Luận Về Lửa Vũ Trụ – S4 (340-465 clean version)

📘 Sách: Luận Về Lửa Vũ Trụ – Tác giả: Alice Bailey

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Phần Bình Giảng tương ứng

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Cosmic Fire S4

DIVISION B – MANAS AS A COSMIC, SYSTEMIC AND HUMAN FACTOR

PHÂN ĐOẠN B – MANAS NHƯ MỘT NHÂN TỐ VŨ TRỤ, THÁI DƯƠNG HỆ VÀ NHÂN LOẠI

I. THE ORIGIN OF MANAS, OR MIND

I. NGUỒN GỐC CỦA MANAS, HAY TRÍ TUỆ

1. Cosmic Manas.

1. Manas vũ trụ.

a. The process of individualisation.

a. Tiến trình biệt ngã hóa.

b. The method of initiation.

b. Phương pháp điểm đạo.

2. Planetary Manas.

2. Manas hành tinh.

a. Consciousness and existence.

a. Tâm thức và hiện hữu.

b. Will and ordered purpose.

b. Ý chí và mục đích có trật tự.

3. Human Manas.

3. Manas nhân loại.

a. Man and the planetary Logos.

a. Con người và Hành Tinh Thượng đế.

b. The Logos of our scheme.

b. Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta.

c. Venus and the Earth chain.

c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu.

4. Manas and the Earth Chain.

4. Manas và Dãy Địa Cầu.

a. The Earth chain and the incarnating monads.

a. Dãy Địa Cầu và các chân thần đang lâm phàm.

b. The fourth kingdom and the Hierarchy.

b. giới thứ tư và Thánh Đoàn.

c. A Prophecy.

c. Một lời tiên tri.

d. A Summation.

d. Một sự tổng kết.

II. THE POSITION OF MANAS

II. VỊ TRÍ CỦA MANAS

1. Manas and Karma.

1. Manas và nghiệp quả.

2. Manas and karmic purpose.

2. Manas và mục đích nghiệp quả.

III. THE PRESENT STAGE OF MANASIC DEVELOPMENT

III. GIAI ĐOẠN HIỆN NAY CỦA SỰ PHÁT TRIỂN MANAS

1. In the planets.

1. Trong các hành tinh.

2. In the system.

2. Trong hệ thống.

3. On the Earth. [Page 343]

3. Trên Trái Đất. [Page 343]

IV. THE FUTURE OF MANAS

IV. TƯƠNG LAI CỦA MANAS

1. The characteristics of Manas.

1. Các đặc tính của Manas.

a. Discrimination.

a. Phân biện.

b. Ordered activity.

b. Hoạt động có trật tự.

c. Adaptability.

c. Khả năng thích ứng.

2. Developments of the Human Mind.

2. Những phát triển của trí tuệ con người.

a. Ray effects.

a. Các hiệu ứng của cung.

b. Animals, men and the rays.

b. Động vật, những người nam và nữ, và các cung.

c. Types of Karma.

c. Các loại nghiệp quả.

3. Manas in the Final Rounds.

3. Manas trong các cuộc tuần hoàn cuối cùng.

a. The transmutative process.

a. Tiến trình chuyển hoá.

b. Synthesis.

b. Tổng hợp.

I. THE ORIGIN OF MANAS, OR MIND

i. NGUỒN GỐC CỦA MANAS, HAY TRÍ TUỆ

WHAT we are dealing with here (taking these three factors in their order), is the fire of mind in connection with a solar Logos. It has been earlier pointed out that mind has already been developed in a Heavenly Man, and therefore we must equally predicate anent a solar Logos that cosmic mind, or the fifth Principle, is His prime characteristic, and was perfected by Him in an earlier system. We might now consider our first subdivision:

Điều chúng ta đang bàn đến ở đây (xét ba yếu tố này theo thứ tự của chúng) là lửa của trí tuệ trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế. Trước đây đã chỉ ra rằng trí tuệ đã được phát triển nơi một Đấng Thiên Nhân, và vì vậy chúng ta cũng phải khẳng định tương tự về một Thái dương Thượng đế rằng trí tuệ vũ trụ, hay nguyên khí thứ năm, là đặc tính chủ yếu của Ngài, và đã được Ngài hoàn thiện trong một hệ thống trước đó. Giờ đây chúng ta có thể xét đến phân mục thứ nhất của mình:

1. Cosmic Manas.

1. Manas vũ trụ.

Whence comes this fire? Where originates this vital heat, or vibratory activity, which is predominantly a feature of all conceivable Beings? How far back is it possible for us to go? Can we conceive of its origin? What is this downpouring fire that animates the darkness of matter?

Lửa này từ đâu đến? Nhiệt thiết yếu này, hay hoạt động rung động này, vốn nổi trội như một đặc trưng của mọi Hữu thể có thể quan niệm được, phát sinh ở đâu? Chúng ta có thể đi ngược về bao xa? Chúng ta có thể quan niệm được nguồn gốc của nó chăng? Lửa tuôn đổ này là gì mà làm sinh động bóng tối của vật chất?

a. The Process of Individualisation. Perhaps it may help somewhat if we here consider the question of INDIVIDUALISATION, or the process of intelligent self-realisation [Page 344]

a. Tiến trình biệt ngã hóa. Có lẽ sẽ phần nào hữu ích nếu ở đây chúng ta xét đến vấn đề BIỆT NGÃ HÓA, hay tiến trình tự chứng nghiệm một cách thông minh [Page 344]

cosmic-fire-s4-01.png

[Page 345] which so strikingly differentiates men from the animals. At individualisation the two poles are approximated, and at their meeting light streams forth, irradiating the cave of matter, and lighting the pathway that must be trodden by the Pilgrim on his way back to his source.

[Page 345] vốn phân biệt con người với loài vật một cách nổi bật như thế. Khi biệt ngã hóa, hai cực được đưa lại gần nhau, và tại điểm gặp gỡ của chúng ánh sáng tuôn ra, chiếu rọi hang động của vật chất, và soi sáng con đường mà Người Lữ Hành phải bước đi trên đường trở về nguồn cội của mình.

This irradiation brings about, in connection with man,

Sự chiếu rọi này, trong liên hệ với con người, đem lại:

Self-realisation.

Tự chứng nghiệm.

Purpose.

Mục đích.

Separation from all other individualised selves, or spheres.

Sự tách biệt khỏi mọi bản ngã biệt ngã hóa khác, hay các khối cầu khác.

Consciousness, above all.

Trên hết là tâm thức.

Ability to evolve.

Khả năng tiến hoá.

Capacity to “shine ever more and more unto the perfect day.”

Năng lực “chiếu sáng ngày càng hơn cho đến ngày toàn hảo.”

This is equally true of a solar Logos, and of a Heavenly Man.

Điều này cũng đúng như vậy đối với một Thái dương Thượng đế và một Đấng Thiên Nhân.

Individualisation is literally the coming together (out of the darkness of abstraction), of the two factors of Spirit and matter by means of a third factor, the intelligent will, purpose and action of an Entity. By the approximation of these two poles light is produced, a flame shines forth, a sphere of radiant glory is seen which gradually increases the intensity of its light, its heat and its radiance until capacity is reached, or that which we call perfection. We should note and distinguish the words light, heat and radiance, which are the distinctive features of all individualised entities from Gods to men.

Biệt ngã hóa theo nghĩa đen là sự đến gần nhau (ra khỏi bóng tối của sự trừu xuất) của hai yếu tố tinh thần và vật chất nhờ một yếu tố thứ ba, là ý chí, mục đích và hành động thông minh của một Thực Thể. Do sự tiếp cận của hai cực này mà ánh sáng được tạo ra, một ngọn lửa bừng sáng, một khối cầu vinh quang rực rỡ xuất hiện và dần dần gia tăng cường độ ánh sáng, nhiệt và sự rạng ngời của nó cho đến khi đạt tới năng lực, hay điều mà chúng ta gọi là sự toàn hảo. Chúng ta nên lưu ý và phân biệt các từ ánh sáng, nhiệtsự rạng ngời, là những đặc điểm phân biệt của mọi thực thể biệt ngã hóa từ các Thượng đế đến con người.

Man is beginning to arrive partially at the secret of this phenomenon through his ability to produce through scientific knowledge, that which is called electric light and which is used by man for illumination, heat and healing. As more anent this matter is discovered by physical plane students, the whole question of existence and of creative activity will become clearer.

Con người đang bắt đầu phần nào đạt đến bí mật của hiện tượng này nhờ khả năng tạo ra, qua tri thức khoa học, điều được gọi là ánh sáng điện và được con người dùng để soi sáng, sưởi ấm và chữa lành. Khi các đạo sinh cõi hồng trần khám phá thêm về vấn đề này, toàn bộ câu hỏi về hiện hữu và hoạt động sáng tạo sẽ trở nên sáng tỏ hơn.

As regards the origin of the fire of mind something [Page 346] more may be learned through studying the various methods of individualisation. In connection with man these methods are three in number as far as we can tell, though the probability of there being several other methods which are inconceivable to man’s finite comprehension, is quite possible. These methods are:

Về nguồn gốc của lửa trí tuệ, có thể học được thêm đôi điều [Page 346] qua việc nghiên cứu các phương pháp biệt ngã hóa khác nhau. Trong liên hệ với con người, các phương pháp này có ba loại theo như chúng ta có thể biết, dù khả năng có một số phương pháp khác nữa mà trí hiểu hữu hạn của con người không thể quan niệm được là điều hoàn toàn có thể. Các phương pháp ấy là:

First, the method pursued on the moon-chain (the planetary manifestation previous to ours), when, through innate force and energy, the conjunction of the three fires was brought about and the fire of matter contacted the fire of Spirit through the latent presence of the fiery spark of mind. This spark of mind, working through the instinct, drove the material form or substance, into such activity that it was enabled to reach up to heights where its opposite pole could be contacted. Animal-man aspired; Spirit answered; the vibration of the germ of mentality had permeated the substance like yeast. Thus was consciousness awakened. In the previous solar system, in connection with the Heavenly Men, this was the method pursued by Them, and These advanced cosmic Beings entered into consciousness and mastered the three lower planes of the cosmic physical,—the planes which man is endeavouring to master now. They individualised as the result of work accomplished during incomprehensible aeons of endeavour. (128) The earlier solar system was much longer in duration than this one will be, and force in matter was generated by the progression of the ages. It was the period of the vitalisation of the spirillae in the physical permanent atom of the Logos.

Thứ nhất, phương pháp được theo đuổi trên Dãy Mặt Trăng (biểu hiện hành tinh có trước biểu hiện của chúng ta), khi mà nhờ mãnh lực và năng lượng bẩm sinh, sự giao hội của ba ngọn lửa đã được tạo ra và lửa của vật chất tiếp xúc với lửa của Tinh thần qua sự hiện diện tiềm ẩn của tia lửa trí tuệ. Tia lửa trí tuệ này, hoạt động qua bản năng, đã thúc đẩy hình tướng vật chất hay chất liệu vào một hoạt động mạnh đến mức nó có thể vươn lên những đỉnh cao nơi cực đối nghịch của nó có thể được tiếp xúc. Người thú đã khát vọng; Tinh thần đáp ứng; rung động của mầm mống trí tuệ đã thấm nhuần chất liệu như men. Nhờ đó tâm thức được đánh thức. Trong hệ mặt trời trước, trong liên hệ với các Đấng Thiên Nhân, đây là phương pháp được Các Ngài theo đuổi, và các Hữu thể vũ trụ tiến hóa cao này đã đi vào tâm thức và làm chủ ba cõi thấp của cõi hồng trần vũ trụ,—những cõi mà con người hiện đang nỗ lực làm chủ. Các Ngài biệt ngã hóa như kết quả của công việc được hoàn thành trong những đại kiếp nỗ lực không thể hiểu nổi. (128) Hệ mặt trời trước kéo dài lâu hơn nhiều so với hệ này, và mãnh lực trong vật chất đã được tạo ra bởi sự tiến triển của các thời đại. Đó là thời kỳ tiếp sinh lực cho các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế.

(128) The period of the individualisation of a solar Logos goes back further still and need not concern us here, save to remember that the Law of Analogy holds good. (back)

(128) Thời kỳ biệt ngã hóa của một Thái dương Thượng đế còn lùi xa hơn nữa và không cần liên quan đến chúng ta ở đây, ngoại trừ việc ghi nhớ rằng định luật tương đồng vẫn đúng. (back)

In this method of individualisation, the emphasis is laid on the fact that the principle of manas is a part of the logoic character, and is part of His very nature. It, therefore, has its origin in His Being or Self; it is [Page 347] part of the content of the logoic Causal Body, and therefore permeates all manifestation which originates with Him. Hence the accuracy of the statement that cosmic manas originates on the cosmic mental plane, and is a portion of the fire that animates that plane.

Trong phương pháp biệt ngã hóa này, sự nhấn mạnh được đặt trên sự kiện rằng nguyên khí manas là một phần của đặc tính logoic, và là một phần của chính bản chất của Ngài. Vì vậy, nó có nguồn gốc trong Hữu thể hay Bản Ngã của Ngài; nó là [Page 347] một phần của nội dung của thể nguyên nhân logoic, và do đó thấm nhuần mọi biểu hiện phát sinh từ Ngài. Vì thế, phát biểu rằng manas vũ trụ phát sinh trên cõi trí vũ trụ, và là một phần của ngọn lửa làm sinh động cõi ấy, là hoàn toàn chính xác.

Second, in the second solar system, and in connection with the method employed therein, another point merits attention. This fire of mind has its source in a constellation until recently unrecognized by exoteric science as having any relation of an intimate nature to our solar system, owing to its tremendous distance away. The sun “Sirius” is the source of logoic manas in the same sense as the Pleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming in of mind in the Earth chain. Each was primary to the other, or was the agent which produced the first flicker of consciousness in the particular groups involved. In every case the method was that of a slow evolutionary growth till the consciousness suddenly blazed forth owing to the interposition of force, apparently from an extraneous source,

Thứ hai, trong hệ mặt trời thứ hai, và trong liên hệ với phương pháp được dùng trong đó, có một điểm khác đáng được chú ý. Lửa trí tuệ này có nguồn của nó trong một chòm sao mà cho đến gần đây khoa học ngoại môn chưa công nhận là có bất kỳ liên hệ mật thiết nào với hệ mặt trời của chúng ta, do khoảng cách vô cùng xa xôi của nó. Mặt trời “Sirius” là nguồn của manas logoic theo cùng ý nghĩa như Thất Tinh có liên hệ với sự tiến hoá của manas trong bảy Đấng Thiên Nhân, và Sao Kim chịu trách nhiệm cho sự giáng lâm của trí tuệ trong Dãy Địa Cầu. Mỗi nguồn đều là nguồn sơ khởi đối với nguồn kia, hay là tác nhân tạo ra tia chớp đầu tiên của tâm thức trong các nhóm liên hệ. Trong mọi trường hợp, phương pháp là sự tăng trưởng tiến hoá chậm rãi cho đến khi tâm thức đột nhiên bùng sáng do sự xen vào của mãnh lực, dường như từ một nguồn bên ngoài,

1. The Logos

Solar System

Sirius

2. Seven Heavenly Men

Planetary scheme

Pleiades

3. Heavenly Man

Earth chain

Venus

This second method therefore is that which is brought about by the hastening of the evolutionary process through influences from outside; these tend to awaken consciousness, and to bring about the merging of the poles. The first method touched upon was that of the earlier solar system. The method we are now considering is the distinctive one of this solar system and will persist till the end of the mahamanvantara.

Vì vậy, phương pháp thứ hai này là phương pháp được tạo ra bởi sự thúc đẩy nhanh tiến trình tiến hoá qua các ảnh hưởng từ bên ngoài; các ảnh hưởng này có khuynh hướng đánh thức tâm thức và đem lại sự hòa nhập của các cực. Phương pháp thứ nhất vừa được đề cập là phương pháp của hệ mặt trời trước. Phương pháp mà chúng ta hiện đang xét là phương pháp đặc trưng của hệ mặt trời này và sẽ tiếp tục cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa.

That the earlier method was seen in the moon-chain is only evidence of the steadfastness of the Law of Repetition by which every large cycle includes, in its earlier [Page 348] stages, all the lesser, and repeats the earlier procedure. This is a recognised fact, for instance, in the building of man’s physical body, for the foetus reproduces all earlier stages and forms till the human is achieved; again, as we know, the fourth round reproduces briefly the earlier three but has its own distinctive quality.

Việc phương pháp trước đó được thấy trong Dãy Mặt Trăng chỉ là bằng chứng về tính kiên định của Định luật Lặp lại, theo đó mỗi chu kỳ lớn đều bao gồm, trong các giai đoạn đầu tiên của nó, mọi chu kỳ nhỏ hơn, và lặp lại tiến trình trước đó. Đây là một sự kiện được công nhận, chẳng hạn, trong việc xây dựng thể xác của con người, vì bào thai tái hiện mọi giai đoạn và hình thức trước đó cho đến khi đạt được hình thể con người; thêm nữa, như chúng ta biết, cuộc tuần hoàn thứ tư tái hiện vắn tắt ba cuộc trước nhưng có phẩm tính đặc trưng riêng của nó.

b. The Method of Initiation. In this second method the “Rods of Initiation” are used to effect certain results. These rods are of four kinds:

b. Phương pháp điểm đạo. Trong phương pháp thứ hai này, các “Thần Trượng Điểm đạo” được dùng để tạo ra những kết quả nhất định. Các thần trượng này có bốn loại:

1. Cosmic, used by a cosmic Logos in the initiations of a solar Logos, and of the three major planetary Logoi.

1. Vũ trụ, được một Thượng đế vũ trụ sử dụng trong các cuộc điểm đạo của một Thái dương Thượng đế và của ba Hành Tinh Thượng đế lớn.

2. Systemic, used by a solar Logos in the initiations of a planetary Logos.

2. Thái dương hệ, được một Thái dương Thượng đế sử dụng trong các cuộc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế.

3. Planetary, used by a planetary Logos for initiatory purposes, and for the third, the fourth, and fifth major initiations, with the two higher.

3. Hành tinh, được một Hành Tinh Thượng đế sử dụng cho các mục đích điểm đạo, và cho lần điểm đạo lớn thứ ba, thứ tư và thứ năm, cùng với hai lần cao hơn.

4. Hierarchical, used by an occult Hierarchy for minor Initiations, and for the first two initiations of manas by the Bodhisattva. (129)

4. Thuộc Thánh Đoàn, được một Thánh đoàn huyền bí sử dụng cho các cuộc điểm đạo nhỏ, và cho hai lần điểm đạo đầu tiên của manas bởi Đức Bồ Tát. (129)

(129) The above information about the “Rods” is taken out of Initiation Human and Solar, page 126. (back)

(129) Thông tin trên về các “Thần Trượng” được trích từ Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương, trang 126. (back)

When man individualised in Lemurian days (about eighteen million years ago), it was the application of the Rod of Initiation to the Logos of our Earth chain which brought about the event and touched into activity certain centres in His body with their corresponding groups. This application, bringing about consciousness on some plane, may be regarded as literally the awakening of the lives concerned to participate in intelligent work on the mental plane. Animal man was conscious on the physical, and on the astral planes. By the stimulation effected by the electric rod this animal man awoke to consciousness on the mental. Thus the three bodies were co-ordinated, and the Thinker enabled to function in them.

Khi con người biệt ngã hóa trong thời Lemuria (khoảng mười tám triệu năm trước), chính việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo lên Thượng đế của Dãy Địa Cầu chúng ta đã tạo ra biến cố ấy và chạm vào hoạt động của một số trung tâm nhất định trong thể của Ngài cùng với các nhóm tương ứng của chúng. Sự áp dụng này, tạo ra tâm thức trên một cõi nào đó, có thể được xem theo nghĩa đen là sự đánh thức các sự sống liên hệ để tham dự vào công việc thông minh trên cõi trí. Người thú đã có tâm thức trên cõi hồng trần và trên cõi cảm dục. Nhờ sự kích thích do thần trượng điện tạo ra, người thú này thức tỉnh đến tâm thức trên cõi trí. Nhờ đó ba thể được phối hợp, và Kẻ Tư Tưởng có thể hoạt động trong chúng.

[Page 349] All Rods of Initiation cause certain effects:

[Page 349] Mọi Thần Trượng Điểm đạo đều gây ra những hiệu quả nhất định:

a. Stimulation of the latent fires till they blaze.

a. Kích thích các ngọn lửa tiềm ẩn cho đến khi chúng bùng cháy.

b. Synthesis of the fires through an occult activity that brings them within the radius of each other.

b. Tổng hợp các ngọn lửa qua một hoạt động huyền bí đưa chúng vào trong bán kính của nhau.

c. Increase of the vibratory activity of some centre, whether in man, a Heavenly Man, or a solar Logos.

c. Gia tăng hoạt động rung động của một trung tâm nào đó, dù là trong con người, một Đấng Thiên Nhân, hay một Thái dương Thượng đế.

d. Expansion of all the bodies, but primarily of the causal,—this also in speaking of all the three types of Entities.

d. Sự mở rộng của mọi thể, nhưng chủ yếu là thể nguyên nhân,—điều này cũng đúng khi nói về cả ba loại Thực Thể.

All these results were seen when the Heavenly Man of our scheme took initiation eighteen million years ago. This initiation was brought about—as earlier pointed out—by a peculiar juxtaposition of chains, globes and schemes, and caused such a stimulation of all the latent manasic units within His body that a downflow of pure manas from the planetary manasic permanent atom was possible along the path of the planetary antaskarana—a channel which exists in the case of the planetary Logos, and which has not to be built as in the case of man. Along with this juxtaposition came a similar alignment with one of the Pleiades, permitting of manasic influence from that source.(S.D.,II, 711,725,726) (130)

Tất cả những kết quả này đã được thấy khi Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận điểm đạo cách đây mười tám triệu năm. Cuộc điểm đạo này đã được tạo ra—như đã chỉ ra trước đây—bởi một sự đặt kề đặc biệt của các dãy, các bầu hành tinh và các hệ hành tinh, và đã gây nên một sự kích thích mạnh đến mức đối với mọi đơn vị manas tiềm ẩn trong thể của Ngài, một sự tuôn xuống của manas thuần túy từ nguyên tử trường tồn manas hành tinh đã trở nên khả hữu dọc theo con đường của antahkarana hành tinh—một kênh tồn tại trong trường hợp của Hành Tinh Thượng đế, và không phải được xây dựng như trong trường hợp của con người. Cùng với sự đặt kề này là một sự chỉnh hợp tương tự với một trong Thất Tinh, cho phép ảnh hưởng manas từ nguồn đó.(S.D.,II, 711,725,726) (130)

(130) “The Secret of the Pleiades and of their relation to the Seven Rishis of the Great Bear, and therefore to our Seven Heavenly Men, is not yet to be revealed. It is known only in detail to the Chohans of the Seventh Initiation, though the fact that there is such a relation is now exoteric.” H. P. B. speaks of it in the Secret Doctrine. (S. D., II, 711, 725, 726) (back)

(130) “Bí mật của Thất Tinh và mối liên hệ của chúng với Bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh, và do đó với bảy Đấng Thiên Nhân của chúng ta, vẫn chưa được tiết lộ. Điều đó chỉ được các Chohan của lần điểm đạo thứ bảy biết rõ chi tiết, mặc dù sự kiện rằng có một mối liên hệ như thế hiện nay đã là ngoại môn.” H. P. B. có nói về điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (S. D., II, 711, 725, 726) (back)

Third, the third method of individualisation is the one to be followed in the next solar system, though it will have its faint beginnings in this one. It is not based on latent activity as in the first case, nor in electrical polarity as in the second, but in a peculiar process of “occult abstraction” (using the word “abstraction” in its basic sense as “the drawing out” of essence). This occult abstraction is brought about by an effort of the will at present incomprehensible. The first method of individualisation [Page 350] is that of the third aspect, or latent activity, and follows the line of least resistance under the Law of Economy; the second method is the purely electrical one, and works under the Law of Attraction; whilst the third method lies hidden in dynamic will and is as yet to us impossible and incomprehensible.

Thứ ba, phương pháp biệt ngã hóa thứ ba là phương pháp sẽ được theo trong hệ mặt trời kế tiếp, dù nó sẽ có những khởi đầu mờ nhạt trong hệ này. Nó không dựa trên hoạt động tiềm ẩn như trong trường hợp thứ nhất, cũng không dựa trên cực tính điện như trong trường hợp thứ hai, mà dựa trên một tiến trình đặc biệt của “sự trừu xuất huyền bí” (dùng từ “trừu xuất” theo nghĩa căn bản của nó là “rút tinh chất ra”). Sự trừu xuất huyền bí này được tạo ra bởi một nỗ lực của ý chí hiện nay không thể hiểu được. Phương pháp biệt ngã hóa thứ nhất [Page 350] là phương pháp của phương diện thứ ba, hay hoạt động tiềm ẩn, và đi theo con đường ít trở ngại nhất dưới Định luật Tiết Kiệm; phương pháp thứ hai là phương pháp thuần điện, và hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; còn phương pháp thứ ba ẩn giấu trong ý chí năng động và hiện vẫn là điều bất khả và không thể hiểu được đối với chúng ta.

2. Planetary Manas.

2. Manas hành tinh.

We sought in the foregoing, to understand somewhat the origin of manas—whether cosmic, or otherwise—through the consideration of human individualisation and the method thereof. We saw that individualisation is the conscious apprehension of the Self of its relation to all that constitutes the Not-Self, and that it is evoked in three ways, of which only two as yet are even dimly comprehensible. In each case this awakening of consciousness is preceded by a period of gradual development, is instantaneous at the moment of Self-Realisation for the first time, and is succeeded by another period of gradual evolution. This period of gradual evolution leads up to another crisis which we call initiation. In one we have initiation into conscious existence, in the other initiation into spiritual existence or group identification.

Trong phần trên, chúng ta đã tìm cách phần nào thấu hiểu nguồn gốc của manas—dù là vũ trụ hay loại khác—qua việc xem xét sự biệt ngã hóa của con người và phương pháp của nó. Chúng ta đã thấy rằng biệt ngã hóa là sự nắm bắt một cách hữu thức của Bản Ngã về mối liên hệ của nó với tất cả những gì cấu thành Phi-Ngã, và rằng nó được gợi lên theo ba cách, trong đó chỉ có hai cách hiện nay còn có thể được hiểu một cách mơ hồ. Trong mỗi trường hợp, sự thức tỉnh tâm thức này được đi trước bởi một thời kỳ phát triển dần dần, là tức thời vào khoảnh khắc Tự Chứng Nghiệm lần đầu tiên, và được tiếp nối bởi một thời kỳ tiến hoá dần dần khác. Thời kỳ tiến hoá dần dần này dẫn đến một cuộc khủng hoảng khác mà chúng ta gọi là điểm đạo. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có điểm đạo vào hiện hữu hữu thức; trong trường hợp kia, điểm đạo vào hiện hữu tinh thần hay sự đồng hoá nhóm.

For a solar Logos individualisation dates back to stages far anterior to the triplicity of solar systems which constitutes for Him the Eternal Now, but which from man’s point of view embody the past, the present, and the future. A planetary Logos individualised in a previous system; a man individualises in this; the planetary entities, now involutionary, will individualise in the next.

Đối với một Thái dương Thượng đế, sự biệt ngã hóa có từ những giai đoạn rất lâu trước bộ ba các hệ mặt trời vốn cấu thành đối với Ngài Hiện Tại Vĩnh Cửu, nhưng từ quan điểm của con người lại bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. Một Hành Tinh Thượng đế đã biệt ngã hóa trong một hệ thống trước; con người biệt ngã hóa trong hệ này; các thực thể hành tinh, hiện đang giáng hạ tiến hoá, sẽ biệt ngã hóa trong hệ kế tiếp.

a. Consciousness and Existence. From the wider point of view the terms initiation and individualisation are synonymous; they both express the idea of an expansion of consciousness, or of entrance into a new kingdom of nature. The faculty of acquiring knowledge [Page 351] must be realised as paralleling the development of the sense of sight, or vision, as earlier pointed out. The fire of mind shone forth and illuminated animal man in Lemurian days, during that vast cycle wherein sight opened up for him the physical plane. The relationship between sight and mind is a very close one, and must not be lost from sight. In the first round, and in the first root-race of this round, hearing was the sense developed. In the second round and the second root-race touch was evolved. In the third round and corresponding root-race sight was added to the other two, and the Self which hears, and the Not-self which is touched, or apprehended as tangible, are related and connected by sight,—the correspondence to the intelligence that links. Thus is brought about the blending of the three fires, and illumination is present. But through all this evolutionary development the ONE Who hears, touches, and sees, persists and interprets according to the stage of the development of the manasic principle within Him. This basic Interpreter is the Entity Who is independent of an existence which ever necessitates a form. His is the life that causes matter to vibrate and He is therefore “fire by friction”; His is the life of pure Spirit which wills to be, and which utilises form, and is therefore electrical impulse on the cosmic physical plane or “electric fire”; His is the life that not only animates the atoms and electrifies them by His Own nature, but likewise knows itself to be one with all yet apart from all,—the thinking, discriminating, Self-realising something that we call MIND or Solar Fire. Universal mind or manas permeates all, and is equally that Self-knowing, individualised Entity Whose body contains our solar Logos as well as certain other solar Logoi; Whose fire, heat and radiation embrace certain other solar systems and unify them with our own system so that one complete vital body forms the manifestation of this mighty cosmic Being. [Page 352] Vortices of force on the cosmic etheric plane form the etheric framework of seven solar systems in the same way that the bodies of the seven Heavenly Men are the etheric centres for a solar Logos, and as the seven centres in man (existing in etheric matter), are the animating electrical impulse of his life.

a. Tâm thức và hiện hữu. Từ quan điểm rộng lớn hơn, các thuật ngữ điểm đạo và biệt ngã hóa là đồng nghĩa; cả hai đều biểu đạt ý niệm về một sự mở rộng tâm thức, hay sự đi vào một giới mới của thiên nhiên. Năng lực tiếp thu tri thức [Page 351] phải được nhận ra là song hành với sự phát triển của giác quan thị giác, hay tầm nhìn, như đã chỉ ra trước đây. Lửa của trí tuệ đã bừng sáng và soi sáng người thú trong thời Lemuria, trong chu kỳ rộng lớn ấy khi thị giác mở ra cho y cõi hồng trần. Mối liên hệ giữa thị giác và trí tuệ là rất mật thiết, và không được bỏ qua. Trong cuộc tuần hoàn thứ nhất, và trong giống dân gốc thứ nhất của cuộc tuần hoàn này, thính giác là giác quan được phát triển. Trong cuộc tuần hoàn thứ hai và giống dân gốc thứ hai, xúc giác được tiến hóa. Trong cuộc tuần hoàn thứ ba và giống dân gốc tương ứng, thị giác được thêm vào hai giác quan kia, và Bản Ngã nghe, cùng Phi-ngã được chạm đến, hay được nắm bắt như hữu hình, được liên hệ và nối kết bởi thị giác,—sự tương ứng với trí tuệ nối kết. Nhờ đó sự hòa trộn của ba ngọn lửa được tạo ra, và sự soi sáng hiện diện. Nhưng xuyên suốt toàn bộ sự phát triển tiến hoá này, Đấng Duy Nhất nghe, chạm và thấy vẫn tồn tại và diễn giải tùy theo giai đoạn phát triển của nguyên khí manas bên trong Ngài. Đấng Diễn Giải căn bản này là Thực Thể độc lập với một hiện hữu luôn luôn đòi hỏi một hình tướng. Sự sống của Ngài là sự sống làm cho vật chất rung động và vì vậy Ngài là “Lửa ma sát”; sự sống của Ngài là sự sống của Tinh thần thuần túy vốn muốn hiện hữu, và sử dụng hình tướng, và vì vậy là xung động điện trên cõi hồng trần vũ trụ hay “Lửa Điện”; sự sống của Ngài là sự sống không những làm sinh động các nguyên tử và điện hóa chúng bằng chính bản chất của Ngài, mà còn tự biết mình là một với tất cả nhưng vẫn tách biệt khỏi tất cả,—một cái gì biết suy tư, biết phân biện, tự chứng nghiệm mà chúng ta gọi là TRÍ TUỆ hay Lửa Thái dương. Trí tuệ vũ trụ hay manas thấm nhuần tất cả, và cũng chính là Thực Thể biệt ngã hóa, tự tri ấy mà thể của Ngài bao hàm Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như một số Thái dương Thượng đế khác; lửa, nhiệt và sự bức xạ của Ngài bao trùm một số hệ mặt trời khác và hợp nhất chúng với hệ của chúng ta để một thể sinh lực hoàn chỉnh tạo thành biểu hiện của Hữu thể vũ trụ hùng mạnh này. [Page 352] Các xoáy mãnh lực trên cõi dĩ thái vũ trụ tạo thành bộ khung dĩ thái của bảy hệ mặt trời theo cùng cách mà các thể của bảy Đấng Thiên Nhân là các trung tâm dĩ thái đối với một Thái dương Thượng đế, và như bảy trung tâm trong con người (tồn tại trong vật chất dĩ thái) là xung động điện làm sinh động sự sống của y.

To express the origin of manas apart from manifestation through a congery of systems, a solar system, or a man is for us impossible. Only as one grasps the fact that each planetary scheme, for instance, serves as the body of a Heavenly Man Who is the directing Mind in that scheme, and the animating principle of manas or the active discriminating faculty which every atom in that scheme evinces; only when it is realised that a solar Logos is similarly the manasic principle of those large atoms we call schemes in their totality; only when it is apprehended that a cosmic Logos is again the instigating mind of the still vaster atoms we call systems; only when it is admitted that man is the animating discriminative faculty of the tiny spheres which form his body of manifestation; and finally, only when all this is meditated upon, and its truth accepted, will this question of the origin of manas assume a less abstruse character, and the difficulty of its comprehension be less appalling.

Đối với chúng ta, việc diễn đạt nguồn gốc của manas tách rời khỏi biểu hiện qua một tập hợp các hệ thống, một hệ mặt trời, hay một con người là điều bất khả. Chỉ khi nào người ta nắm được sự kiện rằng chẳng hạn mỗi hệ hành tinh đều phục vụ như thể của một Đấng Thiên Nhân là Trí Tuệ chỉ đạo trong hệ ấy, và là nguyên khí làm sinh động của manas hay năng lực phân biện hoạt động mà mọi nguyên tử trong hệ ấy đều biểu lộ; chỉ khi nào nhận ra rằng một Thái dương Thượng đế cũng tương tự là nguyên khí manas của những nguyên tử lớn mà chúng ta gọi là các hệ hành tinh trong tổng thể của chúng; chỉ khi nào nắm bắt được rằng một Thượng đế vũ trụ lại là trí tuệ khởi phát của những nguyên tử còn rộng lớn hơn mà chúng ta gọi là các hệ thống; chỉ khi nào thừa nhận rằng con người là năng lực phân biện làm sinh động của những khối cầu nhỏ bé tạo thành thể biểu hiện của y; và cuối cùng, chỉ khi nào tất cả điều này được tham thiền và chân lý của nó được chấp nhận, thì câu hỏi về nguồn gốc của manas mới mang tính ít trừu tượng khó hiểu hơn, và khó khăn trong việc thấu hiểu nó mới bớt đáng sợ hơn.

Man, the Thinker, the Knower, the manasic principle in the centre of the many spheres which form his bodies, manipulates electrical force in three departments (the physical, astral and mental bodies) through seven centres which are the focal points of force, and of its intelligent dispersal throughout his little system to the myriads of lesser atoms, which are the cells in these spheres.

Con người, Kẻ Tư Tưởng, thức giả, nguyên khí manas ở trung tâm của nhiều khối cầu tạo thành các thể của y, vận dụng mãnh lực điện trong ba lĩnh vực (thể xác, thể cảm dục và thể trí) qua bảy trung tâm là các tiêu điểm của mãnh lực, và của sự phân phối thông minh của nó khắp hệ thống nhỏ bé của y đến vô số nguyên tử nhỏ hơn, là các tế bào trong những khối cầu ấy.

A Heavenly Man equally, and in a wider sense, the Thinker and Knower, the manasic or mind principle plus the buddhic or Christ principle, manipulates electrical force through three principal vehicles or globes in atmic, buddhic, and manasic matter, dispersing it from thence [Page 353] to the myriads of cells which correspond to the deva and human units.

Một Đấng Thiên Nhân cũng vậy, và theo nghĩa rộng hơn, là Kẻ Tư Tưởng và thức giả, nguyên khí manas hay trí tuệ cộng với nguyên khí Bồ đề hay nguyên khí Christ, vận dụng mãnh lực điện qua ba vận cụ hay bầu hành tinh chính trong vật chất atma, Bồ đề và manas, rồi từ đó phân phối nó [Page 353] đến vô số tế bào tương ứng với các đơn vị thiên thần và nhân loại.

A solar Logos in a still wider sense is the permeating universal Mind, the manasic principle, plus the buddhic and the will principle, working in three major schemes, by means of seven centres of force, and through the myriads of groups which are the cells in His body, in the same way as human beings are the cells in the body of a Heavenly Man.

Một Thái dương Thượng đế theo nghĩa còn rộng lớn hơn là Trí Tuệ Vũ Trụ thấm nhuần, nguyên khí manas, cộng với nguyên khí Bồ đề và nguyên khí ý chí, hoạt động trong ba hệ hành tinh lớn, bằng bảy trung tâm mãnh lực, và qua vô số nhóm là các tế bào trong thể của Ngài, theo cùng cách mà con người là các tế bào trong thể của một Đấng Thiên Nhân.

The cosmic Logos of our system works similarly through three major systems (of which ours is not one), utilising seven solar systems (of which ours is one), for the distribution of His force and having myriads of sevenfold groups as the cells of His body.

Thượng đế vũ trụ của hệ thống chúng ta cũng hoạt động tương tự qua ba hệ thống lớn (trong đó hệ của chúng ta không phải là một), sử dụng bảy hệ mặt trời (trong đó hệ của chúng ta là một), để phân phối mãnh lực của Ngài và có vô số nhóm thất phân làm các tế bào trong thể của Ngài.

b. Will and ordered purpose. Thus all that we can really predicate anent the origin of manas is that it is the unified will-activity, or the purposeful expression of the realised Identity of some great Self which colours the life and swings into intelligent co-operation all the lesser units included in its sphere of influence. Each of us, in illustration, is the thinking purposeful Entity who acts as the manasic principle, and the spring of action, to all the units included in our three bodies. Each of us sways them to our will; we act, and by acting, force co-operation as we see fit. The Logos does the same on a larger scale. In this thought lies light on the question of karma, of free-will and of responsibility. Manas is, really WILL working itself out on the physical plane, and the truth of this will be seen when it is realised that all our planes form the cosmic physical plane, whereon an Entity, inconceivably greater than our Logos, is working out a set purpose through the Logos, through us, through all Spirit-substance that is included within His sphere of radiatory activity.

b. Ý chí và mục đích có trật tự. Vì vậy, tất cả những gì chúng ta thực sự có thể khẳng định về nguồn gốc của manas là nó là hoạt động-ý chí hợp nhất, hay biểu hiện có mục đích của Bản Sắc đã chứng nghiệm của một Đại Ngã nào đó, Đấng tô màu sự sống và đưa vào sự hợp tác thông minh tất cả các đơn vị nhỏ hơn nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Mỗi chúng ta, để minh họa, là Thực Thể suy tư có mục đích, hoạt động như nguyên khí manas và là nguồn suối hành động đối với mọi đơn vị nằm trong ba thể của mình. Mỗi chúng ta chi phối chúng theo ý chí của mình; chúng ta hành động, và bằng hành động, buộc sự hợp tác theo như chúng ta thấy thích hợp. Thượng đế cũng làm như vậy trên một quy mô lớn hơn. Trong tư tưởng này có ánh sáng cho vấn đề nghiệp quả, tự do ý chí và trách nhiệm. Manas thực sự là Ý CHÍ đang tự triển khai trên cõi hồng trần, và chân lý của điều này sẽ được thấy khi người ta nhận ra rằng tất cả các cõi của chúng ta tạo thành cõi hồng trần vũ trụ, nơi một Thực Thể lớn lao hơn Thượng đế của chúng ta một cách không thể quan niệm đang triển khai một mục đích nhất định qua Thượng đế, qua chúng ta, qua toàn bộ chất liệu-tinh thần nằm trong phạm vi hoạt động bức xạ của Ngài.

Certain problems of real interest are prone to enter our minds, but they serve only to develop abstract thought [Page 354] and to expand the consciousness, for they are as yet insoluble and will remain so. Some of them might be enumerated as follows:

Một số vấn đề thật sự đáng quan tâm thường có khuynh hướng đi vào trí tuệ chúng ta, nhưng chúng chỉ phục vụ cho việc phát triển tư tưởng trừu tượng [Page 354] và mở rộng tâm thức, vì hiện nay chúng chưa thể giải được và sẽ vẫn như vậy. Một vài trong số đó có thể được liệt kê như sau:

1. Who is the cosmic Entity in Whose scheme our Logos plays his little part?

1. Thực thể vũ trụ là ai mà trong hệ hành tinh của Ngài, Thượng đế của chúng ta đóng vai trò nhỏ bé của mình?

2. What is the nature of the great purpose He is working out?

2. Bản chất của mục đích lớn lao mà Ngài đang triển khai là gì?

3. Which centre in His body is represented by our solar system?

3. Hệ mặt trời của chúng ta tượng trưng cho trung tâm nào trong thể của Ngài?

4. What is the nature of the incarnation He is now undergoing?

4. Bản chất của cuộc lâm phàm mà Ngài hiện đang trải qua là gì?

5. What are the ten systems—the three and the seven—of which our solar system is one? Must we look for the major three within the seven, or extraneously?

5. Mười hệ thống—ba và bảy—mà trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một, là những hệ nào? Chúng ta phải tìm ba hệ lớn trong bảy hệ ấy, hay ở bên ngoài chúng?

6. What is the coloring or basic quality of this cosmic Entity?

6. Sắc thái hay phẩm tính căn bản của Thực thể vũ trụ này là gì?

7. Is the colouring of the fourth cosmic ether (the buddhic plane), blue, or is it violet to correspond with our fourth physical ether? Why is buddhi exoterically regarded as yellow in color?

7. Màu sắc của dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề) là xanh lam, hay là tím để tương ứng với dĩ thái hồng trần thứ tư của chúng ta? Tại sao Bồ đề lại được xem ngoại môn là có màu vàng?

8. Which are the primary three centres in the body of our solar Logos and which the minor four?

8. Ba trung tâm chính trong thể của Thái dương Thượng đế chúng ta là những trung tâm nào và bốn trung tâm phụ là những trung tâm nào?

9. What is the karma of the different schemes?

9. Nghiệp quả của các hệ hành tinh khác nhau là gì?

10. What is the over-balancing karma of the Logos Himself as it affects the ten schemes within His system?

10. Nghiệp quả trội hơn của chính Thượng đế ảnh hưởng đến mười hệ hành tinh trong hệ của Ngài là gì?

All these questions, and numbers of others, will arise in the mind of the interested student, but beyond the formulation of them he may not as yet go, though the fifth round will see the realisation, by men, of the nature of the karma of the Logos of our chain. Words, as oft we have been told, blind and stultify.

Tất cả những câu hỏi này, cùng vô số câu hỏi khác, sẽ nảy sinh trong trí tuệ của đạo sinh quan tâm, nhưng ngoài việc hình thành chúng ra thì hiện y chưa thể đi xa hơn, mặc dù cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ chứng kiến con người chứng nghiệm được bản chất của nghiệp quả của Thượng đế của dãy chúng ta. Từ ngữ, như chúng ta thường được bảo, làm mù lòa và làm trì độn.

In summing up, this quality of manas may be somewhat apprehended if the student regards it as the intelligent [Page 355] will. the active purpose, and the fixed idea of some Entity which brings about existence, utilises form, and works out effects from causes through discrimination in matter, separation into form, and the driving of all units within His sphere of influence to the fulfilment of that set purpose. Man is the originating source of mind as regards the matter of his vehicles, and their latent manasic impulse. So again with a Heavenly Man and His larger sphere of influence, and so with the solar Logos. Each discriminated, and thus formed His ring-pass-not; each has a purpose in view for every incarnation; each is actively following and intelligently working to effect certain ends, and thus each is the originator of manas to His scheme; each is the animating fire of intelligence to his system; each, through this very manasic principle individualises, expands gradually this self-realisation till it includes the ring-pass-not of the Entity through Whom the fifth principle comes to him; and each attains initiation, and eventually escapes from form.

Để tổng kết, phẩm tính này của manas có thể được phần nào nắm bắt nếu đạo sinh xem nó như ý chí thông minh, [Page 355] mục đích hoạt động, và ý tưởng cố định của một Thực Thể nào đó, Đấng tạo ra hiện hữu, sử dụng hình tướng, và triển khai các kết quả từ các nguyên nhân qua sự phân biện trong vật chất, sự tách biệt thành hình tướng, và sự thúc đẩy mọi đơn vị trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài đến chỗ hoàn thành mục đích đã định ấy. Con người là nguồn gốc khởi phát của trí tuệ đối với vật chất của các vận cụ của mình, và xung động manas tiềm ẩn của chúng. Điều này cũng đúng với một Đấng Thiên Nhân và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn hơn của Ngài, và cũng đúng với Thái dương Thượng đế. Mỗi Đấng đã phân biện, và nhờ đó hình thành vòng-giới-hạn của Ngài; mỗi Đấng đều có một mục đích nhắm đến cho mỗi lần lâm phàm; mỗi Đấng đang tích cực theo đuổi và làm việc một cách thông minh để đạt đến những cứu cánh nhất định, và do đó mỗi Đấng là nguồn khởi phát của manas đối với hệ hành tinh của Ngài; mỗi Đấng là ngọn lửa làm sinh động của trí tuệ đối với hệ thống của mình; mỗi Đấng, qua chính nguyên khí manas này, biệt ngã hóa, dần dần mở rộng sự tự chứng nghiệm này cho đến khi nó bao gồm vòng-giới-hạn của Thực Thể mà qua Ngài nguyên khí thứ năm đến với mình; và mỗi Đấng đạt đến điểm đạo, và cuối cùng thoát khỏi hình tướng.

3. Human Manas.

3. Manas nhân loại.

We are now to consider primarily man and the manasic principle, its development in the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, with special reference to our Earth chain.

Giờ đây chúng ta sẽ chủ yếu xét đến con người và nguyên khí manas, sự phát triển của nó trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các Chân thần nhân loại, với sự quy chiếu đặc biệt đến Dãy Địa Cầu của chúng ta.

We have seen that, to all intents and purposes, manas is the active will of an Entity working itself out through all the lesser lives who go to the content of the ring-pass-not or sphere of influence of the indwelling Existence. Therefore—as concerning man on this chain—he is but expressing the purpose and the will in action of the planetary Logos in Whose body he is a cell or lesser life.

Chúng ta đã thấy rằng, xét về mọi phương diện thực tiễn, manas là ý chí năng động của một Thực Thể đang tự biểu lộ qua mọi sự sống nhỏ hơn, những sự sống cấu thành nội dung của vòng-giới-hạn hay khối cầu ảnh hưởng của Sự Tồn Tại nội tại. Do đó—xét về con người trên dãy này—y chỉ đang biểu lộ mục đích và ý chí trong hành động của Hành Tinh Thượng đế mà trong thể của Ngài, y là một tế bào hay sự sống nhỏ hơn.

Certain mysteries arise consequently for our consideration which are connected with the life cycles of the Heavenly Man of our scheme, and particularly in relation to that special incarnation of His which we call the cycle [Page 356] of manifestation on the dense physical globe, the earth. He wears the planetary body as man wears the robe of the physical body, and by means of this objective form He works His purposes out on the physical plane, through the factor of mind achieving certain goals. Incidentally, the cells in His body conform to that Mind which plays upon them, just as man, the intelligent principle of incarnation on the physical plane, brings into conformity with his purpose the atoms of his body, and stimulates ever more and more the spirillae of those atoms by the force of his mind playing upon them.

Do đó, có những huyền nhiệm nhất định nảy sinh để chúng ta xem xét, liên hệ với các chu kỳ sự sống của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta, và đặc biệt liên hệ với lần lâm phàm đặc biệt ấy của Ngài mà chúng ta gọi là chu kỳ [Page 356] biểu hiện trên bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, là Trái Đất. Ngài khoác lấy thể hành tinh như con người khoác chiếc áo của thể xác, và nhờ hình tướng khách quan này, Ngài thực hiện các mục đích của Ngài trên cõi hồng trần, qua yếu tố trí tuệ, đạt được những mục tiêu nhất định. Nhân tiện, các tế bào trong thể của Ngài tuân theo Trí Tuệ đang tác động lên chúng, cũng như con người, nguyên khí thông minh của sự lâm phàm trên cõi hồng trần, khiến các nguyên tử trong thể mình phù hợp với mục đích của y, và ngày càng kích thích các loa tuyến của những nguyên tử ấy bằng mãnh lực của trí tuệ y tác động lên chúng.

Here comes the opportunity to make clear something that is oft lost sight of in the general fog surrounding this subject. The human and deva units on the upward arc, who are the cells in His body, go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles. Man has a body made up of matter which is applied to different uses, yet which forms a unit. In this unit there are certain areas of more vital importance than other areas from the standpoint of energising force. Such an area as the heart may, in this connection, be considered and compared (as regards force value) with such an area as the calf of the leg. The entity, man, utilises both, but the heart centre is of paramount importance. Thus is it also with a Heavenly Man. The two great Hierarchies—deva and human—are force centres in the body of a planetary Logos; the other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme, and the remainder of the active substance of the globes, and all contained therein, go to the content of the remainder of His body.

Ở đây có cơ hội để làm sáng tỏ một điều thường bị bỏ quên trong màn sương mù chung bao quanh đề tài này. Các đơn vị nhân loại và thiên thần trên cung đi lên, là những tế bào trong thể của Ngài, cấu thành các trung tâm, chứ không phải phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài. Con người có một thể được tạo thành từ vật chất được dùng vào những công dụng khác nhau, tuy vậy vẫn tạo thành một đơn vị. Trong đơn vị này có những khu vực quan trọng về sinh lực hơn các khu vực khác xét từ quan điểm của mãnh lực tiếp năng. Chẳng hạn, một khu vực như tim có thể, trong mối liên hệ này, được xem xét và so sánh (về giá trị mãnh lực) với một khu vực như bắp chân. Thực thể là con người sử dụng cả hai, nhưng trung tâm tim có tầm quan trọng tối thượng. Với một Đấng Thiên Nhân cũng vậy. Hai Huyền Giai lớn—thiên thần và nhân loại—là các trung tâm mãnh lực trong thể của một Hành Tinh Thượng đế; các tiến hoá khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện tồn trong hệ hành tinh, cùng phần còn lại của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh, và mọi thứ chứa trong đó, cấu thành nội dung của phần còn lại trong thể của Ngài.

a. Man and the planetary Logos. With the deva evolution at this point we have nought to do. I seek to concentrate attention on man, as he functions on earth. In order to clarify the idea of manas and its relation to a human being it is necessary to point out certain things [Page 357] in connection with a Heavenly Man which must be borne in mind.

a. Con người và Hành Tinh Thượng đế. Ở điểm này, chúng ta không bàn đến tiến hoá thiên thần. Tôi tìm cách tập trung sự chú ý vào con người, như y hoạt động trên Trái Đất. Để làm sáng tỏ ý niệm về manas và mối liên hệ của nó với một con người, cần phải chỉ ra một số điều [Page 357] liên quan đến một Đấng Thiên Nhân mà phải được ghi nhớ.

First, that each Heavenly Man holds the position of a centre in the body of a solar Logos; therefore, the Logos of a scheme will embody some outstanding characteristic. The ten schemes are the seven, and the synthesising three—not the seven and a lower three. The lower centres were vital in the last solar system (from the esoteric standpoint), and are not counted in this; they were synthesised and absorbed during the obscuration process of System I.

Thứ nhất, mỗi Đấng Thiên Nhân giữ vị trí của một trung tâm trong thể của một Thái dương Thượng đế; do đó, Thượng đế của một hệ hành tinh sẽ hiện thân cho một đặc tính nổi bật nào đó. Mười hệ hành tinh là bảy và ba hệ tổng hợp—không phải bảy và ba hệ thấp. Các trung tâm thấp có sinh lực trong hệ mặt trời trước (xét theo quan điểm huyền bí), và không được tính trong hệ này; chúng đã được tổng hợp và hấp thu trong tiến trình che khuất của Hệ I.

Secondly, each Heavenly Man is consequently the embodiment of a particular kind of electrical force which flows through His scheme as man’s force flows through some one of the etheric centres in his body. Each scheme, as each human centre, will

Thứ hai, do đó, mỗi Đấng Thiên Nhân là hiện thân của một loại mãnh lực điện đặc thù chảy qua hệ hành tinh của Ngài cũng như mãnh lực của con người chảy qua một trong các trung tâm dĩ thái trong thể y. Mỗi hệ hành tinh, cũng như mỗi trung tâm của con người, sẽ

a. Vibrate to some one key.

a. Rung động theo một chủ âm nào đó.

b. Have its own colouring.

b. Có màu sắc riêng của nó.

c. Resemble, when seen from the higher planes, a vast lotus.

c. Giống như một hoa sen khổng lồ khi được nhìn từ các cõi cao hơn.

d. Possess, according to its vibratory capacity, a definite number of petals.

d. Sở hữu, tùy theo khả năng rung động của nó, một số lượng cánh hoa xác định.

e. Be connected in geometrical formation with certain other centres of Heavenly Men, making systemic triangles. (132)

e. Được nối kết trong sự sắp xếp hình học với một số trung tâm khác của các Đấng Thiên Nhân, tạo thành các tam giác hệ thống. (132)

(132) A hint of this triangle of force was conveyed in Letters on Occult Meditation, page 79-84, when speaking of man and his centres. (back)

(132) Một gợi ý về tam giác mãnh lực này đã được truyền đạt trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí, trang 79-84, khi nói về con người và các trung tâm của y. (back)

f. Be characterised by different stages of activity according to the initiation towards which the Logos may be working. Thus, at one period one centre or Heavenly Man may be the subject of logoic attention, and of specialised stimulation, and at another period a totally different scheme may be the object of vitalisation. For some time the Logos has turned His attention to the Earth Scheme and to Saturn, whilst Uranus is receiving [Page 358] stimulation. Much is therefore accentuated, and increased evolutionary development is the consequence of this divine attention.

f. Được đặc trưng bởi những giai đoạn hoạt động khác nhau tùy theo cuộc điểm đạo mà Thượng đế có thể đang hướng tới. Vì vậy, vào một thời kỳ, một trung tâm hay một Đấng Thiên Nhân có thể là đối tượng được Thượng đế chú ý và được kích thích chuyên biệt, còn vào một thời kỳ khác, một hệ hành tinh hoàn toàn khác có thể là đối tượng được tiếp sinh lực. Trong một thời gian, Thượng đế đã hướng sự chú ý của Ngài đến Dãy Địa Cầu Hệ hành tinh và đến Sao Thổ, trong khi Sao Thiên Vương đang nhận được [Page 358] sự kích thích. Do đó, nhiều điều được nhấn mạnh, và sự phát triển tiến hoá gia tăng là hệ quả của sự chú ý thiêng liêng này.

When these facts are borne in mind it will be seen that the interaction, and the complexity, is of vast proportions, and man can do no more than accept the fact, and leave the explanation until his consciousness is of greater scope.

Khi ghi nhớ các sự kiện này, người ta sẽ thấy rằng sự tương tác và tính phức tạp có quy mô vô cùng lớn, và con người không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận sự kiện ấy, và để phần giải thích lại cho đến khi tâm thức của y có phạm vi rộng lớn hơn.

Third, one of the mysteries revealed at initiation is that of the logoic centre which our scheme represents, and the type of electrical fire which is flowing through it. The “Seven Brothers,” or the seven types of fohatic force, express Themselves through the seven centres, and the One Who is animating our scheme stands revealed at the third Initiation. It is by knowledge of the nature and quality of the electrical force of our centre, and by realisation of the place our centre holds in the body logoic, that the Hierarchy achieves the aims of evolution. It will be obvious that the Heavenly Man Who stands for the kundalini centre, for instance, will work differently, and have a different purpose and method, from His Brother Who stands for the heart centre in the body logoic, or to the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus. From this it is apparent that:

Thứ ba, một trong những huyền nhiệm được mặc khải lúc điểm đạo là huyền nhiệm về trung tâm Thượng đế mà hệ hành tinh chúng ta đại diện, và loại lửa điện đang chảy qua nó. “Bảy Huynh Đệ,” hay bảy loại mãnh lực fohat, tự biểu lộ qua bảy trung tâm, và Đấng đang phú linh cho hệ hành tinh chúng ta được mặc khải ở lần điểm đạo thứ ba. Chính nhờ tri thức về bản chất và phẩm tính của mãnh lực điện nơi trung tâm của chúng ta, và nhờ chứng nghiệm về vị trí mà trung tâm chúng ta giữ trong thể Thượng đế, mà Thánh đoàn đạt được các mục tiêu của tiến hoá. Hiển nhiên là chẳng hạn, Đấng Thiên Nhân đại diện cho trung tâm kundalini sẽ hoạt động khác đi, và có mục đích cùng phương pháp khác với Huynh Đệ của Ngài là Đấng đại diện cho trung tâm tim trong thể Thượng đế, hay với Đấng Thiên Nhân hiện thân cho tùng thái dương Thượng đế. Từ đó hiển nhiên rằng:

a. The type of electrical force

a. Loại mãnh lực điện

b. The vibratory action

b. Tác động rung động

c. The purpose

c. Mục đích

d. The evolutionary development

d. Sự phát triển tiến hoá

e. The dual and triangular interaction

e. Sự tương tác nhị nguyên và tam giác

of all the Heavenly Men will differ, and so will the evolutions that form the cells in Their Bodies differ likewise. Little has as yet been revealed anent the types of evolutions which are to be found in the other schemes of our system. Suffice it to say that in all the schemes, on some [Page 359] globe in the scheme, human beings or self-conscious units, are to be found. Conditions of life, environment and form may differ, but the human Hierarchy works in all schemes.

của tất cả các Đấng Thiên Nhân sẽ khác nhau, và các tiến hoá tạo thành những tế bào trong Các thể của Các Ngài cũng sẽ khác nhau tương ứng. Cho đến nay, rất ít điều được mặc khải về các loại tiến hoá có thể tìm thấy trong các hệ hành tinh khác của hệ thống chúng ta. Chỉ cần nói rằng trong mọi hệ hành tinh, trên một [Page 359] bầu hành tinh nào đó trong hệ hành tinh, đều có thể tìm thấy những con người hay các đơn vị ngã thức. Các điều kiện sống, môi trường và hình tướng có thể khác nhau, nhưng Huyền Giai nhân loại hoạt động trong mọi hệ hành tinh.

