LETTER X – THE PURIFICATION OF THE VEHICLES. – THƯ X – SỰ THANH LỌC CÁC HIỆN THỂ.
|
NOVEMBER 7TH, 1920. |
NGÀY 7 THÁNG 11 NĂM 1920. |
|
[Page 333] |
[Page 333] |
|
The need arises these days for tested instruments. When Those Who guide human evolution at this period cast Their eyes over the race in the search for such instruments They see few as yet ready for the service required. But likewise They see some who, with a certain amount of training, will fill the need fairly adequately. |
Ngày nay, nhu cầu về những công cụ đã qua thử thách đang xuất hiện. Khi các Đấng hướng dẫn sự tiến hoá của nhân loại trong thời kỳ này nhìn khắp nhân loại để tìm những công cụ như thế, Các Ngài thấy còn ít người sẵn sàng cho công việc phụng sự cần thiết. Nhưng đồng thời, Các Ngài cũng thấy một số người, qua một mức độ huấn luyện nhất định, sẽ đáp ứng nhu cầu khá đầy đủ. |
|
As evolution proceeds the polarization of the race changes. Men are polarized now principally in their emotional bodies,—the feelings, desires, the concerns of the personality sway them. The emotional body is the focal point for the personality. It acts as the clearing house for all that concerns it, and as the junction of the lower and the higher. It is like a busy railroad terminus, that receives cargo from all directions and empties it into the great city of the personal physical plane life. Then, as progress is made, the scene shifts higher, and the mental body becomes the focal point. Later the causal body becomes the important unit, and later still comes the ultimate sacrifice of even that, until the man stands bereft of all that vibrates to the three worlds, and all is over as regards the personal life,—nought remains but the life of the Spirit, and the voluntary giving of that life for the helping of the world. |
Khi tiến hoá tiếp diễn, sự phân cực của nhân loại thay đổi. Hiện nay, con người chủ yếu phân cực trong thể cảm dục của mình,—những tình cảm, dục vọng và các mối quan tâm của phàm ngã chi phối họ. Thể cảm dục là tiêu điểm của phàm ngã. Nó hoạt động như trạm trung chuyển cho mọi điều liên quan đến phàm ngã, và như điểm nối giữa phần thấp và phần cao. Nó giống một ga đầu mối đường sắt nhộn nhịp, tiếp nhận hàng hoá từ mọi hướng rồi chuyển vào thành phố rộng lớn của đời sống cá nhân trên cõi hồng trần. Rồi khi có tiến bộ, hoạt động chuyển lên cao hơn, và thể trí trở thành tiêu điểm. Về sau, thể nguyên nhân trở thành đơn vị quan trọng, và sau nữa đến sự hi sinh tối hậu, ngay cả thể ấy cũng phải từ bỏ, cho đến khi con người đứng đó, không còn bất cứ điều gì rung động tương ứng với ba cõi giới, và mọi sự liên quan đến đời sống cá nhân đều chấm dứt,—không còn gì ngoài sự sống của Tinh thần và việc tự nguyện hiến dâng sự sống ấy để trợ giúp thế gian. |
|
In the speeding up of evolution, certain things have to be brought about before the man can be used as a reliable instrument, true as tempered steel, for the helping of his race. Forget not that, as a rule, a man (when tested and tried) forms the best tool, because he comprehends [Page 334] utterly the race consciousness, and because he enters into the problems of the day in a manner more thorough than an Ego from an earlier period. Hence the Masters desire to use those of you who live now to heal the wounds of the present suffering generation. What then has to be done? The matter I now give contains nothing very unusual, but it does hold thought for consideration by any who may desire to help…….In preparing a soul for service the Guides of the race have to deal with each of the bodies:— |
Trong việc đẩy nhanh tiến hoá, phải thực hiện một số điều trước khi có thể sử dụng con người như một công cụ đáng tin cậy, chuẩn xác như thép tôi, để trợ giúp nhân loại. Đừng quên rằng, thông thường, một người đã qua thử thách và khảo nghiệm sẽ là công cụ tốt nhất, bởi y thấu hiểu [Page 334] hoàn toàn tâm thức nhân loại, và bởi y đi sâu vào các vấn đề của thời đại một cách thấu đáo hơn một Chân ngã thuộc thời kỳ trước. Vì vậy, các Chân sư mong muốn sử dụng những người trong số các bạn đang sống hiện nay để chữa lành các vết thương của thế hệ đang đau khổ này. Vậy phải làm gì? Nội dung Tôi đưa ra lúc này không có gì thật khác thường, nhưng chứa những điều đáng suy ngẫm cho bất cứ ai mong muốn trợ giúp…….Để chuẩn bị một linh hồn cho công việc phụng sự, các Đấng Hướng Dẫn nhân loại phải xử lý từng thể của linh hồn ấy:— |
1 – The training of the Physical Body. – 1 – Việc huấn luyện Thể Xác.
|
This involves certain definite requirements:— |
Việc này bao gồm một số yêu cầu xác định:— |
|
The building in of matter of the higher subplanes and the elimination of the lower and coarser matter. This is needed because it is impossible for those with coarse bodies to contact high vibration. It is impossible for the Ego to transmit the higher knowledge and guidance through a coarse physical body. It is impossible for the loftier currents of thought to impact the little evolved physical brain. Hence the refinement of the physical body is an essential. It is effected in various ways, all of them reasonable and utilitarian. |
Đưa vào thể xác vật chất thuộc các cõi phụ cao hơn và loại bỏ vật chất thấp hơn, thô trược hơn. Điều này cần thiết vì những người có thân thể thô trược không thể tiếp xúc với rung động cao. Chân ngã không thể truyền tri thức và sự hướng dẫn cao hơn qua một thể xác thô trược. Những dòng tư tưởng cao cả hơn không thể tác động lên bộ não hồng trần ít tiến hoá. Vì vậy, việc tinh luyện thể xác là điều thiết yếu. Việc này được thực hiện bằng nhiều cách, tất cả đều hợp lý và thiết thực. |
|
By pure food. This involves a vegetarian diet, chosen with wise discrimination; it requires the eating of only those vegetables and fruits that vitalize. Careful judgment shown in the choice of food, wise refraining from too heavy eating, and a little pure good food perfectly assimilated are all that a disciple requires. You ask what foods? Milk, honey, whole wheat bread, all the vegetables that contact the sun, oranges (above all, oranges), bananas, raisins, nuts, some potatoes, unpolished rice, and may I again reiterate, [Page 335] just as much of all the above as to insure activity. |
Bằng thực phẩm thanh khiết. Điều này bao gồm một chế độ ăn chay, được lựa chọn với sự phân biện sáng suốt; đòi hỏi chỉ ăn những loại rau quả tiếp sinh lực. Sự cân nhắc cẩn thận khi lựa chọn thức ăn, việc sáng suốt tránh ăn quá nhiều, và một lượng nhỏ thực phẩm tốt, thanh khiết, được hấp thu hoàn toàn, là tất cả những gì một đệ tử cần. Các bạn hỏi đó là những thực phẩm nào? Sữa, mật ong, bánh mì nguyên cám, mọi loại rau tiếp xúc với ánh nắng, cam (trên hết là cam), chuối, nho khô, các loại hạt, một ít khoai tây, gạo chưa xát trắng, và xin cho Tôi nhắc lại, [Page 335] chỉ dùng tất cả những thực phẩm trên với lượng vừa đủ để bảo đảm hoạt động. |
|
By cleanliness. Much use of water, externally and internally, is vitally required. |
Bằng sự sạch sẽ. Việc sử dụng nhiều nước, cả bên ngoài lẫn bên trong cơ thể, là yêu cầu vô cùng thiết yếu. |
|
By sleep. This should be always between the hours of ten in the evening and five in the morning, and as much as possible out of doors. |
Bằng giấc ngủ. Giấc ngủ phải luôn nằm trong khoảng từ mười giờ tối đến năm giờ sáng, và càng ngủ ngoài trời được nhiều càng tốt. |
|
By sunshine. Contact with the sun should be much sought after, and the vitalization that comes through its rays. The sun kills all germs and frees from disease. |
Bằng ánh nắng. Cần tìm cách tiếp xúc nhiều với ánh nắng và đón nhận sinh lực từ những tia nắng ấy. Mặt trời tiêu diệt mọi mầm bệnh và giải trừ bệnh tật. |
|
When these four requirements are attended to adequately a definite process of elimination proceeds, and in the course of a few years the whole physical body shifts its polarization gradually up until ultimately you will have a body composed of atomic subplane matter……This may take several incarnations, but it should be borne in mind that at each fresh incarnation a body is taken of the exact quality (if I may so put it) as the one previously discarded at death. Hence time is never lost in building. Eventually two other methods will be available by which more rapid refining may be effected:— |
Khi đáp ứng đầy đủ bốn yêu cầu này, một tiến trình loại bỏ rõ rệt sẽ diễn ra, và trong vài năm, toàn bộ thể xác dần chuyển sự phân cực lên cao, cho đến khi cuối cùng các bạn có một thể xác cấu thành từ vật chất của cõi phụ nguyên tử……Điều này có thể cần đến vài kiếp nhập thể, nhưng cần nhớ rằng ở mỗi kiếp nhập thể mới, người ta tiếp nhận một thân thể có phẩm tính đúng như vậy (nếu Tôi có thể diễn đạt như thế), giống thân thể đã bỏ lại lúc chết trước đó. Vì vậy, thời gian dành cho việc xây dựng không bao giờ mất đi. Cuối cùng, sẽ có thêm hai phương pháp giúp việc tinh luyện diễn ra nhanh hơn:— |
|
The use of colored lights. These lights are played on the body of the disciple and effect a shaking-out process and a simultaneous stimulation of the atoms. This cannot be done till further information is given anent the Rays; when a man’s ray is known, stimulation will come from the use of his own color, a building-in will be brought about by the use of his complementary color, and disintegration of unwanted matter will be brought about by the use of an antagonistic color. This knowledge will later on be communicated to the great bodies that hold [Page 336] custody of the Mysteries, the Church and the Masons. Wait, for the time is not yet. When the Mysteries are restored some of this information will be in the hands of the two bodies I refer to. |
Việc sử dụng ánh sáng màu. Những ánh sáng này được chiếu lên thân thể đệ tử, tạo ra một tiến trình rung rũ và đồng thời kích thích các nguyên tử. Chưa thể thực hiện điều này cho đến khi có thêm thông tin về các Cung; khi biết cung của một người, việc sử dụng màu của chính y sẽ tạo sự kích thích, việc sử dụng màu bổ túc của y sẽ đưa thêm vật chất vào, và việc sử dụng một màu đối kháng sẽ làm tan rã vật chất không mong muốn. Về sau, tri thức này sẽ được truyền cho những tổ chức lớn gìn giữ [Page 336] các Bí Pháp, là Giáo hội và Hội Tam Điểm. Hãy chờ đợi, vì thời điểm chưa đến. Khi các Bí Pháp được phục hồi, hai tổ chức Tôi đề cập sẽ nắm giữ một phần thông tin này. |
|
The stimulation of music. Certain sounds shatter and break. Certain other sounds stimulate and attract. When the key of a man’s life is known, when the sound he responds to is recognized, then comes the possibility of the utilization of sound in refinement. All that is at present possible to those of you who seek to serve is to attend to the above essentials and to seek contact with high vibration. |
Sự kích thích của âm nhạc. Một số âm thanh làm vỡ và phá tan. Một số âm thanh khác kích thích và thu hút. Khi biết giọng điệu của đời sống một người, khi nhận biết âm thanh mà y đáp ứng, bấy giờ mới có khả năng sử dụng âm thanh trong việc tinh luyện. Hiện nay, tất cả những gì những người trong số các bạn muốn phụng sự có thể làm là chú trọng những điều thiết yếu nêu trên và tìm cách tiếp xúc với rung động cao. |
|
One more point I would like to give, and that is, that in the manipulation of electricity lies hid much that concerns the vivification of the bodies, especially just now of the etheric. The principal use the sun has is the vitalizing of the etheric. The heat of the sun is electrical force adapted to the need of the great average majority in all the kingdoms of nature. As progress is made an intensification of this force will be possible in individual cases. Herein lies one of the secrets of initiation. In the old days the Rod of Initiation acted actually as a conductor of this force to the centers of the initiate; it was so constructed that it answered this purpose. Now, on a higher turn of the spiral, just the same need and purpose are served, though the method of application necessarily differs, owing to the change in the polarization of the race. The polarization is now no longer physical, but is either emotional or mental. The method of application differs in all three, and hence the safeguarding of the secret. It holds the mystery hid. [Page 337] |
Tôi muốn đưa ra thêm một điểm nữa: chính trong việc vận dụng điện năng có nhiều điều ẩn giấu liên quan đến việc tiếp sinh lực cho các thể của con người, đặc biệt lúc này là thể dĩ thái. Công dụng chủ yếu của mặt trời là tiếp sinh lực cho thể dĩ thái. Nhiệt của mặt trời là mãnh lực điện được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của đại đa số thuộc mức trung bình trong mọi giới của tự nhiên. Khi có tiến bộ, có thể tăng cường mãnh lực này trong những trường hợp cá biệt. Chính trong đó có một trong những bí mật của điểm đạo. Thuở xưa, Thần Trượng Điểm đạo thực sự hoạt động như một vật dẫn truyền mãnh lực này đến các trung tâm của điểm đạo đồ; nó được chế tạo để đáp ứng mục đích ấy. Giờ đây, trên một vòng xoắn cao hơn, vẫn chính nhu cầu và mục đích ấy được đáp ứng, tuy phương pháp áp dụng tất nhiên khác đi, do sự thay đổi trong sự phân cực của nhân loại. Sự phân cực hiện nay không còn thuộc hồng trần, mà thuộc cảm xúc hoặc trí tuệ. Phương pháp áp dụng khác nhau trong cả ba trường hợp, vì vậy cần bảo vệ bí mật. Nó chứa đựng điều huyền nhiệm ẩn kín. [Page 337] |
The refining of the etheric. – Việc tinh luyện thể dĩ thái.
