|
[553]
|
[553]
|
|
I shall not be able to handle the subject of the three zodiacal Crosses—the Mutable, Fixed and Cardinal Crosses—in any detail, owing to the fact that they are concerned with the wholes or with the syntheses of manifestation and with the unified experience of an incarnating entity, be it God or man. They can, therefore, be truly comprehended only by those with an inclusive consciousness, i.e., with an initiate-awareness. Some general comments can, however, be made.
|
Tôi sẽ không thể xử lý chủ đề về ba Thập Giá hoàng đạo—Thập Giá Biến đổi, Thập Giá Cố Định và Thập Giá Chủ Yếu—một cách chi tiết, vì chúng liên quan đến các toàn thể hay đến các tổng hợp của biểu lộ và đến kinh nghiệm hợp nhất của một thực thể đang nhập thể, dù là Thượng đế hay con người. Vì vậy, chúng chỉ có thể được thấu hiểu thật sự bởi những ai có tâm thức bao gồm, tức là với nhận biết của điểm đạo đồ. Tuy nhiên, vẫn có thể đưa ra một vài nhận xét tổng quát.
|
|
These three Crosses are as you know:
|
Ba Thập Giá này, như các bạn biết, là:
|
|
1. The Cross of the Hidden Christ—The Mutable Cross.
|
1. Thập Giá của Đức Christ Ẩn Tàng—Thập Giá Biến đổi.
|
|
a. This is the Cross of the four major energies which produce the conditioning circumstances which transform animal man into an aspirant.
|
a. Đây là Thập Giá của bốn năng lượng lớn tạo ra các hoàn cảnh điều kiện hóa, những hoàn cảnh chuyển đổi người thú thành một người chí nguyện.
|
|
b. It is, therefore, the Cross of the personality or of the steadily developing and finally integrating human being. This takes place at first in response to circumstance and later to soul inclination.
|
b. Vì vậy, đây là Thập Giá của phàm ngã hay của con người đang phát triển đều đặn và cuối cùng tích hợp. Điều này lúc đầu diễn ra để đáp ứng hoàn cảnh và về sau để đáp ứng khuynh hướng của linh hồn.
|
|
c. It is the Cross of temporal and temporary change, of fluidity and of those constantly altering environments which drive the soul within the form from one extreme of experience to another, so that the life shuttles between the pairs of opposites. [554]
|
c. Đây là Thập Giá của sự thay đổi theo thời gian và tạm thời, của tính linh động và của những môi trường luôn luôn biến đổi, những môi trường thúc đẩy linh hồn bên trong hình tướng từ cực đoan kinh nghiệm này sang cực đoan khác, khiến sự sống dao động giữa các cặp đối cực. [554]
|
|
d. It is the Cross of the responsive form, nurturing and developing the life of the indwelling Christ, the hidden Soul or Lord of Being.
|
d. Đây là Thập Giá của hình tướng đáp ứng, nuôi dưỡng và phát triển sự sống của Đức Christ ngự bên trong, Linh Hồn ẩn tàng hay Chúa Tể của Bản Thể.
|
|
The four arms of this Cross are Gemini—Virgo—Sagittarius—Pisces. It is sometimes called the Common Cross because it conditions the common herd, the mass of humanity.
|
Bốn cánh tay của Thập Giá này là Song Tử—Xử Nữ—Nhân Mã—Song Ngư. Đôi khi nó được gọi là Thập Giá Thông Thường vì nó điều kiện hóa đàn người thông thường, quần chúng nhân loại.
|
|
2. The Cross of the Crucified Christ—The Fixed Cross.
|
2. Thập Giá của Đức Christ Bị Đóng Đinh—Thập Giá Cố Định.
|
|
a. This is the Cross composed of the four energies which condition the life of the man who is first a probationary disciple and then an accepted or pledged disciple.
|
a. Đây là Thập Giá được cấu thành bởi bốn năng lượng điều kiện hóa đời sống của con người, trước hết là một đệ tử dự bị rồi sau đó là một đệ tử được chấp nhận hay đã phát nguyện.
|
|
b. It is outstandingly the Cross of the soul. The man who is upon the Fixed Cross is becoming increasingly aware of its direction and influences and does not respond as blindly as does the man upon the Mutable Cross. He does not “mount this Cross of Right Direction” in a technical sense until he has attained some measure of soul contact and has had some touch of illumination and of spiritual intuition—no matter how fleeting that touch may have been.
|
b. Đây nổi bật là Thập Giá của linh hồn. Con người ở trên Thập Giá Cố Định ngày càng ý thức hơn về định hướng và các ảnh hưởng của nó, và không đáp ứng một cách mù quáng như con người ở trên Thập Giá Biến đổi. Y không “bước lên Thập Giá của Định Hướng Đúng” này theo nghĩa kỹ thuật cho đến khi y đã đạt được một mức độ tiếp xúc linh hồn nào đó và đã có một chạm của soi sáng và của trực giác tinh thần—dù sự chạm ấy có thoáng qua đến đâu.
|
|
c. It is the Cross of “fixed vision and of that immovable intent which draws the man from points of light to blazing solar radiance.” The man upon the Fixed Cross says: “I am the soul and here I stand. Naught shall remove my feet from off the narrow place whereon I stand. I face the light. I am the Light and in that light shall I see Light.”
|
c. Đây là Thập Giá của “tầm nhìn cố định và của ý định bất lay chuyển kéo con người từ những điểm sáng đến bức xạ thái dương rực cháy.” Con người trên Thập Giá Cố Định nói: “Ta là linh hồn và ta đứng đây. Không gì sẽ dời chân ta khỏi nơi chật hẹp mà ta đang đứng. Ta đối diện ánh sáng. Ta là Ánh sáng và trong ánh sáng ấy ta sẽ thấy Ánh sáng.”
|
|
d. It is the Cross whose four energies blend with [555] and transmit the energies of the solar system itself. This it can do because the man upon the Fixed Cross is becoming increasingly conscious of issues which are larger than himself, more engrossing than his previous interests and which concern humanity in its relation to the solar forces and not just to the planetary forces. He is becoming sensitive to a larger whole.
|
d. Đây là Thập Giá mà bốn năng lượng của nó hòa trộn với [555] và truyền dẫn các năng lượng của chính hệ mặt trời. Nó có thể làm điều này vì con người trên Thập Giá Cố Định ngày càng ý thức hơn về những vấn đề lớn hơn bản thân mình, hấp dẫn hơn các mối quan tâm trước đây của mình, và liên quan đến nhân loại trong mối liên hệ với các lực thái dương chứ không chỉ với các lực hành tinh. Y đang trở nên nhạy cảm với một toàn thể lớn hơn.
|
|
e. The energies of this Cross continue to evoke response until the time of the third initiation.
|
e. Các năng lượng của Thập Giá này tiếp tục gợi lên sự đáp ứng cho đến thời điểm của lần điểm đạo thứ ba.
|
|
The four arms of this Cross are Taurus—Leo—Scorpio—Aquarius. It is called the Fixed Cross because the man is stretched upon it by the directed choice and immovable intent of his soul. From that decision there is no turning back.
|
Bốn cánh tay của Thập Giá này là Kim Ngưu—Sư Tử—Hổ Cáp—Bảo Bình. Nó được gọi là Thập Giá Cố Định vì con người bị căng trên đó bởi sự lựa chọn có định hướng và ý định bất lay chuyển của linh hồn mình. Từ quyết định ấy không có quay lui.
|
|
3. The Cross of the Risen Christ—The Cardinal Cross.
|
3. Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh—Thập Giá Chủ Yếu.
|
|
a. This is the Cross whereon, under the occult paradox and in time and space, the Spirit is crucified. Its four energies govern and direct the soul as it moves forward upon the Path of Initiation. Necessarily, as it deals with so exalted a state of consciousness, there is but little I can say anent this Cross except the vaguest generalities.
|
a. Đây là Thập Giá mà trên đó, dưới nghịch lý huyền bí và trong thời gian cùng không gian, Tinh thần bị đóng đinh. Bốn năng lượng của nó cai quản và định hướng linh hồn khi linh hồn tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo. Tất nhiên, vì nó liên quan đến một trạng thái tâm thức cao siêu như thế, nên tôi chỉ có thể nói rất ít về Thập Giá này ngoài những khái quát mơ hồ nhất.
|
|
b. It is, therefore, pre-eminently the Cross of Initiation and of “beginnings.” It concerns fundamentally “the beginning of the endless Way of Revelation” which starts when Nirvana is entered and for which all the previous stages of the Path of Evolution have been but preparatory.
|
b. Vì vậy, đây nổi bật là Thập Giá của Điểm đạo và của “những khởi đầu.” Về căn bản, nó liên quan đến “sự khởi đầu của Con Đường Mặc Khải vô tận,” bắt đầu khi Niết Bàn được bước vào, và đối với con đường ấy mọi giai đoạn trước đó của Con Đường Tiến Hoá chỉ mới là sự chuẩn bị.
