Webinar 13—Mental Rule 1.1
|
The Solar Angel collects himself, scatters not his force but, in meditation deep, communicates with his reflection. |
Thái Dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán thần lực của Ngài mà, trong thiền định sâu sắc, giao tiếp với phản ảnh của Ngài. |
|
Some Basic Assumptions |
Một Số Giả Định Cơ Bản |
|
We are entering upon a course of study wherein the entire tendency will be to throw the student back upon himself, and thus upon that larger self which has only, in most cases, made its presence felt at rare and highly emotional intervals. When the self is known and not simply felt and, when the realisation is mental as well as sensory, then truly can the aspirant be prepared for initiation. |
Chúng ta đang bước vào một khóa học mà trong đó toàn bộ khuynh hướng sẽ là đưa người môn sinh trở về với chính mình, và do đó trở về với cái tôi lớn hơn mà trong hầu hết các trường hợp, sự hiện diện của nó chỉ được cảm nhận vào những khoảng thời gian hiếm hoi và đầy cảm xúc. Khi chân ngã được biết đến chứ không chỉ đơn giản là cảm nhận được, và khi sự nhận thức là trí tuệ cũng như cảm giác, thì khi đó người chí nguyện mới thực sự có thể sẵn sàng cho điểm đạo. |
|
I would like to point out that I am basing my words upon certain basic assumptions, which for the sake of clarity, I want briefly to state. |
Tôi muốn chỉ ra rằng tôi đang dựa trên những lời của mình vào một số giả định cơ bản, và để rõ ràng hơn, tôi muốn nêu ngắn gọn. |
|
Firstly, that the student is sincere in his aspiration, and is determined to go forward no matter what may be the reaction of and upon the lower self. Only those who can clearly differentiate between the two aspects of their nature, the real self and the illusory self, can work intelligently. |
Thứ nhất, rằng người đạo sinh chân thành trong khát vọng của mình và quyết tâm tiến về phía trước bất kể phản ứng của phàm ngã và đối với phàm ngã là gì. Chỉ những ai có thể phân biệt rõ ràng giữa hai khía cạnh của bản chất của họ, Chân ngã và phàm ngã, mới có thể làm việc một cách thông minh. Điều này đã được thể hiện rõ trong Yoga Sutras của Patanjali. |
|
This has been well expressed in the Yoga Sutras of Patanjali. |
Điều này đã được thể hiện rõ trong Yoga Sutras của Patanjali. |
|
“Experience (of the pairs of opposites) comes from the inability of the soul to distinguish between the personal self, and the purusa (or spirit). The objective forms exist for the use and experience of the spiritual man. By meditation upon this arises the intuitive perception of the spiritual man.” Book III.35. |
“Kinh nghiệm (về các cặp đối lập) đến từ việc linh hồn không có khả năng phân biệt giữa phàm ngã và purusa (hay tinh thần). Các hình tướng khách quan tồn tại để con người tinh thần sử dụng và trải nghiệm. Bằng cách tham thiền về điều này, sẽ phát sinh nhận thức trực giác về con người tinh thần.” Quyển III.35. |
|
The forty-eighth Sutra in the same book gives a statement covering a later stage of this discriminative realisation. This discerning quality is fostered by a re-collected attitude of mind, and by careful attention to the method of a constant review of the life. [54] |
Câu kinh thứ bốn mươi tám trong cùng một cuốn sách đưa ra một tuyên bố bao gồm một giai đoạn sau của sự nhận thức phân biện này. Phẩm chất sáng suốt này được nuôi dưỡng bởi một thái độ tập trung trong tâm trí và bằng cách chú ý cẩn thận đến phương pháp xem xét lại cuộc sống liên tục. [54] |
|
Secondly, I am acting upon the assumption that all have lived long enough and battled sufficiently with deterrent forces of life to have enabled them to develop a fairly true sense of values. I assume they are endeavouring to live as those who know something of the true eternal values of the soul. They are not to be kept back by any happenings to the personality or by the pressure of time and circumstance, by age or physical disability. They have wisely learnt that enthusiastic rushing forward and a violent energetic progress has its drawbacks, and that a steady, regular, persistent endeavour will carry them further in the long run. Spasmodic spurts of effort and temporary pressure peter out into disappointment and a weighty sense of failure. It is the tortoise and not the hare that arrives first at the goal, though both achieve eventually. |
Thứ hai, tôi đang hành động dựa trên giả định rằng tất cả đã sống đủ lâu và chiến đấu đủ với các lực cản của cuộc sống để cho phép họ phát triển một ý thức về các giá trị khá đúng đắn. Tôi giả định rằng họ đang cố gắng sống như những người biết điều gì đó về các giá trị vĩnh cửu thực sự của linh hồn. Họ không bị cản trở bởi bất kỳ sự kiện nào xảy ra với phàm ngã hoặc bởi áp lực của thời gian và hoàn cảnh, bởi tuổi tác hoặc khuyết tật thể chất. Họ đã học một cách khôn ngoan rằng sự lao về phía trước một cách nhiệt tình và sự tiến bộ mạnh mẽ, đầy năng lượng có những nhược điểm của nó, và rằng một nỗ lực đều đặn, thường xuyên, kiên trì sẽ đưa họ đi xa hơn về lâu dài. Những nỗ lực bộc phát và áp lực tạm thời sẽ dẫn đến sự thất vọng và cảm giác thất bại nặng nề. Chính con rùa chứ không phải con thỏ đến đích trước, mặc dù cuối cùng cả hai đều đạt được. |
|
Thirdly, I assume that those who set themselves seriously to benefit by the instructions in this book are prepared to carry out the simple requirements, to read what is written thoughtfully, to attempt to organise their minds and adhere to their meditation work. The organising of the mind is an all-day affair, and the application of the mind to the thing in hand throughout the daily avocations, is the best way to make study and meditation periods fruitful and bring about fitness for the vocation of disciple. |
Thứ ba, tôi giả định rằng những người nghiêm túc đặt mình vào việc hưởng lợi từ các hướng dẫn trong cuốn sách này đã sẵn sàng thực hiện các yêu cầu đơn giản, đọc những gì được viết một cách chu đáo, cố gắng tổ chức tâm trí của họ và tuân thủ công việc thiền định của họ. Việc tổ chức tâm trí là một công việc cả ngày, và việc áp dụng tâm trí vào điều đang làm trong suốt các hoạt động hàng ngày là cách tốt nhất để làm cho thời gian học tập và thiền định trở nên hiệu quả và mang lại sự phù hợp cho thiên chức của đệ tử. |
|
With these assumptions clearly understood, my words are for those who are seeking to measure up to the need for trained servers. I say not, you note, those who measure up. Intention and effort are considered by us of prime importance, and are the two main requisites for all disciples, initiates and masters, plus the power of persistence. |
Với những giả định này được hiểu rõ ràng, những lời của tôi dành cho những người đang tìm cách đáp ứng nhu cầu dành cho những người phụng sự được đào tạo. Bạn lưu ý, tôi không nói những người đáp ứng được. Ý định và nỗ lực được chúng tôi coi là quan trọng hàng đầu, và là hai điều kiện chính cho tất cả các đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư, cộng với sức mạnh của sự kiên trì. |
|
In our consideration of these rules, I am not so much interested in their application to the magical work itself as in training the magician, and in developing him from [55] the standpoint of his own character. Later we may get down to the application of knowledge to the outer manifestation of world forces, but now our objective is something different; I seek to interest the minds and brains (and therefore the lower self) of students in the higher self, thereby keying up their mental interest so that sufficient impetus is generated to enable them to go forward. |
Trong việc xem xét các quy luật này, tôi không quan tâm nhiều đến việc áp dụng chúng vào công việc huyền thuật mà là đào tạo nhà huyền thuật, và phát triển người đó từ [55] quan điểm về tính cách của chính họ. Sau này, chúng ta có thể đi vào việc áp dụng tri thức vào sự biểu hiện bên ngoài của các mãnh lực thế giới, nhưng bây giờ mục tiêu của chúng ta là một điều khác; tôi tìm cách thu hút tâm trí và não bộ (và do đó là phàm ngã) của các đạo sinh vào Chân ngã, từ đó khơi dậy sự quan tâm trí tuệ của họ để tạo ra đủ động lực cho phép họ tiến về phía trước. |
|
Also, let it not be forgotten that once the magic of the soul is grasped by the personality, that soul steadily dominates and can be trusted to carry forward the training of the man to fruition, unhampered (as you necessarily are) by thoughts of time and space, and by an ignorance of the past career of the soul concerned. It should always be borne in mind that, when dealing with individuals, the work required is twofold: |
Ngoài ra, đừng quên rằng một khi huyền thuật của linh hồn được phàm ngã nắm bắt, thì linh hồn đó sẽ liên tục chi phối và có thể tin tưởng để thực hiện việc đào tạo con người đến thành công, không bị cản trở (mà như bạn nhất thiết là) bởi những suy nghĩ về thời gian và không gian, và bởi sự thiếu hiểu biết về sự nghiệp quá khứ của linh hồn liên quan. Cần luôn nhớ rằng, khi tiếp xúc với các cá nhân, công việc cần thiết là hai mặt: |
|
1. To teach them how to link up the personal lower self with the overshadowing soul so that in the physical brain there is an assured consciousness as to the reality of that divine fact. This knowledge renders the hitherto assumed reality of the three worlds futile to attract and hold, and is the first step, out of the fourth, into the fifth kingdom. |
1. Dạy họ cách liên kết phàm ngã với linh hồn bao trùm để trong bộ não vật lý có một tâm thức chắc chắn về thực tại của sự thật thiêng liêng đó. Kiến thức này khiến cho thực tại được giả định trước đây của ba cõi giới trở nên vô ích, không còn thu hút và cầm giữ, và là bước đầu tiên ra khỏi giới thứ tư vào giới thứ năm. |
|
2. To give such practical instruction as will enable the aspirant to— |
2. Cung cấp những hướng dẫn thực tế sẽ giúp người chí nguyện có thể — |
|
a. Understand his own nature. This involves some knowledge of the teaching of the past as to the constitution of man and an appreciation of the interpretations of modern Eastern and Western investigators. |
a. Thấu hiểu bản chất của chính mình. Điều này liên quan đến một số kiến thức về giáo lý của quá khứ về cấu tạo của con người và sự đánh giá cao về những diễn giải của các nhà nghiên cứu hiện đại phương Đông và phương Tây. |
|
b. Control the forces of his own nature and learn something of the forces with which he is surrounded. |
b. Kiểm soát các mãnh lực của bản chất của chính mình và tìm hiểu một chút về các mãnh lực mà người đó được bao quanh. |
|
c. Enable him so to unfold his latent powers that he can deal with his own specific problems, stand on his own feet, handle his own life, solve his [56] own difficulties and become so strong and poised in spirit that he forces recognition of his fitness to be recognized as a worker in the plan of evolution, as a white magician, and as one of that band of consecrated disciples whom we call the “hierarchy of our planet”. |
c. Cho phép người đó bộc lộ những sức mạnh tiềm ẩn của mình để người đó có thể giải quyết các vấn đề cụ thể của riêng mình, tự đứng trên đôi chân của mình, xử lý cuộc sống của chính mình, giải quyết những khó khăn của chính mình [56] và trở nên mạnh mẽ và điềm tĩnh trong tinh thần đến mức người đó buộc phải công nhận sự phù hợp của mình để được công nhận là một người lao động trong kế hoạch tiến hóa, như một nhà chánh thuật, và là một trong những nhóm đệ tử tận hiến mà chúng ta gọi là “Thánh đoàn của hành tinh chúng ta”. |
Webinar 14—Mental Rule 1.2
|
Also, let it not be forgotten that once the magic of the soul is grasped by the personality, that soul steadily dominates and can be trusted to carry forward the training of the man to fruition, unhampered (as you necessarily are) by thoughts of time and space, and by an ignorance of the past career of the soul concerned. It should always be borne in mind that, when dealing with individuals, the work required is twofold: |
Ngoài ra, đừng quên rằng một khi huyền thuật của linh hồn được phàm ngã nắm bắt, thì linh hồn đó sẽ liên tục chi phối và có thể tin tưởng để thực hiện việc đào tạo con người đến thành công, không bị cản trở (mà như bạn nhất thiết là) bởi những suy nghĩ về thời gian và không gian, và bởi sự thiếu hiểu biết về sự nghiệp quá khứ của linh hồn liên quan. Cần luôn nhớ rằng, khi tiếp xúc với các cá nhân, công việc cần thiết là hai mặt: |
|
1. To teach them how to link up the personal lower self with the overshadowing soul so that in the physical brain there is an assured consciousness as to the reality of that divine fact. This knowledge renders the hitherto assumed reality of the three worlds futile to attract and hold, and is the first step, out of the fourth, into the fifth kingdom. |
1. Dạy họ cách liên kết phàm ngã với linh hồn phủ bóng để trong bộ não vật lý có một tâm thức chắc chắn về thực tại của sự thật thiêng liêng đó . Kiến thức này khiến cho thực tại được giả định trước đây của ba cõi giới trở nên vô ích, không còn thu hút và cầm giữ, và là bước đầu tiên ra khỏi giới thứ tư vào giới thứ năm. |
|
2. To give such practical instruction as will enable the aspirant to— |
2. Cung cấp những hướng dẫn thực tế sẽ giúp người chí nguyện có thể — |
|
a. Understand his own nature. This involves some knowledge of the teaching of the past as to the constitution of man and an appreciation of the interpretations of modern Eastern and Western investigators. |
a. Thấu hiểu bản chất của chính mình . Điều này liên quan đến một số kiến thức về giáo lý của quá khứ về cấu tạo của con người và sự đánh giá cao về những diễn giải của các nhà nghiên cứu hiện đại phương Đông và phương Tây. |
|
b. Control the forces of his own nature and learn something of the forces with which he is surrounded. |
b. Kiểm soát các mãnh lực của bản chất của chính mình và tìm hiểu một chút về các mãnh lực mà người đó được bao quanh. |
|
c. Enable him so to unfold his latent powers that he can deal with his own specific problems, stand on his own feet, handle his own life, solve his [56] own difficulties and become so strong and poised in spirit that he forces recognition of his fitness to be recognized as a worker in the plan of evolution, as a white magician, and as one of that band of consecrated disciples whom we call the “hierarchy of our planet”. |
c. Cho phép người đó khai mở những sức mạnh tiềm ẩn của mình để người đó có thể giải quyết các vấn đề cụ thể của riêng mình, tự đứng trên đôi chân của mình, xử lý cuộc sống của chính mình, giải quyết những khó khăn của chính mình [56] và trở nên mạnh mẽ và điềm tĩnh trong tinh thần đến mức người đó thúc đẩy việc công nhận sự phù hợp của mình được công nhận như là một người lao động trong kế hoạch tiến hóa, như một nhà chánh thuật, và là một trong những nhóm đệ tử tận hiến mà chúng ta gọi là “Thánh đoàn của hành tinh chúng ta”. |
|
Students of these matters are therefore begged to extend their concept of that hierarchy of souls so that they include all the exoteric fields of human life (political, social, economic, and religious). They are begged not to narrow down the concept as so many do, to only those who have brought their own little particular organisation into being, or to those who are working purely on the subjective side of life, and along what are reoognised by the conservative as the so-called religious or spiritual lines. All that tends to lift the status of humanity on any plane of manifestation is religious work and has a spiritual goal, for matter is but spirit on the lowest plane, and spirit, we are told, is but matter on the highest. |
Do đó, các môn sinh của những vấn đề này được yêu cầu mở rộng khái niệm của họ về Huyền Giai của các linh hồn đó để họ bao gồm tất cả các lĩnh vực ngoại môn của đời sống con người (chính trị, xã hội, kinh tế và tôn giáo). Họ được yêu cầu không thu hẹp khái niệm như nhiều người vẫn làm, chỉ với những người đã thành lập tổ chức nhỏ bé đặc biệt của riêng họ, hoặc với những người đang làm việc hoàn toàn ở mặt bên trong của cuộc sống, và theo những gì được các nhà bảo thủ công nhận là các đường lối tôn giáo hoặc tinh thần. Tất cả những gì có xu hướng nâng cao vị thế của nhân loại trên bất kỳ bình diện biểu hiện nào đều là công việc tôn giáo và có mục tiêu tinh thần, vì vật chất chỉ là tinh thần trên cõi giới thấp nhất, và tinh thần, như chúng ta được cho biết, chỉ là vật chất trên cõi cao nhất. |
|
All is spirit and these differentiations are but the products of the finite mind. Therefore, all workers and knowers of God in or out of fleshly bodies, and working in any field of divine manifestation form part of the planetary hierarchy and are integral units in that great cloud of witnesses who are the “onlookers and observers”. They possess the power of spiritual insight or perception as well as objective or physical vision. |
Tất cả là tinh thần và những sự khác biệt này chỉ là sản phẩm của cái trí hữu hạn. Do đó, tất cả những người lao động và những người biết Thượng đế trong hoặc ngoài thể xác, và làm việc trong bất kỳ lĩnh vực biểu hiện thiêng liêng nào đều tạo thành một phần của Thánh đoàn hành tinh và là những đơn vị không thể thiếu trong đám mây nhân chứng vĩ đại đó, là những “người quan sát và người theo dõi”. Họ sở hữu sức mạnh của cái nhìn sâu sắc hoặc nhận thức tinh thần cũng như tầm nhìn khách quan hoặc thể chất. |
|
In studying Rule I we could summarize it simply yet profoundly under the following words: — |
Trong khi nghiên cứu Quy Luật I, chúng ta có thể tóm tắt nó một cách đơn giản nhưng sâu sắc dưới những từ sau: – |
|
1. Egoic Communication. |
1. Giao tiếp Chân ngã. |
|
2. Cyclic Meditation. |
2. Tham thiền theo chu kỳ. |
|
3. Coordination, or At-one-ment. |
3. Sự phối hợp, hay sự hợp nhất (At-one-ment). |
|
The rules start off in A Treatise on Cosmic Fire with a brief summary of the process and a statement as to the nature of the white magician. [57] |
Các quy luật bắt đầu trong Luận về Lửa Vũ Trụ với một bản tóm tắt ngắn gọn về quá trình và một tuyên bố về bản chất của nhà Chánh Thuật. [57] |
|
I would like in this first consideration of our subject to enumerate briefly the facts given in the commentary so as to demonstrate to the aspirant how much is given him for his consideration and helping if he knows how to read and ponder upon that which he reads. The brief exegesis of Rule I gives the following statements: |
Tôi muốn trong lần xem xét đầu tiên này về chủ đề của chúng ta liệt kê ngắn gọn các sự kiện được đưa ra trong phần bình luận để chứng minh cho người chí nguyện thấy có bao nhiêu điều được trao cho y để xem xét và giúp đỡ nếu y biết cách đọc và suy ngẫm về những gì y đọc. Bài giải thích ngắn gọn về Quy Luật I đưa ra các tuyên bố sau: |
|
1. The white magician is one who is in touch with his soul. |
1. Nhà chánh thuật là người tiếp xúc với linh hồn của mình. |
|
2. He is receptive to and aware of the purpose and the plan of his soul. |
2. Y tiếp nhận và nhận thức được mục đích và kế hoạch của linh hồn mình. |
|
3. He is capable of receiving impressions from the realm of spirit and of registering them in his physical brain. |
3. Y có khả năng tiếp nhận các ấn tượng từ cõi giới tinh thần và ghi nhận chúng trong bộ não vật lý của mình. |
|
4. It is stated also that white magic— |
4. Người ta cũng nói rằng chánh thuật — |
|
a. Works from above downwards. |
a. Hoạt động từ trên xuống dưới. |
|
b. Is the result of solar vibration, and therefore of egoic energy. |
b. Là kết quả của rung động thái dương, và do đó của năng lượng Chân ngã. |
|
c. Is not an effect of the vibration of the form side of life, being divorced from emotion and mental impulse. |
c. Không phải là một tác động của sự rung động của phương diện hình tướng của sự sống, tách biệt khỏi cảm xúc và xung động trí tuệ. |
|
5. The downflow of energy from the soul is the result of |
5. Dòng năng lượng tuôn xuống từ linh hồn là kết quả của |
|
a. Constant internal re-collectedness. |
a. Sự tập trung vào bên trong liên tục. |
|
b. Concentrated one-pointed communication by the soul with the mind and the brain. |
b. Sự giao tiếp tập trung nhất tâm bởi linh hồn với thể trí và bộ não. |
|
c. Steady meditation upon the plan of evolution. |
c. Tham thiền đều đặn về kế hoạch tiến hóa. |
|
6. The soul is, therefore, in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation, which is all that concerns the student here. |
6. Do đó, linh hồn đang ở trong trạng thái thiền định sâu sắc trong toàn bộ chu kỳ nhập thể trần gian, đó là tất cả những gì liên quan đến người môn sinh ở đây. |
|
7. This meditation is rhythmic and cyclic in nature as is all else in the cosmos. The soul breathes and its form lives thereby. |
7. Sự tham thiền định này có tính chất nhịp nhàng và theo chu kỳ như tất cả những thứ khác trong vũ trụ. Linh hồn thở và hình tướng của nó sống nhờ đó. |
|
8. When the communication between the soul and its instrument is conscious and steady, the man becomes a white magician. |
8. Khi sự giao tiếp giữa linh hồn và công cụ của nó là có ý thức và ổn định, con người trở thành một nhà chánh thuật. |
|
9. Therefore workers in white magic are invariably, and through the very nature of things, advanced human beings, for it takes many cycles of lives to train a magician. |
9. Do đó, những người làm việc trong chánh thuật, thông qua chính bản chất của sự vật, luôn là những con người tiến hóa, vì phải mất nhiều chu kỳ sống để đào tạo một nhà huyền thuật. |
|
10. The soul dominates its form through the medium of the sutratma or life thread, and (through it) vitalises its triple instrument (mental, emotional and physical) and thus sets up a communication with the [58] brain. Through the brain, consciously controlled, the man is galvanised into intelligent activity on the physical plane. |
10. Linh hồn chi phối hình tướng của nó thông qua sutratma hoặc sợi chỉ sự sống (sinh mệnh tuyến), và (thông qua nó) tiếp thêm sinh lực cho công cụ tam phân của nó (trí tuệ, cảm xúc và thể chất) và do đó thiết lập giao tiếp với [58] bộ não. Thông qua bộ não, được kiểm soát một cách có ý thức, con người được kích thích vào hoạt động thông minh trên cõi hồng trần. |
|
The above is a brief analysis of the first rule for magic and I would like to suggest that in the future as the students meditate on the rules that they make such an analysis themselves. If they do this during their consideration of each rule they will approach the whole matter with greater interest and knowledge. They will also save themselves much looking back and reference. |
Trên đây là một phân tích ngắn gọn về quy luật đầu tiên của huyền thuật và tôi muốn gợi ý rằng trong tương lai, khi các môn sinh tham thiền về các quy luật, họ nên tự mình phân tích như vậy. Nếu họ làm điều này trong quá trình xem xét từng quy luật, họ sẽ tiếp cận toàn bộ vấn đề với sự quan tâm và kiến thức lớn hơn. Họ cũng sẽ tiết kiệm nhiều khỏi việc phải xem lại và tham khảo nhiều. |
|
It will be seen from a consideration of the above analysis that a very clear summation is given and that the student is started in his study of magic with a brief understanding of the past situation, his equipment and the method of approach. Let us realize from the start the simplicity of the idea intended to be conveyed by my remarks hitherto. Just as in the past the instrument and its relation to the outer world has been the paramount fact in the experience of the spiritual man, so now it is possible for a readjustment to take place wherein the outstanding fact will be the spiritual man, the solar angel or soul. It will also be realised that his relationship (through the form side) will be to the inner as well as the outer worlds. Man has included in his relation only the form side of the field of average human evolution. |
Từ việc xem xét phân tích trên, có thể thấy rằng một bản tóm tắt rất rõ ràng đã được đưa ra và rằng môn sinh bắt đầu nghiên cứu về huyền thuật với một sự hiểu biết ngắn gọn về tình huống trong quá khứ, thiết bị của mình và phương pháp tiếp cận. Ngay từ đầu, chúng ta hãy nhận ra sự đơn giản của ý tưởng dự định được truyền đạt qua những nhận xét của tôi cho đến nay. Giống như trong quá khứ, công cụ và mối quan hệ của nó với thế giới bên ngoài là sự thật quan trọng nhất trong trải nghiệm của con người tinh thần, thì bây giờ, một sự điều chỉnh có thể diễn ra, trong đó sự thật nổi bật sẽ là con người tinh thần, thái dương thiên thần hay linh hồn. Người ta cũng sẽ nhận ra rằng mối quan hệ của y (thông qua mặt hình tướng) sẽ là với thế giới bên trong cũng như thế giới bên ngoài. Con người đã chỉ bao gồm trong mối quan hệ của mình phương diện hình tướng của lĩnh vực tiến hóa trung bình của con người. |
|
He has used it and has been dominated by it. He has also suffered from it and consequently in time revolted, through utter satiety, from all that pertains to the material world. Dissatisfaction, disgust, distaste, and a deep fatigue are characteristic very frequently of those who are on the verge of discipleship. For what is a disciple? He is one who seeks to learn a new rhythm, to enter a new field of experience, and to follow the steps of that advanced humanity who have trodden ahead of him the path, leading from darkness to light, from the unreal to the real. He has tasted the joys of life in the [59] world of illusion and has learnt their powerlessness to satisfy and hold him. Now he is in a state of transition between the new and the old states of being. He is vibrating between the condition of soul awareness and form awareness. He is “seeing double”. |
Y đã sử dụng nó và đã bị nó chi phối. Y cũng đã phải chịu đựng nó và do đó theo thời gian đã chán ghét, thông qua sự thỏa mãn hoàn toàn, tất cả những gì thuộc về thế giới vật chất. Sự không hài lòng, chán ghét, không thích và sự mệt mỏi sâu sắc thường là đặc trưng của những người đang trên ranh giới trở thành đệ tử. Vì, người đệ tử là gì? Y là người tìm cách học một nhịp điệu mới, bước vào một lĩnh vực trải nghiệm mới và đi theo bước chân của những người tiến hóa đã đi trước y trên con đường dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ điều không thật đến sự thật. Y đã nếm trải những niềm vui của cuộc sống trong [59] thế giới ảo tưởng và đã học được sự bất lực của chúng trong việc thỏa mãn và giữ chân y. Bây giờ y đang trong trạng thái chuyển tiếp giữa trạng thái tồn tại mới và cũ. Y đang rung động giữa trạng thái nhận thức linh hồn và nhận thức hình tướng. Y đang “nhìn thấy song đôi”. |
|
His spiritual perception grows slowly and surely as the brain becomes capable of illumination from the soul, via the mind. As the intuition develops, the radius of awareness grows and new fields of knowledge unfold. |
Nhận thức tinh thần của y phát triển chậm nhưng chắc chắn khi bộ não trở nên có khả năng được soi sáng từ linh hồn, thông qua tâm trí. Khi trực giác phát triển, phạm vi nhận thức mở rộng và những lĩnh vực tri thức mới mở ra. |
Webinar 15—Mental Rule 1.3
|
For what is a disciple? He is one who seeks to learn a new rhythm, to enter a new field of experience, and to follow the steps of that advanced humanity who have trodden ahead of him the path, leading from darkness to light, from the unreal to the real. He has tasted the joys of life in the [59] world of illusion and has learnt their powerlessness to satisfy and hold him. Now he is in a state of transition between the new and the old states of being. He is vibrating between the condition of soul awareness and form awareness. He is “seeing double”. |
Người đệ tử là gì? Y là người tìm cách học một nhịp điệu mới, bước vào một lĩnh vực trải nghiệm mới và đi theo bước chân của những người tiến hóa đã đi trước y trên con đường dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ điều không thật đến sự thật. Y đã nếm trải những niềm vui của cuộc sống trong [59] thế giới ảo tưởng và đã học được sự bất lực của chúng trong việc thỏa mãn và giữ chân y. Bây giờ y đang trong trạng thái chuyển tiếp giữa trạng thái tồn tại mới và cũ. Y đang rung động giữa trạng thái nhận thức linh hồn và nhận thức hình tướng. Y đang “nhìn thấy song đôi”. |
|
His spiritual perception grows slowly and surely as the brain becomes capable of illumination from the soul, via the mind. As the intuition develops, the radius of awareness grows and new fields of knowledge unfold. |
Nhận thức tinh thần của y phát triển chậm nhưng chắc chắn khi bộ não trở nên có khả năng được soi sáng từ linh hồn, thông qua thể trí. Khi trực giác phát triển, phạm vi nhận thức mở rộng và những lĩnh vực tri thức mới mở ra. |
|
The first field of knowledge receiving illumination might be described as comprising the totality of forms to be found in the three worlds of human endeavour, etheric, astral and mental. The would-be disciple, through this process, becomes aware of his lower nature and begins to realize the extent of his imprisonment and (as Patanjali puts it) “the modifications of the versatile psychic nature.” The hindrances to achievement and the obstacles to progress are revealed to him and his problem becomes specific. Frequently then he reaches the position in which Arjuna found himself, confronted by enemies who are those of his own household, confused as to his duty and discouraged as he seeks to balance himself between the pairs of opposites. His prayer then should be the famous prayer of India, uttered by the heart, comprehended by the head, and supplemented by an ardent life of service to humanity. |
Lĩnh vực tri thức đầu tiên nhận được sự soi sáng có thể được mô tả là bao gồm toàn bộ các hình tướng được tìm thấy trong ba cõi giới của nỗ lực của con người, đó là cõi dĩ thái, cõi cảm dục và cõi trí. Người đệ tử tương lai, thông qua quá trình này, trở nên nhận thức được bản chất thấp hơn của mình và bắt đầu nhận ra mức độ bị giam cầm của mình, và (như Patanjali đã nói) “những biến thái của bản chất thông linh linh hoạt.” Những trở ngại để đạt được thành tựu và những chướng ngại cho sự tiến bộ được tiết lộ cho y và vấn đề của y trở nên cụ thể. Sau đó, y thường xuyên đạt đến vị trí mà Arjuna đã trải qua, đối mặt với kẻ thù là những người trong chính gia đình của chàng, bối rối về nhiệm vụ của mình và chán nản khi chàng tìm cách cân bằng giữa các cặp đối lập. Lời cầu nguyện của y khi đó nên là lời cầu nguyện nổi tiếng của Ấn Độ, được thốt ra từ trái tim, được thấu hiểu bằng đầu, và được bổ sung bằng một cuộc đời nhiệt thành phụng sự nhân loại. |
|
“Unveil to us the face of the true spiritual sun, |
“Hãy tiết lộ cho chúng con khuôn mặt của mặt trời tinh thần chân thực, |
|
Hidden by a disk of golden light, |
Bị che khuất bởi một đĩa ánh sáng vàng, |
|
That we may know the truth and do our whole duty |
Để chúng con có thể biết chân lý, và thực hiện trọn vẹn bổn phận của chúng con |
|
As we journey to Thy sacred feet.” |
Khi chúng con hành trình đến bàn chân linh thánh của Ngài.” |
|
As he perseveres and struggles, surmounts his problems and brings his desires and thoughts under control, the second field of knowledge is revealed—knowledge of the self in the spiritual body, knowledge of the ego as it expresses itself through the medium of the causal body, [60] the Karana Sarira, and awareness of that source of spiritual energy which is the motivating impulse behind the lower manifestation. The “disk of golden light” is pierced; the true sun is seen; the path is found and the aspirant struggles forward into ever clearer light. |
Khi y kiên trì và đấu tranh, vượt qua các vấn đề của mình và kiểm soát được những ham muốn và suy nghĩ của mình, lĩnh vực tri thức thứ hai được tiết lộ — tri thức về bản ngã trong thể tinh thần, tri thức về Chân ngã khi nó thể hiện thông qua phương tiện của thể nhân quả, [60] Karana Sarira, và nhận thức về nguồn năng lượng tinh thần đó là động lực thúc đẩy đằng sau sự biểu hiện thấp hơn. “Đĩa ánh sáng vàng” bị xuyên thủng; mặt trời thực sự được nhìn thấy; con đường được tìm thấy và người chí nguyện đấu tranh tiến vào ánh sáng ngày càng rõ ràng hơn. |
|
