
Table of Contents – Mục Lục
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN
CHAPTER I – The Objective of the New Education – CHƯƠNG I – Mục Tiêu của Nền Giáo Dục Mới
Introductory Statements – Các Phát Biểu Dẫn Nhập
Some Questions Answered – Một Số Câu Hỏi Được Giải Đáp
Theory, Methods and Goals – Lý Thuyết, Phương Pháp và Mục Tiêu
Coordination and Integration – Sự Điều Hợp và Sự Tích Hợp
CHAPTER II – The Cultural Unfoldment of the Race – CHƯƠNG II – Sự Khai Mở Văn Hóa của Nhân Loại
Civilisation and Culture – Văn Minh và Văn Hóa
The Process of Unfoldment – Tiến Trình Khai Mở
The Nature of Esotericism – Bản Chất của Huyền Bí Học
The Present Transition Period – Thời Kỳ Chuyển Tiếp Hiện Nay
The Aquarian Age – Thời Đại Bảo Bình
CHAPTER IV – The Culture of the Individual – CHƯƠNG IV – Văn Hóa của Cá Nhân..
The Angle of Citizenship – Góc Độ Quyền Công Dân
The World Situation and Ideologies – Tình Hình Thế Giới và Các Hệ Tư Tưởng
Reasons for the Present World Unrest – Những Nguyên Nhân của Tình Trạng Bất Ổn Thế Giới Hiện Nay
The Angle of Parenthood – Góc Độ Làm Cha Mẹ
Trends Indicative of Future Developments – Những Khuynh Hướng Chỉ Dấu Các Phát Triển Tương Lai
The Angle of Personality Control – Góc Độ Kiểm Soát Phàm Ngã
CHAPTER V – The Science of the Antahkarana – CHƯƠNG V – Khoa Học Antahkarana
ARCANE SCHOOL TRAINING – HUẤN LUYỆN CỦA TRƯỜNG ARCANE
|
EDUCATION |
GIÁO DỤC |
|
IN THE |
TRONG |
|
NEW AGE |
KỶ NGUYÊN MỚI |
|
by |
của |
|
ALICE A. BAILEY |
ALICE A. BAILEY |
|
INDEX EDITION |
ẤN BẢN CÓ MỤC LỤC |
|
CÁC TÁC PHẨM CỦA ALICE A. BAILEY |
|
|
Initiation, Human and Solar |
Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương |
|
Letters on Occult Meditation |
Thư Về Tham thiền Huyền môn |
|
The Consciousness of the Atom |
Tâm Thức của Nguyên Tử |
|
A Treatise on Cosmic Fire |
Luận về Lửa Vũ Trụ |
|
The Light of the Soul |
Ánh Sáng của Linh Hồn |
|
The Soul and its Mechanism |
Linh Hồn và Bộ Máy của Nó |
|
From Intellect to Intuition |
Từ Trí Năng đến Trực Giác |
|
A Treatise on White Magic |
Luận về Chánh Thuật |
|
From Bethlehem to Calvary |
Từ Bethlehem đến Calvary |
|
Discipleship in the New Age–Vol. I |
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển I |
|
Discipleship in the New Age–Vol. II |
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển II |
|
Problems of Humanity |
Các Vấn Đề của Nhân Loại |
|
The Reappearance of the Christ |
Sự Tái Lâm của Đức Christ |
|
The Destiny of the Nations |
Định Mệnh của Các Quốc Gia |
|
Glamour: A World Problem |
Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới |
|
Telepathy and the Etheric Vehicle |
Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái |
|
The Unfinished Autobiography |
Tự Truyện Chưa Hoàn Tất |
|
Education in the New Age |
Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới |
|
The Externalisation of the Hierarchy |
Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn |
|
A Treatise on the Seven Rays: |
Luận về Bảy Cung: |
|
Vol. I–Esoteric Psychology |
Quyển I–Tâm Lý Học Nội Môn |
|
Vol. II–Esoteric Psychology |
Quyển II–Tâm Lý Học Nội Môn |
|
Vol. III–Esoteric Astrology |
Quyển III–Chiêm Tinh Học Nội Môn |
|
Vol. IV–Esoteric Healing |
Quyển IV–Trị Liệu Huyền Môn |
|
Vol. V–The Rays and the Initiations |
Quyển V–Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo |
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
|
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names. |
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi. |
|
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master. |
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các huấn sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư. |
|
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said. |
Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với vẻ hết sức kính cẩn) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói. |
|
AUGUST 1934 |
THÁNG TÁM 1934 |
THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |
|
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.” |
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.” |
|
ALICE A. BAILEY |
PREFACE – Educational Trends in a World Crisis – LỜI TỰA – Các Khuynh Hướng Giáo Dục trong Một Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới
|
[v] This book on educational philosophy comes at a time of crisis, for the theme that runs through critical thinking in the field of educational theory today is characterized by deep concern over both the preservation and the enrichment of human values. Can we maintain our democratic individualism in the face of the standardizing forces of the Western machine civilization which may also engulf the Eastern world? Can we offset the totalitarianisms which deify the materialism of an increasingly industrial culture? |
[v] Cuốn sách này về triết học giáo dục xuất hiện vào một thời điểm khủng hoảng, vì chủ đề xuyên suốt tư duy phê phán trong lĩnh vực lý thuyết giáo dục ngày nay được đặc trưng bởi mối quan tâm sâu sắc đến cả việc bảo tồn lẫn làm phong phú các giá trị nhân văn. Chúng ta có thể duy trì chủ nghĩa cá nhân dân chủ của mình trước các mãnh lực chuẩn hóa của nền văn minh máy móc phương Tây, vốn cũng có thể nuốt chửng thế giới phương Đông, hay không? Chúng ta có thể hóa giải những chế độ toàn trị đang thần thánh hóa chủ nghĩa duy vật của một nền văn hóa ngày càng công nghiệp hóa hay không? |
|
In May of this year (1953) I attended a two-day seminar in Chicago, sponsored by The Center for the Study of Liberal Education for Adults, a subdivision of the Ford Foundation, created to express the growing concern of our times for the spiritual basis of our civilization. In the statement of the problem which our group was to study, Education in a Democratic Society, we were informed as follows: |
Vào tháng Năm năm nay (1953), Tôi tham dự một hội thảo hai ngày tại Chicago, do Trung Tâm Nghiên Cứu Giáo Dục Khai Phóng cho Người Lớn, một phân bộ của Quỹ Ford, bảo trợ; trung tâm này được thành lập để diễn đạt mối quan tâm ngày càng lớn của thời đại chúng ta đối với nền tảng tinh thần của nền văn minh chúng ta. Trong bản trình bày vấn đề mà nhóm chúng tôi sẽ nghiên cứu, Giáo Dục trong Một Xã Hội Dân Chủ, chúng tôi được thông báo như sau: |
|
“Education must meet the needs of the human spirit. It must assist persons to develop a satisfactory personal philosophy and sense of values, to cultivate tastes for literature, music and the arts; to grow in ability to analyze problems and arrive at thoughtful conclusions.” |
“Giáo dục phải đáp ứng các nhu cầu của tinh thần con người. Nó phải trợ giúp con người phát triển một triết lý cá nhân và ý thức về giá trị thỏa đáng, nuôi dưỡng thị hiếu đối với văn học, âm nhạc và nghệ thuật; phát triển khả năng phân tích các vấn đề và đi đến những kết luận chín chắn.” |
|
This statement demands a re-examination of our educational theory and practice. A survey of current developments proves that, at long last, the professional educators are clarifying a common philosophy and are consciously striving to delineate a theory of education adequate to the new world that is emerging. In such a philosophy three fundamental needs must be met: (l) a psychological theory of the human person to be “educated”; (2) a social theory of the kind of [vi] society one is trying to create or preserve as a suitable home for the cultural ideals promulgated; and (3) a world view or cosmology, a theory of man’s place in the universe in which man is spectator and actor. |
Phát biểu này đòi hỏi phải xem xét lại lý thuyết và thực hành giáo dục của chúng ta. Một cuộc khảo sát các phát triển hiện nay chứng minh rằng, rốt cuộc, các nhà giáo dục chuyên nghiệp đang làm sáng tỏ một triết lý chung và đang nỗ lực một cách có ý thức để phác họa một lý thuyết giáo dục tương xứng với thế giới mới đang xuất hiện. Trong một triết lý như vậy, ba nhu cầu căn bản phải được đáp ứng: (1) một lý thuyết tâm lý về con người sẽ được “giáo dục”; (2) một lý thuyết xã hội về loại [vi] xã hội mà người ta đang cố gắng tạo dựng hoặc bảo tồn như một mái nhà thích hợp cho các lý tưởng văn hóa được truyền bá; và (3) một thế giới quan hay vũ trụ luận, một lý thuyết về vị trí của con người trong vũ trụ, trong đó con người vừa là khán giả vừa là diễn viên. |
|
Our problem is to attain the kind of overall synthesis that Marxism and neo-Scholasticism provide for their followers, but to get this by the freely chosen cooperative methods that Dewey advocated. In the broadest terms such a world-view will make possible a planetary civilization by integrating whatever trans-temporal and trans-spatial truths about man and the universe we can extract from all regional cultures in their local times and places. These universal principles will then provide the norms for Education in the New Age, as the Tibetan terms it. |
Vấn đề của chúng ta là đạt tới loại tổng hợp toàn diện mà chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Kinh viện mới cung cấp cho các tín đồ của chúng, nhưng đạt được điều này bằng các phương pháp hợp tác được tự do lựa chọn mà Dewey đã chủ trương. Theo nghĩa rộng nhất, một thế giới quan như vậy sẽ làm cho một nền văn minh hành tinh trở nên khả hữu bằng cách tích hợp bất cứ chân lý nào vượt thời gian và vượt không gian về con người và vũ trụ mà chúng ta có thể rút ra từ mọi nền văn hóa khu vực trong thời gian và địa điểm địa phương của chúng. Khi đó, các nguyên lý phổ quát này sẽ cung cấp các chuẩn mực cho Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới, như Chân sư Tây Tạng gọi. |
|
The world today suffers from a cultural provincialism based on the dualism of an outward-looking, objective attitude of the Western world, and an inwardness or subjectivity of Oriental societies. Each of these civilizations, in its extreme form, is over-balanced in its own direction. In harmonious living, man must integrate both ideals to achieve wholeness for himself and his world. This, it seems to me, is one important theme of the present work. |
Thế giới ngày nay đang chịu khổ vì một chủ nghĩa địa phương văn hóa dựa trên nhị nguyên giữa thái độ khách quan, hướng ra bên ngoài của thế giới phương Tây, và tính hướng nội hay tính chủ quan của các xã hội phương Đông. Mỗi nền văn minh này, trong hình thức cực đoan của nó, đều mất quân bình theo hướng riêng của mình. Trong đời sống hài hòa, con người phải tích hợp cả hai lý tưởng để đạt được sự toàn vẹn cho bản thân và cho thế giới của mình. Theo Tôi, đây là một chủ đề quan trọng của tác phẩm hiện tại. |
|
For the future, the remedy for the social schisms and psychological fissions that have handicapped and obstructed our modern efforts to overcome the divisions of humanity, lies in a restoration of unity of principles upon which an integration of human values and achievements can be attempted. The educational implications of this development are clear. As the Tibetan indicates, on subjective levels we must provide for the resynthesis of human personality and for the overcoming of the double consciousness that has resulted from the cultural fission which made the “self-negation” of the peaceful civilization of the Orient the overpowering concept of its culture, and the aggressive “individualism” of the Occident the ideal of Western man. Accordingly, we need not only the political synthesis of a [vii] World Federation in which the Eastern and Western hemispheres function like the right and left lobes of man’s brain, with the seat of the World Brain serving as the point of decussation of the planetary nerves, but we need also a planetary way of life, a planetary ethics, and a planetary way of feeling to supply the powerful drive we shall require for the great tasks that lie ahead of us. |
Đối với tương lai, phương thuốc cho các rạn nứt xã hội và các phân liệt tâm lý vốn đã làm què quặt và cản trở các nỗ lực hiện đại của chúng ta nhằm vượt qua những chia rẽ của nhân loại, nằm trong việc phục hồi sự thống nhất của các nguyên lý, trên đó có thể thử thực hiện một sự tích hợp các giá trị và thành tựu của con người. Các hàm ý giáo dục của sự phát triển này rất rõ ràng. Như Chân sư Tây Tạng chỉ ra, trên các cấp độ chủ quan, chúng ta phải cung cấp phương tiện cho sự tái tổng hợp phàm ngã con người và cho việc vượt qua tâm thức kép đã phát sinh từ sự phân liệt văn hóa, vốn đã biến “sự phủ nhận bản ngã” của nền văn minh hòa bình phương Đông thành quan niệm áp đảo trong văn hóa của nó, và biến “chủ nghĩa cá nhân” hiếu thắng của phương Tây thành lý tưởng của con người phương Tây. Theo đó, chúng ta không chỉ cần sự tổng hợp chính trị của một [vii] Liên Bang Thế Giới, trong đó các bán cầu Đông và Tây vận hành như các thùy phải và trái của bộ não con người, với vị trí của Bộ Não Thế Giới đóng vai trò điểm bắt chéo của các dây thần kinh hành tinh, mà chúng ta còn cần một lối sống hành tinh, một đạo đức hành tinh, và một cách cảm nhận hành tinh để cung cấp động lực mạnh mẽ mà chúng ta sẽ cần cho các nhiệm vụ vĩ đại đang nằm phía trước. |
|
The time to resynthesize the objective and subjective, the extrovert and the introvert civilizations and to achieve a great orchestration of culture is now. Japan was not aggressive until the country learned the trick from the West. Before her doors were forced, her arts and philosophy were in tune with oriental tradition. When she adopted Western technology, she threw overboard her ancient culture. What happened in Japan can happen in the rest of the Orient, but whereas Japan was a relatively small country, China, India and their neighbors are vast and populous. Heaven help us if they re-enact the history of Japan. Our activity in the resynthesizing of the world must include, through our own efforts to understand and appreciate, an appeal to the Orient to preserve and develop the fundamental values in its regional cultures. While the West is seeking the principles upon which peaceful and fruitful living can be founded, the East may provide us with the counter-balance to our aggressive materialism. |
Thời điểm để tái tổng hợp cái khách quan và cái chủ quan, các nền văn minh hướng ngoại và hướng nội, và đạt tới một sự phối khí vĩ đại của văn hóa là bây giờ. Nhật Bản đã không hiếu chiến cho đến khi quốc gia này học được mưu mẹo ấy từ phương Tây. Trước khi các cánh cửa của Nhật Bản bị cưỡng bức mở ra, nghệ thuật và triết học của Nhật Bản hòa điệu với truyền thống phương Đông. Khi Nhật Bản tiếp nhận kỹ thuật phương Tây, quốc gia này đã ném bỏ nền văn hóa cổ xưa của mình. Điều đã xảy ra ở Nhật Bản có thể xảy ra ở phần còn lại của phương Đông; nhưng trong khi Nhật Bản là một quốc gia tương đối nhỏ, thì Trung Quốc, Ấn Độ và các láng giềng của họ lại rộng lớn và đông dân. Xin Trời giúp chúng ta nếu họ tái diễn lịch sử của Nhật Bản. Hoạt động của chúng ta trong việc tái tổng hợp thế giới phải bao gồm, qua những nỗ lực của chính chúng ta nhằm thấu hiểu và trân trọng, một lời kêu gọi phương Đông bảo tồn và phát triển các giá trị căn bản trong những nền văn hóa khu vực của mình. Trong khi phương Tây đang tìm kiếm những nguyên lý mà trên đó đời sống hòa bình và phong phú có thể được đặt nền, phương Đông có thể cung cấp cho chúng ta đối trọng đối với chủ nghĩa duy vật hiếu thắng của chúng ta. |
|
If this new synthesis is to restore cultural and spiritual unity in mankind, the Occidental world will have to acquire humility when it turns to the Orient. The Oriental world will not, because of its inherent nature, generate the physical energy to go to the West. We Westerners went into the East in search of markets—outlets for the products of our mechanical power—and we must return to our own world, magnetized by the subjective energies of the East and conscious of it. Our aggressive commercial penetration of Oriental lands and peoples has had the end result of bringing the literature, the philosophy and the arts of the East into the [viii] West as uncalculated dividends. We can, if we choose, make use of the vast heritage of Oriental culture available to us, even in our neighborhood libraries. |
Nếu sự tổng hợp mới này phải phục hồi sự thống nhất văn hóa và tinh thần trong nhân loại, thế giới phương Tây sẽ phải có được sự khiêm nhường khi quay sang phương Đông. Thế giới phương Đông, do bản chất cố hữu của mình, sẽ không tạo ra năng lượng hồng trần để đi về phía phương Tây. Chúng ta, những người phương Tây, đã đi vào phương Đông để tìm thị trường—những nơi tiêu thụ sản phẩm của quyền năng cơ giới của chúng ta—và chúng ta phải trở về thế giới của chính mình, được các năng lượng chủ quan của phương Đông từ hóa và có ý thức về điều đó. Sự xâm nhập thương mại hiếu thắng của chúng ta vào các vùng đất và dân tộc phương Đông đã có kết quả cuối cùng là đưa văn học, triết học và nghệ thuật của phương Đông vào [viii] phương Tây như những cổ tức không được tính trước. Nếu chọn, chúng ta có thể sử dụng di sản rộng lớn của văn hóa phương Đông đang sẵn có cho chúng ta, ngay cả trong các thư viện khu phố của mình. |
|
Our main hope of survival in this highly polarized world lies in a prodigious effort at synthesis of the two cultures while there is still time. Should the Orient deny us that time and decide to meet us merely on our own grounds, then this might write finis to the story for all of us, East and West. |
Hy vọng chính yếu để sống còn của chúng ta trong thế giới phân cực cao độ này nằm trong một nỗ lực tổng hợp phi thường hai nền văn hóa khi vẫn còn thời gian. Nếu phương Đông khước từ chúng ta khoảng thời gian ấy và quyết định chỉ gặp chúng ta trên chính địa bàn của chúng ta, thì điều này có thể viết nên đoạn kết cho câu chuyện của tất cả chúng ta, Đông cũng như Tây. |
|
During our industrial and expansionist age there have been increasing evidences of the permeating power of Oriental thought in the fields of science, philosophy and the arts of the West. Psychosomatic medicine, parapsychology, Jung’s analytical psychology are only a few indications of contemporary inwardly-oriented researches. The re-entry of the spiritual factor in life and education is something more than a recrudescence of some earlier forms of Christian ideology. |
Trong thời đại công nghiệp và bành trướng của chúng ta, ngày càng có nhiều bằng chứng về quyền năng thấm nhập của tư tưởng phương Đông trong các lĩnh vực khoa học, triết học và nghệ thuật của phương Tây. Y học tâm-thân, cận tâm lý học, tâm lý học phân tích của Jung chỉ là vài dấu hiệu của các nghiên cứu đương đại hướng vào bên trong. Sự tái nhập của yếu tố tinh thần vào đời sống và giáo dục là điều gì đó hơn hẳn sự hồi phát của một số hình thức hệ tư tưởng Cơ Đốc giáo trước kia. |
|
In this education for the New Age, the type of East-West philosophy presented by the Tibetan will find its proper setting. Here we have the elements of a complete theory, as follows: |
Trong nền giáo dục cho Kỷ Nguyên Mới này, loại triết học Đông-Tây do Chân sư Tây Tạng trình bày sẽ tìm thấy bối cảnh thích hợp của nó. Ở đây chúng ta có các yếu tố của một lý thuyết hoàn chỉnh, như sau: |
|
(a) Subjective Planning; a theory of the creative self-development of the individual. |
(a) Hoạch Định Chủ Quan; một lý thuyết về sự tự phát triển sáng tạo của cá nhân. |
|
(b) Objective Planning; a theory of the good society for human persons to live in. |
(b) Hoạch Định Khách Quan; một lý thuyết về xã hội tốt đẹp cho con người sống trong đó. |
|
The psychological and social implications of the education for the New Age must be stated as explicitly as possible. The next step is to test the validity of the principles in concrete applications. The testing must be done in terms of operational techniques relevant to the Hindu psychology, rather than by Western positivistic procedures. Until this program has been given a fair trial, it is a waste of time to attempt to prejudge the issue. Yet it is not necessary to consider the ancient East and the modern West approaches [ix] as two mutually exclusive alternatives. In some instances the approaches are merely two “languages” for stating universal truths about human nature and we are not faced with an either-or antithesis. Intertranslation may reduce the strangeness of terminology. For example, the Tibetan’s view that “meditation is thinking things through” is good Dewey doctrine. As the elements of unfamiliarity diminish, understanding is facilitated. |
Các hàm ý tâm lý và xã hội của nền giáo dục cho Kỷ Nguyên Mới phải được trình bày rõ ràng hết mức có thể. Bước tiếp theo là kiểm chứng giá trị của các nguyên lý trong những ứng dụng cụ thể. Việc kiểm chứng phải được thực hiện theo các kỹ thuật vận hành liên quan đến tâm lý học Ấn Độ, thay vì theo các thủ tục thực chứng của phương Tây. Cho đến khi chương trình này được thử nghiệm công bằng, việc cố gắng phán đoán trước vấn đề là lãng phí thời gian. Tuy nhiên, không cần phải xem các lối tiếp cận của phương Đông cổ xưa và phương Tây hiện đại [ix] như hai lựa chọn loại trừ lẫn nhau. Trong một số trường hợp, các lối tiếp cận chỉ là hai “ngôn ngữ” để trình bày các chân lý phổ quát về bản chất con người, và chúng ta không đứng trước một phản đề hoặc cái này hoặc cái kia. Việc chuyển dịch qua lại có thể làm giảm tính xa lạ của thuật ngữ. Chẳng hạn, quan điểm của Chân sư Tây Tạng rằng “tham thiền là suy nghĩ thấu đáo mọi sự” là giáo lý Dewey rất tốt. Khi các yếu tố xa lạ giảm bớt, sự thấu hiểu được tạo điều kiện thuận lợi. |
|
That the research project so briefly sketched is not some vague philosophical phantasy but an urgent and immediate need is indicated by a document drawn up by the Department for Cultural Activities of UNESCO which formulated the theme for discussion in these terms: “The Concept of Man and the Philosophy of Education in East and West.” Here it is stated: |