|
|
The following quotation may carry understanding and help to illumine this most difficult [556] subject, indicating the significance of this Cardinal Cross as a consummating influence and revealing that which lies ahead of those who attain hierarchical standing:
|
Đoạn trích dẫn sau đây có thể mang lại sự thấu hiểu và giúp soi sáng chủ đề cực kỳ khó khăn này, chỉ ra ý nghĩa của Thập Giá Chủ Yếu này như một ảnh hưởng hoàn tất và tiết lộ điều đang ở phía trước những ai đạt được vị thế huyền giai:
|
|
“All beauty, all goodness, all that makes for the eradication of sorrow and ignorance upon the Earth must be devoted to the Great Consummation. Then when the Lords of Compassion shall have spiritually civilised the Earth and made of it a Heaven, there shall be revealed to the Pilgrims the Endless Path which reaches to the Heart of the Universe. Man, then no longer man, will transcend nature and impersonally, yet consciously, in at-one-ment with all Enlightened Ones, help to fulfil the Law of the Higher Evolution, of which Nirvana is but the beginning,” (Tibetan Yoga and Secret Doctrines. Page 12.)
|
“Mọi vẻ đẹp, mọi điều thiện, mọi điều góp phần xóa bỏ đau khổ và vô minh trên Trái Đất đều phải được hiến dâng cho Sự Hoàn Tất Vĩ Đại. Rồi khi các Đấng Chúa Tể của Lòng Từ Bi đã văn minh hóa Trái Đất về mặt tinh thần và biến nó thành một Thiên Đàng, thì Con Đường Vô Tận vươn tới Trái Tim của Vũ Trụ sẽ được mặc khải cho những Người Hành Hương. Khi ấy con người, không còn là con người nữa, sẽ vượt lên trên thiên nhiên và một cách vô ngã nhưng hữu thức, trong sự hợp nhất với tất cả các Đấng Giác Ngộ, sẽ giúp hoàn thành Định luật của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, mà Niết Bàn chỉ mới là sự khởi đầu,” (Tibetan Yoga and Secret Doctrines. Trang 12.)
|
|
c. It is the Cross of the “widespread arms, the open heart and the higher mind,” for those who lie upon this Cross know and enjoy the significances underlying the words: Omnipresence and Omniscience, and are in process of unfolding the higher phases of Being which we inadequately cover by the word, Omnipotence.
|
c. Đây là Thập Giá của “những cánh tay dang rộng, trái tim rộng mở và thượng trí,” vì những ai nằm trên Thập Giá này biết và hưởng được các ý nghĩa nằm dưới những từ: Hiện Diện Khắp Nơi và Toàn Tri, và đang trong tiến trình khai mở các giai đoạn cao hơn của Bản Thể mà chúng ta chỉ có thể gọi một cách không đầy đủ bằng từ Toàn Năng.
|
|
d. The energies of the Cardinal Cross blend with the energies to which we can give no greater name than cosmic energy even though that word is meaningless. They carry the quality of the One about Whom Naught may be Said and are “tinctured with the Light of the seven solar systems” of which our solar system is one.
|
d. Các năng lượng của Thập Giá Chủ Yếu hòa trộn với các năng lượng mà chúng ta không thể gọi bằng tên nào lớn hơn là năng lượng vũ trụ, dù từ ấy vô nghĩa. Chúng mang phẩm tính của Đấng Bất Khả Tư Nghị và “được nhuốm Ánh sáng của bảy hệ mặt trời” mà hệ mặt trời của chúng ta là một trong số đó.
|
|
e. The scope and cycle of its influence in the life of the initiate is utterly unknown even to our planetary [557] Logos Who is Himself stretched upon its “widespread arms.”
|
e. Phạm vi và chu kỳ ảnh hưởng của nó trong đời sống của điểm đạo đồ hoàn toàn không được biết đến ngay cả đối với Hành Tinh Thượng đế [557] của chúng ta, Đấng chính Ngài cũng đang bị căng trên “những cánh tay dang rộng” của nó.
|
|
Speaking generally, therefore, the Mutable Cross governs the form or body nature, controls the whole life cycle of the individual soul through the stages of the lower experiences of humanity, the strictly human stages, and the integrating processes of personality development until the man stands forth as an aligned person, slowly reorienting himself to a higher vision, a wider horizontal and vertical grasp of reality and thus becomes the aspirant. This Cross governs the lower triad in manifestation and rules in the three worlds of human evolution. The Fixed Cross governs the soul which is now conscious within the human form and in the three worlds, but controls throughout what is called “the five worlds of human attainment”—the three strictly human levels of activity and the two superhuman, i.e., the lower trinity and the Spiritual Triad. It deals with the entire life of soul experience and expression after the Mutable Cross has effectively forced the man on to the Path of Purification and of Discipleship. It is concerned with the integration of soul and personality and their complete blending or fusion. The Cardinal Cross governs the manifestation of the Monad in all its glory and beauty, and this cycle of influence falls into two stages: the one in which the Monad expresses itself upon the six planes of manifestation in “wisdom, strength and beauty” through the medium of the integrated soul and personality. This is a relatively brief stage. Second, the stage wherein—withdrawn and abstracted from those forms of Being—”the ONE proceeds upon the higher Way and passes on to [558] realms unknown e’en to the highest of the Sons of God upon our Earth.”
|
Nói một cách tổng quát, vì vậy, Thập Giá Biến đổi cai quản bản tính hình tướng hay thể, kiểm soát toàn bộ chu kỳ sống của linh hồn cá nhân qua các giai đoạn kinh nghiệm thấp của nhân loại, các giai đoạn thuần túy nhân loại, và các tiến trình tích hợp của sự phát triển phàm ngã cho đến khi con người xuất hiện như một con người đã chỉnh hợp, chậm rãi tự tái định hướng mình tới một tầm nhìn cao hơn, một sự nắm bắt thực tại rộng hơn theo chiều ngang và chiều dọc, và nhờ đó trở thành người chí nguyện. Thập Giá này cai quản tam nguyên thấp trong biểu lộ và cai trị trong ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại. Thập Giá Cố Định cai quản linh hồn, hiện nay đã hữu thức bên trong hình tướng con người và trong ba cõi thấp, nhưng kiểm soát xuyên suốt điều được gọi là “năm cõi của thành tựu nhân loại”—ba cấp độ hoạt động thuần túy nhân loại và hai cấp độ siêu nhân loại, tức là bộ ba thấp và Tam Nguyên Tinh Thần. Nó đề cập đến toàn bộ đời sống kinh nghiệm và biểu lộ của linh hồn sau khi Thập Giá Biến đổi đã hữu hiệu cưỡng bách con người bước lên Con Đường Thanh Luyện và Địa vị đệ tử. Nó liên quan đến sự tích hợp của linh hồn và phàm ngã cùng sự hòa trộn hay dung hợp hoàn toàn của chúng. Thập Giá Chủ Yếu cai quản sự biểu lộ của Chân Thần trong toàn bộ vinh quang và vẻ đẹp của nó, và chu kỳ ảnh hưởng này rơi vào hai giai đoạn: một là giai đoạn trong đó Chân Thần biểu lộ chính nó trên sáu cõi biểu lộ trong “minh triết, sức mạnh và vẻ đẹp” qua trung gian của linh hồn và phàm ngã đã tích hợp. Đây là một giai đoạn tương đối ngắn. Thứ hai là giai đoạn trong đó—được rút ra và trừu xuất khỏi những hình thức Bản Thể ấy—“ĐẤNG DUY NHẤT tiến bước trên Con Đường cao hơn và đi tới [558] những cõi giới không ai biết, ngay cả đối với những Con của Thượng đế cao nhất trên Trái Đất chúng ta.”
|
|
It might be added that the Mutable Cross is the conditioning influence in that great planetary centre which we call the human; that the Fixed Cross is paramountly the major controlling set of energies governing, and being transmitted by, the centre which we call the planetary Hierarchy; whilst the Cardinal Cross rules and conditions (in a manner unknown to men) that great planetary centre to which we give the name Shamballa.
|
Có thể nói thêm rằng Thập Giá Biến đổi là ảnh hưởng điều kiện hóa trong trung tâm hành tinh lớn mà chúng ta gọi là nhân loại; rằng Thập Giá Cố Định là tập hợp năng lượng kiểm soát lớn chủ yếu cai quản và được truyền dẫn bởi trung tâm mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn hành tinh; trong khi Thập Giá Chủ Yếu cai quản và điều kiện hóa (theo một cách mà con người không biết) trung tâm hành tinh lớn mà chúng ta gọi là Shamballa.
|
|
You will see, therefore, how stupendous is my theme. Only those, may I again repeat, who can think in terms of one or other of the three above Wholes, will know whereof I speak; lesser minds will get a general picture or vision of transcendental possibilities which will aid them to an expansion of consciousness, but what I say will remain far-off in the realm of the (temporarily) unattainable.
|
Vì vậy, các bạn sẽ thấy chủ đề của tôi vĩ đại đến mức nào. Chỉ những ai, xin cho phép tôi lặp lại lần nữa, có thể suy nghĩ theo một hay một trong ba Toàn Thể nói trên, mới biết tôi đang nói về điều gì; những trí tuệ nhỏ hơn sẽ có được một bức tranh hay tầm nhìn tổng quát về các khả năng siêu việt, điều này sẽ giúp họ mở rộng tâm thức, nhưng điều tôi nói sẽ vẫn còn xa vời trong lĩnh vực của cái (tạm thời) không thể đạt tới.
