Chiêm Tinh Học Nội Môn – Chương 7

📘 Sách: Chiêm Tinh Học Nội Môn – Tác giả: Alice Bailey

CHAPTER VII – The Rays, Constellations and Planets — CHƯƠNG VII – Các Cung, các Chòm Sao và các Hành Tinh

(As per Tabulation X)

(Theo Bảng X)

[579]

[579]

We come now to our last discussion upon the zodiac and its relation to the seven rays. We have been occupied with the signs and their effects, and with the new and deeply esoteric astrology which will gradually supersede the present mundane astrology. By the end of this century, it will have won its rightful place in human thought. One thing you must constantly bear in mind. Now that the war is over, and that time of acute trial and tribulation has come to an end, a great spiritual awakening (of a quality and a nature quite unpredictable today) will arrive. The war will have taught humanity many lessons and have torn the veil of self away from many eyes. Values which have been hitherto expressed and understood only by those whose “eyes are on God” will be the goal and the desire of untold thousands; true understanding between men and between nations will be a longed for objective. What humanity determines to have, it ever succeeds in achieving. This is an occult law, for desire is as yet the strongest force in the world; organised, unified desire was the basic reason for the appalling early successes of the Axis. The only factor which can successfully oppose desire is Will, using the word in its spiritual connotation and as an expression of the first great divine aspect. There was little of that organised, spiritual will shown by the [580] allies; they were animated naturally by desire for victory, desire for the arrival of the end of this all-engulfing world cataclysm, by desire for peace and the return of stability, the desire to end war once and for all and to break its constantly recurring cycle, and a steadily mounting desire to bring to a finish the terrible toll of suffering, of cruelty, of death, of starvation and of fear which is gripping humanity by the throat in the attempt to strangle out its life.

Giờ đây chúng ta đi đến cuộc thảo luận cuối cùng về hoàng đạo và mối liên hệ của nó với bảy Cung. Chúng ta đã bận tâm với các dấu hiệu và các hiệu quả của chúng, và với chiêm tinh học mới mẻ và sâu sắc huyền bí, vốn sẽ dần dần thay thế chiêm tinh học thế tục hiện nay. Vào cuối thế kỷ này, nó sẽ giành được vị trí chính đáng của mình trong tư tưởng nhân loại. Có một điều các bạn phải luôn luôn ghi nhớ. Giờ đây khi chiến tranh đã chấm dứt, và thời kỳ thử thách và hoạn nạn gay gắt ấy đã đi đến hồi kết, một sự thức tỉnh tinh thần lớn lao (với một phẩm tính và bản chất hoàn toàn không thể tiên đoán ngày nay) sẽ đến. Chiến tranh sẽ dạy cho nhân loại nhiều bài học và sẽ xé toang bức màn của bản ngã khỏi nhiều đôi mắt. Những giá trị mà cho đến nay chỉ được biểu lộ và thấu hiểu bởi những ai “đặt mắt mình nơi Thượng đế” sẽ trở thành mục tiêu và khát vọng của hàng ngàn hàng vạn người; sự thấu hiểu chân chính giữa người với người và giữa quốc gia với quốc gia sẽ là một mục tiêu được mong mỏi. Điều gì nhân loại quyết tâm có được, họ luôn thành công trong việc đạt được. Đây là một định luật huyền bí, vì dục vọng cho đến nay vẫn là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới; dục vọng được tổ chức, hợp nhất là lý do căn bản cho những thành công ban đầu khủng khiếp của phe Trục. Yếu tố duy nhất có thể chống lại dục vọng một cách thành công là Ý chí, dùng từ này theo hàm nghĩa tinh thần của nó và như một biểu hiện của phương diện thiêng liêng lớn lao thứ nhất. Có rất ít ý chí tinh thần được tổ chức như thế được phe [580] Đồng minh biểu lộ; dĩ nhiên họ được sinh động bởi dục vọng chiến thắng, dục vọng mong ngày kết thúc cơn đại hồng thủy thế giới cuốn trôi tất cả này, bởi dục vọng hòa bình và sự trở lại của ổn định, dục vọng chấm dứt chiến tranh một lần cho mãi mãi và phá vỡ chu kỳ tái diễn liên tục của nó, và một dục vọng ngày càng tăng nhằm chấm dứt cái giá khủng khiếp của đau khổ, tàn bạo, chết chóc, đói khát và sợ hãi đang bóp nghẹt cổ họng nhân loại trong nỗ lực siết chết sự sống của nó.

1. The Nature of the Will––Underlying Cosmic Purpose.1. Bản Chất của Ý Chí––Thiên Ý Vũ Trụ Nền Tảng.

But all this determination is in most cases simply the expression of a fixed and united desire. It is not the organised use of the will. The secret of the will lies in the recognition of the divine nature of man. Only this can evoke the true expression of the will. It has in fact to be evoked by the soul, as it dominates the human mind and controls the personality. The secret of the will is also closely tied in with the recognition of the unconquerable nature of goodness and the inevitability of the ultimate triumph of good. This is not determination; it is not whipping up and stimulating desire so that it can be transmuted into will; it is not an implacable, unshakable, immovable focussing of all energies in the need to triumph (the enemies of the Forces of Light are adept at that). Victory for the allies did lie in the effort to produce this focussing with better effect than the enemy. The use of the will is not expressed by an iron fixation to stand steady and not yield to evil forces. Determination, the focussing of energy and the demonstration of an all-out effort towards victory were only (where the allies are concerned) the expression of a one-pointed desire for peace and for an ending of [581] the trouble. This type of effort is something which the masses can give and which they did give on both sides in this conflict.

Nhưng trong phần lớn các trường hợp, toàn bộ quyết tâm này chỉ đơn giản là biểu hiện của một dục vọng cố định và hợp nhất. Nó không phải là việc sử dụng ý chí một cách có tổ chức. Bí mật của ý chí nằm trong sự nhận biết bản chất thiêng liêng của con người. Chỉ điều này mới có thể gợi lên sự biểu lộ chân chính của ý chí. Thực ra, nó phải được linh hồn gợi lên, khi linh hồn thống trị trí tuệ con người và kiểm soát phàm ngã. Bí mật của ý chí cũng gắn bó chặt chẽ với sự nhận biết bản chất bất khả chinh phục của điều thiện và tính tất yếu của chiến thắng tối hậu của điều thiện. Đây không phải là quyết tâm; đây không phải là việc quất roi và kích thích dục vọng để nó có thể được chuyển hoá thành ý chí; đây không phải là sự tập trung không khoan nhượng, không lay chuyển, bất lay chuyển của mọi năng lượng vào nhu cầu chiến thắng (kẻ thù của các Mãnh Lực Ánh Sáng là những chân sư trong việc đó). Chiến thắng của phe Đồng minh quả thật nằm trong nỗ lực tạo ra sự tập trung này với hiệu quả tốt hơn kẻ thù. Việc sử dụng ý chí không được biểu lộ bằng một sự cố định sắt đá để đứng vững và không nhượng bộ các lực ác. Quyết tâm, sự tập trung năng lượng và sự biểu lộ một nỗ lực toàn lực hướng tới chiến thắng chỉ là (xét nơi phe Đồng minh) biểu hiện của một dục vọng nhất tâm hướng tới hòa bình và hướng tới sự chấm dứt của [581] rối loạn. Loại nỗ lực này là điều mà quần chúng có thể cống hiến và họ đã cống hiến ở cả hai phía trong cuộc xung đột này.

There is, however, a plus, a something else, which swung the tide of victory on to the side of the Allies. It came through an unrealized effort to understand and express the quality of spiritual Will; it was the manifestation of that divine energy which made the first divine aspect of will or power what it is; it is that which is the distinctive feature of the Shamballa force; it is that peculiar and distinctive quality of divinity which is so different that even Christ Himself was unable to express it with facility and understanding. Hence we have the episode in Gethsemane. It is not easy for me to express its significance in words. Two thousand years have gone since Gethsemane and since Christ made His initial contact with the Shamballa force and by this means, and on behalf of humanity, established a relationship which even at the close of twenty centuries is but a thin frail line of connecting energy.

Tuy nhiên, có một yếu tố cộng thêm, một điều gì khác nữa, đã xoay chuyển dòng chiến thắng về phía phe Đồng minh. Nó đến qua một nỗ lực chưa được nhận ra nhằm thấu hiểu và biểu lộ phẩm tính của Ý chí tinh thần; đó là sự biểu lộ của năng lượng thiêng liêng đã làm cho phương diện thiêng liêng thứ nhất của ý chí hay quyền năng trở thành chính nó; đó là điều tạo nên đặc tính phân biệt của mãnh lực Shamballa; đó là phẩm tính đặc thù và khác biệt của thiên tính, khác biệt đến mức ngay cả chính Đức Christ cũng không thể biểu lộ nó một cách dễ dàng và thấu hiểu. Vì thế chúng ta có sự kiện ở Gethsemane. Đối với tôi, việc diễn đạt thâm nghĩa của nó bằng lời không phải là điều dễ dàng. Hai ngàn năm đã trôi qua kể từ Gethsemane và kể từ khi Đức Christ thực hiện sự tiếp xúc ban đầu của Ngài với mãnh lực Shamballa và bằng phương tiện này, thay mặt cho nhân loại, thiết lập một mối liên hệ mà ngay cả vào lúc kết thúc hai mươi thế kỷ vẫn chỉ là một đường nối năng lượng mỏng manh yếu ớt.

This Shamballa force is nevertheless available for right usage but the power to express it lies in its understanding (as far as may be possible at this midway point in human evolution) and its group use. It is a unifying, synthetic force, but can be used as a regimenting, standardising force. May I repeat those two key words to the use of the Shamballa energy: Group Use and Understanding.

Tuy nhiên, mãnh lực Shamballa này sẵn có cho việc sử dụng đúng đắn, nhưng quyền năng biểu lộ nó nằm trong sự thấu hiểu nó (trong mức có thể ở điểm ở giữa này của tiến hoá nhân loại) và trong việc sử dụng nó theo nhóm. Nó là một mãnh lực hợp nhất, tổng hợp, nhưng có thể được dùng như một mãnh lực điều động theo đội ngũ, tiêu chuẩn hóa. Xin cho phép tôi lặp lại hai từ khóa ấy đối với việc sử dụng năng lượng Shamballa: Sử Dụng Theo Nhóm và Thấu Hiểu.

Mankind has had much difficulty in comprehending the significance of Love. If that is so, their problem in relation to the Will will naturally be still more difficult. For the vast majority of men, true love is still only a theory. Love (as we usually interpret it) works out as kindness but it is kindness to the form side of life, to the personalities of those around us, and fulfils itself usually in a desire to carry [582] out our obligations and not to obstruct in any way those activities and relationships which tend to the well-being of our fellowmen. It expresses itself in a desire to end abuses and to bring about happier, material, world conditions; it shows itself in mother love, in love among friends, but seldom as yet as love among groups and nations. It is the theme of the Christian teaching, just as Will, divinely expressed, will be the theme of the coming world religion and has been the impulse lying behind much of the good work done in the fields of philanthropy and human welfare, but, factually, love has never yet been expressed—except by the Christ.

Nhân loại đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc hiểu thâm nghĩa của Bác ái. Nếu đúng như vậy, thì vấn đề của họ liên quan đến Ý chí dĩ nhiên còn khó hơn nữa. Đối với đại đa số con người, bác ái chân chính vẫn chỉ là một lý thuyết. Bác ái (như chúng ta thường diễn giải) được thể hiện thành lòng tử tế, nhưng đó là lòng tử tế đối với phương diện hình tướng của sự sống, đối với phàm ngã của những người quanh ta, và thường hoàn tất chính nó trong một ước muốn thực hiện [582] các nghĩa vụ của chúng ta và không cản trở bằng bất cứ cách nào những hoạt động và những mối liên hệ có khuynh hướng đem lại phúc lợi cho đồng loại. Nó biểu lộ trong ước muốn chấm dứt những lạm dụng và tạo ra những điều kiện vật chất của thế giới hạnh phúc hơn; nó biểu lộ trong tình mẹ, trong tình bạn, nhưng cho đến nay hiếm khi là bác ái giữa các nhóm và các quốc gia. Đó là chủ đề của giáo huấn Kitô giáo, cũng như Ý chí, được biểu lộ một cách thiêng liêng, sẽ là chủ đề của tôn giáo thế giới sắp đến và đã là xung lực nằm sau phần lớn công việc tốt đẹp được thực hiện trong các lĩnh vực từ thiện và phúc lợi nhân loại, nhưng trên thực tế, bác ái chưa bao giờ được biểu lộ—ngoại trừ bởi Đức Christ.

You might ask, why, if this is so, do you emphasise this highest divine aspect? Why not wait until we know more about love and how to manifest it in our environment? Because, in its true expression, the Will today is needed as a propelling, expulsive force, and also as a clarifying, purifying agent.

Các bạn có thể hỏi, tại sao, nếu đúng như vậy, thầy lại nhấn mạnh phương diện thiêng liêng cao nhất này? Tại sao không chờ cho đến khi chúng ta biết nhiều hơn về bác ái và cách biểu lộ nó trong môi trường của mình? Bởi vì, trong biểu hiện chân chính của nó, Ý chí ngày nay cần thiết như một mãnh lực thúc đẩy, trục xuất, và cũng như một tác nhân làm sáng tỏ, thanh lọc.

The first recorded utterance of the Christ was spoken to His mother (the symbol of the substance aspect of divinity) when He said: “Wist ye not that I must be about My Father’s business?” That business, related by Him to the first divine aspect, the Monad or Father aspect, was the fulfilment of purpose and the carrying out of the intention, the will and the purpose of God. His second utterance came at the time of the Baptism in Jordan when He said to John, the Baptist: “Suffer it to be so now, for thus it becometh us to fulfil all righteousness.” Here, in this second initiation—which symbolises the conquest of desire—He passes on into the realm of fulfilment, of the completion of planned righteous activity. For His Own personal desire (necessarily of the very highest order on account of His high point in evolution) He substitutes the divine Will. Again at [583] the close of His life, in the Gethsemane experience, He cries out: “Father, not my will but Thine be done.” Even then and even for Him, the achievement of the full expression of will seemed well-nigh impossible; He was conscious still of the inherent dualism of His position and of the contrast between His will and God’s will. In these three utterances, He demonstrates His recognition of the three emerging aspects of the Shamballa life, quality and energy:

Lời phát biểu đầu tiên được ghi lại của Đức Christ đã được nói với mẹ Ngài (biểu tượng của phương diện chất liệu của thiên tính) khi Ngài nói: “Các người há chẳng biết rằng Ta phải lo công việc của Cha Ta sao?” Công việc ấy, được Ngài liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện Chân Thần hay phương diện Cha, là sự hoàn thành mục đích và việc thực hiện ý định, ý chí và mục đích của Thượng đế. Lời phát biểu thứ hai của Ngài đến vào lúc Lễ Rửa Tội tại sông Jordan khi Ngài nói với John, người làm phép rửa: “Hãy cứ để như vậy bây giờ, vì như thế chúng ta nên làm trọn mọi sự công chính.” Ở đây, trong lần điểm đạo thứ hai này—biểu tượng cho sự chinh phục dục vọng—Ngài bước vào lĩnh vực của sự hoàn thành, của việc hoàn tất hoạt động công chính đã được hoạch định. Thay cho dục vọng riêng của Ngài (tất yếu thuộc trật tự rất cao do điểm tiến hoá cao của Ngài), Ngài thay thế bằng Ý Chí thiêng liêng. Rồi một lần nữa, vào [583] cuối đời Ngài, trong kinh nghiệm Gethsemane, Ngài kêu lên: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo ý Cha.” Ngay cả khi ấy và ngay cả đối với Ngài, việc đạt được sự biểu lộ trọn vẹn của ý chí dường như gần như bất khả. Ngài vẫn còn ý thức về tính nhị nguyên cố hữu trong vị thế của mình và về sự tương phản giữa ý chí của Ngài và ý chí của Thượng đế. Trong ba lời phát biểu này, Ngài chứng minh sự nhận biết của mình về ba phương diện đang xuất hiện của sự sống, phẩm tính và năng lượng Shamballa:

1. The Will which conditions the life aspect.

1. Ý chí điều kiện hóa phương diện sự sống.

2. The Will which brings fulfilment of right human relations.

2. Ý chí đem lại sự hoàn thành các tương quan nhân loại đúng đắn.

3. The Will which finally conquers death.

3. Ý chí cuối cùng chinh phục cái chết.

These three aspects are all related to the three divine expressions of spirit, soul and body, of life, consciousness and form, of life, quality and appearance. This phase of Christ’s life expression has never been properly studied, yet even a little grasp and understanding of it would aid humanity to drive evil (individual, group and planetary) back to the place from whence it came and would aid in the release of humanity from the terror which is today stalking abroad, defying God and man.

Ba phương diện này đều liên hệ với ba biểu hiện thiêng liêng của tinh thần, linh hồn và thể, của sự sống, tâm thức và hình tướng, của sự sống, phẩm tính và vẻ ngoài. Giai đoạn này trong sự biểu lộ đời sống của Đức Christ chưa bao giờ được nghiên cứu đúng mức, tuy nhiên chỉ cần nắm bắt và thấu hiểu đôi chút về nó cũng sẽ giúp nhân loại đẩy lùi điều ác (cá nhân, nhóm và hành tinh) trở về nơi nó đã đến và sẽ giúp giải thoát nhân loại khỏi nỗi kinh hoàng đang lang thang khắp nơi ngày nay, thách thức Thượng đế và con người.

The Shamballa energy is, therefore, that which is related to the livingness (through consciousness and form) of humanity; we need not consider its relation to the rest of the manifested world; it concerns the establishing of right human relations and is that condition of being which eventually negates the power of death. It is, therefore, incentive and not impulse; it is realised purpose and not the expression of desire. Desire works from and through the material form upwards; Will works downwards into form, bending form consciously to divine purpose. The one [584] is invocative and the other is evocative. Desire, when massed and focussed, can invoke will; will, when evoked, ends desire and becomes an immanent, propulsive, driving force, stabilising, clarifying, and—among other things—finally destroying. It is much more than this, but this is all that man can grasp at this time and all for which he has, as yet, the mechanism of comprehension. It is this will—aroused by invocation—which must be focussed in the light of the soul, and dedicated to the purposes of light and for the purpose of establishing right human relations which must be used (in love) to destroy all that is hindering the free flow of human life and that is bringing death (spiritual and real) to humanity. This Will must be invoked and evoked.

Do đó, năng lượng Shamballa là điều liên hệ đến tính sống động (qua tâm thức và hình tướng) của nhân loại; chúng ta không cần xét đến mối liên hệ của nó với phần còn lại của thế giới biểu hiện; nó liên quan đến việc thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn và là trạng thái hiện hữu cuối cùng phủ nhận quyền năng của cái chết. Vì vậy, nó là động cơ thúc đẩy chứ không phải xung lực; nó là mục đích được chứng nghiệm chứ không phải biểu hiện của dục vọng. Dục vọng hoạt động từ và qua hình tướng vật chất đi lên; Ý chí hoạt động đi xuống vào hình tướng, uốn nắn hình tướng một cách có ý thức theo mục đích thiêng liêng. Cái này [584] có tính khẩn cầu và cái kia có tính gợi lên. Dục vọng, khi được tập hợp và tập trung, có thể khẩn cầu ý chí; ý chí, khi được gợi lên, chấm dứt dục vọng và trở thành một mãnh lực nội tại, thúc đẩy, đẩy mạnh, làm ổn định, làm sáng tỏ, và—trong số những điều khác—cuối cùng hủy diệt. Nó còn hơn thế nhiều, nhưng đây là tất cả những gì con người có thể nắm bắt vào lúc này và là tất cả những gì mà cho đến nay con người có bộ máy để hiểu. Chính ý chí này—được khơi dậy bởi khẩn cầu—phải được tập trung trong ánh sáng của linh hồn, và được hiến dâng cho các mục đích của ánh sáng và cho mục đích thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn; nó phải được dùng (trong bác ái) để hủy diệt mọi điều đang cản trở dòng chảy tự do của sự sống nhân loại và đang đem lại cái chết (tinh thần và thực sự) cho nhân loại. Ý chí này phải được khẩn cầu và gợi lên.

I am not referring here to the use of either of the two Great Invocations or to the third which has lately been given. I refer to the focussed consciousness of the men and women of goodwill, whose lives are conditioned by the will to carry forward the purposes of God in love, who seek selflessly to understand those purposes, and who are fearless of death.

Ở đây tôi không nói đến việc sử dụng một trong hai Đại Khấn Nguyện hay lời khẩn cầu thứ ba mới được trao ra gần đây. Tôi nói đến tâm thức tập trung của những người nam và nữ thiện chí, những người mà đời sống được điều kiện hóa bởi ý chí xúc tiến các mục đích của Thượng đế trong bác ái, những người vô ngã tìm cách thấu hiểu các mục đích ấy, và những người không sợ cái chết.

There are two great handicaps to the free expression of the Shamballa force in its true nature. One is the sensitivity of the lower nature to its impact and its consequent prostitution to selfish ends, as in the case of the sensitive, negative German people and its use by the Axis nations for material objectives. The second is the blocking, hindering, muddled but massed opposition of the well-meaning people of the world who talk vaguely and beautifully about love, but refuse to consider the techniques of the will of God in operation. According to them, that will is something with which they personally have naught to do; they refuse to recognise that God works out His will through men, just [585] as He is ever seeking to express His love through men; they will not believe that that will could possibly express itself through the destruction of evil with all the material consequences of that evil. They cannot believe that a God of Love could possibly employ the first divine aspect to destroy the forms which are obstructing the free play of the divine spirit; that will must not infringe upon their interpretation of love. Such people are individually of small moment and of no importance but their massed negativity was a real detriment to the ending of this war, just as the massed negativity of the German people and their inability to take right action when Hitler’s purposes were disclosed made possible the great inflow of ancient and focussed evil which has brought the present catastrophe to man. Such people are like a millstone around the neck of humanity, crippling true effort, murmuring “Let us love God and each other,” but doing nothing but murmuring prayers and platitudes whilst humanity is dying.

Có hai trở ngại lớn đối với sự biểu lộ tự do của mãnh lực Shamballa trong bản chất chân thật của nó. Một là sự nhạy cảm của bản chất thấp đối với tác động của nó và hậu quả là sự làm đồi bại nó vào các mục đích ích kỷ, như trong trường hợp dân tộc Đức nhạy cảm, tiêu cực và việc các quốc gia phe Trục sử dụng nó cho các mục tiêu vật chất. Trở ngại thứ hai là sự chống đối ngăn trở, cản trở, rối rắm nhưng tập thể của những người thiện chí trên thế giới, những người nói một cách mơ hồ và đẹp đẽ về bác ái, nhưng từ chối xem xét các kỹ thuật của ý chí của Thượng đế đang vận hành. Theo họ, ý chí ấy là điều mà cá nhân họ không có gì phải làm; họ từ chối nhận ra rằng Thượng đế thực hiện ý chí của Ngài qua con người, cũng [585] như Ngài luôn tìm cách biểu lộ bác ái của Ngài qua con người; họ không chịu tin rằng ý chí ấy có thể biểu lộ qua sự hủy diệt điều ác với tất cả những hậu quả vật chất của điều ác ấy. Họ không thể tin rằng một Thượng đế của Bác ái lại có thể sử dụng phương diện thiêng liêng thứ nhất để hủy diệt những hình tướng đang cản trở sự vận hành tự do của tinh thần thiêng liêng; ý chí ấy không được phép xâm phạm cách diễn giải của họ về bác ái. Từng cá nhân như thế thì ít quan trọng và không có ý nghĩa gì, nhưng tính tiêu cực tập thể của họ là một sự cản trở thực sự đối với việc chấm dứt cuộc chiến này, cũng như tính tiêu cực tập thể của dân tộc Đức và sự bất lực của họ trong việc hành động đúng đắn khi các mục đích của Hitler bị phơi bày đã làm cho dòng tuôn đổ lớn của điều ác cổ xưa và tập trung trở nên khả hữu, điều đã đem thảm họa hiện tại đến cho con người. Những người như thế giống như cối đá buộc quanh cổ nhân loại, làm tê liệt nỗ lực chân chính, lẩm bẩm “Chúng ta hãy yêu Thượng đế và yêu nhau,” nhưng chẳng làm gì ngoài việc lẩm bẩm những lời cầu nguyện và những câu sáo rỗng trong khi nhân loại đang chết dần.