Việc dự án nghiên cứu được phác họa quá vắn tắt này không phải là một ảo tưởng triết học mơ hồ nào đó mà là một nhu cầu cấp bách và tức thời, được chỉ ra bởi một văn kiện do Ban Hoạt Động Văn Hóa của UNESCO soạn thảo, trong đó chủ đề thảo luận được trình bày như sau: “Quan Niệm về Con Người và Triết Học Giáo Dục ở Đông và Tây.” Ở đây có nêu: |
|
“Unesco could not remain indifferent to this problem (of East and West); it was bound to face it squarely in the present circumstances of the world, brought about by the increasingly rapid process of unification, the reduction of distances, the growing importance of technology, the gradual attainment by all peoples of political independence and international responsibility and, above all, the disquiet and perplexity prevailing among the two great civilizations of yesterday, ready to give birth to the one civilization of tomorrow but cowering under the threat of a world crisis far beyond their capacity to control.” |
“UNESCO không thể thờ ơ với vấn đề này của Đông và Tây; tổ chức này buộc phải đối diện trực diện với nó trong các hoàn cảnh hiện nay của thế giới, do tiến trình thống nhất ngày càng nhanh, sự thu hẹp khoảng cách, tầm quan trọng ngày càng lớn của kỹ thuật, sự đạt tới dần dần nền độc lập chính trị và trách nhiệm quốc tế của mọi dân tộc, và trên hết là nỗi bất an và bối rối đang thịnh hành giữa hai nền văn minh lớn của ngày hôm qua, sẵn sàng sinh ra một nền văn minh duy nhất của ngày mai nhưng đang co rúm dưới mối đe dọa của một cuộc khủng hoảng thế giới vượt xa khả năng kiểm soát của họ.” |
|
In an article on Our Goal Is Unity in The Free World of October, 1944, Dr. Albert Einstein regretfully took note of “an odious materialistic attitude toward life which leads to the predominance of an unrestrained selfishness.” But how shall this materialism and selfishness of our culture be corrected? By geodesies in the space-time manifold of relativity theory? This would be cold comfort from a warm heart and Einstein does not offer this way out. Indeed, Einstein offers no clear solution. The simple truth is that the only counterweight to “materialism” is “idealism” and this must come out [x] of the very heart of science, as an evolutionary development. Researchers who know the data of science must take our knowledge about nature and synthesize it into a body of integrated principles to establish the Pythagorean-Platonic-Bruno cosmology, a world picture similar to the pantheism of Eastern thought, wherein man can reverence nature because nature is worthy of awe and reverence. A humanism that is exclusively anthropocentric is over-balanced and is in need of a world philosophy in which the infinite and eternal cosmos yields the other pivot for the axis around which the new synthesis can move and grow. |
Trong một bài viết về Mục Tiêu của Chúng Ta Là Sự Thống Nhất trong Thế Giới Tự Do vào tháng Mười năm 1944, Tiến sĩ Albert Einstein đã tiếc nuối ghi nhận “một thái độ duy vật đáng ghê tởm đối với đời sống, dẫn đến sự thống trị của một chủ nghĩa ích kỷ không kiềm chế.” Nhưng chủ nghĩa duy vật và tính ích kỷ này của nền văn hóa chúng ta sẽ được sửa chữa như thế nào? Bằng các đường trắc địa trong đa tạp không-thời gian của thuyết tương đối ư? Điều này sẽ là một niềm an ủi lạnh lẽo từ một trái tim ấm áp, và Einstein không đưa ra lối thoát này. Thật vậy, Einstein không đưa ra giải pháp rõ ràng nào. Chân lý giản dị là đối trọng duy nhất với “chủ nghĩa duy vật” là “chủ nghĩa duy tâm”, và điều này phải phát sinh [x] từ chính trái tim của khoa học, như một sự phát triển tiến hoá. Những nhà nghiên cứu biết các dữ kiện của khoa học phải lấy tri thức của chúng ta về thiên nhiên và tổng hợp nó thành một khối các nguyên lý tích hợp để thiết lập vũ trụ luận Pythagoras-Plato-Bruno, một bức tranh thế giới tương tự như thuyết phiếm thần của tư tưởng phương Đông, trong đó con người có thể tôn kính thiên nhiên vì thiên nhiên xứng đáng với sự kính sợ và tôn kính. Một chủ nghĩa nhân văn lấy con người làm trung tâm một cách độc hữu thì mất quân bình và cần một triết học thế giới trong đó vũ trụ vô hạn và vĩnh cửu cung cấp điểm tựa kia cho trục mà quanh đó sự tổng hợp mới có thể chuyển động và tăng trưởng. |
|
There is a remedy for “the sickness of modern man” and many of its constituents are found in this book on the education of the future. The implementation of the principles involved is the work of humanity itself. That its theories are not beyond the need and grasp of contemporary educationists is borne out by the fact that steps are already taken in several places for the setting up of experiments in education which are to express the need for synthesis. As an example of this development there is the “self-survey” project financed by the Ford Foundation out of which has come a proposal for a Department of Integrating Studies in the University of Pittsburgh. Part of the statement presenting this experiment reads as follows: |
Có một phương thuốc cho “căn bệnh của con người hiện đại”, và nhiều thành tố của nó được tìm thấy trong cuốn sách này về nền giáo dục của tương lai. Việc thực thi các nguyên lý liên quan là công việc của chính nhân loại. Sự kiện các lý thuyết của nó không vượt quá nhu cầu và tầm nắm bắt của các nhà giáo dục đương đại được chứng thực bởi thực tế rằng ở nhiều nơi, người ta đã thực hiện các bước để thiết lập những thí nghiệm trong giáo dục nhằm diễn đạt nhu cầu tổng hợp. Như một ví dụ về sự phát triển này, có dự án “tự khảo sát” do Quỹ Ford tài trợ, từ đó đã xuất hiện một đề nghị thành lập Khoa Nghiên Cứu Tích Hợp tại Đại học Pittsburgh. Một phần của tuyên bố trình bày thí nghiệm này viết như sau: |
|
“It has been proposed that a new department, outside the present three distribution fields of the Humanities, the Social Sciences and the Natural Sciences, and different from the departments within existing distribution fields, be established at the University of Pittsburgh. This new department shall be termed the Department of Unified Studies. It shall be concerned with seeking the interrelationships between various subject matter disciplines already available in the offerings of the University. The main objective is to cultivate the habit of reflective synthesis and find or create a body of wisdom for human evolution and personal self-development. [xi] |
“Đã có đề nghị rằng một khoa mới, nằm bên ngoài ba lĩnh vực phân phối hiện nay là Nhân Văn, Khoa Học Xã Hội và Khoa Học Tự Nhiên, và khác với các khoa bên trong những lĩnh vực phân phối hiện hữu, nên được thành lập tại Đại học Pittsburgh. Khoa mới này sẽ được gọi là Khoa Nghiên Cứu Hợp Nhất. Khoa này sẽ quan tâm đến việc tìm kiếm các mối tương quan giữa những bộ môn chủ đề khác nhau đã có sẵn trong các chương trình của Đại học. Mục tiêu chính là nuôi dưỡng thói quen tổng hợp phản tư và tìm kiếm hoặc tạo ra một khối minh triết cho tiến hoá nhân loại và sự tự phát triển cá nhân. [xi] |
|
“Since unified interpretation and understanding is not a science in its own right but a synoptic comprehension of antecedent bodies of concepts and principles, this department shall not offer degrees in its own area or ‘field.’ The Department of Unified Studies is primarily a service department to the students and faculty members carrying on their primary (but not more important) activities in the more specialized areas of study. |
“Vì sự diễn giải và thấu hiểu hợp nhất không phải là một khoa học độc lập, mà là một sự thông hiểu tổng quát về các khối khái niệm và nguyên lý có trước, khoa này sẽ không cấp bằng trong lĩnh vực hay ‘ngành’ riêng của mình. Khoa Nghiên Cứu Hợp Nhất chủ yếu là một khoa phục vụ cho các sinh viên và giảng viên đang tiến hành các hoạt động chính yếu, nhưng không quan trọng hơn, của họ trong những lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt hơn. |
|
“Until contemporary times, there has been little need for such an adjunct to our institutions of higher learning. But with the increase in size of our specialized bodies of knowledge —to the point where we are burying ourselves under the mountains of information and data—the time has come to take seriously the problem of finding out what all this knowledge means. If the University cannot synthesize the overall implications of modern learning it will abdicate its historic role of providing universal principles for enlightened individuals seeking the benefits of the good life. This urgent need here requires explicit statement and recognition, if we are consciously to design a solution to the problem. |
“Cho đến thời hiện đại, rất ít có nhu cầu về một phần phụ trợ như vậy cho các cơ sở giáo dục bậc cao của chúng ta. Nhưng với sự gia tăng về quy mô của các khối tri thức chuyên môn hóa của chúng ta —đến mức chúng ta đang chôn vùi chính mình dưới những núi thông tin và dữ kiện—đã đến lúc phải nghiêm túc xem xét vấn đề tìm ra toàn bộ tri thức này có ý nghĩa gì. Nếu Đại học không thể tổng hợp các hàm ý toàn diện của học thuật hiện đại, nó sẽ thoái thác vai trò lịch sử của mình là cung cấp các nguyên lý phổ quát cho những cá nhân được soi sáng đang tìm kiếm các lợi ích của đời sống tốt đẹp. Nhu cầu cấp bách này ở đây đòi hỏi phải được trình bày và thừa nhận rõ ràng, nếu chúng ta muốn thiết kế một cách có ý thức một giải pháp cho vấn đề. |
|
“The broad purpose of the Advancement of Learning (to use Bacon’s phrase) is to throw light on four basic questions of human existence: |
“Mục đích rộng lớn của Sự Tiến Bộ của Học Thuật, dùng cụm từ của Bacon, là soi sáng bốn câu hỏi căn bản của sự hiện hữu con người: |
|
(1) What is man? |
(1) Con người là gì? |
|
(2) What kind of physical universe (cosmos) is it that man inhabits? |
(2) Con người cư ngụ trong loại vũ trụ hồng trần nào? |
|
(3) By what processes of evolution did the human species emerge from the matrix of nature so that man could become the self-conscious and creative individual he now is? |
(3) Qua những tiến trình tiến hoá nào mà loài người đã xuất hiện từ lòng mẹ thiên nhiên để con người có thể trở thành cá nhân tự ý thức và sáng tạo như hiện nay? |
|
(4) Knowing something about the cosmos and about human nature, what is the best kind of society for man’s progressive self-evolution? |
(4) Khi biết được điều gì đó về vũ trụ và về bản chất con người, loại xã hội tốt đẹp nhất cho sự tự tiến hoá tiến bộ của con người là gì? |
|
“In seeking answers to these questions and providing students with the stimuli and data necessary to the formulation [xii] of their own answers, the instructors in the Department of Unified Studies will not pose as experts in integration. Along with interested students, the faculty members will be seekers after synthesis. To illustrate the type of courses contemplated, the following possibilities are suggested: |
“Trong khi tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi này và cung cấp cho sinh viên các kích thích và dữ kiện cần thiết để hình thành [xii] các câu trả lời của chính họ, các giảng viên trong Khoa Nghiên Cứu Hợp Nhất sẽ không tự đặt mình như những chuyên gia về tích hợp. Cùng với các sinh viên quan tâm, các giảng viên sẽ là những người tìm kiếm sự tổng hợp. Để minh họa loại khóa học được dự tính, các khả năng sau đây được đề nghị: |
|
1. The Sociology of Knowledge. |
1. Xã Hội Học về Tri Thức. |
|
2. The Interrelationships of Religion, Philosophy, Science and Art. |
2. Các Mối Tương Quan giữa Tôn Giáo, Triết Học, Khoa Học và Nghệ Thuật. |
|
3. Information Theory, Cybernetics and Semantics. |
3. Lý Thuyết Thông Tin, Điều Khiển Học và Ngữ Nghĩa Học. |
|
4. The History and Philosophy of Science. |
4. Lịch Sử và Triết Học của Khoa Học. |
|
5. The History and Presuppositions of the Democratic Theory of Government (Ideology). |
5. Lịch Sử và Các Tiền Giả Định của Lý Thuyết Dân Chủ về Chính Quyền (Hệ Tư Tưởng). |
|
6. Contributions of Biology, Sociology and Psychiatry to Human Welfare and Progress. |
6. Những Đóng Góp của Sinh Học, Xã Hội Học và Tâm Thần Học cho Phúc Lợi và Tiến Bộ của Con Người. |
|
7. The Unity of Knowledge. |
7. Sự Thống Nhất của Tri Thức. |
|
8. The Evolution of Value Systems from Primitive Culture to Modern Industrial Civilization. |
8. Sự Tiến Hoá của Các Hệ Thống Giá Trị từ Văn Hóa Nguyên Thủy đến Nền Văn Minh Công Nghiệp Hiện Đại. |
|
“The first prerequisites of all such courses is that they shall interrelate not less than three so-called departments of study. Thus the students and faculty will be encouraged to search for vision—’seeing life steadily and as a whole.’ |
“Điều kiện tiên quyết đầu tiên của tất cả những khóa học như vậy là chúng phải liên hệ lẫn nhau không ít hơn ba cái gọi là khoa nghiên cứu. Như vậy, sinh viên và giảng viên sẽ được khuyến khích tìm kiếm tầm nhìn—‘nhìn đời sống một cách vững vàng và như một toàn thể.’ |
|
The Tibetan’s seed-principles will find prepared soil in such experimental fields. |
Các nguyên lý hạt giống của Chân sư Tây Tạng sẽ tìm thấy mảnh đất đã được chuẩn bị trong những lĩnh vực thí nghiệm như vậy. |
|
OLIVER L. REISER |
OLIVER L. REISER |
|
DEPARTMENT OF PHILOSOPHY |
KHOA TRIẾT HỌC |
|
UNIVERSITY OF PITTSBURGH |
ĐẠI HỌC PITTSBURGH |
|
PITTSBURGH, PENNSYLVANIA |
PITTSBURGH, PENNSYLVANIA |
|
U.S.A. |
Hoa Kỳ. |
CHAPTER I – The Objective of the New Education – CHƯƠNG I – Mục Tiêu của Nền Giáo Dục Mới
Introductory Statements – Các Phát Biểu Dẫn Nhập
|
[1] This presentation might be regarded as concerning itself with three different aspects of one general theme, which is that of the new and coming educational methods and ideas. The objective is to elucidate the cultural unfoldment of the race and to consider the next step to be taken in the mental development of humanity. Teaching, if true, must be in line with the past and must provide scope for endeavour in the present and must also hold out further enlightenment for those who have succeeded or are succeeding in attaining the indicated goals. There must be a spiritual future indicated. It is that which is required now. |
[1] Bài trình bày này có thể được xem như liên quan đến ba phương diện khác nhau của một chủ đề tổng quát, đó là các phương pháp và ý tưởng giáo dục mới đang đến. Mục tiêu là làm sáng tỏ sự khai mở văn hóa của nhân loại và xem xét bước kế tiếp cần được thực hiện trong sự phát triển trí tuệ của nhân loại. Giáo huấn, nếu chân thật, phải phù hợp với quá khứ, phải cung cấp phạm vi cho nỗ lực trong hiện tại, và cũng phải mở ra sự giác ngộ xa hơn cho những người đã thành công hoặc đang thành công trong việc đạt tới các mục tiêu đã chỉ ra. Phải có một tương lai tinh thần được nêu rõ. Đó là điều hiện nay đang cần. |
|
The word “spiritual” does not refer to religious matters, so-called. All activity which drives the human being forward towards some form of development—physical, emotional, mental, intuitional, social—if it is in advance of his present state is essentially spiritual in nature and is indicative of the livingness of the inner divine entity. The spirit of man is undying; it forever endures, progressing from point to point and stage to stage upon the Path of Evolution, unfolding steadily and sequentially the divine attributes and aspects. |
Từ “tinh thần” không ám chỉ những vấn đề được gọi là tôn giáo. Mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến tới một hình thức phát triển nào đó—hồng trần, cảm xúc, trí tuệ, trực giác, xã hội—nếu nó đi trước trạng thái hiện tại của y, thì về bản chất là tinh thần và biểu thị sức sống của thực thể thiêng liêng bên trong. Tinh thần của con người là bất diệt; nó mãi mãi trường tồn, tiến từ điểm này sang điểm khác và từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trên Con Đường Tiến Hoá, tuần tự và đều đặn khai mở các thuộc tính và phương diện thiêng liêng. |
|
[2] The three points of our general theme are: |
[2] Ba điểm trong chủ đề tổng quát của chúng ta là: |
|
1. The Technique of the Education of the Future. |
1. Kỹ Thuật của Nền Giáo Dục Tương Lai. |
|
2. The Science of the Antahkarana. This deals with the mode of bridging the gap which exists in man’s consciousness between the world of ordinary human experience, the threefold world of physical-emotional-mental functioning, and the higher levels of so-called spiritual development which is the world of ideas, of intuitive perception, of spiritual insight and understanding. |
2. Khoa Học về Antahkarana. Điều này đề cập đến phương thức bắt cầu qua khoảng cách hiện hữu trong tâm thức con người giữa thế giới kinh nghiệm nhân loại thông thường, thế giới tam phân của sự vận hành hồng trần-cảm xúc-trí tuệ, và các cấp độ cao hơn của sự phát triển gọi là tinh thần, vốn là thế giới của các ý tưởng, của nhận thức trực giác, của sự thấu hiểu và cái nhìn sâu sắc tinh thần. |
|
3. Methods of Building the Antahkarana. This leads to the overcoming of the limitations—physical and psychological—which restrict man’s free expression of his innate divinity. Here we can only prepare the ground for this third point because the subject involves advanced meditation practices which must be approached gradually. I have dealt with meditation in my other books. |
3. Các Phương Pháp Xây Dựng Antahkarana. Điều này dẫn đến việc vượt qua các giới hạn—hồng trần và tâm lý—vốn hạn chế sự biểu lộ tự do của thiên tính bẩm sinh nơi con người. Ở đây chúng ta chỉ có thể chuẩn bị nền tảng cho điểm thứ ba này, vì đề tài liên quan đến các thực hành tham thiền nâng cao, vốn phải được tiếp cận dần dần. Tôi đã bàn đến tham thiền trong các sách khác của Tôi. |
|
The question might here be asked, why it is of value to consider giving time to that which lies as yet in the future. I would reply by reminding you that “As a man thinketh, so is he.” This is a truism and a platitude of occultism. Therefore, what is true of the individual is also true of the group and as a group thinks, so does it eventually react. As the group thought-waves penetrate into the mental atmosphere of humanity, men become impressed and the inaugurating of the new ways of living and of developing proceeds with increased facility. Here I seek only to give you some brief and general ideas which will serve to indicate to you the trend of my thought and the purpose which I have in mind. Perhaps the easiest way for me to do this is to formulate certain propositions which are of interest and which can carry illumination. |
Ở đây có thể nêu câu hỏi rằng tại sao việc cân nhắc dành thời gian cho điều còn nằm trong tương lai lại có giá trị. Tôi xin đáp bằng cách nhắc các bạn rằng “Con người nghĩ thế nào, y là như thế ấy.” Đây là một chân lý hiển nhiên và một câu nói quen thuộc của huyền bí học. Vì vậy, điều đúng với cá nhân cũng đúng với nhóm, và khi một nhóm suy nghĩ thế nào, rốt cuộc nhóm ấy sẽ phản ứng như thế. Khi các làn sóng tư tưởng nhóm thâm nhập vào bầu khí quyển trí của nhân loại, con người được gây ấn tượng và việc khai mở những lối sống và phát triển mới tiến hành với sự dễ dàng gia tăng. Ở đây, Tôi chỉ tìm cách trao cho các bạn một vài ý tưởng ngắn gọn và tổng quát, những ý tưởng sẽ giúp chỉ cho các bạn khuynh hướng tư tưởng của Tôi và mục đích Tôi đang có trong trí. Có lẽ cách dễ nhất để Tôi làm điều này là phát biểu một số mệnh đề đáng quan tâm và có thể mang lại sự soi sáng. |
|
I. Education, up to the present time, has been occupied with the art of synthesising past history, past achievement [3] in all departments of human thought and with the attainments to date of human knowledge. It has dealt with those forms of science which the past has evolved. It is primarily backward-looking and not forward-looking. I would remind you that I am here generalising, and that there are many and notable small exceptions to this attitude. |
I. Giáo dục, cho đến hiện nay, đã bận tâm với nghệ thuật tổng hợp lịch sử quá khứ, thành tựu quá khứ [3] trong mọi ngành tư tưởng nhân loại và các thành quả cho đến nay của tri thức nhân loại. Nó đã đề cập đến những hình thức khoa học mà quá khứ đã tiến hoá nên. Về căn bản, nó nhìn về phía sau chứ không nhìn về phía trước. Tôi xin nhắc các bạn rằng ở đây Tôi đang khái quát hóa, và có nhiều ngoại lệ nhỏ nhưng đáng chú ý đối với thái độ này. |
|
II. Education has concerned itself primarily with the organising of the lower mind, and a child’s calibre has been largely gauged by its reaction to accumulated information (where education is concerned), collated and collected data, sequentially handed out, digested and arranged so as to equip the child to compete with the information which other people possess. |
II. Giáo dục chủ yếu đã quan tâm đến việc tổ chức hạ trí, và năng lực của một đứa trẻ phần lớn được đo lường bằng phản ứng của nó đối với thông tin tích lũy, xét về mặt giáo dục, với các dữ kiện được đối chiếu và thu thập, được trao truyền tuần tự, được tiêu hóa và sắp xếp nhằm trang bị cho đứa trẻ khả năng cạnh tranh với thông tin mà những người khác sở hữu. |
|
III. Education to date has been largely memory training, though there is now emerging the recognition that this attitude must end. The child has to assimilate the facts that the race believes to be true, has tested in the past and found adequate. But each age has a differing standard of adequacy. The Piscean Age dealt with the detail of the endeavour to measure up to a sensed ideal. Hence we have a history which covers the method whereby tribes acquired national status through aggression, war and conquest. That has been indicative of racial achievement. |