|
This coincides with that of the physical body. The method consists principally of living in the sunlight, in protection from cold, and in the assimilation of certain definite combinations of vitamins which before long will be given to the race. A combination of these vitamins will be formulated and made into tabloid form, with direct effect upon the etheric body. This will not be until that etheric vehicle is recognized by science, and definitely included in the training offered by the faculty of medicine. The study of etheric diseases—congestion and atrophy—will ere long be a recognized study, and will lead to definite treatments and formulas. As before said, all that you can now do in sensitizing the dual physical is to attend to the above rules, and allow time to bring about the remainder of the work. |
Việc này diễn ra đồng thời với việc tinh luyện thể xác. Phương pháp chủ yếu gồm việc sống trong ánh nắng, giữ cho cơ thể không bị lạnh, và hấp thu một số tổ hợp vitamin xác định mà chẳng bao lâu nữa nhân loại sẽ biết đến. Một tổ hợp các vitamin này sẽ được bào chế thành dạng viên nén, có tác động trực tiếp lên thể dĩ thái. Điều này chỉ diễn ra khi khoa học công nhận hiện thể dĩ thái ấy và chính thức đưa nó vào chương trình đào tạo của ngành y. Chẳng bao lâu nữa, việc nghiên cứu các bệnh của thể dĩ thái—ứ tắc và teo giảm—sẽ trở thành một ngành nghiên cứu được công nhận, dẫn đến những phương pháp điều trị và công thức xác định. Như đã nói, tất cả những gì các bạn có thể làm lúc này để tăng độ nhạy của hiện thể hồng trần kép là tuân theo những quy luật nêu trên, và để thời gian hoàn thành phần công việc còn lại. |
2 – The refining of the emotional body. – 2 – Việc tinh luyện thể cảm dục.
|
Here the method of procedure is different. The emotional body is simply a great reflector. It takes color and movement from its surroundings. It receives the impress of every passing desire. It contacts every whim and fancy in its environment; every current sets it in motion; every sound causes it to vibrate unless the aspirant inhibits such a state of affairs and trains it to receive and register only those impressions which come from the intuitional level via the Higher Self and therefore via the atomic subplane. The aim of the aspirant should be to so train the emotional body that it will become still and clear as a mirror, so that it may reflect perfectly. His aim should be to make it reflect only the causal body, to take on color only in line with the great Law, and to move under definite direction and not just as blow the winds of [Page 338] thought, or rise the tides of desire. What words should describe the emotional body? the words: still, serene, unruffled, quiet, at rest, limpid and clear, of a quality mirrorlike, of surface even, a limpid reflector,—one that accurately transmits the wishes, the desires, the aspirations of the Ego and not of the personality. How should this be accomplished? In several ways, some at the direction of the aspirant, and some at the direction of the Master. |
Ở đây, phương pháp thực hiện khác đi. Thể cảm xúc chỉ đơn thuần là một tấm gương phản chiếu lớn. Nó tiếp nhận màu sắc và chuyển động từ môi trường xung quanh. Nó nhận dấu ấn của mọi dục vọng thoáng qua. Nó tiếp xúc với mọi ý thích bất chợt và tưởng tượng trong môi trường của nó; mọi dòng chảy đều khiến nó chuyển động; mọi âm thanh đều khiến nó rung động, trừ khi người chí nguyện ngăn chặn tình trạng ấy và huấn luyện nó chỉ tiếp nhận, ghi nhận những ấn tượng đến từ cấp độ trực giác qua Chân ngã, và do đó qua cõi phụ nguyên tử. Mục tiêu của người chí nguyện phải là huấn luyện thể cảm dục sao cho nó trở nên tĩnh lặng và trong sáng như một tấm gương, để có thể phản chiếu hoàn hảo. Mục tiêu của y phải là khiến nó chỉ phản chiếu thể nguyên nhân, chỉ tiếp nhận màu sắc phù hợp với Định luật vĩ đại, và chuyển động dưới sự chỉ dẫn xác định, chứ không chỉ theo những cơn gió [Page 338] tư tưởng thổi qua hay những đợt thuỷ triều dục vọng dâng lên. Những từ nào nên mô tả thể cảm dục? Đó là: tĩnh lặng, thanh thản, không xao động, yên tĩnh, an nghỉ, trong suốt và sáng rõ, có phẩm tính như gương, bề mặt phẳng đều, một tấm gương phản chiếu trong suốt,—truyền đạt chính xác những mong muốn, dục vọng và khát vọng của Chân ngã chứ không phải của phàm ngã. Phải thực hiện điều này như thế nào? Bằng nhiều cách, một số do người chí nguyện chỉ đạo, và một số do Chân sư chỉ đạo. |
|
a. By the constant watching of all desires, motives and wishes that cross the horizon daily, and by the subsequent emphasizing of all those that are of a high order, and by the inhibition of the lower. |
a. Bằng việc thường xuyên quan sát mọi dục vọng, động cơ và mong muốn xuất hiện trong tầm nhận biết hằng ngày, rồi nhấn mạnh tất cả những điều thuộc cấp độ cao và ngăn chặn những điều thấp hơn. |
|
b. By a constant daily attempt to contact the Higher Self, and to reflect His wishes in the life. At first mistakes will be made, but little by little the building-in process proceeds, and the polarization in the emotional body gradually shifts up each subplane until the atomic is reached. |
b. Bằng nỗ lực đều đặn hằng ngày để tiếp xúc với Chân ngã và phản ánh những mong muốn của Ngài trong đời sống. Ban đầu sẽ có sai lầm, nhưng từng chút một, tiến trình xây dựng vẫn tiếp diễn, và sự phân cực trong thể cảm dục dần chuyển lên từng cõi phụ cho đến khi đạt cõi phụ nguyên tử. |
|
c. By definite periods daily directed to the stilling of the emotional body. So much emphasis is laid in meditation on the stilling of the mind, but it should be remembered that the stilling of the emotional nature is a step preliminary to the quieting of the mental; one succeeds the other and it is wise to begin at the bottom of the ladder. Each aspirant must discover for himself wherein he yields most easily to violent vibrations, such as fear, worry, personality desire of any kind, personality love of anything or anyone, discouragement, over-sensitiveness to public opinion; then he must overcome that vibration, by imposing on it a new rhythm, definitely eliminating and constructing. [Page 339] |
c. Bằng những khoảng thời gian xác định mỗi ngày dành cho việc làm tĩnh lặng thể cảm dục. Trong tham thiền, người ta nhấn mạnh rất nhiều việc làm tĩnh lặng thể trí, nhưng cần nhớ rằng làm tĩnh lặng bản chất cảm xúc là bước chuẩn bị trước khi làm yên thể trí; bước này tiếp nối bước kia, và sáng suốt nhất là bắt đầu từ chân thang. Mỗi người chí nguyện phải tự khám phá xem mình dễ khuất phục nhất trước những rung động dữ dội ở đâu, chẳng hạn như sợ hãi, lo lắng, dục vọng phàm ngã dưới bất kỳ hình thức nào, tình thương phàm ngã dành cho bất cứ vật gì hay người nào, sự nản lòng, sự quá nhạy cảm với dư luận; rồi y phải khắc phục rung động ấy bằng cách áp đặt lên nó một nhịp điệu mới, dứt khoát loại bỏ và xây dựng. [Page 339] |
|
d. By work done on the emotional body at night under the direction of more advanced egos, working under the guidance of a Master. Stimulation of vibration or the deadening of vibration follows on the application of certain colors and sounds. At this particular time two colors are being applied to many people for the specific purpose of keying up the throat and foremost head center, namely, violet and gold. |
d. Bằng công việc thực hiện trên thể cảm dục vào ban đêm dưới sự chỉ đạo của những chân ngã tiến bộ hơn, hoạt động dưới sự hướng dẫn của một Chân sư. Sự kích thích rung động hay làm giảm rung động diễn ra sau việc áp dụng một số màu sắc và âm thanh. Vào thời điểm đặc biệt này, hai màu đang được áp dụng cho nhiều người nhằm mục đích cụ thể là tăng cường hoạt động của trung tâm cổ họng và trung tâm phía trước đầu, đó là màu tím và màu vàng kim. |
|
Remember that the work is gradual, and as the polarization shifts up, the moment of transition from one subplane to another is marked by certain tests applied at night, what one might term a series of small initiations that eventually will be consummated in the second great initiation, that marks the perfection of the control of the body of the emotions. |
Hãy nhớ rằng công việc diễn ra dần dần, và khi sự phân cực chuyển lên cao, thời điểm chuyển từ cõi phụ này sang cõi phụ khác được đánh dấu bằng một số cuộc thử thách áp dụng vào ban đêm, có thể gọi là một loạt những cuộc điểm đạo nhỏ, cuối cùng sẽ hoàn tất trong cuộc điểm đạo lớn thứ hai, đánh dấu sự hoàn thiện trong việc kiểm soát thể cảm dục. |
|
Four small initiations find their culmination in the initiation proper. These are the initiations on the emotional plane, called respectively the initiations of earth, fire, water and air, culminating in initiation the second. The first initiation marks the same point of attainment on the physical plane. Each initiation marks the attainment of a certain proportion of atomic matter in the bodies. The four initiations, prior to that of the Adept, mark respectively the attainment of a proportionate amount, as for instance:—At the first initiation one-fourth atomic matter, at the second one-half atomic matter, and so on to the consummation. The intuition (or buddhi) being the unifying principle and thus welding all, at the fourth initiation the lower vehicles go, and the adept stands in his intuitional body, and creates from thence his body of manifestation. [Page 340] |
Bốn cuộc điểm đạo nhỏ đạt đỉnh điểm trong cuộc điểm đạo chính thức. Đây là những cuộc điểm đạo trên cõi cảm dục, lần lượt gọi là các cuộc điểm đạo của đất, lửa, nước và khí, đạt đỉnh điểm trong lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo thứ nhất đánh dấu cùng mức thành tựu ấy trên cõi hồng trần. Mỗi lần điểm đạo đánh dấu việc đạt được một tỷ lệ vật chất nguyên tử nhất định trong các thể của con người. Bốn cuộc điểm đạo trước cuộc điểm đạo của Chân sư lần lượt đánh dấu việc đạt được một lượng tương ứng, chẳng hạn:—Ở lần điểm đạo thứ nhất, một phần tư là vật chất nguyên tử; ở lần thứ hai, một nửa là vật chất nguyên tử; và cứ thế cho đến khi hoàn tất. Vì trực giác (hay Bồ đề) là nguyên khí hợp nhất, nhờ đó kết nối tất cả, nên ở lần điểm đạo thứ tư, các hiện thể thấp mất đi, và chân sư đứng trong thể trực giác của mình, rồi từ đó tạo ra thân thể biểu hiện của y. [Page 340] |
3 – The refinement of the mental body. – 3 – Việc tinh luyện thể trí.
