Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới – Phần I

📘 Sách: Ảo cảm, Một Vấn đề Thế Giới – Tác giả: Alice Bailey

SECTION ONE: THE NATURE OF GLAMOUR – PHẦN MỘT: BẢN CHẤT CỦA ẢO CẢM

[26] In the preceding pages we dealt with certain definitions of the words (frequently used interchangeably) dealing with illusion and glamour. We found that:

[26] Trong những trang trước, chúng ta đã bàn đến một số định nghĩa của các từ liên quan đến ảo tưởng và ảo cảm, vốn thường được dùng thay thế cho nhau. Chúng ta thấy rằng:

1. Illusion is primarily of a mental quality and was characteristic of the attitude of mind of those people who are more intellectual than emotional. They have outgrown glamour as usually understood. It is the misunderstanding of ideas and thoughtforms of which they are guilty, and of misinterpretations.

1. Ảo tưởng chủ yếu mang phẩm tính trí tuệ và là đặc trưng trong thái độ trí tuệ của những người thiên về trí tuệ hơn là cảm xúc. Họ đã vượt qua ảo cảm theo cách hiểu thông thường. Sai lầm của họ nằm ở việc hiểu sai các ý tưởng và hình tư tưởng, cũng như diễn giải sai.

2. Glamour is astral in character, and is far more potent at this time than illusion, owing to the enormous majority of people who function astrally always.

2. Ảo cảm mang tính chất cảm dục và, vào lúc này, mạnh hơn ảo tưởng rất nhiều, vì đại đa số con người luôn hoạt động trên bình diện cảm dục.

3. Maya is vital in character and is a quality of force. It is essentially the energy of the human being as it swings into activity through the subjective influence of the mental illusion or astral glamour or of both in combination.

3. Ảo lực mang tính chất sinh lực và là một phẩm tính của mãnh lực. Về bản chất, đó là năng lượng của con người khi chuyển sang hoạt động dưới ảnh hưởng chủ quan của ảo tưởng trí tuệ, ảo cảm cảm dục hoặc cả hai kết hợp.

4. The Dweller on the Threshold, always present, swings however into activity only on the Path of Discipleship, when the aspirant becomes occultly aware of himself, of the conditions induced within him as a result of his interior illusion, his astral glamour and the maya surrounding his entire life. Being now an integrated personality (and no one is a disciple, my brother, unless he is mental as well as emotional, which is a point the [27] devotee oft forgets) these three conditions (with the preponderance of the effect in one or other of the bodies) are seen as a whole, and to this whole the term the “Dweller on the Threshold” is applied. It is in reality a vitalised thoughtform—embodying mental force, astral force and vital energy.

4. Kẻ Chận Ngõ luôn hiện diện, nhưng chỉ chuyển sang hoạt động trên Con Đường Đệ Tử, khi người chí nguyện nhận biết chính mình theo nghĩa huyền bí, nhận biết những tình trạng nảy sinh bên trong y do ảo tưởng nội tâm, ảo cảm cảm dục và ảo lực bao quanh toàn bộ đời sống của y. Giờ đây, khi y là một phàm ngã tích hợp (và, huynh đệ của tôi, không ai là đệ tử nếu không phát triển cả trí tuệ lẫn cảm xúc, một điểm mà [27] người sùng tín thường quên), y nhìn thấy ba tình trạng này như một toàn thể, dù tác động của chúng trội hơn ở thể này hay thể khác trong các thể của phàm ngã; và thuật ngữ “Kẻ Chận Ngõ” được dùng để chỉ toàn thể ấy. Thực ra, đó là một hình tư tưởng được tiếp sinh lực—thể hiện mãnh lực trí tuệ, mãnh lực cảm dục và năng lượng sinh lực.

The problem, therefore, before all of you in this group is to learn first of all:

Vì vậy, vấn đề đặt ra trước tất cả các bạn trong nhóm này là trước hết phải học:

1. To distinguish between these three inner illusory aspects.

1. Phân biệt ba phương diện hư ảo bên trong này.

2. To discover what conditions in the environment or in the individual constitution induce these situations of difficulty.

2. Khám phá những điều kiện nào trong môi trường hoặc trong cấu tạo cá nhân gây ra các tình trạng khó khăn này.

3. To find out what methods are effective in inducing a cessation of the bewildering deceiving conditions.

3. Tìm ra những phương pháp hữu hiệu để chấm dứt các tình trạng gây hoang mang và lừa dối ấy.

It must be remembered also that these distorting conditions, found in all of you, are the medium whereby you are tuned in on the world glamour and illusion. The emphasis has been laid in esoteric teaching on the training and liberation of the individual aspirant. This is, of course, necessary, for the mass is made up of the individuals, and in the steady release from the control of these inner delusions will come the eventual clarification of humanity.

Cũng cần nhớ rằng những tình trạng gây méo lệch này, vốn có ở tất cả các bạn, là trung gian qua đó các bạn hòa nhịp với ảo cảm và ảo tưởng thế giới. Giáo huấn nội môn đã nhấn mạnh việc huấn luyện và giải thoát từng người chí nguyện. Dĩ nhiên, điều này là cần thiết, vì quần chúng gồm những cá nhân, và việc từng bước thoát khỏi sự kiểm soát của những mê lầm nội tâm này cuối cùng sẽ đem lại sự sáng tỏ cho nhân loại.

[Webinar 74] – [Webinar 74]

Therefore each of you in this group must of necessity work separately and apart with himself, and learn to induce those conditions of clarity and truth which will overcome the ancient rhythms and deep-seated habits and thus steadily purify the aura. But this has now to be done as a group, and this group constitutes one of the first of the exoteric groups with which it is intended to work in the new age. Through the activity of such groups, the world glamour will be dissipated, [28] but first of all the aspirant must learn to deal with individual and group glamour. It is necessary to remember the following three things. I am going to be brief and technical in teaching this group, for my time is short and you have an adequate technical knowledge with which to understand that whereof I speak.

Vì vậy, mỗi người trong nhóm này nhất thiết phải làm việc riêng với chính mình và học cách tạo nên những điều kiện sáng tỏ và chân thật để vượt qua các nhịp điệu lâu đời cùng những thói quen ăn sâu, nhờ đó từng bước thanh lọc hào quang. Nhưng giờ đây, điều này phải được thực hiện với tư cách một nhóm, và nhóm này là một trong những nhóm ngoại môn đầu tiên được dự định làm đối tượng cộng tác trong kỷ nguyên mới. Qua hoạt động của những nhóm như vậy, ảo cảm thế giới sẽ tiêu tan, [28] nhưng trước hết, người chí nguyện phải học cách xử lý ảo cảm cá nhân và ảo cảm nhóm. Cần nhớ ba điều sau đây. Tôi sẽ giảng dạy nhóm này một cách ngắn gọn và chuyên môn, vì thời gian của Tôi ít, và các bạn có đủ kiến thức chuyên môn để thấu hiểu những điều Tôi nói.

First, the united auras of the group members ever determine the group condition, the group activity, usefulness, problem and glamour. Hence emerges individual group responsibility and individual usefulness. Each of you either hinders or aids the group, according to his auric condition, which is either in a state of glamour or illusion or is kept relatively free from these conditions.

Thứ nhất, hào quang kết hợp của các thành viên luôn quyết định tình trạng, hoạt động, tính hữu ích, vấn đề và ảo cảm của nhóm. Từ đó phát sinh trách nhiệm của từng cá nhân đối với nhóm và tính hữu ích của từng người. Mỗi người trong các bạn đều cản trở hoặc hỗ trợ nhóm tùy theo tình trạng hào quang của mình: hào quang ấy hoặc ở trong trạng thái ảo cảm hay ảo tưởng, hoặc được giữ tương đối tự do khỏi những tình trạng này.

Second, that the first job that each of you has to do is to determine his own peculiar problem. In giving you your individual instructions, I will take up with you in this instruction where the particular tendency in this direction of each of you lies, and whether it is glamour, illusion or maya to which you habitually succumb. I will deal with directness, for I have tested your sincerity and believe in your willingness to be told the truth. Once you have each determined the specific nature of your peculiar problem, you can then work with deliberation towards its solution—with deliberation, brother of old, and with no speed, but with due care and caution and with right understanding.

Thứ hai, công việc đầu tiên mỗi người trong các bạn phải làm là xác định vấn đề đặc thù của mình. Khi đưa ra những huấn thị riêng, Tôi sẽ cùng từng người xem xét khuynh hướng đặc thù của họ trong phương diện này nằm ở đâu, và họ thường khuất phục trước ảo cảm, ảo tưởng hay ảo lực. Tôi sẽ nói thẳng, vì Tôi đã kiểm chứng sự chân thành của các bạn và tin rằng các bạn sẵn lòng nghe sự thật. Khi mỗi người đã xác định được bản chất cụ thể của vấn đề đặc thù của mình, các bạn có thể thận trọng làm việc để giải quyết nó—một cách thận trọng, Huynh Đệ của Ngày Xưa, không vội vàng, mà với sự cẩn trọng, dè dặt thích đáng và sự thấu hiểu đúng đắn.

Thirdly, you must remember that as I look at the individual in any of these groups, I can at the same time gauge the quality of the group itself as a whole. The amount of inner light that can shine through and make its presence felt in your auras can be seen by me and indicate to me the strength and the efficiency and also the potency of your individual group influence, for the positive auras subordinate the negative auras. What is required is a combination of positive auras, deliberately subordinated to group work. [29] As you deal with illusion and as you free your minds from its effects, and as you dissipate the astral glamour in which you are all more or less immersed, you will enter into a greater freedom of living and usefulness. As the maya of distorted energy currents ceases to swing you into lines of undesirable activity, the light that is in you will shine forth with greater clarity. Incidentally the Dweller on the Threshold will slowly and surely disintegrate and leave your way, to the door of Initiation, free and unimpeded.

Thứ ba, các bạn phải nhớ rằng khi nhìn vào một cá nhân trong bất kỳ nhóm nào trong số này, Tôi đồng thời có thể đánh giá phẩm tính của toàn thể nhóm ấy. Tôi có thể nhìn thấy lượng ánh sáng bên trong có thể chiếu xuyên qua và khiến người ta cảm nhận được sự hiện diện của nó trong hào quang các bạn; điều đó cho Tôi biết sức mạnh, hiệu quả và sức tác động của ảnh hưởng mà từng người đem lại cho nhóm, vì những hào quang dương tính đặt những hào quang âm tính dưới ảnh hưởng của mình. Điều cần có là sự kết hợp của các hào quang dương tính, chủ động đặt dưới sự chi phối của công việc nhóm. [29] Khi các bạn xử lý ảo tưởng và giải phóng thể trí khỏi những tác động của nó, cũng như làm tiêu tan ảo cảm cảm dục mà tất cả các bạn ít nhiều đều đắm chìm trong đó, các bạn sẽ đạt được tự do lớn hơn trong đời sống và trở nên hữu ích hơn. Khi ảo lực của những dòng năng lượng méo lệch không còn đẩy các bạn vào những đường hướng hoạt động không mong muốn, ánh sáng bên trong các bạn sẽ tỏa ra rõ ràng hơn. Đồng thời, Kẻ Chận Ngõ sẽ từ từ nhưng chắc chắn tan rã, để con đường của các bạn đến cửa Điểm Đạo được thông thoáng, không còn chướng ngại.

[Webinar 75] – [Webinar 75]

Strongly mental types are subject to illusion. This illusion is in reality a condition wherein the aspirant is being definitely controlled by:

Những kiểu người thiên mạnh về trí tuệ chịu ảnh hưởng của ảo tưởng. Thực ra, ảo tưởng này là một tình trạng trong đó người chí nguyện chịu sự kiểm soát rõ rệt của:

1. A thoughtform of such potency that it does two things:

1. Một hình tư tưởng mạnh đến mức thực hiện hai việc:

a. Controls the life activity or output.

a. Kiểm soát hoạt động hoặc những gì biểu hiện ra trong đời sống.

b. Tunes the aspirant in on the mass thoughtforms, which are of a similar nature, and which are built by others under the dominance of a similar illusion.

b. Khiến người chí nguyện hòa nhịp với những hình tư tưởng của quần chúng có bản chất tương tự, do những người khác xây dựng dưới sự chi phối của một ảo tưởng tương tự.

This, in its worst aspect, produces mental insanity or idée fixe, but in its least dangerous and normal result produces the fanatic. The fanatic is usually—even if he realises it not—a bewildered man, who has a potent idea of some kind or another, but who finds it quite impossible to integrate it into the world picture; to make those needed, and often divinely directed, compromises which profoundly help humanity; to find the time or place for the realities which are within his natural grasp.

Ở phương diện tệ hại nhất, điều này gây ra chứng loạn trí hoặc ý tưởng cố định, còn trong kết quả thông thường và ít nguy hiểm nhất, nó tạo nên người cuồng tín. Người cuồng tín thường là—dù y không nhận ra—một người hoang mang, có một ý tưởng mạnh mẽ nào đó nhưng hoàn toàn không thể tích hợp nó vào bức tranh thế giới; không thể thực hiện những sự dung hòa cần thiết, thường do sự hướng dẫn thiêng liêng, vốn giúp ích sâu sắc cho nhân loại; không thể tìm ra thời gian hoặc vị trí dành cho những thực tại vốn nằm trong khả năng nắm bắt tự nhiên của y.

2. When a man is highly developed, the mental illusion is built around a definite intuition and this intuition is concretised by the mind until its appearance is so real that the man believes he sees so clearly that which should be done or given to the world that he spends his time endeavouring [30] in a fanatical manner to make others see it too. Thus his life slips away on the wings of illusion and his incarnation is a relatively profitless one. In a few rare cases, this combination of intuition and mental activity produces the genius in some field or another; but then there is no illusion, but clear thinking, coupled with a trained equipment in that particular field or enterprise.

2. Khi một người phát triển cao, ảo tưởng trí tuệ được xây dựng quanh một trực giác rõ rệt, và thể trí cụ thể hóa trực giác ấy đến mức biểu hiện của nó trở nên chân thực đến nỗi y tin rằng mình nhìn thấy hết sức rõ ràng điều cần làm hoặc cần trao cho thế giới, nên y dành thời gian cố gắng [30] một cách cuồng tín để khiến những người khác cũng nhìn thấy điều ấy. Như vậy, đời sống của y trôi qua trên đôi cánh của ảo tưởng, và kiếp nhập thể của y tương đối ít mang lại lợi ích. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, sự kết hợp giữa trực giác và hoạt động trí tuệ này tạo nên thiên tài trong một lĩnh vực nào đó; nhưng khi ấy không có ảo tưởng, mà là tư duy sáng rõ kết hợp với một bộ máy đã được rèn luyện trong lĩnh vực hoặc công việc cụ thể đó.

3. The weaker and more average mental types of people succumb to the general field of illusion and of mass illusion. The mental plane manifests a different sort of distortion to that of the astral plane or the etheric. The faculty of discrimination which is being developed has produced sharper lines of demarcation, and instead of the dense fogs and mists of the astral plane or the swirling tides and currents of energy of the etheric plane, we have on the mental plane masses of sharply indicated thoughtforms of a particular quality and note and tone, around which are grouped lesser thoughtforms, created by those who respond to these forms, and to their note, quality and tone. Similarities are then seen to exist which constitute channels or avenues for the magnetic drawing power of the more potent thoughtforms. Ancient theologies in modern garb, fixed presentations of half truth, the wild thinking of various world groups, and many similar emanating sources have—down the ages—produced the world of illusion and those mental states which have held humanity prisoner to wrong concepts and thoughts. So many are these thought producing illusions that the effect in the world today has been to cause a general division of the human race into varying schools of thought (philosophy, science, religion, sociology, etc., etc.), into many parties and groups, all of them coloured by an analogous idea, into groups of idealists fighting each other on behalf of their pet concepts, and into tens [31] of thousands of participants in group mental activity. These are today producing the world literature, through which the world platforms are coloured; by their means the world leaders are inspired; and they are responsible at this time for the mass of experiments in the field of government, of education, and of religion which are producing so much of the world unrest, and consequently so much of the world illusion.

3. Những kiểu người có trí tuệ yếu hơn và ở mức trung bình hơn khuất phục trước trường ảo tưởng nói chung và ảo tưởng quần chúng. Cõi trí biểu hiện một loại méo lệch khác với cõi cảm dục hoặc cõi dĩ thái. Năng lực phân biện đang phát triển đã tạo nên những đường phân định sắc nét hơn; thay vì những lớp sương mù dày đặc của cõi cảm dục hoặc những đợt triều và dòng năng lượng cuộn xoáy của cõi dĩ thái, trên cõi trí chúng ta có những khối hình tư tưởng hiện rõ nét, mang một phẩm tính, âm điệu và sắc thái riêng; quanh chúng tập hợp những hình tư tưởng nhỏ hơn, do những người đáp ứng với các hình tướng ấy cùng âm điệu, phẩm tính và sắc thái của chúng tạo ra. Khi ấy, người ta nhận thấy những điểm tương đồng tạo nên các kênh hoặc đường dẫn cho sức hút từ tính của những hình tư tưởng mạnh hơn. Những hệ thống thần học cổ xưa trong lớp áo hiện đại, những cách trình bày cố định về chân lý không trọn vẹn, lối tư duy thiếu kiềm chế của các nhóm khác nhau trên thế giới và nhiều nguồn phát xạ tương tự đã—qua các thời đại—tạo nên thế giới ảo tưởng cùng những trạng thái trí tuệ giam cầm nhân loại trong các quan niệm và tư tưởng sai lầm. Những ảo tưởng sản sinh tư tưởng này nhiều đến mức tác động của chúng trong thế giới ngày nay là gây ra sự phân chia chung của nhân loại thành các trường phái tư tưởng khác nhau (triết học, khoa học, tôn giáo, xã hội học, v.v., v.v.), thành nhiều đảng phái và nhóm, tất cả đều nhuốm màu một ý tưởng tương đồng, thành những nhóm người theo lý tưởng tranh đấu với nhau để bảo vệ các quan niệm tâm đắc của mình, và thành hàng chục [31] nghìn người tham gia hoạt động trí tuệ nhóm. Ngày nay, những người này đang tạo nên nền văn chương thế giới, qua đó các cương lĩnh trên thế giới mang sắc thái riêng; thông qua họ, các nhà lãnh đạo thế giới nhận được cảm hứng; và vào lúc này, họ chịu trách nhiệm về vô số thử nghiệm trong lĩnh vực chính quyền, giáo dục và tôn giáo, vốn đang gây ra rất nhiều bất ổn trên thế giới, và do đó cũng gây ra rất nhiều ảo tưởng thế giới.

What is needed therefore at this time, are thinkers who are training themselves in that mental attitude and one-pointedness which is divorced from the danger of a negative receptivity and is responsive, at the same time, to the higher intuitional inspiration. It is mediating interpreters of ideas that are needed and not mediums.

Vì vậy, lúc này cần những nhà tư tưởng đang tự rèn luyện thái độ trí tuệ và sự nhất tâm, tách khỏi nguy cơ tiếp nhận thụ động, đồng thời đáp ứng với cảm hứng trực giác cao hơn. Điều cần có là những người diễn giải ý tưởng giữ vai trò trung gian, chứ không phải các đồng tử.

[Webinar 76] – [Webinar 76]

The emotional types respond with facility to world glamour and to their own individual inherited and self-induced glamour. The bulk of the people are purely emotional with occasional flashes of real mental understanding—very occasional, my brother, and usually entirely absent. Glamour has been likened to a mist or fog in which the aspirant wanders and which distorts all that he sees and contacts, preventing him from ever seeing life truly or clearly or the conditions surrounding him as they essentially are. When he is a somewhat advanced aspirant, he is aware of the glamour and occasionally sees in a flash in what direction truth for him may lie. But then again the glamour settles down upon him and he is rendered powerless to release himself or to do anything constructive. His problem becomes further complicated by his consequent distress and his deep disgust with himself. He walks ever in a fog and sees naught as it truly exists. He is deceived by the appearance and forgets that which the appearance veils. The emanatory astral reactions which each human [32] being initiates ever surround him and through this mist and fog he looks out upon a distorted world. These reactions and the surrounding aura which they constitute blend and merge with the world glamour and fog and form part of the miasmas and unhealthy emanations for which the masses of men, for millions of years, are responsible.

Những kiểu người thiên về cảm xúc dễ dàng đáp ứng với ảo cảm thế giới và với ảo cảm cá nhân của mình, cả phần được thừa hưởng lẫn phần tự gây ra. Phần đông con người thuần túy thiên về cảm xúc, chỉ thỉnh thoảng mới lóe lên sự thấu hiểu trí tuệ thực sự—rất hiếm hoi, huynh đệ của tôi, và thường hoàn toàn không có. Ảo cảm được ví như màn sương hay lớp sương mù mà người chí nguyện lang thang trong đó; nó làm méo lệch mọi điều y nhìn thấy và tiếp xúc, ngăn y nhìn đời sống một cách chân thực, rõ ràng, hoặc nhìn những điều kiện chung quanh đúng như bản chất của chúng. Khi người chí nguyện đã tiến bộ phần nào, y nhận biết ảo cảm và đôi lúc thoáng thấy chân lý dành cho mình có thể nằm ở hướng nào. Nhưng rồi ảo cảm lại phủ xuống y, khiến y bất lực, không thể tự giải thoát hoặc làm bất cứ điều gì có tính xây dựng. Nỗi khổ tâm phát sinh từ đó cùng sự chán ghét sâu sắc đối với chính mình khiến vấn đề của y thêm phức tạp. Y luôn đi trong sương mù và không nhìn thấy điều gì đúng như nó thực sự tồn tại. Y bị vẻ ngoài đánh lừa và quên điều mà vẻ ngoài che khuất. Những phản ứng cảm dục phát xạ mà mỗi con [32] người khởi phát luôn bao quanh y, và qua màn sương mù ấy, y nhìn ra một thế giới méo lệch. Những phản ứng này cùng hào quang bao quanh do chúng tạo thành hòa lẫn và hợp nhất với ảo cảm và sương mù thế giới, trở thành một phần của những chướng khí và phát xạ không lành mạnh mà quần chúng nhân loại đã tạo ra suốt hàng triệu năm.

I would point out to you that, in Lemurian days, glamour and illusion were relatively unknown from the human standpoint. There were no mental reactions and but little emotional response to environment. Men were largely instinctual animals. Glamour began to be found in Atlantean days, and since that time has steadily precipitated, until today when the Hierarchy looks at humanity it appears to be walking in a deep and constantly changing density of currents which hide and distort, and which swirl around the sons of men and prevent their seeing the LIGHT as it is. This is all the more obvious when it is remembered that the other kingdoms of nature are relatively free from glamour and illusion. In our race, the Aryan, the world illusion is gathering weight and slowly emerging into recognition in the human consciousness and this is a real point gained, for that which is recognised can then be intelligently handled, if the will to do so exists. Today illusion is so potent, that few people whose minds are in any way developed but are controlled by these vast illusory thoughtforms, which have their roots and draw their life from the lower personality life and desire nature of the masses of men. It is interesting to remember also in connection with our Aryan race that these thoughtforms draw their vitality also from the realm of ideas, but of ideas wrongly intuited and grasped and forced to serve the selfish purposes of men. Their forms have been brought into activity by the steadily growing creative power of mankind, and have been subordinated to the wishes of men, through the [33] use of language with its power to limit and distort. The illusion is also precipitated more potently than would otherwise be the case by the effort of many devoted idealistic men to impose these distorted thoughtforms upon the mental bodies of the masses. This constitutes one of the major problems with which the Hierarchy today has to concern itself; it is also one of the first factors which a Master has to consider in connection with any aspirant and disciple.

Tôi muốn chỉ ra cho các bạn rằng, vào thời Lemuria, xét từ quan điểm con người, ảo cảm và ảo tưởng tương đối chưa được biết đến. Không có những phản ứng trí tuệ và chỉ có rất ít đáp ứng cảm xúc với môi trường. Phần lớn con người là những động vật sống theo bản năng. Ảo cảm bắt đầu xuất hiện vào thời Atlantis và từ đó liên tục ngưng tụ, cho đến ngày nay, khi Thánh đoàn nhìn nhân loại, nhân loại dường như đang bước đi trong một lớp dòng chảy dày đặc và không ngừng biến đổi, che khuất và làm méo lệch, cuộn xoáy quanh những người con của nhân loại và ngăn họ nhìn thấy ÁNH SÁNG đúng như nó vốn có. Điều này càng rõ ràng hơn khi nhớ rằng các giới khác trong thiên nhiên tương đối tự do khỏi ảo cảm và ảo tưởng. Trong giống dân của chúng ta, giống dân Arya, ảo tưởng thế giới đang ngày càng nặng nề và dần dần được nhận biết trong tâm thức con người; đây là một thành quả thực sự, vì điều đã được nhận biết thì có thể được xử lý một cách thông minh, nếu có ý chí làm như vậy. Ngày nay, ảo tưởng mạnh đến mức rất ít người có thể trí đã phát triển ở bất kỳ mức độ nào lại không chịu sự kiểm soát của những hình tư tưởng hư ảo khổng lồ này; chúng bắt rễ và rút sự sống từ đời sống phàm ngã thấp kém cùng bản chất dục vọng của quần chúng nhân loại. Liên quan đến giống dân Arya của chúng ta, cũng đáng lưu ý rằng những hình tư tưởng này còn rút sinh lực từ cõi ý tưởng, nhưng đó là những ý tưởng được trực giác nhận biết và nắm bắt một cách sai lạc, rồi bị ép phục vụ các mục đích ích kỷ của con người. Quyền năng sáng tạo không ngừng tăng trưởng của nhân loại đã đưa các hình tướng ấy vào hoạt động và đặt chúng dưới sự chi phối của những mong muốn của con người, qua [33] việc sử dụng ngôn ngữ với khả năng giới hạn và làm méo lệch của nó. Nỗ lực của nhiều người theo lý tưởng đầy tận tụy nhằm áp đặt những hình tư tưởng méo lệch này lên thể trí của quần chúng cũng khiến ảo tưởng ngưng tụ mạnh hơn mức vốn có. Đây là một trong những vấn đề lớn mà Thánh đoàn ngày nay phải quan tâm; đó cũng là một trong những yếu tố đầu tiên mà một Chân sư phải cân nhắc đối với bất kỳ người chí nguyện hay đệ tử nào.

Glamour, as we have seen, is of more ancient standing and of earlier emergence than is illusion. It has little in it of the mental quality and is the major factor controlling the majority. The objective of all training given on the Path of Discipleship and up to the third initiation is to induce that clear thinking which will render the disciple free from illusion and give to him that emotional stability and poise which gives no room for the entrance of any of the world glamour. This freedom becomes possible when there is in the aspirant no personal glamour, and no deliberately self-induced response to the determining factors which have produced glamour down the ages. With these factors we will later deal.

Như chúng ta đã thấy, ảo cảm có nguồn gốc lâu đời hơn và xuất hiện sớm hơn ảo tưởng. Nó chứa rất ít phẩm tính trí tuệ và là yếu tố chủ yếu kiểm soát phần đông con người. Mục tiêu của mọi sự huấn luyện trên Con Đường Đệ Tử và cho đến lần điểm đạo thứ ba là tạo nên tư duy sáng rõ giúp người đệ tử thoát khỏi ảo tưởng, đồng thời đem lại cho y sự ổn định và quân bình cảm xúc, không để bất kỳ ảo cảm thế giới nào xâm nhập. Sự tự do này trở nên khả thi khi người chí nguyện không còn ảo cảm cá nhân và không còn cố ý tự tạo ra sự đáp ứng với những yếu tố quyết định đã gây ra ảo cảm qua các thời đại. Chúng ta sẽ bàn đến những yếu tố này sau.

Maya is the result of both glamour and illusion. It connotes, when present, an integrated personality and therefore the capacity to tune in on mental illusion and astral glamour. Where this condition is found, the problem of the disciple is one of the greatest in the world. What constitutes the prime difficulty of any disciple is the fact that the battleground of his life involves every aspect of his nature. The whole man is involved. Technically, the word MAYA should only be used in two cases:

Ảo lực là kết quả của cả ảo cảm lẫn ảo tưởng. Khi hiện diện, nó hàm ý một phàm ngã tích hợp và do đó có khả năng hòa nhịp với ảo tưởng trí tuệ và ảo cảm cảm dục. Khi có tình trạng này, vấn đề của người đệ tử thuộc vào hàng lớn nhất trên thế giới. Khó khăn hàng đầu của bất kỳ đệ tử nào là chiến trường đời sống của y bao gồm mọi phương diện trong bản chất của y. Toàn bộ con người đều tham dự. Theo nghĩa chuyên môn, từ ẢO LỰC chỉ nên dùng trong hai trường hợp:

1. In reference to the united glamour-illusion to which a man who is an integrated personality responds. [34]

1. Khi nói đến ảo cảm–ảo tưởng kết hợp mà một người có phàm ngã tích hợp đáp ứng. [34]

2. In speaking of the limitations of the planetary Logos of our planet.

2. Khi nói đến những giới hạn của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh chúng ta.

In the above remarks I have given you much food for thought—not only as regards your own personal problems (for all of you are subject to these conditions), but I have also indicated to you what is the nature of glamour. The word is used in all esoteric books and teaching to cover the conditions which are differentiated under the words maya, illusion and glamour itself. Later I will give you some teaching upon the causes of glamour and the methods of its dissipation. But I have given you here enough for the present, for it is my desire that you ponder upon these ideas during the next few months and learn somewhat of the significance of these words which you so lightly use. Watch yourselves and your daily life with discrimination, so that you learn to distinguish between glamour, illusion and maya. See whether you can discover the form which your individual Dweller upon the Threshold is likely to assume as you come into conflict with it; and if you do the same for your group brothers and the immediate world need, you will lose no time in the work of your astral clarification and mental release.