It must also be borne in mind that just as all seven Heavenly Men are found in the body logoic, and are Themselves under the influence of seven solar Logoi (using the word “influence” in its astrological sense), so in a planetary scheme with its seven globes each is astrologically under the influence of all the seven Heavenly Men. A scheme is but a replica of a system. Each of the Heavenly Men pours forth His radiation or influence, and stimulates in some way some other centre or globe. To word it otherwise, His magnetism is felt by His Brothers in a greater or less degree according to the work being undertaken at any one time. At present the Heavenly Men, representing centres at different stages of stimulation, being not all equally developed and being not as yet psychically unified, this magnetic interplay is little realised, and the psychic flow from one scheme to another is little utilised or comprehended. As time elapses this interplay of force will become more evident and the force will be consciously employed. When men, for instance, know

Cũng phải ghi nhớ rằng cũng như cả bảy Đấng Thiên Nhân đều hiện diện trong thể Thượng đế, và chính Các Ngài chịu ảnh hưởng của bảy Thái dương Thượng đế (dùng từ “ảnh hưởng” theo nghĩa chiêm tinh học của nó), thì trong một hệ hành tinh với bảy bầu hành tinh của nó, mỗi bầu cũng chịu ảnh hưởng chiêm tinh học của cả bảy Đấng Thiên Nhân. Một hệ hành tinh chỉ là bản sao của một hệ thống. Mỗi Đấng Thiên Nhân tuôn đổ bức xạ hay ảnh hưởng của Ngài, và kích thích theo một cách nào đó một trung tâm hay bầu hành tinh khác. Nói cách khác, từ điện của Ngài được các Huynh Đệ của Ngài cảm nhận ở mức độ nhiều hay ít tùy theo công việc đang được đảm trách vào bất kỳ lúc nào. Hiện nay, vì các Đấng Thiên Nhân đại diện cho những trung tâm ở các giai đoạn kích thích khác nhau, không phải tất cả đều phát triển ngang nhau và cũng chưa được hợp nhất về mặt thông linh, nên sự tương tác từ tính này ít được nhận biết, và dòng chảy thông linh từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác ít được sử dụng hay thấu hiểu. Khi thời gian trôi qua, sự tương tác mãnh lực này sẽ trở nên hiển nhiên hơn và mãnh lực ấy sẽ được sử dụng một cách hữu thức. Chẳng hạn, khi con người biết

The quality of the force flowing through their particular scheme;

Phẩm tính của mãnh lực chảy qua hệ hành tinh riêng của họ;

The purpose and name of the centre they stand within;

Mục đích và tên của trung tâm mà họ đứng trong đó;

The centre or Heavenly Man with Whom the Logos of their scheme is allied;

Trung tâm hay Đấng Thiên Nhân mà Thượng đế của hệ hành tinh họ liên kết với;

Which two schemes form, with their own, a triangle for logoic force at a certain stage of evolutionary development;

Hai hệ hành tinh nào cùng với hệ của họ tạo thành một tam giác cho mãnh lực Thượng đế ở một giai đoạn phát triển tiến hoá nhất định;

The secret of the cycles, or the periods of stimulation or obscuration;

Bí mật của các chu kỳ, hay các thời kỳ kích thích hoặc che khuất;

then will the body logoic begin to achieve its purpose; [Page 360] then will the Logos of our system begin to blend and merge and co-ordinate all His vehicles; then will the force flow through all the centres unimpeded; and then will the glory shine out, and each cell in every body—logoic, planetary, deva and human, blaze forth with perfected glory, vibrate with adjusted accuracy, and a major cosmic initiation be taken.

thì thể Thượng đế sẽ bắt đầu đạt được mục đích của nó; [Page 360] khi ấy Thượng đế của hệ thống chúng ta sẽ bắt đầu dung hợp, hòa nhập và phối hợp tất cả các vận cụ của Ngài; khi ấy mãnh lực sẽ chảy qua mọi trung tâm không bị ngăn trở; và khi ấy vinh quang sẽ tỏa sáng, và mỗi tế bào trong mọi thể—Thượng đế, hành tinh, thiên thần và nhân loại—sẽ bừng cháy với vinh quang hoàn hảo, rung động với sự chính xác đã được điều chỉnh, và một cuộc điểm đạo vũ trụ lớn sẽ được tiếp nhận.

b. The Logos of our Scheme. The Heavenly Man or planetary Logos of the Earth scheme can be considered in various ways, and as is our custom we will simply tabulate the statements anent Him which, when considered at length by the individual student, should serve to make the FACT of the essential Personality of this great Entity, the work that He is endeavouring to accomplish, and the relationship of the human Hierarchy to Him, a greater reality. We must bear in mind in studying this matter that it will not be possible to reveal for general publication details as to His specific Identity, His number and His scope of conscious development. Such mysteries, as earlier pointed out, are reserved for those who are pledged to keep silent. But some general idea may be conveyed before we take up specifically this chain and round.

b. Thượng đế của Hệ hành tinh chúng ta. Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Trái Đất có thể được xem xét theo nhiều cách, và như thường lệ, chúng ta sẽ chỉ đơn giản liệt kê thành bảng những phát biểu liên quan đến Ngài; khi được từng đạo sinh suy ngẫm kỹ lưỡng, chúng sẽ giúp làm cho SỰ KIỆN về Phàm ngã cốt yếu của Thực Thể vĩ đại này, công việc mà Ngài đang cố gắng hoàn thành, và mối liên hệ của Huyền Giai nhân loại với Ngài, trở thành một thực tại lớn hơn. Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta phải ghi nhớ rằng sẽ không thể tiết lộ để công bố rộng rãi những chi tiết về Bản Sắc đặc thù của Ngài, con số của Ngài và phạm vi phát triển hữu thức của Ngài. Những huyền nhiệm như thế, như đã chỉ ra trước đây, được dành cho những ai đã thệ nguyện giữ im lặng. Nhưng một vài ý niệm tổng quát có thể được truyền đạt trước khi chúng ta chuyên biệt bàn đến dãy này và cuộc tuần hoàn này.

It might be asked wherein all this information is of use, and what purpose it serves in this hour of the world’s need. Apart from the fact that the cyclic giving out of the truth works under the law, and may not be gain-said, it is suggested for consideration that much advantage will be felt when men in large numbers conceive of the purpose of specific manifestations, when they realise that all forms are but the modes of expression of certain Entities or Beings, Who occupy them for cycles of definite duration in order to attain a purpose, and that each life—great or small—serves its own ends, yet subserves the greater ends of the Being in Whose body it is a corporate part. The details of the plan may not be given. [Page 361] The general outline—solar, planetary, and hierarchical—may be suggested, and by the very suggestion, bring order into the thoughts of men as they view the apparent chaos of the moment. Let us not forget, that when order is brought about, and united thought produced on the mental plane, then order transpires eventually on the physical plane.

Người ta có thể hỏi thông tin này hữu ích ở điểm nào, và nó phục vụ mục đích gì trong giờ phút thế giới đang cần đến như hiện nay. Ngoài sự kiện rằng việc tuần hoàn tiết lộ chân lý vận hành theo định luật và không thể bị phủ nhận, xin gợi ý để suy xét rằng sẽ có nhiều lợi ích khi số đông con người hình dung được mục đích của những biểu hiện đặc thù, khi họ nhận ra rằng mọi hình tướng chỉ là những phương thức biểu lộ của những Thực Thể hay Đấng nhất định, các Đấng chiếm ngụ chúng trong những chu kỳ có thời lượng xác định để đạt tới một mục đích, và rằng mỗi sự sống—lớn hay nhỏ—đều phục vụ các cứu cánh riêng của nó, nhưng đồng thời phụng sự các cứu cánh lớn hơn của Đấng mà trong thể của Ngài nó là một phần hợp thành. Những chi tiết của Thiên Cơ không thể được tiết lộ. [Page 361] Có thể gợi ra đại cương tổng quát—về mặt thái dương, hành tinh và huyền giai—và chính nhờ sự gợi ra ấy mà đem lại trật tự vào tư tưởng của con người khi họ nhìn vào sự hỗn loạn bề ngoài của hiện thời. Chúng ta đừng quên rằng khi trật tự được thiết lập, và tư tưởng hợp nhất được tạo ra trên cõi trí, thì cuối cùng trật tự cũng sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần.

The planetary Logos of this scheme is one of the four minor Logoi, or Lords of the Rays, and is specially concerned therefore with the development of one attribute of manas. Each of the four minor Rays is, as we know, eventually synthesised, or absorbed into that Ray which is represented on our earth by the Mahachohan. He is the Lord of the third major Ray or Aspect, and synthesises the four. These four Rays with their synthesising Ray make the five rays of Manas or Mind. We can consider them as:

Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này là một trong bốn Thượng đế nhỏ, hay các Chúa Tể của các Cung, và do đó đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của một thuộc tính của manas. Mỗi một trong bốn Cung nhỏ, như chúng ta biết, rốt cuộc đều được tổng hợp, hay hấp thu vào Cung được đại diện trên Trái Đất chúng ta bởi Đức Mahachohan. Ngài là Chúa Tể của Cung lớn thứ ba hay Phương diện thứ ba, và tổng hợp cả bốn. Bốn Cung này cùng với Cung tổng hợp của chúng tạo thành năm cung của Manas hay Trí Tuệ. Chúng ta có thể xem chúng như:

a. The fivefold Brahma Aspect.

a. Phương diện Brahma ngũ phân.

b. They were the five Rays of prime importance in the first solar system, and were the five individualised Heavenly Men, called the Mind-born Sons of Brahma. Through the individualisation of the four in that system the individualisation of the great cosmic Entity we call Brahma was brought about. He individualised and the four go to the content of His body.

b. Chúng là năm Cung có tầm quan trọng hàng đầu trong hệ mặt trời thứ nhất, và là năm Đấng Thiên Nhân biệt ngã hóa được gọi là các Con do Trí Tuệ sinh ra của Brahma. Qua sự biệt ngã hóa của bốn vị trong hệ thống ấy, sự biệt ngã hóa của Thực Thể vũ trụ vĩ đại mà chúng ta gọi là Brahma đã được thực hiện. Ngài đã biệt ngã hóa và bốn vị ấy cấu thành nội dung của thể Ngài.

c. They are represented on our earth by the five Kumaras Who obeyed the Law, and took human form, as H. P. B. (S.D., I, 493) hints in several passages in the Secret Doctrine.

c. Chúng được đại diện trên Trái Đất chúng ta bởi năm Kumara đã tuân theo Định luật và mang lấy hình tướng con người, như H. P. B. (S.D., I, 493) gợi ý trong vài đoạn của Giáo Lý Bí Nhiệm.

This scheme is considered as the fourth and the one of the most importance in the system during this particular cycle for the following reasons:

Hệ hành tinh này được xem là hệ thứ tư và là hệ quan trọng nhất trong hệ thống trong chu kỳ đặc biệt này vì những lý do sau:

Our solar system, being considered as of the fourth [Page 362] order, and our scheme being the fourth in order, there is consequently a moment of special opportunity afforded our planetary Logos through the alignment brought about. It eventuates in the turning of the attention of the logoic kundalini fire towards this centre, our scheme, and the subsequent results are in process of working out.

Hệ mặt trời của chúng ta, được xem là thuộc bậc thứ tư [Page 362]hệ hành tinh của chúng ta là hệ thứ tư theo thứ tự, nên do đó có một thời điểm cơ hội đặc biệt được dành cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhờ sự chỉnh hợp được tạo ra. Điều này dẫn đến việc lửa kundalini Thượng đế hướng sự chú ý của nó về trung tâm này, tức hệ hành tinh của chúng ta, và các kết quả tiếp theo hiện đang trong tiến trình biểu lộ.

Within the scheme the chain that concerns us the most, and which is temporarily of the most vital importance to the planetary Logos, is the Earth chain, the fourth in order again, thus bringing about another alignment of very grave moment. This carries with it special opportunity, and permits of the entry of force from the cosmos itself, or of extra-systemic electrical vitality. This super-stimulation results in what looks to us like cataclysms, and a stupendous shattering of forms, but it is simply the necessary sequence to the vitalisation of the life within the form, and the breaking of the limiting form unable to bear the cosmic action.

Trong hệ hành tinh, dãy liên quan đến chúng ta nhiều nhất, và tạm thời có tầm quan trọng sinh tử nhất đối với Hành Tinh Thượng đế, là Dãy Địa Cầu, lại là dãy thứ tư theo thứ tự, do đó tạo ra một sự chỉnh hợp khác có ý nghĩa vô cùng trọng đại. Điều này mang theo cơ hội đặc biệt, và cho phép mãnh lực từ chính vũ trụ đi vào, hay sinh lực điện ngoài hệ thống. Sự siêu kích thích này dẫn đến điều đối với chúng ta trông như những đại biến động, và một sự phá vỡ hình tướng khủng khiếp, nhưng đó chỉ là hệ quả tất yếu của việc tiếp sinh lực cho sự sống bên trong hình tướng, và sự phá vỡ hình tướng giới hạn không thể chịu nổi tác động vũ trụ.

Again within the chain, the globe at present receiving planetary polarisation, or at present embodying in a special sense the life of the planetary Logos is the Earth, the fourth in order. This brings about a still further alignment.

Lại nữa, trong dãy, bầu hành tinh hiện đang nhận sự phân cực hành tinh, hay hiện đang hiện thân theo một ý nghĩa đặc biệt cho sự sống của Hành Tinh Thượng đế, là Trái Đất, bầu thứ tư theo thứ tự. Điều này tạo ra một sự chỉnh hợp sâu hơn nữa.

Add to the above facts the accepted knowledge that this is the fourth round and we have a fivefold alignment which is of paramount significance to us all, though it had even greater significance and force in the fourth root-race, and brought about that stupendous psychic event—the opening of the door of Initiation to the human Hierarchy.

Thêm vào các sự kiện trên tri thức đã được chấp nhận rằng đây là cuộc tuần hoàn thứ tư và chúng ta có một sự chỉnh hợp ngũ phân có ý nghĩa tối thượng đối với tất cả chúng ta, mặc dù nó còn có ý nghĩa và mãnh lực lớn hơn nữa trong giống dân gốc thứ tư, và đã đưa đến biến cố thông linh phi thường ấy—sự mở cánh cửa Điểm đạo cho Huyền Giai nhân loại.

These very important facts merit close attention, and the consideration of all occult students. They hold the key whereby some comprehension of manas and of planetary evolution may come about. What have we, therefore, in this special cyclic alignment? [Page 363]

Những sự kiện rất quan trọng này đáng được chú ý kỹ lưỡng và được mọi đạo sinh huyền bí học suy xét. Chúng nắm giữ chiếc chìa khóa nhờ đó có thể đạt được một phần thấu hiểu về manas và về tiến hoá hành tinh. Vậy thì, trong sự chỉnh hợp chu kỳ đặc biệt này, chúng ta có gì? [Page 363]

1. A solar system of the fourth order.

1. Một hệ mặt trời thuộc bậc thứ tư.

2. The fourth scheme in the system.

2. Hệ hành tinh thứ tư trong hệ thống.

3. The fourth chain in the scheme.

3. Dãy thứ tư trong hệ hành tinh.

4. The fourth globe in the chain.

4. Bầu hành tinh thứ tư trong dãy.

5. The fourth round. (134)

5. Cuộc tuần hoàn thứ tư. (134)

(134) Compare also the following correspondences:

(134) Cũng hãy đối chiếu các tương ứng sau đây:

The sacred Tetraktys………….. The manifested Logos.

Tetraktys thiêng liêng………….. Thượng đế biểu hiện.

The Fourth Creative Hierarchy…… The Human.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư……… Con người.

The Fourth Principle………….. Lower Mind.

Nguyên khí thứ tư……………. Hạ trí.

The Fourth Race…………….. Kamamanas.

Nhân loại thứ tư…………….. Kamamanas.

The Fourth Element……………Water, S. D., I, 95. I, 640.

Nguyên tố thứ tư…………….Nước, S. D., I, 95. I, 640.

The Four Truths………………S. D., I, 70.

Bốn Chân Lý……………….S. D., I, 70.

The Four Propositions………….S. D., I, 107.

Bốn Mệnh đề………………S. D., I, 107.

The Four Initiations……………S. D., I, 227.

Bốn lần điểm đạo……………S. D., I, 227.

The Fourth Plane……………..Buddhi, fourth cosmic ether.

Cõi thứ tư………………..Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.

The Fourth physical sub-plane…… The Fourth Ether.

Cõi phụ hồng trần thứ tư……… Dĩ thái thứ tư.

The Fourth Round…………….The Present. (back)

Cuộc tuần hoàn thứ tư………….Hiện tại. (back)

All these are found active within the same cycle, and all therefore bring about a simultaneous alignment which results in the clearing of a channel direct from the heart of our scheme through every ring-pass-not to the cosmic correspondence, found outside the solar sphere.

Tất cả những điều này đều được thấy là hoạt động trong cùng một chu kỳ, và do đó tất cả cùng tạo ra một sự chỉnh hợp đồng thời, kết quả là khai thông một kênh trực tiếp từ trái tim của hệ hành tinh chúng ta xuyên qua mọi vòng-giới-hạn đến tương ứng vũ trụ, được tìm thấy bên ngoài khối cầu thái dương.

To the above realisation, we must add yet the further fact that the fourth Creative Hierarchy is the one whose evolution we are considering, and it will be apparent to the most superficial student that in these thoughts lies hidden the clue, not only to man but to the entire cyclic evolution in which he is taking part.

Vào sự chứng nghiệm trên, chúng ta còn phải thêm một sự kiện nữa là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là Huyền Giai mà chúng ta đang xem xét sự tiến hoá của nó, và ngay cả đạo sinh hời hợt nhất cũng sẽ thấy rõ rằng trong những tư tưởng này ẩn giấu đầu mối không chỉ về con người mà còn về toàn bộ tiến hoá chu kỳ mà y đang tham dự.

The fourth Creative Hierarchy is essentially the Hierarchy of manas. This is no play on words, but a statement of deep occult significance. The statement has been made with entire accuracy that five Hierarchies out of the twelve have passed out and that seven remain. Of these seven, our human Hierarchy is the fourth, making it literally the ninth when counting the entire twelve. In this connection it would be well to link up the statements that have been made to the effect that the five Kumaras or Heavenly Men Who definitely embody the manasic principle (or the five Rays over which the systemic correspondence to the Mahachohan presides) developed [Page 364] manas in an earlier system; They passed out of the wave of manasic influence as far as their own Nature is concerned.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư về bản chất là Huyền Giai của manas. Đây không phải là một lối chơi chữ, mà là một phát biểu có ý nghĩa huyền bí sâu xa. Phát biểu rằng năm Huyền Giai trong số mười hai đã đi qua và bảy Huyền Giai còn lại đã được nêu ra với sự chính xác hoàn toàn. Trong bảy Huyền Giai ấy, Huyền Giai nhân loại của chúng ta là Huyền Giai thứ tư, khiến nó theo nghĩa đen là thứ chín khi tính toàn bộ mười hai. Trong mối liên hệ này, nên liên kết các phát biểu đã được nêu rằng năm Kumara hay Đấng Thiên Nhân, những Đấng hiện thân một cách xác định cho nguyên khí manas (hay năm Cung mà tương ứng hệ thống với Đức Mahachohan chủ trì) đã phát triển [Page 364] manas trong một hệ thống trước đó; Các Ngài đã vượt ra khỏi làn sóng ảnh hưởng manas xét theo bản chất riêng của Các Ngài.

We must remember also that nine is the number of Initiation, or of the major Initiations of Manas, wherein man becomes a perfect Nine, or literally is the number of his Hierarchy. This is from the standpoint of the three systems, though his present systemic number may be four.

Chúng ta cũng phải nhớ rằng chín là con số của Điểm đạo, hay của các cuộc điểm đạo lớn của Manas, trong đó con người trở thành một Chín hoàn hảo, hay theo nghĩa đen là con số của Huyền Giai của y. Điều này xét từ quan điểm của ba hệ thống, mặc dù con số hệ thống hiện tại của y có thể là bốn.

In occupying ourselves with these various statements anent our scheme and its Ruler we have seen that this particular cycle, or incarnation of His, is one of great importance, not only to Himself but to the entire system. The planetary Logos of this scheme is primarily occupied with a particular group of units, or with those Monads who vibrate to His key, are colored by the same colour as Himself, answer to the same number, and are esoterically known by the same Name. One point here needs emphasis: all Monads pass at different times under the influence of the different planetary Logoi, and all are found at some time in each scheme. This does not mean that every human unit passes a period of incarnation in each scheme. It means that on some one globe in every scheme, human units will be found either prior to physical incarnation, between different egoic cycles (a totally different thing to periods between physical lives), between different rounds or manvantaras, or between the various root-races and subraces. As stated in various occult books, many of the present advanced humanity individualised on the moon chain, and only took physical bodies in the earth chain during the fourth root-race, thus escaping incarnation during the first three rounds, and the first two races of the fourth round. In the interim, they came under the planetary influence of another Logos of a scheme, and were occupied during that immense period of time in fanning the manasic flame, and developing [Page 365] the attributes of manas, so that the Atlantean root-race found them adequately equipped to cope with life conditions.

Khi khảo sát những phát biểu khác nhau này liên quan đến hệ hành tinh của chúng ta và Đấng Cai Quản của nó, chúng ta đã thấy rằng chu kỳ đặc biệt này, hay lần lâm phàm này của Ngài, là một chu kỳ có tầm quan trọng lớn lao, không chỉ đối với chính Ngài mà còn đối với toàn bộ hệ thống. Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này trước hết bận tâm đến một nhóm đơn vị đặc thù, hay với những chân thần rung động theo chủ âm của Ngài, được nhuốm cùng màu với chính Ngài, đáp ứng cùng một con số, và một cách huyền bí được biết đến bằng cùng một Danh. Có một điểm ở đây cần được nhấn mạnh: mọi chân thần đều đi qua dưới ảnh hưởng của các Hành Tinh Thượng đế khác nhau vào những thời điểm khác nhau, và tất cả đều được tìm thấy vào một lúc nào đó trong mỗi hệ hành tinh. Điều này không có nghĩa là mọi đơn vị nhân loại đều trải qua một thời kỳ lâm phàm trong mỗi hệ hành tinh. Nó có nghĩa là trên một bầu hành tinh nào đó trong mọi hệ hành tinh, các đơn vị nhân loại sẽ được tìm thấy hoặc trước khi lâm phàm hồng trần, hoặc giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau (một điều hoàn toàn khác với các giai đoạn giữa những kiếp sống hồng trần), hoặc giữa các cuộc tuần hoàn hay các giai kỳ sinh hóa khác nhau, hoặc giữa các giống dân gốc và giống dân phụ khác nhau. Như đã nêu trong nhiều sách huyền bí học, nhiều người trong nhân loại tiến bộ hiện nay đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, và chỉ mang thể xác trong Dãy Địa Cầu vào giống dân gốc thứ tư, nhờ đó tránh được sự lâm phàm trong ba cuộc tuần hoàn đầu và hai nhân loại đầu của cuộc tuần hoàn thứ tư. Trong khoảng trung gian ấy, họ chịu ảnh hưởng hành tinh của một Thượng đế khác của một hệ hành tinh, và đã dành trọn thời kỳ mênh mông đó để quạt bùng ngọn lửa manas, và phát triển [Page 365] các thuộc tính của manas, để rồi giống dân gốc Atlantis thấy họ được trang bị đầy đủ để đối phó với các điều kiện sống.

This participation in the life and influence of the different schemes is effected in four different ways:

Sự tham dự này vào sự sống và ảnh hưởng của các hệ hành tinh khác nhau được thực hiện theo bốn cách khác nhau:

First, through passing the interim between egoic cycles of physical incarnation on the particular globe of their scheme, which numerically coincides with the particular other scheme whose influence is desired, either from deliberate choice or karmically necessitated. Each globe in a chain is occultly linked with the chain of its own number, and with the scheme of a similar number. For instance: Globe 2, Chain 2, and scheme 2 during round 2 are specially linked and vitalised, and are the focal point of peculiar attention on the part of the Logos of that scheme. Similarly (again in illustration) globe 2, chain 2 during round 2 in any scheme such as the fifth, for instance, are aligned or connected esoterically with the second scheme. This gives opportunity for the units in the body of any Logos to come under the influence of another Logos, and within his vibratory radiation.

Thứ nhất, bằng cách trải qua khoảng trung gian giữa các chu kỳ chân ngã của sự lâm phàm hồng trần trên bầu hành tinh đặc thù của hệ hành tinh họ, bầu này trùng hợp về số học với hệ hành tinh đặc thù khác mà ảnh hưởng của nó được mong muốn, hoặc do lựa chọn có chủ ý hoặc do nghiệp quả bắt buộc. Mỗi bầu hành tinh trong một dãy được nối kết huyền bí với dãy cùng số của nó, và với hệ hành tinh có cùng số. Chẳng hạn: Bầu 2, Dãy 2, và hệ hành tinh 2 trong cuộc tuần hoàn 2 được nối kết và tiếp sinh lực một cách đặc biệt, và là tiêu điểm của sự chú ý đặc thù từ phía Thượng đế của hệ hành tinh ấy. Tương tự như vậy (lại lấy ví dụ), bầu 2, dãy 2 trong cuộc tuần hoàn 2 ở bất kỳ hệ hành tinh nào chẳng hạn như hệ thứ năm, đều được chỉnh hợp hay nối kết một cách huyền bí với hệ hành tinh thứ hai. Điều này tạo cơ hội cho các đơn vị trong thể của bất kỳ Thượng đế nào đi vào dưới ảnh hưởng của một Thượng đế khác, và trong bức xạ rung động của ông.

Second, through a direct transference of the units in incarnation in any scheme (during an interlude) to some globe in another scheme where they are subjected to the stimulation and vibration peculiar to that scheme. These two methods are the most usual. This transference will seem mysteriously impossible unless the student is careful to realise that it is the transference of the individualised lives and not the transference of the forms which they occupy. The whole matter is psychic, and based on the unity of the anima mundi. It is only possible at those periods when two Heavenly Men are mutually finding each other—under the Law of Attraction—and thus swinging into the magnetic radius of each other.

Thứ hai, bằng một sự chuyển dịch trực tiếp các đơn vị đang lâm phàm trong bất kỳ hệ hành tinh nào (trong một quãng xen kẽ) sang một bầu hành tinh nào đó trong một hệ hành tinh khác, nơi họ chịu sự kích thích và rung động đặc thù của hệ hành tinh ấy. Hai phương pháp này là thông thường nhất. Sự chuyển dịch này sẽ có vẻ bí ẩn đến mức bất khả trừ phi đạo sinh cẩn thận nhận ra rằng đó là sự chuyển dịch của các sự sống đã biệt ngã hóa chứ không phải sự chuyển dịch của các hình tướng mà chúng chiếm ngụ. Toàn bộ vấn đề này là thông linh, và dựa trên sự hợp nhất của anima mundi. Nó chỉ có thể xảy ra vào những thời kỳ khi hai Đấng Thiên Nhân đang cùng tìm thấy nhau—dưới Định luật Hấp Dẫn—và do đó cùng đi vào bán kính từ tính của nhau.

Third, through a conscious passage of the initiate, [Page 366] through initiation, from one scheme to another. This is frequently done, and hints of it have been given by different writers and thinkers, though several have confused the globes of their own chain with the scheme of the same number, or have mistaken another chain within the scheme for another scheme.

Thứ ba, bằng sự chuyển qua có ý thức của điểm đạo đồ, [Page 366] qua điểm đạo, từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Điều này thường xuyên được thực hiện, và những gợi ý về nó đã được nhiều tác giả và tư tưởng gia đưa ra, dù một số người đã nhầm lẫn các bầu hành tinh của dãy riêng họ với hệ hành tinh cùng số, hoặc đã lầm một dãy khác trong hệ hành tinh là một hệ hành tinh khác.

Fourth, the fourth method of transference of consciousness, and the bringing of the life units under the focal power of a Lord of a Ray, can be brought about through knowledge of certain mantrams and formulae. On this we may not enlarge as these mantrams are esoteric and the use of them is fraught with much danger to the uninitiated.

Thứ tư, phương pháp thứ tư của sự chuyển dịch tâm thức, và việc đưa các đơn vị sự sống vào dưới quyền năng tiêu điểm của một Chúa Tể Cung, có thể được thực hiện nhờ tri thức về một số mantram và công thức nhất định. Về điều này, chúng ta không thể nói rộng hơn vì các mantram ấy là huyền bí và việc sử dụng chúng đầy dẫy hiểm nguy cho người chưa được điểm đạo.

The planetary Logos of this scheme is called “the First Kumara,” the One Initiator, and the statement is made that He came to this planet from Venus, Venus being “the Earth’s primary.” This needs elucidation somewhat, though it may not be permitted to do more than convey a few hints as to the truth. The fact is one of the most mysterious in the development of our scheme, and in it lies hidden the secret of this world cycle. It is not easy to convey the truth and words but seem to veil and cloak.

Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này được gọi là “Kumara Thứ Nhất,” Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và có lời phát biểu rằng Ngài đã đến hành tinh này từ Sao Kim, Sao Kim là “nguyên mẫu sơ khởi của Trái Đất.” Điều này cần được làm sáng tỏ phần nào, dù có lẽ không được phép làm hơn ngoài việc truyền đạt vài gợi ý về chân lý. Sự kiện này là một trong những điều huyền bí nhất trong sự phát triển của hệ hành tinh chúng ta, và trong đó ẩn giấu bí mật của chu kỳ thế giới này. Không dễ truyền đạt chân lý, và lời nói dường như chỉ che phủ và bao bọc nó.

Perhaps a hint may be given in pointing out that there is an analogy between the coming in of the Ego in full sway and its taking hold at certain periods in the life of a human being. At seven years we are told the Ego “takes hold,” and again at adolescence; at twenty-one that hold may be made still firmer. Again, as lives are passed, the Ego (in connection with a human being) grips its vehicles and so sways them to his purpose with more effect and fullness. The same procedure can be seen in relation to a Heavenly Man and His body of manifestation, a scheme. It must be remembered that every scheme has seven chains; that each chain has seven globes, making a totality of forty-nine globes; [Page 367] that each globe is again in turn occupied by the life of the Logos during what we call seven rounds, making literally three hundred and forty-three incarnations, or fresh impulses to manifest. We must add to these major manifestations such lesser ones as those named by us root-races, and subraces, also branch races, and thus we are faced with a complexity that is enough to stagger the average student. The planetary wheel of life turns on its lesser scale the wheel of life of the little pilgrim we call man; as it turns, it sweeps the life of the evolving planetary Logos into ever new forms and experiences until the fire of Spirit burns up all lesser fires.

Có lẽ có thể đưa ra một gợi ý bằng cách chỉ ra rằng có một sự tương đồng giữa việc chân ngã đi vào trong quyền năng trọn vẹn và việc nó nắm quyền vào những thời kỳ nhất định trong đời sống của một con người. Người ta nói rằng vào bảy tuổi chân ngã “nắm quyền,” và lại một lần nữa vào tuổi dậy thì; đến hai mươi mốt tuổi, sự nắm quyền ấy có thể còn được làm cho vững chắc hơn. Lại nữa, khi các kiếp sống trôi qua, chân ngã (liên hệ với một con người) nắm lấy các vận cụ của nó và do đó chi phối chúng theo mục đích của y một cách hữu hiệu và đầy đủ hơn. Cùng một tiến trình như vậy có thể được thấy trong mối liên hệ với một Đấng Thiên Nhân và thể biểu hiện của Ngài, tức một hệ hành tinh. Phải nhớ rằng mỗi hệ hành tinh có bảy dãy; mỗi dãy có bảy bầu hành tinh, tạo thành tổng số bốn mươi chín bầu hành tinh; [Page 367] rằng mỗi bầu hành tinh lại lần lượt được sự sống của Thượng đế chiếm ngụ trong điều mà chúng ta gọi là bảy cuộc tuần hoàn, theo nghĩa đen tạo thành ba trăm bốn mươi ba lần lâm phàm, hay những xung lực mới để biểu hiện. Chúng ta còn phải thêm vào những biểu hiện lớn này những biểu hiện nhỏ hơn như những gì chúng ta gọi là giống dân gốc, giống dân phụ, và cả các chủng tộc nhánh, và như vậy chúng ta đối diện với một sự phức tạp đủ làm cho đạo sinh trung bình choáng váng. Bánh xe sự sống hành tinh quay, ở quy mô nhỏ hơn của nó, bánh xe sự sống của người hành hương nhỏ bé mà chúng ta gọi là con người; khi nó quay, nó cuốn sự sống của Hành Tinh Thượng đế đang tiến hoá vào những hình tướng và kinh nghiệm luôn mới cho đến khi lửa của tinh thần thiêu rụi mọi lửa nhỏ hơn.

As earlier pointed out, each Heavenly Man is linked with one of His Brothers under the Law of Mutual Attraction, which manifests so degradingly as yet upon the physical plane, through the life of the human unit, imprisoned in physical form. Psychically the link is of a different nature, and such a link is found between the planetary Logos of the scheme we call Venus, and the Logos of our scheme. This psychic interaction has its cyclic ebb and flow, as ebbs and flows all life force. In Lemurian days came a period of close interaction which brought about an incarnation on the physical planet of the Logos of our scheme, the Head of the Hierarchy, and the One Initiator. This could not have been effected had not the planetary Logos of the Venus scheme been in a position to link up closely with ours.

Như đã chỉ ra trước đây, mỗi Đấng Thiên Nhân được nối kết với một Huynh Đệ của Ngài dưới Định luật Hấp Dẫn Tương Hỗ, định luật hiện đang biểu lộ một cách hạ thấp trên cõi hồng trần qua đời sống của đơn vị nhân loại bị giam hãm trong hình tướng hồng trần. Về mặt thông linh, sự nối kết ấy có bản chất khác, và một sự nối kết như vậy được tìm thấy giữa Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh mà chúng ta gọi là Sao Kim, và Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta. Sự tương tác thông linh này có thủy triều lên xuống theo chu kỳ, cũng như mọi mãnh lực sự sống đều lên xuống như vậy. Vào thời Lemuria đã đến một thời kỳ tương tác mật thiết, đưa đến một lần lâm phàm trên hành tinh hồng trần của Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, Đầu của Thánh đoàn, và Đấng Điểm đạo Duy Nhất. Điều này không thể được thực hiện nếu Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Sao Kim không ở trong vị thế có thể nối kết chặt chẽ với hệ của chúng ta.

c. Venus and the Earth Chain. This question of the coming of the Lords of Flame to the planet Earth is deeply involved (as stated above) in the relationship existing between the Heavenly Man of the Earth scheme and the Lord of the Venus scheme. Until more detailed information is permitted publication anent these two great Entities, little more can be done beyond indicating some probabilities, and pointing out certain factors which students should carefully bear in mind. The statement [Page 368] has been made that (owing to the Venusian scheme being in its fifth round) its humanity is consequently further advanced than ours, and can help us, and that this help came in Lemurian days. This is an instance of a partial truth and its misinterpretation. The Venusian scheme is—as stated in the Secret Doctrine (I, 187. II, 33-36,626)—in its fifth and last round; its humanity is very far ahead of ours in certain particulars, but the momentous occurrence in the third root-race was due to the following causes, and not to the factor of the greater advancement of a certain group of human beings:

c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu. Vấn đề về sự giáng lâm của các Chúa Tể của Lửa đến hành tinh Trái Đất có liên hệ sâu xa (như đã nêu ở trên) với mối quan hệ hiện tồn giữa Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất và Chúa Tể của hệ hành tinh Sao Kim. Cho đến khi được phép công bố thông tin chi tiết hơn liên quan đến hai Thực Thể vĩ đại này, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một vài khả năng, và nêu lên một số yếu tố mà đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ. Phát biểu [Page 368] đã được nêu rằng (do hệ hành tinh Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm) nhân loại của nó vì thế tiến bộ hơn chúng ta, và có thể giúp chúng ta, và rằng sự trợ giúp này đã đến vào thời Lemuria. Đây là một ví dụ về chân lý bộ phận và sự diễn giải sai của nó. Hệ hành tinh Sao Kim—như đã nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm (I, 187. II, 33-36,626)—đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm và cuối cùng; nhân loại của nó vượt xa chúng ta trong một số phương diện nhất định, nhưng biến cố trọng đại trong giống dân gốc thứ ba là do các nguyên nhân sau đây, chứ không phải do yếu tố tiến bộ hơn của một nhóm người nào đó:

First, the Venus Scheme, viewed as a logoic centre, is more active than ours, and therefore its radiatory magnetism is far more widely spread. Its radiation is such that on the buddhic plane it swept within its magnetic radius that chain in our scheme which is composed predominantly of buddhic matter. Then, via that chain, it magnetised the corresponding globe in our chain, and this resulted in a specific vitalisation in the dense planet itself.

Thứ nhất, hệ hành tinh Sao Kim, khi được nhìn như một trung tâm Thượng đế, hoạt động mạnh hơn hệ của chúng ta, và do đó từ điện bức xạ của nó lan tỏa rộng hơn nhiều. Bức xạ của nó có tính chất đến mức trên cõi Bồ đề, nó đã quét vào trong bán kính từ tính của nó dãy trong hệ hành tinh chúng ta vốn được cấu thành chủ yếu bằng vật chất Bồ đề. Rồi, thông qua dãy ấy, nó từ hóa bầu hành tinh tương ứng trong dãy của chúng ta, và điều này dẫn đến một sự tiếp sinh lực đặc thù trong chính hành tinh đậm đặc ấy.

Second, just as in the case of man, certain triangles of force are found at different stages of evolution, or (to word it otherwise) different centres become geometrically linked, such as the

Thứ hai, cũng như trong trường hợp của con người, những tam giác mãnh lực nhất định được tìm thấy ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau, hay (nói cách khác) những trung tâm khác nhau trở nên nối kết về mặt hình học, chẳng hạn như

a. Base of the spine,

a. Đáy cột sống,

b. Solar plexus,

b. Tùng thái dương,

c. Heart;

c. Tim;

or again,

hoặc lại nữa,

a. Solar Plexus,

a. Tùng thái dương,

b. Heart

b. Tim

c. Throat

c. Cổ họng

so, in the case of a Heavenly Man, or of a solar Logos, a similar event occurs. Such an event transpires in this round in relation to the centre which our planetary Logos [Page 369] embodies. It became geometrically linked with two other centres, of which Venus was one, and logoic Kundalini—circulating with tremendous force through this adjusted Triangle—brought about that intensification of vibration in the human family which resulted in individualisation. We might here enumerate the schemes as a basis for our further work:

thì trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, hay của một Thái dương Thượng đế, một biến cố tương tự cũng xảy ra. Một biến cố như vậy đang diễn ra trong cuộc tuần hoàn này liên hệ với trung tâm mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta [Page 369] hiện thân. Nó đã trở nên nối kết về mặt hình học với hai trung tâm khác, trong đó Sao Kim là một, và kundalini Thượng đế—lưu chuyển với mãnh lực ghê gớm qua Tam giác đã được điều chỉnh này—đã đưa đến sự tăng cường rung động trong gia đình nhân loại, kết quả là sự biệt ngã hóa. Ở đây, chúng ta có thể liệt kê các hệ hành tinh như một cơ sở cho công việc tiếp theo của mình:

The seven planets, centres, or schemes:

Bảy hành tinh, các trung tâm, hay các hệ hành tinh:

1. Vulcan (the sun, exoterically considered).

1. Vulcan (mặt trời, xét theo ngoại môn).

2. Venus.

2. Sao Kim.

3. Mars.

3. Sao Hỏa.

4. Earth.

4. Trái Đất.

5. Mercury.

5. Sao Thủy.

6. Jupiter.

6. Sao Mộc.

7. Saturn.

7. Sao Thổ.

The three synthesising planets:

Ba hành tinh tổng hợp:

1. Uranus.

1. Sao Thiên Vương.

2. Neptune.

2. Sao Hải Vương.

3. Saturn.

3. Sao Thổ.

The One Resolver.

Đấng Hóa Giải Duy Nhất.

The SUN.

MẶT TRỜI.

I would caution you here against attaching any importance to the sequence followed in numbering these seven schemes, either in connection with their order of development or importance, or their position in relation to the central planet, the sun, or to each other. Only two are to be considered numerically accurate at this stage and in this round, i.e., our Earth, the fourth scheme, and Venus, the second. Venus is either the second or the sixth scheme, according to whether the schemes are counted mystically or occultly. Inversely, Jupiter will be either the second or the sixth, and it must be remembered that: [Page 370]

Ở đây, tôi muốn cảnh báo bạn đừng gán bất kỳ tầm quan trọng nào cho trình tự được dùng để đánh số bảy hệ hành tinh này, dù là liên hệ đến thứ tự phát triển hay tầm quan trọng của chúng, hay vị trí của chúng đối với hành tinh trung tâm là mặt trời, hoặc đối với nhau. Chỉ có hai hệ được xem là chính xác về mặt số học ở giai đoạn này và trong cuộc tuần hoàn này, tức Trái Đất của chúng ta, hệ hành tinh thứ tư, và Sao Kim, hệ thứ hai. Sao Kim hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, tùy theo các hệ hành tinh được đếm theo cách thần bí hay huyền bí. Theo chiều ngược lại, Sao Mộc sẽ hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, và phải nhớ rằng: [Page 370]

a. The planets Venus and Jupiter are exceedingly closely connected with the Earth, and form eventually an esoteric triangle.

a. Các hành tinh Sao Kim và Sao Mộc có liên hệ cực kỳ mật thiết với Trái Đất, và cuối cùng tạo thành một tam giác huyền bí.

b. Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas purely and simply, or is the major resolution of the minor four, and eventually for all the seven.

b. Sao Thổ là hệ hành tinh tổng hợp cho bốn hành tinh hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản, hay là sự hóa giải lớn của bốn hành tinh nhỏ, và cuối cùng là của cả bảy.

cosmic-fire-s4-02.png

c. Mercury, the star of the intuition, or of transmuted manas, is, at this stage, considered as the fifth scheme.

c. Sao Thủy, ngôi sao của trực giác, hay của manas đã được chuyển hoá, ở giai đoạn này được xem là hệ hành tinh thứ năm.

Therefore, the Heavenly Men of Venus and Jupiter are magnetically linked with the Heavenly Man of our scheme. The relationship of the Logos of Jupiter and His influence will not be realised nor felt until the sixth [Page 371] round is in full force, though during the sixth root-race His vibration will be acknowledged and sensed; in the middle of the fifth round the Logos of Mercury will, with the Logos of the Venus scheme, and of our Earth, form a temporary triangle of force. We have here information given that has only been hinted at hitherto but for which, in this fifth subrace and in this fourth round, the world is now ready; it holds the solution of the mystery of this round.

Do đó, các Đấng Thiên Nhân của Sao Kim và Sao Mộc được liên kết bằng từ tính với Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. Mối liên hệ của Thượng đế của Sao Mộc và ảnh hưởng của Ngài sẽ không được chứng nghiệm cũng không được cảm nhận cho đến khi cuộc tuần hoàn thứ sáu [Page 371] hoàn toàn sung mãn, mặc dù trong giống dân gốc thứ sáu rung động của Ngài sẽ được thừa nhận và cảm nhận; vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Thượng đế của Sao Thủy sẽ cùng với Thượng đế của hệ hành tinh Sao Kim và của Trái Đất chúng ta tạo thành một tam giác lực tạm thời. Ở đây chúng ta có thông tin được ban ra mà cho đến nay mới chỉ được ám chỉ, nhưng đối với điều đó, trong giống dân phụ thứ năm này và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thế giới nay đã sẵn sàng; nó nắm giữ lời giải cho huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn này.

Third, the statement that the great Kumara or the One Initiator came to this planet from Venus is true in so far as it embodies the fact that He came to this dense planet (the fourth) in the fourth chain from that chain in our scheme which is called the “Venus” chain, and which is the second chain. He came via the second globe in our chain; His scarcely felt vibration was sensed (occultly) in the second round, but only in the third root-race of the fourth round did conditions permit of His physical incarnation and of His coming as the Avatar. Very reverently might it be said that the first three rounds and the two succeeding root-races in this chain correspond to the period prior to birth; and that His coming in the fourth round with the subsequent awakening of manas in the human units find their analogy in the awakening of the life principle in the unborn infant at the fourth month.

Thứ ba, lời khẳng định rằng Đại Kumara hay Đấng Điểm đạo Duy Nhất đã đến hành tinh này từ Sao Kim là đúng trong chừng mực nó bao hàm sự kiện rằng Ngài đã đến hành tinh đậm đặc này (hành tinh thứ tư) trong dãy thứ tư từ dãy ấy trong hệ hành tinh chúng ta, dãy được gọi là dãy “Sao Kim”, và là dãy thứ hai. Ngài đến qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy của chúng ta; rung động hầu như không thể cảm nhận của Ngài đã được cảm biết (một cách huyền bí) trong cuộc tuần hoàn thứ hai, nhưng chỉ đến giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư thì các điều kiện mới cho phép sự lâm phàm hồng trần của Ngài và việc Ngài đến như một Đấng Hoá Thân. Với tất cả lòng tôn kính, có thể nói rằng ba cuộc tuần hoàn đầu tiên và hai giống dân gốc kế tiếp trong dãy này tương ứng với giai đoạn trước khi sinh; và việc Ngài đến trong cuộc tuần hoàn thứ tư cùng với sự thức tỉnh tiếp theo của manas trong các đơn vị nhân loại tìm thấy sự tương đồng của nó trong sự thức tỉnh của nguyên khí sự sống nơi thai nhi chưa sinh vào tháng thứ tư.

The analogy holds good, for a Heavenly Man at the end of the seventh round reaches full maturity, but requires the final process of rounding out and perfecting which He attains during the two final periods

Sự tương đồng này hoàn toàn đúng, vì một Đấng Thiên Nhân vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt đến sự trưởng thành viên mãn, nhưng cần tiến trình cuối cùng của sự hoàn tất và hoàn thiện mà Ngài đạt được trong hai giai đoạn cuối cùng

a. Of synthesis into the major three schemes.

a. Của sự tổng hợp vào ba hệ hành tinh chính.

b. Of resolution into the final one;

b. Của sự phân giải vào hệ hành tinh tối hậu duy nhất;

making again—with reverence may it be said—the nine cycles which cover the gestation of a Heavenly Man, and which precede His birth into yet higher worlds. In this lies much food for thought, and much of moment [Page 372] for the profound student. We might couple with these suggestions the recollection that we are speaking here only of the Logos of our own scheme, and must carefully differentiate other cycles for the other Logoi—a thing as yet impossible for us. As this is meditated upon and studied, the wonder and beauty of the plan will become apparent.

như thế lại tạo thành—xin được nói với lòng tôn kính—chín chu kỳ bao trùm thời kỳ thai nghén của một Đấng Thiên Nhân, và đi trước sự sinh ra của Ngài vào những thế giới còn cao hơn nữa. Chính trong đó có nhiều điều đáng suy ngẫm, và nhiều điều hệ trọng [Page 372] đối với đạo sinh sâu sắc. Chúng ta có thể gắn với những gợi ý này sự ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang nói về Thượng đế của chính hệ hành tinh chúng ta, và phải cẩn thận phân biệt các chu kỳ khác của các Thượng đế khác—một điều hiện nay vẫn chưa thể đối với chúng ta. Khi điều này được tham thiền và nghiên cứu, sự kỳ diệu và vẻ đẹp của Thiên Cơ sẽ trở nên hiển nhiên.

A clue to the idea of the final Avatar is likewise to be seen here. Many temporary incarnations precede this consummating one, which will be the incarnation wherein the Heavenly Man, in the full beauty of His completed seven cycles, and prior to His merging into His synthesising goal, will demonstrate as the embodiment of that perfected quality, or logoic aspect, for which He primarily stands. As a centre in the body logoic, He will be fully vitalised, and the logoic kundalini will have stimulated, and aroused to perfection His systemic Lotus. For a brief period He will shine forth radiant as the Sun in His glory; then the kundalinic fire will pass in higher progressive spirals, and He will gradually become centred in the corresponding logoic head centre, the higher triangle or the major three schemes. To illustrate by means of a human being, the microcosm: Man attains a period of high development wherein his heart and throat centre are perfected and vitalised; they become radiant whorls of fire, fourth dimensional in action, and allied with each other and with some other centre; they become likewise the object of the attention of human kundalini. This is a period of great activity and magnetic usefulness. It is succeeded by still another, wherein the three head centres are synthesising their seven minor correspondences, and the force of kundalini passes there. As above, so below. [Page 373]

Một đầu mối cho ý niệm về Đấng Hoá Thân tối hậu cũng có thể được thấy ở đây. Nhiều lần lâm phàm tạm thời đi trước lần lâm phàm viên mãn này, là lần lâm phàm trong đó Đấng Thiên Nhân, trong toàn bộ vẻ đẹp của bảy chu kỳ đã hoàn tất của Ngài, và trước khi hòa nhập vào mục tiêu tổng hợp của Ngài, sẽ biểu lộ như hiện thân của phẩm tính hoàn hảo ấy, hay phương diện logoic ấy, mà trước hết Ngài đại diện. Là một trung tâm trong thể của Thượng đế, Ngài sẽ được tiếp sinh lực trọn vẹn, và kundalini của Thượng đế sẽ kích thích và khơi dậy đến mức hoàn hảo Hoa sen hệ thống của Ngài. Trong một thời gian ngắn, Ngài sẽ chiếu sáng rực rỡ như Mặt Trời trong vinh quang của Ngài; rồi lửa kundalini sẽ đi qua trong những vòng xoắn tiến hoá cao hơn, và Ngài sẽ dần dần trở nên tập trung trong trung tâm đầu tương ứng của Thượng đế, tam giác cao hơn hay ba hệ hành tinh chính. Để minh hoạ bằng con người, tiểu thiên địa: Con người đạt đến một giai đoạn phát triển cao trong đó trung tâm tim và trung tâm cổ họng của y được hoàn thiện và tiếp sinh lực; chúng trở thành những vòng xoáy lửa rực sáng, hoạt động theo chiều thứ tư, và liên kết với nhau cũng như với một trung tâm khác; chúng cũng trở thành đối tượng chú ý của kundalini nơi con người. Đây là một giai đoạn hoạt động lớn lao và hữu dụng từ tính. Tiếp theo đó là một giai đoạn khác nữa, trong đó ba trung tâm đầu đang tổng hợp bảy đối ứng nhỏ của chúng, và lực của kundalini đi qua đó. Trên sao, dưới vậy. [Page 373]

CHART VI

BIỂU ĐỒ VI

The Divine septenary hanging from the Triad thus forming the Decad and its permutations 7,5,4,3. (S.D. Vol. I, pp.259)

Thất nguyên thiêng liêng treo từ Tam nguyên tinh thần, như thế tạo thành Thập nguyên và các hoán vị của nó 7,5,4,3. (G.L.B.N. Tập I, tr.259)

cosmic-fire-s4-03.png

Solar Septenary Chart – from the middle of the Third Root Race, at the Fourth Round to the “Judgement Day” in the middle of the Fifth Round

Biểu đồ Thất nguyên Thái Dương – từ giữa Giống dân gốc thứ ba, tại Cuộc tuần hoàn thứ tư cho đến “Ngày phán xét” vào giữa Cuộc tuần hoàn thứ năm

THE DENSE PHYSICAL PLANET

HÀNH TINH HỒNG TRẦN ĐẬM ĐẶC

Earth

4th Chain

4th Globe

Mars

4th Chain

4th Globe

Jupiter

3rd Chain

4th Globe

Vulcan

3rd Chain

4th Globe

Saturn

3rd Chain

4th globe

Venus

5th Chain

5th Globe

Mercury

4th Chain

5th Globe

I have especially mentioned these two centres in the microcosm as they are closely concerned (on a larger scale) with the particular cycles through which our [Page 374] planetary Logos passes, and because they represent the third and second aspects.

Tôi đặc biệt đề cập đến hai trung tâm này trong tiểu thiên địa vì chúng liên hệ mật thiết (trên quy mô lớn hơn) với các chu kỳ đặc thù mà [Page 374] Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua, và vì chúng biểu hiện phương diện thứ ba và thứ hai.

We need to bear in mind that the stimulation of the centres is of three kinds, and the distinction between the three must be kept clear.

Chúng ta cần ghi nhớ rằng sự kích thích các trung tâm có ba loại, và phải giữ rõ sự phân biệt giữa ba loại ấy.

First, the vitalisation of the logoic centres, or the pouring through the seven schemes, during stupendous cycles, of logoic kundalini.

Thứ nhất, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của Thượng đế, hay sự tuôn chảy qua bảy hệ hành tinh, trong những chu kỳ đồ sộ, của kundalini của Thượng đế.

Next, the vitalisation of the planetary centres, or the pouring through the seven chains of a scheme, of planetary kundalini.

Kế đến, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm hành tinh, hay sự tuôn chảy qua bảy dãy của một hệ hành tinh, của kundalini hành tinh.

Finally, the vitalisation of the centres of a planetary Logos during some particular major incarnation, or the pouring through the seven globes of a chain, of kundalini.

Sau cùng, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế trong một lần lâm phàm lớn đặc thù nào đó, hay sự tuôn chảy qua bảy bầu hành tinh của một dãy, của kundalini.

It should be stated here that:

Ở đây cần nói rõ rằng:

A major incarnation is one in which a planetary Logos takes some initiation. He may, and does, pass through many incarnations without taking initiation. When He does take initiation, it is interesting to note that He does so during some incarnation in which He takes a vehicle of etheric matter as is the case at this time.

Một lần lâm phàm lớn là lần trong đó một Hành Tinh Thượng đế nhận một điểm đạo nào đó. Ngài có thể, và thực sự có, trải qua nhiều lần lâm phàm mà không nhận điểm đạo. Khi Ngài nhận điểm đạo, điều đáng chú ý là Ngài làm như vậy trong một lần lâm phàm nào đó mà Ngài mang một vận cụ bằng vật chất dĩ thái như trường hợp hiện nay.

The Logos of our scheme is preparing for initiation and hence the terrific tests and trials, incident to life on our planet during this cycle, are easily accounted for.

Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đang chuẩn bị cho điểm đạo và vì thế những thử thách và khảo nghiệm ghê gớm gắn liền với sự sống trên hành tinh chúng ta trong chu kỳ này có thể dễ dàng được giải thích.

The Logos of our scheme, Sanat Kumara, will take a major initiation in the middle of the fifth round, but is preparing for a minor one at this time.

Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, Đức Sanat Kumara, sẽ nhận một điểm đạo lớn vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, nhưng hiện nay đang chuẩn bị cho một điểm đạo nhỏ.

The Logos of our scheme has been in physical incarnation (having a body of etheric matter) since the middle of the Lemurian root-race, and will remain with us until what is called “the judgment day” in the next round. At that point in His career He will have achieved the necessary vitalisation of the particular centre which is occupying His attention, will have “seen of the travail of His Soul” in connection with the units of the human [Page 375] Hierarchy who go to the composition of this centre, and will drop His present form, will turn His attention to another and higher centre, and give of His force to the units of a different calibre, from another branch of the human Hierarchy, who respond to the vibration of that centre.

Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đã lâm phàm hồng trần (có một thể bằng vật chất dĩ thái) từ giữa giống dân gốc Lemuria, và sẽ ở với chúng ta cho đến điều được gọi là “ngày phán xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. Vào thời điểm đó trong sự nghiệp của Ngài, Ngài sẽ đạt được sự tiếp sinh lực cần thiết cho trung tâm đặc thù đang chiếm giữ sự chú ý của Ngài, sẽ “thấy được công lao khổ nhọc của Linh hồn Ngài” liên hệ với các đơn vị của [Page 375] Thánh Đoàn nhân loại cấu thành trung tâm này, và sẽ từ bỏ hình tướng hiện tại của Ngài, sẽ chuyển sự chú ý của Ngài sang một trung tâm khác cao hơn, và ban mãnh lực của Ngài cho các đơn vị có phẩm cấp khác, từ một nhánh khác của Thánh Đoàn nhân loại, là những đơn vị đáp ứng với rung động của trung tâm ấy.

