5. Cung và Điểm đạo – Phần II, Những Nhận Xét Mở đầu

📘 Sách: Các Cung và Các Cuộc Điểm đạo – Tác giả: Alice Bailey

PART TWO – INTRODUCTORY REMARKS — PHẦN HAI – NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

[323]

[323]

We now come to the final part of A Treatise on the Seven Rays and I have in mind three things which it appears to me to be necessary to do; these three will make this Treatise not only the textbook of the new psychology but also a more vital factor in the human consciousness, because the fact of initiation will be emphasised. These three are:

Giờ đây chúng ta đi đến phần cuối cùng của Luận về Bảy Cung và tôi có trong tâm trí ba điều mà theo tôi dường như cần phải làm; ba điều này sẽ khiến bộ Luận này không những là giáo trình của nền tâm lý học mới mà còn là một yếu tố sinh động hơn trong tâm thức nhân loại, bởi vì sự kiện điểm đạo sẽ được nhấn mạnh. Ba điều ấy là:

1. I propose to deal with the theme of Initiation in order to prepare the world of men for the restoration of the Mysteries.

1. Tôi dự định bàn đến chủ đề Điểm đạo để chuẩn bị thế giới loài người cho sự phục hồi các Mầu Nhiệm.

2. I will give some definite teaching on the Centres from the planetary angle and also from the angle of the individual aspirant.

2. Tôi sẽ đưa ra một số giáo huấn xác định về các Trung tâm từ góc độ hành tinh và cũng từ góc độ của người chí nguyện cá nhân.

3. I will endeavour to relate the seven Ray energies to the five and the seven Initiations and to the three and the seven centres in a new and more arresting manner.

3. Tôi sẽ cố gắng liên hệ các năng lượng của bảy cung với năm và bảy lần Điểm đạo, và với ba và bảy trung tâm theo một cách mới mẻ và gây chú ý hơn.

This is a large order and one not easy to fulfill because so much has already been given out anent initiation; the subject is dangerously familiar. By that I mean that certain preconceived ideas are already present in men’s minds and many of these are not factual in nature and need to be discarded or, at the best, reinterpreted. I have myself dealt in a broad and general way with the subject of initiation in one of my earliest books: Initiation, Human and Solar; also, scattered through all my writings over the years is a mass of information which needs collating and bringing together as a basis for the instruction of disciples in training for an initiation.

Đây là một công việc lớn và không dễ hoàn thành vì đã có quá nhiều điều được công bố liên quan đến điểm đạo; chủ đề này đã trở nên quen thuộc một cách nguy hiểm. Ý tôi là một số ý tưởng định kiến đã hiện diện trong tâm trí con người và nhiều ý tưởng trong số đó không có tính thực tế và cần phải bị loại bỏ hoặc, tốt nhất, được diễn giải lại. Chính tôi đã bàn đến chủ đề điểm đạo một cách rộng rãi và tổng quát trong một trong những quyển sách đầu tiên của mình: Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương; ngoài ra, rải rác trong toàn bộ trước tác của tôi qua nhiều năm là một khối lượng thông tin cần được tập hợp và gom lại làm nền tảng cho việc huấn luyện các đệ tử đang chuẩn bị cho một lần điểm đạo.

In Discipleship in the New Age, Volume I, I gave out much more upon this subject and also information of a deeply esoteric nature anent the Ashrams of the Masters. The second volume of the book also contains much that is new and should serve to bring this whole subject much closer to public understanding. In the instructions now to be given, however, I shall endeavour to cover the ground [324] not already considered, and look at the subject of initiation from the angle of the seven rays, from the effect upon the centres, planetary and individual, and from the point of view of the esoteric training of the accepted aspirant or disciple. (These instructions were begun in March 1946 and completed in March 1949.)

Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, tôi đã đưa ra nhiều hơn nữa về chủ đề này và cả những thông tin có bản chất huyền bí sâu xa liên quan đến các ashram của các Chân sư. Tập hai của bộ sách ấy cũng chứa đựng nhiều điều mới và sẽ giúp đưa toàn bộ chủ đề này đến gần hơn nhiều với sự hiểu biết của công chúng. Tuy nhiên, trong các chỉ dẫn sắp được đưa ra, tôi sẽ cố gắng bao quát phần đất [324] chưa được xét đến, và nhìn chủ đề điểm đạo từ góc độ của bảy cung, từ ảnh hưởng lên các trung tâm, hành tinh và cá nhân, và từ quan điểm của sự huấn luyện huyền bí dành cho người chí nguyện hay đệ tử đã được chấp nhận. (Các chỉ dẫn này được bắt đầu vào tháng Ba năm 1946 và hoàn tất vào tháng Ba năm 1949.)

This final Volume of A Treatise on the Seven Rays will eventually change the attitude of men’s minds towards the Mysteries and towards the activity of spiritual transference, which is one of the names given by the Masters to the basic mystery of initiation. In due time our educational centres, particularly those concerned with adult education, will take into calculation, normally and customarily, the fact of future initiation where their students are concerned, and will study their graduates from this angle in order to give advice or recommendation. In these institutions the elements of true esotericism will be taught, though they will not be then regarded as esoteric.

Tập cuối cùng này của Luận về Bảy Cung cuối cùng sẽ thay đổi thái độ của tâm trí con người đối với các Mầu Nhiệm và đối với hoạt động của sự chuyển dịch tinh thần, là một trong những tên gọi mà các Chân sư dùng cho mầu nhiệm căn bản của điểm đạo. Đến lúc thích hợp, các trung tâm giáo dục của chúng ta, đặc biệt là những trung tâm liên quan đến giáo dục người trưởng thành, sẽ tính đến, một cách bình thường và thường lệ, sự kiện điểm đạo tương lai nơi các học viên của họ, và sẽ nghiên cứu những người tốt nghiệp của mình từ góc độ này để đưa ra lời khuyên hay khuyến nghị. Trong các cơ sở ấy, những yếu tố của huyền bí học chân chính sẽ được giảng dạy, dù khi đó chúng sẽ không còn được xem là huyền bí nữa.

It will be apparent to you that this long Treatise is in the nature of a preparatory thesis covering a vast field or area of information. The first two volumes dealt with the sevenfold nature of man and with the influence of the seven basic energies or rays upon his unfoldment and his history, and (in a briefer manner) upon the world in which he lives and upon the environment which aids and conditions him. In the third volume we took into consideration the influences of the constellations and planets upon the man and upon our planet, the Earth, and gave much time to the consideration of esoteric astrology; the rays, the signs, the constellations and the planets are all of them closely interrelated and the human being is the recipient of the energies and forces which they emanate or distribute. This makes the man what he essentially is at any one time whilst in incarnation.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng bộ Luận dài này có tính chất của một luận đề chuẩn bị bao quát một lĩnh vực hay phạm vi thông tin rộng lớn. Hai tập đầu đã bàn đến bản chất thất phân của con người và ảnh hưởng của bảy năng lượng căn bản hay bảy cung lên sự khai mở và lịch sử của y, và (một cách ngắn gọn hơn) lên thế giới mà y đang sống và lên môi trường trợ giúp và tác động lên y. Trong tập ba, chúng ta đã xét đến các ảnh hưởng của các chòm sao và các hành tinh lên con người và lên hành tinh của chúng ta, Trái Đất, và đã dành nhiều thời gian để xem xét Chiêm Tinh Học Nội Môn; các cung, các dấu hiệu, các chòm sao và các hành tinh đều liên hệ mật thiết với nhau, và con người là kẻ tiếp nhận các năng lượng và mãnh lực mà chúng phát ra hay phân phối. Điều này làm cho con người trở thành đúng như bản chất của y tại bất kỳ thời điểm nào khi đang lâm phàm.

We next considered the subject of healing because of the necessity of understanding the limitations—psychological and physical—which restrict man’s free expression of divinity. We dealt with a major condition which has to be faced [325] and comprehended if humanity is ever to step off the ordinary path of evolution on to the path of discipleship and of initiation. Man has to become aware of the ray effects, of the place the centres play in his advance and unfoldment, and of the play of energies and forces which produce the difficulties and the diseases, and can at the same time cure them and bring about the liberation of the man.

Tiếp đó, chúng ta đã xét đến chủ đề trị liệu vì sự cần thiết phải hiểu các giới hạn—tâm lý và thể chất—đang hạn chế sự biểu lộ tự do của thiên tính nơi con người. Chúng ta đã bàn đến một điều kiện lớn phải được đối diện [325] và thấu hiểu nếu nhân loại muốn bước ra khỏi con đường tiến hoá thông thường để đi vào con đường địa vị đệ tử và điểm đạo. Con người phải trở nên nhận biết các ảnh hưởng của cung, vai trò mà các trung tâm giữ trong sự tiến bộ và khai mở của y, và sự vận hành của các năng lượng và mãnh lực tạo ra các khó khăn và bệnh tật, đồng thời cũng có thể chữa lành chúng và mang lại sự giải thoát cho con người.

From the consideration of limitations we passed on to an entirely new theme and an entirely new concept as regards man’s education when he has reached a relatively very advanced stage of unfoldment. I gave you the new teaching anent the antahkarana or the mode and method whereby the initiate could relate in one great fusion or at-one-ment not only the soul and the personality, but monad, soul, and personality. This teaching has carried all that has hitherto been given, down the ages, another step further on and indicated the next stage of development ahead of the disciple. The time has come, as the Hierarchy had foreseen, for further light upon the endless Way.

Từ việc xem xét các giới hạn, chúng ta đã chuyển sang một chủ đề hoàn toàn mới và một khái niệm hoàn toàn mới liên quan đến sự giáo dục của con người khi y đã đạt đến một giai đoạn khai mở tương đối rất cao. Tôi đã trao cho các bạn giáo huấn mới liên quan đến antahkarana hay phương thức và phương pháp nhờ đó điểm đạo đồ có thể liên kết trong một sự dung hợp lớn hay nhất thể hóa không chỉ linh hồn và phàm ngã, mà cả chân thần, linh hồn và phàm ngã. Giáo huấn này đã đưa tất cả những gì từ trước đến nay đã được ban ra qua các thời đại tiến thêm một bước nữa và chỉ ra giai đoạn phát triển kế tiếp ở phía trước đệ tử. Thời điểm đã đến, như Thánh đoàn đã thấy trước, để có thêm ánh sáng về Con Đường vô tận.

Teaching anent the five initiations which confront all aspirants has long been given and has become public property; it has meant very little for most people and nothing at all to the mass of men; it has been regarded by the intelligentsia as vague and visionary nonsense; some few have admitted that these initiations may be possible, and others say that they are simply symbolic modes of indicating some final achievement which mankind faces; still others have accepted this teaching and have come to regard the initiations as goals and have then taken the necessary steps to prove the veridical nature of their beliefs; they have proved it, have become initiate, and have attained the status of Master of the Wisdom and taken their place within the Hierarchy. There is, therefore, a certain familiarity about these goals, the service they could entail and the consummation of the hierarchical possibilities; this itself indicates that the time had come when certain faint indications of that which lies behind the Mysteries and of that which is to be seen ahead of those who have achieved initiation should [326] be somewhat clarified; I therefore started to impart three phases of information:

Giáo huấn liên quan đến năm lần điểm đạo đối diện với mọi người chí nguyện từ lâu đã được ban ra và đã trở thành tài sản công cộng; đối với đa số người, nó có ý nghĩa rất ít và đối với quần chúng thì hoàn toàn không có ý nghĩa gì; giới trí thức xem nó là điều mơ hồ và viển vông vô nghĩa; một số ít đã thừa nhận rằng các lần điểm đạo này có thể là khả hữu, và những người khác nói rằng chúng chỉ đơn giản là những phương thức biểu tượng để chỉ một thành tựu cuối cùng nào đó mà nhân loại phải đối diện; còn những người khác nữa đã chấp nhận giáo huấn này và đi đến chỗ xem các lần điểm đạo như những mục tiêu, rồi sau đó đã thực hiện các bước cần thiết để chứng minh tính chân thực của niềm tin của mình; họ đã chứng minh được điều đó, đã trở thành điểm đạo đồ, và đã đạt đến địa vị Chân sư Minh Triết và giữ vị trí của mình trong Thánh đoàn. Vì vậy, đã có một mức độ quen thuộc nào đó đối với các mục tiêu này, đối với sự phụng sự mà chúng có thể bao hàm và đối với sự viên mãn của các khả năng phân cấp; chính điều này cho thấy rằng thời điểm đã đến khi một số chỉ dẫn mờ nhạt về điều nằm phía sau các Mầu Nhiệm và về điều sẽ được thấy ở phía trước những ai đã đạt được điểm đạo cần phải [326] được làm sáng tỏ phần nào; vì thế tôi bắt đầu truyền đạt ba giai đoạn thông tin:

I. I gave out teaching which indicated the mode of bridging the gap between the lower three worlds and the world of the Spiritual Triad. In doing this, it became apparent that there were three groupings or levels of consciousness which had to be recognised:

I. Tôi đã đưa ra giáo huấn chỉ ra phương thức bắt cầu khoảng cách giữa ba cõi thấp và thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Khi làm điều này, rõ ràng là có ba nhóm hay ba cấp độ tâm thức cần được nhận biết:

1. The three worlds of human evolution.

1. Ba cõi của tiến hoá nhân loại.

a. The mental plane.

a. cõi trí.

b. The astral plane.

b. cõi cảm dục.

c. The physical plane.

c. cõi hồng trần.

2. The three levels of the mental plane.

2. Ba cấp độ của cõi trí.

a. The level of the concretising mind, the lower mind.

a. Cấp độ của trí cụ thể hóa, hạ trí.

b. The level on which the soul is to be found.

b. Cấp độ nơi linh hồn được tìm thấy.

c. The level of the abstract or higher mind.

c. Cấp độ của trí trừu tượng hay thượng trí.

3. The three worlds of superhuman evolution, the levels of the Spiritual Triad: atma-buddhi-manas.

3. Ba cõi của tiến hoá siêu nhân loại, các cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần: atma-buddhi-manas.

Between the higher three and the lower three and embracing the mental plane was a definite gap, a break in the continuity of conscious contact or an area where there was no channelling for the inpouring of higher energies. Here the teaching of the conscious building of the antahkarana was required; thus the gap between the mental unit and the manasic permanent atom, between the personality (indwelt by the soul) and the Spiritual Triad could be bridged by the aspirant himself.

Giữa ba cõi cao hơn và ba cõi thấp hơn, bao trùm cõi trí, có một khoảng trống rõ rệt, một sự đứt đoạn trong tính liên tục của tiếp xúc hữu thức hay một khu vực nơi không có sự dẫn truyền cho dòng tuôn đổ của các năng lượng cao hơn. Tại đây, giáo huấn về việc xây dựng antahkarana một cách hữu thức là điều cần thiết; nhờ đó khoảng cách giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas, giữa phàm ngã (được linh hồn phú linh) và Tam Nguyên Tinh Thần có thể được chính người chí nguyện bắt cầu.

II. I found it necessary also to indicate the nature of the Way of the Higher Evolution which had been hinted at but about which absolutely no information had been given. It is the Way which opens out before the Master of the Wisdom, leading to states of identification and levels of awareness which lie outside our planetary sphere altogether. The following of this Way enables the Master to “abstract” Himself from the seven planes of our planetary life and divest Himself of all we understand as material existence. [327] Forget not that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane.

II. Tôi cũng thấy cần phải chỉ ra bản chất của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, điều đã được gợi ý nhưng tuyệt nhiên chưa có thông tin nào được đưa ra. Đó là Con Đường mở ra trước Chân sư Minh Triết, dẫn đến các trạng thái đồng nhất hóa và các cấp độ nhận biết nằm hoàn toàn bên ngoài phạm vi hành tinh của chúng ta. Việc đi theo Con Đường này cho phép Chân sư “rút” chính Ngài ra khỏi bảy cõi của sự sống hành tinh của chúng ta và cởi bỏ mọi điều mà chúng ta hiểu là sự tồn tại vật chất. [327] Đừng quên rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

III. I therefore opened up the subject of the possibility of the higher initiations which confront the Members of the Hierarchy. In this connection it is useful to remember that:

III. Vì vậy, tôi đã mở ra chủ đề về khả năng của các lần điểm đạo cao hơn đang đối diện với các Thành Viên của Thánh đoàn. Liên quan đến điều này, sẽ hữu ích nếu nhớ rằng:

1. The Council Chamber at Shamballa provides a goal for the Members of the Hierarchy, but not an abiding place.

1. Phòng Hội Đồng tại Shamballa cung cấp một mục tiêu cho các Thành Viên của Thánh đoàn, nhưng không phải là nơi cư ngụ thường trực.

2. The seven Paths which stretch out before a Master are entered by the treading of the Way of the Higher Evolution.

2. Bảy Con Đường trải ra trước một Chân sư được bước vào bằng cách đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

3. The so-called third initiation, the Transfiguration, is only the first major initiation, from the standpoint of the Hierarchy; it marks the moment in time and space when the initiate sees truly and for the first time the door which opens on to this higher Way. Then—if he chooses the Path that the Christ chose (and there is no reason that he should)—he will “set his face to go up to Jerusalem.”

3. Cái gọi là lần điểm đạo thứ ba, Biến hình, chỉ là lần điểm đạo lớn đầu tiên, xét từ quan điểm của Thánh đoàn; nó đánh dấu khoảnh khắc trong thời gian và không gian khi điểm đạo đồ thấy đúng thật và lần đầu tiên cánh cửa mở ra Con Đường cao hơn này. Khi ấy—nếu y chọn Con Đường mà Đức Christ đã chọn (và không có lý do gì y phải chọn như vậy)—y sẽ “quyết tâm đi lên Jerusalem.”

These are some of the things which I have hinted at in past writings; they have been touched upon, vaguely and mysteriously, by past teachers and somewhat more explicitly by myself; I propose to be a little more definite in this new section.

Đó là một số điều mà tôi đã gợi ý trong các trước tác trước đây; chúng đã được các huấn sư trong quá khứ chạm đến một cách mơ hồ và huyền nhiệm, và được chính tôi trình bày phần nào minh bạch hơn; trong phần mới này tôi dự định sẽ xác định hơn đôi chút.

Teaching, if true, must be in line with the past and must provide scope for endeavour in the present and must also hold out further enlightenment for those who have succeeded or are succeeding in attaining the indicated goals. There must be a spiritual future indicated. It is that which is required now, for many are attaining the goals proposed by the Hierarchy, and others are working towards them. The taking of initiation is now often to be seen and is far more frequent today than at any other time in the history of the race; for those who have thus succeeded, the next step forward and the new spiritual enticement must be clearly disclosed. Evolution is not a static thing; death cannot be the [328] reward of living effort. To be static, to have attained all that can be attained, and to be at a complete standstill would be utter death and, my brothers, there is no death. There is only progress from glory to glory, a moving forward from point to point on the divine Way, and from revelation to revelation towards those points and revelations which are perhaps part of the Goal of God Himself. What the goals are upon the Higher Way is as yet utterly unknown to you; what divine qualities and objectives may be revealed to the Master and to the Christ as They tread the Way which leads Them off the cosmic physical plane altogether, you cannot know or sense, and if you could, you would not comprehend the meaning. “Eye hath not seen nor ear heard” the things which God will reveal to those who tread the way to the innermost centre, to those who love. This ancient writing can be paraphrased as follows: It is impossible to realise the wonder of the future which the planetary Logos will unfold before those who have unfolded the second divine aspect, Love, and who are therefore full Members of the Hierarchy, the centre where the energy of Love is anchored.

Giáo huấn, nếu chân thực, phải phù hợp với quá khứ, phải cung cấp phạm vi cho nỗ lực trong hiện tại, và cũng phải mở ra sự soi sáng hơn nữa cho những ai đã thành công hoặc đang thành công trong việc đạt đến các mục tiêu được chỉ ra. Phải có một tương lai tinh thần được chỉ ra. Đó là điều hiện nay cần thiết, vì nhiều người đang đạt đến các mục tiêu do Thánh đoàn đề ra, và những người khác đang nỗ lực hướng đến chúng. Việc tiếp nhận điểm đạo hiện nay thường được thấy và ngày nay xảy ra thường xuyên hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử nhân loại; đối với những ai đã thành công như vậy, bước tiến kế tiếp và sự hấp dẫn tinh thần mới phải được bộc lộ rõ ràng. Tiến hoá không phải là một điều tĩnh tại; cái chết không thể là [328] phần thưởng của nỗ lực sống. Trở nên tĩnh tại, đã đạt được mọi điều có thể đạt được, và ở trong trạng thái hoàn toàn đình trệ sẽ là cái chết tuyệt đối, và, Huynh đệ của Tôi, không có cái chết. Chỉ có sự tiến bộ từ vinh quang đến vinh quang, một sự tiến bước từ điểm này đến điểm khác trên Con Đường thiêng liêng, và từ mặc khải này đến mặc khải khác hướng tới những điểm và những mặc khải có lẽ là một phần của Mục Tiêu của chính Thượng đế. Các mục tiêu trên Con Đường Cao Hơn là gì thì hiện vẫn hoàn toàn chưa được các bạn biết đến; những phẩm tính và mục tiêu thiêng liêng nào có thể được mặc khải cho Chân sư và cho Đức Christ khi Các Ngài bước đi trên Con Đường dẫn Các Ngài ra khỏi hẳn cõi hồng trần vũ trụ, các bạn không thể biết hay cảm nhận được, và nếu có thể, các bạn cũng sẽ không hiểu ý nghĩa. “Mắt chưa thấy, tai chưa nghe” những điều mà Thượng đế sẽ mặc khải cho những ai bước đi trên con đường đến trung tâm nội tại nhất, cho những ai yêu thương. Cổ văn này có thể được diễn giải như sau: Không thể chứng nghiệm được sự kỳ diệu của tương lai mà Hành Tinh Thượng đế sẽ khai mở trước những ai đã khai mở phương diện thiêng liêng thứ hai, Bác ái, và do đó là những Thành Viên trọn vẹn của Thánh đoàn, trung tâm nơi năng lượng Bác ái được neo giữ.

It is interesting to realise that the unfoldment of the love nature is that which opens the door which leads to the Way of the Higher Evolution and that nothing else will open it. This Way leads the Master off the cosmic physical plane on to the cosmic astral plane or to a level of cosmic awareness whereon is generated that cosmic impulse which we call Love.

Điều thú vị là nhận ra rằng chính sự khai mở bản chất bác ái là điều mở cánh cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, và không gì khác có thể mở nó. Con Đường này dẫn Chân sư ra khỏi cõi hồng trần vũ trụ để đi vào cõi cảm dục vũ trụ hay đến một cấp độ nhận biết vũ trụ nơi xung lực vũ trụ mà chúng ta gọi là Bác ái được phát sinh.

It will be obvious to you that as this Treatise is not written to instruct Members of the Hierarchy, but only for aspirants and disciples and initiates below the grade of the third initiation, much that I will say will be somewhat “blind” or veiled in symbol; much that I could say (if words existed of an adequate nature) will not be said. Those that have eyes to see and ears to hear will read between the lines and correctly interpret my symbols, hints and references. To many what I will say will be as meaningless as A Treatise on Cosmic Fire is to the average reader and as the entire theme of initiation is to the ignorant and the undeveloped [329] man. Much, however, should be of practical service to the struggling disciple, and I want in these concluding pages to fire his zeal, deepen his understanding, stimulate his capacity to love, and enlighten his mind. Such is what I seek to do. On his part, let him approach this subject with deep humility, with a meditative and reflective attitude, and with a refusal to materialise the presented concepts, as is so easy a thing to do. Let him refuse to step down the teaching to the level of his physical consciousness. In these words I have conveyed a basic hint.

Các bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng vì bộ Luận này không được viết để chỉ dạy các Thành Viên của Thánh đoàn, mà chỉ dành cho những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ dưới cấp độ lần điểm đạo thứ ba, nên nhiều điều tôi sẽ nói sẽ phần nào “mù mờ” hay được che phủ trong biểu tượng; nhiều điều tôi có thể nói (nếu có những từ ngữ đủ thích đáng) sẽ không được nói ra. Những ai có mắt để thấy và tai để nghe sẽ đọc giữa các dòng và diễn giải đúng các biểu tượng, gợi ý và ám chỉ của tôi. Đối với nhiều người, điều tôi sẽ nói sẽ vô nghĩa chẳng khác gì Luận về Lửa Vũ Trụ đối với độc giả trung bình, và cũng như toàn bộ chủ đề điểm đạo đối với con người vô minh và chưa phát triển [329]. Tuy nhiên, nhiều điều sẽ có ích thực tiễn cho người đệ tử đang vật lộn, và trong những trang kết này tôi muốn khơi lửa nhiệt tâm của y, làm sâu sắc sự thấu hiểu của y, kích thích khả năng yêu thương của y, và soi sáng trí tuệ của y. Đó là điều tôi tìm cách thực hiện. Về phần mình, hãy để y tiếp cận chủ đề này với sự khiêm nhường sâu sắc, với thái độ tham thiền và suy tư, và với sự từ chối hiện hình các khái niệm được trình bày, như điều đó rất dễ xảy ra. Hãy để y từ chối hạ thấp giáo huấn xuống cấp độ tâm thức hồng trần của mình. Trong những lời này tôi đã chuyển đạt một gợi ý căn bản.

Love and light are the great revealers, and if the student truly seeks to understand and profit by what I am endeavouring to teach, let him love all men more deeply and let him see to it that his light shines forth in a dark place, for “in that light shall he see Light.” It is the lesser light within that reveals the greater light; when the light of the soul combines with the light of the lower man, then that fused and blended light will enable the aspirant to see the Door which opens upon the Way of the Higher Evolution.

Bác ái và ánh sáng là những đấng mặc khải vĩ đại, và nếu đạo sinh thực sự tìm cách hiểu và thu lợi từ điều tôi đang cố gắng giảng dạy, hãy để y yêu thương mọi người sâu sắc hơn và hãy bảo đảm rằng ánh sáng của y chiếu rọi trong nơi tối tăm, vì “trong ánh sáng ấy y sẽ thấy Ánh sáng.” Chính ánh sáng nhỏ hơn bên trong mặc khải ánh sáng lớn hơn; khi ánh sáng của linh hồn kết hợp với ánh sáng của phàm nhân, thì ánh sáng được dung hợp và hòa trộn ấy sẽ giúp người chí nguyện thấy được Cánh Cửa mở ra Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

In considering our theme I propose to divide what I have to say, according to my usual custom as follows:

Khi xem xét chủ đề của chúng ta, tôi dự định phân chia điều tôi phải nói, theo thông lệ thường dùng của tôi, như sau:

The Aspirant and the Mysteries of Initiation

Người Chí Nguyện và Các Mầu Nhiệm của Điểm Đạo

The entering of the two Doors

Bước vào hai Cánh Cửa

The entering of the Ashrams

Bước vào các Ashram

The dual life of the initiatory process

Đời sống nhị nguyên của tiến trình điểm đạo

The science of the Antahkarana

Khoa học về Antahkarana

The Aspirant and the Major Initiations

Người Chí Nguyện và các lần Điểm Đạo Chính

The relation of the seven Rays to the Initiations

Mối liên hệ của bảy cung với các lần Điểm Đạo

The significance of the initiations

Ý nghĩa của các lần điểm đạo

The Aspirant and the seven Centres

Người Chí Nguyện và bảy Trung tâm

I have given you here and elsewhere in my writings all that it is at this time possible to give anent the planetary centres and the rays, including the rays of nations and of races. You will find a wealth of information hidden in my various books if due search is made and the material is gathered together into a coherent whole. I suggest that you study and compare, read and search topically and extract all that I have said about the various nations, their governing [330] constellations and their planetary rulers. This will facilitate research into the relation of the planetary centres to the systemic centres, the sacred planets and the energies pouring through them from the constellations which they “rule” in the esoteric sense. This is one of the paradoxes of occultism but it can be understood if the student remembers that the centres in his etheric body rule in so far as they are receptive or non-receptive to the influences emanating from the planet, via the planetary centres. It would not be advisable for me to give out the relation of the planetary centres to the centres of the human being; there is not enough love present as yet to balance such knowledge and to offset any possible misuse with its dire consequences. The reason I include them in the above outline is to show the organic wholeness of our theme, for the life of man encompasses the abstract and subjective as well as the outer physical levels of the manifested world.

Tôi đã trao cho các bạn ở đây và ở những nơi khác trong các trước tác của tôi tất cả những gì hiện nay có thể trao ra liên quan đến các trung tâm hành tinh và các cung, kể cả các cung của các quốc gia và các nhân loại. Các bạn sẽ tìm thấy một kho tàng thông tin ẩn giấu trong nhiều sách khác nhau của tôi nếu chịu khó tìm kiếm và gom tài liệu lại thành một toàn thể mạch lạc. Tôi gợi ý rằng các bạn hãy nghiên cứu và so sánh, đọc và tìm kiếm theo chủ đề, rồi trích ra tất cả những gì tôi đã nói về các quốc gia khác nhau, các chòm sao [330] chi phối chúng và các chủ tinh hành tinh của chúng. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu mối liên hệ của các trung tâm hành tinh với các trung tâm hệ thống, các hành tinh thiêng liêng và các năng lượng tuôn đổ qua chúng từ các chòm sao mà chúng “cai quản” theo nghĩa huyền bí. Đây là một trong những nghịch lý của huyền bí học, nhưng có thể hiểu được nếu đạo sinh nhớ rằng các trung tâm trong thể dĩ thái của y cai quản trong chừng mực chúng tiếp nhận hay không tiếp nhận các ảnh hưởng phát ra từ hành tinh, qua các trung tâm hành tinh. Tôi không nên đưa ra mối liên hệ của các trung tâm hành tinh với các trung tâm của con người; hiện chưa có đủ bác ái để quân bình tri thức ấy và hóa giải bất kỳ sự lạm dụng khả dĩ nào cùng các hậu quả khủng khiếp của nó. Lý do tôi đưa chúng vào dàn bài trên là để chỉ ra tính toàn thể hữu cơ của chủ đề chúng ta, vì đời sống con người bao trùm cả các cấp độ trừu tượng và chủ quan cũng như các cấp độ hồng trần bên ngoài của thế giới biểu hiện.

I have made two affirmations during the past years anent the Hierarchy. One was that as a result of the cleansing of the Earth through the medium of the world war (1914-1945) and through the suffering to which humanity has been subjected (with a consequent purifying effect which will demonstrate later), it will be possible for the Hierarchy to externalise itself and function openly upon the physical plane. This will indicate a return to the situation which existed in Atlantean days when (using the Biblical symbolism) God Himself walked among men—divinity was present in physical form because the Members of the Hierarchy were guiding and directing the affairs of humanity as far as innate freewill permitted. On a higher turn of the spiral, this again will happen. The Masters will walk openly among men. Secondly, the Hierarchy will then restore the ancient Mysteries, the ancient landmarks so earnestly preserved by the Masonic tradition and which have been securely embalmed in the Masonic ritual, awaiting the day of resurrection.

Tôi đã đưa ra hai khẳng định trong những năm qua liên quan đến Thánh Đoàn. Một là, do kết quả của sự thanh tẩy Trái Đất qua trung gian cuộc thế chiến (1914-1945) và qua nỗi đau khổ mà nhân loại đã phải chịu đựng (với một hiệu quả thanh lọc tất yếu sẽ được chứng minh về sau), Thánh Đoàn sẽ có thể ngoại hiện chính mình và hoạt động công khai trên cõi hồng trần. Điều này sẽ biểu thị sự trở lại của tình trạng đã tồn tại vào thời Atlantis khi (dùng biểu tượng Kinh Thánh) chính Thượng đế đi giữa loài người—thiên tính hiện diện trong hình tướng hồng trần vì các Thành viên của Thánh Đoàn đang hướng dẫn và chỉ đạo các công việc của nhân loại trong chừng mực ý chí tự do bẩm sinh cho phép. Trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, điều này sẽ lại xảy ra. Các Chân sư sẽ công khai đi giữa loài người. Thứ hai, khi ấy Thánh Đoàn sẽ phục hồi các Huyền Nhiệm cổ xưa, các cột mốc cổ xưa được truyền thống Tam Điểm gìn giữ tha thiết đến thế và đã được ướp giữ an toàn trong nghi lễ Tam Điểm, chờ đợi ngày phục sinh.

These ancient Mysteries were originally given to humanity by the Hierarchy, and were—in their turn—received [331] by the Hierarchy from the Great White Lodge on Sirius. They contain the clue to the evolutionary process, hidden in numbers and in words; they veil the secret of man’s origin and destiny, picturing for him in rite and ritual the long, long path which he must tread. They provide also, when rightly interpreted and correctly presented, the teaching which humanity needs in order to progress from darkness to Light, from the unreal to the Real and from death to Immortality. Any true Mason who understands, even if only to a slight degree, the implications of that in which he participates will recognise this most ancient of Oriental prayers, giving the key to the three degrees of the Blue Lodge. I mention here the Masonic purpose because it is closely related to the restoration of the Mysteries and has held the clue—down the ages—to that long-awaited restoration, to the platform upon which the restored teaching can be based, and the structure which can express, in powerful ritual and in organised detailed rites, the history of man’s moving forward upon the Path of Return.

Các Huyền Nhiệm cổ xưa này nguyên thủy đã được Thánh Đoàn ban cho nhân loại, và đến lượt mình, đã được [331] Thánh Đoàn tiếp nhận từ Thánh đoàn trên Sirius. Chúng chứa đựng manh mối của tiến trình tiến hoá, ẩn giấu trong các con số và trong ngôn từ; chúng che phủ bí mật về nguồn gốc và định mệnh của con người, phác họa cho y trong nghi thức và lễ nghi con đường dài, rất dài mà y phải bước đi. Chúng cũng cung cấp, khi được giải thích đúng đắn và trình bày chính xác, giáo huấn mà nhân loại cần để tiến từ bóng tối đến Ánh sáng, từ cái không thực đến cái Thực và từ cái chết đến Bất tử. Bất kỳ người Tam Điểm chân chính nào hiểu được, dù chỉ ở mức độ nhỏ, những hàm ý của điều mà y tham dự vào sẽ nhận ra lời cầu nguyện Đông phương cổ xưa nhất này, trao chìa khóa cho ba cấp của Blue Lodge. Tôi đề cập ở đây đến mục đích Tam Điểm vì nó liên hệ mật thiết với sự phục hồi các Huyền Nhiệm và đã nắm giữ manh mối—suốt bao thời đại—cho sự phục hồi được chờ đợi từ lâu ấy, cho nền tảng trên đó giáo huấn được phục hồi có thể được đặt cơ sở, và cho cấu trúc có thể biểu đạt, trong nghi lễ đầy quyền năng và trong các nghi thức chi tiết có tổ chức, lịch sử về sự tiến bước của con người trên Con Đường Trở Về.

The Mysteries will be restored in other ways also, for they contain much besides that which the Masonic rites can reveal or that religious rituals and ceremonies can disclose; they contain within their teaching and formulas the key to the science which will unlock the mystery of electricity—that mystery of which H.P.B. spoke; though much progress has already been made by science along this line, it is as yet only embryonic in nature, and only when the Hierarchy is present visibly on earth, and the Mysteries of which the Masters are the Custodians are given openly to man, will the true secret and nature of electrical phenomena be revealed.

Các Huyền Nhiệm cũng sẽ được phục hồi theo những cách khác, vì chúng chứa đựng nhiều điều hơn ngoài những gì các nghi thức Tam Điểm có thể tiết lộ hay những gì các nghi lễ và lễ thức tôn giáo có thể khai mở; trong giáo huấn và các công thức của chúng có chìa khóa cho khoa học sẽ mở ra bí ẩn của điện lực—bí ẩn mà H.P.B. đã nói đến; dù khoa học đã đạt được nhiều tiến bộ theo hướng này, bản chất của nó vẫn còn chỉ ở giai đoạn phôi thai, và chỉ khi Thánh Đoàn hiện diện hữu hình trên địa cầu, và các Huyền Nhiệm mà các Chân sư là những Đấng Bảo Quản được công khai ban cho con người, thì bí mật chân thực và bản chất của các hiện tượng điện mới được mặc khải.

The Mysteries are, in reality, the true source of revelation, and it can be only when the mind and the will-to-good are closely blended and conditioning human behaviour that the extent of the coming revelation will be grasped, for only then can humanity be trusted with these secrets. They concern those capacities which enable the Members of the Hierarchy to work consciously with the energies of the planet and of the solar system and to control forces within the [332] planet; they will put the ordinary psychic powers (today so stupidly approached and so little understood) in their rightful place and guide man towards their helpful usage.

Các Huyền Nhiệm, trên thực tế, là nguồn gốc chân chính của sự mặc khải, và chỉ khi trí tuệ và Ý Chí-hướng Thiện được hòa trộn chặt chẽ và tác động lên hành vi con người thì mức độ của sự mặc khải sắp đến mới được nắm bắt, vì chỉ khi ấy nhân loại mới có thể được tin cậy để giao phó những bí mật này. Chúng liên quan đến những năng lực giúp các Thành viên của Thánh Đoàn làm việc một cách hữu thức với các năng lượng của hành tinh và của hệ mặt trời và kiểm soát các mãnh lực bên trong [332] hành tinh; chúng sẽ đặt các quyền năng thông linh thông thường (ngày nay bị tiếp cận một cách ngu xuẩn và được hiểu quá ít) vào đúng vị trí của chúng và hướng dẫn con người đến việc sử dụng chúng một cách hữu ích.

The Mysteries will restore colour and music as they essentially are to the world and do it in such a manner that the creative art of today will be to this new creative art what a child’s building of wooden blocks is to a great cathedral such as Durham or Milan. The Mysteries, when restored, will make real—in a sense incomprehensible to you at present—the nature of religion, the purpose of science and the goal of education. These are not what you think today.

Các Huyền Nhiệm sẽ phục hồi màu sắc và âm nhạc đúng như bản chất cốt yếu của chúng cho thế giới và thực hiện điều đó theo cách mà nghệ thuật sáng tạo ngày nay sẽ đối với nghệ thuật sáng tạo mới này như việc một đứa trẻ xây các khối gỗ so với một đại giáo đường như Durham hay Milan. Các Huyền Nhiệm, khi được phục hồi, sẽ làm cho bản chất của tôn giáo, mục đích của khoa học và mục tiêu của giáo dục trở nên thực hữu—theo một ý nghĩa hiện nay bạn không thể hiểu được. Những điều này không phải như điều các bạn nghĩ ngày nay.

The ground is being prepared at this time for this great restoration. The Churches and Masonry are today before the judgment seat of humanity’s critical mind and the word has gone forth from that mass mind that both of them failed in their divinely assigned tasks. It is realised everywhere that new life must be poured in and great changes wrought in the awareness and in the training of those who work through and in these two media of truth. Those changes have not yet been carried out, for it will take a new vision and a new approach to life experience, and this only the coming generation is capable of giving; they and they alone can bring about the needed alterations and the revitalisation, but it can and will be done:

Hiện nay nền đất đang được chuẩn bị cho sự phục hồi vĩ đại này. Các Giáo hội và Tam Điểm ngày nay đang ở trước tòa phán xét của trí tuệ phê phán của nhân loại và linh từ đã phát ra từ khối tâm trí ấy rằng cả hai đều đã thất bại trong những nhiệm vụ được giao phó một cách thiêng liêng của mình. Ở khắp nơi người ta nhận ra rằng phải đổ vào một sự sống mới và phải tạo ra những thay đổi lớn trong nhận thức và trong sự huấn luyện của những người hoạt động qua và trong hai phương tiện chân lý này. Những thay đổi ấy vẫn chưa được thực hiện, vì sẽ cần một tầm nhìn mới và một cách tiếp cận mới đối với kinh nghiệm sống, và chỉ thế hệ đang đến mới có khả năng đem lại điều đó; họ và chỉ riêng họ mới có thể mang lại những thay đổi cần thiết và sự tiếp sinh lực, nhưng điều đó có thể và sẽ được thực hiện:

“That which is a mystery shall no longer be so, and that which has been veiled will now be revealed: that which has been withdrawn will emerge into the light, and all men shall see and together they shall rejoice. That time will come when desolation has wrought its beneficent work, when all things have been destroyed, and men, through suffering, have sought to be impressed by that which they had discarded in vain pursuit of that which was near at hand and easy of attainment. Possessed, it proved to be an agency of death—yet men sought life, not death.”

“Điều vốn là một huyền nhiệm sẽ không còn như thế nữa, và điều đã bị che phủ nay sẽ được mặc khải: điều đã bị rút lui sẽ xuất hiện trong ánh sáng, và mọi người sẽ thấy và cùng nhau họ sẽ hoan hỉ. Thời điểm ấy sẽ đến khi sự hoang tàn đã hoàn tất công việc từ thiện của nó, khi mọi sự đã bị hủy diệt, và con người, qua đau khổ, đã tìm cách để được ghi dấu bởi điều mà họ đã gạt bỏ trong cuộc theo đuổi vô ích cái ở ngay gần bên và dễ đạt được. Khi đã sở hữu, nó chứng tỏ là một tác nhân của cái chết—thế nhưng con người lại tìm kiếm sự sống, chứ không phải cái chết.”

So runs the Old Commentary when referring to the present cycle through which mankind is passing.

Cổ Luận viết như thế khi nói đến chu kỳ hiện tại mà nhân loại đang đi qua.

[333]

[333]

The tests for the first initiation, as far as humanity (the world disciple) is concerned, are well-nigh over and the hour of the birth of the Christ as an expression of the fourth kingdom in nature and the consummation of the work of the Fourth Creative Hierarchy is at hand. This there is no gainsaying; the birth hour may be long and the form may be “in labour” for much time, but the Christ will be born and the nature of the Christ and His consciousness will permeate and colour all human affairs. It is this condition—so imminent and so desirable and long foretold and anticipated—which will make possible the return of the Hierarchy and the restoration of the Mysteries.

Các thử thách cho lần điểm đạo thứ nhất, xét theo phương diện nhân loại (đệ tử thế gian), hầu như đã kết thúc và giờ sinh của Đức Christ như một biểu hiện của giới thứ tư trong thiên nhiên và sự hoàn tất công việc của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư đã gần kề. Không gì có thể phủ nhận điều này; giờ sinh có thể kéo dài và hình tướng có thể “chuyển dạ” trong một thời gian dài, nhưng Đức Christ sẽ được sinh ra và bản chất của Đức Christ cùng tâm thức của Ngài sẽ thấm nhuần và nhuộm màu mọi công việc của nhân loại. Chính tình trạng này—rất gần kề, rất đáng mong muốn, đã được tiên báo từ lâu và được chờ đợi—sẽ làm cho sự trở lại của Thánh Đoàn và sự phục hồi các Huyền Nhiệm trở nên khả hữu.

These occurrences are not only dependent upon the fitness of humanity to provide the right setting and upon the inevitability of evolutionary development itself, but the reappearance of the Hierarchy and that which its Members will accomplish is related also (and primarily) to the interior life and the spiritual impulses within the Hierarchy itself and unrelated to mankind altogether. The Hierarchy pursues its own line of spiritual unfoldment as a paralleling activity to its services on Earth in connection with planetary evolution. Men are so apt to regard their own lives and destiny and the unfoldment of the human consciousness as the factor of only and paramount importance upon Earth and in the evolutionary processes of the planet. These conditions are of importance, but they are not the only factors of importance, nor does humanity stand alone and isolated. Humanity occupies a midway point between the subhuman and the superhuman kingdoms, and each of these groups of evolving lives has its own important destiny—important to all contained within the group ring-pass-not. They have their own chosen and differing modes, methods and ways of achievement. Just as individual man has to learn the art or science of relationship to other men and to his environment, so humanity as a whole has to learn its relationship to that which lies above and beyond mankind and with that which is below and left behind. This involves a sense of proportion which can be attained only by the mind principle in man [334] and by those who are beginning to be mentally polarised. This sense of proportion will reveal to men their place upon the ladder of evolution and lead them to the recognition of the peculiar destiny and unique goals of other kingdoms in nature, including the fifth kingdom, the Kingdom of God, the spiritual Hierarchy of our planet.

Những biến cố này không chỉ tùy thuộc vào sự thích hợp của nhân loại trong việc cung cấp bối cảnh đúng đắn và vào tính tất yếu của chính sự phát triển tiến hoá, mà sự tái xuất hiện của Thánh Đoàn và điều mà các Thành viên của nó sẽ hoàn thành còn liên hệ nữa (và chủ yếu) đến đời sống nội tại và các xung lực tinh thần bên trong chính Thánh Đoàn và hoàn toàn không liên hệ đến nhân loại. Thánh Đoàn theo đuổi đường lối khai mở tinh thần riêng của mình như một hoạt động song hành với các phụng sự của nó trên Trái Đất liên quan đến tiến hoá hành tinh. Con người rất dễ xem đời sống và định mệnh của chính mình cùng sự khai mở của tâm thức nhân loại là yếu tố duy nhất và tối quan trọng trên Trái Đất và trong các tiến trình tiến hoá của hành tinh. Những điều kiện này là quan trọng, nhưng chúng không phải là những yếu tố quan trọng duy nhất, và nhân loại cũng không đứng một mình và cô lập. Nhân loại chiếm một điểm ở giữa giữa các giới dưới nhân loại và các giới siêu nhân loại, và mỗi nhóm sự sống đang tiến hoá này đều có định mệnh quan trọng riêng của mình—quan trọng đối với tất cả những gì được chứa trong vòng-giới-hạn của nhóm. Họ có những phương thức, phương pháp và cách thức thành tựu riêng được chọn lựa và khác biệt. Cũng như con người cá nhân phải học nghệ thuật hay khoa học về tương quan với những người khác và với môi trường của mình, thì nhân loại như một toàn thể cũng phải học mối tương quan của mình với điều nằm trên và vượt ngoài loài người và với điều ở bên dưới và bị bỏ lại phía sau. Điều này bao hàm một Ý thức về tỉ lệ mà chỉ có thể đạt được nhờ nguyên khí trí tuệ nơi con người [334] và bởi những ai đang bắt đầu phân cực trí tuệ. Ý thức về tỉ lệ này sẽ mặc khải cho con người vị trí của họ trên chiếc thang tiến hoá và dẫn họ đến sự nhận biết định mệnh đặc thù và các mục tiêu độc đáo của những giới khác trong thiên nhiên, kể cả giới thứ năm, Thiên Giới, Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta.

The Hierarchy is itself also at a point of spiritual crisis. Its initiates stand before the Door which leads to the Way of the Higher evolution and the entire personnel of the Hierarchy waits to make a united move forward, paralleling—on its own level—the move forward which humanity is also destined to make.

Bản thân Thánh Đoàn cũng đang ở một điểm khủng hoảng tinh thần. Các điểm đạo đồ của nó đang đứng trước Cánh Cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu và toàn thể nhân sự của Thánh Đoàn đang chờ để thực hiện một bước tiến thống nhất, song hành—trên cấp độ riêng của mình—với bước tiến mà nhân loại cũng được định sẵn sẽ thực hiện.

But, my brothers, here is the point of interest. Under the great law of synthetic expression (called by us the Law of Synthesis, the law governing the first divine aspect) the Hierarchy must move forward in such a manner that the effort must encompass the physical plane as well as the higher planes. The activity engineered must cover the three worlds of human evolution as well as the three worlds of the Spiritual Triad. Forget not the overlapping of these two worlds which takes place upon the mental plane and warrants the well-known phrase “the five worlds of superhuman evolution.” Hence, therefore, the necessity for the externalisation of the Hierarchy and the demonstration of Their united ability to work from the physical plane up to the highest, in order to move unitedly through this Door on to the Way. Speaking symbolically, this externalisation is for the Members of the Hierarchy an act of sacrificial service, but it is also a symbolic gesture. The Hierarchy incarnates on Earth again, and for the first time since its last incarnation in Atlantean days. It is, however, a group incarnation and not the incarnation of individual Members. This is probably a subtle point too difficult for you to grasp.

Nhưng, Huynh đệ của Tôi, đây là điểm đáng chú ý. Dưới định luật vĩ đại của biểu hiện tổng hợp (được chúng tôi gọi là Định luật Tổng Hợp, định luật chi phối phương diện thiêng liêng thứ nhất), Thánh Đoàn phải tiến lên theo cách mà nỗ lực ấy phải bao trùm cõi hồng trần cũng như các cõi cao hơn. Hoạt động được điều động phải bao phủ ba cõi giới của tiến hoá nhân loại cũng như ba cõi giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Đừng quên sự chồng lấn của hai thế giới này diễn ra trên cõi trí và là cơ sở cho cụm từ quen thuộc “năm thế giới của tiến hoá siêu nhân loại.” Vì thế, do đó, mới có sự cần thiết của việc ngoại hiện Thánh Đoàn và sự chứng minh khả năng hợp nhất của Các Ngài trong việc hoạt động từ cõi hồng trần lên đến cõi cao nhất, để cùng nhau đi qua Cánh Cửa này lên Con Đường. Nói theo biểu tượng, sự ngoại hiện này đối với các Thành viên của Thánh Đoàn là một hành vi phụng sự hi sinh, nhưng nó cũng là một cử chỉ biểu tượng. Thánh Đoàn lại nhập thể trên Trái Đất, và đây là lần đầu tiên kể từ lần nhập thể cuối cùng của nó vào thời Atlantis. Tuy nhiên, đó là một sự nhập thể theo nhóm chứ không phải sự nhập thể của các Thành viên cá biệt. Đây có lẽ là một điểm tinh tế quá khó để bạn nắm bắt.

The externalisation of the Hierarchy, therefore, and the restoration of the Mysteries, are not something done for humanity or simply carried out because men have earned a closer contact, have the right to some reward or are now so spiritual that the Hierarchy can have a good and useful time [335] helping them. The picture is entirely different. What looms with such importance in the consciousness of men is, in reality, quite secondary in relation to the hierarchical crisis which we are considering. This reappearance upon the physical plane and the consequent life of service (involving factors of profound significance to men) are an expression of the inherent spiritual impulse which is impelling hierarchical action in two directions but involving one unified movement, embracing all the five planes of superhuman evolution and necessitating a group recapitulation of incarnated process.

Vì vậy, sự ngoại hiện của Thánh Đoàn và sự phục hồi các Huyền Nhiệm không phải là điều gì được làm cho nhân loại hay chỉ được thực hiện vì con người đã xứng đáng có được một tiếp xúc gần gũi hơn, có quyền nhận một phần thưởng nào đó hay hiện nay đã quá tinh thần đến mức Thánh Đoàn có thể có một thời gian tốt đẹp và hữu ích [335] khi giúp đỡ họ. Bức tranh hoàn toàn khác. Điều hiện lên với tầm quan trọng lớn lao như thế trong tâm thức con người, trên thực tế, lại hoàn toàn thứ yếu so với cuộc khủng hoảng của Thánh Đoàn mà chúng ta đang xem xét. Sự tái xuất hiện này trên cõi hồng trần và đời sống phụng sự tất yếu theo sau đó (bao hàm những yếu tố có thâm nghĩa sâu xa đối với con người) là một biểu hiện của xung lực tinh thần cố hữu đang thúc đẩy hoạt động của Thánh Đoàn theo hai hướng nhưng bao hàm một chuyển động hợp nhất, ôm trọn cả năm cõi của tiến hoá siêu nhân loại và đòi hỏi một sự tái diễn theo nhóm của tiến trình nhập thể.

The Hierarchy has its own life and its own goals and objectives, its own evolutionary rhythm and its own spiritual expansions; these are not the same as those of the human kingdom. These goals and rhythms will become more familiar to thinking men as the Hierarchy approaches closer to the physical plane.

Thánh Đoàn có đời sống riêng, các mục tiêu và cứu cánh riêng, nhịp điệu tiến hoá riêng và các sự mở rộng tinh thần riêng; những điều này không giống với những điều của giới nhân loại. Các mục tiêu và nhịp điệu này sẽ trở nên quen thuộc hơn với những người biết suy tư khi Thánh Đoàn tiến gần hơn đến cõi hồng trần.

This inclusive and planned activity of the Hierarchy is related to spiritual incentives which have their roots in Shamballa. There the life aspect is being almost violently stimulated through the action of the Lords of Liberation Who have swept into planetary activity because of the use of the second Stanza of the great Invocation—which was used potently by Members of the Hierarchy. Again, it was not used by Them solely on behalf of humanity or for the liberation of mankind; it had hierarchical implications also and was in part a demand by the Hierarchy for permission to move along the Way. The releasing of the “saving force” because the hour of service had arrived, permitted (at the same time) the inflow of an aspect of energy which never reached humanity at all and was not intended for strictly human use, but which was retained by the Hierarchy for the vitalising into renewed livingness of the seven major Ashrams, thus enabling the entire Ashram of the Christ to lift itself on to a higher spiritual level and closer to the door which leads to Life.

Hoạt động bao gồm và có kế hoạch này của Thánh Đoàn liên hệ đến những động lực tinh thần có cội rễ trong Shamballa. Ở đó phương diện sự sống đang được kích thích gần như mãnh liệt qua hoạt động của các Đấng Giải Thoát, Các Ngài đã tràn vào hoạt động hành tinh do việc sử dụng bài kệ thứ hai của Đại Khấn Nguyện—đã được các Thành viên của Thánh Đoàn sử dụng một cách đầy quyền năng. Một lần nữa, Các Ngài không sử dụng nó chỉ riêng thay mặt cho nhân loại hay cho sự giải phóng loài người; nó cũng có những hàm ý thuộc Thánh Đoàn và một phần là lời thỉnh cầu của Thánh Đoàn xin phép được tiến bước trên Con Đường. Việc giải phóng “Mãnh Lực Cứu Rỗi” vì giờ phụng sự đã đến, đồng thời cho phép sự tuôn vào của một phương diện năng lượng chưa bao giờ chạm đến nhân loại và cũng không nhằm cho việc sử dụng thuần túy của con người, nhưng đã được Thánh Đoàn giữ lại để tiếp sinh lực thành sức sống mới cho bảy ashram chính, nhờ đó toàn thể ashram của Đức Christ có thể nâng mình lên một cấp độ tinh thần cao hơn và gần hơn với cánh cửa dẫn đến Sự sống.

These statements veil deep hierarchical mysteries and are not in any way related to the Mysteries which will concern [336] humanity when the Hierarchy is externalised. These mysteries will not be revealed to men. Only a general statement of the effects upon the Hierarchy of certain mysterious activities is permissible. They serve to show the steady pulsation of the evolutionary rhythm which permeates every atom, form, group and centre upon our planet, producing effects upon the lowest forms of existence and on and up to the very highest; there is naught anywhere but progress and a steady moving forward into clearer light and greater livingness.

Những phát biểu này che phủ các huyền nhiệm sâu xa của Thánh Đoàn và hoàn toàn không liên hệ gì đến các Huyền Nhiệm sẽ liên quan đến [336] nhân loại khi Thánh Đoàn được ngoại hiện. Những huyền nhiệm này sẽ không được mặc khải cho con người. Chỉ có thể đưa ra một phát biểu tổng quát về các hiệu quả trên Thánh Đoàn của một số hoạt động huyền bí nào đó. Chúng giúp cho thấy nhịp đập đều đặn của nhịp điệu tiến hoá đang thấm nhuần mọi nguyên tử, hình tướng, nhóm và trung tâm trên hành tinh chúng ta, tạo ra các hiệu quả trên những hình thức tồn tại thấp nhất và tiếp tục lên mãi đến những hình thức cao nhất; không nơi nào có gì ngoài sự tiến bộ và một sự tiến bước đều đặn vào ánh sáng rõ ràng hơn và sự sống động lớn lao hơn.

In these instructions I am dealing with the entire theme of initiation from its broad and general angle and from the angle of definition; it is not my intention, therefore, to duplicate here what is given in Volume II of Discipleship in the New Age. Our approach will be somewhat different in this final section of our Treatise; we will confine ourselves to the effect of the rays upon the initiate and to the relation existing between the ray energies and various initiations which I have already outlined. In this section also I do not intend to deal with the scientific awakening of the centres or with the technicalities of bringing them into the desired balance and activity. I have already given what is necessary in my various books, where a very great deal of information is given and will be found scattered through all of them. By means of this diffusion and scattering, the teaching is protected and cannot constitute a danger to the general public. Students in the immediate future will have to search out the teaching in all the many volumes and hunt most carefully for the details of the science of the centres and for information anent their nature and processes. The whole subject of the centres is dangerous if misunderstood; the centres constitute a menace when prematurely awakened or unduly energised, and this entire subject can prove most dangerous to the curiosity-impelled man and to the ignorant experimenter. The time is not yet ripe for the presentation of this subject in a fully coordinated manner; students are warned against publishing a clear correlated thesis on the subject as a result of their researches in my books. Nevertheless, [337] the true aspirant must be given the needed information.

Trong các huấn thị này tôi đang đề cập đến toàn bộ chủ đề điểm đạo từ góc độ rộng lớn và tổng quát của nó và từ góc độ định nghĩa; vì vậy, tôi không có ý định lặp lại ở đây điều đã được trình bày trong Tập II của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ có phần khác trong phần cuối này của bộ Luận của chúng ta; chúng ta sẽ giới hạn vào hiệu quả của các cung trên điểm đạo đồ và vào mối liên hệ hiện hữu giữa các năng lượng cung và các lần điểm đạo khác nhau mà tôi đã phác họa. Trong phần này tôi cũng không có ý định đề cập đến sự thức tỉnh khoa học của các trung tâm hay các chi tiết kỹ thuật của việc đưa chúng vào sự quân bình và hoạt động mong muốn. Tôi đã đưa ra điều cần thiết trong nhiều sách khác nhau của tôi, nơi rất nhiều thông tin đã được cung cấp và sẽ thấy rải rác khắp tất cả các sách ấy. Nhờ sự phân tán và rải rác này, giáo huấn được bảo vệ và không thể trở thành một mối nguy cho công chúng nói chung. Các đạo sinh trong tương lai gần sẽ phải tìm kiếm giáo huấn trong tất cả nhiều tập sách và tra cứu hết sức cẩn thận các chi tiết của khoa học về các trung tâm và thông tin liên quan đến bản chất và các tiến trình của chúng. Toàn bộ chủ đề về các trung tâm là nguy hiểm nếu bị hiểu sai; các trung tâm tạo thành một mối đe dọa khi bị thức tỉnh quá sớm hay được nạp năng lượng quá mức, và toàn bộ chủ đề này có thể chứng tỏ là cực kỳ nguy hiểm đối với người bị thúc đẩy bởi tính tò mò và đối với kẻ thực nghiệm vô minh. Thời điểm vẫn chưa chín muồi để trình bày chủ đề này theo một cách hoàn toàn phối hợp; các đạo sinh được cảnh báo đừng công bố một luận đề rõ ràng và có tương quan về chủ đề này như kết quả của việc nghiên cứu trong các sách của tôi. Tuy nhiên, [337] người chí nguyện chân chính phải được trao thông tin cần thiết.

The Mysteries are revealed not primarily by the reception of information anent them and their processes, but by the action of certain processes, carried out within the etheric body of the disciple; these enable him to know that which is hidden; they put him in possession of a mechanism of revelation and make him aware of certain radiatory and magnetic powers or energies within himself which constitute channels of activity and modes whereby he may acquire that which it is the privilege of the initiate to own and to use.

Các Huyền Nhiệm được mặc khải không chủ yếu bằng việc tiếp nhận thông tin liên quan đến chúng và các tiến trình của chúng, mà bằng hoạt động của một số tiến trình nhất định, được thực hiện bên trong thể dĩ thái của đệ tử; những tiến trình này giúp y biết điều bị che giấu; chúng đặt y vào quyền sở hữu một bộ máy mặc khải và làm cho y nhận biết một số quyền năng hay năng lượng phóng xạ và từ tính nào đó bên trong chính mình, những thứ cấu thành các kênh hoạt động và các phương thức nhờ đó y có thể đạt được điều mà điểm đạo đồ có đặc ân sở hữu và sử dụng.

The disciple upon the Probationary Path starts off on his quest for the door of initiation, and for that which he will contact after passing through that door, with a definite equipment and created mechanism. This has been acquired, and facility in its use has been attained, through many cycles of incarnation. An incarnation is a definitely determined period (from the angle of the soul) wherein Experiment, Experience and Expression are the keynotes in each incarnation. Each successive incarnation continues the experiment, deepens the experience and relates the expression more closely to the latent unfolding divinity.

Đệ tử trên Con Đường Dự Bị khởi hành trong cuộc tìm kiếm cánh cửa điểm đạo, và điều mà y sẽ tiếp xúc sau khi đi qua cánh cửa ấy, với một trang bị xác định và một bộ máy đã được tạo dựng. Điều này đã được thủ đắc, và sự thành thạo trong việc sử dụng nó đã đạt được qua nhiều chu kỳ nhập thể. Một lần nhập thể là một giai đoạn được xác định rõ ràng (xét từ góc độ linh hồn) trong đó Thử nghiệm, Kinh nghiệm và Biểu hiện là các chủ âm trong mỗi lần nhập thể. Mỗi lần nhập thể kế tiếp tiếp tục cuộc thử nghiệm, đào sâu kinh nghiệm và liên hệ biểu hiện chặt chẽ hơn với thiên tính tiềm ẩn đang khai mở.

The same three words—in greatly enhanced interpretation and with the emphasis upon a much fuller opportunity—can be used to describe the progress of the initiate upon the final stages of the Path; with this we shall be partly engaged in this section. I would ask you, whilst reading and pondering upon all that I say, to have these three words in mind. Every initiation is approached by the disciple or initiate in a spirit of divine experimentation, but with a scientific aspect, because an initiation is a culminating moment of achievement, and success is a graded series of experiments with energy.

Ba từ ấy—với cách giải thích được nâng cao rất nhiều và với sự nhấn mạnh vào một cơ hội đầy đủ hơn nhiều—cũng có thể được dùng để mô tả sự tiến bộ của điểm đạo đồ trên các giai đoạn cuối cùng của Con Đường; với điều này chúng ta sẽ phần nào bận tâm trong phần này. Tôi muốn yêu cầu các bạn, trong khi đọc và suy ngẫm về tất cả những gì tôi nói, hãy ghi nhớ ba từ này. Mỗi lần điểm đạo đều được đệ tử hay điểm đạo đồ tiếp cận trong tinh thần thử nghiệm thiêng liêng, nhưng với một phương diện khoa học, vì một lần điểm đạo là một khoảnh khắc thành tựu cao điểm, và thành công là một chuỗi thử nghiệm có cấp bậc với năng lượng.