Trong những nhận xét trên, Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm—không chỉ về các vấn đề cá nhân của chính các bạn (vì tất cả các bạn đều chịu ảnh hưởng của những tình trạng này), mà Tôi cũng đã chỉ cho các bạn bản chất của ảo cảm là gì. Từ này được dùng trong mọi sách và giáo huấn nội môn để bao quát những tình trạng được phân biệt bằng các từ ảo lực, ảo tưởng và chính ảo cảm. Sau này, Tôi sẽ đưa ra một số giáo huấn về những nguyên nhân của ảo cảm và các phương pháp làm tiêu tan nó. Nhưng hiện tại, những điều Tôi đã trao ở đây là đủ, vì Tôi mong các bạn suy ngẫm về những ý tưởng này trong vài tháng tới và học được phần nào thâm nghĩa của những từ mà các bạn dùng quá dễ dãi. Hãy quan sát chính mình và đời sống hằng ngày với sự phân biện, để học cách phân biệt ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực. Hãy xem các bạn có thể khám phá hình tướng mà Kẻ Chận Ngõ riêng của mình có khả năng mang lấy khi các bạn đối đầu với nó hay không; và nếu các bạn cũng làm như vậy cho các huynh đệ trong nhóm cùng nhu cầu trước mắt của thế giới, các bạn sẽ không mất thời gian trong công việc làm sáng tỏ đời sống cảm dục và giải phóng trí tuệ.

I would ask you to study these instructions with peculiar care, for I am taking the time and trouble these busy days to meet your need and to bring as much light as I can, without infringing your free will, to meet your need and clear your course to service.

Tôi muốn các bạn nghiên cứu những huấn thị này đặc biệt cẩn trọng, vì trong những ngày bận rộn này, Tôi đang dành thời gian và công sức để đáp ứng nhu cầu của các bạn và đem đến nhiều ánh sáng nhất có thể mà không xâm phạm ý chí tự do của các bạn, nhằm đáp ứng nhu cầu ấy và khai thông con đường phụng sự của các bạn.

I would suggest also that you find out all that you can anent the much misunderstood subject of the aura: search out what is said in my books and in the writings extant in any good occult library. I seek no copying out of paragraphs but a formulation of your knowledge so that you [35] can answer clearly questions which might be asked. The following three questions are basic:

Tôi cũng đề nghị các bạn tìm hiểu mọi điều có thể về chủ đề thường bị hiểu sai là hào quang: hãy tìm những gì đã được nói đến trong các sách của Tôi và trong những tác phẩm hiện có tại bất kỳ thư viện huyền bí học tốt nào. Tôi không muốn các bạn chép lại các đoạn văn, mà muốn các bạn hệ thống hóa tri thức của mình để [35] có thể trả lời rõ ràng những câu hỏi có thể được đặt ra. Ba câu hỏi sau đây là căn bản:

1. What is the aura and how does it come into existence?

1. Hào quang là gì và hình thành như thế nào?

2. How can the aura be made the medium of light, and the light which should shine through it be intensified?

2. Làm thế nào để hào quang trở thành trung gian của ánh sáng, và làm thế nào để tăng cường ánh sáng cần chiếu xuyên qua nó?

3. Have you noticed what is the effect which your own individual aura is making upon your environment and how can you improve that effect?

3. Các bạn đã nhận thấy hào quang cá nhân của mình đang tác động như thế nào lên môi trường chung quanh, và làm thế nào để cải thiện tác động ấy?

This will enable you to make practical application of that which I seek to teach you. Forget not that as you look out upon the world and your immediate environment, that you look out through your aura and have, therefore, to deal with glamour and illusion.

Điều này sẽ giúp các bạn áp dụng vào thực tiễn những gì Tôi muốn dạy. Đừng quên rằng khi nhìn ra thế giới và môi trường ngay chung quanh, các bạn nhìn qua hào quang của mình, và vì vậy phải xử lý ảo cảm và ảo tưởng.

There are three further questions which you might put to yourself, facing the issue in the light of your soul:

Có thêm ba câu hỏi mà các bạn có thể tự đặt ra, khi đối diện với vấn đề trong ánh sáng của linh hồn mình:

1. Do I suffer primarily from glamour or from illusion?

1. Tôi chủ yếu chịu ảnh hưởng của ảo cảm hay ảo tưởng?

2. Do I know which quality or characteristic in my nature facilitates my tuning in on the world glamour or the world illusion?

2. Tôi có biết phẩm tính hoặc đặc tính nào trong bản chất của mình khiến tôi dễ hòa nhịp với ảo cảm thế giới hay ảo tưởng thế giới không?

3. Have I reached the point where I can recognise my peculiar Dweller on the Threshold, and can I state what form it takes?

3. Tôi đã đạt đến mức có thể nhận biết Kẻ Chận Ngõ đặc thù của mình chưa, và tôi có thể nói rõ nó mang hình tướng nào không?

That you may indeed as individuals and also as a group learn the meaning of true self-knowledge and so learn to stand in spiritual being, increasingly free from glamour and illusion, is the prayer of your friend and brother who has fought his way through to a greater measure of light…

Mong các bạn thực sự học được ý nghĩa của sự tự hiểu biết chân chính, cả với tư cách cá nhân lẫn với tư cách một nhóm, và nhờ đó học cách an trụ trong sự hiện tồn tinh thần, ngày càng tự do khỏi ảo cảm và ảo tưởng: đó là lời cầu nguyện của người bạn và huynh đệ của các bạn, người đã chiến đấu để tiến đến một mức độ ánh sáng lớn hơn…

[36] During the past six months, four members of this group of students have been fighting glamour in their own individual lives, and for the most part successfully. I make reference to this because in an experimental group such as this, it is well to anticipate such a situation; such wrestling will naturally occur, because only that which is experimentally known becomes a true content of the equipment of the disciple. Earlier I referred to the fact that part of the plan of the Hierarchy embraces the starting of small groups such as this one which would have the definite objective of providing the active means whereby the world glamour—today so potent and deep—can be dissipated.

[36] Trong sáu tháng qua, bốn thành viên của nhóm đạo sinh này đã chiến đấu với ảo cảm trong đời sống riêng của mình và phần lớn đều thành công. Tôi nhắc đến điều này vì trong một nhóm thử nghiệm như thế này, nên dự liệu một tình trạng như vậy; cuộc vật lộn ấy sẽ tự nhiên diễn ra, vì chỉ những gì được biết qua thực nghiệm mới thực sự trở thành một phần trong bộ máy của người đệ tử. Trước đây, Tôi đã đề cập đến việc một phần Thiên Cơ của Thánh đoàn bao gồm việc khởi lập những nhóm nhỏ như nhóm này, với mục tiêu rõ rệt là cung cấp phương tiện hoạt động để làm tiêu tan ảo cảm thế giới—ngày nay hết sức mạnh mẽ và sâu đậm.

The time has not yet come for dealing with the world illusion on a large scale, for the race is not adequately mental nor has the illusion (which is, as I have stated, pre-eminently the result of the misinterpretation of ideas) reached its height. But the hour has struck for the first steps to be taken in the dissipation of glamour, and the hold of glamour upon the race should be appreciably lessened in the future. Hence the practical training now being given in this group in their own lives; hence also the intended teaching later to be given to the group—if they measure up to the opportunity—which will enable them to aid in the concerted and planned attack upon the world glamour. Wrestle therefore with your personal problems along these lines, my brothers, for in this way you will gain facility in discernment, in clear precise action, and in strengthened understanding.

Chưa đến lúc xử lý ảo tưởng thế giới trên quy mô lớn, vì nhân loại chưa phát triển trí tuệ đầy đủ, và ảo tưởng (như Tôi đã nói, chủ yếu là kết quả của việc diễn giải sai các ý tưởng) cũng chưa đạt đến đỉnh điểm. Nhưng giờ đã điểm để thực hiện những bước đầu tiên trong việc làm tiêu tan ảo cảm, và trong tương lai, sức khống chế của ảo cảm đối với nhân loại cần giảm đi đáng kể. Vì vậy, nhóm này hiện đang được huấn luyện thực tiễn ngay trong đời sống của từng người; và cũng vì vậy, sau này nhóm sẽ nhận được giáo huấn dự định—nếu họ đáp ứng được cơ hội—giúp họ tham gia cuộc tấn công phối hợp và có kế hoạch nhằm vào ảo cảm thế giới. Vì vậy, các huynh đệ của Tôi, hãy vật lộn với những vấn đề cá nhân theo các đường hướng này, vì bằng cách ấy, các bạn sẽ trở nên thành thạo hơn trong phân biện tinh thần, trong hành động sáng rõ, chính xác và trong sự thấu hiểu được củng cố.

In the process of dissipating glamour, the way of the greatest potency is to realise the necessity to act purely as a channel for the energy of the soul. If the disciple can make right alignment and consequent contact with his soul, the results show as increased light. This light pours down and irradiates not only the mind, but the brain consciousness [37] as well. He sees the situation more clearly: he realises the facts of the case as against his “vain imaginings”; and so the “light shines upon his way.” He is not yet able to see truly in the larger sweeps of consciousness; the group glamour and, of course, the world glamour remain to him as yet a binding and bewildering mystery, but his own immediate way begins to clear, and he stands relatively free from the fog of his ancient and distorting emotional miasmas. Alignment, contact with his soul, and then steadfastness, are the keynotes to success.

Trong tiến trình làm tiêu tan ảo cảm, cách thức mạnh mẽ nhất là nhận ra sự cần thiết phải hành động thuần túy như một kênh dẫn năng lượng linh hồn. Nếu người đệ tử có thể chỉnh hợp đúng đắn và nhờ đó tiếp xúc với linh hồn mình, kết quả sẽ biểu hiện thành ánh sáng gia tăng. Ánh sáng này tuôn xuống và chiếu sáng không chỉ thể trí mà cả tâm thức bộ não [37] nữa. Y nhìn tình hình rõ ràng hơn: y nhận biết những sự thật của vấn đề, đối lập với các “tưởng tượng hão huyền” của mình; và như vậy, “ánh sáng soi chiếu con đường của y”. Y chưa thể nhìn chân thực trong những phạm vi tâm thức rộng lớn hơn; ảo cảm nhóm và, dĩ nhiên, ảo cảm thế giới vẫn còn là một điều bí ẩn trói buộc và gây hoang mang đối với y, nhưng con đường ngay trước mắt y bắt đầu sáng tỏ, và y tương đối tự do khỏi lớp sương mù của những chướng khí cảm xúc lâu đời gây méo lệch. Chỉnh hợp, tiếp xúc với linh hồn, rồi kiên định là những chủ âm dẫn đến thành công.

It will therefore be apparent to you that small groups such as this, if established in different countries and cities and if successful in their personal activities, could play a most useful part. Such groups would have two aspects to their endeavour. They would have to wrestle with group glamour which creeps inevitably into group life through the instrumentality of the group members. Their united personal glamours provide the open door through which group glamour can enter. An instance of this can be seen in this group, when glamour entered in through the medium of L.T.S-K., and swept I.B.S. into its vortex of force. It was overcome, fortunately, leaving you all the richer and more united on account of the strong stand in love taken by the other group members. May I remind L.T.S-K. and I.B.S. of their deep indebtedness to the love of their brothers. The group love protected them. I.B.S. has gone a long way in freeing herself from certain aspects of glamour. L.T.S-K. is also freer than he was, but still has much to do. It is always difficult for the third ray person to cultivate the intuition. The apparently profound wisdom of the manipulative and devious science of the intelligence inherent in matter prevents oft the entrance of the true wisdom of the illumined mind. Six months ago I felt that it was probably impossible for L.T.S-K. to free himself [38] from the glamour in which he habitually walked. Today a little more light shines upon his way and he may, if he frees himself still further from his self-generated thoughtforms, make the needed grade.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những nhóm nhỏ như thế này, nếu được thành lập tại các quốc gia và thành phố khác nhau và thành công trong những hoạt động cá nhân, có thể đóng một vai trò hết sức hữu ích. Nỗ lực của những nhóm ấy sẽ có hai phương diện. Họ sẽ phải vật lộn với ảo cảm nhóm vốn không tránh khỏi len vào đời sống nhóm qua các thành viên. Những ảo cảm cá nhân kết hợp của họ tạo nên cánh cửa mở để ảo cảm nhóm có thể xâm nhập. Có thể thấy một ví dụ ngay trong nhóm này, khi ảo cảm xâm nhập qua L.T.S-K. và cuốn I.B.S. vào xoáy mãnh lực của nó. May thay, ảo cảm ấy đã được khắc phục, khiến tất cả các bạn phong phú hơn và đoàn kết hơn nhờ lập trường vững vàng trong tình thương của những thành viên khác. Tôi xin nhắc L.T.S-K. và I.B.S. về món nợ sâu sắc đối với tình thương của các huynh đệ mình. Tình thương của nhóm đã bảo vệ họ. I.B.S. đã tiến một đoạn đường dài trong việc giải thoát mình khỏi một số phương diện của ảo cảm. L.T.S-K. cũng tự do hơn trước, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Việc vun bồi trực giác luôn khó khăn đối với người cung ba. Minh triết có vẻ sâu sắc của khoa học trí thông minh vốn có trong vật chất, với tính thao túng và quanh co, thường ngăn minh triết chân chính của thể trí được soi sáng đi vào. Sáu tháng trước, Tôi cảm thấy có lẽ L.T.S-K. không thể tự giải thoát [38] khỏi ảo cảm mà y thường xuyên sống trong đó. Ngày nay, thêm một chút ánh sáng đang soi chiếu con đường của y, và nếu tự giải thoát hơn nữa khỏi những hình tư tưởng do mình tạo ra, y có thể đạt mức cần thiết.

When group glamour has been somewhat dissipated and the group can walk in the “lighted Way” with freedom, then will come the time when the group can be trained in group alignment, group contact and group steadfastness. It can then begin the definite and scientific task of attacking the world glamour. It is of interest in this particular group to be reminded that this is part of the activity now being undertaken by certain people in the New Group of World Servers. Through the emphasis in the world of certain basic ideas such as goodwill and mutual inter-dependence, much is being done to dissipate the glamour in which the people of the world are walking. It is not the function of every server to form part of the massed attack upon the world glamour which is now getting under way. Everyone has to deal with glamour in his own personal life, but functions and activities differ. Yours is the work of the trained observers, and that training takes much time. At present, many of you do not recognise glamour when it meets you, and envelops you. It is only by its effects that you eventually know it for what it is. The time must come when your processes of observation are so keen that you will recognise it in its true nature before it immerses and engulfs you and produces those conditions which enable you to say later: “Why did I allow myself to be glamoured? Why was I so deluded?”

Khi ảo cảm nhóm đã phần nào tiêu tan và nhóm có thể tự do bước đi trên “Con Đường được Soi Sáng”, thì sẽ đến lúc nhóm có thể được huấn luyện về sự chỉnh hợp nhóm, sự tiếp xúc nhóm và sự kiên định của nhóm. Khi ấy, nhóm có thể bắt đầu nhiệm vụ cụ thể và khoa học là tấn công ảo cảm thế giới. Đối với nhóm cụ thể này, điều đáng quan tâm là được nhắc nhớ rằng đây là một phần hoạt động mà một số người trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hiện đang thực hiện. Thông qua việc nhấn mạnh trên thế giới một số ý tưởng căn bản như thiện chí và sự phụ thuộc lẫn nhau, nhiều việc đang được thực hiện để làm tiêu tan ảo cảm mà người dân trên thế giới đang bước đi trong đó. Không phải mọi người phụng sự đều có chức năng tham gia cuộc tấn công tập trung vào ảo cảm thế giới hiện đang bắt đầu. Mỗi người đều phải xử lý ảo cảm trong đời sống cá nhân của mình, nhưng các chức năng và hoạt động khác nhau. Công việc của các bạn là công việc của Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, và việc huấn luyện ấy đòi hỏi nhiều thời gian. Hiện nay, nhiều người trong các bạn không nhận ra ảo cảm khi nó đến và bao phủ các bạn. Chỉ qua những tác động của nó, cuối cùng các bạn mới biết nó thực sự là gì. Phải đến lúc khả năng quan sát của các bạn sắc bén đến mức các bạn nhận ra bản chất đích thực của nó trước khi nó nhấn chìm, nuốt chửng các bạn và tạo ra những tình trạng khiến về sau các bạn phải nói: “Tại sao tôi lại để mình rơi vào ảo cảm? Tại sao tôi lại bị mê lầm đến thế?”

At this point I desire to do two things: I seek to outline a little more carefully this discussion or short treatise on glamour, so that our ideas may be clearly formulated and you will have a textbook for future reference which [39] will serve to guide your group and analogous groups in the way of right activity. Secondly, I wish to recapitulate somewhat those things which I have already stated so as to enrich your understanding of the various phases of the world glamour. This world glamour, the analytical mind has to differentiate into distinctive phases, calling them Illusion, Glamour, Maya and that synthetic thoughtform, found on the Path of Discipleship, which is called by some schools of esotericism the Dweller on the Threshold.

Đến đây, Tôi muốn làm hai việc: Tôi tìm cách phác thảo kỹ lưỡng hơn đôi chút cuộc thảo luận hay khảo luận ngắn này về ảo cảm, để các ý tưởng của chúng ta có thể được trình bày rõ ràng và các bạn có một giáo trình để tham khảo về sau, [39] giúp hướng dẫn nhóm của các bạn cùng những nhóm tương tự theo hướng hoạt động đúng đắn. Thứ hai, Tôi muốn tóm lược phần nào những điều Tôi đã trình bày, nhằm làm phong phú sự thấu hiểu của các bạn về những khía cạnh khác nhau của ảo cảm thế giới. Thể trí phân tích phải phân biệt ảo cảm thế giới này thành những khía cạnh riêng biệt, gọi chúng là Ảo tưởng, Ảo cảm, Ảo lực và hình tư tưởng tổng hợp xuất hiện trên Con Đường Đệ Tử, mà một số trường phái huyền bí học gọi là Kẻ Chận Ngõ.

As you will see from this, my brothers, we have set ourselves a large theme, which must be very carefully handled. My task is a difficult one, because I write for those who are still held by the varying aspects of glamour, and usually by the secondary glamour and maya. Illusion does not yet fully play its part and the Dweller is seldom adequately realised. I would here remind you of a stupendous occult fact and will ask you to endeavour to understand that whereof I speak. The Dweller on the Threshold does not emerge out of the fog of illusion and of glamour until the disciple is nearing the Gates of Life. Only when he can catch dim glimpses of the Portal of Initiation and an occasional flash of light from the Angel of the Presence Who stands waiting beside that door, can he come to grips with the principle of duality, which is embodied for him in the Dweller and the Angel. Do you comprehend that whereof I speak? As yet, my words embody for you symbolically a future condition and event. The day will surely come, however, when you will stand in full awareness between these symbols of the pairs of opposites, with the Angel on the right and the Dweller on the left. May strength then be given to you to drive straight forward between these two opponents, who have for long ages waged warfare in the field of your life, and so may you [40] enter into that Presence where the two are seen as one, and naught is known but life and deity.

Các huynh đệ của Tôi, như các bạn sẽ thấy từ những điều này, chúng ta đã đặt ra cho mình một chủ đề lớn, cần được xử lý hết sức cẩn trọng. Nhiệm vụ của Tôi là một nhiệm vụ khó khăn, vì Tôi viết cho những người vẫn còn chịu sự ràng buộc của các phương diện khác nhau của ảo cảm, và thường là của ảo cảm thứ yếu cùng ảo lực. Ảo tưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò của nó, còn Kẻ Chận Ngõ hiếm khi được nhận biết một cách đầy đủ. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn về một sự thật huyền bí vô cùng lớn lao và đề nghị các bạn cố gắng thấu hiểu điều Tôi đang nói. Kẻ Chận Ngõ không hiện ra khỏi màn sương ảo tưởng và ảo cảm cho đến khi đệ tử tiến gần đến các Cổng Sự Sống. Chỉ khi y có thể thoáng thấy lờ mờ Cổng Điểm Đạo và đôi lúc thấy một tia sáng lóe lên từ Thiên Thần của Hiện Diện, Đấng đứng chờ bên cánh cửa ấy, y mới có thể trực diện với nguyên khí nhị nguyên, mà đối với y, Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần là hiện thân. Các bạn có lĩnh hội điều Tôi đang nói không? Hiện giờ, đối với các bạn, những lời của Tôi mới chỉ biểu đạt bằng biểu tượng một tình trạng và sự kiện trong tương lai. Tuy nhiên, chắc chắn sẽ đến ngày các bạn đứng với sự nhận biết trọn vẹn giữa những biểu tượng này của các cặp đối cực, với Thiên Thần bên phải và Kẻ Chận Ngõ bên trái. Cầu mong khi ấy các bạn được ban sức mạnh để tiến thẳng về phía trước giữa hai đối thủ này, những kẻ từ bao thời đại đã giao chiến trên chiến trường đời sống của các bạn, và nhờ đó các bạn có thể [40] bước vào Hiện Diện ấy, nơi hai được thấy là một, và không còn biết gì ngoài sự sống và Thượng đế.

In summarising some of the information I have given to you concerning the four aspects of glamour, I would offer the following tabulation for your careful consideration.

Để tóm lược một số thông tin Tôi đã cung cấp cho các bạn về bốn phương diện của ảo cảm, Tôi xin đưa ra bảng sau đây để các bạn cân nhắc kỹ lưỡng.

Note:

Lưu ý:

1. A dawning sense of maya arose in Lemurian days, but there was no real glamour and illusion.

1. Một cảm nhận sơ khởi về ảo lực đã xuất hiện vào thời Lemuria, nhưng chưa có ảo cảm và ảo tưởng thực sự.

2. Glamour arose in early Atlantean times.

2. Ảo cảm xuất hiện vào đầu thời Atlantis.

3. Illusion arose among advanced human beings in later Atlantean days and will be a controlling factor in our Aryan race.

3. Ảo tưởng xuất hiện ở những con người tiến bộ vào cuối thời Atlantis và sẽ là một yếu tố chi phối trong giống dân Arya của chúng ta.

4. The Dweller on the Threshold arrives at full potency at the end of this race, the Aryan, and in the lives of all initiates prior to taking the third initiation.

4. Kẻ Chận Ngõ đạt đến toàn bộ sức mạnh vào cuối giống dân này, giống dân Arya, và trong đời sống của mọi điểm đạo đồ trước khi trải qua lần điểm đạo thứ ba.

5. The subhuman kingdoms in nature are free from glamour and illusion, but are immersed in the world maya.

5. Các giới dưới nhân loại trong tự nhiên không chịu ảo cảm và ảo tưởng, nhưng chìm trong ảo lực thế giới.

6. The Buddha and His 900 arhats struck the first blow at the world glamour when He promulgated His Four Noble Truths. The Christ struck the second blow with His teaching of the nature of individual responsibility and of brotherhood. The next blow will be struck by the New Group of World Servers, acting under the direction of Christ and His disciples, symbolically described as “Christ and His 9000 initiates.”

6. Đức Phật và 900 vị A la hán của Ngài đã giáng đòn đầu tiên vào ảo cảm thế giới khi Ngài công bố Tứ Diệu Đế. Đức Christ giáng đòn thứ hai bằng giáo huấn của Ngài về bản chất của trách nhiệm cá nhân và tình huynh đệ. Đòn tiếp theo sẽ do Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian giáng xuống, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Đức Christ và các đệ tử của Ngài, được mô tả bằng biểu tượng là “Đức Christ và 9000 điểm đạo đồ của Ngài”.

7. The Four Keynotes to the solution of the problem of glamour are:

7. Bốn Chủ Âm để giải quyết vấn đề ảo cảm là:

Intuition… Illumination… Inspiration… The Angel of the Presence.

Trực giác… Soi sáng… Cảm hứng… Thiên Thần của Hiện Diện.

[41] THE ASPECTS OF GLAMOUR

[41] CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA ẢO CẢM

Name

Tên gọi

Plane

Cõi

Opposite

Đối cực

Objective

Mục tiêu

Battleground

Chiến trường

Technique

Kỹ thuật

Illusion

Ảo tưởng

Mental

Trí tuệ

Intuition Spritual Perception

Trực giác Tri giác tinh thần

Dispelling

Xua tan

Path of Initiation World of Ideas

Con Đường Điểm Đạo Thế giới Ý tưởng

Contemplation by soul

Sự chiêm ngưỡng của linh hồn

Glamour

Ảo cảm

Astral

Cảm dục

Illumination Lucidity Vision

Soi sáng Sự sáng suốt Tầm nhìn

Dissipation

Làm tiêu tan

Path of Discipleship

Con Đường Đệ Tử

Meditation Holding mind steady in the light

Tham thiền Giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng

Maya

Ảo lực

Etheric

Dĩ thái

Inspiration

Cảm hứng

Devitalisation

Rút sinh lực

Path of Probation Purification

Con Đường Dự Bị Thanh lọc

Occultism. Force manipulation

Huyền bí học. Điều khiển mãnh lực

Dweller on the Threshold

Kẻ Chận Ngõ

Physical Brain Consciousness

Tâm thức của bộ não hồng trần

Angel of the Presence

Thiên Thần của Hiện Diện

Discrimination

Phân biện

Integrated personality

Phàm ngã tích hợp

At-one-ment End of duality

Sự hợp nhất Chấm dứt nhị nguyên

[42] I would call your attention to the fact that the whole problem concerns itself with the use or misuse of force or energy, and that much will clear up in your minds if you will realise three things:

[42] Tôi muốn các bạn chú ý đến sự thật rằng toàn bộ vấn đề liên quan đến việc sử dụng đúng hoặc sai mãnh lực hay năng lượng, và nhiều điều sẽ sáng tỏ trong thể trí của các bạn nếu các bạn nhận ra ba điều:

1. That average man, in everyday life, and the aspirant upon the Path of Probation or Purification, works with the forces of life on the three planes of human endeavour, plus the principle of life itself.

1. Người bình thường trong đời sống hằng ngày, và người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị hay Thanh Lọc, làm việc với các mãnh lực của sự sống trên ba cõi hoạt động của con người, cùng với chính nguyên khí sự sống.

2. That the disciple begins to discriminate between the forces and energy. Upon the Path of Discipleship he begins to work with soul-energy. This eventually dominates the forces.

2. Đệ tử bắt đầu phân biện giữa các mãnh lực và năng lượng. Trên Con Đường Đệ Tử, y bắt đầu làm việc với năng lượng linh hồn. Cuối cùng, năng lượng này chi phối các mãnh lực.

3. That the initiate works, upon the Path of Initiation, with energy and learns to distinguish between the energy of life, the energies of the soul, and the forces of the phenomenal world.

3. Trên Con Đường Điểm Đạo, điểm đạo đồ làm việc với năng lượng và học cách phân biệt giữa năng lượng của sự sống, các năng lượng của linh hồn và các mãnh lực của thế giới hiện tượng.

Another point also should be emphasised here and that is that the nature of these forces and energies, and their use and control have always to be realised and worked out in full consciousness upon the physical plane. Theory must become fact, and the battles which take place on the subtler levels of the astral and mental planes must be realised in the brain consciousness. It is there that the application is made. As these realisations and inner activities become practical parts of the disciple’s life and their consequences become clear to his perception in waking consciousness, they form in time part of his quality equipment. He is in reality integrating and synthesising experience in the three worlds and becoming a Master through conscious mastering. He grasps the fact that all that appears and all that happens is due to the circulation and constant mutation of force. He discovers then how these forces interplay in his own experiences [43] and nature, and grasps then the fundamental fact that only those forces which he himself can use and master in his own life as an individual can be employed by him in group activity and be used in the dispelling of the world glamour. It might be expressed in illustration thus:

Ở đây cũng cần nhấn mạnh một điểm khác: bản chất của các mãnh lực và năng lượng này, cùng việc sử dụng và kiểm soát chúng, luôn phải được nhận biết và thực hiện với tâm thức trọn vẹn trên cõi hồng trần. Lý thuyết phải trở thành sự thật, và những trận chiến diễn ra trên các cấp độ vi tế hơn của cõi cảm dục và cõi trí phải được nhận biết trong tâm thức bộ não. Chính tại đó việc ứng dụng diễn ra. Khi những nhận biết và hoạt động bên trong này trở thành những phần thực tiễn trong đời sống của đệ tử, và y thấy rõ những hệ quả của chúng trong tâm thức tỉnh thức, theo thời gian chúng trở thành một phần hành trang phẩm tính của y. Thực ra, y đang tích hợp và tổng hợp kinh nghiệm trong ba cõi giới và trở thành một Chân sư thông qua sự làm chủ có ý thức. Y nắm bắt sự thật rằng mọi điều xuất hiện và mọi việc xảy ra đều do sự lưu chuyển và biến đổi không ngừng của mãnh lực. Khi ấy, y khám phá cách các mãnh lực này tương tác trong những trải nghiệm [43] và bản chất của chính mình, rồi nắm bắt sự thật căn bản rằng chỉ những mãnh lực mà chính y có thể sử dụng và làm chủ trong đời sống cá nhân mới có thể được y vận dụng trong hoạt động nhóm và dùng để xua tan ảo cảm thế giới. Có thể minh họa điều này như sau:

1. Through alignment and subsequent contact, the intuition is evoked, awakened and used. This is the great dispelling agency, and pours down from the plane of the intuition (the plane of buddhi) through the soul and the brain to the heart of the disciple.

1. Thông qua sự chỉnh hợp và sự tiếp xúc tiếp theo, trực giác được gợi lên, đánh thức và sử dụng. Đây là tác nhân xua tan vĩ đại, tuôn xuống từ cõi trực giác (cõi Bồ đề), qua linh hồn và bộ não đến trái tim của đệ tử.

2. Through alignment and subsequent contact, the energy of the soul is evoked, awakened and used. This is the great dissipating agency, and pours down from soul levels (the higher levels of the mental plane) through the mind to the brain of the disciple carrying illumination to the astral plane.

2. Thông qua sự chỉnh hợp và sự tiếp xúc tiếp theo, năng lượng linh hồn được gợi lên, đánh thức và sử dụng. Đây là tác nhân làm tiêu tan vĩ đại, tuôn xuống từ các cấp độ linh hồn (những cấp độ cao hơn của cõi trí), qua thể trí đến bộ não của đệ tử, mang sự soi sáng đến cõi cảm dục.

3. These two types of spiritual energy work differently upon the forces of the personality, and their purpose and activity have to be realised in the brain consciousness of the disciple as he works upon the physical plane.