It would be well to enlarge here a little on the connection between Venus and the Earth, which is hinted at in some of the occult books, and is somewhat touched upon in this. I have stated that the interaction between the two schemes is due largely to their positive and negative polarity, and I pointed out that a similar relation underlies the relation of the Pleiades and the seven schemes of our solar system, and also the relation of Sirius and the system itself. This, therefore, sweeps into close interaction three great systems:

Ở đây sẽ là điều tốt nếu khai triển thêm đôi chút về mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất, điều đã được ám chỉ trong một số sách huyền bí học, và cũng được chạm đến phần nào trong tác phẩm này. Tôi đã nói rằng sự tương tác giữa hai hệ hành tinh phần lớn là do sự phân cực dương và âm của chúng, và tôi đã chỉ ra rằng một mối liên hệ tương tự cũng làm nền cho mối liên hệ giữa chòm Thất Tinh và bảy hệ hành tinh của hệ mặt trời chúng ta, cũng như mối liên hệ giữa Sirius và chính hệ thống này. Vì vậy, điều này đưa vào sự tương tác mật thiết ba hệ thống lớn:

1. The system of Sirius,

1. Hệ thống Sirius,

2. The system of the Pleiades,

2. Hệ thống chòm Thất Tinh,

3. The system of which our sun is the focal point,

3. Hệ thống mà mặt trời chúng ta là tiêu điểm,

making, as we will have noted, a cosmic triangle. Within our system there are several such triangles, varying at different stages; according to their relation to each other, the differentiated force of the different schemes can pass from scheme to scheme, and thus the units of life on the different rays or streams of force become temporarily intermingled. In all these triangles (cosmic, systemic, planetary, and human) two points of the triangle represent each a different polarity, and one point represents the point of equilibrium, of synthesis or merging. This should be borne in mind in studying both the macrocosmic and the microcosmic centres, for it accounts for diversity in manifestation, in forms and in quality.

tạo thành, như chúng ta hẳn đã lưu ý, một tam giác vũ trụ. Bên trong hệ thống chúng ta có một số tam giác như thế, thay đổi theo các giai đoạn khác nhau; tùy theo mối liên hệ của chúng với nhau, mãnh lực biệt phân của các hệ hành tinh khác nhau có thể chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác, và như thế các đơn vị sự sống trên các cung hay các dòng lực khác nhau trở nên tạm thời hòa lẫn vào nhau. Trong tất cả các tam giác này (vũ trụ, hệ thống, hành tinh và nhân loại), hai điểm của tam giác mỗi điểm biểu hiện một sự phân cực khác nhau, và một điểm biểu hiện điểm quân bình, tổng hợp hay hòa nhập. Điều này cần được ghi nhớ khi nghiên cứu cả các trung tâm đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì nó giải thích sự đa dạng trong biểu hiện, trong các hình tướng và trong phẩm tính.

A correspondence might here also be pointed out which [Page 376] may serve to convey light to those who have eyes to see:

Ở đây cũng có thể chỉ ra một sự tương ứng mà [Page 376] có thể giúp soi sáng cho những ai có mắt để thấy:

The Venus scheme, being in the fifth round, had the fifth principle of manas co-ordinated and developed, the minor four manasic aspects had been synthesised, and the buddhic aspect was being provided with a means of expression through the medium of the perfected fifth. Our Heavenly Man, in the fifth round, will have attained a paralleling point in evolution, and the fifth principle will, as stated, be no longer the object of His attention as regards the human units.

Hệ hành tinh Sao Kim, vì đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm, đã có nguyên khí thứ năm là manas được phối hợp và phát triển, bốn phương diện manas nhỏ đã được tổng hợp, và phương diện Bồ đề đang được cung cấp một phương tiện biểu lộ qua trung gian của phương diện thứ năm đã được hoàn thiện. Đấng Thiên Nhân của chúng ta, trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ đạt đến một điểm tiến hoá song hành, và nguyên khí thứ năm, như đã nói, sẽ không còn là đối tượng chú ý của Ngài xét về các đơn vị nhân loại nữa.

Five stages of activity mark the development and utilisation of the mind principle; there are three stages of acquisition, and two wherein that which has been acquired is used. This is too intricate a calculation for us to enter into it here, and it cannot be undertaken except by an initiate, for it involves ability to study the cycles of the earlier solar system, but it might be noted that (judging from the microcosm on the earth planet) this is just what might be expected. Man developed manas in this round during the third, fourth and fifth root-races, and utilises it for the development of the intuition and of the higher consciousness during the sixth and seventh. During an incarnation by a planetary Logos in a chain, during one round He demonstrates through His seven centres or globes manas on three globes, and utilises it for specific purposes on the final two. This is a lesser cycle to that in which we view the seven chains as His seven centres. These words are chosen with care; I say not “acquires manas”; He but produces that which is inherent. It must be remembered that just as the planes of a solar system stand for a different purpose, vibrate to a different key, and serve their own specific ends, so do the globes serve an analogous function.

Năm giai đoạn hoạt động đánh dấu sự phát triển và sử dụng nguyên khí trí tuệ; có ba giai đoạn thủ đắc, và hai giai đoạn trong đó điều đã được thủ đắc được sử dụng. Đây là một phép tính quá phức tạp để chúng ta đi vào ở đây, và không thể được thực hiện ngoại trừ bởi một điểm đạo đồ, vì nó bao hàm khả năng nghiên cứu các chu kỳ của hệ mặt trời trước, nhưng có thể lưu ý rằng (xét từ tiểu thiên địa trên hành tinh Trái Đất) đây chính là điều có thể được mong đợi. Con người đã phát triển manas trong cuộc tuần hoàn này trong các giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm, và sử dụng nó cho sự phát triển của trực giác và của tâm thức cao hơn trong giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy. Trong một lần lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trong một dãy, trong một cuộc tuần hoàn Ngài biểu lộ qua bảy trung tâm hay bảy bầu hành tinh của Ngài manas trên ba bầu hành tinh, và sử dụng nó cho các mục đích đặc thù trên hai bầu cuối cùng. Đây là một chu kỳ nhỏ hơn so với chu kỳ trong đó chúng ta xem bảy dãy như bảy trung tâm của Ngài. Những lời này được chọn lựa cẩn thận; tôi không nói “thủ đắc manas”; Ngài chỉ làm hiển lộ điều vốn nội tại. Phải nhớ rằng cũng như các cõi của một hệ mặt trời đại diện cho một mục đích khác nhau, rung động theo một chủ âm khác nhau, và phục vụ các cứu cánh đặc thù riêng của chúng, thì các bầu hành tinh cũng phục vụ một chức năng tương tự.

a. Globe 1, is that of ultimate abstraction, and of origination. It is the initial globe of manifestation. [Page 377]

a. Bầu hành tinh 1 là bầu của sự trừu xuất tối hậu và của sự khởi nguyên. Nó là bầu hành tinh khởi đầu của biểu hiện. [Page 377]

b. Globe 2, is the first sheath in which a Heavenly Man embodies Himself.

b. Bầu hành tinh 2 là lớp vỏ đầu tiên trong đó một Đấng Thiên Nhân nhập thể chính Ngài.

c. Globes 3, 4, 5, are those through which He demonstrates the possession of the manasic principle.

c. Các bầu hành tinh 3, 4, 5 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ sự sở hữu nguyên khí manas.

d. Globes 6 and 7, are the ones through which He manifests buddhi, through forms built by means of the manasic principle.

d. Các bầu hành tinh 6 và 7 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ Bồ đề, qua các hình tướng được kiến tạo bằng nguyên khí manas.

This can be equally predicated on a larger scale of a chain.

Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự trên quy mô lớn hơn đối với một dãy.

An interesting correspondence of a very occult nature can be worked out by the advanced student in connection also with the seven schemes. There are two which may be considered primarily archetypal, causal, or involving abstraction; three in which manas is manifested, and two in which already buddhi is manasically demonstrating. Of these two, Venus is one and thus we have the three and the two which make the five schemes of the five Kumaras, Who are Brahma. (136)

Một sự tương ứng thú vị có bản chất rất huyền bí cũng có thể được đạo sinh tiến bộ khai triển liên hệ với bảy hệ hành tinh. Có hai hệ có thể được xem là chủ yếu nguyên mẫu, nguyên nhân, hay bao hàm sự trừu xuất; ba hệ trong đó manas được biểu lộ, và hai hệ trong đó Bồ đề đã đang biểu lộ theo cách manas. Trong hai hệ này, Sao Kim là một, và như thế chúng ta có ba và hai hợp thành năm hệ hành tinh của năm Kumara, Các Ngài là Brahma. (136)

(136) Students must carefully differentiate between the five Mind born Sons of Brahma, the five true Kumaras and their representatives on our earth planet, Those Who stand around Sanat Kumara Who may be stated (esoterically understood) to represent Himself. (back)

(136) Đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa năm Con của Brahma sinh ra từ Trí Tuệ, năm Kumara chân chính và các đại diện của Các Ngài trên hành tinh Trái Đất chúng ta, Những Đấng đứng quanh Đức Sanat Kumara, những Đấng có thể nói (nếu được hiểu theo huyền bí học) là đại diện cho chính Ngài. (back)

Just as Venus is negatively polarised to our Earth scheme, so the seven stars of the Pleiades are negatively polarised to our seven schemes.

Cũng như hệ hành tinh Sao Kim được phân cực âm đối với hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, thì bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh cũng được phân cực âm đối với bảy hệ hành tinh của chúng ta.

A very pertinent question might here be asked. We might justly enquire (in connection with the point that Venus is negatively polarised, and also that the Pleiades are equally so) why they should be termed negative if they are the donors and not the receivers, for to be negative is surely to be receptive. This is indeed so, but the question arises in our minds, owing to lack of information, and consequent misapprehension. Venus may have had much to do with the impartation of the stimulation which resulted in great events on Earth via the Venus chain of our scheme, but our scheme gave, in a mysterious manner, more than was received, though the [Page 378] gift was not of the same nature. The coming in of the Venusian influence to our chain, and to our planet, with the subsequent stimulation of certain groups in the fourth Creative Hierarchy, the human, caused a paralleling event of even greater magnitude in the Venus scheme. This affected the sixth Hierarchy, one of the deva Hierarchies, dwelling in the Venus scheme. This stimulation emanated via our sixth chain (or the second according to the angle of vision) and affected a corresponding chain in the Venus scheme. The magnitude of the difference may be seen in the fact that in our case one globe alone was affected, whereas the influence of our scheme on the Venusian was such that an entire chain was stimulated. This was brought about through the positive polarity of the Heavenly Man of the Earth scheme.

Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi rất xác đáng. Chúng ta có thể hoàn toàn chính đáng mà hỏi (liên hệ với điểm rằng Sao Kim được phân cực âm, và chòm Thất Tinh cũng như vậy) tại sao chúng lại được gọi là âm nếu chúng là bên ban cho chứ không phải bên nhận, vì âm hẳn phải là tiếp nhận. Quả thật là như vậy, nhưng câu hỏi nảy sinh trong trí chúng ta do thiếu thông tin, và hậu quả là hiểu sai. Sao Kim có thể đã liên hệ rất nhiều đến việc truyền đạt sự kích thích dẫn đến những biến cố lớn trên Trái Đất qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta, nhưng hệ hành tinh chúng ta đã ban ra, theo một cách huyền nhiệm, nhiều hơn điều đã nhận, mặc dù [Page 378] món quà không cùng bản chất. Sự đi vào của ảnh hưởng Kim tinh vào dãy của chúng ta, và vào hành tinh chúng ta, cùng với sự kích thích tiếp theo đối với một số nhóm trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đã gây ra một biến cố song hành còn lớn lao hơn trong hệ hành tinh Sao Kim. Điều này ảnh hưởng đến Huyền Giai thứ sáu, một trong các Huyền Giai thiên thần, cư ngụ trong hệ hành tinh Sao Kim. Sự kích thích này phát ra qua dãy thứ sáu của chúng ta (hay dãy thứ hai tùy theo góc độ tầm nhìn) và ảnh hưởng đến một dãy tương ứng trong hệ hành tinh Sao Kim. Mức độ khác biệt có thể thấy trong sự kiện rằng trong trường hợp của chúng ta chỉ một bầu hành tinh duy nhất bị ảnh hưởng, trong khi ảnh hưởng của hệ hành tinh chúng ta lên hệ Sao Kim lại đến mức cả một dãy được kích thích. Điều này được tạo ra nhờ sự phân cực dương của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất.

Therefore, enlarging the concept, we can note the fact that our Heavenly Men are the transmitters, via their seven schemes, to the seven stars of the Pleiades. Our solar system is negatively polarised as regards the sun Sirius, which influences our entire system psychically via the three synthesising schemes—Uranus, Neptune, Saturn—the latter, Saturn, being the focal point for the transmission of cosmic manas to the entire seven schemes.

Do đó, mở rộng khái niệm, chúng ta có thể ghi nhận sự kiện rằng các Đấng Thiên Nhân của chúng ta là những vị truyền dẫn, qua bảy hệ hành tinh của Các Ngài, đến bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh. Hệ mặt trời chúng ta được phân cực âm đối với mặt trời Sirius, mặt trời này ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống chúng ta một cách thông linh qua ba hệ hành tinh tổng hợp—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, Sao Thổ—trong đó Sao Thổ là tiêu điểm cho sự truyền dẫn manas vũ trụ đến toàn bộ bảy hệ hành tinh.

4. Manas and the Earth Chain

4. Manas và Dãy Địa Cầu

We have brought our consideration of our first point, the origin of cosmic and systemic manas, down to certain facts concerning our chain, and have (with the utmost brevity) passed in review the larger aspect of the question. We touched first of all upon the subject of cosmic manas, as it concerned our Logos and the Heavenly Men. Then we considered it more specifically in its relation to the individual Heavenly Men, and finally brought it down to that which more nearly concerns ourselves— [Page 379] manas and the Heavenly Man of our scheme. Having proceeded thus far, we considered the stimulation of manas in our own chain, and saw that, in connection with our Earth, it came:

Chúng ta đã đưa sự khảo cứu điểm thứ nhất của mình, nguồn gốc của manas vũ trụ và hệ thống, xuống đến một số sự kiện liên quan đến dãy của chúng ta, và đã (với sự ngắn gọn tối đa) điểm lại phương diện lớn hơn của vấn đề. Trước hết chúng ta đã chạm đến chủ đề manas vũ trụ, trong chừng mực nó liên hệ đến Thượng đế của chúng ta và các Đấng Thiên Nhân. Sau đó chúng ta xét nó cụ thể hơn trong mối liên hệ với từng Đấng Thiên Nhân riêng biệt, và cuối cùng đưa nó xuống đến điều gần gũi với chúng ta hơn— [Page 379] manas và Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. Sau khi tiến xa đến mức ấy, chúng ta đã xét sự kích thích manas trong chính dãy của chúng ta, và thấy rằng, liên hệ với Trái Đất chúng ta, nó đến:

Via the Venus chain of our scheme.

Qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta.

As the result of a stimulation, originating in the Venus scheme.

Là kết quả của một sự kích thích, phát sinh trong hệ hành tinh Sao Kim.

Because logoic kundalini had vitalised one of the systemic triangles of force, of which (temporarily) Venus and the Earth formed two points of the triangle.

Bởi vì kundalini của Thượng đế đã tiếp sinh lực cho một trong các tam giác lực của hệ thống, mà trong đó (tạm thời) Sao Kim và Trái Đất tạo thành hai điểm của tam giác.

This produced the individualisation of those, particularly in the human Hierarchy, who form a particular centre in the body of the planetary Logos.

Điều này tạo ra sự biệt ngã hóa của những đơn vị, đặc biệt trong Huyền Giai nhân loại, là những đơn vị tạo thành một trung tâm đặc thù trong thể của Hành Tinh Thượng đế.

a. The Earth Chain and the Incarnating Monads.

a. Dãy Địa Cầu và các chân thần đang nhập thể.

We have reached, therefore, a point wherein (having cursorily dealt above with the origin of cosmic, systemic, and planetary manas), it is now possible for us to come definitely down to the consideration of our Earth chain within the Earth scheme, and see something of the origin of the manasic principle in the present group of incarnating egos, units of the fourth Creative Hierarchy. It is necessary here for students to remember that only one group in the fourth Hierarchy was affected by the coming in of manas in the third root-race, and that therefore in incarnation on the planet at this time are component parts of the two groups: one group, which received the manasic stimulation during this world period, and another group which received the stimulation during the previous chain. The last named group can be seen incarnating in all those who tread the Probationary Path, who are counted as the advanced units of the race, and considered as the notables among men. Owing to the difference between the two groups may be traced much of the world unrest. This difference lies in the following [Page 380] factors, which, for purposes of clarity, it might be well to enumerate:

Do đó, chúng ta đã đạt đến một điểm mà tại đó (sau khi đã đề cập sơ lược ở trên đến nguồn gốc của manas vũ trụ, hệ thống và hành tinh), nay chúng ta có thể đi hẳn xuống việc xem xét Dãy Địa Cầu của chúng ta bên trong hệ hành tinh Địa Cầu, và thấy phần nào nguồn gốc của nguyên khí manas trong nhóm chân ngã đang nhập thể hiện nay, các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Ở đây, đạo sinh cần nhớ rằng chỉ có một nhóm trong Huyền Giai thứ tư bị ảnh hưởng bởi sự đi vào của manas trong giống dân gốc thứ ba, và vì thế hiện đang lâm phàm trên hành tinh này là các thành phần của hai nhóm: một nhóm đã nhận sự kích thích manas trong thời kỳ thế giới này, và một nhóm khác đã nhận sự kích thích trong dãy trước. Nhóm được nêu sau cùng có thể được thấy đang lâm phàm trong tất cả những ai bước trên Con Đường Dự Bị, những người được kể là các đơn vị tiến bộ của nhân loại, và được xem là những người nổi bật giữa loài người. Do sự khác biệt giữa hai nhóm này mà phần lớn tình trạng bất an của thế giới có thể được truy nguyên. Sự khác biệt này nằm trong các [Page 380] yếu tố sau đây, mà để rõ ràng, có lẽ nên liệt kê ra:

The fact that each group forms a different centre in the body of a Heavenly Man.

Sự kiện rằng mỗi nhóm tạo thành một trung tâm khác nhau trong thể của một Đấng Thiên Nhân.

The difference in the method of individualisation.

Sự khác biệt trong phương pháp biệt ngã hóa.

The different rate of vibration of the two centres.

Tốc độ rung động khác nhau của hai trung tâm.

The fact, therefore, that in each chain the planetary Logos takes a different initiation, affecting different centres; and so bringing into manifestation different lesser entities.

Do đó, sự kiện rằng trong mỗi dãy, Hành Tinh Thượng đế nhận một điểm đạo khác nhau, ảnh hưởng đến các trung tâm khác nhau; và như thế đưa vào biểu hiện các thực thể nhỏ hơn khác nhau.

Students, when considering these things, need to view the matter from the following angles—some quite possible lines of approach for us, others which we are only capable as yet of dimly anticipating. The occult fact, as stated by the English poet Pope, “The proper study of mankind, is man,” is embodied in the investigation of all these vast cycles.

Khi xem xét những điều này, đạo sinh cần nhìn vấn đề từ các góc độ sau đây—một số là những đường tiếp cận hoàn toàn khả dĩ đối với chúng ta, một số khác thì hiện nay chúng ta mới chỉ có thể mơ hồ dự cảm. Sự kiện huyền bí học, như thi sĩ Anh Pope đã nói, “Đối tượng nghiên cứu thích đáng của nhân loại là con người,” được hàm chứa trong việc khảo cứu tất cả các chu kỳ bao la này.

The cosmic angle. This involves the study of the place of the solar Logos within His greater sphere, the study of extra-systemic psychology and astronomy, and the consideration of the relation existing between our system and other constellations, and of our path in the vast arc of the heavens. It bears on the relation of the various suns with their circulating attendants, and of the planets with each other; it concerns the study of their individual polarisation, and their interaction with their polar opposites. It will lead the student into regions of logical speculation, into the study of cosmic electricity, and the universal Law of attraction, and is as yet much beyond the comprehension of even the most advanced students at this time, and will only become a science (reduced to form and text-book if I might so express it) during the final part of the next round.

Góc độ vũ trụ. Điều này bao hàm việc nghiên cứu vị trí của Thái dương Thượng đế trong khối cầu lớn hơn của Ngài, nghiên cứu tâm lý học và thiên văn học ngoài hệ thống, và xem xét mối liên hệ hiện hữu giữa hệ thống chúng ta với các chòm sao khác, cũng như con đường của chúng ta trong vòng cung bao la của bầu trời. Nó liên quan đến mối liên hệ của các mặt trời khác nhau với các tùy hành quay quanh chúng, và của các hành tinh với nhau; nó liên hệ đến việc nghiên cứu sự phân cực riêng của chúng, và sự tương tác của chúng với các cực đối nghịch của chúng. Nó sẽ dẫn đạo sinh vào những miền suy đoán hợp lý, vào việc nghiên cứu điện vũ trụ, và Định luật hấp dẫn phổ quát, và hiện nay vẫn vượt xa sự thấu hiểu của ngay cả những đạo sinh tiến bộ nhất, và chỉ sẽ trở thành một khoa học (được quy về hình thức và giáo trình, nếu tôi có thể nói như vậy) trong phần cuối của cuộc tuần hoàn kế tiếp.

The systemic angle. This deals with the place of the Heavenly Men within the body logoic, Their mutual [Page 381] interplay, and Their rational interdependence, and with the cycles wherein each in turn, or in dual formation, is the recipient of logoic force. It necessitates the study of the solar system as a unit, of the astronomical and orbital relation of the Sun to the planets. The systemic triangles will eventually become a subject of popular speculation, then of investigation, of scientific demonstration, and finally be known to be proved and authenticated fact,—but the time is not yet. The different polarities of the schemes will be studied, and information, that is now imparted only to initiates of the third Initiation, will eventually become exoteric. In due course of time systemic information along the lines of:

Góc độ hệ thống. Điều này bàn đến vị trí của các Đấng Thiên Nhân trong thể của Thượng đế, sự tương tác lẫn nhau của Các Ngài, và sự tương thuộc hợp lý của Các Ngài, cũng như các chu kỳ trong đó mỗi vị lần lượt, hay trong sự hình thành nhị phân, là bên tiếp nhận lực của Thượng đế. Nó đòi hỏi việc nghiên cứu hệ mặt trời như một đơn vị, mối liên hệ thiên văn và quỹ đạo của Mặt Trời với các hành tinh. Các tam giác hệ thống cuối cùng sẽ trở thành một đề tài suy đoán phổ biến, rồi thành đối tượng khảo cứu, chứng minh khoa học, và sau cùng được biết đến như sự kiện đã được chứng minh và xác thực,—nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến. Các sự phân cực khác nhau của các hệ hành tinh sẽ được nghiên cứu, và thông tin hiện nay chỉ được truyền đạt cho các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba cuối cùng sẽ trở nên ngoại môn. Đến đúng thời, thông tin hệ thống theo các đường lối như:[Page 381]

a. The vitalisation of the schemes

a. Sự tiếp sinh lực cho các hệ hành tinh

b. Interaction between two schemes

b. Sự tương tác giữa hai hệ hành tinh

c. The periods of incarnation of a planetary Logos on the physical plane

c. Các thời kỳ lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trên cõi hồng trần

d. The initiation of the planetary Logos,

d. Điểm đạo của Hành Tinh Thượng đế,

will be reduced to law and order. As yet but dim speculations and hints that appeal only to the spiritual and the intuitive are in any way possible. The early part of the next round will see more widespread knowledge and interest in this matter.

sẽ được quy về định luật và trật tự. Hiện nay mới chỉ có những suy đoán mơ hồ và những ám chỉ chỉ hấp dẫn đối với người có tinh thần và trực giác là phần nào khả hữu. Phần đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ chứng kiến tri thức và sự quan tâm rộng rãi hơn về vấn đề này.

The planetary angle. This point of view concerns itself with the history of the individual scheme, and with the consciousness, and evolution of some particular Heavenly Man. The student in studying along these lines must endeavour to get some grasp of the scheme as a unit, as a body corporate with its seven centres and forty-nine globes, and with the triangle formed between them. Separate chains are either

Góc độ hành tinh. Quan điểm này quan tâm đến lịch sử của từng hệ hành tinh riêng biệt, và đến tâm thức cùng sự tiến hoá của một Đấng Thiên Nhân đặc thù nào đó. Đạo sinh khi nghiên cứu theo các đường lối này phải cố gắng nắm được phần nào hệ hành tinh như một đơn vị, như một cơ thể tập thể với bảy trung tâm và bốn mươi chín bầu hành tinh của nó, cùng với tam giác được hình thành giữa chúng. Các dãy riêng biệt hoặc là

The object of planetary stimulation,

Đối tượng của sự kích thích hành tinh,

The sphere of the incarnation of a planetary Logos,

Khối cầu của sự lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế,

Emerging into objectivity, [Page 382]

Đang xuất hiện vào tính khách quan, [Page 382]

Manifesting,

Đang biểu lộ,

Gradually entering into obscurity.

Dần dần đi vào sự mờ khuất.

This point of view is as yet impossible for the average thinker, for it involves an expansion of consciousness unattainable by man. Nevertheless the endeavour to comprehend serves a useful purpose, for it sets a goal for man and enables him to enlarge his present concept.

Quan điểm này hiện nay vẫn là điều bất khả đối với nhà tư tưởng trung bình, vì nó bao hàm một sự mở rộng tâm thức mà con người chưa thể đạt được. Tuy nhiên, nỗ lực thấu hiểu vẫn phục vụ một mục đích hữu ích, vì nó đặt ra một mục tiêu cho con người và giúp y mở rộng quan niệm hiện tại của mình.

The chain angle. This brings the whole idea more within the range of possibility, and has already been indicated to students in Volume II, of the Secret Doctrine. The student is narrowed down to the contemplation of the seven globes of the chain of which he is a component, though microscopic, part. He has for investigation the globes as seen in time, with their mutual interplay; he has for study the part each one may be playing in the great cycle of a Heavenly Man. For instance, in the present Earth chain which concerns us the most nearly, the fourth globe is of paramount interest, inasmuch as it is the physical plane vehicle for a Heavenly Man in dense objective incarnation. Yet it must not be forgotten that, though manifesting thus objectively, He embodies in totality the chain and the scheme. The idea may be clarified for the student if it is stated that:

Góc độ dãy. Điều này đưa toàn bộ ý tưởng vào gần phạm vi khả hữu hơn, và đã được chỉ ra cho đạo sinh trong Tập II của Giáo Lý Bí Nhiệm. Đạo sinh được thu hẹp vào việc chiêm ngưỡng bảy bầu hành tinh của dãy mà y là một phần cấu thành, dù là phần vi mô. Y có để khảo cứu các bầu hành tinh như được thấy trong thời gian, với sự tương tác lẫn nhau của chúng; y có để nghiên cứu vai trò mà mỗi bầu có thể đang đảm nhiệm trong chu kỳ lớn của một Đấng Thiên Nhân. Chẳng hạn, trong Dãy Địa Cầu hiện nay là dãy liên hệ gần gũi nhất với chúng ta, bầu hành tinh thứ tư có tầm quan trọng tối cao, vì nó là vận cụ cõi hồng trần cho một Đấng Thiên Nhân trong sự lâm phàm khách quan đậm đặc. Tuy nhiên, không được quên rằng, dù biểu lộ một cách khách quan như thế, Ngài hiện thân trong tính toàn thể cả dãy lẫn hệ hành tinh. Ý tưởng này có thể được làm sáng tỏ cho đạo sinh nếu nói rằng:

A scheme, in its totality, corresponds to the Monad, or to the monadic auric egg, in connection with a human being and his forty-nine cycles.

Một hệ hành tinh, trong tính toàn thể của nó, tương ứng với chân thần, hay với noãn hào quang chân thần, liên hệ với một con người và bốn mươi chín chu kỳ của y.

A chain, (137) in its totality corresponds to the body egoic of a human being, to the causal body with its seven great [Page 383] cycles mentioned elsewhere in these pages, and hinted at in certain occult books.

Một dãy, (137) trong tính toàn thể của nó tương ứng với thể chân ngã của một con người, với thể nguyên nhân cùng bảy chu kỳ lớn của nó [Page 383] được nhắc đến ở nơi khác trong những trang này, và được ám chỉ trong một số sách huyền bí học.

(137) Chain—a series of seven globes or worlds which form the field of evolution during the planetary cycle or manvantara. The first three of these globes—generally known as A., B. and C. form a descending arc, the densest physical matter of the descent being reached in the fourth globe, D, of which our earth is an instance. The fifth globe, E, on the ascending arc (correspondence to C on the descending arc) usually belongs to the astral plane, and the sixth and seventh F and G (correspondence to B and A on the descending arc) to the Rupa and Arupa levels of the mental plane; these therefore are invisible to ordinary sight. (back)

(137) Dãy—một chuỗi gồm bảy bầu hành tinh hay thế giới tạo thành trường tiến hoá trong chu kỳ hành tinh hay giai kỳ sinh hóa. Ba bầu hành tinh đầu tiên này—thường được biết là A., B. và C.—tạo thành vòng cung đi xuống, vật chất hồng trần đậm đặc nhất của sự đi xuống đạt đến ở bầu hành tinh thứ tư, D, mà Trái Đất chúng ta là một ví dụ. Bầu hành tinh thứ năm, E, trên vòng cung đi lên (tương ứng với C trên vòng cung đi xuống) thường thuộc cõi cảm dục, và bầu thứ sáu và thứ bảy F và G (tương ứng với B và A trên vòng cung đi xuống) thuộc các cấp độ Rupa và Arupa của cõi trí; vì vậy chúng vô hình đối với thị giác thông thường. (back)

A globe, with its seven races corresponds to a particular series of incarnations in connection with a man, incarnate or discarnate, for all globes are not on physical levels.

Một bầu hành tinh, với bảy nhân loại của nó, tương ứng với một chuỗi lâm phàm đặc thù liên hệ với một con người, đang lâm phàm hay không lâm phàm, vì không phải mọi bầu hành tinh đều ở các cấp độ hồng trần.

A physical globe, in a chain corresponds to a particular physical incarnation of a man. The planetary Logos takes physical form in His planet and is its life and works out His purposes.

Một bầu hành tinh hồng trần, trong một dãy tương ứng với một lần lâm phàm hồng trần đặc thù của một con người. Hành Tinh Thượng đế mang hình tướng hồng trần trong hành tinh của Ngài và là sự sống của nó, đồng thời thực hiện các mục đích của Ngài.

A root-race, simply is analogous to the “seven parts” (as Shakespeare phrases it) as played by the midget, man. In a root-race a Heavenly Man is simply living out His life, working through some experience in the great work of developing buddhi or corporate action, (for buddhi is the unifying principle of groups) and, in the process of experiencing and developing, He sweeps into His vibratory capacity all the cells in His body. In the case of a human being the cells in his body (the material cells) are involutionary lives, animated by the third Logos, co-operating with the second Logos. In the case of a planetary Logos, the cells in His body are evolutionary lives (deva and human units) animated by the life of the second Logos, co-operating with the first Logos, and utilising the activities of the third Logos for purposes of manifesting.

Một giống dân gốc, đơn giản là tương tự với “bảy phần” (như Shakespeare diễn đạt) do con người tí hon đảm nhiệm. Trong một giống dân gốc, một Đấng Thiên Nhân đơn giản là đang sống trọn đời sống của Ngài, đang trải qua một kinh nghiệm nào đó trong công việc lớn lao là phát triển Bồ đề hay hoạt động tập thể, (vì Bồ đề là nguyên khí hợp nhất của các nhóm) và, trong tiến trình kinh nghiệm và phát triển, Ngài cuốn vào năng lực rung động của Ngài tất cả các tế bào trong thể Ngài. Trong trường hợp con người, các tế bào trong thể y (các tế bào vật chất) là các sự sống giáng hạ tiến hoá, được linh hoạt bởi Thượng đế thứ ba, hợp tác với Thượng đế thứ hai. Trong trường hợp một Hành Tinh Thượng đế, các tế bào trong thể Ngài là các sự sống thăng thượng tiến hoá (các đơn vị thiên thần và nhân loại) được linh hoạt bởi sự sống của Thượng đế thứ hai, hợp tác với Thượng đế thứ nhất, và sử dụng các hoạt động của Thượng đế thứ ba cho các mục đích biểu hiện.

Having pointed out these things, the place the Earth chain and globe play in the evolution of the planetary Logos of the Earth scheme should be clearer to the student.

Sau khi đã chỉ ra những điều này, vị trí mà Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh Địa Cầu đảm nhiệm trong sự tiến hoá của Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu hẳn sẽ rõ ràng hơn đối với đạo sinh.

The wheel turns, and in its turning sweeps into objectivity one of its seven globes, or brings into manifestation on the physical plane that great Entity Whose life animates the whole scheme. It must be borne in mind that just as man is handicapped by his physical body, [Page 384] and finds himself unable to express through it the entire content of his egoicconsciousness, so a Heavenly Man, when taking to Himself a dense physical vehicle in any particular chain, is also handicapped, and is unable to express in perfection on the globe the full beauty of His Life or the splendour of His manifesting Consciousness.

Bánh xe quay, và trong sự quay của nó cuốn một trong bảy bầu hành tinh của nó vào tính khách quan, hay đưa vào biểu hiện trên cõi hồng trần Thực Thể vĩ đại mà sự sống của Ngài linh hoạt toàn bộ hệ hành tinh. Phải ghi nhớ rằng cũng như con người bị hạn chế bởi thể xác của mình, [Page 384] và thấy mình không thể biểu lộ qua nó toàn bộ nội dung của tâm thức chân ngã của mình, thì một Đấng Thiên Nhân, khi mang cho mình một vận cụ hồng trần đậm đặc trong một dãy đặc thù nào đó, cũng bị hạn chế, và không thể biểu lộ một cách hoàn hảo trên bầu hành tinh vẻ đẹp trọn vẹn của Sự sống Ngài hay sự huy hoàng của Tâm thức đang biểu lộ của Ngài.

It might here be stated in connection with the planetary Logos of our scheme that:

Ở đây có thể nói liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta rằng:

a. He is in physical incarnation.

a. Ngài đang lâm phàm hồng trần.

b. He is midway through His career upon the cosmic Path of Initiation, and consequently is to take the fourth Initiation in this chain. Well may this globe, therefore, be considered the globe of sorrow and of pain, for through it our planetary Logos is undergoing that which the mystic calls “the Crucifixion.”

b. Ngài đang ở giữa chặng đường sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ, và do đó sẽ nhận lần điểm đạo thứ tư trong dãy này. Vì vậy, bầu hành tinh này hoàn toàn có thể được xem là bầu hành tinh của đau buồn và đau đớn, vì qua nó Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua điều mà nhà thần bí gọi là “Sự Đóng Đinh.”

c. The cells in His body—those cells through which He feels, and senses, and experiences,—are, in this world period, rent by pain and suffering, for His is the consciousness at the centre of the Body, and theirs is the capacity to suffer, so that by means of them He may learn the meaning of systemic dispassion, be dissociated from all forms and material substance, and upon the cross of matter eventually find liberation and the freedom of the Spirit.

c. Các tế bào trong thể Ngài—những tế bào mà qua đó Ngài cảm nhận, tri giác và kinh nghiệm,—trong thời kỳ thế giới này đang bị xé rách bởi đau đớn và khổ đau, vì của Ngài là tâm thức ở trung tâm của Thể, còn của chúng là năng lực chịu đau khổ, để nhờ chúng Ngài có thể học được ý nghĩa của sự vô chấp hệ thống, được tách rời khỏi mọi hình tướng và chất liệu vật chất, và trên thập giá của vật chất cuối cùng tìm thấy sự giải thoát và tự do của tinh thần.

The same equally can be predicated of a solar Logos with the following interesting sequence carefully borne in mind:

Điều tương tự cũng có thể được khẳng định đối với một Thái dương Thượng đế, với chuỗi kế tiếp thú vị sau đây cần được ghi nhớ cẩn thận:

The solar Logos has for objective nine initiations, the third cosmic Initiation being His goal.

Thái dương Thượng đế có chín điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là đích đến của Ngài.

Our planetary Logos has for objective seven initiations, the second cosmic Initiation being His goal.

Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có bảy điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ hai là đích đến của Ngài.

Man has for objective five initiations, the first cosmic Initiation being his goal. [Page 385]

Con người có năm điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất là đích đến của y. [Page 385]

cosmic-fire-s4-04.png

[Page 386] If we link this up with that earlier imparted concerning initiation and the sun Sirius, we will have a clue to the triple cosmic Path.

[Page 386] Nếu chúng ta liên kết điều này với những gì đã được truyền đạt trước đây liên quan đến điểm đạo và mặt trời Sirius, chúng ta sẽ có một đầu mối cho Con Đường vũ trụ tam phân.

b. The Fourth Kingdom and the Hierarchy of the Planet. Certain facts have already been grasped and realised by the average occult student who has been pondering this teaching with care. He is aware that the juncture of Spirit-matter and mind, or manas, was effected during the third root-race, and that the definitely human family became present upon earth from that date. He knows that this was brought about by the coming, in bodily Presence, of certain great Entities, and he has learned that these Entities came from the Venusian chain, that They achieved the necessary juncture, undertook the government of the planet, founded the occult Hierarchy, and that—though some remain with the chain—the remainder have returned to Their originating source. This in many ways sums up the totality of the present knowledge. Let us briefly enlarge upon it, correct certain erroneous interpretations, and ascertain one or two new facts. We might tabulate these as follows:

b. Giới thứ tư và Thánh Đoàn của hành tinh. Một số sự kiện đã được đạo sinh huyền bí học trung bình, người đã suy ngẫm cẩn thận giáo huấn này, nắm bắt và chứng nghiệm. Y biết rằng sự tiếp giáp của tinh thần-vật chất và trí tuệ, hay manas, đã được thực hiện trong giống dân gốc thứ ba, và rằng gia đình nhân loại theo nghĩa xác định đã hiện diện trên trái đất từ thời điểm đó. Y biết rằng điều này được mang lại bởi sự đến, trong Hiện Diện có hình thể, của một số Thực Thể vĩ đại, và y đã học rằng các Thực Thể này đến từ dãy Kim tinh, rằng Các Ngài đã thực hiện sự tiếp giáp cần thiết, đảm nhận việc cai quản hành tinh, sáng lập Thánh Đoàn huyền bí học, và rằng—dù một số vẫn ở lại với dãy—phần còn lại đã trở về nguồn gốc xuất phát của Các Ngài. Điều này theo nhiều cách tóm lược toàn bộ tri thức hiện nay. Chúng ta hãy ngắn gọn khai triển thêm về nó, chỉnh lại một số cách giải thích sai lầm, và xác định một hoặc hai sự kiện mới. Chúng ta có thể lập bảng những điều này như sau:

First, it should be borne in mind by the occult student that:

Thứ nhất, đạo sinh huyền bí học cần ghi nhớ rằng:

a. This advent signalised the taking of a physical vehicle by the planetary Logos, and was literally the coming of the Avatar.

a. Sự giáng lâm này báo hiệu việc Hành Tinh Thượng đế mang một vận cụ hồng trần, và theo nghĩa đen là sự đến của Đấng Hoá Thân.

b. That this advent was brought about by a definite systemic alignment which involved:

b. Sự giáng lâm này được mang lại bởi một sự chỉnh hợp hệ thống xác định, bao gồm:

The Venus scheme of the system.

Hệ hành tinh Sao Kim của hệ thống.

The Venus chain of the Earth scheme.

Dãy Sao Kim của hệ hành tinh Địa Cầu.

The Venus globe of the Earth chain.

Bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Địa Cầu.

c. That the planetary Logos did not come from the Venus scheme but from the Venus chain of His own scheme, the Earth scheme. Owing to systemic [Page 387] alignment logoic kundalini could flow through a certain triangle of which two points were Venus and the Earth. This caused an acceleration of vibration, and enabled the Heavenly Man of our scheme to take a minor initiation, and to set about His preparations for a major initiation.

c. Hành Tinh Thượng đế không đến từ hệ hành tinh Sao Kim mà từ dãy Sao Kim của chính hệ hành tinh Ngài, tức hệ hành tinh Địa Cầu. Do sự chỉnh hợp hệ thống [Page 387] nên kundalini của Thượng đế có thể chảy qua một tam giác nào đó mà hai điểm là Sao Kim và Trái Đất. Điều này gây ra sự gia tốc rung động, và giúp Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, và bắt đầu các chuẩn bị của Ngài cho một điểm đạo lớn.

Next, it should also be remembered that in considering this matter we must be careful to view it not only as it affects our own globe and its present humanity, but from the systemic and cosmic point of view, or from the angle of its importance to a planetary Logos and a solar Logos. Hence it is a fact that this event was not only the result of the taking of a minor initiation by our Earth Logos, but in the Venus scheme it was signalised by the taking of a major initiation by the Venusian planetary Logos on His fifth chain. In connection with a solar Logos it followed upon the stimulation of one of His centres and from the geometrical progression of the fire through the earlier mentioned Triangle.

Kế đến, cũng cần nhớ rằng khi xem xét vấn đề này, chúng ta phải cẩn thận nhìn nó không chỉ theo cách nó ảnh hưởng đến chính bầu hành tinh chúng ta và nhân loại hiện tại của nó, mà còn từ quan điểm hệ thống và vũ trụ, hay từ góc độ tầm quan trọng của nó đối với một Hành Tinh Thượng đế và một Thái dương Thượng đế. Vì thế, sự kiện này không chỉ là kết quả của việc Địa Cầu Thượng đế của chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, mà trong hệ hành tinh Sao Kim nó còn được báo hiệu bằng việc Hành Tinh Thượng đế Kim tinh nhận một điểm đạo lớn trên dãy thứ năm của Ngài. Liên hệ với một Thái dương Thượng đế, nó tiếp theo sau sự kích thích một trong các trung tâm của Ngài và từ sự tiến triển theo cấp số nhân của lửa qua Tam giác đã được nhắc đến trước đó.

It has been stated that one hundred and four Kumaras came from Venus to the Earth; literally the figure is one hundred and five, when the synthesising Unit, the Lord of the World Himself, is counted as one. There remain still with Him the three Buddhas of Activity. I would call attention to the dual significance of that name, “Buddha of Activity,” bearing out, as it does, the reality of the fact that Entities at Their stage of evolution are active love-wisdom and embody in Themselves the two aspects. The three Buddhas of activity have a correspondence to the three persons of the Trinity.

Đã có lời nói rằng một trăm lẻ bốn Kumara đã đến từ Sao Kim đến Trái Đất; theo nghĩa đen con số là một trăm lẻ năm, khi Đơn Vị tổng hợp, chính Đức Chúa Tể Thế Giới, được tính là một. Vẫn còn ở lại với Ngài là ba Đức Phật Hoạt Động. Tôi muốn lưu ý đến ý nghĩa nhị nguyên của danh xưng ấy, “Đức Phật Hoạt Động,” vì nó xác nhận tính chân thực của sự kiện rằng các Thực Thể ở giai đoạn tiến hoá của Các Ngài là Bác Ái – Minh Triết năng động và hiện thân trong chính Các Ngài hai phương diện ấy. Ba Đức Phật Hoạt Động có một sự tương ứng với ba ngôi của Tam Vị.

These Entities are divided into three groups of thirty-five each, and in Themselves embody the three major centres of the planetary Logos, those three groups which we know as the “three departments,” for it should be emphasised that each department forms a centre: [Page 388]

Các Thực Thể này được chia thành ba nhóm, mỗi nhóm ba mươi lăm vị, và trong chính Các Ngài hiện thân ba trung tâm chính của Hành Tinh Thượng đế, ba nhóm mà chúng ta biết là “ba ban”, vì cần nhấn mạnh rằng mỗi ban tạo thành một trung tâm: [Page 388]

a.

The Head centre

The Ruling Department

b.

The Heart centre

The Teaching Department

c.

The Throat centre

The Mahachohan’s Department. This centre synthesises the lesser four, just as the third Ray synthesises the minor four.

These Kumaras (or Their present substitutes) can also be divided into the seven groups which correspond to the seven Rays, and are in Themselves the life of the centre for which They stand. Fifteen, therefore, of these Entities (again the ten and the five) form a centre in the body of the planetary Logos, and the three Kumaras about Whom we are told (Who in Themselves are fivefold, making the fifteen) are the entifying Lives of the particular centre which is involved in the coming Initiation of the Heavenly Man, and to which the human units at this time, and during this greater cycle, belong.

Các Kumara này (hay những vị thay thế hiện tại của Các Ngài) cũng có thể được chia thành bảy nhóm tương ứng với bảy cung, và tự thân Các Ngài là sự sống của trung tâm mà Các Ngài đại diện. Vì vậy, mười lăm Thực Thể này (một lần nữa là mười và năm) tạo thành một trung tâm trong thể của Hành Tinh Thượng đế, và ba Kumara mà chúng ta được biết đến (Đấng tự thân là ngũ phân, thành ra mười lăm) là các Sự Sống phú thể của trung tâm đặc thù có liên quan đến cuộc điểm đạo sắp đến của Đấng Thiên Nhân, và là trung tâm mà các đơn vị nhân loại hiện nay, và trong đại chu kỳ này, thuộc về.

Another fact that should be noted about these great Beings is, that when viewed in Their seven groups, They form:

Một sự kiện khác cần lưu ý về các Đấng vĩ đại này là, khi được xem trong bảy nhóm của Các Ngài, Các Ngài tạo thành:

a. Focal points for the force or influence emanating from the other solar centres or schemes.

a. Các tiêu điểm cho mãnh lực hay ảnh hưởng phát ra từ các trung tâm thái dương hay các hệ hành tinh khác.

b. The seven divisions of the occult Hierarchy.

b. Bảy phân bộ của Thánh đoàn huyền bí.

They exist, as does the Heavenly Man Himself, in etheric matter, and are literally great Wheels, or centres of living Fire, manasic and electric fire; They vitalise the body of the Heavenly Man and hold all together as an objective whole. They make a planetary triangle within the chain, and each of Them vitalises one globe.

Các Ngài hiện hữu, cũng như chính Đấng Thiên Nhân, trong vật chất dĩ thái, và theo nghĩa đen là những Bánh Xe vĩ đại, hay những trung tâm của Lửa sống, lửa manas và Lửa Điện; Các Ngài tiếp sinh lực cho thể của Đấng Thiên Nhân và giữ mọi sự lại với nhau như một toàn thể khách quan. Các Ngài tạo thành một tam giác hành tinh bên trong dãy, và mỗi vị trong Các Ngài tiếp sinh lực cho một bầu hành tinh.

It is not permitted at this stage to state, for exoteric publication:

Ở giai đoạn này, không được phép công bố ra bên ngoài rằng:

Which Ray, or logoic emanation is embodied by our planetary Logos. [Page 389]

Cung nào, hay phát xạ logoi nào được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hiện thân. [Page 389]

Which centre in the solar system is called the Earth scheme.

Trung tâm nào trong hệ mặt trời được gọi là hệ Địa Cầu.

Which scheme is our polar opposite, or which Heavenly Man is most closely allied to ours.

Hệ hành tinh nào là đối cực của chúng ta, hay Đấng Thiên Nhân nào liên kết mật thiết nhất với Đấng của chúng ta.

Which particular centre in the body of the planetary Logos He is at present endeavouring to vitalise.

Trung tâm đặc thù nào trong thể của Hành Tinh Thượng đế mà hiện nay Ngài đang nỗ lực tiếp sinh lực.

These points are, as may be inferred, too dangerous to impart, and those students whose intuition suffices to attain the information will see for themselves the necessity for silence.

Như có thể suy ra, các điểm này quá nguy hiểm để truyền đạt, và những đạo sinh nào có trực giác đủ để đạt được thông tin ấy sẽ tự mình thấy được sự cần thiết của im lặng.

c. A Prophecy. We might now, prior to continuing with our subject, name the different chains of the Earth scheme. We must bear carefully in mind the fact that these are simply names, affixed to the chains and globes for the sake of clarity. As this subject is more widely studied it will inevitably be found advisable to call the chains by their numbers, and to drop the names as at present used:

c. Một lời tiên tri. Giờ đây, trước khi tiếp tục chủ đề của chúng ta, chúng ta có thể nêu tên các dãy khác nhau của hệ Địa Cầu. Chúng ta phải cẩn thận ghi nhớ sự kiện rằng đây chỉ đơn thuần là những tên gọi, được gán cho các dãy và các bầu hành tinh vì mục đích rõ ràng. Khi chủ đề này được nghiên cứu rộng rãi hơn, tất yếu sẽ thấy rằng nên gọi các dãy bằng số của chúng, và bỏ các tên hiện đang dùng:

1. Neptune.

1. Sao Hải Vương.

2. Venus.

2. Sao Kim.

3. Saturn.

3. Sao Thổ.

4. Earth.

4. Trái Đất.

5. Mercury.

5. Sao Thủy.

6. Mars.

6. Sao Hỏa.

7. Jupiter.

7. Sao Mộc.

It is necessary here to take the opportunity to sound a note of warning to students in connection with the charts which have been inserted in the Treatise.

Ở đây cần nhân cơ hội này để lên tiếng cảnh báo các đạo sinh liên quan đến các biểu đồ đã được đưa vào bộ Luận.

They depict only one cycle in logoic evolution, and cover only the present greater period in the working out of which we are engaged. They might be roughly described as embracing that period in the system which began for us in the middle of the third root-race of this round and continues until the period called “the Judgment” [Page 390] in the coming fifth round. When that time comes our planetary Logos will have attained the initiation which is His present goal; the fifth round of the Venusian scheme will be closing, and the Venus scheme will begin to pass into obscuration, preparatory to transferring her life to the synthesising planet with which she is connected; Mercury will be reaching the apotheosis of achievement, and with Mars and the Earth, will form a systemic triangle. We are speaking here of schemes and not of chains.

Chúng chỉ mô tả một chu kỳ trong tiến hoá logoi, và chỉ bao quát đại thời kỳ hiện tại mà chúng ta đang tham dự vào sự triển khai của nó. Có thể mô tả đại khái rằng chúng bao gồm thời kỳ trong hệ bắt đầu đối với chúng ta vào giữa giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn này và tiếp tục cho đến thời kỳ được gọi là “Phán Xét” [Page 390] trong cuộc tuần hoàn thứ năm sắp đến. Khi thời điểm ấy đến, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta sẽ đạt được điểm đạo vốn là mục tiêu hiện tại của Ngài; cuộc tuần hoàn thứ năm của hệ Sao Kim sẽ khép lại, và hệ Sao Kim sẽ bắt đầu đi vào sự lu mờ, để chuẩn bị chuyển sự sống của nó sang hành tinh tổng hợp mà nó có liên hệ; Sao Thủy sẽ đạt đến đỉnh cao thành tựu, và cùng với Sao Hỏa và Trái Đất, sẽ tạo thành một tam giác hệ thống. Ở đây chúng ta đang nói về các hệ hành tinh chứ không phải các dãy.

We must recognise another triangle within the Earth scheme, of the chains called “the Earth chain,” the Venus chain, and the Mercurian chain, but this triangle entirely concerns the centres of the planetary Logos of our scheme. A systemic formation of great importance in the next round should be pointed out which will bring three schemes:

Chúng ta phải nhận ra một tam giác khác bên trong hệ Địa Cầu, gồm các dãy được gọi là “dãy Địa Cầu”, dãy Sao Kim, và dãy Sao Thủy, nhưng tam giác này hoàn toàn liên quan đến các trung tâm của Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta. Cần chỉ ra một cấu trúc hệ thống rất quan trọng trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cấu trúc này sẽ đưa ba hệ hành tinh:

The Earth scheme,

Hệ Địa Cầu,

Mars,

Sao Hỏa,

Mercury,

Sao Thủy,

into such a position in relation to each other that the following results will eventuate:

vào một vị trí tương quan với nhau đến mức các kết quả sau đây sẽ xảy ra:

1. A systemic triangle will be formed.

1. Một tam giác hệ thống sẽ được hình thành.

2. Logoic kundalini will circulate freely between these three points.

2. kundalini logoi sẽ lưu chuyển tự do giữa ba điểm này.

3. A certain great logoic centre will be vitalised and the attention of logoic kundalini will pass from the present triangle in process of forming (the Earth, Venus, and a scheme whose name it is advisable to withhold) to the other.

3. Một trung tâm logoi vĩ đại nào đó sẽ được tiếp sinh lực và sự chú ý của kundalini logoi sẽ chuyển từ tam giác hiện đang trong tiến trình hình thành (Trái Đất, Sao Kim, và một hệ hành tinh mà nên giữ kín tên) sang tam giác kia.

4. An entirely new group of human beings will sweep into incarnation in our Earth scheme. Three fifths of the present humanity, being on the Probationary Path, or the Path of Initiation, at that time, will have their centre of consciousness definitely on the mental plane [Page 391] whilst two fifths will remain focussed on the astral. These two fifths will pass into temporary pralaya, preparatory to their transference to another scheme, as the Earth scheme will no longer provide for them an adequate place of nurture.

4. Một nhóm nhân loại hoàn toàn mới sẽ ào vào lâm phàm trong hệ Địa Cầu của chúng ta. Ba phần năm nhân loại hiện nay, vào thời điểm đó đang ở trên Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Điểm Đạo, sẽ có trung tâm tâm thức của họ dứt khoát ở trên cõi trí [Page 391] trong khi hai phần năm sẽ vẫn tập trung trên cõi cảm dục. Hai phần năm này sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên tạm thời, để chuẩn bị cho sự chuyển sang một hệ hành tinh khác, vì hệ Địa Cầu sẽ không còn cung cấp cho họ một nơi nuôi dưỡng thích hợp nữa.

5. Entities will come in from Mars to the Earth scheme, and will there find their necessary field of endeavour.

5. Các Thực Thể sẽ từ Sao Hỏa đi vào hệ Địa Cầu, và tại đó sẽ tìm thấy lĩnh vực nỗ lực cần thiết của họ.

6. Mercurian life will begin to synthesise, and to be transferred to its synthesising planet. In the case of Mercury this synthesising planet is not Saturn, but one of the other two higher major centres.

6. Sự sống Sao Thủy sẽ bắt đầu tổng hợp, và được chuyển sang hành tinh tổng hợp của nó. Trong trường hợp của Sao Thủy, hành tinh tổng hợp này không phải là Sao Thổ, mà là một trong hai trung tâm lớn cao hơn kia.

7. The “Judgment Day” in the fifth round, or the point of attainment of our Heavenly Man, will see a period of planetary strife on mental Ievels which will cause the present world unrest to seem as nothing. As pointed out earlier, this present struggle has been to test the ability of the entities within the present human forms to appreciate their mental forces, and through the power of MIND to transcend feeling, or pain. The struggle in the fifth round will be between higher and lower mind, and the battle ground will be the causal body. (138) The [Page 392] struggle now being waged on the planet is between a few Egos (or the leaders of the many races who are necessarily in place and position owing to their egoic polarisation) and many personalities, who are swept into the vortex through group association; it is necessarily terrific, and forces the destruction of the form. The struggle in the fifth round, being on mental levels, will be between Egos and egoic groups, each working consciously, and with intellectual application, to bring about certain group results. It will result in the triumph (the ultimate triumph) of Spirit over matter, in the driving out of certain groups as yet unable to shake themselves free from the trammels of matter, and who prefer captivity to the life of the Spirit; it will mark the beginning of the obscuration of our scheme, and the gradual passing into pralaya, during the remaining two and a half rounds of our entire seven chains. It is an interesting occult fact that our Earth should now be in her fifth round, and paralleling the Venusian scheme, but the moon chain of our scheme saw a period of temporary retardation of the evolutionary process of our Heavenly Man; it resulted in a temporary slowing down of His activities, and caused “lost time,” if such an expression might reverently be permitted. The Lords of the Dark Face, or the inherent forces of matter for a time achieved success, and only the fifth round of our chain will see their ultimate defeat. The Venusian scheme also had its battleground, but the planetary Logos of that scheme overcame the antagonistic forces, triumphed over material forms, and was consequently in a position—when the right time came—to apply the needed stimulation or an [Page 393] increased fiery vibration to our Earth scheme. The fact that outside aid was called in during the third root-race of this chain, and that the evolution of manas brought about the individualisation, in physical form, of the Avatar, needs to be pondered on. The Divine Manasaputra, the Lord of the World, took form Himself through the driving impulse of manas, inherent in His nature, and in some mysterious way this was aided by another Heavenly Man of another scheme. His co-operation was required.

7. “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm, hay điểm thành tựu của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, sẽ chứng kiến một thời kỳ xung đột hành tinh trên các cấp độ trí tuệ khiến tình trạng bất an thế giới hiện nay trở nên không đáng kể. Như đã chỉ ra trước đây, cuộc đấu tranh hiện nay nhằm thử nghiệm khả năng của các thực thể bên trong các hình tướng nhân loại hiện tại trong việc đánh giá các mãnh lực trí tuệ của họ, và nhờ quyền năng của TRÍ TUỆ mà vượt lên trên cảm giác, hay đau đớn. Cuộc đấu tranh trong cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ là giữa thượng trí và hạ trí, và chiến trường sẽ là thể nguyên nhân. (138) Cuộc[Page 392] đấu tranh hiện đang diễn ra trên hành tinh là giữa một số ít chân ngã (hay các lãnh đạo của nhiều nhân loại, những người tất yếu ở đúng chỗ và đúng vị trí do sự phân cực chân ngã của họ) và nhiều phàm ngã, những kẻ bị cuốn vào vòng xoáy qua sự liên kết nhóm; tất yếu nó rất khốc liệt, và buộc phải hủy diệt hình tướng. Cuộc đấu tranh trong cuộc tuần hoàn thứ năm, vì diễn ra trên các cấp độ trí tuệ, sẽ là giữa các chân ngã và các nhóm chân ngã, mỗi bên làm việc một cách hữu thức, và với sự vận dụng trí năng, để đem lại những kết quả nhóm nhất định. Nó sẽ dẫn đến sự chiến thắng (sự chiến thắng tối hậu) của tinh thần đối với vật chất, trong việc đẩy ra ngoài một số nhóm vẫn chưa thể tự giải thoát khỏi những trói buộc của vật chất, và những kẻ thích sự giam cầm hơn là sự sống của tinh thần; nó sẽ đánh dấu sự khởi đầu của sự lu mờ của hệ chúng ta, và sự dần dần đi vào giai kỳ qui nguyên, trong suốt hai cuộc tuần hoàn rưỡi còn lại của toàn bộ bảy dãy của chúng ta. Một sự kiện huyền bí thú vị là lẽ ra Trái Đất của chúng ta hiện nay phải ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, song song với hệ Sao Kim, nhưng dãy Mặt Trăng của hệ chúng ta đã chứng kiến một thời kỳ trì hoãn tạm thời trong tiến trình tiến hoá của Đấng Thiên Nhân của chúng ta; điều đó dẫn đến sự chậm lại tạm thời trong các hoạt động của Ngài, và gây ra “thời gian bị mất”, nếu có thể kính cẩn cho phép dùng cách nói như vậy. Các Đấng của Khuôn Mặt Tối, hay các mãnh lực cố hữu của vật chất, trong một thời gian đã đạt được thành công, và chỉ đến cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy chúng ta mới chứng kiến sự thất bại tối hậu của họ. Hệ Sao Kim cũng đã có chiến trường của nó, nhưng Hành Tinh Thượng đế của hệ ấy đã vượt qua các mãnh lực đối kháng, chiến thắng các hình tướng vật chất, và do đó ở vào vị thế—khi thời điểm thích hợp đến—để áp dụng sự kích thích cần thiết hay một rung động hỏa tính gia tăng cho hệ Địa Cầu của chúng ta. Sự kiện rằng viện trợ từ bên ngoài đã được kêu gọi trong giống dân gốc thứ ba của dãy này, và rằng sự tiến hoá của manas đã đem lại sự biệt ngã hóa, trong hình tướng hồng trần, của Đấng Hoá Thân, là điều cần được suy ngẫm. Đấng Manasaputra Thiêng Liêng, Đức Chúa Tể Thế Giới, đã tự mình mang lấy hình tướng qua xung lực thúc đẩy của manas vốn cố hữu trong bản chất của Ngài, và theo một cách huyền nhiệm nào đó điều này đã được trợ giúp bởi một Đấng Thiên Nhân khác của một hệ hành tinh khác. Sự hợp tác của Ngài là điều cần thiết.[Page 393]

(138) The Causal Body.