You can easily appreciate the fact that the evocation of the energy of the will and its effect upon the unprepared, materialistically minded person might and would prove a disaster. It would simply serve to focus and strengthen the lower self-will, which is the name we give to realised and determined desire. It could then create such a driving force, directed to selfish ends, that the person might become a monster of wickedness. In the history of the race, one or two advanced personalities have done this with dire results both to themselves and to the people of their time. One such figure in ancient times was Nero; the modern example is Hitler. What, however, has made the latter so dangerous an enemy of the human family is that during the last two thousand years mankind has advanced to a point where it can also be responsive to certain aspects of this first ray [586] force. Hitler, therefore, found associates and cooperators who added their receptivity to his so that an entire group became the responsive agents of the destructive energy, expressing itself in its lowest aspect. This is what enabled them to work ruthlessly, powerfully, selfishly, cruelly and successfully at the destruction of all that attempted to impede their projects and desires.

Các bạn có thể dễ dàng hiểu rằng việc gợi lên năng lượng của ý chí và ảnh hưởng của nó lên người chưa chuẩn bị, có đầu óc duy vật, có thể và sẽ chứng tỏ là một tai họa. Nó chỉ đơn giản phục vụ cho việc tập trung và tăng cường ý chí ích kỷ thấp kém, là tên gọi chúng ta dành cho dục vọng đã được chứng nghiệm và quyết định. Khi ấy nó có thể tạo ra một mãnh lực thúc đẩy như thế, hướng đến các mục đích ích kỷ, đến nỗi con người ấy có thể trở thành một quái vật của sự gian ác. Trong lịch sử nhân loại, một hay hai phàm ngã tiến bộ đã làm điều này với những hậu quả khủng khiếp cho chính họ và cho dân chúng cùng thời của họ. Một nhân vật như thế trong thời cổ là Nero; ví dụ hiện đại là Hitler. Tuy nhiên, điều đã làm cho kẻ sau trở thành một kẻ thù nguy hiểm đến thế của gia đình nhân loại là trong hai ngàn năm qua, nhân loại đã tiến bộ đến một điểm mà nó cũng có thể đáp ứng với một số phương diện của mãnh lực [586] cung một này. Vì vậy, Hitler đã tìm thấy những cộng sự viên và những kẻ hợp tác, những người đã thêm tính tiếp nhận của họ vào tính tiếp nhận của hắn, đến nỗi cả một nhóm trở thành những tác nhân đáp ứng của năng lượng hủy diệt, biểu lộ trong phương diện thấp nhất của nó. Chính điều này đã giúp họ hoạt động một cách tàn nhẫn, mạnh mẽ, ích kỷ, độc ác và thành công trong việc hủy diệt mọi điều cố gắng cản trở các dự án và dục vọng của họ.

There is only one way in which focussed evil will, with its responsiveness to the Shamballa force, can be overcome and that is by the opposition of an equally focussed spiritual will, displayed by responsive men and women of goodwill who can train themselves to be sensitive to this type of new incoming energy and can learn how to invoke and evoke it.

Chỉ có một cách mà ý chí ác tập trung, với khả năng đáp ứng của nó đối với mãnh lực Shamballa, có thể bị vượt qua, và đó là bằng sự đối kháng của một ý chí tinh thần tập trung tương đương, được biểu lộ bởi những người nam và nữ thiện chí có khả năng tự huấn luyện để trở nên nhạy cảm với loại năng lượng mới đang đi vào này và có thể học cách khẩn cầu và gợi lên nó.

You can consequently see why there was more than the casual use of a current word in my mind when the terms of goodwill and of the will-to-good were discussed. All the time, I had in my thoughts not just kindness and good intention, but the focussed will-to-good which can and must evoke the Shamballa energy and use it for the arresting of the forces of evil.

Do đó, các bạn có thể thấy tại sao trong tâm trí tôi có nhiều hơn là việc dùng ngẫu nhiên một từ thông dụng khi các thuật ngữ thiện chí và ý chí-hướng thiện được bàn đến. Suốt mọi lúc, trong tư tưởng của tôi không chỉ có lòng tử tế và thiện ý, mà là ý chí-hướng thiện tập trung, điều có thể và phải gợi lên năng lượng Shamballa và sử dụng nó để ngăn chặn các lực ác.

This, I realise, is a relatively new idea to many of you; to others of you it will mean little or nothing; others again may have faint glimmerings of this new approach to God and service which—again I say—can and must remake, rebuild, and rehabilitate the world. I would like here to point out that the will aspect can be contacted only from the mental plane and only those, therefore, who are working with and through the mind can begin to appropriate this energy. Those who seek to evoke the Shamballa force are approaching close to the energy of fire. Fire is the symbol and the quality of the mental plane. Fire is an aspect of the divine nature. Fire was an outstanding aspect [587] of the war. Fire is produced by physical means and the aid of the mineral kingdom and this was the great menacing and chosen means of destruction in this war. This is a fulfilment of the ancient prophecy that the attempt to destroy the Aryan race will be by means of fire, just as ancient Atlantis was destroyed by water. But, fiery goodwill and the conscious focussed use of the Shamballa force can counter fire by fire and this must be done.

Điều này, tôi nhận ra, là một ý tưởng tương đối mới đối với nhiều người trong các bạn; đối với những người khác trong các bạn, nó sẽ có ít hoặc không có ý nghĩa gì; lại có những người khác nữa có thể có những thoáng linh cảm mờ nhạt về cách tiếp cận mới này đối với Thượng đế và sự phụng sự, điều mà—tôi lại nói lần nữa—có thể và phải tái tạo, tái thiết và phục hồi thế giới. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng phương diện ý chí chỉ có thể được tiếp xúc từ cõi trí và vì vậy chỉ những ai đang hoạt động với và xuyên qua thể trí mới có thể bắt đầu chiếm hữu năng lượng này. Những ai tìm cách gợi lên mãnh lực Shamballa đang tiến rất gần đến năng lượng của lửa. Lửa là biểu tượng và là phẩm tính của cõi trí. Lửa là một phương diện của bản tính thiêng liêng. Lửa là một phương diện nổi bật [587] của cuộc chiến. Lửa được tạo ra bằng các phương tiện hồng trần và với sự trợ giúp của giới kim thạch, và đó là phương tiện hủy diệt lớn lao, đe dọa và được lựa chọn trong cuộc chiến này. Đây là sự ứng nghiệm của lời tiên tri cổ xưa rằng nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya sẽ được thực hiện bằng lửa, cũng như Atlantis cổ xưa đã bị hủy diệt bởi nước. Nhưng thiện chí rực lửa và việc sử dụng có ý thức, tập trung mãnh lực Shamballa có thể chống lửa bằng lửa và điều này phải được thực hiện.

I cannot give you more upon this subject until you have given time to its consideration and have sought to understand the use of the will, its nature, purpose and its relation to what you understand by the human will. You must ponder upon how it should be employed and in what manner aspirants and disciples who are mentally polarised can focus that will and safely shoulder the responsibility for its wise use. Later when you know more about it, I can give you further knowledge upon the matter. I would however like to make one practical suggestion. Might there not be organised a group who would take this subject as the theme of their meditation and who would try to fit themselves—by right understanding —to contact and use the Shamballa energy? Would it not be possible gradually to elaborate this theme of the revelation of the divine will so that the general subject may be ready for presentation to the thinking public when peace truly comes? There is much to be considered in this connection. There is the demonstration of the three aspects of the will as enumerated above; there is the preparation of the individual for the expression of this energy; there is a mature consideration to be given to the relation of the Hierarchy to Shamballa, carried forward as the Masters attempt to work out divine purpose and to be the distributing Agents of the will energy. There is the effort to be made to comprehend somewhat the nature of [588] the direct impact of the first aspect upon the human consciousness, apart from the hierarchical centre altogether—an impact made without any of the absorbing and stepping-down process to which the Hierarchy subjects it. I have referred to this direct contact elsewhere; it can be more direct and complete when there is greater safety brought about by a more understanding human approach.

Tôi không thể cho các bạn biết thêm về chủ đề này cho đến khi các bạn đã dành thời gian để suy xét nó và đã tìm cách thấu hiểu việc sử dụng ý chí, bản chất, mục đích của nó và mối liên hệ của nó với điều các bạn hiểu là ý chí con người. Các bạn phải suy ngẫm về cách nó nên được sử dụng và theo phương thức nào mà những người chí nguyện và các đệ tử phân cực trí tuệ có thể tập trung ý chí đó và an toàn gánh vác trách nhiệm về việc sử dụng nó một cách minh triết. Về sau, khi các bạn biết nhiều hơn về nó, tôi có thể cho các bạn thêm tri thức về vấn đề này. Tuy nhiên, tôi muốn đưa ra một gợi ý thực tiễn. Chẳng lẽ không thể tổ chức một nhóm lấy chủ đề này làm đề tài tham thiền của họ và cố gắng tự thích nghi—bằng sự thấu hiểu đúng đắn—để tiếp xúc và sử dụng năng lượng Shamballa sao? Chẳng lẽ không thể dần dần khai triển chủ đề này về sự mặc khải của ý chí thiêng liêng để chủ đề tổng quát ấy có thể sẵn sàng được trình bày cho công chúng biết suy nghĩ khi hòa bình thực sự đến sao? Có nhiều điều cần được xem xét trong mối liên hệ này. Có sự biểu lộ của ba phương diện của ý chí như đã được liệt kê ở trên; có sự chuẩn bị của cá nhân cho việc biểu lộ năng lượng này; có sự suy xét chín chắn cần được dành cho mối liên hệ của Thánh Đoàn với Shamballa, được xúc tiến khi các Chân sư cố gắng triển khai Thiên Ý và làm các Tác Nhân phân phối năng lượng ý chí. Có nỗ lực cần được thực hiện để phần nào hiểu được bản chất của [588] sự tác động trực tiếp của phương diện thứ nhất lên tâm thức con người, hoàn toàn tách khỏi trung tâm huyền giai—một tác động được tạo ra mà không có bất kỳ tiến trình hấp thu và giảm hạ nào mà Thánh Đoàn áp dụng cho nó. Tôi đã đề cập đến sự tiếp xúc trực tiếp này ở nơi khác; nó có thể trực tiếp và trọn vẹn hơn khi có sự an toàn lớn hơn được tạo ra bởi một cách tiếp cận hiểu biết hơn của nhân loại.

One of the causes lying behind World War II is to be found in a premature contact—a contact made by certain selfish minds of a relatively high quality, aided by the Black Lodge. To offset this and eventually bring about the elimination of the influence of the dark forces from our planet must come the active, conscious use of the Shamballa force by the White Lodge, aided by the men and women whose will-to-good is strong enough to safeguard them from personal peril in their work and from being deflected on to wrong and dangerous lines. This aid necessitates a certain definite and planned contact and interplay between the two centres: Humanity and Hierarchy. When this is better established, there can be organised and known cooperation and the members of both great centres can “stand together with massed intent.” This massed intent will be the correspondence upon the mental plane of the massed intent of the general public who stand with the power of appeal upon their lips and in their hearts. To this appeal must be added the focussed will of the world thinkers and intuitives who will use their minds and brains in the affirmation of right.

Một trong những nguyên nhân nằm sau Thế Chiến II có thể được tìm thấy trong một sự tiếp xúc quá sớm—một sự tiếp xúc được thực hiện bởi một số thể trí ích kỷ có phẩm chất tương đối cao, được Hắc đoàn trợ giúp. Để hóa giải điều này và cuối cùng mang lại sự loại trừ ảnh hưởng của các mãnh lực tối tăm khỏi hành tinh của chúng ta, phải có việc sử dụng tích cực, có ý thức mãnh lực Shamballa bởi Thánh đoàn, được trợ giúp bởi những người nam và nữ có Ý Chí-hướng Thiện đủ mạnh để bảo vệ họ khỏi hiểm nguy cá nhân trong công việc của họ và khỏi bị lệch sang những đường lối sai lầm và nguy hiểm. Sự trợ giúp này đòi hỏi một sự tiếp xúc và tương tác nhất định, rõ ràng và có kế hoạch giữa hai trung tâm: Nhân loại và Thánh Đoàn. Khi điều này được thiết lập tốt hơn, có thể có sự hợp tác được tổ chức và được biết đến, và các thành viên của cả hai trung tâm lớn có thể “đứng cùng nhau với ý định tập trung.” Ý định tập trung này sẽ là sự tương ứng trên cõi trí của ý định tập trung của công chúng nói chung, những người đứng với quyền năng khẩn cầu trên môi và trong tim họ. Vào lời khẩn cầu này phải được thêm vào ý chí tập trung của các nhà tư tưởng và những người trực giác của thế giới, những người sẽ sử dụng thể trí và bộ não của họ trong sự khẳng định điều đúng.

It was for the reason that the will aspect was involved that I made our last point in our consideration of the seven rays to be a consideration of the Rays, Constellations and Planets, as given in Tabulation X. The inter-relation there given concerns the first aspect of the will, as I have [589] here indicated. The analysis of this tabulation will complete our consideration of esoteric astrology.

Chính vì phương diện ý chí có liên quan mà tôi đã làm cho điểm cuối cùng của chúng ta trong việc xem xét bảy Cung trở thành một sự xem xét về các Cung, các Chòm sao và các Hành tinh, như được nêu trong Bảng X. Mối tương quan được nêu ở đó liên quan đến phương diện thứ nhất của ý chí, như tôi đã [589] chỉ ra ở đây. Việc phân tích bảng này sẽ hoàn tất sự xem xét của chúng ta về Chiêm Tinh Học Nội Môn.

The seven stars of the Great Bear are the originating sources of the seven rays of our solar system. The seven Rishis of the Great Bear express Themselves through the medium of the seven planetary Logoi Who are Their Representatives and to whom they stand in the relation of Prototype. These seven planetary Spirits manifest through the medium of the seven sacred planets.

Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh là các nguồn khởi nguyên của bảy Cung trong hệ mặt trời của chúng ta. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh biểu lộ Chính Các Ngài qua trung gian của bảy Hành Tinh Thượng đế, các Đấng là Đại Diện của Các Ngài và đối với các Đấng ấy Các Ngài đứng trong mối liên hệ của Nguyên Mẫu. Bảy Thánh Linh hành tinh này biểu lộ qua trung gian của bảy hành tinh thiêng liêng.

Each of these seven rays, coming from the Great Bear, are transmitted into our solar system through the medium of three constellations and their ruling planets. The following tabulation will make this clear, but must be interpreted only in terms of the present turn of the great zodiacal wheel of 25,000 years.

Mỗi một trong bảy Cung này, đến từ Đại Hùng Tinh, được truyền vào hệ mặt trời của chúng ta qua trung gian của ba chòm sao và các hành tinh cai quản của chúng. Bảng sau đây sẽ làm rõ điều này, nhưng chỉ phải được diễn giải theo chu kỳ hiện tại của bánh xe hoàng đạo lớn 25.000 năm.

2. Various Aspects of the Will2. Các Phương diện Khác nhau của Ý Chí

We have now the difficult task of considering an aspect of divine manifestation which is as yet so little apparent upon the physical plane that we lack the exact word with which to express it and those words available are likewise misleading. I can, however, attempt to give you certain concepts, relationships and parallels which may serve to close this section on astrology and lay a foundation for future teaching around the year 2025. That is the mode whereby all revelation comes. A thought is given; a symbol described; an idea portrayed. Then, as the minds of men ponder upon it and the intuitives of the world pick up the thought, it serves as a seed thought which eventually comes to fruition with the presentation and the unfolding of a revelation which serves to lead the race of men nearer to their goal. [590]

Giờ đây chúng ta có nhiệm vụ khó khăn là xem xét một phương diện của biểu lộ thiêng liêng mà cho đến nay còn ít hiển lộ trên cõi hồng trần đến nỗi chúng ta thiếu từ ngữ chính xác để diễn đạt nó, và những từ ngữ hiện có cũng đều dễ gây hiểu lầm. Tuy nhiên, tôi có thể cố gắng đưa cho các bạn một số khái niệm, tương quan và song hành có thể giúp khép lại phần này về chiêm tinh học và đặt nền tảng cho giáo huấn tương lai vào khoảng năm 2025. Đó là phương thức mà mọi sự mặc khải đều đến. Một tư tưởng được trao ra; một biểu tượng được mô tả; một ý tưởng được phác họa. Rồi khi thể trí con người suy ngẫm về nó và những người trực giác của thế giới nắm bắt tư tưởng ấy, nó phục vụ như một Tư tưởng hạt giống mà cuối cùng đi đến kết quả với sự trình bày và khai mở của một sự mặc khải, điều giúp dẫn dắt nhân loại đến gần mục tiêu của mình hơn. [590]

TABULATION X

BẢNG X

Ray

Constellations

Planets Orthodox

Planets Esoteric

I.

Will or Power

Aries.

The Ram….

Mars…..

Mercury

Leo.

The Lion….

The Sun..

The Sun

Capricorn.

The Goat….

Saturn….

Saturn

II.

Love-Wisdom

Gemini.

The Twins…

Mercury..

Venus

Virgo.

The Virgin…

Mercury..

The Moon

Pisces.

The Fishes…

Jupiter….

Pluto

III.

Active Intelligence

Cancer.

The Crab….

The Moon.

Neptune

Libra.

The Scales…

Venus….

Uranus

Capricorn.

The Goat….

Saturn….

Saturn

IV.

Harmony through

Taurus.

The Bull….

Venus….

Vulcan

Conflict

Scorpio.

The Scorpion.

Mars…..

Mars

Sagittarius.

The Archer…

Jupiter….

The Earth

V.

Concrete Science

Leo.

The Lion….

The Sun..

The Sun

Sagittarius.

The Archer…

Jupiter….

The Earth

Aquarius.

The Water

Carrier……

Uranus…

Jupiter

VI.

Devotion. Idealism

Virgo.

The Virgin…

Mercury..

The Moon

Sagittarius.

The Archer…

Jupiter….

The Earth

Pisces.

The Fishes…

Jupiter….

Pluto

VII.

Ceremonial Order

Aries.

The Ram….

Mars…..

Mercury

Cancer.

The Crab….

The Moon.

Neptune

Capricorn.

The Goat….

Saturn….

Saturn

We are considering the expression of the Shamballa force in terms of Will, i.e., of divine purpose, latent in the mind of God since the beginning of time and the dawn of creation. In God’s mind, that idea is seen whole and complete. In manifestation it is a gradual, self-revealing evolutionary and demonstrated activity. We know somewhat of the intelligence aspect of God. It is revealed in the living activity of substance. Of the love of that Great Thinker, we are learning slowly and its revelation has reached the stage where the human mind can contrast its [591] mode of living activity with the visioned and sensed love of Deity, expressed as yet by the desire for right human relations and right treatment of all that is non-human. Of the will and purpose of God, humanity knows nothing, for the individual will or the collective human will which could act as interpreter, revealer and also serve as a mode of contact, is dedicated to selfishness and blind to the higher reaches of divine expression. Mankind’s so-called acquiescence in the will of God is based on his wish life, on his negativity and on the visions of the saints. Their keynote was submission and their highest point of spiritual contact was still tinged with dualism and still conditioned by modes of human interpretation.

Chúng ta đang xem xét sự biểu lộ của mãnh lực Shamballa theo thuật ngữ Ý Chí, tức là Thiên Ý, tiềm tàng trong thể trí của Thượng đế từ thuở ban đầu của thời gian và bình minh của sáng tạo. Trong thể trí của Thượng đế, ý tưởng đó được thấy như một toàn thể và hoàn chỉnh. Trong biểu lộ, nó là một hoạt động tiến hoá, tự mặc khải và được chứng minh một cách dần dần. Chúng ta biết phần nào về phương diện trí tuệ của Thượng đế. Nó được mặc khải trong hoạt động sống động của chất liệu. Về tình thương của Đấng Đại Tư Tưởng ấy, chúng ta đang học hỏi một cách chậm chạp, và sự mặc khải của nó đã đạt đến giai đoạn mà thể trí con người có thể đối chiếu phương thức [591] hoạt động sống của mình với tình thương được linh thị và cảm nhận của Thượng đế, hiện còn được biểu lộ như khát vọng về những tương quan nhân loại đúng đắn và sự đối xử đúng đắn với mọi điều không phải con người. Về ý chí và mục đích của Thượng đế, nhân loại không biết gì cả, vì ý chí cá nhân hay ý chí tập thể của con người, vốn có thể hành động như kẻ diễn giải, kẻ mặc khải và cũng phục vụ như một phương thức tiếp xúc, lại được hiến dâng cho tính ích kỷ và mù lòa trước những tầm cao hơn của biểu lộ thiêng liêng. Sự cam chịu cái gọi là theo ý muốn của Thượng đế của loài người dựa trên đời sống ham muốn của mình, trên tính tiêu cực của mình và trên các linh ảnh của các vị thánh. Chủ âm của họ là sự quy phục, và điểm tiếp xúc tinh thần cao nhất của họ vẫn còn nhuốm màu nhị nguyên tính và vẫn còn bị điều kiện hóa bởi các phương thức diễn giải của con người.

Under the occult method, we must begin with the universal and the whole; in time the individual and the particular will stand revealed, but in relation to the whole. It should be possible, through a study of the seven rays and their related constellations and their transmitting agents, the planets, to gain some general idea of the pouring through of the Shamballa energy as emerging purpose on the physical plane.

Theo phương pháp huyền bí học, chúng ta phải bắt đầu với cái phổ quát và cái toàn thể; theo thời gian, cái cá nhân và cái riêng biệt sẽ được mặc khải, nhưng trong tương quan với cái toàn thể. Phải có thể, qua việc nghiên cứu bảy Cung và các chòm sao liên hệ của chúng cùng các tác nhân truyền dẫn của chúng là các hành tinh, đạt được một ý niệm tổng quát nào đó về sự tuôn đổ xuyên qua của năng lượng Shamballa như mục đích đang xuất hiện trên cõi hồng trần.

I have earlier referred to three major expressions of the will aspect. There is will, as the conditioner of the life aspect. This refers not to events, happenings and occurrence, but to the nature of the life manifestations in any cycle, through any nation or race, where humanity is concerned. This refers also to the broad and general lines which at any time upon the planet are setting the pace for the evolution of forms and which basically concerns the force and endurance of the life as it manifests through and creates those external conditions which are qualified and expressed in terms of life, of quality and appearance. The word “life” in this triplicity of terms refers to life as [592] humanity understands it. The word “life” to which I here refer is the life to which H.P.B. refers as that which synthesises spirit, soul and body. (See The Secret Doctrine, I. 81). It is in reality that fourth something which hovers behind all manifestation and behind all objects, all qualified expressions of divinity and which is hinted at in the Bhagavad Gita in the words: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain.”

