Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Phần Bình Giảng tương ứng
Cosmic Fire S2
(134 – 220)
DIVISION D – KUNDALINI AND THE SPINE |
PHÂN ĐOẠN D – KUNDALINI VÀ CỘT SỐNG |
|
(60, 61) |
|
|
(60) “Kundalini, the serpent power or mystic fire; it is called the serpentine or annular power on account of its spiral-like working or progress in the body of the ascetic developing the power in himself. It is an electric fiery occult, or fohatic power, the great pristine force which underlies all organic and inorganic matter.”—H. P. Blavatsky. (back) |
(60) “Kundalini, quyền năng rắn hay lửa thần bí; nó được gọi là quyền năng hình rắn hay hình vòng do hoạt động hay sự tiến triển giống xoắn ốc của nó trong thể của nhà khổ hạnh đang phát triển quyền năng ấy trong chính mình. Nó là một quyền năng huyền bí bằng lửa điện, hay fohat, là mãnh lực nguyên sơ vĩ đại làm nền tảng cho mọi vật chất hữu cơ và vô cơ.”—H. P. Blavatsky. (back) |
|
[Page 134] |
|
|
I. Kundalini and the three triangles. |
I. Kundalini và ba tam giác. |
|
1. In the head. |
1. Trong đầu. |
|
2. In the body. |
2. Trong thể. |
|
3. At the base of the spine. |
3. Ở đáy cột sống. |
|
II. The arousing of Kundalini. |
II. Sự đánh thức Kundalini. |
|
Very briefly, owing to the impossibility of revealing much on this necessarily dangerous subject, we will consider the subject of kundalini and the spine. |
Rất vắn tắt, do không thể tiết lộ nhiều về chủ đề tất yếu nguy hiểm này, chúng ta sẽ xem xét chủ đề kundalini và cột sống. |
|
We must remember here that we are dealing with the etheric counterpart of the spine, and not with the bony structure which we call the spine or spinal column. This is a fact not sufficiently recognised by those who treat of the matter. Too much emphasis has been laid on the three spinal channels that compose the threefold spinal cord. |
Ở đây chúng ta phải nhớ rằng mình đang đề cập đến đối phần dĩ thái của cột sống, chứ không phải cấu trúc xương mà chúng ta gọi là cột sống hay trụ sống. Đây là một sự kiện chưa được thừa nhận đầy đủ bởi những người bàn về vấn đề này. Quá nhiều sự nhấn mạnh đã được đặt vào ba kênh cột sống hợp thành tủy sống tam phân. |
|
These channels are important in connection with the [Page 135] nervous system of the man, but in relation to the matter in hand, they are not primarily so important as the etheric channel, which is the unit enclosing these three. Therefore, we must strictly remember that we are dealing with |
Những kênh này quan trọng trong liên hệ với [Page 135] hệ thần kinh của con người, nhưng đối với vấn đề đang bàn, chúng không quan trọng hàng đầu bằng kênh dĩ thái, là đơn vị bao bọc ba kênh ấy. Do đó, chúng ta phải nghiêm ngặt nhớ rằng mình đang đề cập đến |
|
a. The etheric channel, |
a. Kênh dĩ thái, |
|
b. The fire that passes up the channel, |
b. Ngọn lửa đi lên qua kênh ấy, |
|
c. The conjunction of this fire with the radiatory energising fire of the physical body at the point between the shoulder blades, |
c. Sự kết hợp của ngọn lửa này với ngọn lửa tiếp sinh lực bức xạ của thể xác tại điểm giữa hai xương bả vai, |
|
d. Their united ascension into the head, |
d. Sự thăng lên hợp nhất của chúng vào đầu, |
|
e. Their blending eventually with the manasic fire which energises the three head centres. |
e. Cuối cùng sự hòa trộn của chúng với lửa manas tiếp sinh lực cho ba trung tâm đầu. |
I. KUNDALINI AND THE THREE TRIANGLES |
I. KUNDALINI VÀ BA TAM GIÁC |
|
The fire energising the triangle in the head is the higher correspondence to the triangle of prana, midway in the body, and its lower reflection at the base of the spine. We have, therefore, in the human unit three important triangles: |
Ngọn lửa tiếp sinh lực cho tam giác trong đầu là sự tương ứng cao hơn với tam giác prana ở giữa thể, và sự phản chiếu thấp hơn của nó ở đáy cột sống. Do đó, trong đơn vị con người chúng ta có ba tam giác quan trọng: |
|
1. In the head: The triangle of the three major centres, |
1. Trong đầu: Tam giác của ba trung tâm chính, |
|
a. The pineal gland, |
a. Tuyến tùng quả, |
|
b. The pituitary body, |
b. Tuyến yên, |
|
c. The alta major centre. |
c. Trung tâm alta major. |
|
2. In the body: The triangle of prana, |
2. Trong thể: Tam giác prana, |
|
a. Between the shoulders, |
a. Giữa hai vai, |
|
b. Above the diaphragm, |
b. Phía trên cơ hoành, |
|
c. The spleen. |
c. Lá lách. |
|
3. At the base of the spine: The three lower centres, |
3. Ở đáy cột sống: Ba trung tâm thấp, |
|
a. A point at the bottom of the spinal column. |
a. Một điểm ở đáy trụ sống. |
|
b. and c. The two major sex organs in the male and female. (62) |
b. và c. Hai cơ quan tính dục chính ở nam và nữ. (62) |
|
(62) Tôi không có ý định nhấn mạnh vào phương diện tính dục của chủ đề này, vì đây là những cơ quan mà nhà huyền bí học không có gì để làm với chúng. Do đó tôi sẽ không liệt kê chúng một cách chi tiết. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng trong sự chuyển dịch ngọn lửa ở đáy cột sống và việc quay sự chú ý của nó về hai tam giác cao hơn, có sự cứu chuộc của con người. (back) |
|
|
[Page 136] The merging of the fires of matter and the fires of mind results in the energising of the sumtotal of the atoms of the matter of the body. This is the secret of the immense staying power of the great thinkers and workers of the race. It results also in a tremendous stimulation of the three higher centres in the body, the head, the heart, the throat and in the electrification of this area of the body. These higher centres then form a field of attraction for the downflow of the third fire, that of Spirit. The many-petalled head centre at the top of the head becomes exceedingly active. It is the synthetic head centre, and the sumtotal of all the other centres. The stimulation of the centres throughout the body is paralleled or duplicated by the concurrent vivification of the many-petalled lotus. It is the meeting place of the three fires, those of the body, of the mind, and of the Spirit. The at-one-ment with the Ego is completed when it is fully stimulated, and combustion then ensues; this is duplicated in the subtler vehicles and causes the final consummation and the liberation of Spirit. |
[Page 136] Sự hòa nhập của các lửa của vật chất và các lửa của trí tuệ dẫn đến sự tiếp sinh lực cho tổng số các nguyên tử của vật chất trong thể. Đây là bí mật của sức bền phi thường nơi các nhà tư tưởng và người hoạt động vĩ đại của nhân loại. Nó cũng dẫn đến một sự kích thích mãnh liệt của ba trung tâm cao hơn trong thể, đầu, tim, cổ họng, và đến sự điện hóa khu vực này của thể. Khi đó các trung tâm cao hơn này tạo thành một trường hấp dẫn cho dòng tuôn xuống của lửa thứ ba, tức lửa của Tinh thần. Trung tâm đầu nhiều cánh ở đỉnh đầu trở nên cực kỳ linh hoạt. Nó là trung tâm đầu tổng hợp, và là tổng số của tất cả các trung tâm khác. Sự kích thích các trung tâm khắp thể được song hành hay lặp lại bởi sự làm sống động đồng thời của hoa sen nhiều cánh. Nó là nơi gặp gỡ của ba lửa, các lửa của thể, của trí tuệ, và của Tinh thần. Sự hợp nhất với Chân ngã được hoàn tất khi nó được kích thích đầy đủ, và khi đó sự cháy bùng xảy ra; điều này được lặp lại trong các vận cụ vi tế hơn và gây ra sự thành tựu tối hậu cùng sự giải thoát của Tinh thần. |
|
The merging of the fires of matter is the result of evolutionary growth, when left to the normal, slow development that time alone can bring. The junction of the two fires of matter is effected early in the history of man, and is the cause of the rude health that the clean-living, high-thinking man should normally enjoy. When the fires of matter have passed (united) still further along the etheric spinal channel they contact the fire of manas as it radiates from the throat centre. Clarity of thought is here essential, and it will be necessary to elucidate somewhat this rather abstruse subject. |
Sự dung hợp của các lửa của vật chất là kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá, khi được để cho phát triển bình thường và chậm chạp mà chỉ thời gian mới có thể mang lại. Sự kết hợp của hai lửa của vật chất được thực hiện sớm trong lịch sử loài người, và là nguyên nhân của sức khỏe cường tráng mà người sống thanh sạch, suy nghĩ cao thượng lẽ ra bình thường phải được hưởng. Khi các lửa của vật chất đã đi xa hơn nữa (hợp nhất) dọc theo ống sống dĩ thái, chúng tiếp xúc với lửa của manas khi nó phát xạ từ trung tâm cổ họng. Ở đây, sự minh bạch của tư tưởng là điều thiết yếu, và cần phải làm sáng tỏ phần nào chủ đề khá trừu tượng này. |
|
1. The three major head centres (from the physical standpoint) are the: |
1. Ba trung tâm đầu chính yếu (xét từ quan điểm hồng trần) là: |
|
a. Alta centre, |
a. Trung tâm alta, |
|
b. Pineal gland, |
b. Tuyến tùng quả, |
|
c. Pituitary body. [Page 137] |
c. Tuyến yên. [Page 137] |
|
2. They form a manasic triangle, after their juncture with the two fires of the two lower triangles, i.e., when they become synthetic. |
2. Chúng tạo thành một tam giác manas sau khi kết hợp với hai lửa của hai tam giác thấp hơn, tức là khi chúng trở nên tổng hợp. |
|
3. But the purely manasic triangle prior to this merging is, |
3. Nhưng tam giác thuần manas trước sự dung hợp này là, |
|
a. The throat centre, |
a. Trung tâm cổ họng, |
|
b. The pineal gland, |
b. Tuyến tùng quả, |
|
c. Pituitary body. |
c. Tuyến yên. |
|
This is during the period when the human unit consciously aspires and throws his will on the side of evolution, thus making his life constructive. |
Đây là trong giai đoạn khi đơn vị nhân loại có ý thức khát vọng và đặt ý chí của y về phía tiến hoá, nhờ đó làm cho đời sống của y có tính xây dựng. |
|
The other fire of matter (the dual fire) is attracted upward, and merges with the fire of mind through a junction effected at the alta major centre. This centre is situated at the base of the skull, and there is a slight gap between this centre and the point at which the fires of matter issue from the spinal channel. Part of the work the man who is developing thought power has to do, is to build a temporary channel in etheric matter to bridge the gap. This channel is the reflection in physical matter of the antaskarana (63) that the Ego has to build in order to bridge the gap between the lower and higher mental, between the causal vehicle on the third subplane of the mental plane, and the manasic permanent atom on the first subplane. This is the work that all advanced thinkers are unconsciously doing now. When the gap is completely [Page 138] bridged, man’s body becomes co-ordinated with the mental body and the fires of mind and of matter are blended. It completes the perfecting of the personality life, and as earlier said, this perfecting brings a man to the portal of initiation—initiation being the seal set upon accomplished work; it marks the end of one lesser cycle of development, and the beginning of the transference of the whole work to a still higher spiral. |
Lửa kia của vật chất (lửa nhị phân) bị hút lên trên, và dung hợp với lửa của trí tuệ qua một sự kết hợp được thực hiện tại trung tâm alta major. Trung tâm này nằm ở đáy sọ, và có một khoảng hở nhỏ giữa trung tâm này với điểm mà các lửa của vật chất phát ra từ ống sống. Một phần công việc mà người đang phát triển quyền năng tư tưởng phải làm là xây dựng một ống dẫn tạm thời trong vật chất dĩ thái để bắt cầu qua khoảng hở đó. Ống dẫn này là sự phản ánh trong vật chất hồng trần của antaskarana (63) mà chân ngã phải xây dựng để bắt cầu qua khoảng hở giữa hạ trí và thượng trí, giữa vận cụ nguyên nhân trên cõi phụ thứ ba của cõi trí và nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất. Đây là công việc mà tất cả những nhà tư tưởng tiến bộ hiện nay đang vô thức thực hiện. Khi khoảng hở được [Page 138] bắt cầu hoàn toàn, thể của con người trở nên phối hợp với thể trí và các lửa của trí tuệ và của vật chất được hòa trộn. Điều đó hoàn tất sự hoàn thiện của đời sống phàm ngã, và như đã nói trước đây, sự hoàn thiện này đưa con người đến cổng điểm đạo—điểm đạo là dấu ấn đặt lên công việc đã hoàn thành; nó đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ phát triển nhỏ hơn, và sự khởi đầu của việc chuyển toàn bộ công việc sang một vòng xoắn cao hơn nữa. |
|
(63) 1. “Linh hồn-Chân sư là Alaya, linh hồn vũ trụ hay Atma, mỗi người đều có một tia của nó trong mình và được cho là có thể đồng hoá với nó và hòa nhập vào nó. |
|
|
2. Antaskarana is the lower Manas, the path of communication or communion between the personality and the higher Manas or human soul. |
2. Antaskarana là Hạ trí, con đường giao tiếp hay hiệp thông giữa phàm ngã và Thượng trí hay linh hồn nhân loại. |
|
At death it is destroyed as a path or medium of communication, and its remains survive in a form as the Kama-rupa—the shell.”—Voice of the Silence, page 71. |
Khi chết, nó bị hủy diệt như một con đường hay phương tiện giao tiếp, và phần còn lại của nó tồn tại dưới một hình thức là Kama-rupa—cái vỏ.” —Tiếng Nói của Im Lặng, trang 71. |
|
“The antaskarana is the imaginary path between the personal and the impersonal self, and is the highway of sensation; it is the battlefield for mastery over the personal self. It is the path of aspiration, and where one longing for goodness exists the antaskarana persists.”—See Voice of the Silence, pp. 50, 55, 56, 88. (back) |
“Antaskarana là con đường tưởng tượng giữa bản ngã cá nhân và bản ngã vô ngã, và là đại lộ của cảm giác; nó là chiến trường để làm chủ bản ngã cá nhân. Nó là con đường khát vọng, và nơi nào có một lòng khao khát điều thiện tồn tại thì antaskarana vẫn tồn tại.” —Xem Tiếng Nói của Im Lặng, các trang 50, 55, 56, 88. (trở lại |
|
We must always bear in mind that the fires from the base of the spine and the splenic triangle are fires of matter. We must not lose this recollection nor get confused. They have no spiritual effect, and concern themselves solely with the matter in which the centres of force are located. These centres of force are always directed by manas or mind, or by the conscious effort of the indwelling entity; but that entity is held back in the effects he seeks to achieve until the vehicles through which he is seeking expression, and their directing, energising centres, make adequate response. Hence it is only in due course of evolution, and when the matter of these vehicles is energised sufficiently by its own latent fires that he can accomplish his long-held purpose. Hence again the need of the ascension of the fire of matter to its own place, and its resurrection from its long burial and seeming prostitution before it can be united with its Father in Heaven, the third Logos, Who is the Intelligence of matter itself. The correspondence, again, holds good. Even the atom of the physical plane has its goal, its initiations and its ultimate triumph. |
Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng các lửa từ đáy cột sống và tam giác lá lách là các lửa của vật chất. Chúng ta không được đánh mất sự ghi nhớ này hay trở nên lẫn lộn. Chúng không có tác động tinh thần, và chỉ liên quan duy nhất đến vật chất trong đó các trung tâm lực được định vị. Các trung tâm lực này luôn luôn được manas hay trí tuệ, hoặc bởi nỗ lực có ý thức của thực thể nội tại, điều khiển; nhưng thực thể đó bị ngăn lại trong các kết quả mà y tìm cách đạt được cho đến khi các vận cụ mà qua đó y tìm cách biểu lộ, và các trung tâm tiếp sinh lực chỉ đạo của chúng, có đáp ứng thích đáng. Vì vậy, chỉ theo tiến trình thích đáng của tiến hoá, và khi vật chất của các vận cụ này được tiếp sinh lực đầy đủ bởi các lửa tiềm ẩn riêng của nó thì y mới có thể hoàn thành mục đích đã ôm giữ từ lâu. Vì vậy lại càng cần sự thăng lên của lửa vật chất đến đúng chỗ của nó, và sự phục sinh của nó khỏi sự chôn vùi lâu dài và sự dường như bị làm ô uế trước khi nó có thể được hợp nhất với Cha của nó trên Thiên Đàng, tức Thượng đế thứ ba, Đấng là Trí Tuệ của chính vật chất. Sự tương ứng, một lần nữa, vẫn đúng. Ngay cả nguyên tử của cõi hồng trần cũng có mục tiêu, các lần điểm đạo và chiến thắng tối hậu của nó. |
|
Other angles of this subject, such as the centres and their relationship to manas, the fire of Spirit and manas, and the eventual blending of the three fires, will be dealt with in our next two main divisions. In this division we are confining ourselves to the study of matter and fire, and must not digress, or confusion will ensue. |
Những góc độ khác của chủ đề này, như các trung tâm và mối liên hệ của chúng với manas, lửa của Tinh thần và manas, và sự hòa trộn sau cùng của ba lửa, sẽ được bàn đến trong hai phần chính tiếp theo của chúng ta. Trong phần này, chúng ta đang giới hạn mình vào việc nghiên cứu vật chất và lửa, và không được đi chệch hướng, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra. |
II. THE AROUSING OF KUNDALINI |
II. SỰ ĐÁNH THỨC KUNDALINI |
|
[Page 139] How this fire at the base of the spine can be aroused, the form its progression should take (dependent upon the Ray), the blending of the fire with pranic fire and their subsequent united progression, are things of the past with many, and fortunately for the race, the work was achieved without conscious effort. The second blending with the fire of manas has to be effected. Scarcely as yet have men succeeded in directing the fire up more than one channel of the threefold column; hence two-thirds of its effect in the majority is yet confined to the stimulation of the organs of race propagation. Only when the fire has circled unimpeded up another channel is the complete merging with the fire of manas effected, and only when it progresses geometrically up all the three—with simultaneous action and at uniform vibration—is the true kundalini fire fully aroused, and therefore able to perform its work of cleansing through the burning of the confining web and of the separating particles. When this is accomplished the threefold channel becomes one channel. Hence the danger. |
[Page 139] Việc lửa này ở đáy cột sống có thể được đánh thức như thế nào, hình thức tiến triển của nó nên diễn ra ra sao (tùy thuộc vào cung), sự hòa trộn của lửa này với lửa prana và sự tiến triển hợp nhất tiếp theo của chúng, là những điều đối với nhiều người đã thuộc về quá khứ, và may thay cho nhân loại, công việc ấy đã được hoàn thành mà không có nỗ lực có ý thức. Sự hòa trộn thứ hai với lửa của manas phải được thực hiện. Cho đến nay, con người hầu như chưa thành công trong việc hướng lửa đi lên quá một ống dẫn của cột tam phân; vì vậy hai phần ba tác động của nó nơi đa số vẫn còn bị giới hạn vào sự kích thích các cơ quan sinh sản của nhân loại. Chỉ khi lửa đã tuần hoàn không bị cản trở lên một ống dẫn khác thì sự dung hợp hoàn toàn với lửa của manas mới được thực hiện, và chỉ khi nó tiến lên theo hình học qua cả ba ống dẫn—với hoạt động đồng thời và ở rung động đồng nhất—thì lửa kundalini chân chính mới được đánh thức trọn vẹn, và do đó có thể thực hiện công việc thanh tẩy của nó bằng cách đốt cháy mạng lưới giam hãm và các hạt phân cách. Khi điều này được hoàn thành, ống dẫn tam phân trở thành một ống dẫn duy nhất. Vì vậy mới có sự nguy hiểm. |
|
No more can be imparted concerning this subject. He who directs his efforts to the control of the fires of matter, is (with a dangerous certainty) playing with a fire that may literally destroy him. He should not cast his eyes backwards, but should lift them to the plane where dwells his immortal Spirit, and then by self-discipline, mind-control and a definite refining of his material bodies, whether subtle or physical, fit himself to be a vehicle for the divine birth, and participate in the first Initiation. When the Christ-child (as the Christian so beautifully expresses it) has been born in the cave of the heart, then that divine guest can consciously control the lower material bodies by means of consecrated mind. Only when buddhi has assumed an ever-increasing control [Page 140] of the personality, via the mental plane (hence the need of building the antaskarana), will the personality respond to that which is above, and the lower fires mount and blend with the two higher. Only when Spirit, by the power of thought, controls the material vehicles, does the subjective life assume its rightful place, does the God within shine and blaze forth till the form is lost from sight, and “The path of the just shine ever more and more until the day be with us.” |
Không thể truyền đạt thêm gì nữa về chủ đề này. Kẻ hướng nỗ lực của mình vào việc kiểm soát các lửa của vật chất là (với một sự chắc chắn nguy hiểm) đang đùa với một ngọn lửa có thể theo nghĩa đen hủy diệt y. Y không nên ngoảnh mắt nhìn về phía sau, mà nên ngước chúng lên cõi nơi Tinh thần bất tử của y ngự trị, rồi bằng tự kỷ luật, kiểm soát trí tuệ và một sự tinh luyện rõ rệt các thể vật chất của mình, dù vi tế hay hồng trần, làm cho mình thích hợp để trở thành một vận cụ cho sự giáng sinh thiêng liêng, và tham dự vào lần điểm đạo thứ nhất. Khi Hài Nhi Christ (như tín đồ Cơ Đốc diễn tả thật đẹp) đã được sinh ra trong hang động của tim, thì vị khách thiêng liêng ấy có thể có ý thức kiểm soát các thể vật chất thấp hơn bằng phương tiện của trí tuệ đã được thánh hiến. Chỉ khi Bồ đề đã đảm nhận một sự kiểm soát ngày càng tăng [Page 140] đối với phàm ngã, qua cõi trí (vì thế mới cần xây dựng antaskarana), thì phàm ngã mới đáp ứng với điều ở bên trên, và các lửa thấp hơn mới thăng lên và hòa trộn với hai lửa cao hơn. Chỉ khi Tinh thần, bằng quyền năng của tư tưởng, kiểm soát các vận cụ vật chất, thì đời sống chủ quan mới đảm nhận vị trí chính đáng của nó, Thượng đế bên trong mới chiếu sáng và bừng cháy cho đến khi hình tướng khuất khỏi tầm mắt, và “Con đường của người công chính chiếu sáng ngày càng hơn cho đến khi ngày ở cùng chúng ta.” |
DIVISION E – MOTION ON THE PHYSICAL AND ASTRAL PLANES |
PHÂN ĐOẠN E – CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI HỒNG TRẦN VÀ CÕI CẢM DỤC |
|
I. Preliminary remarks. |
I. Những nhận xét sơ bộ. |
|
1. The threefold goal. |
1. Mục tiêu tam phân. |
|
2. The threefold function. |
2. Chức năng tam phân. |
|
3. The threefold mode of activity. |
3. Phương thức hoạt động tam phân. |
|
II. The effects of rotary motion. |
II. Các tác động của chuyển động quay. |
|
1. Separation. |
1. Sự phân ly. |
|
2. Momentum. |
2. Động lượng. |
|
3. Friction. |
3. Ma sát. |
|
4. Absorption. |
4. Sự hấp thu. |
|
III. The qualities of rotary motion. |
III. Các phẩm tính của chuyển động quay. |
|
1. Inertia. |
1. Quán tính. |
|
2. Mobility. |
2. Tính động. |
|
3. Rhythm. |
3. Nhịp điệu. |
|
IV. Rotary motion and symbolism. |
IV. Chuyển động quay và biểu tượng học. |
|
V. Motion and the centres. |
V. Chuyển động và các trung tâm. |
|
1. The nature of the centres. |
1. Bản chất của các trung tâm. |
|
2. The centres and the rays. |
2. Các trung tâm và các cung. |
|
3. The centres and kundalini. |
3. Các trung tâm và kundalini. |
|
4. The centres and the senses. |
4. Các trung tâm và các giác quan. |
|
5. The centres and initiation. |
5. Các trung tâm và điểm đạo. |
I. PRELIMINARY REMARKS |
I. NHỮNG NHẬN XÉT SƠ BỘ |
|
[Page 141] I would point out primarily and emphasize the fact that the motion we are considering is that due to the fire latent in matter itself, a motion that is the prime characteristic and basic quality of the Primordial Ray of Active Intelligence. To express it otherwise: it is the outstanding faculty of the third Logos, of Brahma [Page 142] viewed as the Creator, and this faculty is the product or result of an earlier manifestation. Each of the three Logoi, when in manifestation and thus personified, is exemplifying some one quality which predominates over the others. Each, more or less, exemplifies all, but each demonstrates one of the three aspects so profoundly as to be recognised as that aspect itself. In much the same way, for instance, the different incarnating jivas carry a vibration which is their main measure, though they may also have lesser vibrations that are subsidiary to them. Let us get this clear, for the truth embodied is fundamental. |
[Page 141] Trước hết, tôi muốn chỉ ra và nhấn mạnh sự kiện rằng chuyển động mà chúng ta đang xem xét là chuyển động do lửa tiềm ẩn trong chính vật chất tạo ra, một chuyển động là đặc tính chủ yếu và phẩm tính căn bản của Cung Nguyên Sơ của Trí Tuệ Hoạt Động. Nói cách khác: đó là năng lực nổi bật của Thượng đế thứ ba, của Brahma [Page 142] được xem như Đấng Sáng Tạo, và năng lực này là sản phẩm hay kết quả của một biểu lộ trước đó. Mỗi một trong ba Thượng đế, khi biểu lộ và do đó được nhân cách hóa, đều biểu hiện một phẩm tính nào đó trội hơn các phẩm tính khác. Mỗi vị, ít nhiều, đều biểu hiện tất cả, nhưng mỗi vị chứng tỏ một trong ba phương diện sâu sắc đến mức được nhận biết như chính phương diện ấy. Chẳng hạn, cũng gần giống như vậy, các jiva nhập thể khác nhau mang một rung động là thước đo chính của chúng, dù chúng cũng có thể có những rung động nhỏ hơn phụ thuộc vào rung động chính đó. Chúng ta hãy làm cho điều này rõ ràng, vì chân lý được hàm chứa ở đây là nền tảng. |
|
1. The threefold goal, |
1. Mục tiêu tam phân, |
|
2. The threefold function, |
2. Chức năng tam phân, |
|
3. The threefold mode of activity. |
3. Phương thức hoạt động tam phân. |
|
The Third Logos. The third Logos, or Brahma, is characterised by active intelligence; His mode of action is that which we call rotary, or that measured revolution of the matter of the system, first as a grand totality, setting in movement the material circumscribed by the entire ring-pass-not, and secondly differentiating it, according to seven vibratory rates or measures into the seven planes. On each of these planes the process is pursued, and the matter of any plane within the plane ring-pass-not shows first as a totality and then as a sevenfold differentiation. This differentiation of matter is brought about by rotary motion, and is controlled by the Law of Economy (one of the cosmic laws) with which we will deal later, only pausing here to say that this Law of Economy might be considered as the controlling factor in the life of the third Logos. Therefore: |
Thượng đế thứ ba. Thượng đế thứ ba, hay Brahma, được đặc trưng bởi trí tuệ hoạt động; phương thức hành động của Ngài là điều mà chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển có chừng mực của vật chất của hệ thống, trước hết như một toàn thể vĩ đại, làm cho vật chất được bao bọc trong toàn bộ vòng-giới-hạn chuyển động, và thứ hai là biến phân nó, theo bảy tốc độ hay thước đo rung động, thành bảy cõi. Trên mỗi cõi này, tiến trình ấy được tiếp tục, và vật chất của bất kỳ cõi nào trong vòng-giới-hạn của cõi trước hết biểu lộ như một toàn thể rồi sau đó như một sự biến phân thất phân. Sự biến phân của vật chất này được tạo ra bởi chuyển động quay, và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm (một trong các định luật vũ trụ) mà chúng ta sẽ bàn đến sau, ở đây chỉ dừng lại để nói rằng Định luật Tiết Kiệm này có thể được xem như yếu tố kiểm soát trong đời sống của Thượng đế thứ ba. Vì vậy: |
|
a. His goal is the perfect blending of Spirit and matter. |
a. Mục tiêu của Ngài là sự hòa trộn hoàn hảo giữa Tinh thần và vật chất. |
|
b. His function is the manipulation of prakriti, or matter, so as to make it fit, or equal to, the demands and needs of the Spirit. [Page 143] |
b. Chức năng của Ngài là vận dụng prakriti, hay vật chất, sao cho làm cho nó thích hợp, hay tương xứng, với những đòi hỏi và nhu cầu của Tinh thần. [Page 143] |
|
c. Phương thức hành động của Ngài là quay tròn, hay bằng sự xoay chuyển của vật chất, làm gia tăng hoạt động và nhờ đó khiến chất liệu trở nên dễ uốn nắn hơn. |
|
|
All these three concepts are governed by the Law of Economy, which is the Law of Adaptation in time and space, or the line of least resistance. This line of least resistance is that which is sought for and followed on the matter side of existence. Incidentally, Brahma manifests Will, because He is purpose, and Love because in this solar system Love is the line of least resistance. While this is an occult statement worthy of consideration, yet it must be remembered that He is primarily activity and intelligence with the aim of adaptability, and that this is His main characteristic. |
Cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, tức Định luật Thích Ứng trong thời gian và không gian, hay con đường ít trở ngại nhất. Con đường ít trở ngại nhất này là điều được tìm kiếm và đi theo ở phía vật chất của sự tồn tại. Nhân đây, Brahma biểu lộ Ý Chí, vì Ngài là mục đích, và biểu lộ Bác ái vì trong hệ mặt trời này Bác ái là con đường ít trở ngại nhất. Dù đây là một phát biểu huyền bí đáng để suy ngẫm, vẫn phải nhớ rằng trước hết Ngài là hoạt động và trí tuệ với mục tiêu là khả năng thích ứng, và đó là đặc tính chính của Ngài. |
|
The Second Logos. The second Logos, Vishnu, the divine Wisdom Ray, the great principle of Buddhi seeking to blend with the principle of Intelligence, is characterised by Love. His motion is that which we might term spiral cyclic. Availing Himself of the rotary motion of all atoms, He adds to that His own form of motion or of spiralling periodical movement, and by circulation along an orbit or spheroidal path (which circles around a central focal point in an ever ascending spiral) two results are brought about: |
Thượng đế thứ hai. Thượng đế thứ hai, Vishnu, Cung Minh triết thiêng liêng, nguyên khí vĩ đại của Bồ đề đang tìm cách hòa trộn với nguyên khí của Trí Tuệ, được đặc trưng bởi Bác ái. Chuyển động của Ngài là điều mà chúng ta có thể gọi là xoắn ốc chu kỳ. Tận dụng chuyển động quay của mọi nguyên tử, Ngài thêm vào đó hình thức chuyển động riêng của Ngài hay chuyển động xoắn chu kỳ định kỳ, và bằng sự tuần hoàn dọc theo một quỹ đạo hay đường hình cầu (quay quanh một tiêu điểm trung tâm trong một đường xoắn ốc luôn đi lên) hai kết quả được tạo ra: |
|
a. He gathers the atoms into forms. |
a. Ngài tập hợp các nguyên tử thành các hình tướng. |
|
b. By means of these forms He gains the needed contact, and develops full consciousness on the five planes of human development, gradually rarefying and refining the forms as the Spirit of Love or the Flame Divine spirals ever onward towards its goal, that goal which is also the source from which it came. |
b. Bằng các hình tướng này, Ngài đạt được sự tiếp xúc cần thiết, và phát triển tâm thức trọn vẹn trên năm cõi của sự phát triển nhân loại, dần dần làm cho các hình tướng trở nên thanh nhẹ và tinh luyện hơn khi Tinh thần Bác ái hay Ngọn Lửa Thiêng liêng xoắn tiến mãi về mục tiêu của nó, mục tiêu ấy cũng chính là nguồn mà từ đó nó đã xuất phát. |
|
These forms are the sumtotal of all spheres or atoms within the solar system, or within the solar ring-pass-not, and in their seven major differentiations they are the [Page 144] spheres of the seven Spirits, or the seven planetary Logoi. |
Các hình tướng này là tổng số của mọi khối cầu hay nguyên tử trong hệ mặt trời, hay trong vòng-giới-hạn mặt trời, và trong bảy biến phân chính yếu của chúng, chúng là các [Page 144] khối cầu của bảy Thánh Linh, hay bảy Hành Tinh Thượng đế. |
|
All lesser spheres ranging downward from these major spheres, include all grades of manifestation down to the elemental essence on the arc of involution. (64) We need to remember that on the Path of Involution, the action of Brahma is primarily felt, seeking the line of least resistance. On the Path of Evolution the work of the second Logos is felt, beginning at a point in time and space which hides the mystery of the second chain, but finding its point of accelerated vibration or the unification of the two modes of manifestation—rotary-spiral-cyclic—in the middle part of what we call the third chain. This is after all the blending of the activity of Brahma with the onward progress of Vishnu. We have the correspondence to this in the sumtotal of the effects brought about in the second and third root races. |
Mọi khối cầu nhỏ hơn trải dài xuống dưới từ các khối cầu lớn này bao gồm mọi cấp độ biểu lộ cho đến Tinh chất hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá. (64) Chúng ta cần nhớ rằng trên Con Đường Giáng Hạ Tiến Hoá, hoạt động của Brahma được cảm nhận chủ yếu, tìm kiếm con đường ít trở ngại nhất. Trên Con Đường Tiến Hoá, công việc của Thượng đế thứ hai được cảm nhận, bắt đầu tại một điểm trong thời gian và không gian che giấu huyền nhiệm của dãy thứ hai, nhưng tìm thấy điểm rung động gia tốc của nó hay sự hợp nhất của hai phương thức biểu lộ—quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ—ở phần giữa của điều mà chúng ta gọi là dãy thứ ba. Rốt cuộc, đây là sự hòa trộn hoạt động của Brahma với sự tiến triển đi tới của Vishnu. Chúng ta có sự tương ứng với điều này trong tổng số các tác động được tạo ra trong giống dân gốc thứ hai và thứ ba. |
|
(64) Elemental Essence is seen to consist of aggregations of matter, on one of the six non-atomic subplanes of the mental and the desire planes—aggregations which do not themselves serve as forms for any entity to inhabit, but as the material out of which such forms may be built. the turning of its attention. (back) |
(64) Tinh chất hành khí được thấy là gồm những tập hợp vật chất trên một trong sáu cõi phụ không nguyên tử của cõi trí và cõi dục vọng—những tập hợp mà tự chúng không làm thành hình tướng cho bất kỳ thực thể nào cư ngụ, nhưng là chất liệu để từ đó những hình tướng như thế có thể được xây dựng. sự quay sự chú ý của nó. (trở lại) |
|
The activity of the second Logos is carried on under the cosmic Law of Attraction. The Law of Economy has for one of its branches a subsidiary Law of marked development called the Law of Repulsion. The cosmic Laws of Attraction and Economy are therefore the raison d’être (viewed from one angle) of the eternal repulsion that goes on as Spirit seeks ever to liberate itself from form. The matter aspect always follows the line of least resistance, and repulses all tendency to group formation, while Spirit, governed by the Law of Attraction, seeks ever to separate itself from matter by the method of attracting an ever more adequate type of matter in the process of distinguishing the real from the unreal, and passing from one illusion to another until the resources of matter are fully utilised. |
Hoạt động của Thượng đế thứ hai được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Định luật Tiết Kiệm có một trong những phân nhánh của nó là một Định luật phụ thuộc đã phát triển rõ rệt gọi là Định luật Đẩy Lùi. Vì vậy, các Định luật Hấp Dẫn và Tiết Kiệm vũ trụ là raison d’être (xét từ một góc độ) của sự đẩy lùi vĩnh cửu diễn ra khi Tinh thần luôn tìm cách giải thoát chính nó khỏi hình tướng. Phương diện vật chất luôn đi theo con đường ít trở ngại nhất, và đẩy lùi mọi khuynh hướng hướng đến sự hình thành nhóm, trong khi Tinh thần, được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, luôn tìm cách tách chính nó khỏi vật chất bằng phương pháp thu hút một loại vật chất ngày càng thích đáng hơn trong tiến trình phân biệt cái thực với cái không thực, và đi từ ảo tưởng này sang ảo tưởng khác cho đến khi các tài nguyên của vật chất được sử dụng trọn vẹn. |
|
[Page 145] Eventually the Indweller of the form feels the urge, or attractive pull, of its Own Self. The reincarnating jiva, for instance, lost in the maze of illusion, begins in course of time to recognise (under the Law of Attraction) the vibration of its own Ego, which stands to it as the Logos of its own system, its deity in the three worlds of experience. Later, when the body egoic itself is seen as illusion, the vibration of the Monad is felt, and the jiva, working under the same law, works its way back through the matter of the two planes of superhuman evolution, till it is merged in its own essence. |
[Page 145] Sau cùng, Đấng Nội Tại của hình tướng cảm nhận được sự thôi thúc, hay lực hút hấp dẫn, của chính Bản Ngã của nó. Chẳng hạn, jiva tái sinh, bị lạc trong mê cung của ảo tưởng, theo thời gian bắt đầu nhận biết (dưới Định luật Hấp Dẫn) rung động của chân ngã của chính nó, chân ngã này đối với nó cũng như Thượng đế của hệ thống riêng của nó, vị thần của nó trong ba cõi kinh nghiệm. Về sau, khi chính thể chân ngã được thấy là ảo tưởng, rung động của chân thần được cảm nhận, và jiva, hoạt động dưới cùng định luật ấy, lần đường quay trở lại xuyên qua vật chất của hai cõi của sự tiến hoá siêu nhân cho đến khi nó hòa nhập vào bản chất riêng của nó. |
|
Therefore: |
Vì vậy: |
|
a. The goal of the second Logos is consciousness, to be achieved in co-operation with the third Logos. |
a. Mục tiêu của Thượng đế thứ hai là tâm thức, đạt được trong sự hợp tác với Thượng đế thứ ba. |
|
b. His function is the building of forms to be His instruments of experience. |
b. Chức năng của Ngài là xây dựng các hình tướng để làm công cụ kinh nghiệm của Ngài. |
|
c. His mode of action is cyclic and spiral, the revolution of the wheel of existence in ordered cycles for a specific purpose, and the progression of these spheres of matter around a fixed centre, within the solar periphery. |
c. Phương thức hành động của Ngài là chu kỳ và xoắn ốc, sự quay của bánh xe tồn tại trong những chu kỳ có trật tự vì một mục đích xác định, và sự tiến triển của các khối cầu vật chất này quanh một trung tâm cố định, trong chu vi mặt trời. |
|
These three concepts are governed by the Law of Attraction, or the law governing the interplay or the action and reaction. |
Ba khái niệm này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, hay định luật chi phối sự tương tác hoặc tác động và phản tác động. |
|
a. Between the Sun and its six brothers. |
a. Giữa Mặt Trời và sáu huynh đệ của nó. |
|
b. Between the circling whirling seven planes of the solar system. |
b. Giữa bảy cõi quay tròn xoáy lượn của hệ mặt trời. |
|
c. Between everything in the matter of all forms, the spheres of matter themselves and the aggregate of those spheres that are embodied in the forms of still others. |
c. Giữa mọi thứ trong vật chất của mọi hình tướng, chính các khối cầu vật chất và tổng thể những khối cầu ấy được nhập thể trong các hình tướng của những khối cầu khác nữa. |
|