III. Giáo dục cho đến nay phần lớn là sự rèn luyện trí nhớ, dù hiện nay đang xuất hiện sự nhận thức rằng thái độ này phải chấm dứt. Đứa trẻ phải đồng hóa các sự kiện mà nhân loại tin là chân thật, đã thử nghiệm trong quá khứ và thấy là đầy đủ. Nhưng mỗi thời đại có một tiêu chuẩn khác nhau về sự đầy đủ. Kỷ Nguyên Song Ngư đã xử lý chi tiết của nỗ lực vươn tới một lý tưởng được cảm nhận. Do đó, chúng ta có một lịch sử bao quát phương pháp theo đó các bộ lạc đạt được địa vị quốc gia qua xâm lược, chiến tranh và chinh phục. Điều đó đã biểu thị thành tựu của nhân loại. |
|
Geography has been based on a similar reaction to an idea of expansion, and through it the child learns how men, driven by economic and other necessities, have conquered territory and absorbed lands. This too has been regarded, and rightly so, as a racial achievement. The various branches of science are also regarded as constituting the conquest of areas of territory, and this again is acclaimed as racial achievement. The conquests of science, the conquests of nations, and the conquests of territory are all indicative of the Piscean method, with its idealism, its militancy, and its separativeness in all fields—religious, political and economic. But the age of synthesis, of inclusiveness and of understanding is upon us, and the new education of the [4] Aquarian Age must begin very gently to penetrate the human aura. |
Địa lý đã dựa trên một phản ứng tương tự đối với một ý tưởng về bành trướng, và qua đó đứa trẻ học cách con người, bị thúc đẩy bởi các nhu cầu kinh tế và các nhu cầu khác, đã chinh phục lãnh thổ và sáp nhập các vùng đất. Điều này cũng đã được xem, và đúng như vậy, là một thành tựu của nhân loại. Các ngành khoa học khác nhau cũng được xem như tạo thành sự chinh phục các vùng lãnh thổ, và điều này một lần nữa được tán dương như thành tựu của nhân loại. Những cuộc chinh phục của khoa học, những cuộc chinh phục của các quốc gia, và những cuộc chinh phục lãnh thổ đều biểu thị phương pháp Song Ngư, với chủ nghĩa lý tưởng, tính hiếu chiến và tính chia rẽ của nó trong mọi lĩnh vực—tôn giáo, chính trị và kinh tế. Nhưng thời đại của tổng hợp, của tính bao gồm và của sự thấu hiểu đang ở trước chúng ta, và nền giáo dục mới của [4] Kỷ Nguyên Bảo Bình phải bắt đầu thâm nhập rất nhẹ nhàng vào hào quang nhân loại. |
|
IV. Education is more than memory training and more than informing a child or student as to the past and its achievements. Those factors have their place, and the past must be understood and studied, for out of it must grow that which is new, its flower and its fruit. Education involves more than the investigation of a subject and the forming of subsequent conclusions leading to hypotheses which, in their own turn, lead to still more investigation and conclusions. Education is more than a sincere effort to fit a child or adult to be a good citizen, an intelligent parent and no charge upon the state. It has a far wider application than producing a human being who will be a commercial asset and not a commercial liability. Education has other objectives than rendering life enjoyable and so enabling men and women to achieve a culture which will permit them to participate with interest in all that transpires in the three worlds of human affairs. It is all the above, but should also be much more. |
IV. Giáo dục còn hơn sự rèn luyện trí nhớ và hơn việc thông báo cho một đứa trẻ hay học sinh về quá khứ và các thành tựu của nó. Những yếu tố ấy có vị trí của chúng, và quá khứ phải được thấu hiểu và nghiên cứu, vì từ đó điều mới mẻ, hoa và quả của nó, phải lớn lên. Giáo dục bao hàm nhiều hơn việc khảo sát một chủ đề và hình thành các kết luận tiếp theo dẫn đến các giả thuyết, rồi chính các giả thuyết ấy lại dẫn đến nhiều khảo sát và kết luận hơn nữa. Giáo dục còn hơn một nỗ lực chân thành nhằm làm cho một đứa trẻ hay người trưởng thành thích hợp để trở thành một công dân tốt, một phụ huynh thông minh và không là gánh nặng cho nhà nước. Nó có phạm vi áp dụng rộng hơn rất nhiều so với việc tạo ra một con người sẽ là một tài sản thương mại chứ không phải một khoản nợ thương mại. Giáo dục có những mục tiêu khác ngoài việc làm cho đời sống trở nên thú vị và nhờ vậy giúp những người nam và nữ đạt được một nền văn hóa cho phép họ tham gia với sự quan tâm vào tất cả những gì diễn ra trong ba cõi giới của các sự việc nhân loại. Nó là tất cả những điều trên, nhưng cũng phải là nhiều hơn thế. |
|
V. Education has three major objectives, from the angle of human development: |
V. Giáo dục có ba mục tiêu chính, xét từ góc độ phát triển con người: |
|
First, as has been grasped by many, it must make a man an intelligent citizen, a wise parent, and a controlled personality; it must enable him to play his part in the work of the world and fit him for living peaceably and helpfully and in harmony with his neighbours. |
Trước hết, như nhiều người đã nắm bắt, nó phải làm cho con người thành một công dân thông minh, một phụ huynh minh triết, và một phàm ngã được kiểm soát; nó phải giúp y đóng vai trò của mình trong công việc của thế giới và làm cho y thích hợp để sống hòa bình, hữu ích và hòa hợp với những người láng giềng của mình. |
|
Second, it must enable him to bridge the gap between the various aspects of his own mental nature, and herein lies the major emphasis of the instructions which I am now purposing to give you. |
Thứ hai, nó phải giúp y bắt cầu qua khoảng cách giữa các phương diện khác nhau của bản chất trí tuệ nơi chính y, và chính trong điều này có trọng tâm chính của các huấn thị mà hiện nay Tôi dự định trao cho các bạn. |
|
In the esoteric philosophy we are taught, as well you know, that on the mental plane there are three aspects of the mind, or of that mental creature we call a man. These three aspects constitute the most important part of his nature: [5] |
Trong triết học nội môn, như các bạn biết rõ, chúng ta được dạy rằng trên cõi trí có ba phương diện của trí tuệ, hay của sinh vật trí tuệ mà chúng ta gọi là con người. Ba phương diện này tạo thành phần quan trọng nhất trong bản chất của y: [5] |
|
1. His lower concrete mind, the reasoning principle. It is with this aspect of the man that our educational processes profess to deal. |
1. Hạ trí cụ thể của y, nguyên khí lý luận. Chính với phương diện này của con người mà các tiến trình giáo dục của chúng ta tự nhận là xử lý. |
|
2. That Son of Mind, which we call the Ego or Soul. This is the intelligence principle, and is called by many names in the esoteric literature, such as the Solar Angel, the Agnishvattas, the Christ principle, etc. With this, religion in the past has professed to deal. |
2. Con của Trí Tuệ ấy, mà chúng ta gọi là Chân ngã hay Linh hồn. Đây là nguyên khí trí tuệ, và được gọi bằng nhiều danh xưng trong văn học nội môn, như Thái dương Thiên Thần, các Agnishvatta, nguyên khí Christ, v.v. Chính với điều này mà tôn giáo trong quá khứ đã tự nhận là xử lý. |
|
3. The higher abstract mind, the custodian of ideas, and that which is the conveyor of illumination to the lower mind, once that lower mind is en rapport with the soul. With this world of ideas philosophy has professed to deal. |
3. Thượng trí trừu tượng, người gìn giữ các ý tưởng, và là cái truyền dẫn sự soi sáng đến hạ trí, một khi hạ trí ấy có quan hệ hòa hợp với linh hồn. Chính với thế giới các ý tưởng này mà triết học đã tự nhận là xử lý. |
|
We might call these three aspects: |
Chúng ta có thể gọi ba phương diện này là: |
|
The receptive mind, the mind as dealt with by the psychologists. |
Trí tiếp nhận, tức trí như được các nhà tâm lý học xử lý. |
|
The individualised mind, the Son of Mind. |
Trí đã biệt ngã hóa, Con của Trí Tuệ. |
|
The illuminating mind, the higher mind. |
Trí soi sáng, thượng trí. |
|
Third, the gap between the lower mind and the soul has to be bridged, and curiously enough humanity has always realised this and has talked therefore in terms of “achieving unity” or “making the at-one-ment” or “attaining alignment.” These are all attempts to express this intuitively realised truth. |
Thứ ba, khoảng cách giữa hạ trí và linh hồn phải được bắt cầu; và kỳ lạ thay, nhân loại luôn luôn nhận biết điều này, nên đã nói bằng những thuật ngữ như “đạt đến hợp nhất”, “tạo nên sự nhất như” hay “đạt đến sự chỉnh hợp”. Tất cả những cách nói này đều là những nỗ lực nhằm diễn đạt chân lý đã được trực giác nhận biết ấy. |
|
VI. Education also should concern itself during the new age with the bridging of this gap between the three aspects of the mind nature: between the soul and the lower mind, thus producing at-one-ment between soul and personality; between the lower mind, the soul and the higher mind. For this the race is now ready, and for the first time in the career of humanity the bridging work can go forward on a relatively large scale. On this I need not enlarge, for it concerns the technicalities of the Ancient Wisdom, on which I have given you much in my other books. [6] |
VI. Giáo dục trong kỷ nguyên mới cũng phải quan tâm đến việc bắt cầu khoảng cách này giữa ba phương diện của bản chất trí tuệ: giữa linh hồn và hạ trí, nhờ đó tạo nên sự nhất như giữa linh hồn và phàm ngã; giữa hạ trí, linh hồn và thượng trí. Nhân loại hiện nay đã sẵn sàng cho điều này, và lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, công việc bắt cầu có thể tiến hành trên một quy mô tương đối rộng lớn. Tôi không cần nói thêm về điều này, vì nó liên quan đến các chi tiết kỹ thuật của Minh Triết Ngàn Đời, về điều mà Tôi đã trao cho các bạn nhiều trong các sách khác của Tôi. [6] |
|
VII. Education is therefore the Science of the Antahkarana. This science and this term is the esoteric way of expressing the truth of this bridging necessity. The antahkarana is the bridge the man builds—through meditation, understanding and the magical creative work of the soul—between the three aspects of his mind nature. Therefore the primary objectives of the coming education will be: |
VII. Vì vậy, giáo dục là Khoa Học về Antahkarana. Khoa học này và thuật ngữ này là cách nội môn để diễn đạt chân lý về nhu cầu bắt cầu ấy. Antahkarana là cây cầu mà con người xây dựng — qua tham thiền, sự thấu hiểu và công việc sáng tạo huyền thuật của linh hồn — giữa ba phương diện của bản chất trí tuệ nơi y. Vì vậy, những mục tiêu chính yếu của nền giáo dục sắp đến sẽ là: |
|
1. To produce alignment between mind and brain through a correct understanding of the inner constitution of man, particularly of the etheric body and the force centres. |
1. Tạo nên sự chỉnh hợp giữa thể trí và bộ não thông qua một sự thấu hiểu đúng đắn về cấu tạo bên trong của con người, đặc biệt là thể dĩ thái và các trung tâm mãnh lực. |
|
2. To build or construct a bridge between the brain-mind-soul, thus producing an integrated personality which is a steady developing expression of the in-dwelling soul. |
2. Xây dựng hay kiến tạo một cây cầu giữa bộ não-thể trí-linh hồn, nhờ đó tạo nên một phàm ngã tích hợp, vốn là biểu hiện đang phát triển vững chắc của linh hồn nội tại. |
|
3. To build the bridge between the lower mind, soul, higher mind, so that the illumination of the personality becomes possible. |
3. Xây dựng cây cầu giữa hạ trí, linh hồn và thượng trí, để sự soi sáng của phàm ngã trở nên khả hữu. |
|
VIII. The true education is consequently the science of linking up the integral parts of man, and also of linking him up in turn with his immediate environment, and then with the greater whole in which he has to play his part. Each aspect, regarded as a lower aspect, can ever be simply the expression of the next higher. In this phrase I have expressed a fundamental truth which embodies not only the objective, but also indicates the problem before all interested in education. This problem is to gauge rightly the centre or the focus of a man’s attention and to note where the consciousness is primarily centered. Then he must be trained in such a way that a shift of that focus into a higher vehicle becomes possible. We can also express this idea in an equally true manner by saying that the vehicle which seems of paramount importance can become and should become of secondary importance as it becomes simply the instrument of that which is higher than itself. [7] If the astral (emotional) body is the centre of the personality life, then the objective of the educational process imposed upon the subject will be to make the mind nature the dominating factor, and the astral body then becomes that which is impressed by, and is sensitive to, environing conditions, but is under the control of the mind. If the mind is the centre of personality attention, then the soul activity must be brought into fuller expression; and so on and on the work proceeds, progress being made from point to point until the top of the ladder has been reached. |
VIII. Do đó, giáo dục đích thực là khoa học liên kết các phần cấu thành của con người, đồng thời lần lượt liên kết y với môi trường trực tiếp của y, rồi với toàn thể rộng lớn hơn trong đó y phải đóng vai trò của mình. Mỗi phương diện, khi được xem như một phương diện thấp hơn, bao giờ cũng có thể chỉ là sự biểu hiện của phương diện kế tiếp cao hơn. Trong cụm từ này, Tôi đã diễn đạt một chân lý nền tảng, không chỉ hàm chứa mục tiêu mà còn chỉ ra vấn đề trước mắt tất cả những ai quan tâm đến giáo dục. Vấn đề này là đo lường đúng trung tâm hay tiêu điểm chú ý của một người, và ghi nhận nơi tâm thức chủ yếu được tập trung. Khi ấy, y phải được huấn luyện theo cách sao cho việc chuyển dịch tiêu điểm ấy vào một vận cụ cao hơn trở nên khả hữu. Chúng ta cũng có thể diễn đạt ý tưởng này theo một cách đúng không kém, bằng cách nói rằng vận cụ nào dường như có tầm quan trọng tối thượng thì có thể, và phải, trở nên có tầm quan trọng thứ yếu khi nó chỉ còn là công cụ của cái cao hơn chính nó. [7] Nếu thể cảm dục hay cảm xúc là trung tâm của đời sống phàm ngã, thì mục tiêu của tiến trình giáo dục được áp đặt lên đối tượng sẽ là làm cho bản chất trí tuệ trở thành yếu tố chi phối; khi ấy thể cảm dục trở thành cái chịu ấn tượng bởi, và nhạy cảm với, các điều kiện chung quanh, nhưng ở dưới sự kiểm soát của thể trí. Nếu thể trí là trung tâm chú ý của phàm ngã, thì hoạt động của linh hồn phải được đưa vào sự biểu hiện đầy đủ hơn; và cứ như thế công việc tiếp diễn, tiến bộ được thực hiện từ điểm này sang điểm khác cho đến khi đạt tới đỉnh của chiếc thang. |
|
It might be noted here that this entire exegesis of the mind and of the needed bridge building is but the practical demonstration of the truth of the occult aphorism that “before a man can tread the Path he must become that Path itself.” The antahkarana is the Path symbolically. This is one of the paradoxes of the esoteric science. Step by step and stage by stage, we construct that Path just as the spider spins its thread. It is that “way back” which we evolve out of ourselves; it is that Way which we also find and tread. |
Ở đây có thể lưu ý rằng toàn bộ phần diễn giải này về thể trí và về việc xây cầu cần thiết chỉ là sự minh chứng thực tiễn cho chân lý của châm ngôn huyền môn rằng “trước khi một người có thể bước trên Đường Đạo, y phải trở thành chính Đường Đạo ấy”. Antahkarana là Đường Đạo theo nghĩa biểu tượng. Đây là một trong những nghịch lý của khoa học nội môn. Từng bước một và từng giai đoạn một, chúng ta kiến tạo Đường Đạo ấy giống như con nhện se sợi tơ của nó. Đó là “con đường trở về” mà chúng ta tiến hoá ra từ chính mình; đó cũng là Con Đường mà chúng ta tìm thấy và bước đi. |
Some Questions Answered – Một Số Câu Hỏi Được Giải Đáp
|
I will now attempt to deal somewhat with three questions on education asked by one of the students. I can but indicate the ideal, and in so doing I run the risk of producing an effect of being so visionary that any approach under our present system might be regarded as impossible. |
Bây giờ Tôi sẽ cố gắng đề cập phần nào đến ba câu hỏi về giáo dục do một trong các môn sinh nêu ra. Tôi chỉ có thể chỉ ra lý tưởng; và khi làm như vậy, Tôi có nguy cơ tạo ra ấn tượng rằng mình quá viển vông đến nỗi mọi cách tiếp cận trong hệ thống hiện nay của chúng ta có thể bị xem là bất khả thi. |
|
In answer to the first question, the prime function of all educators is twofold: |
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, chức năng chính yếu của mọi nhà giáo dục là nhị phân: |
|
1. To train the brain to respond intelligently to impressions coming to it via the sense apparatus and so carrying information about the outer tangible world. |
1. Huấn luyện bộ não đáp ứng một cách thông minh với các ấn tượng đến với nó qua bộ máy giác quan, nhờ đó mang thông tin về thế giới hữu hình bên ngoài. |
|
2. To train the mind so that it can fulfill three duties: |
2. Huấn luyện thể trí để nó có thể hoàn thành ba nhiệm vụ: |
|
a. Deal intelligently with information relayed to it by the brain. [8] |
a. Xử lý một cách thông minh thông tin được bộ não chuyển đến cho nó. [8] |
|
b. Create thoughtforms in response to impulses emanating from the physical planes; to emotional reactions set in motion by the feeling-desire nature; to the thought world, in which the man’s environment is found. |
b. Tạo ra các hình tư tưởng để đáp ứng với những xung động xuất phát từ các cõi hồng trần; với những phản ứng cảm xúc được khơi động bởi bản chất cảm xúc-dục vọng; với thế giới tư tưởng, trong đó môi trường của con người được tìm thấy. |
|
c. Orient itself to the subjective spiritual self, so that, from a condition of potentiality, the self may emerge into active government. |
c. Định hướng chính nó về bản ngã tinh thần chủ quan, để từ một trạng thái tiềm năng, bản ngã có thể xuất hiện trong quyền cai quản tích cực. |
|
In this formulation of the function of the apparatus with which all educators have to deal (the mind and the brain), I have indicated the answer to the second question asked, which was: |
Trong cách trình bày này về chức năng của bộ máy mà mọi nhà giáo dục phải xử lý, tức thể trí và bộ não, Tôi đã chỉ ra câu trả lời cho câu hỏi thứ hai được nêu, đó là: |
|
“Are there definite types of activities, changing with the growing years and based on the phases of the growth process in the individual, that make for his best all-around development?” |
“Có những loại hoạt động xác định nào, thay đổi theo những năm tháng trưởng thành và đặt nền trên các giai đoạn của tiến trình tăng trưởng nơi cá nhân, giúp cho sự phát triển toàn diện tốt nhất của y hay không?” |
|
I differ somewhat concerning the periods indicated by such occult teachers as Steiner, for though the seven year cycles have their place, the division is apt to be over-applied. I would also suggest ten year cycles of development, divided into two parts: seven of learning and three of application. |
Tôi có phần khác biệt trong quan điểm về các thời kỳ do những huấn sư huyền môn như Steiner nêu ra, vì dù các chu kỳ bảy năm có vị trí của chúng, sự phân chia ấy dễ bị áp dụng quá mức. Tôi cũng đề nghị các chu kỳ phát triển mười năm, chia làm hai phần: bảy năm học hỏi và ba năm áp dụng. |
|
In the first ten years of a child’s life he is taught to deal intelligently with information coming to him via the five senses to the brain. Observation, rapid response, and physical coordination as the result of intention, must be emphasised. The child must be taught to hear and see, to make contacts and to use judgment; and his fingers must then respond to creative impulses to make and produce what he sees and hears. Thus are laid the elements of the arts and crafts, of drawing and of music. |
Trong mười năm đầu đời của một đứa trẻ, nó được dạy cách xử lý một cách thông minh những thông tin đến với nó qua năm giác quan vào bộ não. Cần nhấn mạnh sự quan sát, sự đáp ứng nhanh và sự phối hợp thể xác như kết quả của chủ định. Đứa trẻ phải được dạy nghe và thấy, tạo các tiếp xúc và sử dụng phán đoán; rồi các ngón tay của nó phải đáp ứng với những xung động sáng tạo để làm ra và tạo nên những gì nó thấy và nghe. Như vậy, các yếu tố của nghệ thuật và thủ công, của hội họa và âm nhạc được đặt nền. |
|
In the next ten years the mind is definitely trained to become dominant. The child is taught to rationalise his emotional and desire impulses, and to discriminate the right from the wrong, the desirable from the undesirable, and the essential from the nonessential. This can be taught him [9] through the medium of history and the intellectual training which the cycle of his life makes compulsory under the laws of the country in which he lives. A sense of values and of right standards is thus established. He is taught the distinction between memory training and thinking; between bodies of facts, ascertained by thinkers and tabulated in books, and their application to the events of objective existence, plus (and here lies a thought of real importance) their subjective cause and their relation to the world of reality of which the phenomenal world is but the symbol. |
Trong mười năm kế tiếp, thể trí được huấn luyện một cách rõ rệt để trở nên chi phối. Đứa trẻ được dạy cách lý giải các xung động cảm xúc và dục vọng của nó, và phân biện điều đúng với điều sai, điều đáng mong muốn với điều không đáng mong muốn, điều thiết yếu với điều không thiết yếu. Điều này có thể được dạy cho nó [9] qua phương tiện lịch sử và sự huấn luyện trí tuệ mà chu kỳ đời sống của nó khiến trở nên bắt buộc theo luật pháp của quốc gia nơi nó sống. Nhờ vậy, một ý thức về các giá trị và các chuẩn mực đúng đắn được thiết lập. Nó được dạy sự phân biệt giữa việc rèn luyện trí nhớ và việc suy nghĩ; giữa các khối sự kiện do các nhà tư tưởng xác minh và ghi thành bảng trong sách vở, với việc áp dụng chúng vào các biến cố của đời sống khách quan, cộng thêm — và chính ở đây có một tư tưởng thật sự quan trọng — nguyên nhân chủ quan của chúng và mối liên hệ của chúng với thế giới thực tại mà thế giới hiện tượng chỉ là biểu tượng. |