Trước đây tôi đã đề cập đến ba biểu lộ chính của phương diện ý chí. Có ý chí, như yếu tố điều kiện hóa phương diện sự sống. Điều này không nói đến các biến cố, sự kiện và diễn tiến, mà nói đến bản chất của các biểu lộ sự sống trong bất kỳ chu kỳ nào, qua bất kỳ quốc gia hay nhân loại nào, nơi nhân loại có liên quan. Điều này cũng nói đến những đường nét rộng lớn và tổng quát mà vào bất kỳ lúc nào trên hành tinh đang định nhịp cho sự tiến hoá của các hình tướng, và về căn bản liên quan đến mãnh lực và sức bền của sự sống khi nó biểu lộ xuyên qua và tạo ra những điều kiện bên ngoài ấy, những điều kiện được định tính và biểu lộ theo thuật ngữ sự sống, phẩm tính và vẻ ngoài. Từ “sự sống” trong bộ ba thuật ngữ này nói đến sự sống như [592] nhân loại hiểu nó. Từ “sự sống” mà tôi nói đến ở đây là sự sống mà H.P.B. đề cập như cái tổng hợp tinh thần, linh hồn và thể. (Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, I. 81). Thực ra, đó là cái gì đó thứ tư lơ lửng phía sau mọi biểu lộ và phía sau mọi đối tượng, mọi biểu lộ định tính của thiên tính, và được ám chỉ trong Bhagavad Gita qua những lời: “Sau khi thấm nhập toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn còn tồn tại.”

There is next the will which brings fulfilment. This is the basis of all relationships and all processes of inter-relation in our solar system and (as far as humanity is concerned) in the planet. It is the prime factor in bringing about the inevitability of the divine consummation; it is the cause of all fruition of all forms on all planes and of divine intention; it is that which lies back of consciousness itself. I know not how else to express this in words and having done so they prove wholly inadequate. There is a faint, dim, uncertain reflection of this will-fulfilment in the joy of achievement as registered by a human being who finds his heart’s desire. Long processes of evolution precede this fulfilment and long experience of the living activity of the will of God as Life. This concentrated evolutionary effort, this undeviating purpose has called forth more than desire and more than the will-to-be-active. There is a realised achievement from the very start for this is the divine will-to-completion which precedes the creative effort. It is the synthesis of creation, or persistent endeavour, adherence to vision and complete sacrifice, and all of these in terms of divine experienced experiment, if I might so formulate the idea. Remember, therefore, that all through these experiences of the divine will runs the thread of a fulfilled synthesis. This is more than cohesion in time and space; it is more [593] than the principle of privation about which H.P.B. speaks, and more than self-imposed limitation. It is the end seen from the beginning; it is alpha and omega producing the completed whole and the perfect fruition of the divine will.

Kế đến là ý chí mang lại sự hoàn tất. Đây là nền tảng của mọi tương quan và mọi tiến trình tương quan trong hệ mặt trời của chúng ta và (trong chừng mực nhân loại có liên quan) trên hành tinh. Nó là yếu tố chính yếu trong việc mang lại tính tất yếu của sự viên mãn thiêng liêng; nó là nguyên nhân của mọi kết quả viên mãn của mọi hình tướng trên mọi cõi và của ý định thiêng liêng; nó là cái nằm phía sau chính tâm thức. Tôi không biết phải diễn đạt điều này bằng lời cách nào khác, và khi đã làm như vậy thì những lời ấy vẫn hoàn toàn bất cập. Có một phản chiếu mờ nhạt, lờ mờ, không chắc chắn của ý chí-hoàn tất này trong niềm vui thành tựu như được ghi nhận bởi một con người tìm thấy điều lòng mình mong muốn. Những tiến trình tiến hoá dài lâu đi trước sự hoàn tất này và kinh nghiệm dài lâu về hoạt động sống của ý chí Thượng đế như Sự sống. Nỗ lực tiến hoá tập trung này, mục đích không chệch hướng này đã gọi ra nhiều hơn ham muốn và nhiều hơn ý chí-hướng-hoạt động. Có một thành tựu được chứng nghiệm ngay từ khởi đầu vì đây là ý chí-thiêng-liêng-hướng-đến-hoàn-tất đi trước nỗ lực sáng tạo. Nó là sự tổng hợp của sáng tạo, hay nỗ lực bền bỉ, sự bám giữ vào linh ảnh và sự hi sinh trọn vẹn, và tất cả những điều này theo thuật ngữ thực nghiệm đã được kinh nghiệm của thiêng liêng, nếu tôi có thể diễn đạt ý tưởng như vậy. Vì vậy, hãy nhớ rằng xuyên suốt các kinh nghiệm này của ý chí thiêng liêng có chạy qua sợi chỉ của một sự tổng hợp đã được hoàn tất. Điều này còn hơn sự kết dính trong thời gian và không gian; nó còn hơn [593] nguyên khí thiếu thốn mà H.P.B. nói đến, và hơn cả sự tự áp đặt giới hạn. Đó là cứu cánh được thấy từ khởi đầu; đó là alpha và omega tạo ra toàn thể hoàn chỉnh và sự viên mãn trọn vẹn của ý chí thiêng liêng.

It is, finally, the will which conquers death. This again must not be interpreted in terms of death as it affects the form nature of manifestation. The note of synthesis and triumph—realised and complete—persists behind all that we can recognise as death. This will is the principle of victory, of the ultimate goal of life when fruition is achieved; it is the final united success or unified conformity to a long foreseen purpose of spirit-matter, life-form, plus that something which is the dream and goal of the highest initiates in the Hierarchy to contact—the secret revelation of Shamballa itself. More it is not possible to say. If Christ Himself is striving towards that knowledge, it is not possible for us to do more than speculate.

Sau cùng, đó là ý chí chiến thắng cái chết. Một lần nữa, điều này không được diễn giải theo thuật ngữ cái chết như nó tác động đến bản chất hình tướng của biểu lộ. Âm điệu của tổng hợp và chiến thắng—được chứng nghiệm và trọn vẹn—vẫn tồn tại phía sau mọi điều mà chúng ta có thể nhận ra là cái chết. Ý chí này là nguyên khí của chiến thắng, của mục tiêu tối hậu của sự sống khi sự viên mãn đạt được; nó là thành công hợp nhất cuối cùng hay sự phù hợp hợp nhất với một mục đích đã được thấy trước từ lâu của tinh thần-vật chất, sự sống-hình tướng, cộng với cái gì đó là giấc mơ và mục tiêu của các điểm đạo đồ cao nhất trong Thánh Đoàn đang tìm cách tiếp xúc—sự mặc khải bí mật của chính Shamballa. Không thể nói thêm được nữa. Nếu chính Đức Christ cũng đang phấn đấu hướng tới tri thức đó, thì chúng ta không thể làm gì hơn ngoài suy đoán.

In these few words, I have sought to convey an idea of a vast subjective realisation. What I am hinting at in reality is the objective of that “endless Way of which Nirvana itself is but the open door”—the Way to the higher evolution for which our evolutionary process prepares mankind. I am indicating what is the goal of all hierarchical endeavour. Mankind is so preoccupied with the attitude and effort of the Hierarchy as regards human welfare and guidance that the goal of the efforts of the Masters of the Wisdom is naturally overlooked. It is in reality no concern of man. Nevertheless, the picture of the divine Plan so oft emphasised in occult books and by occult teachers is distorted unless it is realised that just as humanity strives towards the Hierarchy, so that Hierarchy itself strives towards Shamballa. As the Old Commentary has it:

Trong vài lời này, tôi đã tìm cách truyền đạt một ý niệm về một sự chứng nghiệm chủ quan bao la. Điều mà thực ra tôi đang ám chỉ là mục tiêu của “Con Đường vô tận mà chính Niết Bàn chỉ là cánh cửa mở”—Con đường Tiến Hóa Cao Siêu mà tiến trình tiến hoá của chúng ta chuẩn bị cho nhân loại. Tôi đang chỉ ra điều gì là mục tiêu của mọi nỗ lực huyền giai. Nhân loại quá bận tâm với thái độ và nỗ lực của Thánh Đoàn đối với phúc lợi và sự hướng dẫn của con người đến nỗi mục tiêu của những nỗ lực của các Chân sư Minh Triết tự nhiên bị bỏ qua. Thực ra, đó không phải là mối quan tâm của con người. Tuy nhiên, bức tranh về Thiên Cơ thiêng liêng vốn thường được nhấn mạnh trong các sách huyền bí học và bởi các huấn sư huyền bí học sẽ bị bóp méo trừ phi người ta nhận ra rằng cũng như nhân loại phấn đấu hướng tới Thánh Đoàn, thì chính Thánh Đoàn cũng phấn đấu hướng tới Shamballa. Như Cổ Luận đã nói:

[594]

[594]

“He who sees in the dark light of Shamballa penetrates to that which lies beyond our little sphere to that which can be sensed behind the holy triangle (Venus, Mercury, the Earth, A.A.B.). There is to be found the point of radiant fire which shines within the eye (Taurus), which burns upon the mountain-top (Capricorn) and which the water cannot quench (Aquarius). These are the holiest three.”

“Người nhìn thấy trong ánh sáng tối của Shamballa xuyên thấu đến điều nằm bên kia khối cầu nhỏ bé của chúng ta, đến điều có thể được cảm nhận phía sau tam giác thiêng liêng (Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất, A.A.B.). Ở đó có thể tìm thấy điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt (Kim Ngưu), bừng cháy trên đỉnh núi (Ma Kết), và nước không thể dập tắt (Bảo Bình). Đó là ba điều thiêng liêng nhất.”

As we consider the seven rays as outlined in Tabulation X, I would have you bear in mind that we are viewing them as expressions of this threefold will. We have studied them in some detail in my other books from the angle of consciousness and from the point of view as producing changes and expansions of consciousness in man, in nations and in races. Now, as far as may be possible, we are going to consider these rays as they express the pure, living activity of Deity as it fulfils Itself in manifestation as pure incentive, directed impersonal energy, divine instinct which latter is a blend of instinctual force and intuitive energy. It might be pointed out to those of you who have some measure of occult perception that this synthetic Life, being cosmic, emerges from cosmic planes and not systemic. Hence the difficulty in comprehending it.

Khi chúng ta xem xét bảy Cung như được phác họa trong Bảng X, tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng chúng ta đang nhìn chúng như những biểu lộ của ý chí tam phân này. Chúng ta đã nghiên cứu chúng khá chi tiết trong các sách khác của tôi từ góc độ tâm thức và từ quan điểm xem chúng như tạo ra những thay đổi và mở rộng tâm thức nơi con người, nơi các quốc gia và nơi các nhân loại. Giờ đây, trong chừng mực có thể, chúng ta sẽ xem xét các Cung này khi chúng biểu lộ hoạt động thuần túy, sống động của Thượng đế khi Ngài tự hoàn tất trong biểu lộ như động lực thuần túy, năng lượng vô ngã được định hướng, bản năng thiêng liêng mà yếu tố sau cùng này là sự pha trộn của mãnh lực bản năng và năng lượng trực giác. Có thể chỉ ra cho những ai trong các bạn có một mức độ tri giác huyền bí học nào đó rằng Sự sống tổng hợp này, vì là vũ trụ, xuất hiện từ các cõi vũ trụ chứ không phải các cõi hệ thống. Do đó mới có khó khăn trong việc hiểu nó.

1. The conditioning will is the synthesis of the life of the cosmic physical plane of which our seven planes are the seven subplanes. Until, therefore, the human consciousness is far more expanded than it is, it is not possible for man to understand this synthetic realisation.

1. Ý chí điều kiện hóa là sự tổng hợp của sự sống của cõi hồng trần vũ trụ mà bảy cõi của chúng ta là bảy cõi phụ của nó. Vì vậy, cho đến khi tâm thức con người được mở rộng hơn rất nhiều so với hiện nay, con người không thể hiểu được sự chứng nghiệm tổng hợp này.

2. The will which brings fulfilment is the divine incentive [595] (impulse is not the correct term) coming from the cosmic astral plane.

2. Ý chí mang lại sự hoàn tất là động lực thiêng liêng [595] (xung lực không phải là thuật ngữ đúng) đến từ cõi cảm dục vũ trụ.

3. The will which conquers death is an outpouring from the cosmic mental plane.

3. Ý chí chiến thắng cái chết là một lần tuôn đổ từ cõi trí vũ trụ.

From these three cosmic planes (embracing the sacred personality of the Logoi, solar and planetary) come the united energies of the three constellations which control and energise our solar system: The Great Bear, the Pleiades and Sirius; these work through the medium of the seven rays and these in turn express themselves through the twelve constellations which form the great zodiacal wheel. The Lords or ruling Powers of these twelve sources of light and life “step down” the potency of these three major energies so that our solar Logos can absorb them; they “tune out” those aspects of these three Potencies which are not suited to our systemic life at this point in the evolutionary process, just as the Hierarchy upon our little planet tunes out or steps down the energies from Shamballa. These three major energies in a mysterious manner express themselves through the seven rays just as all triplicities subdivide into septenates, yet preserve their identity. These seven energies, emanating from the major three and transmitted via the twelve constellations, are embodied in the seven sacred planets and are represented on our Earth by the seven Spirits before the throne of God (the symbol of synthesis). This tremendous inter-relation is embodied in one great process of: Transmission. Reception. Absorption. Relation and Living Activity. The method is one of Invocation and Evocation. In these two sentences, you have one of the most important clues to the whole evolutionary process; the key to the mystery of time and space, and the solution of [596] all problems. But the factor which is of major importance is that the whole matter is an expression of focussed Will.

Từ ba cõi vũ trụ này (bao gồm phàm ngã thiêng liêng của các Thượng đế, thái dương và hành tinh) đến các năng lượng hợp nhất của ba chòm sao kiểm soát và tiếp sinh lực cho hệ mặt trời của chúng ta: Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh và Sirius; các năng lượng này hoạt động qua trung gian của bảy Cung, và đến lượt chúng biểu lộ qua mười hai chòm sao tạo thành bánh xe hoàng đạo lớn. Các Chúa Tể hay các Quyền Năng cai quản của mười hai nguồn sáng và sự sống này “giảm hạ” tiềm lực của ba năng lượng chính yếu ấy để Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể hấp thu chúng; Các Ngài “điều chỉnh loại bỏ” những phương diện của ba Quyền Năng này không thích hợp với sự sống hệ thống của chúng ta ở điểm này trong tiến trình tiến hoá, cũng như Thánh Đoàn trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta điều chỉnh loại bỏ hay giảm hạ các năng lượng từ Shamballa. Ba năng lượng chính yếu này theo một cách huyền nhiệm biểu lộ qua bảy Cung cũng như mọi bộ ba đều phân chia thành các bộ bảy mà vẫn giữ được bản sắc của chúng. Bảy năng lượng này, phát ra từ bộ ba chính yếu và được truyền qua mười hai chòm sao, được nhập thể trong bảy hành tinh thiêng liêng và được đại diện trên Trái Đất của chúng ta bởi Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế (biểu tượng của tổng hợp). Mối tương quan to lớn này được nhập thể trong một tiến trình lớn của: Truyền dẫn. Tiếp nhận. Hấp thu. Tương quan và Hoạt động Sống động. Phương pháp là Khẩn Cầu và Gợi Lên. Trong hai câu này, các bạn có một trong những đầu mối quan trọng nhất cho toàn bộ tiến trình tiến hoá; chìa khóa cho huyền nhiệm của thời gian và không gian, và lời giải của [596] mọi vấn đề. Nhưng yếu tố có tầm quan trọng chủ yếu là toàn bộ vấn đề này là một biểu lộ của Ý Chí tập trung.

In considering this process, I would have you study Tabulation X, for it is a symbolic form, embodying what I seek to convey. I would point out that the will aspect—as it is embodied in the rays and transmitted by the constellations—works out destructively when concentrated through an orthodox planet and constructively when concentrated through an esoteric planet. Here you have the secret guide to the significance of death and immortality. This is something which the average astrologer will be unable to prove because the cycles involved are too long; intuitively he can however grasp the probability of my proposition. May I again remind you that our theme is the divine plan, purpose and will; it is not the evolution of consciousness, or of the second aspect of divinity. It concerns spirit and not soul. We are attempting in some measure to formulate the life of the Father, the will of the Monad and the purpose of Spirit. In all these (the three aspects of the will) lies germinating the seed of the next solar system, the third, and the fruition of the Personality Manifestation of the Logos. We need, therefore, to formulate the interpretation of the seven rays in terms of will and not of love or consciousness. This we will now attempt to do.

Khi xem xét tiến trình này, tôi muốn các bạn nghiên cứu Bảng X, vì đó là một hình thức biểu tượng, hàm chứa điều tôi tìm cách truyền đạt. Tôi muốn chỉ ra rằng phương diện ý chí—như nó được nhập thể trong các Cung và được truyền bởi các chòm sao—sẽ vận hành theo cách hủy diệt khi được tập trung qua một hành tinh chính thống và theo cách kiến tạo khi được tập trung qua một hành tinh nội môn. Ở đây các bạn có chìa khóa bí mật dẫn đến ý nghĩa của cái chết và sự bất tử. Đây là điều mà nhà chiêm tinh trung bình sẽ không thể chứng minh được vì các chu kỳ liên quan quá dài; tuy nhiên bằng trực giác, ông ta có thể nắm được tính khả hữu của mệnh đề tôi đưa ra. Xin cho phép tôi nhắc lại rằng chủ đề của chúng ta là Thiên Cơ, mục đích và ý chí thiêng liêng; không phải là sự tiến hoá của tâm thức, hay của phương diện thứ hai của thiên tính. Nó liên quan đến tinh thần chứ không phải linh hồn. Chúng ta đang cố gắng ở một mức độ nào đó hình thành công thức về sự sống của Đức Cha, ý chí của Chân Thần và mục đích của Tinh thần. Trong tất cả những điều này (ba phương diện của ý chí) có nảy mầm hạt giống của hệ mặt trời kế tiếp, hệ thứ ba, và sự viên mãn của Biểu Lộ Phàm Ngã của Thượng đế. Vì vậy, chúng ta cần hình thành sự diễn giải bảy Cung theo thuật ngữ ý chí chứ không phải tình thương hay tâm thức. Giờ đây chúng ta sẽ cố gắng làm điều đó.

RAY I.—The energy of Will or Power. This ray is outstandingly related to that aspect of will which conquers death. It is nevertheless the Ray of the Destroyer. In this connection, I would remind you that the human attitude that death is the destroyer presents a limited and erroneous point of view. The first ray destroys death because in reality there is no such thing; the concept is all part of the Great Illusion, is a limitation of [597] the human consciousness, and is basically connected with the brain and not with the heart, strange as that may seem to you. It is in a very true sense “a figment of the imagination.” Ponder on this. The abolition of death and of the destruction of form is a manifestation of Ray I, for it brings about in reality the death of negation and the inauguration of true activity. It is the energy which can be called “divine incentive”; it is the life in the seed which destroys successively all forms in order that realised fruition may eventuate. That is the clue to Ray I. It is the Will which initiates.

CUNG I.—Năng lượng của Ý Chí hay Quyền năng. Cung này nổi bật liên hệ với phương diện của ý chí chiến thắng cái chết. Tuy nhiên, nó vẫn là Cung của Đấng Hủy Diệt. Trong mối liên hệ này, tôi muốn nhắc các bạn rằng thái độ của con người cho rằng cái chết là kẻ hủy diệt là một quan điểm hạn hẹp và sai lầm. Cung một hủy diệt cái chết vì thực ra không có cái gọi là như vậy; khái niệm ấy hoàn toàn là một phần của Đại Ảo Tưởng, là một giới hạn của [597] tâm thức con người, và về căn bản liên hệ với bộ não chứ không phải với tim, dù điều đó có vẻ lạ lùng đối với các bạn. Theo một ý nghĩa rất chân thực, nó là “một sản phẩm của sự tưởng tượng.” Hãy suy ngẫm về điều này. Sự bãi bỏ cái chết và sự hủy diệt hình tướng là một biểu lộ của Cung I, vì nó thực sự mang lại cái chết của sự phủ định và sự khai mở của hoạt động chân thực. Đó là năng lượng có thể được gọi là “động lực thiêng liêng”; đó là sự sống trong hạt giống, cái lần lượt hủy diệt mọi hình tướng để sự viên mãn được chứng nghiệm có thể xảy ra. Đó là đầu mối của Cung I. Nó là Ý Chí khởi xướng.

Today, as regards humanity, its highest realisation is initiation.

Ngày nay, xét về nhân loại, sự chứng nghiệm cao nhất của nó là điểm đạo.

RAY II.—The energy of Love-Wisdom. This basic energy is the will to unify, to synthesise, to produce coherence and mutual attraction and to establish relationships, but—remember this—relationships which are entirely apart from the consciousness of relation or the realisation of unity. It is the fact of unification as seen from the beginning and as existing ever and forever in the Mind of God Whose will embraces past, present and future and Whose mind does not think in terms of evolution or of process. The process is inherent in the seed; the evolutionary urge is the inevitable accompaniment of life in manifestation. It is the Will to unification.

CUNG II.—Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng căn bản này là ý chí hợp nhất, tổng hợp, tạo ra sự kết dính và hấp dẫn hỗ tương, và thiết lập các tương quan, nhưng—hãy nhớ điều này—những tương quan hoàn toàn tách biệt khỏi tâm thức về tương quan hay sự chứng nghiệm về hợp nhất. Đó là sự kiện hợp nhất như được thấy từ khởi đầu và như tồn tại mãi mãi trong Thể trí của Thượng đế, Đấng mà ý chí bao trùm quá khứ, hiện tại và tương lai, và Đấng mà thể trí không suy nghĩ theo thuật ngữ tiến hoá hay tiến trình. Tiến trình vốn tiềm ẩn trong hạt giống; thôi thúc tiến hoá là bạn đồng hành tất yếu của sự sống trong biểu lộ. Nó là Ý Chí hướng đến hợp nhất.

Today, as regards humanity, its highest expression is the mystical vision.

Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là linh ảnh thần bí.

RAY III.—The energy of Active Intelligence. This is the will of conditioned purpose. The factors which are working out through its medium are the forceful carrying forward of the recognised plan with a goal intelligently [598] conceived and an active incentive which carries the process intelligently forward on the strength of its own momentum. Again I would remind you that I am dealing not with human consciousness but with the sum total of that undertaking which makes matter subservient to and adaptable to the basic idea in the mind of God. And no human being is as yet able to conceive of that idea. No one knows what is the will of God or what is the nature of His intelligent purpose. It is the Will to evolution.

CUNG III.—Năng lượng của Trí Tuệ Hoạt Động. Đây là ý chí của mục đích được điều kiện hóa. Các yếu tố đang vận hành qua trung gian của nó là sự xúc tiến mạnh mẽ của kế hoạch đã được nhận biết với một mục tiêu được [598] quan niệm một cách thông minh và một động lực hoạt động mang tiến trình tiến lên một cách thông minh bằng sức mạnh của chính đà tiến của nó. Một lần nữa tôi muốn nhắc các bạn rằng tôi không bàn đến tâm thức con người mà đến tổng thể của công cuộc khiến vật chất trở nên phục tùng và thích ứng với ý tưởng căn bản trong thể trí của Thượng đế. Và chưa có con người nào có thể quan niệm được ý tưởng ấy. Không ai biết ý chí của Thượng đế là gì hay bản chất của mục đích thông minh của Ngài là gì. Nó là Ý Chí hướng đến tiến hoá.

Today, as regards humanity, its highest expression is education, or progressive development through experience.

Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là giáo dục, hay sự phát triển tiến bộ qua kinh nghiệm.