3. Hai loại năng lượng tinh thần này tác động khác nhau lên các mãnh lực của phàm ngã, và đệ tử phải nhận biết mục đích cùng hoạt động của chúng trong tâm thức bộ não khi y làm việc trên cõi hồng trần.

4. Then and only then can the light of the intuition and the light of the soul return to the astral plane through the conscious effort and the dynamic intelligent will of the serving disciple.

4. Khi ấy và chỉ khi ấy, ánh sáng trực giác và ánh sáng linh hồn mới có thể trở lại cõi cảm dục thông qua nỗ lực có ý thức và ý chí năng động, thông minh của đệ tử đang phụng sự.

Ponder on these points for they outline your way and your service….

Hãy suy ngẫm những điểm này, vì chúng phác thảo con đường và việc phụng sự của các bạn….

I have organised somewhat our ideas and outlined the plan under which we would approach this theme. I gave you certain basic concepts and a skeleton outline of the subject as a whole. (See the Table of Contents.) Today we will begin with our real discussion. As you know, it is not [44] my intention to write a long and ponderous thesis on this subject. The books which will be compiled from the instructions offered to these groups of disciples, will not be heavy treatises as are those on Cosmic Fire and White Magic. They will constitute a series of relatively short volumes, and must therefore be packed with information, and not discursive in style.

Tôi đã phần nào sắp xếp các ý tưởng của chúng ta và phác thảo kế hoạch để chúng ta tiếp cận chủ đề này. Tôi đã đưa ra cho các bạn một số khái niệm căn bản và một dàn ý sơ lược về toàn bộ chủ đề. (Xem Mục lục.) Hôm nay, chúng ta sẽ bắt đầu cuộc thảo luận thực sự. Như các bạn biết, [44] Tôi không có ý định viết một luận thuyết dài dòng và nặng nề về chủ đề này. Những cuốn sách được biên soạn từ các huấn thị dành cho các nhóm đệ tử này sẽ không phải là những khảo luận nặng nề như các khảo luận về Lửa Vũ Trụ và Chánh Thuật. Chúng sẽ tạo thành một bộ gồm những tập tương đối ngắn, vì vậy phải chứa đựng thông tin cô đọng, chứ không có lối trình bày lan man.

Above everything else, my brothers, these instructions must be of a definitely practical value and must leave the student with the realisation that he understands better the subtle world of thought currents and of forces in which he dwells; and that he knows better the means he must employ and the technique he must follow if he is to clear his path from darkness and confusion and follow on to light and harmony. Our study must be comparative also, and the reader must bear in mind that he will not be able to distinguish the truth or isolate that aspect of the teaching which is for him of paramount importance unless he applies that which is helpful, and ascertains clearly whether he is the victim of illusion or of glamour. In the last analysis, he must know where he stands before he can take his next needed step forward. The disciple is the victim and, let us hope, the dissipator of both glamour and illusion, and hence the complexity of his problem and the subtlety of his difficulties. He must bear in mind also (for his strengthening and cheer) that every bit of glamour dissipated and every illusion recognised and overcome “clears the way” for those who follow after, and makes easier the path of his fellow disciples. This is par excellence, the Great Service, and it is to this aspect of it that I call your attention. Hence my attempts in these instructions to clarify this issue.

Các huynh đệ của Tôi, trên hết, những huấn thị này phải có giá trị thực tiễn rõ rệt và phải giúp đạo sinh nhận ra rằng y thấu hiểu hơn thế giới vi tế của các dòng tư tưởng và mãnh lực mà y đang sống trong đó; và rằng y biết rõ hơn những phương tiện phải sử dụng cùng kỹ thuật phải tuân theo nếu muốn dọn sạch bóng tối và sự rối ren khỏi con đường của mình để tiếp tục tiến đến ánh sáng và sự hài hòa. Việc nghiên cứu của chúng ta cũng phải mang tính so sánh, và người đọc phải ghi nhớ rằng y sẽ không thể phân biệt chân lý hay tách riêng phương diện giáo huấn có tầm quan trọng cao nhất đối với mình, trừ khi y áp dụng những gì hữu ích và xác định rõ mình là nạn nhân của ảo tưởng hay ảo cảm. Xét đến cùng, y phải biết mình đang ở đâu trước khi có thể tiến bước tiếp theo cần thiết. Đệ tử là nạn nhân và, chúng ta hãy hy vọng, cũng là người làm tiêu tan cả ảo cảm lẫn ảo tưởng; vì thế, vấn đề của y phức tạp và những khó khăn của y vi tế. Y cũng phải ghi nhớ (để thêm sức mạnh và niềm vui) rằng mỗi phần ảo cảm được làm tiêu tan và mỗi ảo tưởng được nhận ra và vượt qua đều “dọn đường” cho những người theo sau, và làm cho con đường của các đệ tử đồng môn dễ đi hơn. Đây chính là việc Phụng Sự Vĩ Đại theo nghĩa cao nhất, và Tôi muốn các bạn chú ý đến phương diện này của nó. Vì vậy, trong những huấn thị này, Tôi cố gắng làm sáng tỏ vấn đề ấy.

One of the problems which confronts the aspirant is the problem of duly recognising glamour when it arises, and of being aware of the glamours which beset his path and the [45] illusions which build a wall between him and the light. It is much that you have recognised that glamour and illusion exist. The majority of people are unaware of their presence. Many good people today see this not; they deify their glamours and regard their illusions as their prized and hard won possessions.

Một trong những vấn đề mà người chí nguyện phải đối diện là nhận ra đúng mức ảo cảm khi nó xuất hiện, và nhận biết những ảo cảm vây bủa con đường của mình cùng những [45] ảo tưởng dựng nên bức tường giữa y và ánh sáng. Việc các bạn đã nhận ra rằng ảo cảm và ảo tưởng tồn tại là một bước tiến đáng kể. Phần lớn mọi người không nhận biết sự hiện diện của chúng. Ngày nay, nhiều người tốt không thấy điều này; họ thần thánh hóa những ảo cảm của mình và xem những ảo tưởng của mình là các tài sản quý giá mà họ khó nhọc mới giành được.

The very recognition, in its turn however, carries with it its own problems, so unable is the average disciple to free himself from the glamour-making faculties developed in the past, and so hard does he find it to preserve a due proportion and a proper sense of values in regard to the truths of the mental plane. A hard won truth and a principle of reality can be grasped, and then around it the disciple can build the easily formed illusions of the mind which is just beginning to find itself. The glamours of an emotional nature can emerge and gather about the ideal, for that is as yet unclarified and is prone to attract to itself that which—emotionally and sensitively—it believes itself to be and have.

Tuy nhiên, đến lượt nó, chính sự nhận biết ấy lại mang theo những vấn đề riêng, vì đệ tử bình thường rất khó tự giải thoát khỏi các khả năng tạo ảo cảm đã phát triển trong quá khứ, và rất khó giữ được sự cân đối đúng mức cùng ý thức đúng đắn về các giá trị đối với những chân lý của cõi trí. Y có thể nắm bắt một chân lý khó nhọc mới đạt được và một nguyên khí của thực tại, rồi quanh đó xây dựng những ảo tưởng dễ hình thành của thể trí vừa mới bắt đầu khám phá chính mình. Những ảo cảm có bản chất cảm xúc có thể xuất hiện và tụ quanh lý tưởng, vì lý tưởng ấy vẫn chưa sáng tỏ và có xu hướng thu hút về mình những gì mà—về mặt cảm xúc và cảm nhận—nó tin rằng mình là và có.

Let us illustrate my point from two angles, both of which are entirely in the realm of discipleship, or encountered upon the Path of Probation. We will call them the “illusion of power” and the “glamour of authority.” This form of words will show you that one is to be encountered upon the astral plane and the other upon the mental.

Chúng ta hãy minh họa ý của Tôi từ hai góc độ, cả hai đều hoàn toàn thuộc phạm vi địa vị đệ tử hoặc được gặp trên Con Đường Dự Bị. Chúng ta sẽ gọi chúng là “ảo tưởng về quyền năng” và “ảo cảm về uy quyền”. Cách dùng từ này sẽ cho các bạn thấy rằng một điều được gặp trên cõi cảm dục và điều kia trên cõi trí.

The Glamour of Authority is a mass glamour in most cases. It has its roots in mass psychology and is one of the indications that humanity is at the nursery stage as yet, wherein men are safeguarded from themselves by the imposition of some rule, some set of laws, some authoritative dictum, emanating from state control, from the rule of an oligarchy, or from the dictatorship of some individual. It reduces mankind, as far as one can judge, to set forms and standardises men’s activities, regimenting their lives [46] and work. It is imposed and ordered through catering to the fear complex, rampant in humanity at this time; and this fear is one of the most fruitful sources of glamour which we have. We might perhaps and with reason regard it as the seed of all glamour upon our planet. Fear has been the incentive to those conditions which have brought about the glamour of the astral plane, though not the illusions of the mental levels of consciousness.

Ảo cảm về Uy quyền trong phần lớn trường hợp là một ảo cảm quần chúng. Nó bắt nguồn từ tâm lý quần chúng và là một trong những dấu hiệu cho thấy nhân loại vẫn còn ở giai đoạn ấu thơ, khi con người được bảo vệ khỏi chính mình bằng việc áp đặt một quy luật, một bộ luật hay một tuyên ngôn có uy quyền nào đó, xuất phát từ sự kiểm soát của nhà nước, từ sự cai trị của một tập đoàn thiểu số hay từ chế độ độc tài của một cá nhân. Theo những gì có thể nhận định, nó đưa nhân loại vào những khuôn mẫu cố định và chuẩn hóa các hoạt động của con người, đặt đời sống [46] và công việc của họ vào khuôn phép cứng nhắc. Nó được áp đặt và thiết lập bằng cách chiều theo phức cảm sợ hãi đang lan tràn trong nhân loại hiện nay; và nỗi sợ này là một trong những nguồn sinh ra nhiều ảo cảm nhất mà chúng ta có. Có lẽ chúng ta có lý do để xem nó là hạt giống của mọi ảo cảm trên hành tinh chúng ta. Sợ hãi đã thúc đẩy những tình trạng tạo ra ảo cảm của cõi cảm dục, dù không tạo ra những ảo tưởng của các cấp độ tâm thức trí tuệ.

When the glamour of authority transfers itself into the spiritual consciousness of man, we have such a state of affairs as the period of the Inquisition in its worst forms, of Church authority, with the emphasis upon organisation, government and penalties, or the unquestioned rule of some teacher. In its highest forms we have the recognition of the right of the solar Angel, of the soul or ego, to rule. Between these two extremes, which express the infancy of the race and the freedom which comes when mankind achieves its majority and the freedom of the soul, lie all the many types and kinds of intermediate reactions. In illustration of our point, and thus emphasising the glamour aspect as it affects the disciple and the problem which he faces, what do we find? The disciple has freed himself somewhat from the imposed control of an orthodox teaching and from the rule of a teacher. He stands (as far as he can tell) free from such control. Knowing however his essential weakness and the lure of the personality, he is on guard against himself, and against the ancient rules of control and learns steadily to stand on his own feet, to come to his own decisions, to distinguish truth for himself. He learns to choose his way. But, like all persons who have not taken some of the higher initiations, he can (in due time) become enamoured of his freedom, and automatically then swing into the glamour of his ideal of freedom,—an ideal which he has created. He becomes the prisoner of freedom. He rejects all rule except [47] that which he calls the “rule of his own soul,” forgetting that his contact with his soul is still intermittent. He demands the right to stand alone. He revels in his new found freedom. He forgets that, having given up the authority of a teaching and of a teacher, he has to learn to accept the authority of the soul and of the group of souls with which he is affiliated through his karma, his ray type, his choice, and the inevitability of the effects of the at-one-ment. Having relinquished the guidance of another person upon the Path, and having his eyes partially opened, he now seeks to tread that Path to the goal, forgetting however that he treads the Path in unison with others, and that there are certain “Rules of the Road” which he must master, and which he must master in unison with others. He has exchanged the individual law for the group law, but does not yet know that group law as it should be known. He marches on as best he can alone, glorying in the freedom from authority which he has succeeded in achieving. He promises himself that he will brook no authority or guidance.

Khi ảo cảm về uy quyền chuyển vào tâm thức tinh thần của con người, chúng ta có những tình trạng như thời kỳ Tòa án Dị giáo trong các hình thức tồi tệ nhất của nó, uy quyền của Giáo hội với sự nhấn mạnh vào tổ chức, cai quản và hình phạt, hoặc sự cai trị không bị chất vấn của một huấn sư nào đó. Trong những hình thức cao nhất, chúng ta có sự thừa nhận quyền cai quản của Thái dương Thiên Thần, của linh hồn hay chân ngã. Giữa hai thái cực này, vốn biểu đạt thời thơ ấu của nhân loại và sự tự do có được khi nhân loại đạt đến tuổi trưởng thành cùng sự tự do của linh hồn, là vô số loại phản ứng trung gian. Để minh họa luận điểm của chúng ta, qua đó nhấn mạnh phương diện ảo cảm trong tác động của nó lên đệ tử và vấn đề y phải đối diện, chúng ta thấy gì? Đệ tử đã phần nào tự giải thoát khỏi sự kiểm soát áp đặt của một giáo huấn chính thống và khỏi sự cai quản của một huấn sư. Y đứng đó (trong chừng mực y có thể nhận định), tự do khỏi sự kiểm soát ấy. Tuy nhiên, biết sự yếu đuối căn bản của mình và sức quyến rũ của phàm ngã, y cảnh giác với chính mình và với những quy luật kiểm soát xưa cũ, đồng thời không ngừng học cách tự đứng vững, tự quyết định và tự phân biệt chân lý. Y học cách lựa chọn con đường của mình. Nhưng, như mọi người chưa trải qua một số cuộc điểm đạo cao hơn, y có thể (vào lúc thích hợp) trở nên mê đắm sự tự do của mình, rồi tự động chuyển sang ảo cảm về lý tưởng tự do của chính mình,—một lý tưởng do y tạo ra. Y trở thành tù nhân của tự do. Y khước từ mọi sự cai quản ngoại trừ [47] điều y gọi là “sự cai quản của linh hồn mình”, quên rằng sự tiếp xúc của y với linh hồn vẫn còn gián đoạn. Y đòi quyền đứng một mình. Y say sưa với sự tự do vừa tìm thấy. Y quên rằng, sau khi từ bỏ uy quyền của một giáo huấn và một huấn sư, y phải học cách chấp nhận uy quyền của linh hồn và của nhóm linh hồn mà y liên kết thông qua nghiệp quả, loại cung, sự lựa chọn của mình và tính tất yếu của những tác động do sự hợp nhất mang lại. Sau khi từ bỏ sự hướng dẫn của một người khác trên Đường Đạo, và với đôi mắt đã phần nào mở ra, giờ đây y tìm cách bước trên Đường Đạo ấy đến mục tiêu, nhưng lại quên rằng y bước trên Đường Đạo trong sự đồng hành với những người khác, và rằng có một số “Quy Luật của Đường Đạo” mà y phải nắm vững, và phải nắm vững cùng với những người khác. Y đã đổi định luật cá nhân lấy định luật nhóm, nhưng chưa biết định luật nhóm ấy đúng như cần phải biết. Y tiếp tục tiến bước một mình hết sức có thể, tự hào về sự tự do khỏi uy quyền mà y đã đạt được. Y tự hứa sẽ không dung chịu bất kỳ uy quyền hay sự hướng dẫn nào.

Those of us who are considering him and looking on at him from the clearer heights of attainment see him gradually becoming obscured by wisps of fog and by a glamour which is gradually growing up around him as he becomes a “prisoner of the fog of freedom” and revels in what he deems the fact of his independence. When his sight has cleared, and when his mental aspect is more developed and unfolded, he will know that the Law of the Group must, and will, impose itself upon him, and that the rule of the lower nature has only to be exchanged for the rule of the soul. This is group rule and works under the law of the group. He has struggled out of the mass of seekers of the Road on to the Road itself. He is, therefore, ahead of the masses but he is not alone, even if he thinks that he is. He will discover many others who are travelling the same way with [48] him, and their numbers will steadily increase as he progresses. The rule of interplay, of travel, and of group recognition and work and service will impose themselves upon him until he finds that he is a member of the New Group of World Servers, working under the conditions which are the rules governing their activities. As he learns to travel with them upon the Road, their governing incentives and the techniques of their chosen service will penetrate his consciousness, and automatically and naturally he will begin to obey the higher rhythm and give his assent to the laws which control group life and group consciousness. Finally, he will find himself entering into the silent places where the Masters of the Wisdom dwell, and will work in group rhythm with Them, obeying thus the laws of the spiritual realm, which are the subjective laws of God.

Những người trong chúng ta đang xem xét và quan sát y từ những tầm cao sáng tỏ hơn của sự thành tựu thấy y dần bị che khuất bởi những làn sương và một ảo cảm đang lớn dần quanh y, khi y trở thành “tù nhân của màn sương tự do” và say sưa với điều y cho là sự độc lập thực sự của mình. Khi tầm nhìn của y trở nên sáng rõ và phương diện trí tuệ phát triển, khai mở hơn, y sẽ biết rằng Định luật của Nhóm phải, và sẽ, chi phối y, và rằng chỉ cần thay sự cai quản của bản chất thấp bằng sự cai quản của linh hồn. Đây là sự cai quản của nhóm và vận hành theo định luật của nhóm. Y đã nỗ lực thoát khỏi đám đông những người tìm kiếm Đường Đạo để bước lên chính Đường Đạo. Vì vậy, y đi trước quần chúng, nhưng không đơn độc, dù y nghĩ mình như thế. Y sẽ khám phá nhiều người khác đang đi cùng con đường với [48] mình, và số lượng của họ sẽ không ngừng tăng khi y tiến bước. Những quy luật về sự tương tác, hành trình, sự nhận biết nhóm, công việc và phụng sự nhóm sẽ chi phối y cho đến khi y nhận ra mình là một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, làm việc trong những điều kiện vốn là các quy luật chi phối hoạt động của họ. Khi y học cách cùng họ đi trên Đường Đạo, những động lực chi phối họ và các kỹ thuật phụng sự mà họ đã lựa chọn sẽ thấm vào tâm thức y; một cách tự động và tự nhiên, y sẽ bắt đầu tuân theo nhịp điệu cao hơn và chấp thuận những định luật kiểm soát đời sống nhóm cùng tâm thức nhóm. Cuối cùng, y sẽ thấy mình bước vào những nơi tĩnh lặng mà các Chân sư Minh Triết cư ngụ, và sẽ làm việc trong nhịp điệu nhóm với Các Ngài, qua đó tuân theo những định luật của lĩnh vực tinh thần, vốn là những định luật chủ quan của Thượng đế.

Time and again, along the Road, he will revolt from control and will fall back into the glamour of his supposed freedom. There is freedom from the control of the personality. There is freedom from the control of personalities. But there is never any freedom from the Law of Service, and from the constant interplay between man and man, and soul and soul. To stand really free is to stand in the clear unimpeded light of the soul, which is basically and intrinsically group consciousness.

Hết lần này đến lần khác trên Đường Đạo, y sẽ nổi loạn chống lại sự kiểm soát và lại rơi vào ảo cảm về sự tự do mà y tưởng mình có. Có sự tự do khỏi sự kiểm soát của phàm ngã. Có sự tự do khỏi sự kiểm soát của các phàm ngã. Nhưng không bao giờ có sự tự do khỏi Định luật Phụng sự và khỏi sự tương tác không ngừng giữa người với người, linh hồn với linh hồn. Thực sự đứng trong tự do là đứng trong ánh sáng trong trẻo, không bị cản trở của linh hồn, mà về căn bản và thực chất là tâm thức nhóm.

Therefore, when one of you is beset by uncertainty and unrest, desiring and demanding to walk free and that no authority be imposed upon you, see that you are not submitting to the glamour of a desire to be freed from your group impacts, and make sure that you are not seeking—as a sensitive soul—a way of escape. I am using this phrase in the modern psychological sense. Be sure to ask yourself the question: Is your comfort and your peace of mind of such definite importance to yourself and to others that it warrants your sacrificing the group integrity in order to have it? [49] Does your own interior satisfaction provide an adequate excuse for delaying the planned group purpose? For delay it, it certainly will. Whatever you decide will constitute, in its turn, an authoritative decision with all the consequent reactions upon the group….

Vì vậy, khi một người trong các bạn bị sự bất định và bất an vây bủa, mong muốn và đòi hỏi được tự do bước đi mà không có uy quyền nào áp đặt lên mình, hãy xem xét để chắc rằng mình không đang khuất phục trước ảo cảm của ham muốn thoát khỏi những tác động của nhóm, và hãy bảo đảm rằng mình không đang tìm kiếm—với tư cách một linh hồn nhạy cảm—một lối trốn thoát. Tôi dùng cụm từ này theo nghĩa tâm lý học hiện đại. Hãy nhớ tự hỏi: Sự thoải mái và an ổn trong thể trí của mình có thực sự quan trọng đối với bản thân và những người khác đến mức biện minh cho việc hy sinh tính toàn vẹn của nhóm để có được chúng không? [49] Sự thỏa mãn nội tâm của riêng mình có đủ để biện minh cho việc trì hoãn mục đích đã hoạch định của nhóm không? Bởi chắc chắn nó sẽ gây trì hoãn. Bất cứ quyết định nào của các bạn, đến lượt nó, cũng sẽ trở thành một quyết định mang tính uy quyền, với mọi phản ứng hệ quả đối với nhóm….

What is this occult obedience, my brothers, about which we hear so much? Not what many occult groups make it out to be. It is not the control of an external organisation, dedicated to so-called occult work. It is not the imposed conditions of any teacher of any rank. It is not the exchange of the prison of one set of ideas for those of another set with perhaps a larger range or import. A prison is a prison, whether it is a tiny cell or an isolated island of vast extent, from which escape is impossible.

Các huynh đệ của Tôi, sự tuân phục huyền bí mà chúng ta nghe nói rất nhiều là gì? Không phải điều mà nhiều nhóm huyền bí mô tả. Nó không phải là sự kiểm soát của một tổ chức bên ngoài chuyên thực hiện cái gọi là công việc huyền bí. Nó không phải là những điều kiện áp đặt của bất kỳ huấn sư nào, ở bất kỳ cấp bậc nào. Nó không phải là việc đổi nhà tù của một hệ ý tưởng lấy nhà tù của một hệ ý tưởng khác, có lẽ với phạm vi hay tầm quan trọng lớn hơn. Nhà tù vẫn là nhà tù, dù là một phòng giam nhỏ hay một hòn đảo biệt lập rộng lớn mà không thể trốn thoát.

The authority to which we, the teachers on the inner side, respond is twofold in nature, and to it you are just beginning (as units in a group) to respond. To what do you respond?

Uy quyền mà chúng ta, những huấn sư ở phía bên trong, đáp ứng có bản chất nhị phân, và các bạn chỉ mới bắt đầu đáp ứng uy quyền ấy (với tư cách các đơn vị trong một nhóm). Các bạn đáp ứng điều gì?

1. To the slowly emerging realisation of the “light beyond,” using that phrase as a symbol. This light is different in its appeal to the individual. Yet it is ONE LIGHT. But its recognition reveals new laws, new responsibilities, new duties and obligations, and new relations to others. These constitute an authoritative control. None can escape this authority, but can disobey it in time and space and for a temporary period.

1. Sự nhận biết đang dần xuất hiện về “ánh sáng bên kia”, dùng cụm từ này như một biểu tượng. Ánh sáng ấy khác nhau về sức thu hút đối với từng cá nhân. Tuy nhiên, đó là MỘT ÁNH SÁNG DUY NHẤT. Nhưng việc nhận biết nó mặc khải những định luật mới, trách nhiệm mới, bổn phận và nghĩa vụ mới, cùng những mối quan hệ mới với người khác. Những điều này tạo thành một sự kiểm soát mang uy quyền. Không ai có thể thoát khỏi uy quyền này, nhưng có thể không tuân theo nó trong thời gian và không gian, trong một khoảng thời gian tạm thời.

2. To the authority of the Rules of the Road which are imposed upon one as one passes from the Path of Probation on to the Path of Discipleship. Yet it is ONE ROAD. Upon this “narrow, razor-edged path,” one learns to walk with discipline and discretion and [50] with the desirelessness which one experiences in unison with one’s fellow disciples.

2. Uy quyền của Các Quy Luật của Đường Đạo áp dụng cho mỗi người khi chuyển từ Con Đường Dự Bị sang Con Đường Đệ Tử. Tuy nhiên, đó là MỘT ĐƯỜNG ĐẠO DUY NHẤT. Trên “con đường hẹp, sắc như lưỡi dao” này, người ta học cách bước đi với kỷ luật và sự thận trọng, [50] cùng trạng thái không còn dục vọng mà mình trải nghiệm trong sự hòa hợp với các đệ tử đồng môn.

What, briefly and succinctly, are these rules of the Road? Let me give you six of the simplest rules, begging you to remember that they are not authoritatively imposed by an arbitrary Board of Directors, such as a group teacher or teachers (of whom I might, of course, be one) but are the outcome of the conditions to be found upon the Path itself. They carry the warrant of a man’s own soul and are the result of the experience of millions of travellers upon that Path.

Nói ngắn gọn và súc tích, những quy luật này của Đường Đạo là gì? Tôi xin đưa ra cho các bạn sáu quy luật đơn giản nhất, và tha thiết đề nghị các bạn nhớ rằng chúng không phải do một Ban Lãnh Đạo tùy tiện nào áp đặt bằng uy quyền, chẳng hạn một huấn sư hay các huấn sư của nhóm (dĩ nhiên, Tôi có thể là một trong số đó), mà là kết quả của những điều kiện hiện hữu trên chính Đường Đạo. Chúng mang sự xác nhận của chính linh hồn mỗi người và là kết quả từ kinh nghiệm của hàng triệu người đã đi trên Đường Đạo ấy.

I will give you these six rules (even as I gave them to another aspirant Discipleship in the New Age, Vol. I, pp. 583-584.) in ancient and symbolic form, translating them as well as I can from the ancient records, stored in the Hall of Wisdom, and available to all earnest disciples,—such as you.

Tôi sẽ đưa ra cho các bạn sáu quy luật này (cũng như Tôi đã đưa ra cho một người chí nguyện khác Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, tr. 583-584.) dưới hình thức cổ xưa và mang tính biểu tượng, dịch chúng hết khả năng của Tôi từ những ghi chép cổ xưa, lưu giữ trong Phòng Minh triết và dành cho mọi đệ tử thành tâm,—như các bạn.

The Six Rules of the Path

Sáu Quy Luật của Đường Đạo

(Rules of the Road)

(Các Quy Luật của Đường Đạo)

I. The Road is trodden in the full light of day, thrown upon the Path by Those Who know and lead. Naught can then be hidden, and at each turn, a man must face himself.

I. Hành giả bước trên Đường Đạo trong ánh sáng trọn vẹn của ban ngày, do Những Vị hiểu biết và dẫn dắt chiếu rọi lên Đường Đạo. Khi ấy không gì có thể che giấu, và ở mỗi khúc quanh, con người phải đối diện với chính mình.

II. Upon the Road the hidden stands revealed. Each sees and knows the villainy of each. (I can find no other word, my brother, to translate the ancient word which designates the unrevealed stupidity, the vileness and crass ignorance, and the self-interest which are distinguishing characteristics of the average aspirant.) And yet there is, with that great revelation, no turning back, no spurning of [51] each other, and no shakiness upon the Road. The Road goes forward into day.

II. Trên Đường Đạo, những gì ẩn giấu đều hiển lộ. Mỗi người đều thấy và biết sự xấu xa của người khác. (Huynh đệ của tôi, Tôi không tìm được từ nào khác để dịch từ cổ chỉ sự ngu muội chưa bộc lộ, sự đê tiện và vô minh thô thiển, cùng lòng tư lợi vốn là những đặc điểm nổi bật của người chí nguyện thông thường.) Thế nhưng, cùng với sự mặc khải lớn lao ấy, không có sự quay lui, không có sự khinh miệt [51] lẫn nhau, và không có sự chao đảo trên Đường Đạo. Đường Đạo tiến về phía ánh sáng ban ngày.

III. Upon that Road one wanders not alone. There is no rush, no hurry. And yet there is no time to lose. Each Pilgrim, knowing this, presses his footsteps forward, and finds himself surrounded by his fellowmen. Some move ahead; he follows after. Some move behind; he sets the pace. He travels not alone.

III. Trên Đường Đạo hành giả không đi lang thang một mình. Không có gì hấp tấp, hay vội vàng. Thế nhưng cũng không có thời gian bỏ phí. Hiểu được điều này, mỗi khách hành hương dấn bước tiến lên, và thấy quanh mình có các bạn đồng hành. Một số tiến phía trước; y theo sau. Một số đi sau; y dẫn lối. Y không tiến bước một mình.

IV. Three things the Pilgrim must avoid. The wearing of a hood, the veil which hides his face from others; the carrying of a water pot which only holds enough for his own wants; the shouldering of a staff without a crook to hold.

IV. Khách hành hương phải tránh ba điều. Đội mũ trùm đầu, tấm màn che khuôn mặt y khỏi người khác; mang một bình nước chỉ chứa đủ cho nhu cầu riêng của y; vác trên vai một cây gậy không có đầu cong để nắm.

V. Each Pilgrim on the Road must carry with him what he needs: a pot of fire, to warm his fellowmen; a lamp, to cast its rays upon his heart and show his fellowmen the nature of his hidden life; a purse of gold, which he scatters not upon the Road but shares with others; a sealed vase, wherein he carries all his aspiration to cast before the feet of Him Who waits to greet him at the gate—a sealed vase.

V. Mỗi Khách hành hương trên Đường đạo phải mang theo những gì y cần: một bầu lửa, để sưởi ấm các bạn đồng hành; một ngọn đèn với những tia sáng hắt lên trái tim của y và cho các bạn đồng hành thấy bản tính sự sống ẩn tàng nơi mình; một túi vàng, y không vung vãi trên Đường, mà để chia sẻ cho người khác; một chiếc bình niêm kín, trong đó y mang theo toàn cả tâm nguyện của mình để đặt dưới chân Đấng đang chờ chào đón y ở cửa Đạo—một chiếc bình niêm kín.