The First Logos. The first Logos is the Ray of Cosmic Will. His mode of action is a literal driving forward of the solar ring-pass-not through space, and until the end of this mahamanvantara or day of Brahma (the logoic [Page 146] cycle) we shall not be able to conceive of the first aspect of will or power as it really is. We know it now as the will to exist, manifesting through the matter of the forms (the Primordial Ray and the Divine Ray), and we know it as that which in some occult manner links the system up with its cosmic centre. In a manner inconceivable to us the first Logos brings in the influence of other constellations. When this first aspect is better understood (in the next mahamanvantara) the work of the seven Rishis of the Great Bear, (65) and the supreme influence of Sirius will be comprehended; in this present manifestation of the Son, or of the Vishnu aspect, we are concerned more closely with the Pleiades and their influence via the Sun, and, in relation to our planet, via Venus. |
Thượng đế thứ nhất. Thượng đế thứ nhất là Cung của Ý Chí Vũ Trụ. Phương thức hành động của Ngài là một sự thúc đẩy theo nghĩa đen vòng-giới-hạn mặt trời tiến xuyên qua không gian, và cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa hay ngày của Brahma này (chu kỳ logoic [Page 146]) chúng ta sẽ không thể quan niệm được phương diện thứ nhất của ý chí hay quyền năng như nó thực sự là gì. Hiện nay chúng ta biết nó như ý chí tồn tại, biểu lộ qua vật chất của các hình tướng (Cung Nguyên Sơ và Cung Thiêng liêng), và chúng ta biết nó như điều bằng một cách huyền bí nào đó liên kết hệ thống với trung tâm vũ trụ của nó. Theo một cách không thể quan niệm được đối với chúng ta, Thượng đế thứ nhất mang vào ảnh hưởng của các chòm sao khác. Khi phương diện thứ nhất này được thấu hiểu rõ hơn (trong Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp) công việc của bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, (65) và ảnh hưởng tối thượng của Sirius sẽ được hiểu rõ; trong biểu lộ hiện tại này của Con, hay của phương diện Vishnu, chúng ta quan tâm gần gũi hơn đến Pleiades và ảnh hưởng của chúng qua Mặt Trời, và, liên hệ với hành tinh của chúng ta, qua Sao Kim. |
|
(65) “The Hindus place their seven primitive Rishis in the Great Bear. The prototypes or the animating source of the seven Heavenly Men, the planetary Logoi, are considered the seven Existences who function through the seven stars of the Bear.”—S. D., II, 668. (back) |
(65) “Người Hindu đặt bảy vị Rishi nguyên thủy của họ trong Đại Hùng Tinh. Các nguyên mẫu hay nguồn sinh động của bảy Đấng Thiên Nhân, các Hành Tinh Thượng đế, được xem là bảy Hiện Hữu hoạt động qua bảy ngôi sao của chòm Gấu.” — S. D., II, 668. (trở lại) |
|
This subject of the first Logos, manifesting only in connection with the other two in the system, is a profound mystery, which is not fully understood by even those who have taken the sixth Initiation. |
Chủ đề này về Thượng đế thứ nhất, chỉ biểu lộ trong sự liên hệ với hai Thượng đế kia trong hệ thống, là một huyền nhiệm sâu xa mà ngay cả những người đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu cũng chưa thấu hiểu trọn vẹn. |
|
The first Logos embodies the “will to live” and it was through His instrumentality that the Manasaputras came into objective existence in relation to the human and deva hierarchies. In this system, the blending of the Divine Ray of Wisdom and the Primordial Ray of intelligent matter forms the great dual evolution; back of both these cosmic Entities stands another Entity Who is the embodiment of Will, and Who is the utiliser of forms—though not the forms of any other than the Greater Building devas and the human hierarchies in time and space. He is the animating principle; the will-to-live aspect of the seven Hierarchies. Nevertheless these seven Hierarchies are (as says H. P. B.) the sevenfold ray of wisdom, the dragon in its seven forms. (S. D., I, 100-108.) (67, 68) This is a [Page 147] deep mystery, and only a clue to it all can be found at this time by man in the contemplation of his own nature in the three worlds of his manifestation. Just as our Logos is seeking objectivity through His solar system in its threefold form of which the present is the second, so man seeks objectivity through his three bodies—physical, astral and mental. At this time he is polarised in his astral body, or in his second aspect in like manner as the undifferentiated Logos is polarised in His second aspect. In time and space as we now conceive it, the sum total of jivas are governed by feeling, emotion, and desire, and not by the will, yet at the same time the will aspect governs manifestation, for the Ego who is the source of personality shows in manifestation the will to love. |
Thượng đế thứ nhất thể hiện “ý chí sống”, và chính nhờ công cụ của Ngài mà các Manasaputras đi vào sự tồn tại khách quan trong liên hệ với các huyền giai nhân loại và thiên thần. Trong hệ này, sự hòa trộn của Cung thiêng liêng Minh Triết và Cung nguyên sơ của vật chất thông tuệ tạo thành cuộc tiến hoá nhị nguyên vĩ đại; đằng sau cả hai Thực thể vũ trụ này còn có một Thực thể khác, Đấng là hiện thân của Ý Chí, và là người sử dụng các hình tướng—dù không phải các hình tướng nào khác ngoài các thiên thần đại kiến tạo và các huyền giai nhân loại trong thời gian và không gian. Ngài là nguyên khí linh hoạt; là phương diện ý chí-sống của bảy Huyền Giai. Tuy nhiên, bảy Huyền Giai này lại là (như H. P. B. nói) cung minh triết thất phân, con rồng trong bảy hình thức của nó. (S. D., I, 100-108.) (67, 68) Đây là một [Page 147] huyền nhiệm sâu xa, và hiện nay con người chỉ có thể tìm được một đầu mối cho toàn bộ điều này bằng cách chiêm ngưỡng bản chất của chính mình trong ba cõi thấp của sự biểu hiện của y. Cũng như Thượng đế của chúng ta đang tìm kiếm tính khách quan qua hệ mặt trời của Ngài trong hình thức tam phân của nó mà hiện nay là hình thức thứ hai, thì con người cũng tìm kiếm tính khách quan qua ba thể của mình—thể xác, thể cảm dục và thể trí. Hiện nay y đang phân cực trong thể cảm dục của mình, hay trong phương diện thứ hai của y, cũng giống như Thượng đế chưa biến phân đang phân cực trong phương diện thứ hai của Ngài. Trong thời gian và không gian như chúng ta hiện quan niệm, tổng số các jivas bị chi phối bởi cảm giác, cảm xúc và dục vọng, chứ không phải bởi ý chí, tuy nhiên đồng thời phương diện ý chí vẫn chi phối sự biểu hiện, vì chân ngã là nguồn của phàm ngã biểu lộ trong sự biểu hiện ý chí yêu thương. |
|
(67) Subba Rao says in Five Years of Theosophy, page 102: “As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities; and that these three entities, again, are evolved out of a single entity or monad. To take a familiar example, the seven coloured rays in the solar ray are evolved out of three primary coloured rays; and the three primary colours coexist with the four secondary colours in the solar ray. Similarly the three primary entities which brought man into existence coexist in him with the four secondary entities which arose from different combinations of the three primary entities. Read also S. D., I, 190, 191. (back) |
(67) Subba Rao nói trong Five Years of Theosophy, trang 102: “Theo quy luật chung, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đi vào tồn tại từ ba thực thể sơ nguyên; và ba thực thể này, đến lượt chúng, lại được tiến hoá ra từ một thực thể đơn nhất hay chân thần. Lấy một ví dụ quen thuộc, bảy tia màu sắc trong tia mặt trời được tiến hoá ra từ ba tia màu sắc sơ nguyên; và ba màu sơ nguyên cùng đồng tồn tại với bốn màu thứ cấp trong tia mặt trời. Tương tự như vậy, ba thực thể sơ nguyên đã đưa con người vào tồn tại cùng đồng tồn tại trong y với bốn thực thể thứ cấp phát sinh từ những sự kết hợp khác nhau của ba thực thể sơ nguyên. Cũng hãy đọc S. D., I, 190, 191. (back) |
|
The difficulty lies in the inability of the finite mind to grasp the significance of this threefold manifestation, but by thoughtful brooding over the Personality and its relation to the Ego, who is the love aspect and who nevertheless in relation to manifestation in the three worlds is the will aspect likewise, will come some faint light upon the same problems raised to Deity, or expanded from microcosmic to macrocosmic spheres. |
Khó khăn nằm ở chỗ trí tuệ hữu hạn không thể nắm bắt được thâm nghĩa của sự biểu hiện tam phân này, nhưng bằng sự suy tư sâu sắc về Phàm ngã và mối liên hệ của nó với Chân ngã, vốn là phương diện bác ái và tuy vậy trong liên hệ với sự biểu hiện trong ba cõi thấp cũng đồng thời là phương diện ý chí, sẽ có chút ánh sáng mờ nhạt soi vào chính những vấn đề ấy khi được nâng lên tới Thượng đế, hay được mở rộng từ các khối cầu vi mô sang các khối cầu vĩ mô. |
|
The Mahadeva aspect or the first Logos (who embodies cosmic will) is controlled by the Law of Synthesis, the cosmic law governing the tendency to unification; only in this case, it is not the unification of matter and Spirit, but the unification of the seven into the three, and into the one. These three figures primarily stand for Spirit, [Page 148] for quality, for principle, and not so primarily for matter, although matter, being inspired by spirit, conforms. The Law of Synthesis has a direct connection with One Who is still higher than our Logos, and is the law of control exercised by Him upon the Logos of our system. This is a spiritual relationship that tends to abstraction or to that synthesis of the spiritual elements that will result in their conscious return (the whole point lying in that word “conscious”) to their cosmic point of synthesis, or of unification with their source. Their source is the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, as we have earlier seen. |
Phương diện Mahadeva hay Thượng đế thứ nhất (Đấng thể hiện ý chí vũ trụ) được kiểm soát bởi Định luật Tổng Hợp, định luật vũ trụ chi phối khuynh hướng hướng tới hợp nhất; chỉ có điều trong trường hợp này, đó không phải là sự hợp nhất của vật chất và tinh thần, mà là sự hợp nhất của bảy vào trong ba, và vào trong một. Ba con số này trước hết tượng trưng cho Tinh thần, [Page 148] cho phẩm tính, cho nguyên khí, chứ không chủ yếu tượng trưng cho vật chất, mặc dù vật chất, vì được tinh thần truyền cảm hứng, vẫn tuân theo. Định luật Tổng Hợp có liên hệ trực tiếp với một Đấng còn cao hơn Thượng đế của chúng ta, và là định luật kiểm soát do Ngài thực thi lên Thượng đế của hệ chúng ta. Đây là một mối liên hệ tinh thần có khuynh hướng đi đến sự trừu xuất, hay đến sự tổng hợp các yếu tố tinh thần mà kết quả sẽ là sự trở về hữu thức của chúng (toàn bộ điểm then chốt nằm trong từ “hữu thức” ấy) về điểm tổng hợp vũ trụ của chúng, hay sự hợp nhất với cội nguồn của chúng. Cội nguồn của chúng là ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, như chúng ta đã thấy trước đây. |
|
Therefore, in connection with the first Logos, we can sum up as we did with the other Logoi: |
Do đó, liên quan đến Thượng đế thứ nhất, chúng ta có thể tóm lược như đã làm với các Thượng đế khác: |
|
a. Mục tiêu của Ngài là sự tổng hợp các Tinh thần đang đạt được tâm thức qua sự biểu hiện, và đang nhờ kinh nghiệm trong vật chất mà gia tăng phẩm tính. |
|
|
b. His function is, by means of will, to hold them in manifestation for the desired period, and later to abstract them, and blend them again with their spiritual source. Hence the necessity of remembering that fundamentally, the first Logos controls the cosmic entities or extra-systemic beings; the second Logos controls the solar entities; the third Logos controls the lunar entities and their correspondences elsewhere in the system. |
b. Chức năng của Ngài là, bằng ý chí, giữ chúng trong sự biểu hiện trong thời kỳ mong muốn, và về sau trừu xuất chúng, rồi hòa trộn chúng trở lại với cội nguồn tinh thần của chúng. Vì thế cần nhớ rằng, về căn bản, Thượng đế thứ nhất kiểm soát các thực thể vũ trụ hay các hữu thể ngoài hệ; Thượng đế thứ hai kiểm soát các thực thể thái dương; Thượng đế thứ ba kiểm soát các thực thể thái âm và các tương ứng của chúng ở nơi khác trong hệ. |
|
This rule must not be carried too far in detail as long as man’s mind is of its present calibre. The mystery lies in the realisation that all is carried on in a divine co-operation that has its base outside the system. Hence too the fact that the first Logos is called the Destroyer, because He is abstraction, if viewed from below upwards. His work is the synthesis of Spirit with Spirit, their [Page 149] eventual abstraction from matter, and their unification with their cosmic source. Hence also He is the one who brings about pralaya or the disintegration of form,—the form from which the Spirit has been abstracted. |
Không nên đẩy quy luật này đi quá xa vào chi tiết chừng nào trí tuệ con người vẫn còn ở tầm mức hiện nay. Huyền nhiệm nằm trong sự chứng nghiệm rằng mọi sự đều được tiến hành trong một sự hợp tác thiêng liêng có nền tảng ở bên ngoài hệ. Vì thế cũng có sự kiện rằng Thượng đế thứ nhất được gọi là Đấng Hủy Diệt, bởi vì Ngài là sự trừu xuất, nếu nhìn từ dưới lên trên. Công việc của Ngài là sự tổng hợp Tinh thần với Tinh thần, sự [Page 149] trừu xuất cuối cùng của chúng ra khỏi vật chất, và sự hợp nhất của chúng với cội nguồn vũ trụ của chúng. Vì thế Ngài cũng là Đấng mang lại pralaya hay sự tan rã của hình tướng,—hình tướng mà từ đó Tinh thần đã được trừu xuất. |
|
If we carry the analogy down to the microcosm a glimpse can be gained of the same idea and hence ability to comprehend with greater facility. The Ego (being to the man on the physical plane what the Logos is to His system) is likewise the animating will, the destroyer of forms, the producer of pralaya and the One Who withdraws the inner spiritual man from out of his threefold body; he draws them to himself the centre of his little system. The Ego is extra-cosmic as far as the human being on the physical plane is concerned, and in the realisation of this fact may come elucidation of the true cosmic problem involving the Logos and “the spirits in prison,” as the Christian puts it. |
Nếu chúng ta đưa phép loại suy xuống tiểu thiên địa, có thể thoáng thấy cùng một ý tưởng ấy và nhờ đó có khả năng thấu hiểu dễ dàng hơn. Chân ngã (đối với con người trên cõi hồng trần cũng như Thượng đế đối với hệ của Ngài) cũng là ý chí linh hoạt, là kẻ hủy diệt các hình tướng, là tác nhân tạo ra pralaya và là Đấng rút con người tinh thần bên trong ra khỏi thể tam phân của y; chân ngã kéo chúng về với chính nó, trung tâm của hệ nhỏ bé của nó. Chân ngã là ngoài vũ trụ xét theo con người trên cõi hồng trần, và trong sự chứng nghiệm sự kiện này có thể xuất hiện sự làm sáng tỏ vấn đề vũ trụ chân thực liên quan đến Thượng đế và “những tinh thần trong ngục tù”, như cách người Cơ Đốc giáo nói. |
|
c. Phương thức hành động của Ngài là một sự thúc đẩy tiến lên; ý chí nằm phía sau sự phát triển tiến hoá là của Ngài, và chính Ngài thúc đẩy Tinh thần tiến qua vật chất cho đến khi cuối cùng nó xuất hiện ra khỏi vật chất, sau khi đã đạt được hai điều: |
|
|
First, Added quality to quality, and therefore emerging plus the gained faculty that experience has engendered. |
Thứ nhất, cộng thêm phẩm tính vào phẩm tính, và do đó xuất hiện với năng lực đã đạt được mà kinh nghiệm đã tạo ra. |
|
Second, Increased the vibration of matter itself by means of its own energy, so that matter at the moment of pralaya and obscuration will have two main characteristics,—activity, the result of the Law of Economy, and a dual magnetism which will be the result of the Law of Attraction. |
Thứ hai, làm tăng rung động của chính vật chất bằng năng lượng riêng của nó, để cho vật chất vào lúc pralaya và sự che khuất sẽ có hai đặc tính chính,—hoạt động, là kết quả của Định luật Tiết Kiệm, và một từ điện nhị nguyên sẽ là kết quả của Định luật Hấp Dẫn. |
|
All of these three concepts are governed by the Law of Synthesis, which is the law of a coherent will-to-be, persisting [Page 150] not only in time and space, but within a still vaster cycle. |
Tất cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, là định luật của một ý chí-gắn bó-với-hiện-hữu mạch lạc, tồn tại bền bỉ [Page 150] không chỉ trong thời gian và không gian, mà còn trong một chu kỳ còn rộng lớn hơn nữa. |
|
These preliminary statements have been laid down in an endeavour to show the synthesis of the whole. In the use of words comes limitation, and a clouding of the idea; words literally veil or hide thoughts, detract from their clarity, and confuse them by expression. The work of the second and third Logoi (being the production of the objectivity of the essential Spirit) is more easy to grasp in broad outline than the more esoteric work of the first Logos, which is that of the animating will. |
Những phát biểu sơ bộ này đã được nêu ra nhằm cố gắng chỉ ra sự tổng hợp của toàn thể. Trong việc dùng ngôn từ có sự giới hạn, và có sự làm mờ ý tưởng; ngôn từ theo nghĩa đen che phủ hay giấu kín tư tưởng, làm giảm sự sáng tỏ của chúng, và làm chúng rối lên qua sự diễn đạt. Công việc của Thượng đế thứ hai và thứ ba (là tạo ra tính khách quan của Tinh thần cốt yếu) dễ nắm bắt trong đại cương hơn là công việc huyền bí hơn của Thượng đế thứ nhất, vốn là công việc của ý chí linh hoạt. |
|
In terms of fire another angle of expression may perhaps elucidate. |
Xét theo thuật ngữ của lửa, một góc độ diễn đạt khác có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn. |
|
The third Logos is fire in matter. He burns by friction, and gains speed and added vibration by the rotation of the spheres, their interplay thus producing friction with each other. |
Thượng đế thứ ba là lửa trong vật chất. Ngài bốc cháy bằng ma sát, và đạt được tốc độ cùng rung động gia tăng nhờ sự quay của các khối cầu, sự tương tác của chúng do đó tạo ra ma sát với nhau. |
|
The second Logos is solar fire. He is the fire of matter and the electric fire of Spirit blended, producing, in time and space, that fire which we call solar. He is the quality of the flame, or the essential flame, produced by this merging. A correspondence to this may be seen in the radiatory fire of matter, and in the emanation, for instance, from the central sun, from a planet, or from a human being,—which latter emanation we call magnetism. A man’s emanation, or characteristic vibration, is the result of the blending of Spirit and matter, and the relative adequacy of the matter, or the form, to the life within. The objective solar system, or the sun in manifestation, is the result of the blending of Spirit (electric fire) with matter (fire by friction), and the emanations of the Son, in time and space, are dependent upon the adequacy of the matter, and of the form to the life within. |
Thượng đế thứ hai là Lửa Thái dương. Ngài là lửa của vật chất và Lửa Điện của Tinh thần hòa trộn, tạo ra, trong thời gian và không gian, ngọn lửa mà chúng ta gọi là thái dương. Ngài là phẩm tính của ngọn lửa, hay ngọn lửa cốt yếu, được tạo ra bởi sự hòa nhập này. Một tương ứng của điều này có thể thấy trong lửa bức xạ của vật chất, và trong sự phát xạ, chẳng hạn, từ mặt trời trung tâm, từ một hành tinh, hay từ một con người,—mà sự phát xạ sau cùng này chúng ta gọi là từ điện. Sự phát xạ của một người, hay rung động đặc trưng của y, là kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần và vật chất, và của mức độ tương đối thích đáng của vật chất, hay của hình tướng, đối với sự sống bên trong. Hệ mặt trời khách quan, hay mặt trời trong sự biểu hiện, là kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần (Lửa Điện) với vật chất (Lửa ma sát), và các phát xạ của Con, trong thời gian và không gian, tùy thuộc vào mức độ thích đáng của vật chất, và của hình tướng đối với sự sống bên trong. |
|
The first Logos is electric fire, the fire of pure Spirit. Yet in manifestation He is the Son, for by union with matter (the mother) the Son is produced by Whom He is [Page 151] known. “I and my Father are One” (Bible. John, 10:30) is the most occult statement in the Christian Bible, for it not only refers to the union of a man with his source, the monad, via the ego, but to the union of all life with its source, the will aspect, the first Logos. |
Thượng đế thứ nhất là Lửa Điện, lửa của Tinh thần thuần túy. Tuy nhiên trong sự biểu hiện Ngài là Con, vì nhờ sự kết hợp với vật chất (người mẹ), Con được sinh ra, nhờ Đấng ấy mà Ngài được [Page 151] biết đến. “Ta và Cha Ta là Một” (Bible. John, 10:30) là phát biểu huyền bí nhất trong Kinh Thánh Cơ Đốc, vì nó không chỉ nói đến sự hợp nhất của một con người với cội nguồn của mình, chân thần, qua chân ngã, mà còn nói đến sự hợp nhất của mọi sự sống với cội nguồn của nó, phương diện ý chí, Thượng đế thứ nhất. |
|
We will now endeavor to confine ourselves strictly to the subject of fire in matter, and its active effect upon the sheaths of which it is the animating factor, and upon the centers which come primarily under its control. |
Giờ đây chúng ta sẽ cố gắng giới hạn mình một cách nghiêm ngặt vào chủ đề lửa trong vật chất, và tác động hoạt động của nó lên các vỏ bọc mà nó là nhân tố linh hoạt, cũng như lên các trung tâm chủ yếu nằm dưới sự kiểm soát của nó. |
|
As we have been told, and as is generally recognised, the effect of heat in matter is to produce that activity which we call rotary, or the revolution of the spheres. Some of the ancient books, and among them a few that are not yet accessible in the occident, have taught that the entire vault of heaven is a vast sphere, revolving slowly like a stupendous wheel, and carrying with it, in its revolution, the entire number of constellations and of universes contained within it. This is a statement unverifiable by the finite mind of man at his present stage, and with his present scientific accessories, but (like all occult statements) it contains within it the seed of thought, the germ of truths, and the clue to the mystery of the universe. Suffice it here to say, that the rotation of the spheres within the solar periphery is a recognized occult fact, and indications are available to prove that science itself likewise formulates the hypothesis that the solar ring-pass-not similarly rotates in its appointed place among the constellations. But at this juncture we will not deal with this angle of the subject, but will study the rotary action of the spheres of the system, and of its content—all the lesser spheres of every degree—remembering ever to keep the distinction clearly in mind that we are dealing now simply with the inherent characteristic of matter itself, and not with matter in co-operation with [Page 152] its opposite, Spirit, which co-operation brings about spiral-cyclic movement. |
Như chúng ta đã được bảo, và như thường được thừa nhận, tác động của nhiệt trong vật chất là tạo ra hoạt động mà chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển của các khối cầu. Một số sách cổ, và trong số đó có vài sách vẫn chưa thể tiếp cận được ở phương Tây, đã dạy rằng toàn bộ vòm trời là một khối cầu bao la, quay chậm như một bánh xe khổng lồ, và mang theo trong vòng quay của nó toàn bộ số chòm sao và vũ trụ chứa bên trong nó. Đây là một phát biểu mà trí tuệ hữu hạn của con người ở giai đoạn hiện nay, với các phương tiện khoa học hiện có, không thể kiểm chứng được, nhưng (giống như mọi phát biểu huyền bí) nó chứa trong nó hạt giống của tư tưởng, mầm mống của chân lý, và đầu mối dẫn đến huyền nhiệm của vũ trụ. Ở đây chỉ cần nói rằng sự quay của các khối cầu bên trong chu vi thái dương là một sự kiện huyền bí đã được công nhận, và có những chỉ dấu sẵn có để chứng minh rằng chính khoa học cũng xây dựng giả thuyết rằng vòng-giới-hạn thái dương cũng quay tương tự trong vị trí đã định của nó giữa các chòm sao. Nhưng vào lúc này chúng ta sẽ không bàn đến góc độ ấy của chủ đề, mà sẽ nghiên cứu hoạt động quay tròn của các khối cầu của hệ, và của nội dung của nó—mọi khối cầu nhỏ hơn ở mọi cấp độ—luôn luôn nhớ giữ rõ trong tâm trí sự phân biệt rằng hiện nay chúng ta chỉ đang đề cập đến đặc tính cố hữu của chính vật chất, chứ không phải vật chất trong sự hợp tác với [Page 152] đối cực của nó là Tinh thần, mà sự hợp tác ấy tạo ra chuyển động xoắn ốc-chu kỳ. |
II. THE EFFECTS OF ROTARY MOTION |
II. CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỘNG QUAY TRÒN |
|
Every sphere in the body macrocosmic rotates. This rotation produces certain effects, which effects might be enumerated as follows: |
Mọi khối cầu trong thể đại thiên địa đều quay. Sự quay này tạo ra những tác động nhất định, và các tác động ấy có thể được liệt kê như sau: |
|
1. Separation is produced by rotary movement. By means of this action, all the spheres became differentiated, and form, as we know, the following atomic units: |
1. Sự phân ly được tạo ra bởi chuyển động quay tròn. Nhờ hoạt động này, mọi khối cầu trở nên biến phân, và tạo thành, như chúng ta biết, các đơn vị nguyên tử sau đây: |
|
a. The solar system, recognised as a cosmic atom, all the so-called atoms within its periphery being regarded as molecular. |
a. Hệ mặt trời, được công nhận như một nguyên tử vũ trụ, mọi cái gọi là nguyên tử bên trong chu vi của nó đều được xem là phân tử. |
|
b. The seven planes, regarded as seven vast spheres, rotating latitudinally within the solar periphery. |
b. Bảy cõi, được xem như bảy khối cầu bao la, quay theo vĩ độ bên trong chu vi thái dương. |
|
c. The seven rays, regarded as the seven veiling forms of the Spirits, themselves spheroidal bands of colour, rotating longitudinally, and forming (in connection with the seven planes) a vast interlacing network. These two sets of spheres (planes and rays) form the totality of the solar system, and produce its form spheroidal. |
c. Bảy cung, được xem như bảy hình tướng che phủ của các Tinh thần, bản thân chúng là những dải màu hình cầu, quay theo kinh độ, và tạo thành (liên hệ với bảy cõi) một mạng lưới đan xen bao la. Hai tập hợp khối cầu này (các cõi và các cung) tạo thành toàn thể của hệ mặt trời, và tạo ra hình thể cầu của nó. |
|
Let us withdraw our thought at this juncture from the informing Consciousnesses of these three types of spheres, and concentrate our attention upon the realisation that each plane is a vast sphere of matter, actuated by latent heat and progressing or rotating in one particular direction. Each ray of light, no matter of what colour, is likewise a sphere of matter of the utmost tenuity, rotating in a direction opposite to that of the planes. These rays produce by their mutual interaction a radiatory effect upon each other. Thus by the approximation of the latent heat in matter, and the interplay of that heat upon other spheres that totality is produced which we call “fire by friction.” |
Vào lúc này, hãy rút tư tưởng của chúng ta ra khỏi các Tâm thức phú linh của ba loại khối cầu này, và tập trung sự chú ý vào sự chứng nghiệm rằng mỗi cõi là một khối cầu vật chất bao la, được thúc động bởi nhiệt tiềm ẩn và đang tiến triển hay quay theo một hướng đặc biệt. Mỗi tia sáng, bất kể màu gì, cũng là một khối cầu vật chất cực kỳ tinh tế, quay theo hướng ngược lại với các cõi. Các tia này tạo ra, nhờ sự tương tác lẫn nhau, một hiệu quả bức xạ lên nhau. Như vậy, nhờ sự tiếp cận của nhiệt tiềm ẩn trong vật chất, và sự tương tác của nhiệt ấy lên các khối cầu khác, mà toàn thể ấy được tạo ra, cái mà chúng ta gọi là “Lửa ma sát.” |
|
[Page 153] In connection with these two types of spheres we might, by way of illustration and for the sake of clarity, say that: |
[Page 153] Liên quan đến hai loại khối cầu này, chúng ta có thể, để minh họa và cho rõ ràng, nói rằng: |
|
a. The planes rotate from east to west. |
a. Các cõi quay từ đông sang tây. |
|
b. The rays rotate from north to south. |
b. Các cung quay từ bắc xuống nam. |
|
Students should here bear carefully in mind that we are not referring here to points in space; we are simply making this distinction and employing words in order to make an abstruse idea more comprehensible. From the point of view of the totality of the rays and planes there is no north, south, east nor west. But at this point comes a correspondence and a point of real interest, though also of complexity. By means of this very interaction, the work of the four Maharajahs or Lords of Karma, is made possible; the quaternary and all sumtotals of four can be seen as one of the basic combinations of matter, produced by the dual revolutions of planes and rays. |
Ở đây các đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ rằng chúng ta không nói đến các điểm trong không gian; chúng ta chỉ đơn giản tạo ra sự phân biệt này và dùng ngôn từ để làm cho một ý tưởng khó hiểu trở nên dễ hiểu hơn. Xét từ quan điểm của toàn thể các cung và các cõi thì không có bắc, nam, đông hay tây. Nhưng tại điểm này xuất hiện một tương ứng và một điểm thật sự đáng quan tâm, dù cũng phức tạp. Chính nhờ sự tương tác này mà công việc của bốn Maharajah hay các Chúa Tể Nghiệp Quả trở nên khả hữu; bộ bốn và mọi tổng thể của bốn có thể được thấy như một trong những tổ hợp căn bản của vật chất, được tạo ra bởi các vòng quay nhị nguyên của các cõi và các cung. |
|
The seven planes, likewise atoms, rotate on their own axis, and conform to that which is required of all atomic lives. |
Bảy cõi, cũng là các nguyên tử, quay trên trục riêng của chúng, và tuân theo điều được đòi hỏi nơi mọi sự sống nguyên tử. |
|
The seven spheres of any one plane, which we call subplanes, equally correspond to the system; each has its seven revolving wheels or planes that rotate through their own innate ability, due to latent heat—the heat of the matter of which they are formed. |
Bảy khối cầu của bất kỳ một cõi nào, mà chúng ta gọi là các cõi phụ, cũng tương ứng với hệ; mỗi cõi có bảy bánh xe hay cõi quay của nó, quay nhờ năng lực bẩm sinh riêng, do nhiệt tiềm ẩn—nhiệt của vật chất mà chúng được tạo thành. |
|
The spheres or atoms of any form whatsoever, from the form logoic, which we have somewhat dealt with, down to the ultimate physical atom and the molecular matter that goes to the construction of the physical body, show similar correspondences and analogies. |
Các khối cầu hay nguyên tử của bất kỳ hình tướng nào, từ hình tướng logoic mà chúng ta đã phần nào bàn đến, xuống đến nguyên tử hồng trần tối hậu và vật chất phân tử dùng để cấu tạo thể xác, đều cho thấy những tương ứng và loại suy tương tự. |
|
All these spheres conform to certain rules, fulfil certain conditions and are characterised by the same fundamental qualifications. Later we will consider these conditions, [Page 154] but must now continue with the effect of rotary action. |
Tất cả các khối cầu này đều tuân theo những quy luật nhất định, đáp ứng những điều kiện nhất định và được đặc trưng bởi cùng những phẩm tính căn bản. Sau này chúng ta sẽ xem xét các điều kiện ấy, [Page 154] nhưng giờ đây phải tiếp tục với tác động của hoạt động quay tròn. |
|
2. Momentum, resulting therefore in repulsion, was produced by the rotary movement. We have referred to the Law of Repulsion as one of the subsidiary branches of the great Law of Economy, which governs matter. Repulsion is brought about by rotary action, and is the basis of that separation which prevents the contact of any atom with any other atom, which keeps the planets at fixed points in space and separated stably from each other; which keeps them at a certain distance from their systemic centre, and which likewise keeps the planes and subplanes from losing their material identity. Here we can see the beginning of that age-long duel between Spirit and matter, which is characteristic of manifestation, one aspect working under the Law of Attraction, and the other governed by the Law of Repulsion. From aeon to aeon the conflict goes on, with matter becoming less potent. Gradually (so gradually as to seem negated when viewed from the physical plane) the attractive power of Spirit is weakening the resistance of matter till, at the close of the greater solar cycles, destruction (as it is called) will ensue, and the Law of Repulsion be overcome by the Law of Attraction. It is a destruction of form and not of matter itself, for matter is indestructible. This can be seen even now in the microcosmic life, and is the cause of the disintegration of form, which holds itself as a separated unit by the very method of repulsing all other forms. It can be seen working out gradually and inappreciably in connection with the Moon, which no longer is repulsive to the earth, and is giving of her very substance to this planet. H. P. B. hints at this in The Secret Doctrine, and I have here suggested the law under which this is so. (S. D., I, 179.) (70) |
2. Động lượng, do đó dẫn đến sự đẩy lùi, được tạo ra bởi chuyển động quay tròn. Chúng ta đã đề cập đến Định luật Đẩy Lùi như một trong những nhánh phụ của Định luật Tiết Kiệm vĩ đại, định luật chi phối vật chất. Sự đẩy lùi được tạo ra bởi hoạt động quay tròn, và là nền tảng của sự phân ly ngăn cản sự tiếp xúc của bất kỳ nguyên tử nào với bất kỳ nguyên tử nào khác, giữ các hành tinh ở những điểm cố định trong không gian và ổn định tách biệt với nhau; giữ chúng ở một khoảng cách nhất định với trung tâm hệ của chúng, và cũng giữ cho các cõi và cõi phụ không đánh mất bản sắc vật chất của chúng. Ở đây chúng ta có thể thấy khởi đầu của cuộc đấu tranh lâu dài giữa Tinh thần và vật chất, vốn là đặc trưng của sự biểu hiện, một phương diện hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, còn phương diện kia được chi phối bởi Định luật Đẩy Lùi. Từ aeon này sang aeon khác, cuộc xung đột vẫn tiếp diễn, với vật chất ngày càng kém mạnh hơn. Dần dần (chậm đến mức dường như bị phủ nhận khi nhìn từ cõi hồng trần) quyền năng hấp dẫn của Tinh thần đang làm suy yếu sức kháng cự của vật chất cho đến khi, vào lúc kết thúc các chu kỳ thái dương lớn hơn, sự hủy diệt (như cách gọi) sẽ xảy ra, và Định luật Đẩy Lùi bị Định luật Hấp Dẫn vượt thắng. Đó là sự hủy diệt hình tướng chứ không phải của chính vật chất, vì vật chất là bất khả hủy. Điều này có thể thấy ngay cả bây giờ trong sự sống tiểu thiên địa, và là nguyên nhân của sự tan rã của hình tướng, vốn tự giữ mình như một đơn vị tách biệt bằng chính phương pháp đẩy lùi mọi hình tướng khác. Có thể thấy điều này đang diễn ra dần dần và không dễ nhận ra liên quan đến Mặt Trăng, vốn không còn đẩy lùi Trái Đất nữa, và đang trao chính chất liệu của nó cho hành tinh này. H. P. B. gợi ý điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và ở đây tôi đã nêu ra định luật chi phối điều đó. (S. D., I, 179.) (70) |
|
(70) “Mặt trăng (vệ tinh của chúng ta) tuôn đổ vào bầu hành tinh thấp nhất của dãy hành tinh chúng ta (Bầu D. “Trái Đất”), toàn bộ năng lượng và quyền năng của nó; và sau khi đã chuyển chúng sang một trung tâm mới, trên thực tế trở thành một hành tinh chết mà trong đó, kể từ khi bầu hành tinh của chúng ta ra đời, sự quay đã chấm dứt.”—S. D., I, 179. (back) |
|
|
[Page 155] 3. Frictional effect on all other bodies atomic, producing: |
[Page 155] 3. Tác động ma sát lên mọi thể nguyên tử khác, tạo ra: |
|
a. Vitality of the atom, |
a. Sinh lực của nguyên tử, |
|
b. Coherence of the atom, |
b. Sự kết dính của nguyên tử, |
|
c. Ability to function. |
c. Khả năng hoạt động. |
|
d. Heat supplied to the composite form of which it may form a fragmentary part, whether it is the heat supplied by the rotation of a planet within the form macrocosmic, or the rotation of a cell in the physical body within the form microcosmic. |
d. Nhiệt được cung cấp cho hình tướng hợp thành mà nó có thể là một phần tử cấu thành, dù đó là nhiệt được cung cấp bởi sự quay của một hành tinh trong hình tướng đại thiên địa, hay sự quay của một tế bào trong thể xác bên trong hình tướng tiểu thiên địa. |
|
e. Final combustion or disintegration, when the fires latent and radiatory have achieved a specific stage. This is the secret of final obscuration and of pralaya, but cannot be dissociated from the two other factors of solar and electric fire. |
e. Sự bốc cháy cuối cùng hay tan rã, khi các ngọn lửa tiềm ẩn và bức xạ đã đạt đến một giai đoạn nhất định. Đây là bí mật của sự che khuất cuối cùng và của pralaya, nhưng không thể tách rời khỏi hai yếu tố kia là Lửa Thái dương và Lửa Điện. |
|
4. Absorption, through that expression which is seen in all whirling spheres of atomic matter at whichever surface in the sphere corresponds to the point called in a planet the North Pole. Some idea of the intention that I seek to convey may be grasped by a study of the atom as portrayed in Babbitt’s “Principles of Light and Colour,” and later in Mrs. Besant’s “Occult Chemistry.” This depression is produced by radiations which proceed counter to the rotations of the sphere and pass down from the north southwards to a midway point. From there they tend to increase the latent heat, to produce added momentum and to give specific quality according to the source from which the radiation comes. This absorption of extra-spheroidal emanation is the secret of the dependence of one sphere upon another, and has its correspondence in the cycling of a ray through any plane sphere. Every atom, though termed spheroidal, is more accurately a sphere slightly depressed at one location, [Page 156] that location being the place through which flows the force which animates the matter of the sphere. This is true of all spheres, from the solar down to the atom of matter that we call the cell in the body physical. Through the depression in the physical atom flows the vitalising force from without. Every atom is both positive and negative; it is receptive or negative where the inflowing force is concerned, and positive or radiatory where its own emanations are concerned, and in connection with its effect upon its environment. |