RAY IV.—The energy of Harmony through Conflict. This is fundamentally the will to destroy limitation. This is not the same thing as the will to destroy negation as in the case of Ray I, but is an allied aspect of that. I am not referring to the consciousness aspect which recognises and profits by such struggle. I am referring to the energy, inherent in all forms and peculiarly strong in humanity (because man is self-conscious), which produces inevitably and unavoidably the struggle between life and that which it has chosen as a limitation; this eventually shatters or breaks up that limitation the moment that a point of real harmony or at-one-ment has been reached. Esoterically it might be said that the moment that form (limitation) and life balance each other a rift immediately appears and through it flows a fresh outpouring of the will. Christ had to die because He had achieved harmony with the will of God and then “the veil of the Temple was rent in twain from the top to the bottom.” The significance of this fresh [599] inflow of the Will will now appear; the stage is set anew for a fresh and renewed activity of the living principle. As far as humanity is concerned the “seeds of death” emerge through the medium of this Ray and the Grim Reaper, Death, is but an aspect of this will, conditioned by the fourth ray and emerging from the fourth plane. Death is an act of the intuition, transmitted by the soul to the personality and then acted upon in conformity to the divine will by the individual will. This is the Will to harmonisation.

CUNG IV.—Năng lượng của Hài Hòa qua Xung Đột. Về căn bản, đây là ý chí hủy diệt giới hạn. Điều này không giống với ý chí hủy diệt sự phủ định như trong trường hợp của Cung I, nhưng là một phương diện liên hệ của điều đó. Tôi không nói đến phương diện tâm thức vốn nhận biết và hưởng lợi từ cuộc đấu tranh như vậy. Tôi nói đến năng lượng vốn tiềm ẩn trong mọi hình tướng và đặc biệt mạnh nơi nhân loại (vì con người có ngã thức), cái tất yếu và không thể tránh khỏi tạo ra cuộc đấu tranh giữa sự sống và điều mà nó đã chọn làm giới hạn; điều này cuối cùng làm tan vỡ hay phá vỡ giới hạn ấy ngay khi một điểm hài hòa thực sự hay hợp nhất đạt được. Theo huyền bí học, có thể nói rằng ngay khi hình tướng (giới hạn) và sự sống cân bằng nhau thì một khe nứt lập tức xuất hiện và qua đó một lần tuôn đổ mới của ý chí chảy vào. Đức Christ đã phải chết vì Ngài đã đạt được sự hài hòa với ý chí của Thượng đế và rồi “bức màn của Đền Thờ bị xé làm hai từ trên xuống dưới.” Ý nghĩa của sự tuôn vào mới mẻ này của Ý Chí giờ đây sẽ trở nên rõ ràng; sân khấu lại được dọn sẵn cho một hoạt động mới và được đổi mới của nguyên khí sống. Trong chừng mực nhân loại có liên quan, “các hạt giống của cái chết” xuất hiện qua trung gian của Cung này, và Tử Thần, Kẻ Gặt Hái Nghiệt Ngã, chỉ là một phương diện của ý chí này, được điều kiện hóa bởi cung bốn và xuất hiện từ cõi thứ tư. Cái chết là một hành động của trực giác, được linh hồn truyền cho phàm ngã và rồi được cá nhân ý chí thực hiện theo sự phù hợp với ý chí thiêng liêng. Đây là Ý Chí hướng đến hài hòa hóa.

Today, its highest expression as regards humanity is the intuition, as it works out through group activity. Death always releases the individual into the group.

Ngày nay, biểu lộ cao nhất của nó xét về nhân loại là trực giác, khi nó vận hành qua hoạt động nhóm. Cái chết luôn giải phóng cá nhân vào trong nhóm.

RAY V.—The energy of Concrete Science or Knowledge. To understand this expression of the divine will, the student should bear in mind the occult aphorism that “matter is spirit at its lowest point of manifestation and spirit is matter at its highest.” Basically this is the will which produces concretion and yet at the same time constitutes the point at which spirit and matter are balanced and co-equal. That is the reason why human perfection is carried forward consciously upon the mental plane, the fifth plane; this is brought about by the fifth ray and upon this plane liberation takes place at the time of the fifth initiation. This is the will which is inherent in substance and which actuates all atoms of which all forms are made. It is closely related to the first solar system even whilst liberating members of the human family who will constitute the nucleus around which the third solar system is constructed. The energy of this ray is intelligence; it is the seed of consciousness but not of consciousness as we understand it; it is the inherent [600] life of matter and the will to work intelligently; it is that living something for which we have no name which was the product of the first solar system. It is one of the major assets of God, the Father and also of the human Monad. This is the Will to Action.

CUNG V.—Năng lượng của Khoa Học Cụ Thể hay Tri Thức. Để hiểu biểu lộ này của ý chí thiêng liêng, đạo sinh nên ghi nhớ châm ngôn huyền bí rằng “vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của biểu lộ và tinh thần là vật chất ở điểm cao nhất của nó.” Về căn bản, đây là ý chí tạo ra sự kết tinh cụ thể, nhưng đồng thời cũng cấu thành điểm mà tại đó tinh thần và vật chất cân bằng và đồng đẳng. Đó là lý do vì sao sự hoàn thiện của con người được xúc tiến một cách có ý thức trên cõi trí, cõi thứ năm; điều này được mang lại bởi cung năm và trên cõi này sự giải thoát diễn ra vào thời điểm của lần điểm đạo thứ năm. Đây là ý chí vốn tiềm ẩn trong chất liệu và thúc đẩy mọi nguyên tử mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành. Nó liên hệ chặt chẽ với hệ mặt trời thứ nhất ngay cả khi giải thoát các thành viên của gia đình nhân loại, những người sẽ cấu thành hạt nhân chung quanh đó hệ mặt trời thứ ba được xây dựng. Năng lượng của Cung này là trí tuệ; nó là hạt giống của tâm thức nhưng không phải của tâm thức như chúng ta hiểu; nó là sự sống vốn có [600] của vật chất và ý chí làm việc một cách thông minh; nó là cái gì đó sống động mà chúng ta không có tên gọi, vốn là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất. Nó là một trong những tài sản chính yếu của Thượng đế, Đức Cha, và cũng của Chân Thần con người. Đây là Ý Chí hướng đến Hành động.

Today, as regards humanity, its highest expression is liberation—through death or initiation.

Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là giải thoát—qua cái chết hay điểm đạo.

RAY VI.—The energy of Devotion or of Idealism. This is the will which embodies God’s idea. It provides the motive power behind the working out of whatever may be the purpose of creation. What that purpose is we have not as yet the faintest idea. An ideal is related to the consciousness aspect as far as human beings are concerned. An idea is related to the will aspect. This ray embodies a dominant potency. It expresses God’s desire and is the basic energy emanating from the cosmic astral plane. It conceals the mystery which is to be found in the relationship of the will and desire. Desire is related to consciousness. Will is not. We are not, however, dealing with consciousness but with that impersonal force which drives forward through all the seven planes of our solar system and which makes the idea of God a consummated fact in the Eternal Now. Does that statement mean much to you? I would surmise that it means but little; it is a basic statement of occult fact anent energy as it expresses itself through humanity in a manner which is unique and peculiar. I would here remind you of a statement in The Secret Doctrine that “an Idea is a Being incorporeal which has no subsistence by itself but gives figure and form unto shapeless matter and becomes the cause of the manifestation.” This statement takes you straight back to God [601] the Father, to the Monad, to the One. It is related, consequently, to the Will and not to consciousness. Consciousness is per se the recognition of a progressive plan. The Will is the cause, the energising Principle, Life, Being. This is the Will to Causation.

CUNG VI.—Năng lượng của Sùng tín hay Duy tâm. Đây là ý chí nhập thể ý tưởng của Thượng đế. Nó cung cấp động lực phía sau sự triển khai của bất cứ điều gì có thể là mục đích của sáng tạo. Mục đích ấy là gì thì chúng ta cho đến nay vẫn chưa có lấy một ý niệm mờ nhạt nhất. Một lý tưởng liên hệ với phương diện tâm thức trong chừng mực con người có liên quan. Một ý tưởng liên hệ với phương diện ý chí. Cung này nhập thể một tiềm lực chi phối. Nó biểu lộ ham muốn của Thượng đế và là năng lượng căn bản phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ. Nó che giấu huyền nhiệm được tìm thấy trong mối liên hệ giữa ý chí và ham muốn. Ham muốn liên hệ với tâm thức. Ý chí thì không. Tuy nhiên, chúng ta không bàn đến tâm thức mà đến mãnh lực vô ngã thúc đẩy xuyên qua cả bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta và làm cho ý tưởng của Thượng đế trở thành một sự kiện viên mãn trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. Câu phát biểu đó có ý nghĩa nhiều đối với các bạn không? Tôi đoán rằng nó có rất ít ý nghĩa; đó là một phát biểu căn bản của sự kiện huyền bí học liên quan đến năng lượng khi nó biểu lộ qua nhân loại theo một cách độc đáo và đặc thù. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn về một phát biểu trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng “một Ý Tưởng là một Hữu Thể vô hình thể, không có sự tồn tại tự thân nhưng ban hình dáng và hình tướng cho vật chất vô dạng và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.” Phát biểu này đưa các bạn trở thẳng về với Thượng đế [601] Đức Cha, với Chân Thần, với Đấng Duy Nhất. Vì vậy, nó liên hệ với Ý Chí chứ không phải với tâm thức. Tâm thức tự thân là sự nhận biết một kế hoạch tiến triển. Ý Chí là nguyên nhân, là Nguyên khí tiếp năng lượng, là Sự sống, là Hữu thể. Đây là Ý Chí hướng đến Nhân quả.

Today, as regards humanity, its highest expression is idealism, the incentive and cause of human activity.

Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là duy tâm, động lực và nguyên nhân của hoạt động con người.

RAY VII.—This is the energy of Ceremonial Order. It is an expression of the will which drives through into outer manifestation; it is that which embodies both the periphery and the point at the centre. It is the will to “ritualistic synthesis,” if I might so word it. It is Necessity which is the prime conditioning factor of the divine nature—the necessity to express itself; the necessity to manifest in an orderly rhythmic manner; the necessity to embrace “that which is above and that which is below” and, through the medium of this activity, to produce beauty, order, perfect wholes and right relationships. It is the driving energy which Being emanates as It appears and takes form and lives. It is the Will towards Expression.

CUNG VII.—Đây là năng lượng của Trật Tự Nghi Lễ. Nó là một biểu lộ của ý chí thúc đẩy đi vào biểu lộ bên ngoài; nó là cái nhập thể cả chu vi lẫn điểm ở trung tâm. Đó là ý chí hướng đến “tổng hợp nghi lễ,” nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Đó là Tất Yếu, yếu tố điều kiện hóa chủ yếu của bản tính thiêng liêng—sự tất yếu phải biểu lộ chính mình; sự tất yếu phải biểu lộ theo cách có trật tự và nhịp điệu; sự tất yếu phải bao gồm “điều ở trên và điều ở dưới” và, qua trung gian của hoạt động này, tạo ra vẻ đẹp, trật tự, các toàn thể hoàn hảo và những tương quan đúng đắn. Đó là năng lượng thúc đẩy mà Hữu Thể phát ra khi Nó xuất hiện, nhận lấy hình tướng và sống. Nó là Ý Chí hướng đến Biểu lộ.

Today, as regards humanity, its highest expression is organisation.

Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là tổ chức.

In the above statements anent the rays, you can see that the full circle of their activity is complete from the angle of God the Father; the will to initiate manifestation and its attendant progressive expression meets the will towards full achievement and the energy of Being itself arrives—in time and space today (in the mind of God) at full consummation.

Trong các phát biểu trên liên quan đến các Cung, các bạn có thể thấy rằng vòng tròn trọn vẹn của hoạt động của chúng được hoàn tất từ góc độ của Thượng đế Đức Cha; ý chí khởi xướng biểu lộ và sự biểu lộ tiến triển đi kèm của nó gặp gỡ ý chí hướng đến thành tựu trọn vẹn, và năng lượng của chính Hữu Thể đạt đến—trong thời gian và không gian ngày nay (trong thể trí của Thượng đế)—sự viên mãn hoàn toàn.

3. The Keynotes of the Seven Rays and the Will Aspect.3. Các Chủ Âm của Bảy Cung và Phương diện Ý Chí.

[602]

[602]

The keynotes of these seven Rays are, therefore, as they constitute the revelation of seven Great Beings:

Vì vậy, các chủ âm của bảy Cung này, khi chúng cấu thành sự mặc khải của bảy Đại Hữu Thể, là:

Initiation. Unification. Evolution. Harmonisation. Action. Causation. Expression.

Khởi xướng. Hợp nhất. Tiến hoá. Hài hòa hóa. Hành động. Nhân quả. Biểu lộ.

These are the keynotes for humanity at its present point of evolutionary development; as these seven energies play upon the human consciousness in an effort to produce and evoke the Will aspect in advanced man they produce:

Đó là các chủ âm dành cho nhân loại ở điểm phát triển tiến hoá hiện nay của mình; khi bảy năng lượng này tác động lên tâm thức con người trong nỗ lực tạo ra và gợi lên phương diện Ý Chí nơi con người tiến bộ, chúng tạo ra:

Initiation. Vision. Education. Intuition. Liberation. Idealism. Organisation.

Điểm đạo. Linh ảnh. Giáo dục. Trực giác. Giải thoát. Duy tâm. Tổ chức.

A close study of these seven major rays and seven minor keynotes will reveal these truths and their promise. At the close of the Aquarian Age, these keynotes will vary somewhat because the recognition of the Will (leading to understanding cooperation) will produce major changes in human polarisation and human objectives—realised objectives.

Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng bảy Cung chính yếu này và bảy chủ âm phụ sẽ mặc khải các chân lý này và lời hứa của chúng. Vào cuối Kỷ Nguyên Bảo Bình, các chủ âm này sẽ thay đổi phần nào vì sự nhận biết Ý Chí (dẫn đến sự hợp tác có hiểu biết) sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong sự phân cực của con người và trong các mục tiêu của con người—những mục tiêu được chứng nghiệm.

Let us now see how these basic ray energies will work out in man’s planetary and zodiacal relationships and why certain constellations and planets are related to certain rays and transmit into the centre which we call humanity definite and specific influences. These produce certain tendencies in humanity, evoke certain attitudes of the will, and lead consequently to certain unavoidable events as well as to definite and determined forms of Being.

Giờ đây chúng ta hãy xem các năng lượng cung căn bản này sẽ vận hành như thế nào trong các mối liên hệ hành tinh và hoàng đạo của con người, và vì sao một số chòm sao và hành tinh lại liên hệ với một số Cung nhất định và truyền vào trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại những ảnh hưởng xác định và đặc thù. Những ảnh hưởng này tạo ra một số khuynh hướng nhất định trong nhân loại, gợi lên một số thái độ nhất định của ý chí, và do đó dẫn đến một số biến cố không thể tránh khỏi cũng như những hình thức Hữu Thể xác định và nhất định.

As we proceed with our consideration of Tabulation X, there are certain fundamental ideas which must be carefully borne in mind. Let me list them for your helping:

Khi chúng ta tiếp tục xem xét Bảng X, có một số ý tưởng căn bản phải được ghi nhớ cẩn thận. Hãy để tôi liệt kê chúng để giúp các bạn:

1. We are dealing with the effect of the seven ray energies, as they pour forth from one or other of the seven stars of the Great Bear into our solar system. These energies [603] are the life-quality of the seven great Beings Who are the Prototypes of the planetary Logoi of the sacred planets, seven in number. These latter are Their reflections in time and space, as the soul is the reflector of the Monad where human beings are concerned.

1. Chúng ta đang bàn đến hiệu quả của bảy năng lượng cung, khi chúng tuôn ra từ ngôi sao này hay ngôi sao kia trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh vào hệ mặt trời của chúng ta. Những năng lượng này [603] là phẩm tính sự sống của bảy Đại Hữu Thể, các Đấng là Nguyên Mẫu của các Hành Tinh Thượng đế của các hành tinh thiêng liêng, gồm bảy vị. Các Đấng sau này là các phản chiếu của Các Ngài trong thời gian và không gian, cũng như linh hồn là kẻ phản chiếu của Chân Thần trong trường hợp con người.

2. The seven rays express themselves, each through three of the zodiacal constellations. The analogy (but not the correspondence) is that these three constellations are to the life of one of these ray Beings what the three aspects of monad-soul-body are to a man. Again, it is only analogy. Forget not that analogy and correspondence are not the same. In the first case there is resemblance but not in detail. In the second, there is practically identical expression, usually on a lower level.

2. Bảy Cung biểu lộ, mỗi Cung qua ba chòm sao hoàng đạo. Sự tương đồng (nhưng không phải tương ứng) là ba chòm sao này đối với sự sống của một trong các Hữu Thể cung ấy cũng như ba phương diện chân thần-linh hồn-thể đối với một con người. Một lần nữa, đó chỉ là tương đồng. Đừng quên rằng tương đồng và tương ứng không phải là một. Trong trường hợp thứ nhất có sự giống nhau nhưng không phải trong chi tiết. Trong trường hợp thứ hai, có sự biểu lộ gần như đồng nhất, thường ở một cấp độ thấp hơn.

3. These seven great Beings express Themselves in our solar system as the custodians or the exponents of the Will aspect of Deity. Their effect, therefore, is ever to convey into our solar system and eventually into our planetary life, the energy of the Will, in its planmaking, form-building nature. Esoteric books and esoteric teaching have necessarily laid the emphasis upon consciousness as it expresses quality. That is as it should be. But behind all quality lies That of which the quality is the expression and behind that is to be found the dynamic “out-going” (if I might so express it) which is the motivation of both the quality or consciousness and the life or appearance, the precipitation of will and quality.

3. Bảy Đại Hữu Thể này biểu lộ trong hệ mặt trời của chúng ta như những vị gìn giữ hay những vị biểu giải phương diện Ý Chí của Thượng đế. Vì vậy, hiệu quả của Các Ngài luôn là chuyển tải vào hệ mặt trời của chúng ta và cuối cùng vào sự sống hành tinh của chúng ta năng lượng của Ý Chí, trong bản tính lập kế hoạch và xây dựng hình tướng của nó. Các sách huyền bí học và giáo huấn huyền bí học tất yếu đã nhấn mạnh vào tâm thức khi nó biểu lộ phẩm tính. Điều đó là đúng như phải vậy. Nhưng phía sau mọi phẩm tính có Cái mà phẩm tính là biểu lộ của nó, và phía sau đó có thể tìm thấy sự “xuất phát” năng động (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy), là động cơ của cả phẩm tính hay tâm thức lẫn sự sống hay vẻ ngoài, sự ngưng tụ của ý chí và phẩm tính.

4. The nature of the will is as yet undefinable for only the Monad responds to its impact, and only after the third initiation does man somewhat grasp the nature of the will. All that is possible to understand in this brief summation is the effect of the will as it makes its presence [604] felt and the result of its expression, emphasised through the three constellations.

4. Bản chất của ý chí cho đến nay vẫn không thể định nghĩa được vì chỉ Chân Thần mới đáp ứng với tác động của nó, và chỉ sau lần điểm đạo thứ ba con người mới phần nào nắm được bản chất của ý chí. Tất cả những gì có thể hiểu được trong phần tổng kết ngắn này là hiệu quả của ý chí khi nó làm cho sự hiện diện của mình [604] được cảm nhận và kết quả của biểu lộ của nó, được nhấn mạnh qua ba chòm sao.

5. The constellations in groups of three transmit the seven influences of the seven rays to our planet, via the Sun, and the relationships which I am here indicating are only those in connection with our Earth. They do not apply in relation to others of the planets in our solar system, where the configuration of the relationship is different. This is dependent upon the nature of the etheric web through which all transmission of energies takes place. The lines of approach might be indicated as follows:

5. Các chòm sao theo nhóm ba truyền bảy ảnh hưởng của bảy Cung đến hành tinh của chúng ta, qua Mặt Trời, và các mối liên hệ mà tôi đang chỉ ra ở đây chỉ là những mối liên hệ liên quan đến Trái Đất của chúng ta. Chúng không áp dụng trong tương quan với các hành tinh khác trong hệ mặt trời của chúng ta, nơi cấu hình của mối liên hệ là khác. Điều này tùy thuộc vào bản chất của mạng dĩ thái mà qua đó mọi sự truyền dẫn năng lượng diễn ra. Các đường tiếp cận có thể được chỉ ra như sau:

DIAGRAM ONE

SƠ ĐỒ MỘT

ch-ng-vii-c-c-cung-c-c-ch-m-sao-v-c-c-h-nh-tinh-01.png

An illustration of this in line with our tabulation would be:

Một minh họa cho điều này phù hợp với bảng của chúng ta sẽ là:

DIAGRAM TWO

SƠ ĐỒ HAI

ch-ng-vii-c-c-cung-c-c-ch-m-sao-v-c-c-h-nh-tinh-02.png

[605]

[605]

6. This diamond shaped formation of the inter-related energies is the prototypal pattern which lies behind the etheric network and is its final, conditioning influence as far as our Earth is concerned. It is hinted at in the reference to the “diamond soul” of which the Buddha is an exponent. This is necessarily a deep mystery but the correlation is interesting and guaranteeing.

6. Sự hình thành hình kim cương này của các năng lượng tương liên là mô hình nguyên mẫu nằm phía sau mạng lưới dĩ thái và là ảnh hưởng điều kiện hóa cuối cùng của nó trong chừng mực Trái Đất của chúng ta có liên quan. Điều này được ám chỉ trong sự đề cập đến “linh hồn kim cương” mà Đức Phật là một vị biểu giải. Đây tất yếu là một huyền nhiệm sâu xa nhưng sự tương quan thì thú vị và bảo đảm.

7. These seven ray energies, expressing the divine prototypal will in seven forms, are as follows:

7. Bảy năng lượng cung này, biểu lộ ý chí nguyên mẫu thiêng liêng dưới bảy hình thức, là như sau:

Ray I.—The will to initiate.

Cung I.—Ý chí khởi xướng.

Ray II.—The will to unify.

Cung II.—Ý chí hợp nhất.

Ray III.—The will to evolve.

Cung III.—Ý chí tiến hoá.

Ray IV.—The will to harmonise or relate.

Cung IV.—Ý chí hài hòa hóa hay tương liên.

Ray V.—The will to act.

Cung V.—Ý chí hành động.

Ray VI.—The will to cause.

Cung VI.—Ý chí gây ra.

Ray VII.—The will to express.

Cung VII.—Ý chí biểu lộ.

When their full creative work is completed, there will emerge a “something else or other” for which we have no name but which will be the seed of the next solar system. This third solar system will express the divine will, as this is slowly developed through the experiment and experience of the divine love.

Khi công việc sáng tạo trọn vẹn của chúng được hoàn tất, sẽ xuất hiện một “cái gì đó khác nữa” mà chúng ta không có tên gọi nhưng sẽ là hạt giống của hệ mặt trời kế tiếp. Hệ mặt trời thứ ba này sẽ biểu lộ ý chí thiêng liêng, như ý chí ấy được phát triển chậm chạp qua thực nghiệm và kinh nghiệm của tình thương thiêng liêng.

8. These seven ray aspects of the will, which are the goal of the higher initiations and which embody that which the Masters Themselves are struggling to understand, is that which flowers in the Monad when souls have reached perfected expression through humanity. They express themselves where humanity is concerned as:

8. Bảy phương diện cung này của ý chí, là mục tiêu của các lần điểm đạo cao hơn và nhập thể điều mà chính các Chân sư đang vật lộn để hiểu, là điều nở hoa trong Chân Thần khi các linh hồn đã đạt đến biểu lộ hoàn thiện qua nhân loại. Chúng biểu lộ, trong trường hợp nhân loại, như sau:

Ray I.—That which incites to and produces initiation.