As the knowledge of the self and as the consciousness of that which the self sees, hears, knows and contacts is stabilized, the Master is found; his group of disciples is contacted; the plan for the immediate share of work he must assume is realized and gradually worked out on the physical plane. Thus the activity of the lower nature decreases, and the man little by little enters into conscious contact with his Master and his group. But this follows upon the “lighting of the lamp”—the aligning of the lower and higher and the downflow of illumination to the brain. |
Khi tri thức về bản ngã và khi tâm thức về những gì bản ngã nhìn thấy, nghe thấy, biết và tiếp xúc được ổn định, Chân sư được tìm thấy; nhóm đệ tử của Ngài được tiếp xúc; kế hoạch cho phần công việc trước mắt mà y phải đảm nhận được nhận ra và dần dần được thực hiện trên cõi hồng trần. Do đó, hoạt động của bản chất thấp hơn giảm dần, và dần dần con người bước vào sự tiếp xúc có ý thức với Chân sư của mình và nhóm của Ngài. Nhưng điều này tiếp nối sau “việc thắp sáng ngọn đèn” — sự chỉnh hợp giữa cái thấp hơn và cao hơn và dòng chảy xuống của sự soi sáng đến bộ não. |
|
It is essential that these points should be grasped and studied by all aspirants so that they may take the needed steps and develop the desired awareness. Until this is done, the Master, no matter how willing He may be, is powerless, and can take no steps to admit a man to His group and thus take him into His auric influence, making him an outpost of His consciousness. Every step of the way has to be carried out by a man himself, and there is no short or easy road out of darkness into light. |
Điều cần thiết là tất cả những người chí nguyện phải nắm bắt và nghiên cứu những điểm này để họ có thể thực hiện các bước cần thiết và phát triển nhận thức mong muốn. Cho đến khi điều này được thực hiện, Chân sư, dù Ngài có sẵn lòng đến đâu, cũng bất lực và không thể thực hiện bất kỳ bước nào để kết nạp một người vào nhóm của Ngài và do đó đưa người đó vào ảnh hưởng hào quang của Ngài, biến người đó thành một tiền đồn của tâm thức của Ngài. Mỗi bước trên con đường phải được thực hiện bởi chính con người, và không có con đường ngắn hay dễ dàng nào từ bóng tối ra ánh sáng. |
|
The Way of the Disciple |
CON ĐƯỜNG CỦA ĐỆ TỬ |
|
The white magician is ever one who, through conscious alignment with his ego, with his “angel”, is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression. We must remember that while magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not the impulses emanating from one or the other of the lunar pitris, the downflow of the impressing energy from the solar pitri is the result of his internal recollectedness, the indrawing of his [61] forces, prior to sending them concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan. It may be of use to the student if he here remembers that the ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. |
Nhà chánh thuật luôn là người, thông qua sự chỉnh hợp có ý thức với Chân ngã của mình, với “thiên thần” của mình, tiếp nhận các kế hoạch và mục đích của Ngài, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn. Chúng ta phải nhớ rằng trong khi huyền thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương, chứ không phải là những xung lực phát ra từ một hoặc một trong hai thái âm tổ phụ, thì dòng chảy xuống của năng lượng ấn tượng từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự tập trung nội tại của Ngài, sự rút vào bên trong của các [61] mãnh lực của Ngài, trước khi gửi chúng một cách tập trung đến hình bóng của Ngài, là con người, và sự tham thiền ổn định của Ngài về mục đích và kế hoạch. Có thể hữu ích cho môn sinh nếu ở đây y nhớ rằng Chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong trạng thái tham thiền sâu sắc trong toàn bộ chu kỳ nhập thể trần gian. |
|
This meditation is cyclic in nature, the pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “high impulses,” his dreams and aspirations. Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced and spiritual men, for the “reflection” is seldom responsive to the ego or the solar angel until many cycles of incarnation have transpired. The solar pitri communicates with his “shadow” or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain, if I might so express it, but the man, as yet, cannot focus or see clearly in any direction. |
Sự tham thiền này có bản chất chu kỳ, thái dương tổ phụ liên quan gửi đến “phản ảnh” của Ngài những dòng năng lượng nhịp nhàng, những dòng năng lượng này được con người liên quan nhận ra là “những xung động cao siêu”, giấc mơ và khát vọng của y. Do đó, sẽ rõ ràng tại sao những người làm việc trong chánh thuật luôn là những người tiến bộ và tinh thần, vì “phản ảnh” hiếm khi đáp ứng với Chân ngã hoặc thái dương thiên thần cho đến khi nhiều chu kỳ nhập thể đã trôi qua. Thái dương tổ phụ giao tiếp với “cái bóng” hay sự phản chiếu của mình bằng phương tiện sutratma, đi xuống qua các thể đến một điểm bên trong bộ não vật lý, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, nhưng con người, cho đến nay, không thể tập trung hoặc nhìn rõ ràng theo bất kỳ hướng nào. |
|
If he looks backward he can see only the fogs and miasmas of the planes of illusion, and fails to be interested. If he looks forward he sees a distant light which attracts him, but he cannot as yet see that which the light reveals. If he looks around, he sees but shifting forms and the cinematograph of the form side of life. If he looks within, he sees the shadows cast by the light, and becomes aware of much impedimenta which must be discarded before the light he sees in the distance can be approached, and then enter within him. Then he can know himself as light itself, and walk in that light and transmit it likewise to others. |
Nếu y nhìn lại phía sau, y chỉ có thể nhìn thấy những sương mù và ô nhiễm của các cõi giới ảo tưởng, và không còn hứng thú nữa. Nếu y nhìn về phía trước, y sẽ thấy một ánh sáng xa xăm thu hút y, nhưng y vẫn chưa thể nhìn thấy những gì ánh sáng tiết lộ. Nếu y nhìn xung quanh, y chỉ thấy những hình tướng thay đổi và phim ảnh của mặt hình tướng của cuộc sống. Nếu y nhìn vào bên trong, y sẽ thấy những cái bóng do ánh sáng tạo ra, và nhận thức được nhiều trở ngại phải được loại bỏ trước khi có thể tiếp cận ánh sáng mà y nhìn thấy ở phía xa, và sau đó đi vào bên trong y. Sau đó, y có thể biết mình là chính ánh sáng, và bước đi trong ánh sáng đó và truyền nó cho những người khác. |
|
It is perhaps well to remember that the stage of discipleship is in many ways the most difficult part of the entire ladder of evolution. The solar angel is unceasingly in deep meditation. The impulses of energy, emanating from him are increasing in vibratory rate and are becoming more and more powerful. The energy is [62] affecting more and more the forms through which the soul is seeking expression, and endeavouring to control. |
Có lẽ cũng nên nhớ rằng giai đoạn học hỏi để trở thành đệ tử theo nhiều cách là phần khó khăn nhất trong toàn bộ thang tiến hóa. Thái dương thiên thần không ngừng ở trong trạng thái tham thiền sâu sắc. Các xung động năng lượng, phát ra từ Ngài, ngày càng tăng về tốc độ rung động và ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Năng lượng đang [62] ảnh hưởng ngày càng nhiều đến các hình tướng mà linh hồn đang tìm cách thể hiện và cố gắng kiểm soát. |
|
This brings me to the consideration of the seventh point I made in my earlier analysis of Rule I. I said, “The soul’s meditation is rhythmic and cyclic in its nature as is all else in the cosmos. The soul breathes and its form lives thereby”. The rhythmic nature of the soul’s meditation must not be overlooked in the life of the aspirant. There is an ebb and flow in all nature, and in the tides of the ocean we have a wonderful picturing of an eternal law. As the aspirant adjusts himself to the tides of the soul life he begins to realise that there is ever a flowing in, a vitalising and a stimulating which is followed by a flowing out as sure and as inevitable as the immutable laws of force. This ebb and flow can be seen functioning in the processes of death and incarnation. It can be seen also over the entire process of a man’s lives, for some lives can be seen to be apparently static and uneventful, slow and inert from the angle of the soul’s experience, whilst others are vibrant, full of experience and of growth. This should be remembered by all of you who are workers when you are seeking to help others to live rightly. |
Điều này đưa tôi đến việc xem xét điểm thứ bảy mà tôi đã đưa ra trong phân tích trước đây của mình về Quy luật I. Tôi đã nói, “Sự tham thiền của linh hồn có tính chất nhịp nhàng và theo chu kỳ như tất cả những thứ khác trong vũ trụ. Linh hồn thở và hình tướng của nó sống nhờ đó”. Bản chất nhịp nhàng của sự tham thiền của linh hồn không được bỏ qua trong cuộc sống của người chí nguyện. Có sự thăng trầm trong tất cả tự nhiên, và trong thủy triều của đại dương, chúng ta có một hình ảnh tuyệt vời về một định luật vĩnh cửu. Khi người chí nguyện điều chỉnh bản thân theo thủy triều của đời sống linh hồn, y bắt đầu nhận ra rằng luôn có một dòng chảy vào, một sự tiếp thêm sinh lực và một sự kích thích, tiếp theo là một dòng chảy ra chắc chắn và không thể tránh khỏi như các định luật bất biến của mãnh lực. Sự lên xuống này có thể được nhìn thấy hoạt động trong các quá trình chết và nhập thể. Nó cũng có thể được nhìn thấy trong toàn bộ quá trình sống của một con người, vì một số kiếp sống có thể được xem là dường như tĩnh và không có sự kiện nào xảy ra, chậm chạp và trì trệ từ góc độ trải nghiệm của linh hồn, trong khi những kiếp sống khác lại sôi động, đầy trải nghiệm và tăng trưởng. Tất cả các bạn là những người lao động nên nhớ điều này khi các bạn đang tìm cách giúp đỡ người khác sống đúng đắn. |
|
Are they on the ebb or are they being subjected to the flow of the soul energy? Are they passing through a period of temporary quiescence, preparatory to greater impulse and effort, so that the work to be done must be that of strengthening and stabilising in order to enable them to “stand in spiritual being”, or are they being subjected to a cyclic inflow of forces? In this case the worker must seek to aid in the direction and utilisation of the energy which (if misdirected) will eventuate in wrecked lives but which when wisely utilised will produce a full and fruitful service. |
Họ đang ở giai đoạn thủy triều xuống hay họ đang phải chịu thủy triều lên của năng lượng linh hồn? Họ có đang trải qua một giai đoạn yên tĩnh tạm thời, chuẩn bị cho sự thúc đẩy và nỗ lực lớn hơn, để công việc cần làm phải là củng cố và ổn định để họ có thể “đứng vững trong sự hiện hữu tinh thần”, hay họ đang phải chịu một dòng chảy tuần hoàn của các lực? Trong trường hợp này, người lao động phải tìm cách hỗ trợ hướng dẫn và sử dụng năng lượng mà (nếu bị hướng sai) sẽ dẫn đến cuộc sống bị hủy hoại nhưng khi được sử dụng một cách khôn ngoan sẽ tạo ra một phụng sự đầy đủ và hiệu quả. |
|
The above thoughts can also be applied by the student of humanity to the great racial cycles and much of interest will be discovered. Again, and of more vital importance [63] to us, these cyclic impulses in the life of the disciple are of a greater frequency and speed and forcefulness than in the life of the average man. They alternate with a distressing rapidity. The hill and valley experience of the mystic is but one way of expressing this ebb and flow. |
Những suy nghĩ trên cũng có thể được môn sinh của nhân loại áp dụng cho các chu kỳ chủng tộc lớn và nhiều điều thú vị sẽ được khám phá. Một lần nữa, và quan trọng hơn đối với chúng ta, [63] những xung động tuần hoàn này trong cuộc sống của đệ tử có tần suất, tốc độ và sức mạnh lớn hơn so với cuộc sống của người bình thường. Chúng xen kẽ với một tốc độ nhanh chóng đáng lo ngại. Trải nghiệm lên xuống của nhà thần bí chỉ là một cách thể hiện sự lên xuống này. |
|
Sometimes the disciple is walking in the sunlight and at other times in the dark; sometimes he knows the joy of full communion and again all seems dull and sterile; his service is on occasion a fruitful and satisfying experience and he seems to be able to really aid; at other times he feels that he has naught to offer and his service is arid and apparently without results. All is clear to him some days and he seems to stand on the mountain top looking out over a sunlit landscape, where all is clear to his vision. He knows and feels himself to be a son of God. Later, however, the clouds seem to descend and he is sure of nothing, and seems to know nothing. He walks in the sunlight and is almost overpowered by the brilliance and heat of the solar rays, and wonders how long this uneven experience and the violent alternation of these opposites is to go on. |
Đôi khi đệ tử đang đi trong ánh sáng mặt trời và những lúc khác trong bóng tối; đôi khi y biết niềm vui của sự hòa hợp trọn vẹn và một lần nữa tất cả dường như buồn tẻ và cằn cỗi; sự phụng sự của y đôi khi là một trải nghiệm hiệu quả và thỏa mãn và dường như y có thể thực sự hỗ trợ; những lúc khác, y cảm thấy rằng mình không có gì để cống hiến và sự phụng sự của y khô khan và dường như không có kết quả. Mọi thứ đều rõ ràng đối với y vào một số ngày và y dường như đứng trên đỉnh núi nhìn ra khung cảnh đầy nắng, nơi mọi thứ đều rõ ràng đối với tầm nhìn của y. Y biết và cảm thấy mình là con của Thượng đế. Tuy nhiên, sau đó, những đám mây dường như hạ xuống và y không chắc chắn về bất cứ điều gì, và dường như không biết gì cả. Y đi trong ánh sáng mặt trời và gần như bị choáng ngợp bởi sự chói lọi và sức nóng của tia nắng mặt trời, và tự hỏi trải nghiệm thất thường và sự xen kẽ dữ dội của những điều đối lập này sẽ tiếp tục bao lâu nữa. |
|
Once however that he grasps the fact he is watching the effect of the cyclic impulses and the effect of the soul’s meditation upon his form nature, the meaning becomes clearer and he realises that it is that form aspect which is failing in its response, and re-acting to energy with unevenness. He then learns that once he can live in the soul consciousness and attain that ‘high altitude’ (if I might so express it) at will, the fluctuations of the form life will not touch him. He then perceives the narrow-edged razor path which leads from the plane of physical life to the soul realm, and finds that when he can tread it with steadiness it leads him out of the ever changing world of the senses into the clear light of day and into the world of reality. |
Tuy nhiên, một khi y nắm bắt được sự thật rằng y đang quan sát tác động của các xung động tuần hoàn và tác động của sự thiền định của linh hồn lên bản chất hình tướng của mình, ý nghĩa trở nên rõ ràng hơn và y nhận ra rằng đó là khía cạnh hình tướng đang thất bại trong việc đáp ứng của nó, và phản ứng với năng lượng một cách thất thường. Sau đó, y biết rằng một khi y có thể sống trong tâm thức linh hồn và đạt được “độ cao” đó (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) theo ý muốn, những thăng trầm của sự sống hình tướng sẽ không chạm đến y. Sau đó, y nhận thức được con đường sắc bén như lưỡi dao hẹp dẫn từ cõi giới của sự sống trần gian đến cõi giới linh hồn, và nhận thấy rằng khi y có thể bước đi trên đó một cách vững vàng, nó sẽ dẫn y ra khỏi thế giới luôn thay đổi của các giác quan vào ánh sáng ban ngày rõ ràng và vào thế giới của thực tại. |
|
The form side of life then becomes to him simply a [64] field for service and not a field of sensuous perception. Let the student ponder upon this last sentence. Let him aim to live as a soul. Then the cyclic impulses, emanating from the soul, are known to be impulses for which he himself is responsible and which he has sent forth; he then knows himself to be the initiating cause and is not subject to the effects. |
Phương diện hình tướng của cuộc sống sau đó đối với y chỉ đơn giản là một [64] lĩnh vực để phụng sự chứ không phải là một lĩnh vực của nhận thức giác quan. Hãy để người môn sinh suy ngẫm về câu cuối cùng này. Hãy để y hướng tới mục tiêu sống như một linh hồn. Sau đó, các xung động tuần hoàn, phát ra từ linh hồn, được biết là những xung động mà chính y phải chịu trách nhiệm và là những xung động mà y đã gửi đi; sau đó y biết mình là nguyên nhân khởi đầu và không phải chịu tác động. |
Webinar 16—Mental Rule 1.4
|
Looked at from another angle we get two factors, the breath and the form which the breath energises and drives into activity. Upon careful study, it becomes apparent that we have, for aeons of time, identified ourselves with the form; we have emphasised the effects of the imparted activity but have not understood the nature of the breath, nor known the nature of the One who breathes. Now in our work we are concerning ourselves with that One Who, breathing rhythmically, will drive the form into right action and right control. This is our objective and our goal. A right understanding is necessary nevertheless if we are to appreciate intelligently our task and its effects. |
Nhìn từ một góc độ khác, chúng ta có hai yếu tố, hơi thở và hình tướng mà hơi thở tiếp sinh lực và thúc đẩy hoạt động. Khi nghiên cứu kỹ lưỡng, rõ ràng là chúng ta đã tự đồng nhất mình với hình tướng trong nhiều thời kỳ; chúng ta đã nhấn mạnh những tác động của hoạt động được truyền đạt nhưng đã không hiểu bản chất của hơi thở, cũng như không biết bản chất của Đấng thở. Bây giờ trong công việc của chúng ta, chúng ta đang quan tâm đến Đấng đó, Đấng mà, thở một cách nhịp nhàng, sẽ thúc đẩy hình tướng hành động đúng và kiểm soát đúng. Đây là mục tiêu và đích đến của chúng ta. Tuy nhiên, sự hiểu biết đúng đắn là cần thiết nếu chúng ta muốn đánh giá một cách thông minh nhiệm vụ của mình và những tác động của nó. |
|
Much more could be said on this rule but enough has been here given for the average applicant to discipleship to consider and upon which to base action. Most of us are average, are we not? If we regard ourselves otherwise, we divorce ourselves from others and become guilty of the sin of separateness—the one real sin. |
Có thể nói nhiều hơn về quy luật này, nhưng những gì đã được đưa ra ở đây là đủ để ứng viên trung bình cho sự học hỏi để trở thành đệ tử xem xét và làm cơ sở cho hành động. Hầu hết chúng ta đều bình thường, phải không? Nếu chúng ta coi mình khác đi, chúng ta sẽ tách mình ra khỏi những người khác và mắc tội phân biệt — tội lỗi duy nhất thực sự. |
|
An appreciation of the above thoughts should build in the aspirant a realisation of the value of his meditation work, whilst the idea of a cyclic response to soul impulse lies back of the activities of a morning meditation, a noonday recollection, and an evening review. A larger ebb and flow is also indicated in the two aspects of the full moon and the new moon. Let this be borne in mind. |
Sự đánh giá cao những tư tưởng trên sẽ xây dựng trong người chí nguyện một sự nhận thức về giá trị của công việc tham thiền của mình, trong khi ý tưởng về một phản ứng theo chu kỳ đối với xung động linh hồn nằm sau các hoạt động của buổi tham thiền buổi sáng, sự hồi tưởng vào buổi trưa, và buổi xem xét lại buổi tối. Một sự lên xuống lớn hơn cũng được chỉ ra trong hai khía cạnh của trăng tròn và trăng non. Hãy ghi nhớ điều này. |
|
May there be a full and steady play of cyclic force from the kingdom of spirit upon each one of us calling us forth into the realm of light, love and service and producing [65] a cyclic response from each one! May there be a constant interchange between those who teach and the disciple who seeks instruction! |
Cầu mong có một sự vận hành đầy đủ và ổn định của mãnh lực tuần hoàn từ giới tinh thần đến với mỗi chúng ta, kêu gọi chúng ta bước vào cõi giới của ánh sáng, tình thương và phụng sự và tạo ra [65] một phản ứng tuần hoàn từ mỗi người! Cầu mong có một sự trao đổi liên tục giữa những người dạy và đệ tử đang tìm kiếm sự hướng dẫn! |
|
Much preliminary work will have to be done. The disciple on the physical plane and the inner teacher (whether one of the Great Ones or the “Master within the Heart”) need to know each other somewhat, and to accustom themselves to each other’s vibration. Teachers on the inner planes have much to contend with owing to the slowness of the mental processes of students in physical bodies. But confidence and trust will set up the right vibration which will produce eventually accurate work. Lack of faith, of calmness, of application, and the presence of emotional unrest will hinder. Long patience those on the inner side need in dealing with all who must, for lack of other and better material, be utilized. Some physical injudiciousness may make the physical body non-receptive; some worry or care may cause the astral body to vibrate to a rhythm impossible for the right reception of the inner purpose; some prejudice, some criticism, some pride, may be present that will make the mental vehicle of no use. |
Nhiều công việc sơ bộ sẽ phải được thực hiện. Đệ tử trên cõi hồng trần và huấn sư bên trong (cho dù là một trong những Đấng Vĩ đại hay “Chân sư bên trong Trái tim”) cần phải hiểu nhau phần nào và làm quen với rung động của nhau. Các huấn sư trên các nội giới có nhiều điều phải đối mặt do quá trình tâm trí chậm chạp của các môn sinh trong thể xác. Nhưng sự tự tin và tin tưởng sẽ thiết lập rung động đúng đắn, cuối cùng sẽ tạo ra công việc chính xác. Việc thiếu đức tin, thiếu bình tĩnh, thiếu chuyên tâm, và sự hiện diện của bất ổn cảm xúc sẽ cản trở. Những Đấng ở bên trong cần phải kiên nhẫn lâu dài khi tiếp xúc với tất cả những người mà, vì thiếu vật liệu khác và tốt hơn, phải được sử dụng. Một số hành động không khôn ngoan về mặt thể chất có thể khiến cơ thể vật lý không tiếp nhận được; một số lo lắng hoặc ưu tư có thể khiến thể cảm xúc rung động theo một nhịp điệu không phù hợp cho việc tiếp nhận đúng đắn mục đích nội tâm; một số định kiến, một số chỉ trích, một số kiêu ngạo có thể tồn tại, điều này sẽ khiến thể trí trở nên vô dụng. |
|
Aspirants to this difficult work must watch themselves with infinite care, and keep the inner serenity and peace and a mental pliability that will tend to make them of some use in the guarding and guiding of humanity. |
Những người chí nguyện cho công việc khó khăn này phải tự quan sát bản thân với sự cẩn thận vô hạn, và giữ sự thanh thản và bình yên nội tâm và sự linh hoạt tinh thần, điều này sẽ có xu hướng làm cho họ có ích trong việc bảo vệ và hướng dẫn nhân loại. |
|
The following rules might therefore be given: |
Do đó, các quy luật sau đây có thể được đưa ra: |
|
1. It is essential that there should be an endeavor to arrive at absolute purity of motive. |
1. Điều cần thiết là phải có một nỗ lực để đạt được sự thuần khiết tuyệt đối của động cơ. |
|
2. The ability to enter the silence of the high places will follow next. The stilling of the mind depends upon the law of rhythm. If you are vibrating in many directions and registering thoughts from all sides, this law will be unable to touch you. Balance and poise must be restored before equilibrium can be reached. The law of vibration and the study of atomic substance are closely [66] intertwined. When more is known about these atoms and their action, reaction and inter-action, then people will control their bodies scientifically, synchronizing the laws of vibration and of rhythm. They are the same and yet unlike. They are phases of the law of gravitation. |
2. Khả năng bước vào sự tĩnh lặng của những nơi cao sẽ đến tiếp theo. Sự yên lặng của tâm trí phụ thuộc vào định luật nhịp điệu. Nếu bạn đang rung động theo nhiều hướng và ghi nhận những suy nghĩ từ mọi phía, thì định luật này sẽ không thể chạm tới bạn. Sự cân bằng và điềm tĩnh phải được khôi phục trước khi đạt được trạng thái thăng bằng. Định luật rung động và việc nghiên cứu chất nguyên tử liên quan chặt chẽ với nhau. Khi biết nhiều hơn về các nguyên tử này và hành động, phản ứng và tương tác của chúng, thì con người sẽ kiểm soát cơ thể của mình một cách khoa học, đồng bộ hóa các định luật rung động và định luật nhịp điệu. Chúng là giống nhau nhưng lại không giống. Chúng là các giai đoạn của định luật hấp dẫn. |
|
The earth is itself an entity which, by the force of will, holds all things to itself. This is an obscure matter, little has been learned about it as yet. The inbreathing and outbreathing of the entity of the earth affects vibration potently, —that is the vibration of the physical plane matter. There is a connection also between this and the moon. Those members of humanity who are specially under lunar influence respond to this attraction more than any others, and they are difficult to use as transmitters. The silence that comes from the inner calm is the one to cultivate. Aspirants are urged to remember that the time will come when they too will form part of the group of teachers on the inner side of the veil. If then they have not learnt the silence that comes from strength and from knowledge, how will they bear the apparent lack of communication that they will then find exists between them and those on the outer side? Learn therefore, how to keep quiet or usefulness will be hampered by astral fretfulness when on the other side of death. |
Trái đất tự nó là một thực thể mà, bằng sức mạnh của ý chí, giữ tất cả mọi thứ trong mình. Đây là một vấn đề phức tạp, vẫn còn rất ít điều được học về nó. Sự hít vào và thở ra của thực thể trái đất ảnh hưởng mạnh mẽ đến rung động,—đó là sự rung động của vật chất cõi trần. Cũng có một sự liên kết giữa điều này và mặt trăng. Những thành viên của nhân loại đặc biệt chịu ảnh hưởng của mặt trăng phản ứng với sự thu hút này nhiều hơn những người khác, và họ khó có thể được sử dụng như những người truyền tải. Sự tĩnh lặng đến từ sự bình an nội tâm là điều cần được nuôi dưỡng. Những người chí nguyện được khuyến khích nhớ rằng sẽ đến lúc họ cũng sẽ là một phần của nhóm các Huấn Sư ở mặt bên trong của bức màn che. Nếu khi đó họ chưa học được sự tĩnh lặng đến từ sức mạnh và tri thức, thì làm sao họ có thể chịu đựng được sự thiếu giao tiếp rõ ràng mà họ sẽ thấy tồn tại giữa họ và những người ở phía bên ngoài? Vì vậy, hãy học cách giữ im lặng hoặc sự hữu dụng của bạn sẽ bị cản trở bởi sự bồn chồn cảm dục khi ở phía bên kia của cái chết. |
|
3. Remember always that lack of calm in the daily life prevents the teachers on egoic levels from reaching you. Endeavor therefore to remain quiescent as life unrolls, work, toil, strive, aspire, and hold the inner calm. Withdraw steadily into interior work and so cultivate a responsiveness with the higher planes. A perfect steadiness of inner poise is what the Masters need in those whom They seek to use. It is an inner poise that holds to the vision yet does its outer work on the physical plane with a concentrated physical brain attention which is in no way deviated by the inner receptiveness. It involves a dual activity. [67] |
3. Luôn luôn nhớ rằng sự thiếu bình tĩnh trong cuộc sống hàng ngày ngăn cản các huấn sư trên các cõi Chân ngã tiếp cận bạn. Do đó, hãy cố gắng giữ yên tĩnh khi cuộc sống diễn ra, làm việc, khó nhọc, phấn đấu, khao khát và giữ bình tĩnh nội tâm. Rút lui đều đặn vào công việc nội tâm và do đó trau dồi khả năng đáp ứng với các cõi cao hơn. Sự ổn định hoàn hảo của sự điềm tĩnh nội tâm là những gì các Chân sư cần ở những người mà Họ tìm cách sử dụng. Đó là một sự điềm tĩnh nội tâm giữ vững tầm nhìn nhưng vẫn thực hiện công việc bên ngoài của nó trên cõi hồng trần với sự chú ý tập trung của bộ não vật lý mà không bị lệch lạc bởi sự tiếp nhận bên trong. Nó liên quan đến một hoạt động kép. [67] |
|
4. Learn to control thought. It is necessary to guard what you think. These are days when the race as a whole is becoming sensitive and telepathic and responsive to thought interplay. The time is approaching when thought will become public property, and others will sense what you think. Thought has, therefore, to be carefully guarded. Those who are contacting the higher truths and becoming sensitive to the Universal Mind must protect some of their knowledge from the intrusion of other minds. Aspirants must learn to inhibit certain thoughts, and prevent certain knowledge from leaking out into the public consciousness when in contact with their fellow men. |
4 .Học cách kiểm soát tư tưởng. Cần phải bảo vệ những gì bạn nghĩ. Đây là những ngày mà toàn thể nhân loại đang trở nên nhạy cảm và có khả năng viễn cảm và đáp ứng với sự tương tác tư tưởng. Thời gian đang đến gần khi tư tưởng sẽ trở thành tài sản công cộng, và những người khác sẽ cảm nhận được những gì bạn nghĩ. Do đó, tư tưởng phải được bảo vệ cẩn thận. Những người đang tiếp xúc với những chân lý cao hơn và trở nên nhạy cảm với Tâm trí Vũ trụ phải bảo vệ một số kiến thức của họ khỏi sự xâm nhập của những tâm trí khác. Những người chí nguyện phải học cách ức chế một số suy nghĩ nhất định và ngăn một số kiến thức nhất định bị rò rỉ vào tâm thức cộng đồng khi tiếp xúc với đồng loại của họ. |
|
It is of course of vital interest to appreciate the significance of the words “scatters not his force.” There are so many lines of activity into which the soul-inspired disciple may throw himself. Assurance as to varying lines of activity is not easy to reach and every aspirant knows perplexity. Let us put the problem in the form of a question, relegating it to the plane of every-day endeavour, as we are not yet in a position to comprehend in what way a soul can “scatter its forces” on the higher planes. |
Tất nhiên, điều quan trọng là phải đánh giá cao ý nghĩa của các từ “không phân tán mãnh lực của mình”. Có rất nhiều lĩnh vực hoạt động mà đệ tử được truyền cảm hứng từ linh hồn có thể dấn thân vào. Sự đảm bảo về các lĩnh vực hoạt động khác nhau là không dễ đạt được và mọi người chí nguyện đều biết sự bối rối. Hãy để chúng ta đặt vấn đề dưới dạng một câu hỏi, đưa nó đến bình diện nỗ lực hàng ngày, vì chúng ta vẫn chưa ở vị trí có thể hiểu được cách thức mà một linh hồn có thể “phân tán các mãnh lực của nó” trên các cõi cao hơn. |
|
What is the criterion whereby a man may know which out of several lines of activity is the right line to take? Is there, in other words, a revealing something which will enable a man unerringly to choose the right action and go the right way? The question has no reference to a choice existing between the path of spiritual endeavour and the way of the man of the world. It refers to right action when faced with a choice. |
Tiêu chí nào để một người có thể biết đâu là con đường đúng đắn để thực hiện trong số nhiều con đường hoạt động? Nói cách khác, có một điều gì đó tiết lộ sẽ cho phép một người không sai lầm chọn hành động đúng và đi đúng hướng không? Câu hỏi không đề cập đến sự lựa chọn tồn tại giữa con đường nỗ lực tinh thần và con đường của người của thế giới. Nó đề cập đến hành động đúng đắn khi phải đối mặt với một sự lựa chọn. |
|
There is no question but that a man is faced, in his progress, with increasingly subtle distinctions. The crude discrimination between right and wrong which occupies the child soul is succeeded by the finer distinctions of right, or of more right, of high, or higher, and the [68] moral or spiritual values have to be faced with the most meticulous spiritual perception. In the stress and toil of life and in the constant pressure on each one from those who constitute their group, the complexity of the problem is very great. |
Không còn nghi ngờ gì nữa, một người trong quá trình tiến bộ của mình phải đối mặt với những sự phân biệt ngày càng tinh tế. Sự phân biệt thô sơ giữa đúng và sai vốn chiếm giữ linh hồn trẻ con được kế tục bởi những sự phân biệt tinh tế hơn về đúng, hoặc đúng hơn, cao, hoặc cao hơn, và các [68] giá trị đạo đức hoặc tinh thần phải được đối mặt với nhận thức tinh thần tỉ mỉ nhất. Trong sự căng thẳng và mệt nhọc của cuộc sống và trong áp lực liên tục đối với mỗi người từ những người tạo thành nhóm của họ, sự phức tạp của vấn đề là rất lớn. |
|