4. Sự hấp thụ, thông qua biểu hiện được thấy trong mọi khối cầu xoáy của vật chất nguyên tử tại bất cứ bề mặt nào trong khối cầu tương ứng với điểm được gọi trên một hành tinh là Cực Bắc. Có thể nắm được phần nào ý định mà tôi muốn truyền đạt bằng cách nghiên cứu nguyên tử như được mô tả trong tác phẩm “Principles of Light and Colour,” của Babbitt, và sau đó trong “Occult Chemistry.” của bà Besant. Chỗ lõm này được tạo ra bởi các bức xạ đi ngược chiều quay của khối cầu và đi xuống từ phía bắc về phía nam đến một điểm ở giữa. Từ đó chúng có khuynh hướng làm tăng nhiệt tiềm ẩn, tạo ra thêm động lượng và ban cho phẩm tính đặc thù tùy theo nguồn mà bức xạ phát ra. Sự hấp thụ phát xạ ngoài khối cầu này là bí mật của sự phụ thuộc của khối cầu này vào khối cầu khác, và có tương ứng của nó trong sự tuần hoàn của một cung qua bất kỳ khối cầu cõi nào. Mọi nguyên tử, dù được gọi là hình cầu, chính xác hơn là một khối cầu hơi lõm tại một vị trí, [Page 156] vị trí ấy là nơi mà qua đó mãnh lực làm linh hoạt vật chất của khối cầu chảy vào. Điều này đúng với mọi khối cầu, từ khối cầu thái dương xuống đến nguyên tử vật chất mà chúng ta gọi là tế bào trong thể xác. Qua chỗ lõm trong nguyên tử hồng trần chảy vào mãnh lực tiếp sinh lực từ bên ngoài. Mọi nguyên tử vừa là dương vừa là âm; nó tiếp nhận hay âm xét theo mãnh lực chảy vào, và dương hay bức xạ xét theo các phát xạ riêng của nó, cũng như liên quan đến tác động của nó lên môi trường xung quanh. |
|
This can be predicated likewise of the entire ring-pass-not of the solar system in relation to its cosmic environment. Force flows into the solar system from three directions via three channels: |
Điều này cũng có thể được khẳng định đối với toàn bộ vòng-giới-hạn của hệ mặt trời trong liên hệ với môi trường vũ trụ của nó. Mãnh lực chảy vào hệ mặt trời từ ba hướng qua ba kênh: |
|
a. The sun Sirius, |
a. Sao Thiên Lang, |
|
b. The Pleiades, |
b. Thất Tinh, |
|
c. The Great Bear. |
c. Đại Hùng Tinh. |
|
I would here point out the connection or correspondence in this statement to an earlier one made when speaking of solar radiation, and the channels through which it can be felt. These currents or radiations we call |
Ở đây tôi muốn chỉ ra mối liên hệ hay tương ứng trong phát biểu này với một phát biểu trước đó khi nói về bức xạ thái dương, và các kênh mà qua đó nó có thể được cảm nhận. Những dòng hay bức xạ này chúng ta gọi là |
|
a. Akashic. |
a. Akashic. |
|
b. Electrical. |
b. Điện. |
|
c. Pranic. |
c. Prana. |
|
In considering the occult meaning of what is here suggested, one point in elucidation may be imparted, leaving the working out of the other two relationships to the student. The Pleiades are to the solar system, the source of electrical energy, and just as our sun is the embodiment of the heart, or love aspect, of the Logos (Who is Himself the heart of ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) so the Pleiades are the feminine opposite of Brahma. Think this out, for much is contained in this statement. |
Khi xem xét ý nghĩa huyền bí của điều được gợi ra ở đây, có thể truyền đạt một điểm để làm sáng tỏ, còn việc khai triển hai mối liên hệ kia xin để lại cho đạo sinh. Pleiades đối với hệ mặt trời là nguồn năng lượng điện, và cũng như mặt trời của chúng ta là hiện thân của phương diện tim, hay phương diện bác ái, của Thượng đế (Đấng mà chính Ngài là tim của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ) thì Pleiades là đối cực nữ tính của Brahma. Hãy suy ngẫm điều này, vì có rất nhiều điều được hàm chứa trong phát biểu ấy. |
|
Certain broad statements have been laid down here concerning the rotation of matter, and the results produced [Page 157] in diverse spheres by that rotation. What is predicated of any one sphere or atom can be predicated of all, if it is in any way an occult statement of fact and we should be able to work out these four effects: |
Ở đây đã nêu ra một số khẳng định khái quát liên quan đến sự quay của vật chất, và các kết quả được tạo ra [Page 157] trong những khối cầu khác nhau bởi sự quay đó. Điều được khẳng định về bất kỳ khối cầu hay nguyên tử nào cũng có thể được khẳng định về tất cả, nếu đó theo bất kỳ cách nào là một phát biểu huyền bí về sự kiện, và chúng ta phải có thể khai triển bốn hiệu quả này: |
|
1. Separation, or the repulsive effect, |
1. Sự tách rời, hay hiệu quả đẩy lùi, |
|
2. Momentum, or the interior effect, |
2. Động lượng, hay hiệu quả nội tại, |
|
3. Frictional, environal effect, |
3. Hiệu quả ma sát của môi trường chung quanh, |
|
4. Absorption, the receptive or attractive effect, |
4. Sự hấp thu, hiệu quả tiếp nhận hay thu hút, |
|
in every grade and type of atom,—a solar system, a sun, a planet, a plane, a ray, the body of the Ego, or a cell in the physical body. |
trong mọi cấp độ và loại nguyên tử,—một hệ mặt trời, một mặt trời, một hành tinh, một cõi, một cung, thể của chân ngã, hay một tế bào trong thể xác. |
III. THE QUALITIES OF ROTARY MOTION |
III. CÁC PHẨM TÍNH CỦA CHUYỂN ĐỘNG QUAY |
|
Every rotating sphere of matter is characterised by the three qualities, of inertia, mobility and rhythm. |
Mọi khối cầu vật chất đang quay đều được đặc trưng bởi ba phẩm tính: quán tính, tính động và nhịp điệu. |
|
1. Inertia. This characterises every atom at the dawn of manifestation, at the beginning of a solar cycle or mahamanvantara (or one hundred years of Brahma), at the commencement of a chain, of a globe, or of any spheroidal form whatsoever without exception. This statement, therefore, includes the totality of manifesting forms within the solar system. |
1. Quán tính. Điều này đặc trưng cho mọi nguyên tử vào buổi bình minh của biểu hiện, vào lúc khởi đầu một chu kỳ mặt trời hay một Đại giai kỳ sinh hóa (hay một trăm năm của Brahma), vào lúc bắt đầu một Dãy, một bầu hành tinh, hay bất kỳ hình tướng cầu thể nào mà không có ngoại lệ. Vì vậy, phát biểu này bao gồm toàn thể các hình tướng đang biểu hiện trong hệ mặt trời. |
|
Let us keep clearly in our minds that we are simply considering the three qualities of matter itself and are not considering consciousness. Inertia is the result of lack of activity and the relative quiescence of the fires of matter. These fires, during obscuration or Pralaya, though latent, are free from the stimulation that comes from the aggregation of atoms into form, and the consequent interplay of the forms upon each other. Where form exists and the Laws of Repulsion and Attraction are coming into force, making radiation therefore possible, then comes stimulation, emanative effect, and a gradual speeding up which eventually, from within the atom itself, by its own rotary movement produces the next quality. [Page 158] |
Chúng ta hãy ghi nhớ thật rõ rằng chúng ta chỉ đang xem xét ba phẩm tính của chính vật chất, chứ không xem xét tâm thức. Quán tính là kết quả của sự thiếu hoạt động và sự tĩnh tại tương đối của các lửa của vật chất. Các lửa này, trong thời kỳ che khuất hay Giai kỳ qui nguyên, tuy tiềm ẩn, nhưng không chịu sự kích thích phát sinh từ sự kết tụ các nguyên tử thành hình tướng, và từ sự tương tác hệ quả của các hình tướng lên nhau. Ở đâu có hình tướng tồn tại và các Định luật Đẩy Lùi cùng Thu Hút bắt đầu có hiệu lực, nhờ đó làm cho sự bức xạ trở nên khả hữu, thì ở đó xuất hiện sự kích thích, hiệu quả phát xạ, và một sự gia tốc dần dần mà cuối cùng, từ bên trong chính nguyên tử, bằng chuyển động quay của nó, tạo ra phẩm tính kế tiếp. [Page 158] |
|
2. Mobility. The inherent fires of matter produce rotary movement. Eventually this rotation results in radiation. The radiation of matter, the result of its dual heat, produces necessarily an effect upon other atoms in its environment (it matters not whether that environment is cosmic space, systemic space, or the periphery of the physical body of a man), and this interaction and interplay causes repulsion and attraction according to the polarity of the cosmic, systemic or physical atom. Eventually this produces coherence of form; bodies, or aggregates of atoms come into being or manifestation, and persist for the length of their greater or lesser cycles until the third quality is brought into definite recognition. |
2. Tính động. Các lửa cố hữu của vật chất tạo ra chuyển động quay. Cuối cùng sự quay này dẫn đến bức xạ. Sự bức xạ của vật chất, là kết quả của nhiệt song đôi của nó, tất yếu tạo ra một hiệu quả lên các nguyên tử khác trong môi trường chung quanh nó (môi trường ấy là không gian vũ trụ, không gian hệ thống, hay chu vi của thể xác của một con người cũng không thành vấn đề), và sự tương tác cùng tác động qua lại này gây ra sự đẩy lùi và thu hút tùy theo sự phân cực của nguyên tử vũ trụ, hệ thống hay hồng trần. Cuối cùng điều này tạo ra sự kết dính của hình tướng; các thể, hay các tập hợp nguyên tử, đi vào hiện hữu hay biểu hiện, và tồn tại suốt độ dài của các chu kỳ lớn hay nhỏ của chúng cho đến khi phẩm tính thứ ba được nhận biết một cách rõ rệt. |
|
3. Rhythm, or the attainment of the point of perfect balance and of equilibrium. This point of perfect balance then produces certain specific effects which might be enumerated and pondered upon, even if to our finite minds they may seem paradoxical and contradictory. |
3. Nhịp điệu, hay sự đạt đến điểm quân bình hoàn hảo và thế cân bằng. Điểm quân bình hoàn hảo này sau đó tạo ra một số hiệu quả đặc thù có thể được liệt kê và suy ngẫm, dù đối với trí tuệ hữu hạn của chúng ta chúng có thể dường như nghịch lý và mâu thuẫn. |
|
The limitation lies with us and with the use of words, and not in any real inaccuracy. These effects are: |
Sự giới hạn nằm ở chúng ta và ở việc sử dụng ngôn từ, chứ không phải ở bất kỳ sự thiếu chính xác thực sự nào. Các hiệu quả ấy là: |
|
a. The disintegration of form, |
a. Sự tan rã của hình tướng, |
|
b. The liberation of the essence which the form confines, |
b. Sự giải thoát tinh chất mà hình tướng giam giữ, |
|
c. The separations of Spirit and matter, |
c. Sự phân ly của tinh thần và vật chất, |
|
d. The end of a cycle, whether planetary, human or solar, |
d. Sự chấm dứt của một chu kỳ, dù là hành tinh, nhân loại hay mặt trời, |
|
e. The production of obscuration, and the end of objectivity or manifestation, |
e. Sự tạo ra tình trạng che khuất, và sự chấm dứt của tính khách quan hay biểu hiện, |
|
f. Sự tái hấp thu tinh chất, và sự hòa nhập trở lại của vật chất đã biến phân với cội nguồn của vật chất, |
|
|
g. The end of time and space as we understand it, |
g. Sự chấm dứt của thời gian và không gian như chúng ta hiểu, |
|
h. The unification of the three Fires and the bringing about of spontaneous combustion, if one might so express it, [Page 159] |
h. Sự hợp nhất của ba Lửa và việc tạo ra sự tự bốc cháy, nếu có thể diễn tả như vậy, [Page 159] |
|
i. The synthetic activity of matter in the three types of movement,—rotary, spiralling-cyclic and onward progression,—which unified movement will be produced by the interaction of the fires of matter, of mind and of Spirit upon each other. |
i. Hoạt động tổng hợp của vật chất trong ba loại chuyển động,—quay, xoắn ốc-chu kỳ và tiến triển về phía trước,—mà chuyển động hợp nhất ấy sẽ được tạo ra bởi sự tương tác của các lửa của vật chất, của trí tuệ và của tinh thần lên nhau. |
|
When the point of rhythm or balance is reached in a solar system, in a plane, in a ray, in a causal body, and in the physical body, then the occupier of the form is loosed from prison; he can withdraw to his originating source, and is liberated from the sheath which has hitherto acted as a prison; and he can escape from an environment which he has utilised for the gaining of experience and as a battle ground between the pairs of opposites. The sheath or form of whatever kind then automatically disintegrates. |
Khi điểm nhịp điệu hay quân bình được đạt tới trong một hệ mặt trời, trong một cõi, trong một cung, trong một thể nguyên nhân, và trong thể xác, thì kẻ cư ngụ trong hình tướng được tháo khỏi ngục tù; y có thể rút lui về nguồn gốc phát sinh của mình, và được giải thoát khỏi lớp vỏ bấy lâu nay đã hoạt động như một nhà tù; và y có thể thoát khỏi một môi trường mà y đã sử dụng để thu nhận kinh nghiệm và như một chiến trường giữa các cặp đối nghịch. Khi đó lớp vỏ hay hình tướng thuộc bất kỳ loại nào cũng tự động tan rã. |
IV. ROTARY MOTION AND SYMBOLISM |
IV. CHUYỂN ĐỘNG QUAY VÀ BIỂU TƯỢNG HỌC |
|
Every rotating sphere of matter can be pictured by using the same general cosmic symbols as are used for the portrayal of evolution. |
Mọi khối cầu vật chất đang quay đều có thể được hình dung bằng cách dùng cùng những biểu tượng vũ trụ tổng quát như được dùng để mô tả tiến hoá. |
|
1. The circle. This stands for the ring-pass-not of undifferentiated matter. It stands for a solar system or the body logoic, viewed etherically; it stands for a planet or the body of a Heavenly Man viewed etherically; it stands for a human body, viewed likewise, etherically and it stands for them all at the prime or earliest epoch of manifestation. It stands finally for a single cell within the human vehicle, and for the atom of the chemist or physicist. |
1. Hình tròn. Điều này tượng trưng cho vòng-giới-hạn của vật chất chưa biến phân. Nó tượng trưng cho một hệ mặt trời hay thể của Thượng đế, được nhìn theo phương diện dĩ thái; nó tượng trưng cho một hành tinh hay thể của một Đấng Thiên Nhân được nhìn theo phương diện dĩ thái; nó tượng trưng cho một thể người, cũng được nhìn theo phương diện dĩ thái, và nó tượng trưng cho tất cả những điều ấy ở thời kỳ nguyên sơ hay sớm nhất của biểu hiện. Cuối cùng nó tượng trưng cho một tế bào đơn lẻ trong hiện thể con người, và cho nguyên tử của nhà hóa học hay nhà vật lý học. |
|
2. The circle with the point in the centre. This signifies the production of heat in the heart of matter; the point of fire, the moment of the first rotary activity, the first straining of the atom, motivated by latent heat, into the sphere of influence of another atom. This produced the first radiation, the first pull of attraction, and the [Page 160] consequent setting up of a repulsion and therefore producing |
2. Hình tròn với điểm ở trung tâm. Điều này biểu thị sự sản sinh nhiệt trong tim của vật chất; điểm lửa, khoảnh khắc của hoạt động quay đầu tiên, sự căng vươn đầu tiên của nguyên tử, được thúc đẩy bởi nhiệt tiềm ẩn, đi vào phạm vi ảnh hưởng của một nguyên tử khác. Điều này tạo ra bức xạ đầu tiên, lực kéo thu hút đầu tiên, và [Page 160] do đó thiết lập một sự đẩy lùi và vì vậy tạo ra |
|
3. The circle divided into two. This marks the active rotation and the beginning of the mobility of the atom of matter, and produces the subsequent extension of the influence of the positive point within the atom of matter till its sphere of influence extends from the centre to the periphery. At the point where it touches the periphery it contacts the influence of the atoms in its environment; radiation is set up and the point of depression makes its appearance, marking the inflow and outflow of force or heat. |
3. Hình tròn chia làm hai. Điều này đánh dấu sự quay tích cực và sự khởi đầu của tính động của nguyên tử vật chất, và tạo ra sự mở rộng tiếp theo của ảnh hưởng của điểm dương bên trong nguyên tử vật chất cho đến khi phạm vi ảnh hưởng của nó kéo dài từ trung tâm đến chu vi. Tại điểm nó chạm đến chu vi, nó tiếp xúc với ảnh hưởng của các nguyên tử trong môi trường chung quanh; bức xạ được thiết lập và điểm lõm xuất hiện, đánh dấu sự chảy vào và chảy ra của mãnh lực hay nhiệt. |
|
We are here only showing the application of cosmic symbols to matter, and are not dealing with manifestation from any other angle than that of the purely material. For instance, we are applying the symbol of the point within the circle to the sphere of matter, and the point of latent heat. We are not handling at this point matter as informed by an entity who is to matter, when so informing, a point of conscious life. |
Ở đây chúng ta chỉ đang trình bày việc áp dụng các biểu tượng vũ trụ vào vật chất, và không bàn đến biểu hiện từ bất kỳ góc độ nào khác ngoài góc độ thuần túy vật chất. Chẳng hạn, chúng ta đang áp dụng biểu tượng điểm trong vòng tròn vào khối cầu vật chất, và vào điểm nhiệt tiềm ẩn. Ở điểm này chúng ta không xử lý vật chất như được thấm nhuần bởi một thực thể mà đối với vật chất, khi thấm nhuần như vậy, là một điểm sự sống hữu thức. |
|
We are dealing only with matter and latent heat, with the result produced by rotary movement of radiatory heat and the consequent interplay of bodies atomic. We are therefore dealing with the point we set out to consider while studying our fifth division, motion in the sheaths. |
Chúng ta chỉ đang bàn đến vật chất và nhiệt tiềm ẩn, đến kết quả do chuyển động quay của nhiệt bức xạ tạo ra và sự tương tác hệ quả của các thể nguyên tử. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến điểm mà chúng ta đã đặt ra để xem xét khi nghiên cứu phân bộ thứ năm của mình, chuyển động trong các lớp vỏ. |
|
4. The Circle divided into four. This is the true circle of matter, the equal armed cross of the Holy Spirit, Who is the personification of active intelligent matter. This shows the fourth dimensional quality of matter and the penetration of the fire in four directions, its threefold radiation being symbolised by the triangles formed by the fourfold cross. This portrays the fourfold revolution of any atom. By this is not meant the ability of any atom to make four revolutions, but the fourth dimensional quality of the revolution which is the goal aimed at, and which is even now becoming known in matter during this [Page 161] fourth round, and in this fourth chain. As the fifth spirilla or fifth stream of force in an atom becomes developed, and man can conceive of a fourth-dimensional rotary movement, the accuracy of this symbol will be recognised. It will then be seen that all sheaths in their progress from inertia to rhythm, via mobility, pass through all stages, whether they are logoic sheaths, the rays in which the Heavenly Men veil Themselves, the planes which form the bodies of certain solar entities, the causal body (or the sheath of the Ego on the mental plane), the human physical body in its etheric constitution, or a cell in that body etheric. All these material forms (existent in etheric matter which is the true matter of all forms) are primarily undifferentiated ovoids; they then become actively rotating or manifest latent heat; next they manifest duality or latent and radiatory fire; the expression of these two results in fourth dimensional action or the wheel or rotary form turning upon itself. |
4. Hình tròn chia làm bốn. Đây là hình tròn đích thực của vật chất, thập giá có bốn cánh bằng nhau của Chúa Thánh Thần, Đấng là hiện thân của vật chất hoạt động thông minh. Điều này cho thấy phẩm tính bốn chiều của vật chất và sự thâm nhập của lửa theo bốn hướng, sự bức xạ tam phân của nó được biểu tượng hóa bằng các tam giác được tạo thành bởi thập giá tứ phân. Điều này mô tả cuộc quay tứ phân của bất kỳ nguyên tử nào. Điều này không có nghĩa là khả năng của bất kỳ nguyên tử nào thực hiện bốn vòng quay, mà là phẩm tính bốn chiều của cuộc quay, vốn là mục tiêu được nhắm tới, và hiện nay đang bắt đầu được biết đến trong vật chất trong [Page 161] cuộc tuần hoàn thứ tư này, và trong dãy thứ tư này. Khi loa tuyến thứ năm hay dòng mãnh lực thứ năm trong một nguyên tử được phát triển, và con người có thể quan niệm được một chuyển động quay bốn chiều, thì tính chính xác của biểu tượng này sẽ được thừa nhận. Khi đó sẽ thấy rằng mọi lớp vỏ trong tiến trình đi từ quán tính đến nhịp điệu, qua tính động, đều đi qua mọi giai đoạn, dù đó là các lớp vỏ của Thượng đế, các cung mà trong đó các Đấng Thiên Nhân che giấu Chính Các Ngài, các cõi tạo thành các thể của một số thực thể thái dương, thể nguyên nhân (hay lớp vỏ của chân ngã trên cõi trí), thể xác con người trong cấu tạo dĩ thái của nó, hay một tế bào trong thể dĩ thái ấy. Tất cả các hình tướng vật chất này (tồn tại trong vật chất dĩ thái là vật chất đích thực của mọi hình tướng) trước hết là những hình trứng chưa biến phân; rồi chúng trở nên quay tích cực hay biểu lộ nhiệt tiềm ẩn; kế đó chúng biểu lộ nhị nguyên tính hay lửa tiềm ẩn và lửa bức xạ; sự biểu lộ của hai điều này dẫn đến hoạt động bốn chiều hay bánh xe hay hình tướng quay tự xoay trên chính nó. |
|
5. The swastika, or the fire extending not only from the periphery to the centre in four directions, but gradually circulating and radiating from and around the entire periphery. This signifies completed activity in every department of matter until finally we have a blazing, fiery wheel, turning every way, with radiant channels of fire from the centre to the ring-pass-not,—fire within, without and around until the wheel is consumed and there is naught remaining but perfected fire. |
5. Chữ Vạn, hay lửa không chỉ kéo dài từ chu vi đến trung tâm theo bốn hướng, mà còn dần dần lưu chuyển và bức xạ từ và quanh toàn bộ chu vi. Điều này biểu thị hoạt động hoàn tất trong mọi bộ môn của vật chất cho đến cuối cùng chúng ta có một bánh xe lửa rực cháy, quay theo mọi hướng, với các kênh lửa bức xạ từ trung tâm đến vòng-giới-hạn,—lửa bên trong, bên ngoài và chung quanh cho đến khi bánh xe bị thiêu rụi và không còn gì sót lại ngoài lửa hoàn hảo. |
V. MOTION AND THE CENTRES |
V. CHUYỂN ĐỘNG VÀ CÁC TRUNG TÂM |
|
We can take up this matter of the centres along three lines. Much has been written and discussed anent the centres, and much mystery exists which has aroused the curiosity of the ignorant, and has tempted many to meddle with that which does not concern them. I seek to elucidate somewhat and to give a new angle of vision to [Page 162] the study of these abstruse matters. I do not in any way intend to take up the subject from such an angle as to convey rules and information that will enable a man to vivify these centres and bring them into play. I sound here a solemn word of warning. Let a man apply himself to a life of high altruism, to a discipline that will refine and bring his lower vehicles into subjection, and to a strenuous endeavor to purify and control his sheaths. When he has done this and has both raised and stabilised his vibration, he will find that the development and functioning of the centres has pursued a parallel course, and that (apart from his active participation) the work has proceeded along the desired lines. Much danger and dire calamity attends the man who arouses these centres by unlawful methods, and who experiments with the fires of his body without the needed technical knowledge. He may, by his efforts, succeed in arousing the fires and in intensifying the action of the centres, but he will pay the price of ignorance in the destruction of matter, in the burning of bodily or brain tissue, in the development of insanity, and in opening the door to currents and forces, undesirable and destructive. It is not the part of a coward, in these matters concerning the subjective life, to move with caution and with care; it is the part of discretion. The aspirant, therefore, has three things to do: |
Chúng ta có thể tiếp cận vấn đề các trung tâm này theo ba đường hướng. Đã có nhiều điều được viết và bàn luận về các trung tâm, và có nhiều điều huyền bí tồn tại đã khơi dậy sự tò mò của kẻ vô minh, và cám dỗ nhiều người can thiệp vào điều không liên quan đến họ. Tôi tìm cách làm sáng tỏ phần nào và đem lại một góc nhìn mới cho [Page 162] việc nghiên cứu những vấn đề thâm áo này. Tôi hoàn toàn không có ý định trình bày đề tài này từ một góc độ nhằm truyền đạt các quy luật và thông tin giúp một người tiếp sinh lực cho các trung tâm này và đưa chúng vào hoạt động. Ở đây tôi cất lên một lời cảnh báo nghiêm trọng. Hãy để một người chuyên tâm vào đời sống vị tha cao cả, vào một kỷ luật sẽ tinh luyện và đưa các vận cụ thấp của y vào sự chế ngự, và vào một nỗ lực mãnh liệt nhằm thanh lọc và kiểm soát các lớp vỏ của y. Khi y đã làm được điều này và vừa nâng cao vừa ổn định rung động của mình, y sẽ thấy rằng sự phát triển và hoạt động của các trung tâm đã đi theo một tiến trình song song, và rằng (ngoài sự tham dự chủ động của y) công việc đã tiến hành theo những đường hướng mong muốn. Nhiều hiểm nguy và tai họa nghiêm trọng đi kèm với người đánh thức các trung tâm này bằng những phương pháp bất hợp pháp, và là kẻ thử nghiệm với các lửa của thể mình mà không có tri thức kỹ thuật cần thiết. Bằng nỗ lực của mình, y có thể thành công trong việc đánh thức các lửa và tăng cường hoạt động của các trung tâm, nhưng y sẽ phải trả giá cho sự vô minh bằng sự hủy hoại vật chất, bằng việc đốt cháy mô cơ thể hay mô não, bằng sự phát triển của chứng điên loạn, và bằng việc mở cửa cho các dòng và mãnh lực không mong muốn và có tính hủy diệt. Trong những vấn đề liên quan đến đời sống chủ quan này, tiến bước một cách thận trọng và cẩn mật không phải là phần việc của kẻ hèn nhát; đó là phần việc của sự thận trọng sáng suốt. Vì vậy, người chí nguyện có ba điều phải làm: |
|
1. Purify, discipline and transmute his threefold lower nature. |
1. Thanh lọc, kỷ luật và chuyển hoá bản chất thấp tam phân của mình. |
|
2. Develop knowledge of himself, and equip his mental body; build the causal body by good deeds and thoughts, |
2. Phát triển tri thức về chính mình, và trang bị thể trí của mình; xây dựng thể nguyên nhân bằng các hành động và tư tưởng tốt đẹp, |
|
3. Serve his race in utter self-abnegation. |
3. Phụng sự nhân loại của mình trong sự vô ngã hoàn toàn. |
|
Khi làm như vậy, y hoàn thành định luật, y đặt mình vào tình trạng thích hợp để được huấn luyện, làm cho mình thích hợp với việc áp dụng tối hậu của Thần Trượng Điểm đạo, và nhờ đó giảm thiểu hiểm nguy đi kèm với sự đánh thức lửa. |
|
|
[Page 163] All that is intended to do in this treatise, is to cast some further light upon these centres, to show their interrelation, and to trace the effects produced by their rightful development. To do this, as before stated, the subject will be divided into the following divisions: |
[Page 163] Tất cả điều được dự định thực hiện trong bộ luận này chỉ là soi thêm chút ánh sáng lên các trung tâm này, chỉ ra mối tương quan của chúng, và truy nguyên các hiệu quả do sự phát triển đúng đắn của chúng tạo ra. Để làm điều đó, như đã nói trước đây, đề tài sẽ được chia thành các phân bộ sau: |
|
1. The nature of the centres. |
1. Bản chất của các trung tâm. |
|
2. The centres and the rays. |
2. Các trung tâm và các cung. |
|
3. The centres and kundalini. |
3. Các trung tâm và kundalini. |
|
4. The centres and the senses. |
4. Các trung tâm và các giác quan. |
|
5. The centres and initiation. |
5. Các trung tâm và điểm đạo. |
|
As can be seen from the above tabulation, the subject is not only vast but abstruse. This is principally owing to the fact that until the race is normally clairvoyant, it is not in a position to verify what is said, and has to accept the statements of those who profess to know. Later when man can see and prove for himself, it will be possible to check up these statements; the time is not yet, except for the few. |
Như có thể thấy từ bảng liệt kê trên, đề tài này không những rộng lớn mà còn thâm áo. Điều này chủ yếu là do cho đến khi nhân loại trở nên thông nhãn một cách bình thường, họ chưa ở vào vị thế có thể kiểm chứng điều được nói ra, và phải chấp nhận các phát biểu của những người tự nhận là biết. Về sau khi con người có thể tự mình thấy và chứng minh, sẽ có thể kiểm tra những phát biểu này; thời điểm ấy vẫn chưa đến, ngoại trừ đối với một số ít. |
1. The Nature of the Centres. |
1. Bản chất của các trung tâm. |
|
Let us take the first point: I wish to enumerate the centres to be dealt with in this treatise, keeping the enumeration very closely to that laid down earlier, and dealing not with all the centres, but simply with those closely concerned with man’s fivefold evolution. |
Chúng ta hãy lấy điểm thứ nhất: Tôi muốn liệt kê các trung tâm sẽ được bàn đến trong bộ luận này, giữ sự liệt kê thật sát với điều đã được nêu ra trước đây, và không bàn đến tất cả các trung tâm, mà chỉ bàn đến những trung tâm liên hệ mật thiết với sự tiến hoá ngũ phân của con người. |
|
As before stated, man, at the close of his long pilgrimage, will have passed through the five kingdoms of nature on his way back to his source: |
Như đã nói trước đây, con người, vào lúc kết thúc cuộc hành hương dài lâu của mình, sẽ đã đi qua năm giới trong thiên nhiên trên đường trở về nguồn cội của mình: |
|
1. The mineral kingdom, |
1. giới kim thạch, |
|
2. giới thực vật, |
|
|
3. The animal kingdom, |
3. giới động vật, |
|
4. The human kingdom, |
4. giới nhân loại, |
|
5. The superhuman, or the spiritual kingdom, |
5. giới siêu nhân, hay giới tinh thần, |
|
and will have developed full consciousness on the five planes: [Page 164] |
và sẽ đã phát triển đầy đủ tâm thức trên năm cõi: [Page 164] |
|
1. The physical plane, |
1. cõi hồng trần, |
|
2. The emotional or astral plane, |
2. cõi cảm xúc hay cõi cảm dục, |
|
3. The mental plane, |
3. cõi trí, |
|
4. The intuitional, or the buddhic plane, |
4. cõi trực giác, hay cõi Bồ đề, |
|
5. The spiritual, atmic, or nirvanic plane, |
5. cõi tinh thần, atma, hay cõi Niết Bàn, |
|
by means of the five senses and their correspondences on all the five planes: |
bằng năm giác quan và các tương ứng của chúng trên cả năm cõi: |
|
1. Hearing, |
1. Thính giác, |
|
2. Touch, |
2. Xúc giác, |
|
3. Sight, |
3. Thị giác, |
|
4. Taste, |
4. Vị giác, |
|
5. Smell. |
5. Khứu giác. |
|
By the time the fifth round is reached, three-fifths of the human family will have attained this point and will have their five senses fully functioning on the three planes in the three worlds, leaving the two other planes to be subjugated during the remaining two rounds. I would here point out a fact that is little realised, that in this fivefold evolution of man and in this solar system, the two remaining rounds in any planetary cycle, and the sixth and seventh root-races in those cycles are always synthetic; their function is to gather up and synthesise that which has been achieved in the earlier five. For instance, in this root-race, the sixth and seventh sub-races will synthesise and blend that which the earlier five have wrought out. The analogy lies in the fact that in this solar system the two higher planes (the logoic-and the monadic) are synthetic. One is the synthesising plane for the Logos from whence He abstracts the essence in manifestation; the other for the Monad, from whence the Monad abstracts and garners the fruits of objectivity. |
Vào lúc đạt đến cuộc tuần hoàn thứ năm, ba phần năm gia đình nhân loại sẽ đã đạt tới điểm này và sẽ có năm giác quan của mình hoạt động đầy đủ trên ba cõi trong ba cõi giới, để lại hai cõi kia sẽ được chinh phục trong hai cuộc tuần hoàn còn lại. Ở đây tôi muốn chỉ ra một sự kiện ít được chứng nghiệm, đó là trong sự tiến hoá ngũ phân này của con người và trong hệ mặt trời này, hai cuộc tuần hoàn còn lại trong bất kỳ chu kỳ hành tinh nào, và các giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy trong các chu kỳ ấy luôn luôn có tính tổng hợp; chức năng của chúng là thu góp và tổng hợp điều đã được thành tựu trong năm giai đoạn trước. Chẳng hạn, trong giống dân gốc này, các giống dân phụ thứ sáu và thứ bảy sẽ tổng hợp và hòa trộn điều mà năm giống dân phụ trước đã tạo tác. Sự tương đồng nằm ở chỗ trong hệ mặt trời này, hai cõi cao hơn (cõi của Thượng đế và cõi chân thần) là các cõi tổng hợp. Một cõi là cõi tổng hợp đối với Thượng đế, từ đó Ngài trích xuất tinh chất trong biểu hiện; cõi kia là cõi tổng hợp đối với chân thần, từ đó chân thần trích xuất và thu hoạch các thành quả của tính khách quan. |
|
We will therefore only concern ourselves here with those centres which relate to the evolution of the subtler bodies, the evolution of the psyche, and not with those connected with the evolution and propagation of the dense physical body. These centres are five in number: [Page 165] |
Vì vậy, ở đây chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến những trung tâm liên hệ với sự tiến hoá của các thể vi tế hơn, sự tiến hoá của tâm hồn, chứ không phải những trung tâm gắn với sự tiến hoá và sinh sản của thể xác đậm đặc. Các trung tâm này có năm: [Page 165] |
|
1. That at the base of the spine, the only one dealt with that has a physical effect. |
1. Trung tâm ở đáy cột sống, là trung tâm duy nhất được bàn đến ở đây có hiệu quả hồng trần. |
|
2. That situated at the solar plexus, the most important one in the body from the standpoint of the astral plane. |
2. Trung tâm ở tùng thái dương, là trung tâm quan trọng nhất trong thể xét từ quan điểm của cõi cảm dục. |
|
3. That found at the throat, the most important from the standpoint of the mental plane. |
3. Trung tâm ở cổ họng, là trung tâm quan trọng nhất xét từ quan điểm của cõi trí. |
|
4. That in the region of the heart, which has an occult link with the buddhic plane. |
4. Trung tâm ở vùng tim, có một liên kết huyền bí với cõi Bồ đề. |
|
5. That above the top of the head, which is the crown, and has relation with the atmic plane. |
5. Trung tâm ở phía trên đỉnh đầu, là đỉnh đầu, và có liên hệ với cõi atma. |
|
We do not deal with the lower centres of generation, nor with the spleen which has a direct connection with the etheric, and is the transmitter of prana; they have been dealt with earlier. |
Chúng ta không bàn đến các trung tâm sinh dục thấp hơn, cũng không bàn đến lá lách vốn có liên hệ trực tiếp với dĩ thái, và là cơ quan truyền dẫn prana; các trung tâm ấy đã được bàn đến trước đây. |
|
The centres in the human being deal fundamentally with the FIRE aspect in man, or with his divine spirit. They are definitely connected with the Monad, with the will aspect, with immortality, with existence, with the will to live, and with the inherent powers of Spirit. They are not connected with objectivity and manifestation, but with force, or the powers of the divine life. The correspondence in the Macrocosm can be found in the force which manipulates the cosmic nebulae and which by its whirling rotary motion eventually builds them into planets or spheroidal bodies. These planets are each of them an expression of the “will to live” of some cosmic entity, and the force that swirled, that rotated, that built, that solidified, and that continues to hold in form coherent, is the force of some cosmic Being. |
Các trung tâm trong con người về căn bản liên quan đến phương diện Lửa trong con người, hay tinh thần thiêng liêng của y. Chúng được nối kết rõ rệt với chân thần, với phương diện ý chí, với sự bất tử, với sự hiện hữu, với ý chí sống, và với các quyền năng cố hữu của Tinh thần. Chúng không liên hệ với tính khách quan và biểu hiện, mà liên hệ với mãnh lực, hay các quyền năng của sự sống thiêng liêng. Sự tương ứng trong Đại thiên địa có thể được tìm thấy trong mãnh lực điều khiển các tinh vân vũ trụ và bằng chuyển động quay xoáy của nó cuối cùng kiến tạo chúng thành các hành tinh hay các thể cầu. Mỗi hành tinh này là một biểu hiện của “ý chí sống” của một thực thể vũ trụ nào đó, và mãnh lực đã xoáy chuyển, đã quay, đã kiến tạo, đã làm đông đặc, và vẫn tiếp tục giữ cho hình tướng được kết dính, là mãnh lực của một Hữu thể vũ trụ nào đó. |
|
This force originates on cosmic mental levels, from certain great foci there, descends to the cosmic astral, forming corresponding cosmic focal points, and on the fourth cosmic etheric level (the buddhic plane of our solar system) finds its outlet in certain great centres. These [Page 166] centres are again reflected or reproduced in the three worlds of human endeavor. The Heavenly Men, therefore, have centres on three solar planes, a fact to be remembered. |
Mãnh lực này phát sinh trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, từ một số tiêu điểm lớn ở đó, giáng xuống cõi cảm dục vũ trụ, hình thành các tiêu điểm vũ trụ tương ứng, và trên cấp dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề của hệ mặt trời chúng ta) tìm được lối thoát của nó trong một số trung tâm lớn. Các trung tâm này [Page 166] lại được phản chiếu hay tái tạo trong ba cõi giới của nỗ lực con người. Vì vậy, các Đấng Thiên Nhân có các trung tâm trên ba cõi mặt trời, một sự kiện cần được ghi nhớ. |
|
a. On the monadic plane, the plane of the seven Rays. |
a. Trên cõi chân thần, cõi của bảy Cung. |
|
b. On the buddhic plane, where the Masters and their disciples form the forty-nine centres in the bodies of the seven Heavenly Men. |
b. Trên cõi Bồ đề, nơi các Chân sư và các đệ tử của Các Ngài tạo thành bốn mươi chín trung tâm trong các thể của bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
c. On the fourth etheric physical plane, where the sacred planets, the dense bodies in etheric matter of the Heavenly Men, are to be found. |
c. Trên cõi hồng trần dĩ thái thứ tư, nơi có thể tìm thấy các hành tinh thiêng liêng, là các thể đậm đặc trong vật chất dĩ thái của các Đấng Thiên Nhân. |
|
Here again we can trace the microcosmic correspondence: In the human being the centres are found on the mental plane from which originates the impulse for physical plane existence, or the will to incarnate; from thence they can be traced to the astral level, and eventually to the etheric levels, to the fourth ether, where they practically go through the same evolution that the planetary centres went through, and are instrumental in bringing about objectivity,—being the force centres. |
Ở đây một lần nữa chúng ta có thể truy ra sự tương ứng vi mô: trong con người, các trung tâm được tìm thấy trên cõi trí, từ đó phát sinh xung lực cho sự hiện hữu trên cõi hồng trần, hay ý chí lâm phàm; từ đó chúng có thể được truy ra đến cấp cảm dục, và cuối cùng đến các cấp dĩ thái, đến dĩ thái thứ tư, nơi chúng thực tế trải qua cùng một sự tiến hoá mà các trung tâm hành tinh đã trải qua, và là công cụ đem lại tính khách quan,—vì chúng là các trung tâm mãnh lực. |
|
The centres are formed entirely of streams of force, pouring down from the Ego, who transmits it from the Monad. In this we have the secret of the gradual vibratory quickening of the centres as the Ego first comes into control, or activity, and later (after initiation) the Monad, thus bringing about changes and increased vitality within these spheres of fire or of pure life force. |
Các trung tâm được hình thành hoàn toàn bằng các dòng mãnh lực, tuôn xuống từ chân ngã, là đấng truyền dẫn nó từ chân thần. Trong điều này chúng ta có bí mật của sự tăng tốc rung động dần dần của các trung tâm khi chân ngã trước hết đi vào kiểm soát, hay hoạt động, và về sau (sau điểm đạo) chân thần cũng vậy, nhờ đó tạo ra những biến đổi và sinh lực gia tăng bên trong các khối cầu lửa hay mãnh lực sự sống thuần túy này. |