Having garnered the fruit of the experiment above indicated, there follows a certain period wherein experience in the use of the related potencies tales place. This occupies the interlude between one initiation and another. This may cover a period of many lives or prove relatively short. The results of the experiment of initiation and of experience [338] with the then endowed energies emerge as the ability of the initiate to express divinity more fully than heretofore; this means that he increasingly can function as a divine creator in relation to the hierarchical Plan, as the manipulator of the attractive energies of love, and as one who determines under the impelling will of Shamballa—the phase or aspect of the divine purpose with which he must himself be occupied in relation to the manifestation of the planetary Logos. You will note that I do not say in relation to humanity. The initiate works in many fields of divine creativity of which the field of mankind is only one.

Sau khi đã gặt hái thành quả của cuộc thử nghiệm nêu trên, sẽ tiếp theo một giai đoạn nhất định trong đó diễn ra kinh nghiệm trong việc sử dụng các tiềm năng liên hệ. Điều này chiếm khoảng thời gian giữa một lần điểm đạo và lần kế tiếp. Nó có thể bao trùm một thời kỳ của nhiều kiếp sống hoặc tương đối ngắn. Các kết quả của cuộc thử nghiệm điểm đạo và của kinh nghiệm [338] với các năng lượng được ban cho khi ấy xuất hiện như khả năng của điểm đạo đồ biểu hiện thiên tính đầy đủ hơn trước đây; điều này có nghĩa là y ngày càng có thể hoạt động như một đấng kiến tạo thiêng liêng trong mối liên hệ với Thiên Cơ của Thánh Đoàn, như người điều khiển các năng lượng hấp dẫn của bác ái, và như người xác định—dưới Ý Chí thúc đẩy của Shamballa—giai đoạn hay phương diện của Thiên Ý mà chính y phải bận tâm đến trong mối liên hệ với sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế. Bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói trong mối liên hệ với nhân loại. Điểm đạo đồ hoạt động trong nhiều lĩnh vực sáng tạo thiêng liêng mà lĩnh vực nhân loại chỉ là một.

These three words will therefore indicate the first type of approach to our subject; what I have to say will therefore, in every case, have them in mind.

Vì vậy, ba từ này sẽ chỉ ra loại tiếp cận thứ nhất đối với chủ đề của chúng ta; do đó, trong mọi trường hợp, điều tôi phải nói sẽ ghi nhớ chúng.

Secondly, I would have you consider with me the various aspects of our sectional theme from the angle of the seven rays. By this I mean that disciples upon the different rays will all have the same goal, make the same experiments, go through the same experience and arrive equally at divine expression. However, their qualities and their modes of approach, their reactions and their distinctive natures will differ according to their ray type; this constitutes a most interesting and little known phase of our study of initiation. Initiation has been a blanket happening, and no note has been made of the ray implications. This I propose to remedy.

Thứ hai, tôi muốn các bạn cùng tôi xem xét các phương diện khác nhau của chủ đề từng phần của chúng ta từ góc độ bảy cung. Ý tôi là các đệ tử trên những cung khác nhau đều sẽ có cùng một mục tiêu, thực hiện cùng những thử nghiệm, trải qua cùng kinh nghiệm và đạt đến biểu hiện thiêng liêng như nhau. Tuy nhiên, các phẩm tính và phương thức tiếp cận của họ, các phản ứng và bản chất đặc thù của họ sẽ khác nhau tùy theo loại cung của họ; điều này tạo thành một giai đoạn rất thú vị và ít được biết đến trong nghiên cứu của chúng ta về điểm đạo. Điểm đạo đã được xem như một biến cố bao trùm chung, và không có ghi nhận nào về các hàm ý của cung. Đây là điều tôi đề nghị sửa chữa.

Each of the seven initiations, for instance, is an exemplification or a revealer of one of the seven ray qualities or tendencies; it is governed and conditioned always by a certain ray, and this is one of the factors which disciples have to learn and grasp whilst preparing for an initiation, because it involves success in handling and manipulating certain types of divine energy.

Chẳng hạn, mỗi một trong bảy lần điểm đạo là một sự minh họa hay một sự mặc khải một trong bảy phẩm tính hay khuynh hướng của cung; nó luôn luôn được chi phối và tác động bởi một cung nhất định, và đây là một trong những yếu tố mà các đệ tử phải học và nắm bắt trong khi chuẩn bị cho một lần điểm đạo, vì nó bao hàm sự thành công trong việc xử lý và điều khiển một số loại năng lượng thiêng liêng nhất định.

Each of the initiations brings one or other of the seven centres into full functioning activity, not from the angle of awakening or of stimulation, but from the angle of a “wheel turning upon itself.” This is an Old Testament expression [339] and is wholly inadequate, but I can find none other to substitute. The wording is totally blind and inadequate and will prove to you somewhat meaningless, except to the initiate who has experienced that turning.

Mỗi lần điểm đạo đưa một hay một trung tâm khác trong bảy trung tâm vào hoạt động đầy đủ, không phải từ góc độ thức tỉnh hay kích thích, mà từ góc độ của một “bánh xe tự quay trên chính nó.” Đây là một cách diễn đạt của Cựu Ước [339] và hoàn toàn không đầy đủ, nhưng tôi không thể tìm được cách nào khác để thay thế. Cách diễn đạt ấy hoàn toàn mù mờ và không đầy đủ và sẽ có vẻ phần nào vô nghĩa đối với bạn, ngoại trừ đối với điểm đạo đồ đã kinh nghiệm sự quay ấy.

As esoteric astrologers know well, there comes a life cycle wherein the disciple reverses himself upon the Wheel of Life (the zodiacal wheel) and from going clockwise around the zodiac, he now begins to go anti-clockwise; he learns that the substance aspect of his nature may still be conditioned by the forces flowing through them sequentially and serially, and according to his horoscope and according to the exoteric mode of the zodiacal revolution; at the same time, the disciple is receiving energy currents from the reversed wheel whereon he, as a soul, finds himself. He is consequently the recipient of two currents of energy, going in reverse directions; hence the increased conflict in his life and circumstances; these constitute the reason for the tests of initiation.

Như các nhà chiêm tinh học nội môn đều biết rõ, có một chu kỳ sống trong đó đệ tử tự đảo ngược mình trên Bánh Xe Sự Sống (bánh xe hoàng đạo) và từ chỗ đi theo chiều kim đồng hồ quanh hoàng đạo, y nay bắt đầu đi ngược chiều kim đồng hồ; y học rằng phương diện chất liệu của bản chất mình vẫn có thể bị tác động bởi các mãnh lực tuần tự và liên tiếp chảy qua chúng, và theo lá số chiêm tinh của y và theo phương thức ngoại môn của cuộc vận hành hoàng đạo; đồng thời, đệ tử đang tiếp nhận các dòng năng lượng từ bánh xe đảo ngược mà trên đó y, như một linh hồn, đang hiện diện. Do đó y là người tiếp nhận hai dòng năng lượng đi theo hai hướng ngược nhau; vì thế xung đột trong đời sống và hoàn cảnh của y gia tăng; đó là lý do của các thử thách điểm đạo.

This, on a tiny scale, is true of the centres in the etheric body of the disciple; they too evidence the same dual activity, once the Path of Discipleship is trodden and the Path of Initiation is entered. The zodiacal wheel is itself essentially a cosmic centre; it is a twelve-petalled lotus, but it is a twelve-petalled lotus within the thousand-petalled lotus of an unknown cosmic Entity, the One referred to in my earlier books as the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID.

Điều này, trên một quy mô rất nhỏ, cũng đúng với các trung tâm trong thể dĩ thái của đệ tử; chúng cũng biểu lộ cùng một hoạt động nhị nguyên ấy, một khi Con Đường Đệ Tử được bước đi và Con Đường Điểm Đạo được đi vào. Bản thân bánh xe hoàng đạo về cốt yếu là một trung tâm vũ trụ; nó là một hoa sen mười hai cánh, nhưng là một hoa sen mười hai cánh nằm trong hoa sen ngàn cánh của một Thực Thể vũ trụ chưa được biết đến, Đấng đã được nhắc đến trong các sách trước đây của tôi là Đấng Bất Khả Tư Nghị.

The multiplicity of zodiacal influences have eventually a dual effect: one upon Shamballa (the planetary head centre) and the other upon the Hierarchy (the planetary heart centre); the effect is also felt in the head centre and the heart centre of every initiate. This final dual activity is registered by the initiate of the highest degrees when he undergoes the eighth and ninth initiations; the other seven initiations are governed by the seven rays.

Tính đa tạp của các ảnh hưởng hoàng đạo cuối cùng có một hiệu quả nhị nguyên: một trên Shamballa (trung tâm đầu hành tinh) và một trên Thánh Đoàn (trung tâm tim hành tinh); hiệu quả ấy cũng được cảm nhận trong trung tâm đầu và trung tâm tim của mọi điểm đạo đồ. Hoạt động nhị nguyên cuối cùng này được điểm đạo đồ của các cấp cao nhất ghi nhận khi y trải qua lần điểm đạo thứ tám và thứ chín; bảy lần điểm đạo kia được chi phối bởi bảy cung.

You have, therefore: [340]

Vì vậy, các bạn có: [340]

Initiation 1. Birth

Điểm đạo 1. Giáng sinh

Sacral centre….. 7th ray…………. Physical plane

Trung tâm xương cùng….. cung bảy…………. cõi hồng trần

Beginnings…. Relationship… Sex Magic

Khởi đầu…. Tương quan… Ma thuật tính dục

Initiation 2. Baptism

Điểm đạo 2. Rửa tội

Solar plexus centre.6th ray…………. Astral plane

Trung tâm tùng thái dương.. cung sáu…………. cõi cảm dục

Dedication…..Glamour……Devotion

Hiến dâng….. Ảo cảm…… Sùng tín

Initiation 3. Transfiguration

Điểm đạo 3. Biến hình

Ajna centre….. 5th ray…………..Mental plane

Trung tâm ajna….. cung năm………….. cõi trí

Integration…..Direction……Science

Tích hợp….. Định hướng…… Khoa học

Initiation 4. Renunciation

Điểm đạo 4. Từ bỏ

Heart centre….. 4th ray…………. Buddhic plane

Trung tâm tim….. cung bốn………….. cõi Bồ đề

Crucifixion…. Sacrifice……Harmony

Đóng đinh….. Hi sinh…… Hài hòa

Initiation 5. Revelation

Điểm đạo 5. Mặc khải

Base of spine…. 1st ray…………..Atmic plane

Đáy cột sống…. cung một………….. cõi atma

Emergence…. Will……….Purpose

Xuất hiện….. Ý chí……… Mục đích

Initiation 6. Decision

Điểm đạo 6. Quyết định

Throat centre…. 3rd ray…………. Monadic plane

Trung tâm cổ họng…. cung ba…………. cõi chân thần

Fixation… Intelligent cooperation.. Creativity

Cố định….. Hợp tác thông minh… Sáng tạo

Initiation 7. Resurrection

Điểm đạo 7. Phục sinh

Head centre….. 2nd ray…………..Logoic plane

Trung tâm đầu….. cung hai………….. cõi logoi

The Etern

Cõi Vĩnh Cửu

Pilgrim…… Love-Wisdom….Attraction

Người hành hương….. Bác Ái – Minh Triết…. Hấp dẫn

Initiation 8. Transition

Điểm đạo 8. Chuyển tiếp

Hierarchy…. Four minor rays……… Planetary

Thánh Đoàn…. bốn cung phụ………. hành tinh

Choice….. Consciousness…. Sensitivity

Lựa chọn….. Tâm thức…… Tính nhạy cảm

Initiation 9. Refusal

Điểm đạo 9. Khước từ

Shamballa… Three major rays…….Systemic

Shamballa…. ba cung chính……… hệ thống

Seven Paths.. Being……….. Existence

Bảy Con Đường… Bản thể……… Hiện hữu

It will not be possible for you to comprehend the synthesis which governs the four final initiations, and for these experiences we have as yet no adequate language. All that is possible is to indicate certain spiritual trends and tendencies and—as this section is written primarily for those who have taken or who are preparing to take one or other of the initiations—I can only hope that some meaning will be conveyed to those persons who are ready.

Các bạn sẽ không thể hiểu được sự tổng hợp chi phối bốn lần điểm đạo cuối cùng, và đối với những kinh nghiệm này hiện chúng ta chưa có ngôn ngữ thích đáng. Tất cả những gì có thể làm là chỉ ra một số xu hướng và khuynh hướng tinh thần nào đó và—vì phần này được viết chủ yếu cho những ai đã trải qua hoặc đang chuẩn bị trải qua một hay một lần điểm đạo khác—tôi chỉ có thể hy vọng rằng một phần ý nghĩa nào đó sẽ được truyền đạt đến những người đã sẵn sàng.

A careful study of the above tabulation should give you [341] a somewhat different idea anent the whole subject of initiation. The concept which has to supersede the one at present extant is that of group initiation, and not that of the initiation of an individual aspirant. In the past, and in order to get the idea of initiation into the minds of the people, the Hierarchy chose the mode (now obsolete) of holding out the prospect of initiation before the earnest disciple; upon this they placed an early emphasis of its peculiarity, its rewarding nature, its ritual and ceremonies, and its place in the scale of evolution. Since the fact of initiation had been grasped by many and achieved by some, it has become possible today to reveal what has always been implied, that initiation is a group event. If clear thinking had taken the place of a selfish individual aspiration, the fact of group initiation would have been obvious and for the following reasons, inherent and implied in the whole situation:

Một sự nghiên cứu cẩn thận bảng liệt kê trên sẽ đem lại cho các bạn [341] một ý niệm phần nào khác về toàn bộ chủ đề điểm đạo. Khái niệm phải thay thế khái niệm hiện đang tồn tại là khái niệm điểm đạo theo nhóm, chứ không phải điểm đạo của một người chí nguyện cá nhân. Trong quá khứ, và để đưa ý niệm điểm đạo vào tâm trí quần chúng, Thánh Đoàn đã chọn phương thức (nay đã lỗi thời) là đưa ra viễn cảnh điểm đạo trước mắt đệ tử tha thiết; trên điều này họ đã sớm nhấn mạnh tính đặc thù của nó, tính chất ban thưởng của nó, nghi lễ và lễ thức của nó, và vị trí của nó trên thang tiến hoá. Vì sự kiện điểm đạo đã được nhiều người nắm bắt và một số người đạt được, ngày nay có thể mặc khải điều vốn luôn được hàm ý, rằng điểm đạo là một biến cố theo nhóm. Nếu tư duy sáng suốt đã thay thế khát vọng cá nhân ích kỷ, thì sự kiện điểm đạo theo nhóm hẳn đã hiển nhiên vì những lý do sau đây, vốn cố hữu và hàm ý trong toàn bộ tình huống:

1. The soul—in its own nature—is group conscious and has no individual ambitions or individual interests, and is not at all interested in the aims of its personality. It is the soul which is the initiate. Initiation is a process whereby the spiritual man within the personality becomes aware of himself as the soul, with soul powers, soul relationships, and soul purpose. The moment a man realises this, even in a small measure, it is the group of which he is conscious.

1. Linh hồn—trong chính bản chất của nó—có tâm thức nhóm và không có tham vọng cá nhân hay lợi ích cá nhân nào, và hoàn toàn không quan tâm đến các mục tiêu của phàm ngã của nó. Chính linh hồn là điểm đạo đồ. Điểm đạo là một tiến trình nhờ đó con người tinh thần bên trong phàm ngã trở nên nhận biết chính mình như linh hồn, với các quyền năng của linh hồn, các tương quan của linh hồn, và mục đích của linh hồn. Ngay khi một người chứng nghiệm điều này, dù chỉ ở mức nhỏ, thì điều y có tâm thức về là nhóm.

2. Only the man whose sense of identity is beginning to expand and become inclusive can “take initiation” (as it is erroneously termed). If initiation were a purely personal achievement, it would throw the man back into the separative consciousness, out of which he is endeavouring to escape. This would not be spiritual progression. Every step upon the Path of Initiation increases group recognition. Initiation is essentially an expanding series of inclusive recognitions.

2. Chỉ người nào mà cảm thức về bản sắc đang bắt đầu mở rộng và trở nên bao gồm mới có thể “điểm đạo” (như cách gọi sai lầm ấy). Nếu điểm đạo là một thành tựu thuần túy cá nhân, nó sẽ đẩy con người trở lại tâm thức phân ly, ra khỏi điều mà y đang cố gắng thoát khỏi. Điều đó sẽ không phải là tiến bộ tinh thần. Mỗi bước trên Con Đường Điểm Đạo đều gia tăng sự nhận biết nhóm. Điểm đạo về cốt yếu là một chuỗi mở rộng của những sự nhận biết bao gồm.

3. Initiation admits the aspirant into membership in the Hierarchy. This involves, speaking esoterically, the relinquishing of all separative personality reactions in a series of progressive renunciations; these culminate [342] in the fourth initiation, and are again mysteriously emphasised at the ninth initiation.

3. Điểm đạo thừa nhận người chí nguyện vào tư cách thành viên trong Thánh Đoàn. Điều này bao hàm, nói theo huyền bí học, việc từ bỏ mọi phản ứng phàm ngã phân ly trong một chuỗi từ bỏ tiến bộ; những sự từ bỏ này lên đến đỉnh điểm [342] ở lần điểm đạo thứ tư, và lại được nhấn mạnh một cách huyền bí ở lần điểm đạo thứ chín.

It dawns on the initiate, as he proceeds from one initiation to another, that each time he moves forward on the path or penetrates into the heart of the Mysteries in company with those who are as he is, who share with him the same point in evolution, and who are working with him towards the same goal, that he is not alone; that it is a joint effort that is being made. This is in fact the keynote of an Ashram, conditioning its formation. It is composed of disciples and initiates at various stages of initiate-unfoldment who have arrived at their point of ashramic consciousness together, and who will proceed together until they arrive at that complete liberation which comes when the cosmic physical plane drops below the threshold of consciousness or of sensitive awareness and no longer holds any point of interest for the initiate.

Khi điểm đạo đồ tiến từ lần điểm đạo này sang lần khác, y dần nhận ra rằng mỗi lần y tiến bước trên con đường hay thâm nhập vào trái tim của các Huyền Nhiệm trong sự đồng hành với những người giống như y, những người cùng chia sẻ với y cùng một điểm tiến hoá, và đang cùng y làm việc hướng tới cùng một mục tiêu, thì y không đơn độc; đó là một nỗ lực chung đang được thực hiện. Thực ra đây là chủ âm của một ashram, tác động lên sự hình thành của nó. Nó được cấu thành bởi các đệ tử và điểm đạo đồ ở nhiều giai đoạn khai mở điểm đạo khác nhau, những người đã cùng nhau đạt đến điểm tâm thức ashram của mình, và sẽ cùng nhau tiến bước cho đến khi đạt đến sự giải thoát hoàn toàn đến khi cõi hồng trần vũ trụ rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức hay nhận biết nhạy cảm và không còn giữ bất kỳ điểm quan tâm nào đối với điểm đạo đồ nữa.

This is one of the new factors in hierarchical methods and techniques which I have had the responsibility of bringing to public attention, and so correcting the erroneous teaching of those trained under orthodox (so called) schools of occultism. The Master K.H., in one of the few (the very few) paragraphs in The Mahatma Letters which are genuine and not simply the work of H.P.B., gave a hint to aspirants of that time when He said that so many of them were so “spiritually selfish.” This spiritual selfishness has led the average esoteric student to appropriate initiation and to make it personal and individual. Yet one of the prime prerequisites for initiation is a clear and concise recognition of one’s own group, not through a process of wishful thinking, but through factual cooperation and work upon the physical plane. I said group, my brother, and not organisation, for they are two very different things.

Đây là một trong những yếu tố mới trong các phương pháp và kỹ thuật của Thánh Đoàn mà tôi có trách nhiệm đưa ra trước sự chú ý của công chúng, và nhờ đó sửa chữa giáo huấn sai lầm của những người được đào luyện dưới các trường phái huyền bí học chính thống (cái gọi là như vậy). Chân sư KH, trong một trong số ít (rất ít) đoạn văn trong The Mahatma Letters là chân thực chứ không chỉ đơn giản là công trình của H.P.B., đã gợi ý cho những người chí nguyện thời ấy khi Ngài nói rằng rất nhiều người trong số họ quá “ích kỷ về mặt tinh thần.” Sự ích kỷ tinh thần này đã khiến đạo sinh huyền bí học trung bình chiếm hữu điểm đạo và biến nó thành điều cá nhân và riêng lẻ. Tuy nhiên, một trong những điều kiện tiên quyết hàng đầu cho điểm đạo là một sự nhận biết rõ ràng và súc tích về nhóm riêng của mình, không phải qua một tiến trình mơ tưởng, mà qua sự hợp tác và công việc thực tế trên cõi hồng trần. Tôi nói nhóm, Huynh đệ của Tôi, chứ không phải tổ chức, vì đó là hai điều rất khác nhau.

Have carefully in mind, therefore, the fact of group initiation, and forego the process of considered thought anent your preparation for initiation. Some groups are being prepared for initiation in which the following factors control—as far as the individual is concerned: [343]

Vì vậy, hãy ghi nhớ cẩn thận sự kiện điểm đạo theo nhóm, và từ bỏ tiến trình suy nghĩ cân nhắc liên quan đến sự chuẩn bị của riêng bạn cho điểm đạo. Một số nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo trong đó các yếu tố sau đây chi phối—xét theo phương diện cá nhân: [343]

1. A group of men and women whose souls are on some one ray are gathered together subjectively by a Master on the same ray, for group training.

1. Một nhóm những người nam và nữ có các linh hồn thuộc một cung nào đó được một Chân sư trên cùng cung tập hợp lại một cách chủ quan để huấn luyện theo nhóm.

2. Opportunity is given to such people to contact on the physical plane some of those who are thus subjectively linked, and thus mutually convey a sense of group solidarity. The subjective relationship is assured by an objective contact. Recognition is therefore a preliminary test of initiation, and this should be remembered.

2. Cơ hội được trao cho những người ấy để tiếp xúc trên cõi hồng trần với một số người trong những người được liên kết chủ quan như thế, và nhờ đó cùng nhau truyền đạt một cảm thức về sự đoàn kết nhóm. Mối liên hệ chủ quan được bảo đảm bằng một tiếp xúc khách quan. Vì vậy, sự nhận biết là một thử thách sơ bộ của điểm đạo, và điều này cần được ghi nhớ.

3. Such people thus being trained and related are, from the angle of the initiation to be taken, at the same point in evolution. They are taking the same initiation and are being subjected to the same tests and difficulties. These tests and difficulties are due to the fact of the personality ray which may be (and usually is) quite different to the soul ray. It is the personality ray which works to prevent contact, to mislead in recognition, to retard progress and to misinterpret information. As long as a disciple in training is focussed in his personality, group initiation will not be possible for him, his recognition of co-aspirants will be fleeting and rapidly disturbed by the critical lower mind, and a wall of thoughtforms, created by the personality, anent the group members, will be thrown up and prevent a united moving forward through the Door of Initiation.

3. Những người được huấn luyện và liên hệ như thế, xét từ góc độ của lần điểm đạo sẽ được trải qua, đang ở cùng một điểm tiến hoá. Họ đang trải qua cùng một lần điểm đạo và đang chịu cùng những thử thách và khó khăn. Những thử thách và khó khăn này là do sự kiện của cung phàm ngã, có thể là (và thường là) hoàn toàn khác với cung linh hồn. Chính cung phàm ngã hoạt động để ngăn cản tiếp xúc, làm sai lệch sự nhận biết, trì hoãn tiến bộ và hiểu sai thông tin. Chừng nào một đệ tử đang được huấn luyện còn tập trung trong phàm ngã của mình, điểm đạo theo nhóm sẽ không thể có đối với y, sự nhận biết của y về các người chí nguyện đồng hành sẽ thoáng qua và nhanh chóng bị hạ trí phê phán làm xáo trộn, và một bức tường các hình tư tưởng, do phàm ngã tạo ra, liên quan đến các thành viên trong nhóm, sẽ được dựng lên và ngăn cản một sự tiến bước hợp nhất qua Cánh Cửa Điểm Đạo.

4. Group initiation cannot be achieved by a group in training until the members, as a group, have developed their particular “spiritual enterprise.” It is the law of the spirit that the disciple must appear before the Initiator empty-handed, but that in group formation the group members unitedly contribute something to the enrichment of the Ashram. This may take the form of some considered project in line with the Plan, whereby they testify to their comprehension of that Plan and demonstrate to the initiate-company in which they find themselves, and those senior disciples to whose contact they are to be admitted, that they have already proven their fitness for acceptance and have proven it along the line of service. It has to be a group [344] enterprise, a group service and a group contribution. The specific contribution of the individual does not appear.

4. Điểm đạo theo nhóm không thể được một nhóm đang huấn luyện đạt tới cho đến khi các thành viên, với tư cách một nhóm, đã phát triển “doanh nghiệp tinh thần” đặc thù của họ. Đó là định luật của tinh thần rằng đệ tử phải xuất hiện trước Đấng Điểm đạo với hai bàn tay trắng, nhưng trong sự hình thành nhóm, các thành viên nhóm cùng nhau đóng góp một điều gì đó cho sự làm phong phú ashram. Điều này có thể mang hình thức của một dự án được suy xét kỹ lưỡng phù hợp với Thiên Cơ, nhờ đó họ làm chứng cho sự thấu hiểu của mình về Thiên Cơ ấy và chứng minh cho đoàn thể điểm đạo đồ mà họ đang hiện diện trong đó, và cho những đệ tử cao cấp hơn mà họ sẽ được thừa nhận tiếp xúc, rằng họ đã chứng tỏ được sự thích hợp để được chấp nhận và đã chứng tỏ điều đó theo đường lối phụng sự. Nó phải là một công việc [344] theo nhóm, một phụng sự theo nhóm và một đóng góp theo nhóm. Đóng góp đặc thù của cá nhân không xuất hiện.

This thought of group initiation must be remembered, for it will colour all that I shall seek to convey to your minds and will hasten the day of your own acceptance.

Tư tưởng về điểm đạo theo nhóm này phải được ghi nhớ, vì nó sẽ nhuộm màu tất cả những gì tôi sẽ tìm cách truyền đạt đến tâm trí các bạn và sẽ thúc đẩy ngày được chấp nhận của chính các bạn.

No one is admitted (through the processes of initiation) into the Ashram of the Christ (the Hierarchy) until such time as he is beginning to think and live in terms of group relationships and group activities. Some well-meaning aspirants interpret the group idea as the instruction to them that they should make an effort to form groups—their own group or groups. This is not the idea as it is presented in the Aquarian Age, so close today; it was the mode of approach during the Piscean Age, now passed. Today, the entire approach is totally different. No man today is expected to stand at the centre of his little world and work to become a focal point for a group. His task now is to discover the group of aspirants with which he should affiliate himself and with whom he must travel upon the Path of Initiation—a very different matter and a far more difficult one. He needs to bear in mind the meaning of the following words from the Archives of the Masters, given in question and answer form. The questions are addressed to the neophyte who is getting his first glimpse of group relations leading to group initiation:

Không ai được thừa nhận (qua các tiến trình điểm đạo) vào ashram của Đức Christ (Thánh Đoàn) cho đến khi y bắt đầu suy nghĩ và sống theo các tương quan nhóm và các hoạt động nhóm. Một số người chí nguyện thiện chí diễn giải ý niệm nhóm như một chỉ thị dành cho họ rằng họ nên nỗ lực hình thành các nhóm—nhóm riêng của họ hay các nhóm. Đây không phải là ý niệm như nó được trình bày trong Kỷ nguyên Bảo Bình, hiện nay đã rất gần; đó đã từng là phương thức tiếp cận trong Kỷ nguyên Song Ngư, nay đã qua. Ngày nay, toàn bộ cách tiếp cận hoàn toàn khác. Không người nào ngày nay được mong đợi đứng ở trung tâm thế giới nhỏ bé của mình và làm việc để trở thành một tiêu điểm cho một nhóm. Nhiệm vụ của y hiện nay là khám phá nhóm người chí nguyện mà y nên liên kết với và cùng với họ y phải du hành trên Con Đường Điểm Đạo—một vấn đề rất khác và khó khăn hơn nhiều. Y cần ghi nhớ ý nghĩa của những lời sau đây từ Văn Khố của các Chân sư, được đưa ra dưới hình thức hỏi và đáp. Các câu hỏi được gửi đến người sơ cơ đang có cái thoáng nhìn đầu tiên về các tương quan nhóm dẫn đến điểm đạo theo nhóm:

“And dost thou see the Door, O Chela in the light?

“Và ngươi có thấy Cánh Cửa chăng, hỡi Đệ tử trong ánh sáng?

I see the door and hear a calling voice. What should I do, O Master of my life?

Con thấy cánh cửa và nghe một tiếng gọi. Con nên làm gì, hỡi Chân sư của đời con?

Go through that Door and waste not time in backward glances at the road just trodden. Go forward into light.

Hãy đi qua Cánh Cửa ấy và đừng phí thời gian ngoái nhìn lại con đường vừa bước qua. Hãy tiến vào ánh sáng.

The door is far too narrow, O Master of my life. I fear I cannot pass. [345]

Cánh cửa quá hẹp, hỡi Chân sư của đời con. Con sợ mình không thể đi qua. [345]

Go closer to the Door and take the hand in thine of another pilgrim on the way of life. Go closer to the Door; seek not to enter it alone.

Hãy đến gần Cánh Cửa hơn và nắm trong tay con bàn tay của một người hành hương khác trên đường đời. Hãy đến gần Cánh Cửa hơn; đừng tìm cách đi vào đó một mình.

I cannot see the door, now that I grasp the hand of the brother on the right and the brother on the left. I seem surrounded by the pilgrims on the way. Alike they seem, their note is one; they seem like unto me, and press around on every side. I cannot see the door.

Con không thể thấy cánh cửa nữa, giờ đây khi con nắm bàn tay của huynh đệ bên phải và huynh đệ bên trái. Dường như con bị bao quanh bởi những người hành hương trên đường. Họ có vẻ giống nhau, âm điệu của họ là một; họ dường như giống như con, và chen quanh con từ mọi phía. Con không thể thấy cánh cửa.

Move forward on the Path, O pilgrim in the light, and stand together, hand in hand, before the Door of Light. What seest thou?

Hãy tiến bước trên Con Đường, hỡi người hành hương trong ánh sáng, và hãy cùng đứng, tay trong tay, trước Cánh Cửa Ánh Sáng. Ngươi thấy gì?

The door again appears, and wide it seems, not narrow as before. What was that I saw before? It was not like the door which now confronts this band of brothers as we stand together on the Path.

Cánh cửa lại hiện ra, và dường như rộng, không hẹp như trước. Điều gì là cái mà trước đây con đã thấy? Nó không giống cánh cửa hiện đang đối diện nhóm huynh đệ này khi chúng con cùng đứng trên Con Đường.

The door you saw before was a figment of your mind; a thoughtform of your separative creation, something that cuts you off from truth—too narrow for your passing yet full of wrong allure. Only the man who holds his brother’s hand can see the Door in truth; only the man, surrounded by the many who are one, can enter the Door which shuts itself upon the man who seeks to enter it alone.”

Cánh cửa mà trước đây con thấy là một ảo ảnh của trí tuệ con; một hình tư tưởng do sự sáng tạo phân ly của con tạo ra, một điều gì đó cắt con khỏi chân lý—quá hẹp để con đi qua nhưng lại đầy sức quyến rũ sai lầm. Chỉ người nắm tay huynh đệ mình mới có thể thấy Cánh Cửa trong chân lý; chỉ người, được bao quanh bởi số đông là một, mới có thể đi vào Cánh Cửa, cánh cửa tự khép lại trước người tìm cách đi vào một mình.”

In Lemurian days, initiates entered alone and one by one, and then only a few managed to attain the goal and one at a time were admitted to the Mysteries. In Atlantean times, when the Door of Initiation stood wide open, the aspirants to the Mysteries were admitted in groups of seven, but had not contacted their fellow group members in physical consciousness; the emphasis was still (during the training period) upon individual attainment and achievement. Today, so rapidly is man making spiritual progress, the Hierarchy is admitting groups all the time, particularly in connection with those rays which are at present in incarnation. This means that the three major rays (which are always [346] predominantly active though they may have varying cycles of increased or decreased activity) have large groups undergoing their preparatory training for some one initiation. This group admission will develop rapidly as the world settles back into a cycle of peaceful growth and unfoldment after the drastic experience of the world war (1914-1945); it is for this that information such as I am here attempting to give must be made available.

Vào thời Lemuria, các điểm đạo đồ đi vào một mình và từng người một, và khi ấy chỉ có ít người xoay xở đạt đến mục tiêu và từng người một được thừa nhận vào các Huyền Nhiệm. Vào thời Atlantis, khi Cánh Cửa Điểm Đạo mở rộng, những người chí nguyện vào các Huyền Nhiệm được thừa nhận theo các nhóm bảy người, nhưng đã không tiếp xúc với các thành viên cùng nhóm của mình trong tâm thức hồng trần; sự nhấn mạnh vẫn còn (trong thời kỳ huấn luyện) đặt trên thành tựu và đạt được cá nhân. Ngày nay, con người đang tiến bộ tinh thần nhanh đến mức Thánh Đoàn luôn luôn thừa nhận các nhóm, đặc biệt liên quan đến những cung hiện đang Đang lâm phàm. Điều này có nghĩa là ba cung chính (vốn luôn luôn [346] hoạt động nổi trội dù chúng có thể có những chu kỳ hoạt động tăng hay giảm khác nhau) có những nhóm lớn đang trải qua sự huấn luyện chuẩn bị cho một lần điểm đạo nào đó. Sự thừa nhận theo nhóm này sẽ phát triển nhanh chóng khi thế giới ổn định trở lại trong một chu kỳ tăng trưởng và khai mở hòa bình sau kinh nghiệm khốc liệt của cuộc thế chiến (1914-1945); chính vì điều này mà thông tin như điều tôi đang cố gắng đưa ra ở đây phải được làm cho sẵn có.

One other point I would seek to make clear. As you know, an Ashram has in it disciples and initiates at all points of evolutionary development and of all grades and degrees; these all work together in perfect unison and yet—within their differentiated ranks, for each degree stands alone yet united with all the others—with their own established rapport, their coded telepathic interplay, and a shared occult secrecy and silence which guard the secrets and knowledges of one grade from another and from the unready. Similarly, when an aspirant, seeking upon the physical plane to find those who will share with him the mystery of his next immediate step or demonstrated expansion, discovers his own group, he will find that it has in it those who have not reached his particular point of wisdom and those also who have already left him far behind. He will be drawn into a vortex of force and a field of service simultaneously. Ponder on this statement. He will learn, therefore, the lessons required by one who is to work in an Ashram and will know how to handle himself with those who may not yet share with him the secrets which he already knows, and with those who have penetrated deeper into the Mysteries than he has.

Tôi muốn làm sáng tỏ thêm một điểm nữa. Như các bạn biết, một ashram có trong nó các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi điểm phát triển tiến hoá và ở mọi cấp và bậc; tất cả những người này cùng làm việc trong sự hợp nhất hoàn hảo và tuy vậy—trong các hàng ngũ đã được biến phân của họ, vì mỗi cấp đứng riêng nhưng hợp nhất với tất cả các cấp khác—với sự giao cảm đã được thiết lập riêng của họ, sự tương tác viễn cảm được mã hóa của họ, và một sự bí mật huyền bí cùng im lặng được chia sẻ, bảo vệ các bí mật và tri thức của cấp này khỏi cấp khác và khỏi những người chưa sẵn sàng. Tương tự như vậy, khi một người chí nguyện, đang tìm kiếm trên cõi hồng trần những người sẽ cùng chia sẻ với y huyền nhiệm của bước kế tiếp gần nhất hay sự mở rộng đã được chứng minh của y, khám phá ra nhóm riêng của mình, y sẽ thấy rằng trong đó có những người chưa đạt đến điểm minh triết đặc thù của y và cũng có những người đã bỏ y lại rất xa phía sau. Y sẽ đồng thời bị cuốn vào một xoáy lực và một lĩnh vực phụng sự. Hãy suy ngẫm về phát biểu này. Vì vậy, y sẽ học những bài học cần thiết cho người sẽ làm việc trong một ashram và sẽ biết cách xử sự với những người có thể chưa cùng chia sẻ với y các bí mật mà y đã biết, và với những người đã thâm nhập vào các Huyền Nhiệm sâu hơn y.

 


SECTION ONE – THE ASPIRANT AND THE MYSTERIES OF INITIATION — PHẦN MỘT – NGƯỜI CHÍ NGUYỆN VÀ CÁC HUYỀN NHIỆM CỦA ĐIỂM ĐẠO

[347]

[347]

Let us now take up our first point in this section and see what is really meant by the hackneyed words “door of initiation,” and what constitutes the difference between the door which faces the disciple and that which confronts the Master.

Bây giờ chúng ta hãy xét điểm đầu tiên trong phần này và xem thực sự điều gì được hàm ý bởi những từ đã trở nên sáo mòn “cánh cửa điểm đạo,” và điều gì tạo nên sự khác biệt giữa cánh cửa đối diện đệ tử và cánh cửa đối diện Chân sư.

THE ENTERING OF THE TWO DOORS OF INITIATION

SỰ ĐI VÀO HAI CÁNH CỬA ĐIỂM ĐẠO

It is of course obvious to you that the use of the word “door” is purely symbolic; the interpretation given to the word by the ordinary esoteric student and the orthodox Theosophist is that of a point of entry, and the significance of it to him is that it offers an opportunity to pass to new experience and fresh revelation—much of which is regarded by him as due reward for discipline and aspiration. That is largely an interpretation based on wishful thinking and is of quite secondary importance.

Dĩ nhiên đối với các bạn điều hiển nhiên là việc dùng từ “cánh cửa” hoàn toàn có tính biểu tượng; cách giải thích mà đạo sinh huyền bí học thông thường và nhà Thông Thiên Học chính thống đưa ra cho từ này là một điểm đi vào, và ý nghĩa của nó đối với y là nó đem lại một cơ hội để bước vào kinh nghiệm mới và sự mặc khải mới mẻ—mà phần lớn được y xem như phần thưởng xứng đáng cho kỷ luật và khát vọng. Điều đó phần lớn là một cách giải thích dựa trên mơ tưởng và chỉ có tầm quan trọng thứ yếu.

The Door of Initiation

Cánh Cửa Điểm Đạo

The real meaning underlying the phrase “door of initiation” is that of obstruction, of something which bars the way, of that which must be opened, or of that which hides or stands between the aspirant and his objective. This is a much more exact significance and one much more useful for [348] the aspirant to grasp. The picture of a man moving along the Path of Evolution until suddenly one day he stands before an open door through which he may joyously pass has no faintest resemblance to the truth; the idea that a man of a nice disposition and possessing certain character developments such as those portrayed in such books (by Annie Besant) as The Open Court and the Path of Discipleship, which condition the theosophical aspirants, is exceedingly misleading. These books are very useful and should be carefully studied by the man upon the Path of Probation, but are not so useful to the disciple, for they lead him to put the emphasis in the wrong direction and to focus upon that which should already have been developed. Naturally, the character development must be present and assumed to be stable in the man’s equipment; these characteristics have, however, little bearing on initiation and passing through the “door” on the Path. They are indicative of the point reached upon the Path of Evolution, as a result of experiment, experience and continuous expression, and should be common to all aspirants who have reached the point of facing discipleship; they are unavoidable developments and connote simply the reaction of the personality to time and experience. It is eternally true that no one may pass through this door unless these character indications are developed, but that is due to the fact that the aspirant has progressed to a certain stage of unfoldment and automatically now has a measure of self-control, of mental understanding and of purity.

Ý nghĩa thực sự nằm bên dưới cụm từ “cánh cửa điểm đạo” là sự ngăn trở, là một cái gì đó chặn lối đi, là điều phải được mở ra, hoặc là điều che khuất hay đứng giữa người chí nguyện và mục tiêu của y. Đây là một ý nghĩa chính xác hơn nhiều và hữu ích hơn nhiều để [348] người chí nguyện nắm bắt. Hình ảnh một người tiến bước trên Con Đường Tiến Hoá cho đến bỗng nhiên vào một ngày kia y đứng trước một cánh cửa mở mà qua đó y có thể hân hoan đi qua, không có chút tương đồng nào với chân lý; ý tưởng cho rằng một người có tính khí dễ chịu và sở hữu một số sự phát triển về Tính cách như được mô tả trong những quyển sách như The Open Court and the Path of Discipleship (của Annie Besant), những sách đã tác động lên các người chí nguyện Thông Thiên Học, là hết sức sai lạc. Những quyển sách này rất hữu ích và nên được người đang ở trên Con Đường Dự Bị cẩn thận nghiên cứu, nhưng lại không hữu ích bằng đối với đệ tử, vì chúng khiến y đặt trọng tâm sai hướng và tập trung vào điều lẽ ra đã phải được phát triển rồi. Dĩ nhiên, sự phát triển Tính cách phải hiện diện và được giả định là ổn định trong bộ máy của con người; tuy nhiên, các đặc tính này ít liên quan đến điểm đạo và việc đi qua “cánh cửa” trên Đường Đạo. Chúng biểu thị điểm đã đạt được trên Con Đường Tiến Hoá, như là kết quả của thử nghiệm, kinh nghiệm và sự biểu lộ liên tục, và phải là điều chung nơi mọi người chí nguyện đã đạt đến điểm đối diện với địa vị đệ tử; chúng là những phát triển không thể tránh khỏi và chỉ đơn giản hàm ý phản ứng của phàm ngã đối với thời gian và kinh nghiệm. Vĩnh viễn đúng là không ai có thể đi qua cánh cửa này trừ phi các dấu hiệu Tính cách ấy đã được phát triển, nhưng đó là vì người chí nguyện đã tiến đến một giai đoạn khai mở nào đó và nay tự động có được một mức độ tự chủ, thấu hiểu trí tuệ và thanh khiết.

I would point out also that even the black magician possesses these qualities, for they are the sine qua non of all magical art, both black and white; the black magician passes through the door of initiation as it opens twice for the first two initiations. He passes through on the strength of his will and his character accomplishments and because the group-conscious aspect of the soul is active in him as in his brother seeking affiliation with the Great White Lodge. The love aspect is, however, lacking in the black magician. Forget not that all is energy and there is nothing else. The energy which [349] is an aspect of the soul and which we call magnetic attraction (the group-building quality) he shares with the spiritual aspirant. He is essentially group conscious, and though his motives are separative, his methods are those of the group, and these he can get only from the soul.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng ngay cả nhà hắc thuật cũng sở hữu các phẩm tính này, vì chúng là sine qua non của mọi nghệ thuật huyền thuật, cả đen lẫn trắng; nhà hắc thuật đi qua cánh cửa điểm đạo khi nó mở ra hai lần cho hai lần điểm đạo đầu tiên. Y đi qua nhờ sức mạnh ý chí và những thành tựu Tính cách của y, và bởi vì phương diện tâm thức nhóm của linh hồn hoạt động trong y cũng như trong huynh đệ của y đang tìm cách liên kết với Thánh đoàn. Tuy nhiên, phương diện bác ái lại thiếu nơi nhà hắc thuật. Đừng quên rằng tất cả đều là năng lượng và không có gì khác. Năng lượng mà [349] là một phương diện của linh hồn và chúng ta gọi là hấp lực từ tính (phẩm tính kiến tạo nhóm), y cũng chia sẻ với người chí nguyện tinh thần. Về bản chất, y có tâm thức nhóm, và dù động cơ của y là chia rẽ, các phương pháp của y vẫn là các phương pháp của nhóm, và những điều này y chỉ có thể nhận được từ linh hồn.

You see again another reason why the first and second initiations are not regarded by the Lodge of Masters as major initiations. Only the third is so regarded, because at that initiation the entire personality life is flooded with energy coming from the Spiritual Triad, via the “sacrifice petals” of the will and purpose aspect of the soul. To this type of energy the black magician is not responsive. He can and does respond to the knowledge—most ancient and hardly won—stored up in the “knowledge petals” of the souls he can appropriate and utilise the energy of attraction (erroneously called love by some students) stored up in the “love petals” of the soul, but he cannot respond to and use the energy of divine love, working out in the divine Plan which controls all knowledge and converts it into wisdom, and which actuates and clarifies the motive which brings loving magnetic attraction into action and which we call true group consciousness and group cohesion. It is at this point that the two ways—of darkness and of light—become widely divergent. Until the third initiation is taken, glamour may condition the attitude of those seeking to understand the life of a man upon the Path, and they may mistake the spurious for the real. The black magician leads a disciplined life, analogous to that of the spiritual aspirant; he practices purity for his own safeguarding and not in order that he may become a channel for the energy of light; he works with power (the power of magnetic attraction) with and in groups, but he does this for his own selfish ends and for the fulfillment of his own ambitious purposes. But at the third initiation there comes to the true spiritual initiate the revelation which is the reward of perseverance and purity rightly motivated—the revelation of the divine purpose, as the soul records it in terms of the hierarchical plan, though not yet in terms of the Monad. To this purpose and [350] to the loving Will of God (to use a trite Christian phrase) the black brother cannot respond; his aims are different. You have here the true meaning of the oft-used and misunderstood phrase, “the parting of the ways.”

Một lần nữa, bạn thấy thêm một lý do khác vì sao hai lần điểm đạo đầu tiên không được Thánh đoàn các Chân sư xem là các điểm đạo lớn. Chỉ lần điểm đạo thứ ba mới được xem như vậy, vì ở lần điểm đạo ấy toàn bộ đời sống phàm ngã được tràn ngập bởi năng lượng đến từ Tam Nguyên Tinh Thần, qua các “cánh hoa hi sinh” của phương diện ý chí và mục đích của linh hồn. Nhà hắc thuật không đáp ứng với loại năng lượng này. Y có thể và thực sự đáp ứng với tri thức—cổ xưa nhất và khó khăn lắm mới đạt được—được tích trữ trong các “cánh hoa tri thức” của linh hồn; y có thể chiếm dụng và sử dụng năng lượng hấp dẫn (bị một số đạo sinh gọi sai là bác ái) được tích trữ trong các “cánh hoa bác ái” của linh hồn, nhưng y không thể đáp ứng với và sử dụng năng lượng của tình thương thiêng liêng, đang vận hành trong Thiên Cơ thiêng liêng vốn kiểm soát mọi tri thức và chuyển nó thành minh triết, đồng thời thúc đẩy và làm sáng tỏ động cơ khiến hấp lực từ tính đầy yêu thương đi vào hoạt động, và điều đó chúng ta gọi là tâm thức nhóm chân chính và sự cố kết nhóm. Chính tại điểm này mà hai con đường—của bóng tối và của ánh sáng—trở nên phân kỳ rộng lớn. Cho đến khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, ảo cảm có thể tác động lên thái độ của những ai tìm cách thấu hiểu đời sống của một người trên Đường Đạo, và họ có thể lầm cái giả với cái thật. Nhà hắc thuật sống một đời sống có kỷ luật, tương tự như người chí nguyện tinh thần; y thực hành sự thanh khiết để tự bảo vệ mình chứ không phải để trở thành một kênh dẫn cho năng lượng ánh sáng; y làm việc với quyền năng (quyền năng của hấp lực từ tính), cùng với và trong các nhóm, nhưng y làm điều này vì những mục đích ích kỷ của riêng mình và để hoàn thành những mục tiêu đầy tham vọng của riêng mình. Nhưng ở lần điểm đạo thứ ba, với điểm đạo đồ tinh thần chân chính sẽ đến sự mặc khải, là phần thưởng của sự kiên trì và thanh khiết được thúc đẩy đúng đắn—sự mặc khải về thiên ý, như linh hồn ghi nhận nó theo các thuật ngữ của thiên cơ thánh đoàn, dù chưa phải theo các thuật ngữ của chân thần. Nhà huynh đệ bóng tối không thể đáp ứng với mục đích này và [350] với Ý Chí yêu thương của Thượng Đế (dùng một cụm từ Ki-tô giáo quen thuộc); các mục tiêu của y khác hẳn. Ở đây bạn có ý nghĩa chân thực của cụm từ thường được dùng nhưng bị hiểu sai, “sự phân rẽ các nẻo đường.”

But both groups of aspirants (the black and the white) stand before the door of initiation and take the needed steps to open it on two similar occasions. Both overcome glamour after the second initiation, and see their way clearly ahead; but their goals emerge as widely different; one treads the broad way which leads ever deeper into matter and materialism, into darkness and “black power”; the other leads to the straight and narrow way, to the razor-edged path which leads into light and life. One group has never freed itself from the principles which governed the first solar system. They were principles entirely related to matter and substance, and were at that time and in that period (so remote that the number of years of distance can be stated only in super-astronomical figures) the conditioning factors for the initiation of the time. Certain units of humanity—then existent—were so completely conditioned by these material principles and so deliberately unready for moving on to the comprehension of another set of principles (more expressive of the divine nature) that they remained of “fixed and selfish material purpose” and a planned distortion of the divine will was intelligently created by them. You have here a hint as to the nature of evil and a clue to a part (though only a part) of the mystery to be noted in the statement that evil and good are reverse aspects of the same one reality, and evil is that good which we should have left behind, passing on to greater and more inclusive good. Forget not that the black magicians of today were the initiates of a previous solar system. When the door of initiation is ready to open for the third time, the parting of the ways takes place. Some follow selfish intention and the fixed determination to remain with the separative condition of matter; and to others, the divine will is clearly impressed upon them and becomes the motivating power in their lives. It was under instructions from the Great White Lodge on Sirius that the door remains [351] closed the third time to the dark brothers. Evil, as we understand it, has absolutely no place on Sirius.

Nhưng cả hai nhóm người chí nguyện (đen và trắng) đều đứng trước cánh cửa điểm đạo và thực hiện những bước cần thiết để mở nó ra trong hai dịp tương tự nhau. Cả hai đều vượt qua ảo cảm sau lần điểm đạo thứ hai, và thấy rõ con đường phía trước; nhưng các mục tiêu của họ hiện ra hoàn toàn khác biệt; một bên bước trên con đường rộng dẫn ngày càng sâu vào vật chất và chủ nghĩa duy vật, vào bóng tối và “quyền năng đen”; bên kia dẫn đến con đường thẳng và hẹp, đến con đường sắc như lưỡi dao dẫn vào ánh sáng và sự sống. Một nhóm chưa bao giờ tự giải thoát khỏi các nguyên khí đã chi phối hệ mặt trời thứ nhất. Đó là những nguyên khí hoàn toàn liên hệ với vật chất và chất liệu, và vào thời ấy, trong giai đoạn ấy (xa xôi đến mức số năm cách biệt chỉ có thể được diễn tả bằng những con số siêu thiên văn), chúng là các yếu tố tác động đối với điểm đạo của thời kỳ đó. Một số đơn vị nhân loại—khi ấy đang hiện hữu—đã bị các nguyên khí vật chất này tác động hoàn toàn đến mức, và cố ý không sẵn sàng tiến tới việc thấu hiểu một tập hợp nguyên khí khác (biểu lộ bản chất thiêng liêng hơn), nên họ vẫn ở trong “mục đích vật chất cố định và ích kỷ,” và một sự bóp méo được hoạch định của ý chí thiêng liêng đã được họ tạo ra một cách thông minh. Ở đây bạn có một gợi ý về bản chất của điều ác và một đầu mối cho một phần (dù chỉ là một phần) của huyền nhiệm cần được lưu ý trong phát biểu rằng điều ác và điều thiện là các phương diện đảo ngược của cùng một thực tại duy nhất, và điều ác là điều thiện mà lẽ ra chúng ta phải bỏ lại phía sau để tiến tới điều thiện lớn hơn và bao gồm hơn. Đừng quên rằng các nhà hắc thuật ngày nay là các điểm đạo đồ của một hệ mặt trời trước. Khi cánh cửa điểm đạo sẵn sàng mở ra lần thứ ba, sự phân rẽ các nẻo đường diễn ra. Một số theo đuổi ý định ích kỷ và quyết tâm cố định ở lại với tình trạng phân ly của vật chất; còn với những người khác, ý chí thiêng liêng được ghi khắc rõ ràng lên họ và trở thành động lực trong đời sống họ. Chính theo chỉ thị của Thánh đoàn trên Sirius mà cánh cửa vẫn [351] đóng lại lần thứ ba đối với các huynh đệ bóng tối. Điều ác, như chúng ta hiểu, hoàn toàn không có chỗ trên Sirius.

To the black magician, at this third opportunity, the door of initiation presents an insuperable barrier and obstacle; to the true spiritual neophyte, the door connotes “overcoming.” We shall not consider further the approach of the black brothers to that door, but shall confine ourselves to a consideration of the initiations of the Great White Lodge.

Đối với nhà hắc thuật, ở cơ hội thứ ba này, cánh cửa điểm đạo là một rào cản và chướng ngại không thể vượt qua; đối với người sơ cơ tinh thần chân chính, cánh cửa hàm ý “sự vượt thắng.” Chúng ta sẽ không xét thêm cách các huynh đệ bóng tối tiếp cận cánh cửa ấy, mà sẽ chỉ giới hạn vào việc xem xét các cuộc điểm đạo của Thánh đoàn.

This door of initiation is connected with the great problem of what H.P.B. calls the “mystery of electricity”; the door is itself an electrical phenomenon essentially. Having said this, even if you do not understand my meaning, you can, however, grasp the possibility that (being electrical in nature) it can easily present an obstructing force, a repelling energy to the approach of the aspirant; this is the correct way to look at it. It is only when the electrical energy of which the door is constituted and that of which the man is constructed at any particular time synchronise and vibrate in unison that the aspirant can pass through to greater light. This gives you a somewhat new and rather abstruse definition of initiation. Nevertheless, as science arrives at a better understanding of the human being as an electrical unit of power and light, and of his triple mechanism as created of three aspects of electricity, a truer comprehension of the significance of initiation will eventuate. The three fires of which all things are made are electrical in nature and—speaking symbolically—it is only when “fire by friction” is dominated by “solar fire” that the first four initiations can be taken, culminating in the fifth initiation in which these two fires are subordinated to “electric fire” emanating from the monad and giving a new revelation. This monadic process begins at the third initiation. It might be added that the third initiation (culminating in the Transfiguration) is taken on the three higher levels of the mental plane, and that it is therefore upon the fourth level of the mental plane that the aspirant first of all stands before the door, seeking initiation. That electrical unit or phenomenon of electricity [352] which we call the fourth kingdom in nature, on this fourth subplane of the mental plane esoterically “ejects” the unit of electricity which is ready to be absorbed by the higher form of electricity. Fire by friction dies out and solar fire takes its place, and the relationship between the two higher forms of electricity becomes established.

Cánh cửa điểm đạo này liên hệ với vấn đề lớn mà H.P.B. gọi là “huyền nhiệm của điện”; bản thân cánh cửa về cơ bản là một hiện tượng điện. Khi đã nói như vậy, dù bạn không hiểu ý tôi, bạn vẫn có thể nắm được khả năng rằng (vì có bản chất điện) nó có thể dễ dàng biểu hiện như một mãnh lực ngăn trở, một năng lượng đẩy lùi đối với sự tiếp cận của người chí nguyện; đó là cách đúng để nhìn nó. Chỉ khi năng lượng điện cấu thành cánh cửa và năng lượng điện cấu thành con người ở bất kỳ thời điểm nào đồng bộ và rung động hòa điệu thì người chí nguyện mới có thể đi qua đến ánh sáng lớn hơn. Điều này đem lại cho bạn một định nghĩa phần nào mới mẻ và khá khó hiểu về điểm đạo. Tuy nhiên, khi khoa học đạt đến sự thấu hiểu tốt hơn về con người như một đơn vị điện của quyền năng và ánh sáng, và về bộ máy tam phân của y như được tạo nên từ ba phương diện của điện, thì một sự hiểu biết chân thực hơn về ý nghĩa của điểm đạo sẽ xuất hiện. Ba ngọn lửa mà từ đó mọi sự được tạo thành đều có bản chất điện, và—nói theo biểu tượng—chỉ khi “Lửa ma sát” bị “Lửa Thái dương” chế ngự thì bốn lần điểm đạo đầu tiên mới có thể được tiếp nhận, đạt cực điểm ở lần điểm đạo thứ năm, trong đó hai ngọn lửa này bị đặt dưới “Lửa Điện” phát ra từ chân thần và đem lại một sự mặc khải mới. Tiến trình chân thần này bắt đầu ở lần điểm đạo thứ ba. Có thể nói thêm rằng lần điểm đạo thứ ba (đạt cực điểm trong Biến hình) được tiếp nhận trên ba cấp độ cao của cõi trí, và vì thế chính trên cấp độ thứ tư của cõi trí mà trước hết người chí nguyện đứng trước cánh cửa, tìm kiếm điểm đạo. Đơn vị điện hay hiện tượng điện [352] mà chúng ta gọi là giới thứ tư trong thiên nhiên, trên cõi phụ thứ tư này của cõi trí, một cách huyền bí “phóng ra” đơn vị điện đã sẵn sàng được hấp thu bởi hình thức điện cao hơn. Lửa ma sát tắt dần và Lửa Thái dương thay thế nó, và mối liên hệ giữa hai hình thức điện cao hơn được thiết lập.

It is solar fire which forms and likewise guards the door of initiation for the first four initiations. It is the electrical fire which forms the door of initiation for those initiations which guard the Way to the Higher Evolution.

Chính Lửa Thái dương tạo thành và cũng canh giữ cánh cửa điểm đạo cho bốn lần điểm đạo đầu tiên. Chính Lửa Điện tạo thành cánh cửa điểm đạo cho những cuộc điểm đạo canh giữ Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

There are four types of fire by friction which create the “obstructing door” in unison with solar fire, of which it is essentially created. These are as follows:

Có bốn loại lửa ma sát cùng với Lửa Thái dương tạo nên “cánh cửa ngăn trở,” mà về bản chất cánh cửa ấy được tạo thành từ đó. Chúng như sau:

1. Electrical energy, composed of two forces of electricity: the innate, inert and latent force of the physical plane atoms of the dense physical vehicle, and the force which we call prana which is an aspect of the energy composing the etheric body. These two blend, combine and form the “door” through which the spiritual man must pass then he undergoes the first initiation. This provocative energy tests out every part of his physical equipment and—as he passes the test—the door opens, the opposing energies symbolically “die out,” and he can pass on to the Path of Initiation, free from that type of obstruction. The physical body no longer rules him, either through its limitations and faults or through the physical disciplines which have been hitherto needed but are no longer required.

1. Năng lượng điện, gồm hai mãnh lực điện: mãnh lực bẩm sinh, trơ ì và tiềm ẩn của các nguyên tử cõi hồng trần trong vận cụ hồng trần đậm đặc, và mãnh lực mà chúng ta gọi là prana, vốn là một phương diện của năng lượng cấu thành thể dĩ thái. Hai năng lượng này hòa trộn, kết hợp và tạo thành “cánh cửa” mà con người tinh thần phải đi qua khi y trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Năng lượng khiêu phát này thử thách mọi phần trong bộ máy hồng trần của y và—khi y vượt qua thử thách—cánh cửa mở ra, các năng lượng đối kháng theo biểu tượng “tắt đi,” và y có thể tiến lên Con Đường Điểm Đạo, thoát khỏi loại ngăn trở ấy. Thể xác không còn cai quản y nữa, hoặc qua các giới hạn và lỗi lầm của nó, hoặc qua các kỷ luật hồng trần trước đây cần thiết nhưng nay không còn cần nữa.

2. The electrical energy of the astral or emotional body next confronts him as he prepares to take the second initiation. You can call this energy, if you so choose, the sum total of all the glamours; a glamour is essentially a bewildering, deceiving and illusory energy-form which seeks to sidetrack and mislead the neophyte and which is attracted to him by ancient habit and old controls. He is therefore responsible for the impact of this energy. This type of energy takes form, and the massed forms of these glamours constitute the opposing door and oppose the passing of the [353] aspirant on to the next phase of the Path. With this electrical energy he must deal before he takes the second initiation. These particular energies are not thoughtforms; they are drifting, undefined and exceedingly fluid. Of this type of energy water is the symbol, and this is one reason why this second initiation is called the Baptism initiation, or the initiation of “entering the stream.”

2. Tiếp theo, năng lượng điện của thể cảm dục hay thể cảm xúc đối diện với y khi y chuẩn bị tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai. Nếu muốn, bạn có thể gọi năng lượng này là tổng số của mọi ảo cảm; về bản chất, một ảo cảm là một hình tướng năng lượng gây hoang mang, lừa dối và ảo tưởng, tìm cách làm người sơ cơ đi chệch hướng và lạc lối, và bị hút đến với y bởi thói quen xưa cũ và những sự kiểm soát cũ. Vì vậy, y chịu trách nhiệm về tác động của năng lượng này. Loại năng lượng này mang hình tướng, và các hình tướng tập hợp của những ảo cảm này cấu thành cánh cửa đối kháng và chống lại sự đi qua của [353] người chí nguyện sang giai đoạn kế tiếp của Đường Đạo. Y phải đề cập đến loại năng lượng điện này trước khi tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai. Những năng lượng đặc thù này không phải là các Hình tư tưởng; chúng trôi nổi, không xác định và cực kỳ linh động. Nước là biểu tượng của loại năng lượng này, và đó là một lý do vì sao lần điểm đạo thứ hai này được gọi là cuộc điểm đạo Rửa tội, hay cuộc điểm đạo của “bước vào dòng nước.”

3. The electrical energy of the mind now creates the door for the third initiation, and the obstruction which confronts the initiate is that of the electrical figments of his own thinking, shining with a light which is all their own (for they are of the highest order and type), but veiling the pure light which shines behind them. They constitute the sumtotal of illusion. This “door” is formed by the coming together of the three types of energy: fire by friction, solar fire (playing in full force at this third initiation), and electrical fire from the Spiritual Triad, making its first impact on the other two fires, for all three are in full activity at this initiatory crisis. All are localised and concentrated in that symbol of progress, the “door of initiation.”