In solving such problems, certain broad discriminations can precede the more subtle and when these decisions have been made the more subtle can then take their place. The choice between selfish and unselfish action is the most obvious one to follow upon the choice between right and wrong, and is easily settled by the honest soul. A choice which involves discrimination between individual benefit and group responsibility rapidly eliminates other factors, and is easy to the man who shoulders his just responsibility. Note the use of the words “just responsibility.” We are considering the normal, sane man and not the over-conscientious morbid fanatic. There follows next the distinction between the expedient, involving factors of physical plane relations of business and of finance, leading up to a consideration of the highest good for all parties concerned. But having through this triple eliminative process arrived at a certain position, cases arise where choice still remains in which neither common sense nor logical, discerning reason seem to help. The desire is only to do the right thing; the intent is to act in the highest possible way and to take that line of action which will produce the best good of the group apart from personal considerations altogether. Yet light upon the path, which must be trodden, is not seen; the door which should be entered is unrecognized and the man remains in the state of constant indecision. What, then, must be done? One of two things: |
Trong việc giải quyết những vấn đề như vậy, một số phân biện rộng lớn có thể đi trước những điều tinh tế hơn, và khi những quyết định này đã được đưa ra, những phân biện tinh tế hơn sau đó có thể thay thế vị trí của chúng. Sự lựa chọn giữa hành động ích kỷ và vị tha là điều hiển nhiên nhất để làm theo sau sự lựa chọn giữa đúng và sai, và dễ dàng được giải quyết bởi linh hồn trung thực. Một sự lựa chọn liên quan đến việc phân biện giữa lợi ích cá nhân và trách nhiệm nhóm sẽ nhanh chóng loại bỏ các yếu tố khác, và dễ dàng đối với người gánh vác trách nhiệm chính đáng của mình. Lưu ý cách sử dụng các từ “trách nhiệm chính đáng”. Chúng ta đang xem xét một người bình thường, lành mạnh chứ không phải là một người cuồng tín bệnh hoạn quá mức tận tâm. Tiếp theo là sự phân biện điều thiết thực, liên quan đến các yếu tố quan hệ cõi hồng trần về kinh doanh và tài chính, dẫn đến việc xem xét lợi ích cao nhất cho tất cả các bên liên quan. Nhưng sau khi thông qua quá trình loại trừ tam phân này để đi đến một vị trí nhất định, các trường hợp phát sinh khi vẫn còn sự lựa chọn mà cả lương tri lẫn lý trí logic, sáng suốt dường như đều không giúp ích được gì. Mong muốn chỉ là làm điều đúng đắn; ý định là hành động theo cách cao nhất có thể, và thực hiện đường lối hành động đó sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho nhóm ngoài những cân nhắc cá nhân hoàn toàn. Mong muốn duy nhất là làm điều đúng đắn; ý định là hành động theo cách cao nhất có thể và thực hiện đường lối hành động đó sẽ mang lại điều tốt đẹp nhất cho nhóm, hoàn toàn tách khỏi những cân nhắc cá nhân. Tuy nhiên, ánh sáng trên đường phải đi vẫn chưa được thấy; cánh cửa cần phải bước vào vẫn chưa được nhận ra và người đó vẫn ở trong trạng thái do dự liên tục. Vậy, điều gì phải được thực hiện? Một trong hai điều sau: |
|
First the aspirant can follow his inclination and choose that line of action out of the residue of possible lines which seems to him the wisest and the best. This involves belief in the working of the law of Karma and also [69] a demonstration of that firm decisiveness which is the best way in which his personality can learn to abide by the decisions of his own soul. It involves also the ability to go forward upon the grounds of the decision made, and so to abide by the results without forebodings or regrets. |
Thứ nhất, người chí nguyện có thể làm theo khuynh hướng của mình và chọn con đường hành động trong số những con đường còn lại khả thi mà theo y là khôn ngoan nhất và tốt nhất. Điều này liên quan đến niềm tin vào sự vận hành của Định luật Nghiệp Quả và cũng [69] là một minh chứng cho sự quyết đoán vững chắc đó là cách tốt nhất mà phàm ngã của y có thể học cách tuân theo các quyết định của chính linh hồn mình. Nó cũng liên quan đến khả năng tiến về phía trước trên cơ sở quyết định đã đưa ra, và do đó tuân theo kết quả mà không có dự báo trước hoặc hối tiếc. |
|
Secondly, he can wait, resting back upon an inner sense of direction, knowing that in due time he will ascertain, through the closing of all doors but one, which is the way he should go. For there is only one open door through which such a man can go. Intuition is needed for its recognition. In the first case mistakes may be made, and the man thereby learns and is enriched; in the second case, mistakes are impossible and only right action can be taken. |
Thứ hai, y có thể chờ đợi, dựa vào cảm giác hướng dẫn bên trong, biết rằng đến đúng thời điểm, y sẽ biết chắc, thông qua việc đóng tất cả các cánh cửa trừ một cánh cửa, đâu là con đường mà y nên đi. Vì chỉ có một cánh cửa mở mà một người như vậy có thể đi qua. Trực giác là cần thiết để nhận ra nó. Trong trường hợp đầu tiên, sai lầm có thể xảy ra, và nhờ đó con người học hỏi và trở nên phong phú hơn; trong trường hợp thứ hai, sai lầm là không thể xảy ra và chỉ có hành động đúng đắn mới có thể được thực hiện. |
|
It is obvious, therefore, that all resolves itself into an understanding of one’s place upon the ladder of evolution. Only the highly advanced man can know the times and seasons and can adequately discern the subtle distinction between a psychic inclination and the intuition. |
Do đó, rõ ràng là tất cả đều được giải quyết thành sự hiểu biết về vị trí của một người trên nấc thang tiến hóa. Chỉ có người có trình độ tiến hóa cao mới có thể biết thời gian và mùa vụ và có thể phân biệt đầy đủ sự khác biệt tinh tế giữa khuynh hướng tâm linh và trực giác. |
|
In considering these two ways of ultimate decision let not the man who should use his common sense and take a line of action based upon the use of the concrete mind, practice the higher method of waiting for a door to open. He is expecting too much in the place where he is. He has to learn through right decision and right use of the mind to solve his problems. Through this method he will grow, for the roots of intuitive knowledge are laid deep within the soul and the soul, therefore, must be contacted before the intuition can work. One hint only can here be given: —the intuition ever concerns itself with group activity and not with petty personal affairs. If you are still a man centered in the personality, recognize it, and with the equipment available, govern your actions. If you know yourself to be functioning as a soul and are lost in the interest of others, untrammeled by selfish desire, then [70] your just obligation will be met, your responsibilities shouldered, your group work carried forward, and the way will unfold before you, whilst you do the next thing and fulfill the nest duty. Out of duty, perfectly performed, will emerge those larger duties which we call world work; out of the carrying of family responsibilities will come that strengthening of our shoulders which will enable us to carry those of the larger group. What, then, is the criterion? |
Khi xem xét hai cách quyết định cuối cùng này, đừng để một người vốn nên sử dụng lương tri của mình và thực hiện một đường lối hành động dựa trên việc sử dụng trí cụ thể, thực hành phương pháp cao hơn là chờ đợi một cánh cửa mở ra. Y đang mong đợi quá nhiều ở vị trí của y. Y phải học thông qua quyết định đúng đắn và sử dụng đúng đắn thể trí để giải quyết vấn đề của mình. Thông qua phương pháp này, y sẽ phát triển, vì gốc rễ của tri thức trực giác được đặt sâu trong linh hồn, và do đó, linh hồn phải được tiếp xúc trước khi trực giác có thể hoạt động. Chỉ có một gợi ý ở đây có thể được đưa ra: — trực giác luôn luôn liên quan đến hoạt động nhóm chứ không phải với những công việc cá nhân nhỏ nhặt. Nếu bạn vẫn là một người tập trung vào phàm ngã, hãy nhận ra điều đó, và với những thiết bị có sẵn, hãy điều chỉnh hành động của bạn. Nếu bạn biết mình đang hoạt động như một linh hồn và quên mình vì lợi ích của người khác, không bị ràng buộc bởi ham muốn ích kỷ, thì [70] nghĩa vụ chính đáng của bạn sẽ được đáp ứng, trách nhiệm của bạn sẽ được gánh vác, công việc nhóm của bạn sẽ được thực hiện, và con đường sẽ mở ra trước mắt bạn, trong khi bạn làm điều tiếp theo và hoàn thành nhiệm vụ tiếp theo. Từ bổn phận được thực hiện một cách hoàn hảo, sẽ xuất hiện những bổn phận lớn hơn mà chúng ta gọi là công việc thế giới; từ việc gánh vác trách nhiệm gia đình sẽ đến sự củng cố đôi vai của chúng ta, điều sẽ cho phép chúng ta gánh vác trách nhiệm của nhóm lớn hơn. Vậy thì, tiêu chí là gì? |
|
For the high grade aspirant, let me repeat, the choice of action depends upon a sound use of the lower mind, the employment of a sane common-sense and the forgetfulness of selfish comfort and personal ambition. This leads to the fulfillment of duty. For the disciple there will be the automatic and necessary carrying forward of all the above, plus the use of the intuition which will reveal the moment when wider group responsibilities can be justly shouldered and carried simultaneously with those of the smaller group. Ponder on this. The intuition reveals not the way ambition can be fed, nor the manner in which desire for selfish advancement can be gratified. |
Đối với người chí nguyện cao cấp, tôi xin nhắc lại, sự lựa chọn hành động phụ thuộc vào việc sử dụng đúng đắn hạ trí, sử dụng lương tri lành mạnh và quên đi sự thoải mái ích kỷ và tham vọng cá nhân. Điều này dẫn đến việc hoàn thành bổn phận. Đối với đệ tử, sẽ có sự thực hiện tự động và cần thiết tất cả những điều trên, cộng với việc sử dụng trực giác, điều này sẽ tiết lộ thời điểm khi nào có thể gánh vác một cách chính đáng các trách nhiệm nhóm rộng lớn hơn và thực hiện đồng thời với trách nhiệm của nhóm nhỏ hơn. Hãy suy ngẫm về điều này. Trực giác không tiết lộ cách thức tham vọng có thể được nuôi dưỡng, cũng không phải cách thức mà ham muốn thăng tiến ích kỷ có thể được thỏa mãn. |
Webinar 17—Rule 2.1 (trang 71-76)
|
Rule II |
QUY LUẬT HAI |
|
When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth. |
Khi cái bóng đã đáp ứng, trong thiền định sâu thẳm, công việc tiến triển. Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiến triển. |
|
Hindrances to Occult Study |
NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU HUYỀN LINH |
|
[73] |
[73] |
|
This rule is one of the most difficult in the book and yet one of the most comprehensive. It will take us some time rightly to handle it. We have in it an interesting illustration of the microcosmic correspondence to the macrocosm. It can be elucidated in two ways in relation to the light it mentions. |
Quy luật này là một trong những quy luật khó nhất trong sách và cũng là một trong những quy luật toàn diện nhất. Chúng ta cần một khoảng thời gian để xử lý đúng đắn nó. Trong đó, chúng ta có một minh họa thú vị về sự tương ứng tiểu thiên địa với đại thiên địa. Nó có thể được làm sáng tỏ theo hai cách liên quan đến ánh sáng mà nó đề cập. |
|
Reference is made to the “greater light” which illuminates the three and, secondly, to the throwing upward of the “lower light”. |
Tham chiếu đề cập đến “ánh sáng lớn hơn” soi sáng bộ ba và, thứ hai, đến việc ném lên trên của “ánh sáng thấp hơn”. |
|
The “greater light” is that of the soul, who is light itself illuminating the manifestation of the three-fold personality. Herein lies the correspondence to the macrocosm as it is symbolized for us in God, the manifesting light of the solar system. The solar system is three in one, or one in three, and the light of the Logos illuminates the whole. The “lower light” is that which is hidden within the human being on the physical plane. This light, at a certain stage of man’s experience, is awakened throughout the physical body and blends eventually with the “greater light”. The light and life of God Himself may emanate from the central Spiritual Sun, but it is only as the light within the solar system itself is awakened and aroused that there will come that eventual blazing forth which will typify the glory of the Sun shining in its strength. Similarly, the light of the soul may emanate from the Monad, but it is only as the light within the little system (directed by the soul) is awakened and aroused that there will come the eventual shining forth of a son of God. [74] |
“Ánh sáng lớn hơn” là ánh sáng của linh hồn, chính là ánh sáng soi sáng sự biểu hiện của phàm ngã tam phân. Ở đây có sự tương ứng với đại thiên địa như nó được biểu tượng hóa cho chúng ta trong Thượng Đế, ánh sáng biểu hiện của thái dương hệ. Thái dương hệ là ba trong một, hay một trong ba, và ánh sáng của Thượng Đế soi sáng toàn bộ. “Ánh sáng thấp hơn” là ánh sáng ẩn giấu trong con người trên cõi hồng trần. Ánh sáng này, ở một giai đoạn nhất định trong trải nghiệm của con người, được đánh thức xuyên suốt cơ thể vật lý và cuối cùng hòa quyện với “ánh sáng lớn hơn”. Ánh sáng và sự sống của chính Thượng Đế có thể phát ra từ Mặt Trời Tinh Thần Trung Ương, nhưng chỉ khi ánh sáng trong chính thái dương hệ được đánh thức và khuấy động thì sẽ có sự bùng phát cuối cùng, điều này sẽ biểu thị sự vinh quang của Mặt Trời chiếu sáng trong sức mạnh của nó. Tương tự như vậy, ánh sáng của linh hồn có thể phát ra từ Chân Thần, nhưng chỉ khi ánh sáng trong hệ thống nhỏ (do linh hồn điều khiển) được đánh thức và khuấy động thì sẽ có sự tỏa sáng cuối cùng của một người con của Thượng Đế. [74] |
|
In these instructions, however, we are dealing primarily with the microcosm and the light within it; we shall not enlarge upon the macrocosmic analogies. In considering this second rule, we must note that a conscious relation has been established between the soul and its shadow, the man on the physical plane. Both have been meditating. Students would do well to note this and to remember that one of the objectives of the daily meditation is to enable the brain and mind to vibrate in unison with the soul as it seeks “in meditation deep” to communicate with its reflection. |
Tuy nhiên, trong những hướng dẫn này, chúng ta chủ yếu đang đề cập đến tiểu thiên địa và ánh sáng bên trong nó; chúng ta sẽ không mở rộng về các tương đồng đại thiên địa. Khi xem xét quy luật thứ hai này, chúng ta phải lưu ý rằng một mối quan hệ có ý thức đã được thiết lập giữa linh hồn và cái bóng của nó, tức con người trên cõi hồng trần. Cả hai đều đã tham thiền. Các học viên nên lưu ý điều này và nhớ rằng một trong những mục tiêu của việc tham thiền hàng ngày là làm cho bộ não và thể trí rung động đồng nhất với linh hồn khi nó cố gắng “trong cơn thiền định sâu thẳm” để giao tiếp với phản ảnh của nó. |
|
The correspondence to this relation, or synchronizing vibration is interesting: |
Sự tương ứng với mối quan hệ này, hay sự rung động đồng bộ là thú vị: |
|
Soul………………….Man on the Physical Plane |
Linh hồn………………….Con người trên cõi hồng trần |
|
Mind…………………Brain |
Trí tuệ……………………Bộ não |
|
Pineal Gland………Pituitary Body |
Tuyến Tùng…………….Tuyến Yên |
|
The relation also between the centers, and their synchronization is interesting and in it is epitomized the evolution of the race as well as the racial unit, man. |
Mối quan hệ giữa các luân xa và sự đồng bộ của chúng cũng thú vị và trong đó là tóm tắt sự tiến hóa của chủng tộc cũng như đơn vị chủng tộc, con người. |
|
Head Center………..Base of the Spine |
Luân xa Đầu……………Đáy Cột Sống |
|
Heart Center………..Solar Plexus |
Luân xa Tim……………Tùng Thái Dương |
|
Throat Center……….Sacral Center |
Luân xa Cổ Họng……..Xương Cùng |
|
In the above lies a hint for the more advanced student (and he is the one who hesitates so to regard himself). It is also symbolized for us in the relation between the Eastern and the Western hemispheres and between those great bodies of truth which we call Religion and Science. |
Trong đoạn trên có một gợi ý cho học viên cao cấp hơn (và y là người do dự để tự coi mình như vậy). Nó cũng được biểu tượng hóa cho chúng ta trong mối quan hệ giữa bán cầu Đông và Tây, và giữa những bộ phận lớn của chân lý mà chúng ta gọi là Tôn giáo và Khoa học. |
|
The life of meditation proceeds and the rapport between the soul and its triple instrument becomes steadily closer, and the resulting vibration more powerful. How many lives this will take depends upon various factors, which are too numerous to be mentioned here but which the student will find it useful to consider. Let him list the factors which he feels he needs to take into account as he seeks to decide his evolutionary standpoint. [75] |
Cuộc sống tham thiền tiến triển và sự hòa hợp giữa linh hồn và công cụ tam phân của nó trở nên ngày càng gần gũi hơn, và rung động kết quả mạnh mẽ hơn. Bao nhiêu kiếp sẽ mất để đạt được điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, chúng quá nhiều để đề cập ở đây nhưng học viên sẽ thấy hữu ích khi xem xét. Hãy để y liệt kê các yếu tố mà y cảm thấy cần phải xem xét khi y cố gắng xác định vị trí tiến hóa của mình. [75] |
|
The result of this response is a reorientation of the lower man in order to produce a synthesis of the Three and the One so that the work of the Four may proceed. Here you have the reflection consummated in the microcosm of that with which the Solar Logos started, the “Sacred Four” of the Cosmos; man in his turn becomes a “Sacred Four”—spirit and the three of manifestation. |
Kết quả của sự đáp ứng này là sự tái định hướng của phàm ngã nhằm tạo ra sự hợp nhất của Ba và Một để công việc của Bốn có thể tiến triển. Ở đây bạn có sự phản chiếu được hoàn tất trong tiểu thiên địa của điều mà Thái Dương Thượng Đế đã bắt đầu, “Bộ Tứ Thiêng Liêng” của Vũ Trụ; con người đến lượt mình trở thành một “Bộ Tứ Thiêng Liêng” —tinh thần và bộ ba của sự biểu hiện. |
|
Four words should be pondered upon here: |
Bốn từ cần được suy ngẫm ở đây: |
|
1. Communication |
1. Giao tiếp |
|
2. Response |
2. Đáp ứng |
|
3. Reorientation |
3. Tái định hướng |
|
4.Union |
4. Hợp nhất |
|
The Old Commentary expresses it in the following terms: |
Cổ Luận diễn đạt điều này bằng những thuật ngữ sau: |
|
“When communion is established, words are forthwith used, and mantric law assumes its rightful place, provided that the One communicates the words and the three remain in silence. |
“Khi sự giao cảm được thiết lập, từ ngữ ngay lập tức được sử dụng, và định luật thần chú đảm nhận vị trí chính đáng của nó, với điều kiện là Đấng Duy Nhất truyền đạt những từ ngữ và ba cái còn lại im lặng. |
|
“When response is recognized as emanating from the three, the One, in silence, listens. The roles are changed. A three-fold word issues from out the triple form. A turning round is caused. The eyes no longer look upon the world of form; they turn within, focus the light, and see, revealed, an inner world of being. With this the Manas stills itself, for eyes and mind are one. |
“Khi phản hồi được nhận biết là phát ra từ bộ ba, Đấng Duy Nhất, trong im lặng, lắng nghe. Các vai trò được thay đổi. Một từ tam phân phát ra từ hình thể tam phân. Một sự quay lại được tạo ra. Đôi mắt không còn nhìn vào thế giới hình tướng; chúng quay vào trong, tập trung ánh sáng, và thấy, tiết lộ, một thế giới nội tại của sự hiện hữu. Với điều này, Manas tự tĩnh lặng, vì đôi mắt và trí tuệ là một. |
|
“The heart no longer beats in tune with low desire, nor wastes its love upon the things that group and hide the Real. It beats with rhythm new; it pours its love upon the Real, and Maya fades away. Kama and heart are close allied; love and desire form one whole—one seen at night, the other in the light of day . . . . |
“Trái tim không còn đập theo nhịp điệu của dục vọng thấp, cũng không lãng phí tình yêu của nó vào những thứ tập hợp và che giấu Thực tại. Nó đập với nhịp điệu mới; nó đổ tình thương của nó lên Thực tại, và Maya tan biến. Kama và trái tim gần gũi; tình yêu và dục vọng tạo thành một tổng thể—một cái nhìn thấy trong đêm, cái kia trong ánh sáng ban ngày…” |
|
“When fire and love and mind submit themselves, sounding the three-fold word, there comes response. |
“Khi lửa, tình thương và trí tuệ tự phục tùng, xướng lên từ ngữ tam phân, thì có sự phản hồi. |
|
“The One enunciates a word which drowns the triple sound. God speaks. A quivering and a shaking in the form responds. The new stands forth, a man remade; the form rebuilt; the house prepared. The fires unite, and [76] great the light that shines: the three merge with the One and through the blaze a four-fold fire is seen.” |
“Đấng Duy Nhất xướng lên một từ nhấn chìm âm thanh tam phân. Thượng Đế phán. Một sự rung động và lay chuyển trong hình thể đáp lại. Cái mới hiện ra, một con người được tái tạo; hình thể được tái cấu trúc; ngôi nhà được chuẩn bị. Các ngọn lửa hợp nhất, ánh sáng lớn tỏa sáng: ba hòa quyện với Một và qua ngọn lửa bừng cháy một ngọn lửa tứ phân được thấy.” |
|
In this pictorial writing which I have sought to convey in modern English, the sages of old embodied an idea. The Old Commentary from which these words are taken has no assignable date. Should I endeavor to tell you its age I have no means of proving the truth of my words and hence would be faced with credulity—a thing aspirants must avoid in their search for the essential and Real. I have sought in the above few phrases to give the gist of what is expressed in the Commentary, through the means of a few symbols and a cryptic text. These old Scriptures are not read in the way modern students read books. They are seen, touched and realized. The meaning is disclosed in a flash. Let me illustrate: —The words “the One enunciates the word which drowns the triple sound” are depicted by a shaft of light ending in a symbolic word in gold superimposed over three symbols in black, rose and green. Thus are the secrets guarded with care. |
Trong văn bản tượng hình mà tôi đã cố gắng truyền tải bằng tiếng Anh hiện đại này, các bậc hiền triết ngày xưa đã thể hiện một ý tưởng. Cổ Luận mà từ đó các từ ngữ này được trích ra không có ngày tháng xác định. Nếu tôi cố gắng nói cho bạn biết tuổi của nó, tôi không có phương tiện nào để chứng minh sự thật của lời nói của mình và do đó sẽ gặp phải sự cả tin—điều mà các người chí nguyện phải tránh trong cuộc tìm kiếm cái thiết yếu và Thực tại. Tôi đã cố gắng trong những cụm từ trên để truyền tải tinh túy của những gì được diễn đạt trong Cổ Luận, thông qua một vài biểu tượng và chữ viết bí ẩn. Những kinh văn cổ này không được đọc theo cách mà các học viên hiện đại đọc sách. Chúng được nhìn thấy, chạm vào và nhận ra. Ý nghĩa được tiết lộ trong chớp nhoáng. Hãy để tôi minh họa: —Các từ “Đấng Duy Nhất xướng lên một từ nhấn chìm âm thanh tam phân” được miêu tả bởi một tia sáng kết thúc bằng một từ biểu tượng bằng vàng được đặt chồng lên ba biểu tượng màu đen, hồng và xanh lá. Do đó, những bí mật được bảo vệ cẩn thận. |
Webinar 18—Rule 2.2
|
I felt it might be of interest to students to know this much about this ancient test book of the Adepts. |
Tôi cảm thấy có thể sẽ thú vị cho các học viên khi biết đôi điều về cuốn sách thử nghiệm cổ xưa (test book) này của các Chân Sư. |
|
Our consideration of this rule will fall into two parts: |
Việc xem xét quy luật này của chúng ta sẽ được chia thành hai phần: |
|
The relation between the soul and the personality. This will be handled particularly with reference to meditation in the daily life, more than from the theoretical and the academical. |
Mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Điều này sẽ được xử lý đặc biệt với tham chiếu đến tham thiền trong cuộc sống hàng ngày, hơn là từ lý thuyết và học thuật. |
|
The significance of the words, “the lower light is thrown upward.” These deal with the centers and the Kundalini Fire. |
Ý nghĩa của những từ, “ánh sáng thấp hơn được ném lên trên.” Những điều này liên quan đến các luân xa và Kundalini. |
|
I would like here to point out the advisability of each student arriving at an understanding of his etheric body, and this for certain reasons. |
Tôi muốn chỉ ra điều nên làm của mỗi học viên trong việc đạt đến sự hiểu biết về thể dĩ thái của mình, và điều này vì những lý do nhất định. |
|
First, the etheric body is the next aspect of the world substance to be studied by scientists and investigators. This time will be hastened if thinking men and women [77] can formulate intelligent ideas anent this interesting subject. We can aid in the revelation of the truth by our clear thinking and from the standpoint of the present pronouncements about the ether, scientists will eventually arrive at an understanding of etheric forms or bodies. |
Thứ nhất, thể dĩ thái là khía cạnh tiếp theo của thế giới vật chất sẽ được các nhà khoa học và các nhà điều tra nghiên cứu. Thời gian này sẽ được rút ngắn nếu những người nam và nữ có tư duy có thể hình thành những ý tưởng thông minh về chủ đề thú vị này. Chúng ta có thể giúp tiết lộ sự thật bằng cách suy nghĩ rõ ràng, và từ quan điểm của những tuyên bố hiện tại về dĩ thái, các nhà khoa học cuối cùng sẽ đạt đến sự hiểu biết về các hình tướng hay thể dĩ thái. |
|
Secondly, the etheric body is composed of force currents, and in it are vital centers linked by lines of force with each other and with the nervous system of the physical man. Through these lines of force, it is connected also with the etheric body of the environing system. Note that in this lies the basis for a belief in immortality, for the law of brotherhood or unity and for astrological truth. |
Thứ hai, thể dĩ thái được cấu tạo từ các dòng lực, và trong đó có các trung tâm sinh lực được liên kết bằng các đường lực với nhau và với hệ thần kinh của con người vật lý. Thông qua các đường lực này, nó cũng được kết nối với thể dĩ thái của hệ thống môi trường xung quanh. Lưu ý rằng điều này là cơ sở cho niềm tin vào sự bất tử, cho định luật huynh đệ hay sự hợp nhất và cho sự thật chiêm tinh. |
|
Thirdly, the need of realizing that the etheric body is vitalized and controlled by thought and can (through thought) be brought into full functioning activity. This is done by right thinking and not by breathing exercises and holding the nose. When this is grasped, much dangerous practice will be avoided and people will come into a normal and safe control of that most potent instrument, the vital body. That this end may rapidly be consummated is my earnest wish. |
Thứ ba, cần phải nhận ra rằng thể dĩ thái được tiếp sinh lực và điều khiển bởi tư tưởng và có thể (thông qua tư tưởng) được đưa vào hoạt động đầy đủ. Điều này được thực hiện bằng cách suy nghĩ đúng đắn và không bằng các bài tập thở và việc bịt mũi. Khi điều này được hiểu, nhiều thực hành nguy hiểm sẽ được tránh và mọi người sẽ đạt đến sự kiểm soát bình thường và an toàn đối với công cụ mạnh mẽ nhất, thể sinh lực. Mong muốn chân thành của tôi là điều này có thể được hoàn thành nhanh chóng. |
|
Occult study is of profound importance, and students of these sciences must bring to bear upon them, all that they have of mental application and concentrated attention. It involves also the steady working out of the truths learnt. |
Nghiên cứu huyền linh là vô cùng quan trọng, và các học viên của những khoa học này phải dồn tất cả sự áp dụng trí tuệ và sự tập trung chú ý vào chúng. Nó cũng bao hàm việc thực hiện kiên trì những chân lý đã học được. |
|
Occult study, as understood in the Occident, is intellectually investigated but not practically followed. Theoretically some glimmering of light may be appreciated by the man who aspires to the occult path, but the systematic working out of the laws involved has made small progress as yet. |
Nghiên cứu huyền linh, như được hiểu ở phương Tây, được nghiên cứu một cách trí tuệ nhưng không được thực hành theo. Về lý thuyết, một số ánh sáng le lói có thể được người khao khát con đường huyền linh đánh giá cao, nhưng việc thực hiện có hệ thống các quy luật liên quan vẫn còn ít tiến triển. |
|
Wherein lies the hindrance? It may be of value if we study three things: [78] |
Những trở ngại nằm ở đâu? Sẽ có giá trị nếu chúng ta nghiên cứu ba điều sau: [78] |
|
1. The Occidental hindrances to correct occult study. |
1. Những trở ngại của phương Tây đối với việc nghiên cứu huyền linh đúng đắn. |
|
2. How these hindrances may be surmounted. |
2. Cách để vượt qua những trở ngại này. |
|
3. Certain things the aspirant may safely undertake in the equipping of himself for treading the occult path, for that is the stage, and for the majority, the only stage at present possible. |
3. Những điều mà người chí nguyện có thể thực hiện một cách an toàn để trang bị cho mình trong việc bước trên con đường huyền linh, vì đó là giai đoạn, và đối với đa số, là giai đoạn duy nhất hiện có. |
|
One of the main hindrances to the correct apprehension of the laws of occultism and their practical application lies in the fact of the comparative newness of the occident, and the rapid changes which have been the outstanding feature of European and American civilisation. The history of Europe dates back a bare three thousand years, and that of America, as we know, barely as many centuries. Occultism flourishes in a prepared atmosphere, in a highly magnetised environment, and in a settled condition which is the result of age-long work upon the mental plane. |
Một trong những trở ngại chính đối với việc hiểu đúng các định luật của huyền linh học và ứng dụng thực tiễn của chúng nằm ở thực tế về sự mới mẻ tương đối của phương Tây, và những thay đổi nhanh chóng đã là đặc điểm nổi bật của nền văn minh châu Âu và Mỹ. Lịch sử châu Âu có niên đại chỉ mới khoảng ba nghìn năm, và lịch sử của Mỹ, như chúng ta biết, chỉ vài trăm năm. Huyền linh học phát triển trong một bầu không khí đã được chuẩn bị, trong một môi trường được từ hóa cao, và trong một tình trạng ổn định là kết quả của công việc lâu dài trên cõi trí. |
|
This is one reason why India provides such an adequate school of endeavour. There knowledge of occultism dates back tens of thousands of years and time has set its mark even upon the physique of the people, providing them with bodies which offer not that resistance which occidental bodies so oft afford. The environment has been long permeated with the strong vibrations of the great Ones who reside within its borders and who, in Their passage to and fro, and through Their proximity, continuously magnetise the environing ether. This in itself affords another line of least resistance, for this etheric magnetisation affects the etheric bodies of the contacted population. These two facts, of time and of high vibration, result in that stability of rhythm which facilitates occult work, and offer a quiet field for mantric and ceremonial enterprise. |
Đây là một lý do tại sao Ấn Độ cung cấp một trường học của nỗ lực đầy đủ. Ở đó, kiến thức về huyền linh học có niên đại hàng chục nghìn năm và thời gian đã để lại dấu ấn ngay cả trên thể chất của con người, cung cấp cho họ những thể xác không có sự kháng cự mà các thể xác phương Tây thường gặp phải. Môi trường từ lâu đã được thấm nhuần bởi những rung động mạnh mẽ của các Đấng vĩ đại cư ngụ trong biên giới của nó, và trong quá trình đi lại và gần gũi của các Ngài, liên tục từ hóa dĩ thái xung quanh. Điều này tự nó cung cấp một đường lối khác ít trở ngại nhất, vì sự từ hóa dĩ thái này ảnh hưởng đến thể dĩ thái của dân cư tiếp xúc. Hai sự thật này, về thời gian và rung động cao, tạo ra sự ổn định nhịp điệu giúp công việc huyền linh dễ dàng hơn, và cung cấp một lĩnh vực yên tĩnh cho công việc thần chú và nghi lễ. |
|
These conditions are not to be found in the West, where constant change in every branch of life is found, where [79] frequent rapid shifting of the scene of action causes wide areas of disturbance which militate against any work of a magic nature. The amount of force required to effect certain results does not warrant their use, and time has been allowed to elapse in an effort to produce an equilibrising effect. |