|
At the age of seventeen the study of psychology will be added to the rest of the curriculum and the nature of the soul and its relation to the World Soul will be investigated. Meditation along suitable lines will be part of the curriculum. It should be noted here, however, that the religious implications of meditation are needless. Meditation is the process whereby the objective tendencies and outgoing impulses of the mind are thwarted, and it begins to be subjective, to focus and to intuit. This can be taught through the medium of deep thinking on any subject—mathematics, biology, and so forth. |
Ở tuổi mười bảy, môn tâm lý học sẽ được thêm vào phần còn lại của chương trình học, và bản chất của linh hồn cùng mối liên hệ của nó với Linh Hồn Thế Giới sẽ được khảo sát. Tham thiền theo những đường lối thích hợp sẽ là một phần của chương trình học. Tuy nhiên, cần lưu ý ở đây rằng những hàm ý tôn giáo của tham thiền là không cần thiết. Tham thiền là tiến trình nhờ đó các khuynh hướng khách quan và các xung động hướng ngoại của thể trí bị ngăn lại, và nó bắt đầu trở nên chủ quan, tập trung và trực giác. Điều này có thể được dạy qua phương tiện suy nghĩ sâu sắc về bất kỳ đề tài nào — toán học, sinh học, vân vân. |
|
The tendency of the newer education should be to make the subject of the educational experiment the conscious possessor of his equipment; it should leave him standing clear-eyed before life, with open doors ahead of him into the world of objective phenomena and relationships; it should have brought him to the knowledge of a door leading into the world of Reality and through which he may pass at will and there assume and work out his relation to other souls. |
Khuynh hướng của nền giáo dục mới hơn phải là làm cho đối tượng của thí nghiệm giáo dục trở thành người sở hữu có ý thức đối với trang bị của mình; nó phải để y đứng trước đời sống với đôi mắt sáng rõ, với những cánh cửa mở ra phía trước y vào thế giới của các hiện tượng và các mối liên hệ khách quan; nó phải đưa y đến sự hiểu biết về một cánh cửa dẫn vào thế giới Thực Tại, qua đó y có thể đi vào tùy ý, và tại đó đảm nhận cũng như thực hiện mối liên hệ của mình với các linh hồn khác. |
|
This second question—relating to the type of experience which would aid the child to round out his development and be supplementary to the compulsory state curriculum—is well-nigh impossible to answer, owing to the wide differences in human beings and the practical impossibility of finding those teachers who work as souls and as minds. [10] |
Câu hỏi thứ hai này — liên quan đến loại kinh nghiệm sẽ giúp đứa trẻ hoàn thiện sự phát triển của nó và bổ sung cho chương trình bắt buộc của nhà nước — gần như không thể trả lời, do những khác biệt rất rộng lớn giữa các con người và sự bất khả thi về mặt thực tiễn trong việc tìm ra những huấn sư làm việc như các linh hồn và như các thể trí. [10] |
|
Every child should be studied in three directions. First, to ascertain the natural trend of his impulses: Are they towards physical expression, towards manual labor, in which one would include such a wide range of opportunity as that of the mechanical factory worker and the trained skill of the electrician? Is there a latent capacity for one or other of the arts, a reaction to colour and form, or a response to music and rhythm? Is the intellectual calibre one that should warrant a definitely mental training in analysis, deduction, mathematics or logic? Then perhaps as life goes on our young people will be graded into two groups: the mystical, under which heading one would group those with religious, artistic and the more impractical tendencies; and the occult, which would include the intellectual, scientific and mental types. By the time a child is seventeen the training given should have enabled him to strike his note clearly, and should have indicated the pattern into which his life impulses will most probably run. In the first fourteen years, opportunity should be given to experiment in many fields of opportunity. Pure vocational training should not be emphasised until the later years of the educational process. |
Mỗi đứa trẻ nên được nghiên cứu theo ba hướng. Thứ nhất, để xác định khuynh hướng tự nhiên của các xung động nơi nó: Chúng hướng về biểu hiện thể xác, về lao động tay chân, trong đó người ta sẽ bao gồm một phạm vi cơ hội rộng lớn như công nhân nhà máy cơ khí và kỹ năng được đào tạo của người thợ điện chăng? Có năng lực tiềm ẩn đối với một hay nhiều nghệ thuật, một phản ứng với màu sắc và hình tướng, hay một đáp ứng với âm nhạc và nhịp điệu chăng? Tầm vóc trí tuệ có phải là loại biện minh cho một sự huấn luyện trí tuệ rõ rệt về phân tích, suy diễn, toán học hay luận lý chăng? Khi ấy, có lẽ khi đời sống tiếp diễn, lớp trẻ của chúng ta sẽ được phân loại thành hai nhóm: nhóm thần bí, dưới tiêu đề này người ta sẽ nhóm những người có các khuynh hướng tôn giáo, nghệ thuật và thiên về tính ít thực tiễn hơn; và nhóm huyền môn, bao gồm các kiểu người trí thức, khoa học và trí tuệ. Đến khi một đứa trẻ được mười bảy tuổi, sự huấn luyện được trao nên đã giúp nó xướng rõ âm điệu của mình, và nên đã chỉ ra mô hình mà các xung động đời sống của nó rất có thể sẽ đi theo. Trong mười bốn năm đầu, phải trao cơ hội để thử nghiệm trong nhiều lĩnh vực cơ hội. Huấn luyện nghề nghiệp thuần túy không nên được nhấn mạnh cho đến những năm sau của tiến trình giáo dục. |
|
The time is coming when all children will be studied in the following directions: |
Thời kỳ đang đến khi mọi trẻ em sẽ được nghiên cứu theo các hướng sau: |
|
1. Astrologically, to determine the life tendencies and the peculiar problem of the soul. |
1. Về mặt chiêm tinh, để xác định các khuynh hướng đời sống và vấn đề đặc thù của linh hồn. |
|
2. Psychologically, supplementing the best of modern psychology with a knowledge of the Seven Ray types, which colours eastern psychology (see pages 18-23). |
2. Về mặt tâm lý, bổ sung những gì tốt nhất của tâm lý học hiện đại bằng tri thức về bảy kiểu cung, điều vốn nhuộm màu tâm lý học phương Đông (xem các trang 18–23). |
|
3. Medically, with special attention to the endocrine system, plus the usual modern methods in relation to eyes, teeth and other physiological defects. The nature of the response apparatus will be carefully studied and developed. |
3. Về mặt y học, với sự chú ý đặc biệt đến hệ nội tiết, cộng với các phương pháp hiện đại thông thường liên quan đến mắt, răng và các khiếm khuyết sinh lý khác. Bản chất của bộ máy đáp ứng sẽ được nghiên cứu và phát triển cẩn thận. |
|
4. Vocationally, so as to place them later in life where their gifts and capacities may find fullest expression [11] and enable them thus to fulfill their group obligations. |
4. Về mặt nghề nghiệp, để về sau trong đời đặt chúng vào nơi mà các thiên tư và năng lực của chúng có thể tìm được sự biểu hiện đầy đủ nhất [11] và nhờ đó giúp chúng hoàn thành các bổn phận nhóm của mình. |
|
5. Spiritually. By this I mean that the apparent age of the soul under consideration will be studied, and the place on the ladder of evolution will be approximately noted; mystical and introspective tendencies will be considered and their apparent lack noted. Coordination between: |
5. Về mặt tinh thần. Qua điều này, Tôi muốn nói rằng tuổi biểu kiến của linh hồn đang được xét đến sẽ được nghiên cứu, và vị trí trên chiếc thang tiến hoá sẽ được ghi nhận một cách xấp xỉ; các khuynh hướng thần bí và nội quan sẽ được xem xét, và sự thiếu vắng biểu kiến của chúng cũng được ghi nhận. Sự phối hợp giữa: |
|
a. Brain and the response apparatus in the outer world of phenomena, |
a. Bộ não và bộ máy đáp ứng trong thế giới hiện tượng bên ngoài, |
|
b. Brain and desire impulses, plus emotional reactions, |
b. Bộ não và các xung động dục vọng, cộng với các phản ứng cảm xúc, |
|
c. Brain and mind and the world of thought, |
c. Bộ não và thể trí cùng thế giới tư tưởng, |
|
d. Brain, mind and soul, |
d. Bộ não, thể trí và linh hồn, |
|
will be carefully investigated so as to bring the entire equipment of the child, latent or developed, into functioning activity and to unify it into a whole. |
sẽ được khảo sát cẩn thận để đưa toàn bộ trang bị của đứa trẻ, dù tiềm ẩn hay đã phát triển, vào hoạt động chức năng và hợp nhất nó thành một toàn thể. |
|
The third question asks: |
Câu hỏi thứ ba nêu lên: |
|
“What is the process of the unfoldment of the intellect in man? How does the higher mind manifest, if at all, in the growing years?” |
“Tiến trình khai mở của trí năng nơi con người là gì? Thượng trí biểu lộ như thế nào, nếu quả có biểu lộ, trong những năm tháng trưởng thành?” |
|
It is not possible in the short time at our command to deal here with the history of the progress of mental development. A study of its racial growth will reveal much, for every child is an epitome of the whole. A study, for instance, of the growth of the God-idea in the human consciousness would prove a profitable illustration of the phenomena of thought development. A sequence of growth might most inadequately and briefly be tabulated as follows, based upon the process of unfoldment in a human being: |
Trong thời gian ngắn ngủi mà chúng ta có, không thể ở đây bàn đến lịch sử tiến bộ của sự phát triển trí tuệ. Việc nghiên cứu sự tăng trưởng của nó trong nhân loại sẽ mặc khải nhiều điều, vì mỗi đứa trẻ là hình ảnh thu nhỏ của toàn thể. Chẳng hạn, việc nghiên cứu sự tăng trưởng của ý tưởng về Thượng đế trong tâm thức nhân loại sẽ là một minh họa hữu ích về các hiện tượng của sự phát triển tư tưởng. Một chuỗi tăng trưởng có thể được lập bảng một cách rất không đầy đủ và ngắn gọn như sau, dựa trên tiến trình khai mở nơi một con người: |
|
1. Response to impact, the infant’s sense awakened. He begins to hear and see. |
1. Đáp ứng với va chạm, giác quan của trẻ sơ sinh được đánh thức. Nó bắt đầu nghe và thấy. |
|
2. Response to possession and to acquisitiveness. The child begins to appropriate, becomes self-conscious and grasps for the personal self. [12] |
2. Đáp ứng với sự sở hữu và với tính chiếm hữu. Đứa trẻ bắt đầu chiếm lấy, trở nên tự ý thức và nắm bắt cho bản ngã cá nhân. [12] |
|
3. Response to the instinct governing the animal and desire nature, and to human tendencies. |
3. Đáp ứng với bản năng chi phối bản chất động vật và dục vọng, cũng như với các khuynh hướng nhân loại. |
|
4. Response to the group. The child becomes aware of his environment and that he is an integral part of a whole. |
4. Đáp ứng với nhóm. Đứa trẻ trở nên ý thức về môi trường của nó và về việc nó là một phần cấu thành của một toàn thể. |
|
5. Response to knowledge. This begins with the impartation of informative facts, and so to the registration, through the memory, of these facts; thus are developed interest, correlation, synthesis and application to the exigencies of the life. |
5. Đáp ứng với tri thức. Điều này bắt đầu bằng việc truyền đạt các sự kiện thông tin, rồi đến việc ghi nhận các sự kiện ấy qua trí nhớ; nhờ đó phát triển hứng thú, sự liên hệ, tổng hợp và áp dụng vào các đòi hỏi cấp bách của đời sống. |
|
6. Response to the innate need to search. This leads to experiment on the physical plane, to introspection on the emotional plane, and to intellectual study and a love of reading or of listening, thus bringing the mind into some condition of activity. |
6. Đáp ứng với nhu cầu bẩm sinh phải tìm kiếm. Điều này dẫn đến thử nghiệm trên cõi hồng trần, đến nội quan trên cõi cảm dục, và đến nghiên cứu trí tuệ cùng tình yêu đọc sách hay lắng nghe, nhờ đó đưa thể trí vào một trạng thái hoạt động nào đó. |
|
7. Response to economic and sex pressure or to the law of survival. This forces him to use his equipment and knowledge and so take his place as a factor in the group life, and to promote group welfare by some aspect of active work and by the perpetuation of the species. |
7. Đáp ứng với áp lực kinh tế và tính dục, hay với định luật sinh tồn. Điều này buộc y sử dụng trang bị và tri thức của mình, nhờ đó đảm nhận vị trí như một yếu tố trong đời sống nhóm, và thúc đẩy phúc lợi nhóm bằng một phương diện nào đó của công việc tích cực và bằng sự duy trì nòi giống. |
|
8. Response to pure intellectual awareness. This leads to a conscious free use of the mind, to individual thinking, to the creation of thoughtforms, and eventually to the steady orientation of the mind to a wider and wider field of realisation and awareness. These expansions of consciousness finally bring a new factor into the field of experience. |
8. Đáp ứng với nhận thức trí tuệ thuần túy. Điều này dẫn đến việc sử dụng thể trí một cách tự do và có ý thức, đến tư duy cá nhân, đến việc tạo ra các hình tư tưởng, và cuối cùng đến sự định hướng vững chắc của thể trí vào một lĩnh vực chứng nghiệm và nhận thức ngày càng rộng lớn hơn. Những mở rộng tâm thức này sau cùng đưa một yếu tố mới vào lĩnh vực kinh nghiệm. |
|
9. Response to the Thinker or the soul. With the registration of this response, the man enters into his kingdom. The above and the below become as one. The objective and the subjective worlds are unified. Soul and its mechanism function as a unit. |
9. Đáp ứng với Chủ Thể Tư Tưởng hay linh hồn. Khi sự đáp ứng này được ghi nhận, con người bước vào giới của y. Cái trên và cái dưới trở nên như một. Các thế giới khách quan và chủ quan được hợp nhất. Linh hồn và bộ máy của nó hoạt động như một đơn vị. |
|
Towards this consummation all education should tend. Practically speaking, except in rare and highly evolved souls, [13] the higher mind does not manifest in children, any more than it did in infant humanity. It can only truly make its presence felt when soul and mind and brain are aligned and coordinated. Flashes of insight and vision when seen in the young, are frequently the reaction of their very sensitive response apparatus to group ideas and the dominant thoughts of their time and age, or of someone in their environment. |
Mọi nền giáo dục nên hướng đến sự viên mãn này. Nói một cách thực tiễn, ngoại trừ nơi những linh hồn hiếm hoi và tiến hoá cao, [13] thượng trí không biểu lộ nơi trẻ em, cũng như nó đã không biểu lộ nơi nhân loại sơ khai. Nó chỉ thật sự có thể làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận khi linh hồn, thể trí và bộ não được chỉnh hợp và phối hợp. Những lóe sáng của minh sát và tầm nhìn khi xuất hiện nơi người trẻ thường là phản ứng của bộ máy đáp ứng rất nhạy cảm của họ đối với các ý tưởng nhóm và các tư tưởng chi phối của thời đại họ, hoặc của một người nào đó trong môi trường của họ. |
|
Let me now deal briefly with the points raised concerning the attitude of the teacher, particularly towards adult aspirants. |
Bây giờ Tôi xin đề cập ngắn gọn đến những điểm được nêu liên quan đến thái độ của huấn sư, đặc biệt đối với những người chí nguyện trưởng thành. |
|
The true teacher must deal in truth and in sincerity with all seekers. His time (in so far as he is held by the time equation on the physical plane) is too valuable to waste in social politeness or in refraining from making critical comment where a good purpose would be served. He must depend thoroughly upon the sincerity of those whom he teaches. Nevertheless, criticism and the pointing out of faults and errors does not always prove helpful; it may but increase responsibility, evoke antagonism or unbelief, or produce depression—three of the most undesirable results of the use of the critical faculty. |
Huấn sư chân chính phải xử lý mọi người tìm kiếm bằng chân lý và sự thành thật. Thời gian của y, trong chừng mực y bị ràng buộc bởi phương trình thời gian trên cõi hồng trần, quá quý giá để lãng phí vào lịch sự xã giao hay vào việc kiềm chế không đưa ra nhận xét phê bình khi một mục đích tốt đẹp sẽ được phục vụ. Y phải hoàn toàn dựa vào sự thành thật của những người mà y dạy. Tuy nhiên, sự phê bình và việc chỉ ra các khuyết điểm, sai lầm không phải lúc nào cũng tỏ ra hữu ích; nó có thể chỉ làm tăng trách nhiệm, gợi lên sự đối kháng hay hoài nghi, hoặc tạo ra sự chán nản — ba kết quả bất lợi nhất của việc sử dụng năng lực phê bình. |
|
By stimulating their interest, by producing a subjective synthesis in the group he is teaching, and by fanning the flame of their spiritual aspiration, the group may arrive at a right discrimination as to their joint quality and necessities, and thus they will render the ordinary faultfinding attitude of the teacher unnecessary. |
Bằng cách kích thích sự quan tâm của họ, tạo ra một tổng hợp chủ quan trong nhóm mà y đang dạy, và thổi bùng ngọn lửa khát vọng tinh thần của họ, nhóm có thể đạt đến sự phân biện đúng đắn về phẩm tính và nhu cầu chung của họ, và như thế họ sẽ khiến thái độ thường tình hay tìm lỗi của huấn sư trở nên không cần thiết. |
|
Those upon the teaching ray will learn to teach by teaching. There is no surer method, provided it is accompanied by a deep love, personal yet at the same time impersonal, for those who are to be taught. Above everything else, I would enjoin upon you the inculcation of the group spirit, for that is the first expression of true love. Two points only would I make: |
Những ai thuộc cung giảng dạy sẽ học cách giảng dạy bằng chính việc giảng dạy. Không có phương pháp nào chắc chắn hơn, miễn là nó đi kèm với một tình thương sâu xa, có tính cá nhân nhưng đồng thời vô ngã, dành cho những người sẽ được dạy. Trên hết mọi điều, Tôi muốn khuyên các bạn gieo trồng tinh thần nhóm, vì đó là biểu hiện đầu tiên của tình thương chân chính. Tôi chỉ muốn nêu hai điểm: |
|
First of all, in teaching children up to fourteen years of age, it is necessary to bear in mind that they are emotionally [14] focussed. They need to feel, and rightly to feel beauty, strength and wisdom. They must not be expected to rationalise before that time, even if they show evidence of the power so to do. After fourteen years and during adolescence their mental response to truth should be drawn out and counted upon to deal with presented problems. Even if it is not there, an effort should be made to evoke it. |
Trước hết, khi dạy trẻ em cho đến mười bốn tuổi, cần ghi nhớ rằng chúng được tập trung về mặt cảm xúc. [14] Chúng cần cảm nhận, và cảm nhận đúng về vẻ đẹp, sức mạnh và minh triết. Không nên kỳ vọng chúng lý giải trước thời điểm ấy, dù chúng có cho thấy bằng chứng về khả năng làm như vậy. Sau mười bốn tuổi và trong thời kỳ thiếu niên, sự đáp ứng trí tuệ của chúng đối với chân lý nên được gợi mở và được trông cậy để xử lý các vấn đề được trình bày. Ngay cả nếu nó chưa có đó, cũng nên nỗ lực để gợi lên nó. |
|
Secondly, an attempt should be made to approximate the child’s place upon the ladder of evolution by a study of his background, his physical equipment, the nature of his response apparatus with its varied reactions, and his major interests. This enquiry sets up a subjective rapport with the child which is far more potent in its results than would be months and months of strenuously used words in the effort to convey an idea. |
Thứ hai, nên cố gắng ước định vị trí của đứa trẻ trên chiếc thang tiến hoá bằng cách nghiên cứu bối cảnh của nó, trang bị thể xác của nó, bản chất của bộ máy đáp ứng nơi nó với các phản ứng đa dạng, và các mối quan tâm chính của nó. Sự khảo sát này thiết lập một mối liên hệ chủ quan với đứa trẻ, mạnh mẽ hơn rất nhiều trong kết quả so với nhiều tháng nhiều tháng dùng lời lẽ một cách căng thẳng nhằm cố truyền đạt một ý tưởng. |
Theory, Methods and Goals – Lý Thuyết, Phương Pháp và Mục Tiêu
|
All that I have to say here is still in the nature of introductory remarks. Please bear this in mind. I am anxious, however, to lay a sound foundation for our future discussions on the building of the antahkarana, so that we can work intelligently, but not critically. It is essential that as we start our work it should be based on that which is today in existence. Nature works without any gaps, and this is so even when (from the standpoint of academic science) there is an apparent hiatus between facts and known species. In transitional periods some of the bridging forms have disappeared and the gap appears to be there. But it is not so in fact. We have not yet discovered all that is to be found in the world of phenomenal appearances. We are passing through one of the great natural transitional periods at this time. We are laying the foundation for the emergence of a new species of human being—a more highly evolved unit within the human family—hence much of our problem, and much of the present failure to meet the demands [15] of the race, and to measure up to human need for development. |
Tất cả những gì Tôi phải nói ở đây vẫn mang bản chất của những nhận xét nhập đề. Xin hãy ghi nhớ điều này. Tuy nhiên, Tôi nóng lòng đặt một nền tảng vững chắc cho các cuộc thảo luận tương lai của chúng ta về việc xây dựng antahkarana, để chúng ta có thể làm việc một cách thông minh, nhưng không phê phán. Điều thiết yếu là khi chúng ta bắt đầu công việc, nó phải đặt nền trên cái đang hiện hữu ngày nay. Thiên nhiên làm việc không có bất kỳ khoảng trống nào, và điều này vẫn đúng ngay cả khi, từ lập trường của khoa học hàn lâm, có một khoảng gián đoạn biểu kiến giữa các sự kiện và các loài đã biết. Trong các thời kỳ chuyển tiếp, một số hình tướng bắt cầu đã biến mất và khoảng cách dường như có đó. Nhưng sự thật không phải như vậy. Chúng ta vẫn chưa khám phá tất cả những gì có thể được tìm thấy trong thế giới của các sắc tướng hiện tượng. Vào lúc này, chúng ta đang đi qua một trong những thời kỳ chuyển tiếp tự nhiên vĩ đại. Chúng ta đang đặt nền tảng cho sự xuất hiện của một loài mới trong nhân loại — một đơn vị tiến hoá cao hơn trong gia đình nhân loại — do đó có nhiều vấn đề của chúng ta, và nhiều thất bại hiện nay trong việc đáp ứng các đòi hỏi [15] của nhân loại, cũng như trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của con người. |
