2. Cung và Điểm đạo – QUY LUẬT 1-4

📘 Sách: Các Cung và Các Cuộc Điểm đạo – Tác giả: Alice Bailey

RULE ONE — QUY LUẬT MỘT

[25]

[25]

We now begin our study of the fourteen rules for those who are seeking initiation, in one or other of its degrees. In Initiation, Human and Solar I gave the rules for those proposing to enter the grades of discipleship. I would like for a minute to deal with the significance of the word “Rule” and give you some idea of its occult meaning. There is much difference between a Law, an Order or Command, and a Rule, and these distinctions should be pondered with care. The Laws of the universe are simply the modes of expression, the life impulses and the way of existence or activity of the One in Whom we live and move and have our being. There is no avoiding these laws in the last analysis, and there is no denying them, for we are eternally swept into activity by them and they govern and control (from the angle of the Eternal Now) all that happens in time and space. Orders and commands are the feeble interpretations which men give to what they understand by law. In time and space, and at any given moment and in any given location, these commands are issued by those who are in a position of authority or who seem to dominate or are in a position to enforce their wishes. Laws are occult and basic. Orders are indicative of human frailty and limitation.

Giờ đây chúng ta bắt đầu nghiên cứu mười bốn quy luật dành cho những ai đang tìm kiếm điểm đạo, ở cấp độ này hay cấp độ khác của nó. Trong Initiation, Human and Solar tôi đã đưa ra các quy luật cho những ai dự định bước vào các cấp bậc của địa vị đệ tử. Trong chốc lát, tôi muốn bàn đến thâm nghĩa của từ “quy luật” và trao cho các bạn một vài ý niệm về ý nghĩa huyền bí của nó. Có rất nhiều khác biệt giữa một Định luật, một Mệnh lệnh hay một Sắc lệnh, và một quy luật, và những sự phân biệt này cần được suy ngẫm cẩn trọng. Các Định luật của vũ trụ chỉ đơn giản là các phương thức biểu lộ, các xung lực sự sống và cách thức hiện hữu hay hoạt động của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu. Rốt cuộc không thể tránh được các định luật này, cũng không thể phủ nhận chúng, vì chúng ta vĩnh viễn bị chúng cuốn vào hoạt động và chúng cai quản và kiểm soát (xét từ góc độ của Hiện Tại Vĩnh Cửu) mọi điều xảy ra trong thời gian và không gian. Các mệnh lệnh và sắc lệnh là những diễn giải yếu ớt mà con người đưa ra về điều họ hiểu là định luật. Trong thời gian và không gian, và tại bất kỳ thời điểm nào và bất kỳ địa điểm nào, các sắc lệnh này được ban ra bởi những người ở vị trí có thẩm quyền hoặc dường như thống trị hoặc ở vị trí có thể cưỡng ép ý muốn của mình. Các Định luật thì huyền bí và căn bản. Các mệnh lệnh cho thấy sự yếu đuối và giới hạn của con người.

Rules are, however, different. They are the result of tried experience and of age-long undertakings and—assuming neither the form of laws nor the limitations of a command—they are recognised by those for whom they exist and hence evoke from them a prompt intuitive response. They need no enforcement but are voluntarily accepted, and are put to trial in the belief that the witness of the past and the testimony of the ages warrant the effort required for the expressed requirements.

Tuy nhiên, các quy luật thì khác. Chúng là kết quả của kinh nghiệm đã được thử nghiệm và của những nỗ lực qua nhiều thời đại và—không mang hình thức của các định luật cũng không mang những giới hạn của một mệnh lệnh—chúng được những người mà chúng tồn tại cho họ nhìn nhận và do đó gợi lên từ họ một đáp ứng trực giác mau lẹ. Chúng không cần sự cưỡng chế mà được tự nguyện chấp nhận, và được đem ra thử nghiệm trong niềm tin rằng chứng cứ của quá khứ và lời chứng của các thời đại bảo đảm cho nỗ lực cần thiết để đáp ứng các đòi hỏi đã được nêu ra.

This is true of the fourteen Rules which we are now going to study. I would remind you that only the initiate consciousness will truly comprehend their significance, but [26] also that your effort so to do will develop in you the beginning of that initiate consciousness, provided you seek to make practical and voluntary application of these rules in your daily lives. They are susceptible of three forms of application—physical, emotional and mental—and of a fourth application which is best designated by the words “the response of the integrated personality to soul interpretation and understanding.”

Điều này đúng với mười bốn Quy luật mà giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chỉ tâm thức điểm đạo đồ mới thực sự thấu hiểu được thâm nghĩa của chúng, nhưng [26] cũng rằng nỗ lực của các bạn nhằm làm như vậy sẽ phát triển nơi các bạn sự khởi đầu của tâm thức điểm đạo đồ ấy, miễn là các bạn tìm cách áp dụng các quy luật này một cách thực tiễn và tự nguyện trong đời sống hằng ngày của mình. Chúng có thể được áp dụng dưới ba hình thức—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—và dưới một hình thức thứ tư được gọi tốt nhất bằng các từ “sự đáp ứng của phàm ngã tích hợp đối với sự diễn giải và thấu hiểu của linh hồn.”

Another point which I would call to your attention, prior to interpreting this rule, is that your group endeavour must be to seek group application, group meaning and group light. I would emphatically emphasise the words “group light.” We are dealing, therefore, with something basically new in the field of occult teaching, and the difficulty of intelligent comprehension is consequently great. The true significances are not the simple ones which appear upon the surface. The words of these rules would seem to be almost tritely familiar. If they meant exactly what they appear to mean, there would be no need for me to be giving hints as to their underlying significances and ideas. But they are not so simple.

Một điểm khác mà tôi muốn lưu ý các bạn, trước khi diễn giải quy luật này, là nỗ lực của nhóm các bạn phải là tìm kiếm sự áp dụng nhóm, ý nghĩa nhóm và ánh sáng nhóm. Tôi đặc biệt nhấn mạnh các từ “ánh sáng nhóm.” Vì vậy, chúng ta đang đề cập đến một điều gì đó về căn bản là mới trong lĩnh vực giáo huấn huyền bí, và do đó khó khăn của sự thấu hiểu thông minh là rất lớn. Những thâm nghĩa chân thực không phải là những điều đơn giản xuất hiện trên bề mặt. Các từ ngữ của những quy luật này dường như gần như quen thuộc đến tầm thường. Nếu chúng có nghĩa đúng như vẻ ngoài của chúng, thì tôi đã không cần phải đưa ra những gợi ý về các thâm nghĩa và ý tưởng nền tảng của chúng. Nhưng chúng không đơn giản như vậy.

To sum up, therefore: these Rules are to be read with the aid of a developing esoteric sense; they are related to group initiation in spite of their having individual application; they are not what they appear to be on the surface—trite truisms and spiritual platitudes; but they are rules for initiation which, if followed, will take the disciple and the group through a major spiritual experience; they embody the techniques of the New Age, which necessitate group activity, group procedure and united action. Earlier I said that these rules are the result of tried experience, and my use of the word “new” in this connotation is related to human knowledge but not to the initiatory procedure. That has always existed and always, at the great crises of initiation, disciples have moved forward in groups, even though they have not been aware of so doing. Now disciples can become so aware, and the various ray ashrams will not only present their groups (large or small) to the Initiator, but the personnel of [27] these groups will now be aware of the fact of group presentation. They will also have to grasp the fact of the extent of their knowledge being dependent upon their decentralisation. I would ask you to ponder and reflect upon this last statement.

Vì vậy, để tóm lại: các Quy luật này phải được đọc với sự trợ giúp của một cảm quan huyền bí đang phát triển; chúng liên hệ đến điểm đạo nhóm mặc dù chúng có sự áp dụng cá nhân; chúng không phải là điều chúng có vẻ như trên bề mặt—những chân lý tầm thường và những lời sáo ngữ tinh thần; mà là những quy luật cho điểm đạo, nếu được tuân theo, sẽ đưa đệ tử và nhóm đi qua một kinh nghiệm tinh thần lớn; chúng thể hiện các kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới, vốn đòi hỏi hoạt động nhóm, tiến trình nhóm và hành động hợp nhất. Trước đây tôi đã nói rằng các quy luật này là kết quả của kinh nghiệm đã được thử nghiệm, và việc tôi dùng từ “mới” trong hàm ý này liên hệ đến tri thức của con người chứ không liên hệ đến thủ tục điểm đạo. Thủ tục ấy luôn luôn tồn tại và vào những khủng hoảng lớn của điểm đạo, các đệ tử luôn tiến lên theo nhóm, dù họ không ý thức được điều đó. Giờ đây các đệ tử có thể trở nên ý thức như vậy, và các ashram cung khác nhau sẽ không chỉ trình các nhóm của mình (lớn hay nhỏ) lên trước Đấng Điểm đạo, mà thành phần của [27] các nhóm này giờ đây cũng sẽ ý thức được sự kiện trình diện theo nhóm. Họ cũng sẽ phải nắm bắt sự kiện rằng mức độ tri thức của họ tùy thuộc vào sự phi tập trung vào bản thân của họ. Tôi muốn các bạn suy ngẫm và phản tỉnh về lời phát biểu cuối cùng này.

Let us now proceed to a consideration of Rule I.

Giờ đây chúng ta hãy tiến tới việc xem xét Quy luật I.

Rule I.

Quy luật I.

Within the fire of mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand. The burning ground has done its work. The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension.

Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để nhóm đứng vững. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo chiếu rạng, và nó lạnh lẽo, tuy nhiên sức nóng—được gợi lên bởi bác ái nhóm—cho phép sự ấm áp của chuyển động đầy năng lượng hướng ra ngoài. Phía sau nhóm là Cánh Cửa. Trước mặt họ mở ra Con Đường. Hãy để đoàn huynh đệ cùng nhau tiến lên—ra khỏi lửa, vào trong cái lạnh, và hướng tới một sự nhất tâm mới hơn.

It will be profitable if we take this Rule I sentence by sentence and try to wrest from each its group significance.

Sẽ có ích nếu chúng ta xét Quy luật I này từng câu một và cố gắng rút ra từ mỗi câu thâm nghĩa nhóm của nó.

1. Within the fire of the mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand.

1. Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để nhóm đứng vững.

In this sentence, you have the idea of intellectual perception and of focussed unity. Intellectual perception is not mental understanding, but is in reality the clear cold reason, the buddhic principle in action and the focussed attitude of the Spiritual Triad in relation to the personality. I would call your attention to the following analogies:

Trong câu này, các bạn có ý tưởng về tri giác trí tuệ và về sự hợp nhất được tập trung. Tri giác trí tuệ không phải là sự thấu hiểu trí tuệ, mà thực ra là lý trí trong trẻo lạnh lẽo, nguyên khí Bồ đề đang hoạt động và thái độ tập trung của Tam Nguyên Tinh Thần trong mối liên hệ với phàm ngã. Tôi muốn lưu ý các bạn đến những tương đồng sau đây:

Head

Monad

Atma

Purpose

Heart

Soul

Buddhi

Pure reason

Base of spine

Personality

Manas

Spiritual activity

In these words you have, therefore, the position of the personality indicated as it stands at the penetrating point of the antahkarana as it contacts the manas or lower mind and is thus the agent of the purpose of the Monad, working through the Spiritual Triad which is—as you know—related to the personality by the antahkarana.

Vì vậy, trong những lời này, vị trí của phàm ngã được chỉ ra khi nó đứng tại điểm xuyên thấu của antahkarana khi nó tiếp xúc với manas hay hạ trí và do đó là tác nhân của mục đích của chân thần, hoạt động qua Tam Nguyên Tinh Thần, vốn—như các bạn biết—liên hệ với phàm ngã qua antahkarana.

The heart as an aspect of pure reason requires careful consideration. It is usually considered the organ of pure love [28] but—from the angle of the esoteric sciences—love and reason are synonymous terms, and I would have you reflect upon why this should be. Love is essentially a word for the underlying motive of creation. Motive, however, presupposes purpose leading to action, and hence in the group-life task of the incarnating Monad there comes a time when motive (heart and soul) becomes spiritually obsolete because purpose has reached a point of fulfillment and the activity set in motion is such that purpose cannot be arrested or stopped. The disciple cannot then be deterred, and no hindrance or difficulty is hard enough to prevent his moving forward. Then we have eventual destruction of what Theosophists call the causal body and the establishing of a direct relation between the Monad and its tangible expression upon the physical plane. The head centre and the centre at the base of the spine will be in direct unimpeded relation; monadic will and personality will likewise will be in a similar unimpeded relation, via the antahkarana. I would have you remember that the will aspect is the final dominating principle.

Tim như một phương diện của lý trí thuần túy đòi hỏi phải được xem xét cẩn thận. Nó thường được xem là cơ quan của tình thương thuần túy [28] nhưng—xét từ góc độ của các khoa học huyền bí—tình thương và lý trí là những thuật ngữ đồng nghĩa, và tôi muốn các bạn suy ngẫm tại sao lại như vậy. Tình thương về bản chất là một từ chỉ động cơ nền tảng của sáng tạo. Tuy nhiên, động cơ giả định có mục đích dẫn đến hành động, và do đó trong nhiệm vụ sự sống nhóm của chân thần đang nhập thể sẽ đến một lúc mà động cơ (tim và linh hồn) trở nên lỗi thời về mặt tinh thần vì mục đích đã đạt tới một điểm hoàn thành và hoạt động được khởi động đã đến mức mục đích không thể bị ngăn cản hay dừng lại. Khi ấy đệ tử không thể bị cản trở, và không chướng ngại hay khó khăn nào đủ lớn để ngăn y tiến lên. Khi đó chúng ta có sự hủy diệt cuối cùng của điều mà các nhà Thông Thiên Học gọi là thể nguyên nhân và việc thiết lập một mối liên hệ trực tiếp giữa chân thần với biểu hiện hữu hình của nó trên cõi hồng trần. Trung tâm đầu và trung tâm ở đáy cột sống sẽ ở trong mối liên hệ trực tiếp không bị cản trở; ý chí chân thần và phàm ngã cũng sẽ ở trong một mối liên hệ tương tự không bị cản trở, qua antahkarana. Tôi muốn các bạn nhớ rằng phương diện ý chí là nguyên khí thống trị tối hậu.

In the group application of these ideas the same basic and profound development must take place, and a group of disciples must be distinguished by pure reason, which will steadily supersede motive, merging eventually into the will aspect of the Monad—its major aspect. It is, technically speaking, Shamballa in direct relation with humanity.

Trong sự áp dụng theo nhóm của các ý tưởng này, cùng một sự phát triển căn bản và sâu xa ấy phải diễn ra, và một nhóm đệ tử phải được phân biệt bởi lý trí thuần túy, điều sẽ dần dần thay thế động cơ, cuối cùng hòa nhập vào phương diện ý chí của chân thần—phương diện chủ yếu của nó. Nói theo kỹ thuật, đó là Shamballa trong mối liên hệ trực tiếp với nhân loại.

What, therefore, is the group will in any ashram or Master’s group? Is it present in any form vital enough to condition the group relations and to unite its members into a band of brothers—moving forward into the light? Is the spiritual will of the individual personalities of such strength that it negates the personality relation and leads to spiritual recognition, spiritual interplay and spiritual relation? It is only in consideration of these fundamental effects of standing as a group in “the head’s clear light” that it is permissible for disciples to bring into the picture personal sensitivities and thought, and this only because of a group temporary limitation.

Vậy thì ý chí nhóm trong bất kỳ ashram hay nhóm của Chân sư nào là gì? Nó có hiện diện dưới bất kỳ hình thức nào đủ sinh động để tác động lên các mối liên hệ nhóm và hợp nhất các thành viên của nó thành một đoàn huynh đệ—đang tiến lên trong ánh sáng chăng? Ý chí tinh thần của các phàm ngã cá nhân có đủ mạnh để phủ định mối liên hệ phàm ngã và dẫn đến sự nhận biết tinh thần, sự tương tác tinh thần và mối liên hệ tinh thần chăng? Chỉ khi xem xét các hiệu quả căn bản này của việc đứng như một nhóm trong “ánh sáng trong trẻo của đầu” thì đệ tử mới được phép đưa các nhạy cảm và tư tưởng cá nhân vào bức tranh, và điều này chỉ vì một giới hạn tạm thời của nhóm.

[29]

[29]

What is it, therefore, which prevents a disciple—as an individual—from having direct approach and direct contact with the Master without being dependent upon an intermediary? Let me illustrate: In the group I have under training (Discipleship in the New Age, Vols. I and II) two or three have direct approach and others have it but know it not; still others are well intentioned and hard driving disciples, but never for a second do they forget themselves; one has had a problem of glamour but now is preoccupied with the problem of spiritual ambition—a spiritual ambition which is working through a very small personality; some could make rapid progress but are too prone to inertia—perhaps I could say that they do not care enough. Each of them (and every other disciple) can place himself. All of them desire to move forward and possess a strong inner spiritual life—hence my finding the time to work with them. But the group antahkarana is still incomplete and the aspect of pure reason and of the heart does not control. The evocative power of the Spiritual Triad is not, therefore, adequate to hold the personality steady and the invocative power of the personality is non-existent—speaking from the angle of the group personalities which make up the personality aspect of the ashram. This is a factor with which they oft feel I have not to deal. It can only become a potent factor if certain personality relations are adjusted and inertia is overcome. Then and only then can “the group stand.”

Vậy thì điều gì ngăn cản một đệ tử—với tư cách cá nhân—không có được sự tiếp cận trực tiếp và tiếp xúc trực tiếp với Chân sư mà không lệ thuộc vào một trung gian? Hãy để tôi minh họa: Trong nhóm mà tôi đang huấn luyện (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I và II), có hai hoặc ba người có sự tiếp cận trực tiếp và những người khác cũng có nhưng không biết điều đó; còn những người khác nữa là những đệ tử có thiện chí và đầy nỗ lực, nhưng không bao giờ dù chỉ một giây họ quên chính mình; một người đã có vấn đề về ảo cảm nhưng nay lại bận tâm với vấn đề tham vọng tinh thần—một tham vọng tinh thần đang hoạt động qua một phàm ngã rất nhỏ bé; một số người có thể tiến bộ nhanh chóng nhưng lại quá dễ rơi vào tính trì trệ—có lẽ tôi có thể nói rằng họ không đủ quan tâm. Mỗi người trong họ (và mọi đệ tử khác) đều có thể tự đặt mình vào đúng chỗ. Tất cả họ đều mong muốn tiến lên và sở hữu một đời sống tinh thần nội tâm mạnh mẽ—do đó tôi mới dành thời gian để làm việc với họ. Nhưng antahkarana của nhóm vẫn chưa hoàn chỉnh và phương diện của lý trí thuần túy và của tim chưa kiểm soát. Vì vậy quyền năng gợi lên của Tam Nguyên Tinh Thần không đủ để giữ phàm ngã vững vàng và quyền năng khẩn cầu của phàm ngã thì không hiện hữu—nói từ góc độ các phàm ngã nhóm tạo thành phương diện phàm ngã của ashram. Đây là một yếu tố mà họ thường cảm thấy tôi không phải đề cập đến. Nó chỉ có thể trở thành một yếu tố mạnh mẽ nếu một số mối liên hệ phàm ngã được điều chỉnh và tính trì trệ được vượt qua. Khi đó và chỉ khi đó “nhóm mới có thể đứng vững.”

2. The burning ground has done its work.

2. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó.

Here there is quite apt to be misunderstanding. To most people the burning ground stands for one of two things:

Ở đây rất dễ có sự hiểu lầm. Đối với hầu hết mọi người, vùng đất cháy tượng trưng cho một trong hai điều:

a. Either the fire of the mind, burning up those things in the lower nature of which it becomes increasingly aware.

a. Hoặc là lửa của trí tuệ, thiêu hủy những điều trong bản chất thấp mà y ngày càng nhận biết rõ hơn.

b. Or the burning ground of sorrow, agony, horror and pain which is the characteristic quality of life in the three worlds, particularly at this time.

b. Hoặc là vùng đất cháy của đau buồn, thống khổ, kinh hoàng và đau đớn, vốn là phẩm tính đặc trưng của sự sống trong ba cõi giới, đặc biệt vào lúc này.

But the burning ground referred to here is something [30] very different. When the blazing light of the sun is correctly focussed on or through a glass it can cause ignition. When the blazing light of the Monad is focussed directly upon the personality, via the antahkarana and not specifically through the soul, it produces a blazing fire which burns up all hindrances in a steady, sequential process. Wording it otherwise, when the will aspect streams from the Monad and focusses through the personal will (as the mind can grasp and realise it) it destroys as by fire all elements of self-will. As the energy of Shamballa streams out and makes a direct contact with humanity (omitting the transmission via the Hierarchy, which has hitherto been customary), you have what has been seen in the world today, a destructive conflagration or a world burning ground. When the antahkarana of a group is rightly constructed, then the individualised group-will will disappear in the full consciousness of the monadic purpose or clear directed will. These are points which the disciple preparing for initiation has to consider as he prepares for the higher initiations, and these are the points which any group or ashram in preparation for initiation has also to consider.

Nhưng vùng đất cháy được nói đến ở đây là một điều gì đó [30] rất khác. Khi ánh sáng rực cháy của mặt trời được tập trung đúng cách trên hoặc xuyên qua một thấu kính, nó có thể gây bốc cháy. Khi ánh sáng rực cháy của chân thần được tập trung trực tiếp lên phàm ngã, qua antahkarana chứ không đặc biệt qua linh hồn, nó tạo ra một ngọn lửa rực cháy thiêu hủy mọi chướng ngại trong một tiến trình đều đặn, tuần tự. Nói cách khác, khi phương diện ý chí tuôn ra từ chân thần và tập trung qua ý chí cá nhân (như trí tuệ có thể nắm bắt và chứng nghiệm được), nó hủy diệt như bằng lửa mọi yếu tố của ý chí vị kỷ. Khi năng lượng của Shamballa tuôn ra và tiếp xúc trực tiếp với nhân loại (bỏ qua sự truyền dẫn qua Thánh Đoàn, vốn từ trước đến nay là thông lệ), các bạn có điều đã được thấy trong thế giới ngày nay, một đám cháy hủy diệt hay một vùng đất cháy của thế giới. Khi antahkarana của một nhóm được xây dựng đúng đắn, thì ý chí nhóm đã được biệt ngã hóa sẽ biến mất trong tâm thức đầy đủ về mục đích chân thần hay ý chí minh xác có định hướng. Đây là những điểm mà đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo phải xem xét khi chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo cao hơn, và đây cũng là những điểm mà bất kỳ nhóm hay ashram nào đang chuẩn bị cho điểm đạo cũng phải xem xét.

The secret of the higher initiations lies in the trained use of the higher will. It does not lie in purification or in self-discipline or in any of the expedients which have acted in the past as interceptors of the truth. This whole problem of the Shamballic will is in process of revelation, and will eventually alter the entire approach of the disciple in the New Age to initiation. The theme of “the Way into Shamballa” requires reflective study and esoteric understanding. In this concept of the new and future section (if I may so call it) of the Way or Path with which the modern disciple is faced lies the secret of the coming revelation and of the spiritual dispensation which will emerge as humanity constructs the new world civilisation and begins to formulate the new culture. The burning, purifying, destructive effects of the monadic will upon its distorted reflection, the individual will, deeply deserves consideration.

Bí mật của các lần điểm đạo cao hơn nằm trong việc sử dụng được huấn luyện của ý chí cao hơn. Nó không nằm trong sự thanh luyện hay trong tự kỷ luật hoặc trong bất kỳ phương tiện nào đã từng hoạt động trong quá khứ như những yếu tố ngăn chặn chân lý. Toàn bộ vấn đề này về ý chí Shamballa đang trong tiến trình được mặc khải, và rốt cuộc sẽ làm thay đổi toàn bộ cách tiếp cận của đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới đối với điểm đạo. Chủ đề “Con Đường vào Shamballa” đòi hỏi sự nghiên cứu chiêm nghiệm và sự thấu hiểu huyền bí. Chính trong khái niệm này về phần mới và tương lai của Con Đường hay Đạo Lộ (nếu tôi có thể gọi như vậy) mà đệ tử hiện đại đang đối diện, có chứa bí mật của sự mặc khải sắp đến và của sự phân phối tinh thần sẽ xuất hiện khi nhân loại xây dựng nền văn minh thế giới mới và bắt đầu hình thành nền văn hóa mới. Những hiệu quả thiêu đốt, thanh luyện, hủy diệt của ý chí chân thần lên sự phản chiếu méo mó của nó, tức ý chí cá nhân, rất đáng được suy xét sâu xa.

For long, aspirants have noted and have been taught the effect of the will upon the astral, or emotional body. It [31] is one of the primary and most elementary of the initial tensions, and is taught upon the Probationary Path. It leads to the purifying and the re-organising of the entire psychic and emotional life, as the result of its destructive action. “If you will only think,” “if you will only use a little will,” and “if you will only remember that you have a mind,” we say to the children of the race and to beginners upon the Path of conscious Return. Little by little, then, the focus and the orientation shift out of the astral life and from the emotional level of consciousness into the mental, and consequently into the reflection of the world of purpose, found in the three worlds. When that stage has been somewhat developed, then there follows, upon the Path of Discipleship and of preparation for initiation, an effort to grasp and understand the higher aspects of this mental process, and the will aspect of the egoic life begins to influence the disciple. The “petals of sacrifice” unfold and the sacred sacrificial aspect of life is revealed in its beauty, purity, simplicity and in its revolutionising quality.

Từ lâu, những người chí nguyện đã ghi nhận và đã được dạy về hiệu quả của ý chí lên thể cảm dục, hay thể cảm xúc. Nó [31] là một trong những căng thẳng ban đầu sơ đẳng và căn bản nhất, và được dạy trên Con Đường Dự Bị. Nó dẫn đến sự thanh luyện và tái tổ chức toàn bộ đời sống thông linh và cảm xúc, như là kết quả của tác động hủy diệt của nó. “Nếu bạn chỉ chịu suy nghĩ,” “nếu bạn chỉ chịu dùng một chút ý chí,” và “nếu bạn chỉ chịu nhớ rằng bạn có một trí tuệ,” đó là điều chúng tôi nói với con cái của nhân loại và với những người mới bắt đầu trên Con Đường Trở Về có ý thức. Rồi dần dần, tiêu điểm và sự định hướng chuyển ra khỏi đời sống cảm dục và khỏi cấp độ tâm thức cảm xúc để đi vào trí tuệ, và do đó đi vào sự phản chiếu của thế giới mục đích, được tìm thấy trong ba cõi giới. Khi giai đoạn đó đã được phát triển phần nào, thì tiếp theo, trên Con Đường Đệ Tử và của sự chuẩn bị cho điểm đạo, sẽ có một nỗ lực nhằm nắm bắt và thấu hiểu các phương diện cao hơn của tiến trình trí tuệ này, và phương diện ý chí của đời sống chân ngã bắt đầu ảnh hưởng đến đệ tử. Các “cánh hoa hi sinh” khai mở và phương diện hiến tế thiêng liêng của đời sống được mặc khải trong vẻ đẹp, sự tinh khiết, tính đơn giản và phẩm tính cách mạng của nó.

Upon the Path of Initiation, the monadic will (of which the egoic will is the reflection and the individual self-will is the distortion) is gradually transmitted, via the antahkarana, direct to the man upon the physical plane. This produces the higher correspondence of those qualities so glibly spoken of by the well-trained but dense esotericist—transmutation and transformation. The result is the assimilation of the individual will and the egoic will into the purpose of the Monad which is the purpose—undeviating and unalterable—of the One in Whom we live and move and have our being. This is the field of the true burning, for our “God is a consuming Fire.” This is the burning bush or the burning tree of life of Biblical symbolism. This highest of all the fires, this deeply spiritual and hitherto seldom recognised burning-ground, has its effects summed up for us in the next phrase or sentence of Rule I.

Trên Con Đường Điểm Đạo, ý chí chân thần (mà ý chí chân ngã là sự phản chiếu của nó và ý chí tự ngã cá nhân là sự méo mó của nó) dần dần được truyền, qua antahkarana, trực tiếp đến con người trên cõi hồng trần. Điều này tạo ra sự tương ứng cao hơn của những phẩm tính mà nhà bí truyền học được huấn luyện tốt nhưng còn đậm đặc thường nói một cách quá dễ dãi—chuyển hoá và chuyển đổi. Kết quả là sự đồng hóa ý chí cá nhân và ý chí chân ngã vào mục đích của chân thần, mà đó là mục đích—không lệch hướng và không thay đổi—của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Đây là lĩnh vực của sự thiêu đốt chân thực, vì “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu hủy.” Đây là bụi gai cháy hay cây sự sống cháy trong biểu tượng học Kinh Thánh. Ngọn lửa cao nhất trong mọi ngọn lửa này, vùng đất cháy sâu sắc tinh thần và từ trước đến nay hiếm khi được nhận biết này, có các hiệu quả được tóm lược cho chúng ta trong cụm từ hay câu tiếp theo của quy luật I.

3. The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out.

3. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo chiếu rọi ra, và nó lạnh lẽo, tuy nhiên nhiệt—được gợi lên bởi tình thương nhóm—lại cho phép sự ấm áp của chuyển động đầy năng lực.

[32]

[32]

In these words you have the key to group initiation. The light of the higher initiations can stream in when it is evoked by the group love. That light is clear and cold, but produces the needed “heat,” which is a symbolic word used in many of the world Scriptures to express living, spiritual energy. I said “spiritual energy” and not soul force, and herein lies a distinction which you will some day have to grasp.

Trong những lời này, bạn có chìa khóa của điểm đạo nhóm. Ánh sáng của các lần điểm đạo cao hơn có thể tuôn vào khi nó được gợi lên bởi tình thương nhóm. Ánh sáng đó trong trẻo và lạnh lẽo, nhưng tạo ra “nhiệt” cần thiết, là một từ biểu tượng được dùng trong nhiều Kinh điển thế giới để diễn tả năng lượng tinh thần sống động. Tôi đã nói “năng lượng tinh thần” chứ không phải mãnh lực linh hồn, và chính trong đó có một sự phân biệt mà một ngày nào đó bạn sẽ phải nắm bắt.

This group love is based upon the egoic aspect of the will to which we give the name “sacrificial love.” This does not connote happy relationships between individual members of the group. It might, presumably, lead to unhappy outer, superficial interplay, but basically it leads to an unalterably staunch loyalty, underlying the surface of the outer life. The Master’s influence, as He seeks to aid His disciple, always produces transitory turmoil—transitory from the angle of the soul, but frequently appalling from the angle of the personality. Similarly, the projection of the life and influence of any senior disciple into the periphery or aura of the aspirant or lesser disciple is—in its degree—likewise disturbing and upsetting; this is a point which should be carefully borne in mind, both as regards the disciple’s own reactions and training, and as regards any effect which he may call forth in the life of a probationary disciple or lesser disciple in his own sphere of influence. These intrusive influences and their consequent effects which are produced upon an individual or a group by a Master or a senior disciple are usually interpreted in personality terms, and are very little understood. They are nevertheless aspects of the higher will in some higher disciple and are beating upon the personality will and evoking the sacrificial will of the Ego, and hence lead to a period of temporary discomfort. This the aspirant and the inexperienced disciple resent and blame the evoking sources for their discomfort, instead of learning the needed lesson of receiving and handling force.

Tình thương nhóm này dựa trên phương diện chân ngã của ý chí mà chúng ta gọi là “tình thương hi sinh.” Điều này không hàm ý những mối quan hệ vui vẻ giữa các thành viên cá nhân của nhóm. Có lẽ nó có thể dẫn đến sự tương tác bên ngoài, hời hợt, không vui vẻ, nhưng về căn bản nó dẫn đến một lòng trung thành kiên định không thay đổi, nằm bên dưới bề mặt của đời sống bên ngoài. Ảnh hưởng của Chân sư, khi Ngài tìm cách trợ giúp đệ tử của Ngài, luôn tạo ra sự xáo trộn tạm thời—tạm thời từ góc độ của linh hồn, nhưng thường đáng kinh ngạc từ góc độ của phàm ngã. Tương tự như vậy, sự phóng chiếu đời sống và ảnh hưởng của bất kỳ đệ tử cao cấp nào vào chu vi hay hào quang của người chí nguyện hoặc đệ tử thấp hơn cũng—ở mức độ của nó—gây xáo trộn và đảo lộn như thế; đây là một điểm cần được ghi nhớ cẩn thận, cả về các phản ứng và sự huấn luyện của chính đệ tử, lẫn về bất kỳ hiệu quả nào mà y có thể khơi dậy trong đời sống của một đệ tử dự bị hay đệ tử thấp hơn trong phạm vi ảnh hưởng riêng của mình. Những ảnh hưởng xâm nhập này và các hiệu quả kéo theo của chúng do một Chân sư hay một đệ tử cao cấp tạo ra trên một cá nhân hay một nhóm thường được diễn giải theo thuật ngữ phàm ngã, và rất ít được thấu hiểu. Tuy nhiên, chúng là các phương diện của ý chí cao hơn trong một đệ tử cao hơn nào đó và đang tác động lên ý chí phàm ngã, đồng thời gợi lên ý chí hi sinh của Chân ngã, và do đó dẫn đến một giai đoạn khó chịu tạm thời. Người chí nguyện và đệ tử thiếu kinh nghiệm oán trách điều này và đổ lỗi cho các nguồn gợi lên ấy về sự khó chịu của mình, thay vì học bài học cần thiết là tiếp nhận và xử lý mãnh lực.

Where, however, real love exists, it will produce the lessening of the personality will, the evocation of the sacrificial egoic will, and a constantly growing capacity to identify [33] the group with the will or purpose of the Monad. The progress of the group is, therefore, from one burning ground to another—each burning ground being colder and clearer than the preceding one but producing sequentially the burning fire, the clear cold lighted fire, and the consuming divine fire.

Tuy nhiên, ở đâu có tình thương chân thực, nó sẽ tạo ra sự giảm bớt ý chí phàm ngã, sự gợi lên ý chí hi sinh chân ngã, và một năng lực ngày càng tăng để đồng hoá [33] nhóm với ý chí hay mục đích của chân thần. Vì vậy, sự tiến bộ của nhóm là từ vùng đất cháy này sang vùng đất cháy khác—mỗi vùng đất cháy đều lạnh hơn và trong hơn vùng trước đó nhưng lần lượt tạo ra ngọn lửa thiêu đốt, ngọn lửa sáng lạnh trong trẻo, và ngọn lửa thiêng liêng thiêu hủy.

Thus in parables the truth goes out, and gradually the initiate grasps the uses of heat, warmth, light and energy; he arrives at an understanding of self-will, sacrificial will and Shamballic purpose, and only Love (self-love, group love, and finally, divine love) can reveal the significance of these symbolic words and the occult paradoxes which confront the true aspirant as he attempts to tread the Way.

Như thế, chân lý được truyền ra bằng dụ ngôn, và dần dần điểm đạo đồ nắm bắt được công dụng của nhiệt, sự ấm áp, ánh sáng và năng lượng; y đi đến chỗ thấu hiểu ý chí tự ngã, ý chí hi sinh và mục đích Shamballa, và chỉ có Tình thương (tự ái, tình thương nhóm, và cuối cùng là tình thương thiêng liêng) mới có thể mặc khải ý nghĩa của những từ biểu tượng này và những nghịch lý huyền bí đối diện với người chí nguyện chân chính khi y cố gắng bước đi trên Đạo Lộ.

As we continue our studies of the rules to be followed by those receiving initiate-training, I would remind you of certain things, some of them already touched upon but requiring re-emphasis. Any usefulness which these Rules may have for you will be dependent upon your grasping a few basic ideas and then proceeding to make them factual as far as in you lies.

Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các quy luật phải được tuân theo bởi những người đang nhận sự huấn luyện điểm đạo, tôi muốn nhắc bạn về một số điều, vài điều trong số đó đã được đề cập nhưng cần được nhấn mạnh lại. Bất kỳ tính hữu ích nào mà các Quy luật này có thể có đối với bạn sẽ tùy thuộc vào việc bạn nắm bắt được một vài ý tưởng căn bản rồi tiến hành biến chúng thành sự kiện trong chừng mực bạn có thể.

First, I would call your attention to what should be the basic attitude of the would-be initiate: It should be one of purpose, governed by pure reason and working out in spiritual activity. That is a sentence easily written, but what specifically does it convey to you? Let me enlarge upon it somewhat. The attitude of the initiate-in-training should be one of right spiritual motive—the motive being the intelligent fulfillment of the will aspect of divinity, or of the Monad. This involves the merging of his personality self-will into that of the sacrificial will of the soul; and this, when accomplished, will lead to the revelation of the divine Will. Of this Will, no one who is not an initiate has any conception. It means, secondly, the release of the faculty of spiritual perception and of intuitive understanding, which involves the negation of the activity of the lower or concrete mind, of the lower personal self, and the subordination of the knowledge aspect of the soul to the clear pure light of the divine understanding. When these two factors are beginning to be [34] active, you will have the emergence of true spiritual activity upon the physical plane, motivated from the high source of the Monad, and implemented by the pure reason of the intuition.

Trước hết, tôi muốn lưu ý bạn đến điều nên là thái độ căn bản của người mong trở thành điểm đạo đồ: Đó phải là thái độ của mục đích, được chi phối bởi lý trí thuần khiết và được biểu hiện trong hoạt động tinh thần. Đó là một câu dễ viết ra, nhưng cụ thể nó truyền đạt điều gì cho bạn? Hãy để tôi khai triển thêm đôi chút. Thái độ của điểm đạo đồ đang được huấn luyện nên là thái độ của động cơ tinh thần đúng đắn—động cơ ấy là sự hoàn thành một cách thông tuệ phương diện ý chí của thiên tính, hay của chân thần. Điều này bao hàm sự hòa nhập ý chí tự ngã của phàm ngã của y vào ý chí hi sinh của linh hồn; và điều này, khi được hoàn tất, sẽ dẫn đến sự mặc khải của Ý Chí thiêng liêng. Về Ý Chí này, không ai chưa phải là điểm đạo đồ có bất kỳ quan niệm nào. Thứ hai, nó có nghĩa là sự giải phóng năng lực tri giác tinh thần và sự thấu hiểu trực giác, điều này bao hàm sự phủ nhận hoạt động của hạ trí hay trí cụ thể, của bản ngã cá nhân thấp hơn, và sự đặt phương diện tri thức của linh hồn dưới ánh sáng trong trẻo thuần khiết của sự thấu hiểu thiêng liêng. Khi hai yếu tố này bắt đầu trở nên [34] hoạt động, bạn sẽ có sự xuất hiện của hoạt động tinh thần chân thực trên cõi hồng trần, được thúc đẩy từ nguồn cao của chân thần, và được thực hiện bởi lý trí thuần khiết của trực giác.

It will be apparent to you, therefore, that these higher spiritual faculties can only be brought into play when the bridging antahkarana is beginning to play its part. Hence the teaching which I am giving on the construction of the rainbow bridge.

Vì vậy, bạn sẽ thấy rõ rằng các năng lực tinh thần cao hơn này chỉ có thể được đưa vào hoạt động khi antahkarana bắt cầu đang bắt đầu đóng vai trò của nó. Do đó mới có giáo huấn mà tôi đang đưa ra về việc xây dựng Cây cầu vồng.

These Rules are in reality great Formulas of Approach, but they indicate approach to a specific section of the Path and not approach to the Initiator. I would have you reflect upon this distinction. The “Way of the Higher Evolution” lies open to the aspirant to the Greater Mysteries, but he is oft bewildered in the beginning and frequently questions in his mind the difference between the progress or evolution of the personality towards soul consciousness and the nature of the progress which lies ahead and which is essentially different to the unfoldment of pure consciousness. Had you grasped the fact that after the third initiation, the initiate is not concerned with consciousness at all, but with the fusion of his individual will with the divine will. He is not then occupied with increasing his sensitivity to contact, or with his conscious response to environing conditions, but is becoming increasingly aware of the dynamics of the Science of the Service of the Plan. This distinctive realisation can only come when his fused and blended personality and soul expression of will has disappeared in the blazing light of the divine Purpose—a purpose which cannot be frustrated even if at times delayed, as it has been during the past fifty-five years. (Written in February, 1943.)

Thực ra, các Quy luật này là những Công thức Tiếp cận lớn lao, nhưng chúng chỉ ra sự tiếp cận đến một phần đặc thù của Con Đường chứ không phải sự tiếp cận đến Đấng Điểm đạo. Tôi muốn bạn suy ngẫm về sự phân biệt này. “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” mở ra trước người chí nguyện hướng đến các Đại Huyền Nhiệm, nhưng lúc ban đầu y thường bối rối và thường tự hỏi trong trí mình về sự khác biệt giữa sự tiến bộ hay tiến hoá của phàm ngã hướng đến tâm thức linh hồn và bản chất của sự tiến bộ nằm phía trước, vốn khác biệt về bản chất với sự khai mở của tâm thức thuần túy. Giá như bạn đã nắm được sự kiện rằng sau lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ hoàn toàn không còn bận tâm đến tâm thức nữa, mà bận tâm đến sự dung hợp ý chí cá nhân của y với ý chí thiêng liêng. Khi ấy y không còn chú tâm đến việc gia tăng sự nhạy bén của mình đối với tiếp xúc, hay đến sự đáp ứng có ý thức của mình với các điều kiện chung quanh, mà ngày càng ý thức hơn về động lực của Khoa Học Phụng Sự Thiên Cơ. Sự chứng nghiệm đặc thù này chỉ có thể đến khi biểu hiện ý chí của phàm ngã và linh hồn đã được dung hợp và hòa trộn của y đã biến mất trong ánh sáng rực cháy của Thiên Ý—một mục đích không thể bị cản trở dù đôi khi bị trì hoãn, như đã xảy ra trong năm mươi lăm năm qua. (Viết vào tháng Hai, 1943.)

Much of what I have said above will seem meaningless to you because the finished contact between soul and personality has not been brought about and the will aspect in manifestation is not yet understood in its three phases: Personality, Egoic and Monadic. But, as I have earlier told you, I write for those disciples and initiates who are now coming into incarnation and who will be in the full flower of their [35] consciousness and service at the latter end of this century. But the effort you make to understand will have its effect, even if the brain registers it not.

Phần lớn những gì tôi đã nói ở trên sẽ có vẻ vô nghĩa đối với bạn vì sự tiếp xúc hoàn chỉnh giữa linh hồn và phàm ngã chưa được thiết lập và phương diện ý chí trong biểu hiện vẫn chưa được thấu hiểu trong ba giai đoạn của nó: Phàm ngã, Chân ngã và Chân thần. Nhưng, như tôi đã nói với bạn trước đây, tôi viết cho những đệ tử và điểm đạo đồ hiện đang đi vào lâm phàm và những người sẽ ở vào thời kỳ sung mãn của [35] tâm thức và sự phụng sự của họ vào cuối thế kỷ này. Nhưng nỗ lực bạn thực hiện để thấu hiểu sẽ có hiệu quả của nó, ngay cả khi bộ não không ghi nhận điều đó.

In the last analysis, these Rules or Formulas of Approach are primarily concerned with the Shamballa or life aspect. They are the only Formulas or embodied techniques at present extant which have in them the quality which will enable the aspirant to understand and eventually express the significance of the words of Christ, “Life more abundantly.” These words relate to contact with Shamballa; the result will be the expression of the will aspect. The whole process of invocation and evocation is tied up with the idea. The lesser aspect is ever the invoking factor, and this constitutes an unalterable law lying behind the entire evolutionary process. It is necessarily a reciprocal process, but in time and space it might be broadly said that the lesser ever invokes the higher, and higher factors are then evoked and respond according to the measure of understanding and the dynamic tension displayed by the invoking element. This many fail to realise. You do not work at the evocative process. That word simply connotes the response of that which has been reached. The task of the lesser aspect or group is invocative, and the success of the invocative rite is called evocation.

Xét đến cùng, các Quy luật hay Công thức Tiếp cận này chủ yếu liên quan đến phương diện Shamballa hay phương diện sự sống. Chúng là những Công thức hay kỹ thuật được thể hiện duy nhất hiện còn tồn tại mà trong đó có phẩm tính sẽ giúp người chí nguyện thấu hiểu và cuối cùng biểu lộ ý nghĩa của lời Đức Christ: “Sự sống dồi dào hơn.” Những lời này liên hệ đến sự tiếp xúc với Shamballa; kết quả sẽ là sự biểu lộ phương diện ý chí. Toàn bộ tiến trình Khẩn Cầu và Gợi Lên gắn liền với ý tưởng này. Phương diện thấp hơn luôn luôn là yếu tố khẩn cầu, và điều này cấu thành một định luật bất biến nằm sau toàn bộ tiến trình tiến hoá. Tất yếu đó là một tiến trình hỗ tương, nhưng trong thời gian và không gian, có thể nói một cách khái quát rằng phương diện thấp hơn luôn luôn khẩn cầu phương diện cao hơn, và rồi các yếu tố cao hơn được gợi lên và đáp ứng tùy theo mức độ thấu hiểu và sự căng thẳng năng động được biểu lộ bởi yếu tố khẩn cầu. Nhiều người không nhận ra điều này. Bạn không làm việc trên tiến trình gợi lên. Từ đó chỉ đơn giản hàm ý sự đáp ứng của cái đã được vươn tới. Nhiệm vụ của phương diện hay nhóm thấp hơn là khẩn cầu, và sự thành công của nghi thức khẩn cầu được gọi là gợi lên.

When, therefore, your life is fundamentally invocative, then there will come the evocation of the will. It is only truly invocative when personality and soul are fused and functioning as a consciously blended and focussed unit.

Vì vậy, khi đời sống của bạn về căn bản là khẩn cầu, thì sự gợi lên của ý chí sẽ đến. Nó chỉ thực sự là khẩn cầu khi phàm ngã và linh hồn được dung hợp và hoạt động như một đơn vị được hòa trộn và tập trung một cách có ý thức.

The next point which I seek to make is that these Formulas of Approach or Rules deal with the unfoldment of group consciousness, because it is only in group formation that, as yet, the Shamballa force of the will can be tapped. They are useless to the individual under the new initiatory dispensation. Only the group, under the proposed new mode of working and of group initiation, is capable of invoking Shamballa. That is why Hitler, the exponent of the reversed reaction to Shamballa (and consequently the evil reaction) had to gather around him a group of like-minded people or [36] personalities. On the upper arc of the evocative cycle (Hitler being the expression of the invocative arc of the Shamballa force) it requires a group to bring about evocation.

Điểm tiếp theo mà tôi muốn nêu ra là các Công thức Tiếp cận hay Quy luật này bàn đến sự khai mở của tâm thức nhóm, bởi vì cho đến nay chỉ trong sự hình thành nhóm mà mãnh lực Shamballa của ý chí mới có thể được khai thác. Chúng vô dụng đối với cá nhân dưới sự phân phối điểm đạo mới. Chỉ có nhóm, dưới phương thức làm việc và điểm đạo nhóm mới được đề nghị, mới có khả năng khẩn cầu Shamballa. Đó là lý do tại sao Hitler, người biểu hiện phản ứng đảo ngược đối với Shamballa (và do đó là phản ứng tà ác), đã phải tập hợp quanh mình một nhóm những người hay [36] phàm ngã đồng chí hướng. Trên cung trên của chu kỳ gợi lên (Hitler là biểu hiện của cung khẩn cầu của mãnh lực Shamballa), cần phải có một nhóm để tạo ra sự gợi lên.