Những điều kiện này không tồn tại ở phương Tây, nơi có sự thay đổi liên tục trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, nơi sự thay đổi nhanh chóng thường xuyên của khung cảnh hành động gây ra những khu vực rộng lớn của sự xáo trộn, điều này chống lại bất kỳ công việc nào có tính chất huyền thuật. Lượng mãnh lực cần thiết để tạo ra các kết quả nhất định không đảm bảo cho việc sử dụng chúng, và thời gian đã được cho phép trôi qua trong nỗ lực tạo ra một hiệu ứng cân bằng. |
|
The climax of the disturbed condition has been passed, and a more stable state of affairs is gradually being brought about, and this may permit of definite occult work being attempted with success. The Master R. is working upon this problem, and likewise the Master of the English race, —not the Master who occupies Himself with the Labour Movement or the betterment of social conditions. They are aided by a disciple of rare capability in Sweden, and by an initiate in the southern part of Russia, who works much on the mental levels. Their aim is so to tap the resources of force stored up by the Nirmanakayas that its downflow may sweep out lower grade matter, and thus permit the free play of a higher vibration. |
Đỉnh điểm của tình trạng xáo trộn đã qua, và một trạng thái ổn định hơn đang dần được mang lại, và điều này có thể cho phép công việc huyền linh cụ thể được thực hiện thành công. Chân sư R. đang làm việc trên vấn đề này, và cũng như Chân sư của chủng tộc Anh,—không phải Chân sư bận tâm với Phong trào Lao động hay cải thiện điều kiện xã hội. Các Ngài được hỗ trợ bởi một đệ tử có khả năng hiếm có ở Thụy Điển, và bởi một điểm đạo đồ ở phía nam nước Nga, người làm việc nhiều trên các cấp độ trí tuệ. Mục tiêu của các Ngài là khai thác các nguồn lực mãnh lực được lưu trữ bởi các Nirmanakayas để dòng chảy xuống của nó có thể quét sạch vật chất cấp thấp, và do đó cho phép sự rung động cao hơn hoạt động tự do. |
|
Another hindrance may be found in the strong development of the concrete mind. I would here impress upon you that this development must in no way be considered a detriment. All has been in due course of evolution, and later when the Orient and the Occident have reached a point of better understanding and interplay their interaction will be of mutual benefit; the East will profit from the mental stimulation afforded by the strong mental vibration of its Western brother, whilst the Occidental will gain much from the abstract reasoning of the Oriental, and, through the effort to grasp that which the first subrace of the Aryan root race so easily apprehended, he will contact his higher mind, and thus build with greater facility the bridge between the higher and the lower mind. The two types need each other, and their effect upon each other tends to eventual synthesis. [80] |
Một trở ngại khác có thể được tìm thấy trong sự phát triển mạnh mẽ của trí cụ thể. Tôi muốn nhấn mạnh rằng sự phát triển này không nên được coi là một trở ngại. Tất cả đã diễn ra theo đúng quá trình tiến hóa, và sau này khi phương Đông và phương Tây đạt đến điểm hiểu biết và tương tác tốt hơn, sự tương tác của họ sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên; phương Đông sẽ hưởng lợi từ sự kích thích trí tuệ do sự rung động trí tuệ mạnh mẽ của người anh em phương Tây, trong khi phương Tây sẽ đạt được nhiều từ sự suy luận trừu tượng của người phương Đông, và thông qua nỗ lực nắm bắt những gì mà giống dân phụ đầu tiên của giống dân Aryan dễ dàng tiếp thu, họ sẽ tiếp xúc với thượng trí của mình, và do đó xây dựng một cách dễ dàng hơn cây cầu giữa thượng trí và hạ trí. Hai loại này cần nhau, và tác động của chúng lên nhau có xu hướng dẫn đến sự hợp nhất cuối cùng. [80] |
|
The concrete mind, in itself, offers opportunity for a treatise of great length, but here it will suffice to point out a few of the ways in which it hinders those races who so paramountly represent it. |
Trí cụ thể, tự nó cung cấp cơ hội cho một luận thuyết dài, nhưng ở đây sẽ đủ để chỉ ra một vài cách mà nó cản trở những nhân loại đại diện nổi bật cho nó. |
|
a. By its intense activity and stimulated action it hinders the downflow of inspiration from on high. It acts as a dark curtain that shuts out the higher illumination. Only through steadiness and a stable restfulness can that illumination percolate, via the higher bodies, to the physical brain and so be available for practical service. |
a. Bằng hoạt động mạnh mẽ và hành động kích thích của nó, nó cản trở dòng chảy cảm hứng từ trên cao. Nó hoạt động như một tấm màn tối ngăn chặn sự soi sáng cao hơn. Chỉ thông qua sự ổn định và sự yên bình ổn định thì sự soi sáng đó mới có thể thẩm thấu, thông qua các thể cao hơn, đến bộ não vật lý và do đó có sẵn cho sự phụng sự thực tiễn. |
|
b. The wisdom of the Triad exists for the use of the personality, but is barred by the disquisitions of the lower mind. When the fire of mind burns too fiercely, it forms a current which counteracts the higher downflow, and forces the lower fire back into seclusion. Only when the three fires meet, through the regulation of the middle fire of mind, can a full light be achieved, and the whole body be full of light, the fire from above—the triadal light—the fire of the lower self, —kundalini—and the fire of mind, —cosmic manas—must meet upon the altar. In their union comes the burning away of all that hinders and the completed emancipation. |
b. Minh triết của Tam nguyên tồn tại để phàm ngã sử dụng, nhưng bị ngăn cản bởi những lý luận dài dòng của hạ trí. Khi lửa của trí tuệ bùng cháy quá dữ dội, nó tạo thành một dòng chảy đối kháng với dòng chảy xuống cao hơn, và buộc ngọn lửa thấp hơn phải rút lui. Chỉ khi ba ngọn lửa gặp nhau, thông qua sự điều hòa của ngọn lửa trung gian của trí tuệ, thì ánh sáng trọn vẹn mới có thể đạt được, và toàn bộ cơ thể sẽ tràn đầy ánh sáng, ngọn lửa từ trên cao — ánh sáng Tam nguyên — ngọn lửa của phàm ngã, — kundalini — và ngọn lửa của trí tuệ, —trí tuệ vũ trụ — phải gặp nhau trên bàn thờ. Trong sự hợp nhất của chúng, tất cả những gì cản trở sẽ bị đốt cháy và sự giải thoát hoàn toàn sẽ đến. |
Webinar 19—Rule 2.3
|
c. By discrimination—a faculty of the concrete mental body—the lower bodies are trained in the art of distinguishing illusion from the centre of reality, the real from the unreal, the self from the not-self. Then ensues, consequently, a period that must be surmounted wherein the attention of the Ego is centred necessarily on the lower self and its vehicles, and wherein, therefore, the vibrations of the Triad, the laws that deal with macrocosmic evolution, and the subjugation of fire for the use of the [81] Divine, have temporarily to be in abeyance. When man quickly sees the truth in all that he contacts, and automatically chooses truth or the real, then he learns next the lesson of joyful action, and the path of bliss opens before him. When this is so, the path of occultism becomes possible for him, for the concrete mind has served its purpose, and has become his instrument and not his master, his interpreter and not his hinderer. |
c. Bằng sự phân biện—một khả năng của thể trí cụ thể—các thể thấp hơn được rèn luyện trong nghệ thuật phân biệt ảo tưởng với trung tâm của thực tại, cái thực với cái không thực, bản ngã với cái phi ngã. Sau đó, xảy ra một giai đoạn phải vượt qua trong đó sự chú ý của Chân ngã tập trung vào phàm ngã và các phương tiện của nó, và do đó, các rung động của Tam nguyên, các định luật liên quan đến sự tiến hóa đại thiên địa, và sự khuất phục ngọn lửa để phục vụ cho [81] Thiên Tính, tạm thời phải bị đình chỉ. Khi con người nhanh chóng nhìn thấy sự thật trong tất cả những gì y tiếp xúc, và tự động chọn sự thật hoặc cái thực, thì y sẽ học bài học của hành động vui vẻ, và con đường của chân phúc sẽ mở ra trước mắt y. Khi điều này xảy ra, con đường huyền linh trở nên khả thi đối với y, vì trí cụ thể đã phục vụ mục đích của nó, và đã trở thành công cụ của y chứ không phải là chủ nhân của y, là người phiên dịch của y chứ không phải là người cản trở y. |
|
d. The concrete mind hinders in another and more unusual way, and one that is not realised by the student who attempts, at first, to tread the thorny road of occult development. When the concrete mind is rampant, and dominates the entire personality the aspirant cannot cooperate with these other lives and diverse evolutions until love supersedes concrete mind (even though he may, in theory, comprehend the laws that govern the evolution of the Logoic plan and the development of other solar entities besides his own Hierarchy). Mind separates; love attracts. Mind creates a barrier betwixt a man and every suppliant deva. Love breaks down every barrier, and fuses diverse groups in union. Mind repels by a powerful, strong vibration, casting off all that is contacted, as a wheel casts off all that hinders its whirling periphery. Love gathers all to itself, and carries all on with itself, welding separated units into a unified homogeneous whole. Mind repels through its own abundant heat, scorching and burning aught that approaches it. Love soothes and heals by the similarity of its heat to the heat in that which it contacts, and blends its warmth and flame with the warmth and flame of other evolving lives. Finally, mind disrupts and destroys whilst love produces coherence and heals. [82] |
d. Trí cụ thể cản trở theo một cách khác và bất thường hơn, và một điều mà học viên không nhận ra khi y bắt đầu bước trên con đường gai góc của sự phát triển huyền linh. Khi trí cụ thể phát triển mạnh mẽ và chi phối toàn bộ phàm ngã, người chí nguyện không thể hợp tác với những sự sống khác và những dòng tiến hóa khác cho đến khi tình thương thay thế trí cụ thể (mặc dù y có thể, về lý thuyết, hiểu các định luật điều hành sự tiến hóa của kế hoạch của Thượng Đế và sự phát triển của các thực thể thái dương khác ngoài Huyền Giai của y). Thể trí chia rẽ; tình thương thu hút. Thể trí tạo ra một rào cản giữa một người và mỗi vị thần cầu xin. Tình thương phá vỡ mọi rào cản và hợp nhất các nhóm khác nhau trong sự hợp nhất. Thể trí tuệ đẩy lùi bằng một rung động mạnh mẽ, loại bỏ tất cả những gì tiếp xúc, như một bánh xe loại bỏ tất cả những gì cản trở chu vi xoay tít của nó. Tình thương thu hút tất cả vào chính nó, và mang tất cả đi cùng với chính nó, hàn gắn các đơn vị bị chia cắt thành một tổng thể đồng nhất. Thể trí đẩy lùi thông qua sức nóng dồi dào của chính nó, đốt cháy và thiêu đốt bất cứ thứ gì tiếp cận nó. Tình thương làm dịu và chữa lành bằng sự tương đồng của sức nóng của nó với sức nóng trong những gì nó tiếp xúc, và pha trộn sức ấm và ngọn lửa của nó với sức ấm và ngọn lửa của những sự sống tiến hóa khác. Cuối cùng, thể trí làm gián đoạn và hủy diệt trong khi tình thương tạo ra sự kết nối và chữa lành. [82] |
|
Every change, in human life, is subject to immutable laws, if such a paradoxical statement may be permitted. In the attempt to find out those laws, in order to conform to them, the occultist begins to offset karma, and thus colours not the astral light. The only method whereby these laws can as yet be apprehended by the many who are interested is by a close study of the vicissitudes of daily existence, as spread over a long period of years. By the outstanding features of a cycle of ten years, for instance, as they are contrasted with the preceding or succeeding similar period a student can approximate the trend of affairs and guide himself thereby. When the point in evolution is reached where the student can contrast preceding lives, and gain knowledge of the basic colouring of his previous life cycle, then rapid progress in adjusting the life to law is made. When succeeding lives can be likewise apprehended by the student, and their colouring seen and known, then karma (as known in the three worlds) ceases, and the adept stands master of all causes and effects as they condition and regulate his lower vehicle. |
Mỗi sự thay đổi trong cuộc sống con người đều tuân theo những định luật bất biến, nếu có thể cho phép một tuyên bố nghịch lý như vậy. Trong nỗ lực tìm ra những định luật đó để tuân theo chúng, nhà huyền bí học bắt đầu hóa giải nghiệp quả và do đó không làm nhuốm màu ánh sáng cảm dục. Phương pháp duy nhất để những định luật này có thể được hiểu bởi nhiều người quan tâm là thông qua việc nghiên cứu kỹ lưỡng những thăng trầm của cuộc sống hàng ngày, kéo dài qua nhiều năm. Chẳng hạn, bằng cách so sánh các đặc điểm nổi bật của một chu kỳ mười năm với thời kỳ tương tự trước đó hoặc kế tiếp, một học viên có thể ước lượng xu hướng của các sự kiện và tự hướng dẫn mình theo đó. Khi đạt đến điểm tiến hóa mà học viên có thể so sánh các kiếp trước và nắm được màu sắc cơ bản của chu kỳ sống trước đây, thì tiến bộ nhanh chóng trong việc điều chỉnh cuộc sống theo định luật sẽ được thực hiện. Khi học viên có thể tương tự hiểu các kiếp sau, thấy và biết màu sắc của chúng, thì nghiệp quả (như đã biết trong ba cõi) sẽ chấm dứt, và vị chân sư trở thành chủ nhân của mọi nguyên nhân và kết quả khi các chúng điều kiện hóa và điều chỉnh phương tiện thấp của Ngài. |
|
He aspires to the occult path and considers changes and events in the light of all preceding events, and the longer and more accurate his memory the more he can dominate all possible situations. |
Y khao khát con đường huyền linh và xem xét những thay đổi và sự kiện dưới ánh sáng của tất cả các sự kiện trước đó, và ký ức càng dài và chính xác thì y càng có thể chi phối tất cả các tình huống có thể xảy ra. |
|
Khi đạt đến điểm tiến hóa mà học viên có thể so sánh các kiếp trước và nắm được màu sắc cơ bản của chu kỳ sống trước đây, thì tiến bộ nhanh chóng trong việc điều chỉnh cuộc sống theo định luật sẽ được thực hiện. Khi học viên có thể tương tự hiểu các kiếp sau, thấy và biết màu sắc của chúng, thì nghiệp quả (như đã biết trong ba cõi) sẽ chấm dứt, và vị chân sư trở thành chủ nhân của mọi nguyên nhân và kết quả khi các chúng điều kiện hóa và điều chỉnh phương tiện thấp của Ngài. |
Khi đạt đến điểm tiến hóa mà học viên có thể so sánh các kiếp trước và nắm được màu sắc cơ bản của chu kỳ sống trước đây, thì tiến bộ nhanh chóng trong việc điều chỉnh cuộc sống theo định luật sẽ được thực hiện. Khi học viên có thể hiểu tương tự các kiếp sau, thấy và biết màu sắc của chúng, thì nghiệp quả (như đã biết trong ba cõi) sẽ chấm dứt, và vị chân sư trở thành chủ nhân của mọi nguyên nhân và kết quả khi chúng điều kiện và điều chỉnh phương tiện thấp hơn của mình. |
|
Y khao khát con đường huyền linh và xem xét những thay đổi và sự kiện dưới ánh sáng của tất cả các sự kiện trước đó, và ký ức càng dài và chính xác thì y càng có thể chi phối tất cả các tình huống có thể xảy ra |
Y khao khát con đường huyền linh và xem xét những thay đổi và sự kiện dưới ánh sáng của tất cả các sự kiện trước đó, và ký ức càng dài và chính xác thì y càng có thể chi phối tất cả các tình huống có thể xảy ra. |
|
Thus two of the hindrances will be found to be: |
Do đó, hai trong số những trở ngại sẽ được tìm thấy là: |
|
a. The comparative newness and change which is characteristic of the Occident. |
a. Sự tương đối mới mẻ và thay đổi là đặc điểm của phương Tây. |
|
b. The development of the concrete mind. |
b. Sự phát triển của trí cụ thể. |
|
Our third hindrance grows out of the preceding one. It consists of the emphasis that has been laid in the West upon the material side of things. This has resulted in a three-fold condition of affairs. First, the world of spirit, or the formless abstract world of subjective consciousness is not recognised in a scientific sense. It is recognised [83] innately by those of mystic temperament, and by those who are able to study the subjective history of men and races, but science recognises not this aspect of manifestation, nor do scientific men, as a whole, believe in a world of super-physical endeavour. All that in the earlier races held paramount place in the lives and thought of the peoples is now approached sceptically, and discussions are preceded by a question mark. But progress has been made and much has arisen out of the war. The question, for instance, is rapidly changing from the formula “Is there a life after death?” to the enquiry “Of what nature is the future life?” and this is a portent of much encouragement. |
Trở ngại thứ ba phát sinh từ trở ngại trước. Nó bao gồm sự nhấn mạnh ở phương Tây đã đặt lên khía cạnh vật chất của sự vật. Điều này đã dẫn đến một tình trạng tam phân. Thứ nhất, thế giới tinh thần, hoặc thế giới trừu tượng vô hình tướng của tâm thức chủ quan không được công nhận theo nghĩa khoa học. Nó được nhận biết bẩm sinh bởi những người có tính khí thần bí và bởi những người có khả năng nghiên cứu lịch sử chủ quan của con người và các chủng tộc, nhưng khoa học không công nhận khía cạnh này của sự biểu hiện, cũng như các nhà khoa học, như một tổng thể, không tin vào một thế giới của nỗ lực siêu hình. Tất cả những điều mà các chủng tộc trước đây coi là quan trọng trong cuộc sống và suy nghĩ của họ hiện nay đều được tiếp cận một cách hoài nghi, và các cuộc thảo luận thường bắt đầu bằng một dấu hỏi. Nhưng đã có tiến bộ và nhiều điều đã xuất hiện từ cuộc chiến. Ví dụ, câu hỏi nhanh chóng thay đổi từ công thức “Có đời sống sau khi chết không?” sang câu hỏi “Bản chất của cuộc sống tương lai là gì?” và đây là một điềm báo khích lệ. |
|
Secondly, the masses of the people are suffering from suppression and from the effects of inhibition. Science has said, There is no God and no spirit within man. Religion has said, There must be a God, but where may He be found? The masses say, We desire not a God constructed by the brains of theologians. Therefore the true inner comprehension finds no room for expansion, and the activity that should be finding its legitimate expression in the higher aspiration, turns itself to the deification of things, —things pertaining to flesh, connected with the emotions, or having a relation to the mind. The war, again, has accomplished much by relegating things to their just position, and, by the removal of possessions, many have learnt the value of essentials, and the necessity of eliminating that which is superfluous. |
Thứ hai, quần chúng nhân dân đang chịu đựng sự áp bức và những ảnh hưởng của sự kiềm chế. Khoa học đã nói rằng, Không có Thượng Đế và không có linh hồn trong con người. Tôn giáo đã nói, Phải có Thượng Đế, nhưng có thể tìm thấy Ngài ở đâu? Quần chúng nói, Chúng tôi không mong muốn một Thượng Đế được tạo ra bởi bộ não của các nhà thần học. Do đó, sự hiểu biết nội tâm thực sự không có chỗ để phát triển, và hoạt động lẽ ra phải tìm thấy sự thể hiện chính đáng trong khát vọng cao hơn, lại quay sang tôn thờ những sự vật—những sự vật liên quan đến xác thịt, cảm xúc hoặc có liên quan đến trí tuệ. Cuộc chiến, một lần nữa, đã đạt được nhiều thành tựu bằng cách đặt những sự vật vào vị trí đúng đắn của chúng, và bằng việc loại bỏ những tài sản, nhiều người đã học được giá trị của những điều thiết yếu và sự cần thiết của việc loại bỏ những thứ thừa thãi. |
|
A third condition of affairs grows out of the above two. A right apprehension of the future does not exist. When the life of the spirit is negated, when the manifesting life concentrates itself on things concrete and apparent then the true goal of existence disappears, the true incentive to right living is lost, and the sarcastic words of the initiate, Paul, “Let us eat and drink for tomorrow we die” characterise the attitude of the majority of men. [84] |
Điều kiện thứ ba phát sinh từ hai điều trên. Không có sự hiểu biết đúng đắn về tương lai. Khi cuộc sống tinh thần bị phủ nhận, khi cuộc sống biểu hiện tập trung vào những thứ cụ thể và rõ ràng thì mục tiêu thực sự của sự tồn tại biến mất, động lực thực sự để sống đúng đắn bị mất, và những lời mỉa mai của điểm đạo đồ, Phao-lô, “Chúng ta hãy ăn và uống vì ngày mai chúng ta chết” đặc trưng cho thái độ của phần lớn con người. [84] |
|
Men deaden the inner voice that bears witness to the life hereafter, and they drown the words that echo in the silence by the noise and whirl of business, pleasure and excitement. |
Con người làm tê liệt tiếng nói nội tâm chứng thực cho cuộc sống sau này, và họ nhấn chìm những lời vang lên trong sự im lặng bằng tiếng ồn và sự quay cuồng của kinh doanh, vui chơi và phấn khích. |
|
The whole secret of success in treading the occult path depends upon an attitude of mind; when the attitude is one of concrete materialism, of concentration upon form, and a desire for the things of the present moment, little progress can be made in apprehending the higher esoteric truth. |
Toàn bộ bí mật của sự thành công trong việc bước trên con đường huyền linh phụ thuộc vào thái độ của tâm trí; khi thái độ là một thái độ cụ thể, tập trung vào hình tướng, và mong muốn những thứ của hiện tại, thì ít có tiến bộ có thể đạt được trong việc nắm bắt chân lý huyền bí cao hơn. |
|
A fourth hindrance is found in the physical body, which has been built up by the aid of meat and fermented foods and drinks, and nurtured in an environment in which fresh air and sunlight are not paramount factors. I am here generalising, and speaking for the masses of men, and not for the would-be earnest occult student. For long centuries food that has been decomposing, and hence in a condition of fermentation, has been the basic food of the occidental races; and the result can be seen in bodies unfitted for any strain such as occultism imposes, and which form a barrier to the clear shining forth of the life within. When fresh fruit and vegetables, clear water, nuts and grains, cooked and uncooked, form the sole diet of the evolving sons of men, then will be built bodies fitted to be vehicles for highly evolved Egos. They patiently await the turning of the wheel, and the coming in of a cycle which will permit of their fulfilling their destiny. The time is not yet, and the work of elimination and adjustment must be slow and tedious. |
Một trở ngại thứ tư được tìm thấy trong xác thân hồng trần, được xây dựng bằng sự trợ giúp của thịt và thực phẩm và đồ uống lên men, và được nuôi dưỡng trong môi trường mà không khí trong lành và ánh sáng mặt trời không phải là yếu tố hàng đầu. Ở đây, Tôi đang tổng quát hóa và nói về quần chúng nhân dân, chứ không phải về những học viên huyền môn nghiêm túc tiềm năng. Trong nhiều thế kỷ, thực phẩm đã bị phân hủy và do đó trong trạng thái lên men đã là thực phẩm cơ bản của các chủng tộc phương Tây; và kết quả có thể thấy trong những thân thể không thích hợp cho bất kỳ áp lực nào mà huyền linh học áp đặt, và chúng tạo thành một rào cản đối với sự tỏa sáng rõ ràng của sự sống bên trong. Khi trái cây và rau quả tươi, nước trong lành, hạt và ngũ cốc, nấu chín và sống, là chế độ ăn duy nhất của những người con đang tiến hóa của loài người, thì sẽ xây dựng được những thân thể phù hợp để trở thành phương tiện cho các Chân ngã tiến hóa cao. Họ kiên nhẫn chờ đợi sự quay của bánh xe, và sự đến của một chu kỳ sẽ cho phép họ hoàn thành số mệnh của mình. Thời gian chưa đến, và công việc loại bỏ và điều chỉnh phải chậm và khó khăn. |
|
The Overcoming of the Hindrances |
KHẮC PHỤC NHỮNG TRỞ NGẠI |
|
Certain paramount realisations must precede this work of removing hindrances, and they might be enumerated as follows: |
Một số chứng nghiệm tối quan trọng phải đi trước công việc loại bỏ các trở ngại này, và chúng có thể được liệt kê như sau: |
|
a. A realisation that in obedience to the next duty and [85] adherence to the highest known form of truth lies the path of further revelation. |
a. Một sự nhận thức rằng việc tuân theo nhiệm vụ tiếp theo và sự kiên trì theo hình thức chân lý cao nhất mà mình biết chính là con đường dẫn đến sự mặc khải sâu xa hơn. |
|
b. A realisation that dispassion is the great thing to cultivate, and that a willingness to undergo joyously any amount of temporary inconvenience, pain or agony, must be developed, having in view the future glory which will blot out the clouds of the passing hour. |
b. Một sự nhận thức rằng sự điềm nhiên là điều cần được nuôi dưỡng, và một sự sẵn lòng chịu đựng vui vẻ bất kỳ sự bất tiện, đau đớn hay khổ sở tạm thời nào cũng phải được phát triển, với cái nhìn hướng đến vinh quang tương lai, vốn sẽ xóa tan những đám mây của khoảnh khắc trôi qua. |
|
c. A realisation that synthesis is the method whereby comprehension is attained, and that, by blending the pairs of opposites, the middle path is gained that leads straight to the heart of the citadel. |
c. Một sự nhận thức rằng sự tổng hợp là phương pháp để đạt được sự hiểu biết, và rằng, thông qua việc hòa hợp những cặp đối lập, con đường trung đạo được đạt đến, dẫn thẳng đến trung tâm của thành trì. |
|
With these three things paramountly controlling his views on life, the student may hope, by strenuous endeavour, to overcome the four hindrances which we have touched upon. |
Với ba điều này chi phối tối thượng các quan điểm của mình về cuộc sống, học viên có thể hy vọng, bằng sự nỗ lực bền bỉ, vượt qua bốn chướng ngại mà chúng ta đã đề cập đến. |
|
In taking up our consideration of the second Rule we will deal first with the relation of the soul to the personality, primarily from the standpoint of meditation. We are dealing therefore with “the greater light” and will take up later the “throwing upward of the lower light”. This is in line also with the law of occult knowledge that one begins with universals. |
Khi bắt đầu xem xét Quy Luật thứ hai, chúng ta sẽ trước tiên đề cập đến mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, chủ yếu từ lập trường của tham thiền. Do đó, chúng ta đang xem xét ‘ánh sáng lớn hơn’ và sẽ sau đó đề cập đến ‘việc ném ánh sáng thấp hơn lên’. Điều này cũng tuân theo định luật của tri thức huyền bí rằng người ta bắt đầu với những điều phổ quát. |
|
It should be borne in mind that these rules are only for those whose personality is coordinated and whose minds are gradually being brought under control. The man therefore is utilising the lower mind, the reasoning mind, whilst the soul is utilising the higher or abstract mind. Both units are working with two aspects of the universal principle of mind, and on this ground their relation becomes possible. The man’s work with his mind is to render it negative and receptive to the soul, and this is his positive occupation (note the use here of the word ‘positive’ in the attempt to make the mind receptive, for herein lies the clue to right action). The soul’s work in [86] meditation is to make the point of that meditation so positive that the lower mind can be impressed, and so the lower man can be brought into line with the Eternal Plan. |
Cần ghi nhớ rằng những quy luật này chỉ dành cho những người có phàm ngã đã được phối hợp và có thể trí đang dần được kiểm soát. Do đó, con người đang sử dụng hạ trí, tức trí lý luận, trong khi linh hồn đang sử dụng thượng trí hoặc trí trừu tượng. Cả hai thực thể đều đang làm việc với hai khía cạnh của nguyên lý trí tuệ phổ quát, và trên cơ sở này, mối quan hệ của họ trở nên khả thi. Công việc của con người với thể trí của mình là khiến nó trở nên âm và tiếp nhận linh hồn, và đây là công việc tích cực của y (hãy chú ý cách sử dụng từ ‘tích cực’ ở đây trong việc khiến thể trí trở nên tiếp nhận, vì đây là manh mối cho hành động đúng). Công việc của linh hồn trong thiền định là làm cho điểm thiền định đó trở nên tích cực đến mức hạ trí có thể được ấn tượng, và do đó phàm nhân có thể được đưa vào sự phù hợp với Thiên Cơ Vĩnh Cửu. |
|
Thus, again, we have a relation established between a positive and a negative vibration, and the study of these relations carries much information to the student, and is part of the teaching given in preparation for the first initiation. A list of these related situations might here be given showing them in their progressive relation on the path of evolution. |
Do đó, một lần nữa, chúng ta có một mối quan hệ được thiết lập giữa một rung động dương (tích cực) và một rung động âm (tiêu cực), và việc nghiên cứu những mối quan hệ này mang lại nhiều thông tin cho học viên, và là một phần của việc giảng dạy được đưa ra để chuẩn bị cho lần điểm đạo đầu tiên. Một danh sách các tình huống liên quan này có thể được đưa ra ở đây, cho thấy mối quan hệ tiến triển của chúng trên con đường tiến hóa. |
|
1. The relation between male and female physical bodies, called by man, the sex relation, and deemed of such paramount importance at this time. In the vale of illusion, the symbol oft engrosses attention and that which it represents is forgotten. In the solving of this relationship will come racial initiation, and it is with this that the race is now engrossed. |
1. Mối quan hệ giữa thân thể nam và nữ, được con người gọi là mối quan hệ giới tính, và được coi là vô cùng quan trọng vào thời điểm này. Trong thung lũng ảo tưởng, biểu tượng thường chiếm hết sự chú ý và những gì nó đại diện thì bị lãng quên. Trong việc giải quyết mối quan hệ này sẽ dẫn đến sự điểm đạo nhân loại, và đây là điều mà nhân loại hiện đang bị cuốn hút vào. |
|
2. The relation between the astral body and the physical, which, for the majority, is the control, by the positive astral nature, of the negative automatic physical. The physical body, the instrument of desire, is swayed and controlled by desire, —desire for physical life, and desire for the acquisition of the tangible. |
2. Mối quan hệ giữa thể cảm dục và thể xác, mà đối với đa số, là sự kiểm soát của bản chất cảm dục tích cực với thể xác tiêu cực tự động. Thể xác, công cụ của ham muốn, bị chi phối và kiểm soát bởi ham muốn—ham muốn về đời sống trần gian và ham muốn về sự chiếm hữu những thứ hữu hình. |
|
3. The relation between the mind and the brain, which constitutes the problem of the more advanced men and races and of which the vast system of schools, colleges, and universities indicate the importance. Much progress in this relation has been made during the past fifty years, and the work of the psychologists marks its highest point. When this is understood, the mind will be regarded as the positive factor and the other two aspects of the form nature will respond receptively. They will be the automatons of the mind. |
3. Mối quan hệ giữa thể trí và bộ não, là vấn đề của những người và chủng tộc tiến bộ hơn, và hệ thống rộng lớn của các trường học, cao đẳng và đại học cho thấy tầm quan trọng của nó. Nhiều tiến bộ trong mối quan hệ này đã được thực hiện trong năm mươi năm qua, và công việc của các nhà tâm lý học đánh dấu điểm cao nhất của nó. Khi điều này được hiểu, thể trí sẽ được coi là yếu tố tích cực và hai khía cạnh khác của bản chất hình tướng sẽ đáp ứng tiếp nhận. Chúng sẽ là các máy tự động của thể trí. |
|
4. The relation between the soul and the personality, which is the problem engrossing the attention of aspirants now, for they are the pioneers of the human family, the pathfinders into the world of the soul. With this [87] relation, the mystics and the occultists concern themselves. |
4. Mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, là vấn đề chiếm lĩnh sự chú ý của những người chí nguyện hiện nay, vì họ là những người tiên phong của gia đình nhân loại, những người tìm đường vào thế giới của linh hồn. Với mối quan hệ này, các nhà huyền bí và huyền môn quan tâm. |
Webinar 20—Rule 2.4
|
5. The relation between the centres below the diaphragm and those above, or between: |
5. Mối quan hệ giữa các luân xa dưới cơ hoành và những luân xa ở trên, hoặc giữa: |
|
a. The centre at the base of the spine and the thousand petalled lotus, the head centre. In this the four petals of the basic centre become the many, or the quaternary is lost in the universal. |
a. Luân xa ở đáy cột sống và hoa sen nghìn cánh, luân xa đầu. Trong đó bốn cánh của luân xa đáy cột sống trở thành nhiều, hoặc bộ bốn bị mất trong đại đồng. |
|
b. The sacral centre and the throat. In this there comes a union between the twelve Creative Hierarchies and the quaternary, and the secret of the sixteen petals of the throat lotus is seen. |