|
We have, in the world, a general theory as to education, and certain basic methods are universally employed. Countries vary greatly in the application of methods, and systems differ very considerably. All, however, teach these same fundamental things; they teach the youth of the country to read and write and to attain a fair measure of ability to deal with figures through instruction in elementary arithmetic. These three are curiously symbolic of the whole evolutionary unfoldment of the race. |
Trong thế giới, chúng ta có một lý thuyết tổng quát về giáo dục, và một số phương pháp căn bản được sử dụng phổ quát. Các quốc gia khác nhau rất nhiều trong việc áp dụng các phương pháp, và các hệ thống khác biệt đáng kể. Tuy nhiên, tất cả đều dạy những điều nền tảng giống nhau; chúng dạy thanh thiếu niên của quốc gia biết đọc, biết viết và đạt được một mức khả năng khá trong việc xử lý các con số qua sự hướng dẫn về số học sơ đẳng. Ba điều này, kỳ lạ thay, là biểu tượng của toàn bộ sự khai mở tiến hoá của nhân loại. |
|
Reading has to do with the clothing of ideas with form and is related to the first step in the creative process, wherein Deity, governed and impelled by an idea (embodying God’s purpose and plan), converted that idea into the desired substance and clothed it with the needed outer appearance. Writing symbolises the method whereby the process is carried on, but it is of course far more personal in its implications. Reading is concerned essentially with the realisation of a clothed idea of some kind, whereas writing is, curiously enough, concerned with the individual’s conscious self-relation to ideas, and his use of words in writing is the measure of the grasp he may have of these universal ideas. Arithmetic (and the power to add, to subtract, and to multiply) is related also to the creative process and concerns the production of those forms upon the physical plane which will adequately produce the idea and bring it to manifestation. |
Việc đọc liên quan đến việc khoác hình tướng cho các ý tưởng, và liên hệ với bước đầu trong tiến trình sáng tạo, trong đó Thượng đế, được chi phối và thúc đẩy bởi một ý tưởng vốn hàm chứa mục đích và Thiên Cơ của Thượng đế, đã chuyển ý tưởng ấy thành chất liệu mong muốn và khoác cho nó sắc tướng bên ngoài cần thiết. Việc viết tượng trưng cho phương pháp nhờ đó tiến trình được tiếp tục, nhưng dĩ nhiên nó mang hàm ý cá nhân hơn nhiều. Việc đọc cốt yếu liên quan đến sự nhận biết một ý tưởng đã được khoác hình thức nào đó, trong khi việc viết, kỳ lạ thay, liên quan đến mối tự liên hệ có ý thức của cá nhân với các ý tưởng, và việc y dùng các từ trong khi viết là thước đo mức độ nắm bắt của y đối với các ý tưởng phổ quát này. Số học, cùng quyền năng cộng, trừ và nhân, cũng liên hệ với tiến trình sáng tạo và liên quan đến việc tạo ra những hình tướng trên cõi hồng trần sẽ biểu hiện đầy đủ ý tưởng và đưa nó vào sự biểu lộ. |
|
Vision might be regarded as concerning itself with the higher levels of the mental plane, whereon the idea is sensed and seen. Writing has a more definite relation to the concrete levels of the mental plane and to the ability of the man to bring through and express these visioned ideas in his own particular form. Arithmetic has a definite relation to subsequent aspects of the process and to the emergence of the idea into some correlated form upon the [16] physical plane. The visioning of the thoughtform is a process which must be succeeded by the appropriation of as much energy by the idea as is needed to make it effective or “apparent” (esoterically speaking). Of this the symbolism of arithmetic is the expression. |
Tầm nhìn có thể được xem là liên quan đến các cấp độ cao hơn của cõi trí, nơi ý tưởng được cảm nhận và nhìn thấy. Việc viết có mối liên hệ xác định hơn với các cấp độ cụ thể của cõi trí và với khả năng của con người trong việc đưa xuyên qua và diễn đạt các ý tưởng đã được nhìn thấy này trong hình thức đặc thù của chính y. Số học có mối liên hệ xác định với các phương diện kế tiếp của tiến trình và với sự xuất hiện của ý tưởng trong một hình thức liên hệ nào đó trên [16] cõi hồng trần. Việc hình dung hình tư tưởng là một tiến trình phải được tiếp nối bằng việc ý tưởng thu hút lấy lượng năng lượng cần thiết để làm cho nó hữu hiệu hay “hiển hiện” theo nghĩa nội môn. Biểu tượng học của số học là sự biểu hiện của điều này. |
|
From another angle, man reads his destiny in the heavens and writes out that destiny in his life upon the earth; he reduces, knowingly or unknowingly, the idea of his soul to due and proper form, so that each life adds, subtracts and multiplies, until the sum of each soul’s experiencing is complete. Thus, symbolically, the three basic ideas are held in elementary education, though their true meaning is divorced from reality and the right significance is entirely lost. All that we have, however, emerging slowly and definitely through the medium of world education, is built upon this unrealised scaffolding. The fundamental necessity which today confronts the educational world is the need to relate the process of unfolding the human mentality to the world of meaning, and not to the world of objective phenomena. Until the aim of education is to orient a man to this inner world of realities, we shall have the misplaced emphasis of the present time. Until we can arrive in our educational objectives at the bridging of the gap between the three lower aspects of man and the soul (a bridging which must take place upon the mental levels of consciousness), we shall make but little progress in right directions and all interim activity will be inadequate to the modern need. Until the fact of the higher mind is recognised, and the place which the lower concrete mind should fill as the servant of the higher is likewise recognised, we shall have the overdevelopment of the concrete materialising faculty—with its aptitude to memorise, to correlate facts and to produce that which will meet man’s lower desire—but we shall not have a humanity which can truly think. As yet, the mind reflects the lower desire nature and does not attempt to cognise the higher. [17] |
Từ một góc độ khác, con người đọc vận mệnh của mình trên các tầng trời và viết ra vận mệnh ấy trong đời sống của y trên Trái Đất; y chuyển ý tưởng của linh hồn mình thành hình thức thích đáng và đúng đắn, dù biết hay không biết, để mỗi đời sống cộng thêm, trừ bớt và nhân lên, cho đến khi tổng số kinh nghiệm của mỗi linh hồn được hoàn tất. Như vậy, theo nghĩa biểu tượng, ba ý tưởng căn bản được giữ trong giáo dục sơ đẳng, dù ý nghĩa đích thực của chúng bị tách khỏi thực tại và thâm nghĩa đúng đắn hoàn toàn bị mất. Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta có, đang xuất hiện chậm rãi và rõ rệt qua phương tiện giáo dục thế giới, đều được xây dựng trên giàn giáo chưa được nhận biết này. Nhu cầu nền tảng đang đối diện với thế giới giáo dục ngày nay là cần liên hệ tiến trình khai mở trí tuệ con người với thế giới của ý nghĩa, chứ không phải với thế giới của các hiện tượng khách quan. Cho đến khi mục tiêu của giáo dục là định hướng con người về thế giới nội tại của các thực tại này, chúng ta sẽ vẫn có sự nhấn mạnh đặt sai chỗ của thời hiện tại. Cho đến khi trong các mục tiêu giáo dục của mình, chúng ta có thể đạt đến việc bắt cầu khoảng cách giữa ba phương diện thấp của con người và linh hồn, một sự bắt cầu phải diễn ra trên các cấp độ trí của tâm thức, chúng ta sẽ chỉ tiến bộ rất ít theo các hướng đúng đắn, và mọi hoạt động tạm thời sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu hiện đại. Cho đến khi sự kiện về thượng trí được công nhận, và vị trí mà hạ trí cụ thể phải đảm nhiệm như kẻ phụng sự của thượng trí cũng được công nhận, chúng ta sẽ có sự phát triển quá mức của năng lực cụ thể hoá và vật chất hoá — với khả năng ghi nhớ, liên hệ các sự kiện và tạo ra cái đáp ứng dục vọng thấp của con người — nhưng chúng ta sẽ không có một nhân loại có thể thật sự suy nghĩ. Cho đến nay, thể trí phản chiếu bản chất dục vọng thấp và không cố gắng nhận thức cái cao hơn. [17] |
|
When the right method of training is instituted, the mind will be developed into a reflector or agent of the soul and so sensitised to the world of true values that the lower nature—emotional, mental and physical or vital—will become simply the automatic servant of the soul. The soul will then function on earth through the medium of the mind, thereby controlling its instrument, the lower mind. Yet at the same time, the mind will remain the recorder and reflector of all information coming to it from the world of the senses, from the emotional body, and will register also the thoughts and the ideas current in its environment. At present, it is alas true, the trained mind is regarded as the highest expression of which humanity is capable; it is viewed entirely as a personality, and the possibility of there being something which can use the mind, as the mind in its turn uses the physical brain, is overlooked. |
Khi phương pháp huấn luyện đúng đắn được thiết lập, thể trí sẽ được phát triển thành một vật phản chiếu hay tác nhân của linh hồn, và trở nên nhạy cảm với thế giới của các giá trị chân thật đến mức bản chất thấp — cảm xúc, trí tuệ và hồng trần hay sinh lực — sẽ chỉ trở thành kẻ phụng sự tự động của linh hồn. Khi ấy linh hồn sẽ hoạt động trên Trái Đất qua phương tiện thể trí, nhờ đó kiểm soát công cụ của nó là hạ trí. Tuy nhiên, đồng thời, thể trí vẫn sẽ là bộ ghi nhận và phản chiếu mọi thông tin đến với nó từ thế giới giác quan, từ thể cảm dục, và cũng sẽ ghi nhận các tư tưởng và ý tưởng đang lưu hành trong môi trường của nó. Hiện nay, than ôi, đúng là thể trí được huấn luyện được xem là biểu hiện cao nhất mà nhân loại có khả năng đạt được; nó được nhìn hoàn toàn như một phàm ngã, và người ta bỏ qua khả năng có một cái gì đó có thể sử dụng thể trí, cũng như thể trí đến lượt nó sử dụng bộ não thể xác. |
|
One of the things which we shall seek to do in our studies together is to grasp the relation of the world of meaning to the world of expression; we shall attempt to study the technique whereby this world of quality (which expresses itself through the world of meaning) can be entered and understood by the integrated consciousness of the intelligent human being. |
Một trong những điều chúng ta sẽ tìm cách làm trong các nghiên cứu chung là nắm bắt mối liên hệ của thế giới ý nghĩa với thế giới biểu hiện; chúng ta sẽ cố gắng nghiên cứu kỹ thuật nhờ đó thế giới phẩm tính này, vốn tự biểu hiện qua thế giới ý nghĩa, có thể được bước vào và thấu hiểu bởi tâm thức tích hợp của con người thông minh. |
|
Certain words will recur again and again as we work and study together; such words as meaning, quality, value—all of which stand revealed in their vital spiritual significance when man learns to grasp the fact of the higher realities and bridges the gap between his higher and his lower consciousness. The significance also of creative activity and the right understanding of what we call genius will likewise be made clearer, and in this way creative work will no longer be regarded as unique and manifesting sporadically as is now the case but will become the subject of trained attention, and so assume its normal place in man’s unfoldment. It might be added here that creative activity in the field of art becomes possible when the first aspect of [18] the bridging energy of man can function and the soul (manifesting its third or lowest aspect) can begin to work. Creative work can be carried forward when two of the “knowledge petals” of the egoic lotus are unfolded. The man can produce, through knowledge and creative energy, something upon the physical plane which will be expressive of the soul’s creative power. When two of the “love petals” are also unfolded, then a genius makes his appearance. This is a technical piece of information for those students who are studying the science of the Ageless Wisdom, but it is of no value to those who do not recognise symbology, or the fact of the higher ego or soul. |
Một số từ sẽ lặp đi lặp lại khi chúng ta cùng làm việc và học hỏi; những từ như ý nghĩa, phẩm tính, giá trị — tất cả đều được mặc khải trong thâm nghĩa tinh thần sống động của chúng khi con người học cách nắm bắt sự kiện về các thực tại cao hơn và bắt cầu khoảng cách giữa tâm thức cao và thấp của y. Thâm nghĩa của hoạt động sáng tạo và sự thấu hiểu đúng về điều chúng ta gọi là thiên tài cũng sẽ trở nên rõ ràng hơn; và theo cách này, công việc sáng tạo sẽ không còn được xem là độc nhất và biểu lộ rải rác như hiện nay, mà sẽ trở thành đối tượng của sự chú ý được huấn luyện, và nhờ đó đảm nhận vị trí bình thường của nó trong sự khai mở của con người. Ở đây có thể thêm rằng hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật trở nên khả hữu khi phương diện thứ nhất của [18] năng lượng bắt cầu nơi con người có thể hoạt động, và linh hồn, biểu lộ phương diện thứ ba hay thấp nhất của nó, có thể bắt đầu làm việc. Công việc sáng tạo có thể được tiến hành khi hai “cánh hoa tri thức” của Hoa Sen Chân Ngã được khai mở. Con người có thể tạo ra, qua tri thức và năng lượng sáng tạo, một điều gì đó trên cõi hồng trần, vốn sẽ diễn đạt quyền năng sáng tạo của linh hồn. Khi hai “cánh hoa bác ái” cũng được khai mở, khi ấy một thiên tài xuất hiện. Đây là một mẩu thông tin kỹ thuật dành cho những môn sinh đang nghiên cứu khoa học của Minh Triết Ngàn Đời, nhưng nó không có giá trị đối với những ai không công nhận biểu tượng học, hay sự kiện về chân ngã cao hơn hoặc linh hồn. |
|
It might be of value here if I clarified my use of the words “higher ego.” As you know, if you have read A Treatise on the Seven Rays, Vols. I and II (Esoteric Psychology), the soul is an aspect of the divine energy in time and space. We are told that the Solar Logos circumscribed for His use and for the meeting of His desire, a certain measure of the substance of space and informed it with His life and consciousness. He did this for His good purposes and in conformity with His self-realised plan and intent. Thus He submitted Himself to limitation. The human monad followed the same procedure and—in time and space—limited itself in a similar manner. On the physical plane and in the physical body, this phenomenal and transient entity controls its phenomenal appearance through the two aspects of life and consciousness. The life principle—the flow of divine energy through all forms—is temporarily seated in the heart, while the consciousness principle, the soul of all things, is located (temporarily as far as the form nature of a particular human unit is concerned) within the brain. As again you know, the life principle controls the mechanism through the medium of the blood stream, for “the blood is the life,” and uses the heart as its central organ; whilst the consciousness principle [19] uses the nervous system as its instrument, with the intricate extensions of the organ of sensitivity, the spinal column. |
Ở đây có thể hữu ích nếu Tôi làm rõ cách Tôi dùng các từ “chân ngã cao hơn”. Như các bạn biết, nếu các bạn đã đọc Luận về Bảy Cung, quyển I và II, tức Tâm Lý Học Nội Môn, linh hồn là một phương diện của năng lượng thiêng liêng trong thời gian và không gian. Chúng ta được bảo rằng Thái dương Thượng đế đã khoanh định để Ngài sử dụng và để đáp ứng dục vọng của Ngài một lượng nhất định chất liệu của không gian, rồi thấm nhuần nó bằng sự sống và tâm thức của Ngài. Ngài làm điều này vì các mục đích tốt lành của Ngài và phù hợp với Thiên Cơ cùng ý định mà Ngài tự chứng nghiệm. Như vậy, Ngài tự đặt mình vào giới hạn. Chân thần nhân loại đã theo cùng thủ tục ấy và — trong thời gian và không gian — tự giới hạn chính nó theo một cách tương tự. Trên cõi hồng trần và trong thể xác, thực thể hiện tượng và thoáng qua này kiểm soát sắc tướng hiện tượng của nó qua hai phương diện sự sống và tâm thức. Nguyên khí sự sống — dòng năng lượng thiêng liêng tuôn chảy qua mọi hình tướng — tạm thời an trú trong tim, trong khi nguyên khí tâm thức, linh hồn của muôn vật, được đặt, tạm thời xét theo bản chất hình tướng của một đơn vị nhân loại đặc thù, trong bộ não. Như các bạn cũng biết, nguyên khí sự sống kiểm soát bộ máy qua phương tiện dòng máu, vì “máu là sự sống”, và sử dụng tim như cơ quan trung tâm của nó; trong khi nguyên khí tâm thức [19] sử dụng hệ thần kinh làm công cụ của nó, với các phần mở rộng phức tạp của cơ quan nhạy cảm là cột sống. |
|
The objective of education should therefore be the training of the mechanism to respond to the life of the soul. The higher Self or Soul is the sumtotal of the consciousness of the Monad, again in time and space. The lower self or soul is, for our purposes, as much of that sumtotal as any one person in any one life can use and express. This activity is dependent upon the type and quality of the body nature, the mechanism produced by soul activity in other lives, and the effect of reaction to environing conditions. The increasing of soul awareness, the deepening of the flow of consciousness, and the development of an inner continuity of awareness, plus the evocation of soul attributes and aspects upon the physical plane through the medium of its triple mechanism, constitute the objective of all education. These aspects are, as you well know: |
Do đó, mục tiêu của giáo dục phải là huấn luyện bộ máy đáp ứng với sự sống của linh hồn. Bản Ngã Cao Siêu hay Linh Hồn là tổng số tâm thức của Chân thần, cũng trong thời gian và không gian. Phàm ngã hay linh hồn thấp, đối với các mục đích của chúng ta, là phần của tổng số ấy mà bất kỳ một người nào trong bất kỳ một đời sống nào có thể sử dụng và biểu hiện. Hoạt động này tùy thuộc vào kiểu loại và phẩm tính của bản chất thân thể, bộ máy được tạo ra bởi hoạt động linh hồn trong các đời sống khác, và tác động của phản ứng đối với các điều kiện chung quanh. Sự gia tăng nhận thức linh hồn, sự đào sâu dòng chảy tâm thức, và sự phát triển của một tính liên tục nội tại của nhận thức, cộng với việc gợi lên các thuộc tính và phương diện của linh hồn trên cõi hồng trần qua phương tiện bộ máy tam phân của nó, cấu thành mục tiêu của mọi nền giáo dục. Các phương diện này, như các bạn biết rõ, là: |
|
1. Will or purpose. This, through education, should be developed to the point where the manifested life is governed by conscious spiritual purpose and the life tendency is correctly oriented towards reality. |
1. Ý chí hay mục đích. Điều này, qua giáo dục, phải được phát triển đến mức đời sống biểu lộ được chi phối bởi mục đích tinh thần có ý thức và khuynh hướng đời sống được định hướng đúng đắn về thực tại. |
|
The right direction of the will should be one of the major concerns of all true educators. The will-to-good, the will-to-beauty, and the will-to-serve must be cultivated. |
Sự định hướng đúng đắn của ý chí phải là một trong những mối quan tâm chính yếu của mọi nhà giáo dục chân chính. Ý Chí-hướng Thiện, Ý Chí-hướng về Vẻ Đẹp và Ý Chí-Phụng sự phải được vun bồi. |
|
2. Love-wisdom. This is essentially the unfolding of the consciousness of the whole. We call it group consciousness. Its first development is self-consciousness, which is the realisation by the soul that (in the three worlds of human evolution) man is the Three in One and One in Three. He can therefore react to the associated groups of lives which constitute his own little phenomenal appearance; self-consciousness [20] is, therefore, a stage on the way to group consciousness and is the consciousness of the Immediate. |
2. Bác Ái – Minh Triết. Về bản chất, đây là sự khai mở tâm thức của toàn thể. Chúng ta gọi đó là tâm thức nhóm. Sự phát triển đầu tiên của nó là ngã thức, tức sự nhận biết của linh hồn rằng trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, con người là Ba trong Một và Một trong Ba. Do đó, y có thể phản ứng với các nhóm sự sống liên kết vốn cấu thành sắc tướng hiện tượng nhỏ bé của chính y; vì vậy, ngã thức [20] là một giai đoạn trên đường đi đến tâm thức nhóm và là tâm thức của cái Trực Tiếp. |
|
Through education, this self-consciousness must be unfolded until the man recognises that his consciousness is a corporate part of a greater whole. He blends then with the group interests, activities and objectives. They are eventually his and he becomes group conscious. This is love. It leads to wisdom, which is love in manifested activity. Self-interest becomes group interest. Such should be the major objective of all true educational endeavour. Love of self (self-consciousness), love of those around us (group-consciousness), become eventually love of the whole (God consciousness). Such are the steps. |
Qua giáo dục, ngã thức này phải được khai mở cho đến khi con người nhận ra rằng tâm thức của y là một phần hợp nhất của một toàn thể lớn hơn. Khi ấy y hòa nhập với các lợi ích, hoạt động và mục tiêu của nhóm. Cuối cùng chúng trở thành của y và y trở nên có tâm thức nhóm. Đây là tình thương. Nó dẫn đến minh triết, tức tình thương trong hoạt động biểu lộ. Lợi ích bản thân trở thành lợi ích nhóm. Đó phải là mục tiêu chính yếu của mọi nỗ lực giáo dục chân chính. Tình thương bản thân, tức ngã thức, tình thương đối với những người quanh chúng ta, tức tâm thức nhóm, cuối cùng trở thành tình thương đối với toàn thể, tức tâm thức Thượng đế. Đó là các bước. |