We now come to my third point in relation to the Rules or Formulas and their objective. They are concerned—above everything else—with group initiation. They have other applications, but for the present here lies their usefulness. What, you may ask, is group initiation? Does it involve the taking of initiation by every member in the group? Can one person have so extensive an influence that he can hold up or delay or even prevent (in time and space) the group initiation? The group need not necessarily contain members who have all taken the same initiation. By this I mean that the necessary initiation of all the members simultaneously into the same group development is not required. Basically, what I am endeavouring to say anent these Rules has relation to the third initiation—the initiation of the integrated personality. They necessarily, however, have a correspondence to the second initiation, and are consequently of more general interest, for it is that initiation which faces so many aspirants today—the demonstration of the control of the formidable emotional nature.

Giờ đây chúng ta đến điểm thứ ba của tôi liên quan đến các Quy luật hay Công thức và mục tiêu của chúng. Trên hết mọi sự, chúng liên quan đến điểm đạo nhóm. Chúng có những ứng dụng khác, nhưng hiện nay chính ở đây có tính hữu ích của chúng. Bạn có thể hỏi, điểm đạo nhóm là gì? Nó có bao hàm việc mọi thành viên trong nhóm đều nhận điểm đạo không? Một người có thể có ảnh hưởng rộng lớn đến mức y có thể cản trở, trì hoãn hay thậm chí ngăn chặn (trong thời gian và không gian) điểm đạo nhóm không? Nhóm không nhất thiết phải gồm các thành viên đều đã nhận cùng một lần điểm đạo. Ý tôi là không đòi hỏi việc tất cả các thành viên đồng thời nhận cùng một lần điểm đạo vào cùng một sự phát triển nhóm. Về căn bản, điều tôi đang cố gắng nói liên quan đến các Quy luật này có liên hệ đến lần điểm đạo thứ ba—điểm đạo của phàm ngã tích hợp. Tuy nhiên, tất yếu chúng cũng có một sự tương ứng với lần điểm đạo thứ hai, và do đó có tính quan tâm rộng hơn, vì chính lần điểm đạo ấy đang đối diện với rất nhiều người chí nguyện ngày nay—sự chứng tỏ quyền kiểm soát bản chất cảm xúc mãnh liệt.

I would ask you to think much about this point which I have just made. Group initiation means that the bulk of the members are correctly oriented; that they are proposing to accept the discipline which will prepare them for the next great expansion of consciousness, and that none of them can possibly be deviated from their purpose (note that word with its first ray or Shamballic implications), no matter what is happening in their environment or their personal life. You need to reflect on this if you desire to make the needed progress.

Tôi muốn bạn suy nghĩ nhiều về điểm mà tôi vừa nêu ra. Điểm đạo nhóm có nghĩa là phần lớn các thành viên được định hướng đúng; rằng họ đang dự định chấp nhận kỷ luật sẽ chuẩn bị họ cho sự mở rộng tâm thức lớn lao kế tiếp, và rằng không ai trong số họ có thể bị lệch khỏi mục đích của mình (hãy lưu ý từ đó với các hàm ý cung một hay Shamballa của nó), bất kể điều gì đang xảy ra trong môi trường hay đời sống cá nhân của họ. Bạn cần suy ngẫm về điều này nếu bạn mong muốn đạt được sự tiến bộ cần thiết.

In these short instructions, which aim only at a “tentative indication” (note that phrase), it is not necessary to enter into explicit details. In any case, if the Formulas or Rules are not intuitively clear to your minds, anything I could say would only hinder and frustrate my purpose.

Trong những chỉ dẫn ngắn gọn này, chỉ nhằm một “sự chỉ dẫn thăm dò” (hãy lưu ý cụm từ đó), không cần thiết phải đi vào các chi tiết minh bạch. Dù sao đi nữa, nếu các Công thức hay Quy luật không rõ ràng một cách trực giác đối với trí tuệ của bạn, thì bất cứ điều gì tôi có thể nói cũng chỉ cản trở và làm thất bại mục đích của tôi.

Finally, these Formulas or Rules are susceptible of [37] three forms of application or interpretation and I would have you remember this, because you can thereby discover where your individual focus of attention is and if you are consequently functioning as an integrated personality. Remember always that only an integrated personality can achieve the needed soul focus. This is a fundamental requirement. These three forms of application are physical, emotional and mental in nature. But those words in their simplest connotation have true reference to the task of achieving one or other of the higher initiations. The only way their significance can truly appear is by grasping the following meanings:

Cuối cùng, các Công thức hay Quy luật này có thể được [37] áp dụng hay diễn giải theo ba hình thức, và tôi muốn bạn ghi nhớ điều này, vì nhờ đó bạn có thể khám phá xem tiêu điểm chú ý cá nhân của mình ở đâu và do đó liệu bạn có đang hoạt động như một phàm ngã tích hợp hay không. Hãy luôn nhớ rằng chỉ một phàm ngã tích hợp mới có thể đạt được tiêu điểm linh hồn cần thiết. Đây là một đòi hỏi căn bản. Ba hình thức áp dụng này có bản chất hồng trần, cảm xúc và trí tuệ. Nhưng những từ ấy, trong hàm nghĩa đơn giản nhất của chúng, thực sự liên hệ đến nhiệm vụ đạt được một hay một số lần điểm đạo cao hơn. Cách duy nhất để ý nghĩa của chúng thực sự xuất hiện là nắm bắt các nghĩa sau đây:

1. The physical application refers to the usage by the group of the given knowledge and intuitively perceived information in such a way that the needs of the larger group, of which the group itself is a part, are constructively served. The consummation of this ideal is to be found in the activity of the Hierarchy itself which, from progressive point to progressive point, finds itself in the position of intuitive interpreter and force transmitter between the centre of Shamballa and Humanity. The individual initiate, on the way to one or other of the higher initiations, has in his lesser degree to achieve the same dual function and thereby fit himself for the wider cooperation.

1. Sự áp dụng hồng trần liên hệ đến việc nhóm sử dụng tri thức đã cho và thông tin được trực giác tri nhận theo cách mà các nhu cầu của nhóm lớn hơn, mà chính nhóm ấy là một phần của nó, được phụng sự một cách xây dựng. Sự hoàn tất của lý tưởng này được tìm thấy trong hoạt động của chính Thánh đoàn, vốn từ điểm tiến hoá này đến điểm tiến hoá khác, tự thấy mình ở vị trí của người diễn giải trực giác và người truyền dẫn mãnh lực giữa trung tâm Shamballa và Nhân loại. Điểm đạo đồ cá nhân, trên đường đến một hay một số lần điểm đạo cao hơn, ở mức độ nhỏ hơn của mình cũng phải đạt được cùng chức năng kép ấy và nhờ đó tự làm cho mình thích hợp với sự hợp tác rộng lớn hơn.

2. The emotional application has definite reference to the world of meaning, interpreted in a group sense. At present, well-meaning aspirants are satisfied if they are able to interpret their personality conditions, events and happenings in terms of their real meaning. But that still remains an individual reaction. The aspirant who is seeking to comprehend these Rules is more interested in seeing the situations which he contacts in terms of a world whole, and in searching for their meaning in terms of their group significance. This serves to decentralise him and to convey into his consciousness some aspect of that larger whole, and this in its turn contributes to the expansion of the consciousness of humanity as a whole. [38]

2. Sự áp dụng cảm xúc có liên hệ xác định đến thế giới của ý nghĩa, được diễn giải theo ý nghĩa nhóm. Hiện nay, những người chí nguyện thiện chí hài lòng nếu họ có thể diễn giải các điều kiện phàm ngã, các biến cố và sự việc của mình theo ý nghĩa thực sự của chúng. Nhưng điều đó vẫn chỉ là một phản ứng cá nhân. Người chí nguyện đang tìm cách thấu hiểu các Quy luật này quan tâm nhiều hơn đến việc nhìn các tình huống mà y tiếp xúc theo thuật ngữ của một toàn thể thế giới, và tìm kiếm ý nghĩa của chúng theo thuật ngữ của ý nghĩa nhóm của chúng. Điều này giúp y phi tập trung vào bản thân và chuyển vào tâm thức của y một phương diện nào đó của toàn thể lớn hơn ấy, và điều này đến lượt nó góp phần vào sự mở rộng tâm thức của toàn thể nhân loại. [38]

3. The mental application has to be grasped and considered in terms of the “great light.” It must be remembered that the mind is the organ of illumination. Therefore it might be asked: Do the united mental processes of the group as a whole tend to throw light on human problems and situations? How much does the light of the individual group member aid in this process? How much light do you, as an individual, register and therefore contribute to the greater light? Is the group light a dim flicker or a blazing sun?

3. Sự áp dụng trí tuệ phải được nắm bắt và xem xét theo thuật ngữ của “đại quang.” Cần nhớ rằng trí tuệ là cơ quan của sự soi sáng. Vì vậy có thể hỏi: Các tiến trình trí tuệ hợp nhất của toàn nhóm có khuynh hướng soi sáng các vấn đề và tình huống của nhân loại không? Ánh sáng của từng thành viên trong nhóm trợ giúp tiến trình này đến mức nào? Bạn, với tư cách một cá nhân, ghi nhận được bao nhiêu ánh sáng và do đó đóng góp bao nhiêu vào ánh sáng lớn hơn? Ánh sáng của nhóm là một tia chớp mờ nhạt hay một mặt trời rực cháy?

Such are some of the implications lying behind the use of these familiar words, and the careful consideration of their meaning might bring about a definite expansion of consciousness. This expansion normally follows certain clear and definite stages:

Đó là một số hàm ý nằm sau việc sử dụng những từ quen thuộc này, và việc suy xét cẩn thận ý nghĩa của chúng có thể mang lại một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Sự mở rộng này thông thường theo sau những giai đoạn rõ ràng và xác định sau:

1. A recognition of the goal. This goal is often expressed under the word “the door.” A door permits entrance into some place larger than the area covered by the standing room of the would-be initiate. This statement refers to the “door of incarnation” through which the incarnating soul enters into life—limited and restricted from the angle of the soul. The door of initiation admits “into a larger room” or sphere of extended expression.

1. Sự nhận biết mục tiêu. Mục tiêu này thường được diễn tả bằng từ “cánh cửa.” Một cánh cửa cho phép đi vào một nơi rộng lớn hơn khu vực mà người mong trở thành điểm đạo đồ đang đứng chiếm giữ. Phát biểu này liên hệ đến “cánh cửa nhập thể” mà qua đó linh hồn nhập thể đi vào đời sống—bị giới hạn và hạn chế từ góc độ của linh hồn. Cánh cửa điểm đạo cho phép đi “vào một căn phòng rộng hơn” hay một khối cầu biểu lộ mở rộng.

2. The approach, under regulated and imposed and well-tried rules, of the entering one towards a visioned goal. This involves conformity to that which has been tried, known and demonstrated by all previous initiates.

2. Sự tiếp cận, dưới những quy luật được điều chỉnh, áp đặt và đã được thử nghiệm kỹ lưỡng, của người đang đi vào hướng đến một mục tiêu được linh thị. Điều này bao hàm sự tuân thủ điều đã được thử, đã được biết và đã được chứng minh bởi tất cả các điểm đạo đồ trước đó.

3. The arresting of the steps of the initiate before the door in order that he may “prove himself to be initiate” prior to entry.

3. Sự dừng bước của điểm đạo đồ trước cánh cửa để y có thể “chứng tỏ mình là điểm đạo đồ” trước khi đi vào.

4. The passing of certain tests in order to demonstrate fitness.

4. Việc vượt qua một số thử thách để chứng minh sự thích hợp.

5. Then comes the stage of entrance—under due and set rules and yet with full freedom of action. You will see, therefore, why ever the need for understanding is emphasised.

5. Rồi đến giai đoạn đi vào—dưới những quy luật thích đáng và đã định, nhưng vẫn với đầy đủ tự do hành động. Vì vậy, bạn sẽ thấy tại sao nhu cầu thấu hiểu luôn luôn được nhấn mạnh.

Before proceeding to study the final phrases of Rule [39] One, I would call your attention to the fact that the initiate has faced two major tests, symbolically described as “the burning ground” and the “clear cold light.” Only after he has successfully passed these can he—or the group, when considering group initiation—move forward and outward into the wider reaches of the divine consciousness. These tests are applied when the soul grips the personality and the fire of divine love destroys the loves and desires of the integrated personality. Two factors tend to bring this about: the slow moving forward of the innate conscience into greater control, and the steady development of the “fiery aspiration” to which Patanjali (The Light of the Soul (Book II, Sutra 1) page 119.) makes reference. These two factors, when brought into living activity, bring the disciple into the centre of the burning ground which separates the Angel of the Presence from the Dweller on the Threshold. The burning ground is found upon the threshold of every new advance, until the third initiation has been taken.

Trước khi tiếp tục nghiên cứu các cụm từ cuối cùng của quy luật [39] Một, tôi muốn lưu ý bạn đến sự kiện rằng điểm đạo đồ đã đối diện với hai thử thách lớn, được mô tả một cách biểu tượng là “vùng đất cháy” và “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo.” Chỉ sau khi đã vượt qua thành công những điều này thì y—hay nhóm, khi xét đến điểm đạo nhóm—mới có thể tiến lên và đi ra ngoài vào những phạm vi rộng lớn hơn của tâm thức thiêng liêng. Những thử thách này được áp dụng khi linh hồn nắm giữ phàm ngã và lửa của tình thương thiêng liêng hủy diệt những tình yêu và ham muốn của phàm ngã tích hợp. Hai yếu tố có khuynh hướng mang lại điều này: sự tiến lên chậm rãi của lương tri bẩm sinh đến quyền kiểm soát lớn hơn, và sự phát triển vững chắc của “khát vọng rực lửa” mà Patanjali (Ánh sáng trên Đường Đạo (Quyển II, Kinh 1) trang 119.) có nhắc đến. Hai yếu tố này, khi được đưa vào hoạt động sống động, đưa đệ tử vào trung tâm của vùng đất cháy, nơi phân cách Thiên Thần của Hiện Diện với Kẻ Chận Ngõ. Vùng đất cháy được tìm thấy trên ngưỡng của mọi bước tiến mới, cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được nhận.

The “clear cold light” is the light of pure reason, of infallible intuitive perception and its unremitting, intensive and revealing light constitutes a major test in its effects. The initiate discovers the depths of evil, and at the same time is enticed forward by the heights of a growing sense of divinity. The clear cold light reveals two things:

“Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” là ánh sáng của lý trí thuần khiết, của tri giác trực giác không sai lầm, và ánh sáng không ngừng nghỉ, mãnh liệt và mặc khải của nó tạo thành một thử thách lớn trong các hiệu quả của nó. Điểm đạo đồ khám phá ra những chiều sâu của điều ác, đồng thời bị lôi cuốn tiến lên bởi những đỉnh cao của một cảm thức thiên tính đang tăng trưởng. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo mặc khải hai điều:

A. The omnipresence of God throughout nature, and therefore throughout the entire personality life of the initiate or of the initiate group. The scales fall from the eyes, bringing about—paradoxically—the “dark night of the soul” and the sense of being alone and bereft of all help. This led (in the case of the Christ, for instance) to that appalling moment in the Garden of Gethsemane, and which was consummated on the Cross, when the will of personality-soul clashed with the divine will of the Monad. The revelation to the initiate of the ages of severance from the Central Reality, and of all its attendant implications, descends upon the one who is attempting to stand “in isolated Unity,” as Patanjali (to quote him a second time) calls the experience. (The Light of the Soul (Book IV, Sutras 25.34) pages 420, 428)*

A. Sự hiện diện khắp nơi của Thượng đế trong toàn bộ thiên nhiên, và do đó trong toàn bộ đời sống phàm ngã của điểm đạo đồ hay của nhóm điểm đạo. Vảy rơi khỏi mắt, nghịch lý thay lại mang đến “đêm tối của linh hồn” và cảm giác cô độc, bị tước mất mọi trợ giúp. Điều này đã dẫn đến (chẳng hạn trong trường hợp của Đức Christ) khoảnh khắc kinh hoàng ấy trong Vườn Gethsemane, và được hoàn tất trên Thập Giá, khi ý chí của phàm ngã-linh hồn xung đột với ý chí thiêng liêng của chân thần. Sự mặc khải cho điểm đạo đồ về những thời đại bị tách rời khỏi Thực Tại Trung Tâm, và về mọi hàm ý đi kèm của nó, giáng xuống trên người đang cố gắng đứng “trong Hợp Nhất Cô Lập,” như Patanjali (để trích dẫn ông lần thứ hai) gọi kinh nghiệm ấy. (Ánh sáng trên Đường Đạo (Quyển IV, Kinh 25.34) trang 420, 428)*

[40]

[40]

The omnipresence of divinity within all forms pours in upon the consciousness of the initiate, and the mystery of time, space and electricity stands revealed. The major effect of this revelation (prior to the third initiation) is to bring to the disciple a realisation of the “great heresy of separateness,” as it focusses in him, the separated fully conscious individual—aware of his past, conscious now of his ray and its conditioning power, focussed in his own aspiration, and yet part of the great whole of nature. From that moment onward he knows that divinity is all there is, and this he learns through the revelation of the inherent separativeness of the form life, through the processes of “the dark night of the soul” and its culminating lesson of the significance of isolation and the freeing process which brings about the merging into unity through the emission of the sound, the cry, the invocation, such as the cry of the Christ upon the Cross symbolised. His exact words have not been transmitted to us. They vary for each ray, but all bring about the recognition of divine merging, in which all separating veils are “rent from the top to the bottom” (as The New Testament expresses it).

Sự hiện diện khắp nơi của thiên tính trong mọi hình tướng tràn vào tâm thức của điểm đạo đồ, và huyền nhiệm của thời gian, không gian và điện lực được mặc khải. Hiệu quả chính của sự mặc khải này (trước lần điểm đạo thứ ba) là mang đến cho đệ tử một sự chứng nghiệm về “Đại Tà thuyết của sự tách biệt,” khi nó tập trung nơi y, cá nhân tách biệt hoàn toàn có ý thức—ý thức về quá khứ của mình, hiện nay ý thức về cung của mình và quyền năng tác động của nó, tập trung trong khát vọng riêng của mình, nhưng vẫn là một phần của toàn thể vĩ đại của thiên nhiên. Từ khoảnh khắc đó trở đi y biết rằng thiên tính là tất cả những gì hiện hữu, và điều này y học được qua sự mặc khải về tính tách biệt cố hữu của đời sống hình tướng, qua các tiến trình của “đêm tối của linh hồn” và bài học cao điểm của nó về ý nghĩa của sự cô lập và tiến trình giải thoát mang lại sự hòa nhập vào hợp nhất qua sự phát ra âm thanh, tiếng kêu, sự khẩn cầu, như tiếng kêu của Đức Christ trên Thập Giá đã tượng trưng. Những lời chính xác của Ngài đã không được truyền lại cho chúng ta. Chúng thay đổi theo từng cung, nhưng tất cả đều mang lại sự nhận biết về sự hòa nhập thiêng liêng, trong đó mọi bức màn phân cách đều bị “xé từ trên xuống dưới” (như Tân Ước diễn tả).

B. The omniscience of the divine Whole is also brought home to the initiate through the medium of the clear cold light, and the phases of “isolated experience,” as it is sometimes occultly called, is forever ended. I would have you realise what this can mean in so far as possible to your present consciousness. Up till the present, the initiate-disciple has been functioning as a duality and as a fusion of soul-energy and personality-force. Now these forms of life stand exposed to him for what they essentially are, and he knows that—as directing agencies and as transitory gods—they no longer have any hold over him. He is being gradually translated into another divine aspect, taking with him all that he has received during the ages of close relation and identification with the third aspect, form, and the second aspect, consciousness. A sense of being bereft, deserted and alone descends upon him as he realises that the control of form and soul must also disappear. Here lies the agony [41] of isolation and the overpowering sense of loneliness. But the truths revealed by the clear cold light of the divine reason leave him no choice. He must relinquish all that holds him away from the Central Reality; he must gain life and “life more abundantly.” This constitutes the supreme test in the life cycle of the incarnating Monad; and “when the very heart of this experience enters into the heart of the initiate, then he moves outward through that heart into full life expression.” Such is the way that the Old Commentary expresses this. I know no other way in which to bring the idea before you. The experience undergone is not related to form, nor is it connected with consciousness or with even the higher psychic sensitivity. It consists of pure identification with divine purpose. This is made possible because the self-will of the personality and the enlightened will of the soul have both equally been relinquished.

B. Sự toàn tri của Toàn Thể thiêng liêng cũng được truyền đạt đến điểm đạo đồ qua trung gian của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo, và các giai đoạn của “kinh nghiệm cô lập,” như đôi khi nó được gọi một cách huyền bí, vĩnh viễn chấm dứt. Tôi muốn bạn nhận ra điều này có thể có nghĩa gì trong chừng mực có thể đối với tâm thức hiện tại của bạn. Cho đến nay, đệ tử-điểm đạo đồ đã hoạt động như một nhị nguyên tính và như một sự dung hợp của năng lượng linh hồn và lực phàm ngã. Giờ đây những hình thức sự sống này lộ rõ trước y đúng như bản chất cốt yếu của chúng, và y biết rằng—với tư cách các tác nhân chỉ đạo và các vị thần tạm thời—chúng không còn nắm giữ y nữa. Y đang dần được chuyển dịch vào một phương diện thiêng liêng khác, mang theo tất cả những gì y đã tiếp nhận trong các thời đại của mối liên hệ gần gũi và sự đồng hoá với phương diện thứ ba, hình tướng, và phương diện thứ hai, tâm thức. Một cảm giác bị tước đoạt, bị bỏ rơi và cô độc giáng xuống trên y khi y nhận ra rằng sự kiểm soát của hình tướng và linh hồn cũng phải biến mất. Chính ở đây có nỗi đau đớn [41] của sự cô lập và cảm giác cô đơn áp đảo. Nhưng những chân lý được mặc khải bởi ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của lý trí thiêng liêng không để cho y có sự lựa chọn nào. Y phải từ bỏ mọi thứ giữ y xa khỏi Thực Tại Trung Tâm; y phải đạt được sự sống và “sự sống dồi dào hơn.” Điều này tạo thành thử thách tối thượng trong chu kỳ đời sống của chân thần đang nhập thể; và “khi chính trái tim của kinh nghiệm này đi vào trái tim của điểm đạo đồ, thì y đi ra ngoài qua trái tim ấy để vào biểu hiện trọn vẹn của sự sống.” Đó là cách mà Cổ Luận diễn tả điều này. Tôi không biết cách nào khác để trình bày ý tưởng ấy cho bạn. Kinh nghiệm đã trải qua không liên hệ đến hình tướng, cũng không gắn với tâm thức hay ngay cả với sự nhạy cảm thông linh cao hơn. Nó bao gồm sự đồng hoá thuần túy với mục đích thiêng liêng. Điều này trở nên khả hữu vì ý chí tự ngã của phàm ngã và ý chí được soi sáng của linh hồn đều đã được từ bỏ như nhau.

4. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way.

4. Đằng sau nhóm là Cánh Cửa. Trước họ mở ra Đạo Lộ.

Note how this passage reverses the usual presentation. Hitherto, in the occult books, the Door of Initiation has been presented as ever moving forward ahead of the initiate. He passes through door after door into a wider experience and expansion of consciousness. But in the initiate consciousness, after the first two initiations, this is not the realisation. It is simply the adhering to an old form of symbolism with the implied limitations of the truth. I would here remind you that the third initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, and that the first and second initiations are initiations of the Threshold. For the bulk of humanity, these first two initiations will for a very long time constitute major initiatory experiences, but in the life and realisation of the initiate-soul, they are not. After the two initiations of the threshold have been undergone the attitude of the initiate changes and he sees possibilities and factors and revelations which have hitherto [42] been totally unrealised and unknown, even to his consciousness at his highest moments.

Hãy lưu ý cách đoạn này đảo ngược lối trình bày thông thường. Cho đến nay, trong các sách huyền bí, Cánh Cửa Điểm Đạo luôn được trình bày như luôn tiến về phía trước trước mặt điểm đạo đồ. Y đi qua hết cánh cửa này đến cánh cửa khác để vào một kinh nghiệm rộng lớn hơn và sự mở rộng tâm thức. Nhưng trong tâm thức của điểm đạo đồ, sau hai lần điểm đạo đầu tiên, đó không phải là sự chứng nghiệm. Đó chỉ đơn giản là sự bám vào một hình thức biểu tượng cũ với những giới hạn hàm ẩn của chân lý. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng lần điểm đạo thứ ba được Thánh đoàn xem là lần điểm đạo lớn đầu tiên, và rằng lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai là những lần điểm đạo của Ngưỡng Cửa. Đối với phần lớn nhân loại, hai lần điểm đạo đầu tiên này sẽ trong một thời gian rất dài cấu thành những kinh nghiệm điểm đạo lớn, nhưng trong đời sống và sự chứng nghiệm của linh hồn-điểm đạo đồ, chúng không phải vậy. Sau khi hai lần điểm đạo của ngưỡng cửa đã được trải qua, thái độ của điểm đạo đồ thay đổi và y nhìn thấy những khả năng, những yếu tố và những mặc khải mà từ trước đến nay [42] hoàn toàn chưa được nhận ra và chưa được biết đến, ngay cả đối với tâm thức của y trong những khoảnh khắc cao nhất.

The door of initiation looms large in the consciousness of the neophyte; the higher Way is the determining factor in the life of the initiate of the third degree. It is the Transfiguration; and a new glory pours through the transfigured initiate who has been released from every type of grip by either the personality or the soul. For the first time, the goal of the higher Way and the attainment of Nirvana (as the Oriental calls it) appears before him, and he knows that no forms and no spiritual complexes and no pull by either soul or form, or by both united, can have any effect upon his attaining his final destination.

Cánh cửa điểm đạo hiện lên lớn lao trong tâm thức của người sơ cơ; Đạo Lộ cao hơn là yếu tố quyết định trong đời sống của điểm đạo đồ bậc ba. Đó là Biến hình; và một vinh quang mới tuôn qua điểm đạo đồ đã biến hình, người đã được giải thoát khỏi mọi loại nắm giữ của phàm ngã hay linh hồn. Lần đầu tiên, mục tiêu của Đạo Lộ cao hơn và sự đạt đến Niết Bàn (như phương Đông gọi) hiện ra trước y, và y biết rằng không hình tướng nào, không phức hợp tinh thần nào, không sức kéo nào của linh hồn hay hình tướng, hoặc của cả hai hợp lại, có thể có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với việc y đạt đến đích đến cuối cùng của mình.

I would like for a moment to refer here to the door symbology as the initiate begins to grasp the inner meaning of those simple words. For long the teaching, given in the clear cold light, anent the door and the emphasis put upon the presentation of the door lying ahead of the aspirant has been made familiar, but that has been working with the lower aspects of the symbolism, even if aspirants did not realise it; they have been taught the fact of the light in the head, which is the personality correspondence to the clear cold light to which I refer. At the very centre of that light, as many aspirants know theoretically or factually by inconstant experience, is a centre or point of dark indigo blue—midnight blue. Note the significance of this in view of what I have been saying anent the “dark night,” the midnight hour, the zero hour in the life of the soul. That centre is in reality an opening, a door leading somewhere, a way of escape, a place through which the soul imprisoned in the body can emerge and pass into higher states of consciousness, untrammelled by form limitations; it has also been called “the funnel or the channel for the sound”; it has been named the “trumpet through which the escaping A.U.M. can pass.” The ability to use this door or channel is brought about by the practice of alignment; hence the emphasis laid upon this exercise in the attempt to train aspirants and disciples.

Tôi muốn trong chốc lát đề cập ở đây đến biểu tượng cánh cửa khi điểm đạo đồ bắt đầu nắm bắt ý nghĩa nội tại của những lời đơn giản ấy. Từ lâu, giáo huấn được ban ra trong ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo, liên quan đến cánh cửa và sự nhấn mạnh đặt trên việc trình bày cánh cửa nằm phía trước người chí nguyện, đã trở nên quen thuộc, nhưng điều đó đã làm việc với các phương diện thấp hơn của biểu tượng, dù những người chí nguyện không nhận ra điều ấy; họ đã được dạy về sự kiện của ánh sáng trong đầu, là sự tương ứng của phàm ngã với ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo mà tôi đang nói đến. Ngay tại trung tâm của ánh sáng ấy, như nhiều người chí nguyện biết về mặt lý thuyết hay thực tế qua kinh nghiệm không thường xuyên, có một trung tâm hay điểm màu chàm xanh đậm—xanh nửa đêm. Hãy lưu ý ý nghĩa của điều này xét theo những gì tôi đã nói liên quan đến “đêm tối,” giờ nửa đêm, giờ số không trong đời sống của linh hồn. Trung tâm ấy thực ra là một lối mở, một cánh cửa dẫn đến một nơi nào đó, một lối thoát, một nơi mà qua đó linh hồn bị giam trong thể có thể xuất hiện và đi vào các trạng thái tâm thức cao hơn, không bị cản trở bởi các giới hạn của hình tướng; nó cũng đã được gọi là “cái phễu hay kênh dẫn cho âm thanh”; nó đã được gọi là “chiếc kèn mà qua đó A.U.M. đang thoát ra có thể đi qua.” Khả năng sử dụng cánh cửa hay kênh dẫn này được mang lại bởi việc thực hành chỉnh hợp; do đó mới có sự nhấn mạnh đặt trên bài tập này trong nỗ lực huấn luyện những người chí nguyện và đệ tử.

Once alignment has been achieved, it will be realised [43] (remembering the symbolism of the head, the light and the central opening) that many occasions arise in meditation when “behind the group there stands the door; before them opens out the Way.” This is the lower correspondence of the higher initiate-experience with which our rule is dealing.

Một khi sự chỉnh hợp đã đạt được, người ta sẽ nhận ra [43] (ghi nhớ biểu tượng của đầu, ánh sáng và lối mở trung tâm) rằng nhiều dịp xuất hiện trong tham thiền khi “đằng sau nhóm là cánh cửa; trước họ mở ra Đạo Lộ.” Đây là sự tương ứng thấp hơn của kinh nghiệm điểm đạo cao hơn mà quy luật của chúng ta đang bàn đến.

Again, this time in relation to the soul, comes the repetition of the discovery of the Door, its use and its appearance, finally, behind the initiate. This time the door must be found upon the mental plane, and not as earlier upon the etheric level; this is brought about by the aid of the soul and of the lower mind and through the revealing power of the clear cold light of the reason. When discovered, the “revelation of a terrible though beautiful experiment” faces the initiate. He finds that this time alignment is not his need, but the definite undertaking of a creative work—the building of a bridge between the door which lies behind and the door which lies ahead. This involves the construction of what is technically the antahkarana, the rainbow bridge. This is built by the disciple-in-training upon the basis of his past experience; it is anchored in the past and firmly grounded in the highest, rightly oriented aspect of the personality. As the disciple then creatively works, he finds that there is a reciprocal action on the part of the Presence, the Monad—the unity which stands behind the Door. He discovers that one span of the bridge (if I might so call it) is being built or pushed forward from the other side of the gulf separating him from experience in the life of the Spiritual Triad. This Spiritual Triad is essentially, to the initiate, what the threefold personality is to the man in physical incarnation.

Một lần nữa, lần này liên hệ đến linh hồn, sự khám phá về Cánh Cửa, việc sử dụng nó và sự xuất hiện của nó, cuối cùng ở phía sau điểm đạo đồ, lại được lặp lại. Lần này cánh cửa phải được tìm thấy trên cõi trí, chứ không như trước đây trên cấp độ dĩ thái; điều này được mang lại nhờ sự trợ giúp của linh hồn và của hạ trí và qua quyền năng mặc khải của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của lý trí. Khi được khám phá, “sự mặc khải về một thí nghiệm khủng khiếp nhưng đẹp đẽ” đối diện với điểm đạo đồ. Y nhận ra rằng lần này chỉnh hợp không phải là nhu cầu của mình, mà là việc đảm nhận rõ ràng một công việc sáng tạo—xây dựng một cây cầu giữa cánh cửa nằm phía sau và cánh cửa nằm phía trước. Điều này bao hàm việc xây dựng cái mà về mặt kỹ thuật gọi là antahkarana, Cây cầu vồng. Nó được đệ tử đang được huấn luyện xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ của mình; nó được neo trong quá khứ và được đặt nền vững chắc trong phương diện cao nhất, được định hướng đúng của phàm ngã. Khi ấy, trong lúc đệ tử làm việc một cách sáng tạo, y nhận ra rằng có một hành động hỗ tương từ phía Hiện Diện, chân thần—sự hợp nhất đứng sau Cánh Cửa. Y khám phá rằng một nhịp của cây cầu (nếu tôi có thể gọi như vậy) đang được xây dựng hay đẩy tới từ phía bên kia của vực thẳm ngăn cách y với kinh nghiệm trong đời sống của Tam Nguyên Tinh Thần. Đối với điểm đạo đồ, Tam Nguyên Tinh Thần này về bản chất chính là điều mà phàm ngã tam phân là đối với con người đang lâm phàm trên cõi hồng trần.

I wonder if I have succeeded in giving you at least a general idea of the possibilities lying ahead of the disciple, and incited you to definite conscious response to those possibilities. I cannot do other than speak in terms of consciousness, even though the life of the Triad—leading in its turn to identification with the Monad, as the personality life leads eventually to soul control and expression—has naught to do with consciousness or sensitivity as those terms are [44] commonly understood. Yet remember how, in all my teachings upon occult unfoldment, I have used the word IDENTIFICATION. This is the only word I have found which can in any way convey the complete unity which is finally achieved by those who develop a sense of unity, and who refuse to accept isolation; separateness then fades out entirely. The isolated unity achieved is unity with the Whole, with Being in its totality (and this cannot as yet convey much to you).

Tôi tự hỏi liệu tôi có thành công trong việc đem đến cho bạn ít nhất một ý niệm khái quát về những khả năng nằm phía trước đệ tử, và khơi dậy nơi bạn một sự đáp ứng có ý thức rõ rệt đối với những khả năng ấy hay không. Tôi không thể làm gì khác ngoài việc nói theo thuật ngữ của tâm thức, mặc dù đời sống của Tam nguyên—đến lượt nó dẫn đến sự đồng hoá với chân thần, cũng như đời sống phàm ngã cuối cùng dẫn đến sự kiểm soát và biểu lộ của linh hồn—không liên quan gì đến tâm thức hay sự nhạy cảm như những thuật ngữ ấy được [44] hiểu thông thường. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng trong mọi giáo huấn của tôi về sự khai mở huyền bí, tôi đã dùng từ ĐỒNG HOÁ. Đó là từ duy nhất tôi tìm thấy có thể bằng cách nào đó truyền đạt được sự hợp nhất hoàn toàn mà cuối cùng được đạt đến bởi những ai phát triển cảm thức hợp nhất và từ chối chấp nhận sự cô lập; khi đó tính tách biệt hoàn toàn mờ dần. Sự hợp nhất cô lập đạt được là sự hợp nhất với Toàn Thể, với Bản Thể trong tính toàn vẹn của nó (và điều này hiện giờ vẫn chưa thể truyền đạt nhiều cho bạn).

5. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension.

5. Cùng nhau, đoàn huynh đệ hãy tiến bước—ra khỏi lửa, vào trong lạnh giá, và hướng đến một sự căng thẳng mới hơn.

Here, in very brief form, certain basic instructions are given. Each of them indicates the new attitudes imposed upon all who have taken initiation. They cannot be interpreted in terms of the Path of Discipleship or of Probation. The ordinary and easily-arrived-at significances mean little to the initiate mind. Let me briefly consider them so that clarity of concept, though not of detail, may prevail.

Ở đây, dưới hình thức rất ngắn gọn, một số chỉ dẫn căn bản được đưa ra. Mỗi chỉ dẫn trong số đó nêu lên những thái độ mới được áp đặt lên tất cả những ai đã nhận điểm đạo. Chúng không thể được diễn giải theo thuật ngữ của Con Đường Đệ Tử hay Dự Bị. Những ý nghĩa thông thường và dễ đạt đến có rất ít ý nghĩa đối với trí tuệ của điểm đạo đồ. Hãy để tôi ngắn gọn xem xét chúng để sự rõ ràng của khái niệm, dù không phải của chi tiết, có thể được duy trì.

a. Out of the fire. This is a symbolic way of indicating that the personality life is definitely and finally left behind. It is this phrase which gives the clue to the initiation which is referred to in this Rule. Each of these Rules contains within itself the clue to the particular initiation to which reference is being made. The Rules are not placed in their right order, having sequential reference to the seven initiations. The intuition of the aspirant must be invoked if he is to arrive at right knowledge. I shall sometimes indicate the initiation involved, but not always, as it would profit not. The clue to the seventh initiation which lies ahead for such high Beings as the Christ would be of no service to you at all. The clue to the initiation of the Transfiguration can be of importance, as it involves the personality, and many of you in the not so distant future (from the angle of the aeonial life cycle of the soul) will face that. The secret of the third initiation is the demonstration of complete freedom from the claims and demands of the personality. It does not involve the achievement of [45] a completely perfect expression of the spiritual life, but it does indicate that the service of the initiate and his life demonstration—regarded in a broad and general way, from the angle of the life-tendency and of entire dedication to humanity—remains untouched by the limitations, still existent, of the personal lower self.

a. Ra khỏi lửa. Đây là một cách biểu tượng để chỉ rằng đời sống phàm ngã đã được bỏ lại phía sau một cách dứt khoát và cuối cùng. Chính cụm từ này cho ta manh mối về lần điểm đạo được nói đến trong quy luật này. Mỗi quy luật trong số này đều chứa trong chính nó manh mối về lần điểm đạo đặc thù đang được đề cập. Các quy luật không được sắp xếp theo đúng thứ tự của chúng, có liên hệ tuần tự đến bảy lần điểm đạo. Trực giác của người chí nguyện phải được gợi lên nếu y muốn đạt đến tri thức đúng. Đôi khi tôi sẽ chỉ ra lần điểm đạo liên quan, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, vì điều đó sẽ không ích lợi. Manh mối về lần điểm đạo thứ bảy đang ở phía trước đối với những Đấng cao cả như Đức Christ sẽ hoàn toàn không có ích gì cho bạn. Manh mối về lần điểm đạo Biến hình có thể quan trọng, vì nó liên quan đến phàm ngã, và nhiều người trong các bạn trong một tương lai không quá xa (xét từ góc độ chu kỳ đời sống trường cửu của linh hồn) sẽ đối diện với nó. Bí mật của lần điểm đạo thứ ba là sự chứng tỏ sự tự do hoàn toàn khỏi những đòi hỏi và yêu sách của phàm ngã. Nó không bao hàm việc đạt được [45] một biểu hiện hoàn toàn hoàn hảo của đời sống tinh thần, nhưng nó cho thấy rằng sự phụng sự của điểm đạo đồ và sự biểu lộ đời sống của y—được xét theo cách rộng và tổng quát, từ góc độ khuynh hướng đời sống và sự hiến dâng trọn vẹn cho nhân loại—vẫn không bị chạm đến bởi những giới hạn vẫn còn tồn tại của phàm ngã thấp hơn cá nhân.

b. Into the cold. This means that the focus of the life is now in the realm of clear truth and of pure reason. The life of the initiate is being rapidly transferred out of the egoic centre, the soul vehicle, on to the level of the buddhic life or state of being. Note, I do not say “of consciousness.” This is formless, but preserves the fruitage of form experience. It is being oriented towards a realised unity and identification with the life aspect of divinity, and yet preserves its own recognised and achieved identity. On this level of pure impersonality and of right orientation the group stands, obedient to the rule which governs this particular stage of development.

b. Vào trong lạnh giá. Điều này có nghĩa là tiêu điểm của đời sống giờ đây ở trong lĩnh vực của chân lý trong trẻo và của lý trí thuần khiết. Đời sống của điểm đạo đồ đang nhanh chóng được chuyển ra khỏi trung tâm chân ngã, vận cụ linh hồn, lên cấp độ của đời sống hay trạng thái hiện hữu Bồ đề. Hãy lưu ý, tôi không nói “của tâm thức.” Điều này là vô tướng, nhưng vẫn bảo tồn hoa trái của kinh nghiệm hình tướng. Nó đang được định hướng về một sự hợp nhất được chứng nghiệm và sự đồng hoá với phương diện sự sống của thiên tính, nhưng vẫn bảo tồn bản sắc riêng đã được nhận biết và đạt được của nó. Trên cấp độ vô ngã thuần khiết và định hướng đúng này, nhóm đứng vững, tuân phục quy luật chi phối giai đoạn phát triển đặc thù này.

c. Toward a newer tension. The interpretation of the phrase presents difficulty. This is owing to the false impression which the word “tension” conveys at this time. It is associated in the minds of the reading public with the thought of nerves, with points of crisis, with courage and with fatigue. Is this not so? But in reality tension, occultly understood, is not associated with these aspects of personality reaction at all. The esoteric significance of tension (as far as I can explain it by limiting words) is “focussed immovable Will.” Right tension is the identification of brain and soul with the will aspect, and the preservation of that identification—unchanged and immovable—no matter what the circumstances and the difficulties.

c. Hướng đến một sự căng thẳng mới hơn. Việc diễn giải cụm từ này gây khó khăn. Điều này là do ấn tượng sai lầm mà từ “căng thẳng” gợi ra vào lúc này. Nó được liên kết trong tâm trí công chúng đọc sách với ý nghĩ về thần kinh, với những điểm khủng hoảng, với lòng can đảm và với sự mệt mỏi. Có phải vậy không? Nhưng trên thực tế, sự căng thẳng, được hiểu một cách huyền bí, hoàn toàn không liên hệ với những phương diện phản ứng của phàm ngã ấy. Ý nghĩa bí truyền của sự căng thẳng (trong chừng mực tôi có thể giải thích bằng những từ ngữ hạn chế) là “Ý Chí tập trung bất lay chuyển.” Sự căng thẳng đúng là sự đồng hoá của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí, và sự duy trì sự đồng hoá ấy—không thay đổi và bất lay chuyển—bất kể hoàn cảnh và khó khăn nào.

You can see, therefore, how far ahead of present attitudes and goals this teaching is. Identification with the soul and with the Hierarchy is dependent upon the ability of the disciple rightly to love. It is the emergence of the second divine aspect, for love is the expression of group life, and [46] that is rare indeed to find in these days. Right tension indicates the emergence of the first aspect, of the will, and this is seldom to be found as yet, save among the more advanced disciples and initiate members of the Hierarchy.

Vì vậy, bạn có thể thấy giáo huấn này vượt xa các thái độ và mục tiêu hiện tại đến mức nào. Sự đồng hoá với linh hồn và với Thánh đoàn tùy thuộc vào khả năng yêu thương đúng đắn của đệ tử. Đó là sự xuất hiện của phương diện thiêng liêng thứ hai, vì tình thương là biểu hiện của đời sống nhóm, và [46] điều đó quả thật rất hiếm thấy trong những ngày này. Sự căng thẳng đúng chỉ ra sự xuất hiện của phương diện thứ nhất, của ý chí, và điều này cho đến nay hiếm khi được tìm thấy, ngoại trừ nơi các đệ tử tiến bộ hơn và các thành viên điểm đạo của Thánh đoàn.

Love governs the Way into the life of the Hierarchy and is the foundation for all approach to, and appreciation and acceptance of truth.

Tình thương chi phối Con Đường vào đời sống của Thánh đoàn và là nền tảng cho mọi sự tiếp cận đến, sự đánh giá cao và sự chấp nhận chân lý.

Will governs the Way into Shamballa and is the foundation for all approach to, appreciation of and identification with, Being.

Ý chí chi phối Con Đường vào Shamballa và là nền tảng cho mọi sự tiếp cận đến, sự đánh giá cao và sự đồng hoá với Bản Thể.

This developed will expresses itself as tension, esoterically understood. It embodies the ideas of orientation, implacable determination, ability to wait and to preserve intention and orientation unmoved by aught which may occur. It also involves the determination to take the intended action (always of a creative nature and based on loving understanding) at the psychological moment (right timing), or that exact moment which the psyche or soul determines to be correct. Here you have one of the interesting transferences of meaning and of relationship which occur in the Ageless Wisdom. The Son or soul emerges into manifestation with the concurrence and aid of the Mother or of the matter aspect. This is to you a most familiar truth. In the next stage, that of initiate-development, the Son, in its turn, becomes the feminine or negative aspect and, demonstrating as the Psyche, enables the initiate to bring into expression another divine aspect—that of the will. Until the fourth initiation is undergone, it is the soul as a “focal point for descending light and for ascending radiance.” This dual activity reveals the nature of the will. Note how this phrase from an ancient writing describes the antahkarana.

Ý chí đã phát triển này tự biểu lộ như sự căng thẳng, được hiểu theo nghĩa huyền bí. Nó bao hàm các ý tưởng về định hướng, quyết tâm không khoan nhượng, khả năng chờ đợi và duy trì ý định cùng sự định hướng không lay chuyển bởi bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nó cũng bao hàm quyết tâm thực hiện hành động đã định (luôn luôn có bản chất sáng tạo và dựa trên sự thấu hiểu đầy tình thương) vào khoảnh khắc tâm lý (đúng thời điểm), hay chính khoảnh khắc mà psyche hay linh hồn xác định là đúng. Ở đây bạn có một trong những sự chuyển dịch thú vị của ý nghĩa và của mối liên hệ xảy ra trong Minh Triết Ngàn Đời. Con, hay linh hồn, xuất hiện vào biểu hiện với sự đồng thuận và trợ giúp của Mẹ hay của phương diện vật chất. Đối với bạn đây là một chân lý rất quen thuộc. Trong giai đoạn kế tiếp, tức giai đoạn phát triển của điểm đạo đồ, đến lượt mình, Con trở thành phương diện nữ tính hay âm tính và, biểu hiện như Psyche, giúp điểm đạo đồ đưa vào biểu lộ một phương diện thiêng liêng khác—đó là ý chí. Cho đến khi lần điểm đạo thứ tư được trải qua, linh hồn là một “tiêu điểm cho ánh sáng giáng xuống và cho sự rạng ngời đi lên.” Hoạt động kép này mặc khải bản chất của ý chí. Hãy lưu ý cách cụm từ này từ một trước tác cổ mô tả antahkarana.

It is not possible in these brief instructions to deal adequately with the will aspect of divinity, nor would it profit at this time. Aspirants have to learn the nature of the will by the power of inner illumination and by certain intelligent recognitions. They learn the nature of the self through the aid of the personality, the shadow or distortion of the divine will. They pass from the expression of the will which [47] is purely selfish, self-sufficient and self-focussed, to the grasp of the group will and to the effort to embody that group will. This group will is always concerned with that which is not the will of the separated self.

Trong những chỉ dẫn ngắn gọn này, không thể bàn đầy đủ về phương diện ý chí của thiên tính, và vào lúc này điều đó cũng không ích lợi. Những người chí nguyện phải học bản chất của ý chí bằng quyền năng của sự soi sáng nội tại và bằng một số sự nhận biết thông tuệ. Họ học bản chất của bản ngã qua sự trợ giúp của phàm ngã, cái bóng hay sự méo mó của ý chí thiêng liêng. Họ đi từ sự biểu lộ của ý chí vốn [47] hoàn toàn ích kỷ, tự mãn và tập trung vào bản thân, đến sự nắm bắt ý chí nhóm và nỗ lực thể hiện ý chí nhóm ấy. Ý chí nhóm này luôn luôn liên quan đến điều không phải là ý chí của bản ngã tách biệt.