VI. The Pilgrim, as he walks upon the Road, must have the open ear, the giving hand, the silent tongue, the chastened heart, the golden voice, the rapid foot, and the open eye which sees the light. He knows he travels not alone.

VI. Khi dấn bước trên Đường, Khách hành hương phải có tai nghe tỏ rõ, bàn tay giúp đỡ, chiếc lưỡi im lặng, tâm hồn tự chủ, tiếng nói vàng, chân nhanh nhẹn, mắt rộng mở đón nhận ánh sáng. Y biết mình không độc hành.

The Illusion of Power is perhaps one of the first and most serious tests which comes to an aspirant. It is also one of the best examples of this “great mistake,” and I [52] therefore bring it to your attention as being one against which I beg you most carefully to guard yourself. It is rare indeed for any disciple to escape the effects of this error of illusion for it is, curiously, based upon right success and right motive. Hence the specious nature of the problem. It might be expressed thus:

Ảo tưởng về Quyền năng có lẽ là một trong những thử thách đầu tiên và nghiêm trọng nhất đến với người chí nguyện. Đây cũng là một trong những ví dụ rõ nhất về “sai lầm lớn lao” này, và vì vậy, Tôi [52] lưu ý các bạn về nó như một điều mà Tôi khẩn thiết đề nghị các bạn hết sức cẩn thận đề phòng. Quả thực, hiếm có đệ tử nào thoát khỏi những tác động của sai lầm do ảo tưởng này, vì điều kỳ lạ là nó dựa trên thành công đúng đắn và động cơ đúng đắn. Vì thế, vấn đề này có vẻ ngoài dễ gây lầm lẫn. Có thể diễn đạt như sau:

An aspirant succeeds in contacting his soul or ego through right effort. Through meditation, good intention, and correct technique, plus the desire to serve and to love, he achieves alignment. He becomes then aware of the results of his successful work. His mind is illumined. A sense of power flows through his vehicles. He is, temporarily at least, made aware of the Plan. The need of the world and the capacity of the soul to meet that need flood his consciousness. His dedication, consecration and right purpose enhance the directed inflow of spiritual energy. He knows. He loves. He seeks to serve, and does all three more or less successfully. The result of all this is that he becomes more engrossed with the sense of power, and with the part he is to play in aiding humanity, than he is with the realisation of a due and proper sense of proportion and of spiritual values. He over-estimates his experience and himself. Instead of redoubling his efforts and thus establishing a closer contact with the kingdom of souls and loving all beings more deeply, he begins to call attention to himself, to the mission he is to develop, and to the confidence that the Master and even the planetary Logos apparently have in him. He talks about himself; he gestures and attracts notice, demanding recognition. As he does so, his alignment is steadily impaired; his contact lessens and he joins the ranks of the many who have succumbed to the illusion of sensed power. This form of illusion is becoming increasingly prevalent among disciples and those who have taken the first two initiations. There are today many people in the world who have taken the first [53] initiation in a previous life. At some period in the present life cycle, recurring and recapitulating as it does the events of an earlier development, they again reach a point in their realisation which they earlier reached. The significance of their attainment pours in upon them, and the sense of their responsibility and their knowledge. Again they over-estimate themselves, regarding their missions and themselves as unique among the sons of men, and their esoteric and subjective demand for recognition enters in and spoils what might otherwise have been a fruitful service. Any emphasis upon the personality can distort most easily the pure light of the soul as it seeks to pour through the lower self. Any effort to call attention to the mission or task which the personality has undertaken detracts from that mission and handicaps the man in his task; it leads to the deferring of its fulfilment until such time when the disciple can be naught but a channel through which love can pour, and light can shine. This pouring through and shining forth has to be a spontaneous happening, and contain no self-reference.

Một người chí nguyện thành công trong việc tiếp xúc với linh hồn hay chân ngã của mình nhờ nỗ lực đúng đắn. Qua tham thiền, ý định tốt đẹp và kỹ thuật đúng đắn, cùng với mong muốn phụng sự và yêu thương, y đạt được sự chỉnh hợp. Khi ấy, y nhận biết những kết quả của công việc thành công của mình. Thể trí của y được soi sáng. Một cảm nhận về quyền năng tuôn chảy qua các hiện thể của y. Ít nhất trong một thời gian, y nhận biết Thiên Cơ. Nhu cầu của thế giới và khả năng của linh hồn đáp ứng nhu cầu ấy tràn ngập tâm thức y. Sự tận hiến, thánh hiến và mục đích đúng đắn của y tăng cường dòng năng lượng tinh thần đang tuôn vào theo định hướng. Y biết. Y yêu thương. Y tìm cách phụng sự, và thực hiện cả ba điều ấy ít nhiều thành công. Kết quả của tất cả những điều này là y mải mê với cảm nhận về quyền năng và với vai trò mình sẽ đảm nhận trong việc trợ giúp nhân loại hơn là với việc nhận thức một ý thức về tỉ lệ cân xứng, thích đáng và về các giá trị tinh thần. Y đánh giá quá cao kinh nghiệm của mình và chính mình. Thay vì tăng gấp đôi nỗ lực để thiết lập sự tiếp xúc mật thiết hơn với giới linh hồn và yêu thương mọi sinh linh sâu sắc hơn, y bắt đầu thu hút sự chú ý vào bản thân, vào sứ mệnh y sẽ triển khai, và vào sự tin tưởng mà dường như Chân sư, thậm chí cả Hành Tinh Thượng đế, dành cho y. Y nói về bản thân; y phô diễn và thu hút sự chú ý, đòi hỏi sự công nhận. Khi làm như vậy, sự chỉnh hợp của y ngày càng suy giảm; sự tiếp xúc của y yếu đi, và y gia nhập hàng ngũ đông đảo những người đã khuất phục trước ảo tưởng về quyền năng mà mình cảm nhận. Dạng ảo tưởng này ngày càng phổ biến trong số các đệ tử và những người đã trải qua hai lần điểm đạo đầu tiên. Ngày nay, trên thế giới có nhiều người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất [53] trong một kiếp trước. Vào một thời điểm nào đó trong chu kỳ sống hiện tại, vốn lặp lại và tái diễn những sự kiện của một giai đoạn phát triển trước đây, họ lại đạt đến một mức độ nhận thức mà trước kia họ đã đạt được. Thâm nghĩa của thành tựu ấy tràn ngập họ, cùng với cảm nhận về trách nhiệm và tri thức của mình. Một lần nữa, họ đánh giá quá cao bản thân, xem sứ mệnh của mình và chính mình là độc nhất giữa những người con của nhân loại; rồi sự đòi hỏi công nhận mang tính nội môn và chủ quan của họ xen vào, làm hỏng điều lẽ ra có thể là một sự phụng sự đầy kết quả. Bất kỳ sự nhấn mạnh nào vào phàm nhân cũng có thể dễ dàng làm méo mó ánh sáng thuần khiết của linh hồn khi ánh sáng ấy tìm cách tuôn qua phàm ngã. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm thu hút sự chú ý vào sứ mệnh hay nhiệm vụ mà phàm nhân đã đảm nhận đều làm suy giảm sứ mệnh ấy và cản trở con người trong nhiệm vụ của mình; điều đó khiến việc hoàn thành nhiệm vụ phải trì hoãn cho đến khi người đệ tử chỉ còn là một kênh dẫn để tình thương có thể tuôn chảy và ánh sáng có thể tỏa chiếu. Sự tuôn chảy xuyên qua và tỏa chiếu này phải diễn ra tự nhiên, không có bất kỳ sự quy chiếu nào về bản thân.

These two illustrations of glamour and of illusion will show you not only the subtlety of the problem, but also the urgent need for its recognition. There are today so many manifesting these two qualities of the lower nature.

Hai ví dụ minh họa về ảo cảm và ảo tưởng này sẽ cho các bạn thấy không chỉ tính tinh vi của vấn đề mà còn cả nhu cầu cấp thiết phải nhận ra nó. Ngày nay có rất nhiều người biểu lộ hai phẩm tính này của bản chất thấp.

1. Glamour on the Mental Plane… Illusion – 1. Ảo cảm trên Cõi Trí… Ảo tưởng

In this section of our discussion we shall give less time to the consideration of illusion than we shall to that of glamour, or of maya. Illusion is not met squarely, faced and overcome until a man has:

Trong phần thảo luận này, chúng ta sẽ dành ít thời gian để xem xét ảo tưởng hơn là ảo cảm hay ảo lực. Con người chỉ có thể trực diện gặp gỡ, đối mặt và vượt qua ảo tưởng khi đã:

a. Shifted the focus of his consciousness on to the mental plane.

a. Chuyển trọng tâm tâm thức của mình lên cõi trí.

b. Worked definitely at the task of intelligent service. [54]

b. Dứt khoát thực hiện nhiệm vụ phụng sự một cách thông minh. [54]

c. Made his soul alignment consciously and easily, and firmly established his technique of contact.

c. Thực hiện sự chỉnh hợp với linh hồn một cách có ý thức và dễ dàng, đồng thời thiết lập vững chắc kỹ thuật tiếp xúc của mình.

d. Taken the first initiation.

d. Trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

The word illusion is frequently lightly used to signify lack of knowledge, unsettled opinions, glamour, misunderstandings, psychic bewilderment, the dominance of the lower psychic powers, and many other forms of the world illusion. But the time has come when the word must be used with a developed discriminating sense, and when the disciple must know clearly and comprehend the nature of that phenomenal miasma in which humanity moves. For the purposes of clarity and in order to distinguish more definitely and effectively between the forms of illusion in which the soul moves, and from which it must liberate itself, it will be necessary for us to separate the Great Illusion (in its various aspects) into its component parts in time and space, and this I attempted partially to do when I defined for you the words Maya, Glamour, Illusion, and the Dweller on the Threshold. I want you to keep very clearly in your mind these distinctions, and to study with care the tabulation earlier given you.

Từ ảo tưởng thường được dùng một cách hời hợt để chỉ sự thiếu hiểu biết, những quan điểm chưa ổn định, ảo cảm, những sự hiểu lầm, tình trạng hoang mang thông linh, sự chi phối của các quyền năng thông linh thấp và nhiều dạng khác của ảo tưởng thế gian. Nhưng đã đến lúc phải sử dụng từ này với năng lực phân biện đã phát triển, và người đệ tử phải biết rõ cũng như thấu hiểu bản chất của màn khí độc thuộc thế giới hiện tượng mà nhân loại đang sống trong đó. Để làm sáng tỏ và phân biệt rõ ràng, hiệu quả hơn giữa các dạng ảo tưởng mà linh hồn đang sống trong đó và phải tự giải thoát khỏi chúng, chúng ta cần tách Đại Ảo Tưởng (trong những phương diện khác nhau của nó) thành các bộ phận cấu thành trong thời gian và không gian; Tôi đã phần nào cố gắng làm điều này khi định nghĩa cho các bạn những từ Ảo lực, Ảo cảm, Ảo tưởng và Kẻ Chận Ngõ. Tôi muốn các bạn ghi nhớ thật rõ những sự phân biệt này và nghiên cứu cẩn thận bảng đã cung cấp trước đó.

Illusion, for our purposes, can be understood to signify the reaction of the undisciplined mind to the newly contacted world of ideas. This contact opens up from the moment a man has aligned himself and brought the lower nature into touch with the higher. Ideas come to us from the plane of the intuition. The soul illumines the plane of the mind and the plane of the intuition so that they stand revealed to each other and their mutual relationship becomes then apparent. The mind of the man (which is slowly becoming the centre of his consciousness and the major reality in his existence) becomes aware of this new and undiscovered world of ideas and he seizes upon some idea or group [55] of ideas and endeavours to make them his own. At first, with the majority of people and especially with the average mystical type, the appreciation of ideas is vague and nebulous, and frequently is arrived at from a second-hand angle. The illumination, coming through the medium of the feebly established soul contact, seems to the unaccustomed neophyte to be of a supreme wonder and of vital moment. The ideas contacted appear to him of great marvel, and superbly unusual, and vitally needed by humanity.

Trong phạm vi chúng ta đang xét, có thể hiểu ảo tưởng là phản ứng của thể trí chưa được rèn luyện đối với thế giới ý tưởng vừa tiếp xúc. Sự tiếp xúc này bắt đầu mở ra ngay từ lúc con người chỉnh hợp và đưa bản chất thấp tiếp xúc với bản chất cao. Những ý tưởng đến với chúng ta từ cõi trực giác. Linh hồn soi sáng cõi trí và cõi trực giác để hai cõi hiển lộ với nhau, và khi ấy mối quan hệ qua lại giữa chúng trở nên rõ ràng. Thể trí của con người (đang dần trở thành trung tâm tâm thức và thực tại chủ yếu trong sự hiện tồn của y) nhận biết thế giới ý tưởng mới mẻ và chưa được khám phá này; y nắm lấy một ý tưởng hoặc một nhóm [55] ý tưởng và cố gắng biến chúng thành của mình. Ban đầu, với đa số người, đặc biệt là người thuộc loại hình thần bí thông thường, sự nhận thức về ý tưởng còn mơ hồ, không rõ nét, và thường có được qua một góc nhìn gián tiếp. Đối với người sơ cơ chưa quen thuộc, sự soi sáng đến qua sự tiếp xúc với linh hồn còn yếu ớt dường như là một điều kỳ diệu tột bậc và có tầm quan trọng thiết yếu. Những ý tưởng mà y tiếp xúc có vẻ vô cùng kỳ diệu, hết sức khác thường và cực kỳ cần thiết cho nhân loại.

But the mind is still self-centred, the contact feeble and the alignment uncertain. The ideas are therefore only dimly sensed. But the uniqueness of the experience in the realised content of the mind of the disciple leads him deep into the realm of illusion. The idea, or ideas, which he has contacted are, if he could realise, only a fragment of a far greater Whole. That which he brings to their interpretation is inadequate. The idea which has emerged in his consciousness, through the partial awakening of his intuition, will be distorted in its descent to his brain consciousness in several ways. That which he brings to the materialising of the idea and to its transformation into a practical working scheme is as yet wholly unsuitable. The equipment does not suffice for accuracy. The ways in which this distortion and this stepping down of the idea take place might be outlined for you as follows:—The passage of an idea from the plane of the intuition to the brain.

Nhưng thể trí vẫn tập trung vào bản thân, sự tiếp xúc còn yếu ớt và sự chỉnh hợp chưa vững chắc. Vì vậy, y chỉ cảm nhận các ý tưởng một cách lờ mờ. Tuy nhiên, tính độc nhất của trải nghiệm, trong những gì thể trí người đệ tử nhận biết, dẫn y đi sâu vào lĩnh vực ảo tưởng. Nếu có thể nhận ra, y sẽ thấy ý tưởng hay những ý tưởng mình đã tiếp xúc chỉ là một mảnh của một Toàn Thể lớn lao hơn nhiều. Những gì y đem vào việc diễn giải chúng còn thiếu sót. Ý tưởng xuất hiện trong tâm thức y qua sự thức tỉnh một phần của trực giác sẽ bị méo mó theo nhiều cách khi đi xuống tâm thức bộ não. Những gì y đem vào việc hiện hình ý tưởng và chuyển đổi nó thành một kế hoạch thực hiện thiết thực vẫn hoàn toàn chưa thích hợp. Bộ máy của y chưa đủ để bảo đảm sự chính xác. Có thể phác thảo cho các bạn những cách mà sự biến dạng và hạ giảm ý tưởng này diễn ra như sau:—Tiến trình một ý tưởng đi từ cõi trực giác đến bộ não.

I. The idea is seen by the mind, “held steady in the light of the soul.”

I. Thể trí, “được giữ vững trong ánh sáng của linh hồn”, nhìn thấy ý tưởng.

II. It descends to the higher levels of the mental plane and there clothes itself with the substance of those levels. It remains still an abstraction, from the angle of the lower mind. This point should be carefully noted by the would-be intuitive. [56]

II. Ý tưởng đi xuống các cấp độ cao của cõi trí và tại đó khoác lấy chất liệu của những cấp độ ấy. Từ góc nhìn của Hạ trí, nó vẫn còn là một điều trừu tượng. Người mong muốn phát triển trực giác cần lưu ý kỹ điểm này. [56]

III. The soul throws its light upward and outward, and the idea, nebulous and faint, emerges into the consciousness of the man. It stands revealed, much as an object stands revealed when the bright beam of a powerful searchlight is thrown upon it. The mind, endeavouring to remain in constant steady conscious contact with the soul, seeing into the higher world through the medium of the “soul’s wide-opened eye,” registers the idea with increasing clarity.

III. Linh hồn chiếu ánh sáng của mình lên trên và ra ngoài, và ý tưởng, còn mơ hồ và mờ nhạt, xuất hiện trong tâm thức con người. Nó hiển lộ, giống như một vật hiển lộ khi luồng sáng chói của một đèn pha mạnh chiếu vào nó. Thể trí, trong khi cố gắng duy trì sự tiếp xúc có ý thức, liên tục và vững vàng với linh hồn, nhìn vào thế giới cao hơn qua “con mắt mở rộng của linh hồn”, ghi nhận ý tưởng ngày càng rõ nét.

IV. The idea, revealed, becomes then an ideal to the attentive mind and eventually something to be desired and materialised. The thoughtform-making faculty of the mind then comes into play; the “mind-stuff” becomes actuated by the energy of the idea, vitalised by the recognition of the soul, and the idea then takes its first real step towards embodiment. An ideal is only an embodied idea.

IV. Khi đã hiển lộ, ý tưởng trở thành một lý tưởng đối với thể trí đang chú tâm, và cuối cùng trở thành điều được mong muốn và tìm cách hiện hình. Khi ấy, khả năng tạo hình tư tưởng của thể trí bắt đầu hoạt động; năng lượng của ý tưởng tác động lên “chất liệu trí tuệ”, sự nhận biết của linh hồn tiếp sinh lực cho chất liệu ấy, và ý tưởng thực sự bước bước đầu tiên hướng đến sự hiện thân. Một lý tưởng chỉ là một ý tưởng đã hiện thân.

These are the first steps towards materialisation. Embodiment becomes possible. Thus illusion is produced.

Đó là những bước đầu tiên hướng đến sự hiện hình. Sự hiện thân trở nên khả thi. Như vậy, ảo tưởng nảy sinh.

V. Distortion now sets in. This is brought about by various causes. These might be enumerated as follows:

V. Giờ đây sự biến dạng bắt đầu xuất hiện. Nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra điều này. Có thể liệt kê chúng như sau:

1. The ray type of the ego colours the man’s interpretation of the idea. It colours the emerging thoughtform. Symbolically speaking, the pure light is changed into coloured light. The idea is then “clothed with colour, and thereby the first veil descends.”

1. Loại cung của chân ngã nhuốm màu cách con người diễn giải ý tưởng. Nó nhuốm màu hình tư tưởng đang xuất hiện. Nói theo nghĩa biểu tượng, ánh sáng thuần khiết biến thành ánh sáng có màu. Khi ấy, ý tưởng “khoác lấy màu sắc, và do đó tấm màn đầu tiên buông xuống”.

2. The point in evolution which the man has reached has also its effect, plus the quality of the [57] integration existing between the three aspects of the personality, and the alignment established between soul-mind-brain. This, being necessarily imperfect, produces indefiniteness of outline and consequently of the final form. Therefore we have:

2. Điểm tiến hoá mà con người đã đạt đến cũng có tác động, cùng với phẩm tính của [57] sự tích hợp giữa ba phương diện của phàm ngã và sự chỉnh hợp đã thiết lập giữa linh hồn–thể trí–bộ não. Vì tất yếu còn chưa hoàn hảo, điều này khiến đường nét thiếu xác định, và do đó hình tướng cuối cùng cũng thiếu xác định. Vì vậy, chúng ta có:

a. Imperfect integration of the personality.

a. Sự tích hợp chưa hoàn hảo của phàm ngã.

b. Indefiniteness of the proposed thoughtform.

b. Tính thiếu xác định của hình tư tưởng dự kiến.

c. The wrong material consequently attracted for the building of the thoughtform.

c. Do đó, vật liệu không thích hợp bị thu hút vào việc xây dựng hình tư tưởng.

d. A shifting focus of attention, owing to the dimness of the seen ideal.

d. Trọng tâm chú ý thay đổi do lý tưởng được nhìn thấy còn mờ nhạt.

e. The rapport of the mind, with the sensed idea, is not stable.

e. Mối liên hệ hòa hợp giữa thể trí và ý tưởng được cảm nhận không ổn định.

3. The quality of the development of the mental body of the disciple produces the next “veiling” of the idea, as it is called. The idea has become changed through the ray colouring of the soul, and now a still more distorting change is brought about by the ray type of the mental body itself, which may be, and usually is, different to that of the soul ray.

3. Phẩm tính của sự phát triển thể trí nơi người đệ tử tạo ra lần “che phủ” tiếp theo đối với ý tưởng, như người ta gọi. Ý tưởng đã biến đổi qua sắc thái cung của linh hồn, và giờ đây chính loại cung của thể trí gây ra một biến đổi làm méo mó hơn nữa; loại cung này có thể, và thường là, khác với cung linh hồn.

These are the second steps towards materialisation. The form of the embodiment is qualified. Thus illusion is produced.

Đó là những bước thứ hai hướng đến sự hiện hình. Hình tướng hiện thân mang những phẩm tính nhất định. Như vậy, ảo tưởng nảy sinh.

[Webinar 89] – [Webinar 89]

VI. This illusion demonstrates in seven ways usually:

VI. Ảo tưởng này thường biểu lộ theo bảy cách:

1. Through wrong perception of an idea. The disciple cannot distinguish between an idea and an ideal, between an idea and a thoughtform, or between an intuitive and a mental concept. This is one of the ways of producing illusion found most commonly among aspirants. The mental atmosphere in which we all dwell is one of illusion. It [58] is also an atmosphere or area of conscious contact wherein thoughtforms of all kinds are to be found. Some of them are placed there by the Hierarchy for man’s finding; some of them are men’s thoughtforms, built around ideas; some of them are very ancient ideals and have been discarded, but still persist as thoughtforms; some of them are entirely new, and therefore are not yet potent, but most attractive. All of them have been created by man at some stage or another of his individual and racial development. Many of them are the shells of long exploded concepts; still others are embryonic; some of them are static and stable; many are in process of descent from intuitional levels; a few are still illumined by the clear light of the soul and are ready for embodiment. A large number of other thoughtforms are in process of disintegration. Some of these forms or embodied ideas are of a destructive nature, owing to the type of matter of which they are formed. Others are constructive. All of them are coloured by some ray energy. A large number of these forms are necessarily built through the activity of the world of personality; others are in process of construction through the agency of the soul, as well as through the joint activity of both these manifestations. Right perception is therefore essential for each mind, functioning correctly. Aspirants must learn to distinguish between:

1. Qua sự nhận thức sai lầm về một ý tưởng. Người đệ tử không thể phân biệt giữa ý tưởng và lý tưởng, giữa ý tưởng và hình tư tưởng, hoặc giữa khái niệm trực giác và khái niệm trí tuệ. Đây là một trong những cách tạo ra ảo tưởng thường gặp nhất nơi người chí nguyện. Bầu không khí trí tuệ mà tất cả chúng ta đang sống trong đó là một bầu không khí ảo tưởng. Nó [58] cũng là một bầu không khí hay khu vực tiếp xúc có ý thức, nơi có thể tìm thấy đủ loại hình tư tưởng. Một số do Thánh đoàn đặt ở đó để con người tìm thấy; một số là những hình tư tưởng của con người, được xây dựng quanh các ý tưởng; một số là những lý tưởng rất cổ xưa, đã bị loại bỏ nhưng vẫn tồn tại dưới dạng hình tư tưởng; một số hoàn toàn mới, vì vậy chưa có sức mạnh nhưng rất hấp dẫn. Tất cả đều do con người tạo ra ở một giai đoạn nào đó trong sự phát triển cá nhân và sự phát triển của nhân loại. Nhiều hình tư tưởng là những lớp vỏ của các khái niệm đã bị bác bỏ từ lâu; những hình tư tưởng khác còn ở dạng phôi thai; một số tĩnh tại và ổn định; nhiều hình tư tưởng đang đi xuống từ các cấp độ trực giác; một số ít vẫn được ánh sáng trong trẻo của linh hồn soi sáng và sẵn sàng hiện thân. Rất nhiều hình tư tưởng khác đang trong tiến trình tan rã. Một số hình tướng hay ý tưởng đã hiện thân này có bản chất phá hoại do loại vật chất cấu thành chúng. Những hình tướng khác mang tính xây dựng. Tất cả đều mang sắc thái của một năng lượng cung nào đó. Tất yếu, rất nhiều hình tướng này hình thành qua hoạt động của thế giới phàm ngã; những hình tướng khác đang được xây dựng nhờ tác động của linh hồn, cũng như nhờ hoạt động kết hợp của cả hai biểu hiện ấy. Vì vậy, sự nhận thức đúng đắn là điều thiết yếu đối với mỗi thể trí hoạt động đúng cách. Người chí nguyện phải học cách phân biệt giữa:

a. An idea and an ideal.

a. Ý tưởng và lý tưởng.

b. Between that which is embodied, that which is in process of being embodied, and that which is awaiting disintegration. [59]

b. Những gì đã hiện thân, những gì đang trong tiến trình hiện thân và những gì đang chờ tan rã. [59]

c. Between that which is constructive and that which is destructive.

c. Những gì mang tính xây dựng và những gì mang tính phá hoại.

d. Between the old and the new forms and ideas.

d. Những hình tướng và ý tưởng cũ với những hình tướng và ý tưởng mới.

e. Between the ray ideas and forms as they colour the higher presentations.

e. Các ý tưởng và hình tướng của những cung, khi chúng nhuốm màu các biểu hiện cao hơn.

f. Between ideas and thoughtforms, and between those which are purposely created by the Hierarchy and those which are created by humanity.

f. Ý tưởng và hình tư tưởng, cũng như giữa những gì Thánh đoàn chủ ý tạo ra và những gì nhân loại tạo ra.

g. Between racial thoughtforms and group ideas.

g. Các hình tư tưởng của nhân loại và các ý tưởng nhóm.

I could list many more differentiations, but the above will suffice to show the need for right perceptions, and to indicate the roots of the prevalence of the world illusion, brought about by wrong perception.

Tôi có thể liệt kê nhiều sự biến phân nữa, nhưng những điều trên đủ để cho thấy nhu cầu về sự nhận thức đúng đắn và chỉ ra căn nguyên của tình trạng ảo tưởng thế gian lan tràn do sự nhận thức sai lầm gây ra.

The cause is an untrained, unillumined mind.

Nguyên nhân là một thể trí chưa được rèn luyện, chưa được soi sáng.

The cure is training in the technique of Raja Yoga.

Phương thuốc là sự rèn luyện theo kỹ thuật Du già Vương giả.

This results in the ability to hold the mind steady in the light, to perceive correctly, to achieve a right outlook, and to attain a right mental attitude. It was these right attitudes with which the Buddha was dealing when He outlined the Noble Eightfold Path. It involves the reaching of a right mental altitude. Yes, I said altitude, my brothers, and not attitude.

Điều này mang lại khả năng giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng, nhận thức đúng đắn, đạt được cách nhìn đúng đắn và một thái độ trí tuệ đúng đắn. Chính những thái độ đúng đắn này là điều Đức Phật đề cập khi Ngài trình bày Bát Chánh Đạo. Điều đó bao hàm việc đạt đến một tầm cao trí tuệ đúng đắn. Đúng vậy, các huynh đệ của Tôi, Tôi nói tầm cao chứ không phải thái độ.

[Webinar 90] – [Webinar 90]

2. Through wrong interpretation. The idea, a vital entity or a germ of living potency, is seen through the medium of a partial view, distorted through the inadequacy of the mental equipment, and frequently stepped down into futility. The [60] mechanism for right understanding is lacking, and though the man may be giving his highest and his best, and though he may be able in some measure to hold his mind steady in the light, yet what he is offering to the idea is but a poor thing at the best. This leads to illusion through misinterpretation.

2. Qua sự diễn giải sai lầm. Ý tưởng, một thực thể sinh động hay một mầm quyền năng sống, được nhìn qua một góc nhìn phiến diện, bị méo mó do bộ máy trí tuệ chưa đầy đủ, và thường bị hạ giảm đến mức vô dụng. [60] Bộ máy để thấu hiểu đúng đắn còn thiếu; dù con người có thể đang dâng hiến những gì cao nhất và tốt nhất của mình, và dù y có thể giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ở một mức độ nào đó, thì ngay cả trong trường hợp tốt nhất, những gì y đem đến cho ý tưởng vẫn chỉ là một điều nghèo nàn. Điều này dẫn đến ảo tưởng do diễn giải sai.

The cause is an over-estimation of one’s mental powers. The sin, par excellence, of the mental type is pride, and that colours all activities in the early stages.

Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao các năng lực trí tuệ của bản thân. Lỗi lầm nổi bật nhất của người thuộc loại hình trí tuệ là lòng kiêu hãnh, và điều đó nhuốm màu mọi hoạt động trong những giai đoạn đầu.

The cure is the development of a cautious spirit.

Phương thuốc là phát triển một tinh thần thận trọng.