|
This is the result of hard work and discrimination. It necessitates three things before the plane of the mental unit is achieved, and before the causal consciousness (the full consciousness of the higher self) is reached:— |
Đây là kết quả của sự chuyên cần và phân biện. Nó đòi hỏi ba điều trước khi đạt đến cõi của đơn vị hạ trí, và trước khi đạt được tâm thức nguyên nhân (tâm thức đầy đủ của chân ngã):— |
|
Clear thinking, not just on subjects wherein interest is aroused, but on all matters affecting the race. It involves the formulation of thought matter, and the capacity to define. It means the ability to make thought forms out of thought matter, and to utilize those thought forms for the helping of the public. He who does not think clearly, and who has an inchoate mental body, lives in a fog, and a man in a fog is but a blind leader of the blind. |
Tư duy rõ ràng, không chỉ về những chủ đề khơi gợi hứng thú, mà về mọi vấn đề ảnh hưởng đến nhân loại. Điều này bao gồm việc tạo hình vật chất tư tưởng và khả năng xác định rõ. Nó hàm ý khả năng tạo ra các Hình tư tưởng từ vật chất tư tưởng, và sử dụng những Hình tư tưởng ấy để trợ giúp công chúng. Người không tư duy rõ ràng và có thể trí chưa thành hình sống trong sương mù, mà một người trong sương mù chỉ là người mù dẫn dắt người mù. |
|
The ability to still the mental body so that thoughts from abstract levels and from the intuitional planes can find a receptive sheet whereon they may inscribe themselves. This thought has been made clear in many books on concentration and meditation, and needs not my elucidation. It is the result of hard practice carried over many years. |
Khả năng làm tĩnh lặng thể trí để những tư tưởng từ các cấp độ trừu tượng và từ các cõi trực giác có thể tìm được một trang giấy sẵn sàng tiếp nhận để ghi dấu lên đó. Ý tưởng này đã được trình bày rõ trong nhiều sách về định trí và tham thiền, nên không cần Tôi giải thích thêm. Đây là kết quả của việc thực hành chuyên cần qua nhiều năm. |
|
A definite process brought about by the Master with the acquiescence of the disciple which welds into a permanent shape the hard won efforts and results of many years. At each initiation, the electrical or magnetic force applied has a stabilizing effect. It renders durable the results achieved by the disciple. Like as a potter molds and shapes the clay and then applies the fire that solidifies, so the aspirant shapes and molds and builds, and prepares for the solidifying fire. Initiation marks a permanent attainment and the beginning of a new cycle of endeavor. |
Một tiến trình xác định do Chân sư thực hiện với sự chấp thuận của đệ tử, kết gắn thành một hình dạng bền vững những nỗ lực và thành quả khó nhọc đạt được qua nhiều năm. Ở mỗi lần điểm đạo, mãnh lực điện hoặc từ tính được áp dụng có tác dụng ổn định. Nó khiến những kết quả đệ tử đạt được trở nên bền vững. Giống như người thợ gốm nặn và tạo hình đất sét rồi dùng lửa để làm cho nó rắn chắc, người chí nguyện cũng tạo hình, nhào nặn, xây dựng và chuẩn bị cho ngọn lửa làm rắn chắc. Điểm đạo đánh dấu một thành tựu bền vững và sự khởi đầu của một chu kỳ nỗ lực mới. |
|
Above all two things should be emphasized:— |
Trên hết, cần nhấn mạnh hai điều:— |
|
1. A steady, unshaken perseverance, that recks not [Page 341] of time nor hindrance, but goes on. This capacity to persevere explains why the non-spectacular man so frequently attains initiation before the genius, and before the man who attracts more notice. The capacity to plod is much to be desired. |
1. Sự kiên trì đều đặn, bất lay chuyển, không màng [Page 341] đến thời gian hay trở ngại, mà vẫn tiếp tục tiến lên. Khả năng kiên trì này giải thích tại sao người không nổi bật lại thường đạt điểm đạo trước thiên tài và trước người thu hút nhiều sự chú ý hơn. Khả năng bền bỉ tiến bước là điều rất đáng mong cầu. |
|
2. A progress that is made without undue self-analysis. Pull not yourselves up by the roots to see if there is growth. It takes precious time. Forget your own progress in conforming to the rules and in the helping of others. When this is so, sudden illumination may come, and the realization break upon you that the point has been reached when the Hierophant can demand your presence and bestow initiation upon you. You have, by hard work and sheer endeavor to conform to the Law and to love all, built into your bodies the material that makes it possible for you to stand in His Presence. The great Law of Attraction draws you to Him andnought can withstand the Law. |
2. Sự tiến bộ diễn ra mà không tự phân tích quá mức. Đừng nhổ mình lên tận rễ để xem có tăng trưởng hay không. Việc ấy tốn thời gian quý báu. Hãy quên sự tiến bộ của chính mình trong việc tuân theo các quy luật và trợ giúp người khác. Khi được như vậy, sự soi sáng có thể đột ngột đến, và các bạn chợt nhận ra rằng đã đạt đến thời điểm khi Đấng Chủ Lễ có thể yêu cầu các bạn hiện diện và ban điểm đạo cho các bạn. Bằng sự chuyên cần và nỗ lực thuần tuý để tuân theo Định luật và yêu thương tất cả, các bạn đã đưa vào các thể của mình chất liệu cho phép các bạn đứng trong Sự Hiện Diện của Ngài. Định luật Hấp Dẫn vĩ đại thu hút các bạn đến với Ngài, và không gì có thể chống lại Định luật. |
LETTER XI – THE RESULTANT LIFE OF SERVICE. – THƯ XI – ĐỜI SỐNG PHỤNG SỰ PHÁT SINH TỪ ĐÓ.
|
SEPTEMBER 16TH, 1920. |
NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 1920. |
|
I seek to give you today, in closing this series, something of general use. I wish to speak to you anent service and its perfect rendering. What I give you in this connection may be of vital use. Remember always that material gain in knowledge for the individual causes stagnation, obstruction, indigestion and pain, if not passed on with wise discrimination. Food absorbed by the human body, if not assimilated and passed through the system, causes just the above conditions. The analogy is correct. Much tuition comes to many these days, but it is for the use of a needy world, and not for their own exclusive benefit. |
Hôm nay, khi kết thúc loạt thư này, Tôi muốn đưa ra cho các bạn một điều có ích chung. Tôi muốn nói với các bạn về phụng sự và việc thực hiện phụng sự một cách hoàn hảo. Những gì Tôi đưa ra về vấn đề này có thể rất hữu ích. Hãy luôn nhớ rằng sự tích luỹ tri thức đáng kể cho cá nhân sẽ gây đình trệ, tắc nghẽn, khó tiêu và đau đớn, nếu không truyền lại với sự phân biện sáng suốt. Thức ăn cơ thể con người tiếp nhận, nếu không được hấp thu và chuyển qua hệ thống, sẽ gây ra đúng những tình trạng trên. Sự tương đồng này là chính xác. Ngày nay, nhiều người nhận được nhiều sự chỉ dạy, nhưng đó là để phục vụ một thế giới đang thiếu thốn, chứ không phải chỉ vì lợi ích riêng của họ. |
|
In rendering service three things are of moment:— |
Trong việc phụng sự, có ba điều quan trọng:— |
|
1. The motive. |
1. Động cơ. |
|
2. The method. |
2. Phương pháp. |
|
3. The attitude following action. |
3. Thái độ sau hành động. |
|
With wrong motives and methods I deal not. To you they are known. I indicate the right, and by adjustment of the life of service to my indications comes correction and inspiration. A life of much service opens up to many these days; see, all of you, that it commences right. A right beginning is liable to eventuate in continuous correctness, and helps much in the endeavor. Where failure follows in such a case, all that is needed is readjustment. In failure where the beginning has been at fault (an inevitable failure), the need is for the renewal of the inner springs of action. [Page 344] |
Tôi không bàn đến những động cơ và phương pháp sai lầm. Các bạn đã biết chúng. Tôi chỉ ra điều đúng, và việc điều chỉnh đời sống phụng sự theo những chỉ dẫn của Tôi sẽ đem lại sự sửa đổi và cảm hứng. Ngày nay, một đời sống phụng sự phong phú đang mở ra cho nhiều người; tất cả các bạn hãy bảo đảm rằng nó khởi đầu đúng đắn. Một khởi đầu đúng đắn có khả năng dẫn đến sự đúng đắn liên tục, và trợ giúp rất nhiều cho nỗ lực. Trong trường hợp ấy, nếu thất bại xảy ra, tất cả những gì cần thiết là điều chỉnh lại. Khi thất bại bắt nguồn từ một khởi đầu sai lầm (một thất bại không tránh khỏi), điều cần thiết là đổi mới những nguồn động lực bên trong thúc đẩy hành động. [Page 344] |
1 – The motives for service. – 1 – Những động cơ phụng sự.
|
These motives are threefold in the order of their importance:— |
Những động cơ này gồm ba phần, theo thứ tự quan trọng:— |
|
a. A realization of God’s plan of evolution, a sensing of the world’s dire need, an apprehension of the immediate point of world attainment, and a consequent throwing of the total of one’s resources into the furtherance of that end. |
a. Sự nhận biết Thiên Cơ tiến hoá của Thượng đế, sự cảm nhận nhu cầu cấp thiết của thế giới, sự nắm bắt mức thành tựu hiện thời của thế giới, và do đó dồn toàn bộ nguồn lực của mình để thúc đẩy mục đích ấy. |
|
b. A definite personal goal of achievement, some great ideal—such as holiness of character—that calls forth the soul’s best endeavor; or a realization of the reality of the Masters of the Wisdom, and a strong inner determination to love, serve, and reach Them at all costs. When you have this intellectual grip of God’s plan, coupled with the strong desire to serve the Great Ones, in physical plane activities will come the working out. |
b. Một mục tiêu thành tựu cá nhân rõ rệt, một lý tưởng cao cả nào đó—như sự thánh thiện của Tính cách—khơi dậy nỗ lực tốt nhất của linh hồn; hoặc sự nhận biết tính thực hữu của các Chân sư Minh Triết, cùng một quyết tâm mạnh mẽ bên trong để yêu thương, phụng sự và đến với Các Ngài bằng mọi giá. Khi các bạn có sự nắm bắt Thiên Cơ của Thượng đế bằng trí tuệ như thế, kết hợp với mong muốn mạnh mẽ phụng sự Các Đấng Cao Cả, điều ấy sẽ được thực hiện trong các hoạt động trên cõi hồng trần. |
|
c. A realization next of one’s innate or acquired capacities and a fitting of those capacities to the need appreciated. Service is of many kinds, and he who wisely renders it, who seeks to find his particular sphere, and who, finding it, gives effort gladly for the benefit of the whole, is the man whose own development proceeds steadily. But nevertheless the aim of personal progress remains secondary. |
c. Tiếp đó là sự nhận biết các năng lực bẩm sinh hay đã có được của mình, và việc điều chỉnh những năng lực ấy cho phù hợp với nhu cầu đã nhận thấy. Phụng sự có nhiều loại, và người thực hiện phụng sự một cách sáng suốt, tìm kiếm lĩnh vực riêng của mình, rồi khi tìm thấy, vui lòng nỗ lực vì lợi ích của toàn thể, là người có sự phát triển riêng tiến triển đều đặn. Tuy nhiên, mục tiêu tiến bộ cá nhân vẫn là thứ yếu. |
2 – The methods of service. – 2 – Những phương pháp phụng sự.