b. Luân xa xương cùng và luân xa cổ họng. Trong đó có sự hợp nhất giữa mười hai Huyền Giai Sáng Tạo và bộ bốn, và bí mật của mười sáu cánh của hoa sen cổ họng được thấy. |
|
c. The solar plexus centre and the heart, in which the ten of the perfect man in this solar system is lost in the consummated twelve. As the twelve Creative Hierarchies (in their outer and creative aspect) are contacted by the man, who is the perfected quaternary from the standpoint of the form, so in the relation between the solar plexus and heart is the second aspect perfected; the love of the soul can express itself perfectly through the emotional nature. |
c. Luân xa tùng thái dương và luân xa tim, trong đó số mười của con người hoàn hảo trong hệ mặt trời này bị mất trong số mười hai đã viên mãn. Khi con người, là bộ bốn (tứ nguyên) hoàn thiện từ quan điểm của hình tướng, tiếp xúc mười hai Huyền Giai Sáng Tạo (trong khía cạnh ngoại tại và sáng tạo của các Huyền Giai Sáng Tạo này), cũng vậy trong mối quan hệ giữa tùng thái dương và tim thì khía cạnh thứ hai hoàn thiện; tình thương của linh hồn có thể biểu hiện hoàn hảo thông qua bản chất cảm dục. |
|
6. The relation between the two head centres, or between the centre between the eyebrows and the centre above the head. This relation is set up and stabilised when soul and body are a functioning unit. |
6. Mối quan hệ giữa hai luân xa đầu, hoặc giữa luân xa giữa hai lông mày và luân xa trên đầu. Mối quan hệ này được thiết lập và ổn định khi linh hồn và thể xác là một đơn vị hoạt động. |
|
7. The relation between the pineal gland and the pituitary body as a result of the above. |
7. Mối quan hệ giữa tuyến tùng và tuyến yên như là kết quả của những điều trên. |
|
8. The relation between the higher and the lower mind, involving steady and increasing soul contact. The meditative attitude of the soul is duplicated in the three bodies (or by the spiritual man) and the steady meditation of the soul goes on also on its own plane. It is with this and with its effects that we are primarily concerned in this rule. |
8. Mối quan hệ giữa thượng trí và hạ trí tuệ, liên quan đến sự tiếp xúc linh hồn ổn định và ngày càng tăng. Thái độ thiền định của linh hồn được lặp lại trong ba thể (hoặc bởi con người tinh thần) và sự tham thiền ổn định của linh hồn cũng diễn ra trên cõi riêng của nó. Đây là điều mà chúng ta chủ yếu quan tâm trong quy luật này. |
|
A later relationship, which in no way concerns us, is [88] set up after the third initiation between the soul and the monad, and throughout the course of cosmic evolution these relationships will emerge. The race as a whole is, however, only concerned with the setting up of a relation between soul and body and beyond this there is no need to go. |
Một mối quan hệ sau này, không liên quan đến chúng ta, được thiết lập sau lần điểm đạo thứ ba giữa linh hồn và chân thần, và trong suốt quá trình tiến hóa vũ trụ, những mối quan hệ này sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, nhân loại nói chung chỉ quan tâm đến việc thiết lập một mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác, và không cần phải đi xa hơn thế. |
|
As the man seeks to reach control of the mind, the soul in its turn becomes more actively aggressive. The work of the solar Angel has hitherto been largely in its own world and concerned with its relation to spirit, and with this the man, working through his cycles on the physical plane, has had no concern. The main expenditure of energy by the soul has been general, and outward-going into the fifth kingdom. Now the solar Angel approaches a time of crisis and of re-orientation. In the early history of humanity there was a great crisis which we call individualisation. At that time the solar Angels, in response to a demand or a pull from the race of animal-men (as a whole, note that), sent a portion of their energy, embodying the quality of mentalisation, to these animal-men. They fecundated, if I might so express it, the brain. Thus was humanity brought into being. This germ, however, carried within it two other potentialities, that of spiritual love and spiritual life. These must in due time make their appearance. |
Khi con người cố gắng kiểm soát thể trí, linh hồn đến lượt mình trở nên chủ động và tích cực hơn. Công việc của Thái dương Thiên Thần cho đến nay chủ yếu diễn ra trong cõi giới riêng của Ngài và liên quan đến mối quan hệ của Ngài với tinh thần, và về điều này, con người, làm việc qua các chu kỳ của mình trên cõi hồng trần, chưa từng quan tâm. Sự tiêu hao năng lượng chính của linh hồn đã mang tính tổng quát và hướng ra bên ngoài vào giới thứ năm. Giờ đây, Thái dương Thiên Thần tiếp cận một thời điểm khủng hoảng và tái định hướng. Trong lịch sử sơ khai của nhân loại, đã có một cuộc khủng hoảng lớn mà chúng ta gọi là sự biệt ngã hóa. Vào thời điểm đó, các Thái dương Thiên Thần, để đáp lại một yêu cầu hoặc một lực kéo từ chủng tộc người-thú (như một tổng thể, hãy lưu ý điều đó), đã gửi một phần năng lượng của các Ngài, thể hiện phẩm tính của sự trí tuệ hoá, đến những người-thú này. Họ đã thụ tinh, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, cho bộ não. Nhờ đó, nhân loại được hình thành. Tuy nhiên, mầm mống này mang trong mình hai tiềm năng khác, đó là tình thương tinh thần và sự sống tinh thần. Những điều này phải xuất hiện đúng lúc. |
|
Vào thời điểm đó, các Thái dương Thiên Thần, để đáp lại một yêu cầu hoặc một lực kéo từ chủng tộc người-thú (như một tổng thể, hãy lưu ý điều đó), đã gửi một phần năng lượng của các Ngài, thể hiện phẩm tính của sự trí tuệ hoá, đến những người-thú này. Họ đã thụ tinh, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, cho bộ não. Nhờ đó, nhân loại được hình thành. Tuy nhiên, mầm mống này mang trong mình hai tiềm năng khác, đó là tình thương tinh thần và sự sống tinh thần. Những điều này phải xuất hiện đúng lúc. |
Vào thời điểm đó, các Thái dương Thiên Thần, để đáp lại một yêu cầu hoặc một lực kéo từ chủng tộc người-thú (như một tổng thể, hãy lưu ý điều đó), đã gửi một phần năng lượng của các Ngài, thể hiện phẩm tính của sự trí tuệ hoá, đến những người-thú này. Họ đã thụ tinh, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, cho bộ não. Nhờ đó, nhân loại được hình thành. Tuy nhiên, mầm mống này mang trong mình hai tiềm năng khác, đó là tình thương tinh thần và sự sống tinh thần. Những điều này phải xuất hiện đúng lúc. |
|
The flowering forth of the mind in men, which so distinguishes the present age, indicates to the solar Angel a second crisis, of which the first was but the symbol. That for which the solar Angel exists is making its presence felt within humanity, and another strong pull is being exerted upon the solar Angel which this time will produce a second fecundation. This will give to man those qualities which will enable him to transcend human limitations, and become a part of the fifth or spiritual Kingdom in nature. The first effort of the solar Angel turned animal-men into human beings; the second will [89] turn human beings into spiritual entities, plus the gains of experience in the human family. |
Sự nở rộ của thể trí trong con người, đặc trưng nổi bật cho thời hiện tại, báo hiệu cho Thái dương Thiên Thần về một cuộc khủng hoảng thứ hai, trong đó cuộc khủng hoảng đầu tiên chỉ là biểu tượng. Điều mà vì đó Thái dương Thiên Thần tồn tại đang dần hiện hữu trong nhân loại, và một lực kéo mạnh mẽ khác đang được tác động lên Thái dương Thiên Thần, lần này sẽ tạo ra sự thụ tinh lần thứ hai. Điều này sẽ mang lại cho con người những phẩm chất giúp y vượt qua những giới hạn của nhân loại, và trở thành một phần của giới thứ năm hoặc Giới Tinh Thần trong tự nhiên. Nỗ lực đầu tiên của Thái dương Thiên Thần đã biến người thú thành con người; nỗ lực thứ hai sẽ [89] biến con người thành những thực thể tinh thần, cùng với những kinh nghiệm mà y đã đạt được trong gia đình nhân loại. |
|
For this the solar Angel, the soul, is organising itself and re-orienting itself so that its power can be redirected into the world of men. Contact must be made by the soul between the lower aspect of its triple nature and the aspect which has already found lodgment in the brain of man. Intelligent activity and love wisdom must be united, and the union must take place on the physical plane. |
Vì điều này, Thái Dương Thiên Thần, linh hồn, đang tự tổ chức và định hướng lại để năng lượng của Ngài có thể được chuyển hướng vào thế giới loài người. Linh hồn phải tạo ra sự tiếp xúc giữa khía cạnh thấp hơn của tam phân bản chất của mình và khía cạnh đã tìm được chỗ đứng trong não bộ của con người. Hoạt động trí tuệ và bác ái-minh triết phải được hợp nhất, và sự hợp nhất này phải diễn ra trên cõi hồng trần. |
|
In order to do this the soul is entering into “meditation deep”, in union with all other souls who may have brought their instrument into a responsive state. This is the basic group meditation, and when a man achieves what the oriental books call “samadhi”, he has succeeded in participating, as a soul, in this group meditation, and enters upon that cycle of service which expresses itself through the planetary Hierarchy. The rational mind and the abstract mind function as a unit, and the motivating principle is love. The soul, expressing love and abstract intelligence, is at one with its expression on the physical plane through the brain, and, when this is the case, the lower man has synchronised his meditation with that of the soul. |
Để làm được điều này, linh hồn đang bước vào “sự thiền định sâu sắc”, trong sự hợp nhất với tất cả những linh hồn khác vốn có thể đã đưa công cụ của họ vào trạng thái đáp ứng. Đây là sự tham thiền nhóm cơ bản, và khi một người đạt được điều mà các sách phương Đông gọi là “samadhi”, người ấy đã thành công trong việc tham gia, như một linh hồn, vào sự tham thiền nhóm này, và bước vào chu kỳ phụng sự thể hiện thông qua Thánh Đoàn Hành Tinh. Hạ trí và thượng trí hoạt động như một đơn vị, và nguyên lý thúc đẩy là tình thương. Linh hồn, biểu lộ tình thương và trí tuệ trừu tượng, đồng nhất với sự biểu lộ của nó trên cõi hồng trần thông qua bộ não, và khi điều này xảy ra, phàm nhân đã đồng bộ hóa sự tham thiền của mình với sự tham thiền của linh hồn. |
|
This is the objective of our work. Let this not be forgotten, and let every effort be made to bring mind and brain into such a functioning condition that a man can slip out of his own meditation and (losing sight of his own thoughts) become the soul, the thinker in the kingdom of the soul. |
Đây là mục tiêu của công việc của chúng ta. Đừng quên điều này, và hãy nỗ lực hết mình để đưa thể trí và bộ não vào trạng thái hoạt động sao cho một người có thể bước ra khỏi tham thiền của mình và (quên đi những suy nghĩ của mình) trở thành linh hồn, người suy tưởng trong vương quốc của linh hồn. |
Webinar 21—Rule 2.5
|
Đây là mục tiêu của công việc của chúng ta. Đừng quên điều này, và hãy nỗ lực hết mình để đưa thể trí và bộ não vào trạng thái hoạt động sao cho một người có thể bước ra khỏi tham thiền của mình và (quên đi những suy nghĩ của mình) trở thành linh hồn, người suy tưởng trong vương quốc của linh hồn. |
Đây là mục tiêu của công việc của chúng ta. Đừng quên điều này, và hãy nỗ lực hết mình để đưa thể trí và bộ não vào trạng thái hoạt động sao cho một người có thể bước ra khỏi tham thiền của mình và (quên đi những suy nghĩ của mình) trở thành linh hồn, người suy tưởng trong vương quốc của linh hồn. |
|
It is perhaps a new thought to some that the soul is organising itself for effort, re-orienting its forces, and preparing for a fresh and powerful impulse, but so it is. All forms of life under the force of evolution pass from initiation to initiation and the soul is not exempt from the process. Just as the soul of animal-man became united with another divine principle, and so brought into [90] being the fourth kingdom in nature, so the soul in humanity is seeking contact with another divine aspect. When that contact is made the Kingdom of God will come on earth; the physical plane will thereby be transformed and that peculiar period, presented symbolically under the term millennium, will come. |
Có lẽ đối với một số người, đây là một ý tưởng mới rằng linh hồn đang tự tổ chức cho sự nỗ lực, tái định hướng các mãnh lực của mình và chuẩn bị cho một xung lực mới và mạnh mẽ, nhưng sự thật là như vậy. Tất cả các hình tướng của sự sống dưới mãnh lực của sự tiến hóa đều đi từ điểm đạo này đến điểm đạo khác, và linh hồn cũng không là ngoại lệ của quá trình này. Giống như linh hồn của người-thú đã hợp nhất với một nguyên khí thiêng liêng khác, và do đó đã tạo ra [90] giới thứ tư trong thiên nhiên, thì linh hồn trong nhân loại cũng đang tìm kiếm sự tiếp xúc với một khía cạnh thiêng liêng khác. Khi sự tiếp xúc đó được thực hiện, Vương quốc của Thượng đế (Thiên giới) sẽ đến trên trái đất; cõi hồng trần do đó sẽ được biến đổi và giai đoạn đặc biệt đó, được trình bày một cách tượng trưng dưới thuật ngữ thời đại hoàng kim, sẽ đến. |
|
The Knowers of God in that era will preponderate over those who are simply aspiring to that knowledge, and their contact and the results of the force they transmit will be felt in all the kingdoms of nature. Dominion over all forms, and the power to act as transmitters of that spiritual energy we call love is the promised reward of the triumphant solar Angels, and the prized goal of their meditation work. The Sons of God will triumph on earth in full incarnated expression, and will bring light (therefore life) to all the manifested forms. This is the “life more abundant” of which the Christ speaks. This is the achievement of the true Nirvanee who, living in unbroken meditation in the spiritual realm yet can work on earth. The work of initiation is to enable a man to live ever at the centre, but to act as a distributor of divine energy in any direction and—after the later initiations—in all directions. |
Những Bậc Thức Giả về Thượng Đế trong kỷ nguyên đó sẽ chiếm ưu thế hơn những người chỉ đơn giản khao khát kiến thức đó, và sự tiếp xúc của họ cùng những kết quả của mãnh lực mà họ truyền tải sẽ được cảm nhận trong tất cả các giới của tự nhiên. Quyền thống trị trên mọi hình tướng, và quyền năng hành động như những người truyền tải năng lượng tinh thần mà chúng ta gọi là tình thương là phần thưởng hứa hẹn của các Thiên Thần Thái Dương chiến thắng, và là mục tiêu quý giá của công việc tham thiền của họ. Những Người Con của Thượng Đế sẽ chiến thắng trên trái đất trong sự biểu hiện đầy đủ và sẽ mang lại ánh sáng (do đó là sự sống) cho tất cả các hình tướng biểu hiện. Đây là “sự sống phong phú hơn” mà Đức Christ đã nói đến. Đây là thành tựu của Đấng Nirvanee (Đấng Nhập Niết Bàn) chân chính, người sống trong sự tham thiền không gián đoạn trong cõi tinh thần nhưng vẫn có thể làm việc trên trần gian. Công việc của sự điểm đạo là cho phép một người luôn sống ở trung tâm, nhưng hành động như một người phân phối năng lượng thiêng liêng theo bất kỳ hướng nào và—sau các lần điểm đạo sau—theo tất cả các hướng. |
|
We will now, in our consideration of the next rule, take up the work of the “lesser light” of man on the physical plane. I, who have entered somewhat into an understanding of the life of the solar Angel, seek to assure my fellow pilgrims that the passing things of the senses are but trivial, and of no value compared to the rewards, here and in this life, to the man who seeks to merge his everyday consciousness with that of his own soul. He enters then into the community of souls, and stands not alone. The only lonely periods are the result of wrong orientation and the holding on to that which hides the vision, and fills the hands so full that they cannot grasp what has been called “the jewel in the lotus.” |
Bây giờ, trong việc xem xét quy luật tiếp theo, chúng ta sẽ đề cập đến công việc của “ánh sáng thấp hơn” của con người trên cõi hồng trần. Tôi, người đã phần nào hiểu về cuộc sống của Thái Dương Thiên Thần, tìm cách để đảm bảo với những huynh đệ đồng hành rằng những gì phù du của giác quan chỉ là những điều tầm thường, và không có giá trị so với những phần thưởng, ở đây và trong cuộc sống này, đối với người tìm cách hợp nhất tâm thức hàng ngày của mình với tâm thức của chính linh hồn mình. Y sau đó bước vào cộng đồng của các linh hồn, và không đứng một mình. Những giai đoạn cô đơn duy nhất là kết quả của sự định hướng sai và việc giữ chặt lấy những gì che giấu tầm nhìn, và lấp đầy đôi tay đến mức họ không thể nắm bắt được cái gọi là “viên ngọc trong hoa sen.” |
Mental Rules 22- Rule 3.1 (pages 90-99)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the four, waxeth and groweth. The myriads gather round ita glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim. Then shall the second sound go forth. |
Năng Lượng tuần hoàn. Điểm ánh sáng, sản phẩm do công sức của bốn, trở nên mạnh mẽ và tăng trưởng. Vô số sinh linh tập trung quanh hơi ấm rực rỡ của nó cho đến khi ánh sáng của nó mờ dần. Ngọn lửa của nó mờ đi. Kế đó, âm thanh thứ hai sẽ phát ra. |
|
Soul Light and Body Light |
ÁNH SÁNG LINH HỒN VÀ ÁNH SÁNG THỂ XÁC |
|
[93] In these Rules for Magic, the laws of creative work are embodied and the means whereby man can function as an incarnated soul. They do not deal primarily with the rules governing man’s development. Incidentally, of course, much may be learnt in this connection, for man grows through creative work and understanding, but this is not the primary objective of the teaching. |
Trong những Quy luật Huyền thuật này, các định luật về công việc sáng tạo được thể hiện, và những phương tiện mà con người có thể hoạt động như một linh hồn đang nhập thể. Chúng không chủ yếu liên quan đến các quy luật chi phối sự phát triển của con người. Tất nhiên, tình cờ nhiều điều có thể được học trong mối liên hệ này, vì con người phát triển thông qua công việc sáng tạo và sự thấu hiểu, nhưng đây không phải là mục tiêu chính của giáo lý. |
|
Through the gradually growing synthesis of the meditation process carried on by the soul on its own plane and that of the aspirant the man manifests (in the physical brain) a point of light which has been occultly lighted on the plane of the mind. Light ever signifies two things, energy and its manifestation in form of some kind, for light and matter are synonymous terms. The thought of the man and the idea of the soul have found a point of rapport, and the germ of a thought form has come into being. This thought form, when completed, will embody as much of the great plan (on which the Hierarchy is working) as the man can vision, grasp, and embody on the mental plane. This, in the early stages of a man’s aspiration, in his first steps along the Path of Discipleship, and for the first two initiations, is covered by the word “Service”. He grasps, gropingly at first, the idea of the unity of the Life, and its manifestation as the Brotherhood existing between all forms of that divine Life. This subjective ideal gradually leads to an appreciation of the way in which this essential relationship can work out practically. This can be seen finding its expression in the great humanitarian efforts, in the organisations [94] for the relief of human and animal suffering, and in world wide efforts for the betterment of the internal relations of nations, religions and groups. |
Thông qua sự tổng hợp ngày càng tăng của quá trình tham thiền do linh hồn thực hiện trên cõi của nó và của người chí nguyện, con người thể hiện (trong bộ não vật lý) một điểm sáng đã được chiếu sáng huyền bí trên cõi trí. Ánh sáng luôn biểu thị hai điều, năng lượng và sự biểu hiện của nó dưới dạng hình tướng nào đó, vì ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa. Suy nghĩ của con người và ý tưởng của linh hồn đã tìm thấy một điểm hòa hợp, và mầm mống của một hình tư tưởng đã ra đời. Hình tư tưởng này, khi hoàn thành, sẽ thể hiện tối đa Thiên Cơ vĩ đại (mà Thánh Đoàn đang thực hiện) mà con người có thể hình dung, nắm bắt và thể hiện trên cõi trí. Điều này, trong những giai đoạn đầu của sự khát vọng của con người, trong những bước đầu tiên của y trên Con Đường Đệ Tử, và cho hai lần điểm đạo đầu tiên, được bao phủ bởi từ ‘Phụng Sự’. Y nắm bắt, ban đầu còn mò mẫm, ý tưởng về sự hợp nhất của Sự Sống, và sự biểu hiện của nó như là Tình Huynh Đệ tồn tại giữa tất cả các hình tướng của Sự Sống thiêng liêng đó. Lý tưởng chủ quan này dần dần dẫn đến sự đánh giá cao cách mà mối quan hệ thiết yếu này có thể được thực hiện một cách thực tế. Điều này có thể được thấy qua sự biểu hiện của nó trong những nỗ lực nhân đạo vĩ đại, trong các tổ chức cứu trợ nỗi khổ của con người và động vật, và trong những nỗ lực trên toàn thế giới nhằm cải thiện mối quan hệ nội bộ giữa các quốc gia, tôn giáo và các nhóm. |
|
Enough human units have now contacted the hierarchical plan so that it may be safely concluded that the collective brain of the human family (that entity which we call the fourth Kingdom of Nature) is susceptible to the vision, and has fashioned its lighted form on the mental plane. Later, the thought of service and of self will be found inadequate, and a more suitable form of expression will be found, but this suffices for the present. |
Hiện nay, có đủ các đơn vị nhân loại đã tiếp xúc với kế hoạch của Thánh Đoàn, đến nỗi ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng bộ não tập thể của gia đình nhân loại (thực thể mà chúng ta gọi là Giới thứ tư của Thiên Nhiên) nhạy cảm với tầm nhìn, và đã định hình hình thể được thắp sáng của nó trên cõi trí. Sau này, tư tưởng phụng sự và tư tưởng về Bản Ngã sẽ được nhận thấy là không đủ, và một hình thể biểu lộ thích hợp hơn sẽ được tìm thấy, nhưng điều này cũng đủ cho hiện tại. |
|
This thought form, created by the aspirant, is brought into being by the focussed energies of the soul and the re-oriented forces of the personality. This is pictured as covering three stages. |
Hình tư tưởng này, được tạo ra bởi người chí nguyện, được đưa vào hiện tồn bởi các năng lượng được tập trung của linh hồn, và các mãnh lực được tái định hướng của phàm ngã. Điều này được mô tả như gồm ba giai đoạn. |
|
1. The period wherein the aspirant struggles to achieve that inner quiet and directed attentiveness which will enable him to hear the Voice of the Silence. That voice expresses to him, through symbol and interpreted life experience the purposes and plans with which he may cooperate. According to his stage of development those plans will express either: |
1. Giai đoạn mà người chí nguyện đấu tranh để đạt được sự tĩnh lặng nội tâm và sự chú ý tập trung có thể giúp y nghe được Tiếng Nói của Im Lặng. Tiếng nói đó diễn đạt cho y, thông qua biểu tượng và kinh nghiệm sống được diễn giải, những mục đích và kế hoạch mà y có thể hợp tác. Tùy theo giai đoạn phát triển của y, những kế hoạch đó sẽ biểu lộ một trong hai điều sau đây: |
|
a. The already materialized plans, taking group form on the physical plane, with which he may cooperate and in whose interest he may submerge his own. |
a. Những kế hoạch đã được hiện thực hóa, mang hình thức tập thể trên cõi hồng trần, mà y có thể hợp tác và vì lợi ích của chúng, y có thể hi sinh lợi ích riêng của mình. |
|
b. The plan, or fraction of a plan, which is his individual privilege to bring through into manifestation and thus cause to materialize as a group activity on the physical plane. It is the function of some aspirants to aid and help those groups which are already in functioning activity. It is the function of others to bring into being those forms of activity which are, as yet, on the subjective plane. Only those aspirants who are freed from personal [95] ambition can truly cooperate in this second aspect of the work. Therefore “Kill out ambition.” |
b. Hoặc là kế hoạch, hoặc phần nhỏ của một kế hoạch, vốn là đặc quyền cá nhân của y, để giúp đưa vào biểu lộ, và như vậy làm cho hiện-thực-hóa dưới hình thức một hoạt động tập thể trên cõi trần. Chức năng của một số người chí nguyện để hỗ trợ và giúp đỡ các nhóm đang vận hành hoạt động này. Chức năng của những người khác để tạo ra các hình thức hoạt động này, mà cho đến nay vẫn ở trên cõi bên trong. Chỉ những người chí nguyện nào đã được giải thoát khỏi tham vọng cá nhân, mới có thể thực sự hợp tác trong khía cạnh hoạt động thứ hai này. Do đó, “Hãy diệt lòng tham vọng”. |
|
2. The period wherein he habituates himself to the clear hearing and correct interpretation of the inner voice of the soul and broods reflectively upon the imparted message. During this period “the Energy circulates.” A constant rhythmic response to the thought energy of the soul is set up, and, figuratively speaking, there is a steady flow of force between that centre of energy we call the soul on its own plane, and that centre of force which is a human being. The energy travels along the “thread” we call the sutratma and sets up a vibratory response between the brain and the soul. |
2. Giai đoạn mà y làm quen với việc nghe rõ ràng và diễn giải đúng đắn tiếng nói nội tâm của linh hồn, và suy ngẫm sâu sắc về thông điệp được truyền đạt. Trong suốt giai đoạn này, ‘Năng lượng luân chuyển.’ Một sự đáp ứng nhịp nhàng liên tục với năng lượng tư tưởng của linh hồn được thiết lập, và, nói một cách tượng trưng, có một dòng chảy lực đều đặn giữa trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn trên cõi riêng của nó và trung tâm lực là con người. Năng lượng di chuyển dọc theo ‘sợi chỉ’ mà chúng ta gọi là sutratma và tạo ra một sự đáp ứng rung động giữa bộ não và linh hồn.”. |
|
An interesting angle of information might here be given, as it is my intent in these Instructions ever to link up the analogies between the different aspects of divinity, as they express themselves in man or in the macrocosm, the Heavenly Man. |
Một góc độ thông tin thú vị có thể được trình bày ở đây, vì ý định của tôi trong các Chỉ Dẫn này là luôn liên kết các sự tương tự giữa các khía cạnh khác nhau của thiên tính, khi chúng biểu hiện trong con người hoặc trong đại vũ trụ, Đấng Thiên Nhân. |
|
The ancient yoga of Atlantean days (which has come down to us in the necessarily fragmentary teaching of the yoga of the centres) conveys to us the information that the reflection of the sutratma in the human organism is called the spinal cord, and expresses itself in three nerve channels. These three are called ida, pingala, and the central channel, the sushumna. When the negative and positive forces of the body, which express themselves via the ida and pingala nerve routes, are equilibrized, the forces can ascend and descend by the central channel to and from the brain, passing through the centres up the spine without hindrance. When this is the case we have perfected soul expression in the physical man. |
Yoga cổ đại từ thời đại Atlantis (đã được truyền lại cho chúng ta qua những giáo lý tất yếu còn rời rạc về yoga của các luân xa) truyền đạt cho chúng ta thông tin rằng phản ánh của sutratma trong cơ thể con người được gọi là tủy sống, và biểu hiện qua ba kênh thần kinh. Ba kênh này được gọi là ida, pingala và kênh trung tâm, sushumna. Khi các lực âm và dương của cơ thể, được biểu hiện qua các đường dẫn thần kinh ida và pingala, được cân bằng, các lực này có thể thăng giáng qua kênh trung tâm, lên và xuống từ não, đi qua các trung tâm dọc theo cột sống mà không gặp trở ngại. Khi điều này xảy ra, chúng ta có được sự biểu hiện hoàn hảo của linh hồn trong con người hồng trần. |
|
This is in reality a correspondence to the sutratma as it links the physical man and the soul, for the sutratma in its turn expresses the positive energy of spirit, the negative energy of matter, and the equilibrized energy [96] of the soul—the attainment of equilibrium being the present objective of humanity. During the period of the later initiations, the positive use of the spiritual energy supersedes the equilibrized use of soul force, but that is a later stage with which the aspirant need not as yet trouble himself. Let him find the “noble middle Path” between the pairs of opposites, and incidentally he will find that the forces he uses on the physical plane will employ the central nerve channel up the spine. This will occur as the transmission of light and truth to the physical brain, via the central channel of the linking sutratma, really works out into satisfactory usefulness. Those ideas and concepts (speaking in symbol) which come via the sutratmic negative channel are well meaning, but lack force and peter out into insignificance. They are emotionally coloured, and lack the organized form which pure mind can give. Those which come via the opposite channel (speaking figuratively) produce too rapid concretion, and are motivated by the personal ambition of a ruling mentality. The mind is ever egoistic, self-seeking, and expresses that personal ambition which carries within it the germ of its own destruction. |
Đây thực chất là một sự tương ứng với sutratma khi nó liên kết con người vật lý và linh hồn, bởi vì sutratma, đến lượt nó, biểu hiện năng lượng dương của tinh thần, năng lượng âm của vật chất, và năng lượng cân bằng của linh hồn—sự đạt được trạng thái cân bằng này là mục tiêu hiện tại của nhân loại. Trong giai đoạn các cuộc điểm đạo sau này, việc sử dụng tích cực năng lượng tinh thần sẽ thay thế việc sử dụng cân bằng năng lượng linh hồn, nhưng đó là một giai đoạn sau này mà người chí nguyện hiện tại chưa cần phải lo lắng. Hãy để họ tìm ra “con đường trung đạo cao quý” giữa các cặp đối nghịch, và tình cờ, họ sẽ phát hiện rằng các mãnh lực mà họ sử dụng trên cõi vật lý sẽ đi qua kênh thần kinh trung tâm dọc theo cột sống. Điều này sẽ xảy ra khi việc truyền ánh sáng và chân lý đến bộ não vật lý, thông qua kênh trung tâm của sutratma liên kết, thực sự diễn ra một cách hữu ích và thỏa đáng. Những ý tưởng và khái niệm (nói theo biểu tượng) đến thông qua kênh âm của sutratma thì có ý tốt, nhưng thiếu sức mạnh và dần trở nên mờ nhạt. Chúng bị nhuốm màu cảm xúc và thiếu đi hình thức tổ chức mà trí tuệ thuần khiết có thể cung cấp. Những ý tưởng đến qua kênh đối nghịch (nói theo cách biểu tượng) thì hình thành quá nhanh và bị thúc đẩy bởi tham vọng cá nhân của một thể trí thống trị. Thể trí thường mang tính ích kỷ, tự cao, và thể hiện tham vọng cá nhân, điều này chứa đựng mầm mống của sự tự hủy diệt. |
|
When, however, the sutratmic sushumna, the central nerve channel and its energy is employed, the soul, as a magnetic intelligent creator, transmits its energies. The plans can then mature according to divine purpose and proceed with their building activities “in the light”. The point of egoic and lunar contact emits ever the point of light, as we have seen from our Rules for Magic, and that has its focus at the point in the sutratma which has its correspondence in the light in the head of the aspirant. |
Tuy nhiên, khi kênh sushumna của sutratma, kênh thần kinh trung ương và năng lượng của nó được sử dụng, linh hồn, như một nhà sáng tạo thông minh từ tính, truyền tải năng lượng của mình. Các kế hoạch sau đó có thể trưởng thành theo mục đích thiêng liêng và tiến hành các hoạt động xây dựng của chúng ‘trong ánh sáng’. Điểm tiếp xúc giữa Chân ngã và thể thái âm luôn phát ra điểm sáng, như chúng ta đã thấy từ các Quy luật Huyền Thuật của mình, và điểm đó tập trung tại điểm trong sutratma tương ứng với ánh sáng trong đầu của người chí nguyện. |
|
3. The period wherein he sounds the sacred Word and—blending it with the voice of the Ego or Soul—sets in motion mental matter for the building of his thought form. It is the man on the physical plane who now sounds the Word, and he does it in four ways: [97] |
3. Giai đoạn trong đó y xướng lên Linh Từ Thiêng Liêng và—hòa trộn nó với tiếng nói của Chân Ngã hay Linh Hồn—kích hoạt chất liệu trí tuệ để xây dựng hình tư tưởng của mình. Lúc này, chính con người trên cõi trần xướng Linh Từ, và y thực hiện điều đó theo bốn cách: |
|
a. He becomes the Word incarnated, and endeavours “to be what he is.” |
a. Y trở thành Linh Từ nhập thể, và nỗ lực ‘trở thành điều mà y là’. |
|