[Webinar 91] – [Webinar 91]

3. Through wrong appropriation of ideas. Misappropriation of an idea is based upon the drama-making faculty and tendency of the personality to the self-assertion of the little self. These lead a man to appropriate an idea as his own, to credit himself with its formulation, and to give therefore undue importance to it, because he regards it as his. He proceeds to build his life around his idea, and to make his aims and his objectives of major importance, expecting others to recognise his proprietorship of the idea. He forgets that no one idea belongs to anyone but, coming as ideas do, from the plane of the intuition, they are a universal gift and possession, and the property of no one mind. His life, as a personality also, becomes subordinated to his idea of an idea, and his ideal of an idea. The idea becomes the dramatic agent of his self-imposed life purpose, driving him from one extreme to another. This leads to illusion through misappropriation. [61]

3. Qua sự chiếm hữu sai lầm các ý tưởng. Sự chiếm hữu sai lầm một ý tưởng dựa trên khả năng tạo kịch tính và khuynh hướng của phàm ngã muốn khẳng định cái tôi nhỏ bé. Những điều này khiến con người chiếm lấy một ý tưởng làm của riêng, tự nhận công lao hình thành nó và do đó gán cho nó tầm quan trọng quá mức, vì y xem nó là của mình. Y bắt đầu xây dựng cuộc đời của mình quanh ý tưởng của mình, và đặt những mục đích của mình cùng những mục tiêu của mình lên vị trí quan trọng hàng đầu, mong người khác công nhận quyền sở hữu của y đối với ý tưởng ấy. Y quên rằng không một ý tưởng nào thuộc về riêng ai; vì đến từ cõi trực giác, các ý tưởng là món quà và tài sản chung của tất cả, không phải tài sản của bất kỳ thể trí riêng lẻ nào. Cuộc đời y, xét như một phàm ngã, cũng trở nên lệ thuộc vào quan niệm của y về một ý tưởng và lý tưởng của y về một ý tưởng. Ý tưởng trở thành tác nhân tạo kịch tính cho mục đích sống mà y tự áp đặt, đẩy y từ cực đoan này sang cực đoan khác. Điều này dẫn đến ảo tưởng do chiếm hữu sai lầm. [61]

The cause is over-estimation of personality and undue impress of personality reactions upon the sensed idea and upon all who attempt to contact the same idea.

Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao phàm ngã và dấu ấn quá mức của các phản ứng phàm ngã lên ý tưởng được cảm nhận, cũng như lên tất cả những ai cố gắng tiếp xúc với cùng ý tưởng ấy.

The cure is a steady attempt to decentralise the life from the personality, and to centre it in the soul.

Phương thuốc là nỗ lực bền bỉ nhằm phi tập trung đời sống khỏi phàm ngã và đặt trọng tâm của nó nơi linh hồn.

One point I would like to make clear at this point. Ideas very seldom come into the world consciousness and into the human mind direct from the intuitional levels. The stage of human development today does not yet permit this. They can come from the intuitional levels only when there is a very highly developed soul contact, a potent mind control, a trained intelligence, a purified emotional body, and a good glandular equipment, as the result of the above requirements. Ponder upon this thought.

Ở đây, Tôi muốn làm rõ một điểm. Rất hiếm khi các ý tưởng đi thẳng từ những cấp độ trực giác vào tâm thức thế giới và thể trí con người. Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại chưa cho phép điều này. Chúng chỉ có thể đến từ các cấp độ trực giác khi có sự tiếp xúc với linh hồn đã phát triển rất cao, khả năng kiểm soát thể trí mạnh mẽ, trí thông minh đã được rèn luyện, thể cảm xúc đã được thanh lọc, cùng một hệ tuyến tốt là kết quả của những yêu cầu nói trên. Hãy suy ngẫm về tư tưởng này.

Most ideas, when of a very high order, are stepped down into the consciousness of a disciple by his Master and are imparted to him through mental telepathy, and as a result of his sensitivity to the “psychic gift waves,” as the Tibetan teaching calls them. Ideas are also sensed in the interplay between disciples. Frequently, when disciples meet together and thus stimulate each others’ minds and centralise each others’ focussed attention, they can unitedly make a contact with the world of ideas which would otherwise be impossible, and bring through the newer concepts into being. Again, certain great ideas are to be found existing as currents of energy upon the mental plane, and can there be contacted and forced into embodiment through the trained attention of disciples. These currents of mental energy, coloured by a basic idea, are placed there by the Hierarchy. When thus contacted and discovered, the neophyte is apt to regard his achievement in a personal way [62] and attribute the idea to his own wisdom and power. You will note therefore the great need for right understanding of that which is contacted as well as for right interpretation.

Hầu hết các ý tưởng, khi thuộc một trật tự rất cao, đều được Chân sư của người đệ tử hạ giảm vào tâm thức y và truyền cho y qua viễn cảm trí tuệ, nhờ sự nhạy cảm của y đối với “các làn sóng ân tứ thông linh”, như giáo huấn của Chân sư Tây Tạng gọi. Các ý tưởng cũng được cảm nhận trong sự tương tác giữa các đệ tử. Khi các đệ tử gặp nhau và qua đó kích thích thể trí của nhau, đồng thời quy tụ sự chú ý đã tập trung của nhau, họ thường có thể cùng nhau tiếp xúc với thế giới ý tưởng—điều mà nếu không như vậy thì không thể thực hiện—và đưa những khái niệm mới hơn vào hiện tồn. Ngoài ra, có thể tìm thấy một số ý tưởng lớn tồn tại như những dòng năng lượng trên cõi trí; tại đó, sự chú tâm đã được rèn luyện của các đệ tử có thể tiếp xúc với chúng và thúc đẩy chúng hiện thân. Thánh đoàn đặt những dòng năng lượng trí tuệ mang sắc thái của một ý tưởng căn bản này ở đó. Khi tiếp xúc và khám phá chúng theo cách ấy, người sơ cơ dễ nhìn thành tựu của mình theo góc độ cá nhân [62] và quy ý tưởng ấy cho minh triết cùng quyền năng của riêng mình. Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy nhu cầu rất lớn về sự thấu hiểu đúng đắn những gì được tiếp xúc, cũng như về sự diễn giải đúng đắn.

[Webinar 92] – [Webinar 92]

4. Through wrong direction of ideas. This is due to the fact that, as yet, the disciple does not see the picture as it is. His horizon is limited, his vision myopic. A fraction or a fragment of some basic idea impinges upon his consciousness and he interprets it as belonging to a range of activities with which it may have absolutely no relation at all. He therefore starts to work with the idea, distributing it in directions where it is entirely useless; he begins to clothe it in form from an utterly wrong angle, embodying it in such a way that its usefulness is negated. Thus, from the very first moment of contact, the disciple has been suffering from illusion and as long as this is persisted in, the general illusion is strengthened. This is one of the most ordinary forms of illusion, and is one of the first ways in which the mental pride of the disciple can be broken. It is illusion through an initial misapplication, leading to a wrong use or wrong direction of the idea.

4. Qua sự định hướng sai lầm các ý tưởng. Điều này là do người đệ tử vẫn chưa nhìn thấy bức tranh đúng như thực trạng của nó. Chân trời của y hạn hẹp, tầm nhìn của y thiển cận. Một phần hay một mảnh của một ý tưởng căn bản nào đó tác động vào tâm thức y, và y diễn giải nó như thuộc về một phạm vi hoạt động mà nó có thể hoàn toàn không liên quan. Vì vậy, y bắt đầu làm việc với ý tưởng ấy, truyền nó theo những hướng mà ở đó nó hoàn toàn vô dụng; y bắt đầu khoác cho nó hình tướng từ một góc độ hoàn toàn sai lầm, cho nó hiện thân theo một cách làm mất đi tính hữu ích của nó. Như vậy, ngay từ khoảnh khắc tiếp xúc đầu tiên, người đệ tử đã chịu ảnh hưởng của ảo tưởng; chừng nào y còn tiếp tục như thế, ảo tưởng chung còn được củng cố. Đây là một trong những dạng ảo tưởng thông thường nhất, và là một trong những cách đầu tiên để phá vỡ lòng kiêu hãnh trí tuệ của người đệ tử. Đó là ảo tưởng do áp dụng sai ngay từ đầu, dẫn đến việc sử dụng sai hay định hướng sai ý tưởng.

Its cause is a small and non-inclusive mind.

Nguyên nhân của nó là một thể trí hạn hẹp và thiếu tính bao gồm.

Its cure is the training of the mind to be inclusive, well-stocked and well developed from the angle of modern intelligence.

Phương thuốc của nó là rèn luyện thể trí để có tính bao gồm, được trang bị phong phú và phát triển tốt xét theo trí thông minh hiện đại.

5. Through wrong integration of an idea. Every disciple has a life plan, and some chosen field of service. If he has not such a field, he is not a disciple. It may be the home or the school or a [63] larger field, but it is a definite place wherein he expresses that which is in him. In his meditation life and through his contact with his fellow disciples, he touches some idea of importance, perhaps, to the world. Immediately he seizes upon it and seeks to integrate it into his life purpose and life plan. It may have for him no definite use, and is not an idea with which he should be working. The over-activity of his mind is probably responsible for his so seizing upon this idea. All ideas sensed and contacted need not necessarily be ideas with which every disciple should work. This the disciple does not always realise. He therefore seizes upon the idea and attempts to integrate it into his plans, and tries to work with energies for which he is not temperamentally suited. He imposes an energy current upon his mental body with which he cannot cope and disaster follows. Many good disciples demonstrate this over-fertile, over-active mind, and arrive at no good constructive objectives, or life activity. They seize upon every idea that comes their way, and use no discrimination of any kind. This is illusion, through acquisitiveness.

5. Qua sự tích hợp sai lầm một ý tưởng. Mỗi đệ tử đều có một kế hoạch cuộc đời và một lĩnh vực phụng sự đã chọn. Nếu không có một lĩnh vực như vậy, y không phải là đệ tử. Đó có thể là gia đình, trường học hay một [63] lĩnh vực rộng lớn hơn, nhưng đó là một nơi xác định để y biểu lộ những gì có trong mình. Trong đời sống tham thiền và qua sự tiếp xúc với các đệ tử đồng môn, y tiếp xúc với một ý tưởng có tầm quan trọng, có lẽ đối với thế giới. Lập tức, y nắm lấy nó và tìm cách tích hợp nó vào mục đích sống và kế hoạch cuộc đời mình. Đối với y, nó có thể không có công dụng xác định nào, và không phải là một ý tưởng mà y nên làm việc cùng. Có lẽ sự hoạt động quá mức của thể trí là nguyên nhân khiến y nắm lấy ý tưởng ấy như vậy. Không nhất thiết mọi ý tưởng được cảm nhận và tiếp xúc đều là những ý tưởng mà mỗi đệ tử nên làm việc cùng. Người đệ tử không phải lúc nào cũng nhận ra điều này. Vì vậy, y nắm lấy ý tưởng, cố gắng tích hợp nó vào các kế hoạch của mình và tìm cách làm việc với những năng lượng không phù hợp với khí chất của y. Y áp đặt lên thể trí mình một dòng năng lượng mà y không thể xử lý, và tai họa xảy ra. Nhiều đệ tử tốt biểu lộ một thể trí sản sinh quá nhiều ý tưởng và hoạt động quá mức như vậy, nhưng không đạt được những mục tiêu xây dựng tốt đẹp hay hoạt động hữu ích trong cuộc sống. Họ nắm lấy mọi ý tưởng đến với mình mà không có bất kỳ sự phân biện nào. Đây là ảo tưởng do lòng ham thu nhận.

Its cause is selfish grasping for the little self, even if this is unrealised and the disciple is glamoured by the idea of his own selfless interests.

Nguyên nhân của nó là sự chiếm giữ ích kỷ vì cái tôi nhỏ bé, ngay cả khi người đệ tử không nhận ra điều này và bị ý tưởng về những mối quan tâm vị tha của mình mê hoặc bằng ảo cảm.

Its cure is a humble spirit.

Phương thuốc của nó là một tinh thần khiêm nhường.

[Webinar 93] – [Webinar 93]

6. Through wrong embodiment of ideas. This refers primarily to the difficulties encountered by those developed souls who do touch the world of the intuition, who do intuit the great spiritual ideas, [64] and whose responsibility it is to embody them in some form, automatically and spontaneously, through a trained and rhythmic activity of the soul and mind, working always in the closest collaboration. The idea is contacted, but is wrongly clothed in mental matter and therefore wrongly started on its way to materialisation. It finds itself, for instance, integrated into a group thoughtform of a colouring, keynote and substance which is entirely unsuited to its right expression. This happens far more often than you might think. It concerns the higher interpretations of the Hindu aphorism: Better one’s own dharma than the dharma of another.

6. Do thể hiện ý tưởng sai lạc. Điều này chủ yếu đề cập đến những khó khăn mà các linh hồn đã phát triển gặp phải—những linh hồn thực sự tiếp xúc với thế giới trực giác, thực sự trực nhận những ý tưởng tinh thần vĩ đại, [64] và có trách nhiệm thể hiện chúng trong một hình tướng nào đó, một cách tự động và tự phát, thông qua hoạt động có nhịp điệu và đã được rèn luyện của linh hồn và thể trí, luôn phối hợp hết sức chặt chẽ. Ý tưởng được tiếp xúc, nhưng lại khoác lấy vật chất trí tuệ không đúng cách, và vì vậy khởi đầu sai lạc trên con đường đi đến hiện hình. Chẳng hạn, nó được tích hợp vào một hình tư tưởng nhóm có sắc thái, chủ âm và chất liệu hoàn toàn không phù hợp để biểu đạt nó đúng đắn. Điều này xảy ra thường xuyên hơn nhiều so với các bạn có thể nghĩ. Nó liên quan đến những cách diễn giải cao hơn của châm ngôn Ấn giáo: Thà làm bổn phận của mình còn hơn làm bổn phận của người khác.

This is illusion through wrong discrimination where substance is concerned.

Đây là ảo tưởng do phân biện sai lạc về chất liệu.

Its cause is lack of esoteric training in creative activity.

Nguyên nhân của nó là thiếu sự huấn luyện huyền bí trong hoạt động sáng tạo.

Its cure is the application of fifth ray methods, which are the methods of the mental plane.

Phương cách chữa trị là áp dụng các phương pháp cung năm, vốn là những phương pháp của cõi trí.

This form of error seldom applies to the average aspirant and concerns an illusion which is the testing applied to many initiates of fairly high degree. The ordinary disciple, such as you and others in this group, seldom touch a pure idea, and hence seldom need to embody it.

Dạng sai lầm này hiếm khi xảy ra với người chí nguyện thông thường, và liên quan đến một ảo tưởng dùng để thử thách nhiều điểm đạo đồ có cấp độ khá cao. Người đệ tử thông thường, như các bạn và những người khác trong nhóm này, hiếm khi tiếp xúc với một ý tưởng thuần khiết, và do đó hiếm khi cần thể hiện nó trong hình tướng.

7. Through wrong application of ideas. How often does this form of illusion descend upon a disciple! He contacts an idea intuitively and also intelligently (note the distinction here expressed) and misapplies it. This is perhaps an aspect of the synthetic illusion or the illusion of the whole of [65] the mental plane, as modern man contacts it. Illusion varies from age to age, according to what the Hierarchy is attempting to do, or according to the general trend of men’s thoughts. The disciple can therefore be swept into a wrong activity and a wrong application of ideas because the general illusion (growing out of the six types of illusion to which I have referred above) is over-dominant in his mind.

7. Do áp dụng ý tưởng sai lạc.Dạng ảo tưởng này thường xuyên phủ xuống một đệ tử biết bao! Y tiếp xúc với một ý tưởng bằng trực giác và cả bằng trí tuệ (hãy lưu ý sự phân biệt được nêu ở đây), rồi áp dụng nó sai lạc. Đây có lẽ là một phương diện của ảo tưởng tổng hợp, hay ảo tưởng của toàn bộ [65] cõi trí như con người hiện đại tiếp xúc với nó. Ảo tưởng thay đổi theo từng thời đại, tùy theo điều Thánh đoàn đang cố gắng thực hiện, hoặc theo xu hướng chung trong tư tưởng con người. Vì vậy, đệ tử có thể bị cuốn vào một hoạt động sai lạc và một cách áp dụng ý tưởng sai lạc, vì ảo tưởng chung (phát sinh từ sáu loại ảo tưởng mà Tôi đã đề cập ở trên) chi phối quá mạnh thể trí của y.

I could continue enlarging on the ways whereby illusion traps the unwary disciple but this will suffice to awaken in you that constructive analysis which leads from knowledge to wisdom. We have noted that the seven major ways of illusion are as follows:

Tôi có thể tiếp tục trình bày thêm về những cách mà ảo tưởng giăng bẫy người đệ tử thiếu cảnh giác, nhưng chừng này cũng đủ để khơi dậy trong các bạn sự phân tích mang tính xây dựng, dẫn từ tri thức đến minh triết. Chúng ta đã ghi nhận rằng bảy con đường chủ yếu của ảo tưởng là:

1. The way of wrong perception.

1. Con đường tri giác sai lạc.

2. The way of wrong interpretation.

2. Con đường diễn giải sai lạc.

3. The way of wrong appropriation.

3. Con đường chiếm hữu sai lạc.

4. The way of wrong direction.

4. Con đường định hướng sai lạc.

5. The way of wrong integration.

5. Con đường tích hợp sai lạc.

6. The way of wrong embodiment.

6. Con đường thể hiện sai lạc trong hình tướng.

7. The way of wrong application.

7. Con đường áp dụng sai lạc.

These are the third steps towards expression. The form of the expression is also qualified. Thus the seven ways of illusion are produced.

Đây là những bước thứ ba hướng đến sự biểu đạt. Hình tướng biểu đạt cũng mang phẩm tính. Như vậy, bảy con đường của ảo tưởng hình thành.

[Webinar 94] – [Webinar 94]

I have here outlined for you the causes and the various types of illusion to which the disciple is prone. In its pure form, this illusion has to be met and some day surmounted; it has to be isolated and dispelled by the initiate. It was the final successful effort to do this that led Jesus upon the Cross to cry out in words of apparent distress. He then finally dissipated the illusion of the personal, objective [66] Deity. At that moment, He entered fully into the consciousness that He was Himself God, and naught else; that the theory of unity outlined by Him in the Gospel of St. John, chapter XVII, was indeed and in truth a fact in His Own consciousness, established unalterably. Yet, nevertheless, in this infinite and supreme realisation, there entered for a moment a sense of loss and of negation, forcing from His dying Personality that tremendous utterance which has bewildered, and at the same time comforted, so many. This signified the surmounting of the final synthetic illusion. When that has been dispelled, illusion, as it can be understood in the human family, disappears. The man stands free. The illusion of the mental plane can no longer deceive him. His mind is a pure instrument for the reflection of light and of truth. The glamours of the astral plane have no further hold over him, and the astral body itself fades out.

Ở đây, Tôi đã phác họa cho các bạn những nguyên nhân và các loại ảo tưởng khác nhau mà đệ tử dễ mắc phải. Trong hình thức thuần khiết của nó, đệ tử phải đối diện với ảo tưởng này và một ngày nào đó vượt qua nó; điểm đạo đồ phải cô lập và xua tan nó. Chính nỗ lực cuối cùng thành công trong việc này đã khiến Đức Jesus trên Thập Giá thốt lên những lời dường như đầy đau khổ. Khi ấy, cuối cùng Ngài đã làm tiêu tan ảo tưởng về một [66] Thượng đế mang tính cá nhân, khách thể. Vào khoảnh khắc đó, Ngài hoàn toàn bước vào tâm thức rằng chính Ngài là Thượng đế, không gì khác; rằng lý thuyết về sự hợp nhất mà Ngài đã phác họa trong Phúc Âm Thánh Gioan, chương XVII, quả thực là một sự thật trong chính tâm thức Ngài, được xác lập không thể thay đổi. Tuy vậy, trong sự chứng nghiệm vô hạn và tối thượng này, một cảm giác mất mát và phủ định đã thoáng xuất hiện, buộc Phàm ngã đang hấp hối của Ngài thốt ra lời nói đầy sức mạnh ấy, lời đã khiến biết bao người hoang mang, đồng thời cũng an ủi họ. Điều này biểu thị sự vượt qua ảo tưởng tổng hợp cuối cùng. Khi ảo tưởng ấy đã được xua tan, ảo tưởng, theo cách hiểu trong gia đình nhân loại, biến mất. Con người đứng trong tự do. Ảo tưởng của cõi trí không còn có thể lừa dối y. Thể trí của y là một công cụ thuần khiết để phản chiếu ánh sáng và chân lý. Những ảo cảm của cõi cảm dục không còn chi phối y, và chính thể cảm dục cũng dần tan biến.

You will remember that I hinted to you in A Treatise on White Magic that the astral body itself was an illusion. It is the definition of the illusory mind upon the mental plane of that which we call the sum total of the desires of the man in incarnation. When illusion and glamour have both been overcome, the astral body fades out in the human consciousness. There is no desire left for the separated self. Kama-manas disappears, and man is then regarded as consisting essentially of soul-mind-brain, within the body nature. This is a great mystery, and its significance can only be understood when a man has controlled his personality and eliminated all aspects of glamour and of illusion. This is accomplished by accomplishing. This mastery is achieved by mastering. This elimination of desire is brought about by conscious eliminating. Get therefore to work, my brothers, and clarification of the problem must inevitably ensue.

Các bạn sẽ nhớ rằng trong Luận về Chánh Thuật, Tôi đã gợi ý với các bạn rằng chính thể cảm dục là một ảo tưởng. Nó là sự định nghĩa mà thể trí bị ảo tưởng chi phối trên cõi trí đưa ra về điều chúng ta gọi là tổng thể những dục vọng của con người đang lâm phàm. Khi cả ảo tưởng lẫn ảo cảm đều đã được vượt qua, thể cảm dục dần tan biến trong tâm thức con người. Không còn dục vọng nào dành cho cái ngã riêng biệt. Dục vọng–trí tuệ biến mất, và khi ấy con người được xem là về cơ bản gồm linh hồn–thể trí–bộ não, trong bản chất thân thể. Đây là một huyền nhiệm lớn, và chỉ khi một người đã kiểm soát phàm ngã của mình, loại bỏ mọi phương diện của ảo cảm và ảo tưởng, y mới có thể thấu hiểu thâm nghĩa của nó. Điều này được hoàn thành bằng việc thực sự hoàn thành. Sự làm chủ này đạt được bằng việc thực sự làm chủ. Việc loại bỏ dục vọng này diễn ra nhờ sự loại bỏ có ý thức. Vì vậy, hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy bắt tay vào việc, rồi vấn đề tất yếu sẽ sáng tỏ.

[67] That which is the opposite pole of illusion is, as you well know, the intuition. The intuition is that recognition of reality which becomes possible as glamour and illusion disappear. An intuitive reaction to truth will take place when—along a particular line of approach to truth—the disciple has succeeded in quieting the thoughtform-making propensities of the mind, so that light can flow directly, and without any deviation, from the higher spiritual worlds. The intuition can begin to make its presence felt when glamour no longer grips the lower man, and a man’s low or high desires, interpreted emotionally or self- centredly, can no longer come between his brain consciousness and the soul. Fleeting moments of this high freedom come to all true aspirants at times, during their life struggle. They have then an intuitive flash of understanding. The outline of the future and the nature of truth sweeps momentarily through their consciousness, and life is never again exactly the same thing. They have had their guarantee that all struggle is warranted and will evoke its adequate reward.

[67] Như các bạn biết rõ, cực đối lập với ảo tưởng là trực giác. Trực giác là sự nhận biết thực tại trở nên khả hữu khi ảo cảm và ảo tưởng biến mất. Một đáp ứng trực giác với chân lý sẽ diễn ra khi—trên một con đường cụ thể tiếp cận chân lý—đệ tử đã thành công trong việc làm lắng dịu các khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí, để ánh sáng có thể tuôn chảy trực tiếp, không chút lệch hướng, từ các cõi tinh thần cao hơn. Trực giác có thể bắt đầu biểu lộ sự hiện diện của nó khi ảo cảm không còn khống chế phàm nhân, và những dục vọng thấp hay cao của một người, được diễn giải theo cảm xúc hoặc theo cách tập trung vào bản thân, không còn có thể xen vào giữa tâm thức bộ não của y và linh hồn. Trong cuộc đấu tranh của đời mình, mọi người chí nguyện chân chính đôi khi đều có những khoảnh khắc thoáng qua của sự tự do cao cả này. Khi ấy, họ có một tia chớp trực giác của sự thấu hiểu. Đường nét của tương lai và bản chất của chân lý thoáng lướt qua tâm thức họ, và đời sống không bao giờ còn hoàn toàn như trước nữa. Họ đã có sự bảo đảm rằng mọi cuộc đấu tranh đều có lý do chính đáng và sẽ gợi lên phần thưởng tương xứng.

[Webinar 95] – [Webinar 95]

As pointed out in the tabulation (See page 41), that which dispels illusion and substitutes for it a true spiritual and infallible perception is contemplation,—a contemplation necessarily carried on by the soul. Perhaps some grasp of the sequence of development can be arrived at, if you realise that the entire meditation process (in its three major divisions) can be divided as follows:

Như đã chỉ ra trong bảng liệt kê (Xem trang 41), điều xua tan ảo tưởng và thay thế nó bằng một tri giác tinh thần chân thực, không sai lầm, là sự chiêm ngưỡng—một sự chiêm ngưỡng nhất thiết do linh hồn thực hiện. Có lẽ các bạn có thể phần nào nắm bắt trình tự phát triển nếu nhận ra rằng toàn bộ tiến trình tham thiền (trong ba phần chính của nó) có thể được phân chia như sau:

1. The Aspirant

1. Người Chí Nguyện

Probationary Path

Con Đường Dự Bị

Concentration

Định trí

Maya.

Ảo lực.

2. The Disciple

2. Đệ Tử

Path of Discipleship

Con Đường Đệ Tử

Meditation

Tham thiền

Glamour.

Ảo cảm.

3. The Initiate

3. Điểm Đạo Đồ

Path of Initiation

Con Đường Điểm Đạo

Contemplation

Chiêm ngưỡng

Illusion.

Ảo tưởng.

The above tabulation will suffice to show the connection between the meditation process as outlined and taught in the Arcane School, and the problem which all of you have to face.

Bảng liệt kê trên đủ để cho thấy mối liên hệ giữa tiến trình tham thiền như được phác họa và giảng dạy tại Trường Arcane, với vấn đề mà tất cả các bạn phải đối diện.

[68] The technique of the dispelling of illusion, as used by the initiate, is that of contemplation. But of what use is it for me to discuss this with you, if you are not initiate? Would it profit you at all, or would it only satisfy your curiosity, if I outlined for you the peculiar processes, employed by a soul in contemplation for penetrating and (through an act of the trained will and through some first ray formulas) for dispelling it? Naught that I can imagine.

[68] Kỹ thuật mà điểm đạo đồ sử dụng để xua tan ảo tưởng là chiêm ngưỡng. Nhưng việc Tôi thảo luận điều này với các bạn có ích gì nếu các bạn chưa phải là điểm đạo đồ? Liệu các bạn có được lợi ích nào không, hay chỉ thỏa mãn trí tò mò, nếu Tôi phác họa cho các bạn những tiến trình đặc thù mà một linh hồn đang chiêm ngưỡng sử dụng để xuyên thấu và (thông qua một hành động của ý chí đã được rèn luyện và một số công thức cung một) xua tan ảo tưởng? Tôi không thể nghĩ ra lợi ích nào.

I shall therefore conclude my remarks on this point concerning illusion from the angle of your evolutionary status. Glamour is your problem, as it is the problem of the world, at this time. Some of you, whose mental bodies are in process of organising, may suffer somewhat from illusion, but your major problem—as a group and as individuals—is one of glamour. Your field of living experience is on the higher levels of the astral plane. Your task is to overcome glamour, each in your individual lives, and, as a group, later to approach the arduous task of aiding in the dispelling of the world glamour. This you may later be able to do, if you submit to training and, as individuals, understand and master your personal glamours. Just as soon as you have begun to do this, I can begin to use you, as a group. But before you can work as a group, and before you can assist in the dissipation of the world glamour, you have to understand better and master more definitely the glamours and illusions of your personality. The time has now come for me to help you deal more drastically with this problem of glamour, with the view to your destined group service and not with a view of your personal release….

Vì vậy, Tôi sẽ kết thúc những nhận xét về điểm này liên quan đến ảo tưởng, xét từ trình độ tiến hoá của các bạn. Hiện nay, ảo cảm là vấn đề của các bạn, cũng như là vấn đề của thế giới. Một số bạn, với thể trí đang trong tiến trình tổ chức, có thể phần nào chịu ảnh hưởng của ảo tưởng, nhưng vấn đề chủ yếu của các bạn—với tư cách một nhóm và từng cá nhân—là ảo cảm. Phạm vi trải nghiệm sống của các bạn nằm trên những cấp độ cao hơn của cõi cảm dục. Nhiệm vụ của các bạn là vượt qua ảo cảm, mỗi người trong đời sống riêng của mình, và về sau, với tư cách một nhóm, tiến đến nhiệm vụ gian nan là hỗ trợ xua tan ảo cảm thế giới. Sau này, các bạn có thể làm được điều đó nếu chấp nhận sự huấn luyện và, với tư cách từng cá nhân, thấu hiểu và làm chủ những ảo cảm riêng của mình. Ngay khi các bạn bắt đầu làm điều này, Tôi có thể bắt đầu sử dụng các bạn, với tư cách một nhóm. Nhưng trước khi các bạn có thể hoạt động như một nhóm, và trước khi có thể hỗ trợ làm tiêu tan ảo cảm thế giới, các bạn phải thấu hiểu rõ hơn và làm chủ vững chắc hơn những ảo cảm và ảo tưởng của phàm ngã mình. Giờ đã đến lúc Tôi giúp các bạn xử lý quyết liệt hơn vấn đề ảo cảm này, nhằm hướng đến công việc phụng sự nhóm đã định cho các bạn, chứ không nhằm sự giải thoát cá nhân của các bạn….

I ask you to set to work, therefore, with fresh courage and determination and with fresh understanding, and to carry on for another year. Will you bend your effort to the task? For task it is. [69]

Vì vậy, Tôi yêu cầu các bạn bắt tay vào việc với lòng can đảm, quyết tâm và sự thấu hiểu mới, rồi tiếp tục thêm một năm nữa. Các bạn có dốc sức vào nhiệm vụ này không? Bởi đây quả là một nhiệm vụ. [69]

2. Glamour on the Astral Plane… Glamour – 2. Ảo cảm trên Cõi Cảm Dục… Ảo cảm

I have dealt with the problem of illusion or glamour on the mental plane. I dealt with it succinctly and briefly, pointing out that it is not primarily the major problem of this group of aspirants but that they—along with the world aspirant, humanity—are primarily occupied with glamour. Those aspirants who stand in the forefront of humanity and whose task it is to confront the world glamour and forge a way through it, have the task of releasing soul energy and mind potency. Among these pioneering souls you should take your stand, realising the magnitude of the opportunity and the imminence of the hour of release.