(138) Thể nguyên nhân.

“This influence or force, or result, or whatever it may be called, of the antecedent actions of man, forms as it were a seed, from which germinates the plant, yielding good or bad fruit, to be eaten by him during his subsequent existence. (Vishnu Purana I, XIX, 5). This seed is technically called the Karana Sarira, the causal body (Paingala Upanishad II), as it is the cause of man’s enjoyment or suffering. This Karana Sarira is composed of the fifth Kosa (Anandamaya) of man and adheres to the soul so long as the soul remains enveloped in the gross or subtle body (Sthula or Sukshma Sarira); and vanishes entirely when the soul extricates itself from the trammels of the said two bodies; for then, the soul attains its primeval purity, and burns up as it were every trace of its combination with the body, including this causal body (Karana Sarira). This happens when the soul is prepared for final emancipation, Moksha. Till then, of course, the Karana Sarira, the seed, the result of prior actions, remains effective, and asserts a strong controlling influence over man’s actions.”—The Theosophist, Vol. VII, III, p. 59.

“Ảnh hưởng hay mãnh lực này, hay kết quả này, hay bất cứ điều gì có thể gọi như thế, của các hành động trước đó của con người, tạo thành như một hạt giống, từ đó nảy mầm cây, sinh ra quả lành hay dữ, để y ăn trong đời sống tiếp theo của mình. (Vishnu Purana I, XIX, 5). Hạt giống này về mặt kỹ thuật được gọi là Karana Sarira, thể nguyên nhân (Paingala Upanishad II), vì nó là nguyên nhân của sự hưởng thụ hay đau khổ của con người. Karana Sarira này được cấu thành từ Kosa thứ năm (Anandamaya) của con người và bám theo linh hồn chừng nào linh hồn còn bị bao bọc trong thể thô hay thể vi tế (Sthula hay Sukshma Sarira); và hoàn toàn biến mất khi linh hồn tự giải thoát khỏi những trói buộc của hai thể nói trên; vì khi ấy, linh hồn đạt đến sự thanh khiết nguyên sơ của nó, và như thiêu hủy mọi dấu vết của sự kết hợp của nó với thể, kể cả thể nguyên nhân này (Karana Sarira). Điều này xảy ra khi linh hồn được chuẩn bị cho sự giải thoát cuối cùng, Moksha. Cho đến lúc đó, dĩ nhiên, Karana Sarira, hạt giống, kết quả của các hành động trước đó, vẫn còn hiệu lực, và khẳng định một ảnh hưởng kiểm soát mạnh mẽ lên các hành động của con người.”—The Theosophist, Tập VII, III, tr. 59.

“An ordinary person will by Vasana (Aroma or smell) repeat (In Jagra, the waking state) the old story dreamt in a dream that has passed way. So also will he, who, investigating the true nature of the self has attained to real knowledge, express himself and still will never become Chidabhasa (chidabhasa is the reflection of atma in the Karana Sarira, which is the vehicle of ignorance). He who has become a celestial being will nevertheless be called ‘man’ till the causal body that has already died (by the birth of Pragna, or wisdom) is completely consumed by the predominant fire of wisdom.”—Kaivalyanavanita, Part II, 31.

“Một người bình thường do Vasana (Hương hay mùi) sẽ lặp lại (trong Jagra, trạng thái thức) câu chuyện cũ đã mơ trong một giấc mơ đã qua. Cũng vậy, người nào, bằng cách khảo cứu bản chất chân thực của tự ngã, đã đạt đến tri thức chân chính, sẽ biểu lộ chính mình và vẫn sẽ không bao giờ trở thành Chidabhasa (chidabhasa là sự phản chiếu của atma trong Karana Sarira, vốn là vận cụ của vô minh). Người đã trở thành một thiên nhân tuy vậy vẫn sẽ được gọi là ‘người’ cho đến khi thể nguyên nhân đã chết rồi (do sự sinh ra của Pragna, hay minh triết) bị thiêu hủy hoàn toàn bởi ngọn lửa minh triết trội vượt.”—Kaivalyanavanita, Phần II, 31.

“By the rarest fire of True Wisdom the body of avidya (i.e. the causal body) will be reduced to ashes.”—Kaivalyanavanita, Part I, 98.

“Bởi ngọn lửa cực hiếm của Chân Minh Triết, thể của avidya (tức thể nguyên nhân) sẽ bị thiêu thành tro.”—Kaivalyanavanita, Phần I, 98.

Copied from The Theosophist, Vol. VIII. (back)

Sao chép từ The Theosophist, Tập VIII. (back)

d. Summation. We have been studying the origin of manas, and we saw first, that it is the active will, intelligently applied, of an Entity, and then that this active intelligent will affects all lesser lives in cyclic evolution within the Body of that particular actively willing Existence. This is true of all Beings from the Logos downwards. Perhaps in summing up it might be expressed thus:

d. Tổng kết. Chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của manas, và trước hết đã thấy rằng nó là ý chí hoạt động, được áp dụng một cách thông minh, của một Thực Thể, rồi sau đó thấy rằng ý chí thông minh hoạt động này tác động đến mọi sự sống nhỏ hơn trong tiến hoá theo chu kỳ bên trong Thể của Sự Tồn Tại có ý chí hoạt động đặc thù ấy. Điều này đúng với mọi Đấng từ Logos trở xuống. Có lẽ khi tổng kết có thể diễn đạt như sau:

The originating source of manasic activity in a solar system is that great cosmic Entity Who embodies our solar Logos as a centre in His Body along with six other solar Logoi Who are, in Their totality, His seven centres.

Nguồn gốc khởi phát của hoạt động manas trong một hệ mặt trời là Thực Thể vũ trụ vĩ đại đang hiện thân cho Thái dương Thượng đế của chúng ta như một trung tâm trong Thể của Ngài cùng với sáu Thái dương Thượng đế khác, những Đấng trong tổng thể của Các Ngài là bảy trung tâm của Ngài.

The originating source of manasic activity in the planetary schemes is that cosmic Entity we call the solar Logos. He is the active, directing Intelligence Who is working with definite purpose through His seven centres.

Nguồn gốc khởi phát của hoạt động manas trong các hệ hành tinh là Thực Thể vũ trụ mà chúng ta gọi là Thái dương Thượng đế. Ngài là Trí Tuệ hoạt động, chỉ đạo, đang làm việc với mục đích xác định qua bảy trung tâm của Ngài.

The originating source of the manasic principle in a planetary scheme is that lesser cosmic Entity Whom we call a planetary Logos. He works through His seven chains as does the Logos through His seven planetary centres. It is interesting here to note that when the solar Logos is being manasically impelled to work out some purpose of His greater Source (THE ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) He may cause a vivification in one or other of His centres according to the purpose in view. This occurred in the forming of the triangle of which Earth and Venus are two points, and (affecting [Page 394] the Heavenly Men of these two schemes) stimulated Them to take initiation, and led the planetary Logos of our scheme to form a lesser triangle within His sphere of activity, which triangle eventuated in His taking a lesser initiation, and in the manasic impregnation of animal man. Thus were swept into objective activity that group of monads who go to the composition of a particular centre.

Nguồn gốc khởi phát của nguyên khí manas trong một hệ hành tinh là Thực Thể vũ trụ nhỏ hơn mà chúng ta gọi là Hành Tinh Thượng đế. Ngài làm việc qua bảy dãy của Ngài cũng như Logos làm việc qua bảy trung tâm hành tinh của Ngài. Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng khi Thái dương Thượng đế đang được thúc đẩy một cách manas để thực hiện một mục đích nào đó của Nguồn Gốc lớn lao hơn của Ngài (ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ) thì Ngài có thể gây ra một sự làm sống động trong trung tâm này hay trung tâm khác của Ngài tùy theo mục đích được nhắm đến. Điều này đã xảy ra trong việc hình thành tam giác mà Trái Đất và Sao Kim là hai điểm, và (tác động đến [Page 394] các Đấng Thiên Nhân của hai hệ này) đã kích thích Các Ngài nhận điểm đạo, và dẫn Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta đến chỗ hình thành một tam giác nhỏ hơn bên trong khối cầu hoạt động của Ngài, tam giác này đã đưa đến việc Ngài nhận một điểm đạo nhỏ hơn, và đến sự thụ thai manas của người thú. Như thế, nhóm chân thần cấu thành một trung tâm đặc thù đã được cuốn vào hoạt động khách quan.

Similarly, and microcosmically, a human being is the manasic incentive and the origin of active, intelligent will to all the cells within his threefold body,—astral, mental and physical. His is the directing intelligence, and his the source of all action and endeavour within his periphery, and, like his greater corresponding spheres, a solar Logos and a planetary Logos, he works through seven centres.

Tương tự như vậy, và ở cấp vi mô, một con người là động lực manas và là nguồn gốc của ý chí hoạt động, thông minh đối với mọi tế bào bên trong thể tam phân của y,—cảm dục, trí tuệ và hồng trần. Y là trí tuệ chỉ đạo, và của y là nguồn gốc của mọi hành động và nỗ lực bên trong chu vi của y, và, giống như các khối cầu tương ứng lớn hơn của y, một Thái dương Thượng đế và một Hành Tinh Thượng đế, y làm việc qua bảy trung tâm.

Thus we have traced the origin of manas as far as it is possible to do at this time. The mystery of manas is hidden in existence itself, and holds the secret of life and conceals and veils those Entities Whose outstanding quality and characteristic it is. To the life of that little entity we call an atom in the physical body of a man, the Thinker in the causal body, his greater directing intelligence, is as obscure and unknown as the Logos is to the Thinker, Man, himself. The analogy is nevertheless accurate. (139) Man’s physical body, for instance, considering it [Page 395] as a corporate whole composed of many lesser lives, suffers or prospers as its directing Intelligence acts with wisdom-love or otherwise. The manasic principle actuates all that occurs within the man’s aura, and he suffers, or he makes progress, according to the application of that principle.

Như vậy, chúng ta đã truy nguyên nguồn gốc của manas xa đến mức có thể làm được vào lúc này. Huyền nhiệm của manas được che giấu trong chính sự tồn tại, và nắm giữ bí mật của sự sống, đồng thời che đậy và phủ màn những Thực Thể mà phẩm tính và đặc trưng nổi bật của Các Ngài chính là nó. Đối với sự sống của thực thể nhỏ bé mà chúng ta gọi là một nguyên tử trong thể xác của một con người, Nhà Tư Tưởng trong thể nguyên nhân, trí tuệ chỉ đạo lớn hơn của nó, cũng mờ tối và không được biết đến như Logos đối với chính Nhà Tư Tưởng là Con Người vậy. Tuy nhiên, sự tương đồng vẫn chính xác. (139) Chẳng hạn, thể xác của con người, nếu xét nó như một [Page 395] toàn thể hợp nhất gồm nhiều sự sống nhỏ hơn, sẽ chịu khổ hay hưng thịnh tùy theo Trí Tuệ chỉ đạo của nó hành động với bác ái-minh triết hay không. Nguyên khí manas thúc đẩy mọi điều xảy ra bên trong hào quang của con người, và y chịu khổ, hay tiến bộ, tùy theo sự áp dụng nguyên khí ấy.

(139) Forms.

(139) Các hình tướng.

The Atharva Veda, as the summation, instructs us in the principles which equally underlie the methods of the World-process, and of the atom-process—a world in miniature. Whether ‘World-process’ or ‘atom-process’ depends on the speaker and his point of view. As every mantra of this Veda reflects the operations of the World-process, so does it reveal to us cognition within cognition, memory within memory, power within power, world within world, fact within fact, action within action, duty within duty, sin within sin, individuality within individuality, ascending and descending from every point in space, endlessly, ceaselessly. Atoms make up molecules, molecules compounds, compounds cells, cells tissues, tissues organs, organs bodies, bodies communities; communities classes and races; classes and races kingdoms; kingdoms of many grades and varied linkings make up a planet, planets make up a solar system, solar systems a vaster system, and so on, unending; nowhere is found simplicity indivisible; nowhere complexity final. All is relative.—From Pranava-Vada, pp. 334-335. (back)

Bộ Atharva Veda, như một sự tổng kết, chỉ dạy cho chúng ta các nguyên lý vốn làm nền tảng như nhau cho các phương pháp của tiến trình thế giới và của tiến trình nguyên tử—một thế giới thu nhỏ. Là “tiến trình thế giới” hay “tiến trình nguyên tử” tùy thuộc vào người nói và quan điểm của người ấy. Cũng như mỗi mantra của bộ Veda này phản ánh các hoạt động của tiến trình thế giới, nó cũng mặc khải cho chúng ta nhận thức trong nhận thức, ký ức trong ký ức, quyền năng trong quyền năng, thế giới trong thế giới, sự kiện trong sự kiện, hành động trong hành động, bổn phận trong bổn phận, tội lỗi trong tội lỗi, cá thể tính trong cá thể tính, đi lên và đi xuống từ mọi điểm trong không gian, vô tận, không ngừng. Các nguyên tử tạo thành phân tử, các phân tử tạo thành hợp chất, các hợp chất tạo thành tế bào, các tế bào tạo thành mô, các mô tạo thành cơ quan, các cơ quan tạo thành thể, các thể tạo thành cộng đồng; các cộng đồng tạo thành giai cấp và nhân loại; các giai cấp và nhân loại tạo thành các giới; các giới với nhiều cấp độ và những mối liên kết đa dạng tạo thành một hành tinh, các hành tinh tạo thành một hệ mặt trời, các hệ mặt trời tạo thành một hệ thống rộng lớn hơn nữa, và cứ thế tiếp diễn, không cùng; không nơi nào tìm thấy sự đơn giản bất khả phân; không nơi nào có sự phức tạp tối hậu. Mọi sự đều tương đối.—Trích từ Pranava-Vada, tr. 334-335. (back)

So, reverently may the same be said of the body of the solar Logos, a system, and so may it be said of the planetary Logos and His scheme.

Vì vậy, với lòng kính cẩn, điều tương tự cũng có thể được nói về thể của Thái dương Thượng đế, một hệ thống, và cũng có thể nói như vậy về Hành Tinh Thượng đế và hệ hành tinh của Ngài.

II. THE POSITION OF MANAS

II. VỊ TRÍ CỦA MANAS

Manas and Karma.

Manas và nghiệp quả.

Manas and Karmic purpose

Manas và mục đích nghiệp quả

1. Manas and Karma.

1. Manas và nghiệp quả.

Having seen that manas is the intelligent purpose of some Being, working out in active objectivity, and having touched upon the inter-relation existing between certain of these Entities, it may now be possible to vision—even if somewhat cursorily and dimly—the true position of the manasic principle in all three cases. The whole mystery of this principle is hidden in two fundamentals:

Sau khi thấy rằng manas là mục đích thông minh của một Đấng nào đó, được triển khai trong tính khách quan hoạt động, và sau khi đã chạm đến mối tương liên hiện hữu giữa một số Thực Thể này, giờ đây có lẽ có thể hình dung—dù phần nào sơ lược và mờ nhạt—vị trí thực sự của nguyên khí manas trong cả ba trường hợp. Toàn bộ huyền nhiệm của nguyên khí này được che giấu trong hai điều căn bản:

The mystery of the resolution of the six-pointed star, into the five-pointed star. (140) (141)

Huyền nhiệm của sự phân giải ngôi sao sáu cánh thành ngôi sao năm cánh. (140) (141)

(140) It might be of interest to note the correspondences between these six forces and the “shaktis” of the Hindu philosophy. The Secret Doctrine says that:—

(140) Có lẽ sẽ thú vị nếu lưu ý các tương ứng giữa sáu mãnh lực này và các “shakti” của triết học Ấn Độ. Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:—

The Six are the six forces of Nature.

Sáu là sáu mãnh lực của Thiên Nhiên.

What are these six forces? See S. D., I, 312.

Sáu mãnh lực này là gì? Xem S. D., I, 312.

a. They are types of energy.

a. Chúng là các loại năng lượng.

b. They are the dynamic quality or characteristic of a planetary Logos.

b. Chúng là phẩm tính hay đặc trưng năng động của một Hành Tinh Thượng đế.

c. They are the life force of a Heavenly Man directed in a certain direction.

c. Chúng là sinh lực của một Đấng Thiên Nhân được hướng theo một phương hướng nhất định.

These “shaktis” are as follows:—

Các “shakti” này như sau:—

1. Parashakti—Literally, the supreme force, energy and radiation in and from substance.

1. Parashakti—Theo nghĩa đen, mãnh lực tối thượng, năng lượng và phát xạ trong và từ chất liệu.

2. Jnanashakti—The force of intellect or mind.

2. Jnanashakti—Mãnh lực của trí năng hay trí tuệ.

3. Ichchhashakti—The power of will, or force in producing manifestation.

3. Ichchhashakti—Quyền năng của ý chí, hay mãnh lực trong việc tạo ra biểu hiện.

4. Kriyashakti—The force which materialises the ideal.

4. Kriyashakti—Mãnh lực hiện hình lý tưởng.

5. Kundalini shakti—The force which adjusts internal relations to the external.

5. Kundalini shakti—Mãnh lực điều chỉnh các tương quan bên trong với bên ngoài.

6. Mantrikashakti—The force latent in sound, speech and music.

6. Mantrikashakti—Mãnh lực tiềm ẩn trong âm thanh, lời nói và âm nhạc.

These six are synthesised by their Primary, the Seventh. (back)

Sáu điều này được tổng hợp bởi Cội Nguồn của chúng, điều thứ Bảy. (back)

(141) The Secret Doctrine says that:—

(141) Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:—

It is on the Hierarchies and the correct number of these Entities that the mystery of the universe is built.

Chính trên các Huyền Giai và số lượng đúng đắn của các Thực Thể này mà huyền nhiệm của vũ trụ được xây dựng.

Ten–The line and the circle. The symbol of the Heavenly Men.—S. D., I, 117.

Mười–Đường thẳng và vòng tròn. Biểu tượng của các Đấng Thiên Nhân.—S. D., I, 117.

The ten are the arupa universe…. S. D., I, 125.

Mười là vũ trụ vô sắc…. S. D., I, 125.

The ten are manifested existence…. S. D., I, 467.

Mười là sự tồn tại biểu hiện…. S. D., I, 467.

The ten are sumtotal…. S. D., I. 428.

Mười là tổng thể…. S. D., I. 428.

Six—The six-pointed star. The subjective life and the objective form, overshadowed by Spirit.

Sáu—Ngôi sao sáu cánh. Sự sống chủ quan và hình tướng khách quan, được tinh thần phủ bóng.

The six are the six forces of nature…. S. D., I, 236.

Sáu là sáu mãnh lực của thiên nhiên…. S. D., I, 236.

The six Heavenly Men…. S. D., I, 402.

Sáu Đấng Thiên Nhân…. S. D., I, 402.

The six planes…. S. D., I, 236.

Sáu cõi…. S. D., I, 236.

Force or energy, matter or substance, and Spirit.

Mãnh lực hay năng lượng, vật chất hay chất liệu, và tinh thần.

The six are the double triangle…. S. D., I, 143.

Sáu là tam giác kép…. S. D., I, 143.

The six are the symbol of objectivity…. S. D., II, 625.

Sáu là biểu tượng của tính khách quan…. S. D., II, 625.

They are the deva aspect of manifestation…. S. D., I, 241.

Chúng là phương diện thiên thần của biểu hiện…. S. D., I, 241.

Five—This is the pentagon, the Makara, the five pointed Star. Compare S. D., I, 218, 219.

Năm—Đây là ngũ giác, Makara, Ngôi Sao năm cánh. So sánh S. D., I, 218, 219.

Five is the symbol of a planetary Logos…. S. D., II, 618.

Năm là biểu tượng của một Hành Tinh Thượng đế…. S. D., II, 618.

Five is the symbol of the microcosm…. S. D., II, 608.

Năm là biểu tượng của tiểu thiên địa…. S. D., II, 608.

Five is the symbol of creation…. S. D., II. 613.

Năm là biểu tượng của sáng tạo…. S. D., II. 613.

It is the second and the third Logos united in evolution.

Đó là Logos thứ hai và thứ ba hợp nhất trong tiến hoá.

In the merging of the five and the six you have the totality of manifestation, the male and female blended in the Divine Hermaphrodite. Summing up, S. D., I, 235-239. II, 610, 638.

Trong sự hòa nhập của năm và sáu, bạn có toàn thể biểu hiện, nam và nữ hòa trộn trong Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng. Tóm lại, S. D., I, 235-239. II, 610, 638.

The first order…. The essential Lives. Spirit. The Self.

Trật tự thứ nhất…. Các Sự Sống cốt yếu. Tinh thần. Bản Ngã.

The sixth order….The objective form. Matter. The Not-Self.

Trật tự thứ sáu…. Hình tướng khách quan. Vật chất. Phi-Ngã.

The fifth order…. Intelligence. Manas. The relation between

Trật tự thứ năm…. Trí tuệ. Manas. Mối liên hệ giữa

(back)

(back)

The mystery of the Lords of Karma, Who are, in themselves, the sole recipients of the Mind purposes [Page 396] of that cosmic ENTITY Who enfolds our solar Logos within His consciousness.

Huyền nhiệm của các Đấng Nghiệp Quả, những Đấng tự thân là những vị duy nhất tiếp nhận các mục đích của Trí Tuệ [Page 396] của THỰC THỂ vũ trụ đang bao hàm Thái dương Thượng đế của chúng ta trong tâm thức của Ngài.

When, therefore, the esoteric side of astrology, and of mystical geometry, has been studied, and alliance has been made between these two sciences, a flood of light will be thrown upon this matter of the intelligent principle; when the inner workings of the Law of Cause and Effect (the law whereby the Lipika Lords govern all Their action) is better comprehended, then—and then only—will the sons of men be able to study with profit the place of manas in the evolutionary scheme. At the present time it is not possible to do more than point out the direction of the path which must be trodden before this [Page 397] abstruse matter can be made clear, and to indicate certain lines of investigation which might (if strenuously and scientifically followed) yield to the student a rich reward of knowledge. Until the intuition is better developed in the average man, the very principle of manas itself forms a barrier to its due understanding.

Vì vậy, khi phương diện huyền bí của chiêm tinh học, và của hình học thần bí, được nghiên cứu, và khi sự liên kết được thiết lập giữa hai khoa học này, thì một luồng ánh sáng sẽ được rọi vào vấn đề nguyên khí thông minh này; khi các vận hành bên trong của Định luật Nhân Quả (định luật mà nhờ đó các Đấng Lipika cai quản mọi hành động của Các Ngài) được thấu hiểu tốt hơn, thì—và chỉ khi đó—những người con của nhân loại mới có thể nghiên cứu một cách hữu ích vị trí của manas trong hệ thống tiến hoá. Hiện nay, không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra phương hướng của con đường phải được bước đi trước khi vấn đề [Page 397] thâm áo này có thể được làm sáng tỏ, và nêu ra một số đường hướng khảo cứu mà có thể (nếu được theo đuổi một cách kiên trì và khoa học) sẽ đem lại cho đạo sinh một phần thưởng tri thức phong phú. Cho đến khi trực giác được phát triển tốt hơn nơi con người trung bình, chính nguyên khí manas tự nó tạo thành một rào cản đối với sự thấu hiểu đúng đắn về nó.

2. Manas and karmic purpose.

2. Manas và mục đích nghiệp quả.

If it is realised by the student that manas and intelligent purpose are practically synonymous terms, it will be immediately apparent that karma, and the activities of the Lipika Lords, will be involved in the matter. It will also be apparent that only as the lower mind is transmuted into the abstract or higher mind and from thence into the intuition, will man be able to understand the significance of manas. We may perhaps ask why this must be so. Surely it is because the abstract mind is the agent on cosmic levels whereby the Entity concerned formulates His plans and purposes. These plans and purposes (conceived of in the abstract mind) in due course of evolution crystallise into concrete form by means of the concrete mind. What we call the archetypal plane in connection with the Logos (the plane whereon He forms His ideals, His aspirations and His abstract conceptions) is the logoic correspondence to the atomic abstract levels of the mental plane, from whence are initiated the impulses and purposes of the Spirit in man,—those purposes which eventually force him into an objective form, thus paralleling logoic manifestation. First the abstract concept, then the medium provided for manifestation in form, and, finally, that form itself. Such is the process for Gods and for men, and in it is hidden the mystery of mind and of its place in evolution.

Nếu đạo sinh nhận ra rằng manas và mục đích thông minh thực tế là những thuật ngữ đồng nghĩa, thì ngay lập tức sẽ rõ rằng nghiệp quả, và các hoạt động của các Đấng Lipika, có liên quan đến vấn đề này. Cũng sẽ rõ rằng chỉ khi hạ trí được chuyển hoá thành trí trừu tượng hay thượng trí và từ đó thành trực giác, con người mới có thể thấu hiểu thâm nghĩa của manas. Có lẽ chúng ta có thể hỏi vì sao điều này phải như vậy. Chắc chắn là vì trí trừu tượng là tác nhân trên các cấp độ vũ trụ nhờ đó Thực Thể liên quan hoạch định các kế hoạch và mục đích của Ngài. Các kế hoạch và mục đích này (được hình thành trong trí trừu tượng) đến lượt mình trong tiến hoá sẽ kết tinh thành hình tướng cụ thể bằng phương tiện của trí cụ thể. Điều mà chúng ta gọi là cõi nguyên mẫu liên quan đến Logos (cõi mà trên đó Ngài hình thành các lý tưởng, các khát vọng và các quan niệm trừu tượng của Ngài) là tương ứng logoi với các cấp độ nguyên tử trừu tượng của cõi trí, từ đó các xung lực và mục đích của tinh thần trong con người được khởi phát,—những mục đích cuối cùng buộc y vào một hình tướng khách quan, do đó song hành với biểu hiện logoi. Trước hết là quan niệm trừu tượng, rồi đến môi trường được cung cấp cho sự biểu hiện trong hình tướng, và cuối cùng là chính hình tướng ấy. Đó là tiến trình đối với các Thượng đế và đối với con người, và trong đó ẩn giấu huyền nhiệm của trí tuệ và vị trí của nó trong tiến hoá.

For the sake of clarity, let us take the microcosm for momentary study. It should be realised by all students that man is Spirit or the Self, working through matter or [Page 398] the Not-Self, by means of the intelligence or manas, and it should also be realised that the statement of this fact (which is equally true of a solar Logos, a Heavenly Man, and a human being) involves the admission of certain deductions based on manifestation itself. One of these deductions is that by means of this principle of manas form is built. Therefore, the whole subject of the Builders has to be studied—those entities who are the embodiment of Universal Mind, who are the animating lives within the form, and who are the Divine Manasaputras in their comprehensive totality. In the occult realisation of this lies hid the secret of the close relationship between man and the deva evolution, man being the repository (through the Heavenly Man of Whose body he forms a part) of the purpose of the Logos, and the devas in all their higher grades being the cohesive attractive factor which manipulates matter, and which moulds it into shape. The two are partners, indispensable to each other, and without the two working in close co-operation this objective solar system would immediately disintegrate, just as man’s dense and etheric bodies disintegrate when the Spirit withdraws, and the Builders cease their work.

Vì mục đích làm sáng tỏ, hãy lấy tiểu thiên địa để nghiên cứu trong chốc lát. Mọi đạo sinh nên nhận ra rằng con người là tinh thần hay Bản Ngã, làm việc qua vật chất hay [Page 398] Phi-Ngã, bằng phương tiện của trí tuệ hay manas, và cũng nên nhận ra rằng việc phát biểu sự kiện này (điều đúng như nhau đối với một Thái dương Thượng đế, một Đấng Thiên Nhân, và một con người) bao hàm sự chấp nhận một số suy luận dựa trên chính biểu hiện. Một trong những suy luận này là bằng phương tiện nguyên khí manas, hình tướng được xây dựng. Vì vậy, toàn bộ chủ đề về các Đấng kiến tạo phải được nghiên cứu—những thực thể là hiện thân của Vũ Trụ Trí, là các sự sống linh hoạt bên trong hình tướng, và là các Manasaputra Thiêng Liêng trong tổng thể bao quát của các vị ấy. Chính trong sự chứng nghiệm huyền bí này ẩn giấu bí mật của mối liên hệ mật thiết giữa con người và tiến hoá thiên thần, con người là nơi lưu giữ (thông qua Đấng Thiên Nhân mà y là một phần trong thể của Ngài) mục đích của Logos, còn các thiên thần trong mọi cấp bậc cao hơn của họ là yếu tố hấp dẫn kết dính thao tác vật chất và nắn nó thành hình. Hai bên là những đối tác, không thể thiếu đối với nhau, và nếu không có cả hai cùng làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ thì hệ mặt trời khách quan này sẽ lập tức tan rã, cũng như các thể đậm đặc và dĩ thái của con người tan rã khi tinh thần rút lui, và các Đấng kiến tạo ngừng công việc của họ.

Three hierarchies in particular are concerned with objective manifestation in etheric matter, the fourth, or strictly human hierarchy, and the fifth and sixth or the deva hierarchies. The other hierarchies fulfill other purposes connected with the life of the Spirit in the higher forms in the cosmic ethers, but in connection with our present subject these three hierarchies work on the lower levels of the cosmic physical plane the subplanes of which we call the mental, astral, and physical planes. When the five and the four are perfectly blended, we shall have achieved the nine of a major initiation, and when the six is added we shall have the resolution into one of the groups embodied by a Kumara, as has been hinted earlier. [Page 399] This marks the resolution of the six-pointed star finally into the five-pointed star; this is a great mystery, and concerns primarily the Heavenly Man of our scheme, and only incidentally the groups within His body of etheric manifestation.

Đặc biệt có ba huyền giai liên quan đến biểu hiện khách quan trong vật chất dĩ thái, huyền giai thứ tư, hay nói chính xác là huyền giai nhân loại, và huyền giai thứ năm và thứ sáu, tức các huyền giai thiên thần. Các huyền giai khác hoàn thành những mục đích khác liên quan đến sự sống của tinh thần trong các hình tướng cao hơn trong các dĩ thái vũ trụ, nhưng liên quan đến chủ đề hiện tại của chúng ta, ba huyền giai này làm việc trên các cấp độ thấp của cõi hồng trần vũ trụ mà các cõi phụ của nó chúng ta gọi là cõi trí, cõi cảm dục, và cõi hồng trần. Khi năm và bốn được hòa trộn hoàn hảo, chúng ta sẽ đạt được số chín của một cuộc điểm đạo lớn, và khi sáu được thêm vào, chúng ta sẽ có sự phân giải thành một trong các nhóm được một Kumara hiện thân, như đã được ám chỉ trước đây. [Page 399] Điều này đánh dấu sự phân giải cuối cùng của ngôi sao sáu cánh thành ngôi sao năm cánh; đây là một huyền nhiệm lớn, và chủ yếu liên quan đến Đấng Thiên Nhân của hệ chúng ta, và chỉ gián tiếp liên quan đến các nhóm bên trong thể biểu hiện dĩ thái của Ngài.

It will, therefore, be apparent that if all manifestation is the embodiment in form of a cosmic conception, and the working out of it in concrete shape, manas or intelligence is a basic factor of the process and the means whereby the link is made between the abstract and the concrete. This is already realised to be true in connection with man, and it is equally true of cosmic entities. As man progresses towards the heart of the mystery he awakens to a realisation that the aim of evolution for him is to build consciously the channel between the levels which are to him the planes of the abstract or of the ideal, and the concrete ones whereon he normally functions. This connecting channel has been inadequately called, and is literally “THE PATH” itself. He builds it:

Vì vậy, sẽ rõ rằng nếu mọi biểu hiện là sự hiện thân trong hình tướng của một quan niệm vũ trụ, và là sự triển khai của nó trong hình dạng cụ thể, thì manas hay trí tuệ là một yếu tố nền tảng của tiến trình và là phương tiện nhờ đó mối liên kết được tạo ra giữa cái trừu tượng và cái cụ thể. Điều này đã được nhận ra là đúng liên quan đến con người, và cũng đúng như vậy đối với các thực thể vũ trụ. Khi con người tiến gần đến trung tâm của huyền nhiệm, y thức tỉnh đến một sự chứng nghiệm rằng mục tiêu của tiến hoá đối với y là xây dựng một cách hữu thức kênh nối giữa các cấp độ mà đối với y là các cõi của cái trừu tượng hay của lý tưởng, và các cõi cụ thể nơi y thường hoạt động. Kênh nối này đã được gọi một cách chưa đầy đủ, và theo nghĩa đen chính là “CON ĐƯỜNG”. Y xây dựng nó:

By means of the manasic principle consciously applied.

Bằng phương tiện nguyên khí manas được áp dụng một cách hữu thức.

By the process of transcending the karmic limitations of the three lower planes.

Bằng tiến trình vượt qua các giới hạn nghiệp quả của ba cõi thấp.

Through the method of dominating matter, or the Personality, considering it as the Not-Self.

Qua phương pháp chế ngự vật chất, hay Phàm ngã, khi xem nó là Phi-Ngã.

Through the expansion of his consciousness through graded steps until it includes the planes he seeks to reach, and thereby demonstrating the truth of the statement that in order to tread the Path he must become that Path itself, and the accuracy of the occult truth that the antaskarana is itself but illusion. Ponder on this, for it carries illumination for those who have eyes to see.

Qua sự mở rộng tâm thức của y theo các bước tuần tự cho đến khi nó bao gồm các cõi mà y tìm cách đạt đến, và nhờ đó chứng minh chân lý của phát biểu rằng để bước trên Con Đường, y phải trở thành chính Con Đường ấy, và tính chính xác của chân lý huyền bí rằng antaskarana tự nó chỉ là ảo tưởng. Hãy suy ngẫm về điều này, vì nó mang lại sự soi sáng cho những ai có mắt để thấy.

In the process of treading that Path and of achieving the goal, man is resolved into the five-pointed star, finally into the triangle of Spirit. Between these two stages is [Page 400] a mysterious esoteric stage wherein he is resolved into the four,—not this time the four of the lower quaternary, but a higher four. He becomes part of the consciousness of that occult group hinted at in various places which stands next to the three Logoi, the four great Maharajahs, the dispensers of karma, the repositories of cosmic purpose, who are reflected (but only reflected) in the logoic Quaternary, or in those four Heavenly Men Who embody (with their synthesising third) logoic manas. These four with the synthesising one are in Themselves the sumtotal of manas, the Brahma aspect, or Intelligence in activity. Karma works through manas, and only as the six-pointed star (or the sumtotal of concrete mind in its various divisions) becomes the five-pointed star, or the synthesis of the lower into the abstract or higher, is the transmutation into the three, or the Spiritual Triad, made possible via the four, or the formless repositories of karmic purpose; thus is liberation achieved, thus is man set free, and the microcosm attains BEING without the necessity of form-taking. A hint here in connection with the microcosm may help: When the microcosm has transcended the three worlds of matter and has become the five pointed star, he passes into the consciousness of the Monad, or pure Spirit, via the fourth plane of buddhi. For him the buddhic plane is the plane of karmic correspondence. On it he enters into the sphere of conscious co-operation in the working out of karma for a Heavenly Man, having completely worked out his personal karma in the lower three spheres. The student whose intuition suffices can work out the planes which correspond to the buddhic plane, for a Heavenly Man and for a solar Logos. This will only be possible if the concept is extended to cosmic levels and beyond the systemic.

Trong tiến trình bước trên Con Đường ấy và đạt đến mục tiêu, con người được phân giải thành ngôi sao năm cánh, và cuối cùng thành tam giác của tinh thần. Giữa hai giai đoạn này là [Page 400] một giai đoạn huyền bí nội môn, trong đó y được phân giải thành bốn,—lần này không phải là bốn của tứ phân thấp, mà là một bộ bốn cao hơn. Y trở thành một phần của tâm thức của nhóm huyền bí đã được ám chỉ ở nhiều nơi, nhóm đứng kế cận ba Logos, bốn Maharajah vĩ đại, những vị phân phối nghiệp quả, những vị lưu giữ mục đích vũ trụ, được phản chiếu (nhưng chỉ là phản chiếu) trong Bộ Tứ logoi, hay trong bốn Đấng Thiên Nhân hiện thân (cùng với vị thứ ba tổng hợp của Các Ngài) cho manas logoi. Bốn vị này cùng với vị tổng hợp là tự thân tổng thể của manas, phương diện Brahma, hay Trí Tuệ trong hoạt động. Nghiệp quả vận hành qua manas, và chỉ khi ngôi sao sáu cánh (hay tổng thể của trí cụ thể trong các phân bộ khác nhau của nó) trở thành ngôi sao năm cánh, hay sự tổng hợp của cái thấp vào cái trừu tượng hay cao hơn, thì sự chuyển hoá thành ba, hay Tam Nguyên Tinh Thần, mới trở nên khả hữu qua bốn, hay những nơi lưu giữ vô tướng của mục đích nghiệp quả; như thế sự giải thoát được đạt đến, như thế con người được giải phóng, và tiểu thiên địa đạt đến BẢN THỂ mà không cần phải mang lấy hình tướng. Một gợi ý ở đây liên quan đến tiểu thiên địa có thể hữu ích: Khi tiểu thiên địa đã vượt qua ba cõi giới của vật chất và đã trở thành ngôi sao năm cánh, y đi vào tâm thức của chân thần, hay tinh thần thuần túy, qua cõi thứ tư là cõi Bồ đề. Đối với y, cõi Bồ đề là cõi tương ứng nghiệp quả. Trên cõi ấy, y đi vào khối cầu hợp tác hữu thức trong việc triển khai nghiệp quả cho một Đấng Thiên Nhân, sau khi đã hoàn toàn giải quyết xong nghiệp quả cá nhân của mình trong ba khối cầu thấp. Đạo sinh nào có trực giác đủ sẽ có thể tự suy ra các cõi tương ứng với cõi Bồ đề đối với một Đấng Thiên Nhân và đối với một Thái dương Thượng đế. Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu khái niệm được mở rộng đến các cấp độ vũ trụ và vượt ra ngoài hệ thống.

Through the ideas here imparted it may be possible for the student to think out, for himself, some aspects of the [Page 401] place of manas in cosmic evolution. It necessitates a somewhat synthetic viewpoint, and the steady holding of the thought of PURPOSE in all activity, whether cosmic, systemic, planetary, or microcosmic. It is the fire of divine impulse permeating all forms and driving those forms to certain action and achievement.

Qua những ý tưởng được truyền đạt ở đây, có lẽ đạo sinh có thể tự mình suy nghĩ ra một số phương diện của [Page 401] vị trí của manas trong tiến hoá vũ trụ. Điều đó đòi hỏi một quan điểm tổng hợp phần nào, và sự giữ vững tư tưởng về MỤC ĐÍCH trong mọi hoạt động, dù là vũ trụ, hệ thống, hành tinh, hay vi mô. Đó là ngọn lửa của xung lực thiêng liêng thấm nhuần mọi hình tướng và thúc đẩy những hình tướng ấy đến một số hành động và thành tựu nhất định.

The fire of matter earlier dealt with is the dynamic fire of motion, which keeps in activity each atom of matter. The fire of mind is the coherent impulse and purpose, driving the forms (built up of active matter) in a specific direction, and along certain destined paths. It is consequently karmic impulse, originating cause, and operating will. It is likewise the result or the effect of this action in time, and only as the Triad comes into play, via the esoteric four, are the fires of both mind and matter burnt out and the fire of Spirit set free.

Ngọn lửa của vật chất đã được bàn đến trước đây là ngọn lửa năng động của chuyển động, giữ cho mỗi nguyên tử vật chất ở trong hoạt động. Lửa của trí tuệ là xung lực và mục đích kết dính, thúc đẩy các hình tướng (được xây dựng từ vật chất hoạt động) theo một hướng xác định, và dọc theo những con đường đã được định sẵn. Do đó, nó là xung lực nghiệp quả, nguyên nhân khởi phát, và ý chí đang vận hành. Nó cũng là kết quả hay hiệu quả của hành động này trong thời gian, và chỉ khi Tam nguyên tinh thần bắt đầu tác động, qua bộ bốn huyền bí, thì các ngọn lửa của cả trí tuệ lẫn vật chất mới bị đốt cạn và ngọn lửa của tinh thần được giải phóng.

III. THE PRESENT STAGE OF MANASIC DEVELOPMENT IN THE THREE GROUPS

III. GIAI ĐOẠN HIỆN NAY CỦA SỰ PHÁT TRIỂN MANAS TRONG BA NHÓM

In the Planets

Trong các hành tinh

In the System

Trong Hệ thống

On Earth

Trên Trái Đất

Literally, should we paraphrase this sentence, we might express it in the form of an enquiry as to the point attained in the active working out of the purposes of the great Entities involved in cosmic and systemic manifestation; we might also enquire if the intelligent will of the cosmic Logos and of the solar Logos and equally (within the system) of the different planetary Logoi, proceeded satisfactorily to a stage where it can be both appreciated and somewhat comprehended. These thoughts are involved in the consideration of this point, and open up for us much of very real interest. It should here be pointed out that the manasic principle (whether cosmic, systemic, or human) manifests in five ways, is transmuted into wisdom after its fivefold manifestation, and eventually is resolved into pure will or power. Herein lies the clue; all the objective display we see around us in connection with the Heavenly Men, and with the cells of Their bodies, [Page 402] lies hidden in this. Herein may be found the mystery of the five Kumaras, Who are awaiting the final resolution, and herein is secreted the knowledge of divine alchemy, which is based on the five elements, and is concerned with their transformation into a primal element through the medium of an intermediate stage.

Theo nghĩa đen, nếu diễn giải lại câu này, chúng ta có thể trình bày nó dưới hình thức một câu hỏi về điểm đã đạt được trong sự triển khai tích cực các mục đích của những Thực Thể vĩ đại liên hệ đến sự biểu hiện vũ trụ và hệ thống; chúng ta cũng có thể hỏi liệu ý chí trí tuệ của Thượng đế Vũ Trụ và của Thái dương Thượng đế, và cũng vậy (trong hệ thống) của các Hành Tinh Thượng đế khác nhau, đã tiến triển một cách thỏa đáng đến một giai đoạn mà nó có thể vừa được nhận biết vừa được phần nào thấu hiểu hay chưa. Những tư tưởng này hàm chứa trong việc xem xét điểm này, và mở ra cho chúng ta nhiều điều thật sự rất đáng quan tâm. Ở đây cần chỉ ra rằng nguyên khí manas (dù là vũ trụ, hệ thống hay nhân loại) biểu lộ theo năm cách, được chuyển hoá thành minh triết sau sự biểu lộ ngũ phân của nó, và cuối cùng được phân giải thành ý chí hay quyền năng thuần túy. Chính trong đó có đầu mối; toàn bộ sự phô bày khách quan mà chúng ta thấy xung quanh mình liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, và với các tế bào trong thể của Các Ngài, [Page 402] đều ẩn kín trong điều này. Chính trong đó có thể tìm thấy huyền nhiệm của năm Kumaras, Các Ngài đang chờ đợi sự phân giải cuối cùng, và chính trong đó cất giấu tri thức về thuật luyện kim thiêng liêng, vốn dựa trên năm nguyên tố, và liên quan đến sự chuyển hoá chúng thành một nguyên tố nguyên sơ thông qua một giai đoạn trung gian.

1. In the Planets.

1. Trong các Hành tinh.

Occult students need, in considering these points, to remember very clearly the distinction between transmutation and the final resolution; between the process of transforming the five elements, esoterically understood, and the final resolution of the transmuted essences into their synthesis. This has a vital bearing upon our subject, for resolution is as yet by no means possible, and the process of transmutation is only just beginning in the majority of cases. In studying these subjects we have necessarily to confine ourselves to the Heavenly Men, for the human units—as cells in Their body—are of course included in all that is posited about Them, and until it is known which cosmic Logos recognises our solar Logos as a centre in His body, and which six other systems are affiliated with ours, it will not be possible to touch upon the systemic stage of manasic development. But in connection with the Heavenly Men certain facts are possible of theoretical comprehension, even though not as yet demonstrable to the scientific mind. We will, as usual, tabulate our premises, and thus keep clearly in mind, and visualised, the points under investigation:

Các đạo sinh huyền bí học khi xem xét các điểm này cần phải ghi nhớ thật rõ sự phân biệt giữa chuyển hoá và sự phân giải cuối cùng; giữa tiến trình chuyển đổi năm nguyên tố, được hiểu theo nghĩa huyền bí, và sự phân giải cuối cùng của các tinh chất đã được chuyển hoá vào trong tổng hợp của chúng. Điều này có liên hệ thiết yếu đến chủ đề của chúng ta, vì sự phân giải hiện nay tuyệt nhiên chưa thể có được, và tiến trình chuyển hoá chỉ mới bắt đầu trong đa số trường hợp. Khi nghiên cứu các chủ đề này, tất yếu chúng ta phải giới hạn vào các Đấng Thiên Nhân, vì các đơn vị nhân loại—là những tế bào trong thể của Các Ngài—dĩ nhiên được bao hàm trong mọi điều được khẳng định về Các Ngài, và cho đến khi biết được vị Thượng đế Vũ Trụ nào nhìn nhận Thái dương Thượng đế của chúng ta như một trung tâm trong thể của Ngài, và sáu hệ thống nào khác liên kết với hệ thống của chúng ta, thì sẽ không thể đề cập đến giai đoạn hệ thống của sự phát triển manas. Nhưng liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, một số sự kiện có thể được thấu hiểu về mặt lý thuyết, dù hiện chưa thể chứng minh đối với trí tuệ khoa học. Như thường lệ, chúng ta sẽ liệt kê thành bảng các tiền đề của mình, và nhờ đó giữ rõ trong tâm trí, và hình dung, các điểm đang được khảo sát:

First. It might first be said that the third aspect, combined with the second, or Brahma and Vishnu allied, go to the totality of the Divine Manasaputras. They are Will utilising matter, or active intelligent substance, in order to demonstrate Love-Wisdom; all this is based on purpose, and has causation as a fundamental. This [Page 403] Brahma aspect is fivefold and, with the Vishnu aspect, makes the six, or the pentagon, having Mahadeva or Will in the centre of all manifestation.

Thứ nhất. Trước hết có thể nói rằng phương diện thứ ba, kết hợp với phương diện thứ hai, hay Brahma và Vishnu liên kết, tạo thành tổng thể của các Divine Manasaputras. Các Ngài là Ý chí sử dụng vật chất, hay chất liệu trí tuệ hoạt động, để biểu lộ Bác Ái – Minh Triết; tất cả điều này đều dựa trên mục đích, và lấy nguyên nhân tính làm nền tảng. Phương diện [Page 403] Brahma này là ngũ phân và, cùng với phương diện Vishnu, tạo thành số sáu, hay ngũ giác hình, với Mahadeva hay Ý chí ở trung tâm của mọi biểu hiện.

Second. This fivefold Brahma aspect or the five Kumaras, are in full manifestation, and, with the reflection of the other two aspects, make the seven of our manifested system.

Thứ hai. Phương diện Brahma ngũ phân này hay năm Kumaras, đang ở trong sự biểu hiện trọn vẹn, và cùng với sự phản chiếu của hai phương diện kia, tạo thành bảy của hệ thống biểu hiện của chúng ta.

Third. Mercury and Venus are in process of transmutation, and the manasic principle in both these schemes, having reached a high stage of development, is being transmuted into Love-Wisdom. When three fifths of the units (deva and human) that go to the composition of the vehicles of any planetary Logos are entering upon the Path, then the process of transmutation is entered upon. The faculty of MIND is then an instrument for creative use, and not the “slayer of the real,” and a barrier to the free life of the Spirit.

Thứ ba. Sao Thủy và Sao Kim đang trong tiến trình chuyển hoá, và nguyên khí manas trong cả hai hệ hành tinh này, do đã đạt đến một giai đoạn phát triển cao, đang được chuyển hoá thành Bác Ái – Minh Triết. Khi ba phần năm các đơn vị (thiên thần và nhân loại) cấu thành các vận cụ của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế nào bắt đầu bước vào Con Đường, thì tiến trình chuyển hoá được khởi sự. Khi ấy năng lực của TRÍ TUỆ trở thành một công cụ để sử dụng sáng tạo, chứ không phải là “kẻ sát hại cái thực,” và là một rào cản đối với sự sống tự do của tinh thần.

Again, it must be noted that Earth, Mars, Jupiter, Saturn, and Vulcan are as yet developing manas, and the stage achieved in each varies, and is not for exoteric publication. The Heavenly Men of these schemes have not yet succeeded in bringing Their bodies to the stage where transmutation on a large scale is possible. They are approaching it, and when the necessary three fifths is reached, then They will begin to transmute on a larger scale. The Earth scheme has about one fifth in process of transmutation in one or other of the globes at this time and Vulcan has very nearly two fifths.

Một lần nữa, cần lưu ý rằng Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, và Vulcan hiện vẫn đang phát triển manas, và giai đoạn đạt được trong mỗi hệ đều khác nhau, và không dành cho sự công bố ngoại môn. Các Đấng Thiên Nhân của các hệ này vẫn chưa thành công trong việc đưa các thể của Các Ngài đến giai đoạn mà sự chuyển hoá trên quy mô lớn là khả hữu. Các Ngài đang tiến gần đến đó, và khi đạt đến ba phần năm cần thiết, thì Các Ngài sẽ bắt đầu chuyển hoá trên quy mô lớn hơn. Hệ Địa Cầu hiện có khoảng một phần năm đang trong tiến trình chuyển hoá ở một hay nhiều bầu hành tinh vào lúc này và Vulcan có gần hai phần năm.

We might here point out that though we are concerned primarily with manas in the human cells in the body of a planetary Logos, yet we must remember that the deva units in some schemes preponderate. Although from the standpoint of a human being the devas are in no way considered as coming under the influence of manas, as we understand it, yet from another angle they are manas itself, the active creative force, the fifth and the sixth [Page 404] Hierarchies in full display. We should ponder upon the relationship (a necessarily close relationship) between the fifth deva Hierarchy and the fifth logoic principle, and we should also bear in mind that—viewing the whole matter from the angle of vision of a Heavenly Man—the devas are a corporate part of His nature, and He is a Manasaputra, a creative Builder, and the fivefold aspect of Brahma. The sumtotal of manas is pure deva essence, and it is only as union is made between this fivefold third aspect and the other two aspects that what we understand as MAN—whether Heavenly Man or human—comes into being. The devas are united with these other two factors and the result is:

Ở đây chúng ta có thể chỉ ra rằng dù chủ yếu chúng ta quan tâm đến manas trong các tế bào nhân loại trong thể của một Hành Tinh Thượng đế, tuy nhiên chúng ta phải nhớ rằng trong một số hệ, các đơn vị thiên thần chiếm ưu thế. Mặc dù từ quan điểm của một con người, các thiên thần tuyệt nhiên không được xem là chịu ảnh hưởng của manas như chúng ta hiểu, nhưng từ một góc độ khác, các thiên thần chính là manas tự thân, mãnh lực sáng tạo hoạt động, Huyền Giai thứ năm và thứ sáu [Page 404] biểu lộ trọn vẹn. Chúng ta nên suy ngẫm về mối liên hệ (một mối liên hệ tất yếu mật thiết) giữa Huyền Giai thiên thần thứ năm và nguyên khí logoi thứ năm, và chúng ta cũng nên ghi nhớ rằng—khi nhìn toàn bộ vấn đề từ góc nhìn của một Đấng Thiên Nhân—các thiên thần là một phần tập thể trong bản chất của Ngài, và Ngài là một Manasaputra, một đấng kiến tạo sáng tạo, và là phương diện ngũ phân của Brahma. Tổng thể của manas là tinh chất thiên thần thuần túy, và chỉ khi có sự hợp nhất giữa phương diện thứ ba ngũ phân này với hai phương diện kia thì điều mà chúng ta hiểu là CON NGƯỜI—dù là Đấng Thiên Nhân hay con người—mới đi vào hiện hữu. Các thiên thần được hợp nhất với hai yếu tố kia và kết quả là:

a. A solar Logos.

a. Một Thái dương Thượng đế.

b. A Heavenly Man.

b. Một Đấng Thiên Nhân.

c. A human being.

c. Một con người.

This is a great mystery and is allied to the mystery of electricity (or of fohatic life) which H. P. B. (S.D., I, 107) refers to. The Messengers, the Builders, the devas, are flaming fire, radiant electric matter, and only in time and space, only during manifestation and only through the cycles of objectivity, is such an entity as man possible, or can a Heavenly Man come into existence. Outside a solar ring-pass-not, for instance, and as far as our evolution is concerned, we have radiant electric substance, active, intelligent ether, ensouled by the deva evolution. (143) These [Page 405] work blindly and under the laws of cosmic electricity. (We must differentiate with care between cosmic electricity, and the electrical akasha of the system, which is electrical substance confined and brought under another set of laws through the instrumentality of another factor, that of pure Spirit.) Outside the ring-pass-not, we have that abstraction which we call pure Spirit. This “pure Spirit,” or abstract, conscious Being, through conscious karma periodically seeks to manifest, and wills to work out a purpose under the laws of Its Own being, and is thus impelled by the attractive quality of its opposite pole, intelligent substance, to blend with it. The meeting of these two polarities, and their point of merging, causes that flash in the cosmic universe which we call a sun, and results in light or objectivity. Within the ring-pass-not, therefore, the electric fire of pure Spirit can only manifest through merging or union with electrical substance, and is, therefore, during evolution and for the major portion of the process, limited by it. In fact, little as it is realised, the deva evolution controls for the greater portion of manifestation up to the beginning of the transmutative process. They build incessantly the confining form.

Đây là một huyền nhiệm lớn và có liên hệ với huyền nhiệm của điện lực (hay của sự sống fohat) mà H. P. B. (S.D., I, 107) đề cập đến. Các Sứ giả, các đấng kiến tạo, các thiên thần, là lửa rực cháy, là vật chất điện quang huy, và chỉ trong thời gian và không gian, chỉ trong thời kỳ biểu hiện và chỉ qua các chu kỳ khách quan, một thực thể như con người mới có thể có được, hay một Đấng Thiên Nhân mới có thể đi vào hiện hữu. Chẳng hạn, bên ngoài vòng-giới-hạn thái dương, và xét theo sự tiến hoá của chúng ta, chúng ta có chất liệu điện quang huy, dĩ thái hoạt động, trí tuệ, được phú linh bởi sự tiến hoá thiên thần. (143) Những thực thể này [Page 405] hoạt động một cách mù quáng và dưới các định luật điện lực vũ trụ. (Chúng ta phải phân biệt cẩn thận giữa điện lực vũ trụ, và akasha điện của hệ thống, vốn là chất liệu điện bị giới hạn và được đặt dưới một tập hợp định luật khác thông qua công cụ của một yếu tố khác, đó là tinh thần thuần túy.) Bên ngoài vòng-giới-hạn, chúng ta có sự trừu xuất mà chúng ta gọi là tinh thần thuần túy. “Tinh thần thuần túy” này, hay Hữu thể trừu tượng, hữu thức, qua nghiệp quả hữu thức, theo chu kỳ tìm cách biểu hiện, và muốn triển khai một mục đích dưới các định luật của Hữu thể riêng của Nó, và do đó bị thúc đẩy bởi phẩm tính hấp dẫn của cực đối nghịch của nó, chất liệu trí tuệ, để hòa trộn với nó. Sự gặp gỡ của hai cực tính này, và điểm hợp nhất của chúng, gây ra tia chớp trong vũ trụ mà chúng ta gọi là một mặt trời, và tạo ra ánh sáng hay tính khách quan. Vì vậy, bên trong vòng-giới-hạn, Lửa Điện của tinh thần thuần túy chỉ có thể biểu hiện qua sự hòa nhập hay hợp nhất với chất liệu điện, và do đó, trong tiến trình tiến hoá và trong phần lớn của tiến trình, bị nó giới hạn. Thật vậy, dù ít được nhận ra, sự tiến hoá thiên thần kiểm soát phần lớn thời kỳ biểu hiện cho đến khi bắt đầu tiến trình chuyển hoá. Các thiên thần không ngừng xây dựng hình tướng giam hãm.

