
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN — TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
|
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names. |
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với các bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt ấy. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) biết tôi dưới một tên gọi và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai tên của tôi. |
|
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master. |
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Thánh đạo lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì vậy đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn người chí nguyện sẽ đọc bài này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi giữa các huấn sư, tuy vậy tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức của Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư KH bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều; tuy nhiên, đồng thời tôi cũng không nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dành cho tôi sự vâng phục mù quáng và lòng sùng kính ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y còn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn ấy cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng kính cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—không phải đối với Chân sư. |
|
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said. |
Những cuốn sách mà tôi đã viết được gửi ra mà không đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thật và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự vận dụng trực giác là phần của các bạn. Cả tôi lẫn A.A.B. đều không hề quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc bất cứ ai nói về chúng (với hơi thở nín lại) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được cống hiến trong các giáo huấn thế gian, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi nơi các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế gian, và mang lại sự bừng sáng của trực giác nơi y, thì hãy chấp nhận giáo huấn ấy. Nhưng không phải cách khác. Nếu các phát biểu gặp được sự xác chứng về sau, hoặc được xem là đúng dưới phép thử của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt đẹp. Nhưng nếu không phải vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận điều được nói ra. |
|
AUGUST 1934 |
THÁNG TÁM 1934 |
THE GREAT INVOCATION — ĐẠI KHẤN NGUYỆN
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |
|
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.” |
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.” |
|
ALICE A. BAILEY |
ALICE A. BAILEY |
CHAPTER I – The Zodiac and the Rays — CHƯƠNG I – Hoàng đạo và các Cung
|
[3] |
[3] |
|
What I have to say first on this subject is entirely of a preliminary nature. I seek to lay the ground for a somewhat new approach—a far more esoteric approach—to the science of astrology. Certain things I may say will probably be regarded by the academic and uninspired astrologer as revolutionary, or as erroneous, as improbable or unprovable. As yet, however, astrology has not really proved itself to the world of thought and science, in spite of many definitely demonstrable successes. I would ask all of you, therefore, who read and study this section of A Treatise on the Seven Rays to bear in mind the above comments and to preserve a willingness to consider hypotheses and to make an effort to weigh a theory or suggestion and to test out conclusions over the course of a few years. If you can do this, there may come to you an awakening of the intuition which will translate modern astrology into something of real moment and significance to the world. It is intuitional astrology which must eventually supersede what is today called astrology, thus bringing about a return to the knowledge of that ancient science which related the constellations and our solar system, drew attention to the nature of the zodiac and informed humanity as to the basic interrelations [4] which govern and control the phenomenal and subjective worlds. |
Điều đầu tiên tôi phải nói về đề tài này hoàn toàn có tính cách sơ bộ. Tôi tìm cách đặt nền tảng cho một lối tiếp cận phần nào mới—một lối tiếp cận huyền bí hơn nhiều—đối với khoa học chiêm tinh. Một số điều tôi có thể nói có lẽ sẽ bị nhà chiêm tinh hàn lâm và thiếu cảm hứng xem là có tính cách cách mạng, hoặc sai lầm, hoặc khó tin hay không thể chứng minh. Tuy nhiên, cho đến nay, chiêm tinh học vẫn chưa thực sự tự chứng minh được với thế giới tư tưởng và khoa học, mặc dù có nhiều thành công rõ ràng có thể chứng minh được. Vì vậy, tôi xin tất cả các bạn, những người đọc và nghiên cứu phần này của Luận về Bảy Cung, hãy ghi nhớ những nhận xét trên và giữ một thiện chí xem xét các giả thuyết, cũng như nỗ lực cân nhắc một lý thuyết hay một gợi ý và kiểm nghiệm các kết luận trong suốt vài năm. Nếu các bạn có thể làm được điều này, có thể sẽ đến với các bạn một sự thức tỉnh của trực giác, điều sẽ chuyển dịch chiêm tinh học hiện đại thành một điều gì đó có tầm quan trọng và thâm nghĩa thực sự đối với thế giới. Chính chiêm tinh học trực giác rốt cuộc phải thay thế điều ngày nay được gọi là chiêm tinh học, nhờ đó mang lại sự trở về với tri thức của khoa học cổ xưa ấy, khoa học đã liên hệ các chòm sao với hệ mặt trời của chúng ta, đã lưu ý đến bản chất của hoàng đạo và đã thông báo cho nhân loại về những tương quan căn bản [4] chi phối và kiểm soát các thế giới hiện tượng và chủ quan. |
1. Three Basic Statements. — 1. Ba Mệnh đề Căn bản.
|
I. |
1. The constellation of the Great Bear. |
|
|
2. The Seven Sisters of the Pleiades. |
||
|
3. Sirius, the Dog Star. |
||
|
II. |
1. The seven solar systems of which ours is one. |
|
|
2. The seven sacred planets of which ours is not one. |
||
|
3. The five non-sacred planets or “hidden” planets. |
||
|
III. |
1. The seven planetary centres. |
|
|
2. The seven centres of force in the human etheric body. |
||
|
IV. |
1. The twelve zodiacal constellations. |
|
[15] We thus have a ninefold energy impact. This is a major chart but it should be remembered that there are other impacts of relative insignificance. |
[15] Như vậy chúng ta có một tác động năng lượng cửu phân. Đây là một biểu đồ chính nhưng cần nhớ rằng còn có những tác động khác tương đối không đáng kể. |
|
To these would be added other streams of energy which definitely play upon and affect our planetary life, such as those coming from that great star, Betelgeuse, or from Antares and other stupendous suns and solar systems which are related to the constellations of the zodiac and whose force reaches us through these constellations and not directly. |
Vào đó sẽ được thêm vào những dòng năng lượng khác chắc chắn tác động lên và ảnh hưởng đến sự sống hành tinh của chúng ta, chẳng hạn như những dòng đến từ ngôi sao lớn Betelgeuse, hay từ Antares và những mặt trời cùng hệ mặt trời vĩ đại khác có liên hệ với các chòm sao của hoàng đạo và có mãnh lực đến với chúng ta qua các chòm sao này chứ không trực tiếp. |
|
Besides these, it should be remembered that technically we should also add the radiatory influence which comes direct to us from the planet, the Earth, upon which we live. Then, and only then, can you have a fairly complete analysis and picture of the energies to which the etheric body of man (conditioning the physical body which is pre-eminently automatic and negative in its reactions) must and does ever respond. An understanding of that response and the conscious intelligent control of individual reactions are supremely necessary to man but only become possible at a fairly advanced stage of development and as he nears the Path (technically understood). Man learns first of all to control his reactions to the planets as they rule and direct his personality affairs from their different “stations” in the twelve houses of his horoscope. There are two ways in which this is done: |
Hơn nữa, cần nhớ rằng về mặt kỹ thuật chúng ta cũng nên thêm vào ảnh hưởng bức xạ đến trực tiếp với chúng ta từ hành tinh Trái Đất, nơi chúng ta đang sống. Khi đó, và chỉ khi đó, các bạn mới có thể có được một sự phân tích và bức tranh khá đầy đủ về những năng lượng mà thể dĩ thái của con người (điều kiện hóa thể xác vốn nổi bật là tự động và thụ động trong các phản ứng của nó) phải và thực sự luôn luôn đáp ứng. Sự thấu hiểu về đáp ứng ấy và sự kiểm soát hữu thức, thông minh đối với các phản ứng cá nhân là điều tối cần đối với con người nhưng chỉ trở nên khả hữu ở một giai đoạn phát triển khá cao và khi y tiến gần Con Đường (được hiểu theo nghĩa kỹ thuật). Trước hết con người học cách kiểm soát các phản ứng của mình đối với các hành tinh khi chúng cai quản và chỉ đạo các vấn đề phàm ngã của y từ những “vị trí” khác nhau của chúng trong mười hai nhà của lá số chiêm tinh của y. Có hai cách để thực hiện điều này: |
|
First: By having the horoscope duly cast and then taking [16] steps to determine what should be done to negate the planetary influences where it is deemed desirable to control the personality reactions. This has to be done by the applied power of thought. This necessitates complete confidence in the understanding and interpretation of the astrologer and the recognition of the exact moment of birth. One wonders if these conditions of the exact moment and the completely wise astrologer are ever to be found as yet. |
Thứ nhất: Bằng cách lập lá số đúng đắn và rồi thực hiện [16] các bước để xác định điều gì nên được làm nhằm hóa giải các ảnh hưởng hành tinh ở nơi mà người ta cho là đáng mong muốn phải kiểm soát các phản ứng của phàm ngã. Điều này phải được thực hiện bằng quyền năng tư tưởng được áp dụng. Điều đó đòi hỏi sự tin cậy hoàn toàn vào sự thấu hiểu và diễn giải của nhà chiêm tinh và sự công nhận chính xác thời điểm sinh. Người ta tự hỏi liệu những điều kiện về thời điểm chính xác và một nhà chiêm tinh hoàn toàn minh triết như thế đã từng được tìm thấy hay chưa. |
|
Second: By consciously assuming the position of the spiritual Observer, and by cultivating the power to respond to the Soul. Then, from the angle of that Soul, the man must learn to control circumstance and the attendant reactions of the personality. |
Thứ hai: Bằng cách hữu thức đảm nhận vị trí của Nhà Quan Sát tinh thần, và bằng cách vun bồi năng lực đáp ứng với linh hồn. Khi đó, từ góc độ của linh hồn ấy, con người phải học cách kiểm soát hoàn cảnh và các phản ứng đi kèm của phàm ngã. |
|
The following attitudes and positions taken by the esoteric astrologer should also be noted: |
Những thái độ và lập trường sau đây do nhà chiêm tinh nội môn đảm nhận cũng cần được lưu ý: |
|
1. That the planetary influences indicate the trend of the outer life circumstances. When correctly interpreted for the average man and for the unevolved man, they can and do indicate the personality destiny and fate; they do condition and completely control the man who has no conscious soul experience. The moment that a man becomes aware of his own soul and is endeavouring to control his own “path in life,” the influence of the planets, per se, definitely weakens and steadily becomes less and less; his personality chart appears inconclusive and often most inaccurate. It is the force flowing through the planets and not the force of the planets themselves which then governs and controls. The man then becomes receptive to the subtler and higher energies of the solar system and of the twelve governing constellations. |
1. Rằng các ảnh hưởng hành tinh chỉ ra xu hướng của các hoàn cảnh đời sống bên ngoài. Khi được diễn giải đúng cho người trung bình và cho người chưa tiến hoá, chúng có thể và thực sự chỉ ra định mệnh và số phận của phàm ngã; chúng quả thật điều kiện hoá và hoàn toàn kiểm soát con người không có kinh nghiệm hữu thức về linh hồn. Ngay khi một người trở nên ý thức về chính linh hồn mình và đang nỗ lực kiểm soát “con đường đời” của mình, ảnh hưởng của các hành tinh, tự thân nó, chắc chắn suy yếu và đều đặn trở nên ngày càng ít hơn; lá số chiêm tinh phàm ngã của người ấy tỏ ra không dứt khoát và thường rất thiếu chính xác. Khi ấy, điều chi phối và kiểm soát là mãnh lực tuôn chảy qua các hành tinh chứ không phải mãnh lực của bản thân các hành tinh. Khi đó, con người trở nên tiếp nhận được các năng lượng tinh tế hơn và cao hơn của hệ mặt trời và của mười hai chòm sao cai quản. |
|
2. That the Sun sign, as it is called, indicates the nature of the man, physical, mental and spiritual. It holds the [17] secret of the personality ray and of the man’s responsiveness or lack of responsiveness to the Soul, the real man. It indicates also the integration already achieved and the present point of unfoldment of the soul qualities, of the present available equipment, of the present life quality and of the immediately possible group relations. It indicates, from the angle of the Ageless Wisdom, nothing more. This is a reversal of the usual astrological position. The reason that I proffer this is that humanity is enough evolved so that the astrology of the soul will become possible before long; it constitutes—from many points of view—a reversal of normal procedure. This is both wise and necessary, and also inevitable. Astrologers will eventually be divided into two classes: the exoteric astrologers who will be occupied with the horoscope of the personality, and the esoteric astrologers who will be occupied with the purposes of the soul. |
2. Rằng dấu hiệu mặt trời, như nó được gọi, chỉ ra bản tính của con người, về thể xác, trí tuệ và tinh thần. Nó nắm giữ [17] bí mật của cung phàm ngã và của sự đáp ứng hay thiếu đáp ứng của con người đối với Linh hồn, con người thực sự. Nó cũng chỉ ra sự tích hợp đã đạt được và điểm khai mở hiện tại của các phẩm tính linh hồn, của bộ máy hiện có trong hiện tại, của phẩm tính đời sống hiện tại và của các tương quan nhóm có thể có ngay trước mắt. Từ góc độ của Minh Triết Ngàn Đời, nó không chỉ ra gì hơn thế. Đây là một sự đảo ngược lập trường chiêm tinh thông thường. Lý do tôi đưa ra điều này là vì nhân loại đã tiến hoá đủ để chiêm tinh học của linh hồn sẽ sớm trở nên khả hữu; từ nhiều quan điểm, nó cấu thành một sự đảo ngược thủ tục thông thường. Điều này vừa minh triết vừa cần thiết, và cũng không thể tránh khỏi. Cuối cùng, các nhà chiêm tinh sẽ được chia thành hai loại: các nhà chiêm tinh ngoại môn sẽ bận tâm đến lá số chiêm tinh của phàm ngã, và các nhà chiêm tinh nội môn sẽ bận tâm đến các mục đích của linh hồn. |
|
3. That the rising sign indicates the remoter possibilities, and the spiritual goal and purpose of the immediate incarnation and of the immediate succeeding incarnations. This sign concerns itself with the struggle of the spiritual man “to carry on” from the point achieved so that when the life energy is temporarily exhausted and the “death of the personality” takes place, the man finds himself “nearer the centre of his life, closer to the centre of his group and approaching the centre of divine life,” as the Ageless Wisdom expresses it. This particular phrase “death of the personality” has two definite connotations: |
3. Rằng dấu hiệu mọc chỉ ra những khả năng xa hơn, và mục tiêu cùng mục đích tinh thần của lần nhập thể hiện tại và của các lần nhập thể kế tiếp gần nhất. Dấu hiệu này liên quan đến cuộc đấu tranh của con người tinh thần “để tiếp tục tiến lên” từ điểm đã đạt được, để rồi khi năng lượng sự sống tạm thời cạn kiệt và “cái chết của phàm ngã” diễn ra, con người thấy mình “gần trung tâm của đời sống mình hơn, gần trung tâm của nhóm mình hơn và đang tiến đến trung tâm của sự sống thiêng liêng,” như Minh Triết Ngàn Đời diễn tả. Cụm từ đặc biệt này, “cái chết của phàm ngã,” có hai hàm nghĩa rõ rệt: |
|
a. It may mean the death of the physical body, which is inevitably followed by the two stages of the [18] death of the emotional vehicle and the subsequent dissipation of the temporary and ever-changing form which the quota of mental energy has assumed during incarnation. |
