6. Cung và Điểm đạo – KHoa Học Về Antahkarana

📘 Sách: Các Cung và Các Cuộc Điểm đạo – Tác giả: Alice Bailey

THE SCIENCE OF THE ANTAHKARANA

Webinar 26                                                                       

As we enter on the consideration of “The dual life of the initiatory process” I would call your attention to the wording used, and particularly to its significance in reference to the initiatory process. This deals, as we shall see, not with the effort of the disciple to live simultaneously the life of the spiritual world and the practical life of physical plane service, but entirely with the preparation of the disciple for initiation, and therefore with his mental life and attitudes.

Khi chúng ta bắt đầu xem xét “Đời sống kép của tiến trình điểm đạo,” tôi muốn các bạn chú ý đến cách diễn đạt được sử dụng, và đặc biệt là ý nghĩa của nó liên quan đến tiến trình điểm đạo. Điều này không đề cập đến nỗ lực của đệ tử nhằm sống đồng thời đời sống của thế giới tinh thần và đời sống thực tiễn trong sự phụng sự nơi cõi trần, mà hoàn toàn liên quan đến sự chuẩn bị của đệ tử cho điểm đạo, và do đó, đến đời sống trí tuệ và các thái độ của y.

This statement might be regarded as concerning itself primarily with two major aspects of his mental life and not with the life of relation between soul and personality. It is proper, consequently, to see a duality existing in the consciousness of the disciple, and both of its aspects existing side by side:

Tuyên bố này có thể được xem như chủ yếu liên quan đến hai phương diện chính của đời sống trí tuệ của y, chứ không phải đến đời sống quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Do đó, việc nhận ra một nhị nguyên tồn tại trong tâm thức của đệ tử là điều phù hợp, và cả hai phương diện đó tồn tại song song:

1. The life of awareness in which he expresses the soul attitude, soul awareness and soul consciousness, through the medium of the personality upon the physical plane; this he learns to register and express consciously.

1. Đời sống của sự tỉnh thức trong đó y biểu lộ thái độ của linh hồn, sự tỉnh thức của linh hồn và tâm thức của linh hồn, thông qua trung gian của phàm ngã nơi cõi trần; điều này y học được cách ghi nhận và biểu lộ một cách có ý thức.

2. The intensely private and purely subjective life in which he—the soul-infused personality—oriented upon the mental plane, brings into increasing rapport:

2. Đời sống riêng tư mãnh liệt và hoàn toàn chủ quan trong đó y—phàm ngã được linh hồn thấm nhuần—định hướng trên cõi trí, tạo nên sự đồng điều ngày càng sâu sắc hơn giữa:

a. His lower concrete mind and the higher abstract mind.

a. Hạ trí cụ thể của y và thượng trí trừu tượng.

b. Himself and the Master of his ray group, thus developing the ashramic consciousness.

b. Chính y và Chân sư thuộc nhóm cung của y, nhờ đó phát triển tâm thức ashram.

c. Himself and the Hierarchy as a whole, becoming increasingly aware of the spiritual synthesis underlying the united Ashrams. He thus consciously and steadily approaches the radiant Centre of this solar Ashram, the Christ Himself, the first Initiator.

c. Chính y và toàn thể Thánh đoàn, nhờ đó ngày càng trở nên tỉnh thức với sự hợp nhất tinh thần nền tảng của các Ashram hợp nhất. Như vậy, y tiếp cận một cách có ý thức và đều đặn Trung Tâm rực rỡ của đại Ashram Thái Dương này, tức chính Đấng Christ, Đấng Điểm Đạo thứ nhất.

[442]

[442]

This inner life with its three slowly revealed objectives concerns essentially the life of preparation for initiation.

Đời sống nội tâm này cùng với ba mục tiêu được dần dần hé lộ chủ yếu liên quan đến đời sống chuẩn bị cho điểm đạo.

There is no initiation for the disciple until he has begun consciously to build the antahkarana, thus bringing the Spiritual Triad and the mind as the highest aspect in the three worlds into a close relationship; later, he brings his physical brain into a position of a recording agent upon the physical plane, thus again demonstrating a clear alignment and a direct channel from the Spiritual Triad straight through to the brain via the antahkarana which has linked the higher mind and the lower.

Không có điểm đạo nào dành cho đệ tử cho đến khi y bắt đầu kiến tạo một cách có ý thức antahkarana, nhờ đó đưa Tam nguyên tinh thần và trí tuệ, như là phương diện cao nhất trong ba cõi, vào một mối quan hệ mật thiết; về sau, y đưa bộ não vật lý vào vị trí như một cơ quan ghi nhận nơi cõi trần, nhờ đó lại một lần nữa chứng tỏ sự chỉnh hợp rõ ràng và một kênh trực tiếp từ Tam nguyên tinh thần xuyên suốt đến bộ não qua sợi dây antahkarana vốn đã kết nối thượng trí và hạ trí.

This involves much work, much interpretive capacity and much power to visualise. I am choosing my words with care. This visualisation is not necessarily concerned with form and with concrete mental presentations; it is concerned with a pictorial and symbolic sensitivity which expresses interpretively the spiritual understanding, conveyed by the awakening intuition—the agent of the Spiritual Triad. The meaning of this becomes clearer as the work proceeds. It is difficult for the man who is beginning the work of constructing the antahkarana to grasp the meaning of visualisation as it is seen to be related to a growing responsiveness to that which the ashramic group conveys to him, to his emerging vision of the divine Plan as it exists in reality, and to that which is committed to him as the effect or the result of each successive initiation. I prefer the word “effect” to the word “result,” for the initiate increasingly works consciously with the Law of Cause and Effect on planes other than the physical. We use the word “result” to express the consequences of that great cosmic Law as they demonstrate in the three worlds of human evolution.

Điều này đòi hỏi nhiều công phu, nhiều khả năng diễn giải và nhiều năng lực quán tưởng. Tôi đang chọn từ ngữ một cách cẩn trọng. Sự quán tưởng này không nhất thiết liên quan đến hình tướng và các biểu tượng trí cụ thể; nó liên quan đến một sự nhạy cảm mang tính biểu tượng và hình ảnh, biểu lộ bằng diễn giải minh triết tâm linh được truyền đạt bởi trực giác đang thức tỉnh—tác nhân của Tam nguyên tinh thần. Ý nghĩa của điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn khi công việc tiến triển. Thật khó cho người mới bắt đầu công cuộc xây dựng antahkarana để thấu hiểu ý nghĩa của sự quán tưởng trong mối liên hệ với sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với những gì nhóm ashram truyền đạt cho y, với thị kiến đang hiện ra của Thiên Cơ như nó thực sự hiện hữu, và với những điều được giao phó cho y như là hiệu quả hay kết quả của mỗi lần điểm đạo kế tiếp. Tôi ưu tiên dùng từ “hiệu quả” hơn là “kết quả,” vì điểm đạo đồ ngày càng làm việc một cách có ý thức với Định luật Nhân Quả trên các cõi vượt ngoài cõi trần. Chúng ta sử dụng từ “kết quả” để chỉ các hậu quả của Định luật vĩ đại này khi nó biểu lộ trong ba cõi tiến hóa của nhân loại.

It is in connection with this effort that he discovers the value, uses and purpose of the creative imagination. This creative imagination is all that remains to him eventually of the active and intensely powerful astral life which he has lived for so many lives; as evolution proceeds, his astral body becomes a mechanism of transformation, desire being transformed into aspiration and aspiration itself being transformed [443] into a growing and expressive intuitive faculty. The reality of this process is demonstrated in the emergence of that basic quality which has always been inherent in desire itself: the imaginative quality of the soul, implementing desire and steadily becoming a higher creative faculty as desire shifts into ever higher states and leads to ever higher realisations. This faculty eventually invokes the energies of the mind, and the mind, plus the imagination, becomes in time a great invocative and creative agent. It is thus that the Spiritual Triad is brought into rapport with the threefold personality.

Chính trong mối liên hệ với nỗ lực này mà y khám phá ra giá trị, công dụng và mục đích của khả năng tưởng tượng sáng tạo. Khả năng tưởng tượng sáng tạo này chính là tất cả những gì còn lại cuối cùng của đời sống cảm dục mãnh liệt và đầy năng lượng mà y đã từng sống qua nhiều kiếp; khi tiến hóa tiếp diễn, thể cảm dục của y trở thành một cơ cấu chuyển hóa, trong đó ham muốn được chuyển hóa thành khát vọng và bản thân khát vọng lại được chuyển hóa [443] thành một khả năng trực giác đang phát triển và biểu lộ. Tính hiện thực của tiến trình này được minh chứng qua sự hiển lộ của phẩm tính nền tảng luôn tiềm tàng trong chính ham muốn: phẩm tính tưởng tượng của linh hồn, thực thi ham muốn và dần dần trở thành một năng lực sáng tạo cao hơn khi ham muốn chuyển hóa thành các trạng thái ngày càng cao và dẫn đến các nhận thức ngày càng cao hơn. Năng lực này cuối cùng kêu gọi các năng lượng của trí tuệ, và trí tuệ, cộng với tưởng tượng, theo thời gian trở thành một tác nhân sáng tạo và khẩn thỉnh vĩ đại. Chính nhờ đó mà Tam nguyên tinh thần được đưa vào sự đồng điều với phàm ngã tam phân.

I have told you in earlier writings that basically the astral plane is non-existent as a part of the divine Plan; it is fundamentally the product of glamour, of kama-manas—a glamour which humanity itself has created and in which it has lived practically entirely since early Atlantean days. The effect of an increasing soul contact has not simply been to dispel the mists of glamour, but it has also served to consolidate and to bring into effective use, therefore, the imagination with its overwhelmingly powerful creative faculty. This creative energy, when implemented by an illumined mind (with its thoughtform making ability), is then wielded by the disciple in order to make contacts higher than with the soul, and to bring into symbolic form that of which he becomes aware through the medium of a line of energy—the antahkarana—which he is steadily and scientifically creating.

Tôi đã nói với các bạn trong những trước tác trước đây rằng về bản chất, cõi cảm dục không hiện hữu như là một phần của Thiên Cơ; nó chủ yếu là sản phẩm của ảo cảm, của kama-manas—một loại ảo cảm mà chính nhân loại đã tạo ra và trong đó nó đã hầu như sống hoàn toàn kể từ những ngày đầu của giống dân Atlantis. Tác động của sự tiếp xúc ngày càng tăng với linh hồn không chỉ đơn thuần là để xua tan màn sương ảo cảm, mà còn góp phần củng cố và đưa vào sử dụng hiệu quả khả năng tưởng tượng cùng với năng lực sáng tạo đầy uy lực của nó. Năng lượng sáng tạo này, khi được thực thi bởi một trí tuệ được soi sáng (với khả năng tạo ra hình tư tưởng), sau đó được đệ tử vận dụng nhằm tạo lập các tiếp xúc vượt trên linh hồn, và biểu lộ thành hình thức mang tính biểu tượng những điều mà y trở nên tỉnh thức thông qua trung gian của một dòng năng lượng—sợi dây antahkarana—mà y đang xây dựng một cách đều đặn và khoa học.

It might be said (equally symbolically) that at each initiation he tests the connecting bridge and discovers gradually the soundness of that which he has created under the inspiration of the Spiritual Triad and with the aid of the three aspects of his mind (the abstract mind, the soul or the Son of Mind, and the lower concrete mind), combined with the intelligent cooperation of his soul-infused personality. In the early stages of his invocative work, the instrument used is the creative imagination. This enables him at the very beginning to act as if he were capable of thus creating; then, when the as if imaginative consciousness is no longer [444] useful, he becomes consciously aware of that which he has—with hope and spiritual expectancy—sought to create; he discovers this as an existent fact and knows past all controversy that “faith is the substance of things hoped for, the evidence of things not seen.”

Có thể nói (một cách tượng trưng tương tự) rằng tại mỗi lần điểm đạo, y thử nghiệm cây cầu nối kết và dần dần khám phá ra độ vững chắc của điều mà y đã kiến tạo dưới sự cảm hứng của Tam nguyên tinh thần và với sự trợ giúp của ba phương diện của trí tuệ mình (trí trừu tượng, linh hồn hay Con của Trí tuệ, và hạ trí cụ thể), kết hợp với sự hợp tác thông tuệ của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Trong những giai đoạn đầu của công việc khẩn cầu, công cụ được sử dụng là khả năng tưởng tượng sáng tạo. Điều này cho phép y ngay từ khởi đầu hành động như thể y có khả năng kiến tạo theo cách đó; rồi, khi trạng thái tâm thức tưởng tượng “như thể” không còn [444] hữu ích nữa, y trở nên có ý thức rõ ràng về điều mà y đã—với niềm hy vọng và sự kỳ vọng thiêng liêng—cố gắng kiến tạo; y khám phá ra điều đó như một thực tại hiện hữu và biết, vượt khỏi mọi tranh luận, rằng “đức tin là bản thể của những điều hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy được.”

Building the Antahkarana

With the introductory teaching on the science of the Antahkarana we shall not here deal, for the student will find it in the book, Education in the New Age. That preliminary presentation should be studied before taking up the more advanced stage which begins here. Let us now consider, step by step this science which is already proving a useful source of experiment and testing.

Ở đây chúng ta sẽ không bàn về phần giáo huấn nhập môn liên quan đến khoa học Antahkarana, vì học viên có thể tìm thấy trong quyển sách Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới. Bản trình bày sơ khởi đó cần được nghiên cứu trước khi bước vào giai đoạn cao hơn bắt đầu từ đây. Giờ đây chúng ta hãy cùng khảo sát từng bước một khoa học này, vốn đã chứng tỏ là một nguồn hữu ích cho việc thực nghiệm và thử nghiệm.