3. Giờ đây năng lượng điện của trí tuệ tạo ra cánh cửa cho lần điểm đạo thứ ba, và chướng ngại đối diện với điểm đạo đồ là những hình ảnh điện do chính tư tưởng của y tạo ra, sáng rực bằng một ánh sáng hoàn toàn riêng của chúng (vì chúng thuộc loại và cấp độ cao nhất), nhưng lại che khuất ánh sáng thuần khiết đang chiếu rạng phía sau chúng. Chúng cấu thành tổng số của ảo tưởng. “Cánh cửa” này được hình thành bởi sự hội tụ của ba loại năng lượng: Lửa ma sát, Lửa Thái dương (đang hoạt động với toàn lực ở lần điểm đạo thứ ba này), và Lửa Điện từ Tam Nguyên Tinh Thần, đang tạo ra tác động đầu tiên lên hai ngọn lửa kia, vì cả ba đều hoạt động trọn vẹn trong cơn khủng hoảng điểm đạo này. Tất cả đều được định vị và tập trung trong biểu tượng của sự tiến bộ ấy, “cánh cửa điểm đạo.”

It should be becoming increasingly clear to you why the initiate is ever portrayed as one who works with the forces and energies of the planet and the system. To him, there is naught else.

Hẳn ngày càng trở nên rõ ràng với bạn vì sao điểm đạo đồ luôn được mô tả như một người làm việc với các mãnh lực và năng lượng của hành tinh và của hệ thống. Đối với y, không có gì khác.

4. The fourth type of “fire by friction” which confronts the initiate as he stands prepared for that initiation which we call the Great Renunciation is the electric energy of the entire integrated personality. That which is the product of every incarnation—the highly developed, powerful and “clear-eyed” personality (as it is called)—is the final event and presents the final great obstruction.

4. Loại “lửa ma sát” thứ tư đối diện với điểm đạo đồ khi y đứng sẵn sàng cho cuộc điểm đạo mà chúng ta gọi là Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ là năng lượng điện của toàn bộ phàm ngã tích hợp. Điều là sản phẩm của mọi kiếp sống—phàm ngã được phát triển cao độ, đầy quyền năng và “mắt sáng” (như người ta gọi)—là biến cố cuối cùng và tạo ra chướng ngại lớn cuối cùng.

In the Gospel story there are two major episodes in the life of the Master Jesus which throw some light upon this fourth entrance through the door of initiation: the Transfiguration and the Crucifixion. In both of them the three aspects of the personality are symbolised. In the first case, they are symbolised by the three apostles who in bewilderment and profound humility took part in the third initiation, [354] the Transfiguration; in the second case, the three were depicted by the three Crosses—the two thieves and the central Master. The difference in the fourth initiation is definite; it lies in the fact that the four aspects of the personality (counting the dense physical body as one aspect and the etheric vehicle as a second aspect of the physical body) are involved, for this fourth emanation of fire by friction has a potent and destructive effect upon the dense physical body. The Great Renunciation involves the rejection of the physical life at any cost, and that cost frequently involves its physical death.

Trong câu chuyện Phúc Âm có hai giai đoạn lớn trong đời sống của Chân sư Jesus soi sáng phần nào cho lần đi vào thứ tư này qua cánh cửa điểm đạo: Biến hình và Đóng đinh. Trong cả hai trường hợp, ba phương diện của phàm ngã đều được biểu tượng hóa. Trong trường hợp thứ nhất, chúng được biểu tượng hóa bởi ba vị tông đồ, những người trong sự bối rối và khiêm cung sâu xa đã tham dự vào lần điểm đạo thứ ba, [354] cuộc Biến hình; trong trường hợp thứ hai, bộ ba ấy được mô tả bằng ba cây Thập giá—hai tên trộm và vị Chân sư ở giữa. Sự khác biệt trong lần điểm đạo thứ tư là rõ rệt; nó nằm ở chỗ bốn phương diện của phàm ngã (tính thể xác đậm đặc là một phương diện và vận cụ dĩ thái là phương diện thứ hai của thể xác) đều liên can, vì sự phát xạ thứ tư này của lửa ma sát có một tác động mạnh mẽ và hủy diệt lên thể xác đậm đặc. Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ bao hàm việc khước từ sự sống hồng trần bằng bất cứ giá nào, và cái giá ấy thường bao gồm cái chết hồng trần.

The Great Renunciation or fourth initiation has, therefore, two aspects: the outer involvement or objective happening in the eyes of the physical plane onlooker, and the subjective aspect, portrayed symbolically by the three Crosses and those who hung upon them.

Vì vậy, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ hay lần điểm đạo thứ tư có hai phương diện: sự liên can bên ngoài hay biến cố khách quan trong mắt người quan sát trên cõi hồng trần, và phương diện chủ quan, được mô tả bằng biểu tượng ba cây Thập giá và những người bị treo trên đó.

The implications emerging out of this symbolism are not easy to see, even when the superficial meaning is apparent, because that superficial meaning hides and veils a universal reality. The Master Jesus passed through the door of the fourth initiation and overcame the final hindrances offered by His perfected personality. He died upon the Cross. All the four aspects of His personality participated in the event, and all four aspects electrically obstructed His passing though this door, even to the point of their complete destruction—bringing a final liberation. Something universal was also symbolised which had naught to do with the Initiated Master Jesus.

Những hàm ý phát sinh từ biểu tượng này không dễ thấy, ngay cả khi ý nghĩa bề mặt đã rõ ràng, vì ý nghĩa bề mặt ấy che giấu và phủ màn lên một thực tại phổ quát. Chân sư Jesus đã đi qua cánh cửa của lần điểm đạo thứ tư và vượt thắng những cản trở cuối cùng do phàm ngã hoàn thiện của Ngài đưa ra. Ngài chết trên Thập giá. Cả bốn phương diện của phàm ngã Ngài đều tham dự vào biến cố ấy, và cả bốn phương diện đều ngăn trở bằng điện đối với việc Ngài đi qua cánh cửa này, cho đến mức bị hủy diệt hoàn toàn—đem lại sự giải thoát cuối cùng. Một điều gì đó phổ quát cũng được biểu tượng hóa, điều không liên quan gì đến Chân sư Jesus đã được điểm đạo.

This symbolism and its meaning are related to the three Crosses which stood side by side and to the relationship between those who hung upon them. In the three figures humanity itself is portrayed and also related to the Hierarchy, and this “pictorial event” is a parallel to the one already considered—the initiation of the Master Jesus. In the Crucifixion, in this fourth passing through the door of initiation and in the staging of this event, two great and different individualities—the Master Jesus and the World Saviour, the Christ—are implicated; two major happenings [355] are indicated, and the Christian Church has confused the two and related both of them without discrimination to the Master Jesus. Yet one event was a hierarchical occurrence and the other was a great human crisis; one was the entrance of an initiate into the Mysteries of death, involving in the process all the four aspects of His nature; the other was a dramatic portrayal to mankind of three groups to be found within the human family:

Biểu tượng này và ý nghĩa của nó liên hệ đến ba cây Thập giá đứng cạnh nhau và đến mối liên hệ giữa những người bị treo trên đó. Trong ba hình tượng ấy, chính nhân loại được mô tả và cũng được liên hệ với Thánh đoàn, và “biến cố bằng hình ảnh” này là một song song với điều đã được xét đến trước đó—cuộc điểm đạo của Chân sư Jesus. Trong cuộc Đóng đinh, trong lần đi qua thứ tư này qua cánh cửa điểm đạo và trong việc dàn dựng biến cố này, hai cá thể lớn và khác biệt—Chân sư Jesus và Đấng Cứu Thế Gian, Đức Christ—đều liên can; hai biến cố lớn [355] được chỉ ra, và Giáo hội Ki-tô đã lẫn lộn cả hai và gán cả hai, không phân biệt, cho Chân sư Jesus. Tuy nhiên, một biến cố là một sự kiện của Thánh đoàn và biến cố kia là một cuộc khủng hoảng lớn của nhân loại; một bên là sự đi vào của một điểm đạo đồ vào các Huyền nhiệm của cái chết, bao gồm trong tiến trình ấy cả bốn phương diện của bản chất Ngài; bên kia là một sự mô tả đầy kịch tính cho nhân loại về ba nhóm có thể tìm thấy trong gia đình nhân loại:

1. Unregenerate man, pictured by the unrepentant thief.

1. Con người chưa được tái sinh, được biểu tượng bằng tên trộm không ăn năn.

2. The struggling aspirant, moving consciously towards liberation, symbolised for us in the repentant thief.

2. Người chí nguyện đang đấu tranh, có ý thức tiến về giải thoát, được biểu tượng cho chúng ta nơi tên trộm ăn năn.

3. The Hierarchy, composed of all who have passed to liberation through the medium of human experience, and thereby representing to us a guarantee of achievement.

3. Thánh đoàn, gồm tất cả những ai đã đi đến giải thoát qua trung gian của kinh nghiệm nhân loại, và nhờ đó biểu hiện cho chúng ta một bảo chứng về thành tựu.

Students would do well to keep this fourfold picture and this threefold symbol clearly distinguished in their minds, for individual attainment and the group possibilities are both involved; each is, however, distinct; in the one case the Master Jesus is the participator, and in the other and the more esoteric occurrence it is the One Who overshadows Him, the Christ. It was the Master Jesus who “died” and entered into the tomb, thus climaxing His long series of incarnations and ending—by destruction—the hold of matter on the spirit; through the tomb He passed into the Hierarchy, and the destiny of the Christian Church was committed to Him; that destiny still lies in His hands. But in the Gospel story, it is the Christ Who is indicated as appearing after the resurrection and not the Master Jesus, except in the one brief episode wherein He appeared to Mary, weeping outside the door of the sepulchre. The other episodes are universal in their implications, as indicated by:

Các đạo sinh nên giữ rõ ràng trong trí mình bức tranh tứ phân này và biểu tượng tam phân này, vì cả thành tựu cá nhân lẫn các khả năng của nhóm đều được bao hàm; tuy nhiên, mỗi điều là riêng biệt; trong trường hợp thứ nhất, Chân sư Jesus là người tham dự, còn trong trường hợp kia, biến cố huyền bí hơn, là Đấng phủ bóng Ngài, Đức Christ. Chính Chân sư Jesus là Đấng đã “chết” và đi vào mộ, như thế đạt cực điểm cho chuỗi dài các kiếp lâm phàm của Ngài và chấm dứt—bằng sự hủy diệt—sự kềm giữ của vật chất đối với tinh thần; qua ngôi mộ, Ngài đi vào Thánh đoàn, và vận mệnh của Giáo hội Ki-tô được giao phó cho Ngài; vận mệnh ấy vẫn còn nằm trong tay Ngài. Nhưng trong câu chuyện Phúc Âm, chính Đức Christ được chỉ ra là xuất hiện sau sự phục sinh chứ không phải Chân sư Jesus, ngoại trừ trong một giai đoạn ngắn khi Ngài hiện ra với Mary đang khóc bên ngoài cửa mộ. Các giai đoạn khác mang hàm ý phổ quát, như được chỉ ra bởi:

1. Christ walking with the two disciples on the road to Emmaus—a symbol of the essential dualism of spirit and matter, as embodied in a world Saviour.

1. Đức Christ đi cùng hai đệ tử trên đường đến Emmaus—một biểu tượng của tính nhị nguyên cốt yếu giữa tinh thần và vật chất, như được thể hiện trong một Đấng Cứu Thế Gian.

2. Christ appearing to the disciples in the upper room, [356] symbolising the zodiac, for Judas Iscariot was there, standing for the sign at the time in power; the other eleven disciples representing the remaining signs through which the sun must pass.

2. Đức Christ hiện ra với các đệ tử trong căn phòng trên lầu, [356] biểu tượng cho hoàng đạo, vì Judas Iscariot có mặt ở đó, tượng trưng cho dấu hiệu đang nắm quyền lúc ấy; mười một đệ tử kia tượng trưng cho các dấu hiệu còn lại mà mặt trời phải đi qua.

3. Pentecost. This event does not portray the triumph of orthodox Christianity (as the theologians believe and teach), but signifies the universal dissemination of the Christ consciousness throughout all time in the heart of every human being; to this the words and promise, “Lo, I am with you all the days, even until the end of the world,” bear witness.

3. Lễ Ngũ Tuần. Biến cố này không mô tả chiến thắng của Ki-tô giáo chính thống (như các nhà thần học tin và giảng dạy), mà biểu thị sự phổ biến phổ quát của tâm thức Christ xuyên suốt mọi thời đại trong trái tim của mỗi con người; điều này được chứng thực bởi lời nói và lời hứa: “Này, Ta ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế.”

It is owing to the deeply esoteric meaning of the Resurrection and the Ascension and their major significance, referring to the consciousness of the Christ, that nothing much is told us about these initiations in The New Testament, except the vaguest generalities, in contradistinction to the wealth of detail given anent the other four initiations. Four of these initiations are related to the “door of initiation” as occultly understood and with the interpretation of which we are familiar; these four are related also to the electrical “fire by friction” of which that door is constructed, and which spreads to and creates the burning ground across which the initiate must four times move in order to “enter through that door.”

Chính vì ý nghĩa huyền bí sâu xa của Phục sinh và Thăng thiên cùng tầm quan trọng lớn lao của chúng, liên hệ đến tâm thức của Đức Christ, mà Tân Ước không cho chúng ta biết nhiều về các cuộc điểm đạo này, ngoại trừ những khái quát mơ hồ nhất, trái ngược với sự phong phú chi tiết được đưa ra liên quan đến bốn cuộc điểm đạo kia. Bốn cuộc điểm đạo này liên hệ với “cánh cửa điểm đạo” như được hiểu một cách huyền bí và với cách giải thích mà chúng ta quen thuộc; bốn cuộc điểm đạo này cũng liên hệ với “Lửa ma sát” bằng điện mà từ đó cánh cửa ấy được cấu thành, và thứ lửa này lan rộng ra và tạo nên vùng đất cháy mà điểm đạo đồ phải bốn lần đi qua để “bước vào qua cánh cửa ấy.”

The other two initiations (vaguely called the Resurrection and the Ascension) are related to the second so-called “door.” This door is not in the same sense an obstruction as is the first door; it opens on to the Way of the Higher Evolution. The first door symbolically admits the initiate into the “heart of the Sun,” whilst the second door—in a most mysterious sense—indicates the route which must be followed by the liberated initiate who seeks to penetrate to the Central Spiritual Sun—to which all the seven Paths eventually lead.

Hai cuộc điểm đạo còn lại (được gọi một cách mơ hồ là Phục sinh và Thăng thiên) liên hệ với “cánh cửa” thứ hai. Cánh cửa này không phải là một sự ngăn trở theo cùng ý nghĩa như cánh cửa thứ nhất; nó mở ra Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Cánh cửa thứ nhất theo biểu tượng cho phép điểm đạo đồ đi vào “trái tim Mặt Trời,” còn cánh cửa thứ hai—theo một ý nghĩa hết sức huyền nhiệm—chỉ ra lộ trình mà điểm đạo đồ đã được giải thoát phải theo nếu muốn xuyên nhập đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương—nơi mà rốt cuộc cả bảy Con Đường đều dẫn tới.

The Door to the Way of the Higher Evolution — Cánh Cửa Dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu

I write not for those initiates who have taken the third initiation, whose personality is soul-dominated and who [357] “walk ever in the light.” It will therefore be obvious that there is relatively little that I can say at this point which will be comprehensible, as far as the true meaning goes, to you who have not as yet achieved that state. The key to your understanding lies in the realisation that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane, and that all that now transpires in the life of the initiate simply releases him from physical experience (technically physical, even on the atmic, monadic and logoic planes), into that vortex of force which we know and understand as LOVE, or onto the cosmic astral plane. The note, the quality and the influence of the cosmic astral plane is love—the higher correspondence of emotion as experienced upon the astral plane of the planetary or solar manifestation. It is therefore to be realised that the Hierarchy is definitely under the impact of energies emanating from the cosmic astral plane, whilst Shamballa reacts to influences coming from the cosmic mental plane. The related stream of energy can therefore be seen to be from:

Tôi không viết cho những điểm đạo đồ đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, những người mà phàm ngã đã do linh hồn chi phối [357] “luôn bước đi trong ánh sáng.” Vì vậy, hiển nhiên là ở điểm này có tương đối ít điều tôi có thể nói mà các bạn, những người chưa đạt đến trạng thái ấy, có thể hiểu được về mặt ý nghĩa chân thực. Chìa khóa cho sự thấu hiểu của các bạn nằm trong sự chứng nghiệm rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, và rằng tất cả những gì hiện đang diễn ra trong đời sống của điểm đạo đồ chỉ đơn giản giải thoát y khỏi kinh nghiệm hồng trần (về mặt kỹ thuật là hồng trần, ngay cả trên các cõi atma, chân thần và logoi), để đi vào xoáy lực mà chúng ta biết và hiểu là BÁC ÁI, hay đi vào cõi cảm dục vũ trụ. Âm điệu, phẩm tính và ảnh hưởng của cõi cảm dục vũ trụ là bác ái—đối ứng cao hơn của cảm xúc như được trải nghiệm trên cõi cảm dục của biểu lộ hành tinh hay thái dương. Vì vậy cần chứng nghiệm rằng Thánh đoàn rõ ràng đang ở dưới tác động của các năng lượng phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ, trong khi Shamballa phản ứng với các ảnh hưởng đến từ cõi trí vũ trụ. Do đó có thể thấy dòng năng lượng liên hệ là từ:

1. The cosmic astral plane.

1. Cõi cảm dục vũ trụ.

2. The solar buddhic plane, reflected in our planetary buddhic plane.

2. Cõi Bồ đề thái dương, được phản chiếu trong cõi Bồ đề hành tinh của chúng ta.

3. The astral plane, the plane of glamour in the three worlds.

3. Cõi cảm dục, cõi của ảo cảm trong ba cõi thấp.

In relation to the mind, you have:

Liên hệ với trí tuệ, bạn có:

1. The cosmic mental plane.

1. Cõi trí vũ trụ.

2. The solar atmic plane, reflected in our planetary atmic plane.

2. Cõi atma thái dương, được phản chiếu trong cõi atma hành tinh của chúng ta.

3. The mental plane, the plane of illusion.

3. Cõi trí, cõi của ảo tưởng.

In connection with the references to glamour and illusion, (see Glamour: a World Problem ) it must be borne in mind that the reason glamour predominates and illusion functions in the three worlds is due to the fact that men identify themselves with the dense physical brain, and interpret life in terms of experience in the three worlds. There is no true astral plane, from the angle of personality identifications, but only what might be regarded as the figments of the imagination; yet fundamentally and sub-standing what [358] we know as the astral plane is the reflection of the cosmic principle of love. However, being essentially a reflection, it lacks basic reality from the angle of the true disciple and must be ignored as an expression of fundamental truth; at the same time, the astral plane exists from the angle of the Master, because it is an expression in dense physical cosmic substance of cosmic love. Its potency is, however, so great that it produces glamour in those who are not yet liberated. Students should remember that focussed power produces glamour where wrong identification is involved, but only reality and truth where there is freedom from the factor of form life. Therefore, temporarily, there is no astral plane for the disciple who is withdrawing identification; there is a field of service for the Master Who has no longer the power to identify His consciousness with anything in the three worlds; He can, however, relate cosmic sources with planetary and solar expressions of energy.

Liên quan đến các tham chiếu về ảo cảm và ảo tưởng, (xem Glamour: a World Problem) cần ghi nhớ rằng lý do ảo cảm chiếm ưu thế và ảo tưởng hoạt động trong ba cõi thấp là vì con người đồng hoá với bộ não hồng trần đậm đặc, và diễn giải đời sống theo các thuật ngữ của kinh nghiệm trong ba cõi thấp. Không có cõi cảm dục chân thực nào, từ góc độ các sự đồng hoá của phàm ngã, mà chỉ có điều có thể được xem như những hình ảnh hư ảo của sự tưởng tượng; tuy nhiên, về căn bản và nằm bên dưới, điều [358] chúng ta biết là cõi cảm dục lại là sự phản chiếu của nguyên khí bác ái vũ trụ. Tuy nhiên, vì về bản chất nó là một sự phản chiếu, nên nó thiếu thực tại căn bản từ góc độ của đệ tử chân chính và phải bị bỏ qua như một biểu lộ của chân lý nền tảng; đồng thời, cõi cảm dục vẫn hiện hữu từ góc độ của Chân sư, vì nó là một biểu lộ trong chất liệu hồng trần đậm đặc vũ trụ của bác ái vũ trụ. Tuy nhiên, uy lực của nó lớn đến mức tạo ra ảo cảm nơi những ai chưa được giải thoát. Các đạo sinh nên nhớ rằng quyền năng được tập trung tạo ra ảo cảm ở nơi có sự đồng hoá sai lầm, nhưng chỉ tạo ra thực tại và chân lý ở nơi có sự tự do khỏi yếu tố đời sống hình tướng. Vì vậy, tạm thời, không có cõi cảm dục nào đối với đệ tử đang rút sự đồng hoá lại; có một lĩnh vực phụng sự đối với Chân sư, Đấng không còn quyền năng đồng hoá tâm thức của Ngài với bất cứ điều gì trong ba cõi thấp; tuy nhiên, Ngài có thể liên hệ các nguồn vũ trụ với các biểu lộ năng lượng hành tinh và thái dương.

As we study the whole subject of initiation and the advanced initiations, it will be found necessary to remember always the relation of our seven planes to the cosmic range of planes. It is necessary also to bear in mind a fact oft forgotten, but which has been known and taught ever since modern occultism began to influence human thinking: the four planes which connote the highest possible spiritual influences, as far as humanity is concerned, are only—in the last analysis—the four etheric subplanes of the cosmic physical plane. These highest planes of our planetary life are, therefore, the source of all energy and all originating activity in our entire planetary expression and experience. These four planes are (as you already know):

Khi chúng ta nghiên cứu toàn bộ chủ đề điểm đạo và các cuộc điểm đạo cao, sẽ thấy cần phải luôn ghi nhớ mối liên hệ giữa bảy cõi của chúng ta với phạm vi các cõi vũ trụ. Cũng cần ghi nhớ một sự kiện thường bị quên lãng, nhưng đã được biết đến và giảng dạy kể từ khi huyền bí học hiện đại bắt đầu ảnh hưởng đến tư tưởng nhân loại: bốn cõi hàm ý các ảnh hưởng tinh thần cao nhất, xét theo nhân loại, rốt cuộc chỉ là bốn cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ. Vì vậy, các cõi cao nhất này của đời sống hành tinh chúng ta là nguồn của mọi năng lượng và mọi hoạt động khởi nguyên trong toàn bộ biểu lộ và kinh nghiệm hành tinh của chúng ta. Bốn cõi này là (như bạn đã biết):

1. The highest plane… Logoic plane… Will

1. Cõi cao nhất… cõi logoi… Ý chí

(Adi) Life……… 1st aspect

(Adi) Sự sống……… 1st aspect

2. The monadic plane… Universal… Love

2. Cõi chân thần… Phổ quát… Bác ái

Human monads…… 2nd aspect

Các chân thần nhân loại…… 2nd aspect

3. The atmic plane… 3rd aspect… Intelligence

3. Cõi atma… 3rd aspect… Trí tuệ

4. The buddhic plane… Pure reason… Intuition

4. Cõi Bồ đề… Lý trí thuần túy… Trực giác

This 4th or buddhic is a fusion of 2 and 3, of love and [359] intelligence, and produces understanding and intuitive perception.

Cõi thứ 4 hay cõi Bồ đề này là sự dung hợp của 2 và 3, của bác ái và [359] trí tuệ, và tạo ra sự thấu hiểu cùng tri giác trực giác.

All influences and energies, therefore, which are prevalent in our planetary existence, flow through and create the four above-mentioned planes and thus determine the nature of the evolutionary process at any given time in the three worlds. From the standpoint of a Master, the four planes are composed of forces which are basically responsive to, and finally conditioned by, the energies wielded by the Hierarchy and directed by Shamballa. In a peculiar manner, and under the Law of Correspondences, the three lower planes—mental, emotional and physical—constitute the three dense physical subplanes of the cosmic physical plane and are not, consequently, regarded as embodying principles. H.P.B. says, in connection with our physical plane (the lowest subplane of the cosmic physical plane), that it is not a principle, and this holds good also for the greater whole. The dense physical plane is matter conditioned by a previous solar system, and is almost automatic in its response to etheric energies; these constitute the etheric bodies of all forms created out of this “unprincipled substance,” as it is occultly called.

Vì vậy, mọi ảnh hưởng và năng lượng đang thịnh hành trong sự tồn tại hành tinh của chúng ta đều chảy qua và tạo ra bốn cõi vừa nêu trên, và như thế quyết định bản chất của tiến trình tiến hoá vào bất kỳ thời điểm nào trong ba cõi thấp. Từ quan điểm của một Chân sư, bốn cõi này được cấu thành bởi các mãnh lực vốn về căn bản đáp ứng với, và rốt cuộc bị tác động bởi, các năng lượng do Thánh đoàn vận dụng và do Shamballa chỉ đạo. Theo một cách đặc biệt, và dưới định luật tương ứng, ba cõi thấp—trí tuệ, cảm xúc và hồng trần—cấu thành ba cõi phụ hồng trần đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ và do đó không được xem là hiện thân của các nguyên khí. H.P.B. nói, liên hệ với cõi hồng trần của chúng ta (cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ), rằng nó không phải là một nguyên khí, và điều này cũng đúng đối với toàn thể lớn hơn. Cõi hồng trần đậm đặc là vật chất bị tác động bởi một hệ mặt trời trước, và gần như tự động trong sự đáp ứng với các năng lượng dĩ thái; các năng lượng này cấu thành các thể dĩ thái của mọi hình tướng được tạo ra từ “chất liệu không nguyên khí” này, như nó được gọi trong huyền bí học.

The three lower planes of our seven planes are, from the angle of the esotericist, the equally unprincipled dense cosmic substance; the mark or indication of the true initiate is the transfer of his life and his point of identification from unprincipled substance and substantial forms to “principled” substance and etheric forms. The tendency of the occult student to think ever in terms of spiritual abstraction can (and often does) militate against a grasp of the truth and presents a false picture to the intelligence; the facts which I have just emphasised have much to do with the nature of the higher initiations. I would ask you to remember this.

Ba cõi thấp của bảy cõi chúng ta, từ góc độ của nhà bí truyền học, cũng là chất liệu vũ trụ đậm đặc không nguyên khí tương tự; dấu hiệu hay chỉ báo của điểm đạo đồ chân chính là sự chuyển dịch đời sống và điểm đồng hoá của y từ chất liệu không nguyên khí và các hình tướng vật chất sang chất liệu “có nguyên khí” và các hình tướng dĩ thái. Khuynh hướng của đạo sinh huyền bí là luôn suy nghĩ theo các thuật ngữ trừu tượng tinh thần có thể (và thường thực sự) cản trở việc nắm bắt chân lý và trình bày một bức tranh sai lạc cho trí tuệ; các sự kiện mà tôi vừa nhấn mạnh có liên hệ rất nhiều đến bản chất của các cuộc điểm đạo cao hơn. Tôi muốn yêu cầu bạn ghi nhớ điều này.

The third initiation, therefore, releases the initiate from the planes of unprincipled substance (the lower subplanes of the cosmic physical plane), whilst the next two initiations make it possible for him to work with intelligence [360] and love on the two lower levels of the cosmic etheric plane—the buddhic and the atmic, the planes of spiritual love and intelligent will. The Way of the Higher Evolution leads through the monadic and logoic planes (the two highest levels of the cosmic physical plane); when the four planes of the cosmic etheric plane are completely mastered and under occult direction, the initiate is faced with the seven Paths and with the choice to tread one or other of them. His choice is naturally dependent upon ray determinations and past activity but is nevertheless a free choice, because all limitation has been removed, all wrong identification with physical forms is now impossible, and the initiate’s only limitation is that imposed by entrance into cosmic levels of awareness with which he is still unfamiliar. Bear, therefore, continually in mind that the highest spiritual attainment upon and within the seven planes of our recognised planetary life is entirely conditioned by the fact that they are the seven subplanes of the cosmic physical plane and are composed of the three dense physical planes (our three worlds of human evolution) and the four cosmic etheric planes (the four levels of so-called spiritual development); these are conditioned by three forces and four energies. I have emphasised this by constant repetition on account of the great importance the recognition of these facts will play in any grasp you may achieve anent the Way of the Higher Evolution.

Vì vậy, lần điểm đạo thứ ba giải thoát điểm đạo đồ khỏi các cõi của chất liệu không nguyên khí (các cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ), trong khi hai lần điểm đạo kế tiếp giúp y có thể làm việc với trí tuệ [360] và bác ái trên hai cấp độ thấp của cõi dĩ thái vũ trụ—cõi Bồ đề và cõi atma, các cõi của bác ái tinh thần và ý chí thông minh. Con đường Tiến Hóa Cao Siêu dẫn qua các cõi chân thần và logoi (hai cấp độ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ); khi bốn cõi của cõi dĩ thái vũ trụ đã được làm chủ hoàn toàn và ở dưới sự chỉ đạo huyền bí, điểm đạo đồ đối diện với bảy Con Đường và với sự lựa chọn bước trên con đường này hay con đường kia. Sự lựa chọn của y dĩ nhiên tùy thuộc vào các quyết định của cung và hoạt động quá khứ, nhưng vẫn là một lựa chọn tự do, vì mọi giới hạn đã được loại bỏ, mọi sự đồng hoá sai lầm với các hình tướng hồng trần nay không còn thể xảy ra, và giới hạn duy nhất của điểm đạo đồ là giới hạn do việc đi vào các cấp độ nhận biết vũ trụ mà y vẫn còn chưa quen thuộc áp đặt. Vì vậy, hãy luôn ghi nhớ rằng thành tựu tinh thần cao nhất trên và trong bảy cõi của đời sống hành tinh được công nhận của chúng ta hoàn toàn bị tác động bởi sự kiện rằng chúng là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ và được cấu thành bởi ba cõi hồng trần đậm đặc (ba cõi giới của tiến hoá nhân loại của chúng ta) và bốn cõi dĩ thái vũ trụ (bốn cấp độ của cái gọi là phát triển tinh thần); các cõi này bị tác động bởi ba mãnh lực và bốn năng lượng. Tôi đã nhấn mạnh điều này bằng sự lặp lại liên tục vì tầm quan trọng lớn lao mà việc nhận biết các sự kiện này sẽ giữ vai trò trong bất kỳ sự nắm bắt nào mà bạn có thể đạt được liên quan đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

After the Master has taken the fifth initiation, He has—as you know—covered and mastered the ordinary field of evolution for humanity; that means the three worlds of ordinary human experience and the two worlds of superhuman effort, making the five fields of the spiritual activity of man. Love and intelligence are now perfectly developed in Him, though their expression and emphasis may vary according to His rays; He is aware of the fact of the Will or of the first divine aspect, with its two qualities (veiling a third) of destruction and of purpose; He is becoming active on the second plane of our planetary life, the monadic plane, and that great centre of life, Shamballa, is having a [361] definite vibratory effect upon Him; also (and this will be incomprehensible to you) He is becoming sensitive to a range of energies and influences which can now be registered by Him, owing to His increasing monadic polarisation and His contact with Shamballa.

Sau khi Chân sư đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm, Ngài đã—như bạn biết—đi hết và làm chủ lĩnh vực tiến hoá thông thường của nhân loại; điều đó có nghĩa là ba cõi giới của kinh nghiệm nhân loại thông thường và hai cõi giới của nỗ lực siêu nhân, tạo thành năm lĩnh vực hoạt động tinh thần của con người. Bác ái và trí tuệ nay đã được phát triển hoàn hảo nơi Ngài, dù sự biểu lộ và nhấn mạnh của chúng có thể thay đổi tùy theo các cung của Ngài; Ngài ý thức được sự kiện của Ý chí hay phương diện thiêng liêng thứ nhất, với hai phẩm tính của nó (che giấu một phẩm tính thứ ba) là hủy diệt và mục đích; Ngài đang trở nên hoạt động trên cõi thứ hai của đời sống hành tinh chúng ta, cõi chân thần, và trung tâm sự sống vĩ đại ấy, Shamballa, đang có một [361] tác động rung động rõ rệt lên Ngài; đồng thời (và điều này sẽ không thể hiểu được đối với bạn) Ngài đang trở nên nhạy cảm với một phạm vi năng lượng và ảnh hưởng mà nay Ngài có thể ghi nhận, nhờ sự phân cực chân thần ngày càng tăng của Ngài và sự tiếp xúc của Ngài với Shamballa.

The cosmic astral plane becomes, for the Master, a definite objective; He is beginning to develop a great sensitivity to that level of awareness, but consciousness of that within the planetary life—as He knows it—prevents Him from registering this energy of pure cosmic love as He later will. It is this sense of limitation which is the cause of His recognition of the Door on to the Way of the Higher Evolution, for the fifth and sixth initiations liberate Him into the atmic and monadic states of awareness; these initiations are to the initiate at this stage of development what the first and second initiations are to the disciple who is seeking to tread the earlier stages of the Path of Initiation. They might therefore be regarded as initiations of the threshold—one leading to the awareness of the higher levels of conscious unfoldment which the third initiation (the first major initiation) inaugurates, and the other to those levels of impression, of contact and of future ascension which are the sevenfold goal set before the Master when the sixth initiation (the true ascension) is consummated. It is for this reason that this particular initiation is called the Initiation of Decision. The Master then chooses which of the seven Ways or Paths He will follow, because His aeonial experience has enabled Him to choose any of them and know that He has chosen aright. Though these seven Paths, being one of the septenates, are necessarily related to the seven rays, they are not ray paths, nor are they governed by the seven rays. Any one of them is open to a Master of the Wisdom, and His choice will not be dependent upon His ray type, though He will take that factor into consideration. They are more definitely related to the seven cosmic planes than to the seven rays; this we will consider in greater detail when dealing with the factor of the seven Ashrams which are “proving” grounds for all the Masters confronted with the Initiation of Decision. [362]

Cõi cảm dục vũ trụ trở thành, đối với Chân sư, một mục tiêu xác định; Ngài đang bắt đầu phát triển một sự nhạy cảm lớn đối với cấp độ nhận biết ấy, nhưng tâm thức về điều đó bên trong đời sống hành tinh—như Ngài biết nó—ngăn Ngài ghi nhận năng lượng của bác ái vũ trụ thuần túy này như về sau Ngài sẽ làm. Chính cảm thức giới hạn này là nguyên nhân khiến Ngài nhận ra Cánh Cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, vì lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu giải thoát Ngài vào các trạng thái nhận biết atma và chân thần; các cuộc điểm đạo này đối với điểm đạo đồ ở giai đoạn phát triển này cũng giống như lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai đối với đệ tử đang tìm cách bước trên các giai đoạn đầu của Con Đường Điểm Đạo. Vì vậy, chúng có thể được xem như các cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa—một cuộc dẫn đến sự nhận biết các cấp độ cao hơn của sự khai mở tâm thức mà lần điểm đạo thứ ba (lần điểm đạo lớn đầu tiên) khai mở, và cuộc kia dẫn đến các cấp độ của sự ghi nhận, tiếp xúc và thăng tiến tương lai là mục tiêu thất phân được đặt trước Chân sư khi lần điểm đạo thứ sáu (sự thăng thiên chân thực) được hoàn tất. Chính vì lý do này mà cuộc điểm đạo đặc biệt này được gọi là Cuộc Điểm Đạo Quyết Định. Khi ấy Chân sư chọn sẽ theo một trong bảy Con Đường hay Lối Đi nào, vì kinh nghiệm qua các đại kiếp của Ngài đã giúp Ngài có thể chọn bất kỳ con đường nào trong số đó và biết rằng Ngài đã chọn đúng. Dù bảy Con Đường này, là một trong các bộ bảy, tất yếu có liên hệ với bảy cung, chúng không phải là các con đường của cung, cũng không bị bảy cung chi phối. Bất kỳ con đường nào trong số đó cũng mở ra cho một Chân sư Minh Triết, và sự lựa chọn của Ngài sẽ không tùy thuộc vào loại cung của Ngài, dù Ngài sẽ cân nhắc yếu tố đó. Chúng liên hệ rõ rệt hơn với bảy cõi vũ trụ hơn là với bảy cung; chúng ta sẽ xem xét điều này chi tiết hơn khi bàn đến yếu tố bảy ashram, là những nơi “thử luyện” cho mọi Chân sư đối diện với Cuộc Điểm Đạo Quyết Định. [362]

Disciples are more apt to be interested in the Ashrams from the angle of their own development; they are not prone to remember that the life progress and purpose of the Master not only determines the quality of the Ashram but that His own development and His eventual decisions are closely related to the Ashram which He controls. It is not easy for students to shift their attention away from the relation of the Ashram to humanity as a whole, or to realise that this relation is secondary to the Master Whose primary preoccupation is the unfoldment of the purposes of Sanat Kumara and the attainment of that state of Being which is significant of Shamballa. Students need to bear in mind that one phase of preparation for future work is that which will succeed the Initiation of Decision, and that this is dependent upon the type, quality and service rendered by the Master as He conditions and controls His Ashram. This I will attempt to enlarge upon under our next heading. It is useful however, for aspirants to discipleship, and above all for those preparing for initiation and consequently already working in an Ashram, to get this different point of view and begin to unfold within themselves a new sensitivity to impression coming from sources higher than the Hierarchy itself. This involves in them a new and higher type of orientation, and though it remains as yet impossible of attainment there is definite developing value in a grasp of the concept and the effort of the abstract mind and the intuitive perception to seize upon and reflect upon a new and entirely foreign concept. This higher reflective process is to the disciple who is working in an Ashram what aspiration is to the student upon the Probationary Path and the early stages of the Path of Discipleship.

Các đệ tử thường có khuynh hướng quan tâm đến các ashram từ góc độ sự phát triển của chính mình; họ không dễ nhớ rằng sự tiến bộ đời sống và mục đích của Chân sư không những quyết định phẩm tính của ashram mà sự phát triển riêng của Ngài và các quyết định cuối cùng của Ngài cũng liên hệ chặt chẽ với ashram mà Ngài kiểm soát. Đối với các đạo sinh, không dễ chuyển sự chú ý của họ ra khỏi mối liên hệ của ashram với toàn thể nhân loại, hay chứng nghiệm rằng mối liên hệ này là thứ yếu so với Chân sư, Đấng mà mối bận tâm chính yếu là sự khai mở các mục đích của Đức Sanat Kumara và việc đạt đến trạng thái Bản Thể có ý nghĩa đối với Shamballa. Các đạo sinh cần ghi nhớ rằng một giai đoạn chuẩn bị cho công việc tương lai là giai đoạn sẽ tiếp nối Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, và điều này tùy thuộc vào loại hình, phẩm tính và sự phụng sự do Chân sư thể hiện khi Ngài tác động lên và kiểm soát ashram của mình. Tôi sẽ cố gắng khai triển điều này dưới tiêu đề kế tiếp của chúng ta. Tuy nhiên, điều hữu ích cho những người chí nguyện đến địa vị đệ tử, và trên hết cho những ai đang chuẩn bị cho điểm đạo và do đó đã làm việc trong một ashram, là đạt được quan điểm khác biệt này và bắt đầu khai mở trong chính mình một sự nhạy cảm mới đối với sự ghi nhận đến từ những nguồn cao hơn chính Thánh đoàn. Điều này bao hàm nơi họ một loại định hướng mới và cao hơn, và dù hiện nay vẫn chưa thể đạt được, vẫn có một giá trị phát triển rõ rệt trong việc nắm bắt khái niệm ấy và trong nỗ lực của trí trừu tượng cùng tri giác trực giác nhằm nắm lấy và suy tư về một khái niệm mới mẻ và hoàn toàn xa lạ. Tiến trình phản chiếu cao hơn này đối với đệ tử đang làm việc trong một ashram cũng giống như khát vọng đối với đạo sinh trên Con Đường Dự Bị và các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử.

In the latter case, the aspirant’s emotional body becomes responsive to the principle of buddhi, reaching him via the love petals of the egoic lotus; in the more exalted situation, the disciple becomes aware (for that is all it is) of the possibility of an impression reaching him from the cosmic astral plane, via monadic levels of awareness. Note what I say—simply the possibility—for there is at this stage no assured [363] recognition of this goal; it is an impression which is to the disciple preparing for one of the higher initiations what an occult theory is to an aspirant on very much lower levels. The only way in which I can give any faintest idea of the higher reaches of the initiate consciousness will be through reference to lower grasped capacities and the presentation of undefinable truths in terms of that which has been defined and which (to these higher states of awareness) are in the nature of seed thoughts.

Trong trường hợp sau, thể cảm xúc của người chí nguyện trở nên đáp ứng với nguyên khí Bồ đề, đến với y qua các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã; trong tình huống cao cả hơn, đệ tử trở nên nhận biết (vì đó là tất cả những gì xảy ra) về khả năng có một sự ghi nhận đến với y từ cõi cảm dục vũ trụ, qua các cấp độ nhận biết chân thần. Hãy lưu ý điều tôi nói—chỉ đơn giản là khả năng—vì ở giai đoạn này chưa có sự [363] nhận biết chắc chắn nào về mục tiêu ấy; đó là một ấn tượng đối với đệ tử đang chuẩn bị cho một trong các cuộc điểm đạo cao hơn, cũng như một lý thuyết huyền bí đối với một người chí nguyện ở các cấp độ thấp hơn rất nhiều. Cách duy nhất mà tôi có thể đem lại một ý niệm dù mờ nhạt nhất về các tầm mức cao hơn của tâm thức điểm đạo đồ là thông qua việc quy chiếu đến các năng lực thấp hơn đã được nắm bắt và trình bày các chân lý không thể định nghĩa theo các thuật ngữ của điều đã được định nghĩa và vốn, đối với các trạng thái nhận biết cao hơn này, có bản chất của các tư tưởng hạt giống.

Some small grasp of the nature of the consciousness of Shamballa will emerge as we study this section of the Treatise, for the higher levels of the cosmic etheric plane are permeated with energies emanating from the cosmic astral plane and the cosmic mental plane; these energies, playing through and directed by the great Lives Who form a permanent nucleus of the Council Chamber at Shamballa, do condition and are the impelling, motivating and relating power behind all the evolutionary processes on lower levels.

Một chút nắm bắt về bản chất của tâm thức Shamballa sẽ xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu phần này của bộ Luận, vì các cấp độ cao hơn của cõi dĩ thái vũ trụ được thấm đẫm bởi các năng lượng phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ; các năng lượng này, vận hành qua và được chỉ đạo bởi các Sự Sống vĩ đại tạo thành một hạt nhân thường trực của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, thực sự tác động lên và là quyền năng thúc đẩy, động cơ và liên kết đằng sau mọi tiến trình tiến hoá ở các cấp độ thấp hơn.

Yet, the life and consciousness of the Hierarchy are very different to the life and consciousness of Those Who constitute the great centre called Shamballa; the developing sensitivity to increasingly high impression, which is the result of each stage of the final initiatory process, is the only way in which the distinction and the goal become apparent. Just as those who read and study these ideas are occupied with concepts and thoughts totally unrealised and wholly inexplicable and sometimes even senseless, to the ordinary everyday businessman in the street, so there are also ranges of thought and eternal extra-planetary concepts which are equally unknown and temporarily inexplicable to the initiate working in an Ashram under some Master. When the student realises that the great universal Oneness which he associates with monadic consciousness, is only the registration of impressions localised (and therefore limited) and defined within the etheric levels of the cosmic physical plane, he can perhaps grasp the implications of the wonder which will be revealed to the initiate who can transcend the entire cosmic physical plane (our seven planes of the [364] human, superhuman and the divine worlds) and function upon another cosmic level. This is what the treading of the Way of the Higher Evolution enables a Master eventually to do.

Tuy nhiên, đời sống và tâm thức của Thánh đoàn rất khác với đời sống và tâm thức của Các Đấng cấu thành trung tâm vĩ đại gọi là Shamballa; sự nhạy cảm đang phát triển đối với sự ghi nhận ngày càng cao, vốn là kết quả của mỗi giai đoạn trong tiến trình điểm đạo cuối cùng, là cách duy nhất mà qua đó sự phân biệt và mục tiêu trở nên hiển nhiên. Cũng như những người đọc và nghiên cứu các ý tưởng này đang bận tâm với các khái niệm và tư tưởng hoàn toàn chưa được chứng nghiệm và hoàn toàn không thể giải thích, đôi khi thậm chí vô nghĩa, đối với người doanh nhân bình thường ngoài phố, thì cũng có những phạm vi tư tưởng và các khái niệm vĩnh cửu ngoài hành tinh cũng xa lạ và tạm thời không thể giải thích đối với điểm đạo đồ đang làm việc trong một ashram dưới quyền một Chân sư. Khi đạo sinh chứng nghiệm rằng sự Hợp Nhất phổ quát vĩ đại mà y liên hệ với tâm thức chân thần chỉ là sự ghi nhận các ấn tượng được định vị (và do đó bị giới hạn) và được xác định trong các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, thì có lẽ y có thể nắm bắt được những hàm ý của điều kỳ diệu sẽ được mặc khải cho điểm đạo đồ có thể vượt lên toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi của chúng ta thuộc [364] các thế giới nhân loại, siêu nhân và thiêng liêng) và hoạt động trên một cấp độ vũ trụ khác. Đây là điều mà việc bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu cuối cùng giúp một Chân sư thực hiện.

One interesting fact emerges out of all this comparative work and this mode of analogical teaching, and that is that the word “spiritual” refers neither to religious matters (so-called) nor to the Path of Discipleship or the Path of the major or higher initiations, but to the relationships on every level of the cosmic physical plane, to every level from the lowest to the highest. The word “spiritual” relates to attitudes, to relationships, to the moving forward from one level of consciousness (no matter how low or gross, from the point of view of a higher level of contact) to the next; it is related to the power to see the vision, even if that vision is materialistic as seen from the angle of a higher registration of possibility; the word “spiritual” refers to every effect of the evolutionary process as it drives man forward from one range of sensitivity and of responsiveness to impression to another; it relates to the expansion of consciousness, so that the unfoldment of the organs of sensory perception in primitive man or in the awakening infant are just as surely spiritual events as participation in an initiatory process; the development of the so-called irreligious man into a sound and effective businessman, with all the necessary perception and equipment for success, is as much a spiritual unfoldment—in that individual’s experience—as the taking of an initiation by a disciple in an Ashram.

Một sự kiện thú vị nổi lên từ toàn bộ công việc so sánh này và từ phương thức giảng dạy bằng tương đồng này, đó là từ “tinh thần” không chỉ đến các vấn đề tôn giáo (cái gọi là như vậy), cũng không chỉ đến Con Đường Đệ Tử hay Con Đường của các cuộc điểm đạo lớn hay cao hơn, mà đến các mối liên hệ trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ, đến mọi cấp độ từ thấp nhất đến cao nhất. Từ “tinh thần” liên hệ đến các thái độ, đến các mối liên hệ, đến sự tiến lên từ một cấp độ tâm thức này (dù thấp hay thô nặng đến đâu, xét từ quan điểm của một cấp độ tiếp xúc cao hơn) sang cấp độ kế tiếp; nó liên hệ đến quyền năng thấy được tầm nhìn, ngay cả khi tầm nhìn ấy là duy vật nếu được nhìn từ góc độ của một sự ghi nhận cao hơn về khả thể; từ “tinh thần” chỉ đến mọi hiệu quả của tiến trình tiến hoá khi nó thúc đẩy con người tiến lên từ một phạm vi nhạy cảm và đáp ứng với ấn tượng này sang phạm vi khác; nó liên hệ đến sự mở rộng tâm thức, đến mức sự khai mở các cơ quan tri giác cảm quan nơi con người nguyên thủy hay nơi đứa trẻ đang thức tỉnh cũng chắc chắn là những biến cố tinh thần như việc tham dự vào một tiến trình điểm đạo; sự phát triển của người được gọi là không tôn giáo thành một doanh nhân vững vàng và hữu hiệu, với mọi tri giác và bộ máy cần thiết cho thành công, cũng là một sự khai mở tinh thần trong kinh nghiệm của cá nhân ấy, cũng như việc một đệ tử trong một ashram tiếp nhận một cuộc điểm đạo.

The assumption by orthodox church people that the word “spiritual” connotes profound and effective interest in orthodox religion is not borne out by the facts of the spiritual life. Some day, when the world is increasingly led by its initiates, this erroneous assumption will be discarded, and it will be realised that all activity which drives the human being forward towards some form of development (physical, emotional, intuitional, and so forth) is essentially spiritual in nature and is indicative of the livingness of the inner divine entity. [365]

Giả định của những người thuộc giáo hội chính thống rằng từ “tinh thần” hàm ý sự quan tâm sâu sắc và hữu hiệu đến tôn giáo chính thống không được các sự kiện của đời sống tinh thần xác nhận. Một ngày nào đó, khi thế giới ngày càng được dẫn dắt bởi các điểm đạo đồ của mình, giả định sai lầm này sẽ bị loại bỏ, và người ta sẽ chứng nghiệm rằng mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến lên hướng đến một hình thức phát triển nào đó (hồng trần, cảm xúc, trực giác, v.v.) về bản chất đều là tinh thần và là dấu hiệu của tính sống động của thực thể thiêng liêng bên trong. [365]

I have felt it necessary to point this out because it will become apparent as we read and study this section of the Treatise that the Master—moving forward into higher areas of impressionability—may not and frequently will not express this development in terms of what is now regarded as “spiritual” by the religious devotee and by the man used to the wording and the terminology of the churchmen of all faiths. The discoveries of science, my brother, or the production of some great work in literature or in the field of art, are just as much an evidence of “spiritual” unfoldment as the rhapsodies of the mystic or the registration by the so called occultist of a contact with the Hierarchy.

Tôi thấy cần phải chỉ ra điều này vì sẽ trở nên hiển nhiên khi chúng ta đọc và nghiên cứu phần này của bộ Luận rằng Chân sư—đang tiến vào các lĩnh vực cao hơn của tính khả thụ ấn tượng—có thể không, và thường sẽ không, biểu lộ sự phát triển này theo các thuật ngữ của điều hiện nay được người sùng tín tôn giáo và người quen với cách diễn đạt cùng thuật ngữ của giới giáo sĩ thuộc mọi đức tin xem là “tinh thần.” Những khám phá của khoa học, Huynh đệ của Tôi, hay việc sáng tạo một tác phẩm lớn trong văn chương hoặc trong lĩnh vực nghệ thuật, cũng là bằng chứng của sự khai mở “tinh thần” không kém gì những cơn xuất thần của nhà thần bí hay sự ghi nhận của nhà huyền bí học được gọi như vậy về một tiếp xúc với Thánh đoàn.

There will, however, come a point in the experience of all those thus making a spiritual approach along some specialised line, where a meeting place will become apparent, where a joint goal will be unitedly recognised, where essential unity under diversity of forms, of methods and of techniques will be acknowledged, and where pilgrims on all ways of approach will know themselves to be one band of demonstrators of the divine.

Tuy nhiên, sẽ đến một điểm trong kinh nghiệm của tất cả những ai đang thực hiện sự tiếp cận tinh thần theo một đường lối chuyên biệt nào đó, khi một nơi gặp gỡ sẽ trở nên hiển nhiên, nơi một mục tiêu chung sẽ được cùng nhau nhận ra, nơi sự hợp nhất cốt yếu dưới sự đa dạng của các hình tướng, phương pháp và kỹ thuật sẽ được thừa nhận, và nơi những người hành hương trên mọi con đường tiếp cận sẽ biết mình là một đoàn duy nhất gồm những người biểu hiện điều thiêng liêng.

One such meeting place is upon the periphery of the Hierarchy during the stage immediately prior to acceptance into an Ashram. It is interesting to note that—on a world-wide scale—the world disciple, Humanity, is today on the verge of this major awakening and joint registration of a unity not hitherto reached; the growth of the spirit of internationalism, the inclusiveness of the scientific attitude, and the spread of a universal humanitarian welfare movement are all indicative of this meeting place.

Một nơi gặp gỡ như thế nằm ở chu vi của Thánh đoàn trong giai đoạn ngay trước khi được chấp nhận vào một ashram. Điều đáng chú ý là—trên quy mô toàn thế giới—đệ tử thế gian, tức Nhân loại, ngày nay đang ở bên bờ của sự thức tỉnh lớn lao này và của sự ghi nhận chung về một hợp nhất chưa từng đạt tới trước đây; sự tăng trưởng của tinh thần quốc tế, tính bao gồm của thái độ khoa học, và sự lan rộng của một phong trào phúc lợi nhân đạo phổ quát đều là những dấu hiệu của nơi gặp gỡ này.

Another such meeting place is recorded and entered (symbolically speaking) when the third initiation is taken, and still another is realised at the time of the seventh initiation. These all register development in group awareness, as well as in the recognition of the individual initiate, as to what is happening within the consciousness aspect of humanity. [366]

Một nơi gặp gỡ khác như thế được ghi nhận và được bước vào (nói theo biểu tượng) khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, và một nơi nữa lại được chứng nghiệm vào lúc lần điểm đạo thứ bảy. Tất cả những điều này đều ghi nhận sự phát triển trong nhận thức nhóm, cũng như trong sự nhận biết của điểm đạo đồ cá nhân về điều đang xảy ra bên trong phương diện tâm thức của nhân loại. [366]

The door into the Way of the Higher Evolution simply permits the entrance of the sensitive initiate into “spheres of intimacy” (as they are sometimes called) which are this time cosmic in their implications, planetary in their effects, and which give to the initiate what has been called the “key to the Sun”—as it conditions the solar system—just as the door to initiation gives to the aspirant the “key to the kingdom of God.”

Cánh cửa đi vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu chỉ đơn giản cho phép điểm đạo đồ nhạy cảm bước vào những “khối cầu thân cận” (như đôi khi chúng được gọi), mà lần này mang hàm ý vũ trụ, có hiệu quả hành tinh, và trao cho điểm đạo đồ điều đã được gọi là “chìa khóa của Mặt Trời”—xét như nó tác động lên hệ mặt trời—cũng như cánh cửa dẫn vào điểm đạo trao cho người chí nguyện “chìa khóa của Thiên Giới.”

We have dealt in the foregoing pages with deep matters and have touched upon topics too high for the understanding of the average student or probationary disciple; dim recognitions, based on past acceptances are, however, possible to some of you. We have seen, among other things, that the so-called “door of initiation” presents obstacles whose purpose is to block entrance and to draw out the latent will of the applicant; an initiate is one who succeeds in penetrating to the further side of the door, where recognition awaits him. We will now concern ourselves with the basic theme of the Ashram itself.

Trong những trang trước, chúng ta đã bàn đến những vấn đề sâu xa và đã chạm tới những chủ đề quá cao đối với sự thấu hiểu của đạo sinh trung bình hay đệ tử dự bị; tuy nhiên, một vài nhận biết mờ nhạt, dựa trên những điều đã được chấp nhận trong quá khứ, vẫn có thể có nơi một số bạn. Trong nhiều điều khác, chúng ta đã thấy rằng cái gọi là “cánh cửa điểm đạo” đặt ra những chướng ngại mà mục đích là ngăn lối vào và khơi dậy ý chí tiềm ẩn của người xin vào; một điểm đạo đồ là người thành công trong việc xuyên qua phía bên kia cánh cửa, nơi sự nhận biết đang chờ y. Giờ đây chúng ta sẽ quan tâm đến chủ đề căn bản của chính ashram.

THE ENTERING OF THE ASHRAM — SỰ BƯỚC VÀO ASHRAM

This theme necessarily has great interest for all aspirants and would-be disciples, but I am not at first going to deal with the subject from the angle of humanity and its effort to establish contact with the Ashram. I desire first of all to speak of the Ashram as a whole, constituted of many Ashrams and creating an “invoking area” of relationship for the supreme Head of the Ashram, Sanat Kumara, the Lord of the World. I seek to enter into no discussion of this leading Life of our entire planet. HE is to a still greater Being, the One referred to elsewhere as “the One about Whom naught may be said,” what the vehicle of a Master in physical incarnation is to Him, and on a less accurate basis, what your personality is to you; it is an expression of the soul or of the Monad when a disciple has attained initiate-consciousness. [367] All the qualities, the love and the purpose of a supreme Entity, referred to in The New Testament as the “Unknown God,” are focussed in Sanat Kumara. Some gauge of the unfoldments which can lie ahead of humanity will enter the human consciousness when:

Chủ đề này tất nhiên có mối quan tâm lớn đối với mọi người chí nguyện và những ai mong trở thành đệ tử, nhưng lúc đầu tôi sẽ không bàn đến đề tài này từ góc độ của nhân loại và nỗ lực của nhân loại nhằm thiết lập tiếp xúc với ashram. Trước hết tôi muốn nói về ashram như một toàn thể, được cấu thành bởi nhiều ashram và tạo nên một “khu vực khẩn cầu” của mối liên hệ dành cho Đấng đứng đầu tối cao của ashram, Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới. Tôi không tìm cách đi vào bất kỳ cuộc thảo luận nào về Sự Sống lãnh đạo này của toàn thể hành tinh chúng ta. NGÀI, đối với một Hữu thể còn vĩ đại hơn nữa, Đấng được nhắc đến ở nơi khác như “Đấng Bất Khả Tư Nghị,” cũng như vận cụ của một Chân sư đang lâm phàm trên cõi hồng trần đối với Ngài, và trên một cơ sở kém chính xác hơn, cũng như phàm ngã của bạn đối với bạn; đó là một biểu hiện của linh hồn hay của chân thần khi một đệ tử đã đạt tới tâm thức điểm đạo đồ. [367] Mọi phẩm tính, tình thương và mục đích của một Thực Thể tối cao, được nhắc đến trong Tân Ước như “Thượng đế Vô Danh,” đều được tập trung nơi Đức Sanat Kumara. Một mức độ nào đó về những sự khai mở có thể nằm phía trước nhân loại sẽ đi vào tâm thức con người khi:

1. The fact of the Hierarchy,

1. Sự kiện về Thánh đoàn,

2. The nature of its relationship to Shamballa,

2. Bản chất của mối liên hệ của Thánh đoàn với Shamballa,

3. The spiritual nature of Those Who respond in reverent obedience to the slightest wish of the Lord of the World,

3. Bản chất tinh thần của Những Đấng đáp ứng trong sự vâng phục tôn kính trước ước muốn nhỏ nhất của Đức Chúa Tể Thế Giới,

are among the accepted truths whereby men live. This will happen after the externalisation of the Hierarchy.

trở thành những chân lý được chấp nhận mà nhờ đó những người nam và nữ sống theo. Điều này sẽ xảy ra sau Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn.

This Lord of the World is the sole repository of the will and purpose of the One of Whom He is an expression; this again can be understood by you as evoking the same relation to the “unknown God” as your personality—when expressing adequately the soul and later the Monad—conditions your perception, knowledge, plans and purpose, and controls the quality of your life and directs the energy which you express.

Đức Chúa Tể Thế Giới này là kho chứa duy nhất của ý chí và mục đích của Đấng mà Ngài là một biểu hiện; điều này một lần nữa có thể được bạn hiểu như gợi lên cùng một mối liên hệ với “Thượng đế vô danh” như phàm ngã của bạn—khi biểu lộ đầy đủ linh hồn và về sau là chân thần—tác động lên tri giác, tri thức, kế hoạch và mục đích của bạn, đồng thời kiểm soát phẩm tính của đời sống bạn và điều hướng năng lượng mà bạn biểu lộ.

His vehicle of manifestation is the planet with its seven centres, of which only three are yet recognised by the occult student: Shamballa, His head centre, the Hierarchy, His heart centre, and Humanity, His throat centre. The other four centres are concerned with evolutions which are reached, controlled and related from one or other of these three major centres. The solar plexus is dominated by the Hierarchy, the heart centre of Sanat Kumara, and has a close relation to the deva evolution, hinted at by me in A Treatise on Cosmic Fire. The vastness of this subject will be understood by my use of the word “hint” in reference to what I have earlier written on the subject.

Vận cụ biểu hiện của Ngài là hành tinh với bảy trung tâm của nó, trong đó chỉ mới có ba trung tâm được đạo sinh huyền bí học nhận biết: Shamballa, trung tâm đầu của Ngài, Thánh đoàn, trung tâm tim của Ngài, và Nhân loại, trung tâm cổ họng của Ngài. Bốn trung tâm kia liên quan đến những tiến hóa được đạt tới, được kiểm soát và được liên hệ từ một hay trung tâm nào khác trong ba trung tâm chính này. Tùng thái dương bị Thánh đoàn chi phối, tức trung tâm tim của Đức Sanat Kumara, và có mối liên hệ mật thiết với tiến hóa thiên thần, điều tôi đã gợi ý trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Tính bao la của chủ đề này sẽ được hiểu qua việc tôi dùng từ “gợi ý” khi nói đến điều tôi đã viết trước đây về đề tài ấy.

The centre which we call Shamballa controls that mysterious centre which is the correspondence to that which we call “the centre at the base of the spine”; this is the inadequate name given to the reservoir of threefold fire, latent and quiescent, which is found at the base of the human spine; it is entirely inactive except in those people who have [368] taken the third initiation. The planetary centre is related to the three fires (electric fire, solar fire, and fire by friction) which are the source of the life, warmth, moisture and growth of all forms upon our planet. It may seem curious and inexplicable to you, but the centre of creativity is affected, and I had almost said guarded, by the “centre which we call the race of men”; the reference in the serious occult books to the future of humanity as the Saviour of all the subhuman kingdoms has relation to this fact.

Trung tâm mà chúng ta gọi là Shamballa kiểm soát trung tâm huyền nhiệm tương ứng với điều mà chúng ta gọi là “trung tâm ở đáy cột sống”; đó là tên gọi chưa đầy đủ dành cho kho chứa lửa tam phân, tiềm ẩn và tĩnh tại, được tìm thấy ở đáy cột sống con người; nó hoàn toàn bất hoạt ngoại trừ nơi những người đã [368] tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba. Trung tâm hành tinh này liên hệ với ba lửa (Lửa Điện, Lửa Thái dương, và Lửa ma sát), là nguồn của sự sống, hơi ấm, độ ẩm và sự tăng trưởng của mọi hình tướng trên hành tinh chúng ta. Điều đó có thể có vẻ kỳ lạ và khó giải thích đối với bạn, nhưng trung tâm sáng tạo bị ảnh hưởng, và tôi suýt nữa đã nói là được canh giữ, bởi “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại”; lời nhắc đến trong các sách huyền bí học nghiêm túc về tương lai của nhân loại như Đấng Cứu Tinh của mọi giới dưới nhân loại có liên hệ với sự kiện này.