a. Nó có thể có nghĩa là cái chết của thể xác, điều tất yếu được tiếp theo bởi hai giai đoạn của [18] cái chết của vận cụ cảm xúc và sự làm tiêu tan tiếp sau đó của hình tướng tạm thời và luôn biến đổi mà phần năng lượng trí tuệ đã đảm nhận trong thời gian nhập thể. |
|
b. The subjective and mystical “death of the personality.” This is a phrase indicating the transfer of the focus for the distribution of energy from the personality (a definite centre of force) to the soul (another definite centre). |
b. “Cái chết của phàm ngã” mang tính chủ quan và thần bí. Đây là một cụm từ chỉ sự chuyển dịch tiêu điểm phân phối năng lượng từ phàm ngã (một trung tâm mãnh lực xác định) sang linh hồn (một trung tâm xác định khác). |
|
I realise that these concepts are not in line with the usual astrological postulates. However, astrology would not be wasting time if it experimented with these ideas for a while. Astrologers might discover some most interesting and arresting problems and perhaps arrive at an accuracy which is at present unknown. It might be of some service if I enlarged somewhat upon this point: |
Tôi nhận ra rằng các khái niệm này không phù hợp với các định đề chiêm tinh thông thường. Tuy nhiên, chiêm tinh học sẽ không lãng phí thời gian nếu thử nghiệm các ý tưởng này trong một thời gian. Các nhà chiêm tinh có thể khám phá ra một số vấn đề rất thú vị và đáng chú ý, và có lẽ đi đến một độ chính xác hiện nay chưa được biết đến. Có lẽ sẽ hữu ích nếu tôi khai triển thêm đôi chút về điểm này: |
|
In connection with the sun sign, the rising sign and the effect of the thoughtform relating to the moon, the position of esoteric astrology is as follows: |
Liên quan đến dấu hiệu mặt trời, dấu hiệu mọc và tác động của hình tư tưởng liên hệ với mặt trăng, lập trường của Chiêm Tinh Học Nội Môn như sau: |
|
1. The sun sign.—This sign indicates the present problem of the man; it sets the pace or the established tempo of his personality life; it is related to quality, temperament and the life tendencies which are seeking expression during this particular incarnation, and it is suggestive of the rajasic or the activity aspect of the innate man. Fundamentally, the forces here found are indicative of the line of least resistance. |
1. Dấu hiệu mặt trời.—Dấu hiệu này chỉ ra vấn đề hiện tại của con người; nó đặt nhịp độ hay tiết tấu đã được xác lập của đời sống phàm ngã của người ấy; nó liên hệ với phẩm tính, khí chất và các khuynh hướng đời sống đang tìm cách biểu lộ trong lần nhập thể đặc biệt này, và gợi ý về phương diện rajasic hay phương diện hoạt động của con người bẩm sinh. Về căn bản, các mãnh lực được tìm thấy ở đây là những chỉ dấu của con đường ít trở ngại nhất. |
|
2. The ascendant or rising sign indicates the intended life or immediate soul purpose for this incarnation. It holds the secret of the future and presents the force which, rightly used, will lead the man to success. It represents [19] the sattvic or harmony aspect of life and can produce right relationship between soul and personality in any one incarnation. It thus points the way to the recognition of the force of the soul. |
2. Ascendant hay dấu hiệu mọc chỉ ra đời sống được dự định hay mục đích linh hồn trực tiếp cho lần nhập thể này. Nó nắm giữ bí mật của tương lai và trình bày mãnh lực mà, nếu được sử dụng đúng, sẽ dẫn con người đến thành công. Nó biểu trưng [19] phương diện sattvic hay phương diện hài hoà của đời sống và có thể tạo ra tương quan đúng đắn giữa linh hồn và phàm ngã trong bất kỳ một lần nhập thể nào. Vì thế, nó chỉ ra con đường dẫn đến sự nhận biết mãnh lực của linh hồn. |
|
3. The moon.—This type of force (coming from certain planets and not from the moon) indicates that which is past. It, therefore, summarises limitation and the present handicaps. It governs the physical body and shows where the prison of the soul is to be found. |
3. Mặt trăng.—Loại mãnh lực này (đến từ một số hành tinh chứ không phải từ mặt trăng) chỉ ra điều gì thuộc về quá khứ. Vì vậy, nó tóm lược sự giới hạn và các chướng ngại hiện tại. Nó cai quản thể xác và cho thấy nơi nào có thể tìm thấy ngục tù của linh hồn. |
|
The next statement which I would like to make, and which grows normally out of the above, is that the zodiacal, the systemic and the planetary energies act either as hindering or as stimulating forces, according to the type of vehicle or body upon which they play; the nature of these vehicles and their capacity to attract, to respond, to reject, to absorb and to transmute is entirely dependent upon the point in evolution attained and also upon the general planetary condition and psychology to be found in the human family at any given time. An instance of the latter can be seen today in the world where the forces, beating in an almost violent and somewhat new measure and tempo upon our planetary life, are evoking a greatly intensified response from the world thinkers, thus stimulating them to earnest effort along ideological lines and, at the same time, are drawing forth from the masses and the little evolved people nothing but terror, a miserable fatalism, widespread physical depletion and many other undesirable reactions from the form nature. An understanding of these hindering or stimulating effects can be easily grasped by those who can comprehend the nature of the activities of the planet, Saturn. This is the planet which conditions primarily the point in evolution where choice definitely becomes possible, [20] where rejection of opportunity or its acceptance can consciously be undertaken, and the shouldering of personal responsibility becomes a recognised fact in a planned and ordered life. This point in the human evolutionary process is spoken of in the Old Commentary in the following symbolic phrases: |
Phát biểu tiếp theo mà tôi muốn đưa ra, và vốn phát sinh tự nhiên từ điều trên, là các năng lượng hoàng đạo, hệ thống và hành tinh tác động hoặc như những mãnh lực cản trở hoặc như những mãnh lực kích thích, tuỳ theo loại vận cụ hay thể mà chúng tác động lên; bản chất của các vận cụ này và khả năng thu hút, đáp ứng, khước từ, hấp thụ và chuyển hoá của chúng hoàn toàn tùy thuộc vào điểm tiến hoá đã đạt được và cũng tùy thuộc vào tình trạng hành tinh tổng quát và tâm lý học hiện diện trong gia đình nhân loại vào bất kỳ thời điểm nào. Một ví dụ về điều sau có thể thấy ngày nay trong thế giới, nơi các mãnh lực đang đập vào đời sống hành tinh của chúng ta với một nhịp độ và tiết tấu gần như dữ dội và phần nào mới mẻ, đang gợi lên một đáp ứng được tăng cường rất lớn từ các nhà tư tưởng thế giới, nhờ đó kích thích họ nỗ lực nghiêm túc theo các đường lối ý thức hệ, đồng thời lại chỉ rút ra từ quần chúng và những người ít tiến hoá không gì khác ngoài nỗi kinh hoàng, một thứ định mệnh luận khốn khổ, sự suy kiệt thể xác lan rộng và nhiều phản ứng không mong muốn khác từ bản chất hình tướng. Sự thấu hiểu các tác động cản trở hay kích thích này có thể dễ dàng được nắm bắt bởi những ai có thể hiểu bản chất các hoạt động của hành tinh Sao Thổ. Đây là hành tinh chủ yếu điều kiện hoá điểm tiến hoá nơi sự lựa chọn chắc chắn trở nên khả hữu, [20] nơi việc từ chối cơ hội hay chấp nhận nó có thể được thực hiện một cách hữu thức, và việc gánh vác trách nhiệm cá nhân trở thành một sự kiện được nhận biết trong một đời sống có kế hoạch và trật tự. Điểm này trong tiến trình tiến hoá của con người được nói đến trong Cổ Luận bằng những cụm từ biểu tượng sau đây: |
|
“Amid the whirling forces, I stand confused. I know them not, for, during all my past, they swept me up and down the land wherein I moved, blinded and unaware. From place to place and point to point, they drove me up and down the land and nowhere was there rest. |
“Giữa những mãnh lực xoáy cuộn, tôi đứng bối rối. Tôi không biết chúng, vì trong suốt quá khứ của tôi, chúng đã cuốn tôi lên xuống khắp miền đất nơi tôi di chuyển, mù quáng và không hay biết. Từ nơi này sang nơi khác và từ điểm này sang điểm khác, chúng đã xua đẩy tôi lên xuống khắp miền đất và chẳng nơi nào có sự nghỉ ngơi. |
|
I know them now and here I stand and will not move until I know the Law which governs all this movement up and down the land. I may revolve and turning face the many different ways; I face some wide horizons and yet today I stand. |
Giờ đây tôi biết chúng và ở đây tôi đứng, và sẽ không di chuyển cho đến khi tôi biết Định luật chi phối mọi chuyển động lên xuống khắp miền đất này. Tôi có thể quay vòng và khi xoay chuyển sẽ đối diện nhiều con đường khác nhau; tôi đối diện những chân trời rộng lớn và tuy vậy hôm nay tôi vẫn đứng đây. |
|
I will determine for myself the way to go. Then onward I will move. I will not travel up and down the land nor turn in space. But onward I will move.” |
Tôi sẽ tự mình quyết định con đường phải đi. Rồi tôi sẽ tiến bước. Tôi sẽ không đi lên xuống khắp miền đất cũng không quay vòng trong không gian. Nhưng tôi sẽ tiến bước.” |
|
There is another revolutionary idea which the esoteric science of astrology brings to its modern and exoteric aspect: In the greater cycle of man’s many incarnations, he—as is well recognised—passes through the zodiacal circle from Pisces to Aries, thus retrograding through the signs as he follows the sweep or path of the Sun’s retrogression. This phrase has always disturbed me, but the apparent retrogression, based upon the precession of the equinoxes, is all an integral part of the Great Illusion. The moment a man begins to emerge out of that illusion and is no longer subject to the glamour and to the effect of the world maya, that moment the motion of the great Wheel of Life [21] is reversed and he then begins (slowly and laboriously) to work in the opposite direction. He then passes through the signs from Aries to Pisces. He begins patiently and consciously to function as a soul struggling towards the light until finally he emerges at the end of the Path in Pisces as a world Victor and a world Saviour. He then knows the significance of the triumph over death because he has surmounted and overcome desire. |
Có một ý tưởng cách mạng khác mà khoa học nội môn về chiêm tinh mang đến cho phương diện hiện đại và ngoại môn của nó: Trong chu kỳ lớn gồm nhiều lần nhập thể của con người, người ấy—như đã được thừa nhận rõ—đi qua vòng tròn hoàng đạo từ Song Ngư đến Bạch Dương, do đó đi nghịch qua các dấu hiệu khi người ấy theo sự quét qua hay con đường nghịch hành của Mặt Trời. Cụm từ này luôn làm tôi băn khoăn, nhưng sự nghịch hành biểu kiến, dựa trên hiện tượng tiến động của các điểm phân, hoàn toàn là một phần cấu thành của Đại Ảo Tưởng. Ngay khi con người bắt đầu thoát ra khỏi ảo tưởng đó và không còn lệ thuộc vào ảo cảm và tác động của ảo lực thế gian nữa, thì ngay lúc ấy chuyển động của Bánh Xe lớn của Sự Sống [21] bị đảo ngược và khi đó người ấy bắt đầu (chậm chạp và nhọc nhằn) hoạt động theo chiều ngược lại. Khi đó, người ấy đi qua các dấu hiệu từ Bạch Dương đến Song Ngư. Người ấy bắt đầu kiên nhẫn và hữu thức hoạt động như một linh hồn đang đấu tranh hướng về ánh sáng cho đến cuối cùng xuất hiện ở cuối Con Đường trong Song Ngư như một Đấng Chiến Thắng thế gian và một Đấng Cứu Thế thế gian. Khi đó, người ấy biết ý nghĩa của sự chiến thắng cái chết vì đã vượt lên và khắc phục được dục vọng. |
|
This reversal of the way a man travels through the signs of the zodiac will necessitate a readjustment of the method employed by astrologers when they are casting a horoscope of senior aspirants, of disciples and of initiates. |
Sự đảo ngược cách thức con người đi qua các dấu hiệu của hoàng đạo này sẽ đòi hỏi phải điều chỉnh lại phương pháp mà các nhà chiêm tinh sử dụng khi họ lập lá số chiêm tinh cho những người chí nguyện cao cấp, các đệ tử và các điểm đạo đồ. |
|
According, therefore, to an individual’s point of evolution upon the Path or (in other words) the individual’s place upon the wheel of life, the practising astrologer will arrange the interpretation of the horoscope. It will require the work and the thought of the intuitive astrologer, dependent upon soul contact and much meditation, to determine the processes of astrological interpretation for those who are active and living souls at some one or other of the final stages upon the Path. The casting of the horoscope of the average man or the undeveloped man presents no such difficulties. |
Vì vậy, tuỳ theo điểm tiến hoá của một cá nhân trên Con Đường hay (nói cách khác) vị trí của cá nhân ấy trên bánh xe sự sống, nhà chiêm tinh thực hành sẽ sắp xếp việc diễn giải lá số chiêm tinh. Điều này sẽ đòi hỏi công việc và tư duy của nhà chiêm tinh trực giác, tùy thuộc vào tiếp xúc linh hồn và nhiều tham thiền, để xác định các tiến trình diễn giải chiêm tinh cho những ai là các linh hồn sống động và tích cực ở một trong những giai đoạn cuối cùng trên Con Đường. Việc lập lá số chiêm tinh cho người trung bình hay người chưa phát triển không đặt ra những khó khăn như vậy. |
|
It might be added in addition that the signs of the zodiac are concerned primarily with the life expression of the Heavenly Man (as far as our planet is concerned) and therefore with the destiny and life of the planetary Logos. They are also concerned with the great man of the heavens, the solar Logos. I refer in this last instance to their effect as it makes itself felt in the solar system as a whole and with this effect there are few astrologers at this time fit to deal. I would remind you that to the lives who inform these great constellations and whose radiation [22]—dynamic and magnetic—reaches our Earth, this effect is incidental and unnoticed. The primary effect that they have is upon our planetary Logos and this effect reaches us through Him, pouring through that great planetary centre to which we have given the name of Shamballa. It is, therefore, capable of evoking the major response from the monads, and these monads express themselves through the kingdom of souls and through the human kingdom; it consequently expresses itself through the Hierarchy and through humanity as a whole. This is a point of real importance and should be noted and connected with all the teaching you have had upon this most interesting theme of the three major planetary centres. It is the work of the zodiacal influences to evoke the emergence of the will aspect of the Heavenly Man and of all monads, souls and personalities who constitute the planetary body of expression. This statement means but little to you today but it will mean much to those students who, in a few decades, will study what I am here saying. Properly understood, it accounts for much that is happening in the world at this time. |
Hơn nữa, có thể nói thêm rằng các dấu hiệu hoàng đạo chủ yếu liên quan đến sự biểu lộ sự sống của Đấng Thiên Nhân (xét theo phạm vi hành tinh chúng ta) và do đó liên quan đến định mệnh và sự sống của Hành Tinh Thượng đế. Chúng cũng liên quan đến con người vĩ đại của các cõi trời, Thái dương Thượng đế. Trong trường hợp cuối này, tôi muốn nói đến tác động của chúng khi nó được cảm nhận trong toàn thể hệ mặt trời, và hiện nay có rất ít nhà chiêm tinh đủ khả năng đề cập đến tác động này. Tôi xin nhắc các bạn rằng đối với những sự sống thấm nhuần các chòm sao lớn này và bức xạ của các Ngài [22]—năng động và từ tính—vươn tới Trái Đất chúng ta, tác động này chỉ là phụ và không được lưu ý. Tác động chủ yếu mà các Ngài gây ra là lên Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và tác động này đến với chúng ta qua Ngài, tuôn qua trung tâm hành tinh vĩ đại mà chúng ta đã đặt tên là Shamballa. Vì vậy, nó có khả năng gợi lên đáp ứng chủ yếu từ các chân thần, và các chân thần này biểu lộ chính mình qua giới linh hồn và qua giới nhân loại; do đó, nó biểu lộ qua Thánh Đoàn và qua toàn thể nhân loại. Đây là một điểm thực sự quan trọng và cần được ghi nhận cũng như liên kết với mọi giáo huấn các bạn đã nhận về chủ đề rất thú vị này của ba trung tâm hành tinh chính. Công việc của các ảnh hưởng hoàng đạo là gợi lên sự xuất hiện của phương diện ý chí của Đấng Thiên Nhân và của mọi chân thần, linh hồn và phàm ngã cấu thành thể biểu lộ hành tinh. Phát biểu này hôm nay có ý nghĩa rất ít đối với các bạn, nhưng nó sẽ có ý nghĩa lớn đối với những đạo sinh mà trong vài thập niên nữa sẽ nghiên cứu điều tôi đang nói ở đây. Nếu được hiểu đúng, nó giải thích nhiều điều đang xảy ra trong thế giới hiện nay. |