The human soul (in contradistinction to the soul as it functions in its own kingdom, free from the limitations of human life) is imprisoned and subject to the control of the lower three energies for the major part of its experience. Then, upon the Path of Probation, the dual energy of soul begins to be increasingly active, and the man seeks to use his mind consciously, and to express love-wisdom on the physical plane. This is a simple statement of the objective of all aspirants. When the five energies are beginning to be used, consciously and wisely in service, a rhythm is then set up between the Personality and the Soul. It is as if a magnetic field were then established and these two vibrating and magnetic units, or grouped energies, swung into each other’s field of influence. This happens only occasionally and rarely in the early stages; later it occurs more constantly, and thus a path of contact is established which eventually becomes the line of least resistance, “the way of familiar approach,” as it is sometimes called. Thus is the first half of the “bridge,” the antahkarana, constructed. By the time the third initiation is completed, this Way is completed, and the initiate can “pass to higher worlds at will, leaving the lower worlds far behind; or he can come again and pass upon the way that leads from dark to light, from light to dark, and from the under lower worlds into the realms of light.” [445]

Linh hồn con người (trái ngược với linh hồn khi nó hoạt động trong cõi giới của chính nó, tự do khỏi những giới hạn của đời sống nhân loại) bị giam giữ và chịu sự chi phối của ba năng lượng thấp trong phần lớn kinh nghiệm của mình. Rồi, trên Con Đường Dự Bị, năng lượng kép của linh hồn bắt đầu hoạt động ngày càng mạnh mẽ, và con người tìm cách sử dụng trí tuệ của mình một cách có ý thức, và biểu lộ bác ái–minh triết trên cõi trần. Đây là một tuyên bố đơn giản về mục tiêu của tất cả những người chí nguyện. Khi năm năng lượng bắt đầu được sử dụng một cách có ý thức và khôn ngoan trong phụng sự, một nhịp điệu sẽ được thiết lập giữa Phàm ngã và Linh hồn. Dường như một trường từ lực được thiết lập và hai đơn vị rung động và từ tính này, hay các năng lượng tập hợp thành nhóm, bắt đầu chuyển động vào trường ảnh hưởng của nhau. Điều này chỉ xảy ra một cách thỉnh thoảng và hiếm hoi ở những giai đoạn đầu; sau này, nó diễn ra thường xuyên hơn, và như vậy một con đường tiếp xúc được thiết lập, con đường này cuối cùng trở thành đường ít trở ngại nhất, “con đường tiếp cận quen thuộc,” như đôi khi được gọi. Như thế là nửa đầu của “cây cầu,” tức antahkarana, được kiến tạo. Đến khi lần điểm đạo thứ ba hoàn tất, Con Đường này đã được hoàn thành, và điểm đạo đồ có thể “tự do tiến vào các thế giới cao hơn, bỏ lại các cõi thấp phía sau; hoặc y có thể trở lại và bước đi trên con đường dẫn từ tối đến sáng, từ sáng đến tối, và từ các cõi thấp hơn đi vào những cõi giới của ánh sáng.” [445]

Thus the two are one, and the first great union upon the Path of Return is completed. A second stage of the Way has then to be trodden, leading to a second union of still further importance in that it leads to complete liberation from the three worlds. It must be remembered that the soul, in its turn, is a union of three energies of which the lower three are the reflection. It is a synthesis of the energy of Life itself (which demonstrates as the life-principle within the world of forms), of the energy of the intuition or spiritual love-wisdom or understanding (this demonstrates as sensitivity and feeling in the astral body), and spiritual mind, whose reflection in the lower nature is the mind or the principle of intelligence in the form world. In these three we have the atma-buddhi-manas of the theosophical literature—that higher triplicity which is reflected in the lower three, and which focusses through the soul body on the higher levels of the mental plane before being precipitated into incarnation—as it is esoterically called.

Như vậy hai trở thành một, và sự hợp nhất lớn lao đầu tiên trên Con Đường Quay Về được hoàn tất. Khi ấy, phải bước vào một giai đoạn thứ hai của Con Đường, dẫn đến một sự hợp nhất thứ hai còn quan trọng hơn nữa vì nó đưa đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi ba cõi. Cần ghi nhớ rằng linh hồn, đến lượt mình, là một sự hợp nhất của ba năng lượng, trong đó ba năng lượng thấp là sự phản ánh. Nó là một tổng hợp của năng lượng của Sự sống chính nó (biểu lộ như là nguyên khí sống trong thế giới hình tướng), năng lượng của trực giác hay bác ái–minh triết hay hiểu biết tinh thần (biểu lộ như là sự nhạy cảm và cảm giác trong thể cảm dục), và trí tuệ tinh thần, mà phản ánh của nó trong bản chất thấp là trí tuệ hay nguyên khí thông tuệ trong thế giới hình tướng. Trong ba phương diện này, chúng ta có atma–buddhi–manas của văn học Thông Thiên Học—bộ ba cao hơn này là sự phản ánh của ba phương diện thấp, và nó tập trung thông qua thể linh hồn trên các cõi cao của cõi trí trước khi được ngưng tụ vào nhập thể—theo cách gọi nội môn.

Modernising the concept, we might say that the energies which animate the physical body and the intelligent life of the atom, the sensitive emotional states, and the intelligent mind, have eventually to be blended with and transmuted into the energies which animate the soul. These are the spiritual mind, conveying illumination; the intuitive nature, conferring spiritual perception; and divine livingness.

Nếu hiện đại hóa khái niệm này, ta có thể nói rằng các năng lượng vận hành thể xác và sự sống thông tuệ của nguyên tử, các trạng thái cảm xúc nhạy cảm, và trí tuệ thông minh, rốt cuộc phải được dung hợp với và chuyển hóa thành các năng lượng vận hành linh hồn. Đó là trí tuệ tinh thần, mang lại sự soi sáng; bản chất trực giác, ban phát nhận thức tinh thần; và sự sống thiêng liêng.

After the third initiation the “Way” is carried forward with great rapidity, and the “bridge” is finished which links perfectly the higher spiritual Triad and the lower material reflection. The three worlds of the Soul and the three worlds of the Personality become one world wherein the initiate works and functions, seeing no distinction, regarding one world as the world of inspiration and the other world as constituting the field of service, yet regarding both together as forming one world of activity. Of these two worlds, the subjective etheric body (or the body of vital inspiration) and the dense physical body are symbols on the external plane.

Sau lần điểm đạo thứ ba, “Con Đường” được đẩy nhanh với tốc độ lớn, và “cây cầu” được hoàn tất, kết nối trọn vẹn Tam nguyên tinh thần cao hơn và sự phản ánh vật chất thấp hơn. Ba cõi của Linh hồn và ba cõi của Phàm ngã trở thành một thế giới trong đó điểm đạo đồ hoạt động và làm việc, không còn thấy sự phân biệt, xem một cõi là cõi cảm hứng và cõi kia là lĩnh vực phụng sự, nhưng xem cả hai như hình thành một thế giới hoạt động duy nhất. Trong hai cõi giới này, thể dĩ thái chủ quan (hay thể sinh lực cảm hứng) và thể xác đậm đặc là những biểu tượng trên cõi ngoại giới.

How is this bridging antahkarana to be built? Where [446] are the steps which the disciple must follow? I deal not here with the Path of Probation whereon the major faults should be eliminated and whereon the major virtues should be developed. Much of the instruction given in the past has laid down the rules for the cultivation of the virtues and qualifications for discipleship, and also the necessity for self-control, for tolerance and for unselfishness. But these are elementary stages and should be taken for granted by the students. Such students should be occupied not only with the establishment of the character aspect of discipleship, but with the more abstruse and difficult requirements for those whose eventual goal is initiation.

Cây cầu antahkarana này sẽ được kiến tạo ra sao? Đâu là [446] các bước mà đệ tử phải theo? Tôi sẽ không bàn ở đây về Con Đường Dự Bị, nơi mà các lỗi lầm chính cần được loại bỏ và nơi mà các đức tính lớn cần được phát triển. Nhiều giáo huấn đã được ban ra trong quá khứ để chỉ dẫn các quy tắc cho việc nuôi dưỡng các đức tính và những phẩm chất cần thiết cho địa vị đệ tử, cũng như nhu cầu về tự kiểm soát, lòng bao dung và tính vô kỷ. Nhưng đó là các giai đoạn sơ khởi và cần được coi là điều hiển nhiên đối với học viên. Những học viên như vậy cần phải chú tâm không chỉ vào việc thiết lập phương diện phẩm cách của địa vị đệ tử, mà còn vào những yêu cầu trừu tượng và khó khăn hơn dành cho những ai có mục tiêu sau cùng là điểm đạo.

It is with the work of the “bridge-builders” that we are concerned. First, let me assure you that the real building of the antahkarana takes place only when the disciple is beginning to be definitely focussed upon mental levels, and when therefore his mind is intelligently and consciously functioning. He must begin at this stage to have some more exact idea than has hitherto been the case as to the distinctions existing between the thinker, the apparatus of thought, and thought itself, beginning with its dual esoteric function which is:

Chúng ta đang quan tâm đến công việc của những “người kiến tạo cầu nối.” Trước hết, hãy để tôi khẳng định rằng việc kiến tạo thực sự của antahkarana chỉ diễn ra khi đệ tử bắt đầu thật sự tập trung vào các cõi trí tuệ, và do đó, khi trí tuệ của y hoạt động một cách thông tuệ và có ý thức. Tại giai đoạn này, y phải bắt đầu có một ý niệm chính xác hơn so với trước đây về sự phân biệt tồn tại giữa người tư duy, cơ cấu của tư duy, và chính tư duy—bắt đầu với hai chức năng nội môn kép của nó, đó là:

1. The recognition and receptivity to IDEAS.

1. Sự nhận biết và tiếp nhận CÁC Ý TƯỞNG.

2. The creative faculty of conscious thoughtform building.

2. Năng lực sáng tạo trong việc kiến tạo các hình tư tưởng có ý thức.

This necessarily involves a strong mental attitude and reorientation of the mind to reality. As the disciple begins to focus himself on the mental plane (and this is the prime intent of the meditation work), he starts working in mental matter and trains himself in the powers and uses of thought. He achieves a measure of mind control; he can turn the searchlight of the mind in two directions, into the world of human endeavour and into the world of soul activity. Just as the soul makes a way for itself by projecting itself in a thread or stream of energy into the three worlds, so the disciple begins consciously to project himself into the higher worlds. His energy goes forth, through the medium of the controlled and directed mind, into the world of the higher [447] spiritual mind and into the realm of the intuition. A reciprocal activity is thus set up. This response between the higher and the lower mind is symbolically spoken of in terms of light, and the “lighted way” comes into being between the personality and the spiritual Triad, via the soul body, just as the soul came into definite contact with the brain via the mind. This “lighted way” is the illumined bridge. It is built through meditation; it is constructed through the constant effort to draw forth the intuition, through subservience and obedience to the Plan (which begins to be recognised as soon as the intuition and the mind are en rapport), and through a conscious incorporation into the group in service and for purposes of assimilation into the whole. All these qualities and activities are based upon the foundation of good character and the qualities developed upon the Probationary Path.

Điều này đương nhiên đòi hỏi một thái độ trí tuệ mạnh mẽ và một sự tái định hướng của trí tuệ về với thực tại. Khi đệ tử bắt đầu tập trung bản thân trên cõi trí (và đây là mục tiêu chính của công việc tham thiền), y bắt đầu làm việc trong vật chất trí tuệ và tự rèn luyện về năng lực và cách sử dụng tư tưởng. Y đạt được một mức độ nào đó của sự kiểm soát trí tuệ; y có thể hướng luồng sáng trí tuệ theo hai hướng: vào thế giới của nỗ lực nhân loại và vào thế giới hoạt động của linh hồn. Cũng giống như linh hồn tự tạo con đường cho mình bằng cách phóng chiếu chính nó như một sợi dây hay dòng năng lượng đi vào ba cõi, thì đệ tử bắt đầu một cách có ý thức phóng chiếu chính mình vào các cõi giới cao hơn. Năng lượng của y được phóng ra, thông qua trung gian của trí tuệ được kiểm soát và định hướng, đi vào thế giới của thượng trí tinh thần [447] và vào cõi giới của trực giác. Một hoạt động tương hỗ như vậy được thiết lập. Sự đáp ứng này giữa thượng trí và hạ trí được nói một cách tượng trưng qua ngôn ngữ ánh sáng, và “con đường rực sáng” được hình thành giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần, thông qua thể linh hồn, giống như cách mà linh hồn thiết lập tiếp xúc rõ ràng với bộ não qua trung gian của trí tuệ. “Con đường rực sáng” này chính là cây cầu được soi sáng. Nó được kiến tạo qua tham thiền; được xây dựng thông qua nỗ lực liên tục nhằm triệu gọi trực giác, thông qua sự quy phục và vâng theo Thiên Cơ (cái mà bắt đầu được nhận biết ngay khi trực giác và trí tuệ tương liên), và thông qua sự hội nhập có ý thức vào trong nhóm để phụng sự và nhằm mục đích hòa nhập vào tổng thể. Tất cả những phẩm tính và hoạt động này đều được đặt nền tảng trên phẩm cách tốt và những phẩm chất đã được phát triển trên Con Đường Dự Bị.

The effort to draw forth the intuition requires directed occult (but not aspirational) meditation. It requires a trained intelligence, so that the line of demarcation between intuitive realisation and the forms of the higher psychism may be clearly seen. It requires a constant disciplining of the mind, so that it can “hold itself steady in the light,” and the development of a cultured right interpretation, so that the intuitive knowledge achieved may then clothe itself in the right thoughtforms.

Nỗ lực để triệu gọi trực giác đòi hỏi phải có một phương pháp tham thiền huyền môn có định hướng (nhưng không mang tính chí nguyện). Nó đòi hỏi một trí thông tuệ được huấn luyện, để ranh giới giữa nhận thức trực giác và các hình thái tâm linh cao hơn của thông linh có thể được nhận biết rõ ràng. Nó đòi hỏi sự rèn luyện liên tục của trí tuệ, để nó có thể “giữ vững trong ánh sáng,” và sự phát triển của khả năng giải thích đúng đắn một cách có văn hóa, để tri thức trực giác đạt được có thể tự biểu lộ bằng những hình tư tưởng thích hợp.