|
3. Active Intelligence. This concerns the unfolding of the creative nature of the conscious, spiritual man. It takes place through right use of the mind, with its power to intuit ideas, to respond to impact, to translate, analyse, and to construct forms for revelation. Thus the soul of man creates. This creative process can be described, as far as its steps are concerned, as follows: |
3. Trí Tuệ Hoạt Động. Điều này liên quan đến sự khai mở bản chất sáng tạo của con người tinh thần có ý thức. Nó diễn ra qua việc sử dụng đúng thể trí, với quyền năng trực giác các ý tưởng, đáp ứng với va chạm, chuyển dịch, phân tích và kiến tạo các hình tướng cho sự mặc khải. Như vậy linh hồn của con người sáng tạo. Tiến trình sáng tạo này, xét theo các bước của nó, có thể được mô tả như sau: |
|
a. The soul creates its physical body, its phenomenal appearance, its outer form. |
a. Linh hồn sáng tạo thể xác của nó, sắc tướng hiện tượng của nó, hình tướng bên ngoài của nó. |
|
b. The soul creates, in time and space, in line with its desires. Thus the secondary world of phenomenal things comes into being and our modern civilisation is the result of this creative activity of the soul’s desire nature, limited by form. Ponder on this. |
b. Linh hồn sáng tạo trong thời gian và không gian, phù hợp với các dục vọng của nó. Như vậy, thế giới thứ yếu của các sự vật hiện tượng đi vào hiện hữu, và nền văn minh hiện đại của chúng ta là kết quả của hoạt động sáng tạo này của bản chất dục vọng nơi linh hồn, bị giới hạn bởi hình tướng. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
c. The soul creates through the direct agency of the lower mind and hence the appearance of the world of symbols which fill our united lives with interest, concepts, ideas and beauty, through the written word, the spoken word, and the creative [21] arts. These are the products of the thought of the thinkers of the race. |
c. Linh hồn sáng tạo qua tác nhân trực tiếp của hạ trí, và từ đó có sự xuất hiện của thế giới biểu tượng, vốn làm đầy đời sống chung của chúng ta bằng hứng thú, quan niệm, ý tưởng và vẻ đẹp, qua chữ viết, lời nói và các nghệ thuật [21] sáng tạo. Đây là những sản phẩm của tư tưởng nơi các nhà tư tưởng của nhân loại. |
|
The right direction of this already developed tendency is the aim of all true education. The nature of ideas, the modes of intuiting them, and the laws which should govern all creative work are its goals and objectives. Thus we come to the world of attributes which supplement the activity of the three aspects, in the same way that the three major rays are enhanced and aided by the work of the four minor rays. These four attributive unfoldments in man, through the activity of the soul in manifestation, are: |
Sự định hướng đúng đắn của khuynh hướng đã phát triển này là mục đích của mọi nền giáo dục chân chính. Bản chất của các ý tưởng, các phương thức trực giác chúng, và các định luật phải chi phối mọi công việc sáng tạo là các mục tiêu và đích nhắm của nó. Như vậy, chúng ta đi đến thế giới của các thuộc tính, vốn bổ sung cho hoạt động của ba phương diện, giống như ba cung chính được tăng cường và trợ giúp bởi công việc của bốn cung phụ. Bốn sự khai mở thuộc tính này nơi con người, qua hoạt động của linh hồn trong biểu lộ, là: |
|
4. The attribute of harmony, produced through conflict. This leads to release and to the eventual power to create. This is one of the attributes which education should deal with from the angle of the intuition and should hold before its exponents as personality and group objectives. It is the attribute latent in all forms and is that innate urge or discontent which leads man to struggle and progress and evolve in order finally to make atonement and union with his soul. It is the lowest aspect of that higher spiritual and monadic triad which reflects itself in the soul. It is the consciousness of harmony and beauty which drives the human unit along the path of evolution to an eventual return to his emanating Source. |
4. Thuộc tính của sự hài hòa, được tạo ra qua xung đột. Điều này dẫn đến sự giải thoát và đến quyền năng sau cùng để sáng tạo. Đây là một trong các thuộc tính mà giáo dục phải xử lý từ góc độ trực giác, và phải đặt trước những người thực hiện nó như các mục tiêu của phàm ngã và của nhóm. Đó là thuộc tính tiềm ẩn trong mọi hình tướng, và là thôi thúc hay sự bất mãn bẩm sinh dẫn con người đến đấu tranh, tiến bộ và tiến hoá, để sau cùng tạo nên sự nhất như và hợp nhất với linh hồn của y. Đó là phương diện thấp nhất của tam nguyên tinh thần và chân thần cao hơn, vốn phản chiếu chính nó trong linh hồn. Đó là tâm thức về sự hài hòa và vẻ đẹp, thúc đẩy đơn vị nhân loại đi dọc theo con đường tiến hoá đến sự trở về sau cùng với Nguồn phát xuất của y. |
|
Education must work, therefore, with this dissatisfaction and interpret it to those who are taught, so that they can understand themselves and work intelligently. |
Vì vậy, giáo dục phải làm việc với sự bất mãn này và diễn giải nó cho những người được dạy, để họ có thể thấu hiểu chính mình và làm việc một cách thông minh. |
|
5. The attribute of concrete knowledge whereby man is enabled to concretise his concepts and so build thoughtforms whereby he materialises his visions and his dreams and brings his ideas into being. This he does through the activity of the lower concrete mind. [22] |
5. Thuộc tính của tri thức cụ thể, nhờ đó con người có khả năng cụ thể hoá các quan niệm của mình và xây dựng các hình tư tưởng, qua đó y hiện hình các tầm nhìn và ước mơ của mình, đồng thời đưa các ý tưởng của mình vào hiện hữu. Y làm điều này qua hoạt động của hạ trí cụ thể. [22] |
|
The true work of education is to train the lower man in right discrimination and true sensitivity to the vision, so that he can build true to the purpose of his soul and produce upon the earth that which will be his contribution to the whole. It is right here that the work of modern education has to begin. Not yet can man work with intelligence in the world of ideas and of patterns; not yet is he sensitive to the true spiritual values. This is the goal for the disciple, even though the masses cannot yet function on these levels. The first thing that must be done is to train the child in the correct use of the discriminating faculty and in the power of choice and of directed purpose. He must be brought to a truer understanding of the underlying purpose of being, and be led to work with wisdom in the field of creative activity, which means, in the last analysis, in the right use of the “mind stuff” (the chitta of Patanjali). Thus and only thus, can he be released from the control of his lower nature. |
Công việc đích thực của giáo dục là huấn luyện phàm nhân trong sự phân biện đúng và sự nhạy cảm chân thật đối với tầm nhìn, để y có thể xây dựng đúng theo mục đích của linh hồn mình và tạo ra trên Trái Đất điều sẽ là sự đóng góp của y cho toàn thể. Chính ở đây công việc của nền giáo dục hiện đại phải bắt đầu. Con người chưa thể làm việc với trí tuệ trong thế giới ý tưởng và mô hình; y chưa nhạy cảm với các giá trị tinh thần chân thật. Đây là mục tiêu dành cho đệ tử, dù quần chúng chưa thể hoạt động trên các cấp độ này. Điều đầu tiên phải làm là huấn luyện đứa trẻ trong việc sử dụng đúng năng lực phân biện và trong quyền năng chọn lựa cùng mục đích được định hướng. Nó phải được đưa đến một sự thấu hiểu chân thật hơn về mục đích nền tảng của hiện tồn, và được dẫn dắt để làm việc với minh triết trong lĩnh vực hoạt động sáng tạo; rốt cuộc, điều này có nghĩa là sử dụng đúng “chất liệu trí” (chitta của Patanjali). Như vậy, và chỉ như vậy, y mới có thể được giải thoát khỏi sự kiểm soát của bản chất thấp. |
|
6. The attribute of devotion is the next to be considered. Devotion grows out of and is the fruit of dissatisfaction, plus the use of the faculty of choice. According to the depths of a man’s discontent, and of his power to see clearly, he passes from one point of temporary satisfaction to another, each time demonstrating his devotion to a desire, to a personality, to an ideal, and to a vision, until he finally unifies himself with the ideal which is the highest possible to man. This is, first of all, the soul; and then the Oversoul or God. |
6. Thuộc tính của sùng tín là điều kế tiếp cần được xem xét. Sùng tín phát triển từ, và là quả của, sự bất mãn cộng với việc sử dụng năng lực chọn lựa. Tùy theo chiều sâu của sự bất mãn nơi một người, và quyền năng thấy rõ của y, y chuyển từ điểm thỏa mãn tạm thời này sang điểm khác, mỗi lần biểu lộ sự sùng tín của mình đối với một dục vọng, một phàm ngã, một lý tưởng và một tầm nhìn, cho đến khi sau cùng y hợp nhất chính mình với lý tưởng cao nhất mà con người có thể đạt được. Trước hết, đó là linh hồn; rồi sau đó là Đại Hồn hay Thượng đế. |
|
Educators are therefore faced with the opportunity of dealing intelligently with the innate idealism to be found in any child, and with the interesting task of leading the youth of the world on from one realised goal to another. But this they must do in the future from the angle of the ultimate [23] soul objective and not, as in the past, from the angle of a particular standard of national education. This is an important point, for it will mark the shift of attention from the nonessential to the essential. |
Vì vậy, các nhà giáo dục đứng trước cơ hội xử lý một cách thông minh chủ nghĩa lý tưởng bẩm sinh có thể tìm thấy trong bất kỳ đứa trẻ nào, và trước nhiệm vụ thú vị là dẫn dắt thanh niên thế giới đi từ một mục tiêu đã đạt được sang một mục tiêu khác. Nhưng trong tương lai, họ phải làm điều này từ góc độ mục tiêu [23] tối hậu của linh hồn, chứ không, như trong quá khứ, từ góc độ của một tiêu chuẩn giáo dục quốc gia đặc thù. Đây là một điểm quan trọng, vì nó sẽ đánh dấu sự chuyển dịch chú ý từ cái không thiết yếu sang cái thiết yếu. |
|
7. Finally the attribute of order, and the imposition of an established rhythm through the development of innate faculty to function under directed purpose and ritual. This particular attribute of divinity is now highly developed in one aspect, so that we have today much standardisation of humanity, and the autocratic imposition of a ritualistic rhythm upon public life in a large number of countries. It can be seen to perfection in the life in our public schools—but it is an undesirable perfection. This is partly due to the recognition that the unit or individual is only a part of a greater whole (a recognition which is much needed) and a part of the evolutionary unfoldment of the race. Owing, however, to our faulty application of any new truth it means as yet the submergence of that unit in the group, leaving him little opportunity for the free play of the individual will, intelligence, purpose and soul technique. Educators will have to work with this principle of innate attribute and this instinct to ordered rhythm, making it more creatively constructive and so providing, through it, a field for the unfoldment of soul powers. |
7. Sau cùng là thuộc tính của trật tự, và sự áp đặt một nhịp điệu đã được thiết lập qua việc phát triển năng lực bẩm sinh để hoạt động dưới mục đích và nghi lễ được định hướng. Thuộc tính đặc thù này của thiên tính hiện nay đã được phát triển cao trong một phương diện, đến nỗi ngày nay chúng ta có nhiều sự tiêu chuẩn hoá nhân loại, và sự áp đặt độc đoán một nhịp điệu nghi lễ lên đời sống công cộng trong rất nhiều quốc gia. Nó có thể được thấy ở mức hoàn hảo trong đời sống tại các trường công của chúng ta — nhưng đó là một sự hoàn hảo không đáng mong muốn. Điều này một phần là do sự công nhận rằng đơn vị hay cá nhân chỉ là một phần của một toàn thể lớn hơn, một sự công nhận rất cần thiết, và là một phần của sự khai mở tiến hoá của nhân loại. Tuy nhiên, do việc áp dụng sai lầm của chúng ta đối với bất kỳ chân lý mới nào, điều đó hiện nay vẫn có nghĩa là sự chìm khuất của đơn vị ấy trong nhóm, khiến y có rất ít cơ hội cho sự vận hành tự do của ý chí, trí tuệ, mục đích và kỹ thuật linh hồn cá nhân. Các nhà giáo dục sẽ phải làm việc với nguyên khí của thuộc tính bẩm sinh này và với bản năng hướng đến nhịp điệu có trật tự này, làm cho nó mang tính kiến tạo sáng tạo hơn, và nhờ đó cung cấp qua nó một lĩnh vực cho sự khai mở các quyền năng của linh hồn. |
|
I have digressed thus far so as to instill certain of the basic ideas which should underlie the educational tendencies. These thoughts, coupled with those already given, constitute a statement of the objectives before the educators of the world which you would find it of value to consider. Earlier I suggested the goal. I now link that goal up with possibilities, for I have here touched upon the [24] equipment (aspects and attributes) which is found, in some stage of development, in every human being. It is with these hidden traits and instincts that the future educational systems must work. They must not work, as they do today, with the brain apparatus and with the lowest aspects of the mind; nor must they lay their emphasis upon the effort to impress upon that brain and mind the facts, so-called, of the evolutionary process and of physical plane investigation. |
Tôi đã đi ra ngoài đề tài đến mức này để gieo vào một số ý tưởng căn bản phải nằm dưới các khuynh hướng giáo dục. Những tư tưởng này, kết hợp với những điều đã được trao, cấu thành một phát biểu về các mục tiêu trước mắt những nhà giáo dục của thế giới, mà các bạn sẽ thấy là đáng để suy xét. Trước đây Tôi đã đề nghị mục tiêu. Bây giờ Tôi liên kết mục tiêu ấy với các khả năng, vì ở đây Tôi đã chạm đến [24] trang bị, tức các phương diện và thuộc tính, được tìm thấy ở một giai đoạn phát triển nào đó trong mọi con người. Chính với các nét tính cách và bản năng ẩn tàng này mà các hệ thống giáo dục tương lai phải làm việc. Chúng không được làm việc, như hiện nay, với bộ máy não bộ và với các phương diện thấp nhất của thể trí; cũng không được đặt trọng tâm vào nỗ lực in sâu vào bộ não và thể trí ấy những sự kiện gọi là của tiến trình tiến hoá và của sự khảo sát trên cõi hồng trần. |
|
The above remarks will serve to show you that the true educator should be working with energies in a world of energy; that these energies are tinged and qualified by distinctive divine attributes, and that each human being therefore can be regarded as an aggregate of energies, dominated by some one particular type of energy which serves to make him distinctive among his fellows, and which produces the differences among human beings. If it is true that there are seven major types of energy qualifying all forms, and that these in their turn are subdivided into forty-nine types of qualified energy, the complexity of the problem emerges clearly. If it is true that all these distinctive energies play constantly upon energy-substance (spirit-matter), producing “the myriad forms which make up the form of God” (Bhagavad Gita, XI), and that each child is the microcosmical representation (at some stage of development) of the Macrocosm, the magnitude of the problem becomes evident, and the extent of our demanded service will call forth to the utmost the powers which any human being can express at any given moment in time and space. |
Những nhận xét trên sẽ giúp các bạn thấy rằng nhà giáo dục chân chính phải làm việc với các năng lượng trong một thế giới năng lượng; rằng các năng lượng này được nhuộm màu và định tính bởi các thuộc tính thiêng liêng riêng biệt; và do đó mỗi con người có thể được xem như một tổng hợp các năng lượng, bị chi phối bởi một loại năng lượng đặc thù nào đó, vốn khiến y trở nên khác biệt giữa các đồng loại và tạo ra những khác biệt giữa các con người. Nếu đúng là có bảy loại năng lượng chính định tính mọi hình tướng, và đến lượt chúng lại được chia nhỏ thành bốn mươi chín loại năng lượng đã được định tính, thì sự phức tạp của vấn đề hiện ra rõ ràng. Nếu đúng là tất cả những năng lượng riêng biệt này không ngừng tác động lên chất liệu-năng lượng, tức tinh thần-vật chất, tạo ra “vô số hình tướng hợp thành hình tướng của Thượng đế” (Bhagavad Gita, XI), và mỗi đứa trẻ là sự biểu hiện tiểu thiên địa, ở một giai đoạn phát triển nào đó, của Đại thiên địa, thì tầm vóc của vấn đề trở nên hiển nhiên, và phạm vi phụng sự được đòi hỏi nơi chúng ta sẽ kêu gọi đến mức tối đa các quyền năng mà bất kỳ con người nào có thể biểu hiện tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian và không gian. |
|
You will note that these words “in time and space” have repeatedly recurred in this instruction. Why is this? Because it must constantly be remembered that we are living in the world of illusion—an illusion which is temporary and transient and which will some day disappear, taking with it the illusion of appearance, the illusion of evolutionary [25] unfoldment, the illusion of separativeness, and the illusion of distinctive identity—that illusion which makes us say “I am.” The educator of the future will start his service to the child with the recognition of this ephemeral and transient misconception of the soul, and will deal primarily with the mind aspect, and not with the imposition of as much imparted organised knowledge concerning phenomenal existence as the memory of the child is capable of grasping. How can I illustrate this changed attitude to you in the simplest form? Perhaps by pointing out that, whereas today parents and guardians of the child spend much of their time in answering or evading questions posed by the awakening consciousness of the child, in time to come the situation will be reversed. Parents will ceaselessly meet the demands of the emerging intelligence of the child by always enquiring of the child, Why? Why ask this? Why is it thus?—and so throwing always the responsibility of answering the questions upon the child, yet at the same time dropping the solution of the question subtly into the child’s mind. |
Các bạn sẽ lưu ý rằng những từ “trong thời gian và không gian” đã lặp đi lặp lại trong huấn thị này. Tại sao vậy? Bởi vì cần luôn ghi nhớ rằng chúng ta đang sống trong thế giới của ảo tưởng — một ảo tưởng tạm thời và thoáng qua, một ngày kia sẽ biến mất, mang theo nó ảo tưởng về sắc tướng, ảo tưởng về sự khai mở [25] tiến hoá, ảo tưởng về sự chia rẽ, và ảo tưởng về bản sắc riêng biệt — ảo tưởng khiến chúng ta nói “Tôi là.” Nhà giáo dục của tương lai sẽ bắt đầu sự phụng sự của mình đối với đứa trẻ bằng sự công nhận quan niệm sai lầm phù du và thoáng qua này của linh hồn, và sẽ chủ yếu xử lý phương diện trí tuệ, chứ không áp đặt càng nhiều tri thức có tổ chức được truyền đạt về sự hiện hữu hiện tượng càng tốt, theo mức trí nhớ của đứa trẻ có thể nắm bắt. Làm thế nào Tôi có thể minh họa thái độ đã thay đổi này cho các bạn dưới hình thức đơn giản nhất? Có lẽ bằng cách chỉ ra rằng, trong khi ngày nay cha mẹ và người giám hộ của đứa trẻ dành nhiều thời gian để trả lời hoặc né tránh các câu hỏi do tâm thức đang thức tỉnh của đứa trẻ nêu ra, thì trong thời gian tới tình thế sẽ đảo ngược. Cha mẹ sẽ không ngừng đáp ứng các đòi hỏi của trí tuệ đang xuất hiện nơi đứa trẻ bằng cách luôn hỏi đứa trẻ: Tại sao? Tại sao hỏi điều này? Tại sao lại như vậy? — và như thế luôn đặt trách nhiệm trả lời các câu hỏi lên đứa trẻ, nhưng đồng thời khéo léo gieo lời giải của câu hỏi vào thể trí của đứa trẻ. |
|
This process will begin in the fifth year of the child’s life; the seeking intelligence (which is the child itself) will always be forced by the teacher into the position of inward search, not outer demand for a reply which can be memorised and which rests upon the authority of the older person. If this seems to you as yet impossible, remember that the children who will or have come into incarnation, after the period of increased stimulation found between the years 1935 and 1942, will normally and naturally respond to this evocation of the mind element. |
Tiến trình này sẽ bắt đầu vào năm thứ năm của đời sống đứa trẻ; trí tuệ tìm kiếm — chính là đứa trẻ — sẽ luôn được huấn sư đưa vào vị thế tìm kiếm bên trong, chứ không phải đòi hỏi bên ngoài một câu trả lời có thể học thuộc lòng và đặt nền trên uy quyền của người lớn tuổi hơn. Nếu điều này hiện nay đối với các bạn dường như chưa thể thực hiện, hãy nhớ rằng những đứa trẻ sẽ hoặc đã lâm phàm sau thời kỳ kích thích gia tăng trong những năm từ 1935 đến 1942, thông thường và tự nhiên sẽ đáp ứng với sự gợi lên yếu tố trí tuệ này. |
|
One of the major functions of those who train the infant minds of the race will be to determine, as early as possible in life, which of the seven determining energies are controlling in each case. The technique to be later applied will then be built upon this important initial decision—hence again, the growing responsibility of the [26] educator. A child’s note and quality will be early determined, and his whole planned training will grow out of this basic recognition. This is not yet possible, but will shortly be so, when the quality and nature of any individual etheric body can be scientifically discovered. This development is not as distant as might be supposed or anticipated. |
Một trong những chức năng chính yếu của những người huấn luyện các thể trí thơ ấu của nhân loại sẽ là xác định, càng sớm càng tốt trong đời sống, năng lượng nào trong bảy năng lượng quyết định đang kiểm soát trong từng trường hợp. Kỹ thuật sẽ được áp dụng về sau khi ấy sẽ được xây dựng trên quyết định ban đầu quan trọng này — do đó, một lần nữa, trách nhiệm ngày càng lớn của nhà giáo dục [26]. Âm điệu và phẩm tính của một đứa trẻ sẽ sớm được xác định, và toàn bộ sự huấn luyện được hoạch định cho nó sẽ phát sinh từ sự nhận biết căn bản này. Điều này hiện chưa thể thực hiện, nhưng chẳng bao lâu nữa sẽ có thể, khi phẩm tính và bản chất của bất kỳ thể dĩ thái cá nhân nào cũng có thể được khám phá một cách khoa học. Sự phát triển này không xa xôi như người ta có thể giả định hay dự đoán. |
