về bối cảnh đặc biệt ấy. Điều này cần được ghi nhớ.

The seven ray types will work in the following ways, which I am stating very briefly for to do more than that might limit the expression of those who do not know enough to be discriminating as to their characteristics, and might unduly qualify and colour the experience of those servers who recognise (as some already do) their ray. They might, with entirely good intention, seek to force the ray qualities of their souls into dominance before the personality ray is adequately known or controlled. Other servers frequently confuse the two rays and deem their soul ray to be of a particular type, whereas it is only their personality ray to which they predominantly conform, and by which they are pre-eminently governed. Is it not possible for us to observe here the care with which the Teachers of these truths and the custodians of the coming revelation, must proceed? They have to guard the aspirants from premature knowledge, which they might theoretically grasp but which they are not yet ready practically to apply.

Bảy kiểu cung sẽ hoạt động theo những cách sau đây, mà tôi đang trình bày rất vắn tắt, vì nếu nói nhiều hơn có thể giới hạn sự biểu lộ của những người chưa biết đủ để có thể phân biện về các đặc tính của mình, và có thể định tính và nhuốm màu quá mức kinh nghiệm của những người phụng sự nhận ra cung của mình (như một số người đã làm được). Với hoàn toàn thiện ý, họ có thể tìm cách cưỡng ép các phẩm tính cung của linh hồn mình chiếm ưu thế trước khi cung phàm ngã được biết đến hoặc kiểm soát đầy đủ. Những người phụng sự khác thường xuyên nhầm lẫn hai cung này và cho rằng cung linh hồn của mình thuộc một kiểu đặc biệt nào đó, trong khi thực ra chỉ có cung phàm ngã của họ là kiểu mà họ chủ yếu phù hợp theo, và bởi đó họ được chi phối nổi bật nhất. Chẳng phải ở đây chúng ta có thể nhận thấy sự thận trọng mà các Huấn sư của những chân lý này và những vị gìn giữ sự mặc khải sắp đến phải tiến hành đó sao? Các Ngài phải bảo vệ những người chí nguyện khỏi tri thức quá sớm, thứ mà họ có thể nắm bắt về mặt lý thuyết nhưng chưa sẵn sàng áp dụng trên thực tế.

Ray I. Servers on this ray, if they are trained disciples, work through what might be called the imposition of the Will of God upon the minds of men. This they do through the powerful impact of ideas upon the minds of men, and the emphasis of the governing principles which must be assimilated by humanity. These ideas, when grasped by the aspirant bring about two developments. First, they initiate a period of destruction and of a breaking up of that which is old and hindering, and this is later followed by the clear shining forth of the new idea and its subsequent grasping by the minds of intelligent humanity. These ideas embody great [141] principles, and constitute the New Age ideas. These servers, therefore, work as God’s destroying angels, destroying the old forms, but nevertheless, behind it all lies the impetus of love.

Cung một . Những người phụng sự trên cung này, nếu họ là các đệ tử đã được huấn luyện, sẽ làm việc qua điều có thể gọi là sự áp đặt Ý Chí của Thượng Đế lên trí tuệ của con người. Họ làm điều này qua sự tác động mạnh mẽ của các ý tưởng lên trí tuệ con người, và qua sự nhấn mạnh những nguyên khí chỉ đạo mà nhân loại phải đồng hóa. Những ý tưởng này, khi được người chí nguyện nắm bắt, sẽ đem lại hai sự phát triển. Thứ nhất, chúng khởi đầu một giai đoạn hủy diệt và phá vỡ những gì cũ kỹ và cản trở; sau đó là sự tỏa sáng rõ ràng của ý tưởng mới và việc nó tiếp theo được trí tuệ của nhân loại thông minh nắm bắt. Những ý tưởng này thể hiện các nguyên khí vĩ đại [141] và cấu thành những ý tưởng của Kỷ Nguyên Mới. Vì vậy, những người phụng sự này hoạt động như các thiên thần hủy diệt của Thượng đế, phá hủy các hình tướng cũ, nhưng tuy vậy, đằng sau tất cả vẫn có xung lực của tình thương.

With the average aspirant, however, who is on the first ray, the activity is not so intelligent. He grasps the idea that is needed by the race, but he will seek to impose it primarily as his idea, something which he has seen and grasped and which impatiently he seeks to impose upon his fellow men for their good, as he sees it. He inevitably destroys as fast as he builds, and finally destroys himself. Many worthy aspirants and disciples in training for service at this time work in this sad way.

Tuy nhiên, với người chí nguyện trung bình thuộc cung một, hoạt động ấy không thông minh đến thế. Y nắm bắt ý tưởng mà nhân loại cần đến, nhưng trước hết y sẽ tìm cách áp đặt nó như là ý tưởng của riêng y, một điều mà y đã thấy và nắm được, và trong sự thiếu kiên nhẫn y tìm cách áp đặt lên đồng loại của mình vì lợi ích của họ, theo như y thấy. Y tất yếu phá hủy nhanh ngang với xây dựng, và cuối cùng tự hủy diệt chính mình. Nhiều người chí nguyện xứng đáng và những đệ tử đang được huấn luyện để phụng sự vào lúc này đang làm việc theo cách đáng buồn ấy.

Some of the Masters of the Wisdom and Their groups of disciples are actively engaged at this time in an endeavor to impose certain basic and needed ideas upon the races of men, and much of Their work is being prepared for by a group of Destroying Disciples, and also by a group of Enunciating Disciples, for these two types of work carry forward their task as a unit. The idea to be dominant in the future is proclaimed in writing and by the voice, by one Group. The Group of Destroyers takes it up, and proceed to break up the old forms of truth so as to make room and way for the new emerging idea.

Một số Chân sư Minh Triết và các nhóm đệ tử của Các Ngài hiện đang tích cực dấn thân vào nỗ lực áp đặt một số ý tưởng căn bản và cần thiết lên các nhân loại của loài người, và phần lớn công việc của Các Ngài đang được chuẩn bị bởi một nhóm Đệ tử Hủy Diệt, và cũng bởi một nhóm Đệ tử Tuyên Thuyết, vì hai loại công việc này cùng thực hiện nhiệm vụ của mình như một đơn vị. Ý tưởng sẽ chiếm ưu thế trong tương lai được một Nhóm công bố bằng văn viết và bằng tiếng nói. Nhóm Hủy Diệt tiếp nhận nó, rồi tiến hành phá vỡ các hình tướng chân lý cũ để dọn chỗ và mở đường cho ý tưởng mới đang xuất hiện.

Ray II. Servers on this ray ponder, meditate upon and assimilate the new ideas associated with the Plan, and by the power of their attractive love, they gather together those who are at that point in their evolution where they can respond to the measure and rhythm of that Plan. They can select, and train those who can “carry” the idea deeper into the mass of humanity. We should not forget that the work of the Hierarchy at this time, and the task of the new Group of World Servers is primarily associated with ideas. The disciples [142] and servers on the second Ray are “busy building habitations for those dynamic entities whose function it has ever been to charge the thoughts of men and so to usher in that new and better age which will permit the fostering of the souls of men.” So runs the Old Commentary, if I thus modernise its ancient wording. By magnetic, attractive, sympathetic understanding, and the use use of slow action, based on love, do the servers on this ray work. Today their power is becoming dominant.

Cung hai . Những người phụng sự trên cung này suy tư, tham thiền về và đồng hóa những ý tưởng mới gắn liền với Thiên Cơ, và bằng quyền năng của tình thương thu hút của họ, họ tập hợp những người đang ở điểm tiến hoá mà tại đó họ có thể đáp ứng với mức độ và nhịp điệu của Thiên Cơ ấy. Họ có thể tuyển chọn và huấn luyện những người có thể “mang” ý tưởng ấy đi sâu hơn vào khối quần chúng nhân loại. Chúng ta không nên quên rằng công việc của Thánh đoàn vào lúc này, và nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, trước hết gắn liền với các ý tưởng. Các đệ tử [142] và những người phụng sự trên cung hai thì “bận rộn xây dựng những nơi cư ngụ cho các thực thể năng động mà chức năng của họ từ xưa đến nay vẫn là nạp lực cho tư tưởng của con người và như thế mở ra kỷ nguyên mới và tốt đẹp hơn, kỷ nguyên sẽ cho phép việc nuôi dưỡng linh hồn con người.” Cổ Luận đã nói như vậy, nếu tôi hiện đại hóa cách diễn đạt cổ xưa của nó theo lối này. Bằng sự thấu hiểu từ tính, thu hút, cảm thông, và bằng việc sử dụng hành động chậm rãi dựa trên tình thương, những người phụng sự trên cung này làm việc. Ngày nay quyền năng của họ đang trở nên chi phối.

Ray III. The servers on this ray have a special function at this time in stimulating the intellect of humanity, sharpening it and inspiring it. They work, manipulating ideas so as to make them more easy of comprehension by the mass of intelligent men and women who are to be found in the world ar this time and whose intuition is not yet awakened. It is to be noted how the work of the true servers is largely with the new ideas and not with the business of organisation and of criticism (for these two go hand in hand). Ideas are taken by the third ray aspirant, as they emerge from the elevated consciousness of Those for whom the first ray works and are rendered attractive by the second ray worker (attractive in the esoteric sense) and adapted to the immediate need and rendered vocal by the force of the intellectual third ray types. In this lies a hint for many of the third ray personalities to be found working in various fields of service at this time.

Cung ba . Những người phụng sự trên cung này có một chức năng đặc biệt vào lúc này là kích thích trí tuệ của nhân loại, làm cho nó sắc bén và truyền cảm hứng cho nó. Họ làm việc bằng cách vận dụng các ý tưởng để khiến chúng trở nên dễ hiểu hơn đối với khối đông những người nam và nữ thông minh hiện có trong thế giới vào lúc này và trực giác của họ vẫn chưa thức tỉnh. Cần lưu ý rằng công việc của những người phụng sự chân chính phần lớn là với các ý tưởng mới chứ không phải với công việc tổ chức và phê phán (vì hai điều này đi đôi với nhau). Các ý tưởng được người chí nguyện cung ba tiếp nhận khi chúng xuất hiện từ tâm thức cao siêu của Những Đấng mà cung một làm việc cho Các Ngài, và được người hoạt động cung hai làm cho trở nên hấp dẫn (hấp dẫn theo nghĩa huyền bí), rồi được thích nghi với nhu cầu trước mắt và được diễn đạt thành lời nhờ mãnh lực của các kiểu cung ba trí tuệ. Chính trong điều này có một gợi ý cho nhiều phàm ngã cung ba hiện đang làm việc trong nhiều lĩnh vực phụng sự khác nhau vào lúc này.

Ray IV. This ray is not in incarnation at the time and therefore few fourth ray egos are available in world service. There are, however, many fourth ray personalities and they can learn much by the study of the work of the New Group of World Servers. The major task of the fourth ray aspirant is to harmonise the new ideas with the old, so that there can be no dangerous gap or break. They are those who bring [143] about a “righteous compromise”, and adapt the new and the old so that the true pattern is preserved. They are engaged with the bridging process, for they are the true intuitives and have a capacity for the art of synthesis so that their work most definitely can help in bringing forward a true presentation of the divine picture.

Cung bốn . Cung này hiện không đang lâm phàm vào lúc này và vì vậy có rất ít chân ngã cung bốn sẵn có cho công việc phụng sự thế giới. Tuy nhiên, có nhiều phàm ngã cung bốn, và họ có thể học được nhiều điều qua việc nghiên cứu công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhiệm vụ chính của người chí nguyện cung bốn là hài hòa các ý tưởng mới với cái cũ, để không có khoảng trống hay đứt gãy nguy hiểm nào. Họ là những người mang lại [143] một “sự thỏa hiệp chính đáng”, và thích nghi cái mới với cái cũ sao cho mô hình chân thực được bảo tồn. Họ dấn thân vào tiến trình bắt cầu, vì họ là những nhà trực giác chân chính và có năng lực về nghệ thuật tổng hợp, nên công việc của họ một cách rất rõ rệt có thể giúp đưa ra một sự trình bày chân thực về bức tranh thiêng liêng.

Ray V. The servers on this ray are coming rapidly into prominence. They are those who investigate the form in order to find its hidden idea, its motivating power, and to this end they work with ideas, proving them either true or false. They gather into their ranks those whose personalities are on this ray and train them in the art of scientific investigation. From the sensed spiritual ideas, lying behind the form side of manifestation, from the many discoveries in the ways of God with man and nature, from the inventions (which are but materialised ideas) and from the witness to the Plan which law portrays, they are preparing that new world in which men will work and live a more deeply conscious, spiritual life. Disciples working along these lines in every country today are more active than at any other time in human history. They are, knowingly and unknowingly, leading men into the world of meaning, and their discoveries will eventually end the present era of unemployment, and their inventions and improvements, added to the steadily growing idea of group interdependence (which is the major message of the New Group of World Servers) will eventually ameliorate human conditions so that an era of peace and leisure can supervene. You will note that I do not say “will supervene”, for not even the Christ Himself can predict exactly the time limit within which changes can eventuate, nor the reaction of humanity to any given point of revelation.

Cung năm . Những người phụng sự trên cung này đang nhanh chóng trở nên nổi bật. Họ là những người khảo cứu hình tướng để tìm ra ý tưởng ẩn giấu của nó, động lực thúc đẩy nó, và vì mục đích đó họ làm việc với các ý tưởng, chứng minh chúng là đúng hay sai. Họ tập hợp vào hàng ngũ mình những người có phàm ngã thuộc cung này và huấn luyện họ trong nghệ thuật khảo cứu khoa học. Từ những ý tưởng tinh thần được cảm nhận nằm sau mặt hình tướng của biểu hiện, từ nhiều khám phá về những đường lối của Thượng đế đối với con người và thiên nhiên, từ những phát minh (vốn chỉ là những ý tưởng được hiện hình), và từ chứng cứ về Thiên Cơ mà định luật biểu lộ, họ đang chuẩn bị thế giới mới trong đó con người sẽ làm việc và sống một đời sống tinh thần, có ý thức sâu sắc hơn. Các đệ tử làm việc theo những đường lối này tại mọi quốc gia ngày nay đang hoạt động mạnh hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử loài người. Họ, một cách hữu thức và vô thức, đang dẫn dắt con người vào Thế giới của ý nghĩa, và những khám phá của họ cuối cùng sẽ chấm dứt kỷ nguyên thất nghiệp hiện nay; những phát minh và cải tiến của họ, cộng với ý tưởng ngày càng tăng về sự tương thuộc nhóm (vốn là thông điệp chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian), cuối cùng sẽ cải thiện các điều kiện nhân loại để một kỷ nguyên hòa bình và nhàn hạ có thể tiếp theo xuất hiện. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ xuất hiện”, vì ngay cả chính Đức Christ cũng không thể tiên đoán chính xác giới hạn thời gian trong đó những thay đổi có thể xảy ra, cũng như phản ứng của nhân loại trước bất kỳ điểm mặc khải nào được ban ra.

Ray VI. The effect of the activity of this ray, during the past two thousand years, has been to train humanity in the [144] art of recognising ideals, which are the blue prints of ideas. The main work of the disciples on this ray is to capitalise on the developed tendency of humanity to recognise ideas, and—avoiding the rocks of fanaticism, and the dangerous shoals of superficial desire—train the world thinkers so ardently to desire the good, the true and the beautiful, that the idea which should materialise in some form on earth can shift from the plane of the mind and clothe itself in some form on earth. These disciples and servers work consciously with the desire element in man; they work scientifically with its correct evocation. Their technique is scientific because it is based upon a right understanding of the human material with which they have to work.

Cung sáu. Tác động của hoạt động của cung này trong hai ngàn năm qua là huấn luyện nhân loại trong [144] nghệ thuật nhận biết các lý tưởng, vốn là những bản thiết kế của các ý tưởng. Công việc chính của các đệ tử trên cung này là tận dụng xu hướng đã phát triển của nhân loại trong việc nhận biết các ý tưởng, và—tránh những mỏm đá của sự cuồng tín cùng những bãi cạn nguy hiểm của dục vọng hời hợt—huấn luyện các nhà tư tưởng thế giới khao khát mãnh liệt điều thiện, điều chân và điều mỹ đến mức ý tưởng cần được hiện hình dưới một hình thức nào đó trên trái đất có thể chuyển từ cõi trí và khoác lấy một hình thức nào đó trên trái đất. Những đệ tử và người phụng sự này làm việc một cách hữu thức với yếu tố dục vọng trong con người; họ làm việc một cách khoa học với sự gợi lên đúng đắn của nó. Kỹ thuật của họ là khoa học vì nó dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về chất liệu nhân loại mà họ phải làm việc cùng.

END of LOTSWC 15, EP II 144

END of LOTSWC 15, EP II 144

Beginning of LOTSWC 16, EP II 144.

Beginning of LOTSWC 16, EP II 144.

Some people have to be galvanised into activity by an idea. With these the first ray disciple can be effective. Others can be reached more easily by an ideal, and will then subordinate their personal lives and wishes to that ideal. With these the sixth ray disciple works with facility, and this he should endeavor to do, teaching men to recognise the truth, holding steadily before them the ideal, restraining them from a too energetic and fanatical display of interest, in the need for the long pull. The sixth ray, it should be remembered, when it constitutes the personality ray of a man or a group, can be far more destructive than the first ray, for there is not so much wisdom to be found, and, as it works through desire of some kind, it is following the line of least resistance for the masses, and can therefore the more easily produce physical plane effects. Sixth ray people need handling with care, for they are too one pointed and too full of personal desire, and the tide of evolution has been with this type for a very long time. But the sixth ray method of evoking desire for the materialising of an ideal is indispensable, and, fortunately, there are many aspirants and disciples on this ray available today.

Một số người phải được kích thích mạnh vào hoạt động bởi một ý tưởng. Với những người này, đệ tử cung một có thể hữu hiệu. Những người khác có thể được tiếp cận dễ dàng hơn bằng một lý tưởng, và khi đó sẽ đặt đời sống và ước muốn cá nhân của mình dưới lý tưởng ấy. Với những người này, đệ tử cung sáu làm việc một cách dễ dàng, và đây là điều y nên cố gắng thực hiện, dạy con người nhận biết chân lý, luôn giữ vững trước họ lý tưởng ấy, kiềm chế họ khỏi sự biểu lộ quan tâm quá mãnh liệt và cuồng tín, trong nhu cầu của sự bền bỉ lâu dài. Cần nhớ rằng cung sáu, khi nó cấu thành cung phàm ngã của một người hay một nhóm, có thể hủy diệt hơn nhiều so với cung một, vì ở đó không có nhiều minh triết đến thế, và vì nó hoạt động qua một loại dục vọng nào đó, nó đi theo con đường ít trở ngại nhất đối với quần chúng, và do đó có thể dễ dàng tạo ra các hiệu quả trên cõi hồng trần hơn. Những người cung sáu cần được xử lý cẩn trọng, vì họ quá nhất tâm và quá đầy dục vọng cá nhân, và làn sóng tiến hoá đã đứng về phía kiểu người này trong một thời gian rất dài. Nhưng phương pháp cung sáu trong việc gợi lên dục vọng để hiện hình một lý tưởng là điều không thể thiếu, và may mắn thay, ngày nay có nhiều người chí nguyện và đệ tử trên cung này sẵn có.

[145]

[145]

Ray VII. This ray provides at this time an active and necessary grouping of disciples who are eager to aid the Plan. Their work lies naturally on the physical plane. They can organise the evoked ideal which will embody as much of the idea of God as the period and humanity can evidence and produce in form upon the earth. Their work is potent and necessary and calls for much skill in action. This is the ray that is coming into power. None of these ray participants in the hierarchical crusade today can really work without each other, and no group can carry on alone. The difference between the methods of the old age and that of the new can be seen expressed in the idea of leadership by one and leadership by a group. It is the difference between the imposition of an individual’s response to an idea upon his fellow men and the reaction of a group to an idea, producing group idealism and focalising it into definite form, carrying forward the emergence of the idea without the dominance of any one individual. This is the major task today of the seventh ray disciple, and to this end he must bend every energy. He must speak those Words of Power which are a group word, and embody the group aspiration in an organised movement, which, it will be noted is quite distinct from an organisation. A striking instance of the use of such a Word of Power being enunciated by a group has lately been given in the Great Invocation which has been used with marked effect. It should continue to be used, for it is the inaugurating mantram of the incoming seventh ray. This is the first time such a mantram has been brought to the attention of humanity.

Cung bảy. Cung này hiện đang cung cấp một sự tập hợp tích cực và cần thiết của các đệ tử đang tha thiết muốn trợ giúp Thiên Cơ. Công việc của họ tự nhiên nằm trên cõi hồng trần. Họ có thể tổ chức lý tưởng đã được gợi lên, lý tưởng sẽ thể hiện được chừng nào ý tưởng của Thượng đế mà thời kỳ và nhân loại có thể biểu lộ và tạo ra thành hình tướng trên trái đất. Công việc của họ đầy hiệu lực và cần thiết, và đòi hỏi nhiều kỹ năng trong hành động. Đây là cung đang đi vào quyền lực. Không một ai trong số những người tham dự theo cung này trong cuộc thập tự chinh của Thánh đoàn ngày nay có thể thực sự làm việc mà không cần những người khác, và không nhóm nào có thể tự mình tiếp tục. Sự khác biệt giữa các phương pháp của thời đại cũ và của thời đại mới có thể thấy được qua ý tưởng về sự lãnh đạo bởi một cá nhân và sự lãnh đạo bởi một nhóm. Đó là sự khác biệt giữa việc áp đặt đáp ứng của một cá nhân đối với một ý tưởng lên đồng loại của y và phản ứng của một nhóm đối với một ý tưởng, tạo ra chủ nghĩa lý tưởng nhóm và hội tụ nó vào hình tướng xác định, thúc đẩy sự xuất hiện của ý tưởng mà không có sự thống trị của bất kỳ cá nhân nào. Đây là nhiệm vụ chính ngày nay của đệ tử cung bảy, và vì mục đích này y phải dồn mọi năng lực. Y phải nói ra những Quyền năng từ vốn là linh từ của nhóm, và thể hiện khát vọng nhóm trong một phong trào có tổ chức, mà cần lưu ý rằng hoàn toàn khác với một tổ chức. Một ví dụ nổi bật về việc sử dụng một Quyền năng từ như thế được một nhóm tuyên xướng gần đây đã được đưa ra trong Đại Khấn Nguyện, vốn đã được sử dụng với hiệu quả rõ rệt. Nó nên tiếp tục được sử dụng, vì đó là mantram khai mở của cung bảy đang đi vào. Đây là lần đầu tiên một mantram như vậy được đưa ra cho sự chú ý của nhân loại.

All these rays work today for the carrying out of a specific group idea of seven Masters Who, through Their picked and chosen servers, are actively participating in the work which is the initiator work of the seventh ray. It is also linked up with the incoming Aquarian influence. The Masters, [146] with their large group of disciples, functioning on all the five planes of human unfoldment, have studied minutely Their accepted disciples, the disciples under supervision and not yet accepted, and the aspirants of the world. They have selected a number of them to weld together into a group upon the outer physical plane. The basis of this selection is:—

Tất cả các cung này ngày nay đều hoạt động để thực hiện một ý tưởng nhóm đặc thù của bảy Chân sư, Các Ngài, thông qua những người phụng sự được tuyển chọn kỹ lưỡng của mình, đang tích cực tham dự vào công việc vốn là công việc khởi xướng của cung bảy. Nó cũng được liên kết với ảnh hưởng Bảo Bình đang đi vào. Các Chân sư, [146] cùng với nhóm đệ tử đông đảo của Các Ngài, hoạt động trên cả năm cõi của sự khai mở nhân loại, đã nghiên cứu tỉ mỉ các đệ tử được chấp nhận của Các Ngài, các đệ tử đang được giám sát nhưng chưa được chấp nhận, và những người chí nguyện của thế giới. Các Ngài đã chọn ra một số người trong họ để hàn gắn lại thành một nhóm trên cõi hồng trần bên ngoài. Cơ sở của sự tuyển chọn này là:—

a. Sensitivity to the Aquarian influence.

a. Sự nhạy cảm với ảnh hưởng Bảo Bình.

b. Willingness to work in a group as an integral part of the group, and having no idea of personal ambition or any wish to be a leader. Where the desire to be a leader exists, that disciple is automatically (though only temporarily) disqualified for this particular endeavor. He can still do good work, but it will be secondary work, and more closely affiliated with the old age than with the work of the New Group of World Servers.

b. Sự sẵn lòng làm việc trong một nhóm như một phần không thể tách rời của nhóm, và không có ý tưởng nào về tham vọng cá nhân hay bất kỳ mong muốn nào được làm người lãnh đạo. Ở đâu có dục vọng làm người lãnh đạo, ở đó đệ tử ấy tự động bị loại khỏi nỗ lực đặc biệt này (dù chỉ là tạm thời). Y vẫn có thể làm công việc tốt, nhưng đó sẽ là công việc thứ yếu, và gắn bó gần hơn với thời đại cũ hơn là với công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

c. A dedication that holds nothing back that can rightly be given.

c. Một sự hiến dâng không giữ lại điều gì có thể được trao đi một cách đúng đắn.

d. A harmlessness which, though not yet perfected, exists as an ideal towards which the aspirant is constantly striving.

d. Tính vô tổn hại mà tuy chưa hoàn hảo, vẫn tồn tại như một lý tưởng mà người chí nguyện không ngừng phấn đấu hướng tới.

In this work many can have a part. The Law of Service has been thus outlined in an endeavor to make one of the most esoteric influences in the solar system somewhat clearer in our minds. I call you to service, but would remind you that the service discussed here will only be possible when we have a clearer vision of the goal of meditation, and learn to preserve, during the day, the attitude of inner spiritual orientation. As we learn to obliterate and efface out of our consciousness ourselves as the central figure in our life drama, then and then only can we measure up to our real potentialities as servers of the Plan.

Trong công việc này, nhiều người có thể có phần. Định luật Phụng sự vì thế đã được phác họa nhằm cố làm cho một trong những ảnh hưởng huyền bí nhất trong hệ mặt trời trở nên phần nào rõ ràng hơn trong trí tuệ chúng ta. Tôi kêu gọi các bạn phụng sự, nhưng muốn nhắc các bạn rằng sự phụng sự được bàn đến ở đây sẽ chỉ có thể thực hiện khi chúng ta có một linh thị rõ ràng hơn về mục tiêu của tham thiền, và học cách duy trì trong ngày thái độ định hướng tinh thần bên trong. Khi chúng ta học cách xóa bỏ và làm mờ khỏi tâm thức mình chính bản thân mình như nhân vật trung tâm trong vở kịch đời sống của mình, thì khi ấy và chỉ khi ấy chúng ta mới có thể đáp ứng được những tiềm năng thực sự của mình như những người phụng sự Thiên Cơ.

[End of LOTSWC 16, p. 146

[End of LOTSWC 16, p. 146

Beginning on LOTSWC 17, 147

Beginning on LOTSWC 17, 147

[147]

[147]

4. The Law of Repulse—Định luật Đẩy Lùi

We have here a most interesting law to consider. It is one of the major divine laws with which the Pilgrim has much to do on his weary, age-long way, back to the centre. It is the fourth law governing or controlling the life of the soul.

Ở đây chúng ta có một định luật hết sức lý thú để xem xét. Đây là một trong những định luật thiêng liêng chủ yếu mà Người Hành Hương có liên hệ rất nhiều trên con đường mệt mỏi, lâu dài qua các thời đại của mình trở về trung tâm. Đây là định luật thứ tư chi phối hay kiểm soát đời sống của linh hồn.

No.

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

4.

Law of Repulse.

The law of all Destroying Angels

The Angel with the Flaming Sword

The Rejecting Energy of the First Ray

4.

Định Luật Đẩy Lùi.

Định luật của tất cả Thiên Thần Hủy Diệt

Thiên Thần với Thanh Kiếm Lửa

Năng Lượng Từ Chối của Cung Một

First of all, it is well to realise that this law has certain characteristics and basic effects which might be briefly enumerated as follows:—

Trước hết, cần nhận ra rằng định luật này có một số đặc tính và hiệu quả căn bản có thể được liệt kê vắn tắt như sau:—

1. The energy displayed is dissipating in its effect. This law works as a dispersing agent.

1. Năng lượng được biểu lộ có tác dụng làm tiêu tan trong hiệu quả của nó. Định luật này hoạt động như một tác nhân phân tán.

2. When in active expression, it causes an active scattering or rejection of the aspects of form life.

2. Khi ở trong biểu hiện tích cực, nó gây ra sự phân tán hay loại bỏ tích cực các phương diện của đời sống hình tướng.

3. It produces a discriminating contact which leads eventually to what is esoterically called “the Way of divine refusal.”