|
These are many and varied. I can but indicate the ones of paramount importance. |
Những phương pháp này nhiều và đa dạng. Tôi chỉ có thể nêu ra những phương pháp quan trọng nhất. |
|
First and foremost comes, as I have often inculcated, the faculty of discrimination. He who considers that he can attempt all things, who balks not at aught that happens his way, who rushes wildly in where wiser ones refrain, who considers he has capacity for that which [Page 345] arises, who brings zeal but no brains to bear on this problem of service, but dissipates force; he renders oft destructive action, he wastes the time of wiser and greater ones in the correcting of his well meant mistakes, and he serves no end but his own desires. The reward of good intention may be his, but it is frequently offset by the results of foolish action. He serves with discrimination who realizes wisely his own niche, great or small, in the general scheme; who calculates soberly his mental and intellectual capacity, his emotional caliber and his physical assets and then with the sum of the whole applies himself to fill the niche. |
Trước hết và trên hết, như Tôi vẫn thường nhấn mạnh, là năng lực phân biện. Người cho rằng mình có thể thử làm mọi việc, không chùn bước trước bất cứ điều gì gặp trên đường, lao vào một cách thiếu suy xét ở nơi những người sáng suốt hơn biết dừng lại, cho rằng mình có năng lực đối với bất cứ việc gì [Page 345] phát sinh, đem nhiệt tình nhưng không đem trí tuệ vào vấn đề phụng sự này, chỉ làm tiêu tán mãnh lực; y thường gây ra những hành động phá hoại, lãng phí thời gian của những người sáng suốt hơn và cao cả hơn để sửa chữa các sai lầm thiện chí của mình, và không phục vụ mục đích nào ngoài những mong muốn riêng. Y có thể nhận phần thưởng cho thiện ý, nhưng phần thưởng ấy thường bị kết quả của hành động thiếu sáng suốt hoá giải. Người phụng sự với sự phân biện là người sáng suốt nhận ra vị trí riêng của mình, lớn hay nhỏ, trong cơ cấu chung; bình tĩnh đánh giá năng lực trí tuệ và trí năng, tầm vóc cảm xúc và nguồn lực thể xác của mình, rồi dùng tổng thể những điều ấy để chuyên tâm đảm nhiệm vị trí đó. |
|
He serves with discrimination who judges with the aid of his Higher Self and the Master what is the nature and the measure of the problem to be solved, and is not guided by the well meant though often ill-judged suggestions, requests and demands of his fellow-servers. |
Người phụng sự với sự phân biện là người, nhờ sự trợ giúp của Chân ngã và Chân sư, đánh giá bản chất và mức độ của vấn đề cần giải quyết, chứ không để những gợi ý, lời đề nghị và yêu cầu đầy thiện chí nhưng thường thiếu cân nhắc của những người đồng phụng sự dẫn dắt. |
|
He serves with discrimination who brings a realization of time into action, and comprehending that each day contains but twenty-four hours and that his capacity contains but the expenditure of just so much force and no more, wisely adjusts his capacity and the time available to each other. |
Người phụng sự với sự phân biện là người đưa sự nhận biết về thời gian vào hành động, và thấu hiểu rằng mỗi ngày chỉ có hai mươi bốn giờ, rằng năng lực của y chỉ cho phép tiêu dùng một lượng mãnh lực nhất định chứ không hơn, nên sáng suốt điều chỉnh năng lực của mình và thời gian sẵn có cho phù hợp với nhau. |
|
Next follows a wise control of the physical vehicle. A good server causes the Master no anxiety from physical causes, and may be trusted so to guard and husband his physical strength that he is always available for the carrying out of the Master’s requests. He does not fail from physical disability. He sees that his lower vehicle gets sufficient rest, and adequate sleep. He rises early and retires at a seemly hour. He relaxes whenever possible; he eats wholesome and suitable food and refrains from heavy eating. A little food, well chosen and well masticated, is far better than a heavy meal. The human race [Page 346] eats these days, as a rule, four times as much as is required. He ceases from work when (through accident or the recurrence of inherited physical disability) his body reacts against action and cries out for attention. He then seeks rest, sleep, dietary precautions and necessary medical attention. He obeys all wise instruction, giving time for his recovery. |
Tiếp theo là sự kiểm soát sáng suốt hiện thể hồng trần. Một người phụng sự tốt không khiến Chân sư lo lắng vì những nguyên nhân thuộc thể xác, và có thể được tin cậy rằng y biết bảo vệ, giữ gìn thể lực để luôn sẵn sàng thực hiện những yêu cầu của Chân sư. Y không thất bại vì suy yếu thể xác. Y bảo đảm hiện thể thấp của mình được nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ. Y dậy sớm và đi ngủ vào giờ thích hợp. Y thư giãn bất cứ khi nào có thể; y ăn thực phẩm lành mạnh, phù hợp và tránh ăn quá nhiều. Một ít thức ăn, được lựa chọn kỹ và nhai kỹ, tốt hơn nhiều so với một bữa ăn nặng nề. Ngày nay, nhân loại [Page 346] thường ăn nhiều gấp bốn lần mức cần thiết. Y ngừng làm việc khi thân thể y (do tai nạn hoặc sự tái phát của một tình trạng suy yếu thể xác di truyền) phản ứng chống lại hoạt động và lên tiếng đòi được chăm sóc. Bấy giờ, y tìm sự nghỉ ngơi, giấc ngủ, những biện pháp thận trọng về ăn uống và sự chăm sóc y tế cần thiết. Y tuân theo mọi chỉ dẫn sáng suốt, dành thời gian để hồi phục. |
|
The next step is a steady care and control of the emotional body. This is the most difficult of the vehicles to tend, as is well known. No excessive emotion is permitted, though strong currents of love for all that breathe are allowed to sweep through. Love, being the law of the system, is constructive and stabilizing, and carries all on in line with the law. No fear or worry or care shake the emotional body of the aspiring servant of all. He cultivates serenity, stability, and a sense of secure dependence on God’s law. A joyous confidence characterizes his habitual attitude. He harbors no jealousy, no cloudy gray depression, and no greed or self-pity, but—realizing that all men are brothers and that all that is exists for all—he proceeds calmly on his way. |
Bước tiếp theo là việc chăm sóc và kiểm soát đều đặn thể cảm dục. Như mọi người đều biết, đây là hiện thể khó chăm sóc nhất. Không cho phép bất kỳ cảm xúc quá mức nào, tuy vẫn để những dòng tình thương mạnh mẽ dành cho mọi sinh linh tuôn chảy qua. Tình thương, vì là định luật của hệ mặt trời, có tính xây dựng và ổn định, đưa tất cả tiến lên phù hợp với định luật. Không nỗi sợ hãi, lo lắng hay ưu tư nào làm lay động thể cảm dục của người chí nguyện phụng sự tất cả. Y vun bồi sự tĩnh lặng, ổn định và cảm thức nương tựa vững chắc nơi định luật của Thượng đế. Sự tin tưởng hoan hỉ đặc trưng cho thái độ thường ngày của y. Y không nuôi dưỡng lòng ghen tị, sự u uất xám xịt, lòng tham hay sự thương hại bản thân, mà—nhận biết rằng mọi người đều là huynh đệ và mọi thứ hiện hữu đều tồn tại cho tất cả—y bình thản tiến bước trên con đường của mình. |
|
Then ensues the development of his mental vehicle. In the control of the emotional body the server takes the attitude of elimination. His aim is so to train the emotional body that it becomes devoid of color, has a still vibration, and is clear and white, limpid as a pool on a still summer’s day. In fitting the mental body for service the worker strives at the opposite of elimination; he seeks to build in information, to supply knowledge and facts, to train it intellectually and scientifically so that it may prove as time goes on a stable foundation for the divine wisdom. Wisdom supersedes knowledge, yet requires knowledge as a preliminary step. You must remember that the server passes through the Hall of Learning prior [Page 347] to entering the Hall of Wisdom. In training the mind body he seeks therefore orderly acquisition of knowledge, a supply of that which may be lacking, a sequential grasp of the innate mental faculty accumulated in previous lives, and lastly, a steadying of the lower mind so that the higher may dominate and the creative faculty of thought may be projected through the stillness. From the Silence of the Absolute was projected the universe. From darkness issued light, from the subjective emanated the objective. The negative stillness of the emotional body makes it receptive to impression from above. The positive stillness of the mental body leads to the higher inspiration. |
Sau đó là sự phát triển hiện thể trí của y. Khi kiểm soát thể cảm dục, người phụng sự giữ thái độ loại bỏ. Mục tiêu của y là huấn luyện thể cảm dục sao cho nó không còn màu sắc, có rung động tĩnh lặng, trong sáng và trắng tinh, trong suốt như mặt hồ vào một ngày hè yên ả. Khi chuẩn bị thể trí cho công việc phụng sự, người hoạt động nỗ lực theo hướng ngược với sự loại bỏ; y tìm cách đưa vào thông tin, cung cấp tri thức và sự kiện, huấn luyện nó về trí năng và khoa học, để theo thời gian, nó có thể trở thành nền tảng ổn định cho minh triết thiêng liêng. Minh triết vượt trên tri thức, nhưng vẫn cần tri thức như một bước chuẩn bị. Các bạn phải nhớ rằng người phụng sự đi qua Phòng Học Tập trước [Page 347] khi bước vào Phòng Minh triết. Vì vậy, khi huấn luyện thể trí, y tìm cách tiếp thu tri thức có trật tự, bổ sung những gì có thể còn thiếu, từng bước nắm vững năng lực trí tuệ vốn có tích luỹ từ các kiếp trước, và cuối cùng làm ổn định Hạ trí để Thượng trí có thể chi phối, và năng lực sáng tạo của tư tưởng có thể phóng chiếu qua sự tĩnh lặng. Từ sự Im Lặng của Tuyệt Đối, vũ trụ đã được phóng chiếu. Từ bóng tối, ánh sáng xuất hiện; từ chủ quan, khách quan phát sinh. Sự tĩnh lặng thụ động của thể cảm dục khiến nó tiếp nhận được ấn tượng từ bên trên. Sự tĩnh lặng chủ động của thể trí dẫn đến cảm hứng cao hơn. |
|
Having sought to control and wisely use his personality in its three departments, the lover of humanity seeks perfection in action. No magnificent dreams of martyrdom and the glorious yet ephemeral chimeras of spectacular service engross his attention, but the instant application of all his powers to the next duty is the line of his endeavor. He knows that perfection in the foreground of his life and in the details of his environing work will cause accuracy in the background too, and result in a whole picture of rare beauty. Life progresses by small steps, but each step, taken at the right time, and each moment wisely occupied, leads to long distance covered and a life well spent. Those Who guide the human family test out all applicants for service in the small detail of everyday life, and he who shews a record of faithful action in the apparently non-essential will be moved into a sphere of greater moment. How, in an emergency or crisis, can They depend on someone who in everyday matters does slovenly and ill-judged work? |