As this ability to be selflessly decentralised grows and develops, the aspirant reaches a point where the group life and the group good is seen as an integral part of a much greater Whole. This greater Whole is Being Itself, divorced from form but ever working through form whilst in manifestation, and working with planned purpose. The realisation then grows that intelligence and love are not enough, but that they must be supplemented and implemented by will, which is active intelligent purpose, lovingly applied.

Khi khả năng phi tập trung vào bản thân một cách vô ngã này tăng trưởng và phát triển, người chí nguyện đạt đến một điểm mà đời sống nhóm và thiện ích của nhóm được nhìn thấy như một phần không thể tách rời của một Toàn Thể lớn lao hơn nhiều. Toàn Thể lớn hơn này là chính Bản Thể, tách rời khỏi hình tướng nhưng luôn luôn hoạt động qua hình tướng khi đang biểu hiện, và hoạt động với mục đích có kế hoạch. Khi ấy sự nhận biết tăng trưởng rằng trí tuệ và tình thương là chưa đủ, mà chúng phải được bổ sung và thực hiện bởi ý chí, vốn là mục đích thông tuệ năng động, được áp dụng bằng tình thương.

The difficulty of this subject is inherent in the fact that basically (no matter how strange this may seem) love is the line of least resistance for the developed human being. It is the governing principle of the present solar system. Will is the governing principle of the next or coming solar system, which will be brought into manifestation through the agency of those human beings who—in this solar system—arrive at the full expression of the will aspect. Then, in the coming consummating manifestation, love will be to the will aspect what intelligence is, in this solar system, to love.

Khó khăn của chủ đề này vốn nằm trong sự kiện rằng về căn bản (dù điều này có vẻ lạ lùng đến đâu) tình thương là con đường ít trở ngại nhất đối với con người đã phát triển. Nó là nguyên lý chi phối của hệ mặt trời hiện tại. Ý chí là nguyên lý chi phối của hệ mặt trời kế tiếp hay sắp đến, sẽ được đưa vào biểu hiện qua tác nhân của những con người mà—trong hệ mặt trời này—đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn của phương diện ý chí. Khi ấy, trong biểu hiện hoàn tất sắp đến, tình thương sẽ đối với phương diện ý chí như trí tuệ, trong hệ mặt trời này, đối với tình thương.

RULE TWO — QUY LUẬT HAI

In our study of Rule One on Initiation, we gained (or perhaps fixed more clearly in our minds) three major thoughts:

Trong khi nghiên cứu quy luật Một về Điểm Đạo, chúng ta đã đạt được (hoặc có lẽ đã làm rõ hơn trong trí mình) ba tư tưởng lớn:

1. That the Path of Initiation is one on which we develop the Will aspect of divinity.

1. Rằng Con Đường Điểm Đạo là con đường trên đó chúng ta phát triển phương diện Ý Chí của thiên tính.

2. We learn also to use consciousness as a jumping off place for the recognition of a new state of realisation, which is not consciousness at all, as we understand that term.

2. Chúng ta cũng học cách sử dụng tâm thức như một điểm bật nhảy để nhận biết một trạng thái chứng nghiệm mới, vốn hoàn toàn không phải là tâm thức như chúng ta hiểu thuật ngữ đó.

3. We undergo, prior to each initiation, two major tests—that of the burning ground and that of the clear cold light.

3. Trước mỗi lần điểm đạo, chúng ta trải qua hai thử thách lớn—thử thách của vùng đất cháy và thử thách của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo.

[48]

[48]

We closed our discussion with the thought of Tension and I defined it as the identification of the brain and soul with the will aspect and the preservation of that identification—unchanged and immovable—in all circumstances and difficulties. I mention this as the “tension” concept or point of attainment underlies the teaching of the rule which we are now going to consider.

Chúng ta đã kết thúc cuộc thảo luận với tư tưởng về Sự Căng Thẳng và tôi đã định nghĩa nó là sự đồng hoá của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí và sự duy trì sự đồng hoá ấy—không thay đổi và bất lay chuyển—trong mọi hoàn cảnh và khó khăn. Tôi nhắc đến điều này vì khái niệm “căng thẳng” hay điểm thành tựu này làm nền cho giáo huấn của quy luật mà giờ đây chúng ta sẽ xem xét.

Rule II.

Quy luật II.

The WORD has now gone forth from the great point of tension: Accepted as a group. Withdraw not now your application. You could not, if you would; but add to it three great demands and forward move. Let there be no recollection and yet let memory rule. Work from the point of all that is within the content of the group’s united life.

Linh từ nay đã phát ra từ điểm tập trung nhất tâm lớn lao: Được chấp nhận như một nhóm. Đừng rút lại sự thỉnh cầu của các bạn lúc này. Các bạn không thể, dù có muốn; nhưng hãy thêm vào đó ba đòi hỏi lớn lao và tiến bước. Chớ để có sự hồi tưởng, nhưng ký ức hãy cai quản. Hãy làm việc từ điểm của tất cả những gì nằm trong nội dung của đời sống hợp nhất của nhóm.

A close analysis of this rule will convey to the intuition far more than appears upon the surface, and that is rich enough. Each of these rules holds in it the seed of that understanding which must be evoked before the next rule can be mastered. All that is given is ever based on that which has gone before. The “three great demands” of the initiate are based upon the “triple call” found in Rule Two for aspirants and disciples. The triple call was earlier sounded forth. Now its higher significances must be comprehended.

Một sự phân tích kỹ lưỡng quy luật này sẽ chuyển đạt cho trực giác nhiều hơn rất nhiều so với điều xuất hiện trên bề mặt, mà bản thân bề mặt ấy cũng đã đủ phong phú rồi. Mỗi quy luật này đều chứa trong nó hạt giống của sự thấu hiểu phải được gợi lên trước khi quy luật kế tiếp có thể được làm chủ. Mọi điều được ban ra luôn luôn dựa trên điều đã đi trước. “Ba đòi hỏi lớn lao” của điểm đạo đồ được đặt nền trên “tiếng gọi tam phân” được tìm thấy trong Quy luật Hai dành cho những người chí nguyện và các đệ tử. Tiếng gọi tam phân ấy đã được xướng lên từ trước. Nay những thâm nghĩa cao hơn của nó phải được lĩnh hội.

There are only four parts to this rule, which is one of prime importance because it contains the motivating force, the conditioning factors and the place of triumph—all these are indicated. We will, as is our usual custom, study each separate part sequentially and as far as possible in detail bearing in mind that initiation deals with factors in latent manifestation for which our languages have no words, and with ideas which are not yet to be found among the “raincloud of knowable things” (as Patanjali calls it)—that is, knowable to the masses of men. The initiate is, however, dealing with a world of meaning and of affairs which are not yet manifesting in any way. The task of the Master [49] (and of Those higher than He) is to take those steps and precipitate those “waiting events” which will eventually bring them into manifestation. This, I would remind you, is always done by the use of the will and from a point of tension.

Quy luật này chỉ có bốn phần, và là một quy luật tối quan trọng vì nó chứa đựng động lực thúc đẩy, các yếu tố tác động, và nơi chốn của chiến thắng—tất cả những điều ấy đều được chỉ ra. Chúng ta sẽ, như thông lệ thường có, nghiên cứu từng phần riêng biệt theo trình tự và càng chi tiết càng tốt, đồng thời ghi nhớ rằng điểm đạo xử lý những yếu tố trong biểu hiện tiềm ẩn mà ngôn ngữ của chúng ta không có từ ngữ để diễn tả, và những ý tưởng chưa được tìm thấy trong “đám mây mưa của những điều khả tri” (như Patanjali gọi nó)—nghĩa là, khả tri đối với quần chúng nhân loại. Tuy nhiên, điểm đạo đồ đang xử lý một thế giới của ý nghĩa và những sự việc chưa biểu hiện theo bất cứ cách nào. Nhiệm vụ của Chân sư [49] (và của Những Đấng cao hơn Ngài) là thực hiện những bước ấy và làm ngưng tụ những “biến cố đang chờ đợi” kia, rốt cuộc sẽ đưa chúng vào biểu hiện. Tôi xin nhắc các bạn rằng điều này luôn luôn được thực hiện bằng việc sử dụng ý chí và từ một điểm tập trung nhất tâm.

1. The Word has now gone forth from the great point of tension: Accepted as a group.

1. Linh từ nay đã phát ra từ điểm tập trung nhất tâm lớn lao: Được chấp nhận như một nhóm.

I would like here to call your attention to the progressive nature of the esoteric science; it is nowhere better illustrated than in this phrase; nowhere is it more clearly shown and yet, unless the intuition and the sense of correlation are functioning, the idea might escape recognition.

Ở đây tôi muốn lưu ý các bạn đến bản chất tiến triển của khoa học huyền bí; không nơi nào điều đó được minh họa rõ hơn trong cụm từ này; không nơi nào nó được chỉ ra minh bạch hơn, thế nhưng, trừ phi trực giác và ý thức về tương quan đang hoạt động, ý tưởng ấy có thể thoát khỏi sự nhận biết.

In all the teaching given to the aspirant and to the disciple in the early stages of their training, the emphasis has been upon the “point of light” which must be discovered, brought into full illumination, and then so used that the one in whom the light shines becomes a light-bearer in a dark world. This, the aspirant is taught, becomes possible when contact with the soul has been made and the light is found. This is familiar teaching to many and is the essence of the progress to be made by aspirants and disciples in the first part of their training.

Trong toàn bộ giáo huấn được ban cho người chí nguyện và đệ tử ở các giai đoạn đầu của sự huấn luyện của họ, trọng tâm được đặt trên “điểm ánh sáng” phải được khám phá, được đưa vào sự soi sáng trọn vẹn, rồi được sử dụng sao cho người trong đó ánh sáng chiếu rọi trở thành một người mang ánh sáng trong một thế giới tối tăm. Người chí nguyện được dạy rằng điều này trở nên khả hữu khi sự tiếp xúc với linh hồn đã được thiết lập và ánh sáng được tìm thấy. Đây là giáo huấn quen thuộc với nhiều người và là tinh túy của sự tiến bộ mà những người chí nguyện và các đệ tử phải đạt được trong phần đầu của sự huấn luyện của họ.

We now, however, pass on to another expression and to the next development in the life of the initiate, which is learning to work from a “point of tension.” Here lies the new emphasis, and I am bringing it to the attention of humanity as mankind nears the close, the terrible but liberating finale, of his great test in this modern burning-ground. Now men can pass on into the clear cold light, and from there begin to hold that point of tension which will be evocative of the needed “understanding will-to-move forward” along the line of human will-to-good—the first phase of the development of the will aspect. It is the higher sublimation of the aspirational stage which precedes the attainment of the “point of light” through contact with the soul.

Tuy nhiên, giờ đây chúng ta chuyển sang một cách diễn đạt khác và sang bước phát triển kế tiếp trong đời sống của điểm đạo đồ, tức là học cách làm việc từ một “điểm tập trung nhất tâm”. Chính trong đó có trọng tâm mới, và tôi đang đưa nó đến sự chú ý của nhân loại khi loài người đang tiến gần đến phần kết thúc, phần chung cuộc khủng khiếp nhưng giải thoát, của cuộc thử thách lớn lao của y trên vùng đất cháy hiện đại này. Giờ đây những người nam và nữ có thể tiến vào ánh sáng trong trẻo lạnh lùng, và từ đó bắt đầu giữ vững điểm tập trung nhất tâm sẽ gợi lên “ý chí-thấu hiểu để tiến bước” cần thiết dọc theo đường lối của Ý Chí-hướng Thiện của con người—giai đoạn đầu tiên của sự phát triển phương diện ý chí. Đó là sự thăng hoa cao hơn của giai đoạn khát vọng vốn đi trước việc đạt được “điểm ánh sáng” qua sự tiếp xúc với linh hồn.

The point of tension is found when the dedicated will [50] of the personality is brought into touch with the will of the Spiritual Triad. This takes place in three clearly defined stages:

Điểm tập trung nhất tâm được tìm thấy khi ý chí tận hiến [50] của phàm ngã được đưa vào tiếp xúc với ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này diễn ra trong ba giai đoạn được xác định rõ ràng:

1. The stage wherein the lower will aspect which is focussed in the mental body—the will-to-activity of the personality—is brought into contact with the higher abstract mind; this latter is the interpreting agent for the Monad and the lowest aspect of the Triad. Two things can be noted in this respect:

1. Giai đoạn trong đó phương diện ý chí thấp hơn, được tập trung trong thể trí—ý chí-hướng-hoạt động của phàm ngã—được đưa vào tiếp xúc với trí trừu tượng cao hơn; trí này là tác nhân diễn giải cho chân thần và là phương diện thấp nhất của Tam nguyên tinh thần. Có thể lưu ý hai điều về phương diện này:

a. This contact becomes possible from the moment that the first thin strand of the antahkarana, the rainbow bridge, is completed between the mental unit and the manasic permanent atom.

a. Sự tiếp xúc này trở nên khả hữu kể từ lúc sợi mảnh đầu tiên của antahkarana, cây cầu vồng, được hoàn tất giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

b. This demonstrates in an absorbing devotion to the Plan and is an effort, at any cost, to serve that Plan as it is progressively understood and grasped.

b. Điều này biểu lộ trong một sự tận tụy đầy hấp lực đối với Thiên Cơ và là một nỗ lực, bằng bất cứ giá nào, để phụng sự Thiên Cơ ấy như nó được hiểu và nắm bắt dần dần.

This expresses itself in the cultivation of goodwill, as understood by the average intelligent human being and put into action as a way of life.

Điều này biểu hiện thành việc vun bồi thiện chí, như được con người thông minh trung bình hiểu, và được đưa vào hành động như một lối sống.

2. The stage wherein the love aspect of the soul is brought into touch with the corresponding aspect of the Triad, to which we give the inadequate name of the intuition. This is in reality divine insight and comprehension, as expressed through the formulation of ideas. Here you have an instance of the inadequacy of modern language; ideas are formless and are in effect points of energy, outward moving in order eventually to express some “intention” of the divine creating Logos. When the initiate grasps this and identifies himself with it, his goodwill expands into the will-to-good. Plan and quality give place to purpose and method. Plans are fallible and tentative and serve a temporary need. Purpose, as expressed by the initiate is permanent, farsighted, unalterable, and serves the Eternal Idea.

2. Giai đoạn trong đó phương diện bác ái của linh hồn được đưa vào tiếp xúc với phương diện tương ứng của Tam nguyên tinh thần, mà chúng ta đặt cho cái tên không đầy đủ là trực giác. Thực ra đây là linh thị và sự thấu hiểu thiêng liêng, như được biểu lộ qua sự hình thành các ý tưởng. Ở đây các bạn có một ví dụ về sự bất toàn của ngôn ngữ hiện đại; các ý tưởng là vô tướng và thực chất là những điểm năng lượng, chuyển động ra bên ngoài để cuối cùng biểu lộ một “ý định” nào đó của Thượng đế sáng tạo Logos. Khi điểm đạo đồ nắm bắt điều này và đồng hoá với nó, thiện chí của y mở rộng thành Ý Chí-hướng Thiện. Thiên Cơ và phẩm tính nhường chỗ cho mục đích và phương pháp. Các kế hoạch thì có thể sai lầm và chỉ là tạm thời, phục vụ một nhu cầu nhất thời. Mục đích, như được điểm đạo đồ biểu lộ, thì thường tồn, nhìn xa, bất biến, và phụng sự Ý Tưởng Vĩnh Cửu.

3. The stage wherein—after the fourth initiation—there is direct unbroken relation between the Monad, via the Triad, and the form which the Master is using to do His [51] work among men. This form may be either His temporary personality, arrived at along the normal lines of incarnation, or the specially created form to which Theosophists give the technical but cumbersome word “mayavirupa.” It is the “true mask, hiding the radiant light and the dynamic energy of a revealed Son of God.” This is the esoteric definition which I offer you. This stage can be called the attainment of the will-to-be, not Being as an individual expression but Being as an expression of the Whole—all-inclusive, nonseparative, motivated by goodness, beauty and truth and intelligently expressed as pure love.

3. Giai đoạn trong đó—sau lần điểm đạo thứ tư—có mối liên hệ trực tiếp không gián đoạn giữa chân thần, qua Tam nguyên tinh thần, và hình tướng mà Chân sư đang sử dụng để làm công việc của Ngài [51] giữa nhân loại. Hình tướng này có thể là phàm ngã tạm thời của Ngài, đạt được theo các đường lối lâm phàm thông thường, hoặc hình tướng được tạo ra đặc biệt mà các nhà Thông Thiên Học gọi bằng thuật ngữ kỹ thuật nhưng rườm rà là “mayavirupa.” Đó là “mặt nạ chân thực, che giấu ánh sáng rực rỡ và năng lượng năng động của một Con của Thượng đế đã được mặc khải.” Đó là định nghĩa huyền bí mà tôi cống hiến cho các bạn. Giai đoạn này có thể được gọi là sự đạt đến ý chí-hướng-tồn tại, không phải Tồn Tại như một biểu hiện cá biệt mà là Tồn Tại như một biểu hiện của Toàn Thể—bao gồm tất cả, không phân ly, được thúc đẩy bởi thiện, mỹ và chân, và được biểu lộ một cách thông tuệ như bác ái thuần khiết.

All these stages are achieved by the attainment of one point of tension after another, and the work thus carried forward into the realm of the dynamic steadfast will. This will, as it is progressively developed, works ever from a constant point of tension.

Tất cả các giai đoạn này đều đạt được nhờ việc đạt đến hết điểm tập trung nhất tâm này đến điểm tập trung nhất tâm khác, và nhờ đó công việc được đưa vào lĩnh vực của ý chí kiên định năng động. Ý chí này, khi được phát triển dần dần, luôn luôn làm việc từ một điểm tập trung nhất tâm thường hằng.

We come now to the consideration of a subject which always proves exceedingly difficult to students: The nature of the WORD, the A.U.M., and its later developments, the O.M. and the Sound. Much confusion exists as to its significance or the necessity for its use. The phase of its recognition through which we are now passing is a purely exoteric one of accustoming the general public to the fact of its existence. This has been brought about in three ways:

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một đề tài luôn luôn tỏ ra cực kỳ khó đối với các đạo sinh: bản chất của LINH TỪ, A.U.M., và các phát triển về sau của nó, O.M. và ÂM THANH. Có rất nhiều nhầm lẫn về ý nghĩa của nó hoặc sự cần thiết phải sử dụng nó. Giai đoạn nhận biết mà hiện nay chúng ta đang trải qua là một giai đoạn hoàn toàn ngoại môn, nhằm làm cho công chúng nói chung quen với sự kiện về sự tồn tại của nó. Điều này đã được thực hiện theo ba cách:

1. Through the constant use in all the Christian Churches of the word “Amen,” which is a western corruption of the A.U.M. The A.U.M. is here the lowest aspect of the originating Sound.

1. Qua việc sử dụng liên tục trong tất cả các Giáo hội Cơ Đốc từ “Amen,” vốn là một sự biến dạng phương Tây của A.U.M. Ở đây A.U.M. là phương diện thấp nhất của Âm Thanh khởi nguyên.

2. Through the emphasis laid in Masonry upon the Lost Word, thus subtly drawing the attention of humanity to the O.M., the Sound of the second aspect, the Soul.

2. Qua sự nhấn mạnh trong Hội Tam Điểm vào Linh từ Thất Truyền, nhờ đó một cách tinh tế hướng sự chú ý của nhân loại đến O.M., Âm Thanh của phương diện thứ hai, linh hồn.

3. Through the growing emphasis laid by the many occult groups throughout the world upon the use of the O.M., its frequent use by these groups in public, and by those intent upon meditation.

3. Qua sự nhấn mạnh ngày càng tăng của nhiều nhóm huyền bí trên khắp thế giới vào việc sử dụng O.M., việc các nhóm này thường xuyên sử dụng nó nơi công cộng, và bởi những người chuyên tâm tham thiền.

The soundest approach is that of the Masonic tradition, because it deals primarily with the world of meaning and [52] with a phase of the esoteric teaching. The use of the Amen in the ritual of the Christian Church will eventually be discouraged, because it is basically a materialistic affirmation, being usually regarded by the average churchgoer as setting the seal of divine approval upon his demand to the Almighty for protection, or for the supply of his physical necessities; all this is, therefore, related to the life of desire, of aspiration, of dualism and of request. It involves the attitude of giver and recipient.

Cách tiếp cận lành mạnh nhất là của truyền thống Tam Điểm, vì nó chủ yếu xử lý thế giới của ý nghĩa và [52] một phương diện của giáo huấn huyền bí. Việc dùng từ Amen trong nghi thức của Giáo hội Cơ Đốc rốt cuộc sẽ bị hạn chế, vì về căn bản đó là một sự xác nhận duy vật, bởi người đi nhà thờ trung bình thường xem nó như đóng ấn sự chấp thuận thiêng liêng lên lời cầu xin của ông với Đấng Toàn Năng để được bảo vệ, hoặc để được cung cấp các nhu cầu thể xác của ông; vì thế tất cả điều này liên hệ với đời sống của dục vọng, của khát vọng, của nhị nguyên tính và của sự cầu xin. Nó bao hàm thái độ của người ban cho và người nhận lãnh.

The A.U.M. and the Amen are both of them an expression in sound of the principle of active intelligent substance in the divine manifestation, the third aspect, and have served human need in that phase of material and form development. I refer here also to the development of mind or of the mental form. The personality as a whole, when perfected and brought under control of the soul, is the “Word made flesh.”

A.U.M. và Amen, cả hai, đều là một biểu hiện bằng âm thanh của nguyên khí chất liệu thông tuệ hoạt động trong biểu hiện thiêng liêng, tức phương diện thứ ba, và đã phục vụ nhu cầu của con người trong giai đoạn phát triển vật chất và hình tướng ấy. Ở đây tôi cũng nói đến sự phát triển của trí tuệ hay của hình tướng trí tuệ. Phàm ngã như một toàn thể, khi được hoàn thiện và đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, là “Linh từ thành nhục thể.”

The mass of aspirants and of disciples are today learning the meaning of the O.M., which is not the Word made flesh, but the Word released from form, and expressing itself as soul-spirit and not as body-soul-spirit. It might, therefore, be said that:

Ngày nay, đại đa số những người chí nguyện và các đệ tử đang học ý nghĩa của O.M., vốn không phải là Linh từ thành nhục thể, mà là Linh từ được giải phóng khỏi hình tướng, và biểu lộ như linh hồn-tinh thần chứ không phải như thể-linh hồn-tinh thần. Vì vậy, có thể nói rằng:

1. The A.U.M. (note that I separate each aspect of this triple sound) brings the soul-spirit aspect down on to the physical plane and anchors it there by the force of its outgoing vibration. Using a symbol to make my meaning clear, it is like “a strong wind that pins a man against a wall and makes free effort difficult.” It vivifies form; it intensifies the hold of matter upon the soul; it builds around the soul a confining prison—a prison of the senses. It is the “sound of enchantment,” the sound that is the source of glamour and of maya; it is the great beguiling and deceptive energy, the note of the involutionary arc. In it are hid the secret of evil or matter, the uses of form, first as a prison, then as a training ground and as a field of experience, and finally as the expression for the manifestation of a Son of God.

1. A.U.M. (lưu ý rằng tôi tách riêng từng phương diện của âm thanh tam phân này) đưa phương diện linh hồn-tinh thần xuống cõi hồng trần và neo nó tại đó bằng mãnh lực của rung động hướng ngoại của nó. Dùng một biểu tượng để làm rõ ý tôi, nó giống như “một cơn gió mạnh ghim một người vào tường và khiến nỗ lực tự do trở nên khó khăn.” Nó tiếp sinh lực cho hình tướng; nó tăng cường sự nắm giữ của vật chất lên linh hồn; nó xây quanh linh hồn một nhà tù giam hãm—một nhà tù của các giác quan. Nó là “âm thanh của sự mê hoặc,” âm thanh là nguồn gốc của ảo cảm và ảo lực; nó là năng lượng mê hoặc và đánh lừa lớn lao, là chủ âm của cung giáng hạ tiến hoá. Trong nó ẩn giấu bí mật của điều ác hay vật chất, các công dụng của hình tướng, trước hết như một nhà tù, rồi như một bãi huấn luyện và một cánh đồng kinh nghiệm, và cuối cùng như sự biểu lộ cho sự hiển lộ của một Con của Thượng đế.

2. The O.M. rightly sounded, releases the soul from the realm of glamour and of enchantment. It is the sound of [53] liberation, the great note of resurrection and of the raising of humanity to the Secret Place of the Most High when all other Words and sounds have failed. It is not a triple sound as is the A.U.M., but a dual sound, significant of the relation of spirit and soul, and of life and consciousness. This lost Word, symbolic of the loss in the three worlds (typified by the degrees of the Blue Lodges in Masonry) must be recovered and is in process of discovery today. The mystics have sought after it; the Masons have preserved the tradition of its existence; the disciples and initiates of the world must demonstrate its possession.

2. O.M., khi được xướng đúng cách, giải phóng linh hồn khỏi lĩnh vực của ảo cảm và mê hoặc. Nó là âm thanh của [53] sự giải thoát, là đại âm của phục sinh và của việc nâng nhân loại lên Nơi Bí Mật của Đấng Tối Cao khi mọi Linh từ và âm thanh khác đều đã thất bại. Nó không phải là một âm thanh tam phân như A.U.M., mà là một âm thanh nhị phân, biểu thị mối liên hệ giữa tinh thần và linh hồn, và giữa sự sống và tâm thức. Linh từ thất truyền này, biểu tượng cho sự mất mát trong ba cõi giới (được tiêu biểu bởi các cấp bậc của các Blue Lodges trong Hội Tam Điểm) phải được phục hồi và hiện đang trong tiến trình được khám phá. Các nhà thần bí đã tìm kiếm nó; các hội viên Tam Điểm đã bảo tồn truyền thống về sự tồn tại của nó; các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới phải chứng minh rằng họ sở hữu nó.

3. The SOUND is the sole expression of the Ineffable Name, the secret appellation of the One in Whom we live and move and have our being, and Who is known to the Great White Lodge through this name. Remember always that name and form are synonymous terms in the occult teaching, and these two words hold the secret of manifestation. The goal of the initiate is identification with all forms of the divine life, so that he can know himself to be an integral part of that Whole and can tune in on all states of divine awareness, knowing for himself (and not just theoretically) that they are also his own states of awareness. He can then penetrate into the divine arcana of knowledge, share in the divine omnipresence and—at will—express the divine omniscience and prepare himself to manifest in full consciousness the divine omnipotence.

3. ÂM THANH là biểu hiện duy nhất của Danh Xưng Bất Khả Ngôn, danh hiệu bí mật của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu, và Đấng được Thánh đoàn biết đến qua danh xưng này. Hãy luôn nhớ rằng danh xưng và hình tướng là những thuật ngữ đồng nghĩa trong giáo huấn huyền bí, và hai từ này nắm giữ bí mật của biểu hiện. Mục tiêu của điểm đạo đồ là đồng hoá với mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng, để y có thể biết mình là một phần toàn vẹn của Toàn Thể ấy và có thể hòa điệu với mọi trạng thái nhận biết thiêng liêng, tự mình biết (chứ không chỉ trên lý thuyết) rằng chúng cũng là những trạng thái nhận biết của chính y. Khi đó y có thể thâm nhập vào các huyền nhiệm thiêng liêng của tri thức, chia sẻ sự hiện diện khắp nơi thiêng liêng và—theo ý muốn—biểu lộ toàn tri thiêng liêng và chuẩn bị để biểu hiện trong tâm thức trọn vẹn toàn năng thiêng liêng.

I am using words which are futile to convey the underlying meaning of the Word. Understanding can only be arrived at when a man lives the Word, hearing its soundless Sound and breathing it forth in a vital life-giving breath to others.

Tôi đang dùng những từ ngữ bất lực để chuyển đạt ý nghĩa nền tảng của Linh từ. Sự thấu hiểu chỉ có thể đạt được khi một người sống Linh từ, nghe Âm Thanh vô thanh của nó và thở nó ra trong một hơi thở sinh động ban sự sống cho người khác.

The masses are hearing the sound of the A.U.M. and, in their higher brackets, are finding that A.U.M. the expression of something from which they seek release. The aspirants and disciples of the World are hearing the O.M. and in their personal lives the A.U.M. and the O.M. are in conflict. This may represent a new idea to you, but it conveys an idea of an eternal fact. It may help you to gain an understanding [54] of this phase if I point out for you that for this first group the O.M. can be portrayed in the following symbol as expressing the material M nature whereas the second group can be portrayed by the symbol m expressive of the soul enveloped in matter. You will see, therefore, how the teaching leads man progressively onward and how the occult science brings man in touch with great mental reversals and divine paradoxes. For aeons the Word of the soul and the Sound of spiritual reality are lost. Today, the Word of the soul is being found again, and with that finding the little self is lost in the glory and the radiance of the divine Self.

Quần chúng đang nghe âm thanh của A.U.M. và, trong những tầng lớp cao hơn của họ, đang thấy rằng A.U.M. ấy là biểu hiện của một điều gì đó mà họ tìm cách thoát khỏi. Những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới đang nghe O.M. và trong đời sống cá nhân của họ A.U.M. và O.M. đang xung đột. Điều này có thể là một ý tưởng mới đối với các bạn, nhưng nó chuyển đạt một ý niệm về một sự kiện vĩnh cửu. Có thể điều này sẽ giúp các bạn đạt được sự thấu hiểu [54] về giai đoạn này nếu tôi chỉ ra cho các bạn rằng đối với nhóm thứ nhất này, O.M. có thể được mô tả bằng biểu tượng sau như biểu lộ bản chất vật chất M, trong khi nhóm thứ hai có thể được mô tả bằng biểu tượng m biểu lộ linh hồn được bao bọc trong vật chất. Vì vậy các bạn sẽ thấy giáo huấn dẫn dắt con người tiến lên dần dần như thế nào và khoa học huyền bí đưa con người tiếp xúc với những đảo ngược trí tuệ lớn lao và những nghịch lý thiêng liêng ra sao. Trong nhiều đại kiếp, Linh từ của linh hồn và Âm Thanh của thực tại tinh thần đã bị thất lạc. Ngày nay, Linh từ của linh hồn đang được tìm lại, và cùng với sự tìm lại ấy, tiểu ngã bị mất hút trong vinh quang và hào quang của Đại Ngã thiêng liêng.

This discovery is consummated at the time of the third initiation. The initiate and the Master, along with those of higher rank who are approaching identification with Shamballa, are steadily and ever more clearly hearing the Sound emanating from the Central Spiritual Sun and penetrating all forms of divine life upon our planet—via our Planetary Logos Who hears it with clarity and with understanding—the Sound of the lowest syllable of the Ineffable Name of the One in Whom all the Planetary Logoi live and move and have Their Being, for They are centres in the LIFE which is expressing itself through the medium of a solar system.

Sự khám phá này được hoàn tất vào thời điểm của lần điểm đạo thứ ba. Điểm đạo đồ và Chân sư, cùng với những vị có cấp bậc cao hơn đang tiến gần đến sự đồng hoá với Shamballa, đang đều đặn và ngày càng rõ ràng hơn nghe được Âm Thanh phát ra từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương và xuyên thấu mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng trên hành tinh chúng ta—qua Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đấng nghe nó với sự minh xác và thấu hiểu—Âm Thanh của âm tiết thấp nhất của Danh Xưng Bất Khả Ngôn của Đấng mà trong Ngài tất cả các Hành Tinh Thượng đế sống, chuyển động và hiện hữu, vì Các Ngài là những trung tâm trong SỰ SỐNG đang biểu lộ qua trung gian của một hệ mặt trời.

You can see how little use there is in my enlarging further upon this. Its sole usefulness is to give an expanding impulse to the consciousness of the disciple and to stir his imagination (the seed of the intuition), so that even whilst occupied in expressing the M and then the m, he will be reaching out after the Sound.

Các bạn có thể thấy việc tôi khai triển thêm về điều này ít hữu ích đến mức nào. Công dụng duy nhất của nó là tạo ra một xung lực mở rộng cho tâm thức của đệ tử và khuấy động sự tưởng tượng của y (hạt giống của trực giác), để ngay cả khi đang bận biểu lộ M rồi đến m, y vẫn vươn tới Âm Thanh.

Earlier I pointed out that the sound of the A.U.M., the sound of the O.M. and the SOUND itself are all related to vibration and to its differing and varied effects. The secret of the Law of Vibration is progressively revealed as people learn to sound forth the Word in its three aspects. Students would also do well to ponder on the distinction between the breath and the Sound, between the process of breathing and of creating directed vibratory activity. The one is related to Time and the other to Space and they are distinct from each other; and (as the Old Commentary puts it) “the Sound, the [55] final and yet initiating Sound, concerns that which is neither Time nor Space; it lies outside the manifested ALL, the Source of all that is and yet is naught.” (No thing. A.A.B.)

Trước đây tôi đã chỉ ra rằng âm thanh của A.U.M., âm thanh của O.M. và chính ÂM THANH đều liên hệ với rung động và với các hiệu quả khác nhau và đa dạng của nó. Bí mật của Định luật Rung động được mặc khải dần dần khi con người học cách xướng Linh từ trong ba phương diện của nó. Các đạo sinh cũng nên suy ngẫm về sự phân biệt giữa hơi thở và Âm Thanh, giữa tiến trình hô hấp và việc tạo ra hoạt động rung động có định hướng. Một cái liên hệ với Thời gian và cái kia liên hệ với Không gian, và chúng khác biệt với nhau; và (như Cổ Luận nói) “Âm Thanh, [55] Âm Thanh cuối cùng nhưng cũng là khởi đầu, liên quan đến cái không phải Thời gian cũng không phải Không gian; nó nằm ngoài TẤT CẢ biểu hiện, Nguồn cội của mọi cái đang là mà vẫn là hư vô.” (Không phải vật nào. A.A.B.)

There are, therefore, great points of tension from which the Sacred Word, in its major aspects, goes forth. Let me list them for you:

Vì vậy, có những điểm tập trung nhất tâm lớn lao mà từ đó Linh từ Thiêng liêng, trong các phương diện chính yếu của nó, phát ra. Hãy để tôi liệt kê chúng cho các bạn:

1. The creative point of tension—a tension achieved by a planetary Logos when He responds to the Sound of the Ineffable Name and breathes it forth in His turn in three great Sounds which made one Sound on His Own plane of expression, thus creating the manifested world, the impulse towards the unfoldment of consciousness, and the influence of life itself. This is the Sound.

1. Điểm tập trung nhất tâm sáng tạo—một sự nhất tâm đạt được bởi một Hành Tinh Thượng đế khi Ngài đáp ứng với Âm Thanh của Danh Xưng Bất Khả Ngôn và đến lượt Ngài thở nó ra thành ba Đại Âm tạo nên một Âm Thanh trên cõi biểu lộ riêng của Ngài, nhờ đó tạo ra thế giới biểu hiện, xung lực hướng tới sự khai mở của tâm thức, và ảnh hưởng của chính sự sống. Đây là ÂM THANH.

2. Seven points of tension on the downward or involutionary arc; these produce the seven planets, the seven states of consciousness, and the expression of the seven ray impulses. This constitutes the sevenfold A.U.M. of which the Ageless Wisdom takes note. It is related to the effect of spirit or life upon substance, thus originating form and creating the prison of the divine life.

2. Bảy điểm tập trung nhất tâm trên cung đi xuống hay cung giáng hạ tiến hoá; chúng tạo ra bảy hành tinh, bảy trạng thái tâm thức, và sự biểu lộ của bảy xung lực cung. Điều này cấu thành A.U.M. thất phân mà Minh Triết Ngàn Đời ghi nhận. Nó liên hệ với hiệu quả của tinh thần hay sự sống lên chất liệu, nhờ đó khởi sinh hình tướng và tạo ra nhà tù của sự sống thiêng liêng.

3. The A.U.M. itself or the Word made flesh; this creates finally a point of tension in the fourth kingdom in nature, at which point the evolutionary cycle becomes possible and the first dim note of the O.M. can be faintly heard. In the individual man this point is reached when the personality is an integrated and functioning whole and the soul is beginning to control it. It is an accumulative tension arrived at through many lives. This process is expressed in the Masters’ Archives as follows:

3. Chính A.U.M. hay Linh từ thành nhục thể; điều này cuối cùng tạo ra một điểm tập trung nhất tâm trong giới thứ tư trong thiên nhiên, tại điểm đó chu kỳ tiến hoá trở nên khả hữu và nốt mờ nhạt đầu tiên của O.M. có thể được nghe thấy lờ mờ. Trong con người cá nhân, điểm này đạt được khi phàm ngã là một toàn thể tích hợp và hoạt động, và linh hồn đang bắt đầu kiểm soát nó. Đó là một sự nhất tâm tích lũy đạt được qua nhiều kiếp sống. Tiến trình này được diễn tả trong Văn khố của các Chân sư như sau:

2.-rule-one-quy-lu-t-m-t-b-n-01.png

You must remember that these symbols are an attempt on my part to translate ancient signatures in modern occidental type. The only one which is the same in all languages is, esoterically, the A.U.M. [56]

Các bạn phải nhớ rằng những biểu tượng này là một nỗ lực của tôi nhằm chuyển dịch các ký hiệu cổ xưa sang kiểu chữ phương Tây hiện đại. Biểu tượng duy nhất giống nhau trong mọi ngôn ngữ, theo nghĩa huyền bí, là A.U.M. [56]

4. Then comes a point of tension from which the man eventually achieves liberation from the three worlds and stands as a free soul; he is then a point within the circle—the point indicating the point of tension from which he now works, and the circle the sphere of his self-initiated activity.

4. Rồi đến một điểm tập trung nhất tâm mà từ đó con người cuối cùng đạt được sự giải thoát khỏi ba cõi giới và đứng như một linh hồn tự do; khi ấy y là một điểm trong vòng tròn—điểm chỉ ra điểm tập trung nhất tâm mà từ đó y hiện đang làm việc, còn vòng tròn là khối cầu hoạt động do chính y khởi xướng.

I need not carry the story further; from tension to tension the initiate passes just as do all human beings, aspirants, disciples and the lower grades of initiates; from one expansion of consciousness to another they go until the third initiation is undergone and points of tension (qualified by intension and purpose) supersede all previous efforts and the will aspect begins to control.

Tôi không cần kể tiếp câu chuyện; từ điểm tập trung nhất tâm này sang điểm tập trung nhất tâm khác, điểm đạo đồ tiến bước cũng như mọi con người, những người chí nguyện, các đệ tử và các cấp thấp của điểm đạo đồ đều tiến bước; từ sự mở rộng tâm thức này sang sự mở rộng tâm thức khác họ đi tới cho đến khi lần điểm đạo thứ ba được trải qua và các điểm tập trung nhất tâm (được định tính bởi chủ tâm và mục đích) thay thế mọi nỗ lực trước đó và phương diện ý chí bắt đầu kiểm soát.

Here, briefly, is a fresh slant upon the familiar theme of the Word—a theme preserved in some form by all the world religions but a theme which, like all else, has been so materialised that it is the task of the Hierarchy to restore the knowledge of its meaning, of its threefold application and its involutionary and evolutionary significances. Students would do well to remember that its sounding forth vocally upon the physical plane means little. The important factors are to sound it silently, inaudibly and within the head; then, having done so, to hear it reverberate there and to recognise that this self-initiated Sound—breathed forth from a point of tension—is a part of the original SOUND as it takes form as a Word. When a man perfectly empresses the A.U.M., he can then sound the O.M. with effectiveness from progressive points of tension, until the third initiation. Then the effect of the O.M. is such that the personality as a separate identity disappears, the soul emerges in all its glory, and the first faint sound of the originating SOUND breaks upon the ear of the transfigured initiate. This is the Voice referred to in the Biblical account of the Transfiguration. This Voice says, “This is my beloved Son.” The initiate registers the fact that he has been accepted by Shamballa and has made his first contact with the Planetary Logos, the Hierophant, the Initiator at the third initiation, just as the Christ, the Master of all the Masters, is the Initiator and the Hierophant at the first two initiations.

Ở đây, vắn tắt, là một góc nhìn mới về chủ đề quen thuộc của Linh từ—một chủ đề được mọi tôn giáo thế giới bảo tồn dưới một hình thức nào đó nhưng là một chủ đề mà, như mọi điều khác, đã bị vật chất hóa đến mức nhiệm vụ của Thánh đoàn là khôi phục tri thức về ý nghĩa của nó, về sự ứng dụng tam phân của nó và về các thâm nghĩa giáng hạ tiến hoá và tiến hoá của nó. Các đạo sinh nên nhớ rằng việc xướng nó thành tiếng trên cõi hồng trần có rất ít ý nghĩa. Những yếu tố quan trọng là xướng nó trong im lặng, không nghe được và bên trong đầu; rồi, sau khi làm như vậy, nghe nó vang dội ở đó và nhận ra rằng Âm Thanh do chính mình khởi xướng này—được thở ra từ một điểm tập trung nhất tâm—là một phần của ÂM THANH nguyên thủy khi nó mang hình thức như một Linh từ. Khi một người biểu lộ hoàn hảo A.U.M., khi ấy y có thể xướng O.M. một cách hữu hiệu từ những điểm tập trung nhất tâm tiến triển, cho đến lần điểm đạo thứ ba. Khi đó hiệu quả của O.M. là phàm ngã như một bản sắc riêng biệt biến mất, linh hồn xuất hiện trong toàn bộ vinh quang của nó, và âm thanh mờ nhạt đầu tiên của ÂM THANH khởi nguyên đập vào tai của điểm đạo đồ đã biến hình. Đây là Tiếng Nói được nhắc đến trong câu chuyện Kinh Thánh về sự Biến hình. Tiếng Nói này nói: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Điểm đạo đồ ghi nhận sự kiện rằng y đã được Shamballa chấp nhận và đã thực hiện sự tiếp xúc đầu tiên của mình với Đức Hành Tinh Thượng đế, Đấng Giáo Chủ, Đấng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ ba, cũng như Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư, là Đấng Điểm đạo và Đấng Giáo Chủ trong hai lần điểm đạo đầu tiên.

[57]

[57]

The Word, however, with which we are now dealing is not the Sacred Word itself, but a signal or sound of acceptance. It is translated in this Rule by the phrase: Accepted as a group. This refers to aggregates and blended combinations through which the Soul in relation to personalities, the Monad in relation to the Spiritual Triad, the Master in relation to His Ashram, and Shamballa in relation to the Hierarchy, can work, expressing plan in the initial stages of contact, and purpose in the final stages. Bear in mind that the analogy holds true all the way through. A personality is an aggregate of forms and of substantial lives which, when fused and blended, present a unified sumtotal, animated by desire or aspiration, by plan or purpose, and functioning in its place under the inspiration of a self-initiated inner programme. Progress, from the larger angle and from the standpoint of Those Who see life in terms of ever enlarging Wholes, is from group to group.

Tuy nhiên, Linh từ mà hiện nay chúng ta đang bàn đến không phải là chính Linh từ Thiêng liêng, mà là một tín hiệu hay âm thanh chấp nhận. Nó được dịch trong Quy luật này bằng cụm từ: Được chấp nhận như một nhóm. Điều này nói đến những tập hợp và những kết hợp dung hợp mà qua đó linh hồn trong liên hệ với các phàm ngã, chân thần trong liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần, Chân sư trong liên hệ với ashram của Ngài, và Shamballa trong liên hệ với Thánh đoàn, có thể hoạt động, biểu lộ Thiên Cơ trong các giai đoạn đầu của sự tiếp xúc, và mục đích trong các giai đoạn cuối. Hãy ghi nhớ rằng sự tương đồng này đúng xuyên suốt. Một phàm ngã là một tập hợp của các hình tướng và các sự sống chất liệu mà, khi được dung hợp và hòa trộn, trình hiện một tổng thể hợp nhất, được sinh động bởi dục vọng hay khát vọng, bởi kế hoạch hay mục đích, và hoạt động tại vị trí của nó dưới cảm hứng của một chương trình nội tại do chính nó khởi xướng. Sự tiến bộ, xét từ góc độ lớn hơn và từ quan điểm của Những Đấng nhìn sự sống theo các Toàn Thể ngày càng mở rộng, là từ nhóm này sang nhóm khác.

This pronouncement, issuing from a point of tension, is the Word of the soul as it integrates with the threefold personality when that personality is consciously ready for such a fusion. The hold of the soul upon its instruments of expression, the network of the seven centres and the subsidiary centres, becomes intensified and energy pours in, forcing the acquiescent personality fully to express the ray type of the soul, and therefore subordinating the ray of the personality (and its three subsidiary rays) to the dominating soul energy. This first great integration is a fusion of force with energy. Here is a statement of deep import, embodying one of the first lessons an initiate has to master. It is one which can only be properly comprehended through life experience, subject to interpretation in the world of meaning. Some understanding of what this implies will come as the disciple masters the distinction between soul activity and the action of matter, between emotion and love, between the intelligent will and the mind, between plan and purpose. In so doing he acquires the capacity to find his point of tension at any given moment, and this growing capacity eventually brings him consciously to recognise group after [58] group as units with which identification must be sought.

Lời tuyên bố này, phát ra từ một điểm tập trung nhất tâm, là Linh từ của linh hồn khi nó tích hợp với phàm ngã tam phân khi phàm ngã ấy có ý thức sẵn sàng cho một sự dung hợp như vậy. Sự nắm giữ của linh hồn trên các khí cụ biểu lộ của nó, mạng lưới bảy trung tâm và các trung tâm phụ, trở nên mạnh hơn và năng lượng tuôn vào, buộc phàm ngã thuận phục phải biểu lộ trọn vẹn loại cung của linh hồn, và do đó đặt cung phàm ngã (và ba cung phụ của nó) dưới năng lượng linh hồn thống trị. Sự tích hợp lớn lao đầu tiên này là sự dung hợp của lực với năng lượng. Đây là một phát biểu có ý nghĩa sâu xa, bao hàm một trong những bài học đầu tiên mà một điểm đạo đồ phải làm chủ. Đó là điều chỉ có thể được lĩnh hội đúng đắn qua kinh nghiệm sống, tùy thuộc vào sự diễn giải trong thế giới của ý nghĩa. Một phần thấu hiểu về điều này sẽ đến khi đệ tử làm chủ được sự phân biệt giữa hoạt động của linh hồn và tác động của vật chất, giữa cảm xúc và bác ái, giữa ý chí thông tuệ và trí tuệ, giữa kế hoạch và mục đích. Khi làm như vậy, y đạt được khả năng tìm ra điểm tập trung nhất tâm của mình vào bất kỳ lúc nào, và khả năng ngày càng tăng này cuối cùng đưa y đến chỗ có ý thức nhận ra hết nhóm này [58] đến nhóm khác như những đơn vị mà y phải tìm cách đồng hoá với.

He finds his soul through the fusion of soul and personality; he finds his group through the absorption of this fusing soul-form with a Master’s group, and finally he is absorbed into the Master’s Ashram; there he, in concert with his group brothers in that Ashram, is fused and blended with the Hierarchy and hears the extension of the Word, spoken originally by his soul: Accepted as a group. Later, much later, he participates at that august recognition which comes when the Voice issues forth—as annually it does—from the centre at Shamballa and the seal is set on the acceptance of the Hierarchy, with all its new associates, by the Lord of the World. This acceptance involves those initiates of the third degree who have been integrated more closely into the hierarchical life than ever before. This is the signal to them (and to their Seniors Who have heard it year after year) that they are part of the instrument whose purpose is to fulfill the plan. Thus the great syntheses are slowly taking place. It has taken many aeons, for evolution (especially in the earlier stages) moves slowly.