b. He sounds the Word within himself, seeking to do it as the soul. He visualizes himself as the soul breathing out energy through the medium of that Word through the entire system which his soul animates—his mental, emotional, vital, and physical instruments. |
b. Y xướng lên Linh Từ trong bản thân mình, tìm cách thực hiện điều đó như linh hồn. Y hình dung mình như linh hồn đang thở ra năng lượng thông qua phương tiện của Linh Từ đó qua toàn bộ hệ thống mà linh hồn của y đang làm sinh động—bao gồm các công cụ trí tuệ, cảm xúc, sinh lực, và thể chất của y. |
|
c. He sounds the Word literally on the physical plane, thus affecting the three grades of matter in his environment. All the time that he is thus occupied he is “holding the mind steady in the light”, and is keeping his consciousness immovably in the realm of the soul. |
c. Y phát ra Linh Từ, theo nghĩa đen, trên cõi trần, do đó ảnh hưởng đến ba cấp độ chất liệu trong môi trường của y. Trong suốt thời gian mà y đang làm như vậy, y ‘giữ tâm trí vững vàng trong ánh sáng’ và giữ vững tâm thức của mình trong cõi của linh hồn. |
|
d. Also he carries forward (and this is the most difficult stage) a paralleling activity of a steady visualization of the thought form through which he hopes to express that aspect of the plan which he has contacted, and which he hopes to bring into active being through his own life and in his own environment. |
d. Ngoài ra, y tiếp tục (và đây là giai đoạn khó khăn nhất) một hoạt động song song là duy trì sự hình dung liên tục về hình tư tưởng mà y hy vọng sẽ biểu hiện khía cạnh của Thiên Cơ mà y đã tiếp cận, và mà y hy vọng sẽ đưa vào hiện hữu qua chính cuộc sống của mình và trong môi trường của mình. |
|
This is only truly possible when a steady rapport has been established between the soul and the brain. The process involves the capacity of the brain to register what the soul is visioning and becoming aware of in the Kingdom of the Soul. It involves also a paralleling activity in the mind, for the aspirant must interpret the vision and utilize the concrete intelligent faculty for the wise adaptation of time and of form to the true expression of that which has been learnt. This is by no means an easy thing to do, but the aspirant has eventually to learn to express himself in full consciousness in more than one way and that simultaneously. He begins to learn a triple activity in this manner. This the Old Commentary expresses as follows: [98] |
Điều này chỉ thực sự khả dĩ khi một sự hòa hợp ổn định đã được thiết lập giữa linh hồn và bộ não. Quá trình này liên quan đến khả năng của bộ não để ghi nhận những gì mà linh hồn đang nhìn thấy và trở nên nhận biết trong Vương quốc của Linh hồn. Nó cũng liên quan đến một hoạt động song song trong thể trí, vì người chí nguyện phải diễn giải tầm nhìn và sử dụng trí cụ thể để thích nghi một cách khôn ngoan về thời gian và hình tướng nhằm biểu đạt đúng đắn những gì đã được học. Điều này không phải là một việc dễ dàng, nhưng người chí nguyện cuối cùng phải học cách tự thể hiện với đầy đủ ý thức theo nhiều cách và đồng thời. Y bắt đầu học một hoạt động tam phân theo cách này. Điều này được Cổ Luận diễn đạt như sau: |
|
The Solar Orb shines forth in radiant splendor. The illuminated mind reflects the solar glory. The lunar orb rises from the centre to the summit, and is transformed into a radiant sun of light. When these three suns are one, Brahma breaks forth. A lighted world is born. |
Thái Dương cầu chiếu sáng với hào quang rực rỡ. Tâm trí được soi sáng phản chiếu vinh quang của thái dương. Thái âm cầu đi từ trung tâm lên đỉnh, và biến đổi thành một mặt trời rực rỡ ánh sáng. Khi ba mặt trời này hợp làm một, Brahma bùng phát. Một thế giới được soi sáng ra đời. |
|
This literally means that when the soul (symbolized as the Solar Orb) the mind, and the light in the head form one unit, the creative power of the solar Angel can express itself in the three worlds, and can construct a form through which its energy can actively express itself. The lunar orb is a symbolic way of expressing the solar plexus which eventually must do two things: |
Điều này có nghĩa là khi linh hồn (được tượng trưng là Thái Dương Cầu), thể trí và ánh sáng trong đầu tạo thành một đơn vị, thì quyền năng sáng tạo của Thái Dương Thiên Thần có thể tự biểu hiện trong ba cõi, và có thể xây dựng một hình tướng qua đó năng lượng của nó có thể biểu đạt một cách chủ động. Thái âm cầu là một cách biểu đạt tượng trưng của tùng thái dương, vốn cuối cùng phải thực hiện hai việc: |
|
1. Blend and fuse the energies of the lower two centres of force, and |
1. Hòa trộn và dung hợp các năng lượng của hai trung tâm lực thấp hơn, và |
|
2. Raise these fused energies and so, blending with the energies of the other and higher centres, reach the head. |
2. Nâng các năng lượng đã được dung hợp này lên, và bằng cách hòa trộn với năng lượng của các trung tâm khác và cao hơn, lên đến đỉnh đầu. |
|
All the above embodies a teaching and a theory. This has to be wrought out in the practical experiment and experience and conscious activity of the aspirant. |
Tất cả những điều trên chứa đựng một giáo lý và một lý thuyết. Điều này phải được thực hiện thông qua thí nghiệm thực tiễn, kinh nghiệm, và hoạt động có ý thức của người chí nguyện. |
|
[Lặp lại] |
|
|
Thái âm cầu là một cách biểu đạt tượng trưng của tùng thái dương, vốn cuối cùng phải thực hiện hai việc: |
|
|
1. Hòa trộn và dung hợp các năng lượng của hai trung tâm lực thấp hơn, và |
|
|
2. Nâng các năng lượng đã được dung hợp này lên, và bằng cách hòa trộn với năng lượng của các trung tâm khác và cao hơn, lên đến đỉnh đầu. |
|
|
Tất cả những điều trên chứa đựng một giáo lý và một lý thuyết. Điều này phải được thực hiện thông qua thí nghiệm thực tiễn, kinh nghiệm, và hoạt động có ý thức của người chí nguyện. |
|
|
I would like also to point out the nature of the service humanity as a whole is rendering in the general plan of evolution. The rule under our consideration applies not only to the individual man but to the predestined activity of the fourth Kingdom in Nature. Through his meditation, discipline and service, man fans into radiant light, illuminating the three worlds, that point of light which flickered into being at the time of his individualization in past ages. This finds its reflection in the light in the head. Thus a rapport is set up, which permits not only of vibratory synchronization but of a radiation and display of magnetic force, permitting of its recognition in the three worlds of a man’s immediate environment. |
Tôi cũng muốn chỉ ra bản chất của sự phụng sự mà nhân loại như một tổng thể đang thực hiện trong kế hoạch tiến hóa chung. Quy luật mà chúng ta đang xem xét không chỉ áp dụng cho con người cá nhân mà còn cho hoạt động được định trước của Giới thứ tư trong Tự nhiên. Thông qua thiền định, kỷ luật và phụng sự, con người làm cho điểm sáng yếu ớt lóe lên trong thời kỳ biệt ngã hóa của mình trong những thời đại trước trở thành ánh sáng rực rỡ, chiếu sáng ba cõi giới. Điều này phản ánh trong ánh sáng nơi đỉnh đầu. Nhờ đó, một sự kết nối được thiết lập, không chỉ cho phép đồng bộ hóa rung động mà còn cho phép sự phát xạ và hiển thị mãnh lực từ tính, cho phép sự nhận biết của nó trong ba cõi giới của môi trường xung quanh trực tiếp của con người. |
|
So it is with the human kingdom. As its illumination increases, as its light waxes more potent, its effect upon [99] the sub-human kingdoms is analogous to that of the individual soul, its reflection, upon man in physical incarnation. I say analogous as a causative force, though not a correspondence in effects. Note this difference. Humanity is macrocosmic in relation to the sub-human states of consciousness, and this H. P. B. has well pointed out. The effect upon these lesser and more material states is primarily four-fold. |
Với giới nhân loại cũng vậy. Khi sự soi sáng của nó tăng lên, khi ánh sáng của nó trở nên mạnh mẽ hơn, tác động của nó lên các giới dưới con người tương tự như tác động của linh hồn cá nhân, là sự phản chiếu của nó, lên con người trong thể xác. Tôi nói tương tự giống như một mãnh lực nguyên nhân, mặc dù không phải là một sự tương ứng trong hiệu quả. Hãy chú ý sự khác biệt này. Nhân loại là Đại thiên địa đối với các trạng thái tâm thức dưới con người, và điều này đã được H. P. B. chỉ rõ. Tác động lên các trạng thái thấp hơn và vật chất hơn này chủ yếu là tứ phân. |
Mental Rules 23 – Rule 3.2 (pages 99-103)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
1. The stimulating of the spiritual aspect, expressing itself as the soul in all forms, such as the form of a mineral, a flower, or an animal. The positive aspect of energy in all these forms will wax stronger, producing radiation, for instance, increasingly in the mineral kingdom. In this lies a hint of the nature of the process that will set a term to our own planetary existence and eventually, to our solar system. In the vegetable kingdom, the effect will be the demonstration of increased beauty and diversity, and the evolution of new species with an objective impossible to explain to those not yet initiate. The production of nutritive forms which will serve the needs of the lesser devas and angels will be one of the results. |
1. Kích thích khía cạnh tinh thần, tự biểu hiện như linh hồn trong tất cả các hình tướng, chẳng hạn như hình tướng của khoáng vật, hoa, hoặc động vật. Khía cạnh năng lượng dương trong tất cả các hình tướng này sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, tạo ra chẳng hạn sự phát xạ ngày càng tăng trong giới khoáng vật. Trong điều này có một gợi ý về bản chất của quá trình sẽ đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của hành tinh của chúng ta, và cuối cùng, cho hệ mặt trời của chúng ta. Trong giới thảo mộc, tác động sẽ là sự biểu hiện của vẻ đẹp và sự đa dạng ngày càng tăng, và sự tiến hóa của các loài mới với mục tiêu không thể giải thích cho những ai chưa được điểm đạo. Sự sản xuất các hình thức dinh dưỡng phục vụ cho nhu cầu của các tiểu thiên thần và thiên thần sẽ là một trong những kết quả. |
|
In the animal kingdom the effect will be the elimination of pain and suffering and a return to the ideal conditions of the Garden of Eden. When man functions as a soul, he heals; he stimulates and vitalizes; he transmits the spiritual forces of the universe, and all harmful emanations and all destructive forces find in the human kingdom a barrier. Evil and its effects are largely dependent upon humanity for a functioning channel. Humanity’s function is to transmit and handle force. This is done in the early and ignorant stages destructively and with harmful results. Later when acting under the influence of the soul, force is rightly and wisely handled and good eventuates. True indeed it is that “the whole creation travaileth in pain until now, waiting for the manifestation of the sons of God.” [100] |
Trong giới động vật, tác động sẽ là sự loại bỏ đau đớn và khổ sở, và trở lại các điều kiện lý tưởng của Vườn Địa Đàng. Khi con người hoạt động như một linh hồn, y chữa lành; y kích thích và sinh lực hóa; y truyền đạt các mãnh lực tinh thần của vũ trụ, và tất cả các sự phát xạ có hại và tất cả các mãnh lực phá hủy đều gặp phải một rào cản trong giới nhân loại. Cái ác và các tác động của nó phụ thuộc nhiều vào nhân loại như một kênh hoạt động. Chức năng của nhân loại là truyền đạt và xử lý mãnh lực. Điều này trong giai đoạn đầu và thiếu hiểu biết được thực hiện một cách phá hủy và gây hại. Sau này, khi hành động dưới ảnh hưởng của linh hồn, mãnh lực được xử lý đúng đắn và khôn ngoan, và điều tốt lành sẽ xảy ra. Thực vậy, “toàn bộ tạo vật chịu đau khổ cho đến nay, chờ đợi sự biểu hiện của các con của Thượng đế.” [100] |
|
2. The bringing of light. Humanity is the planetary light bearer, transmitting the light of knowledge, of wisdom, and of understanding, and this in the esoteric sense. These three aspects of light carry three aspects of soul energy to the soul in all forms, through the medium of the anima mundi, the world soul. Physically speaking, this can be realized if we can appreciate the difference between our planetary illumination today and that of five hundred years ago—our brilliantly lit cities, our rural districts, shining through the night with their lighted streets and homes; our airways, outlined with their search-lights and fields of blazing globes; our oceans, dotted with their lighted ships, and increasingly our lighted airships will be seen, darting through the skies. |
2. Mang ánh sáng. Nhân loại là người mang ánh sáng của hành tinh, truyền đạt ánh sáng của tri thức, minh triết, và sự thấu hiểu, và điều này theo nghĩa nội môn. Ba khía cạnh của ánh sáng này mang ba khía cạnh của năng lượng linh hồn đến linh hồn trong tất cả các hình tướng, thông qua trung gian của anima mundi, linh hồn của thế giới. Về mặt vật lý, điều này có thể được nhận ra nếu chúng ta có thể đánh giá sự khác biệt giữa ánh sáng hành tinh của chúng ta ngày nay và cách đây năm trăm năm—những thành phố rực rỡ ánh sáng của chúng ta, các vùng nông thôn của chúng ta, chiếu sáng qua đêm với các con đường và nhà cửa sáng sủa; các tuyến đường hàng không của chúng ta, được phác thảo bằng đèn tìm kiếm và các cánh đồng với những quả cầu sáng rực rỡ; các đại dương của chúng ta, được đánh dấu bởi các con tàu sáng đèn, và ngày càng nhiều các tàu bay sáng đèn của chúng ta sẽ được nhìn thấy, bay vút qua bầu trời. |
|
These are but the result of man’s growing illumination. His knowledge aspect of light has brought this into being. Who shall say what will eventuate when the wisdom aspect predominates? When these are welded by understanding, the soul will control in the three worlds and in all kingdoms of nature. |
Đây chỉ là kết quả của sự soi sáng ngày càng tăng của con người. Khía cạnh tri thức của ánh sáng đã mang điều này vào sự tồn tại. Ai có thể nói trước điều gì sẽ xảy ra khi khía cạnh trí tuệ chiếm ưu thế? Khi những điều này được hợp nhất bởi sự thấu hiểu, linh hồn sẽ kiểm soát trong ba cõi giới và trong tất cả các giới tự nhiên. |
|
3. The transmission of energy. The clue to the significance of this can be grasped as a concept, though as yet it will fail of comprehension, in the realization that the human kingdom acts upon and affects the three sub-human kingdoms. The downpouring spiritual Triangle and the upraising matter Triangle meet point to point in humanity when the point of balance can be found. In man’s achievement and spiritualization is the hope of the world. Mankind itself is the world Saviour, of which all world Saviours have been but the symbol and the guarantee. |
3. Sự truyền tải năng lượng. Manh mối về ý nghĩa của điều này có thể được nắm bắt như một khái niệm, mặc dù hiện tại nó vẫn chưa thể hiểu hết, khi nhận ra rằng giới nhân loại tác động và ảnh hưởng đến ba giới dưới con người. Tam giác tinh thần tuôn trào từ trên xuống và tam giác vật chất nâng cao từ dưới lên gặp nhau tại điểm cân bằng trong nhân loại khi điểm cân bằng này có thể được tìm thấy. Trong thành tựu và sự tinh thần hóa của con người chính là hy vọng của thế giới. Nhân loại chính là Đấng Cứu Thế của thế giới, mà tất cả các Đấng Cứu Thế trên thế gian chỉ là biểu tượng và sự bảo chứng. |
|
4. The blending of the deva or angel evolution and the human. This is a mystery which will be solved as man arrives at the consciousness of his own solar Angel, only to discover that that too is also but a form of life which, [101] having served its purpose, must be left behind. The angel or deva evolution is one of the great lines of force, contained in the divine expression and the solar Angels, the Agnishvattas of The Secret Doctrine and of A Treatise on Cosmic Fire belong—in their form aspect—to this line. |
4. Sự pha trộn giữa dòng tiến hóa của các thiên thần (deva) và của loài người. Đây là một bí ẩn sẽ được giải đáp khi con người đạt được tâm thức của chính Thiên Thần Thái Dương của mình, chỉ để phát hiện rằng đó cũng chỉ là một hình thức sự sống, [101] sau khi hoàn thành mục đích của nó, cũng phải được bỏ lại phía sau. Dòng Tiến hóa của các thiên thần (deva) là một trong những dòng lực lớn, nằm trong biểu hiện thiêng liêng và các Thái Dương Thiên Thần, các Agnishvattas trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ—ở khía cạnh hình tướng của các Vị—thuộc về dòng mãnh lực này. |
|
Thus humanity serves, and in the development of a conscious aptitude for service, in the growth of a conscious understanding of the individual part to be played in the working out of the plan and in the rendering of the personality subject to the soul, will come the steady progress of humanity towards its goal of world service. |
Như vậy, nhân loại phụng sự, và trong sự phát triển của khả năng phụng sự có ý thức, trong sự phát triển của sự thấu hiểu có ý thức về phần cá nhân được đảm nhận trong việc thực hiện kế hoạch, và trong việc làm cho phàm ngã chịu sự chi phối của linh hồn, nhân loại sẽ tiến bộ đều đặn hướng đến mục tiêu phụng sự thế giới của mình. |
|
May I speak a word here so as to make this consummation a practical goal in your life? Harmful magnetic conditions, as the result of man’s wrong handling of force are the causes of evil in the world around us, including the three sub-human kingdoms. How can we, as individuals, change this? By the development in ourselves of Harmlessness. Therefore, study yourself from this angle. Study your daily conduct and words and thoughts so as to make them utterly harmless. Set yourself to think those thoughts about yourself and others which will be constructive and positive, and hence harmless in their effects. Study your emotional effect on others so that by no mood, no depression, and no emotional reaction can you harm a fellow-man. Remember in this connection, violent spiritual aspiration and enthusiasm, misplaced or misdirected, may quite easily harm a fellow-man, so look not only at your wrong tendencies but at the use of your virtues. |
Liệu tôi có thể nói một lời ở đây để biến sự thành tựu này là một mục tiêu thực tế trong cuộc sống của bạn không? Các điều kiện từ tính có hại, là kết quả của việc con người xử lý sai năng lượng, là nguyên nhân của tội ác trong thế giới xung quanh chúng ta, bao gồm cả ba giới dưới loài người. Làm thế nào chúng ta, với tư cách cá nhân, có thể thay đổi điều này? Bằng cách phát triển trong chính chúng ta sự Vô tổn hại. Vì vậy, hãy nghiên cứu bản thân từ góc độ này. Nghiên cứu hành vi, lời nói và suy nghĩ hàng ngày của bạn để làm cho chúng hoàn toàn vô tổn hại. Hãy tự mình nghĩ những suy nghĩ về bản thân và những người khác sẽ mang tính xây dựng và tích cực, và do đó vô tổn hại trong tác dụng của chúng. Nghiên cứu tác động cảm xúc của bạn đối với người khác để không có tâm trạng, không có sự chán nản và không có phản ứng cảm xúc nào có thể làm hại người khác. Hãy nhớ trong mối liên hệ này, khát vọng và nhiệt tình tinh thần mãnh liệt, đặt sai chỗ hoặc sai hướng, có thể rất dễ dàng làm hại người khác, vì vậy đừng chỉ nhìn vào những khuynh hướng sai lầm của bạn mà còn nhìn vào việc sử dụng các đức tính của bạn. |
|
If harmlessness is the keynote of your life, you will do more to produce right harmonious conditions in your personality than any amount of discipline along other lines. The drastic purgation brought about by the attempt to be harmless will go far to eliminate wrong [102] states of consciousness. See to it therefore, and bring this idea in your evening review. |
Nếu sự vô tổn hại là chủ đạo trong cuộc sống của bạn, bạn sẽ làm được nhiều hơn để tạo ra các điều kiện hài hòa đúng đắn trong phàm ngã của bạn hơn bất kỳ kỷ luật nào theo các hướng khác. Sự thanh lọc mạnh mẽ do nỗ lực trở nên vô tổn hại sẽ loại bỏ rất nhiều trạng thái [102] tâm thức sai lầm. Vì vậy, hãy xem xét nó, và mang ý tưởng này vào đánh giá buổi tối của bạn. |
|
I would like to urge each one who reads these pages to make a fresh beginning in spiritual living. I would say to him, forget all past achievements, realize fervour, and concentrate upon the Plan. |
Tôi muốn thúc giục mỗi người đọc những trang này hãy bắt đầu một khởi đầu mới trong đời sống tinh thần. Tôi muốn nói với người ấy, hãy quên tất cả những thành tựu trong quá khứ, nhận ra lòng nhiệt thành và tập trung vào Thiên Cơ. |
|
By this time some progress in group realization has surely been made, and less interest in the separated self has been gained. More faith in the Good Law which guides all creation to ultimate perfection has been visioned without doubt, and, through this vision, has come the capacity to take one’s eyes off the affairs of individual experience, and fasten them on the working out of the purpose for the whole. This is the objective and the goal. Breadth of vision, inclusiveness of understanding and a widened horizon are the preliminary essentials to all work under the guidance of the hierarchy of adepts; the stabilizing of the consciousness in the one life, and the recognition of the basic unity of all creation has to be somewhat developed before any one can be trusted with certain knowledges and Words of Power and the manipulation of those forces which bring the subjective reality into outer manifestation. |
Đến thời điểm này, chắc chắn đã có một số tiến bộ trong nhận thức nhóm, và sự quan tâm đến cái tôi tách biệt đã giảm bớt. Nhiều niềm tin hơn vào Định Luật Tốt Lành, định hướng mọi sự sáng tạo đến sự hoàn thiện cuối cùng, đã được nhìn thấy một cách không nghi ngờ, và qua tầm nhìn này, khả năng rời mắt khỏi những sự việc của trải nghiệm cá nhân và tập trung vào việc thực hiện mục đích cho toàn thể đã xuất hiện. Đây là mục tiêu và đích đến. Tầm nhìn rộng lớn, sự thấu hiểu bao trùm và một chân trời mở rộng là những yếu tố cần thiết ban đầu cho tất cả công việc dưới sự hướng dẫn của Huyền Giai các Chân sư; sự ổn định của tâm thức trong sự sống duy nhất, và sự nhận thức về sự hợp nhất cơ bản của mọi sự sáng tạo phải được phát triển phần nào trước khi bất kỳ ai có thể được tin tưởng trao cho những kiến thức nhất định, Quyền Lực Từ, và việc thao tác những mãnh lực mang thực tại chủ quan vào biểu hiện bên ngoài. |
|
Therefore, I say to you at this time, I—an older and perhaps more experienced disciple and worker in the great vineyard of the Lord—practice harmlessness with zest and understanding, for it is (if truly carried out) the destroyer of all limitation. Harmfulness is based on selfishness, and on an ego-centric attitude. It is the demonstration of forces concentrated for self-enforcement, self-aggrandisement, and self-gratification. Harmlessness is the expression of the life of the man who realizes himself to be everywhere, who lives consciously as a soul, whose nature is love, whose method is inclusiveness, and to whom all forms are alike in that they veil and hide the light, and are but externalizations of [103] the one Infinite Being. This realization, let me remind you, will demonstrate in a true comprehension of a brother’s need, divorced from sentiment and expediency. It will lead to that silence of the tongue which grows out of non-reference to the separate self. It will produce that instantaneous response to true need which characterizes the Great Ones who (passing beneath the outer appearance) see the inner cause which produces the conditions noted in the outer life, and so, from that point of wisdom, true help and guidance can be given. Harmlessness brings about in the life caution in judgment, reticence in speech, ability to refrain from impulsive action, and the demonstration of a non-critical spirit. So, free passage can be given to the forces of true love, and to those spiritual energies which seem to vitalize the personality, leading consequently to right action. |
Vì vậy, tôi nói với bạn vào lúc này, tôi — một đệ tử và người lao động lớn tuổi hơn và có lẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong vườn nho rộng lớn của Chúa —thực hành sự vô tổn hại với sự say mê và thấu hiểu, vì nó (nếu được thực hiện thực sự) là kẻ hủy diệt tất cả các giới hạn. Sự gây hại dựa trên sự ích kỷ và thái độ coi mình là trung tâm. Đó là sự thể hiện của các mãnh lực tập trung để tự củng cố, tự đề cao và tự thỏa mãn. Sự vô tổn hại là biểu hiện của sự sống của người nhận ra mình ở khắp mọi nơi, người sống có ý thức như một linh hồn, có bản chất là tình thương, có phương pháp là bao gồm, và đối với người đó, tất cả các hình tướng đều giống nhau ở chỗ chúng che giấu ánh sáng, và chỉ là sự ngoại hiện của [103] Đấng Vô hạn duy nhất. Sự nhận thức này, tôi xin nhắc bạn, sẽ thể hiện trong sự thấu hiểu thực sự về nhu cầu của một huynh đệ, tách biệt khỏi tình cảm và sự vụ lợi. Nó sẽ dẫn đến sự im lặng của cái lưỡi phát triển từ việc không đề cập đến bản ngã tách biệt. Nó sẽ tạo ra phản ứng tức thời đối với nhu cầu thực sự, đặc trưng của Các Đấng Cao Cả, những người (đi sâu vào bên dưới vẻ bề ngoài) thấy được nguyên nhân nội tại tạo ra các điều kiện được quan sát trong cuộc sống bên ngoài, và do đó, từ điểm minh triết đó, có thể mang đến sự giúp đỡ và chỉ dẫn thực sự. Tính vô tổn hại mang đến sự cẩn trọng trong phán xét, sự kín đáo trong lời nói, khả năng kiềm chế hành động bốc đồng, và sự thể hiện một tinh thần không chỉ trích. Vì thế, những mãnh lực của tình thương chân thực và các năng lượng tinh thần có thể tự do lưu chuyển, làm sinh động phàm ngã, và do đó dẫn đến hành động đúng đắn |
Mental Rules 24 – Rule 3.3 (pages 103-109)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
Harmlessness brings about in the life caution in judgment, reticence in speech, ability to refrain from impulsive action, and the demonstration of a non-critical spirit. So, free passage can be given to the forces of true love, and to those spiritual energies which seem to vitalize the personality, leading consequently to right action. |
Tính vô tổn hại mang đến sự cẩn trọng trong phán xét, sự kín đáo trong lời nói, khả năng kiềm chế hành động bốc đồng, và sự thể hiện một tinh thần không chỉ trích. Vì thế, những mãnh lực của tình thương chân thực và các năng lượng tinh thần có thể tự do lưu chuyển, làm sinh động phàm ngã, và do đó dẫn đến hành động đúng đắn |
|
Let harmlessness, therefore, be the keynote of your life. An evening review should be carried forward entirely along this line; divide the review work in three parts and consider: |
Vì thế, hãy để tính vô tổn hại trở thành phương châm của cuộc sống bạn. Việc tự đánh giá vào buổi tối nên được tiến hành hoàn toàn theo hướng này; chia công việc đánh giá thành ba phần và xem xét: |
|
1. Harmlessness in thought. This will primarily result in the control of speech. |
1. Sự vô tổn hại trong suy nghĩ. Điều này chủ yếu dẫn đến sự kiểm soát lời nói. |
|
2. Harmlessness in emotional reaction. This will result in being a channel for the love aspect of the soul. |
2. Sự vô tổn hại trong phản ứng cảm xúc. Điều này dẫn đến việc trở thành kênh cho khía cạnh tình thương của linh hồn. |
|
3. Harmlessness in act. This will produce poise, skill in action and the release of the creative will. |
3. Sự vô tổn hại trong hành động. Điều này sẽ tạo ra sự bình thản, kỹ năng trong hành động và giải phóng ý chí sáng tạo. |
|
These three approaches to the subject should be studied from their effects upon one’s own self and development, and from their effect upon those whom one contacts and upon one’s environing associates. |
Ba cách tiếp cận này nên được nghiên cứu từ tác động của chúng lên chính bản thân và sự phát triển của bạn, cũng như từ tác động của chúng lên những người mà bạn tiếp xúc và lên các mối quan hệ xung quanh bạn. |
|
May I interpolate here the remark that I make suggestions, based on experience in occult work. There is no obligation to obey. We seek to train intelligent servers of the race, and these are developed by self-initiated [104] effort, freedom in action and discrimination in method and not by unquestioning obedience, negative acquiescence, and blind following. Let this not be forgotten. If any command may ever emanate from the subjective band of teachers of whom I am a humble member, let it be to follow the dictates of your own soul and the promptings of your higher self. |
Tôi có thể thêm vào đây một nhận xét rằng tôi đưa ra các đề xuất dựa trên kinh nghiệm trong công việc huyền linh. Không có sự bắt buộc nào phải tuân theo. Chúng tôi tìm cách huấn luyện những người phụng sự thông minh của nhân loại, và những người này được phát triển thông qua nỗ lực tự khởi xướng, tự do trong hành động và sự phân biện trong phương pháp, chứ không phải thông qua sự vâng lời không nghi ngờ, sự tuân thủ tiêu cực và sự theo đuổi mù quáng. Đừng quên điều này. Nếu có bất kỳ mệnh lệnh nào xuất phát từ nhóm giáo huấn chủ quan mà tôi là một thành viên khiêm tốn, thì đó sẽ là tuân theo sự chỉ đạo của linh hồn bạn và sự thúc giục của chân ngã cao cả của bạn. |
|
Before we proceed to an analysis of this Rule and of the previous one, for Rules II and III are the two halves of a whole, I would like to remind you that, in this series of meditations upon these ancient formulas, we are concerned with the magical work of the aspirant as a co-worker in the enterprises of the Great White Lodge. We are dealing with the methods of white magic. Let me remind you also, that the magical work of our planetary Hierarchy consists of tending the psyche in the world of forms, so that the unfolding flower of the soul may be nurtured and fostered in such wise that radiant glory, magnetic force and (ultimately) spiritual energy may be demonstrated through the medium of the form. Thus the power of the three Rays of divine Manifestation may be seen. |
Trước khi chúng ta tiếp tục phân tích Quy luật này và Quy luật trước đó, vì Quy luật II và III là hai nửa của một tổng thể, tôi muốn nhắc nhở bạn rằng, trong loạt tham thiền về các công thức cổ xưa này, chúng ta đang quan tâm đến công việc huyền thuật của người chí nguyện như một cộng tác viên trong các công việc của Đại Bạch Đoàn. Chúng ta đang xem xét các phương pháp của huyền thuật chánh đạo. Tôi cũng muốn nhắc bạn rằng, công việc huyền thuật của Thánh Đoàn hành tinh chúng ta bao gồm việc chăm sóc tâm thức trong thế giới hình tướng, để hoa sen linh hồn đang nở có thể được nuôi dưỡng và phát triển một cách khôn ngoan, sao cho vinh quang rực rỡ, mãnh lực từ tính, và (cuối cùng) năng lượng tinh thần có thể được thể hiện thông qua hình tướng. Như vậy, sức mạnh của ba cung của Sự Hiển Lộ Thiêng Liêng sẽ được nhìn thấy. |
|
First Ray . . . . . . . . . . . Spiritual Energy |
Cung Một Năng Lượng Tinh Thần |
|
Second Ray . . . . . . . . . Magnetic Force |
Cung Hai Từ Lực |
|
Third Ray . . . . . . . . . . . Radiant Glory |
Cung Ba Sự Vinh Quang Rực Rỡ |
|
These rays likewise find their microcosmic reflections in the aura of perfected man. |
Các cung này cũng tìm thấy các phản ảnh tiểu thiên địa của chúng trong hào quang của con người hoàn thiện. |
|
First Ray . . . Monadic . . . Spiritual Energy . . . Head Centre |
Cung Một Chân Thần Năng lượng tinh thần Trung tâm đầu |
|
Second Ray . Egoic . . . . . Magnetic Force . . . Heart Centre |
Cung Hai Chân Ngã Từ Lực Trung tâm tim |
|
Third Ray . . Personality . .Radiant Glory . . . . Solar Plexus |
Cung Ba Phàm ngã Vinh Quang rực rỡ Trung tâm Tùng thái dương |
|
You inquire, Why do I not say the throat centre? Because the centres below the diaphragm symbolize primarily the personal lower self, and in their synthesising centre, the solar plexus, express the magnetic force of the matter aspect in man. The throat centre is swept [105] into increasing creative activity as the personality vibrates to the soul. |
Bạn hỏi, Tại sao tôi không nói đến trung tâm cổ họng? Bởi vì các trung tâm dưới cơ hoành chủ yếu tượng trưng cho phàm nhân cá nhân, và ở trung tâm tổng hợp của chúng, luân xa tùng thái dương, biểu lộ mãnh lực từ tính của khía cạnh vật chất trong con người. Trung tâm cổ họng được cuốn vào hoạt động sáng tạo ngày càng tăng khi phàm ngã rung động hòa hợp với linh hồn. |
|