It might also be stated here that the construction of the bridge whereby the consciousness can function with facility, both in the higher worlds and in the lower, is primarily brought about by a definitely directed life-tendency, which steadily sends the man in the direction of the world of spiritual realities, plus certain movements of planned and carefully timed and directed reorientation or focussing. In this last process the gain of the past months or years is closely assessed; the effect of that gain upon the daily life and in the bodily mechanism is as carefully studied; and the will-to-live as a spiritual being is brought into the consciousness with a definiteness and a determination that makes for immediate progress. [448]

Cũng có thể nói ở đây rằng việc xây dựng cây cầu mà qua đó tâm thức có thể hoạt động một cách dễ dàng, cả trong các cõi giới cao lẫn thấp, chủ yếu được thực hiện bởi một khuynh hướng sống được định hướng một cách rõ rệt, khuynh hướng này liên tục đưa con người đến gần hơn với thế giới của các thực tại tinh thần, cộng với một số chuyển động tái định hướng hoặc tập trung được lên kế hoạch và canh thời điểm một cách cẩn trọng. Trong tiến trình sau cùng này, các thành quả của những tháng hoặc năm trước đó được đánh giá kỹ lưỡng; tác động của thành quả ấy lên đời sống hằng ngày và trên cơ cấu thể xác được khảo sát cẩn thận; và ý chí sống như một hữu thể tinh thần được đưa vào tâm thức với một sự xác quyết và quyết tâm làm nên bước tiến ngay lập tức. [448]

This building of the antahkarana is most assuredly proceeding in the case of every earnest student. When the work is carried on intelligently and with full awareness of the desired purpose, and when the aspirant is not only aware of the process but alert and active in its fulfillment, then the work proceeds apace and the bridge is built.

Việc kiến tạo antahkarana chắc chắn đang được tiến hành trong trường hợp của mọi học viên chân thành. Khi công việc đó được thực hiện một cách trí tuệ và với đầy đủ ý thức về mục đích mong muốn, và khi người chí nguyện không chỉ nhận biết về tiến trình đó mà còn tỉnh thức và chủ động trong việc hoàn tất nó, thì công việc tiến triển nhanh chóng và cây cầu được kiến tạo.

It is wise to accept the fact that humanity is now in a position to begin the definite process of constructing the link or bridge between the various aspects of man’s nature, so that instead of differentiation there will be unity, and instead of a fluid, moving attention, directed here and there into the field of material living and emotional relationships, we shall have learnt to control the mind and to have bridged the divisions, and so can direct at will the lower attention in any desired manner. Thus all aspects of man, spiritual and natural, can be focussed where needed.

Thật khôn ngoan khi chấp nhận thực tế rằng nhân loại hiện nay đang ở vào vị trí có thể bắt đầu tiến trình xác định việc kiến tạo liên kết hay cây cầu giữa các phương diện khác nhau trong bản chất con người, để thay vì phân rẽ, sẽ có sự hợp nhất; và thay vì sự chú tâm di động, trôi nổi, hướng vào cuộc sống vật chất và các mối quan hệ cảm xúc, chúng ta sẽ học được cách kiểm soát trí tuệ và đã xây dựng được các nhịp cầu vượt qua các chia cách, và nhờ đó có thể định hướng sự chú tâm thấp hơn theo bất kỳ cách nào mong muốn. Như thế, mọi phương diện của con người, cả tinh thần lẫn thiên nhiên, có thể được tập trung vào nơi cần thiết.

This bridging work has in part already been done. Humanity has as a whole already bridged the gap between the emotional-astral nature and the physical man. It should be noted here that the bridging has to be done in the consciousness aspect, and concerns the continuity of man’s awareness of life in all its various aspects. The energy which is used in connecting, in consciousness, the physical man and the astral body is focussed in the solar plexus. Many today, speaking in symbolical terms, are carrying that bridge forward and linking the mind with the two aspects already linked. This thread of energy emanates from or is anchored in the head. Some people, fewer of course in number, are steadily linking the soul and the mind, which in its turn is linked with the other two aspects. The soul energy, when linked with the other threads has its anchor in the heart. A very few people, the initiates of the world, having effected all the lower syntheses, are now occupied with bringing about a still higher union, with that triple Reality which uses the soul as its medium of expression, just as the soul in its turn is endeavoring to use its shadow, the threefold lower man.

Công việc kiến tạo cầu nối này phần nào đã được thực hiện. Nhân loại nói chung đã kiến tạo được nhịp cầu nối giữa bản chất cảm dục–cảm xúc và con người vật lý. Cần lưu ý ở đây rằng việc kiến tạo cầu nối phải được thực hiện trong phương diện tâm thức, và liên quan đến sự liên tục của sự tỉnh thức của con người đối với sự sống trong mọi phương diện đa dạng của nó. Năng lượng được dùng để nối kết, trong tâm thức, con người thể chất và thể cảm dục được tập trung tại tùng thái dương. Ngày nay, theo cách nói tượng trưng, nhiều người đang tiếp tục kiến tạo cây cầu đó và kết nối trí tuệ với hai phương diện đã được liên kết. Sợi dây năng lượng này phát xuất từ hoặc được neo vào đầu. Một số người, tuy ít hơn, đang đều đặn kết nối linh hồn và trí tuệ, cái mà đến lượt nó lại kết nối với hai phương diện kia. Năng lượng của linh hồn, khi được liên kết với các sợi dây khác, thì điểm neo của nó là ở tim. Một số rất ít người, các điểm đạo đồ của thế gian, sau khi đã thực hiện xong mọi sự tổng hợp thấp, hiện đang bận tâm với việc kiến tạo một sự hợp nhất còn cao hơn nữa, với Thực Tại tam phân vốn sử dụng linh hồn làm trung gian biểu lộ, giống như cách mà linh hồn đang cố gắng sử dụng cái bóng của nó là con người tam phân thấp hơn.

These distinctions and unifications are matters of form, [449] symbols in speech, and are used to express events and happenings in the world of energies and forces, in connection with which man is definitely implicated. It is to these unifications that we refer when the subject of initiation is under consideration.

Những sự phân biệt và hợp nhất này là những vấn đề mang tính hình tướng, [449] là những biểu tượng trong ngôn từ, và được sử dụng để biểu đạt những biến cố và sự kiện trong thế giới của năng lượng và mãnh lực, mà trong đó con người chắc chắn có liên can. Chính đến những sự hợp nhất này mà chúng ta đề cập khi bàn đến đề tài điểm đạo.

It will be useful if we repeat here a few statements made in an earlier book:

Sẽ hữu ích nếu chúng ta lặp lại ở đây một vài phát biểu đã được đưa ra trong một cuốn sách trước:

Students should train themselves to distinguish between the sutratma and the antahkarana, between the life thread and the thread of consciousness. The one thread is the basis of immortality and the other the basis of continuity. Herein lies a fine distinction for the investigator. One thread (the sutratma) links and vivifies all forms into one functioning whole, and embodies in itself the will and the purpose of the expressing entity, be it man, God or a crystal. The other thread (the antahkarana) embodies the response of the consciousness within the form to a steadily expanding range of contacts within the environing whole. One is the direct stream of life, unbroken and immutable, which can be regarded symbolically as a direct stream of living energy flowing from the centre to the periphery, and from the source to the outer expression, or the phenomenal appearance. It is the life. It produces the individual process and the evolutionary unfoldment of all forms.

Các học viên nên tự rèn luyện để phân biệt giữa sutratma và antahkarana, giữa sợi dây sự sống và sợi dây tâm thức. Một sợi dây là nền tảng của sự bất tử và sợi kia là nền tảng của sự liên tục. Trong đó tồn tại một sự phân biệt tinh tế đối với người khảo cứu. Một sợi dây (sutratma) liên kết và sinh động hóa mọi hình tướng thành một tổng thể hoạt động, và bao hàm trong chính nó ý chí và mục đích của thực thể biểu lộ, dù là con người, Thượng Đế hay một tinh thể. Sợi dây kia (antahkarana) bao hàm sự đáp ứng của tâm thức trong hình tướng đối với một phạm vi tiếp xúc ngày càng mở rộng trong toàn thể bao quanh. Một sợi là dòng năng lượng sống trực tiếp, không đứt đoạn và bất biến, có thể được xem tượng trưng như là một dòng năng lượng sống chảy từ trung tâm đến ngoại vi, và từ nguồn đến sự biểu lộ bên ngoài, hay biểu hiện hiện tượng. Nó là sự sống. Nó tạo ra tiến trình cá biệt và sự khai mở tiến hóa của mọi hình tướng.

It is, therefore, the path of life, which reaches from the Monad to the personality, via the soul. This is the thread soul and it is one and indivisible. It conveys the energy of life and finds its final anchor in the centre of the human heart and at some central focal point in all forms of divine expression. Naught is and naught remains but life. The consciousness thread (antahkarana) is the result of the union of life and substance or of the basic energies which constitute the first differentiation in time and space; this produces something different, which only emerges as a third divine manifestation after the union of the basic dualities has taken place.

Do đó, đây là con đường của sự sống, kéo dài từ Chân thần đến phàm ngã, thông qua linh hồn. Đây là sợi dây linh hồn và nó là một và không thể phân chia. Nó truyền tải năng lượng sống và tìm được điểm neo cuối cùng nơi trung tâm trái tim con người và tại một điểm hội tụ trung tâm trong mọi hình tướng của biểu lộ thiêng liêng. Không có gì tồn tại và không có gì còn lại ngoài sự sống. Sợi dây tâm thức (antahkarana) là kết quả của sự hợp nhất giữa sự sống và vật chất, hay giữa các năng lượng căn bản vốn tạo nên sự phân cực đầu tiên trong thời gian và không gian; điều này tạo ra một cái gì đó khác biệt, chỉ xuất hiện như một biểu lộ thiêng liêng thứ ba sau khi sự hợp nhất của các cặp đối đã diễn ra.

The life thread, the silver cord or the sutratma is, as far as man is concerned, dual in nature. The life thread [450] proper, which is one of the two threads which constitute the sutratma, is anchored in the heart, whilst the other thread, which embodies the principle of consciousness, is anchored in the head. This you already know, but this I feel the need to constantly reiterate. In the work of the evolutionary cycle, however, man has to repeat what God has already done. He must himself create, both in the world of consciousness and of life. Like a spider, man spins connecting threads, and thus bridges and makes contact with his environment, thereby gaining experience and sustenance. The spider symbol is often used in the ancient occult books and the scriptures of India in connection with this activity of the human being. These threads, which man creates, are triple in number, and with the two basic threads which have been created by the soul, constitute the five types of energy which make man a conscious human being.

Sợi dây sự sống, sợi dây bạc hay sutratma, xét trong mối liên hệ với con người, có bản chất nhị phân. Sợi dây sự sống [450] thực sự, là một trong hai sợi dây hợp thành sutratma, được neo vào tim, trong khi sợi còn lại, biểu hiện nguyên khí tâm thức, được neo vào đầu. Điều này các bạn đã biết, nhưng tôi cảm thấy cần phải nhấn mạnh thường xuyên. Tuy nhiên, trong công việc của chu kỳ tiến hóa, con người phải lặp lại những gì Thượng Đế đã làm. Y phải tự mình sáng tạo, cả trong thế giới tâm thức lẫn thế giới sự sống. Giống như con nhện, con người kéo các sợi dây nối kết, và nhờ đó bắc cầu và tạo tiếp xúc với môi trường xung quanh, qua đó thu thập kinh nghiệm và nuôi dưỡng bản thân. Biểu tượng con nhện thường được dùng trong các sách huyền môn cổ và kinh sách Ấn Độ liên quan đến hoạt động này của con người. Những sợi dây mà con người tạo ra là tam phân, và cùng với hai sợi dây căn bản được kiến tạo bởi linh hồn, tạo thành năm loại năng lượng khiến con người trở thành một hữu thể nhân loại có tâm thức.

The triple threads created by man are anchored in the solar plexus, the head and the heart. When the astral body and the mind nature are beginning to function as a unit, and the soul also is consciously connected (do not forget that it is always unconsciously linked), an extension of this five-fold thread—the basic two and the human three—is carried to the throat centre, and when that occurs man can become a conscious creator on the physical plane. From these major lines of energy lesser lines can radiate at will. It is upon this knowledge that all future intelligent psychic unfoldment must be based.

Ba sợi dây tam phân được con người tạo ra được neo vào tùng thái dương, đầu và tim. Khi thể cảm dục và bản chất trí tuệ bắt đầu hoạt động như một đơn vị, và linh hồn cũng được kết nối một cách có ý thức (đừng quên rằng nó luôn luôn được kết nối một cách vô thức), thì một sự mở rộng của sợi dây năm luồng—hai căn bản và ba do con người tạo ra—được đưa đến trung tâm cổ họng, và khi điều đó xảy ra, con người có thể trở thành một nhà sáng tạo có ý thức trên cõi trần. Từ những dòng năng lượng chính này, các dòng năng lượng thứ yếu có thể phát xạ tùy ý. Chính trên nền tảng kiến thức này mà tất cả sự khai mở tâm linh thông tuệ trong tương lai phải được xây dựng.

In the above paragraph and its implications you have a brief and inadequate statement as to the Science of the Antahkarana. I have endeavoured to express this in terms, symbolic if you will, which will convey a general idea to your minds. We can learn much through the use of the pictorial and visual imagination. This bridging must take place:

Trong đoạn văn trên và các hàm ý của nó, các bạn có một phát biểu vắn tắt và chưa đầy đủ về Khoa học Antahkarana. Tôi đã cố gắng trình bày điều này bằng các thuật ngữ—nếu bạn muốn, mang tính tượng trưng—nhằm truyền tải một ý niệm tổng quát đến trí tuệ của các bạn. Chúng ta có thể học được rất nhiều thông qua việc sử dụng trí tưởng tượng hình ảnh và thị kiến. Việc kiến tạo cầu nối này phải diễn ra như sau:

1. From the physical to the vital or etheric body. This is really an extension of the life thread between the heart and the spleen.

1. Từ thể xác đến thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây thực sự là một sự mở rộng của sợi dây sự sống giữa tim và tỳ tạng.

2. From the physical and the vital, regarding them as a [451] unity, to the astral or emotional vehicle. This thread emanates from, or is anchored in, the solar plexus, and is carried upwards, by means of the aspiration, till it anchors itself in the love petals of the egoic Lotus.