3. Nó tạo ra một sự tiếp xúc có tính phân biện, cuối cùng dẫn đến điều được gọi một cách huyền bí là “Con đường của sự từ chối thiêng liêng.”

4. It is, nevertheless, an aspect of the Law of Love, of the Vishnu or Christ aspect, and concerns an attitude of the soul, whose essential nature is love.

4. Tuy nhiên, nó là một phương diện của Định luật Bác ái, của phương diện Vishnu hay Christ, và liên quan đến một thái độ của linh hồn, mà bản chất cốt yếu là tình thương.

5. This law expresses itself through the mind nature, and therefore can only make its presence and influence felt upon the Path of Discipleship.

5. Định luật này biểu lộ qua bản chất trí tuệ, và vì vậy chỉ có thể làm cho sự hiện diện và ảnh hưởng của nó được cảm nhận trên Con Đường Đệ Tử.

6. It is the prime pre-requisite to true self-knowledge. It reveals at the same time that it divides or scatters.

6. Nó là điều kiện tiên quyết hàng đầu cho sự tự tri chân chính. Đồng thời nó mặc khải rằng nó phân chia hay phân tán.

7. It works through love and for the interest of the unit,—the form and the existence which finally repulses the form.

7. Nó hoạt động qua tình thương và vì lợi ích của đơn vị,—của hình tướng và của sự tồn tại mà cuối cùng đẩy lùi hình tướng.

[148]

[148]

8. It is an aspect of one of the greatest cosmic laws, the Law of the Soul, which is the cosmic Law of Attraction, for that which is attracted in time is automatically and eventually repulsed by that which attracted it in the first instance.

8. Nó là một phương diện của một trong những định luật vũ trụ vĩ đại nhất, Định luật của Linh hồn, vốn là Định luật Hấp Dẫn vũ trụ, vì điều được thu hút theo thời gian sẽ tự động và cuối cùng bị đẩy lùi bởi chính cái đã thu hút nó ngay từ đầu.

This law is one which primarily begins to impress the divine purpose upon the consciousness of the aspirant, and dictates to him those higher impulses and those spiritual decisions which mark his progress upon the Path. It is the demonstration of the first ray quality (a subray influence of the second ray), for it should be remembered that to repulse a form, a situation or a condition may be the evidence of spiritual love in the agent of repulsion. This is well pictured for us in the ancient symbol of the Angel with the flaming sword, who stands before the gate of Paradise to turn away those who seek the fancied security of that shelter and condition. This angel acts in love, and has so acted down the ages, for that state of realisation which we call Paradise is a place of essential danger for all, save those who have earned the right to sojourn there. The angel protects the unready aspirant (not the place which he seeks to enter) and safeguards him from the risks and perils of that initiation which must be undergone before he can pass through the five divisions of Paradise to the place where light dwells and the Masters of the Wisdom live and work. This is the thought which lies behind the Masonic procedure whereby the Tyler stands outside the door of the Lodge with a drawn sword to protect the secrets of the Craft from the unready.

Định luật này là một định luật trước hết bắt đầu gây ấn tượng Thiên Ý lên tâm thức của người chí nguyện, và ra lệnh cho y những xung lực cao hơn cùng những quyết định tinh thần đánh dấu sự tiến bộ của y trên Đường Đạo. Nó là sự biểu lộ của phẩm tính cung một (một ảnh hưởng cung phụ của cung hai), vì cần nhớ rằng việc đẩy lùi một hình tướng, một hoàn cảnh hay một điều kiện có thể là bằng chứng của tình thương tinh thần nơi tác nhân đẩy lùi. Điều này được minh họa rất rõ cho chúng ta trong biểu tượng cổ xưa về Thiên Thần với thanh gươm rực lửa, đứng trước cổng Thiên Đàng để quay những ai tìm kiếm sự an toàn tưởng tượng của nơi trú ẩn và điều kiện ấy trở lại. Thiên thần này hành động trong tình thương, và đã hành động như thế qua các thời đại, vì trạng thái chứng nghiệm mà chúng ta gọi là Thiên Đàng là một nơi nguy hiểm cốt yếu cho tất cả mọi người, ngoại trừ những ai đã xứng đáng với quyền được lưu lại nơi đó. Thiên thần bảo vệ người chí nguyện chưa sẵn sàng (chứ không phải nơi mà y tìm cách bước vào) và gìn giữ y khỏi những rủi ro và hiểm nguy của điểm đạo mà y phải trải qua trước khi có thể đi qua năm phân khu của Thiên Đàng đến nơi ánh sáng ngự trị và các Chân sư Minh Triết sống và làm việc. Đây là tư tưởng nằm sau thủ tục của Hội Tam Điểm, theo đó người Gác Cửa đứng bên ngoài cửa của Hội quán với thanh gươm tuốt trần để bảo vệ các bí mật của Nghệ Thuật khỏi những người chưa sẵn sàng.

I would remind you also that as this law is an aspect of the fundamental Law of Love, it concerns the psyche or soul, and therefore its function is to further the spiritual interests of the true man, and to demonstrate the power of the second [149] aspect, the Christ consciousness, and the power of divinity. It “rejects the undesirable in order to find that which the heart craves, and thus leads the weary pilgrim from one rejection to another, until with unerring choice he makes the Great Decision.” This is quoted from the Old Commentary.

Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng vì định luật này là một phương diện của Định luật Bác ái căn bản, nó liên quan đến psyche hay linh hồn, và do đó chức năng của nó là thúc đẩy các lợi ích tinh thần của con người chân chính, và biểu lộ quyền năng của phương diện thứ hai [149] , tâm thức Christ, và quyền năng của thiên tính. Nó “loại bỏ điều không mong muốn để tìm ra điều mà trái tim khao khát, và như thế dẫn dắt người hành hương mệt mỏi từ sự loại bỏ này đến sự loại bỏ khác, cho đến khi với sự lựa chọn không sai lầm, y đưa ra Quyết Định Vĩ Đại.” Điều này được trích từ Cổ Luận.

We will divide what we have to say about the functioning and effect of the Law of Repulse into three parts:—

Chúng ta sẽ chia điều phải nói về sự vận hành và hiệu quả của Định luật Đẩy Lùi thành ba phần:—

a. The Law of Repulse, and the function and quality of desire.

a. Định luật Đẩy Lùi, và chức năng cùng phẩm tính của dục vọng.

b. The Law of Repulse, as it expresses itself upon the Paths of Discipleship and Initiation.

b. Định luật Đẩy Lùi, như nó biểu lộ trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo.

c. The Law of Repulse, as it “drives in seven directions, and forces all that it contacts back unto the bosom of the seven spiritual Fathers.”

c. Định luật Đẩy Lùi, như nó “thúc đẩy theo bảy hướng, và buộc mọi điều nó tiếp xúc trở về lòng của bảy Người Cha tinh thần.”

This law works through the soul in all forms. It does not literally affect matter, except in so far as form is affected when the soul “withdraws”, or occultly “repudiates.” It will be apparent, therefore, that our understanding of its activity will depend largely upon the measure of soul force of which we may individually be aware, and the extent of our soul contact. Our point upon the ladder of evolution will govern our manipulation of this law (if such a term may be used), and determine our capacity to be sensitive to its impact. If we are unable to respond to its influence in any measure, that in itself is sufficient to indicate our development. Unless the mind is active, and unless we are beginning intelligently to use the mind, there is no medium or channel through which this influence can flow or work. Never let it be forgotten that this influence or law of our spiritual being is that which reveals the will, plan or purpose of the divine life, as it expresses itself in the individual or in humanity as a whole. Let us never forget that unless there is a thread of light to act as [150] a channel, that which this law can convey will remain unknown, unrealised and useless. These laws are the laws which govern predominantly the Spiritual Triad, that divine Triplicity which expresses itself through the medium of the soul, just as the three aspects of the soul, in their turn, reflect themselves through the personality.

Định luật này hoạt động qua linh hồn trong mọi hình tướng. Nó không tác động theo nghĩa đen lên vật chất, ngoại trừ trong chừng mực hình tướng bị tác động khi linh hồn “rút lui”, hay theo huyền bí học là “khước từ.” Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng sự thấu hiểu của chúng ta về hoạt động của nó phần lớn tùy thuộc vào mức độ mãnh lực linh hồn mà cá nhân chúng ta có thể nhận biết, và mức độ tiếp xúc linh hồn của chúng ta. Điểm của chúng ta trên chiếc thang tiến hoá sẽ chi phối việc chúng ta vận dụng định luật này (nếu có thể dùng một thuật ngữ như vậy), và quyết định năng lực của chúng ta trong việc nhạy cảm với tác động của nó. Nếu chúng ta không thể đáp ứng với ảnh hưởng của nó ở bất kỳ mức độ nào, thì điều đó tự nó đã đủ để chỉ ra sự phát triển của chúng ta. Trừ phi trí tuệ hoạt động, và trừ phi chúng ta đang bắt đầu sử dụng trí tuệ một cách thông minh, sẽ không có môi trường hay kênh nào mà qua đó ảnh hưởng này có thể tuôn chảy hay hoạt động. Đừng bao giờ quên rằng ảnh hưởng hay định luật này của bản thể tinh thần chúng ta là điều mặc khải ý chí, thiên cơ hay mục đích của sự sống thiêng liêng, như nó biểu lộ trong cá nhân hay trong toàn thể nhân loại. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng trừ phi có một sợi ánh sáng làm [150] kênh dẫn, điều mà định luật này có thể chuyển tải sẽ vẫn không được biết đến, không được chứng nghiệm và vô dụng. Những định luật này là các định luật chủ yếu chi phối Tam Nguyên Tinh Thần, bộ ba thiêng liêng ấy biểu lộ qua trung gian của linh hồn, cũng như ba phương diện của linh hồn, đến lượt chúng, phản chiếu chính mình qua phàm ngã.

Therefore, all that can be imparted in connection with this law can be comprehended only by the man who is beginning to be spiritually awakened. The three laws which we have already considered deal with the specific spiritual influences which emanate from the three tiers of petals which compose the egoic lotus. (See page 823 of A Treatise on Cosmic Fire.)

Vì vậy, tất cả những gì có thể được truyền đạt liên quan đến định luật này chỉ có thể được thấu hiểu bởi người đang bắt đầu được thức tỉnh về mặt tinh thần. Ba định luật mà chúng ta đã xem xét trước đây liên quan đến những ảnh hưởng tinh thần đặc thù phát ra từ ba tầng cánh hoa cấu thành Hoa Sen Chân Ngã. (Xem trang 823 của Luận về Lửa Vũ Trụ.)

1.

The Law of Sacrifice

The Petals of Sacrifice. The sacrificial will of the Soul.

1.

Định Luật Hi Sinh

Các Cánh Hoa Hi Sinh. Ý chí hi sinh của Linh hồn.

2.

The Law of Magnetic Impulse

The Petals of Love.

2.

Định Luật Xung Động Từ Tính

Các Cánh Hoa Bác Ái.

3.

The Law of Service

The Petals of Knowledge.

3.

Định Luật Phụng Sự

Các Cánh Hoa Tri Thức.

This fourth Law of Repulse works through the first Law of Sacrifice and carries to the aspirant the quality, influence and tendency of the Spiritual Triad, the threefold expression of the Monad. Its full force is felt only after the third initiation, in which the power of the Spirit is, for the first time, consciously felt. Up to that time it has been the growing control of the soul which was primarily registered. Therefore we have:—

Định luật Đẩy Lùi thứ tư này hoạt động qua Định luật Hi Sinh thứ nhất và mang đến cho người chí nguyện phẩm tính, ảnh hưởng và xu hướng của Tam Nguyên Tinh Thần, biểu lộ tam phân của chân thần. Toàn bộ mãnh lực của nó chỉ được cảm nhận sau lần điểm đạo thứ ba, trong đó quyền năng của Tinh thần lần đầu tiên được cảm nhận một cách hữu thức. Cho đến lúc đó, điều chủ yếu được ghi nhận là sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Vì vậy chúng ta có:—

1.

The Law of Repulse.

Atma. Spiritual Will. This Fourth Law influence comes via the egoic petals of sacrifice and the subsidiary Law of Sacrifice.

Định Luật Đẩy Lùi.

Atma. Ý Chí Tinh Thần. Ảnh hưởng của Định Luật Thứ Tư này đến qua các cánh hoa hi sinh của chân ngã và Định Luật Phụ về Hi Sinh.

2.

The Law of Group Progress.

Buddhi. Spiritual Love. This Fifth Law comes via the love petals of the egoic lotus, and the subsidiary Law of Magnetic Impulse.

Định Luật Tiến Bộ Nhóm.

Bồ đề. Tình Thương Tinh Thần. Định Luật Thứ Năm này đến qua các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã, và Định Luật Phụ về Xung Động Từ Tính.

3.

The Law of Expansive Response.

Manas. Higher spiritual mind. Sixth Law. It comes via the knowledge petals and the subsidiary Law of Service.

Định Luật Đáp Ứng Mở Rộng.

Manas. Thượng trí tinh thần. Định Luật Thứ Sáu. Nó đến qua các cánh hoa tri thức và Định Luật Phụ về Phụng Sự.

[151]

[151]

[End of LOTSWC 17 p. 150

[End of LOTSWC 17 p. 150

[Beginning of LOTSWC 18, p. 151

[Beginning of LOTSWC 18, p. 151

These higher spiritual laws reflect themselves in the three lower spiritual laws, finding their way into the lower consciousness via the egoic lotus and the antaskarana. This statement is the second basic postulate in connection with our study of this Law of Repulse, the first postulate being the earlier statement that unless there is a thread of light to act as a channel, that which this law conveys will remain unknown and unrealised.

Những định luật tinh thần cao hơn này phản chiếu chính mình trong ba định luật tinh thần thấp hơn, tìm đường đi vào tâm thức thấp hơn qua Hoa Sen Chân Ngã và antaskarana. Mệnh đề này là định đề căn bản thứ hai liên quan đến việc nghiên cứu Định luật Đẩy Lùi của chúng ta, định đề thứ nhất là mệnh đề đã nêu trước đó rằng trừ phi có một sợi ánh sáng làm kênh dẫn, điều mà định luật này chuyển tải sẽ vẫn không được biết đến và không được chứng nghiệm.

These six laws give us the key to the entire psychological problem of every human being, and there is no condition which is not produced by the conscious or unconscious reaction of man, to these basic influences—the natural and spiritual laws. If psychologists would accept the three basic laws of the universe, and the seven laws through which they express their influence, they would arrive at an understanding of the human being far more rapidly than is now the case. The three major laws are, as has been stated elsewhere:—

Sáu định luật này cho chúng ta chìa khóa của toàn bộ vấn đề tâm lý học của mỗi con người, và không có điều kiện nào lại không được tạo ra bởi phản ứng hữu thức hay vô thức của con người đối với những ảnh hưởng căn bản này—các định luật tự nhiên và tinh thần. Nếu các nhà tâm lý học chấp nhận ba định luật căn bản của vũ trụ, và bảy định luật qua đó chúng biểu lộ ảnh hưởng của mình, họ sẽ đi đến sự thấu hiểu con người nhanh hơn rất nhiều so với hiện nay. Ba định luật chính, như đã được nêu ở nơi khác, là:—

1. The Law of Economy. This governs primarily the instinctual nature of man.

1. Định luật Tiết Kiệm. Định luật này trước hết chi phối bản chất bản năng của con người.

2. The Law of Attraction, which governs the soul aspect in man and in all forms of life, from an atom to a solar system.

2. Định luật Hấp Dẫn, chi phối phương diện linh hồn trong con người và trong mọi hình tướng sự sống, từ một nguyên tử đến một hệ mặt trời.

3. The Law of Synthesis, which will govern man when he has arrived at the Path of Initiation, but which as yet means but little in his development.

3. Định luật Tổng Hợp, sẽ chi phối con người khi y đã đạt đến Con Đường Điểm Đạo, nhưng hiện nay vẫn còn có rất ít ý nghĩa trong sự phát triển của y.

There are, then, the seven minor Laws which produce the [152] evolutionary unfoldment of man, the person, and man, the soul. These are:

Như vậy, có bảy Định luật nhỏ tạo ra sự [152] khai mở tiến hoá của con người, con người như một nhân vị, và con người như một linh hồn. Đó là:

1. The Law of Vibration, the atomic law of the solar system.

1. Định luật Rung Động, định luật nguyên tử của hệ mặt trời.

2. The Law of Cohesion, an aspect of the Law of Attraction.

2. Định luật Kết Dính, một phương diện của Định luật Hấp Dẫn.

3. The Law of Disintegration.

3. Định luật Phân Giải.

4. The Law of Magnetic Control, governing the control of the personality by the spiritual nature, via the soul nature.

4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính, chi phối sự kiểm soát phàm ngã bởi bản chất tinh thần, qua bản chất linh hồn.

5. The Law of Fixation. By means of this law the mind controls and stabilises.

5. Định luật Cố Định. Nhờ định luật này mà trí tuệ kiểm soát và ổn định.

6. The Law of Love, whereby the lower desire nature is transmuted.

6. Định luật Bác ái, nhờ đó bản chất dục vọng thấp được chuyển hoá.

7. The Law of Sacrifice and Death.

7. Định luật Hi Sinh và Chết.

(A Treatise on Cosmic Fire, p. 569.)

(Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 569.)

These seven laws concern the form side of life. To these ten laws must be added the seven laws of the soul which we are here considering. These begin to play upon the man and produce his more rapid spiritual unfoldment after he has been subjected to the discipline of the Probationary Path, or the Path of Purification. He is then ready to tread the final stages of the Path.

Bảy định luật này liên quan đến mặt hình tướng của sự sống. Vào mười định luật này phải cộng thêm bảy định luật của linh hồn mà chúng ta đang xem xét ở đây. Chúng bắt đầu tác động lên con người và tạo ra sự khai mở tinh thần nhanh hơn của y sau khi y đã chịu sự kỷ luật của Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Thanh Luyện. Khi ấy y sẵn sàng bước đi những giai đoạn cuối cùng của Đường Đạo.

These seven laws are the basis of all true psychological understanding and, when their influence is better grasped, man will arrive at real self knowledge. He will then be ready for the fourth initiation which releases him from all further need for rebirth. This is the truth which underlies the Masonic teaching, which is given under the symbolism of the first eighteen degrees. These can be divided into four groups of degrees:—Entered Apprentice, Fellow Craft, (followed by the Mark degree) Master Mason (followed by the H.R.A.) and the grouped degrees, four to seventeen, in the Scottish Rite. These seventeen degrees prepare the man for the fourth [153] or fundamental degree, taken by a man who is a Master Mason. It can only be taken when the Master is in possession of the true Lost Word. He has risen from the dead; he has been entered, passed, and raised, and now can be perfected. Herein lies a great mystery. These seventeen degrees, leading to the first great step, (taken by the risen Master) are subjectively related to the seventeen laws which we have been considering. There is a parallelism worth noting between:—

Bảy định luật này là nền tảng của mọi sự thấu hiểu tâm lý học chân chính, và khi ảnh hưởng của chúng được nắm bắt tốt hơn, con người sẽ đạt đến sự tự tri thực sự. Khi đó y sẽ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư, giải thoát y khỏi mọi nhu cầu tái sinh thêm nữa. Đây là chân lý nằm dưới giáo huấn của Hội Tam Điểm, được ban ra dưới biểu tượng của mười tám cấp đầu tiên. Những cấp này có thể được chia thành bốn nhóm cấp:—Đệ tử Nhập môn, Thợ Đồng môn, (tiếp theo là cấp Dấu Ấn) Chân sư Tam Điểm (tiếp theo là H.R.A.) và các cấp được nhóm lại, từ bốn đến mười bảy, trong Nghi thức Scotland. Mười bảy cấp này chuẩn bị con người cho cấp thứ tư [153] hay cấp căn bản, được một người là Chân sư Tam Điểm tiếp nhận. Nó chỉ có thể được tiếp nhận khi Chân sư sở hữu Linh từ Thất Truyền chân chính. Y đã sống lại từ cõi chết; y đã được nhập, được vượt qua, và được nâng lên, và giờ đây có thể được hoàn thiện. Chính trong điều này có một huyền nhiệm lớn. Mười bảy cấp này, dẫn đến bước lớn đầu tiên, (được Chân sư phục sinh tiếp nhận) có liên hệ chủ quan với mười bảy định luật mà chúng ta đã xem xét. Có một sự song hành đáng lưu ý giữa:—

1. The eighteen laws:—

1. Mười tám định luật:—

a. The three major laws of the universe,

a. Ba định luật chính của vũ trụ,

b. The seven minor laws of the solar system,

b. Bảy định luật nhỏ của hệ mặt trời,

c. The seven basic laws of the soul, plus what we might call the great law of Deity Itself, the law of God’s synthetic purpose.

c. Bảy định luật căn bản của linh hồn, cộng với điều mà chúng ta có thể gọi là định luật vĩ đại của chính Thượng đế, định luật về mục đích tổng hợp của Thượng đế.

2. The eighteen subplanes through which man makes his way:—

2. Mười tám cõi phụ mà qua đó con người tiến bước:—

a. The seven physical subplanes.

a. Bảy cõi phụ hồng trần.

b. The seven astral or emotional-desire subplanes.

b. Bảy cõi phụ cảm dục hay cảm xúc-dục vọng.

c. The four lower mental subplanes.

c. Bốn cõi phụ hạ trí.

3. The eighteen degrees in Masonry, from that of the Entered Apprentice to that of the perfected initiate of the Rose Croix Chapter.

3. Mười tám cấp trong Hội Tam Điểm, từ cấp của người học việc mới nhập môn đến cấp của điểm đạo đồ hoàn thiện của Chi Bộ Rose Croix.

4. The eighteen centres of force with which the spiritual man has to work:

4. Mười tám trung tâm mãnh lực mà con người tinh thần phải làm việc với chúng:

a. The seven centres in the etheric body.

a. Bảy trung tâm trong thể dĩ thái.

b. The seven centres in the astral body.

b. Bảy trung tâm trong thể cảm dục.

c. The three rows of petals in the egoic lotus.

c. Ba vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã.

d. The “Jewel in the Lotus”, at the heart of the “flower of the soul”, which makes the eighteenth centre.

d. “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, ở trung tâm của “đóa hoa linh hồn”, tạo thành trung tâm thứ mười tám.

An understanding of these symbolic relations will do much to clarify the way of the soul in a body, and will constitute the basis of all true esoteric psychological study.

Sự thấu hiểu các tương quan biểu tượng này sẽ góp phần rất lớn làm sáng tỏ con đường của linh hồn trong một thể xác, và sẽ tạo thành nền tảng của mọi nghiên cứu chân chính về Tâm Lý Học Nội Môn.

[End of LOTSWC 18 p. 153 EP II

[End of LOTSWC 18 p. 153 EP II

Beginning of LOTSWC 19, p. 154

Beginning of LOTSWC 19, p. 154

[154]

[154]

a. THE LAW OF REPULSE AND DESIRE—ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ DỤC VỌNG

The section with which we have now to deal will concern itself specifically with the major problem of humanity. We shall, however, touch upon it most briefly, and will deal particularly with the aspect of it which shifts from the problem as it concerns the aspirant to the problem of the disciple. Underlying the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we characterise as Desire. All lesser complexities are based upon, subservient to, or are emergent from, this basic urge. Freud calls this urge “sex,” which is, nevertheless, only another name for the impetus of attraction for the not-self. Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” of humanity, and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions and the trend of the mental life, in terms of the underlying wishes, longings and acquisitive aspirations as “defence mechanisms,” or “ways of escape” from the inevitability of environing conditions. To these longings and wishes and the labour incidental to their fulfillment, all men give their lives; and everything done is in an effort to meet the realised need, to face the challenge of existence with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state.

Phần mà giờ đây chúng ta phải bàn đến sẽ đặc biệt liên quan đến vấn đề lớn của nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ chạm đến nó thật vắn tắt, và đặc biệt bàn đến phương diện của nó khi vấn đề chuyển từ chỗ liên quan đến người chí nguyện sang vấn đề của đệ tử. Nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại nói chung là thái độ lớn đối với sự tồn tại mà chúng ta gọi là Dục vọng. Mọi phức tạp nhỏ hơn đều dựa trên, lệ thuộc vào, hoặc phát sinh từ sự thôi thúc căn bản này. Freud gọi sự thôi thúc này là “tính dục”, tuy nhiên đó chỉ là một tên gọi khác của xung lực hấp dẫn đối với không-phải-ngã. Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” của nhân loại, và giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng liên hệ, mọi phản ứng cảm xúc và xu hướng của đời sống trí tuệ, theo những ước muốn, khát khao và khát vọng chiếm hữu nằm bên dưới, như những “cơ chế phòng vệ”, hay “những lối thoát” khỏi tính tất yếu của các hoàn cảnh bao quanh. Cho những khát khao và ước muốn này, cùng công lao gắn liền với việc hoàn thành chúng, mọi người đều hiến dâng đời mình; và mọi điều được làm ra đều là trong nỗ lực đáp ứng nhu cầu đã được nhận biết, đối diện với thách thức của sự tồn tại bằng đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đàng, và về sự hoàn thành sau cùng của trạng thái lý tưởng được hy vọng.

Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction, and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation, which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man; whether it is the urge to self-reproduction and the satisfaction of that appetite which works out today in the complexity of the sex life of the race; whether it is the urge to be popular, loved and esteemed; whether it is the urge for [155] intellectual enjoyment and the mental appropriation of truth, or the deep-seated desire for heaven and rest which characterises the Christian, or the aspiration for illumination which is the demand of the mystic, or the longing for identification with reality which is the “wish” of the occultist. All this is desire in some form or another, and by these urges humanity is governed and controlled; I would say most definitely controlled, for this is only a simple statement of the case.

Mọi sự đều bị chi phối bởi một hình thức nào đó của sự thôi thúc hướng đến thỏa mãn, và đó là nét đặc trưng của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển của y—dù đó là sự thôi thúc bản năng để tự bảo tồn, có thể thấy nơi việc người man dã tìm kiếm thức ăn hay trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại; dù đó là sự thôi thúc tự tái sinh và sự thỏa mãn của dục năng đang biểu lộ ngày nay trong tính phức tạp của đời sống tính dục của nhân loại; dù đó là sự thôi thúc muốn được ưa thích, được yêu mến và được kính trọng; dù đó là sự thôi thúc đối với [155] niềm vui trí tuệ và sự chiếm lĩnh chân lý bằng trí năng, hay khát vọng sâu kín về thiên đàng và an nghỉ vốn đặc trưng cho người Ki-tô hữu, hay khát vọng hướng tới soi sáng là đòi hỏi của nhà thần bí, hay nỗi khao khát đồng hoá với thực tại là “ước muốn” của nhà huyền bí học. Tất cả điều này đều là dục vọng dưới hình thức này hay hình thức khác, và bởi những thôi thúc này mà nhân loại bị chi phối và kiểm soát; tôi muốn nói rất dứt khoát là bị kiểm soát, vì đây chỉ là một phát biểu đơn giản về sự việc.

It is this realisation of man’s fundamental bias or controlling factor that lies behind the teaching given by the Buddha, and which is embodied in the Four Noble Truths of the Buddhist philosophy, which can be summarised as follows:—

Chính sự nhận ra thiên hướng căn bản hay yếu tố kiểm soát của con người này nằm sau giáo huấn do Đức Phật ban ra, và được hàm chứa trong Tứ Diệu Đế của triết học Phật giáo, có thể được tóm lược như sau:—

The Four Noble Truths

Tứ Diệu Đế

a. Existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and sorrow.

a. Sự tồn tại trong vũ trụ hiện tượng không thể tách rời khỏi đau khổ và buồn phiền.

b. The cause of suffering is desire for existence in the phenomenal universe.

b. Nguyên nhân của đau khổ là dục vọng muốn tồn tại trong vũ trụ hiện tượng.

c. The cessation of suffering is attained by eradicating desire for phenomenal existence.

c. Sự chấm dứt đau khổ đạt được bằng cách diệt trừ dục vọng đối với sự tồn tại hiện tượng.

d. The Path to the cessation of suffering is the noble eightfold path.

d. Con Đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ là Bát Chánh Đạo cao quý.

It was the realisation of the urgency of man’s need to be delivered from his own desire-nature which led Christ to emphasise the necessity to seek the good of one’s neighbor in contra-distinction to one’s own good, and to advise the life of service and self-sacrifice, of self-forgetfulness and love of all beings. Only in this way can man’s mind and “the eye of the heart” be turned away from one’s own needs and satisfaction to the deeper demands of the race itself.