Let us now consider the words at the end of the previous rule: “The lower light is thrown upward and the greater light illuminates the three; the work of the four proceedeth.” |
Chúng ta hãy xem xét những lời ở cuối quy luật trước: “Ánh sáng thấp được ném lên trên và ánh sáng lớn soi sáng cả ba; công việc của bốn tiến triển.” |
|
What of this lower light? The student should remember that for the present purposes he has three bodies of light to consider: |
Ánh sáng thấp hơn này là gì? Học viên nên nhớ rằng, với các mục đích hiện tại, y có ba thể ánh sáng cần xem xét: |
|
There is the radiant body of the soul itself, found on its own plane, and called, frequently, the Karana Sarira or the causal body. |
Có thể sáng rực rỡ của chính linh hồn, được tìm thấy trên cõi của nó và thường được gọi là Karana Sarira hay thể nhân quả. |
|
There is the vital or etheric body, the vehicle of prana which is the body of golden light, or rather the flame coloured vehicle. |
Có thể sinh lực hoặc thể dĩ thái, là phương tiện của prana, là thể ánh sáng vàng kim, hay chính xác hơn là vận cụ mang màu ngọn lửa. |
|
There is the body of “dark light”, which is the occult way of referring to the hidden light of the physical body, and to the light latent in the atom itself. |
Có thể “ánh sáng tối”, là cách huyền bí để ám chỉ ánh sáng tiềm ẩn của thể xác, và ánh sáng tiềm tàng trong chính nguyên tử. |
|
These three types of energy are referred to in the Old Commentary under the following symbolic terms: |
Ba loại năng lượng này được đề cập trong Cổ Luận bằng các thuật ngữ biểu tượng sau: |
|
“When the radiant light of the Solar Angel is fused with the golden light of the cosmic intermediary, it awakens from darkness the rush light of anu, the speck.” |
“Khi ánh sáng rực rỡ của Thái Dương Thiên Thần hòa tan với ánh sáng vàng của trung gian vũ trụ, nó đánh thức từ bóng tối ánh sáng của anu, tia sáng nhỏ bé.” |
|
The “cosmic intermediary” is the term given to the etheric body, which is part and parcel of the universal ether. It is through the etheric body that all the energies flow, whether emanating from the soul, or from the sun, or from a planet. Along those living lines of fiery essence pass all the contacts that do not emanate specifically from the tangible world. |
“Trung gian vũ trụ” là thuật ngữ chỉ thể dĩ thái, là một phần của dĩ thái vũ trụ. Chính thông qua thể dĩ thái mà tất cả các năng lượng chảy qua, dù chúng phát ra từ linh hồn, từ mặt trời, hay từ một hành tinh. Dọc theo những đường sống động của bản chất rực lửa này, mọi tiếp xúc không phát trực tiếp từ thế giới hữu hình được truyền dẫn. |
|
The dark light of the tiny atoms of which the physical vehicle is constructed is responsive to the stimulation passing down from the soul into its vehicle, and, when the man is under control of the soul, there eventuates the shining forth of the light throughout the body. This [106] shows as the radiance emanating from the bodies of adepts and saints, giving the effect of bright and shining light. |
Ánh sáng tối của các nguyên tử nhỏ bé mà từ đó thể xác được cấu tạo phản ứng với sự kích thích truyền xuống từ linh hồn vào phương tiện của nó, và khi con người chịu sự kiểm soát của linh hồn, ánh sáng sẽ tỏa sáng khắp cơ thể. Điều này được thể hiện như sự rực rỡ phát ra từ các thể của các Chân sư và các vị thánh, tạo ra hiệu ứng ánh sáng sáng chói và rực rỡ. |
|
When the radiant light of the soul is blended with the magnetic light of the vital body, it stimulates the atoms of the physical body to such an extent that each atom becomes in turn a tiny radiant centre. This only becomes possible when the head, heart, the solar plexus and the centre at the base of the spine are connected in a peculiar fashion, which is one of the secrets of the first initiation. When these four are in close cooperation the “floor of the triangle” as it is symbolically called, is prepared for the magical work. In other words—these can be enumerated as follows: |
Khi ánh sáng rực rỡ của linh hồn được hòa trộn với ánh sáng từ tính của thể sinh lực, nó kích thích các nguyên tử của thể xác đến mức mỗi nguyên tử lần lượt trở thành một trung tâm phát sáng nhỏ bé. Điều này chỉ trở nên khả thi khi đầu, tim, tùng thái dương, và trung tâm ở đáy cột sống được kết nối theo một cách đặc biệt, đây là một trong những bí mật của lần điểm đạo đầu tiên. Khi bốn trung tâm này hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ, ‘nền của tam giác’, như cách gọi biểu tượng, được chuẩn bị cho công việc huyền thuật. Nói cách khác, chúng có thể được liệt kê như sau: |
|
a. The physical material form with its centre at the base of the spine. |
a. Hình tướng vật chất với trung tâm tại đáy cột sống. |
|
b. The vital body working through the heart centre where the life principle has its seat. The activities of the body which are due to this stimulation are carried through the circulation of the blood. |
b. Thể sinh lực hoạt động thông qua trung tâm tim, nơi nguyên lý sự sống ngự trị. Các hoạt động của cơ thể do sự kích thích này được thực hiện thông qua sự lưu thông của máu. |
|
c. The emotional body, working through the solar plexus centre. |
c. Thể cảm xúc hoạt động thông qua trung tâm tùng thái dương. |
|
d. The head centre, the direct agent of the soul and its interpreter, the mind. These four are in complete accord and alignment. |
d. Trung tâm đầu, tác nhân trực tiếp của linh hồn và của người diễn giải của nó, là thể trí. Bốn trung tâm này hoàn toàn hòa hợp và chỉnh hợp. |
|
When this is the case, the work of initiation and its interludes of active discipleship become possible. Before this time the work cannot proceed. This is foreshadowed in the aspirant when there is enacted a symbolic happening in the light in the head which is the forerunner of the later stage of initiation. |
Khi điều này xảy ra, công việc điểm đạo và các giai đoạn xen kẽ của tình trạng đệ tử tích cực trở nên khả thi. Trước thời điểm này, công việc không thể tiến hành. Điều này được báo trước trong người chí nguyện khi có một sự kiện biểu tượng xảy ra trong ánh sáng ở đầu, đó là sự báo hiệu của giai đoạn điểm đạo sau này. |
|
In this stage, the soul light penetrates into the region of the pineal gland; there it produces an irradiation of the ethers of the head, of the vital airs; this produces a stimulation of the atoms of the brain so that their light [107] is fused and blended with the other two, the etheric light and the soul light, and there is then produced that inner radiant sun of which the aspirant becomes conscious in his physical brain experience. Frequently students speak of a diffused light or glow, this is the light of the physical plane atoms of which the brain is composed; later they may speak of seeing what appears to be like a sun in the head. This is the contacting of the etheric light, plus the physical atomic light. Later they become aware of an intensely bright electric light; this is the soul light, plus the etheric and the atomic. When that is seen, they frequently become aware of a dark centre within the radiant sun. This is the entrance to the Path disclosed by the “shining of the light upon the door.” |
Trong giai đoạn này, ánh sáng của linh hồn thâm nhập vào vùng tuyến tùng; tại đó nó tạo ra sự chiếu sáng của các dĩ thái trong đầu, của các sinh khí, điều này kích thích các nguyên tử trong não sao cho ánh sáng của chúng được hợp nhất và hòa trộn với hai loại ánh sáng khác, là ánh sáng dĩ thái và ánh sáng của linh hồn, và khi đó tạo ra mặt trời rực rỡ bên trong mà người chí nguyện nhận thức được trong trải nghiệm thể lý của mình. Các học viên thường nói về một ánh sáng hoặc ánh sáng mờ, đây là ánh sáng của các nguyên tử cõi trần mà từ đó não bộ được tạo thành; sau này họ có thể nói về việc thấy thứ gì đó giống như một mặt trời trong đầu. Đây là việc tiếp xúc với ánh sáng dĩ thái, cộng với ánh sáng của các nguyên tử vật lý. Sau này họ trở nên nhận thức được ánh sáng điện sáng rực rỡ; đây là ánh sáng của linh hồn, cộng với ánh sáng dĩ thái và ánh sáng nguyên tử. Khi ánh sáng này được nhìn thấy, họ thường nhận thấy một trung tâm tối trong mặt trời rực rỡ. Đây là lối vào Thánh Đạo được tiết lộ bởi ‘sự chiếu ánh sáng lên cánh cửa.’ |
|
Students must remember that it is possible to have reached a high stage of spiritual consciousness without seeing any of this brain radiance. This is altogether in the nature of phenomena, and is largely determined by the calibre of the physical body, by past karma and achievement, and by the ability of the aspirant to bring down “power from on high”, and to hold that energy steady in the brain centre whilst he himself in meditation is detached from the form aspect, and can look serenely at it. |
Các học viên cần nhớ rằng có thể đạt đến một giai đoạn cao của tâm thức tinh thần mà không thấy bất kỳ sự chói rạng rực rỡ nào của bộ não. Điều này hoàn toàn thuộc về hiện tượng và phần lớn được quyết định bởi phẩm chất của thể xác, bởi nghiệp quả quá khứ và thành tựu, và bởi khả năng của người chí nguyện trong việc kéo ‘năng lượng từ cõi cao xuống’, và giữ cho năng lượng đó ổn định tại trung tâm não trong khi y, trong tham thiền, tách rời khỏi khía cạnh hình tướng và có thể bình thản quan sát nó.” |
|
When this has been accomplished (and it is not an objective to be worked for, but is simply an indication to be registered in the consciousness and then dismissed) the consequent stimulation produces a reaction of the physical body. The magnetic power of the light in the head, and the radiant force of the soul produce stimulation. The centres begin to vibrate, and their vibration awakens the atoms of the material body until eventually the powers of the vibrating etheric body have swung even the lowest centre into line with the highest. Thus the fires of the body (the sum total of the energy of the atoms) are swept into increased activity until such time [108] as there is a rising up the spine of that fiery energy. This is brought about by the magnetic control of the soul, seated “on the throne between the eyebrows”. |
Khi điều này đã được hoàn thành (và đây không phải là một mục tiêu để đạt được, mà đơn giản là một dấu hiệu được ghi nhận trong tâm thức và sau đó bỏ qua), sự kích thích do đó sẽ tạo ra một phản ứng trong thể xác. Sức mạnh từ tính của ánh sáng trong đầu và mãnh lực rực rỡ của linh hồn tạo ra sự kích thích. Các trung tâm bắt đầu rung động, và sự rung động của chúng đánh thức các nguyên tử của thể vật chất, cho đến khi năng lượng rung động của thể dĩ thái đưa cả trung tâm thấp nhất hòa hợp với trung tâm cao nhất. Như vậy, lửa của cơ thể (tổng hợp năng lượng của các nguyên tử) được cuốn vào trạng thái hoạt động gia tăng cho đến khi có một sự trỗi dậy của năng lượng lửa dọc theo cột sống. Điều này được thực hiện nhờ sự kiểm soát từ tính của linh hồn, ngự ‘trên ngai giữa hai lông mày’. |
|
Here enters in the work of one of the means of yoga, abstraction or withdrawal. Where the three lights are blended, where the centres are aroused and the atoms are also vibrating, it becomes possible for the man to centre all three in the head at will. Then, by the act of the will and the knowledge of certain words of Power he can enter into samadhi and be withdrawn from his body, carrying the light with him. In this way the greater light (the three fused and blended) illuminates the three worlds of man’s endeavours and “the light is thrown upward” and illuminates all the spheres of man’s conscious and unconscious experience. This is spoken of in the occult writings of the Masters in these words: |
Tại đây, công việc của một trong các phương tiện yoga, sự trừu tượng hoặc rút lui, bắt đầu. Khi ba ánh sáng được hòa trộn, khi các trung tâm được kích thích và các nguyên tử cũng rung động, con người có thể tập trung cả ba ở đầu theo ý muốn. Sau đó, bằng hành động của ý chí và sự hiểu biết về những từ Quyền Lực nhất định, y có thể bước vào trạng thái samadhi và rút lui khỏi cơ thể, mang theo ánh sáng. Theo cách này, ánh sáng lớn hơn (ba ánh sáng được hợp nhất) soi sáng ba cõi nỗ lực của con người và ‘ánh sáng được ném lên trên’ và soi sáng tất cả các lĩnh vực trải nghiệm ý thức và vô thức của con người. Điều này được nói đến trong các văn bản huyền môn của các Chân sư với những lời sau: |
|
“Then the Bull of God carries the light in his forehead, and his eye transmits the radiance; His head, with magnetic force, resembles the blazing sun, and from the lotus of the head, the path of light issues. It enters into the Greater Being, producing a living fire. The Bull of God sees the Solar Angel, and knows that Angel to be the light wherein he walks.” |
‘Khi đó, Con Bò của Thượng Đế mang ánh sáng trên trán, và mắt y truyền tỏa ánh sáng rực rỡ; Đầu y, với lực từ tính, giống như mặt trời cháy sáng, và từ hoa sen ở đầu, con đường ánh sáng xuất hiện. Nó tiến vào Đấng Cao Cả, tạo ra một ngọn lửa sống động. Con Bò của Thượng Đế thấy Thái Dương Thiên Thần, và nhận biết Thiên Thần là ánh sáng mà y bước đi trong đó.’ |
|
Then the work of the four proceeds. The four are at-one. The Solar Angel is identified with his instrument; the life of the sheaths is subordinated to the life of the inner divinity; the light of the sheaths is fused with the light of the soul. The head, the heart, and the base of the spine are geometrically aligned and certain developments then become possible. |
Sau đó, công việc của bốn tiếp tục. Bốn hòa làm một. Thái Dương Thiên Thần được đồng nhất với công cụ của mình; sự sống của các thể được phụ thuộc vào sự sống của thần tính bên trong; ánh sáng của các thể được hợp nhất với ánh sáng của linh hồn. Đầu, tim và đáy cột sống được căn chỉnh hình học và các phát triển nhất định sau đó trở nên khả thi. |
Mental Rules 25 – Rule 3.4 (pages 109-111)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
Then the work of the four proceeds. The four are at-one. The Solar Angel is identified with his instrument; the life of the sheaths is subordinated to the life of the inner divinity; the light of the sheaths is fused with the light of the soul. The head, the heart, and the base of the spine are geometrically aligned and certain developments then become possible. |
Sau đó, công việc của bốn tiếp tục. Bốn hòa làm một. Thái Dương Thiên Thần được đồng nhất với công cụ của mình; sự sống của các thể được phụ thuộc vào sự sống của thiên tính bên trong; ánh sáng của các thể được hợp nhất với ánh sáng của linh hồn. Đầu, tim và đáy cột sống được chỉnh hợp hình học và các phát triển nhất định sau đó trở nên khả thi. |
|
In these two Rules, the foundation of the magical work of the soul has been laid down. Let us list, for the sake of clarity, the steps outlined: |
Trong hai Quy luật này, nền tảng của công việc huyền thuật của linh hồn đã được đặt ra. Để rõ ràng hơn, chúng ta hãy liệt kê các bước đã được vạch ra: |
|
1. The Solar Angel begins the work of initiating the Personality. [109] |
1. Thái Dương Thiên Thần bắt đầu công việc khởi xướng phàm ngã. |
|
2. He withdraws his forces from soul enterprises in the spiritual Kingdom, and centres his attention on the work to be done. |
2. Ngài rút các mãnh lực của Ngài khỏi các hoạt động linh hồn trong Giới Tinh thần, và tập trung sự chú ý vào công việc cần làm. |
|
3. He enters into deep meditation. |
3. Ngài bước vào sự tham thiền sâu. |
|
4. Magnetic rapport with the instrument in the three worlds is instituted. |
4. Sự liên kết từ tính với công cụ trong ba cõi giới được thiết lập. |
|
5. The instrument, man, responds, and also enters into meditation. |
5. Công cụ, tức con người, đáp ứng và cũng bước vào tham thiền. |
|
6. The work proceeds in ordered stages and with cyclic activity. |
6. Công việc tiến hành theo các giai đoạn có trật tự và hoạt động theo chu kỳ. |
|
7. The light of the soul is thrown downwards. |
7. Ánh sáng của linh hồn được chiếu xuống. |
|
8. The light of the vital body and the physical form is synchronised with that of the head. |
8. Ánh sáng của thể sinh lực và hình tướng vật chất được đồng bộ hóa với ánh sáng của đầu. |
|
9. The centres swing into activity. |
9. Các trung tâm bắt đầu hoạt động. |
|
10. The light of the soul and the two other aspects of light are so intense that now all life in the three worlds is illumined. |
10. Ánh sáng của linh hồn và hai khía cạnh ánh sáng khác mạnh mẽ đến mức mọi sự sống trong ba cõi đều được soi sáng. |
|
11. Alignment is produced, the work of discipleship and of initiation becomes possible and proceeds according to the Law of Being. |
11. Sự chỉnh hợp được thiết lập, công việc đệ tử và điểm đạo trở nên khả thi và tiến hành theo Định Luật Bản Thể. |
|
Principles and Personalities |
CÁC NGUYÊN LÝ VÀ PHÀM NGÃ |
|
There is, however, a point which merits consideration and which could be approached in the form of a question. The student might well enquire into the matter as follows: |
Tuy nhiên, có một điểm đáng được xem xét và có thể tiếp cận dưới hình thức một câu hỏi. Học viên có thể hỏi câu hỏi như sau: |
|
“Some people approach the problem of Being through mental appreciation; others through heart understanding; some are motivated through the head and others through the heart; some do things or avoid doing them because they know, rather than feel; some react to their surroundings mentally rather than emotionally. |
“Một số người tiếp cận vấn đề về Bản thể thông qua sự nhận thức trí tuệ; những người khác thông qua sự thấu hiểu của trái tim; một số người được thúc đẩy bởi đầu và một số khác thông qua tim; một số người làm hoặc tránh làm điều gì đó vì họ biết, thay vì cảm nhận; một số phản ứng với môi trường xung quanh theo cách trí tuệ hơn là cảm xúc. |
|
“The point on which to seek illumination is whether the path for some is not to serve because they know rather than love God, Who, after all, is but their innermost selves. Is [110] this not the path of the occultist and of the sage rather than of the mystic and the saint? When all is said and done, is it not a question, primarily, of the ray one is on and the Master under whom one serves one’s apprenticeship? Is not true knowledge a species of intellectual love? If a poet can pen an ode to intellectual beauty why may not we express appreciation of a unity that is conceived of the head rather than of the heart? Hearts are well enough in their way but they are not suited to the world’s rough usage. |
“Điểm cần tìm kiếm sự soi sáng là liệu con đường đối với một số người không phải là phụng sự bởi vì họ hiểu biết hơn là yêu mến Thượng Đế, Đấng, suy cho cùng, chỉ là cái tôi sâu thẳm nhất của họ. [110] Liệu đây chẳng phải là con đường của nhà huyền bí học và bậc hiền triết hơn là của nhà thần bí và bậc thánh nhân hay sao? Khi tất cả đã được nói và làm, chẳng phải đó chủ yếu là vấn đề về cung mà người ta đang thuộc về và Chân sư mà y đang phục vụ học việc hay sao? Hiểu biết chân chính chẳng phải là một dạng tình thương trí tuệ hay sao? Nếu một nhà thơ có thể viết một bài thơ ca ngợi vẻ đẹp trí tuệ, tại sao chúng ta lại không thể bày tỏ sự cảm kích đối với một sự hợp nhất được thai nghén từ đầu chứ không phải từ trái tim? Trái tim cũng tốt theo cách của chúng, nhưng chúng không phù hợp với sự đối xử khắc nghiệt của thế giới. |
|
“Can one do aught but accept his present limitation while seeking such transcendence as is his by the Divine Law of evolution? Is there not such a thing (by comparison) as a spiritual inferiority complex on the part of such as are sensible (and perhaps over-sensitive) of the fact that while their lives intellectually are replete with interest, the desert of their hearts has not yet been made to blossom like the rose? |
Liệu có thể làm gì ngoài việc chấp nhận giới hạn hiện tại của mình trong khi tìm kiếm sự siêu việt vốn thuộc về mình theo Định Luật Tiến Hóa Thiêng Liêng? Chẳng phải có điều gì đó (theo so sánh) như một loại mặc cảm tự ti tinh thần đối với những người nhận thức (và có lẽ quá nhạy cảm) về sự thật rằng trong khi đời sống trí tuệ của họ đầy ắp sự hứng thú, thì ‘sa mạc’ trong trái tim của họ vẫn chưa nở hoa như đóa hồng? |
|
“In other words, provided one repairs to his appointed station and there serves in his acceptance of Brotherhood in the Presence of Fatherhood, what difference does it make that the fundamental postulate is with him a thing of the head rather than of the heart?” |
Nói cách khác, miễn là một người trở về với vị trí được giao và phụng sự tại đó, chấp nhận Tình Huynh Đệ trong Sự Hiện Diện của Tình Phụ Tử, thì có gì khác biệt nếu nguyên lý cơ bản đối với họ là vấn đề của trí tuệ thay vì của trái tim?” |
|
I would answer such a questioning as follows: |
Tôi sẽ trả lời câu hỏi như sau: |
|
It is not a question of ray or even of the basic distinction between the occultist and the mystic. In the rounded-out individual both head and heart must function with equal power. In time and space, however, and during the process of evolution, individuals are distinguished by a predominating tendency in any one life; it is only because we do not see all the picture that we draw these temporary distinctions. In one life a man may be predominantly mental and for him the path of the Love of God would be unsuited. The Love of God is shed abroad in his heart and to a considerable degree his occult approach is based on the mystic perception of past lives. For him the problem is to know God, with the view of interpreting that knowledge in love to all. Responsible [111] love, demonstrated in duty to group and family, is therefore for him the line of least resistance. Universal love, raying out to all nature and all forms of life, will follow on a more developed knowledge of God, but this will be part of his development in another life. |
Đây không phải là vấn đề về cung hay thậm chí là sự phân biệt cơ bản giữa nhà huyền bí và nhà thần bí. Trong một cá nhân toàn diện, cả trí tuệ và trái tim phải hoạt động với sức mạnh ngang nhau. Tuy nhiên, trong thời gian và không gian, và trong quá trình tiến hóa, các cá nhân được phân biệt bởi một khuynh hướng chủ đạo trong bất kỳ một kiếp sống nào; chỉ vì chúng ta không nhìn thấy toàn bộ bức tranh nên chúng ta mới đưa ra những sự phân biệt tạm thời này. Trong một kiếp sống, một người có thể chủ yếu là trí tuệ, và đối với y, con đường Tình yêu Thượng Đế sẽ không phù hợp. Tình yêu Thượng Đế được lan tỏa trong trái tim y và ở một mức độ đáng kể, cách tiếp cận huyền bí của y dựa trên nhận thức thần bí về các kiếp sống quá khứ. Đối với y, vấn đề là hiểu biết về Thượng Đế, với mục đích diễn giải kiến thức đó trong tình yêu thương dành cho tất cả. Do đó, tình yêu có trách nhiệm, được thể hiện trong bổn phận đối với nhóm và gia đình, là con đường ít trở ngại nhất đối với y. Tình yêu thương phổ quát, tỏa ra cho toàn thể thiên nhiên và tất cả các dạng sống, sẽ theo sau một sự hiểu biết phát triển hơn về Thượng Đế, nhưng đây sẽ là một phần trong sự phát triển của y trong một kiếp sống khác. |
Mental Rules 26 – Rule 3.5 (pages 111-113)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
Students of human nature (and this all aspirants should be) would do well to bear in mind that there are temporary differences. People differ in: |
Học viên về bản chất con người (và tất cả những người chí nguyện nên như vậy) nên ghi nhớ rằng có những khác biệt tạm thời. Mọi người khác nhau về: |
|
a. Ray (which affects predominantly the magnetism of the life). |
a. Cung (ảnh hưởng chủ yếu đến từ tính của đời sống). |
|
b. Approach to truth, either the occult or the mystic path having the stronger drawing power. |
b. Cách tiếp cận chân lý, hoặc là con đường huyền bí hoặc con đường thần bí có sức thu hút mạnh mẽ hơn. |
|
c. Polarisation, deciding the emotional, mental or physical intent of a life. |
c. Sự phân cực, quyết định ý định cảm xúc, trí tuệ hoặc thể xác của một kiếp sống. |
|
d. Status in evolution, leading to the diversities seen among men. |
d. Vị trí trong tiến hóa, dẫn đến sự đa dạng được thấy giữa con người. |
|
e. Astrological sign, determining the trend of any particular life. |
e. Dấu hiệu hoàng đạo, xác định xu hướng của bất kỳ một kiếp sống cụ thể nào. |
|
f. Race, bringing the personality under the peculiar racial thought form. |
f. Chủng tộc, đưa phàm ngã dưới sự chi phối của hình tướng tư tưởng chủng tộc đặc thù. |
|
The sub-ray on which a man is found, that minor ray which varies from incarnation to incarnation, largely gives him his coloring for this life. It is his secondary hue. Forget not, the primary ray of the Monad continues through the aeon. It changes not. It is one of the three primary rays that eventually synthesise the sons of men. The ray of the ego varies from round to round, and, in more evolved souls, from race to race, and comprises one of the five rays of our present evolution. It is the predominating ray to which a man’s causal body vibrates. It may correspond to the ray of the monad, or it may be one of the complementary colours to the primary. The ray of the personality varies from [112] life to life, till the gamut of the seven sub-rays of the Monadic ray has been passed through. |
Cung phụ mà một người được tìm thấy, cung thứ yếu thay đổi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, phần lớn mang lại cho y màu sắc của kiếp sống này. Đó là sắc thái thứ cấp của y. Đừng quên, cung chủ yếu của Chân thần tiếp tục qua hàng thời đại. Nó không thay đổi. Nó là một trong ba cung chủ yếu cuối cùng tổng hợp các con của nhân loại. Cung của Chân ngã thay đổi từ vòng tuần hoàn này sang vòng tuần hoàn khác, và, trong những linh hồn tiến hóa hơn, từ chủng tộc này sang chủng tộc khác, và bao gồm một trong năm cung của sự tiến hóa hiện tại của chúng ta. Đó là cung chủ đạo mà thể nhân quả của một người rung động theo. Nó có thể tương ứng với cung của Chân thần, hoặc nó có thể là một trong những màu sắc bổ sung cho cung chủ yếu. Cung của phàm ngã thay đổi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, cho đến khi toàn bộ bảy cung phụ của cung Chân thần đã được trải qua. |
|
Therefore, in dealing with people whose monads are on a similar or complementary ray it will be found that they approach each other sympathetically. We must remember however that evolution must be far advanced for the ray of the monad to influence extensively. So the majority of cases come not under this category. |
Do đó, khi tiếp xúc với những người có Chân thần ở trên một cung tương tự hoặc bổ sung, sẽ thấy rằng họ tiếp cận nhau một cách đồng cảm. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng sự tiến hóa phải đủ cao để cung của Chân thần có thể ảnh hưởng rộng rãi. Vì vậy, phần lớn các trường hợp không thuộc loại này. |
|
With average advanced men, who are struggling to approximate themselves to the ideal, similarity of the egoic ray will produce mutual comprehension, and friendship follows. It is easy for two people on the same egoic ray to comprehend each other’s point of view, and they become great friends, with unshaken faith in each other, for each recognizes the other acting as he himself would act. |
Với những người người tiến hóa trung bình, đang nỗ lực để tiếp cận với lý tưởng, sự tương đồng về cung Chân ngã sẽ tạo ra sự thấu hiểu lẫn nhau, và từ đó tình bạn hình thành. Thật dễ dàng cho hai người có cùng cung Chân ngã để thấu hiểu quan điểm của nhau, và họ trở thành những người bạn lớn, với niềm tin không lay chuyển vào nhau, vì mỗi người nhận ra người kia đang hành động như chính mình sẽ hành động. |
|
But when (added to the egoic similarity of ray) you have the same ray of personality, then you have one of those rare things a perfect friendship, a successful marriage, an unbreakable link between two. This is rare indeed. |
Nhưng khi (ngoài sự tương đồng về cung Chân ngã) cả hai có cùng cung của phàm ngã, thì bạn có một trong những điều hiếm có: một tình bạn hoàn hảo, một cuộc hôn nhân thành công, một mối liên kết không thể phá vỡ giữa hai người. Điều này thực sự rất hiếm. |
|
When you have two people on the same personality ray but with the egoic ray dissimilar, you may have those brief and sudden friendships and affinities, that are as ephemeral as a butterfly. These things need bearing in mind and with their recognition comes the ability to be adaptable. Clarity of vision results in a circumspect attitude. |
Khi bạn có hai người trên cùng một cung phàm ngã nhưng với cung Chân ngã khác nhau, bạn có thể có những tình bạn và sự thân thiết ngắn ngủi và bất ngờ, phù du như một con bướm. Những điều này cần được ghi nhớ và với sự nhận thức của chúng, khả năng thích ứng sẽ đến. Sự rõ ràng trong tầm nhìn dẫn đến một thái độ thận trọng. |
|
Another cause of difference can be due to the polarization of the bodies. Unless this too meets with recognition in dealing with people lack of comprehension ensues. When you use the term: “a man polarized in his astral body”—you really mean a man whose ego works principally through that vehicle. Polarity indicates the clarity of the channel. Let me illustrate. The ego of the average [113] man has its home on the third sub-plane of the mental plane. If a man has an astral vehicle largely composed of third sub-plane astral matter, and a mental vehicle mostly on the fifth sub-plane, the ego will centre his endeavour on the astral body. If he has a mental body of fourth sub-plane matter and an astral body of fifth sub-plane, the polarization will be mental. |
Một nguyên nhân khác gây ra sự khác biệt có thể do sự phân cực của các thể. Trừ khi điều này cũng được công nhận khi làm việc với mọi người, thì sẽ dẫn đến sự thiếu thấu hiểu. Khi bạn sử dụng thuật ngữ: “một người phân cực trong thể cảm dục”—bạn thực sự muốn nói về một người mà Chân ngã của họ hoạt động chủ yếu qua phương tiện đó. Sự phân cực chỉ ra độ rõ ràng của kênh dẫn. Hãy để tôi minh họa. Chân ngã của người bình thường có nơi ngự trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Nếu một người có thể cảm dục chủ yếu được cấu tạo từ vật chất cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục, và thể trí chủ yếu thuộc cõi phụ thứ năm, thì Chân ngã sẽ tập trung nỗ lực của mình vào thể cảm dục. Nếu người đó có thể trí thuộc cõi phụ thứ tư và thể cảm dục thuộc cõi phụ thứ năm, thì sự phân cực sẽ là trí tuệ. |
|
When you speak of the ego taking more or less control of a man you really mean that he has built into his bodies matter of the higher sub-planes. |
Khi bạn nói về việc Chân ngã kiểm soát một con người nhiều hay ít, bạn thực sự muốn nói rằng y đã xây dựng vào các thể của mình vật chất của các cõi phụ cao hơn. |
|
The ego takes control with interest only when the man has almost entirely eliminated matter of the seventh, sixth, and fifth sub-planes from his vehicles. When he has built in a certain proportion of matter of the fourth sub-plane the ego extends his control; when there is a certain proportion of the third sub-plane, then the man is on the Path; when second sub-plane matter predominates then he takes initiation, and when he has matter only of atomic substance, he becomes a Master. Therefore, the sub-plane a man is on is of importance, and the recognition of his polarization elucidates life. |
Chân ngã chỉ thực sự kiểm soát khi con người gần như hoàn toàn loại bỏ được vật chất của các cõi phụ thứ bảy, thứ sáu và thứ năm ra khỏi các thể của mình. Khi y đã xây dựng một tỷ lệ nhất định vật chất của cõi phụ thứ tư, Chân ngã mở rộng sự kiểm soát của mình; khi có một tỷ lệ nhất định vật chất của cõi phụ thứ ba, thì con người đó đang ở trên Thánh đạo; khi vật chất cõi phụ thứ hai chiếm ưu thế, y nhận điểm đạo; và khi y chỉ còn lại vật chất của nguyên tử, y trở thành một Chân sư. Do đó, cõi phụ mà một người đang ở trên đó là rất quan trọng, và việc nhận biết sự phân cực của y làm sáng tỏ cuộc sống. |
Mental Rules 27 – Rule 3.6 (pages 113-119)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