|
As these influences pour through our planet and thence to the centres of force upon the planet, they produce a dual effect: |
Khi các ảnh hưởng này tuôn qua hành tinh chúng ta và từ đó đến các trung tâm mãnh lực trên hành tinh, chúng tạo ra một tác động kép: |
|
1. They produce an effect upon advanced man, galvanising the centres above the diaphragm into activity and enabling him to respond to the radiation and the activity of the Hierarchy. |
1. Chúng tạo ra một tác động lên con người tiến bộ, làm sinh động các trung tâm phía trên cơ hoành và giúp người ấy có thể đáp ứng với bức xạ và hoạt động của Thánh Đoàn. |
|
2. They produce an effect upon unevolved man, enabling him to function as an ordinary, unenlightened human being. |
2. Chúng tạo ra một tác động lên con người chưa tiến hoá, giúp người ấy hoạt động như một con người bình thường, chưa giác ngộ. |
|
It should be noted here, however, that all the energies—zodiacal, systemic, and planetary—have a definite effect [23] upon all the lives in all forms in all kingdoms of nature. Nothing can escape these radiatory and magnetic influences. The goal of evolution for humanity is to become consciously and livingly aware of the nature of these energies and begin to know them and to use them. This is the field of occultism as the Hierarchy has always told men. It might be stated that the disciple has to become consciously aware of the planetary influences and begin to use them for the carrying out of soul purpose. The initiate has to be aware of the zodiacal influences which emanate from outside of the solar system altogether. These can be recognised as |
Tuy nhiên, cần lưu ý ở đây rằng mọi năng lượng—hoàng đạo, hệ thống và hành tinh—đều có một tác động xác định [23] lên mọi sự sống trong mọi hình tướng ở mọi giới của thiên nhiên. Không gì có thể thoát khỏi các ảnh hưởng bức xạ và từ tính này. Mục tiêu tiến hoá của nhân loại là trở nên nhận biết một cách hữu thức và sống động bản chất của các năng lượng này, và bắt đầu biết chúng cũng như sử dụng chúng. Đây là lĩnh vực của huyền bí học như Thánh Đoàn luôn nói với nhân loại. Có thể nói rằng đệ tử phải trở nên nhận biết một cách hữu thức các ảnh hưởng hành tinh và bắt đầu sử dụng chúng để thực hiện mục đích của linh hồn. Điểm đạo đồ phải nhận biết các ảnh hưởng hoàng đạo phát xuất hoàn toàn từ bên ngoài hệ mặt trời. Chúng có thể được nhận biết như |
|
a. A vibration, registered in one or other of the seven centres. |
a. Một rung động, được ghi nhận trong một hay một trung tâm nào đó trong bảy trung tâm. |
|
b. A revelation of a particular type of light, conveying a specific colour to the initiate. |
b. Một sự mặc khải về một loại ánh sáng đặc biệt, truyền đạt một màu sắc xác định cho điểm đạo đồ. |
|
c. A peculiar note. |
c. Một âm điệu đặc biệt. |
|
d. A directional sound. |
d. Một âm thanh có định hướng. |
|
The whole story of the zodiac can be picturesquely yet accurately summed up in the following statement: There are three books which the three types of human beings study and from which they learn: |
Toàn bộ câu chuyện về hoàng đạo có thể được tóm lược một cách sinh động mà vẫn chính xác trong phát biểu sau đây: Có ba cuốn sách mà ba loại người nghiên cứu và từ đó họ học hỏi: |
|
1. The Book of Life—Initiates—the 12 constellations. |
1. Cuốn Sách của Sự Sống—Các điểm đạo đồ—12 chòm sao. |
|
2. The Book of Wisdom—Disciples—the 12 planets. |
2. Cuốn Sách của Minh Triết—Các đệ tử—12 hành tinh. |
|
3. The Book of Form or of Manifestation—Humanity—the 12 Creative Hierarchies. |
3. Cuốn Sách của Hình Tướng hay của Biểu Hiện—Nhân loại—12 Huyền Giai Sáng Tạo. |
|
In summation, it might be said that: |
Tóm lại, có thể nói rằng: |
|
1. The zodiacal signs affect primarily the man who lives below the diaphragm. This is the ordinary average man. These signs thus condition four of the centres: [24] |
1. Các dấu hiệu hoàng đạo chủ yếu ảnh hưởng đến con người sống dưới cơ hoành. Đây là con người trung bình thông thường. Vì vậy, các dấu hiệu này điều kiện hoá bốn trung tâm: [24] |
|
a.The base of the spine. |
a. Đáy cột sống. |
|
b. The sacral centre. |
b. Trung tâm xương cùng. |
|
c. The solar plexus centre. |
c. Trung tâm tùng thái dương. |
|
d. The spleen. |
d. Luân xa lá lách. |
|
2. The inner group of solar systems, working in conjunction with the zodiacal signs, affect primarily those who live above the diaphragm. They, therefore, condition: |
2. Nhóm bên trong của các hệ mặt trời, hoạt động phối hợp với các dấu hiệu hoàng đạo, chủ yếu ảnh hưởng đến những ai sống phía trên cơ hoành. Vì vậy, chúng điều kiện hoá: |
|
a. The heart centre. |
a. Trung tâm tim. |
|
b. The throat centre. |
b. Trung tâm cổ họng. |
|
c. The ajna centre. |
c. Trung tâm ajna. |
|
d. The head centre. |
d. Trung tâm đầu. |
|
3. Three of the energies work through the head centre but only after the third initiation. |
3. Ba năng lượng hoạt động qua trung tâm đầu nhưng chỉ sau lần điểm đạo thứ ba. |
|
There are one or two other points which might be noted here also. I note them for your enlightenment. Out of all the many energies which impinge upon, pass through and produce effects upon our planet, esoteric astrology emphasises the following four types of force because they affect what might be called the personality of our Earth: |
Cũng có một hay hai điểm khác có thể được lưu ý ở đây. Tôi ghi nhận chúng để soi sáng cho các bạn. Trong tất cả nhiều năng lượng tác động vào, đi qua và tạo ra hiệu quả trên hành tinh chúng ta, chiêm tinh học nội môn nhấn mạnh bốn loại mãnh lực sau đây vì chúng ảnh hưởng đến cái có thể gọi là phàm ngã của Trái Đất chúng ta: |
|
1. The quality of our solar system. God is a consuming fire but God is also love. This is the teaching of both esoteric and exoteric truth. |
1. Phẩm tính của hệ mặt trời chúng ta. Thượng đế là ngọn lửa thiêu đốt nhưng Thượng đế cũng là tình thương. Đây là giáo huấn của cả chân lý nội môn lẫn ngoại môn. |
|
2. The quality of the Logos of our planet as it pours through the chains, the rounds, the races, and the kingdoms of nature. |
2. Phẩm tính của Thượng đế của hành tinh chúng ta khi nó tuôn qua các dãy, các cuộc tuần hoàn, các nhân loại, và các giới của thiên nhiên. |
|
3. The quality of the Earth’s complementary planet, which is the Earth’s polar opposite, esoterically considered. This planet is Venus. |
3. Phẩm tính của hành tinh bổ sung của Trái Đất, tức hành tinh đối cực của Trái Đất, xét theo nội môn. Hành tinh này là Sao Kim. |
|
4. The quality of the attraction of the three planets which produce an esoteric triangle of force. |
4. Phẩm tính của lực hấp dẫn từ ba hành tinh tạo ra một tam giác mãnh lực nội môn. |
|
[25] |
[25] |
|
I have several times used the phrase “pass through” the centres and forms. This concept necessitates the idea of distributing centres to which the incoming energies may go and from which they may pass out again as radiation. Some idea of this might be grasped if I gave you the new proposition (new to you though old to esotericists) of the centres in the human etheric body. The four centres above the diaphragm—the heart, throat, ajna and head centres—are basically and primarily receiving centres. The centres below the diaphragm—the base of the spine, the sacral, solar plexus and spleen centres—are galvanised into activity by the four higher receiving centres. This, when accomplished, demonstrates as personality and physical magnetism and influence until the time comes when there is a reversal in the way of passing—as a soul—around the zodiac. This is symbolised as the revolution of the sun around the zodiac from Aries to Pisces instead of the reverse movement, from Aries to Taurus. This is repeated in the human frame and the four lower centres eventually return that which has come to them. They thus reverse the process normally followed and the centres above the diaphragm become radio-active, dynamic and magnetic. This is an intricate occult study and is concerned with the response of the etheric body to the incoming energies. It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. |
Tôi đã nhiều lần dùng cụm từ “đi qua” các trung tâm và các hình tướng. Khái niệm này đòi hỏi ý niệm về các trung tâm phân phối mà các năng lượng đi vào có thể đi đến và từ đó chúng có thể lại đi ra như bức xạ. Có thể nắm được phần nào ý niệm này nếu tôi đưa ra cho các bạn mệnh đề mới (mới đối với các bạn dù cũ đối với các nhà bí truyền học) về các trung tâm trong thể dĩ thái của con người. Bốn trung tâm phía trên cơ hoành—tim, cổ họng, ajna và đầu—về căn bản và chủ yếu là các trung tâm tiếp nhận. Các trung tâm phía dưới cơ hoành—đáy cột sống, xương cùng, tùng thái dương và lá lách—được làm sinh động để hoạt động bởi bốn trung tâm tiếp nhận cao hơn. Khi điều này được hoàn tất, nó biểu lộ thành từ điện phàm ngã và từ điện thể xác cùng ảnh hưởng, cho đến khi đến lúc có một sự đảo ngược trong cách đi qua—như một linh hồn—quanh hoàng đạo. Điều này được biểu tượng hoá như cuộc vận hành của mặt trời quanh hoàng đạo từ Bạch Dương đến Song Ngư thay vì chuyển động ngược lại, từ Bạch Dương đến Kim Ngưu. Điều này được lặp lại trong cơ cấu con người và bốn trung tâm thấp cuối cùng hoàn trả điều đã đến với chúng. Nhờ đó, chúng đảo ngược tiến trình thường được theo sau và các trung tâm phía trên cơ hoành trở nên phóng xạ, năng động và từ tính. Đây là một nghiên cứu huyền bí phức tạp và liên quan đến sự đáp ứng của thể dĩ thái đối với các năng lượng đi vào. Cuối cùng, nó liên hệ trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, trung tâm đầu. Đây là một định luật tương ứng với mối liên hệ của Trái Đất với Mặt Trời. Hãy suy nghĩ điều này. |
|
As we work and study over these matters, let us bear in mind always the fact that we are considering the seven rays and their inter-relations in the cosmic process. We are concerned esoterically with: |
Khi chúng ta làm việc và nghiên cứu các vấn đề này, chúng ta hãy luôn ghi nhớ sự kiện rằng chúng ta đang xem xét bảy Cung và các tương quan qua lại của chúng trong tiến trình vũ trụ. Về mặt huyền bí, chúng ta quan tâm đến: |
|
1. The seven rays and the twelve signs of the zodiac. [26] |
1. Bảy Cung và mười hai dấu hiệu của hoàng đạo. [26] |
|
2. The seven rays and the twelve Creative Hierarchies. |
2. Bảy Cung và mười hai Huyền Giai Sáng Tạo. |
|
3. The seven rays and the planets as they govern the twelve houses of expression. |
3. Bảy Cung và các hành tinh khi chúng cai quản mười hai nhà biểu lộ. |
|
As we ponder and think and as we correlate the various aspects of the teaching, we shall find three propositions emerging which govern the inflow of life to the planet and to the individual man. These have been laid down earlier in A Treatise on the Seven Rays but it might profit us to state them here: |
Khi chúng ta suy ngẫm và tư duy, và khi chúng ta liên kết các phương diện khác nhau của giáo huấn, chúng ta sẽ thấy nổi lên ba mệnh đề chi phối dòng tuôn đổ của sự sống đến hành tinh và đến con người cá nhân. Những điều này đã được nêu ra trước đây trong A Treatise on the Seven Rays nhưng sẽ có ích cho chúng ta nếu phát biểu chúng ở đây: |
|
Proposition One—Every ray life is an expression of a solar life and every planet is therefore: |
Mệnh đề Một—Mỗi sự sống cung là một biểu lộ của một sự sống thái dương và vì vậy mỗi hành tinh là: |
|
1. Linked with every other planetary life. |
1. Được liên kết với mọi sự sống hành tinh khác. |
|
2. Animated by energy pouring into it from the seven solar systems, of which ours is one. |
2. Được linh hoạt bởi năng lượng tuôn vào nó từ bảy hệ mặt trời, trong đó hệ của chúng ta là một. |
|
3. Actuated by three streams of force: |
3. Được thúc đẩy bởi ba dòng mãnh lực: |
|
a. Coming from solar systems other than our own. |
a. Đến từ các hệ mặt trời khác ngoài hệ của chúng ta. |
|
b. Our own solar system. |
b. Hệ mặt trời của chính chúng ta. |
|
c. Our own planetary life. |
c. Sự sống hành tinh của chính chúng ta. |
|
Proposition Two—Each one of the ray lives is the recipient and the custodian of energies coming from |
Mệnh đề Hai—Mỗi một sự sống cung là kẻ tiếp nhận và người gìn giữ các năng lượng đến từ |
|
1. The seven solar systems. |
1. Bảy hệ mặt trời. |
|
2. The twelve constellations. |
2. Mười hai chòm sao. |
|
Proposition Three—It is the quality of a ray life—manifesting in time and space—which determines the phenomenal appearance. |
Mệnh đề Ba—Chính phẩm tính của một sự sống cung—biểu lộ trong thời gian và không gian—quyết định sự xuất hiện hiện tượng. |
|
Trước khi chúng ta đi sâu hơn vào việc xem xét chủ đề của mình, tôi muốn nhấn mạnh hai điểm: |
|
|
First of all, that we are considering esoteric influences and not astrology, per se. Our subject is the seven rays and [27] their relationship to the zodiacal constellations or—in other words—the interaction of the seven great Lives which inform our solar system with the twelve constellations which compose our zodiac. |
Trước hết, rằng chúng ta đang xem xét các ảnh hưởng nội môn chứ không phải chiêm tinh học, tự thân nó. Chủ đề của chúng ta là bảy Cung và [27] mối liên hệ của chúng với các chòm sao hoàng đạo hay—nói cách khác—sự tương tác của bảy Sự Sống vĩ đại thấm nhuần hệ mặt trời của chúng ta với mười hai chòm sao cấu thành hoàng đạo của chúng ta. |
|
Secondly, that we have necessarily to study these energies and their interplay from the angle of their effect upon the planet, and incidentally, their effect upon the forms in the various kingdoms of nature and particularly in connection with the fourth kingdom, the human, and with individual man—average man, the disciple and the initiate. |
Thứ hai, rằng tất yếu chúng ta phải nghiên cứu các năng lượng này và sự tương tác của chúng từ góc độ tác động của chúng lên hành tinh, và phụ đới là tác động của chúng lên các hình tướng trong các giới khác nhau của thiên nhiên, đặc biệt liên quan đến giới thứ tư, giới nhân loại, và với con người cá nhân—con người trung bình, đệ tử và điểm đạo đồ. |
|
We shall enter into no definitions in connection with technical astrology, nor shall I use the many technical terms. If, in the presentation of this vast subject, and in the process of indicating the attitude of the Ageless Wisdom to this new and coming (yet very ancient) “science of effective energies,” as it has been called, I may present a new approach, or point out an unsuspected relation and from the standpoint of the Ageless Wisdom correct what are deemed errors by the Teachers on the inner side of life, I am hoping that some astrologers may be found who will be sensitive to that which is new. I am believing that there are investigators along astrological lines who will be open-minded enough to recognise possible hypotheses and then to make fair experiment with them. May I repeat: I am not writing a treatise upon astrology, but one upon the seven rays and their equivalent and corresponding energies, upon the effects of ray energy and the interplay of these energies with, and their effect upon, the various planetary forces, particularly those of the Earth. I am looking for these fair-minded astrologers to make due experiment with the factors and suggestions which I may indicate. With this in mind, let us proceed. |