Y tìm thấy linh hồn của mình qua sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã; y tìm thấy nhóm của mình qua sự hấp thu hình tướng-linh hồn đang dung hợp này vào nhóm của một Chân sư, và cuối cùng y được hấp thu vào ashram của Chân sư; tại đó y, cùng với các huynh đệ đồng nhóm của mình trong ashram ấy, được dung hợp và hòa trộn với Thánh đoàn và nghe sự mở rộng của Linh từ, vốn ban đầu được linh hồn của y xướng lên: Được chấp nhận như một nhóm. Về sau, rất lâu về sau, y tham dự vào sự công nhận uy nghi ấy đến khi Tiếng Nói phát ra—như hằng năm vẫn vậy—từ trung tâm tại Shamballa và ấn tín được đặt lên sự chấp nhận của Thánh đoàn, cùng với tất cả các cộng sự mới của nó, bởi Đức Chúa Tể Thế Giới. Sự chấp nhận này bao gồm những điểm đạo đồ bậc ba đã được tích hợp chặt chẽ vào đời sống của Thánh đoàn hơn bao giờ hết. Đây là tín hiệu cho họ (và cho các Bậc Trưởng Thượng của họ, những vị đã nghe nó năm này qua năm khác) rằng họ là một phần của khí cụ có mục đích là hoàn thành Thiên Cơ. Như vậy các tổng hợp lớn lao đang chậm rãi diễn ra. Điều này đã mất nhiều đại kiếp, vì tiến hoá (đặc biệt trong các giai đoạn đầu) vận động chậm chạp.

In the post-war period and when the new structure of the coming world order is taking shape, the process will be speeded considerably; this will not, however, be for a hundred years, which is but a brief moment in the eternal history of humanity. From synthesis to synthesis the life of God passes. First the synthesis of the atomic lives into ever more perfect forms until the three kingdoms of nature appear; then the synthesis in consciousness, enabling the human being to enter into the larger awareness of the Whole and finally to enter into that mysterious event which is the result of the effect of all preceding developments and to which we give the name of Identification. From the first identification, which is the higher correspondence of the stage of individualisation, progressive absorption into ever larger wholes takes place, and each time the Word goes forth: Accepted as a group.

Trong thời kỳ hậu chiến và khi cấu trúc mới của trật tự thế giới sắp đến đang thành hình, tiến trình này sẽ được tăng tốc đáng kể; tuy nhiên, điều đó sẽ không xảy ra trong một trăm năm nữa, mà đó chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi trong lịch sử vĩnh cửu của nhân loại. Từ tổng hợp này sang tổng hợp khác, sự sống của Thượng đế đi qua. Trước hết là sự tổng hợp của các sự sống nguyên tử thành những hình tướng ngày càng hoàn hảo hơn cho đến khi ba giới của thiên nhiên xuất hiện; rồi đến sự tổng hợp trong tâm thức, giúp con người đi vào nhận biết lớn hơn về Toàn Thể và cuối cùng đi vào biến cố huyền nhiệm là kết quả của tác động của mọi phát triển đi trước và mà chúng ta gọi là Đồng Hoá. Từ sự đồng hoá đầu tiên, vốn là tương ứng cao hơn của giai đoạn biệt ngã hóa, sự hấp thu tiến triển vào những toàn thể ngày càng lớn hơn diễn ra, và mỗi lần như vậy Linh từ lại phát ra: Được chấp nhận như một nhóm.

Have I succeeded in giving you a somewhat wider vision of the significance of initiation in these brief expositions? [59] Do you see more clearly the growing beauty of the Whole and the goodness of the Purpose and the wisdom of the Plan? Do you realise more deeply that beauty, goodness and wisdom are not qualities, as their inadequate nomenclature would imply, but are great facts in manifestation? Do you grasp the truth that they are not descriptive of Deity but are the names of Lives of a potency and activity of which men can as yet know nothing?

Liệu tôi đã thành công trong việc đem đến cho các bạn một tầm nhìn phần nào rộng hơn về ý nghĩa của điểm đạo trong những trình bày ngắn gọn này chăng? [59] Các bạn có thấy rõ hơn vẻ đẹp ngày càng tăng của Toàn Thể và sự thiện của Mục Đích và minh triết của Thiên Cơ không? Các bạn có nhận ra sâu sắc hơn rằng vẻ đẹp, sự thiện và minh triết không phải là những phẩm tính, như danh xưng không đầy đủ của chúng hàm ý, mà là những sự kiện lớn lao trong biểu hiện không? Các bạn có nắm được chân lý rằng chúng không mô tả Thượng đế mà là tên gọi của những Sự Sống có quyền năng và hoạt động mà con người hiện vẫn chưa thể biết gì không?

Some understanding of this must slowly seep into the mind and consciousness of each disciple as that mind becomes irradiated by soul light in the earlier stages, and later responds to the impact of energy coming from the Spiritual Triad. Only when this is visioned, even if not understood, will the realisation come to the struggling disciple that the words:

Một phần thấu hiểu về điều này phải từ từ thấm vào trí tuệ và tâm thức của mỗi đệ tử khi trí tuệ ấy được ánh sáng linh hồn chiếu rọi trong các giai đoạn đầu, và về sau đáp ứng với tác động của năng lượng đến từ Tam Nguyên Tinh Thần. Chỉ khi điều này được linh thị, dù chưa được thấu hiểu, thì sự chứng nghiệm mới đến với người đệ tử đang vật lộn rằng những lời:

2. Withdraw not now your application. You could not if you would; but add to it three great demands and forward move

2. Đừng rút lại sự thỉnh cầu của các bạn lúc này. Các bạn không thể, dù có muốn; nhưng hãy thêm vào đó ba đòi hỏi lớn lao và tiến bước

are a living command conditioning him whether he will or not. The inability to withdraw from the position taken is one of the first true results of hearing the Word spoken after passing the two tests. There is an inevitability in living the life of the Spirit which is at once its horror and its joy. I mean just that. The symbol or first expression of this (for all in the three worlds is but the symbol of an inner reality) is the driving urge to betterment which is the outstanding characteristic of the human animal. From discontent to discontent he passes, driven by an inner something which constantly reveals to him an enticing vision of that which is more desirable than his present state and experience. At first this is interpreted by him in terms of material welfare; then this divine discontent drives him into a phase of the struggle which is emotional in nature; he craves emotional satisfaction and later intellectual pursuits. All the time this struggle to attain something ever on ahead creates the instruments of attainment, gradually perfecting them until the threefold personality is ready for a vision of the soul. From that point of tension the urge and the struggle become more [60] acute, until Rule One for Applicants is understood by him and he steps upon the Path.

là một mệnh lệnh sống động đang tác động lên y dù y muốn hay không. Sự bất lực không thể rút lui khỏi vị trí đã chọn là một trong những kết quả chân thực đầu tiên của việc nghe Linh từ được xướng lên sau khi vượt qua hai cuộc thử thách. Có một tính tất yếu trong việc sống đời sống của Tinh thần, vừa là nỗi kinh hoàng vừa là niềm hoan hỉ của nó. Tôi muốn nói đúng như vậy. Biểu tượng hay biểu hiện đầu tiên của điều này (vì mọi sự trong ba cõi giới chỉ là biểu tượng của một thực tại nội tại) là sự thôi thúc mãnh liệt hướng đến cải thiện, vốn là đặc tính nổi bật của con người thú. Từ bất mãn này sang bất mãn khác y đi qua, bị thúc đẩy bởi một cái gì đó bên trong luôn luôn phơi bày cho y một linh ảnh quyến rũ về điều gì đó đáng mong muốn hơn trạng thái và kinh nghiệm hiện tại của y. Lúc đầu điều này được y diễn giải theo các điều kiện phúc lợi vật chất; rồi sự bất mãn thiêng liêng này đẩy y vào một giai đoạn đấu tranh có bản chất cảm xúc; y khao khát sự thỏa mãn cảm xúc và về sau là những theo đuổi trí tuệ. Suốt thời gian ấy, cuộc đấu tranh để đạt đến một điều gì đó luôn ở phía trước tạo ra các khí cụ để đạt được, dần dần hoàn thiện chúng cho đến khi phàm ngã tam phân sẵn sàng cho một linh ảnh về linh hồn. Từ điểm tập trung nhất tâm đó, sự thôi thúc và cuộc đấu tranh trở nên [60] gay gắt hơn, cho đến khi Quy luật Một dành cho những Người Thỉnh Cầu được y hiểu và y bước lên Con Đường.

Once he is an accepted disciple and has definitely undertaken the work in preparation for initiation, there is for him no turning back. He could not if he would, and the Ashram protects him.

Một khi y là một đệ tử được chấp nhận và đã dứt khoát đảm nhận công việc chuẩn bị cho điểm đạo, thì đối với y không còn sự quay lui. Y không thể, dù có muốn, và ashram bảo vệ y.

In this Rule for accepted disciples and initiates we are faced with a similar condition on a higher turn of the spiral, but with this difference (one which you can hardly grasp unless at the point where the Word goes forth to you): that the initiate stands alone in “isolated unity,” aware of his mysterious oneness with all that is. The urge which distinguished his progress in arriving at personality-soul fusion is transmuted into fixity of intention, ability to move forward into the clear cold light of the undimmed reason, free from all glamour and illusion and having now the power to voice the three demands. This he can now do consciously and by the use of the dynamic will instead of making “application in triple form” as was the case before. This distinction is vital and significant of tremendous growth and development.

Trong Quy luật này dành cho các đệ tử được chấp nhận và các điểm đạo đồ, chúng ta đối diện với một tình trạng tương tự trên một vòng xoắn cao hơn, nhưng với điểm khác biệt này (một điểm mà các bạn khó có thể nắm được trừ phi ở chính điểm mà Linh từ phát ra cho các bạn): rằng điểm đạo đồ đứng một mình trong “Hợp Nhất Cô Lập,” nhận biết sự hợp nhất huyền nhiệm của mình với tất cả những gì hiện hữu. Sự thôi thúc đã phân biệt sự tiến bộ của y trong việc đạt đến sự dung hợp phàm ngã-linh hồn được chuyển hoá thành sự kiên định của chủ ý, khả năng tiến vào ánh sáng trong trẻo lạnh lùng của lý trí không mờ tối, thoát khỏi mọi ảo cảm và ảo tưởng và giờ đây có quyền năng để phát biểu ba đòi hỏi. Giờ đây y có thể làm điều này một cách có ý thức và bằng việc sử dụng ý chí năng động thay vì đưa ra “sự thỉnh cầu dưới hình thức tam phân” như trước kia. Sự phân biệt này là thiết yếu và biểu thị một sự tăng trưởng và phát triển to lớn.

The initiate has heard the Word which came forth to him when he was irrevocably committed to hierarchical purpose. He has heard the Voice from Shamballa just as he earlier heard the Voice of the Silence and the voice of his Master. Occult obedience gives place to enlightened will. He can now be trusted to walk and work alone because he is unalterably one with his group, with the Hierarchy, and finally with Shamballa.

Điểm đạo đồ đã nghe Linh từ phát ra cho y khi y đã dứt khoát cam kết với mục đích của Thánh đoàn. Y đã nghe Tiếng Nói từ Shamballa cũng như trước đây y đã nghe Tiếng Nói của Im Lặng và tiếng nói của Chân sư của mình. Sự tuân phục huyền bí nhường chỗ cho ý chí được soi sáng. Giờ đây y có thể được tin cậy để bước đi và làm việc một mình vì y bất biến là một với nhóm của mình, với Thánh đoàn, và cuối cùng với Shamballa.

The key to this whole Rule lies in the injunction to the initiate that he add to his application three demands, and only after they have been voiced and correctly expressed and motivated by the dynamic will, does the further injunction come that he move forward. What are these three demands, and by what right does the initiate make them? Hitherto the note of his expanding consciousness has been vision, effort, attainment and again vision. He has therefore been occupied with becoming aware of the field—an ever-increasing [61] and expanding area—of the divine revelation. In terms of practical occultism, he is recognising an ever widening sphere wherein he can serve with purpose and forward the Plan, once he has succeeded in identifying himself with that revelation. Until this revelation is an integral part of his life it is not possible for the initiate to comprehend the significance of these simple words. Identification is realisation, plus esoteric experience, plus again an absorption into the Whole, and for all of this (as I have earlier pointed out) we have no terminology. Now a master of that which has been seen and appropriated, and being conscious of and sensing that which lies ahead, the disciple “stands on his occult rights and makes his clear demands.”

Chìa khóa của toàn bộ Quy luật này nằm trong huấn lệnh dành cho điểm đạo đồ rằng y phải thêm vào sự thỉnh cầu của mình ba đòi hỏi, và chỉ sau khi chúng đã được phát biểu, được diễn đạt đúng đắn và được thúc đẩy bởi ý chí năng động, thì huấn lệnh tiếp theo mới đến là y phải tiến bước. Ba đòi hỏi này là gì, và điểm đạo đồ có quyền gì để đưa ra chúng? Cho đến nay, chủ âm của tâm thức đang mở rộng của y là linh thị, nỗ lực, thành tựu và rồi lại linh thị. Vì vậy y đã bận rộn với việc nhận biết lĩnh vực—một khu vực ngày càng tăng [61] và mở rộng—của sự mặc khải thiêng liêng. Xét theo huyền bí học thực hành, y đang nhận ra một khối cầu ngày càng rộng lớn hơn trong đó y có thể phụng sự với mục đích và thúc đẩy Thiên Cơ, một khi y đã thành công trong việc đồng hoá với sự mặc khải ấy. Chừng nào sự mặc khải này chưa là một phần toàn vẹn của đời sống y thì điểm đạo đồ chưa thể hiểu được ý nghĩa của những lời đơn giản này. Đồng hoá là chứng nghiệm, cộng với kinh nghiệm huyền bí, rồi lại cộng với sự hấp thu vào Toàn Thể, và cho tất cả điều này (như tôi đã chỉ ra trước đây) chúng ta không có thuật ngữ. Giờ đây, là bậc thầy của điều đã được thấy và chiếm lĩnh, và có ý thức cũng như cảm nhận điều nằm phía trước, đệ tử “đứng trên các quyền huyền bí của mình và đưa ra những đòi hỏi minh xác.”

What these demands are can be ascertained by remembering that all that the initiate undergoes and all that he enacts is the higher and esoteric correspondence of the triple manifestation of spirit-energy which distinguished the first and earliest phase of his unfoldment. That is the personality. I would like to call attention to the word “unfoldment,” for it is perhaps the most explicit and correct word to use anent the evolutionary process. There is no better in your language. The initiate has ever been. The divine Son of God has ever known himself for what he is. An initiate is not the result of the evolutionary process. He is the cause of the evolutionary process, and by means of it he perfects his vehicles of expression until he becomes initiate in the three worlds of consciousness and the three worlds of identification.

Những đòi hỏi này là gì có thể được xác định bằng cách nhớ rằng tất cả những gì điểm đạo đồ trải qua và tất cả những gì y thực hiện là sự tương ứng cao hơn và huyền bí hơn của biểu hiện tam phân của năng lượng-tinh thần vốn đã phân biệt giai đoạn đầu tiên và sớm nhất của sự khai mở của y. Đó là phàm ngã. Tôi muốn lưu ý đến từ “khai mở,” vì đó có lẽ là từ minh xác và đúng đắn nhất để dùng liên quan đến tiến trình tiến hoá. Không có từ nào tốt hơn trong ngôn ngữ của các bạn. Điểm đạo đồ luôn luôn đã hiện hữu. Con thiêng liêng của Thượng đế luôn luôn biết mình là gì. Một điểm đạo đồ không phải là kết quả của tiến trình tiến hoá. Y là nguyên nhân của tiến trình tiến hoá, và nhờ phương tiện đó y hoàn thiện các vận cụ biểu lộ của mình cho đến khi y trở thành điểm đạo đồ trong ba thế giới của tâm thức và ba thế giới của đồng hoá.

According to ray type this unfoldment proceeds, and each triple stage of the lower unfoldment makes possible later (in time and space) the higher unfoldment in the world of the Spiritual Triad. What I am doing in these instructions is to indicate the relation between the threefold personality and the Spiritual Triad, linked and brought together by the antahkarana. Each of these three lower aspects has its own note and it is these notes which produce the sounding forth of the three demands which evoke response from the Spiritual Triad and thus reach the Monad in its high place of waiting in Shamballa.

Theo loại cung, sự khai mở này tiến hành, và mỗi giai đoạn tam phân của sự khai mở thấp hơn về sau làm cho sự khai mở cao hơn trở nên khả hữu (trong thời gian và không gian) trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Điều tôi đang làm trong các chỉ huấn này là chỉ ra mối liên hệ giữa phàm ngã tam phân và Tam Nguyên Tinh Thần, được nối kết và đưa lại gần nhau bởi antahkarana. Mỗi phương diện thấp hơn trong ba phương diện này đều có chủ âm riêng của nó và chính những chủ âm này tạo ra việc xướng lên ba đòi hỏi, những đòi hỏi gợi lên sự đáp ứng từ Tam Nguyên Tinh Thần và nhờ đó vươn tới chân thần ở nơi cao của nó đang chờ đợi tại Shamballa.

[62]

[62]

In 1922, in my book Letters on Occult Meditation I laid the foundation in my first chapter for the more advanced teaching which I am now giving. There I was dealing with the alignment of the ego with the personality, and this was the first time that the entire theme of alignment was brought definitely into focus, for alignment is the first step towards fusion, and later towards the mysteries of identification. Let me quote:

Năm 1922, trong cuốn Letters on Occult Meditation của tôi, tôi đã đặt nền móng trong chương đầu tiên cho giáo huấn cao cấp hơn mà hiện nay tôi đang ban ra. Ở đó tôi đang bàn đến sự chỉnh hợp của chân ngã với phàm ngã, và đó là lần đầu tiên toàn bộ chủ đề chỉnh hợp được đưa vào trọng tâm một cách rõ rệt, vì chỉnh hợp là bước đầu tiên hướng tới sự dung hợp, và về sau hướng tới các huyền nhiệm của đồng hoá. Hãy để tôi trích dẫn:

“As time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of colour and tone is produced (a synonymous matter) until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned personality, the dominant fifth of the ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit. It is the dominant we seek at adeptship, and earlier the perfected third of the personality. During our various incarnations we strike and ring the changes on all the intervening notes, and sometimes our lives are major and sometimes minor, but always they tend to flexibility and greater beauty. In due time each note fits into its chord, the chord of the Spirit; each chord forms part of a phrase, the phrase or group to which the chord belongs; and the phrase goes to the completion of one seventh of the whole. The entire seven sections, then, complete the sonata of this solar system—a part of the threefold masterpiece of the Logos or God, the Master-Musician.” (Page 4).

“Khi thời gian trôi qua, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hòa về màu sắc và âm điệu được tạo ra (đó là cùng một vấn đề) cho đến khi cuối cùng bạn sẽ có nốt cơ bản của vật chất, quãng ba trưởng của phàm ngã đã chỉnh hợp, quãng năm chủ âm của chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của chân thần hay tinh thần. Chính quãng chủ âm là điều chúng ta tìm kiếm ở địa vị chân sư, và trước đó là quãng ba hoàn hảo của phàm ngã. Trong các lần lâm phàm khác nhau của chúng ta, chúng ta gõ lên và làm ngân vang những biến đổi trên tất cả các nốt trung gian, và đôi khi đời sống của chúng ta là trưởng và đôi khi là thứ, nhưng luôn luôn chúng có xu hướng hướng đến tính linh hoạt và vẻ đẹp lớn hơn. Đến lúc thích hợp, mỗi nốt hòa vào hợp âm của nó, hợp âm của Tinh thần; mỗi hợp âm tạo thành một phần của một câu nhạc, câu nhạc hay nhóm mà hợp âm ấy thuộc về; và câu nhạc góp phần hoàn tất một phần bảy của toàn bộ. Khi đó, toàn bộ bảy phần hoàn tất bản sonata của hệ mặt trời này—một phần của kiệt tác tam phân của Logos hay Thượng đế, Nhạc Sư-Chân sư.” (Trang 4).

We now arrive at a point which it is difficult for disciples to grasp. The initiate or disciple has reached a point in his evolution in which triplicity gives place to duality, prior to the attainment of complete unity. Only two factors are of concern to him as he “stands at the midway point,” and these are Spirit and Matter. Their complete identification within his consciousness becomes his major goal, but only in reference to the whole creative process and not now in reference to the separated self. It is this thought which motivates the service of the initiate, and it is this concept of wholeness gradually creeping into the world consciousness [63] which is indicating that humanity is on the verge of initiation. Therefore, it is the material aspect, “the perfected third of the Personality,” which makes possible the activity of the initiate as he sounds out his three demands. The “dominant fifth of the ego” makes itself heard at the third initiation, marking the attainment of at-one-ment, and this fades out at the fourth initiation. At that time the egoic vehicle, the causal body, disappears. Then only two divine aspects remain; the perfected, radiant, organised and active substance through which the initiate can work in full control, the matter aspect, and the dynamic life principle, the spirit aspect, with which that “substantial divine Reality” still awaits identification. It is this thought which underlies the initiate’s three demands which (according to the Rule earlier given to aspirants and disciples) must sound forth “across the desert, over all the seas and through the fires.”

Giờ đây chúng ta đi đến một điểm mà các đệ tử khó nắm bắt. Điểm đạo đồ hay đệ tử đã đạt đến một điểm trong tiến hoá của mình mà tại đó tính tam phân nhường chỗ cho nhị phân, trước khi đạt đến hợp nhất hoàn toàn. Chỉ có hai yếu tố là điều y quan tâm khi y “đứng tại điểm ở giữa,” và đó là Tinh thần và Vật chất. Sự đồng hoá hoàn toàn của chúng trong tâm thức y trở thành mục tiêu chính của y, nhưng chỉ trong liên hệ với toàn bộ tiến trình sáng tạo chứ không còn trong liên hệ với bản ngã phân ly. Chính tư tưởng này thúc đẩy sự phụng sự của điểm đạo đồ, và chính khái niệm về tính toàn thể này đang dần dần len vào tâm thức thế giới [63] là dấu hiệu cho thấy nhân loại đang ở trên bờ điểm đạo. Vì vậy, chính phương diện vật chất, “quãng ba hoàn hảo của Phàm ngã,” làm cho hoạt động của điểm đạo đồ trở nên khả hữu khi y xướng lên ba đòi hỏi của mình. “Quãng năm chủ âm của chân ngã” tự làm cho mình được nghe thấy ở lần điểm đạo thứ ba, đánh dấu sự đạt được hợp nhất, và điều này mờ dần ở lần điểm đạo thứ tư. Vào lúc đó hiện thể chân ngã, thể nguyên nhân, biến mất. Khi ấy chỉ còn lại hai phương diện thiêng liêng; chất liệu đã được hoàn thiện, rực sáng, có tổ chức và hoạt động mà qua đó điểm đạo đồ có thể làm việc trong sự kiểm soát trọn vẹn, tức phương diện vật chất, và nguyên khí sự sống năng động, tức phương diện tinh thần, mà với nó “Thực Tại thiêng liêng có chất liệu” ấy vẫn còn chờ đợi sự đồng hoá. Chính tư tưởng này nằm dưới ba đòi hỏi của điểm đạo đồ mà (theo Quy luật đã được ban ra trước đây cho những người chí nguyện và các đệ tử) phải được xướng lên “xuyên qua sa mạc, vượt trên mọi biển cả và xuyên qua lửa.”

It is not possible for me explicitly to give an understanding of the nature of these demands. I can only give you certain symbolic phrases which, intuitively interpreted, will give you a clue.

Tôi không thể minh bạch trao cho các bạn một sự thấu hiểu về bản chất của những đòi hỏi này. Tôi chỉ có thể trao cho các bạn một số cụm từ biểu tượng mà, nếu được diễn giải bằng trực giác, sẽ cho các bạn một đầu mối.

The first demand is made possible because “the desert life is passed; it flourished and it flowered, and then the drought arrived and man removed himself. That which had nourished and contained his life became an arid waste and naught was left but bones and dust and a deep thirst which naught in sight could satisfy.” Yet to the initiate consciousness it remains clear that the desert land must be made anew to flourish like a rose and that his task is the restoration (by the distribution of the waters of life) of its pristine beauty, and not the beauty of its false flowering. He demands, therefore, upon the note of the lower aspect of the personality (I am talking in symbols), that this flowering forth should take place according to the Plan. This involves upon his part a vision of that plan, identification with the underlying purpose, and the ability—through the medium of the higher mind, which is the lowest aspect of the Spiritual Triad—to work in the world of ideas and to create those forms of thought which will aid in the materialising of the [64] Plan in conformity with the Purpose. This is the creative work of thoughtform building and that is why, we are told, that the first great demand “sounds forth within the world of God’s ideas and towards the desert, a long time left behind. Upon that great demand the initiate who has pledged himself to serve the world returns into that desert, bringing with him the seed and water for which the desert cries.”

Đòi hỏi thứ nhất trở nên khả hữu vì “đời sống sa mạc đã qua; nó từng xanh tươi và nở hoa, rồi hạn hán đến và con người rời khỏi nó. Điều từng nuôi dưỡng và chứa đựng đời sống của y đã trở thành một vùng hoang vu khô cằn và chẳng còn gì ngoài xương và bụi và một cơn khát sâu xa mà không gì trong tầm mắt có thể làm thỏa mãn.” Tuy nhiên, đối với tâm thức của điểm đạo đồ, vẫn rõ ràng rằng vùng đất sa mạc phải được làm cho nở rộ trở lại như hoa hồng và nhiệm vụ của y là phục hồi (bằng sự phân phối các nước của sự sống) vẻ đẹp nguyên sơ của nó, chứ không phải vẻ đẹp của sự nở hoa giả tạo của nó. Vì vậy, trên chủ âm của phương diện thấp hơn của phàm ngã (tôi đang nói bằng biểu tượng), y đòi hỏi rằng sự nở rộ ấy phải diễn ra theo Thiên Cơ. Điều này bao hàm nơi y một linh thị về Thiên Cơ ấy, sự đồng hoá với mục đích nền tảng, và khả năng—qua trung gian của thượng trí, vốn là phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần—làm việc trong thế giới của các ý tưởng và tạo ra những hình tư tưởng sẽ trợ giúp trong việc hiện hình [64] Thiên Cơ phù hợp với Mục Đích. Đây là công việc sáng tạo của việc xây dựng hình tư tưởng và đó là lý do vì sao chúng ta được bảo rằng đòi hỏi lớn lao đầu tiên “xướng lên trong thế giới các ý tưởng của Thượng đế và hướng về sa mạc, đã bị bỏ lại từ lâu. Theo đòi hỏi lớn lao ấy, điểm đạo đồ đã thệ nguyện phụng sự thế giới quay trở lại sa mạc đó, mang theo hạt giống và nước mà sa mạc kêu gào.”

The second demand is related to the earlier cry of the disciple, which was sounded forth “over the seas.” It refers to the world of glamour in which humanity struggles, and to the emotional world in which mankind is sunk as if drowning in the ocean. We are told in the Bible, and the thought is based on information to be found in the Archives of the Masters, that “there shall be no more sea”; I told you that a time comes when the initiate knows that the astral plane no longer exists. For ever it has vanished and has gone. But when the initiate has freed himself from the realm of delusion, of fog, of mist and of glamour, and stands in the “clear cold light” of the buddhic or intuitional plane (the second or middle aspect of the Spiritual Triad), he arrives at a great and basic realisation. He knows that he must return (if such a foolish word can suffice) to the “seas” which he has left behind, and there dissipate the glamour. But he works now from “the air above and in the full light of day.” No longer does he struggle in the waves or sink immersed in the deep waters. Above the sea he hovers within the ocean of light, and pours that light into the depths. He carries thus the waters to the desert and the light divine into the world of fog.

Đòi hỏi thứ hai liên hệ với tiếng kêu trước đây của đệ tử, vốn đã được xướng lên “trên các biển cả.” Nó nói đến thế giới của ảo cảm trong đó nhân loại đang vật lộn, và đến thế giới cảm xúc trong đó loài người đang chìm ngập như thể đang chết đuối trong đại dương. Chúng ta được bảo trong Kinh Thánh, và tư tưởng này dựa trên thông tin có trong Văn khố của các Chân sư, rằng “sẽ không còn biển nữa”; tôi đã nói với các bạn rằng có một lúc điểm đạo đồ biết rằng cõi cảm dục không còn tồn tại nữa. Nó đã vĩnh viễn tan biến và ra đi. Nhưng khi điểm đạo đồ đã giải thoát mình khỏi lĩnh vực của mê lầm, của sương mù, của màn sương và của ảo cảm, và đứng trong “ánh sáng trong trẻo lạnh lùng” của cõi Bồ đề hay cõi trực giác (phương diện thứ hai hay trung gian của Tam Nguyên Tinh Thần), y đi đến một chứng nghiệm lớn lao và căn bản. Y biết rằng mình phải quay trở lại (nếu một từ ngớ ngẩn như thế có thể tạm đủ) với “biển cả” mà y đã bỏ lại phía sau, và tại đó làm tiêu tan ảo cảm. Nhưng giờ đây y làm việc từ “không khí bên trên và trong ánh sáng trọn vẹn của ban ngày.” Y không còn vật lộn trong sóng hay chìm ngập trong nước sâu nữa. Bên trên biển cả y lơ lửng trong đại dương ánh sáng, và tuôn ánh sáng ấy vào các vực sâu. Như vậy y mang nước đến sa mạc và ánh sáng thiêng liêng vào thế giới sương mù.

Yet he never leaves the place of identification, and all that he now does is carried forward from the levels attained at any particular initiation. All that he does “upon the desert, and over the seas” is undertaken through the power of thought, which directs the needed energy and certain destined and chosen forces so that the Plan (let me repeat myself) may go forward according to divine purpose through the power of the dynamic spiritual will. When you can [65] appreciate that the initiate of high degree works with monadic energy and not soul force, you can understand why he finds it necessary ever to work behind the scenes. He works with the soul aspect and through the power of monadic energy, using the antahkarana as a distributing agency. The disciples and initiates of the first two degrees work with soul force and through the medium of the centres. The personality works with forces.

Tuy nhiên, y không bao giờ rời khỏi nơi đồng hoá, và mọi điều y hiện làm đều được tiến hành từ các cấp độ đạt được ở bất kỳ lần điểm đạo cụ thể nào. Mọi điều y làm “trên sa mạc, và trên các biển cả” đều được thực hiện qua quyền năng của tư tưởng, vốn định hướng năng lượng cần thiết và một số mãnh lực đã được định sẵn và lựa chọn để Thiên Cơ (xin cho phép tôi lặp lại) có thể tiến triển phù hợp với mục đích thiêng liêng nhờ quyền năng của ý chí tinh thần năng động. Khi các bạn có thể [65] hiểu được rằng điểm đạo đồ cấp cao làm việc với năng lượng chân thần chứ không phải lực linh hồn, các bạn sẽ hiểu vì sao y thấy cần phải luôn luôn làm việc phía sau hậu trường. Y làm việc với phương diện linh hồn và qua quyền năng của năng lượng chân thần, sử dụng antahkarana như một tác nhân phân phối. Các đệ tử và điểm đạo đồ của hai cấp đầu làm việc với lực linh hồn và qua trung gian của các trung tâm. Phàm ngã làm việc với các lực.

The third great demand has in it a different implication, and sounds forth, we are told, “through the fires.” In this solar system there is no evading the fire. It is found at all levels of divine expression as we well know from our study of the three fires—fire by friction, solar fire and electric fire, with their differentiations, the forty-nine fires—of the seven planes. Always, therefore, whether it is the cry of the disciple or the demand of the initiate, the sound goes forth “through the fire, to the fire, and from the fire.” Of this technique, underlying the potent demand, there is little that I may say. From the highest plane of the spiritual will, what is technically called “the atmic plane,” the demand goes forth and the result of that demand will work out on mental levels, just as the earlier two demands worked out on the physical and astral levels. I would interject here that even though there is no astral plane, from the standpoint of the Master, yet thousands of millions recognise it and labour in its delusive sphere and are there aided by the initiated disciple working from the higher corresponding levels. This is true of all the planetary work, whether accomplished by initiates and Masters, working directly in the three worlds, or from higher levels, as work the Nirmanakayas (the creative Contemplatives of the planet), or from Shamballa from the Council Chamber of the Lord of the World. All the efforts of the Hierarchy or of the “conditioning Lives” (as They are sometimes called) of Shamballa are dedicated to the furthering of the evolutionary plan which will finally embody divine purpose. I keep emphasising this distinction between plan and purpose with deliberation, [66] because it indicates the next phase of the working of the intelligent will in the consciousness of humanity.

Nhu cầu lớn thứ ba hàm chứa một ý nghĩa khác, và như chúng ta được bảo, nó vang lên “xuyên qua các ngọn lửa.” Trong hệ mặt trời này, không có việc né tránh Lửa. Lửa hiện diện ở mọi cấp độ biểu lộ thiêng liêng như chúng ta đều biết rõ qua việc nghiên cứu ba ngọn lửa—Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện—cùng các biến phân của chúng, bốn mươi chín ngọn lửa của bảy cõi. Vì vậy, luôn luôn, dù đó là tiếng kêu của đệ tử hay nhu cầu của điểm đạo đồ, âm thanh vẫn phát ra “xuyên qua lửa, đến lửa, và từ lửa.” Về kỹ thuật này, vốn nằm bên dưới nhu cầu đầy mãnh lực ấy, có rất ít điều tôi có thể nói. Từ cõi cao nhất của ý chí tinh thần, điều được gọi một cách kỹ thuật là “cõi atma,” nhu cầu ấy phát ra, và kết quả của nhu cầu đó sẽ được triển khai trên các cấp độ trí tuệ, cũng như hai nhu cầu trước đã được triển khai trên các cấp độ hồng trần và cảm dục. Ở đây tôi muốn xen vào rằng, mặc dù không có cõi cảm dục theo quan điểm của Chân sư, nhưng hàng ngàn triệu người vẫn thừa nhận nó và lao động trong khối cầu ảo tưởng của nó, và tại đó họ được trợ giúp bởi đệ tử được điểm đạo đang hoạt động từ các cấp độ tương ứng cao hơn. Điều này đúng với toàn bộ công việc hành tinh, dù được hoàn thành bởi các điểm đạo đồ và các Chân sư, làm việc trực tiếp trong ba cõi giới, hay từ các cấp độ cao hơn, như các Nirmanakaya làm việc (các Đấng Chiêm Ngưỡng sáng tạo của hành tinh), hoặc từ Shamballa trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới. Mọi nỗ lực của Thánh Đoàn hay của các “Sự Sống tác động” (như Các Ngài đôi khi được gọi) của Shamballa đều được hiến dâng cho việc thúc đẩy kế hoạch tiến hoá, kế hoạch rốt cuộc sẽ thể hiện Thiên Ý. Tôi cứ cố ý nhấn mạnh sự phân biệt này giữa kế hoạch và mục đích, [66] bởi vì nó chỉ ra giai đoạn kế tiếp trong sự vận hành của ý chí thông tuệ trong tâm thức nhân loại.

More anent these three demands I may not imply. I have told you much, had you the awakened intuition to read the significance of some of my comments. These demands refer not only to the evolution of humanity, but to all forms of life within the consciousness of the planetary Logos. The directing mind of the initiate indicates within the three worlds the goal of attainment.

Tôi không thể hàm ý thêm gì nữa về ba nhu cầu này. Tôi đã nói với các bạn rất nhiều, nếu các bạn có trực giác đã thức tỉnh để đọc ra thâm nghĩa trong một số nhận xét của tôi. Những nhu cầu này không chỉ liên quan đến sự tiến hoá của nhân loại, mà còn liên quan đến mọi hình thức sự sống trong tâm thức của Hành Tinh Thượng đế. Trí tuệ chỉ đạo của điểm đạo đồ biểu thị trong ba cõi giới mục tiêu của sự thành đạt.

3. Let there be no recollection and yet let memory rule.

3. Chớ để có sự hồi tưởng và tuy vậy hãy để ký ức cai quản.

This is not a contradictory statement. Perhaps I can convey to you the right idea as follows: The initiate wastes no time in looking backward towards the lessons learned; he works from the angle of developed habit, instinctively doing the right and needed thing. Instinctual response to environing forms builds, as we well know, patterns of behaviour, of conduct and of reaction. This establishes what might be called unconscious memory, and this memory rules without any effort at recollection.

Đây không phải là một phát biểu mâu thuẫn. Có lẽ tôi có thể truyền đạt cho các bạn ý tưởng đúng như sau: điểm đạo đồ không phí thời giờ nhìn ngược lại những bài học đã học; y làm việc từ góc độ của thói quen đã phát triển, theo bản năng mà làm điều đúng đắn và cần thiết. Sự đáp ứng theo bản năng đối với các hình tướng chung quanh xây dựng, như chúng ta đều biết, các mô hình hành vi, cách ứng xử và phản ứng. Điều này thiết lập cái có thể gọi là ký ức vô thức, và ký ức này cai quản mà không cần bất kỳ nỗ lực hồi tưởng nào.

The habit of goodness, or right reaction and of instinctual understanding is distinctive of the trained initiate. He has no need to remember rules, theories, planes or activities. These are as much an established part of his nature as the instinct of self-preservation is an instinctive part of the equipment of a normal human being. Think this out and endeavour to build up the right spiritual habits. In this way the Master wastes no time on soul or personal plans. He has the habit—based on divine instinctual memory—of right activity, right understanding and right purpose. He needs not to recollect.

Thói quen thiện lành, hay phản ứng đúng đắn và sự thấu hiểu theo bản năng là nét đặc trưng của điểm đạo đồ đã được huấn luyện. Y không cần phải nhớ các quy luật, lý thuyết, các cõi hay các hoạt động. Chúng là một phần đã được xác lập trong bản chất của y cũng như bản năng tự bảo tồn là một phần theo bản năng trong trang bị của một con người bình thường. Hãy suy ngẫm điều này và cố gắng xây dựng những thói quen tinh thần đúng đắn. Theo cách đó, Chân sư không phí thời giờ vào các kế hoạch của linh hồn hay của phàm ngã. Ngài có thói quen—đặt nền trên ký ức thiêng liêng theo bản năng—về hoạt động đúng đắn, thấu hiểu đúng đắn và mục đích đúng đắn. Ngài không cần phải hồi tưởng.

4. Work from the point of all that is within the content of the group’s united life.

4. Hãy làm việc từ điểm của tất cả những gì nằm trong nội dung của sự sống hợp nhất của nhóm.

This is not, as might appear, the effort to do the work for humanity as it is planned or desired by the group with which the initiate finds himself associated. The mode of working covers an earlier phase and one in which the accepted [67] disciple learns much. First, he finds a group upon the physical plane whose ideals and plans for service conform to his idea of correct activity, and with this group he affiliates himself, works, learns, and in learning, suffers much. Later he finds his way into a Master’s Ashram, where his effort is increasingly to learn to use the will in carrying out the Plan and to accommodate himself to the group methods and plans, working under the law of occult obedience for the welfare of humanity.

Điều này không phải, như có thể tưởng, là nỗ lực làm công việc cho nhân loại theo như nhóm mà điểm đạo đồ thấy mình liên kết cùng đã hoạch định hay mong muốn. Phương thức làm việc này bao trùm một giai đoạn sớm hơn và là giai đoạn trong đó đệ tử được chấp nhận [67] học được nhiều điều. Trước hết, y tìm thấy trên cõi hồng trần một nhóm mà các lý tưởng và kế hoạch phụng sự của nhóm ấy phù hợp với ý tưởng của y về hoạt động đúng đắn, và với nhóm này y liên kết mình, làm việc, học hỏi, và trong khi học hỏi, chịu đau khổ nhiều. Về sau y tìm được đường vào một ashram của Chân sư, nơi nỗ lực của y ngày càng là học cách sử dụng ý chí trong việc thực hiện Thiên Cơ và thích nghi mình với các phương pháp và kế hoạch của nhóm, làm việc dưới định luật vâng phục huyền bí vì phúc lợi của nhân loại.

The initiate, however, works in neither of these ways, though he has acquired the habit of right contact with organisations in the three worlds and right cooperation with the Hierarchy. He works now under the inspiration of and identification with the life aspect—the united life aspect of his ray group and of all groups. This means that the significance of the involutionary life and the evolutionary life is fully understood by him. His service is invoked by the group or groups needing his help. His response is an occult evocation given in unison with the group of servers with which he is affiliated on the inner side. This is a very different thing to the mode of service generally understood.

Tuy nhiên, điểm đạo đồ không làm việc theo một trong hai cách ấy, mặc dù y đã có được thói quen tiếp xúc đúng đắn với các tổ chức trong ba cõi giới và hợp tác đúng đắn với Thánh Đoàn. Giờ đây y làm việc dưới cảm hứng của và trong sự đồng hoá với phương diện sự sống—phương diện sự sống hợp nhất của nhóm cung của y và của mọi nhóm. Điều này có nghĩa là ý nghĩa của sự sống giáng hạ tiến hoá và sự sống thăng thượng tiến hoá được y thấu hiểu trọn vẹn. Sự phụng sự của y được nhóm hay các nhóm cần sự trợ giúp của y khẩn cầu. Sự đáp ứng của y là một sự gợi lên huyền bí được ban ra trong sự đồng thanh với nhóm những người phụng sự mà y liên kết ở mặt nội tại. Đây là một điều rất khác với phương thức phụng sự thường được hiểu.

RULE THREE — QUY LUẬT BA

The next Rule continues the above theme and gives some instructions in terse phrases and symbols on the Science of Invocation and Evocation and its significant ritual or programme.

Quy luật kế tiếp tiếp tục chủ đề trên và đưa ra một số chỉ dẫn bằng những cụm từ ngắn gọn và biểu tượng về Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên cùng nghi lễ hay chương trình đầy ý nghĩa của nó.

This programme is, in reality, an expression or a human formulation of the Science of Sound, just in so far—as yet—as Sound affects humanity and human affairs. Forget not my earlier teaching upon the Word; remember also that the Sound is the sound or note of Life Itself, embodying its dynamic impulse, its creative power, and its responsive sensitivity to all contacts.

Chương trình này, trên thực tế, là một biểu hiện hay một sự diễn đạt theo kiểu nhân loại của Khoa Học về Âm Thanh, trong chừng mực—cho đến nay—Âm Thanh tác động đến nhân loại và các công việc của nhân loại. Đừng quên giáo huấn trước đây của tôi về Linh từ; cũng hãy nhớ rằng Âm Thanh là âm thanh hay âm điệu của chính Sự sống, thể hiện xung lực năng động của nó, quyền năng sáng tạo của nó, và tính nhạy bén đáp ứng của nó đối với mọi tiếp xúc.

Rule III.

Quy luật III.

Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation [68] issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire.

Kép là sự tiến bước. Cánh Cửa bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố của quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu [68] phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm. Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước. Khi nhu cầu và sự đáp ứng tan biến trong một Âm Thanh vĩ đại, hãy bước ra khỏi sa mạc, bỏ lại biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa.

This is perhaps one of the two most occult rules which the initiate has to master, whether as an individual or in conjunction with his group. The group recognises and works under the pervasive influence of the purpose; the individual initiate works with the plan. The group expression, as far as in it lies at any given moment in time and space, is in line with the will of the One in Whom we live and move and have our being, the Life of all that is. The individual initiate uses the attractive force (to which we give the oft misleading name of love) of that fundamental Life to gather together that which will give body to form and so manifest the will. The group can be, and frequently is, responsive to the “bright centre,” Shamballa, where the initiate by himself and in his own essential identity cannot so respond. The individual must be protected by the group from the terrific potencies which emanate from Shamballa. These must be stepped down for him by the process of distribution, so that their impact is not focussed in any one or all of his centres but is shared by all the group members. Here is the clue to the significance of group work. One of its major functions, esoterically speaking, is to absorb, share, circulate, and then distribute energy.

Đây có lẽ là một trong hai quy luật huyền bí nhất mà điểm đạo đồ phải làm chủ, dù với tư cách cá nhân hay cùng với nhóm của mình. Nhóm nhận biết và làm việc dưới ảnh hưởng thấm khắp của mục đích; điểm đạo đồ cá nhân làm việc với kế hoạch. Biểu hiện của nhóm, trong chừng mực nó có thể ở bất kỳ thời điểm nào trong thời gian và không gian, đều phù hợp với ý chí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu, Sự sống của mọi cái đang hiện hữu. Điểm đạo đồ cá nhân sử dụng mãnh lực hấp dẫn (mà chúng ta gán cho cái tên thường gây ngộ nhận là tình thương) của Sự sống nền tảng ấy để tập hợp lại điều sẽ ban thân thể cho hình tướng và nhờ đó biểu lộ ý chí. Nhóm có thể, và thường là, đáp ứng với “trung tâm rực sáng,” Shamballa, nơi mà điểm đạo đồ tự mình và trong bản sắc cốt yếu riêng của mình không thể đáp ứng như vậy. Cá nhân phải được nhóm bảo vệ khỏi những mãnh lực khủng khiếp phát ra từ Shamballa. Những mãnh lực này phải được hạ giảm cho y qua tiến trình phân phối, để tác động của chúng không tập trung vào bất kỳ một hay tất cả các trung tâm nào của y mà được chia sẻ bởi mọi thành viên trong nhóm. Ở đây có chìa khóa cho ý nghĩa của công việc nhóm. Một trong những chức năng chính của nó, nói theo huyền bí học, là hấp thu, chia sẻ, lưu chuyển, rồi phân phối năng lượng.

This process of protection and of distribution is one of the functions of the great meeting of all the Hierarchy, under the aegis of the three Great Lords (the Manu, the Mahachohan and the Christ) in that high and sacred valley in the Himalayas where annually—after due preparation—the Hierarchy makes contact with Shamballa and a relationship is then set up between the “bright and living centre” and the “radiating and magnetic centre,” in order that the “acquiescent waiting centre” may be stimulated to move forward upon the ladder of evolution. Even the Hierarchy [69] itself needs the protection of its full membership in order rightly to absorb the incoming energies, and later wisely to distribute the forces of the divine will in the three worlds where lies Their major responsibility. The focussed will of God, in its immediate implications and application, constitutes the point of tension from which Shamballa works in order to bring about the eventual fruition of the divine Purpose.

Tiến trình bảo vệ và phân phối này là một trong những chức năng của cuộc hội họp lớn của toàn thể Thánh Đoàn, dưới sự bảo trợ của ba Đấng Cao Cả (Đức Manu, Đức Mahachohan và Đức Christ) trong thung lũng cao cả và thiêng liêng ấy ở dãy Himalaya, nơi hằng năm—sau khi chuẩn bị thích đáng—Thánh Đoàn tiếp xúc với Shamballa và khi ấy một mối liên hệ được thiết lập giữa “trung tâm sáng ngời và sống động” với “trung tâm toả chiếu và từ tính,” để cho “trung tâm chờ đợi thuận phục” có thể được kích thích tiến bước trên chiếc thang tiến hoá. Ngay cả chính Thánh Đoàn [69] cũng cần sự bảo vệ của toàn thể thành viên của mình để hấp thu đúng đắn các năng lượng đang đi vào, và về sau phân phối một cách khôn ngoan các mãnh lực của ý chí thiêng liêng trong ba cõi giới, nơi có trách nhiệm chính yếu của Các Ngài. Ý chí tập trung của Thượng đế, trong các hàm ý và ứng dụng trực tiếp của nó, cấu thành điểm tập trung nhất tâm mà từ đó Shamballa hoạt động để đem lại sự kết trái sau cùng của Thiên Ý.