|
It is not my intention to deal with the details of this process, nor to elaborate the methods whereby the children of the race can be trained. Our objective is to deal with the more universal and immediate necessity of bridging the gap between the different aspects of the lower self, so that an integrated personality emerges; and then of bridging the gap between the soul and the spiritual triad, so that there can be the free play of consciousness and complete identification with the One Life, thus leading to the loss of the sense of separateness and to the merging of the part with the Whole, with no loss of identity but with no recognition of self-identification. |
Tôi không có ý định đề cập đến các chi tiết của tiến trình này, cũng không triển khai các phương pháp nhờ đó con cái của nhân loại có thể được huấn luyện. Mục tiêu của chúng ta là bàn đến nhu cầu phổ quát hơn và cấp thiết hơn: bắt cầu qua khoảng cách giữa các phương diện khác nhau của phàm ngã, để một phàm ngã tích hợp xuất hiện; rồi bắt cầu qua khoảng cách giữa linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần, để có thể có sự vận hành tự do của tâm thức và sự đồng hóa hoàn toàn với Sự Sống Duy Nhất, nhờ đó dẫn đến sự mất đi cảm thức chia cách và sự hòa nhập của phần vào Toàn Thể, không mất bản sắc nhưng cũng không còn sự nhận biết về sự đồng hóa với bản ngã. |
|
Here an interesting point should be carefully noted. It holds the key to future racial unfoldment. For it the new science of psychology, which has developed so remarkably during the past thirty years, is preparing us. Students should train themselves to distinguish between the sutratma and the antahkarana, between the life thread and the thread of consciousness. One thread is the basis of immortality and the other the basis of continuity. Herein lies a fine distinction for the investigator. One thread (the sutratma) links and vivifies all forms into one functioning whole and embodies in itself the will and the purpose of the expressing entity, be it man, God or a crystal. The other thread (the antahkarana) embodies the response of the consciousness within the form to a steadily expanding range of contacts within the environing whole. |
Ở đây cần cẩn thận lưu ý một điểm thú vị. Điểm ấy nắm giữ chìa khóa cho sự khai mở tương lai của nhân loại. Khoa học mới về tâm lý học, vốn đã phát triển đáng kể trong ba mươi năm qua, đang chuẩn bị chúng ta cho điều đó. Các đạo sinh nên tự rèn luyện để phân biệt giữa sutratma và antahkarana, giữa sinh mệnh tuyến và sợi dây tâm thức. Một sợi dây là nền tảng của sự bất tử, còn sợi kia là nền tảng của tính liên tục. Chính trong đó có một phân biệt tinh tế dành cho nhà khảo cứu. Một sợi dây — sutratma — liên kết và làm sinh động mọi hình tướng thành một toàn thể vận hành duy nhất, và tự nó hiện thân ý chí cùng mục đích của thực thể đang biểu lộ, dù là con người, Thượng đế hay một tinh thể. Sợi dây kia — antahkarana — hiện thân sự đáp ứng của tâm thức bên trong hình tướng đối với một phạm vi tiếp xúc ngày càng mở rộng trong toàn thể bao quanh. |
|
The sutratma is the direct stream of life, unbroken and immutable, which can be regarded symbolically as a direct stream of living energy flowing from the centre to the periphery, [27] and from the source to the outer expression or the phenomenal appearance. It is the life. It produces the individual process and the evolutionary unfoldment of all forms. It is, therefore, the path of life, which reaches from the monad to the personality, via the soul. This is the thread soul and it is one and indivisible. It conveys the energy of life and finds its final anchor in the centre of the human heart and at some central focal point in all forms of divine expression. Naught is and naught remains but life. |
Sutratma là dòng trực tiếp của sự sống, không đứt đoạn và bất biến, có thể được xem một cách biểu tượng như một dòng năng lượng sống trực tiếp chảy từ trung tâm ra ngoại vi, [27] và từ nguồn đến biểu hiện bên ngoài hay sắc tướng hiện tượng. Nó là sự sống. Nó tạo ra tiến trình cá nhân và sự khai mở tiến hóa của mọi hình tướng. Do đó, nó là con đường của sự sống, vươn từ chân thần đến phàm ngã, qua linh hồn. Đây là sợi dây linh hồn, và nó là một, không thể phân chia. Nó truyền dẫn năng lượng của sự sống và tìm được điểm neo cuối cùng trong trung tâm tim của con người, cũng như tại một điểm tập trung trung tâm nào đó trong mọi hình tướng biểu lộ thiêng liêng. Không có gì hiện hữu và không có gì còn lại ngoài sự sống. |
|
The consciousness thread (antahkarana) is the result of the union of life and substance or of the basic energies which constitute the first differentiation in time and space; this produces something different, which only emerges as a third divine manifestation, after the union of the basic dualities has taken place. It is the thread which is woven as a result of the appearance of life in form upon the physical plane. Speaking again symbolically, it might be said that the sutratma works from above downward and is the precipitation of life into the outer manifestation. The antahkarana is woven, evolved, and created as the result of this primary creation, and works from below upwards, from the without to the within, from the world of exoteric phenomena into the world of subjective realities and of meaning. |
Sợi dây tâm thức — antahkarana — là kết quả của sự hợp nhất giữa sự sống và chất liệu, hay giữa các năng lượng căn bản cấu thành sự biến phân đầu tiên trong thời gian và không gian; điều này tạo ra một điều khác biệt, vốn chỉ xuất hiện như biểu lộ thiêng liêng thứ ba sau khi sự hợp nhất của các nhị nguyên căn bản đã diễn ra. Đó là sợi dây được dệt nên như kết quả của sự xuất hiện của sự sống trong hình tướng trên cõi hồng trần. Lại nói theo biểu tượng, có thể nói rằng sutratma hoạt động từ trên xuống dưới và là sự ngưng tụ của sự sống vào biểu lộ bên ngoài. Antahkarana được dệt nên, tiến hóa và được sáng tạo như kết quả của sự sáng tạo sơ khởi này, và hoạt động từ dưới lên trên, từ bên ngoài vào bên trong, từ thế giới của các hiện tượng ngoại môn vào thế giới của các thực tại nội tại và của ý nghĩa. |
|
This “Path of Return,” by means of which the race is withdrawn from outer emphasis and begins to recognise and register those inner conscious knowledges of that which is not phenomenal, has already (through the evolutionary process) reached a point of development wherein some human beings can follow along this path from the physical consciousness to the emotional, and from the emotional to the mental. That part of the work is already accomplished in many thousands of cases and what is now required is facility and right use of this power. This thread of energy, coloured by conscious sentient response, is later [28] coloured by the discriminating consciousness of the mind, and this produces that inner integration which makes man eventually an efficient thinking being. At first, this thread is used purely for lower selfish interests; it steadily gets stronger and more potent as time goes on, until it is a definite, clear, strong thread reaching from the outer physical life, from a point within the brain, straight through to the inner mechanism. This thread, however, is not identified with the mechanism, but with the consciousness in man. Through the means of this thread a man becomes aware of his emotional life in its many forms (note this phraseology), and through it he becomes aware of the world of thought; he learns to think and begins to function consciously on the mental plane, in which the thinkers of the race—a steadily increasing number—live and move and have their being. Increasingly he learns to tread this path of consciousness, and thereby ceases to be identified with the animal outer form and learns to identify himself with the inner qualities and attributes. He lives first the life of dreams, and then the life of thought. Then the time comes when this lower aspect of the antahkarana is completed, and the first great conscious unity is consummated. The man is an integrated, conscious, living personality. The thread of continuity between the three lower aspects of the man is established and can be used. It stretches, if such a term can be used (my intent being entirely pictorial), from the centre of the head to the mind, which is in its turn a centre of energy in the world of thought. At the same time, this antahkarana is interwoven with the thread of life or the sutratma which emerges from the heart centre. The objective of evolution in form is now relatively complete. |
“Con Đường Trở Về” này, nhờ đó nhân loại được rút khỏi sự nhấn mạnh bên ngoài và bắt đầu nhận biết cũng như ghi nhận những tri thức có ý thức bên trong về điều không thuộc hiện tượng, đã — qua tiến trình tiến hóa — đạt đến một điểm phát triển trong đó một số con người có thể đi theo con đường này từ tâm thức hồng trần đến tâm thức cảm dục, và từ tâm thức cảm dục đến tâm thức trí. Phần công việc ấy đã hoàn tất trong nhiều nghìn trường hợp, và điều hiện nay cần đến là sự thành thạo cùng cách sử dụng đúng quyền năng này. Sợi dây năng lượng này, được nhuộm màu bởi sự đáp ứng hữu cảm có ý thức, về sau [28] được nhuộm màu bởi tâm thức phân biện của thể trí, và điều này tạo ra sự tích hợp bên trong khiến con người cuối cùng trở thành một sinh linh tư duy hữu hiệu. Ban đầu, sợi dây này được sử dụng thuần túy cho các lợi ích ích kỷ thấp kém; nó dần dần trở nên mạnh hơn và quyền năng hơn theo thời gian, cho đến khi nó là một sợi dây xác định, rõ ràng, mạnh mẽ, vươn từ đời sống hồng trần bên ngoài, từ một điểm trong bộ não, thẳng đến bộ máy bên trong. Tuy nhiên, sợi dây này không đồng hóa với bộ máy, mà với tâm thức trong con người. Nhờ sợi dây này, con người nhận biết đời sống cảm xúc của mình dưới nhiều hình thức — hãy lưu ý cách diễn đạt này — và nhờ nó y nhận biết thế giới tư tưởng; y học suy nghĩ và bắt đầu hoạt động một cách có ý thức trên cõi trí, nơi các nhà tư tưởng của nhân loại — một số lượng ngày càng gia tăng — sống, vận động và hiện tồn. Càng ngày y càng học cách bước đi trên con đường tâm thức này, và nhờ đó chấm dứt đồng hóa với hình tướng thú tính bên ngoài, đồng thời học đồng hóa mình với các phẩm tính và thuộc tính bên trong. Trước hết y sống đời sống của mộng tưởng, rồi đến đời sống của tư tưởng. Sau đó đến lúc phương diện thấp này của antahkarana được hoàn tất, và sự hợp nhất có ý thức vĩ đại đầu tiên được viên mãn. Con người là một phàm ngã tích hợp, có ý thức và sống động. Sợi dây liên tục giữa ba phương diện thấp của con người được thiết lập và có thể được sử dụng. Nó vươn, nếu có thể dùng một thuật ngữ như vậy — ý định của Tôi hoàn toàn mang tính hình ảnh — từ trung tâm đầu đến thể trí, vốn đến lượt nó là một trung tâm năng lượng trong thế giới tư tưởng. Đồng thời, antahkarana này được đan xen với sợi dây sự sống hay sutratma vốn xuất lộ từ trung tâm tim. Mục tiêu của tiến hóa trong hình tướng giờ đây đã tương đối hoàn tất. |
|
When this stage has been reached, the sensitive feeling-out into the environing universe still continues. Man weaves a thread which is like the thread the spider weaves so amazingly. He reaches out still further into his possible [29] environment and then discovers an aspect of himself of which he had little dreamt in the early stages of his development. He discovers the soul and then passes through the illusion of duality. This is a necessary but not a permanent stage. It is one which characterises the aspirant of this world cycle, perhaps I should say this manvantara or world period. He seeks to merge himself with the soul, to identify himself, the conscious personality, with that overshadowing soul. It is at this point, technically speaking, that the true building of the antahkarana must be begun. It is the bridge between the personality and the soul. |
Khi giai đoạn này đã đạt được, sự dò tìm nhạy cảm vào vũ trụ bao quanh vẫn tiếp tục. Con người dệt một sợi dây giống như sợi dây mà con nhện dệt một cách kỳ diệu. Y vươn xa hơn nữa vào môi trường khả hữu [29] của mình, rồi khám phá một phương diện của chính mình mà trong các giai đoạn đầu của sự phát triển, y hầu như chưa từng mơ tới. Y khám phá linh hồn rồi đi qua ảo tưởng của nhị nguyên. Đây là một giai đoạn cần thiết nhưng không thường tồn. Đó là giai đoạn đặc trưng cho người chí nguyện của chu kỳ thế giới này, có lẽ Tôi nên nói là của giai kỳ sinh hóa này hay thời kỳ thế giới này. Y tìm cách hòa nhập mình với linh hồn, đồng hóa chính mình, phàm ngã có ý thức, với linh hồn đang phủ bóng ấy. Chính tại điểm này, nói theo kỹ thuật, việc xây dựng antahkarana thật sự phải được bắt đầu. Nó là cây cầu giữa phàm ngã và linh hồn. |
|
The recognition of this constitutes the problem with which the modern educator is faced. It is a problem that has always existed but it has concerned the individual hitherto more than the group. Now it concerns the group, for so many of the sons of men are ready for this building. Down the ages individuals have built their individual bridges between the higher and the lower, but so successful has been the evolutionary process that today the time has come for a group understanding of this emerging technique, for a group bridging, leading to a consequent or subsequent group revelation. This provides the modern opportunity in the field of education. It indicates the responsibility of the educator and points out the necessity for a new unfoldment in educational methods. The “group aspirant” must be met and the group antahkarana must be built. This, however, when rightly understood, will not negate individual effort. That always must be met; but the group understanding will increasingly aid the individual. |
Sự nhận biết điều này cấu thành vấn đề mà nhà giáo dục hiện đại đang đối diện. Đó là một vấn đề luôn luôn tồn tại, nhưng cho đến nay nó liên quan đến cá nhân nhiều hơn là nhóm. Giờ đây nó liên quan đến nhóm, vì rất nhiều người con của nhân loại đã sẵn sàng cho việc xây dựng này. Qua các thời đại, các cá nhân đã xây dựng những cây cầu riêng của họ giữa cái cao và cái thấp, nhưng tiến trình tiến hóa đã thành công đến mức hôm nay thời điểm đã đến cho một sự thấu hiểu nhóm về kỹ thuật đang xuất hiện này, cho một sự bắt cầu nhóm, dẫn đến một sự mặc khải nhóm kế tiếp hay hệ quả. Điều này đem lại cơ hội hiện đại trong lĩnh vực giáo dục. Nó chỉ ra trách nhiệm của nhà giáo dục và nêu rõ sự cần thiết của một sự khai mở mới trong các phương pháp giáo dục. “Người chí nguyện nhóm” phải được đáp ứng và antahkarana nhóm phải được xây dựng. Tuy nhiên, khi được thấu hiểu đúng, điều này sẽ không phủ nhận nỗ lực cá nhân. Nỗ lực ấy luôn luôn phải được đáp ứng; nhưng sự thấu hiểu nhóm sẽ ngày càng trợ giúp cá nhân. |
Coordination and Integration – Sự Điều Hợp và Sự Tích Hợp
|
Thus far we have been occupied with generalisations as to the educational processes later to be applied, with the mental apparatus which comes under definite and planned training, and which is subjectively and superconsciously [30] influenced during the process. I am presuming that you already grasp the necessity for the building of the antahkarana and for this bridging work. It is wise also to accept the fact that we are in a position to begin the definite process of constructing the link or bridge between the various aspects of man’s nature, so that instead of differentiation there will be unity, and instead of a fluid, moving attention, directed here and there into the field of material living and emotional relationships, we shall learn to control the mind and to bridge the divisions, and so can direct at will the lower attention in any desired manner. Thus all aspects of man, spiritual and natural, can be focussed where needed. |
Cho đến đây, chúng ta đã bận tâm với những khái quát về các tiến trình giáo dục sẽ được áp dụng về sau, với bộ máy trí tuệ vốn được đưa vào sự huấn luyện xác định và có kế hoạch, và vốn chịu ảnh hưởng chủ quan cũng như siêu thức [30] trong tiến trình ấy. Tôi giả định rằng các bạn đã nắm được sự cần thiết của việc xây dựng antahkarana và của công việc bắt cầu này. Cũng là khôn ngoan khi chấp nhận sự kiện rằng chúng ta đang ở vị thế bắt đầu tiến trình xác định nhằm kiến tạo mối liên kết hay cây cầu giữa các phương diện khác nhau của bản chất con người, để thay vì biến phân sẽ có sự hợp nhất, và thay vì một sự chú ý linh động, chuyển động, hướng chỗ này chỗ kia vào lĩnh vực đời sống vật chất và các quan hệ cảm xúc, chúng ta sẽ học kiểm soát thể trí và bắt cầu qua các phân chia, nhờ đó có thể tùy ý hướng sự chú ý thấp theo bất kỳ cách nào mong muốn. Như vậy, mọi phương diện của con người, tinh thần và tự nhiên, có thể được tập trung nơi cần thiết. |
|
This bridging work has in part already been done. Humanity has as a whole already bridged the gap between the emotional astral nature and the physical man. As I said elsewhere: |
Công việc bắt cầu này một phần đã được thực hiện. Nhân loại nói chung đã bắt cầu qua khoảng cách giữa bản chất cảm dục cảm xúc và con người hồng trần. Như Tôi đã nói ở nơi khác: |
|
We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers, tapping the resources of dynamic energy in the three worlds: |
Chúng ta có thể khái quát theo cách sau về các giai đoạn tăng trưởng và khả năng hệ quả để trở thành tác nhân của các quyền năng ngày càng gia tăng, khai thác các nguồn năng lượng năng động trong ba cõi giới: |
|
Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body. |
Các kiểu người thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái. |
|
Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional. |
Những người trung bình hầu như hoàn toàn sử dụng phần sutratma đi qua cõi cảm dục. Các phản ứng của họ phần lớn đặt nền trên dục vọng và mang tính cảm xúc. |
|
Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections. Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases. |
Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các cấp thấp của cõi trí, xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó. Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi thể trí chứ không bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước. |
|
Aspirants of the physical plane use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the [31] abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antahkarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt. |
Những người chí nguyện trên cõi hồng trần sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các cấp trừu tượng [31] thuộc cõi trí, và dần dần bắt đầu xây dựng antahkarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã. Quyền năng của Chân ngã có thể bắt đầu được cảm nhận. |
|
Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antahkarana, employing them as a unit. The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man’s thought forms. The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process. |
Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma lẫn antahkarana, vận dụng chúng như một đơn vị. Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn chảy qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực ở mức ngày càng gia tăng cho các hình tư tưởng của con người. Chìa khóa để hình thành Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng tiến trình này. |
|
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PP. 959-960. |
LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ, TR. 959-960. |
|
It should be noted here that the bridging has to be done in the consciousness aspect, and concerns the continuity of man’s awareness of life in all his various aspects. The energy which is used in connecting, in consciousness, the physical man and the astral body is focussed in the solar plexus. Speaking in symbolical terms, many today are carrying that bridge forward and linking the mind with the two aspects already linked. This thread of energy emanates from, or is anchored in, the head. A few people are steadily linking the soul and the mind, which in its turn is linked with the other two aspects. The soul energy, when linked with the other threads, has its anchor in the heart. A very few people (the initiates of the world) having effected all the lower syntheses, are now occupied with bringing about a still higher union with that triple Reality which uses the soul as its medium of expression, just as the soul in its turn is endeavouring to use its shadow, the threefold lower man. |
Ở đây cần lưu ý rằng việc bắt cầu phải được thực hiện trong phương diện tâm thức, và liên quan đến tính liên tục của sự nhận biết của con người về sự sống trong mọi phương diện khác nhau của y. Năng lượng được sử dụng để liên kết, trong tâm thức, con người hồng trần và thể cảm dục được tập trung trong tùng thái dương. Nói theo ngôn ngữ biểu tượng, ngày nay nhiều người đang đưa cây cầu ấy tiến xa hơn và liên kết thể trí với hai phương diện đã được liên kết. Sợi dây năng lượng này xuất lộ từ, hay được neo trong, đầu. Một số ít người đang đều đặn liên kết linh hồn và thể trí, vốn đến lượt nó được liên kết với hai phương diện kia. Năng lượng linh hồn, khi liên kết với các sợi dây khác, có điểm neo trong tim. Một số rất ít người — các điểm đạo đồ của thế giới — sau khi đã thực hiện tất cả các tổng hợp thấp, hiện đang bận tâm với việc đem lại một sự hợp nhất còn cao hơn với Thực Tại tam phân ấy, vốn sử dụng linh hồn như phương tiện biểu lộ của nó, cũng như linh hồn đến lượt mình đang nỗ lực sử dụng bóng của nó, tức phàm nhân tam phân. |