Chính sự nhận ra tính cấp bách của nhu cầu con người phải được giải thoát khỏi bản chất dục vọng của chính mình đã khiến Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm điều thiện cho người lân cận thay vì cho chính mình, và khuyên sống đời phụng sự và hi sinh bản thân, quên mình và yêu thương mọi chúng sinh. Chỉ bằng cách này mà trí tuệ của con người và “con mắt của trái tim” mới có thể được quay khỏi những nhu cầu và sự thỏa mãn của riêng mình để hướng đến những đòi hỏi sâu xa hơn của chính nhân loại.

Until a man stands upon the Path of Perfection, he cannot really grasp the imperative demand of his own soul for [156] release from the search for outer, material, tangible satisfaction, and from desire. It has been this demand which indicated the soul’s need to incarnate and to function, for a needed period, under the Law of Rebirth. As the work of purification proceeds upon the Path of Purification, this demand for release becomes stronger and clearer, and when the man steps out upon the Path of Discipleship, then the Law of Repulse can, for the first time, begin to control his reactions. This takes place unconsciously at first, but it becomes more potent and more consciously appreciated as the disciple takes one initiation after another, with increasingly pointed understanding.

Cho đến khi một người đứng trên Con Đường Toàn Thiện, y không thể thật sự nắm bắt đòi hỏi cấp thiết của chính linh hồn mình về [156] sự giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài, vật chất, hữu hình, và khỏi dục vọng. Chính đòi hỏi này đã chỉ ra nhu cầu của linh hồn phải nhập thể và hoạt động, trong một thời kỳ cần thiết, dưới Định luật Tái Sinh. Khi công việc thanh luyện tiến hành trên Con Đường Thanh Luyện, đòi hỏi giải thoát này trở nên mạnh hơn và rõ hơn, và khi con người bước ra trên Con Đường Đệ Tử, thì Định luật Đẩy Lùi lần đầu tiên mới có thể bắt đầu kiểm soát các phản ứng của y. Lúc đầu điều này diễn ra một cách vô thức, nhưng nó trở nên mạnh mẽ hơn và được nhận biết có ý thức hơn khi đệ tử trải qua hết lần điểm đạo này đến lần điểm đạo khác, với sự thấu hiểu ngày càng sắc bén.

It is not our intention in this Treatise to deal with the development of the unevolved and undeveloped man in connection with these Laws of the Soul. I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples. The progress of the undeveloped and the average man can be covered by the following statements, taken sequentially and describing the stages of his progress under the promptings of desire:

Trong bộ Luận này, chúng ta không có ý định bàn đến sự phát triển của con người chưa tiến hóa và chưa phát triển trong mối liên hệ với các Định luật của Linh hồn này. Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho con người có trí tuệ cao, cho những người chí nguyện của thế giới và các đệ tử thế giới. Sự tiến bộ của người chưa phát triển và người trung bình có thể được trình bày bằng những phát biểu sau đây, theo trình tự và mô tả các giai đoạn tiến bộ của y dưới sự thúc đẩy của dục vọng:

1. The urge to experience, to exist, and to satisfy the instinctual nature.

1. Sự thôi thúc muốn kinh nghiệm, muốn tồn tại, và muốn thỏa mãn bản chất bản năng.

2. Experience, grasping, existing, followed by renewed demand for more satisfying compliances of fate or destiny.

2. Kinh nghiệm, nắm bắt, tồn tại, tiếp theo là đòi hỏi mới về những sự thuận ứng thỏa đáng hơn của số phận hay định mệnh.

3. Cycle after cycle of demand for satisfaction, a period of satisfaction of a temporary nature, and then further demands. This is the story of the race.

3. Hết chu kỳ này đến chu kỳ khác của đòi hỏi được thỏa mãn, một giai đoạn thỏa mãn có tính tạm thời, rồi lại những đòi hỏi tiếp theo. Đó là câu chuyện của nhân loại.

4. Experience, steadily sought and pursued upon the three planes of human evolution.

4. Kinh nghiệm, được tìm kiếm và theo đuổi đều đặn trên ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại.

5. Then the same experience, but this time as an integrated personality.

5. Rồi cũng chính kinh nghiệm ấy, nhưng lần này là như một Phàm ngã tích hợp.

[157]

[157]

6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand.

6. Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi đạt tới sự bão hòa, vì theo thời gian mọi người cuối cùng đều đạt được điều họ đòi hỏi.

7. Then comes the demand for inner spiritual compliances, happiness and bliss. The “heaven wish” becomes powerful.

7. Rồi đến đòi hỏi về những sự thuận ứng tinh thần bên trong, về hạnh phúc và chí phúc. “Ước muốn thiên đàng” trở nên mạnh mẽ.

8. A vague realisation that two things are needed; purification and the power to choose aright, which is right discrimination.

8. Một sự nhận ra mơ hồ rằng cần có hai điều: thanh luyện và năng lực chọn lựa đúng đắn, tức là sự phân biện đúng đắn.

9. A vision of the pairs of opposites.

9. Một linh ảnh về các cặp đối đãi.

10. The realisation of the narrow path which leads between these pairs of opposites.

10. Sự nhận ra con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối đãi ấy.

11. Discipleship and the repulsing or repudiation (over a long period of time), of the not-self.

11. Địa vị đệ tử và sự đẩy lùi hay khước từ (trong một thời gian dài) cái không-phải-ngã.

End of LOTSWC 19, p 157

End of LOTSWC 19, p 157

Beginning of LOTWSC 20, p. 157

Beginning of LOTWSC 20, p. 157

Such, briefly and inadequately stated, is the story of man as he searches for happiness, for joy and for bliss, or (expressing it in terms of realisation) as he progresses from the life of the instincts to that of the intellect, and then from that intellectual apprehension to the stage of illumination and final identification with reality, when he is henceforth freed from the Great Illusion.

Đó, được trình bày vắn tắt và chưa đầy đủ, là câu chuyện của con người khi y tìm kiếm hạnh phúc, niềm vui và chí phúc, hay (nói theo ngôn ngữ của sự chứng nghiệm) khi y tiến từ đời sống bản năng sang đời sống trí tuệ, rồi từ sự nắm bắt bằng trí năng ấy đến giai đoạn soi sáng và cuối cùng đồng hoá với thực tại, khi từ đó trở đi y được giải thoát khỏi Đại Ảo Tưởng.

Two things determine the rapidity with which he can—upon the Path of Discipleship—bring the Law of Repulse into play. One is the quality of his motive. Only the desire to serve is adequate to bring about the necessary reorientation and subjection to the new technique of living. The other is his willingness, at all costs, to be obedient to the light which is in him and around him. Service and obedience are the great methods of release, and constitute the underlying causes which will bring the Law of Repulse into play, thus aiding the aspirant to attain the longed-for liberation. Service releases him from his own thought life and self-determination. Obedience to his own soul integrates him into the larger [158] whole, wherein his own desires and urges are negated in the interest of the wider life of humanity and of God Himself. God is the Great Server and expresses His divine life through the Love of His heart for humanity.

Có hai điều quyết định tốc độ mà y có thể—trên Con Đường Đệ Tử—đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động. Một là phẩm tính của động cơ của y. Chỉ có dục vọng phụng sự mới đủ để đem lại sự tái định hướng cần thiết và sự quy phục đối với kỹ thuật sống mới. Điều kia là sự sẵn lòng của y, bằng bất cứ giá nào, phải vâng phục ánh sáng ở trong y và quanh y. Phụng sự và vâng phục là những phương pháp lớn của giải thoát, và tạo thành những nguyên nhân nền tảng sẽ đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động, nhờ đó giúp người chí nguyện đạt đến sự giải thoát hằng mong mỏi. Phụng sự giải thoát y khỏi đời sống tư tưởng riêng và sự tự quyết định của mình. Sự vâng phục linh hồn của chính y tích hợp y vào toàn thể lớn hơn [158] trong đó những dục vọng và thôi thúc riêng của y bị phủ nhận vì lợi ích của đời sống rộng lớn hơn của nhân loại và của chính Thượng đế. Thượng đế là Đấng Phụng Sự Vĩ Đại và biểu lộ sự sống thiêng liêng của Ngài qua Tình thương của trái tim Ngài dành cho nhân loại.

Yet, when these simple truths are enunciated and we are urged to serve our brother and to obey our soul, it seems to us so familiar and so uninteresting that it can evoke but little response. If we were told that the following of a prescribed form of meditation, the practicing of a definite formula of breathing, and regular concentration upon a specific centre would release us from the wheel of life and identify us with the spiritual self and its world of being, gladly and willingly and joyously would we follow out instructions. But when, in the terms of the occult science, we are told to serve and obey, we are not interested. Yet service is the mode, par excellence, for awakening the heart centre, and obedience is equally potent in evoking the response of the two head centres to the impact of soul force, and unifying them into one field of soul recognition. So little do men understand the potency of their urges! If the urge to satisfy desire is the basic urge of the form life of man, the urge to serve is an equally basic urge of the soul in man. This is one of the most important statements in this section. It is as yet seldom satisfied. Indications of its presence are ever to be found, nevertheless, even in the most undesirable types of human beings; it is evolved in moments of high destiny or immediate urgency, and of supreme difficulty. The heart of man is sound, but oft asleep.

Tuy nhiên, khi những chân lý đơn giản này được tuyên bố và chúng ta được thúc giục phụng sự huynh đệ mình và vâng phục linh hồn mình, điều đó dường như quá quen thuộc và quá kém hấp dẫn đối với chúng ta đến nỗi chỉ gợi lên rất ít đáp ứng. Nếu chúng ta được bảo rằng việc theo một hình thức tham thiền đã định, thực hành một công thức hô hấp nhất định, và tập trung đều đặn vào một trung tâm cụ thể sẽ giải thoát chúng ta khỏi bánh xe sự sống và đồng hoá chúng ta với bản ngã tinh thần và thế giới bản thể của nó, thì chúng ta sẽ vui vẻ, sẵn lòng và hoan hỉ làm theo chỉ dẫn. Nhưng khi, theo ngôn ngữ của khoa học huyền bí, chúng ta được bảo phải phụng sự và vâng phục, chúng ta lại không quan tâm. Tuy nhiên, phụng sự là phương thức, par excellence, để đánh thức trung tâm tim, và vâng phục cũng mạnh mẽ không kém trong việc gợi lên sự đáp ứng của hai trung tâm đầu đối với tác động của mãnh lực linh hồn, và hợp nhất chúng thành một trường nhận biết linh hồn. Con người hiểu quá ít về sức mạnh của những thôi thúc của mình! Nếu sự thôi thúc thỏa mãn dục vọng là thôi thúc căn bản của đời sống hình tướng nơi con người, thì sự thôi thúc phụng sự cũng là một thôi thúc căn bản tương đương của linh hồn trong con người. Đây là một trong những phát biểu quan trọng nhất trong phần này. Tuy vậy, nó vẫn còn hiếm khi được thỏa mãn. Dẫu thế, những dấu hiệu về sự hiện diện của nó vẫn luôn có thể được tìm thấy, ngay cả nơi những loại người không đáng mong muốn nhất; nó được tiến hóa trong những khoảnh khắc của định mệnh cao cả hay nhu cầu cấp bách tức thời, và của khó khăn tột bậc. Trái tim con người lành mạnh, nhưng thường ngủ quên.

Serve and obey! These are the watchwords of the disciple’s life. They have been distorted into terms of fanatical propaganda and have thus produced the formulas of philosophy and of religious theology; but these formulas do, at the same time, veil a truth. They have been presented to the consideration [159] of man in terms of personality devotions and of obedience to Masters and leaders, instead of service of, and obedience to, the soul in all. The truth is, however, steadily emerging, and must inevitably triumph. Once the aspirant upon the Probationary Path has a vision of this (no matter how slight it may be), then the law of desire which has governed him for ages will slowly and surely give place to the Law of Repulse, which will, in time, free him from the thralldom of not-self. It will lead him to those discriminations and that dispassionate attitude which is the hallmark of the man who is on his way to liberation. Let us remember, however, that a discrimination which is based upon a determination to be free, and a dispassion which is the indication of a hard heart, will land the aspirant in the prison of a crystallized shell, which is far harder to break than the normal prison of the life of the average selfish man. This selfish spiritual desire is oft the major sin of so-called esotericists and must be carefully avoided. Therefore, he who is wise will apply himself to serve and obey.

Phụng sự và vâng phục! Đó là những khẩu hiệu của đời sống đệ tử. Chúng đã bị bóp méo thành những thuật ngữ của tuyên truyền cuồng tín và do đó đã tạo ra những công thức của triết học và thần học tôn giáo; nhưng đồng thời những công thức ấy cũng che giấu một chân lý. Chúng đã được trình bày cho sự suy xét [159] của con người dưới hình thức sùng tín phàm ngã và vâng phục các Chân sư cùng các nhà lãnh đạo, thay vì phụng sự và vâng phục linh hồn trong mọi người. Tuy nhiên, chân lý đang dần dần xuất hiện, và tất yếu phải chiến thắng. Một khi người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị có được một linh ảnh về điều này (dù nó có thể mờ nhạt đến đâu), thì định luật dục vọng đã chi phối y suốt bao thời đại sẽ chậm rãi nhưng chắc chắn nhường chỗ cho Định luật Đẩy Lùi, định luật này theo thời gian sẽ giải thoát y khỏi ách nô lệ của không-phải-ngã. Nó sẽ dẫn y đến những sự phân biện và thái độ vô tư vô dục là dấu hiệu đặc trưng của con người đang trên đường đi đến giải thoát. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng một sự phân biện dựa trên quyết tâm được tự do, và một sự vô tư vô dục là dấu hiệu của một trái tim chai cứng, sẽ đưa người chí nguyện vào nhà tù của một lớp vỏ kết tinh, thứ còn khó phá vỡ hơn nhiều so với nhà tù bình thường của đời sống người ích kỷ trung bình. Dục vọng tinh thần ích kỷ này thường là tội lỗi lớn của những người được gọi là nhà bí truyền học và phải được cẩn thận tránh né. Vì vậy, người khôn ngoan sẽ chuyên tâm phụng sự và vâng phục.

b. THE LAW OF REPULSE UPON THE PATHS OF DISCIPLESHIP AND INITIATION—ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI TRÊN CÁC CON ĐƯỜNG ĐỆ TỬ VÀ ĐIỂM ĐẠO

When the discriminating sense (the spiritual correspondence of the sense of smell, the last of the five senses to emerge in humanity) has been adequately developed in the aspirant, and he knows the pairs of opposites and has gained a vision of that which is neither of them, then he can pass on to the Path of Discipleship and enter upon the arduous task of cooperating with the spiritual laws, particularly with the Law of Repulse. At first, he hardly recognises the influence of this Law. It is as difficult for him to grasp its implications and to measure its possible effects as it would be for the average working man, with a mediocre education and a total [160] ignorance of esotericism, to grasp the significance of such an occult truth as that expressed in the words: “The construction of the antaskarana between higher and lower manas by the divine Agnishvatta, the solar angel, functioning through the egoic lotus, is the task to be carried forward during the contemplative stage of meditation.” This statement is relatively simple to grasp intellectually by the average occult student, but is utterly meaningless to the man of the world. The Law of Repulse is equally difficult of understanding by the disciple as he enters upon the Path. He has to learn to recognise its influence; then he must himself learn to do three things:—

Khi ý thức phân biện (sự tương ứng tinh thần của khứu giác, giác quan cuối cùng trong năm giác quan xuất hiện nơi nhân loại) đã được phát triển đầy đủ nơi người chí nguyện, và y biết các cặp đối đãi và đã đạt được một linh ảnh về cái không thuộc về cặp nào trong chúng, thì y có thể tiến lên Con Đường Đệ Tử và bắt đầu nhiệm vụ gian khổ là hợp tác với các định luật tinh thần, đặc biệt là với Định luật Đẩy Lùi. Lúc đầu, y hầu như không nhận ra ảnh hưởng của Định luật này. Đối với y, việc nắm bắt các hàm ý của nó và đo lường những hiệu quả có thể có của nó cũng khó như đối với một người lao động trung bình, với học vấn tầm thường và hoàn toàn [160] không biết gì về huyền bí học, khi phải nắm bắt ý nghĩa của một chân lý huyền bí như được diễn tả trong những lời sau: “Việc xây dựng antaskarana giữa thượng manas và hạ manas bởi Agnishvatta thiêng liêng, thái dương Thiên Thần, hoạt động qua Hoa Sen Chân Ngã, là nhiệm vụ phải được tiếp tục trong giai đoạn chiêm ngưỡng của tham thiền.” Phát biểu này tương đối đơn giản để đạo sinh huyền bí học trung bình nắm bắt bằng trí năng, nhưng hoàn toàn vô nghĩa đối với người đời. Định luật Đẩy Lùi cũng khó hiểu đối với đệ tử khi y bước vào Con Đường. Y phải học cách nhận ra ảnh hưởng của nó; rồi chính y phải học làm ba điều:—

1. Through service, steadily to decentralise himself and thus begin occultly to “repulse” the personality. He must see to it that his motive is love for all beings, and not desire for his own release.

1. Qua phụng sự, đều đặn phi tập trung vào bản thân và nhờ đó bắt đầu một cách huyền bí “đẩy lùi” phàm ngã. Y phải bảo đảm rằng động cơ của y là tình thương đối với mọi chúng sinh, chứ không phải dục vọng được giải thoát cho riêng mình.

2. Through an understanding of the pairs of opposites, he begins, esoterically, to “isolate” the “noble middle path” of which the Buddha spoke.

2. Qua sự thấu hiểu các cặp đối đãi, y bắt đầu, một cách huyền bí, “cô lập” “con đường trung đạo cao quý” mà Đức Phật đã nói đến.

3. Through comprehension of the words of Christ, enjoining men to “let their light shine,” he begins to construct the “path of light” which leads to the centre of life and guides him out of darkness into light, from the unreal to the real, and from death to immortality. This is the true path of the antaskarana, which the disciple weaves from out of himself (speaking symbolically), just as the spider weaves his thread.

3. Qua sự lĩnh hội những lời của Đức Christ, khuyên con người “hãy để ánh sáng của mình chiếu tỏa”, y bắt đầu xây dựng “con đường ánh sáng” dẫn đến trung tâm của sự sống và hướng dẫn y ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái không thực đến cái thực, và từ cái chết đến sự bất tử. Đây là con đường chân chính của antaskarana, mà đệ tử dệt nên từ chính mình (nói theo biểu tượng), cũng như con nhện dệt sợi tơ của nó.

Service, an understanding of the Way, and the building of the true line of escape—that is the task to be carried forward upon the Path of Discipleship. Such is the object set before all the students of the esoteric sciences at this time,—provided they desire it enough, and can train themselves to [161] work selflessly for their fellow men. As they succeed in doing this and approximate ever more closely to that which is not the pairs of opposites (and thus achieve “the Central Way”), steadily the Law of Repulse begins to swing into operation. When the third initiation is taken, this law will begin to hold the dominant place in the ruling of the life.

Phụng sự, sự thấu hiểu Con Đường, và việc xây dựng đường thoát chân chính—đó là nhiệm vụ phải được thực hiện trên Con Đường Đệ Tử. Đó là mục tiêu được đặt ra trước tất cả các đạo sinh của các khoa học huyền bí vào lúc này,—miễn là họ đủ khao khát điều đó, và có thể tự rèn luyện để [161] làm việc vô ngã cho đồng loại của mình. Khi họ thành công trong việc này và ngày càng tiến gần hơn đến cái không phải là các cặp đối đãi (và nhờ đó đạt được “Con Đường Trung Tâm”), thì Định luật Đẩy Lùi dần dần bắt đầu đi vào hoạt động. Khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, định luật này sẽ bắt đầu giữ vị trí chi phối trong việc cai quản đời sống.

The word “repulse” has an unfortunate connotation in many minds, and this revulsion against the word itself indicates man’s innately spiritual bias. Repulsion, the desire to repudiate, and repulsive attitudes, words and deeds evoke in our minds all that is unpleasant to contemplate. Yet, spiritually considered and scientifically viewed, the word “repulse” indicates simply “an attitude towards that which is not desirable.” This, in its turn (as we seek to determine that which is desirable) calls into activity the virtues of discrimination, dispassion and discipline in the disciple’s life, as well as the power to decentralise. These words indicate the urge to devaluate the unreal and the undesirable, to discipline the lower nature till those choices are readily and easily made which lead to the discarding of that which imprisons or impedes the soul. The major concepts are the definitely and carefully chosen way or procedure which will free the soul from the world of forms and identify it, first of all, with itself (thus freeing it from the world illusion), and then with the world of souls, which is the consciousness of the Oversoul.

Từ “đẩy lùi” mang một hàm nghĩa không may trong tâm trí nhiều người, và sự phản cảm đối với chính từ này cho thấy thiên hướng tinh thần bẩm sinh của con người. Sự ghê bỏ, dục vọng khước từ, và những thái độ, lời nói và hành động đáng ghê bỏ gợi lên trong tâm trí chúng ta tất cả những gì khó chịu để chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, xét về mặt tinh thần và nhìn theo khoa học, từ “đẩy lùi” chỉ đơn giản biểu thị “một thái độ đối với điều không đáng mong muốn.” Điều này, đến lượt nó (khi chúng ta tìm cách xác định điều gì là đáng mong muốn), gọi vào hoạt động các đức tính phân biện, vô tư vô dục và kỷ luật trong đời sống đệ tử, cũng như năng lực phi tập trung vào bản thân. Những từ này chỉ ra sự thôi thúc hạ thấp giá trị của cái không thực và cái không đáng mong muốn, kỷ luật bản chất thấp cho đến khi những chọn lựa dẫn đến việc loại bỏ điều giam hãm hay cản trở linh hồn được thực hiện một cách sẵn sàng và dễ dàng. Những khái niệm chủ yếu là con đường hay thủ tục được chọn lựa dứt khoát và cẩn trọng, sẽ giải thoát linh hồn khỏi thế giới hình tướng và trước hết đồng hoá nó với chính nó (nhờ đó giải thoát nó khỏi ảo tưởng thế gian), rồi sau đó với thế giới các linh hồn, tức là tâm thức của đại hồn.

There is no need to enlarge here upon the technique whereby this choice is to be made. The way of discrimination, the method of dispassion and the discipline of the life have been made plain and clear by the teachings of the past two thousand years, and through the many books written to emphasise the teaching of the Christ and of the Buddha. Through a right understanding of these, right choice can be made, and that which should not be cherished or desired can [162] be “repulsed”. Many an earnest student (such as those who will read this Treatise) has found it of advantage to write down for himself his own personal understanding of the four words:—

Ở đây không cần phải nói dài thêm về kỹ thuật nhờ đó sự chọn lựa này được thực hiện. Con đường phân biện, phương pháp vô tư vô dục và kỷ luật của đời sống đã được làm cho minh bạch và rõ ràng qua giáo huấn của hai ngàn năm qua, và qua nhiều sách vở được viết ra để nhấn mạnh giáo huấn của Đức Christ và Đức Phật. Qua sự thấu hiểu đúng đắn những điều này, sự chọn lựa đúng đắn có thể được thực hiện, và điều không nên được trân quý hay ham muốn có thể [162] bị “đẩy lùi”. Nhiều đạo sinh chân thành (như những người sẽ đọc bộ Luận này) đã thấy có ích khi tự viết ra cho mình sự hiểu biết cá nhân về bốn từ sau đây:—

1. Discrimination,

1. Phân biện,

2. Dispassion,

2. Vô tư vô dục,

3. Discipline,

3. Kỷ luật,

4. Decentralisation.

4. Phi tập trung vào bản thân.

One page given to each definition should suffice, if it embodies truly one’s highest thought. Students will realise that as they practice these four virtues, the prime characteristics of a disciple, they are thereby automatically calling into play the Law of Repulse, which, upon the Path of Initiation, brings revelation and realisation. The expression of this law upon the Path of Initiation is too advanced for those who are not yet versed in the basic discriminations, and who are still far from being dispassionate. Is there need therefore to enlarge upon this law as it works out in the life of the initiate? I think not. The disciple seeks to achieve, without passion, pain or suffering, the distinction which lies between:

Mỗi định nghĩa chỉ cần một trang là đủ, nếu nó thật sự hàm chứa tư tưởng cao nhất của mỗi người. Các đạo sinh sẽ nhận ra rằng khi họ thực hành bốn đức tính này, những đặc tính chủ yếu của một đệ tử, thì nhờ đó họ tự động gọi Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động; định luật này, trên Con Đường Điểm Đạo, mang lại sự mặc khải và chứng nghiệm. Sự biểu lộ của định luật này trên Con Đường Điểm Đạo quá cao siêu đối với những ai chưa tinh thông các sự phân biện căn bản, và vẫn còn rất xa mới đạt được vô tư vô dục. Vậy có cần phải nói thêm về định luật này khi nó biểu lộ trong đời sống của điểm đạo đồ chăng? Tôi nghĩ là không. Đệ tử tìm cách đạt được, không có đam mê, đau đớn hay khổ sở, sự phân biệt nằm giữa:

1. Right and wrong,

1. Đúng và sai,

2. Good and evil,

2. Thiện và ác,

3. Light and dark, spiritually understood,

3. Ánh sáng và bóng tối, được hiểu theo nghĩa tinh thần,

4. Prison and liberty,

4. Nhà tù và tự do,

5. Love and hate,

5. Tình thương và hận thù,

6. Introversion and extraversion. We do well to ponder on this duality

6. Hướng nội và hướng ngoại. Chúng ta nên suy ngẫm về nhị nguyên tính này

7. Truth and falsehood,

7. Chân lý và giả dối,

8. Mystical and occult knowledge,

8. Tri thức thần bí và tri thức huyền bí,

9 The self and the not-self,

9. Bản ngã và không-phải-ngã,

10. Soul and body.

10. Linh hồn và thể xác.

[163]

[163]

Many, many other dualities can thus be listed. Having then discovered the fact of these pairs of opposites, the task of the disciple is to discover that which is neither of them. It is this central, intermediate way that is revealed to the initiate, through the working of the Law of Repulse which occultly enables him to “push with either hand, to a distance afar from his way, that which intrudes and veils the central way of light. For neither on the right nor on the left lies safety for the man who seeks that lighted way.” Does this sentence really mean aught to most of us? Let us seek to express to ourselves in words the qualifications and name of that third or central way which is, for instance, neither light nor dark, and neither love nor hate. We cannot with clarity see what it could be, nor will we until the increased stimulation which is released in us upon the Way of Initiation does its appointed work. Some idea of what it means may appear, however dimly, to our vision as we deal with our third division.

Còn rất, rất nhiều nhị nguyên tính khác cũng có thể được liệt kê như vậy. Sau khi đã khám phá ra sự kiện về các cặp đối đãi này, nhiệm vụ của đệ tử là khám phá cái không phải là cặp nào trong chúng. Chính con đường trung tâm, trung gian này được mặc khải cho điểm đạo đồ, qua hoạt động của Định luật Đẩy Lùi, định luật một cách huyền bí giúp y “dùng cả hai tay đẩy ra xa khỏi đường mình điều gì xâm nhập và che khuất con đường ánh sáng trung tâm. Vì không ở bên phải cũng không ở bên trái có sự an toàn cho người tìm kiếm con đường được soi sáng ấy.” Câu này thật sự có ý nghĩa gì đối với phần lớn chúng ta chăng? Chúng ta hãy cố diễn đạt cho chính mình bằng lời những phẩm tính và tên gọi của con đường thứ ba hay trung tâm ấy, chẳng hạn, con đường không phải ánh sáng cũng không phải bóng tối, và không phải tình thương cũng không phải hận thù. Chúng ta không thể thấy rõ nó có thể là gì, và cũng sẽ không thấy cho đến khi sự kích thích gia tăng được giải phóng trong chúng ta trên Con Đường Điểm Đạo thực hiện công việc đã định của nó. Tuy nhiên, một vài ý niệm về ý nghĩa của nó có thể xuất hiện, dù mờ nhạt, trong tầm nhìn của chúng ta khi chúng ta bàn đến phần thứ ba.

c. THE LAW OF REPULSE AND THE PILGRIM ON THE WAY OF LIFE—ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ NGƯỜI HÀNH HƯƠNG TRÊN CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG

We shall base our thoughts upon the words earlier quoted:

Chúng ta sẽ đặt nền cho tư tưởng của mình trên những lời đã trích dẫn trước đây:

“The Law of Repulse drives in seven directions, and forces all it thus contacts back to the bosom of the seven spiritual Fathers.”

“Định luật Đẩy Lùi thúc đẩy theo bảy hướng, và ép buộc tất cả những gì nó tiếp xúc theo cách đó quay trở lại lòng của bảy Đấng Cha tinh thần.”