2. Từ thể xác và thể sinh lực, xét như một [451] đơn vị, đến thể cảm dục hay thể cảm xúc. Sợi dây này phát ra từ, hoặc được neo vào, tùng thái dương, và được nâng lên nhờ khát vọng, cho đến khi nó tự neo vào các cánh hoa bác ái của Đài sen linh hồn.

3. From the physical and astral vehicles to the mental body. One terminus is anchored in the head, and the other in the knowledge petals of the egoic Lotus, being carried forward by an act of the will.

3. Từ các thể xác và thể cảm dục đến thể trí. Một đầu được neo vào đầu, và đầu kia vào các cánh hoa tri thức của Đài sen linh hồn, được chuyển đi nhờ một hành động của ý chí.

Webinar 27

Advanced humanity is in process of linking the three lower aspects, which we call the personality, with the soul itself, through meditation, discipline, service and directed attention. When this has been accomplished, a definite relation is established between the sacrifice or will petals of the egoic Lotus and the head and heart centres, thus producing a synthesis between consciousness, the soul and the life principle. The process of establishing this inter-linking and inter-relation, and the strengthening of the bridge thus constructed, goes on until the Third Initiation. The lines of force are then so inter-related that the soul and its mechanism of expression are a unity. A higher blending and fusing can then go on.

Nhân loại tiến hóa hiện đang trong tiến trình liên kết ba phương diện thấp—mà chúng ta gọi là phàm ngã—với chính linh hồn, thông qua tham thiền, kỷ luật, phụng sự và sự chú tâm có định hướng. Khi điều này đã được thực hiện, một mối quan hệ xác định được thiết lập giữa các cánh hoa hy sinh hay ý chí của Đài sen linh hồn với các trung tâm đầu và tim, nhờ đó tạo ra sự tổng hợp giữa tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống. Tiến trình thiết lập sự liên kết và tương quan này, cùng với việc củng cố cây cầu được kiến tạo như thế, tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ ba. Các đường năng lượng khi ấy được liên kết chặt chẽ đến mức linh hồn và cơ chế biểu lộ của nó trở thành một hợp nhất. Khi đó, một sự dung hợp và hòa trộn cao hơn có thể tiếp tục diễn ra.

I can perhaps indicate the nature of this process in the following manner: I have stated here and elsewhere that the soul anchors itself in the body at two points:

Tôi có thể phần nào chỉ ra bản chất của tiến trình này theo cách sau: tôi đã nói ở đây và ở những nơi khác rằng linh hồn tự neo vào thể xác tại hai điểm:

1. There is a thread of energy, which we call the life or spirit aspect, anchored in the heart. It uses the blood stream, as is well known, as its distributing agency, and through the medium of the blood, life energy is carried to every part of the mechanism. This life energy carries the re-generating power and coordinating energy to all the physical organisms and keeps the body “whole.”

1. Có một sợi dây năng lượng, mà chúng ta gọi là phương diện sự sống hay tinh thần, được neo vào tim. Nó sử dụng dòng máu, như đã được biết, làm cơ quan phân phối của mình, và thông qua trung gian dòng máu, năng lượng sống được chuyên chở đến mọi phần của cơ cấu thể chất. Năng lượng sống này mang lại quyền năng tái tạo và năng lượng phối hợp đến tất cả các cơ quan vật chất và giữ cho cơ thể được “toàn vẹn.”

2. There is a thread of energy, which we call the consciousness aspect or the faculty of soul knowledge, anchored in the centre of the head. It controls that response mechanism which we call the brain, and through its medium it directs activity and induces awareness throughout the body by means of the nervous system. [452]

2. Có một sợi dây năng lượng, mà chúng ta gọi là phương diện tâm thức hay năng lực tri thức linh hồn, được neo vào trung tâm đầu. Nó kiểm soát cơ chế phản ứng mà chúng ta gọi là bộ não, và thông qua trung gian của nó, nó điều khiển hoạt động và khơi dậy nhận thức khắp toàn thân nhờ vào hệ thần kinh. [452]

These two energy factors, which are recognised by the human being as knowledge and life, or as intelligence and living energy, are the two poles of his being. The task ahead of him now is to develop consciously the middle or balancing aspect, which is love or group relationship. (See Education in the New Age, pages 26-27, 32-33, 92.)

Hai yếu tố năng lượng này, được con người nhận biết như là tri thức và sự sống, hay như là trí thông tuệ và năng lượng sống, là hai cực trong bản thể của y. Nhiệm vụ sắp tới đối với y lúc này là phát triển một cách có ý thức phương diện trung gian hay cân bằng, tức là tình thương hay mối liên hệ nhóm. (Xem Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới, trang 26–27, 32–33, 92.)

The Nature of the Antahkarana

One of the difficulties connected with this study of the antahkarana is the fact that hitherto the work done upon the antahkarana has been entirely unconscious. Therefore, the concept in men’s minds relating to this form of creative work and this construction of the bridge meets at first with little response from the mind nature; also, in order to express these ideas, we have practically to create a new terminology, for there are no words suitable to define our meaning. Just as modern sciences have evolved a complete new terminology of their own during the past forty years, so this science must develop its own peculiar vocabulary. In the meantime, we must do the best we can with the words at our disposal.

Một trong những khó khăn liên quan đến việc nghiên cứu antahkarana là thực tế rằng cho đến nay công việc được thực hiện trên antahkarana hoàn toàn diễn ra một cách vô thức. Do đó, khái niệm trong tâm trí con người liên quan đến hình thức công việc sáng tạo này và việc kiến tạo cây cầu này lúc đầu chỉ nhận được rất ít sự phản hồi từ bản chất trí tuệ; hơn nữa, để diễn đạt những ý tưởng này, chúng ta hầu như phải tạo ra một thuật ngữ mới, vì không có từ ngữ nào thích hợp để định nghĩa điều mà chúng ta muốn truyền đạt. Cũng giống như các ngành khoa học hiện đại đã phát triển một hệ thuật ngữ hoàn toàn mới của riêng chúng trong vòng bốn mươi năm qua, thì khoa học này cũng phải phát triển một từ vựng đặc thù của chính nó. Trong khi chờ đợi, chúng ta phải cố gắng hết sức với những từ hiện có trong tầm tay.

The second point I would make is to ask those who are studying along these lines to realise that in time they will arrive at understanding, but that at present all that they can do is to depend upon the unalterable tendency of the subconscious nature to penetrate to the surface of consciousness as a reflex activity in the establishing of continuity of consciousness. This reflex activity of the lower nature corresponds to the development of continuity between the superconscious and the consciousness which develops upon the Path of Discipleship. It is all a part—in three stages—of the integrating process, proving to the disciple that all of life is (in terms of consciousness) one of revelation. Ponder on this.

Điểm thứ hai mà tôi muốn nêu ra là yêu cầu những ai đang nghiên cứu theo hướng này cần nhận ra rằng theo thời gian họ sẽ đạt đến sự hiểu biết, nhưng hiện tại tất cả những gì họ có thể làm là dựa vào khuynh hướng bất biến của bản chất tiềm thức—vốn luôn tìm cách thẩm thấu lên bề mặt của ý thức như một hoạt động phản chiếu—trong tiến trình thiết lập sự liên tục của tâm thức. Hoạt động phản chiếu của bản chất thấp này tương ứng với sự phát triển của sự liên tục giữa siêu thức và tâm thức, điều mà đệ tử phát triển trên Con Đường Đệ Tử. Tất cả điều này là một phần—với ba giai đoạn—của tiến trình hợp nhất, chứng minh cho đệ tử rằng toàn thể sự sống là (xét theo thuật ngữ tâm thức) một chuỗi mặc khải. Hãy suy ngẫm điều này.

Another of the difficulties in considering any of these esoteric sciences that deal with what has been called the “conscious unfoldment of the divine recognitions” (which is true awareness) is the ancient habit of humanity to materialise [453] all knowledge. Everything man learns is applied—as the centuries pass—to the world of natural phenomena and of natural process, and not to the recognition of the Self, the Knower, the Beholder, the Observer. When, therefore, man enters upon the Path, he has to educate himself in the process of using knowledge in reference to the conscious self-aware Identity, or to the self-contained, self-initiating Individual. When he can do this, he is transmuting knowledge into wisdom.

Một khó khăn khác khi xem xét bất kỳ khoa học nội môn nào có liên quan đến cái được gọi là “sự khai mở có ý thức của các nhận thức thiêng liêng” (chính là sự tỉnh thức chân thực) là tập quán cổ xưa của nhân loại trong việc vật chất hóa [453] mọi tri thức. Tất cả những gì con người học được qua các thế kỷ đều được ứng dụng vào thế giới hiện tượng tự nhiên và các tiến trình tự nhiên, chứ không phải vào sự nhận biết về Chân ngã, về Đấng Biết, Người Quan sát, Người Chứng kiến. Vì vậy, khi con người bước vào Con Đường, y phải tự giáo dục mình trong tiến trình sử dụng tri thức liên quan đến Bản Ngã có ý thức, tự nhận thức—tức cá thể tự tồn, tự phát khởi. Khi y có thể làm điều này, y đang chuyển hóa tri thức thành minh triết.

Previously I spoke of “knowledge-wisdom” which are words synonymous with “force-energy.” Knowledge used is force expressing itself; wisdom used is energy in action. In these words you have the expression of a great spiritual law, one which you would do well to consider carefully. Knowledge-force concerns the personality and the world of material values; wisdom-energy expresses itself through the consciousness thread and the creative thread, as they constitute in themselves a woven dual strand. They are (for the disciple) a fusion of the past (consciousness thread) and the present (the creative thread), and together they form what is usually called, upon the Path of Return, the Antahkarana. This is not entirely accurate. The wisdom-energy thread is the sutratma or life thread, for the sutratma (when blended with the consciousness thread) is again also called the antahkarana. Perhaps it might clarify the issue somewhat if I pointed out that though these threads eternally exist in time and space, they appear distinct and separate until a man is a probationary disciple, and therefore becoming conscious of himself and not only of the not-self. There is the life thread or sutratma and the consciousness thread—the one anchored in the heart and the other in the head. Throughout all the past centuries, the creative thread, in one or other of its three aspects, has been slowly woven by the man; of this fact in nature his creative activity during the past two hundred years is an indication, so that today the creative thread is a unity, generally speaking, as regards humanity as a whole and specifically of the individual disciple, and forms a strong closely woven thread upon the mental plane. [454]

Trước đây tôi đã đề cập đến “tri thức–minh triết” là những từ đồng nghĩa với “mãnh lực–năng lượng.” Tri thức được sử dụng là mãnh lực đang biểu lộ; minh triết được sử dụng là năng lượng trong hành động. Trong những từ ngữ này, bạn có sự diễn đạt của một định luật tâm linh vĩ đại, mà các bạn nên cân nhắc cẩn thận. Tri thức–mãnh lực liên quan đến phàm ngã và thế giới các giá trị vật chất; minh triết–năng lượng biểu lộ qua sợi dây tâm thức và sợi dây sáng tạo, vì chúng tự thân hợp thành một sợi dây kép được dệt chặt lại. Chúng là (đối với đệ tử) sự dung hợp của quá khứ (sợi dây tâm thức) và hiện tại (sợi dây sáng tạo), và hợp lại, chúng hình thành cái thường được gọi trên Con Đường Quay Về là Antahkarana. Điều này không hoàn toàn chính xác. Sợi dây năng lượng–minh triết là sutratma hay sợi dây sự sống, vì sutratma (khi được dung hợp với sợi dây tâm thức) lại cũng được gọi là antahkarana. Có lẽ sẽ làm rõ vấn đề hơn nếu tôi chỉ ra rằng mặc dù những sợi dây này tồn tại vĩnh viễn trong thời gian và không gian, nhưng chúng xuất hiện một cách riêng biệt và tách biệt cho đến khi con người là một đệ tử dự bị, và do đó bắt đầu trở nên ý thức về chính mình chứ không chỉ về cái phi-ngã. Có sợi dây sự sống hay sutratma và sợi dây tâm thức—một được neo vào tim và cái kia được neo vào đầu. Suốt bao thế kỷ qua, sợi dây sáng tạo, dưới một trong ba phương diện của nó, đã được con người chậm rãi dệt nên; hoạt động sáng tạo của y trong suốt hai trăm năm qua là một chỉ dấu cho thực tế này trong tự nhiên, để ngày nay sợi dây sáng tạo đã trở thành một thể thống nhất, nói chung đối với toàn thể nhân loại và một cách cụ thể với từng đệ tử cá nhân, và hình thành nên một sợi dây mạnh mẽ, được dệt chặt trên cõi trí. [454]

These three major threads which are in reality six, if the creative thread is differentiated into its component parts, form the antahkarana. They embody past and present experience and are so recognised by the aspirant. It is only upon the Path itself that the phrase “building the antahkarana” becomes accurate and appropriate. It is in this connection that confusion is apt to arise in the mind of the student. He forgets that it is a purely arbitrary distinction of the lower analysing mind to call this stream of energy the sutratma, and another stream of energy the consciousness thread and a third stream of energy the creative thread. They are essentially, all three of them together, the antahkarana in process of forming. It is equally arbitrary to call the bridge which the disciple builds from the lower mental plane—via the egoic, central vortex of force—the antahkarana. But for purposes of comprehending study and practical experience, we will define the antahkarana as the extension of the threefold thread (hitherto woven unconsciously, through life experimentation and the response of consciousness to environment) through the process of projecting consciously the triple blended energies of the personality as they are impulsed by the soul, across a gap in consciousness which has hitherto existed. Two events can then occur:

Ba sợi dây chính này, thực chất là sáu nếu sợi dây sáng tạo được phân biệt thành các phần cấu thành của nó, hợp thành antahkarana. Chúng hàm chứa kinh nghiệm quá khứ và hiện tại và được người chí nguyện nhận biết như thế. Chỉ khi bước vào chính Con Đường thì cụm từ “xây dựng antahkarana” mới trở nên chính xác và thích hợp. Chính ở điểm này mà sự nhầm lẫn dễ nảy sinh trong tâm trí người học. Y quên rằng đây chỉ là sự phân biệt tùy tiện của trí tuệ phân tích thấp, khi gọi dòng năng lượng này là sutratma, dòng khác là sợi dây tâm thức và dòng thứ ba là sợi dây sáng tạo. Về bản chất, cả ba sợi dây đó hợp lại chính là antahkarana đang trong tiến trình hình thành. Cũng mang tính tùy tiện không kém là việc gọi cây cầu mà đệ tử kiến tạo từ cõi hạ trí—thông qua trung tâm lực xoáy của linh hồn—là antahkarana. Nhưng để phục vụ cho việc nghiên cứu có thể lĩnh hội được và trải nghiệm thực hành, chúng ta sẽ định nghĩa antahkarana là sự mở rộng của sợi dây tam phân (cho đến nay đã được dệt nên một cách vô thức thông qua thử nghiệm trong đời sống và sự đáp ứng của tâm thức với môi trường) thông qua tiến trình phóng chiếu một cách có ý thức các năng lượng được hòa hợp tam phân của phàm ngã, khi chúng được linh hồn thúc đẩy, vượt qua một khoảng trống trong tâm thức vốn đã hiện hữu từ trước. Hai sự kiện có thể xảy ra sau đó:

1. The magnetic response of the Spiritual Triad (atma-buddhi-manas), which is the expression of the Monad, is evoked. A triple stream of spiritual energy is slowly projected towards the egoic lotus and towards the lower man.