|
These distinctions and unifications are matters of form, [32] symbols in speech, and are used to express events and happenings in the world of energies and forces in connection with which man is definitely implicated. It is to these unifications that we refer when the subject of initiation is under consideration. |
Những phân biệt và hợp nhất này là các vấn đề của hình tướng, [32] là những biểu tượng trong lời nói, và được dùng để diễn đạt các biến cố và diễn tiến trong thế giới của các năng lượng và mãnh lực, mà con người chắc chắn có liên hệ. Chính các sự hợp nhất này là điều chúng ta nói đến khi chủ đề điểm đạo được xem xét. |
|
The life thread, the silver cord or the sutratma, is, as far as man is concerned, dual in nature. The life thread proper, which is one of the two threads which constitute the antahkarana, is anchored in the heart, whilst the other thread which embodies the principle of consciousness, is anchored in the head. This you already know, but this I feel the need constantly to reiterate. In the work of the evolutionary cycle, however, man has to repeat what God has already done. He must himself create, in both the world of consciousness and of life. Like a spider, man spins connecting threads, and thus bridges and makes contact with his environment, thereby gaining experience and sustenance. The spider symbol is often used in the ancient occult books and the scriptures of India in connection with this activity of the human being. The threads which man creates are triple and with the two basic threads which have been created by the soul, constitute the five types of energy which make man a conscious human being. The triple threads created by man are anchored in the solar plexus, the head and the heart. When the astral body and the mind nature are beginning to function as a unit, and the soul also is consciously connected (do not forget that it is always unconsciously linked), an extension of this fivefold thread—the basic two and the human three—is carried to the throat centre; when that occurs man can become a conscious creator on the physical plane. From these major lines of energy lesser lines can radiate at will. It is upon this knowledge that all future intelligent psychic unfoldment must be based. |
Sợi dây sự sống, ngân tuyến hay sutratma, xét theo con người, có bản chất kép. Sợi dây sự sống đúng nghĩa, vốn là một trong hai sợi dây cấu thành antahkarana, được neo trong tim, trong khi sợi dây kia, hiện thân nguyên khí tâm thức, được neo trong đầu. Điều này các bạn đã biết, nhưng Tôi cảm thấy cần liên tục nhắc lại. Tuy nhiên, trong công việc của chu kỳ tiến hóa, con người phải lặp lại điều Thượng đế đã làm. Chính y phải sáng tạo, trong cả thế giới tâm thức lẫn thế giới sự sống. Như con nhện, con người kéo ra các sợi dây liên kết, và nhờ vậy bắt cầu cũng như tiếp xúc với môi trường của mình, qua đó đạt được kinh nghiệm và dưỡng chất. Biểu tượng con nhện thường được dùng trong các sách huyền môn cổ và thánh thư Ấn Độ liên quan đến hoạt động này của con người. Các sợi dây mà con người tạo ra có tính tam phân và, cùng với hai sợi dây căn bản do linh hồn tạo ra, cấu thành năm loại năng lượng làm cho con người trở thành một con người có ý thức. Các sợi dây tam phân do con người tạo ra được neo trong tùng thái dương, đầu và tim. Khi thể cảm dục và bản chất trí tuệ bắt đầu hoạt động như một đơn vị, và linh hồn cũng được liên kết một cách có ý thức — đừng quên rằng nó luôn luôn được liên kết một cách vô thức — một sự mở rộng của sợi dây ngũ phân này, tức hai sợi căn bản và ba sợi của con người, được đưa đến trung tâm cổ họng; khi điều đó xảy ra, con người có thể trở thành một nhà sáng tạo có ý thức trên cõi hồng trần. Từ các đường năng lượng chính này, những đường phụ có thể tỏa ra tùy ý. Chính trên tri thức này mà mọi sự khai mở thông linh có trí tuệ trong tương lai phải được đặt nền. |
|
In the above paragraph and its implications you have a brief and inadequate statement as to the Science of the [33] Antahkarana. I have endeavoured to express this in terms, symbolic if you will, which will convey some general idea of the process to your minds. We can learn much through the use of the pictorial and visual imagination. Many aspirants have already established the following links of the bridging antahkarana: |
Trong đoạn trên và các hàm ý của nó, các bạn có một trình bày ngắn gọn và chưa đầy đủ về Khoa Học [33] Antahkarana. Tôi đã cố gắng diễn đạt điều này bằng những thuật ngữ, có thể nói là biểu tượng, nhằm truyền đạt cho thể trí các bạn một ý niệm tổng quát nào đó về tiến trình. Chúng ta có thể học được nhiều qua việc sử dụng sự tưởng tượng bằng hình ảnh và thị giác. Nhiều người chí nguyện đã thiết lập các liên kết sau đây của antahkarana bắt cầu: |
|
1. From the physical to the vital or etheric body. This is really an extension of the life thread between the heart and the spleen. |
1. Từ thể xác đến thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây thật ra là một sự mở rộng của sợi dây sự sống giữa tim và lá lách. |
|
2. From the physical and the vital, regarding them as a unity, to the astral or emotional vehicle. This thread emanates from, or is anchored in, the solar plexus, and is carried upward by means of the aspiration till it anchors itself in the love petals of the egoic lotus. |
2. Từ thể xác và thể sinh lực, được xem như một nhất thể, đến vận cụ cảm dục hay cảm xúc. Sợi dây này xuất lộ từ, hay được neo trong, tùng thái dương, và được đưa lên trên nhờ khát vọng cho đến khi nó tự neo trong các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
3. From the physical and astral vehicles to the mental body. One terminal is anchored in the head, and the other in the knowledge petals of the egoic lotus, being carried forward by an act of the will. |
3. Từ các vận cụ hồng trần và cảm dục đến thể trí. Một đầu mút được neo trong đầu, và đầu kia trong các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, được đưa tiến tới bằng một hành động của ý chí. |
|
Many, too, are in process of linking the three lower aspects, which we call the personality, with the soul itself, through meditation, discipline, service and directed attention. When this has been accomplished, a definite relation is established between the sacrifice or will petals of the egoic lotus and the head and heart centres, thus producing a synthesis between consciousness, the soul and the life principle. The process of establishing this interlinking and interrelation, and the strengthening of the bridge thus constructed, goes on until the third initiation. The lines of force are then so interrelated that the soul and its mechanism of expression are a unity. A higher blending and fusing can then go on. |
Nhiều người cũng đang trong tiến trình liên kết ba phương diện thấp, mà chúng ta gọi là phàm ngã, với chính linh hồn, qua tham thiền, kỷ luật, phụng sự và sự chú ý có định hướng. Khi điều này đã được hoàn thành, một quan hệ xác định được thiết lập giữa các cánh hoa hy sinh hay ý chí của Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm đầu cùng tim, nhờ đó tạo ra một tổng hợp giữa tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống. Tiến trình thiết lập sự liên kết và tương quan này, cùng việc củng cố cây cầu đã được kiến tạo như thế, tiếp diễn cho đến lần điểm đạo thứ ba. Khi ấy, các đường mãnh lực tương quan với nhau đến mức linh hồn và bộ máy biểu lộ của nó là một nhất thể. Một sự hòa trộn và dung hợp cao hơn khi ấy có thể tiếp diễn. |
|
It is necessary for me to stop at this point and indicate that all the above are simply word pictures of a process of [34] energy interrelations, and have a definite value if they can introduce and make real to you the fact of the indicated processes. Some aspirants and students have the mystical consciousness highly developed, and are therefore apt to resent and regard as unnecessary the more technical and intellectual presentation of a truth which they sense and know, but which remains a truth yet undefined. It is my purpose to assist you towards a greater definiteness of realisation and expression; this should in no way detract from the wonder and the beauty of what you sense, but should increase your power to know and also to make available to others the knowledge which you have gained. In the past the mystic expressed his realisation through love and practical kindness, expressing it on the physical plane through charitable deeds and self-sacrifice, and on emotional levels by his aspiration, his vision, and his ability to express the love of God to the world. The mystic today continues with the same process, but under the evolutionary urge becomes capable of more than this. He should be able to formulate his knowledge intelligently and to express his awareness clearly, in order that he may share it with the public which is steadily growing in intelligence, but greatly needs the vision. I therefore beg of you not to resent the technical formulation of truth, for if education means anything at all, and if we are to consider the ways in which education is to be applied to bring about this bridging and synthesis, it is essential that we avoid that mental laziness and mystical inertia which are characteristic of so many mystics and the line of least resistance for many would-be disciples. |
Tôi cần dừng lại ở điểm này và chỉ ra rằng tất cả những điều trên chỉ là các hình ảnh bằng lời về một tiến trình [34] tương quan năng lượng, và chúng có giá trị xác định nếu có thể giới thiệu và làm cho các bạn thấy thực tế của các tiến trình được nêu ra. Một số người chí nguyện và đạo sinh có tâm thức thần bí phát triển cao, và vì vậy dễ bực bội cũng như xem là không cần thiết cách trình bày chân lý có tính kỹ thuật và trí thức hơn — một chân lý mà họ cảm nhận và biết, nhưng vẫn còn là chân lý chưa được định nghĩa. Mục đích của Tôi là trợ giúp các bạn đạt đến sự xác định lớn hơn trong chứng nghiệm và biểu đạt; điều này tuyệt nhiên không nên làm giảm đi sự kỳ diệu và vẻ đẹp của điều các bạn cảm nhận, mà phải gia tăng quyền năng biết của các bạn, cũng như khả năng làm cho tri thức mà các bạn đã đạt được trở nên hữu ích cho người khác. Trong quá khứ, nhà thần bí biểu đạt sự chứng nghiệm của mình qua tình thương và lòng nhân ái thực tiễn, biểu lộ nó trên cõi hồng trần qua các việc bác ái và sự hy sinh bản thân, và trên các cấp độ cảm dục qua khát vọng, tầm nhìn, và khả năng biểu đạt tình thương của Thượng đế đối với thế giới. Nhà thần bí ngày nay vẫn tiếp tục cùng tiến trình ấy, nhưng dưới thúc đẩy tiến hóa, y trở nên có khả năng làm nhiều hơn thế. Y phải có thể hình thành tri thức của mình một cách thông minh và biểu đạt sự nhận biết của mình một cách rõ ràng, để có thể chia sẻ nó với công chúng vốn đang ngày càng phát triển về trí tuệ nhưng rất cần tầm nhìn. Vì vậy, Tôi xin các bạn đừng bực bội trước việc hình thức hóa chân lý theo kỹ thuật, vì nếu giáo dục có bất kỳ ý nghĩa nào, và nếu chúng ta phải xem xét những cách thức giáo dục cần được áp dụng để đem lại sự bắt cầu và tổng hợp này, thì điều thiết yếu là chúng ta tránh sự lười biếng trí tuệ và Quán tính thần bí vốn đặc trưng cho rất nhiều nhà thần bí và là con đường ít trở ngại nhất đối với nhiều người muốn làm đệ tử. |
|
It is necessary therefore that we grasp the facts that: |
Do đó, chúng ta cần nắm vững các sự kiện rằng: |
|
1. The new education will primarily be concerned with the scientific and conscious bridging between the various aspects of the human being, thus producing coordination and synthesis and an increased [35] expansion of consciousness through the establishing of right lines of energy. |
1. Nền giáo dục mới trước hết sẽ liên quan đến việc bắt cầu một cách khoa học và có ý thức giữa các phương diện khác nhau của con người, nhờ đó tạo ra sự điều hợp và tổng hợp cùng một sự mở rộng [35] tâm thức gia tăng qua việc thiết lập các đường năng lượng đúng. |
|
2. The task of the new education is therefore the coordination of the personality, eventually bringing about its at-one-ment with the soul. |
2. Vì vậy, nhiệm vụ của nền giáo dục mới là sự điều hợp phàm ngã, cuối cùng đem lại sự nhất thể hóa của nó với linh hồn. |
|
3. The new education will deal with, analyse and interpret the laws of thought, because the mind will be regarded as the link between the soul and the brain. These laws are the means whereby: |
3. Nền giáo dục mới sẽ đề cập đến, phân tích và diễn giải các định luật của tư tưởng, bởi vì thể trí sẽ được xem như mối liên kết giữa linh hồn và bộ não. Các định luật này là phương tiện nhờ đó: |
|
a. Ideas are intuited. |
a. Các ý tưởng được trực nhận. |
|
b. Ideals are promulgated. |
b. Các lý tưởng được truyền bá. |
|
c. Mental concepts or thoughtforms are constructed which in due time will make their impact telepathically upon the minds of men. |
c. Các khái niệm trí tuệ hay hình tư tưởng được kiến tạo, và đúng thời sẽ tạo ấn tượng viễn cảm lên thể trí của con người. |
|
4. The new education will organise and develop the lower concrete mind. |
4. Nền giáo dục mới sẽ tổ chức và phát triển hạ trí cụ thể. |
|
5. It will teach the human being to think from universals to particulars, as well as to undertake the analysis of particulars. There will consequently be less emphasis in future schools upon the training of the memory. Interest will greatly aid the will to recall. |
5. Nó sẽ dạy con người suy nghĩ từ cái phổ quát đến cái đặc thù, cũng như tiến hành phân tích các cái đặc thù. Do đó, trong các trường học tương lai sẽ ít nhấn mạnh hơn vào việc huấn luyện ký ức. Sự quan tâm sẽ trợ giúp rất nhiều cho ý chí hồi tưởng. |
|
6. The new education will make a man a good citizen by developing the rational aspects of his consciousness and life, teaching him to use his inherited, acquired and endowed equipment for the evidencing of the social consciousness and attitudes. |
6. Nền giáo dục mới sẽ làm cho con người trở thành một công dân tốt bằng cách phát triển các phương diện lý trí của tâm thức và đời sống của y, dạy y sử dụng trang bị thừa hưởng, thu đạt và được ban cho của mình để biểu lộ tâm thức và thái độ xã hội. |
|
7. Above all else, the educators in the new age will endeavour to teach man the science of unifying the three aspects of himself which are covered by the general title of mental aspects: |
7. Trên hết mọi điều, các nhà giáo dục trong kỷ nguyên mới sẽ nỗ lực dạy con người khoa học hợp nhất ba phương diện của chính y, vốn được bao gồm dưới danh xưng chung là các phương diện trí tuệ: |
|
a. The lower concrete mind. |
a. Hạ trí cụ thể. |
|
b. The Son of Mind, the Soul, the Self. |
b. Con của Trí Tuệ, Linh hồn, Bản Ngã. |
|
c. The higher, abstract or intuitional mind. |
c. Thượng trí, trí trừu tượng hay trí trực giác. |
|
or: |
hay: |
|
a. The receptive mind or common-sense. [36] |
a. Trí tiếp nhận hay lương tri. [36] |
|
b. The individualised mind. |
b. Trí đã biệt ngã hóa. |
|
c. The illuminating mind. |
c. Trí soi sáng. |
|
8. The educators in the new age will deal with the processes or methods to be employed in bridging the gaps in consciousness between the different aspects. Thus the Science of the Antahkarana will be brought definitely to the attention of the public. |
8. Các nhà giáo dục trong kỷ nguyên mới sẽ đề cập đến các tiến trình hay phương pháp được sử dụng để bắt cầu qua các khoảng cách trong tâm thức giữa các phương diện khác nhau. Như vậy, Khoa Học Antahkarana sẽ được đưa một cách xác định đến sự chú ý của công chúng. |
|
9. The extension of this concept of bridging will be developed to include not only the internal history of man, but also the bridging between him and his fellowmen on all levels. |
9. Sự mở rộng của khái niệm bắt cầu này sẽ được phát triển để bao gồm không chỉ lịch sử nội tại của con người, mà còn cả sự bắt cầu giữa y và đồng loại của y trên mọi cấp độ. |
|
10. It will include also the training of the human mechanism to respond to life impacts, and to the soul. This soul is essentially intelligence, vitally used on each plane. It functions as the discriminating mind on the mental plane, as the sensitive consciousness on the emotional plane, and as the active participator in physical life. This intelligent activity is always used from the wisdom angle. |
10. Nó cũng sẽ bao gồm việc huấn luyện bộ máy con người để đáp ứng với các tác động của sự sống và với linh hồn. Linh hồn này về bản chất là trí tuệ, được sử dụng một cách sống động trên mỗi cõi. Nó hoạt động như thể trí phân biện trên cõi trí, như tâm thức nhạy cảm trên cõi cảm dục, và như người tham dự tích cực trong đời sống hồng trần. Hoạt động trí tuệ này luôn luôn được sử dụng từ góc độ minh triết. |
|
11. The new education will take into consideration: |
11. Nền giáo dục mới sẽ xét đến: |
|
a. The mind and its relation to the energy body, the etheric body, which underlies the nervous system and which galvanises the physical body into activity. |
a. Thể trí và mối quan hệ của nó với thể năng lượng, tức thể dĩ thái, vốn nằm bên dưới hệ thần kinh và kích hoạt thể xác đi vào hoạt động. |
|
b. The mind and its relation to the brain. |
b. Thể trí và mối quan hệ của nó với bộ não. |
|
c. The mind and its relation to the seven centres of force in the etheric body, and their externalisation and utilisation through the medium of the major nerve plexi to be found in the human body, and their relation (which will become increasingly obvious) to the endocrine glands. |
c. Thể trí và mối quan hệ của nó với bảy trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái, cũng như sự ngoại hiện và việc sử dụng chúng qua trung gian của các đám rối thần kinh chính được tìm thấy trong cơ thể con người, và mối quan hệ của chúng — vốn sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên — với các tuyến nội tiết. |
|
d. The brain as the coordinating factor in the dense body, and its capacity to direct the activities of the man through the medium of the nervous system. [37] |
d. Bộ não như yếu tố điều hợp trong thể đậm đặc, và khả năng của nó trong việc điều khiển các hoạt động của con người qua trung gian hệ thần kinh. [37] |
|
In the above statements you will see how large is our theme, and yet it is one which I intend to cover with the utmost brevity, writing only a fundamental textbook which will serve as a signpost for the production of the new culture which will distinguish the Aquarian Age. Other disciples will later elaborate my theme, but the subject is as yet so little understood that much that could be said would be meaningless, even to the most intelligent. |
Trong các phát biểu trên, các bạn sẽ thấy chủ đề của chúng ta rộng lớn biết bao, nhưng đó là một chủ đề mà Tôi dự định trình bày hết sức ngắn gọn, chỉ viết một sách giáo khoa căn bản sẽ đóng vai trò như cột chỉ đường cho việc sản sinh nền văn hóa mới vốn sẽ phân biệt Kỷ Nguyên Bảo Bình. Các đệ tử khác về sau sẽ triển khai chủ đề của Tôi, nhưng đề tài này hiện vẫn còn được thấu hiểu quá ít đến nỗi nhiều điều có thể nói ra sẽ vô nghĩa, ngay cả đối với những người thông minh nhất. |
|
Modern education is beginning to give some attention to the nature of the mind and to the laws of thought. In this connection we owe much to psychology and philosophy. There is also an increasing interest in the Science of Endocrinology as a material means of producing changes, usually in deficient children and morons. Nevertheless, until modern educators begin to admit the possibility that there are central units in man which underlie the tangible and visible mechanism, and will also admit the possibility of a central powerhouse of energy behind the mind, progress in education will be relatively at a standstill; the child will not receive the initial training and the foundational ideas which will enable him to become a self-directed, intelligent human being. Psychology, with its emphasis upon the three aspects of man—thought, emotional feeling, and the bodily organism—has already made a vital contribution and is doing much to bring about radical changes in our educational systems. Much remains to be done. The interpretation of men in terms of energy and the grasping of the seven types of energy which determine a man and his activities, will bring about immediate changes. |
Giáo dục hiện đại đang bắt đầu dành một ít chú ý cho bản chất của thể trí và các định luật tư tưởng. Trong mối liên hệ này, chúng ta chịu ơn nhiều đối với tâm lý học và triết học. Cũng có một sự quan tâm ngày càng tăng đối với Khoa Học Nội Tiết như một phương tiện vật chất để tạo ra những thay đổi, thường nơi trẻ em khiếm khuyết và những người thiểu năng trí tuệ. Tuy nhiên, cho đến khi các nhà giáo dục hiện đại bắt đầu thừa nhận khả năng rằng có những đơn vị trung tâm trong con người nằm bên dưới bộ máy hữu hình và có thể chạm thấy, đồng thời cũng thừa nhận khả năng có một trạm năng lượng trung tâm phía sau thể trí, thì tiến bộ trong giáo dục sẽ tương đối đình trệ; đứa trẻ sẽ không nhận được sự huấn luyện ban đầu và các ý tưởng nền tảng giúp nó trở thành một con người thông minh, tự định hướng. Tâm lý học, với sự nhấn mạnh vào ba phương diện của con người — tư tưởng, cảm xúc, và cơ cấu thân xác — đã có một đóng góp thiết yếu và đang làm nhiều việc để đem lại những thay đổi căn bản trong các hệ thống giáo dục của chúng ta. Vẫn còn nhiều điều phải làm. Việc diễn giải con người theo năng lượng và việc nắm bắt bảy loại năng lượng quyết định một con người và các hoạt động của y sẽ đem lại những thay đổi tức thời. |