Cung I.—Điều thúc đẩy đến và tạo ra điểm đạo.

Ray II.—That which is the cause of vision or the power to see. [606]

Cung II.—Điều là nguyên nhân của linh ảnh hay quyền năng thấy. [606]

Ray III.—That which develops sensory perception into knowledge, knowledge into wisdom and wisdom into omniscience.

Cung III.—Điều phát triển tri giác cảm quan thành tri thức, tri thức thành minh triết và minh triết thành toàn tri.

Ray IV.—That which is the illumined will, the basis of buddhi or the intuition.

Cung IV.—Điều là ý chí được soi sáng, nền tảng của Bồ đề hay trực giác.

Ray V.—That which is the cosmic seed of liberation. This is an aspect of destruction.

Cung V.—Điều là hạt giống vũ trụ của giải thoát. Đây là một phương diện của hủy diệt.

Ray VI.—That which is the cause of the thoughtform building faculty, related to the creative urge.

Cung VI.—Điều là nguyên nhân của năng lực xây dựng hình tư tưởng, liên hệ với thôi thúc sáng tạo.

Ray VII.—That which can be called the principle of order.

Cung VII.—Điều có thể được gọi là nguyên khí của trật tự.

9. Just as desire has produced this “son of necessity,” our solar system, there lies behind all the energies of the Heart of God and all the forces which have produced the manifested universe that which is the result of divine need. It is neither the cosmic correspondence of brain or mind or focussed intention, as you might surmise. It is that synthetic something which produces cohesion and results in fruition or synthesis as the effect or final result of manifestation.

9. Cũng như ham muốn đã tạo ra “đứa con của tất yếu” này, hệ mặt trời của chúng ta, thì phía sau mọi năng lượng của Trái Tim Thượng đế và mọi mãnh lực đã tạo ra vũ trụ biểu lộ có cái là kết quả của nhu cầu thiêng liêng. Nó không phải là sự tương ứng vũ trụ của bộ não hay thể trí hay ý định tập trung, như các bạn có thể suy đoán. Nó là cái gì đó tổng hợp tạo ra sự kết dính và dẫn đến sự viên mãn hay tổng hợp như hiệu quả hay kết quả cuối cùng của biểu lộ.

It is well-nigh impossible for me to make this any clearer because I am speaking of some of the final aspects and effects of the highest initiations. I only touch upon them because they consummate and climax this study of divine psychology as it manifests through God and through man. I am simply giving faint and inadequate indications of that which emerges in the human consciousness after the third initiation—the point at which personality or form life is transcended and the Monad becomes the object of the desired attainment; its spiritual pressure is then increasingly felt. It is, therefore, only possible to point to distant goals. [607] We can, however, gain some dim, human interpretations of divine goals by relating these rays and their transmitting constellations to our Earth and by noting how this triangular relationship can work out on our planet. Individual apprehension will be dependent upon the point of development and only the higher initiates will understand the real implications of my remarks.

Đối với tôi, gần như không thể làm cho điều này rõ hơn nữa vì tôi đang nói về một số phương diện và hiệu quả cuối cùng của các lần điểm đạo cao nhất. Tôi chỉ chạm đến chúng vì chúng hoàn tất và đưa đến đỉnh điểm cho nghiên cứu này về tâm lý học thiêng liêng như nó biểu lộ qua Thượng đế và qua con người. Tôi chỉ đơn giản đưa ra những chỉ dẫn mờ nhạt và bất cập về điều xuất hiện trong tâm thức con người sau lần điểm đạo thứ ba—điểm mà tại đó phàm ngã hay sự sống hình tướng được vượt qua và Chân Thần trở thành đối tượng của sự thành đạt được mong muốn; áp lực tinh thần của nó khi ấy ngày càng được cảm nhận. Vì vậy, chỉ có thể chỉ ra những mục tiêu xa xôi. [607] Tuy nhiên, chúng ta có thể đạt được một số diễn giải mờ nhạt, theo con người, về các mục tiêu thiêng liêng bằng cách liên hệ các Cung này và các chòm sao truyền dẫn của chúng với Trái Đất của chúng ta và bằng cách ghi nhận mối liên hệ tam giác này có thể vận hành như thế nào trên hành tinh của chúng ta. Sự lĩnh hội cá nhân sẽ tùy thuộc vào điểm phát triển, và chỉ các điểm đạo đồ cao hơn mới hiểu được những hàm ý thực sự trong các nhận xét của tôi.

You have to remember, therefore, as you study these most deeply esoteric relations that we approach them from two angles—the only angles which are as yet possible to the finite mind of man:

Vì vậy, khi các bạn nghiên cứu những mối liên hệ nội môn sâu xa nhất này, các bạn phải nhớ rằng chúng ta tiếp cận chúng từ hai góc độ—những góc độ duy nhất hiện nay còn có thể đối với thể trí hữu hạn của con người:

1. The relation of the three constellations to the rays which are each expressing the quality of the Life of an Informing Entity—the Being Who is expressing Identity through one or other of the seven stars of the Great Bear, Ursa Major, as we probably ought to call this constellation.

1. Mối liên hệ của ba chòm sao với các Cung mà mỗi Cung đang biểu lộ phẩm tính của Sự Sống của một Thực Thể Phú Linh—Hữu Thể đang biểu lộ Bản Sắc qua ngôi sao này hay ngôi sao kia trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh, Ursa Major, như có lẽ chúng ta nên gọi chòm sao này.

2. The three aspects of the will which the three constellations are expressing and to which human beings will consciously respond after the third initiation. These three aspects are:

2. Ba phương diện của ý chí mà ba chòm sao đang biểu lộ và mà con người sẽ đáp ứng một cách có ý thức sau lần điểm đạo thứ ba. Ba phương diện này là:

a. The will which conditions and initiates.

a. Ý chí điều kiện hóa và khởi xướng.

b. The will which brings fulfilment.

b. Ý chí mang lại sự hoàn tất.

c. The will which conquers death.

c. Ý chí chiến thắng cái chết.

Before entering into a closer analysis of our subject, I would remind you that we are in reality dealing with universals, symbolised for us in the huge aggregate of constellations with which our theme is concerned:

Trước khi đi vào một phân tích gần hơn về chủ đề của chúng ta, tôi muốn nhắc các bạn rằng thực ra chúng ta đang bàn đến những cái phổ quát, được biểu tượng hóa cho chúng ta trong tổng thể khổng lồ của các chòm sao mà chủ đề của chúng ta liên quan đến:

1. The seven stars of the Great Bear or Ursa Major are involved in an intricate relation with Ursa Minor and the Pleiades. With this we shall not deal. This major [608] triplicity of constellations has a peculiar relation to that Great Being to Whom I have at times referred as the One About Whom Naught Can Be Said. All that can be hinted at is that these three galaxies of stars are the three aspects of that Indescribable, Absolute Monad, the Ineffable Cause of the seven solar systems—of which ours is one.

1. Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh hay Ursa Major có liên hệ phức tạp với Ursa Minor và Pleiades. Chúng ta sẽ không bàn đến điều này. Bộ ba lớn gồm các chòm sao này có một liên hệ đặc biệt với Đấng Vĩ Đại mà đôi khi tôi đã nhắc đến như là Đấng Bất Khả Tư Nghị. Điều duy nhất có thể được gợi ý là ba thiên hà sao này là ba phương diện của Chân Thần Tuyệt Đối, khôn tả ấy, Nguyên Nhân khôn xiết của bảy hệ mặt trời—trong đó hệ của chúng ta là một.

2. The twelve constellations of the zodiac, each with its own inter-relations, peculiar to its own integral Life, form—each of them—part of a triangle of energies. Each of these triangles is a unit in itself but in conjunction with the other triangles forms part of that major quaternary which is the cosmic analogy of the quaternary of the One Life—soul and the dual psychic nature, called in some of the esoteric books kama-manas, plus the vital nature. These four are the expression of the One Ineffable Cause.

2. Mười hai chòm sao của Hoàng đạo, mỗi chòm với những tương liên riêng của nó, đặc thù cho Sự sống toàn vẹn riêng của nó, tạo thành—mỗi chòm—một phần của một tam giác năng lượng. Mỗi tam giác này tự nó là một đơn vị nhưng khi kết hợp với các tam giác khác thì tạo thành một phần của bộ tứ lớn vốn là sự tương đồng vũ trụ của bộ tứ của Sự Sống Duy Nhất—linh hồn và bản tính thông linh kép, được gọi trong một số sách huyền bí là kama-manas, cộng với bản tính sinh lực. Bốn điều này là biểu hiện của Nguyên Nhân Duy Nhất khôn tả.

3. Our solar system (of supreme unimportance) is yet a part of the sevenfold appearance of that same Essential Cause. As you know, from a study of The Secret Doctrine, our solar system is a tiny reflection or replica of the 1, the 3, the 7, the 12. Because of that innate, inherent correspondence, it has within itself the capacity to respond to the energies emanating from this fountainhead of light and will. More than this I may not say, because the entire theme is too vast for human thinking, with its limitations of consciousness and its inadequacy of language. But even a dim perception of that vast aggregation of intelligent Forces and this immense concatenation of stupendous, divine “Intentions” will serve to bring into clearer light, the realisation that our solar system (and consequently our planet) is a part of this vast whole, kept alive by its “grace,” [609] fused by its will, and preserved by its “Intention.” Because these Forces are, we are; because They persist, we persist; because They move in form, in space, in time, we do the same.

3. Hệ mặt trời của chúng ta (vốn cực kỳ không quan trọng) tuy vậy vẫn là một phần của biểu hiện thất phân của cùng Nguyên Nhân Cốt Yếu ấy. Như các bạn biết, qua việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, hệ mặt trời của chúng ta là một phản chiếu hay bản sao nhỏ bé của 1, 3, 7, 12. Chính vì sự tương ứng bẩm sinh, cố hữu đó mà nó có trong chính mình khả năng đáp ứng với các năng lượng phát ra từ nguồn suối ánh sáng và ý chí này. Tôi không thể nói thêm nữa, vì toàn bộ chủ đề này quá bao la đối với tư duy nhân loại, với những giới hạn của tâm thức và sự bất cập của ngôn ngữ. Nhưng ngay cả một nhận thức mờ nhạt về sự tập hợp bao la ấy của các Mãnh Lực thông tuệ và chuỗi liên kết mênh mông này của những “Ý Định” thiêng liêng kỳ vĩ cũng sẽ giúp đưa ra ánh sáng rõ ràng hơn sự chứng nghiệm rằng hệ mặt trời của chúng ta (và do đó là hành tinh của chúng ta) là một phần của toàn thể rộng lớn này, được giữ sống bởi “ân sủng” của nó, [609] được dung hợp bởi ý chí của nó, và được bảo tồn bởi “Ý Định” của nó. Bởi vì các Mãnh Lực này hiện hữu, chúng ta hiện hữu; bởi vì Các Ngài kiên trì, chúng ta kiên trì; bởi vì Các Ngài vận động trong hình tướng, trong không gian, trong thời gian, chúng ta cũng làm như vậy.

4. Cosmic Energies and Transformation.4. Các Năng Lượng Vũ Trụ và Sự Chuyển Đổi.

Let us now briefly get an idea of this stream of energies as they move outward into space from Ursa Major, as they are transmitted, through certain zodiacal constellations to our solar system and thence, via the Sun to the seven sacred planets. These produce what are called “transformations” on our non-sacred planet, the Earth, bringing it increasingly into line with the will aspect of divinity. You have in reality the following explanatory diagram, which may make the whole process somewhat clearer to you:

Giờ đây, chúng ta hãy ngắn gọn hình thành một ý niệm về dòng năng lượng này khi chúng chuyển động ra ngoài vào không gian từ Ursa Major, khi chúng được truyền dẫn, qua một số chòm sao hoàng đạo, đến hệ mặt trời của chúng ta và từ đó, qua Mặt Trời đến bảy hành tinh thiêng liêng. Những điều này tạo ra cái được gọi là các “sự chuyển đổi” trên hành tinh không thiêng liêng của chúng ta, Trái Đất, đưa nó ngày càng thẳng hàng với phương diện ý chí của thiên tính. Thực ra, các bạn có sơ đồ giải thích sau đây, có thể làm cho toàn bộ tiến trình rõ ràng hơn đôi chút đối với các bạn:

DIAGRAM THREE

SƠ ĐỒ BA

ch-ng-vii-c-c-cung-c-c-ch-m-sao-v-c-c-h-nh-tinh-03.png

This is the only way that I can give you an idea of the distribution of energies, their limitation within the bounds of the zodiac, and their focussing within the periphery of [610] our solar system. Let me make it more specific as regards one of the rays and its triangular relationships as given in Tabulation X:

Đây là cách duy nhất mà tôi có thể cho các bạn một ý niệm về sự phân phối các năng lượng, sự giới hạn của chúng trong ranh giới của Hoàng đạo, và sự hội tụ của chúng trong chu vi của [610] hệ mặt trời chúng ta. Hãy để tôi làm cho điều này cụ thể hơn liên quan đến một trong các cung và các liên hệ tam giác của nó như được nêu trong Bảng X:

DIAGRAM FOUR

SƠ ĐỒ BỐN

ch-ng-vii-c-c-cung-c-c-ch-m-sao-v-c-c-h-nh-tinh-04.png

a. The Earth being itself one of the five non-sacred planets, only four are listed as among the transfiguring agents.

a. Vì bản thân Trái Đất là một trong năm hành tinh không thiêng liêng, nên chỉ có bốn hành tinh được liệt kê như những tác nhân biến hình.

b. The darkened planets indicate the transmitting agents of the Forces, passed through the transformation process by the Sun.

b. Các hành tinh được tô đậm chỉ các tác nhân truyền dẫn của các Mãnh Lực, đã đi qua tiến trình chuyển đổi bởi Mặt Trời.

c. The Sun and Moon are listed among the non-sacred planets as they are, in this instance, blinds or veils.

c. Mặt Trời và Mặt Trăng được liệt kê trong số các hành tinh không thiêng liêng vì trong trường hợp này chúng là những màn che hay tấm màn.

d. The origin of the hour glass is to be found in this diagram of the inflowing energies.

d. Nguồn gốc của hình đồng hồ cát được tìm thấy trong sơ đồ này về các năng lượng tuôn vào.

e. The above diagram can be used in connection with any of the seven rays, but will involve:

e. Sơ đồ trên có thể được dùng liên hệ với bất kỳ cung nào trong bảy cung, nhưng sẽ bao hàm:

1. The use of other transmitting agents in the form of the appropriate three zodiacal constellations and their rulers. [611]

1. Việc sử dụng các tác nhân truyền dẫn khác dưới hình thức ba chòm sao hoàng đạo thích hợp và các chủ tinh của chúng. [611]

2. The indicating of planets, different to those involved in the inflow of first ray energy.

2. Việc chỉ ra các hành tinh khác với những hành tinh liên hệ đến dòng tuôn vào của năng lượng cung một.

f. The key to the whole process as far as the Earth is concerned—and the individual on the Earth—is to be found in the words:

f. Chìa khóa cho toàn bộ tiến trình, xét theo Trái Đất—và cá nhân trên Trái Đất—được tìm thấy trong các từ sau:

Transcending.—The transcending cause.

Siêu vượt.—Nguyên nhân siêu vượt.

Transmitting.—The zodiacal constellations.

Truyền dẫn.—Các chòm sao hoàng đạo.

Transforming.—The Sun. The Soul.

Chuyển đổi.—Mặt Trời. Linh hồn.

Transfiguring.—The planets.

Biến hình.—Các hành tinh.

To these I might add one word in connection with the Earth and its humanity which is allied to all the above.

Vào những điều này tôi có thể thêm một từ liên hệ đến Trái Đất và nhân loại của nó, vốn liên kết với tất cả những điều trên.

DIAGRAM FIVE

SƠ ĐỒ NĂM

ch-ng-vii-c-c-cung-c-c-ch-m-sao-v-c-c-h-nh-tinh-05.png

This word is Translated, for when the “souls of just men are made perfect,” a process of translation takes place which [612] lifts humanity off and away from the planet on to one or other of the seven cosmic Paths to which our seven initiations form the entering doors.

Từ này là Được chuyển dịch, vì khi “linh hồn của những người công chính được làm cho hoàn hảo,” một tiến trình chuyển dịch diễn ra, tiến trình này [612] nâng nhân loại ra khỏi và xa khỏi hành tinh để đi vào một trong bảy Con đường vũ trụ mà bảy lần điểm đạo của chúng ta tạo thành những cánh cửa đi vào.

In connection with the human individual and his progress and initiation or translation from one state of consciousness to another, there is to be found a small replica of the above:

Liên hệ đến cá nhân con người và sự tiến bộ cùng điểm đạo hay sự chuyển dịch của y từ trạng thái tâm thức này sang trạng thái khác, có thể tìm thấy một bản sao nhỏ của điều trên:

a. The soul of man receives from all three major planetary centres or groups.

a. Linh hồn con người tiếp nhận từ cả ba trung tâm hành tinh lớn hay các nhóm.

b. The darkened spots indicate awakened, alert centres.

b. Các điểm được tô đậm chỉ các trung tâm đã thức tỉnh, tỉnh táo.

c. The diagram indicates the “interior light chart” of an advanced aspirant on the verge of discipleship.

c. Sơ đồ chỉ ra “lá số ánh sáng nội tại” của một người chí nguyện tiến bộ đang ở ngưỡng cửa địa vị đệ tử.

The whole story of extension from the One into the Many and of the Many into the One is contained in these macrocosmic and microcosmic diagrams.

Toàn bộ câu chuyện về sự mở rộng từ Đấng Duy Nhất vào Nhiều và từ Nhiều vào Đấng Duy Nhất đều được chứa đựng trong các sơ đồ đại thiên địa và tiểu thiên địa này.

Let us now take each of the seven Rays and see how they embody and transmit the three aspects of the will, via three constellations and their rulers, to our Earth. We enter here into the realm of causes and are dealing with those transcendent purposes, incentives, urges and objectives of the One in Whom we live and move and have our being. This great Life, the Ancient of Days, the Lord of the world, Sanat Kumara, the Eternal Youth, the planetary Logos—His many names are of relative unimportance—is the only Existence upon our planet Who is capable of responding to and carrying out the objectives of the solar Logos. He, in His turn, is the only one in our solar system capable of responding to the sevenfold Emanating Cause, expressing Itself through the Great Bear or Ursa Major. We will, however, deal with the psychological aspects of the emanations of the seven Rays which embody the will-to-good. [613]

Giờ đây, chúng ta hãy xét từng Cung trong bảy Cung và xem chúng thể hiện và truyền dẫn ba phương diện của ý chí như thế nào, qua ba chòm sao và các chủ tinh của chúng, đến Trái Đất của chúng ta. Ở đây chúng ta bước vào lĩnh vực của các nguyên nhân và đang đề cập đến những mục đích, động cơ, thôi thúc và mục tiêu siêu vượt của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Sự Sống vĩ đại này, Đấng Thái Cổ, Đức Chúa Tể Thế Giới, Sanat Kumara, Đấng Thanh Xuân Vĩnh Cửu, Hành Tinh Thượng đế—nhiều danh xưng của Ngài tương đối không quan trọng—là Sự Hiện Hữu duy nhất trên hành tinh chúng ta có khả năng đáp ứng với và thực hiện các mục tiêu của Thái dương Thượng đế. Đến lượt Ngài, Ngài là đấng duy nhất trong hệ mặt trời của chúng ta có khả năng đáp ứng với Nguyên Nhân Xuất lộ/phát xạ thất phân, tự biểu lộ qua Đại Hùng Tinh hay Ursa Major. Tuy nhiên, chúng ta sẽ bàn đến các phương diện tâm lý của các phát xạ của bảy Cung, những Cung thể hiện Ý Chí-hướng Thiện. [613]

RAY I. Will or Power:

Aries,

Leo…..

working through the medium of the four planets: Mars, Mercury, the Sun, Saturn.

Capricorn.

This is the will which lies behind all initiatory activity, that is,

Đây là ý chí nằm phía sau mọi hoạt động điểm đạo, nghĩa là,

a. The initiation of the previous stages of creation.

a. Sự điểm đạo của các giai đoạn sáng tạo trước đó.

b. The initiation of the urge to evolve, proceed, progress.

b. Sự khởi phát của thôi thúc tiến hoá, tiếp diễn, tiến bộ.

c. The initiation of the differentiating process in order to produce.

c. Sự khởi phát của tiến trình biến phân để tạo ra.

These are all expressions or effects of the activity of the ray energy and all can be best summed up in the thought of a dynamic “entering into”—by an act of the focussed will—a new state of consciousness. This leads inevitably to a new realisation of being. In this statement, you have one of the basic definitions of initiation as far as the initiation of a human being is concerned. These are dim reflections of the dynamic processes to which the One Life subjects Itself as it enters into the dualistic condition of spirit-matter. The will here referred to lies behind the dualism and is analogous to the reception and focussing of an initial idea as it enters into the mind of a creative, advanced human being, his thought processes and his achievements. Some understanding of this will come if the disciple will consider what fixed aspiration, a vision of the goal and a determination to follow the will-to-good has effected in his life. Beyond this realisation, he cannot go, but it holds for him the cosmic seed of understanding.

Tất cả những điều này đều là những biểu hiện hay hiệu quả của hoạt động của năng lượng cung và tất cả có thể được tóm lược tốt nhất trong ý tưởng về một sự “đi vào” năng động—bằng một hành động của ý chí tập trung—vào một trạng thái tâm thức mới. Điều này tất yếu dẫn đến một sự chứng nghiệm mới về hiện hữu. Trong phát biểu này, các bạn có một trong những định nghĩa căn bản về điểm đạo xét theo sự điểm đạo của một con người. Đây là những phản chiếu mờ nhạt của các tiến trình năng động mà Sự Sống Duy Nhất tự đặt mình vào khi nó đi vào điều kiện nhị nguyên của tinh thần-vật chất. Ý chí được nói đến ở đây nằm phía sau tính nhị nguyên và tương tự với việc tiếp nhận và hội tụ một ý tưởng khởi đầu khi nó đi vào thể trí của một con người sáng tạo, tiến bộ, vào các tiến trình tư tưởng và các thành tựu của y. Một phần thấu hiểu về điều này sẽ đến nếu đệ tử suy ngẫm xem khát vọng cố định, một tầm nhìn về mục tiêu và một quyết tâm theo đuổi Ý Chí-hướng Thiện đã tạo nên điều gì trong đời sống của mình. Vượt quá sự chứng nghiệm này, y không thể đi xa hơn, nhưng đối với y nó chứa đựng hạt giống vũ trụ của sự thấu hiểu.

It is necessary to remember that on the Path of Initiation, the whole training process is turned towards the evolution of the will and this is possible because behind the development of love lies the revelation of the will. It is rightly [614] taught that man’s immediate goal is the unfoldment (into full expression) of the love nature. This begins to take place and reaches a relatively high stage of unfoldment upon the Path of Discipleship. The detail of the process in a broad and general sense might be stated as follows:

Cần nhớ rằng trên Con Đường Điểm Đạo, toàn bộ tiến trình huấn luyện đều được hướng về sự tiến hoá của ý chí và điều này có thể thực hiện được vì phía sau sự phát triển của bác ái là sự mặc khải của ý chí. Người ta dạy một cách đúng đắn rằng mục tiêu trước mắt của con người là sự khai mở (đến mức biểu hiện trọn vẹn) của bản tính bác ái. Điều này bắt đầu diễn ra và đạt đến một giai đoạn khai mở tương đối cao trên Con Đường Đệ Tử. Chi tiết của tiến trình theo nghĩa rộng và tổng quát có thể được trình bày như sau:

1. Path of Evolution and Probation.

1. Con Đường Tiến Hoá và Dự Bị.

a. Unfoldment of intellect and of sensory perception.

a. Sự khai mở của trí tuệ và của tri giác giác quan.

b. Response to the centre called Humanity.

b. Đáp ứng với trung tâm được gọi là Nhân loại.

c. The mind takes control. Personality functions.

c. Thể trí nắm quyền kiểm soát. Phàm ngã hoạt động.