We have come definitely to a consideration of the Way of Repulsion, governed by this law, which is the way or technique for each ray type. Though the same law can be seen working in all seven cases and in all seven directions, yet the results will differ, because the quality and the phenomenal appearance upon which the law of the divine will makes its impact and consequent impression, differ so widely. The complexity of the problem is therefore great. These seven [164] soul laws lie behind all the various presentations of truth as they have been given out by the world Teachers down the ages. It requires much spiritual insight, however, to enable the average disciple to see the correspondence or the trend of ideas which link, for instance:

Chúng ta giờ đây đã đi đến chỗ dứt khoát xem xét Con Đường Đẩy Lùi, được chi phối bởi định luật này, vốn là con đường hay kỹ thuật dành cho mỗi loại cung. Dù cùng một định luật có thể được thấy đang hoạt động trong cả bảy trường hợp và theo cả bảy hướng, nhưng các kết quả sẽ khác nhau, bởi vì phẩm tính và sắc tướng hiện tượng mà định luật của ý chí thiêng liêng tác động và để lại ấn tượng lên đó khác nhau quá rộng. Vì vậy, tính phức tạp của vấn đề là rất lớn. Bảy [164] định luật linh hồn này nằm sau mọi cách trình bày khác nhau của chân lý như đã được các Đức Chưởng Giáo ban ra qua các thời đại. Tuy nhiên, cần rất nhiều linh thị tinh thần mới giúp đệ tử trung bình thấy được sự tương ứng hay xu hướng của các ý tưởng nối kết, chẳng hạn:

1. The beatitudes (enunciated by the Christ) and these seven laws.

1. Các mối phúc (do Đức Christ tuyên bố) và bảy định luật này.

2. The stages of the Noble Eightfold Path and these soul potencies.

2. Các giai đoạn của Bát Chánh Đạo cao quý và các tiềm lực linh hồn này.

3. The eight Means to Yoga or union of the soul, and this septenate of influences.

3. Tám phương tiện của Yoga hay sự hợp nhất của linh hồn, và bộ bảy ảnh hưởng này.

4. The Ten Commandments of the Semitic religion, and these seven spiritual laws.

4. Mười Điều Răn của tôn giáo Semitic, và bảy định luật tinh thần này.

Students would find it of interest to test their understanding of the esoteric relationships existing between these groups of teaching and see if they can, for themselves, trace the basic meanings. Let us, by way of illustration, trace or indicate the relation between the seven laws and the eight means to Yoga, because this will give us an illustration of the difference existing between the means to Yoga as understood by the average yogi or esotericist, and as they can be understood by the trained disciple or initiate.

Các đạo sinh sẽ thấy thú vị nếu kiểm tra sự hiểu biết của mình về những tương quan huyền bí hiện hữu giữa các nhóm giáo huấn này và xem liệu họ có thể tự mình truy ra các ý nghĩa căn bản hay không. Chúng ta hãy, như một minh họa, truy ra hay chỉ ra mối liên hệ giữa bảy định luật và tám phương tiện của Yoga, vì điều này sẽ cho chúng ta một minh họa về sự khác biệt hiện hữu giữa các phương tiện của Yoga như được hiểu bởi yogi hay nhà bí truyền học trung bình, và như chúng có thể được hiểu bởi đệ tử hay điểm đạo đồ đã được huấn luyện.

1.

The five Commandments.

Second ray force

The Law of Magnetic Impulse

The universal duty

Inclusion. Attraction.

2.

The Rules For self training

Fourth ray force

The Law of Sacrifice. “I die daily.”

3.

Posture. A poised attitude to the world

Sixth ray force

The Law of Service. Right relations and right ideals.

4.

Pranayama The law of rhythmic living

Seventh ray force

The Law of Group Progress. The Law of spiritual development.

5.

Abstraction Pratyahara. Withdrawal from desire

First ray force

The Law of Repulse. The repudiation of desire

6

.

Attention.

Third ray force

The Law of Expansive Correct orientation Response.

7.

Meditation Lower Right use of the mind.

Fifth ray force

The Law of the Four. “The soul is in deep meditation.”

8.

Result

Contemplation

Complete spiritual detachment.

1.

The five Commandments.

Second ray force

The Law of Magnetic Impulse

1.

Năm Điều Răn.

Mãnh lực cung hai

Định Luật Xung Động Từ Tính

The universal duty

Inclusion. Attraction.

Bổn phận phổ quát

Bao gồm. Hấp dẫn.

2.

The Rules For self training

Fourth ray force

The Law of Sacrifice. “I die daily.”

Các Quy Luật cho tự tu luyện

Mãnh lực cung bốn

Định Luật Hi Sinh. “Tôi chết mỗi ngày.”

3.

Posture. A poised attitude to the world

Sixth ray force

The Law of Service. Right relations and right ideals.

Tư thế. Thái độ điềm tĩnh với thế giới

Mãnh lực cung sáu

Định Luật Phụng Sự. Quan hệ đúng đắn và lý tưởng đúng đắn.

4.

Pranayama The law of rhythmic living

Seventh ray force

The Law of Group Progress. The Law of spiritual development.

Pranayama Định luật sống nhịp điệu

Mãnh lực cung bảy

Định Luật Tiến Bộ Nhóm. Định luật phát triển tinh thần.

5.

Abstraction Pratyahara. Withdrawal from desire

First ray force

The Law of Repulse. The repudiation of desire

Trừu tượng hóa Pratyahara. Rút lui khỏi dục vọng

Mãnh lực cung một

Định Luật Đẩy Lùi. Sự từ chối dục vọng

6.

Attention.

Third ray force

The Law of Expansive Response. Correct orientation

Chú ý.

Mãnh lực cung ba

Định Luật Đáp Ứng Mở Rộng. Định hướng đúng đắn

7.

Meditation Lower Right use of the mind.

Fifth ray force

The Law of the Four. “The soul is in deep meditation.”

Tham thiền Hạ Sử dụng đúng đắn của trí.

Mãnh lực cung năm

Định Luật của Bốn. “Linh hồn đang trong tham thiền sâu.”

8.

Result

Contemplation

Complete spiritual detachment.

Kết quả

Chiêm ngưỡng

Tách rời tinh thần hoàn toàn.

[165]

[165]

A close study of these relationships will be found suggestive to the disciple and illuminating to the initiate. Let us not, however, confuse illumination with a new or bright idea! It is something far different to that. The difference is that between the light of a star, and the light of a steadily waxing sun. One reveals the fact of night. The other reveals the world of daylight and of conscious Being.

Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các mối liên hệ này sẽ được thấy là gợi mở đối với đệ tử và soi sáng đối với điểm đạo đồ. Tuy nhiên, chúng ta đừng nhầm lẫn sự soi sáng với một ý tưởng mới hay sáng chói! Nó là một điều hoàn toàn khác. Sự khác biệt cũng như giữa ánh sáng của một ngôi sao và ánh sáng của một mặt trời đang lớn dần một cách đều đặn. Một bên phơi bày sự kiện của đêm tối. Bên kia phơi bày thế giới của ánh sáng ban ngày và của Bản Thể có ý thức.

d. THE SEVEN DIRECTIONS OF THE LAW OF REPULSE—BẢY HƯỚNG CỦA ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI

It must be remembered that the Law of Repulse, which is the Law of the destroying Angels, works in seven directions; that it produces effects upon seven different types of beings and of men, and that by reason of its activity, it draws the prodigal son back to the Father’s home. It causes him to “arise and go.” But we must remember that, when Christ was relating this story, He made it abundantly clear that there was no impulse to return until the pilgrim in the far country had come to himself or to his senses, as a result of [166] satisfied desire, through riotous living. This was followed by consequent satiety and loss of contentment, and then by a period of intense suffering, which broke his will to wander or to desire. A study of this story will be found revealing. In no Scripture is the sequence of events (as they deal with the pilgrim’s existence and life in a far country and his return) so concisely or so beautifully treated. Seek out your Bibles, and study this tale, and read for yourselves the pilgrim’s way.

Cần nhớ rằng Định luật Đẩy Lùi, vốn là Định luật của các Thiên Thần hủy diệt, hoạt động theo bảy hướng; rằng nó tạo ra các hiệu quả trên bảy loại hữu thể và con người khác nhau, và rằng do hoạt động của nó, nó kéo người con hoang đàng trở về nhà Cha. Nó khiến y “đứng dậy và đi.” Nhưng chúng ta phải nhớ rằng, khi Đức Christ kể câu chuyện này, Ngài đã làm hoàn toàn rõ ràng rằng không có xung lực trở về nào cho đến khi người hành hương ở xứ xa đã hồi tâm hay tỉnh ngộ, do kết quả của [166] dục vọng được thỏa mãn, qua đời sống phóng đãng. Điều này được tiếp theo bởi sự bão hòa tất yếu và sự mất mãn nguyện, rồi đến một giai đoạn đau khổ mãnh liệt, phá vỡ ý chí lang thang hay ham muốn của y. Một nghiên cứu về câu chuyện này sẽ cho thấy nhiều điều mặc khải. Không có Kinh điển nào mà chuỗi sự kiện (khi chúng liên quan đến sự tồn tại và đời sống của người hành hương ở xứ xa và sự trở về của y) lại được trình bày ngắn gọn và đẹp đẽ đến thế. Hãy tìm Kinh Thánh của các bạn, và nghiên cứu câu chuyện này, và tự mình đọc con đường của người hành hương.

The effect of this Law of Repulse, as it works out in the world of discipleship and destroys that which hinders, sends the pilgrim hurrying back consciously along one of the seven rays that lead to the centre. This cannot be handled in detail here. Our present task is that of treading the Path of Probation or of Discipleship and of learning discipline, dispassion, and the other two necessities on the Way,—discrimination and decentralisation. It is possible, nevertheless, to indicate the goal and point out the potency of the forces to which we shall be increasingly subjected as we pass—as some of us can so pass—on to the Path of Accepted Discipleship. This we will do in the form of seven stanzas which will give a hint (if one is an aspirant) of the technique to which one will be exposed; if one has passed further on the Way, they will give one a command which, as a disciple with spiritual insight one will obey, because one is awakened; if one is an initiate, they will evoke the comment: “This I know.”

Hiệu quả của Định luật Đẩy Lùi này, khi nó biểu lộ trong thế giới địa vị đệ tử và hủy diệt điều cản trở, khiến người hành hương vội vã quay về một cách có ý thức dọc theo một trong bảy cung dẫn đến trung tâm. Điều này không thể được trình bày chi tiết ở đây. Nhiệm vụ hiện tại của chúng ta là bước đi trên Con Đường Dự Bị hay Con Đường Đệ Tử và học kỷ luật, vô tư vô dục, cùng hai điều cần thiết khác trên Đường Đạo,—phân biện và phi tập trung vào bản thân. Tuy nhiên, vẫn có thể chỉ ra mục tiêu và nêu bật sức mạnh của các mãnh lực mà chúng ta sẽ ngày càng chịu tác động khi chúng ta tiến lên—như một số người trong chúng ta có thể tiến lên—Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Điều này chúng ta sẽ làm dưới hình thức bảy bài kệ, chúng sẽ gợi ý (nếu một người là người chí nguyện) về kỹ thuật mà người ấy sẽ phải tiếp xúc; nếu người ấy đã đi xa hơn trên Đường Đạo, chúng sẽ trao cho người ấy một mệnh lệnh mà, với tư cách một đệ tử có linh thị tinh thần, người ấy sẽ vâng theo, bởi vì người ấy đã thức tỉnh; nếu người ấy là một điểm đạo đồ, chúng sẽ gợi lên lời nhận xét: “Điều này tôi biết.”

The Direction of Ray I.

Định Hướng của Cung I.

“The garden stands revealed. In ordered beauty live its flowers and trees. The murmur of the bees and insects on their winged flight is heard on every side. The air is rich with perfume. The colours riot to the blue of heaven….

“Khu vườn hiện ra rõ ràng. Trong vẻ đẹp có trật tự, hoa và cây của nó sinh sống. Tiếng vo ve của ong và côn trùng trong chuyến bay có cánh của chúng được nghe thấy khắp nơi. Không khí đượm hương thơm. Màu sắc rực tràn lên nền trời xanh….

The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden….Low lie the flowers. Bending, the trees are [167] devastated by the wind. Destruction of all beauty is followed by the rain. The sky is black. Ruin is seen. Then death….

Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn….Hoa nằm rạp thấp. Cây cối [167] cong mình, bị gió tàn phá. Sự hủy diệt mọi vẻ đẹp được tiếp theo bởi mưa. Bầu trời đen kịt. Cảnh đổ nát hiện ra. Rồi cái chết….

Later, another garden! but the time seems far away. Call for a gardener. The gardener, the soul, responds. Call for the rain, the wind, the scorching sun. Call for the gardener. Then let the work go on. Ever destruction goes before the rule of beauty. Ruin precedes the real. The garden and the gardener must awake! The work proceeds.

Về sau, một khu vườn khác! nhưng thời gian dường như còn xa. Hãy gọi người làm vườn. Người làm vườn, linh hồn, đáp ứng. Hãy gọi mưa, gió, mặt trời thiêu đốt. Hãy gọi người làm vườn. Rồi hãy để công việc tiếp diễn. Sự hủy diệt luôn đi trước sự ngự trị của cái đẹp. Đổ nát đi trước cái thực. Khu vườn và người làm vườn phải thức tỉnh! Công việc tiếp diễn.

The Direction of Ray II.

Định Hướng của Cung II.

“The Scholar knows the truth. All is revealed to him. Surrounded by his books, and sheltered in the world of thought, he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; he arrives at knowledge of the world of natural things. His eye is closed. His eyes are opened wide. He dwells within his world in deep content.

“Nhà Học Giả biết chân lý. Mọi sự đều được mặc khải cho y. Được bao quanh bởi sách vở của mình, và được che chở trong thế giới tư tưởng, y đào bới như một con chuột chũi, và tìm đường vào bóng tối; y đạt đến tri thức về thế giới của những sự vật tự nhiên. Mắt y nhắm lại. Hai mắt y mở to. Y cư ngụ trong thế giới của mình trong sự mãn nguyện sâu xa.

Detail on detail enter into the content of his world of thought. He stores the nuggets of the knowledge of the world, as a squirrel stores its nuts. The storehouse now is adequately full….Sudden a spade descends, for the thinker tends the garden of his thought, and thus destroys the passages of mind. Ruin arrives, destroying fast the storehouse of the mind, the safe security, the darkness and the warmth of a satisfied enquiry. All is removed. The light of summer enters in and the darkened crannies of the mind see light….Naught is left but light, and that cannot be used. The eyes are blinded and the one eye seeth not as yet….

Chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. Y tích trữ những hạt vàng của tri thức thế gian, như con sóc tích trữ các hạt của nó. Kho chứa giờ đây đã đầy đủ…. Bỗng nhiên một lưỡi xẻng giáng xuống, vì nhà tư tưởng chăm nom khu vườn tư tưởng của mình, và do đó phá hủy các lối đi của trí tuệ. Sự tàn phá ập đến, nhanh chóng hủy diệt kho chứa của trí tuệ, sự an toàn vững chắc, bóng tối và hơi ấm của một cuộc truy tầm mãn nguyện. Mọi sự đều bị lấy đi. Ánh sáng mùa hè tràn vào và những ngóc ngách tối tăm của trí tuệ thấy ánh sáng…. Không còn gì ngoài ánh sáng, và điều đó không thể được sử dụng. Đôi mắt bị lòa và con mắt duy nhất vẫn chưa thấy được….

Slowly the eye of wisdom must be opened. Slowly the love of that which is the true, the beautiful and good must enter the dark passages of worldly thought. Slowly the torch of light, the fire of right must burn the garnered treasures of the past, yet show their basic usefulness….

Chậm rãi, con mắt minh triết phải được mở ra. Chậm rãi, tình yêu đối với điều chân, điều mỹ và điều thiện phải đi vào những lối đi tối tăm của tư tưởng thế gian. Chậm rãi, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của điều đúng phải thiêu đốt những kho tàng đã tích lũy của quá khứ, nhưng vẫn cho thấy công dụng căn bản của chúng….

The seven ways of light must wean away the attention of the Scholar from all that has been found and stored and used. This he repulses and finds his way into that Hall of Wisdom which is built upon a hill, and not deep under ground. Only the opened eye can find this way.”

Bảy con đường ánh sáng phải làm cho sự chú ý của Nhà Học Giả lìa xa mọi điều đã được tìm thấy, tích trữ và sử dụng. Điều này y chống lại và tìm đường vào Phòng Minh triết, nơi được xây trên một ngọn đồi, chứ không sâu dưới lòng đất. Chỉ con mắt đã mở mới có thể tìm ra con đường này.”

The Direction of Ray III.

Định Hướng của cung ba.

“Surrounded by a multitude of threads, buried in folds and folds of woven goods, the Weaver sits. No Light can enter [168] where he sits. By the light of a tiny candle, carried upon the summit of his head, he dimly sees. He gathers handful after handful of the threads and seeks to weave the carpet of his thoughts and dreams, his desires and his aims. His feet move steadily; his hands work swiftly; his voice, without cessation, chants the words: ‘I weave the pattern which I seek and like. The warp and woof is planned by my desire. I gather here a thread and here a colour. I gather there another. I blend the colours and I mix and blend the threads. As yet I cannot see the pattern, but it will surely measure up to my desire.’

“Được bao quanh bởi vô số sợi dây, bị chôn vùi trong lớp lớp hàng dệt đan xen, Người Dệt ngồi đó. Không Ánh sáng nào có thể đi vào [168] nơi y ngồi. Nhờ ánh sáng của một ngọn nến nhỏ xíu, mang trên đỉnh đầu, y thấy lờ mờ. Y gom hết nắm này đến nắm khác những sợi dây và tìm cách dệt tấm thảm của những tư tưởng và giấc mơ, những ham muốn và mục tiêu của mình. Chân y chuyển động đều đặn; tay y làm việc mau lẹ; giọng y, không ngừng nghỉ, tụng lên những lời này: ‘Ta dệt nên mô hình mà ta tìm kiếm và ưa thích. Sợi dọc và sợi ngang được hoạch định bởi ham muốn của ta. Ta gom ở đây một sợi dây và ở đây một màu sắc. Ta gom ở kia một thứ khác. Ta hòa trộn các màu sắc và ta pha trộn và hòa các sợi dây. Hiện giờ ta chưa thể thấy mô hình, nhưng chắc chắn nó sẽ tương xứng với ham muốn của ta.’

Loud voices, and a movement from outside the darkened chamber where the Weaver sits; they grow in volume and in power. A window breaks and, though the Weaver cries aloud, blinded by the sudden light, the sun shines in upon his woven carpet. Its ugliness is thus revealed….

Những tiếng nói lớn, và một sự chuyển động từ bên ngoài căn phòng tối nơi Người Dệt ngồi; chúng tăng lên về âm lượng và quyền năng. Một cửa sổ vỡ tung và, dù Người Dệt kêu lớn, bị lòa bởi ánh sáng đột ngột, mặt trời chiếu vào tấm thảm dệt của y. Sự xấu xí của nó vì thế bị phơi bày….

A voice proclaims: ‘Look from out thy window, Weaver, and see the pattern in the skies, the model of the plan, the colour and the beauty of the whole. Destroy the carpet which you have for ages wrought. It does not meet your need….Then weave again, Weaver. Weave in the light of day. Weave, as you see the plan.”

Một tiếng nói tuyên bố: ‘Hãy nhìn ra ngoài cửa sổ của ngươi, hỡi Người Dệt, và thấy mô hình trên trời, khuôn mẫu của kế hoạch, màu sắc và vẻ đẹp của toàn thể. Hãy phá hủy tấm thảm mà ngươi đã dệt trong bao thời đại. Nó không đáp ứng nhu cầu của ngươi…. Rồi hãy dệt lại, hỡi Người Dệt. Hãy dệt trong ánh sáng ban ngày. Hãy dệt, như ngươi thấy kế hoạch.’”

The Direction of Ray IV.

Định Hướng của cung bốn.

“‘I take and mix and blend. I bring together that which I desire. I harmonise the whole.’

“‘Ta lấy và pha trộn và hòa nhập. Ta gom lại điều ta mong muốn. Ta làm hài hòa toàn thể.’

Thus spoke the Mixer, as he stood within his darkened chamber. ‘I realise the unseen beauty of the world. Colour I know and sound I know. I hear the music of the spheres, and note on note and chord on chord, they speak their thought to me. The voices which I hear intrigue and draw me, and with the sources of these sounds I seek to work. I seek to paint and blend the pigments needed. I must create the music which will draw to me those who like the pictures which I make, the colours which I blend, the music which I can evoke. Me, they will therefore like, and me, they will adore….’

Người Pha Trộn đã nói như thế, khi y đứng trong căn phòng tối của mình. ‘Ta chứng nghiệm vẻ đẹp vô hình của thế giới. Ta biết màu sắc và ta biết âm thanh. Ta nghe nhạc của các khối cầu, và âm này nối âm kia, hợp âm này nối hợp âm kia, chúng nói tư tưởng của chúng với ta. Những tiếng nói mà ta nghe làm ta say mê và lôi cuốn ta, và với các nguồn của những âm thanh ấy ta tìm cách làm việc. Ta tìm cách vẽ và pha trộn những sắc tố cần thiết. Ta phải sáng tạo âm nhạc sẽ lôi kéo đến với ta những ai yêu thích những bức tranh ta làm, những màu sắc ta pha trộn, âm nhạc mà ta có thể gợi lên. Vì thế, họ sẽ yêu thích ta, và họ sẽ tôn thờ ta….’

But crashing came a note of music, a chord of sound which drove the Mixer of sweet sounds to quiet. His sounds died out within the Sound and only the great chord of God was heard.

Nhưng một nốt nhạc vang rền ập đến, một hợp âm khiến Người Pha Trộn những âm thanh êm dịu phải im lặng. Những âm thanh của y tắt lịm trong Âm Thanh và chỉ còn nghe thấy hợp âm vĩ đại của Thượng đế.

[169]

[169]

A flood of light poured in. His colours faded out. Around him naught but darkness could be seen, yet in the distance loomed the light of God. He stood between his nether darkness and the blinding light. His world in ruins lay around. His friends were gone. Instead of harmony, there was dissonance. Instead of beauty, there was found the darkness of the grave….

Một luồng ánh sáng tràn vào. Những màu sắc của y phai biến. Chung quanh y không thấy gì ngoài bóng tối, nhưng ở đằng xa ánh sáng của Thượng đế hiện ra lờ mờ. Y đứng giữa bóng tối thấp kém của mình và ánh sáng chói lòa. Thế giới của y nằm đổ nát quanh mình. Bạn bè của y đã đi mất. Thay vì hài hòa, lại có bất hòa. Thay vì vẻ đẹp, người ta chỉ thấy bóng tối của mồ chôn….

The voice then chanted forth these words: ‘Create again, my child, and build and paint and blend the tones of beauty, but this time for the world and not thyself.’ The Mixer started then his work anew and worked again.”

Bấy giờ tiếng nói cất lên những lời này: ‘Hãy sáng tạo lại, con của ta, và xây dựng và vẽ và hòa trộn những âm điệu của vẻ đẹp, nhưng lần này là cho thế giới chứ không phải cho chính ngươi.’ Khi ấy Người Pha Trộn bắt đầu lại công việc của mình và lại làm việc.”

The Direction of Ray V.

Định Hướng của cung năm.

“Deep in a pyramid, on all sides built around by stone, in the deep dark of that stupendous place, a mind and brain (embodied in a man) were working. Outside the pyramid, the world of God established itself. The sky was blue; the winds blew free; the trees and flowers opened themselves unto the sun. But in the pyramid, down in its dim laboratory, a Worker stood, toiling at work. His test tubes and his frail appliances he used with skill. In rows and rows, the retorts for fusing, and for blending, for crystallising and for that which sought division, stood with their flaming fires. The heat was great. The toil severe….

“Trong sâu thẳm một kim tự tháp, bốn phía đều được xây quanh bằng đá, trong bóng tối sâu dày của nơi chốn đồ sộ ấy, một trí tuệ và bộ não (nhập thể trong một con người) đang làm việc. Bên ngoài kim tự tháp, thế giới của Thượng đế tự thiết lập. Bầu trời xanh; gió thổi tự do; cây cối và hoa lá mở mình ra với mặt trời. Nhưng trong kim tự tháp, dưới phòng thí nghiệm mờ tối của nó, một Người Hoạt Động đứng đó, lao nhọc trong công việc. Những ống nghiệm và dụng cụ mong manh của y được sử dụng một cách khéo léo. Thành hàng thành lối, những bình chưng cất để nung chảy, để hòa trộn, để kết tinh và cho điều tìm cách phân chia, đứng đó với những ngọn lửa bừng cháy. Sức nóng rất lớn. Sự lao nhọc thật nặng nề….

Dim passages, in steady progress, led upward to the summit. There a wide window stood, open unto the blue of heaven, and carrying one clear ray down to the worker in the depths….He worked and toiled. He struggled onwards toward his dream, the vision of an ultimate discovery. He sometimes found the thing he sought, and sometimes failed; but never found that which could give to him the key to all the rest….In deep despair, he cried aloud unto the God he had forgot: ‘Give me the key. I alone can do no more good. Give me the key.’ Then silence reigned….

Những lối đi mờ tối, trong tiến trình đều đặn, dẫn lên đỉnh cao. Ở đó có một cửa sổ rộng, mở ra bầu trời xanh, và đưa một tia sáng trong trẻo xuống người hoạt động ở nơi sâu thẳm…. Y làm việc và lao nhọc. Y vật lộn tiến tới giấc mơ của mình, linh ảnh về một khám phá tối hậu. Đôi khi y tìm thấy điều mình tìm kiếm, và đôi khi thất bại; nhưng không bao giờ tìm thấy điều có thể trao cho y chiếc chìa khóa của tất cả phần còn lại…. Trong nỗi tuyệt vọng sâu xa, y kêu lớn lên với Thượng đế mà y đã quên lãng: ‘Xin ban cho con chiếc chìa khóa. Một mình con không thể làm thêm điều thiện nào nữa. Xin ban cho con chiếc chìa khóa.’ Rồi sự im lặng ngự trị….

Through the opening on the summit of the pyramid, dropped from the blue of heaven, a key came down. It landed at the feet of the discouraged worker. The key was of pure gold; the shaft of light; upon the key a label, and writ in blue, these words: ‘Destroy that which thou has built and build anew. But only build when thou has climbed the upward way, traversed the gallery of tribulation and entered [170] into light within the chamber of the king. Build from the heights, and thus shew forth the value of the depths.’

Qua lỗ mở trên đỉnh kim tự tháp, từ bầu trời xanh một chiếc chìa khóa rơi xuống. Nó rơi ngay dưới chân người hoạt động nản lòng. Chiếc chìa khóa bằng vàng ròng; thân của nó là ánh sáng; trên chìa khóa có một nhãn, và viết bằng màu xanh những lời này: ‘Hãy phá hủy điều ngươi đã xây và xây lại. Nhưng chỉ xây khi ngươi đã leo lên con đường đi lên, đi qua hành lang thử thách và bước [170] vào ánh sáng trong phòng của nhà vua. Hãy xây từ những đỉnh cao, và như thế cho thấy giá trị của những vực sâu.’

The Worker then destroyed the objects of his previous toil, sparing three treasures which he knew were good, and upon which the light could shine. He struggled towards the chamber of the king. And still he struggles.”

Bấy giờ Người Hoạt Động phá hủy các đối tượng của công lao trước kia của mình, chỉ giữ lại ba báu vật mà y biết là tốt, và trên đó ánh sáng có thể chiếu rọi. Y vật lộn tiến về phòng của nhà vua. Và y vẫn còn đang vật lộn.”

The Direction of Ray VI.

Định Hướng của cung sáu.

“‘I love and live and love again,’ the frenzied Follower cried aloud, blinded by his desire for the teacher and the truth, but seeing naught but that which lay before his eyes. He wore on either side the blinding aids of every fanatic divine adventure. Only the long and narrow tunnel was his home and place of high endeavor. He had no vision except of that which was the space before his eyes. He had no scope for sight,—no height, no depth, no wide extension. He had but room to go one way. He went that way alone, or dragging those who asked the way of him. He saw a vision, shifting as he moved, and taking varying form; each vision was to him the symbol of his highest dreams, the height of his desire.

“‘Ta yêu và sống và lại yêu nữa,’ Người Theo Đuổi cuồng nhiệt kêu lớn, bị làm mù bởi ham muốn đối với huấn sư và chân lý, nhưng không thấy gì ngoài điều ở trước mắt mình. Y mang ở hai bên những trợ cụ làm mù của mọi cuộc phiêu lưu thiêng liêng cuồng tín. Chỉ đường hầm dài và hẹp là nhà của y và là nơi nỗ lực cao cả của y. Y không có tầm nhìn nào ngoài khoảng không trước mắt mình. Y không có phạm vi cho cái thấy,—không chiều cao, không chiều sâu, không sự mở rộng bao la. Y chỉ có chỗ để đi theo một hướng. Y đi theo hướng ấy một mình, hoặc kéo theo những người hỏi đường nơi y. Y thấy một linh ảnh, thay đổi khi y di chuyển, và mang những hình thức khác nhau; mỗi linh ảnh đối với y là biểu tượng của những giấc mơ cao nhất, đỉnh cao của ham muốn y.