Sau khi tìm cách kiểm soát và sử dụng sáng suốt phàm ngã trong ba bộ phận của nó, người yêu thương nhân loại tìm kiếm sự hoàn hảo trong hành động. Không phải những giấc mơ tráng lệ về sự tử đạo hay những ảo mộng huy hoàng nhưng phù du về việc phụng sự ngoạn mục thu hút sự chú ý của y; hướng nỗ lực của y là lập tức vận dụng mọi năng lực vào bổn phận kế tiếp. Y biết rằng sự hoàn hảo ở phần nổi bật của đời sống và trong các chi tiết của công việc xung quanh cũng sẽ tạo ra sự chính xác ở phần hậu cảnh, và đem lại một bức tranh toàn thể có vẻ đẹp hiếm thấy. Đời sống tiến triển bằng những bước nhỏ, nhưng mỗi bước đi đúng lúc và mỗi khoảnh khắc được sử dụng sáng suốt đều dẫn đến một quãng đường dài đã vượt qua và một đời sống được sống xứng đáng. Các Đấng hướng dẫn gia đình nhân loại thử thách mọi người xin phụng sự qua những chi tiết nhỏ của đời sống hằng ngày, và người chứng tỏ hành động tận tâm trong những việc có vẻ không thiết yếu sẽ được chuyển sang một lĩnh vực quan trọng hơn. Trong một tình huống khẩn cấp hay khủng hoảng, làm sao Các Ngài có thể trông cậy vào người làm việc cẩu thả và thiếu suy xét trong những chuyện hằng ngày? |
|
A further method of service shews itself in adaptability. This involves a readiness to retire when other or [Page 348] more important people are sent to fill the niche he may be occupying, or (inversely) an ability to step out of office into work of greater importance, when some less competent worker can do his work with equal facility and good judgment. It is the part of wisdom in all who serve neither to rate themselves too highly nor to underrate themselves. Bad work results when the non-efficient fill a post, but it is equally a loss of time and power when skilled workers hold positions where their skill has not full scope and where less well equipped men and women would do as well. Be ready, therefore, all ye who serve, to stay a lifetime in office non-spectacular and seemingly unimportant, for such may be your destiny and the place you best may serve; but be equally ready to step on to work of more apparent value when the Master’s word goes forth, and when circumstances—and not the server’s planning—indicate that the time is come. Ponder this last sentence. |
Một phương pháp phụng sự nữa thể hiện ở khả năng thích ứng. Điều này bao gồm sự sẵn sàng rút lui khi những người khác hoặc [Page 348] những người quan trọng hơn được cử đến đảm nhiệm vị trí y đang giữ, hoặc (ngược lại) khả năng rời chức vụ để bước vào công việc quan trọng hơn, khi một người hoạt động có năng lực kém hơn có thể thực hiện công việc của y cũng dễ dàng và sáng suốt như vậy. Sự sáng suốt ở mọi người phụng sự là không đánh giá mình quá cao cũng không đánh giá mình quá thấp. Công việc kém chất lượng xảy ra khi người thiếu năng lực đảm nhiệm một vị trí, nhưng cũng lãng phí thời gian và năng lực khi những người thành thạo giữ các vị trí không cho phép họ phát huy đầy đủ kỹ năng, và ở đó những người nam và nữ ít được trang bị hơn cũng có thể làm tốt như vậy. Vì thế, tất cả những người phụng sự hãy sẵn sàng ở suốt đời trong một chức vụ không nổi bật và dường như không quan trọng, vì đó có thể là số phận của các bạn và là nơi các bạn có thể phụng sự tốt nhất; nhưng cũng hãy sẵn sàng bước sang công việc có giá trị rõ rệt hơn khi lời của Chân sư được ban ra, và khi hoàn cảnh—chứ không phải kế hoạch của người phụng sự—cho thấy thời điểm đã đến. Hãy suy ngẫm câu cuối này. |
3 – The attitude following action. – 3 – Thái độ sau hành động.
|
What should this attitude be? Utter dispassion, utter self-forgetfulness, and utter occupation with the next step to be taken. The perfect server is he who does to the utmost of his ability what he believes to be the Master’s will, and the work to be done by him in co-operation with God’s plan. Then, having done his part, he passes on to a continuance of the work, and cares not for the result of his action. He knows that wiser eyes than his see the end from the beginning; that insight, deeper and more loving than his, is weighing up the fruit of his service; and that judgment, more profound than his, is testing the force and extent of the vibration set up, and is adjusting that force according to the motive. He does not suffer from pride over what he has done, nor from undue depression over [Page 349] lack of accomplishment. At all times he does his very best, and wastes not time in backward contemplation, but steadily presses forward to the accomplishment of the next duty. Brooding over past deeds, and casting the mind back over old achievement, is in the nature of involution, and the servant seeks to work with the law of evolution. This is an important thing to note. The wise server, after action, pays no attention to what his fellow servants say, provided his superiors (either incarnating men and women, or the Great Ones Themselves) prove content or silent; he cares not if the result is not that which he anticipated, provided that he faithfully did the highest thing he knew; he cares not if reproach and reproof assail him, provided his inner self remains calm and non-accusing; he cares not if he loses friends, relatives, children, the popularity once enjoyed, and the approbation of his environing associates, provided his inner sense of contact with Those Who guide and lead remains unbroken; he cares not if he seem to work in the dark and is conscious of little result from his labors, provided the inner light increases and his conscience has nought to say. |
Thái độ này phải như thế nào? Hoàn toàn không đắm chấp, hoàn toàn quên mình, và hoàn toàn chuyên tâm vào bước kế tiếp cần thực hiện. Người phụng sự hoàn hảo là người làm hết khả năng những gì y tin là ý chí của Chân sư, và là công việc y phải thực hiện trong sự hợp tác với Thiên Cơ của Thượng đế. Rồi sau khi đã làm phần việc của mình, y tiếp tục công việc và không bận tâm đến kết quả hành động. Y biết rằng những đôi mắt sáng suốt hơn mắt y nhìn thấy kết cục ngay từ khởi đầu; rằng sự thấu triệt sâu sắc hơn và đầy tình thương hơn sự thấu triệt của y đang cân nhắc thành quả phụng sự của y; và rằng sự phán đoán sâu xa hơn sự phán đoán của y đang khảo nghiệm sức mạnh và phạm vi của rung động đã tạo ra, đồng thời điều chỉnh mãnh lực ấy theo động cơ. Y không khổ vì kiêu hãnh về những gì mình đã làm, cũng không quá chán nản vì [Page 349] thiếu thành tựu. Mọi lúc, y đều làm hết sức mình, không lãng phí thời gian để chiêm ngưỡng lại quá khứ, mà đều đặn tiến tới hoàn thành bổn phận kế tiếp. Miên man nghĩ về những việc đã qua và đưa thể trí trở lại những thành tựu cũ thuộc bản chất của giáng hạ tiến hoá, trong khi người phụng sự tìm cách hoạt động cùng định luật thăng thượng tiến hoá. Đây là điều quan trọng cần lưu ý. Sau hành động, người phụng sự sáng suốt không chú ý đến lời của những người đồng phụng sự, miễn là các bậc cao hơn y (dù là những người nam và nữ đang nhập thể hay chính Các Đấng Cao Cả) tỏ ra hài lòng hoặc im lặng; y không bận tâm nếu kết quả không như mình dự kiến, miễn là y đã tận tâm làm điều cao nhất mình biết; y không bận tâm nếu những lời trách móc và khiển trách tấn công mình, miễn là bản ngã bên trong vẫn bình thản và không tự kết tội; y không bận tâm nếu mất bạn bè, thân quyến, con cái, sự mến mộ từng có và sự tán thành của những người cộng sự xung quanh, miễn là cảm thức tiếp xúc bên trong với các Đấng hướng dẫn và dẫn dắt vẫn không gián đoạn; y không bận tâm nếu dường như mình làm việc trong bóng tối và nhận biết rất ít kết quả từ công sức, miễn là ánh sáng bên trong tăng lên và lương tâm không có điều gì để trách. |
|
To sum it all up:— |
Tóm lại tất cả:— |
|
The motive may be epitomized in these few words:—The sacrifice of the personal self for the good of the One Self. |
Có thể tóm lược động cơ trong vài lời này:—Hi sinh bản ngã cá nhân vì lợi ích của Bản Ngã Duy Nhất. |
|
The method may also be shortly put:—Wise control of the personality, and discrimination in work and time. |
Phương pháp cũng có thể trình bày ngắn gọn:—Kiểm soát sáng suốt phàm ngã, và phân biện trong công việc cũng như thời gian. |
|
The resultant attitude will be:—Complete dispassion, and a growing love of the unseen and the real. |
Thái độ phát sinh sẽ là:—Hoàn toàn không đắm chấp, và tình thương ngày càng tăng đối với điều vô hình và chân thực. |
|
All this will be consummated through steady application to occult Meditation. |
Tất cả điều này sẽ hoàn tất qua việc chuyên tâm đều đặn vào Tham thiền huyền môn. |
THE ARCANE SCHOOL – TRƯỜNG ARCANE
|
Training for new age discipleship |
Việc huấn luyện cho địa vị đệ tử trong kỷ nguyên mới |
|
is provided by the Arcane School. |
do Trường Arcane cung cấp. |
|
The principles of the Ageless Wisdom |
Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời |
|
are presented through esoteric meditation, |
được trình bày qua tham thiền nội môn, |
|
study and service as a way of life. |
học tập và phụng sự như một lối sống. |
|
Contact the publishers for information. |
Xin liên hệ nhà xuất bản để biết thông tin. |
GLOSSARY – BẢNG THUẬT NGỮ
|
Adept. A Master, or human being who, having traversed the path of evolution and entered upon the final stage of that path, the Path of Initiation, has taken five of the Initiations, and has therefore passed into the Fifth, or Spiritual kingdom, having but two more Initiations to take. |
Chân sư. Một Chân sư, hay con người đã đi qua con đường tiến hoá và bước vào giai đoạn cuối cùng của con đường ấy, Con Đường Điểm Đạo, đã trải qua năm lần Điểm Đạo, và do đó đã bước vào giới thứ năm, hay giới tinh thần, chỉ còn hai lần Điểm Đạo nữa phải trải qua. |
|
Adi. The First; the primeval; the atomic plane of the solar system; the highest of the seven planes. |
Adi. Cái Thứ Nhất; nguyên sơ; cõi nguyên tử của hệ mặt trời; cõi cao nhất trong bảy cõi. |
|
Agni. The Lord of Fire in the Vedas. The oldest and most revered of the Gods in India. One of the three great deities Agni, Vayu and Surya, and also all the three, as he is the triple aspect of fire; fire is the essence of the solar system. The Bible says: “Our God is a consuming fire.” It is also the symbol of the mental plane of which Agni is paramountly lord. |
Agni. Chúa Tể của Lửa trong kinh Veda. Vị Thần cổ xưa nhất và được tôn kính nhất ở Ấn Độ. Một trong ba vị thần vĩ đại Agni, Vayu và Surya, đồng thời cũng là cả ba, vì Ngài là phương diện tam phân của lửa; lửa là tinh chất của hệ mặt trời. Kinh Thánh nói: “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.” Đó cũng là biểu tượng của cõi trí, mà Agni là Chúa Tể tối cao. |
|
Agnichaitans. A group of fire devas. |
Agnichaitan. Một nhóm thiên thần lửa. |
|
Atlantis. The continent that was submerged in the Atlantic Ocean, according to the occult teaching and Plato. Atlantis was the home of the Fourth Root Race, whom we now call the Atlanteans. |