1. Phản ứng từ tính của Tam nguyên tinh thần (atma–buddhi–manas), vốn là biểu lộ của Chân thần, được kích hoạt. Một dòng năng lượng tinh thần tam phân được từ từ phóng chiếu về phía Đài sen linh hồn và về phía con người thấp.

2. The personality then begins to bridge the gap which exists on its side between the manasic permanent atom and the mental unit, between the higher abstract mind and the lower mind.

2. Khi đó, phàm ngã bắt đầu bắc cầu vượt qua khoảng cách tồn tại ở phía mình, giữa nguyên tử trường tồn manas và đơn vị trí tuệ, giữa thượng trí trừu tượng và hạ trí cụ thể.

Technically, and upon the Path of Discipleship, this bridge between the personality in its three aspects and the monad and its three aspects is called the antahkarana.

Về mặt kỹ thuật, và trên Con Đường Đệ Tử, cây cầu nối giữa phàm ngã trong ba phương diện của nó và chân thần trong ba phương diện của Ngài được gọi là antahkarana.

This antahkarana is the product of the united effort of soul and personality, working together consciously to produce [455] this bridge. When it is completed, there is a perfect rapport between the monad and its physical plane expression, the initiate in the outer world. The third initiation marks the consummation of the process, and there is then a straight line of relationship between the monad and the lower personal self. The fourth initiation marks the complete realisation of this relation by the initiate. It enables him to say: “I and my Father are one.” It is for this reason that the crucifixion, or the Great Renunciation, takes place. Forget not that it is the soul that is crucified. It is Christ Who “dies.” It is not the man; it is not Jesus. The causal body disappears. The man is monadically conscious. The soul-body no longer serves any useful purpose; it is no more needed. Nothing is left but the sutratma, qualified by consciousness—a consciousness which still preserves identity whilst merged in the whole. Another qualification is creativity; thus consciousness can be focussed at will on the physical plane in an outer body or form. This body is will-created by the Master.

Antahkarana này là kết quả của nỗ lực hợp nhất giữa linh hồn và phàm ngã, cùng phối hợp một cách có ý thức để kiến tạo [455] cây cầu này. Khi nó được hoàn tất, có một mối tương quan hoàn hảo giữa chân thần và biểu hiện trên cõi trần của Ngài, tức là điểm đạo đồ nơi thế gian. Lần điểm đạo thứ ba đánh dấu sự viên mãn của tiến trình này, và khi đó có một đường thẳng nối kết trực tiếp giữa chân thần và cái ngã thấp hơn. Lần điểm đạo thứ tư đánh dấu sự nhận thức trọn vẹn về mối liên hệ này bởi điểm đạo đồ. Nó cho phép y nói rằng: “Ta và Cha là một.” Chính vì lý do này mà lễ đóng đinh, hay Đại Hy Sinh, diễn ra. Đừng quên rằng chính linh hồn bị đóng đinh. Chính là Chúa Christ “chết đi.” Không phải là con người; không phải là Jesus. Thể nhân quả tan biến. Con người trở nên có tâm thức chân thần. Thể linh hồn không còn phục vụ bất kỳ mục đích hữu dụng nào; nó không còn cần thiết nữa. Chỉ còn lại sutratma, được đặc tính hóa bởi tâm thức—một tâm thức vẫn duy trì bản ngã cá biệt trong khi hòa nhập vào toàn thể. Một đặc tính nữa là tính sáng tạo; nhờ đó tâm thức có thể được tập trung tùy ý trên cõi trần vào trong một thể hay hình tướng bên ngoài. Hình thể này được tạo ra bằng ý chí bởi một vị Chân sư.

Webinar 28

But in this task of unfoldment, of evolution and of development, the mind of man has to understand, analyse, formulate and distinguish; therefore the temporary differentiations are of profound and useful importance. We might therefore conclude that the task of the disciple is:

Nhưng trong công việc khai mở này, của tiến hóa và phát triển, trí tuệ con người phải thấu hiểu, phân tích, hình thành và phân biệt; do đó các sự phân biệt tạm thời có tầm quan trọng sâu sắc và hữu ích. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng nhiệm vụ của đệ tử là:

1. To become conscious of the following situations (if I may use such a word):

1. Trở nên có ý thức về các tình huống sau (nếu tôi có thể dùng từ như vậy):

a. Process in combination with force.

a. Tiến trình kết hợp với mãnh lực.

b. Status upon the path, or recognition of the available qualifying agencies, or energies.

b. Tình trạng trên đạo lộ, hoặc sự nhận thức các tác nhân hay năng lượng đủ tư cách đang hiện hữu.

c. Fusion or integration of the consciousness thread with the creative thread and with the life thread.

c. Sự dung hợp hoặc hợp nhất của sợi dây tâm thức với sợi dây sáng tạo và với sợi dây sự sống.

d. Creative activity. This is essential, for it is not only through the development of creative ability in the three worlds that the necessary focal point is created, but this also leads to the building of the antahkarana, its “creation.”

d. Hoạt động sáng tạo. Điều này là thiết yếu, vì không chỉ nhờ phát triển năng lực sáng tạo trong ba cõi mà điểm tập trung cần thiết được hình thành, mà điều này còn dẫn đến việc kiến tạo antahkarana, tức là việc “sáng tạo” nó.

image_2296.jpg

2. To construct the antahkarana between the Spiritual Triad and the personality—with the cooperation of the [456] soul. These three points of divine energy might be symbolised thus:

2. Kiến tạo antahkarana giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã—với sự hợp tác của [456] linh hồn. Ba điểm năng lượng thiêng liêng này có thể được biểu tượng như sau:

image_2300.jpg

In this simple symbol you have a picture of the disciple’s task upon the Path.

Trong biểu tượng đơn giản này, các bạn có một hình ảnh về nhiệm vụ của đệ tử trên Đạo Lộ.

Another diagram may serve to clarify:

Một biểu đồ khác có thể giúp làm rõ hơn:

See Diagram

(Xem Biểu Đồ)

In these you have the “nine of initiation” or the transmuting of nine forces into divine energies: [457]

Trong các biểu đồ này, các bạn có “bộ chín của điểm đạo” hay sự chuyển hóa chín mãnh lực thành các năng lượng thiêng liêng: [457]

The Bridge between the three Aspects of the Mind

There is one point which I would like to clarify if I can, for—on this point—there is much confusion in the minds of aspirants, and this is necessarily so.

Có một điểm mà tôi muốn làm rõ nếu có thể, vì — về điểm này — có rất nhiều sự lẫn lộn trong tư duy của các người chí nguyện, và điều này là điều tất yếu.

Let us for a moment, therefore, consider just where the aspirant stands when he starts consciously to build the antahkarana. Behind him lie a long series of existences, the experience of which has brought him to the point where he is able consciously to assess his condition and arrive at some understanding of his point in evolution. He can consequently undertake—in cooperation with his steadily awakening and focussing consciousness—to take the next step, which is that of accepted discipleship. In the present, he is oriented towards the soul; he, through meditation and the mystical experience, does have occasional contact with the soul, and this happens with increasing frequency; he is becoming somewhat creative upon the physical plane, both in his thinking and in his actions; at times, even if rarely, he has a genuine intuitive experience. This intuitive experience serves to anchor the “first tenuous thread spun by the Weaver in fohatic enterprise,” as the Old Commentary puts it. It is the first cable, projected from the Spiritual Triad in response to the emanation of the personality, and this is the result of the growing magnetic potency of both these aspects of the Monad in manifestation.

Vì vậy, chúng ta hãy tạm thời xem xét vị trí của người chí nguyện khi y bắt đầu một cách có ý thức xây dựng antahkarana. Phía sau y là một chuỗi dài những kiếp sống, mà kinh nghiệm trong đó đã đưa y đến điểm mà y có thể đánh giá một cách có ý thức tình trạng của mình và đạt đến phần nào sự hiểu biết về vị trí của y trong tiến trình tiến hoá. Do đó, y có thể đảm nhận — trong sự hợp tác với tâm thức đang dần thức tỉnh và tập trung — bước kế tiếp, đó là địa vị đệ tử chính thức. Ở hiện tại, y đang định hướng về phía linh hồn; thông qua tham thiền và kinh nghiệm thần bí, y đã có được những lần tiếp xúc với linh hồn, và điều này xảy ra ngày càng thường xuyên hơn; y đang trở nên phần nào sáng tạo trên cõi trần, cả trong tư duy lẫn hành động; đôi khi, dù hiếm hoi, y có được một kinh nghiệm trực giác thực sự. Kinh nghiệm trực giác này đóng vai trò như cái mỏ neo cho “sợi dây đầu tiên mong manh do Người Thợ Dệt quay nên trong công cuộc phóng xuất fohat,” như Cổ Luận đã diễn tả. Đó là sợi dây cáp đầu tiên, được phóng chiếu từ Tam nguyên tinh thần để đáp ứng với sự phát xạ từ phàm ngã, và điều này là kết quả của sức mạnh từ tính đang tăng dần của cả hai khía cạnh này của Chân Thần khi biểu lộ.

It will be obvious to you that when the personality is becoming adequately magnetised from the spiritual angle, its note or sound will go forth and will evoke response from the soul on its own plane. Later the personality note and the soul note in unison will produce a definitely attractive effect upon the Spiritual Triad. This Spiritual Triad in its turn has been exerting an increasingly magnetic effect upon the personality. This begins at the time of the first conscious soul contact. The response of the Triad is transmitted necessarily, in this early stage, via the sutratma and produces inevitably the awakening of the head centre. That is why the heart doctrine begins to supersede the doctrine of the eye. [458] The heart doctrine governs occult development; the eye doctrine—which is the doctrine of the eye of vision—governs the mystical experience; the heart doctrine is based upon the universal nature of the soul, conditioned by the Monad, the One, and involves reality; the eye doctrine is based on the dual relation between soul and personality. It involves the spiritual relationships, but the attitude of dualism or of the recognition of the polar opposites is implicit in it. These are important points to remember as this new science becomes more widely known.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng khi phàm ngã đang trở nên được từ hoá đủ từ góc độ tinh thần, âm thanh hay linh từ của nó sẽ phát ra và sẽ khơi dậy sự đáp ứng từ linh hồn trên cõi của nó. Về sau, linh từ của phàm ngã và linh từ của linh hồn, khi hòa điệu, sẽ tạo ra một ảnh hưởng hấp dẫn rõ rệt đối với Tam nguyên tinh thần. Tam nguyên tinh thần này, đến lượt nó, đã và đang phát ra một ảnh hưởng từ tính ngày càng gia tăng lên phàm ngã. Điều này bắt đầu vào thời điểm có sự tiếp xúc có ý thức đầu tiên với linh hồn. Sự đáp ứng của Tam nguyên tinh thần tất yếu được truyền đi, ở giai đoạn sớm này, thông qua sutratma và tất yếu dẫn đến sự thức tỉnh của luân xa đầu. Đó là lý do vì sao tâm pháp bắt đầu thay thế nhãn pháp. Tâm pháp chi phối sự phát triển huyền môn; nhãn pháp — tức là giáo lý của con mắt thị kiến — chi phối kinh nghiệm thần bí; tâm pháp dựa trên bản chất phổ quát của linh hồn, được điều kiện bởi Chân Thần, Đấng Duy Nhất, và bao hàm thực tại; nhãn pháp dựa trên mối quan hệ nhị nguyên giữa linh hồn và phàm ngã. Nó bao hàm các mối quan hệ tinh thần, nhưng thái độ nhị nguyên hay sự công nhận hai cực đối lập là điều hàm ý trong đó. Đây là những điểm quan trọng cần ghi nhớ khi khoa học mới này ngày càng được biết đến rộng rãi.

The aspirant eventually arrives at the point where the three threads—of life, of consciousness and of creativity—are being focussed, recognised as energy streams, and utilised deliberately by the aspiring disciple upon the lower mental plane. There—esoterically speaking—”he takes his stand, and looking upward sees a promised land of beauty, love and future vision.”

Người chí nguyện cuối cùng đạt đến điểm mà ba sợi dây — của sự sống, của tâm thức và của sáng tạo — đang được tập trung lại, được công nhận như những dòng năng lượng, và được sử dụng một cách có chủ ý bởi người đệ tử chí nguyện trên cõi hạ trí. Tại đó — theo nghĩa nội môn — “y chọn vị trí đứng của mình, và ngước nhìn lên, thấy một miền đất hứa của vẻ đẹp, tình thương và thị kiến tương lai.”