Chúng ta sẽ không đi vào các định nghĩa liên quan đến chiêm tinh kỹ thuật, tôi cũng sẽ không dùng nhiều thuật ngữ chuyên môn. Nếu, trong việc trình bày chủ đề bao la này, và trong tiến trình chỉ ra thái độ của Minh Triết Ngàn Đời đối với “khoa học về các năng lượng hữu hiệu” mới mẻ và đang đến này (nhưng lại rất cổ xưa), như nó đã được gọi, tôi có thể trình bày một cách tiếp cận mới, hay chỉ ra một mối liên hệ chưa được ngờ tới và từ quan điểm của Minh Triết Ngàn Đời sửa lại những điều được các Huấn sư ở mặt bên trong của sự sống xem là sai lầm, thì tôi hy vọng rằng có thể tìm thấy một số nhà chiêm tinh nhạy cảm với điều mới mẻ. Tôi tin rằng có những nhà khảo cứu theo các đường lối chiêm tinh đủ cởi mở để thừa nhận các giả thuyết khả dĩ và rồi thử nghiệm chúng một cách công bằng. Xin cho phép tôi nhắc lại: tôi không viết một luận thuyết về chiêm tinh học, mà là một luận thuyết về bảy Cung và các năng lượng tương đương và tương ứng của chúng, về các tác động của năng lượng cung và sự tương tác của các năng lượng này với, cũng như tác động của chúng lên, các mãnh lực hành tinh khác nhau, đặc biệt là các mãnh lực của Trái Đất. Tôi mong chờ những nhà chiêm tinh công tâm này thực hiện sự thử nghiệm thích đáng với các yếu tố và gợi ý mà tôi có thể nêu ra. Với điều đó trong tâm trí, chúng ta hãy tiếp tục. |
|
[28] |
[28] |
|
I have pointed out that these energies fall into three groups: |
Tôi đã chỉ ra rằng các năng lượng này rơi vào ba nhóm: |
|
1. Those coming from certain great constellations which are to be found active in relation to our solar system and which, from the most ancient days, have always been related in myth and legend to our system. To these constellations, ours is related in a peculiar way. |
1. Những năng lượng đến từ một số chòm sao lớn nào đó được thấy là hoạt động trong mối liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta và từ những thời cổ xưa nhất luôn luôn được liên hệ trong thần thoại và truyền thuyết với hệ của chúng ta. Với các chòm sao này, hệ của chúng ta có liên hệ theo một cách đặc biệt. |
|
2. Those coming from the twelve zodiacal constellations. These are recognised as having a definite effect upon our system and our planetary life. |
2. Những năng lượng đến từ mười hai chòm sao hoàng đạo. Chúng được công nhận là có một tác động xác định lên hệ của chúng ta và lên đời sống hành tinh của chúng ta. |
|
3. Those coming from the planets found within the periphery of the Sun’s sphere of influence. |
3. Những năng lượng đến từ các hành tinh nằm trong chu vi phạm vi ảnh hưởng của Mặt Trời. |
|
From a certain point of view, one can generalise largely and say that these are the correspondences in the solar system to the three great centres of force which produce and control manifestation and evolutionary progress in the human being: |
Từ một quan điểm nào đó, người ta có thể khái quát rộng rãi và nói rằng đây là các định luật tương ứng trong hệ mặt trời với ba trung tâm mãnh lực lớn tạo ra và kiểm soát sự biểu hiện và tiến trình tiến hoá trong con người: |
|
1. Các chòm sao lớn bên ngoài, nhưng kiểm soát, tương tự với trung tâm mãnh lực mà chúng ta gọi là Chân Thần và với ý chí-hướng quyền lực phổ quát của nó, vốn là nét đặc trưng của phương diện thiêng liêng thứ nhất. |
|
|
2. The twelve constellations might be regarded as embodying the soul aspect and, for the present, their effect upon the individual must be regarded and should be studied in terms of consciousness and of the development of the life of the soul. This is in essence the will-to-love. |
2. Mười hai chòm sao có thể được xem như hiện thân của phương diện linh hồn và, hiện nay, tác động của chúng lên cá nhân phải được xem xét và nên được nghiên cứu theo các thuật ngữ của tâm thức và của sự phát triển đời sống linh hồn. Về bản chất, đây là Ý Chí-Yêu Thương. |
|
3. The planets, twelve in number (seven sacred planets and five non-sacred), are effective (using the word in a technical sense) in relation to the external life, environment and circumstances of the individual. Their force contacts should be interpreted largely in terms of the human [29] personality, the third divine aspect. They thus exemplify the will-to-know. |
3. Các hành tinh, mười hai về số lượng (bảy hành tinh thiêng liêng và năm hành tinh không thiêng liêng), có hiệu lực (dùng từ này theo nghĩa kỹ thuật) liên quan đến đời sống bên ngoài, môi trường và hoàn cảnh của cá nhân. Các tiếp xúc mãnh lực của chúng nên được diễn giải phần lớn theo các thuật ngữ của phàm ngã [29] con người, phương diện thiêng liêng thứ ba. Vì vậy, chúng nêu gương cho ý chí-hướng tri thức. |
|
I would have you remember that I am talking entirely in terms of consciousness and of the responses and reactions of the individual to the forces which impinge upon him. The effect of the emanation of our planet, the Earth, is a correspondence to the effect of that aggregate of atoms and molecules which we call the dense physical body and of its response to the pull and the attraction of any or all of the subtler bodies. |
Tôi muốn các bạn nhớ rằng tôi đang nói hoàn toàn theo các thuật ngữ của tâm thức và của các đáp ứng cùng phản ứng của cá nhân đối với các mãnh lực tác động vào người ấy. Tác động của sự phát xạ từ hành tinh chúng ta, Trái Đất, là một định luật tương ứng với tác động của tập hợp các nguyên tử và phân tử mà chúng ta gọi là thể xác đậm đặc và với sự đáp ứng của nó đối với lực kéo và sức hút của bất kỳ hay mọi thể tinh tế hơn. |
|
As regards the influence of the seven solar systems, I should suggest (more I cannot do) that they are linked up astrologically with the constellations, the Great Bear, the Pleiades, and Sirius. They are intimately related to them, but their exact effect is a transmitted one and cannot be noted as producing noticeable results, as yet, upon humanity and the other kingdoms in nature. The effect of the three great constellations also cannot be noted by individual man until such time as he becomes conscious of the monadic vibration, after the third initiation. There are many potent influences playing upon our solar system and the planet all the time but—as far as man is concerned—his response apparatus and his mechanism of reaction remain what is called “occultly unresponsive,” for they are not yet of a quality which will permit any noticeable recognition, either in the dense or subtler vehicles or even by the soul. Later in the evolutionary process, recognition and response will come, but for all astrological purposes and recognisable produced effects, they may be regarded today as non-existent except as they react upon the fourth kingdom of nature as it constitutes a living unit in the body of the planetary Logos. As little conscious effect is produced by these forces as the effect of a [30] high moment of contact in your morning meditation produces an effect upon the atom or cell in the little finger upon one of your hands. There may be a general response and stimulation throughout the entire body, but the intelligent atom makes no conscious response. The vibration is of too high a character. |
Về ảnh hưởng của bảy hệ mặt trời, tôi xin gợi ý (hơn thế tôi không thể làm) rằng về mặt chiêm tinh chúng được liên kết với các chòm sao Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius. Chúng có liên hệ mật thiết với các chòm sao ấy, nhưng tác động chính xác của chúng là một tác động được truyền dẫn và hiện chưa thể được ghi nhận là tạo ra các kết quả đáng chú ý lên nhân loại và các giới khác trong thiên nhiên. Tác động của ba chòm sao lớn cũng không thể được con người cá nhân ghi nhận cho đến khi người ấy trở nên ý thức về rung động chân thần, sau lần điểm đạo thứ ba. Có nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ luôn luôn tác động lên hệ mặt trời và hành tinh của chúng ta nhưng—xét theo con người—bộ máy đáp ứng và cơ chế phản ứng của người ấy vẫn ở trong tình trạng được gọi là “không đáp ứng theo huyền bí học,” vì chúng chưa có phẩm tính cho phép có bất kỳ sự nhận biết đáng chú ý nào, dù trong các vận cụ đậm đặc hay tinh tế hơn hoặc ngay cả bởi linh hồn. Về sau trong tiến trình tiến hoá, sự nhận biết và đáp ứng sẽ đến, nhưng đối với mọi mục đích chiêm tinh và các hiệu quả được tạo ra có thể nhận biết, ngày nay chúng có thể được xem như không hiện hữu, ngoại trừ khi chúng phản ứng lên giới thứ tư của thiên nhiên trong tư cách một đơn vị sống trong thể của Hành Tinh Thượng đế. Các mãnh lực này tạo ra ít tác động hữu thức cũng như tác động của một [30] khoảnh khắc tiếp xúc cao trong buổi tham thiền sáng của các bạn tạo ra tác động lên nguyên tử hay tế bào ở ngón út của một bàn tay các bạn. Có thể có một đáp ứng và kích thích tổng quát khắp toàn thân, nhưng nguyên tử thông minh không tạo ra đáp ứng hữu thức nào. Rung động có tính chất quá cao. |
|
Sự suy đoán theo các đường lối này là vô ích. Một hệ thống bao la gồm các năng lượng móc nối lẫn nhau đang lưu chuyển tích cực và nhanh chóng khắp toàn bộ thể dĩ thái vũ trụ—mà thể dĩ thái hệ thống của chúng ta là một phần không thể tách rời—nhưng việc khảo cứu suy đoán theo các đường lối được chỉ ra và việc lần theo những dấu vết mờ tối là hoàn toàn vô ích cho đến khi con đường chính để tiếp cận đã được xây dựng và đi theo. Phác thảo tổng quát của con đường chiêm tinh là tất cả những gì hiện nay có thể làm được, cho đến thời điểm con người có thể tư duy trong những toàn thể lớn hơn và có năng lực tổng hợp hơn. Chúng ta sẽ giới hạn mình trong lĩnh vực bao la của các năng lượng mà tôi đã phác ra để các bạn xem xét và sẽ chỉ xem xét các mãnh lực chính đang lưu chuyển. Điều này sẽ đủ cho thời đại và thế hệ của chúng ta. Chúng ta quan tâm đến các năng lượng có thể và thực sự gợi lên đáp ứng, và con người có thể nhận biết chúng, và trong nhiều trường hợp ngày nay thực sự đang nhận biết. |
|
|
It might be useful here to comment in a wide and general way, and with many necessary reservations, upon the broad sweep of some of these responses: |
Ở đây, có thể hữu ích nếu bình luận theo một cách rộng và tổng quát, với nhiều dè dặt cần thiết, về phạm vi rộng lớn của một số đáp ứng này: |
|
1. Undeveloped humanity is primarily conditioned in its life and circumstances by the influence of the lesser zodiac and thus by the position of the planets in the twelve houses. |
1. Nhân loại chưa phát triển chủ yếu bị điều kiện hoá trong đời sống và hoàn cảnh của mình bởi ảnh hưởng của tiểu hoàng đạo và do đó bởi vị trí của các hành tinh trong mười hai nhà. |
|
2. Average intelligent humanity and those nearing the Path of Discipleship and upon the Probationary Path respond consciously to [31] |
2. Nhân loại thông minh trung bình và những người đang tiến gần Con Đường Đệ Tử và ở trên Con Đường Dự Bị đáp ứng một cách hữu thức với [31] |
|
a. The planets, affecting their personalities. |
a. Các hành tinh, ảnh hưởng đến phàm ngã của họ. |
|
b. The Sun sign, as indicating life trends which are already established and which constitute the line of least resistance. |
b. Dấu hiệu mặt trời, như chỉ ra các xu hướng đời sống đã được xác lập và cấu thành con đường ít trở ngại nhất. |
|
c. The rising sign in a small measure. This indicates the life goal for that particular life cycle or else over a period of seven lives. The last two constitute the Greater Zodiac. |
c. Dấu hiệu mọc ở một mức độ nhỏ. Điều này chỉ ra mục tiêu đời sống cho chu kỳ đời sống đặc biệt đó hoặc trong một giai đoạn bảy đời sống. Hai điều sau cấu thành Đại Hoàng Đạo. |
|
3. Disciples and initiates can begin consciously to respond to all the above influences, handling them constructively, plus those potent yet infinitely subtle forces which pour into our solar system from the three major constellations referred to above. In the early stages, the response is in the subtler bodies and the brain fails to register them, but after the third initiation, there is a recognition of them upon the physical plane. |
3. Các đệ tử và điểm đạo đồ có thể bắt đầu đáp ứng một cách hữu thức với tất cả các ảnh hưởng trên, xử lý chúng một cách xây dựng, cộng thêm các mãnh lực mạnh mẽ nhưng vô cùng tinh tế tuôn vào hệ mặt trời của chúng ta từ ba chòm sao chính đã nói ở trên. Trong các giai đoạn đầu, sự đáp ứng diễn ra trong các thể tinh tế hơn và bộ não không ghi nhận được chúng, nhưng sau lần điểm đạo thứ ba, có sự nhận biết chúng trên cõi hồng trần. |
|
Bringing the theme back to the subject of this treatise, which is that of the seven rays, I would point out that these rays have a close connection with the seven stars of the Great Bear (again always the four and the three as a secondary differentiation) and to the seven Sisters, the Pleiades. The first constellation is the agent of positive force to the planetary Logos and the other the relayer of the negative aspect. There is, therefore, a direct interchange of energies between the lives of the seven planetary Logoi and the stupendous and unfathomable Lives Who inform these major constellations. Great interlocking triangles of force can be found existing between the seven planets and these two groups of seven stars each. It will eventually be discovered that the innermost secret of astrological deduction in the planetary sense is connected with these “sacred triangles,” and they are—in their turn—represented by the triangles [32] (shifting and changing) which can be constructed in connection with the seven centres. |
Đưa chủ đề trở lại với đề tài của luận thuyết này, tức là bảy Cung, tôi muốn chỉ ra rằng các Cung này có liên hệ mật thiết với bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh (một lần nữa luôn luôn là bốn và ba như một sự biến phân thứ cấp) và với bảy Chị Em, Pleiades. Chòm sao thứ nhất là tác nhân của mãnh lực dương đối với các Hành Tinh Thượng đế và chòm sao kia là tác nhân chuyển tiếp của phương diện âm. Vì vậy, có một sự trao đổi trực tiếp các năng lượng giữa sự sống của bảy Hành Tinh Thượng đế và các Sự Sống vĩ đại, không thể dò thấu, đang thấm nhuần các chòm sao chính này. Có thể thấy các tam giác mãnh lực lớn móc nối lẫn nhau hiện hữu giữa bảy hành tinh và hai nhóm, mỗi nhóm bảy ngôi sao này. Cuối cùng, người ta sẽ khám phá rằng bí mật sâu kín nhất của suy diễn chiêm tinh theo nghĩa hành tinh có liên hệ với các “tam giác thiêng liêng” này, và đến lượt chúng—được biểu hiện bởi các tam giác [32] (dịch chuyển và thay đổi) có thể được kiến tạo liên hệ với bảy trung tâm. |
|
In casting the horoscope of the planet (which will some day be possible) it will be found that the line of these forces and of our planetary response to them is of a more potent effect than is the influence of the zodiacal constellations upon the human unit. This is due to the immeasurably advanced point in evolution of the planetary Spirits Who have (in Their individual lives) largely transcended the influence of the twelve constellations and are becoming rapidly responsive to the higher vibrations of their great Prototypes, the “three intimate constellations,” as they have esoterically been called. This is a correspondence in the lives of these great Entities to the manner in which an advanced individual can offset the influence of the planets and thus so dominate his personality life that prediction and certainty, as to activity and circumstance, are no longer possible. The soul is dominating, and the planets cease to condition the life. So it is with the constellations and the planetary Logoi. They can offset the lower influences as They awaken to and respond to the infinitely higher vibrations of the three major constellations. |
Khi lập lá số chiêm tinh của hành tinh (điều một ngày nào đó sẽ có thể), người ta sẽ thấy rằng đường đi của các mãnh lực này và sự đáp ứng hành tinh của chúng ta đối với chúng có tác động mạnh hơn ảnh hưởng của các chòm sao hoàng đạo lên đơn vị con người. Điều này là do điểm tiến hoá vô cùng cao của các Tinh thần hành tinh, các Ngài trong đời sống cá nhân của mình phần lớn đã vượt qua ảnh hưởng của mười hai chòm sao và đang nhanh chóng trở nên đáp ứng với các rung động cao hơn của các Nguyên Mẫu vĩ đại của Các Ngài, “ba chòm sao mật thiết,” như chúng đã được gọi theo nội môn. Đây là một định luật tương ứng trong đời sống của các Thực Thể vĩ đại này với cách thức mà một cá nhân tiến bộ có thể hóa giải ảnh hưởng của các hành tinh và do đó thống trị đời sống phàm ngã của mình đến mức sự tiên đoán và tính chắc chắn, về hoạt động và hoàn cảnh, không còn khả hữu nữa. Linh hồn đang thống trị, và các hành tinh không còn điều kiện hoá đời sống nữa. Với các chòm sao và các Hành Tinh Thượng đế cũng vậy. Các Ngài có thể hóa giải các ảnh hưởng thấp hơn khi Các Ngài thức tỉnh với và đáp ứng các rung động cao hơn vô hạn của ba chòm sao chính. |