Atlantis. Lục địa đã chìm dưới Đại Tây Dương, theo giáo huấn huyền bí và Plato. Atlantis là quê hương của Giống dân gốc thứ tư, những người mà ngày nay chúng ta gọi là người Atlantis. |
|
Antahkarana. The path, or bridge, between higher and lower mind, serving as a medium of communication between the two. It is built by the aspirant himself in mental matter. |
Antahkarana. Con đường, hay cây cầu, giữa Thượng trí và Hạ trí, đóng vai trò trung gian giao tiếp giữa hai bên. Chính người chí nguyện xây dựng nó bằng vật chất trí. |
|
Ashram. The center to which the Master gathers the disciples and aspirants for personal instruction. |
Ashram. Trung tâm nơi Chân sư quy tụ các đệ tử và người chí nguyện để chỉ dạy riêng. |
|
Atma. The Universal Spirit; the divine Monad; the seventh Principle; so called in the septenary constitution of man. (See diagram in Introduction.) [Page 351] |
Atma. Tinh thần Vũ trụ; Chân thần thiêng liêng; Nguyên khí thứ bảy; được gọi như vậy trong cấu tạo thất phân của con người. (Xem sơ đồ trong phần Dẫn Nhập.) [Page 351] |
|
Atomic subplane. The matter of the solar system is divided by the occultists into seven planes or states, the highest of which is the atomic plane. Similarly, each of the seven planes is divided into seven subplanes, of which the highest is called the atomic subplane. There are therefore forty-nine subplanes, and seven of these are atomic. |
Cõi phụ nguyên tử. Các nhà huyền bí học chia vật chất của hệ mặt trời thành bảy cõi hay trạng thái, trong đó cao nhất là cõi nguyên tử. Tương tự, mỗi cõi trong bảy cõi được chia thành bảy cõi phụ, trong đó cao nhất gọi là cõi phụ nguyên tử. Vì vậy có bốn mươi chín cõi phụ, và bảy cõi trong số đó là nguyên tử. |
|
Aura. A subtle invisible essence or fluid which emanates from human and animal bodies, and even from things. It is a psychic effluvium, partaking of both mind and body. It is electro-vital, and also electro-mental. |
Hào quang. Một tinh chất hay lưu chất tinh tế, vô hình, phát xạ từ thân thể con người và động vật, thậm chí từ đồ vật. Đó là một sự toả phát thông linh, mang cả tính chất của trí lẫn thân thể. Nó có tính điện-sinh lực, đồng thời có tính điện-trí tuệ. |
|
Auric egg. An appellation that has been given to the causal body owing to its form. |
Noãn hào quang. Một tên gọi dành cho thể nguyên nhân do hình dạng của nó. |
|
Bodhisattva. Literally, he whose consciousness has become intelligence, or buddhi. Those who need but one more incarnation to become perfect buddhas. As used in these letters the Bodhisattva is the name of the office which is at present occupied by the Lord Maitreya, Who is known in the Occident as the Christ. This office might be translated as that of World Teacher. The Bodhisattva is the Head of all the religions of the world, and the Master of the Masters and the Teacher of angels and of men. |
Đức Bồ Tát. Theo nghĩa đen, người có tâm thức đã trở thành trí thông tuệ, hay Bồ đề. Những vị chỉ cần thêm một kiếp nhập thể nữa để trở thành các vị Phật hoàn hảo. Theo cách dùng trong những thư này, Đức Bồ Tát là tên của chức vị hiện do Đức Maitreya đảm nhiệm, Đấng được biết đến ở phương Tây là Đức Christ. Chức vị này có thể dịch là Đức Chưởng Giáo. Đức Bồ Tát là Đấng đứng đầu mọi tôn giáo trên thế giới, là Chân sư của các Chân sư và Huấn sư của các thiên thần cùng nhân loại. |
|
Buddha (The). The name given to Gautama. Born in India about B.C. 621, he became a full buddha in B.C. 592. The Buddha is one who is the “Enlightened”, and has attained the highest degree of knowledge possible for man in this solar system. |
Đức Phật. Danh xưng dành cho Đức Gautama. Sinh tại Ấn Độ khoảng năm 621 trước Công nguyên, Ngài trở thành một vị Phật viên mãn vào năm 592 trước Công nguyên. Đức Phật là Đấng “Giác Ngộ”, đã đạt mức tri thức cao nhất mà con người có thể đạt được trong hệ mặt trời này. |
|
Buddhi. The Universal Soul or Mind. It is the spiritual soul in man (the Sixth Principle) and therefore the vehicle of Atma, the Spirit, which is the Seventh Principle. [Page 352] |
Bồ đề. Linh hồn hay Trí tuệ Vũ trụ. Đó là linh hồn tinh thần trong con người (Nguyên khí thứ sáu), và vì vậy là hiện thể của Atma, Tinh thần, vốn là Nguyên khí thứ bảy. [Page 352] |
|
Causal Body. This body is, from the standpoint of the physical plane, no body, either subjective or objective. It is, nevertheless, the center of the egoic consciousness, and is formed of the conjunction of buddhi and manas. It is relatively permanent and lasts throughout the long cycle of incarnations, and is only dissipated after the fourth initiation, when the need for further rebirth on the part of a human being no longer exists. |
Thể nguyên nhân. Từ quan điểm của cõi hồng trần, thể này không phải là một thân thể, dù chủ quan hay khách quan. Tuy nhiên, nó là trung tâm của tâm thức chân ngã, và hình thành từ sự kết hợp của Bồ đề và manas. Nó tương đối bền vững, tồn tại suốt chu kỳ nhập thể lâu dài, và chỉ tiêu tan sau lần điểm đạo thứ tư, khi con người không còn nhu cầu tái sinh nữa. |
|
Chohan. Lord, Master, a Chief. In this book it refers to those Adepts who have gone on and taken the sixth initiation. |
Chohan. Chúa Tể, Chân sư, một vị đứng đầu. Trong sách này, từ ấy chỉ những Chân sư đã tiến xa hơn và trải qua lần điểm đạo thứ sáu. |
|
Deva (or Angel). A god. In Sanskrit a resplendent deity. A Deva is a celestial being, whether good, bad, or indifferent. Devas are divided into many groups, and are called not only angels and archangels, but lesser and greater builders. |
Thiên thần (hay Sứ giả thiên giới). Một vị thần. Trong tiếng Phạn, là một vị thần rực rỡ. Thiên thần là một sinh linh thiên giới, dù thiện, ác hay trung tính. Các thiên thần được chia thành nhiều nhóm, không chỉ được gọi là thiên thần và tổng lãnh thiên thần, mà còn là các vị tiểu kiến tạo và các đấng đại kiến tạo. |
|
Egoic Groups. On the third subplane of the fifth plane, the mental, are found the causal bodies of the individual men and women. These bodies, which are the expression of the Ego, or of the individualized self-consciousness, are gathered together into groups according to the ray or quality of the particular Ego involved. |
Các Nhóm Chân Ngã. Trên cõi phụ thứ ba của cõi thứ năm, tức cõi trí, có các thể nguyên nhân của từng người nam và nữ. Những thể nguyên nhân này, vốn là biểu hiện của chân ngã, hay của ngã thức đã biệt ngã hóa, tập hợp thành các nhóm tùy theo cung hoặc phẩm tính của chân ngã cụ thể ấy. |
|
Elementals. The Spirits of the Elements; the creatures involved in the four kingdoms, or elements, Earth, Air, Fire, and Water. Except a few of the higher kinds and their rulers they are forces of nature more than ethereal men and women. |
Các hành khí. Các tinh linh của những Nguyên tố; các sinh linh thuộc bốn giới, hay bốn nguyên tố: Đất, Khí, Lửa và Nước. Ngoại trừ một số ít loại cao cấp và các đấng cai quản chúng, chúng là những mãnh lực của tự nhiên hơn là những người nam và nữ có thân hình thanh nhẹ. |
|
Etheric body. (Etheric double.) The physical body of a human being is, according to occult teaching, formed of two parts, the dense physical body, and the etheric body. The dense physical body is formed [Page 353] of matter of the lowest three subplanes of the physical plane. The etheric body is formed of the four highest or etheric subplanes of the physical plane. |
Thể dĩ thái. (Bản sao dĩ thái.) Theo giáo lý huyền bí, thể xác của con người gồm hai phần: thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. Thể xác đậm đặc cấu thành [Page 353] từ vật chất của ba cõi phụ thấp nhất thuộc cõi hồng trần. Thể dĩ thái cấu thành từ bốn cõi phụ cao nhất, hay các cõi phụ dĩ thái, thuộc cõi hồng trần. |
|
Fifth Principle. The principle of mind; that faculty in man which is the intelligent thinking principle, and which differentiates man from the animals. |
Nguyên khí thứ năm. Nguyên khí trí; năng lực nơi con người vốn là nguyên khí tư duy thông minh, và phân biệt con người với động vật. |
|
Fohat. Cosmic electricity; primordial light; the ever-present electrical energy; the universal propelling vital force; the ceaseless destructive and formative power; the synthesis of the many forms of electrical phenomena. |
Fohat. Điện vũ trụ; ánh sáng nguyên sơ; năng lượng điện luôn hiện hữu; mãnh lực sinh động thúc đẩy toàn vũ trụ; quyền năng hủy diệt và tạo hình không ngừng; sự tổng hợp của nhiều hình thức hiện tượng điện. |
|
Guru. Spiritual Teacher. A Master in metaphysical and ethical doctrines. |
Guru. Huấn sư tinh thần. Một bậc thầy về các giáo lý siêu hình và đạo đức. |
|
Hierarchy. That group of spiritual beings on the inner planes of the solar system who are the intelligent forces of nature, and who control the evolutionary processes. They are themselves divided into twelve Hierarchies. Within our planetary scheme, the earth scheme, there is a reflection of this Hierarchy which is called by the occultist the Occult Hierarchy. This Hierarchy is formed of chohans, adepts, and initiates working through their disciples, and, by this means, in the world. (See diagram, page 254.) |
Huyền Giai. Nhóm các sinh mệnh tinh thần trên những cõi bên trong của hệ mặt trời, vốn là các mãnh lực thông minh của tự nhiên và điều khiển các tiến trình tiến hoá. Các Ngài chia thành mười hai Huyền Giai. Trong hệ hành tinh của chúng ta, hệ hành tinh Trái Đất, có một sự phản chiếu của Huyền Giai này mà nhà huyền bí học gọi là Thánh đoàn Huyền bí. Thánh đoàn này gồm các chohan, chân sư và điểm đạo đồ hoạt động thông qua các đệ tử của Các Ngài, và nhờ đó hoạt động trong thế gian. (Xem sơ đồ, trang 254.) |
|
Initiate. From the Latin root meaning the first principles of any science. One who is penetrating into the mysteries of the science of the Self and of the one self in all selves. The Path of Initiation is the final stage of the path of evolution trodden by man, and is divided into five stages, called the Five Initiations. |
Điểm đạo đồ. Từ gốc tiếng La-tinh có nghĩa là những nguyên lý đầu tiên của bất kỳ ngành khoa học nào. Người đang thâm nhập những bí nhiệm của khoa học về Bản Ngã và về bản ngã duy nhất trong mọi bản ngã. Con Đường Điểm Đạo là giai đoạn cuối cùng của con đường tiến hoá mà con người bước đi, và chia thành năm giai đoạn, gọi là Năm Cuộc Điểm Đạo. |
|
Jiva. A separated unit of consciousness. |
Jiva. Một đơn vị tâm thức riêng biệt. |
|
Kali yuga. “ Yuga” is an age or cycle. According to the Indian philosophy our evolution is divided into four yugas or cycles. The Kali-yuga is the present age. It means the “Black Age”, a period of 432,000 years. [Page 354] |