Tôi đã bàn đến vấn đề ảo tưởng hay ảo cảm trên cõi trí. Tôi đã trình bày súc tích và ngắn gọn, chỉ ra rằng về cơ bản, đó không phải là vấn đề chủ yếu của nhóm người chí nguyện này, mà họ—cùng với người chí nguyện thế giới là nhân loại—chủ yếu đang phải đối phó với ảo cảm. Những người chí nguyện đứng ở hàng đầu của nhân loại, có nhiệm vụ đối diện với ảo cảm thế giới và mở một con đường xuyên qua nó, phải giải phóng năng lượng linh hồn và sức mạnh của thể trí. Các bạn nên đứng trong hàng ngũ những linh hồn tiên phong này, nhận ra tầm vóc lớn lao của cơ hội và thời khắc giải thoát đang đến gần.

You stand on the verge of accepted discipleship. This means that you will shortly have to add to your battle with glamour that of the battle with illusion. Are you strong enough for this? Forget not, that a disciple who is dealing with the aspiration of his nature and who is also wrestling with the problems that result from mental polarisation and awareness, and with the energies which become active through soul contact, is rapidly becoming an integrated personality. His task is not therefore easy and calls for the focussed activity of his best self. By that phrase, I mean the soul and the aspirational personality.

Các bạn đang đứng trước ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận. Điều này có nghĩa là chẳng bao lâu nữa, bên cạnh cuộc chiến với ảo cảm, các bạn sẽ phải thêm vào cuộc chiến với ảo tưởng. Các bạn có đủ mạnh mẽ cho điều này không? Đừng quên rằng một đệ tử đang xử lý khát vọng trong bản chất mình, đồng thời vật lộn với những vấn đề phát sinh từ sự phân cực trí tuệ và nhận biết, cũng như với các năng lượng trở nên hoạt động nhờ tiếp xúc linh hồn, đang nhanh chóng trở thành một phàm ngã tích hợp. Vì vậy, nhiệm vụ của y không dễ dàng, và đòi hỏi hoạt động tập trung của phần tốt đẹp nhất trong y. Với cụm từ ấy, Tôi muốn nói đến linh hồn và phàm ngã đầy khát vọng.

Already you are battling somewhat with the illusion of ideas with which I dealt in my last instruction. You are thus beginning to develop that discrimination which will lead to right choice of life themes. In this instruction I seek to cast some light upon the glamour which confronts the disciple as an individual and also consider the aspect of glamour with which he must deal as a world server in training.

Các bạn đã phần nào đấu tranh với ảo tưởng về ý tưởng mà Tôi đã bàn đến trong huấn thị trước. Như vậy, các bạn đang bắt đầu phát triển sự phân biện sẽ dẫn đến việc lựa chọn đúng đắn những chủ đề của đời sống. Trong huấn thị này, Tôi tìm cách soi sáng phần nào ảo cảm mà đệ tử đối diện với tư cách một cá nhân, đồng thời xem xét phương diện ảo cảm mà y phải xử lý với tư cách một Người Phụng Sự Thế Gian đang được huấn luyện.

Speaking symbolically, I would say that the planetary astral body (viewing it from soul levels) is lost in the [70] depths of a surrounding fog. When at night you look out at some clear sky, you see the stars and suns and planets shining with a clear cold brilliancy and with a twinkling blazing light which penetrates for many millions of miles (or light years as they are called) until the human eye registers them and records the existence of these shining stars. Looking, however, at the astral body of the planet, could you but do so, you would see no such clear shining but simply a murky ball of seeming steam and mist and fog. This fog is of a density and thickness which would indicate not only impenetrability but also those conditions which are unfavourable to life. Yet we pass and come and go, we the Teachers on the inner side; and in that fog—seeing all things misshapen and distorted—labour the sons of men. Some are so habituated to the fog and the density that they remain oblivious of its existence, regarding it as right and good and the unchangeable place of their daily life. Others have caught faint glimpses of a clearer world wherein more perfect forms and shapes can be seen and where the fog hides not a dimly sensed reality—though what that reality may be they know not. Still others, such as yourselves, see before you an open path leading to the clear light of day. You know not yet, however, that as you tread the path you must, on the Path itself, work actively and intelligently with the surrounding glamour, following a trail blazed by those who have liberated themselves from the environing mists and passed on into a world of clear horizons. So much of the time spent by disciples on the Path is a process of almost cyclic immersion in glamour and fog, alternating with hours of clarity and vision.

Theo nghĩa biểu tượng, Tôi muốn nói rằng thể cảm dục hành tinh (khi nhìn từ các cấp độ linh hồn) chìm sâu trong [70] màn sương mù bao quanh. Khi nhìn lên một bầu trời quang đãng vào ban đêm, các bạn thấy những ngôi sao, những mặt trời và các hành tinh tỏa sáng với vẻ rực rỡ trong trẻo, lạnh, cùng ánh sáng lấp lánh chói lọi xuyên qua hàng triệu dặm (hay những năm ánh sáng, như cách người ta gọi), cho đến khi mắt người ghi nhận chúng và ghi lại sự hiện hữu của những ngôi sao rực sáng ấy. Tuy nhiên, nếu có thể nhìn vào thể cảm dục của hành tinh, các bạn sẽ không thấy vẻ sáng trong như thế, mà chỉ thấy một khối cầu tối mờ, dường như gồm hơi nước, sương và sương mù. Màn sương mù này đậm đặc và dày đến mức không chỉ cho thấy tính không thể xuyên thấu, mà còn cho thấy những điều kiện bất lợi cho sự sống. Tuy vậy, chúng ta, những huấn sư ở phía bên trong, vẫn đi qua, đến rồi đi; và trong màn sương ấy—nhìn mọi vật đều méo mó và biến dạng—những người con của nhân loại đang lao động. Một số người đã quá quen với sương mù và sự đậm đặc ấy đến mức không nhận biết sự hiện hữu của nó, xem đó là nơi chốn đúng đắn, tốt đẹp và không thể thay đổi của đời sống hằng ngày. Những người khác đã thoáng thấy một thế giới trong sáng hơn, nơi có thể nhìn thấy những hình tướng và hình dạng hoàn hảo hơn, và nơi sương mù không che khuất một thực tại được cảm nhận lờ mờ—dù họ không biết thực tại ấy có thể là gì. Lại có những người khác, như chính các bạn, nhìn thấy trước mình một con đường rộng mở dẫn đến ánh sáng trong trẻo của ban ngày. Tuy nhiên, các bạn chưa biết rằng khi bước trên con đường ấy, ngay trên chính Đường Đạo, các bạn phải xử lý ảo cảm bao quanh một cách tích cực và sáng suốt, theo dấu con đường mà những người đã tự giải thoát khỏi sương mù quanh mình và tiến vào một thế giới có chân trời quang đãng đã mở ra. Phần lớn thời gian đệ tử trải qua trên Đường Đạo là một tiến trình gần như có chu kỳ: chìm trong ảo cảm và sương mù, xen kẽ với những giờ phút sáng tỏ và có tầm nhìn.

There are four things which you who seek to work with glamour need to grasp; four basic recognitions which, [71] when understood, will serve to clear and lighten, and therefore straighten your way:

Có bốn điều mà các bạn, những người tìm cách xử lý ảo cảm, cần nắm bắt; bốn nhận biết căn bản mà, [71] khi được thấu hiểu, sẽ giúp làm con đường của các bạn sáng tỏ và nhẹ nhàng hơn, do đó cũng thẳng hơn:

1. Each human being stands in an environing world of glamour which is the result of:

1. Mỗi con người đều đứng trong một thế giới ảo cảm bao quanh, là kết quả của:

a. His own past, with its wrong thinking, selfish desires, and misinterpretation of the purposes of life. There is, or has been, no comprehension of the intended life purpose as visioned by the soul and there cannot be until there is some definite organisation of the mental body.

a. Quá khứ của chính y, với tư duy sai lạc, những dục vọng ích kỷ và sự diễn giải sai lạc về các mục đích của đời sống. Y không có, hoặc chưa từng có, sự thấu hiểu về mục đích đời sống đã định như linh hồn hình dung, và cũng không thể có sự thấu hiểu ấy cho đến khi thể trí được tổ chức một cách rõ rệt.

b. His family “desire life,” both past and present. This becomes increasingly potent as evolution proceeds and the desire life of the family unit becomes comes marked and emphasised, constituting then inherited and demonstrated psychological tendencies and characteristics.

b. “Đời sống dục vọng” của gia đình y, cả quá khứ lẫn hiện tại. Điều này ngày càng mạnh mẽ khi tiến hoá tiếp diễn và đời sống dục vọng của đơn vị gia đình trở nên rõ nét, nổi bật, rồi hình thành những khuynh hướng và đặc điểm tâm lý được thừa hưởng và biểu lộ.

c. National glamour, which is the sum total of the desire life, plus the illusions, of any nation. These we term national characteristics and they are so persistent and marked that they are usually recognised as embodying national psychological traits. These are, of course, based on ray tendencies, past history, and world inter-relations but constitute in themselves a glamorous condition out of which every nation must work as it marches on towards the realisation of (and identification with) reality.

c. Ảo cảm quốc gia, là tổng thể đời sống dục vọng cộng với những ảo tưởng của bất kỳ quốc gia nào. Chúng ta gọi chúng là những đặc điểm quốc gia; chúng dai dẳng và rõ nét đến mức thường được nhận biết là hiện thân của những nét tâm lý quốc gia. Dĩ nhiên, chúng dựa trên các khuynh hướng cung, lịch sử đã qua và những mối quan hệ tương hỗ trên thế giới, nhưng bản thân chúng tạo thành một trạng thái ảo cảm mà mỗi quốc gia phải tìm cách thoát ra khi tiến đến sự chứng nghiệm thực tại (và đồng hoá với thực tại).

d. An extension of the above idea into what we call racial glamour, using the word race to mean the human race. This constitutes a very ancient glamour or almost a series of glamours, of entrenched desires, potent aspirations of some kind and definitely human-made forms which—fluidic, enveloping and pulsating with dynamic life—seek to [72] hold the consciousness of humanity upon the astral plane. Such a glamorous concept is that of money and its materialistic value. This glamorous desire is like a dense widely distributed fog, cutting off the vision of truth, and distorting a very large number of human values.

d. Sự mở rộng ý tưởng trên thành điều chúng ta gọi là ảo cảm nhân loại, dùng từ nhân loại để chỉ toàn thể loài người. Điều này tạo thành một ảo cảm rất cổ xưa, hay gần như một chuỗi những ảo cảm, những dục vọng đã ăn sâu, những khát vọng mạnh mẽ thuộc một loại nào đó, và những hình tướng rõ ràng do con người tạo ra; những hình tướng ấy—linh động, bao bọc và rung động theo sức sống mãnh liệt—tìm cách [72] giữ tâm thức nhân loại trên cõi cảm dục. Một quan niệm mang tính ảo cảm như vậy là quan niệm về tiền bạc và giá trị vật chất của nó. Dục vọng mang tính ảo cảm này giống như một màn sương mù đậm đặc lan rộng, che khuất tầm nhìn về chân lý và làm méo mó rất nhiều giá trị của con người.

2. This fog, this glamour which envelops humanity at this time must be realised as a definite substantial thing, and must be dealt with as such. The disciple or aspirant who is seeking to dispel glamour, either in his own life or as a service rendered to the world, must recognise that he is working with substance, with the breaking up of the forms which it has assumed, and with the dissipation of a material all-enveloping substance—material in the same sense as thoughtforms are substantial things but (and here is a point of importance) of a less substantial nature than the forms of glamour found upon the astral plane. We are quite willing to remember that “thoughts are things” and that they have a form life and a purpose of their own. But they have a more unique and separative existence, and more clearly defined and more definite outlines. The forms of glamour on the astral plane are even more substantial but are less clearly defined. Thoughtforms are dynamic, penetrating, clear cut and outlined. Glamours are smothering, vague, and enveloping. In them, a person is immersed as in the ocean or in a “sea of fog.” With thoughtforms, he is confronted or faced, but not immersed. It might almost be said that the astral body of a person comes into being as a part of the general world glamour; it is difficult for him to differentiate between his own astral body and the glamours which affect and sway and submerge him. His problem upon the mental plane is more clearly defined, even if it is equally difficult. [73]

2. Phải nhận ra rằng màn sương mù này, ảo cảm đang bao phủ nhân loại hiện nay, là một sự vật có chất liệu rõ rệt, và phải xử lý nó như vậy. Người đệ tử hay người chí nguyện đang tìm cách xua tan ảo cảm, dù trong đời sống riêng hay như một công việc phụng sự thế giới, phải nhận biết rằng mình đang làm việc với chất liệu, với việc phá vỡ những hình tướng mà chất liệu ấy đã mang lấy, và với việc làm tiêu tan một chất liệu vật chất bao trùm tất cả—mang tính vật chất theo cùng nghĩa rằng các hình tư tưởng là những sự vật có chất liệu, nhưng (và đây là một điểm quan trọng) có bản chất ít mang tính chất liệu hơn những hình tướng ảo cảm trên cõi cảm dục. Chúng ta rất sẵn lòng ghi nhớ rằng “tư tưởng là sự vật”, và rằng chúng có một đời sống hình tướng cùng mục đích riêng. Nhưng chúng có sự hiện hữu riêng biệt và tách biệt hơn, với những đường nét được xác định rõ ràng và dứt khoát hơn. Những hình tướng ảo cảm trên cõi cảm dục còn mang tính chất liệu nhiều hơn, nhưng lại có đường nét kém rõ ràng hơn. Các hình tư tưởng năng động, xuyên thấu, sắc nét và có đường nét rõ rệt. Những ảo cảm gây ngột ngạt, mơ hồ và bao bọc. Trong chúng, một người chìm ngập như trong đại dương hay trong một “biển sương mù”. Với các hình tư tưởng, y đối diện hay đương đầu, chứ không chìm ngập. Gần như có thể nói rằng thể cảm dục của một người hình thành như một phần của ảo cảm thế giới nói chung; y khó phân biệt giữa thể cảm dục của chính mình và những ảo cảm đang tác động, chi phối và nhấn chìm y. Vấn đề của y trên cõi trí được xác định rõ ràng hơn, dù cũng khó khăn không kém. [73]

3. Astral glamour is a form of energy and an energy of great potency, owing to three factors:

3. Ảo cảm cảm dục là một dạng năng lượng, và là một năng lượng có sức mạnh lớn, do ba yếu tố:

a. It is of such an ancient rhythm, being inherent in astral substance itself, that it is most difficult for a human being to become aware of it or to understand it; it is the result of the age-long activity of human desire.

a. Nó có một nhịp điệu quá cổ xưa, vốn nằm trong chính chất liệu cảm dục, đến mức một người rất khó nhận biết hay thấu hiểu nó; nó là kết quả của hoạt động dục vọng của con người qua bao thời đại.

b. It is a corporate part of a man’s own energy nature, and therefore constitutes for him the line of least resistance; it is part of a great world process and therefore a part of the individual life process also, and is, in itself, not wrong but an aspect of reality. This realisation necessarily complicates man’s thought about it.

b. Nó là một phần hợp thành bản chất năng lượng của chính con người, và vì vậy tạo nên con đường ít trở ngại nhất đối với y; nó là một phần của tiến trình thế giới rộng lớn, do đó cũng là một phần của tiến trình đời sống cá nhân, và bản thân nó không sai, mà là một phương diện của thực tại. Nhận biết này tất nhiên làm cho suy nghĩ của con người về nó trở nên phức tạp.

c. It is likewise definitely Atlantean in nature, being brought to a very high point of development in that race. It can therefore only be finally dissipated by the Aryan race using the right technique. The individual who is learning to dissipate glamour has to do two things:

c. Nó cũng rõ ràng mang bản chất Atlantis, vì đã đạt đến một trình độ phát triển rất cao trong giống dân ấy. Vì vậy, chỉ nhân loại Arya, sử dụng kỹ thuật đúng đắn, mới có thể cuối cùng làm tiêu tan nó. Cá nhân đang học cách làm tiêu tan ảo cảm phải làm hai điều:

1. Stand in spiritual being.

1. An trụ trong bản thể tinh thần.

2. Keep the mind steady in the light.

2. Giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng.

From this it will be apparent that the energy of the astral plane as it expresses itself in the sentient desire life of the race, produces the major glamours of humanity, and can only be dissipated, dispersed and dispelled by the bringing in of the higher energy of the mind, motivated by the soul.

Từ đó, sẽ thấy rõ rằng năng lượng của cõi cảm dục, khi biểu đạt trong đời sống dục vọng có cảm thụ của nhân loại, tạo ra những ảo cảm chủ yếu của nhân loại, và chỉ có thể được làm tiêu tan, phân tán và xua tan bằng cách đưa vào năng lượng cao hơn của thể trí, do linh hồn thúc đẩy.

4. The glamours which hold humanity in thrall are:

4. Những ảo cảm đang nô dịch nhân loại là:

a. The glamour of materiality.

a. Ảo cảm của tính vật chất.

b. The glamour of sentiment.

b. Ảo cảm của tình cảm.

c. The glamour of devotion.

c. Ảo cảm Sùng tín.

d. The glamour of the pairs of opposites.

d. Ảo cảm của các cặp đối cực.

e. The glamours of the Path.

e. Những ảo cảm của Đường Đạo.

[74] Let me now elucidate these glamours for you a little more in detail.

[74] Giờ đây, hãy để Tôi làm sáng tỏ những ảo cảm này cho các bạn một cách chi tiết hơn đôi chút.

The glamour of materiality is the cause of all the present world distress, for what we call the economic problem is simply the result of this particular glamour. Down the ages, this glamour has held the race increasingly interested, until today the entire world has been swept into the rhythm of money interest. A rhythm emanating from soul levels has always existed, being established by Those Who have freed Themselves from the control of material requirements, from the thraldom of money and the love of possessions. Today that higher rhythm is commensurate with the lower rhythmic glamour, and hence the whole world is thinking in terms of the way out from this present material impasse. Those souls who stand in the light to be found upon the mountain top of liberation and those who are advancing upward out of the fogs of materiality are now sufficient in numbers to do some definite work in connection with the dissipation of this glamour. The influence of their thoughts and words and lives can and will bring about a readjustment of values, and a new standard of living for the race, based upon clear vision, a correct sense of proportion and a realisation of the true nature of the relationship existing between soul and form, between spirit and matter. That which will meet a need that is vital and real ever exists within the divine plan. That which is unnecessary to the right expression of divinity and to a full and rich life can be gained and can be possessed, but only through the loss of the more real and the negation of the essential.

Ảo cảm của tính vật chất là nguyên nhân của mọi nỗi khốn khổ trên thế giới hiện nay, vì điều chúng ta gọi là vấn đề kinh tế chỉ đơn giản là kết quả của ảo cảm đặc thù này. Qua bao thời đại, ảo cảm này ngày càng khiến nhân loại chú tâm vào nó, cho đến ngày nay, toàn thế giới đã bị cuốn vào nhịp điệu của sự quan tâm đến tiền bạc. Một nhịp điệu phát ra từ các cấp độ linh hồn vẫn luôn tồn tại, do những Đấng đã tự giải thoát khỏi sự kiểm soát của các nhu cầu vật chất, khỏi sự nô dịch của tiền bạc và lòng yêu thích sở hữu xác lập. Ngày nay, nhịp điệu cao hơn ấy đã tương xứng với ảo cảm mang nhịp điệu thấp hơn, và do đó toàn thế giới đang suy nghĩ về con đường thoát khỏi bế tắc vật chất hiện tại. Những linh hồn đứng trong ánh sáng trên đỉnh núi giải thoát, cùng những linh hồn đang tiến lên ra khỏi sương mù của tính vật chất, giờ đã đủ đông để thực hiện một công việc rõ rệt liên quan đến việc làm tiêu tan ảo cảm này. Ảnh hưởng từ tư tưởng, lời nói và đời sống của họ có thể và sẽ đem lại sự điều chỉnh lại các giá trị, cùng một chuẩn mực sống mới cho nhân loại, dựa trên tầm nhìn sáng rõ, một Ý thức về tỉ lệ đúng đắn và sự nhận biết bản chất chân thực của mối quan hệ hiện hữu giữa linh hồn và hình tướng, giữa tinh thần và vật chất. Điều đáp ứng một nhu cầu thiết yếu và thực sự luôn hiện hữu trong Thiên Cơ. Những gì không cần thiết cho sự biểu đạt đúng đắn của thiên tính và cho một đời sống đầy đủ, phong phú vẫn có thể đạt được và sở hữu, nhưng chỉ bằng cái giá đánh mất những gì chân thực hơn và phủ nhận những gì thiết yếu.

Students, however, need to remember that that which is necessary varies according to the stage of evolution which [75] has been reached by an individual. For some people, for instance, the possession of that which is material may be as great a spiritual experience and as potent a teacher in life expression as the more elevated and less material requirements of the mystic or hermit. We are rated as regards action and point of view by our place upon the ladder of evolution. We are rated really by our point of view and not by our demand upon life. The spiritually minded man and the man who has set his feet upon the Path of Probation and who fails to attempt the expression of that which he believes, will be judged as caustically and pay as high a price as does the pure materialist—the man whose desires centre around substantial effects. Bear this in mind and sit not in the seat of the judge or the scornful.

Tuy nhiên, các đạo sinh cần nhớ rằng những gì cần thiết thay đổi tùy theo giai đoạn tiến hoá mà [75] một cá nhân đã đạt đến. Chẳng hạn, đối với một số người, việc sở hữu những thứ vật chất có thể là một trải nghiệm tinh thần lớn lao và một huấn sư mạnh mẽ trong sự biểu đạt đời sống, không kém những nhu cầu cao hơn và ít mang tính vật chất hơn của nhà thần bí hay người ẩn tu. Hành động và quan điểm của chúng ta được đánh giá theo vị trí của chúng ta trên thang tiến hoá. Thực ra, chúng ta được đánh giá theo quan điểm của mình, chứ không theo những đòi hỏi của mình đối với đời sống. Người có khuynh hướng tinh thần, người đã đặt chân lên Con Đường Dự Bị mà không cố gắng biểu đạt điều mình tin tưởng, sẽ bị phán xét nghiêm khắc và phải trả giá đắt không kém người thuần duy vật—người có dục vọng tập trung vào những kết quả vật chất. Hãy ghi nhớ điều này và đừng ngồi vào chỗ của người phán xét hay kẻ khinh miệt.

Today the glamour of materiality is lessening perceptibly. The peoples of the world are entering the wilderness experience, and will find in the wilderness how little is required for full living, true experience and real happiness. The gluttonous desire for possessions is not regarded as so reputable a desire as formerly, and a desire for riches is not producing the clutching hands as earlier in racial history. Things and possessions are slipping out of the hands which have hitherto tightly held them, and only when men stand with empty hands and a realised new standard of values do they again acquire the right to own and to possess. When desire is absent and the man seeks nothing for the separated self, the responsibility of material wealth can again be handed back to man, but his point of view will then be free from that particular glamour, and the fogs of astral desire will be lessened. Illusion in many forms may still hold sway but the glamour of materiality will be gone. It is the first destined to disappear. Students would do well to remember that all forms of possessions and all material objects, whether it is money, or a house, a picture or an automobile, [76] have an intrinsic life of their own, an emanation of their own, and an activity which is essentially that of their own inherent atomic structures (for an atom is a unit of active energy). This produces counterparts in the world of etheric and astral life, though not in the mental world. These subtler forms and distinctive emanations swell the potency of the world desire; they contribute to the world glamour and form part of a great and powerful miasmic world, which is on the involutionary arc but in which humanity, upon the upward arc, is nevertheless immersed. Therefore the Guides of the Race have felt the necessity of standing by whilst the forces set up by man himself proceed to strip him and thus release him to walk in the wilderness. There, in what is called straightened circumstances, he can readjust his life and change his way of living, thus discovering that freedom from material things carries with it its own beauty and reward, its own joy and glory. Thus he is liberated to live the life of the mind.

Ngày nay, ảo cảm của tính vật chất đang giảm đi rõ rệt. Các dân tộc trên thế giới đang bước vào trải nghiệm nơi hoang mạc, và ở đó sẽ nhận ra rằng cần rất ít để sống trọn vẹn, có trải nghiệm chân thực và hạnh phúc thực sự. Dục vọng tham lam muốn sở hữu không còn được xem là đáng trọng như trước, và lòng ham muốn giàu có không còn khiến những bàn tay nắm chặt như trong các thời kỳ trước của lịch sử nhân loại. Đồ vật và tài sản đang tuột khỏi những bàn tay từ trước đến nay vẫn nắm giữ chúng thật chặt; chỉ khi con người đứng với đôi tay trống không và nhận biết một chuẩn mực giá trị mới, họ mới lại có được quyền sở hữu và nắm giữ. Khi không còn dục vọng và con người không tìm kiếm gì cho cái ngã riêng biệt, trách nhiệm đối với của cải vật chất có thể lại được trao cho con người, nhưng khi ấy quan điểm của y sẽ thoát khỏi ảo cảm đặc thù này, và sương mù của dục vọng cảm dục sẽ giảm bớt. Ảo tưởng dưới nhiều hình thức vẫn có thể chi phối, nhưng ảo cảm của tính vật chất sẽ không còn. Nó là ảo cảm được định sẽ biến mất đầu tiên. Các đạo sinh nên nhớ rằng mọi hình thức sở hữu và mọi vật thể vật chất, dù là tiền bạc, một ngôi nhà, một bức tranh hay một chiếc ô tô, [76] đều có đời sống nội tại riêng, sự phát xạ riêng và một hoạt động mà về cơ bản là hoạt động của các cấu trúc nguyên tử vốn có trong chúng (vì một nguyên tử là một đơn vị năng lượng hoạt động). Điều này tạo ra các đối phần trong thế giới đời sống dĩ thái và cảm dục, dù không có trong thế giới trí tuệ. Những hình tướng tinh tế hơn và những phát xạ đặc trưng này làm gia tăng sức mạnh của dục vọng thế giới; chúng góp phần vào ảo cảm thế giới và tạo thành một phần của một thế giới khí độc rộng lớn, mạnh mẽ, nằm trên cung giáng hạ tiến hoá, nhưng nhân loại, trên cung đi lên, vẫn chìm ngập trong đó. Vì vậy, các Đấng Hướng Dẫn Nhân Loại đã thấy cần phải đứng ngoài trong khi những mãnh lực do chính con người tạo ra tiếp tục tước bỏ mọi thứ của y, qua đó giải thoát y để bước đi trong hoang mạc. Ở đó, trong những gì được gọi là hoàn cảnh túng thiếu, y có thể điều chỉnh lại đời sống và thay đổi cách sống, từ đó khám phá rằng sự tự do khỏi những thứ vật chất mang theo vẻ đẹp và phần thưởng riêng, sự hoan hỉ và vinh quang riêng. Như vậy, y được giải thoát để sống đời sống trí tuệ.

The glamour of sentiment holds the good people of the world in thrall, and in a dense fog of emotional reactions. The race has reached a point wherein the men of good intention, of some real understanding and owning a measure of freedom from the love of gold (symbolic way of speaking of the glamour of materiality) are turning their desire to their duty, their responsibilities, their effects upon others, and to their sentimental understanding of the nature of love. Love, for many people, for the majority indeed, is not really love but a mixture of the desire to love and the desire to be loved, plus a willingness to do anything to show and evoke this sentiment, and consequently to be more comfortable in one’s own interior life. The selfishness of the people who are desirous of being unselfish is great. So many contributing sentiments gather around the sentiment or desire to show those amiable and pleasant characteristics which will evoke a corresponding reciprocation towards the would-be lover [77] or server who is still completely surrounded by the glamour of sentiment.

Ảo cảm của tình cảm nô dịch những người tốt trên thế giới, giữ họ trong một màn sương mù đậm đặc của những phản ứng cảm xúc. Nhân loại đã đạt đến một điểm mà những người có thiện ý, có phần nào sự thấu hiểu chân thực và phần nào tự do khỏi lòng yêu vàng bạc (một cách nói biểu tượng về ảo cảm của tính vật chất), đang hướng dục vọng của mình vào bổn phận, trách nhiệm, những tác động của mình lên người khác và cách thấu hiểu nặng về tình cảm của mình đối với bản chất của tình thương. Đối với nhiều người, thật ra là đa số, tình thương không thực sự là tình thương, mà là sự pha trộn giữa mong muốn yêu thương và mong muốn được yêu thương, cộng với sự sẵn lòng làm bất cứ điều gì để biểu lộ và gợi lên tình cảm này, rồi nhờ đó thấy dễ chịu hơn trong đời sống nội tâm của chính mình. Sự ích kỷ của những người mong muốn trở nên không ích kỷ thật lớn lao. Biết bao tình cảm góp phần quy tụ quanh tình cảm hay mong muốn biểu lộ những đặc điểm dễ mến và dễ chịu, nhằm gợi lên sự đáp lại tương ứng đối với người muốn trở thành người yêu thương [77] hay người phụng sự, nhưng vẫn còn hoàn toàn bị ảo cảm của tình cảm bao quanh.

It is this pseudo-love, based primarily on a theory of love and service, which characterises so many human relationships such as those existing, for instance, between husband and wife, parents and their children. Glamoured by their sentiment for them and knowing little of the love of the soul which is free itself and leaves others free also, they wander in a dense fog, often dragging with them the ones they desire to serve in order to draw forth a responsive affection. Study the word “affection,” my brother, and see its true meaning. Affection is not love. It is that desire which we express through an exertion of the astral body and this activity affects our contacts; it is not the spontaneous desirelessness of the soul which asks nothing for the separated self. This glamour of sentiment imprisons and bewilders all the nice people in the world, imposing upon them obligations which do not exist, and producing a glamour which must eventually be dissipated by the pouring in of true and selfless love.