2. The Creative Hierarchies. — 2. Các Huyền Giai Sáng Tạo.

|
[35] |
[35] |

|
[36] |
[36] |
|
1. The Hierarchy of Creative Powers is divided esoterically into seven (4 and 3) within the Twelve Great Orders. |
1. Huyền Giai của các Quyền Năng Sáng Tạo được chia theo nội môn thành bảy (4 và 3) bên trong Mười Hai Đại Đẳng Cấp. |
|
2. Three Hierarchies are—in this greater cycle—of profound significance, the fourth or human Creative Hierarchy and the two deva Hierarchies, the fifth and the sixth. |
2. Ba Huyền Giai là—trong đại chu kỳ này—có ý nghĩa sâu xa, đó là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay nhân loại và hai Huyền Giai thiên thần, thứ năm và thứ sáu. |
|
3. The fourth Creative Hierarchy is in reality the ninth and that is why it is called the Hierarchy of Initiates. This can be seen by referring to the chart. |
3. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư thực ra là thứ chín và đó là lý do vì sao nó được gọi là Huyền Giai của các điểm đạo đồ. Điều này có thể thấy khi tham chiếu biểu đồ. |
|
4. We are told in A Treatise on Cosmic Fire that in the ninth, tenth and eleventh Hierarchies (counting from the bottom upwards) lies the clue to the nature of Agni, the Lord of Fire, the sum total of systemic vitality. |
4. Chúng ta được nói trong Luận về Lửa Vũ Trụ rằng trong các Huyền Giai thứ chín, thứ mười và thứ mười một (đếm từ dưới lên trên) có manh mối về bản chất của Agni, Chúa Tể của Lửa, tổng số toàn bộ sinh lực hệ thống. |
|
5. Nhiều ánh sáng có thể đến với đạo sinh chân thành qua việc nghiên cứu các con số liên hệ với các Huyền Giai này. |
|
|
a. The first 5 are regarded as pure abstractions. |
a. Năm Huyền Giai đầu được xem là những trừu tượng thuần túy. |
|
b. Hierarchy One has the numbers—6.1.7. |
b. Huyền Giai Một có các con số—6.1.7. |
|
Hierarchy Two has the numbers—7.2.6. |
Huyền Giai Hai có các con số—7.2.6. |
|
Hierarchy Three has the numbers—8.3.5. |
Huyền Giai Ba có các con số—8.3.5. |
|
Hierarchy Four has the numbers—9.4.4. |
Huyền Giai Bốn có các con số—9.4.4. |
|
Hierarchy Five has the numbers—10.5.3. |
Huyền Giai Năm có các con số—10.5.3. |
|
Hierarchy Six has the numbers—11.6.2. |
Huyền Giai Sáu có các con số—11.6.2. |
|
Hierarchy Seven has the numbers—12.7.1. |
Huyền Giai Bảy có các con số—12.7.1. |
|
It is necessary to take note of this as in The Secret Doctrine reference will be found to the Hierarchies under different numbers. This serves to conceal, but it will also confuse the student. |
Cần phải lưu ý điều này vì trong Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ thấy có tham chiếu đến các Huyền Giai dưới những con số khác nhau. Điều này có tác dụng che giấu, nhưng cũng sẽ làm đạo sinh bối rối. |
|
6. The first four Hierarchies achieved liberation in the first solar system. Their influence reached our Earth through the medium of the fifth Creative Hierarchy. [37] |
6. Bốn Huyền Giai đầu đã đạt giải thoát trong hệ mặt trời thứ nhất. Ảnh hưởng của chúng đến Trái Đất chúng ta qua trung gian của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm. [37] |
|
7. These are, therefore, related to the four rays which work as minor rays of Attribute under the great major third Ray of Active Intelligence. |
7. Vì vậy, chúng liên hệ với bốn cung hoạt động như các Cung Thuộc Tính phụ dưới cung ba lớn, cung Trí Tuệ Hoạt Động. |
|
8. Pisces is seen at the head of the list of zodiacal signs because it is governing the present great astrological world cycle of 25,000 years. It was also one of the dominant signs, influencing our planet at the time of individualisation when the human kingdom came into being. It is basically related to the first or highest Creative Hierarchy which is, in its turn, related to the third Ray of Active Intelligence. It was the product of the first solar system. The development of illumination through an awakened intelligence is the first goal of humanity. |
8. Song Ngư được thấy ở đầu danh sách các dấu hiệu hoàng đạo vì nó đang cai quản đại chu kỳ chiêm tinh thế giới hiện tại là 25.000 năm. Nó cũng là một trong những dấu hiệu chi phối, ảnh hưởng đến hành tinh chúng ta vào thời điểm biệt ngã hóa khi giới nhân loại xuất hiện. Về căn bản, nó liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo thứ nhất hay cao nhất, mà đến lượt nó liên hệ với cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. Nó là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất. Sự phát triển của soi sáng qua một trí tuệ được thức tỉnh là mục tiêu đầu tiên của nhân loại. |
|
9. The fifth Creative Hierarchy (also numbered 8) is on the verge of liberation. It is peculiarly connected with the tenth Creative Hierarchy, with the constellation Capricorn and with the human personality which veils and temporarily hides the Christ principle behind both form and mind. Eight is, under some numerical systems, regarded as the number of the Christ. |
9. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm (cũng được đánh số 8) đang ở trên bờ giải thoát. Nó có liên hệ đặc biệt với Huyền Giai Sáng Tạo thứ mười, với chòm sao Ma Kết và với phàm ngã con người, vốn che phủ và tạm thời che giấu nguyên khí Christ phía sau cả hình tướng lẫn thể trí. Tám, trong một số hệ thống số học, được xem là con số của Đức Christ. |
|
10. The Greater Builders and the Lesser Builders, working on the second and third planes of our solar system, have their activities reflected in the work of the Lunar Lords and the elemental lives. |
10. Các đấng đại kiến tạo và các vị tiểu kiến tạo, hoạt động trên cõi thứ hai và thứ ba của hệ mặt trời chúng ta, có các hoạt động của mình được phản ánh trong công việc của các nguyệt tinh quân và các sự sống hành khí. |
|
11. You will note that the human Hierarchy (on chart 9-IV-4) is assigned no particular element as it has to fuse and synthesise them all. This is part of the great tests of initiation under Scorpio. |
11. Các bạn sẽ lưu ý rằng Huyền Giai nhân loại (trên biểu đồ 9-IV-4) không được gán cho nguyên tố đặc biệt nào vì nó phải dung hợp và tổng hợp tất cả chúng. Đây là một phần của các thử thách lớn của điểm đạo dưới Hổ Cáp. |
|
12. This chart is drawn up in relation only to the fourth Creative Hierarchy, the human. It is not drawn in relation to the other planetary manifestations. |
12. Biểu đồ này chỉ được lập ra trong mối liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại. Nó không được lập ra trong mối liên hệ với các biểu hiện hành tinh khác. |
|
[38] |
[38] |
|
(The chart has been compiled from the very limited stock of knowledge that has thus far been revealed on the subject, and it is as correct as possible under the circumstances.) |
(Biểu đồ đã được biên soạn từ kho tri thức rất hạn chế cho đến nay đã được tiết lộ về chủ đề này, và nó đúng đắn hết mức có thể trong hoàn cảnh hiện tại.) |
|
Each of the seven Hierarchies of Beings, found within the Twelve, Who are the Builders or the Attractive Agents are (in their degree) intermediaries; all embody one of the types of force emanating from the seven constellations. Their intermediary work, therefore, is dual: |
Mỗi một trong bảy Huyền Giai của các Đấng, được tìm thấy bên trong Mười Hai, là những đấng kiến tạo hay những Tác Nhân Hấp Dẫn, đều là (trong cấp độ của Các Ngài) những trung gian; tất cả đều hiện thân cho một trong các loại mãnh lực phát ra từ bảy chòm sao. Vì vậy, công việc trung gian của Các Ngài có tính nhị nguyên: |
|
1. They are the mediators between Spirit and matter. |
1. Các Ngài là những đấng trung gian giữa Tinh thần và vật chất. |
|
2. They are the transmitters of force from sources extraneous to the solar system to forms within the solar system. |
2. Các Ngài là những đấng truyền dẫn mãnh lực từ các nguồn ở ngoài hệ mặt trời đến các hình tướng bên trong hệ mặt trời. |
|
Each of these groups of beings is likewise septenary in nature, and the forty-nine fires of Brahma are the lowest manifestation of their fiery nature. Each group also may be regarded as “fallen” in the cosmic sense, because involved in the building process, or the occupiers of forms of some degree of density or another. |
Mỗi nhóm hữu thể này cũng đều có bản chất thất phân, và bốn mươi chín ngọn lửa của Brahma là biểu hiện thấp nhất của bản tính lửa của họ. Mỗi nhóm cũng có thể được xem là “sa ngã” theo nghĩa vũ trụ, vì bị cuốn vào tiến trình kiến tạo, hay là những kẻ cư ngụ trong các hình tướng có mức độ đậm đặc này hay mức độ đậm đặc khác. |
|
Hierarchy I. The first great Hierarchy is emanated from the Heart of the central Spiritual Sun. It is the Son of God Himself, the First Born in a cosmic sense, even as the Christ was the “Eldest in a vast family of brothers,” and the “first flower on the human plant.” The symbol of this Hierarchy is the Golden Lotus with its twelve petals folded. The Secret Doctrine I. 233-250. III. 565. |
Huyền Giai I. Huyền Giai lớn thứ nhất được phát xuất từ Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Đó là chính Con của Thượng đế, Đấng Đầu Sinh theo nghĩa vũ trụ, cũng như Đức Christ là “Người Anh Cả trong một đại gia đình huynh đệ,” và là “đóa hoa đầu tiên trên cây nhân loại.” Biểu tượng của Huyền Giai này là Hoa Sen Vàng với mười hai cánh khép lại. Giáo Lý Bí Nhiệm I. 233-250. III. 565. |
|
It should be remembered that this Hierarchy is literally the sixth, for five hierarchies have passed on, being the product of the earlier system, that wherein Intelligence or Manas was the goal. The five liberated Hierarchies are in their totality the sum total of manas. It is the Hierarchy which is the fifth in order, and which we are told is in [39] process of achieving final liberation, or taking its fourth Initiation, which is the cause of certain phenomena upon our planet which has merited our planet being called the “Star of Suffering.” There is a karmic link between the animal kingdom and the fifth Creative Hierarchy of the earlier system which makes itself felt in man in the necessary crucifixion of the animal physiical nature, particularly along sex lines. We must remember that the Hierarchies work under the Law of Attraction; it is the law of the Builders. |
Cần ghi nhớ rằng Huyền Giai này theo nghĩa đen là huyền giai thứ sáu, vì năm huyền giai đã đi qua rồi, là sản phẩm của hệ thống trước, hệ thống mà trong đó Trí Tuệ hay Manas là mục tiêu. Năm Huyền Giai được giải thoát, trong tính toàn thể của chúng, là tổng số của manas. Chính Huyền Giai là thứ năm theo thứ tự, và như chúng ta được cho biết, đang ở trong tiến trình [39] đạt đến giải thoát tối hậu, hay đang nhận lần điểm đạo thứ tư của mình, là nguyên nhân của một số hiện tượng trên hành tinh chúng ta, khiến hành tinh này được gọi là “Ngôi Sao Đau Khổ.” Có một mối liên kết nghiệp quả giữa giới động vật và Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của hệ thống trước, mối liên kết này tự biểu lộ nơi con người trong sự đóng đinh cần thiết của bản tính thể xác động vật, đặc biệt theo tuyến tính dục. Chúng ta phải nhớ rằng các Huyền Giai hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; đó là định luật của các đấng kiến tạo. |
|
This first (sixth) Hierarchy has for its type of energy the first aspect of the sixth type of cosmic electricity, and wields special power, therefore, in conjunction with the lowest fire, or “fire by friction,” as it makes itself felt on the sixth plane. These lives are called “the burning Sons of Desire” and were the Sons of Necessity. It is said of them in the Old Commentary: “They burned to know. They rushed into the spheres. They are the longing of the Father for the Mother. Hence do they suffer, burn, and long through the sixth sphere of sense.” |
Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) này có loại năng lượng là phương diện thứ nhất của loại điện vũ trụ thứ sáu, và vì vậy nắm giữ quyền năng đặc biệt khi phối hợp với ngọn lửa thấp nhất, hay “Lửa ma sát,” khi nó tự biểu lộ trên cõi thứ sáu. Những sự sống này được gọi là “các Con bừng cháy của Dục vọng” và là các Con của Sự Cần Thiết. Về họ, Cổ Luận nói rằng: “Họ bừng cháy để biết. Họ lao vào các khối cầu. Họ là nỗi khát khao của Cha đối với Mẹ. Vì thế họ đau khổ, bừng cháy, và khát khao xuyên qua khối cầu cảm giác thứ sáu.” |
|
Hierarchy II. The second Hierarchy is closely allied with the Great Bear. We are told that They entered through the second ventricle within the Sacred Heart, and are (as we are told in The Secret Doctrine) the prototypes of the Monads. They are the source of monadic life, but They are not the Monads; They are far higher. |
Huyền Giai II. Huyền Giai thứ hai có liên hệ mật thiết với Đại Hùng Tinh. Chúng ta được cho biết rằng Các Ngài đi vào qua tâm thất thứ hai bên trong Trái Tim Thiêng Liêng, và là (như được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm) các nguyên mẫu của các Chân Thần. Các Ngài là nguồn của sự sống chân thần, nhưng Các Ngài không phải là các Chân Thần; Các Ngài cao hơn rất nhiều. |
|
This Hierarchy, which is literally the seventh, is the influx into our system of those Lives who in the first solar system remained on their own plane, being too sinless and holy to find opportunity in that very material and intellectual evolution. Even in this, they will find it impossible to do more than influence the incarnating Jivas, imparting to them ability to realise the nature of group consciousness, the quality of the seven Heavenly Men, but not being able to express [40] themselves fully. Some clues to this mystery will come if the student carefully bears in mind that in our solar system and our seven planes, we have only the physical body of the Logos, and that that physical body is a limitation of the expression of His threefold nature. The first (sixth) Hierarchy might be viewed as endeavouring to express the mental vibration of the solar Logos and the second, His emotional, or cosmic astral, nature. |
Huyền Giai này, theo nghĩa đen là huyền giai thứ bảy, là dòng tuôn vào hệ thống chúng ta của những Sự Sống mà trong hệ mặt trời thứ nhất đã ở lại trên cõi riêng của mình, vì quá vô tội và thiêng liêng để tìm được cơ hội trong cuộc tiến hoá rất vật chất và trí tuệ ấy. Ngay cả trong điều này, họ cũng sẽ thấy không thể làm gì hơn ngoài việc ảnh hưởng đến các Jiva đang nhập thể, truyền cho họ khả năng chứng nghiệm bản chất của tâm thức nhóm, phẩm tính của bảy Đấng Thiên Nhân, nhưng không thể tự biểu lộ [40] chính mình một cách trọn vẹn. Một vài đầu mối cho huyền nhiệm này sẽ đến nếu đạo sinh cẩn thận ghi nhớ rằng trong hệ mặt trời của chúng ta và bảy cõi của chúng ta, chúng ta chỉ có thể xác của Thượng đế, và thể xác ấy là một giới hạn đối với sự biểu lộ bản tính tam phân của Ngài. Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) có thể được xem như đang nỗ lực biểu lộ rung động trí tuệ của Thái dương Thượng đế, còn huyền giai thứ hai thì biểu lộ bản tính cảm xúc, hay cảm dục vũ trụ, của Ngài. |
|
This second (seventh) Hierarchy has for its type of force the second aspect of the seventh type of force from out of the many. Some idea of the relative point in evolution of the solar Logos may be gained by study of the varying aspects of force which He is demonstrating in this particular incarnation. It is this energy which drives the Monads through into physical incarnation, for it makes itself felt on the seventh plane. The energies which are functioning are those which the Logos has unfolded, and are the gain of previous incarnations. Gaps necessarily occur, and certain types of force are lacking because He has as yet much cosmically to gain. |
Huyền Giai thứ hai (thứ bảy) này có loại mãnh lực là phương diện thứ hai của loại mãnh lực thứ bảy trong số nhiều loại. Một vài ý niệm về điểm tiến hoá tương đối của Thái dương Thượng đế có thể đạt được qua việc nghiên cứu các phương diện khác nhau của mãnh lực mà Ngài đang biểu lộ trong lần lâm phàm đặc biệt này. Chính năng lượng này thúc đẩy các Chân Thần đi vào nhập thể hồng trần, vì nó tự biểu lộ trên cõi thứ bảy. Các năng lượng đang hoạt động là những năng lượng mà Thượng đế đã khai mở, và là thành quả của các lần lâm phàm trước. Những khoảng trống tất yếu xuất hiện, và một số loại mãnh lực còn thiếu vì Ngài vẫn còn nhiều điều phải đạt được về mặt vũ trụ. |
|
It is the energy of this Hierarchy which results in the manifestation of the Divine Androgyne, and in the seven centres of force which are the seven Spiritual Energies. |
Chính năng lượng của Huyền Giai này dẫn đến sự biểu hiện của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, và của bảy trung tâm mãnh lực là bảy Năng Lượng Tinh Thần. |
|