Kali yuga. “Yuga” là một thời đại hay chu kỳ. Theo triết học Ấn Độ, sự tiến hoá của chúng ta chia thành bốn yuga hay chu kỳ. Kali-yuga là thời đại hiện nay. Từ này có nghĩa là “Thời Đại Đen Tối”, một thời kỳ kéo dài 432.000 năm. [Page 354] |
|
Karma. Physical action. Metaphysically, the law of retribution; the law of cause and effect, or ethical causation. There is the karma of merit and the karma of demerit. It is the power that controls all things, the resultant of moral action, or the moral effect of an act committed for the attainment of something which gratifies a personal desire. |
Nghiệp quả. Hành động hồng trần. Về mặt siêu hình, đây là định luật báo ứng; định luật nhân quả, hay quan hệ nhân quả về đạo đức. Có nghiệp quả thiện và nghiệp quả bất thiện. Đó là quyền năng điều khiển mọi sự, là kết quả của hành động đạo đức, hay hậu quả đạo đức của một hành vi nhằm đạt được điều gì đó thỏa mãn một dục vọng cá nhân. |
|
Kumaras. The highest seven self-conscious beings in the solar system. These seven Kumaras manifest through the medium of a planetary scheme in the same way as a human being manifests through the medium of a physical body. They are called by the Hindu “the mind-born sons of Brahma” amongst other names. They are the sum total of intelligence and of wisdom. Within the planetary scheme the reflection of the systemic order is also seen. At the head of our world evolution stands the first Kumara, aided by six other Kumaras, three exoteric and three esoteric, Who are the focal points for the distribution of the force of the systemic Kumaras. |
Các Kumara. Bảy Đấng có ngã thức cao nhất trong hệ mặt trời. Bảy Đấng Kumara này biểu hiện thông qua một hệ hành tinh, cũng như con người biểu hiện thông qua một thể xác. Trong số những danh xưng khác, người theo Ấn giáo gọi Các Ngài là “những người con sinh ra từ trí tuệ của Brahma”. Các Ngài là toàn bộ trí thông minh và minh triết. Trong hệ hành tinh, cũng có thể thấy sự phản chiếu của trật tự trong hệ mặt trời. Đứng đầu sự tiến hoá của thế giới chúng ta là Đấng Kumara thứ nhất, với sự trợ giúp của sáu Đấng Kumara khác, ba Đấng ngoại môn và ba Đấng nội môn, vốn là những tiêu điểm phân phối mãnh lực của các Đấng Kumara thuộc hệ mặt trời. |
|
Kundalini. The power of Life: one of the forces of nature. It is a power known only to those who practice concentration in yoga, and is centered within the spine. |
Kundalini. Quyền năng của Sự Sống: một trong những mãnh lực của tự nhiên. Chỉ những người thực hành tập trung trong yoga mới biết quyền năng này; nó tập trung trong cột sống. |
|
Lemuria. A modern term first used by some naturalists and now adopted by Theosophists to indicate a continent that, according to the Secret Doctrine of the East, preceded Atlantis. It was the home of the third root race. |
Lemuria. Một thuật ngữ hiện đại do một số nhà tự nhiên học sử dụng đầu tiên, nay được các nhà Thông Thiên Học tiếp nhận để chỉ một lục địa mà theo Giáo Lý Bí Nhiệm của phương Đông, đã có trước Atlantis. Đó là quê hương của giống dân gốc thứ ba. |
|
Logos. The deity manifested through every nation and people. The outward expression, or the effect of the cause which is ever concealed. Thus, speech is the [Page 355] Logos of thought, hence it is aptly translated by the “verbum” and the “word” in its metaphysical sense. (See John I:1-3.) |
Thượng đế. Thượng đế biểu hiện thông qua mọi quốc gia và dân tộc. Biểu hiện bên ngoài, hay kết quả của nguyên nhân luôn ẩn kín. Như vậy, lời nói là [Page 355] Thượng đế của tư tưởng, vì thế từ này được dịch thích hợp thành “lời” và “Linh từ” theo nghĩa siêu hình. (Xem Giăng I:1–3.) |
|
Lord of Civilization. (See Mahachohan.) |
Chúa Tể của Văn Minh. (Xem Đức Mahachohan.) |
|
Lords of the Flame. One of the great Hierarchies of spiritual beings who guide the solar system. They took control of the evolution of humanity upon this planet about 18 million years ago, during the middle of the Lemurian, or third root race. |
Các Chúa Tể của Ngọn Lửa. Một trong những Huyền Giai vĩ đại gồm các sinh mệnh tinh thần hướng dẫn hệ mặt trời. Các Ngài đảm nhận việc điều khiển sự tiến hoá của nhân loại trên hành tinh này cách đây khoảng 18 triệu năm, vào giữa thời kỳ Lemuria, hay giống dân gốc thứ ba. |
|
Macrocosm. The great universe, literally; or God manifesting, through His body, the solar system. |
Đại thiên địa. Theo nghĩa đen, là vũ trụ lớn; hay Thượng đế biểu hiện thông qua thân thể của Ngài là hệ mặt trời. |
|
Mahachohan. The Head of the third great department of the Hierarchy. This great being is the Lord of Civilization, and the flowering forth of the principle of intelligence. He is the embodiment on the planet of the third, or intelligence, aspect of deity in its five activities. |
Đức Mahachohan. Đấng đứng đầu ban lớn thứ ba của Thánh đoàn. Đấng vĩ đại này là Chúa Tể của Văn Minh, và là sự nở rộ của nguyên khí trí thông minh. Ngài là hiện thân trên hành tinh của phương diện thứ ba, hay phương diện trí thông minh, của Thượng đế trong năm hoạt động của phương diện ấy. |
|
Mahamanvantara. The great period of time of an entire solar system. This term is applied to the greater solar cycles. It implies a period of universal activity. |
Đại giai kỳ sinh hóa. Thời kỳ lớn của toàn bộ một hệ mặt trời. Thuật ngữ này áp dụng cho những chu kỳ mặt trời lớn hơn. Nó hàm ý một thời kỳ hoạt động của toàn vũ trụ. |
|
Manas, or Manasic Principle. Literally, the Mind, the mental faculty; that which distinguishes man from the mere animal. It is the individualizing principle; that which enables man to know that he exists, feels, and knows. It is divided in some schools into two parts, higher or abstract mind, and lower or concrete mind. |
Manas, hay Nguyên khí manas. Theo nghĩa đen, là Trí Tuệ, năng lực trí tuệ; điều phân biệt con người với loài vật thuần túy. Đó là nguyên khí biệt ngã hóa; điều giúp con người biết rằng y hiện hữu, cảm nhận và biết. Một số trường phái chia nguyên khí này thành hai phần: thượng trí hay trí trừu tượng, và hạ trí hay trí cụ thể. |
|
Mantrams. Verses from the Vedas. In the exoteric sense a mantram (or that psychic faculty or power that conveys perception or thought) is the older portion of the Vedas, the second part of which is composed of the Brahmanas. In esoteric phraseology mantram is the word made flesh, or rendered objective [Page 356] through divine magic. A form of words or syllables rhythmically arranged, so that when sounded certain vibrations are generated. |
Các mantram. Những câu kệ trong kinh Veda. Theo nghĩa ngoại môn, một mantram (hay năng lực hoặc quyền năng thông linh truyền đạt tri giác hoặc tư tưởng) là phần cổ hơn của kinh Veda, phần thứ hai của bộ kinh này gồm các Brahmana. Theo thuật ngữ nội môn, mantram là Linh từ trở thành xác thân, hay trở nên khách quan [Page 356] thông qua huyền thuật thiêng liêng. Một dạng từ ngữ hay âm tiết sắp xếp theo nhịp điệu, sao cho khi xướng lên sẽ tạo ra những rung động nhất định. |
|
Manu. The representative name of the great Being Who is the Ruler, primal progenitor and chief of the human race. It comes from the Sanskrit root “man”—to think. |
Đức Manu. Danh xưng đại diện cho Đấng vĩ đại là Đấng Cai Quản, vị thủy tổ nguyên sơ và người đứng đầu nhân loại. Danh xưng này bắt nguồn từ gốc tiếng Phạn “man” — tư duy. |
|
Manvantara. A period of activity as opposed to a period of rest, without reference to any specific length of cycle. Frequently used to express a period of planetary activity and its seven races. |
Giai kỳ sinh hóa. Một thời kỳ hoạt động đối lập với một thời kỳ nghỉ ngơi, không gắn với độ dài cụ thể nào của chu kỳ. Thường dùng để diễn đạt một thời kỳ hoạt động của hành tinh cùng bảy giống dân của nó. |
|
Maya. Sanskrit, “Illusion.” Of the principle of form or limitation. The result of manifestation. Generally used in a relative sense for phenomena or objective appearances that are created by the mind. |
Ảo lực. Tiếng Phạn, “Ảo tưởng”. Thuộc nguyên khí hình tướng hay giới hạn. Kết quả của sự biểu hiện. Thường dùng theo nghĩa tương đối để chỉ những hiện tượng hay vẻ ngoài khách quan do thể trí tạo ra. |
|
Mayavi Rupa. Sanskrit “Illusive Form.” It is the body of manifestation created by the adept by an act of will for use in the three worlds. It has no material connection with the physical body. It is spiritual and ethereal and passes everywhere without let or hindrance. It is built by the power of the lower mind, of the highest type of astral matter. |
Mayavi Rupa. Tiếng Phạn, “Hình Tướng Hư Ảo”. Đó là thân thể biểu hiện mà chân sư tạo ra bằng một hành động của ý chí để sử dụng trong ba cõi giới. Nó không có liên hệ vật chất với thể xác. Nó mang tính tinh thần và thanh nhẹ, có thể đi khắp nơi mà không gặp ngăn trở hay chướng ngại. Nó được kiến tạo bằng quyền năng của hạ trí, từ loại vật chất cảm dục cao nhất. |
|
Microcosm. The little universe, or man manifesting through his body, the physical body. |
Tiểu thiên địa. Vũ trụ nhỏ, hay con người biểu hiện thông qua thân thể của y, tức thể xác. |
|
Monad. The One. The threefold spirit on its own plane. In occultism it often means the unified triad—Atma, Buddhi, Manas, Spiritual Will, Intuition and Higher mind,—or the immortal part of man which reincarnates in the lower kingdoms and gradually progresses through them to man and thence to the final goal. |
Chân thần. Đấng Duy Nhất. Tinh thần tam phân trên cõi riêng của mình. Trong huyền bí học, từ này thường chỉ tam nguyên hợp nhất — Atma, Bồ đề, Manas, Ý Chí Tinh Thần, Trực Giác và Thượng trí — hay phần bất tử của con người, vốn luân hồi trong các giới thấp và dần dần tiến qua các giới ấy đến con người, rồi từ đó đến mục tiêu cuối cùng. |
|
Nirmanakaya. Those perfected beings who renounce Nirvana (the highest state of spiritual bliss) and choose a life of self-sacrifice, becoming members of [Page 357] that invisible host which ever protects humanity within karmic limits. |
Nirmanakaya. Những Đấng hoàn thiện từ bỏ Niết Bàn (trạng thái chí phúc tinh thần cao nhất) và chọn một cuộc sống tự hy sinh, trở thành thành viên của [Page 357] đoàn thể vô hình luôn bảo vệ nhân loại trong những giới hạn của nghiệp quả. |
|
Permanent atom. Those five atoms, with the mental unit, one on each of the five planes of human evolution (the mental unit being also on the mental plane) which the monad appropriates for purposes of manifestation. They form a stable center and are relatively permanent. Around them the various sheaths or bodies are built. They are literally small force centers. |
Nguyên tử trường tồn. Năm nguyên tử ấy, cùng với đơn vị hạ trí, mỗi nguyên tử nằm trên một trong năm cõi tiến hoá của con người (đơn vị hạ trí cũng nằm trên cõi trí), mà chân thần chiếm hữu để biểu hiện. Chúng tạo thành một trung tâm ổn định và tương đối trường tồn. Các lớp vỏ hay các thể làm hiện thể khác nhau được kiến tạo quanh chúng. Theo nghĩa đen, chúng là những trung tâm mãnh lực nhỏ. |