He rushed along the tunnel, seeking that which lay ahead. He saw not much and only one thing at a time,—a person or a truth, a bible or his picture of his God, an appetite, a dream, but only one! Sometimes he gathered in his arms the vision that he saw, and found it naught. Sometimes, he reached the person whom he loved and found, instead of visioned beauty, a person like himself. And thus he tried. He wearied of his search; he whipped himself to effort new.

Y lao dọc theo đường hầm, tìm kiếm điều nằm phía trước. Y không thấy nhiều và mỗi lần chỉ thấy một điều,—một con người hay một chân lý, một quyển thánh thư hay hình ảnh của y về Thượng đế của mình, một ham muốn, một giấc mơ, nhưng chỉ một điều! Đôi khi y ôm chặt trong tay linh ảnh mà y thấy, và nhận ra nó chẳng là gì. Đôi khi, y chạm tới người mà y yêu và thấy rằng, thay vì vẻ đẹp trong linh ảnh, lại là một con người giống như chính mình. Và như thế y cố gắng. Y mệt mỏi vì cuộc tìm kiếm; y tự quất mình để có nỗ lực mới.

The opening dimmed its light. A shutter seemed to close. The vision he had seen no longer shone. The Follower stumbled in the dark. Life ended and the world of thought was lost…Pendent he seemed. He hung with naught below, before, behind, above. To him, naught was.

Lỗ mở làm mờ ánh sáng của nó. Một cánh chớp dường như khép lại. Linh ảnh mà y đã thấy không còn chiếu sáng nữa. Người Theo Đuổi vấp ngã trong bóng tối. Sự sống chấm dứt và thế giới tư tưởng bị mất đi… Y dường như bị treo lơ lửng. Y treo đó không có gì bên dưới, phía trước, phía sau, phía trên. Đối với y, không có gì cả.

From deep within the temple of his heart, he heard a Word. It spoke with clarity and power: ‘Look, deep within, around on every hand. The light is everywhere, within the heart, in Me, in all that breathes, in all that is. Destroy thy tunnel, which thou has for ages long constructed. Stand free, in custody of all the world.’ The Follower answered: ‘How shall I break my tunnel down? How can I find a way?’ No answer came….

Từ sâu trong đền thờ của trái tim mình, y nghe một Linh từ. Nó nói với sự minh bạch và quyền năng: ‘Hãy nhìn sâu vào bên trong, nhìn quanh về mọi phía. Ánh sáng ở khắp nơi, trong tim, trong Ta, trong mọi điều hô hấp, trong mọi điều hiện hữu. Hãy phá hủy đường hầm của ngươi, điều mà ngươi đã xây dựng trong bao thời đại dài lâu. Hãy đứng tự do, trong sự gìn giữ của toàn thế giới.’ Người Theo Đuổi đáp: ‘Làm sao tôi có thể phá sập đường hầm của mình? Làm sao tôi có thể tìm ra một con đường?’ Không có câu trả lời nào đến….

[171]

[171]

Another pilgrim in the dark came up, and groping, found the Follower. ‘Lead me and others to the Light,’ he cried. The Follower found no words, no indicated Leader, no formulas of truth, no forms or ceremonies. He found himself a leader, and drew others to the light,—the light that shone on every hand. He worked and struggled forward. His hand held others, and for their sake, he hid his shame, his fear, his hopelessness and his despair. He uttered words of surety and faith in life, and light and God, in love and understanding….

Một người hành hương khác trong bóng tối tiến đến, và lần mò, tìm thấy Người Theo Đuổi. ‘Hãy dẫn tôi và những người khác đến Ánh sáng,’ người ấy kêu lên. Người Theo Đuổi không tìm thấy lời nào, không có vị Lãnh Đạo nào được chỉ ra, không có công thức chân lý nào, không có hình thức hay nghi lễ nào. Y thấy mình là một người dẫn đường, và kéo những người khác đến ánh sáng,—ánh sáng đang chiếu rọi khắp mọi phía. Y làm việc và vật lộn tiến lên. Tay y nắm lấy những người khác, và vì họ, y che giấu sự hổ thẹn, nỗi sợ hãi, sự vô vọng và tuyệt vọng của mình. Y thốt ra những lời chắc chắn và niềm tin vào sự sống, và ánh sáng và Thượng đế, vào tình thương và sự thấu hiểu….

His tunnel disappeared. He noticed not its loss. Upon the playground of the world he stood with many fellow-players, wide to the light of day. In the far distance stood a mountain blue, and from its summit issued forth a voice which said: ‘Come forward to the mountain top and on its summit learn the invocation of a Saviour.’ To this great task the Follower, now a leader, bent his energies. He still pursues this way….”

Đường hầm của y biến mất. Y không để ý đến sự mất mát ấy. Trên sân chơi của thế giới y đứng cùng nhiều bạn đồng hành, rộng mở với ánh sáng ban ngày. Ở đằng xa có một ngọn núi xanh, và từ đỉnh của nó phát ra một tiếng nói rằng: ‘Hãy tiến lên đỉnh núi và trên đỉnh ấy học lời khẩn cầu của một Đấng Cứu Thế.’ Vào nhiệm vụ lớn lao này, Người Theo Đuổi, giờ đây là một người dẫn đường, dồn mọi năng lực của mình. Y vẫn còn theo đuổi con đường này….”

The Direction of Ray VII.

Định Hướng của cung bảy.

“Under an arch between two rooms, the seventh Magician stood. One room was full of light and life and power, of stillness which was purpose and a beauty which was space. The other room was full of movement, a sound of great activity, a chaos without form, of work which had no true objective. The eyes of the Magician were fixed on chaos. He liked it not. His back was towards the room of vital stillness. He knew it not. The arch was tottering overhead….

“Dưới một mái vòm giữa hai căn phòng, nhà huyền thuật thứ bảy đứng đó. Một căn phòng đầy ánh sáng và sự sống và quyền năng, đầy sự tĩnh lặng vốn là mục đích và một vẻ đẹp vốn là không gian. Căn phòng kia đầy chuyển động, một âm thanh của hoạt động lớn lao, một hỗn mang không hình tướng, của công việc không có mục tiêu chân chính. Mắt của nhà huyền thuật chăm chú vào hỗn mang. Y không thích nó. Lưng y quay về phía căn phòng của sự tĩnh lặng đầy sinh lực. Y không biết nó. Mái vòm phía trên đầu đang lung lay….

He murmured in despair: ‘For ages I have stood and sought to solve the problem of this room; to rearrange the chaos so that beauty might shine forth, and the goal of my desire. I sought to weave these colours into a dream of beauty, and to harmonise the many sounds. Achievement lacks. Naught but my failure can be seen. And yet I know there is a difference between that which I can see before my eyes and that which I begin to sense behind my back. What shall I do?’

Y lẩm bẩm trong tuyệt vọng: ‘Trong bao thời đại ta đã đứng đây và tìm cách giải quyết vấn đề của căn phòng này; sắp xếp lại hỗn mang để vẻ đẹp có thể tỏa sáng, và mục tiêu của ham muốn ta. Ta đã tìm cách dệt những màu sắc này thành một giấc mơ về vẻ đẹp, và làm hài hòa nhiều âm thanh. Thành tựu vẫn thiếu. Không gì ngoài thất bại của ta có thể được thấy. Tuy nhiên ta biết có một sự khác biệt giữa điều ta có thể thấy trước mắt và điều ta bắt đầu cảm nhận sau lưng mình. Ta phải làm gì?’

Above the head of the Magician, and just behind his back, and yet within the room of ordered beauty, a magnet vast began to oscillate….It caused the revolution of the man, within the arch, which tottered to a future fall. The magnet turned him round until he faced the scene and room, unseen before….

Phía trên đầu nhà huyền thuật, và ngay sau lưng y, nhưng vẫn ở trong căn phòng của vẻ đẹp có trật tự, một nam châm vĩ đại bắt đầu dao động…. Nó gây ra sự xoay chuyển của con người ấy, trong mái vòm đang lung lay hướng đến một sự sụp đổ tương lai. Nam châm xoay y lại cho đến khi y đối diện với cảnh tượng và căn phòng trước đây chưa từng thấy….

[172]

[172]

Then through the centre of his heart the magnet poured its force attractive. The magnet poured its force repulsive. It reduced the chaos until its forms no longer could be seen. Some aspects of a beauty, unrevealed before, emerged. And from the room a light shone forth and, by its powers and life, forced the Magician to move forward into light, and leave the arch of peril.”

Rồi qua trung tâm tim y, nam châm tuôn đổ mãnh lực hấp dẫn của nó. Nam châm tuôn đổ mãnh lực đẩy lùi của nó. Nó làm giảm hỗn mang cho đến khi các hình tướng của nó không còn có thể được thấy nữa. Một vài phương diện của một vẻ đẹp trước đây chưa được mặc khải xuất hiện. Và từ căn phòng một ánh sáng chiếu ra và, bằng quyền năng và sự sống của nó, buộc nhà huyền thuật phải tiến vào ánh sáng, và rời bỏ mái vòm hiểm nguy.”

Such are some thoughts, translated from an ancient metrical arrangement, which may throw some light upon the duality of personality and the work to be done by the beings found upon the septenate of rays. Know we where we stand? Do we realise what we have to do? As we strive to enter into light, let us count no price too great to pay for that revelation.

Đó là một vài tư tưởng, được chuyển dịch từ một bản sắp xếp thi kệ cổ xưa, có thể soi sáng phần nào về nhị nguyên tính của phàm ngã và công việc phải được thực hiện bởi các hữu thể được tìm thấy trên bộ bảy cung. Chúng ta có biết mình đang đứng ở đâu không? Chúng ta có chứng nghiệm điều mình phải làm không? Khi chúng ta nỗ lực bước vào ánh sáng, chớ hãy xem bất kỳ giá nào là quá lớn để trả cho sự mặc khải ấy.

End of LOTSWC 20, p. 172, Duration about 3hrs

End of LOTSWC 20, p. 172, Duration about 3hrs

[Beginning of LOTSWC 21, p. 172

[Beginning of LOTSWC 21, p. 172

We have studied an interesting sequence of Laws. In Law One, we find that three major ideas emerge:

Chúng ta đã nghiên cứu một chuỗi Định luật lý thú. Trong Định luật Một, chúng ta thấy ba ý tưởng chính xuất hiện:

First of all, that the Eternal Pilgrim, of his own free will and accord, chose “occultly” to die and took a body or series of bodies in order to raise or elevate the lives of the form nature which he embodied. In the process of so doing, he himself “died”, in the sense that, for a free soul, death and the taking of a form and the consequent immersion of the life in the form, are synonymous terms.

Trước hết, Đấng Hành Hương Vĩnh Cửu, bằng chính ý chí tự do và sự tự nguyện của mình, đã chọn “một cách huyền bí” để chết và nhận lấy một thể hay một chuỗi các thể nhằm nâng cao hay nâng lên các sự sống của bản chất hình tướng mà y đã nhập vào. Trong tiến trình làm như vậy, chính y cũng đã “chết”, theo nghĩa rằng, đối với một linh hồn tự do, cái chết và việc nhận lấy một hình tướng cùng sự chìm đắm tất yếu của sự sống vào trong hình tướng là những thuật ngữ đồng nghĩa.

Secondly, that in so doing, the soul is recapitulating on a small scale what the solar Logos and the planetary Logos have likewise done, and are doing. These great Lives come under the rule of the laws of the soul during the period of manifestations, even though they are not governed or controlled by the laws of the natural world, as we call it. Their consciousness remains unidentified with the world of phenomena, though ours is identified with it until such time that we come under the rule of the higher laws. By the occult “death” of these great Lives, all lesser lives can live and are proffered opportunity.

Thứ hai, khi làm như vậy, linh hồn đang lặp lại ở quy mô nhỏ điều mà Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng đã làm, và đang làm. Những Sự sống vĩ đại này chịu dưới sự cai quản của các định luật của linh hồn trong thời kỳ biểu hiện, dù Các Ngài không bị chi phối hay kiểm soát bởi các định luật của thế giới tự nhiên, như chúng ta gọi nó. Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hoá với thế giới hiện tượng, trong khi tâm thức của chúng ta đồng hoá với nó cho đến khi chúng ta chịu dưới sự cai quản của các định luật cao hơn. Bằng cái “chết” huyền bí của những Sự sống vĩ đại này, mọi sự sống nhỏ hơn có thể sống và được trao cơ hội.

[173]

[173]

Thirdly, that through death, a great at-one-ing process is carried forward. In the “fall of a leaf” and its consequent identification with the soil on which it falls, we have a tiny illustration of this great and eternal process of at-one-ing, through becoming and dying as a result of becoming.

Thứ ba, qua cái chết, một tiến trình hợp nhất lớn lao được xúc tiến. Trong “sự rơi của một chiếc lá” và sự đồng hoá tiếp theo của nó với mảnh đất nơi nó rơi xuống, chúng ta có một minh họa nhỏ bé về tiến trình hợp nhất vĩ đại và vĩnh cửu này, thông qua việc trở thành và chết như là kết quả của việc trở thành.

In Law Two, the sacrificing unit—again freely and by choice—comes under the influence of the method whereby this death is brought about. By the impact of the pairs of opposites and through his being “pendent” ‘twixt the two, he knows the outer darkness as Christ knew it finally at the Crucifixion, where He hung, symbolically pendent ‘twixt heaven and earth, and through the potency of His own inner vibration and magnetism, has drawn and will draw all men to Himself. This is the first great idea emerging. The second emerging idea concerns the balancing of the forces which have been mastered. The symbol of the scales is here appropriate, and, of this truth, the three Crosses on Mount Golgotha are also symbols. Libra governs this law, and certain forces from that constellation can be sensed when the soul consciousness comes under the influence of the law. These forces are quiescent where the personality is concerned; their effect does not register, even though necessarily present.

Trong Định luật Hai, đơn vị hi sinh—một lần nữa, một cách tự do và do lựa chọn—chịu dưới ảnh hưởng của phương pháp nhờ đó cái chết này được mang lại. Bởi tác động của các cặp đối đãi và qua việc y bị “treo lơ lửng” giữa hai bên, y biết bóng tối bên ngoài như Đức Christ cuối cùng đã biết tại cuộc Đóng Đinh, nơi Ngài treo, một cách biểu tượng, lơ lửng giữa trời và đất, và nhờ quyền năng của rung động và từ điện nội tại của chính Ngài, đã lôi kéo và sẽ lôi kéo mọi người đến với Ngài. Đây là ý tưởng lớn đầu tiên xuất hiện. Ý tưởng thứ hai xuất hiện liên quan đến sự quân bình của các mãnh lực đã được làm chủ. Biểu tượng cái cân ở đây là thích hợp, và ba Thập Giá trên Núi Golgotha cũng là những biểu tượng của chân lý này. Thiên Bình cai quản định luật này, và một số mãnh lực từ chòm sao ấy có thể được cảm nhận khi tâm thức linh hồn chịu dưới ảnh hưởng của định luật. Những mãnh lực này ở trạng thái tĩnh đối với phàm ngã; hiệu quả của chúng không được ghi nhận, dù tất yếu hiện diện.

In Law Three, the sacrificing God and the God of the dualities come under certain influences which produce more easily recognised effects. By his death and by his victory over the pairs of opposites, the disciple becomes so magnetic and vibrant, that he serves the race by becoming what he knows he is. Immersed, physically, from the angle of the personality, in the waters of earthly existence, yet at the same time he is aware—in consciousness—of other conditions, of his essential purpose in dying for other lives, and aware also of the method which he must employ in achieving and attaining the releasing equilibrium. When these ideas are dominant in the mind, [174] he can serve his fellow men. These laws have this effect only as they emerge in the consciousness of the man who is building the antaskarana and who is proceeding with the Science of Union.

Trong Định luật Ba, Thượng đế hi sinh và Thượng đế của các nhị nguyên tính chịu dưới những ảnh hưởng nhất định tạo ra các hiệu quả dễ nhận biết hơn. Bằng cái chết của mình và bằng chiến thắng của mình trên các cặp đối đãi, đệ tử trở nên từ tính và rung động đến mức y phụng sự nhân loại bằng cách trở thành điều y biết mình là. Chìm đắm, về mặt thể xác, từ góc độ của phàm ngã, trong những dòng nước của sự tồn tại trần thế, nhưng đồng thời y vẫn ý thức—trong tâm thức—về những điều kiện khác, về mục đích cốt yếu của mình trong việc chết vì những sự sống khác, và cũng ý thức về phương pháp mà y phải sử dụng để đạt được và thành tựu sự quân bình giải thoát. Khi những ý tưởng này chi phối trí tuệ, [174] y có thể phụng sự những người đồng loại của mình. Những định luật này chỉ có hiệu quả như thế khi chúng xuất hiện trong tâm thức của con người đang xây dựng antaskarana và đang tiến hành Khoa Học Hợp Nhất.

It is when the fourth Law of Repulse is beginning to produce its effects that the disciple becomes aware of the Angel with the Flaming Sword, Who stands before the portal of initiation. By this portent, he knows that he can now enter; but, this time, not as a poor blind candidate, but as an initiate in the mysteries of the world. The truth of this has been summed up for us in an ancient chant which used to be sung in the ante-chamber of the Temples. Some of the words may be roughly expressed as follows:

Chính khi Định luật thứ tư của Định luật Đẩy Lùi bắt đầu tạo ra các hiệu quả của nó thì đệ tử trở nên ý thức về Thiên Thần với Thanh Gươm Rực Lửa, Đấng đứng trước cổng điểm đạo. Bởi điềm báo này, y biết rằng giờ đây y có thể bước vào; nhưng lần này, không phải như một ứng viên nghèo nàn mù lòa, mà như một điểm đạo đồ trong các huyền nhiệm của thế giới. Chân lý này đã được tóm lược cho chúng ta trong một bài tụng cổ xưa từng được hát trong tiền sảnh của các Đền Thờ. Một số lời có thể được diễn đạt đại khái như sau:

“He enters free, he who has known the prison walls. He passes into light with open eyes, he who for aeons long has groped the darkened corridor. He passes on his way, he who has stood for ages before a fast closed door.

“Y bước vào tự do, y là người đã biết những bức tường nhà tù. Y đi vào ánh sáng với đôi mắt mở, y là người trong những đại kiếp dài lâu đã lần mò trong hành lang tối tăm. Y tiếp tục trên đường mình, y là người đã đứng trong bao thời đại trước một cánh cửa đóng chặt.

He speaks with power the Word which opens wide the Gate of Life. He stands before the Angel and takes away his sword, releasing thus the Angel unto a higher task. He himself guards the doorway into the Holy Place.

Y nói với quyền năng Linh từ mở rộng Cổng của Sự Sống. Y đứng trước Thiên Thần và lấy đi thanh gươm của vị ấy, nhờ đó giải thoát Thiên Thần cho một nhiệm vụ cao hơn. Chính y canh giữ lối vào Nơi Thánh.

He died. He entered the strife. He learnt the way of service. He stands before the door.”

Y đã chết. Y đã bước vào cuộc đấu tranh. Y đã học con đường phụng sự. Y đứng trước cánh cửa.”

End of LOTSWC 21, EP II p. 174

End of LOTSWC 21, EP II p. 174

Beginning of LOTSWC 22, EP II p. 174 with the Law of Group Progress

Beginning of LOTSWC 22, EP II p. 174 with the Law of Group Progress

5. The Law of Group Progress—Định luật Tiến Bộ Nhóm

No

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

5.

The Law of Group Progress.

The law of Elevation.

The Mountain and the Goat

Progressive Energy Seventh Ray. Factor of Evolution

5.

Định Luật Tiến Bộ Nhóm.

Định luật Nâng Lên.

Ngọn Núi và Con Dê

Năng Lượng Tiến Bộ Cung Bảy. Yếu Tố Tiến Hóa

This law begins to function and to be registered in the personal consciousness when the aspirant has achieved certain definite realisations, and knows certain ideals as facts in his experience. These might be listed in a very simple way [175] and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path. It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant’s consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. This statement contains the very essence of the esoteric knowledge. The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realise it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. They are the A.B.C. of esotericism and through them, and only through them, shall we arrive at the words and sentences which are, in their turn, the essential key to the highest knowledge.

Định luật này bắt đầu hoạt động và được ghi nhận trong tâm thức cá nhân khi người chí nguyện đã đạt được một số chứng nghiệm xác định, và biết một số lý tưởng như những sự kiện trong kinh nghiệm của mình. Những điều này có thể được liệt kê theo một cách rất đơn giản [175] và khi ấy sẽ gợi lên nơi đạo sinh hời hợt thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị. Tuy nhiên, sẽ là điều tốt nếu chúng ta có thể nắm bắt rõ ràng sự kiện này, rằng sự phát biểu đơn giản về các đòi hỏi và việc đạt được chúng trong tâm thức của người chí nguyện chứng tỏ, như những phản ứng bên ngoài và được che giấu của trí tuệ y, đối với một số chân lý vũ trụ huyền bí sâu xa. Phát biểu này chứa đựng chính tinh túy của tri thức huyền bí. Những công thức hoàn toàn thông thường về đời sống yêu thương và về sự hi sinh bản thân hằng ngày theo bản năng bị thiệt thòi vì quá quen thuộc một cách sống động và tuy vậy—nếu chúng ta chỉ có thể chứng nghiệm điều đó—chúng chỉ ở nơi rìa ngoài của những chân lý sâu xa nhất của thế giới. Chúng là A.B.C. của huyền bí học và qua chúng, và chỉ qua chúng, chúng ta mới đi đến được những từ ngữ và câu văn vốn, đến lượt chúng, là chiếc chìa khóa cốt yếu của tri thức cao nhất.

A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God.

Một ví dụ ngắn sẽ giúp minh họa điều này, và rồi chúng ta có thể xem xét một số sự kiện đơn giản cho thấy người chí nguyện đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn và đã sẵn sàng cho đời sống hữu thức trong Thiên Giới.

The disciple in training for these higher realisations is urged to practice the faculty of discrimination. You have been so urged. The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites. Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognised evil (so-called) and recognised good, but concerns the more subtle pairs of opposites such as right and wrong silences, right and wrong speech, right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle and is—for the bulk of the aspirants in the world today—still a meaningless objective. This type of discrimination [176] is not even being evoked. It is that which must he shown in relation to the following subtle contacts:

Đệ tử đang được huấn luyện cho những chứng nghiệm cao hơn này được thúc giục thực hành năng lực phân biện. Các bạn đã được thúc giục như thế. Cách giải thích ban đầu và bình thường cùng hiệu quả trực tiếp của sự thực hành là dạy đệ tử phân biệt giữa các cặp đối đãi. Tuy nhiên, cũng như đệ tử trong giai đoạn huấn luyện ban đầu của mình khám phá rằng tiến trình phân biện không liên quan gì đến sự lựa chọn giữa điều ác được thừa nhận (cái gọi là như thế) và điều thiện được thừa nhận, mà liên quan đến những cặp đối đãi tinh tế hơn như im lặng đúng và sai, lời nói đúng và sai, sự thấu hiểu đúng và điềm nhiên đúng cùng các đối cực của chúng, thì con người đang đáp ứng với những định luật cao hơn này cũng khám phá rằng sự phân biện phải được biểu lộ lại còn tinh tế hơn nữa và—đối với phần lớn những người chí nguyện trên thế giới ngày nay—vẫn là một mục tiêu vô nghĩa. Loại phân biện này [176] thậm chí còn chưa được gợi lên. Đó là điều phải được biểu lộ liên quan đến những tiếp xúc tinh tế sau đây:

1. The vibration of the soul itself.

1. Rung động của chính linh hồn.

2. The vibration of the inner group with which he is, even if unconsciously, affiliated.

2. Rung động của nhóm nội tại mà y, dù vô thức, vẫn liên kết.

3. The vibration of the Master as the focal point of the group.

3. Rung động của Chân sư như tiêu điểm của nhóm.

4. His ray vibration, as sensed via his soul and the Master.

4. Rung động cung của y, như được cảm nhận qua linh hồn và Chân sư của y.

5. The vibration resulting from the interplay between his soul and his personality.

5. Rung động phát sinh từ sự tương tác giữa linh hồn và phàm ngã của y.

6. The three different vibrations of his vital body, his emotional body and the mind.

6. Ba rung động khác nhau của thể sinh lực/thể dĩ thái, thể cảm dục và trí tuệ của y.

7. The vibration of the groups or the group with which he must work upon the outer plane.

7. Rung động của các nhóm hay nhóm mà y phải làm việc cùng trên cõi bên ngoài.

8. The soul vibration of other people whom he contacts.

8. Rung động linh hồn của những người khác mà y tiếp xúc.

9. The vibration of such a group as the New Group of World Servers.

9. Rung động của một nhóm như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

These are only some instances of the type of discriminations which are required. These he will learn to distinguish instinctively when he is further developed. I would like to remind you that it is when we try to discriminate entirely mentally that the problem seems insuperable. When the rule of the soul and the recognition of the soul have been firmly established, these different recognitions become instinctual reactions. Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul—the higher correspondence to the instinctual life of the human body. In the above paragraphs we have a simple summary of some of the deeper significances of the simple injunction: “Learn to discriminate.” How much have we truly understood this injunction? Intellectually, the mind may give assent. Practically, the words frequently mean nothing. Do they signify to us the power of the soul to separate vibrations into differing categories? Yet we are told [177] that the soul knows naught of separation! Such are some of the paradoxes of esotericism to the uninitiate.

Đây chỉ là một vài ví dụ về loại phân biện được đòi hỏi. Y sẽ học cách phân biệt chúng theo bản năng khi y phát triển hơn nữa. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính khi chúng ta cố gắng phân biện hoàn toàn bằng trí tuệ thì vấn đề dường như không thể vượt qua. Khi sự cai quản của linh hồn và sự nhận biết linh hồn đã được thiết lập vững chắc, những sự nhận biết khác nhau này trở thành những phản ứng theo bản năng. Đáp ứng trực giác là tên chúng ta đặt cho đời sống bản năng của linh hồn—sự tương ứng cao hơn với đời sống bản năng của thể xác con người. Trong các đoạn trên, chúng ta có một bản tóm lược đơn giản về một số thâm nghĩa sâu xa hơn của lời huấn thị đơn giản: “Hãy học phân biện.” Chúng ta đã thực sự thấu hiểu lời huấn thị này đến mức nào? Về mặt trí tuệ, trí tuệ có thể đồng ý. Về mặt thực tiễn, những lời ấy thường chẳng có nghĩa gì. Chúng có hàm ý đối với chúng ta quyền năng của linh hồn trong việc tách các rung động thành những loại khác nhau chăng? Tuy nhiên, chúng ta được bảo [177] rằng linh hồn không biết gì về sự tách biệt! Đó là một vài nghịch lý của huyền bí học đối với người chưa được điểm đạo.

The Law of Group Progress can only begin to have a conscious effect in the life of the disciple who has been pledged and accepted. When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well recognised group lines, and when he is definitely and in understanding consciousness preparing himself for the expansions of initiation, then this law begins to sway him and he learns to obey it instinctively, intuitively and intellectually. It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. The previous sentence is so worded because it is important that all should grasp the self-initiated necessity of initiation. Do we understand this importance? Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated. Let us not forget their esoteric and unseen significances.

Định luật Tiến Bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu có một hiệu quả hữu thức trong đời sống của đệ tử đã được cam kết và chấp nhận. Khi y đã thiết lập được một số nhịp điệu nhất định, khi y đang làm việc hữu hiệu theo một số đường lối nhóm được thừa nhận rõ ràng, và khi y đang dứt khoát và trong tâm thức thấu hiểu chuẩn bị cho những sự mở rộng của điểm đạo, thì định luật này bắt đầu chi phối y và y học cách tuân phục nó theo bản năng, trực giác và trí tuệ. Chính nhờ tuân phục định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được đệ tử khởi sự. Câu trước được diễn đạt như thế vì điều quan trọng là mọi người phải nắm bắt được tính tất yếu do chính mình khởi xướng của điểm đạo. Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này không? Một số hiệu quả đã được nhắc đến trước đây trong phần thảo luận ban đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây. Chúng ta đừng quên những thâm nghĩa huyền bí và vô hình của chúng.