The ajna centre of the Lord of the World is just beginning to express itself in a recognisable manner through the New Group of World Servers. This intermediate group—between the Hierarchy and Humanity—is a carrier of the energy which makes the Plan possible (the Plan of which the Hierarchy is the custodian). This Plan implements the Purpose, and later, when the New Group of World Servers is organised and is recognised as a living organism, it will definitely receive energy from Shamballa in a direct reception, via the Hierarchy. This information is, I realise, of little immediate importance to you, but—towards the end of the century—it will be found explanatory of much.

Trung tâm ajna của Đức Chúa Tể Thế Giới chỉ mới bắt đầu biểu lộ theo cách có thể nhận biết được qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm trung gian này—giữa Thánh đoàn và Nhân loại—là kẻ mang năng lượng làm cho Thiên Cơ trở nên khả hữu (Thiên Cơ mà Thánh đoàn là vị giám hộ). Thiên Cơ này thực thi Thiên Ý, và về sau, khi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được tổ chức và được nhận biết như một cơ thể sống, nhóm ấy sẽ nhất định tiếp nhận năng lượng từ Shamballa theo cách trực tiếp, qua trung gian của Thánh đoàn. Tôi nhận ra rằng thông tin này hiện giờ ít có tầm quan trọng tức thời đối với bạn, nhưng—vào cuối thế kỷ—nó sẽ được thấy là giải thích được nhiều điều.

Though the Christ is the Head of the Hierarchy, it is Sanat Kumara, the Ancient of Days, Whose Ashram it truly is. The Christ (I am using one of His official names) is indeed the Master of all the Masters and the Coordinator of the entire life of the great Ashram, in conjunction with the two other hierarchical Officials, the Manu and the Mahachohan. The information I gave as to the constitution of the Hierarchy, in Initiation, Human and Solar, was along the same line. The Hierarchy is the Ashram of Sanat Kumara, but He has delegated His authority, right down the ages, to the so-called World Saviours successively; Their life expression embodied in every case the goal of the period during which They held office.

Dù Đức Christ là Đầu của Thánh đoàn, chính Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ, mới thực sự là Đấng có ashram ấy. Đức Christ (tôi đang dùng một trong những danh hiệu chính thức của Ngài) quả thật là Chân sư của mọi Chân sư và là Đấng Điều Hợp toàn bộ sự sống của đại ashram, cùng với hai Vị Chức Sắc khác của Thánh đoàn là Đức Manu và Đức Mahachohan. Thông tin tôi đã đưa ra về cấu tạo của Thánh đoàn trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương cũng theo cùng đường hướng ấy. Thánh đoàn là ashram của Đức Sanat Kumara, nhưng Ngài đã ủy thác thẩm quyền của Ngài, suốt các thời đại, cho những Đấng Cứu Tinh Thế Gian kế tiếp nhau; biểu hiện sự sống của Các Ngài trong mỗi trường hợp đều hiện thân cho mục tiêu của thời kỳ mà Các Ngài nắm giữ chức vụ.

In the early days of the Hierarchy, millennia of years ago, neither the official Directors of the Hierarchy nor the Masters were of the calibre which They are today. Had They been so, They would have been too far removed from [369] the factual life of the cycle, and therefore useless for the cycle of divine life which existed. The growth of humanity and its evolutionary status (when compared with primordial and primitive man) can be seen in the quality of the Hierarchy today, which humanity produced and towards which it looks for guidance and teaching. This is an interesting point which I offer for your consideration. Never forget, my brothers, that as it is humanity which has furnished the personnel of the Hierarchy—including the Christ, the first of our humanity to achieve divinity—we have, therefore, the guarantee and the assurance of humanity’s ultimate success.

Trong những ngày đầu của Thánh đoàn, từ hàng ngàn thiên niên kỷ trước, các Đấng Điều Hành chính thức của Thánh đoàn cũng như các Chân sư chưa đạt đến tầm mức như Các Ngài ngày nay. Nếu khi ấy Các Ngài đã như vậy, thì Các Ngài đã quá xa rời [369] đời sống thực tế của chu kỳ, và vì thế vô dụng đối với chu kỳ sự sống thiêng liêng đang hiện hữu. Sự tăng trưởng của nhân loại và tình trạng tiến hóa của nhân loại (khi so với con người nguyên sơ và nguyên thủy) có thể được thấy trong phẩm tính của Thánh đoàn ngày nay, mà nhân loại đã tạo ra và hướng về đó để tìm sự hướng dẫn và giáo huấn. Đây là một điểm thú vị mà tôi nêu ra để bạn suy ngẫm. Đừng bao giờ quên, Các huynh đệ của tôi, rằng vì chính nhân loại đã cung cấp nhân sự cho Thánh đoàn—bao gồm cả Đức Christ, người đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt tới thiên tính—nên chúng ta có được sự bảo đảm và xác tín về thành công tối hậu của nhân loại.

The three major Executives of the Hierarchy:

Ba Đấng Điều Hành chính của Thánh đoàn:

1. The Christ, representing the second Ray of Love-Wisdom,

1. Đức Christ, đại diện cho cung hai Bác Ái – Minh Triết,

2. The Manu, representing the first Ray of Will or Power,

2. Đức Manu, đại diện cho Cung một Ý Chí hay Quyền năng,

3. The Mahachohan, representing the third Ray of Active Intelligence,

3. Đức Mahachohan, đại diện cho cung ba Trí Tuệ Hoạt Động,

are responsible to the Lord of the World for the processing of the life and impulse which condition the evolutionary process. This statement is made without any further definition by me because the whole subject is too abstruse and it would require another Treatise like that on Cosmic Fire to make it even a little clearer.

chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Tể Thế Giới về việc xử lý sự sống và xung lực tác động lên tiến trình tiến hoá. Tôi đưa ra phát biểu này mà không định nghĩa thêm, vì toàn bộ chủ đề quá thâm áo và sẽ cần một bộ Luận khác như Luận về Lửa Vũ Trụ mới có thể làm cho nó sáng tỏ hơn đôi chút.

Humanity can only be the recipient of this type of information after the first Ray of Will or Power has become more active; this will take place when the work of the second Ray of Love-Wisdom has reached its next cyclic crisis point. The crisis points of a ray are ever indicative of success and have in them the quality of joy. Mankind will then be much freer from the spirit of separateness, and a measure of peace, unity and cooperation will be conditioning human relations. There is a constant shifting in the state of the planetary consciousness and this, though implemented from Shamballa, is produced by humanity itself; this unfolding human consciousness leads mankind eventually out of the fourth kingdom in nature into the fifth, the hierarchy of souls, and—at the same time—raises the level of consciousness [370] in all the three subhuman kingdoms. This series of happenings will remain for a long time inexplicable to man, though the results can be seen in the effect which humanity has had on the animal kingdom, through domestication; on the vegetable kingdom, through specialisation and science; and on the mineral kingdom, through the skilled utilisation of metals and the widespread use of the mineral products of the earth.

Nhân loại chỉ có thể tiếp nhận loại thông tin này sau khi Cung một Ý Chí hay Quyền năng trở nên hoạt động hơn; điều này sẽ xảy ra khi công việc của cung hai Bác Ái – Minh Triết đạt tới điểm khủng hoảng chu kỳ kế tiếp của nó. Những điểm khủng hoảng của một cung luôn luôn là dấu hiệu của thành công và chứa trong đó phẩm tính của sự hoan hỉ. Khi ấy nhân loại sẽ được giải thoát nhiều hơn khỏi tinh thần chia rẽ, và một mức độ hòa bình, hợp nhất và hợp tác sẽ tác động lên các quan hệ nhân loại. Có một sự chuyển dịch liên tục trong trạng thái tâm thức hành tinh, và điều này, dù được thực thi từ Shamballa, lại do chính nhân loại tạo ra; tâm thức nhân loại đang khai mở này cuối cùng dẫn nhân loại ra khỏi giới thứ tư trong thiên nhiên để vào giới thứ năm, tức thang bậc các linh hồn, và—đồng thời—nâng cao cấp độ tâm thức [370] trong cả ba giới dưới nhân loại. Chuỗi diễn biến này sẽ còn lâu mới có thể giải thích được đối với con người, dù các kết quả có thể được thấy trong ảnh hưởng mà nhân loại đã tạo ra trên giới động vật qua sự thuần hóa; trên giới thực vật qua sự chuyên biệt hóa và khoa học; và trên giới kim thạch qua việc sử dụng khéo léo các kim loại và việc dùng rộng rãi các sản phẩm khoáng vật của đất.

It must be borne in mind that the Council Chamber of the Lord at Shamballa is a unit, but that the Hierarchy is a differentiation of this basic unity into the seven major Ashrams and the forty-nine Ashrams which are gradually forming. The Hierarchy is, however, a unity within itself, for the entire ashramic life is guarded by a ring-pass-not, created by its radiation; the seven and the forty-nine Ashrams are held together by the magnetic interplay of the whole. It is this radiation which affects by its quality the senior aspirants in the world, and draws them gradually into relationship with itself and finally into its magnetic field. This is aided by the clarity of perception, the intensification of the livingness of the rightly oriented aspirant. I prefer the word “livingness” to that of “vibration,” so widely used in modern occultism.

Cần ghi nhớ rằng Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể tại Shamballa là một đơn vị, nhưng Thánh đoàn là một sự biến phân của hợp nhất căn bản này thành bảy ashram chính và bốn mươi chín ashram đang dần dần hình thành. Tuy nhiên, Thánh đoàn là một hợp nhất trong chính nó, vì toàn bộ đời sống ashram được canh giữ bởi một vòng-giới-hạn do bức xạ của nó tạo ra; bảy ashram và bốn mươi chín ashram được giữ lại với nhau nhờ sự tương tác từ tính của toàn thể. Chính bức xạ này tác động bằng phẩm tính của nó lên những người chí nguyện cao cấp trong thế giới, và dần dần lôi cuốn họ vào mối liên hệ với chính nó và cuối cùng vào từ trường của nó. Điều này được hỗ trợ bởi sự sáng tỏ trong tri giác, sự tăng cường tính sống động của người chí nguyện được định hướng đúng đắn. Tôi thích từ “tính sống động” hơn từ “rung động,” vốn được dùng quá rộng rãi trong huyền bí học hiện đại.

There is therefore a dual inflow into the Ashram of Sanat Kumara, controlled and directed by the three hierarchical Directors:

Vì vậy có một dòng chảy kép đi vào ashram của Đức Sanat Kumara, được ba Đấng Điều Hành của Thánh đoàn kiểm soát và điều hướng:

1. From Shamballa itself. This is a flow of energising life or of what we might call “unfettered enlightenment”; this impresses the purpose or the will of the Lord of the World upon the united Hierarchy in a manner incomprehensible to you; it also creates a dynamic magnetic impulse which enables the graded initiates, through the medium of the Ashrams, to organise the Plan and set it in motion, so that the Purpose gradually materialises on earth. Because the senior initiates, from the Christ down to initiates of the fourth degree, are conscious in varying ways (according to ray) of the Eternal Now, and can work free from the compulsion of time, They can see the impressed Purpose as a [371] more complete whole than can initiates of lesser degree and development. It is this capacity which makes Them responsive to Shamballa, where the living will of the “Unknown God” (for a period of a life cycle) is seen in completeness and is already existent. The Hierarchy is, however, handicapped in its activity by the time sense and the materialistic focus of the “centre which we call the race of men.”

1. Từ chính Shamballa. Đây là một dòng sự sống tiếp năng lượng hay điều mà chúng ta có thể gọi là “giác ngộ không bị trói buộc”; nó ghi khắc mục đích hay ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới lên Thánh đoàn hợp nhất theo một cách mà bạn không thể hiểu được; nó cũng tạo ra một xung lực từ tính năng động giúp các điểm đạo đồ theo cấp bậc, qua trung gian các ashram, tổ chức Thiên Cơ và đưa nó vào vận hành, để Thiên Ý dần dần hiện hình trên Trái Đất. Bởi vì các điểm đạo đồ cao cấp, từ Đức Christ xuống đến các điểm đạo đồ cấp bốn, đều hữu thức theo những cách khác nhau (tùy theo cung) về Hiện Tại Vĩnh Cửu, và có thể làm việc không bị sự cưỡng bách của thời gian chi phối, nên Các Ngài có thể thấy Thiên Ý được ghi khắc như một [371] toàn thể hoàn chỉnh hơn so với các điểm đạo đồ có cấp bậc và sự phát triển thấp hơn. Chính năng lực này khiến Các Ngài đáp ứng với Shamballa, nơi ý chí sống động của “Thượng đế Vô Danh” (trong một giai đoạn của chu kỳ sự sống) được thấy trong tính toàn vẹn và đã hiện hữu sẵn. Tuy nhiên, Thánh đoàn bị cản trở trong hoạt động của mình bởi cảm thức thời gian và sự tập trung duy vật của “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại.”

2. From Humanity. There is a constant (and increasing) flow of reoriented human energy penetrating into and beyond the radiatory periphery. This penetrating energy, implemented by the individual aspirant and disciple, is that of intelligent activity and—little as you may have realised it—it is this constant inflow which aids in the intelligent application of the Plan to human affairs. The Science of Impression, which governs the technique of Shamballa, functions through the three different centres in three different ways:

2. Từ Nhân loại. Có một dòng chảy liên tục (và ngày càng tăng) của năng lượng nhân loại đã được tái định hướng xuyên vào và vượt qua chu vi bức xạ. Năng lượng xuyên nhập này, được thực thi bởi người chí nguyện và đệ tử cá nhân, là năng lượng của trí tuệ hoạt động và—dù bạn có thể ít nhận ra điều đó—chính dòng chảy liên tục này hỗ trợ cho việc áp dụng một cách thông tuệ Thiên Cơ vào các công việc nhân loại. Khoa Học về Sự Ghi Khắc, vốn chi phối kỹ thuật của Shamballa, vận hành qua ba trung tâm khác nhau theo ba cách khác nhau:

a. Shamballa… dynamic impression

a. Shamballa… ghi khắc năng động

b. The Hierarchy… magnetic telepathy

b. Thánh đoàn… viễn cảm từ tính

c. Humanity… radiatory sensitivity

c. Nhân loại… tính nhạy cảm bức xạ

yet these three are only manifestations of the will of God as it works out in the activities of His three major centres.

tuy nhiên cả ba chỉ là những biểu hiện của Ý Chí của Thượng Đế khi nó vận hành trong các hoạt động của ba trung tâm chính của Ngài.

One point should here be made: the entry of a member of the human family into the ranks of the initiates and his participation in the activity of some one or other of the Ashrams produces a movement out of the Hierarchy of some Master and into the highest centre of all; it has this effect only after the entering initiate has taken the third initiation, and can therefore take his part in the hierarchical life as a monadic expression susceptible to impression from Shamballa. When a Master thus emerges He is immediately confronted with the choice between the seven Paths. With this development and decision we shall later deal. The seven Paths are all concerned with purpose, just as the seven Ashrams are all concerned with the plan. There is, as you will later see, a direct relation between the seven Paths and the seven Ashrams. Though we shall not deal with the subject at all, there is likewise a correspondence in the third [372] major centre, Humanity. You have, therefore, curiously interrelated:

Ở đây cần nêu ra một điểm: việc một thành viên của gia đình nhân loại bước vào hàng ngũ các điểm đạo đồ và tham gia vào hoạt động của một ashram nào đó sẽ tạo ra một sự chuyển động ra khỏi Thánh đoàn của một Chân sư và đi vào trung tâm cao nhất trong tất cả; điều này chỉ có hiệu quả sau khi điểm đạo đồ mới vào đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, và do đó có thể tham gia vào đời sống của Thánh đoàn như một biểu hiện chân thần có khả năng tiếp nhận sự ghi khắc từ Shamballa. Khi một Chân sư xuất hiện như thế, Ngài lập tức đối diện với sự lựa chọn giữa bảy Con Đường. Chúng ta sẽ bàn đến sự phát triển và quyết định này sau. Bảy Con Đường đều liên quan đến Thiên Ý, cũng như bảy ashram đều liên quan đến Thiên Cơ. Như bạn sẽ thấy về sau, có một mối liên hệ trực tiếp giữa bảy Con Đường và bảy ashram. Dù chúng ta sẽ hoàn toàn không bàn đến đề tài này, vẫn có một sự tương ứng trong trung tâm chính thứ ba, tức Nhân loại. Vì thế, bạn có những mối liên hệ kỳ lạ sau đây:

The seven Paths

Bảy Con Đường

The seven Rays

Bảy Cung

The seven Ashrams

Bảy Ashram

The seven Races

Bảy Nhân loại

Students would do well to bear in mind that these relationships are the result of the involutionary activity of the life expression of the Lord of the World. The key to the mystery of differentiation is found by the Master when He is faced by the choice of the seven Paths. At that high point of will expression, He discovers the secret of that evolutionary process which proceeds from unity to differentiation, and from differentiation to unity again. Individualisation, Initiation and Identification are the three main stages in the evolutionary activity of the life of God and condition the quality of each of the three divine centres. The four related septenates, enumerated above, eventually produce a synthesis which will consummate upon the cosmic mental plane. This is of course beyond my powers to teach or to explain, as I am not yet a liberated Master, though I am a liberated human being.

Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng những mối liên hệ này là kết quả của hoạt động giáng hạ tiến hoá trong biểu hiện sự sống của Đức Chúa Tể Thế Giới. Chìa khóa của huyền nhiệm về sự biến phân được Chân sư tìm thấy khi Ngài đối diện với sự lựa chọn bảy Con Đường. Ở điểm cao ấy của sự biểu lộ ý chí, Ngài khám phá bí mật của tiến trình tiến hoá đi từ hợp nhất đến biến phân, và từ biến phân trở lại hợp nhất. Biệt ngã hóa, Điểm đạo và Đồng nhất hóa là ba giai đoạn chính trong hoạt động tiến hoá của sự sống của Thượng đế và tác động lên phẩm tính của mỗi một trong ba trung tâm thiêng liêng. Bốn bộ bảy liên hệ với nhau, được liệt kê ở trên, cuối cùng sẽ tạo ra một tổng hợp sẽ hoàn tất trên cõi trí vũ trụ. Dĩ nhiên điều này vượt ngoài khả năng giảng dạy hay giải thích của tôi, vì tôi chưa phải là một Chân sư giải thoát, dù tôi là một con người đã được giải thoát.

In the human centre, the man becomes identified with himself; in the Hierarchy, he becomes identified with the group; in Shamballa, He becomes identified with the planetary WHOLE. When that takes place, He is then aware for the first time that other identifications—lying beyond the planetary ring-pass-not—confront Him; His choice of one or other of the Paths is conditioned by the quality of His previous identifications, which are in their turn conditioned by His ray type.

Trong trung tâm nhân loại, con người trở nên đồng nhất với chính mình; trong Thánh đoàn, y trở nên đồng nhất với nhóm; trong Shamballa, Ngài trở nên đồng nhất với TOÀN THỂ hành tinh. Khi điều đó xảy ra, lần đầu tiên Ngài ý thức rằng những sự đồng nhất hóa khác—nằm ngoài vòng-giới-hạn hành tinh—đang đối diện với Ngài; sự lựa chọn một hay một Con Đường khác của Ngài được tác động bởi phẩm tính của những sự đồng nhất hóa trước đó của Ngài, mà đến lượt chúng lại được tác động bởi loại cung của Ngài.

Passing from these broad generalisations, which in reality lie far beyond our present grasp but which will have their future usefulness, let us now consider the Hierarchy as it exists (in the consciousness of Sanat Kumara, as His Ashram) and as it constitutes “the noble middle Path” to which the Buddha refers, and fills the intermediate and the [373] mediating place between Shamballa and Humanity. This position of the Hierarchy must never be forgotten.

Rời khỏi những khái quát rộng lớn này, vốn thực ra nằm vượt xa tầm nắm bắt hiện nay của chúng ta nhưng sẽ có ích trong tương lai, giờ đây chúng ta hãy xem xét Thánh đoàn như nó hiện hữu (trong tâm thức của Đức Sanat Kumara, như ashram của Ngài) và như nó cấu thành “Con Đường trung đạo cao quý” mà Đức Phật nhắc đến, đồng thời lấp đầy vị trí trung gian và [373] môi giới giữa Shamballa và Nhân loại. Vị trí này của Thánh đoàn không bao giờ được quên.

The seven Groups of Ashrams within the Hierarchy — Bảy Nhóm Ashram trong Thánh đoàn

It is because the first Ray of Will or Power, through its Ashram, is related to Shamballa, that the Master Morya is the Head of all truly esoteric schools. In the esoteric enterprise and in the work done by disciples in the Ashrams, the Will is developed so that the Purpose may eventually be understood. He relates the three points of the triangle composed of the Hierarchy, the world of souls on the mental plane, and those human souls who (on all Rays) are ready for contact with the Hierarchy. They have made contact with their souls, and this is registered in the Hierarchy. The triangle is, therefore, as follows:

Chính vì Cung một Ý Chí hay Quyền năng, qua ashram của nó, có liên hệ với Shamballa, nên Chân sư Morya là Đầu của mọi trường phái huyền bí học chân chính. Trong công cuộc huyền bí học và trong công việc do các đệ tử thực hiện trong các ashram, Ý Chí được phát triển để Thiên Ý cuối cùng có thể được thấu hiểu. Ngài liên kết ba điểm của tam giác gồm Thánh đoàn, thế giới các linh hồn trên cõi trí, và những linh hồn nhân loại đang sẵn sàng tiếp xúc với Thánh đoàn (trên mọi cung). Họ đã tiếp xúc với linh hồn mình, và điều này được ghi nhận trong Thánh đoàn. Vì vậy tam giác như sau:

5.-ph-n-hai-nh-ng-nh-n-x-t-m-u-01.png

As the externalisation of the Ashram proceeds, those souls upon the physical plane who are ready for enlightenment will find their way into the New Group of World Servers; this group will increasingly assume potent relation between the units of life within its periphery, the Ashram, and humanity. From one point of view, the New Group of World Servers can be regarded not only as a relating group, but also as a great transforming station, dowered later (though not noticeably so at the present time) with two functions in relation to the Ashram:

Khi sự ngoại hiện của ashram tiến triển, những linh hồn trên cõi hồng trần đã sẵn sàng cho giác ngộ sẽ tìm được đường vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; nhóm này sẽ ngày càng đảm nhận mối liên hệ mạnh mẽ giữa các đơn vị sự sống trong chu vi của nó, ashram, và nhân loại. Từ một quan điểm, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể được xem không chỉ như một nhóm liên kết, mà còn như một trạm chuyển đổi lớn, về sau được ban cho (dù hiện nay chưa rõ rệt) hai chức năng liên hệ với ashram:

1. One function is to enable “externalising units of perfection” (the higher initiates and the Masters) to step down Their individual potency to such a degree that They will be able to work in physical objectivity on the earth, with no undesirable effects upon humanity. I refer to average and undeveloped human beings. Students should bear in mind that contact with Those Who are initiates of high degree [374] and members of an Ashram has the following three effects upon humanity:

1. Một chức năng là giúp những “đơn vị hoàn thiện đang ngoại hiện” (các điểm đạo đồ cao cấp và các Chân sư) hạ thấp năng lực cá nhân của Các Ngài đến mức Các Ngài có thể làm việc trong tính khách quan hồng trần trên Trái Đất mà không gây ra những hậu quả không mong muốn cho nhân loại. Tôi muốn nói đến những con người trung bình và chưa phát triển. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng sự tiếp xúc với Những Đấng là các điểm đạo đồ cấp cao [374] và là thành viên của một ashram có ba tác động sau đây lên nhân loại:

a. On evolved men, aspirants, probationers and disciples, the effect is stimulating and magnetic.

a. Đối với những người đã tiến hóa, những người chí nguyện, những người dự bị và các đệ tử, tác động ấy có tính kích thích và từ tính.

b. On average human beings, capable of little response yet susceptible to impact and sensitive to impression, the effect is not helpful and is often destructive, because their etheric bodies are not competent to entertain and employ such high vibrations.

b. Đối với những con người trung bình, ít có khả năng đáp ứng nhưng vẫn dễ bị tác động và nhạy cảm với sự ghi khắc, tác động ấy không hữu ích và thường có tính hủy hoại, vì thể dĩ thái của họ không đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng những rung động cao như thế.

c. On undeveloped humanity, the effect has been called “condensation or concretisation”; all their natural qualities (the qualified substance of their three bodies) are solidified; thus they create an automatic barrier to the entry of the too high impulses and vibrations.

c. Đối với nhân loại chưa phát triển, tác động ấy đã được gọi là “sự cô đặc hay cụ thể hóa”; mọi phẩm tính tự nhiên của họ (chất liệu đã được định tính của ba thể của họ) đều bị làm cho rắn chắc lại; do đó họ tạo ra một hàng rào tự động ngăn cản sự xâm nhập của những xung lực và rung động quá cao.

2. The second function is to enable those who are making definite soul contact, reorienting themselves and nearing the periphery of the Ashram, to absorb with profit the radiation of the Hierarchy.

2. Chức năng thứ hai là giúp những ai đang tạo được tiếp xúc linh hồn rõ rệt, đang tự tái định hướng và đang tiến gần chu vi của ashram, hấp thụ một cách hữu ích bức xạ của Thánh đoàn.

I would like at this point to refer back to the time sense in relation to the Hierarchy and its work, to which I referred a few pages back. It involves the inability of the average disciple to think in terms of the Ashram—the Ashram of the Christ, representing Sanat Kumara. When he turns his thoughts to the Master and the radiatory and magnetic group which He has attracted to Himself, the disciple almost inevitably thinks in terms of “my Master and His Ashram.” Yet this is not in any sense a statement of truth. There is one great Ashram, the Hierarchy, radiating (after due absorption of light, understanding and power from Shamballa, and this inflow is adequate to hierarchical need) as it seeks to aid not only the human evolution but all the other evolutions, of which humanity, in several cases, knows nothing. The great Ashram is likewise magnetic in its effect, and through its magnetic potency (brought about by an inflow of first ray power) “units of life and devotion”—human beings—are brought into the Ashram as disciples in preparation for initiation. People are apt to regard magnetic [375] potency as evidence of love; it is, in reality, evidence of the radiation of love when enhanced and strengthened by first ray energy. It is the admixture (if I may use such a peculiar term) of love and will which produces radiation. It is the conscious use by the Hierarchy of the power coming from Shamballa which results in the magnetic impact and the spiritual “pull” which draws the soul, incarnated in the body, towards the Ashram. This pull is directed towards the world of souls which is, through its manifesting units, undergoing experience in the school of life, yet overshadowed by the soul on its own level. It is this overshadowing soul which absorbs and utilises the magnetic power and which, from soul levels, transfers it to the souls of men.

Tại điểm này tôi muốn quay lại vấn đề cảm thức thời gian liên hệ với Thánh đoàn và công việc của Thánh đoàn, điều mà tôi đã nhắc đến vài trang trước. Nó bao hàm sự bất lực của đệ tử trung bình trong việc suy nghĩ theo thuật ngữ của ashram—ashram của Đức Christ, đại diện cho Đức Sanat Kumara. Khi y hướng tư tưởng đến Chân sư và nhóm bức xạ và từ tính mà Ngài đã thu hút về phía mình, đệ tử hầu như không tránh khỏi việc suy nghĩ theo kiểu “Chân sư của tôi và ashram của Ngài.” Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không phải là một phát biểu chân thật. Chỉ có một đại ashram, tức Thánh đoàn, đang bức xạ (sau khi đã hấp thụ đầy đủ ánh sáng, sự thấu hiểu và quyền năng từ Shamballa, và dòng chảy này đáp ứng đủ cho nhu cầu của Thánh đoàn) khi nó tìm cách trợ giúp không chỉ tiến hóa nhân loại mà còn mọi tiến hóa khác, mà trong vài trường hợp nhân loại không hề biết đến. Đại ashram cũng có tác động từ tính, và qua năng lực từ tính của nó (được tạo ra bởi một dòng chảy quyền năng cung một), “những đơn vị của sự sống và sự sùng tín”—tức con người—được đưa vào ashram như những đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo. Người ta thường xem năng lực [375] từ tính là bằng chứng của tình thương; thực ra, đó là bằng chứng của bức xạ của tình thương khi được tăng cường và củng cố bởi năng lượng cung một. Chính sự pha trộn (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ kỳ lạ như vậy) của tình thương và ý chí tạo ra bức xạ. Chính việc Thánh đoàn sử dụng một cách hữu thức quyền năng đến từ Shamballa tạo nên tác động từ tính và “sức hút” tinh thần lôi kéo linh hồn, đang nhập thể trong thân xác, hướng về ashram. Sức hút này được hướng về thế giới các linh hồn, vốn qua các đơn vị biểu hiện của mình đang trải qua kinh nghiệm trong trường học của sự sống, nhưng vẫn được linh hồn trên chính cấp độ của nó phủ bóng. Chính linh hồn phủ bóng này hấp thụ và sử dụng quyền năng từ tính ấy, và từ các cấp độ linh hồn, chuyển nó đến các linh hồn của con người.

There is still another point upon which I would like to touch. Owing to the fact that the Law which governs the Hierarchy is the second systemic law, the Law of Attraction, students are apt to think that magnetism is a second ray quality. They are right in so far that all the systemic laws are expressions of the life of God through the medium, at this time, of the second ray, which makes our solar system a second ray system. All other laws and qualities (for a law from the divine angle is the motivating, qualified agent of the divine will, as understood in Shamballa) are related to the second ray as it manifests through our planetary Logos. Nevertheless, magnetic action is more closely allied to first ray functioning than it is to the second ray, and is an aspect or quality of the Law of Synthesis. It was this magnetic power of the first ray to which the Christ referred when He said “I, if I be lifted up (The Ascension Initiation. A.A.B.), will draw all men unto me.” He faced then those initiations which would qualify Him to become what is esoterically called “a Shamballa recipient.” There is, in magnetic action, more of the element of the will and of an expressing purpose. In explanation it might be said that the radiation of the Hierarchy, which is definitely second ray in nature, and which is projected as attractive radiation, is implemented by the magnetic aspect. This—as the Old Commentary puts it—is “a point of focussed fire, found in the centre of the jewel. [376] It stirs to life the quality of love which permeates the Ashram of the Lord. Radiation then can penetrate to other centres and to other lives, and thus the Lord is served.” It is this point of focussed dynamic will at the very heart of the Hierarchy which in reality implements the Plan.

Còn một điểm nữa mà tôi muốn đề cập. Do sự kiện rằng Định luật chi phối Thánh đoàn là định luật hệ thống thứ hai, Định luật Hấp Dẫn, các đạo sinh thường có khuynh hướng nghĩ rằng từ tính là một phẩm tính của cung hai. Họ đúng trong chừng mực mọi định luật hệ thống đều là những biểu hiện của sự sống của Thượng đế qua trung gian, vào lúc này, của cung hai, điều làm cho hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống cung hai. Mọi định luật và phẩm tính khác (vì một định luật, xét từ góc độ thiêng liêng, là tác nhân thúc đẩy và định tính của ý chí thiêng liêng, như được hiểu trong Shamballa) đều liên hệ với cung hai khi nó biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Tuy nhiên, hoạt động từ tính gắn bó với chức năng của cung một chặt chẽ hơn là với cung hai, và là một phương diện hay phẩm tính của Định luật Tổng Hợp. Chính quyền năng từ tính của cung một này mà Đức Christ đã nhắc đến khi Ngài nói: “Ta, nếu được nâng lên cao (Cuộc Điểm Đạo Thăng Thiên. A.A.B.), sẽ kéo mọi người đến với ta.” Khi ấy Ngài đang đối diện với những điểm đạo sẽ làm cho Ngài đủ tư cách để trở thành điều mà huyền bí học gọi là “một vị tiếp nhận Shamballa.” Trong hoạt động từ tính có nhiều yếu tố của ý chí và của một mục đích đang biểu lộ hơn. Để giải thích, có thể nói rằng bức xạ của Thánh đoàn, vốn rõ rệt thuộc bản chất cung hai, và được phóng chiếu như bức xạ hấp dẫn, được thực thi bởi phương diện từ tính. Điều này—như Cổ Luận nói—là “một điểm lửa tập trung, được tìm thấy trong trung tâm của viên ngọc. [376] Nó khuấy động sự sống của phẩm tính tình thương đang thấm nhuần ashram của Đức Chúa Tể. Khi ấy bức xạ có thể xuyên tới các trung tâm khác và các sự sống khác, và như thế Đức Chúa Tể được phụng sự.” Chính điểm ý chí năng động tập trung này ở ngay trung tâm của Thánh đoàn thực sự thực thi Thiên Cơ.

To put the matter as simply as possible—too simply to be entirely exact, yet near enough to the truth to be clarifying and helpful—it is this magnetic potency, this dynamic active and energising will, which enables the Hierarchy to move forward upon the eternal Path. Its functions might be listed as follows:

Để trình bày vấn đề một cách đơn giản nhất có thể—quá đơn giản để hoàn toàn chính xác, nhưng đủ gần với chân lý để làm sáng tỏ và hữu ích—chính năng lực từ tính này, ý chí năng động, hoạt động và tiếp năng lượng này, giúp Thánh đoàn tiến bước trên Con Đường vĩnh cửu. Các chức năng của nó có thể được liệt kê như sau:

1. It is the connecting energy which comes from Shamballa and “enlivens” (literally and occultly understood) the Ashram of Sanat Kumara. It is, in one sense, the higher correspondence to the prana which “enlivens” the dense physical body of man.

1. Đó là năng lượng nối kết đến từ Shamballa và “làm sống động” (theo nghĩa đen và theo huyền bí học) ashram của Đức Sanat Kumara. Theo một nghĩa nào đó, nó là sự tương ứng cao hơn của prana vốn “làm sống động” thể xác đậm đặc của con người.

2. It is the stimulating factor which produces cohesion among the various Ashrams, and is one of the sources of hierarchical unity. Putting it in other words, it is the service of the Plan which binds the seven Ashrams, with their subsidiary Ashrams, coherently into the one great Ashram. The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God.

2. Đó là yếu tố kích thích tạo ra sự cố kết giữa các ashram khác nhau, và là một trong những nguồn của sự hợp nhất trong Thánh đoàn. Nói cách khác, chính sự phụng sự Thiên Cơ gắn kết bảy ashram, cùng các ashram phụ thuộc của chúng, một cách cố kết thành một đại ashram duy nhất. Thiên Cơ là biểu hiện của Thiên Ý hay Ý Chí của Thượng đế.

3. This Shamballic magnetism not only relates the Ashrams to each other, but it is also the potency which evokes the will or the first ray nature inherent in every man but which is only consciously and definitely unfolded within the periphery of the great Ashram.

3. Từ tính Shamballa này không chỉ liên hệ các ashram với nhau, mà còn là năng lực gợi lên ý chí hay bản chất cung một vốn tiềm ẩn trong mỗi con người nhưng chỉ được khai mở một cách hữu thức và rõ rệt bên trong chu vi của đại ashram.

4. In a mysterious sense, it is the life of that seed or germ which will come to fruition in the third solar system:

4. Theo một nghĩa huyền nhiệm, đó là sự sống của hạt giống hay mầm sống sẽ đi đến kết quả trong hệ mặt trời thứ ba:

a. In the “centre which we call the race of men” the potency of intelligence (developed in a previous solar system) is brought to fruition and the stirrings of the potency of love are felt.

a. Trong “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại,” năng lực của trí tuệ (được phát triển trong một hệ mặt trời trước) được đưa đến kết quả và những rung động đầu tiên của năng lực tình thương được cảm nhận.

b. In the “centre which is nearest to the Lord” the potencies of intelligence and love are expressed, and at the third initiation the magnetic pull of the potency of will is felt. [377]

b. Trong “trung tâm gần Đức Chúa Tể nhất,” các năng lực của trí tuệ và tình thương được biểu lộ, và ở lần điểm đạo thứ ba, sức hút từ tính của năng lực ý chí được cảm nhận. [377]

c. In the “centre where the will of God is known” the intelligent loving Master, now responsive to the energy of the will, is faced with the seven Paths whereon that will can come to fruition and the “units of love can be transferred because they also will and know.” They can then form part of the third solar system which will be definitely under the influences coming from the cosmic mental plane, just as, in this solar system, the energies coming from the cosmic astral plane have been the major influence.

c. Trong “trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến,” Chân sư thông tuệ và bác ái, giờ đây đáp ứng với năng lượng của ý chí, đối diện với bảy Con Đường, trên đó ý chí ấy có thể đi đến kết quả và “các đơn vị của tình thương có thể được chuyển dịch vì họ cũng có ý chí và biết.” Khi ấy họ có thể tạo thành một phần của hệ mặt trời thứ ba, hệ sẽ rõ rệt nằm dưới những ảnh hưởng đến từ cõi trí vũ trụ, cũng như trong hệ mặt trời này, các năng lượng đến từ cõi cảm dục vũ trụ đã là ảnh hưởng chủ yếu.

All this is, of course, an inadequate expression of abstruse truth. The cosmic astral plane is not an illusion, as is the astral plane with which we are all so unhappily acquainted. The reason for this lies in the fact that all our planes constitute the cosmic physical plane and are therefore regarded—as far as three worlds of human evolution are concerned—as illusion, for the dense physical substance is not a principle. This you have oft been told. The cosmic astral plane is a reservoir of love energy, pouring into two of our planes which constitute part of the cosmic etheric body—the monadic plane and the buddhic plane.

Dĩ nhiên, tất cả điều này là một cách diễn đạt chưa đầy đủ về chân lý thâm áo. Cõi cảm dục vũ trụ không phải là ảo tưởng, như cõi cảm dục mà tất cả chúng ta đều quen biết một cách đáng buồn. Lý do của điều này nằm ở chỗ mọi cõi của chúng ta đều cấu thành cõi hồng trần vũ trụ và vì thế được xem—xét theo ba cõi giới của tiến hóa nhân loại—là ảo tưởng, vì chất liệu hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí. Điều này bạn đã nhiều lần được bảo cho biết. Cõi cảm dục vũ trụ là một kho chứa năng lượng tình thương, tuôn đổ vào hai cõi của chúng ta vốn cấu thành một phần của thể dĩ thái vũ trụ—cõi chân thần và cõi Bồ đề.

5. It is that which permeates the radiation from the Hierarchy to which humanity is responsive. No disciple or aspirant can be drawn into the periphery of the Hierarchy, and from thence into an Ashram, without finding that his will nature is being affected. It will only show itself at this stage as persistence and determination. Persistence is a quality of life and related to immortality, whilst determination is the lowest aspect of the will. Their development produces a reorientation which becomes a permanent attitude, and the disciple then becomes responsive not only to the “vitalised radiation” coming from the periphery of the Hierarchy but also, in an increasing measure, to the “magnetic pull” which emanates from the Hierarchy itself, and in particular from the Ashram to which he must eventually find his way.

5. Đó là điều thấm nhuần bức xạ từ Thánh đoàn mà nhân loại đáp ứng. Không đệ tử hay người chí nguyện nào có thể được lôi kéo vào chu vi của Thánh đoàn, và từ đó vào một ashram, mà không thấy rằng bản chất ý chí của mình đang bị tác động. Ở giai đoạn này nó chỉ biểu lộ như sự kiên trì và quyết tâm. Kiên trì là một phẩm tính của sự sống và liên hệ với tính bất tử, trong khi quyết tâm là phương diện thấp nhất của ý chí. Sự phát triển của chúng tạo ra một sự tái định hướng trở thành một thái độ thường trực, và khi ấy đệ tử không chỉ đáp ứng với “bức xạ được tiếp sinh lực” đến từ chu vi của Thánh đoàn mà còn, ở mức độ ngày càng tăng, với “sức hút từ tính” phát ra từ chính Thánh đoàn, và đặc biệt từ ashram mà cuối cùng y phải tìm được đường vào.

If you will make a close study of all the above information, you may find some measure of enlightenment. It is the great simplicities which must be ever kept in mind: the [378] three great divine aspects, the septenates of the evolutionary process, the divine qualities or principles, and the relation of energy to force. With these clearly held in mind, the detail is of small moment the intuition rapidly assimilates and relates the detail, if there be need to do so, to the manifesting whole.

Nếu bạn nghiên cứu kỹ toàn bộ thông tin trên, bạn có thể tìm thấy một mức độ soi sáng nào đó. Chính những điều đơn giản lớn lao phải luôn được ghi nhớ: ba phương diện thiêng liêng lớn, các bộ bảy của tiến trình tiến hoá, các phẩm tính hay nguyên khí thiêng liêng, và mối liên hệ của năng lượng với mãnh lực. Khi những điều này được giữ rõ ràng trong tâm trí, chi tiết chỉ còn ít quan trọng; trực giác nhanh chóng đồng hóa và liên hệ chi tiết, nếu cần làm như vậy, với toàn thể đang biểu lộ.

To return to our theme, which is the expression of the great Ashram through the medium of the seven Ashrams, it is this magnetic energy of the first aspect which is found at the heart of the seven Ashrams, energised and enlightened from the reservoir of will energy found at the heart of the great Ashram itself. This reservoir is fed from the “centre where the will of God is known,” and the directing agent of this energy, within the Hierarchy itself, is the Christ and His two Associates, the Manu and the Mahachohan. The forty-nine subsidiary Ashrams (not all of which are yet functioning) are energised by the potency of will from the reservoir of energy at the heart of each major Ashram, these in their turn being fed from the central reservoir. The correspondence of this in the human centres is called the “jewel in the lotus.”

Trở lại với chủ đề của chúng ta, tức sự biểu lộ của đại ashram qua trung gian bảy ashram, chính năng lượng từ tính của phương diện thứ nhất này được tìm thấy ở trung tâm của bảy ashram, được tiếp năng lượng và soi sáng từ kho chứa năng lượng ý chí ở trung tâm của chính đại ashram. Kho chứa này được nuôi dưỡng từ “trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến,” và tác nhân điều hướng của năng lượng này, bên trong chính Thánh đoàn, là Đức Christ cùng hai Đấng Phối Hợp của Ngài, Đức Manu và Đức Mahachohan. Bốn mươi chín ashram phụ thuộc (không phải tất cả đều đang hoạt động) được tiếp năng lượng bởi năng lực ý chí từ kho chứa năng lượng ở trung tâm của mỗi ashram chính, và đến lượt các kho này lại được nuôi dưỡng từ kho trung tâm. Sự tương ứng của điều này trong các trung tâm con người được gọi là “viên ngọc trong hoa sen.”

Let us now study the formation of the great Ashram and then (this will have more meaning for you) the gradual formation of the seven Ashrams under direct ray activity. This process lies in the past history of humanity and I shall only briefly touch upon it. Once formed, it became the task of these seven Ashrams to produce the forty-two Ashrams. These seven Ashrams express ray qualities, and the whole forty-nine are expressive of the forty-nine fires, referred to in The Secret Doctrine; through these fires, the God of Fire seeks to make Himself known.

Giờ đây chúng ta hãy nghiên cứu sự hình thành của đại ashram và rồi (điều này sẽ có ý nghĩa hơn đối với bạn) sự hình thành dần dần của bảy ashram dưới hoạt động trực tiếp của các cung. Tiến trình này thuộc về lịch sử quá khứ của nhân loại và tôi sẽ chỉ chạm đến nó một cách ngắn gọn. Một khi đã được hình thành, nhiệm vụ của bảy ashram này là tạo ra bốn mươi hai ashram. Bảy ashram này biểu lộ các phẩm tính cung, và toàn bộ bốn mươi chín ashram là biểu hiện của bốn mươi chín lửa, được nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm; qua những lửa này, Thượng đế của Lửa tìm cách làm cho chính Ngài được biết đến.

As we study some of the esoteric details connected with the life, the quality and, later, the appearance of the Ashrams of the Masters, I would remind you of certain points I have already made; your minds then will be predisposed to right thinking and interpretation. I am anxious for your approach to the subject to be correct. I have given you a number of definitions of an Ashram in the previous pages [379] and in my other books, and I would have you bear these in mind. The concept of a college group, of a band of workers or of a number of men and women working under the supervision of a Master is too apt to colour your thoughts. The complete freedom from all coercion or from any supervision of daily activity, the instinctive reaction of all within the Ashram to the ray influence and to the “breath of the prevailing Will” (as it is called) is something very different. I seek in what I intend to impart to you to give a very different impression. In our next section, on the dual life of the initiatory process, the newer concepts may emerge more clearly. The points I want you to bear in mind are as follows:

Khi chúng ta nghiên cứu một số chi tiết huyền bí học liên quan đến sự sống, phẩm tính và về sau là sắc tướng của các ashram của các Chân sư, tôi muốn nhắc bạn nhớ đến một số điểm mà tôi đã nêu ra; khi ấy trí tuệ của bạn sẽ được chuẩn bị sẵn cho tư duy và diễn giải đúng đắn. Tôi mong cách tiếp cận của bạn đối với chủ đề này phải đúng. Tôi đã đưa cho bạn một số định nghĩa về một ashram trong những trang trước [379] và trong các sách khác của tôi, và tôi muốn bạn ghi nhớ chúng. Khái niệm về một nhóm đại học, một ban người hoạt động hay một số những người nam và nữ làm việc dưới sự giám sát của một Chân sư quá dễ nhuộm màu tư tưởng của bạn. Sự hoàn toàn tự do khỏi mọi cưỡng ép hay khỏi bất kỳ sự giám sát nào đối với hoạt động hằng ngày, phản ứng bản năng của mọi người bên trong ashram đối với ảnh hưởng cung và đối với “hơi thở của Ý Chí đang ngự trị” (như nó được gọi) là điều rất khác. Trong điều tôi dự định truyền đạt cho bạn, tôi tìm cách tạo ra một ấn tượng rất khác. Trong phần kế tiếp của chúng ta, về đời sống nhị nguyên của tiến trình điểm đạo, những khái niệm mới hơn có thể sẽ hiện ra rõ ràng hơn. Những điểm tôi muốn bạn ghi nhớ như sau:

1. The great Ashram, the Hierarchy, is composed of many Ashrams, creating an “invoking area” of relationship for Sanat Kumara.

1. Đại ashram, tức Thánh đoàn, được cấu thành bởi nhiều ashram, tạo nên một “khu vực khẩn cầu” của mối liên hệ dành cho Đức Sanat Kumara.

2. The Christ, aided by the Manu and the Mahachohan, is the Coordinator of the entire life of the great Ashram.

2. Đức Christ, được Đức Manu và Đức Mahachohan trợ giúp, là Đấng Điều Hợp toàn bộ sự sống của đại ashram.

3. The personnel of the great Ashram is today entirely provided from the ranks of humanity. This was not so in the earlier cycles.

3. Nhân sự của đại ashram ngày nay hoàn toàn được cung cấp từ hàng ngũ nhân loại. Điều này không đúng trong các chu kỳ trước.

4. The great Ashram is formed of seven major Ashrams and forty-two secondary Ashrams which are gradually forming.

4. Đại ashram được hình thành bởi bảy ashram chính và bốn mươi hai ashram thứ yếu đang dần dần hình thành.

5. The entire Ashram is a unity, for the ashramic life in its differentiated groups is guarded by a ring-pass-not.

5. Toàn bộ ashram là một hợp nhất, vì đời sống ashram trong các nhóm đã biến phân của nó được canh giữ bởi một vòng-giới-hạn.

6. This ring-pass-not is provided by radiation.

6. Vòng-giới-hạn này được tạo ra bởi bức xạ.

7. The forty-two lesser Ashrams are held together by the magnetic interplay of the whole.

7. Bốn mươi hai ashram nhỏ hơn được giữ lại với nhau bởi sự tương tác từ tính của toàn thể.

8. Aspirants are drawn into relation with the Ashram through its radiation and enter finally into its magnetic field.

8. Những người chí nguyện được lôi kéo vào mối liên hệ với ashram qua bức xạ của nó và cuối cùng bước vào từ trường của nó.

9. There is a dual flow of energy or force into the great Ashram:

9. Có một dòng chảy kép của năng lượng hay mãnh lực đi vào đại ashram:

a. Energising life from Shamballa or what is called “unfettered enlightenment.” [380]

a. Sự sống tiếp năng lượng từ Shamballa hay điều được gọi là “giác ngộ không bị trói buộc.” [380]

b. The energy of active intelligence from Humanity, thus enabling the Masters to formulate the Plan.

b. Năng lượng của trí tuệ hoạt động từ Nhân loại, nhờ đó giúp các Chân sư hình thành Thiên Cơ.

10. The seven Ashrams are all concerned with the Plan.

10. Bảy ashram đều liên quan đến Thiên Cơ.

11. The Master Morya is the Head of all esoteric schools which truly prepare an aspirant for ashramic contact and work. The reason that a first ray Master is thus the Head is because it is the Will aspect which is developed within the Ashram.

11. Chân sư Morya là Đầu của mọi trường phái huyền bí học thực sự chuẩn bị một người chí nguyện cho sự tiếp xúc và công việc ashram. Lý do một Chân sư cung một lại là Đầu như vậy là vì chính phương diện Ý Chí được phát triển bên trong ashram.

12. It is the service of the Plan which binds the seven Ashrams, with their subsidiary Ashrams, into the one great Ashram.

12. Chính sự phụng sự Thiên Cơ gắn kết bảy ashram, cùng các ashram phụ thuộc của chúng, thành một đại ashram duy nhất.

13. It is only within his ray Ashram that the will of the disciple is developed.

13. Chỉ bên trong ashram cung của mình mà ý chí của đệ tử mới được phát triển.

14. The magnetic, dynamic energy of the first aspect of divinity is found at the heart of each of the seven Ashrams, fed from a reservoir of will energy which is found at the heart of the great Ashram itself.

14. Năng lượng từ tính, năng động của phương diện thứ nhất của thiên tính được tìm thấy ở trung tâm của mỗi một trong bảy ashram, được nuôi dưỡng từ một kho chứa năng lượng ý chí nằm ở trung tâm của chính đại ashram.

15. The forty-two subsidiary Ashrams are energised by the reservoir of will energy found at the heart of each of the major Ashrams.

15. Bốn mươi hai ashram phụ thuộc được tiếp năng lượng bởi kho chứa năng lượng ý chí nằm ở trung tâm của mỗi ashram chính.

16. The seven Ashrams express each the quality of their ray, one of the seven ray types.

16. Bảy ashram mỗi ashram biểu lộ phẩm tính của cung mình, một trong bảy loại cung.

If you will have these points in mind, the whole hierarchical theme will be recognised and correctly interpreted by you.

Nếu bạn ghi nhớ những điểm này, toàn bộ chủ đề về Thánh đoàn sẽ được bạn nhận biết và diễn giải một cách đúng đắn.

There was a time when (in the early history of the planet) there was no Hierarchy; there were only two major centres in the expression of the life of the Lord of the World: Shamballa and His embryonic throat centre, Humanity. Shamballa was the head centre. There was no humanity, such as we now know it, but only something so primitive that it is well-nigh impossible for you to grasp its significance or factual expression. But the life of God was there, plus an inherent “urge” and a dynamic “pull.” These two factors rendered the mass of men (if one may call them so) inchoately invocative, thus drawing from high spiritual centres certain developed and informed Lives Who—in increasing [381] numbers—”walked among men” and led them slowly, very slowly, forward into increasing light. The early history of the Hierarchy falls into two historical eras in the process of its becoming a “mediating Centre”:

Đã có một thời (trong lịch sử sơ khai của hành tinh) không có Thánh đoàn; chỉ có hai trung tâm chính trong biểu hiện sự sống của Đức Chúa Tể Thế Giới: Shamballa và trung tâm cổ họng phôi thai của Ngài, tức Nhân loại. Shamballa là trung tâm đầu. Không có nhân loại như chúng ta biết ngày nay, mà chỉ có một cái gì đó nguyên thủy đến mức bạn hầu như không thể nắm bắt được ý nghĩa hay biểu hiện thực tế của nó. Nhưng sự sống của Thượng đế đã ở đó, cộng với một “thúc đẩy” cố hữu và một “sức hút” năng động. Hai yếu tố này khiến khối người ấy (nếu có thể gọi họ như vậy) khẩn cầu một cách mơ hồ, nhờ đó lôi kéo từ các trung tâm tinh thần cao những Sự Sống đã phát triển và được thấm nhuần, những Đấng—với số lượng ngày càng tăng—“đi giữa loài người” và dẫn dắt họ chậm rãi, rất chậm rãi, tiến vào ánh sáng ngày càng tăng. Lịch sử ban đầu của Thánh đoàn rơi vào hai thời kỳ lịch sử trong tiến trình trở thành một “Trung tâm môi giới”:

First: The time when the relating, mediating, enlightening correspondences to Those we now call the Masters trod the earth with men and were not withdrawn and apparently invisible, as is now the case. Their task was to bring the primitive intelligence of humanity to the point where there could be the presentation of the Plan, with eventual cooperation. In occult parlance, Their work was the establishing of a rapport between the unrevealed second aspect (to which They were responsive) and Humanity. In this They succeeded, but the matter aspect and quality—that of active intelligence—was so strong that the second historical phase became essential.

Thứ nhất: Thời kỳ khi những sự tương ứng liên kết, môi giới, soi sáng với Những Đấng mà ngày nay chúng ta gọi là các Chân sư đi trên mặt đất cùng loài người và chưa rút lui và dường như vô hình, như hiện nay. Nhiệm vụ của Các Ngài là đưa trí tuệ nguyên thủy của nhân loại đến mức có thể trình bày Thiên Cơ, với sự hợp tác cuối cùng. Theo thuật ngữ huyền bí học, công việc của Các Ngài là thiết lập một sự giao cảm giữa phương diện thứ hai chưa được mặc khải (mà Các Ngài đáp ứng) và Nhân loại. Trong việc này Các Ngài đã thành công, nhưng phương diện vật chất và phẩm tính của nó—tức trí tuệ hoạt động—quá mạnh đến nỗi giai đoạn lịch sử thứ hai trở nên cần thiết.

Second: The time when the Hierarchy was created as we know it today; the heart centre of Sanat Kumara came into its own life, formed its own magnetic field, possessed its own ring-pass-not, and became a dynamic mediating centre between Shamballa and Humanity.

Thứ hai: Thời kỳ khi Thánh đoàn được tạo lập như chúng ta biết ngày nay; trung tâm tim của Đức Sanat Kumara đi vào sự sống riêng của nó, hình thành từ trường riêng, sở hữu vòng-giới-hạn riêng, và trở thành một trung tâm môi giới năng động giữa Shamballa và Nhân loại.

It has oft been told in occult and theosophical literature that the Hierarchy withdrew as a penalising measure because of the wickedness of mankind. This is only superficially true and is an instance of a man-made interpretation; giving us the first example of the fear-and-punishment psychology which—from that time on—has conditioned all religious teaching. The withdrawing Masters had Their Paul to distort the truth, just as had the Christ, Their august Head today. The truth was far otherwise.

Trong văn liệu huyền bí học và Thông Thiên Học, người ta thường nói rằng Thánh đoàn đã rút lui như một biện pháp trừng phạt vì sự độc ác của nhân loại. Điều này chỉ đúng một cách hời hợt và là một ví dụ của sự diễn giải do con người tạo ra; nó cho chúng ta ví dụ đầu tiên về tâm lý sợ hãi-và-trừng phạt, vốn từ thời điểm đó trở đi đã tác động lên mọi giáo huấn tôn giáo. Các Chân sư rút lui đã có vị Paul của Các Ngài để bóp méo chân lý, cũng như Đức Christ, Đấng đứng đầu uy nghi của Các Ngài ngày nay, đã có. Sự thật hoàn toàn khác.

The time came in those distant aeons when a certain percentage of human beings reached, through their own efforts, the stage (at that time demanded) of preparedness for initiation. This attainment brought surprising results:

Đã đến lúc trong những đại kiếp xa xưa ấy khi một tỷ lệ nhất định những con người đạt tới, nhờ nỗ lực riêng của họ, giai đoạn (vào thời đó được đòi hỏi) của sự chuẩn bị cho điểm đạo. Thành tựu này mang lại những kết quả đáng ngạc nhiên:

a. It became possible for certain of the Masters to “return from whence They came.”

a. Một số Chân sư có thể “trở về nơi Các Ngài đã đến.”

b. It became necessary to provide conditions where [382] these men “accepted for unfettered enlightenment” could receive the needed training.

b. Cần phải cung cấp những điều kiện trong đó [382] những người “được chấp nhận cho giác ngộ không bị trói buộc” này có thể nhận được sự huấn luyện cần thiết.

c. The process of creation had reached the evolutionary stage where the centres of the Lord of the World were differentiated; function and radiatory activity were established, and this produced a stronger “pull” and placed the Hierarchy “at the midway point.” A station of light and power was formed. All this was made possible because humanity could now produce its own “enlightened ones.”

c. Tiến trình sáng tạo đã đạt tới giai đoạn tiến hoá mà trong đó các trung tâm của Đức Chúa Tể Thế Giới đã được biến phân; chức năng và hoạt động bức xạ đã được thiết lập, và điều này tạo ra một “sức hút” mạnh hơn và đặt Thánh đoàn “ở điểm ở giữa.” Một trạm ánh sáng và quyền năng đã được hình thành. Tất cả điều này trở nên khả hữu vì nhân loại giờ đây có thể tạo ra những “đấng được soi sáng” của riêng mình.

These two historical periods (not events, except in so far that all TIME is a sequence or pattern of events) covered vast cycles; aeon by aeon, the work went on until we have today the three major centres in the planet, demonstrating great activity, much more closely related than ever before, and ready now to enter into a third historical period. In this coming cycle we shall see the first stages of the great spiritual fusion towards which all evolution tends; it will take the form of the externalisation of the Ashram, so that the Hierarchy (or the centre where the love of God is known and the purpose of Sanat Kumara is formulated into the Plan) and Humanity will meet on the physical plane and occultly know each other. Two centres then will be “visible in the light”—the Hierarchy and Humanity. When these two centres can work in full cooperation, then Shamballa will take form and will no longer be found existing only in cosmic etheric substance, as is now the case.

Hai thời kỳ lịch sử này (không phải là những biến cố, ngoại trừ ở chỗ mọi THỜI GIAN là một chuỗi hay mô hình của các biến cố) bao trùm những chu kỳ mênh mông; hết đại kiếp này đến đại kiếp khác, công việc vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay khi chúng ta có ba trung tâm chính trong hành tinh, biểu lộ hoạt động lớn lao, liên hệ với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết, và giờ đây sẵn sàng bước vào một thời kỳ lịch sử thứ ba. Trong chu kỳ sắp đến này, chúng ta sẽ thấy những giai đoạn đầu tiên của sự dung hợp tinh thần lớn lao mà mọi tiến hoá đều hướng tới; nó sẽ mang hình thức ngoại hiện của ashram, để Thánh đoàn (hay trung tâm nơi tình thương của Thượng đế được biết đến và Thiên Ý của Đức Sanat Kumara được hình thành thành Thiên Cơ) và Nhân loại sẽ gặp nhau trên cõi hồng trần và biết nhau theo huyền bí học. Khi ấy hai trung tâm sẽ “hữu hình trong ánh sáng”—Thánh đoàn và Nhân loại. Khi hai trung tâm này có thể làm việc trong sự hợp tác trọn vẹn, khi ấy Shamballa sẽ mang hình tướng và sẽ không còn chỉ hiện hữu trong chất liệu dĩ thái vũ trụ như hiện nay nữa.

What this means, how it will be accomplished, and what the implications are, will be revealed in such a distant future that we need waste no time considering it. We are working and living in the initial stages of the period wherein preparation is being made for the emergence of the Hierarchy into the world of men. This emergence is at present purely on to mental levels, but when the thoughtform of exoteric existence is created by Humanity itself and the invocative cry is intense enough, then the Great Ashram will slowly make its appearance upon the physical plane.

Điều này có nghĩa gì, sẽ được hoàn thành như thế nào, và các hàm ý là gì, sẽ được mặc khải trong một tương lai xa xôi đến mức chúng ta không cần phí thời gian suy xét về nó. Chúng ta đang làm việc và sống trong những giai đoạn đầu của thời kỳ mà trong đó sự chuẩn bị đang được thực hiện cho sự xuất hiện của Thánh đoàn vào thế giới loài người. Hiện nay, sự xuất hiện này thuần túy chỉ ở trên các cấp độ trí tuệ, nhưng khi Hình tư tưởng về sự tồn tại ngoại môn được chính Nhân loại tạo ra và tiếng kêu khẩn cầu đủ mãnh liệt, thì Đại Ashram sẽ từ từ xuất hiện trên cõi hồng trần.

On that plane, the distinction between the two centres [383] will be preserved, but the inner relationship and the spiritual fusion will steadily proceed until:

Trên cõi đó, sự phân biệt giữa hai trung tâm [383] sẽ được duy trì, nhưng mối liên hệ bên trong và sự dung hợp tinh thần sẽ đều đặn tiến triển cho đến khi:

Soul and personality are one,

Linh hồn và phàm ngã là một,

Love and intelligence are coordinated,

Bác ái và trí tuệ được phối hợp,

Plan and fulfillment are achieved.

Thiên Cơ và sự hoàn thành được đạt tới.

All this will be brought about through the invocative spirit in man, plus the initiatory process, carried on in the Ashrams of the great Ashram. What this coming process will entail of change in civilisation, in human nature and in the group expression of the human spirit—religions, society and politics—it is not possible here to say; so much lies hidden in the free will and right timing of mankind. But that future of spiritual cooperation and interplay within and without the great Ashram is assured, and for it all true disciples are working. The world situation today is therefore one of great interest. Humanity, the world disciple, is in process of recovering from a major test, prior to a great step forward towards a conscious approach to more spiritual living; this, factually, means a definite approach to the Hierarchy.