|
Planetary Logos. This term is generally applied to the seven highest spirits corresponding to the seven archangels of the Christian. They have all passed through the human stage and are now manifesting through a planet and its evolutions, in the same way that man manifests through his physical body. The highest planetary spirit working through any particular globe is, in reality, the personal God of the planet. |
Hành Tinh Thượng Đế. Thuật ngữ này thường áp dụng cho bảy Đấng tinh thần cao nhất, tương ứng với bảy tổng lãnh thiên thần của người theo Kitô giáo. Các Ngài đều đã trải qua giai đoạn con người và nay đang biểu hiện thông qua một hành tinh cùng các tiến trình tiến hoá của nó, cũng như con người biểu hiện thông qua thể xác của y. Chân Linh Hành Tinh cao nhất hoạt động thông qua một bầu hành tinh cụ thể, trên thực tế, là Thượng đế ngôi vị của hành tinh ấy. |
|
Prakriti. Derives its name from its function as the material cause of the first evolution of the universe. It may be said to be composed of two roots, “pra” to manifest, and “krita” to make; meaning, that which caused the universe to manifest itself. |
Prakriti. Tên gọi này bắt nguồn từ chức năng làm nguyên nhân vật chất của sự tiến hoá đầu tiên của vũ trụ. Có thể nói tên gọi gồm hai gốc: “pra” là biểu hiện, và “krita” là tạo ra; có nghĩa là điều khiến vũ trụ tự biểu hiện. |
|
Prana. The Life Principle, the breath of Life. The occultist believes the following statement: “Life we look upon as the one form of existence, manifesting in what is called matter, or what, incorrectly separating them, we name Spirit, Soul, and Matter in man. Matter is the vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence; soul is the vehicle for the manifestation of spirit, and these three as a trinity are synthesized by Life, which pervades them all.” [Page 358] |
Prana. Nguyên khí Sự Sống, hơi thở của Sự Sống. Nhà huyền bí học tin vào phát biểu sau: “Chúng ta xem Sự Sống là hình thức hiện hữu duy nhất, biểu hiện trong cái gọi là vật chất, hay trong những gì mà do phân chia sai lầm, chúng ta gọi là Tinh thần, Linh hồn và Vật chất nơi con người. Vật chất là hiện thể cho sự biểu hiện của Linh hồn trên cõi hiện hữu này; linh hồn là hiện thể cho sự biểu hiện của tinh thần, và ba điều này, như một Tam Vị, được tổng hợp nhờ Sự Sống thấm nhuần tất cả.” [Page 358] |
|
Parusha. The spiritual self. The embodied self. The word literally means “The dweller in the city”—that is, in the body. It is derived from the Sanskrit “pura” which means city or body, and “usha,” a derivative of the verb “vas,” to dwell. |
Parusha. Bản ngã tinh thần. Bản ngã nhập thể. Theo nghĩa đen, từ này có nghĩa là “Người cư ngụ trong thành phố” — tức là trong thân thể. Nó bắt nguồn từ tiếng Phạn “pura”, nghĩa là thành phố hay thân thể, và “usha”, một từ phái sinh của động từ “vas”, nghĩa là cư ngụ. |
|
Quaternary. The fourfold lower self, or man, in the three worlds. There are various divisions of this, but perhaps for our purpose the best is to enumerate the four as follows: |
Bộ tứ. Phàm ngã tứ phân, hay con người, trong ba cõi giới. Có nhiều cách phân chia bộ tứ này, nhưng có lẽ phù hợp nhất với mục đích của chúng ta là liệt kê bốn thành phần như sau: |
|
1. Lower mind. |
1. Hạ trí. |
|
2. Emotional or kamic body. |
2. Thể cảm dục hay thể dục vọng. |
|
3. Prana, or the Life Principle. |
3. Prana, hay Nguyên khí Sự Sống. |
|
4. The etheric body, or the highest division of the twofold physical body. |
4. Thể dĩ thái, hay phần cao nhất của thể xác nhị phân. |
|
Raja Lord. The word “Raja” simply means King or Prince; the word has been applied to those great angels or entities who ensoul the seven planes. These are great devas who are the sum total and the controlling intelligence of a plane. |
Chúa Tể Raja. Từ “Raja” đơn giản có nghĩa là Vua hay Hoàng Tử; từ này dùng để chỉ những thiên thần hay Thực Thể vĩ đại phú linh cho bảy cõi. Đây là những thiên thần vĩ đại, vốn là toàn bộ trí thông minh và trí thông minh điều khiển một cõi. |
|
Raja Yoga. The true system of developing psychic and spiritual powers and union with one’s higher self or the Ego. It involves the exercise, regulation, and concentration of thought. |
Raja Yoga. Hệ thống chân chính nhằm phát triển các quyền năng thông linh và tinh thần, cũng như hợp nhất với Bản Ngã Cao Siêu hay chân ngã của mình. Hệ thống này bao gồm việc rèn luyện, điều hòa và tập trung tư tưởng. |
|
Ray. One of the seven streams of force of the Logos; the seven great lights. Each of them is the embodiment of a great cosmic entity. The seven Rays can be divided into the three Rays of Aspect and the four Rays of Attribute, as follows: |
Cung. Một trong bảy dòng mãnh lực của Thượng đế; bảy ánh sáng vĩ đại. Mỗi dòng là hiện thân của một Thực Thể vũ trụ vĩ đại. Bảy Cung có thể chia thành ba Cung Trạng Thái và bốn Cung Thuộc Tính, như sau: |
|
Rays of Aspect |
Các Cung Trạng Thái |
|
1. The Ray of Will, or Power. |
1. Cung Ý Chí, hay Quyền Năng. |
|
2. The Ray of Love-Wisdom. |
2. Cung Bác Ái – Minh Triết. |
|
3. The Ray of Activity or Adaptability. [Page 359] |
3. Cung Hoạt Động hay Thích Nghi. [Page 359] |
|
Rays of Attribute |
Các cung thuộc tính |
|
4. The Ray of Harmony, Beauty, Art, or Unity. |
4. Cung Hài Hòa, Mỹ Lệ, Nghệ Thuật, hay Hợp Nhất. |
|
5. The Ray of Concrete Knowledge or Science. |
5. Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học. |
|
6. The Ray of Abstract Idealism or Devotion. |
6. Cung Lý Tưởng Trừu Tượng hay Sùng Tín. |
|
7. The Ray of Ceremonial Magic, or Law. |
7. Cung Huyền Thuật Nghi Lễ, hay Định luật. |
|
The above names are simply some chosen from among many, and embody the different aspects of force by means of which the Logos manifests. |
Những tên gọi trên chỉ là một số tên được chọn trong nhiều tên gọi, và thể hiện các phương diện khác nhau của mãnh lực mà qua đó Thượng đế biểu hiện. |
|
Ring-pass-not. This is at the circumference of the manifested solar system, and is the periphery of the influence of the sun, both esoterically and exoterically understood. The limit of the field of activity of the central life force. |
Vòng-giới-hạn. Vòng này nằm ở chu vi của hệ mặt trời biểu hiện, và là ranh giới ảnh hưởng của mặt trời, hiểu theo cả nghĩa nội môn lẫn ngoại môn. Giới hạn của trường hoạt động của mãnh lực sự sống trung tâm. |
|
Root Race. One of the seven races of man which evolve upon a planet during the great cycle of planetary existence. This cycle is called a world period. The Aryan root race, to which the Hindu, European, and modern American races belong, is the fifth, the Chinese and Japanese belonging to the fourth race. |
Giống dân gốc. Một trong bảy giống dân của nhân loại tiến hoá trên một hành tinh trong chu kỳ lớn của sự hiện hữu hành tinh. Chu kỳ này gọi là một thời kỳ thế giới. Giống dân gốc Arya, bao gồm các dân tộc Ấn Độ, châu Âu và châu Mỹ hiện đại, là giống dân thứ năm; người Trung Quốc và Nhật Bản thuộc giống dân thứ tư. |
|
Sensa, or Senzar. The name for the secret sacerdotal language, or the “mystery speech” of the initiated adepts all over the world. It is a universal language, and largely a hieroglyphic cypher. |
Sensa, hay Senzar. Tên gọi của ngôn ngữ tư tế bí truyền, hay “ngôn ngữ bí nhiệm” của các chân sư đã được điểm đạo trên khắp thế giới. Đó là một ngôn ngữ phổ quát, và phần lớn là một hệ mật mã tượng hình. |
|
Shamballa. The City of the Gods, which is in the West to some nations, in the East to others, in the North or South to yet others. It is the sacred island in the Gobi Desert. It is the home of mysticism and the Secret Doctrine. |
Shamballa. Thành Phố của các Thượng đế, nằm ở phương Tây đối với một số dân tộc, ở phương Đông đối với những dân tộc khác, và ở phương Bắc hay phương Nam đối với những dân tộc khác nữa. Đó là hòn đảo thiêng liêng trong sa mạc Gobi. Đó là quê hương của Thần bí học và Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
Triad. The spiritual Man; the expression of the monad. It is the germinal spirit containing the potentialities of divinity. These potentialities will be unfolded [Page 360] during the course of evolution. This Triad forms the individualized or separated self, or Ego. |
Tam nguyên tinh thần. Con Người tinh thần; biểu hiện của chân thần. Đó là tinh thần ở dạng mầm, chứa đựng những tiềm năng của thiên tính. Những tiềm năng này sẽ khai mở [Page 360] trong quá trình tiến hoá. Tam nguyên tinh thần này tạo thành bản ngã đã biệt ngã hóa hay riêng biệt, tức chân ngã. |
|
Viveka. The Sanskrit “discrimination”. The very first step in the path of occultism……is the discrimination between the real and the unreal, between substance and phenomenon, between the Self and the Not-self, between spirit and matter. |
Viveka. Tiếng Phạn, “phân biện”. Bước đầu tiên trên con đường huyền bí học……là sự phân biện giữa cái thực và cái không thực, giữa chất liệu và hiện tượng, giữa Bản Ngã và Phi Ngã, giữa tinh thần và vật chất. |
|
Wesak. A festival which takes place in the Himalayas at the full moon of May (Taurus). It is said that at this festival, at which all the members of the Hierarchy are present, the Buddha, for a brief period, renews his touch and association with the work of our planet. |
Wesak. Một lễ hội diễn ra ở dãy Himalaya vào kỳ trăng tròn tháng Năm (Kim Ngưu). Người ta nói rằng tại lễ hội này, với sự hiện diện của tất cả thành viên Thánh đoàn, Đức Phật trong một thời gian ngắn lại tiếp xúc và gắn kết với công việc của hành tinh chúng ta. |
|
Yoga. 1. One of the six schools of India, said to be founded by Patanjali, but really of much earlier origin. 2. The practice of Meditation, as a means of leading to spiritual liberation. |
Yoga. 1. Một trong sáu trường phái của Ấn Độ, được cho là do Patanjali sáng lập, nhưng thực ra có nguồn gốc sớm hơn nhiều. 2. Việc thực hành tham thiền như một phương tiện dẫn đến giải thoát tinh thần. |
|
Note: This glossary does not undertake fully to explain all the above terms. It is simply an attempt to render into English certain words used in this book, so that the reader may understand their connotation. The majority of the definitions have been culled from the Theosophical Glossary, The Secret Doctrine, and the Voice of the Silence. |
Ghi chú: Bảng thuật ngữ này không nhằm giải thích đầy đủ tất cả những thuật ngữ trên. Đây chỉ là một nỗ lực chuyển sang tiếng Anh một số từ dùng trong sách này, để người đọc có thể thấu hiểu hàm nghĩa của chúng. Phần lớn các định nghĩa được trích chọn từ Bảng Thuật Ngữ Thông Thiên Học, Giáo Lý Bí Nhiệm và Tiếng Nói của Im Lặng. |