But there exists a gap in consciousness, though not in fact. The sutratmic strand of energy bridges the gap, and tenuously relates monad, soul and personality. But the consciousness thread extends only from soul to personality—from the involutionary sense. From the evolutionary angle (using a paradoxical phrase) there is only a very little conscious awareness existing between the soul and the personality, from the standpoint of the personality upon the evolutionary arc of the Path of Return. A man’s whole effort is to become aware of the soul and to transmute his consciousness into that of the soul, whilst still preserving the consciousness of the personality. As the fusion of soul and personality is strengthened, the creative thread becomes increasingly active, and thus the three threads steadily fuse, blend, become dominant, and the aspirant is then ready to bridge the gap and unite the Spiritual Triad and the personality, through the medium of the soul. This involves a direct effort at divine creative work. The clue to understanding lies perhaps in the thought that hitherto the relation between soul and personality has been steadily carried forward, primarily by the soul, as it stimulated the personality [459] to effort, vision and expansion. Now—at this stage—the integrated, rapidly developing personality becomes consciously active, and (in unison with the soul) starts building the antahkarana—a fusion of the three threads and a projection of them into the “higher wider reaches” of the mental plane, until the abstract mind and the lower concrete mind are related by the triple cable.

Tuy nhiên vẫn tồn tại một khoảng trống trong tâm thức, dù trên thực tế thì không. Sợi năng lượng sutratma bắc cầu qua khoảng trống đó, và kết nối một cách mong manh giữa chân thần, linh hồn và phàm ngã. Nhưng sợi dây tâm thức chỉ kéo dài từ linh hồn đến phàm ngã — từ góc độ của tiến trình giáng hạ. Từ góc độ tiến hóa (dùng một cụm từ có vẻ nghịch lý) chỉ có một chút ý thức hiện hữu giữa linh hồn và phàm ngã, từ quan điểm của phàm ngã đang trên cung tiến hóa trong Con Đường Trở Về. Toàn bộ nỗ lực của con người là để trở nên ý thức về linh hồn và chuyển hóa tâm thức của mình thành tâm thức của linh hồn, đồng thời vẫn bảo tồn tâm thức của phàm ngã. Khi sự dung hợp giữa linh hồn và phàm ngã được củng cố, sợi dây sáng tạo trở nên ngày càng linh hoạt, và do đó ba sợi dây dần dần được hợp nhất, hòa quyện, trở nên chủ động, và người chí nguyện khi đó đã sẵn sàng để bắc cầu và hợp nhất Tam nguyên tinh thần với phàm ngã, thông qua trung gian của linh hồn. Điều này đòi hỏi một nỗ lực trực tiếp trong công cuộc sáng tạo thiêng liêng. Manh mối cho sự hiểu biết có lẽ nằm ở chỗ là cho đến nay, mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã đã được duy trì một cách đều đặn, chủ yếu là bởi linh hồn, khi linh hồn kích thích phàm ngã nỗ lực, thị kiến và mở rộng. Giờ đây — tại giai đoạn này — phàm ngã đã được tích hợp, đang phát triển nhanh chóng trở nên chủ động một cách có ý thức, và (hòa hợp với linh hồn) bắt đầu xây dựng antahkarana — một sự dung hợp của ba sợi dây và một sự phóng chiếu của chúng vào các “tầm mức cao rộng hơn” của cõi trí, cho đến khi trí trừu tượng và trí cụ thể thấp được kết nối bởi sợi dây ba sợi.

It is to this process that our studies are related; earlier experience in relation to the three threads is logically regarded as having occurred normally. The man now stands, holding the mind steady in the light; he has some knowledge of meditation, much devotion, and also recognition of the next step. Knowledge of process gradually becomes clearer; a growing soul contact is established; occasional flashes of intuitive perception from the Triad occur. All these recognitions are not present in the case of every disciple; some are present; some are not. I am seeking to give a general picture. Individual application and future realisation have to be worked out by the disciple in the crucible of experience.

Chính với tiến trình này mà những nghiên cứu của chúng ta có liên hệ; những kinh nghiệm trước đó liên quan đến ba sợi dây một cách hợp lý được xem là đã xảy ra một cách tự nhiên. Con người giờ đây đứng vững, giữ cho trí tuệ được an định trong ánh sáng; y có một số hiểu biết về tham thiền, có nhiều lòng tận hiến, và cũng nhận biết được bước kế tiếp. Sự hiểu biết về tiến trình dần dần trở nên rõ ràng hơn; một mối liên hệ với linh hồn ngày càng được thiết lập; những tia chớp nhận thức trực giác từ Tam nguyên thi thoảng xuất hiện. Tất cả những sự nhận biết này không hiện diện trong trường hợp của mọi đệ tử; có một số hiện diện; một số thì không. Tôi đang cố gắng đưa ra một bức tranh tổng quát. Việc áp dụng riêng và sự chứng ngộ trong tương lai phải được chính người đệ tử thể hiện qua lò luyện của kinh nghiệm.

Webinar 29

The goal towards which the average disciple has worked in the past has been soul contact, leading eventually to what has been called “hierarchical inclusion.” The reward of the disciple’s effort has been admittance into the Ashram of some Master, increased opportunity to serve in the world, and also the taking of certain initiations. The goal towards which higher disciples are working involves not only soul contact as its primary objective (for that has to some measure been attained), but the building of the bridge from the personality to the Spiritual Triad, with consequent monadic realisation and the opening up to the initiate of the Way to the Higher Evolution in its various branches and with its differing goals and objectives. The distinction (I said not “difference,” and would have you note this) between the two ways can be seen in the following listed comparisons: [460]

Mục tiêu mà người đệ tử trung bình đã hướng tới trong quá khứ là sự tiếp xúc với linh hồn, dẫn đến điều được gọi là “sự hòa nhập vào Thánh đoàn.” Phần thưởng cho nỗ lực của người đệ tử là được chấp nhận vào Ashram của một vị Chân sư nào đó, có thêm cơ hội để phụng sự thế gian, và cũng là sự trải qua một số lần điểm đạo nhất định. Mục tiêu mà những đệ tử cao cấp hơn đang hướng tới không chỉ bao gồm sự tiếp xúc với linh hồn như là mục tiêu chính (vì điều đó đã được đạt đến ở một mức độ nào đó), mà còn là sự xây dựng cây cầu từ phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, dẫn đến sự chứng ngộ chân thần và mở ra cho điểm đạo đồ Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu với nhiều nhánh khác nhau và những mục tiêu cùng lý tưởng khác nhau. Sự phân biệt (tôi không nói là “sự khác biệt”, và tôi muốn các bạn lưu ý điều này) giữa hai con đường có thể được thấy qua những điểm so sánh sau đây: [460]

Desire—Aspiration

Mind—Projection

The 1st and 2nd Initiations

The 3rd and 4th Initiations

Universal Love and Intuition

Universal Will and Mind

The Path of Light

The Way of the Higher Evolution

The Point of Contact

The Antahkarana or Bridge

The Plan

The Purpose

The Three Layers of the Egoic Petals

The Spiritual Triad

The Hierarchy

Shamballa

The Master’s Ashram

The Council Chamber

The Seven Paths

The Seven Paths

In reality, you have here the two major approaches to God or to the Divine Whole, both merging at the time of the fifth initiation in the one Way, which in itself combines all Ways. Forget not a statement which I have several times made, that the four minor rays must merge eventually into the third ray, and that all five must then finally merge into the second and the first rays; bear also in mind that all these rays or modes of Being are aspects or sub-rays of the second cosmic Ray of Love and of Fire.

Thực tế là, ở đây các bạn thấy hai con đường chính để tiếp cận Thượng Đế hay Toàn Thể Thiêng Liêng, cả hai sẽ hợp nhất vào thời điểm của lần điểm đạo thứ năm trong một Con Đường duy nhất, vốn tự thân kết hợp tất cả các Con Đường. Đừng quên một tuyên bố mà tôi đã nhiều lần đưa ra, rằng bốn cung phụ cuối cùng phải hợp nhất vào cung ba, và rằng cả năm cung này rồi sẽ hợp nhất vào cung hai và cung một; cũng hãy ghi nhớ rằng tất cả các cung hay các phương thức Hiện Tồn này đều là các khía cạnh hay các cung phụ của Cung Vũ Trụ thứ hai của Tình thương và Lửa.

I would like here also to point out some further relationships. You know well that upon the mental plane the three aspects of mind, or the three focal points of mental perception and activity, are to be found:

Tôi cũng muốn chỉ ra ở đây một vài mối liên hệ bổ sung. Các bạn đã biết rõ rằng trên cõi trí, ba khía cạnh của trí tuệ, hay ba điểm tập trung của tri giác và hoạt động trí tuệ, có thể được nhận thấy như sau:

1. The lower concrete mind. This expresses itself most completely through the fifth Ray of Concrete Science, reflecting the lower phase of the will aspect of divinity and summarising within itself all knowledge as well as the egoic memory. This lower concrete mind is related to the knowledge petals of the egoic lotus and is capable of pronounced soul illumination, proving eventually to be the searchlight of the soul. It can be brought under control through the processes of concentration. It is transient in time and space. Through conscious, creative work, it can be related to the manasic permanent atom or to the abstract mind.

1. Trí cụ thể thấp. Điều này được biểu hiện đầy đủ nhất thông qua cung năm của Khoa học Cụ thể, phản ánh khía cạnh thấp của Ý chí trong thiên tính và tổng hợp trong bản thân nó toàn bộ tri thức cũng như ký ức của chân ngã. Trí cụ thể thấp này có liên hệ với các cánh hoa tri thức của hoa sen chân ngã và có khả năng được linh hồn soi sáng rõ rệt, cuối cùng chứng minh nó là ngọn đèn tìm kiếm của linh hồn. Nó có thể được kiểm soát thông qua các tiến trình tập trung. Nó là tạm thời trong thời gian và không gian. Thông qua công việc sáng tạo có ý thức, nó có thể được kết nối với nguyên tử trường tồn manasic hay với trí trừu tượng.

2. The Son of Mind. This is the soul itself, governed by the second aspect of all the seven rays—a point I would ask you seriously to register. It reflects the lower phase of the love aspect of divinity and summarises in itself the results of all accumulated knowledge which is wisdom, illuminated [461] by the light of the intuition. Another way of expressing this is to describe it as love, availing itself of experience and knowledge. It expresses itself most fully through the love petals of its innate being. Through dedicated and devoted service it brings the divine Plan into activity in the three worlds of human accomplishment. It is therefore related to the second aspect of the Spiritual Triad and is brought into functioning activity through meditation. It then controls and utilises for its own spiritual ends the consecrated personality, via the illumined mind, referred to above. It is eternal in time and space.

2. Đứa Con của Trí Tuệ. Đây chính là linh hồn, chịu sự chi phối bởi khía cạnh thứ hai của tất cả bảy cung — một điểm mà tôi mong các bạn ghi nhớ thật nghiêm túc. Nó phản ánh khía cạnh thấp của khía cạnh tình thương của thiên tính và tổng hợp trong bản thân nó kết quả của toàn bộ tri thức đã tích lũy được — tức là minh triết, được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác. Một cách diễn đạt khác là mô tả nó như là tình thương, tận dụng kinh nghiệm và tri thức. Nó được biểu lộ đầy đủ nhất qua các cánh hoa bác ái của bản thể nội tại. Thông qua sự phụng sự dâng hiến và tận tụy, nó đem Thiên Cơ vào hoạt động trong ba cõi của thành tựu nhân loại. Do đó, nó có liên hệ với khía cạnh thứ hai của Tam nguyên tinh thần và được kích hoạt thông qua tham thiền. Sau đó, nó điều khiển và sử dụng phàm ngã đã được thánh hiến để phục vụ cho các mục tiêu tinh thần của riêng mình, thông qua trí tuệ được soi sáng đã được nhắc đến ở trên. Nó là vĩnh cửu trong thời gian và không gian.

3. The abstract mind. This reveals itself most completely under the influence of the first Ray of Will or Power, reflecting the higher aspect of the will of divinity or of the atmic principles it summarises in itself when fully developed the purpose of Deity, and thus becomes responsible for the emergence of the Plan. It energises the will petals until such time as the eternal life of the soul is absorbed into that which is neither transient nor eternal but which is endless, boundless and unknown. It is brought into conscious functioning through the building of the antahkarana. This “radiant rainbow bridge” unites the illumined personality, focussed in the mind body, motivated by the love of the soul, with the Monad or with the One Life, and thus enables the divine manifesting Son of God to express the significance of the words: God is Love and God is a consuming Fire. This fire, energised by love, has burnt out all personality qualities, leaving only a purified instrument, coloured by the soul ray and no longer necessitating the existence of a soul body. The personality has by this time completely absorbed the soul, or to put it perhaps more accurately, both soul and personality have been fused and blended into one instrument for the use of the One Life.

3. Trí trừu tượng. Điều này được biểu hiện đầy đủ nhất dưới ảnh hưởng của cung một của Ý chí hay Quyền năng, phản ánh khía cạnh cao của ý chí thiêng liêng hay các nguyên lý atma; khi được phát triển hoàn toàn, nó tổng hợp trong bản thân nó mục đích của Thượng Đế, và do đó trở nên chịu trách nhiệm cho sự xuất lộ của Thiên Cơ. Nó kích hoạt các cánh hoa ý chí cho đến khi sự sống vĩnh cửu của linh hồn được hấp thụ vào điều vốn không là nhất thời cũng không là vĩnh cửu, mà là vô cùng, vô biên và bất khả tri. Nó được đưa vào hoạt động có ý thức thông qua việc xây dựng antahkarana. Chiếc “cầu cầu vồng rực rỡ” này hợp nhất phàm ngã được soi sáng, tập trung trong thể trí, được thúc đẩy bởi tình thương của linh hồn, với Chân Thần hay với Sự Sống Duy Nhất, và do đó cho phép người Con Thiêng Liêng biểu lộ ý nghĩa của những lời: Thượng Đế là Tình Thương và Thượng Đế là một Ngọn Lửa Thiêu Rụi. Ngọn lửa này, được tiếp năng lượng bởi tình thương, đã thiêu sạch mọi phẩm tính của phàm ngã, chỉ để lại một công cụ được tinh luyện, mang sắc thái của cung linh hồn và không còn cần đến sự hiện hữu của thể linh hồn nữa. Phàm ngã vào thời điểm này đã hoàn toàn hấp thụ linh hồn, hoặc nếu nói một cách chính xác hơn, cả linh hồn và phàm ngã đã được dung hợp và hòa quyện thành một khí cụ duy nhất để được Sự Sống Duy Nhất sử dụng.