|
|
Will it clarify the subject technically and academically if I point out that—
|
Liệu chủ đề này có được làm sáng tỏ về mặt kỹ thuật và học thuật nếu tôi chỉ ra rằng—
|
|
1. The Mutable Cross is the Cross of the Holy Spirit, of the third Person of the Christian Trinity, as it organises substance and evokes sensitive response from substance itself.
|
1. Thập Giá Biến đổi là Thập Giá của Chúa Thánh Thần, của Ngôi thứ ba trong Tam Vị Kitô giáo, khi Ngài tổ chức chất liệu và gợi lên sự đáp ứng nhạy cảm từ chính chất liệu.
|
|
2. The Fixed Cross is the Cross of the Son of God, of the second Person of the Trinity, driven through love to incarnate in matter and to be consciously crucified upon the Cross of matter.
|
2. Thập Giá Cố Định là Thập Giá của Con của Thượng đế, của Ngôi thứ hai trong Tam Vị, bị thúc đẩy bởi bác ái để nhập thể vào vật chất và bị đóng đinh một cách hữu thức trên Thập Giá của vật chất.
|
|
3. The Cardinal Cross is the Cross of the Father, the first aspect of the sacred Trinity, Who sent forth the Holy Spirit (the Breath) because the Mind of God visioned a destiny for matter which had been long in coming. [559] Now that the “time was at hand,” the Son fulfilled the law in cooperation with the Holy Spirit and this in response to the fiat of the Father.
|
3. Thập Giá Chủ Yếu là Thập Giá của Đức Cha, phương diện thứ nhất của Tam Vị thiêng liêng, Đấng đã phóng xuất Chúa Thánh Thần (Hơi Thở) vì Thể Trí của Thượng đế đã linh thị một vận mệnh cho vật chất vốn đã chậm đến từ lâu. [559] Nay khi “thời điểm đã đến gần,” Người Con đã hoàn thành định luật trong sự hợp tác với Chúa Thánh Thần và điều này là để đáp ứng sắc lệnh của Đức Cha.
|
|
These three Crosses are, in their totality of manifestation, related to the three basic energies which brought the solar system into being; they constitute the three major and synthetic expressions of the supernal Will, motivated by love and expressed through activity. Upon these Crosses, the ability to see the Whole, purpose-motive-expression, life-quality- appearance, shifts and changes. Upon the Mutable Cross, the crucified man sees naught of the picture. He suffers, agonises, desires, strives, is the apparent victim of circumstances, and is distinguished by a veiled vision and inchoate longings. These gradually take shape until he reaches the stage of acquiescence and aspiration. Then he finds himself upon the Fixed Cross and begins to grasp the whole of the purpose of experience upon the Mutable Cross (as far as humanity is concerned) and to realise that there is a hierarchical purpose which can only be grasped by the man who is willing to be crucified upon that Cross. He reaches the stage of responsibility, self-awareness and right direction. His orientation is now “the spiritually vertical which involves the inclusive horizontal.” At this stage, the Plan of the Logos begins to take shape in his consciousness. Upon the Cardinal Cross, the purpose and the unified consummations of the two earlier crucifixions become almost blindingly apparent and a vision of the unified intent of the three Persons of the underlying Trinity (each upon His Own Cross) emerges with clarity.
|
Ba Thập Giá này, trong toàn thể biểu lộ của chúng, có liên hệ với ba năng lượng căn bản đã đưa hệ mặt trời vào hiện hữu; chúng cấu thành ba biểu lộ lớn và tổng hợp của Ý Chí thiên thượng, được thúc đẩy bởi bác ái và được biểu lộ qua hoạt động. Trên các Thập Giá này, khả năng nhìn thấy Toàn Thể, mục đích-động cơ-biểu lộ, sự sống-phẩm tính-diện mạo, thay đổi và chuyển dịch. Trên Thập Giá Biến đổi, con người bị đóng đinh không thấy gì của bức tranh. Y đau khổ, quằn quại, ham muốn, phấn đấu, là nạn nhân bề ngoài của hoàn cảnh, và được phân biệt bởi một tầm nhìn bị che khuất và những khát vọng còn mơ hồ. Những điều này dần dần thành hình cho đến khi y đạt tới giai đoạn thuận phục và khát vọng. Khi ấy y thấy mình ở trên Thập Giá Cố Định và bắt đầu nắm được toàn bộ mục đích của kinh nghiệm trên Thập Giá Biến đổi (xét theo phương diện nhân loại) và nhận ra rằng có một mục đích huyền giai chỉ có thể được nắm bắt bởi con người sẵn lòng bị đóng đinh trên Thập Giá ấy. Y đạt tới giai đoạn trách nhiệm, tự nhận biết và định hướng đúng. Sự định hướng của y giờ đây là “chiều thẳng đứng tinh thần bao hàm chiều ngang bao gồm.” Ở giai đoạn này, Thiên Cơ của Thượng đế bắt đầu thành hình trong tâm thức y. Trên Thập Giá Chủ Yếu, mục đích và những hoàn tất hợp nhất của hai cuộc đóng đinh trước đó trở nên gần như hiển nhiên đến chói lòa, và một linh ảnh về ý định hợp nhất của ba Ngôi Vị của Tam Vị nền tảng (mỗi Ngài trên Thập Giá Riêng của Ngài) hiện ra rõ ràng.
|
|
Perhaps the simplicity of the following three symbols may serve somewhat to clarify that which I have tried to impart. [560]
|
Có lẽ tính đơn giản của ba biểu tượng sau đây có thể phần nào làm sáng tỏ điều mà tôi đã cố gắng truyền đạt. [560]
|
|
The Mutable Cross of material change and constant movement can be depicted by the swastika.
|
Thập Giá Biến đổi của sự thay đổi vật chất và chuyển động không ngừng có thể được mô tả bằng chữ vạn.
|
|
Here you have the triangle of manifested Monad, plus the three cycles of four energies, focussed and blended in unity; you have also the line of evolution (the evolution of consciousness) going down deep into, and becoming inclusive of matter and at the same time reaching out into the “Spaces of Divinity.”
|
Ở đây các bạn có tam giác của Chân Thần biểu lộ, cộng với ba chu kỳ của bốn năng lượng, được tập trung và hòa trộn trong hợp nhất; các bạn cũng có đường tiến hoá (sự tiến hoá của tâm thức) đi sâu xuống vào vật chất và trở nên bao gồm vật chất, đồng thời vươn ra vào “Những Không Gian của Thiêng Tính.”
|
|
Much that can be said anent the three Crosses has been already covered in scattered form when dealing separately with each of the twelve signs of the zodiac; it need not here be repeated. This Treatise, like The Secret Doctrine, is designed to instigate research and the power to delve and seek, because that process has a definite effect upon the cells of the brain and leads to a needed stimulation. In the study of the Crosses, the true meaning of their influence will only appear as you begin to think in terms of synthesis or of the relation of the four streams of energy, flowing unitedly upon and through any form of divine manifestation. This is by no means an easy thing to do, for the ability to think synthetically is only just beginning to appear in the foremost minds of the race. It can be illustrated, and then only analytically (which ever negates synthesis) by remarking in connection with the Mutable Cross, for instance, that the [562] synthesis of evolution, its problem and its goal all appear in a united, whole presentation when the influences are viewed as follows:
|
Nhiều điều có thể nói liên quan đến ba Thập Giá đã được đề cập rải rác khi bàn riêng về từng dấu hiệu trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo; ở đây không cần lặp lại. Bộ Luận này, cũng như Giáo Lý Bí Nhiệm, được thiết kế để khơi dậy sự nghiên cứu và năng lực đào sâu tìm kiếm, vì tiến trình đó có một tác động xác định lên các tế bào não và dẫn đến một sự kích thích cần thiết. Trong việc nghiên cứu các Thập Giá, ý nghĩa chân thực của ảnh hưởng của chúng sẽ chỉ xuất hiện khi các bạn bắt đầu suy nghĩ theo phương diện tổng hợp hay theo mối liên hệ của bốn dòng năng lượng, cùng chảy hợp nhất trên và xuyên qua bất kỳ hình thức biểu lộ thiêng liêng nào. Đây hoàn toàn không phải là điều dễ làm, vì khả năng suy nghĩ tổng hợp chỉ mới bắt đầu xuất hiện nơi những trí tuệ hàng đầu của nhân loại. Điều đó có thể được minh họa, và ngay cả như vậy cũng chỉ theo lối phân tích (mà điều này luôn phủ nhận tổng hợp), bằng cách nhận xét chẳng hạn liên quan đến Thập Giá Biến đổi, rằng sự [562] tổng hợp của tiến hoá, vấn đề của nó và mục tiêu của nó đều xuất hiện trong một sự trình bày hợp nhất, toàn vẹn khi các ảnh hưởng được nhìn như sau:
|
|
1. Gemini—the presentation of duality.
|
1. Song Tử—sự trình bày của nhị nguyên tính.
|
|
2. Virgo—the presentation of blending life and form.
|
2. Xử Nữ—sự trình bày của sự hòa trộn giữa sự sống và hình tướng.
|
|
3. Sagittarius—the presentation of focussed energy.
|
3. Nhân Mã—sự trình bày của năng lượng được tập trung.
|
|
4. Pisces—the presentation of a blended radiance.
|
4. Song Ngư—sự trình bày của một bức xạ hòa trộn.
|
|
This culminating radiance is the result of the focus of life, intention, and energy into a “radiant point of power.” You have been told that in connection with the Mutable Cross at this time the sign Pisces is the most potent and when the work of the Mutable Cross has been accomplished, the acquiescing disciple passes onto the Fixed Cross and prepares for the tests and trials of initiation. This is expressed for us in the occult symbology of the Old Commentary as follows:
|
Bức xạ hoàn tất này là kết quả của sự tập trung sự sống, ý định và năng lượng vào một “điểm quyền năng rạng ngời.” Các bạn đã được nói rằng liên quan đến Thập Giá Biến đổi vào lúc này, dấu hiệu Song Ngư là mạnh nhất, và khi công việc của Thập Giá Biến đổi đã được hoàn tất, đệ tử thuận phục bước sang Thập Giá Cố Định và chuẩn bị cho các thử thách và khảo nghiệm của điểm đạo. Điều này được diễn tả cho chúng ta trong biểu tượng huyền bí của Cổ Luận như sau:
|
|
“The Light shines forth because the greater light and the lesser light approach and then invoke each other. Their blended lights, though not yet one radiant sun, are merging fast. These blended lights reveal the Lighted Way.