Hierarchy III. The third Creative Hierarchy (or the eighth) is a peculiarly interesting one. They are called “the Triads” for They hold in themselves the potencies of triple evolution, mental, psychical, and spiritual. These Triads of Life are inherently the three Persons of the Trinity and the flower of the earlier system from a certain angle. From another angle, when studied as the “flower of the earlier Eight,” They are the eightfold points awaiting opportunity to flame forth. They are the devas who are ready for service, which is to give to another Hierarchy certain [41] qualities which are lacking. This Hierarchy is regarded as the great donors of immortality whilst Themselves “standing aloof from incarnation.” Lords of Sacrifice and Love are They, but They cannot pass out of the logoic etheric body into the dense physical vehicle. |
Huyền Giai III. Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba (hay thứ tám) là một huyền giai đặc biệt lý thú. Họ được gọi là “các Tam nguyên” vì họ nắm giữ trong mình các tiềm năng của sự tiến hoá tam phân: trí tuệ, thông linh và tinh thần. Các Tam nguyên của Sự Sống này vốn là ba Ngôi của Tam Vị và là đóa hoa của hệ thống trước theo một góc độ nào đó. Theo một góc độ khác, khi được nghiên cứu như “đóa hoa của Tám trước đó,” Họ là những điểm bát phân đang chờ cơ hội để bùng cháy. Họ là các thiên thần đã sẵn sàng phụng sự, mà sự phụng sự ấy là trao cho một Huyền Giai khác những [41] phẩm tính còn thiếu. Huyền Giai này được xem là những đấng ban phát sự bất tử lớn lao, trong khi chính Họ lại “đứng ngoài sự nhập thể.” Họ là các Chúa Tể của Hi Sinh và Bác Ái, nhưng Họ không thể đi ra khỏi thể dĩ thái của Thượng đế để vào vận cụ hồng trần đậm đặc. |
|
This third Hierarchy wields the third aspect of electric force of the first type of cosmic energy. They stand for a recurrent cycle of that first type symbolised by the number 8. The formulae for these electrical energies are too complicated to be given here, but the student should bear in mind that these Hierarchies express: |
Huyền Giai thứ ba này vận dụng phương diện thứ ba của mãnh lực điện thuộc loại năng lượng vũ trụ thứ nhất. Họ tượng trưng cho một chu kỳ tái diễn của loại thứ nhất ấy, được biểu tượng bằng số 8. Các công thức của những năng lượng điện này quá phức tạp để nêu ra ở đây, nhưng đạo sinh nên ghi nhớ rằng các Huyền Giai này biểu lộ: |
|
1. Septenary cosmic energy. |
1. Năng lượng vũ trụ thất phân. |
|
2. Cosmic prana. |
2. Prana vũ trụ. |
|
3. Solar energy or electric fire, solar fire and fire by friction. |
3. Năng lượng mặt trời hay Lửa điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát. |
|
Each Hierarchy manifests a triple energy or an aspect of each of the above, and that necessitates a ninefold differentiation, for the two first are triple, as is the third. It is the rejection of the Triadal lives by units in the fourth Hierarchy, that of the human Monads, which precipitates a man eventually into the eighth sphere. He refuses to become a Christ, a Saviour and remains self-centred. |
Mỗi Huyền Giai biểu lộ một năng lượng tam phân hay một phương diện của mỗi điều kể trên, và điều đó đòi hỏi một sự biến phân cửu phân, vì hai điều đầu là tam phân, cũng như điều thứ ba. Chính sự khước từ các sự sống Tam nguyên bởi các đơn vị trong Huyền Giai thứ tư, tức các Chân Thần nhân loại, khiến con người cuối cùng bị kết tủa vào khối cầu thứ tám. Con người từ chối trở thành một Đấng Christ, một Đấng Cứu Thế, và vẫn tập trung vào bản thân. |
|
We have dealt with the first three Hierarchies which are regarded as ever “seeing the Face of the Ruler of the Deep,” or as being so pure and holy that Their forces are in realised contact with Their emanating source. |
Chúng ta đã đề cập đến ba Huyền Giai đầu tiên, là những Huyền Giai được xem như luôn luôn “chiêm ngưỡng Dung Nhan của Đấng Cai Quản Vực Sâu,” hay là thanh khiết và thiêng liêng đến mức các mãnh lực của Họ tiếp xúc một cách chứng nghiệm với nguồn phát xuất của mình. |
|
We now take up for brief consideration two Hierarchies which closely concern ourselves, the human self-conscious entities. These two groups are literally three, as the fifth Hierarchy is a dual one, and it is this which has led to some confusion and is the occult significance behind the ill-omened number thirteen. They are the “Seekers of satisfaction” and the cause of the second fall into generation, the fact [42] behind the taking of a lower nature by the Ego. The fourth and the fifth Hierarchies are the ninth and tenth, or the “Initiates” and the “Perfect Ones.” All human beings, or “Imperishable Jivas,” are those who evolve through a graded series of initiations, either self-induced or brought about on our planet with extraneous aid. They achieve through a “marriage” with the order next to them, the fifth. They are then completed or perfected, and it is owing to this occult fact that the fourth Hierarchy is regarded as masculine and the fifth as feminine. |
Giờ đây, chúng ta xét ngắn gọn hai Huyền Giai có liên quan mật thiết đến chính chúng ta, những thực thể tự ý thức của nhân loại. Hai nhóm này theo nghĩa đen là ba, vì Huyền Giai thứ năm là một huyền giai nhị nguyên, và chính điều này đã dẫn đến một số nhầm lẫn và là ý nghĩa huyền bí đằng sau con số mười ba bị xem là điềm gở. Họ là những “Kẻ Tìm Kiếm sự thoả mãn” và là nguyên nhân của lần sa ngã thứ hai vào sự sinh sản, là sự kiện [42] đằng sau việc chân ngã khoác lấy một bản tính thấp hơn. Huyền Giai thứ tư và thứ năm là huyền giai thứ chín và thứ mười, hay là các “Điểm đạo đồ” và các “Đấng Toàn Thiện.” Tất cả nhân loại, hay “các Jiva Bất Hoại,” là những kẻ tiến hoá qua một chuỗi điểm đạo theo cấp bậc, hoặc do tự mình tạo ra hoặc được mang lại trên hành tinh chúng ta với sự trợ giúp từ bên ngoài. Họ thành tựu nhờ một “cuộc hôn phối” với cấp kế cận họ, tức cấp thứ năm. Khi ấy họ được hoàn tất hay được hoàn thiện, và chính do sự kiện huyền bí này mà Huyền Giai thứ tư được xem là nam tính còn Huyền Giai thứ năm là nữ tính. |
|
Hierarchy IV. The fourth Creative Hierarchy is the group wherein the highest aspect of man, his “Father in Heaven” finds place. These lives are the points of fire who must become the flame; this they do through the agency of the fifth Hierarchy and the four wicks, or the two dual lower hierarchies. Thus it can be seen that where man is concerned, the fourth, fifth, sixth and seventh Hierarchies are, during the cycle of incarnation, his very self. They are the “Lords of Sacrifice” and “Lords of Love,” the flower of Atma-Buddhi. |
Huyền Giai IV. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nhóm trong đó phương diện cao nhất của con người, “Cha trên Trời” của con người, tìm được chỗ đứng. Những sự sống này là các điểm lửa phải trở thành ngọn lửa; họ làm điều này qua tác nhân của Huyền Giai thứ năm và bốn tim đèn, hay hai huyền giai thấp hơn mang tính nhị nguyên. Vì vậy có thể thấy rằng, xét về con người, các Huyền Giai thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, trong chu kỳ nhập thể, chính là bản thân con người. Họ là các “Chúa Tể của Hi Sinh” và “Chúa Tể của Bác Ái,” là đóa hoa của Atma-Buddhi. |
|
In studying these Hierarchies, one of the most valuable lessons to be learned is the place and importance of man in the scheme. The Hierarchy, for instance, which is the essence of the intangible Life of Spirit, the principle of Buddhi, is the esoteric cause of the cosmic marriage of spirit and matter, based on the love and desire of the Logos, but each Hierarchy also expresses itself through one particular manifestation which comes to be regarded by the finite mind of man as the Hierarchy itself. This is not so, and care must be taken to distinguish between these Hierarchies. |
Khi nghiên cứu các Huyền Giai này, một trong những bài học giá trị nhất cần học là vị trí và tầm quan trọng của con người trong hệ thống. Chẳng hạn, Huyền Giai là tinh tuý của Sự Sống vô hình tướng của Tinh thần, nguyên khí của Bồ đề, là nguyên nhân nội môn của cuộc hôn phối vũ trụ giữa tinh thần và vật chất, dựa trên tình thương và dục vọng của Thượng đế; nhưng mỗi Huyền Giai cũng tự biểu lộ qua một biểu hiện đặc thù nào đó, và biểu hiện ấy được thể trí hữu hạn của con người xem như chính Huyền Giai đó. Điều này không đúng, và cần cẩn trọng để phân biệt giữa các Huyền Giai này. |
|
They are latent germs of force centres and manifest subjectively; they warm and vitalise groups of forms; they [43] flower forth and express themselves through the medium of a form, or another Hierarchy. These Hierarchies are all interrelated and are negative or positive to each other, as the case may be. |
Họ là những mầm tiềm ẩn của các trung tâm mãnh lực và biểu lộ một cách chủ quan; họ sưởi ấm và tiếp sinh lực cho các nhóm hình tướng; họ [43] nở hoa và tự biểu lộ qua trung gian của một hình tướng, hay một Huyền Giai khác. Tất cả các Huyền Giai này đều liên hệ với nhau và là âm hay dương đối với nhau, tuỳ trường hợp. |
|
As is stated in The Secret Doctrine, I. 238, this Hierarchy is the nursery for the incarnating Jivas; and it carried in it the germs of the Lives which achieved the human stage in another solar system, but were not able to proceed beyond that owing to the coming in of pralaya, which projected them into a state of latency. The condition of the Hierarchy is similar, only on a cosmic scale, to the condition of the seeds of human life held in a state of obscuration during an interchain period. The three other Hierarchies dealt with (first, second and third) were those who have (in previous kalpas of logoic manifestation) passed beyond the human stage altogether. They are, therefore, the arupa or formless groups, as the remaining are the rupa groups or those having forms. |
Như được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm, I. 238, Huyền Giai này là vườn ươm cho các Jiva nhập thể; và nó mang trong mình các mầm sống của những Sự Sống đã đạt đến giai đoạn nhân loại trong một hệ mặt trời khác, nhưng không thể tiến xa hơn vì pralaya đến, đẩy họ vào một trạng thái tiềm ẩn. Tình trạng của Huyền Giai này tương tự, nhưng ở quy mô vũ trụ, với tình trạng của các hạt giống sự sống nhân loại được giữ trong trạng thái mờ khuất trong một thời kỳ giữa hai dãy. Ba Huyền Giai khác đã được đề cập (thứ nhất, thứ hai và thứ ba) là những Huyền Giai đã (trong các kalpa trước của sự biểu lộ của Thượng đế) vượt hẳn giai đoạn nhân loại. Vì vậy, họ là các nhóm arupa hay vô sắc, trong khi các nhóm còn lại là các nhóm rupa hay có hình tướng. |
|
The fourth Creative Hierarchy, or the ninth, must ever be regarded in this solar system as occupying what might be considered as the third place, |
Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hay thứ chín, trong hệ mặt trời này phải luôn được xem là chiếm giữ điều có thể được coi là vị trí thứ ba, |
|
First, the Lives or the three Persons of the Trinity. |
Thứ nhất, các Sự Sống hay ba Ngôi của Tam Vị. |
|
Second, the Prototypes of man, the seven Spirits. |
Thứ hai, các Nguyên Mẫu của con người, bảy Thánh Linh. |
|
Third, man or the lowest manifestation of the self-conscious Spirit aspect. |
Thứ ba, con người hay biểu hiện thấp nhất của phương diện Tinh thần tự ý thức. |
|
This needs to be carefully considered and has no reference to the form aspect but solely to the nature of the Lives expressing themselves through other lives who are also self-conscious, or fully intelligent. This, certain of the Hierarchies are not. |
Điều này cần được cân nhắc cẩn thận và không liên quan gì đến phương diện hình tướng mà chỉ liên quan đến bản chất của các Sự Sống đang tự biểu lộ qua những sự sống khác cũng tự ý thức, hay hoàn toàn thông minh. Một số Huyền Giai nhất định không phải như vậy. |
|
The four lower Hierarchies are all concerned with manifestation [44] in the three worlds, or in the dense physical body of the solar Logos. They are Those who can discard or pass through the etheric body of the solar Logos and take forms composed of either gaseous, liquid, or dense substance. The others cannot. They cannot fall into physical generation. |
Bốn Huyền Giai thấp hơn đều liên quan đến sự biểu hiện [44] trong ba cõi thấp, hay trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Họ là những Đấng có thể bỏ đi hay xuyên qua thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và khoác lấy các hình tướng được cấu tạo bằng chất khí, chất lỏng, hay chất đậm đặc. Các Huyền Giai khác thì không thể. Họ không thể sa vào sự sinh sản hồng trần. |
|
Students must bear in mind that from the standpoint of the Logos, the solar Angels on the mental plane (the fifth subplane of the cosmic physical plane) are in physical incarnation, and what is called the “second fall” applies to this. The first fall has reference to the taking of a form of cosmic etheric matter, such as is the case with the Heavenly Men, the prototypes of the human jivas. In this latter case the bodies used are called “formless” from our standpoint, and are “vital bodies,” animated by cosmic prana. In the case of ourselves and the remaining groups, the forms are composed of substance of the three lower planes (that which the Logos does not regard as a principle) and, therefore, matter responding still to the vibration of the earlier system. This means that the four lower Hierarchies are links between the life of the past and of the future. They are the present. They had not finished their contacts with the active intelligent principle of the preceding kalpa, and so must continue such contacts in this. They will work out of it in this system, the four will become the three and they will then be the three higher arupa Hierarchies of the next system. |
Các đạo sinh phải ghi nhớ rằng theo quan điểm của Thượng đế, các Thái dương Thiên Thần trên cõi trí (cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ) đang ở trong nhập thể hồng trần, và điều được gọi là “lần sa ngã thứ hai” áp dụng cho điều này. Lần sa ngã thứ nhất liên quan đến việc khoác lấy một hình tướng bằng vật chất dĩ thái vũ trụ, như trường hợp của các Đấng Thiên Nhân, các nguyên mẫu của các jiva nhân loại. Trong trường hợp sau này, các thể được dùng được gọi là “vô sắc” theo quan điểm của chúng ta, và là “thể sinh lực,” được hoạt hoá bởi prana vũ trụ. Trong trường hợp của chính chúng ta và các nhóm còn lại, các hình tướng được cấu tạo bằng chất liệu của ba cõi thấp (điều mà Thượng đế không xem là một nguyên khí) và vì vậy là vật chất vẫn còn đáp ứng với rung động của hệ thống trước. Điều này có nghĩa là bốn Huyền Giai thấp hơn là những mắt xích giữa sự sống của quá khứ và của tương lai. Họ là hiện tại. Họ chưa hoàn tất các tiếp xúc của mình với nguyên khí hoạt động thông minh của kalpa trước, và vì vậy phải tiếp tục các tiếp xúc ấy trong kalpa này. Họ sẽ thoát ra khỏi điều đó trong hệ thống này, bốn sẽ trở thành ba và khi ấy họ sẽ là ba Huyền Giai arupa cao hơn của hệ thống kế tiếp. |
|
Before continuing our consideration of the particular Hierarchies, it is necessary to point out that in these Hierarchies, certain of them are termed “dominant hierarchies” and others “subsidiary hierarchies.” By this is meant that certain of them are expressing themselves in this solar system more fully than the others, and this necessarily entails [45] the consequence that their vibration is more to be felt than that of the subsidiary groups. The dominant groups are the second, fourth and fifth, and this because: |
Trước khi tiếp tục xem xét các Huyền Giai đặc thù, cần chỉ ra rằng trong các Huyền Giai này, một số được gọi là “các huyền giai trội” và một số khác là “các huyền giai phụ thuộc.” Điều này có nghĩa là một số huyền giai trong đó đang tự biểu lộ trong hệ mặt trời này đầy đủ hơn các huyền giai khác, và điều này tất yếu kéo theo [45] hệ quả là rung động của chúng được cảm nhận nhiều hơn rung động của các nhóm phụ thuộc. Các nhóm trội là nhóm thứ hai, thứ tư và thứ năm, và điều này là vì: |
|
a. The second is the great expression of duality, of the Son as He vitalises the Sun. |
a. Nhóm thứ hai là biểu hiện lớn lao của nhị nguyên tính, của Con khi Ngài tiếp sinh lực cho Mặt Trời. |
|
b. The fourth is the Hierarchy of human Monads who are the mediators or the synthesisers; they express the gain of System 1 and the goal of System 2. |
b. Nhóm thứ tư là Huyền Giai của các Chân Thần nhân loại, là những đấng trung gian hay tổng hợp; họ biểu lộ thành quả của Hệ thống 1 và mục tiêu của Hệ thống 2. |
|
c. The fifth or tenth is closely linked with the five liberated Hierarchies, and is an expression of their synthesised life. It might, therefore, be said that the fifth Hierarchy serves as the representative of the five liberated groups, and the fourth is the representative group in this system, whilst the second represents (for man, or these two groups united) that which is the Spirit aspect, the Father, the Unknown. |