2. Path of Discipleship.

2. Con Đường Đệ Tử.

a. Unfoldment of the love nature.

a. Sự khai mở của bản tính bác ái.

b. Achievement of illumination.

b. Đạt được sự soi sáng.

c. Response to the centre called the Hierarchy.

c. Đáp ứng với trung tâm được gọi là Thánh Đoàn.

d. Buddhi or the intuition is in control. The soul functions.

d. Bồ đề hay trực giác nắm quyền kiểm soát. Linh hồn hoạt động.

3. Path of Initiation.

3. Con Đường Điểm Đạo.

a. Unfoldment of the will.

a. Sự khai mở của ý chí.

b. Achievement of synthesis.

b. Đạt được tổng hợp.

c. Response to the centre called Shamballa.

c. Đáp ứng với trung tâm được gọi là Shamballa.

d. Dynamic Purpose in control. The will-to-good. The Monad functions.

d. Thiên Ý năng động nắm quyền kiểm soát. Ý Chí-hướng Thiện. Chân Thần hoạt động.

This covers familiar ground for all of you but in the effort to achieve a vision of the whole, constant repetition has its place. We are now concerned with the third stage of the evolutionary process, carried forward upon the Path of Initiation and entered into (as far as humanity is concerned) at the third initiation, and consummated at the seventh initiation—an initiation far more easily reached by people upon the first Ray than on any of the others.

Điều này bao quát một địa hạt quen thuộc đối với tất cả các bạn nhưng trong nỗ lực đạt được một tầm nhìn về toàn thể, sự lặp lại liên tục có chỗ đứng của nó. Giờ đây chúng ta quan tâm đến giai đoạn thứ ba của tiến trình tiến hoá, được xúc tiến trên Con Đường Điểm Đạo và được bước vào (xét theo nhân loại) ở lần điểm đạo thứ ba, và được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ bảy—một lần điểm đạo mà những người thuộc Cung một đạt tới dễ dàng hơn nhiều so với bất kỳ cung nào khác.

This—as far as you can at this time grasp—concerns primarily the creative will as it: [615]

Điều này—trong chừng mực các bạn hiện nay có thể nắm bắt—liên quan chủ yếu đến ý chí sáng tạo khi nó: [615]

1. Initiates manifestation, and conditions that which is created.

1. Khởi phát biểu hiện, và điều kiện hóa điều được tạo ra.

2. Brings about eventual fulfilment.

2. Mang lại sự hoàn thành sau cùng.

3. Overcomes death or differentiation.

3. Vượt thắng cái chết hay sự biến phân.

All initiates must and eventually do express dynamic, creative will, a focussed purpose which expresses only the will-to-good and also that sustained effort which brings fulfilment. I would remind you here that sustained effort is the seed of synthesis, the cause of achievement and that which finally overcomes death. Death is really deterioration in time and space and is due to the tendency of matter-spirit to isolate itself, whilst in manifestation (from the standpoint of consciousness). This sustained effort of the Logos is what keeps all forms in manifestation and preserves even the life aspect as the integrating factor in form building and—which is equally an act of the sustaining will—can abstract or withdraw the life consciousness intact at the close of a cycle of manifestation. Death and limitation are synonymous terms. When the consciousness is focussed in form and identified entirely with the principle of limitation, it regards freedom from form life as death; but, as evolution proceeds, the consciousness shifts increasingly into awareness of that which is not form and into the realm of that which is transcendent or into the world of the abstract, i.e., into that which is abstracted from form and focussed in itself. This, by the way is a definition of meditation from the angle of goal and achievement. A man can truly meditate when he begins to use the mind, the reflection of the will aspect, and employs it in its three aspects: as initiating his entrance into the world of souls, as conditioning his personality life and as enforcing and eventually bringing about a full expression of soul purpose. This results [616] in the complete overcoming of death. I am bringing this whole concept down into terms of the microcosm even though it will be obvious that only the pledged disciple in preparation for initiation can begin to grasp some of the significant implications.

Mọi điểm đạo đồ đều phải và cuối cùng đều biểu lộ ý chí sáng tạo năng động, một mục đích tập trung chỉ biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện và cũng biểu lộ nỗ lực bền bỉ mang lại sự hoàn thành. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng nỗ lực bền bỉ là hạt giống của tổng hợp, là nguyên nhân của thành tựu và là điều cuối cùng vượt thắng cái chết. Cái chết thực ra là sự suy thoái trong thời gian và không gian và là do khuynh hướng của vật chất-tinh thần muốn cô lập chính nó trong khi biểu hiện (xét từ quan điểm tâm thức). Nỗ lực bền bỉ này của Thượng đế là điều giữ cho mọi hình tướng ở trong biểu hiện và bảo tồn ngay cả phương diện sự sống như yếu tố tích hợp trong việc xây dựng hình tướng và—điều này cũng là một hành động của ý chí duy trì—có thể rút ra hay thu hồi tâm thức sự sống còn nguyên vẹn vào lúc kết thúc một chu kỳ biểu hiện. Cái chết và sự giới hạn là những thuật ngữ đồng nghĩa. Khi tâm thức được hội tụ trong hình tướng và đồng hoá hoàn toàn với nguyên khí giới hạn, nó xem sự giải thoát khỏi đời sống hình tướng là cái chết; nhưng khi tiến hoá tiếp diễn, tâm thức ngày càng chuyển vào sự nhận biết về điều không phải là hình tướng và vào lĩnh vực của điều siêu vượt hay vào thế giới của cái trừu tượng, tức là vào điều được rút ra khỏi hình tướng và hội tụ trong chính nó. Nhân tiện, đây là một định nghĩa của tham thiền từ góc độ mục tiêu và thành tựu. Một người có thể thực sự tham thiền khi y bắt đầu sử dụng thể trí, phản chiếu của phương diện ý chí, và dùng nó trong ba phương diện của nó: như khởi phát việc đi vào thế giới các linh hồn, như điều kiện hóa đời sống phàm ngã của mình và như cưỡng bức và cuối cùng mang lại sự biểu lộ trọn vẹn của mục đích linh hồn. Điều này dẫn đến [616] sự vượt thắng hoàn toàn cái chết. Tôi đang đưa toàn bộ khái niệm này xuống các thuật ngữ của tiểu thiên địa mặc dù hiển nhiên là chỉ đệ tử đã cam kết đang chuẩn bị cho điểm đạo mới có thể bắt đầu nắm được một số hàm ý đầy thâm nghĩa.

Perhaps I can best sum up the keynote of the first Ray of Will or Power, as it seeks expression as dynamic purpose on Earth and in relation to the human being, by quoting or paraphrasing the Old Commentary.

Có lẽ tôi có thể tóm lược chủ âm của Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, khi nó tìm cách biểu lộ như mục đích năng động trên Trái Đất và liên hệ đến con người, bằng cách trích dẫn hay diễn giải Cổ Luận.

“The Transcendent One, the Life, the Whole, the All entered into communion with Itself and by this act became a vital point of life and focussed power.

“Đấng Siêu Việt, Sự Sống, Toàn Thể, Tất Cả đã đi vào sự hiệp thông với Chính Mình và bằng hành động này đã trở thành một điểm sống sinh động và quyền năng tập trung.

I am and I am not. Greater than This is That; smaller than That is This. But That must show to This the nature of the whole, and showing prove itself unto Itself.

Ta là và Ta không là. Lớn hơn Cái Này là Cái Kia; nhỏ hơn Cái Kia là Cái Này. Nhưng Cái Kia phải chỉ cho Cái Này bản tính của toàn thể, và bằng cách chỉ ra, tự chứng minh chính mình cho chính mình.

I, the beginning am. I am the outward and the inward Way and back into the point of concentration and from the point I turn again unto Myself, carrying within my heart of love that which I, the One, have served and that for which I sacrifice Myself.”

Ta, khởi đầu, hiện hữu. Ta là Con Đường bên ngoài và bên trong và quay trở lại điểm tập trung và từ điểm ấy Ta lại quay về với Chính Mình, mang trong trái tim bác ái của Ta điều mà Ta, Đấng Duy Nhất, đã phụng sự và điều mà vì nó Ta hi sinh Chính Mình.”

In the process of sacrifice, that which is the sustaining Whole, the inner core of all life and the principle of integration, realises within Itself the following stages in consciousness:

Trong tiến trình hi sinh, điều vốn là Toàn Thể duy trì, cốt lõi bên trong của mọi sự sống và nguyên khí tích hợp, chứng nghiệm trong chính Nó các giai đoạn tâm thức sau đây:

1. It knows Itself as the transcending will, the will which sees the entire process from the point of initiation, but which limits itself to the gradual expression of that will on account of the limitations of those aspects of Itself [617] whose consciousness is not that of the Whole. That which initiates, sees the end from the beginning and works towards the goal in progressive stages, not for Itself but for those aspects which are still limited, unaware, blind and unseeing and unreasoning.

1. Nó biết chính Nó là ý chí siêu vượt, ý chí nhìn thấy toàn bộ tiến trình từ điểm khởi phát, nhưng tự giới hạn mình vào sự biểu lộ dần dần của ý chí đó do những giới hạn của các phương diện của Chính Nó [617] mà tâm thức của chúng không phải là tâm thức của Toàn Thể. Điều khởi phát nhìn thấy cứu cánh từ lúc bắt đầu và làm việc hướng đến mục tiêu theo các giai đoạn tiến bộ, không phải cho chính Nó mà cho những phương diện vẫn còn bị giới hạn, chưa nhận biết, mù quáng, không thấy và không lý trí.

2. It knows Itself as the transmitting will, working from the point of synthesis, stepping down the energies distributed, in line with the creative, evolutionary plan. This, the Life of our planet, carried forward in three major stages, particularly from the consciousness angle; that is via Shamballa, the Hierarchy and Humanity. From thence the transmitting Life moves outward into all the other kingdoms of nature. Each great centre is, therefore, a transmitting agency. The fourth Creative Hierarchy, the human Kingdom, is the agent through which eventually the energies of Shamballa and of the Hierarchy will be focussed for the redeeming of the life of all the sub-human kingdoms. This can only take place when humanity can work with the focussed will, engendered by the life of Shamballa, inspired by love, fostered by the Hierarchy and expressed through the intellect which humanity itself has developed—all of these used dynamically and consciously under the pressure of that which is higher and greater than Shamballa itself.

2. Nó biết chính Nó là ý chí truyền dẫn, hoạt động từ điểm tổng hợp, hạ thấp các năng lượng được phân phối, phù hợp với Thiên Cơ sáng tạo, tiến hoá. Đây là Sự Sống của hành tinh chúng ta, được xúc tiến trong ba giai đoạn lớn, đặc biệt từ góc độ tâm thức; tức là qua Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại. Từ đó Sự Sống truyền dẫn chuyển ra ngoài vào tất cả các giới khác của thiên nhiên. Vì vậy, mỗi trung tâm lớn là một tác nhân truyền dẫn. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, giới nhân loại, là tác nhân mà qua đó cuối cùng các năng lượng của Shamballa và của Thánh Đoàn sẽ được hội tụ để cứu chuộc sự sống của tất cả các giới dưới nhân loại. Điều này chỉ có thể diễn ra khi nhân loại có thể làm việc với ý chí tập trung, được khơi sinh bởi sự sống của Shamballa, được cảm hứng bởi bác ái, được Thánh Đoàn nuôi dưỡng và được biểu lộ qua trí tuệ mà chính nhân loại đã phát triển—tất cả những điều này được dùng một cách năng động và có ý thức dưới áp lực của điều cao hơn và lớn hơn chính Shamballa.

3. It knows Itself as the transforming will or that sustained, applied process which brings about the needed mutations and changes through the action of the constant incentive of the will-to-good. Yet at the same time it is not identified in any way with the process. These mutations, producing transformation of the One into the Many and later in time and space of the Many into the One are carried forward from a point of [618] focussed, dynamic will, the “Point in the Centre” which changes not but remains ever immovably subject to its own inherent purpose.

3. Nó biết chính Nó là ý chí chuyển đổi hay tiến trình bền bỉ, được áp dụng, mang lại những biến đổi và thay đổi cần thiết qua tác động của động lực liên tục của Ý Chí-hướng Thiện. Tuy nhiên đồng thời nó không đồng hoá theo bất kỳ cách nào với tiến trình ấy. Những biến đổi này, tạo ra sự chuyển đổi của Đấng Duy Nhất thành Nhiều và về sau trong thời gian và không gian của Nhiều thành Đấng Duy Nhất, được xúc tiến từ một điểm của [618] ý chí năng động, tập trung, “Điểm ở Trung Tâm” không thay đổi nhưng luôn luôn bất lay chuyển phục tùng mục đích cố hữu của chính nó.

When the disciple or the initiate can stand also at the centre as the transforming will, he can then bring about the needed changes in the form nature without identifying himself with it or being himself affected by the changes. This may serve to make my meaning clear.

Khi đệ tử hay điểm đạo đồ cũng có thể đứng ở trung tâm như ý chí chuyển đổi, khi ấy y có thể mang lại những thay đổi cần thiết trong bản tính hình tướng mà không đồng hoá mình với nó hay bị chính những thay đổi ấy tác động. Điều này có thể giúp làm rõ ý nghĩa của tôi.

4. It knows Itself as the transfiguring will. This transfiguration is the fulfilment of purpose and the final expression of synthesis brought about by the sustaining will-to-good of the transcending, transmitting, transforming will.

4. Nó biết chính Nó là ý chí biến hình. Sự biến hình này là sự hoàn thành của mục đích và là biểu hiện cuối cùng của tổng hợp được mang lại bởi Ý Chí-hướng Thiện duy trì của ý chí siêu vượt, truyền dẫn, chuyển đổi.

Students would do well to shift their eyes off the goal of transfiguration (achieved at the third initiation and increasingly present at each previous initiation) and pay more attention to the recognition of that in them which “having pervaded their little universe with a fragment of itself remains.” They will then have anchored their consciousness in the centre of transcending power and guaranteed the flow of the will-to-achieve. From that high point in consciousness (imaginatively reached at first and practically achieved later) they would find it useful to work at the process of transmission, knowing themselves to be agents for the transmission of the will-to-good of the Transcendent One. They should next pass on to the stage of transformation wherein they would visualise and expect to see developed the needed transformation carried forward in their lives; then—equally expectant—they should believe in the transfiguration of those lives in line with the will of the [619] Transcendent One, the success of the Transmitting One, and the activity of the Transforming One—all of Whom are but the One, the Monad, the Self. All this is done by the use of the will, conditioning, fulfilling and overcoming.

Các đạo sinh nên chuyển mắt mình khỏi mục tiêu biến hình (đạt được ở lần điểm đạo thứ ba và ngày càng hiện diện ở mỗi lần điểm đạo trước đó) và chú ý nhiều hơn đến việc nhận ra điều trong họ mà “sau khi đã thấm nhuần tiểu vũ trụ của họ bằng một mảnh của chính nó thì vẫn còn.” Khi ấy họ sẽ neo tâm thức của mình vào trung tâm của quyền năng siêu vượt và bảo đảm dòng chảy của ý chí-thành tựu. Từ điểm cao ấy trong tâm thức (lúc đầu đạt tới bằng sự hình dung và về sau đạt được một cách thực tiễn), họ sẽ thấy hữu ích khi làm việc với tiến trình truyền dẫn, biết mình là những tác nhân cho sự truyền dẫn Ý Chí-hướng Thiện của Đấng Siêu Việt. Kế đó họ nên chuyển sang giai đoạn chuyển đổi, trong đó họ sẽ hình dung và mong đợi thấy sự chuyển đổi cần thiết được phát triển trong đời sống của họ; rồi—cũng với sự mong đợi ấy—họ nên tin vào sự biến hình của những đời sống đó phù hợp với ý chí của [619] Đấng Siêu Việt, sự thành công của Đấng Truyền Dẫn, và hoạt động của Đấng Chuyển Đổi—tất cả các Đấng ấy chỉ là Đấng Duy Nhất, Chân Thần, Bản Ngã. Tất cả điều này được thực hiện bằng việc sử dụng ý chí, điều kiện hóa, hoàn thành và vượt thắng.

To return to our theme of the greater Whole, leaving behind us for a minute the efforts of the microcosm to comprehend the Macrocosm, let us consider the relation of the three constellations in the task of expressing Ray One:

Để trở lại chủ đề của chúng ta về Toàn Thể lớn hơn, tạm gác lại trong chốc lát những nỗ lực của tiểu thiên địa nhằm hiểu Đại thiên địa, chúng ta hãy xét mối liên hệ của ba chòm sao trong nhiệm vụ biểu lộ Cung một:

1. ARIES is the constellation through which initiating conditions will stream into our solar system. It embodies the will-to-create that which will express the will-to-good. It is the monadic ray of our planetary Logos, Whose Soul ray is the second and the personality ray the third. You can note here, therefore, how the transmitting ray of our planetary Logos is the first; and hence the place which the will plays in our human evolutionary process; His transforming ray is the second and that eventually brings transfiguration through the medium of the third and in this combination you have the reason why, in the evolution of the will aspect, you have the influence of Mars and Mercury—the one bringing conflict and the death of the form and the other bringing illumination and the development of the intuition as a result of that conflict and death. New cycles of Being and of consciousness are initiated by conflict. Such seems as yet to be the law of life and the governing factor in evolution. If, however, the result of this initiating, energising will is to produce such beneficent effects of intuitive understanding and the activity of Mercury as the messenger of the Gods, it can be seen how truly through conflict the will-to-good can be wrought out.

1. BẠCH DƯƠNG là chòm sao qua đó các điều kiện khởi phát sẽ tuôn vào hệ mặt trời của chúng ta. Nó thể hiện ý chí-sáng tạo điều sẽ biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện. Đó là cung chân thần của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, mà cung linh hồn của Ngài là cung hai và cung phàm ngã là cung ba. Vì vậy, ở đây các bạn có thể lưu ý rằng cung truyền dẫn của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là cung một; và do đó là vị trí mà ý chí giữ trong tiến trình tiến hoá nhân loại của chúng ta; cung chuyển đổi của Ngài là cung hai và điều đó cuối cùng mang lại sự biến hình qua trung gian của cung ba và trong sự kết hợp này các bạn có lý do tại sao, trong sự tiến hoá của phương diện ý chí, các bạn có ảnh hưởng của Sao Hỏa và Sao Thủy—một hành tinh mang lại xung đột và cái chết của hình tướng, hành tinh kia mang lại sự soi sáng và sự phát triển của trực giác như kết quả của xung đột và cái chết ấy. Những chu kỳ mới của Hiện Hữu và của tâm thức được khởi phát bởi xung đột. Dường như cho đến nay đó là định luật của sự sống và là yếu tố chi phối trong tiến hoá. Tuy nhiên, nếu kết quả của ý chí khởi phát, tiếp năng lượng này là tạo ra những hiệu quả từ thiện như sự thấu hiểu trực giác và hoạt động của Sao Thủy như sứ giả của các Thượng đế, thì có thể thấy rõ rằng quả thật qua xung đột mà Ý Chí-hướng Thiện có thể được thực hiện.

2. LEO. This is the constellation through which the will-to-fulfilment or to achievement pours into humanity and on to the planet. It is essentially the spirit of self-determination. [620] It is at first the determination of the little self, the personality, the self-conscious individual. It is next the determination of the Self, the soul, the group conscious individual, aware of the greater Whole and of itself as the part, integrated and basically at-one.

2. SƯ TỬ. Đây là chòm sao qua đó ý chí-hoàn thành hay ý chí-thành tựu tuôn vào nhân loại và lên hành tinh. Về bản chất, đó là tinh thần tự quyết. [620] Lúc đầu đó là quyết tâm của tiểu ngã, phàm ngã, cá nhân có ngã thức. Kế đó là quyết tâm của Bản Ngã, linh hồn, cá nhân có ý thức nhóm, nhận biết Toàn Thể lớn hơn và nhận biết chính mình như một phần, được tích hợp và căn bản là nhất thể.

This will-to-good (achieved through fulfilment) works out in relation to the human being through the medium of three climaxes:

Ý Chí-hướng Thiện này (đạt được qua sự hoàn thành) được triển khai liên hệ đến con người qua trung gian của ba cao trào:

1. The will-to-good, demonstrated by the achieving of self-consciousness. This is the first stage of completed, divine fulfilment. It connotes body, appearance. It is the expression of the third aspect.

1. Ý Chí-hướng Thiện, được chứng minh bằng việc đạt được ngã thức. Đây là giai đoạn đầu tiên của sự hoàn thành thiêng liêng trọn vẹn. Nó hàm ý thể, diện mạo. Đó là biểu hiện của phương diện thứ ba.

2. The will-to-good, demonstrated at the third initiation when self-consciousness gives place to group consciousness. This is the second stage of divine fulfilment. It connotes soul, quality. It is the expression of the second aspect.

2. Ý Chí-hướng Thiện, được chứng minh ở lần điểm đạo thứ ba khi ngã thức nhường chỗ cho ý thức nhóm. Đây là giai đoạn thứ hai của sự hoàn thành thiêng liêng. Nó hàm ý linh hồn, phẩm tính. Đó là biểu hiện của phương diện thứ hai.

3. The will-to-good, demonstrated in the higher initiations when God-consciousness is achieved. This is the third stage of divine fulfilment. It connotes Monad, Life. It is the expression of the first aspect.

3. Ý Chí-hướng Thiện, được chứng minh trong các lần điểm đạo cao hơn khi đạt được Thượng đế thức. Đây là giai đoạn thứ ba của sự hoàn thành thiêng liêng. Nó hàm ý Chân Thần, Sự Sống. Đó là biểu hiện của phương diện thứ nhất.

It is useful to see these relationships. It will also be obvious why the Sun rules Leo, both exoterically and esoterically. The Sun reveals or “lights up” the two stages of the hidden will: the physical sun, lighting up the personality upon the physical plane and the Heart of the Sun revealing the nature of the soul.

Việc thấy được các mối liên hệ này là hữu ích. Cũng sẽ hiển nhiên vì sao Mặt Trời cai quản Sư Tử, cả ngoại môn lẫn nội môn. Mặt Trời tiết lộ hay “soi sáng” hai giai đoạn của ý chí ẩn giấu: mặt trời vật lý, soi sáng phàm ngã trên cõi hồng trần và Trái Tim của Mặt Trời tiết lộ bản tính của linh hồn.

3. CAPRICORN. This is the constellation by means of which comes the conquering will which releases from form life and initiates the man into the kingdom wherein the will aspect (not the soul aspect) of divinity expresses itself. You will remember that there is a close connection between [621] the Earth and Capricorn. The reason for this is that the Earth provides ideal conditions for this particular type of achievement because it is in process of transforming from the stage of a “non-sacred planet” into that of a “sacred planet.” This is why Saturn is so powerful a ruler and transmitter to the Earth of the dynamic quality of the first ray of power. This inpouring of first ray energy will be greatly accelerated from now on. These energies and their inflow must be carefully studied in connection with the diagrams given earlier in this treatise, remembering that visualisation is always a directing energy, employed to bring about a specific desired effect.