The third thing you need to remember is that even when these two points are admitted, the age of the soul’s experience frequently causes lack of comprehension. The above two points do not carry us very far, for the capacity to sense a man’s ray is not for this race as yet. Approximate supposition and the use of the intuition is all that is now possible. The little evolved cannot comprehend completely the much evolved, and in a lesser degree, the advanced ego comprehends not an initiate. The greater can apprehend the lesser but the reverse is not the case. |
Điều thứ ba bạn cần nhớ là ngay cả khi hai điểm trên được thừa nhận, kinh nghiệm của linh hồn thường khiến cho sự thấu hiểu bị thiếu sót. Hai điểm trên không đưa chúng ta đi xa, vì khả năng cảm nhận cung của một người hiện chưa phải là điều khả thi cho giống dân này. Giả thuyết gần đúng và sự sử dụng trực giác là tất cả những gì hiện nay có thể. Những người ít tiến hóa hoàn toàn không thể hiểu được những người tiến hóa nhiều, và ở một mức độ thấp hơn, Chân ngã tiến hóa không hiểu được một điểm đạo đồ. Kẻ lớn hơn có thể thấu hiểu kẻ nhỏ hơn, nhưng điều ngược lại thì không. |
|
As regards the action of those whose point of attainment greatly transcends your own, I can only ask you to do three things: [114] |
Về hành động của những người mà điểm thành tựu vượt xa bạn, tôi chỉ có thể yêu cầu bạn làm ba điều: |
|
a. Reserve judgment. Their vision is greater. Forget not that one of the greatest qualities members of the Lodge have achieved is their ability to view the destruction of form as unimportant. Their concern is with the evolving life. |
a. Giữ sự phán xét lại. Tầm nhìn của họ lớn hơn. Đừng quên rằng một trong những phẩm chất vĩ đại nhất mà các thành viên của Thánh đoàn đạt được là khả năng coi sự hủy diệt hình tướng là không quan trọng. Mối quan tâm của họ là với sự sống đang tiến hóa. |
|
b. Realize that all events are brought around by the Brothers with a wise purpose in view. Lesser grade initiates, though utterly free agents, fit into the plans of their superiors just as do you in your lesser way. They have their lessons to learn, and the rule of learning is that all experience has to be bought. Apprehension comes by the punishment that follows an ill-judged act. Their superiors stand by to turn to good account situations brought about by the errors of those inferior in point of development. |
b. Hiểu rằng tất cả các sự kiện đều được các Huynh Đệ thực hiện với một mục đích khôn ngoan. Các điểm đạo đồ cấp thấp hơn, mặc dù hoàn toàn tự do trong hành động, vẫn phù hợp với kế hoạch của các cấp trên của họ, cũng giống như cách mà bạn phù hợp với các kế hoạch ở cấp độ thấp hơn của mình. Họ cũng có những bài học cần học, và quy luật học tập là tất cả kinh nghiệm đều phải được trả giá. Sự nhận thức đến từ hình phạt đi theo sau một hành động phán đoán sai lầm. Các cấp trên của họ đứng bên cạnh để tận dụng những tình huống phát sinh từ những sai lầm của những người kém phát triển hơn. |
|
c. Remember also that the Law of Rebirth holds hidden the secret of the present crisis. Groups of egos come together to work out certain karma involved in past days. Men have erred grievously in the past. Punishment and transmutation are the natural working out. Violence and cruelty in the past will reap its heavy karma, but it lies in the hands of you all now to transmute the old mistakes. |
c. Hãy nhớ rằng Định Luật Luân Hồi chứa đựng bí mật của cuộc khủng hoảng hiện tại. Các nhóm chân ngã đến với nhau để giải quyết nghiệp quả liên quan những ngày đã qua. Con người đã phạm sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Sự trừng phạt và sự chuyển hóa là kết quả tự nhiên. Bạo lực và tàn ác trong quá khứ sẽ gặt hái nghiệp quả nặng nề của nó, nhưng giờ đây tất cả đều nằm trong tay các bạn để chuyển hóa những sai lầm cũ. |
|
Also bear in mind that principles are eternal, personalities temporal. Principles are to be viewed in the light of eternity; personalities from the standpoint of time. The trouble is that, in many situations, two principles are involved, one of which is secondary. The difficulty lies in the fact that (both being principles) both are right. It is a rule for safe guidance always to remember that usually basic principles (for their wise comprehension and fruitful working out) call for the play of the intuition whilst secondary principles are more purely mental. The methods hence necessarily differ. When holding to the basic principles, the wisest methods are [115] silence and a joyful confidence that the Law works, an avoidance of all personality innuendo except wise and loving comment, and a determination to see all in the light of eternity and not of time, coupled with a constant endeavour to follow the law of love and see only the divine in your brothers, e’en if on an opposing side. |
Cũng hãy ghi nhớ rằng các nguyên lý là vĩnh cửu, còn phàm ngã thì chỉ tạm thời. Các nguyên lý cần được nhìn từ quan điểm của vĩnh cửu; còn phàm ngã thì từ quan điểm của thời gian. Vấn đề là, trong nhiều tình huống, có hai nguyên lý liên quan, trong đó một nguyên lý là thứ yếu. Khó khăn nằm ở chỗ cả hai đều là nguyên lý, nên cả hai đều đúng. Quy luật an toàn là luôn ghi nhớ rằng các nguyên lý cơ bản (để hiểu đúng đắn và triển khai hiệu quả) đòi hỏi sự phát huy trực giác, trong khi các nguyên lý thứ yếu mang tính chất trí tuệ hơn. Do đó, phương pháp tiếp cận sẽ khác nhau. Khi tuân thủ các nguyên lý cơ bản, phương pháp khôn ngoan nhất là im lặng và giữ vững niềm tin vui vẻ rằng Định Luật sẽ vận hành, tránh mọi ám chỉ cá nhân trừ những bình luận khôn ngoan và yêu thương, và kiên quyết nhìn nhận mọi thứ trong ánh sáng của vĩnh cửu, không phải trong thời gian, kết hợp với nỗ lực liên tục tuân theo định luật tình thương và chỉ thấy tính thiêng liêng trong huynh đệ của mình, ngay cả khi họ ở phe đối lập. |
|
In secondary principles, which all opposing forces are at present emphasizing, the use of the lower mind involves the danger of criticism, the employment of methods sanctioned by time in the three worlds—methods involving personal attack, invective and the expenditure of force along destructive lines, and a spirit contrary to the law of the plane of unity. The term “opposing forces” is used rightly if you employ it only in a scientific sense and mean the contrasting pole that leads to equilibrium. Remember therefore, that opposing groups may be quite sincere, but the concrete mind acts in them as a barrier to the free play of the higher vision. Their sincerity is great but their point of attainment along some lines less than that of those who adhere to basic principles, seen in the light of the intuition. |
Về các nguyên lý thứ yếu, hiện đang được các lực lượng đối lập nhấn mạnh, việc sử dụng hạ trí dẫn đến nguy cơ phê phán, sử dụng các phương pháp được thời gian thừa nhận trong ba cõi—những phương pháp liên quan đến tấn công cá nhân, xúc phạm, và việc tiêu hao sức mạnh theo hướng hủy diệt, cũng như một tinh thần trái ngược với định luật của cõi hợp nhất. Thuật ngữ “lực lượng đối lập” được sử dụng đúng nếu bạn chỉ sử dụng nó trong một ý nghĩa khoa học và có nghĩa là cực đối lập dẫn đến sự cân bằng. Hãy nhớ rằng các nhóm đối lập có thể rất chân thành, nhưng hạ trí trong họ hoạt động như một rào cản đối với sự tự do phát huy tầm nhìn cao hơn. Họ chân thành nhưng mức độ đạt được của họ trong một số khía cạnh vẫn thấp hơn so với những người tuân thủ các nguyên lý cơ bản, nhìn thấy chúng trong ánh sáng của trực giác. |
|
A principle is that which embodies some aspect of the truth on which this system of ours is based; it is the seeping through to the consciousness of the man of a little of the idea on which our Logos bases all He does. The basis of all Logoic action is love in activity, and the fundamental idea on which He bases action connected with the human Hierarchy is the power of love to drive onward, —call it evolution, if you like, call it inherent urge, should you so prefer, but it is love causing motion and urging onward to completion. It is the driving of one and all to further expression. Hence, this principle should underlie all activity, and the government of the lesser organizations, if founded on love leading to activity, would lead to a divine urge in all its members, driving them likewise on to fullest expression, and thus tend [116] to more adequate completeness and more satisfactory endeavour. |
Nguyên lý là điều gì đó thể hiện một khía cạnh của chân lý mà hệ thống của chúng ta dựa trên đó; nó là sự thẩm thấu vào tâm thức con người một chút của ý tưởng mà Thượng Đế dựa vào trong mọi hành động. Cơ sở của mọi hành động của Thượng Đế là tình thương trong hoạt động, và ý tưởng cơ bản mà Ngài dựa vào trong mọi hành động liên quan đến Huyền Giai nhân loại là sức mạnh của tình thương để thúc đẩy tiến lên—bạn có thể gọi đó là tiến hóa, hoặc gọi đó là sự thúc đẩy nội tại, nếu bạn thích. Nhưng đó là tình thương thúc đẩy sự chuyển động và thúc giục tiến đến hoàn thành. Đó là sự thúc đẩy tất cả mọi người tiến đến sự biểu đạt lớn hơn. Do đó, nguyên lý này nên là nền tảng của mọi hoạt động, và nếu các tổ chức nhỏ hơn được quản lý dựa trên tình thương dẫn đến hành động, nó sẽ tạo ra sự thúc đẩy thiêng liêng trong tất cả các thành viên, thúc đẩy họ tiến đến biểu đạt đầy đủ nhất, và như vậy sẽ hướng đến sự hoàn chỉnh tốt hơn và những nỗ lực đạt kết quả hơn. |
|
A principle, when really fundamental, appeals at once to the intuition and calls out an immediate re-action of assent from the man’s higher Self. It makes little or no appeal to the personality. It embodies a conception of the ego in his relationship to others. A principle is that which governs always the action of the ego on his own plane, and it is only as we come more and more under the guidance of that ego that our personality conceives of, and responds to these ideas. This is a point to be borne in mind in all dealings with others and should modify judgments. To apprehend a principle justly marks a point in evolution. |
Một nguyên lý, khi thực sự là cơ bản, sẽ ngay lập tức kêu gọi trực giác và gợi ra một phản ứng đồng thuận từ Chân ngã của con người. Nó hầu như không hoặc không kêu gọi phàm ngã. Nó thể hiện một khái niệm về Chân ngã trong mối quan hệ với những người khác. Nguyên lý là điều luôn chi phối hành động của Chân ngã trên cõi của nó, và chỉ khi chúng ta ngày càng tuân theo sự dẫn dắt của Chân ngã, phàm ngã mới nắm bắt và phản ứng với những ý tưởng này. Đây là một điểm cần được ghi nhớ trong mọi giao tiếp với người khác và nên điều chỉnh các phán xét. Việc hiểu đúng một nguyên lý đánh dấu một điểm tiến hóa. |
|
A principle is that which ensouls a statement dealing with the highest good of the greatest number. That a man should love his wife is a statement of a principle governing the personality but it must later be transmuted into the greater principle that a man must love his fellow men. Principles are of three kinds and the higher must be reached via the lower: |
Nguyên lý là điều thấm nhuần vào một tuyên bố liên quan đến lợi ích cao nhất của số đông nhất. Việc một người đàn ông nên yêu vợ mình là một tuyên bố về nguyên lý chi phối phàm ngã, nhưng nó phải được chuyển hóa thành nguyên lý lớn hơn rằng người phải yêu đồng loại của mình. Nguyên lý có ba loại và phải đạt được nguyên lý cao hơn thông qua nguyên lý thấp hơn: |
|
(a) Principles governing the lower personal self, dealing with the actions or active life of that lower self. They embody the third aspect or the activity aspect of logoic manifestation and form the basis of later progress. They control the man during his little evolved state, and during his period of thoughtlessness and might be comprehended more easily if I were to say that they are embodied in the commonly accepted rules of decent living. Thou shalt not kill, thou shalt not steal, have to do with a man’s active life, with the building up of character. |
(a) Các nguyên lý chi phối phàm ngã thấp, liên quan đến các hành động hoặc cuộc sống hoạt động của phàm ngã đó. Chúng thể hiện khía cạnh hoạt động của sự hiển lộ Thượng đế và là cơ sở cho sự tiến bộ sau này. Chúng kiểm soát con người trong giai đoạn ít tiến hóa của y, và trong giai đoạn thiếu suy nghĩ của y, có thể dễ hiểu hơn nếu tôi nói rằng chúng được thể hiện trong những quy tắc chung về cách sống đúng đắn. ‘Ngươi không được giết người’, ‘ngươi không được trộm cắp’ liên quan đến cuộc sống hoạt động của con người, với việc xây dựng nhân cách. |
|
(b) Principles governing the higher self and dealing with the love or wisdom aspect. It is with these that we are now concerned and half the troubles in [117] the world at present arise from the fact that these higher principles, having to do with love or wisdom in all their fullness, are only now beginning to be apprehended by the rank and file of mankind. In the quick recognition of their truthfulness and the attempt to make them facts, without previously adjusting the environment to those ideals, comes the frequent clashing and warfare between those actuated by the principles governing the personality and those governing the higher Self. Until more of the race are governed by the soul consciousness this warfare is inevitable and cannot be avoided. When the emotional plane is dominated by the intuitional, then will come universal comprehension. |
(b) Các nguyên lý chi phối Chân ngã và liên quan đến khía cạnh tình thương hoặc minh triết. Đây là những điều mà chúng ta hiện đang quan tâm, và một nửa rắc rối trên thế giới hiện nay xuất phát từ thực tế rằng những nguyên lý cao hơn này, liên quan đến tình thương hoặc minh triết trong toàn bộ sự đầy đủ của chúng, mới chỉ bắt đầu được nhân loại phần đông hiểu rõ. Trong việc nhanh chóng nhận ra tính chân thực của chúng và nỗ lực biến chúng thành hiện thực, mà không trước đó điều chỉnh môi trường theo những lý tưởng đó, thường xảy ra sự va chạm và xung đột giữa những người hành động theo các nguyên lý chi phối phàm ngã và những người hành động theo các nguyên lý chi phối Chân ngã. Cho đến khi nhiều người trong nhân loại bị chi phối bởi tâm thức của linh hồn, cuộc xung đột này là không thể tránh khỏi. Khi cõi cảm xúc bị chi phối bởi trực giác, lúc đó sẽ đến sự thấu hiểu toàn diện. |
|
The first set of principles is learnt by the man through grasping, and the subsequent disaster that results from that seizure. He stole, he suffered the penalty and he stole no more. The principle was wrought into him by pain and he learnt that only that which was his by right and not by seizure could be enjoyed. The world is learning this lesson in groups now, for, as its revolutionaries seize and unlawfully hold, they find the stolen property suffices not but brings sorrow. Thus in time they learn the principles. |
Tập hợp các nguyên lý đầu tiên được con người học thông qua sự nắm bắt, và sau đó tai họa là kết quả của sự chiếm đoạt đó. Y đã ăn cắp, y phải chịu hình phạt và y không ăn cắp nữa. Nguyên lý này đã được khắc sâu vào y bằng nỗi đau và y đã học được rằng chỉ có những gì thuộc về y một cách chính đáng chứ không phải bằng cách chiếm đoạt mới có thể mang lại niềm vui. Thế giới hiện đang học bài học này theo nhóm, bởi vì, khi những kẻ cách mạng của nó chiếm đoạt và nắm giữ bất hợp pháp, họ thấy rằng tài sản bị đánh cắp không đủ mà còn mang lại nỗi buồn. Do đó, theo thời gian, họ học được các nguyên lý. |
|
The second set of principles is learnt through renunciation and service. A man looks away (having learnt first principles) from the things of the personality and in service learns the power of love in its occult significance. He spends and consequently receives; he lives the life of renunciation and the wealth of the heavens pours in on him; he gives all and is full to completeness; he asks nothing for himself and is the richest man on earth. |
Bộ nguyên lý thứ hai được học thông qua sự xả ly và phụng sự. Một người, sau khi đã học được các nguyên lý căn bản, quay khỏi những điều thuộc về phàm ngã và trong khi phụng sự, y học được quyền năng của tình thương theo ý nghĩa huyền bí. Y cho đi và do đó nhận được; y sống đời xả ly và sự giàu có của thiên giới tuôn đổ xuống trên y; y trao đi tất cả và trở nên trọn vẹn viên mãn; y không cầu xin gì cho bản thân và là người giàu có nhất trên địa cầu. |
|
First principles deal with the differentiated unit and with evolution through heterogeneity. Principles such as the race is learning now have to do with groups; the [118] question is not—”What will be best for the man?” but “What will be best for the many?” and only those who can think with vision of the many as one, can state these principles satisfactorily. They are the most important, for they are the basic principles of this love system. The trouble today is that men are confused. Certain first principles, the lower activity fundamentals are ingrained and inherent now, and a few of the higher egoic or love principles are seeping through into their bewildered brains causing an apparent momentary clashing of ideas. Therefore like Pilate they say: “What is truth?” If they will but remember that the higher principles deal with the good of the group and the lower with the good of the individual, mayhap clarity, will ensue. The lower activity of personal life, no matter how good or how worthy, must eventually be transcended by the higher love life that seeks the good of the group and not of the unit. |
Các nguyên lý đầu tiên đề cập đến đơn vị biệt lập và sự tiến hóa thông qua tính không đồng nhất. Các nguyên lý như nhân loại đang học hiện nay liên quan đến các nhóm; câu hỏi không phải là — “Điều gì sẽ tốt nhất cho một người?” mà là “Điều gì sẽ tốt nhất cho nhiều người?” và chỉ những người có thể suy nghĩ với tầm nhìn về nhiều người như một, mới có thể phát biểu những nguyên lý này một cách thỏa đáng. Chúng là quan trọng nhất, bởi vì chúng là những nguyên lý cơ bản của hệ thống tình thương này. Vấn đề ngày nay là con người đang bối rối. Một số nguyên lý đầu tiên, các nguyên lý cơ bản hoạt động thấp hơn hiện đã ăn sâu và vốn có, và một số nguyên lý Chân ngã hoặc tình thương cao hơn đang thấm qua bộ não hoang mang của họ, gây ra sự xung đột tư tưởng rõ ràng nhất thời. Do đó, giống như Philatô, họ nói: “Chân lý là gì?” Nếu họ chỉ cần nhớ rằng các nguyên lý cao hơn đề cập đến lợi ích của nhóm và các nguyên lý thấp hơn đề cập đến lợi ích của cá nhân, có lẽ sự rõ ràng sẽ đến. Hoạt động thấp hơn của đời sống cá nhân, dù tốt hay đáng giá đến đâu, cuối cùng cũng phải được vượt qua bởi đời sống tình thương cao hơn, tìm kiếm lợi ích của nhóm chứ không phải của đơn vị. |
|
All that tends to synthesis and divine expression in collections of units is approaching closer to the ideal and approximating the higher principles. In thinking out these ideas may come some helpfulness. You have an illustration of what I say in the fact that many of the struggles that arise in organizations are based on the fact that some worthy people follow personalities, sacrificing themselves for a principle, yes, but a principle governing the personality life. Others, dimly glimpsing something higher and seeking the good of the groups and not of a person, stumble onto a higher principle, and in so doing bring in the force of the ego. They are working for others and aiming at the helping of their group. When egos and personalities clash, the victory of the higher is sure; the lower principle must give way to the higher. One is concentrated on what seems to him to be of paramount value, the fulfilling of the wish of the personal life, and (at this period) is only secondarily [119] interested in the good of the many though he may have moments when he thinks that is his primary intent. The other cares naught for what becomes of the personal self and is only interested in the helping of the many. It boils down, to use an apt expression, to the question of selfish or unselfish motive, and, as you know, motives vary as time speeds by and the man nears the goal of the probationary path. |
Tất cả những gì có xu hướng tổng hợp và biểu hiện thiêng liêng trong tập hợp các đơn vị đang tiến gần hơn đến lý tưởng và gần đạt đến các nguyên lý cao hơn. Khi suy nghĩ về những ý tưởng này, có thể có một số điều hữu ích. Bạn có một minh họa về những gì tôi nói trong thực tế là nhiều cuộc đấu tranh nảy sinh trong các tổ chức đều dựa trên thực tế rằng một số người xứng đáng đi theo các phàm ngã, hy sinh bản thân vì một nguyên lý, vâng, nhưng đó là một nguyên lý chi phối đời sống phàm ngã. Những người khác, lờ mờ nhìn thấy điều gì đó cao hơn và tìm kiếm lợi ích của các nhóm chứ không phải của một người, vấp phải một nguyên lý cao hơn, và khi làm như vậy, họ mang vào mãnh lực của Chân ngã. Họ đang làm việc cho người khác và nhắm mục đích giúp đỡ nhóm của họ. Khi Chân ngã và phàm ngã xung đột, chiến thắng của cái cao hơn là chắc chắn; nguyên lý thấp hơn phải nhường chỗ cho nguyên lý cao hơn. Một người tập trung vào những gì đối với y có vẻ có giá trị tối cao, việc hoàn thành mong muốn của đời sống cá nhân, và (ở giai đoạn này) chỉ quan tâm thứ yếu [119] đến lợi ích của nhiều người mặc dù y có thể có những khoảnh khắc khi y nghĩ rằng đó là ý định chính của mình. Người kia không quan tâm đến những gì xảy ra với bản thân cá nhân và chỉ quan tâm đến việc giúp đỡ nhiều người. Nói một cách thích hợp, nó quy về câu hỏi về động cơ ích kỷ hay vị tha, và như bạn biết, động cơ thay đổi khi thời gian trôi qua và con người tiến gần đến mục tiêu của con đường dự bị. |
|
(c) Still higher principles are those comprehended by the Spirit and are only readily comprehended by the monadic consciousness. Only as the man transcends his active personal life and substitutes the life of love or wisdom as led by the ego can he begin to understand the scope of that life of love and know it as demonstrated power. Just as the personality deals with the principles governing the life of activity of the lower self, and the ego works with the law of love as demonstrated in group work, or love showing itself in the synthesis of the many into the few, so the Monad deals with the active life of love shown in power through the synthesis of the few into the one. |
(c) Các nguyên lý cao hơn nữa là những nguyên lý được Tinh thần lĩnh hội và chỉ có thể được lĩnh hội một cách dễ dàng bởi tâm thức Chân thần. Chỉ khi con người vượt qua đời sống cá nhân năng động của mình và thay thế bằng đời sống Bác Ái hay Minh triết như Chân ngã dẫn dắt thì y mới có thể bắt đầu hiểu được phạm vi của đời sống tình thương đó và biết nó như sức mạnh được thể hiện. Giống như phàm ngã đề cập đến các nguyên lý chi phối đời sống hoạt động của phàm ngã, và Chân ngã làm việc với định luật tình thương như được thể hiện trong công việc nhóm, hoặc tình thương thể hiện trong sự tổng hợp của nhiều người thành một số ít, thì Chân thần đề cập đến đời sống năng động của tình thương được thể hiện trong sức mạnh thông qua sự tổng hợp của số ít thành một. |
|
One deals with the life of the man on the physical plane, or in the three worlds, the second with his life on causal levels, and the last with his life after the attainment of the goal of present human endeavour. One deals with units, another with groups and the last with unity. One deals with differentiation at its most diverse point, the second with the many resolved into the egoic groups, whilst the third sees the differentiation resolved back into the seven, which marks unity for the human hierarchy. All these factors and many others produce differences among human beings, and in sizing himself up a man must needs bring them into his consideration. |
Một cái đề cập đến cuộc sống của con người trên cõi hồng trần, hoặc trong ba cõi giới, cái thứ hai đề cập đến cuộc sống của y trên các mức nhân quả, và cuối cùng là cuộc sống của y sau khi đạt được mục tiêu của nỗ lực của con người hiện tại. Một đề cập đến các đơn vị, một đề cập đến các nhóm và cuối cùng là sự hợp nhất. Một đề cập đến sự khác biệt ở điểm đa dạng nhất của nó, cái thứ hai đề cập đến nhiều cái được giải quyết thành các nhóm Chân ngã, trong khi cái thứ ba nhìn thấy sự khác biệt được giải quyết trở lại thành bảy, đánh dấu sự hợp nhất cho Huyền Giai nhân loại. |
Mental Rules 28 – Rule 3.7 (pages 119-122)
Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins
|
It should therefore be borne in mind that a disciple of any of the Masters will have his peculiar equipment, and his individual assets and deficiencies. He can nevertheless [120] rest assured that, until the path of Knowledge has been added to the path of Love, he can never take the major initiations, for these are undergone on the higher levels of the mental plane. Until the path of light is united to the path of life the great transition from the fourth into the fifth kingdom cannot be taken. Certain expansions of consciousness are possible; initiations on the astral and lower mental planes can be taken; some of the vision can be seen, the sense of the Presence can be felt; the Beloved can be reached by love, and the bliss and the joy of this contact can carry with it its abiding joy, but that clear perception which comes from the experience undergone on the Mount of Illumination is a different thing to the joy experienced on the Mount of Blessing. The Heart leads in the one, the Head leads in the other. |
Do đó, cần ghi nhớ rằng một đệ tử của bất kỳ Chân sư nào đều có trang bị đặc thù của y, và những tài sản cũng như thiếu sót cá nhân. Tuy nhiên, y có thể yên tâm rằng cho đến khi con đường của Tri thức được thêm vào con đường của Bác ái, y sẽ không thể thực hiện được những lần điểm đạo lớn, vì những lần điểm đạo này diễn ra trên các mức độ cao hơn của cõi trí. Cho đến khi con đường ánh sáng được hợp nhất với con đường sự sống, sự chuyển tiếp vĩ đại từ giới thứ tư vào giới thứ năm không thể được thực hiện. Một số mở rộng về tâm thức là có thể; những lần điểm đạo trên cõi cảm dục và cõi hạ trí có thể được thực hiện; một số tầm nhìn có thể được nhìn thấy, cảm giác về Hiện Diện có thể được cảm nhận; người được yêu thương có thể được tiếp cận qua tình yêu, và phúc lạc cũng như niềm vui của sự tiếp xúc này có thể mang theo niềm vui trường tồn, nhưng sự nhận thức rõ ràng đến từ trải nghiệm trên Đỉnh Núi Soi Sáng là một điều khác biệt so với niềm vui được trải nghiệm trên Đỉnh Núi Chúc Phúc. Trái tim dẫn dắt trong trường hợp này, còn đầu dẫn dắt trong trường hợp khác. |
|
To answer categorically: The path of knowledge is that of the occultist and the sage; that of love is that of the mystic and the saint. The head or the heart approach is not dependent upon the ray, for both ways must be known; the mystic must become the occultist; the white occultist has been the saintly mystic. True knowledge is intelligent love, for it is the blending of the intellect and the devotion. Unity is sensed in the heart; its intelligent application to life has to be worked out through knowledge. |
Để trả lời một cách cụ thể: Con đường tri thức là con đường của nhà huyền bí và bậc hiền triết; con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và thánh nhân. Cách tiếp cận qua trí tuệ hay trái tim không phụ thuộc vào cung, vì cả hai cách đều phải được biết đến; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền bí; nhà huyền bí chân chính đã từng là nhà thần bí thánh thiện. Tri thức chân chính là tình yêu thông minh, vì đó là sự dung hợp giữa trí tuệ và lòng sùng mộ. Sự hợp nhất được cảm nhận trong trái tim; ứng dụng thông minh của nó vào đời sống phải được thực hiện thông qua tri thức. |
|
It is of prime value to recognize the tendency of the life purpose, and to know whether the head or the heart method is the objective of any specific life. A fine spiritual discrimination is needed here however, lest the glamour of illusion tempt to the path of inertia. Ponder these words with care, and see that the question is based on a true foundation and does not grow out of an inferiority complex, the consideration of a brother’s enterprise and a consequent jealous tendency, or upon a placid complacency which negates activity. [121] |
Điều tối quan trọng là nhận ra xu hướng của mục đích sống, và biết liệu phương pháp của trí tuệ hay của trái tim là mục tiêu của bất kỳ cuộc sống cụ thể nào. Tuy nhiên, ở đây cần có một sự phân biện tinh thần sắc bén, kẻo ảo cảm về ảo tưởng có thể cám dỗ đến con đường trì trệ. Hãy suy ngẫm về những lời này một cách cẩn thận, và đảm bảo rằng câu hỏi được đặt trên một nền tảng chân thật, không phải phát sinh từ mặc cảm tự ti, sự cân nhắc về công việc của huynh đệ và xu hướng ghen tị, hoặc từ sự tự mãn thụ động phủ nhận hành động. |
|
As a general rule for the average aspirant to discipleship, it may be safely assumed that the past has seen much application of the heart way, and that in this incarnation the mental unfoldment is of prime importance. |
Như một quy tắc chung đối với người chí nguyện đệ tử trung bình, có thể an toàn để cho rằng quá khứ đã thấy nhiều sự ứng dụng của con đường trái tim, và rằng trong kiếp sống này sự phát triển trí tuệ là điều tối quan trọng. |
|
An ancient Scripture says: |
Một Kinh sách cổ xưa có viết: |
|
“Seek not, Oh twice-blessed One, to attain the spiritual essence before the mind absorbs. Not thus is wisdom sought. Only he who hath the mind in leash, and seeth the world as in a mirror can be safely trusted with the inner senses. Only he who knoweth the five senses to be illusion, and that naught remaineth save the two ahead, can be admitted into the secret of the Cruciform transposed. |
“Hỡi Kẻ Hai lần Được Ban Phước, đừng tìm cách đạt được tinh hoa tinh thần trước khi tâm trí hấp thụ. Minh triết không được tìm kiếm theo cách đó. Chỉ người nào có thể chế ngự tâm trí, và nhìn thế giới như trong một tấm gương mới có thể được tin tưởng một cách an toàn với các giác quan nội tại. Chỉ người nào biết năm giác quan là ảo tưởng, và rằng không còn gì ngoài hai giác quan phía trước, mới có thể được nhận vào bí mật của Thập tự giá được chuyển vị. |
|
“The path that is trodden by the Server is the path of fire that passeth through his heart and leadeth to the head. It is not on the path of pleasure, nor on the path of pain that liberation may be taken nor that wisdom cometh. It is by the transcendence of the two, by the blending of pain with pleasure, that the goal is reached, that goal that lieth ahead, like a point of light seen in the darkness of a winter’s night. That point of light may call to mind the tiny candle in some attic drear, but—as the path that leadeth to that light is trodden through the blending of the pairs of opposites—that pin-point, cold and flickering, groweth with steady radiance till the warm light of some blazing lamp cometh to the mind of the wanderer by the way. |
“Con đường mà Người Phụng sự đi là con đường của lửa đi qua tim và dẫn đến đầu. Không phải trên con đường của nềm vui, cũng không phải trên con đường đau khổ mà sự giải thoát có thể đạt được hay minh triết sẽ đến. Chính bằng cách vượt qua cả hai, bằng cách hòa trộn đau khổ với niềm vui, mà mục tiêu mới đạt được, mục tiêu đó nằm ở phía trước, giống như một điểm sáng nhìn thấy trong bóng tối của một đêm đông. Điểm sáng đó có thể gợi lên hình ảnh ngọn nến nhỏ bé trong một căn gác xép ảm đạm nào đó, nhưng—khi con đường dẫn đến ánh sáng đó được bước đi thông qua sự hòa trộn của các cặp đối lập—điểm sáng nhỏ bé, lạnh lẽo và lập lòe đó sẽ phát triển với ánh sáng ổn định cho đến khi ánh sáng ấm áp của một ngọn đèn rực cháy đến với tâm trí của người lang thang trên đường. |
|
“Pass on, O Pilgrim, with steady perseverance. No candle is there nor earth lamp fed with oil. Ever the radiance groweth till the path ends within a blaze of glory, and the wanderer through the night becometh the child of the sun, and entereth within the portals of that radiant orb.” |
“Hãy tiếp tục, hỡi Người Hành hương, với sự kiên trì vững chắc. Không có ngọn nến nào ở đó, cũng không có đèn đất được đốt bằng dầu. Ánh sáng luôn phát triển cho đến khi con đường kết thúc trong một ánh hào quang rực rỡ, và người lang thang trong đêm trở thành đứa con của mặt trời, và bước vào bên trong cánh cổng của khối cầu rực rỡ đó.” |