(143) Pitris.

(143) Pitris.

“What I called spirituo-ideal constitution is what is known as swarga in our Sanscrit works and the entities that are functioning there are called the Pitris, which of course means fathers. These Pitris are often ‘heard of in a sort of antithetical way to the Devas in our puranas and this has led some of our Hindoos, many theosophists included, to think that the Pitris and Devas are in two distinct spheres of life. Now Pitris and Devas always exist together, the Devas giving the consciousness and the Pitris forming the body. The two are relative terms. If the Pitris be water the Devas are the fire in the water. If the Pitris be fire, the Devas are the flame in that fire. If the Pitris be the flame, the Devas are the conscious principle that actuates the flame’ and gives to the flame the power of illumining the world and making it exist as a factor of our consciousness. From the highest to the lowest plane of life, the Pitris furnish the objective aspect and the Devas the subjective aspect and life itself is a stream that forms the middle line….When instead of three lokas the cosmos is divided more accurately into seven lokas, you may assort the three higher lokas to the Devas, the three lower to the Pitris and the middle to the life stream which may be conceived as the point in which the Deva essence is changed into Pitric essence or the no loka is made fit to appear as a loka down below or the unmanifested becomes the manifested.”—Some Thoughts on the Gita, p. 56. (back)

“Điều mà tôi gọi là cấu tạo tinh thần-lý tưởng là điều được biết đến như swarga trong các tác phẩm Sanskrit của chúng tôi và các thực thể đang hoạt động ở đó được gọi là Pitris, dĩ nhiên có nghĩa là những người cha. Những Pitris này thường được ‘nghe nói đến theo một cách nào đó đối lập với các Devas trong các purana của chúng tôi và điều này đã khiến một số người Hindu của chúng tôi, kể cả nhiều nhà Thông Thiên Học, nghĩ rằng Pitris và Devas ở trong hai lĩnh vực sự sống riêng biệt. Nay Pitris và Devas luôn luôn tồn tại cùng nhau, các Devas ban cho tâm thức và các Pitris tạo thành thể. Hai từ này là những thuật ngữ tương đối. Nếu Pitris là nước thì Devas là lửa trong nước. Nếu Pitris là lửa, thì Devas là ngọn lửa trong lửa ấy. Nếu Pitris là ngọn lửa, thì Devas là nguyên khí hữu thức làm cho ngọn lửa hoạt động’ và ban cho ngọn lửa quyền năng soi sáng thế giới và khiến nó hiện hữu như một yếu tố trong tâm thức của chúng ta. Từ cõi cao nhất đến cõi thấp nhất của sự sống, Pitris cung cấp phương diện khách quan và Devas cung cấp phương diện chủ quan và chính sự sống là một dòng chảy tạo thành đường trung tuyến….Khi thay vì ba lokas mà vũ trụ được phân chia chính xác hơn thành bảy lokas, bạn có thể xếp ba lokas cao hơn cho Devas, ba lokas thấp hơn cho Pitris và loka ở giữa cho dòng sự sống, có thể được quan niệm như điểm mà tại đó tinh chất Deva được biến đổi thành tinh chất Pitric hay no loka được làm cho thích hợp để xuất hiện như một loka ở bên dưới hay cái không biểu hiện trở thành cái biểu hiện.”—Một vài suy tưởng về Gita, tr. 56. (trở lại)

When the process of transmutation is effected by the five Heavenly Men, then the whole system is reaching a very high stage of evolution, and with the two schemes which will be entering into the stage of obscuration, the resolving process will commence. The plan, viewed largely, will be as follows:

Khi tiến trình chuyển hoá được năm Đấng Thiên Nhân thực hiện, thì toàn bộ hệ thống đang đạt đến một giai đoạn tiến hoá rất cao, và cùng với hai hệ sẽ bước vào giai đoạn che khuất, tiến trình phân giải sẽ bắt đầu. Kế hoạch, xét trên đại thể, sẽ như sau:

The four schemes which form the logoic Quaternary [Page 406] will merge into their synthesising scheme, that of Saturn, while Venus and Mercury will merge into Uranus and Neptune. No importance need be attached to the sequence of these names. The dual fact is all that is necessary to grasp.

Bốn hệ tạo thành Bộ Tứ logoi [Page 406] sẽ hòa nhập vào hệ tổng hợp của chúng, là hệ Sao Thổ, trong khi Sao Kim và Sao Thủy sẽ hòa nhập vào Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương. Không cần gán tầm quan trọng nào cho trình tự của các tên gọi này. Sự kiện nhị nguyên là tất cả những gì cần nắm bắt.

Neptune, Uranus, and Saturn will, therefore, have absorbed the essence of manifestation and (in connection with the solar Logos) they correspond to the three permanent atoms in the causal body of a man. We say “correspond” for the analogy is not in detail. Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme.

Vì vậy, Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương, và Sao Thổ sẽ hấp thu tinh chất của sự biểu hiện và (liên quan đến Thái dương Thượng đế) chúng tương ứng với ba Nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân của một con người. Chúng tôi nói “tương ứng” vì phép loại suy không phải ở chi tiết. Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản chiếu của các nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ logoi. Sao Thổ thật ra là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoi. Đây là một huyền nhiệm huyền bí và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ vũ trụ.

Viewing manas as the vibratory activity of all atoms and narrowing our concept down to our own scheme it is interesting to note that some correspondences can be traced as we study this fifth principle during the present round, the fourth. The manasic principle is the basis of the coming into activity and the mental recognition of the following facts in nature.

Khi xem manas như hoạt động rung động của mọi nguyên tử và thu hẹp khái niệm của chúng ta vào hệ của chính mình, thật thú vị khi lưu ý rằng có thể truy ra một số tương ứng khi chúng ta nghiên cứu nguyên khí thứ năm này trong cuộc tuần hoàn hiện tại, cuộc tuần hoàn thứ tư. Nguyên khí manas là nền tảng cho sự đi vào hoạt động và sự nhận biết bằng trí tuệ về các sự kiện sau đây trong thiên nhiên.

The fifth spirilla within the atom of matter will become active. This fifth spirilla is beginning faintly to vibrate, while the fourth spirilla in this fourth round is assuming a vibration that will cause the intense vitalisation of the vehicles, and eventually bring about the shattering of the form, and the subsequent escape of the Spirit into a form composed of matter which responds to the vibration of the fifth spirilla.

Loa tuyến thứ năm trong nguyên tử vật chất sẽ trở nên hoạt động. Loa tuyến thứ năm này đang bắt đầu rung động mờ nhạt, trong khi loa tuyến thứ tư trong cuộc tuần hoàn thứ tư này đang đảm nhận một rung động sẽ gây ra sự tiếp sinh lực mãnh liệt cho các vận cụ, và cuối cùng mang lại sự tan vỡ của hình tướng, và sau đó là sự thoát ra của tinh thần vào một hình tướng được cấu thành bằng vật chất đáp ứng với rung động của loa tuyến thứ năm.

The fourth ether is coming into recognition, and along with it will come the knowledge of the lives which it embodies. Hence the success of spiritualistic endeavour, for the larger number of the average discarnate entities at this stage who are willing to make contact with the physical plane are clothed in matter of this ether. The devas [Page 407] of this ether will also come to be known before the end of this round, and alliance will be made between the fourth Creative Hierarchy of men, and the devas of the fourth ether.

Dĩ thái thứ tư đang được nhận biết, và cùng với nó sẽ đến tri thức về các sự sống mà nó bao hàm. Do đó mới có sự thành công của nỗ lực thần linh học, vì phần lớn các thực thể trung bình đã lìa xác ở giai đoạn này, những thực thể sẵn lòng tiếp xúc với cõi hồng trần, đều được bao bọc trong vật chất của dĩ thái này. Các thiên thần [Page 407] của dĩ thái này cũng sẽ được biết đến trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn này, và sẽ có sự liên minh giữa Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của nhân loại, và các thiên thần của dĩ thái thứ tư.

The fourth plane, the buddhic, by the aid of manas, will gradually be realised. This will be done as manas is transmuted into wisdom. By a few in this round the fifth principle will be superseded by the principle of buddhi. Right on from now till the middle of the next round there will be an overlapping of the four and the five—manas and the buddhic principle—thus making the nine, or perfected man, the initiate.

Cõi thứ tư, cõi Bồ đề, nhờ sự trợ giúp của manas, sẽ dần dần được chứng nghiệm. Điều này sẽ được thực hiện khi manas được chuyển hoá thành minh triết. Bởi một số ít trong cuộc tuần hoàn này, nguyên khí thứ năm sẽ được thay thế bởi nguyên khí buddhi. Từ nay cho đến giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ có sự chồng lấn của bốn và năm—manas và nguyên khí Bồ đề—do đó tạo thành chín, hay con người hoàn thiện, điểm đạo đồ.

It might also be remarked that more and more will the control of the fourth Kumara be evidenced and felt. On this I cannot enlarge, being only permitted to make the statement.

Cũng có thể nhận xét rằng sự kiểm soát của Kumara thứ tư sẽ ngày càng được biểu lộ và cảm nhận. Về điều này tôi không thể nói rộng hơn, vì chỉ được phép đưa ra lời phát biểu ấy.

The consciousness of the mass of the human family will gradually pass on to the fourth subplane of the mental plane, and be more and more controlled by purely concrete mind. Unless this is paralleled by a steady influx of egos on to the buddhic plane in conscious activity, and thus out of the control of manas pure and simple, a very serious condition will have to be handled by the Hierarchy.

Tâm thức của đại đa số gia đình nhân loại sẽ dần dần chuyển sang cõi phụ thứ tư của cõi trí, và ngày càng bị kiểm soát nhiều hơn bởi hạ trí thuần túy cụ thể. Trừ phi điều này được song hành bởi một dòng chảy đều đặn của các chân ngã lên cõi Bồ đề trong hoạt động hữu thức, và do đó thoát khỏi sự kiểm soát của manas thuần túy và đơn giản, thì Thánh đoàn sẽ phải xử lý một tình trạng rất nghiêm trọng.

The work of the four Maharajahs who apportion karma within the ring-pass-not will reach its culminating point during the fourth round. In the next round, the work of the Lipikas who handle affairs in connection with our system outside the ring-pass-not will become more prominent. This is necessarily so, as the Lipika Lords dispense the law to those who have merged themselves with their divine principle, and are no longer held by the material forms of the three worlds. The Lords of Karma, or the Maharajahs, work with the sons of men in the three worlds, and through manasic principle. [Page 408]

Công việc của bốn Maharajahs, những Đấng phân phối nghiệp quả trong vòng-giới-hạn, sẽ đạt đến đỉnh điểm trong cuộc tuần hoàn thứ tư. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, công việc của các Lipika, những Đấng xử lý các vấn đề liên quan đến hệ thống của chúng ta bên ngoài vòng-giới-hạn, sẽ trở nên nổi bật hơn. Điều này tất yếu là như vậy, vì các Chúa Tể Lipika ban hành định luật cho những ai đã hòa nhập chính mình với nguyên khí thiêng liêng của họ, và không còn bị giữ lại bởi các hình tướng vật chất của ba cõi giới. Các Chúa Tể Nghiệp Quả, hay các Maharajahs, làm việc với những người con của nhân loại trong ba cõi giới, và thông qua nguyên khí manas. [Page 408]

2. In the System.

2. Trong Hệ thống.

We have now for consideration some further points on the subject of manasic development within the system and then we can proceed to discuss the future of manas, our final subheading.

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét thêm một số điểm về chủ đề phát triển manas trong hệ thống và rồi có thể tiếp tục bàn đến tương lai của manas, tiểu mục cuối cùng của chúng ta.

It will be apparent to all of us that the vastness of the subject and the enormous cycles of time involved tend to obscurity and lack of definiteness. Only the high lights stand out, and only broad general concepts, and the impartation of fundamental facts (to the exclusion of detail) are in any way possible in this treatise. Certain ideas stand out clearly against the background of intricate plans, against the apparent confusion caused by the overlapping of cycles, both great and lesser, and against accumulation of chaotic detail. This apparent chaos, and even seeming contradiction, is the result of our imperfect evolution, the result of our entire lack of perspective incident upon our place in the planetary scheme, and the result of the shortness of our vision. Broad outstanding generalisations are all that we can appreciate at our present state, and they might be summed up as three in number:

Đối với tất cả chúng ta, hiển nhiên là tính bao la của chủ đề và những chu kỳ thời gian khổng lồ liên quan có khuynh hướng tạo ra sự mơ hồ và thiếu xác định. Chỉ những nét nổi bật mới hiện ra, và chỉ những khái niệm tổng quát rộng lớn, cùng với việc truyền đạt các sự kiện nền tảng (loại trừ chi tiết) mới có thể có được phần nào trong bộ luận này. Một số ý tưởng nổi bật rõ ràng trên nền của những kế hoạch phức tạp, trên nền của sự hỗn độn bề ngoài do sự chồng lấn của các chu kỳ, cả lớn lẫn nhỏ, và trên nền của sự tích tụ các chi tiết hỗn loạn. Sự hỗn loạn bề ngoài này, và ngay cả sự mâu thuẫn dường như có đó, là kết quả của sự tiến hoá bất toàn của chúng ta, kết quả của sự hoàn toàn thiếu viễn cảnh do vị trí của chúng ta trong hệ hành tinh, và kết quả của tầm nhìn ngắn ngủi của chúng ta. Những khái quát rộng lớn nổi bật là tất cả những gì chúng ta có thể nhận biết ở trạng thái hiện nay, và chúng có thể được tóm lại thành ba điểm:

Position or the place of the system within its greater whole, and the corporate nature of all manifestation. This involves the concept of:

Vị trí hay chỗ đứng của hệ thống trong toàn thể lớn hơn của nó, và bản chất tập thể của mọi biểu hiện. Điều này bao hàm khái niệm về:

A cosmic system, involving lesser systems and holding them together by the power of a unified life. (144)

Một hệ thống vũ trụ, bao gồm các hệ thống nhỏ hơn và giữ chúng lại với nhau bằng quyền năng của một sự sống hợp nhất. (144)

(144) Diversity from Unity.

(144) Tính đa dạng từ Hợp nhất.

“Now, according to the Adepts of ancient Aryavarta, seven principles are evolved out of these three primary entities. Algebra teaches us that the number of combinations of things, taken one at a time, two at a time, three at a time, and so forth = 2n – 1. Applying this formula to the present case, the number of entities evolved from different combinations of these three primary causes amount to 23 – 1 = 8 – 1 = 7. As a general rule whenever seven entities are mentioned in the ancient occult sciences of India in any connection whatsoever, you must suppose that these seven entities come into existence from three primary entities; and that these three entities, again, are evolved out of a single entity or Monad.”—The Theosophist, Vol. VIII, p 449. (back)

“Nay, theo các chân sư của Aryavarta cổ xưa, bảy nguyên khí được khai mở từ ba thực thể sơ khởi này. Đại số dạy chúng ta rằng số lượng các tổ hợp của các vật, lấy từng cái một, từng hai cái một, từng ba cái một, v.v. = 2n – 1. Áp dụng công thức này vào trường hợp hiện tại, số lượng các thực thể được khai mở từ những tổ hợp khác nhau của ba nguyên nhân sơ khởi này là 23 – 1 = 8 – 1 = 7. Theo quy luật chung, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong các khoa học huyền bí cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể này đi vào hiện hữu từ ba thực thể sơ khởi; và ba thực thể này, đến lượt chúng, lại được khai mở từ một thực thể duy nhất hay chân thần.”—The Theosophist, Tập VIII, tr. 449. (trở lại)

A solar system, a portion of that greater system of manifestation, [Page 409] equally involving lesser forms of objectivity, and holding them likewise unified by the power of its own life.

Một hệ mặt trời, là một phần của hệ thống biểu hiện lớn hơn ấy, [Page 409] cũng bao gồm các hình thức khách quan nhỏ hơn, và cũng giữ chúng hợp nhất bằng quyền năng của chính sự sống của nó.

A planetary scheme, or subdivision of that solar system. This likewise persists as a unit by itself, yet has no existence apart from other units.

Một hệ hành tinh, hay một phân bộ của hệ mặt trời ấy. Hệ này cũng tồn tại như một đơn vị tự thân, nhưng không có hiện hữu tách rời khỏi các đơn vị khác.

Groups or unified bodies within the scheme. These are again individualised, yet at the same time are a part of the greater whole.

Các nhóm hay các thể hợp nhất trong hệ. Chúng lại được biệt ngã hóa, nhưng đồng thời là một phần của toàn thể lớn hơn.

Congeries or aggregations of cells, the subdivisions of groups. These must be similarly interpreted.

Các tập hợp hay các kết tụ của những tế bào, là các phân bộ của các nhóm. Chúng cũng phải được giải thích tương tự.

The cells, or the individualised units, within the groups. Each of these is a conscious entity, yet each has no existence apart from its groups.

Các tế bào, hay các đơn vị biệt ngã hóa, trong các nhóm. Mỗi đơn vị này là một thực thể hữu thức, nhưng mỗi đơn vị không có hiện hữu tách rời khỏi các nhóm của nó.

Each of these divisions is characterised by:

Mỗi phân bộ này được đặc trưng bởi:

An ensouling life, which—as far as we are concerned, emanates from the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, Who ensouls the seven solar systems, down through the Lord of a solar system, through the cosmic Entities we call the Heavenly Men, and the solar Entities ensouling groups and through that peculiar central manifestation we call a human being to the little cell within the body of that human being, and the atom which is the basic material whereof all forms in all the kingdoms of nature are made.

Một sự sống phú linh, mà—xét theo chúng ta—xuất lộ từ Đấng Bất Khả Tư Nghị, Đấng phú linh cho bảy hệ mặt trời, đi xuống qua Chúa Tể của một hệ mặt trời, qua các Thực Thể vũ trụ mà chúng ta gọi là các Đấng Thiên Nhân, và các Thực Thể thái dương phú linh cho các nhóm, và qua biểu hiện trung tâm đặc thù mà chúng ta gọi là một con người đến tế bào nhỏ bé trong thể của con người ấy, và nguyên tử là vật chất cơ bản mà từ đó mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên được tạo thành.

Intelligent activity, or the display of purpose or manas, the fifth principle in every type of manifestation. This, as earlier pointed out, is the intelligent plan of the Entity concerned working out in time and space.

Hoạt động trí tuệ, hay sự biểu lộ mục đích hoặc manas, nguyên khí thứ năm trong mọi loại biểu hiện. Điều này, như đã chỉ ra trước đây, là Thiên Cơ trí tuệ của Thực Thể liên hệ đang triển khai trong thời gian và không gian.

Power to evolve or progress. This is literally the distinctive ability of the ensouling life within the form to progress intelligently from lower to higher forms of manifestation. This is above all the peculiar and perfected attribute of the fifth principle.

Quyền năng tiến hoá hay tiến bộ. Đây theo nghĩa đen là khả năng đặc thù của sự sống phú linh bên trong hình tướng để tiến triển một cách trí tuệ từ các hình thức biểu hiện thấp lên cao hơn. Trên hết, đây là thuộc tính đặc thù và hoàn thiện của nguyên khí thứ năm.

Capacity to cohere. This is the ability of all intelligent, active Lives during evolution to conform to the Law of Attraction and Repulsion, and thus form a conscious, intelligent part of a greater life. It is literally [Page 410] the transmutation of manas into wisdom. Though all that IS exists in form yet little is as yet brought under the intelligent control of the entity within the form. Only the Heavenly Men and Their superior embracing lives are consciously and intelligently working through and dominating the form, for only They, as yet, are perfected manas. Beneath them come many grades of consciousness. Man is gradually achieving that conscious control over matter in the three worlds which his divine Prototypes, the Heavenly Men, have already achieved. They are attaining a similar control on higher levels. Below man come many lives who are blind and unconscious of the congery or subdivision of which they form part. Thus can be seen, in general outline, the place of manas at the present stage.

Năng lực kết dính. Đây là khả năng của mọi Sự sống trí tuệ, hoạt động trong tiến hoá tuân theo Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, và nhờ đó tạo thành một phần hữu thức, trí tuệ của một sự sống lớn hơn. Theo nghĩa đen, đây là [Page 410] sự chuyển hoá manas thành minh triết. Dù mọi cái ĐANG HIỆN HỮU đều tồn tại trong hình tướng, nhưng hiện nay rất ít được đặt dưới sự kiểm soát trí tuệ của thực thể bên trong hình tướng. Chỉ các Đấng Thiên Nhân và các sự sống bao trùm cao hơn của Các Ngài mới đang làm việc một cách hữu thức và trí tuệ xuyên qua và chi phối hình tướng, vì chỉ Các Ngài, hiện nay, mới là manas hoàn thiện. Bên dưới Các Ngài là nhiều cấp độ tâm thức. Con người đang dần đạt được sự kiểm soát hữu thức ấy đối với vật chất trong ba cõi giới mà các Nguyên Mẫu thiêng liêng của y, các Đấng Thiên Nhân, đã đạt được rồi. Các Ngài đang đạt đến một sự kiểm soát tương tự trên các cấp độ cao hơn. Bên dưới con người là nhiều sự sống mù quáng và không ý thức về tập hợp hay phân bộ mà chúng tạo thành một phần. Như vậy có thể thấy, trong nét đại cương, vị trí của manas ở giai đoạn hiện nay.

Relation. Another outstanding feature that is the result of our studies is that of relation. The realisation of this in future years will lead to the study of the different polarities of the different spheres (from a planetary scheme to an atom) within the solar ring-pass-not, and of the relation existing between:

Tương quan. Một đặc điểm nổi bật khác là kết quả từ các nghiên cứu của chúng ta là tương quan. Sự chứng nghiệm điều này trong những năm tương lai sẽ dẫn đến việc nghiên cứu các cực tính khác nhau của các khối cầu khác nhau (từ một hệ hành tinh đến một nguyên tử) trong vòng-giới-hạn thái dương, và của mối tương quan hiện hữu giữa:

a. A scheme and the totality of schemes.

a. Một hệ và tổng thể các hệ.

b. Scheme and scheme.

b. Hệ này và hệ kia.

c. Chain and chain.

c. Dãy này và dãy kia.

d. Globe and globe.

d. Bầu hành tinh này và bầu hành tinh kia.

e. Group and group.

e. Nhóm này và nhóm kia.

f. Subdivision and subdivision.

f. Phân bộ này và phân bộ kia.

g. Unit and unit. (145)

g. Đơn vị này và đơn vị kia. (145)

(145) I use the word “unit” in connection with all that is in any degree self-conscious, or individualised. It must, therefore, be remembered that this phrase refers to nothing below the human kingdom. (back)

(145) Tôi dùng từ “đơn vị” liên hệ với mọi cái ở bất kỳ mức độ nào có ngã thức, hay đã được biệt ngã hóa. Vì vậy, cần nhớ rằng cụm từ này không chỉ đến bất cứ điều gì dưới giới nhân loại. (trở lại)

h. Cell and cell.

h. Tế bào này và tế bào kia.

The interrelation of all these factors and their profound interdependence is one of the most important points for us to grasp; though this whole relation is governed by the law of Attraction and Repulsion, and [Page 411] therefore comes more under what we call the second aspect, yet self consciousness itself is the result of the manasic principle, and the close co-operation between these two factors of mind and love-wisdom, or the two laws of Attraction and Synthesis, must ever be carefully remembered.

Sự tương liên của tất cả các yếu tố này và sự phụ thuộc lẫn nhau sâu xa của chúng là một trong những điểm quan trọng nhất để chúng ta nắm bắt; dù toàn bộ mối tương quan này được chi phối bởi định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, và [Page 411] do đó thuộc nhiều hơn về điều chúng ta gọi là phương diện thứ hai, tuy nhiên chính ngã thức lại là kết quả của nguyên khí manas, và sự hợp tác mật thiết giữa hai yếu tố này của trí tuệ và bác ái – minh triết, hay hai định luật Hấp Dẫn và Tổng Hợp, phải luôn luôn được ghi nhớ cẩn thận.

Limitation. This is a prima factor to be borne in mind in considering a cosmos, a system, a scheme, a chain, or any form of limiting sphere down through them all to the physical atom of the scientist. It presupposes:

Sự giới hạn. Đây là một yếu tố căn bản cần được ghi nhớ khi xem xét một vũ trụ, một hệ thống, một hệ hành tinh, một dãy, hay bất kỳ hình thức khối cầu giới hạn nào xuyên suốt tất cả chúng cho đến nguyên tử hồng trần của nhà khoa học. Nó giả định trước:

a. Capacity beyond that manifested.

a. Năng lực vượt quá điều đã biểu hiện.

b. Duality, or that which is limited and the limiting substance.

b. Nhị nguyên tính, hay cái bị giới hạn và chất liệu giới hạn.

c. Purpose, for in an ordered scheme of existence, the limitation persists just as long as it is required in order to attain certain ends. It is succeeded by “abstraction” occultly understood, and in its literal sense.

c. Mục đích, vì trong một hệ hiện hữu có trật tự, sự giới hạn tồn tại đúng chừng nào nó còn cần thiết để đạt đến những cứu cánh nhất định. Nó được kế tiếp bởi “sự trừu xuất” theo nghĩa huyền bí, và theo nghĩa đen của nó.

When these three factors:

Khi ba yếu tố này:

Position,

Vị trí,

Relation,

Tương quan,

Limitation,

Sự giới hạn,

are studied within the system, the close connection of all the groups within the whole will be evidenced, and the need of each part for all other parts will be brought out.

được nghiên cứu trong hệ thống, mối liên hệ mật thiết của mọi nhóm trong toàn thể sẽ được biểu lộ, và nhu cầu của mỗi phần đối với mọi phần khác sẽ được làm nổi bật.

As regards cosmic position, relation and limitation, little can be said, as e’en to the Heavenly Men Themselves the matter is obscure. That this is necessarily so must be apparent when Their place in the scheme of things is realised and Their relative unimportance is considered. Therefore, we can do no more than accept the fact of the inconceivable magnitude of that EXISTENCE which is manifesting through seven solar systems, and the extension of this concept of Being to [Page 412] embrace the entire vault of the Heavens. It is interesting to bear in mind in this connection that all that is seen, being objective forms or Beings in manifestation through certain spheres of light, may not be all that IS, but that there may lie back of everything visible a vast realm or realms of Existences. The very brain of man reels in contemplation of such a concept. Yet just as there are tens of millions of human beings out of objective manifestation, or discarnate, on the subtler planes of the solar system, so there may be cosmic entities, in rank equal to the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, Who are in a similar sense discarnate, and found in realms subtler than that of the manifestation of light.

Về vị trí, tương quan và sự giới hạn vũ trụ, có rất ít điều có thể nói ra, vì ngay cả đối với chính các Đấng Thiên Nhân, vấn đề này cũng mơ hồ. Điều này tất yếu là như vậy hẳn phải hiển nhiên khi chỗ đứng của Các Ngài trong trật tự sự vật được chứng nghiệm và tầm quan trọng tương đối nhỏ bé của Các Ngài được cân nhắc. Vì vậy, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận sự kiện về tầm vóc không thể nghĩ bàn của HỮU THỂ đang biểu hiện qua bảy hệ mặt trời, và mở rộng khái niệm Hữu thể này để [Page 412] bao trùm toàn bộ vòm Trời. Thật thú vị khi ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng tất cả những gì được thấy, là những hình tướng khách quan hay những Hữu thể đang biểu hiện qua những khối cầu ánh sáng nhất định, có thể không phải là tất cả những gì ĐANG HIỆN HỮU, mà đằng sau mọi cái hữu hình có thể còn có một hay nhiều cõi giới bao la của các Hữu thể. Chính bộ não con người cũng quay cuồng khi chiêm ngưỡng một khái niệm như thế. Tuy nhiên, cũng như có hàng chục triệu con người ở ngoài biểu hiện khách quan, hay đã lìa xác, trên các cõi vi tế hơn của hệ mặt trời, thì cũng có thể có những thực thể vũ trụ, ngang hàng với Đấng Bất Khả Tư Nghị, ở trong một ý nghĩa tương tự là đã lìa xác, và được tìm thấy trong những cõi giới vi tế hơn cõi biểu hiện của ánh sáng.

3. On the Earth.

3. Trên Trái Đất.

a. The five Kumaras. We might now consider briefly the subject of the five Kumaras, Who are the sum total of manas on the Earth. I have stated that the Lord of the World, the first Kumara, is the planetary Logos of our scheme in physical incarnation, but nowhere has the impression been conveyed that the three Kumaras, associated with Him, are three other planetary Logoi. This is in no way the case. These three, called the “Buddhas of Activity,” are but the vicegerents upon our planet of those three planetary Logoi, Who, with our planetary Logos, make the sum total of the logoic Quaternary. Associated with them are the three esoteric Kumaras, mentioned in the Secret Doctrine, (I, 493) Who represent the three other Logoi, and so make focal points for all the logoic forces within our chain. In each chain such representatives are found, six focal points embraced by the seventh, the planetary Logos of the scheme, Who holds them all within His aura.

a. Năm Kumaras. Giờ đây chúng ta có thể ngắn gọn xem xét chủ đề về năm Kumaras, là tổng thể của manas trên Trái Đất. Tôi đã nói rằng Đức Chúa Tể Thế Giới, Kumara thứ nhất, là Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta trong sự nhập thể hồng trần, nhưng không ở đâu có ấn tượng rằng ba Kumaras kết hợp với Ngài là ba Hành Tinh Thượng đế khác. Điều này hoàn toàn không phải như vậy. Ba vị này, được gọi là “các Đức Phật Hoạt Động,” chỉ là những vị đại diện trên hành tinh chúng ta của ba Hành Tinh Thượng đế ấy, những Đấng cùng với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tạo thành tổng thể của Bộ Tứ logoi. Kết hợp với các Ngài là ba Kumaras huyền bí, được nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 493) các Ngài đại diện cho ba Logoi kia, và do đó tạo thành các tiêu điểm cho mọi mãnh lực logoi trong dãy của chúng ta. Trong mỗi dãy đều có những đại diện như vậy, sáu tiêu điểm được bao hàm bởi tiêu điểm thứ bảy, là Hành Tinh Thượng đế của hệ, Đấng giữ tất cả họ trong hào quang của Ngài.

[Page 413] Their work is threefold:

[Page 413] Công việc của Các Ngài là tam phân:

First. They are the centres in the body of the planetary Logos. Each chain corresponds to one centre, and the globes are but the lesser wheels within any particular centre. The life of the Logos in this incarnation on the Earth is flowing through three centres and beginning to stimulate a fourth, hence four globes are involved and the three Kumaras (so called for lack of a better term) are vitally intelligently active; three are in abeyance and one is beginning to function. The globes correspond to the chains. This fourth Kumara is as yet practically unrealised, but as hinted at earlier His day is about to dawn.

Thứ nhất. Các Ngài là các trung tâm trong thể của Hành Tinh Thượng đế. Mỗi dãy tương ứng với một trung tâm, và các bầu hành tinh chỉ là những bánh xe nhỏ hơn trong bất kỳ trung tâm đặc thù nào. Sự sống của Thượng đế trong lần nhập thể này trên Trái Đất đang chảy qua ba trung tâm và bắt đầu kích thích một trung tâm thứ tư, do đó bốn bầu hành tinh được liên hệ và ba Kumaras (được gọi như vậy vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn) đang hoạt động một cách sống động và trí tuệ; ba vị đang ở trạng thái tiềm phục và một vị đang bắt đầu hoạt động. Các bầu hành tinh tương ứng với các dãy. Kumara thứ tư này hiện nay hầu như chưa được chứng nghiệm, nhưng như đã gợi ý trước đây, ngày của Ngài sắp rạng lên.

Second. They act as transmitters of a particular type of force to those units who go to the content of any particular centre. They are, in fact, the agents for the Lords of the Rays to the Monads of any ray in incarnation in any particular chain and on any particular globe.

Thứ hai. Các Ngài hoạt động như những đấng truyền dẫn một loại mãnh lực đặc thù đến những đơn vị cấu thành nội dung của bất kỳ trung tâm đặc thù nào. Thật ra, các Ngài là những tác nhân của các Chúa Tể các Cung đối với các chân thần thuộc bất kỳ cung nào đang lâm phàm trong bất kỳ dãy đặc thù nào và trên bất kỳ bầu hành tinh đặc thù nào.

Third. They are the agents for:

Thứ ba. Các Ngài là những tác nhân cho:

a. The Lord of a Ray as stated above.

a. Chúa Tể của một Cung như đã nói ở trên.

b. The four Maharajahs.

b. Bốn Maharajahs.

c. The planetary Logos of Their own scheme.

c. Hành Tinh Thượng đế của hệ riêng của Các Ngài.

d. The great Deva of the Earth planet.

d. Đại thiên thần của hành tinh Trái Đất.

They work with the law; They are the cognizers of the intelligent purpose of the planetary Logos, and know His plans; They are the vital activity of the planet, and in a subtle sense they are not only the Ray representatives but likewise the link between the chain and the scheme.

Các Ngài làm việc với định luật; Các Ngài là những Đấng nhận biết mục đích trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế, và biết các kế hoạch của Ngài; Các Ngài là hoạt động sống động của hành tinh, và theo một nghĩa vi tế, các Ngài không chỉ là những đại diện của Cung mà còn là mối liên kết giữa dãy và hệ.

It might here be stated that the relative failure that was the fate of the Moon chain in our scheme has greatly handicapped Their work, and made it imperative for Them to employ drastic measures in order to offset that failure. Herein lies another clue to the world turmoil.

Ở đây có thể nói rằng sự thất bại tương đối đã là số phận của Dãy Mặt Trăng trong hệ của chúng ta đã gây trở ngại rất lớn cho công việc của Các Ngài, và khiến Các Ngài buộc phải sử dụng những biện pháp quyết liệt để hóa giải sự thất bại ấy. Chính trong đó có một đầu mối khác cho sự hỗn loạn của thế giới.

[Page 414] b. The Moon chain. It might be of interest here, if, before passing on to other matters, we took up the very difficult subject of the moon chain and answer certain pertinent questions that may have arisen in the minds of students.

[Page 414] b. Dãy Mặt Trăng. Ở đây có thể là điều đáng quan tâm nếu, trước khi chuyển sang các vấn đề khác, chúng ta đề cập đến chủ đề rất khó về dãy mặt trăng và trả lời một số câu hỏi thích đáng có thể đã nảy sinh trong tâm trí các đạo sinh.

The enumeration of the chains and of the schemes as given in the two charts is entirely for the present, and covers a period comparatively recent, carrying forward the history of evolution to the middle of the next round in our chain. Had we been given the charts embracing pre-Lemurian days, and extending back a distance into the (humanly speaking) unfathomable past, we would have seen the moon chain portrayed with the Neptune chain omitted. In the chart as given two chains are apparently lacking, the moon chain and the Uranus chain. The reasons are abstruse, but something may be hinted at as follows:

Việc đánh số các dãy và các hệ như được nêu trong hai biểu đồ hoàn toàn chỉ cho hiện tại, và bao quát một thời kỳ tương đối gần đây, đưa lịch sử tiến hoá tiến tới giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp trong dãy của chúng ta. Nếu chúng ta được cung cấp các biểu đồ bao trùm những ngày trước Lemuria, và kéo lùi về một khoảng cách trong quá khứ không thể dò thấu (theo cách nói của con người), chúng ta hẳn đã thấy dãy mặt trăng được mô tả với dãy Sao Hải Vương bị lược bỏ. Trong biểu đồ như đã cho, dường như thiếu hai dãy, dãy mặt trăng và dãy Sao Thiên Vương. Những lý do thì thâm sâu, nhưng có thể gợi ý đôi điều như sau:

The Moon chain with the Earth chain formed two units, or two polarities, negative and positive. The point of merging was reached, and the Earth chain absorbed or synthesised the moon chain in the same sense as certain of the schemes will merge until only three will apparently be left. Therefore the Earth chain is essentially dual in its nature, being the sumtotal of a male and a female chain. This is a mystery impossible to elucidate further, but it is dealt with in certain occult books, and hinted at by H. P. B. (S.D., I, Section IX, 176-200)

Dãy Mặt Trăng cùng với Dãy Địa Cầu tạo thành hai đơn vị, hay hai cực tính, âm và dương. Điểm hòa nhập đã đạt tới, và Dãy Địa Cầu đã hấp thu hay tổng hợp dãy mặt trăng theo cùng ý nghĩa như một số hệ sẽ hòa nhập cho đến khi dường như chỉ còn lại ba. Vì vậy Dãy Địa Cầu về bản chất là nhị phân, là tổng thể của một dãy nam và một dãy nữ. Đây là một huyền nhiệm không thể giải thích thêm, nhưng nó được bàn đến trong một số sách huyền bí, và được H. P. B. gợi ý (S.D., I, Phần IX, 176-200)

In due course of time another merging in the scheme will eventuate and then Uranus (the chain of that name in our scheme) will flash into objectivity. Forget not that the schemes manifest as seven, as ten, as three from the angle of the Eternal Now, or—from the point of view of a Heavenly Man—the manifestation may be written as (3|7) In time and space the order might be stated to be 7-3-10, and at certain stages 10-7-3. As [Page 415] the opposites merge the ten become the seven and the three, and it is during this process that entire chains and globes, and eventually schemes, will apparently vanish from objectivity, and drop out of sight. They will be simply absorbed. During the twofold process of evolution, it might be numerically expressed as:

Đến đúng thời điểm, một sự hòa nhập khác trong hệ sẽ xảy ra và khi đó Uranus (dãy mang tên ấy trong hệ của chúng ta) sẽ bừng lên trong tính khách quan. Đừng quên rằng các hệ biểu hiện thành bảy, thành mười, thành ba từ góc độ của Hiện Tại Vĩnh Cửu, hay—từ quan điểm của một Đấng Thiên Nhân—sự biểu hiện có thể được viết là (3|7) Trong thời gian và không gian, trật tự có thể được phát biểu là 7-3-10, và ở một số giai đoạn là 10-7-3. Khi [Page 415] các cặp đối cực hòa nhập, mười trở thành bảy và ba, và chính trong tiến trình này mà toàn bộ các dãy và các bầu hành tinh, và cuối cùng là các hệ, dường như sẽ biến mất khỏi tính khách quan, và khuất khỏi tầm nhìn. Chúng chỉ đơn giản bị hấp thu. Trong tiến trình tiến hoá nhị phân, điều này có thể được biểu thị bằng số như sau:

During involution the sequence is seen as three, then seven and finally ten.

Trong giáng hạ tiến hoá, trình tự được thấy là ba, rồi bảy và cuối cùng là mười.

During evolution the sequence is ten, then seven and finally three.

Trong tiến hoá, trình tự là mười, rồi bảy và cuối cùng là ba.

The involutionary process is over practically and the evolutionary is approximately midway through. This will be marked by the disappearance or absorption of certain chains as they find their polar opposites, and a simultaneous appearance of the more subtle chains or globes as the manasic principle enables man to see them. The moon chain is in process of disappearance, and only a decaying body is left; the life of the second and the first Logos has been withdrawn from it, and only the latent life of matter itself remains. Simultaneously Neptune arose over the horizon, and took its place as one of the seven manifesting chains of the planetary Logos. We are here dealing with the Neptune chain of the earth scheme.

Tiến trình giáng hạ tiến hoá trên thực tế hầu như đã kết thúc và tiến trình tiến hoá thì xấp xỉ ở giữa chặng đường. Điều này sẽ được đánh dấu bằng sự biến mất hay hấp thu của một số dãy khi chúng tìm thấy các cực đối nghịch của mình, và đồng thời là sự xuất hiện của các dãy hay các bầu hành tinh vi tế hơn khi nguyên khí manas giúp con người nhìn thấy chúng. Dãy Mặt Trăng đang trong tiến trình biến mất, và chỉ còn lại một thể đang phân rã; sự sống của Logos thứ hai và thứ nhất đã được rút khỏi nó, và chỉ còn lại sự sống tiềm ẩn của chính vật chất. Đồng thời Sao Hải Vương đã mọc lên trên chân trời, và chiếm chỗ của nó như một trong bảy dãy biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế. Ở đây chúng ta đang đề cập đến dãy Sao Hải Vương của hệ địa cầu.

The Moon chain has in itself a curious occult history, not yet to be disclosed. This differentiates it from the other chains in the scheme and even from any other chain in any scheme. An analogous situation or correspondence will be found in another planetary scheme within the solar system. All this is hidden in the history of one of the solar systems which is united to ours within a cosmic ring-pass-not. Hence the impossibility of yet enlarging upon it. Each Heavenly Man of a scheme is a focal point for the force and power and vibratory life of seven stupendous ENTITIES in exactly the same sense [Page 416] as the seven centres in a human being are the focal points for the influence of a corresponding heavenly Prototype. Our Heavenly Man, therefore, is esoterically allied to one of the seven solar systems, and in this mysterious alliance is hidden the mystery of the moon chain.

Dãy Mặt Trăng tự nó có một lịch sử huyền bí kỳ lạ, hiện chưa thể tiết lộ. Điều này làm cho nó khác với các dãy khác trong hệ và thậm chí với bất kỳ dãy nào khác trong bất kỳ hệ nào. Một tình huống tương tự hay sự tương ứng sẽ được tìm thấy trong một hệ hành tinh khác trong hệ mặt trời. Tất cả điều này được che giấu trong lịch sử của một trong các hệ mặt trời được liên kết với hệ của chúng ta trong một vòng-giới-hạn vũ trụ. Do đó hiện nay không thể nói rộng hơn về nó. Mỗi Đấng Thiên Nhân của một hệ là một tiêu điểm cho mãnh lực, quyền năng và sự sống rung động của bảy THỰC THỂ vĩ đại đúng theo cùng ý nghĩa [Page 416] như bảy trung tâm trong một con người là những tiêu điểm cho ảnh hưởng của một Nguyên Mẫu thiên thượng tương ứng. Vì vậy, Đấng Thiên Nhân của chúng ta, theo nghĩa huyền bí, được liên kết với một trong bảy hệ mặt trời, và trong sự liên kết huyền nhiệm này ẩn giấu huyền nhiệm của dãy mặt trăng.

Certain brief hints may be given for the due consideration of students:

Có thể đưa ra một vài gợi ý ngắn để các đạo sinh suy xét thích đáng:

The Moon chain was a chain wherein a systemic failure was to be seen.

Dãy Mặt Trăng là một dãy trong đó có thể thấy một sự thất bại của hệ thống.

It is connected with the lower principles, which H.P.B. has stated are now superseded.

Nó liên hệ với các nguyên khí thấp, mà H.P.B. đã nói là nay đã bị vượt qua.

The sexual misery of this planet finds its origin in the moon failure.

Sự khốn khổ về tính dục của hành tinh này bắt nguồn từ sự thất bại của mặt trăng.

The progress of evolution on the moon was abruptly disturbed and arrested by the timely interference of the solar Logos. The secret of the suffering in the Earth chain, which makes it merit the name of the Sphere of Suffering, and the mystery of the long and painful watch kept by the SILENT WATCHER, (148) has its origin in the events which brought the moon chain to a terrific culmination. Conditions of agony and of distress such as are found on our planet are found in no such degree in any other scheme. [Page 417]

Sự tiến hoá trên mặt trăng đã bị xáo trộn đột ngột và đình chỉ bởi sự can thiệp đúng lúc của Thái dương Thượng đế. Bí mật của đau khổ trong Dãy Địa Cầu, khiến nó xứng với tên gọi Khối Cầu Đau Khổ, và huyền nhiệm của sự canh thức lâu dài và đau đớn do ĐẤNG QUAN SÁT THẦM LẶNG gìn giữ, (148) bắt nguồn từ những biến cố đã đưa Dãy Mặt Trăng đến một cao trào khủng khiếp. Những điều kiện thống khổ và khốn cùng như thấy trên hành tinh chúng ta không hề được tìm thấy ở mức độ như vậy trong bất kỳ hệ hành tinh nào khác. [Page 417]

(148) “…it is He, again, who holds spiritual sway over the initiated Adepts throughout the whole world. He is, as said, the “Nameless One” who has so many names, and yet whose names and whose very nature are unknown. He is the ‘Initiator,’ called the ‘Great Sacrifice.’ For, sitting at the Threshold of Light, he looks into it from within the Circle of Darkness, which he will not cross; nor will he quit his post till the last Day of this Life-Cycle. Why does the Solitary Watcher remain at his self-chosen post? Why does he sit by the Fountain of Primeval Wisdom, of which he drinks no longer, for he has naught to learn which he does not know—aye, neither on this Earth, nor in its Heaven? Because the lonely, sore-footed Pilgrims, on their journey back to their Home, are never sure, to the last moment, of not losing their way, in this limitless desert of Illusion and Matter called Earth-Life. Because he would fain show the way to that region of freedom and light, from which he is a voluntary exile himself, to every prisoner who has succeeded in liberating himself from the bonds of flesh and illusion. Because, in short, he has sacrificed himself for the sake of Mankind, though but a few elect may profit by the Great Sacrifice.”—S. D., I, 229. (back)

(148) “…chính Ngài, một lần nữa, là Đấng nắm quyền thống trị tinh thần đối với các chân sư đã được điểm đạo trên khắp thế giới. Như đã nói, Ngài là ‘Đấng Vô Danh’ có rất nhiều danh xưng, nhưng các danh xưng ấy và chính bản tính của Ngài vẫn không được biết đến. Ngài là ‘Đấng Điểm đạo,’ được gọi là ‘Đại Hi Sinh.’ Vì, ngồi nơi Ngưỡng Cửa của Ánh Sáng, Ngài nhìn vào đó từ bên trong Vòng Tròn Bóng Tối mà Ngài sẽ không vượt qua; Ngài cũng sẽ không rời bỏ vị trí của mình cho đến Ngày cuối cùng của Chu Kỳ Sự Sống này. Tại sao Đấng Quan Sát Cô Độc vẫn ở lại nơi vị trí do chính mình chọn? Tại sao Ngài ngồi bên Suối Nguồn Minh Triết Nguyên Sơ, mà Ngài không còn uống nữa, vì không còn gì để học mà Ngài chưa biết—đúng vậy, không phải trên Trái Đất này, cũng không phải trong cõi Trời của nó? Bởi vì những Người Hành Hương cô độc, đau chân, trên hành trình trở về Nhà của họ, cho đến giây phút cuối cùng vẫn không bao giờ chắc chắn rằng mình sẽ không lạc đường trong sa mạc vô hạn của Ảo Tưởng và Vật Chất gọi là Đời Sống Trần Gian này. Bởi vì Ngài tha thiết muốn chỉ đường đến miền tự do và ánh sáng ấy, từ đó chính Ngài là một kẻ lưu đày tự nguyện, cho mọi tù nhân nào đã thành công trong việc tự giải thoát mình khỏi xiềng xích của xác thân và ảo tưởng. Bởi vì, nói ngắn gọn, Ngài đã hi sinh chính mình vì nhân loại, dù chỉ có một số ít được tuyển chọn mới có thể hưởng lợi từ Đại Hi Sinh.”—Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 229. (back)

The misuse of the vibratory power of a certain centre, and the perversion, or distortion of force to certain erroneous ends, not along the line of evolution, account for much of the moon mystery.

Việc lạm dụng quyền năng rung động của một trung tâm nào đó, và sự xuyên tạc hay bóp méo mãnh lực vào những mục đích sai lạc nhất định, không theo đường tiến hoá, giải thích phần lớn huyền nhiệm của mặt trăng.

Certain results, such as the finding of its polar opposite, were hastened unduly on the moon chain, and the consequence was an uneven development and a retardation of the evolution of a certain number of deva and human groups.

Một số kết quả nhất định, chẳng hạn như việc tìm ra cực đối nghịch của nó, đã bị thúc đẩy quá mức trên Dãy Mặt Trăng, và hậu quả là một sự phát triển không đồng đều cùng sự trì hoãn trong tiến hoá của một số nhóm thiên thần và nhân loại nhất định.

The origin of the feud between the Lords of the Dark Face and the Brotherhood of Light, which found scope for activity in Atlantean days, and during the present root race, can be traced back to the moon chain.

Nguồn gốc của mối thù nghịch giữa các Đấng của Khuôn Mặt Tối và Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, vốn đã có phạm vi hoạt động trong thời Atlantis và trong giống dân gốc hiện nay, có thể được truy nguyên về Dãy Mặt Trăng.

We have here all that it is possible to give out at this time, and much that has hitherto not been permitted publication. It is necessary again to emphasise the need of attaching no importance to the names of the chains and globes, and the necessity of a numerical enumeration; at the same time should the student decide to number the chains, and globes, he must carefully bear in mind that the sequence of numbers has no reference or relation to place or time, nor to sequence of appearance, or order of manifestation.

Ở đây chúng ta có tất cả những gì có thể được tiết lộ vào lúc này, và nhiều điều mà trước đây chưa được phép công bố. Cần phải nhấn mạnh một lần nữa rằng không nên gán tầm quan trọng nào cho tên gọi của các dãy và các bầu hành tinh, cũng như cho sự liệt kê bằng số; đồng thời, nếu đạo sinh quyết định đánh số các dãy và các bầu hành tinh, y phải cẩn thận ghi nhớ rằng chuỗi số ấy không hề liên quan hay tương ứng với vị trí hoặc thời gian, cũng không liên quan đến trình tự xuất hiện hay thứ tự biểu hiện.

IV. THE FUTURE OF MANAS

IV. TƯƠNG LAI CỦA MANAS

It is only intended to handle this immense subject primarily in its relation to MAN, leaving the student to work out for himself much of what might be said, and to expand the concept from the unit to the group, and from the group to the totality of groups within the solar system. We will only touch upon the development of the mind in man and hint at some probable developments; we shall endeavour to show that manas, as it evolves, leads to certain distinct characteristics, which [Page 418] distinguish it from other developments which may be seen. The subject therefore will be discussed under the following subheadings:

Chỉ có ý định bàn đến chủ đề bao la này chủ yếu trong mối liên hệ với CON NGƯỜI, để đạo sinh tự mình khai triển phần lớn những gì có thể được nói thêm, và mở rộng khái niệm từ đơn vị đến nhóm, rồi từ nhóm đến tổng thể các nhóm trong hệ mặt trời. Chúng ta sẽ chỉ chạm đến sự phát triển của trí tuệ nơi con người và gợi ý một vài phát triển có thể có; chúng ta sẽ cố gắng chỉ ra rằng manas, khi tiến hoá, dẫn đến một số đặc tính rõ rệt, những đặc tính [Page 418] phân biệt nó với những sự phát triển khác có thể được thấy. Vì vậy, chủ đề này sẽ được bàn dưới các tiểu mục sau:

1. The characteristics of manas.

1. Các đặc tính của manas.

2. Probable developments of the human mind.

2. Những phát triển có thể có của trí tuệ con người.

3. Manas in the final rounds.

3. Manas trong các cuộc tuần hoàn cuối cùng.

In studying all these points the emphasis is, of course, to be laid upon the future, and I enlarge not upon that which is already developed.

Khi nghiên cứu tất cả các điểm này, dĩ nhiên sự nhấn mạnh phải được đặt vào tương lai, và tôi không khai triển về điều đã được phát triển rồi.

1. Characteristics of manas.

1. Các đặc tính của manas.

The main characteristics of manas might be summed up under three heads:

Các đặc tính chính của manas có thể được tóm lược dưới ba đề mục:

a. Discrimination.

a. Phân biện.

b. Ordered activity.

b. Hoạt động có trật tự.

c. Adaptability.

c. Khả năng thích ứng.

Let us study these a little and note wherein in days and cycles to come they will be seen working out.

Chúng ta hãy nghiên cứu đôi chút về các đặc tính này và lưu ý chúng sẽ được thấy biểu lộ ra sao trong những ngày và chu kỳ sắp tới.

a. Discrimination. This is necessarily almost the statement of a platitude. All students recognise the discriminative quality of manas and its selective capacity; all recognise the faculty in man which enables him to distinguish intelligently between the Self and the Not-Self. What we are apt to forget is that this faculty persists on all planes, and is threefold in manifestation:

a. Phân biện. Điều này hầu như tất yếu là một nhận định quá hiển nhiên. Mọi đạo sinh đều nhận ra phẩm tính phân biện của manas và năng lực chọn lọc của nó; mọi người đều nhận ra nơi con người năng lực giúp y phân biệt một cách thông minh giữa Ngã và Phi-Ngã. Điều chúng ta dễ quên là năng lực này tồn tại trên mọi cõi, và có biểu hiện tam phân:

First. Discrimination between the I-consciousness, and that which is cognised in the external world. This is the ability to distinguish between oneself and all other forms extant. It is universally developed and has reached a fairly high stage of evolution.

Thứ nhất. Sự phân biện giữa tâm thức “Tôi” và điều được nhận biết trong thế giới bên ngoài. Đây là khả năng phân biệt giữa chính mình và mọi hình tướng khác đang tồn tại. Nó đã được phát triển phổ quát và đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá khá cao.

Second. Discrimination between the Ego and the Personality. This narrows the concept down to the sphere of a man’s own consciousness, and enables him to differentiate between his subjective self or soul, and the bodies which hold that soul enshrined. This is not [Page 419] by any means so universally developed. Most men do not as yet distinguish with accuracy between themselves as the THINKER, persistent in time and space, and the vehicle through which they think, which is ephemeral and transient. The real recognition of this essential duality, and the scientific appreciation of it is to be seen in the mystics, the advanced thinkers of the race, the conscious aspirants, and those nearing the Portal of Initiation.

Thứ hai. Sự phân biện giữa chân ngã và phàm ngã. Điều này thu hẹp khái niệm vào phạm vi tâm thức riêng của một người, và giúp y phân biệt giữa bản ngã chủ quan hay linh hồn của mình, với các thể đang giữ cho linh hồn ấy được bao bọc. Điều này hoàn toàn không phải là [Page 419] được phát triển phổ quát đến thế. Phần lớn con người hiện vẫn chưa phân biệt chính xác giữa mình như là ĐẤNG TƯ DUY, bền vững trong thời gian và không gian, và vận cụ mà qua đó y tư duy, vốn phù du và tạm bợ. Sự nhận biết thực sự về tính nhị nguyên cốt yếu này, và sự đánh giá khoa học về nó, được thấy nơi các nhà thần bí, các nhà tư tưởng tiến bộ của nhân loại, những người chí nguyện hữu thức, và những ai đang đến gần Cửa Điểm Đạo.

Third. Discrimination between soul and Spirit, or the realisation by the man that not only can he say, “I am”; not only can he realise that “I am That”; but that he can advance to a still further realisation, and say, “I am That I am.”

Thứ ba. Sự phân biện giữa linh hồn và tinh thần, hay sự chứng nghiệm của con người rằng y không chỉ có thể nói, “Tôi là”; y không chỉ có thể chứng nghiệm rằng “Tôi là Cái Đó”; mà còn có thể tiến đến một chứng nghiệm xa hơn nữa, và nói, “Tôi là Cái Đó mà Tôi là.”

In all these expansions and appreciations the discriminative faculty of manas is utilised.

Trong mọi sự mở rộng và nhận thức này, năng lực phân biện của manas đều được sử dụng.

Therefore, we can see for ourselves the future development, and whereto it will lead mankind. Man now knows himself as a separated unit of consciousness; he NOW distinguishes between himself and all other materialised selves; he now realises himself as distinct from every other functioning sphere of matter from the materialised Logos to the cell in his own physical body, and the cell in all bodies on the physical plane. This separative instinct, this distinguishing self-centredness has been the nursery wherein the infant, man, has segregated himself until he is of full strength, and able to take his share in the work of his group. Only the voluntary merging of interest and of aim is of value, and only that is seen in man as he nears the final part of the path of evolution. It is incident upon an earlier stage of intense self-assertion and intense self-realisation. This stage is with us now; it marks all manifestation, and is the basis of the preservation of identity. It distinguishes: [Page 420]

Vì vậy, chúng ta có thể tự thấy sự phát triển tương lai và nó sẽ dẫn nhân loại đến đâu. Hiện nay con người biết mình như một đơn vị tâm thức tách biệt; hiện nay y phân biệt giữa mình và mọi bản ngã đã hiện hình khác; hiện nay y chứng nghiệm mình là khác biệt với mọi khối cầu vật chất đang hoạt động khác, từ Thượng đế đã hiện hình cho đến tế bào trong chính thể xác của y, và tế bào trong mọi thể trên cõi hồng trần. Bản năng phân ly này, sự tập trung vào bản thân có tính phân biệt này, đã là vườn ươm trong đó con người ấu thơ đã tự tách riêng mình ra cho đến khi đủ mạnh và có thể đảm nhận phần việc của mình trong công việc của nhóm. Chỉ sự hòa nhập tự nguyện về quyền lợi và mục tiêu mới có giá trị, và chỉ điều đó mới được thấy nơi con người khi y tiến gần phần cuối của con đường tiến hoá. Nó là kết quả của một giai đoạn trước đó của sự tự khẳng định mãnh liệt và sự tự chứng nghiệm mãnh liệt. Giai đoạn này hiện đang ở cùng chúng ta; nó đánh dấu mọi biểu hiện, và là nền tảng của việc bảo tồn bản sắc. Nó phân biệt: [Page 420]

The Logos and all forms within His body.

Thượng đế và mọi hình tướng bên trong thể của Ngài.

The planetary Logoi and all forms within Their bodies.

Các Hành Tinh Thượng đế và mọi hình tướng bên trong các thể của Các Ngài.

Man and all forms within his body.

Con người và mọi hình tướng bên trong thể của y.