c. Nhóm thứ năm hay thứ mười có liên hệ mật thiết với năm Huyền Giai được giải thoát, và là một biểu hiện của sự sống tổng hợp của họ. Vì vậy, có thể nói rằng Huyền Giai thứ năm phục vụ như đại diện của năm nhóm được giải thoát, và Huyền Giai thứ tư là nhóm đại diện trong hệ thống này, trong khi nhóm thứ hai đại diện (đối với con người, hay đối với hai nhóm này hợp nhất) cho điều là phương diện Tinh thần, tức Người Cha, Đấng Bất Khả Tri. |
|
Hierarchy V. The fifth Creative Hierarchy is, as we know from study of The Secret Doctrine, a most mysterious one. This mystery is incident upon the relation of the fifth Hierarchy to the five liberated groups. This relation, in connection with our particular planet, which is not a sacred planet, can be somewhat understood if the history of the Buddha, and His work is contemplated. This is hinted at in the third volume of The Secret Doctrine. |
Huyền Giai V. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, như chúng ta biết qua việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, là một huyền giai cực kỳ huyền bí. Huyền nhiệm này phát sinh từ mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với năm nhóm được giải thoát. Mối liên hệ này, liên quan đến hành tinh đặc thù của chúng ta, vốn không phải là một hành tinh thiêng liêng, có thể được hiểu phần nào nếu chiêm ngưỡng lịch sử của Đức Phật và công việc của Ngài. Điều này được ám chỉ trong quyển ba của Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
The relation of the fifth Hierarchy to a certain constellation has also a bearing upon this mystery. This is hidden in the karma of the solar Logos, and concerns His relationship to another solar Logos, and the interplay of force between Them in a great mahakalpa. This is the true “secret of the Dragon,” and it was the dragon-influence or the “serpent energy” which caused the influx of manasic or mind energy into the solar system. Entangled closely [46] with the karma of these two cosmic Entities, was that of the lesser cosmic Entity Who is the Life of our planet, the planetary Logos. It was this triple karma which brought in the “serpent religion” and the “Serpents or Dragons of Wisdom,” in Lemurian days. It had to do with solar and planetary Kundalini, or Serpent fire. A hint lies in the fact that the constellation of the Dragon has the same relation to the ONE greater than our Logos as the centre at the base of the spine has to a human being. It concerns stimulation, and vitalisation with a consequent co-ordination of the manifesting fires. |
Mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với một chòm sao nào đó cũng có liên quan đến huyền nhiệm này. Điều này được che giấu trong nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, và liên quan đến mối quan hệ của Ngài với một Thái dương Thượng đế khác, cùng sự tương tác mãnh lực giữa Hai Đấng trong một đại kiếp lớn. Đây là “bí mật của Rồng” đích thực, và chính ảnh hưởng của rồng hay “năng lượng rắn” đã gây ra dòng tuôn nhập của năng lượng manas hay năng lượng trí tuệ vào hệ mặt trời. Gắn chặt [46] với nghiệp quả của hai Thực Thể vũ trụ này là nghiệp quả của Thực Thể vũ trụ nhỏ hơn, Đấng là Sự Sống của hành tinh chúng ta, tức Hành Tinh Thượng đế. Chính nghiệp quả tam phân này đã đưa vào “tôn giáo rắn” và “các Con Rắn hay Rồng Minh Triết” trong thời Lemuria. Nó liên quan đến Kundalini mặt trời và hành tinh, hay Lửa Rắn. Một đầu mối nằm trong sự kiện rằng chòm sao Rồng có cùng mối liên hệ với ĐẤNG cao hơn Thượng đế của chúng ta như trung tâm ở đáy cột sống có đối với một con người. Nó liên quan đến sự kích thích và tiếp sinh lực, với hệ quả là sự phối hợp của các ngọn lửa đang biểu hiện. |
|
Một đầu mối cho huyền nhiệm này cũng nằm trong mối liên hệ của nhóm thứ năm này với hai cực co hút. Họ là những Mắt Xích ngũ phân, những “Đấng Hợp Nhất Từ Ái” và “những Đấng Tạo Ra Sự Chuộc Tội.” Theo nội môn, họ là “Những Đấng Cứu Rỗi của Nhân Loại” và từ Họ phát ra nguyên khí mà—khi kết hợp với phương diện cao nhất—nâng phương diện thấp hơn lên Thiên giới. |
|
|
When these mysteries are carefully studied, and due application made to the lives of the greatest exponents of the at-one-ing principle, it will become apparent how great and all-important is their place in the scheme. |
Khi những huyền nhiệm này được nghiên cứu cẩn thận, và được áp dụng thích đáng vào cuộc đời của những vị biểu hiện vĩ đại nhất của nguyên lý hợp nhất, thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng vị trí của họ trong hệ thống lớn lao và tối quan trọng đến mức nào. |
|
It is for this reason that the units of the fifth Hierarchy are called “The Hearts of Fiery Love”; They save through love, and in Their turn these lives are peculiarly close to the great Heart of Love of the solar Logos. These great redeeming Angels, Who are the Sons of Men on their own true plane, the mental, are ever, therefore, pictured as taking the form of twelve-petalled lotuses—this symbology linking them up with “the Son of Divine Love,” the manifested solar system, which is said to be a cosmic twelve-petalled lotus, and with the logoic causal lotus, equally of a twelve-petalled nature. |
Chính vì lý do này mà các đơn vị của Huyền Giai thứ năm được gọi là “Những Trái Tim của Bác Ái Rực Lửa”; Họ cứu rỗi bằng tình thương, và đến lượt mình những sự sống này lại đặc biệt gần gũi với Trái Tim Vĩ Đại của Bác Ái của Thái dương Thượng đế. Vì vậy, những Thiên Thần cứu chuộc vĩ đại này, là những Con của Người trên cõi chân thực của mình, tức cõi trí, luôn luôn được mô tả như mang hình thức những hoa sen mười hai cánh—biểu tượng học này nối kết họ với “Con của Bác Ái Thiêng Liêng,” tức hệ mặt trời biểu hiện, vốn được nói là một hoa sen vũ trụ mười hai cánh, và với hoa sen nguyên nhân của Thượng đế, cũng có bản chất mười hai cánh. |
|
[47] |
[47] |
|
We have, therefore, a direct stream of energy flowing through: |
Vì vậy, chúng ta có một dòng năng lượng trực tiếp chảy qua: |
|
a. The logoic twelve-petalled egoic lotus, cosmic mental plane. |
a. Hoa sen chân ngã mười hai cánh của Thượng đế, trên cõi trí vũ trụ. |
|
b. The solar twelve-petalled lotus. |
b. Hoa sen mặt trời mười hai cánh. |
|
c. The planetary logoic heart, also a twelve-petalled lotus. |
c. Trái tim của Hành Tinh Thượng đế, cũng là một hoa sen mười hai cánh. |
|
d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane. |
d. Hoa sen chân ngã mười hai cánh của con người trên cõi trí. |
|
e. The twelve-petalled heart centre in a human being. |
e. Trung tâm tim mười hai cánh trong một con người. |
|
Or, to word it otherwise, energy flows direct from: |
Hay, nói cách khác, năng lượng chảy trực tiếp từ: |
|
a. The solar Logos, via three great cosmic centres: |
a. Thái dương Thượng đế, qua ba trung tâm vũ trụ lớn: |
|
1. The central spiritual Sun. |
1. Mặt trời Tinh thần Trung Ương. |
|
2. The heart of the Sun. |
2. Trái tim của Mặt Trời. |
|
3. The physical Sun. |
3. Mặt Trời vật lý. |
|
b. The heart centre of the planetary Logos, situated on the fourth cosmic etheric plane (our buddhic plane). |
b. Trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế, nằm trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề của chúng ta). |
|
c. The egoic lotus of a human being on the mental plane, which is literally a correspondence to the “heart of the Sun.” The monadic point is a reflection in the human system of the “central spiritual Sun.” |
c. Hoa sen chân ngã của một con người trên cõi trí, vốn theo nghĩa đen là một tương ứng với “trái tim của Mặt Trời.” Điểm chân thần là một phản chiếu trong hệ thống nhân loại của “Mặt trời Tinh thần Trung Ương.” |
|
d. The heart centre of a man on the etheric plane of the physical plane, which is in its turn a correspondence to the physical Sun. |
d. Trung tâm tim của một người trên cõi dĩ thái của cõi hồng trần, đến lượt nó là một tương ứng với Mặt Trời vật lý. |
|
Thus the tiny atom is linked with the great central Life of the solar system. |
Như vậy, nguyên tử nhỏ bé được nối kết với Sự sống trung tâm vĩ đại của hệ mặt trời. |
|
This fifth Hierarchy is equally, under the law, a distributor of energy to the fifth subplane of each plane in the system, only it must be borne in mind that, in the three worlds, it is the fifth subplane counting from above downwards, whilst in the worlds of superhuman evolution, it is [48] the fifth counting from below upwards. This Hierarchy wields, as we know, the dual aspects of manas, one in the three worlds and one which makes itself felt in higher spheres. |
Huyền Giai thứ năm này cũng vậy, dưới định luật, là một đấng phân phối năng lượng đến cõi phụ thứ năm của mỗi cõi trong hệ thống, chỉ cần ghi nhớ rằng trong ba cõi thấp, đó là cõi phụ thứ năm tính từ trên xuống, trong khi trong các thế giới của sự tiến hoá siêu nhân loại, đó là [48] cõi phụ thứ năm tính từ dưới lên. Huyền Giai này vận dụng, như chúng ta biết, các phương diện nhị nguyên của manas, một phương diện trong ba cõi thấp và một phương diện tự biểu lộ trong các khối cầu cao hơn. |
|
It is necessary to bear in mind that all these groups are (even when termed “formless”) the true forms of all that persists, for all are in the etheric body of the solar Logos or planetary Logos. This is a point requiring careful emphasis; students have for too long regarded the form as being the dense physical body, whereas to the occultist the physical body is not the form, but a gross maya, or illusion, and the true form is the body of vitality. Therefore, these Hierarchies are the sum total of the vital lives and the substratum or the substance of all that is. We might regard the subject as follows: |
Cần ghi nhớ rằng tất cả các nhóm này (ngay cả khi được gọi là “vô sắc”) đều là những hình tướng chân thực của mọi điều tồn tại bền vững, vì tất cả đều ở trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh cẩn thận; các đạo sinh đã quá lâu xem hình tướng là thể xác đậm đặc, trong khi đối với nhà huyền bí học, thể xác không phải là hình tướng, mà là một ảo lực thô nặng, hay ảo tưởng, và hình tướng chân thực là thể sinh lực. Vì vậy, các Huyền Giai này là tổng số của các sự sống sinh lực và là nền tảng hay chất liệu của mọi điều đang hiện hữu. Chúng ta có thể xem xét chủ đề như sau: |
|
a. The four superior groups are the Hierarchies expressing themselves through the three cosmic ethers, the second, third and fourth. |
a. Bốn nhóm cao hơn là các Huyền Giai tự biểu lộ qua ba dĩ thái vũ trụ, thứ hai, thứ ba và thứ tư. |
|
b. The two lowest groups are the lives which are found functioning as the involutionary matter (organised and unorganised) of the logoic dense physical body, the liquid and gaseous, with the living substance of the four higher subplanes of the systemic dense physical body. |
b. Hai nhóm thấp nhất là những sự sống được tìm thấy đang hoạt động như vật chất giáng hạ tiến hoá (có tổ chức và không có tổ chức) của thể xác đậm đặc của Thượng đế, tức chất lỏng và chất khí, cùng với chất liệu sống của bốn cõi phụ cao hơn của thể xác đậm đặc hệ thống. |
|
c. The fifth Hierarchy has an interesting position as the “mediating” body between the higher four and those which are found on the lower three subplanes. There is a vital and significant correspondence to be found between the seven head centres and the seven groups of egos on the mental plane, and there is an occult analogy between the three head centres (pineal gland, pituitary body, and the alta major centre) and the expression of these seven groups of egos in the three worlds. This is [49] a most esoteric fact, and all students meditating upon the laws of at-one-ment must take this analogy into consideration. |
c. Huyền Giai thứ năm có một vị trí lý thú như là thể “trung gian” giữa bốn nhóm cao hơn và những nhóm được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp hơn. Có một sự tương ứng sinh động và đầy thâm nghĩa giữa bảy trung tâm đầu và bảy nhóm chân ngã trên cõi trí, và có một sự tương đồng huyền bí giữa ba trung tâm đầu (tuyến tùng, thể tuyến yên, và trung tâm alta major) với sự biểu lộ của bảy nhóm chân ngã này trong ba cõi thấp. Đây là [49] một sự kiện cực kỳ nội môn, và mọi đạo sinh tham thiền về các định luật hợp nhất đều phải lưu ý đến sự tương đồng này. |
|
It is useful to remember the place of these Hierarchies in the scheme, and to realise that upon the sum total of these vital bodies is gradually gathered the dense manifestation which we regard as the evolutionary matter. The forms are built (from the form of all atoms to the body of the ego, from the form of a flower to the vast planetary or solar lotus) because the Hierarchies exist as the aggregate of germ lives, giving the impulse, providing the model, and procuring, through their very existence, the entire raison d’être of all that is seen on all planes. |
Sẽ hữu ích nếu nhớ vị trí của các Huyền Giai này trong hệ thống, và nhận ra rằng trên tổng số các thể sinh lực này, biểu hiện đậm đặc mà chúng ta xem là vật chất tiến hoá dần dần được tập hợp lại. Các hình tướng được xây dựng (từ hình tướng của mọi nguyên tử đến thể của chân ngã, từ hình tướng của một bông hoa đến hoa sen hành tinh hay mặt trời bao la) là vì các Huyền Giai tồn tại như tổng thể của các sự sống mầm giống, ban xung lực, cung cấp mô hình, và bằng chính sự hiện hữu của mình, tạo ra toàn bộ lý do tồn tại của mọi điều được thấy trên mọi cõi. |
|
Hierarchies VI and VII. These sixth and seventh Hierarchies which provide the substance forms of the three worlds have a vital use and a most interesting place. From the logoic standpoint, they are not regarded as providing principles, but from the standpoint of man they do provide him with His lowest principles. They hold the same relation to the Logos as the dense physical body does to man, and all that concerns the evolution of man must (in this particular place) be studied as going on within the physical, logoic vehicle. They deal with the display of physical energy; with the working out in the physical vehicle of all divine purposes, and with the physical organisation of a certain great cosmic Life. |
Huyền Giai VI và VII. Hai Huyền Giai thứ sáu và thứ bảy này, là những Huyền Giai cung cấp các hình tướng chất liệu của ba cõi thấp, có một công dụng sinh động và một vị trí rất lý thú. Theo quan điểm của Thượng đế, họ không được xem là cung cấp các nguyên khí, nhưng theo quan điểm của con người, họ quả thật cung cấp cho con người các nguyên khí thấp nhất của mình. Họ giữ cùng mối liên hệ với Thượng đế như thể xác đậm đặc đối với con người, và mọi điều liên quan đến sự tiến hoá của con người phải (ở vị trí đặc thù này) được nghiên cứu như đang diễn ra bên trong vận cụ hồng trần của Thượng đế. Họ đề cập đến sự biểu lộ của năng lượng hồng trần; đến việc triển khai trong vận cụ hồng trần mọi mục đích thiêng liêng; và đến tổ chức hồng trần của một Sự Sống vũ trụ lớn lao nào đó. |
|
Particularly is this so when we view the two Hierarchies under consideration. They are the lowest residue of the previous system, and the energy of that matter (liquid, gaseous and dense) which the vibration of the logoic permanent atom (on the plane adi) attracts to itself in the building of the divine form. For purposes of clarification [50] and of generalisation, it might be noted that the seventh Hierarchy is the life or energy found at the heart of every atom, its positive aspect, and the sixth Hierarchy is the life of the forms of all the etheric bodies of every tangible object. The function of this Hierarchy is well described in the words of the Old Commentary: |
Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta xem xét hai Huyền Giai đang được bàn đến. Họ là cặn dư thấp nhất của hệ thống trước, và là năng lượng của vật chất ấy (lỏng, khí và đậm đặc) mà rung động của nguyên tử trường tồn của Thượng đế (trên cõi adi) hút về cho chính nó trong việc xây dựng hình tướng thiêng liêng. Nhằm mục đích làm sáng tỏ [50] và khái quát hoá, có thể ghi nhận rằng Huyền Giai thứ bảy là sự sống hay năng lượng được tìm thấy ở trung tâm của mọi nguyên tử, phương diện dương của nó, còn Huyền Giai thứ sáu là sự sống của các hình tướng của mọi thể dĩ thái của mọi vật hữu hình. Chức năng của Huyền Giai này được mô tả rất hay trong những lời của Cổ Luận: |
|
“The devas hear the word go forth. They sacrifice themselves and out of their own substance they build the form desired. They draw life and the material from themselves, and yield themselves to the divine impulse. |
“Các thiên thần nghe Linh từ phát ra. Họ hi sinh chính mình và từ chính chất liệu của mình họ xây dựng hình tướng được mong muốn. Họ rút sự sống và vật chất từ chính mình, và hiến mình cho xung lực thiêng liêng. |
|
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGES 1196-1207 |
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGES 1196-1207 |
|
TABULATION III |
BẢNG III |