Chính thứ tình thương giả tạo này, chủ yếu dựa trên một lý thuyết về tình thương và phụng sự, là đặc trưng của rất nhiều mối quan hệ giữa người với người, chẳng hạn như giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Bị tình cảm dành cho những người ấy làm cho chìm trong ảo cảm, và biết rất ít về tình thương của linh hồn vốn tự do và cũng để người khác được tự do, họ lang thang trong một màn sương dày đặc, thường kéo theo những người mà họ muốn phụng sự nhằm khơi dậy tình cảm quyến luyến đáp lại. Huynh đệ của tôi, hãy nghiên cứu từ “quyến luyến” và nhận ra ý nghĩa thực sự của nó. Quyến luyến không phải là tình thương. Đó là dục vọng mà chúng ta biểu lộ bằng cách vận dụng thể cảm dục, và hoạt động này tác động đến những người chúng ta tiếp xúc; đó không phải là trạng thái tự nhiên không có dục vọng của linh hồn, vốn không đòi hỏi điều gì cho bản ngã biệt lập. Ảo cảm tình cảm này giam hãm và làm hoang mang tất cả những người tử tế trên thế giới, đặt lên họ những nghĩa vụ không hề tồn tại, và tạo ra một ảo cảm mà cuối cùng dòng tình thương chân thực và vô vị kỷ tuôn vào phải làm tiêu tan.

I am but touching with brevity upon these glamours for each of you can elaborate them for yourselves, and in so doing will discover where you stand in the world of fog and glamour. Thus, with knowledge, you can begin to free yourselves from the glamour of the world.

Tôi chỉ đề cập ngắn gọn đến những ảo cảm này, vì mỗi người trong các bạn đều có thể tự triển khai chúng, và khi làm như vậy, các bạn sẽ khám phá mình đang đứng ở đâu trong thế giới sương mù và ảo cảm. Nhờ đó, với sự hiểu biết, các bạn có thể bắt đầu tự giải thoát khỏi ảo cảm của thế giới.

The glamour of devotion causes many probationary disciples to wander circuitously around in the world of desire. This is primarily a glamour which affects sixth ray persons and is particularly potent at this time owing to the age-long activity of the sixth Ray of Devotion during the rapidly passing Piscean Age. It is today one of the potent glamours of the really devoted aspirant. They are devoted to a cause, to a teacher, to a creed, to a person, to a duty, or to a responsibility. Ponder on this. This harmless desire along some line of idealism which confronts them becomes definitely [78] harmful both to themselves and to others, because through this glamour of devotion they swing into the rhythm of the world glamour which is essentially the fog of desire. Potent desire along any line, when it obliterates the wider vision and shuts a man within a tiny circle of his own desire to satisfy his sentiment of devotion, is just as hampering as any of the other glamours, and is even more dangerous because of the beautiful colouring which the resultant fog takes on. A man gets lost in a rapturous mist of his own making, which emanates from his astral body and which is composed of the sentimentalising of his own nature about his own desire and devotion to the object of his attracted attention.

Ảo cảm Sùng tín khiến nhiều đệ tử dự bị lang thang vòng vèo trong thế giới dục vọng. Đây chủ yếu là một ảo cảm tác động đến những người thuộc cung sáu, và hiện nay nó đặc biệt mạnh do hoạt động kéo dài suốt nhiều thời đại của cung sáu Sùng tín trong Thời đại Song Ngư đang nhanh chóng qua đi. Ngày nay, đây là một trong những ảo cảm mạnh mẽ của người chí nguyện thực sự sùng tín. Họ tận hiến cho một sự nghiệp, một huấn sư, một tín điều, một người, một bổn phận, hoặc một trách nhiệm. Hãy suy ngẫm về điều này. Dục vọng vô tổn hại này, hướng theo một đường lối lý tưởng nào đó đang hiện ra trước họ, lại trở nên rõ ràng [78] có hại cho cả bản thân họ lẫn người khác, vì qua Ảo cảm Sùng tín này, họ bị cuốn vào nhịp điệu của ảo cảm thế giới, vốn về bản chất là màn sương dục vọng. Dục vọng mạnh mẽ theo bất kỳ đường hướng nào, khi nó che lấp tầm nhìn rộng lớn hơn và giam một người trong vòng tròn nhỏ hẹp của chính dục vọng muốn thỏa mãn tình cảm sùng tín của mình, cũng gây cản trở như mọi ảo cảm khác, và thậm chí còn nguy hiểm hơn vì sắc màu đẹp đẽ mà màn sương phát sinh từ đó khoác lên. Một người lạc lối trong màn sương ngây ngất do chính mình tạo ra, phát xuất từ thể cảm dục của y và hình thành từ việc y phủ đầy tình cảm lên bản chất của mình, xoay quanh dục vọng và lòng sùng tín của chính y đối với đối tượng thu hút sự chú ý của y.

With all true aspirants, owing to the increased potency of their vibrations, this devotional sentiment can be particularly difficult and bring about a lengthy imprisonment. One illustration of this is the sentiment of devotion poured out in a glamorous ecstasy by probationary disciples upon the Masters of the Wisdom. Around the names of the Members of the Hierarchy and around Their work, and the work of the initiates and the disciplined disciples (mark that phrase) a rich glamour is created which prevents Them ever reaching the disciple or his reaching Them. It is not possible to penetrate the dense glamour of devotion, vibrating with dynamic ecstatic life, which emanates from the concentrated energy of the disciple, working still through the solar plexus centre.

Với mọi người chí nguyện chân chính, do rung động của họ ngày càng mạnh, tình cảm sùng tín này có thể đặc biệt khó khắc phục và dẫn đến sự giam hãm kéo dài. Một minh họa cho điều này là tình cảm sùng tín mà các đệ tử dự bị tuôn đổ lên các Chân sư Minh Triết trong trạng thái ngây ngất đầy ảo cảm. Quanh danh hiệu của các Thành viên Thánh đoàn và quanh công việc của Các Ngài, cùng công việc của các điểm đạo đồ và các đệ tử đã được rèn luyện kỷ luật (hãy lưu ý cụm từ đó), một lớp ảo cảm dày đặc hình thành, ngăn Các Ngài đến với người đệ tử hoặc ngăn y đến với Các Ngài. Không thể xuyên qua lớp Ảo cảm Sùng tín dày đặc, rung động với sức sống ngây ngất mãnh liệt, phát xuất từ năng lượng tập trung của người đệ tử vẫn còn hoạt động qua trung tâm tùng thái dương.

For this glamour there are some age-old rules: Contact the greater Self through the medium of the higher Self and thus lose sight of the little self, its reactions, its desires, and intentions. Or: The pure love of the soul which is not personalised in any way and which seeks no recognition can then pour into the world of glamour which surrounds the [79] devotee, and the mists of his devotion (upon which he prides himself) will melt away.

Đối với ảo cảm này, có một số quy luật từ xa xưa: Hãy tiếp xúc với Bản Ngã vĩ đại qua trung gian của chân ngã, và nhờ đó không còn chú tâm đến bản ngã nhỏ bé, những phản ứng, dục vọng và ý định của nó. Hoặc: Khi ấy, tình thương thuần khiết của linh hồn, không bị cá nhân hóa dưới bất kỳ hình thức nào và không tìm kiếm sự công nhận, có thể tuôn vào thế giới ảo cảm bao quanh [79] người sùng tín, và những màn sương của lòng sùng tín nơi y (điều mà y lấy làm tự hào) sẽ tan biến.

Upon the Probationary Path there comes the swing, consciously registered, between the pairs of opposites until the middle way is sighted and emerges. This activity produces the glamour of the pairs of opposites, which is of a dense and foggy nature, sometimes coloured with joy and bliss and sometimes coloured with gloom and depression as the disciple swings back and forth between the dualities. This condition persists just as long as the emphasis is laid upon feeling—which feeling will run the gamut between a potent joyfulness as the man seeks to identify himself with the object of his devotion or aspiration, or fails to do so and therefore succumbs to the blackest despair and sense of failure. All this is, however, astral in nature and sensuous in quality and is not of the soul at all. Aspirants remain for many years and sometimes for many lives imprisoned by this glamour. Release from the world of feeling and the polarising of the disciple in the world of the illumined mind will dissipate this glamour which is part of the great heresy of separateness. The moment a man differentiates his life into triplicities (as he inevitably must as he deals with the pairs of opposites and identifies himself with one of them) he succumbs to the glamour of separation. Perhaps this point of view may aid or perhaps it will remain a mystery, for the secret of world glamour lies hid in the thought that this triple differentiation veils the secret of creation. God Himself produced the pairs of opposites—spirit and matter—and also produced the middle way which is that of the consciousness aspect or the soul aspect. Ponder deeply on this thought.

Trên Con Đường Dự Bị, sự dao động giữa các cặp đối cực xuất hiện và được ghi nhận một cách có ý thức, cho đến khi trung đạo được nhìn thấy và hiện ra. Hoạt động này tạo ra ảo cảm của các cặp đối cực, vốn có bản chất dày đặc và mờ mịt, đôi khi nhuốm màu hoan hỉ và chí phúc, đôi khi nhuốm màu u ám và trầm uất khi người đệ tử dao động qua lại giữa các mặt nhị nguyên. Tình trạng này còn kéo dài chừng nào người ta vẫn đặt trọng tâm vào cảm xúc—thứ cảm xúc trải suốt một dải từ niềm hoan hỉ mạnh mẽ khi một người tìm cách đồng hóa với đối tượng sùng tín hoặc khát vọng của mình, cho đến nỗi tuyệt vọng tăm tối nhất và cảm giác thất bại khi y không làm được điều đó và vì thế suy sụp. Tuy nhiên, tất cả những điều này đều mang bản chất cảm dục, có phẩm tính thuộc cảm giác, và hoàn toàn không thuộc về linh hồn. Người chí nguyện bị ảo cảm này giam hãm trong nhiều năm, đôi khi trong nhiều kiếp sống. Việc giải thoát khỏi thế giới cảm xúc và sự phân cực của người đệ tử trong thế giới của thể trí được soi sáng sẽ làm tiêu tan ảo cảm này, vốn là một phần của Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Ngay khi một người phân chia đời sống của mình thành các bộ ba (như y tất yếu phải làm khi đề cập đến các cặp đối cực và đồng hóa với một trong hai cực), y sa vào ảo cảm chia rẽ. Có lẽ quan điểm này có thể giúp ích, hoặc có lẽ nó vẫn sẽ là một điều bí ẩn, vì bí mật của ảo cảm thế giới ẩn trong tư tưởng rằng sự biến phân tam phân này che phủ bí mật của sự sáng tạo. Chính Thượng đế đã tạo ra cặp đối cực—tinh thần và vật chất—và cũng tạo ra trung đạo, tức con đường của phương diện tâm thức hay phương diện linh hồn. Hãy suy ngẫm sâu sắc về tư tưởng này.

The triplicity of the pairs of opposites and of the narrow way of balance between them, the noble middle path, is the reflection on the astral plane of the activity of spirit, soul [80] and body; of life, consciousness and form, the three aspects of divinity—all of them equally divine.

Bộ ba gồm cặp đối cực và con đường cân bằng hẹp giữa chúng, trung đạo cao quý, là sự phản chiếu trên cõi cảm dục của hoạt động của tinh thần, linh hồn [80] và thân thể; của sự sống, tâm thức và hình tướng, ba phương diện của thiên tính—tất cả đều thiêng liêng như nhau.

As the aspirant learns to free himself from the glamours upon which we have touched, he discovers another world of fog and mist through which the Path seems to run and through which he must penetrate and thus free himself from the glamours of the Path. What are these glamours, my brothers? Study the three temptations of Jesus, if you would know clearly what they are. Study the effect that the affirmation schools which emphasise divinity (materially employed) have upon the thought of the world; study the failures of disciples through pride, the world saviour complex, the service complex, and all the various distortions of reality which a man encounters upon the Path, which hinder his progress and which spoils the service to others which he should be rendering. Emphasise in your own minds the spontaneity of the life of the soul and spoil it not with the glamour of high aspiration selfishly interpreted, self-centredness, self-immolation, self-aggressiveness, self-assertiveness in spiritual work—such are some of the glamours of the Path.

Khi người chí nguyện học cách tự giải thoát khỏi những ảo cảm mà chúng ta đã đề cập, y khám phá một thế giới sương mù khác mà Đường Đạo dường như đi xuyên qua; y phải xuyên qua thế giới ấy và nhờ đó tự giải thoát khỏi những ảo cảm của Đường Đạo. Các huynh đệ của Tôi, những ảo cảm này là gì? Hãy nghiên cứu ba cám dỗ của Đức Jesus nếu các bạn muốn biết rõ chúng là gì. Hãy nghiên cứu ảnh hưởng mà các trường phái khẳng định nhấn mạnh thiên tính (được vận dụng vào mục đích vật chất) gây ra đối với tư tưởng của thế giới; hãy nghiên cứu những thất bại của đệ tử do kiêu hãnh, phức cảm cứu tinh thế giới, phức cảm phụng sự, và mọi sự xuyên tạc thực tại khác nhau mà một người gặp trên Đường Đạo, vốn cản trở sự tiến bộ của y và làm hỏng việc phụng sự người khác mà y lẽ ra phải thực hiện. Hãy nhấn mạnh trong thể trí của các bạn tính tự nhiên của đời sống linh hồn, và đừng làm hỏng nó bằng ảo cảm của khát vọng cao cả được diễn giải theo lối ích kỷ, sự tập trung vào bản thân, sự tự hiến sinh, sự hung hăng của bản thân, sự tự khẳng định trong công việc tinh thần—đó là một số ảo cảm của Đường Đạo.

Next, we will consider glamour on the etheric plane and the theme of the Dweller upon the Threshold, and thus complete the brief outline of our problem which the first part of this teaching was intended to convey.

Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét ảo cảm trên cõi dĩ thái và chủ đề Kẻ Chận Ngõ, qua đó hoàn tất phần phác thảo ngắn gọn về vấn đề của chúng ta mà phần đầu của giáo huấn này nhằm truyền đạt.

Before taking up this subject in some detail, I would like to add something to our previous consideration of the problem of glamour. In your last instruction, I elaborated somewhat upon the subject of the various types of glamour and left with you the concept of their great importance in your individual lives. The battlefield (for the man who is nearing accepted discipleship or who is upon the path of discipleship, in the academic sense) is primarily that of [81] glamour. That is the major problem and its solution is imminent and urgent for all disciples and senior aspirants. It will be apparent, therefore, to you why the emphasis has been put, during the Aryan age, upon the necessity for the study of Raja Yoga, and the cultivation of submission to its discipline. Only through Raja Yoga can a man stand steady in the light, and only through illumination and the achievement of clear vision can the fogs and miasmas of glamour be finally dissipated. Only as the disciple learns to hold his mind “steady in the light,” and as the rays of pure light stream forth from the soul, can the glamour be discovered, discerned, recognised for what it essentially is and thus be made to disappear, as the mists of earth dissolve in the rays of the rising sun. Therefore I would counsel you to pay more adequate attention to your meditation, cultivating ever the ability to reflect and to assume the attitude of reflection—held steady throughout the day.

Trước khi xem xét chủ đề này một cách tương đối chi tiết, Tôi muốn bổ sung đôi điều vào phần xem xét trước đây của chúng ta về vấn đề ảo cảm. Trong huấn thị trước dành cho các bạn, Tôi đã triển khai phần nào chủ đề về các loại ảo cảm khác nhau và để lại cho các bạn quan niệm về tầm quan trọng lớn lao của chúng trong đời sống cá nhân. Chiến trường (đối với người đang tiến gần đến địa vị đệ tử được chấp nhận hoặc đang ở trên Con Đường Đệ Tử, theo nghĩa học thuật) chủ yếu là chiến trường [81] ảo cảm. Đó là vấn đề chính, và việc giải quyết nó đã cận kề và cấp bách đối với mọi đệ tử và người chí nguyện tiến xa. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ tại sao trong thời đại Arya người ta đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu Du Già Vương Giả và vun bồi sự tuân phục kỷ luật của pháp môn này. Chỉ qua Du Già Vương Giả, một người mới có thể đứng vững trong ánh sáng, và chỉ qua sự soi sáng cùng việc đạt được tầm nhìn rõ ràng, những màn sương và chướng khí của ảo cảm mới có thể cuối cùng tiêu tan. Chỉ khi người đệ tử học cách giữ thể trí của mình “vững vàng trong ánh sáng”, và khi những tia sáng thuần khiết tuôn ra từ linh hồn, ảo cảm mới có thể được khám phá, phân biện, nhận biết đúng bản chất của nó và nhờ đó biến mất, như những màn sương trên mặt đất tan trong những tia nắng của mặt trời đang lên. Vì vậy, Tôi khuyên các bạn hãy chú tâm đầy đủ hơn đến việc tham thiền, luôn vun bồi khả năng suy ngẫm và duy trì thái độ suy ngẫm—giữ vững thái độ ấy suốt ngày.

You would find it of real value to ponder deeply upon the purposes for which the intuition must be cultivated and the illumined mind developed, asking yourselves if those purposes are identical in objective and synchronous in time. You would then discover that their objectives differ, and the effects of their pronounced unfoldment upon the personality life are likewise different. Glamour is not dispelled through the means of the intuition nor is illusion overcome by the use of the illumined mind.

Các bạn sẽ thấy việc suy ngẫm sâu sắc về những mục đích mà vì đó trực giác phải được vun bồi và thể trí được soi sáng phải được phát triển thực sự có giá trị, đồng thời tự hỏi liệu những mục đích ấy có cùng mục tiêu và đồng thời về thời gian hay không. Khi ấy, các bạn sẽ khám phá rằng mục tiêu của chúng khác nhau, và những ảnh hưởng mà sự khai mở rõ rệt của chúng gây ra đối với đời sống phàm ngã cũng khác nhau. Ảo cảm không bị xua tan nhờ trực giác, và ảo tưởng cũng không được khắc phục bằng việc sử dụng thể trí được soi sáng.

The intuition is a higher power than is the mind, and is a faculty latent in the Spiritual Triad; it is the power of pure reason, an expression of the buddhic principle, and lies beyond the world of the ego and of form. Only when a man is an initiate can the exercise of the true intuition become normally possible. By that I mean that the intuition will then be as easily operative as is the mind principle in the case of an actively intelligent person. The intuition, however, will [82] make its presence felt much earlier in extremity or on urgent demand.

Trực giác là một quyền năng cao hơn thể trí, và là một năng lực tiềm tàng trong Tam Nguyên Tinh Thần; đó là quyền năng của lý trí thuần khiết, một biểu hiện của nguyên khí Bồ đề, và nằm ngoài thế giới của chân ngã và hình tướng. Chỉ khi một người là điểm đạo đồ, việc vận dụng trực giác chân thực mới có thể trở thành khả năng bình thường. Qua đó, Tôi muốn nói rằng khi ấy trực giác sẽ hoạt động dễ dàng như nguyên khí trí tuệ nơi một người có trí thông minh hoạt động tích cực. Tuy nhiên, trực giác sẽ [82] biểu lộ sự hiện diện của nó sớm hơn nhiều trong hoàn cảnh cùng cực hoặc khi có nhu cầu cấp bách.

It is illumination that the majority of aspirants, such as are found in this group, must seek; and they must cultivate the power to use the mind as a reflector of soul light, turning it upon the levels of glamour, and therefore dissipating it. The difficulty, my brothers, is to do so when in the midst of the agonies and deceptions of glamour. It requires a quiet withdrawing in mind and thought and desire from the world in which the personality habitually works, and the centering of the consciousness in the world of the soul, there silently and patiently to await developments, knowing that the light will shine forth, and illumination eventually take place.

Chính sự soi sáng là điều mà đa số người chí nguyện, như những người trong nhóm này, phải tìm kiếm; và họ phải vun bồi quyền năng sử dụng thể trí như một tấm gương phản chiếu ánh sáng linh hồn, hướng ánh sáng ấy vào các cấp độ ảo cảm, và nhờ đó làm tiêu tan ảo cảm. Các huynh đệ của Tôi, khó khăn là làm được điều này khi đang ở giữa những nỗi đau đớn và sự lừa dối của ảo cảm. Điều đó đòi hỏi phải lặng lẽ rút thể trí, tư tưởng và dục vọng ra khỏi thế giới nơi phàm ngã thường hoạt động, và tập trung tâm thức vào thế giới linh hồn, ở đó âm thầm và kiên nhẫn chờ đợi những diễn biến, biết rằng ánh sáng sẽ tỏa chiếu và sự soi sáng cuối cùng sẽ diễn ra.

A deep distrust of one’s reactions to life and circumstance, when such reactions awaken and call forth criticism, separativeness or pride, is of value. The qualities enumerated above are definitely breeders of glamour. They are occultly “the glamorous characteristics.” Ponder on this. If a man can free himself from these three characteristics, he is well on the way to the relinquishing and the dissipation of all glamour. I am choosing my words with care in an effort to arrest your attention.

Một thái độ hoài nghi sâu sắc đối với những phản ứng của mình trước cuộc sống và hoàn cảnh, khi những phản ứng ấy khơi dậy và làm nảy sinh sự chỉ trích, tính chia rẽ hoặc lòng kiêu hãnh, là điều có giá trị. Những phẩm tính vừa liệt kê chắc chắn là nguồn sinh ra ảo cảm. Theo nghĩa huyền bí, chúng là “những đặc tính gây ảo cảm”. Hãy suy ngẫm về điều này. Nếu một người có thể tự giải thoát khỏi ba đặc tính ấy, y đã tiến khá xa trên con đường buông bỏ và làm tiêu tan mọi ảo cảm. Tôi đang lựa chọn từ ngữ cẩn thận nhằm thu hút sự chú ý của các bạn.

Illusion is dispelled, rejected, and thrust away through the conscious use of the intuition. The initiate insulates himself from the world of illusion and of illusory forms and from the attractive urges of a personality nature and thereby—through the medium of isolation—comes into touch with the reality in all forms, hidden hitherto by the veil of illusion. This is one of the paradoxes of the Path. Insulation and isolation of the right kind lead to the right relationships and the correct contacts with the real. They produce eventual identification with reality, through insulation of oneself against the unreal. It is this idea which lies [83] behind the teaching given in the last book in the Yoga Sutras of Patanjali. These have often been misinterpreted and their meaning twisted into a plea for the wrong kind of isolation by those with separative tendencies and for selfish ends.

Ảo tưởng bị xua tan, loại bỏ và đẩy lùi qua việc sử dụng trực giác một cách có ý thức. Điểm đạo đồ tự cách ly khỏi thế giới ảo tưởng và những hình tướng hư ảo, cũng như khỏi những thôi thúc đầy hấp lực của bản chất phàm ngã, và nhờ đó—qua sự biệt lập—tiếp xúc với thực tại trong mọi hình tướng, vốn cho đến lúc ấy vẫn bị bức màn ảo tưởng che giấu. Đây là một trong những nghịch lý của Đường Đạo. Sự cách ly và biệt lập đúng đắn dẫn đến những mối quan hệ đúng đắn và những tiếp xúc đúng đắn với cái thực. Chúng cuối cùng tạo ra sự đồng hóa với thực tại, thông qua việc tự cách ly khỏi cái không thực. Chính ý tưởng này nằm [83] sau giáo huấn trong quyển cuối của Kinh Du Già của Patanjali. Những giáo huấn này thường bị những người có khuynh hướng chia rẽ diễn giải sai, và ý nghĩa của chúng bị bóp méo thành lời biện hộ cho kiểu biệt lập sai lầm và cho những mục đích ích kỷ.

It is the soul itself which dispels illusion, through the use of the faculty of the intuition. It is the illumined mind which dissipates glamour.

Chính linh hồn xua tan ảo tưởng bằng việc sử dụng năng lực trực giác. Chính thể trí được soi sáng làm tiêu tan ảo cảm.

I would like here to point out that many well-meaning aspirants fail at this point, due to two errors.

Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng nhiều người chí nguyện có thiện ý thất bại tại điểm này do hai sai lầm.

1. They omit to discriminate between illusion and glamour.

1. Họ không phân biện giữa ảo tưởng và ảo cảm.

2. They endeavour to dispel glamour through what they believe to be right method,—by calling in the soul, whereas they really need to use the mind correctly.

2. Họ cố gắng xua tan ảo cảm bằng điều mà họ cho là phương pháp đúng,—bằng cách triệu thỉnh linh hồn, trong khi điều họ thực sự cần là sử dụng thể trí đúng cách.

When one is in the midst of fogs and glamours, however, it is much easier to sit down and hypnotise oneself into the belief that one is “calling in the soul” than it is to subject one’s astral and emotional nature to the effect of hard straight thinking, using the mind as the instrument whereby glamour can be dispelled. Strange as it may seem, the “calling in of the soul” to deal directly with glamour may (and frequently does) lead to an intensification of the difficulty. The mind is the means whereby light can be brought to bear on all conditions of glamour, and students would do well to bear this thought constantly in their consciousness. The process is one of linking up the mind with the soul and then focussing oneself consciously and with precision in the mind nature or in the mental body, and not in the soul nature or the egoic form. Then, through analysis, discrimination and right thought one proceeds to deal with the problem of glamour. The trouble is that disciples often do not recognise [84] the condition as one of glamour and it is difficult to give a clear and infallible rule whereby that recognition can come. It might be stated, however, that glamour can always be found where there exists:

Tuy nhiên, khi đang ở giữa những màn sương và ảo cảm, ngồi xuống và tự thôi miên để tin rằng mình đang “triệu thỉnh linh hồn” dễ hơn nhiều so với việc đặt bản chất cảm dục và cảm xúc của mình dưới tác động của tư duy nghiêm túc, thẳng thắn, sử dụng thể trí làm công cụ để xua tan ảo cảm. Dù có vẻ kỳ lạ, việc “triệu thỉnh linh hồn” để trực tiếp xử lý ảo cảm có thể (và thường thực sự) làm khó khăn gia tăng. Thể trí là phương tiện để đưa ánh sáng tác động lên mọi tình trạng ảo cảm, và các đạo sinh nên luôn giữ tư tưởng này trong tâm thức. Tiến trình ấy là nối kết thể trí với linh hồn, rồi tập trung bản thân một cách có ý thức và chính xác vào bản chất trí tuệ hay vào thể trí, chứ không phải vào bản chất linh hồn hay hình tướng chân ngã. Sau đó, qua phân tích, phân biện và tư tưởng đúng đắn, người ta tiến hành xử lý vấn đề ảo cảm. Khó khăn là các đệ tử thường không nhận biết [84] tình trạng ấy là một tình trạng ảo cảm, và khó đưa ra một quy luật rõ ràng, không thể sai lầm, để đạt được sự nhận biết đó. Tuy nhiên, có thể nói rằng luôn có thể tìm thấy ảo cảm ở nơi hiện hữu:

1. Criticism, when careful analysis would show that no criticism is really warranted.

1. Sự chỉ trích, khi việc phân tích cẩn thận sẽ cho thấy thực sự không có lý do chính đáng nào để chỉ trích.

2. Criticism, where there is no personal responsibility involved. By that I mean, where it is not the place or the duty of the man to criticise.

2. Sự chỉ trích, khi không có trách nhiệm cá nhân nào liên quan. Qua đó, Tôi muốn nói đến những trường hợp mà việc chỉ trích không thuộc vị trí hay bổn phận của người ấy.

3. Pride in achievement or satisfaction that one is a disciple.

3. Lòng kiêu hãnh về thành tựu hoặc sự tự mãn vì mình là một đệ tử.

4. Any sense of superiority or separative tendency.

4. Bất kỳ cảm giác hơn người hay khuynh hướng chia rẽ nào.

Many other clues to a right recognition of glamour might be given, but if all of you would pay close attention to the above four suggestions, you would release your lives most perceptibly from the influence of glamour and be of greater service consequently to your fellowmen. I have endeavoured to give you here some practical assistance in this difficult battle between the pairs of opposites, which is the major cause of glamour.

Có thể đưa ra nhiều dấu hiệu khác để nhận biết đúng ảo cảm, nhưng nếu tất cả các bạn chú tâm kỹ đến bốn gợi ý trên, các bạn sẽ giải thoát đời sống mình khỏi ảnh hưởng của ảo cảm một cách rất rõ rệt, và nhờ đó phụng sự đồng loại nhiều hơn. Ở đây, Tôi đã cố gắng mang đến cho các bạn một sự trợ giúp thiết thực trong cuộc chiến khó khăn giữa các cặp đối cực, vốn là nguyên nhân chính của ảo cảm.

3. Glamour Upon Etheric Levels… Maya – 3. Ảo cảm trên các cấp độ dĩ thái… Ảo lực

We come now to a consideration of the ways and means whereby maya can be ended and the disciple stand free from the influence of physical plane force. In the above statement the whole story of maya can be found. It might be added also (perhaps not wholly correctly but nevertheless with sufficient truth to warrant the statement) that maya, as a recognised effect, is only experienced when one is upon the Path, beginning with the Path of Probation or Purification. One is always in the midst of forces. But maya (as a problem) [85] only becomes so when recognised, and this recognition is not possible in the early stages of evolution. Upon the Path, one begins to watch for and to discover the effects of force; one finds oneself consciously the victim of force currents; one is swept into activity of some kind by uncontrolled forces, and the world of force becomes a consciously sensed reality to the struggling aspirant. It is for this reason that I have stated that maya is predominantly a difficulty of the etheric body, for in relation to maya we are dealing with the forces pouring through the seven centres of the body (in all or in some), producing reactions and effects that are desirable or disastrous.

Giờ đây, chúng ta xem xét những cách thức và phương tiện để ảo lực có thể chấm dứt và người đệ tử được tự do khỏi ảnh hưởng của mãnh lực cõi hồng trần. Trong phát biểu trên có thể tìm thấy toàn bộ câu chuyện về ảo lực. Cũng có thể bổ sung rằng (có lẽ không hoàn toàn chính xác, nhưng vẫn đủ đúng để đưa ra phát biểu này) ảo lực, xét như một tác động đã được nhận biết, chỉ được trải nghiệm khi một người ở trên Đường Đạo, bắt đầu từ Con Đường Dự Bị hay Thanh Luyện. Người ta luôn ở giữa các mãnh lực. Nhưng ảo lực (xét như một vấn đề) [85] chỉ trở thành vấn đề khi được nhận biết, và sự nhận biết này không thể có ở những giai đoạn đầu của tiến hóa. Trên Đường Đạo, người ta bắt đầu quan sát và khám phá những tác động của mãnh lực; người ta ý thức rằng mình là nạn nhân của những dòng mãnh lực; những mãnh lực không được kiểm soát cuốn người ta vào một loại hoạt động nào đó, và thế giới mãnh lực trở thành một thực tại mà người chí nguyện đang phấn đấu cảm nhận một cách có ý thức. Vì lý do này, Tôi đã nói rằng ảo lực chủ yếu là một khó khăn của thể dĩ thái, vì khi đề cập đến ảo lực, chúng ta đang xử lý những mãnh lực tuôn qua bảy trung tâm của thể này (qua tất cả hoặc qua một số trung tâm), tạo ra những phản ứng và tác động đáng mong muốn hoặc tai hại.