That which must be emphasised is the little realised concept that this assertion of “I am” distinguishes not only man, but is the mantric word which preserves the integrity of all groups likewise. When man can say “I am That” he is beginning to sense his oneness with his group. When groups make a similar assertion they are beginning to realise their identity with all other groups. When a planetary Logos echoes the words “I am That” He is approaching the hour of synthesis, or of absorption. When a solar Logos utters the words, a year of Brahma will be drawing to a close, and the hour of conscious merging with His greater group will be approaching. Broadly (in relation to man) it might be stated that:

Điều cần được nhấn mạnh là khái niệm ít được nhận ra rằng sự khẳng định “Tôi là” này không chỉ phân biệt con người, mà còn là linh từ mantram bảo tồn tính toàn vẹn của mọi nhóm nữa. Khi con người có thể nói “Tôi là Cái Đó” thì y đang bắt đầu cảm nhận sự hợp nhất của mình với nhóm. Khi các nhóm đưa ra một khẳng định tương tự, chúng đang bắt đầu chứng nghiệm bản sắc của mình với mọi nhóm khác. Khi một Hành Tinh Thượng đế vang lên những lời “Tôi là Cái Đó,” Ngài đang tiến gần giờ tổng hợp, hay hấp thu. Khi một Thái dương Thượng đế thốt ra những lời ấy, một năm Brahma sẽ gần kết thúc, và giờ hòa nhập hữu thức với nhóm lớn hơn của Ngài sẽ đến gần. Nói rộng ra (liên hệ với con người), có thể phát biểu rằng:

“I am” refers to the personality consciousness on three lower planes, or to all that is considered as inferior to the causal body. It concerns a man’s realisation of his place upon the globe within a chain.

“Tôi là” liên quan đến tâm thức phàm ngã trên ba cõi thấp, hay đến tất cả những gì được xem là thấp hơn thể nguyên nhân. Nó liên quan đến sự chứng nghiệm của con người về vị trí của y trên bầu hành tinh trong một dãy.

“I am That” refers to his egoic consciousness, and to the planes of the Triad. It concerns a man’s realisation of his place within the chain, and his relationship to the group of which he forms a part.

“Tôi là Cái Đó” liên quan đến tâm thức chân ngã của y, và đến các cõi của Tam nguyên tinh thần. Nó liên quan đến sự chứng nghiệm của con người về vị trí của y trong dãy, và mối liên hệ của y với nhóm mà y là một phần trong đó.

“I am That I am” refers to a man’s monadic consciousness, and his relationship to the planes of abstraction. It concerns his realisation of his position in the scheme.

“Tôi là Cái Đó mà Tôi là” liên quan đến tâm thức chân thần của con người, và mối liên hệ của y với các cõi trừu tượng. Nó liên quan đến sự chứng nghiệm của y về vị trí của mình trong hệ hành tinh.

When the initiate can say “I am That I am,” then he has merged himself with his divine essence, and is freed from form. The first occult assertion marks his emancipation from the three lower kingdoms, and his conscious [Page 421] functioning in the three worlds. This occurred at individualisation through the instrumentality of manas. The second occult assertion marks the gradual emancipation of man from the lower three kingdoms, and his complete freeing from lower form domination at the fifth initiation. At the final assertion, the initiate not only distinguishes between the Self, and all other forms of manifestation; he not only distinguishes between his own identity and the soul, as well as matter in form, but he can discriminate between the three—Spirit, Soul, and Matter—and with this realisation he is entirely liberated from manifestation for this greater cycle. This inherent discriminative faculty of manas, displayed on ever higher spirals leads a man

Khi điểm đạo đồ có thể nói “Tôi là Cái Đó mà Tôi là,” thì y đã hòa nhập chính mình với bản chất thiêng liêng của mình, và được giải thoát khỏi hình tướng. Sự khẳng định huyền bí thứ nhất đánh dấu sự giải phóng của y khỏi ba giới thấp, và sự hoạt động hữu thức của y [Page 421] trong ba cõi giới. Điều này đã xảy ra vào lúc biệt ngã hóa nhờ công cụ manas. Sự khẳng định huyền bí thứ hai đánh dấu sự giải phóng dần dần của con người khỏi ba giới thấp, và sự giải thoát hoàn toàn của y khỏi sự thống trị của hình tướng thấp vào lần điểm đạo thứ năm. Ở sự khẳng định cuối cùng, điểm đạo đồ không chỉ phân biệt giữa Ngã và mọi hình thức biểu hiện khác; y không chỉ phân biệt giữa bản sắc riêng của mình với linh hồn, cũng như với vật chất trong hình tướng, mà còn có thể phân biệt giữa cả ba—Tinh thần, Linh hồn và Vật chất—và với sự chứng nghiệm này, y hoàn toàn được giải thoát khỏi biểu hiện trong chu kỳ lớn hơn này. Năng lực phân biện cố hữu của manas này, được biểu lộ trên những vòng xoắn ngày càng cao, dẫn con người

Into matter and form,

Vào vật chất và hình tướng,

Through all forms of matter on all planes and

Xuyên qua mọi hình thức vật chất trên mọi cõi và

Finally brings about his eventual abstraction from all forms and matter, plus the aggregate of transmuted knowledge which the evolutionary process has procured for him.

Cuối cùng mang lại sự trừu xuất sau cùng của y ra khỏi mọi hình tướng và vật chất, cộng với tổng số tri thức đã được chuyển hoá mà tiến trình tiến hoá đã mang lại cho y.

b. Ordered activity. Here comes in the concept of intelligent purpose, pursuing a fixed and settled plan, and working out a preconceived ideal in time and space. The Microcosm comes into incarnation through impulse based on intelligent purpose originating in his case on the mental plane—the plane of the manasic principle. An interesting point might here be indicated. The fifth plane, the mental, may be considered on a large scale as holding, in the case of a Heavenly Man, a position symbolically analogous to that held by the causal bodies of the units on His Ray. Some causal bodies are on the third and some on the second subplanes, and the intricacy is excessive and various, producing geometrical forms allied somewhat to those portrayed upon the charts. All is ordered activity of the units (each pursuing [Page 422] his own self-centred purpose and following the inclination of the lower self, whose slogan is “I am”). This will gradually give place to the ordered activity of the groups in which the units recognise the oneness of their self-interest, and therefore intelligently, actively, and with conscious purpose work for the good of the body corporate. The vibration which occultly accompanies the sounding of the words “I am That” by the units on the physical plane is only very faintly beginning to make itself felt. Units here and there are sounding it forth by their lives, and are thus passing on the vibration, and setting it in motion against the cruder, coarser one of “I am.”

b. Hoạt động có trật tự. Ở đây xuất hiện khái niệm về mục đích thông minh, theo đuổi một kế hoạch cố định và ổn định, và triển khai một lý tưởng đã được hình dung trước trong thời gian và không gian. Tiểu thiên địa đi vào nhập thể qua xung lực dựa trên mục đích thông minh, trong trường hợp của y phát sinh trên cõi trí—cõi của nguyên khí manas. Ở đây có thể nêu ra một điểm thú vị. Cõi thứ năm, cõi trí, có thể được xem trên quy mô lớn như giữ, trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, một vị trí tương tự về mặt biểu tượng với vị trí do các thể nguyên nhân của các đơn vị trên cung của Ngài nắm giữ. Một số thể nguyên nhân ở cõi phụ thứ ba và một số ở cõi phụ thứ hai, và sự phức tạp thì quá mức và đa dạng, tạo ra những hình học phần nào tương tự với những hình được mô tả trên các biểu đồ. Tất cả đều là hoạt động có trật tự của các đơn vị (mỗi đơn vị theo đuổi [Page 422] mục đích tập trung vào bản thân riêng của mình và đi theo khuynh hướng của phàm ngã, khẩu hiệu của nó là “Tôi là”). Điều này sẽ dần dần nhường chỗ cho hoạt động có trật tự của các nhóm, trong đó các đơn vị nhận ra tính nhất thể của quyền lợi bản thân mình, và do đó một cách thông minh, tích cực, và với mục đích hữu thức, hoạt động vì lợi ích của toàn thể. Rung động mà một cách huyền bí đi kèm với việc xướng lên những lời “Tôi là Cái Đó” bởi các đơn vị trên cõi hồng trần hiện chỉ mới bắt đầu được cảm nhận rất mờ nhạt. Các đơn vị đây đó đang xướng nó lên bằng chính đời sống của họ, và như thế đang truyền rung động ấy đi, và làm cho nó chuyển động chống lại rung động thô nặng hơn của “Tôi là.”

The time for the sounding of the final mantric phrase by ordered active groups lies ahead in the sixth and seventh rounds, and will not reach its full vibration in this solar system at all. “I am That” will peal forth fully consummated in this system of duality, for the third initiation sees the initiate comprehending its mantric force. Nevertheless, initiates of the sixth and seventh Initiations will not preponderate in this system. After the fifth round and the passing into temporary obscuration of two fifths of the human family, the remaining units will achieve an approximate standing as follows:

Thời điểm để các nhóm hoạt động có trật tự xướng lên cụm từ mantram cuối cùng còn ở phía trước, trong cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy, và hoàn toàn sẽ không đạt đến rung động trọn vẹn trong hệ mặt trời này. “Tôi là Cái Đó” sẽ vang lên trọn vẹn trong hệ thống nhị nguyên tính này, vì lần điểm đạo thứ ba cho thấy điểm đạo đồ thấu hiểu mãnh lực mantram của nó. Tuy nhiên, các điểm đạo đồ của lần Điểm Đạo thứ sáu và thứ bảy sẽ không chiếm ưu thế trong hệ thống này. Sau cuộc tuần hoàn thứ năm và sự đi vào che khuất tạm thời của hai phần năm gia đình nhân loại, các đơn vị còn lại sẽ đạt được một vị thế xấp xỉ như sau:

One fifth will mantrically sound the words “I am That I am. “

Một phần năm sẽ xướng lên bằng mantram những lời “Tôi là Cái Đó mà Tôi là.”

Two fifths will achieve the fifth Initiation and will know themselves as “I am That.” They will also be cultivating response to the higher note.

Hai phần năm sẽ đạt lần Điểm Đạo thứ năm và sẽ biết mình là “Tôi là Cái Đó.” Họ cũng sẽ đang vun bồi sự đáp ứng với âm điệu cao hơn.

One fifth and a half will attain the third Initiation, and will know themselves as “I am That” in full consciousness.

Một phần năm rưỡi sẽ đạt lần Điểm Đạo thứ ba, và sẽ biết mình là “Tôi là Cái Đó” trong tâm thức trọn vẹn.

The remaining units will be those who are treading the Path, and beginning to know themselves as the group.

Các đơn vị còn lại sẽ là những người đang bước trên Con Đường, và bắt đầu biết mình là nhóm.

[Page 423] In reference to what has been said anent the second characteristic of manas, a very interesting development may be looked for during the coming century. This is the intensification of business organisation, and the bringing (under law and order), of the entire life of:

[Page 423] Liên quan đến điều đã được nói về đặc tính thứ hai của manas, có thể trông đợi một sự phát triển rất thú vị trong thế kỷ sắp tới. Đó là sự tăng cường tổ chức kinh doanh, và việc đưa toàn bộ đời sống của:

Families and groups of families,

Các gia đình và các nhóm gia đình,

Cities and groups of cities,

Các thành phố và các nhóm thành phố,

Nations and groups of nations,

Các quốc gia và các nhóm quốc gia,

until the human race in every department of its exoteric life will conform to rule,—this voluntarily, and with manasic realisation of group need. The whole trend of mental effort during the next subraces will be towards the synthesis of endeavour, thus ensuring the good of the corporate body involved. Many interesting events will occur and many experiments will necessarily be made (some to prove successful and some failures), before manas, or purposeful, ordered, intelligent activity, will control in the life of the peoples of this world. It is not possible to enter into this in greater detail, as the subject is too vast.

vào dưới luật lệ và trật tự, cho đến khi nhân loại trong mọi phương diện của đời sống ngoại môn sẽ tuân theo quy luật,—điều này một cách tự nguyện, và với sự chứng nghiệm manas về nhu cầu của nhóm. Toàn bộ xu hướng của nỗ lực trí tuệ trong các giống dân phụ kế tiếp sẽ hướng về sự tổng hợp của nỗ lực, nhờ đó bảo đảm lợi ích của toàn thể liên hệ. Nhiều biến cố thú vị sẽ xảy ra và nhiều thử nghiệm tất yếu sẽ được thực hiện (một số thành công và một số thất bại), trước khi manas, hay hoạt động có mục đích, có trật tự, thông minh, kiểm soát được đời sống của các dân tộc trên thế giới này. Không thể đi vào chi tiết hơn về điều này, vì chủ đề quá bao la.

Let us now take the third attribute of manas and its future demonstration.

Giờ đây chúng ta hãy xét đến thuộc tính thứ ba của manas và sự biểu lộ tương lai của nó.

c. Adaptability. This is, as we know, the prime attribute ascribed to the third Ray, or the Brahma aspect. Therefore, fundamentally it may be considered as the attribute of intelligence which adapts the matter aspect to the Spirit aspect, and is a characteristic inherent in matter itself. It works under the two laws of Economy, and of Attraction and Repulsion; the work of the Mahachohan being primarily along this line. Consequently the four lesser Rays of Attribute which are synthesised into the third Ray of Aspect, Adaptability, or Active Intelligence, are fundamentally concerned, and the future of manas is therefore involved in the growing influence of these four Rays: [Page 424]

c. Khả năng thích ứng. Như chúng ta biết, đây là thuộc tính chủ yếu được quy cho cung ba, hay phương diện Brahma. Vì vậy, về căn bản nó có thể được xem là thuộc tính của trí tuệ, vốn thích ứng phương diện vật chất với phương diện tinh thần, và là một đặc tính cố hữu trong chính vật chất. Nó hoạt động dưới hai định luật Tiết Kiệm, và Hấp Dẫn cùng Đẩy Lùi; công việc của Đức Mahachohan chủ yếu theo đường này. Do đó, bốn Cung Thuộc Tính thấp hơn được tổng hợp vào cung ba của Các Cung Trạng Thái, tức Khả năng thích ứng hay Trí Tuệ Hoạt Động, về căn bản đều có liên quan, và vì vậy tương lai của manas gắn liền với ảnh hưởng ngày càng tăng của bốn cung này: [Page 424]

1. Harmony, Beauty, Art or Unity.

1. Hài hòa, Mỹ lệ, Nghệ thuật hay Hợp nhất.

2. Concrete Science or Knowledge.

2. Khoa học Cụ thể hay Tri thức.

3. Abstract Idealism.

3. Duy tâm Trừu tượng.

4. Ceremonial Magic.

4. Huyền thuật Nghi lễ.

2. Development of the Human Mind.

2. Sự phát triển của trí tuệ con người.

When the future results brought about by the four types of force mentioned above are somewhat realised, and their relationship to the adaptation of matter to Spirit (through the building into form), is studied, much of profound significance will be sensed by the student. In the foretelling of mental developments along these four lines and the prophesying of definite achievement, indications may be given of the path which concrete science may follow. Let us, therefore, take these four types of force, or these four planetary influences, and study them separately, bearing ever in mind that:

Khi những kết quả tương lai do bốn loại mãnh lực nêu trên mang lại được phần nào chứng nghiệm, và mối liên hệ của chúng với sự thích ứng của vật chất với tinh thần (thông qua việc xây dựng vào hình tướng) được nghiên cứu, đạo sinh sẽ cảm nhận được nhiều điều có thâm nghĩa sâu xa. Trong việc tiên báo những phát triển trí tuệ theo bốn đường này và dự ngôn những thành tựu xác định, có thể đưa ra những chỉ dấu về con đường mà khoa học cụ thể có thể đi theo. Vì vậy, chúng ta hãy xét bốn loại mãnh lực này, hay bốn ảnh hưởng hành tinh này, và nghiên cứu riêng từng loại, luôn ghi nhớ rằng:

a. Each of them has swung into power during earlier world cycles.

a. Mỗi loại trong số đó đã từng đi vào quyền lực trong các chu kỳ thế giới trước đây.

b. One of them, being the influence of our own planetary Logos, is ever present with us, and is the major influence or vibration on the planet.

b. Một trong số đó, vì là ảnh hưởng của chính Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, luôn hiện diện với chúng ta, và là ảnh hưởng hay rung động chủ yếu trên hành tinh này.

c. Certain of them are passing out of power at this present time, and others are coming in.

c. Hiện nay, một số trong chúng đang rời khỏi quyền lực, và những số khác đang đi vào.

d. During the remainder of this round and the entire fifth round these four rays of attribute will circulate into and out of power ceaselessly; towards the end of the fifth round the third Ray of Aspect will predominate, having begun its work of synthesising and its influence will be paralleled in the sixth round by the gradually growing power of the second Ray of Aspect,—the two types of influence overlapping. In the seventh round, the power of the second Ray will predominate and the influence of the third will weaken. The first Ray will make itself felt. The first Ray, that of [Page 425] Mahadeva (149) or the Destroyer, will set its second great impulse upon our planetary evolution by the obscuration of two fifths of the human family. The impress to be set by the first Ray upon our human family on this globe might be considered as threefold:

d. Trong phần còn lại của cuộc tuần hoàn này và toàn bộ cuộc tuần hoàn thứ năm, bốn cung thuộc tính này sẽ luân chuyển vào và ra khỏi quyền lực không ngừng; về cuối cuộc tuần hoàn thứ năm, cung ba của Các Cung Trạng Thái sẽ chiếm ưu thế, vì đã bắt đầu công việc tổng hợp của nó, và ảnh hưởng của nó sẽ được song hành trong cuộc tuần hoàn thứ sáu bởi quyền lực tăng dần của cung hai của Các Cung Trạng Thái,—hai loại ảnh hưởng chồng lấn lên nhau. Trong cuộc tuần hoàn thứ bảy, quyền lực của cung hai sẽ chiếm ưu thế và ảnh hưởng của cung ba sẽ suy yếu. Cung một sẽ bắt đầu được cảm nhận. cung một, tức cung của [Page 425] Mahadeva (149) hay Đấng Hủy Diệt, sẽ đặt xung lực lớn thứ hai của nó lên sự tiến hoá hành tinh của chúng ta bằng sự che khuất của hai phần năm gia đình nhân loại. Dấu ấn mà cung một sẽ đặt lên gia đình nhân loại của chúng ta trên bầu hành tinh này có thể được xem là tam phân:

(149) The Trinity. “Maha-Vishnu presides over the summation and totality of all this. In every Brahmanda the activity is fourfold, and the chief functionaries are Brahma, Vishnu, and Shiva. Subdivisions of their functions give rise to the names and offices of Narayana, etc.

(149) Ba Ngôi. “Maha-Vishnu chủ trì sự tổng hợp và toàn thể của tất cả điều này. Trong mỗi Brahmanda, hoạt động là tứ phân, và các chức năng chính yếu thuộc về Brahma, Vishnu, và Shiva. Những phân chia phụ của các chức năng của Các Ngài làm phát sinh các danh xưng và chức vụ như Narayana, v.v.

“Among these functions, that of making or creating goes with action and belongs to Brahma. Again, “that which has been made is maintained by knowledge;” this maintenance or preservation is the work of Vishnu. Further, because it is necessary that what has appeared should disappear, therefore is there a destroyer, and he is Shiva, connected with desire, which first affirms and next denies, acts and reacts, now attracts and then repels, begins with craving for, and, after satiety, revolts from its object and casts it off. It precedes action, or Brahma, as longing for manifestation; and it succeeds knowledge or Vishnu, after maintenance or enjoyment of that manifestation, as a sense of fatigue, a growth of inertness, a need for rest by winding up the manifestation.”—From Pranava-Vada, pp. 82-84, 311. (back)

“Trong các chức năng này, chức năng tạo tác hay sáng tạo đi cùng với hành động và thuộc về Brahma. Lại nữa, ‘điều đã được tạo ra được duy trì bởi tri thức;’ sự duy trì hay bảo tồn này là công việc của Vishnu. Hơn nữa, bởi vì điều đã xuất hiện thì cần phải biến mất, nên có một đấng hủy diệt, và đó là Shiva, liên kết với dục vọng, thứ trước hết khẳng định rồi kế đó phủ nhận, tác động rồi phản tác động, lúc thì hấp dẫn rồi lại đẩy lùi, bắt đầu bằng sự khao khát đối tượng, và sau khi thỏa mãn thì chán ngán đối tượng ấy và vứt bỏ nó. Nó đi trước hành động, hay Brahma, như sự khát khao biểu hiện; và nó theo sau tri thức hay Vishnu, sau sự duy trì hay hưởng thụ biểu hiện ấy, như một cảm giác mệt mỏi, sự tăng trưởng của tính trì trệ, nhu cầu nghỉ ngơi bằng cách kết thúc biểu hiện.”—Trích từ Pranava-Vada, tr. 82-84, 311. (back)

First. At human individualisation in the middle of the third rootrace. This was produced by a vast destruction of the forms we call animal-man. This point has seldom been brought out in teaching. The advent of the Lords of the Flame, the electrical storm which ushered in the period of man, was distinguished by disaster, chaos, and the destruction of many in the third kingdom of nature. The spark of mind was implanted and the strength of its vibration, and the immediate effect of its presence caused the death of the animal form, thus producing the immediate possibility of the newly vitalised causal bodies vibrating to such purpose that new physical vehicles were taken. That was the Will aspect manifesting in the fourth round in connection with the human family.

Thứ nhất. Vào lúc biệt ngã hóa của nhân loại ở giữa giống dân gốc thứ ba. Điều này được tạo ra bởi một sự hủy diệt lớn lao các hình tướng mà chúng ta gọi là người-thú. Điểm này hiếm khi được nêu ra trong giáo huấn. Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa, cơn bão điện đã mở đầu thời kỳ của con người, được đánh dấu bằng tai họa, hỗn loạn, và sự hủy diệt của nhiều sinh thể trong giới thứ ba của thiên nhiên. Tia lửa trí tuệ được cấy vào, và sức mạnh của rung động của nó, cùng hiệu quả tức thời của sự hiện diện của nó, đã gây ra cái chết của hình tướng thú vật, nhờ đó tạo ra khả năng tức khắc để các thể nguyên nhân vừa được tiếp sinh lực rung động đủ mạnh đến mức tiếp nhận các vận cụ hồng trần mới. Đó là phương diện Ý Chí biểu hiện trong cuộc tuần hoàn thứ tư liên hệ với gia đình nhân loại.

Second. In the fifth round, at the so-called Judgment. This will bring about the apparent destruction of two-fifths of the human family, and the translation of the indwelling units of consciousness to other spheres, more [Page 426] suited to their stage of evolution. This event will be regarded at the time as a catastrophe, but the Knowers will see and know, and three fifths of the human family will understand the reason.

Thứ hai. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, vào thời điểm được gọi là Phán Xét. Điều này sẽ mang lại sự hủy diệt bề ngoài của hai phần năm gia đình nhân loại, và sự chuyển dịch các đơn vị tâm thức cư ngụ bên trong sang những khối cầu khác, thích hợp hơn [Page 426] với giai đoạn tiến hoá của họ. Biến cố này vào lúc đó sẽ được xem là một thảm họa, nhưng các thức giả sẽ thấy và biết, và ba phần năm gia đình nhân loại sẽ hiểu lý do.

Third. At the final reabsorption of the perfected monads into their emanating source in the seventh round. This will be marked by obscuration and the destruction of the form. Suffering will be practically nil, as the human units involved will have reached a stage where they can consciously co-operate in the process of abstraction. It is evident therefore that as regards the human family (the manasaputras in incarnation), the fourth, fifth, and seventh rounds hold hid the key to the first aspect. For the devas it is the first, second and sixth. For the involutionary entity, whom we call the “spirit of the planet” it is simply the third.

Thứ ba. Vào lúc tái hấp thu cuối cùng của các chân thần đã hoàn thiện vào nguồn phát xạ của mình trong cuộc tuần hoàn thứ bảy. Điều này sẽ được đánh dấu bằng sự che khuất và sự hủy diệt của hình tướng. Đau khổ hầu như sẽ bằng không, vì các đơn vị nhân loại liên hệ sẽ đã đạt đến một giai đoạn mà họ có thể hợp tác một cách hữu thức trong tiến trình trừu xuất. Do đó rõ ràng là, xét về gia đình nhân loại (các manasaputra đang lâm phàm), các cuộc tuần hoàn thứ tư, thứ năm và thứ bảy ẩn giấu chìa khóa của phương diện thứ nhất. Đối với các thiên thần thì đó là cuộc tuần hoàn thứ nhất, thứ hai và thứ sáu. Đối với thực thể giáng hạ tiến hoá mà chúng ta gọi là “tinh linh linh địa cầu” thì chỉ đơn giản là cuộc tuần hoàn thứ ba.

The third Ray holds sway all the time, for the second Ray only came into power in the second round. It holds sway simultaneously with the second Ray until the end of the age, when it begins gradually to obscure as the first Ray swings into influence again. Remember, nevertheless, that all three are at all times present. It is simply a question of degree and of cyclic evolution.

Cung ba luôn luôn nắm quyền, vì cung hai chỉ đi vào quyền lực trong cuộc tuần hoàn thứ hai. Nó đồng thời nắm quyền với cung hai cho đến cuối thời đại, khi nó bắt đầu dần dần đi vào che khuất khi cung một lại chuyển vào ảnh hưởng. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cả ba luôn luôn hiện diện vào mọi lúc. Chỉ là vấn đề mức độ và tiến hoá theo chu kỳ mà thôi.

We might now take the four minor Rays, which, with the third, make the sumtotal of manas, and see wherein their influence may be expected. The subject is so stupendous that we cannot possibly do more than touch upon certain points, nor can we enlarge along the line of the mechanistic development of forms to utilise the force. This is all hidden in the science of electricity, and as exoteric science discovers how:

Giờ đây chúng ta có thể xét đến bốn cung nhỏ, vốn cùng với cung ba tạo thành tổng số của manas, và xem ảnh hưởng của chúng có thể được trông đợi ở đâu. Chủ đề này quá đồ sộ đến nỗi chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chạm đến một vài điểm nhất định, cũng không thể khai triển theo đường phát triển cơ giới của các hình tướng để sử dụng mãnh lực. Tất cả điều này đều ẩn giấu trong khoa học điện, và khi khoa học ngoại môn khám phá được cách:

To utilise the power in the air, or to reduce electrical phenomena to the uses of man;

Sử dụng quyền năng trong không khí, hay quy các hiện tượng điện vào việc sử dụng của con người;

To build forms, and create machines to contain and distribute the electrical forces of the atmosphere; [Page 427]

Xây dựng các hình tướng, và tạo ra các máy móc để chứa đựng và phân phối các mãnh lực điện của khí quyển; [Page 427]

To harness the activity of matter, and to drive it towards certain ends;

Chế ngự hoạt động của vật chất, và thúc đẩy nó hướng đến những mục đích nhất định;

To employ the electrical force in the air to vitalise, rebuild, and heal the physical body;

Sử dụng mãnh lực điện trong không khí để tiếp sinh lực, tái tạo, và chữa lành thể xác;

then the phenomena of the Rays, working in cycles, will be comprehended, and vast opportunities will be seized by man to bring about specific ends during specific cycles.

thì các hiện tượng của các cung, hoạt động theo chu kỳ, sẽ được thấu hiểu, và con người sẽ nắm lấy những cơ hội lớn lao để đạt đến những mục đích xác định trong những chu kỳ xác định.

a. Ray effects. The Ray of Harmony, Beauty and Art, or the second manasic aspect (adaptability being the third) will work out in the following ways:

a. Các hiệu quả của cung. Cung Hài Hòa, Mỹ Lệ và Nghệ Thuật, hay phương diện manas thứ hai (khả năng thích ứng là phương diện thứ ba) sẽ biểu lộ theo những cách sau:

In the development of the intuition by the means of the knowledge of sound vibration, and the higher mathematics. This is being already touched upon exoterically.

Trong sự phát triển trực giác bằng tri thức về rung động âm thanh, và toán học cao cấp. Điều này hiện đã được chạm đến trong ngoại môn.

Music, as a means to be employed in building and destroying, will be recognised, and the laws of levitation and of rhythmic movement in all forms, from an atom to a solar system, will be studied. The manipulation of matter of all kinds by the means of sound will be practised on the two lower planes, and when the synthesis of the four rays into the third is in process of accomplishment, then a similar knowledge will be displayed on the mental plane.

Âm nhạc, như một phương tiện được dùng để xây dựng và hủy diệt, sẽ được công nhận, và các định luật về sự bay lên và chuyển động có nhịp điệu trong mọi hình tướng, từ một nguyên tử đến một hệ mặt trời, sẽ được nghiên cứu. Việc vận dụng mọi loại vật chất bằng âm thanh sẽ được thực hành trên hai cõi thấp, và khi sự tổng hợp của bốn cung vào cung ba đang trong tiến trình hoàn thành, thì một tri thức tương tự sẽ được biểu lộ trên cõi trí.

The laws of fire will be gradually permitted exoteric publication; there are twenty-seven occult laws which are only revealed after initiation at this stage of evolution. In them are summed up the basic laws of color and of music and rhythm. When music produces warmth or stimulation, and when pictures, for instance, glow or reveal the subjective within the objective, then will this fourth Ray of Harmony be coming to fruition.

Các định luật của lửa sẽ dần dần được cho phép công bố ra ngoại môn; có hai mươi bảy định luật huyền bí chỉ được mặc khải sau điểm đạo ở giai đoạn tiến hoá này. Trong đó được tổng kết các định luật căn bản của màu sắc, âm nhạc và nhịp điệu. Khi âm nhạc tạo ra hơi ấm hay sự kích thích, và khi các bức tranh, chẳng hạn, phát sáng hay bộc lộ cái chủ quan bên trong cái khách quan, thì khi ấy cung Hài Hòa thứ tư này sẽ đi đến kết quả.

Let us keep the numbering of the Rays clearly in mind.

Chúng ta hãy ghi nhớ rõ cách đánh số các cung.

The numbers preceding the names have to do with the sevenfold manifestation, and the numbers succeeding the names concern the fivefold manifestation of Brahma. [Page 428]

Các con số đứng trước tên gọi liên quan đến biểu hiện thất phân, và các con số đứng sau tên gọi liên quan đến biểu hiện ngũ phân của Brahma. [Page 428]

1.

Will or Power.

Rays of Aspect:

2.

Love or Wisdom.

3.

Adaptability or active intelligence

1.

4.

Harmony, Beauty or Art

2.

5.

Concrete Knowledge or Science

3.

Rays of Attribute:

6.

Abstract Idealism

4.

7.

Ceremonial Magic

5.

We must now continue with our consideration of the four types of force, emanating from certain great Entities, and the future results that may be expected from their effect upon man, remembering ever that these four influences (with their synthesis, the third Ray of Aspect) sum up, in themselves, the fifth logoic principle of manas. They are, literally, the radiatory effects of the Divine Manasaputras. We are concerned primarily with the results to be brought about in the units in Their bodies.

Giờ đây chúng ta phải tiếp tục xem xét bốn loại mãnh lực, phát ra từ một số Thực Thể vĩ đại, và những kết quả tương lai có thể được trông đợi từ ảnh hưởng của chúng lên con người, luôn ghi nhớ rằng bốn ảnh hưởng này (cùng với sự tổng hợp của chúng là cung ba của Các Cung Trạng Thái) tự chúng tổng kết nguyên khí logoic thứ năm của manas. Theo nghĩa đen, chúng là các hiệu quả bức xạ của các Manasaputra Thiêng liêng. Chúng ta chủ yếu quan tâm đến những kết quả sẽ được mang lại nơi các đơn vị trong các thể của Các Ngài.

The coming into power of this fourth Ray at any time (and such an advent may be looked for towards the close of this lesser cycle, which ended in 1924) will produce a corresponding activity in connection with the fourth subplane in each plane, beginning with the fourth physical ether; this will result in the following effects:

Sự đi vào quyền lực của cung bốn này vào bất kỳ lúc nào (và có thể trông đợi một sự giáng lâm như vậy vào gần cuối chu kỳ nhỏ hơn này, vốn kết thúc vào năm 1924) sẽ tạo ra một hoạt động tương ứng liên hệ với cõi phụ thứ tư trong mỗi cõi, bắt đầu với dĩ thái hồng trần thứ tư; điều này sẽ dẫn đến các hiệu quả sau:

First, physical plane scientists will be able to speak with authority anent the fourth ether, even though they may not recognise it as the lowest of the four etheric grades of substance: its sphere of influence and its utilisation will be comprehended, and “force” as a factor in matter, or the electrical manifestation of energy within definite limits, will be as well understood as is hydrogen at this time. Indications of this can already be seen in the discovery of radium, and the study of radioactive substances and of electronic demonstration. This knowledge will revolutionise the life of man; it will put into his hands that which occultists call “power of the fourth order” (on the physical plane). It will enable him to [Page 429] utilise electrical energy for the regulation of his everyday life in a way as yet incomprehensible; it will produce new methods of illuminating, and of heating the world at a small cost and with practically no initial outlay. The fact of the existence of the etheric body will be established, and the healing of the dense physical body, via the etheric body, by force utilisation and solar radiation, will take the place of the present methods. Healing will then fall practically into two departments:

Thứ nhất, các nhà khoa học cõi hồng trần sẽ có thể nói một cách có thẩm quyền về dĩ thái thứ tư, dù họ có thể không nhận ra nó là cấp thấp nhất trong bốn cấp dĩ thái của chất liệu: phạm vi ảnh hưởng của nó và việc sử dụng nó sẽ được thấu hiểu, và “mãnh lực” như một yếu tố trong vật chất, hay biểu hiện điện của năng lượng trong những giới hạn xác định, sẽ được hiểu rõ như hydro hiện nay. Những dấu hiệu của điều này đã có thể thấy trong việc khám phá radium, và việc nghiên cứu các chất phóng xạ cùng sự chứng minh điện tử. Tri thức này sẽ cách mạng hóa đời sống con người; nó sẽ đặt vào tay y điều mà các nhà huyền bí học gọi là “quyền năng của bậc thứ tư” (trên cõi hồng trần). Nó sẽ giúp y [Page 429] sử dụng điện năng để điều chỉnh đời sống hằng ngày của mình theo một cách hiện còn chưa thể hiểu nổi; nó sẽ tạo ra những phương pháp mới để chiếu sáng và sưởi ấm thế giới với chi phí nhỏ và hầu như không cần vốn đầu tư ban đầu. Sự kiện về sự tồn tại của thể dĩ thái sẽ được xác lập, và việc chữa lành thể xác đậm đặc, thông qua thể dĩ thái, bằng việc sử dụng mãnh lực và bức xạ mặt trời, sẽ thay thế các phương pháp hiện nay. Khi đó việc chữa lành trên thực tế sẽ thuộc vào hai bộ phận:

1. Vitalisation, by means of:

1. Tiếp sinh lực, bằng các phương tiện:

a. Electricity.

a. Điện.

b. Solar and planetary radiation.

b. Bức xạ mặt trời và hành tinh.

2. Definite curative processes, through the occult knowledge of:

2. Các tiến trình chữa trị xác định, thông qua tri thức huyền bí về:

a. The force centres.

a. Các trung tâm mãnh lực.

b. The work of the devas of the fourth ether.

b. Công việc của các thiên thần của dĩ thái thứ tư.

Transportation on sea and land will be largely superseded by the utilisation of air routes and the transit of large bodies through the air, by means of the instantaneous use of the force or energy inherent in the ether itself, will take the place of the present methods.

Việc vận chuyển trên biển và trên bộ phần lớn sẽ được thay thế bằng việc sử dụng các tuyến đường không, và sự chuyên chở những khối lượng lớn qua không trung, bằng cách sử dụng tức thời mãnh lực hay năng lượng cố hữu trong chính dĩ thái, sẽ thay thế các phương pháp hiện nay.

Religious students will study the side of manifestation we call the “life side” just as the scientist studies that called “matter,” and both will come to a realisation of the close relation existing between the two, and thus the old gap and the ancient warfare between science and religion will be in temporary abeyance. Definite methods of demonstrating the fact that life persists after the death of the physical body will be followed, and the etheric web will be recognised as a factor in the case. The connection between the different planes will be sought, and the analogy between the fourth etheric subplane and the fourth or buddhic plane (the fourth cosmic ether) will be studied, for it will be realised that the life of those Entities, Whom we recognise as the planetary Logoi, pours [Page 430] through our scheme from the fourth cosmic plane, the cosmic buddhic, and thus in a very special sense through all lesser correspondences. The alignment will be as follows:

Các đạo sinh tôn giáo sẽ nghiên cứu phương diện biểu hiện mà chúng ta gọi là “mặt sự sống” cũng như nhà khoa học nghiên cứu phương diện được gọi là “vật chất,” và cả hai sẽ đi đến chứng nghiệm về mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa hai phương diện ấy, và như vậy khoảng cách cũ cùng cuộc chiến lâu đời giữa khoa học và tôn giáo sẽ tạm thời lắng xuống. Những phương pháp xác định để chứng minh sự kiện rằng sự sống vẫn tiếp tục sau cái chết của thể xác sẽ được theo đuổi, và màng dĩ thái sẽ được công nhận là một yếu tố trong trường hợp này. Mối liên hệ giữa các cõi khác nhau sẽ được tìm kiếm, và sự tương đồng giữa cõi phụ dĩ thái thứ tư và cõi thứ tư hay cõi Bồ đề (dĩ thái vũ trụ thứ tư) sẽ được nghiên cứu, vì người ta sẽ chứng nghiệm rằng sự sống của những Thực Thể mà chúng ta nhận biết là các Hành Tinh Thượng đế tuôn [Page 430] qua hệ hành tinh của chúng ta từ cõi vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề vũ trụ, và do đó theo một ý nghĩa rất đặc biệt qua mọi tương ứng thấp hơn. Sự chỉnh hợp sẽ như sau:

a. The fourth cosmic plane, the cosmic buddhic.

a. Cõi vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề vũ trụ.

b. The fourth cosmic ether, the fourth plane of the system, the buddhic.

b. Dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi thứ tư của hệ thống, cõi Bồ đề.

c. The fourth etheric subplane of our physical plane.

c. Cõi phụ dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần của chúng ta.

There is thus a line of least resistance from the planes of the cosmos, producing a special activity in connection with the Heavenly Men, demonstrating on Their Own plane, and sequentially in connection with the units in Their bodies on lower levels. Lines of force, extending from our scheme extra-systemically, will be a recognised fact, and will be interpreted by scientists in terms of electrical phenomena, and by the religious man in terms of life,—the life force of certain Entities.

Như vậy có một con đường ít trở ngại nhất từ các cõi của vũ trụ, tạo ra một hoạt động đặc biệt liên hệ với các Đấng Thiên Nhân, biểu lộ trên chính cõi của Các Ngài, và tuần tự liên hệ với các đơn vị trong các thể của Các Ngài ở các cấp thấp hơn. Các đường mãnh lực kéo dài từ hệ hành tinh của chúng ta ra ngoài hệ thống sẽ là một sự kiện được công nhận, và sẽ được các nhà khoa học giải thích theo các hiện tượng điện, còn người có tôn giáo thì giải thích theo sự sống,—mãnh lực sự sống của một số Thực Thể nhất định.

Philosophic students will endeavour simultaneously to link these two schools of thought, and to demonstrate the factor of the intelligent adaptation of the electrical phenomena which we call matter,—of that energised active material we call substance,—to the life purpose of a cosmic Being. In these three lines of thought, therefore,—scientific, religious, and philosophic,—we have the beginning of the conscious building, or construction of the antaskarana of that group which we call the fifth rootrace.

Các đạo sinh triết học sẽ đồng thời cố gắng nối kết hai trường phái tư tưởng này, và chứng minh yếu tố thích ứng thông minh của các hiện tượng điện mà chúng ta gọi là vật chất,—của chất liệu hoạt động được tiếp năng lượng mà chúng ta gọi là chất liệu,—với mục đích sự sống của một Hữu thể vũ trụ. Vì vậy, trong ba đường tư tưởng này,—khoa học, tôn giáo, và triết học,—chúng ta có sự khởi đầu của việc hữu thức xây dựng, hay kiến tạo antaskarana của nhóm mà chúng ta gọi là giống dân gốc thứ năm.

On the fourth subplane of the astral plane, a similar activity will be noted as in process. The inflowing force will cause an astral stimulation in the bodies of many of the human family who are still on that subplane, and will bring about an awakening of the desire for harmony in a new manner. This will work out relatively well in the sixth subrace. It should be remembered that numbers of the old Atlanteans (fourth rootrace men) will respond to [Page 431] the stimulation and will find their way into incarnation at that time, for the four and the six are always closely allied. We have another suggestive analogy in the fact that the devas of the fourth ether will be soon swinging into recognised utility and that in the sixth subrace the deva evolution will be exceedingly prominent. The fourth plane is the plane of at-one-ment for certain deva and human units, and certain groups (the fourth Creative Hierarchy and the sixth Deva Hierarchy) have a pronounced karma to work out together. One can now see the supreme importance of the human Hierarchy, the fourth in this sequence of planes and ideas.

Trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục, một hoạt động tương tự cũng sẽ được ghi nhận là đang diễn ra. Mãnh lực tuôn vào sẽ gây ra một sự kích thích cảm dục trong các thể của nhiều người trong gia đình nhân loại hiện vẫn còn ở trên cõi phụ đó, và sẽ mang lại một sự thức tỉnh của khát vọng về hài hòa theo một cách mới. Điều này sẽ biểu lộ tương đối tốt trong giống dân phụ thứ sáu. Cần nhớ rằng nhiều người Atlantis xưa (con người của giống dân gốc thứ tư) sẽ đáp ứng với [Page 431] sự kích thích ấy và sẽ tìm đường đi vào lâm phàm vào thời điểm đó, vì số bốn và số sáu luôn luôn liên kết chặt chẽ. Chúng ta có một sự tương đồng gợi ý khác trong sự kiện rằng các thiên thần của dĩ thái thứ tư sẽ sớm chuyển vào công dụng được công nhận và rằng trong giống dân phụ thứ sáu, sự tiến hoá thiên thần sẽ cực kỳ nổi bật. Cõi thứ tư là cõi của sự hợp nhất đối với một số đơn vị thiên thần và nhân loại nhất định, và một số nhóm (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư và Huyền Giai Thiên Thần thứ sáu) có một nghiệp quả rõ rệt phải cùng nhau giải quyết. Giờ đây người ta có thể thấy tầm quan trọng tối cao của Huyền Giai nhân loại, thứ tư trong chuỗi cõi và ý niệm này.

Second Cosmic Plane

Seven Cosmic Logoi.

Fourth Cosmic Plane

Seven Rishis of the Great Bear.

Second Solar Plane

Seven Heavenly Men.

Fourth Solar Plane

Seven centres of the seven Heavenly Men in the fourth cosmic ether.

Fourth subplane of the solar physical

Seven centres of the human unit in ether of the fourth order.

The beauty of the interlocking system will be apparent, even though it may not be so immediately understandable wherein lies the relation between these complexities of entities. We must ever remember that we are considering the force or life-energy of these entities as it pours into, and works through definite, material, substantial forms.

Vẻ đẹp của hệ thống móc nối lẫn nhau sẽ trở nên hiển nhiên, dù có thể không dễ hiểu ngay được chính trong đó có mối liên hệ giữa những phức tạp của các thực thể này. Chúng ta phải luôn nhớ rằng mình đang xem xét mãnh lực hay năng lượng sự sống của các thực thể này khi nó tuôn vào và hoạt động xuyên qua những hình tướng vật chất, chất liệu xác định.

On the fourth subplane of the mental plane there will be, in the immediate future, a period of intensified evolution for the units of the fifth rootrace, prior to their passing out of and into another race, globe, chain, or scheme. We have on the fourth subplane of the fifth plane the centre of interest for the present race and the day of its opportunity. Here can be seen the awakening of the higher consciousness, and the first ripple of perception of, and vibratory response to, the causal body. In this [Page 432] connection, we must ever remember that the periphery of the causal body encloses the permanent atoms. It is the plane of testing, of the major initiations of the Threshold; it is the battleground in man, and from this plane he must secure the right to enter the Path, and procure that control over his lower bodies which will make him a master, and not a slave.

Trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, trong tương lai gần sẽ có một giai đoạn tiến hoá được tăng cường đối với các đơn vị của giống dân gốc thứ năm, trước khi họ chuyển ra khỏi và đi vào một nhân loại, bầu hành tinh, Dãy hay hệ hành tinh khác. Trên cõi phụ thứ tư của cõi thứ năm, chúng ta có trung tâm chú ý đối với nhân loại hiện nay và ngày cơ hội của nó. Ở đây có thể thấy sự thức tỉnh của tâm thức cao hơn, và làn sóng đầu tiên của sự tri giác về, và đáp ứng rung động đối với, thể nguyên nhân. Trong mối [Page 432] liên hệ này, chúng ta phải luôn nhớ rằng chu vi của thể nguyên nhân bao bọc các Nguyên tử trường tồn. Đây là cõi của sự thử thách, của các điểm đạo lớn nơi Ngưỡng Cửa; đây là chiến trường trong con người, và từ cõi này y phải giành được quyền bước vào Con Đường, và đạt được sự kiểm soát đối với các thể thấp của mình, điều sẽ làm cho y thành một chân sư, chứ không phải một nô lệ.

Thus one could progress the idea and fill many books with suggestions as to that which may be expected during the next few centuries but it does not serve any useful purpose to enlarge further. I might, in summing up these ideas, point out that the immediate future achievement consists in the utilisation of force and of electrical energy for the more harmonious adjustment of the life of man.

Do đó, người ta có thể triển khai ý tưởng này và lấp đầy nhiều cuốn sách bằng những gợi ý về điều có thể được mong đợi trong vài thế kỷ tới, nhưng việc mở rộng thêm nữa không phục vụ mục đích hữu ích nào. Khi tóm lược các ý tưởng này, tôi có thể chỉ ra rằng thành tựu trực tiếp trong tương lai nằm ở việc sử dụng mãnh lực và năng lượng điện cho sự điều chỉnh hài hòa hơn đời sống con người.

One or two more suggestions might be made anent the influence of this fourth Ray of mind, and primarily it might be pointed out that more time has been given to the consideration of this Ray than will be possible with most of the others on account of its holding a place of such importance in this fourth chain of the earth scheme, and on the fourth globe, our earthly planet. Each planetary Logos pours forth His influence in different rounds, planes, chains, globes, races, and subraces according to their numerical relationship to the scheme of which He is the vitalising Life. Temporarily, and as the cycle progresses, these forms become receptive and negative, and are thus responsive to the positive influence of the planetary Logos.

Có thể đưa ra thêm một hay hai gợi ý nữa liên quan đến ảnh hưởng của cung trí tuệ thứ tư này, và trước hết có thể chỉ ra rằng đã dành nhiều thời gian hơn để xem xét cung này so với phần lớn các cung khác, vì nó giữ một vị trí quan trọng như vậy trong dãy thứ tư này của hệ Địa Cầu, và trên bầu hành tinh thứ tư, hành tinh Trái Đất của chúng ta. Mỗi Hành Tinh Thượng đế tuôn đổ ảnh hưởng của Ngài trong các cuộc tuần hoàn, các cõi, các Dãy, các bầu hành tinh, các nhân loại và các giống dân phụ khác nhau tùy theo mối liên hệ số học của chúng với hệ hành tinh mà Ngài là Sự sống tiếp sinh lực. Tạm thời, và khi chu kỳ tiến triển, các hình tướng này trở nên tiếp nhận và âm tính, và do đó đáp ứng với ảnh hưởng dương tính của Hành Tinh Thượng đế.

One further point I would make, and as it is of an esoteric and occult nature, it can be but hinted at. At the fourth Initiation, the force of the Logos of the fourth Ray is a vital factor in the initiation. It is through the application of the Rod of Initiation that His Life energy is applied to the initiate, or the electrical force that emanates from Him is geometrically circulated through certain [Page 433] centres, producing the necessitated stimulation. At the fifth Initiation similarly the force of the third Logos may be felt, and at the sixth that of the second Logos, while at the seventh the dynamic fire of the first Logos circulates through the body of the Chohan.

Tôi muốn nêu thêm một điểm nữa, và vì nó có bản chất huyền bí học và huyền môn, nên chỉ có thể được gợi ý. Ở lần điểm đạo thứ tư, mãnh lực của Thượng đế của cung bốn là một yếu tố thiết yếu trong điểm đạo. Chính nhờ sự áp dụng Thần Trượng Điểm đạo mà năng lượng sự sống của Ngài được áp vào điểm đạo đồ, hay mãnh lực điện phát ra từ Ngài được lưu chuyển theo hình học qua một số trung tâm [Page 433]nhất định, tạo ra sự kích thích cần thiết. Tương tự, ở lần điểm đạo thứ năm có thể cảm nhận được mãnh lực của Thượng đế thứ ba, và ở lần thứ sáu là của Thượng đế thứ hai, trong khi ở lần thứ bảy, lửa năng động của Thượng đế thứ nhất lưu chuyển qua thể của vị Chohan.

It might be tabulated thus:

Có thể lập bảng như sau:

1. The magical force of the seventh Logos is felt at the first Initiation.

1. Mãnh lực huyền thuật của Thượng đế thứ bảy được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ nhất.

2. The aggressive fire of the sixth Logos is felt at the second Initiation.

2. Lửa xung kích của Thượng đế thứ sáu được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ hai.

3. The illuminating light of the fifth Logos is felt at the third Initiation.

3. Ánh sáng soi sáng của Thượng đế thứ năm được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ ba.

4. The harmonising life of the fourth Logos is felt at the fourth Initiation.

4. Sự sống điều hòa của Thượng đế thứ tư được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ tư.

5. The blending power of the third Logos is felt at the fifth Initiation.

5. Quyền năng hòa trộn của Thượng đế thứ ba được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ năm.

6. The unifying heat of the second Logos is felt at the sixth Initiation.

6. Nhiệt lực hợp nhất của Thượng đế thứ hai được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ sáu.

7. The dynamic electricity of the first Logos is felt at the seventh Initiation.

7. Điện lực năng động của Thượng đế thứ nhất được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ bảy.

Let us now pass on to the brief consideration of the future influence of the third manasic ray of “Concrete Knowledge or Science.” As I have elsewhere pointed out this ray concerns itself with the building of form, with the utilisation of matter, with the embodying of ideas, or of entities, whether cosmic, systemic, lunar, or subhuman. The planetary Logos of this fifth systemic Ray holds a peculiar position in the scheme of things. He is the embodiment of the fifth logoic principle of manas. His is the synthesising scheme for the five schemes of the five Kumaras Who are Brahma, when viewed as the sum total of the third logoic aspect, though He is not the synthesising factor for the seven schemes which are the sum total of logoic manifestation considered as the union of the second and third aspects. This is a point of prime importance to bear in mind. His is the influence that leads to the scientific adaptation of matter to form, [Page 434] and His is the life that unifies ever the three and the five. Let us see if, by illustration, we can make this idea more simple. He is, as we know, the embodiment of the fifth principle. His influence, therefore, may ever be felt in His numerical correspondences, for He is the Lord of the fifth Ray in the system, and Ruler of the third Manasic Ray when considering only the third aspect. At individualisation, or at the coming into incarnation of the self-conscious units, the fifth principle linked the higher three and the lower four. This took place in the third rootrace and produced a form wherein dwelt Spirit on the third subplane of the fifth plane. All these analogies will bear pondering upon and the numerical relationship is not by chance. His was the power that acted via certain schemes, chains, and globes, and produced results in the cells and groups of cells in the body of our particular planetary Logos. This is given by way of elucidation, and by way of indicating the relative importance of the influence of a planetary Logos upon another planetary Logos during different stages of evolution.

Giờ đây, chúng ta hãy chuyển sang việc xem xét ngắn gọn ảnh hưởng tương lai của cung manas thứ ba của “Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.” Như tôi đã chỉ ra ở nơi khác, cung này đề cập đến việc xây dựng hình tướng, việc sử dụng vật chất, việc hiện thân các ý tưởng, hay các thực thể, dù là vũ trụ, hệ thống, thái âm hay dưới nhân loại. Hành Tinh Thượng đế của cung hệ thống thứ năm này giữ một vị trí đặc biệt trong sơ đồ sự vật. Ngài là hiện thân của nguyên khí logoi thứ năm của manas. Hệ hành tinh của Ngài là hệ tổng hợp cho năm hệ của năm Đấng Kumara là Brahma, khi được nhìn như tổng thể của phương diện logoi thứ ba, dù Ngài không phải là yếu tố tổng hợp cho bảy hệ là tổng thể của biểu hiện logoi khi được xét như sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba. Đây là một điểm tối quan trọng cần ghi nhớ. Ảnh hưởng của Ngài dẫn đến sự thích ứng khoa học của vật chất với hình tướng, [Page 434]và sự sống của Ngài luôn hợp nhất bộ ba và ngũ phân. Hãy xem liệu bằng minh họa chúng ta có thể làm cho ý tưởng này đơn giản hơn không. Như chúng ta biết, Ngài là hiện thân của nguyên khí thứ năm. Vì vậy, ảnh hưởng của Ngài luôn có thể được cảm nhận trong các tương ứng số học của Ngài, vì Ngài là Chúa Tể của cung năm trong hệ thống, và là chủ tinh của cung Manas thứ ba khi chỉ xét phương diện thứ ba. Vào lúc biệt ngã hóa, hay khi các đơn vị ngã thức đi vào lâm phàm, nguyên khí thứ năm đã nối kết bộ ba cao hơn với bộ bốn thấp hơn. Điều này diễn ra trong giống dân gốc thứ ba và tạo ra một hình tướng trong đó Tinh thần ngự trên cõi phụ thứ ba của cõi thứ năm. Tất cả những tương đồng này đều đáng để suy ngẫm, và mối liên hệ số học ấy không phải là ngẫu nhiên. Chính quyền năng của Ngài đã tác động qua một số hệ, Dãy và bầu hành tinh nhất định, và tạo ra các kết quả trong các tế bào và các nhóm tế bào trong thể của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Điều này được đưa ra để làm sáng tỏ, và để chỉ ra tầm quan trọng tương đối của ảnh hưởng của một Hành Tinh Thượng đế lên một Hành Tinh Thượng đế khác trong các giai đoạn tiến hoá khác nhau.

This influence has waxed and waned since that time, dying down during the fourth rootrace, and waxing steadily greater during this fifth or Aryan. The planetary Logos Whose influence it is has not yet reached the zenith of His power, in this race. For a period immediately ahead His electrical energising force will pour on to our planet, and will bring about fresh discoveries anent matter and form, and fresh revelations concerning energy in matter.

Ảnh hưởng này đã tăng rồi giảm kể từ thời điểm đó, suy yếu trong giống dân gốc thứ tư, và tăng dần đều trong giống dân thứ năm hay Arya này. Hành Tinh Thượng đế mà đây là ảnh hưởng của Ngài vẫn chưa đạt đến đỉnh cao quyền năng của Ngài trong nhân loại này. Trong một giai đoạn ngay trước mắt, mãnh lực điện tiếp sinh lực của Ngài sẽ tuôn xuống hành tinh chúng ta, và sẽ mang lại những khám phá mới liên quan đến vật chất và hình tướng, cùng những mặc khải mới về năng lượng trong vật chất.

During the coming subraces His cycle will begin to pass out, and the influence of His Brother, the fourth Logos of Harmony, will reach its zenith for this round. During the fifth round the power or electrical radiation of the fifth Logos will again be strongly felt, for it is His round, and just as He was largely responsible for the manasic stimulation of animal man in the third rootrace, so in [Page 435] the fifth round will he be instrumental in causing that great separation which we call the “Judgment.” Remember in this connection that these Logoi—when pouring Their influence through a scheme or other septenary—work through Their numerical correspondence in the chains and globes. In the fifth round, for instance, the fifth chain (a centre in the body of the Heavenly Man) will be the recipient of this fifth type of force and will transmit and circulate it to the other chains via their fifth globe. Until the race has further evolved the mystery lies securely hid, and the inability of man to find out the enumeration of the schemes, chains, and globes, or to discover whether they are counted from within outwards, or vice versa, conceals that which must be hid.

Trong các giống dân phụ sắp tới, chu kỳ của Ngài sẽ bắt đầu qua đi, và ảnh hưởng của Huynh Đệ của Ngài, Thượng đế thứ tư của Hài Hòa, sẽ đạt đến đỉnh cao cho cuộc tuần hoàn này. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, quyền năng hay bức xạ điện của Thượng đế thứ năm sẽ lại được cảm nhận mạnh mẽ, vì đó là cuộc tuần hoàn của Ngài, và cũng như Ngài phần lớn chịu trách nhiệm cho sự kích thích manas của người thú trong giống dân gốc thứ ba, thì trong [Page 435]cuộc tuần hoàn thứ năm, y sẽ là tác nhân gây ra cuộc phân ly lớn mà chúng ta gọi là “Phán Xét.” Hãy nhớ trong mối liên hệ này rằng các Thượng đế này—khi tuôn đổ ảnh hưởng của Các Ngài qua một hệ hay một thất phân khác—hoạt động qua sự tương ứng số học của Các Ngài trong các Dãy và các bầu hành tinh. Chẳng hạn, trong cuộc tuần hoàn thứ năm, Dãy thứ năm (một trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân) sẽ là nơi tiếp nhận loại mãnh lực thứ năm này và sẽ truyền dẫn và lưu chuyển nó đến các Dãy khác qua bầu hành tinh thứ năm của chúng. Cho đến khi nhân loại tiến hoá thêm nữa, huyền nhiệm này vẫn được che giấu an toàn, và sự bất lực của con người trong việc tìm ra cách đánh số các hệ, các Dãy và các bầu hành tinh, hay khám phá xem chúng được đếm từ trong ra ngoài hay ngược lại, đã che giấu điều phải được che giấu.

The influence of this fifth Logos will be felt very considerably now on the fifth subplane of all the planes, specially in the three worlds of human endeavour, and as we are here dealing with man we can count from what is erroneously termed “the bottom up.” Therefore, the mental unit of men in this fifth subrace will receive increased stimulation, enabling man to vibrate on the fifth subplane which literally is the third subplane on the abstract level of the mental plane, on which the causal body is found. The fifth spirilla will, consequently, become active and the electrical force, or the fohatic current, will pour through it, and enable those men who are at the right stage to utilise this force in order to take the first initiation.