1. The disciple will then learn effectively to decentralise himself. This means that

1. Khi ấy đệ tử sẽ học cách phi tập trung vào bản thân một cách hữu hiệu. Điều này có nghĩa là

a. He will ask nothing for the separated self. One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher Self, and to foreswear all claims of this separated self. One can see also why so many react against it. They are not ready for it, and such a pledge therefore acts as a great discriminating agent. To those for whom the standard of selflessness is set too high, it is neither understood nor desired. Therefore the unready criticise it. Later these will come back and with understanding take this obligation in the light.

a. Y sẽ không đòi hỏi gì cho bản ngã tách biệt. Do đó người ta có thể dễ dàng thấy tại sao những người chí nguyện được dạy phải cam kết trung thành với Bản Ngã Cao Siêu của mình, và từ bỏ mọi đòi hỏi của bản ngã tách biệt này. Người ta cũng có thể thấy tại sao rất nhiều người phản ứng chống lại điều đó. Họ chưa sẵn sàng cho nó, và vì thế một lời cam kết như vậy hoạt động như một tác nhân phân biện lớn lao. Đối với những ai mà tiêu chuẩn vô ngã được đặt ra quá cao, nó không được thấu hiểu cũng không được mong muốn. Vì vậy người chưa sẵn sàng chỉ trích nó. Sau này họ sẽ quay lại và với sự thấu hiểu sẽ nhận lấy nghĩa vụ này trong ánh sáng.

b. His eyes are towards the light and not towards desire for contact with the Master. This, therefore, rules out that spiritual selfishness which has been expressed [178] by the desire, innate and deep, for recognition by one of the Great Ones. When this freedom from the personal is found, then the Master can dare to make a contact and to establish a relation with the disciple. It would be well for us to ponder on this.

b. Mắt y hướng về ánh sáng chứ không hướng về ham muốn tiếp xúc với Chân sư. Do đó, điều này loại trừ sự ích kỷ tinh thần đã được biểu lộ [178] qua ham muốn bẩm sinh và sâu xa được một trong Các Đấng Cao Cả công nhận. Khi sự giải thoát khỏi cái cá nhân này được tìm thấy, khi ấy Chân sư mới có thể dám tạo ra một tiếp xúc và thiết lập một mối liên hệ với đệ tử. Sẽ là điều tốt nếu chúng ta suy ngẫm về điều này.

2. He will have learnt to serve instinctively. He may, and usually does, need to learn to discriminate in his service; but his attitude to life and toward all men is a divine rushing forth to aid, to lift, to love and to succour.

2. Y sẽ học được cách phụng sự theo bản năng. Y có thể, và thường là, cần học cách phân biện trong sự phụng sự của mình; nhưng thái độ của y đối với cuộc sống và đối với mọi người là một sự tuôn đổ thiêng liêng nhằm trợ giúp, nâng đỡ, yêu thương và cứu giúp.

3. He will have learnt to use the mind in two directions, increasingly and at will, and instantaneously:

3. Y sẽ học được cách sử dụng trí tuệ theo hai hướng, ngày càng nhiều hơn, theo ý muốn, và tức khắc:

a. He can cast the search-light of the mind into the world of the soul, and know and recognise those truths which must, for him, become his experienced knowledge.

a. Y có thể phóng đèn pha của trí tuệ vào thế giới của linh hồn, và biết và nhận ra những chân lý mà đối với y phải trở thành tri thức do kinh nghiệm của mình.

b. He can also cast it into the world of illusion and dispel the glamours of the personal. When he can do that, then he begins to dispel the world glamours for he is nearing initiation.

b. Y cũng có thể phóng nó vào thế giới của ảo tưởng và làm tiêu tan những ảo cảm của cái cá nhân. Khi y có thể làm được điều đó, thì y bắt đầu làm tiêu tan những ảo cảm của thế giới vì y đang tiến gần điểm đạo.

It would be possible to go on listing the various developments which indicate to the onlooking Hierarchy that a disciple, or a group of disciples, are now ready for “more light.” The major indication is, however, their reaction to the Law of Group Progress. It is this Law which is the coming new law to be sensed by the world disciples and which is already becoming more effective in its potency, even though this will not be realised by humanity for a long while yet. It will bring into activity the work of the world groups. In the past, groups have been formed for mutual benefit, for mutual interest and study, for mutual strengthening. This has been [179] their glory, and also their curse, for great and good though their motives may have been, yet these groups have been basically and primarily selfish, with a form of spiritual selfishness most difficult to overcome, and calling for the expression of the true discrimination to which I have earlier referred. Such groups have ever been battlegrounds wherein the least able and the least integrated have been absorbed and standardised or regimented, and the most powerful have dominated eventually, and the indefinite ones have been eliminated and rendered totally quiescent. The successful group has eventually turned out to be one composed of kindred souls who are all thinking alike, because no one thinks with intuition, but who are governed by some school of thought, or because some central figure in the group dominates all the rest, hypnotising them into an instinctual, quiescent, static condition. This may be to the glory of the teacher and of the group, but it certainly is not to the glory of God.

Có thể tiếp tục liệt kê nhiều sự phát triển khác nhau cho thấy với Thánh Đoàn đang quan sát rằng một đệ tử, hay một nhóm đệ tử, nay đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn.” Tuy nhiên, dấu hiệu chính yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến Bộ Nhóm. Chính Định luật này là định luật mới sắp đến mà các đệ tử thế gian sẽ cảm nhận được, và định luật ấy đã đang trở nên hữu hiệu hơn trong mãnh lực của nó, dù nhân loại còn lâu nữa mới chứng nghiệm được điều này. Nó sẽ đưa công việc của các nhóm thế gian vào hoạt động. Trong quá khứ, các nhóm đã được hình thành vì lợi ích hỗ tương, vì mối quan tâm và học hỏi hỗ tương, vì sự tăng cường hỗ tương. Điều này đã là [179] vinh quang của họ, và cũng là lời nguyền của họ, vì tuy động cơ của họ có thể lớn lao và tốt đẹp đến đâu, các nhóm ấy về căn bản và chủ yếu vẫn ích kỷ, với một dạng ích kỷ tinh thần rất khó vượt qua, và đòi hỏi sự biểu lộ của năng lực phân biện chân chính mà tôi đã nói đến trước đây. Những nhóm như thế luôn luôn là chiến trường, nơi những người kém khả năng nhất và ít tích hợp nhất bị hấp thu và tiêu chuẩn hóa hoặc bị điều động theo khuôn phép, còn những người mạnh nhất cuối cùng thống trị, và những người thiếu xác định thì bị loại bỏ và trở nên hoàn toàn bất động. Nhóm thành công cuối cùng hóa ra là một nhóm gồm những linh hồn đồng điệu, tất cả đều suy nghĩ giống nhau, vì không ai suy nghĩ bằng trực giác, nhưng đều bị chi phối bởi một trường phái tư tưởng nào đó, hoặc vì một nhân vật trung tâm nào đó trong nhóm thống trị tất cả những người còn lại, thôi miên họ vào một trạng thái bản năng, tĩnh lặng, bất động. Điều này có thể là vinh quang cho huấn sư và cho nhóm, nhưng chắc chắn không phải là vinh quang cho Thượng đế.

End of LOTSWC 22, EP II p. 179

End of LOTSWC 22, EP II p. 179

Beginning with LOTSWC 23, EP II p. 179

Beginning with LOTSWC 23, EP II p. 179

Today the new groups are slowly and gradually coming into being and being governed by these soul laws. They will, therefore, strike a different note and produce groups which are welded together by a united aspiration and objective. Yet they will be constituted of free souls, individual and developed, who recognise no authority but that of their own souls, and submerge their interests to the soul purpose of the group as a whole. Just as the achievement of an individual has, down the ages, served to raise the race, so a paralleling achievement in group formation will tend to raise humanity still more rapidly. Hence this law is called that of Elevation.

Ngày nay, các nhóm mới đang chậm rãi và dần dần xuất hiện và được chi phối bởi các định luật linh hồn này. Vì vậy, họ sẽ xướng lên một âm điệu khác và tạo ra những nhóm được hàn gắn với nhau bởi một khát vọng và mục tiêu hợp nhất. Tuy nhiên, họ sẽ được cấu thành bởi những linh hồn tự do, cá biệt và đã phát triển, không thừa nhận quyền uy nào ngoài quyền uy của chính linh hồn mình, và dìm lợi ích riêng của mình vào mục đích linh hồn của toàn nhóm. Cũng như thành tựu của một cá nhân, qua các thời đại, đã giúp nâng cao nhân loại, thì một thành tựu song hành trong việc hình thành nhóm sẽ có khuynh hướng nâng nhân loại lên nhanh hơn nữa. Do đó định luật này được gọi là định luật Nâng Cao.

The time has now come when this method of raising the race can begin to be tried. Those who have entered upon the Path of Probation have attempted to raise humanity and have failed. Those who have passed upon the Path of Discipleship have also tried and failed. Those who have themselves [180] mastered circumstance and the illusion of death, and have consequently been raised unto life, can now attempt the task in united formation. They will succeed. The word has gone forth with the request for this united activity, and the urge to bend every effort to raise the dead body of humanity. A great and possible achievement of the Lodge of Masters is now imminent and all aspirants and all disciples can be swung into a synthetic recognition of power and of opportunity.

Nay đã đến lúc phương pháp nâng cao nhân loại này có thể bắt đầu được thử nghiệm. Những ai đã bước vào Con Đường Dự Bị đã cố gắng nâng cao nhân loại và đã thất bại. Những ai đã đi qua Con Đường Đệ Tử cũng đã thử và thất bại. Những ai tự mình đã [180] làm chủ hoàn cảnh và ảo tưởng về cái chết, và do đó đã được nâng lên sự sống, nay có thể thử đảm nhận nhiệm vụ này trong đội hình hợp nhất. Họ sẽ thành công. Linh từ đã được phát ra với lời yêu cầu về hoạt động hợp nhất này, và với sự thôi thúc dốc mọi nỗ lực để nâng thân thể chết của nhân loại lên. Một thành tựu lớn lao và khả hữu của Thánh đoàn các Chân sư nay đang cận kề, và mọi người chí nguyện cùng mọi đệ tử đều có thể được cuốn vào một sự nhận biết tổng hợp về quyền năng và cơ hội.

It is for this end that the teaching anent the New Group of World Servers was given out broadcast. This is the first attempt to form a group which would work as a group and attempt a world task. They can act as an intermediate group between the world of men and the Hierarchy. They stand between what is occultly called the “dead Master” and the “living Masters.” Masons will understand what is here described. The true esotericist will also see the same truth from another angle.

Chính vì mục đích này mà giáo huấn liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được phổ biến rộng rãi. Đây là nỗ lực đầu tiên nhằm hình thành một nhóm có thể hoạt động như một nhóm và cố gắng đảm nhận một nhiệm vụ thế giới. Họ có thể hành động như một nhóm trung gian giữa thế giới loài người và Thánh Đoàn. Họ đứng giữa điều mà huyền bí học gọi là “vị Chân sư đã chết” và “các Chân sư đang sống.” Những người Tam Điểm sẽ hiểu điều đang được mô tả ở đây. Nhà huyền bí học chân chính cũng sẽ thấy cùng một chân lý ấy từ một góc độ khác.

I would like here to give you some thoughts anent the new groups which come into functioning activity under the Law of Group Progress. It must be constantly remembered, as one considers these coming new groups, that they are primarily an experiment in Group Activity, and are not formed for the purpose of perfecting the individual member in any group. This is a fundamental and essential statement, if the objectives are rightly to be understood. In these groups the members supplement and fortify each other, and, in the aggregate of their qualities and capacities, they should eventually provide groups capable of useful spiritual expression, and through which spiritual energy can flow, unimpeded, for the helping of humanity. The work to be done is very largely upon mental levels. The spheres of daily service of the individual members of the new groups remain as their destiny and inner urge indicates upon the physical plane; but—to the differing [181] fields of individual effort — there will be added (and this is the point of importance) a group activity which will be a joint and united service. Each person in such groups has to learn to work in a close mental and spiritual cooperation with all the others, and this takes time, given the present point of evolutionary development of the world aspirants. Each has to pour forth love on all, and this is not easy. Each has to learn to subordinate his own personality ideas and his personal growth to the group requirements, for at present some will have to hasten their progress in certain directions, and some must slow it down as a service to the others. This process will take place automatically as the group identity and integration becomes the dominant thought in the group consciousness, and the desire for personal growth and spiritual satisfaction is relegated to a secondary place.

Ở đây tôi muốn đưa ra cho các bạn vài tư tưởng liên quan đến các nhóm mới đang đi vào hoạt động chức năng dưới Định luật Tiến Bộ Nhóm. Phải luôn luôn ghi nhớ, khi xem xét các nhóm mới sắp đến này, rằng trước hết chúng là một thử nghiệm về Hoạt Động Nhóm, chứ không được hình thành nhằm mục đích hoàn thiện cá nhân thành viên trong bất kỳ nhóm nào. Đây là một phát biểu nền tảng và thiết yếu, nếu các mục tiêu được thấu hiểu đúng đắn. Trong các nhóm này, các thành viên bổ sung và củng cố lẫn nhau, và trong tổng thể các phẩm tính và năng lực của họ, cuối cùng họ phải cung cấp những nhóm có khả năng biểu lộ tinh thần hữu ích, và qua đó năng lượng tinh thần có thể tuôn chảy không bị ngăn trở để trợ giúp nhân loại. Công việc phải làm phần lớn ở các cấp độ trí tuệ. Các lĩnh vực phụng sự hằng ngày của từng thành viên trong các nhóm mới vẫn tùy theo định mệnh và sự thôi thúc bên trong của họ chỉ ra trên cõi hồng trần; nhưng—vào các [181] lĩnh vực nỗ lực cá nhân khác nhau—sẽ được thêm vào (và đây là điểm quan trọng) một hoạt động nhóm, là một sự phụng sự chung và hợp nhất. Mỗi người trong các nhóm như thế phải học cách làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ về trí tuệ và tinh thần với tất cả những người khác, và điều này cần thời gian, xét theo điểm tiến hoá hiện nay của những người chí nguyện thế gian. Mỗi người phải tuôn đổ tình thương lên tất cả, và điều này không dễ. Mỗi người phải học cách đặt các ý tưởng phàm ngã của riêng mình và sự tăng trưởng cá nhân của mình xuống dưới các đòi hỏi của nhóm, vì hiện nay một số người sẽ phải đẩy nhanh tiến bộ của mình theo vài hướng nào đó, còn một số khác phải làm chậm lại như một sự phụng sự đối với những người khác. Tiến trình này sẽ diễn ra một cách tự động khi bản sắc nhóm và sự tích hợp nhóm trở thành tư tưởng chi phối trong tâm thức nhóm, và khi ước muốn tăng trưởng cá nhân cùng sự thỏa mãn tinh thần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.

This contemplated group unity will have its roots in group meditation, or in the contemplative life (in which the soul knows itself to be one with all souls). This in its turn will work out in some form of group activity which will constitute the distinguishing contribution of any particular group to the raising of the human race esoterically. Within the group life, the individual will not be dealt with as such by those who seek to train, teach and weld the group into an instrument for service. Each person will be regarded as a transmitter of the type of energy which is the predominant energy in any ray type, either egoic or personality rays. Each can in time learn to transmit the quality of his soul ray to the group, stimulating his brothers to greater courage, clearer vision, finer purity of motive, and deeper love, and yet avoid the danger of vitalising his personality characteristics. This is the major difficulty. To do this effectively and correctly, we must all learn to think of each other as souls, and not as human beings.

Sự hợp nhất nhóm được dự kiến này sẽ có gốc rễ trong tham thiền nhóm, hay trong đời sống chiêm ngưỡng (trong đó linh hồn biết mình là một với mọi linh hồn). Đến lượt nó, điều này sẽ được biểu lộ trong một hình thức hoạt động nhóm nào đó, hình thức ấy sẽ tạo nên đóng góp đặc trưng của bất kỳ nhóm riêng biệt nào vào việc nâng cao nhân loại một cách huyền bí. Trong đời sống nhóm, cá nhân sẽ không được những người tìm cách huấn luyện, dạy dỗ và hàn gắn nhóm thành một công cụ phụng sự đối xử như một cá nhân riêng lẻ. Mỗi người sẽ được xem như một kênh truyền dẫn loại năng lượng là năng lượng trội trong bất kỳ loại cung nào, hoặc là các cung chân ngã hoặc các cung phàm ngã. Theo thời gian, mỗi người có thể học cách truyền phẩm tính của cung linh hồn mình vào nhóm, kích thích các huynh đệ của mình đến lòng can đảm lớn hơn, tầm nhìn sáng tỏ hơn, động cơ thanh khiết hơn, và tình thương sâu sắc hơn, nhưng vẫn tránh được nguy cơ tiếp sinh lực cho các đặc tính phàm ngã của mình. Đây là khó khăn chủ yếu. Để làm được điều này một cách hữu hiệu và đúng đắn, tất cả chúng ta phải học cách nghĩ về nhau như những linh hồn, chứ không phải như những con người.

[182]

[182]

Therefore, as a preliminary statement, we have the following objectives in the group work of the New Age, as they make their tentative beginnings at this time. The later and more esoteric objectives will emerge as the earlier ones are reached:

Vì vậy, như một phát biểu sơ bộ, chúng ta có các mục tiêu sau đây trong công việc nhóm của Kỷ Nguyên Mới, khi chúng bắt đầu những bước khởi đầu còn dè dặt vào lúc này. Những mục tiêu về sau và huyền bí hơn sẽ xuất hiện khi các mục tiêu ban đầu được đạt tới:

1. Group Unity. This must be achieved through the practice of love, which is part of the practice of the Presence of God, through the subordination of the personality life to the group life, and constant, loving, living service.

1. Hợp Nhất Nhóm. Điều này phải được đạt tới qua việc thực hành tình thương, vốn là một phần của việc thực hành sự Hiện Diện của Thượng đế, qua việc đặt đời sống phàm ngã xuống dưới đời sống nhóm, và qua sự phụng sự sống động, đầy tình thương, không ngừng.

2. Group Meditation. These groups will eventually be grounded in the kingdom of souls, and the work done will be motivated and carried forward from the higher mental levels in the demonstration of the contemplative life. This involves the dual activity of the life of the disciple, wherein he functions consciously both as a personality and as a soul. The life of the personality should be that of intelligent activity; that of the soul is loving contemplation.

2. Tham Thiền Nhóm. Cuối cùng các nhóm này sẽ được đặt nền trên giới các linh hồn, và công việc được thực hiện sẽ được thúc đẩy và tiến hành từ các cấp độ thượng trí trong sự biểu lộ đời sống chiêm ngưỡng. Điều này bao hàm hoạt động kép của đời sống đệ tử, trong đó y hoạt động một cách hữu thức vừa như một phàm ngã vừa như một linh hồn. Đời sống của phàm ngã phải là đời sống của hoạt động thông minh; đời sống của linh hồn là sự chiêm ngưỡng đầy bác ái.

3. Group Activity. Each group will have some distinguishing characteristic and this will be dedicated to some specific form of service.

3. Hoạt Động Nhóm. Mỗi nhóm sẽ có một đặc tính phân biệt nào đó và đặc tính này sẽ được hiến dâng cho một hình thức phụng sự chuyên biệt nào đó.

When the groups are properly established (and the time is imminent) and after they have worked together subjectively for a certain necessary period of time (to be determined by the quality of the life of the individuals composing it, and their selflessness and service) then they will begin to function outwardly and their life aspect will begin to make its presence felt. The various lines of activity will emerge when the group vibration is strong enough to make a definite impact on the consciousness of the race. Therefore, it will be apparent that the first and foremost requirements are group integrity and group cohesion. Nothing can be accomplished [183] without these. The subjective linking of each group member with each, and the emergence of a group consciousness is a vital objective for the next few decades. Thus there will emerge a group circulation or transmission of energy which will be of real value in world salvage. For the individual it should be remembered that purity of body, control of the emotions, and stability of mind are fundamental requirements and should be the goal of the daily practice. Again and again we must come back to these prime character requirements, and tiresome as the reiteration may be, I urge upon you the cultivation of these qualities. Through these groups it may be possible to restore some of the ancient Mysteries, and some of the groups mentioned previously in Letters on Occult Meditation, will be found among the emerging New Age groups.

Khi các nhóm được thiết lập đúng đắn (và thời điểm ấy đang cận kề) và sau khi họ đã cùng làm việc một cách chủ quan trong một thời gian cần thiết nào đó (được quyết định bởi phẩm tính đời sống của các cá nhân cấu thành nhóm, cùng tính vô kỷ và sự phụng sự của họ) thì họ sẽ bắt đầu hoạt động ra bên ngoài và phương diện sự sống của họ sẽ bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Các đường hoạt động khác nhau sẽ xuất hiện khi rung động nhóm đủ mạnh để tạo một tác động rõ rệt lên tâm thức của nhân loại. Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng các đòi hỏi đầu tiên và quan trọng nhất là tính toàn vẹn của nhóm và sự gắn kết của nhóm. Không điều gì có thể được hoàn thành [183] nếu không có những điều này. Sự liên kết chủ quan của từng thành viên nhóm với từng người khác, và sự xuất hiện của một tâm thức nhóm, là một mục tiêu sống còn cho vài thập niên tới. Như thế sẽ xuất hiện một sự lưu chuyển hay truyền dẫn năng lượng của nhóm, điều sẽ có giá trị thực sự trong việc cứu vãn thế giới. Đối với cá nhân, cần ghi nhớ rằng sự thanh khiết của thể, sự kiểm soát cảm xúc, và sự ổn định của trí tuệ là những đòi hỏi nền tảng và phải là mục tiêu của việc thực hành hằng ngày. Hết lần này đến lần khác chúng ta phải quay lại với những đòi hỏi căn bản về tính cách này, và dù sự lặp lại có thể gây mệt mỏi, tôi vẫn thúc giục các bạn vun bồi các phẩm tính ấy. Qua các nhóm này, có thể sẽ phục hồi được một số các Huyền Nhiệm cổ xưa, và một số nhóm đã được nhắc đến trước đây trong Letters on Occult Meditation sẽ được tìm thấy giữa các nhóm Kỷ Nguyên Mới đang xuất hiện.

[End of LOTSWC 23 EP II p. 183

[End of LOTSWC 23 EP II p. 183

Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183

Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183

b. THE CHARACTERISTICS OF THE NEW GROUPS—CÁC ĐẶC TÍNH CỦA NHỮNG NHÓM MỚI

This brief summary will serve to give some of the elementary requirements and, by means of a broad generalisation, to indicate the major reasons why such groups are being formed. We can now perhaps widen our vision a little and at the same time look at the groups in greater detail.

Bản tóm lược ngắn này sẽ giúp nêu ra một số đòi hỏi sơ đẳng và, bằng một sự khái quát rộng, chỉ ra những lý do chính yếu vì sao các nhóm như thế đang được hình thành. Giờ đây có lẽ chúng ta có thể mở rộng tầm nhìn thêm đôi chút và đồng thời xem xét các nhóm ấy chi tiết hơn.

One of the characteristics distinguishing the groups of world servers and knowers, is that the outer organisation, which will hold them integrated, will be so nebulous and fine that, to the outer observation, it will be practically nonexistent. The group will be held together by an inner structure of thought and a close telepathic interrelation. The Great Ones, Whom we all seek to serve, are thus linked, and can at the slightest need and with the least expenditure of force, get into rapport with each other. They are all attuned to a particular vibration, and so must these groups be attuned. There will be thus collected together, people demonstrating [184] the wide difference in nature, who are found on differing rays, who are of varying nationalities, and the product of widely separated environments and heredity. Besides these factors, which immediately attract attention, there will also be found an equal diversity in the life experience of the souls concerned. The complexity of the problem confronting the group members is also tremendously increased when one remembers the long road which each has travelled, and the many factors and characteristics, emerging out of a dim and distant past, which have tended to make each person what he now is. When, therefore, one dwells on the difficulties and the possible barriers to success, the question will arise and rightly so: What makes it possible to establish this group inter-relation? What provides a common meeting ground? The answer to these questions is of paramount importance and necessitates a frank handling.

Một trong những đặc tính phân biệt các nhóm người phụng sự thế gian và thức giả là tổ chức bên ngoài, vốn sẽ giữ họ được tích hợp, sẽ mơ hồ và tinh tế đến mức đối với sự quan sát bên ngoài, nó hầu như không hiện hữu. Nhóm sẽ được giữ lại với nhau bởi một cấu trúc tư tưởng bên trong và một mối tương liên viễn cảm chặt chẽ. Các Đấng Cao Cả, những Đấng mà tất cả chúng ta tìm cách phụng sự, được liên kết như thế, và khi có nhu cầu nhỏ nhất và với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất, Các Ngài có thể đi vào sự giao cảm với nhau. Tất cả Các Ngài đều được chỉnh hợp với một rung động đặc biệt, và các nhóm này cũng phải được chỉnh hợp như vậy. Do đó sẽ được tập hợp lại với nhau những người biểu lộ [184] sự khác biệt rộng lớn về bản chất, thuộc các cung khác nhau, mang các quốc tịch khác nhau, và là sản phẩm của những môi trường và di truyền rất cách biệt. Ngoài các yếu tố ngay lập tức thu hút sự chú ý ấy, còn sẽ thấy có một sự đa dạng tương đương trong kinh nghiệm sống của các linh hồn liên hệ. Tính phức tạp của vấn đề đối diện các thành viên nhóm cũng tăng lên rất nhiều khi người ta nhớ đến con đường dài mà mỗi người đã đi qua, và nhiều yếu tố cùng đặc tính, xuất hiện từ một quá khứ mờ xa, đã có khuynh hướng làm cho mỗi người trở thành như hiện nay. Vì vậy, khi người ta suy xét đến những khó khăn và những rào cản có thể có đối với thành công, câu hỏi sẽ nảy sinh, và hoàn toàn đúng đắn: Điều gì làm cho việc thiết lập mối tương liên nhóm này trở nên khả hữu? Điều gì cung cấp một nền tảng gặp gỡ chung? Câu trả lời cho những câu hỏi này có tầm quan trọng tối thượng và đòi hỏi phải được xử lý một cách thẳng thắn.

We find in the Bible the words: “In Him we live and move and have our being”. This is the statement of a fundamental law in nature, and the enunciated basis of the relation which exists between the unit soul, functioning in a human body, and God. It determines also, in so far as it is realised, the relation between soul and soul. We live in an ocean of energies. We ourselves are congeries of energies, and all these energies are closely interrelated and constitute the one synthetic energy body of our planet.

Chúng ta thấy trong Kinh Thánh những lời: “Trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Đây là phát biểu về một định luật nền tảng trong bản chất, và là cơ sở được tuyên bố của mối liên hệ tồn tại giữa linh hồn đơn vị, đang hoạt động trong một thể người, và Thượng đế. Nó cũng quyết định, trong chừng mực được chứng nghiệm, mối liên hệ giữa linh hồn với linh hồn. Chúng ta sống trong một đại dương năng lượng. Chính chúng ta là những tập hợp năng lượng, và tất cả các năng lượng này liên hệ chặt chẽ với nhau và cấu thành một thể năng lượng tổng hợp duy nhất của hành tinh chúng ta.

It must be carefully borne in mind that the etheric body of every form in nature is an integral part of the substantial form of God Himself—not the dense physical form, but what the esotericists regard as the form-making substance. We use the word “God” to signify the one expression of the One Life which animates every form on the outer objective plane. The etheric or energy body, therefore, of every human being, is an integral part of the etheric body of the planet itself [185] and consequently of the solar system. Through this medium, every human being is basically related to every other expression of the Divine Life, minute or great. The function of the etheric body is to receive energy impulses and to be swept into activity by these impulses or streams of force, emanating from some originating source or other. The etheric body is in reality naught but energy. It is composed of myriads of threads of force or tiny streams of energy, held in relation to the emotional and mental bodies and to the soul by their co-ordinating effect. These streams of energy, in their turn, have an effect on the physical body and swing it into activity of some kind or another, according to the nature and power of whatever type of energy may be dominating the etheric body at any particular time.