3. MA KẾT. Đây là chòm sao nhờ đó mà ý chí chinh phục đến, giải thoát khỏi đời sống hình tướng và điểm đạo con người vào giới trong đó phương diện ý chí (không phải phương diện linh hồn) của thiên tính tự biểu lộ. Các bạn sẽ nhớ rằng có một liên hệ mật thiết giữa [621] Trái Đất và Ma Kết. Lý do của điều này là Trái Đất cung cấp những điều kiện lý tưởng cho loại thành tựu đặc biệt này vì nó đang trong tiến trình chuyển đổi từ giai đoạn của một “hành tinh không thiêng liêng” sang giai đoạn của một “hành tinh thiêng liêng.” Đây là lý do vì sao Sao Thổ là một chủ tinh và tác nhân truyền dẫn rất mạnh đến Trái Đất của phẩm tính năng động của cung một quyền năng. Dòng tuôn vào của năng lượng cung một này từ nay trở đi sẽ được gia tốc rất nhiều. Các năng lượng này và dòng tuôn vào của chúng phải được nghiên cứu cẩn thận liên hệ với các sơ đồ đã cho trước đó trong bộ luận này, nhớ rằng sự hình dung luôn luôn là một năng lượng chỉ đạo, được dùng để mang lại một hiệu quả đặc thù mong muốn.

Aries, the Initiator, Leo, the Self, and Capricorn, the transfiguring Agent—such are some of the implications in relation to the first ray and humanity.

Bạch Dương, Đấng Khởi Phát, Sư Tử, Bản Ngã, và Ma Kết, Tác Nhân Biến Hình—đó là một số hàm ý liên hệ đến cung một và nhân loại.

I would point out here that I have given this triangle of constellations in the order of their relationship to the Great Life Who employs them as transmitting agencies for first ray activities. It should also be noted that the reason for this relation is inherent in the nature of the informing Lives of the particular constellations. They are Themselves expressions of the will-to-good and, therefore, constitute the line of least resistance for the dissemination of first ray energy throughout our solar system. From the angle of human relations, this triangle rearranges itself. It becomes Leo, the giver of self-consciousness; Capricorn, the sign wherein initiation can be taken; and Aries, the incentive towards a new beginning. In the understanding of the significance of the distinction between constellations as galaxies of stars, and signs as concentrated influences will come fresh light upon the science of astrology. This is fundamentally connected with the difference between the relation of a ray energy to the triangle of constellations and the human [622] relation. More I may not say but this will give a hint to the intuitive astrologer.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng tôi đã đưa ra tam giác chòm sao này theo trật tự của mối liên hệ của chúng với Sự Sống Vĩ Đại sử dụng chúng như những tác nhân truyền dẫn cho các hoạt động cung một. Cũng cần lưu ý rằng lý do của mối liên hệ này vốn cố hữu trong bản tính của các Sự Sống thấm nhuần các chòm sao đặc biệt ấy. Chính Các Ngài là những biểu hiện của Ý Chí-hướng Thiện và vì vậy tạo thành con đường ít trở ngại nhất cho sự phổ biến năng lượng cung một khắp hệ mặt trời của chúng ta. Từ góc độ các mối liên hệ nhân loại, tam giác này tự sắp xếp lại. Nó trở thành Sư Tử, đấng ban ngã thức; Ma Kết, dấu hiệu trong đó điểm đạo có thể được tiếp nhận; và Bạch Dương, động lực hướng đến một khởi đầu mới. Trong sự thấu hiểu ý nghĩa của sự phân biệt giữa các chòm sao như những thiên hà sao, và các dấu hiệu như những ảnh hưởng được tập trung sẽ đến ánh sáng mới về khoa học chiêm tinh. Điều này về căn bản liên hệ với sự khác biệt giữa mối liên hệ của một năng lượng cung với tam giác chòm sao và mối liên hệ của con người. [622] Tôi không thể nói thêm, nhưng điều này sẽ cho một gợi ý đối với nhà chiêm tinh trực giác.

RAY II. Love-Wisdom.

Gemini,

Virgo…..

working through the medium of the five planets: Mercury, Jupiter, Venus, the Moon, Pluto.

Pisces.

This “line of distribution” (if I may so express it) is related to the will which produces inevitable union, at-one-ment and synthesis, through the power of attraction, based upon power to see the vision. In this solar system and during this world cycle and, therefore, upon our planet and throughout the period wherein our planet moves from the position of a non-sacred to a sacred planet, this is the dominating will aspect of Deity; it is the energy with which our planetary Logos is preoccupied. It is that which has brought the Hierarchy into being, under the impact of the Shamballa or first ray force. It is, however, with hierarchical energy that humanity is, at this time, preoccupied. In my use of the word “preoccupied” in connection both with the planetary Logos and humanity, you will find indication of a growing response between the two centres, Shamballa and Humanity.

“Đường phân phối” này (nếu tôi có thể diễn tả như vậy) liên hệ với ý chí tạo ra sự hợp nhất, nhất thể hóa và tổng hợp tất yếu, qua quyền năng hấp dẫn, dựa trên năng lực thấy được linh ảnh. Trong hệ mặt trời này và trong chu kỳ thế giới này, và do đó trên hành tinh của chúng ta và trong suốt thời kỳ mà hành tinh chúng ta chuyển từ vị trí của một hành tinh không thiêng liêng sang một hành tinh thiêng liêng, đây là phương diện ý chí chi phối của Thượng đế; đó là năng lượng mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang chuyên chú vào. Chính điều đó đã đưa Thánh Đoàn vào hiện hữu, dưới tác động của mãnh lực Shamballa hay cung một. Tuy nhiên, hiện nay chính năng lượng huyền giai là điều mà nhân loại đang chuyên chú vào. Trong việc tôi dùng từ “chuyên chú” liên hệ cả với Hành Tinh Thượng đế lẫn nhân loại, các bạn sẽ thấy dấu hiệu của một sự đáp ứng đang tăng trưởng giữa hai trung tâm, Shamballa và Nhân loại.

Anent this ray energy, the esotericists of the world know much and this for three reasons:

Liên quan đến năng lượng cung này, các nhà bí truyền học trên thế giới biết nhiều, và điều này vì ba lý do:

1. The emphasis of all the teaching given out during the past three hundred and fifty years has been upon it.

1. Trọng tâm của mọi giáo huấn được ban ra trong ba trăm năm mươi năm qua đã đặt trên nó.

2. The two great exponents of this ray energy are the two best known world Teachers and Saviours from the human point of view in both the East and the West: the Buddha and the Christ.

2. Hai vị diễn giải lớn của năng lượng cung này là hai Đức Chưởng Giáo và Đấng Cứu Rỗi thế gian nổi tiếng nhất xét từ quan điểm nhân loại ở cả Đông phương lẫn Tây phương: Đức Phật và Đức Christ.

3. The two Masters Who have attempted to awaken humanity in the West to a realisation of the Hierarchy [623] are the Masters Morya and K.H., the two working in the closest relation and expressing first and second ray energy.

3. Hai Chân sư đã cố gắng đánh thức nhân loại ở Tây phương đến sự chứng nghiệm về Thánh Đoàn [623] là Chân sư Morya và Chân sư KH, hai vị làm việc trong mối liên hệ mật thiết nhất và biểu lộ năng lượng cung một và cung hai.

The keynotes of illumination, of vision, of sight or of spiritual perception and of the fusion of the occidental or the mystic way are dominant in this cycle. The Buddha summed up in Himself all the light of the past as far as humanity was concerned. He was the culminating Messenger, and demonstrated the innate possibilities of mankind, radiating the light of wisdom in relation to the light of substance and producing that dual blaze or flaming light which had been fanned and fostered (though not fully expressed) by humanity up to that time. He came forth as the flower or fruition of the past and as the guarantee of man’s innate capacity. Christ, whilst able also to say “I am the light of the world,” went further in His manifestation and gave a vision of the next step, demonstrating the light of the soul and pointing to the future, thus presenting that which could be because He had released on Earth the cosmic principle of love. Love is an aspect of the will, which is a point very little realised by the mass of men. It is the will to draw into itself or the will to attract into itself, and this will, when exerted toward that which is not material, we, in reaction to the differentiating mind, call Love. But humanity has to see that which must be loved before that power of the will is sufficiently evoked. Then the vision can become a manifestation and a fact in expression.

Các chủ âm của sự soi sáng, của tầm nhìn, của thị giác hay tri giác tinh thần và của sự dung hợp con đường phương Tây hay con đường thần bí là những điều chi phối trong chu kỳ này. Đức Phật đã tổng hợp trong chính Ngài toàn bộ ánh sáng của quá khứ xét theo nhân loại. Ngài là Sứ Giả kết tinh, và đã chứng minh những khả năng bẩm sinh của nhân loại, tỏa chiếu ánh sáng minh triết liên hệ với ánh sáng của chất liệu và tạo ra ngọn lửa kép hay ánh sáng rực cháy ấy vốn đã được nhân loại cho đến lúc đó quạt lên và nuôi dưỡng (dù chưa được biểu lộ trọn vẹn). Ngài xuất hiện như đóa hoa hay kết quả của quá khứ và như sự bảo đảm cho năng lực bẩm sinh của con người. Đức Christ, trong khi cũng có thể nói “Ta là ánh sáng của thế gian,” đã đi xa hơn trong sự biểu lộ của Ngài và đã ban một linh ảnh về bước kế tiếp, chứng minh ánh sáng của linh hồn và chỉ ra tương lai, nhờ đó trình bày điều có thể có vì Ngài đã giải phóng trên Trái Đất nguyên khí vũ trụ của bác ái. Bác ái là một phương diện của ý chí, một điểm mà đại đa số loài người rất ít nhận ra. Đó là ý chí kéo vào chính mình hay ý chí hấp dẫn vào chính mình, và ý chí này, khi được vận dụng hướng đến điều không vật chất, thì chúng ta, trong phản ứng với thể trí biến phân, gọi là Bác ái. Nhưng nhân loại phải thấy điều phải được yêu thương trước khi quyền năng ý chí ấy được gợi lên đầy đủ. Khi đó linh ảnh có thể trở thành một biểu hiện và một sự kiện trong biểu lộ.

It is here that the wonder of the work of Christ, the Lord of Love emerges into our consciousness. He makes it very clear that this love which He demonstrated was an aspect of the will, functioning through the medium of the second ray; this powerful love released into the world the [624] cosmic principle of love. Again the three aspects of the divine will can be seen functioning through the second ray:

Chính ở đây mà điều kỳ diệu trong công việc của Đức Christ, Chúa Tể của Bác Ái, xuất hiện vào tâm thức chúng ta. Ngài làm cho rất rõ rằng bác ái này mà Ngài đã chứng minh là một phương diện của ý chí, hoạt động qua trung gian của cung hai; bác ái mãnh liệt này được giải phóng vào thế gian đã [624] giải phóng nguyên khí vũ trụ của bác ái. Một lần nữa, ba phương diện của ý chí thiêng liêng có thể được thấy đang hoạt động qua cung hai:

1. The will-to-initiate or to condition demonstrates in Christ’s work as He inaugurates the era wherein it became possible for the kingdom of God to appear on Earth. In reality, this will be a demonstration of the fusion of the two centres, Humanity and the Hierarchy. By fusion, I mean their complete reciprocal at-one-ment. It will inaugurate an era wherein—through increased capacity to see the vision and increased power to identify oneself with the vision—a race of men will be produced whose life expression will be that of love-wisdom.

1. Ý chí-khởi phát hay điều kiện hóa được chứng minh trong công việc của Đức Christ khi Ngài khai mở kỷ nguyên trong đó Thiên Giới có thể xuất hiện trên Trái Đất. Thực ra, đây sẽ là một sự chứng minh của sự dung hợp của hai trung tâm, Nhân loại và Thánh Đoàn. Bởi dung hợp, tôi muốn nói đến sự nhất thể hỗ tương hoàn toàn của chúng. Nó sẽ khai mở một kỷ nguyên trong đó—qua năng lực gia tăng để thấy linh ảnh và quyền năng gia tăng để đồng hoá với linh ảnh—một nhân loại sẽ được tạo ra mà biểu hiện đời sống của họ sẽ là Bác Ái – Minh Triết.

2. The will which brings fulfilment demonstrates through the second ray by the means of that driving force which enables the second ray soul steadily to achieve its goal, relentlessly pushing forward, permitting itself no let-up or leeway until the desired goal is reached. This is a different expression to the will of the first ray which is dynamic and which crashes forward in spite of all obstacles; the latter does not require the slower methods of the steady drive.

2. Ý chí mang lại sự hoàn thành được chứng minh qua cung hai bằng phương tiện của mãnh lực thúc đẩy cho phép linh hồn cung hai đều đặn đạt đến mục tiêu của nó, không ngừng thúc đẩy tiến lên, không cho phép mình một sự chùng lại hay nới lỏng nào cho đến khi mục tiêu mong muốn đạt được. Đây là một biểu hiện khác với ý chí của cung một vốn năng động và lao tới bất chấp mọi chướng ngại; ý chí sau không cần đến những phương pháp chậm hơn của sự thúc đẩy bền bỉ.

3. It is also the will which conquers death because of its intense love of reality and of that “persistent One” who exists behind all phenomena.

3. Đó cũng là ý chí vượt thắng cái chết vì tình yêu mãnh liệt của nó đối với thực tại và đối với “Đấng Kiên Trì” hiện hữu phía sau mọi hiện tượng.

In the Old Commentary this type of will—the will-to-love—is spoken of in the following terms:

Trong Cổ Luận, loại ý chí này—ý chí-yêu thương—được nói đến bằng những lời sau:

“The Transcendent One said: I am alone. I must arise and seek with ceaseless urge, that which produces completion, round out my circle whole, intensity My life and make Me truly One, and this because I recognise the Two. I must have union with my other self, the self I dimly sense. [625]

“Đấng Siêu Việt phán: Ta đơn độc. Ta phải trỗi dậy và tìm kiếm với thôi thúc không ngừng điều tạo ra sự hoàn tất, làm tròn vòng tròn của Ta cho toàn vẹn, tăng cường sự sống của Ta và làm cho Ta thực sự là Một, và điều này bởi vì Ta nhận ra Hai. Ta phải hợp nhất với bản ngã kia của Ta, bản ngã mà Ta mơ hồ cảm nhận. [625]

Unto My heart I drew that other One and drawing thus I gave enlightenment; I dowered with enrichments; I freely gave.”

Ta kéo Đấng kia vào trái tim Ta và khi kéo như vậy Ta đã ban sự soi sáng; Ta đã ban của cải phong phú; Ta đã cho đi một cách tự do.”

This embodies not the mystical vision of the other one but the will aspect of the planetary Logos, the incentive behind the life of Shamballa. It is the Lord of Sacrifice Who speaks. The keynote of sacrifice or the “process of making whole” runs through all that concerns the will aspect as it functions through the medium of the seven rays; this becomes beautifully apparent in the activity of the second ray as it is the channel for the will of God.

Điều này thể hiện không phải linh ảnh thần bí về đấng kia mà là phương diện ý chí của Hành Tinh Thượng đế, động lực phía sau sự sống của Shamballa. Chính Chúa Tể của Hi Sinh đang nói. Chủ âm của hi sinh hay “tiến trình làm cho toàn vẹn” xuyên suốt mọi điều liên quan đến phương diện ý chí khi nó hoạt động qua trung gian của bảy cung; điều này trở nên hiển nhiên một cách đẹp đẽ trong hoạt động của cung hai khi nó là kênh cho Ý Chí của Thượng Đế.

It knows itself as the transcending will because behind its expression of cosmic love (attracting, fusing and producing cohesion) lies a synthetic vision of divine Intention. It differentiates between process and goal, between initiation and that which is revealed by the initiatory process and that is something which as yet is unknown to initiates below the third degree. Herein lies the distinction between the Christ and the Buddha. The latter revealed the process, but the Christ embodied in Himself both goal and process. He revealed the cosmic principle of love and by its means—embodied in Himself—He produced effects also and momentous changes in the world through those presented to Him for initiation.

Nó biết chính nó là ý chí siêu vượt vì phía sau biểu hiện của nó về bác ái vũ trụ (hấp dẫn, dung hợp và tạo ra sự kết dính) là một linh ảnh tổng hợp về Ý Định thiêng liêng. Nó phân biệt giữa tiến trình và mục tiêu, giữa điểm đạo và điều được tiết lộ bởi tiến trình điểm đạo và đó là điều mà cho đến nay vẫn chưa được biết đối với các điểm đạo đồ dưới cấp ba. Ở đây nằm sự khác biệt giữa Đức Christ và Đức Phật. Vị sau đã tiết lộ tiến trình, nhưng Đức Christ đã thể hiện trong chính Ngài cả mục tiêu lẫn tiến trình. Ngài đã tiết lộ nguyên khí vũ trụ của bác ái và bằng phương tiện ấy—được thể hiện trong chính Ngài—Ngài cũng tạo ra các hiệu quả và những thay đổi trọng đại trong thế giới qua những người được trình lên Ngài để điểm đạo.

The second ray knows itself as the transmitting will because through its means something passes between the pair of opposites (spirit-matter) which draws them together until eventually they form one blended whole. This is a basic mystery—the basic mystery of initiation and concerns the at-oning will which functions through love. Its lowest expression and its most material symbol is the love between the sexes.

Cung hai biết chính nó là ý chí truyền dẫn vì qua phương tiện của nó có điều gì đó đi qua giữa cặp đối cực (tinh thần-vật chất) kéo chúng lại với nhau cho đến cuối cùng chúng tạo thành một toàn thể hòa trộn duy nhất. Đây là một huyền nhiệm căn bản—huyền nhiệm căn bản của điểm đạo và liên quan đến ý chí nhất thể hóa hoạt động qua bác ái. Biểu hiện thấp nhất của nó và biểu tượng vật chất nhất của nó là tình yêu giữa hai giới tính.

[626]

[626]

It knows itself likewise as the transforming will because the entire evolutionary process (which is, in the last analysis, the working out of the inter-relation between God and His world, between cause and effect and between Life and form) is based upon the transformation brought about by divine attraction. This enables “spirit to mount upon the shoulders of matter,” as H.P.B. expresses it, and forces matter to achieve the purification which will lead it eventually to act as a transparent medium for the revelation of divinity.

Nó cũng biết chính nó là ý chí chuyển đổi vì toàn bộ tiến trình tiến hoá (vốn, trong phân tích cuối cùng, là sự triển khai của mối tương liên giữa Thượng đế và thế giới của Ngài, giữa nguyên nhân và kết quả và giữa Sự Sống và hình tướng) dựa trên sự chuyển đổi được mang lại bởi sự hấp dẫn thiêng liêng. Điều này làm cho “tinh thần cưỡi lên vai vật chất,” như H.P.B. diễn tả, và buộc vật chất đạt đến sự thanh luyện mà cuối cùng sẽ dẫn nó đến chỗ hoạt động như một môi trường trong suốt cho sự mặc khải của thiên tính.

It knows itself finally as the will which transfigures. It was this transfiguration which Christ manifested when He emerged before the startled eyes of His disciples as Light Incarnate and “was transfigured before them.”

Cuối cùng nó biết chính nó là ý chí biến hình. Chính sự biến hình này mà Đức Christ đã biểu lộ khi Ngài hiện ra trước đôi mắt kinh ngạc của các đệ tử như Ánh Sáng Nhập Thể và “đã biến hình trước mặt họ.”

The entire process of transcendence, resulting in transfiguration, is worked out in relation to the second ray by the combined influences of the three constellations through which this ray chooses by an “act of its sufficient will to act in time and space.” Let us look at them for a moment:

Toàn bộ tiến trình siêu vượt, dẫn đến biến hình, được triển khai liên hệ đến cung hai bởi các ảnh hưởng kết hợp của ba chòm sao mà qua đó cung này chọn, bằng một “hành động của ý chí đầy đủ để hành động trong thời gian và không gian.” Chúng ta hãy nhìn chúng trong chốc lát:

1. GEMINI. This is the great symbolic constellation of the Two Brothers, expressing the interplay between the dualities. Because it is governed by Mercury and Venus, you have the light of the intuition and of the mind blended together into one illuminated whole, typical of the fusion of spirit-matter and the demonstration of their essential oneness. Gemini, as you know, is the sign of divine interplay and it is the life of the Father (of spirit and of will) which flows through the Two Brothers, through the polar opposites, making them one in reality though two in manifestation. Their real nature as the “elder brother and the prodigal son” is revealed by the intuition when it takes hold of the mind. But it is the will to love which governs the relationship and which finally brings about divine synthesis. [627]

1. SONG TỬ. Đây là chòm sao biểu tượng lớn của Hai Anh Em, biểu lộ sự tương tác giữa các cặp nhị nguyên. Vì nó được cai quản bởi Sao Thủy và Sao Kim, các bạn có ánh sáng của trực giác và của thể trí hòa trộn với nhau thành một toàn thể được soi sáng, tiêu biểu cho sự dung hợp của tinh thần-vật chất và sự chứng minh tính nhất thể cốt yếu của chúng. Như các bạn biết, Song Tử là dấu hiệu của sự tương tác thiêng liêng và chính sự sống của Cha (của tinh thần và của ý chí) chảy qua Hai Anh Em, qua các cực đối lập, làm cho chúng là một trong thực tại dù là hai trong biểu hiện. Bản tính thực sự của họ như “người anh cả và đứa con hoang đàng” được tiết lộ bởi trực giác khi nó nắm lấy thể trí. Nhưng chính ý chí-yêu thương cai quản mối liên hệ và cuối cùng mang lại tổng hợp thiêng liêng. [627]

2. VIRGO is the constellation which is symbolic of the second stage of the relation between the pair of opposites. Here we have, as you know, the Mother of the Christ Child and the fostering process of interchange which brings about life, love and their united manifestation in one form. This second ray is, therefore, closely related to Virgo and its lowest aspect is mother love with its instinctual care of that which must be nourished and guarded. Its highest aspect is the incarnated, manifested Christ. Then instinct is transmuted into wisdom and with that the will-to-manifest and bring into the light of day the hitherto Hidden Christ. This sign and this second ray Will have a mysterious relation to Time, to process and to the sustaining life of the Mother (matter) which, throughout the gestation period, nourishes and cares for the rapidly developing Christ Child. The Moon has also a peculiar function which can only be expressed in the idea of death—the death of the relationships between the Mother and the Child because the moment comes when the Christ Child will emerge from the womb of time and of matter and stand free in the light. This will have been due, necessarily, to many inherent factors but primarily to the sustaining will of the Mother, plus the dynamic will of the Christ Child. Here again is an aspect of the curious and mysterious relation between the first and the second rays.