|
The centres, therefore, when functioning properly, form the “body of fire” which eventually is all that is left, first to man in the three worlds, and later to the Monad. This body of fire is “the body incorruptible” (Bible. I Cor., XV, 53.) or indestructible, spoken of by St. Paul, and is the product of evolution, of the perfect blending of the three fires, which ultimately destroy the form. When the form is [Page 167] destroyed there is left this intangible spiritual body of fire, one pure flame, distinguished by seven brilliant centres of intenser burning. This electric fire is the result of the bringing together of the two poles and demonstrates at the moment of complete at-one-ment, the occult truth of the words “Our God is a consuming Fire.” (Bible. Deut. IV, 24; Hebrews XII, 29.) |
Vì vậy, các trung tâm, khi hoạt động đúng đắn, tạo thành “thể lửa”, rốt cuộc là tất cả những gì còn lại, trước hết đối với con người trong ba cõi giới, và về sau đối với chân thần. Thể lửa này là “thể bất hoại” (Kinh Thánh. I Cor., XV, 53.) hay bất khả hủy diệt, như Thánh Paul đã nói đến, và là sản phẩm của tiến hoá, của sự hòa trộn hoàn hảo của ba ngọn lửa, rốt cuộc hủy diệt hình tướng. Khi hình tướng bị [Page 167] hủy diệt, còn lại thể lửa tinh thần vô hình này, một ngọn lửa thuần nhất, được phân biệt bởi bảy trung tâm rực sáng với sự bừng cháy mãnh liệt hơn. Lửa điện này là kết quả của việc đưa hai cực lại với nhau và chứng minh, vào lúc hợp nhất hoàn toàn, chân lý huyền bí của lời nói: “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu đốt.” (Kinh Thánh. Deut. IV, 24; Hebrews XII, 29.) |
|
Three of these centres are called major centres, as they embody the three aspects of the threefold Monad—Will, Love and Intelligence: |
Ba trong các trung tâm này được gọi là các trung tâm chính, vì chúng thể hiện ba phương diện của chân thần tam phân—Ý chí, Bác ái và Trí tuệ: |
|
1. |
The Head centre |
The Monad. Will or Power. |
|
2. |
The Heart centre |
The Ego. Love and Wisdom. |
|
3. |
The Throat centre |
The Personality. Activity or Intelligence. |
|
The other two centres have to do primarily with the etheric body and with the astral plane. The throat centre synthesises the entire personality life, and is definitely connected with the mental plane,—the three planes, and the two higher planes, and the three centres with the two other centres, the heart and head. Yet, we must not forget that the centre at the base of the spine is also a synthesiser, as would normally be expected, if it is recognised that the lowest plane of all manifestation is the point of deepest reflection. This lowest centre, by synthesising the fire of kundalini and the pranic fires, eventually blends and merges with the fire of mind, and later with the fire of Spirit, producing thus consummation. |
Hai trung tâm kia chủ yếu liên quan đến thể dĩ thái và cõi cảm dục. Trung tâm cổ họng tổng hợp toàn bộ đời sống phàm ngã, và chắc chắn liên hệ với cõi trí,—ba cõi, và hai cõi cao hơn, và ba trung tâm với hai trung tâm kia, tim và đầu. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng trung tâm ở đáy cột sống cũng là một trung tâm tổng hợp, như lẽ thường phải thế, nếu người ta nhận ra rằng cõi thấp nhất của mọi biểu hiện là điểm phản chiếu sâu nhất. Trung tâm thấp nhất này, bằng cách tổng hợp lửa kundalini và các ngọn lửa prana, cuối cùng hòa trộn và hợp nhất với lửa của trí tuệ, và về sau với lửa của tinh thần, nhờ đó tạo nên sự viên mãn. |
|
We must disabuse our minds of the idea that these centres are physical things. They are whirlpools of force that swirl etheric, astral and mental matter into activity of some kind. Because the action is rotary, the result produced in matter is a circular effect that can be seen by the clairvoyant as fiery wheels situated: |
Chúng ta phải gột bỏ khỏi trí óc ý niệm rằng các trung tâm này là những vật thể hồng trần. Chúng là những xoáy mãnh lực cuốn chất liệu dĩ thái, cảm dục và trí tuệ vào một loại hoạt động nào đó. Vì hoạt động ấy có tính xoay tròn, nên kết quả tạo ra trong vật chất là một hiệu ứng hình tròn mà nhà thông nhãn có thể thấy như những bánh xe lửa nằm ở: |
|
1. In the region of the spine, the lowest part. |
1. Vùng cột sống, phần thấp nhất. |
|
2. Between the ribs, just below the diaphragm. [Page 168] |
2. Giữa các xương sườn, ngay dưới cơ hoành. [Page 168] |
|
3. In the region of the left breast. |
3. Vùng ngực trái. |
|
4. In the centre of the throat. |
4. Chính giữa cổ họng. |
|
5. Just above the top of the head. |
5. Ngay phía trên đỉnh đầu. |
|
I would like to describe these centres in greater detail, dealing with them as seen in etheric matter, and basing what I say upon a similar statement by Mr. C. W. Leadbeater in “Inner Life,” Vol. 1, page 447-460. We will note the colours and petals: |
Tôi muốn mô tả các trung tâm này chi tiết hơn, bàn đến chúng như được thấy trong chất liệu dĩ thái, và dựa điều tôi nói trên một phát biểu tương tự của ông C. W. Leadbeater trong “Inner Life,” Tập 1, trang 447-460. Chúng ta sẽ lưu ý đến màu sắc và các cánh hoa: |
|
1. The base of the spine, four petals. These petals are in the shape of a cross, and radiate with orange fire. |
1. Đáy cột sống, bốn cánh hoa. Các cánh hoa này có hình thập giá, và phát ra lửa màu cam. |
|
2. The solar plexus, ten petals rosy color with admixture of green. |
2. Tùng thái dương, mười cánh hoa màu hồng pha lẫn xanh lục. |
|
3. The heart centre, twelve petals glowing golden. |
3. Trung tâm tim, mười hai cánh hoa rực sáng màu vàng kim. |
|
4. The throat centre, sixteen petals of a silvery blue, with blue predominating. |
4. Trung tâm cổ họng, mười sáu cánh hoa màu lam bạc, trong đó lam chiếm ưu thế. |
|
5. The head centre in its twofold divisions: |
5. Trung tâm đầu trong hai phân bộ của nó: |
|
a. Between the eyebrows, consisting of ninety-six petals, one-half of the lotus being rose and yellow, and the other half blue and purple. |
a. Giữa hai chân mày, gồm chín mươi sáu cánh hoa, một nửa hoa sen màu hồng và vàng, nửa kia màu lam và tím. |
|
b. The very top of the head. A centre consisting of twelve major petals of white and gold, and nine hundred and sixty secondary petals arranged around the central twelve. This makes a total of ten hundred and sixty-eight petals in the two head centres (making the one centre) or three hundred and fifty-six triplicities. All these figures have an occult significance. |
b. Chính đỉnh đầu. Một trung tâm gồm mười hai cánh hoa chính màu trắng và vàng kim, và chín trăm sáu mươi cánh hoa phụ xếp quanh mười hai cánh trung tâm. Điều này tạo thành tổng số một ngàn không trăm sáu mươi tám cánh hoa trong hai trung tâm đầu (hợp thành một trung tâm) hay ba trăm năm mươi sáu bộ ba. Tất cả các con số này đều có một ý nghĩa huyền bí. |
|
Just as the Monad is the sumtotal of all the three aspects, and of the seven principles of man, so is the head centre a replica of this, and has within its sphere of influence seven other centres with itself for synthesis. These seven centres are likewise divided into the three major and the four minor centres, with their union and consummation seen in the gorgeous centre surmounting and enveloping them all. There are also three physical centres, called [Page 169] |
Cũng như chân thần là tổng thể của cả ba phương diện và của bảy nguyên khí của con người, thì trung tâm đầu cũng là một bản sao của điều này, và trong phạm vi ảnh hưởng của nó có bảy trung tâm khác với chính nó là sự tổng hợp. Bảy trung tâm này cũng được chia thành ba trung tâm chính và bốn trung tâm phụ, với sự hợp nhất và viên mãn của chúng được thấy trong trung tâm huy hoàng bao trùm và bao bọc tất cả. Cũng có ba trung tâm hồng trần, được gọi là [Page 169] |
|
a. The alta major centre, |
a. trung tâm alta major, |
|
b. The pineal gland, |
b. tuyến tùng, |
|
c. The pituitary body, |
c. tuyến yên, |
|
with four lesser centres. These four lesser centres are blended in that centre which we call the alta major centre and need not concern us. I would here also point out that there is a close connection: |
cùng với bốn trung tâm nhỏ hơn. Bốn trung tâm nhỏ hơn này được hòa nhập vào trung tâm mà chúng ta gọi là trung tâm alta major và không cần bận tâm đến. Ở đây tôi cũng xin chỉ ra rằng có một liên hệ mật thiết: |
|
a. Between the alta major centre and the throat centre. |
a. Giữa trung tâm alta major và trung tâm cổ họng. |
|
b. Between the heart centre and the pituitary body. |
b. Giữa trung tâm tim và tuyến yên. |
|
c. Between the head centre and the pineal gland. |
c. Giữa trung tâm đầu và tuyến tùng. |
|
It would repay the student to contemplate the interesting succession of triangles that are to be found and the way in which they must be linked by the progression of the fire before that fire can perfectly vivify them, and thence pass on to other transmutations. We might enumerate some of these triangles, bearing always in mind that according to the ray so will proceed the geometric rising of the fire, and according to the ray so will the points be touched in ordered sequence. Herein lies one of the secrets of initiation, and herein is found some of the dangers entailed in a too quick publication of information concerning the rays. |
Đạo sinh sẽ được lợi nhiều nếu chiêm ngưỡng chuỗi tam giác lý thú có thể tìm thấy và cách chúng phải được nối kết bằng sự tiến triển của lửa trước khi lửa ấy có thể tiếp sinh lực cho chúng một cách hoàn hảo, rồi từ đó chuyển sang những sự chuyển hoá khác. Chúng ta có thể liệt kê một số tam giác này, luôn ghi nhớ rằng tùy theo cung mà sự bốc lên theo hình học của lửa sẽ diễn ra, và tùy theo cung mà các điểm sẽ được chạm đến theo trình tự có trật tự. Chính trong đây có một trong những bí mật của điểm đạo, và cũng chính trong đây tìm thấy một số nguy hiểm kéo theo bởi việc công bố quá nhanh thông tin liên quan đến các cung. |
|
1. Tam giác prana. |
|
|
a. The shoulder centre. |
a. Trung tâm vai. |
|
b. The centre near the diaphragm. |
b. Trung tâm gần cơ hoành. |
|
c. The spleen. |
c. Lá lách. |
|
2. Man controlled from the astral plane. |
2. Con người được kiểm soát từ cõi cảm dục. |
|
a. The base of the spine. |
a. Đáy cột sống. |
|
b. The solar plexus. |
b. Tùng thái dương. |
|
c. The heart. |
c. Tim. |
|
3. Man controlled from the mental plane. |
3. Con người được kiểm soát từ cõi trí. |
|
a. The base of the spine. |
a. Đáy cột sống. |
|
b. The heart. |
b. Tim. |
|
c. The throat. [Page 170] |
c. Cổ họng. [Page 170] |
|
4. Man partially controlled by the Ego, advanced man. |
4. Con người được chân ngã kiểm soát một phần, con người tiến bộ. |
|
a. The heart. |
a. Tim. |
|
b. The throat. |
b. Cổ họng. |
|
c. The head, i.e., the four lesser centres and their synthesis, the alta centre. |
c. Đầu, tức là bốn trung tâm nhỏ hơn và sự tổng hợp của chúng, trung tâm alta. |
|
5. Spiritual man to the third Initiation. |
5. Con người tinh thần cho đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
a. The heart. |
a. Tim. |
|
b. The throat. |
b. Cổ họng. |
|
c. The seven head centres. |
c. Bảy trung tâm đầu. |
|
6. Spiritual man to the fifth Initiation |
6. Con người tinh thần cho đến lần điểm đạo thứ năm |
|
a. The heart. |
a. Tim. |
|
b. The seven head centres. |
b. Bảy trung tâm đầu. |
|
c. The two many-petalled lotuses. |
c. Hai hoa sen nhiều cánh. |
|
All these different periods show different triangular radiances. We must not infer from this that when the fire is centred in one triangle it is not demonstrating in others. Once the fire has free passage along any triangle it flames continuously, but always there is one triangle more radiant and luminous than the others, and it is from these glowing triangles of light, issuing from wheels and vortices of fire that the clairvoyant and the teachers of the race can appraise a man’s position in the scheme of things, and judge of his attainment. At the culmination of life experience, and when man has reached his goal, each triangle is a radiant path of fire, and each centre a wheel of living fiery force rotating at terrific speed; the centre at this stage not only rotates in a specific direction, but literally turns upon itself, forming a living flaming iridescent globe of pure fire, and holding within it a certain geometrical shape, yet withal vibrating so rapidly that the eye can scarcely follow it. Above all, at the top of the head will be seen a fiery display that seems to put all the other centres into insignificance; from the heart of this many-petalled lotus issues a flame of fire with the basic hue of a man’s ray. This flame [Page 171] mounts upward and seems to attract downward a sheet of electric light, which is the downflow from the spirit on the highest plane. This marks the blending of the fires and the deliverance of man from the trammels of matter. |
Tất cả các thời kỳ khác nhau này cho thấy những bức xạ tam giác khác nhau. Chúng ta không được suy ra từ đó rằng khi lửa được định tâm trong một tam giác thì nó không biểu lộ trong những tam giác khác. Một khi lửa đã có lối đi tự do dọc theo bất kỳ tam giác nào, nó bùng cháy liên tục, nhưng luôn luôn có một tam giác rực rỡ và sáng chói hơn các tam giác khác, và chính từ những tam giác ánh sáng rực cháy này, phát ra từ các bánh xe và các xoáy lửa, mà nhà thông nhãn và các huấn sư của nhân loại có thể thẩm định vị trí của một người trong hệ thống sự vật, và phán đoán mức thành tựu của y. Vào lúc đỉnh cao của kinh nghiệm sống, và khi con người đã đạt đến mục tiêu của mình, mỗi tam giác là một con đường lửa rực sáng, và mỗi trung tâm là một bánh xe của mãnh lực lửa sống động quay với tốc độ khủng khiếp; ở giai đoạn này, trung tâm không những quay theo một hướng nhất định, mà còn thực sự tự quay trên chính nó, tạo thành một khối cầu sống động, rực lửa, óng ánh của lửa thuần khiết, và giữ bên trong nó một hình dạng hình học nhất định, nhưng đồng thời rung động nhanh đến mức mắt khó lòng theo kịp. Trên hết, ở đỉnh đầu sẽ thấy một sự phô diễn lửa dường như khiến mọi trung tâm khác trở nên không đáng kể; từ tâm của hoa sen nhiều cánh này phát ra một ngọn lửa mang sắc thái căn bản của cung của một người. Ngọn lửa này [Page 171] bốc lên trên và dường như hút xuống một màn ánh sáng điện, là dòng tuôn xuống từ tinh thần trên cõi cao nhất. Điều này đánh dấu sự hòa trộn của các ngọn lửa và sự giải thoát con người khỏi những trói buộc của vật chất. |
|
We might now note that the evolution of these centres of force can be portrayed, not only in words, but under the same five symbols that have so often a cosmic interpretation. |
Giờ đây chúng ta có thể lưu ý rằng sự tiến hoá của các trung tâm mãnh lực này có thể được mô tả không chỉ bằng lời, mà còn dưới cùng năm biểu tượng vốn thường có một cách diễn giải vũ trụ. |
|
1. The circle. At this stage the centre is seen simply as a saucer-like depression (as Mr. C. W. Leadbeater expresses it) of dimly glowing fire, a fire diffused throughout but of no real intensity. The wheel rotates slowly, but so slowly as to be almost inappreciable. This corresponds to the little developed stage, and to the early Lemurian root-race, and to that period wherein man was simply animal; all that was being formed was a field for the appearance of the spark of mind. |
1. Hình tròn. Ở giai đoạn này, trung tâm chỉ được thấy đơn giản như một chỗ lõm giống chiếc đĩa (như ông C. W. Leadbeater diễn tả) của ngọn lửa phát sáng mờ nhạt, một ngọn lửa lan tỏa khắp nơi nhưng không có cường độ thực sự. Bánh xe quay chậm, nhưng chậm đến mức hầu như không thể nhận thấy. Điều này tương ứng với giai đoạn ít phát triển, với giống dân gốc Lemuria thời kỳ đầu, và với thời kỳ con người chỉ đơn thuần là người thú; tất cả những gì đang được hình thành chỉ là một trường cho sự xuất hiện của tia lửa trí tuệ. |
|
2. The circle with the point in the centre. The centre is here seen with a point of glowing fire in the middle of the saucer-like depression, and the rotation becomes more rapid. This corresponds to the stage wherein mind is beginning to be felt and thus to later Lemurian days. |
2. Hình tròn với điểm ở trung tâm. Ở đây trung tâm được thấy với một điểm lửa sáng rực ở giữa chỗ lõm hình đĩa, và sự quay trở nên nhanh hơn. Điều này tương ứng với giai đoạn mà trí tuệ bắt đầu được cảm nhận và do đó thuộc về những ngày Lemuria muộn hơn. |
|
3. The divided circle. At this stage the point of light in the centre of the vortex of fire is becoming more active; rotary motion causes it to burn more brightly, and to cast off rays of fire in two directions, which appear to split the vortex into two; the motion is much accelerated, and the dividing flame in the vortex shoots back and forth, stimulating the glow of the centre itself, till a much greater point of radiance is achieved. This corresponds to Atlantean days. |
3. Hình tròn bị chia đôi. Ở giai đoạn này, điểm sáng ở trung tâm của xoáy lửa trở nên hoạt động hơn; chuyển động quay khiến nó cháy sáng hơn, và phóng ra các tia lửa theo hai hướng, dường như chia xoáy thành hai phần; chuyển động được gia tốc rất nhiều, và ngọn lửa phân chia trong xoáy bắn qua bắn lại, kích thích sự rực sáng của chính trung tâm, cho đến khi đạt được một điểm bức xạ lớn hơn nhiều. Điều này tương ứng với thời Atlantis. |
|
4. The circle divided into four. We come now to the point where the centre is exceedingly active, with the cross within its periphery rotating as well as the wheel itself, and causing an effect of great beauty and activity. The man has reached a stage of very high development [Page 172] mentally, corresponding to the fifth root-race, or to the fifth round in the larger cycle; he is conscious of two activities within himself, symbolised by the rotating wheel and the inner rotating cross. He is sensing the spiritual, though actively functioning in the personal life, and the development has reached a point wherein he is nearing the Probationary Path. |
4. Hình tròn chia thành bốn phần. Giờ đây chúng ta đến điểm mà trung tâm cực kỳ hoạt động, với thập giá bên trong chu vi của nó quay cũng như chính bánh xe, và tạo nên một hiệu ứng rất đẹp và đầy hoạt động. Con người đã đạt đến một giai đoạn phát triển rất cao [Page 172]về trí tuệ, tương ứng với giống dân gốc thứ năm, hay với cuộc tuần hoàn thứ năm trong chu kỳ lớn hơn; y ý thức được hai hoạt động bên trong chính mình, được biểu trưng bởi bánh xe quay và thập giá quay bên trong. Y đang cảm nhận cái tinh thần, dù vẫn hoạt động tích cực trong đời sống cá nhân, và sự phát triển đã đạt đến một điểm mà y đang tiến gần Con Đường Dự Bị. |
|
5. The swastika. At this stage the centre becomes fourth-dimensional; the inner rotating cross begins to turn upon its axis, and to drive the flaming periphery to all sides so that the centre is better described as a sphere of fire than as a wheel. It marks the stage of the Path in its two divisions, for the process of producing the effect described covers the whole period of the Path. At the close, the centres are seen as globes of radiant fire with the spokes of the wheel (or the evolution of the cross from the point in the centre) merging and blending into a “fire that burneth up the whole.” |
5. Chữ vạn. Ở giai đoạn này, trung tâm trở thành bốn chiều; thập giá quay bên trong bắt đầu quay trên trục của nó, và đẩy chu vi rực lửa ra mọi phía khiến trung tâm được mô tả đúng hơn là một khối cầu lửa hơn là một bánh xe. Nó đánh dấu giai đoạn của Con Đường trong hai phân bộ của nó, vì tiến trình tạo ra hiệu ứng được mô tả bao trùm toàn bộ thời kỳ của Con Đường. Khi kết thúc, các trung tâm được thấy như những bầu hành tinh của lửa rực sáng với các nan của bánh xe (hay sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm) hòa nhập và hòa trộn thành một “ngọn lửa thiêu rụi toàn thể.” |
|
Một câu ngắn có chỗ đứng ở đây do liên hệ của nó với chủ đề này. Một câu khác cũng được thêm vào đây, và nếu được tham thiền, sẽ chứng tỏ có giá trị thực sự và sẽ có một tác động rõ rệt lên một trong các trung tâm; trung tâm nào thì chính đạo sinh phải tự tìm ra. |
|
|
These two sentences are as follows: |
Hai câu ấy như sau: |
|
“The secret of the Fire lies hid in the second letter of the Sacred Word. The mystery of life is concealed within the heart. When the lower point vibrates, when the Sacred Triangle glows, when the point, the middle centre, and the apex likewise burn, then the two triangles—the greater and the lesser—merge with one flame which burneth up the whole.” |
“Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ cái thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. Huyền nhiệm của sự sống được che giấu trong tim. Khi điểm thấp rung động, khi Tam Giác Thiêng Liêng rực sáng, khi điểm, trung tâm ở giữa, và đỉnh cũng bừng cháy, thì hai tam giác—tam giác lớn và tam giác nhỏ—hòa nhập thành một ngọn lửa thiêu rụi toàn thể.” |
|
“The fire within the lesser fire findeth its progress much impelled when the circle of the moving and the unmoving, of the lesser wheel within the greater wheel that moveth not in Time, findeth a twofold outlet; it then shineth with the glory of the twofold One and of His sixfold brother. Fohat rusheth through space. He searcheth for his complement. [Page 173] The breath of the unmoving one, and the fire of the One Who seeth the whole from the beginning rush to meet each other, and the unmoving becomes the sphere of activity.” |
“Ngọn lửa bên trong ngọn lửa nhỏ hơn tìm thấy sự tiến triển của nó được thúc đẩy mạnh mẽ khi vòng tròn của cái chuyển động và cái bất động, của bánh xe nhỏ hơn bên trong bánh xe lớn hơn vốn không chuyển động trong Thời gian, tìm thấy một lối thoát nhị phân; khi ấy nó chiếu sáng với vinh quang của Đấng Duy Nhất nhị phân và của huynh đệ lục phân của Ngài. Fohat lao vút qua không gian. Ngài tìm kiếm đối phần của Ngài. [Page 173] Hơi thở của Đấng bất động, và ngọn lửa của Đấng nhìn thấy toàn thể từ khởi đầu lao đến gặp nhau, và cái bất động trở thành khối cầu hoạt động.” |
|
We take up our second point in the consideration of the centres: |
Chúng ta xét đến điểm thứ hai trong việc khảo cứu các trung tâm: |
2. The centres in connection with the Rays. |
2. Các trung tâm trong liên hệ với các cung. |
|
This will give us a large range of subject to be dealt with, and much food for thought, surmise and wise conjecture. All that is here stated is given simply as basic or foundation facts, upon which may be erected a structure of conjecture, and of logical reasoning, employing the imagination, and thereby effecting two things: |
Điều này sẽ cho chúng ta một phạm vi chủ đề rộng lớn để bàn đến, và nhiều điều đáng suy ngẫm, phỏng đoán và suy luận khôn ngoan. Tất cả những gì được trình bày ở đây chỉ được đưa ra như những sự kiện căn bản hay nền tảng, trên đó có thể dựng lên một cấu trúc của phỏng đoán và lý luận hợp logic, sử dụng sự tưởng tượng, và nhờ đó thực hiện hai điều: |
|
These are an ability to expand our mental concept and to build the antaskarana, or that bridge which all who seek to function in the buddhic vehicle must build between higher and lower mind; hence the necessity for the use of the imagination (which is the astral equivalent to mental discrimination), and its ultimate transmutation into intuition. |
Đó là khả năng mở rộng khái niệm trí tuệ của chúng ta và xây dựng antaskarana, hay cây cầu mà tất cả những ai tìm cách hoạt động trong Bồ đề vận cụ phải xây dựng giữa thượng trí và hạ trí; do đó mới cần sử dụng sự tưởng tượng (là đối ứng cảm dục của sự phân biện trí tuệ), và sự chuyển hoá tối hậu của nó thành trực giác. |
|
All teachers, who have taken pupils in hand for training, and who seek to use them in world service, follow the method of imparting a fact (oft veiled in words and blinded by symbol) and then of leaving the pupil to follow his own deductions. Discrimination is thereby developed, and discrimination is the main method whereby the Spirit effects its liberation from the trammels of matter, and discerns between illusion and that which is veiled by it. |
Tất cả các huấn sư, những vị đã trực tiếp huấn luyện các môn sinh và tìm cách sử dụng họ trong công việc phụng sự thế gian, đều theo phương pháp truyền đạt một sự kiện (thường được che phủ trong lời và làm mờ bởi biểu tượng) rồi để môn sinh tự rút ra kết luận của mình. Nhờ đó, sự phân biện được phát triển, và sự phân biện là phương pháp chính nhờ đó tinh thần thực hiện sự giải thoát của mình khỏi những trói buộc của vật chất, và phân biệt giữa ảo tưởng với điều bị nó che phủ. |
|
Not much can be here imparted, as the subject, if dealt with at all fully, would convey too much information to those liable to misuse it. As we know, the evolution of the centres is a slow and gradual thing, and proceeds in ordered cycles varying according to the ray of a man’s Monad. |
Ở đây không thể truyền đạt nhiều, vì chủ đề này, nếu được bàn đến đầy đủ, sẽ chuyển giao quá nhiều thông tin cho những người có thể lạm dụng nó. Như chúng ta biết, sự tiến hoá của các trung tâm là một việc chậm chạp và tuần tự, và tiến hành theo những chu kỳ có trật tự, thay đổi tùy theo cung của chân thần của một người. |
|
[Page 174] The life of the Pilgrim can be, for purposes of discussion, divided into three main periods: |
[Page 174] Vì mục đích thảo luận, đời sống của Người Lữ Hành có thể được chia thành ba thời kỳ chính: |
|
1. That period wherein he is under the influence of the Personality Ray. |
1. Thời kỳ mà y ở dưới ảnh hưởng của cung phàm ngã. |
|
2. That wherein he comes under the Ray of the Ego. |
2. Thời kỳ mà y chịu ảnh hưởng của cung chân ngã. |
|
3. That wherein the Monadic Ray holds sway. |
3. Thời kỳ mà cung chân thần nắm quyền chi phối. |
|
The first period is by far the longest, and covers the vast progression of the centuries wherein the activity aspect of the threefold self is being developed. Life after life slips away during which the aspect of manas or mind is being slowly wrought out, and the human being comes more and more under the control of his intellect, operating through his physical brain. This might be looked upon as corresponding to the period of the first solar system, wherein the third aspect logoic, that of Brahma, Mind, or Intelligence, was being brought to the point of achievement. (74) Then the second aspect began in [Page 175] this present solar system to be blended with, and wrought out through it. Centuries go by and the man becomes ever more actively intelligent, and the field of his life more suitable for the coming in of this second aspect. The correspondence lies in similitude and not in detail as seen in time and space. It covers the period of the first three triangles dealt with earlier. We must not forget that, for the sake of clarity, we are here differentiating between the different aspects, and considering their separated development, a thing only permissible in time and space or during the evolutionary process, but not permissible from the standpoint of the Eternal Now, and from the Unity of the All-Self. The Vishnu or the Love-Wisdom aspect is latent in the Self, and is part of the monadic content, but the Brahma aspect, the Activity-Intelligence aspect precedes its manifestation in time. The Tabernacle in the Wilderness preceded the building of the Temple of Solomon; the kernel of wheat has to lie in the darkness of mother Earth before the golden perfected ear can be seen, and the Lotus has to cast its roots down into the mud before the beauty of the blossom can be produced. |
Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ dài nhất, và bao trùm sự tiến triển rộng lớn qua nhiều thế kỷ trong đó phương diện hoạt động của bản ngã tam phân đang được phát triển. Hết kiếp này đến kiếp khác trôi qua, trong đó phương diện manas hay trí tuệ đang dần dần được tạo tác, và con người ngày càng chịu sự kiểm soát của trí năng mình, hoạt động qua bộ não hồng trần. Điều này có thể được xem như tương ứng với thời kỳ của hệ mặt trời thứ nhất, trong đó phương diện thứ ba của Thượng đế, tức phương diện Brahma, Trí Tuệ hay Thông Minh, đang được đưa đến mức thành tựu. (74) Khi ấy phương diện thứ hai bắt đầu trong [Page 175] hệ mặt trời hiện tại này được hòa trộn với nó và được triển khai qua nó. Nhiều thế kỷ trôi qua và con người trở nên ngày càng thông minh tích cực hơn, và trường đời sống của y ngày càng thích hợp hơn cho sự đi vào của phương diện thứ hai này. Sự tương ứng nằm ở tính tương tự chứ không phải ở chi tiết như được thấy trong thời gian và không gian. Nó bao trùm thời kỳ của ba tam giác đầu tiên đã được bàn đến trước đây. Chúng ta không được quên rằng, vì mục đích làm sáng tỏ, ở đây chúng ta đang phân biệt giữa các phương diện khác nhau và xem xét sự phát triển tách biệt của chúng, điều chỉ được phép trong thời gian và không gian hay trong tiến trình tiến hoá, nhưng không được phép từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu và từ Hợp Nhất của Đại Ngã. Phương diện Vishnu hay Bác Ái – Minh Triết tiềm ẩn trong Bản Ngã, và là một phần của nội dung chân thần, nhưng phương diện Brahma, phương diện Hoạt Động-Thông Minh, đi trước sự biểu hiện của nó trong thời gian. Nhà Tạm trong Hoang Địa có trước việc xây dựng Đền thờ Solomon; hạt lúa mì phải nằm trong bóng tối của Mẹ Trái Đất trước khi bông lúa vàng hoàn hảo có thể được nhìn thấy, và Hoa sen phải cắm rễ xuống bùn trước khi vẻ đẹp của đóa hoa có thể được tạo ra. |
|
(74) “Khi chu kỳ cuối cùng của sự mang con người đã được hoàn tất bởi địa cầu phì nhiêu cuối cùng ấy; và nhân loại đã đạt đến, như một khối, giai đoạn Phật quả và vượt ra khỏi sự tồn tại khách quan để đi vào huyền nhiệm của Niết Bàn—thì ‘giờ điểm’; cái được thấy trở thành cái không được thấy, cái cụ thể trở lại trạng thái tiền chu kỳ của sự phân bố nguyên tử. |
|
|
But the dead worlds left behind the onsweeping impulse do not continue dead. Motion is the eternal order of things and affinity or attraction its handmaid of all works. The thrill of life will again re-unite the atom, and it will stir again in the inert planet when the time comes. Though all its forces have remained statu quo and are now asleep, yet little by little it will—when the hour re-strikes—gather for a new cycle of man-bearing maternity, and give birth to something still higher as moral and physical types than during the preceding manvantara. And its “cosmic atoms already in a differentiated state” (differing—in the producing force in the mechanical sense of motions and effects) remain statu quo as well as globes and everything else in the process of formation.” Such is the “hypothesis fully in accordance with (your) (my) note.” For, as planetary development is as progressive as human or race evolution, the hour of the Pralaya’s coming catches the series of worlds at successive stages of evolution; (i.e.) each has attained to some one of the periods of evolutionary progress—each stops there, until the outward impulse of the next manvantara sets it going from that very point—like a stopped time-piece re-wound. Therefore, I have used the word “differentiated.” |
Nhưng các thế giới chết bị bỏ lại phía sau bởi xung lực cuốn đi không tiếp tục chết mãi. Chuyển động là trật tự vĩnh cửu của sự vật và ái lực hay hấp dẫn là nữ tỳ của nó trong mọi công việc. Sự rung động của sự sống sẽ lại tái hợp nguyên tử, và nó sẽ lại khuấy động trong hành tinh trì trệ khi thời điểm đến. Dù mọi mãnh lực của nó vẫn ở nguyên trạng thái và hiện đang ngủ yên, tuy nhiên từng chút một nó sẽ—khi giờ lại điểm—tập hợp cho một chu kỳ mới của thiên chức làm mẹ mang con người, và sinh ra một điều gì đó còn cao hơn về các loại hình đạo đức và thể chất so với trong manvantara trước. Và các ‘nguyên tử vũ trụ của nó vốn đã ở trong một trạng thái biến phân’ (khác nhau—trong mãnh lực sản sinh theo nghĩa cơ học của các chuyển động và hiệu quả) vẫn ở nguyên trạng thái cũng như các bầu hành tinh và mọi thứ khác trong tiến trình hình thành.” Đó là “giả thuyết hoàn toàn phù hợp với âm điệu của (bạn) (tôi).” Vì, cũng như sự phát triển hành tinh có tính tiến bộ như sự tiến hoá của con người hay của nhân loại, giờ đến của Giai kỳ qui nguyên bắt gặp chuỗi thế giới ở những giai đoạn tiến hoá kế tiếp nhau; (tức là) mỗi thế giới đã đạt đến một trong những thời kỳ của sự tiến bộ tiến hoá—mỗi thế giới dừng lại ở đó, cho đến khi xung lực bên ngoài của manvantara kế tiếp làm nó vận hành trở lại từ chính điểm ấy—như một chiếc đồng hồ ngừng chạy được lên dây lại. Vì vậy, tôi đã dùng từ “biến phân.” |
|
At the coming of the Pralaya no human, animal, or even vegetable entity will be alive to see it, but there will be the earths or globes with their mineral kingdoms; and all these planets will be physically disintegrated in the pralaya, yet not destroyed; for they have their places in the sequence of evolution and their “privations” coming again out of the subjective, they will find the exact point from which they have to move on around the chain of “manifested forms.” This, as is repeated endlessly throughout Eternity. Each man of us has gone this ceaseless round, and will repeat it forever and ever. The deviation of each one’s course, and his rate of progress from Nirvana to Nirvana is governed by causes which he himself creates out of the exigencies in which he finds himself entangled.”—From The Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 67. (back) |
Khi Pralaya đến, sẽ không có thực thể nhân loại, động vật, hay ngay cả thực thể thực vật nào còn sống để chứng kiến nó, nhưng sẽ vẫn có các địa cầu hay các bầu hành tinh với các giới kim thạch của chúng; và tất cả các hành tinh này sẽ bị phân giải về mặt hồng trần trong pralaya, tuy vậy không bị hủy diệt; vì chúng có vị trí của mình trong chuỗi tiến hoá và những “sự thiếu vắng” của chúng, khi lại xuất hiện từ cõi chủ quan, chúng sẽ tìm thấy đúng điểm mà từ đó chúng phải tiếp tục vận động quanh Dãy của các “hình tướng biểu hiện.” Điều này, như đã được lặp đi lặp lại vô tận suốt Vĩnh Cửu. Mỗi người trong chúng ta đã đi qua vòng tuần hoàn bất tận này, và sẽ lặp lại nó mãi mãi. Sự sai biệt trong lộ trình của mỗi người, và tốc độ tiến bộ của y từ Niết Bàn này đến Niết Bàn khác, được chi phối bởi những nguyên nhân mà chính y tự tạo ra từ những đòi hỏi cấp bách trong đó y thấy mình bị vướng mắc.”—Trích từ Các Thư Mahatma gửi A. P. Sinnett, tr. 67. (xem lại) |
|
The second period, wherein the egoic ray holds sway, is not so long comparatively; it covers the period wherein the fourth and fifth triangles are being vivified, and marks the lives wherein the man throws his forces on the side of evolution, disciplines his life, steps upon the Probationary Path, and continues up to the third Initiation. Under the regime of the Personality Ray, the man proceeds upon the five Rays to work consciously with Mind, the sixth sense, passing first upon the four minor Rays and eventually upon the third. He works [Page 176] upon the third Ray, or that of active Intelligence, and from thence proceeds to one of the subrays of the two other major Rays, if the third is not his egoic Ray. |
Thời kỳ thứ hai, trong đó cung chân ngã nắm quyền chi phối, tương đối không dài bằng; nó bao trùm giai đoạn trong đó tam giác thứ tư và thứ năm được tiếp sinh lực, và đánh dấu những kiếp sống trong đó con người đặt các mãnh lực của mình về phía tiến hoá, rèn luyện đời sống của mình, bước lên Con Đường Dự Bị, và tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ ba. Dưới chế độ của cung phàm ngã, con người tiến bước trên năm cung để làm việc một cách hữu thức với trí tuệ, giác quan thứ sáu, trước hết đi qua bốn cung phụ và cuối cùng qua cung ba. Y hoạt động [Page 176] trên cung ba, hay cung của Trí Tuệ linh hoạt, và từ đó tiến sang một trong các cung phụ của hai cung chính kia, nếu cung ba không phải là cung chân ngã của y. |
|
Một câu hỏi tự nhiên có thể nảy sinh là liệu cung chân ngã có nhất thiết phải là một trong ba cung chính hay không, và liệu các điểm đạo đồ và các Chân sư có thể không được tìm thấy trên một số cung của trí tuệ, tức bốn cung phụ, hay không. |
|
|
The answer lies here: The egoic ray can always be one of the seven, but we need to remember that, in this astral-buddhic solar system, wherein love and wisdom are being brought into objectivity, the bulk of the monads are on the love-wisdom ray. The fact, therefore, of its being the synthetic ray has a vast significance. This is the system of the SON, whose name is Love. This is the divine incarnation of Vishnu. The Dragon of Wisdom is in manifestation, and He brings into incarnation those cosmic Entities who are in essence identical with Himself. After the third Initiation all human beings find themselves on their monadic ray, on one of the three major rays, and the fact that Masters and Initiates are found on all the rays is due to the following two factors: |
Câu trả lời ở đây là: cung chân ngã luôn có thể là một trong bảy cung, nhưng chúng ta cần nhớ rằng, trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này, nơi bác ái và minh triết đang được đưa vào sắc tướng khách quan, phần lớn các chân thần thuộc về cung bác ái-minh triết. Vì vậy, sự kiện nó là cung tổng hợp có một thâm nghĩa vô cùng to lớn. Đây là hệ thống của CON, danh xưng của Ngài là Bác Ái. Đây là sự nhập thể thiêng liêng của Vishnu. Rồng Minh Triết đang biểu hiện, và Ngài đưa vào nhập thể những Thực Thể vũ trụ vốn đồng nhất về bản chất với chính Ngài. Sau lần điểm đạo thứ ba, tất cả nhân loại đều thấy mình ở trên cung chân thần của mình, trên một trong ba cung chính, và sự kiện các Chân sư và các điểm đạo đồ được tìm thấy trên mọi cung là do hai yếu tố sau đây: |
|
First. Each major ray has its subrays, which correspond to all the seven. |
Thứ nhất. Mỗi cung chính đều có các cung phụ của nó, tương ứng với cả bảy cung. |
|
Second. Many of the guides of the race transfer from one ray to another as They are needed, and as the work may require. When one of the Masters or Initiates is transferred it causes a complete re-adjustment. |
Thứ hai. Nhiều vị hướng đạo của nhân loại chuyển từ cung này sang cung khác khi Các Ngài được cần đến, và khi công việc đòi hỏi. Khi một Chân sư hay một điểm đạo đồ được chuyển đi, điều đó gây ra một sự điều chỉnh lại hoàn toàn. |