This is but a picture or a symbolic use of words in order to express the unifying goal of material and spiritual evolution, as it is carried to its conclusion—for this world cycle—through the development of the three aspects of mind upon [462] the mental plane. The cosmic implications will not be lost to you, but it profits us not to dwell upon them. As this process is carried forward, three great aspects of divine manifestation emerge upon the theatre of world life and on the physical plane. These are Humanity, the Hierarchy and Shamballa.

Tất cả điều này chỉ là một bức tranh hoặc một cách sử dụng biểu tượng của ngôn từ nhằm diễn tả mục tiêu hợp nhất của tiến hóa vật chất và tinh thần, khi nó được dẫn đến sự hoàn mãn — trong chu kỳ thế gian này — thông qua sự phát triển của ba khía cạnh của trí tuệ trên cõi trí. Ý nghĩa vũ trụ của điều này sẽ không bị các bạn bỏ qua, nhưng việc tập trung vào điều đó vào lúc này không mang lại lợi ích cho chúng ta. Khi tiến trình này được đẩy mạnh, ba khía cạnh vĩ đại của sự biểu lộ thiêng liêng xuất hiện trên sân khấu của đời sống thế gian và trên cõi trần. Đó là: Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa.

Humanity is already the dominant kingdom in nature; the fact of the Hierarchy and of its imminent approach into physical appearance is becoming well known to hundreds of thousands of people today. Its recognised appearance will later set the stage for the needed preparatory phases which will finally lead to the exoteric rule of the Lord of the World, emerging from His aeonial seclusion in Shamballa, and coming forth into outer expression at the end of this world cycle.

Nhân loại hiện nay đã là giới thống trị trong tự nhiên; sự hiện diện của Thánh đoàn và sự xuất hiện cận kề của Thánh đoàn trên cõi trần đang ngày càng trở nên được biết đến bởi hàng trăm ngàn người hiện nay. Sự xuất hiện được công nhận của Thánh đoàn sau đó sẽ thiết lập nền tảng cho những giai đoạn chuẩn bị cần thiết, mà cuối cùng sẽ dẫn đến sự cai quản ngoại hiện của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng sẽ xuất hiện từ cõi ẩn cư trường kỳ của Ngài trong Shamballa, và đi ra biểu hiện bên ngoài vào cuối chu kỳ thế gian này.

Here is the vast and necessary picture, presented in order to give reason and power to the next stage of human evolution.

Đây là bức tranh vĩ đại và cần thiết, được trình bày nhằm mang lại lý do và sức mạnh cho giai đoạn tiếp theo trong tiến trình tiến hóa của nhân loại.

Webinar 30

The point which I seek to emphasise is that only when the aspirant takes his stand with definiteness upon the mental plane, and keeps his “focus of awareness” increasingly there, does it become possible for him to make real progress in the work of divine bridge building, the work of invocation, and the establishing of a conscious rapport between the Triad, the soul and the personality. The period covered by the conscious building of the antahkarana is that from the final stages of the Path of Probation to the third initiation.

Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là: chỉ khi người chí nguyện xác lập vị trí của mình một cách dứt khoát trên cõi trí, và duy trì “trọng tâm của nhận thức” của y ngày càng ở tại đó, thì khi ấy mới trở nên khả dĩ cho y đạt được tiến bộ thực sự trong công cuộc xây dựng cây cầu thiêng liêng, trong công việc khẩn nguyện, và trong việc thiết lập một mối tương quan có ý thức giữa Tam nguyên, linh hồn và phàm ngã. Thời kỳ bao phủ bởi tiến trình xây dựng antahkarana một cách có ý thức là từ các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị cho đến lần điểm đạo thứ ba.

In considering this process it is necessary, in the early stages, to recognise the three aspects of the mind as they express themselves upon the mental plane and produce the varying states of consciousness upon that plane. It is interesting here to note that, having reached the developed human stage (integrated, aspiring, oriented and devoted), the man stands firmly upon the lower levels of that mental plane; he is then faced by the seven subplanes of that plane with their corresponding states of consciousness. He is therefore entering upon a new cycle where—this time equipped with full self-consciousness—he has seven states of mental awareness [463] to develop; these are all innate or inherent in him, and all (when mastered) lead to one or other of the seven major initiations. These seven states of consciousness are—beginning from the first or lowest:

Khi xem xét tiến trình này, điều cần thiết là trong các giai đoạn đầu, phải nhận biết ba khía cạnh của trí tuệ khi chúng tự biểu hiện trên cõi trí và tạo ra các trạng thái tâm thức khác nhau trên cõi đó. Thật thú vị khi lưu ý rằng, sau khi đã đạt đến giai đoạn nhân loại phát triển (được tích hợp, có chí nguyện, có định hướng và tận hiến), con người đứng vững vàng trên các phân cảnh thấp của cõi trí đó; khi ấy y đối diện với bảy cõi phụ của cõi đó, mỗi cõi phụ tương ứng với một trạng thái tâm thức. Như vậy, y đang bước vào một chu kỳ mới mà — lần này được trang bị với đầy đủ ý thức tự ngã — y có bảy trạng thái nhận thức trí tuệ để phát triển; tất cả những điều này vốn đã tiềm ẩn trong y, và tất cả (khi đã được làm chủ) đều dẫn đến một trong bảy lần điểm đạo chính. Bảy trạng thái tâm thức này là — bắt đầu từ cõi thấp nhất:

Mental Plane

Cõi trí:

1. Lower mental awareness. The development of true mental perception.

1. Nhận thức trí tuệ thấp. Sự phát triển của tri giác trí tuệ chân thực.

2. Soul awareness or soul perception. This is not the perception of the soul by the personality, but the registering of that which the soul perceives by the soul itself. This is later registered by the lower mind. This soul perception is, therefore, the reversal of the usual attitude of mind.

2. Nhận thức linh hồn hay tri giác của linh hồn. Đây không phải là việc phàm ngã nhận biết linh hồn, mà là sự ghi nhận những gì linh hồn tri giác bởi chính linh hồn. Điều này sau đó mới được ghi nhận bởi trí cụ thể thấp. Do đó, nhận thức linh hồn này là sự đảo ngược thái độ thông thường của trí tuệ.

3. Higher abstract awareness. The unfoldment of the intuition and the recognition of intuitive process by the lower mind.

3. Nhận thức trừu tượng cao. Sự khai mở của trực giác và sự nhận biết tiến trình trực giác bởi trí tuệ thấp.

Buddhic Plane

Cõi Bồ đề:

4. Persistent, conscious, spiritual awareness. This is the full consciousness of the buddhic or intuitional level. This is the perceptive consciousness which is the outstanding characteristic of the Hierarchy. The life focus of the man shifts to the buddhic plane. This is the fourth or middle state of consciousness.

4. Nhận thức tinh thần có ý thức và bền bỉ. Đây là tâm thức đầy đủ ở cấp độ bồ đề hay trực giác. Đây là loại tâm thức tri giác vốn là đặc điểm nổi bật của Thánh đoàn. Tâm điểm sống của con người chuyển sang cõi bồ đề. Đây là trạng thái tâm thức thứ tư hay ở giữa.

Atmic Plane

Cõi Atma:

5. The consciousness of the spiritual will as it is expressed and experienced upon atmic levels or upon the third plane of divine manifestation. There is little that I can say about this condition of awareness; its state of nirvanic awareness can mean but little to the average disciple.

5. Tâm thức của ý chí tinh thần khi nó được biểu hiện và trải nghiệm trên các cấp độ atma hay trên cõi thứ ba của biểu lộ thiêng liêng. Tôi không thể nói nhiều về trạng thái nhận thức này; trạng thái nhận thức nirvanic của nó hầu như không mang nhiều ý nghĩa đối với người đệ tử trung bình.

Monadic Plane

Cõi Chân thần:

6. The inclusive awareness of the Monad upon its own plane, the second plane of our planetary and solar life.

6. Nhận thức bao hàm của Chân thần trên chính cõi của nó, cõi thứ hai trong đời sống hành tinh và thái dương của chúng ta.

Logoic Plane

Cõi Thượng Đế:

7. Divine consciousness. This is the awareness of the whole on the highest plane of our planetary manifestation. This is also an aspect of solar awareness upon the same plane.

7. Tâm thức thiêng liêng. Đây là sự nhận biết về Toàn Thể trên cõi cao nhất của biểu lộ hành tinh chúng ta. Đây cũng là một khía cạnh của nhận thức thái dương trên cùng cõi đó.

As we strive to arrive at some dim comprehension of the nature of the work to be done in building the antahkarana it might be wise, as a preliminary step, to consider the nature [464] of the substance out of which the “bridge of shining mind stuff” has to be built by the conscious aspirant. The oriental term for this “mind stuff” is chitta; it exists in three types of substance, all basically identical but all qualified or conditioned differently. It is a fundamental law in this solar system, and therefore in our planetary life experience, that the substance through which divinity (in time and space) expresses itself is karmically conditioned; it is impregnated by those qualities and aspects which are the product of earlier manifestations of that Being in Whom we live and move and have our being. This is the basic fact lying behind the expression of that Trinity or Triad of Aspects with which all the world religions have made us familiar. This trinity is as follows:

Khi chúng ta cố gắng đạt được một sự lĩnh hội mờ mịt nào đó về bản chất của công việc cần thực hiện trong việc xây dựng antahkarana, có lẽ một bước chuẩn bị khôn ngoan là xem xét bản chất của chất liệu [464] mà người chí nguyện có ý thức phải dùng để xây dựng “cây cầu bằng chất liệu trí tuệ rực sáng.” Thuật ngữ phương Đông cho chất liệu trí tuệ này là chitta; nó tồn tại trong ba loại chất liệu, tất cả đều về cơ bản là đồng nhất nhưng được đặc trưng hay điều kiện hoá khác nhau. Đó là một định luật nền tảng trong hệ thống thái dương này, và do đó trong kinh nghiệm sống hành tinh của chúng ta, rằng chất liệu mà qua đó Thiêng liêng (trong thời gian và không gian) tự biểu hiện thì luôn bị điều kiện bởi nghiệp quả; nó được thấm nhuần bởi những phẩm tính và khía cạnh vốn là kết quả của những lần biểu lộ trước đây của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có hiện hữu của mình. Đây là sự thật cơ bản nằm phía sau sự biểu hiện của Tam vị hay Tam nguyên Trạng Thái mà mọi tôn giáo trên thế giới đã làm cho chúng ta quen thuộc. Tam vị đó là:

1.

The Father Aspect

This is the underlying Plan of God.

The Will Aspect.

The essential Cause of Being.

Purpose.

Life purpose, motivating evolution. The note of synthetic sound.

Utilises the sutratma

2.

The Son Aspect.

The quality of sensitivity.

The Love Aspect.

The nature of relationship.

Wisdom. Understanding.

The method of evolution.

Consciousness. Soul.

The note of attractive sound.

Utilises the consciousness thread

3.

The Mother Aspect

The intelligence of substance.

The Intelligence Aspect.

The nature of form.

The Holy Spirit.

Response to evolution. The note of Nature.

Develops the creative thread

Webinar 31

The mental plane which must be bridged is like a great stream of consciousness or of conscious substance, and across this stream the antahkarana must be constructed. This is the concept which lies behind this teaching and behind the symbolism of the Path. Before a man can tread the Path, he must become that Path himself. Out of the substance of his own life he must construct this rainbow bridge, this Lighted Way. He spins it and anchors it as a spider spins a thread [465] along which it can travel. Each of his three divine aspects contributes to that bridge, and the time of this building is indicated when his lower nature is:

Cõi trí mà cần phải được bắc cầu giống như một dòng chảy vĩ đại của tâm thức hoặc của chất liệu có ý thức, và xuyên qua dòng chảy này, antahkarana phải được kiến tạo. Đây là khái niệm nằm phía sau lời dạy này và đằng sau biểu tượng của Con Đường. Trước khi một người có thể bước đi trên Con Đường, y phải trở thành chính Con Đường đó. Từ chất liệu của chính đời sống mình, y phải xây dựng cây cầu cầu vồng này, Con Đường Rực Sáng này. Y tự quay nên nó và gắn chặt nó giống như con nhện quay một sợi dây [465] mà nó có thể di chuyển trên đó. Mỗi khía cạnh thiêng liêng trong ba khía cạnh của y đều đóng góp vào cây cầu đó, và thời điểm của việc xây dựng này được biểu thị khi bản chất thấp của y là:

1. Becoming oriented, regulated and creative.

1. Đang trở nên có định hướng, được điều hòa và sáng tạo.

2. Recognising and reacting to soul contact and control.

2. Nhận biết và phản ứng với sự tiếp xúc và điều khiển từ linh hồn.

3. Sensitive to the first impression of the Monad. This sensitivity is indicated where there is:

3. Nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên từ Chân Thần. Tính nhạy cảm này được biểu lộ khi có:

a. Submission to the “will of God” or of the greater Whole.

a. Sự quy phục “ý chí của Thượng Đế” hay của Toàn Thể lớn hơn.

b. Unfoldment of the inner spiritual will, overcoming all obstacles.

b. Sự khai mở ý chí tinh thần nội tại, vượt qua mọi chướng ngại.

c. Cooperation with the purpose of the Hierarchy, the interpreting will of God as expressed in love.

c. Hợp tác với Thiên Cơ của Thánh đoàn, tức là ý chí của Thượng Đế được diễn dịch thông qua tình thương.

I have enumerated these three responses to the totality of the divine aspects because they are related to the antahkarana and must become defined and conditioned upon the mental plane. They are there to be found expressing themselves in substance:

Tôi đã liệt kê ba phản ứng này đối với tổng thể các khía cạnh thiêng liêng bởi vì chúng có liên hệ với antahkarana và phải được xác định và điều kiện hóa trên cõi trí. Chúng hiện diện tại đó, tự biểu lộ qua chất liệu:

1. The lower concrete mind.

1. Trí cụ thể thấp.

The receptive common sense.

– Lý trí tiếp nhận.

The highest aspect of the form nature.

– Khía cạnh cao nhất của bản chất hình tướng.

The reflection of atma, the spiritual will.

– Phản ánh của atma, ý chí tinh thần.

The throat centre.

– Luân xa cổ họng.

Knowledge.

– Tri thức.