2. XỬ NỮ là chòm sao biểu tượng cho giai đoạn thứ hai của mối liên hệ giữa cặp đối cực. Ở đây, như các bạn biết, chúng ta có Mẹ của Hài Nhi Christ và tiến trình nuôi dưỡng của sự trao đổi mang lại sự sống, bác ái và biểu hiện hợp nhất của chúng trong một hình tướng. Vì vậy, cung hai này liên hệ mật thiết với Xử Nữ và phương diện thấp nhất của nó là tình mẹ với sự chăm sóc bản năng đối với điều phải được nuôi dưỡng và bảo vệ. Phương diện cao nhất của nó là Đức Christ nhập thể, biểu hiện. Khi ấy bản năng được chuyển hoá thành minh triết và cùng với điều đó là ý chí-biểu lộ và đưa ra ánh sáng ban ngày Đức Christ vốn cho đến nay còn ẩn giấu. Dấu hiệu này và Ý Chí cung hai này sẽ có một liên hệ huyền nhiệm với Thời gian, với tiến trình và với sự sống duy trì của Người Mẹ (vật chất), Đấng trong suốt thời kỳ thai nghén nuôi dưỡng và chăm sóc Hài Nhi Christ đang phát triển nhanh chóng. Mặt Trăng cũng có một chức năng đặc biệt chỉ có thể được biểu lộ trong ý niệm về cái chết—cái chết của các mối liên hệ giữa Mẹ và Con vì khoảnh khắc đến khi Hài Nhi Christ sẽ xuất hiện từ tử cung của thời gian và vật chất và đứng tự do trong ánh sáng. Điều này tất yếu sẽ là do nhiều yếu tố cố hữu, nhưng chủ yếu là do ý chí duy trì của Người Mẹ, cộng với ý chí năng động của Hài Nhi Christ. Ở đây một lần nữa là một phương diện của mối liên hệ kỳ lạ và huyền nhiệm giữa cung một và cung hai.

3. PISCES. In this sign the work is consummated and the will of the Father works out through the second ray will as the will-to-save. In Gemini, therefore, you have the two, the pair of opposites and the will-to-relate; in Virgo, you have their work in cooperation, the nurturing of the life of that second ray phenomenon, a Christ, the consummation of the task of matter and its elevation into heaven. In Pisces, you have the consummation of the work of that [628] which the matter aspect has made possible, and the Christ emerges as the world saviour. All this has taken place through the will aspect of the second ray, focussed in Shamballa, expressing itself through humanity and consummated in the Hierarchy. Here you have the whole story of unity, brought about by the life and the will of the second ray, producing the emergence of the Christ consciousness and the appearing in objectivity of the Christ principle.

3. SONG NGƯ. Trong dấu hiệu này công việc được hoàn tất và ý chí của Cha được triển khai qua ý chí cung hai như ý chí-cứu rỗi. Vì vậy, trong Song Tử, các bạn có hai, cặp đối cực và ý chí-liên hệ; trong Xử Nữ, các bạn có công việc hợp tác của họ, sự nuôi dưỡng sự sống của hiện tượng cung hai ấy, một Đức Christ, sự hoàn tất nhiệm vụ của vật chất và sự nâng nó lên thiên giới. Trong Song Ngư, các bạn có sự hoàn tất công việc của điều mà [628] phương diện vật chất đã làm cho có thể, và Đức Christ xuất hiện như đấng cứu thế gian. Tất cả điều này đã diễn ra qua phương diện ý chí của cung hai, được hội tụ trong Shamballa, biểu lộ qua nhân loại và được hoàn tất trong Thánh Đoàn. Ở đây các bạn có toàn bộ câu chuyện về sự hợp nhất, được mang lại bởi sự sống và ý chí của cung hai, tạo ra sự xuất hiện của tâm thức Christ và sự xuất hiện trong khách quan tính của nguyên khí Christ.

In time and space and from the angle of humanity, the triangle of constellations is Virgo, Gemini and Pisces and not the order as here given, which is Gemini, Virgo, Pisces; the latter is the angle from the standpoint of Shamballa.

Trong thời gian và không gian và từ góc độ nhân loại, tam giác các chòm sao là Xử Nữ, Song Tử và Song Ngư chứ không phải trật tự được nêu ở đây, tức là Song Tử, Xử Nữ, Song Ngư; trật tự sau là góc nhìn từ quan điểm của Shamballa.

RAY III. Active

Cancer,

Intelligence.

Libra…………

working through five planets:

The Moon, Venus, Saturn, Neptune, Uranus.

Capricorn.

In this divine expression of ray energy is to be found the key or clue to what is commonly called evolution. The emphasis, is necessarily from the angle of the form nature and upon the phenomenal side. Today, however, the evolutionary process can be considered from the two aspects of the evolution of form and the evolution of consciousness; science and psychology contribute to this a gradually developing whole or picture. But that which I deal with here is the evolution of That which is both consciousness and form but which is more than either, i.e. the One Who wills to manifest and to know or to become aware. It is this which lies behind and which is greater than the Identity in time and space to which we give the name Logos. I seek to deal, therefore, with the Creative Will which is dynamically manifesting, consciously establishing contact and persistently focussed in the form whilst time and space endure.

Trong biểu hiện thiêng liêng này của năng lượng cung có thể tìm thấy chìa khóa hay đầu mối cho điều thường được gọi là tiến hoá. Sự nhấn mạnh, tất nhiên, là từ góc độ của bản chất hình tướng và trên phương diện hiện tượng. Tuy nhiên, ngày nay, tiến trình tiến hoá có thể được xét từ hai phương diện là sự tiến hoá của hình tướng và sự tiến hoá của tâm thức; khoa học và tâm lý học góp phần vào đây một toàn thể hay một bức tranh đang dần dần phát triển. Nhưng điều tôi bàn đến ở đây là sự tiến hoá của Cái vừa là tâm thức vừa là hình tướng nhưng còn hơn cả hai, tức là Đấng muốn biểu hiện và muốn biết hay trở nên nhận biết. Chính Cái này nằm phía sau và lớn lao hơn Bản Sắc trong thời gian và không gian mà chúng ta gọi là Logos. Vì vậy, tôi tìm cách bàn đến Ý Chí Sáng Tạo đang biểu hiện một cách năng động, đang hữu thức thiết lập tiếp xúc và đang kiên trì tập trung trong hình tướng chừng nào thời gian và không gian còn tồn tại.

[629]

[629]

This third aspect of the divine expression is the result or outcome of the activity of the other two major rays. You must, with care, distinguish in your minds between matter or the Mother and substance or the “Holy Spirit overshadowing the Mother”; it is with this latter we are concerned, for we are regarding all these rays in terms of will, of spirit, and of life. This whole treatise, therefore, deals with an idea which lies beyond or behind the entire content of modern knowledge and is consequently inexplicable to the finite mind. All that is possible is to indicate That which exists prior to manifestation and which persists after the cycle of manifestation is over—unprovable, unknowable and intangible. This inherent Reality is to the manifested Logos what the sensed, immortal Self is to the man in incarnation. As the abstract mind of man develops, these subjective themes, leading to the central Theme of manifestation, will become clearer and the density of the mystery will lighten. With this promise you must be content for you are not yet initiate. The initiate will sense whereof I speak.

Phương diện thứ ba này của biểu hiện thiêng liêng là kết quả hay thành quả của hoạt động của hai cung chính yếu kia. Các bạn phải cẩn trọng phân biệt trong trí mình giữa vật chất hay Mẹ và chất liệu hay “Chúa Thánh Thần phủ bóng Mẹ”; chính với điều sau này mà chúng ta quan tâm, vì chúng ta đang xem xét tất cả các cung này theo ý chí, tinh thần và sự sống. Vì vậy, toàn bộ bộ luận này bàn đến một ý tưởng nằm vượt lên trên hay phía sau toàn bộ nội dung của tri thức hiện đại và do đó không thể giải thích được đối với trí tuệ hữu hạn. Tất cả những gì có thể làm là chỉ ra Cái hiện hữu trước biểu hiện và vẫn tồn tại sau khi chu kỳ biểu hiện chấm dứt—không thể chứng minh, không thể biết và không thể nắm bắt. Thực Tại cố hữu này đối với Logos biểu hiện cũng như Bản Ngã bất tử được cảm nhận đối với con người đang lâm phàm. Khi Trí trừu tượng của con người phát triển, những chủ đề chủ quan này, dẫn đến Chủ Đề trung tâm của biểu hiện, sẽ trở nên rõ ràng hơn và mật độ của huyền nhiệm sẽ nhẹ bớt. Với lời hứa này, các bạn phải bằng lòng vì các bạn chưa phải là điểm đạo đồ. Điểm đạo đồ sẽ cảm nhận được điều tôi nói đến.

This evolving Reality which is focussed in the third Ray of Active Intelligence during the “period of appearance” has—in this solar system—undertaken the task of developing conscious “awareness of Itself in that which it is not.” This is carried forward in three stages—all of them the result of process, of progress, of activity and of mind or intelligent perception. These three stages are:

Thực Tại đang tiến hoá này, được tập trung trong cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động trong “thời kỳ xuất hiện”, đã—trong hệ mặt trời này—đảm nhận nhiệm vụ phát triển sự “nhận biết hữu thức về Chính Nó trong cái mà nó không phải là.” Điều này được tiến hành qua ba giai đoạn—tất cả đều là kết quả của tiến trình, của tiến trình phát triển, của hoạt động và của thể trí hay tri giác thông tuệ. Ba giai đoạn này là:

1. The stage wherein sensory perception is transmuted into knowledge. This is the stage in which the form gradually and steadily adapts itself to the requirements of the perceiving Self.

1. Giai đoạn trong đó tri giác cảm quan được chuyển hoá thành tri thức. Đây là giai đoạn trong đó hình tướng dần dần và đều đặn tự thích nghi với các đòi hỏi của Bản Ngã tri giác.

2. The stage wherein knowledge is transmuted into wisdom, [630] or consciousness utilises the gradually acquired knowledge to achieve detachment from the form, the organ of perception.

2. Giai đoạn trong đó tri thức được chuyển hoá thành minh triết, [630] hay tâm thức sử dụng tri thức dần dần thu nhận được để đạt đến sự tách rời khỏi hình tướng, cơ quan của tri giác.

3. The stage wherein wisdom is transmuted into omniscience and both consciousness and form are superseded by the One Who exists, Who is conscious, but Who remains as greater than either of these two phases of divine life. This One wills to incarnate, wills to know, wills to be conscious, but is none of these phases essentially, having realised them, prior to manifestation.

3. Giai đoạn trong đó minh triết được chuyển hoá thành toàn tri và cả tâm thức lẫn hình tướng đều bị vượt qua bởi Đấng hiện hữu, Đấng có tâm thức, nhưng vẫn lớn hơn cả hai giai đoạn này của sự sống thiêng liêng. Đấng này muốn nhập thể, muốn biết, muốn có tâm thức, nhưng về bản chất không là giai đoạn nào trong số đó, vì đã chứng nghiệm chúng trước biểu hiện.

This third ray will is the producer of external synthesis in successive stages, carried forward from temporary syntheses until there is complete unification between consciousness and form and later complete atonement realised between That which is neither consciousness nor form but the Creator of both and the relating Principle of spirit-matter. It will be seen how the above definition shows the function of the third ray to be the will-to-initiate on the physical plane that which will express divinity; that it defines not only appearance but the revelation of that quality of which the appearance is the effect or result, and that inherent in these two propositions lies the third which states that this creative will is not only the cause of manifestation and the guarantee of achievement, but is also the proof of the potency of that Life which ever defeats and annihilates death. So, we come back to our initial proposition of that divine trinity of Life-Quality-Appearance (considered in the opening pages of Volume I); thus also to the creativity of the three major rays; thus to their basic relation and thus to their enduring and persistent synthesis. The circle of revelation is rounded out; the cycle is completed; the serpent of matter, the serpent of wisdom and the serpent of life are seen to be one [631] whole and behind the three “stands the Eternal Dragon for ever spawning forth the triple serpent, for ever saying: Go forth and come thou back.” Thus speaks the Old Commentary in reference to this matter.

Ý chí cung ba này là tác nhân tạo ra sự tổng hợp bên ngoài trong những giai đoạn kế tiếp nhau, được tiến hành từ những tổng hợp tạm thời cho đến khi có sự hợp nhất hoàn toàn giữa tâm thức và hình tướng, và về sau là sự hòa giải hoàn toàn được chứng nghiệm giữa Cái không phải là tâm thức cũng không phải là hình tướng nhưng là Đấng Sáng Tạo của cả hai và là Nguyên Khí liên hệ của tinh thần-vật chất. Sẽ thấy rằng định nghĩa trên cho thấy chức năng của cung ba là ý chí-khởi xướng trên cõi hồng trần điều sẽ biểu lộ thiên tính; rằng nó không những xác định sự xuất hiện mà còn cả sự mặc khải của phẩm tính mà sự xuất hiện là hiệu quả hay kết quả, và rằng cố hữu trong hai mệnh đề này là mệnh đề thứ ba, phát biểu rằng ý chí sáng tạo này không những là nguyên nhân của biểu hiện và là bảo chứng của thành tựu, mà còn là bằng chứng về tiềm lực của Sự sống luôn luôn đánh bại và hủy diệt cái chết. Vì vậy, chúng ta quay trở lại mệnh đề khởi đầu của mình về bộ ba thiêng liêng ấy của Sự sống-Phẩm tính-Biểu hiện (được xét trong những trang mở đầu của Tập I); do đó cũng quay lại tính sáng tạo của ba cung chính yếu; do đó quay lại mối liên hệ căn bản của chúng và do đó quay lại sự tổng hợp bền vững và kiên trì của chúng. Vòng tròn mặc khải đã khép kín; chu kỳ đã hoàn tất; con rắn của vật chất, con rắn của minh triết và con rắn của sự sống được thấy là một [631] toàn thể, và đằng sau ba con ấy “Đứng Đấng Rồng Vĩnh Cửu mãi mãi sinh ra con rắn tam phân, mãi mãi phán: Hãy đi ra và hãy trở về.” Cổ Luận nói như vậy liên quan đến vấn đề này.

Three words are concerned with this triple manifestation: Attraction, Subtraction, Abstraction and these three are related (as far as man is concerned) to the first three initiations, but only from the will aspect and in relation definitely to the third ray upon the physical plane, or rather on the plane of the etheric body or the vital effective activity. It is this which must be borne in mind when considering the active work of the Trinity: Father, Son and Holy Spirit.

Ba từ liên quan đến biểu hiện tam phân này là: Hấp dẫn, Trừ khử, Trừu xuất, và ba điều này có liên hệ (xét theo con người) với ba lần điểm đạo đầu tiên, nhưng chỉ từ phương diện ý chí và liên hệ rõ rệt với cung ba trên cõi hồng trần, hay đúng hơn trên cõi của thể dĩ thái hoặc hoạt động hữu hiệu sinh lực. Đây là điều phải được ghi nhớ khi xem xét công việc hoạt động của Tam Vị: Cha, Con và Chúa Thánh Thần.

This Trinity in manifestation knows Itself as the Transcending Reality and utters ever the word: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain.”

Tam Vị này trong biểu hiện tự biết mình là Thực Tại Siêu Việt và luôn luôn thốt ra lời: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn còn đó.”

This Trinity in manifestation knows Itself as the Transmitting One and says through the words of the Christ: “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” This, through the attractive power which the Transmitting One transmits.

Tam Vị này trong biểu hiện tự biết mình là Đấng Truyền Dẫn và nói qua lời của Đức Christ: “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.” Điều này là nhờ quyền năng hấp dẫn mà Đấng Truyền Dẫn truyền ra.

This Trinity in manifestation knows Itself to be the Transforming Agent and through the voice of the many chants the words: “Glory to God in the highest, on Earth peace, goodwill to men”—glory, peace and the will-to-good being the effects of the transmitted life of the Transcendent One.

Tam Vị này trong biểu hiện tự biết mình là Tác Nhân Chuyển Đổi và qua tiếng nói của số đông xướng lên những lời: “Vinh quang cho Thượng đế trên chốn tối cao, bình an trên Trái Đất, thiện chí đối với loài người”—vinh quang, bình an và Ý Chí-hướng Thiện là những hiệu quả của sự sống được truyền dẫn từ Đấng Siêu Việt.

Finally, at the end of the age, it knows Itself as the Transfigured One and realises that the paean of the angels: “Glory to God in the highest” is the enunciation of its ultimate perfection and triumph.

Sau cùng, vào cuối thời đại, Nó tự biết mình là Đấng Biến Hình và nhận ra rằng bài ca khải hoàn của các thiên thần: “Vinh quang cho Thượng đế trên chốn tối cao” là sự tuyên xưng về sự toàn hảo và chiến thắng tối hậu của mình.

Can more be said anent this subject? The major Rays of Aspect embody the entire story; the minor Rays of Attribute contribute the detail in process and enterprise. They [632] are conditioned by the three major rays. It is not, therefore, my intention to take up the analysis of the four remaining triangles. I have indicated enough in this treatise to enable the interested student to work out for himself their subjective theme. I will, however, consider briefly the three constellations connected with the third ray; their significance is relatively clear.

Có thể nói thêm gì nữa về chủ đề này chăng? Các Cung Trạng Thái chính yếu bao hàm toàn bộ câu chuyện; các Cung Thuộc Tính thứ yếu đóng góp chi tiết trong tiến trình và nỗ lực. Chúng [632] được điều kiện hóa bởi ba cung chính yếu. Vì vậy, tôi không có ý định phân tích bốn tam giác còn lại. Tôi đã chỉ ra đủ trong bộ luận này để giúp đạo sinh quan tâm tự mình tìm ra chủ đề chủ quan của chúng. Tuy nhiên, tôi sẽ xét ngắn gọn ba chòm sao liên kết với cung ba; ý nghĩa của chúng tương đối rõ ràng.

1. CANCER. This is the constellation which symbolises the will of the mass, which conditions mass response and mass psychology. This has not yet been the theme of astrological study for it connotes far more than the mass consciousness. It is basically the focussing of the mass will through the medium of the mass consciousness—a thing unknown as yet, though the rudiments of this knowledge can be seen in that peculiar factor in the life of humanity which we call `public opinion.’ This is now being brought into the educational field through what is commonly called propaganda. The implications will be clear to you. A trained and enlightened public opinion is an unknown thing on a world-wide scale, though enlightened groups are rapidly appearing. Out of public opinion (which is the focussed expression of the growth of mass consciousness) will emerge the mass will-to-good, inherent in every individual; for this humanity must work and wait.

1. CANCER. Đây là chòm sao tượng trưng cho ý chí của quần chúng, điều kiện hóa sự đáp ứng của quần chúng và tâm lý quần chúng. Đây chưa phải là chủ đề của nghiên cứu chiêm tinh, vì nó hàm ý nhiều hơn rất nhiều so với tâm thức quần chúng. Về căn bản, đó là sự tập trung ý chí quần chúng qua trung gian của tâm thức quần chúng—một điều cho đến nay vẫn chưa được biết đến, mặc dù những mầm mống của tri thức này có thể thấy trong yếu tố đặc biệt ấy của đời sống nhân loại mà chúng ta gọi là `dư luận quần chúng.’ Điều này hiện đang được đưa vào lĩnh vực giáo dục qua điều thường được gọi là tuyên truyền. Các bạn sẽ thấy rõ những hàm ý của nó. Một dư luận quần chúng được huấn luyện và được soi sáng là điều chưa từng có trên quy mô toàn thế giới, mặc dù các nhóm được soi sáng đang xuất hiện nhanh chóng. Từ dư luận quần chúng (là biểu hiện tập trung của sự tăng trưởng của tâm thức quần chúng) sẽ xuất hiện ý chí-hướng thiện của quần chúng, vốn cố hữu trong mỗi cá nhân; vì điều này mà nhân loại phải làm việc và chờ đợi.

2. LIBRA. This constellation, as you know, connotes the point of balance in the long relationship and interplay between the pairs of opposites. It indicates the will-to-express—in perfected proportion and harmony—both the life of the spirit and the potency of matter.

2. LIBRA. Chòm sao này, như các bạn biết, hàm ý điểm quân bình trong mối liên hệ và sự tương tác lâu dài giữa các cặp đối nghịch. Nó chỉ ra ý chí-biểu lộ—trong tỉ lệ và hài hòa hoàn hảo—cả sự sống của tinh thần lẫn tiềm lực của vật chất.

3. CAPRICORN. This constellation stands for the influence which will carry the will of Shamballa to the Hierarchy or to the world initiates, giving to Them that dynamic and [633] enterprising spirit which will enable Them to carry forward to completion the Will of God on Earth. It was the “angel, born under Capricorn” which came to Christ in the garden of Gethsemane and fused His individual will into the divine Will and thus enabled Him to carry out His mission to completion. This was not only the revelation of divine love to the world but—as the legend in the Masters’ Archives goes on—He came “to fabricate the gossamer thread which bound the two together and linked the place of the Most High (Shamballa) with the Holy City (The Hierarchy). The bridge between the Holy Place and the Holy of Holies was securely anchored. The will of God could now be carried to fruition.” Under the same symbolic teaching, we could say that the following terms distinguish the three rays with which we have been dealing.

3. CAPRICORN. Chòm sao này tượng trưng cho ảnh hưởng sẽ mang ý chí của Shamballa đến Thánh Đoàn hay đến các điểm đạo đồ thế gian, ban cho Các Ngài tinh thần năng động và [633] dấn thân ấy, nhờ đó Các Ngài có thể đưa Ý Chí của Thượng Đế trên Trái Đất đến chỗ hoàn tất. Chính “thiên thần, sinh dưới Capricorn” đã đến với Đức Christ trong vườn Gethsemane và dung hợp ý chí cá nhân của Ngài vào Ý Chí thiêng liêng, nhờ đó giúp Ngài hoàn thành sứ mệnh của mình. Đây không chỉ là sự mặc khải tình thương thiêng liêng cho thế gian mà còn—như truyền thuyết trong Văn Khố của các Chân sư kể tiếp—Ngài đến “để dệt nên sợi chỉ mỏng như tơ nhện buộc hai nơi lại với nhau và nối nơi của Đấng Tối Cao (Shamballa) với Thành Thánh (Thánh Đoàn). Cây cầu giữa Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh đã được neo vững chắc. Ý Chí của Thượng Đế giờ đây có thể được đưa đến chỗ viên thành.” Theo cùng giáo huấn biểu tượng ấy, chúng ta có thể nói rằng các thuật ngữ sau đây phân biệt ba cung mà chúng ta đã bàn đến.

I.

Ray I.

The Holy of Holies. Shamballa.

The Dwelling Place of the Most High.

Spirit. Life. Energy.

Will. Identification.

II.

Ray II.

The Holy Place. Hierarchy.

The Secret Place where Light dwelleth.

Soul. Consciousness. Light.

Love. Initiation.

III.

Ray III.

The Outer Court. Humanity.

Christ in us, the hope of glory.

Form. Appearance. Body.

Intelligence. Individuality.

Remember, nevertheless, that these Three are One. Behind all of them stands for ever the One Who remains, transcendent [634] and immanent also, greater than our whole yet also within that whole.

Tuy nhiên, hãy nhớ rằng Ba Đấng này là Một. Đằng sau tất cả Các Ngài mãi mãi là Đấng Duy Nhất vẫn còn đó, siêu việt [634] mà cũng nội tại, lớn hơn toàn thể của chúng ta nhưng cũng ở bên trong toàn thể ấy.

Through Ray IV, we learn to be at-one with this eternal synthesis and will; through Ray V, we develop the means to understand the nature of that synthesis and will; through Ray VI, we move forward to complete identification with that synthesis and will, and through Ray VII we demonstrate on Earth the nature of that synthesis through the medium of the appearing form and the purpose of that underlying will.

Qua cung bốn, chúng ta học cách hiệp nhất với sự tổng hợp và ý chí vĩnh cửu này; qua cung năm, chúng ta phát triển phương tiện để thấu hiểu bản chất của sự tổng hợp và ý chí ấy; qua cung sáu, chúng ta tiến tới sự đồng nhất hóa hoàn toàn với sự tổng hợp và ý chí ấy, và qua cung bảy, chúng ta biểu lộ trên Trái Đất bản chất của sự tổng hợp ấy qua trung gian của hình tướng xuất hiện và mục đích của ý chí nền tảng ấy.

And so the Many are absorbed into the One.

Và như thế, cái Nhiều được hấp thu vào Đấng Duy Nhất.


Leave a Comment

Scroll to Top