|
When a Master likewise leaves the hierarchy of our Planet to take up work elsewhere, it frequently necessitates a complete re-organisation, and a fresh admission of members into the great White Lodge. These facts have been but little realised. We might here also take the opportunity to point out that we are not dealing with earth conditions when we consider the Rays, nor are we only concerned with the evolution of the Monads upon this planet, but are equally concerned with the solar [Page 177] system in which our earth holds a necessary but not supreme place. The earth is an organism within a greater one, and this fact needs wider recognition. The sons of men upon this planet so often view the whole system as if the earth were in the position of the sun, the centre of the solar organism. |
Khi một Chân sư cũng rời khỏi Thánh đoàn của Hành Tinh chúng ta để đảm nhận công việc ở nơi khác, điều đó thường đòi hỏi một sự tái tổ chức hoàn toàn, và một sự tiếp nhận mới các thành viên vào Thánh đoàn vĩ đại. Những sự kiện này rất ít được chứng nghiệm. Ở đây chúng ta cũng có thể nhân cơ hội này để chỉ ra rằng chúng ta không bàn đến các điều kiện của Trái Đất khi xem xét các cung, cũng không chỉ quan tâm đến sự tiến hoá của các chân thần trên hành tinh này, mà còn quan tâm ngang nhau đến hệ mặt trời [Page 177] trong đó Trái Đất chúng ta giữ một vị trí cần thiết nhưng không tối thượng. Trái Đất là một cơ thể sống bên trong một cơ thể sống lớn hơn, và sự kiện này cần được nhìn nhận rộng rãi hơn. Những người con của nhân loại trên hành tinh này quá thường nhìn toàn bộ hệ thống như thể Trái Đất ở vào vị trí của mặt trời, trung tâm của cơ thể sống mặt trời. |
|
Under the régime of the Ego, the ray upon which the ego can be found holds sway. This ray is simply a direct reflection of the monad, and is dependent upon that aspect of the spiritual triad which for the man is at any particular time the line of least resistance. By that we must understand that sometimes the ray will have for its centre of force the atmic aspect, sometimes the buddhic, and at other times the manasic aspect. Though the triad is threefold, yet its egoic outposts (if one may so express it) will be either definitely atmic, or predominantly buddhic or manasic. Here again I would draw attention to the fact that this triple demonstration can be seen under three forms, making in all a ninefold choice of rays for the Ego: |
Dưới chế độ của Chân ngã, cung mà chân ngã được tìm thấy trên đó nắm quyền chi phối. Cung này chỉ đơn giản là một phản ánh trực tiếp của chân thần, và tùy thuộc vào phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần mà đối với con người, vào bất kỳ thời điểm riêng biệt nào, là con đường ít trở ngại nhất. Bởi đó chúng ta phải hiểu rằng đôi khi cung ấy sẽ có phương diện atma làm trung tâm mãnh lực, đôi khi là phương diện Bồ đề, và vào những lúc khác là phương diện manas. Dù Tam nguyên tinh thần là tam phân, nhưng các tiền đồn chân ngã của nó (nếu có thể diễn đạt như vậy) sẽ hoặc là rõ rệt atma, hoặc chủ yếu là Bồ đề hay manas. Ở đây một lần nữa tôi muốn lưu ý đến sự kiện rằng biểu hiện tam phân này có thể được thấy dưới ba hình thức, tạo thành tổng cộng chín lựa chọn cung cho Chân ngã: |
|
Atmic aspect. |
Phương diện atma. |
|
1. atmic-atmic |
1. atma-atma |
|
2. atmic-buddhic |
2. atma-Bồ đề |
|
3. atmic-manasic. |
3. atma-manas. |
|
Buddhic aspect. |
Phương diện Bồ đề. |
|
1. buddhic-atmic |
1. Bồ đề-atma |
|
2. buddhic-buddhic |
2. Bồ đề-Bồ đề |
|
3. buddhic-manasic. |
3. Bồ đề-manas. |
|
Manasic aspect. |
Phương diện manas. |
|
1. manasic-atmic |
1. manas-atma |
|
2. manasic-buddhic |
2. manas-Bồ đề |
|
3. manasic-manasic |
3. manas-manas |
|
This literally means that the three major rays can each be subdivided (in connection with the Ego) into three divisions. This fact is also little appreciated. |
Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là mỗi một trong ba cung chính đều có thể được phân chia nhỏ hơn (liên quan đến Chân ngã) thành ba phân bộ. Sự kiện này cũng ít được đánh giá đúng mức. |
|
[Page 178] The third period, wherein the monadic ray makes itself felt on the physical plane, is by far the shortest, and covers the period in which the sixth triangle holds sway. It marks the period of achievement, of liberation, and therefore, although it is the shortest period when viewed from below upward, it is the period of comparative permanence when viewed from the plane of the Monad. It covers the totality of time remaining in the one hundred years of Brahma, or the remainder of the process of manifestation. |
[Page 178] Thời kỳ thứ ba, trong đó cung chân thần tự làm cho mình được cảm nhận trên cõi hồng trần, là ngắn nhất rất nhiều, và bao trùm giai đoạn trong đó tam giác thứ sáu nắm quyền chi phối. Nó đánh dấu giai đoạn thành tựu, giải thoát, và vì vậy, tuy là giai đoạn ngắn nhất khi nhìn từ dưới lên trên, nó lại là giai đoạn tương đối thường tồn khi nhìn từ cõi của chân thần. Nó bao trùm toàn bộ thời gian còn lại trong một trăm năm của Brahma, hay phần còn lại của tiến trình biểu hiện. |
|
When we study, therefore, the sets of triangles earlier referred to and the periods of ray dominance, we will find much room for thought. Let me here point out, however, that the six groups of triangles are in all but five if we eliminate the pranic triangle which has to do with matter itself and is not counted any more than the dense physical is counted a principle. Therefore we have: |
Vì vậy, khi nghiên cứu các bộ tam giác đã được nói đến trước đây và các thời kỳ cung chi phối, chúng ta sẽ thấy có nhiều điều đáng suy ngẫm. Tuy nhiên, ở đây xin chỉ ra rằng sáu nhóm tam giác thực ra chỉ là năm nếu chúng ta loại bỏ tam giác prana, vốn liên quan đến chính vật chất và không được tính đến, cũng như thể xác hồng trần đậm đặc không được tính là một nguyên khí. Vì vậy chúng ta có: |
|
a. Two triangles brought to vivification by the personality ray. |
a. Hai tam giác được tiếp sinh lực bởi cung phàm ngã. |
|
b. Two triangles brought to vivification by the egoic ray. |
b. Hai tam giác được tiếp sinh lực bởi cung chân ngã. |
|
c. The synthesising triangle of the Monad. |
c. Tam giác tổng hợp của Chân thần. |
|
We must, nevertheless, recollect that the complexity is increased by the fact that the personality triangles will be brought to full activity according to the ray of the Monad or Spirit. Therefore, no hard or fast rule can be laid down about development. The egoic triangles are dependent largely upon the reflection in the personality of the spiritual life force. They are the midway point, just as the causal or egoic body is the transmitting point (when sufficiently equipped and built) between the higher and the lower. |
Tuy vậy, chúng ta phải nhớ rằng sự phức tạp tăng thêm bởi sự kiện rằng các tam giác phàm ngã sẽ được đưa vào hoạt động trọn vẹn tùy theo cung của Chân thần hay Tinh thần. Vì vậy, không thể đặt ra quy luật cứng nhắc nào về sự phát triển. Các tam giác chân ngã phần lớn tùy thuộc vào sự phản ánh trong phàm ngã của mãnh lực sự sống tinh thần. Chúng là điểm ở giữa, cũng như thể nguyên nhân hay thể chân ngã là điểm truyền dẫn (khi đã được trang bị và xây dựng đầy đủ) giữa phần cao và phần thấp. |
|
The permanent atoms are enclosed within the periphery of the causal body, yet that relatively permanent body is built and enlarged, expanded and wrought into [Page 179] a central receiving and transmitting station (using inadequate words to convey an occult idea) by the direct action of the centres, and of the centres above all. Just as it was spiritual force, or the will aspect, that built the solar system, so it is the same force in the man that builds the causal body. By the bringing together of spirit and matter (Father-Mother) in the macrocosm, and their union through the action of the will, the objective solar system, or the Son, was produced—that Son of desire, Whose characteristic is love, and Whose nature is buddhi or spiritual wisdom. By the bringing together (in microcosm) of Spirit and matter, and their coherence by means of force (or the spiritual will) that objective system, the causal body, is being produced; it is the product of transmuted desire, whose characteristic (when fully demonstrated) will be love, the expression eventually on the physical plane of buddhi. The causal body is but the sheath of the Ego. The solar system is but the sheath of the Son. In both the greater and the lesser systems, force centres exist which are productive of objectivity. The centres in the human being are reflections in the three worlds of those higher force centres. |
Các nguyên tử trường tồn được bao bọc trong chu vi của thể nguyên nhân, tuy nhiên thể tương đối trường tồn đó được xây dựng và mở rộng, được khai triển và được tạo tác thành [Page 179] một trạm trung tâm tiếp nhận và truyền dẫn (dùng những từ ngữ không đầy đủ để chuyển đạt một ý tưởng huyền bí) bởi tác động trực tiếp của các trung tâm, và trên hết là của các trung tâm cao hơn. Cũng như chính mãnh lực tinh thần, hay phương diện ý chí, đã xây dựng hệ mặt trời, thì cũng chính mãnh lực ấy trong con người xây dựng thể nguyên nhân. Bằng sự đưa tinh thần và vật chất (Cha-Mẹ) lại với nhau trong đại thiên địa, và sự hợp nhất của chúng qua tác động của ý chí, hệ mặt trời khách quan, hay Con, đã được tạo ra—Con của dục vọng ấy, mà đặc tính là bác ái, và bản chất là Bồ đề hay minh triết tinh thần. Bằng sự đưa Tinh thần và vật chất lại với nhau trong tiểu thiên địa, và sự kết hợp của chúng bằng mãnh lực (hay ý chí tinh thần), hệ thống khách quan ấy, thể nguyên nhân, đang được tạo ra; nó là sản phẩm của dục vọng đã được chuyển hoá, mà đặc tính của nó (khi được biểu lộ trọn vẹn) sẽ là bác ái, cuối cùng là sự biểu hiện trên cõi hồng trần của Bồ đề. Thể nguyên nhân chỉ là vỏ bọc của Chân ngã. Hệ mặt trời chỉ là vỏ bọc của Con. Trong cả hệ thống lớn lẫn nhỏ, đều tồn tại các trung tâm mãnh lực tạo ra tính khách quan. Các trung tâm trong con người là những phản ánh trong ba cõi thấp của các trung tâm mãnh lực cao hơn ấy. |
|
Before taking up the subject of kundalini and the centres, it would be well to extend the information given above, from its prime significance for man, as that which concerns himself, to the solar system, the macrocosm, and to the cosmos. What can be predicated of the microcosm is naturally true of the macrocosm and of the cosmos. It will not be possible to give the systemic triangles, for the information would have to be so blinded that, except for those who have occult knowledge and the intuition developed, it would be practically useless intellectually, but certain things may be pointed out in this connection that may be of interest. |
Trước khi bàn đến chủ đề kundalini và các trung tâm, sẽ là điều tốt nếu mở rộng thông tin đã nêu trên, từ ý nghĩa chủ yếu của nó đối với con người, như điều liên quan đến chính y, sang hệ mặt trời, đại thiên địa, và vũ trụ. Điều gì có thể được khẳng định về tiểu thiên địa thì tự nhiên cũng đúng với đại thiên địa và với vũ trụ. Sẽ không thể đưa ra các tam giác hệ thống, vì thông tin ấy sẽ phải được che giấu quá nhiều đến mức, ngoại trừ những ai có tri thức huyền bí và trực giác đã phát triển, thì về mặt trí tuệ nó hầu như vô dụng; nhưng có thể chỉ ra một số điều liên quan đến vấn đề này có thể gây hứng thú. |
|
The Solar System. We might briefly look at this from [Page 180] the standpoint of the centres of the Heavenly Men and of the Grand Man of the Heavens, the Logos. |
Hệ mặt trời. Chúng ta có thể ngắn gọn nhìn điều này từ [Page 180] quan điểm của các trung tâm của các Đấng Thiên Nhân và của Đại Nhân trên Thiên Giới, tức Thượng đế. |
|
a. Các Đấng Thiên Nhân. Các Đấng Thiên Nhân, tự thân Các Ngài, hiện thân các trung tâm cũng như con người vậy, và trên cõi riêng của Các Ngài có thể tìm thấy các trung tâm mãnh lực này. Một lần nữa chúng ta cần nhớ rằng các trung tâm mãnh lực này trên các cấp độ vũ trụ, và trong biểu hiện nơi hệ thống khách quan, biểu lộ như những trung tâm mãnh lực lớn mà một nhóm chân sư nào đó cùng các đệ tử của Các Ngài là những vị biểu hiện ra chúng. Mỗi nhóm Chân sư và tất cả những con người đang lâm phàm hay không lâm phàm—được giữ trong chu vi tâm thức của Các Ngài—đều là những trung tâm mãnh lực thuộc một loại hay phẩm tính riêng biệt nào đó. Đây là một sự kiện thường được thừa nhận, nhưng các đạo sinh cần được khuyến khích liên kết sự kiện này với thông tin được truyền đạt về các trung tâm của con người, và xem liệu nhờ đó có học được nhiều điều hay không. Các trung tâm mãnh lực này sẽ biểu lộ trên các cấp độ dĩ thái và trên các cõi vi tế hơn cũng như chúng biểu lộ trong con người, và chúng sẽ được tiếp sinh lực như các trung tâm của con người bởi kundalini hành tinh, tiến triển trong các tam giác mong muốn. |
|
|
Two hints can here be given for thoughtful consideration. In connection with one of the Heavenly Men (which one cannot at this juncture be pointed out) we have one triangle of force to be seen in the following three centres: |
Ở đây có thể đưa ra hai gợi ý để suy xét cẩn trọng. Liên quan đến một trong các Đấng Thiên Nhân (không thể chỉ ra là Đấng nào vào lúc này), chúng ta có thể thấy một tam giác mãnh lực trong ba trung tâm sau đây: |
|
a. The force centre of which the Manu, and His group, are the expression. |
a. Trung tâm mãnh lực mà Đức Manu và nhóm của Ngài là sự biểu hiện. |
|
b. The centre of which the Bodhisattva or the Christ and His adherents are the focal point. |
b. Trung tâm mà Đức Bồ Tát hay Đức Christ cùng những người đi theo Ngài là tiêu điểm. |
|
c. The centre of which the Mahachohan and his followers are the exponents. |
c. Trung tâm mà Đức Mahachohan và những người theo Ngài là những vị biểu hiện. |
|
These three groups form the three centres in one great triangle—a triangle which is not yet in complete vivification at this stage of evolutionary development. |
Ba nhóm này tạo thành ba trung tâm trong một tam giác lớn—một tam giác mà ở giai đoạn phát triển tiến hoá này vẫn chưa được tiếp sinh lực hoàn toàn. |
|
[Page 181] Another triangle in connection with our own planetary Logos is that formed by the seven Kumaras—the four exoteric Kumaras corresponding to the four minor head centres, and the three esoteric Kumaras corresponding to the three major head centres. (S. D., I, 186-189) (75) |
[Page 181] Một tam giác khác liên quan đến Hành Tinh Thượng đế của chính chúng ta là tam giác được tạo thành bởi bảy Kumaras—bốn Kumaras ngoại môn tương ứng với bốn trung tâm đầu phụ, và ba Kumaras nội môn tương ứng với ba trung tâm đầu chính. (S. D., I, 186-189) (75) |
|
(75) Có bảy Kumaras liên hệ với sự tiến hoá hành tinh của chúng ta, trong đó bốn vị là ngoại môn; bốn vị ngoại môn có các vận cụ bằng vật chất dĩ thái; ba Kumaras là nội môn và có các vận cụ bằng những chất liệu còn vi tế hơn nữa. |
|
|
Sanat Kumara, The Lord of the world, is the representative on earth of the specialized force of the planetary Logos; the other six Kumaras transmit energy from the other six planetary schemes. (back) |
Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, là vị đại diện trên Trái Đất cho mãnh lực chuyên biệt của Hành Tinh Thượng đế; sáu Kumaras kia truyền dẫn năng lượng từ sáu hệ hành tinh khác. (xem lại) |
|
The second hint I seek to give, lies in the triangle formed by the Earth, Mars and Mercury. In connection with this triangle, the analogy lies in the fact that Mercury and the centre at the base of the spine in the human being are closely allied. Mercury demonstrates kundalini in intelligent activity, while Mars demonstrates kundalini latent. The truth lies hid in their two astrological symbols. In transmutation and planetary geometrising, the secret may be revealed. |
Gợi ý thứ hai tôi muốn đưa ra nằm trong tam giác được tạo thành bởi Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thủy. Liên quan đến tam giác này, sự tương đồng nằm ở sự kiện rằng Sao Thủy và trung tâm ở đáy cột sống trong con người có liên hệ mật thiết với nhau. Sao Thủy biểu lộ kundalini trong hoạt động thông minh, trong khi Sao Hỏa biểu lộ kundalini tiềm ẩn. Chân lý ẩn giấu trong hai biểu tượng chiêm tinh của chúng. Trong sự chuyển hoá và sự hình học hóa hành tinh, bí mật có thể được tiết lộ. |
|
b. The Grand Man of the Heavens. The seven Heavenly Men are the seven centres in the body of the Logos, bearing to Him a relationship identical with that borne by the Masters and Their affiliated groups, to some planetary Logos. Systemic kundalini goes forward to the vivification of these centres, and at this stage of development certain centres are more closely allied than others. Just as in connection with our planetary Logos, the three etheric planets of our chain—Earth, Mercury and Mars (77) —form a triangle of rare importance, so it may be here said that at the present point in evolution of the logoic centres, Venus, Earth and Saturn form one triangle of great interest. It is a triangle that is at this time undergoing vivification [Page 182] through the action of kundalini; it is consequently increasing the vibratory capacity of the centres, which are becoming slowly fourth-dimensional. It is not yet permissible to point out others of the great triangles, but as regards the centres, we may here give two hints: |
b. Đại Nhân trên Thiên Giới. Bảy Đấng Thiên Nhân là bảy trung tâm trong thể của Thượng đế, mang đối với Ngài một mối liên hệ giống hệt như mối liên hệ mà các Chân sư và các nhóm liên kết với Các Ngài mang đối với một Hành Tinh Thượng đế nào đó. Kundalini hệ thống tiến tới việc tiếp sinh lực cho các trung tâm này, và ở giai đoạn phát triển này một số trung tâm liên kết mật thiết với nhau hơn những trung tâm khác. Cũng như liên quan đến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, ba hành tinh dĩ thái của Dãy chúng ta—Trái Đất, Sao Thủy và Sao Hỏa (77) —tạo thành một tam giác có tầm quan trọng hiếm có, thì ở đây cũng có thể nói rằng tại điểm tiến hoá hiện nay của các trung tâm logoic, Sao Kim, Trái Đất và Sao Thổ tạo thành một tam giác rất đáng quan tâm. Đó là một tam giác hiện đang được tiếp sinh lực [Page 182] qua tác động của kundalini; do đó nó đang làm tăng khả năng rung động của các trung tâm, vốn đang từ từ trở thành bốn chiều. Chưa được phép chỉ ra các tam giác lớn khác, nhưng liên quan đến các trung tâm, ở đây chúng ta có thể đưa ra hai gợi ý: |
|
(77) Các Dãy của bất kỳ hệ hành tinh nào thường được gọi bằng tên của bảy hành tinh thiêng liêng, khiến việc nghiên cứu định luật tương ứng trở nên dễ dàng hơn; tương tự như vậy, các bầu hành tinh của bất kỳ Dãy nào cũng được gọi bằng tên hành tinh, như trường hợp ở đây. Có những hệ hành tinh được gọi là Sao Hỏa và Sao Thủy. (xem lại) |
|
|
First. Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence. |
Thứ nhất. Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể logoic, và do đó có mối tương liên với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả. |
|
Second. Saturn corresponds to the throat centre, or to the creative activity of the third aspect. |
Thứ hai. Sao Thổ tương ứng với trung tâm cổ họng, hay với hoạt động sáng tạo của phương diện thứ ba. |
|
As evolution proceeds, the other centres attain a more pronounced vibration and the fire (circulating triangularly) will bring them into greater prominence; the two above mentioned, however, are of prime importance at this time. These two, with the lesser triangle of our chain, constitute the focal point of energy viewed from our planetary standpoint. |
Khi tiến hoá tiếp diễn, các trung tâm khác đạt đến một rung động rõ rệt hơn và lửa (luân chuyển theo hình tam giác) sẽ đưa chúng vào vị thế nổi bật hơn; tuy nhiên, hai trung tâm nêu trên có tầm quan trọng hàng đầu vào lúc này. Hai trung tâm này, cùng với tam giác nhỏ hơn của Dãy chúng ta, tạo thành tiêu điểm của năng lượng khi được nhìn từ quan điểm hành tinh của chúng ta. |
|
In addition to these some hints in connection with the microcosmic and macrocosmic centres, we might here give the cosmic correspondences at which it is possible to hint. |
Ngoài những gợi ý này liên quan đến các trung tâm vi mô và vĩ mô, ở đây chúng ta có thể đưa ra những tương ứng vũ trụ mà hiện nay có thể gợi ý đến. |
|
The Cosmos. Our solar system, with the Pleiades and one of the stars of the Great Bear, form a cosmic triangle, or an aggregation of three centres in the Body of HIM OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID. The seven stars in the constellation of the Great Bear are the correspondences to the seven head centres in the body of that Being, greater than our Logos. Again, two other systems, when allied with the solar system and the Pleiades, make a lower quaternary which are eventually synthesised into the seven head centres in much the same way as in the human being after the fourth initiation. [Page 183] |
Vũ trụ. Hệ mặt trời của chúng ta, cùng với Pleiades và một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh, tạo thành một tam giác vũ trụ, hay một tập hợp gồm ba trung tâm trong Thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng Tinh là những tương ứng với bảy trung tâm đầu trong thể của Đấng ấy, vĩ đại hơn Thượng đế của chúng ta. Hơn nữa, hai hệ thống khác, khi liên kết với hệ mặt trời và Pleiades, tạo thành một bộ tứ thấp mà cuối cùng được tổng hợp vào bảy trung tâm đầu theo cách rất giống như trong con người sau lần điểm đạo thứ tư. [Page 183] |
|
1. The base of the spine. |
1. đáy cột sống. |
|
2. The solar plexus. |
2. tùng thái dương. |
|
3. The heart. |
3. tim. |
|
4. The throat. |
4. cổ họng. |
|
The sevenfold head centre in its turn finds ultimate expression in the gorgeous twofold centre above the top of the head and surrounding it. Equally so, beyond the above named constellations is still another cosmic centre. The name of this centre is one of the secrets of the final initiation, the seventh. These are the only correspondences that may as yet be imparted. What lies beyond the solar ring-pass-not may be of intellectual interest, (S. D., I, 545,726; II, 581, 582, 654.) but, for the purposes of microcosmic evolution it is a matter of no vast import. |
Trung tâm đầu thất phân đến lượt nó tìm thấy sự biểu hiện tối hậu trong trung tâm nhị phân huy hoàng phía trên đỉnh đầu và bao quanh nó. Tương tự như vậy, vượt ra ngoài các chòm sao vừa nêu còn có một trung tâm vũ trụ khác nữa. Tên của trung tâm này là một trong những bí mật của lần điểm đạo cuối cùng, lần thứ bảy. Đây là những tương ứng duy nhất hiện nay có thể được truyền đạt. Điều gì nằm bên ngoài vòng-giới-hạn mặt trời có thể gây hứng thú về mặt trí tuệ, (S. D., I, 545,726; II, 581, 582, 654.) nhưng đối với mục đích của sự tiến hoá vi mô thì đó không phải là vấn đề có tầm quan trọng lớn lao. |
3. The Centres and Kundalini. |
3. Các Trung Tâm và Kundalini. |
|
As stated, it is not possible to impart much about kundalini, or the serpent fire. It might be of value, however, briefly to enumerate what has been said: |
Như đã nói, không thể truyền đạt nhiều về kundalini, hay hỏa xà. Tuy nhiên, có lẽ sẽ hữu ích nếu ngắn gọn liệt kê những gì đã được nói ra: |
|
a. Kundalini lies at the base of the spine, and, in the normal average man, its main function is the vitalisation of the body. |
a. Kundalini nằm ở đáy cột sống, và nơi con người bình thường trung bình, chức năng chính của nó là tiếp sinh lực cho thể. |
|
b. Kundalini makes three at-one-ments during the period of evolution: |
b. Kundalini thực hiện ba sự hợp nhất-thành-một trong suốt thời kỳ tiến hoá: |
|
1. With the radiatory fires of the body or prana at a point between the shoulder blades. |
1. Với các hỏa lực bức xạ của thể hay prana tại một điểm giữa hai bả vai. |
|
2. With the fires of mind at a point at the very top of the spine, in the centre of the back part of the throat. |
2. Với các hỏa lực của trí tuệ tại một điểm ở chính đỉnh cột sống, trong trung tâm ở phần sau của cổ họng. |
|
3. With the fire of Spirit at the point where these two united fires of matter and of mind issue from the top of the head. |
3. Với hỏa lực của Tinh thần tại điểm mà hai hỏa lực đã hợp nhất này của vật chất và của trí tuệ phát ra từ đỉnh đầu. |
|
c. Each of the three channels within the spinal column have for specific purpose the blending of these threefold fires. We need to bear in mind that the [Page 184] fires circulate, and that, at the moment of achievement, every triangle in the body is vivified, every centre is fully functioning, and a threefold path of fire can be seen extending the entire length of the backbone. |
c. Mỗi một trong ba kênh bên trong cột sống đều có mục đích chuyên biệt là hòa trộn ba loại hỏa lực này. Chúng ta cần ghi nhớ rằng các [Page 184] hỏa lực luân chuyển, và rằng, vào lúc thành tựu, mọi tam giác trong thể đều được tiếp sinh lực, mọi trung tâm đều hoạt động trọn vẹn, và có thể thấy một con đường lửa tam phân kéo dài suốt toàn bộ xương sống. |
|
d. When kundalini has blended with the pranic fire, the centres become three-dimensional. When it blends with mind or solar fire and the two fires are perfectly united, the centres become fourth-dimensional. When it blends with the electric fire of pure Spirit after the third Initiation, they take on two more dimensions. |
d. Khi kundalini đã hòa trộn với hỏa lực prana, các trung tâm trở thành ba chiều. Khi nó hòa trộn với trí tuệ hay Lửa Thái dương và hai hỏa lực được hợp nhất hoàn toàn, các trung tâm trở thành bốn chiều. Khi nó hòa trộn với Lửa Điện của Tinh thần thuần túy sau lần điểm đạo thứ ba, chúng nhận thêm hai chiều nữa. |
|
e. Kundalini, khi được khơi dậy, đều đặn làm tăng hoạt động rung động không chỉ của các trung tâm mà còn của mọi nguyên tử vật chất trong tất cả các thể—dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. Sự tăng tốc hoạt động này có một tác dụng kép rất đáng quan tâm: |
|
|
1. It causes the elimination of all matter that is coarse and unsuitable, and casts it off in exactly the same way as a rapidly rotating wheel casts off or rejects from its surface. |
1. Nó gây ra sự loại bỏ mọi vật chất thô trược và không thích hợp, và tống nó ra đúng theo cách mà một bánh xe quay nhanh tống ra hay loại khỏi bề mặt của nó. |
|
2. It sweeps into its sphere of influence matter that is keyed to its own vibration, and builds it into its vibratory content. This is but a reflection of the action of the Logos in sweeping into differentiation the matter of the solar system. Kundalini is likewise the fire or force of matter, and therefore the life of the third Logos. |
2. Nó cuốn vào phạm vi ảnh hưởng của nó loại vật chất được điều chỉnh theo chính rung động của nó, và xây dựng vật chất ấy vào nội dung rung động của nó. Đây chỉ là một phản ánh của tác động của Thượng đế trong việc cuốn vật chất của hệ mặt trời vào sự biến phân. Kundalini cũng là lửa hay mãnh lực của vật chất, và vì vậy là sự sống của Thượng đế thứ ba. |
|
f. Kundalini has two effects upon the etheric web, as it is called. |
f. Kundalini có hai tác động lên tấm lưới dĩ thái, như nó được gọi. |
|
1. By its gradually increasing action it purifies that etheric form and cleanses it from “dross,” as the Christian expresses it. |
1. Bằng tác động tăng dần của nó, nó thanh lọc hình thể dĩ thái ấy và làm sạch nó khỏi “cặn bã,” như tín đồ Cơ Đốc giáo diễn đạt. |
|
2. Eventually, after the two fires of matter and the fire of mind have begun to blend (a slow and gradual process), the web itself is destroyed [Page 185] and by the time the third Initiation is reached, the man should have continuity of consciousness. This is so unless for certain work and for certain specific ends, the man consciously and willingly foregoes the burning of the web, a thing which can be brought about by the conscious action of the will. |
2. Cuối cùng, sau khi hai hỏa lực của vật chất và hỏa lực của trí tuệ đã bắt đầu hòa trộn (một tiến trình chậm chạp và từ từ), chính tấm lưới ấy bị phá hủy [Page 185] và vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba, con người phải có sự liên tục của tâm thức. Điều này là như vậy trừ phi vì một công việc nào đó và vì những mục đích chuyên biệt nào đó, con người một cách hữu thức và tự nguyện từ bỏ việc đốt cháy tấm lưới, điều có thể được thực hiện bằng tác động hữu thức của ý chí. |
4. The Centres and the Senses, Normal and Supernormal. |
4. Các Trung Tâm và Các Giác Quan, Bình Thường và Siêu Thường. |
|
Before at all dealing with the centres and their relationship to the senses, it will be necessary first of all to point out certain facts of interest in connection with those senses, (79) and so clear the ground for further information. |
Trước khi bàn đến các trung tâm và mối liên hệ của chúng với các giác quan, trước hết cần chỉ ra một số sự kiện đáng quan tâm liên quan đến các giác quan ấy, (79) và như vậy dọn đường cho thông tin tiếp theo. |
|
(79) Bảy giác quan hay các con đường của tri giác.—S. D., I, 489, 490, Cuộc Sáng Tạo thứ ba hay Indriya.—S. D., III, 567. |
|
|
Indriya—The control of the senses in yoga practice. These are the 10 external agents; the 5 senses which are used for perception are called ‘Jnana-indriya’ and the 5 used for action ‘karma-indriya.’—Theosophical Glossary. |
Indriya—Sự kiểm soát các giác quan trong thực hành yoga. Đây là 10 tác nhân bên ngoài; 5 giác quan được dùng cho tri giác được gọi là ‘Jnana-indriya’ và 5 giác quan được dùng cho hành động là ‘karma-indriya.’—Từ điển Thông Thiên Học. |
|
“Jnana-indriyas”—literally knowledge-senses…by which knowledge is obtained….They are the avenues inward. |
“Jnana-indriyas”—nghĩa đen là các giác quan tri thức… nhờ đó tri thức được thu nhận…. Chúng là những con đường hướng vào trong. |
|
“Karma-indriyas”—nghĩa đen là các giác quan hành động… những gì tạo ra hành động. Chúng là những con đường hướng ra ngoài.—Nghiên Cứu về Tâm Thức, tr. 166-167. |
|
|
1. Sensation is latent in every atom of substance.—S. D., II, 710. |
1. Cảm giác tiềm tàng trong mọi nguyên tử của chất liệu.—S. D., II, 710. |
|
2. The Sun is the heart of the system and sensation emanates from there. It is due to solar radiation.—S. D., I, 590, 662. |
2. Mặt Trời là trái tim của hệ thống và cảm giác phát xuất từ đó. Nó là do bức xạ mặt trời.—S. D., I, 590, 662. |
|
3. Knowledge is the end of sense.—S. D., I, 300. |
3. Tri thức là cứu cánh của giác quan.—S. D., I, 300. |
|
4. There is a double set of senses, spiritual and material.—S. D., I, 582; S. D., II, 307, 308. This finds its reflection in the double set of physical senses noted in defining the indriyas. |
4. Có một bộ đôi giác quan, tinh thần và vật chất.—S. D., I, 582; S. D., II, 307, 308. Điều này phản ánh trong bộ đôi giác quan hồng trần được ghi nhận khi định nghĩa các indriyas. |
|
5. The senses might be enumerated as follows: S. D., I, 583 and note 123; S. D., II, 600, 674, 675, 676. |
5. Các giác quan có thể được liệt kê như sau: S. D., I, 583 và chú thích 123; S. D., II, 600, 674, 675, 676. |
|
6. The elements are the progenitors of the senses….—S. D., II, 112, 113. |
6. Các nguyên tố là những đấng sinh ra các giác quan….—S. D., II, 112, 113. |
|
a. |
Aether |
Hearing |
Sound |
.Atmic plane |
|
b. |
Air |
Touch |
Sound, touch |
Buddhic plane |
|
c. |
Fire |
Sight |
Sound, touch, sight |
Mental plane |
|
d. |
Water |
Taste |
Sound, touch, sight, taste |
.Astral plane |
|
e. |
Earth |
Smell |
Sound, touch, sight, taste, smell |
Physical plane |
|
7. Every sense pervades every other sense….—S. D., III, 569. |
7. Mỗi giác quan thấm khắp mọi giác quan khác….—S. D., III, 569. |
|
There is no universal order. |
Không có một trật tự phổ quát nào. |
|
All are on all planes.—S. D., III, 550. |
Tất cả đều hiện diện trên mọi cõi.—S. D., III, 550. |
|
8. The senses correspond with every other septenate in nature. |
8. Các giác quan tương ứng với mọi bộ bảy khác trong bản chất. |
|
See S. D., III, 448. (Compare S. D., III, 497. |
Xem S. D., III, 448. (So sánh S. D., III, 497. |
|
Đọc phần thực hành….—S. D., I, 288 (back) |
|
|
[Page 186] What are the senses? How many are there? And what is their connection with the indwelling Man, the Thinker, the Divine Manasaputra? These are questions of vital moment, and in their due comprehension comes the ability wisely to follow the path of knowledge. |
[Page 186] Các giác quan là gì? Có bao nhiêu giác quan? Và mối liên hệ của chúng với Con Người nội tại, Đấng Tư Tưởng, Manasaputra Thiêng Liêng là gì? Đây là những câu hỏi có tầm quan trọng thiết yếu, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về chúng sẽ xuất hiện khả năng khôn ngoan bước theo con đường tri thức. |
|
The senses might be defined as those organs whereby man becomes aware of his surroundings. We should perhaps express them not so much as organs (for after all, an organ is a material form, existent for a purpose) but as media whereby the Thinker comes in contact with his environment. They are the means whereby he makes investigation on the plane of the gross physical, for instance; the means whereby he buys his experience, whereby he discovers that which he requires to know, whereby he becomes aware, and whereby he expands his consciousness. We are dealing here with the five senses as used by the human being. In the animal these five senses exist but, as the thinking correlating faculty is lacking, as the “relation between” the self and the not-self is but little developed, we will not concern ourselves with them at this juncture. The senses in the animal kingdom are group faculty and demonstrate as racial instinct. The senses in man are his individual asset, and demonstrate: |
Các giác quan có thể được định nghĩa là những cơ quan nhờ đó con người trở nên nhận biết được môi trường chung quanh mình. Có lẽ chúng ta nên diễn đạt chúng không hẳn như những cơ quan (vì rốt cuộc, một cơ quan là một hình tướng vật chất, hiện hữu vì một mục đích) mà như những môi giới nhờ đó Đấng Tư Tưởng tiếp xúc với môi trường của mình. Chúng là những phương tiện nhờ đó y khảo sát trên cõi hồng trần thô trược chẳng hạn; là những phương tiện nhờ đó y mua lấy kinh nghiệm của mình, nhờ đó y khám phá điều mình cần biết, nhờ đó y trở nên nhận biết, và nhờ đó y mở rộng tâm thức của mình. Ở đây chúng ta đang bàn đến năm giác quan như được con người sử dụng. Nơi loài vật, năm giác quan này có tồn tại nhưng, vì thiếu năng lực tư tưởng tương quan, vì “mối liên hệ giữa” tự ngã và phi-ngã chỉ phát triển rất ít, nên vào lúc này chúng ta sẽ không quan tâm đến chúng. Các giác quan trong giới động vật là một năng lực nhóm và biểu lộ thành bản năng chủng loại. Các giác quan nơi con người là tài sản cá nhân của y, và biểu lộ như sau: |
|
a. As the separate realisation of self-consciousness. |
a. Như sự chứng nghiệm riêng biệt về ngã thức. |
|
b. As ability to assert that individualism. |
b. Như khả năng khẳng định tính cá biệt ấy. |
|
c. As a valuable means to self-conscious evolution. |
c. Như một phương tiện quý giá cho sự tiến hoá ngã thức. |
|
d. As a source of knowledge. |
d. Như một nguồn tri thức. |
|
e. As the transmuting faculty towards the close of life in the three worlds. |
e. Như năng lực chuyển hoá vào lúc gần kết thúc sự sống trong ba cõi giới. |
|
As we know, the senses are five in number and in order of development are as follows: |
Như chúng ta biết, các giác quan có số lượng là năm và theo thứ tự phát triển thì như sau: |
|
a. Hearing. |
a. Thính giác. |
|
b. Touch. |
b. Xúc giác. |
|
c. Thị giác. |
|
|
d. Taste. |
d. Vị giác. |
|
e. Smell. |
e. Khứu giác. |
|
[Page 187] Each of these five senses has a definite connection with one or other plane, and has also a correspondence on all planes. |
[Page 187] Mỗi một trong năm giác quan này có một liên hệ xác định với cõi này hay cõi khác, và cũng có một sự tương ứng trên mọi cõi. |
|
Let us first take up each of these senses, point out some interesting facts in connection with them, and suggest their subplane correspondence. |
Trước hết, chúng ta hãy xét từng giác quan này, nêu ra vài sự kiện lý thú liên quan đến chúng, và gợi ý sự tương ứng cõi phụ của chúng. |
|
PLANE |
SENSE |
|
|
1. |
Physical |
Hearing. |
|
2. |
Astral |
Touch or feeling. |
|
3. |
Mental |
Sight. |
|
4. |
Buddhic |
Taste. |
|
5. |
Atmic |
Smell. |
|
In the two lower planes in the three worlds—the astral and the physical—the five subplanes of human endeavour are the five highest. The two lowest subplanes, the sixth and seventh, are what we might express as “below the threshold,” and concern forms of life beneath the human altogether. We have a corroborating analogy in the fact that the two earliest root-races in this round are not definitely human, and that it is the third root-race which is really human for the first time. Counting, therefore, from the bottom upwards it is only the third subplane on the physical and the astral planes which mark the commencement of human effort, leaving five subplanes to be subdued. On the mental plane the five lower subplanes have to be subjugated during purely human evolution. When the consciousness is centred on the fifth subplane (counting from below upwards) then the planes of abstraction—from the standpoint of man in the three worlds—supervene the two subplanes of synthesis, demonstrating through the synthesis of the five senses. In the evolution of the Heavenly Man we have exactly the same thing: the five planes of endeavour, the five lower planes of the solar system, and the two higher planes of abstraction, the spiritual or monadic and the divine, or logoic. [Page 188] |