Ảnh hưởng của Thượng đế thứ năm này hiện nay sẽ được cảm nhận rất đáng kể trên cõi phụ thứ năm của mọi cõi, đặc biệt trong ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại, và vì ở đây chúng ta đang đề cập đến con người, chúng ta có thể đếm từ điều bị gọi sai là “từ dưới lên.” Vì vậy, đơn vị hạ trí của con người trong giống dân phụ thứ năm này sẽ nhận được sự kích thích gia tăng, giúp con người rung động trên cõi phụ thứ năm, vốn theo nghĩa đen là cõi phụ thứ ba trên cấp độ trí trừu tượng của cõi trí, nơi thể nguyên nhân được tìm thấy. Do đó, loa tuyến thứ năm sẽ trở nên hoạt động và mãnh lực điện, hay dòng fohat, sẽ tuôn qua nó, và giúp những người đang ở đúng giai đoạn có thể sử dụng mãnh lực này để nhận lần điểm đạo thứ nhất.

As this fifth influence becomes more and more felt, its effects will be seen on the astral plane in an intelligent conscious control which will be based not so much on the desire for harmony as on a desire for a scientific, intelligent manipulation of astral matter. When this is the case, the higher psychism will begin to make itself felt. On the physical plane a great deal of interesting electrical phenomena will be seen, and the opportunity of the [Page 436] Manu to separate races, to segregate types, and to submerge and detach continents will be great. This is the ray of separative force, and its place, as a factor in the erection and destruction of forms, is very interesting.

Khi ảnh hưởng thứ năm này ngày càng được cảm nhận nhiều hơn, các hiệu quả của nó sẽ được thấy trên cõi cảm dục trong một sự kiểm soát hữu thức thông minh, không dựa nhiều vào khát vọng hài hòa cho bằng dựa vào khát vọng thao tác chất liệu cảm dục một cách khoa học và thông minh. Khi điều này xảy ra, thông linh cao hơn sẽ bắt đầu biểu lộ. Trên cõi hồng trần, nhiều hiện tượng điện lý thú sẽ được thấy, và cơ hội của Đức Manu trong việc phân chia các nhân loại, phân tách các loại hình, và làm chìm xuống cũng như tách rời các lục địa sẽ rất lớn. Đây là cung của mãnh lực phân ly, và vị trí của nó, như một yếu tố trong việc dựng lên và phá hủy các hình tướng, là điều rất đáng quan tâm.

It may be asked wherein this can all be interpreted in terms of fire, and thus the integrity of the thought-form of this book be preserved. Whenever the words influence, radiation, or the power of a ray, are used, we are dealing inferentially with electrical phenomena, or with energy of some kind. This energy, or electrical manifestation, this “mystery of electricity” to which H. P. B. refers, (S.D., I, 107) is the foundation of all manifestations, and lies back of all evolution. It produces light in ever-growing brilliancy; it builds and moulds the form to the need of the indwelling Entity; it brings about coherence and group activity; it is the warmth that causes all growth, and that fosters not only the manifestations of the vegetable and animal kingdoms but induces interaction between the human units, and lies behind all human relationships. It is magnetism, radiation, attraction and repulsion, life, death, and all things; it is conscious purpose and essential will in objective manifestation, and he who has solved what lies back of electrical phenomena has solved not only the secret of his own Being, but knows his place within his greater sphere, a planetary Logos, is conscious of the Identity of that cosmic Existence we call a solar Logos, and realises somewhat the place of our system and its electrical relationship with the seven constellations.

Có thể có người hỏi điều này có thể được diễn giải theo thuật ngữ của lửa ở đâu, và nhờ đó tính toàn vẹn của hình tư tưởng của cuốn sách này được bảo toàn. Bất cứ khi nào các từ ảnh hưởng, bức xạ, hay quyền năng của một cung được dùng, chúng ta đang hàm ý đề cập đến các hiện tượng điện, hay một loại năng lượng nào đó. Năng lượng này, hay biểu hiện điện này, “huyền nhiệm của điện” mà H. P. B. nhắc đến, (S.D., I, 107)là nền tảng của mọi biểu hiện, và nằm phía sau mọi tiến hoá. Nó tạo ra ánh sáng với độ rực rỡ ngày càng tăng; nó xây dựng và nắn đúc hình tướng theo nhu cầu của Thực Thể ngự bên trong; nó tạo ra sự cố kết và hoạt động nhóm; nó là nhiệt lực gây nên mọi tăng trưởng, và nuôi dưỡng không chỉ các biểu hiện của giới thực vật và giới động vật mà còn tạo ra sự tương tác giữa các đơn vị nhân loại, và nằm sau mọi mối quan hệ của con người. Nó là từ điện, bức xạ, hấp dẫn và đẩy lùi, sự sống, cái chết, và mọi sự; nó là mục đích hữu thức và ý chí cốt yếu trong biểu hiện khách quan, và ai giải được điều nằm sau các hiện tượng điện thì không những giải được bí mật của chính Bản Thể mình, mà còn biết vị trí của mình trong khối cầu lớn hơn của mình, một Hành Tinh Thượng đế, ý thức được Bản Sắc của Sự Tồn Tại vũ trụ mà chúng ta gọi là một Thái dương Thượng đế, và phần nào chứng nghiệm vị trí của hệ thống chúng ta cùng mối liên hệ điện của nó với bảy chòm sao.

We have now to deal with the influence of a force that is waning and passing out of dominance, that of the sixth Ray of Devotion or Idealism. It will not be possible to predicate much anent it, beyond pointing out certain general ideas which may be of value in the contemplation of Ray cycles in general.

Giờ đây chúng ta phải đề cập đến ảnh hưởng của một mãnh lực đang suy giảm và mất dần quyền chi phối, đó là cung sáu của Sùng tín hay Duy tâm. Sẽ không thể nói nhiều về nó ngoài việc chỉ ra một số ý tưởng tổng quát có thể có giá trị trong việc chiêm ngưỡng các chu kỳ cung nói chung.

[Page 437] These Ray influences work through their focal points in all cases (macrocosmic and microcosmic) and these are the etheric centres. The centres, in the case of all Beings, are ever seven in number, and are composed of deva and human units in group activity, or of force vortices which contain in latency, and hold in ordered activity, cells with the potentiality of human manifestation. Forget not the occult truism that all forms of existence pass at one stage of their career through the human kingdom.

[Page 437]Các ảnh hưởng cung này trong mọi trường hợp (đại thiên địa và tiểu thiên địa) đều hoạt động qua các tiêu điểm của chúng, và đó là các trung tâm dĩ thái. Các trung tâm, trong trường hợp của mọi Hữu thể, luôn luôn là bảy về số lượng, và được cấu thành bởi các đơn vị thiên thần và nhân loại trong hoạt động nhóm, hay bởi các xoáy mãnh lực chứa trong trạng thái tiềm ẩn, và giữ trong hoạt động có trật tự, các tế bào có tiềm năng biểu hiện nhân loại. Đừng quên chân lý huyền bí rằng mọi hình thức tồn tại đều đi qua giới nhân loại ở một giai đoạn nào đó trong hành trình của chúng.

Cosmic, or extra-systemic rays, impinge upon or circulate via centres found on the second cosmic ether, but which, at the present stage of objectivity, become systemically visible in the fourth cosmic ether, the buddhic.

Các cung vũ trụ, hay ngoài hệ thống, tác động vào hoặc lưu chuyển qua các trung tâm được tìm thấy trên dĩ thái vũ trụ thứ hai, nhưng ở giai đoạn khách quan hiện nay, lại trở nên hữu hình trong hệ thống trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.

One permanent cosmic Ray is the ray of our Logos Himself, and the subrays of this ray permeate His entire system. Six other cosmic Rays, animating other systems, influence ours, finding their reflections in the subrays of our logoic Ray. To these six cosmic influences our Heavenly Men respond. They absorb the influence, being centres in the body logoic, pass it through Their schemes, circulate it through Their own centres (chains), and transmit it on to other schemes, coloring it with Their Own peculiar shade and qualifying it by Their own peculiar tone or note. The whole system of ray influence, or radiatory warmth, considered both physically and psychically, is one of an intricate circulation and interaction. The radiation or vibration passes in ordered cycles from its originating source, the One Ray, or systemic Logos, to the different centres in His body. Viewed from the physical standpoint this ray force is the energising factor in matter. Viewed from the psychical point of view it is the qualitative faculty. From scheme to scheme, from chain to chain, and from globe to globe, this force or quality passes and circulates, both adding, and at the same time abstracting, and returns to its focal point with two noticeable differences: [Page 438]

Một cung vũ trụ thường hằng là cung của chính Thượng đế của chúng ta, và các cung phụ của cung này thấm nhuần toàn bộ hệ thống của Ngài. Sáu cung vũ trụ khác, tiếp sinh lực cho các hệ thống khác, ảnh hưởng đến hệ thống của chúng ta, tìm thấy các phản chiếu của chúng trong các cung phụ của cung logoi của chúng ta. Với sáu ảnh hưởng vũ trụ này, các Đấng Thiên Nhân của chúng ta đáp ứng. Các Ngài hấp thụ ảnh hưởng ấy, vì là các trung tâm trong thể logoi, chuyển nó qua các hệ của Các Ngài, lưu chuyển nó qua các trung tâm riêng của Các Ngài (các Dãy), và truyền nó đến các hệ khác, nhuốm nó bằng sắc thái đặc thù của Chính Các Ngài và định tính nó bằng âm điệu hay chủ âm riêng của Các Ngài. Toàn bộ hệ thống ảnh hưởng cung, hay nhiệt bức xạ, xét cả về hồng trần lẫn thông linh, là một sự lưu chuyển và tương tác phức tạp. Bức xạ hay rung động đi theo các chu kỳ có trật tự từ nguồn gốc phát sinh của nó, Cung Duy Nhất, hay Thượng đế hệ thống, đến các trung tâm khác nhau trong thể của Ngài. Nhìn từ quan điểm hồng trần, mãnh lực cung này là yếu tố tiếp năng cho vật chất. Nhìn từ quan điểm thông linh, nó là năng lực phẩm tính. Từ hệ này sang hệ khác, từ Dãy này sang Dãy khác, và từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác, mãnh lực hay phẩm tính này truyền đi và lưu chuyển, vừa thêm vào vừa đồng thời rút ra, và trở về tiêu điểm của nó với hai khác biệt đáng chú ý: [Page 438]

a. The radiatory heat is intensified.

a.Nhiệt bức xạ được tăng cường.

b. The qualitative character or colour is increased.

b.Đặc tính phẩm tính hay màu sắc được gia tăng.

The effect on the form side is equally noticeable, and the warmth or quality of a Ray not only affects the psyche of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, but has a definite effect on material substance itself.

Hiệu quả trên phương diện hình tướng cũng rõ rệt không kém, và nhiệt lực hay phẩm tính của một cung không chỉ ảnh hưởng đến tâm hồn của một con người, một Hành Tinh Thượng đế, và một Thái dương Thượng đế, mà còn có một tác động xác định lên chính chất liệu vật chất.

Ray influences work equally on the deva and human Hierarchies, as they function in a planetary or logoic body. Clarity of thought might eventuate if we ever bear in mind that all forms are dual, both in evolution and in essential nature. They are the product of the work of the Builders (deva forces) and of active intelligence (the human units) and the two are indivisible in the Divine Hermaphrodite, or Heavenly Man. They are stimulated in both aspects of their Being by the ray influence.

Các ảnh hưởng cung tác động như nhau lên các Huyền Giai thiên thần và nhân loại, khi chúng hoạt động trong một thể hành tinh hay logoi. Sự sáng tỏ trong tư tưởng có thể xuất hiện nếu chúng ta luôn ghi nhớ rằng mọi hình tướng đều là kép, cả trong tiến hoá lẫn trong bản chất cốt yếu. Chúng là sản phẩm của công việc của các đấng kiến tạo (các mãnh lực thiên thần) và của trí tuệ hoạt động (các đơn vị nhân loại), và hai điều này là bất khả phân trong Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng, hay Đấng Thiên Nhân. Cả hai phương diện của Bản Thể các Ngài đều được kích thích bởi ảnh hưởng cung.

Let us now tabulate these ideas somewhat:

Giờ đây, chúng ta hãy lập bảng các ý tưởng này phần nào:

Entity

Force Centres

Psychical Manifestation

Physical Manifestation

1.

Solar Logos

Heavenly Men .

Deva Builders

A solar system

They energise and are active life

They work in matter and hold the life.

2.

Planetary

Logos

Human group

units

Deva Builders

A Scheme.

3.

A Man

Seven etheric

centres

Elemental

builders

Bodies.

Each of these divisions can be studied separately and in due course of time (when it may be safe to transmit information more freely anent the devas) it will be seen that a deva Lord of a plane, for instance, works through force centres, manifests objectively through the colour which is His psychical display, and ensouls the matter of [Page 439] a plane just as a Heavenly Man ensouls His scheme. The idea can be extended likewise to chains, globes, races, and rounds. Duality always will be seen,—human and deva manifestation forming the sumtotal, and always will energy and quality progress in parallel lines.

Mỗi phân bộ này có thể được nghiên cứu riêng biệt và theo thời gian thích hợp (khi có thể an toàn để truyền đạt thông tin tự do hơn về các thiên thần), người ta sẽ thấy rằng, chẳng hạn, một Chúa Tể thiên thần của một cõi hoạt động qua các trung tâm mãnh lực, biểu hiện khách quan qua màu sắc là sự biểu lộ thông linh của Ngài, và phú linh cho chất liệu của [Page 439]một cõi cũng như một Đấng Thiên Nhân phú linh cho hệ của Ngài. Ý tưởng này cũng có thể được mở rộng tương tự đến các Dãy, các bầu hành tinh, các nhân loại và các cuộc tuần hoàn. Nhị nguyên tính sẽ luôn được thấy,—biểu hiện nhân loại và thiên thần tạo thành tổng thể, và năng lượng cùng phẩm tính sẽ luôn tiến triển theo những đường song song.

As the ray influence passes away from a race or a planet, a scheme or a solar system, it must not be supposed that it is completely abrogated; it has simply passed beyond the periphery of whatever ring-pass-not it was energising, and the force of its influence is being focussed elsewhere. The original recipient becomes a channel, or transmitting agent, and not so much an absorber or container. Words again are handicapping us, and proving their inadequacy to express an idea. What the student should recognise is that during a cycle of ray influence, the object of its immediate attention receives and absorbs it, and transmutes it according to its need, and not so much therefore is available for transmission. When the cycle is drawing to a close more and more of the ray influence or magnetism will be felt elsewhere, until practically all of it will be passed on unabsorbed.

Khi ảnh hưởng cung rời khỏi một nhân loại hay một hành tinh, một hệ hay một hệ mặt trời, không nên cho rằng nó bị bãi bỏ hoàn toàn; nó chỉ đơn giản đã vượt ra ngoài chu vi của bất cứ vòng-giới-hạn nào mà nó đang tiếp năng, và mãnh lực ảnh hưởng của nó đang được tập trung ở nơi khác. Đối tượng tiếp nhận ban đầu trở thành một kênh dẫn, hay tác nhân truyền tải, chứ không còn hấp thụ hay chứa đựng nhiều như trước. Một lần nữa, ngôn từ làm cản trở chúng ta và cho thấy sự bất lực của chúng trong việc diễn đạt một ý tưởng. Điều mà đạo sinh nên nhận ra là trong một chu kỳ ảnh hưởng cung, đối tượng được nó chú ý trực tiếp sẽ tiếp nhận và hấp thụ nó, rồi chuyển hoá nó theo nhu cầu của mình, và do đó không còn nhiều để truyền đi. Khi chu kỳ gần kết thúc, ngày càng nhiều ảnh hưởng cung hay từ điện sẽ được cảm nhận ở nơi khác, cho đến khi thực tế hầu như toàn bộ nó sẽ được truyền đi mà không bị hấp thụ.

This is what is beginning to happen in relation to this sixth Ray of Devotion. Egos who are on that particular Ray will take form elsewhere on other globes, and in other chains, and not so much on our planet. The vibrations of that Ray will quiet down as far as we are concerned, and find increased activity elsewhere. To phrase it otherwise, our planet and all thereon will become positive and non-receptive, and will temporarily repulse this particular type of force. A psychical manifestation of this can be seen in the dying down of what is called Christian enthusiasm. This Ray, on which the Chohan Jesus may be found, will no longer pour its force to the same extent into the form He built, and it will necessarily slowly but surely disintegrate, having served its purpose [Page 440] for close on two thousand years. Later again the same force will be felt returning, and a new form will be found slowly coming into being, but along more adequate lines.

Đó là điều đang bắt đầu xảy ra liên quan đến cung sáu của Sùng tín này. Các chân ngã thuộc cung đặc thù đó sẽ nhập thể ở nơi khác trên các bầu hành tinh khác, và trong các Dãy khác, chứ không nhiều trên hành tinh chúng ta. Các rung động của cung đó sẽ lắng xuống đối với chúng ta, và tìm thấy hoạt động gia tăng ở nơi khác. Nói cách khác, hành tinh chúng ta và mọi sự trên đó sẽ trở nên dương tính và không tiếp nhận, và sẽ tạm thời đẩy lùi loại mãnh lực đặc thù này. Một biểu hiện thông linh của điều này có thể thấy trong sự suy tàn của điều được gọi là lòng nhiệt thành Kitô giáo. Cung này, nơi Chohan Jesus có thể được tìm thấy, sẽ không còn tuôn mãnh lực của nó vào hình tướng mà Ngài đã xây dựng với cùng mức độ như trước, và hình tướng ấy tất yếu sẽ chậm rãi nhưng chắc chắn tan rã, vì đã phục vụ mục đích của nó trong gần hai ngàn năm. Về sau nữa, chính mãnh lực ấy sẽ được cảm nhận trở lại, và một hình tướng mới sẽ được thấy đang chậm rãi đi vào hiện hữu, nhưng theo những đường lối thích đáng hơn.

It will consequently be apparent how the knowledge of these cycles, and of the force manifestation or obscuration of a Ray will eventually lead to a working with the Law, and to an intelligent co-operation with the plan of evolution. It might here be stated that the seven Kumaras (the four exoteric and the three esoteric) cooperate with this Law, and work exoterically, or esoterically according to the Ray in power, with the exception of the first Kumara, the Logos of our scheme, Who—being the synthesizing point for all—remains ever in objective activity.

Do đó, sẽ rõ ràng rằng tri thức về các chu kỳ này, và về sự biểu hiện mãnh lực hay sự che khuất của một cung, cuối cùng sẽ dẫn đến việc hoạt động phù hợp với Định luật, và đến sự hợp tác thông minh với kế hoạch tiến hoá. Ở đây có thể nói rằng bảy Đấng Kumara (bốn ngoại môn và ba nội môn) hợp tác với Định luật này, và hoạt động ngoại môn hay nội môn tùy theo cung đang nắm quyền, ngoại trừ Đấng Kumara thứ nhất, Thượng đế của hệ chúng ta, Đấng—vì là điểm tổng hợp cho tất cả—luôn luôn ở trong hoạt động khách quan.

It is this Ray activity which governs the obscuration or manifestation of a system, and a scheme with all that is included in these manifestations. Hence the emphasis laid in all occult books on the study of cycles, and on the differentiation of the one hundred years of Brahma into its component parts. In this knowledge lies hid the mystery of Being itself, of electrical force, and of fohatic synthesis.

Chính hoạt động cung này chi phối sự che khuất hay biểu hiện của một hệ thống, và của một hệ cùng mọi điều được bao gồm trong các biểu hiện ấy. Do đó có sự nhấn mạnh trong mọi sách huyền bí học về việc nghiên cứu các chu kỳ, và về sự biến phân một trăm năm của Brahma thành các phần cấu thành của nó. Trong tri thức này ẩn giấu huyền nhiệm của chính Bản Thể, của mãnh lực điện, và của sự tổng hợp fohat.

I will make no more comments on the future effects of the Ray which is passing into temporary obscuration as far as we are concerned. We shall later take up at greater length than has been possible with the other Rays, the subject of the seventh type of force now coming into power, and which is therefore a vital factor in the immediate evolution of man.

Tôi sẽ không bình luận thêm về các hiệu quả tương lai của cung đang đi vào sự che khuất tạm thời đối với chúng ta. Sau này, chúng ta sẽ khảo sát dài hơn so với các cung khác về chủ đề loại mãnh lực thứ bảy hiện đang đi vào quyền lực, và vì thế là một yếu tố thiết yếu trong tiến hoá trực tiếp của con người.

The fifth principle of manas is at this time beginning to demonstrate mainly through the seventh type of force (or the fifth when considering only the Brahma aspect of manifestation). It will be immediately apparent, therefore, that this incoming Ray is peculiarly situated at this time, and that its influence will be manifested under very favorable conditions. It is pouring its force out upon the [Page 441] seventh plane, the physical, during the fifth rootrace and the fifth subrace, and consequently the opportunity is great. In all that has been said anent the Rays it will be apparent that from the present standpoint two are paramountly concerned with the evolution of man: the fourth Ray of Harmony, which is the dominant ray of the greater cycle which includes the fourth round and globe, and the seventh Ray of Ceremonial Magic, which is one of the foremost influences concerned in all objective manifestations. These two Rays, or the force of these two planetary Logoi, are largely instrumental in bringing about coherency in our chain, the fourth of the fourth scheme, and on our physical globe, the Earth. The fourth and the seventh interact, one acting temporarily as a negative force and the other as a positive.

Nguyên khí thứ năm của manas vào lúc này đang bắt đầu biểu lộ chủ yếu qua loại mãnh lực thứ bảy (hay thứ năm khi chỉ xét phương diện Brahma của biểu hiện). Vì vậy, sẽ lập tức rõ ràng rằng cung đang đi vào này hiện nay ở trong một vị trí đặc biệt, và ảnh hưởng của nó sẽ được biểu lộ dưới những điều kiện rất thuận lợi. Nó đang tuôn mãnh lực của nó xuống [Page 441]cõi thứ bảy, cõi hồng trần, trong giống dân gốc thứ năm và giống dân phụ thứ năm, và do đó cơ hội là rất lớn. Trong tất cả những gì đã được nói về các cung, sẽ rõ ràng rằng từ quan điểm hiện tại có hai cung đặc biệt liên quan đến tiến hoá của con người: cung bốn của Hài Hòa,là cung chi phối của đại chu kỳ bao gồm cuộc tuần hoàn thứ tư và bầu hành tinh thứ tư, và cung bảy của Huyền Thuật Nghi Lễ, là một trong những ảnh hưởng hàng đầu liên quan đến mọi biểu hiện khách quan. Hai cung này, hay mãnh lực của hai Hành Tinh Thượng đế này, phần lớn là tác nhân tạo ra sự cố kết trong Dãy của chúng ta, Dãy thứ tư của hệ thứ tư, và trên bầu hành tinh hồng trần của chúng ta, Trái Đất. Cung bốn và cung bảy tương tác với nhau, một cung tạm thời hoạt động như mãnh lực âm và cung kia như mãnh lực dương.

The fifth Kumara, the Lord of the seventh Ray (for it is necessary to keep in mind His dual position as one of the points of the five-pointed Star of Brahma, and as one of the Triangles in the sevenfold logoic body) has a unique position as the “Ruler of the Building Devas” of the physical plane, the devas of the ethers, in cooperation with their Deva Lord. He guides and directs the production of the form by means of certain occult words. He works, therefore, through the etheric body of all forms and it is through His inflowing force that we may look for that increased stimulation of the matter of the etheric brain which will make the physical brain receptive to the higher revealing truth, and will put into the hands of scientists the secrets of the fourth and third ethers. The development of the matter of the brain parallels the stage of 7development of its atomic correspondence, and in the vitalisation of the fifth spirilla and the consequent reflex action of the seventh, we may look to see the mind of man assume proportions, and attain achievement, as yet unthought and undreamt.

Đấng Kumara thứ năm, Chúa Tể của cung bảy (vì cần ghi nhớ vị trí kép của Ngài vừa như một trong các điểm của Ngôi Sao năm cánh của Brahma, vừa như một trong các Tam Giác trong thể logoi thất phân) có một vị trí độc nhất như “Đấng Cai Quản các thiên thần kiến tạo” của cõi hồng trần, các thiên thần của các dĩ thái, trong sự hợp tác với Chúa Tể thiên thần của họ. Ngài hướng dẫn và chỉ đạo việc tạo ra hình tướng bằng một số linh từ huyền bí nhất định. Vì vậy, Ngài hoạt động qua thể dĩ thái của mọi hình tướng, và chính nhờ mãnh lực tuôn vào của Ngài mà chúng ta có thể mong đợi sự kích thích gia tăng đối với chất liệu của bộ não dĩ thái, điều sẽ làm cho bộ não hồng trần tiếp nhận chân lý mặc khải cao hơn, và sẽ đặt vào tay các nhà khoa học các bí mật của dĩ thái thứ tư và thứ ba. Sự phát triển của chất liệu bộ não song hành với giai đoạn phát triển của tương ứng nguyên tử của nó, và trong việc tiếp sinh lực cho loa tuyến thứ năm cùng phản ứng phản xạ hệ quả của loa tuyến thứ bảy, chúng ta có thể mong thấy trí tuệ con người đạt đến những tầm mức và thành tựu mà cho đến nay chưa từng được nghĩ tới hay mơ tới.

[Page 442] We might consider the effect of this incoming force along three lines:

[Page 442] Chúng ta có thể xem xét hiệu quả của mãnh lực đang đi vào này theo ba đường lối:

First. The type of force, or the logoic quality, with its function and aim.

Thứ nhất. Loại mãnh lực, hay phẩm tính logoi, cùng chức năng và mục đích của nó.

Second. Its work in relation to:

Thứ hai. Công việc của nó liên quan đến:

a. The animal kingdom.

a. giới động vật.

b. The human kingdom.

b. giới nhân loại.

c. The deva kingdom.

c. giới thiên thần.

Third. The results to be looked for during the coming centuries.

Thứ ba. Các kết quả có thể được mong đợi trong các thế kỷ sắp tới.

The type of force, or the nature of the Heavenly Man of the seventh Ray, is fundamentally constructive. It will be necessary here to touch somewhat upon His character and His place in the logoic scheme, calling attention to the need of refraining from personalisation and externalisation. The Heavenly Man of the scheme in which the Ray of Ceremonial Magic is embodied is one of the main transmitters of radiation from the Sun to the system and has a close connection with logoic kundalini. Herein lies a hint. The Raja-Lord of the etheric levels of the physical plane works in close alliance with Him and this will be apparent if we bear in mind that the Lord of a plane is its embodied activity. He is the energising force that expresses itself as a unified Identity in the matter of a plane, and we might therefore get some idea of the coherency of Their mutual work if we bear in mind that

Loại mãnh lực, hay bản chất của Đấng Thiên Nhân của cung bảy, về cơ bản là có tính kiến tạo. Ở đây cần đề cập phần nào đến Tính cách của Ngài và vị trí của Ngài trong hệ logoi, đồng thời lưu ý đến nhu cầu tránh nhân cách hóa và ngoại hiện hóa. Đấng Thiên Nhân của hệ mà trong đó Cung Huyền Thuật Nghi Lễ được hiện thân là một trong những đấng truyền dẫn chính của bức xạ từ Mặt Trời đến hệ thống và có liên hệ mật thiết với kundalini logoi. Chính trong đây có một gợi ý. Raja-Chúa Tể của các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần hoạt động trong liên minh chặt chẽ với Ngài và điều này sẽ rõ ràng nếu chúng ta ghi nhớ rằng Chúa Tể của một cõi là hoạt động được hiện thân của cõi ấy. Ngài là mãnh lực tiếp năng tự biểu lộ như một Bản Sắc hợp nhất trong chất liệu của một cõi, và do đó chúng ta có thể có được một ý niệm nào đó về sự cố kết trong công việc chung của Hai Ngài nếu ghi nhớ rằng

The Raja-Lord of a plane is the sum total of the substance of that plane.

Raja-Chúa Tể của một cõi là tổng thể chất liệu của cõi ấy.

The planetary Logos Who is most closely connected with any particular plane is its quality and colouring.

Hành Tinh Thượng đế liên hệ mật thiết nhất với bất kỳ cõi đặc thù nào là phẩm tính và sắc thái của cõi ấy.

By the united action and work of these two Entities all is accomplished,—the Lord of the Builders constructing [Page 443] the forms which the Lord of Life utilises to develop consciousness within.

Nhờ hành động và công việc hợp nhất của hai Thực Thể này mà mọi sự được hoàn thành,—Chúa Tể của các đấng kiến tạo xây dựng [Page 443]các hình tướng mà Chúa Tể của Sự sống sử dụng để phát triển tâm thức bên trong.

The force or vibration of any Ray might be summed up as:

Mãnh lực hay rung động của bất kỳ cung nào có thể được tóm lược như sau:

a. The intelligent purpose of an Entity, a planetary Logos.

a.Mục đích thông minh của một Thực Thể, một Hành Tinh Thượng đế.

b. His life energy working in, through, and upon His body of manifestation.

b. Năng lượng sự sống của Ngài hoạt động trong, qua, và trên thể biểu hiện của Ngài.

c. His magnetic radiation as it affects (though in lesser degree) His Brothers in manifestation.

c. Bức xạ từ tính của Ngài khi nó ảnh hưởng (dù ở mức độ thấp hơn) đến các Huynh Đệ của Ngài trong biểu hiện.

d. His peculiar colouring or quality, His main psychological aspect, demonstrating through His own activities within His own scheme.

d. Sắc thái hay phẩm tính đặc thù của Ngài, phương diện tâm lý chính của Ngài, biểu lộ qua các hoạt động riêng của Ngài trong chính hệ của Ngài.

e. The effect of the same as it influences His Brothers within the body corporate of the solar Logos.

e. Hiệu quả của điều ấy khi nó ảnh hưởng đến các Huynh Đệ của Ngài trong tổng thể của Thái dương Thượng đế.

f. His life force as it radiates beyond His own periphery as active energy and stimulating activity—being literally one of the aspects of Fohat. The activity aspect of a Heavenly Man is as much an aspect of Fohat as Brahma is the sumtotal of Fohat. The Heavenly Men are, by virtue of physical manifestation, Fohat and His Brothers.

f. Mãnh lực sự sống của Ngài khi nó bức xạ vượt ra ngoài chu vi riêng của Ngài như năng lượng hoạt động và hoạt động kích thích—theo nghĩa đen là một trong các phương diện của Fohat. Phương diện hoạt động của một Đấng Thiên Nhân cũng là một phương diện của Fohat cũng như Brahma là tổng thể của Fohat. Các Đấng Thiên Nhân, do biểu hiện hồng trần, là Fohat và các Huynh Đệ của Ngài.

When this is borne in mind it will be seen that each of the planetary Logoi, equally with a solar Logos, and with Their reflections, human beings, demonstrate through the aspects.

Khi điều này được ghi nhớ, sẽ thấy rằng mỗi Hành Tinh Thượng đế, cũng như một Thái dương Thượng đế, và các phản chiếu của Các Ngài là con người, đều biểu lộ qua các phương diện.

In their totality all these are the expression of the incarnating Logos; in the one case His fohatic energy builds the kingdoms of nature, giving them Body; in the other He gives them their psychical value, and finally through them all He demonstrates as Existence or Being.

Trong tổng thể, tất cả những điều này là biểu hiện của Thượng đế đang nhập thể; trong trường hợp này, năng lượng fohat của Ngài xây dựng các giới tự nhiên, ban cho chúng Thể; trong trường hợp kia, Ngài ban cho chúng giá trị thông linh của chúng, và cuối cùng qua tất cả chúng, Ngài biểu lộ như Sự Tồn Tại hay Bản Thể.

Similar tables can be worked out for a Heavenly Man and a human being, laying the emphasis always upon the development of the middle or psychic aspect. [Page 444]

Những bảng tương tự có thể được lập ra cho một Đấng Thiên Nhân và một con người, luôn luôn nhấn mạnh vào sự phát triển của phương diện trung gian hay thông linh. [Page 444]

TABULATION III

BẢNG III

THE ASPECTS AND EVOLUTION

CÁC PHƯƠNG DIỆN VÀ TIẾN HOÁ

Aspect

Manifestation

Objectively

Subjectively

Evelutionary Aspect

Activity

The Seven Brothers

Seven etheric centres

Seven types of force

Involution and evolution of the kingdoms of nature.

Sumtotal

Fire by friction. The Mother.

The Brahma or Matter aspect.

Love-Wisdom Dragon of Wisdom.

Seven Heavenly Men

Seven schemes

Seven Rays

Seven types of deva and human Monads.

Sumtotal

Solar fire. Vishnu aspect. subjectivity or the psyche. The Son in Manifestation.

Solar fire. Vishnu aspect. subjectivity or the psyche. The Son in Manifestation.

Will

Seven Cosmic Entities

Seven Heavenly Men

Seven qualities

Seven Hierarchies.

Sumtotal

Electric Fire, the One Life.

Mahadeva. Spirit

With these thoughts in mind it should be possible to [Page 445] see more clearly what the coming in of a Ray, such as the present one, or its passing out, may involve. In the particular case under discussion, we have the coming in of a Ray that is intimately connected with the plane of manifestation, the physical plane, which is (within the greater cycle) responsible for man’s very existence, and the source of his future hope.

Với những tư tưởng này trong tâm trí, có lẽ sẽ có thể [Page 445] thấy rõ hơn điều mà sự đi vào của một cung, như cung hiện nay, hay sự rút đi của nó, có thể bao hàm. Trong trường hợp đặc thù đang được bàn đến, chúng ta có sự đi vào của một cung gắn bó mật thiết với cõi biểu hiện, cõi hồng trần, là cõi (trong đại chu kỳ) chịu trách nhiệm cho chính sự tồn tại của con người, và là nguồn gốc hy vọng tương lai của y.

This seventh Ray (fifth) ever manifests in a period of transition from one kingdom to another, and this holds hid the mystery of the particular form of service of its planetary Logos. He governs the processes of:

Cung bảy này (thứ năm) luôn biểu lộ trong một giai đoạn chuyển tiếp từ giới này sang giới khác, và điều này che giấu huyền nhiệm về hình thức phụng sự đặc thù của Hành Tinh Thượng đế của nó. Ngài cai quản các tiến trình của:

Transmutation

Chuyển hoá

Incarnation

Lâm phàm

Transference.

Chuyển dịch.

In these three words His life-work is summed up; in these three words is embodied the nature of this great Entity, Who presides over the processes of blending and merging and adaptation; Who, through His knowledge of cosmic Sound, guides the life forces of certain solar and lunar entities from form to form, and is the link between the soul awaiting incarnation, and its body of manifestation. This is equally true whether we are considering the incarnation of a man, of a group, of an idea, or of all entities of lesser grade to the solar Being Who manifests through a globe, or the regent of the globe under the planetary Logos. All entities of higher rank than this great evolutionary Being come into incarnation through the linking work of an extra-systemic Being. In all periods of the transference of the life from

Trong ba từ này, công việc sự sống của Ngài được tóm lược; trong ba từ này, bản chất của Thực Thể vĩ đại này được hiện thân, Đấng chủ trì các tiến trình hòa trộn, dung nhập và thích ứng; Đấng, nhờ tri thức của Ngài về Âm Thanh vũ trụ, hướng dẫn các mãnh lực sự sống của một số thực thể thái dương và thái âm từ hình tướng này sang hình tướng khác, và là mối nối giữa linh hồn đang chờ nhập thể và thể biểu hiện của nó. Điều này cũng đúng như nhau dù chúng ta đang xét sự nhập thể của một con người, một nhóm, một ý tưởng, hay của mọi thực thể có cấp bậc thấp hơn Hữu thể thái dương biểu lộ qua một bầu hành tinh, hay vị nhiếp chính của bầu hành tinh dưới Hành Tinh Thượng đế. Mọi thực thể có cấp bậc cao hơn Hữu thể tiến hoá vĩ đại này đều đi vào lâm phàm qua công việc nối kết của một Hữu thể ngoài hệ thống. Trong mọi giai đoạn chuyển dịch sự sống từ

System to system,

Hệ thống này sang hệ thống khác,

Scheme to scheme,

Hệ này sang hệ khác,

Chain to chain,

Dãy này sang Dãy khác,

this cosmic Deity pours forth His power and influence. In all periods of lesser transition of the life from [Page 446]

Thượng đế vũ trụ này tuôn đổ quyền năng và ảnh hưởng của Ngài. Trong mọi giai đoạn chuyển tiếp nhỏ hơn của sự sống từ [Page 446]

Globe to globe,

Bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác,

Plane to plane,

Cõi này sang cõi khác,

Kingdom of nature to another kingdom,

Giới tự nhiên này sang giới khác,

the Lord of the seventh Ray plays a similar part.

Chúa Tể của cung bảy đóng một vai trò tương tự.

Herein lies the reason for His inflowing force at this time, for a profound movement is in order of accomplishment, and a transference is in progress which calls for His particular type of energy. A transference is being effected of certain groups of human and deva Monads out of the human kingdom into the fifth or spiritual kingdom. During His cycle of close on two thousand five hundred years, a specific number of men will pass on to the Path of Initiation, and take at least the first Initiation, thus transferring their centres of consciousness out of the purely human into the early stages of the spiritual.

Chính trong đây có lý do cho mãnh lực tuôn vào của Ngài vào lúc này, vì một chuyển động sâu xa đang theo trật tự thành tựu, và một sự chuyển dịch đang diễn ra đòi hỏi loại năng lượng đặc thù của Ngài. Một sự chuyển dịch đang được thực hiện đối với một số nhóm chân thần nhân loại và thiên thần ra khỏi giới nhân loại để vào giới thứ năm hay giới tinh thần. Trong chu kỳ gần hai ngàn năm trăm năm của Ngài, một số lượng người nhất định sẽ tiến lên Con Đường Điểm Đạo, và nhận ít nhất lần điểm đạo thứ nhất, nhờ đó chuyển các trung tâm tâm thức của họ ra khỏi cái thuần túy nhân loại để vào các giai đoạn đầu của tinh thần.

During this same cycle, a transference of units from out of the animal kingdom into the human will proceed in the fifth chain and from thence on to another chain, thus producing a period of even greater activity than on our own globe. Similarly I may point out (even though it is not possible to give more than a hint) that the force of the cosmic Transferrer is being called into activity by the transference during this cycle of a special group of highly advanced units of the human and deva kingdoms (members of the occult Hierarchy) to another scheme altogether. Certain units also—from among the Lipika Lords—are taking advantage of this cosmic influence to transfer their activity to another system, giving place to others Who will work out the karma of the new age. The power of these agencies permeates the entire globe and extends throughout the chains and schemes which lie in the line of its path. It will fundamentally affect the vegetable kingdom, obscuring old types and bringing in new; it will work in the mineral kingdom and give a new impetus to the chemical processes, causing incidentally [Page 447] a setting loose of radioactive units, and a consequent accretion of knowledge by the scientist. In the elemental kingdoms and the group souls found therein, it produces facility in the transference of atoms.

Trong cùng chu kỳ này, một sự chuyển dịch các đơn vị từ giới động vật sang giới nhân loại sẽ diễn ra trong Dãy thứ năm và từ đó sang một Dãy khác, nhờ đó tạo ra một giai đoạn hoạt động còn lớn hơn trên chính bầu hành tinh của chúng ta. Tương tự, tôi có thể chỉ ra (dù không thể nói hơn một gợi ý) rằng mãnh lực của Đấng Chuyển Dịch vũ trụ đang được gọi vào hoạt động bởi sự chuyển dịch trong chu kỳ này của một nhóm đặc biệt gồm các đơn vị rất tiến bộ của giới nhân loại và giới thiên thần (các thành viên của Thánh Đoàn huyền bí) sang hẳn một hệ khác. Một số đơn vị nữa—trong số các Chúa Tể Lipika—cũng đang tận dụng ảnh hưởng vũ trụ này để chuyển hoạt động của họ sang một hệ thống khác, nhường chỗ cho những Đấng khác sẽ giải quyết nghiệp quả của kỷ nguyên mới. Quyền năng của các tác nhân này thấm nhuần toàn bộ bầu hành tinh và trải rộng khắp các Dãy và các hệ nằm trên đường đi của nó. Nó sẽ ảnh hưởng căn bản đến giới thực vật, làm che khuất các loại cũ và đưa vào các loại mới; nó sẽ hoạt động trong giới kim thạch và tạo một xung lực mới cho các tiến trình hóa học, đồng thời gây ra [Page 447]sự giải phóng các đơn vị phóng xạ, và hệ quả là sự tích lũy tri thức của nhà khoa học. Trong các giới hành khí và các hồn nhóm được tìm thấy ở đó, nó tạo ra sự dễ dàng trong việc chuyển dịch các nguyên tử.

So far-reaching are the effects of this Ray, both on the deva and human units in their different kingdoms that entirely new environments will evolve for the utilisation of the new types and entirely new characteristics will be found emerging in the race of men.

Hiệu quả của cung này sâu rộng đến mức, cả trên các đơn vị thiên thần lẫn nhân loại trong các giới khác nhau của họ, những môi trường hoàn toàn mới sẽ tiến hoá để sử dụng các loại hình mới, và những đặc tính hoàn toàn mới sẽ được thấy đang xuất hiện trong nhân loại.

We have somewhat considered the type of force which expresses itself by means of the seventh Ray and have seen that it is the great transmuting, and transferring agent of the Logos. We have seen that it has a powerful effect both on deva and human units; we have found that the prime function of the Logos of the seventh Ray is beyond all else, that of adaptation, or the moulding of the form and the rendering of it suitable to the needs of any particular Entity. In all the constructive work of form-building, certain factors enter in which must here be enumerated as they concern vitally this particular Heavenly Man, and the particular plane, the physical, on which we undergo experience. These are:

Chúng ta đã phần nào xem xét loại mãnh lực tự biểu lộ qua cung bảy và đã thấy rằng nó là tác nhân chuyển hoá và chuyển dịch vĩ đại của Thượng đế. Chúng ta đã thấy rằng nó có một hiệu quả mạnh mẽ trên cả các đơn vị thiên thần lẫn nhân loại; chúng ta đã nhận ra rằng chức năng chủ yếu của Thượng đế của cung bảy, vượt trên mọi điều khác, là sự thích ứng, hay việc nắn đúc hình tướng và làm cho nó thích hợp với nhu cầu của bất kỳ Thực Thể đặc thù nào. Trong mọi công việc kiến tạo của việc xây dựng hình tướng, có một số yếu tố tham dự vào mà ở đây phải được liệt kê vì chúng liên quan thiết yếu đến Đấng Thiên Nhân đặc thù này, và đến cõi đặc thù, cõi hồng trần, nơi chúng ta trải qua kinh nghiệm. Đó là:

First. The will or the one-pointed purpose of some entity.

Thứ nhất. Ý chíhay mục đích nhất tâm của một thực thể nào đó.

Second. The material through which the life proposes to manifest. This material, as we know, is found within the ring-pass-not in seven grades, and in forty-nine subgrades.

Thứ hai. Chất liệumà qua đó sự sống dự định biểu lộ. Chất liệu này, như chúng ta biết, được tìm thấy trong vòng-giới-hạn theo bảy cấp độ, và bốn mươi chín cấp độ phụ.

Third. The Builders who are the vehicle for the divine purpose, and who mould matter upon a particular plan. These Builders evolve the forms out of their own nature and substance.

Thứ ba. Các đấng kiến tạolà vận cụ cho mục đích thiêng liêng, và là những đấng nắn đúc vật chất theo một kế hoạch đặc thù. Các đấng kiến tạo này tiến hoá các hình tướng từ chính bản chất và chất liệu của họ.

Fourth. A plan by which the work is carried out and which is imparted to the Builders, being latent in their consciousness. They evolve the form of the Grand Heavenly Man, of the Heavenly Men, of the human units, [Page 448] and of all forms from within outwards, and produce the self-identified Existences as a mother builds and produces a conscious Son out of the matter of her own body, carrying certain racial earmarks yet independent, self-conscious, self-willed and threefold in manifestation. The fact of the identity of the deva evolution with the essence they manipulate must ever be borne in mind.

Thứ tư. Một kế hoạchmà nhờ đó công việc được thực hiện và được truyền cho các đấng kiến tạo, vốn tiềm ẩn trong tâm thức của họ. Họ tiến hoá hình tướng của Đại Đấng Thiên Nhân, của các Đấng Thiên Nhân, của các đơn vị nhân loại, [Page 448]và của mọi hình tướng từ trong ra ngoài, và tạo ra các Sự Tồn Tại tự đồng nhất hóa cũng như một người mẹ xây dựng và sinh ra một Người Con hữu thức từ chất liệu của chính thể mình, mang một số dấu ấn chủng tộc nhất định nhưng vẫn độc lập, tự ý thức, tự ý chí và tam phân trong biểu hiện. Sự kiện rằng tiến hoá thiên thần đồng nhất với tinh chất mà họ thao tác phải luôn được ghi nhớ.

Finally. Certain Words or Mantric Sounds, (151) which—[Page 449] uttered by a greater Life—can ever drive the lesser lives to the fulfillment of constructive purpose.

Sau cùng. Một số Linh từ hay Âm thanh Mantric nhất định, (151) mà—[Page 449]khi được một Sự sống lớn hơn phát ra—luôn có thể thúc đẩy các sự sống nhỏ hơn đến chỗ hoàn thành mục đích kiến tạo.

(151) They have in India an ancient system of psychical teaching called Yoga, in which the recitation of certain mantrams, or verses of Sanskrit, is prescribed. Especially important is said to be the way in which the mystical syllable Om, or Aum, is pronounced. Learned Brahmans tell me that the illimitable psychic potentiality of the Sanskrit charms, or mantrams is only drawn out by the adoption of a certain very accurate rule of pronunciation (swara). They say that by formulating the words correctly a vibration is set up in the akaz, or that part of the ether of space which enwraps our globe, which makes man the master over all the spirit denizens of the various kingdoms of nature. It first re-acts upon the astral double or ethereal body of the man himself, purifying its grossness, stimulating its psychic powers out of the normal state of latency, and gradually fortifying them up to the point of mastery over nature’s finer forces.—The Theosophist, Vol. XIII, pp. 229, 613.

(151) Ở Ấn Độ, họ có một hệ thống giáo huấn thông linh cổ xưa gọi là Yoga, trong đó việc tụng đọc một số mantram, hay các câu tiếng Phạn, được quy định. Điều đặc biệt quan trọng, theo như người ta nói, là cách phát âm âm tiết thần bí Om, hay Aum. Các Bà-la-môn uyên bác nói với tôi rằng tiềm năng thông linh vô hạn của các bùa chú hay mantram tiếng Phạn chỉ được khai mở nhờ áp dụng một quy tắc phát âm rất chính xác nào đó (swara). Họ nói rằng bằng cách phát âm các từ một cách đúng đắn, một rung động được khởi lên trong akaz, hay phần dĩ thái của không gian bao bọc bầu hành tinh của chúng ta, khiến con người trở thành chủ nhân của mọi cư dân tinh thần trong các giới khác nhau của tự nhiên. Trước hết, nó phản ứng trở lại trên bản sao cảm dục hay thể dĩ thái của chính con người, thanh lọc tính thô trược của nó, kích thích các quyền năng thông linh của nó ra khỏi trạng thái tiềm ẩn bình thường, và dần dần củng cố chúng đến mức làm chủ các mãnh lực tinh tế hơn của tự nhiên.—The Theosophist, Tập XIII, tr. 229, 613.

“The primal single sound (Aum or Om) is the highest uttered word of power and knowledge. It is verily as Brahman itself. The regulation of the breath is the chiefest tapas-discipline. Higher than the Savitri is no mantra. Higher than silence is truth.

“Âm thanh đơn sơ nguyên thủy (Aum hay Om) là Quyền năng từ và tri thức cao nhất được phát ra. Quả thật nó chính là Brahman. Điều hòa hơi thở là kỷ luật tapas tối cao. Không có mantram nào cao hơn Savitri. Không có gì cao hơn chân lý ngoài im lặng.

The Creator stored the veritable essences of the Three Vedas in the three letters that make up the Sacred Word, in the three utterances that name and form the three worlds, and in the three parts of the veda-verse that invokes the sun. Each part He milked from one Veda. Who so ponders on these, morning and evening, after having learnt the Vedas previously, he verily studies the whole of the Vedas every day. These are the gateway unto Brahman.

Đấng Sáng Tạo đã cất giữ các tinh chất chân thực của Ba bộ Veda trong ba chữ tạo thành Linh từ Thiêng liêng, trong ba lời phát âm gọi tên và tạo thành ba cõi giới, và trong ba phần của bài kệ veda khẩn cầu mặt trời. Mỗi phần Ngài đã vắt ra từ một bộ Veda. Ai suy ngẫm về những điều này vào buổi sáng và buổi tối, sau khi trước đó đã học các bộ Veda, thì quả thật mỗi ngày người ấy học toàn bộ các bộ Veda. Đây là cánh cổng dẫn đến Brahman.

By repeated dwelling on their significance, and tuning his desire and modelling his thought to that significance, the seeker after Brahman shall, without fail, attain all perfection, whether he discharge any other duty or not; for the very name of the Brahmana is ‘the friend of All creatures’ (and the Gayatri is the prayer for the blessing of all creatures by our radiant Father in Heaven, the Sun).”—Unknown.

Bằng cách lặp đi lặp lại việc an trụ trong thâm nghĩa của chúng, và điều chỉnh khát vọng của mình cũng như nắn đúc tư tưởng của mình theo thâm nghĩa ấy, người tìm kiếm Brahman chắc chắn sẽ đạt đến mọi sự hoàn hảo, dù người ấy có chu toàn bất kỳ bổn phận nào khác hay không; vì chính tên gọi của Bà-la-môn là ‘người bạn của Mọi sinh vật’ (và Gayatri là lời cầu nguyện cho phúc lành của mọi sinh vật bởi Cha rạng ngời của chúng ta trên Thiên Đàng, Mặt Trời).”—Khuyết danh.

There are specific formulae known to all initiates of a certain grade (and even to many who have not attained that grade, a number have become known and are used—sometimes in ways that result in no good to the insufficiently instructed user), some one or other of which is specially adapted to produce nearly every possible effect that can be imagined….

Có những công thức đặc thù được biết đến với mọi điểm đạo đồ ở một cấp độ nhất định (và ngay cả với nhiều người chưa đạt đến cấp độ đó, một số công thức cũng đã trở nên được biết đến và được sử dụng—đôi khi theo những cách không đem lại điều tốt lành nào cho người sử dụng chưa được huấn luyện đầy đủ), trong đó công thức này hay công thức khác được đặc biệt thích ứng để tạo ra gần như mọi hiệu quả có thể tưởng tượng được….

Well may Isis Unveiled (p. 514) tell us that ‘sounds and colors’ are all spiritual numerals; nor is that all, for odors, metals and planets are equally spiritual numerals. Each planet (or spiritual plane) has relation to a metal and a color. These again are in co-relation with a corresponding odor and sound.

Quả thật, Isis Unveiled (tr. 514) có thể cho chúng ta biết rằng “âm thanh và màu sắc” đều là những con số tinh thần; và không chỉ có thế, vì mùi hương, kim loại và các hành tinh cũng đều là những con số tinh thần. Mỗi hành tinh (hay cõi tinh thần) đều có liên hệ với một kim loại và một màu sắc. Đến lượt chúng, các yếu tố này lại tương liên với một mùi hương và một âm thanh tương ứng.

The sphere of aura that surrounds every human being has one very important ‘fold’ or ‘layer,’ which invariably bears the color of the metal and planet to which that particular individual has most affinity, and it is on this layer that the magnetic part of odors and all sound vibrations impinges.—The Theosophist, Vol. VII, p. 218. (back)

Khối cầu hào quang bao quanh mỗi con người có một “nếp” hay “lớp” rất quan trọng, luôn luôn mang màu sắc của kim loại và hành tinh mà cá nhân đặc thù ấy có nhiều tương hợp nhất, và chính trên lớp này mà phần từ tính của các mùi hương và mọi rung động âm thanh tác động vào.—The Theosophist, Tập VII, tr. 218. (back)

These Words are uttered by

Các Linh từ này được xướng lên bởi

A solar Logos. The threefold Word gives rise to a sevenfold vibration.

Một Thái dương Thượng đế. Linh từ tam phân tạo ra một rung động thất phân.

A Heavenly Man, Who—through utterance—sweeps into evolutionary objectivity His scheme and all that is therein.

Một Đấng Thiên Nhân, Đấng—thông qua sự xướng lên—quét vào tính khách quan tiến hoá hệ hành tinh của Ngài và mọi sự trong đó.

The Monad, whose threefold word gives rise to a sevenfold vibration.

Chân thần, mà linh từ tam phân của nó tạo ra một rung động thất phân.

The Ego, who—through sonorous utterance—produces a human being in the three worlds.

Chân ngã, kẻ—thông qua sự phát âm có thanh vang—tạo ra một con người trong ba cõi thấp.

The analogy existing between these four should be carefully noted.

Cần lưu ý cẩn thận sự tương đồng hiện hữu giữa bốn điều này.

Certain Words belong to the different aspects, and the Words of the first aspect set in vibration the matter that evolves through the seven cycles of solar systems. Their relation to the Words of the present solar system is analogous to the primordial substance which lies back of our present creation. The Words of the second aspect concern us closely, but the Words of Brahma are at the present stage more closely connected with our work upon the physical plane. These Words, where the three worlds are concerned, very largely fall into a group of mantrams, hidden in the consciousness of the Lords of the fifth and seventh Rays; by their intelligent utterance the third aspect (the Brahma or manasic aspect) is brought into contact with the first aspect and produces that which we call the “Conscious Son” or Sun. Upon the mental plane they are sounded by the Lord of the fifth Ray, causing a vibration not only in what we might call “the lower levels” but producing response on the first or archetypal [Page 450] plane and on the cosmic mental plane likewise. On the physical plane the words, uttered by the seventh Logos, produce the following results:

Một số Linh từ thuộc về các phương diện khác nhau, và các Linh từ của phương diện thứ nhất làm rung động vật chất tiến hoá qua bảy chu kỳ của các hệ mặt trời. Mối liên hệ của chúng với các Linh từ của hệ mặt trời hiện tại tương tự như chất liệu nguyên sơ nằm phía sau công trình sáng tạo hiện tại của chúng ta. Các Linh từ của phương diện thứ hai liên hệ mật thiết với chúng ta, nhưng các Linh từ của Brahma ở giai đoạn hiện nay lại gắn bó chặt chẽ hơn với công việc của chúng ta trên cõi hồng trần. Các Linh từ này, khi liên quan đến ba cõi thấp, phần lớn thuộc vào một nhóm mantram, ẩn kín trong tâm thức của các Đấng Chúa Tể Cung năm và cung bảy; nhờ sự xướng lên một cách thông tuệ của các Ngài, phương diện thứ ba (phương diện Brahma hay manas) được đưa vào tiếp xúc với phương diện thứ nhất và tạo ra điều mà chúng ta gọi là “Con Hữu Thức” hay Mặt Trời. Trên cõi trí, chúng được xướng lên bởi Đấng Chúa Tể Cung năm, gây ra một rung động không những trong điều mà chúng ta có thể gọi là “các cấp độ thấp hơn” mà còn tạo ra sự đáp ứng trên cõi thứ nhất hay nguyên mẫu [Page 450] và trên cõi trí vũ trụ nữa. Trên cõi hồng trần, các linh từ, được xướng lên bởi Thượng đế thứ bảy, tạo ra các kết quả sau đây:

First. The anchoring of the permanent atoms within their group soul, or the union of matter and consciousness.

Thứ nhất. Sự neo giữ các nguyên tử trường tồn trong hồn nhóm của chúng, hay sự hợp nhất của vật chất và tâm thức.

Second. The guidance of the stream of life into any particular kingdom, or the blending of form and consciousness.

Thứ hai. Sự hướng dẫn dòng sự sống đi vào bất kỳ giới đặc thù nào, hay sự hòa trộn của hình tướng và tâm thức.

Third. The transference of the conscious, sentient life from form to form, from group to group, from kingdom to kingdom within the hierarchies.

Thứ ba. Sự chuyển dịch sự sống hữu thức, cảm giác từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ nhóm này sang nhóm khác, từ giới này sang giới khác trong các Huyền Giai Sáng Tạo.

In connection with the human kingdom, the fifth Ray had to function or pour forth its influence in order to produce self-consciousness within the conscious form.

Liên quan đến giới nhân loại, cung năm đã phải hoạt động hay tuôn đổ ảnh hưởng của nó để tạo ra ngã thức trong hình tướng hữu thức.

It will consequently be seen that the utterance of sound along the line of force by the trained adept can both utilize deva activity to effect certain results in connection with the form side of manifestation, and can drive the life within to definite action. Hence the extreme danger—as has been frequently pointed out—of the knowledge of these mantrams and the need to safeguard them from interference and misuse. Power over form and over force lies always ready in the hand of those who have done three things:

Do đó, sẽ thấy rằng việc xướng âm thanh theo đường mãnh lực bởi chân sư đã được huấn luyện vừa có thể sử dụng hoạt động thiên thần để tạo ra những kết quả nhất định liên quan đến phương diện hình tướng của sự biểu hiện, vừa có thể thúc đẩy sự sống bên trong đi đến hành động xác định. Vì thế mới có sự nguy hiểm cực độ—như đã thường được chỉ ra—của tri thức về các mantram này và nhu cầu phải bảo vệ chúng khỏi sự can thiệp và lạm dụng. Quyền năng trên hình tướng và trên mãnh lực luôn sẵn trong tay những ai đã làm được ba điều:

First. Developed the consciousness of the group in which they themselves find place.

Thứ nhất. Phát triển tâm thức của nhóm mà chính họ tìm thấy vị trí của mình trong đó.

Second. Learned the secret of the notes and tones to which that group responds.