It is naturally necessary to realise that all manifestation on all levels is an expression of force, but the forces to which I refer here under the term maya are those uncontrolled energies, those undirected impulses which emanate from the world of prana and from the latent force of matter itself. These sweep a man into wrong activity and surround him with a whirlpool of effects and of conditions in which he is entirely helpless. He is the victim of mass force, hidden in the animal nature or in the world and the environing circumstances in which he finds himself. When to the power of maya is added the condition of glamour and also the illusions of the advanced disciple, it will be seen how necessary it is that there should be quiet differentiation between the three types of deception. It should he remembered that when we use the term “deception,” we mean deception from the angle of the soul. The aspirant has to learn to stand free from illusion, glamour, and maya, and to do this he must understand the means to freedom which are: Intuition, Illumination and Inspiration.

Dĩ nhiên, cần nhận ra rằng mọi sự biểu hiện trên mọi cấp độ đều là biểu hiện của mãnh lực, nhưng những mãnh lực mà Tôi nói đến ở đây bằng thuật ngữ ảo lực là những năng lượng không được kiểm soát, những xung lực không được định hướng phát xuất từ thế giới prana và từ mãnh lực tiềm tàng của chính vật chất. Chúng cuốn một người vào hoạt động sai lầm và bao quanh y bằng một xoáy lốc những tác động và hoàn cảnh mà trong đó y hoàn toàn bất lực. Y là nạn nhân của mãnh lực tập thể, ẩn trong bản chất động vật hoặc trong thế giới và những hoàn cảnh bao quanh y. Khi tình trạng ảo cảm cùng những ảo tưởng của người đệ tử tiến xa được cộng thêm vào quyền năng của ảo lực, người ta sẽ thấy việc bình tĩnh phân biệt ba loại lừa dối này cần thiết đến mức nào. Cần nhớ rằng khi dùng thuật ngữ “lừa dối”, chúng ta muốn nói đến sự lừa dối từ góc nhìn của linh hồn. Người chí nguyện phải học cách đứng tự do khỏi ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực; để làm được điều này, y phải thấu hiểu những phương tiện dẫn đến tự do, đó là: Trực giác, Soi sáng và Cảm hứng.

The problem of maya is complicated by the fact that upon the physical plane (as upon the astral plane, though this is as yet little realised) you have the battle of a pair of [86] opposites. These are of a different nature in some respects to those found upon the astral plane. On the physical plane (and by that I mean upon the etheric levels of the physical plane whereon the deceptive power of maya is experienced) there is the meeting of the forces of the subjective world of the personality and the ancient energies of matter itself, brought over as latent seeds from an earlier solar system.

Vấn đề ảo lực trở nên phức tạp bởi trên cõi hồng trần (cũng như trên cõi cảm dục, dù điều này hiện vẫn ít được nhận biết), có cuộc chiến của một cặp [86] đối cực. Về một vài phương diện, chúng có bản chất khác với những đối cực trên cõi cảm dục. Trên cõi hồng trần (và qua đó Tôi muốn nói đến các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, nơi người ta trải nghiệm quyền năng lừa dối của ảo lực), có sự gặp gỡ giữa các mãnh lực của thế giới chủ quan thuộc phàm ngã và những năng lượng cổ xưa của chính vật chất, được mang sang dưới dạng những hạt giống tiềm tàng từ một hệ mặt trời trước đây.

It might perhaps become clearer to your perception if I worded the truth about maya as follows:

Có lẽ các bạn sẽ nhận thức rõ hơn nếu Tôi diễn đạt chân lý về ảo lực như sau:

The latent impulses of the personality life, when divorced from and not under soul control, are blended with the pranic fluids within the periphery of the personality sphere of influence, and then become potent directed streams of force, seeking emergence into physical manifestation through the medium of the seven centres in the physical body. These forces or impulses, plus the prana available, constitute the etheric body of the undeveloped and frequently of the average man. It will be apparent, therefore, how much the undeveloped man is the victim of mass energy of a low kind, for his etheric body is responsive to, and draws its energy from a type of general environing prana, until such time as there is a definite direction and a higher control—either through oriented aspiration and mental discipline, or later as the result of soul conditioning, to use the psychological phrase.

Những xung lực tiềm tàng của đời sống phàm ngã, khi tách rời khỏi linh hồn và không chịu sự kiểm soát của linh hồn, hòa trộn với các lưu chất prana trong phạm vi khối cầu ảnh hưởng của phàm ngã, rồi trở thành những dòng mãnh lực mạnh mẽ có định hướng, tìm cách xuất hiện trong sự biểu hiện hồng trần qua trung gian của bảy trung tâm trong thể xác. Những mãnh lực hay xung lực này, cộng với prana sẵn có, cấu thành thể dĩ thái của người chưa phát triển và thường cả của người bình thường. Vì vậy, sẽ thấy rõ người chưa phát triển là nạn nhân đến mức nào của năng lượng tập thể thuộc loại thấp, vì thể dĩ thái của y đáp ứng và rút năng lượng từ một loại prana chung trong môi trường xung quanh, cho đến khi có một sự định hướng rõ rệt và một sự kiểm soát cao hơn—hoặc qua khát vọng có định hướng và kỷ luật trí tuệ, hoặc về sau như kết quả của ảnh hưởng định hình từ linh hồn, nếu dùng cách diễn đạt của tâm lý học.

This etheric energy, focussed in an individual etheric body, passes through two stages prior to the period of discipleship:

Năng lượng dĩ thái này, tập trung trong một thể dĩ thái cá nhân, trải qua hai giai đoạn trước thời kỳ địa vị đệ tử:

1. The stage wherein it assimilates the second force to which I referred—the force, latent in the dense physical form, the energy of the atomic substance, thus producing a definite fusing and blending. This causes the animal nature to conform entirely to the inner impulses, [87] emanating from the world of prana, where the entirely undeveloped man is concerned, or from the lower astral where the more developed or average man is concerned.

1. Giai đoạn trong đó nó đồng hóa mãnh lực thứ hai mà Tôi đã đề cập—mãnh lực tiềm tàng trong hình tướng hồng trần đậm đặc, năng lượng của chất liệu nguyên tử, nhờ đó tạo ra sự dung hợp và hòa trộn rõ rệt. Điều này khiến bản chất động vật hoàn toàn tuân theo những xung lực bên trong, [87] phát xuất từ thế giới prana đối với người hoàn toàn chưa phát triển, hoặc từ các cấp độ cảm dục thấp đối với người phát triển hơn hay người bình thường.

2. The moment, however, that an inner orientation towards the world of higher values takes place, then the etheric or vital force is brought into conflict with the lowest aspect of man, the dense physical body, and the battle of the lower pairs of opposites takes place.

2. Tuy nhiên, ngay khi có sự định hướng bên trong về phía thế giới của những giá trị cao hơn, mãnh lực dĩ thái hay sinh lực liền xung đột với phương diện thấp nhất của con người, tức thể xác đậm đặc, và cuộc chiến của các cặp đối cực thấp diễn ra.

It is interesting to note that it is during this stage that the emphasis is laid upon physical disciplines, upon such controlling factors as total abstinence, celibacy, and vegetarianism, and upon physical hygiene and physical exercises. Through these, the control of the life of matter, the lowest expression of the third aspect of divinity can be offset, and the man set free for the true battle of the pairs of opposites. This second battle is the true kurukshetra and is fought out in the astral nature, between the pairs of opposites which are distinctive of our solar system, just as the physical pairs of opposites are distinctive of the past solar system. From one interesting angle the battle of the opposites upon the lower spiral, in which the physical body in its two aspects is concerned, can be seen taking place in the animal kingdom. In this process, human beings act as the agents of discipline, and the domesticated animals, which are forced to conform to human control, are wrestling (even if unconsciously from our point of view) with the problem of this lower pair of opposites. Their battle is fought out through the medium of the dense physical body and the etheric forces, and in this way a higher aspiration is brought into expression. This produces in them the experience which we call “individualisation,” wherein the seed of personality is sown. On the human battlefield, the kurukshetra, the higher aspect of the [88] soul begins to dominate, producing the process of divine-human integration which we call “initiation.” Ponder upon this.

Điều đáng chú ý là chính trong giai đoạn này, người ta nhấn mạnh các kỷ luật hồng trần, những yếu tố kiểm soát như kiêng rượu hoàn toàn, sống độc thân và ăn chay, cùng vệ sinh hồng trần và các bài tập hồng trần. Qua những điều này, có thể hóa giải sự kiểm soát của sự sống vật chất, biểu hiện thấp nhất của phương diện thứ ba của thiên tính, và giải phóng con người để bước vào cuộc chiến chân thực của các cặp đối cực. Cuộc chiến thứ hai này là chiến trường chân thực và diễn ra trong bản chất cảm dục, giữa những cặp đối cực đặc trưng cho hệ mặt trời của chúng ta, cũng như các cặp đối cực hồng trần đặc trưng cho hệ mặt trời trước đây. Từ một góc nhìn thú vị, có thể thấy cuộc chiến của các đối cực trên vòng xoắn thấp hơn, liên quan đến thể xác trong hai phương diện của nó, đang diễn ra trong giới động vật. Trong tiến trình này, con người đóng vai trò tác nhân rèn luyện kỷ luật, và các động vật thuần hóa, bị buộc phải tuân theo sự kiểm soát của con người, đang vật lộn (dù theo quan điểm của chúng ta, chúng không có ý thức về điều đó) với vấn đề của cặp đối cực thấp này. Cuộc chiến của chúng diễn ra qua trung gian của thể xác đậm đặc và các mãnh lực dĩ thái, và bằng cách này, một khát vọng cao hơn được biểu lộ. Điều này tạo ra nơi chúng trải nghiệm mà chúng ta gọi là “biệt ngã hóa”, trong đó hạt giống phàm ngã được gieo. Trên chiến trường của con người, chiến trường nội tâm, phương diện cao hơn của [88] linh hồn bắt đầu chi phối, tạo ra tiến trình tích hợp giữa thiêng liêng và con người mà chúng ta gọi là “điểm đạo”. Hãy suy ngẫm về điều này.

When an aspirant reaches that point in his evolution wherein the control of the physical nature is an urgent necessity, he recapitulates in his own life this earlier battle with the lowest pairs of opposites, and begins then to discipline his dense physical nature.

Khi một người chí nguyện đạt đến điểm trong quá trình tiến hóa của mình mà việc kiểm soát bản chất hồng trần trở thành một nhu cầu cấp bách, y tái diễn trong chính đời sống mình cuộc chiến trước đây với các cặp đối cực thấp nhất, và khi ấy bắt đầu rèn luyện kỷ luật cho bản chất hồng trần đậm đặc của mình.

Making a broad and sweeping generalisation, it might be said that for the human family en masse this dense physical-etheric conflict was fought out in the World War, which was the imposition of a tremendous test and discipline. Remember that our tests and disciplines are self-imposed and grow out of our limitations and our opportunities. The result of this test was the passing on to the Path of Probation of a very large number of human beings, owing to the purging and purification to which they had been subjected. This purificatory process in some measure prepared them for the prolonged conflict upon the astral plane which lies ahead of all aspirants prior to achieving initiation. It is the “Arjuna experience.” This is an interesting point upon which to ponder and explains much of mystery and of difficulty in the sequence of human unfoldment. The individual aspirant is apt to think only in terms of himself and of his individual tests and trials. He must learn to think of the mass occurrences and their preparatory effect where humanity is concerned. The World War was a climaxing point in the process of “devitalising” the world maya. Much force was released and exhausted and much energy expended. Much was consequently clarified.

Nếu khái quát một cách rộng rãi và bao quát, có thể nói rằng đối với gia đình nhân loại nói chung, cuộc xung đột giữa hồng trần đậm đặc và dĩ thái này đã diễn ra trong Chiến tranh Thế giới, vốn đặt nhân loại trước một thử thách và sự rèn luyện kỷ luật vô cùng lớn lao. Hãy nhớ rằng những thử thách và kỷ luật của chúng ta là do chúng ta tự đặt ra, và nảy sinh từ những giới hạn cùng những cơ hội của chúng ta. Kết quả của thử thách này là một số lượng rất lớn con người bước vào Con Đường Dự Bị, nhờ sự tẩy sạch và thanh luyện mà họ đã trải qua. Tiến trình thanh luyện này phần nào chuẩn bị cho họ bước vào cuộc xung đột kéo dài trên cõi cảm dục, đang chờ đợi mọi người chí nguyện trước khi đạt được điểm đạo. Đó là “trải nghiệm Arjuna”. Đây là một điểm thú vị để suy ngẫm, và giải thích nhiều điều bí ẩn cùng khó khăn trong trình tự khai mở của con người. Người chí nguyện riêng lẻ thường chỉ nghĩ đến bản thân cùng những thử thách và gian nan cá nhân của mình. Y phải học cách nghĩ đến những biến cố tập thể và tác động chuẩn bị của chúng đối với nhân loại. Chiến tranh Thế giới là một điểm cao trào trong tiến trình “rút sinh lực” khỏi ảo lực thế giới. Nhiều mãnh lực đã được giải phóng và tiêu hao, nhiều năng lượng đã được sử dụng. Vì vậy, nhiều điều đã trở nên rõ ràng.

Many people are occupied today in their individual lives with exactly the same process and conflict. On a tiny scale that which was worked out in the World War is worked out in their lives. They are busy with the problem of maya [89] and hence today we find an increasing emphasis upon the physical cultures, disciplines, and physical training, such as is imposed in the world of sport, in athletic exercises and military training. In spite of all the wrong motives and the terrible and evil effects (speaking again with a wide generalisation), the training of the body and the organised physical direction of the youth of the world today in all countries, particularly the military countries in Europe, is preparing the way for millions to pass upon the Path of Purification. Is this a hard truth, my brothers? Humanity is under right direction, e’en if (during a brief interlude) they misunderstand the process and apply wrong motives to right activities.

Ngày nay, nhiều người đang trải qua đúng tiến trình và cuộc xung đột ấy trong đời sống cá nhân. Trên một quy mô nhỏ bé, điều đã diễn ra trong Chiến tranh Thế giới đang diễn ra trong đời sống họ. Họ đang bận xử lý vấn đề ảo lực [89], và vì thế, ngày nay chúng ta thấy người ta ngày càng nhấn mạnh việc rèn luyện hồng trần, các kỷ luật và việc huấn luyện hồng trần, như những gì áp dụng trong thế giới thể thao, trong các bài tập điền kinh và huấn luyện quân sự. Bất chấp mọi động cơ sai lầm cùng những tác động khủng khiếp và xấu xa (một lần nữa, đây là một sự khái quát rộng), việc rèn luyện thân thể và định hướng hoạt động hồng trần có tổ chức cho thanh niên thế giới ngày nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia quân phiệt ở châu Âu, đang chuẩn bị con đường để hàng triệu người bước vào Con Đường Thanh Luyện. Các huynh đệ của Tôi, đây có phải là một chân lý khó chấp nhận không? Nhân loại đang được dẫn dắt đúng đắn, ngay cả khi (trong một khoảng thời gian ngắn) họ hiểu sai tiến trình và gán những động cơ sai lầm cho những hoạt động đúng đắn.

All these points we shall later take up in greater detail when we come to our third section and begin to study the modes of ending glamour, illusion and maya. At present I am only occupied with giving you a general picture and a slight elaboration of the tabulation to be found on page 41. Study it with care and memorise it if possible, for in its right understanding lies for you much of real usefulness.

Sau này, chúng ta sẽ xem xét tất cả những điểm này chi tiết hơn khi đến phần thứ ba và bắt đầu nghiên cứu những phương thức chấm dứt ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực. Hiện tại, Tôi chỉ tập trung cung cấp cho các bạn một bức tranh tổng quát và triển khai đôi chút bảng trình bày ở trang 41. Hãy nghiên cứu bảng ấy cẩn thận và ghi nhớ nếu có thể, vì chính trong việc thấu hiểu đúng bảng ấy có nhiều điều thực sự hữu ích cho các bạn.

I would like to point out in connection with the problem of maya that one of the first steps to its right handling is physical coordination; hence the emphasis laid upon this today in the training of children; hence also our use of a similar process under the term “alignment” when dealing with the work of meditation and the effort to induce increased soul control. Students would do well to bear this in mind and to ponder upon the following phrases:

Liên quan đến vấn đề ảo lực, Tôi muốn chỉ ra rằng một trong những bước đầu tiên để xử lý nó đúng đắn là sự phối hợp hồng trần; vì thế, ngày nay người ta nhấn mạnh điều này trong việc huấn luyện trẻ em; cũng vì thế, chúng ta sử dụng một tiến trình tương tự dưới thuật ngữ “chỉnh hợp” khi đề cập đến công việc tham thiền và nỗ lực gia tăng sự kiểm soát của linh hồn. Các đạo sinh nên ghi nhớ điều này và suy ngẫm về những cụm từ sau:

1. Physical co-ordination.

1. Sự phối hợp hồng trần.

2. Astral orientation.

2. Sự định hướng cảm dục.

3. Mental direction.

3. Sự chỉ đạo trí tuệ.

4. Personality alignment.

4. Sự chỉnh hợp phàm ngã.

These are all attempts to express the process of “right activity [90] upon the Path of Return.” This return is the objective of the human family and the culminating goal of the four kingdoms in nature. We could enlarge the concept by expressing the truth in the following manner:

Tất cả những điều này đều là những nỗ lực diễn đạt tiến trình “hoạt động đúng đắn [90] trên Con Đường Trở Về”. Sự trở về này là mục tiêu của gia đình nhân loại và là đích đến tối hậu của bốn giới trong tự nhiên. Chúng ta có thể mở rộng khái niệm ấy bằng cách diễn đạt chân lý theo cách sau:

Process

Tiến trình

Correspondence

Sự tương ứng

Obstacle

Chướng ngại

1.

1.

Physical coordination

Sự phối hợp hồng trần

Mineral kingdom

Giới kim thạch

Maya.

Ảo lực.

2.

2.

Astral orientation

Sự định hướng cảm dục

Vegetable kingdom

Giới thực vật

Glamour.

Ảo cảm.

3.

3.

Mental direction

Sự định hướng trí tuệ

Animal kingdom

Giới động vật

Illusion.

Ảo tưởng.

4.

4.

Personality alignment

Sự chỉnh hợp phàm ngã

Human kingdom

Giới nhân loại

The Dweller on the Threshold.

Kẻ Chận Ngõ.

These processes have, therefore, their equivalents in all the kingdoms and lead up to:

Do đó, những tiến trình này có các tiến trình tương ứng trong mọi giới và dẫn đến:

1. The unfoldment of the divine consciousness. This starts in the mineral kingdom.

1. Sự khai mở tâm thức thiêng liêng. Điều này bắt đầu trong giới kim thạch.

2. The expression of the soul. This is typified in the vegetable kingdom with its uses and beauty.

2. Sự biểu lộ của linh hồn. Giới thực vật, với tính hữu dụng và vẻ đẹp của nó, là biểu tượng cho điều này.

3. The manifestation of the Christ. This is the recognised goal of the animal kingdom which works towards individualisation.

3. Sự biểu hiện của Đức Christ. Đây là mục tiêu đã được nhìn nhận của giới động vật, vốn đang hướng tới sự biệt ngã hóa.

4. The revelation of the glory of God. This is the objective before humanity.

4. Sự mặc khải vinh quang của Thượng đế. Đây là mục tiêu đặt ra trước nhân loại.

4. Glamour upon the Higher Mental Planes… The Dweller on the Threshold. – 4. Ảo cảm trên các Cõi Thượng Trí… Kẻ Chận Ngõ.

We will now touch very briefly upon the problem of the Dweller on the Threshold. This Dweller is oft regarded as a disaster, as a horror to be avoided, and as a final and culminating evil. I would remind you nevertheless that the Dweller is the “one who stands before the Gate of God,” who dwells in the shadow of the portal of initiation, and who faces the Angel of the Presence open-eyed, as the ancient scripture calls it. The Dweller can be defined as the sum total of the forces of the lower nature as expressed in [91] the personality, prior to illumination, to inspiration and to initiation. The personality, at this stage, is exceedingly potent, and the Dweller embodies all the psychic and mental forces which down the ages have been unfolded in a man and nurtured with care; it can be looked upon as the potency of the threefold material form, prior to its consecration and dedication to the life of the soul and to the service of the Hierarchy, of God and humanity.

Giờ đây, chúng ta sẽ đề cập rất ngắn gọn đến vấn đề Kẻ Chận Ngõ. Kẻ Chận Ngõ này thường được xem là một tai họa, một nỗi kinh hoàng cần tránh, và một điều ác cuối cùng, tột đỉnh. Tuy nhiên, Tôi muốn nhắc các bạn rằng Kẻ Chận Ngõ là “kẻ đứng trước Cổng của Thượng đế”, kẻ trú trong bóng tối của cổng điểm đạo và mở to mắt đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, như kinh điển cổ gọi như vậy. Có thể định nghĩa Kẻ Chận Ngõ là tổng thể các mãnh lực của bản chất thấp biểu lộ trong [91] phàm ngã, trước sự soi sáng, cảm hứng và điểm đạo. Ở giai đoạn này, phàm ngã có sức mạnh vô cùng lớn, và Kẻ Chận Ngõ là hiện thân của mọi mãnh lực thông linh và trí tuệ đã khai mở trong con người qua bao thời đại và được nuôi dưỡng cẩn thận; có thể xem nó là sức mạnh của hình tướng vật chất tam phân, trước khi hình tướng ấy được thánh hiến và dâng hiến cho đời sống linh hồn cùng việc phụng sự Thánh đoàn, Thượng đế và nhân loại.

The Dweller on the Threshold is all that a man is, apart from the higher spiritual self; it is the third aspect of divinity as expressed in the human mechanism, and this third aspect must eventually be subordinated to the second aspect, the soul.

Kẻ Chận Ngõ là toàn bộ những gì cấu thành một con người, ngoại trừ bản ngã tinh thần cao siêu; nó là phương diện thứ ba của thiên tính biểu lộ trong bộ máy con người, và cuối cùng phương diện thứ ba này phải phục tùng phương diện thứ hai, tức linh hồn.

The two great contrasting Forces, the ANGEL and the DWELLER, are brought together—face to face—and the final conflict takes place. Again you will note that it is a meeting and a battle between another and higher pair of opposites. The aspirant has, therefore, three pairs of opposites with which to deal as he progresses towards light and liberation.

Hai Mãnh Lực tương phản lớn lao, THIÊN THẦN và KẺ CHẬN NGÕ, được đưa đến với nhau—mặt đối mặt—và cuộc xung đột cuối cùng diễn ra. Một lần nữa, các bạn sẽ nhận thấy đây là cuộc gặp gỡ và trận chiến giữa một cặp đối cực khác, cao hơn. Do đó, khi tiến tới ánh sáng và sự giải thoát, người chí nguyện phải xử lý ba cặp đối cực.

The Pairs of Opposites

Các Cặp Đối Cực

1. On the Physical Plane… The dense and the etheric. Fought out upon the Path of Purification.

1. Trên Cõi Hồng Trần… Phần đậm đặc và phần dĩ thái. Cuộc chiến diễn ra đến cùng trên Con Đường Thanh Luyện.

2. On the Astral Plane… The well-known dualities. Fought upon the Path of Discipleship.

2. Trên Cõi Cảm Dục… Những nhị nguyên quen thuộc. Cuộc chiến diễn ra trên Con Đường Đệ Tử.

3. On the Mental Plane… The Angel and the Dweller. Fought upon the Path of Initiation.

3. Trên Cõi Trí… Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ. Cuộc chiến diễn ra trên Con Đường Điểm Đạo.

I have, I should judge, given you enough to ponder upon; I would close it, however, by pointing out to you the very practical nature of that which I have communicated and would urge you to find out in your own practical experience [92] the nature of the battle you have each to fight. To aid you in this, I am going to help you in one very definite way.

Theo nhận định của Tôi, Tôi đã trao cho các bạn đủ điều để suy ngẫm; tuy nhiên, Tôi muốn kết thúc bằng cách chỉ ra cho các bạn bản chất hết sức thực tiễn của những điều Tôi đã truyền đạt, và thúc giục các bạn tự tìm hiểu qua kinh nghiệm thực tế của mình [92] bản chất của trận chiến mà mỗi người phải chiến đấu. Để hỗ trợ các bạn trong việc này, Tôi sẽ giúp các bạn theo một cách rất cụ thể.

It will be of service to you if I indicate to you—each of you—the rays which govern your threefold personality. You will then be in a position to handle yourselves with greater wisdom, to trace more easily the causes of difficulty and to study more intelligently the effect you may have upon each other and upon those you contact in daily life. I will elaborate in detail the training which should be given to each of the three bodies, taking one of the vehicles at a time and explaining the problem facing each of you in relation to that particular vehicle, and assigning a meditation which will enable you (with greater facility) to handle the personality from that specific angle.

Sẽ hữu ích cho các bạn nếu Tôi chỉ rõ cho từng người những cung cai quản phàm ngã tam phân của các bạn. Khi đó, các bạn sẽ có thể điều khiển bản thân với minh triết lớn hơn, dễ dàng truy tìm nguyên nhân của những khó khăn hơn, và nghiên cứu sáng suốt hơn về ảnh hưởng mà các bạn có thể tạo ra đối với nhau và với những người các bạn tiếp xúc trong đời sống hằng ngày. Tôi sẽ trình bày chi tiết việc rèn luyện cần dành cho từng thể trong ba thể của phàm ngã, lần lượt xem xét từng hiện thể, giải thích vấn đề mà mỗi người phải đối diện liên quan đến hiện thể cụ thể ấy, và giao một bài thiền giúp các bạn điều khiển phàm ngã từ góc độ riêng đó một cách dễ dàng hơn.

You will note from the above that it is, therefore, my intention to give you a much more careful and intensive training. Will you profit by it? In the interim and in order that you can apprehend the truth of what I shall later tell you, will you study yourselves with care during the next six months and see if what I later suggest is not true? Use the information given in A Treatise on the Seven Rays as your guide in this self-analysis; I would remind you that the rays govern the three bodies in the following order:

Từ những điều trên, các bạn sẽ nhận thấy rằng Tôi có ý định dành cho các bạn một sự huấn luyện kỹ lưỡng và chuyên sâu hơn nhiều. Các bạn có tận dụng được điều đó không? Trong thời gian chờ đợi, để có thể lĩnh hội chân lý trong những điều Tôi sẽ nói với các bạn sau này, liệu các bạn có chịu nghiên cứu bản thân cẩn thận trong sáu tháng tới và xem những điều Tôi gợi ý sau này có đúng hay không? Hãy dùng thông tin trong Luận về Bảy Cung làm kim chỉ nam cho việc tự phân tích này; Tôi muốn nhắc các bạn rằng các cung cai quản ba thể của phàm ngã theo thứ tự sau:

1.

1.

Rays governing the mental body

Các cung cai quản thể trí

Rays 1.4.5.

Các cung 1.4.5.

2.

2.

Rays governing the astral body

Các cung cai quản thể cảm dục

Rays 2.6.

Các cung 2.6.

3.

3.

Rays governing the physical body

Các cung cai quản thể xác

Rays 3.7.

Các cung 3.7.

Thus you will note that all the rays play their part in the mechanism of man, making all circumstances the vehicles of opportunity and all conditions the medium of development. This statement as to the governing rays is a statement of an infallible rule, except in the case of accepted disciples.

Như vậy, các bạn sẽ nhận thấy rằng mọi cung đều đóng vai trò của mình trong bộ máy con người, biến mọi hoàn cảnh thành hiện thể của cơ hội và mọi điều kiện thành phương tiện phát triển. Phát biểu này về các cung cai quản là một quy luật không bao giờ sai, ngoại trừ trường hợp các đệ tử được chấp nhận.

As you read and study, you would find it of value to reflect upon and then to answer the following questions: [93]

Trong khi đọc và nghiên cứu, các bạn sẽ thấy hữu ích nếu suy ngẫm rồi trả lời những câu hỏi sau: [93]

1. What is the relation of the intuition to the problem of illusion?

1. Trực giác có mối quan hệ thế nào với vấn đề ảo tưởng?

2. In what manner can illumination dispel glamour, and how can it be brought about?

2. Sự soi sáng có thể xua tan ảo cảm bằng cách nào, và làm thế nào để tạo ra sự soi sáng ấy?

3. Define maya and give your understanding of inspiration as a factor in dispelling it.

3. Hãy định nghĩa ảo lực và trình bày sự thấu hiểu của các bạn về cảm hứng như một yếu tố giúp xua tan ảo lực.

I have purposely not elucidated this technique as I sought to draw out your own ideas. I would urge you to follow the group meditation with care. It is of deep importance to the group in the interest of integration and real spiritual cooperation. The Full Moon work will likewise increase in importance. Later will come facility in recognising and recording the nature of the glamour to be dissipated and aptitude in seeing the process of light distribution.

Tôi đã cố ý không làm sáng tỏ kỹ thuật này, vì Tôi muốn khơi gợi những ý tưởng của chính các bạn. Tôi muốn thúc giục các bạn thực hành bài thiền nhóm một cách cẩn thận. Điều này có tầm quan trọng sâu sắc đối với nhóm, nhằm thúc đẩy sự tích hợp và hợp tác tinh thần đích thực. Công việc vào kỳ Trăng Tròn cũng sẽ ngày càng quan trọng. Sau này, các bạn sẽ dễ dàng nhận ra và ghi lại bản chất của ảo cảm cần làm tiêu tan, đồng thời thành thạo trong việc thấy được tiến trình phân phối ánh sáng.

Leave a Comment

Scroll to Top