Tất cả điều này sẽ được mang lại nhờ tinh thần khẩn cầu trong con người, cộng với tiến trình điểm đạo, được tiến hành trong các ashram của đại Ashram. Tiến trình sắp đến này sẽ bao hàm những thay đổi gì trong nền văn minh, trong bản chất con người và trong sự biểu lộ tập thể của tinh thần nhân loại—tôn giáo, xã hội và chính trị—thì ở đây không thể nói được; quá nhiều điều còn ẩn giấu trong ý chí tự do và thời điểm đúng đắn của nhân loại. Nhưng tương lai của sự hợp tác và tương tác tinh thần ấy, cả bên trong lẫn bên ngoài đại Ashram, là điều chắc chắn, và vì nó mà mọi đệ tử chân chính đang làm việc. Vì vậy, tình hình thế giới ngày nay là một điều hết sức đáng quan tâm. Nhân loại, đệ tử thế giới, đang trong tiến trình hồi phục sau một thử thách lớn, trước khi tiến một bước lớn lao hướng tới sự tiếp cận có ý thức với một đời sống tinh thần hơn; trên thực tế, điều này có nghĩa là một sự tiếp cận rõ rệt với Thánh đoàn.

In the meantime the Hierarchy is orienting itself to a much closer rapport with humanity, and to an interior reorganisation which will make it possible to admit disciples in large numbers into the great Ashram. This will lead to the implementation of the lesser Ashrams and also to a preparation for the transmission of more of the Will energy, through the great Ashram, into the throat centre of Sanat Kumara, Humanity.

Trong khi đó, Thánh đoàn đang tự định hướng tới một sự tương giao gần gũi hơn nhiều với nhân loại, và tới một sự tái tổ chức nội tại sẽ làm cho việc tiếp nhận đông đảo đệ tử vào đại Ashram trở nên khả hữu. Điều này sẽ dẫn đến việc triển khai các ashram nhỏ hơn và cũng dẫn đến sự chuẩn bị cho việc truyền dẫn nhiều hơn năng lượng Ý Chí, qua đại Ashram, vào trung tâm cổ họng của Đức Sanat Kumara, tức Nhân loại.

The seven major Ashrams are each responsive to one of seven types of ray energy and are focal points in the Hierarchy of the seven rays. The central, senior and major Ashram is (at this time) the repository of second ray energy, as this ray governs this second solar system. It is the Ashram of Love-Wisdom—the Ashram in which the Buddha and the Christ received Their initiations and through which each of Them works. It will be obvious that if the process of invocation and evocation governs the interplay of the planetary centres, you have in this fact another reason why the senior Ashram is second ray in quality. Invocation is related [384] to radiation. Evocation is related to magnetism. These are two points worthy of your consideration.

Bảy Ashram chính, mỗi Ashram đều đáp ứng với một trong bảy loại năng lượng cung và là những tiêu điểm trong Thánh đoàn của bảy cung. Ashram trung tâm, cao niên và chính yếu là (vào lúc này) nơi lưu giữ năng lượng cung hai, vì cung này cai quản hệ mặt trời thứ hai này. Đó là Ashram của Bác Ái – Minh Triết—Ashram mà trong đó Đức Phật và Đức Christ đã nhận các cuộc điểm đạo của Các Ngài và qua đó mỗi Đấng đều hoạt động. Hiển nhiên là nếu tiến trình Khẩn Cầu và Gợi Lên chi phối sự tương tác của các trung tâm hành tinh, thì trong sự kiện này bạn có thêm một lý do nữa vì sao Ashram cao niên có phẩm tính cung hai. Khẩn Cầu có liên hệ [384] với sự bức xạ. Gợi Lên có liên hệ với từ điện. Đây là hai điểm đáng để bạn suy ngẫm.

The other six major Ashrams came sequentially into being as the invocation of primitive man reached such a point of intensity of expression that a response was evoked from Shamballa, via its ray Representatives, working with directed energy in the three worlds. A “point of radiatory force” was established, at first in relation to the second ray Ashram, and later to the other Ashrams. One by one, as the rays cycled into activity in the three worlds and eventually on the physical plane, the seven Ashrams were founded, developed and expanded until the time arrived—several aeons ago—when all seven Ashrams were fully organised, and through them passed a steady flow of human beings liberating themselves from the three worlds.

Sáu Ashram chính khác lần lượt đi vào hiện hữu khi sự khẩn cầu của con người nguyên thủy đạt tới một mức độ mãnh liệt trong biểu lộ đến nỗi một sự đáp ứng được gợi lên từ Shamballa, qua các Đại Diện cung của nó, hoạt động với năng lượng được định hướng trong ba cõi giới. Một “điểm mãnh lực bức xạ” được thiết lập, lúc đầu liên hệ với Ashram cung hai, và về sau với các Ashram khác. Từng Ashram một, khi các cung luân phiên đi vào hoạt động trong ba cõi giới và cuối cùng trên cõi hồng trần, bảy Ashram đã được thành lập, phát triển và mở rộng cho đến khi thời điểm đến—cách đây nhiều đại kiếp—mà cả bảy Ashram đều được tổ chức đầy đủ, và qua chúng có một dòng chảy ổn định của những con người đang tự giải thoát mình khỏi ba cõi giới.

In the earliest times this flow of disciples was exceedingly small. One by one, individual aspirants found their way out of the ranks of humanity and inside the ring-pass-not of the Hierarchy. In the beginning, only the first two initiations were given and only through the instrumentality of the second ray; and at these initiations the World Teacher of the period of officiated.

Trong những thời kỳ sớm nhất, dòng chảy đệ tử này cực kỳ nhỏ. Từng người một, các người chí nguyện cá nhân tìm được lối ra khỏi hàng ngũ nhân loại và đi vào bên trong vòng-giới-hạn của Thánh đoàn. Ban đầu, chỉ có hai lần điểm đạo đầu tiên được ban truyền và chỉ qua công cụ của cung hai; và trong các cuộc điểm đạo này, Đức Chưởng Giáo của thời kỳ đó chủ trì.

Then at a time when the seventh Ray of Ceremonial Order (the ray which plays so potent and mysterious a part in the phase of discipleship called initiation) was in cyclic activity, a much greater number of disciples appeared, prepared for initiation; the initiatory process was then administered in a seventh ray Ashram; this seventh ray Ashram was the second to be formed, owing to the fact that the seventh ray is the relating factor between life and matter upon the form side. Again, so the ancient Archives tell us, there came a great crisis in the evolution of humanity; this necessitated one of the rare cyclic changes which have distinguished the fluid policy of the Hierarchy. Men began to demonstrate responsiveness to the Law of Integration and personality appeared with all its potentiality for good and evil. Man became an integrated unit in the three worlds. A great possibility then emerged; man could, through training [385] and the use of the mind, make contact with the soul. This had not hitherto been done except to a slight degree. This crisis therefore led to the creation, or rather to the appearance, of the initiatory process to which we have given the name of the third initiation.

Rồi đến một thời điểm khi cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ (cung đóng một vai trò mạnh mẽ và huyền nhiệm như vậy trong giai đoạn địa vị đệ tử gọi là điểm đạo) hoạt động theo chu kỳ, một số lượng đệ tử lớn hơn nhiều xuất hiện, đã được chuẩn bị cho điểm đạo; khi ấy tiến trình điểm đạo được cử hành trong một ashram cung bảy; ashram cung bảy này là ashram thứ hai được hình thành, do sự kiện rằng cung bảy là yếu tố liên kết giữa sự sống và vật chất ở phía hình tướng. Lại nữa, như các Cổ Văn Khố cho chúng ta biết, đã xảy ra một cuộc khủng hoảng lớn trong sự tiến hoá của nhân loại; điều này đòi hỏi một trong những thay đổi chu kỳ hiếm hoi vốn đã phân biệt chính sách linh động của Thánh đoàn. Con người bắt đầu biểu lộ sự đáp ứng với Định luật sự tích hợp và phàm ngã xuất hiện với toàn bộ tiềm năng thiện và ác của nó. Con người trở thành một đơn vị tích hợp trong ba cõi giới. Khi ấy một khả năng lớn lao xuất hiện; con người có thể, qua sự huấn luyện [385] và việc sử dụng trí tuệ, tiếp xúc với linh hồn. Trước đó điều này chưa từng được thực hiện ngoại trừ ở một mức độ nhỏ. Vì vậy, cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến việc tạo ra, hay đúng hơn là sự xuất hiện, của tiến trình điểm đạo mà chúng ta đã đặt tên là lần điểm đạo thứ ba.

The Hierarchy for the first time realised the complete success of the vast work, carried on in the human centre for millions of years. Soul and personality could be and were intelligently fused. This is one of the reasons why the Hierarchy regards the third initiation as the first major initiation; it marked a point of complete soul-personality integration. In the earlier initiations, the soul was present but was still only occasionally in control; constant failure in the three worlds was still possible, and the relation between the man in the three worlds and his soul was nebulous and largely potential. You will realise what I mean when I point out that many thousands of people in the world today have taken the first initiation and are oriented towards the spiritual life and the service of their fellowmen; their lives, however, frequently leave much to be desired, and the soul is obviously not in constant control; a great struggle is still being waged to achieve purification on all three levels. The lives of these initiates are faulty and their inexperience great, and a major attempt is instituted in this particular cycle to achieve soul fusion. When that is attained, then the third initiation (the first, hierarchically speaking) is taken. Today this triple process of preparation, purification and fusion is the ordinary practice of the disciple and the process has prevailed for untold years; but when this fusion first occurred, it marked a great hierarchical event. It was a crisis of supreme spiritual import.

Lần đầu tiên, Thánh đoàn nhận ra sự thành công trọn vẹn của công việc bao la đã được tiến hành trong trung tâm nhân loại suốt hàng triệu năm. Linh hồn và phàm ngã có thể được và đã được dung hợp một cách thông minh. Đây là một trong những lý do vì sao Thánh đoàn xem lần điểm đạo thứ ba là lần điểm đạo lớn đầu tiên; nó đánh dấu một điểm tích hợp hoàn toàn giữa linh hồn và phàm ngã. Trong các lần điểm đạo trước đó, linh hồn hiện diện nhưng vẫn chỉ thỉnh thoảng kiểm soát; sự thất bại liên tục trong ba cõi giới vẫn còn có thể xảy ra, và mối liên hệ giữa con người trong ba cõi giới với linh hồn của y còn mơ hồ và phần lớn chỉ là tiềm năng. Bạn sẽ hiểu điều tôi muốn nói khi tôi chỉ ra rằng ngày nay có nhiều ngàn người trên thế giới đã nhận lần điểm đạo thứ nhất và đang định hướng về đời sống tinh thần và sự phụng sự đồng loại; tuy nhiên, đời sống của họ thường còn nhiều điều chưa đạt, và linh hồn hiển nhiên không kiểm soát thường xuyên; một cuộc đấu tranh lớn vẫn đang được tiến hành để đạt sự thanh luyện trên cả ba cấp độ. Đời sống của các điểm đạo đồ này còn nhiều khiếm khuyết và sự thiếu kinh nghiệm của họ rất lớn, và trong chu kỳ đặc biệt này một nỗ lực lớn đang được thiết lập để đạt sự dung hợp linh hồn. Khi điều đó đạt được, thì lần điểm đạo thứ ba (lần thứ nhất, xét theo phẩm trật) được tiếp nhận. Ngày nay tiến trình tam phân này gồm chuẩn bị, thanh luyện và dung hợp là thực hành thông thường của đệ tử và tiến trình ấy đã thịnh hành từ những thời kỳ không thể đếm được; nhưng khi sự dung hợp này lần đầu xảy ra, nó đánh dấu một biến cố lớn của Thánh đoàn. Đó là một cuộc khủng hoảng có tầm quan trọng tinh thần tối thượng.

As you know, the first human being out of that “centre which we call the race of men” to achieve this point was the Christ; in that first great demonstration of His point of attainment (through the medium of what was then a new type of initiation) the Christ was joined by the Buddha. The Buddha had attained this same point prior to the creation of our planetary life, but conditions for taking the third initiation [386] were not then available, and He and the Christ took the initiation together. At this initiation, and since then for all initiates of that degree of attainment, They stood in the Presence of the One Initiator, the Lord of the World, and not in the Presence of the Initiate Who was then Head of the Hierarchy. This third initiation was taken in a fourth ray Ashram, the Ray of Harmony through Conflict. This Ashram had taken form and attained functioning activity some time earlier. You can see, under the Law of Correspondences, why this was so. The first human being in the fourth kingdom in nature to take this initiation did so in a fourth ray Ashram and then, esoterically speaking, “the Way lay open toward the Cross”; the initiate faced the process of extension on the Cross, and from that vantage point could view the three worlds. The fourth initiation then became a possibility; the crucifixion faced the disciple of the third degree with its promise of complete liberation and final resurrection.

Như bạn đã biết, con người đầu tiên từ “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại” đạt tới điểm này là Đức Christ; trong cuộc biểu lộ lớn đầu tiên ấy về điểm thành tựu của Ngài (qua trung gian của một loại điểm đạo khi đó còn mới), Đức Christ được Đức Phật cùng tham dự. Đức Phật đã đạt tới cùng điểm này trước khi sự sống hành tinh của chúng ta được tạo ra, nhưng khi đó các điều kiện để nhận lần điểm đạo thứ ba [386] chưa có sẵn, và Ngài cùng Đức Christ đã nhận cuộc điểm đạo ấy với nhau. Trong cuộc điểm đạo này, và từ đó về sau đối với mọi điểm đạo đồ đạt tới cấp độ ấy, Các Ngài đứng trước Sự Hiện Diện của Đấng Điểm đạo Duy Nhất, Đức Chúa Tể Thế Giới, chứ không đứng trước Sự Hiện Diện của Điểm đạo đồ khi đó là Đầu của Thánh đoàn. Lần điểm đạo thứ ba này được tiếp nhận trong một ashram cung bốn, Cung của Hài Hòa qua Xung Đột. Ashram này đã thành hình và đạt hoạt động chức năng từ một thời gian trước đó. Theo định luật tương ứng, bạn có thể thấy vì sao điều này là như vậy. Con người đầu tiên trong giới thứ tư của thiên nhiên nhận cuộc điểm đạo này đã làm như thế trong một ashram cung bốn và rồi, nói theo huyền bí học, “Con Đường mở ra hướng về Thập Giá”; điểm đạo đồ đối diện với tiến trình mở rộng trên Thập Giá, và từ điểm thuận lợi đó có thể nhìn thấy ba cõi giới. Khi ấy lần điểm đạo thứ tư trở thành một khả năng; sự đóng đinh đặt trước đệ tử cấp ba lời hứa về sự giải thoát hoàn toàn và sự phục sinh cuối cùng.

You can see, therefore, what a tremendous crisis took place in the relation between Humanity and the Hierarchy—a crisis of such importance that Shamballa became involved and the Lord of time World Himself admitted the initiate to the higher contacts. Between that time and the crucifixion of the Master Jesus, the sixth ray Ashram, the fifth and the third, have all been formed around the nucleus of light, started by the ray Lords much earlier. The point of light and of will energy at the centre of each Ashram has existed for untold millennia of years, but the Ashrams themselves were only slowly formed around the nucleus as the various types of energy swept into manifestation and brought with them human types responsive to the ray energy.

Vì vậy, bạn có thể thấy cuộc khủng hoảng to lớn đã diễn ra trong mối liên hệ giữa Nhân loại và Thánh đoàn—một cuộc khủng hoảng quan trọng đến mức Shamballa đã can dự và chính Đức Chúa Tể Thế Giới đã tiếp nhận điểm đạo đồ vào các tiếp xúc cao hơn. Giữa thời điểm đó và cuộc đóng đinh của Chân sư Jesus, ashram cung sáu, cung năm và cung ba đều đã được hình thành quanh hạt nhân ánh sáng, vốn đã được các Đấng Chúa Tể Cung khởi xướng từ lâu trước đó. Điểm ánh sáng và năng lượng ý chí ở trung tâm mỗi Ashram đã tồn tại suốt những thiên niên kỷ không thể đếm được, nhưng bản thân các Ashram chỉ từ từ được hình thành quanh hạt nhân ấy khi các loại năng lượng khác nhau tràn vào biểu hiện và mang theo những loại người đáp ứng với năng lượng cung.

When the Master Jesus took the Crucifixion Initiation, another crisis arose of equally great import, if not greater. The crisis was brought about because simultaneously with the crucifixion of the Master, the Head of the Hierarchy, the Christ, took two initiations in one: the Resurrection Initiation and that of the Ascension. These are the fifth and sixth initiations, according to the Christian terminology. [387] This was possible because the first ray Ashram was now active, making entry into the Council Chamber at Shamballa possible. When the Christ achieved this, He was deemed worthy of embodying in Himself a new principle in evolution and of revealing to the world the nature of the second ray aspect—the divine principle of love (as humanity calls it) or of pure reason (as the Hierarchy calls it).

Khi Chân sư Jesus nhận Cuộc Điểm Đạo Đóng Đinh, một cuộc khủng hoảng khác lại phát sinh có tầm quan trọng ngang bằng, nếu không muốn nói là lớn hơn. Cuộc khủng hoảng này xảy ra vì đồng thời với sự đóng đinh của Chân sư, Đầu của Thánh đoàn là Đức Christ đã nhận hai cuộc điểm đạo trong một: Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh và Cuộc Điểm Đạo Thăng Thiên. Theo thuật ngữ Cơ Đốc giáo, đây là lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu. [387] Điều này có thể xảy ra vì ashram cung một lúc ấy đã hoạt động, khiến việc đi vào Phòng Hội Đồng tại Shamballa trở nên khả hữu. Khi Đức Christ đạt được điều này, Ngài được xem là xứng đáng để hiện thân trong chính mình một nguyên khí mới trong tiến hoá và mặc khải cho thế giới bản chất của phương diện cung hai—nguyên khí thiêng liêng của bác ái (như nhân loại gọi) hay của lý trí thuần túy (như Thánh đoàn gọi).

Since that time, all the seven major Ashrams have been fully organised and are steadily increasing in radiatory activity. As you will have noted, the order of their appearance—under ray activity—was 2, 7, 4, 6, 5, 3, 1. In giving this item of ashramic information I am giving you more hints than you will immediately realise.

Kể từ thời điểm đó, cả bảy Ashram chính đã được tổ chức đầy đủ và đang đều đặn gia tăng hoạt động bức xạ. Như bạn hẳn đã lưu ý, thứ tự xuất hiện của chúng—dưới hoạt động của các cung—là 2, 7, 4, 6, 5, 3, 1. Khi đưa cho bạn chi tiết thông tin ashram này, tôi đang cho bạn nhiều gợi ý hơn là bạn sẽ nhận ra ngay.

Each Ashram, as you know, expresses ray quality in its purest and most essential form. During the process of creating the seven Ashrams, they have shifted their focus (or location) from the lowest of the three levels of the abstract mental plane at each major crisis, until today the Ashrams are to be found on the buddhic plane and not on the mental plane at all. This marks the triumph of the hierarchical work, because pure reason—through the second ray—is now the dominant quality in all the Ashrams. Forget not in this connection that all the rays are subrays of the second Ray of Love-Wisdom, but that in the early days of hierarchical activity, it was the particular quality of the ray which dominated an Ashram that first demonstrated, and not the quality of the great major ray of which they were all a part.

Mỗi Ashram, như bạn biết, biểu lộ phẩm tính cung trong hình thức thuần khiết và cốt yếu nhất của nó. Trong tiến trình tạo ra bảy Ashram, chúng đã chuyển tiêu điểm (hay vị trí) của mình từ cấp thấp nhất trong ba cấp của cõi thượng trí trừu tượng tại mỗi cuộc khủng hoảng lớn, cho đến ngày nay các Ashram được tìm thấy trên cõi Bồ đề chứ hoàn toàn không còn trên cõi trí nữa. Điều này đánh dấu chiến thắng của công việc của Thánh đoàn, bởi vì lý trí thuần túy—qua cung hai—nay là phẩm tính chi phối trong mọi Ashram. Trong mối liên hệ này, đừng quên rằng mọi cung đều là các cung phụ của cung hai Bác Ái – Minh Triết, nhưng trong những ngày đầu hoạt động của Thánh đoàn, chính phẩm tính đặc thù của cung chi phối một Ashram là điều được biểu lộ trước tiên, chứ không phải phẩm tính của đại cung chính yếu mà tất cả chúng đều là một phần.

Today this is all changing, though the process is not yet perfected, and pure reason or true love is beginning to manifest itself through the quality of all the rays, functioning through their respective Ashrams. The secondary ray quality will not die out or in any way be lessened, but each ray quality will serve to implement the expression of pure love, which is the essential and—at this time—the primary quality of the Lord of the World, Sanat Kumara.

Ngày nay tất cả điều này đang thay đổi, dù tiến trình ấy vẫn chưa hoàn hảo, và lý trí thuần túy hay bác ái chân thật đang bắt đầu tự biểu lộ qua phẩm tính của mọi cung, hoạt động qua các Ashram tương ứng của chúng. Phẩm tính cung thứ yếu sẽ không mất đi hay bị giảm bớt theo bất kỳ cách nào, nhưng mỗi phẩm tính cung sẽ phụng sự cho việc triển khai sự biểu lộ của bác ái thuần túy, vốn là phẩm tính cốt yếu và—vào lúc này—là phẩm tính chính yếu của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara.

As the centuries have slipped away and the potency of the rays has increased on Earth, humanity has become more and more invocative; this has necessitated the expansion of [388] the Hierarchy itself, and each Ashram has become the creator of six other Ashrams (few of them as yet complete, and some entirely embryonic), so that, in fact, all the forty-nine Ashrams are in the making. The second ray, for instance, has five affiliated Ashrams and one of which only the nucleus exists, and all these are working under its inspiration and through the effect of the second ray central fire. All have at their centre a second ray disciple. The third ray has already two subsidiary Ashrams; the sixth has four, and so on. The first ray is the only one at this time with no subsidiary fully functioning Ashram, and this because the will aspect is as yet very little understood and few initiates can meet the requirements of the first ray initiation. This is no reflection upon humanity. It is a question of divine timing and expediency, and Shamballa is not yet prepared for an influx of first ray initiates. Ages must pass before this Will aspect will have reached the stage of unfoldment and expression on the physical plane and through the medium of mankind which will warrant the fusing of six first ray fires—the purest fires there are.

Khi các thế kỷ trôi qua và uy lực của các cung gia tăng trên Trái Đất, nhân loại ngày càng trở nên khẩn cầu hơn; điều này đã đòi hỏi sự mở rộng của [388] chính Thánh đoàn, và mỗi Ashram đã trở thành đấng sáng tạo của sáu Ashram khác (ít Ashram trong số đó hiện đã hoàn chỉnh, và một số còn hoàn toàn ở giai đoạn phôi thai), đến nỗi trên thực tế, tất cả bốn mươi chín Ashram đều đang trong tiến trình hình thành. Chẳng hạn, cung hai có năm Ashram liên kết và trong số đó có một Ashram mà chỉ mới có hạt nhân tồn tại, và tất cả đều đang hoạt động dưới cảm hứng của nó và qua hiệu quả của ngọn lửa trung tâm cung hai. Tất cả đều có ở trung tâm một đệ tử cung hai. Cung ba đã có hai Ashram phụ thuộc; cung sáu có bốn, v.v. Cung một hiện nay là cung duy nhất chưa có Ashram phụ thuộc nào hoạt động đầy đủ, và điều này là vì phương diện ý chí cho đến nay vẫn còn rất ít được thấu hiểu và ít điểm đạo đồ có thể đáp ứng các yêu cầu của cuộc điểm đạo cung một. Đây không phải là sự phản ánh bất lợi đối với nhân loại. Đó là vấn đề thời điểm thiêng liêng và sự thích nghi, và Shamballa vẫn chưa sẵn sàng cho một làn sóng tràn vào của các điểm đạo đồ cung một. Nhiều thời đại phải trôi qua trước khi phương diện Ý Chí này đạt tới giai đoạn khai mở và biểu lộ trên cõi hồng trần và qua trung gian nhân loại, đủ để bảo đảm cho sự dung hợp của sáu ngọn lửa cung một—những ngọn lửa thuần khiết nhất hiện có.

If you will add all the above information as a background to what you know about ashramic work today, you will have a more complete picture of evocative and spiritual reality. You know much (for I have told you much) anent the Ashrams open today and the requirements for acceptance. It is essential that the uniqueness of the initiatory process be discounted. Down the ages men have achieved, are achieving and will achieve. The only difference is that—as the intellect of man develops—the requirements for initiation become more drastic and exacting, and the initiate therefore becomes of a distinctly higher order. The Master today is infinitely wiser and more full of love and more “occultly reasonable” than was the Master in Atlantean times. This in itself constitutes a reasonable fact, does it not, my brothers?

Nếu bạn thêm tất cả thông tin trên làm nền cho điều bạn biết về công việc ashram ngày nay, bạn sẽ có một bức tranh đầy đủ hơn về thực tại gợi lên và tinh thần. Bạn biết nhiều (vì tôi đã nói với bạn nhiều) liên quan đến các Ashram hiện nay đang mở và các yêu cầu để được chấp nhận. Điều cốt yếu là phải giảm nhẹ tính độc nhất của tiến trình điểm đạo. Qua các thời đại, con người đã đạt được, đang đạt được và sẽ đạt được. Sự khác biệt duy nhất là—khi trí tuệ của con người phát triển—các yêu cầu cho điểm đạo trở nên nghiêm ngặt và khắt khe hơn, và vì thế điểm đạo đồ trở thành một hạng người cao hơn hẳn. Chân sư ngày nay minh triết hơn vô hạn, đầy bác ái hơn và “hợp lý theo huyền bí học” hơn Chân sư thời Atlantis. Điều này tự nó là một sự kiện hợp lý, phải không, Huynh đệ của Tôi?

In considering the work carried forward in the Ashram as it affects the Masters Themselves, two ideas automatically emerge: [389]

Khi xem xét công việc được tiến hành trong Ashram trong chừng mực nó ảnh hưởng đến chính các Chân sư, hai ý tưởng tự động xuất hiện: [389]

1. The Masters are also subject to limitation. The general idea of all aspirants is that They represent Those Who leave achieved freedom, have been liberated, and are therefore held by no limiting circumstances whatsoever. This is not true, though—speaking relatively, or so far as humanity is concerned—it is a fact that the limitations by which They were held as human beings are no longer present. But one achieved freedom only opens the door to another and wider freedom on ahead, and the ring-pass-not of our planetary Life in itself constitutes a powerful limitation. Speaking symbolically, somewhere in that great dividing wall of our planetary circumference, the Master must find an exit and discover a door which will permit Him to enter the Way of the Higher Evolution in its more cosmic stages. This Way leads Them in awareness and consciousness and experience into that “life more abundantly” of which Christ spoke; the origin and source of this more abundant life is to be found on cosmic levels, and not on the levels of the cosmic physical plane to which humanity and the Masters have hitherto been confined.

1. Các Chân sư cũng chịu sự giới hạn. Ý niệm chung của mọi người chí nguyện là Các Ngài tượng trưng cho Những Đấng đã đạt được tự do, đã được giải thoát, và vì vậy không còn bị bất kỳ hoàn cảnh giới hạn nào giữ lại nữa. Điều này không đúng, mặc dù—nói tương đối, hay trong chừng mực liên quan đến nhân loại—đúng là những giới hạn từng trói buộc Các Ngài khi còn là con người nay không còn nữa. Nhưng một tự do đạt được chỉ mở cánh cửa đến một tự do khác rộng lớn hơn ở phía trước, và vòng-giới-hạn của Sự sống Hành tinh của chúng ta tự nó đã cấu thành một giới hạn mạnh mẽ. Nói theo biểu tượng, ở đâu đó trong bức tường phân chia lớn lao của chu vi hành tinh chúng ta, Chân sư phải tìm ra một lối thoát và khám phá một cánh cửa cho phép Ngài bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu trong các giai đoạn vũ trụ hơn của nó. Con đường này dẫn Các Ngài trong nhận biết, tâm thức và kinh nghiệm vào “sự sống phong phú hơn” mà Đức Christ đã nói đến; nguồn gốc và cội nguồn của sự sống phong phú hơn này được tìm thấy trên các cấp độ vũ trụ, chứ không phải trên các cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ mà nhân loại và các Chân sư cho đến nay vẫn bị giới hạn trong đó.

2. I am dealing with states of awareness and with experiences and spiritual undertakings which lie outside my own personal realisation. But in spite of this truth, just as you in the position of aspirants and disciples know much about the Hierarchy, its life, aims and conditioning rules, so do I, a Master of the fifth degree, know much concerning what lies ahead of me; I can therefore endeavour to make some small part of these essential truths clearer to those who can profit by them. Such people will necessarily be initiated disciples.

2. Tôi đang đề cập đến các trạng thái nhận biết và các kinh nghiệm cùng các công việc tinh thần nằm ngoài sự chứng nghiệm cá nhân của chính tôi. Nhưng bất chấp sự thật này, cũng như các bạn ở vị trí người chí nguyện và đệ tử biết nhiều về Thánh đoàn, đời sống, mục tiêu và các quy luật tác động của nó, thì tôi, một Chân sư cấp năm, cũng biết nhiều về điều đang ở phía trước tôi; vì vậy tôi có thể cố gắng làm sáng tỏ phần nào những chân lý cốt yếu này cho những ai có thể hưởng lợi từ chúng. Những người ấy tất yếu sẽ là các đệ tử đã được điểm đạo.

Years ago (in 1922) when I gave the names of the seven Paths along one of which a Master must go (Initiation, Human and Solar), it was felt by Those for Whom I was working that humanity was not ready for the information which I now propose to give. I would here remind you that I have ever stated that even the Hierarchy does not know exactly how humanity will react or what progress they will make within a given time. Since I gave the earlier exoteric information, the world war took place, the forces of hidden evil [390] emerged for a short period and were then routed, and humanity has awakened to truer values and spiritual perception to a totally unexpected extent. Men have been so aroused by the past agony that never again will they fall asleep; they may move slowly but they are, for the first time on a large scale, really thinking and visioning. For this reason, it is now possible to give out teaching hitherto regarded as too advanced. There are those alive today who will understand; there are those coming into incarnation during the next fifty years whose feet are already set upon this Higher Way, and it is for them I write.

Nhiều năm trước (năm 1922), khi tôi nêu tên bảy Con Đường mà theo một trong số đó Chân sư phải đi (Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương), Những Đấng mà tôi đang làm việc cho các Ngài cảm thấy rằng nhân loại chưa sẵn sàng cho thông tin mà nay tôi dự định đưa ra. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng tôi luôn luôn nói rằng ngay cả Thánh đoàn cũng không biết chính xác nhân loại sẽ phản ứng ra sao hay họ sẽ tiến bộ đến mức nào trong một thời gian nhất định. Kể từ khi tôi đưa ra thông tin ngoại môn trước đó, chiến tranh thế giới đã xảy ra, các lực lượng của điều ác ẩn giấu [390] đã xuất hiện trong một thời gian ngắn rồi bị đánh bại, và nhân loại đã thức tỉnh trước những giá trị chân thật hơn và tri giác tinh thần ở một mức độ hoàn toàn không ngờ tới. Con người đã bị đánh thức mạnh mẽ bởi nỗi đau khổ trong quá khứ đến mức họ sẽ không bao giờ ngủ quên nữa; họ có thể tiến chậm nhưng lần đầu tiên trên quy mô lớn, họ thực sự đang suy nghĩ và có tầm nhìn. Vì lý do này, nay có thể truyền ra giáo huấn trước đây được xem là quá cao siêu. Có những người hiện đang sống sẽ hiểu; có những người sẽ nhập thể trong năm mươi năm tới mà chân họ đã đặt trên Con Đường Cao Siêu này rồi, và chính cho họ mà tôi viết.

There are certain preliminary statements which would be useful here, if there is to be any real and true measure of clear thinking and understanding. Their significance will emerge as we study the Seven Paths and the Nine Initiations. I shall do no more than state them, but you must regard them as basic:

Có một số phát biểu sơ bộ sẽ hữu ích ở đây, nếu muốn có bất kỳ mức độ suy nghĩ sáng rõ và thấu hiểu chân thật nào. Ý nghĩa của chúng sẽ xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu Bảy Con Đường và Chín Cuộc Điểm Đạo. Tôi sẽ không làm gì hơn ngoài việc nêu chúng ra, nhưng bạn phải xem chúng là nền tảng:

1. Our seven planes—the mastery of which is our idealised spiritual goal—are after all only the lowest cosmic plane, the cosmic physical plane. From the cosmic angle, the Masters are only beginners, and even our deeply desired initiations (from the first to the sixth) are simply preparatory initiations for those to be taken later on upon the Way of the Higher Evolution.

1. Bảy cõi của chúng ta—mà sự làm chủ chúng là mục tiêu tinh thần lý tưởng hóa của chúng ta—rốt cuộc chỉ là cõi vũ trụ thấp nhất, tức cõi hồng trần vũ trụ. Từ góc độ vũ trụ, các Chân sư chỉ là những người mới bắt đầu, và ngay cả các cuộc điểm đạo mà chúng ta tha thiết mong muốn (từ lần thứ nhất đến lần thứ sáu) cũng chỉ đơn giản là những cuộc điểm đạo chuẩn bị cho những cuộc sẽ được tiếp nhận về sau trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

2. This Higher Way is a sevenfold Way. The seven Paths form its seven modes of approach to the One Way and together create it. These seven Paths are not ray-conditioned. By that I mean that entering one or another of them is not in any way dependent upon the ray which conditioned the Master earlier. The Masters and the still higher initiates, such as the Christ, can choose any Path which makes its appeal in such a manner that complete rightness is registered in the initiate’s consciousness and He knows that He can go no other way.

2. Con Đường Cao Siêu này là một Con Đường thất phân. Bảy Con Đường tạo thành bảy phương thức tiếp cận của nó đến Con Đường Duy Nhất và cùng nhau tạo nên nó. Bảy Con Đường này không bị cung tác động. Ý tôi là việc bước vào con đường này hay con đường kia không hề tùy thuộc vào cung đã tác động lên Chân sư trước đó. Các Chân sư và các điểm đạo đồ còn cao hơn nữa, như Đức Christ, có thể chọn bất kỳ Con Đường nào hấp dẫn Các Ngài theo cách mà sự đúng đắn hoàn toàn được ghi nhận trong tâm thức của điểm đạo đồ và Ngài biết rằng Ngài không thể đi theo con đường nào khác.

3. At the sixth initiation, called the Initiation of Decision, the Initiate makes His final choice as to the Way that He will go, and from that decision there is no turning back. [391]

3. Ở lần điểm đạo thứ sáu, được gọi là Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, Điểm đạo đồ đưa ra lựa chọn cuối cùng của Ngài về Con Đường mà Ngài sẽ đi, và từ quyết định đó không có sự quay lui. [391]

4. Three things will necessarily colour any decision the Initiate may make; His ray, which still determines Him, His past activities as they may fit Him for specialised work, plus a sense of freedom hitherto unrealised. The decision might be regarded as the first gesture of the advancing Master toward liberation from all ray limitations. As He moves forward on the Higher Way, He will find Himself, as a result of the new training and field of experience, able to work on any ray.

4. Ba điều tất yếu sẽ nhuốm màu bất kỳ quyết định nào mà Điểm đạo đồ có thể đưa ra; cung của Ngài, vốn vẫn còn quyết định Ngài, các hoạt động trong quá khứ của Ngài trong chừng mực chúng có thể làm cho Ngài thích hợp với công việc chuyên biệt, cộng với một cảm thức tự do trước đây chưa từng được nhận ra. Quyết định này có thể được xem như cử chỉ đầu tiên của Chân sư đang tiến bước hướng tới sự giải thoát khỏi mọi giới hạn của cung. Khi Ngài tiến lên trên Con Đường Cao Siêu, do kết quả của sự huấn luyện mới và lĩnh vực kinh nghiệm mới, Ngài sẽ thấy mình có thể hoạt động trên bất kỳ cung nào.

5. The fifth initiation is usually called that of the Resurrection by the orthodox Christian, but this is not its real name; it is in reality the Initiation of Revelation, because the Initiate gains His first vision of the Door through which He must pass on to the seven Paths. He glimpses it and that is all, but between that initiation and the next in which He must perforce make His decision, He comes to understand the nature of the energy which each Path expresses and which will eventually evoke from Him a decisive activity.

5. Lần điểm đạo thứ năm thường được người Cơ Đốc giáo chính thống gọi là cuộc Phục Sinh, nhưng đó không phải tên thật của nó; trên thực tế, đó là Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải, bởi vì Điểm đạo đồ đạt được linh ảnh đầu tiên của Ngài về Cánh Cửa mà qua đó Ngài phải đi tới bảy Con Đường. Ngài thoáng thấy nó và chỉ có thế, nhưng giữa cuộc điểm đạo đó và cuộc kế tiếp, trong đó Ngài bắt buộc phải đưa ra quyết định của mình, Ngài đi đến chỗ thấu hiểu bản chất của năng lượng mà mỗi Con Đường biểu lộ và năng lượng ấy cuối cùng sẽ gợi lên từ Ngài một hoạt động quyết định.

6. By passing through the second great Door of Initiation, the Initiate begins to learn the significance and the attractive potency of the Central Spiritual Sun, to which all the Paths eventually lead.

6. Bằng cách đi qua Cánh Cửa lớn thứ hai của Điểm đạo, Điểm đạo đồ bắt đầu học được ý nghĩa và uy lực hấp dẫn của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mà mọi Con Đường cuối cùng đều dẫn tới.

7. The fifth and sixth initiations are to the Master what the first and second are to the disciple—simply initiations of the threshold and not true initiations from the cosmic angle. The first true initiation upon the Higher Way is called the Initiation of Resurrection; this has no reference to the fifth initiation.

7. Lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu đối với Chân sư cũng như lần thứ nhất và thứ hai đối với đệ tử—chỉ đơn giản là những cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa chứ không phải những cuộc điểm đạo chân chính từ góc độ vũ trụ. Cuộc điểm đạo chân chính đầu tiên trên Con Đường Cao Siêu được gọi là Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh; điều này không liên quan gì đến lần điểm đạo thứ năm.

8. The decision made by the Master enables Him to take the required training to enter His chosen Path, and this training is taken entirely upon cosmic etheric levels—the four highest subplanes of the cosmic physical plane—the buddhic, atmic, monadic and logoic planes.

8. Quyết định do Chân sư đưa ra cho phép Ngài nhận sự huấn luyện cần thiết để bước vào Con Đường đã chọn, và sự huấn luyện này hoàn toàn diễn ra trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ—bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ—các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoi.

9. On these planes the spiritual and the divine will is developed and brought into use; these are aspects of that undefinable purpose to which we give the simple name: the Will of God. Intelligence and love have been fully unfolded in the Master, but the will is embryonic still, from the [392] standpoint of Those responsible for training the Master and the higher Initiate. It is only by means of the divine will that the Master begins to free Himself from ray limitations.

9. Trên các cõi này, ý chí tinh thần và ý chí thiêng liêng được phát triển và đưa vào sử dụng; đây là các phương diện của mục đích bất khả định nghĩa mà chúng ta đặt cho cái tên đơn giản là: Ý Chí của Thượng Đế. Trí tuệ và bác ái đã được khai mở đầy đủ nơi Chân sư, nhưng ý chí vẫn còn ở giai đoạn phôi thai, từ [392] quan điểm của Những Đấng chịu trách nhiệm huấn luyện Chân sư và điểm đạo đồ cao hơn. Chỉ bằng phương tiện của ý chí thiêng liêng mà Chân sư mới bắt đầu tự giải thoát khỏi các giới hạn của cung.

10. I would remind you of an earlier statement that the Hierarchy reacts or responds to the energies and influences coming from the cosmic astral plane; from that level of spiritual life true divine love pours into it. Shamballa reacts to the cosmic mental plane, and therefore to the nature and purposes of the Mind of God; the expression of THAT which overshadows Sanat Kumara is similar to the soul overshadowing the incarnated spiritual man.

10. Tôi muốn nhắc bạn về một phát biểu trước đây rằng Thánh đoàn phản ứng hay đáp ứng với các năng lượng và ảnh hưởng đến từ cõi cảm dục vũ trụ; từ cấp độ đời sống tinh thần đó, bác ái thiêng liêng chân thật tuôn đổ vào nó. Shamballa phản ứng với cõi trí vũ trụ, và do đó với bản chất và các mục đích của Trí của Thượng đế; sự biểu lộ của ĐẤNG phủ bóng lên Đức Sanat Kumara tương tự như linh hồn phủ bóng lên con người tinh thần đang nhập thể.

If you will bear these facts in mind, some light may break through and, in any case, when the student or disciple returns to incarnation, this imparted knowledge (stored in the soul’s content) will then be usefully available.

Nếu bạn ghi nhớ những sự kiện này, một ít ánh sáng có thể xuyên qua và, trong bất kỳ trường hợp nào, khi đạo sinh hay đệ tử trở lại nhập thể, tri thức được truyền đạt này (được lưu giữ trong nội dung của linh hồn) khi ấy sẽ sẵn sàng hữu ích.

I would like to enlarge somewhat upon an earlier remark. I stated that the “seven Ashrams are ‘proving grounds’ for all the Masters confronted with the sixth Initiation of Decision.”

Tôi muốn khai triển thêm đôi chút về một nhận xét trước đây. Tôi đã nói rằng “bảy Ashram là những ‘bãi thử’ cho mọi Chân sư đang đối diện với lần điểm đạo thứ sáu của Quyết Định.”

This constitutes part of the problem facing the Masters Who are thus to move forward; it is particularly crucial for Those Who have chosen the first Path, the Path of Earth Service, and for all in preparation for the sixth initiation. This process of changing for a final, conditioning decision—in line, consciously realised, with divine Purpose and entailing responsiveness to Shamballa—is a major undertaking; it is related to the development of understanding the Will, and concerns the spirit or life aspect; it involves an increasing revelation of the purpose and the “fixed intention” of the planetary Logos but (even more than that) it has relation to extra-planetary sources and energies and to those cosmic conditions which are responsible for the Presence of Sanat Kumara upon the Earth. It is will which has brought Him here, and the unfoldment of the will nature of the Masters and still higher Initiates admits Them into His inner deliberations by means of the highest form of telepathic rapport or impression to be found upon our planet. [393] This impression is, however, made possible by the development of the intuition, and has no relation to the mind nature.

Điều này cấu thành một phần của vấn đề mà các Chân sư đang chuẩn bị tiến lên phải đối diện; nó đặc biệt then chốt đối với Những Đấng đã chọn Con Đường thứ nhất, Con Đường Phụng Sự Địa Cầu, và đối với tất cả những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ sáu. Tiến trình thay đổi này để đi đến một quyết định cuối cùng có tính tác động—phù hợp, một cách có ý thức, với Thiên Ý và bao hàm sự đáp ứng với Shamballa—là một công việc lớn; nó liên hệ với sự phát triển của việc thấu hiểu Ý Chí, và liên quan đến phương diện tinh thần hay sự sống; nó bao hàm một sự mặc khải ngày càng tăng về mục đích và “ý định cố định” của Hành Tinh Thượng đế nhưng (thậm chí còn hơn thế nữa) nó có liên hệ với các nguồn và năng lượng ngoài hành tinh và với những điều kiện vũ trụ chịu trách nhiệm cho Sự Hiện Diện của Đức Sanat Kumara trên Trái Đất. Chính ý chí đã đưa Ngài đến đây, và sự khai mở bản chất ý chí của các Chân sư và các Điểm đạo đồ còn cao hơn nữa cho phép Các Ngài đi vào những nghị bàn nội tâm của Ngài bằng phương tiện hình thức tương giao hay ấn tượng viễn cảm cao nhất có thể tìm thấy trên hành tinh chúng ta. [393] Tuy nhiên, ấn tượng này được làm cho khả hữu nhờ sự phát triển của trực giác, và không có liên hệ gì với bản chất trí tuệ.

This training in decision is given by forcing the Master to make basic decisions within His Ashram affecting world work and involving all within the Ashram. It is given by His admission to the conclave of the Masters, meeting every seven years. At that conclave They make decisions which concern all forms of life in all the kingdoms in the three worlds and their evolutionary progress; it is put to the test in group form when the entire Hierarchy meets at Its centennial conference and—at that time—decides what form of crisis, on what level of consciousness, and involving what group of lives, must be implemented and presented to humanity, though the other kingdoms of nature will be necessarily implicated. The reason for this is that the meeting of such a planned crisis will hasten certain realisations. Forget not that humanity grows through the presentation of moments of crisis. These moments of crisis, based on past karma, conditioned by the point in evolution already achieved, and on the presence in the three worlds of certain appropriate ray forces, are brought to the point of precipitation by united decision in the conclave of the Masters.

Sự huấn luyện trong quyết định này được ban ra bằng cách buộc Chân sư phải đưa ra những quyết định nền tảng trong Ashram của Ngài, ảnh hưởng đến công việc thế giới và liên quan đến tất cả những ai ở trong Ashram. Nó được ban ra bằng việc Ngài được tiếp nhận vào mật nghị của các Chân sư, họp mỗi bảy năm một lần. Tại mật nghị đó, Các Ngài đưa ra những quyết định liên quan đến mọi hình thức sự sống trong mọi giới ở ba cõi giới và sự tiến hoá của chúng; nó được đem ra thử thách trong hình thức nhóm khi toàn thể Thánh đoàn họp tại hội nghị bách niên của mình và—vào lúc đó—quyết định hình thức khủng hoảng nào, trên cấp độ tâm thức nào, và liên quan đến nhóm sự sống nào, phải được triển khai và trình bày cho nhân loại, dù các giới khác của thiên nhiên tất yếu cũng sẽ bị cuốn vào. Lý do của điều này là việc đối diện với một cuộc khủng hoảng được hoạch định như thế sẽ thúc đẩy một số chứng nghiệm nhất định. Đừng quên rằng nhân loại phát triển qua việc được trình bày những thời điểm khủng hoảng. Những thời điểm khủng hoảng này, dựa trên nghiệp quả quá khứ, được tác động bởi điểm tiến hoá đã đạt được, và bởi sự hiện diện trong ba cõi giới của một số mãnh lực cung thích hợp, được đưa tới điểm ngưng tụ bởi quyết định hợp nhất trong mật nghị của các Chân sư.

These decisions do not affect man’s free will, for the Hierarchy does nothing to condition man’s approach to the crisis and, occultly speaking, Their “attitude is deliberately turned to other things” during the period of man’s decision; thus the potency of Their thinking does not affect the human mind. Once the precipitation of the crisis is complete, and humanity has begun to take action of some kind, then the full attention of the Masters, working through Their Ashrams, is committed to the giving of full assistance to all those who are seeking to guide humanity along correct lines—a relative few among the countless millions of the ignorant.

Những quyết định này không ảnh hưởng đến ý chí tự do của con người, vì Thánh đoàn không làm gì để tác động lên cách con người tiếp cận cuộc khủng hoảng và, nói theo huyền bí học, “thái độ của Các Ngài cố ý quay sang những điều khác” trong thời kỳ con người quyết định; do đó uy lực của tư tưởng Các Ngài không ảnh hưởng đến trí tuệ con người. Một khi sự ngưng tụ của cuộc khủng hoảng đã hoàn tất, và nhân loại đã bắt đầu thực hiện một loại hành động nào đó, thì toàn bộ sự chú ý của các Chân sư, hoạt động qua các Ashram của Các Ngài, được dồn vào việc ban sự trợ giúp trọn vẹn cho tất cả những ai đang tìm cách hướng dẫn nhân loại theo những đường lối đúng đắn—một số tương đối ít giữa vô số triệu người vô minh.

While these centennial conclaves are being held at the close of the first twenty-five years of every century, the Lord of the World with the Members of His Council watch the process of decision in order to see how far the will of the [394] Hierarchy conforms to that aspect of the divine will which should be expressed in the three worlds as the result of Their decision. They watch also Those particular Masters Who should in a short time be ready for the sixth initiation, in order to see how much of that divine will They register and what is the nature and quality of Their use of it. By recording that quality, the Council at Shamballa is able to determine with great accuracy which of the seven Paths a certain Initiate will choose. In this manner They become aware of how many senior disciples will be needed to take over the headship of an Ashram, with a consequent admittance of many disciples to the initiation next in order for them. At the same time, aspirants on the periphery of an Ashram are enabled to move forward into full ashramic participation.

Trong khi các mật nghị bách niên này được tổ chức vào cuối hai mươi lăm năm đầu của mỗi thế kỷ, Đức Chúa Tể Thế Giới cùng với các Thành Viên trong Hội Đồng của Ngài theo dõi tiến trình quyết định để xem ý chí của [394] Thánh đoàn phù hợp đến đâu với phương diện của ý chí thiêng liêng vốn phải được biểu lộ trong ba cõi giới như kết quả của quyết định của Các Ngài. Các Ngài cũng theo dõi những Chân sư đặc biệt mà trong một thời gian ngắn nữa sẽ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ sáu, để xem Các Ngài ghi nhận được bao nhiêu về ý chí thiêng liêng đó và bản chất cùng phẩm tính của việc sử dụng nó nơi Các Ngài là gì. Bằng cách ghi nhận phẩm tính ấy, Hội Đồng tại Shamballa có thể xác định với độ chính xác lớn Chân sư nào sẽ chọn một trong bảy Con Đường nào. Theo cách này, Các Ngài nhận biết cần bao nhiêu đệ tử cao niên để tiếp quản quyền lãnh đạo một Ashram, kéo theo việc tiếp nhận nhiều đệ tử vào cuộc điểm đạo kế tiếp theo thứ tự dành cho họ. Đồng thời, những người chí nguyện ở chu vi của một Ashram được tạo điều kiện để tiến vào sự tham dự ashram trọn vẹn.

All this should give you some idea of the synthesis which expresses itself through the three planetary centres: Shamballa, the Hierarchy and Humanity. These are responsible for the conditioning of the other planetary centres and the consequent demonstration of divine intention. The basic purpose of Sanat Kumara is to bring about right relations in every field of His manifested life. The encouraging factor is today that the activity of humanity itself is, for the first time, concerned with the entire subject of right human relations and how to bring it about. I would have you reflect on this, for it means that, again for the first time, humanity is consciously responding to the will and intention of Shamballa, even though without realising the esoteric implications. This is of far greater importance than you can imagine, for it signifies a new relationship of a spiritual nature and deeply spiritual results.

Tất cả điều này hẳn cho bạn một ý niệm nào đó về sự tổng hợp biểu lộ qua ba trung tâm hành tinh: Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Ba trung tâm này chịu trách nhiệm tác động lên các trung tâm hành tinh khác và do đó biểu lộ ý định thiêng liêng. Mục đích căn bản của Đức Sanat Kumara là mang lại những mối liên hệ đúng đắn trong mọi lĩnh vực của đời sống biểu hiện của Ngài. Yếu tố đáng khích lệ ngày nay là hoạt động của chính nhân loại, lần đầu tiên, đang quan tâm đến toàn bộ chủ đề về những mối liên hệ đúng đắn giữa con người với nhau và làm sao để mang lại điều đó. Tôi muốn bạn suy ngẫm về điều này, vì nó có nghĩa rằng, một lần nữa lần đầu tiên, nhân loại đang đáp ứng một cách có ý thức với ý chí và ý định của Shamballa, dù không nhận ra các hàm ý huyền bí. Điều này quan trọng hơn nhiều so với bạn có thể tưởng tượng, vì nó biểu thị một mối liên hệ mới có bản chất tinh thần và những kết quả tinh thần sâu xa.

The preparation of the Masters for this sixth initiation is exceedingly strenuous. They find it as difficult to achieve Their goal as does the average disciple as he looks ahead at the initiation which immediately confronts him. They have to master the technique of handling the most potent energy and influence in the world, that of the intelligence. They have to penetrate into the mystery of electricity and implement [395] its expression in the creative process under the directive of Shamballa; They have to learn to work with electric fire in the same way as—much earlier—They worked with fire by friction as personalities, and with solar fire as disciples and lesser initiates. In this way, They become familiarised with what is meant by the words the “Central Spiritual Sun,” just as They were familiar with the appearance of the physical Sun when members of the human family, and with the “Heart of the Sun” as Members of the Hierarchy. Again you can see the same unfolding synthesis—a synthesis which originates in that focal point of attractive dynamic energy, known to us as the Sun and its planets.

Sự chuẩn bị của các Chân sư cho lần điểm đạo thứ sáu này cực kỳ gian khổ. Các Ngài thấy việc đạt mục tiêu của mình cũng khó như đệ tử trung bình khi y nhìn về phía trước tới cuộc điểm đạo đang trực tiếp đối diện với y. Các Ngài phải làm chủ kỹ thuật xử lý năng lượng và ảnh hưởng mạnh nhất trên thế giới, đó là trí tuệ. Các Ngài phải thâm nhập vào huyền nhiệm của điện lực và triển khai [395] sự biểu lộ của nó trong tiến trình sáng tạo dưới sự chỉ đạo của Shamballa; Các Ngài phải học cách làm việc với Lửa Điện theo cùng cách như—rất lâu trước đây—Các Ngài đã làm việc với Lửa ma sát với tư cách phàm ngã, và với Lửa Thái dương với tư cách đệ tử và các điểm đạo đồ thấp hơn. Bằng cách này, Các Ngài trở nên quen thuộc với điều được hàm ý bởi những từ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương,” cũng như Các Ngài đã quen thuộc với sắc tướng của Mặt Trời vật lý khi còn là thành viên của gia đình nhân loại, và với “Trái Tim của Mặt Trời” khi là Thành Viên của Thánh đoàn. Một lần nữa bạn có thể thấy cùng một sự tổng hợp đang khai mở—một sự tổng hợp bắt nguồn từ tiêu điểm của năng lượng động lực hấp dẫn ấy, được chúng ta biết đến như Mặt Trời và các hành tinh của nó.

Thus within His Ashram the Master learns “occultly to decide” and to condition the creative centre for which He is responsible. He has to do this with the Ashram, surrounded by all those who are in training and who are the agents of His will. Through them He must act, and they thereby limit necessarily the vision to which He reacts, and step down the rate and quality of the energy of which He is the focal point. This energy constitutes the animating life of the Ashram as well as the force which the disciples and initiates must use in their work in the world, this of course in cooperation with the energy which each disciple within himself “occultly generates” and for which he—in his lesser degree—is responsible.

Như vậy, trong Ashram của mình, Chân sư học cách “quyết định theo huyền bí học” và tác động lên trung tâm sáng tạo mà Ngài chịu trách nhiệm. Ngài phải làm điều này cùng với Ashram, được bao quanh bởi tất cả những ai đang được huấn luyện và là các tác nhân của ý chí Ngài. Qua họ, Ngài phải hành động, và do đó họ tất yếu giới hạn tầm nhìn mà Ngài đáp ứng, và hạ thấp nhịp độ cùng phẩm tính của năng lượng mà Ngài là tiêu điểm. Năng lượng này cấu thành sự sống linh hoạt của Ashram cũng như mãnh lực mà các đệ tử và điểm đạo đồ phải sử dụng trong công việc của họ trên thế giới, dĩ nhiên là trong sự hợp tác với năng lượng mà mỗi đệ tử tự mình “phát sinh theo huyền bí học” và mà y—ở cấp độ thấp hơn của mình—chịu trách nhiệm.

More anent this subject will be given when we study specifically the nine initiations wherein another synthesis, interlocking with the synthesis of the Will, will appear.

Sẽ còn cho thêm về chủ đề này khi chúng ta nghiên cứu một cách chuyên biệt chín cuộc điểm đạo, trong đó một sự tổng hợp khác, đan xen với sự tổng hợp của Ý Chí, sẽ xuất hiện.

The seven Paths confronting the Master — Bảy Con Đường đối diện với Chân sư

It will be apparent to you now that the Master confronts two crises:

Giờ đây hẳn bạn thấy rõ rằng Chân sư đối diện với hai cuộc khủng hoảng:

1. The crisis of the will, as it demonstrates in unalterable decision.

1. Cuộc khủng hoảng của ý chí, như nó biểu lộ trong quyết định bất biến.

2. The crisis of the new step which will probably “cast Him adrift upon the shore of some distant sphere wherein His will must be expressed in love.” These ambiguous words of the Old Commentary mean that [396] His decision will (with one exception) take Him away from all that He has hitherto known.

2. Cuộc khủng hoảng của bước đi mới mà có lẽ sẽ “thả Ngài trôi dạt trên bờ của một khối cầu xa xôi nào đó nơi ý chí của Ngài phải được biểu lộ trong bác ái.” Những lời mơ hồ này của Cổ Luận có nghĩa là [396] quyết định của Ngài sẽ (chỉ trừ một ngoại lệ) đưa Ngài rời xa tất cả những gì Ngài cho đến nay đã biết.

The majority of the Masters then enter into realms wherein They are needed “to impart, strengthen and enlighten that which is already fused, already strong and already full of light, but which needs that which He brings in order to express the all-encompassing whole.”

Khi ấy, đa số các Chân sư đi vào những cõi giới nơi Các Ngài cần thiết “để truyền đạt, tăng cường và soi sáng điều vốn đã được dung hợp, đã mạnh mẽ và đã đầy ánh sáng, nhưng vẫn cần điều mà Ngài mang đến để biểu lộ toàn thể bao trùm tất cả.”

I have to leave you with these words as food for reflection as there is little further that I may say upon this point. In any case and for all deciding groups of Masters, the work with the Hierarchy is over, except for the few Who choose Path I. Part of the mistake which the Buddha made was connected with this subject of decision. He loved humanity so much that He felt He could not and did not choose the Path which He was in reality ordained to follow; He chose instead the Path of Earth Service—which was not His Path at all. This He knows and will in due time pass on to His rightful Path. This little incident will demonstrate the complete freedom of choice which distinguishes the sixth initiation.

Tôi phải để lại cho bạn những lời này như nhiều điều đáng suy ngẫm vì tôi có rất ít điều hơn nữa có thể nói về điểm này. Trong bất kỳ trường hợp nào, và đối với mọi nhóm Chân sư đang quyết định, công việc với Thánh đoàn đã chấm dứt, ngoại trừ số ít Những Đấng chọn Con Đường I. Một phần sai lầm mà Đức Phật đã phạm có liên hệ với chủ đề quyết định này. Ngài yêu nhân loại quá nhiều đến nỗi Ngài cảm thấy mình không thể và đã không chọn Con Đường mà trên thực tế Ngài đã được định sẵn để theo; thay vào đó Ngài chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu—mà hoàn toàn không phải là Con Đường của Ngài. Điều này Ngài biết và đến đúng lúc sẽ chuyển sang Con Đường chính đáng của mình. Sự việc nhỏ này sẽ minh họa sự tự do lựa chọn hoàn toàn vốn phân biệt lần điểm đạo thứ sáu.

The seven Paths are, as you know from your study of Initiation, Human and Solar the following:

Bảy Con Đường là, như bạn đã biết qua việc nghiên cứu Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, như sau:

1. The Path of Earth Service.

1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu.

2. The Path of Magnetic Work.

2. Con Đường Công Tác Từ Tính.

3. The Path of Training for Planetary Logoi.

3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng đế.

4. The Path to Sirius.

4. Con Đường đến Sirius.

5. The Ray Path.

5. Con Đường Cung.

6. The Path on which our Logos is found.

6. Con Đường mà Thượng đế của chúng ta đang ở trên đó.

7. The Path of Absolute Sonship.

7. Con Đường của Cương Vị Con Tuyệt Đối.

In that first book which I wrote for the world, I gave a simple definition of the exoteric significance of these Paths—so simple as to convey but little. I wrote then for the general public. I will now endeavour to convey some of the deeper meanings, writing as I do for advanced disciples and for initiates who—reading between the lines and understanding the symbolism involved—will comprehend according to their point in evolution. [397]

Trong cuốn sách đầu tiên mà tôi viết cho thế giới, tôi đã đưa ra một định nghĩa đơn giản về ý nghĩa ngoại môn của các Con Đường này—đơn giản đến mức chỉ chuyển tải được rất ít. Khi ấy tôi viết cho công chúng nói chung. Nay tôi sẽ cố gắng truyền đạt một số ý nghĩa sâu xa hơn, vì tôi đang viết cho các đệ tử tiến bộ và cho các điểm đạo đồ, những người—đọc giữa các dòng và thấu hiểu biểu tượng liên quan—sẽ lĩnh hội tùy theo điểm tiến hoá của mình. [397]

As we approach the subject of the seven Paths, I would point out that the only basic point which can be presented to you is that of relationship. All these seven Paths lead to some objective which is thereby put in touch with our planetary life; these objectives—with the life and conditions they represent—present to the Master a vision of possibility. This vision is adequate to the task of drawing Him forth from the hierarchical Ashram, except in one case where vacancies in Shamballa need to be filled. The progressive experience of the greater Lives Who work in the Council Chamber of Sanat Kumara form no part of our studies. Many of these supreme Workers, as you have read in A Treatise on Cosmic Fire, found Their way to our planet from our sister planet, Venus, thereby in Their turn establishing relationship. Remember also that all the seven rays are the subrays of the great cosmic Ray of Love-Wisdom, which is ever expressive of relationship, implemented under the Law of Attraction; it is this form of esoteric attraction which draws the Master forth from His Ashram, conditions His decision and eventually leads to His passing through the door which opens on to other spheres and planes of activity.

Khi tiếp cận chủ đề bảy Con Đường, tôi muốn chỉ ra rằng điểm căn bản duy nhất có thể được trình bày cho bạn là điểm về mối liên hệ. Tất cả bảy Con Đường này đều dẫn đến một mục tiêu nào đó, nhờ đó được đặt vào tiếp xúc với đời sống hành tinh của chúng ta; những mục tiêu này—cùng với đời sống và các điều kiện mà chúng biểu thị—trình ra trước Chân sư một linh ảnh về khả năng. Linh ảnh này đủ sức lôi cuốn Ngài ra khỏi ashram của Thánh đoàn, ngoại trừ trong một trường hợp khi các chỗ trống ở Shamballa cần được lấp đầy. Kinh nghiệm tiến bộ của các Sự Sống lớn hơn đang làm việc trong Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng ta. Nhiều Đấng Hoạt Động tối cao này, như bạn đã đọc trong Luận về Lửa Vũ Trụ, đã tìm đường đến hành tinh chúng ta từ hành tinh chị em của chúng ta là Sao Kim, qua đó đến lượt Các Ngài thiết lập mối liên hệ. Cũng hãy nhớ rằng cả bảy cung đều là các cung phụ của đại Cung vũ trụ Bác Ái – Minh Triết, vốn luôn biểu lộ mối liên hệ, được triển khai dưới Định luật Hấp Dẫn; chính hình thức hấp dẫn huyền bí này lôi cuốn Chân sư ra khỏi Ashram của Ngài, tác động lên quyết định của Ngài và cuối cùng dẫn Ngài đi qua cánh cửa mở ra những khối cầu và cõi hoạt động khác.