There is a definite distinction between Purpose and Will; it is subtle indeed, but quite definite to the advanced initiate, and therefore the dualistic nature of our planetary manifestation and our solar Expression appear even in this. The Members of the Council at Shamballa recognise this distinction and therefore divide Themselves into two groups which are called in the ancient parlance, Registrants of the Purpose and Custodians of the Will. Will is active. Purpose is passive, waiting for the results of the activity of the will. These two groups are reflected in hierarchical circles by the Nirmanakayas or the Planetary Contemplatives, and the Custodians of the Plan. The function of the Registrants of the Purpose is to keep the channel open between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun. The function of the Custodians of the Will is to relate the Council, the Hierarchy and Humanity, thus creating a basic triangle of force between the three major centres of the planetary Life. This is the higher expression (symbolic, if you like) of the six-pointed star, formed of two interlaced triangles. A replica of this fundamental triangle and of this symbol of energy, with its inflow and distribution, is to be found in the relation of the three higher centres in the human being—head, heart and throat—to the three lower centres—solar plexus, sacral centre and the centre at the base of the spine. The Science of Invocation and Evocation is also seen to be symbolically proceeding along evolutionary lines. Worship, the attitude of the mystic, must give place to Invocation in the man who knows he is divine. This symbolic revelation is to be seen in the lifting up of the three lower energies and their evocative response to the three higher, thus producing [70] an eventual unity at the point of tension. I realise that this is a hard thing to comprehend because it embodies truths which are difficult for the disciple to grasp. But they will be grasped and mastered by each one as he proceeds along the Path of Discipleship and submits to the needed training for initiation. They will also be mastered, later in this century and in the next, by the rapidly developing humanity, thus demonstrating that the initiation of the moment becomes the past achievement of the masses eventually. This enhanced liberation will later appear as a definite result of the war. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, formulated in the tension produced by the world agony and strain, are the reflections of this, and embody all that it is possible for average materially-minded man to grasp of the present will of Shamballa as it conditions the plans of the Hierarchy and is impulsed by the Registrants of the Purpose. This is as far as the two groups of Custodians have been able to convey this revelation to the best human intellects—the first group dealing with the senior members of the Hierarchy and the latter with those initiates and disciples who are closely related to humanity.

Có một sự phân biệt rõ rệt giữa Mục Đích và Ý Chí; quả thật nó rất vi tế, nhưng lại hoàn toàn rõ ràng đối với điểm đạo đồ cao cấp, và vì vậy bản chất nhị nguyên của biểu hiện hành tinh của chúng ta và của Biểu Hiện thái dương của chúng ta xuất hiện ngay cả trong điều này. Các Thành Viên của Hội Đồng tại Shamballa nhận biết sự phân biệt này và vì thế tự phân chia thành hai nhóm, được gọi theo cách nói cổ xưa là Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích và Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí. Ý Chí thì chủ động. Mục Đích thì thụ động, chờ đợi các kết quả của hoạt động của ý chí. Hai nhóm này được phản ánh trong các vòng tròn của Thánh Đoàn bởi các Nirmanakaya hay các Đấng Chiêm Ngưỡng Hành Tinh, và các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ. Chức năng của Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích là giữ cho thông đạo giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương luôn rộng mở. Chức năng của Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí là liên kết Hội Đồng, Thánh Đoàn và Nhân Loại, nhờ đó tạo nên một tam giác mãnh lực căn bản giữa ba trung tâm chính của Sự sống Hành tinh. Đây là biểu hiện cao hơn (mang tính biểu tượng, nếu bạn muốn) của ngôi sao sáu cánh, được tạo thành bởi hai tam giác đan xen. Một bản sao của tam giác nền tảng này và của biểu tượng năng lượng này, với sự tuôn vào và phân phối của nó, có thể được tìm thấy trong mối liên hệ giữa ba trung tâm cao hơn trong con người—đầu, tim và cổ họng—với ba trung tâm thấp hơn—tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên cũng được thấy là đang tiến hành một cách biểu tượng theo các đường tiến hoá. Sự thờ phụng, thái độ của nhà thần bí, phải nhường chỗ cho Khẩn Cầu nơi con người biết rằng y là thiêng liêng. Sự mặc khải biểu tượng này được thấy trong việc nâng ba năng lượng thấp lên và sự đáp ứng gợi lên của chúng đối với ba năng lượng cao, nhờ đó tạo ra [70] một sự hợp nhất sau cùng tại điểm tập trung nhất tâm. Tôi nhận ra rằng đây là điều khó thấu hiểu vì nó bao hàm những chân lý mà đệ tử khó nắm bắt. Nhưng chúng sẽ được mỗi người nắm bắt và làm chủ khi y tiến bước trên Con Đường Đệ Tử và phục tùng sự huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Chúng cũng sẽ được nhân loại đang phát triển nhanh chóng làm chủ vào cuối thế kỷ này và trong thế kỷ tới, nhờ đó chứng minh rằng điểm đạo của hiện tại rốt cuộc trở thành thành tựu quá khứ của quần chúng. Sự giải thoát được tăng cường này về sau sẽ xuất hiện như một kết quả rõ rệt của chiến tranh. Hiến Chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, được hình thành trong điểm tập trung nhất tâm do nỗi thống khổ và căng thẳng của thế giới tạo ra, là những phản ánh của điều này, và thể hiện tất cả những gì con người trung bình có đầu óc vật chất có thể nắm bắt được về ý chí hiện tại của Shamballa khi nó tác động lên các kế hoạch của Thánh Đoàn và được thúc đẩy bởi Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích. Đó là mức xa nhất mà hai nhóm Đấng Gìn Giữ đã có thể truyền đạt sự mặc khải này đến những trí tuệ ưu tú nhất của nhân loại—nhóm thứ nhất làm việc với các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn và nhóm sau làm việc với những điểm đạo đồ và đệ tử có liên hệ mật thiết với nhân loại.

Here again we come up against the fact that the Science of Invocation and Evocation, with which this Rule fundamentally deals, is primarily a great and scientific activity of which modern humanity knows practically nothing, but which is related to thought power and to thoughtform building. Only initiates of the highest degree—such as the three Great Lords—have the right to invoke alone and unaccompanied by any protective agency, such as a group, and the reason for that is that They Themselves are members of the Council at Shamballa and are individually Registrants of the Purpose. The annual appearance of the Lord Buddha is the outer demonstration or symbol of the emergence of this Science of Invocation and Evocation in the waking consciousness of humanity. Prayer is the dim, faint and inadequate expression of this; affirmation of divinity in order to gain material well-being is a distortion of this truth. This needs to be remembered. The true significance of this [71] emerging science is that, in the early or first stages, it embodies the seed concept of the new world religion.

Ở đây một lần nữa chúng ta lại đụng phải sự kiện rằng Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên, điều mà Quy luật này căn bản đề cập đến, trước hết là một hoạt động vĩ đại và khoa học mà nhân loại hiện đại hầu như không biết gì, nhưng lại liên hệ với quyền năng tư tưởng và với việc xây dựng hình tư tưởng. Chỉ những điểm đạo đồ ở cấp độ cao nhất—như ba Đấng Cao Cả—mới có quyền khẩn cầu một mình và không có bất kỳ tác nhân bảo vệ nào đi kèm, như một nhóm chẳng hạn, và lý do là vì chính Các Ngài là thành viên của Hội Đồng tại Shamballa và từng vị một đều là Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích. Sự xuất hiện hằng năm của Đức Phật là sự biểu hiện bên ngoài hay biểu tượng của sự xuất hiện của Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên này trong tâm thức thức tỉnh của nhân loại. Cầu nguyện là biểu hiện mờ nhạt, yếu ớt và không đầy đủ của điều này; sự khẳng định thiên tính nhằm đạt được an lạc vật chất là một sự bóp méo chân lý này. Điều này cần được ghi nhớ. Ý nghĩa đích thực của khoa học [71] đang xuất hiện này là, trong các giai đoạn đầu hay giai đoạn thứ nhất, nó thể hiện khái niệm hạt giống của tôn giáo thế giới mới.

In the great invocations which I have given out, the first one Rule III.

Trong các đại khấn nguyện mà tôi đã ban ra, bài thứ nhất Quy luật III.

Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation [68] issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire.

Kép là sự tiến bước. Cánh Cửa bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố của quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu [68] phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm. Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước. Khi nhu cầu và sự đáp ứng tan biến trong một Âm Thanh vĩ đại, hãy bước ra khỏi sa mạc, bỏ lại biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa.

This is perhaps one of the two most occult rules which the initiate has to master, whether as an individual or in conjunction with his group. The group recognises and works under the pervasive influence of the purpose; the individual initiate works with the plan. The group expression, as far as in it lies at any given moment in time and space, is in line with the will of the One in Whom we live and move and have our being, the Life of all that is. The individual initiate uses the attractive force (to which we give the oft misleading name of love) of that fundamental Life to gather together that which will give body to form and so manifest the will. The group can be, and frequently is, responsive to the “bright centre,” Shamballa, where the initiate by himself and in his own essential identity cannot so respond. The individual must be protected by the group from the terrific potencies which emanate from Shamballa. These must be stepped down for him by the process of distribution, so that their impact is not focussed in any one or all of his centres but is shared by all the group members. Here is the clue to the significance of group work. One of its major functions, esoterically speaking, is to absorb, share, circulate, and then distribute energy.

Đây có lẽ là một trong hai quy luật huyền bí nhất mà điểm đạo đồ phải làm chủ, dù với tư cách cá nhân hay cùng với nhóm của mình. Nhóm nhận biết và làm việc dưới ảnh hưởng thấm khắp của mục đích; điểm đạo đồ cá nhân làm việc với kế hoạch. Biểu hiện của nhóm, trong chừng mực nó có thể ở bất kỳ thời điểm nào trong thời gian và không gian, đều phù hợp với ý chí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu, Sự sống của mọi cái đang hiện hữu. Điểm đạo đồ cá nhân sử dụng mãnh lực hấp dẫn (mà chúng ta gán cho cái tên thường gây ngộ nhận là tình thương) của Sự sống nền tảng ấy để tập hợp lại điều sẽ ban thân thể cho hình tướng và nhờ đó biểu lộ ý chí. Nhóm có thể, và thường là, đáp ứng với “trung tâm rực sáng,” Shamballa, nơi mà điểm đạo đồ tự mình và trong bản sắc cốt yếu riêng của mình không thể đáp ứng như vậy. Cá nhân phải được nhóm bảo vệ khỏi những mãnh lực khủng khiếp phát ra từ Shamballa. Những mãnh lực này phải được hạ giảm cho y qua tiến trình phân phối, để tác động của chúng không tập trung vào bất kỳ một hay tất cả các trung tâm nào của y mà được chia sẻ bởi mọi thành viên trong nhóm. Ở đây có chìa khóa cho ý nghĩa của công việc nhóm. Một trong những chức năng chính của nó, nói theo huyền bí học, là hấp thu, chia sẻ, lưu chuyển, rồi phân phối năng lượng.

This process of protection and of distribution is one of the functions of the great meeting of all the Hierarchy, under the aegis of the three Great Lords (the Manu, the Mahachohan and the Christ) in that high and sacred valley in the Himalayas where annually—after due preparation—the Hierarchy makes contact with Shamballa and a relationship is then set up between the “bright and living centre” and the “radiating and magnetic centre,” in order that the “acquiescent waiting centre” may be stimulated to move forward upon the ladder of evolution. Even the Hierarchy [69] itself needs the protection of its full membership in order rightly to absorb the incoming energies, and later wisely to distribute the forces of the divine will in the three worlds where lies Their major responsibility. The focussed will of God, in its immediate implications and application, constitutes the point of tension from which Shamballa works in order to bring about the eventual fruition of the divine Purpose.

Tiến trình bảo vệ và phân phối này là một trong những chức năng của cuộc hội họp lớn của toàn thể Thánh Đoàn, dưới sự bảo trợ của ba Đấng Cao Cả (Đức Manu, Đức Mahachohan và Đức Christ) trong thung lũng cao cả và thiêng liêng ấy ở dãy Himalaya, nơi hằng năm—sau khi chuẩn bị thích đáng—Thánh Đoàn tiếp xúc với Shamballa và khi ấy một mối liên hệ được thiết lập giữa “trung tâm sáng ngời và sống động” với “trung tâm toả chiếu và từ tính,” để cho “trung tâm chờ đợi thuận phục” có thể được kích thích tiến bước trên chiếc thang tiến hoá. Ngay cả chính Thánh Đoàn [69] cũng cần sự bảo vệ của toàn thể thành viên của mình để hấp thu đúng đắn các năng lượng đang đi vào, và về sau phân phối một cách khôn ngoan các mãnh lực của ý chí thiêng liêng trong ba cõi giới, nơi có trách nhiệm chính yếu của Các Ngài. Ý chí tập trung của Thượng đế, trong các hàm ý và ứng dụng trực tiếp của nó, cấu thành điểm tập trung nhất tâm mà từ đó Shamballa hoạt động để đem lại sự kết trái sau cùng của Thiên Ý.

There is a definite distinction between Purpose and Will; it is subtle indeed, but quite definite to the advanced initiate, and therefore the dualistic nature of our planetary manifestation and our solar Expression appear even in this. The Members of the Council at Shamballa recognise this distinction and therefore divide Themselves into two groups which are called in the ancient parlance, Registrants of the Purpose and Custodians of the Will. Will is active. Purpose is passive, waiting for the results of the activity of the will. These two groups are reflected in hierarchical circles by the Nirmanakayas or the Planetary Contemplatives, and the Custodians of the Plan. The function of the Registrants of the Purpose is to keep the channel open between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun. The function of the Custodians of the Will is to relate the Council, the Hierarchy and Humanity, thus creating a basic triangle of force between the three major centres of the planetary Life. This is the higher expression (symbolic, if you like) of the six-pointed star, formed of two interlaced triangles. A replica of this fundamental triangle and of this symbol of energy, with its inflow and distribution, is to be found in the relation of the three higher centres in the human being—head, heart and throat—to the three lower centres—solar plexus, sacral centre and the centre at the base of the spine. The Science of Invocation and Evocation is also seen to be symbolically proceeding along evolutionary lines. Worship, the attitude of the mystic, must give place to Invocation in the man who knows he is divine. This symbolic revelation is to be seen in the lifting up of the three lower energies and their evocative response to the three higher, thus producing [70] an eventual unity at the point of tension. I realise that this is a hard thing to comprehend because it embodies truths which are difficult for the disciple to grasp. But they will be grasped and mastered by each one as he proceeds along the Path of Discipleship and submits to the needed training for initiation. They will also be mastered, later in this century and in the next, by the rapidly developing humanity, thus demonstrating that the initiation of the moment becomes the past achievement of the masses eventually. This enhanced liberation will later appear as a definite result of the war. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, formulated in the tension produced by the world agony and strain, are the reflections of this, and embody all that it is possible for average materially-minded man to grasp of the present will of Shamballa as it conditions the plans of the Hierarchy and is impulsed by the Registrants of the Purpose. This is as far as the two groups of Custodians have been able to convey this revelation to the best human intellects—the first group dealing with the senior members of the Hierarchy and the latter with those initiates and disciples who are closely related to humanity.

Có một sự phân biệt rõ rệt giữa Mục Đích và Ý Chí; quả thật nó rất vi tế, nhưng lại hoàn toàn rõ ràng đối với điểm đạo đồ cao cấp, và vì vậy bản chất nhị nguyên của biểu hiện hành tinh của chúng ta và của Biểu Hiện thái dương của chúng ta xuất hiện ngay cả trong điều này. Các Thành Viên của Hội Đồng tại Shamballa nhận biết sự phân biệt này và vì thế tự phân chia thành hai nhóm, được gọi theo cách nói cổ xưa là Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích và Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí. Ý Chí thì chủ động. Mục Đích thì thụ động, chờ đợi các kết quả của hoạt động của ý chí. Hai nhóm này được phản ánh trong các vòng tròn của Thánh Đoàn bởi các Nirmanakaya hay các Đấng Chiêm Ngưỡng Hành Tinh, và các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ. Chức năng của Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích là giữ cho thông đạo giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương luôn rộng mở. Chức năng của Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí là liên kết Hội Đồng, Thánh Đoàn và Nhân Loại, nhờ đó tạo nên một tam giác mãnh lực căn bản giữa ba trung tâm chính của Sự sống Hành tinh. Đây là biểu hiện cao hơn (mang tính biểu tượng, nếu bạn muốn) của ngôi sao sáu cánh, được tạo thành bởi hai tam giác đan xen. Một bản sao của tam giác nền tảng này và của biểu tượng năng lượng này, với sự tuôn vào và phân phối của nó, có thể được tìm thấy trong mối liên hệ giữa ba trung tâm cao hơn trong con người—đầu, tim và cổ họng—với ba trung tâm thấp hơn—tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên cũng được thấy là đang tiến hành một cách biểu tượng theo các đường tiến hoá. Sự thờ phụng, thái độ của nhà thần bí, phải nhường chỗ cho Khẩn Cầu nơi con người biết rằng y là thiêng liêng. Sự mặc khải biểu tượng này được thấy trong việc nâng ba năng lượng thấp lên và sự đáp ứng gợi lên của chúng đối với ba năng lượng cao, nhờ đó tạo ra [70] một sự hợp nhất sau cùng tại điểm tập trung nhất tâm. Tôi nhận ra rằng đây là điều khó thấu hiểu vì nó bao hàm những chân lý mà đệ tử khó nắm bắt. Nhưng chúng sẽ được mỗi người nắm bắt và làm chủ khi y tiến bước trên Con Đường Đệ Tử và phục tùng sự huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Chúng cũng sẽ được nhân loại đang phát triển nhanh chóng làm chủ vào cuối thế kỷ này và trong thế kỷ tới, nhờ đó chứng minh rằng điểm đạo của hiện tại rốt cuộc trở thành thành tựu quá khứ của quần chúng. Sự giải thoát được tăng cường này về sau sẽ xuất hiện như một kết quả rõ rệt của chiến tranh. Hiến Chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, được hình thành trong điểm tập trung nhất tâm do nỗi thống khổ và căng thẳng của thế giới tạo ra, là những phản ánh của điều này, và thể hiện tất cả những gì con người trung bình có đầu óc vật chất có thể nắm bắt được về ý chí hiện tại của Shamballa khi nó tác động lên các kế hoạch của Thánh Đoàn và được thúc đẩy bởi Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích. Đó là mức xa nhất mà hai nhóm Đấng Gìn Giữ đã có thể truyền đạt sự mặc khải này đến những trí tuệ ưu tú nhất của nhân loại—nhóm thứ nhất làm việc với các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn và nhóm sau làm việc với những điểm đạo đồ và đệ tử có liên hệ mật thiết với nhân loại.

Here again we come up against the fact that the Science of Invocation and Evocation, with which this Rule fundamentally deals, is primarily a great and scientific activity of which modern humanity knows practically nothing, but which is related to thought power and to thoughtform building. Only initiates of the highest degree—such as the three Great Lords—have the right to invoke alone and unaccompanied by any protective agency, such as a group, and the reason for that is that They Themselves are members of the Council at Shamballa and are individually Registrants of the Purpose. The annual appearance of the Lord Buddha is the outer demonstration or symbol of the emergence of this Science of Invocation and Evocation in the waking consciousness of humanity. Prayer is the dim, faint and inadequate expression of this; affirmation of divinity in order to gain material well-being is a distortion of this truth. This needs to be remembered. The true significance of this [71] emerging science is that, in the early or first stages, it embodies the seed concept of the new world religion.

Ở đây một lần nữa chúng ta lại đụng phải sự kiện rằng Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên, điều mà Quy luật này căn bản đề cập đến, trước hết là một hoạt động vĩ đại và khoa học mà nhân loại hiện đại hầu như không biết gì, nhưng lại liên hệ với quyền năng tư tưởng và với việc xây dựng hình tư tưởng. Chỉ những điểm đạo đồ ở cấp độ cao nhất—như ba Đấng Cao Cả—mới có quyền khẩn cầu một mình và không có bất kỳ tác nhân bảo vệ nào đi kèm, như một nhóm chẳng hạn, và lý do là vì chính Các Ngài là thành viên của Hội Đồng tại Shamballa và từng vị một đều là Những Đấng Ghi Nhận Mục Đích. Sự xuất hiện hằng năm của Đức Phật là sự biểu hiện bên ngoài hay biểu tượng của sự xuất hiện của Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên này trong tâm thức thức tỉnh của nhân loại. Cầu nguyện là biểu hiện mờ nhạt, yếu ớt và không đầy đủ của điều này; sự khẳng định thiên tính nhằm đạt được an lạc vật chất là một sự bóp méo chân lý này. Điều này cần được ghi nhớ. Ý nghĩa đích thực của khoa học [71] đang xuất hiện này là, trong các giai đoạn đầu hay giai đoạn thứ nhất, nó thể hiện khái niệm hạt giống của tôn giáo thế giới mới.

In the great invocations which I have given out, the first one (“The Externalisation of the Hierarchy,” Page v) (“Let the Forces of Light bring illumination to mankind…”) was an effort on my part to put into words the invocative cry of mankind and of all men and women of goodwill throughout the world. Its success was indicative of the strength of that goodwill. The second (“The Externalisation of the Hierarchy,” Page v) (“Let the Lords of Liberation issue forth…”) can, in reality, only be used with any measure or hope of success by aspirants, disciples and initiates, and hence was not nearly so popular with the general public, though in reality much more powerful and potentially effective. It was essential, however, that a fusion of the two groups should take place before the invocative cry of humanity as a whole could be powerful and effective in evoking response.

Trong các đại khấn nguyện mà tôi đã ban ra, bài thứ nhất (“Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn,” Trang v) (“Hãy để các Mãnh Lực của Ánh Sáng mang sự soi sáng đến cho nhân loại…”) là một nỗ lực của tôi nhằm diễn đạt thành lời tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và của tất cả những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới. Thành công của nó cho thấy sức mạnh của thiện chí ấy. Bài thứ hai (“Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn,” Trang v) (“Hãy để các Đấng Giải Thoát xuất hiện…”) trên thực tế chỉ có thể được sử dụng với một mức độ hay hy vọng thành công nào đó bởi những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ, và vì thế đã không được công chúng nói chung ưa chuộng gần bằng, dù trên thực tế nó mạnh mẽ hơn nhiều và có hiệu quả tiềm tàng hơn nhiều. Tuy nhiên, điều cốt yếu là phải có một sự dung hợp của hai nhóm trước khi tiếng kêu khẩn cầu của toàn thể nhân loại có thể đủ mạnh và hữu hiệu để gợi lên sự đáp ứng.

Prior to taking up the study, phrase by phrase, of Rule III, I would call your attention to the relation between this Rule and the earlier one given to applicants. The applicant sends out his cry—across the desert, over all the seas and through the fires. His entire personality, integrated and oriented, is focussed at a point of tension; then he utters his cry (symbolic of a voiceless expression) and this cry beats against the door which separates him from the soul, in the first instance, and from the Hierarchy, in the second. The door is only a symbol of separation; it divides one place from another location, one sphere of activity from another, and one state of consciousness from another. It fosters in the aspirant a sense of duality. It is a word descriptive of the mystic attitude. This attitude embraces the concepts of here and there, of soul and body, of God and man, of Hierarchy and humanity. But Rule III, as voiced for initiates, demonstrates that this mystical realisation finally goes; the sense of separation disappears, and the door is left behind.

Trước khi bắt đầu nghiên cứu, từng cụm từ một, Quy luật III, tôi muốn lưu ý các bạn đến mối liên hệ giữa Quy luật này và quy luật trước đó được ban cho những người thỉnh cầu. Người thỉnh cầu phát ra tiếng kêu của mình—băng qua sa mạc, vượt trên mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa. Toàn bộ phàm ngã của y, đã được tích hợp và định hướng, được tập trung tại một điểm tập trung nhất tâm; rồi y cất lên tiếng kêu của mình (biểu tượng cho một sự biểu lộ không lời), và tiếng kêu này đập vào cánh cửa ngăn cách y với linh hồn, trước hết, và với Thánh Đoàn, kế đó. Cánh cửa chỉ là một biểu tượng của sự phân cách; nó chia một nơi này với một vị trí khác, một khối cầu hoạt động này với một khối cầu khác, và một trạng thái tâm thức này với một trạng thái khác. Nó nuôi dưỡng nơi người chí nguyện một cảm thức nhị nguyên tính. Đó là một từ mô tả thái độ của nhà thần bí. Thái độ này bao gồm các khái niệm ở đây và ở kia, linh hồn và thể xác, Thượng đế và con người, Thánh Đoàn và nhân loại. Nhưng Quy luật III, như được phát biểu cho các điểm đạo đồ, chứng tỏ rằng sự chứng nghiệm thần bí này rốt cuộc biến mất; cảm thức phân cách tan biến, và cánh cửa bị bỏ lại phía sau.

1. Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past.

1. Kép là sự tiến bước. Cánh Cửa bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố của quá khứ.

[72]

[72]

The first point which should be noted is that we have here the definition of an initiate. He is one who, in his two-fold nature (soul and personality), moves forward. No longer is his point of tension that of the personality. He has fused and blended two divine aspects in himself, and they now constitute one integrated unit. This fusion produces its own point of tension. He has moved forward through the door. A point of tension again ensues in which a Word goes forth in response to the invocative cry of the new initiate. A Word is returned to him: Accepted as a group. Then he, with the group of which he is now a recognised part, moves forward. For the initiate (as I have earlier pointed out) the past is left behind: “Let there be no recollection”; the present embodies a point of tension; the future indicates a moving forward from that point of tension as a result of its effective action. The door closes behind the initiate, who is now an accepted member of his group, and as the Old Commentary puts it, “its sound in closing informs the watching world that the initiate has passed into a secret place and that to reach him in the real sense they too must pass that door.” This conveys the thought of individual self-initiation, to which all must be subjected, and indicates also the loneliness of the initiate as he moves forward. He does not yet understand all that his group as a whole grasps; he is himself not understood by those on the other side of the door. He has sensed for some time the group with which he is now affiliated, and is becoming increasingly aware of their spiritual impersonality, which seems to him to be almost a form of aloofness and which in no way feeds in him those elements which are of a personality nature; he therefore suffers. Those left behind as a part of his old life in no way comprehend his basic (even if undeveloped) impersonality. This attitude of theirs evokes in him, when sensed, a resentment and a criticism which he realises is not right but which at this stage he seems unable to avoid, whilst those he criticises endeavour to tear him down or (at the least) to make him feel despised and uncomfortable.

Điểm đầu tiên cần lưu ý là ở đây chúng ta có định nghĩa về một điểm đạo đồ. Y là người, trong bản chất nhị phân của mình (linh hồn và phàm ngã), tiến bước. Điểm tập trung nhất tâm của y không còn là của phàm ngã nữa. Y đã dung hợp và hoà nhập hai phương diện thiêng liêng trong chính mình, và giờ đây chúng cấu thành một đơn vị tích hợp. Sự dung hợp này tạo ra điểm tập trung nhất tâm riêng của nó. Y đã tiến bước xuyên qua cánh cửa. Một điểm tập trung nhất tâm lại tiếp theo, trong đó một Linh từ phát ra để đáp lại tiếng kêu khẩn cầu của điểm đạo đồ mới. Một Linh từ được gửi trả cho y: Được chấp nhận như một nhóm. Rồi y, cùng với nhóm mà giờ đây y là một phần được công nhận, tiến bước. Đối với điểm đạo đồ (như tôi đã chỉ ra trước đây), quá khứ bị bỏ lại phía sau: “Chớ để có sự hồi tưởng”; hiện tại thể hiện một điểm tập trung nhất tâm; tương lai chỉ ra một sự tiến bước từ điểm tập trung nhất tâm ấy như là kết quả của hành động hữu hiệu của nó. Cánh cửa khép lại phía sau điểm đạo đồ, giờ đây là một thành viên được chấp nhận của nhóm mình, và như Cổ Luận nói, “âm thanh của nó khi khép lại báo cho thế giới đang quan sát biết rằng điểm đạo đồ đã đi vào một nơi bí mật và rằng để đến được với y theo nghĩa thực, họ cũng phải đi qua cánh cửa ấy.” Điều này truyền đạt tư tưởng về sự tự điểm đạo cá nhân, điều mà mọi người đều phải chịu, và cũng chỉ ra sự cô đơn của điểm đạo đồ khi y tiến bước. Y chưa hiểu hết mọi điều mà nhóm của y như một toàn thể nắm bắt; chính y cũng không được những người ở phía bên kia cánh cửa hiểu. Từ một thời gian nay y đã cảm nhận được nhóm mà giờ đây y liên kết, và ngày càng ý thức hơn về tính vô ngã tinh thần của họ, điều đối với y dường như gần như là một hình thức xa cách và không hề nuôi dưỡng trong y những yếu tố thuộc bản chất phàm ngã; vì thế y đau khổ. Những người bị bỏ lại phía sau như một phần của đời sống cũ của y hoàn toàn không hiểu được tính vô ngã căn bản của y (dù còn chưa phát triển). Thái độ ấy của họ, khi được cảm nhận, gợi lên trong y một sự phẫn uất và chỉ trích mà y nhận ra là không đúng nhưng ở giai đoạn này dường như y không thể tránh được, trong khi những người mà y chỉ trích lại cố hạ thấp y hoặc ít nhất làm cho y cảm thấy bị khinh miệt và khó chịu.

In the early stages he takes refuge from those left [73] behind by withdrawing himself and by much unnecessary and almost obtrusive silence. He learns to penetrate into the consciousness of his new group by strenuously endeavouring to develop their capacity for spiritual impersonality. He knows it is something which he must achieve and—as he achieves it—he discovers that this impersonality is not based on indifference or upon preoccupation, as he had thought, but upon a deep understanding, upon a dynamic focus on world service, upon a sense of proportion and upon a detachment which makes true help possible. Thus the door and the past are left behind. St. Paul attempted to express this idea when he said: “Forgetting the things which are behind, press forward towards the prize of your high calling in Christ.” I would ask your attention to the word “calling.”

Trong các giai đoạn đầu, y tìm nơi ẩn náu khỏi những người bị bỏ lại [73] phía sau bằng cách rút lui và bằng sự im lặng quá mức cần thiết và gần như phô trương. Y học cách thâm nhập vào tâm thức của nhóm mới của mình bằng cách nỗ lực mạnh mẽ phát triển nơi mình năng lực vô ngã tinh thần của họ. Y biết đó là điều y phải đạt được và—khi y đạt được nó—y khám phá ra rằng tính vô ngã này không dựa trên Điềm nhiên hay trên sự bận tâm, như y đã nghĩ, mà dựa trên một sự thấu hiểu sâu sắc, trên một sự tập trung năng động vào việc phụng sự thế giới, trên một ý thức về tỉ lệ và trên một sự tách rời khiến cho sự trợ giúp chân chính trở nên khả hữu. Như vậy cánh cửa và quá khứ bị bỏ lại phía sau. Thánh Paul đã cố diễn đạt ý tưởng này khi ông nói: “Quên đi những điều ở phía sau, hãy tiến tới phần thưởng của tiếng gọi cao cả của ngươi trong Đức Christ.” Tôi muốn các bạn chú ý đến từ “tiếng gọi.”

2. Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light.

2. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm.

We are not here dealing with the light in the head or with soul light as it is perceived by the attuned and aligned personality. That too is left behind, and the initiate is aware of the light of the Ashram and the all-including light of the Hierarchy. These are two aspects of soul light which the individual light in the head has revealed. That soul light which the initiate has been aware of from the first moment of soul contact, and at rapidly decreasing intervals, is created by the fusion of the light of the soul with the light of substance itself, and is the inevitable and automatic consequence of the purification of the three vehicles and of creative meditation. We are told in the world Scriptures that “in that light shall we see Light”; and it is to this other Light that I now refer—a light which is only to be perceived when the door is shut behind the initiate. That light is itself composed of the light of buddhi and the light of atma, and these are (to interpret these Sanskrit terms esoterically) the light of the pure reason, which is the sublimation of the intellect, and the light of the spiritual will, which is the revelation of the enfolding purpose. The first [74] is focussed in the Ashram, and the second in the Hierarchy as a whole, and both of them are the expression of the activity of the Spiritual Triad.

Ở đây chúng ta không đề cập đến ánh sáng trong đầu hay ánh sáng linh hồn như được phàm ngã đã chỉnh hợp và hoà điệu cảm nhận. Điều đó cũng bị bỏ lại phía sau, và điểm đạo đồ ý thức được ánh sáng của ashram và ánh sáng bao trùm tất cả của Thánh Đoàn. Đó là hai phương diện của ánh sáng linh hồn mà ánh sáng cá nhân trong đầu đã mặc khải. Ánh sáng linh hồn mà điểm đạo đồ đã ý thức được từ khoảnh khắc đầu tiên tiếp xúc với linh hồn, và ở những khoảng cách ngày càng ngắn, được tạo ra bởi sự dung hợp của ánh sáng linh hồn với chính ánh sáng của chất liệu, và là hệ quả tất yếu và tự động của sự thanh luyện ba vận cụ và của tham thiền sáng tạo. Chúng ta được bảo trong các Thánh Kinh thế gian rằng “trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”; và chính Ánh Sáng khác này mà giờ đây tôi muốn nói đến—một ánh sáng chỉ có thể được cảm nhận khi cánh cửa đã khép lại phía sau điểm đạo đồ. Chính ánh sáng ấy được cấu thành bởi ánh sáng của Bồ đề và ánh sáng của atma, và đó là (nếu diễn giải các thuật ngữ Sanskrit này một cách huyền bí) ánh sáng của lý trí thuần khiết, vốn là sự thăng hoa của trí năng, và ánh sáng của ý chí tinh thần, vốn là sự mặc khải của mục đích đang bao bọc. Ánh sáng thứ nhất [74] được tập trung trong ashram, và ánh sáng thứ hai trong toàn thể Thánh Đoàn, và cả hai đều là biểu hiện của hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần.

Let me make myself clearly understood, if possible. You have, therefore, three great lights, all of them focussed upon the mental plane, for beyond that plane the symbolism of light is not used; divinity is known as life, where the Monad and its expression, the Spiritual Triad, are concerned. All the lights are finally focussed upon the mental plane:

Nếu có thể, hãy để tôi làm cho mình được hiểu rõ. Vì vậy, các bạn có ba ánh sáng lớn, tất cả đều được tập trung trên cõi trí, vì vượt quá cõi ấy thì biểu tượng ánh sáng không còn được dùng nữa; thiên tính được biết như sự sống, khi nói đến chân thần và biểu hiện của nó là Tam Nguyên Tinh Thần. Mọi ánh sáng rốt cuộc đều được tập trung trên cõi trí:

1. The blended light of soul and personality.

1. Ánh sáng dung hợp của linh hồn và phàm ngã.

2. The light of the egoic group which, when forming a recognised group in the consciousness of the illumined initiate, is called an Ashram, embodying the light of buddhi or pure reason.

2. Ánh sáng của nhóm chân ngã, khi hình thành một nhóm được nhận biết trong tâm thức của điểm đạo đồ được soi sáng, thì được gọi là một ashram, thể hiện ánh sáng của Bồ đề hay lý trí thuần khiết.

3. The light of the Hierarchy as a centre of radiance in the planetary body and embodying the light which understanding of the plan and cooperation with that plan produce, and which comes from identification—upon mental levels—with the spiritual will.

3. Ánh sáng tập trung được tạo ra bởi sự gặp gỡ của hai ánh sáng, cao hơn và thấp hơn.

All these three aspects of light can be described as:

Ba phương diện ánh sáng này có thể được mô tả là:

1. The light which is thrown upward. This is the lesser light, from the angle of the Monad.

1. Ánh sáng được chiếu lên trên. Đây là ánh sáng nhỏ hơn, xét từ góc độ của chân thần.

2. The light which the Spiritual Triad reflects upon the mental plane.

2. Ánh sáng mà Tam Nguyên Tinh Thần phản chiếu lên cõi trí.

3. The focussed light which is produced by the meeting of the two lights, the higher and the lower.

3. Ánh sáng tập trung được tạo ra bởi sự gặp gỡ của hai ánh sáng, cao hơn và thấp hơn.

These are the higher correspondence of the blazing forth of the light in the head, when the light of the personality and the light of the soul make contact.

Đây là sự tương ứng cao hơn của sự bừng sáng của ánh sáng trong đầu, khi ánh sáng của phàm ngã và ánh sáng của linh hồn tiếp xúc.

Beyond the mental plane, the initiatory impulse or emphasis is upon the life aspect, upon dynamic energy, and upon the cause of manifestation, and this incentive to progress is not based on revelation, which is ever incident to or related to the significance of light. Light and revelation are cause and effect. The coming revelation for which all men wait, and which will come when world adjustment has [75] reached an already determined point, is concerned with the impartation to the human consciousness of the meaning and purpose of life; this will take place in a gradually unfolding series of spiritual events. I cannot and must not put these truths more clearly, even if the necessary words were available to express what is not as yet even dimly sensed by disciples of the first and second degrees of initiation. What will come through that series of spiritual happenings and their inevitable reaction upon the whole body of humanity is in no way related to consciousness, to revelation or to light. There will come to humanity at some moment still a long way ahead a period of realisation, constituting both a point of crisis and a point of tension. That realisation will summarise, in effective conditioning consciousness, all that the quality of sensitivity has conveyed to mankind throughout the ages. It is the consummation of the activity of the Christ-consciousness, and is the state referred to when it is said of the Christ: “He shall see of the travail of his soul and be satisfied.” At the crisis of that revelation, at its highest point of tension, humanity as with one voice will say: “Behold! All things are become new.” This is the apotheosis of vision and the prelude to an unfoldment in the general massed human consciousness (from that point in time slowly brought about) of certain powers and capacities of which the race is today totally unaware. The immediate revelation ahead will be only the first step towards this distant related point, and its significance will not be apparent to the present generation, or even to the next; it will, however, be steadily though gradually appreciated as the new world religion with its emphasis upon the invocation of energies and the evocation of “life more abundantly” is developed and has its inevitable effect. Students would do well to bear in mind that the impact of energies upon forms produces results which are dependent upon the quality of the forms receiving the impression. This is a statement of occult law.

Vượt quá cõi trí, xung lực hay sự nhấn mạnh điểm đạo đặt trên phương diện sự sống, trên năng lượng năng động, và trên nguyên nhân của biểu hiện, và động lực thúc đẩy tiến bộ này không dựa trên sự mặc khải, vốn luôn luôn gắn liền hay liên hệ với ý nghĩa của ánh sáng. Ánh sáng và sự mặc khải là nguyên nhân và kết quả. Sự mặc khải sắp đến mà mọi người đều chờ đợi, và sẽ đến khi sự điều chỉnh thế giới đã [75] đạt đến một điểm đã được xác định từ trước, liên quan đến việc truyền đạt vào tâm thức nhân loại ý nghĩa và mục đích của sự sống; điều này sẽ diễn ra trong một chuỗi dần dần khai mở của các biến cố tinh thần. Tôi không thể và không được phép trình bày các chân lý này rõ hơn, ngay cả nếu có sẵn những từ ngữ cần thiết để diễn đạt điều mà cho đến nay ngay cả các đệ tử của lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai cũng chưa cảm nhận được dù chỉ mờ nhạt. Điều sẽ đến qua chuỗi các biến cố tinh thần ấy và phản ứng tất yếu của chúng lên toàn thể thân thể nhân loại hoàn toàn không liên hệ với tâm thức, với sự mặc khải hay với ánh sáng. Sẽ đến với nhân loại vào một thời điểm nào đó còn rất xa phía trước một giai đoạn chứng nghiệm, vừa cấu thành một điểm khủng hoảng vừa là một điểm tập trung nhất tâm. Sự chứng nghiệm ấy sẽ tóm kết, trong tâm thức được tác động một cách hữu hiệu, tất cả những gì phẩm tính nhạy cảm đã truyền đạt cho nhân loại qua các thời đại. Đó là sự viên mãn của hoạt động của tâm thức Christ, và là trạng thái được nói đến khi nói về Đức Christ: “Ngài sẽ thấy thành quả của sự lao nhọc của linh hồn Ngài và sẽ mãn nguyện.” Vào lúc khủng hoảng của sự mặc khải ấy, tại điểm tập trung nhất tâm cao nhất của nó, nhân loại như bằng một tiếng nói sẽ nói: “Kìa! Muôn vật đều đã trở nên mới.” Đây là sự thần thánh hoá của linh ảnh và là khúc dạo đầu cho một sự khai mở trong tâm thức chung tập thể của nhân loại (từ thời điểm ấy được mang lại một cách chậm rãi) về một số quyền năng và năng lực mà ngày nay nhân loại hoàn toàn không biết đến. Sự mặc khải trực tiếp ở phía trước sẽ chỉ là bước đầu tiên hướng tới điểm liên hệ xa xôi ấy, và ý nghĩa của nó sẽ không hiển lộ đối với thế hệ hiện tại, hay ngay cả thế hệ kế tiếp; tuy nhiên, nó sẽ được đánh giá ngày càng vững chắc dù dần dần khi tôn giáo thế giới mới, với sự nhấn mạnh của nó vào việc khẩn cầu các năng lượng và gợi lên “sự sống dồi dào hơn,” được phát triển và tạo ra hiệu quả tất yếu của nó. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng tác động của các năng lượng lên các hình tướng tạo ra những kết quả tùy thuộc vào phẩm tính của các hình tướng tiếp nhận ấn tượng. Đây là một phát biểu của quy luật huyền bí.

One of the purposes lying behind the present holocaust (World War II) has been the necessity for the [76] destruction of inadequate forms. This destruction could have been brought about by an act of God, such as a great natural catastrophe or a universal epidemic, and such had been the original intention. Humanity was, however, swept by forces that carried in themselves the seeds of destruction, and there was that in humanity which responded to those forces. Therefore the Law of destruction was permitted to work through humanity itself, and men are now destroying the forms through which many masses of men are functioning. This is both a good and a bad thing, viewed from the evolutionary angle. It is nevertheless a fact which cannot be gainsaid, and the problem, therefore, confronting the Custodians of the Will, working through the Custodians of the Plan, is to bring good out of the evil which man has wrought, and thus gear events to the larger issues.

Một trong những mục đích nằm phía sau cuộc tàn sát hiện nay (Đệ Nhị Thế Chiến) là sự cần thiết phải [76] phá huỷ những hình tướng không thích đáng. Sự phá huỷ này lẽ ra có thể được mang lại bởi một hành động của Thượng đế, như một tai biến thiên nhiên lớn hay một trận dịch toàn cầu, và đó đã từng là ý định ban đầu. Tuy nhiên, nhân loại đã bị cuốn đi bởi những mãnh lực mang trong chính chúng các hạt giống của sự huỷ diệt, và trong nhân loại có điều gì đó đã đáp ứng với những mãnh lực ấy. Vì vậy Định luật huỷ diệt đã được cho phép hoạt động thông qua chính nhân loại, và giờ đây con người đang phá huỷ những hình tướng mà qua đó nhiều quần chúng đang hoạt động. Điều này vừa tốt vừa xấu, xét từ góc độ tiến hoá. Tuy nhiên, đó là một sự kiện không thể phủ nhận, và vì thế vấn đề đặt ra trước Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí, đang làm việc thông qua Những Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ, là làm nảy sinh điều thiện từ điều ác mà con người đã tạo ra, và nhờ đó điều chỉnh các biến cố theo những vấn đề lớn lao hơn.

That is one of the objectives before the Hierarchy at this time (written April, 1943) as it prepares for participation in the May and June Full Moons. Can the forces be so organised and the energies so distributed that the full measure of good may be evoked from humanity by the invocation sounded forth by Shamballa? Can this evocation of a new cycle of spiritual contact and of liberation be brought about by the invocation of the men and women of good-will? Can the will-to-good of the spiritual Forces and the goodwill of humanity be brought together and produce those conditions in which the new world order may function? These are the important questions which the Hierarchy is attempting to solve.

Đó là một trong những mục tiêu trước mắt của Thánh Đoàn vào lúc này (viết tháng Tư, 1943) khi Thánh Đoàn chuẩn bị tham dự các kỳ Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu. Liệu các mãnh lực có thể được tổ chức như thế và các năng lượng có thể được phân phối như thế để toàn bộ mức độ thiện hảo có thể được gợi lên từ nhân loại bởi sự khẩn cầu được Shamballa xướng lên hay không? Liệu sự gợi lên của một chu kỳ mới về tiếp xúc tinh thần và giải thoát này có thể được mang lại bởi sự khẩn cầu của những người nam và nữ thiện chí hay không? Liệu Ý Chí-hướng Thiện của các Mãnh Lực tinh thần và thiện chí của nhân loại có thể được kết hợp lại và tạo ra những điều kiện trong đó trật tự thế giới mới có thể vận hành hay không? Đó là những câu hỏi quan trọng mà Thánh Đoàn đang cố giải quyết.

It must be remembered that the Science of Invocation and Evocation is a reciprocal effort. Humanity could not be invocative were it not that the Spiritual Hierarchy (and by that term I include both Shamballa and the planetary Hierarchy) is evoking the spirit of man. The invocative cry of humanity is evoked by the invocation or Sound of the spiritual hierarchies. Man’s responsibility, however, is to invoke at this time the Lords of Liberation and the Spirit of Peace. These are the Beings which have the power to raise humanity, once the race of men has assumed the right [77] attitude. They correspond to the group, in the third degree of Masonry, who raise the Master. Their response to the cry of mankind is largely, but not wholly, dependent upon the quality of that cry.

Cần phải nhớ rằng Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên là một nỗ lực hỗ tương. Nhân loại không thể khẩn cầu nếu Huyền Giai Tinh Thần (và bằng thuật ngữ đó tôi bao gồm cả Shamballa lẫn Thánh Đoàn hành tinh) không gợi lên tinh thần của con người. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại được gợi lên bởi sự khẩn cầu hay Âm Thanh của các huyền giai tinh thần. Tuy nhiên, trách nhiệm của con người là vào lúc này phải khẩn cầu các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình. Đây là những Đấng có quyền năng nâng nhân loại lên, một khi nhân loại đã đảm nhận thái độ [77] đúng đắn. Các Ngài tương ứng với nhóm, trong cấp độ thứ ba của Hội Tam Điểm, nâng vị Chân sư lên. Sự đáp ứng của Các Ngài đối với tiếng kêu của nhân loại phần lớn, nhưng không hoàn toàn, tùy thuộc vào phẩm tính của tiếng kêu ấy.

I wonder if I could make the problem of invocation clearer to you if I were to suggest that the words, “issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light,” have a meaning both for the individual initiate and for all groups of disciples and all Ashrams? The use of the words, “clear cold light,” is deeply symbolical. The clarity of that light indicates the function of the soul, as its great light enables the initiate to see light. The coldness of that light refers to the light of substance, which cannot be warmed into a glow by desire or by the heat of passion, but is now and at last only responsive to the light of the soul. It is therefore cold to all that limits and hinders, and this state of personality consciousness has to be realised at the very centre of man’s being; there the clear light of the soul and the cold light of the personality are united in the deepest conscious point of the disciple’s nature, at the extreme point of withdrawal (for which all concentration exercises and meditation processes have been a scientific preparation). Then, through the produced tension, the invocative cry can go forth with power and effectiveness. The same is true of the disciple’s group or of any group of true and selfless aspirants. There can come a moment in the life of the group when the blended cold light of the contributing personalities and the clear light of their souls can so function that united invocative cry will evoke a response. That cry will ever be concerned with the selfless service of the group—a service which, under the Plan, they are seeking to render to humanity.