Trên hai cõi thấp hơn trong ba cõi giới—cõi cảm dục và cõi hồng trần—năm cõi phụ của nỗ lực nhân loại là năm cõi phụ cao nhất. Hai cõi phụ thấp nhất, tức cõi phụ thứ sáu và thứ bảy, là điều mà chúng ta có thể gọi là “ở dưới ngưỡng,” và liên quan đến những hình thái sự sống hoàn toàn ở dưới mức con người. Chúng ta có một sự tương đồng xác nhận trong sự kiện rằng hai giống dân gốc sớm nhất trong cuộc tuần hoàn này chưa hẳn là con người, và chính giống dân gốc thứ ba mới thật sự là con người lần đầu tiên. Vì vậy, nếu tính từ dưới lên trên thì chỉ cõi phụ thứ ba trên cõi hồng trần và cõi cảm dục mới đánh dấu sự khởi đầu của nỗ lực nhân loại, để lại năm cõi phụ cần phải được chinh phục. Trên cõi trí, năm cõi phụ thấp hơn phải được chế ngự trong suốt tiến trình tiến hoá thuần túy nhân loại. Khi tâm thức được định tâm trên cõi phụ thứ năm (tính từ dưới lên trên) thì các cõi trừu tượng—xét từ quan điểm của con người trong ba cõi giới—xuất hiện, tức hai cõi phụ tổng hợp, biểu lộ qua sự tổng hợp của năm giác quan. Trong sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân, chúng ta có đúng cùng một điều như thế: năm cõi nỗ lực, năm cõi thấp của hệ mặt trời, và hai cõi cao của sự trừu tượng, tức cõi tinh thần hay chân thần và cõi thiêng liêng hay logoic. [Page 188] |
|
MICROCOSMIC SENSORY EVOLUTION |
SỰ TIẾN HOÁ GIÁC QUAN CỦA TIỂU THIÊN ĐỊA |
|
Plane |
||||
|
Physical |
1. |
Hearing |
5th |
gaseous |
|
2. |
Touch, feeling |
4th |
first etheric |
|
|
3. |
Sight |
3rd |
super-etheric |
|
|
4. |
Taste |
2nd |
sub-atomic |
|
|
5. |
Smell |
1st |
atomic |
|
|
Astral |
1. |
Clairaudience |
5th |
|
|
2. |
Psychometry |
4th |
||
|
3. |
Clairvoyance |
3rd |
||
|
4. |
Imagination |
2nd |
||
|
5. |
Emotional idealism |
1st |
||
|
Mental |
1. |
Higher clairaudience |
7th |
FORM |
|
2. |
Planetary psychometry |
6th |
FORM |
|
|
3. |
Higher clairvoyance |
5th |
FORM |
|
|
4. |
Discrimination |
4th |
FORM |
|
|
5. |
Spiritual discernment |
3rd |
FORMLESS |
|
|
Response to group vibration |
2nd |
FORMLESS |
||
|
Spiritual telepathy |
1st |
FORMLESS |
||
|
Buddhic |
1. |
Comprehension |
7th |
|
|
2. |
Healing |
6th |
||
|
3. |
Divine vision |
5th |
||
|
4. |
Intuition |
4th |
||
|
5. |
Idealism |
3rd |
||
|
Atmic |
1. |
Beatitude |
7th |
|
|
2. |
Active service |
6th |
||
|
3. |
Realisation |
5th |
||
|
4. |
Perfection |
4th |
||
|
5. |
All knowledge |
3rd |
|
It can be noted that we have not summed up the two planes of abstraction on the atmic and the buddhic planes, the reason being that they mark a degree of realisation which is the property of initiates of higher degree [Page 189] than that of the adept, and which is beyond the concept of the evolving human unit, for whom this treatise is written. |
Cần lưu ý rằng chúng ta chưa tổng kết hai cõi trừu tượng trên các cõi atma và Bồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một mức độ chứng nghiệm vốn là sở hữu của các điểm đạo đồ có cấp độ cao hơn [Page 189] chân sư, và vượt ngoài quan niệm của đơn vị nhân loại đang tiến hoá, là đối tượng mà bộ luận này được viết cho. |
|
We might here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis: |
Ở đây, để cho rõ ràng, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các sự tương ứng của chúng có thể được hình dung một cách dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở: |
|
a. The First Sense…… Hearing. |
a. Giác quan thứ nhất…… Thính giác. |
|
1. Physical hearing. |
1. Thính giác hồng trần. |
|
2. Clairaudience. |
2. Thông nhĩ. |
|
3. Higher clairaudience. |
3. Thông nhĩ cao hơn. |
|
4. Comprehension (of four sounds) |
4. Sự thấu hiểu (bốn âm thanh) |
|
5. Beatitude. |
5. Chí phúc. |
|
b. The Second Sense…… Touch or feeling. |
b. Giác quan thứ hai…… Xúc giác hay cảm nhận. |
|
1. Physical touch. |
1. Xúc giác hồng trần. |
|
2. Psychometry. |
2. Thuật trắc tâm. |
|
3. Thuật trắc tâm hành tinh. |
|
|
4. Healing. |
4. Trị liệu. |
|
5. Active service. |
5. Phụng sự tích cực. |
|
c. The Third Sense…… Sight. |
c. Giác quan thứ ba…… Thị giác. |
|
1. Physical sight. |
1. Thị giác hồng trần. |
|
2. Clairvoyance. |
2. Thông nhãn. |
|
3. Higher clairvoyance. |
3. Thông nhãn cao hơn. |
|
4. Divine vision. |
4. Tầm nhìn thiêng liêng. |
|
5. Realisation. |
5. Chứng nghiệm. |
|
d. The Fourth Sense…… Taste. |
d. Giác quan thứ tư…… Vị giác. |
|
1. Physical taste. |
1. Vị giác hồng trần. |
|
2. Imagination. |
2. Sự tưởng tượng. |
|
3. Discrimination. |
3. Sự phân biện. |
|
4. Intuition. |
4. Trực giác. |
|
5. Perfection. |
5. Sự hoàn hảo. |
|
e. The Fifth Sense…….Smell. |
e. Giác quan thứ năm…….Khứu giác. |
|
1. Physical smell. |
1. Khứu giác hồng trần. |
|
2. Emotional idealism. |
2. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc. |
|
3. Spiritual discernment. |
3. Phân biện tinh thần. |
|
4. Idealism. |
4. Chủ nghĩa lý tưởng. |
|
5. All knowledge. |
5. Mọi tri thức. |
|
[Page 190] Let us now proceed to take up each of these senses in detail: |
[Page 190] Giờ đây, chúng ta hãy tiếp tục xét chi tiết từng giác quan này: |
|
a. Hearing. This, very appropriately, is the first sense to be manifested; the first aspect of manifestation is that of sound, and necessarily therefore we would expect sound to be the first thing noticed by man on the physical plane, the plane of densest manifestation, and of the most marked effects of sound, regarding it as a creating factor. Pre-eminently the physical plane is the plane of hearing and hence the sense ascribed to the lowest plane of evolution, and of each of the five planes. On this seventh or lowest plane man has to come to full cognisance of the effect of the Sacred Word as it is in process of sounding forth. As it reverberates throughout the system, it drives matter into its appointed place, and on the physical plane finds its point of deepest materiality and of most concrete demonstration. The key for man to discover and turn, concerns itself with the revealing of the mystery of: |
a. Thính giác. Điều này, rất thích hợp, là giác quan đầu tiên được biểu lộ; phương diện đầu tiên của biểu hiện là âm thanh, và vì thế tất nhiên chúng ta sẽ mong đợi âm thanh là điều đầu tiên được con người ghi nhận trên cõi hồng trần, cõi của biểu hiện đậm đặc nhất, và của những hiệu quả rõ rệt nhất của âm thanh, khi xem nó như một yếu tố sáng tạo. Nổi bật hơn hết, cõi hồng trần là cõi của thính giác và do đó là giác quan được quy cho cõi thấp nhất của tiến hoá, và của mỗi một trong năm cõi. Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất này, con người phải đi đến sự nhận biết đầy đủ về hiệu quả của Linh từ Thiêng Liêng khi nó đang trong tiến trình được xướng lên. Khi nó vang dội khắp hệ thống, nó đẩy vật chất vào vị trí đã được chỉ định của nó, và trên cõi hồng trần tìm thấy điểm vật chất tính sâu đậm nhất và sự biểu lộ cụ thể nhất. Chìa khóa mà con người phải khám phá và xoay mở liên quan đến việc vén lộ huyền nhiệm của: |
|
a. His own sound. |
a. Âm thanh của chính y. |
|
b. His brother’s sound. |
b. Âm thanh của huynh đệ y. |
|
c. His group sound. |
c. Âm thanh nhóm của y. |
|
d. The sound of that one of the Heavenly Men with whom he is connected. |
d. Âm thanh của một trong các Đấng Thiên Nhân mà y có liên hệ. |
|
e. The sound of the Logos, or the sound of nature; of the solar system, of the Grand Man of the Heavens. |
e. Âm thanh của Thượng đế, hay âm thanh của bản chất; của hệ mặt trời, của Đại Nhân trên Thiên Giới. |
|
Therefore, we note that on the physical plane a man has to find his own note, finding it in spite of the density of the form. |
Vì vậy, chúng ta lưu ý rằng trên cõi hồng trần con người phải tìm ra âm điệu riêng của mình, tìm thấy nó bất chấp sự đậm đặc của hình tướng. |
|
a. On the physical plane he finds his own note. |
a. Trên cõi hồng trần y tìm ra âm điệu riêng của mình. |
|
b. On the astral plane he finds his brother’s note; through identity of emotion he comes to the recognition of his brother’s identity. [Page 191] |
b. Trên cõi cảm dục y tìm ra âm điệu của huynh đệ mình; qua sự đồng nhất về cảm xúc, y đi đến chỗ nhận ra bản sắc của huynh đệ mình. [Page 191] |
|
c. On the mental plane he begins to find his group note. |
c. Trên cõi trí y bắt đầu tìm ra âm điệu nhóm của mình. |
|
d. On the buddhic plane, or the plane of wisdom, he begins to find the note of his planetary Logos. |
d. Trên cõi Bồ đề, hay cõi minh triết, y bắt đầu tìm ra âm điệu của Hành Tinh Thượng đế của mình. |
|
e. On the atmic, or spiritual, plane the note logoic begins to sound within his consciousness. |
e. Trên cõi atma, hay cõi tinh thần, âm điệu logoic bắt đầu vang lên trong tâm thức của y. |
|
I am differentiating thus for the sake of clarity. In evolution itself, due to the parallelism of nature, the distinctions are not so sharply made, and a man’s ray, point of development, the work earlier accomplished, his temporary limitations, and other causes create a seeming confusion, but in the great scheme as seen from above downwards, the work proceeds as described. |
Tôi phân biệt như vậy là để cho rõ ràng. Trong chính tiến hoá, do tính song hành của bản chất, các phân biệt không được tạo ra sắc nét đến thế, và cung của một người, điểm tiến hoá, công việc đã hoàn tất trước đây, những giới hạn tạm thời của y, cùng các nguyên nhân khác tạo nên một sự lẫn lộn bề ngoài, nhưng trong đại thể, như được nhìn từ trên xuống dưới, công việc diễn tiến như đã mô tả. |
|
Hearing on the astral plane is commonly called clairaudience, and means the ability to hear the sounds of the astral plane. It is a faculty that demonstrates throughout the entire astral body, and a man hears all over his vehicle and not only through the specialised organs, the ears, the product of physical plane action and reaction. This would necessarily be so, owing to the fluidic nature of the astral body. Man on the physical plane hears at the same time a certain range of sounds, and only a small and particular gamut of vibrations impinges upon his ears. There are many of the lesser sounds of nature which entirely escape him, while the major group sounds are not differentiated at all. As evolution proceeds and the inner sense of hearing becomes acute, these other physical plane sounds will likewise swing into his ken, and he will be acutely conscious of all sounds on the astral, and the physical plane—a thing, which if possible now, would result in the shattering of the body. If the note of nature, for instance, were to strike but once upon the ear of a man (a note made up of the totality of vibrations produced by all dense material forms) his physical body would be completely disrupted. [Page 192] He is not ready yet for such a happening; the inner ear is not duly prepared. Only when the threefold hearing is consummated will completed hearing on the physical plane be likewise permitted. |
Thính giác trên cõi cảm dục thường được gọi là thông nhĩ, và có nghĩa là khả năng nghe các âm thanh của cõi cảm dục. Đó là một năng lực biểu lộ khắp toàn thể thể cảm dục, và con người nghe bằng toàn bộ vận cụ của mình chứ không chỉ qua các cơ quan chuyên biệt là đôi tai, sản phẩm của tác động và phản ứng trên cõi hồng trần. Điều này tất nhiên phải như vậy, do bản chất linh động của thể cảm dục. Con người trên cõi hồng trần đồng thời nghe được một phạm vi âm thanh nhất định, và chỉ một âm giai nhỏ và riêng biệt của các rung động tác động lên tai y. Có nhiều âm thanh nhỏ hơn của bản chất hoàn toàn thoát khỏi y, trong khi nhóm âm thanh lớn hơn thì hoàn toàn không được phân biệt. Khi tiến hoá tiếp diễn và giác quan thính giác bên trong trở nên bén nhạy, những âm thanh khác của cõi hồng trần này cũng sẽ đi vào tầm nhận biết của y, và y sẽ nhận biết một cách sắc bén mọi âm thanh trên cõi cảm dục và cõi hồng trần—một điều mà nếu hiện nay có thể xảy ra, sẽ dẫn đến sự tan vỡ của thể xác. Chẳng hạn, nếu âm điệu của bản chất chỉ đập vào tai một người một lần thôi (một âm điệu được tạo thành từ tổng thể các rung động do mọi hình tướng vật chất đậm đặc tạo ra) thì thể xác của y sẽ hoàn toàn bị phá vỡ. [Page 192] Y chưa sẵn sàng cho một biến cố như thế; nội nhĩ chưa được chuẩn bị đúng mức. Chỉ khi nào thính giác tam phân được hoàn tất thì thính giác hoàn chỉnh trên cõi hồng trần mới cũng được cho phép. |
|
Hearing on the mental plane is simply an extension of the faculty of differentiating sound. The hearing dealt with on all these planes is the hearing that has to do with the form, that concerns the vibration of matter, and that is occupied with the not-self. It has not to do with the psyche, or the telepathic communication that proceeds from mind to mind, but with the sound of the form or that power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself. Bear this carefully in mind. When the extension of hearing becomes such that it concerns the psyche, then we call it telepathy or that wordless communication that is the synthesis of hearing on all the three lower planes and which is known by the Ego in the causal body on the formless levels of the mental plane. |
Thính giác trên cõi trí chỉ đơn giản là một sự mở rộng của năng lực phân biệt âm thanh. Thính giác được bàn đến trên tất cả các cõi này là thính giác có liên quan đến hình tướng, liên quan đến rung động của vật chất, và bận tâm với phi-ngã. Nó không liên quan đến tâm hồn, hay giao tiếp viễn cảm diễn ra từ trí tuệ này sang trí tuệ khác, mà liên quan đến âm thanh của hình tướng hay quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức biệt lập nhận biết một đơn vị khác không phải là chính mình. Hãy ghi nhớ điều này cẩn thận. Khi sự mở rộng của thính giác trở nên như thế đến mức nó liên quan đến tâm hồn, thì chúng ta gọi nó là viễn cảm hay sự giao tiếp không lời, là sự tổng hợp của thính giác trên cả ba cõi thấp và được Chân ngã trong thể nguyên nhân biết đến trên các cấp độ vô tướng của cõi trí. |
|
On the buddhic plane, hearing (now of the synthetic quality called telepathy) demonstrates as complete comprehension, for it has involved two things: |
Trên cõi Bồ đề, thính giác (nay thuộc phẩm tính tổng hợp gọi là viễn cảm) biểu lộ thành sự thấu hiểu trọn vẹn, vì nó đã bao hàm hai điều: |
|
1. A knowledge and recognition of individual sound, |
1. Một tri thức và sự nhận biết về âm thanh cá nhân, |
|
2. A similar knowledge of group sound, |
2. Một tri thức tương tự về âm thanh nhóm, |
|
and their complete unification. This causes the most perfect comprehension, and is the secret of the Master’s power. |
và sự hợp nhất hoàn toàn của chúng. Điều này tạo nên sự thấu hiểu hoàn hảo nhất, và là bí mật của quyền năng của Chân sư. |
|
On the atmic plane this perfected hearing is seen as beatitude. Sound, the basis of existence; sound, the method of being; sound, the final unifier; sound therefore realised as the raison d’être, as the method of evolution, and therefore as beatitude. (80) |
Trên cõi atma, thính giác đã được hoàn thiện này được thấy như chí phúc. Âm thanh, nền tảng của hiện hữu; âm thanh, phương pháp của tồn tại; âm thanh, đấng hợp nhất tối hậu; do đó âm thanh được chứng nghiệm như là raison d’être, như phương pháp của tiến hoá, và vì vậy như chí phúc. (80) |
|
(80)…”tác nhân chủ yếu nhờ đó bánh xe của Thiên Nhiên được chuyển động theo hướng hiện tượng là âm thanh. Âm thanh là phương diện đầu tiên của ngũ giác biểu hiện vì nó là một thuộc tính của dĩ thái gọi là Akas và như tôi đã nói, sự tụng đọc Veda là Yagnam cao nhất, tự nó chứa đựng mọi Yagnams nhỏ hơn và có khuynh hướng duy trì ngũ giác biểu hiện trong trật tự thích đáng. Theo quan điểm của các triết gia xưa của chúng ta, âm thanh hay lời nói là tác nhân nghiệp quả cao nhất mà con người sử dụng, chỉ đứng sau tư tưởng. |
|
|
Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water and earth. Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants. The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers.”—Some Thoughts on the Gita, p. 72. (back) |
Trong số các tác nhân nghiệp quả khác nhau mà con người vận dụng theo cách uốn nắn chính mình và môi trường chung quanh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là làm việc trong dĩ thái, mà dĩ thái dĩ nhiên cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất. Do đó âm thanh hay ngôn ngữ của con người chứa đựng mọi yếu tố cần thiết để vận động các loại thiên thần khác nhau, và những yếu tố ấy dĩ nhiên là nguyên âm và phụ âm. Các chi tiết của triết lý về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ quản thế giới vi tế thuộc về lãnh vực của Mantra Sastra chân chính, vốn dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 72. (back) |
|
[Page 193] b. Touch. In taking up the subject of the second sense, that of touch, we must note that this sense is pre-eminently the sense of very great importance in this, the second, solar system—a system of astral-buddhic consciousness. (81) Each of these senses, after having reached a certain point, begins to synthesise with the others in such a way that it is almost impossible to know where one begins and the other ends. Touch is that innate recognition of contact through the exercise of manas or mind in a threefold manner: |
[Page 193] b. Xúc giác. Khi xét đến đề tài của giác quan thứ hai, đó là xúc giác, chúng ta phải lưu ý rằng giác quan này nổi bật là giác quan có tầm quan trọng rất lớn trong hệ mặt trời thứ hai này—một hệ của tâm thức cảm dục-Bồ đề. (81) Mỗi giác quan này, sau khi đã đạt đến một điểm nào đó, bắt đầu tổng hợp với các giác quan khác theo cách khiến gần như không thể biết được chỗ nào giác quan này bắt đầu và chỗ nào giác quan kia chấm dứt. Xúc giác là sự nhận biết bẩm sinh về tiếp xúc qua việc vận dụng manas hay trí tuệ theo cách tam phân: |
|
(81) Tâm thức cảm dục-Bồ đề là thuật ngữ được áp dụng cho tâm thức căn bản trong hệ mặt trời của chúng ta. Nó được đặc trưng bởi cảm xúc, bởi cảm nhận, cảm giác, những điều rốt cuộc phải được chuyển hoá thành trực giác, tri giác tinh thần và hợp nhất. (back) |
|
|
As recognition. |
Như sự nhận biết. |
|
As memory. |
Như ký ức. |
|
As anticipation. |
Như sự dự cảm. |
|
Each of the five senses, when coupled with manas, develops within the subject a concept embodying the past, the present and the future. Therefore when a man is very highly evolved, has transcended time (as known in the three worlds), and can therefore look at the three lower planes from the standpoint of the Eternal Now, he has superseded the senses by full active consciousness. He knows, and needs not the senses to guide him any longer to knowledge. But in time, and in the three worlds, each sense on each plane is employed to convey to the Thinker some aspect of the not-self, and by the aid [Page 194] of mind, the Thinker can then adjust his relationship thereto. |
Mỗi một trong năm giác quan, khi kết hợp với manas, phát triển trong chủ thể một khái niệm bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, khi một người tiến hoá rất cao, đã vượt lên trên thời gian (như được biết trong ba cõi giới), và do đó có thể nhìn ba cõi thấp từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, thì y đã vượt qua các giác quan bằng tâm thức tích cực trọn vẹn. Y biết, và không còn cần các giác quan dẫn dắt mình đến tri thức nữa. Nhưng trong thời gian, và trong ba cõi giới, mỗi giác quan trên mỗi cõi được dùng để truyền đạt cho Đấng Tư Tưởng một phương diện nào đó của phi-ngã, và nhờ sự trợ giúp của trí tuệ, Đấng Tư Tưởng khi ấy có thể điều chỉnh mối liên hệ của mình với điều đó.[Page 194] |
|
Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme and to locate himself. |
Thính giác mang lại cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp con người xác định vị trí của mình trong hệ thống và định vị chính mình. |
|
Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself. |
Xúc giác mang lại cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình so với các thể khác ở ngoài mình. |
|
Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others. |
Thị giác mang lại cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các chuyển động của mình theo các chuyển động của những kẻ khác. |
|
Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best. |
Vị giác mang lại cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y quyết định điều mà đối với y dường như là tốt nhất. |
|
Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself. |
Khứu giác mang lại cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay tinh chất với chính mình. |
|
In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal. (82) |
Trong tất cả các định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục đích của các giác quan là vén lộ phi-ngã, và do đó giúp Bản Ngã phân biệt giữa cái thực và cái không thực. (82) |
|
(82) Những cảm giác được khơi dậy bởi các đối tượng giác quan được trải nghiệm nhờ các công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể hay các giác quan (Indriya), là những con đường qua đó Jiva tiếp nhận kinh nghiệm thế gian. Chúng có số lượng là mười, và thuộc hai loại: |
|
|
a. The five organs of sensation…..Jnanendriya |
a. Năm cơ quan cảm giác…..Jnanendriya |
|
1……The Ear…..Hearing. |
1……Tai…..Thính giác. |
|
2…… Da…….Cảm giác bằng xúc chạm. |
|
|
3…… Eye……. Sight. |
3…… Mắt……. Thị giác. |
|
4……Tongue…..Taste. |
4……Lưỡi…..Vị giác. |
|
5…… Nose…… Smell. |
5…… Mũi…… Khứu giác. |
|
b. The five organs of action……..Karmendriya |
b. Năm cơ quan hành động……..Karmendriya |
|
1…… Mouth….. Speaking. |
1…… Miệng….. Nói. |
|
2…… Hands….. Grasping. |
2…… Tay….. Nắm bắt. |
|
3…… Legs…….Walking. |
3…… Chân…….Đi lại. |
|
4…… Anus…….Excretion. |
4…… Hậu môn….. Bài tiết. |
|
5…… Genitals…. Procreation. |
5…… Cơ quan sinh dục…. Sinh sản. |
|
The organs of sensation are the reactive response which the Self makes to sensation. The organs of action are those through which effect is given to the Jiva’s desires. |
Các cơ quan cảm giác là sự đáp ứng phản ứng mà Bản Ngã tạo ra đối với cảm giác. Các cơ quan hành động là những cơ quan qua đó các ham muốn của Jiva được biểu lộ thành hiệu quả. |
|
“The Indriya or sense is not the physical organ, but the faculty of mind operating through that organ as its instrument. The outward sense organs are the usual means whereby on the physical plane the functions of hearing and so forth are accomplished. But, as they are mere instruments and their power is derived from the mind, a Yogi may accomplish by the mind only all that may be done by means of these physical organs without the use of the latter…. |
“Indriya hay giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là năng lực của trí tuệ vận hành qua cơ quan ấy như công cụ của nó. Các cơ quan giác quan bên ngoài là những phương tiện thông thường nhờ đó trên cõi hồng trần các chức năng nghe và v.v. được hoàn thành. Nhưng vì chúng chỉ là những công cụ và quyền năng của chúng bắt nguồn từ trí tuệ, nên một Yogi chỉ bằng trí tuệ cũng có thể thực hiện mọi điều có thể làm được nhờ các cơ quan hồng trần này mà không cần dùng đến chúng…. |
|
“The three functions of attention, selection and synthesising the discreet manifold of the senses, are those belonging to that aspect of the mental body, the internal agent, called Manas. Just as manas is necessary to the senses, the latter are necessary for manas….Manas is thus the leading indriya, of which the senses are powers.”—Serpent Power, by Arthur Avalon. (back) |
“Ba chức năng của sự chú ý, sự chọn lọc và sự tổng hợp cái đa tạp rời rạc của các giác quan là những chức năng thuộc về phương diện ấy của thể trí, tác nhân nội tại, được gọi là Manas. Cũng như manas là cần thiết cho các giác quan, thì các giác quan cũng cần thiết cho manas….Do đó, manas là indriya dẫn đầu, mà các giác quan là những quyền năng của nó.”—Serpent Power, của Arthur Avalon. (back) |
|
[Page 195] In the evolution of the senses, hearing is the first vague something which calls the attention of the apparently blind self |
[Page 195] Trong sự tiến hoá của các giác quan, thính giác là cái gì đó mơ hồ đầu tiên thu hút sự chú ý của bản ngã dường như mù lòa |
|
a. To another vibration. |
a. Đến một rung động khác. |
|
b. To something originating outside of itself. |
b. Đến một điều gì đó phát sinh từ bên ngoài chính nó. |
|
c. To the concept of externality. When sound is first contacted the consciousness for the first time becomes aware of that which is without. |
c. Đến khái niệm về tính bên ngoài. Khi âm thanh lần đầu được tiếp xúc, tâm thức lần đầu tiên nhận biết điều ở bên ngoài. |
|
Nhưng tất cả những gì được tâm thức đang ngủ yên nắm bắt (bằng giác quan duy nhất này là thính giác) chỉ là sự kiện có một cái gì đó ở ngoài nó, và phương hướng mà cái gì đó ấy nằm về phía đó. Sự lĩnh hội này, theo thời gian, làm phát sinh một giác quan khác, đó là xúc giác. Định luật Hấp Dẫn vận hành, tâm thức chậm rãi chuyển ra ngoài hướng về điều được nghe; và khi sự tiếp xúc được tạo lập với vô ngã thì điều đó được gọi là xúc chạm. Sự xúc chạm này truyền đạt những ý niệm khác cho tâm thức đang dò dẫm, những ý niệm về kích thước, về kết cấu bên ngoài, và về những khác biệt trên bề mặt; do đó khái niệm của Đấng Tư Tưởng được mở rộng dần dần. Ngài có thể nghe và cảm thấy, nhưng cho đến lúc này vẫn chưa biết đủ để liên hệ hay gọi tên. Khi Ngài thành công trong việc gọi tên, Ngài đã tiến một bước dài. Vì vậy, ở đây chúng ta có thể lưu ý rằng những biểu tượng vũ trụ sớm nhất cũng áp dụng cho các giác quan cũng như ở nơi khác: |
|
|
The point in the centre—consciousness and the not-self at a stage where sound alone is descriptive. |
Điểm ở trung tâm—tâm thức và vô ngã ở một giai đoạn mà chỉ riêng âm thanh là có tính mô tả. |
|
The divided circle—consciousness aware of the not-self, through a dual recognition. |
Vòng tròn bị chia đôi—tâm thức nhận biết vô ngã, qua một sự nhận biết nhị nguyên. |
|
[Page 196] Sight follows on this, the third sense, and the one definitely marking the correlation of ideas, or the relation between; it parallels the coming of Mind, both in time and function. We have hearing, touch or feeling, and then sight. In connection with the correspondence it is to be noted that sight came in with the third root-race in this round, and that the third race saw also the coming in of Mind. The Self and the not-self were immediately correlated, and co-ordinated. Their close partnership became an accomplished fact, and evolution hastened forward with renewed impetus. |
[Page 196] Tiếp theo đó là thị giác, giác quan thứ ba, và là giác quan xác định rõ rệt sự tương quan của các ý niệm, hay mối liên hệ giữa chúng; nó song hành với sự xuất hiện của Trí Tuệ, cả về thời gian lẫn chức năng. Chúng ta có thính giác, xúc giác hay cảm giác, rồi đến thị giác. Liên quan đến sự tương ứng, cần lưu ý rằng thị giác xuất hiện cùng với giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn này, và giống dân thứ ba cũng chứng kiến sự xuất hiện của Trí Tuệ. Bản Ngã và vô ngã được tương quan và phối hợp ngay tức thì. Sự cộng tác mật thiết của chúng trở thành một sự kiện đã hoàn tất, và tiến hoá được thúc đẩy nhanh hơn với một xung lực mới. |
|
These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi: |
Ba giác quan chính này (nếu tôi có thể mô tả chúng như vậy) liên kết rất rõ rệt, mỗi giác quan với một trong ba Đấng Thượng đế: |
|
Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos. |
Thính giác—Sự nhận biết linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Đấng Thượng đế thứ ba. |
|
Xúc giác—Sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự tập hợp các hình tướng, sự xích lại gần nhau và liên hệ lẫn nhau của chúng, Đấng Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Bản Ngã và vô ngã bắt đầu vận hành. |
|
|
Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight. |
Thị giác—Sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, Đấng Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, vận hành giữa mọi hình tướng mà bản ngã chiếm ngụ, và sự nhận biết tính hợp nhất cốt yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện thị giác. |
|
As regards taste and smell, we might call them minor senses, for they are closely allied to the important sense of touch. They are practically subsidiary to that sense. This second sense, and its connection with this second solar system, should be carefully pondered over. It is predominantly the sense most closely connected with the second Logos. This conveys a hint of much value if duly considered. It is of value to study the extensions of physical plane touch on other planes and to see whither we are led. It is the faculty which enables us to arrive [Page 197] at the essence by due recognition of the veiling sheath. It enables the Thinker who fully utilises it to put himself en rapport with the essence of all selves at all stages, and thereby to aid in the due evolution of the sheath and actively to serve. A Lord of Compassion is one who (by means of touch) feels with, fully comprehends, and realises the manner in which to heal and correct the inadequacies of the not-self and thus actively to serve the plan of evolution. We should study likewise in this connection the value of touch as demonstrated by the healers of the race (those on the Bodhisattva line) (83) and the effect of the Law of Attraction and Repulsion as thus manipulated by them. Students of etymology will have noted that the origin of the word touch is somewhat obscure, but probably means to ‘draw with quick motion.’ Herein lies the whole secret of this objective solar system, and herein will be demonstrated the quickening of vibration by means of touch. Inertia, mobility, rhythm, are the qualities manifested by the not-self. Rhythm, balance, and stable vibration are achieved by means of this very faculty of touch or feeling. Let me illustrate briefly so as to make the problem somewhat clearer. What results in meditation? By dint of strenuous effort and due attention to rules laid down, the aspirant succeeds in touching matter of a quality rarer than is his usual custom. He contacts his causal body, in time he contacts the matter of the buddhic plane. By means of this touch his own vibration is temporarily and briefly quickened. Fundamentally we are brought back to the subject that we deal with in this treatise. The latent fire of matter attracts to itself that fire, latent in other forms. They touch, and recognition and awareness ensues. The fire of manas burns continuously and is fed by that which is attracted and repulsed. When the two [Page 198] blend, the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified. The Law of Attraction persists in its work until another fire is attracted and touched, and the threefold merging is completed. Forget not in this connection the mystery of the Rod of Initiation. (84) Later when we consider the subject of the centres and Initiation it must be remembered that we are definitely studying one aspect of this mysterious faculty of touch, the faculty of the second Logos, wielding the law of Attraction. |
Về vị giác và khứu giác, chúng ta có thể gọi chúng là những giác quan phụ, vì chúng liên kết chặt chẽ với giác quan quan trọng là xúc giác. Trên thực tế, chúng là phụ thuộc của giác quan ấy. Giác quan thứ hai này, và mối liên hệ của nó với hệ mặt trời thứ hai này, cần được chiêm ngưỡng cẩn thận. Chủ yếu, đây là giác quan gắn bó mật thiết nhất với Đấng Thượng đế thứ hai. Điều này gợi ra một ám chỉ rất có giá trị nếu được suy xét đúng mức. Việc nghiên cứu những sự mở rộng của xúc giác cõi hồng trần trên các cõi khác và xem chúng dẫn chúng ta đến đâu là điều có giá trị. Chính năng lực này cho phép chúng ta đạt tới [Page 197] bản chất cốt yếu nhờ sự nhận biết đúng đắn lớp vỏ che phủ. Nó cho phép Đấng Tư Tưởng, khi vận dụng trọn vẹn nó, đặt mình vào trạng thái en rapport với bản chất cốt yếu của mọi bản ngã ở mọi giai đoạn, và nhờ đó trợ giúp cho sự tiến hoá đúng đắn của lớp vỏ và tích cực phụng sự. Chúa Tể của Lòng Từ Bi là Đấng mà (bằng xúc giác) cảm thông, hoàn toàn thấu hiểu, và chứng nghiệm cách thức chữa lành và điều chỉnh những khiếm khuyết của vô ngã và nhờ đó tích cực phụng sự Thiên Cơ tiến hoá. Tương tự, trong mối liên hệ này, chúng ta cũng nên nghiên cứu giá trị của xúc giác như được biểu lộ bởi những nhà chữa lành của nhân loại (những vị trên dòng Bồ Tát) (83) và hiệu quả của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi khi được họ vận dụng như thế. Những đạo sinh của từ nguyên học hẳn đã lưu ý rằng nguồn gốc của từ xúc chạm phần nào mơ hồ, nhưng có lẽ có nghĩa là “kéo bằng chuyển động nhanh.” Chính trong đây có toàn bộ bí mật của hệ mặt trời khách quan này, và chính trong đây sẽ được chứng minh sự làm tăng tốc rung động bằng phương tiện xúc chạm. Quán tính, tính động, nhịp điệu là những phẩm tính được vô ngã biểu lộ. Nhịp điệu, sự quân bình và rung động ổn định đạt được nhờ chính năng lực xúc chạm hay cảm giác này. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn để làm cho vấn đề phần nào rõ hơn. Điều gì xảy ra trong tham thiền? Nhờ nỗ lực mãnh liệt và sự chú ý đúng mức đến các quy luật đã được đặt ra, người chí nguyện thành công trong việc chạm đến vật chất có phẩm tính tinh tế hơn điều thường lệ của y. Y tiếp xúc với thể nguyên nhân của mình, và theo thời gian y tiếp xúc với vật chất của cõi Bồ đề. Nhờ sự xúc chạm này, rung động của chính y tạm thời và trong chốc lát được tăng tốc. Về căn bản, chúng ta được đưa trở lại chủ đề mà chúng ta bàn đến trong bộ luận này. Lửa tiềm ẩn của vật chất tự hút về mình ngọn lửa tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Chúng chạm nhau, và sự nhận biết cùng sự tỉnh giác tiếp theo sau. Lửa của manas cháy liên tục và được nuôi dưỡng bởi điều được hấp dẫn và bị đẩy lùi. Khi hai thứ ấy [Page 198] hòa trộn, sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường. Định luật Hấp Dẫn tiếp tục công việc của nó cho đến khi một ngọn lửa khác được hút đến và được chạm tới, và sự hòa nhập tam phân được hoàn tất. Trong mối liên hệ này, đừng quên huyền nhiệm của Thần Trượng Điểm đạo. (84) Về sau, khi chúng ta xem xét chủ đề các trung tâm và Điểm đạo, cần nhớ rằng chúng ta đang nghiên cứu rõ rệt một phương diện của năng lực xúc chạm huyền nhiệm này, năng lực của Đấng Thượng đế thứ hai, vận dụng Định luật Hấp Dẫn. |
|
(83) The line of the Bodhisattva is that of Love-Wisdom, and of the detailed science of the soul; it is the teaching line and the path upon which all must eventually pass. (back) |
(83) Dòng Bồ Tát là dòng của Bác Ái – Minh Triết, và của khoa học chi tiết về linh hồn; đó là dòng giảng huấn và là con đường mà cuối cùng tất cả đều phải đi qua. (back) |
|
(84) The Initiations spoken of in this Treatise are the major Initiations which bring about those expansions of consciousness which lead to liberation; these are taken in the causal body and from thence reflected into the physical; the Initiate never proclaims his initiation. (back) |
(84) Những cuộc điểm đạo được nói đến trong bộ Luận này là những cuộc điểm đạo lớn đem lại những sự mở rộng tâm thức dẫn đến giải thoát; chúng được tiếp nhận trong thể nguyên nhân và từ đó phản chiếu vào cõi hồng trần; điểm đạo đồ không bao giờ công bố sự điểm đạo của mình. (back) |
|
Let us now finish what may be imparted on the remaining three senses—sight, taste, smell—and then briefly sum up their relationship to the centres, and their mutual action and interaction. That will then leave two more points to be dealt with in this first division of the Treatise on Cosmic Fire, and a summing up. We shall then be in a position to take up that portion of the treatise that deals with the fire of manas and with the development of the manasaputras, (85) both in their totality and likewise individually. This topic is of the most imperative importance as it deals entirely with man, the Ego, the thinker, and shows the cosmic blending of the fires of matter and of mind, and their utilisation by the indwelling Flame. |
Giờ đây, chúng ta hãy hoàn tất điều có thể được truyền đạt về ba giác quan còn lại—thị giác, vị giác, khứu giác—rồi sau đó tóm lược ngắn gọn mối liên hệ của chúng với các trung tâm, và hoạt động cùng tác động hỗ tương của chúng. Khi đó sẽ còn lại hai điểm nữa cần được bàn đến trong phần thứ nhất này của Luận về Lửa Vũ Trụ, cùng một phần tổng kết. Sau đó chúng ta sẽ ở vào vị thế để tiếp tục phần của bộ luận bàn về lửa của manas và về sự phát triển của các manasaputras, (85) cả trong tính toàn thể của các Ngài lẫn từng vị riêng biệt. Chủ đề này có tầm quan trọng cấp thiết nhất vì nó hoàn toàn bàn về con người, chân ngã, đấng tư tưởng, và cho thấy sự hòa trộn vũ trụ của các ngọn lửa vật chất và trí tuệ, cùng sự vận dụng chúng bởi Ngọn Lửa nội tại. |
|
(85) Manasaputras: These are the Sons of Mind, the individual principle in man, the Ego, the solar Angel, in his own body on the abstract levels of the mental plane. (back) |
(85) Manasaputras: Đây là các Con của Trí Tuệ, nguyên khí cá thể trong con người, chân ngã, Thái dương Thiên Thần, trong chính thể của Ngài trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí. (back) |
|
c. Sight. This sense, as said before, is the paramount correlating sense of the solar system. |
c. Thị giác. Như đã nói trước đây, giác quan này là giác quan tương quan tối thượng của hệ mặt trời. |
|
Under the Law of Economy man hears. Sound permeates matter and is the basis of its subsequent heterogeneity. |
Dưới Định luật Tiết Kiệm, con người nghe. Âm thanh thấm khắp vật chất và là nền tảng cho tính dị biệt tiếp theo của nó. |
|
Under the Law of Attraction, man touches and makes contact with that which is brought to his attention [Page 199] through sound waves of activity. This leads to a condition of mutual repulsion and attraction between the one who apprehends and that which is apprehended. |
Dưới Định luật Hấp Dẫn, con người xúc chạm và tiếp xúc với điều được đưa đến sự chú ý của y [Page 199] qua các làn sóng hoạt động của âm thanh. Điều này dẫn đến một trạng thái đẩy lùi và hấp dẫn hỗ tương giữa kẻ lĩnh hội và điều được lĩnh hội. |
|
Having apprehended and then contacted his eyes are opened and he recognises his place in the whole order under the Law of Synthesis. |
Sau khi đã lĩnh hội rồi tiếp xúc, mắt y được mở ra và y nhận biết vị trí của mình trong toàn bộ trật tự dưới Định luật Tổng Hợp. |
|
Hearing |
Unity |
|
Touch |
Duality |
|
Sight |
Triplicity. |
|
In these three senses the present is summed up for us. The work of evolution is to recognise, utilise, co-ordinate, and dominate the whole till the Self, by means of these three, becomes actively aware of every form, of every vibration, and of every pulsation of the not-self; then, through the arranging power of mind, the objective of the self will be to find the truth, or that centre in the circle of manifestation which is, for the Self, the centre of equilibrium, and the one point where the co-ordination is perfected; then the Self can dissociate itself from every veil, every contact, and every sense. This leads in every manifestation to three types of separation: |