|
“Ánh sáng tỏa ra vì ánh sáng lớn hơn và ánh sáng nhỏ hơn tiến lại gần rồi khẩn cầu lẫn nhau. Các ánh sáng hòa trộn của chúng, tuy chưa phải là một mặt trời rạng ngời duy nhất, đang mau chóng hòa nhập. Các ánh sáng hòa trộn này tiết lộ Con Đường được Soi Sáng.
|
|
The man beholds himself taking this other Way, the Way of lighted wholes; this leads from form to soul, from dark to light and thus around the Wheel. Retracing thus his steps and backward moving on the Way (the reversed wheel of the zodiac, A.A.B.) he forward moves.
|
Con người thấy mình đang đi theo Con Đường kia, Con Đường của những toàn thể được soi sáng; con đường này dẫn từ hình tướng đến linh hồn, từ tối tăm đến ánh sáng và như thế quanh Bánh Xe. Lần theo lại bước chân mình và đi lùi trên Con Đường (bánh xe hoàng đạo đảo ngược, A.A.B.) y lại tiến về phía trước.
|
|
A new light enters in. The Seven Sisters play their part (the Pleiades are in Taurus, the first sign of the Fixed Cross) and then three lights shine forth. And thus one radiant sun appears.”
|
Một ánh sáng mới đi vào. Bảy Chị Em đóng vai trò của mình (Pleiades ở trong Kim Ngưu, dấu hiệu đầu tiên của Thập Giá Cố Định) và rồi ba ánh sáng tỏa ra. Và như thế một mặt trời rạng ngời xuất hiện.”
|
|
[563]
|
[563]
|
|
The theme of all three Crosses is fusion and integration. The fusion of the personality into one functioning whole; the fusion of soul and personality consciously; the fusion of the threefold expression of divinity—Monad, ego and personality—so that there is an appearance of the blended energies. The keynote of their influences is the power to include and the full expression simultaneously, in time and space, of the vertical and the horizontal life.
|
Chủ đề của cả ba Thập Giá là sự dung hợp và sự tích hợp. Sự dung hợp của phàm ngã thành một toàn thể hoạt động; sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã một cách hữu thức; sự dung hợp của biểu lộ tam phân của thiên tính—Chân Thần, chân ngã và phàm ngã—đến mức có một biểu lộ của các năng lượng hòa trộn. Chủ âm của các ảnh hưởng của chúng là năng lực bao gồm và sự biểu lộ trọn vẹn đồng thời, trong thời gian và không gian, của đời sống chiều dọc và chiều ngang.
|
|
It should be noted that there are seven forms of light, related to the substance of the seven planes. These are stimulated and enhanced by the twelve forms of light of the twelve Creative Hierarchies, related each of them to one or other of the twelve signs of the zodiac. On this I may not enlarge as it concerns the mysteries of the higher initiations. I simply make the statement so that it may be appreciated by you as an occult fact to the proof of which you may not yet have access. A paralleling statement would be that the light of the seven centres in man (when enhanced by the light of the seven planetary centres) and the five kingdoms in nature (7+5=12), plus the twelve lights of the zodiac will produce a consummation of “light” effectiveness which will make possible the expression of the whole. This, through the medium of humanity. This is a basic statement which means little to you as yet but which will—in the next century—form a seed thought or “key sound” for the next revelation of the Ageless Wisdom.
|
Cần lưu ý rằng có bảy hình thức ánh sáng, liên hệ với chất liệu của bảy cõi. Những ánh sáng này được kích thích và tăng cường bởi mười hai hình thức ánh sáng của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, mỗi hình thức liên hệ với một trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Về điều này tôi không thể nói rộng hơn vì nó liên quan đến các huyền nhiệm của các lần điểm đạo cao hơn. Tôi chỉ nêu ra điều ấy để các bạn có thể đánh giá nó như một sự kiện huyền bí mà các bạn có thể chưa tiếp cận được sự chứng minh. Một phát biểu song hành sẽ là: ánh sáng của bảy trung tâm trong con người (khi được tăng cường bởi ánh sáng của bảy trung tâm hành tinh) và năm giới trong thiên nhiên (7+5=12), cộng với mười hai ánh sáng của hoàng đạo, sẽ tạo ra một sự hoàn tất về hiệu quả của “ánh sáng” khiến sự biểu lộ của toàn thể trở nên khả hữu. Điều này, qua trung gian của nhân loại. Đây là một phát biểu căn bản hiện còn có ít ý nghĩa đối với các bạn, nhưng trong thế kỷ tới sẽ hình thành một tư tưởng hạt giống hay “âm thanh chủ chốt” cho sự mặc khải tiếp theo của Minh Triết Ngàn Đời.
|
|
Until the significance of the three Crosses is understood more fully and synthetically by astrologers and astrological investigators, it is almost impossible to find the needed words which will convey clearly the intended meaning. There has been no real attempt as yet on the part of astrologers (even the most advanced) to arrive at a general or synthetic understanding of the effect of the Crosses [564] upon humanity. All that has as yet been conveyed is the effect of one arm of the Cross upon the subject born in a particular sign. But there is a fusion of energies to be noted when, esoterically speaking, man “stands at the midway point where the four energies meet.” The man whose Sun sign is in Gemini, for instance, is subjected to the forces flowing through the Cross as whole, unless he is a very low grade human being; he will be sensitive to the influences of the other three signs when they sweep into power as the lesser zodiac of the year plays its part. Later, when the practical value of esoteric astrology is better understood, men will avail themselves of the three energies of the three other signs of the Cross in which the Sun sign finds a place. This is a future development of the science of esoteric astrology. Putting it into the simplest terms and thereby necessarily limiting significances, a man will endeavour, when in Sagittarius, to practise one-pointedness along some one line; when in Virgo, he will know that opportunity to bring the form more under the influence of the hidden Christ is possible and that, in Pisces, sensitivity to the higher impression is his right and privilege. All these four possibilities, in regard to the advanced initiate are beautifully demonstrated for us in the life of Jesus, the Master on the sixth ray.
|
Cho đến khi thâm nghĩa của ba Thập Giá được các nhà chiêm tinh và các nhà khảo cứu chiêm tinh thấu hiểu đầy đủ hơn và một cách tổng hợp hơn, thì hầu như không thể tìm ra những từ ngữ cần thiết để chuyển đạt rõ ràng ý nghĩa được dự định. Cho đến nay, phía các nhà chiêm tinh (ngay cả những người tiến bộ nhất) vẫn chưa có nỗ lực thực sự nào nhằm đạt tới một sự hiểu biết tổng quát hay tổng hợp về ảnh hưởng của các Thập Giá [564] đối với nhân loại. Tất cả những gì cho đến nay đã được truyền đạt chỉ là ảnh hưởng của một cánh tay của Thập Giá lên chủ thể sinh trong một dấu hiệu đặc biệt. Nhưng có một sự dung hợp của các năng lượng cần được ghi nhận khi, nói theo nghĩa huyền bí, con người “đứng tại điểm ở giữa nơi bốn năng lượng gặp nhau.” Chẳng hạn, người có dấu hiệu mặt trời ở Song Tử phải chịu các lực tuôn qua toàn thể Thập Giá, trừ phi người ấy là một con người ở trình độ rất thấp; người ấy sẽ nhạy cảm với các ảnh hưởng của ba dấu hiệu kia khi chúng tràn vào quyền lực lúc vòng hoàng đạo nhỏ của năm đóng vai trò của nó. Về sau, khi giá trị thực tiễn của Chiêm Tinh Học Nội Môn được hiểu rõ hơn, con người sẽ tận dụng ba năng lượng của ba dấu hiệu kia của Thập Giá mà trong đó dấu hiệu mặt trời có chỗ đứng. Đây là một sự phát triển tương lai của khoa học chiêm tinh học nội môn. Nói theo những từ ngữ đơn giản nhất, và do đó tất yếu giới hạn các thâm nghĩa, một người sẽ cố gắng, khi ở Nhân Mã, thực hành tính nhất tâm theo một đường lối nào đó; khi ở Xử Nữ, người ấy sẽ biết rằng cơ hội đưa hình tướng dưới ảnh hưởng của Đức Christ ẩn tàng nhiều hơn là điều có thể; và rằng, ở Song Ngư, sự nhạy cảm đối với ấn tượng cao hơn là quyền lợi và đặc ân của mình. Tất cả bốn khả năng này, liên quan đến điểm đạo đồ tiến bộ, được biểu lộ thật đẹp đẽ cho chúng ta trong cuộc đời của Đức Jesus, Chân sư cung sáu.