Let us now consider—very briefly and necessarily inadequately—these seven Paths, taking them one by one:

Giờ đây chúng ta hãy xem xét—rất ngắn gọn và tất yếu là không đầy đủ—bảy Con Đường này, lần lượt từng con đường một:

1. The Path of Earth Service — 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu

This is the only Path which the Lord of the World regards as within the field of His spiritual interference. He reserves the right to retain in the service of the Hierarchy, and consequently of Humanity and the subsidiary evolutions, Those Masters Whom He regards at any one time as essential to the work to be done. This He does by asking Them to record Their decision when taking the sixth initiation, but to postpone moving on to one or other of the Paths until He gives the word. This word He has lately given in the case of the Buddha, Who has expiated His most understandable mistake and will now move forward—in His own good time—on to the Path which will lead Him to His rightful field of expression. In due time also, though [398] not for some time, the Christ will move forward “to the place which calls Him,” and the Master K.H. will assume the role of World Teacher. All these moves present their unique problems; they produce vacancies in the ranks of the Hierarchy which must be filled; they lead constantly to the inflow of new and powerful energies, for it must be recognised that these energies reach us along Paths leading to our planet as well as away from it. The invocative note of our united evolution at stated times and cycles sounds out and reaches Those Who are waiting for spiritual opportunity and service. They then follow the Path to our planet. From other spheres and planes They emerge along the lines of Their destiny and intention; we then call Them Avatars or Great Enlighteners or Planetary Saviours or Spiritual Regents; They act at the request of Sanat Kumara, given on higher cosmic levels.

Đây là Con Đường duy nhất mà Đức Chúa Tể Thế Giới xem là nằm trong phạm vi can thiệp tinh thần của Ngài. Ngài giữ quyền lưu lại trong sự phụng sự của Thánh đoàn, và do đó của Nhân loại cùng các tiến hoá phụ thuộc, những Chân sư mà vào bất kỳ thời điểm nào Ngài xem là thiết yếu cho công việc cần được thực hiện. Ngài làm điều này bằng cách yêu cầu Các Ngài ghi nhận quyết định của mình khi nhận lần điểm đạo thứ sáu, nhưng hoãn việc tiến sang một trong các Con Đường cho đến khi Ngài ra lệnh. Gần đây Ngài đã ra lệnh ấy trong trường hợp của Đức Phật, Đấng đã chuộc lỗi lầm rất dễ hiểu của mình và nay sẽ tiến lên—vào đúng thời điểm tốt đẹp của riêng Ngài—trên Con Đường sẽ dẫn Ngài đến lĩnh vực biểu lộ chính đáng của mình. Đến đúng lúc, dù [398] chưa phải trong một thời gian nữa, Đức Christ cũng sẽ tiến lên “đến nơi đang gọi Ngài,” và Chân sư KH sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo. Tất cả những sự chuyển dịch này đều đặt ra những vấn đề độc đáo của chúng; chúng tạo ra những chỗ trống trong hàng ngũ Thánh đoàn cần phải được lấp đầy; chúng liên tục dẫn đến sự tuôn vào của những năng lượng mới và mạnh mẽ, vì phải nhận ra rằng những năng lượng này đến với chúng ta dọc theo các Con Đường dẫn tới hành tinh chúng ta cũng như rời khỏi nó. Chủ âm khẩn cầu của sự tiến hoá hợp nhất của chúng ta vào những thời điểm và chu kỳ nhất định vang lên và chạm tới Những Đấng đang chờ đợi cơ hội và sự phụng sự tinh thần. Khi ấy Các Ngài đi theo Con Đường đến hành tinh chúng ta. Từ những khối cầu và cõi khác, Các Ngài xuất hiện dọc theo các đường lối của định mệnh và ý định của Các Ngài; khi ấy chúng ta gọi Các Ngài là các Đấng Hoá Thân hay Các Đấng Đại Giác Ngộ hay các Đấng Cứu Thế Hành Tinh hay các Đấng Nhiếp Chính Tinh thần; Các Ngài hành động theo thỉnh cầu của Đức Sanat Kumara, được đưa ra trên các cấp độ vũ trụ cao hơn.

It is nevertheless a statement of fact that in due time even Those Who choose the Path of Earth Service and remain in hierarchical work are eventually given the right to follow Their decision and pass to extra-planetary service. The Hierarchy, as we have seen, gives the needed training for that wider service, and the theme of what I might call the educational process to which the Masters submit is the unfoldment of the consciousness of the relationships which lie beyond the aura of our planet; this is, in reality, a higher and most abstruse branch of the Science of Impression, which disciples upon their lower level have to master. This aspect of impression is, however, concerned with the formless worlds, whereas all the impressions to which the disciple has to learn to react emanate from and within the cosmic physical plane, of which all our seven planes are an integral part; our highest spiritual world is a part of the substantial world. The Masters, therefore, are working at a conscious receptivity or sensitivity to the cosmic astral plane, the source of the spirit or energy of love. There is a fundamental connection between the Hierarchy (the source of expression of love on Earth) and the cosmic astral plane, and it is towards this objective that the Masters work Who choose the Path [399] of Earth Service. The major ray of our solar system is that of love-wisdom, and there is no better field on which to master the preliminary stages of that divine unfoldment and receive the needed development and education than on the Earth.

Tuy nhiên, đó vẫn là một sự kiện rằng đến đúng lúc ngay cả Những Đấng chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu và ở lại trong công việc của Thánh đoàn cuối cùng cũng được trao quyền đi theo quyết định của Các Ngài và chuyển sang phụng sự ngoài hành tinh. Thánh đoàn, như chúng ta đã thấy, ban sự huấn luyện cần thiết cho sự phụng sự rộng lớn hơn ấy, và chủ đề của điều mà tôi có thể gọi là tiến trình giáo dục mà các Chân sư chấp nhận là sự khai mở tâm thức về những mối liên hệ nằm ngoài hào quang của hành tinh chúng ta; trên thực tế, đây là một ngành cao hơn và cực kỳ thâm áo của Khoa Học về Ấn Tượng, mà các đệ tử ở cấp độ thấp hơn của mình phải làm chủ. Tuy nhiên, phương diện ấn tượng này liên quan đến các thế giới vô tướng, trong khi mọi ấn tượng mà đệ tử phải học cách đáp ứng đều phát xuất từ và ở bên trong cõi hồng trần vũ trụ, mà cả bảy cõi của chúng ta đều là một phần toàn vẹn; thế giới tinh thần cao nhất của chúng ta là một phần của thế giới có chất liệu. Vì vậy, các Chân sư đang hoạt động để đạt một sự tiếp nhận hay nhạy cảm có ý thức đối với cõi cảm dục vũ trụ, nguồn của tinh thần hay năng lượng bác ái. Có một mối liên hệ căn bản giữa Thánh đoàn (nguồn biểu lộ bác ái trên Trái Đất) và cõi cảm dục vũ trụ, và chính hướng tới mục tiêu này mà các Chân sư hoạt động, những Đấng chọn Con Đường [399] Phụng Sự Địa Cầu. Đại cung của hệ mặt trời chúng ta là cung bác ái-minh triết, và không có lĩnh vực nào tốt hơn trên đó để làm chủ các giai đoạn sơ khởi của sự khai mở thiêng liêng ấy và nhận sự phát triển cùng giáo dục cần thiết hơn là trên Trái Đất.

On the Earth, the Masters have overcome glamour and illusion, and for Them no astral plane exists. Now ahead of Them, and owing to Their freedom from these “bewilderments,” will come the opportunity to enter into the Heart of God, the centre of pure love, and from that centre to tread the way of love. All these seven Paths lead either to the cosmic astral plane or to the cosmic mental plane, according to the decision made at the sixth initiation. Upon the cosmic astral plane there is no glamour, but instead a great vortex of energy—the energy of pure love—under the domination of the Law of Attraction. It might be stated that:

Trên Trái Đất, các Chân sư đã vượt qua ảo cảm và ảo tưởng, và đối với Các Ngài không còn cõi cảm dục nào tồn tại nữa. Giờ đây ở phía trước Các Ngài, và nhờ sự tự do khỏi những “mê loạn” này, sẽ đến cơ hội đi vào Trái Tim của Thượng đế, trung tâm của bác ái thuần túy, và từ trung tâm đó bước đi trên con đường bác ái. Cả bảy Con Đường này đều dẫn либо tới cõi cảm dục vũ trụ hoặc tới cõi trí vũ trụ, tùy theo quyết định được đưa ra ở lần điểm đạo thứ sáu. Trên cõi cảm dục vũ trụ không có ảo cảm, mà thay vào đó là một xoáy năng lượng lớn—năng lượng của bác ái thuần túy—dưới sự chi phối của Định luật Hấp Dẫn. Có thể nói rằng:

Path 1. The Path of Earth Service leads to the cosmic astral plane.

Con Đường 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu dẫn tới cõi cảm dục vũ trụ.

Path 2. The Path of Magnetic Work leads to the cosmic astral plane.

Con Đường 2. Con Đường Công Tác Từ Tính dẫn tới cõi cảm dục vũ trụ.

Path 3. The Path for Training for Planetary Logoi leads to the higher levels of the cosmic mental plane.

Con Đường 3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng đế dẫn tới các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ.

Path 4. The Path to Sirius leads to the cosmic astral plane.

Con Đường 4. Con Đường đến Sirius dẫn tới cõi cảm dục vũ trụ.

Path 5. The Ray Path leads to the cosmic mental plane.

Con Đường 5. Con Đường Cung dẫn tới cõi trí vũ trụ.

Path 6. The Path the Logos Himself is on leads to the cosmic buddhic plane.

Con Đường 6. Con Đường mà chính Thượng đế đang ở trên đó dẫn tới cõi Bồ đề vũ trụ.

Path 7. The Path of Absolute Sonship leads to the cosmic mental plane.

Con Đường 7. Con Đường của Cương Vị Con Tuyệt Đối dẫn tới cõi trí vũ trụ.

Three Paths, therefore, lead to the realm of loving attractive energy; one Path leads to its higher correspondence, the cosmic level of pure reason; three lead to the realm of divine Mind. Four of the Paths relate the advancing Master to the Heart of the Great Life Who functions through this solar system, and three to His Mind nature. All of them lead the initiate eventually to the Central Spiritual Sun. [400] All Who work in Shamballa find Their way to this supreme centre by the three most arduous ways, whilst the remainder reach the same goal via the way of love.

Vì vậy, ba Con Đường dẫn tới lĩnh vực của năng lượng bác ái hấp dẫn; một Con Đường dẫn tới tương ứng cao hơn của nó, tức cấp độ vũ trụ của lý trí thuần túy; ba Con Đường dẫn tới lĩnh vực của Trí của Thượng đế. Bốn Con Đường liên hệ Chân sư đang tiến bước với Trái Tim của Sự Sống Vĩ Đại đang hoạt động qua hệ mặt trời này, và ba Con Đường liên hệ với bản chất Trí của Ngài. Tất cả chúng cuối cùng đều dẫn điểm đạo đồ tới Mặt trời Tinh thần Trung Ương. [400] Tất cả Những Đấng hoạt động trong Shamballa đều tìm đường đến trung tâm tối thượng này bằng ba con đường gian nan nhất, trong khi số còn lại đạt cùng mục tiêu ấy qua con đường bác ái.

The unfoldment of the will has much to do with Their decision. It must not be thought that Those Masters Who are on the first, third and fifth rays, for instance, follow the Path numerically the same; such is not the case; nor that Those Who are predominantly on the second line of energy find the cosmic astral plane Their goal. Such again is not the case. Their response and decision is based on a realisation of cosmic need—a need of which you can know nothing, any more than it is possible for you to comprehend the nature of cosmic evil.

Sự khai mở của ý chí có liên quan rất nhiều đến quyết định của Các Ngài. Không nên nghĩ rằng chẳng hạn những Chân sư thuộc cung một, cung ba và cung năm thì đi theo Con Đường có cùng số thứ tự; không phải như vậy; cũng không phải rằng những vị chủ yếu thuộc tuyến năng lượng thứ hai thì lấy cõi cảm dục vũ trụ làm mục tiêu của Các Ngài. Điều đó cũng không đúng. Sự đáp ứng và quyết định của Các Ngài dựa trên một sự chứng nghiệm về nhu cầu vũ trụ—một nhu cầu mà bạn không thể biết gì về nó, cũng như bạn không thể nào hiểu được bản chất của điều ác vũ trụ.

As to the detail of the work of Those Who choose—until released—to stay on Earth and work in or with the Hierarchy, is there more that I can tell you? You know much anent this subject for I have given much—far more than has ever been given before. I have not dealt with the work of the Hierarchy in relation to evolutions other than the human, for two reasons:

Về chi tiết công việc của những Đấng chọn—cho đến khi được giải thoát—ở lại Trái Đất và làm việc trong hoặc với Thánh Đoàn, liệu tôi còn có thể nói thêm gì với bạn chăng? Bạn biết nhiều về chủ đề này vì tôi đã cho ra rất nhiều—nhiều hơn hẳn bất cứ điều gì từng được cho ra trước đây. Tôi đã không bàn đến công việc của Thánh Đoàn liên hệ với các tiến hoá khác ngoài nhân loại, vì hai lý do:

Your unfoldment is still such that you do not and cannot yet include or register the consciousness or nature of the subhuman kingdoms.

Sự khai mở của bạn hiện vẫn ở mức khiến bạn chưa và chưa thể bao gồm hay ghi nhận được tâm thức hoặc bản chất của các giới dưới nhân loại.

The work done by the Hierarchy in those kingdoms is largely carried forward via humanity and modern scientific development.

Công việc do Thánh Đoàn thực hiện trong các giới ấy phần lớn được tiến hành thông qua nhân loại và sự phát triển khoa học hiện đại.

There are many Masters Who do not work with the human kingdom at all, but are fully occupied with carrying out the divine Will in other kingdoms. With this work we have, at present, no concern. When any one takes the sixth initiation and makes his decision to follow the Path of Earth Service (either temporarily at the request of Sanat Kumara, or until the end of the world cycle), he will find himself faced with a secondary decision as to which of the four kingdoms will profitably provide the field of his sacrifice and service. We will now consider: [401]

Có nhiều Chân sư hoàn toàn không làm việc với giới nhân loại, mà bận rộn trọn vẹn trong việc thực hiện Ý Chí thiêng liêng trong các giới khác. Với công việc này, hiện nay chúng ta không quan tâm. Khi một người thọ nhận lần điểm đạo thứ sáu và quyết định đi theo Con Đường Phụng Sự Địa Cầu (hoặc tạm thời theo thỉnh cầu của Đức Sanat Kumara, hoặc cho đến hết chu kỳ thế giới), y sẽ thấy mình phải đối diện với một quyết định thứ yếu về việc trong bốn giới, giới nào sẽ hữu ích cung cấp lĩnh vực cho sự hi sinh và phụng sự của y. Giờ đây chúng ta sẽ xét đến: [401]

2. The Path of Magnetic Work — 2. Con Đường của Công Việc Từ Tính

In referring to this Path, I have stated that Those Who find Their way on to this Path work with fohat, or with the essential energy of our solar system which differentiates into seven major types of energy. Our planet with its ruling Lord is an integral part of the life expression of a still greater Entity, the solar Logos, and it is with the astral energy incident to His cosmic nature that the Master has to work. He learns to direct the currents of this essential energy, and because of His past relation to the Earth, He is part of the directing agency for astral energy within the planetary ring-pass-not. I also said that many Masters Who leave reached liberation upon the fifth ray find Their way to this Path, thus proving the statement that it is not the ray which determines decision. These fifth ray Masters (among many others, of course) will be working in a great second ray vortex of energy.

Khi đề cập đến Con Đường này, tôi đã nói rằng những Đấng tìm được lối vào Con Đường này làm việc với fohat, hay với năng lượng cốt yếu của hệ mặt trời chúng ta, năng lượng phân hoá thành bảy loại năng lượng chính. Hành tinh chúng ta cùng với Chúa Tể cai quản của nó là một phần toàn vẹn trong biểu hiện sự sống của một Thực Thể còn vĩ đại hơn nữa, Thái dương Thượng đế, và chính với năng lượng cảm dục gắn liền với bản chất vũ trụ của Ngài mà Chân sư phải làm việc. Ngài học cách điều khiển các dòng của năng lượng cốt yếu này, và bởi vì mối liên hệ trong quá khứ của Ngài với Trái Đất, Ngài là một phần của cơ quan chỉ đạo năng lượng cảm dục bên trong vòng-giới-hạn hành tinh. Tôi cũng đã nói rằng nhiều Chân sư đạt giải thoát qua cung năm tìm được lối vào Con Đường này, như thế chứng minh cho nhận định rằng không phải cung quyết định sự lựa chọn. Những Chân sư cung năm này (dĩ nhiên chỉ là một số trong nhiều vị khác) sẽ làm việc trong một xoáy năng lượng cung hai vĩ đại.

It must be pointed out that, in its original state, this pure astral energy, directed under law into our planetary life, is free from all that is at present associated with the astral plane: glamour and delusion, emotional fog and poisonous deceiving phenomena. These well-known aspects of the astral plane are all the creation of humanity down the ages and present, therefore, an increasingly difficult problem to all aspirants. The tormenting turmoil and chaos of the astral plane are due largely to three factors:

Cần chỉ ra rằng, trong trạng thái nguyên sơ của nó, năng lượng cảm dục thuần khiết này, được định hướng theo định luật vào sự sống hành tinh của chúng ta, hoàn toàn không có bất cứ điều gì hiện nay gắn liền với cõi cảm dục: ảo cảm và mê vọng, sương mù cảm xúc và những hiện tượng lừa dối độc hại. Những phương diện quen thuộc này của cõi cảm dục đều là sáng tạo của nhân loại qua các thời đại, và vì thế tạo nên một vấn đề ngày càng khó khăn cho mọi người chí nguyện. Sự hỗn loạn dày vò và tình trạng rối ren của cõi cảm dục phần lớn là do ba yếu tố:

The force of the constantly developing glamour as self-centered and undeveloped human beings create it.

Mãnh lực của ảo cảm không ngừng phát triển khi những con người tập trung vào bản thân và chưa phát triển tạo ra nó.

The force of those aspirants and disciples who are seeking to combat this in their own lives and in the lives of others.

Mãnh lực của những người chí nguyện và đệ tử đang tìm cách chống lại điều này trong đời sống của chính họ và trong đời sống của người khác.

The inflow of pure solar astral energy under cyclic law and the direction of the Master working on the second Path.

Sự tuôn vào của năng lượng cảm dục thái dương thuần khiết theo định luật chu kỳ và sự chỉ đạo của Chân sư đang làm việc trên Con Đường thứ hai.

These three factors create great trouble; during the past crisis of the world war (1914-1945) it reached most serious proportions. The hierarchical crisis to which I have earlier [402] referred was involved, and many Masters from the various Ashrams made a decision to work on this second Path in order to bring order out of chaos by pouring into the planetary astral plane pure astral energy, untainted by glamour and revelatory of pure love. They were experts in timing and in energy manipulation.

Ba yếu tố này tạo ra nhiều rối loạn; trong cuộc khủng hoảng vừa qua của chiến tranh thế giới (1914-1945), nó đã đạt đến những tỷ lệ hết sức nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng của Thánh Đoàn mà trước đây tôi đã [402] đề cập có liên quan đến điều này, và nhiều Chân sư từ các ashram khác nhau đã quyết định làm việc trên Con Đường thứ hai này để đem trật tự ra từ hỗn loạn bằng cách tuôn vào cõi cảm dục hành tinh năng lượng cảm dục thuần khiết, không bị ảo cảm làm ô nhiễm và biểu lộ tình thương thuần khiết. Các Ngài là những bậc chuyên gia về thời điểm và về thao tác năng lượng.

You will also note how three types of astral energy are therefore related:

Bạn cũng sẽ lưu ý rằng vì thế có ba loại năng lượng cảm dục liên hệ với nhau:

The astral force of our planet, distinctive of the planetary astral plane in the three worlds of human enterprise.

Mãnh lực cảm dục của hành tinh chúng ta, đặc trưng cho cõi cảm dục hành tinh trong ba cõi thấp của hoạt động nhân loại.

The astral force of the solar Logos, the true God of Love.

Mãnh lực cảm dục của Thái dương Thượng đế, Thượng đế Tình thương chân chính.

The astral energy of the cosmic astral plane.

Năng lượng cảm dục của cõi cảm dục vũ trụ.

These forces are symbolised to the manipulating Master by a triangle. In the Old Commentary it says:

Những mãnh lực này được biểu tượng hoá đối với vị Chân sư thao tác bằng một tam giác. Trong Cổ Luận có nói:

“The Master throws Himself—under the liberating Law of Sacrifice—into the vortex of the astral life of the One to Whom our Lord relates Himself with humble joy. And as the Master works, there forms before His eyes a triangle of force in shades of varying rose. By His magnetic power, He concentrates the energy required. Then through this triangle of force, as through an open door, He sends the potency of love into our planet, and till His cycle ends He thus must work.”

“Chân sư tự ném mình—dưới Định luật giải thoát của Hi Sinh—vào xoáy lốc của sự sống cảm dục của Đấng mà Đức Chúa Tể chúng ta liên hệ với niềm hoan hỉ khiêm cung. Và khi Chân sư làm việc, trước mắt Ngài hình thành một tam giác mãnh lực trong những sắc độ hồng khác nhau. Bằng quyền năng từ tính của Ngài, Ngài tập trung năng lượng cần thiết. Rồi qua tam giác mãnh lực này, như qua một cánh cửa mở, Ngài gửi tiềm lực của tình thương vào hành tinh chúng ta, và cho đến khi chu kỳ của Ngài chấm dứt, Ngài phải làm việc như thế.”

This is but a rough translation of some very ancient phrases, and is perhaps less symbolic than it may appear. It is in connection with this Path that the work of the Triangles which I initiated is related; the function of these Triangles is in reality to facilitate the work of distributing the pure incoming love energy (expressing itself as light and as goodwill) into the Hierarchy and Humanity. This deeply esoteric purpose of the Triangles will not be understood by the general public, but some of you who read this will appreciate the opportunity to serve in this manner consciously.

Đây chỉ là một bản dịch thô của vài cụm từ rất cổ xưa, và có lẽ ít tính biểu tượng hơn vẻ bề ngoài của nó. Chính liên hệ với Con Đường này mà công việc của các Tam Giác do tôi khởi xướng có liên quan; chức năng của các Tam Giác này thực ra là tạo điều kiện cho công việc phân phối năng lượng tình thương thuần khiết đang đi vào (biểu lộ thành ánh sáng và thiện chí) vào Thánh Đoàn và Nhân loại. Mục đích huyền bí sâu xa này của các Tam Giác sẽ không được công chúng nói chung hiểu, nhưng một số bạn đọc điều này sẽ trân trọng cơ hội được phụng sự theo cách này một cách hữu thức.

The Path of Magnetic Work takes the Master, first of all, to the Heart of the Sun, and from thence to the cosmic [403] mental plane, passing through and pausing temporarily upon the cosmic astral plane. The above statement does not in reality refer to progress from point to point in an ordered sequence. It refers to high states of awareness and to a form of cosmic contact which is registered by the Master from the point at which He stands upon this second Path, for all the planes are interpenetrating. This has been somewhat easy to understand in connection with our seven planes, as the rarer substances could be visualised as interpenetrating the denser. It is not so easy to comprehend, however, when we pass out of the cosmic physical plane (in our imagination, needless to say) and enter those planes of which we know nothing and of whose composition and substance (if they are substantial, as we understand the term) we are totally ignorant; besides that, we are not in a position to ascertain the truth.

Con Đường của Công Việc Từ Tính trước hết đưa Chân sư đến Trái Tim Mặt Trời, và từ đó đến cõi trí [403] vũ trụ, đi xuyên qua và tạm dừng trên cõi cảm dục vũ trụ. Mệnh đề trên thực ra không nói đến sự tiến triển từ điểm này sang điểm khác theo một trình tự có trật tự. Nó nói đến những trạng thái nhận biết cao và đến một hình thức tiếp xúc vũ trụ được Chân sư ghi nhận từ điểm mà Ngài đứng trên Con Đường thứ hai này, vì mọi cõi đều xuyên thấu lẫn nhau. Điều này có phần dễ hiểu khi liên hệ với bảy cõi của chúng ta, vì các chất liệu tinh tế hơn có thể được hình dung như xuyên thấu các chất liệu đậm đặc hơn. Tuy nhiên, điều đó không dễ hiểu như vậy khi chúng ta vượt ra khỏi cõi hồng trần vũ trụ (trong sự hình dung của chúng ta, dĩ nhiên) và đi vào những cõi mà chúng ta không biết gì, và về thành phần cũng như chất liệu của chúng (nếu chúng thực sự có chất liệu như chúng ta hiểu thuật ngữ này) thì chúng ta hoàn toàn vô tri; hơn nữa, chúng ta không ở trong vị thế để xác định chân lý.

The method of the Master’s work upon this Path is also not easily understood. It can be summed up in the following words which may bring some light via their united meaning (each phrase contributing an idea), if due reflection is brought to bear upon them:

Phương pháp làm việc của Chân sư trên Con Đường này cũng không dễ hiểu. Nó có thể được tóm lược trong những lời sau đây, những lời có thể đem lại đôi chút ánh sáng qua ý nghĩa kết hợp của chúng (mỗi cụm từ đóng góp một ý tưởng), nếu có sự suy tư thích đáng được vận dụng vào chúng:

Isolated Unity

the position of the Master

A positive Focus

the mental attitude

Sound, under the Law of Attraction

the means employed

Precipitation

the intention visioned

Passage through the Triangle

the projection ensuing

Directive work under the Law of Distribution

direction towards the goal

These phrases may give some vague idea of a process, based on “reception, then direction, producing rejection and impact where the rejecting agency ordained.”

Những cụm từ này có thể đem lại một ý niệm mơ hồ nào đó về một tiến trình, dựa trên “tiếp nhận, rồi định hướng, tạo ra sự khước từ và sự va chạm tại nơi tác nhân khước từ đã được ấn định.”

Another aspect of the work done by the Master on the second Path is the drawing off of those phases of glamour which no longer have the power to deceive mankind. They are not allowed to accumulate or to remain upon the astral plane. They are therefore, through the magnetic power of the Master, withdrawn from our planetary life and are “occultly [404] absorbed” by the Master; the substance of the glamour, purified and freed from all that conditioned it on the planetary astral plane, and with only the pure essence retained, sets the law in motion which draws this purified remainder into the cosmic astral plane.

Một phương diện khác của công việc do Chân sư trên Con Đường thứ hai thực hiện là rút đi những pha ảo cảm không còn quyền năng lừa dối nhân loại nữa. Chúng không được phép tích tụ hay lưu lại trên cõi cảm dục. Vì thế, nhờ quyền năng từ tính của Chân sư, chúng được rút khỏi sự sống hành tinh của chúng ta và được Chân sư “hấp thụ một cách huyền bí [404]”; chất liệu của ảo cảm, được thanh lọc và giải thoát khỏi mọi điều đã tác động lên nó trên cõi cảm dục hành tinh, và chỉ giữ lại tinh chất thuần khiết, sẽ khởi động định luật kéo phần còn lại đã được thanh lọc này vào cõi cảm dục vũ trụ.

Constantly, therefore, this great circulatory process goes on, demonstrating anew the essential synthesis underlying all life—human, planetary, systemic and cosmic; it reveals also that the Law of Attraction, the Law of Magnetic Work, and the cosmic Law of Synthesis are three aspects of one Law for which, as yet, we have no name.

Do đó, tiến trình tuần hoàn vĩ đại này liên tục diễn ra, một lần nữa chứng minh tính tổng hợp cốt yếu làm nền tảng cho mọi sự sống—nhân loại, hành tinh, hệ thống và vũ trụ; nó cũng cho thấy rằng Định luật Hấp Dẫn, Định luật Công Việc Từ Tính, và Định luật Tổng Hợp vũ trụ là ba phương diện của một Định luật duy nhất mà hiện nay chúng ta chưa có tên gọi.

It might be said that the Masters working on the second Path are working in relation to and in contact with certain great Lives Who work on the periphery of the constellation Libra, the Balances. This is due to the fact that Those Masters Who can work with magnetic energies, and with the three above Laws, have achieved a point of balance which makes Their work possible; it involves also a poised attention and directive power, permitting the inflow of energies from Libra which could not otherwise enter our planetary life at all. These Libran energies enter our solar system via the Heart of the Sun and are peculiarly amenable to magnetic attraction and distribution.

Có thể nói rằng các Chân sư làm việc trên Con Đường thứ hai đang làm việc trong mối liên hệ và tiếp xúc với một số Sự Sống vĩ đại đang hoạt động ở chu vi của chòm Thiên Bình, Cái Cân. Điều này là do những Chân sư có thể làm việc với các năng lượng từ tính, và với ba Định luật nêu trên, đã đạt đến một điểm quân bình khiến công việc của Các Ngài trở nên khả thi; điều này cũng bao hàm một sự chú tâm quân bình và quyền năng chỉ đạo, cho phép các năng lượng từ Thiên Bình tuôn vào mà nếu không thì hoàn toàn không thể đi vào sự sống hành tinh của chúng ta. Những năng lượng Thiên Bình này đi vào hệ mặt trời chúng ta qua Trái Tim Mặt Trời và đặc biệt dễ đáp ứng với sự hấp dẫn và phân phối từ tính.

All these Paths gradually came into being when our planetary Logos created the Earth and started the involutionary process of creation, leading in due time but much later, to evolution. They are therefore, all of Them, Paths of Return. This second Path was one of the first to be used and (again quoting the Old Commentary) “the door once opening inward now opens outward and permits the exit of those who hold the key because they entered by that door in aeons long gone by.”

Tất cả những Con Đường này dần dần xuất hiện khi Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tạo ra Trái Đất và khởi sự tiến trình giáng hạ tiến hoá của sáng tạo, dẫn đến đúng thời điểm nhưng muộn hơn rất nhiều, tới tiến hoá. Vì thế, tất cả chúng đều là Con Đường Trở Về. Con Đường thứ hai này là một trong những Con Đường đầu tiên được sử dụng và (xin lại trích dẫn Cổ Luận) “cánh cửa xưa kia mở vào trong nay mở ra ngoài và cho phép sự ra đi của những ai giữ chìa khoá vì họ đã đi vào bằng cánh cửa ấy trong những đại kiếp đã qua từ lâu.”

All the Masters (and not only Those upon the fifth ray) receive careful training in the manipulation of energies, and hence the statement of the Master K.H. to His disciples that the occultist has to learn to master and control the forces and energies within himself; the disciple and the initiate work with hierarchical energies and with the forces [405] of the kingdoms of nature in the three worlds; the Master receives instruction in the handling of the energies which are extra-planetary but within the solar ring-pass-not. Those Masters Whose decision it is to tread the second Path are taught the control and direction of systemic energies and of certain energies emanating from Libra and from one of the stars in the constellation of the Great Bear. In the more advanced stages of Their work, and when the Master is far more advanced than the word indicates, He works consciously upon the cosmic mental plane; His activities will then be concerned with the relation of the energies of the Great Bear to the Pleiades, and their dual relationship (a higher correspondence to atma-buddhi) to the solar system and only incidentally to our Earth. Great is the interlocking, the interdependence and the interpenetration!

Tất cả các Chân sư (không chỉ riêng những vị thuộc cung năm) đều được huấn luyện cẩn trọng trong việc thao tác các năng lượng, và do đó có lời phát biểu của Chân sư KH với các đệ tử của Ngài rằng nhà huyền bí học phải học cách làm chủ và kiểm soát các mãnh lực và năng lượng bên trong chính mình; đệ tử và điểm đạo đồ làm việc với các năng lượng của Thánh Đoàn và với các mãnh lực [405] của các giới tự nhiên trong ba cõi thấp; Chân sư nhận sự chỉ dạy về việc xử lý các năng lượng ngoài hành tinh nhưng ở bên trong vòng-giới-hạn thái dương. Những Chân sư quyết định bước trên Con Đường thứ hai được dạy cách kiểm soát và định hướng các năng lượng hệ thống và một số năng lượng phát ra từ Thiên Bình và từ một trong các ngôi sao của chòm Đại Hùng. Trong các giai đoạn tiến bộ hơn của công việc của Các Ngài, và khi Chân sư đã tiến xa hơn rất nhiều so với điều từ ngữ này hàm ý, Ngài làm việc một cách hữu thức trên cõi trí vũ trụ; khi đó các hoạt động của Ngài sẽ liên quan đến mối liên hệ giữa các năng lượng của Đại Hùng với Thất Tinh, và mối liên hệ nhị nguyên của chúng (một tương ứng cao hơn với atma-buddhi) đối với hệ mặt trời và chỉ gián tiếp đối với Trái Đất của chúng ta. Sự móc nối, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự xuyên thấu lẫn nhau thật vĩ đại biết bao!

3. The Path of Training for Planetary Logoi — 3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng đế

It is obviously impossible to say much about this Path. Those Masters Who tread it find Their way to the various schools for the training of planetary Logoi which are found within certain of the major planetary schemes, as stated in Initiation, Human and Solar. They are necessarily few in number, and a small group of Them remains to study in our particular planetary enterprise under Sanat Kumara. This They do after making Their decision and passing through the door on the periphery of our planetary ring-pass-not. Then—out of incarnation and working through the medium of the higher telepathy—They receive instruction of a nature incomprehensible to us, from the Members of the Council Chamber at Shamballa, and primarily from two of the Buddhas of Activity. Having learnt the technique and having passed certain tests, They move into the planetary life of Venus, our Earth’s Alter-Ego, and there They complete Their training, as far as our solar system can give it, finding Their way eventually on to the cosmic mental plane.

Hiển nhiên là không thể nói nhiều về Con Đường này. Những Chân sư bước trên nó tìm được lối đến các trường khác nhau để huấn luyện các Hành Tinh Thượng đế, được đặt trong một số hệ hành tinh lớn, như đã nói trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Số lượng Các Ngài tất yếu rất ít, và một nhóm nhỏ trong số đó ở lại để học tập trong công cuộc hành tinh đặc thù của chúng ta dưới sự hướng dẫn của Đức Sanat Kumara. Các Ngài làm điều này sau khi đưa ra quyết định và đi qua cánh cửa ở chu vi vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta. Sau đó—không còn lâm phàm và làm việc qua trung gian của viễn cảm thượng đẳng—Các Ngài nhận sự chỉ dạy có bản chất không thể hiểu nổi đối với chúng ta, từ các Thành viên của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, và chủ yếu từ hai vị Phật Hoạt Động. Sau khi đã học được kỹ thuật và vượt qua một số thử thách, Các Ngài đi vào sự sống hành tinh của Sao Kim, Đối phần của Trái Đất chúng ta, và tại đó Các Ngài hoàn tất sự huấn luyện của mình, trong chừng mực hệ mặt trời chúng ta có thể cung cấp, cuối cùng tìm được lối đến cõi trí vũ trụ.

Two things should be borne in mind in connection with this abstruse subject:

Có hai điều cần được ghi nhớ liên hệ với chủ đề thâm áo này:

First: These Masters work primarily with the “psyche” [406] or the soul aspect within the solar system. They are occupied with the subtler expressions of consciousness, with occult impressibility and that acute sensitivity which produces instant and accurate registration of all soul reactions within any particular planetary life. These kingdoms are not necessarily identical with those found on the Earth, but they are, in all cases, vast groups of living forms which are manifestations or expressions of the nature of any particular planetary Logos. The Masters taking this training are not occupied with individual states of consciousness within any group. It is the consciousness of the whole, and its responsiveness to cosmic impacts, that engages Their attention. They are not (if I might so express it) interested in any individual unit of any kind or in its individual reactions, responsiveness or susceptibility to impression. They are only concerned with those higher processes of identification which indicate an advanced state of evolutionary development. Their work is to further progressive development of identification. They begin with the identification of the Monad within our planetary sphere with the Purpose and the Will of the Lord of the World, and proceed—as Their training produces the desired capabilities—with greater identifications within the solar system. Beyond that we need not proceed.

Thứ nhất: Những Chân sư này làm việc chủ yếu với “psyche” [406] hay phương diện linh hồn bên trong hệ mặt trời. Các Ngài bận tâm với những biểu hiện tinh tế hơn của tâm thức, với tính dễ tiếp nhận huyền bí và sự nhạy bén sắc sảo tạo ra sự ghi nhận tức thì và chính xác mọi phản ứng của linh hồn bên trong bất kỳ sự sống hành tinh đặc thù nào. Những giới này không nhất thiết đồng nhất với những giới được tìm thấy trên Trái Đất, nhưng trong mọi trường hợp, chúng là những nhóm rộng lớn các hình tướng sống động, là những biểu hiện hay diễn đạt của bản chất của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào. Những Chân sư đang thọ huấn này không bận tâm với các trạng thái tâm thức cá biệt bên trong bất kỳ nhóm nào. Chính tâm thức của toàn thể, và sự đáp ứng của nó đối với các va chạm vũ trụ, mới là điều thu hút sự chú ý của Các Ngài. Các Ngài không quan tâm (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) đến bất kỳ đơn vị cá biệt nào thuộc bất kỳ loại nào hay đến các phản ứng, sự đáp ứng hoặc tính dễ tiếp nhận ấn tượng của riêng đơn vị đó. Các Ngài chỉ quan tâm đến những tiến trình đồng hoá cao hơn, vốn chỉ ra một trạng thái phát triển tiến hoá cao cấp. Công việc của Các Ngài là thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của sự đồng hoá. Các Ngài bắt đầu với sự đồng hoá của chân thần bên trong khối cầu hành tinh của chúng ta với Thiên Ý và Ý Chí của Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi tiến tới—khi sự huấn luyện của Các Ngài tạo ra những năng lực mong muốn—những sự đồng hoá lớn hơn bên trong hệ mặt trời. Xa hơn thế, chúng ta không cần đi tiếp.

Their whole training is concerned with the planetary, systemic and cosmic building of the antahkarana, for it is via the antahkarana that spirit works, that life processes are controlled, and the will of all developing aspects of Deity function. Forget not that relating our planet to the planet Venus is a planetary antahkarana, passing from thence to the Heart of the Sun and later to the cosmic mental plane. There are “rainbow bridges” carrying the sevenfold energies of the seven rays from planet to planet, from system to system, and from plane to plane on cosmic levels. It is over these bridges that the will of the related spiritual Identities is projected, producing that synthesis of effort which is distinctive of the cooperative systemic life. The work of the Masters in training from our planet is, among other [407] things, to unfold within Themselves not only sensitivity to systemic purpose, but the ability to transmit that Purpose to the Council Chamber at Shamballa. They have—in an extraplanetary sense—a definite correspondence with and relation to the group of Nirmanakayas within our planet Who work in contemplative activity with the antahkarana which connects the Hierarchy with Shamballa and Humanity with the Hierarchy.

Toàn bộ sự huấn luyện của Các Ngài liên quan đến việc kiến tạo antahkarana ở cấp hành tinh, hệ thống và vũ trụ, vì chính qua antahkarana mà tinh thần hoạt động, các tiến trình sự sống được kiểm soát, và ý chí của mọi phương diện đang phát triển của Thượng đế vận hành. Đừng quên rằng cái nối kết hành tinh chúng ta với hành tinh Sao Kim là một antahkarana hành tinh, từ đó đi đến Trái Tim Mặt Trời và sau này đến cõi trí vũ trụ. Có những “cây cầu vồng” mang các năng lượng thất phân của bảy cung từ hành tinh này sang hành tinh khác, từ hệ thống này sang hệ thống khác, và từ cõi này sang cõi khác ở các cấp độ vũ trụ. Chính trên những cây cầu này mà ý chí của các Bản Sắc tinh thần có liên hệ được phóng chiếu, tạo ra sự tổng hợp nỗ lực vốn là đặc trưng của sự sống hệ thống hợp tác. Công việc của các Chân sư đang được huấn luyện từ hành tinh chúng ta, trong số những [407] điều khác, là khai mở bên trong chính Các Ngài không chỉ sự nhạy cảm đối với mục đích hệ thống, mà còn khả năng truyền đạt Mục Đích đó đến Phòng Hội Đồng tại Shamballa. Theo nghĩa ngoài hành tinh, Các Ngài có một sự tương ứng và một mối liên hệ xác định với nhóm Nirmanakayas bên trong hành tinh chúng ta, những vị đang hoạt động chiêm ngưỡng với antahkarana nối kết Thánh Đoàn với Shamballa và Nhân loại với Thánh Đoàn.

As planetary Logoi when Their Own time comes, these Masters will be concerned with the registration of the Purpose and expressed Will of some solar Logos. They will then, through the planetary and systemic antahkarana, supervise the gradual evolutionary impartation of that Will (which is now Theirs) to all the forms through which They function in any particular planet for which They have assumed responsibility. This definitely involves working with the soul aspect and with the unfoldment of conscious responsiveness and sensitive reaction to all the higher impressions.

Khi đến thời điểm riêng của Các Ngài với tư cách là các Hành Tinh Thượng đế, những Chân sư này sẽ quan tâm đến việc ghi nhận Mục Đích và Ý Chí được biểu lộ của một Thái dương Thượng đế nào đó. Khi ấy, thông qua antahkarana hành tinh và hệ thống, Các Ngài sẽ giám sát sự truyền đạt tiến hoá dần dần của Ý Chí đó (nay đã là của Các Ngài) đến mọi hình tướng mà qua đó Các Ngài hoạt động trên bất kỳ hành tinh đặc thù nào mà Các Ngài đã nhận trách nhiệm. Điều này rõ ràng bao hàm việc làm việc với phương diện linh hồn và với sự khai mở của sự đáp ứng hữu thức và phản ứng nhạy bén đối với mọi ấn tượng cao hơn.

Second: These Masters are the directing builders and Creators eventually of all forms of planetary life—forms embodying qualities and intentions as yet undreamed of by us. They have developed in Themselves a perfected synthesis of the two energies of atma-buddhi, or of spiritual will and spiritual love, completely unified and energetically active in a comprehensive condition seldom attained by any other group of Masters in training.

Thứ hai: Những Chân sư này cuối cùng là các đấng kiến tạo chỉ đạo và các Đấng Sáng Tạo của mọi hình thức sự sống hành tinh—những hình thức hiện thân các phẩm tính và ý hướng mà chúng ta còn chưa từng mơ tới. Các Ngài đã phát triển bên trong chính mình một sự tổng hợp hoàn hảo của hai năng lượng atma-buddhi, hay của ý chí tinh thần và tình thương tinh thần, hoàn toàn hợp nhất và hoạt động đầy năng lực trong một trạng thái bao gồm mà hiếm khi bất kỳ nhóm Chân sư đang thọ huấn nào khác đạt được.

It must be realised that the Buddhas of Activity, of Whom there are only three on our planet, are similarly active. They are active love-wisdom or a complete synthesis of active intelligence, active love and active will. The Masters on this third Path will, therefore, some day complete Their training for planetary Logoi by attaining the status of Buddhas of Activity, and will for a period serve in that capacity in some planetary scheme, before taking the control and guidance of Their Own body of manifestation.

Cần nhận ra rằng các vị Phật Hoạt Động, mà trên hành tinh chúng ta chỉ có ba vị, cũng hoạt động tương tự. Các Ngài là bác ái – minh triết hoạt động hay một sự tổng hợp hoàn chỉnh của trí tuệ hoạt động, tình thương hoạt động và ý chí hoạt động. Vì vậy, các Chân sư trên Con Đường thứ ba này một ngày nào đó sẽ hoàn tất sự huấn luyện của Các Ngài cho cương vị Hành Tinh Thượng đế bằng cách đạt đến địa vị các vị Phật Hoạt Động, và sẽ trong một thời kỳ phụng sự với tư cách đó trong một hệ hành tinh nào đó, trước khi nắm quyền kiểm soát và hướng dẫn thể biểu hiện riêng của Các Ngài.

The training of these Masters on the third Path might be described as an intensive study of a most exalted form of the Science of Impression. The supreme task of a planetary [408] Logos is to impress His sevenfold body of manifestation, via its seven states of consciousness and the seven centres, with His will and intention; these are progressively imparted as the etheric body is brought into an increasing state of receptivity through the awakening of the seven planetary centres, primarily the three major centres. The Masters thus in training gain experience of the methods used by the planetary Logoi of all the seven sacred planets, and the training is therefore an exceedingly lengthy one. It must be remembered however that—except in dense physical incarnation and, therefore, conditioned by the brain and its special limitations—the spiritual man is not conscious of time, once He is separated from the physical body. Time is the sequential registration by the brain of states of awareness and of progressive contacts with phenomena. There is no such thing as time on the inner planes, as humanity understands it. There are only cycles of activity or of non-activity; this non-activity for Masters on the third Path takes the form of cyclic periods of contemplation and mental activity, followed by active periods of energy direction to impress the will of certain planetary Logoi and Their agents upon the Council Chamber of our planet in particular, and upon other planets, as Their training is perfected.

Sự huấn luyện của những Chân sư này trên Con Đường thứ ba có thể được mô tả như một sự nghiên cứu chuyên sâu về một hình thức cực kỳ cao siêu của Khoa Học về Ấn Tượng. Nhiệm vụ tối thượng của một Hành Tinh [408] Thượng đế là gây ấn tượng lên thể biểu hiện thất phân của Ngài, thông qua bảy trạng thái tâm thức và bảy trung tâm, bằng ý chí và ý hướng của Ngài; những điều này được truyền đạt dần dần khi thể dĩ thái được đưa vào một trạng thái tiếp nhận ngày càng tăng qua sự thức tỉnh của bảy trung tâm hành tinh, chủ yếu là ba trung tâm chính. Những Chân sư đang được huấn luyện như vậy thu nhận kinh nghiệm về các phương pháp được các Hành Tinh Thượng đế của cả bảy hành tinh thiêng liêng sử dụng, và vì thế sự huấn luyện là một quá trình cực kỳ lâu dài. Tuy nhiên cần nhớ rằng—ngoại trừ khi ở trong lâm phàm hồng trần đậm đặc và do đó bị điều kiện hoá bởi bộ não và những giới hạn đặc thù của nó—con người tinh thần không có tâm thức về thời gian một khi Ngài đã tách khỏi thể xác. Thời gian là sự ghi nhận tuần tự của bộ não về các trạng thái nhận biết và về những tiếp xúc tiến bộ với các hiện tượng. Không hề có cái gọi là thời gian trên các cõi bên trong, theo cách nhân loại hiểu. Chỉ có các chu kỳ hoạt động hoặc không hoạt động; sự không hoạt động này đối với các Chân sư trên Con Đường thứ ba mang hình thức những giai đoạn chu kỳ của sự chiêm ngưỡng và hoạt động trí tuệ, tiếp theo là những giai đoạn tích cực của sự định hướng năng lượng để gây ấn tượng ý chí của một số Hành Tinh Thượng đế và các tác nhân của Các Ngài lên Phòng Hội Đồng của hành tinh chúng ta nói riêng, và lên các hành tinh khác, khi sự huấn luyện của Các Ngài được hoàn thiện.

It is the impulsive incentive of these Masters which bridges and links between the Monad on the monadic plane and the three worlds of dense expression on the cosmic physical plane; in this process the antahkarana between the spiritual man in incarnation and the spiritual Triad is aided and finally constructed, but this is only incidental to the far greater work of relating Shamballa to all kingdoms in nature and to other planets.

Chính động lực thúc đẩy của những Chân sư này bắt cầu và nối kết giữa chân thần trên cõi chân thần và ba cõi thấp của biểu hiện đậm đặc trên cõi hồng trần vũ trụ; trong tiến trình này, antahkarana giữa con người tinh thần đang lâm phàm và Tam Nguyên Tinh Thần được trợ giúp và cuối cùng được kiến tạo, nhưng điều này chỉ là phụ thuộc đối với công việc lớn lao hơn nhiều là liên hệ Shamballa với mọi giới trong tự nhiên và với các hành tinh khác.

The number of Masters deciding on this Path is, as I said, not large; the training is peculiarly arduous and is followed, when opportunity is offered to function as a planetary Logos, by an act of sacrifice which confines Them indefinitely to the limitations of the ring-pass-not of Their body of manifestation, a planet. It is for this reason that Sanat Kumara has ever been called “The Great Sacrifice.” [409]

Số lượng Chân sư quyết định đi theo Con Đường này, như tôi đã nói, không nhiều; sự huấn luyện đặc biệt gian khổ và tiếp theo đó, khi cơ hội được trao để hoạt động như một Hành Tinh Thượng đế, là một hành vi hi sinh khiến Các Ngài bị giới hạn vô thời hạn trong những hạn chế của vòng-giới-hạn của thể biểu hiện của Các Ngài, tức một hành tinh. Chính vì lý do này mà Đức Sanat Kumara từ lâu vẫn được gọi là “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại.” [409]

Certain Hierarchical Changes — Một Số Thay Đổi trong Thánh Đoàn

Before proceeding with our consideration of the seven cosmic Paths, I would like to pause here and clarify your mind, A.A.B., and answer certain questions which you are formulating.

Trước khi tiếp tục xem xét bảy Con Đường vũ trụ, tôi muốn dừng lại ở đây và làm sáng tỏ tâm trí của bạn, A.A.B., đồng thời trả lời một số câu hỏi mà bạn đang hình thành.

Some years ago (in 1925) I gave out to the world through your instrumentality A Treatise on Cosmic Fire. In that volume I elaborated upon the very elementary information given upon this subject in Initiation, Human and Solar—a book published earlier (in 1922). In both these volumes I touched upon the cosmic Paths. I gave (in very abstruse terms) some information; the terms were so abstruse that few can understand their meaning. The true significance is only for advanced initiates, of which I am not one, from Their point of view, though from yours I may be. In Initiation, Human and Solar very little was said, because the book was written for the general public and thus only a few ideas were indicated to point direction. Now, in A Treatise on the Seven Rays I have added to that already given; this book is, however, intended for a much larger number than those who read (and claim, erroneously, to understand) A Treatise on Cosmic Fire. In what I have to say, the teaching is carefully guarded. Two things should, however, be pointed out here in order to save confusion:

Vài năm trước đây (năm 1925) tôi đã chuyển ra cho thế giới qua trung gian của bạn Luận về Lửa Vũ Trụ. Trong bộ sách đó tôi đã khai triển thông tin rất sơ đẳng được đưa ra về chủ đề này trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương—một cuốn sách được xuất bản sớm hơn (năm 1922). Trong cả hai bộ sách này tôi đã chạm đến các Con Đường vũ trụ. Tôi đã đưa ra (bằng những thuật ngữ rất thâm áo) một số thông tin; các thuật ngữ ấy quá thâm áo đến nỗi ít ai có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Ý nghĩa chân thực chỉ dành cho các điểm đạo đồ cao cấp, mà theo quan điểm của Các Ngài thì tôi không phải là một trong số đó, mặc dù theo quan điểm của bạn thì có thể tôi là như vậy. Trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương rất ít được nói ra, vì cuốn sách được viết cho công chúng nói chung và do đó chỉ nêu ra một vài ý tưởng để chỉ hướng. Giờ đây, trong Luận về Bảy Cung tôi đã bổ sung vào những gì đã được cho ra; tuy nhiên, cuốn sách này được dành cho một số lượng người lớn hơn nhiều so với những người đọc (và sai lầm cho rằng mình hiểu) Luận về Lửa Vũ Trụ. Trong những gì tôi phải nói, giáo huấn được bảo vệ cẩn trọng. Tuy nhiên, ở đây cần chỉ ra hai điều để tránh nhầm lẫn:

1. It had not been the intention of the Hierarchy to give any further information anent these Paths; it was felt that enough had been said about this naturally incomprehensible subject. Owing, however, to the fundamental changes in the hierarchical plans, this decision was altered. I was permitted to add to that already given. This was due to two causes:

1. Ban đầu Thánh Đoàn không có ý định cho thêm bất kỳ thông tin nào về các Con Đường này; người ta cảm thấy rằng như thế là đã nói đủ về chủ đề vốn dĩ không thể hiểu này. Tuy nhiên, do những thay đổi căn bản trong các kế hoạch của Thánh Đoàn, quyết định này đã được thay đổi. Tôi được phép bổ sung vào những gì đã cho ra. Điều này là do hai nguyên nhân:

a. The tremendous unfoldment of the human consciousness during the last twenty-five years warrants more information; so many aspirants were being admitted to the Path of Discipleship and were finding their way into the Ashrams, thus forcing the passage of many initiates on to the Way of the Higher Evolution. [410] This in itself is a most joyous happening, but necessitated many ashramic adjustments.

a. Sự khai mở to lớn của tâm thức nhân loại trong hai mươi lăm năm qua biện minh cho việc cung cấp thêm thông tin; quá nhiều người chí nguyện đã được nhận vào Con Đường Đệ Tử và đang tìm được lối vào các ashram, do đó buộc nhiều điểm đạo đồ phải chuyển sang Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. [410] Bản thân điều này là một biến cố hết sức hoan hỉ, nhưng lại đòi hỏi nhiều điều chỉnh trong ashram.

b. Owing to this advancement, owing to the increased sensitivity of the human mechanism, and owing to the decisions humanity is in process of making (as a result of the frightful testing period of the war, 1914-1945), the Hierarchy—far earlier than had been hoped or anticipated—has prepared Itself for physical plane manifestation, or for what is called by Them “the process of externalisation.”

b. Do sự tiến bộ này, do sự nhạy cảm gia tăng của bộ máy nhân loại, và do những quyết định mà nhân loại đang trong tiến trình đưa ra (như là kết quả của thời kỳ thử thách khủng khiếp của chiến tranh, 1914-1945), Thánh Đoàn—sớm hơn rất nhiều so với điều đã hy vọng hay dự liệu—đã tự chuẩn bị cho sự biểu hiện trên cõi hồng trần, hay cho điều mà Các Ngài gọi là “tiến trình ngoại hiện.”

This has necessarily produced problems, and among them the strictly hierarchical problem of the passage of the initiate of the sixth degree on to the cosmic Paths. You will find, if you study closely the three presentations of the teaching (in Initiation, Human and Solar, A Treatise on Cosmic Fire, and A Treatise on the Seven Rays) what may appear to you as contradictions or differences. This is not truly so, but the casual reader may feel them to be present even though the differences are apparent more than real. Two causes account for this:

Điều này tất yếu đã tạo ra các vấn đề, và trong số đó có vấn đề thuần túy của Thánh Đoàn về việc chuyển điểm đạo đồ cấp sáu sang các Con Đường vũ trụ. Nếu bạn nghiên cứu kỹ ba cách trình bày giáo huấn (trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, Luận về Lửa Vũ Trụ,Luận về Bảy Cung) bạn sẽ thấy điều có thể dường như là những mâu thuẫn hay khác biệt. Thực ra không phải vậy, nhưng người đọc hời hợt có thể cảm thấy chúng hiện diện dù các khác biệt chỉ là bề ngoài nhiều hơn là thực chất. Có hai nguyên nhân giải thích điều này:

a. The decision to throw open initiations higher than the fifth to the ready Master, and to familiarise the world of aspirants with their existence. Little has ever been given beyond the fifth initiation. Many initiates are becoming Masters, and many disciples are achieving the first initiation, and this fact confronts the three Great Lords Who rule the Hierarchy with a definite problem.

a. Quyết định mở các lần điểm đạo cao hơn lần thứ năm cho Chân sư đã sẵn sàng, và làm cho thế giới những người chí nguyện quen thuộc với sự hiện hữu của chúng. Từ trước đến nay rất ít điều từng được cho ra vượt quá lần điểm đạo thứ năm. Nhiều điểm đạo đồ đang trở thành Chân sư, và nhiều đệ tử đang đạt đến lần điểm đạo thứ nhất, và sự kiện này đặt ra cho ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại cai quản Thánh Đoàn một vấn đề xác định.

b. To make the sixth initiation and not the fifth initiation the Initiation of Decision. Here I must state the existence of a hierarchical problem: the use of the will aspect in the unfoldment of the initiate. It must be remembered that this first ray aspect is:

b. Làm cho lần điểm đạo thứ sáu chứ không phải lần điểm đạo thứ năm trở thành Cuộc Điểm Đạo Quyết Định. Ở đây tôi phải nêu ra sự hiện hữu của một vấn đề trong Thánh Đoàn: việc sử dụng phương diện ý chí trong sự khai mở của điểm đạo đồ. Cần nhớ rằng phương diện cung một này là:

A definite and most potent energy. It is the most potent energy in the planetary life and is carefully held in leash by Those Who are in a position to wield it. [411]

Một năng lượng xác định và cực kỳ mãnh liệt. Đó là năng lượng mãnh liệt nhất trong sự sống hành tinh và được giữ trong vòng kiểm soát cẩn trọng bởi những Đấng ở vào vị thế có thể vận dụng nó. [411]

The medium whereby the purpose of creation is finally revealed.

Phương tiện nhờ đó mục đích của sáng tạo cuối cùng được mặc khải.

The force which enables the Hierarchy to present the Plan in the three worlds.

Mãnh lực giúp Thánh Đoàn trình bày Thiên Cơ trong ba cõi thấp.

The needed dynamic whereby the “deciding” Master sets His foot upon the Path of the Higher Evolution.

Động lực cần thiết nhờ đó Chân sư “quyết định” đặt chân lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

Owing to the success of the influence of this Shamballa energy upon humanity when the experiment was made to test its impact without stepping it down through the medium of the Hierarchy, the entire course of man’s spiritual history was most peculiarly altered. This had not been anticipated, for—as oft I have told you—the Masters know not which way mankind will go, nor may They interfere by action or thinking in humanity’s decision. It was therefore necessary to control more definitely the passage of initiates on to the seven Paths; only a certain number are required to fulfill cosmic intention; it was therefore decided to make the rules of entrance more difficult and more rigid.

Do thành công của ảnh hưởng của năng lượng Shamballa này lên nhân loại khi cuộc thử nghiệm được thực hiện nhằm kiểm tra tác động của nó mà không hạ giảm nó qua trung gian của Thánh Đoàn, toàn bộ tiến trình lịch sử tinh thần của con người đã bị thay đổi một cách rất đặc biệt. Điều này đã không được dự liệu, vì—như tôi thường nói với bạn—các Chân sư không biết nhân loại sẽ đi theo hướng nào, và Các Ngài cũng không được phép can thiệp bằng hành động hay tư tưởng vào quyết định của nhân loại. Vì vậy cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn sự chuyển tiếp của các điểm đạo đồ sang bảy Con Đường; chỉ cần một số lượng nhất định để hoàn thành ý định vũ trụ; do đó người ta quyết định làm cho các quy luật gia nhập trở nên khó khăn và nghiêm ngặt hơn.

Forget not, brother of mine, that this is not the first time that this has happened. Changes were made in Atlantean times; the door of entrance for the animal kingdom or for animal man into the human kingdom was stopped. No more units have since then been admitted from third kingdom into the fourth, except in a few cases and for specific reasons. Here, however, you have a reverse situation. The Hierarchy, owing to its constitution at that time and to the fact that very few, relatively, of our Earth humanity were members of the Hierarchy, could not influence directly the more developed human beings or train more aspirants. They therefore closed the door. That particular condition does not now exist, and the supreme Directors of the seven cosmic Paths are today in the same position as was the Hierarchy then; the word has gone forth to our three Great Lords—the Manu, the Christ and the Mahachohan—via the three Buddhas of Activity, to act in order to tighten up on requirements, to make the sixth initiation and not the fifth, the decisive one, and to present those on the seven rays with [412] a wider range of choices and a greater diversity of choice. Thus the Masters will have nine choices to face when They face Their decision; there will then be no need for Those on certain rays to pass to certain already determined Paths, but They can move forward under Their Own inspiration and with greater freedom. The cosmic mental plane is not barred to Them, as has hitherto been the case.

Đừng quên, huynh đệ của tôi, rằng đây không phải là lần đầu tiên điều này xảy ra. Những thay đổi đã được thực hiện vào thời Atlantis; cánh cửa gia nhập của giới động vật hay của người thú vào giới nhân loại đã bị đóng lại. Từ đó về sau không còn đơn vị nào được nhận từ giới thứ ba vào giới thứ tư nữa, ngoại trừ trong một vài trường hợp và vì những lý do đặc biệt. Tuy nhiên, ở đây bạn có một tình huống ngược lại. Thánh Đoàn, do cấu trúc của nó vào thời đó và do sự kiện rằng tương đối rất ít người trong nhân loại Trái Đất của chúng ta là thành viên của Thánh Đoàn, đã không thể trực tiếp ảnh hưởng đến những con người phát triển hơn hay huấn luyện thêm nhiều người chí nguyện. Vì vậy Các Ngài đã đóng cánh cửa. Điều kiện đặc thù đó hiện nay không còn nữa, và các Đấng Chỉ Đạo tối cao của bảy Con Đường vũ trụ ngày nay ở trong cùng vị thế như Thánh Đoàn khi ấy; linh từ đã được chuyển đến ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại của chúng ta—Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan—qua ba vị Phật Hoạt Động, để hành động nhằm siết chặt các đòi hỏi, làm cho lần điểm đạo thứ sáu chứ không phải lần thứ năm trở thành lần quyết định, và trình ra cho những vị thuộc bảy cung một phạm vi lựa chọn rộng hơn [412] và một sự đa dạng lựa chọn lớn hơn. Như vậy các Chân sư sẽ phải đối diện với chín lựa chọn khi Các Ngài đối diện với quyết định của mình; khi đó sẽ không còn cần thiết để những vị thuộc một số cung nhất định phải đi đến những Con Đường đã được định sẵn, mà Các Ngài có thể tiến lên dưới cảm hứng riêng của mình và với tự do lớn hơn. Cõi trí vũ trụ không còn bị ngăn cấm đối với Các Ngài như trước đây nữa.