3. The Great Wheel and Spiritual Unfoldment. — 3. Bánh Xe Lớn và Sự Khai Mở Tinh Thần.
|
Cancer………. |
Leo……………… |
Aquarius. |
|
|
Mass awareness… |
Individual awareness…. |
Group awareness. |
|
|
Instinctual |
|||
|
consciousness…. |
Intelligent consciousness. |
Intuitive consciousness. |
|
Constellation |
Ruler |
Ray |
Related to |
|||
|
1. |
Aries |
Mars |
6th ray |
Scorpio. |
Same ruler. |
|
|
2. |
Taurus |
Venus |
5th ray |
Libra |
“ “ |
|
|
3. |
Gemini |
Mercury |
4th ray |
Virgo |
“ “ |
|
|
4. |
Cancer |
Moon |
4th ray |
none. |
||
|
5. |
Leo |
The Sun |
2nd ray |
none. |
||
|
6. |
Virgo |
Mercury |
4th ray |
Gemini |
“ “ |
|
|
7. |
Libra |
Venus |
5th ray |
Taurus |
“ “ |
|
|
8. |
Scorpio |
Mars |
6th ray |
Aries |
“ “ |
|
|
9. |
Sagittarius |
Jupiter |
2nd ray |
Pisces |
“ “ |
|
|
10. |
Capricorn |
Saturn |
3rd ray |
none. |
||
|
11. |
Aquarius |
Uranus |
7th ray |
none. |
||
|
12. |
Pisces |
Jupiter |
2nd ray |
Sagittarius |
“ “ |
|
a. The non-sacred planets are italicised. |
a. Các hành tinh không thiêng liêng được in nghiêng. |
|
b. All the rays are represented except the first. This is interesting, as the mass of the people move within their horoscopes and the will aspect is latent but unexpressed. |
b. Tất cả các cung đều được biểu hiện ngoại trừ Cung một. Điều này thật đáng chú ý, vì quần chúng vận động bên trong các lá số chiêm tinh của họ và phương diện ý chí thì tiềm ẩn nhưng chưa biểu lộ. |
|
TABULATION V. THE UNORTHODOX ASTROLOGICAL RELATIONSHIP |
BẢNG LIỆT KÊ V. TƯƠNG QUAN CHIÊM TINH HỌC KHÔNG CHÍNH THỐNG |
|
CONSTELLATIONS AND PLANETARY RULERS |
CÁC CHÒM SAO VÀ CÁC CHỦ TINH HÀNH TINH |
|
In Connection with Disciples and Initiates |
Liên quan đến Các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ |
|
NOTE: In charts connected with the PATH, progress is from Aries to Pisces through Taurus, etc. |
LƯU Ý: Trong các biểu đồ liên hệ với CON ĐƯỜNG, tiến trình đi từ Bạch Dương đến Song Ngư qua Kim Ngưu, v.v. |
|
Constellation |
Ruler |
Ray |
Related to |
||
|
1. |
Aries |
Mercury |
4th ray |
Virgo |
Same ray. |
|
2. |
Taurus |
Vulcan |
1st ray |
Pisces |
“ “ |
|
3. |
Gemini |
Venus |
5th ray |
none. |
|
|
4. |
Cancer |
Neptune |
6th ray |
Scorpio |
“ “ |
|
5. |
Leo |
The Sun |
2nd ray |
Aquarius |
“ “ |
|
6. |
Virgo |
The Moon |
4th ray |
Aries |
“ “ |
|
7. |
Libra |
Uranus |
7th ray |
none. |
|
|
8. |
Scorpio |
Mars |
6th ray |
Cancer |
“ “ |
|
9. |
Sagittarius |
The Earth |
3rd ray |
Capricorn |
“ “ |
|
10. |
Capricorn |
Saturn |
3rd ray |
Sagittarius |
“ “ |
|
11. |
Aquarius |
Jupiter |
2nd ray |
Leo |
“ “ |
|
12. |
Pisces |
Pluto |
1st ray |
Taurus |
“ “ |
|
NOTE: In connection with disciples and the zodiacal signs, Gemini and Libra are two constellations which—through their rulers—express 5th and 7th ray energy. For some occult reason, they remain unrelated to any other of the signs. |
LƯU Ý: Liên quan đến các đệ tử và các dấu hiệu hoàng đạo, Song Tử và Thiên Bình là hai chòm sao mà—thông qua các chủ tinh của chúng—biểu lộ năng lượng cung 5 và cung 7. Vì một lý do huyền bí nào đó, chúng vẫn không liên hệ với bất kỳ dấu hiệu nào khác. |
|
[67] |
[67] |
|
The relation between the other constellations through the planets, as expressing the rays, is as follows: |
Mối liên hệ giữa các chòm sao khác thông qua các hành tinh, như biểu lộ các cung, như sau: |
|
1. Taurus and Pisces, through Vulcan and Pluto, are related to Ray 1. Transmutation of desire into sacrifice and of the individual will into the divine will. |
1. Kim Ngưu và Song Ngư, qua Vulcan và Sao Diêm Vương, liên hệ với Cung một. Chuyển hoá ham muốn thành hi sinh và ý chí cá nhân thành ý chí thiêng liêng. |
|
The World Saviour |
Đấng Cứu Thế Gian |
|
2. Leo and Aquarius, through the Sun and Jupiter, are related to Ray 2. Development of the individual consciousness into world consciousness. Thus a man becomes a world server. |
2. Sư Tử và Bảo Bình, qua Mặt Trời và Sao Mộc, liên hệ với Cung hai. Phát triển tâm thức cá nhân thành tâm thức thế gian. Như vậy con người trở thành một Người Phụng Sự Thế Gian. |
|
The World Server |
Người Phụng Sự Thế Gian |
|
3. Sagittarius and Capricorn, through the Earth and Saturn, are related to Ray 3. The one-pointed disciple becomes the initiate. |
3. Nhân Mã và Ma Kết, qua Trái Đất và Sao Thổ, liên hệ với Cung ba. Đệ tử nhất tâm trở thành điểm đạo đồ. |
|
The Initiate |
Điểm đạo đồ |
|
4. Aries and Virgo, through Mercury and the Moon, are related to Ray 4. Harmonising the cosmos and the individual through conflict, producing unity and beauty. The birth pangs of the second birth. |
4. Bạch Dương và Xử Nữ, qua Sao Thủy và Mặt Trăng, liên hệ với Cung bốn. Điều hòa vũ trụ và cá nhân qua xung đột, tạo ra hợp nhất và vẻ đẹp. Những cơn đau sinh của lần sinh thứ hai. |
|
The Cosmic and Individual Christ |
Đức Christ Vũ Trụ và Cá Nhân |
|
5. Cancer and Scorpio, through Neptune and Mars, are related to Ray 6. Transformation of the mass consciousness into the inclusive consciousness of the disciple. |
5. Cự Giải và Hổ Cáp, qua Sao Hải Vương và Sao Hỏa, liên hệ với Cung sáu. Chuyển đổi tâm thức quần chúng thành tâm thức bao gồm của đệ tử. |
|
The Triumphant Disciple |
Đệ tử Khải Hoàn |
|
I would call attention to the fact that in Tabulation IV, the relationship is between the planets which rule, and in Tabulation V the emphasis is laid upon the conditioning ray. [68] |
Tôi muốn lưu ý đến sự kiện rằng trong Bảng Liệt Kê IV, mối liên hệ là giữa các hành tinh đang cai quản, còn trong Bảng Liệt Kê V, trọng tâm được đặt trên cung chi phối. [68] |
|
TABULATION VI. PLANETARY RULERS IN 3 TABULATIONS |
BẢNG LIỆT KÊ VI. CÁC CHỦ TINH HÀNH TINH TRONG 3 BẢNG LIỆT KÊ |
|
Constellation |
Orthodox |
Disciple |
Hierarchies |
|
|
1. |
Aries |
Mars |
Mercury |
Uranus. |
|
2. |
Taurus |
Venus |
Vulcan |
Vulcan. |
|
3. |
Gemini |
Mercury |
Venus |
The Earth. |
|
4. |
Cancer |
The Moon |
Neptune |
Neptune. |
|
5. |
Leo |
The Sun |
The Sun |
The Sun. |
|
6. |
Virgo |
Mercury |
The Moon |
Jupiter. |
|
7. |
Libra |
Venus |
Uranus |
Saturn. |
|
8. |
Scorpio |
Mars |
Mars |
Mercury. |
|
9. |
Sagittarius |
Jupiter |
The Earth |
Mars. |
|
10. |
Capricorn |
Saturn |
Saturn |
Venus. |
|
11. |
Aquarius |
Uranus |
Jupiter |
The Moon. |
|
12. |
Pisces |
Jupiter |
Pluto |
Pluto. |
|
TABULATION VII. UNORTHODOX |
BẢNG LIỆT KÊ VII. KHÔNG CHÍNH THỐNG |
|
CONSTELLATIONS, RULERS AND RAYS |
CÁC CHÒM SAO, CÁC CHỦ TINH VÀ CÁC CUNG |
|
In Connection with the Hierarchies |
Liên quan đến các Huyền Giai |
|
Constellation |
Ruler |
Ray |
Related to |
||
|
1. |
Aries |
Uranus |
7th ray |
none. |
|
|
2. |
Taurus |
Vulcan |
1st ray |
Pisces |
Same ray. |
|
3. |
Gemini |
The Earth |
3rd ray |
Libra |
“ “ |
|
4. |
Cancer |
Neptune |
6th ray |
Sagittarius |
“ “ |
|
5. |
Leo |
The Sun |
2nd ray |
Virgo |
“ “ |
|
6. |
Virgo |
Jupiter |
2nd ray |
Leo |
“ “ |
|
7. |
Libra |
Saturn |
3rd ray |
Gemini |
“ “ |
|
8. |
Scorpio |
Mercury |
4th ray |
Aquarius |
“ “ |
|
9. |
Sagittarius |
Mars |
6th ray |
Cancer |
“ “ |
|
10. |
Capricorn |
Venus |
5th ray |
none. |
|
|
11. |
Aquarius |
The Moon |
4th ray |
Scorpio |
“ “ |
|
12. |
Pisces |
Pluto |
1st ray |
Taurus |
“ “ |
|
NOTE: Aries and Capricorn in conjunction with 7th and 5th ray energy stand alone. The other constellations and rays are related in every case. |
LƯU Ý: Bạch Dương và Ma Kết kết hợp với năng lượng cung 7 và cung 5 đứng riêng lẻ. Các chòm sao và các cung khác đều liên hệ với nhau trong mọi trường hợp. |
|
a. Ray 1—Taurus and Pisces, through Vulcan and Pluto. |
a. Cung 1—Kim Ngưu và Song Ngư, qua Vulcan và Sao Diêm Vương. |
|
b. Cung 2—Sư Tử và Xử Nữ, qua Mặt Trời và Sao Mộc. |
|
|
c. Ray 3—Gemini and Libra, through the Earth and Saturn. |
c. Cung 3—Song Tử và Thiên Bình, qua Trái Đất và Sao Thổ. |
|
d. Ray 4—Scorpio and Aquarius, through Mercury and Moon. |
d. Cung 4—Hổ Cáp và Bảo Bình, qua Sao Thủy và Mặt Trăng. |
|
e. Ray 6—Cancer and Sagittarius, through Neptune and Mars. |
e. Cung 6—Cự Giải và Nhân Mã, qua Sao Hải Vương và Sao Hỏa. |
|
In view of all the above, and starting with the basic fact of the Great Illusion it should be remembered that the [69] accuracy of astrological prediction and interpretation will be based upon three factors: |
Xét theo tất cả những điều trên, và bắt đầu từ sự kiện căn bản của Đại Ảo Tưởng, cần nhớ rằng [69] tính chính xác của sự tiên đoán và diễn giải chiêm tinh sẽ dựa trên ba yếu tố: |
|
1. The potency of the thoughtforms which have been built up in connection with the twelve signs. These thoughtforms were originally constructed or anchored upon the mental plane by the Hierarchy in Atlantean days and they have steadily gained in power ever since. They serve as focal points for certain forces and enable the individual, for instance, to be in touch with great reservoirs of energy which then definitely condition him. |
1. Năng lực của các hình tư tưởng đã được xây dựng liên quan đến mười hai dấu hiệu. Các hình tư tưởng này nguyên thủy được Thánh Đoàn kiến tạo hay neo giữ trên cõi trí vào thời Atlantis, và từ đó đến nay chúng đã không ngừng gia tăng quyền năng. Chúng phục vụ như những điểm hội tụ cho một số mãnh lực nhất định và chẳng hạn cho phép cá nhân tiếp xúc với những kho năng lượng lớn, rồi từ đó chắc chắn chi phối y. |
|
2. The intuition of the astrologer. The casting of the horoscope serves to put the astrologer en rapport with the individual, but this is of small service to either party unless the intuition and sensitivity of the astrologer is actively present. |
2. Trực giác của nhà chiêm tinh. Việc lập lá số chiêm tinh giúp đặt nhà chiêm tinh vào trạng thái tương thông với cá nhân, nhưng điều này ít có ích cho cả hai bên trừ phi trực giác và tính nhạy cảm của nhà chiêm tinh hiện diện một cách tích cực. |
|
3. The capacity of the astrologer in any specific period to respond to the changes which are all the time taking place, such as the gradual shifting and changing brought about by the precession of the equinoxes, or the slow shift of the pole of the planet. To this should be added that—as man evolves—the mechanism of response or the vehicles of consciousness likewise steadily improve. His reactions, therefore, to the planetary influence and to the energy of the various constellations change with equal steadiness and allowance must be made for this. It is consequently essential that the modern astrologer begin to study the point in evolution of the subject, prior to casting his horoscope. He must ascertain his approximate place upon the path of evolution. To this end, the study of the rays is most necessary through an investigation as to quality and characteristics and life objectives. |
3. Năng lực của nhà chiêm tinh trong bất kỳ giai đoạn đặc thù nào để đáp ứng với những thay đổi luôn luôn diễn ra, như sự dịch chuyển và biến đổi dần dần do sự tiến động của các điểm phân gây ra, hay sự dịch chuyển chậm của cực hành tinh. Cần thêm vào đó rằng—khi con người tiến hoá—bộ máy đáp ứng hay các vận cụ tâm thức cũng không ngừng được cải thiện. Vì vậy, các phản ứng của y đối với ảnh hưởng hành tinh và đối với năng lượng của các chòm sao khác nhau cũng thay đổi với sự đều đặn tương tự, và phải có sự lưu ý đến điều này. Do đó, điều cốt yếu là nhà chiêm tinh hiện đại phải bắt đầu nghiên cứu điểm tiến hoá của đối tượng, trước khi lập lá số chiêm tinh của y. Ông phải xác định vị trí gần đúng của y trên con đường tiến hoá. Để đạt mục đích này, việc nghiên cứu các cung là hết sức cần thiết thông qua sự khảo sát về phẩm tính, các đặc tính và các mục tiêu sự sống. |
|
[70] |
[70] |
|
Astrologers will eventually be able to cast the horoscope of the soul, which is sensitive to different combinations of forces to those controlling the personality life. The disciple and the initiate respond distinctively to the incoming influences and their response differs from that of the undeveloped man or the self-centred person. This will have to be recognised. Those who “live below the diaphragm” and who react to the incoming energies through the medium of the lower centres will have a very different type of chart to that of the disciple and initiate. It will require a different mode of interpretation. I have referred to this before and would remind you of some of the points which I made. |
Cuối cùng, các nhà chiêm tinh sẽ có thể lập lá số chiêm tinh của linh hồn, vốn nhạy cảm với những tổ hợp mãnh lực khác với những tổ hợp kiểm soát đời sống phàm ngã. Đệ tử và điểm đạo đồ đáp ứng một cách đặc thù với các ảnh hưởng đang đi vào, và sự đáp ứng của họ khác với con người chưa phát triển hay người tập trung vào bản thân. Điều này sẽ phải được công nhận. Những ai “sống dưới cơ hoành” và phản ứng với các năng lượng đi vào qua trung gian của các trung tâm thấp sẽ có một loại biểu đồ rất khác với biểu đồ của đệ tử và điểm đạo đồ. Điều đó sẽ đòi hỏi một phương thức diễn giải khác. Tôi đã đề cập đến điều này trước đây và muốn nhắc các bạn nhớ một vài điểm tôi đã nêu. |
|
1. Disciples upon the Path of Discipleship are strongly influenced by Mercury and Saturn—one bringing illumination and the other offering opportunity. |
1. Các đệ tử trên Con Đường Đệ Tử chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Sao Thủy và Sao Thổ—một hành tinh mang lại sự soi sáng và hành tinh kia đem đến cơ hội. |
|
2. Ở các lần điểm đạo khác nhau, ảnh hưởng của các hành tinh tác động lên ứng viên theo một cách hoàn toàn khác với trước kia. Theo chu kỳ, các năng lượng từ các chòm sao tuôn đổ qua các trung tâm hành tinh. |
|
|
a. At the first initiation, the disciple has to contend with the crystallising and destroying forces of Vulcan and Pluto. The influence of Vulcan reaches to the very depths of his nature, whilst Pluto drags to the surface and destroys all that hinders in these lower regions. |
a. Ở lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử phải đương đầu với các mãnh lực kết tinh và hủy diệt của Vulcan và Sao Diêm Vương. Ảnh hưởng của Vulcan chạm đến tận những chiều sâu của bản tính y, trong khi Sao Diêm Vương kéo lên bề mặt và hủy diệt mọi điều cản trở trong các vùng thấp này. |
|
b. At the second initiation, the candidate comes under the influence of three planets—Neptune, Venus and Jupiter. The three centres—solar plexus, heart and throat—are actively involved. |
b. Ở lần điểm đạo thứ hai, ứng viên chịu dưới ảnh hưởng của ba hành tinh—Sao Hải Vương, Sao Kim và Sao Mộc. Ba trung tâm—tùng thái dương, tim và cổ họng—được lôi cuốn vào một cách tích cực. |
|
c. At the third initiation, the Moon (veiling a hidden planet) and Mars bring about a fearful conflict, [71] but at the end the man is released from personality control. |
c. Ở lần điểm đạo thứ ba, Mặt Trăng (che giấu một hành tinh ẩn kín) và Sao Hỏa gây ra một cuộc xung đột khủng khiếp, [71] nhưng cuối cùng con người được giải thoát khỏi sự kiểm soát của phàm ngã. |
|
d. At the fourth initiation, Mercury and Saturn again bring about great changes and unique revelation, but their effect is very different to the earlier experience. |
d. Ở lần điểm đạo thứ tư, Sao Thủy và Sao Thổ lại gây ra những thay đổi lớn và sự mặc khải độc đáo, nhưng tác động của chúng rất khác với kinh nghiệm trước đó. |
|
e. At the fifth and final initiation, Uranus and Jupiter appear and produce a “beneficent organisation” of the totality of energies found in the initiate’s equipment. When this reorganisation is complete, the initiate can then “escape from off the wheel and then can truly live.” |
e. Ở lần điểm đạo thứ năm và cuối cùng, Sao Thiên Vương và Sao Mộc xuất hiện và tạo ra một “sự tổ chức từ thiện” của toàn bộ các năng lượng được tìm thấy trong trang bị của điểm đạo đồ. Khi sự tái tổ chức này hoàn tất, điểm đạo đồ khi ấy có thể “thoát khỏi bánh xe và rồi thực sự có thể sống.” |
|
All this time the energy of the sun (veiling a sacred planet, hitherto unknown) is steadily and persistently reaching the man via the solar angel. |
Suốt thời gian này, năng lượng của mặt trời (che giấu một hành tinh thiêng liêng, cho đến nay chưa được biết đến) vẫn đều đặn và kiên trì đến với con người qua trung gian của Thái dương Thiên Thần. |