|
|
The Gemini aspect of His life is shown in the perfect fusion of the basic duality found in humanity: the human and the divine.
|
Phương diện Song Tử trong cuộc đời của Ngài được biểu lộ trong sự dung hợp hoàn hảo của tính nhị nguyên căn bản được tìm thấy trong nhân loại: nhân loại và thiêng liêng.
|
|
The Virgo aspect came into expression in His twelfth year when He said: “Wist ye not that I must be about My Father’s business,” thereby indicating the subordination of the form life to the will of the indwelling Christ; this was consummated when “divinity descended upon Him” at the Baptism.
|
Phương diện Xử Nữ đã đi vào biểu hiện vào năm mười hai tuổi của Ngài khi Ngài nói: “Các người há chẳng biết rằng Ta phải lo công việc của Cha Ta sao,” qua đó chỉ ra sự lệ thuộc của đời sống hình tướng vào ý chí của Đức Christ ngự bên trong; điều này được hoàn tất khi “thiên tính giáng xuống trên Ngài” lúc Lễ Rửa Tội.
|
|
[565]
|
[565]
|
|
The Sagittarian energy enabled Him to say, when confronted with full knowledge of the imminent sacrifice which He would have to make: “I must go up to Jerusalem,” and, we read, He then “set His face” and trod the Path of the Saviour, leading to the liberation of humanity.
|
Năng lượng Nhân Mã đã giúp Ngài có thể nói, khi đối diện với sự hiểu biết trọn vẹn về sự hi sinh sắp xảy đến mà Ngài sẽ phải thực hiện: “Ta phải lên Jerusalem,” và chúng ta đọc thấy rằng khi ấy Ngài “đã định mặt mình” và bước đi trên Con Đường của Đấng Cứu Thế, dẫn đến sự giải thoát nhân loại.
|
|
The Piscean aspect in its highest expression is demonstrated by His sensitivity to immediate and unbroken contact with His “Father in Heaven”; He was in constant communication with the Monad, thereby proving to the world that He was initiated into states of consciousness of which the third initiation is but the beginning.
|
Phương diện Song Ngư trong biểu hiện cao nhất của nó được chứng minh bởi sự nhạy cảm của Ngài đối với sự tiếp xúc trực tiếp và không gián đoạn với “Cha trên Trời” của Ngài; Ngài ở trong sự giao tiếp liên tục với Chân Thần, nhờ đó chứng minh cho thế gian thấy rằng Ngài đã được điểm đạo vào những trạng thái tâm thức mà lần điểm đạo thứ ba chỉ mới là khởi đầu.
|
|
All the three Crosses are shown as functioning simultaneously in His life—a thing hitherto unknown in the perfection which He displayed—a perfection of perfect responsiveness and perfect demonstration of result as well, giving us a manifestation and an example of the fusion of the twelve energies in one divine Personality (expressing Individuality) on the physical plane. Let me briefly complete the demonstration of this truth—the truth that in the initiate of the higher degrees, all the twelve zodiacal energies can focus simultaneously and produce a complete exhibition of divinity, as it is intended eventually to express itself through humanity on this planet. I have given you the expression of the Mutable Cross. We will take the other two, in connection with the Christ and with the Cosmic Christ.
|
Cả ba Thập Giá đều được cho thấy là đang hoạt động đồng thời trong cuộc đời của Ngài—một điều từ trước đến nay chưa từng được biết đến trong sự toàn hảo mà Ngài đã biểu lộ—một sự toàn hảo của khả năng đáp ứng hoàn hảo và cũng là sự biểu lộ hoàn hảo của kết quả, đem lại cho chúng ta một biểu hiện và một tấm gương về sự dung hợp của mười hai năng lượng trong một phàm ngã thiêng liêng duy nhất (biểu lộ Cá Thể tính) trên cõi hồng trần. Hãy để tôi ngắn gọn hoàn tất sự minh chứng cho chân lý này—chân lý rằng nơi điểm đạo đồ của các cấp cao hơn, cả mười hai năng lượng hoàng đạo có thể hội tụ đồng thời và tạo ra một sự biểu lộ trọn vẹn của thiên tính, như điều cuối cùng được dự định sẽ biểu hiện qua nhân loại trên hành tinh này. Tôi đã trao cho các bạn sự biểu lộ của Thập Giá Biến đổi. Chúng ta sẽ xét hai Thập Giá kia, liên hệ với Đức Christ và với Đức Christ Vũ Trụ.
|
|
THE FIXED CROSS
|
THẬP GIÁ CỐ ĐỊNH
|
|
Taurus.—Christ said (as have all the Sons of God Who know the true significance of the Fixed Cross), “I am the Light of the world,” and he added, “if thine eye be single thy whole body shall he full of light.” Taurus is, as you have heard, the Mother of Illumination, and [566] the “eye of the Bull” is the symbol of the eye to which Christ made reference.
|
Kim Ngưu.—Đức Christ đã nói (cũng như mọi Con của Thượng đế biết thâm nghĩa thật sự của Thập Giá Cố Định): “Ta là Ánh sáng của thế gian,” và Ngài thêm rằng, “nếu mắt ngươi đơn nhất thì toàn thân ngươi sẽ đầy ánh sáng.” Kim Ngưu, như các bạn đã nghe, là Mẹ của Sự Soi Sáng, và [566] “mắt của Con Bò Đực” là biểu tượng của con mắt mà Đức Christ đã nhắc đến.
|
|
Leo.—This is the sign of self-conscious identity. This is testified to by Christ in the words He spoke to His disciples: “What shall it profit a man if he gain the whole world and lose his soul?” or his own centre of self-consciousness—that significant point of attainment which must precede all the more inclusive states of consciousness.
|
Sư Tử.—Đây là dấu hiệu của bản sắc ngã thức. Điều này được Đức Christ xác nhận trong những lời Ngài nói với các đệ tử của mình: “Người ta được ích gì nếu được cả thế gian mà mất linh hồn mình?” hay mất chính trung tâm ngã thức của mình—điểm thành tựu đầy ý nghĩa ấy, vốn phải đi trước mọi trạng thái tâm thức bao gồm hơn.
|
|
Scorpio.—The significance of this sign in the life of Christ has been deleted from The New Testament, but has been preserved for us in the ancient Christian legend that—in the cradle itself—Christ killed or strangled two serpents, thus referring to the pairs of opposites which could no longer control Him.
|
Hổ Cáp.—Thâm nghĩa của dấu hiệu này trong cuộc đời Đức Christ đã bị loại khỏi Tân Ước, nhưng đã được lưu giữ cho chúng ta trong truyền thuyết Kitô giáo cổ rằng—ngay trong chiếc nôi—Đức Christ đã giết hay bóp chết hai con rắn, như thế ám chỉ các cặp đối cực vốn không còn có thể kiểm soát Ngài nữa.
|
|
Aquarius.—The expression of this influence has been beautifully given to us in the story of the Last Supper. Christ sent His disciples into the city to find the man “bearing a pitcher of water” upon his shoulder. This is the symbol of the sign Aquarius—the sign in which the universality of the water of life will become a factor in human consciousness; then we shall indeed all sit down eventually to the communion of bread and wine. He referred indirectly to the same idea when He spoke of Himself as the “water of life,” assuaging the thirst of humanity.
|
Bảo Bình.—Sự biểu lộ của ảnh hưởng này đã được trao cho chúng ta thật đẹp đẽ trong câu chuyện về Bữa Tiệc Ly. Đức Christ sai các đệ tử vào thành để tìm người đàn ông “mang một vò nước” trên vai. Đây là biểu tượng của dấu hiệu Bảo Bình—dấu hiệu trong đó tính phổ quát của nước sự sống sẽ trở thành một yếu tố trong tâm thức nhân loại; khi ấy quả thật tất cả chúng ta cuối cùng sẽ cùng ngồi xuống trong sự hiệp thông của bánh và rượu. Ngài cũng gián tiếp nhắc đến cùng một ý tưởng khi nói về chính mình như là “nước sự sống,” làm dịu cơn khát của nhân loại.
|
|
Thus, through the use of the energies of these four signs of the Fixed Cross, Christ demonstrated perfection. [567]
|
Như vậy, qua việc sử dụng các năng lượng của bốn dấu hiệu này của Thập Giá Cố Định, Đức Christ đã biểu lộ sự toàn hảo. [567]
|
|
THE CARDINAL CROSS
|
THẬP GIÁ CHỦ YẾU
|
|
In the four signs of this Cross we find Him also manifesting their energies in their highest forms (from the angle of human understanding), though these are more by implication than by direct statement.