All these changes have been due to the successful response of our planetary life, expressed through the human kingdom at this time, to the processes of evolution and to the inflow (since 1825) of the will energy from Shamballa. This, in its turn, is due to the progress of Sanat Kumara Himself, within His Own identified life upon the cosmic Path which emerges from the cosmic mental plane. All that we can contact and know is interdependent, and the unfoldment of the Life in Whom we live and move and have our being affects every aspect and department of His manifestation, just as the successful spiritual unfoldment of a human being and his ability to contact his soul produces incredible changes in the personality and affects every aspect and organ of his little manifestation upon the physical plane.

Tất cả những thay đổi này là do sự đáp ứng thành công của sự sống hành tinh chúng ta, được biểu lộ qua giới nhân loại vào thời điểm này, đối với các tiến trình tiến hoá và đối với sự tuôn vào (từ năm 1825) của năng lượng ý chí từ Shamballa. Đến lượt nó, điều này là do sự tiến bộ của chính Đức Sanat Kumara bên trong sự sống đồng hoá riêng của Ngài trên Con Đường vũ trụ xuất hiện từ cõi trí vũ trụ. Tất cả những gì chúng ta có thể tiếp xúc và biết đến đều phụ thuộc lẫn nhau, và sự khai mở của Sự Sống mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu ảnh hưởng đến mọi phương diện và mọi bộ phận trong biểu hiện của Ngài, cũng như sự khai mở tinh thần thành công của một con người và khả năng tiếp xúc với linh hồn của y tạo ra những thay đổi khó tin trong phàm ngã và ảnh hưởng đến mọi phương diện và cơ quan trong biểu hiện nhỏ bé của y trên cõi hồng trần.

2. The intelligence of humanity now is of such a nature that certain earlier initiations no longer exist, and mankind has shown itself to possess the potentialities which will enable its individual units to tread not only the one or two cosmic Paths hitherto open to them, but all of them, if given the right training. This the premature discovery of the release of atomic energy has well demonstrated to the Hierarchy.

2. Trí tuệ của nhân loại hiện nay có bản chất đến mức một số lần điểm đạo trước kia không còn tồn tại nữa, và nhân loại đã cho thấy mình sở hữu những tiềm năng sẽ giúp các đơn vị cá thể của nó bước đi không chỉ trên một hay hai Con Đường vũ trụ trước đây mở ra cho họ, mà trên tất cả các Con Đường ấy, nếu được huấn luyện đúng đắn. Việc khám phá sớm năng lượng nguyên tử đã chứng minh rõ điều này cho Thánh Đoàn.

All these factors have forced a reorganisation in the Plans at Shamballa and, in a unique conference, in that far greater Council Chamber over which our Solar Logos presides; greater opportunity was consequently offered to the Members of our planetary Hierarchy. I stress that point: the opportunity was not offered or presented to the fourth kingdom in nature, but to the fifth kingdom.

Tất cả những yếu tố này đã buộc phải có một sự tái tổ chức trong các Kế Hoạch tại Shamballa và, trong một hội nghị độc nhất vô nhị, tại Phòng Hội Đồng còn vĩ đại hơn nhiều do Thái dương Thượng đế của chúng ta chủ trì; vì thế cơ hội lớn hơn đã được trao cho các Thành viên của Thánh Đoàn hành tinh chúng ta. Tôi nhấn mạnh điểm đó: cơ hội không được trao hay trình ra cho giới thứ tư trong tự nhiên, mà cho giới thứ năm.

It is all these facts which have caused what may look to you like discrepancies and limitations in what I have given and [413] in comparison with that given in the earlier volumes of this Treatise, but they are not so in reality. The Master of the fifth initiation, even if now He does not at that time make His decision, faces intelligently and with some understanding of the choices to be made, the sixth initiation and its decisions. He begins to take also the particular training, and to this the teaching in A Treatise on Cosmic Fire now applies. He is shewn the newer opportunity, the modes of decision, and the limitations which are no longer legitimate. I would like to point out here that these changes are a cause of deep joy to the Hierarchy and to the Great Lives in the Council Chamber at Shamballa, for they indicate the strength and potency of Sanat Kumara’s success and the incredible progress made in the consciousness of humanity as a consequence; this will lead also to future paralleling decisions on the physical plane in human affairs; this deeply spiritual and mysterious success (mysterious because the human mind knows naught about it) was also the reason for the violent attempt of the Forces of Evil to gain control, and their resultant failure.

Chính tất cả những sự kiện này đã gây ra điều có thể trông như những sai khác và giới hạn trong những gì tôi đã cho ra và [413] khi so sánh với những gì đã được cho ra trong các tập trước của bộ Luận này, nhưng thực ra không phải vậy. Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, ngay cả nếu lúc ấy Ngài chưa đưa ra quyết định của mình, vẫn đối diện một cách thông minh và với một mức độ thấu hiểu nào đó về những lựa chọn cần được thực hiện, với lần điểm đạo thứ sáu và các quyết định của nó. Ngài cũng bắt đầu tiếp nhận sự huấn luyện đặc thù, và chính vào điều này mà giáo huấn trong Luận về Lửa Vũ Trụ hiện nay được áp dụng. Ngài được chỉ cho thấy cơ hội mới hơn, các phương thức quyết định, và những giới hạn không còn chính đáng nữa. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng những thay đổi này là nguyên nhân của niềm hoan hỉ sâu xa đối với Thánh Đoàn và đối với các Sự Sống Vĩ Đại trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, vì chúng cho thấy sức mạnh và hiệu lực của thành công của Đức Sanat Kumara và sự tiến bộ khó tin đã đạt được trong tâm thức nhân loại như một hệ quả; điều này cũng sẽ dẫn đến những quyết định song hành trong tương lai trên cõi hồng trần trong các công việc nhân loại; thành công sâu xa về tinh thần và đầy huyền nhiệm này (huyền nhiệm vì trí tuệ con người không biết gì về nó) cũng là lý do cho nỗ lực dữ dội của các Mãnh Lực của Điều Ác nhằm giành quyền kiểm soát, và sự thất bại tất yếu của chúng.

4. The Path to Sirius — 4. Con Đường đến Sirius

I have frequently hinted in my various books that the Sun, Sirius, is closely related to our planetary Life; much is known in the Hierarchy anent this connection, and the particular relationship of this fourth Path to humanity, the fourth kingdom in nature, but little can be communicated to the general public. I may, however, tell you certain things which may make your imaginative rangings (if I may use so strange a phrase) creatively profitable to you.

Tôi đã thường gợi ý trong nhiều sách của tôi rằng Mặt Trời, Sirius, có liên hệ mật thiết với Sự Sống hành tinh của chúng ta; trong Thánh Đoàn người ta biết nhiều về mối liên hệ này, và về mối liên hệ đặc thù của Con Đường thứ tư này với nhân loại, giới thứ tư trong tự nhiên, nhưng rất ít điều có thể được truyền đạt cho công chúng nói chung. Tuy nhiên, tôi có thể nói với bạn một số điều có thể làm cho những cuộc du hành của trí tưởng tượng bạn (nếu tôi có thể dùng một cụm từ kỳ lạ như vậy) trở nên hữu ích một cách sáng tạo đối với bạn.

This great Sun which is to our solar Logos what the Monad is to the spiritual man, has a peculiar part to play where our Earth is concerned. It might be considered by those with a sound sense of occult proportion that our tiny planet with its planetary Logos (one of the “imperfect Gods” of The Secret Doctrine) would be too small to enter in the slightest way into the consciousness of that Supreme Illumined Entity Who is greater even than our Solar Logos. [414] Such, however, is the case. There is a relationship of very ancient date between our Lord of the World, Sanat Kumara, and the Lord of Sirius, and this exists in spite of the fact that our planet is not a sacred planet. It might be added that our planet is, in the immediate cycle, owing to the factors I have lately considered with you, rapidly passing out of this category, and on the inner planes and subjectively considered is a sacred planet; the effects of this transition from non-sacred to sacred have not fully demonstrated themselves objectively. The mystery of this relationship is partially revealed at one of the higher initiations and it is then realised by the initiates that there is a good and adequate reason for the relation and that the following esoteric events, relations and happenings are simply consequences:

Mặt Trời vĩ đại này, đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như chân thần đối với con người tinh thần, có một vai trò đặc biệt phải đảm nhận liên quan đến Trái Đất chúng ta. Những ai có ý thức lành mạnh về tỉ lệ huyền bí có thể cho rằng hành tinh nhỏ bé của chúng ta cùng với Hành Tinh Thượng đế của nó (một trong những “Thượng đế bất toàn” của Giáo Lý Bí Nhiệm) quá nhỏ bé để có thể đi vào dù chỉ chút ít trong tâm thức của Thực Thể Tối Cao Rạng Ngời ấy, Đấng còn vĩ đại hơn cả Thái dương Thượng đế của chúng ta. [414] Tuy nhiên, đúng là như vậy. Có một mối liên hệ từ thời rất cổ xưa giữa Đức Chúa Tể Thế Giới của chúng ta, Đức Sanat Kumara, và Chúa Tể của Sirius, và điều này tồn tại mặc dù hành tinh chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Có thể nói thêm rằng hành tinh chúng ta, trong chu kỳ hiện tại, do những yếu tố mà gần đây tôi đã cùng bạn xem xét, đang nhanh chóng vượt ra khỏi loại này, và trên các cõi bên trong cũng như xét một cách chủ quan thì nó là một hành tinh thiêng liêng; các hiệu quả của sự chuyển tiếp này từ không thiêng liêng sang thiêng liêng vẫn chưa biểu lộ đầy đủ một cách khách quan. Huyền nhiệm của mối liên hệ này được mặc khải phần nào ở một trong những lần điểm đạo cao hơn, và khi ấy các điểm đạo đồ nhận ra rằng có một lý do tốt đẹp và đầy đủ cho mối liên hệ ấy, và rằng các biến cố, liên hệ và diễn biến huyền bí sau đây chỉ đơn giản là những hệ quả:

5.-ph-n-hai-nh-ng-nh-n-x-t-m-u-02.png

1. The majority of liberated humanity, and therefore a large number of the initiates who have to make decision, choose this way to the cosmic centre.

1. Đa số nhân loại đã được giải thoát, và vì thế một số lượng lớn các điểm đạo đồ phải đưa ra quyết định, chọn con đường này đến trung tâm vũ trụ.

2. The relationship as it expresses itself is between the Hierarchy and Sirius, and not between Shamballa and that stupendous Sun. The energy evoked in response to this relationship enters the Hierarchy via the Heart of the Sun, creating as a consequence a triangle of spiritual energy of enormous potency. You have, therefore:

2. Mối liên hệ, như nó biểu lộ, là giữa Thánh Đoàn và Sirius, chứ không phải giữa Shamballa và Mặt Trời kỳ vĩ ấy. Năng lượng được gợi lên để đáp ứng với mối liên hệ này đi vào Thánh Đoàn qua Trái Tim Mặt Trời, do đó tạo ra một tam giác năng lượng tinh thần có tiềm lực vô cùng lớn. Vì vậy, bạn có:

3. As progress is made in the course of taking the higher initiations, it becomes apparent to the initiate that two major streams of energy enter our planetary life:

3. Khi sự tiến bộ được thực hiện trong tiến trình thọ nhận các lần điểm đạo cao hơn, điểm đạo đồ thấy rõ rằng có hai dòng năng lượng chính đi vào sự sống hành tinh của chúng ta:

a. A stream of energy coming from the cosmic mental plane and from that focal point which is to Sanat Kumara what the egoic lotus, the soul, is to the spiritual man; it carries the life principle of our planet and centres itself in Shamballa. From there it is dispersed throughout all forms upon the planet and we call it LIFE. It must be remembered that this life principle embodies or is impregnated with the will and purpose [415] of THAT which overshadows Sanat Kumara as the soul overshadows the personality.

a. Một dòng năng lượng đến từ cõi trí vũ trụ và từ tiêu điểm vốn đối với Đức Sanat Kumara cũng như hoa sen chân ngã, linh hồn, đối với con người tinh thần; nó mang nguyên khí sự sống của hành tinh chúng ta và tập trung tại Shamballa. Từ đó nó được phân tán khắp mọi hình tướng trên hành tinh và chúng ta gọi nó là SỰ SỐNG. Cần nhớ rằng nguyên khí sự sống này hiện thân hay được thấm nhuần bởi ý chí và mục đích [415] của ĐẤNG phủ bóng lên Đức Sanat Kumara như linh hồn phủ bóng lên phàm ngã.

b. A stream of energy coming from the sun, Sirius; this enters directly into the Hierarchy and carries with it the principle of buddhi, of cosmic love. This, in a mysterious way, is the principle found at the heart of every atom.

b. Một dòng năng lượng đến từ mặt trời Sirius; dòng này đi trực tiếp vào Thánh Đoàn và mang theo nguyên khí bồ đề, của tình thương vũ trụ. Điều này, theo một cách huyền nhiệm, là nguyên khí được tìm thấy nơi trung tâm của mọi nguyên tử.

The life principle follows the line of 1.3.5.7, whilst the buddhic flow follows the line of 2.4.6. Thus atma-buddhi becomes the blended reality which is brought to full unfoldment as evolution proceeds. The energy of Sirius by-passes (to use a modern word) Shamballa and is focussed in the Hierarchy. Its effect is not felt until after the third initiation, though the Masters use this energy whilst training disciples for the second, the fourth and the sixth initiations.

Nguyên khí sự sống đi theo tuyến 1.3.5.7, trong khi dòng bồ đề đi theo tuyến 2.4.6. Như vậy atma-buddhi trở thành thực tại dung hợp được đưa đến sự khai mở trọn vẹn khi tiến hoá tiếp diễn. Năng lượng của Sirius vượt qua Shamballa (để dùng một từ hiện đại) và được tập trung trong Thánh Đoàn. Hiệu quả của nó không được cảm nhận cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, mặc dù các Chân sư sử dụng năng lượng này khi huấn luyện các đệ tử cho lần điểm đạo thứ hai, thứ tư và thứ sáu.

4. The entire work of the Great White Lodge is controlled from Sirius; the Ashrams are subjected to its cyclic inflow; the higher initiations are taken under its stimulation, for the principle of buddhi, of pure love (i.e., love-wisdom) must be active in the heart of every initiate prior to the initiation of the great decision; it is therefore only initiates of the fifth, sixth and higher initiations who can work consciously with the potent buddhic “livingness” which permeates all Ashrams, though unrecognised by the average disciple.

4. Toàn bộ công việc của Thánh đoàn được kiểm soát từ Sirius; các ashram chịu sự chi phối của dòng tuôn vào theo chu kỳ của nó; các lần điểm đạo cao hơn được thọ nhận dưới sự kích thích của nó, vì nguyên khí bồ đề, của tình thương thuần khiết (tức bác ái – minh triết) phải hoạt động trong tim của mọi điểm đạo đồ trước cuộc điểm đạo của quyết định lớn lao; vì thế chỉ những điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ năm, thứ sáu và cao hơn mới có thể làm việc một cách hữu thức với “sinh động tính” bồ đề mãnh liệt đang thấm nhuần mọi ashram, dù đệ tử trung bình không nhận ra.

5. This Sirian influence was not recognised, and little of it was definitely focussed in the Hierarchy, until Christ came and revealed the love of God to humanity. He is the expression, par excellence, of a Sirian initiation, and it is to that high place He will eventually go—no matter what duties or hierarchical obligations may take Him elsewhere between that time and now. The Buddha was originally to have chosen the fourth Path but other plans confront Him now and will probably claim His choice.

5. Ảnh hưởng Sirian này đã không được nhận biết, và rất ít phần của nó được tập trung một cách xác định trong Thánh Đoàn, cho đến khi Đức Christ đến và mặc khải tình thương của Thượng đế cho nhân loại. Ngài là biểu hiện, theo nghĩa tuyệt hảo nhất, của một điểm đạo Sirian, và chính đến nơi cao cả đó mà cuối cùng Ngài sẽ đi—bất kể những bổn phận hay nghĩa vụ trong Thánh Đoàn nào có thể đưa Ngài đến nơi khác giữa hiện tại và lúc ấy. Đức Phật nguyên thủy đã được dự định sẽ chọn Con Đường thứ tư nhưng hiện nay những kế hoạch khác đang ở trước Ngài và có lẽ sẽ đòi hỏi sự lựa chọn của Ngài.

6. Sanat Kumara is not on the Sirian line but—to speak in symbols, not too deeply veiled—Lucifer, Son of the Morning, is closely related, and hence the large number of human beings who will become disciples in the Sirian Lodge. This [416] is the true “Blue Lodge,” and to become a candidate in that Lodge, the initiate of the third degree has to become a lowly aspirant, with all the true and full initiations awaiting him “within the sunshine of the major Sun.”

6. Đức Sanat Kumara không ở trên tuyến Sirian nhưng—nói bằng biểu tượng, không quá che đậy—Lucifer, Con của Bình Minh, lại có liên hệ mật thiết, và do đó có một số lượng lớn những con người sẽ trở thành đệ tử trong Thánh đoàn Sirian. Đây [416] là “Thánh đoàn Lam” chân thực, và để trở thành một ứng viên trong Thánh đoàn đó, điểm đạo đồ cấp ba phải trở thành một người chí nguyện khiêm cung, với tất cả những lần điểm đạo chân thực và trọn vẹn đang chờ đợi y “trong ánh dương của Mặt Trời lớn lao.”

7. None of the above facts indicates divergence of view between Shamballa and the Hierarchy, nor do they signify cleavage or differing aims and goals. The whole subject is reflected in such minor relations on Earth as those between:

7. Không điều nào trong các sự kiện trên hàm ý có sự khác biệt quan điểm giữa Shamballa và Thánh Đoàn, cũng không có nghĩa là có sự chia rẽ hay những mục tiêu và cứu cánh khác nhau. Toàn bộ chủ đề này được phản chiếu trong những mối liên hệ nhỏ hơn trên Trái Đất như giữa:

a. The Spiritual Triad and the Personality.

a. Tam Nguyên Tinh Thần và Phàm ngã.

b. The mental unit and the manasic permanent atom.

b. đơn vị hạ trí và Nguyên tử trường tồn manas.

c. Atma-Buddhi.

c. Atma-Buddhi.

d. The Christ and the Buddha.

d. Đức Christ và Đức Phật.

The above somewhat uncorrelated items of information will give you a general idea of the significant connection between our unimportant little planet and that vast expression of divinity, the Life which is manifesting through Sirius; it is an expression which is organised and vital beyond anything man can vision and which is free to a completely unlimited extent, again beyond the power of man to comprehend. The principle of freedom is a leavening energy which can permeate substance in a unique manner; this divine principle represents an aspect of the influence which Sirius exerts on our solar system and particularly on our planet. This principle of freedom is one of the attributes of Deity (like will, love and mind) of which humanity knows as yet little. The freedom for which men fight is one of the lowest aspects of this cosmic freedom, which is related to certain great evolutionary developments that enable the life or spirit aspect to free itself from the impact, the contact and the influence of substance.

Những mẩu thông tin phần nào rời rạc trên đây sẽ cho bạn một ý niệm tổng quát về mối liên hệ đầy thâm nghĩa giữa hành tinh nhỏ bé không quan trọng của chúng ta và biểu hiện rộng lớn của thiên tính ấy, Sự Sống đang biểu lộ qua Sirius; đó là một biểu hiện được tổ chức và tiếp sinh lực vượt quá bất cứ điều gì con người có thể có tầm nhìn, và tự do đến một mức hoàn toàn vô hạn, cũng vượt quá khả năng thấu hiểu của con người. Nguyên khí tự do là một năng lượng men hoá có thể thấm vào chất liệu theo một cách độc đáo; nguyên khí thiêng liêng này biểu hiện một phương diện của ảnh hưởng mà Sirius tác động lên hệ mặt trời chúng ta và đặc biệt lên hành tinh chúng ta. Nguyên khí tự do này là một trong những thuộc tính của Thượng đế (giống như ý chí, tình thương và trí tuệ) mà nhân loại cho đến nay còn biết rất ít. Tự do mà con người chiến đấu để giành lấy là một trong những phương diện thấp nhất của tự do vũ trụ này, vốn liên hệ với một số phát triển tiến hoá lớn lao giúp phương diện sự sống hay tinh thần giải thoát chính nó khỏi tác động, tiếp xúc và ảnh hưởng của chất liệu.

It is the principle of freedom which enables Sanat Kumara to dwell on the Earth and yet stand free from all contacts, except with Those Who have trodden the Path of Liberation and now stand free upon the cosmic physical plane; it is that which enables the initiate to achieve a state of “isolated unity”; it is that which lies behind the Spirit of Death and forms the motivating power of that great releasing Agency; it is that which provides a “pathway of power” [417] between our Hierarchy and the distant sun, Sirius, and gives the incentive towards the “culture of freedom” or of liberation which motivates the work of the Masters of the Wisdom; it is that which produced the ferment and the vortex of conflict in far distant ages and which has been recognised in the present through the results of the Law of Evolution in every kingdom in nature; this is that which “substands” or lies under or behind all progress. This mysteriously “exerted influence,” this “pulling away” from form (as we might simply call it), emanates from Sirius and for it we have no name; it is the law of which the three cosmic laws—the Laws of Synthesis, of Attraction and of Economy—are only aspects. None of these three subsidiary laws imposes any rule or limitation upon the Lord of the World. The Law of Freedom, however, does impose certain restrictions, if one can use such a paradoxical phrase. It is responsible for His being known as the “Great Sacrifice,” for (under the control of this law) He created our planetary life and all that is within and upon it, in order to learn to wield this law with full understanding, in full consciousness, and yet at the same time to bring release to the myriad forms of His creation.

Chính nguyên khí tự do giúp Đức Sanat Kumara cư ngụ trên Trái Đất mà vẫn đứng tự do khỏi mọi tiếp xúc, ngoại trừ với những Đấng đã bước trên Con Đường Giải Thoát và nay đứng tự do trên cõi hồng trần vũ trụ; chính nó giúp điểm đạo đồ đạt đến trạng thái “Hợp Nhất Cô Lập”; chính nó nằm phía sau Tinh thần của Sự Chết và tạo thành quyền năng thúc đẩy của Tác Nhân giải thoát vĩ đại ấy; chính nó cung cấp một “con đường quyền năng” [417] giữa Thánh Đoàn chúng ta và mặt trời xa xôi Sirius, và đem lại động lực hướng tới “văn hoá của tự do” hay của giải thoát vốn thúc đẩy công việc của các Chân sư Minh triết; chính nó đã tạo ra sự lên men và xoáy lốc xung đột trong những thời đại xa xưa và đã được nhận biết trong hiện tại qua các kết quả của Định luật Tiến hoá trong mọi giới của tự nhiên; chính nó là điều “nâng đỡ từ bên dưới” hay nằm bên dưới hoặc phía sau mọi tiến bộ. “Ảnh hưởng được tác động” đầy huyền nhiệm này, sự “kéo ra khỏi” hình tướng này (như chúng ta có thể gọi đơn giản như vậy), phát ra từ Sirius và đối với nó chúng ta không có tên gọi; đó là định luật mà ba định luật vũ trụ—các Định luật Tổng Hợp, Hấp Dẫn và Tiết Kiệm—chỉ là những phương diện của nó. Không một định luật phụ thuộc nào trong ba định luật này áp đặt bất kỳ quy luật hay giới hạn nào lên Đức Chúa Tể Thế Giới. Tuy nhiên, Định luật Tự Do có áp đặt một số hạn chế, nếu người ta có thể dùng một cụm từ nghịch lý như vậy. Nó chịu trách nhiệm cho việc Ngài được biết đến như “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại,” vì (dưới sự kiểm soát của định luật này) Ngài đã tạo ra sự sống hành tinh của chúng ta và mọi điều ở trong và trên đó, để học cách vận dụng định luật này với sự thấu hiểu trọn vẹn, trong tâm thức trọn vẹn, đồng thời cũng mang lại sự giải thoát cho vô số hình tướng trong sáng tạo của Ngài.

The Law of Economy affects humanity as a whole today throughout every phase of its life; the Law of Attraction is beginning to gain some control, particularly in the work which the Hierarchy undertakes to do; and many initiates and senior disciples are becoming aware of the significance of the Law of Synthesis and are reacting to its impact. Later on, when moving to one of the seven Paths, the Master will work with the Law of Freedom. This is not, as you may well surmise, its true name, for in the last analysis, freedom and liberation are effects of its activity. This unique and mysterious law governs the Life and the Lives upon Sirius, and it is to that unknown “sphere of functioning and intelligent activity” what the Law of Economy is to our planet—the lowest of the laws controlling existence in planetary form.

Định luật Tiết Kiệm ngày nay ảnh hưởng đến nhân loại như một toàn thể trong mọi phương diện của đời sống nó; Định luật Hấp Dẫn đang bắt đầu giành được một mức kiểm soát nào đó, đặc biệt trong công việc mà Thánh Đoàn đảm nhận thực hiện; và nhiều điểm đạo đồ cùng các đệ tử cao cấp đang trở nên nhận biết về ý nghĩa của Định luật Tổng Hợp và đang đáp ứng với tác động của nó. Về sau, khi chuyển sang một trong bảy Con Đường, Chân sư sẽ làm việc với Định luật Tự Do. Đây không phải, như bạn có thể dễ dàng suy ra, là tên gọi chân thực của nó, vì xét đến cùng, tự do và giải thoát là những hiệu quả của hoạt động của nó. Định luật độc đáo và huyền nhiệm này cai quản Sự Sống và các sự sống trên Sirius, và đối với “khối cầu hoạt động và hoạt động trí tuệ” chưa được biết đến ấy, nó cũng như Định luật Tiết Kiệm đối với hành tinh chúng ta—định luật thấp nhất trong các định luật kiểm soát sự hiện hữu trong hình tướng hành tinh.

This Law of Economy includes, as you know from my earlier writings, many lesser or subsidiary laws; it might therefore be stated that this Law of Freedom also does the [418] same. Until more divine attributes are realised as existing and recognised as aspects, it is not possible for the name of the law which embodies the Law of Freedom to be given, for there is no word in our language adequately available. The above information will, however, link Sirius and our little planet, the Earth, in your minds.

Định luật Tiết Kiệm này bao gồm, như các bạn đã biết từ những trước tác trước đây của tôi, nhiều định luật nhỏ hơn hay phụ thuộc; vì vậy, cũng có thể nói rằng Định luật Tự Do này [418] cũng như thế. Chừng nào nhiều thuộc tính thiêng liêng hơn chưa được chứng nghiệm là hiện hữu và được nhìn nhận như những phương diện, thì chưa thể nêu ra tên của định luật thể hiện Định luật Tự Do, vì trong ngôn ngữ của chúng ta không có từ nào thích hợp đầy đủ. Tuy nhiên, thông tin trên sẽ nối kết Sirius và hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, trong tâm trí các bạn.

Masonry, as originally instituted far back in the very night of time and long ante-dating the Jewish dispensation, was organised under direct Sirian influence and modelled as far as possible on certain Sirian institutions and bearing a slight resemblance also to our hierarchical life—as seen in the light of the Eternal Now. Its “Blue Lodge” with its three degrees is related to the three major groups of Lives on Sirius, for there are there no kingdoms of nature, such as we possess; these groups receive all Those Who choose the fourth Path, and train Them in the mode of existence and the type of livingness which is found on Sirius. This will make it plain to you that the least developed of the Sirian Lives are—from our standpoint—all of Them initiates of very high degree. Masonry is, therefore, connected in a peculiar way with the fourth Path. Down the ages, the Masonic tradition has been preserved, changing its nomenclature from time to time, reinterpreting its Words of Power, and consequently getting further and further removed from its original beauty and intent.

Hội Tam Điểm, như đã được thiết lập nguyên thủy từ rất xa xưa trong chính đêm tối của thời gian và có trước cả thời kỳ Do Thái giáo, đã được tổ chức dưới ảnh hưởng trực tiếp của Sirius và được mô phỏng, trong mức độ có thể, theo một số định chế của Sirius, đồng thời cũng mang đôi nét tương tự với đời sống Thánh đoàn của chúng ta—như được thấy trong ánh sáng của Hiện Tại Vĩnh Cửu. “Blue Lodge” của nó với ba cấp bậc có liên hệ với ba nhóm Sự Sống chính trên Sirius, vì ở đó không có các giới trong thiên nhiên như chúng ta có; các nhóm này tiếp nhận tất cả Những Đấng chọn Con Đường thứ tư, và huấn luyện Các Ngài trong phương thức hiện hữu và loại sinh hoạt được tìm thấy trên Sirius. Điều này sẽ làm cho các bạn thấy rõ rằng những Sự Sống Sirius kém phát triển nhất—xét từ quan điểm của chúng ta—tất cả Các Ngài đều là những điểm đạo đồ ở cấp rất cao. Vì vậy, Hội Tam Điểm được nối kết một cách đặc biệt với Con Đường thứ tư. Qua các thời đại, truyền thống Tam Điểm đã được bảo tồn, thay đổi danh xưng theo từng thời kỳ, diễn giải lại các Quyền năng từ của mình, và do đó ngày càng xa rời vẻ đẹp và chủ đích nguyên thủy của nó.

The time has now come, under cyclic law and in preparation for the New Age, for certain changes to be worked by Masons with spiritual understanding. The present Jewish colouring of Masonry is completely out of date and has been preserved far too long, for it is today either Jewish or Christian and should be neither. The Blue Lodge degrees are entirely Jewish in phrasing and wording, and this should be altered. The Higher Degrees are predominantly Christian, though permeated with Jewish names and words. This too should end. This Jewish colouring is today one of the main hindrances to the full expression of Masonic intention and should be changed, whilst preserving the facts and detail and structure of the Masonic symbolism intact. Whatever [419] form the new nomenclature will take (and this change will inevitably come), that too will pass away after due service rendered. Thus the cyclic transformation will proceed until such time as the bulk of humanity, standing upon the fourth Path, will pass through the initiatory process on Sirius, of which our E.A degree is a faint reflection.

Hiện nay, theo định luật chu kỳ và để chuẩn bị cho Kỷ Nguyên Mới, đã đến lúc một số thay đổi cần được những người Tam Điểm có sự thấu hiểu tinh thần thực hiện. Sắc thái Do Thái hiện nay của Hội Tam Điểm hoàn toàn lỗi thời và đã được duy trì quá lâu, vì ngày nay nó hoặc là Do Thái hoặc là Cơ Đốc, trong khi lẽ ra không nên là cả hai. Các cấp bậc Blue Lodge hoàn toàn mang cách diễn đạt và ngôn từ Do Thái, và điều này cần phải thay đổi. Các Cấp Bậc Cao phần lớn mang tính Cơ Đốc, dù thấm đẫm các tên gọi và từ ngữ Do Thái. Điều này cũng phải chấm dứt. Sắc thái Do Thái này ngày nay là một trong những chướng ngại chính đối với sự biểu lộ trọn vẹn của ý hướng Tam Điểm và cần phải được thay đổi, trong khi vẫn giữ nguyên vẹn các sự kiện, chi tiết và cấu trúc của biểu tượng học Tam Điểm. Dù [419] hình thức danh xưng mới sẽ mang lấy là gì đi nữa (và sự thay đổi này tất yếu sẽ đến), thì điều đó rồi cũng sẽ qua đi sau khi đã hoàn tất sự phụng sự thích đáng. Như thế, sự chuyển đổi theo chu kỳ sẽ tiếp diễn cho đến khi phần lớn nhân loại, đứng trên Con Đường thứ tư, sẽ đi qua tiến trình điểm đạo trên Sirius, mà cấp E.A của chúng ta chỉ là một phản ánh mờ nhạt.

5. The Ray Path — 5. Con Đường Cung

The history of evolution upon the Earth, from the angle of humanity is one of progress, emphatic revolutionary decisions and climaxing crises. Without such a history we should not realise the progress made and the steady though gradual growth of sensitive response to environment, to contact and to impressions—mental and spiritual. The history of evolution is in reality and from the occult point of view the history of the freeing of the spirit by the mode of steadily developing forms which—in orderly unfoldment and at the demand of spirit—meet its requirements in any particular cycle and at every stage of growth, consequent upon the response of substance to spiritual impact and impression.

Lịch sử tiến hoá trên Trái Đất, xét từ góc độ nhân loại, là một lịch sử của tiến bộ, của những quyết định cách mạng dứt khoát và của những cuộc khủng hoảng đạt đến cao điểm. Nếu không có một lịch sử như thế, chúng ta đã không nhận ra được sự tiến bộ đã đạt được và sự tăng trưởng vững chắc tuy dần dần của khả năng đáp ứng nhạy bén đối với môi trường, đối với tiếp xúc và đối với các ấn tượng—trí tuệ và tinh thần. Thực ra, lịch sử tiến hoá, xét theo quan điểm huyền bí, là lịch sử của sự giải phóng tinh thần bằng phương thức phát triển đều đặn các hình tướng—những hình tướng, trong sự khai mở có trật tự và theo đòi hỏi của tinh thần, đáp ứng các nhu cầu của nó trong bất kỳ chu kỳ riêng biệt nào và ở mọi giai đoạn tăng trưởng, như hệ quả của sự đáp ứng của chất liệu trước tác động và ấn tượng tinh thần.

This impact and this impression relate to the bringing together of substance and spirit, of form and matter, and is also closely connected with the cyclic appearance of the rays, with their varying ray influences, qualities and intentions, for they all contribute to the evolutionary process as they cycle in and out of manifested expression. It should be recognised that each ray Lord, whilst following His own path of development, has certain qualities to express and certain aspects of life to unfold and manifest. The effect of these intentions of the ray Lords or Lives upon our planet is, from Their angle, purely incidental and takes place without planning, being due to definite cyclic, circulatory and cosmic activities wherein They are eternally engaged. Their intention and purposes are not, therefore, in any way related to humanity—a fact which men are apt to forget.

Tác động và ấn tượng này liên quan đến việc đưa chất liệu và tinh thần, hình tướng và vật chất lại với nhau, và cũng gắn bó chặt chẽ với sự xuất hiện theo chu kỳ của các cung, với những ảnh hưởng cung, phẩm tính và ý hướng khác nhau của chúng, vì tất cả đều góp phần vào tiến trình tiến hoá khi chúng luân phiên đi vào rồi đi ra khỏi sự biểu lộ. Cần nhận ra rằng mỗi Đấng Chúa Tể Cung, trong khi đi theo con đường phát triển riêng của Ngài, đều có những phẩm tính nhất định để biểu lộ và những phương diện nhất định của sự sống để khai mở và biểu hiện. Tác động của những ý hướng này của các Đấng Chúa Tể Cung hay các Sự Sống lên hành tinh chúng ta, xét từ góc độ của Các Ngài, hoàn toàn chỉ là ngẫu nhiên và diễn ra không có sự hoạch định, do những hoạt động chu kỳ, tuần hoàn và vũ trụ xác định mà Các Ngài vĩnh viễn dấn thân vào. Vì vậy, ý hướng và mục đích của Các Ngài hoàn toàn không liên hệ gì đến nhân loại—một sự kiện mà con người thường dễ quên.

It is, however, with these ray intentions that the Initiate of the sixth degree is occupied when He passes on to the fifth or Ray Path. His decision and the intention of the ray [420] Lord at first, and the united intention of all of Them eventually, are curiously and uniquely connected. The Master on this Path works at the comprehension of the intention and the life purposes of the ray Lords. Many first ray souls find their way on to this Path, for there is a close connection between the decision at the sixth initiation and this fifth Path; this might be expected for two reasons: one, that every Master is on one of the three major rays, and secondly, every Master has to develop an understanding of the world of cosmic Purpose. It is a connection based upon the use of the will; it is the will-to-power, the will-to-love and the will-to-know, plus the other four aspects of will (A Treatise on the Seven Rays, Vol III. Esoteric Astrology Pages 599-601) which form the elementary basis of the training given on this fifth Path. Souls from other rays reach the same goal and occasionally choose this Path, but it is not the one which constitutes for Them the line of least resistance, as it often is for Masters on the first ray.

Tuy nhiên, chính với những ý hướng cung này mà điểm đạo đồ cấp sáu bận tâm khi Ngài tiến sang Con Đường thứ năm hay Con Đường Cung. Quyết định của Ngài và ý hướng của Đấng Chúa Tể Cung lúc đầu, rồi về sau là ý hướng hợp nhất của tất cả Các Ngài, được nối kết với nhau một cách kỳ lạ và độc đáo. Chân sư trên Con Đường này làm việc để thấu hiểu ý hướng và các mục đích sống của các Đấng Chúa Tể Cung. Nhiều linh hồn cung một tìm được lối đi vào Con Đường này, vì có một mối liên hệ chặt chẽ giữa quyết định ở lần điểm đạo thứ sáu và Con Đường thứ năm này; điều đó có thể được chờ đợi vì hai lý do: thứ nhất, mọi Chân sư đều thuộc một trong ba cung chính, và thứ hai, mọi Chân sư đều phải phát triển sự thấu hiểu về thế giới của Thiên Ý vũ trụ. Đó là một mối liên hệ dựa trên việc sử dụng ý chí; đó là ý chí hướng đến quyền năng, ý chí hướng đến tình thương và ý chí hướng đến tri thức, cộng với bốn phương diện khác của ý chí (Luận về Bảy Cung, Tập III. Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 599-601) tạo thành nền tảng sơ đẳng của sự huấn luyện được ban trên Con Đường thứ năm này. Các linh hồn thuộc những cung khác cũng đạt đến cùng mục tiêu và đôi khi chọn Con Đường này, nhưng đó không phải là con đường tạo thành con đường ít trở ngại nhất đối với Các Ngài, như thường là vậy đối với các Chân sư cung một.

Masters from the first ray and the second ray tread it often, and each of Them has a different mode of approach, technique and type of realisation:

Các Chân sư từ cung một và cung hai thường bước đi trên con đường này, và mỗi Ngài có một phương thức tiếp cận, kỹ thuật và loại chứng nghiệm khác nhau:

1. First ray souls have to negate their “isolated unity” and study the beauty and value of differentiation. This period of training is followed by a mysterious process called “multiple identification.” Note how the adjective here conveys the many and the plural whilst the noun gives the concept of unity and the singular. In these two words, apparently contradictory though esoterically significant, there is embodied one aspect of the initiation to be experienced on this ray Path.

1. Các linh hồn cung một phải phủ nhận “hợp nhất cô lập” của mình và nghiên cứu vẻ đẹp cùng giá trị của sự biến phân. Giai đoạn huấn luyện này được tiếp theo bởi một tiến trình huyền nhiệm gọi là “đồng hoá đa thể.” Hãy lưu ý cách tính từ ở đây chuyển tải cái nhiều và số nhiều, trong khi danh từ lại cho khái niệm về hợp nhất và số ít. Trong hai từ này, tuy bề ngoài mâu thuẫn nhưng về mặt huyền bí lại đầy thâm nghĩa, có hàm chứa một phương diện của điểm đạo sẽ được trải nghiệm trên Con Đường Cung này.

2. The second ray Master who decides to go this way has to negate his attractive, magnetic tendencies and learn the meaning of “isolated intention with a multiplicity of goals.” I know not how else to translate the archaic phrase which describes the objective of the Master’s training on this Path. The exclusive has to become the inclusive in an [421] entirely newly apprehended world of realisation, whilst the inclusive has to master the technique of exclusiveness and become exclusive in a new realm of realisation; it is an exclusiveness which has in it no slightest element of the great heresy of separateness.

2. Chân sư cung hai quyết định đi theo lối này phải phủ nhận các khuynh hướng hấp dẫn, từ tính của mình và học ý nghĩa của “ý hướng cô lập với đa số mục tiêu.” Tôi không biết phải dịch cụm từ cổ xưa mô tả mục tiêu của sự huấn luyện của Chân sư trên Con Đường này theo cách nào khác. Cái độc hữu phải trở thành cái bao gồm trong một [421] thế giới chứng nghiệm hoàn toàn mới được lĩnh hội, trong khi cái bao gồm phải làm chủ kỹ thuật của tính độc hữu và trở nên độc hữu trong một lĩnh vực chứng nghiệm mới; đó là một tính độc hữu không chứa đựng dù chỉ chút ít nào yếu tố của Đại Tà thuyết về sự phân ly.

I may not here even indicate the type or quality of the intentions of the ray Lords which the Master of the sixth initiation has to learn to comprehend. The training given Him ends in another tremendous decision which will place Him in a group of Lives on some sacred planet or in some solar system which will be a correspondence to Shamballa on our little planet. Shamballa embodies the will or purpose of our planetary Logos. The goal which these initiates (trained on the ray Path) eventually reach is some sphere of activity wherein sublime purposes and divine intentions are worked out.

Tôi không thể ở đây dù chỉ gợi ý loại hay phẩm tính của những ý hướng của các Đấng Chúa Tể Cung mà Chân sư của lần điểm đạo thứ sáu phải học để thấu hiểu. Sự huấn luyện được ban cho Ngài kết thúc trong một quyết định trọng đại khác, quyết định này sẽ đặt Ngài vào một nhóm Sự Sống trên một hành tinh thiêng liêng nào đó hoặc trong một hệ mặt trời nào đó, vốn sẽ là một tương ứng với Shamballa trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta. Shamballa thể hiện ý chí hay mục đích của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Mục tiêu mà các điểm đạo đồ này (được huấn luyện trên Con Đường Cung) cuối cùng đạt đến là một khối cầu hoạt động nào đó, nơi các mục đích siêu tuyệt và các ý hướng thiêng liêng được thực hiện.

6. The Path the Logos Himself is on — 6. Con Đường mà chính Thượng đế đang đi

It should be remembered as this peculiarly abstruse subject is approached that the Solar Logos is as far removed (in the evolutionary sense) from our planetary Logos as the latter is from the point of attainment of an accepted disciple. Yet the two are linked by a subjective unity and similarity of objective. At certain points upon the Way of the Higher Evolution Their two lines of energy meet and blend. Our Solar Logos also plays a peculiarly interesting part in the development of our entire planetary life. For the sake of clarity, yet at the same time speaking symbolically, Sanat Kumara might be regarded as a personal disciple of the Solar Logos, with all that that indicates of cosmic responsibility.

Cần ghi nhớ, khi tiếp cận chủ đề đặc biệt trừu tượng này, rằng Thái dương Thượng đế cách xa (theo nghĩa tiến hoá) Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng như Hành Tinh Thượng đế cách xa điểm thành tựu của một đệ tử được chấp nhận. Tuy nhiên, cả hai được nối kết bởi một hợp nhất chủ quan và một sự tương đồng về mục tiêu. Tại những điểm nhất định trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, hai tuyến năng lượng của Các Ngài gặp nhau và hòa trộn. Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng đóng một vai trò đặc biệt thú vị trong sự phát triển của toàn bộ sự sống hành tinh của chúng ta. Vì mục đích làm sáng tỏ, nhưng đồng thời nói theo biểu tượng, Đức Sanat Kumara có thể được xem như một đệ tử cá nhân của Thái dương Thượng đế, với tất cả những gì điều đó hàm ý về trách nhiệm vũ trụ.

We had much difficulty in considering understandingly the path trodden by Those Masters Who decided to tread the Path of training for planetary Logoi. It is therefore far more difficult and practically impossible to say anything anent this Path which is trodden by Those Great Beings Who are in training for Solar Logoi. Of These, Sanat Kumara [422] is One. Not all the planetary Logoi tread the Path of Solar Logoi, for just as exalted positions await Them elsewhere in the universe. Those Masters, as I have said in A Treatise on Cosmic Fire, Who tread this Path are rare indeed, and hitherto have had to enter this Path via the angel or deva evolution and by transference then to the fifth or ray Path. Changes have however been made, and a Master can now pass on to this sixth Path directly and without entering the deva evolution.

Chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn khi cố gắng xem xét một cách thấu hiểu con đường được bước đi bởi những Chân sư đã quyết định bước lên Con Đường huấn luyện dành cho các Hành Tinh Thượng đế. Vì vậy, còn khó hơn nhiều và thực tế là không thể nói được điều gì về Con Đường này, vốn được bước đi bởi Những Đấng Vĩ Đại đang được huấn luyện để trở thành các Thái dương Thượng đế. Trong số Các Ngài, Đức Sanat Kumara [422] là Một. Không phải mọi Hành Tinh Thượng đế đều bước đi trên Con Đường của các Thái dương Thượng đế, vì cũng có những địa vị cao cả đang chờ Các Ngài ở nơi khác trong vũ trụ. Những Chân sư, như tôi đã nói trong Luận về Lửa Vũ Trụ, bước đi trên Con Đường này quả thật rất hiếm, và cho đến nay đã phải đi vào Con Đường này qua tiến hoá thiên thần hay deva, rồi bằng sự chuyển dịch sang Con Đường thứ năm hay Con Đường Cung. Tuy nhiên, những thay đổi đã được thực hiện, và giờ đây một Chân sư có thể tiến sang Con Đường thứ sáu này trực tiếp mà không cần đi vào tiến hoá deva.

This sixth Path is one on which the Masters in training have to work with the devas who are so frequently the mobile agents of the creative process in solar creation. The Masters Who enter upon this Path, eventually and as part of Their training, enter the Council Chamber of some of the sacred planets, before transferring into the group which guides our Solar Logos; this in its turn is only a temporary phase, though in both cases the time embraced may cover vast periods, from the point of view of humanity. They work with principles unknown to us on Earth, though two of these principles will later be revealed; many of them are controlling factors on other spheres and in other planetary schemes which are more advanced than ours; the Master in training then acts as the custodian of these “energetic principles” or as distributing agent; in this way Venus was the custodian of what we call the principle of Mind and brought it as a pure gift to embryonic humanity.

Con Đường thứ sáu này là con đường mà trên đó các Chân sư đang được huấn luyện phải làm việc với các thiên thần, những vị thường là các tác nhân linh động của tiến trình sáng tạo trong sự sáng tạo thái dương. Các Chân sư bước vào Con Đường này, cuối cùng và như một phần của sự huấn luyện của Các Ngài, đi vào Phòng Hội Đồng của một số hành tinh thiêng liêng, trước khi chuyển sang nhóm hướng dẫn Thái dương Thượng đế của chúng ta; đến lượt nó, điều này cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời, dù trong cả hai trường hợp thời gian bao hàm có thể trải dài qua những thời kỳ mênh mông, xét từ quan điểm của nhân loại. Các Ngài làm việc với những nguyên khí mà chúng ta không biết trên Trái Đất, dù về sau hai trong số các nguyên khí này sẽ được mặc khải; nhiều nguyên khí trong số đó là những yếu tố kiểm soát trên các khối cầu khác và trong các hệ hành tinh khác tiến bộ hơn hệ của chúng ta; khi ấy Chân sư đang được huấn luyện hành động như người gìn giữ các “nguyên khí năng lượng” này hoặc như tác nhân phân phối; theo cách đó Sao Kim đã là người gìn giữ điều mà chúng ta gọi là nguyên khí Trí Tuệ và đã mang nó như một tặng phẩm thuần khiết đến cho nhân loại còn phôi thai.

7. The Path of Absolute Sonship — 7. Con Đường của Tuyệt Đối Tử Tính

As I have previously pointed out, not much can be given out concerning this mysterious Path which leads into a triangle (if I may so express it) formed of three lines of energy of differing and greatly varying vibratory effectiveness. This triangle is in the nature of an open door, presenting unique and unprecedented opportunity to Those Who discover this Path. Just as one of the seven Paths produced ultimately relationship to the Pleiades, so this Path relates our solar system to the constellation of the Great Bear. You have, therefore, the following triangle composed [423] of one stream of energy emanating from the Great Bear, another stream of energy issuing from the Heart of the Sun or from our Solar Logos, and the base line constituted of the seven streams of energy which come from our seven sacred planets. The potency and the effectiveness of this triangle is therefore unique and apparent; it produces relation between our system, our planets and the universe. This “open” triangle presents opportunity to Those Lives Who, from the other side of the triangle to that presented to our solar system and its contents, seek to help our solar system and bring the non-sacred planets to the point of liberation which is their particular goal. Through this triangular door all the great Avatars enter our system and “find the Point where They can serve.”

Như tôi đã chỉ ra trước đây, không thể tiết lộ nhiều về Con Đường huyền nhiệm này, con đường dẫn vào một tam giác (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) được tạo thành bởi ba tuyến năng lượng có hiệu lực rung động khác nhau và rất khác biệt. Tam giác này có bản chất của một cánh cửa mở, trình bày cơ hội độc nhất và chưa từng có cho Những Đấng khám phá ra Con Đường này. Cũng như một trong bảy Con Đường cuối cùng tạo ra mối liên hệ với chòm Pleiades, thì Con Đường này liên hệ hệ mặt trời của chúng ta với chòm Đại Hùng. Vì vậy, các bạn có tam giác sau đây được cấu thành [423] bởi một dòng năng lượng phát ra từ chòm Đại Hùng, một dòng năng lượng khác phát ra từ Trái Tim của Mặt Trời hay từ Thái dương Thượng đế của chúng ta, và đường đáy được tạo thành bởi bảy dòng năng lượng đến từ bảy hành tinh thiêng liêng của chúng ta. Do đó, uy lực và hiệu quả của tam giác này là độc nhất và hiển nhiên; nó tạo ra mối liên hệ giữa hệ của chúng ta, các hành tinh của chúng ta và vũ trụ. Tam giác “mở” này trình bày cơ hội cho những Sự Sống, từ phía bên kia của tam giác đối diện với phía được trình bày cho hệ mặt trời của chúng ta và các nội dung của nó, tìm cách giúp đỡ hệ mặt trời của chúng ta và đưa các hành tinh không thiêng liêng đến điểm giải thoát là mục tiêu riêng của chúng. Qua cánh cửa tam giác này, tất cả các Đấng Hoá Thân vĩ đại đi vào hệ của chúng ta và “tìm ra Điểm nơi Các Ngài có thể phụng sự.”

5.-ph-n-hai-nh-ng-nh-n-x-t-m-u-03.png

The inflow of extra-solar energy is what produces the seven cosmic Paths. There is no such grouping as the seven solar Paths. In most cases, the Paths lead away from our solar system altogether.

Dòng năng lượng ngoài thái dương chảy vào là điều tạo ra bảy Con Đường vũ trụ. Không có nhóm nào như bảy Con Đường thái dương. Trong phần lớn các trường hợp, các Con Đường dẫn ra khỏi hệ mặt trời của chúng ta hoàn toàn.

If you will study the more abstruse teaching (more veiled and more symbolic than this) you will find certain statements made which—to the esotericist—will throw much light on the simpler presentations in this Treatise on the Seven Rays. It is simpler because only those points are given which carry in them the germ of possible enlightenment to the general public. A Treatise on Cosmic Fire is not written for the general public; it is strictly a presentation of truth for the initiated disciple. Its line is strictly a first ray and third ray presentation, whilst this Treatise is strictly a second ray approach. This is a statement warranting careful thought, and one that has as yet received no recognition. [424]

Nếu các bạn nghiên cứu giáo huấn trừu tượng hơn (được che giấu hơn và biểu tượng hơn giáo huấn này), các bạn sẽ thấy có những phát biểu mà—đối với nhà bí truyền học—sẽ soi sáng rất nhiều cho những trình bày đơn giản hơn trong Luận về Bảy Cung này. Nó đơn giản hơn vì chỉ những điểm mang trong mình mầm mống của sự giác ngộ khả hữu cho công chúng nói chung mới được nêu ra. Luận về Lửa Vũ Trụ không được viết cho công chúng nói chung; đó hoàn toàn là một sự trình bày chân lý dành cho đệ tử đã được điểm đạo. Đường lối của nó hoàn toàn là một sự trình bày theo cung một và cung ba, trong khi Luận này hoàn toàn là một cách tiếp cận theo cung hai. Đây là một phát biểu đáng để suy nghĩ cẩn trọng, và cho đến nay vẫn chưa được nhìn nhận. [424]

Among the changes necessitated by the abnormally rapid development of mankind, with its consequent stepping up of the qualities of disciples, is the fact that no longer does the Master—faced at the sixth initiation with a stupendous decision to make—enter upon the indicated Path entirely blindly, as heretofore. He is now given a revelation of the true united goal of the seven Paths and likewise a vision of their varying intermediate, individual goals. Hence the name of the fifth initiation is that of the “Initiation of Revelation.” He can thus make His decision with opened eyes and unblinded by the glory.

Trong số những thay đổi do sự phát triển nhanh bất thường của nhân loại làm cho cần thiết, cùng với việc nâng cao tương ứng các phẩm tính của các đệ tử, có sự kiện là Chân sư—khi đối diện ở lần điểm đạo thứ sáu với một quyết định trọng đại phải đưa ra—không còn bước vào Con Đường được chỉ định hoàn toàn trong mù quáng như trước kia nữa. Giờ đây Ngài được ban cho một sự mặc khải về mục tiêu hợp nhất đích thực của bảy Con Đường và đồng thời một linh ảnh về các mục tiêu trung gian, cá biệt khác nhau của chúng. Do đó, tên của lần điểm đạo thứ năm là “Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải.” Nhờ vậy, Ngài có thể đưa ra quyết định của mình với đôi mắt mở và không bị vinh quang làm mù lòa.

One point requires elucidation here. The whole standard of the mental equipment of entering disciples is so much higher than it used to be, owing to the mental and intuitive development of man, that this fact has forced corresponding changes within the Hierarchy itself. The Masters Who are now moving forward on to the Path of the Higher Evolution are equally of much greater unfoldment; the will aspect is present to a great degree (little as you may realise it), and this is a new factor, conditioning much. Love and intelligence distinguished the Masters up to three hundred years ago. Love and intelligence and will distinguish Them today. This again is another reason for the comprehensive changes made and it is interesting to note that the bulk of the changes are due to the response of men to the hierarchical work. It is humanity that has forced these events of so far-reaching a nature; mankind has also forced revelations which it had been believed could not be given to men for thousands of years or until the sixth rootrace had come into being. An instance of the expansion of the information given can be noted in connection with the second Path. Nothing is mentioned in my earlier presentation of the seven Paths in Initiation, Human and Solar of a conditioning constellation. In A Treatise on Cosmic Fire, I mention that energy enters our system from an unknown source, via Gemini. In this latest contribution on the subject I mention that Libra, the Balances, is involved. Thus there are found on this Path of [425] Magnetic Work two blended influences, those of Gemini and Libra. You have, therefore:

Có một điểm cần được làm sáng tỏ ở đây. Toàn bộ tiêu chuẩn về trang bị trí tuệ của các đệ tử mới bước vào hiện nay cao hơn rất nhiều so với trước kia, do sự phát triển trí tuệ và trực giác của con người, đến nỗi sự kiện này đã buộc phải có những thay đổi tương ứng ngay trong chính Thánh đoàn. Các Chân sư hiện đang tiến lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu cũng có mức khai mở lớn hơn nhiều; phương diện ý chí hiện diện ở mức độ rất lớn (dù các bạn có thể ít nhận ra điều đó), và đây là một yếu tố mới, tác động lên rất nhiều điều. Tình thương và trí tuệ đã phân biệt các Chân sư cho đến ba trăm năm trước. Ngày nay, tình thương, trí tuệ và ý chí phân biệt Các Ngài. Đây lại là một lý do khác cho những thay đổi toàn diện đã được thực hiện, và thật thú vị khi lưu ý rằng phần lớn những thay đổi ấy là do sự đáp ứng của con người đối với công việc của Thánh đoàn. Chính nhân loại đã thúc đẩy những biến cố có tính chất sâu rộng như vậy; nhân loại cũng đã buộc phải có những mặc khải mà người ta từng tin rằng không thể ban cho con người trong hàng ngàn năm hoặc cho đến khi giống dân gốc thứ sáu xuất hiện. Một ví dụ về sự mở rộng thông tin được ban có thể thấy liên quan đến Con Đường thứ hai. Trong phần trình bày trước đây của tôi về bảy Con Đường trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, không hề nhắc đến một chòm sao tác động nào. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, tôi có đề cập rằng năng lượng đi vào hệ của chúng ta từ một nguồn không rõ, qua Song Tử. Trong đóng góp mới nhất này về chủ đề ấy, tôi đề cập rằng Thiên Bình, Cái Cân, có liên quan. Như vậy, trên Con Đường [425] Từ Công này có hai ảnh hưởng hòa trộn, đó là của Song Tử và Thiên Bình. Vì vậy, các bạn có:

5.-ph-n-hai-nh-ng-nh-n-x-t-m-u-04.png

The dual energy of Gemini is brought to a point of balance by means of the influence of Libra, and this balanced and dual energy is released then into our solar system. This entering stream of balanced energies forms the second Path. I have given you much information in the above statement.

Năng lượng nhị nguyên của Song Tử được đưa đến một điểm quân bình nhờ ảnh hưởng của Thiên Bình, và rồi năng lượng quân bình và nhị nguyên này được giải phóng vào hệ mặt trời của chúng ta. Dòng năng lượng quân bình đi vào này tạo thành Con Đường thứ hai. Tôi đã cho các bạn rất nhiều thông tin trong phát biểu trên.

I have asked A.A.B. to incorporate at the close of this instruction a passage from A Treatise on Cosmic Fire, for this teaching anent the seven Paths is as a climaxing comment. I shall not enlarge upon it, but if you have spiritual imagination and speculative ability you can comprehend much. I have also asked A.A.B. to add to this instruction the seven tabulations earlier given so as to complete and round out this triple presentation. I do not urge you to study or to give much time to the consideration of the seven paths. The treading of one or other of those Paths lies far ahead of you, and it would be a waste of time. I would however remind you that every effort to live rightly, beautifully and usefully, to control the mind and to achieve loving understanding, lays the foundation for right decision at the sixth initiation; some day you too will stand at this point of unique choice and it is what you do here and now which will determine the way which you will go.

Tôi đã yêu cầu A.A.B. đưa vào cuối phần huấn thị này một đoạn trích từ Luận về Lửa Vũ Trụ, vì giáo huấn liên quan đến bảy Con Đường này là một lời bình luận đạt đến cao điểm. Tôi sẽ không khai triển thêm về nó, nhưng nếu các bạn có sự tưởng tượng tinh thần và khả năng suy đoán, các bạn có thể thấu hiểu được nhiều điều. Tôi cũng đã yêu cầu A.A.B. thêm vào phần huấn thị này bảy bảng biểu đã được đưa ra trước đó để hoàn tất và làm tròn đầy sự trình bày tam phân này. Tôi không thúc giục các bạn nghiên cứu hay dành nhiều thời gian để suy xét về bảy con đường. Việc bước đi trên một hay con đường khác trong số các Con Đường ấy còn ở rất xa phía trước các bạn, và đó sẽ là một sự phí thời gian. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc các bạn rằng mọi nỗ lực sống đúng đắn, đẹp đẽ và hữu ích, kiểm soát trí tuệ và đạt được sự thấu hiểu đầy bác ái, đều đặt nền tảng cho quyết định đúng đắn ở lần điểm đạo thứ sáu; một ngày nào đó chính các bạn cũng sẽ đứng tại điểm lựa chọn độc nhất này, và chính điều các bạn làm ở đây và bây giờ sẽ quyết định con đường mà các bạn sẽ đi.

An Extract from A Treatise on Cosmic Fire, Pages 1243-1266

Một đoạn trích từ Luận về Lửa Vũ Trụ, Trang 1243-1266

The seven Paths, at a certain stage which may not be defined, become the four Paths, owing to the fact that our solar system is one of the fourth order. This merging is [426] effected in the following way:

Bảy Con Đường, ở một giai đoạn nhất định không thể xác định, trở thành bốn Con Đường, do sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta thuộc bậc thứ tư. Sự hợp nhất này được [426] thực hiện theo cách sau:

The initiates upon Path I “fight their way” on to Path VI.

Các điểm đạo đồ trên Con Đường I “chiến đấu mở đường” sang Con Đường VI.

The initiates upon Path II “alchemise themselves” on to Path VII.

Các điểm đạo đồ trên Con Đường II “tự luyện kim hóa” sang Con Đường VII.

The initiates upon Path III through “piercing the veil” find Themselves upon Path V.

Các điểm đạo đồ trên Con Đường III, bằng cách “xuyên thủng bức màn,” thấy mình ở trên Con Đường V.

This leaves Path IV to be accounted for. Upon this Path pass all those who, through devotion and activity combined, achieve the goal but who lack as yet the full development of the manasic principle. This being the solar system of love-wisdom or of astral-buddhic development, the fourth Path includes the larger number of the sons of men. In the Hierarchy of our planet the “Lords of Compassion” are numerically greater than the “Masters of the Wisdom.” The former must therefore pass to the sun Sirius there to undergo a tremendous manasic stimulation, for Sirius is the emanating source of manas. There the mystic must go and become what is called “a spark of mahatic electricity.”

Điều này để lại Con Đường IV cần được giải thích. Trên Con Đường này đi qua tất cả những ai, nhờ lòng sùng tín và hoạt động kết hợp, đạt được mục tiêu nhưng vẫn còn thiếu sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí manas. Vì đây là hệ mặt trời của Bác Ái – Minh Triết hay của sự phát triển cảm dục-Bồ đề, nên Con Đường thứ tư bao gồm số lượng lớn hơn các những người con của nhân loại. Trong Thánh đoàn của hành tinh chúng ta, “các Đấng Giải Thoát” đông hơn về số lượng so với “các Chân sư Minh Triết.” Vì vậy, các Ngài phải đi đến mặt trời Sirius để chịu một sự kích thích manas to lớn, vì Sirius là nguồn phát xuất của manas. Nhà thần bí phải đi đến đó và trở thành điều được gọi là “một tia lửa điện mahatic.”

These seven Paths are not concerned with nature or the balancing of the pairs of opposites. They are concerned only with unity, with that which utilises the pairs of opposites as factors in the production of LIGHT.

Bảy Con Đường này không liên quan đến thiên nhiên hay sự quân bình của các cặp đối đãi. Chúng chỉ liên quan đến hợp nhất, đến cái sử dụng các cặp đối đãi như những yếu tố trong việc tạo ra ÁNH SÁNG.