Thứ hai. Học được bí mật của các nốt và các thanh âm mà nhóm ấy đáp ứng.

Third. Apprehended certain set words and phrases and the due method of chanting and intonation.

Thứ ba. Lĩnh hội được một số từ ngữ và cụm từ cố định cùng phương pháp tụng niệm và ngữ điệu thích đáng.

They cannot bring about results outside the periphery of the group whose consciousness is theirs. For instance, an adept can work with forms and force within [Page 451] the ring-pass-not of his own planetary Logos within the three worlds, within the ring-pass-not of the polar opposite of his Logos, or within the ring-pass-not of three planetary Logoi who form a systemic triangle. He cannot exhibit this power in the higher planes nor within the spheres of the synthesising and neutral schemes. After the sixth Initiation his power extends to the two planes beyond the three worlds, the buddhic and the atmic, and within the spheres of the entire Brahma aspect as we visualise it as the totality of the schemes of the five Kumaras who are Brahma. At the seventh Initiation he has power on all the seven planes and within the entire number of schemes; all the Sacred Words are then his and he can work in matter of all grades, sound all notes, and control all types of force. He stands ready then to guide the life to regions outside the solar sphere of influence. But on the physical plane he works primarily with the Words of the seventh Logos, which fall naturally into five groups:

Họ không thể tạo ra kết quả bên ngoài chu vi của nhóm mà tâm thức của nhóm ấy là của họ. Chẳng hạn, một chân sư có thể làm việc với các hình tướng và mãnh lực trong [Page 451] vòng-giới-hạn của chính Hành Tinh Thượng đế của y trong ba cõi thấp, trong vòng-giới-hạn của cực đối nghịch phân cực của Thượng đế của y, hoặc trong vòng-giới-hạn của ba Hành Tinh Thượng đế tạo thành một tam giác hệ thống. Y không thể biểu lộ quyền năng này trên các cõi cao hơn cũng như trong các khối cầu của các hệ hành tinh tổng hợp và trung hoà. Sau lần điểm đạo thứ sáu, quyền năng của y mở rộng đến hai cõi vượt trên ba cõi thấp, tức cõi Bồ đề và cõi atma, và trong các khối cầu của toàn bộ phương diện Brahma như chúng ta hình dung nó là tổng thể các hệ hành tinh của năm Kumaras là Brahma. Ở lần điểm đạo thứ bảy, y có quyền năng trên cả bảy cõi và trong toàn bộ số lượng các hệ hành tinh; khi ấy mọi Linh từ Thiêng liêng đều là của y và y có thể làm việc trong vật chất ở mọi cấp độ, xướng mọi nốt, và kiểm soát mọi loại mãnh lực. Khi đó y sẵn sàng hướng dẫn sự sống đến những vùng nằm ngoài khối cầu ảnh hưởng của mặt trời. Nhưng trên cõi hồng trần, y làm việc chủ yếu với các Linh từ của Thượng đế thứ bảy, vốn tự nhiên rơi vào năm nhóm:

1. Mantrams which deal with etheric matter, and control the devas of the ethers.

1. Các mantram đề cập đến vật chất dĩ thái, và kiểm soát các thiên thần của các dĩ thái.

2. Mantrams which deal with dense physical matter and control the sub-human evolution through certain groups of devas.

2. Các mantram đề cập đến vật chất hồng trần đậm đặc và kiểm soát sự tiến hoá dưới nhân loại thông qua một số nhóm thiên thần nhất định.

3. Words specifically connected with the human Hierarchy, and which are very carefully guarded from the knowledge of man himself.

3. Các Linh từ được nối kết đặc biệt với Huyền Giai Tinh Thần nhân loại, và được gìn giữ hết sức cẩn mật khỏi tri thức của chính con người.

4. Words concerning the deva evolution which control, and bring different groups of devas into the line of the will of the utterer. These are in many ways the most dangerous and all knowledge of them is withheld from men below the rank of initiates of the third order.

4. Các Linh từ liên quan đến sự tiến hoá thiên thần, kiểm soát và đưa các nhóm thiên thần khác nhau vào đường lối của ý chí của người xướng lên. Theo nhiều phương diện, đây là những linh từ nguy hiểm nhất và mọi tri thức về chúng đều bị giữ lại khỏi loài người ở dưới cấp bậc các điểm đạo đồ của cấp thứ ba.

5. Words which affect the life side of manifestation and which drive it into, or out of, form.

5. Các Linh từ tác động đến phương diện sự sống của sự biểu hiện và thúc đẩy nó đi vào, hoặc ra khỏi, hình tướng.

[Page 452] There is a sixth group intimately connected with electrical manifestation, which is beginning to work out in the formula of scientists, and students of radio-activity and electrical phenomena, but fortunately for themselves they remain formulas on paper and are not as yet embodied in sound.

[Page 452] Còn có một nhóm thứ sáu gắn bó mật thiết với sự biểu hiện điện, hiện đang bắt đầu được triển khai trong các công thức của các nhà khoa học, và của những đạo sinh nghiên cứu phóng xạ cùng các hiện tượng điện, nhưng may mắn cho chính họ là chúng vẫn chỉ là những công thức trên giấy và chưa được thể hiện thành âm thanh.

In dealing very briefly with the question of mantrams, it is to be recognised that “The time is not yet” for their general publication. No purpose would be immediately served by the impartation of mantric forms. Inevitably the time will come when they will be known, but at this time no one would be benefited by the knowledge of them for the following reasons:

Khi bàn đến rất vắn tắt vấn đề các mantram, cần phải nhận ra rằng “Thời điểm vẫn chưa đến” để công bố rộng rãi chúng. Việc truyền đạt các hình thức mantram sẽ không ngay lập tức phục vụ mục đích nào. Chắc chắn thời gian sẽ đến khi chúng được biết đến, nhưng vào lúc này không ai được lợi ích từ tri thức ấy vì các lý do sau đây:

Knowledge of things occult does not suffice for their wise utilisation.

Tri thức về những điều huyền bí không đủ để sử dụng chúng một cách minh triết.

The development of the intuition by means of aspiration, endeavour, failure, and renewed effort ending in success is of far more profit to the Ego than the quick results brought about by the use of sound.

Sự phát triển của trực giác bằng khát vọng, nỗ lực, thất bại, và cố gắng đổi mới kết thúc trong thành công thì có ích cho chân ngã hơn nhiều so với những kết quả mau chóng do việc sử dụng âm thanh mang lại.

The “Words” are used for the manipulation of matter and its bending into form along the line of evolution. Until the inner faculty of clairvoyance is somewhat developed, this knowledge of mantrams remains practically useless and may be even a menace. When a man can see a need for correction and for adjustment in a brother’s vehicle, and can awaken in his brother a desire to adjust that which is amiss, wise assistance can be given by the one who sees and sounds. Think this out, for it holds the key to the reason for the safeguarding of the words.

Các “Linh từ” được dùng để vận dụng vật chất và uốn nó thành hình tướng theo đường tiến hoá. Chừng nào năng lực bên trong của thông nhãn còn chưa được phát triển phần nào, thì tri thức về các mantram này trên thực tế vẫn vô dụng và thậm chí còn có thể là một mối đe doạ. Khi một người có thể thấy nhu cầu cần sửa chữa và điều chỉnh trong vận cụ của một huynh đệ, và có thể đánh thức nơi huynh đệ ấy một ước muốn điều chỉnh điều gì đang sai lệch, thì sự trợ giúp minh triết có thể được ban ra bởi người thấy và xướng. Hãy suy ngẫm điều này, vì nó nắm giữ chìa khóa cho lý do phải bảo vệ các linh từ.

Selflessness, sight, and sincerity of purpose must all three exist before the sounds can be imparted. Selflessness and sincerity are sometimes found but the occult use of the inner vision is still rare.

Sự vô ngã, linh thị, và tính chân thành của mục đích, cả ba điều ấy đều phải hiện hữu trước khi các âm thanh có thể được truyền dạy. Sự vô ngã và tính chân thành đôi khi có thể tìm thấy, nhưng việc sử dụng huyền bí của linh thị bên trong vẫn còn hiếm.

We must keep closely in mind (as we take up this matter of the incoming Ray and the effects to be looked for from its influence) that we are only considering the mind [Page 453] aspect in the three evolutions. I do not purpose to say much anent human development as much has been already hinted at in the preceding pages, and a hint suffices for the true student, but it may be possible to state in broad outline the coming developments and to tabulate the results to be expected. Suggestions only are possible.

Chúng ta phải ghi nhớ thật sát sao (khi xem xét vấn đề về cung đang đi vào và những hiệu quả được chờ đợi từ ảnh hưởng của nó) rằng chúng ta chỉ đang xét đến phương diện trí tuệ [Page 453] trong ba cuộc tiến hoá. Tôi không có ý nói nhiều về sự phát triển của con người vì nhiều điều đã được gợi ý trong các trang trước, và một gợi ý là đủ cho đạo sinh chân chính, nhưng có lẽ có thể trình bày đại cương những phát triển sắp tới và lập bảng các kết quả có thể được mong đợi. Chỉ có thể đưa ra các gợi ý mà thôi.

Development of etheric vision universally. This will be due to two causes:

Sự phát triển của linh thị dĩ thái một cách phổ quát. Điều này sẽ do hai nguyên nhân:

First, the scientific recognition of the existence of the etheric levels, thereby freeing people from the onus of adverse public opinion, and enabling them to reveal what they have individually long realised. Etheric vision is comparatively common even now. But comment concerning it is rare, owing to the fear of criticism.

Thứ nhất, sự công nhận có tính khoa học về sự hiện hữu của các cấp độ dĩ thái, nhờ đó giải phóng con người khỏi gánh nặng của dư luận công chúng bất lợi, và giúp họ có thể tiết lộ điều mà cá nhân họ từ lâu đã chứng nghiệm. Linh thị dĩ thái tương đối phổ biến ngay cả lúc này. Nhưng lời bình luận về nó thì hiếm, do nỗi sợ bị chỉ trích.

Secondly, the increased activity of the devas of the ethers, which throws the matter of the etheric levels into more active vibration, with consequent reflex action on the eye of man.

Thứ hai, hoạt động gia tăng của các thiên thần của các dĩ thái, khiến vật chất của các cấp độ dĩ thái rung động tích cực hơn, và do đó tạo ra phản ứng ngược trên mắt người.

Increased mental activity and the spread of education (of the concrete mental kind) everywhere. This will result in:

Hoạt động trí tuệ gia tăng và sự lan rộng của giáo dục (thuộc loại trí tuệ cụ thể) ở khắp nơi. Điều này sẽ dẫn đến:

Increased competition between units and between groups.

Sự cạnh tranh gia tăng giữa các đơn vị và giữa các nhóm.

The organization of business on lines hitherto undreamt of.

Sự tổ chức kinh doanh theo những đường lối từ trước đến nay chưa từng được mơ tới.

The foundation of groups and aggregations of groups whose sole purpose will be to synthesise all the lines of human endeavour, and thus bring about unification of effort, and economy of force in the scientific, business, philosophic, educational, and religious worlds.

Sự thành lập các nhóm và các tập hợp nhóm mà mục đích duy nhất sẽ là tổng hợp mọi đường lối nỗ lực của con người, và do đó mang lại sự hợp nhất nỗ lực, cùng sự tiết kiệm mãnh lực trong các thế giới khoa học, kinh doanh, triết học, giáo dục và tôn giáo.

The foundation of schools of medicine along new lines, whose purpose will be to study the etheric body, its relation to the dense physical body, and its function [Page 454] as the receiver, storer, and transmitter of the vital fluids of the system.

Sự thành lập các trường y khoa theo những đường lối mới, mà mục đích sẽ là nghiên cứu thể dĩ thái, mối liên hệ của nó với thể xác hồng trần đậm đặc, và chức năng của nó [Page 454] như là bộ phận tiếp nhận, lưu trữ, và truyền dẫn các lưu chất sinh lực của hệ thống.

The foundation of the new church, which will be no longer along devotional and idealistic lines but which will be an outgrowth of the old idealism, demonstrating through mental forms. It will have for its basis the scientific recognition of the unseen world and its due appreciation and apprehension by means of accurate scientific ceremonial. This ceremonial of the universal church—being founded on the mental unity of all peoples—will not be ceremonial as it is now understood, as it will be the guarded, guided, scientific utilisation of sound and color to bring about certain desired ends, such as

Sự thành lập giáo hội mới, sẽ không còn đi theo những đường lối sùng tín và duy tâm nữa mà sẽ là một sự phát triển từ chủ nghĩa duy tâm cũ, biểu lộ thông qua các hình tư tưởng. Nền tảng của nó sẽ là sự công nhận có tính khoa học về thế giới vô hình và sự đánh giá cùng lĩnh hội đúng đắn thế giới ấy bằng nghi lễ khoa học chính xác. Nghi lễ này của giáo hội phổ quát—vì được đặt nền trên sự hợp nhất trí tuệ của mọi dân tộc—sẽ không phải là nghi lễ theo cách hiện nay được hiểu, vì nó sẽ là việc sử dụng âm thanh và màu sắc một cách khoa học, có hướng dẫn và được bảo vệ, để tạo ra một số mục đích mong muốn, như

The aligning of the Ego,

Sự chỉnh hợp chân ngã,

The influencing of groups,

Sự tác động lên các nhóm,

The making of contact with the Occult Hierarchy,

Sự tiếp xúc với Thánh Đoàn Huyền Bí,

The co-operation with the devas in order to further the constructive ends of evolution,

Sự hợp tác với các thiên thần để thúc đẩy các mục đích kiến tạo của tiến hoá,

and many other objects which will grow out of the scientific comprehension of the constitution of man, the nature of vibration or radioactivity, and the demonstrated reality of the hitherto metaphysical hypothesis and religious dogma of the unseen world of thought and of spiritual existence.

và nhiều mục tiêu khác nữa sẽ phát sinh từ sự thấu hiểu có tính khoa học về cấu tạo của con người, bản chất của rung động hay phóng xạ, và thực tại đã được chứng minh của giả thuyết siêu hình học từ trước đến nay cùng giáo điều tôn giáo về thế giới vô hình của tư tưởng và của sự hiện hữu tinh thần.

Increased facility in approaching the Path. This will be based on the fact that so many of the then existent humanity will have personal knowledge of the ruling powers and forces, will perhaps be on the Probationary Path, or will be initiates of the first degree. Thus the present scepticism will become non-existent. The dangers then will be along other lines—those incident to the very influence of this ray itself: the dangers of crystallisation into form so that the true spiritual devotee may become rare, and the scientific aspirant will take his place.

Sự dễ dàng gia tăng trong việc tiếp cận Con Đường. Điều này sẽ dựa trên sự kiện là rất nhiều người trong nhân loại hiện hữu lúc bấy giờ sẽ có tri thức cá nhân về các quyền năng và mãnh lực cai quản, có lẽ sẽ ở trên Con Đường Dự Bị, hoặc sẽ là các điểm đạo đồ của cấp thứ nhất. Như thế, sự hoài nghi hiện nay sẽ không còn tồn tại. Khi ấy, các nguy hiểm sẽ nằm trên những đường lối khác—những điều phát sinh từ chính ảnh hưởng của cung này: những nguy hiểm của sự kết tinh vào hình tướng đến mức người sùng tín tinh thần chân chính có thể trở nên hiếm hoi, và người chí nguyện khoa học sẽ thay thế vị trí của y.

[Page 455] The true occultist is a scientist and a devotee, and where these two are not merged, we have the mystic and the man in danger of black magic, being governed by the intellect and not by selflessness; there are dangers incident also upon contact with the deva evolution and the knowledge of the powers and forces made available through their agency.

[Page 455] Nhà huyền bí học chân chính là một nhà khoa học và một người sùng tín, và ở đâu hai điều này không được hòa nhập, ở đó chúng ta có nhà thần bí và con người đang ở trong nguy cơ của hắc thuật, bị trí tuệ chi phối chứ không phải bởi sự vô ngã; cũng còn có những nguy hiểm phát sinh từ sự tiếp xúc với sự tiến hoá thiên thần và tri thức về các quyền năng cùng mãnh lực được cung cấp thông qua tác nhân của họ.

The coming into incarnation of numbers of old magicians and occultists, and the rapid growth therefore of recognised psychic powers among the people. This psychism, being tinged with mentality and not being of a purely astral quality, will be even more dangerous than in Atlantean days, for back of it will be some degree of will, conscious purpose, and intellectual apprehension, and unless this is paralleled by the growth of spiritual realisation, and by the steady grip of the Ego upon the lower personality, a period of real danger may ensue. Hence the need of pointing out and of realising the menace, so that the truth of the inner life and the need of serving the race as an essential to advancement may be proclaimed far and wide.

Sự đi vào lâm phàm của một số lượng lớn các nhà huyền thuật và nhà huyền bí học xưa, và do đó sự tăng trưởng nhanh chóng của các quyền năng thông linh được công nhận giữa dân chúng. Tính thông linh này, vì nhuốm màu trí tuệ và không thuần túy có phẩm tính cảm dục, sẽ còn nguy hiểm hơn cả trong thời Atlantis, vì phía sau nó sẽ có một mức độ nào đó của ý chí, mục đích hữu thức, và sự lĩnh hội trí tuệ, và trừ phi điều này được song hành bởi sự tăng trưởng của sự chứng nghiệm tinh thần, và bởi sự nắm giữ vững chắc của chân ngã trên phàm ngã thấp, thì một thời kỳ nguy hiểm thực sự có thể xảy ra. Do đó cần phải chỉ ra và nhận thức mối đe doạ này, để chân lý của đời sống nội tại và nhu cầu phụng sự nhân loại như một điều thiết yếu cho sự tiến bộ có thể được công bố rộng khắp.

Paralleling the incoming of this large band of seventh Ray magicians (some linked to the Brotherhood and some to the purely manasic groups) is the proposed advent of certain members of the Hierarchy (initiates below the fourth Initiation) and of certain disciples and probationers, all on this Ray and all true psychics, who hope through their endeavours to offset the vibrations, and ward off the menace incident to the advent of the other group. The arranging of this and the preparing of the way for them in the different countries, specially in Europe and North America, is occupying the attention at this time of the Master R— and the Master H—. (152)

Song song với sự đi vào của nhóm lớn các nhà huyền thuật cung bảy này (một số liên kết với Huynh đệ Đoàn và một số với các nhóm thuần manas) là sự giáng lâm được dự kiến của một số thành viên của Thánh Đoàn (các điểm đạo đồ dưới lần điểm đạo thứ tư) và của một số đệ tử cùng người dự bị, tất cả đều thuộc cung này và đều là những người thông linh chân chính, những người hy vọng thông qua nỗ lực của mình sẽ hóa giải các rung động ấy, và ngăn chặn mối đe doạ phát sinh từ sự xuất hiện của nhóm kia. Việc sắp đặt điều này và chuẩn bị con đường cho họ tại các quốc gia khác nhau, đặc biệt ở châu Âu và Bắc Mỹ, hiện đang chiếm sự chú ý của Chân sư R— và Chân sư H—. (152)

(152) The Master R. or Rakoczi, is the Hungarian Master, living at this time in Hungary, and is the Regent of Europe and America, under the “great Brotherhood.” He works through various organisations and movements including Masonry. He is one of the Masters who take pupils.

(152) Chân sư R. hay Rakoczi là vị Chân sư người Hungary, hiện đang sống tại Hungary, và là Nhiếp chính của châu Âu và châu Mỹ, dưới “Huynh đệ Đoàn vĩ đại”. Ngài làm việc thông qua nhiều tổ chức và phong trào khác nhau, kể cả Hội Tam Điểm. Ngài là một trong những Chân sư có nhận đệ tử.

The Master H. or Hilarion, is a Cretan Master, is interested in the Spiritualistic Movement and is responsible for Light on the Path. (back)

Chân sư H. hay Hilarion là một Chân sư người Crete, quan tâm đến Phong trào Thần linh học và chịu trách nhiệm về Ánh sáng trên Đường Đạo. (back)

A group of scientists will come into incarnation on the [Page 456] physical plane during the next seventy-five years who will be the medium for the revelation of the next three truths concerning electrical phenomena. A formula of truth concerning this aspect of manifestation was prepared by initiates on the fifth Ray at the close of the last century, being part of the usual attempt of the Hierarchy to promote evolutionary development at the close of every cycle of one hundred years. Certain parts (two fifths) of that formula have worked out through the achievements of such men as Edison and those who participate in his type of endeavour, and through the work of those who have dealt with the subject of radium and radioactivity. Three more parts of the same formula have still to come, and will embody all that it is possible or safe for man to know anent the physical plane manifestation of electricity during the fifth subrace.

Một nhóm các nhà khoa học sẽ đi vào lâm phàm trên [Page 456] cõi hồng trần trong bảy mươi lăm năm tới, những người sẽ là trung gian cho sự mặc khải của ba chân lý kế tiếp liên quan đến các hiện tượng điện. Một công thức chân lý liên quan đến phương diện này của sự biểu hiện đã được các điểm đạo đồ trên cung năm chuẩn bị vào cuối thế kỷ trước, như một phần của nỗ lực thông thường của Thánh Đoàn nhằm thúc đẩy sự phát triển tiến hoá vào cuối mỗi chu kỳ một trăm năm. Một số phần nhất định (hai phần năm) của công thức ấy đã được triển khai thông qua những thành tựu của những người như Edison và những ai tham gia vào loại nỗ lực của ông, cũng như thông qua công trình của những người đã đề cập đến chủ đề radium và phóng xạ. Ba phần nữa của cùng công thức ấy vẫn còn phải đến, và sẽ bao hàm tất cả những gì con người có thể biết, hoặc biết một cách an toàn, liên quan đến sự biểu hiện hồng trần của điện trong giống dân phụ thứ năm.

All that we have here considered covers the time till the coming in of the new subrace. This race will summarise and carry to a temporary conclusion the manasic effort of the fifth rootrace of mental growth, and will cause results of stupendous import. During the sixth subrace, the emphasis will not be so much on the development of mind, as it will be on the utilisation of the concrete mind, and its acquired faculty, for the development of the powers of abstract thought. Perhaps too much importance has been attached to the statement of some occult writers that the sixth subrace will be intuitive. The intuition will be awakening, and will be more prominent than now, but the outstanding characteristic will be the ability of the units of the sixth subrace to think in abstract terms, and to use the abstract mind. Their function will be to perfect (as far as may be in this round) [Page 457] the group antaskarana, (153) or the link between the mental and the buddhic. This bridge will be of a usable nature during the sixth rootrace in which the intuition will show real and general signs of existing. In this rootrace, units only show signs here and there of real intuition, having built the necessary bridge in their individual selves. In the sixth rootrace small groups will be intuitive.

Tất cả những gì chúng ta đã xem xét ở đây bao trùm thời gian cho đến khi giống dân phụ mới xuất hiện. Giống dân này sẽ tổng kết và đưa đến một kết luận tạm thời nỗ lực manas của giống dân gốc thứ năm về sự tăng trưởng trí tuệ, và sẽ gây ra những kết quả có tầm quan trọng phi thường. Trong giống dân phụ thứ sáu, trọng tâm sẽ không đặt nhiều vào sự phát triển của trí tuệ, mà sẽ đặt vào sự sử dụng trí cụ thể, cùng năng lực đã đạt được của nó, để phát triển các quyền năng của tư duy trừu tượng. Có lẽ người ta đã đặt quá nhiều tầm quan trọng vào lời phát biểu của một số tác giả huyền bí học rằng giống dân phụ thứ sáu sẽ có trực giác. Trực giác sẽ thức tỉnh, và sẽ nổi bật hơn hiện nay, nhưng đặc tính nổi trội sẽ là khả năng của các đơn vị thuộc giống dân phụ thứ sáu trong việc suy nghĩ bằng những thuật ngữ trừu tượng, và sử dụng trí trừu tượng. Chức năng của họ sẽ là hoàn thiện (trong mức có thể ở cuộc tuần hoàn này) [Page 457] antaskarana nhóm, (153) hay mối liên kết giữa trí tuệ và Bồ đề. Cây cầu này sẽ có tính khả dụng trong giống dân gốc thứ sáu, trong đó trực giác sẽ cho thấy những dấu hiệu thực sự và phổ quát của sự hiện hữu. Trong giống dân gốc này, chỉ các đơn vị riêng lẻ mới cho thấy đây đó những dấu hiệu của trực giác thực sự, vì đã xây dựng cây cầu cần thiết trong bản thân cá nhân họ. Trong giống dân gốc thứ sáu, các nhóm nhỏ sẽ có trực giác.

(153) Antahkarana is the lower manas, the path of communication between the personality and the higher manas, or human soul.—H. P. Blavatsky. (back)

(153) Antahkarana là hạ trí, con đường thông giao giữa phàm ngã và thượng trí, hay linh hồn con người.—H. P. Blavatsky. (back)

It is needless to say more here anent the influence of the seventh Ray upon the sons of men. More later may be available but enough has been suggested to form the basis of useful speculation.

Không cần nói thêm ở đây về ảnh hưởng của cung bảy trên những người con của nhân loại. Về sau có thể sẽ có thêm điều được cung cấp, nhưng những gì đã được gợi ra là đủ để làm nền tảng cho sự suy đoán hữu ích.

b. Animals and human beings and the Rays. We will now take up two points and study the effect of the incoming force on the human and animal kingdoms. These points are of profound interest to the occult student for two reasons. The topic we have now to consider is the effect of the incoming seventh Ray during the coming centuries upon the animal kingdom and the deva evolution. The profundity of the interest lies in the fact that in the one case we are dealing with the evolution immediately behind the human and from which man is not as yet wholly emancipated, and in the other we are concerning ourselves with a paralleling evolution, and one that is of vast importance in the scheme of things. Let us take up first this seventh Ray and its effect upon the animal kingdom.

b. Động vật, con người và các cung. Giờ đây chúng ta sẽ xét đến hai điểm và nghiên cứu ảnh hưởng của mãnh lực đang đi vào trên giới nhân loại và giới động vật. Hai điểm này có sự quan tâm sâu sắc đối với đạo sinh huyền bí học vì hai lý do. Chủ đề mà giờ đây chúng ta phải xem xét là ảnh hưởng của cung bảy đang đi vào trong các thế kỷ sắp tới trên giới động vật và sự tiến hoá thiên thần. Chiều sâu của mối quan tâm nằm ở chỗ trong một trường hợp chúng ta đang đề cập đến cuộc tiến hoá ngay phía sau con người và từ đó con người vẫn chưa hoàn toàn giải thoát, còn trong trường hợp kia chúng ta đang quan tâm đến một cuộc tiến hoá song hành, và là một cuộc tiến hoá có tầm quan trọng to lớn trong sơ đồ của vạn vật. Trước hết, chúng ta hãy xét đến cung bảy này và ảnh hưởng của nó trên giới động vật.

Practically little is known to man concerning this kingdom of nature, save what science has vouchsafed anent the physical organisms, and a few occult statements which have been given out at various times; the development of the animal consciousness and its immediate future is as yet but little understood.

Trên thực tế, con người biết rất ít về giới tự nhiên này, ngoại trừ những gì khoa học đã ban cho liên quan đến các cơ thể hồng trần, và một vài phát biểu huyền bí đã được đưa ra vào nhiều thời điểm khác nhau; sự phát triển của tâm thức động vật và tương lai gần của nó cho đến nay vẫn còn rất ít được thấu hiểu.

The most important of the occult facts concerning this [Page 458] third kingdom as they relate to our present subject, may be enumerated as follows:

Những sự kiện huyền bí quan trọng nhất liên quan đến [Page 458] giới thứ ba này, trong chừng mực chúng liên hệ đến chủ đề hiện tại của chúng ta, có thể được liệt kê như sau:

1. The animal kingdom holds the same relation to the human kingdom as the dense physical body does to the seven principles and still finds its connecting link with man through the close correspondence between their bodies of objectivity.

1. Giới động vật giữ cùng một mối liên hệ với giới nhân loại như thể xác hồng trần đậm đặc đối với bảy nguyên khí, và vẫn tìm thấy mối liên kết của nó với con người thông qua sự tương ứng chặt chẽ giữa các thể khách quan của họ.

2. The animal kingdom is the third of the kingdoms and is (from the esoteric point of view and as regards its relation to mankind) the mother aspect, prior to the overshadowing by the Holy Spirit, the manas aspect. Think out this resemblance, and trace the analogy between the cosmic mother, the systemic mother, and the same mother aspect as seen in the animal kingdom as a basis for the evolution of man.

2. Giới động vật là giới thứ ba và là (từ quan điểm huyền bí và xét về mối liên hệ của nó với nhân loại) phương diện mẹ, trước khi được Chúa Thánh Thần phủ bóng, tức phương diện manas. Hãy suy ngẫm sự tương tự này, và truy tìm phép tương đồng giữa người mẹ vũ trụ, người mẹ hệ thống, và cùng phương diện mẹ ấy như được thấy trong giới động vật như một nền tảng cho sự tiến hoá của con người.

Each of the kingdoms of nature acts as the mother to the succeeding one in the evolutionary process. Any group, which may be under consideration, should in due course of evolution give birth to offspring, who will—in themselves—embody some ideal, and who receive their objective forms on some plane from the earlier group. From the third kingdom springs the fourth, and from this fourth will emerge the fifth, each receiving

Mỗi giới trong các giới tự nhiên đều hành động như người mẹ đối với giới kế tiếp trong tiến trình tiến hoá. Bất kỳ nhóm nào đang được xem xét, đến đúng tiến trình tiến hoá, đều phải sinh ra hậu duệ, những kẻ sẽ—trong chính mình—thể hiện một lý tưởng nào đó, và nhận các hình tướng khách quan của mình trên một cõi nào đó từ nhóm trước đó. Từ giới thứ ba nảy sinh giới thứ tư, và từ giới thứ tư này sẽ xuất hiện giới thứ năm, mỗi giới nhận được

a. Germ protection,

a. Sự bảo vệ mầm sống,

b. Form,

b. Hình tướng,

c. Gradual development,

c. Sự phát triển dần dần,

d. Nourishment,

d. Sự nuôi dưỡng,

until in each case the human child, or the Christ child, is brought to the birth. This is a very occult truth, and though the facts have been recognised and taught anent the fourth and fifth kingdoms, the work and place of the animal has not received its due recognition.

cho đến khi trong mỗi trường hợp, đứa con người, hay đứa trẻ Christ, được sinh ra. Đây là một chân lý rất huyền bí, và dù các sự kiện đã được công nhận và giảng dạy liên quan đến giới thứ tư và thứ năm, công việc và vị trí của động vật vẫn chưa nhận được sự công nhận xứng đáng.

3. During the third rootrace, animal individualisation took place, and the self-conscious unit, called Man, came into being. I have somewhat dealt with the question of [Page 459] individualisation elsewhere and seek not here to enlarge upon it. I would only point out a correspondence that holds hid the key to the mystery of individualisation.

3. Trong giống dân gốc thứ ba, sự biệt ngã hóa của động vật đã diễn ra, và đơn vị ngã thức, được gọi là Con Người, đã xuất hiện. Tôi đã phần nào bàn đến vấn đề [Page 459] biệt ngã hóa ở nơi khác và không tìm cách khai triển thêm ở đây. Tôi chỉ muốn chỉ ra một sự tương ứng đang che giấu chìa khóa của bí nhiệm biệt ngã hóa.

In this chain, individualisation took place during the third rootrace and in the fourth round, speaking in this connection of a round through a chain of globes, and not the life force of a planetary Logos circulating through the seven chains in a scheme. It is of peculiar interest at this time that we are in the fourth round in a chain as well as in the fourth round as regards the scheme of seven chains. It has led to evolutionary possibilities of great import. On the moon chain individualisation took place during the fifth race of the third round, and in the next chain to ours on the evolutionary arc individualisation will take place during the sixth race of the second round,—in each case this refers to a planetary round through a chain of globes.

Trong dãy này, sự biệt ngã hóa đã diễn ra trong giống dân gốc thứ ba và trong cuộc tuần hoàn thứ tư, nói ở đây về một cuộc tuần hoàn qua một dãy các bầu hành tinh, chứ không phải mãnh lực sự sống của một Hành Tinh Thượng đế lưu chuyển qua bảy dãy trong một hệ hành tinh. Điều đặc biệt đáng quan tâm vào lúc này là chúng ta đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ tư trong một dãy cũng như trong cuộc tuần hoàn thứ tư xét theo hệ bảy dãy. Điều đó đã dẫn đến những khả năng tiến hoá có tầm quan trọng lớn lao. Trên Dãy Mặt Trăng, sự biệt ngã hóa đã diễn ra trong nhân loại thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ ba, và trong dãy kế tiếp dãy của chúng ta trên cung tiến hoá, sự biệt ngã hóa sẽ diễn ra trong nhân loại thứ sáu của cuộc tuần hoàn thứ hai,—trong mỗi trường hợp, điều này đều chỉ một cuộc tuần hoàn hành tinh qua một dãy các bầu hành tinh.

4. In the fourth rootrace the “door” (as it is called) between the two kingdoms became closed, and no more of the animal kingdom passed into the human. Their cycle temporarily ended and—to express it in terms of fire or of electrical phenomena—the animal kingdom and the human became positive to each other, and repulsion instead of attraction supervened. All this was brought about by the swinging into power of a profoundly long cycle of the fifth Ray. This was necessitated by the need of man to develop along the manasic line, and resulted in a period of repulsion of the animal units, leaving their consciousness to be stimulated on astral lines.

4. Trong giống dân gốc thứ tư, “cánh cửa” (như cách gọi) giữa hai giới đã khép lại, và không còn gì từ giới động vật đi vào giới nhân loại nữa. Chu kỳ của chúng tạm thời chấm dứt và—nói theo thuật ngữ của lửa hay của các hiện tượng điện—giới động vật và giới nhân loại trở nên dương đối với nhau, và sự đẩy lùi thay vì hấp dẫn đã xuất hiện. Tất cả điều này được mang lại bởi sự chuyển vào quyền năng của một chu kỳ cực kỳ dài của cung năm. Điều này là cần thiết do nhu cầu con người phải phát triển theo đường lối manas, và đã dẫn đến một thời kỳ đẩy lùi các đơn vị động vật, để tâm thức của chúng được kích thích theo các đường cảm dục.

Owing to this repulsion, we have one reason (and one of the least fundamental) for the destructive war and the long cycle of cruelty that has been waged between man and the animals. It can be evidenced in the terror of man in connection with wild animals of the jungles and the deserts, and in the terrible toll of life that such animals have exacted during the centuries. This must not [Page 460] be forgotten. For thousands of years, wild animals have—specially before the coming in of firearms—destroyed the defenseless, and during those years, had statistics been taken, the numbers of human beings killed would reach a stupendous figure. Now, in this age, the balancing is taking place and in the slaughter of animals equilibrium is being reached. I do not refer to the wanton cruelties practised under the name of science, nor to certain practices which take place under religious guise in different lands. The source of these enormities must be sought for elsewhere. It is hidden in the karma of that Being, Who for a period—during the moon chain—held office as the Entity Who is the informing evolutionary Life of the animal kingdom. This is a point of view needing careful pondering. Each of the kingdoms of nature is the expression of a Life or Being; man, for instance, being the expression of one or other of the Heavenly Men; the sumtotal of humanity (the fourth Hierarchy) being found, with the deva evolution, as the centres of the solar Logos. The animal kingdom likewise is the expression of the life of a Being Who is a part of the body of the Logos or of the planetary Logos, but not a centre of conscious energy. (A correspondence is found in the human body, which has its seven centres of force or energy, but also other organs upon which objective manifestation depends in lesser degree.) Such an Entity finds expression through the animal kingdom, of which He is the informing Soul, and He has definite place in the planetary or logoic body. This is a hint which has hitherto not been exoteric and is to be commended to the consideration of students. I would add that some of the tragedies underlying existence at this time are karmically incident upon temporarily faulty relations between an entity who dominated at one period of the third or moon-chain, and the one holding analogous position in this the fourth or earth chain. This latter is the sumtotal of the [Page 461] lowest human principle, if we count the dense physical or animal body of man as a principle. In their lack of agreement lies the clue to the cruelties practised on animals by man.

Do sự đẩy lùi này, chúng ta có một lý do (và là một trong những lý do ít căn bản nhất) cho cuộc chiến tàn phá và chu kỳ dài của sự tàn nhẫn đã diễn ra giữa con người và động vật. Điều này có thể được chứng minh trong nỗi kinh hoàng của con người liên quan đến các thú hoang nơi rừng rậm và sa mạc, và trong cái giá khủng khiếp về sinh mạng mà những loài vật ấy đã đòi hỏi qua nhiều thế kỷ. Điều này không được [Page 460] quên. Trong hàng ngàn năm, các thú hoang đã—đặc biệt trước khi súng đạn xuất hiện—hủy diệt những kẻ không tự vệ, và trong những năm ấy, nếu có thống kê, số người bị giết sẽ đạt đến một con số phi thường. Giờ đây, trong thời đại này, sự quân bình đang diễn ra và trong việc tàn sát động vật, trạng thái cân bằng đang được đạt tới. Tôi không nói đến những sự tàn ác vô cớ được thực hiện dưới danh nghĩa khoa học, cũng không nói đến một số tập tục diễn ra dưới vỏ bọc tôn giáo ở các xứ sở khác nhau. Nguồn gốc của những điều ghê tởm này phải được tìm ở nơi khác. Nó ẩn trong nghiệp quả của Đấng ấy, Đấng trong một thời kỳ—trong Dãy Mặt Trăng—đã giữ chức vụ là Thực Thể vốn là Sự Sống tiến hoá phú linh của giới động vật. Đây là một quan điểm cần được suy ngẫm cẩn thận. Mỗi giới trong các giới tự nhiên là sự biểu hiện của một Sự Sống hay một Thực Thể; chẳng hạn, con người là sự biểu hiện của một hay một Đấng Thiên Nhân khác; tổng thể nhân loại (Huyền Giai thứ tư), cùng với sự tiến hoá thiên thần, được tìm thấy như các trung tâm của Thái dương Thượng đế. Tương tự như vậy, giới động vật là sự biểu hiện của sự sống của một Thực Thể là một phần của thể của Thượng đế hay của Hành Tinh Thượng đế, nhưng không phải là một trung tâm năng lượng hữu thức. (Một sự tương ứng được tìm thấy trong thể người, vốn có bảy trung tâm mãnh lực hay năng lượng, nhưng cũng có những cơ quan khác mà sự biểu hiện khách quan phụ thuộc vào ở mức độ thấp hơn.) Một Thực Thể như thế tìm thấy sự biểu hiện thông qua giới động vật, mà Ngài là Linh hồn phú linh của giới ấy, và Ngài có một vị trí xác định trong thể hành tinh hay thể logoi. Đây là một gợi ý từ trước đến nay chưa từng là ngoại môn và được khuyến nghị cho sự suy xét của các đạo sinh. Tôi xin nói thêm rằng một số bi kịch nằm dưới sự hiện hữu vào lúc này là những điều phát sinh theo nghiệp quả từ các mối quan hệ tạm thời sai lệch giữa một thực thể đã thống trị trong một thời kỳ của dãy thứ ba hay Dãy Mặt Trăng, và thực thể đang giữ vị trí tương tự trong dãy thứ tư hay Dãy Địa Cầu này. Thực thể sau này là tổng thể của [Page 461] nguyên khí thấp nhất của con người, nếu chúng ta tính thể hồng trần đậm đặc hay thể động vật của con người như một nguyên khí. Chính trong sự bất đồng của họ có manh mối cho những sự tàn ác mà con người thực hiện trên động vật.

We have enumerated six occult statements anent the animal kingdom, the third kingdom of nature. They related to the past, and we will now add one further statement to them and then proceed to consider the present and to foretell certain eventualities that may be looked for in the future.

Chúng ta đã liệt kê sáu phát biểu huyền bí liên quan đến giới động vật, giới thứ ba của tự nhiên. Chúng liên hệ đến quá khứ, và giờ đây chúng ta sẽ thêm vào đó một phát biểu nữa rồi tiếp tục xem xét hiện tại và tiên đoán một số khả năng có thể được chờ đợi trong tương lai.

As we have seen, during the third rootrace, opportunity for the animal kingdom occurred and many individualised. In the fourth rootrace this cycle of opportunity ceased temporarily, and something happened which is analogous to what will occur in the fifth rootrace in connection with man, at the so-called “Judgment Day.” In Atlantean days the lives which composed the third kingdom of nature were divided into two groups:

Như chúng ta đã thấy, trong giống dân gốc thứ ba, cơ hội đã đến với giới động vật và nhiều đơn vị đã biệt ngã hóa. Trong giống dân gốc thứ tư, chu kỳ cơ hội này tạm thời chấm dứt, và một điều gì đó đã xảy ra tương tự với điều sẽ xảy ra trong giống dân gốc thứ năm liên quan đến con người, vào cái gọi là “Ngày Phán Xét.” Trong thời Atlantis, các sự sống cấu thành giới thứ ba của tự nhiên được chia thành hai nhóm:

A number of these lives were “passed,” and the tide of life sweeps through them, permitting of their incarnating in animal form on earth, and their gradual evolution.

Một số các sự sống này đã được “vượt qua,” và thủy triều sự sống quét qua chúng, cho phép chúng nhập thể trong hình tướng động vật trên địa cầu, và tiến hoá dần dần.

The remainder were rejected, and as a group they became temporarily quiescent, and will not manifest in physical form until the next round.

Số còn lại bị loại bỏ, và với tư cách một nhóm, chúng trở nên tạm thời tĩnh lặng, và sẽ không biểu hiện trong hình tướng hồng trần cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp.

In the fifth round, a corresponding division will take place in the fourth kingdom, and the lives in that kingdom will be subjected to an analogous test; some will be passed and will continue their evolution on this planet, while others will be rejected, and will go into temporary pralaya.

Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, một sự phân chia tương ứng sẽ diễn ra trong giới thứ tư, và các sự sống trong giới ấy sẽ chịu một cuộc thử thách tương tự; một số sẽ được vượt qua và sẽ tiếp tục tiến hoá trên hành tinh này, trong khi những số khác sẽ bị loại bỏ, và sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên tạm thời.

After the rejection in the fourth rootrace of three-fourths of the animal units, the remaining triads (or one-fourth) proceeded on their way holding the promise of opportunity for all in time, and the guarantee of their [Page 462] own attainment in the next round. Just as the human Monads, who are passed in the fifth round, will enter into the fifth kingdom, or respond to its vibration before the climax of the seventh, so the animal monads (if I may employ such a term) who were passed in this round will achieve individualisation during the fifth and enter the fourth kingdom. This will be brought about by the strong manasic impulse which will characterise the whole cycle of the fifth round, and will thus be effected normally and as the result of due evolutionary growth. An electrical stimulation of the nature of the occurrence in Lemurian days will not be required.

Sau sự loại bỏ trong giống dân gốc thứ tư của ba phần tư các đơn vị động vật, các tam nguyên còn lại (hay một phần tư) tiếp tục con đường của chúng, giữ lời hứa về cơ hội cho tất cả trong thời gian thích hợp, và sự bảo đảm về [Page 462] sự thành tựu của chính chúng trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. Cũng như các chân thần nhân loại, những vị được vượt qua trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ đi vào giới thứ năm, hay đáp ứng với rung động của giới ấy trước cao điểm của cuộc tuần hoàn thứ bảy, thì các chân thần động vật (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy) đã được vượt qua trong cuộc tuần hoàn này sẽ đạt được sự biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn thứ năm và đi vào giới thứ tư. Điều này sẽ được mang lại bởi xung lực manas mạnh mẽ sẽ đặc trưng cho toàn bộ chu kỳ của cuộc tuần hoàn thứ năm, và như thế sẽ được thực hiện một cách bình thường và như kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá thích đáng. Sẽ không cần đến một sự kích thích điện có bản chất như biến cố trong thời Lemuria.

Since the great division in the fourth rootrace, the animal kingdom has been primarily occupied with the stimulation and development of kama. This is the basis of the endeavour being made by the Brotherhood by the aid of man to fan the emotional instinct (or the embryo love aspect) through the segregating of the domestic animals, and the consequent play made upon the third spirilla in the animal atoms by human magnetism or radiatory energy. The sumtotal of the domestic animals—the animal units brought into closest connection with man—form the heart centre in the body of that great Entity Who is the life of the animal kingdom. From the heart flow all the influences which will eventually permeate the entire body. These units are those which will be finally separated from the group soul at the reopening of the door into the human kingdom in the next round.

Kể từ sự phân chia lớn trong giống dân gốc thứ tư, giới động vật chủ yếu bận rộn với sự kích thích và phát triển kama. Đây là nền tảng của nỗ lực mà Huynh đệ Đoàn đang thực hiện với sự trợ giúp của con người để khơi bùng bản năng cảm xúc (hay phương diện bác ái phôi thai) thông qua việc tách riêng các động vật thuần dưỡng, và do sự tác động lên loa tuyến thứ ba trong các nguyên tử động vật bởi từ điện hay năng lượng bức xạ của con người. Tổng thể các động vật thuần dưỡng—các đơn vị động vật được đưa vào mối liên hệ gần gũi nhất với con người—tạo thành trung tâm tim trong thể của Thực Thể vĩ đại là sự sống của giới động vật. Từ tim tuôn ra mọi ảnh hưởng cuối cùng sẽ thấm khắp toàn thể. Các đơn vị này là những đơn vị cuối cùng sẽ được tách ra khỏi hồn nhóm khi cánh cửa vào giới nhân loại được mở lại trong cuộc tuần hoàn kế tiếp.

Let us now consider the immediate present, and the advent of this seventh ray of ceremonial magic. The effect upon the animal kingdom of the force of this ray will be far less than upon the human, for it is not yet ready to respond to the vibration of this planetary Logos, and will not be until the sixth round when His influence will bring about great events. Nevertheless, certain effects might here be noticed.

Giờ đây, chúng ta hãy xem xét hiện tại trực tiếp, và sự xuất hiện của cung bảy này của huyền thuật nghi lễ. Ảnh hưởng trên giới động vật của mãnh lực thuộc cung này sẽ nhỏ hơn nhiều so với trên con người, vì giới ấy chưa sẵn sàng đáp ứng với rung động của Hành Tinh Thượng đế này, và sẽ chưa đáp ứng cho đến cuộc tuần hoàn thứ sáu khi ảnh hưởng của Ngài sẽ mang lại những biến cố lớn lao. Tuy nhiên, ở đây có thể lưu ý một số hiệu quả nhất định.

[Page 463] Owing to the increased activity of the deva evolution, and specially of the devas of the ethers, the lesser builders will be stimulated to build, with greater facility, bodies of a more responsive nature, and the etheric bodies of both men and animals and also their responsiveness to force or prana will be more adequate. During the sixth subrace, disease as we know it in both kingdoms will be materially lessened owing to the pranic response of the etheric bodies. This will likewise bring about changes in the dense physical body and the bodies of both men and animals will be smaller, more refined, more finely attuned to vibration, and consequently more fitted to express essential purpose.

[Page 463] Do hoạt động gia tăng của sự tiến hoá thiên thần, và đặc biệt của các thiên thần của các dĩ thái, các vị tiểu kiến tạo sẽ được kích thích để kiến tạo, một cách dễ dàng hơn, các thể có bản chất đáp ứng hơn, và các thể dĩ thái của cả người lẫn động vật cũng như khả năng đáp ứng của chúng đối với mãnh lực hay prana sẽ thích đáng hơn. Trong giống dân phụ thứ sáu, bệnh tật như chúng ta biết trong cả hai giới sẽ giảm đi đáng kể do sự đáp ứng prana của các thể dĩ thái. Điều này cũng sẽ mang lại những thay đổi trong thể xác hồng trần đậm đặc và các thể của cả người lẫn động vật sẽ nhỏ hơn, tinh luyện hơn, được điều chỉnh tinh tế hơn với rung động, và do đó thích hợp hơn để biểu lộ mục đích cốt yếu.

Owing to the recognition by man of the value of mantrams, and his gradual comprehension of the true ceremonial of evolution, coupled with the use of sound and colour, the animal kingdom will be better understood, and better trained, considered and utilised. Indications of this already can be seen; for instance, in all our current magazines at this time, stories which deal with the psychology of animals, and with their mental attitude to man, are constantly appearing, and by the means of these and through the force of the incoming Ray, man may (if he cares to do so) come to a much wider sympathy with his brothers of less degree. Thus by the turning by man of his thought force upon the animals, stimulation of their latent mentality will ensue, leading in due course of time to the crisis in the next round. More attention should be paid by occult students to the effect of the consciousness of one group upon another group, and the advancement of the lesser, by the means of the stimulating power of the greater, should be studied. The following facts should be realised:

Do con người công nhận giá trị của các mantram, và dần dần thấu hiểu nghi lễ chân chính của tiến hoá, cùng với việc sử dụng âm thanh và màu sắc, giới động vật sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và được huấn luyện, quan tâm và sử dụng tốt hơn. Những dấu hiệu của điều này đã có thể thấy được; chẳng hạn, trong tất cả các tạp chí hiện hành của chúng ta lúc này, những câu chuyện đề cập đến tâm lý học của động vật, và đến thái độ trí tuệ của chúng đối với con người, liên tục xuất hiện, và bằng những phương tiện này cùng với mãnh lực của cung đang đi vào, con người có thể (nếu y muốn làm như vậy) đạt đến một sự cảm thông rộng lớn hơn nhiều với những huynh đệ bậc thấp hơn của mình. Như thế, bằng việc con người hướng mãnh lực tư tưởng của mình về phía động vật, sự kích thích trí tuệ tiềm ẩn của chúng sẽ xảy ra, dẫn dần theo thời gian đến cuộc khủng hoảng trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. Các đạo sinh huyền bí học nên chú ý nhiều hơn đến ảnh hưởng của tâm thức của một nhóm lên một nhóm khác, và sự tiến bộ của nhóm thấp hơn, bằng quyền năng kích thích của nhóm cao hơn, cần được nghiên cứu. Cần nhận ra các sự kiện sau đây:

a. The powerful vibration of the Lords of the three Rays, and of Their radiation, stimulates the four Heavenly [Page 464] Men and develops Their apprehension, enabling Them to expand Their consciousness.

a. Rung động mãnh liệt của các Đấng Chúa Tể của ba cung, và bức xạ của Các Ngài, kích thích bốn Đấng Thiên Nhân [Page 464] và phát triển sự lĩnh hội của Các Ngài, giúp Các Ngài mở rộng tâm thức của mình.

b. The consciousness of the Heavenly Men stimulates all the units in Their bodies, but causes specialised response from those who are actively and intelligently working at the development of group consciousness. The vibration, for instance, of a planetary Logos has a peculiar effect upon all those who are initiates, adepts and chohans, and brings their three major spirillae to the necessitated vibration. This work is begun when the sixth spirilla (in the minor group of seven) is active.

b. Tâm thức của các Đấng Thiên Nhân kích thích mọi đơn vị trong các thể của Các Ngài, nhưng gây ra sự đáp ứng chuyên biệt từ những ai đang tích cực và thông tuệ làm việc cho sự phát triển tâm thức nhóm. Chẳng hạn, rung động của một Hành Tinh Thượng đế có một hiệu quả đặc thù trên tất cả những ai là điểm đạo đồ, chân sư và chohan, và đưa ba loa tuyến chính của họ đến rung động cần thiết. Công việc này bắt đầu khi loa tuyến thứ sáu (trong nhóm phụ bảy loa tuyến) hoạt động.

c. The consciousness of man is stimulated and developed when—at a certain stage—he can respond to the vibration of members of the Occult Hierarchy, and is thus nearing the portal into the fifth kingdom. This coincides with the vibratory activity of the fifth spirilla.

c. Tâm thức của con người được kích thích và phát triển khi—ở một giai đoạn nhất định—y có thể đáp ứng với rung động của các thành viên của Thánh Đoàn Huyền Bí, và như thế đang tiến gần đến cánh cổng vào giới thứ năm. Điều này trùng hợp với hoạt động rung động của loa tuyến thứ năm.

d. In like manner, the less evolved units of the race, who are scarcely more than animals, are brought to the necessary stage of vibration by the play upon their mental bodies of the combined vibrations of men, whose fourth spirilla is functioning adequately. In these last two cases we are dealing with the spirillae of the mental permanent atom. In the other two we are dealing with occult mysteries, bound up in the vivification of solar and not human permanent atoms.

d. Cũng vậy, các đơn vị kém tiến hoá hơn của nhân loại, hầu như không hơn động vật là mấy, được đưa đến giai đoạn rung động cần thiết bởi sự tác động lên các thể trí của họ từ những rung động kết hợp của những con người mà loa tuyến thứ tư đang hoạt động thích đáng. Trong hai trường hợp sau cùng này, chúng ta đang đề cập đến các loa tuyến của nguyên tử trường tồn trí tuệ. Trong hai trường hợp kia, chúng ta đang đề cập đến các bí nhiệm huyền bí, gắn liền với sự tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn thái dương chứ không phải nhân loại.

e. The fourth Creative Hierarchy, viewed as a unit functioning on this planet (and leaving out of consideration its manifestation in other schemes) works in a magnetic manner, and in a stimulative capacity upon the animal kingdom, the force of its vibration pouring on to the astral bodies of the animals, and producing response. This awakens to a more effective apprehension all the units of the animal kingdom. Hence it can be seen how close is the interplay, and the interdependence, and how closely united all these greater and lesser lives are with each other. Growth and development in one part of the [Page 465] body logoic produces a corresponding advance in the whole. No man, for instance, can make definite and specialised progress without his brother benefiting,—this benefiting taking the form of:

e. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, được nhìn như một đơn vị đang hoạt động trên hành tinh này (và không xét đến sự biểu hiện của nó trong các hệ hành tinh khác) hoạt động theo cách từ tính, và với năng lực kích thích trên giới động vật, mãnh lực của rung động của nó tuôn xuống các thể cảm dục của động vật, và tạo ra sự đáp ứng. Điều này đánh thức mọi đơn vị của giới động vật đến một sự lĩnh hội hữu hiệu hơn. Do đó có thể thấy sự tương tác và sự tương thuộc gần gũi đến mức nào, và tất cả những sự sống lớn hơn và nhỏ hơn này liên kết chặt chẽ với nhau đến mức nào. Sự tăng trưởng và phát triển trong một phần của thể [Page 465] logoi tạo ra một sự tiến bộ tương ứng trong toàn thể. Chẳng hạn, không một ai có thể đạt được tiến bộ xác định và chuyên biệt mà không làm huynh đệ của mình được lợi ích,—lợi ích này mang hình thức là:

The increase of the total consciousness of the group.

Sự gia tăng tổng tâm thức của nhóm.

The stimulation of units in the group.

Sự kích thích các đơn vị trong nhóm.

The group magnetism producing increased healing or blending effects upon allied groups.

Từ điện nhóm tạo ra những hiệu quả chữa lành hoặc dung hợp gia tăng trên các nhóm liên kết.

In this thought lies, for the servant of the Master, incentive to effort; no man who strives for mastery, who struggles to attain, and who aims at expansion of consciousness but is having some effect—in ever widening spirals—upon all whom he contacts, devas, men, and animals. That he knows it not, and that he may be totally unaware of the subtle stimulating emanation which proceeds from him may be true, but nevertheless the law works.

Chính trong tư tưởng này có, đối với người phụng sự của Chân sư, động lực để nỗ lực; không một ai cố gắng đạt quyền làm chủ, vật lộn để thành tựu, và nhắm đến sự mở rộng tâm thức mà lại không tạo ra một số ảnh hưởng—trong những vòng xoắn ngày càng mở rộng—trên tất cả những ai y tiếp xúc, thiên thần, con người và động vật. Việc y không biết điều đó, và việc y có thể hoàn toàn không nhận thức được sự phát xạ kích thích vi tế phát ra từ mình, có thể là đúng, nhưng dù vậy định luật vẫn vận hành.

The third effect of the coming in of this ray is one that may at first repel—it will cause a great destruction in the animal kingdom. During the next few hundred years many of the old animal forms will die out and become extinct. To supply the wants of man, through disease, and through causes latent in the animal kingdom itself, much destruction will be brought about. It must ever be borne in mind that a building force is likewise a destroying one, and new forms for the animal evolution are, at this time, one of the recognized needs. The immense slaughter in America is part of the working out of the plan. The inner life or fire which animates the animal groups, and which is the life expression of an Entity, will, under this seventh influence, blaze up and burn out the old, and permit the escape of the life, to newer and better forms.

Hiệu quả thứ ba của sự đi vào của cung này là một điều thoạt đầu có thể gây phản cảm—nó sẽ gây ra một sự hủy diệt lớn trong giới động vật. Trong vài trăm năm tới, nhiều hình tướng động vật cũ sẽ chết đi và tuyệt chủng. Để cung ứng các nhu cầu của con người, qua bệnh tật, và qua những nguyên nhân tiềm ẩn trong chính giới động vật, nhiều sự hủy diệt sẽ được gây ra. Phải luôn ghi nhớ rằng một mãnh lực kiến tạo cũng đồng thời là một mãnh lực hủy diệt, và những hình tướng mới cho sự tiến hoá động vật, vào lúc này, là một trong những nhu cầu đã được thừa nhận. Cuộc tàn sát khổng lồ ở Mỹ là một phần của sự triển khai Thiên Cơ. Sự sống bên trong hay lửa làm sinh động các nhóm động vật, và là biểu hiện sự sống của một Thực Thể, dưới ảnh hưởng thứ bảy này, sẽ bùng lên và thiêu rụi cái cũ, đồng thời cho phép sự sống thoát ra để đi vào những hình tướng mới hơn và tốt đẹp hơn.

Our subject for immediate consideration concerns the [Page 466] deva evolution, and the effect of the incoming ray upon them.

Đề tài chúng ta cần xem xét ngay liên quan đến [Page 466] sự tiến hoá thiên thần, và ảnh hưởng của cung đang đi vào đối với họ.

Leave a Comment

Scroll to Top