|
Trong bốn dấu hiệu của Thập Giá này, chúng ta cũng thấy Ngài biểu lộ các năng lượng của chúng trong những hình thức cao nhất của chúng (xét từ góc độ hiểu biết của con người), dù điều này được hàm ý nhiều hơn là được phát biểu trực tiếp.
|
|
Aries.—This sign, which is the sign of beginnings, provided the impulse and energy which enabled Him to inaugurate the Christian era; it initiated, through Him, the “age of Love” which is only now beginning to take form, and its potency is now so great that it has brought about (paradoxically) the present world cleavage.
|
Bạch Dương.—Dấu hiệu này, là dấu hiệu của những khởi đầu, đã cung cấp xung lực và năng lượng giúp Ngài có thể khai mở kỷ nguyên Kitô giáo; qua Ngài, nó đã khởi xướng “kỷ nguyên của Bác ái,” kỷ nguyên mà chỉ nay mới bắt đầu thành hình, và tiềm lực của nó hiện nay lớn đến mức đã gây ra (một cách nghịch lý) sự phân rẽ thế giới hiện tại.
|
|
Cancer.—The potency of this sign is expressed for us by Christ in the oft misinterpreted words: “Other sheep I have which are not of this fold, them also I must bring.” This refers to the mass consciousness in contradistinction to the initiate consciousness of His disciples. Cancer is a mass sign.
|
Cự Giải.—Tiềm lực của dấu hiệu này được Đức Christ biểu lộ cho chúng ta qua những lời thường bị hiểu sai: “Ta còn có những con chiên khác không thuộc về bầy này, Ta cũng phải đem chúng về.” Điều này ám chỉ tâm thức quần chúng đối lập với tâm thức điểm đạo của các đệ tử Ngài. Cự Giải là một dấu hiệu quần chúng.
|
|
Libra.—Christ stood at the point of balance in human evolution; He stood between the old world and the new, between the East and the West. In the Christian era comes a “point of balance” or that “crisis of equilibrium” in the human kingdom.
|
Thiên Bình.—Đức Christ đứng tại điểm quân bình trong tiến hoá nhân loại; Ngài đứng giữa thế giới cũ và thế giới mới, giữa Đông phương và Tây phương. Trong kỷ nguyên Kitô giáo xuất hiện một “điểm quân bình” hay “cuộc khủng hoảng của sự cân bằng” ấy trong giới nhân loại.
|
|
Capricorn.—This sign marks the point of concretion and of crystallisation which results eventually in the death of the form. This we see happening today. In His triumph over death and in His resurrection into life, Christ indicated the deep mystery of Capricorn.
|
Ma Kết.—Dấu hiệu này đánh dấu điểm của sự cô đọng và kết tinh, cuối cùng dẫn đến cái chết của hình tướng. Đây là điều chúng ta thấy đang xảy ra ngày nay. Trong sự chiến thắng của Ngài trước cái chết và trong sự phục sinh vào sự sống, Đức Christ đã chỉ ra huyền nhiệm sâu xa của Ma Kết.
|
|
[568]
|
[568]
|
|
A study of these few suggestions anent the life of Christ will bring to light and livingness this whole subject of the three Crosses. It is needless for me to remind you at this point that on Mount Golgotha, these three Crosses are portrayed:
|
Một sự nghiên cứu về vài gợi ý này liên quan đến cuộc đời Đức Christ sẽ làm sáng tỏ và làm sống động toàn bộ chủ đề về ba Thập Giá. Tôi không cần phải nhắc các bạn tại điểm này rằng trên Núi Golgotha, ba Thập Giá này được mô tả:
|
|
1. The Mutable Cross—the unrepentant thief. Humanity.
|
1. Thập Giá Biến đổi—tên trộm không ăn năn. Nhân loại.
|
|
2. The Fixed Cross—the repentant thief. Hierarchy.
|
2. Thập Giá Cố Định—tên trộm ăn năn. Thánh Đoàn.
|
|
3. The Cardinal Cross—the Cross of Christ. Shamballa.
|
3. Thập Giá Chủ Yếu—Thập Giá của Đức Christ. Shamballa.
|
|
For those who read this treatise, the Cross which is of prime importance is the Fixed Cross of the Heavens. Aspirants to the Mysteries are steadily increasing in numbers at this time and this involves their re-orientation towards the Light, their conscious reversal upon the wheel of the zodiac, and their comprehension of the objectives of the processes to which they have given themselves upon the Fixed Cross. Disciples are apt to think that the fact of their taking their place upon that Cross and demonstrating their willingness to be tested and to show unalterable stability is the major factor involved. This is by no means so in reality. Each of these Crosses makes its presence felt as a fourfold sphere of influence or a potent centre of energy through the medium of an “invoking sound.” This sound goes up from each of the Crosses and produces a result and a response from some source. It is this new fact anent the Crosses which is of importance and upon which I seek briefly to touch. Only when the influence of all the four arms of each Cross has produced an effect in the subject is a transition in consciousness made from one Cross to another—each transition marking a point of crisis, both in [569] the individual and in the larger whole. Then a process of invocation is instituted—at first unconsciously, in which case it is in the nature of a diffused call, and, later, consciously, when it takes the form of a focussed appeal.
|
Đối với những ai đọc bộ luận này, Thập Giá có tầm quan trọng hàng đầu là Thập Giá Cố Định của các tầng trời. Những người chí nguyện hướng đến các Huyền Nhiệm hiện đang tăng lên đều đặn về số lượng, và điều này bao hàm sự tái định hướng của họ về phía Ánh sáng, sự đảo chiều có ý thức của họ trên bánh xe hoàng đạo, và sự hiểu biết của họ về các mục tiêu của những tiến trình mà họ đã hiến mình cho trên Thập Giá Cố Định. Các đệ tử có khuynh hướng nghĩ rằng việc họ chiếm chỗ của mình trên Thập Giá ấy và biểu lộ sự sẵn lòng được thử thách và cho thấy sự ổn định không thay đổi là yếu tố chính liên hệ ở đây. Thực ra hoàn toàn không phải vậy. Mỗi Thập Giá này làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận như một khối cầu ảnh hưởng tứ phân hay một trung tâm năng lượng mạnh mẽ qua trung gian của một “âm thanh khẩn cầu.” Âm thanh này phát lên từ mỗi Thập Giá và tạo ra một kết quả cùng một sự đáp ứng từ một nguồn nào đó. Chính sự kiện mới này liên quan đến các Thập Giá là điều quan trọng và là điều tôi muốn ngắn gọn đề cập đến. Chỉ khi ảnh hưởng của cả bốn cánh tay của mỗi Thập Giá đã tạo ra một hiệu quả nơi chủ thể thì mới có một sự chuyển tiếp trong tâm thức từ Thập Giá này sang Thập Giá khác—mỗi sự chuyển tiếp đánh dấu một điểm khủng hoảng, cả trong [569] cá nhân lẫn trong toàn thể lớn hơn. Khi ấy một tiến trình khẩn cầu được thiết lập—lúc đầu là vô thức, trong trường hợp đó nó có tính chất của một tiếng gọi lan tỏa, và về sau là có ý thức, khi nó mang hình thức của một lời thỉnh cầu tập trung.
|
|
When the time of transition from the Mutable Cross on to the Fixed Cross arrives, three things occur:
|
Khi thời điểm chuyển tiếp từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định đến, ba điều xảy ra:
|
|
1. The influence of the four energies of the Mutable Cross have brought about a vast experience of life in form.
|
1. Ảnh hưởng của bốn năng lượng của Thập Giá Biến đổi đã đem lại một kinh nghiệm rộng lớn về đời sống trong hình tướng.
|
|
2. There is now a gradually growing and profound dissatisfaction awakening in the consciousness of the man making the transition. He has exhausted material desire to a very great extent and is no longer attracted by the Path of outgoing into matter; the needs of the physical nature no longer dominate him; he is afraid of the impulses, emanating from the astral plane; he is awake and active mentally and as a functioning personality. But he remains unsatisfied and is uncomfortably aware of it.
|
2. Giờ đây có một sự bất mãn ngày càng tăng và sâu sắc đang thức tỉnh trong tâm thức của người đang thực hiện sự chuyển tiếp. Người ấy đã làm cạn kiệt dục vọng vật chất đến một mức rất lớn và không còn bị hấp dẫn bởi Con Đường hướng ngoại vào vật chất nữa; các nhu cầu của bản chất thể xác không còn thống trị người ấy; người ấy sợ các xung lực phát ra từ cõi cảm dục; người ấy thức tỉnh và hoạt động về mặt trí tuệ và như một phàm ngã đang vận hành. Nhưng người ấy vẫn không thỏa mãn và khó chịu vì nhận biết điều đó.
|
|
3. He turns to invocation. This process of invocation falls into two stages:
|
3. Người ấy quay sang khẩn cầu. Tiến trình khẩn cầu này rơi vào hai giai đoạn:
|
|
a. The stage of aspiration, irregular and vague but gradually assuming power.
|
a. Giai đoạn khát vọng, thất thường và mơ hồ nhưng dần dần mang lấy quyền lực.
|
|
b. The stage of mysticism, merging into occultism (the study of that which is hidden). Duality is now consciously and uncomfortably recognised and the higher way and the spiritual vision is contacted. Desire gives place to the vague promptings of what might be called love. This is the movement in the personality of that divine emerging aspect. It is this that he seeks to invoke. When this is adequately strong then true evocation [570] takes place and the disciple (for such the man now is) mounts the Fixed Cross.