Tôi tự hỏi liệu tôi có thể làm cho vấn đề khẩn cầu rõ hơn với các bạn nếu tôi gợi ý rằng những lời, “phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm,” mang một ý nghĩa cho cả điểm đạo đồ cá nhân lẫn cho mọi nhóm đệ tử và mọi ashram hay không? Việc dùng những từ “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” mang tính biểu tượng sâu sắc. Sự trong trẻo của ánh sáng ấy chỉ ra chức năng của linh hồn, vì ánh sáng lớn lao của nó giúp điểm đạo đồ thấy được ánh sáng. Sự lạnh lẽo của ánh sáng ấy nói đến ánh sáng của chất liệu, thứ không thể được hâm nóng thành một ánh rực bởi dục vọng hay bởi sức nóng của đam mê, mà giờ đây và cuối cùng chỉ còn đáp ứng với ánh sáng của linh hồn. Vì vậy nó lạnh lẽo đối với mọi điều giới hạn và cản trở, và trạng thái tâm thức phàm ngã này phải được chứng nghiệm ngay tại trung tâm của bản thể con người; tại đó ánh sáng trong trẻo của linh hồn và ánh sáng lạnh lẽo của phàm ngã được hợp nhất trong điểm hữu thức sâu thẳm nhất của bản chất đệ tử, tại điểm rút lui tột cùng (mà mọi bài tập tập trung và các tiến trình tham thiền đã là một sự chuẩn bị khoa học cho nó). Khi ấy, nhờ điểm tập trung nhất tâm được tạo ra, tiếng kêu khẩn cầu có thể phát ra với quyền năng và hiệu quả. Điều này cũng đúng với nhóm của đệ tử hay với bất kỳ nhóm nào gồm những người chí nguyện chân chính và vô ngã. Có thể đến một khoảnh khắc trong đời sống của nhóm khi ánh sáng lạnh lẽo dung hợp của các phàm ngã đóng góp và ánh sáng trong trẻo của các linh hồn họ có thể hoạt động đến mức tiếng kêu khẩn cầu hợp nhất ấy sẽ gợi lên một sự đáp ứng. Tiếng kêu ấy sẽ luôn luôn liên quan đến sự phụng sự vô ngã của nhóm—một sự phụng sự mà, dưới Thiên Cơ, họ đang tìm cách hiến dâng cho nhân loại.

As we continue our study of Rule III, I am myself struck with the appositeness of its words in connection with this particular historical cycle and in relation to the truths which are slowly taking form in the consciousness of humanity. New truths (and by that I mean truths which are new to the most advanced thinkers and which are only [78] dimly sensed by the most advanced esotericist) are hovering on the horizon of the human mind. The ground is being prepared for the sowing of this new seed and the stage set for the emergence of new Actors in the great drama of the unfolding revelation of Deity.

Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu Quy luật III, chính tôi cũng bị ấn tượng bởi tính thích đáng của các lời lẽ của nó trong mối liên hệ với chu kỳ lịch sử đặc biệt này và với các chân lý đang từ từ thành hình trong tâm thức nhân loại. Những chân lý mới (và bởi đó tôi muốn nói những chân lý mới đối với các nhà tư tưởng tiến bộ nhất và chỉ [78] được nhà bí truyền học tiến bộ nhất cảm nhận một cách mờ nhạt) đang lơ lửng trên chân trời của trí tuệ nhân loại. Mảnh đất đang được chuẩn bị cho việc gieo hạt giống mới này và sân khấu đang được dàn dựng cho sự xuất hiện của những Diễn Viên mới trong vở kịch lớn của sự mặc khải đang khai mở của Thượng đế.

Certain great concepts are firmly grasped by man. Certain great hopes are taking form and will become the pattern of man’s living. Certain great speculations will become experimental theories and later prove demonstrated facts. Behind all this, two things are happening: Men are being stimulated and brought to that point of necessary tension which (as a result of a crisis) must precede a great moving forward upon the Path of Evolution. Secondly, a process of reorientation is going on which will eventually enable the mass of men to present a united front upon views hitherto regarded as the vague visions of intelligent and optimistic dreamers. A great stirring and moving is going on. The world of men is seething in response to the inflow of spiritual energy. This energy has been evoked by the unrealised and inaudible cry of humanity itself. Humanity has become—for the first time in its history—spiritually invocative.

Một số khái niệm lớn đã được con người nắm vững. Một số hy vọng lớn đang thành hình và sẽ trở thành mô hình cho đời sống của con người. Một số suy đoán lớn sẽ trở thành các lý thuyết thực nghiệm và về sau chứng tỏ là những sự kiện đã được chứng minh. Đằng sau tất cả điều này, hai việc đang xảy ra: Con người đang được kích thích và được đưa đến điểm tập trung nhất tâm cần thiết mà (như là kết quả của một cuộc khủng hoảng) phải đi trước một sự tiến bước lớn trên Con đường Tiến Hoá. Thứ hai, một tiến trình tái định hướng đang diễn ra, rốt cuộc sẽ giúp quần chúng nhân loại có thể trình bày một mặt trận thống nhất về những quan điểm từ trước đến nay vẫn bị xem là những linh ảnh mơ hồ của những kẻ mộng mơ thông tuệ và lạc quan. Một sự khuấy động và chuyển động lớn đang diễn ra. Thế giới loài người đang sôi sục để đáp ứng với dòng tuôn vào của năng lượng tinh thần. Năng lượng này đã được gợi lên bởi chính tiếng kêu không được nhận biết và không thể nghe thấy của nhân loại. Nhân loại đã trở nên—lần đầu tiên trong lịch sử của mình—có tính khẩn cầu về mặt tinh thần.

Let us now consider briefly the nature of that which is being evoked, and thus gain an insight into the interrelation which exists between the three great planetary centres: The human centre, the hierarchical centre, and Shamballa. Each of these is evocative to the one functioning at a slower or lesser speed (if I might use such inappropriate terms) and invocative to the one above it—again using a form of words which is misleading in the extreme; there is no higher or lower and no greater or lesser in our universe of reality. There is only the interpenetration of substances which are all basically expressions of matter, and their vitalisation and organisation into forms of expression of the unknown Real. This essential Reality, we call spirit or life.

Giờ đây chúng ta hãy xét ngắn gọn bản chất của điều đang được gợi lên, và nhờ đó đạt được một cái nhìn sâu vào mối tương quan tồn tại giữa ba trung tâm hành tinh lớn: trung tâm nhân loại, trung tâm Thánh Đoàn, và Shamballa. Mỗi trung tâm trong số này đều có tính gợi lên đối với trung tâm hoạt động ở tốc độ chậm hơn hay thấp hơn (nếu tôi có thể dùng những thuật ngữ không thích hợp như vậy) và có tính khẩn cầu đối với trung tâm ở trên nó—một lần nữa dùng một lối diễn đạt cực kỳ dễ gây ngộ nhận; trong vũ trụ thực tại của chúng ta không có cao hay thấp, không có lớn hơn hay nhỏ hơn. Chỉ có sự thâm nhập lẫn nhau của các chất liệu mà tất cả về căn bản đều là những biểu hiện của vật chất, và sự tiếp sinh lực cùng tổ chức của chúng thành các hình tướng biểu hiện của Thực Tại chưa được biết đến. Thực Tại cốt yếu này, chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống.

As a result of the interplay of these two, humanity eventually appears in time and space. Humanity is the result of all sub-human forms of expression and experience and of the activity of superhuman Beings. These superhuman [79] Beings are the product of past evolutionary systems and are in Themselves the sum total of the great Divine Sacrifice as it focusses itself in our planetary life. Having passed through all previous phases of existence and perfected the consciousness aspect in Themselves through human experiences, They have transcended all that men can know and all states of consciousness with which he is or may be in the future familiar, and are now expressing a phase of divinity of which he can know naught. They LIVE. They are energy itself, and in Their totality They form the “bright centre lying far ahead.”

Kết quả của sự tương tác của hai điều này là, rốt cuộc, nhân loại xuất hiện trong thời gian và không gian. Nhân loại là kết quả của mọi hình thức biểu hiện và kinh nghiệm dưới nhân loại và của hoạt động của các Đấng siêu nhân. Các Đấng siêu nhân [79] này là sản phẩm của các hệ thống tiến hoá quá khứ và tự thân Các Ngài là tổng số của Đại Hiến Tế thiêng liêng khi nó tập trung chính mình trong sự sống hành tinh của chúng ta. Sau khi đã đi qua mọi giai đoạn hiện hữu trước đây và hoàn thiện phương diện tâm thức trong chính mình qua các kinh nghiệm nhân loại, Các Ngài đã siêu vượt mọi điều con người có thể biết và mọi trạng thái tâm thức mà y đang quen thuộc hay có thể quen thuộc trong tương lai, và giờ đây đang biểu lộ một phương diện thiên tính mà y không thể biết gì. Các Ngài SỐNG. Các Ngài chính là năng lượng, và trong tính toàn thể của mình Các Ngài tạo thành “trung tâm rực sáng nằm xa phía trước.”

3. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead.

3. Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước.

To this centre we give the name Shamballa, the component letters of which are numerically: S.H.A.M.B.A.L.L.A. or 1.8.1.4.2.1.3.3.1. This word equals the number 24 which in its turn equals 6. I would call your attention to the fact that the word has in it nine letters, and—as you know—nine is the number of initiation. The goal of all the initiatory process is to admit mankind into realisation of and identification with the will or purpose of Deity. The number 6 is the number of form or of manifestation, which is the agent or medium through which this realisation comes and by which the consciousness is unfolded so that it can become the foundation of the higher process which is instituted at the third initiation. That initiation is closely related to the third major centre, Shamballa; it is the third, from the angle of man’s perception and understanding, but the first from the angle of Deity Itself. Again, 6 being the number of the sixth ray, it is therefore the number of idealism and of that driving force which makes mankind move forward upon the path and in response to the vision and press upward towards the light. It is in reality devotion to an unseen goal, ever on ahead, and an unswerving recognition of the objective. Like all other divine qualities, it has its material counterpart, and that is why 666 is regarded as the number of the Beast or of materialism, the number of the [80] dominance of the three worlds prior to the process of reorientation and the expression of developed idealism and purpose. The third aspect expresses itself through pure materialism, and hence the three sixes. In an ancient book on numbers the initiate is defined as “the one who has experienced and expressed 666 and found it naught; who has dropped the 6 and become the 66, and thus has found himself upon the WAY; later, again, he drops the 6 and becomes the perfected 6—form, the instrument and expression of spirit.”

Đối với trung tâm này, chúng ta đặt tên là Shamballa, mà các chữ cái cấu thành của nó theo số học là: S.H.A.M.B.A.L.L.A. hay 1.8.1.4.2.1.3.3.1. Từ này bằng số 24, và đến lượt nó lại bằng 6. Tôi muốn lưu ý bạn đến sự kiện rằng từ này có chín chữ cái, và—như bạn biết—chín là con số của điểm đạo. Mục tiêu của toàn bộ tiến trình điểm đạo là đưa nhân loại vào sự chứng nghiệm và đồng hoá với ý chí hay mục đích của Thượng đế. Số 6 là con số của hình tướng hay của biểu hiện, vốn là tác nhân hay trung gian qua đó sự chứng nghiệm này xuất hiện và nhờ đó tâm thức được khai mở để có thể trở thành nền tảng cho tiến trình cao hơn được thiết lập ở lần điểm đạo thứ ba. Lần điểm đạo đó liên hệ mật thiết với trung tâm lớn thứ ba, Shamballa; đó là trung tâm thứ ba xét từ góc độ tri giác và thấu hiểu của con người, nhưng là trung tâm thứ nhất xét từ góc độ của chính Thượng đế. Lại nữa, vì 6 là con số của cung sáu, nên do đó nó là con số của chủ nghĩa lý tưởng và của mãnh lực thúc đẩy khiến nhân loại tiến bước trên đường đạo, đáp ứng với linh thị và vươn lên phía ánh sáng. Thực ra, đó là sự sùng tín đối với một mục tiêu vô hình, luôn ở phía trước, và là sự nhận biết không lay chuyển đối với cứu cánh. Giống như mọi phẩm tính thiêng liêng khác, nó có đối phần vật chất của mình, và đó là lý do vì sao 666 được xem là con số của Con Thú hay của chủ nghĩa duy vật, con số của sự [80] thống trị của ba cõi giới trước tiến trình tái định hướng và sự biểu lộ của chủ nghĩa lý tưởng cùng mục đích đã phát triển. Phương diện thứ ba biểu lộ chính nó qua chủ nghĩa duy vật thuần túy, và do đó có ba số sáu. Trong một cuốn sách cổ về các con số, điểm đạo đồ được định nghĩa là “người đã kinh nghiệm và biểu lộ 666 và thấy nó là hư không; người đã buông bỏ số 6 và trở thành 66, và như thế đã thấy mình ở trên CON ĐƯỜNG; về sau, một lần nữa, y buông bỏ số 6 và trở thành số 6 hoàn hảo—hình tướng, công cụ và sự biểu lộ của tinh thần.”

The number 24 is of deep interest, expressing as it does the double 12—the greater and the lesser zodiac. Just as the number 6 expresses space, so the number 24 expresses time, and is the key to the great cycle of manifestation. It is the clue to all cyclic appearance or incarnation. Its two figures define the method of evolution; 2 equals the quality of love-wisdom, working under the Law of Attraction and drawing man from one point of attainment to another; whilst 4 indicates the technique of conflict and the achieving of harmony through that conflict; 4 is also the number of the human hierarchy, and 2 is the number of the spiritual hierarchy. Technically speaking, until the third initiation, the initiate is “occupied with the relationship of the 2 and the 4; these, when placed side by side, connote relation; and when placed the one above the other, the initiate passes from the 4 into the 2.” Needless to say, there is much more to say anent these figures, but the above will suffice to show the satisfactory nature of esoteric numerology—not numerology as understood today.

Số 24 có mối quan tâm sâu sắc, vì nó biểu lộ số 12 kép—hoàng đạo lớn và hoàng đạo nhỏ. Cũng như số 6 biểu lộ không gian, thì số 24 biểu lộ thời gian, và là chìa khóa của đại chu kỳ biểu hiện. Nó là đầu mối cho mọi sự xuất hiện có chu kỳ hay lâm phàm. Hai chữ số của nó xác định phương pháp tiến hoá; 2 bằng phẩm tính bác ái – minh triết, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và lôi kéo con người từ một điểm thành tựu này sang một điểm khác; còn 4 chỉ ra kỹ thuật xung đột và sự đạt được hài hòa qua chính xung đột đó; 4 cũng là con số của huyền giai nhân loại, còn 2 là con số của Huyền Giai Tinh Thần. Nói theo thuật ngữ kỹ thuật, cho đến lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ “bận tâm với mối liên hệ của 2 và 4; khi được đặt cạnh nhau, chúng hàm ý mối liên hệ; và khi được đặt cái này lên trên cái kia, điểm đạo đồ đi từ 4 vào 2.” Không cần phải nói, còn nhiều điều hơn nữa có thể nói về các con số này, nhưng những gì nêu trên đủ để cho thấy bản chất thỏa đáng của số học huyền bí—không phải số học như ngày nay người ta hiểu.

I would have you note that the sounds which compose the word “Shamballa” are predominantly along the line of will or power or of first ray energy. Of the nine letters, six are on the first ray line of force. 1.1.1.3.3.1.—spirit and matter, will and intelligence. Two of them are along the second line of force, 4 and 2. The number 8 inaugurates ever a new cycle, following after the number 7, which is that of a relative perfection. It is the number of the Christ-consciousness; just as 7 is the number of man, 8 is the [81] number of the Hierarchy, and 9 is the number of initiation or of Shamballa. Forget not that, from the angle of the Hierarchy, the third initiation is regarded as the first major initiation.

Tôi muốn bạn lưu ý rằng các âm cấu thành từ “Shamballa” chủ yếu nằm trên đường của ý chí hay quyền năng hoặc của năng lượng cung một. Trong chín chữ cái, có sáu chữ nằm trên đường mãnh lực của cung một. 1.1.1.3.3.1.—tinh thần và vật chất, ý chí và trí tuệ. Hai chữ trong số đó nằm trên đường mãnh lực thứ hai, 4 và 2. Số 8 luôn luôn khai mở một chu kỳ mới, tiếp theo sau số 7, là con số của một sự hoàn hảo tương đối. Đó là con số của tâm thức Christ; cũng như 7 là con số của con người, 8 là [81] con số của Thánh Đoàn, và 9 là con số của điểm đạo hay của Shamballa. Đừng quên rằng, xét từ góc độ của Thánh Đoàn, lần điểm đạo thứ ba được xem là lần điểm đạo lớn đầu tiên.

These preliminary remarks are intended to convey much esoteric information to those who realise that number gives the clue to the form and purpose of the life which the form veils. At the third major initiation, the third planetary initiation (which is in fact the first solar initiation), the liberated disciple for the first time—alone and unaided—invokes the highest spiritual centre on our planet, Shamballa. This he does because, for the first time, consciously and with understanding, he registers the life aspect (which has brought his soul into action through the medium of form) and vibrates to the Monad. That registration enables him to contact “the bright centre, lying far ahead,” to blend his individual will with the divine will, and to cooperate with the purpose aspect of manifestation. He has learnt to function through form; he has become aware, as a soul, of the divine form in its many aspects and differentiations; he now starts off upon the way of the higher unfoldment, of which the first step is contact with Shamballa, involving the fusion of his self-will and his spiritual will with the Will of God.

Những nhận xét sơ bộ này nhằm truyền đạt nhiều thông tin huyền bí cho những ai nhận ra rằng số học cung cấp đầu mối cho hình tướng và mục đích của sự sống mà hình tướng che giấu. Ở lần điểm đạo lớn thứ ba, lần điểm đạo hành tinh thứ ba (thực ra là lần điểm đạo thái dương thứ nhất), đệ tử được giải thoát lần đầu tiên—một mình và không được trợ giúp—khẩn cầu trung tâm tinh thần cao nhất trên hành tinh chúng ta, Shamballa. Y làm điều này bởi vì lần đầu tiên, một cách hữu thức và với sự thấu hiểu, y ghi nhận phương diện sự sống (đã đưa linh hồn của y vào hoạt động qua trung gian của hình tướng) và rung động theo chân thần. Sự ghi nhận đó giúp y tiếp xúc với “trung tâm sáng chói, nằm xa phía trước,” hòa trộn ý chí cá nhân của mình với ý chí thiêng liêng, và hợp tác với phương diện mục đích của biểu hiện. Y đã học cách hoạt động qua hình tướng; với tư cách một linh hồn, y đã trở nên nhận biết hình tướng thiêng liêng trong nhiều phương diện và biến phân của nó; giờ đây y bắt đầu lên đường trên con đường của sự khai mở cao hơn, mà bước đầu tiên là tiếp xúc với Shamballa, bao hàm sự dung hợp ý chí vị kỷ và ý chí tinh thần của y với Ý Chí của Thượng Đế.

At the third initiation he stands before the One Initiator, the Lord of the World, and “sees His star shine forth” and hears the sound which—to quote the Old Commentary:

Ở lần điểm đạo thứ ba, y đứng trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất, Đức Chúa Tể Thế Giới, và “thấy ngôi sao của Ngài chiếu sáng” và nghe âm thanh mà—trích Cổ Luận:

“…pours forth from that central point of power where substance and the outer life have met together, where spirit utters loud the cry which drew the form to meet the highest need; where energy comes forth and blends with force and (in the blending) music had its start within the sphere of blending and of being thus created.

“…tuôn ra từ điểm quyền năng trung tâm ấy, nơi chất liệu và sự sống bên ngoài đã gặp nhau, nơi tinh thần cất cao tiếng kêu đã lôi kéo hình tướng đến để đáp ứng nhu cầu cao nhất; nơi năng lượng phát ra và hòa trộn với mãnh lực và (trong sự hòa trộn ấy) âm nhạc đã khởi đầu bên trong khối cầu của sự hòa trộn và của việc được tạo thành như thế.

“Man only hears the distant sound and knows it not for what it is. The disciple hears the sound and sees its form. The one who stands for the third time upon the mountain top hears a clear note and [82] knows it as his own, as ours, as yours, and yet the note which none have sounded forth.”

“Con người chỉ nghe âm thanh xa xăm và không biết nó là gì. Đệ tử nghe âm thanh và thấy hình tướng của nó. Người đứng lần thứ ba trên đỉnh núi nghe một âm điệu rõ ràng và [82] biết đó là của mình, của chúng tôi, của bạn, và tuy vậy lại là âm điệu mà không ai đã từng xướng lên.”

4. When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire.

4. Khi sự đòi hỏi và sự đáp ứng tan biến trong một Đại Âm duy nhất, hãy đi ra ngoài sa mạc, bỏ lại biển cả phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa.

This means more than its obvious significance. Superficially it can mean that when the initiate hears the Sound, he leaves behind the desert life of physical incarnation, the emotional life of the astral plane, seething and unstable as the sea, and functions on the plane of mind, of which the symbol is fire. That is the most elementary and obvious meaning, and as this section of A Treatise on the Seven Rays is written for those with initiate understanding, the obvious interpretation will not prove satisfactory. The meaning must be broader and deeper. The words “outward from the desert” have application for the entire life of the incarnated Monad in the three worlds of human endeavour and enterprise. “Leaving the sea behind” has reference to the withdrawal of the initiate from all sensuous experience because, as I have pointed out, the state of consciousness or awareness is superseded when the higher initiations are taken and their place is filled by a state of being for which we have no word but the unsatisfactory one of identification. This state of being is something very different to consciousness as you understand it. The phrase therefore means (if such a misleading form of words can be justifiably used) that the initiate leaves consciousness itself behind and the five worlds of life expression are transcended; at the third initiation the initiate grasps what is meant when the One in Whom we live and move and have our being (note that expression) is referred to as Fire. I elaborated this theme in A Treatise on Cosmic Fire—a book which evades understanding by all except those with initiate consciousness. Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself.

Điều này hàm ý nhiều hơn ý nghĩa hiển nhiên của nó. Trên bề mặt, nó có thể có nghĩa là khi điểm đạo đồ nghe được Âm Thanh, y bỏ lại phía sau đời sống sa mạc của lâm phàm hồng trần, đời sống cảm xúc của cõi cảm dục, sôi động và bất ổn như biển cả, và hoạt động trên cõi trí, mà biểu tượng là lửa. Đó là ý nghĩa sơ đẳng và hiển nhiên nhất, và vì phần này của Luận về Bảy Cung được viết cho những người có sự thấu hiểu của điểm đạo đồ, nên cách giải thích hiển nhiên sẽ không thỏa đáng. Ý nghĩa phải rộng hơn và sâu hơn. Những lời “ra ngoài sa mạc” áp dụng cho toàn bộ đời sống của chân thần đang lâm phàm trong ba cõi thấp của nỗ lực và hoạt động nhân loại. “Bỏ lại biển cả phía sau” ám chỉ sự rút lui của điểm đạo đồ khỏi mọi kinh nghiệm cảm quan bởi vì, như tôi đã chỉ ra, trạng thái tâm thức hay nhận biết được thay thế khi các lần điểm đạo cao hơn được tiếp nhận, và chỗ của nó được lấp đầy bởi một trạng thái hiện hữu mà chúng ta không có từ nào khác ngoài từ không thỏa đáng là sự đồng hoá. Trạng thái hiện hữu này là điều gì đó rất khác với tâm thức như bạn hiểu. Do đó, cụm từ này có nghĩa (nếu có thể chính đáng dùng một cách diễn đạt dễ gây hiểu lầm như vậy) rằng điểm đạo đồ bỏ lại chính tâm thức ở phía sau và năm thế giới biểu lộ sự sống được vượt qua; ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ nắm được điều được hàm ý khi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu được gọi là Lửa. Tôi đã khai triển chủ đề này trong Luận về Lửa Vũ Trụ—một cuốn sách vượt ngoài sự thấu hiểu của tất cả mọi người trừ những ai có tâm thức điểm đạo đồ. Lửa là tổng thể của cái phá hủy hình tướng, tạo ra sự thanh khiết hoàn toàn trong cái không phải là chính nó, phát sinh hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và chính là sinh lực.

[83]

[83]

This initiate realisation is all brought about by the sudden appreciation or apprehension of sound, by the awakening of the inner ear to the significance of the Voice, just as the disciple in the earlier stage awakened to the significance of vision. That is why, at the third initiation, the initiate sees the star and hears the sound. At the first two initiations, he sees the light and hears the Word; but this is something different and is the higher correspondence to the earlier experience. It will be obvious that I can say no more upon this subject.

Sự chứng nghiệm của điểm đạo đồ này đều được mang lại bởi sự lĩnh hội hay nắm bắt đột ngột về âm thanh, bởi sự thức tỉnh của nội nhĩ đối với ý nghĩa của Tiếng Nói, cũng như đệ tử ở giai đoạn trước đã thức tỉnh đối với ý nghĩa của linh thị. Đó là lý do vì sao, ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ thấy ngôi sao và nghe âm thanh. Ở hai lần điểm đạo đầu, y thấy ánh sáng và nghe Linh từ; nhưng đây là điều gì đó khác biệt và là sự tương ứng cao hơn với kinh nghiệm trước đó. Hẳn là hiển nhiên rằng tôi không thể nói thêm gì nữa về chủ đề này.

It is essential, however, that some knowledge begin to reach the public anent the highest spiritual centre to which (as the Gospel story intimates) Christ Himself was attentive. Frequently we read in the New Testament that “the Father spoke to Him,” that “He heard a voice,” and that the seal of affirmation (as it is occultly called) was given to Him. Only the Father, the planetary Logos, the Lord of the World, enunciates the final affirmative sound. This has no reference—when it occurs—to the earlier initiations, but only to the final ones. There are five obvious crises of initiation which concern the Master Jesus as step by step He took or re-enacted the five initiations. But lying behind this obvious and practical teaching, lies an undercurrent or thread of higher revelation. This is concerned with the realisations of the overshadowing Christ as He registered the Voice which is heard at the third, fifth, sixth and seventh initiations. The Gospel story gives us the five Initiations of the Master Jesus, beginning with the first and ending with the fifth. But it also gives the initiations of the Christ, starting from the second and ending with the seventh. The latter is left incomplete, and the Voice is not recorded, because at the Resurrection and Ascension we are not told of the hearing of the affirmative sound. That will be heard when the Christ completes His work at the time of the Second Coming. Then the great seventh initiation, which is a dual one (love-wisdom in full manifestation motivated by power and will), will be consummated, and the Buddha and the Christ will together pass before the Lord of the [84] World, together see the glory of the Lord, and together pass to higher service of a nature and calibre unknown to us.

Tuy nhiên, điều thiết yếu là một số hiểu biết phải bắt đầu đến được với công chúng về trung tâm tinh thần cao nhất mà (như câu chuyện Phúc Âm cho thấy) chính Đức Christ đã chú tâm đến. Chúng ta thường đọc trong Tân Ước rằng “Đức Cha đã phán với Ngài,” rằng “Ngài đã nghe một tiếng nói,” và rằng ấn tín xác nhận (như huyền bí học gọi vậy) đã được ban cho Ngài. Chỉ có Đức Cha, Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, mới phát ra âm thanh xác nhận tối hậu. Khi điều này xảy ra, nó không liên quan gì đến các lần điểm đạo trước đó, mà chỉ liên quan đến các lần cuối cùng. Có năm cuộc khủng hoảng điểm đạo hiển nhiên liên quan đến Chân sư Jesus khi từng bước một Ngài tiếp nhận hay tái hiện năm lần điểm đạo. Nhưng nằm sau giáo huấn hiển nhiên và thực tiễn này là một dòng ngầm hay sợi chỉ của sự mặc khải cao hơn. Điều này liên quan đến những chứng nghiệm của Đức Christ phủ bóng khi Ngài ghi nhận Tiếng Nói được nghe ở các lần điểm đạo thứ ba, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Câu chuyện Phúc Âm cho chúng ta năm lần Điểm Đạo của Chân sư Jesus, bắt đầu từ lần thứ nhất và kết thúc ở lần thứ năm. Nhưng nó cũng cho chúng ta các lần điểm đạo của Đức Christ, bắt đầu từ lần thứ hai và kết thúc ở lần thứ bảy. Lần sau cùng được để dang dở, và Tiếng Nói không được ghi lại, bởi vì ở cuộc Phục Sinh và Thăng Thiên, chúng ta không được kể về việc nghe âm thanh xác nhận. Âm thanh đó sẽ được nghe khi Đức Christ hoàn tất công việc của Ngài vào thời điểm Quang Lâm lần thứ hai. Khi ấy lần điểm đạo lớn thứ bảy, vốn là một lần điểm đạo kép (bác ái – minh triết trong biểu hiện trọn vẹn được thúc đẩy bởi quyền năng và ý chí), sẽ được hoàn tất, và Đức Phật cùng Đức Christ sẽ cùng nhau đi qua trước Đức Chúa Tể của [84] Thế Giới, cùng nhau thấy vinh quang của Chúa, và cùng nhau bước vào sự phụng sự cao hơn có bản chất và tầm mức mà chúng ta không biết.

In this connection it is wise to remember that three great energies are focussed in Shamballa, the seat of fire:

Trong mối liên hệ này, thật khôn ngoan khi nhớ rằng có ba năng lượng lớn được tập trung trong Shamballa, nơi ngự của lửa:

1. The Energy of Purification: This is the power, innate in the manifested universe, which gradually and steadily adapts the substance aspect to the spiritual by a process which we call purification, where humanity is concerned. It involves the elimination of all that hinders the nature of divinity from full expression, and this again from inherent or latent capacity. This necessitates the leaving behind, stage after stage, cycle after cycle, life after life, and plane after plane, of every tendency in the form nature which veils or hides the glory of God. It is essentially the energy which substitutes good for evil. Human thinking has debased this concept so that purification is related mainly to physical phenomena and physical plane life and to a selfish idealism which is largely based on the thought of the sanitary care of substance. An enforced celibacy and a rigid vegetarianism are familiar instances of this, and these physical disciplines have been put in the place of emotional loveliness, mental clarity, intuitional illumination, and the thoughts of the aspirant become focussed downwards into matter and not outwards and upwards into light.

1. Năng Lượng Thanh Luyện: Đây là quyền năng, vốn có trong vũ trụ biểu hiện, dần dần và đều đặn thích nghi phương diện chất liệu với phương diện tinh thần bằng một tiến trình mà chúng ta gọi là thanh luyện, khi liên quan đến nhân loại. Nó bao hàm việc loại bỏ mọi thứ cản trở bản chất của thiên tính khỏi sự biểu lộ trọn vẹn, và điều này lại xuất phát từ năng lực cố hữu hay tiềm tàng. Điều này đòi hỏi phải bỏ lại phía sau, giai đoạn này qua giai đoạn khác, chu kỳ này qua chu kỳ khác, đời này qua đời khác, cõi này qua cõi khác, mọi khuynh hướng trong bản chất hình tướng vốn che phủ hay giấu kín vinh quang của Thượng đế. Về bản chất, đó là năng lượng thay thế điều ác bằng điều thiện. Tư tưởng nhân loại đã hạ thấp khái niệm này đến mức sự thanh luyện chủ yếu được liên hệ với các hiện tượng thể xác và đời sống cõi hồng trần, cũng như với một chủ nghĩa lý tưởng ích kỷ phần lớn dựa trên ý nghĩ chăm sóc vệ sinh cho chất liệu. Sự độc thân cưỡng bách và chế độ ăn chay nghiêm ngặt là những ví dụ quen thuộc của điều này, và các kỷ luật thể xác ấy đã được đặt vào chỗ của vẻ đẹp cảm xúc, sự sáng rõ trí tuệ, sự soi sáng trực giác, khiến tư tưởng của người chí nguyện bị tập trung xuống dưới vào vật chất chứ không hướng ra ngoài và đi lên vào ánh sáng.

2. The Energy of Destruction: This is a destruction which removes the forms which are imprisoning the inner spiritual life, and hiding the inner soul light. This energy is therefore one of the major aspects of the purificatory nature of the divine Life, and that is the reason why I have put purification ahead of destruction. It is the destroying aspect of life itself, just as there is a destructive agency in matter itself. Two things must be borne in mind in connection with the destroyer aspect of Deity and with those responsible for its appearance:

2. Năng Lượng Hủy Diệt: Đây là sự hủy diệt loại bỏ những hình tướng đang giam hãm sự sống tinh thần bên trong và che giấu ánh sáng linh hồn nội tại. Do đó, năng lượng này là một trong những phương diện chính của bản chất thanh luyện của Sự sống thiêng liêng, và đó là lý do vì sao tôi đặt sự thanh luyện trước sự hủy diệt. Đó là phương diện hủy diệt của chính sự sống, cũng như có một tác nhân hủy diệt trong chính vật chất. Có hai điều phải được ghi nhớ liên quan đến phương diện hủy diệt của Thượng đế và những Đấng chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của nó:

a. The destructive activity is set in motion through the will of Those Who constitute the Council at Shamballa and Who are instrumental in bringing the forms in all the subhuman kingdoms into line with the [85] evolving purpose. Under cyclic law, this destructive energy comes into play and destroys the forms of life which prevent divine expression.

a. Hoạt động hủy diệt được khởi động qua ý chí của Những Đấng tạo thành Hội Đồng tại Shamballa và là những Đấng có vai trò đưa các hình tướng trong mọi giới dưới nhân loại vào đúng hàng với [85] mục đích đang tiến hoá. Dưới định luật chu kỳ, năng lượng hủy diệt này đi vào hoạt động và phá hủy những hình tướng sự sống ngăn cản sự biểu lộ thiêng liêng.

b. It is also brought into activity through the determinations of humanity itself which—under the Law of Karma—makes man the master of his own destiny, leading him to initiate those causes which are responsible for the cyclic events and consequences in human affairs.

b. Nó cũng được đưa vào hoạt động qua chính các quyết định của nhân loại, là điều—dưới Định luật Nghiệp quả—khiến con người trở thành chủ nhân của định mệnh mình, dẫn y đến việc khởi xướng những nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các biến cố và hậu quả có chu kỳ trong các công việc của loài người.

There is naturally a close connection between the first Ray of Will or Power, the energies concentrated at Shamballa and the Law of Karma, particularly in its planetary potency and in relation to advanced humanity. It will be apparent, therefore, that the more rapidly the individual aspirant approaches the third initiation, the more rapidly and directly will the individual’s karma be worked out. Monadic relation, as it becomes established, lets loose the destructive aspect of the basic energy, and all hindrances are destroyed with expedition. This is true also of humanity as a whole. Two factors have, subjectively and spiritually, precipitated this world crisis: The growth and development of the human family and (as you have been told) the inflow of the Shamballa force at this particular time, both as a result of Karmic law and the planned decision of the Great Council.

Đương nhiên có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, các năng lượng tập trung tại Shamballa và Định luật Nghiệp quả, đặc biệt trong tiềm lực hành tinh của nó và trong mối liên hệ với nhân loại tiến bộ. Do đó, sẽ hiển nhiên rằng người chí nguyện cá nhân càng nhanh chóng tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba bao nhiêu, thì nghiệp quả của cá nhân ấy càng được giải quyết nhanh chóng và trực tiếp bấy nhiêu. Mối liên hệ chân thần, khi được thiết lập, giải phóng phương diện hủy diệt của năng lượng căn bản, và mọi chướng ngại bị phá hủy một cách mau lẹ. Điều này cũng đúng với toàn thể nhân loại. Hai yếu tố đã, một cách chủ quan và tinh thần, làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới này: sự tăng trưởng và phát triển của gia đình nhân loại và (như bạn đã được bảo) sự tuôn vào của mãnh lực Shamballa vào đúng thời điểm này, cả hai đều là kết quả của Định luật Nghiệp quả và quyết định có kế hoạch của Đại Hội Đồng.

3. The Energy of Organisation: This is the energy which set in motion the activity of the great Ray Lives and started the motivation and impulse of that which produced manifestation. Thus were the seven ray qualities brought into expression. The relation of spirit and matter produced this ordered process which again, cyclically and under law, creates the manifested world as a field for soul development and as an area wherein divine purpose is wrought out through the medium of the plan. Again I call your attention to the distinction existing between purpose and plan. This is the aspect, emanating from Shamballa, and inherent also in form (as are the other two), which eventually relates the human will, through the right use of the mind, to the organised planning of his separate and individual life in the [86] three worlds, and which eventually relates and reorients that will to the Will of God.

3. Năng Lượng Tổ Chức: Đây là năng lượng đã khởi động hoạt động của các Sự Sống Cung lớn và bắt đầu động cơ cùng xung lực của cái đã tạo ra biểu hiện. Nhờ đó bảy phẩm tính cung được đưa vào biểu lộ. Mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất đã tạo ra tiến trình có trật tự này, tiến trình mà một lần nữa, theo chu kỳ và dưới định luật, tạo ra thế giới biểu hiện như một cánh đồng cho sự phát triển của linh hồn và như một khu vực trong đó mục đích thiêng liêng được thực hiện qua trung gian của Thiên Cơ. Một lần nữa tôi xin lưu ý bạn đến sự phân biệt hiện hữu giữa mục đích và Thiên Cơ. Đây là phương diện, phát ra từ Shamballa, và cũng vốn có trong hình tướng (như hai phương diện kia), cuối cùng liên hệ ý chí con người, qua việc sử dụng đúng đắn trí tuệ, với sự hoạch định có tổ chức của đời sống riêng biệt và cá nhân của y trong [86] ba cõi thấp, và cuối cùng liên hệ và tái định hướng ý chí đó với Ý Chí của Thượng Đế.

These three energies are faintly symbolised for us in the life of Christ when overshadowing the Master Jesus, two thousand years ago.

Ba năng lượng này được tượng trưng một cách mờ nhạt cho chúng ta trong cuộc đời của Đức Christ khi phủ bóng Chân sư Jesus, hai ngàn năm trước.

The purificatory aspect of the monadic force is indicated at the Baptism episode; secondly, the destroyer aspect can be seen expressing itself at the time of the Crucifixion, when it rent the veil of the Temple from the top to the bottom. The episode which indicates the energy of organisation and the relation of the spiritual will of the Christ to the purpose and the will of the Father appears when He said, in the Garden of Gethsemane, “Not my will but Thine be done.” This final episode is closely related to the consciously expressed will of the Christ Child when He realised in the Temple that He must be about His Father’s business and that His will was to do the will and fulfill the purpose of the Father, the Monad and the One of Whom the Monad is the expression.

Phương diện thanh luyện của mãnh lực chân thần được chỉ ra trong biến cố Rửa Tội; thứ hai, phương diện hủy diệt có thể được thấy biểu lộ vào lúc Đóng Đinh, khi nó xé bức màn của Đền Thờ từ trên xuống dưới. Biến cố chỉ ra năng lượng tổ chức và mối liên hệ của ý chí tinh thần của Đức Christ với mục đích và ý chí của Đức Cha xuất hiện khi Ngài nói trong Vườn Gethsemane: “Xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha.” Biến cố cuối cùng này liên hệ chặt chẽ với ý chí được biểu lộ một cách hữu thức của Hài Nhi Christ khi Ngài nhận ra trong Đền Thờ rằng Ngài phải lo công việc của Cha Ngài và rằng ý chí của Ngài là làm theo ý chí và hoàn thành mục đích của Đức Cha, của chân thần và của Đấng mà chân thần là sự biểu lộ.

It is these three energies which have precipitated the world crisis, and it is helpful for us to recognise the factual nature of the Shamballa forces as they play upon our planetary life and work out human destiny. The great energy of purification is regenerating humanity, and of this the widespread fires which have been such an outstanding characteristic of this war (1914-1945) are the outward and visible sign. Much evil is being burnt out through the revelation of the appalling character of that evil, and through this, unity is being produced. Mankind has looked upon evil in every land and known it to be wrought by men. Men have seen, and that sight will never be forgotten, and the horror thus engendered will aid in stiffening the will of humanity to betterment. The energy of destruction has its side of beauty when the spiritual values are grasped. That which has so grossly imprisoned the human spirit is disappearing; the rocky grave of humanity is breaking open and releasing men to a life of resurrection. Forget not that in the interim between the tomb experience and the appearance in living [87] form to His disciples, the Master Jesus went down into hell (figuratively speaking), carrying release for those to be found there. There will be an interim between the darkness of the war with the evil history of the past, and the appearance of a living civilisation and culture based on the spiritual values and intelligently developing the divine purpose. The stage is now being set for this.

Chính ba năng lượng này đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới, và thật hữu ích cho chúng ta khi nhận ra bản chất thực tế của các mãnh lực Shamballa khi chúng tác động lên sự sống hành tinh của chúng ta và triển khai định mệnh nhân loại. Năng lượng thanh luyện vĩ đại đang tái sinh nhân loại, và những đám cháy lan rộng vốn là một đặc điểm nổi bật của cuộc chiến này (1914-1945) là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của điều đó. Nhiều điều ác đang bị thiêu rụi nhờ sự phơi bày bản chất khủng khiếp của điều ác ấy, và qua đó, sự hợp nhất đang được tạo ra. Nhân loại đã nhìn vào điều ác ở mọi quốc gia và biết rằng nó do con người gây ra. Con người đã thấy, và cái thấy ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng, và nỗi kinh hoàng do đó sinh ra sẽ giúp làm cứng rắn ý chí của nhân loại hướng đến sự cải thiện. Năng lượng hủy diệt có mặt đẹp của nó khi các giá trị tinh thần được nắm bắt. Cái đã giam hãm tinh thần con người một cách thô bạo đang biến mất; ngôi mộ đá của nhân loại đang mở ra và giải phóng con người vào một đời sống phục sinh. Đừng quên rằng trong khoảng thời gian giữa kinh nghiệm mồ mả và sự xuất hiện trong hình tướng sống động trước các đệ tử của Ngài, Chân sư Jesus đã đi xuống địa ngục (nói theo nghĩa bóng), mang theo sự giải thoát cho những ai ở đó. Sẽ có một khoảng thời gian trung gian giữa bóng tối của chiến tranh với lịch sử xấu xa của quá khứ, và sự xuất hiện của một nền văn minh và văn hóa sống động dựa trên các giá trị tinh thần và phát triển một cách thông tuệ mục đích thiêng liêng. Hiện nay sân khấu đang được chuẩn bị cho điều này.

The Crucifixion and the tomb experience lead eventually to resurrection and to life. The destruction is appalling, but it is only the destruction of the form side of manifestation in this particular cycle, and (a point which I would beg you not to forget) it is the destruction of much planetary evil, focussed for aeons in humanity as a whole and brought to the surface and precipitated into violent activity by a group of evil men whose destiny it was. This destiny was the result of their own deliberate choice, and of prolonged cycles of purely material selfishness.

Sự Đóng Đinh và kinh nghiệm mồ mả cuối cùng dẫn đến phục sinh và sự sống. Sự hủy diệt thật kinh hoàng, nhưng đó chỉ là sự hủy diệt mặt hình tướng của biểu hiện trong chu kỳ đặc biệt này, và (một điểm mà tôi khẩn thiết xin bạn đừng quên) đó là sự hủy diệt của nhiều điều ác hành tinh, đã tập trung trong nhân loại nói chung suốt nhiều đại kiếp và được đưa lên bề mặt rồi làm ngưng tụ thành hoạt động bạo lực bởi một nhóm người ác mà đó là định mệnh của họ. Định mệnh này là kết quả của chính sự lựa chọn có chủ ý của họ, và của những chu kỳ kéo dài của tính ích kỷ thuần túy vật chất.

I would ask all aspirants and disciples to ponder upon the destructive purpose of God—a purpose which is motivated by love, guided by a balanced judgment as to form, and which cherishes and fosters the life and its resultant spiritual values.

Tôi muốn yêu cầu tất cả những người chí nguyện và các đệ tử suy ngẫm về mục đích hủy diệt của Thượng đế—một mục đích được thúc đẩy bởi tình thương, được hướng dẫn bởi sự phán đoán quân bình đối với hình tướng, và trân trọng cũng như nuôi dưỡng sự sống cùng các giá trị tinh thần do nó tạo ra.

There is an inherent destructive energy in matter itself and an energy of very great potency; it is with this energy that the Axis Powers are working. The destructive energy, emanating from “the bright centre,” Shamballa, is something very different, and I would ask you to remember this. The destroying power of spirit is not the same as that of matter. A human being destroys his own form again and again through the evil which he does and by the material focus of his desires; the following of a life of vice will breed disease, as is well known.

Có một năng lượng hủy diệt cố hữu trong chính vật chất và đó là một năng lượng có tiềm lực rất lớn; chính với năng lượng này mà các Cường quốc Trục đang hoạt động. Năng lượng hủy diệt phát ra từ “trung tâm sáng chói,” Shamballa, là điều gì đó rất khác, và tôi muốn bạn ghi nhớ điều này. Quyền năng hủy diệt của tinh thần không giống với quyền năng của vật chất. Một con người phá hủy hình tướng của chính mình hết lần này đến lần khác qua điều ác mà y làm và bởi sự tập trung vật chất của các ham muốn của y; việc theo đuổi một đời sống truỵ lạc sẽ sinh ra bệnh tật, như ai cũng biết.

The disciple can also destroy his form nature through selfless service and devotion to a cause. In both cases the form is destroyed, but the motivating impulse is different and the energy of destruction comes from different sources. The death of a Master Jesus or of a Father Damien, and [88] the death of a Hitler or of a murderer, are not the result of the same essential energies.

Đệ tử cũng có thể phá hủy bản chất hình tướng của mình qua sự phụng sự vô ngã và sự sùng tín đối với một chính nghĩa. Trong cả hai trường hợp, hình tướng đều bị phá hủy, nhưng xung lực thúc đẩy thì khác nhau và năng lượng hủy diệt đến từ những nguồn khác nhau. Cái chết của một Chân sư Jesus hay của một Cha Damien, và [88] cái chết của một Hitler hay của một kẻ sát nhân, không phải là kết quả của cùng những năng lượng cốt yếu.

When the din of battle and the smoke and fire of bombing and the cruel effects on human bodies have faded into the past, it will be apparent to the understanding aspirant that much evil has been destroyed in all fields of human activity—in the field of theological religion, in the field of politics, and in the field of selfish economic competition. It will be for humanity then to precipitate and stabilise the appearing good, and this they will learn to do through the utilisation of the third Shamballa energy—the energy of organisation. The new world will be built upon the ruins of the old. The new structure will rise. Men of goodwill everywhere, under the guidance of the New Group of World Servers, will organise themselves into battalions of life, and their first major task must be the development of right human relations, through the education of the masses. This means the paralleling development of an enlightened public opinion, which is (speaking esoterically) right response to the sound which conveys the will of God to the ears of the attentive. Then humanity will indeed move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire.