Phải cẩn thận ghi nhớ rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng trong bản chất là một phần toàn vẹn của hình tướng chất liệu của chính Thượng đế—không phải hình tướng hồng trần đậm đặc, mà là điều các nhà bí truyền học xem như chất liệu tạo hình. Chúng ta dùng từ “Thượng đế” để biểu thị một biểu lộ duy nhất của Sự Sống Duy Nhất đang linh hoạt hóa mọi hình tướng trên cõi khách quan bên ngoài. Vì vậy, thể dĩ thái hay thể năng lượng của mỗi con người là một phần toàn vẹn của chính thể dĩ thái của hành tinh [185] và do đó của hệ mặt trời. Qua trung gian này, mỗi con người về căn bản có liên hệ với mọi biểu lộ khác của Sự Sống thiêng liêng, nhỏ bé hay vĩ đại. Chức năng của thể dĩ thái là tiếp nhận các xung lực năng lượng và bị cuốn vào hoạt động bởi các xung lực hay các dòng mãnh lực này, phát ra từ một nguồn khởi phát nào đó. Thể dĩ thái thực ra không là gì khác ngoài năng lượng. Nó được cấu thành bởi vô số sợi chỉ mãnh lực hay những dòng năng lượng nhỏ bé, được giữ trong mối liên hệ với thể cảm dục, thể trí và với linh hồn nhờ tác dụng phối hợp của chúng. Đến lượt mình, các dòng năng lượng này tác động lên thể xác và đưa nó vào một loại hoạt động nào đó, tùy theo bản chất và quyền năng của bất kỳ loại năng lượng nào đang chi phối thể dĩ thái vào bất kỳ thời điểm riêng biệt nào.

Through the etheric body, therefore, circulates energy emanating from some mind. With humanity in the mass, response is made unconsciously to the rulings of the Universal Mind; this is complicated in our time and age by a growing responsiveness to the mass ideas—called sometimes public opinion—of the rapidly evolving human mentality. Within the human family are also found those who respond to that inner group of Thinkers, Who, working in mental matter, control from the subjective side of life, the emergence of the great Plan and the manifestation of divine purpose.

Vì vậy, qua thể dĩ thái lưu chuyển năng lượng phát ra từ một trí tuệ nào đó. Với nhân loại nói chung, sự đáp ứng được thực hiện một cách vô thức đối với các chỉ đạo của Vũ Trụ Trí; điều này trong thời đại chúng ta lại càng phức tạp hơn bởi một sự đáp ứng ngày càng tăng đối với các ý tưởng quần chúng—đôi khi được gọi là dư luận—của trí tuệ nhân loại đang tiến hoá nhanh chóng. Trong gia đình nhân loại cũng có những người đáp ứng với nhóm các Đấng Tư Tưởng bên trong ấy, những Đấng, hoạt động trong chất liệu trí tuệ, kiểm soát từ mặt chủ quan của sự sống sự xuất hiện của Thiên Cơ vĩ đại và sự biểu lộ của thiên ý.

This group of Thinkers falls into seven main divisions and is presided over by three great Lives or super-conscious entities. These Three are the Manu, the Christ and the Mahachohan. These three work primarily through the method of influencing the minds of the adepts and initiates. These latter, in Their turn, influence the disciples of the world and these disciples, each in his own place and on his own responsibility, work out their concept of the Plan and seek to give expression to it as far as possible. These disciples have hitherto [186] worked very much alone except when karmic relationships have revealed them to each other and telepathic intercommunication has been fundamentally confined to the Hierarchy of adepts and initiates, both in and out of incarnation, and to Their individual work with Their disciples.

Nhóm các Đấng Tư Tưởng này được chia thành bảy phân bộ chính và được chủ trì bởi ba Sự Sống vĩ đại hay các thực thể siêu hữu thức. Ba Đấng này là Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan. Ba Đấng này hoạt động chủ yếu bằng phương pháp ảnh hưởng lên trí tuệ của các chân sư và các điểm đạo đồ. Đến lượt mình, các vị sau này ảnh hưởng đến các đệ tử của thế gian, và các đệ tử ấy, mỗi người ở vị trí riêng của mình và với trách nhiệm riêng của mình, triển khai quan niệm của mình về Thiên Cơ và tìm cách biểu lộ nó chừng nào có thể. Cho đến nay các đệ tử này [186] đã làm việc phần lớn một mình, ngoại trừ khi các mối liên hệ nghiệp quả làm lộ ra họ với nhau, và sự giao tiếp viễn cảm về căn bản chỉ giới hạn trong Thánh Đoàn các chân sư và các điểm đạo đồ, cả đang lâm phàm lẫn không lâm phàm, và trong công việc riêng của Các Ngài với các đệ tử của mình.

These groups, therefore, which have hitherto worked entirely subjectively, can and will be duplicated externally, and, the new groups will come into being largely as an externalisation—experimental as yet—of the groups which have functioned behind the scenes, motivated from the central group, the Hierarchy of Masters.

Vì vậy, các nhóm này, vốn cho đến nay đã làm việc hoàn toàn một cách chủ quan, có thể và sẽ được sao lại ra bên ngoài, và các nhóm mới sẽ xuất hiện phần lớn như một sự ngoại hiện—hiện vẫn còn có tính thử nghiệm—của các nhóm đã hoạt động phía sau hậu trường, được thúc đẩy từ nhóm trung tâm là Thánh Đoàn các Chân sư.

This experiment is primarily as yet one of group integration and the method whereby it can be developed. The reason why Those on the Inner Side are now experimenting with this group idea is because it is definitely a New Age trend. They are seeking to utilise the increasing bias of the human being towards coherence and integration. It must be remembered, however, and with constancy, that unless there is a subjective coherence, all outer forms must eventually disintegrate or never cohere at all. It is only the subjective links and the subjective work that determines success, and these must (particularly in the new group work) be based on egoic relations and not on personal attachments and predilections. These help where there is at the same time a recognition of the egoic relation. Where that exists, then something can be formed which is immortal and as lasting as the soul itself.

Thử nghiệm này hiện nay trước hết là một thử nghiệm về sự tích hợp nhóm và về phương pháp nhờ đó nó có thể được phát triển. Lý do khiến Những Đấng ở Mặt Bên Trong hiện đang thử nghiệm với ý tưởng nhóm này là vì đó rõ ràng là một xu hướng của Kỷ Nguyên Mới. Các Ngài đang tìm cách sử dụng khuynh hướng ngày càng tăng của con người hướng tới sự gắn kết và tích hợp. Tuy nhiên, phải luôn luôn ghi nhớ rằng nếu không có sự gắn kết chủ quan, mọi hình tướng bên ngoài cuối cùng đều phải tan rã hoặc sẽ không bao giờ gắn kết được. Chỉ có các liên kết chủ quan và công việc chủ quan mới quyết định thành công, và những điều này phải (đặc biệt trong công việc nhóm mới) được đặt trên các mối liên hệ chân ngã chứ không phải trên các gắn bó và thiên hướng cá nhân. Những điều này có ích khi đồng thời có sự nhận biết về mối liên hệ chân ngã. Nơi nào điều đó hiện hữu, thì có thể hình thành một điều gì đó bất tử và bền lâu như chính linh hồn.

One practical point should be made clear. These groups will for some time be what might be called “pattern-groups” and, therefore, must be formed very slowly and with much care. Each person forming part of the new groups will be tested and tried and subjected to much pressure. This will be necessary if the groups are to stand through this transition period of the present. It will not be easy for disciples to form these groups. The methods and techniques will be so different to those of the past. People may evince real desire to participate in the group life and to form part of the group activity, but their real difficulty will consist in bringing their personal life and vibration into conformity with the group life and rhythm. The narrow path which all disciples have to tread (and in the early stages these groups will consist primarily of those on the Probationary Path or the Path of Discipleship) requires obedience to certain instructions which have been handed down to us from the ancient past. These are followed willingly and with the eyes open, but no rigid adherence to the letter of the law is ever asked or expected. Flexibility within certain self-imposed limits is always needed, yet that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning.

Một điểm thực tiễn cần được làm rõ. Trong một thời gian, các nhóm này sẽ là điều có thể gọi là “nhóm mô hình” và vì vậy phải được hình thành rất chậm và hết sức cẩn trọng. Mỗi người tạo thành một phần của các nhóm mới sẽ được kiểm tra, thử thách và chịu nhiều áp lực. Điều này sẽ cần thiết nếu các nhóm phải đứng vững qua giai đoạn chuyển tiếp hiện nay. Sẽ không dễ cho các đệ tử hình thành các nhóm này. Các phương pháp và kỹ thuật sẽ rất khác với quá khứ. Mọi người có thể biểu lộ ước muốn chân thành được tham gia vào đời sống nhóm và trở thành một phần của hoạt động nhóm, nhưng khó khăn thực sự của họ sẽ nằm ở việc đưa đời sống cá nhân và rung động của mình vào sự phù hợp với đời sống và nhịp điệu của nhóm. Con đường hẹp mà mọi đệ tử phải bước đi (và trong các giai đoạn đầu, các nhóm này chủ yếu sẽ gồm những người trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử) đòi hỏi sự tuân theo một số chỉ dẫn đã được truyền lại cho chúng ta từ quá khứ xa xưa. Những điều này được tuân theo một cách tự nguyện và với đôi mắt mở rộng, nhưng không bao giờ đòi hỏi hay mong đợi một sự bám chặt cứng nhắc vào văn tự của định luật. Sự linh hoạt trong những giới hạn tự áp đặt nào đó luôn luôn cần thiết, tuy nhiên sự linh hoạt ấy không được bị khởi động bởi bất kỳ quán tính phàm ngã nào hay bởi sự chất vấn của trí tuệ.

This great group training experiment, now being initiated on earth through a new activity of the Hierarchy, will demonstrate to the watching Guides of the race just how far the disciples and aspirants of the world are ready to submerge their personal interests in group good; how sensitive they are, as a group, to instruction and guidance; how free the channels of communication are between the groups on the outer plane and the Inner Group, and between them also and the masses whom they are expected eventually to reach. A Masters group of disciples, on the inner side of life, forms an integrated organism, characterised by mutual love, life and interplay. The relationships in that group are entirely mental and astral, and hence the limitations of the etheric force body and of the physical brain and dense physical body are not felt. This leads to a greater inner facility in understanding and to a reciprocal interplay. It is wise here to remember that the astral potency is far more strongly felt than on the physical levels, and hence the emphasis laid upon emotional-desire [188] control in all treatises on discipleship and on preparation for that state.

Thử nghiệm lớn lao về huấn luyện nhóm này, hiện đang được khởi sự trên trái đất qua một hoạt động mới của Thánh Đoàn, sẽ chứng minh cho các Đấng Hướng Dẫn đang quan sát nhân loại thấy các đệ tử và người chí nguyện của thế gian sẵn sàng đến mức nào để dìm các lợi ích cá nhân của mình vào thiện ích của nhóm; họ nhạy cảm đến mức nào, với tư cách một nhóm, đối với sự chỉ dạy và hướng dẫn; các kênh giao tiếp giữa các nhóm trên cõi bên ngoài và Nhóm Bên Trong thông suốt đến đâu, và giữa họ với quần chúng mà cuối cùng họ được kỳ vọng sẽ tiếp cận cũng như vậy. Một nhóm đệ tử của một Chân sư, ở mặt bên trong của sự sống, tạo thành một cơ thể tích hợp, được đặc trưng bởi tình thương, sự sống và sự tương tác hỗ tương. Các mối liên hệ trong nhóm ấy hoàn toàn thuộc trí tuệ và cảm dục, và do đó các giới hạn của thể mãnh lực dĩ thái, của bộ não hồng trần và của thể xác đậm đặc không được cảm nhận. Điều này dẫn đến một sự dễ dàng nội tại lớn hơn trong việc thấu hiểu và đến một sự tương tác hỗ tương. Ở đây nên nhớ một cách khôn ngoan rằng tiềm lực cảm dục được cảm nhận mạnh hơn nhiều so với trên các cấp độ hồng trần, và vì thế mới có sự nhấn mạnh đặt trên việc kiểm soát [188] cảm xúc-dục vọng trong mọi luận thuyết về địa vị đệ tử và về sự chuẩn bị cho trạng thái ấy.

Now an effort is being made to see if such a group activity and interplay can be set up on the physical plane, which will consequently include the physical body apparatus and the brain. The difficulties are, therefore, great. What has to be the technique employed in handling this more difficult situation, which is only possible because the work of the Masters’ groups has been so effective? Much may depend upon just how far we will react to this interplay and how much it will mean to us in our lives. This embodies a most practical occult method of work. The astral-physical brain reactions should be regarded as non-existent and allowed to lapse below the threshold of the group consciousness, there to die for lack of attention. The emphasis is held steadily on mental and egoic relations.

Hiện nay đang có một nỗ lực nhằm xem liệu một hoạt động nhóm và sự tương tác như thế có thể được thiết lập trên cõi hồng trần hay không, và do đó sẽ bao gồm bộ máy thể xác và bộ não. Vì vậy, các khó khăn là rất lớn. Kỹ thuật nào phải được sử dụng để xử lý tình huống khó khăn hơn này, vốn chỉ khả hữu vì công việc của các nhóm Chân sư đã hữu hiệu đến thế? Nhiều điều có thể tùy thuộc vào việc chúng ta sẽ đáp ứng đến mức nào với sự tương tác này và nó sẽ có ý nghĩa đến đâu đối với chúng ta trong đời sống. Điều này bao hàm một phương pháp làm việc huyền bí rất thực tiễn. Các phản ứng của bộ não cảm dục-hồng trần phải được xem như không hiện hữu và được để cho lắng xuống dưới ngưỡng của tâm thức nhóm, ở đó chúng sẽ chết đi vì thiếu sự chú ý. Sự nhấn mạnh được giữ vững đều đặn trên các mối liên hệ trí tuệ và chân ngã.

c. THE EXPERIMENTAL NATURE OF THE GROUPS—BẢN CHẤT THỬ NGHIỆM CỦA CÁC NHÓM

I have said that these groups constitute an experiment. This experiment is fourfold in nature and a concise statement about it may clarify conjecture:

Tôi đã nói rằng các nhóm này cấu thành một thử nghiệm. Thử nghiệm này có bản chất tứ phân, và một phát biểu ngắn gọn về nó có thể làm sáng tỏ những phỏng đoán:

I. They are an experiment in founding or starting focal points in the human family through which certain energies can flow out into the entire race of men. These energies are ten in number.

I. Chúng là một thử nghiệm trong việc thiết lập hay khởi tạo các điểm hội tụ trong gia đình nhân loại, qua đó một số năng lượng nhất định có thể tuôn chảy ra toàn thể nhân loại. Các năng lượng này có số lượng là mười.

II. They are an experiment in inaugurating certain new techniques in work and in modes of communication.. It is to be noted that in these last three words is summed up the whole story. These groups are intended to facilitate interrelation or communication as follows:

II. Chúng là một thử nghiệm trong việc khai mở một số kỹ thuật mới trong công việc và trong các phương thức giao tiếp. Cần lưu ý rằng trong ba từ cuối này toàn bộ câu chuyện đã được tóm gọn. Các nhóm này nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho sự tương liên hay giao tiếp như sau:

1. They will be occupied with an endeavor to facilitate communication between individuals so that the rules [189] and methods whereby speech can be transcended may become known and the new way of intercourse be brought about. Eventually communication will be from:

1. Họ sẽ bận tâm với một nỗ lực nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho sự giao tiếp giữa các cá nhân để các quy luật [189] và phương pháp nhờ đó lời nói có thể được vượt qua trở nên được biết đến và phương thức giao tiếp mới được mang lại. Cuối cùng sự giao tiếp sẽ diễn ra từ:

a. Soul to soul, on the higher levels of the mental plane. This involves complete alignment, so that soul-mind-brain are completely at-one.

a. Linh hồn đến linh hồn, trên các cấp độ cao hơn của cõi trí. Điều này bao hàm sự chỉnh hợp hoàn toàn, để linh hồn-trí tuệ-bộ não hoàn toàn là một.

b. Mind to mind, on the lower levels of the mental plane. This involves the complete integration of the personality or lower self, so that mind and brain are at-one.

b. Trí tuệ đến trí tuệ, trên các cấp độ thấp hơn của cõi trí. Điều này bao hàm sự tích hợp hoàn toàn của phàm ngã hay phàm ngã, để trí tuệ và bộ não là một.

Students must remember these two distinctive contacts, and bear in mind also that the greater contact need not necessarily include the lesser. Telepathic communication between the different aspects of the human being is entirely possible at varying stages of unfoldment.

Các đạo sinh phải ghi nhớ hai tiếp xúc phân biệt này, và cũng phải nhớ rằng tiếp xúc lớn hơn không nhất thiết bao gồm tiếp xúc nhỏ hơn. Giao tiếp viễn cảm giữa các phương diện khác nhau của con người hoàn toàn có thể xảy ra ở những giai đoạn khai mở khác nhau.

2. They will work at the establishment of communication between that plane which is the plane of illumination and pure reason (the buddhic plane) and the plane of illusion which is the astral plane. It should be remembered that our great task is to dispel the world illusion through the pouring in of illumination or of light. When enough groups have been started that have this for their objective, there will then be found upon the physical plane, those channels of communication which will act as the mediators between the world of light and the world of illusion. They will be transmitters of that type of energy which will break up the existing maya or illusion and dissipate the ancient thought-forms. They will release the light and peace which will illumine the astral plane and so dispel the illusory nature of its life.

2. Họ sẽ làm việc để thiết lập sự giao tiếp giữa cõi là cõi của sự soi sáng và lý trí thuần túy (cõi Bồ đề) và cõi của ảo tưởng là cõi cảm dục. Cần nhớ rằng nhiệm vụ lớn lao của chúng ta là xua tan ảo tưởng thế gian qua sự tuôn đổ của sự soi sáng hay ánh sáng. Khi đủ số nhóm được khởi lập với mục tiêu này, khi đó trên cõi hồng trần sẽ tìm thấy những kênh giao tiếp đóng vai trò trung gian giữa thế giới ánh sáng và thế giới ảo tưởng. Họ sẽ là những kênh truyền dẫn loại năng lượng sẽ phá vỡ ảo lực hay ảo tưởng hiện hữu và làm tiêu tan các hình tư tưởng cổ xưa. Họ sẽ giải phóng ánh sáng và hòa bình sẽ soi sáng cõi cảm dục và như thế xua tan bản chất ảo tưởng của đời sống nơi đó.

3. Through other groups another type of energy must flow, producing another type of interrelation and communication. These groups will bring about the right healing of the personalities of individuals, in all aspects of their nature. [190] The work intended is the intelligent transmission of energy to various parts of the nature—mental, astral and physical—of the human being, through the right circulation and organisation of force. Healing must eventually be carried forward by groups which act as the intermediaries between the plane of spiritual energy (either soul energy, intuitional energy, or will energy) and the patient or group of patients. This last point is to be noted. The group idea must always be remembered, for this will distinguish the New Age methods from the past; the work will be group work for the group. The members will work as souls and not as individuals. They will learn to communicate healing energy from the reservoir of living force to the patients.

3. Qua các nhóm khác, một loại năng lượng khác phải tuôn chảy, tạo ra một loại tương liên và giao tiếp khác. Các nhóm này sẽ mang lại sự trị liệu đúng đắn cho các phàm ngã của các cá nhân, trong mọi phương diện của bản chất họ. [190] Công việc được dự định là sự truyền dẫn năng lượng một cách thông minh đến các phần khác nhau của bản chất—trí tuệ, cảm dục và hồng trần—của con người, qua sự lưu chuyển và tổ chức đúng đắn của mãnh lực. Cuối cùng việc trị liệu phải được tiến hành bởi các nhóm hoạt động như những trung gian giữa cõi năng lượng tinh thần (hoặc năng lượng linh hồn, năng lượng trực giác, hay năng lượng ý chí) và bệnh nhân hay nhóm bệnh nhân. Điểm cuối cùng này cần được lưu ý. Ý tưởng nhóm phải luôn luôn được ghi nhớ, vì điều này sẽ phân biệt các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới với quá khứ; công việc sẽ là công việc nhóm cho nhóm. Các thành viên sẽ làm việc như những linh hồn chứ không như những cá nhân. Họ sẽ học cách truyền đạt năng lượng trị liệu từ kho chứa mãnh lực sống đến các bệnh nhân.

4. Other groups of communicators will act as transmitters of two aspects of divine energy,—knowledge and wisdom. These must be thought of in terms of energy. Their work will concern itself with the education of the masses, as a direct intermediary between the higher mind and the lower mind, and with the building of the antaskarana; and their task is that of linking the three points of interest upon the mental plane,—the higher mind, the soul, and the lower mind—so that there is established a group antaskarana between the kingdom of souls and the world of men.

4. Các nhóm giao tiếp khác sẽ hoạt động như những kênh truyền dẫn hai phương diện của năng lượng thiêng liêng,—tri thức và minh triết. Những điều này phải được nghĩ đến theo ý nghĩa năng lượng. Công việc của họ sẽ đề cập đến việc giáo dục quần chúng, như một trung gian trực tiếp giữa thượng trí và hạ trí, và với việc xây dựng antaskarana; và nhiệm vụ của họ là nối kết ba điểm quan trọng trên cõi trí,—thượng trí, linh hồn, và hạ trí—để một antaskarana nhóm được thiết lập giữa giới các linh hồn và thế giới loài người.

5. Political work will occupy other groups more specifically than does any other branch of work. These groups communicate the “quality of imposition” and an authority that is lacking in many other branches of this divine group activity. The work is largely first ray work. It embodies the method whereby the divine Will works out in the consciousness of races and nations. Members of this group will have much first ray in their constitution. Their work is to act as channels of communication between the department of the Manu and the [191] race of men. It is a noble thing to be channels of the Will of God.

5. Công việc chính trị sẽ chiếm lĩnh một số nhóm một cách chuyên biệt hơn bất kỳ ngành công việc nào khác. Các nhóm này truyền đạt “phẩm tính áp đặt” và một quyền uy còn thiếu trong nhiều ngành khác của hoạt động nhóm thiêng liêng này. Công việc này phần lớn là công việc cung một. Nó bao hàm phương pháp nhờ đó Ý Chí thiêng liêng được triển khai trong tâm thức của các nhân loại và các quốc gia. Các thành viên của nhóm này sẽ có nhiều cung một trong cấu tạo của mình. Công việc của họ là hoạt động như những kênh giao tiếp giữa bộ phận của Đức Manu và [191] nhân loại. Làm kênh dẫn của Ý Chí của Thượng đế là một điều cao quý.

6. Some groups will be, in a pronounced sense, channels between the activity of the second ray, that of the World Teacher (at the present time, the Christ holds this office) and the world of men. The energy of the second ray must pour through such groups of students and believers and allied groups of thinkers and workers, and there will be many of these. This fact is to be noted. There will be many such groups. The platform of the new world religion will be built by them.

6. Một số nhóm sẽ, theo một ý nghĩa nổi bật, là những kênh giữa hoạt động của cung hai, tức hoạt động của Đức Chưởng Giáo (hiện nay Đức Christ đang giữ chức vụ này) và thế giới loài người. Năng lượng của cung hai phải tuôn qua những nhóm đạo sinh và tín đồ như thế cùng các nhóm liên kết gồm những nhà tư tưởng và người hoạt động, và sẽ có nhiều nhóm như vậy. Điều này cần được lưu ý. Sẽ có nhiều nhóm như vậy. Nền tảng của tôn giáo thế giới mới sẽ được họ xây dựng.

7. A few groups will have an interesting function, but one which will not materialise for a long while, or not until the work of the building forces of the Universe are better understood. This will be coincident with the development of etheric vision. These groups will act as channels of communication or intermediaries between the energies which constitute the forces which construct the forms, the fabricators of the outer garment of God, and human spirits. The possibility is, therefore, to be noted that the main initial work will be concerned with the problem of reincarnation. That problem deals with the taking of an outer garment or form under the Law of Rebirth. Therefore, when these groups are organised, it will be with that subject that the members will at first work. They will make a deeper and different study than has heretofore been undertaken on the Law of Rebirth.

7. Một vài nhóm sẽ có một chức năng thú vị, nhưng là chức năng sẽ không hiện hình trong một thời gian dài, hoặc không cho đến khi công việc của các mãnh lực kiến tạo của Vũ Trụ được thấu hiểu rõ hơn. Điều này sẽ trùng hợp với sự phát triển của thông nhãn dĩ thái. Các nhóm này sẽ hoạt động như những kênh giao tiếp hay những trung gian giữa các năng lượng cấu thành các mãnh lực xây dựng các hình tướng, những đấng tạo tác ngoại y của Thượng đế, và các tinh thần nhân loại. Vì vậy, cần lưu ý khả năng rằng công việc khởi đầu chính sẽ liên quan đến vấn đề tái sinh. Vấn đề đó đề cập đến việc khoác lấy một ngoại y hay hình tướng dưới Định luật Tái Sinh. Do đó, khi các nhóm này được tổ chức, lúc đầu các thành viên sẽ làm việc với chính đề tài ấy. Họ sẽ nghiên cứu Định luật Tái Sinh sâu hơn và khác hơn so với những gì từ trước đến nay đã được thực hiện.

8. Some groups of energy communicators and transmitters will carry illumination between groups of thinkers. They are illuminators of group thoughts. They transmit energy from one thought centre to another. They transmit, above everything else, the energy of ideas. That is their major function. The world of ideas is a world of dynamic force centres. This should not be forgotten. These ideas have to be contacted and [192] noted. Their energy has to be assimilated and transmitted and this is the function of those force centres which will express themselves along these lines of activity.

8. Một số nhóm các nhà giao tiếp và truyền dẫn năng lượng sẽ mang sự soi sáng giữa các nhóm nhà tư tưởng. Họ là những đấng soi sáng các tư tưởng nhóm. Họ truyền năng lượng từ một trung tâm tư tưởng đến một trung tâm khác. Trên hết, họ truyền năng lượng của các ý tưởng. Đó là chức năng chính của họ. Thế giới các ý tưởng là một thế giới của các trung tâm mãnh lực năng động. Điều này không nên bị quên lãng. Các ý tưởng này phải được tiếp xúc và [192] ghi nhận. Năng lượng của chúng phải được đồng hóa và truyền dẫn, và đó là chức năng của những trung tâm mãnh lực sẽ biểu lộ theo các đường hoạt động này.

9. Groups working in another category will have for their specific work the stimulating of the minds of men so that alignment can take place. They act primarily as channels of communication between the soul of man and the soul in any form. They will be the great psychometrical workers, for a psychometrist is one whose soul is sensitive to the soul in other forms of life,—human and non-human. They evoke the soul of the past, primarily, linking it with the present, and finding it also indicative of the future.

9. Các nhóm hoạt động trong một loại khác sẽ có công việc chuyên biệt là kích thích trí tuệ của loài người để sự chỉnh hợp có thể diễn ra. Họ hoạt động chủ yếu như những kênh giao tiếp giữa linh hồn con người và linh hồn trong bất kỳ hình tướng nào. Họ sẽ là những nhà trắc tâm vĩ đại, vì một người trắc tâm là người mà linh hồn nhạy cảm với linh hồn trong các hình thức sống khác,—nhân loại và phi nhân loại. Họ gợi lên linh hồn của quá khứ trước hết, nối kết nó với hiện tại, và cũng nhận ra trong đó dấu hiệu của tương lai.

10. Members of other groups will be communicators between the third aspect of Deity as it expresses itself through the creative process and the world of human thought. They will link or blend life and form creatively. Today, unknowingly and without any true understanding, they bring about a concretisation of the energy of desire, which, in its turn, brings about the concretisation of money. This, consequently, necessitates the materialisation of things. They have a most difficult task and that is why it is only during the past one hundred and fifty years that the science of world finance has made its appearance. They will deal with the divine aspect of money. They will regard money as the means whereby divine purpose can be carried forward. They will handle money as the agency through which the building forces of the universe can carry forward the work needed; and (herein lies the clue) those building forces will be increasingly occupied with the building of the subjective Temple of the Lord rather than with the materialising of that which meets mans desire. This distinction merits consideration.

10. Các thành viên của những nhóm khác sẽ là những nhà giao tiếp giữa phương diện thứ ba của Thượng đế khi nó biểu lộ qua tiến trình sáng tạo và thế giới tư tưởng nhân loại. Họ sẽ nối kết hay dung hợp sự sống và hình tướng một cách sáng tạo. Ngày nay, một cách vô thức và không có sự thấu hiểu chân chính nào, họ mang lại sự cụ thể hóa năng lượng của dục vọng, điều đến lượt nó mang lại sự cụ thể hóa của tiền bạc. Vì vậy, điều này đòi hỏi sự hiện hình của vạn vật. Họ có một nhiệm vụ rất khó khăn, và đó là lý do vì sao chỉ trong một trăm năm mươi năm qua khoa học tài chính thế giới mới xuất hiện. Họ sẽ đề cập đến phương diện thiêng liêng của tiền bạc. Họ sẽ xem tiền bạc như phương tiện nhờ đó thiên ý có thể được triển khai. Họ sẽ xử lý tiền bạc như tác nhân qua đó các mãnh lực kiến tạo của vũ trụ có thể tiến hành công việc cần thiết; và chính trong đó có đầu mối, các mãnh lực kiến tạo ấy sẽ ngày càng bận tâm đến việc xây dựng Đền Thờ chủ quan của Chúa hơn là hiện hình điều đáp ứng dục vọng của con người. Sự phân biệt này đáng được suy ngẫm.