|
b. Giai đoạn thần bí học, hòa nhập vào huyền bí học (sự nghiên cứu điều bị che giấu). Nhị nguyên tính giờ đây được nhận biết một cách có ý thức và đầy khó chịu, và con đường cao hơn cùng linh ảnh tinh thần được tiếp xúc. Dục vọng nhường chỗ cho những thôi thúc mơ hồ của điều có thể gọi là bác ái. Đây là sự vận động trong phàm ngã của phương diện thiêng liêng đang xuất hiện ấy. Chính điều này mà người ấy tìm cách khẩn cầu. Khi điều này đủ mạnh thì sự gợi lên chân chính [570] diễn ra và đệ tử (vì giờ đây con người ấy là như vậy) bước lên Thập Giá Cố Định.
|
|
The above is true of the individual disciple and also today of humanity as a whole, and—as I have oft told you—it is this process of invocation which is taking place in the human family. This produces the present dire crisis. The two stages above outlined are present today in a general and potent sense in mankind.
|
Điều trên là đúng đối với đệ tử cá nhân và cũng đúng ngày nay đối với toàn thể nhân loại, và—như tôi đã thường nói với các bạn—chính tiến trình khẩn cầu này đang diễn ra trong gia đình nhân loại. Điều này tạo ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hiện nay. Hai giai đoạn được phác họa ở trên hiện diện ngày nay trong nhân loại theo một ý nghĩa tổng quát và mạnh mẽ.
|
|
It was the recognition of these two stages in humanity which led me, under instruction from the Hierarchy, to give out—at widely separated points in time—two stanzas of a great occult mantram. The first stanza, used in 1936, referred to the vague general aspiration of the mass of the people in the world, which is today more pronounced than ever before and becoming more focussed towards true well-being.
|
Chính sự nhận biết hai giai đoạn này trong nhân loại đã khiến tôi, dưới sự chỉ thị của Thánh Đoàn, công bố—vào những thời điểm cách xa nhau—hai bài kệ của một mantram huyền bí vĩ đại. Bài kệ thứ nhất, được dùng vào năm 1936, liên hệ đến khát vọng tổng quát mơ hồ của quần chúng trên thế giới, điều ngày nay rõ rệt hơn bao giờ hết và đang trở nên tập trung hơn vào phúc lợi chân chính.
|
|
THE GREAT INVOCATION
|
ĐẠI KHẤN NGUYỆN
|
|
Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
|
Cầu xin các Mãnh Lực của Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.
|
|
Let the Spirit of Peace be spread abroad.
|
Cầu xin Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi.
|
|
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
|
Nguyện cho những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
|
|
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
|
Nguyện cho sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này.
|
|
Let power attend the efforts of the Great Ones.
|
Cầu xin quyền năng đi kèm những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
|
|
So let it be, and help us to do our part.
|
Cầu xin điều ấy được thành tựu, và xin giúp chúng con làm phần việc của mình.
|
|
The use of this first stanza was immediately successful and met with a full response from those good and well-meaning people whose focus is predominantly astral and aspirational, and whose aim is peace and quiet. This peace and quiet provides the “area of consciousness” in which aspiration can flourish, physical and emotional comfort can be attained and the recognition of the mystical vision becomes possible.
|
Việc sử dụng bài kệ thứ nhất này đã thành công ngay tức khắc và nhận được sự đáp ứng trọn vẹn từ những người tốt lành và thiện ý, những người mà trọng tâm của họ chủ yếu là cảm dục và khát vọng, và mục tiêu của họ là hòa bình và yên ổn. Sự hòa bình và yên ổn này cung cấp “lãnh vực tâm thức” trong đó khát vọng có thể nở rộ, sự thoải mái về thể xác và cảm xúc có thể đạt được, và sự nhận biết linh ảnh thần bí trở nên khả hữu.
|
|
[571]
|
[571]
|
|
The second stanza was given out later and was intended to be a test and a “decision point in a time of crisis.”
|
Bài kệ thứ hai được công bố về sau và được dự định như một phép thử và một “điểm quyết định trong thời kỳ khủng hoảng.”
|
|
Let the Lords of Liberation issue forth.
|
Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.
|
|
Let Them bring succour to the sons of men.
|
Cầu xin Các Ngài đem cứu trợ đến cho những người con của nhân loại.
|
|
Let the Rider from the Secret Place come forth,
|
Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Bí Mật xuất hiện,
|
|
And coming, save.
|
Và khi đến, cứu độ.
|
|
Come forth, O Mighty One.
|
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
|
|
Let the souls of men awaken to the Light,
|
Cầu xin linh hồn của nhân loại thức tỉnh hướng về Ánh sáng,
|
|
And may they stand with massed intent.
|
Và nguyện cho họ đứng lên với ý hướng tập thể.
|
|
Let the fiat of the Lord go forth:
|
Cầu xin sắc lệnh của Đức Chúa Tể được ban ra:
|
|
The end of woe has come!
|
Sự khốn khổ đã đến lúc chấm dứt!
|
|
Come forth, O Mighty One.
|
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
|
|
The hour of service of the saving force has now arrived.
|
Giờ phụng sự của mãnh lực cứu rỗi nay đã đến.
|
|
Let it be spread abroad, O Mighty One.
|
Cầu xin nó được lan tỏa khắp nơi, hỡi Đấng Đại Hùng.
|
|
Let Light and Love and Power and Death
|
Cầu xin Ánh sáng và Bác ái và Quyền năng và Cái Chết
|
|
Fulfil the purpose of the Coming One.
|
Hoàn tất mục đích của Đấng Đang Đến.
|
|
The WILL to save is here.
|
Ý Chí cứu độ đang hiện diện nơi đây.
|
|
The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.
|
Bác ái để tiếp tục công việc đang được lan tỏa rộng khắp.
|
|
The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.
|
Sự TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng đang hiện diện nơi đây.
|
|
Come forth, O mighty One, and blend these three.
|
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hòa trộn ba điều này.
|
|
Construct a great defending wall.
|
Hãy xây dựng một bức tường phòng vệ vĩ đại.
|
|
The rule of evil NOW must end.
|
Sự thống trị của điều ác GIỜ ĐÂY phải chấm dứt.
|
|
It was offered, under this test, to the masses, but was intended primarily for the use of those aspirants and disciples who are not only mystics but who have made at least some small progress in their attempt to tread the occult way. They are mentally focussed in their attitude; the higher way is recognised by them; the vision has been seen and they are now ready for something closer and more real. The last stanza given is primarily, therefore, for the use of those who have mounted, or are in process of mounting, the Fixed Cross.
|
Nó được trao ra, dưới phép thử này, cho quần chúng, nhưng chủ yếu được dự định cho việc sử dụng của những người chí nguyện và các đệ tử, những người không chỉ là các nhà thần bí mà còn đã đạt được ít nhất một tiến bộ nhỏ trong nỗ lực bước đi trên con đường huyền bí học. Họ được tập trung về mặt trí tuệ trong thái độ của mình; con đường cao hơn được họ nhận biết; linh ảnh đã được thấy và giờ đây họ sẵn sàng cho một điều gì gần gũi hơn và thực hơn. Vì vậy, bài kệ cuối cùng được trao ra chủ yếu để những ai đã bước lên, hoặc đang trong tiến trình bước lên, Thập Giá Cố Định sử dụng.
|
|
It is for this reason that the use of the second part of [572] the Great Invocation was relatively limited. It was repudiated (almost violently sometimes) by the emotional type of person who could see no further than the beauty of peace—the goal of expression upon the astral plane. Their vision of the greater whole and of the evocation of the will-to-good (which is not the will-to-peace) was exceedingly limited and this through no fault of their own. It simply indicated their place upon the ladder of evolution and marked a relatively useful point of service, but one which is in process of being transcended. The people in the world today are coming to realise (through suffering and its consequent reflection) that there is something greater than peace and that is the good of the whole, and not just individual, peaceful conditions or national peace. This re-orientation of the human consciousness is brought about by the determined attitude of the souls of men, massed and blended, organised and focussed by the vision of the general welfare of humanity.
|
Chính vì lý do này mà việc sử dụng phần thứ hai của [572] Đại Khấn Nguyện tương đối bị giới hạn. Nó đã bị kiểu người cảm xúc bác bỏ (đôi khi gần như dữ dội), những người không thể thấy xa hơn vẻ đẹp của hòa bình—mục tiêu biểu lộ trên cõi cảm dục. Tầm nhìn của họ về toàn thể lớn hơn và về sự gợi lên ý chí-hướng thiện (điều không phải là ý chí-hướng hòa bình) hết sức hạn chế, và điều này không phải do lỗi của riêng họ. Nó chỉ đơn giản cho thấy vị trí của họ trên chiếc thang tiến hoá và đánh dấu một điểm phụng sự tương đối hữu ích, nhưng là điểm đang được vượt qua. Con người trên thế giới ngày nay đang đi đến chỗ nhận ra (qua đau khổ và sự suy tư do đó mà có) rằng có một điều gì lớn hơn hòa bình, và đó là điều thiện của toàn thể, chứ không chỉ là những điều kiện yên ổn cá nhân hay hòa bình quốc gia. Sự tái định hướng này của tâm thức nhân loại được đem lại bởi thái độ kiên quyết của các linh hồn của nhân loại, được tập hợp và hòa trộn, được tổ chức và tập trung bởi linh ảnh về phúc lợi chung của nhân loại.