Khi tiếng ồn của chiến trận và khói lửa của bom đạn cùng những tác động tàn nhẫn lên thân thể con người đã lùi vào quá khứ, thì đối với người chí nguyện có sự thấu hiểu, sẽ hiển nhiên rằng nhiều điều ác đã bị phá hủy trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người—trong lĩnh vực tôn giáo thần học, trong lĩnh vực chính trị, và trong lĩnh vực cạnh tranh kinh tế ích kỷ. Khi ấy, nhân loại sẽ phải làm ngưng tụ và ổn định điều thiện đang xuất hiện, và họ sẽ học cách làm điều đó qua việc sử dụng năng lượng Shamballa thứ ba—năng lượng tổ chức. Thế giới mới sẽ được xây dựng trên đống đổ nát của thế giới cũ. Cấu trúc mới sẽ vươn lên. Những người thiện chí ở khắp nơi, dưới sự hướng dẫn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, sẽ tự tổ chức thành những đạo quân của sự sống, và nhiệm vụ lớn đầu tiên của họ phải là phát triển các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, qua sự giáo dục quần chúng. Điều này có nghĩa là sự phát triển song song của một dư luận quần chúng được soi sáng, vốn là (nói theo huyền bí học) sự đáp ứng đúng đắn đối với âm thanh truyền đạt Ý Chí của Thượng Đế đến tai những ai biết lắng nghe. Khi ấy nhân loại quả thật sẽ đi ra ngoài sa mạc, bỏ lại biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa.

RULE FOUR — QUY LUẬT BỐN

At the time of the June Full Moon, each year, the love of God, the spiritual essence of solar fire, reaches its highest point of expression. This it achieves through the instrumentality of the Hierarchy, that great group of souls which has ever been the custodian of the principle of light, of enlightened love, and which always—down the ages—focusses its attention upon the race of men when the spiritual influence is at its height. This it does through one of the great Sons of God. The Full Moon of June of 1943 saw this outpouring of divine love reach its highest expression for all time, and at the point of attainment which is, for that particular Son of God, His highest also. Such is the Law. When an embodied Christ in time and space reaches [89] His goal of achievement, recognition of this comes to Him at the time of the June Full Moon, for in that sign of Gemini the complete victory of life over form, and of spirit over matter, is consummated and celebrated.

Vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu mỗi năm, tình thương của Thượng đế, tinh túy tinh thần của lửa thái dương, đạt đến điểm biểu lộ cao nhất. Điều này được thực hiện qua trung gian của Thánh Đoàn, nhóm linh hồn vĩ đại luôn luôn là người gìn giữ nguyên khí ánh sáng, của tình thương được soi sáng, và luôn luôn—suốt các thời đại—tập trung sự chú ý của mình vào nhân loại khi ảnh hưởng tinh thần ở mức cao nhất. Điều này được thực hiện qua một trong những Con của Thượng đế vĩ đại. Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943 đã chứng kiến lần tuôn đổ tình thương thiêng liêng này đạt đến sự biểu lộ cao nhất từ trước đến nay, và tại điểm thành tựu mà đối với Con của Thượng đế đặc biệt ấy, cũng là cao nhất của Ngài. Đó là Định luật. Khi một Đức Christ nhập thể trong thời gian và không gian đạt đến mục tiêu thành tựu của Ngài, sự công nhận điều này đến với Ngài vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu, vì trong dấu hiệu Song Tử ấy, chiến thắng trọn vẹn của sự sống đối với hình tướng, và của tinh thần đối với vật chất, được hoàn tất và cử hành.

The love of God, focussed in the Christ, seeks to express itself in some act of peculiarly useful service to humanity. This service has taken different forms down through the ages, but it has always expressed itself through two episodes: One of them, the first, reveals the Christ in His capacity of the God-Saviour, sacrificing Himself through pure love for His fellowmen. The annals of the Hierarchy contain many such histories of sacrifice and service, dating far back into the very night of time. The saving principle of pure love finds its expression at the hour of humanity’s greatest need in the work of a World Saviour and “for the salvation of His people, He comes forth.” He thus meets the need, and at the same time strengthens the link which relates the Hierarchy to Humanity. The task of the Christ (as the expression in time and space of the second divine aspect) is to establish relationships. Every cyclic Representative of Deity furthers the approach of the Hierarchy to mankind, and seals this service by some final act which becomes the historical nucleus whereby later generations remember Him.

Tình thương của Thượng đế, tập trung trong Đức Christ, tìm cách biểu lộ chính nó trong một hành động phụng sự đặc biệt hữu ích nào đó đối với nhân loại. Sự phụng sự này đã mang những hình thức khác nhau qua các thời đại, nhưng nó luôn luôn biểu lộ qua hai biến cố: một trong số đó, biến cố thứ nhất, mặc khải Đức Christ trong năng lực của Ngài như Thượng đế-Cứu Thế, hi sinh chính mình qua tình thương thuần khiết vì đồng loại. Biên niên sử của Thánh Đoàn chứa đựng nhiều câu chuyện hi sinh và phụng sự như thế, có niên đại lùi xa vào chính đêm tối của thời gian. Nguyên lý cứu rỗi của tình thương thuần khiết tìm thấy sự biểu lộ của nó vào giờ phút nhân loại cần nhất trong công việc của một Đấng Cứu Thế Gian và “vì sự cứu rỗi dân Ngài, Ngài xuất hiện.” Như thế Ngài đáp ứng nhu cầu, đồng thời củng cố mối liên kết nối Thánh Đoàn với Nhân Loại. Nhiệm vụ của Đức Christ (với tư cách là sự biểu lộ trong thời gian và không gian của phương diện thiêng liêng thứ hai) là thiết lập các mối liên hệ. Mỗi Đấng Đại Diện theo chu kỳ của Thượng đế đều thúc đẩy sự tiếp cận của Thánh Đoàn đến với nhân loại, và niêm phong sự phụng sự này bằng một hành động cuối cùng nào đó trở thành hạt nhân lịch sử nhờ đó các thế hệ sau nhớ đến Ngài.

That accomplished, He stays with His people as Head of the Hierarchy until His second opportunity comes, in which as Representative both of Humanity and the Hierarchy, He can relate them both to Shamballa. This He does through a great act of evocation, seeking to bring about a closer relationship between all the three great planetary centres: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity. He can do this because the development of the Wisdom aspect in His nature makes it possible. The major linking agent in the universe is the energy of Love-Wisdom. Love relates the Hierarchy to Humanity, and Wisdom relates the Hierarchy to Shamballa. Only when Humanity and the Hierarchy are working together in a practical synthesis, can the Shamballa energy be permitted complete inflow through the medium of the two other centres.

Sau khi hoàn tất điều đó, Ngài ở lại với dân Ngài với tư cách là Đầu của Thánh Đoàn cho đến khi cơ hội thứ hai đến với Ngài, trong đó với tư cách là Đấng Đại Diện cho cả Nhân Loại lẫn Thánh Đoàn, Ngài có thể liên hệ cả hai với Shamballa. Điều này Ngài thực hiện qua một hành động gợi lên vĩ đại, tìm cách mang lại một mối liên hệ gần gũi hơn giữa cả ba trung tâm hành tinh lớn: Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Ngài có thể làm điều này bởi vì sự phát triển của phương diện Minh Triết trong bản chất của Ngài khiến điều đó trở nên khả hữu. Tác nhân liên kết chủ yếu trong vũ trụ là năng lượng Bác Ái – Minh Triết. Bác ái liên hệ Thánh Đoàn với Nhân Loại, và Minh triết liên hệ Thánh Đoàn với Shamballa. Chỉ khi Nhân Loại và Thánh Đoàn đang làm việc cùng nhau trong một tổng hợp thực tiễn, thì năng lượng Shamballa mới có thể được cho phép tuôn vào trọn vẹn qua trung gian của hai trung tâm kia.

[90]

[90]

To aid in this process of gradual perfecting and an eventual bringing about of a complete alignment, the help of the Buddha must be invoked and accepted. The work of the Christ as God-Saviour can be carried forward by Him alone and unaided. The work of the Christ as God the Preserver needs the united work, as yet, of the two highest Representatives of the second divine aspect when present together upon the Earth, as is the case today of both the Buddha and the Christ. This is the first cycle in the history of humanity when this has been the case. One or the other has been present down the ages, but not the two simultaneously. The reason for this is that the time has now been reached when Shamballa can be contacted and its energy evoked. Hence we have the activity of the Buddha at the May Full Moon and that of the Christ at the following June Full Moon. Their united activity serves to bring about a much closer approach between the Lord of the World and the Hierarchy, via His four Representatives: the Buddha, the Christ, the Manu, and the Mahachohan—the five points of energy which are creating the five-pointed star of Humanity at this time.

Để trợ giúp trong tiến trình hoàn thiện dần dần này và cuối cùng mang lại một sự chỉnh hợp hoàn toàn, sự trợ giúp của Đức Phật phải được khẩn cầu và chấp nhận. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế-Cứu Thế có thể được Ngài một mình và không cần trợ giúp thực hiện. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế-Bảo Tồn hiện vẫn cần công việc hợp nhất của hai Đấng Đại Diện cao nhất của phương diện thiêng liêng thứ hai khi cùng hiện diện trên Trái Đất, như trường hợp ngày nay của cả Đức Phật lẫn Đức Christ. Đây là chu kỳ đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà điều này đã xảy ra. Suốt các thời đại, hoặc vị này hoặc vị kia đã hiện diện, nhưng không phải cả hai đồng thời. Lý do là vì nay đã đến lúc Shamballa có thể được tiếp xúc và năng lượng của nó có thể được gợi lên. Do đó chúng ta có hoạt động của Đức Phật vào Trăng Tròn tháng Năm và hoạt động của Đức Christ vào Trăng Tròn tháng Sáu tiếp theo. Hoạt động hợp nhất của Các Ngài giúp mang lại một sự tiếp cận gần gũi hơn nhiều giữa Đức Chúa Tể Thế Giới và Thánh Đoàn, qua bốn Đấng Đại Diện của Ngài: Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan—năm điểm năng lượng đang tạo ra ngôi sao năm cánh của Nhân Loại vào thời điểm này.

An ancient rule—Rule IV for Applicants gives us in perfect wording the nature of the urge which prompts the present activity of the Christ. He has accomplished His task as God the Saviour. The fourth Rule, as it is given to all applicants and probationary disciples, gives His work the following definition:

Một quy luật cổ—Quy luật IV dành cho các Ứng viên—cho chúng ta bằng lời lẽ hoàn hảo bản chất của xung lực thúc đẩy hoạt động hiện nay của Đức Christ. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngài với tư cách Thượng đế-Cứu Thế. Quy luật thứ tư, như được trao cho tất cả các ứng viên và các đệ tử dự bị, định nghĩa công việc của Ngài như sau:

Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving.

Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn và như thế giữ cho bánh xe quay.

It is given in this short form to all who are approaching the Path, in order to convey to them with the utmost brevity and beauty the nature of the life of the Head of the Hierarchy, the Initiator Whom they must face at the time of the first and second initiations, and upon Whose activities they—as individual aspirants—must learn to model their lives. Only today is it possible to present that work in other terms than those which emphasise the part the Christ plays in the salvaging of man.

Nó được trao dưới hình thức ngắn gọn này cho tất cả những ai đang tiến gần Con Đường, nhằm truyền đạt cho họ với sự ngắn gọn và vẻ đẹp tối đa bản chất của đời sống của Đầu Thánh Đoàn, Đấng Điểm đạo mà họ phải đối diện vào thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, và theo các hoạt động của Ngài mà họ—với tư cách những người chí nguyện cá nhân—phải học cách mô phỏng đời sống của mình. Chỉ ngày nay mới có thể trình bày công việc đó bằng những thuật ngữ khác ngoài những thuật ngữ nhấn mạnh phần mà Đức Christ đóng trong việc cứu vớt con người.

[91]

[91]

It is now possible, however, to present His true and wider task, because man’s sense of proportion, his recognition of others, his growing sense of responsibility, his power to suffer for the good, the beautiful and true, his appropriation of the vision, and his point in evolution warrant a truer picture which—if adequately grasped—will enable the disciple to comprehend the requirements of Rule IV as given for disciples and initiates. Only as they grasp the nature of the work of Christ, after His final act of service as God-Saviour, can they understand the nature of group service and begin to pattern their lives and natures so as to meet similar requirements in group formation.

Tuy nhiên, nay có thể trình bày nhiệm vụ chân thực và rộng lớn hơn của Ngài, bởi vì ý thức về tỉ lệ của con người, sự nhận biết người khác, ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng, năng lực chịu khổ vì điều thiện, điều đẹp và điều chân, sự tiếp nhận linh thị, và điểm tiến hoá của y biện minh cho một bức tranh chân thực hơn mà—nếu được nắm bắt đầy đủ—sẽ giúp đệ tử hiểu được các đòi hỏi của Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ. Chỉ khi họ nắm được bản chất công việc của Đức Christ, sau hành động phụng sự cuối cùng của Ngài với tư cách Thượng đế-Cứu Thế, họ mới có thể hiểu bản chất của phụng sự nhóm và bắt đầu tạo mô hình cho đời sống và bản chất của mình để đáp ứng những đòi hỏi tương tự trong việc hình thành nhóm.

This has become possible because of the point in the evolutionary process which the Hierarchy has attained. The attitude and position of the members of the Hierarchy are not static. All are moving forward. The Christ Who came two thousand years ago embodied in Himself not only the principle of love in the planetary sense (a thing which Shri Krishna had achieved), but a cosmic principle of love also, and this for the first time in human history. His achievement was made possible by the fact that the human family had reached a point at which it could produce the perfect Man, Christ, the “eldest in a great family of brothers,” a Son of God, the Word made flesh. The future progress of humanity is also aided and hastened because of the attainment and activity of the Christ, and because He remains with us as God the Preserver.

Điều này đã trở nên khả hữu vì điểm mà Thánh Đoàn đã đạt được trong tiến trình tiến hoá. Thái độ và vị trí của các thành viên trong Thánh Đoàn không tĩnh tại. Tất cả đều đang tiến lên. Đức Christ đã đến cách đây hai ngàn năm không những hiện thân trong chính Ngài nguyên lý bác ái theo nghĩa hành tinh (điều mà Shri Krishna đã đạt được), mà còn cả một nguyên lý bác ái vũ trụ nữa, và đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Thành tựu của Ngài trở nên khả hữu nhờ sự kiện rằng gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm mà tại đó nó có thể sản sinh ra Con Người hoàn hảo, Đức Christ, “người anh cả trong một đại gia đình huynh đệ,” một Con của Thượng đế, Linh từ nhập thể. Sự tiến bộ tương lai của nhân loại cũng được trợ giúp và thúc đẩy nhờ thành tựu và hoạt động của Đức Christ, và bởi vì Ngài ở lại với chúng ta như Thượng đế-Bảo Tồn.

His task today is threefold, and the Rule states in very simple language these three aspects of His divine activity or phases of His work. These are:

Nhiệm vụ của Ngài ngày nay là tam phân, và Quy luật nêu bằng ngôn ngữ rất đơn giản ba phương diện này của hoạt động thiêng liêng của Ngài hay các giai đoạn công việc của Ngài. Đó là:

1. He “tends the evocation of the fire.” His major task as Head of the Hierarchy is to evoke the electric fire of Shamballa, the energy of the divine Will, and this in such a form that the Hierarchy can be drawn nearer to the source of Life, and Humanity can consequently profit by this hierarchical Approach and know eventually the meaning of the words “life more abundantly.” Christ’s evocation of the fire of the will was initiated symbolically in the Garden of [92] Gethsemane. He has twice symbolically shown His individual response to the Shamballa energy: Once in the Temple of Jerusalem as a child, and again in the Garden as a full grown man at the close of His earthly career. His third and final response (which climaxes His work from our human angle) covers nine years, from the Full Moon of June, 1936, to the Full Moon of June, 1945. This period, in reality, constitutes one event to Him Who lives now free in His Own world and free from the limitations of time and space. Having related Humanity to the Hierarchy (which in the case of individual man means relating the personality to the soul), He now seeks to relate more closely, with the aid of the Buddha, the Hierarchy to Shamballa, love to will, electric fire to solar fire.

1. Ngài “chăm lo việc gợi lên lửa.” Nhiệm vụ chính của Ngài với tư cách Đầu Thánh Đoàn là gợi lên lửa điện của Shamballa, năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và điều này dưới một hình thức sao cho Thánh Đoàn có thể được kéo lại gần hơn nguồn Sự sống, và do đó Nhân Loại có thể hưởng lợi từ Sự Tiếp Cận có tính thánh đoàn này và cuối cùng biết được ý nghĩa của những lời “sự sống dồi dào hơn.” Việc Đức Christ gợi lên lửa của ý chí đã được khởi đầu một cách tượng trưng trong Vườn [92] Gethsemane. Ngài đã hai lần tượng trưng cho thấy sự đáp ứng cá nhân của Ngài đối với năng lượng Shamballa: một lần trong Đền Thờ Jerusalem khi còn là một đứa trẻ, và một lần nữa trong Vườn khi là một người trưởng thành vào cuối sự nghiệp trần thế của Ngài. Sự đáp ứng thứ ba và cuối cùng của Ngài (đạt đỉnh công việc của Ngài từ góc độ nhân loại của chúng ta) kéo dài chín năm, từ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 đến Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Thời kỳ này, trên thực tế, cấu thành một biến cố duy nhất đối với Đấng hiện nay sống tự do trong thế giới riêng của Ngài và tự do khỏi những giới hạn của thời gian và không gian. Sau khi đã liên hệ Nhân Loại với Thánh Đoàn (mà trong trường hợp con người cá nhân có nghĩa là liên hệ phàm ngã với linh hồn), giờ đây Ngài tìm cách liên hệ chặt chẽ hơn, với sự trợ giúp của Đức Phật, Thánh Đoàn với Shamballa, bác ái với ý chí, lửa điện với lửa thái dương.

2. He “nourishes the lesser lives.” This refers to the task of the Christ which proceeds day by day, in His capacity of God the Preserver. He “tends the little ones.” The work here referred to concerns His activity as Initiator and His responsibility as Head of the Hierarchy. The nourishing of the little lives refers primarily to His task as World Teacher and to His responsibility to lead humanity on into the light, with the aid of all the Masters, working, each of Them through His Own Ashram.

2. Ngài “nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn.” Điều này ám chỉ nhiệm vụ của Đức Christ được tiếp tục từng ngày, trong năng lực của Ngài như Thượng đế-Bảo Tồn. Ngài “chăm lo những kẻ bé nhỏ.” Công việc được nói đến ở đây liên quan đến hoạt động của Ngài như Đấng Điểm đạo và trách nhiệm của Ngài như Đầu Thánh Đoàn. Việc nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn chủ yếu ám chỉ nhiệm vụ của Ngài như Đức Chưởng Giáo và trách nhiệm của Ngài trong việc dẫn dắt nhân loại tiến vào ánh sáng, với sự trợ giúp của tất cả các Chân sư, mỗi vị hoạt động qua ashram riêng của mình.

3. He “keeps the wheel revolving.” This has a specific relation to His work as the Word of God, which manifests as the Word made flesh. This refers specifically to the great Wheel of Rebirth whereby, upon that turning wheel, souls are carried down into incarnation and then up and out of the soul’s prison; through the turning of the wheel, human beings learn their needed lessons, create cyclically their vehicles of expression (the response apparatus of the soul in the three worlds) and in this way, under soul guidance, and aided by the Hierarchy and its schools of instruction, they arrive at perfection. This entire process is under the control of the Christ, assisted by the Manu and the Lord of Civilisation. These three Great Lords thus represent the three divine Aspects in the Hierarchy; They, with the four Lords of Karma, form the seven Who control the whole [93] process of incarnation. The subject is too vast and intricate to be adequately considered here. The above truth does, however, give us a clue as to why the Christ made no specific reference to the work of incarnation in His spoken utterances whilst on Earth. He was then occupied with His task of World Saviour.

3. Ngài “giữ cho bánh xe quay.” Điều này có một liên hệ đặc biệt với công việc của Ngài như Linh từ của Thượng đế, biểu lộ như Linh từ nhập thể. Điều này ám chỉ cụ thể đến Bánh Xe Tái Sinh vĩ đại, nhờ đó, trên bánh xe quay ấy, các linh hồn được mang xuống lâm phàm rồi lại đi lên và ra khỏi nhà tù của linh hồn; qua sự quay của bánh xe, con người học những bài học cần thiết của mình, tạo ra theo chu kỳ các vận cụ biểu lộ của mình (bộ máy đáp ứng của linh hồn trong ba cõi thấp) và bằng cách đó, dưới sự hướng dẫn của linh hồn, và được Thánh Đoàn cùng các trường huấn luyện của nó trợ giúp, họ đạt đến sự hoàn hảo. Toàn bộ tiến trình này nằm dưới sự kiểm soát của Đức Christ, được Đức Manu và Chúa Tể của Văn Minh trợ giúp. Như thế ba Đại Chúa Tể này đại diện cho ba Phương diện thiêng liêng trong Thánh Đoàn; Các Ngài, cùng với bốn Chúa Tể Nghiệp quả, tạo thành bảy Đấng kiểm soát toàn bộ [93] tiến trình lâm phàm. Chủ đề này quá rộng lớn và phức tạp để có thể được xem xét đầy đủ ở đây. Tuy nhiên, chân lý trên cho chúng ta một đầu mối về lý do vì sao Đức Christ đã không nói rõ gì về công việc lâm phàm trong những lời Ngài thốt ra khi còn ở trên Trái Đất. Khi ấy Ngài đang bận với nhiệm vụ của Ngài như Đấng Cứu Thế Gian.

His work as Preserver and as Head of the Hierarchy had not then begun. It was at that time dependent upon the experience in the Garden of Gethsemane and upon the Resurrection initiation. Some day the gold and the silver threads of the Gospel story will be disentangled, and men will know the two interpretations which can be put upon the events and episodes in the career of Jesus the Christ. The underlying true events give us great steps and developments in the work of the Christ as He “enveloped humanity in the mantle of love, grasped the rod of initiation on behalf of His brothers, and faced the Lord of Life Himself, unattended, unafraid and in His Own right.” The episodes refer to happenings in the life of Jesus.

Công việc của Ngài như Đấng Bảo Tồn và như Đầu Thánh Đoàn khi ấy vẫn chưa bắt đầu. Vào thời điểm đó, nó còn tùy thuộc vào kinh nghiệm trong Vườn Gethsemane và vào lần điểm đạo Phục Sinh. Một ngày nào đó, những sợi chỉ vàng và bạc của câu chuyện Phúc Âm sẽ được gỡ rối, và con người sẽ biết hai cách giải thích có thể đặt lên các biến cố và tình tiết trong sự nghiệp của Jesus Đức Christ. Những biến cố chân thực nằm bên dưới cho chúng ta những bước tiến và sự phát triển lớn trong công việc của Đức Christ khi Ngài “bao bọc nhân loại trong tấm áo choàng bác ái, nắm lấy thần trượng điểm đạo thay mặt cho các huynh đệ của Ngài, và đối diện chính Đức Chúa Tể của Sự Sống, không người hộ tống, không sợ hãi và bằng quyền của chính Ngài.” Các tình tiết thì ám chỉ những sự việc xảy ra trong đời sống của Jesus.

At the present time, and at the immediate point of tension, Christ has added to His two immediate and constant tasks that of hastening the coming of the Avatar Who waits for the perfected work of the Hierarchy, focussed in the Christ, and the powerful work of Shamballa, focussed in the Lord of the World. When the exact moment has arrived, the work of the Buddha, representing Shamballa, and of the Christ, representing the Hierarchy, plus the sincere demand of Humanity, will bring about an arrangement or an alignment which will release an evocative Sound which will be extra-planetary, and then the Avatar will come.

Hiện nay, và tại điểm tập trung nhất tâm tức thời, Đức Christ đã thêm vào hai nhiệm vụ trực tiếp và thường hằng của Ngài nhiệm vụ thúc đẩy sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân đang chờ đợi công việc hoàn hảo của Thánh Đoàn, tập trung trong Đức Christ, và công việc đầy quyền năng của Shamballa, tập trung trong Đức Chúa Tể Thế Giới. Khi thời điểm chính xác đã đến, công việc của Đức Phật, đại diện cho Shamballa, và của Đức Christ, đại diện cho Thánh Đoàn, cộng với sự đòi hỏi chân thành của Nhân Loại, sẽ mang lại một sự sắp xếp hay một sự chỉnh hợp sẽ giải phóng một Âm Thanh gợi lên có tính ngoài hành tinh, và khi đó Đấng Hoá Thân sẽ đến.

Ask me not for the date or the hour, brother of mine, for I know it not. It is dependent upon the appeal—the voiceless appeal—of all who stand with massed intent; it is dependent also upon the hour of exact alignment and upon certain aspects of work being done at this time by the senior Members of the Hierarchy, and also upon the steadfastness of the disciples in the world and the initiates—working in their various Ashrams. To this must be added [94] what Christians call the “inscrutable will of God,” the unrecognised purpose of the Lord of the World Who “knows His Own Mind, radiates the highest quality of Love, and focusses His Will in His Own high Place outside the Council Chamber of Shamballa.”

Huynh đệ của tôi, xin đừng hỏi tôi về ngày hay giờ, vì tôi không biết. Điều đó tùy thuộc vào lời kêu gọi—lời kêu gọi không tiếng—của tất cả những ai đứng cùng với ý hướng tập thể; nó cũng tùy thuộc vào giờ phút chỉnh hợp chính xác và vào một số phương diện công việc hiện đang được các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn thực hiện, và cũng tùy thuộc vào sự kiên định của các đệ tử trên thế giới và các điểm đạo đồ—đang hoạt động trong các ashram khác nhau của họ. Vào đó còn phải cộng thêm [94] điều mà các tín đồ Cơ Đốc gọi là “ý chí khôn dò của Thượng đế,” mục đích không được nhận biết của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng “biết Trí của Chính Ngài, phát tỏa phẩm tính cao nhất của Bác ái, và tập trung Ý Chí của Ngài tại Chốn cao siêu riêng của Ngài bên ngoài Phòng Hội Đồng của Shamballa.”

That the Avatar will come is a predictable certainty. That His forerunner will be the Christ is equally sure. When Christ comes it will be for the advanced units of the human family; they will recognise Him because He has always been with us, whilst His advent will evoke a responsive vibration from the masses, but not straight recognition. In connection with the Avatar, it will be a process of hierarchical recognition of an overshadowing Presence within Whose aura the planetary Logos will take His stand as the planetary Representative. Then from Shamballa will descend a stream of spiritual potency, qualified by the will-to-good, and this will reach the attentive Hierarchy. The Members of this Group will, through the medium of the Christ, pour light and healing energy upon the Earth and peculiarly into the consciousness of men. I am not able to express the effect of the outpouring from Shamballa in clearer terms. We are told in the Bible that Christ will come in the air, and that He will bring the “healing of the nations” in His wings. I would call your attention to this thought and to its appositeness to this day and generation. I make no prophetical predictions, I only indicate possibility.

Việc Đấng Hoá Thân sẽ đến là một điều chắc chắn có thể tiên liệu. Việc vị tiền khu của Ngài sẽ là Đức Christ cũng chắc chắn như vậy. Khi Đức Christ đến, điều đó sẽ dành cho các đơn vị tiến bộ của gia đình nhân loại; họ sẽ nhận ra Ngài vì Ngài luôn luôn ở cùng chúng ta, trong khi sự giáng lâm của Ngài sẽ gợi lên một rung động đáp ứng từ quần chúng, nhưng không phải là sự nhận ra trực tiếp. Liên quan đến Đấng Hoá Thân, đó sẽ là một tiến trình nhận biết của Thánh Đoàn về một Hiện Diện phủ bóng mà trong hào quang của Ngài Hành Tinh Thượng đế sẽ đứng như Đấng Đại Diện hành tinh. Khi ấy từ Shamballa sẽ giáng xuống một dòng tiềm lực tinh thần, được phẩm định bởi Ý Chí-hướng Thiện, và điều này sẽ đến với Thánh Đoàn đang chú tâm. Các Thành viên của Nhóm này sẽ, qua trung gian của Đức Christ, tuôn đổ ánh sáng và năng lượng chữa lành lên Trái Đất và đặc biệt vào tâm thức con người. Tôi không thể diễn tả tác động của lần tuôn đổ từ Shamballa bằng những thuật ngữ rõ ràng hơn. Trong Kinh Thánh, chúng ta được bảo rằng Đức Christ sẽ đến trong không trung, và rằng Ngài sẽ mang “sự chữa lành cho các quốc gia” trong đôi cánh của Ngài. Tôi muốn lưu ý bạn đến tư tưởng này và đến tính thích đáng của nó đối với ngày nay và thế hệ này. Tôi không đưa ra những dự đoán tiên tri, tôi chỉ nêu ra khả năng.

When the Avatar has made His appearance, then will the

Khi Đấng Hoá Thân đã xuất hiện, khi ấy

“Sons of men who are now the Sons of God withdraw Their faces from the shining light and radiate that light upon the sons of men who know not yet they are the Sons of God. Then shall the Coming One appear, His footsteps hastened through the valley of the shadow by the One of awful power Who stands upon the mountain top, breathing out love eternal, light supernal and peaceful silent Will.

“Những người con của nhân loại nay là các Con của Thượng đế sẽ rút mặt mình khỏi ánh sáng rực rỡ và phát tỏa ánh sáng ấy lên những người con của nhân loại chưa biết rằng họ là các Con của Thượng đế. Khi ấy Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện, bước chân của Ngài được thúc đẩy qua thung lũng bóng tối bởi Đấng có quyền năng đáng sợ đang đứng trên đỉnh núi, thở ra bác ái vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng và Ý Chí an bình, tĩnh lặng.

“Then will the sons of men respond. Then will a newer light shine forth into the dismal weary vale of [95] earth. Then will new life course through the veins of men, and then will their vision compass all the ways of what may be.

“Khi ấy những người con của nhân loại sẽ đáp ứng. Khi ấy một ánh sáng mới hơn sẽ chiếu rọi vào thung lũng u ám mệt mỏi của [95] địa cầu. Khi ấy sự sống mới sẽ chảy qua huyết quản con người, và khi ấy linh thị của họ sẽ bao quát mọi con đường của điều có thể có.

“So peace will come again on earth, but a peace unlike aught known before. Then will the will-to-good flower forth as understanding, and understanding blossom as goodwill in men.”

“Như thế hòa bình sẽ lại đến trên địa cầu, nhưng là một nền hòa bình không giống bất cứ điều gì từng biết trước đây. Khi ấy Ý Chí-hướng Thiện sẽ nở hoa thành sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu sẽ trổ hoa thành thiện chí nơi con người.”

So speaks a prophetic passage in the ancient Archives of the Hierarchy which deals with the present cycle of distress (written in June, 1943). For this time men must prepare. You will know when the Avatar links up with the planetary Logos because I will then give you the final Stanza of the Great Invocation (given out in April, 1945). Its use will serve to bring the Coming One to recognition and enable Him to draw upon the resources of the Avatar in the task of world reorganisation and regeneration. He will again come as the World Saviour, but owing to the stupendous nature of the work ahead, He will be fortified and buttressed by the “silent Avatar” Who (occultly speaking) will “keep His eye upon Him, His hand beneath, and His heart in unison with His.”

Đó là lời của một đoạn tiên tri trong các Văn Khố cổ của Thánh Đoàn nói về chu kỳ khốn khổ hiện nay (được viết vào tháng Sáu năm 1943). Con người phải chuẩn bị cho thời điểm này. Bạn sẽ biết khi Đấng Hoá Thân liên kết với Hành Tinh Thượng đế bởi vì khi ấy tôi sẽ trao cho bạn Bài kệ cuối cùng của Đại Khấn Nguyện (được ban ra vào tháng Tư năm 1945). Việc sử dụng nó sẽ giúp đưa Đấng Đang Đến đến chỗ được nhận biết và giúp Ngài rút từ các nguồn lực của Đấng Hoá Thân trong nhiệm vụ tái tổ chức và tái sinh thế giới. Ngài sẽ lại đến như Đấng Cứu Thế Gian, nhưng do bản chất vĩ đại của công việc phía trước, Ngài sẽ được tăng cường và nâng đỡ bởi “Đấng Hoá Thân thầm lặng”, Đấng mà (nói theo huyền bí học) sẽ “đặt mắt Ngài trên Ngài, tay Ngài ở bên dưới, và tim Ngài hòa nhịp với tim Ngài.”

The keynote of Christ’s mission will be to evoke from humanity a response to that influence, and an unfoldment on a large scale of intuitive perception. When He came before, He evoked from humanity a gradual response to truth, and mental understanding. That is why at the end of the cycle, which He inaugurated, we have formulated doctrine and mental development.

Chủ âm của sứ mệnh Đức Christ sẽ là gợi lên từ nhân loại một sự đáp ứng đối với ảnh hưởng đó, và một sự khai mở trên quy mô lớn của tri giác trực giác. Khi Ngài đến trước đây, Ngài đã gợi lên từ nhân loại một sự đáp ứng dần dần đối với chân lý, và sự thấu hiểu trí tuệ. Đó là lý do vì sao vào cuối chu kỳ mà Ngài đã khai mở, chúng ta có giáo lý được hệ thống hóa và sự phát triển trí tuệ.

The work now being done by Shamballa and the Hierarchy on behalf of humanity will tend also to develop group consciousness and the formation of many groups which will be living organisms and not organisations; it will make group initiation possible and will enable certain aspects of the will to flower forth correctly and with safety. The tendency to overlook the distinction between groups and organisations is still very deep-seated; the coming of the Christ will throw much light upon this problem. A study of Rule IV as given to disciples and initiates will also serve [96] to clarify this matter, and with that we shall now concern ourselves.

Công việc hiện đang được Shamballa và Thánh Đoàn thực hiện thay mặt cho nhân loại cũng sẽ có xu hướng phát triển tâm thức nhóm và sự hình thành của nhiều nhóm sẽ là những cơ thể sống chứ không phải các tổ chức; nó sẽ làm cho điểm đạo nhóm trở nên khả hữu và sẽ giúp một số phương diện của ý chí nở hoa một cách đúng đắn và an toàn. Khuynh hướng bỏ qua sự phân biệt giữa các nhóm và các tổ chức vẫn còn rất ăn sâu; sự xuất hiện của Đức Christ sẽ soi sáng rất nhiều cho vấn đề này. Việc nghiên cứu Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ cũng sẽ giúp [96] làm sáng tỏ vấn đề này, và giờ đây chúng ta sẽ bàn đến điều đó.

Rule IV.

Quy luật IV.

Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa đều lụi tàn và các sự sống nhỏ bé hơn trở về hồ chứa của sự sống. Điều này họ phải mang lại qua việc gợi lên Ý Chí. Những bánh xe nhỏ bé hơn không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay.

This is a rule peculiarly related to the fourth Creative Hierarchy, embodying its goal as the Aryan rootrace can sense and approximate it. It is peculiarly related also to the quaternary to which we give the name “personality,” composed of a vital or etheric body, a sumtotal of emotional states and a mind, plus that integrated something which we call the whole man. Rightly understood and followed, this rule reveals the nature of the fourth plane or fourth state of consciousness, that of buddhi or the plane of pure reason, the intuition. From the angle of the higher initiate, this rule is related to the activity of Monad, Soul and body within the planetary Life, and covers a great mystery and an entire system of relationships of which man in the three worlds is a dim and uncertain shadow. Some clue to the higher quaternary dealt with in this rule will emerge dimly in your consciousness (more is not yet possible) if you will attempt to realise the following:

Đây là một quy luật đặc biệt liên hệ đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hiện thân mục tiêu của nó như giống dân gốc Arya có thể cảm nhận và tiến gần đến. Nó cũng đặc biệt liên hệ đến bộ tứ mà chúng ta gọi là “phàm ngã,” gồm một thể sinh lực hay thể dĩ thái, tổng số các trạng thái cảm xúc và một trí tuệ, cộng với cái gì đó đã được tích hợp mà chúng ta gọi là toàn thể con người. Nếu được hiểu đúng và tuân theo đúng, quy luật này mặc khải bản chất của cõi thứ tư hay trạng thái tâm thức thứ tư, tức Bồ đề hay cõi của lý trí thuần túy, trực giác. Xét từ góc độ của điểm đạo đồ cao cấp, quy luật này liên hệ đến hoạt động của chân thần, linh hồn và thể trong Sự sống hành tinh, và bao trùm một huyền nhiệm lớn cùng toàn bộ một hệ thống các mối liên hệ mà con người trong ba cõi thấp chỉ là một cái bóng mờ nhạt và không chắc chắn. Một vài đầu mối về bộ tứ cao hơn được đề cập trong quy luật này sẽ hiện ra mờ nhạt trong tâm thức bạn (nhiều hơn hiện chưa thể được) nếu bạn cố gắng chứng nghiệm những điều sau đây:

1. The Monad relates the initiate to the Will of God, to the Council at Shamballa, to forces active on the planet Pluto, and on another planet which must remain nameless, and also to the Central Spiritual Sun.

1. Chân thần liên hệ điểm đạo đồ với Ý Chí của Thượng đế, với Hội Đồng tại Shamballa, với các mãnh lực hoạt động trên hành tinh Sao Diêm Vương, và trên một hành tinh khác phải được giữ kín tên, và cũng với Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

2. The Soul relates the initiate to the Love of God, to the consciousness aspect of Deity, to the Hierarchy as a whole, entering it through the Ashram of the Master Who has aided him to take initiation, to the planets Venus and Mercury, to the Sun Sirius, and to the Heart of the Sun.

2. Linh hồn liên hệ điểm đạo đồ với Tình thương của Thượng đế, với phương diện tâm thức của Thượng đế, với toàn thể Thánh Đoàn, đi vào đó qua ashram của Chân sư đã trợ giúp y tiếp nhận điểm đạo, với các hành tinh Sao Kim và Sao Thủy, với Mặt Trời Sirius, và với Trái Tim của Mặt Trời.

3. The Personality relates the initiate to the Mind [97] of God, to the intelligence principle of the planetary Life, to humanity as a whole, to Saturn and Mars, and to the physical Sun through its pranic aspect.

3. Phàm ngã liên hệ điểm đạo đồ với Trí của Thượng đế, với nguyên khí trí tuệ của Sự sống hành tinh, với toàn thể nhân loại, với Sao Thổ và Sao Hỏa, và với Mặt Trời hồng trần qua phương diện prana của nó.

4. The Life aspect of the planet, or that great ocean of forces in which all these three aspects live and move and have their being, relates the initiate to that Life which works out through Shamballa, through the Hierarchy and through Humanity, thus forming part of the great sumtotal of manifestation.

4. Phương diện Sự sống của hành tinh, hay đại dương mãnh lực vĩ đại trong đó cả ba phương diện này sống, vận động và tồn tại, liên hệ điểm đạo đồ với Sự sống đang vận hành qua Shamballa, qua Thánh đoàn và qua Nhân loại, nhờ đó tạo thành một phần của tổng thể lớn lao của sự biểu hiện.

It is to these major quaternaries that Rule IV refers, and their relationships only emerge as the initiate keeps the rules. Let us now take this rule stanza by stanza, and so get some understanding of its basic significances.

Chính bốn bộ tứ chính yếu này là điều mà Quy luật IV đề cập đến, và các tương quan của chúng chỉ xuất hiện khi điểm đạo đồ giữ các quy luật. Giờ đây chúng ta hãy xét quy luật này từng bài kệ một, và nhờ đó đạt được một ít thấu hiểu về những thâm nghĩa căn bản của nó.

1. Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.

1. Hãy để nhóm thấy rằng cả mười tám ngọn lửa đều lụi xuống và các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa của sự sống.

A very casual consideration will show the student that this rule contains four sentences which refer to one or other of the four aspects we have been considering. Bear this in mind as we study significances, interpretations and carry our thoughts into the world of meaning.

Chỉ cần xem xét rất sơ qua, đạo sinh sẽ thấy rằng quy luật này chứa bốn câu, mỗi câu quy chiếu đến một hay một phương diện khác trong bốn phương diện mà chúng ta đã xét. Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta nghiên cứu các thâm nghĩa, các cách diễn giải và đưa tư tưởng mình vào Thế giới của ý nghĩa.

A very cursory reading of the Rule leads one to the surmise that one of the most important hints concerns the effect of the group life and radiation upon the individual in the group. “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.” These words deal with the group personality, composed of all the personalities of its members. It should be borne in mind that a group is in itself an entity, having form, substance, soul and purpose or objective, and that none of these is better or greater, or more developed than the aggregate of group lives which compose it. Though individuals of varying points in evolution form the group, none of them is below the level of disciples upon the evolutionary ladder. A Master’s Ashram has in it disciples and initiates of all degrees, but no probationary disciples at all. No one below the rank of disciples—accepted and dedicated—is admitted. This is one of the first Rules given to an accepted [98] disciple when first admitted into the Ashram, and it is from that angle that we should now consider it.

Một cách đọc rất lướt qua Quy luật khiến người ta phỏng đoán rằng một trong những gợi ý quan trọng nhất liên quan đến hiệu quả của sự sống nhóm và bức xạ nhóm đối với cá nhân trong nhóm. “Hãy để nhóm thấy rằng cả mười tám ngọn lửa đều lụi xuống và các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa của sự sống.” Những lời này đề cập đến phàm ngã nhóm, được cấu thành bởi tất cả các phàm ngã của các thành viên trong nhóm. Cần ghi nhớ rằng một nhóm tự thân là một thực thể, có hình tướng, chất liệu, linh hồn và mục đích hay cứu cánh, và không điều nào trong số đó tốt hơn hay lớn hơn, hay phát triển hơn tổng số các sự sống nhóm cấu thành nên nó. Dù những cá nhân ở các điểm tiến hoá khác nhau tạo thành nhóm, không ai trong họ ở dưới cấp độ đệ tử trên thang tiến hoá. Một ashram của Chân sư có trong đó các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi cấp bậc, nhưng hoàn toàn không có đệ tử dự bị. Không ai dưới cấp bậc đệ tử—được chấp nhận và tận hiến—được thừa nhận. Đây là một trong những Quy luật đầu tiên được trao cho một đệ tử được chấp nhận [98] khi lần đầu được nhận vào ashram, và chính từ góc độ đó mà giờ đây chúng ta nên xem xét nó.

The three Rules we have earlier considered are general in nature and relate to certain broad themes or demanded hypotheses which must govern the consciousness of the disciple in the future. In this particular Rule we enter the realm of the specific, and are presented with certain “intentional” activities which must govern the disciple’s life now that he is an integral part of the Ashram. He is faced with the proposition of making his life of such a nature that it furthers the group purpose, enhances the group strength, eliminates all that might hinder group usefulness, and brings closer the objective for which the group was formed—the carrying out of the Master’s plans. It was the disciple’s innate, instinctual and individual response to this ray objective, and his effort to subordinate his personality to the dimly sensed soul dedication, which led the Master in the first instance to recognise him and incorporate him into his Ashram. The moment that happened, the disciple came not only under an increased impact of egoic force and egoic impulsive intention (using those words in their occult sense), but the group radiation began its beneficent work upon him. The magnetic “pulling” power which had hitherto led him forward is now superseded by a radiating stimulating potency; this effects great changes in him, and produces both eliminating and substituting results. The effect of the life of the Ashram, as far as the group which forms it is concerned and apart from the Master’s Own potency, can be described as follows:

Ba Quy luật mà trước đây chúng ta đã xét có tính tổng quát và liên hệ đến một số chủ đề rộng lớn hay những giả thuyết được đòi hỏi phải chi phối tâm thức của đệ tử trong tương lai. Trong Quy luật đặc biệt này, chúng ta bước vào lĩnh vực của điều chuyên biệt, và được trình bày một số hoạt động “có chủ ý” phải chi phối đời sống của đệ tử giờ đây khi y là một phần không thể tách rời của ashram. Y đối diện với mệnh đề phải làm cho đời sống mình có bản chất sao cho nó thúc đẩy mục đích nhóm, tăng cường sức mạnh nhóm, loại bỏ mọi điều có thể cản trở tính hữu dụng của nhóm, và đưa đến gần hơn cứu cánh mà vì đó nhóm được hình thành—việc thực hiện các kế hoạch của Chân sư. Chính sự đáp ứng bẩm sinh, bản năng và cá nhân của đệ tử đối với mục tiêu cung này, cùng nỗ lực của y nhằm đặt phàm ngã mình dưới sự tận hiến của linh hồn mà y cảm nhận còn mơ hồ, đã khiến Chân sư ngay từ đầu nhận ra y và thu nhận y vào ashram của Ngài. Ngay khoảnh khắc điều đó xảy ra, đệ tử không những chịu dưới một tác động gia tăng của mãnh lực chân ngã và ý định xung động chân ngã (dùng những từ ấy theo nghĩa huyền bí của chúng), mà bức xạ nhóm cũng bắt đầu công việc từ lành của nó trên y. Quyền năng “kéo” từ tính vốn trước đây đã dẫn dắt y tiến lên nay được thay thế bằng một tiềm lực bức xạ kích thích; điều này tạo ra những thay đổi lớn lao nơi y, và tạo ra cả những kết quả loại bỏ lẫn thay thế. Hiệu quả của đời sống ashram, xét theo nhóm cấu thành nên nó và tách khỏi chính tiềm lực của Chân sư, có thể được mô tả như sau:

1. The life of the personality is steadily weakened, and its grip upon the soul is definitely loosened. The soul begins to dominate in a very real sense.

1. Đời sống của phàm ngã dần dần bị suy yếu, và sự nắm giữ của nó đối với linh hồn được nới lỏng một cách rõ rệt. Linh hồn bắt đầu chi phối theo một ý nghĩa rất thực.

2. The necessity of incarnation becomes appreciably less, and finally life in the three worlds of human manifestation becomes needless. All the lessons have been learnt and the soul objective has been attained.

2. Nhu cầu lâm phàm giảm đi một cách đáng kể, và cuối cùng đời sống trong ba cõi của biểu hiện nhân loại trở nên không cần thiết. Mọi bài học đã được học xong và mục tiêu của linh hồn đã đạt được.

3. The Will of the Monad begins to be sensed; the will aspect blends with the love aspect and makes the [99] intelligence aspect fruitful and effective for the carrying out of divine purpose, focussed for the disciple through the Ashram.

3. Ý Chí của chân thần bắt đầu được cảm nhận; phương diện ý chí hòa nhập với phương diện bác ái và làm cho phương diện [99] trí tuệ trở nên phong phú và hữu hiệu trong việc thực hiện thiên ý, được tập trung cho đệ tử qua ashram.

4. The purposes of time and space, of events and extension, of matter and consciousness have been achieved and are eventually superseded by something for which we have as yet no term and of which we have no conception. It is that which begins to express itself after the third initiation, when the Father aspect “comes into view”—I know not how else to word it.

4. Các mục đích của thời gian và không gian, của biến cố và sự mở rộng, của vật chất và tâm thức đã được hoàn thành và cuối cùng được thay thế bởi một điều gì đó mà hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ nào để gọi và cũng không có quan niệm nào về nó. Đó là điều bắt đầu tự biểu lộ sau lần điểm đạo thứ ba, khi phương diện Cha “đi vào tầm nhìn”—tôi không biết phải diễn đạt khác thế nào.

5. The whole is seen to be of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory, a process of wishful thinking, an hypothesis or an urge. It is realised as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good.

5. Toàn thể được thấy là quan trọng thiết yếu hơn phần, và điều này không phải như một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình ước vọng, một giả thuyết hay một thôi thúc. Nó được chứng nghiệm như một tất yếu bẩm sinh và như điều không thể tránh khỏi. Nó hàm ý cái chết, nhưng là cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần trong hành động, như sự viên mãn của mọi điều thiện.