PATH I. EARTH SERVICE

CON ĐƯỜNG I. PHỤNG SỰ TRÁI ĐẤT

Attributes…… Wise compassion.

Thuộc tính…… Lòng từ bi minh triết.

Source…….. Constellation of the Dragon, via Libra.

Nguồn…….. Chòm Rồng, qua Thiên Bình.

Method……..Twelve cosmic Identifications.

Phương pháp….. Mười hai sự Đồng Hoá vũ trụ.

Hierarchy…… The sixth.

Huyền giai…… Huyền giai thứ sáu.

Symbol…….. A green dragon issuing from the centre of a blazing sun. Behind the sun and overtopping it can be seen two pillars on either side of a closed door.

Biểu tượng…… Một con rồng xanh lục phát ra từ trung tâm của một mặt trời rực cháy. Phía sau mặt trời và vượt cao hơn nó có thể thấy hai cột trụ ở hai bên một cánh cửa đóng kín.

Quality gained.. Luminosity.

Phẩm tính đạt được.. Tính phát quang.

PATH II. PATH OF MAGNETIC WORK

CON ĐƯỜNG II. CON ĐƯỜNG CỦA CÔNG VIỆC TỪ TÍNH

Attributes…… Responsiveness to heat and knowledge of rhythm.

Thuộc tính…… Khả năng đáp ứng với nhiệt và tri thức về nhịp điệu.

Source………An unknown constellation, via Gemini.

Nguồn……… Một chòm sao không rõ, qua Song Tử.

Method…….. The entering of the burning-ground. [427]

Phương pháp….. Đi vào vùng đất cháy. [427]

Hierarchy…….The third and fourth.

Huyền giai……. Huyền giai thứ ba và thứ tư.

Symbol……. A funeral pyre, four torches, and a fivefold star mounting towards the sun.

Biểu tượng…… Một giàn hỏa táng, bốn ngọn đuốc, và một ngôi sao ngũ phân vươn lên phía mặt trời.

Quality gained… Electrical velocity.

Phẩm tính đạt được… Tốc độ điện lực.

PATH III. PATH OR TRAINING FOR PLANETARY LOGOI

CON ĐƯỜNG III. CON ĐƯỜNG HAY SỰ HUẤN LUYỆN DÀNH CHO CÁC HÀNH TINH THƯỢNG ĐẾ

Attributes….. Cosmic vision, deva hearing and psychic correlation.

Thuộc tính…… Linh thị vũ trụ, thông nhĩ deva và sự tương quan thông linh.

Source…….. Betelgeuse, via the sign Sagittarius.

Nguồn…….. Betelgeuse, qua dấu hiệu hoàng đạo Nhân Mã.

Hierarchy……The fifth.

Huyền giai…… Huyền giai thứ năm.

Method……..Prismatic identification.

Phương pháp…… Đồng hoá lăng kính.

Symbol……. A coloured cross with a star at the centre and backed by a blazing sun, surmounted by a Sensa Word.

Biểu tượng…… Một thập giá có màu với một ngôi sao ở trung tâm và phía sau là một mặt trời rực cháy, phía trên là một Linh từ Sensa.

Quality gained.. Cosmic etheric vision or septenary clairvoyance.

Phẩm tính đạt được.. Linh thị dĩ thái vũ trụ hay thông nhãn thất phân.

PATH IV. THE PATH TO SIRIUS

CON ĐƯỜNG IV. CON ĐƯỜNG ĐẾN SIRIUS

Attributes…… Cosmic rapture and rhythmic bliss.

Thuộc tính…… Sự xuất thần vũ trụ và chí phúc nhịp nhàng.

Source…….. Sirius via the Sun which veils a zodiacal sign.

Nguồn…….. Sirius qua Mặt Trời, vốn che giấu một dấu hiệu hoàng đạo.

Hierarchy…… Veiled by the numbers 14 and 17.

Huyền giai…… Được che giấu bởi các số 14 và 17.

Method……. Duplex rotary motion and rhythmic dancing upon the square.

Phương pháp…… Chuyển động quay kép và vũ điệu nhịp nhàng trên hình vuông.

Symbol…….. Two wheels of electric fire, revolving

Biểu tượng……. Hai bánh xe lửa điện, quay

around an orange Cross, with an emerald at the centre.

quanh một Thập Giá màu cam, với một viên ngọc lục bảo ở trung tâm.

Quality gained…Unrevealed.

Phẩm tính đạt được… Chưa được mặc khải.

PATH V. THE RAY PATH

CON ĐƯỜNG V. CON ĐƯỜNG CUNG

Attributes…… A sense of cosmic direction.

Thuộc tính…… Ý thức về phương hướng vũ trụ.

Source………The Pole Star via Aquarius.

Nguồn……… Sao Bắc Cực qua Bảo Bình.

Hierarchy…… The first and the second.

Huyền giai…… Huyền giai thứ nhất và thứ hai.

Method……..Process of electrical insulation and the imprisonment of polar magnetism.

Phương pháp…… Tiến trình cách ly điện lực và giam giữ từ điện cực tính.

Symbol…….. Five balls of fire enclosed within a sphere. Sphere is formed of a serpent inscribed with the mantram of insulation.

Biểu tượng……. Năm quả cầu lửa được bao kín trong một khối cầu. Khối cầu được tạo thành bởi một con rắn có khắc mantram của sự cách ly.

Quality gained.. Cosmic stability and magnetic equilibrium.

Phẩm tính đạt được.. Sự ổn định vũ trụ và quân bình từ tính.

PATH VI. THE PATH OF THE SOLAR LOGOS

CON ĐƯỜNG VI. CON ĐƯỜNG CỦA THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ

Not given…… Not given.

Không nêu…… Không nêu.

PATH VII. THE PATH OF ABSOLUTE SONSHIP

CON ĐƯỜNG VII. CON ĐƯỜNG CỦA TUYỆT ĐỐI TỬ TÍNH

Not given…….Not given. [428]

Không nêu……. Không nêu. [428]

The World Tension Analysed — Phân Tích Sự Căng Thẳng của Thế Giới

The tension in the world today, (written in April 1947) particularly in the Hierarchy, is such that it will produce another and perhaps ultimate world crisis, or else such a speeding up of the spiritual life of the planet that the coming in of the long looked-for New Age conditions will be amazingly hastened. I would have you consider carefully what I have said here, remembering what I have told you in the past anent points of tension. This present tension constitutes a major problem for the disciple in training, and therefore our particular theme in this instruction is peculiarly apposite.

Sự căng thẳng trong thế giới ngày nay, (viết vào tháng Tư năm 1947) đặc biệt trong Thánh đoàn, đến mức sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng thế giới khác và có lẽ là tối hậu, hoặc sẽ tạo ra một sự tăng tốc của đời sống tinh thần của hành tinh đến nỗi sự xuất hiện của những điều kiện Kỷ Nguyên Mới được mong đợi từ lâu sẽ được thúc đẩy nhanh một cách đáng kinh ngạc. Tôi muốn các bạn suy xét cẩn trọng điều tôi đã nói ở đây, ghi nhớ điều tôi đã nói với các bạn trước kia liên quan đến các điểm tập trung nhất tâm. Sự căng thẳng hiện nay này tạo thành một vấn đề lớn cho đệ tử đang được huấn luyện, và vì vậy chủ đề riêng của chúng ta trong phần huấn thị này đặc biệt thích hợp.

There is a great deal of glamour in the world today and a great deal of that glamour is concentrated in Russia, owing to the youth and the basic political inexperience of that people. The United States of America is also young and inexperienced, but not to the same extent as are the Russian people. Today, the Russians are suffering from the glamour of power, the glamour of planning, the glamour of what they consider a great ideal (and such it is), the glamour of prestige and the inevitable—but ephemeral—glamour of totalitarianism. It is this same totalitarianism which also constitutes their weakest point, because it leads inexorably to a revolt of the human spirit. That human spirit is to be found in Russia to exactly the same extent as it is to be found in any other country in the world.

Ngày nay có rất nhiều ảo cảm trong thế giới, và phần lớn ảo cảm đó tập trung ở Nga, do tuổi trẻ và sự thiếu kinh nghiệm chính trị căn bản của dân tộc ấy. Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cũng trẻ và thiếu kinh nghiệm, nhưng không đến cùng mức như dân Nga. Ngày nay, người Nga đang chịu đựng ảo cảm của quyền lực, ảo cảm của hoạch định, ảo cảm về điều mà họ xem là một lý tưởng lớn lao (và quả thật là như vậy), ảo cảm của uy tín và ảo cảm tất yếu—nhưng phù du—của chủ nghĩa toàn trị. Chính chủ nghĩa toàn trị này cũng tạo thành điểm yếu nhất của họ, vì nó dẫn inexorably đến một cuộc nổi dậy của tinh thần con người. Tinh thần con người ấy hiện diện ở Nga đúng cùng mức như nó hiện diện ở bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới.

Freedom is an essentially spiritual attribute, underlying the entire evolutionary process; this should always be remembered as a strengthening and conditioning reality by all men everywhere. It has survived aeons of opposition from the principle of enslaving selfishness and is largely responsible, at this time, for the struggle in which we are all participating.

Tự do là một thuộc tính tinh thần cốt yếu, làm nền cho toàn bộ tiến trình tiến hoá; điều này luôn luôn cần được mọi người ở khắp nơi ghi nhớ như một thực tại tăng cường và tác động. Nó đã sống sót qua các đại kiếp đối kháng từ nguyên khí của tính ích kỷ nô dịch hóa và hiện nay phần lớn chịu trách nhiệm cho cuộc đấu tranh mà tất cả chúng ta đang tham dự.

The country which is the most free from selfishness today is Great Britain; she is experienced, old, and therefore mature in her thinking; she has learnt much in a relatively short time and her judgment is sound. The most [429] selfish country in the world today is France, with the United States (though along totally different lines) running her a close second; both are materially selfish and capitalistically engrossed. Russia is also selfish but it is the selfishness of a fanatical ideal, held by an immature, a too young a people. The selfishness of the United States is also due to youth, but it will eventually yield to experience and to suffering; there is—fortunately for the soul of this great people—much suffering in store for the United States. The selfishness of France is less excusable; France too is old and experienced; again and again she has been the victim of the armed forces of Germany and cries aloud to the world about it. France forgets that she frequently over-ran central Europe in the Middle Ages, and the Napoleonic conquests are relatively modern history. Her evil destiny (as she regards it) does, nevertheless, give her the opportunity to become spiritual in her life and attitudes, instead of grossly and intellectually (though brilliantly) material. She has not yet learned her lesson, and as yet shows little inclination to do so. Strain, economic privations and anxiety may teach her; the result will be stability.

Quốc gia ngày nay ít ích kỷ nhất là Anh Quốc; bà giàu kinh nghiệm, lâu đời, và vì vậy chín chắn trong tư duy; bà đã học được nhiều điều trong một thời gian tương đối ngắn và phán đoán của bà là vững vàng. Quốc gia ích kỷ nhất trên thế giới ngày nay là Pháp, với Hoa Kỳ (dù theo những đường lối hoàn toàn khác) bám sát ở vị trí thứ hai; cả hai đều ích kỷ về vật chất và bị cuốn hút vào chủ nghĩa tư bản. Nga cũng ích kỷ nhưng đó là sự ích kỷ của một lý tưởng cuồng tín, được nắm giữ bởi một dân tộc chưa trưởng thành, quá trẻ. Sự ích kỷ của Hoa Kỳ cũng do tuổi trẻ, nhưng cuối cùng nó sẽ nhường chỗ cho kinh nghiệm và đau khổ; may mắn cho linh hồn của dân tộc lớn lao này, Hoa Kỳ còn nhiều đau khổ đang chờ phía trước. Sự ích kỷ của Pháp thì ít có thể bào chữa hơn; Pháp cũng lâu đời và giàu kinh nghiệm; hết lần này đến lần khác bà đã là nạn nhân của các lực lượng vũ trang Đức và lớn tiếng kêu với thế giới về điều đó. Pháp quên rằng bà thường xuyên tràn qua trung Âu trong thời Trung Cổ, và các cuộc chinh phục của Napoléon là lịch sử tương đối hiện đại. Tuy nhiên, định mệnh xấu xa của bà (như bà xem thế) lại cho bà cơ hội trở nên tinh thần trong đời sống và thái độ của mình, thay vì thô nặng và trí tuệ (dù xuất sắc) theo vật chất. Bà vẫn chưa học được bài học của mình, và cho đến nay cho thấy rất ít khuynh hướng làm như vậy. Căng thẳng, thiếu thốn kinh tế và lo âu có thể dạy bà; kết quả sẽ là sự ổn định.

In the hands of the United States, Great Britain and Russia, and also in the hands of France, lies the destiny of the world disciple, Humanity. Humanity has been passing through the tests which are preparatory to the first initiation; they have been hard and cruel and are not yet entirely over. The Lords of Karma (four in number) are today working through these four Great Powers; it is, however, a karma which seeks to liberate, as does all karma. In the coming crisis, true vision and a new freedom, plus a wider spiritual horizon may be attained. The crisis, if rightly handled, need not again reach the ultimate horror.

Trong tay Hoa Kỳ, Anh Quốc và Nga, và cả trong tay Pháp, nằm định mệnh của đệ tử thế giới, Nhân loại. Nhân loại đã đi qua những thử thách chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất; chúng đã khắc nghiệt và tàn nhẫn và vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Các Đấng của Nghiệp Quả (bốn vị) ngày nay đang làm việc qua bốn Cường Quốc này; tuy nhiên, đó là một nghiệp quả tìm cách giải thoát, như mọi nghiệp quả đều vậy. Trong cuộc khủng hoảng sắp tới, linh thị chân chính và một tự do mới, cộng với một chân trời tinh thần rộng lớn hơn, có thể đạt được. Nếu được xử lý đúng đắn, cuộc khủng hoảng ấy không nhất thiết lại đạt đến nỗi kinh hoàng tối hậu.

The area of difficulty—as is well known—is the Near East and Palestine. The Jews, by their illegal and terroristic activities, have laid a foundation of great difficulty for those who are seeking to promote world peace. As a Jewish member of my Ashram pointed out (and I commend him on his soul vision), the Jews have partially again opened the door [430] to the Forces of Evil, which worked originally through Hitler and his evil gang. The “sealing” of that door had not been successfully accomplished, and it is the part of wisdom to discover this in time. These Forces of Evil work through a triangle of evil, one point of which is to be found in the Zionist Movement in the United States, another in central Europe, and the third in Palestine. Palestine is no longer a Holy Land and should not be so regarded.

Khu vực khó khăn—như ai cũng biết—là Cận Đông và Palestine. Người Do Thái, bằng các hoạt động phi pháp và khủng bố của mình, đã đặt nền móng cho những khó khăn lớn đối với những ai đang tìm cách thúc đẩy hòa bình thế giới. Như một thành viên Do Thái trong ashram của tôi đã chỉ ra (và tôi khen ngợi y về linh thị của linh hồn), người Do Thái một phần lại đã mở cánh cửa [430] cho các Mãnh lực Ác, vốn ban đầu đã hoạt động qua Hitler và băng nhóm xấu xa của ông. Việc “niêm phong” cánh cửa đó đã không được thực hiện thành công, và phần của minh triết là phải khám phá ra điều này kịp thời. Các Mãnh lực Ác này hoạt động qua một tam giác ác, một đỉnh của nó được tìm thấy trong Phong Trào Zionist tại Hoa Kỳ, một đỉnh khác ở trung Âu, và đỉnh thứ ba ở Palestine. Palestine không còn là Thánh Địa nữa và không nên được xem như vậy.

I would have you bear these points in mind while you investigate the world picture. This picture is taking shape and warrants recognition. It involves the Jews (who are not a nation but a religious group) the Near East and Russia. In the maps which are to be found in the Archives of the spiritual Hierarchy, the entire area of the Near East and Europe—Greece, Yugoslavia, Turkey, Palestine, the Arab States, Egypt and Russia—are under a heavy overshadowing cloud. Can that cloud be dissipated by the right thinking and planning of Great Britain, the United States and the majority of the United Nations or—must it break in disaster over the world? Will it present a task too hard for correct handling by that inexperienced disciple—Humanity?

Tôi muốn các bạn ghi nhớ những điểm này khi khảo sát bức tranh thế giới. Bức tranh này đang thành hình và đáng được nhìn nhận. Nó liên quan đến người Do Thái (không phải là một quốc gia mà là một nhóm tôn giáo), Cận Đông và Nga. Trong các bản đồ được lưu giữ trong Văn Khố của Huyền Giai Tinh Thần, toàn bộ khu vực Cận Đông và châu Âu—Hy Lạp, Nam Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Palestine, các Quốc Gia Ả Rập, Ai Cập và Nga—đều nằm dưới một đám mây phủ bóng nặng nề. Liệu đám mây đó có thể được làm tiêu tan bởi tư duy và hoạch định đúng đắn của Anh Quốc, Hoa Kỳ và đa số các Quốc Gia Liên Hiệp hay—nó phải vỡ ra trong tai họa trên thế giới? Liệu nó có đặt ra một nhiệm vụ quá khó để đệ tử thiếu kinh nghiệm ấy—Nhân loại—xử lý đúng đắn hay không?

In what I have written above you have the picture of the true situation; it is one which finds Great Britain temporarily weakened and ineffective (except for the clear thinking of her people and her political maturity); it finds the United States, unused to power, somewhat arrogant, with a strong superiority complex, inexperienced and yet at the same time exceedingly well-intentioned and fundamentally sound. It is the mass of the people who are sound in their thinking and not their representatives in Congress.

Trong điều tôi đã viết ở trên, các bạn có bức tranh của tình hình thực sự; đó là một tình hình cho thấy Anh Quốc tạm thời suy yếu và kém hiệu quả (ngoại trừ tư duy sáng suốt của dân bà và sự chín chắn chính trị của bà); nó cho thấy Hoa Kỳ, chưa quen với quyền lực, phần nào kiêu ngạo, với mặc cảm ưu việt mạnh mẽ, thiếu kinh nghiệm nhưng đồng thời lại hết sức thiện chí và căn bản là lành mạnh. Chính quần chúng nhân dân là những người lành mạnh trong tư duy của họ chứ không phải các đại diện của họ trong Quốc Hội.

It is not for me to tell you what will happen, although the Hierarchy knows. Humanity must (as must all disciples) be left entirely free to settle its own destiny. Humanity has not yet learned the difficult lesson which all disciples have to master: the lesson of the dual life of the man whose soul is functioning and whose physical brain is constantly aware of this fact.

Không phải phần việc của tôi là nói cho các bạn biết điều gì sẽ xảy ra, mặc dù Thánh đoàn biết. Nhân loại phải được để hoàn toàn tự do định đoạt số phận của mình, cũng như mọi đệ tử đều phải như vậy. Nhân loại vẫn chưa học được bài học khó khăn mà mọi đệ tử đều phải làm chủ: bài học về đời sống nhị nguyên của con người mà linh hồn đang hoạt động và bộ não hồng trần của y luôn luôn ý thức được sự kiện này.

THE DUAL LIFE OF THE INITIATORY PROCESS — ĐỜI SỐNG NHỊ NGUYÊN CỦA TIẾN TRÌNH ĐIỂM ĐẠO

[431]

[431]

In all the many books which I have written, I have said relatively little about the brain and its relation to the personality and the soul. It is not possible to enlarge at any length on that theme here, but I will make certain statements without which this whole process of dual living would be most difficult to explain. I will sum up what I have to say in the form of three basic statements:

Trong tất cả nhiều quyển sách tôi đã viết, tôi nói tương đối ít về bộ não và mối liên hệ của nó với phàm ngã và linh hồn. Ở đây không thể khai triển dài về chủ đề đó, nhưng tôi sẽ đưa ra một số phát biểu mà nếu thiếu chúng thì toàn bộ tiến trình sống nhị nguyên này sẽ rất khó giải thích. Tôi sẽ tóm lược điều mình muốn nói dưới hình thức ba phát biểu căn bản:

1. The brain is a most delicate receiving and transmitting apparatus:

1. Bộ não là một bộ máy tiếp nhận và truyền đạt cực kỳ tinh tế:

a. It is responsive to information relayed to it, via the senses, from the emotional plane and from the mind.

a. Nó đáp ứng với thông tin được chuyển đến nó, qua các giác quan, từ cõi cảm dục và từ trí tuệ.

b. Through its medium the personal lower self becomes aware of its environment, of the nature of its desires, and of its mental peculiarities, as well as of the emotional states and the thoughts of the people contacted in the environment.

b. Qua trung gian của nó, phàm ngã thấp cá nhân trở nên ý thức về môi trường của mình, về bản chất các ham muốn của mình, và về những đặc điểm trí tuệ của mình, cũng như về các trạng thái cảm xúc và các tư tưởng của những người mà nó tiếp xúc trong môi trường.

2. The brain is largely conditioned by the endocrine system, and this far more than the endocrinologists would care to admit:

2. Bộ não phần lớn bị tác động bởi hệ nội tiết, và điều này nhiều hơn mức các nhà nội tiết học muốn thừa nhận:

a. It is powerfully conditioned by three major glands which are found in close relation to the brain substance. These are the pituitary body, the pineal gland and the carotid gland.

a. Nó bị tác động mạnh mẽ bởi ba tuyến chính nằm trong mối liên hệ gần gũi với chất liệu não. Đó là tuyến yên, tuyến tùng và tuyến động mạch cảnh.

b. These form a triangle, practically unrelated in primitive man, occasionally related in average man, and closely related in the spiritual man.

b. Chúng tạo thành một tam giác, hầu như không liên hệ ở con người nguyên thủy, đôi khi có liên hệ ở con người trung bình, và liên hệ chặt chẽ ở con người tinh thần.

c. These glands are objective correspondences of the three energy centres, by means of which the soul, or the indwelling spiritual man, controls his physical vehicle.

c. Các tuyến này là những tương ứng khách quan của ba trung tâm năng lượng, nhờ đó linh hồn, hay con người tinh thần nội tại, kiểm soát vận cụ hồng trần của y.

d. Where the relation is close between the three glands—as is increasingly the case where disciples are concerned—a triangle of circulating energies is always established.

d. Ở đâu có mối liên hệ chặt chẽ giữa ba tuyến—như ngày càng là trường hợp nơi các đệ tử—thì ở đó luôn luôn thiết lập một tam giác năng lượng tuần hoàn.

e. This triangle, through the carotid gland in the [432] medulla oblongata, becomes related to other glands and centres.

e. Tam giác này, qua tuyến động mạch cảnh trong [432] hành tủy, trở nên liên hệ với các tuyến và trung tâm khác.

3. The brain, as transmitter, becomes a powerful directing agency:

3. Bộ não, với tư cách là cơ quan truyền đạt, trở thành một tác nhân chỉ đạo mạnh mẽ:

a. As a recipient and transmitter of pure energy or life it uses the carotid gland controlled by the alta major centre, and establishes a close relation with the heart and the heart centre.

a. Với tư cách là kẻ tiếp nhận và truyền đạt năng lượng thuần túy hay sự sống, nó sử dụng tuyến động mạch cảnh do trung tâm alta major kiểm soát, và thiết lập một mối liên hệ chặt chẽ với tim và trung tâm tim.

b. As a recipient of mental energy or of energy from the soul, the ajna centre becomes the directing agency; this is the centre which controls the pituitary body.

b. Với tư cách là kẻ tiếp nhận năng lượng trí tuệ hay năng lượng từ linh hồn, trung tâm ajna trở thành tác nhân chỉ đạo; đây là trung tâm kiểm soát tuyến yên.

c. These energies are received via the head centre, which controls the pineal gland. Emotional energy enters the personality system via the solar plexus centre, where it either controls or is transmuted and elevated.

c. Các năng lượng này được tiếp nhận qua trung tâm đầu, trung tâm này kiểm soát tuyến tùng. Năng lượng cảm xúc đi vào hệ thống phàm ngã qua trung tâm tùng thái dương, nơi nó hoặc kiểm soát hoặc được chuyển hoá và nâng cao.

It is this triple mechanism in the head—both objective and subjective—which uses the physical brain as a receiving agent and as a transmitting agent. It is this which is brought into creative activity and thus under the control of the disciple in training or in process of being prepared for initiation. I have not hitherto emphasised this, nor do I wish to do so, for it is not desirable for the disciple or aspirant consciously and deliberately to deal with the mechanism in the head. Let him learn to control and consciously employ the mind; let him train his mind to receive communications from three sources:

Chính bộ máy tam phân này trong đầu—cả khách quan lẫn chủ quan—sử dụng bộ não hồng trần như một tác nhân tiếp nhận và như một tác nhân truyền đạt. Chính điều này được đưa vào hoạt động sáng tạo và do đó nằm dưới sự kiểm soát của đệ tử đang được huấn luyện hoặc đang trong tiến trình được chuẩn bị cho điểm đạo. Trước đây tôi chưa nhấn mạnh điều này, và tôi cũng không muốn làm như vậy, vì không nên để đệ tử hay người chí nguyện có ý thức và cố ý đề cập đến bộ máy trong đầu. Hãy để y học cách kiểm soát và sử dụng trí tuệ một cách có ý thức; hãy để y huấn luyện trí tuệ của mình tiếp nhận các truyền đạt từ ba nguồn:

The three worlds of ordinary living, thus enabling the mind to act as the “common-sense.”

Ba cõi giới của đời sống thông thường, nhờ đó làm cho trí tuệ hoạt động như “thường thức.”

The soul, and thus consciously become the disciple, the worker in an Ashram, illumined by the wisdom of the soul, and superseding gradually the knowledge gained in the three worlds. That knowledge, rightly applied, becomes wisdom.

Linh hồn, và nhờ đó một cách có ý thức trở thành đệ tử, người hoạt động trong một ashram, được soi sáng bởi minh triết của linh hồn, và dần dần thay thế tri thức thu được trong ba cõi giới. Tri thức ấy, khi được áp dụng đúng đắn, trở thành minh triết.

The Spiritual Triad, acting as the intermediary between the Monad and the brain of the personality. This can eventually take place, because the soul and personality [433] are fused and blended into one functioning unit, this superseding again what we mean when we use the erroneous phrase “the soul.” Duality then takes the place of the original triplicity.

Tam Nguyên Tinh Thần, hoạt động như trung gian giữa chân thần và bộ não của phàm ngã. Điều này cuối cùng có thể xảy ra, vì linh hồn và phàm ngã [433] được dung hợp và hòa trộn thành một đơn vị hoạt động, điều này lại thay thế điều chúng ta muốn nói khi dùng cụm từ sai lầm “linh hồn.” Khi ấy nhị nguyên tính thay thế cho bộ ba nguyên thủy.

It has been necessary to make these somewhat elementary remarks and to clarify these points, if there is to be true understanding as to what constitutes the dual life of the disciple or the Master, and wherein they differ.

Cần phải đưa ra những nhận xét phần nào sơ đẳng này và làm sáng tỏ những điểm này, nếu muốn có sự thấu hiểu chân chính về điều gì cấu thành đời sống nhị nguyên của đệ tử hay của Chân sư, và chúng khác nhau ở đâu.

One of the tests of the initiatory process is a hitherto totally unexpected one. Tests which are expected and for which preparation has been made do not constitute true tests in the real sense of the word, esoterically understood. It is a test—imposed with increasing rigidity as initiation after initiation is taken—to see just how far the initiate is capable of retaining or preserving in his brain consciousness the registered facts of several worlds or planes of consciousness; i.e., the three worlds of human endeavour and the world of soul consciousness, or both of these and the world of the Ashram; or again these and the activity of the Hierarchy itself, viewing it as a complete whole; or again, of all these and the world of Triadal experience, until the point is reached where a straight continuity of consciousness can be registered and held which comes directly from the Council Chamber of the Lord of the World to Those Masters Who are functioning in a physical body and must therefore use a physical brain. In every single case the test (in order to be passed correctly) must involve the brain consciousness; the facts, registered upon the subtler planes, must be correctly registered, recognised and interpreted simultaneously upon the physical plane.

Một trong những thử thách của tiến trình điểm đạo là một thử thách cho đến nay hoàn toàn không được chờ đợi. Những thử thách được chờ đợi và đã có chuẩn bị cho chúng không cấu thành những thử thách chân chính theo nghĩa thực của từ này, xét theo cách hiểu huyền bí. Đó là một thử thách—được áp đặt với sự nghiêm ngặt ngày càng tăng khi lần điểm đạo này tiếp nối lần điểm đạo khác—để xem điểm đạo đồ có khả năng đến mức nào trong việc giữ lại hay bảo tồn trong tâm thức não bộ của mình các sự kiện đã được ghi nhận của nhiều thế giới hay cõi tâm thức; tức là ba cõi giới của nỗ lực nhân loại và thế giới của tâm thức linh hồn, hoặc cả hai thế giới này và thế giới của ashram; hoặc lại nữa, các thế giới ấy và hoạt động của chính Thánh đoàn, được nhìn như một toàn thể hoàn chỉnh; hoặc lại nữa, tất cả những điều này và thế giới của kinh nghiệm Tam nguyên tinh thần, cho đến khi đạt đến điểm mà một sự liên tục trực tiếp của tâm thức có thể được ghi nhận và giữ vững, đến thẳng từ Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới đến những Chân sư đang hoạt động trong một thể xác và do đó phải sử dụng một bộ não hồng trần. Trong từng trường hợp riêng biệt, thử thách (để được vượt qua đúng đắn) phải bao hàm tâm thức não bộ; các sự kiện được ghi nhận trên các cõi vi tế hơn phải được ghi nhận, nhận biết và diễn giải một cách chính xác đồng thời trên cõi hồng trần.

You can see for yourselves that this is a major and most necessary indication of a developing awareness; a Master has to be aware at any time on any plane and at will. It will also be obvious to you that this will be a growing and an increasing perception for which the intermediate stages, between initiations, prepare the initiate. Gradually, each one of the five senses, plus the common-sense (the mind), has to demonstrate the effectiveness of its higher correspondence [434] and thus of a developing subtle apparatus. Through this apparatus the initiate is put in touch with widening areas of the divine “state of mind” or with the planetary consciousness, until “the mind that is in Christ” becomes truly the mind of the initiate, with all that those words entail of meaning and esoteric significance. Consciousness, Sensitivity, Awareness, Planetary Rapport, Universal Consciousness—these are the words which we must consider, sequentially developed and in their truly esoteric sense.

Các bạn có thể tự thấy rằng đây là một dấu hiệu lớn và rất cần thiết của một nhận thức đang phát triển; một Chân sư phải có nhận thức vào bất kỳ lúc nào trên bất kỳ cõi nào và theo ý muốn. Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng đây sẽ là một tri giác đang tăng trưởng và ngày càng gia tăng, mà các giai đoạn trung gian giữa các lần điểm đạo chuẩn bị cho điểm đạo đồ. Dần dần, mỗi một trong năm giác quan, cộng với thường thức (trí tuệ), phải chứng minh hiệu quả của tương ứng cao hơn của nó [434] và do đó của một bộ máy vi tế đang phát triển. Qua bộ máy này, điểm đạo đồ được đặt vào tiếp xúc với những lĩnh vực ngày càng mở rộng của “trạng thái trí tuệ” thiêng liêng hay với tâm thức hành tinh, cho đến khi “trí tuệ ở trong Đức Christ” thực sự trở thành trí tuệ của điểm đạo đồ, với tất cả những gì những lời ấy bao hàm về ý nghĩa và thâm nghĩa huyền bí. Tâm thức, Tính nhạy cảm, Nhận thức, Sự tương giao hành tinh, Tâm thức vũ trụ—đó là những từ mà chúng ta phải xem xét, được phát triển tuần tự và theo ý nghĩa huyền bí đích thực của chúng.

You have here a wide and general picture, involving the goal, the means or mode, the testing point and the physical brain; these are four factors which have received little or no attention where initiation has been dealt with in the occult writings. They are nevertheless of major importance. I am dealing with them here because of the stage of development now reached by the human mind, because of their increasingly close relation to the physical brain, and because there are now so many aspirants ready to tread the Path of Discipleship, the Path of Initiatory Training. They are now in a position to work consciously at the task of a dual and constant process of spiritual and physical recognitions.

Ở đây các bạn có một bức tranh rộng lớn và tổng quát, bao gồm mục tiêu, phương tiện hay phương thức, điểm thử thách và bộ não hồng trần; đó là bốn yếu tố đã nhận được rất ít hoặc không nhận được sự chú ý nào khi điểm đạo được bàn đến trong các trước tác huyền bí. Tuy nhiên, chúng lại có tầm quan trọng lớn lao. Tôi đang đề cập đến chúng ở đây vì giai đoạn phát triển mà trí tuệ con người hiện nay đã đạt tới, vì mối liên hệ ngày càng chặt chẽ của chúng với bộ não hồng trần, và vì hiện nay có quá nhiều người chí nguyện sẵn sàng bước lên Con Đường Đệ Tử, Con Đường Huấn Luyện Điểm Đạo. Giờ đây họ ở vào vị thế có thể làm việc một cách có ý thức với nhiệm vụ của một tiến trình nhị nguyên và liên tục của những sự nhận biết tinh thần và hồng trần.

The Dual Life of the Disciple — Đời Sống Nhị Nguyên của Đệ Tử

I have divided this theme into two parts, owing to the fact that the dualism displayed by a Master and that demonstrated by a disciple are not identical or one and the same thing at advancing points of distinction. The subject, when you first approach it, seems of a relative simplicity, but a closer consideration of it will present great and unexpected dissimilarities.

Tôi đã chia chủ đề này thành hai phần, do sự kiện rằng tính nhị nguyên được một Chân sư biểu lộ và tính nhị nguyên được một đệ tử chứng tỏ không đồng nhất hay không phải là cùng một điều ở những điểm phân biệt đang tiến triển. Chủ đề này, khi các bạn mới tiếp cận, dường như tương đối đơn giản, nhưng khi xem xét kỹ hơn sẽ bộc lộ những khác biệt lớn lao và bất ngờ.

In connection with the dual life of the disciple, the factors involved are the threefold personality (with an awakening or onlooking consciousness centred or focussed in the brain), the soul which seems at first the ultimate goal of attainment but is later seen as simply a system or collection of fusing spiritual attributes, and the lowest aspect of the Spiritual Triad, the abstract mind. The disciple feels that, if he can attain the immediate and fused consciousness [435] of the three, he has attained; he realises also that this involves the construction of the antahkarana. All these factors, for one who has just been admitted to the Path of Discipleship and who is just finding his place within an Ashram, seem an adequately difficult undertaking and one that engrosses every power which he possesses.

Liên quan đến đời sống nhị nguyên của đệ tử, các yếu tố liên hệ là phàm ngã tam phân (với một tâm thức đang thức tỉnh hay đang quan sát, được tập trung hay định tiêu trong bộ não), linh hồn lúc đầu dường như là mục tiêu tối hậu của thành tựu nhưng về sau được thấy chỉ đơn giản là một hệ thống hay tập hợp các thuộc tính tinh thần đang dung hợp, và phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, tức trí trừu tượng. Đệ tử cảm thấy rằng nếu y có thể đạt được tâm thức trực tiếp và dung hợp [435] của cả ba, thì y đã đạt được; y cũng nhận ra rằng điều này bao hàm việc xây dựng antahkarana. Tất cả những yếu tố này, đối với người vừa mới được nhận vào Con Đường Đệ Tử và vừa mới tìm được chỗ đứng của mình trong một ashram, dường như là một công việc đủ khó khăn và là điều cuốn hút mọi năng lực mà y sở hữu.

This, for the time being, is true and—until the third initiation—these objectives, their conscious fusion, plus a recognition of the divine planes of awareness to which they all admit him, indicate the disciple’s task and keep him fully occupied. To the recognitions entailed he has to add a growing capacity to work on the levels of consciousness involved, remembering always that a plane and a state of consciousness are synonymous terms, and that he is making progress, becoming aware, building the antahkarana, training as a hierarchical worker within an Ashram, familiarising himself with new and opening spiritual environments, widening his horizon, stabilising himself upon the Path, and living upon the physical plane the life of an intelligent man within the world of men. He is demonstrating also no freakish peculiarities, but appears as a man of goodwill, of benevolent intelligence, of unalterable goodness, and of stern and unchangeable spiritual purpose. Is that enough of a goal for a disciple? Does it seem well-nigh impossible of accomplishment? Can you undertake such a proposition and make good your undertaking?

Điều này, trong lúc này, là đúng và—cho đến lần điểm đạo thứ ba—các mục tiêu này, sự dung hợp hữu thức của chúng, cộng với việc nhận biết các cõi tâm thức thiêng liêng mà tất cả chúng đều cho phép y đi vào, cho thấy nhiệm vụ của đệ tử và giữ cho y hoàn toàn bận rộn. Vào những sự nhận biết tất yếu ấy, y phải thêm vào một năng lực ngày càng tăng để hoạt động trên các cấp độ tâm thức liên hệ, luôn ghi nhớ rằng một cõi và một trạng thái tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa, và rằng y đang tiến bộ, đang trở nên nhận biết, đang xây dựng antahkarana, đang được huấn luyện như một người hoạt động của Thánh đoàn bên trong một Ashram, đang làm quen với những môi trường tinh thần mới đang mở ra, đang mở rộng chân trời của mình, đang tự ổn định trên Con Đường, và đang sống trên cõi hồng trần đời sống của một con người thông minh trong thế giới của những người nam và nữ. Y cũng không biểu lộ những nét kỳ quặc khác thường nào, mà xuất hiện như một người thiện chí, có trí tuệ nhân hậu, có thiện tính bất biến, và có mục đích tinh thần nghiêm nghị, không đổi thay. Chừng ấy có đủ làm mục tiêu cho một đệ tử chăng? Điều đó có vẻ gần như không thể thực hiện được chăng? Bạn có thể đảm nhận một đề nghị như thế và hoàn thành điều mình đảm nhận chăng?

Most assuredly you can, for the factor of time enters in and the disciple is free to submit to its conditioning, particularly in the early stages of his discipleship; this he usually does at first, knowing nothing else to do, but the speed or the sattvic or rhythmic nature of the spiritual life eventually changes this attitude; he then works with no true consciousness of time except as it affects other people and his associates upon the physical plane.

Chắc chắn là bạn có thể, vì yếu tố thời gian có tham dự vào và đệ tử được tự do thuận theo sự tác động của nó, đặc biệt trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử; lúc đầu y thường làm như vậy, vì không biết phải làm gì khác, nhưng tốc độ hay bản chất sattva hoặc nhịp điệu của đời sống tinh thần rốt cuộc sẽ thay đổi thái độ này; khi ấy y hoạt động mà không có ý thức thực sự về thời gian, ngoại trừ trong chừng mực nó ảnh hưởng đến những người khác và các cộng sự của y trên cõi hồng trần.

At first, his registration of that which is sensed or seen upon the subtler planes or the soul plane is slow; it takes time for contacts and for knowledge gained to penetrate from the higher levels to his physical brain. This fact (when [436] he discovers it) tends to upset his time-awareness, and the first step is therefore taken on the path of timelessness, speaking symbolically. He gains also the capacity to work with greater rapidity and mental coordination than does the average intelligent man; in this way he learns the limitations of time as a brain condition, and learns also how to offset it and to work in such a way that he does more within a set time limit than is possible to the average man, no matter how ardently he may pursue the effort. The overcoming of time and the demonstration of spiritual speed are indications that the dual life of discipleship is superseding the integrated life of the personality, though leading in its turn to a still greater synthesis and higher integration.

Thoạt đầu, sự ghi nhận của y về điều được cảm nhận hay được thấy trên các cõi vi tế hơn hoặc trên cõi linh hồn là chậm chạp; cần có thời gian để các tiếp xúc và tri thức thu nhận được thấm xuống từ các cấp độ cao hơn đến bộ não hồng trần của y. Sự kiện này (khi [436] y khám phá ra nó) có khuynh hướng làm xáo trộn ý thức về thời gian của y, và vì thế bước đầu tiên được thực hiện trên con đường vô thời gian, nói theo biểu tượng. Y cũng đạt được năng lực hoạt động với tốc độ nhanh hơn và sự phối hợp trí tuệ lớn hơn con người thông minh trung bình; theo cách này y học được những giới hạn của thời gian như một điều kiện của bộ não, và cũng học được cách hóa giải nó và hoạt động theo cách sao cho y làm được nhiều hơn trong một giới hạn thời gian nhất định so với điều có thể đối với người trung bình, bất kể ông có thể theo đuổi nỗ lực ấy tha thiết đến đâu. Việc vượt thắng thời gian và biểu lộ tốc độ tinh thần là những dấu hiệu cho thấy đời sống nhị nguyên của địa vị đệ tử đang thay thế đời sống tích hợp của phàm ngã, dù đến lượt nó lại dẫn đến một tổng hợp còn lớn hơn và một sự tích hợp cao hơn nữa.

The dual life which all disciples lead produces also a rapidity of mental interpretation which is essential to the sane registration of the phenomenal life of the various higher planes and states of consciousness. Forget not that all our planes are subplanes of the cosmic physical plane, and are therefore phenomenal in nature. As they are contacted and recorded and the knowledge is transmitted to the physical brain, via the mind, there must always accompany them a true interpretation and a correct recognition of “things as they are.” It is here that the non-disciple and the psychic go wrong, for their interpretation is almost always fundamentally in error, and it takes time (coming within that cycle of limitation) intelligently to interpret and truly register what the perceiving consciousness has contacted. When the time factor no longer controls, the interpretations registered by the brain are infallibly correct. I have here given you a major piece of information.

Đời sống nhị nguyên mà mọi đệ tử đều sống cũng tạo ra một sự mau lẹ trong diễn giải trí tuệ, điều thiết yếu cho việc ghi nhận lành mạnh đời sống hiện tượng của các cõi cao hơn khác nhau và các trạng thái tâm thức. Đừng quên rằng tất cả các cõi của chúng ta đều là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, và vì thế đều có bản chất hiện tượng. Khi chúng được tiếp xúc và ghi nhận, và tri thức được truyền đến bộ não hồng trần qua trung gian của trí tuệ, thì luôn luôn phải đi kèm với chúng một sự diễn giải chân chính và một sự nhận biết đúng đắn về “sự vật như chúng là.” Chính ở đây người không phải đệ tử và nhà thông linh sai lầm, vì sự diễn giải của họ hầu như luôn luôn sai lầm một cách căn bản, và cần có thời gian (nằm trong chu kỳ giới hạn ấy) để diễn giải một cách thông minh và ghi nhận một cách chân thực điều mà tâm thức tri giác đã tiếp xúc. Khi yếu tố thời gian không còn kiểm soát nữa, các diễn giải được bộ não ghi nhận sẽ đúng đắn không sai. Ở đây tôi đã trao cho bạn một mẩu thông tin quan trọng.

You will see, therefore, that in the earlier initiatory process, the factor of time is noted by the initiate and also by the presenting Masters. An instance of a slow permeation of information from the plane of initiation to the physical brain can be seen in the fact that very few aspirants and disciples register the fact that they have already taken the first initiation, the birth of the Christ in the cave of the heart. That they have taken it is evidenced by their deliberate [437] treading of the Way, by their love of the Christ—no matter by what name they may call Him—and by their effort to serve and help their fellowmen; they are still, however, surprised when told that the first initiation lies behind them. This is due entirely to the factor of time, leading to their inability to “bring through” past events with accuracy, by a false humility as well (inculcated by the Christian Church, as it attempts to keep people subjugated by the sin idea), and by the intensely forward-looking anticipatory consciousness of the average aspirant. When a true perspective and a balanced point of view have been attained, and some awareness of the Eternal Now is beginning to penetrate into their understanding, then the past, the present and the future will be lost to sight in the consciousness of the inclusiveness of the moment that IS; then the limitations of time will be ending and the Law of Karma will be negated; it is at present so closely related to past and future. The dual life of the disciple will then be ended, giving place to the cosmic dualism of the Master. The Master is free from the limitations of time, though not of space, because space is an eternal Entity.

Vì vậy, bạn sẽ thấy rằng trong tiến trình điểm đạo ban đầu, yếu tố thời gian được điểm đạo đồ lưu ý và cũng được các Chân sư trình diện lưu ý. Một ví dụ về sự thẩm thấu chậm chạp của thông tin từ cõi điểm đạo đến bộ não hồng trần có thể thấy trong sự kiện là rất ít người chí nguyện và đệ tử ghi nhận sự kiện rằng họ đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, sự giáng sinh của Đức Christ trong hang động của trái tim. Việc họ đã trải qua điều đó được chứng minh bằng việc họ cố ý [437] bước đi trên Con Đường, bằng tình thương của họ đối với Đức Christ—dù họ có gọi Ngài bằng tên gì đi nữa—và bằng nỗ lực phụng sự và giúp đỡ đồng loại; tuy nhiên, họ vẫn ngạc nhiên khi được bảo rằng lần điểm đạo thứ nhất đã ở phía sau họ. Điều này hoàn toàn là do yếu tố thời gian, dẫn đến việc họ không thể “mang qua” các biến cố quá khứ một cách chính xác, cũng như do một sự khiêm tốn giả tạo (được Giáo hội Cơ Đốc inculcate, khi giáo hội cố giữ con người trong sự phục tùng bằng ý niệm tội lỗi), và do tâm thức tiên liệu mãnh liệt hướng về phía trước của người chí nguyện trung bình. Khi một viễn cảnh chân chính và một quan điểm quân bình đã đạt được, và một ít nhận biết về Hiện Tại Vĩnh Cửu bắt đầu thấm vào sự thấu hiểu của họ, thì quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ mất khỏi tầm nhìn trong tâm thức về tính bao gồm của khoảnh khắc đang LÀ; khi ấy các giới hạn của thời gian sẽ chấm dứt và Định luật Nghiệp quả sẽ bị phủ định; hiện nay nó liên hệ quá chặt với quá khứ và tương lai. Khi đó đời sống nhị nguyên của đệ tử sẽ chấm dứt, nhường chỗ cho nhị nguyên tính vũ trụ của Chân sư. Chân sư được tự do khỏi các giới hạn của thời gian, dù không khỏi giới hạn của không gian, bởi vì không gian là một Thực Thể vĩnh cửu.

You will see, therefore, the great necessity for a constant emphasis, at this stage in the training of the average aspirant, on the need for alignment, or for the creation of a channel of direct relation from the brain to the desired point of contact. To this trained alignment must eventually be added the building of the antahkarana and its subsequent use in a growing system of alignments. The antahkarana must be completed and direct contact must be established with the Spiritual Triad by the time the third initiation has been taken. Then follows the fourth initiation with its destruction of the egoic, causal or soul body, owing to the complete fusion of soul and personality. The dual life of the disciple ends.

Vì vậy, bạn sẽ thấy sự cần thiết lớn lao của việc luôn luôn nhấn mạnh, ở giai đoạn này trong sự huấn luyện của người chí nguyện trung bình, đến nhu cầu chỉnh hợp, hay tạo ra một kênh liên hệ trực tiếp từ bộ não đến điểm tiếp xúc mong muốn. Vào sự chỉnh hợp đã được huấn luyện này, cuối cùng phải thêm vào việc xây dựng antahkarana và việc sử dụng nó về sau trong một hệ thống chỉnh hợp ngày càng tăng. Antahkarana phải được hoàn tất và sự tiếp xúc trực tiếp phải được thiết lập với Tam Nguyên Tinh Thần vào lúc lần điểm đạo thứ ba đã được trải qua. Sau đó là lần điểm đạo thứ tư với sự hủy diệt của thể chân ngã, nguyên nhân hay thể linh hồn, do sự dung hợp hoàn toàn của linh hồn và phàm ngã. Đời sống nhị nguyên của đệ tử chấm dứt.

The Dual Existence of the Master — Sự Hiện Hữu Nhị Nguyên của Chân sư

I would have you note here the difference between the two headings. I refer in one place to the dual life of the [438] disciple but in another to the dual existence of the Master. That distinction is deliberate and intentional. The disciple lives in the three worlds and, until the third initiation, he demonstrates his livingness strictly in relation to the soul and the personality, and therefore strictly to the phenomenal world and to the various levels of the dense cosmic physical plane.

Ở đây tôi muốn bạn lưu ý sự khác biệt giữa hai tiêu đề. Ở một chỗ tôi nói đến đời sống nhị nguyên của [438] đệ tử nhưng ở chỗ khác lại nói đến sự hiện hữu nhị nguyên của Chân sư. Sự phân biệt ấy là có chủ ý và cố ý. Đệ tử sống trong ba cõi giới và, cho đến lần điểm đạo thứ ba, y biểu lộ sự sống động của mình một cách nghiêm ngặt trong liên hệ với linh hồn và phàm ngã, và vì thế nghiêm ngặt trong liên hệ với thế giới hiện tượng và với các cấp độ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ đậm đặc.

The Master functions on the plane of BEING and demonstrates the fact that He eternally IS, that He exists as a divine aspect upon the formless levels of the cosmic etheric planes; this is a very different matter to the life of the disciple and to which little attention has been paid. Existence, Being, Essential Life, Dynamic Energy, electric Fire are all of them distinctive of the higher initiations; they produce basic distinctions between their constitution and mode of life expression and that of those who live, who are in process of becoming, who express quality, and who fuse and blend solar fire and fire by friction. Being and Existence are not the same as Becoming or of Qualified Appearance. It is largely a question of emphases. A Master has synthesised within Himself all for which the advancing disciple longs to express, all that is possible as Expansion, plus an emphasis upon the dynamic life aspect, plus an ability to stand immovable in pure Being. Here again I find it hard to express that for which no words are to be found.

Chân sư hoạt động trên cõi BẢN THỂ và chứng tỏ sự kiện rằng Ngài vĩnh viễn LÀ, rằng Ngài hiện hữu như một phương diện thiêng liêng trên các cấp độ vô tướng của các cõi dĩ thái vũ trụ; đây là một vấn đề rất khác với đời sống của đệ tử và là điều ít được chú ý đến. Hiện hữu, Bản thể, Sự sống Cốt yếu, Năng lượng Động, Lửa Điện, tất cả đều là những đặc trưng của các lần điểm đạo cao hơn; chúng tạo ra những khác biệt căn bản giữa cấu tạo và phương thức biểu lộ sự sống của các Ngài với những người sống, đang trong tiến trình trở thành, biểu lộ phẩm tính, và dung hợp, hòa trộn Lửa Thái dương với Lửa ma sát. Bản thể và Hiện hữu không giống như Sự Trở Thành hay Sắc Tướng Có Phẩm Tính. Phần lớn đây là vấn đề nhấn mạnh. Một Chân sư đã tổng hợp trong chính Ngài mọi điều mà đệ tử đang tiến bộ khao khát biểu lộ, mọi điều có thể có như Sự Mở Rộng, cộng thêm sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống năng động, cộng thêm khả năng đứng bất lay chuyển trong Bản thể thuần túy. Ở đây nữa tôi thấy khó diễn đạt điều mà không có lời nào có thể tìm thấy.

In the Master, all the divine aspects are proved capable of expression in accordance with this particular time, in this particular round and chain (reverting to the old symbolism of The Secret Doctrine) and through any particular racial expression. These divine characteristics—viewed from the angle of time and space—are shewn in a definitely relative form; later cycles and time periods will show these aspects in a still more perfected form. But the relativity of these matters does not really concern us, and the perfection is—from the angle of the human disciple today—exactly what we understand by perfection. The Masters know, however, that a higher, deeper and more intensive manifestation of divinity is potentially possible, but it causes Them no [439] concern or strain, no anxiety or fiery aspiration; They know, as no disciple can know, the workings of the Law of Inevitability. This Law releases the Masters (under the accompanying Law of Service), at the sixth initiation, into a wider field of experience, with all the divine assets and qualities so developed within Them that They know that Their equipment is adequate to the undertaking and that They can, without hesitancy and concern, take the next required steps.

Trong Chân sư, mọi phương diện thiêng liêng đều được chứng minh là có khả năng biểu lộ phù hợp với thời kỳ đặc biệt này, trong cuộc tuần hoàn và Dãy đặc biệt này (trở lại với biểu tượng học cũ của Giáo Lý Bí Nhiệm) và qua bất kỳ biểu hiện chủng tộc đặc biệt nào. Những đặc tính thiêng liêng này—được nhìn từ góc độ thời gian và không gian—được biểu lộ trong một hình thức rõ rệt là tương đối; các chu kỳ và thời kỳ sau này sẽ cho thấy các phương diện ấy trong một hình thức còn hoàn thiện hơn nữa. Nhưng tính tương đối của những vấn đề này thực sự không liên quan đến chúng ta, và sự hoàn thiện ấy—từ góc độ của đệ tử nhân loại ngày nay—chính là điều mà chúng ta hiểu là hoàn thiện. Tuy nhiên, các Chân sư biết rằng một biểu lộ cao hơn, sâu hơn và mãnh liệt hơn của thiên tính là có thể có về mặt tiềm năng, nhưng điều đó không gây cho Các Ngài [439] sự bận tâm hay căng thẳng nào, không lo âu hay khát vọng rực lửa nào; Các Ngài biết, theo cách mà không đệ tử nào có thể biết, sự vận hành của Định luật Tất Yếu. Định luật này giải thoát các Chân sư (dưới Định luật Phụng sự đi kèm), ở lần điểm đạo thứ sáu, vào một lĩnh vực kinh nghiệm rộng lớn hơn, với tất cả các tài sản và phẩm tính thiêng liêng đã được phát triển đến mức Các Ngài biết rằng trang bị của mình là đầy đủ cho công việc đảm nhận và rằng Các Ngài có thể, không do dự và không bận tâm, thực hiện các bước kế tiếp cần thiết.

It is hard for the disciple—struggling with glamour and illusion—to realise that the higher initiations are free from all concern and from any emotional or self-centred reactions to the work which lies ahead or to the form side of manifestation; it is well-nigh impossible for the neophyte to vision a time when he will be free from all reactions engendered by life on the dense cosmic physical planes and from all the limitations of life in the three worlds. Today, aspiration provides a constant source of anxious questioning, of painful deliberations and of high voltage spiritual ambition, with their consequent limitations and moments of sensed failure and lack of achievement. The Master has left all this behind, knowing that even this so-called “spiritual responsiveness” is a form of self-centred attitude. Eventually—and disciples should take courage and hope from this statement—all this agonising reaction to the spiritual urge will be left behind. The Master knows the Law and is entirely free from any consideration of the time equation, as far as He Himself is concerned. He only regards time as it may affect the working of the Plan in the three worlds.

Đối với đệ tử—đang vật lộn với ảo cảm và ảo tưởng—thật khó nhận ra rằng các lần điểm đạo cao hơn không có mọi bận tâm và không có bất kỳ phản ứng cảm xúc hay tập trung vào bản thân nào đối với công việc ở phía trước hay đối với mặt hình tướng của sự biểu hiện; đối với người sơ cơ thì gần như không thể có được linh ảnh về một thời điểm khi y sẽ được tự do khỏi mọi phản ứng do đời sống trên các cõi hồng trần vũ trụ đậm đặc gây ra và khỏi mọi giới hạn của đời sống trong ba cõi giới. Ngày nay, khát vọng cung cấp một nguồn liên tục của những câu hỏi lo âu, những cân nhắc đau đớn và tham vọng tinh thần điện thế cao, cùng với các giới hạn kéo theo và những lúc cảm thấy thất bại và thiếu thành tựu. Chân sư đã bỏ lại tất cả điều này phía sau, biết rằng ngay cả cái gọi là “sự đáp ứng tinh thần” này cũng là một hình thức thái độ tập trung vào bản thân. Cuối cùng—và các đệ tử nên lấy can đảm và hy vọng từ lời phát biểu này—mọi phản ứng đau đớn đối với thúc đẩy tinh thần này sẽ bị bỏ lại phía sau. Chân sư biết Định luật và hoàn toàn tự do khỏi mọi cân nhắc về phương trình thời gian, xét về phần chính Ngài. Ngài chỉ xét đến thời gian trong chừng mực nó có thể ảnh hưởng đến sự vận hành của Thiên Cơ trong ba cõi giới.

The dual existence of the Master involves what we might call the two poles: that of the monadic consciousness, whatever that may be, and that of the self-created form which He may use as a member of the Hierarchy and a worker in the three worlds of human enterprise. I would here remind you that there are many groups and types of Masters, and most of Them are quite unknown to occult students either from Their work or from rumour or from knowledge of the many evolutionary processes of which the human is only [440] one. Not all the Masters work in the three worlds; not all the Masters need or possess physical bodies; not all the Masters “have Their faces turned towards the realm of dark light, but many face for aeons towards the clear cold light of spiritual existence”; not all the Masters make or are required to make the sacrifices which work for the fourth kingdom in nature entails. Not all souls liberated or limited constitute the Kingdom of God in the sense which that phrase conveys to us; that term is limited to the soul which informs units in the human family; not all the Masters work under the great Buddha of Activity Who is responsible to Sanat Kumara for the Plan working out in connection with Humanity. He works through the three Great Lords of the Eternal Ashram of Sanat Kumara, but His two Brothers have Each of Them an equally important work and are responsible—as He is—to the Council Chamber. Each of Them also works through a triangle of energies with grouped subsidiary forces working in seven departments and differentiated also into forty-nine lesser departments, as is the Ashram which we call the Hierarchy. Forget not, there are many Hierarchies and the Human Hierarchy is but one.

Sự hiện hữu nhị nguyên của Chân sư bao hàm điều mà chúng ta có thể gọi là hai cực: cực của tâm thức chân thần, dù điều đó có thể là gì, và cực của hình tướng do chính Ngài tạo ra mà Ngài có thể sử dụng như một thành viên của Thánh đoàn và một người hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng có nhiều nhóm và loại Chân sư, và phần lớn Các Ngài hoàn toàn không được các đạo sinh huyền bí biết đến, dù qua công việc của Các Ngài hay qua lời đồn hay qua tri thức về nhiều tiến trình tiến hoá mà tiến trình nhân loại chỉ là [440] một. Không phải mọi Chân sư đều hoạt động trong ba cõi giới; không phải mọi Chân sư đều cần hay sở hữu thể xác; không phải mọi Chân sư đều “quay mặt về phía cõi của ánh sáng tối tăm, mà nhiều vị hướng về trong nhiều đại kiếp phía ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của sự hiện hữu tinh thần”; không phải mọi Chân sư đều thực hiện hay được yêu cầu thực hiện những hy sinh mà công việc cho giới thứ tư trong thiên nhiên đòi hỏi. Không phải mọi linh hồn được giải thoát hay bị giới hạn đều cấu thành Thiên Giới theo nghĩa mà cụm từ ấy gợi cho chúng ta; thuật ngữ đó bị giới hạn vào linh hồn phú linh các đơn vị trong gia đình nhân loại; không phải mọi Chân sư đều hoạt động dưới quyền Đức Phật Hoạt Động vĩ đại, Đấng chịu trách nhiệm trước Đức Sanat Kumara về sự triển khai của Thiên Cơ liên hệ đến Nhân loại. Ngài hoạt động qua ba Đại Chúa Tể của Ashram Vĩnh Cửu của Đức Sanat Kumara, nhưng hai Huynh Đệ của Ngài mỗi vị đều có một công việc quan trọng ngang nhau và chịu trách nhiệm—như Ngài—trước Phòng Hội Đồng. Mỗi vị trong Các Ngài cũng hoạt động qua một tam giác năng lượng với các mãnh lực phụ thuộc được nhóm lại, hoạt động trong bảy ban và cũng được biến phân thành bốn mươi chín ban nhỏ hơn, cũng như Ashram mà chúng ta gọi là Thánh đoàn. Đừng quên, có nhiều Huyền Giai và Huyền Giai Nhân Loại chỉ là một.

This whole theme is one of great complexity and yet at the same time so simple that when the simplicity of the planetary constitution is truly grasped and the analytic disputations of the concrete mind are overcome, the liberated Master enters a world of spiritual endeavour which is free from forms and symbols or the veils which hide the basic truth and the underlying mystery.

Toàn bộ chủ đề này rất phức tạp, nhưng đồng thời lại rất đơn giản đến nỗi khi tính đơn giản của cấu tạo hành tinh được nắm bắt thật sự và các cuộc tranh biện phân tích của trí cụ thể được vượt qua, Chân sư được giải thoát sẽ đi vào một thế giới của nỗ lực tinh thần không có hình tướng và biểu tượng hay những bức màn che giấu chân lý căn bản và huyền nhiệm nền tảng.

Being is simple, free, unlimited and unimpeded and in that world the Master moves and works. Becoming is complex, imprisoning, limited and subjected to hindrances, and in that world the disciple and the lesser initiates live and move and have their being. The Master works simultaneously in two worlds or states of awareness; i.e., that related to pure existence, to the untrammelled life of the planes controlled by the Monad, and also by the Hierarchy. There naught but the Plan engrosses His attention. He deals safely with “the simplicity which is Shamballa” and its [441] sphere or aura of influence and “with the field of relationships which are nurtured from the Ashram of the Christ.” I am here quoting one of the Masters Who was endeavouring to explain to a disciple the simplicity of the life which a Master expresses.

Bản thể thì đơn giản, tự do, vô hạn và không bị cản trở, và trong thế giới ấy Chân sư di chuyển và hoạt động. Sự Trở Thành thì phức tạp, giam hãm, hữu hạn và chịu các chướng ngại, và trong thế giới ấy đệ tử và các điểm đạo đồ thấp hơn sống, di chuyển và có bản thể của mình. Chân sư hoạt động đồng thời trong hai thế giới hay hai trạng thái nhận biết; tức là, trạng thái liên hệ với hiện hữu thuần túy, với đời sống không bị trói buộc của các cõi do chân thần kiểm soát, và cũng do Thánh đoàn kiểm soát. Ở đó không gì ngoài Thiên Cơ thu hút sự chú ý của Ngài. Ngài đề cập một cách an toàn đến “tính đơn giản là Shamballa” và khối cầu hay hào quang ảnh hưởng của nó, và “đến trường quan hệ được nuôi dưỡng từ ashram của Đức Christ.” Ở đây tôi đang trích lời một trong các Chân sư, Đấng đang cố giải thích cho một đệ tử về tính đơn giản của đời sống mà một Chân sư biểu lộ.

Leave a Comment

Scroll to Top