|
|
It was, however, essential that these distinctions in attitude should appear in their clarity and, therefore, we gave out the two stanzas of the Great Invocation separately and at different times. You learnt thereby the difference of attitude between the mass of well-meaning people in the world, and the correctly oriented attitudes of the intelligent aspirants and disciples. This was necessary before wider action could later take place. I would pause here and remind you that both groups are necessary: the first group—emotional and idealistic—have a part to play in focussing the mass fluid aspiration. Their responsibility is to the general public. The other group of trained thinkers and people who are animated primarily by the will-to-good (which is of more importance in this world cycle than the will-to-peace) have a function to carry out in evoking hierarchical response in [573] reply to the aspiration of the first group. They focus this aspiration on the mental plane, create a thoughtform embodying the objective and project the “call” which may reach the ears of the Lords of Liberation.
|
Tuy nhiên, điều thiết yếu là những sự phân biệt trong thái độ này phải xuất hiện một cách rõ ràng và, vì vậy, chúng tôi đã công bố hai bài kệ của Đại Khấn Nguyện một cách riêng biệt và vào những thời điểm khác nhau. Qua đó các bạn đã học được sự khác biệt về thái độ giữa quần chúng thiện chí trên thế giới, và những thái độ được định hướng đúng đắn của những người chí nguyện và các đệ tử thông minh. Điều này là cần thiết trước khi về sau có thể diễn ra hành động rộng lớn hơn. Tôi muốn dừng lại ở đây và nhắc các bạn rằng cả hai nhóm đều cần thiết: nhóm thứ nhất—cảm xúc và lý tưởng—có phần việc phải làm trong việc tập trung khát vọng lưu chất của quần chúng. Trách nhiệm của họ là đối với công chúng nói chung. Nhóm kia gồm những nhà tư tưởng được huấn luyện và những người chủ yếu được sinh động bởi ý chí-hướng thiện (điều quan trọng hơn trong chu kỳ thế giới này so với ý chí-hướng hòa bình) có một chức năng phải thực hiện là gợi lên sự đáp ứng của Thánh Đoàn để [573] đáp lại khát vọng của nhóm thứ nhất. Họ tập trung khát vọng này trên cõi trí, tạo ra một hình tư tưởng hiện thân cho mục tiêu và phóng chiếu “tiếng gọi” có thể đến tai các Đấng Giải Thoát.
|
|
The blended invocation and the united call from the different levels of the human consciousness will bring a mighty appeal to bear upon the hidden Centres of the “Saving Force.” It is this united appeal which you must now organise. Thus the mass of humanity will be stimulated to move off the Mutable Cross on to the Fixed Cross and the new world cycle, beginning in Aquarius (one arm of the Fixed Cross) will be definitely inaugurated by humanity itself.
|
Sự khẩn cầu hòa trộn và tiếng gọi hợp nhất từ những cấp độ khác nhau của tâm thức nhân loại sẽ đem một lời thỉnh cầu mạnh mẽ tác động lên các Trung Tâm ẩn kín của “Mãnh Lực Cứu Rỗi.” Chính lời thỉnh cầu hợp nhất này mà giờ đây các bạn phải tổ chức. Như vậy quần chúng nhân loại sẽ được kích thích để rời khỏi Thập Giá Biến đổi mà bước sang Thập Giá Cố Định, và chu kỳ thế giới mới, bắt đầu trong Bảo Bình (một cánh tay của Thập Giá Cố Định), sẽ được chính nhân loại khai mở một cách dứt khoát.
|
|
It might be said, therefore, that the Great Invocation as first given out was for the use of those who are crucified upon the Mutable Cross, the Cross of change, whilst the second invocation is for the use of those who are crucified upon the Fixed Cross, the Cross of right orientation. It is for the use of those men and women whose aim is the will-to-good, who think in terms of world service and who are oriented towards light—the light of knowledge, the light of wisdom and understanding and the light of life itself.
|
Do đó, có thể nói rằng Đại Khấn Nguyện như đã được công bố lần đầu là để những ai bị đóng đinh trên Thập Giá Biến đổi, Thập Giá của sự thay đổi, sử dụng; trong khi lời khẩn cầu thứ hai là để những ai bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định, Thập Giá của sự định hướng đúng đắn, sử dụng. Nó dành cho những người nam và nữ mà mục tiêu là ý chí-hướng thiện, những người suy nghĩ theo các thuật ngữ của sự phụng sự thế giới và được định hướng về phía ánh sáng—ánh sáng của tri thức, ánh sáng của minh triết và thấu hiểu, và ánh sáng của chính sự sống.
|
|
Upon the Fixed Cross, the united influence of its four streams of energy, when expressing themselves fully through an individual disciple and through the Hierarchy, produces likewise three emerging conditions:
|
Trên Thập Giá Cố Định, ảnh hưởng hợp nhất của bốn dòng năng lượng của nó, khi biểu lộ đầy đủ qua một đệ tử cá nhân và qua Thánh Đoàn, cũng tạo ra ba điều kiện đang xuất hiện:
|
|
1. There is a vast experience of group life, group activity and group awareness. The self-conscious man in Leo becomes the group conscious man in Aquarius.
|
1. Có một kinh nghiệm rộng lớn về đời sống nhóm, hoạt động nhóm và nhận biết nhóm. Con người ngã thức trong Sư Tử trở thành con người có ý thức nhóm trong Bảo Bình.
|
|
2. There arises in the consciousness of the disciple a vision of the “endless Way of which Nirvana is but the beginning.” [574]
|
2. Trong tâm thức của đệ tử nảy sinh một linh ảnh về “Con Đường vô tận mà Niết Bàn chỉ mới là khởi đầu.” [574]
|
|
3. He recognises his task of mediatorship which is the major task of the Hierarchy, mediating between Shamballa and Humanity. He knows that he must carry forward the dual task of invocation and evocation simultaneously—the evocation (through right invocation) of the will-to-good of the world thinkers and aspirants, and also the will-to-save of the Shamballa Lords, via the Hierarchy, which he is in a position directly to approach. I touch here on grave mysteries.
|
3. Người ấy nhận ra nhiệm vụ trung gian của mình, là nhiệm vụ chính của Thánh Đoàn, làm trung gian giữa Shamballa và Nhân Loại. Người ấy biết rằng mình phải đồng thời xúc tiến nhiệm vụ kép là khẩn cầu và gợi lên—sự gợi lên (qua khẩn cầu đúng đắn) ý chí-hướng thiện của các nhà tư tưởng và người chí nguyện trên thế giới, và cả ý chí-cứu độ của các Đấng Shamballa, thông qua Thánh Đoàn, mà người ấy ở vào vị thế có thể trực tiếp tiếp cận. Ở đây tôi đang chạm đến những huyền nhiệm nghiêm trọng.
|
|
There awakens in him, therefore, a vague determination at first which gives place in time to an evocation of the will in himself. This eventually puts him en rapport with the will aspect of Deity as it emanates and is stepped down from Shamballa, via the Hierarchy, into which spiritual organisation he is being gradually integrated through experience upon the Fixed Cross. It might here be pointed out that:
|
Vì vậy, trong người ấy lúc đầu thức dậy một quyết tâm mơ hồ, rồi theo thời gian nhường chỗ cho sự gợi lên ý chí trong chính mình. Điều này cuối cùng đặt người ấy vào mối tương quan với phương diện ý chí của Thượng đế khi nó phát xuất và được giảm hạ từ Shamballa, qua Thánh Đoàn, đi vào tổ chức tinh thần mà người ấy đang dần dần được tích hợp vào qua kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định. Ở đây có thể chỉ ra rằng:
|
|
a. Experience upon the Mutable Cross integrates a man into the centre which we call Humanity.
|
a. Kinh nghiệm trên Thập Giá Biến đổi tích hợp một người vào trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân Loại.
|
|
b. Experience upon the Fixed Cross integrates the disciple into the second planetary Centre which we call the Hierarchy.
|
b. Kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định tích hợp đệ tử vào Trung Tâm hành tinh thứ hai mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn.
|
|
c. Experience upon the Cardinal Cross integrates the initiate into the primary planetary Centre to which we give the name Shamballa.
|
c. Kinh nghiệm trên Thập Giá Chủ Yếu tích hợp điểm đạo đồ vào Trung Tâm hành tinh chính yếu mà chúng ta gọi là Shamballa.
|
|
He eventually becomes a radiating centre of spiritual will, affecting humanity and evoking its will-to-good; he blends this into the Hierarchy as far as he can, fusing this human will into hierarchical activity in an effort to evoke response from Shamballa. [575]
|
Cuối cùng người ấy trở thành một trung tâm bức xạ của ý chí tinh thần, ảnh hưởng đến nhân loại và gợi lên ý chí-hướng thiện của nó; người ấy hòa trộn điều này vào Thánh Đoàn trong mức có thể, dung hợp ý chí nhân loại này vào hoạt động của Thánh Đoàn trong một nỗ lực gợi lên sự đáp ứng từ Shamballa. [575]
|