It will be obvious, therefore, that the interpretation of these Rules must involve capacity to pass beyond the usual attitudes and what one might call the usual metaphysical and theosophical platitudes, and to see life as the Hierarchy sees it. This means that life is approached from the angle of the Observer and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds. This Observer is different to the Observer on the probationary Path. Most of the experiment and experience has been left behind, and a new orientation to a world of values, higher than even the world of meaning, has set in. This attitude might well be described as the mode of approach of all who form a part of an Ashram. Those who form the Ashram are living in the three worlds of experience if they are accepted disciples, but the focus of their attention is not there. If they are initiated disciples, they are increasingly unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct; therefore there is no more awareness of them than a man asleep is conscious of the rhythmic functioning of his sleeping [100] physical vehicle. This is a deep and largely unrealised truth. It is related to the entire process of death and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words “the reservoir of life.” Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns.

Do đó, hiển nhiên là việc diễn giải các Quy luật này phải bao hàm năng lực vượt ra ngoài các thái độ thông thường và điều mà người ta có thể gọi là những sáo ngữ siêu hình học và Thông Thiên Học thông thường, để nhìn đời sống như Thánh đoàn nhìn nó. Điều này có nghĩa là đời sống được tiếp cận từ góc độ của Nhà Quan Sát chứ không phải từ góc độ của một người tham dự vào thí nghiệm và kinh nghiệm thực tế trong ba cõi. Nhà Quan Sát này khác với Nhà Quan Sát trên Con Đường Dự Bị. Phần lớn thí nghiệm và kinh nghiệm đã bị bỏ lại phía sau, và một sự định hướng mới đối với một thế giới các giá trị, cao hơn cả thế giới của ý nghĩa, đã bắt đầu. Thái độ này có thể được mô tả rất đúng là phương thức tiếp cận của tất cả những ai tạo thành một phần của ashram. Những ai tạo thành ashram đang sống trong ba cõi kinh nghiệm nếu họ là các đệ tử được chấp nhận, nhưng tiêu điểm chú ý của họ không ở đó. Nếu họ là các đệ tử đã được điểm đạo, họ ngày càng không còn nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, bởi vì một số phương diện của bản chất thấp hiện nay đã được kiểm soát và thanh lọc đến mức chúng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và đi vào thế giới của bản năng; vì thế không còn nhận biết nào về chúng hơn là một người đang ngủ ý thức được sự vận hành nhịp nhàng của vận cụ hồng trần đang ngủ của [100] ông. Đây là một chân lý sâu xa và phần lớn chưa được chứng nghiệm. Nó liên hệ đến toàn bộ tiến trình chết và có thể được xem như một trong những định nghĩa của cái chết; nó nắm giữ chìa khóa cho những lời bí nhiệm “hồ chứa của sự sống.” Thực ra, cái chết là sự vô thức đối với điều gì đó có thể đang vận hành trong một hình thức nào đó, nhưng trong một hình thức mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Hồ chứa của sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được.

The eighteen fires refer to the eighteen states of matter which constitute the personality. They are: seven physical states of matter, seven emotional states, enabling the astral body to function on the seven subplanes of the astral plane, and four states of matter for each of the four conditions of the concrete mind—(7, 7, 4, = 18). These are eighteen grades of substance, eighteen vibratory groups of atoms, and eighteen aggregates of life which form the bodies of the lunar lords (as The Secret Doctrine calls them) which in their totality, form the body of the Lunar Lord, the Personality. The above is the very a b c of occultism and a familiar truth to all of you. What is referred to here has, however, no reference to processes of purification, of control or of discipline. These have been much earlier considered and are regarded as the necessary processes instituted upon the probationary path, and should have reached a point prior to the stage of accepted discipleship where—rapid or slow in expression—they are nevertheless automatic in action, sure and inevitable.

Mười tám ngọn lửa nói đến mười tám trạng thái vật chất cấu thành phàm ngã. Chúng là: bảy trạng thái vật chất hồng trần, bảy trạng thái cảm xúc, giúp thể cảm dục hoạt động trên bảy cõi phụ của cõi cảm dục, và bốn trạng thái vật chất cho mỗi một trong bốn điều kiện của trí cụ thể—(7, 7, 4, = 18). Đây là mười tám cấp độ chất liệu, mười tám nhóm nguyên tử rung động, và mười tám tập hợp sự sống tạo thành các thể của các nguyệt tinh quân (như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi chúng), mà trong tổng thể của chúng tạo thành thể của Nguyệt tinh quân, tức Phàm ngã. Điều trên là chính a b c của huyền bí học và là một chân lý quen thuộc với tất cả các bạn. Tuy nhiên, điều được nói đến ở đây không liên hệ gì đến các tiến trình thanh lọc, kiểm soát hay kỷ luật. Những điều này đã được xét đến từ rất sớm và được xem là các tiến trình cần thiết được thiết lập trên con đường dự bị, và lẽ ra phải đạt đến một điểm trước giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận mà ở đó—dù biểu lộ nhanh hay chậm—chúng vẫn tự động trong hành động, chắc chắn và không thể tránh.

The first sentence in this fourth rule refers to Detachment—the detachment of the soul from the body or the institution of those activities which bring about what is called in the Bible “the second death.” It is not detachment as the aspirant practices it. It is the scientific breaking of all links and the ending (through completed use) of all contacts which are now regarded as militating against liberation. It is in reality a scientific process of ending karma; it is individual and national karma which brings a man back into a physical vehicle and clothes him with the qualities and aspects of substance. This must end whilst he is a member [101] of the Master’s Ashram and is preparing himself for the triumph of the fourth initiation. This is brought about by the automatic, ceaseless and unquestioning fulfillment of duty, from the angle of recognised service.

Câu đầu tiên trong quy luật thứ tư này đề cập đến sự tách rời—sự tách rời của linh hồn khỏi thể hay việc thiết lập những hoạt động đem lại điều được gọi trong Kinh Thánh là “cái chết thứ hai.” Đây không phải là sự tách rời như người chí nguyện thực hành. Đó là sự cắt đứt một cách khoa học mọi liên kết và chấm dứt (qua việc sử dụng đã hoàn tất) mọi tiếp xúc hiện nay được xem là chống lại sự giải thoát. Thực ra đó là một tiến trình khoa học nhằm chấm dứt nghiệp quả; chính nghiệp quả cá nhân và quốc gia đưa con người trở lại trong một vận cụ hồng trần và khoác cho ông các phẩm tính và phương diện của chất liệu. Điều này phải chấm dứt trong khi y là một thành viên [101] của ashram Chân sư và đang chuẩn bị cho sự chiến thắng của lần điểm đạo thứ tư. Điều này được mang lại nhờ sự hoàn thành bổn phận một cách tự động, không ngừng nghỉ và không nghi vấn, từ góc độ phụng sự đã được nhận biết.

It might be stated that an intelligent understanding of this sentence will lead to those actions which “produce the death and dissipation and final dissolution of the personality through the ending of karma.” It must be remembered that a Master has no personality at all. His divine nature is all that He has. The form through which He works (if he is working through and living in a physical vehicle) is a created image, the product of a focussed will and the creative imagination; it is not the product of desire, as in the case of a human being. This is an important distinction and one which warrants careful thinking. The lesser lives (which are governed by the Moon) have been dispersed. They no longer respond to the ancient call of the reincarnating soul, which again and again has gathered to itself the lives which it has touched and coloured by its quality in the past. The soul and the causal body no longer exist by the time the fourth initiation is undergone. What is left is the Monad and the thread, the antahkarana which it has spun out of its own life and consciousness down the ages and which it can focus at will upon the physical plane, where it can create a body of pure substance and radiant light for all that the Master may require. This will be a perfect body, utterly adapted to the need, the plan and the purpose of the Master. None of the lesser lives (as we understand the term) form part of it, for they can only be summoned by desire. In the Master there is no desire left, and this is the thought held before the disciple as he begins to master the significance of the fourth Rule.

Có thể nói rằng một sự thấu hiểu thông minh về câu này sẽ dẫn đến những hành động “tạo ra cái chết, sự tiêu tan và sự tan rã cuối cùng của phàm ngã qua việc chấm dứt nghiệp quả.” Phải nhớ rằng một Chân sư hoàn toàn không có phàm ngã. Bản chất thiêng liêng của Ngài là tất cả những gì Ngài có. Hình tướng mà qua đó Ngài hoạt động (nếu Ngài đang hoạt động qua và sống trong một vận cụ hồng trần) là một hình ảnh được tạo ra, sản phẩm của một ý chí tập trung và của sự tưởng tượng sáng tạo; nó không phải là sản phẩm của dục vọng, như trong trường hợp của một con người. Đây là một phân biệt quan trọng và đáng để suy nghĩ cẩn trọng. Các sự sống nhỏ bé (được Mặt Trăng chi phối) đã bị phân tán. Chúng không còn đáp ứng với tiếng gọi xưa cũ của linh hồn tái sinh, linh hồn đã hết lần này đến lần khác tập hợp về mình những sự sống mà nó đã chạm đến và nhuốm màu bằng phẩm tính của nó trong quá khứ. Linh hồn và thể nguyên nhân không còn tồn tại nữa vào lúc lần điểm đạo thứ tư được trải qua. Điều còn lại là chân thần và sợi dây, antahkarana mà nó đã se dệt từ chính sự sống và tâm thức của nó qua các thời đại và mà nó có thể tập trung theo ý muốn trên cõi hồng trần, nơi nó có thể tạo ra một thể bằng chất liệu thuần khiết và ánh sáng rạng ngời cho bất cứ điều gì Chân sư có thể cần. Đây sẽ là một thể hoàn hảo, hoàn toàn thích ứng với nhu cầu, thiên cơ và mục đích của Chân sư. Không một sự sống nhỏ bé nào (theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này) tạo thành một phần của nó, vì chúng chỉ có thể được triệu gọi bởi dục vọng. Trong Chân sư không còn dục vọng nào nữa, và đây là tư tưởng được đặt trước đệ tử khi y bắt đầu làm chủ thâm nghĩa của Quy luật thứ tư.

In this Rule two main ideas are to be found, both of them connected with the first divine aspect: the thought of Death and the nature of the Will. In the coming century, death and the will inevitably will be seen to have new meanings for humanity, and many of the old ideas will vanish. Death, to the average thinking man, is a point of [102] catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and the abrupt conclusion of all plans and projects. No matter how much true faith in the spiritual values may be present, no matter how clear the rationalising of the mind may be anent immortality, no matter how conclusive the evidence of persistence and eternity, there still remains a questioning, a recognition of the possibility of complete finality and negation and an end to all activity, of all heart reactions, of all thought, emotion, desire, aspiration, and the intentions which focus around the central core of a man’s being. The longing and the determination to persist and the sense of continuity still rest, even to the most determined believer, upon probability, upon an unstable foundation, and upon the testimony of others—who have never in reality returned to tell the truth. The emphasis of all thought on this subject concerns the central “I” or the integrity of Deity.

Trong Quy luật này có thể tìm thấy hai ý tưởng chính, cả hai đều liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất: tư tưởng về Cái Chết và bản chất của Ý Chí. Trong thế kỷ sắp tới, cái chết và ý chí tất yếu sẽ được thấy là có những ý nghĩa mới đối với nhân loại, và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. Đối với người suy tư trung bình, cái chết là một điểm của [102] khủng hoảng thảm khốc. Nó là sự ngưng dứt và chấm hết của tất cả những gì đã được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng mong muốn; nó là một sự xông vào dữ dội trong cái chưa biết, trong sự bất định, và là kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch và dự phóng. Dù có bao nhiêu đức tin chân thật vào các giá trị tinh thần hiện diện, dù sự lý giải của trí tuệ về tính bất tử có rõ ràng đến đâu, dù bằng chứng về sự tiếp diễn và vĩnh cửu có kết luận đến mức nào, vẫn còn đó một sự nghi vấn, một sự thừa nhận khả năng của tính chung cuộc hoàn toàn và sự phủ định, và một sự chấm dứt mọi hoạt động, mọi phản ứng của tim, mọi tư tưởng, cảm xúc, dục vọng, khát vọng, và những ý định tập trung quanh hạt nhân trung tâm của bản thể con người. Sự khao khát và quyết tâm tiếp tục tồn tại cùng cảm thức liên tục vẫn còn dựa, ngay cả đối với người tin tưởng kiên định nhất, trên xác suất, trên một nền tảng không ổn định, và trên lời chứng của người khác—những người chưa bao giờ thực sự quay lại để nói sự thật. Trọng tâm của mọi suy nghĩ về chủ đề này liên quan đến cái “Tôi” trung tâm hay tính toàn vẹn của Thượng đế.

You will note that in this Rule, the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self, and this is a point worth noting. The information given to the disciple is to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general reservoir of living substance. The ocean of Being is nowhere referred to. Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual identifiable persistence. Note those words. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him.

Bạn sẽ lưu ý rằng trong Quy luật này, trọng tâm chuyển từ “Tôi” sang các thành phần cấu thành y phục của Bản Ngã, và đây là một điểm đáng ghi nhận. Thông tin được trao cho đệ tử là hãy hoạt động để làm tiêu tan y phục này và để các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa chung của chất liệu sống. Đại dương của Bản Thể không được nhắc đến ở đâu cả. Suy nghĩ cẩn trọng ở đây sẽ cho thấy rằng tiến trình tách rời có trật tự này, mà đời sống nhóm làm cho hữu hiệu trong trường hợp của cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh nhất cho sự kiện của tính liên tục và của sự tồn tại dai dẳng có thể nhận diện được của cá nhân. Hãy lưu ý những từ đó. Tiêu điểm hoạt động chuyển từ thể đang hoạt động sang thực thể đang hoạt động bên trong thể ấy, chủ nhân của hoàn cảnh mình, người điều khiển những gì mình sở hữu, và là chính hơi thở, phái các sự sống vào hồ chứa của chất liệu, hoặc triệu hồi chúng trở lại theo ý muốn để tiếp tục mối liên hệ với mình.

Putting it this way, you will note how the disciple is really enjoined to recognise (with the assistance of his group) that he is essentially the Father aspect himself, the first cause, the creative will and the breath of life within the [103] form. This is a somewhat new attitude which he is asked to take, because hitherto the emphasis upon his focus has been to regard himself as the soul, reincarnating when desire calls and withdrawing when need arises. The group life as a whole is here needed to make possible this shift in realisation away from form and consciousness to the will and life aspect or principle. When this has begun to take place, one of the first recognitions of the initiate-disciple is that form, and his consciousness of form and its contacts (which we call knowledge), have in themselves produced a great thought-form which has summed up in itself his entire relation to form, to existence and experience in the three worlds, to matter, to desire and to all that incarnation has brought him. The whole matter looms, therefore, over-large in his consciousness. The detaching of himself from this ancient thoughtform—the final form which the Dweller on the Threshold takes—is called by him Death. Only at the fourth initiation does he realise that death is nothing but the severing of a thread which links him to the ring-pass-not within which he has chosen to circumscribe himself. He discovers that the “last enemy to be destroyed” is brought to that final destruction by the first aspect in himself, the Father or Monad (which moved originally to create that form), the Life, the Breath, the directing energising Will. It is the will that, in the last analysis, produces orientation, focus, emphasis, the world of form, and above all else (because of its relation to the world of cause), the world of meaning.

Nói theo cách này, bạn sẽ lưu ý rằng đệ tử thực sự được khuyên phải nhận ra (với sự trợ giúp của nhóm mình) rằng về bản chất y chính là phương diện Cha, nguyên nhân đầu tiên, ý chí sáng tạo và hơi thở sự sống bên trong [103] hình tướng. Đây là một thái độ phần nào mới mà y được yêu cầu phải có, bởi vì cho đến nay trọng tâm nơi tiêu điểm của y là xem mình như linh hồn, tái sinh khi dục vọng gọi và rút lui khi nhu cầu phát sinh. Ở đây cần có đời sống nhóm như một toàn thể để làm cho sự chuyển dịch trong chứng nghiệm này trở nên khả hữu, từ hình tướng và tâm thức sang phương diện hay nguyên khí ý chí và sự sống. Khi điều này bắt đầu diễn ra, một trong những nhận biết đầu tiên của đệ tử-điểm đạo đồ là hình tướng, và tâm thức của y về hình tướng cùng các tiếp xúc của nó (điều mà chúng ta gọi là tri thức), tự chúng đã tạo ra một hình tư tưởng lớn lao đã tổng kết trong chính nó toàn bộ mối liên hệ của y với hình tướng, với sự tồn tại và kinh nghiệm trong ba cõi, với vật chất, với dục vọng và với tất cả những gì việc nhập thể đã mang lại cho y. Vì vậy, toàn bộ vấn đề hiện ra quá lớn trong tâm thức của y. Việc tách mình ra khỏi hình tư tưởng cổ xưa này—hình tướng cuối cùng mà Kẻ Chận Ngõ mang lấy—được y gọi là Cái Chết. Chỉ đến lần điểm đạo thứ tư y mới nhận ra rằng cái chết không là gì khác ngoài việc cắt đứt một sợi dây nối y với vòng-giới-hạn mà trong đó y đã chọn tự giới hạn mình. Y khám phá rằng “kẻ thù cuối cùng phải bị hủy diệt” được đưa đến sự hủy diệt cuối cùng ấy bởi phương diện thứ nhất trong chính y, tức Cha hay chân thần (đã khởi đầu chuyển động để tạo ra hình tướng ấy), Sự sống, Hơi thở, Ý chí chỉ đạo đầy năng lượng. Chính ý chí, trong phân tích cuối cùng, tạo ra sự định hướng, tiêu điểm, trọng tâm, thế giới hình tướng, và trên hết mọi điều khác (do mối liên hệ của nó với thế giới nguyên nhân), thế giới của ý nghĩa.

Average man lives and has his being in the world of meaning; the initiate and the Master have their focus in the world of Being. They are then naught but will, illumined by love which links them with the world of meaning, and capable of intelligent activity which links them with the world of form, and is the indication of life. But the desire of the initiate is not now for activity, or even for the expression of love. These qualities are integral parts of his equipment and expression but have dropped below the threshold of consciousness (a higher correspondence of the automatic [104] activities of the physical body which proceed upon their work without any realised consciousness on the part of the man). His effort is towards something which means little as yet to those of you who read these words; it is for the realisation of Being, immovable, immutable, living and only to be comprehended in terms which embody the concept of “It is not this; it is not that.” It is No-Thing; it is not thought or desire. It is life, Being, the whole, the One. It is not expressed by the words “I am” or by the words “I am not.” It is expressed by the words “I am that I am.” Having said that, know you what I mean? It is the will-to-be which has found itself through the will-to-good.

Con người trung bình sống và tồn tại trong thế giới của ý nghĩa; điểm đạo đồ và Chân sư có tiêu điểm của mình trong Thế Giới Bản Thể. Khi ấy các Ngài không là gì ngoài ý chí, được soi sáng bởi bác ái vốn nối kết các Ngài với thế giới của ý nghĩa, và có khả năng hoạt động thông minh vốn nối kết các Ngài với thế giới hình tướng, và là dấu hiệu của sự sống. Nhưng dục vọng của điểm đạo đồ hiện nay không còn hướng đến hoạt động, hay thậm chí đến sự biểu lộ bác ái. Những phẩm tính này là những phần không thể tách rời của trang bị và biểu hiện của y nhưng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức (một tương ứng cao hơn của các [104] hoạt động tự động của thể xác vốn tiếp tục công việc của chúng mà không có sự nhận biết có ý thức nào từ phía con người). Nỗ lực của y hướng đến một điều gì đó mà hiện nay vẫn còn ít ý nghĩa đối với những bạn đọc những lời này; đó là sự chứng nghiệm Bản Thể, bất lay chuyển, bất biến, sống động và chỉ có thể được thấu hiểu bằng những thuật ngữ hàm chứa khái niệm “Không phải cái này; không phải cái kia.” Nó là Không-Vật; nó không phải tư tưởng hay dục vọng. Nó là sự sống, Bản Thể, toàn thể, Đấng Duy Nhất. Nó không được diễn đạt bằng những lời “Tôi là” hay bằng những lời “Tôi không là.” Nó được diễn đạt bằng những lời “Tôi là cái mà Tôi là.” Nói như vậy rồi, các bạn có biết tôi muốn nói gì không? Đó là ý chí-tồn-tại đã tìm thấy chính mình qua ý chí-hướng thiện.

Therefore, the eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sum total of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath. This dispersal, death or dissolution is in reality a great effect produced by the central Cause, and the injunction is consequently:

Vì vậy, mười tám ngọn lửa phải lụi xuống; các sự sống nhỏ bé (hiện thân cho nguyên khí của hình tướng, của dục vọng và của tư tưởng, tổng số của tính sáng tạo, dựa trên bác ái từ tính) phải trở về hồ chứa của sự sống và không còn gì sót lại ngoài điều đã khiến chúng hiện hữu, ý chí trung tâm được biết đến qua các hiệu quả của bức xạ hay hơi thở của nó. Sự phân tán, cái chết hay sự tan rã này thực ra là một hiệu quả lớn lao do Nguyên Nhân trung tâm tạo ra, và vì thế mệnh lệnh là:

2. This they must bring about through the evocation of the Will.

2. Điều này họ phải mang lại qua sự gợi lên của Ý Chí.

This type of death is ever brought about by a group, because it is from the earliest moment the one unmistakable expression of soul activity—as influenced consciously by the Monad or Father—and this activity is a group activity which wills the return of the lesser lives to the general reservoir from the very first moment that it has become apparent that the form experience has served its purpose and that the form has reached a point of such resilience and capacity that perfection has been practically achieved. This is definitely consummated at the fourth initiation. Now, at the end of the great life cycle of the soul, persisting for aeons, the time is nearing when form-taking and experience in the three worlds must end. The disciple finds his group in the Master’s Ashram, and consciously and with full understanding, [105] masters death—the long-feared enemy of existence. He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focussed in the highest aspect and knows himself to be the Will, the Life, the Father, the Monad, the One.

Loại cái chết này luôn luôn được mang lại bởi một nhóm, bởi vì ngay từ khoảnh khắc sớm nhất nó là biểu hiện không thể nhầm lẫn của hoạt động linh hồn—được chân thần hay Cha tác động một cách hữu thức—và hoạt động này là một hoạt động nhóm muốn cho các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa chung ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi đã trở nên hiển nhiên rằng kinh nghiệm hình tướng đã phục vụ mục đích của nó và rằng hình tướng đã đạt đến một điểm có tính đàn hồi và năng lực đến mức sự hoàn hảo hầu như đã đạt được. Điều này được hoàn tất dứt khoát ở lần điểm đạo thứ tư. Giờ đây, vào cuối chu kỳ sự sống lớn lao của linh hồn, kéo dài qua các đại kiếp, thời điểm đang đến gần khi việc mang lấy hình tướng và kinh nghiệm trong ba cõi phải chấm dứt. Đệ tử tìm thấy nhóm của mình trong ashram của Chân sư, và một cách hữu thức cùng với sự thấu hiểu trọn vẹn, [105] làm chủ cái chết—kẻ thù của sự tồn tại vốn bị sợ hãi từ lâu. Y khám phá rằng cái chết chỉ đơn giản là một hiệu quả do sự sống và ý chí hữu thức của y tạo ra, và là một phương thức nhờ đó y chỉ đạo chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên có thể một cách hữu thức bởi vì, sau khi đã phát triển sự nhận biết về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và bác ái—giờ đây y được tập trung trong phương diện cao nhất và biết mình là Ý Chí, là Sự sống, là Cha, là chân thần, là Đấng Duy Nhất.

In concluding our study of Rule IV, we are to consider two things:

Khi kết thúc việc nghiên cứu Quy luật IV, chúng ta cần xem xét hai điều:

The method of evoking the Will aspect.

Phương pháp gợi lên phương diện Ý Chí.

The process of recognising the Life aspect,

Tiến trình nhận biết phương diện Sự sống,

the Monad, the Father in Heaven.

chân thần, Cha trên Trời.

The result of these two is given in the two closing phrases of this rule:

Kết quả của hai điều này được nêu trong hai cụm từ kết thúc của quy luật này:

3. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

3. Những bánh xe nhỏ bé không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục tiến lên và quay.

There is one point here that I should like to make because it opens the door to new concepts, even if it is not yet possible for these concepts to be defined so that the mass can understand; even the disciples who read these words will fail truly to comprehend. Only those who have taken the third initiation will rightly interpret. Constantly in all esoteric literature reference is made to the factors of time and space as if there were a basic distinction between the worlds in which these two hold sway and in which the aspirants and initiates of all degrees freely move. Constantly the aspirant is reminded that time is cyclic in nature and manifestation, and that “space is an entity.” It is necessary that there should be some comprehension of these terms if that which the will controls (when evoked) is to penetrate into the knowing consciousness of the thinker.

Có một điểm ở đây mà tôi muốn nêu ra vì nó mở cánh cửa cho những khái niệm mới, dù hiện nay vẫn chưa thể định nghĩa các khái niệm ấy để quần chúng có thể hiểu; ngay cả các đệ tử đọc những lời này cũng sẽ không thật sự thấu hiểu. Chỉ những ai đã nhận lần điểm đạo thứ ba mới diễn giải đúng. Trong toàn bộ văn liệu huyền bí, người ta liên tục nhắc đến các yếu tố thời gian và không gian như thể có một sự phân biệt căn bản giữa các thế giới trong đó hai yếu tố này ngự trị và trong đó những người chí nguyện và điểm đạo đồ ở mọi cấp bậc tự do vận động. Người chí nguyện liên tục được nhắc nhở rằng thời gian có bản chất chu kỳ và biểu hiện, và rằng “không gian là một thực thể.” Cần phải có một mức độ thấu hiểu nào đó về các thuật ngữ này nếu điều mà ý chí kiểm soát (khi được gợi lên) muốn thâm nhập vào tâm thức hiểu biết của người suy tư.

Space and substance are synonymous terms; substance is the aggregate of atomic lives out of which all forms are built. With this the Treatise on Cosmic Fire largely dealt. [106] This is both an occult and a scientific truism. Substance is, however, a soul concept, and is only truly known to the soul. Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the ONE. Of this ONE the divine Hermaphrodite is the concrete symbol—the union in one of the pairs of opposites, negative and positive, male and female. In the state of being which we call the monadic, no difference is recognised between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. These are in truth three aspects of the divine will which exists in its perfection in the solar Logos and finds a medium of expression through the planetary Logos. This will is therefore working out in seven ways, via the living qualities of the seven planetary Logoi Who express Themselves through the seven sacred planets; They are preoccupied with the endeavour of bringing all the forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition and of registered existence. It will be obvious to you, consequently, that on each of the seven sacred planets one aspect of the divine Will will be dominant.

Không gian và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; chất liệu là tổng thể các sự sống nguyên tử từ đó mọi hình tướng được xây dựng. Điều này Luận về Lửa Vũ Trụ đã bàn đến phần lớn. [106] Đây vừa là một chân lý huyền bí vừa là một chân lý khoa học. Tuy nhiên, chất liệu là một khái niệm của linh hồn, và chỉ linh hồn mới thật sự biết nó. Vì vậy, sau lần điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn đã hoàn tất và thể linh hồn mờ dần khỏi bức tranh, chỉ còn lại phẩm tính mà nó đã truyền vào chất liệu như sự đóng góp của nó—cá nhân, nhóm hay hành tinh—cho tổng thể của sự biểu hiện. Tất cả những gì còn lại là một điểm ánh sáng. Điểm này có ý thức, bất biến và nhận biết hai cực của biểu hiện thiêng liêng: cảm thức về bản sắc cá nhân và cảm thức về tính phổ quát. Hai điều này được dung hợp và hòa trộn trong ĐẤNG DUY NHẤT. Biểu tượng cụ thể của ĐẤNG DUY NHẤT này là Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng—sự hợp nhất trong một của các cặp đối cực, âm và dương, nam và nữ. Trong trạng thái tồn tại mà chúng ta gọi là chân thần, không có sự khác biệt nào được nhận ra giữa hai điều này bởi vì (nếu tôi có thể hạ những ý tưởng như thế xuống mức trí tuệ của người chí nguyện) người ta nhận ra rằng không có bản sắc nào tách rời khỏi tính phổ quát và không có sự đánh giá nào về cái phổ quát tách rời khỏi sự chứng nghiệm cá nhân, và sự chứng nghiệm đồng hoá với cả phần lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong ý chí-tồn-tại, được phẩm định bởi ý chí-hướng thiện và được phát triển (từ góc độ tâm thức) bởi ý chí-hiểu biết. Thực ra đây là ba phương diện của ý chí thiêng liêng vốn tồn tại trong sự hoàn hảo của nó nơi Thái dương Thượng đế và tìm thấy một trung gian biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế. Vì vậy ý chí này đang vận hành theo bảy cách, qua các phẩm tính sống động của bảy Hành Tinh Thượng đế, Các Ngài tự biểu lộ qua bảy hành tinh thiêng liêng; Các Ngài bận tâm với nỗ lực đưa mọi hình tướng sự sống trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài lên cùng một mức độ nhận biết được ghi nhận và sự tồn tại được đăng ký. Do đó, hiển nhiên với bạn rằng trên mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng, một phương diện của Ý Chí thiêng liêng sẽ chiếm ưu thế.

This is the significance of Space—the field wherein states of Being are brought to the stage of recognition. When that stage has been reached and the Knower, the Soul, is fully aware and fully conscious, then there enters [107] in a new factor which also affects space—though in a different way—but which is related to the monadic Life. That factor is Time. Time is related to the will aspect and is dependent upon the dynamic life, self-directed, which produces persistence and which demonstrates persistence in that dynamic focus of intention by periodic or cyclic appearance.

Đây là thâm nghĩa của Không Gian—cánh đồng trong đó các trạng thái Bản Thể được đưa đến giai đoạn được nhận biết. Khi giai đoạn đó đã đạt được và Thức giả, Linh hồn, hoàn toàn nhận biết và hoàn toàn hữu thức, thì [107] một yếu tố mới cũng đi vào, yếu tố này cũng tác động đến không gian—dù theo một cách khác—nhưng lại liên hệ với Sự sống chân thần. Yếu tố đó là Thời Gian. Thời Gian liên hệ với phương diện ý chí và tùy thuộc vào sự sống năng động, tự định hướng, vốn tạo ra sự dai dẳng và chứng minh sự dai dẳng trong tiêu điểm năng động của ý định ấy bằng sự xuất hiện có chu kỳ hay tuần hoàn.

From the angle of the Will or the Father, these appearances in time and through space are so small a part of the experience of the living Entity Whose life is lived on planes other than the physical, emotional or mental, that they are regarded as no life. To understand this, I would remind you again that we must seek to understand the sum total in the light of the part, the Macrocosm in the light of the Microcosm. That is no easy task and is necessarily most limited.

Từ góc độ của Ý Chí hay Cha, những xuất hiện này trong thời gian và qua không gian là một phần quá nhỏ của kinh nghiệm của Thực Thể sống mà sự sống của Ngài được sống trên những cõi khác ngoài cõi hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ, đến nỗi chúng được xem như không phải là sự sống. Để hiểu điều này, tôi xin nhắc lại với bạn rằng chúng ta phải tìm cách hiểu tổng thể dưới ánh sáng của phần, Đại thiên địa dưới ánh sáng của Tiểu thiên địa. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng và tất yếu là rất giới hạn.

The disciple knows or is learning to know that he is not this or that, but Life Itself. He is not the physical body or its emotional nature; he is not, in the last analysis (a most occult phrase) the mind or that by which he knows. He is learning that that too must be transcended and superseded by intelligent love (only truly possible after the mind has been developed), and he begins to realise himself as the soul. Then, later, comes the awful “moment in time” when, pendant in space, he discovers that he is not the soul. What then is he? A point of divine dynamic will, focussed in the soul and arriving at awareness of Being through the use of form. He is Will, the ruler of time and the organiser, in time, of space. This he does, but ever with the reservation that time and space are the “divine playthings” and can be used or not at will.

Đệ tử biết hoặc đang học để biết rằng y không phải cái này hay cái kia, mà là chính Sự sống. Y không phải thể xác hay bản chất cảm xúc của nó; y không phải, trong phân tích cuối cùng (một cụm từ rất huyền bí), là trí tuệ hay điều nhờ đó y biết. Y đang học rằng điều đó cũng phải được siêu vượt và thay thế bởi bác ái thông minh (chỉ thật sự có thể sau khi trí tuệ đã được phát triển), và y bắt đầu chứng nghiệm mình là linh hồn. Rồi sau đó đến “khoảnh khắc trong thời gian” đáng sợ khi, treo lơ lửng trong không gian, y khám phá rằng y không phải là linh hồn. Vậy thì y là gì? Một điểm của ý chí năng động thiêng liêng, được tập trung trong linh hồn và đi đến nhận biết Bản Thể qua việc sử dụng hình tướng. Y là Ý Chí, kẻ cai quản thời gian và là người tổ chức, trong thời gian, của không gian. Y làm điều này, nhưng luôn luôn với sự dè dặt rằng thời gian và không gian là “những đồ chơi thiêng liêng” và có thể được dùng hay không dùng tùy ý.

We could paraphrase the last two sentences of this fourth rule as follows: The evocation of the will involves identity with the larger purpose. The little will of the little lives must be merged in the larger will of the whole. Individual purpose must be identified with group purpose, which is as much of the purpose of the Whole or the One Life as the little life can grasp at any given point in time [108] and space. It is in this sense, esoterically understood, that time is an event—which philosophy now points out, groping towards an expression of the initiate consciousness.

Chúng ta có thể diễn giải hai câu cuối của quy luật thứ tư này như sau: Sự gợi lên ý chí bao hàm sự đồng nhất với mục đích lớn hơn. Ý chí nhỏ bé của các sự sống nhỏ bé phải được hòa nhập vào ý chí lớn hơn của toàn thể. Mục đích cá nhân phải được đồng hoá với mục đích nhóm, vốn là phần mục đích của Toàn Thể hay của Sự Sống Duy Nhất mà sự sống nhỏ bé có thể nắm bắt ở bất kỳ điểm nào trong thời gian [108] và không gian. Chính theo nghĩa này, được hiểu một cách huyền bí, mà thời gian là một biến cố—điều mà triết học hiện nay đang chỉ ra, lần mò tiến tới một sự biểu đạt của tâm thức điểm đạo đồ.

In the long run, literally when the path of evolution is trodden to its end, what remains will be the divine purpose and the all-enveloping Life as it materialises the plan in time and space. This is the result of the turning of the greater Wheel of life, causing all the lesser wheels—in time and space—also to turn. In the meantime, the human being is first of all driven by desire, then by aspiration towards some visioned goal, then by his selfish will, which reveals to him the nature of the will: persistent application to some purpose, seen as desirable and to which every power is bent. Having exhausted all tangible goals, the inner life forces the man on towards the intangible, and the quality of his will begins to change. He discovers a larger will than his own and begins slowly to identify himself with it, proceeding stage by stage from one realised purpose to another higher one, each step removing him further from his own so-called will and bringing him nearer to an appreciation of the significance of the divine will or purpose.

Về lâu dài, theo nghĩa đen khi con đường tiến hoá được đi đến tận cùng, điều còn lại sẽ là thiên ý và Sự sống bao trùm tất cả khi nó hiện hình thiên cơ trong thời gian và không gian. Đây là kết quả của sự quay của Bánh Xe lớn hơn của sự sống, khiến mọi bánh xe nhỏ hơn—trong thời gian và không gian—cũng quay theo. Trong khi đó, con người trước hết bị thúc đẩy bởi dục vọng, rồi bởi khát vọng hướng đến một mục tiêu được linh thị, rồi bởi ý chí ích kỷ của mình, điều này mặc khải cho y bản chất của ý chí: sự áp dụng bền bỉ vào một mục đích nào đó, được thấy là đáng mong muốn và mọi quyền năng đều được dồn vào đó. Sau khi đã làm cạn kiệt mọi mục tiêu hữu hình, đời sống nội tâm thúc đẩy con người tiến đến cái vô hình, và phẩm tính của ý chí y bắt đầu thay đổi. Y khám phá một ý chí lớn hơn ý chí của mình và bắt đầu chậm rãi đồng hoá mình với nó, tiến từng giai đoạn từ mục đích đã chứng nghiệm này sang mục đích cao hơn khác, mỗi bước đưa y xa hơn khỏi cái gọi là ý chí riêng của mình và đưa y đến gần hơn với sự đánh giá về thâm nghĩa của ý chí hay mục đích thiêng liêng.

It might be stated, in an effort to clarify the method whereby this is done, that by the carrying out of the plan the disciple learns the nature of the purpose, but that the purpose itself can only be grasped by one who is developing monadic consciousness. Monadic consciousness is not consciousness as human beings understand it, but is that state of apprehension which is not consciousness or realisation, as the mystic feels it, or identification, as the occultist terms it, but something that appears when all of these three are appreciated and registered in a moment of time within the orbit of space.

Có thể nói, trong nỗ lực làm sáng tỏ phương pháp nhờ đó điều này được thực hiện, rằng bằng việc thực hiện thiên cơ, đệ tử học được bản chất của mục đích, nhưng bản thân mục đích chỉ có thể được nắm bắt bởi người đang phát triển tâm thức chân thần. Tâm thức chân thần không phải là tâm thức theo cách con người hiểu, mà là trạng thái lĩnh hội không phải là tâm thức hay chứng nghiệm như nhà thần bí cảm nhận, hay sự đồng hoá như nhà huyền bí học gọi, mà là một điều gì đó xuất hiện khi cả ba điều này được đánh giá và ghi nhận trong một khoảnh khắc thời gian bên trong quỹ đạo của không gian.

Now, having said this, I would ask you if you are much the wiser, or of what profit it is for me to write these words if you understand them not? For two reasons I write. One of my functions and duties (as a Master of the Wisdom) is to anchor ideas in the mind of man and carry down into the realm of words certain emerging concepts so that they may [109] begin to influence the higher level of thinkers. These latter are responsible for precipitating the ideas deep into the human consciousness. Secondly, I write for the generation which will come into active thought expression at the end of this century; they will inaugurate the framework, structure and fabric of the New Age which will start with certain premises which today are the dream of the more exalted dreamers and which will develop the civilisation of the Aquarian Age. This coming age will be as predominantly the age of group interplay, group idealism and group consciousness as the Piscean Age has been one of personality unfoldment and emphasis, personality focus and personality consciousness. Selfishness, as we now understand it, will gradually disappear, for the will of the individual will voluntarily be blended into the group will. It will be obvious to you, therefore, that this could well bring about a still more dangerous situation, because a group would be a combination of focussed energies, and unless these energies are directed towards the fulfillment of the Plan (which coordinates and makes possible the divine purpose) we shall have the gradual consolidation of the forces of evil or of materialism on Earth. I am not speaking lightly, but am endeavouring to show the necessity for the steadfast consecration of the spiritually minded to the task of developing the will-to-good on Earth and the absolute importance of fostering goodwill among the masses. If this is not done after the terrific global housecleaning that has gone on, the last state will be worse than the first. We shall have individual selfishness superseded by group selfishness, which will be consequently still more potent in its evil dedication, focus and results. The little wheels can continue to revolve in time and space, hindering the onward progress of the great Wheel which—again in time and space—is the wheel of humanity. The Heavenly Man and the human being upon that Wheel are developing divine qualities and attributes.

Giờ đây, sau khi đã nói điều này, tôi muốn hỏi bạn liệu bạn có sáng tỏ hơn bao nhiêu không, hay việc tôi viết những lời này có ích gì nếu bạn không hiểu chúng? Tôi viết vì hai lý do. Một trong những chức năng và bổn phận của tôi (với tư cách một Chân sư Minh triết) là neo các ý tưởng vào trí tuệ con người và mang xuống lĩnh vực ngôn từ một số khái niệm đang xuất hiện để chúng có thể [109] bắt đầu ảnh hưởng đến cấp độ cao hơn của những người suy tư. Chính những người sau này chịu trách nhiệm ngưng tụ các ý tưởng ấy sâu vào tâm thức nhân loại. Thứ hai, tôi viết cho thế hệ sẽ đi vào biểu hiện tư tưởng tích cực vào cuối thế kỷ này; họ sẽ khai mở khung sườn, cấu trúc và kết cấu của Kỷ Nguyên Mới, vốn sẽ bắt đầu với một số tiền đề mà ngày nay là giấc mơ của những người mơ mộng cao cả hơn và sẽ phát triển nền văn minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Kỷ nguyên sắp đến này sẽ nổi bật là kỷ nguyên của sự tương tác nhóm, lý tưởng nhóm và tâm thức nhóm cũng như Kỷ Nguyên Song Ngư đã là kỷ nguyên của sự khai mở phàm ngã và sự nhấn mạnh vào phàm ngã, tiêu điểm phàm ngã và tâm thức phàm ngã. Tính ích kỷ, như chúng ta hiện nay hiểu, sẽ dần dần biến mất, vì ý chí của cá nhân sẽ tự nguyện được hòa nhập vào ý chí nhóm. Do đó, hiển nhiên với bạn rằng điều này rất có thể sẽ mang lại một tình huống còn nguy hiểm hơn, bởi vì một nhóm sẽ là một sự kết hợp của các năng lượng được tập trung, và trừ phi các năng lượng này được hướng đến việc hoàn thành Thiên Cơ (điều phối hợp và làm cho thiên ý trở nên khả hữu), chúng ta sẽ có sự củng cố dần dần các lực lượng của điều ác hay của chủ nghĩa duy vật trên Trái Đất. Tôi không nói một cách hời hợt, mà đang cố gắng chỉ ra sự cần thiết của sự thánh hiến kiên định của những người có tâm trí tinh thần đối với nhiệm vụ phát triển ý chí-hướng thiện trên Trái Đất và tầm quan trọng tuyệt đối của việc nuôi dưỡng thiện chí giữa quần chúng. Nếu điều này không được thực hiện sau cuộc tổng tẩy trần toàn cầu khủng khiếp đã diễn ra, thì trạng thái sau cùng sẽ tệ hơn trạng thái đầu tiên. Chúng ta sẽ có tính ích kỷ cá nhân được thay thế bằng tính ích kỷ nhóm, và vì thế nó sẽ còn mạnh hơn trong sự tận hiến xấu ác, tiêu điểm và kết quả của nó. Những bánh xe nhỏ bé có thể tiếp tục quay trong thời gian và không gian, cản trở sự tiến lên của Bánh Xe lớn mà—một lần nữa trong thời gian và không gian—là bánh xe của nhân loại. Đấng Thiên Nhân và con người trên Bánh Xe ấy đang phát triển các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng.

The will aspect of divinity can find expression only through humanity, for the fourth kingdom in nature is intended to be the agent of the will to the three subhuman [110] kingdoms. It was therefore essential that the spirit of inclusiveness and the tendency to spiritual identification should be developed in humanity as a step preparatory to the development of response to divine purpose. It is absolutely essential that the will-to-good be unfolded by the disciples of the world so that goodwill can be expressed by the rank and file of mankind. The will-to-good of the world knowers is the magnetic seed of the future. The will-to-good is the Father aspect, whilst goodwill is the Mother aspect, and from the relation of these two the new civilisation, based on sound spiritual (but utterly different) lines, can be founded. I would commend this thought to your consciousness, for it means that two aspects of spiritual work must be nurtured in the immediate future, for on them the more distant hope of happiness and of world peace depends. The New Group of World Servers must be reached and the will-to-good developed in them, and the masses simultaneously must be reached with the message of goodwill. The will-to-good is dynamic, powerful and effective; it is based on realisation of the plan and on reaction to the purpose as sensed by those who are either initiate, and consciously in touch with Shamballa, or disciples who are likewise a part of the Hierarchy but are not yet able to contact the central Purpose or Life. Not yet having taken the third initiation, the monadic vibration is to them largely unknown. It would be just as dangerous for them to be able to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated) as it would be to teach the masses of men today techniques of will which would render their still selfish will effective. The main difficulty would be that the disciples would destroy themselves, whilst the ordinary man would damage himself.

Phương diện ý chí của thiên tính chỉ có thể tìm được biểu hiện qua nhân loại, vì giới thứ tư trong thiên nhiên được dự định là tác nhân của ý chí đối với ba giới dưới nhân loại [110]. Vì vậy, điều thiết yếu là tinh thần bao gồm và khuynh hướng đồng hoá tinh thần phải được phát triển trong nhân loại như một bước chuẩn bị cho sự phát triển của đáp ứng đối với thiên ý. Điều tuyệt đối thiết yếu là ý chí-hướng thiện phải được các đệ tử của thế giới khai mở để thiện chí có thể được biểu lộ bởi hàng ngũ đông đảo của nhân loại. Ý chí-hướng thiện của các thức giả thế gian là hạt giống từ tính của tương lai. Ý chí-hướng thiện là phương diện Cha, trong khi thiện chí là phương diện Mẹ, và từ mối liên hệ của hai điều này, nền văn minh mới, dựa trên những đường lối tinh thần đúng đắn (nhưng hoàn toàn khác biệt), có thể được thiết lập. Tôi xin phó thác tư tưởng này cho tâm thức của bạn, vì nó có nghĩa là hai phương diện của công việc tinh thần phải được nuôi dưỡng trong tương lai gần, bởi vì trên chúng phụ thuộc niềm hy vọng xa hơn về hạnh phúc và hòa bình thế giới. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải được tiếp cận và ý chí-hướng thiện phải được phát triển nơi họ, đồng thời quần chúng phải được tiếp cận với thông điệp về thiện chí. Ý chí-hướng thiện là năng động, mạnh mẽ và hữu hiệu; nó dựa trên sự chứng nghiệm thiên cơ và trên phản ứng đối với mục đích như được cảm nhận bởi những ai hoặc là điểm đạo đồ và hữu thức tiếp xúc với Shamballa, hoặc là các đệ tử cũng là một phần của Thánh đoàn nhưng chưa thể tiếp xúc với Mục Đích hay Sự Sống trung tâm. Vì chưa nhận lần điểm đạo thứ ba, rung động chân thần phần lớn vẫn chưa được họ biết đến. Việc họ có thể tiếp cận Shamballa (trước lần điểm đạo thứ ba khi mọi khuynh hướng phàm ngã bị xóa bỏ) sẽ nguy hiểm chẳng khác nào việc dạy cho quần chúng ngày nay những kỹ thuật về ý chí khiến ý chí còn ích kỷ của họ trở nên hữu hiệu. Khó khăn chính sẽ là các đệ tử sẽ tự hủy hoại mình, trong khi người bình thường sẽ làm tổn hại chính mình.

This exegesis of Rule IV is necessarily brief because it is of such deep significance that it requires careful study, sentence by sentence, and even so it is very largely beyond the grasp of the majority of readers. It will, however, be useful for disciples to reflect upon the various meanings (there are several) and upon the esoteric implications.

Bản chú giải này về Quy luật IV tất yếu phải ngắn gọn vì nó có ý nghĩa sâu xa đến mức đòi hỏi phải được nghiên cứu cẩn trọng, từng câu một, và ngay cả như vậy nó vẫn phần lớn vượt ngoài tầm nắm bắt của đa số độc giả. Tuy nhiên, nó sẽ hữu ích cho các đệ tử khi suy ngẫm về các ý nghĩa khác nhau (có nhiều ý nghĩa) và về các hàm ý huyền bí.

Leave a Comment

Scroll to Top