III. They are the externalisation of an inner existing condition. [193] It must be realised that these Groups are not a cause but an effect. That they may themselves have an initiatory effect as they work upon the physical plane is no doubt true, but they themselves are the product of inner activity and of subjective aggregations of force which must perforce become objective. The work of the group members is to keep, as a group, in close rapport with the inner groups, which form nevertheless, one large, active group. This central group force will then pour through the groups in so far as the group members, as a group

III. Chúng là sự ngoại hiện của một tình trạng hiện tồn bên trong. [193] Cần phải chứng nghiệm rằng các Nhóm này không phải là nguyên nhân mà là kết quả. Quả thật, chính chúng có thể tự mình tạo ra một hiệu quả điểm đạo khi hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng bản thân chúng là sản phẩm của hoạt động nội tại và của những tập hợp mãnh lực chủ quan vốn tất phải trở thành khách quan. Công việc của các thành viên trong nhóm là duy trì, với tư cách một nhóm, sự liên hệ mật thiết với các nhóm nội tại, tuy nhiên các nhóm này hợp thành một nhóm lớn duy nhất, năng động. Khi ấy, mãnh lực nhóm trung tâm này sẽ tuôn qua các nhóm trong chừng mực mà các thành viên nhóm, với tư cách một nhóm

a. Keep en rapport with the inner sources of power;

a. Giữ được sự liên hệ với các nguồn quyền năng nội tại;

b. Never lose sight of the group objective, whatever that objective may be;

b. Không bao giờ đánh mất mục tiêu của nhóm, dù mục tiêu ấy là gì;

c. Cultivate a dual capacity to apply the laws of the soul to the individual life, and the laws of the group to the group life;

c. Trau dồi năng lực kép là áp dụng các định luật của linh hồn vào đời sống cá nhân, và các định luật của nhóm vào đời sống nhóm;

d. Use all forces which may flow into the group in service, and learn, therefore, to register that force and use it correctly.

d. Sử dụng trong phụng sự mọi mãnh lực có thể tuôn vào nhóm, và do đó học cách ghi nhận mãnh lực ấy và sử dụng nó một cách đúng đắn.

[End of LOTSWC 24 EP II 193

[End of LOTSWC 24 EP II 193

[Beginning of LOTSWC 25 EP II 193

[Beginning of LOTSWC 25 EP II 193

Would the following sequence of statements convey anything to our minds in this connection? It is a statement of fact and is not in the least symbolic in its terminology, except in so far as all words are inadequate symbols of inner truths.

Liệu chuỗi mệnh đề sau đây có chuyển tải điều gì đó đến trí tuệ chúng ta trong mối liên hệ này chăng? Đây là một phát biểu sự kiện và hoàn toàn không có tính biểu tượng trong thuật ngữ của nó, ngoại trừ ở chỗ mọi ngôn từ đều là những biểu tượng bất toàn của các chân lý nội tại.

1. Each group has its inner counterpart.

1. Mỗi nhóm đều có đối phần nội tại của nó.

2. This inner counterpart is a complete whole. The outer result is only partial.

2. Đối phần nội tại này là một toàn thể hoàn chỉnh. Kết quả bên ngoài chỉ là từng phần.

3. These inner groups, forming one group, are each of them expressive of, or governed by certain laws, embodying, the controlling factors in group work. A law is only an expression or manifestation of force, applied under the power of thought by a thinker or group of thinkers.

3. Các nhóm nội tại này, hợp thành một nhóm, mỗi nhóm đều biểu lộ hoặc được chi phối bởi một số định luật nhất định, hiện thân cho các yếu tố kiểm soát trong công việc nhóm. Một định luật chỉ là sự biểu lộ hay sự hiển lộ của mãnh lực, được áp dụng dưới quyền năng của tư tưởng bởi một thức giả hay một nhóm thức giả.

[194]

[194]

4. These inner groups, embodying differing types of force, and working synthetically to express certain laws, are an effort to bring in new and different conditions, and hence produce a new civilisation. This is the New Age that the Aquarian Age will see consummated.

4. Các nhóm nội tại này, hiện thân cho những loại mãnh lực khác nhau, và hoạt động một cách tổng hợp để biểu lộ một số định luật nhất định, là một nỗ lực nhằm đưa vào những điều kiện mới và khác biệt, và do đó tạo ra một nền văn minh mới. Đây là Kỷ Nguyên Mới mà Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến được hoàn tất.

5. The outer groups are a tentative and experimental effort to see how far humanity is ready for such an endeavor.

5. Các nhóm bên ngoài là một nỗ lực thử nghiệm và thực nghiệm để xem nhân loại đã sẵn sàng đến đâu cho một cố gắng như thế.

IV. They are also an experiment which has for its objective the manifestation of certain types of energy which will produce cohesion, or an at-one-ment, upon earth. The present distraught condition in the world, the international impasse, the religious dissatisfaction, the economic and social upheaval of the past few decades, are all the result of energies that are so potent owing to their immense momentum—that they can only be brought into rhythmic activity by the imposition of stronger and more definitely directed energies. When the groups are functioning adequately and have achieved, not only an internal group unity, but also harmony between the groups themselves, then some peculiar and esoteric work can be done.

IV. Chúng cũng là một thử nghiệm có mục tiêu là biểu lộ một số loại năng lượng nhất định sẽ tạo ra sự cố kết, hay sự hợp nhất, trên Trái Đất. Tình trạng rối loạn hiện nay trên thế giới, sự bế tắc quốc tế, sự bất mãn tôn giáo, sự đảo lộn kinh tế và xã hội trong vài thập niên qua, tất cả đều là kết quả của những năng lượng mạnh mẽ đến mức—do động lượng to lớn của chúng—chúng chỉ có thể được đưa vào hoạt động nhịp điệu bằng sự áp đặt của những năng lượng mạnh hơn và được định hướng rõ rệt hơn. Khi các nhóm hoạt động đầy đủ và đã đạt được không những sự hợp nhất nội bộ của nhóm mà còn cả sự hài hòa giữa chính các nhóm với nhau, thì một số công việc đặc thù và huyền bí có thể được thực hiện.

Such are some of the plans which the Hierarchy are attempting to carry forward and in which all true disciples and aspirants can have a part. They are brought to our attention in order to evoke our lasting cooperation.

Đó là một vài kế hoạch mà Thánh Đoàn đang cố gắng xúc tiến và trong đó mọi đệ tử chân chính và người chí nguyện đều có thể góp phần. Chúng được đưa ra trước sự chú ý của chúng ta để gợi lên sự hợp tác bền vững của chúng ta.

d. ASTROLOGY AND THE NEW GROUPS—CHIÊM TINH HỌC VÀ CÁC NHÓM MỚI

This Law of Group Progress embodies one of the energies which have gradually been released over the past two centuries. A fuller tide was swept into activity at the time of the May, 1936, full moon and now the growth of the group idea, both in its good and bad aspects, can be imminently expected. As has several times been pointed out to students, this law [195] is connected with a certain realised impulse in the minds of men, and this is, in its turn, the effect of various types of energy, which are playing upon the earth. The name “Law of Group Progress” is the phrase given by human beings to a particular type of energy which is producing the coherence of units in a group, thus forming them into one living organism. The recognitions eventuating are those of group affinity, group objective, and group goal. It is, in the last analysis, the emergence into the subjective consciousness of the same type of energy which produces that aspect of cohesive action which demonstrates as tribal, national or racial unity. In this case, however, the determining factor is not of a physical connotation nor have these groups a physical plane basis. They are based on a group idealism which can only be consciously registered when the units in the group are beginning to function upon the mental plane and are developing the capacity to “think things through”—that is, to register in the brain that which the soul has imparted to the mind. We have here a definition of the meditation process as it should be followed by those who, through alignment, have made some measure of soul contact. These groups are functioning entirely through a subjective relation, which produces a subjective integration and activity.

Định luật Tiến Bộ Nhóm này hiện thân cho một trong những năng lượng đã dần dần được giải phóng trong hai thế kỷ qua. Một làn sóng đầy đủ hơn đã được cuốn vào hoạt động vào kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1936 và giờ đây sự tăng trưởng của ý niệm nhóm, trong cả phương diện tốt lẫn xấu của nó, có thể được chờ đợi sẽ sớm xảy ra. Như đã nhiều lần được chỉ ra cho các đạo sinh, định luật này [195] gắn liền với một xung lực đã được chứng nghiệm trong trí tuệ con người, và điều này đến lượt nó lại là kết quả của nhiều loại năng lượng khác nhau đang tác động lên Trái Đất. Tên gọi “Định luật Tiến Bộ Nhóm” là cụm từ do con người đặt cho một loại năng lượng đặc thù đang tạo ra sự cố kết của các đơn vị trong một nhóm, nhờ đó hình thành họ thành một cơ thể sống duy nhất. Những sự nhận biết phát sinh là nhận biết về sự tương hợp nhóm, mục tiêu nhóm, và cứu cánh nhóm. Xét đến cùng, đó là sự xuất hiện trong tâm thức chủ quan của cùng một loại năng lượng tạo ra phương diện hành động cố kết được biểu lộ thành sự hợp nhất bộ lạc, quốc gia hay chủng tộc. Tuy nhiên, trong trường hợp này, yếu tố quyết định không mang ý nghĩa hồng trần, và các nhóm này cũng không có nền tảng trên cõi hồng trần. Chúng dựa trên một lý tưởng nhóm chỉ có thể được ghi nhận một cách hữu thức khi các đơn vị trong nhóm bắt đầu hoạt động trên cõi trí và đang phát triển năng lực “suy nghĩ thấu đáo mọi sự”—nghĩa là ghi nhận trong bộ não điều mà linh hồn đã truyền đạt cho trí tuệ. Ở đây chúng ta có một định nghĩa về tiến trình tham thiền như nó nên được thực hành bởi những ai, thông qua chỉnh hợp, đã đạt được một mức độ tiếp xúc với linh hồn. Các nhóm này hoạt động hoàn toàn thông qua một mối liên hệ chủ quan, tạo ra sự tích hợp và hoạt động chủ quan.

When we come to study the astrological implications in connection with these laws, we shall discover that the energies of the zodiacal signs have a specific effect upon the energy of a Being, Whose purpose works out into manifestation through these laws, which are regarded by us as great and inevitable natural laws and also spiritual laws. This effect produces a blending of energies which is both balancing and, at the same time, impelling.

Khi chúng ta đi đến nghiên cứu các hàm ý chiêm tinh liên quan đến các định luật này, chúng ta sẽ khám phá rằng các năng lượng của các dấu hiệu hoàng đạo có một tác động đặc thù lên năng lượng của một Đấng, mà mục đích của Ngài được triển khai thành biểu hiện thông qua các định luật này, vốn được chúng ta xem là những định luật tự nhiên vĩ đại và tất yếu, đồng thời cũng là các định luật tinh thần. Tác động này tạo ra một sự hòa trộn năng lượng vừa quân bình vừa đồng thời thúc đẩy.

In December, 1935, the energies of Capricorn were augmented by the pouring in of forces from a still greater constellation [196] which is—to our zodiac—what the zodiac is to the earth. This augmentation will take place again in 1942. It must be remembered that, from certain angles, the circle of twelve signs or constellations constitutes a special unity which revolves within our universe of heavens as our planet revolves in the centre of our circle of influences. By means of this augmentation—during the coming Aquarian zodiacal cycle—groups on earth can avail themselves of the tide of Capricornian influences which will flow into our radius of registration every seven years. The one just past, gave a tremendous impetus to the work of the New Group of World Servers, and was the cause of the very good reaction in the world to their particular impulse. This worked out in every nation and in every group as a marked tendency to good will. In 1942, there will come another planetary inflow of which we all are begged to avail ourselves, and for which we are urged to make due preparation. This “week of group impact” occurring every seven years, will run from December 21st till December 28th, and if this should at any time fall at the period of the full moon, the opportunity will be most significant. This possibility must be watched. This week should be regarded as pre-eminently the “festival week” of the New Group of World Servers, and after 1942 advantage must be taken of this period, and special preparation made. This fact invites the attention of all of us.

Vào tháng Mười Hai năm 1935, các năng lượng của Ma Kết đã được tăng cường bởi sự tuôn vào của các mãnh lực từ một chòm sao còn lớn hơn nữa [196] mà đối với hoàng đạo của chúng ta, nó cũng như hoàng đạo đối với Trái Đất. Sự tăng cường này sẽ lại diễn ra vào năm 1942. Cần nhớ rằng, từ một số góc độ, vòng tròn mười hai dấu hiệu hay chòm sao tạo thành một hợp nhất đặc biệt quay trong vũ trụ thiên giới của chúng ta cũng như hành tinh chúng ta quay trong trung tâm vòng ảnh hưởng của mình. Nhờ sự tăng cường này—trong chu kỳ hoàng đạo Bảo Bình sắp tới—các nhóm trên Trái Đất có thể tận dụng làn sóng ảnh hưởng Ma Kết sẽ tuôn vào bán kính ghi nhận của chúng ta mỗi bảy năm. Lần vừa qua đã tạo một xung lực to lớn cho công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và là nguyên nhân của phản ứng rất tốt trên thế giới đối với xung lực đặc thù của họ. Điều này được biểu lộ trong mọi quốc gia và mọi nhóm như một khuynh hướng thiện chí rõ rệt. Vào năm 1942, sẽ có một lần tuôn đổ hành tinh khác mà tất cả chúng ta đều được yêu cầu tận dụng, và được khuyến khích chuẩn bị thích đáng. “Tuần lễ tác động nhóm” này, diễn ra mỗi bảy năm, sẽ kéo dài từ ngày 21 tháng Mười Hai đến ngày 28 tháng Mười Hai, và nếu vào bất kỳ lúc nào nó rơi vào thời kỳ trăng tròn, thì cơ hội sẽ vô cùng có ý nghĩa. Khả năng này phải được theo dõi. Tuần lễ này nên được xem nổi bật là “tuần lễ lễ hội” của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và sau năm 1942 phải tận dụng giai đoạn này, đồng thời có sự chuẩn bị đặc biệt. Sự kiện này mời gọi sự chú ý của tất cả chúng ta.

These new groups are appearing everywhere all over the world. The groups upon the outer plane, with their diversity of names and stated aims, are not connected with this inner group which is sponsoring or “projecting” the new groups, except in so far as they have a definite, even if nebulous, connection. This becomes always possible where there are three members of the New Group of World Servers found in any one exoteric group; it then becomes “linked by a [197] triple thread of golden light” to the New Group of World Servers, and can in some measure be used. This great and spiritual grouping of servers is, on the physical plane, only very loosely linked. On the astral plane the linking is stronger and is based upon love of humanity; on the mental plane the major linking takes place, from the angle of the three worlds as a whole. It will be apparent, therefore, that certain developments must have taken place in the individual before he can consciously become a functioning member of the New Group of World Servers, which is the principal group at this time definitely working under the Law of Group Progress.

Các nhóm mới này đang xuất hiện khắp nơi trên toàn thế giới. Các nhóm trên cõi bên ngoài, với sự đa dạng về tên gọi và mục tiêu được tuyên bố của họ, không liên kết với nhóm nội tại này, nhóm đang bảo trợ hay “phóng chiếu” các nhóm mới, ngoại trừ trong chừng mực họ có một liên hệ xác định, dù còn mơ hồ. Điều này luôn trở nên khả hữu ở nơi nào có ba thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được tìm thấy trong bất kỳ nhóm ngoại môn nào; khi đó nhóm ấy trở nên “được nối kết bằng một [197] sợi dây tam phân của ánh sáng vàng” với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và có thể được sử dụng ở một mức độ nào đó. Sự tập hợp phụng sự vĩ đại và tinh thần này, trên cõi hồng trần, chỉ được nối kết rất lỏng lẻo. Trên cõi cảm dục, sự nối kết mạnh hơn và dựa trên tình thương đối với nhân loại; trên cõi trí, sự nối kết chủ yếu diễn ra, xét từ góc độ ba cõi thấp như một toàn thể. Do đó, hiển nhiên là một số phát triển nhất định phải đã diễn ra nơi cá nhân trước khi y có thể một cách hữu thức trở thành một thành viên hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là nhóm chính hiện nay đang hoạt động một cách xác định dưới Định luật Tiến Bộ Nhóm.

1. He must have the heart centre awakened, and be so outgoing in his “behaviour” that the heart is rapidly linked up with the heart centres of at least eight other people. Groups of nine awakened aspirants can then be occultly absorbed in the heart centre of the planetary Logos. Through it, His life can flow and the group members can contribute their quota of energy to the life influences circulating throughout His body. The above piece of information is only of interest to those who are spiritually awakened, and will mean little or nothing to those who are asleep.

1. Y phải có trung tâm tim được thức tỉnh, và phải hướng ngoại trong “hành vi” của mình đến mức trái tim được nối kết nhanh chóng với các trung tâm tim của ít nhất tám người khác. Khi ấy, các nhóm gồm chín người chí nguyện đã thức tỉnh có thể được hấp thu một cách huyền bí vào trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế. Qua đó, sự sống của Ngài có thể tuôn chảy và các thành viên nhóm có thể đóng góp phần năng lượng của mình vào các ảnh hưởng sự sống đang lưu chuyển khắp thể của Ngài. Mẩu thông tin trên chỉ có ý nghĩa đối với những ai đã được thức tỉnh về tinh thần, và sẽ có rất ít hoặc không có ý nghĩa gì đối với những ai còn đang ngủ.

2. The head centre must also be in process of awakening, and the ability to “hold the mind steady in the light” must be somewhat developed.

2. Trung tâm đầu cũng phải đang trong tiến trình thức tỉnh, và năng lực “giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng” phải được phát triển phần nào.

3. Some forms of creative activity must likewise be found and the server must be active along some humanitarian, artistic, literary, philosophic or scientific lines.

3. Tương tự, cũng phải tìm thấy một số hình thức hoạt động sáng tạo, và người phụng sự phải hoạt động trong một số lĩnh vực nhân đạo, nghệ thuật, văn chương, triết học hay khoa học.

All this involves personality integration and alignment and that magnetic, attractive appeal which is distinctive of all disciples in some form or another. In this way from the [198] standpoint of esotericism, certain great triangles of energy will be found in the individual and consequently increasingly in humanity. Then too the “forces of creative life” will circulate from the “point within the head” (the head centre) along the “line to the heart” and then, with the throat centre, form a “triangle of fiery light”. Such is the Way of Group Progress, and when this is being consummated, then the Law of Group Progress begins definitely to function and to control. It might be of interest, if we here listed the recognised effects of the five laws with which we have been dealing:

Tất cả điều này bao hàm sự tích hợp phàm ngã và chỉnh hợp, cùng với sức hấp dẫn từ tính lôi cuốn vốn là nét đặc trưng của mọi đệ tử dưới hình thức này hay hình thức khác. Theo cách này, từ [198] quan điểm huyền bí học, nơi cá nhân và do đó ngày càng nơi nhân loại, sẽ tìm thấy một số tam giác năng lượng lớn. Đồng thời, “các mãnh lực của sự sống sáng tạo” sẽ lưu chuyển từ “điểm bên trong đầu” (trung tâm đầu) dọc theo “đường đến tim” rồi cùng với trung tâm cổ họng tạo thành một “tam giác ánh sáng rực lửa”. Đó là Con đường Tiến Bộ Nhóm, và khi điều này đang được hoàn tất, thì Định luật Tiến Bộ Nhóm bắt đầu hoạt động và kiểm soát một cách xác định. Có lẽ sẽ là điều đáng quan tâm nếu ở đây chúng ta liệt kê các hiệu quả đã được nhận biết của năm định luật mà chúng ta đã bàn đến:

Law

Effect

General

Physical Effect

Reaction

Quality

1. Sacrifice

World Saviours

The Christ

Deliberate death. “I die daily”

Love for the Saviour. Desire to follow

Selflessness.

Physical Plane Unity

The Masses

2. Magnetic

Impulse Idealism

World Religion

Schools of Thought

Churches

Love of Ideas

Organizations

Devotion Philosophy

Etheric or Vital Unity.

The Aspirants

3. Service

Humanitarian Activity

The Red Cross and allied activities

Love of Humanity

Sympathy. Compassion

Astral Unity

The Probationers

4. Repulse

The fight against evil.

Crusades of

all kinds

Love of

Good

Discrimination

Mental Unity.

The Disciples.

5. Group Progress

New Groups

New Group of World Servers.

Love of

Inclusiveness

Synthesis.

Soul Unity

The Initiates.

6. The Law of Expansive Response—Định luật Đáp Ứng Mở Rộng

We can now, with great brevity, however, touch upon the sixth law and the seventh, for we will speak of them together. The other five laws have worked out into a definite activity upon the physical plane. The effect or consequences of the impulses behind them produce the working out of the [199] purpose of the Most High, and can be recognised upon the plane of phenomena. They can all be so recognised, but at this time, the conscious awareness of humanity is such that only in five instances can the effect of these laws be noted, and then only by the most advanced of the world aspirants. The disciple and the initiate can dimly begin to recognise the effect of the sixth and the seventh laws, but no one else at this time.

Giờ đây, với sự ngắn gọn tối đa, chúng ta có thể đề cập đến định luật thứ sáu và thứ bảy, vì chúng ta sẽ nói về chúng cùng nhau. Năm định luật kia đã triển khai thành một hoạt động xác định trên cõi hồng trần. Hiệu quả hay hậu quả của các xung lực đứng sau chúng tạo ra sự triển khai của [199] mục đích của Đấng Tối Cao, và có thể được nhận biết trên cõi hiện tượng. Tất cả chúng đều có thể được nhận biết như thế, nhưng vào lúc này, sự nhận biết hữu thức của nhân loại là như vậy nên chỉ trong năm trường hợp hiệu quả của các định luật này mới có thể được ghi nhận, và khi ấy cũng chỉ bởi những người chí nguyện tiến bộ nhất của thế giới. Đệ tử và điểm đạo đồ có thể mơ hồ bắt đầu nhận ra hiệu quả của định luật thứ sáu và thứ bảy, nhưng hiện nay không ai khác có thể làm được.

These two laws are not capable of interpretation as above, because only those who are initiated or in preparation for initiation can begin to understand them. The enlightenment which is the result of initiation is necessary before one can touch the idea behind these expressions of purpose. We shall not, therefore, take any time dealing with The Law of Expansive Response, or with The Law of the Lower Four, beyond giving two ancient stanzas which will convey much to the initiate but may only be sounding words and meaningless symbolic phrases to the average reader and student.

Hai định luật này không thể được diễn giải như trên, bởi vì chỉ những ai đã được điểm đạo hoặc đang chuẩn bị cho điểm đạo mới có thể bắt đầu thấu hiểu chúng. Sự giác ngộ là kết quả của điểm đạo là điều cần thiết trước khi người ta có thể chạm đến ý tưởng đứng sau những biểu lộ mục đích này. Vì vậy, chúng ta sẽ không dành thời gian để bàn đến Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, hay Định luật của Bốn Thấp, ngoài việc đưa ra hai bài kệ cổ sẽ chuyển tải nhiều điều đến điểm đạo đồ nhưng đối với độc giả và đạo sinh trung bình có thể chỉ là những lời vang lên và những cụm từ biểu tượng vô nghĩa.

“The Sun, in all its glory, has arisen and cast its beams athwart the Eastern sky. The union of the pairs of opposites produce, in the cycles of the time and space, both clouds and mists. These veil a mighty conflagration….

“Mặt Trời, trong tất cả vinh quang của nó, đã mọc lên và phóng các tia sáng ngang qua bầu trời phương Đông. Sự hợp nhất của các cặp đối cực tạo ra, trong các chu kỳ của thời gian và không gian, cả mây lẫn sương mù. Chúng che phủ một đám cháy lớn lao….

The flood pours forth. The ark floats free…the flames devour. The three stand free; and then again the mists envelop.

Dòng lũ tuôn ra. Con thuyền trôi tự do…ngọn lửa thiêu đốt. Ba vị đứng tự do; rồi một lần nữa sương mù bao phủ.

Above the clouds of earth, a sign shines forth….Only the eye of vision sees this sign. Only the heart at peace can hear the thunder of the Voice which issues from the dark depths of the cloud. Only an understanding of the law which elevates and lifts can teach the man of fire and son of water to enter into mist. From thence he climbs on to the mountain top and there again stands free.

Phía trên những đám mây của đất, một dấu hiệu chiếu sáng….Chỉ con mắt của tầm nhìn mới thấy được dấu hiệu này. Chỉ trái tim an bình mới có thể nghe tiếng sấm của Tiếng Nói phát ra từ những vực sâu tối tăm của đám mây. Chỉ sự thấu hiểu định luật nâng lên và cất cao mới có thể dạy con người của lửa và con của nước đi vào sương mù. Từ đó y leo lên đỉnh núi và ở đó lại đứng tự do.

The triple freedom thus achieved has naught to do with earth, or water, or with fire. It is a freedom, triple in its kind, which greets the man who passes freely from the sphere of earth into the ocean of the watery sphere, and [200] thence on to the burning ground of sacrifice. The sun augments the fire; it dissipates the mist and dries the earth. And thus the work is done.”

Sự tự do tam phân đạt được như thế không liên quan gì đến đất, hay nước, hay lửa. Đó là một sự tự do, tam phân trong bản chất của nó, chào đón con người đi tự do từ khối cầu của đất vào đại dương của khối cầu nước, và [200] từ đó tiến vào vùng đất cháy của hi sinh. Mặt Trời tăng cường lửa; nó làm tiêu tan sương mù và làm khô đất. Và như thế công việc được hoàn tất.”

7. The Law of the Lower Four—Định luật của Bốn Thấp

“Four sons of God went forth. But only one returned. Four Saviours merged themselves in two, and then the two became the One.”

“Bốn Con của Thượng đế đã đi ra. Nhưng chỉ một vị trở về. Bốn Đấng Cứu Thế hòa nhập chính mình vào hai, rồi hai trở thành Một.”

These two ancient writings—one mystical and the other occult—convey but little to most minds, and this we can easily see. Therefore it does not profit us to consider them too carefully. The time is not yet. These are given us, how in stimulating comprehension.

Hai bản văn cổ này—một thần bí và một huyền bí—chỉ chuyển tải rất ít đến phần lớn trí tuệ, và điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy. Vì vậy, việc xem xét chúng quá cẩn thận không đem lại lợi ích cho chúng ta. Thời điểm vẫn chưa đến. Chúng được trao cho chúng ta, tuy nhiên, nhằm kích thích sự thấu hiểu.

We stand today on the verge of great things. Humanity is on its way with renewed impetus. It stands no longer at the crossroads, but irrevocable decisions have been made, and the race is moving forward along a path which will lead it eventually into light and peace. It will find its way into “the peace which passeth understanding” because it will be a peace which is independent of outer conditions and which is not based upon what present humanity defines as peace. The peace which lies ahead of the race is the peace of serenity and of joy—a serenity, based upon spiritual understanding; and a serenity is not an astral condition but a soul reaction. These qualities are not achieved as the result of disciplining the emotional nature, but demonstrate as a natural, automatic realignment. These two qualities of the soul—serenity and joy—are the indications that the soul, the ego, the One Who stands alone, is controlling or dominating the personality, circumstance, and all environing conditions of life in the three worlds.

Ngày nay chúng ta đang đứng trên ngưỡng của những điều lớn lao. Nhân loại đang tiến bước với một xung lực mới. Nhân loại không còn đứng ở ngã tư đường nữa, mà những quyết định không thể đảo ngược đã được đưa ra, và nhân loại đang tiến lên trên một con đường cuối cùng sẽ dẫn mình vào ánh sáng và bình an. Nhân loại sẽ tìm được đường vào “sự bình an vượt quá mọi thấu hiểu” bởi vì đó sẽ là một sự bình an độc lập với các điều kiện bên ngoài và không dựa trên điều mà nhân loại hiện nay định nghĩa là bình an. Sự bình an đang chờ phía trước nhân loại là sự bình an của tĩnh lặng và hoan hỉ—một sự tĩnh lặng dựa trên sự thấu hiểu tinh thần; và sự tĩnh lặng không phải là một trạng thái cảm dục mà là một phản ứng của linh hồn. Những phẩm tính này không đạt được như là kết quả của việc rèn luyện bản chất cảm xúc, mà biểu lộ như một sự tái chỉnh hợp tự nhiên, tự động. Hai phẩm tính này của linh hồn—sự tĩnh lặng và sự hoan hỉ—là những dấu hiệu cho thấy linh hồn, chân ngã, Đấng đứng một mình, đang kiểm soát hay chi phối phàm ngã, hoàn cảnh, và mọi điều kiện sự sống bao quanh trong ba cõi thấp.

[End of LOTSWC 25 EP II

[End of LOTSWC 25 EP II

Leave a Comment

Scroll to Top