Trong ba giác quan này, hiện tại được tóm lược cho chúng ta. Công việc của tiến hoá là nhận biết, vận dụng, phối hợp và chế ngự toàn bộ cho đến khi Bản Ngã, bằng phương tiện ba giác quan này, trở nên nhận biết một cách tích cực mọi hình tướng, mọi rung động và mọi nhịp đập của vô ngã; khi đó, nhờ quyền năng sắp xếp của trí tuệ, mục tiêu của bản ngã sẽ là tìm ra chân lý, hay trung tâm ấy trong vòng tròn biểu hiện, vốn là, đối với Bản Ngã, trung tâm quân bình, và là điểm duy nhất nơi sự phối hợp được hoàn thiện; khi đó Bản Ngã có thể tách mình ra khỏi mọi màn che, mọi tiếp xúc và mọi giác quan. Điều này dẫn trong mọi biểu hiện đến ba loại phân ly: |
|
Giáng hạ tiến hoá. Sự phân ly của vật chất, hay cái một trở thành cái nhiều. Các giác quan được phát triển, và bộ máy được Bản Ngã hoàn thiện để vận dụng vật chất. Điều này ở dưới Định luật Tiết Kiệm. |
|
|
Evolution up to the time of the Probationary Path. The merging of Spirit and matter, and the utilisation of the senses in a progressing identification of the Self with all forms from the lowest to those relatively refined. This is under the Law of Attraction. |
Tiến hoá cho đến thời kỳ Con Đường Dự Bị. Sự hòa nhập của tinh thần và vật chất, và sự vận dụng các giác quan trong một sự đồng hoá ngày càng tăng của Bản Ngã với mọi hình tướng từ thấp nhất đến những hình tướng tương đối tinh luyện. Điều này ở dưới Định luật Hấp Dẫn. |
|
Evolution on the Path. Again the separation of spirit from matter, its identification with the One, and the ultimate rejection of form. The senses then are synthesised into acquired faculty, and the Self has no [Page 200] further use for the not-self. It blends with the All-Self. This is under the Law of Synthesis. |
Tiến hoá trên Con Đường. Lại là sự phân ly của tinh thần khỏi vật chất, sự đồng hoá của nó với Đấng Duy Nhất, và sự từ bỏ hình tướng sau cùng. Khi đó các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã thủ đắc, và Bản Ngã không còn [Page 200] dùng đến vô ngã nữa. Nó hòa nhập với Đại Ngã. Điều này ở dưới Định luật Tổng Hợp. |
|
If this is borne in mind it leads to a realisation that the separation of the Spirit from the material vehicle involves two aspects of the One great All; herein is seen the work of the Creator, the Preserver and the Destroyer. |
Nếu điều này được ghi nhớ, nó sẽ dẫn đến sự chứng nghiệm rằng sự phân ly của Tinh thần khỏi vận cụ vật chất bao hàm hai phương diện của Một Đại Toàn Thể; chính trong đây thấy được công việc của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt. |
|
In the final perfection of this third sense of sight, the term used is the wholly inadequate one of realisation. Let the student study carefully the lowest and highest demonstration of the senses as laid down in the tabulation earlier imparted, and note the occult significance of the expressions used in the summation. |
Trong sự hoàn thiện cuối cùng của giác quan thứ ba này là thị giác, thuật ngữ được dùng là từ hết sức không đầy đủ chứng nghiệm. Hãy để đạo sinh nghiên cứu cẩn thận biểu hiện thấp nhất và cao nhất của các giác quan như đã được nêu trong bảng biểu đã truyền đạt trước đó, và lưu ý ý nghĩa huyền bí của những cách diễn đạt được dùng trong phần tổng kết. |
|
Hearing |
Beatitude. |
This is realised through the not-self. |
|
Touch |
Service. |
The summation of the work of the Self for the not-self. |
|
Sight |
Realisation. |
Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self. |
|
Taste |
Perfection. |
Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy. |
|
Smell |
Perfected Knowledge. |
The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the inter-relation between the Self and the not-self. |
|
This all concerns the perfected, realised Personality. |
Tất cả điều này đều liên quan đến Phàm ngã đã hoàn thiện, đã chứng nghiệm. |
|
In all these perfections is seen the awareness of the Self, and the graded process of identification, utilisation, manipulation and final rejection of the not-self by that Self who is now consciously aware. He hears the note of nature and that of his monad; he recognises their identity, utilises their vibration, and passes rapidly through the three stages of Creator, Preserver and Destroyer. |
Trong mọi sự hoàn thiện này, người ta thấy được sự nhận biết của Bản Ngã, và tiến trình tuần tự của sự đồng hoá, vận dụng, điều khiển và cuối cùng từ bỏ vô ngã bởi Bản Ngã nay đã nhận biết một cách hữu thức. Ngài nghe âm điệu của bản chất và âm điệu của chân thần của Ngài; Ngài nhận biết sự đồng nhất của chúng, vận dụng rung động của chúng, và nhanh chóng đi qua ba giai đoạn của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt. |
|
[Page 201] He touches or feels the vibration of the form or not-self in all its various grades, recognises his identity in time and space, and for purposes of existence or being and by means of the three Laws of Economy, Attraction and Synthesis utilises, blends and eventually dissociates himself. He sees the threefold evolutionary process and by means of the development of the inner vision, sees within the heart of the system macrocosmic and microcosmic, the one SELF in many forms, and finally identifies himself with that one Self by the conscious rejection of the not-self after its complete subjugation and utilisation. |
[Page 201] Ngài xúc chạm hay cảm nhận rung động của hình tướng hay vô ngã trong mọi cấp độ khác nhau của nó, nhận biết sự đồng nhất của Ngài trong thời gian và không gian, và vì những mục đích của sự tồn tại hay bản thể và bằng phương tiện ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp, Ngài vận dụng, hòa nhập và cuối cùng tách mình ra. Ngài thấy tiến trình tiến hoá tam phân và bằng sự phát triển của linh thị bên trong, thấy trong trái tim của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, một BẢN NGÃ duy nhất trong nhiều hình tướng, và cuối cùng đồng hoá mình với Bản Ngã duy nhất ấy bằng sự từ bỏ vô ngã một cách hữu thức sau khi nó đã hoàn toàn bị chế ngự và được vận dụng. |
|
d. Tasting. He tastes then finally and discriminates, for taste is the great sense that begins to hold sway during the discriminating process that takes place when the illusory nature of matter is in process of realisation. Discrimination is the educatory process to which the Self subjects itself in the process of developing intuition—that faculty whereby the Self recognises its own essence in and under all forms. Discrimination concerns the duality of nature, the Self and the not-self, and is the means of their differentiation in the process of abstraction; the intuition concerns unity and is the capacity of the Self to contact other selves, and is not a faculty whereby the not-self is contacted. Hence, its rarity these days owing to the intense individualisation of the Ego, and its identification with the form—necessary identification at this particular time. As the sense of taste on the higher planes is developed, it leads one to ever finer distinctions till one is finally led through the form, right to the heart of one’s nature. |
d. Nếm. Khi đó Ngài nếm và cuối cùng phân biện, vì vị giác là giác quan lớn bắt đầu nắm quyền trong tiến trình phân biện diễn ra khi bản chất ảo tưởng của vật chất đang trong tiến trình được chứng nghiệm. Sự phân biện là tiến trình giáo dục mà Bản Ngã tự đặt mình vào trong tiến trình phát triển trực giác—năng lực nhờ đó Bản Ngã nhận biết bản chất cốt yếu của chính nó trong và dưới mọi hình tướng. Sự phân biện liên quan đến tính nhị nguyên của bản chất, Bản Ngã và vô ngã, và là phương tiện để chúng được phân biệt trong tiến trình trừu xuất; trực giác liên quan đến sự hợp nhất và là khả năng của Bản Ngã tiếp xúc với các bản ngã khác, chứ không phải là một năng lực nhờ đó vô ngã được tiếp xúc. Do đó, ngày nay nó hiếm hoi vì sự biệt ngã hóa mãnh liệt của chân ngã, và sự đồng hoá của nó với hình tướng—một sự đồng hoá cần thiết vào thời điểm đặc biệt này. Khi giác quan vị giác trên các cõi cao hơn được phát triển, nó dẫn con người đến những phân biệt ngày càng tinh tế hơn cho đến khi cuối cùng người ta được dẫn xuyên qua hình tướng, đi thẳng vào trái tim của bản chất mình. |
|
e. Smelling is the faculty of keen perception that eventually brings a man back to the source from whence he came, the archetypal plane, the plane where his true home is to be found. A perception of difference has been cultivated that has caused a divine discontent within the [Page 202] heart of the Pilgrim in the far country; the prodigal son draws comparisons; he has developed the other four senses, and he utilises them. Now comes in the faculty of vibratory recognition of the home vibration, if it might be so expressed. It is the spiritual counterpart of that sense which in the animal, the pigeon and other birds, leads them back unerringly to the familiar spot from whence they originally came. It is the apprehension of the vibration of the Self, and a swift return by means of that instinct to the originating source. |
e. Ngửi là năng lực tri giác sắc bén cuối cùng đưa con người trở về nguồn cội từ đó y đã đến, cõi nguyên mẫu, cõi nơi quê hương đích thực của y được tìm thấy. Một tri giác về sự khác biệt đã được vun bồi, gây nên một nỗi bất mãn thiêng liêng trong [Page 202] trái tim của Người Hành Hương ở xứ xa; người con hoang đàng bắt đầu so sánh; y đã phát triển bốn giác quan kia, và y vận dụng chúng. Giờ đây xuất hiện năng lực nhận biết rung động của rung động quê nhà, nếu có thể diễn đạt như vậy. Đó là đối phần tinh thần của giác quan ấy nơi loài vật, chim bồ câu và các loài chim khác, dẫn chúng trở về không sai lạc đến nơi quen thuộc từ đó ban đầu chúng đã đến. Đó là sự lĩnh hội rung động của Bản Ngã, và sự trở về mau lẹ bằng bản năng ấy đến nguồn gốc phát sinh. |
|
The consideration of this subject awakens the realisation of the vastness of the region of thought concerned—the region of the whole evolutionary development of the human being. Yet all that is possible here, as elsewhere, is to indicate lines of thought for careful pondering, and to emphasise certain ideas which may serve as the foundation thoughts for the future mental activity of the immediate generation. The following facts must also be borne in mind when considering the matter: |
Việc xem xét chủ đề này khơi dậy sự chứng nghiệm về tính bao la của lĩnh vực tư tưởng liên quan—lĩnh vực của toàn bộ sự phát triển tiến hoá của con người. Tuy nhiên, tất cả những gì có thể làm ở đây, cũng như ở nơi khác, chỉ là chỉ ra những đường hướng tư tưởng để chiêm ngưỡng cẩn thận, và nhấn mạnh một số ý tưởng nhất định có thể dùng làm những tư tưởng nền tảng cho hoạt động trí tuệ tương lai của thế hệ trước mắt. Những sự kiện sau đây cũng phải được ghi nhớ khi xem xét vấn đề này: |
|
a. That the senses have been dealt with in this division of our Treatise on Cosmic Fire because they concern the material form. Strictly speaking the five senses, as we know them, are the means of contact built up by the Thinker (polarised in his etheric body) and find their expression in the physical form in those nerve centres, brain cells, ganglia and plexus which exoteric science recognises. |
a. Rằng các giác quan đã được bàn đến trong phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ của chúng ta vì chúng liên quan đến hình tướng vật chất. Nói một cách nghiêm ngặt, năm giác quan, như chúng ta biết, là những phương tiện tiếp xúc được Đấng Tư Tưởng xây dựng nên (phân cực trong thể dĩ thái của Ngài) và tìm thấy sự biểu lộ của chúng trong hình thể hồng trần nơi những trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch và đám rối mà khoa học ngoại môn nhận biết. |
|
b. That these senses for all purposes of present manifestation, have their focal point on the astral plane and are therefore largely under the stimulating action of the solar plexus—that great focal point in the centre of the body which is the stimulating agent for most of the human family at this time. |
b. Rằng các giác quan này, đối với mọi mục đích của biểu hiện hiện tại, có tiêu điểm của chúng trên cõi cảm dục và do đó phần lớn ở dưới tác động kích thích của tùng thái dương—tiêu điểm lớn ấy ở trung tâm cơ thể, là tác nhân kích thích đối với phần lớn gia đình nhân loại vào lúc này. |
|
c. That as the higher triangle comes into play and the polarisation steps up to the higher centres, the senses begin to make themselves felt on the mental level and [Page 203] man becomes aware on that plane. We have in the human body an interesting reflection of the transference of the polarisation from the Personality to the Ego, or into the causal body, in the division that exists between the higher and the lower mental planes, and the dividing line of the diaphragm between the higher and the lower portions of the body. Below the diaphragm we have the four lower centres: |
c. Rằng khi tam giác cao hơn bắt đầu hoạt động và sự phân cực được nâng lên các trung tâm cao hơn, các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên cấp độ trí tuệ và [Page 203] con người trở nên nhận biết trên cõi ấy. Trong cơ thể con người, chúng ta có một sự phản chiếu thú vị của sự chuyển dịch phân cực từ Phàm ngã sang chân ngã, hay vào thể nguyên nhân, trong sự phân chia tồn tại giữa cõi thượng trí và cõi hạ trí, và đường phân cách của cơ hoành giữa phần trên và phần dưới của cơ thể. Bên dưới cơ hoành, chúng ta có bốn trung tâm thấp: |
|
1. The solar plexus. |
1. Tùng thái dương. |
|
2. The spleen. |
2. Lá lách. |
|
3. Organs of generation. |
3. Các cơ quan sinh sản. |
|
4. Base of the spine. |
4. Đáy cột sống. |
|
Above are the three higher: |
Bên trên là ba trung tâm cao hơn: |
|
1. Heart. |
1. Tim. |
|
2. Throat. |
2. Cổ họng. |
|
3. Head. |
3. Đầu. |
|
In the microcosm we have the lower quaternary separated from the Triad in a similar manner, and this analogy will bear pondering upon. By careful thought we can therefore work out the reflex action of the centres and the senses from the standpoint of the different planes, remembering that as the centres are awakened the process will be threefold: |
Trong tiểu thiên địa, chúng ta có bộ tứ thấp được tách khỏi Tam nguyên tinh thần theo một cách tương tự, và sự tương đồng này đáng để chiêm ngưỡng. Do đó, bằng tư duy cẩn thận, chúng ta có thể tìm ra tác động phản xạ của các trung tâm và các giác quan từ quan điểm của các cõi khác nhau, ghi nhớ rằng khi các trung tâm được thức tỉnh, tiến trình sẽ là tam phân: |
|
First. The awakening on the physical plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the Probationary Path is reached. This is paralleled by the increasing use of the senses, and their constant utilisation for the identification of the self and its sheaths. |
Thứ nhất. Sự thức tỉnh trên cõi hồng trần, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt tới Con Đường Dự Bị. Điều này song hành với việc sử dụng ngày càng tăng các giác quan, và sự vận dụng liên tục của chúng để đồng hoá bản ngã với các lớp vỏ của nó. |
|
Second. The awakening on the astral plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the first Initiation is reached. This is paralleled by the tremendously keen use of the senses for the purposes of discriminating between the Self and the not-self. [Page 204] |
Thứ hai. Sự thức tỉnh trên cõi cảm dục, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt tới lần điểm đạo thứ nhất. Điều này song hành với việc sử dụng cực kỳ sắc bén các giác quan nhằm mục đích phân biện giữa Bản Ngã và vô ngã. [Page 204] |
|
Third. The awakening upon the mental plane, and the gradually increasing activity of the centres and the senses. The effect in both cases tends to identification of the Self with its own essence in all groups and the rejection of the sheaths and the forms. |
Thứ ba. Sự thức tỉnh trên cõi trí, và hoạt động tăng dần của các trung tâm và các giác quan. Hiệu quả trong cả hai trường hợp đều hướng đến sự đồng hoá của Bản Ngã với bản chất cốt yếu của chính nó trong mọi nhóm và sự từ bỏ các lớp vỏ cùng các hình tướng. |
|
This development is paralleled on the two higher planes simultaneously as in the lower, and as the astral senses come into perfected activity, the corresponding centres of force on the buddhic plane begin to function until the vibratory interplay between the two is consummated, and the force of the Triad can be felt definitely in the Personality via the astral. |
Sự phát triển này song hành đồng thời trên hai cõi cao hơn cũng như ở các cõi thấp, và khi các giác quan cảm dục đi vào hoạt động hoàn hảo, các trung tâm lực tương ứng trên cõi Bồ đề bắt đầu vận hành cho đến khi sự tương tác rung động giữa hai bên được hoàn tất, và lực của Tam nguyên tinh thần có thể được cảm nhận rõ rệt trong Phàm ngã qua trung gian cõi cảm dục. |
|
Again the corresponding vortices on the atmic level come into active vibration as the mental centres become fourth dimensional, till we have a wonderful fiery activity demonstrating on all the three planes. |
Một lần nữa, các xoáy lực tương ứng trên cấp độ atma đi vào rung động hoạt động khi các trung tâm trí tuệ trở nên bốn chiều, cho đến khi chúng ta có một hoạt động rực lửa kỳ diệu biểu hiện trên cả ba cõi. |
|
From the point of view of fire, (86) leaving the aura and [Page 205] its colors out of temporary consideration, the evolutionary development marks an equally definite process. |
Xét từ quan điểm của lửa, (86) tạm thời không xét đến hào quang và [Page 205] các màu sắc của nó, sự phát triển tiến hoá đánh dấu một tiến trình cũng xác định không kém. |
|
(86) Lửa của vũ trụ biểu hiện là thất phân. |
|
|
The Threefold God manifests through the seven Fires: |
Thượng đế Tam Vị biểu hiện qua bảy Lửa: |
|
1. Electric fire… The seven Heavenly Men. |
1. Lửa Điện… Bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
2. Solar fire… Evolution of the seven Entities through their vehicles developing the seven principles. |
2. Lửa Thái dương… Sự tiến hoá của bảy Thực Thể qua các vận cụ của Các Ngài, phát triển bảy nguyên khí. |
|
3. Fire by friction… The seven chains. |
3. Lửa ma sát… Bảy Dãy. |
|
They are the seven centres of the Logos. |
Các Ngài là bảy trung tâm của Thượng đế. |
|
A Heavenly Man manifests through a chain. |
Một Đấng Thiên Nhân biểu hiện qua một Dãy. |
|
1. He is electric fire… The seven solar entities who inform each globe. |
1. Ngài là Lửa Điện… Bảy thực thể thái dương phú linh mỗi bầu hành tinh. |
|
2. He is solar fire… Evolution of the life through the forms, developing the seven principles. |
2. Ngài là Lửa Thái dương… Sự tiến hoá của sự sống qua các hình tướng, phát triển bảy nguyên khí. |
|
3. He is fire by friction… The seven globes. |
3. Ngài là Lửa ma sát… Bảy bầu hành tinh. |
|
Each Heavenly Man has seven principles. |
Mỗi Đấng Thiên Nhân có bảy nguyên khí. |
|
A Man, the Microcosm, manifests through his vehicles: |
Con người, Tiểu thiên địa, biểu hiện qua các vận cụ của y: |
|
1. He is electric fire… The monad, a solar entity. |
1. Y là Lửa Điện… chân thần, một thực thể thái dương. |
|
2. He is solar fire… Evolution of the life through the vehicles in order to develop the seven principles. |
2. Y là Lửa Thái dương… Sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ để phát triển bảy nguyên khí. |
|
3. He is fire by friction… The seven sheaths: |
3. Y là Lửa ma sát… Bảy thể: |
|
1. Atmic |
1. Atma |
|
2. Buddhic. |
2. Bồ đề. |
|
3. Causal |
3. Nguyên nhân |
|
4. thể trí. |
|
|
5. Astral body |
5. thể cảm dục |
|
6. Etheric body. |
6. thể dĩ thái. |
|
7. Physical body. |
7. thể xác. |
|
Physical Plane man manifests in the three worlds: |
Con người cõi Hồng trần biểu hiện trong ba cõi giới: |
|
1. Electric fire… The higher self. |
1. Lửa Điện… chân ngã. |
|
2. Solar fire… The seven centres. |
2. Lửa Thái dương… Bảy trung tâm. |
|
3. Fire by friction… The sheaths. (back) |
3. Lửa ma sát… Các thể. (back) |
|
a. Sự tiếp sinh lực cho nhiệt bên trong của các thể, hay điểm lửa nhỏ bé tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử cá biệt của vật chất. Tiến trình này diễn ra trong cả ba thể, lúc đầu chậm chạp, rồi nhanh hơn, và cuối cùng đồng thời và tổng hợp. |
|
|
b. The bringing into activity from latency of the seven centres on all planes, beginning from the bottom upwards, until the centres (according to ray and type) are interrelated and co-ordinated. There are manifest thirty-five vortices of fire in the perfected adept,—all of radiant activity and all interacting. |
b. Sự đưa vào hoạt động từ trạng thái tiềm ẩn của bảy trung tâm trên mọi cõi, bắt đầu từ dưới lên trên, cho đến khi các trung tâm (theo cung và loại) liên hệ với nhau và phối hợp. Có ba mươi lăm xoáy lửa biểu hiện nơi chân sư toàn thiện,—tất cả đều hoạt động rạng ngời và đều tương tác với nhau. |
|
c. The vortices or wheels of lambent flame become interlinked by triangles of fire which pass and circulate from one to another, till we have a web of fiery lines, uniting centres of living fire, and giving truth to the statement that the Sons of Mind are FLAMES. |
c. Các xoáy lực hay bánh xe lửa rực sáng trở nên nối kết với nhau bằng những tam giác lửa truyền dẫn và lưu chuyển từ cái này sang cái khác, cho đến khi chúng ta có một mạng lưới những đường lửa, hợp nhất các trung tâm của lửa sống, và xác nhận chân lý của phát biểu rằng các Con của Trí Tuệ là NHỮNG NGỌN LỬA. |
|
d. These centres reach this condition of perfection as the Spirit or Will aspect takes ever fuller control. The unifying triangles are produced by the action of the fire of mind, while the fire of matter holds the form together in ordered sequence. So the interdependence of matter, mind and Spirit can be seen and demonstrates to the eye of the clairvoyant as the co-ordination of the three fires. |
d. Các trung tâm này đạt đến tình trạng toàn thiện ấy khi phương diện tinh thần hay Ý Chí ngày càng nắm quyền kiểm soát đầy đủ hơn. Các tam giác hợp nhất được tạo ra bởi tác động của lửa của trí tuệ, trong khi lửa của vật chất giữ hình tướng lại với nhau trong trình tự có trật tự. Vì vậy có thể thấy sự tương thuộc của vật chất, trí tuệ và tinh thần, và điều đó biểu hiện trước mắt nhà thông nhãn như sự phối hợp của ba lửa. |
|
e. In the Heavenly Man and His body, a chain of globes (87) likewise can be seen and we need here to remember [Page 206] very carefully that the seven chains of a scheme are the expression of a planetary Logos. The Heavenly Men are expressing Themselves through a scheme of seven chains and the emphasis has been laid unduly, perhaps, upon the dense physical planet in any particular chain. This has caused the fact of the chain importance to be somewhat overlooked. Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men. The idea of groups of Egos forming centres in the Heavenly Men is nevertheless correct, but in this connection the reference is to the centres of force on buddhic and monadic levels. (88) |
e. Trong Đấng Thiên Nhân và thể của Ngài, một dãy các bầu hành tinh (87) cũng có thể được thấy, và ở đây chúng ta cần ghi nhớ [Page 206] rất cẩn thận rằng bảy dãy của một hệ hành tinh là biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế. Các Đấng Thiên Nhân đang biểu hiện chính Các Ngài qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy, và có lẽ sự nhấn mạnh đã được đặt quá mức vào hành tinh hồng trần đậm đặc trong bất kỳ dãy riêng biệt nào. Điều này đã khiến sự kiện về tầm quan trọng của dãy phần nào bị bỏ qua. Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác hoạ bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân. Tuy nhiên, ý tưởng về các nhóm chân ngã tạo thành các trung tâm trong các Đấng Thiên Nhân là đúng, nhưng trong mối liên hệ này, sự quy chiếu là đến các trung tâm mãnh lực trên các cấp độ Bồ đề và chân thần. (88) |
|
(87) Các Dãy Hành Tinh: |
|
|
The seven Heavenly Men…….Form, the sun and the seven sacred planets.—S. D., I, 100, 155. |
Bảy Đấng Thiên Nhân…….Tạo thành mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng.—S. D., I, 100, 155. |
|
Some of their names and qualities. |
Một vài danh xưng và phẩm tính của Các Ngài. |
|
a. The seven planetary Logoi, or the seven Spirits before the throne. |
a. Bảy Hành Tinh Thượng đế, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. |
|
b. The seven Kumaras…. S. D., III, 59, 327. |
b. Bảy Kumara…. S. D., III, 59, 327. |
|
c. Seven solar deities….S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257. |
c. Bảy thần thái dương….S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257. |
|
d. The primordial seven….S. D., I, 116. |
d. Bảy vị nguyên sơ….S. D., I, 116. |
|
e. The seven Builders….S. D., I, 152, 153. |
e. Bảy đấng kiến tạo….S. D., I, 152, 153. |
|
f. Seven intellectual Breaths….S. D., II, 332, note. |
f. Bảy Hơi Thở trí tuệ….S. D., II, 332, note. |
|
g. The seven Manus…. S. D., I, 488. |
g. Bảy Đức Manu…. S. D., I, 488. |
|
h. The Flames…. S. D., II, 258. |
h. Những Ngọn Lửa…. S. D., II, 258. |
|
They came from previous kalpas… S. D., II, 99. |
Các Ngài đến từ những kalpa trước… S. D., II, 99. |
|
Their nature is knowledge and love…. S. D., II, 275; S. D., II, 619. |
Bản chất của Các Ngài là tri thức và bác ái…. S. D., II, 275; S. D., II, 619. |
|
The seven sacred planets are: |
Bảy hành tinh thiêng liêng là: |
|
1. Saturn |
1. Sao Thổ |
|
2. Jupiter. |
2. Sao Mộc. |
|
3. Mars |
3. Sao Hỏa |
|
4. Sun (substitute for another). |
4. Mặt Trời (thay thế cho một hành tinh khác). |
|
5. Venus |
5. Sao Kim |
|
6. Sao Thủy. |
|
|
7. Moon (substitute for another). |
7. Mặt Trăng (thay thế cho một hành tinh khác). |
|
Neptune and Uranus are not here enumerated, nor Vulcan. |
Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương không được liệt kê ở đây, Vulcan cũng vậy. |
|
The orbit of Neptune includes apparently the entire ring-pass-not. |
Quỹ đạo của Sao Hải Vương dường như bao gồm toàn bộ vòng-giới-hạn. |
|
Vulcan is within the orbit of Mercury. |
Vulcan ở bên trong quỹ đạo của Sao Thủy. |
|
Each one of the Heavenly Men manifests through a chain of seven globes. |
Mỗi một Đấng Thiên Nhân biểu hiện qua một dãy gồm bảy bầu hành tinh. |
|
All the seven Logoi influence a chain, but one of Them is the incarnating Entity. They influence: |
Cả bảy Thượng đế đều ảnh hưởng đến một dãy, nhưng một trong Các Ngài là Thực Thể nhập thể. Các Ngài ảnh hưởng đến: |
|
a. Some globe in chain |
a. Một bầu hành tinh nào đó trong dãy |
|
b. Some plane |
b. Một cõi nào đó |
|
c. Some round. |
c. Một cuộc tuần hoàn nào đó. |
|
d. Some world period |
d. Một thời kỳ thế giới nào đó |
|
e. Some rootrace |
e. Một giống dân gốc nào đó |
|
f. Some subrace. |
f. Một giống dân phụ nào đó. |
|
g. Some branch race |
g. Một chủng tộc nhánh nào đó |
|
h. Some group |
h. Một nhóm nào đó |
|
i. Some human unit. (back) |
i. Một đơn vị nhân loại nào đó. (back) |
|
(88) In the Secret Doctrine, the Sons of Mind are spoken of as flames. In Stanza VII, 4, “These are the three-tongued flame of the four wicks. The wicks are the sparks, that draw from the three-tongued flame shot out by the seven flames. The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.” (back) |
(88) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Con của Trí Tuệ được nói đến như những ngọn lửa. Trong Bài kệ VII, 4, “Đây là ngọn lửa ba lưỡi của bốn tim đèn. Các tim đèn là những tia lửa, rút ra từ ngọn lửa ba lưỡi phóng ra bởi bảy ngọn lửa. Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi chỉ mảnh nhất của Fohat.” (back) |
|
[Page 207] In connection with this there is a fundamental point that must never be forgotten: these seven Heavenly Men might be considered as being in physical incarnation through the medium of a physical planet, and herein lies the mystery of planetary evolution. Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets. Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time. |
[Page 207] Liên quan đến điều này có một điểm căn bản không bao giờ được quên: bảy Đấng Thiên Nhân này có thể được xem như đang lâm phàm hồng trần qua trung gian của một hành tinh hồng trần, và chính trong đó có huyền nhiệm của sự tiến hoá hành tinh. Chính trong đó có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, huyền bí nhất trong mọi hành tinh. Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Thượng đế khác nhau cũng khác nhau, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay được che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã. |
|
Again, according as the centres are active or inactive, so the manifestation differs likewise, and the study which opens up is of vast and abstruse interest in connection with the solar system. |
Một lần nữa, tùy theo các trung tâm hoạt động hay bất hoạt mà biểu hiện cũng khác nhau tương ứng, và sự nghiên cứu mở ra từ đó có mối quan tâm rộng lớn và sâu xa liên quan đến hệ mặt trời. |
5. The Centres and Initiation |
5. Các Trung Tâm và Điểm đạo |
|
We have dealt briefly with the evolution of the centres, with their function, their organisation and their gradually increasing activity from a point of comparative inertia until they are consummated motion. Then they become living wheels of flame, distinguished by a dual motion of the periphery and the inner revolving wheels, and by a fourth-dimensional effect, due primarily to the alignment of the inner subtler vortices with the comparatively exoteric etheric centres. This alignment is brought about eventually at initiation. |
Chúng ta đã bàn ngắn gọn về sự tiến hoá của các trung tâm, về chức năng, tổ chức của chúng và hoạt động tăng dần từng bước của chúng từ một điểm có tính trì trệ tương đối cho đến khi chúng trở thành chuyển động viên mãn. Khi đó chúng trở thành những bánh xe lửa sống động, được phân biệt bởi một chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay bên trong, và bởi một hiệu ứng bốn chiều, chủ yếu do sự chỉnh hợp của các xoáy lực tinh tế bên trong với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn. Sự chỉnh hợp này cuối cùng được thực hiện vào lúc điểm đạo. |
|
At the time that initiation is taken, the centres are all active and the lower four (which correspond to the Personality) are beginning the process of translating the fire into the three higher. The dual revolution in the lower centres is clearly to be seen and the three higher are commencing to be similarly active. By the application of the Rod of Initiation at the time of the initiation ceremony, certain results are achieved in connection with the centres which might be enumerated as follows: |
Vào lúc điểm đạo được tiếp nhận, các trung tâm đều hoạt động và bốn trung tâm thấp (tương ứng với phàm ngã) đang bắt đầu tiến trình chuyển dịch lửa vào ba trung tâm cao. Có thể thấy rõ sự quay kép trong các trung tâm thấp và ba trung tâm cao đang bắt đầu hoạt động tương tự. Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lúc nghi lễ điểm đạo, một số kết quả nhất định được đạt tới liên quan đến các trung tâm, có thể được liệt kê như sau: |
|
a. The fire at the base of the spine is definitely directed [Page 208] to whichever centre is the object of special attention. This varies according to the Ray, or the specialised work of the initiate. |
a. Lửa ở đáy cột sống được hướng đi một cách xác định [Page 208] đến bất cứ trung tâm nào là đối tượng của sự chú ý đặc biệt. Điều này thay đổi tùy theo cung, hoặc công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ. |
|
b. The centre has its activity intensified, its rate of evolution increased, and certain of the central spokes of the wheel brought into more active radiance. These spokes which are also called by some students lotus-petals, have a close connection with the different spirillae in the permanent atoms. Through their stimulation there comes into play one or more of the corresponding spirillae in the permanent atoms on the three lower planes. After the third Initiation, a corresponding stimulation takes place in the permanent atoms of the Triad, leading to the co-ordination of the buddhic vehicle, and the transference of the lower polarisation into the higher. |
b. Trung tâm được tăng cường hoạt động, tốc độ tiến hoá của nó được gia tăng, và một số nan hoa trung tâm của bánh xe được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn. Những nan hoa này, cũng được một số đạo sinh gọi là các cánh hoa sen, có liên hệ mật thiết với các loa tuyến khác nhau trong các nguyên tử trường tồn. Qua sự kích thích của chúng, một hay nhiều loa tuyến tương ứng trong các nguyên tử trường tồn trên ba cõi thấp được đưa vào hoạt động. Sau lần điểm đạo thứ ba, một sự kích thích tương ứng diễn ra trong các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, dẫn đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, và sự chuyển dịch phân cực thấp lên phân cực cao. |
|
c. By the application of the Rod of Initiation the downflow of force from the Ego to the personality is tripled, the direction of that force being dependent upon whether the centres receiving attention are the etheric, or the astral at the first and second Initiations, or whether the initiate is standing before the LORD OF THE WORLD. In the latter case, his mental centres or their corresponding force vortices on higher levels, will receive stimulation. When the World Teacher initiates at the first and second Initiations, the direction of the Triadal force is turned to the vivification of the heart, and throat centres, and the ability to synthesise the force of the lower centres is greatly increased. When the One Initiator applies the Rod of His Power, the downflow is from the Monad, and though the throat and heart intensify vibration as a response, the main direction of the force is to the seven head centres, and finally (at liberation) to the radiant head centre above, and synthesising the lesser seven head centres. |
c. Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, dòng mãnh lực tuôn xuống từ chân ngã đến phàm ngã được tăng gấp ba, hướng đi của mãnh lực ấy tùy thuộc vào việc các trung tâm được chú ý là các trung tâm dĩ thái, hay cảm dục trong lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, hoặc liệu điểm đạo đồ đang đứng trước ĐỨC CHÚA TỂ THẾ GIỚI hay không. Trong trường hợp sau, các trung tâm trí tuệ của y hoặc các xoáy mãnh lực tương ứng của chúng trên các cấp độ cao hơn sẽ nhận được sự kích thích. Khi Đức Chưởng Giáo điểm đạo trong lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, hướng của mãnh lực Tam nguyên tinh thần được chuyển sang sự tiếp sinh lực cho các trung tâm tim và cổ họng, và khả năng tổng hợp mãnh lực của các trung tâm thấp được gia tăng rất nhiều. Khi Đấng Điểm đạo Duy Nhất áp dụng Thần Trượng Quyền năng của Ngài, dòng tuôn xuống là từ chân thần, và dù cổ họng và tim tăng cường rung động như một đáp ứng, hướng chính của mãnh lực là đến bảy trung tâm đầu, và cuối cùng (khi giải thoát) đến trung tâm đầu rạng ngời ở phía trên, và tổng hợp bảy trung tâm đầu nhỏ hơn. |
|
d. The centres at initiation receive a fresh access of [Page 209] vibratory capacity and of power, and this results, in the exoteric life, as: |
d. Các trung tâm khi điểm đạo nhận được một sự gia tăng mới về [Page 209] năng lực rung động và quyền năng, và điều này dẫn đến, trong đời sống ngoại môn, như sau: |
|
First. A sensitiveness and refinement of the vehicles which may result, at first, in much suffering to the initiate, but which produces a capacity to respond to contacts that far outweighs the incidental pain. |
Thứ nhất. Một sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ, lúc đầu có thể dẫn đến nhiều đau khổ cho điểm đạo đồ, nhưng tạo ra một khả năng đáp ứng với các tiếp xúc vượt xa nỗi đau ngẫu nhiên đi kèm. |
|
Second. A development of psychic faculty that again may lead to temporary distress, but which eventually causes a recognition of the one Self in all selves, which is the goal of endeavor. |
Thứ hai. Một sự phát triển năng lực thông linh, điều này lại có thể dẫn đến khổ sở tạm thời, nhưng cuối cùng gây ra sự nhận biết một Bản Ngã trong mọi bản ngã, vốn là mục tiêu của nỗ lực. |
|
Third. A burning away, through a gradual arousing of kundalini, and its correct geometrical progression through the etheric web. This produces a resultant continuity of consciousness which enables the initiate consciously to utilise time as a factor in the plans of evolution. |
Thứ ba. Một sự đốt cháy đi, qua sự thức tỉnh dần dần của kundalini, và sự tiến triển hình học đúng đắn của nó xuyên qua mạng dĩ thái. Điều này tạo ra một sự liên tục của tâm thức, giúp điểm đạo đồ một cách hữu thức sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch tiến hoá. |
|
Fourth. A gradual grasp of the Law of Vibration as an aspect of the basic law of building; the initiate learns consciously to build, to manipulate thought matter for the perfecting of the plans of the Logos, to work in mental essence, and to apply the law of mental levels and thereby affect the physical plane. Motion originates cosmically on cosmic mental levels, and in the microcosm the same order will be seen. There is an occult hint here that will reveal much if pondered upon. At initiation, at the moment of the application of the Rod, the initiate consciously realises the meaning of the Law of Attraction in form building, and in the synthesis of the three fires. Upon his ability to retain that realisation and himself to apply the law, will depend his power and progress. |
Thứ tư. Một sự nắm bắt dần dần Định luật Rung động như một phương diện của định luật căn bản về kiến tạo; điểm đạo đồ học cách kiến tạo một cách hữu thức, vận dụng chất liệu tư tưởng để hoàn thiện các kế hoạch của Thượng đế, làm việc trong tinh chất trí tuệ, và áp dụng định luật của các cấp độ trí tuệ, nhờ đó tác động đến cõi hồng trần. Chuyển động khởi nguồn về mặt vũ trụ trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, và trong tiểu thiên địa cũng sẽ thấy cùng một trật tự như vậy. Ở đây có một gợi ý huyền bí sẽ tiết lộ nhiều điều nếu được suy ngẫm. Khi điểm đạo, vào khoảnh khắc áp dụng Thần Trượng, điểm đạo đồ một cách hữu thức chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp dẫn trong việc kiến tạo hình tướng, và trong sự tổng hợp ba lửa. Quyền năng và sự tiến bộ của y sẽ tùy thuộc vào khả năng giữ vững sự chứng nghiệm ấy và tự mình áp dụng định luật. |
|
e. By the application of the Rod, the fire of kundalini is aroused, and its upward progress directed. The fire at the base of the spine, and the fire of mind are [Page 210] directed along certain routes, or triangles, by the action of the Rod as it moves in a specified manner. There is a definite occult reason, under the Laws of Electricity, behind the known fact that every initiate, presented to the Initiator, is accompanied by two of the Masters, who stand one on either side of him. The three of them together form a triangle which makes the work possible. |
e. Bằng việc áp dụng Thần Trượng, lửa kundalini được đánh thức, và sự tiến triển đi lên của nó được định hướng. Lửa ở đáy cột sống, và lửa của trí tuệ được [Page 210] hướng theo những lộ trình, hay tam giác nhất định, bởi tác động của Thần Trượng khi nó di chuyển theo một cách thức xác định. Có một lý do huyền bí rõ rệt, theo các Định luật Điện, đằng sau sự kiện đã biết rằng mọi điểm đạo đồ được dẫn đến trước Đấng Điểm đạo đều có hai Chân sư đi kèm, đứng mỗi vị một bên y. Cả ba cùng nhau tạo thành một tam giác làm cho công việc trở nên khả thi. |
|
The force of the Rod is twofold, and its power terrific. Apart and alone the initiate could not receive the voltage from the Rod without serious hurt, but in triangular formation transmission comes safely. The two Masters Who thus sponsor the initiate, represent two polarities of the electric All; part of Their work is therefore to stand with all applicants for initiation when they come before the Great Lord. |
Mãnh lực của Thần Trượng là nhị phân, và quyền năng của nó thật khủng khiếp. Nếu tách riêng và đơn độc, điểm đạo đồ không thể tiếp nhận điện thế từ Thần Trượng mà không bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng trong đội hình tam giác, sự truyền dẫn diễn ra an toàn. Hai Chân sư bảo trợ điểm đạo đồ theo cách đó tượng trưng cho hai cực tính của Toàn Thể điện; vì vậy một phần công việc của Các Ngài là đứng cùng mọi ứng viên điểm đạo khi họ đến trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại. |
|
When the Rods of Initiation are held in the hands of the Initiator in His position of power, and at the stated seasons, they act as transmitters of electric force from very high levels,—so high indeed that the “Flaming Diamond” at certain of the final initiations (the sixth and seventh) transmits force, via the Logos, from outside the system altogether. We need to remember that this major Rod is the one used on this planet, but that within the system there are several such Rods of Power, and that they are to be found in three grades, if it may be so expressed. |
Khi các Thần Trượng Điểm đạo được cầm trong tay Đấng Điểm đạo ở vị thế quyền năng của Ngài, và vào những mùa kỳ định, chúng hoạt động như những vật truyền dẫn mãnh lực điện từ các cấp độ rất cao,—quả thật cao đến mức “Kim Cương Rực Lửa” trong một số lần điểm đạo cuối cùng (thứ sáu và thứ bảy) truyền mãnh lực, qua Thượng đế, từ hoàn toàn bên ngoài hệ thống. Chúng ta cần nhớ rằng đại Thần Trượng này là loại được dùng trên hành tinh này, nhưng trong nội bộ hệ thống có một số Thần Trượng Quyền năng như vậy, và có thể nói rằng chúng được tìm thấy trong ba cấp bậc. |
|
First. The Rod of Initiation used for the first two initiations and wielded by the Great Lord, the Christ, the World Teacher. It is magnetised by application of the “Flaming Diamond”—the magnetisation being repeated when each new world Teacher takes office. There is a wonderful ceremony performed at the time that a new World Teacher takes up His work. During the ceremony He receives His Rod of Power—the same Rod as used since the foundation of our planetary Hierarchy—and holds it forth to the Lord of the World, Who touches it [Page 211] with His own mighty Rod, causing a fresh re-charging of its electric capacity. This ceremony takes place at Shamballa. (89, 90) |
Thứ nhất. Thần Trượng Điểm đạo được dùng cho hai lần điểm đạo đầu tiên và do Đức Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Christ, Đức Chưởng Giáo, sử dụng. Nó được từ hoá bằng việc áp dụng “Kim Cương Rực Lửa”—sự từ hoá được lặp lại khi mỗi Đức Chưởng Giáo mới nhậm chức. Có một nghi lễ kỳ diệu được cử hành vào lúc một Đức Chưởng Giáo mới đảm nhận công việc của Ngài. Trong nghi lễ, Ngài nhận Thần Trượng Quyền năng của Ngài—chính Thần Trượng đã được dùng từ khi Huyền Giai Tinh Thần hành tinh của chúng ta được thiết lập—và giơ nó ra trước Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng chạm vào nó [Page 211] bằng chính Thần Trượng hùng lực của Ngài, gây ra một sự nạp lại mới cho năng lực điện của nó. Nghi lễ này diễn ra tại Shamballa. (89, 90) |
|
Second. The Rod of Initiation known as the “Flaming Diamond” and used by Sanat Kumara, the One Initiator, called in the Bible, the Ancient of Days. This Rod lies hidden “in the East” and holds the fire latent which irradiates the Wisdom Religion. This Rod was brought by the Lord of the World when He took form and came to our planet eighteen million years ago. |
Thứ hai. Thần Trượng Điểm đạo được biết đến như “Kim Cương Rực Lửa” và được Đức Sanat Kumara, Đấng Điểm đạo Duy Nhất, sử dụng, Đấng được gọi trong Kinh Thánh là Đấng Thái Cổ. Thần Trượng này được cất giấu “ở phương Đông” và giữ ngọn lửa tiềm ẩn chiếu rạng Tôn Giáo Minh Triết. Thần Trượng này đã được Đức Chúa Tể Thế Giới mang đến khi Ngài nhận hình tướng và đến hành tinh chúng ta mười tám triệu năm trước. |
|
Once in every world period it is subjected to a similar process as that of the lesser Rod, only this time it is recharged by the direct action of the Logos Himself,—the Logos of the solar system. The location of this Rod is known only to the Lord of the World, and to the Chohans of the Rays, and (being the talisman of this evolution) the Chohan of the second Ray is—under the Lord of the World—its main guardian, aided by the deva Lord of the second plane. The Buddhas of activity are responsible for its custody, and under them the Chohan of the Ray. It is produced only at stated times when specific work has to be done. It is used not only at the initiating of men, but at certain planetary functions, of which nothing as yet has been given out. It has its place and function in certain ceremonies connected with the inner round (91) and the triangle formed by the Earth, Mars [Page 212] and Mercury. But more about this is not at this time permissible. |
Mỗi thời kỳ thế giới một lần, nó chịu một tiến trình tương tự như của Thần Trượng nhỏ hơn, chỉ khác là lần này nó được nạp lại bằng tác động trực tiếp của chính Thượng đế,—Thượng đế của hệ mặt trời. Vị trí của Thần Trượng này chỉ được biết bởi Đức Chúa Tể Thế Giới, và các Chohan của các Cung, và (vì là bùa hộ mệnh của cuộc tiến hoá này) Chohan của cung hai là—dưới quyền Đức Chúa Tể Thế Giới—người giám hộ chính của nó, được trợ giúp bởi Chúa thiên thần của cõi thứ hai. Các Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm gìn giữ nó, và dưới các Ngài là Chohan của Cung. Nó chỉ được đưa ra vào những thời điểm định sẵn khi công việc đặc thù phải được thực hiện. Nó không chỉ được dùng trong việc điểm đạo cho những người nam và nữ, mà còn trong một số chức năng hành tinh, về những điều đó cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Nó có vị trí và chức năng của nó trong một số nghi lễ liên quan đến cuộc tuần hoàn nội môn (91) và tam giác được tạo thành bởi Trái Đất, Sao Hỏa [Page 212] và Sao Thủy. Nhưng hiện nay không được phép nói thêm về điều này. |
|
(91) The inner round is a mysterious cycle of which little can be told. It is not concerned with manifestation through the seven schemes or globes, but has to do with certain aspects of the subjective Life or the soul. (back) |
(91) Cuộc tuần hoàn nội môn là một chu kỳ huyền bí mà rất ít điều có thể được nói ra. Nó không liên quan đến sự biểu hiện qua bảy hệ hành tinh hay các bầu hành tinh, mà liên quan đến một số phương diện của Sự sống chủ quan hay linh hồn. (back) |
|
Third. The Rod of Initiation, wielded by the Logos of the solar system, is called among other things, the “Sevenfold Flaming Fire.” It was confided to our Logos by the Lord of Sirius and sent to our system from that radiant sun. One of its purposes is for use in emergencies. This great talisman has never yet been employed in this particular manner, though twice it was nearly thus used,—once in Atlantean days, and once in the third year of the late war. This Rod of Power is used at the initiation of the seven Heavenly Men on cosmic levels. It is used also in the initiation of groups, a thing almost incomprehensible to us. It is applied to the centres of the seven Heavenly Men in the same general way as the lesser Rods are applied to the human centres, and the effects are the same, only on a vaster scale. This, needless to say, is a vast and abstruse subject, and concerns not the sons of men. It is but touched upon, as an enumeration of the Rods of Initiation would be incomplete without some reference to it, and it serves to show the wondrous synthesis of the whole, and the place of the system within an even greater scheme. In all things cosmic, perfect law and order are found, and the ramifications of the plan can be seen on all planes and all subplanes. This greatest Rod is in the care of the first great group of karmic Lords. It might be described as the Rod which carries a voltage of pure fohatic force from cosmic levels. The two lesser Rods carry differentiated fohatic force. This logoic Rod of Power is kept within the Sun, and is only re-charged at the beginning of every one hundred years of Brahma. |
Thứ ba. Thần Trượng Điểm đạo, do Thượng đế của hệ mặt trời sử dụng, được gọi, trong số những danh xưng khác, là “Lửa Rực Lửa Thất Phân.” Nó đã được Chúa Tể của Sirius giao phó cho Thượng đế của chúng ta và gửi đến hệ thống chúng ta từ mặt trời rạng ngời ấy. Một trong những mục đích của nó là để dùng trong các tình huống khẩn cấp. Bùa hộ mệnh vĩ đại này chưa bao giờ được sử dụng theo cách đặc biệt này, mặc dù đã hai lần suýt được dùng như vậy,—một lần vào thời Atlantis, và một lần vào năm thứ ba của cuộc chiến vừa qua. Thần Trượng Quyền năng này được dùng trong việc điểm đạo cho bảy Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ vũ trụ. Nó cũng được dùng trong việc điểm đạo cho các nhóm, một điều hầu như không thể hiểu nổi đối với chúng ta. Nó được áp dụng vào các trung tâm của bảy Đấng Thiên Nhân theo cùng cách tổng quát như các Thần Trượng nhỏ hơn được áp dụng vào các trung tâm của con người, và các hiệu quả cũng giống như vậy, chỉ là trên một quy mô rộng lớn hơn. Không cần phải nói, đây là một chủ đề rộng lớn và sâu xa, và không liên quan đến những người con của nhân loại. Nó chỉ được chạm đến, vì việc liệt kê các Thần Trượng Điểm đạo sẽ không đầy đủ nếu không có một vài quy chiếu đến nó, và nó giúp cho thấy sự tổng hợp kỳ diệu của toàn thể, cùng vị trí của hệ thống trong một hệ hành tinh còn lớn hơn nữa. Trong mọi sự việc vũ trụ, đều có thể tìm thấy quy luật và trật tự hoàn hảo, và các phân nhánh của Thiên Cơ có thể được thấy trên mọi cõi và mọi cõi phụ. Đại Thần Trượng này được đặt dưới sự chăm sóc của nhóm lớn thứ nhất các Đấng nghiệp quả. Nó có thể được mô tả như Thần Trượng mang một điện thế của mãnh lực fohat thuần túy từ các cấp độ vũ trụ. Hai Thần Trượng nhỏ hơn mang mãnh lực fohat đã được biến phân. Thần Trượng Quyền năng logoic này được giữ trong Mặt Trời, và chỉ được nạp lại vào đầu mỗi một trăm năm Brahma. |
|
The reason why the Rods of Power are here discussed is that they have definitely to do with the centres which are force vortices in matter and which (though channels [Page 213] for spiritual force, or centres wherein the ‘will to be’ finds expression) demonstrate as activity in matter. They are the centres of existence, and just as one cannot, in manifestation, dissociate the two poles of Spirit and matter, so one cannot, in initiation apply the Rod without bringing about definite effects between the two. The Rods are charged with Fohat which is fire of matter plus electric fire, hence their effect. The mystery cannot be explained in greater detail as the secrets of initiation are not transmissible. More has been here imparted on this matter than hitherto, though there are those who have heard these things. |
Lý do các Thần Trượng Quyền năng được bàn đến ở đây là vì chúng chắc chắn có liên quan đến các trung tâm, vốn là những xoáy mãnh lực trong vật chất và là những gì (dù là các kênh [Page 213] cho mãnh lực tinh thần, hay các trung tâm trong đó “ý chí hiện hữu” tìm được sự biểu hiện) vẫn biểu lộ như hoạt động trong vật chất. Chúng là các trung tâm của sự tồn tại, và cũng như trong biểu hiện người ta không thể tách rời hai cực của tinh thần và vật chất, thì trong điểm đạo cũng không thể áp dụng Thần Trượng mà không gây ra những hiệu quả xác định giữa hai cực ấy. Các Thần Trượng được nạp bằng Fohat, vốn là lửa của vật chất cộng với Lửa Điện, do đó mới có hiệu quả của chúng. Huyền nhiệm này không thể được giải thích chi tiết hơn vì các bí mật của điểm đạo không thể truyền đạt được. Ở đây đã truyền ra về vấn đề này nhiều hơn trước kia, mặc dù có những người đã nghe những điều này. |
DIVISION F – THE LAW OF ECONOMY |
PHÂN ĐOẠN F – ĐỊNH LUẬT TIẾT KIỆM |
|
[Page 214] I. Its effect in matter. |
[Page 214] I. Tác động của nó trong vật chất. |
|
1. Dissociation of atoms. |
1. Sự phân ly của các nguyên tử. |
|
2. Distribution of atoms. |
2. Sự phân bố các nguyên tử. |
|
3. Vibratory rhythm. |
3. Nhịp điệu rung động. |
|
4. Heterogeneity. |
4. Tính dị biệt. |
|
5. Inherent rotary activity. |
5. Hoạt động quay vốn có. |
|
II. Its subsidiary laws. |
II. Các định luật phụ thuộc của nó. |
|
1. The law of vibration. |
1. Định luật rung động. |
|
2. The law of adaptation. |
2. Định luật thích ứng. |
|
3. The law of repulsion. |
3. Định luật đẩy lùi. |
|
4. The law of friction. |
4. Định luật ma sát. |
I. ITS EFFECT IN MATTER |
I. TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TRONG VẬT CHẤT |
|
This law is the law governing the matter aspect of manifestation, and is the law characterising the work of the third Logos, and of the entities who are the embodiment of His will and the agents of His purposes. Each of the great cosmic Entities who take form as the three Logoi, is distinguished by different methods of activity, which might be described thus: |
Định luật này là định luật chi phối phương diện vật chất của sự biểu hiện, và là định luật đặc trưng cho công việc của Thượng đế thứ ba, cùng các thực thể là hiện thân của ý chí của Ngài và là tác nhân cho các mục đích của Ngài. Mỗi một trong các Thực Thể vũ trụ vĩ đại khoác lấy hình tướng như ba Đấng Logoi đều được phân biệt bởi những phương pháp hoạt động khác nhau, có thể được mô tả như sau: |
|
The third Aspect or Brahma aspect of the activities of those Entities who are His expression, is characterised by that method in the distribution of matter which we call the Law of Economy. It is the law governing the scattering of the atoms of matter and their dissociation from one another, wide distribution, vibratory rhythm, [Page 215] heterogeneity and quality and their inherent rotary action. This Law of Economy causes matter always to follow the line of least resistance, and is the basis of the separative action of atomic matter. It governs matter, the opposite pole of spirit. |
Phương diện thứ ba hay phương diện Brahma của các hoạt động của những Thực Thể là biểu hiện của Ngài, được đặc trưng bởi phương pháp phân bố vật chất mà chúng ta gọi là Định luật Tiết Kiệm. Đây là định luật chi phối sự phân tán các nguyên tử của vật chất và sự phân ly của chúng khỏi nhau, sự phân bố rộng khắp, nhịp điệu rung động, [Page 215] tính dị biệt và phẩm tính của chúng cùng hoạt động quay vốn có của chúng. Định luật Tiết Kiệm này khiến vật chất luôn luôn đi theo con đường ít trở ngại nhất, và là nền tảng của hoạt động phân ly của vật chất nguyên tử. Nó chi phối vật chất, cực đối nghịch của tinh thần. |
|
Phương diện thứ hai, phương diện kiến tạo hay Vishnu, được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn; các hoạt động của những thực thể hiện thân cho phương diện này được hướng đến việc hút vật chất về phía Tinh thần, và sự xích lại gần dần dần của hai cực. Điều này đưa đến sự kết dính, đến việc tạo ra những tập hợp nguyên tử trong nhiều cấu trúc khác nhau, và sự hấp dẫn này được tạo ra bởi chính quyền năng hấp dẫn của Tinh thần. Nó biểu lộ trong: |
|
|
1. Association, |
1. Sự liên kết, |
|
2. Form building, |
2. Sự tạo dựng hình tướng, |
|
3. Adaptation of form to vibration, |
3. Sự thích ứng của hình tướng với rung động, |
|
4. Relative homogeneity of group unity, |
4. Tính đồng nhất tương đối của sự hợp nhất nhóm, |
|
5. Cyclic spiralling movement. |
5. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ. |
|
The line of least resistance is not the law for this aspect. The attractive power of Spirit in form-building, and in the adaptation of the form to the need, is the secret of the pain and resistance in the world; pain is only caused by resistance, and is a necessary phase in the process of evolution. This law of attraction is the law governing the Spirit, the opposite pole of matter. |
Con đường ít trở ngại nhất không phải là định luật của phương diện này. Quyền năng hấp dẫn của Tinh thần trong việc xây dựng hình tướng, và trong sự thích ứng của hình tướng với nhu cầu, là bí mật của đau khổ và sự kháng cự trong thế gian; đau khổ chỉ do sự kháng cự gây ra, và là một giai đoạn cần thiết trong tiến trình tiến hoá. Định luật hấp dẫn này là định luật chi phối Tinh thần, cực đối nghịch của vật chất. |
|
The first Aspect, or the will to exist, is governed by the Law of Synthesis, and the activities of the cosmic entities who are its embodiments are governed by the law of enforced unity, and of essential homogeneity. It is the law that eventually comes into play after spirit and matter are blending, and adapting themselves each to each; it governs the eventual synthesis of Self with Self, and finally with the All-Self, and also of essence with essence in contra-distinction to the synthesis of matter and Spirit. It demonstrates as: [Page 216] |
Phương diện thứ nhất, hay ý chí hiện hữu, được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và các hoạt động của những thực thể vũ trụ là hiện thân của nó được chi phối bởi định luật của sự hợp nhất cưỡng bách, và của tính đồng nhất bản chất. Đây là định luật rốt cuộc đi vào hoạt động sau khi tinh thần và vật chất đang hòa trộn và thích ứng với nhau; nó chi phối sự tổng hợp tối hậu của Ngã với Ngã, và cuối cùng với Đại Ngã Toàn Thể, đồng thời cả của tinh túy với tinh túy, đối lập với sự tổng hợp của vật chất và Tinh thần. Nó biểu lộ như: [Page 216] |
|
1. Abstraction, |
1. Sự trừu xuất, |
|
2. Spiritual liberation, |
2. Sự giải thoát tinh thần, |
|
3. Destruction of form through the withdrawal of Spirit (the Destroyer aspect) |
3. Sự hủy diệt hình tướng qua việc rút Tinh thần ra (phương diện Đấng Hủy Diệt) |
|
4. Absolute homogeneity and absolute essential unity, |
4. Tính đồng nhất tuyệt đối và sự hợp nhất bản chất tuyệt đối, |
|
5. Chuyển động tiến tới không ngừng. |
|
|
Thus can be seen the wonderful synthesis brought about by the evolutionary working of these three cosmic laws,—each of them embodying the mode of work of certain cosmic Entities or Existences. The final two will be taken up in their right place. Now we will touch but briefly upon the law of matter, that of Economy. |
Như vậy có thể thấy được sự tổng hợp kỳ diệu do hoạt động tiến hoá của ba định luật vũ trụ này mang lại,—mỗi định luật trong số đó hiện thân cho phương thức hoạt động của những Thực Thể hay Hiện Hữu vũ trụ nhất định. Hai định luật cuối sẽ được bàn đến ở đúng chỗ của chúng. Giờ đây chúng ta chỉ chạm sơ lược đến định luật của vật chất, tức Định luật Tiết Kiệm. |
|
This is the law that lies back of what has been mistakenly called “The Fall” by religious writers, by which is defined in reality the involutionary process, cosmically considered. It led to a sevenfold differentiation in the matter of the system. Just as the Law of Attraction led to the sevenfold psychic differentiation of the Sons of Mind, and the Law of Synthesis results in the sevenfold perfection of the same Manasaputras, so we have an interesting connection between |
Đây là định luật nằm phía sau điều mà các tác giả tôn giáo đã lầm gọi là “Sự Sa Ngã”, mà thực ra là để xác định tiến trình giáng hạ tiến hoá, xét theo vũ trụ. Nó đã dẫn đến một sự biến phân thất phân trong vật chất của hệ thống. Cũng như Định luật Hấp Dẫn đã dẫn đến sự biến phân thông linh thất phân của các Con của Trí Tuệ, và Định luật Tổng Hợp đưa đến sự hoàn thiện thất phân của chính các Manasaputras ấy, thì ở đây chúng ta có một mối liên hệ thú vị giữa |
|
The seven planes, or the seven grades of matter. |
Bảy cõi, hay bảy cấp độ của vật chất. |
|
The seven Heavenly Men, the seven Divine Manasaputras, or the seven types of wisdom-love. |
Bảy Đấng Thiên Nhân, bảy Manasaputras thiêng liêng, hay bảy loại minh triết-bác ái. |
|
The seven qualities of wisdom, which are produced by the cosmic entities, the Kumaras by the aid of knowledge through the medium of matter. |
Bảy phẩm tính của minh triết, được tạo ra bởi các thực thể vũ trụ, các Kumaras, nhờ sự trợ giúp của tri thức qua trung gian của vật chất. |
|
This Law of Economy has several subsidiary laws which govern its effects on the different grades of matter. As said before, this is the Law swept into action by the sounds as uttered by the Logos. The Sacred Word, or the uttered Sound of the Creator, exists in different forms, and though in reality but one Word, has several syllables. The syllables all together form a solar [Page 217] phrase; separated they form certain words of power, producing different effects. (92) |
Định luật Tiết Kiệm này có một số định luật phụ thuộc chi phối các tác động của nó trên những cấp độ khác nhau của vật chất. Như đã nói trước đây, đây là Định luật được đưa vào hoạt động bởi các âm thanh do Thượng đế xướng lên. Linh từ Thiêng Liêng, hay Âm Thanh được Đấng Sáng Tạo phát ra, tồn tại dưới những hình thức khác nhau, và tuy thực sự chỉ là một Linh từ, lại có nhiều âm tiết. Tất cả các âm tiết hợp lại tạo thành một cụm từ mặt trời; tách riêng ra, chúng tạo thành những quyền năng từ nhất định, tạo ra những tác động khác nhau. ([Page 217]92) |
|
(92)…”the Veda, the world song in human sound that was given to man for his use metaphysically from the standpoint of its meaning, and magically from the standpoint of its proper recitation. The world song obeying certain laws of proportions or the Pythagorean arithmetic and imparting its thrilling effect to the domain of cosmic substance, has induced the latter into a crystallisation process that the philosopher Plato called the geometry of the cosmos. The various forms that are observed from a molecule of salt crystal to the wonderfully complex organism of the human body are all the structures of the great cosmic geometriser known as Viswakarma, the deva carpenter in our Puranic writings. The revealed Veda whose function is to trace out the cosmos from one basic sound substance symbolised as Om, necessarily split itself into a primal three, a subsequent seven vowels and then into seven notes and then into seven combinations of the seven notes on a basic three and then into hymns. All these falling into the material field of the consonants, gradually produced the manifested crystallised forms which are collectively taken as the universe. The world to a thinker is the magic motion produced by the Orphean singer or the Hindu Saraswati….” |
(92)…”Veda, bài ca thế giới trong âm thanh nhân loại được ban cho con người để sử dụng về mặt siêu hình từ quan điểm ý nghĩa của nó, và về mặt huyền thuật từ quan điểm sự tụng đọc đúng đắn của nó. Bài ca thế giới, tuân theo những định luật nhất định về tỉ lệ hay số học Pythagoras và truyền tác động rung động của nó vào cõi chất liệu vũ trụ, đã khiến cõi này đi vào một tiến trình kết tinh mà triết gia Plato gọi là hình học của vũ trụ. Những hình thức khác nhau được quan sát thấy từ một phân tử tinh thể muối cho đến cơ thể sống phức tạp kỳ diệu của thân thể con người đều là những cấu trúc của nhà hình học hóa vũ trụ vĩ đại được biết đến như Viswakarma, vị thiên thần thợ mộc trong các trước tác Puranic của chúng ta. Veda được mặc khải, mà chức năng của nó là phác ra vũ trụ từ một chất liệu âm thanh căn bản được biểu tượng hóa như Om, tất yếu đã tự phân tách thành một bộ ba nguyên thủy, rồi thành bảy nguyên âm tiếp theo, rồi thành bảy nốt, rồi thành bảy tổ hợp của bảy nốt trên một bộ ba căn bản, và sau đó thành các thánh ca. Tất cả những điều này, khi rơi vào lĩnh vực vật chất của các phụ âm, dần dần tạo ra những hình tướng biểu hiện đã kết tinh mà tổng thể được xem là vũ trụ. Đối với một nhà tư tưởng, thế giới là chuyển động huyền thuật do người ca sĩ Orpheus hay Saraswati của Ấn Độ tạo ra….” |
|
“In the Vishnu Purana, second part, you will see that the power that resides in the sun is represented as the three-sided Vedic power, that the power as Rik creates, as Yajus preserves and as Sama destroys. Rik is therefore the creative song of the Devas in the Sun. Yajus the song of preservation and Sama the song of destruction of the Devas in the sun and construction of the Devas in the moon. Rik therefore is the song of the Devas and Sama the song of the Pitris and Yajua the intermediate song. The functions of the Vedas must of course vary according to the standpoint. If you take the Pitris, Sama is their constructive song, and Rik is their destructive note. The three Vedas correspond to every trinity in Nature and I request you will search for further information in the much abused Puranas….” |
“Trong Vishnu Purana, phần thứ hai, bạn sẽ thấy rằng quyền năng ngự trong mặt trời được trình bày như quyền năng Veda tam diện, rằng quyền năng ấy với tư cách Rik thì sáng tạo, với tư cách Yajus thì bảo tồn và với tư cách Sama thì hủy diệt. Vì vậy Rik là bài ca sáng tạo của các thiên thần trong Mặt Trời. Yajus là bài ca bảo tồn và Sama là bài ca hủy diệt của các thiên thần trong mặt trời và kiến tạo của các thiên thần trong mặt trăng. Vì vậy Rik là bài ca của các thiên thần và Sama là bài ca của các Pitris còn Yajua là bài ca trung gian. Dĩ nhiên các chức năng của các Veda phải thay đổi tùy theo quan điểm. Nếu bạn xét các Pitris, thì Sama là bài ca kiến tạo của họ, còn Rik là nốt hủy diệt của họ. Ba Veda tương ứng với mọi bộ ba trong Thiên Nhiên và tôi đề nghị bạn hãy tìm thêm thông tin trong các Purana vốn bị lạm dụng quá nhiều….” |
|
“Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary or elements, air, fire, water and earth. Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants. The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers.”—From Some Thoughts on the Gita. (back) |
“Trong số những tác nhân nghiệp quả khác nhau mà con người sử dụng để uốn nắn chính mình và môi trường xung quanh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là hoạt động trong dĩ thái, mà dĩ nhiên dĩ thái chi phối bộ tứ thấp hay các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất. Do đó âm thanh hay ngôn ngữ của con người chứa đựng mọi yếu tố cần thiết để làm chuyển động các loại thiên thần khác nhau, và dĩ nhiên những yếu tố ấy là nguyên âm và phụ âm. Các chi tiết của triết học về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ quản thế giới vi tế thuộc về lĩnh vực của Mantra Sastra chân chính, mà dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả.”—Trích từ Một vài suy tưởng về Gita. (trở lại) |
|
The great WORD that peals through one hundred years of Brahma or persists in reverberation throughout a solar system, is the sacred sound of A U M. In differentiation and as heard in time and space, each of those three mystic letters stands for the first letter of a subsidiary phrase, consisting of various sounds. One letter, with a sequence of four sounds, makes up the vibration or note of Brahma, which is the intelligence aspect dominant in matter. Hence the mystery hidden in [Page 218] the pentagon, in the fifth principle of mind, and in the five planes of human evolution. These five letters when sounded forth on the right note, give the key to the true inwardness of matter and also to its control,—this control being based on the right interpretation of the Law of Economy. |
Linh từ vĩ đại vang dội suốt một trăm năm của Brahma hay tiếp tục ngân vọng trong toàn bộ một hệ mặt trời là âm thanh thiêng liêng A U M. Trong sự biến phân và như được nghe thấy trong thời gian và không gian, mỗi một trong ba mẫu tự thần bí ấy tượng trưng cho mẫu tự đầu tiên của một cụm từ phụ thuộc, gồm nhiều âm thanh khác nhau. Một mẫu tự, với một chuỗi bốn âm, tạo thành rung động hay âm điệu của Brahma, tức phương diện trí tuệ chiếm ưu thế trong vật chất. Do đó có bí nhiệm ẩn giấu trong [Page 218] ngũ giác, trong nguyên khí thứ năm là trí tuệ, và trong năm cõi tiến hoá của con người. Năm mẫu tự này khi được xướng lên đúng âm điệu sẽ trao chìa khóa cho nội nghĩa chân thực của vật chất và cả cho sự kiểm soát nó,—sự kiểm soát này dựa trên sự giải thích đúng đắn Định luật Tiết Kiệm. |
|
Another phrase, this time of seven letters, or a letter for each of the seven Heavenly Men, embodies the sound or note of the Vishnu aspect, the second aspect logoic, the form-building aspect. By its correct or partial sounding, by its complete or incomplete reverberation, are the forms built and adapted. The Law of Attraction finds expression in the manipulation of matter and its welding into form for the use of Spirit. |
Một cụm từ khác, lần này gồm bảy mẫu tự, hay một mẫu tự cho mỗi một trong bảy Đấng Thiên Nhân, hiện thân cho âm thanh hay âm điệu của phương diện Vishnu, phương diện thứ hai của Thượng đế, phương diện xây dựng hình tướng. Bằng sự xướng lên đúng đắn hay từng phần của nó, bằng sự ngân vọng trọn vẹn hay không trọn vẹn của nó, các hình tướng được xây dựng và thích ứng. Định luật Hấp Dẫn tìm thấy sự biểu lộ trong việc vận dụng vật chất và hàn gắn nó thành hình tướng để Tinh thần sử dụng. |
|
Then a third Word or phrase is added to the other two, completing the entire Word logoic and producing consummation. It is a Word of nine letters, making therefore the twenty-one sounds (5 + 7 + 9) of this solar system. The final nine sounds produce spiritual synthesis, and the dissociation of the spirit from the form. We have a correspondence in the nine Initiations, each initiation marking a more perfect union of the Self with the All-Self, and a further liberation from the trammels of matter. |
Rồi một Linh từ hay cụm từ thứ ba được thêm vào hai cụm từ kia, hoàn tất toàn bộ Linh từ của Thượng đế và tạo ra sự viên mãn. Đó là một Linh từ gồm chín mẫu tự, do đó tạo thành hai mươi mốt âm thanh (5 + 7 + 9) của hệ mặt trời này. Chín âm thanh cuối cùng tạo ra sự tổng hợp tinh thần, và sự phân ly của tinh thần khỏi hình tướng. Chúng ta có một sự tương ứng trong chín cuộc điểm đạo, mỗi cuộc điểm đạo đánh dấu một sự hợp nhất hoàn hảo hơn của Ngã với Đại Ngã Toàn Thể, và một sự giải thoát thêm nữa khỏi những trói buộc của vật chất. |
|
When the sense of hearing on all planes is perfected (which is brought about by the Law of Economy rightly understood) these three great Words or phrases will be known. The Knower will utter them in his own true key, thus blending his own sound with the entire volume of vibration, and thereby achieving sudden realisation of his essential identity with Those Who utter the words. As the sound of matter or of Brahma peals forth in his ears on all the planes, he will see all forms as illusion and will be freed, knowing himself as omnipresent. As the sound of Vishnu reverberates within himself, he knows himself as perfected wisdom, and distinguishes [Page 219] the note of his being (or that of the Heavenly Man in whose Body he finds place) from the group notes, and knows himself as omniscient. As the note of the first or Mahadeva aspect, follows upon the other two, he realises himself as pure Spirit and on the consummation of the chord is merged in the Self, or the source from which he came. Mind is not, matter is not, and nought is left but the Self merged in the ocean of the Self. At each stage of relative attainment, one of the laws comes into sway,—first the law of matter, then the law of groups, to be succeeded by the law of Spirit and of liberation. |
Khi giác quan nghe trên mọi cõi được hoàn thiện (điều này được mang lại bởi Định luật Tiết Kiệm được thấu hiểu đúng đắn) thì ba Linh từ hay cụm từ vĩ đại này sẽ được biết đến. Thức giả sẽ xướng chúng theo đúng chủ âm riêng của mình, nhờ đó hòa trộn âm thanh riêng của mình với toàn bộ âm lượng rung động, và như vậy đạt được sự chứng nghiệm đột ngột về bản sắc cốt yếu của mình với Những Đấng xướng lên các linh từ ấy. Khi âm thanh của vật chất hay của Brahma vang lên trong tai y trên mọi cõi, y sẽ thấy mọi hình tướng là ảo tưởng và sẽ được giải thoát, biết mình là hiện diện khắp nơi. Khi âm thanh của Vishnu ngân vọng bên trong chính mình, y biết mình là minh triết hoàn hảo, và phân biệt được [Page 219] âm điệu của bản thể mình (hay của Đấng Thiên Nhân mà trong Thể của Ngài y tìm được chỗ đứng) với các âm điệu nhóm, và biết mình là toàn tri. Khi âm điệu của phương diện thứ nhất hay Mahadeva tiếp nối hai âm điệu kia, y chứng nghiệm mình là Tinh thần thuần túy và khi hợp âm đạt đến viên mãn thì được hòa nhập vào Ngã, hay nguồn cội từ đó y đã đến. Trí tuệ không còn, vật chất không còn, và chẳng còn gì ngoài Ngã hòa nhập trong đại dương của Ngã. Ở mỗi giai đoạn thành tựu tương đối, một trong các định luật đi vào quyền lực,—trước hết là định luật của vật chất, rồi đến định luật của các nhóm, sau đó là định luật của Tinh thần và của sự giải thoát. |
II. THE SUBSIDIARY LAWS |
II. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ THUỘC |
|
The subsidiary laws under the Law of Economy are four in number, dealing with the lower quaternary: |
Các định luật phụ thuộc dưới Định luật Tiết Kiệm có bốn, liên quan đến bộ tứ thấp: |
|
1. The Law of Vibration, dealing with the key note or measure of the matter of each plane. By knowledge of this law the material of any plane in its seven divisions can be controlled. 2. The Law of Adaptation, is the law governing the rotary movement of any atom on every plane and subplane. 3. The Law of Repulsion, governs that relationship between atoms, which results in their non-attachment and in their complete freedom from each other; it also keeps them rotating at fixed points from the globe or sphere of opposite polarity. 4. The Law of Friction, governs the heat aspect of any atom, the radiation of an atom, and the effect of that radiation on any other atom. |
1. Định luật Rung Động, liên quan đến chủ âm hay nhịp độ của vật chất trên mỗi cõi. Nhờ hiểu biết định luật này, chất liệu của bất kỳ cõi nào trong bảy phân bộ của nó đều có thể được kiểm soát. 2. Định luật Thích Ứng, là định luật chi phối chuyển động quay của bất kỳ nguyên tử nào trên mọi cõi và cõi phụ. 3. Định luật Đẩy Lùi, chi phối mối liên hệ giữa các nguyên tử, đưa đến việc chúng không bám dính vào nhau và hoàn toàn tự do đối với nhau; nó cũng giữ cho chúng quay tại những điểm cố định tính từ bầu hành tinh hay khối cầu có cực tính đối nghịch. 4. Định luật Ma Sát, chi phối phương diện nhiệt của bất kỳ nguyên tử nào, sự bức xạ của một nguyên tử, và tác động của sự bức xạ ấy lên bất kỳ nguyên tử nào khác. |
|
Every atom of matter can be studied in four aspects, and is governed by one or other, or all of the four above mentioned laws. |
Mỗi nguyên tử của vật chất có thể được nghiên cứu dưới bốn phương diện, và được chi phối bởi một hay nhiều, hoặc cả bốn định luật vừa nêu trên. |
|
a. Một nguyên tử rung động theo một nhịp độ nhất định. |
|
|
b. It rotates at a certain speed. [Page 220] |
b. Nó quay với một tốc độ nhất định. [Page 220] |
|
c. It acts and reacts upon its environing atoms. |
c. Nó tác động và phản ứng lên các nguyên tử bao quanh nó. |
|
d. It adds its quota to the general heat of the atomic system, whatever that may be. |
d. Nó góp phần của mình vào nhiệt lượng chung của hệ thống nguyên tử, dù hệ thống ấy là gì đi nữa. |
|
These general rules relating to atomic bodies can be extended not only to the atoms of the physical plane, but to all spheroidal bodies within the system, and including the system also, regarding it as a cosmic atom. |
Những quy luật tổng quát này liên quan đến các thể nguyên tử có thể được mở rộng không chỉ cho các nguyên tử của cõi hồng trần, mà còn cho mọi thể hình cầu trong hệ thống, kể cả chính hệ thống, nếu xem nó như một nguyên tử vũ trụ. |
|
The tiny atom of the physical plane, a plane itself, a planet, and a solar system all evolve under these rules, and all are governed by the Law of Economy in one of its four aspects. |
Nguyên tử nhỏ bé của cõi hồng trần, bản thân một cõi, một hành tinh, và một hệ mặt trời đều tiến hoá theo các quy luật này, và tất cả đều được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm trong một trong bốn phương diện của nó. |
|
It might be added in closing, that this law is one that initiates have to master before They can achieve liberation. They have to learn to manipulate matter, and to work with energy or force in matter under this law; they have to utilise matter and energy in order to achieve the liberation of Spirit, and to bring to fruition the purposes of the Logos in the evolutionary process. |
Có thể nói thêm để kết thúc rằng định luật này là một định luật mà các điểm đạo đồ phải làm chủ trước khi Các Ngài có thể đạt được giải thoát. Các Ngài phải học cách vận dụng vật chất, và làm việc với năng lượng hay mãnh lực trong vật chất dưới định luật này; Các Ngài phải sử dụng vật chất và năng lượng để đạt được sự giải thoát của Tinh thần, và làm cho các mục đích của Thượng đế trong tiến trình tiến hoá được kết quả viên mãn. |