2. The individualised mind.

2. Trí tuệ đã cá nhân hóa.

The soul or spiritual ego.

– Linh hồn hay bản ngã tinh thần.

The middle principle. Buddhi-manas.

– Nguyên lý trung gian. Bồ đề – manas.

The reflection in mental substance of the Monad.

– Phản ánh của Chân Thần trong chất liệu trí tuệ.

Spiritual love-wisdom.

– Tình thương – minh triết tinh thần.

The heart centre.

– Luân xa tim.

Love.

– Tình thương.

3. The higher abstract mind.

3. Trí trừu tượng cao.

The transmitter of buddhi.

– Kênh truyền của bồ đề.

The reflection of the divine nature.

– Phản ánh của bản chất thiêng liêng.

Intuitive love, understanding, inclusiveness.

– Tình thương trực giác, sự thấu hiểu, bao dung.

The head centre.

– Luân xa đầu.

Sacrifice.

– Hy sinh.

[466] There are necessarily other arrangements of these aspects in manifestation, but the above will serve to indicate the relation of Monad-soul-personality as they express themselves through certain focussed stations or points of power upon the mental plane.

[466] Dĩ nhiên có những cách sắp xếp khác nữa của các khía cạnh này trong biểu hiện, nhưng những điều nêu trên đủ để minh họa cho mối liên hệ giữa Chân Thần – linh hồn – phàm ngã khi chúng biểu lộ qua các điểm quyền năng tập trung nhất định trên cõi trí.

In humanity, however, the major realisation to be grasped at the present point in human evolution is the need to relate—consciously and effectively—the spiritual Triad, the soul on its own plane and the personality in its three-fold nature. This is done through the creative work of the personality, the magnetic power of the Triad, and the conscious activity of the soul, utilising the triple thread.

Tuy nhiên, trong nhân loại, điều mà phần lớn cần được lĩnh hội tại điểm hiện tại trong tiến trình tiến hóa là nhu cầu thiết lập mối liên hệ — một cách có ý thức và hiệu quả — giữa Tam nguyên tinh thần, linh hồn trên cõi riêng của nó, và phàm ngã trong bản chất ba phần của nó. Điều này được thực hiện thông qua công việc sáng tạo của phàm ngã, quyền năng từ hoá của Tam nguyên, và hoạt động có ý thức của linh hồn, thông qua việc sử dụng sợi dây ba phần.

Webinar 32

You can see, therefore, why so much emphasis is laid by esotericists upon fusion, unity or blending; only when this is intelligently realised can the disciple begin to weave the threads into a bridge of light which eventually becomes the Lighted Way across which he can pass into the higher worlds of being. Thus he liberates himself from the three worlds. It is—in this world cycle—pre-eminently a question of fusion and expressing (in full waking awareness) three major states of consciousness:

Do đó, các bạn có thể thấy vì sao giới huyền môn lại đặt trọng tâm mạnh mẽ như vậy vào sự dung hợp, hợp nhất hoặc hòa quyện; chỉ khi điều này được nhận thức một cách thông minh thì người đệ tử mới có thể bắt đầu dệt các sợi dây thành một cây cầu ánh sáng, mà cuối cùng sẽ trở thành Con Đường Rực Sáng mà y có thể bước qua để vào các thế giới cao hơn của hiện tồn. Như vậy, y tự giải thoát khỏi ba cõi. Trong chu kỳ thế gian này, điều thiết yếu vượt trội chính là việc dung hợp và biểu hiện (trong trạng thái tỉnh thức hoàn toàn) ba trạng thái tâm thức chính yếu:

1. The Shamballa Consciousness.

1. Tâm thức Shamballa.

Awareness of the unity and purpose of Life.

– Nhận biết về sự hợp nhất và mục đích của Sự Sống.

Recognition and cooperation with the Plan.

– Công nhận và hợp tác với Thiên Cơ.

Will. Direction. Oneness.

– Ý chí. Định hướng. Nhất thể.

The influence of the Triad.

– Ảnh hưởng của Tam nguyên.

2. The Hierarchical Consciousness.

2. Tâm thức Thánh đoàn.

Awareness of the Self, the Soul.

– Nhận biết về Chân Ngã, tức là linh hồn.

Recognition and cooperation with divinity.

– Công nhận và hợp tác với Thiêng Liêng.

Love. Attraction. Relation.

– Tình thương. Hấp dẫn. Mối quan hệ.

The influence of the Soul.

– Ảnh hưởng của linh hồn.

3. The Human Consciousness.

3. Tâm thức nhân loại.

Awareness of the soul within the form.

– Nhận biết về linh hồn trong hình tướng.

Recognition and cooperation with the soul.

– Công nhận và hợp tác với linh hồn.

Intelligence. Action. Expression.

– Trí tuệ. Hành động. Biểu hiện.

The influence of the consecrated personality.

– Ảnh hưởng của phàm ngã được thánh hiến.

The man who finally builds the antahkarana across the mental [467] plane connects or relates these three divine aspects, so that progressively at each initiation they are more closely fused into one divine expression in full and radiant manifestation. Putting it in other words, the disciple treads the path of return, builds the antahkarana, crosses the Lighted Way, and achieves the freedom of the Path of Life.

Người đã xây dựng hoàn chỉnh antahkarana băng qua [467] cõi trí sẽ kết nối hay liên kết ba khía cạnh thiêng liêng này, sao cho ở mỗi lần điểm đạo tiếp theo, chúng càng được dung hợp mật thiết hơn thành một biểu hiện thiêng liêng thống nhất trong sự hiện lộ rực rỡ và trọn vẹn. Nói cách khác, người đệ tử bước đi trên Con Đường Trở Về, xây dựng antahkarana, băng qua Con Đường Rực Sáng, và đạt được sự tự do của Con Đường Sự Sống.

One of the points which it is essential that students should grasp is the deeply esoteric fact that this antahkarana is built through the medium of a conscious effort within consciousness itself, and not just by attempting to be good, or to express goodwill, or to demonstrate the qualities of unselfishness and high aspiration. Many esotericists seem to regard the treading of the Path as the conscious effort to overcome the lower nature and to express life in terms of right living and thinking, love and intelligent understanding. It is all that, but it is something far more. Good character and good spiritual aspiration are basic essentials. But these are taken for granted by the Master Who has a disciple under training; their foundation and their recognition and development are the objectives upon the Path of Probation.

Một trong những điểm mà các học viên nhất thiết phải nắm bắt là một sự thật rất sâu sắc về mặt huyền môn: antahkarana này được xây dựng thông qua phương tiện của một nỗ lực có ý thức ngay trong chính tâm thức, và không chỉ đơn thuần bằng việc cố gắng trở nên tốt, hoặc biểu hiện thiện chí, hoặc thể hiện các phẩm chất vô ngã và khát vọng cao cả. Nhiều nhà huyền môn dường như cho rằng việc bước đi trên Con Đường là một nỗ lực có ý thức nhằm vượt qua bản chất thấp và biểu hiện đời sống theo lối sống và tư tưởng đúng đắn, tình thương và sự thấu hiểu có trí tuệ. Nó đúng là như thế, nhưng còn là điều vượt lên rất nhiều. Nhân cách tốt và khát vọng tâm linh cao đẹp là những điều kiện tiên quyết căn bản. Nhưng những điều này đã được Chân sư — vị đang huấn luyện một đệ tử — coi như là điều hiển nhiên; nền tảng của chúng và sự công nhận cũng như phát triển chúng là mục tiêu của Con Đường Dự Bị.

But to build the antahkarana is to relate the three divine aspects. This involves intense mental activity; it necessitates the power to imagine and to visualise, plus a dramatic attempt to build the Lighted Way in mental substance. This mental substance is—as we have seen—of three qualities or natures, and the bridge of living light is a composite creation, having in it:

Tuy nhiên, để xây dựng antahkarana tức là liên kết ba khía cạnh thiêng liêng. Điều này đòi hỏi hoạt động trí tuệ mãnh liệt; nó cần đến năng lực tưởng tượng và thị kiến, cùng với một nỗ lực mạnh mẽ nhằm xây dựng Con Đường Rực Sáng bằng chất liệu trí tuệ. Chất liệu trí tuệ này — như chúng ta đã thấy — có ba phẩm chất hay bản tính khác nhau, và cây cầu ánh sáng sống động là một công trình kết hợp, trong đó bao gồm:

1. Force, focussed and projected from the fused and blended forces of the personality.

1. Mãnh lực, được tập trung và phóng chiếu từ các mãnh lực đã được hòa quyện và dung hợp của phàm ngã.

2. Energy, drawn from the egoic body by a conscious effort.

2. Năng lượng, được rút từ thể linh hồn thông qua nỗ lực có ý thức.

3. Energy, abstracted from the Spiritual Triad.

3. Năng lượng, được chiết xuất từ Tam nguyên tinh thần.

It is essentially, however, an activity of the integrated and dedicated personality. Esotericists must not take the position that all they have to do is to await negatively some activity by the soul which will automatically take place after a certain measure of soul contact has been achieved, and that consequently and in time this activity will evoke response [468] both from the personality and the Triad. This is not the case. The work of the building of the antahkarana is primarily an activity of the personality, aided by the soul; this in time evokes a reaction from the Triad. There is far too much inertia demonstrated by aspirants at this time.

Tuy nhiên, về bản chất, đây là một hoạt động của phàm ngã đã được tích hợp và dâng hiến. Các nhà huyền môn không nên cho rằng tất cả những gì họ cần làm chỉ là thụ động chờ đợi một hoạt động nào đó từ linh hồn, điều mà sẽ tự động xảy ra sau khi đạt được một mức độ tiếp xúc linh hồn nhất định, và rằng kết quả là, theo thời gian, hoạt động đó sẽ khơi dậy sự đáp ứng [468] từ cả phàm ngã lẫn Tam nguyên. Điều đó không đúng. Công việc xây dựng antahkarana chủ yếu là một hoạt động của phàm ngã, với sự hỗ trợ của linh hồn; điều này, theo thời gian, sẽ khơi dậy một phản ứng từ Tam nguyên. Hiện nay có quá nhiều sự trì trệ được thể hiện bởi các người chí nguyện.

One might also look at this matter from another angle. The personality is beginning to transmute knowledge into wisdom, and when this takes place the focus of the personality life is then upon the mental plane, because the transmutation process (with its stages of understanding, analysis, recognition and application) is fundamentally a mental process. The personality is also beginning to comprehend the significance of love and to interpret it in terms of the group well-being, and not in terms of the personal self, of desire or even of aspiration. True love is rightly understood only by the mental type who is spiritually oriented. The personality is also arriving at the realisation that there is in reality no such thing as sacrifice. Sacrifice is usually only the thwarted desire of the lower nature, willingly endured by the aspirant, but—in this phase—a misinterpretation and limitation. Sacrifice is really complete conformity to the will of God because the spiritual will of the man and the divine will (as he recognises it in the Plan) is his will. There is a growing identification in purpose. Therefore, self-will, desire and those intelligent activities which are dually motivated are seen and recognised as only the lower expression of the three divine aspects, and the effort is to express these in terms of the soul and not, as hitherto, in terms of a dedicated and rightly oriented personality. This becomes possible in its true sense only when the focus of the life is in the mental vehicle and the head as well as the heart is becoming active. In this process, the stages of character building are seen as essential and effective, and are willingly and consciously undertaken. But—when these foundations of good character and intelligent activity are firmly established—something still higher and more subtle must be erected on the sub-structure.

Chúng ta cũng có thể xem xét vấn đề này từ một góc nhìn khác. Phàm ngã đang bắt đầu chuyển hóa tri thức thành minh triết, và khi điều này xảy ra thì trọng tâm đời sống của phàm ngã lúc ấy sẽ nằm trên cõi trí, vì tiến trình chuyển hóa (với các giai đoạn của sự thấu hiểu, phân tích, nhận biết và ứng dụng) về cơ bản là một tiến trình trí tuệ. Phàm ngã cũng đang bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa của tình thương và giải thích nó dưới dạng lợi ích của toàn nhóm, chứ không phải dưới dạng của cái tôi cá nhân, của dục vọng hay thậm chí là của khát vọng. Tình thương chân chính chỉ được hiểu đúng bởi loại người thiên về trí tuệ đã được định hướng tâm linh. Phàm ngã cũng đang đạt đến sự nhận biết rằng thực tế không có điều gì gọi là hy sinh. Hy sinh thường chỉ là dục vọng bị ngăn trở của bản chất thấp, được người chí nguyện sẵn lòng chịu đựng, nhưng — trong giai đoạn này — là một sự diễn giải sai và là một giới hạn. Hy sinh thực sự là sự hòa hợp hoàn toàn với ý chí của Thượng Đế, bởi vì ý chí tinh thần của con người và ý chí thiêng liêng (như y nhận biết nó trong Thiên Cơ) chính là ý chí của y. Đang có một sự đồng nhất ngày càng tăng trong mục đích. Vì vậy, ý chí cá nhân, dục vọng và những hoạt động trí tuệ được thúc đẩy bởi hai động cơ kép được thấy và được nhận ra chỉ là sự biểu hiện thấp của ba khía cạnh thiêng liêng, và nỗ lực là nhằm biểu hiện chúng dưới dạng của linh hồn chứ không như trước đây, dưới dạng của một phàm ngã đã được dâng hiến và định hướng đúng. Điều này chỉ thực sự trở nên khả thi khi trọng tâm của đời sống nằm trong thể trí và cả đầu óc lẫn con tim đang trở nên hoạt động. Trong tiến trình này, các giai đoạn xây dựng phẩm tính được xem là cần thiết và hiệu quả, và được đảm nhận một cách tự nguyện và có ý thức. Tuy nhiên — khi những nền tảng của phẩm tính tốt và hoạt động trí tuệ đã được thiết lập vững chắc — thì điều gì đó cao hơn và vi tế hơn cần được dựng xây trên nền tảng đó.

Webinar 33

Knowledge-wisdom must be superseded by intuitive [469] understanding; this is, in reality, inclusive participation in the creative activity of divinity. The divine idea must become the possible ideal, and this ideal must become unfolded and manifested in substance upon the physical plane. The creative thread, now somewhat ready, must be brought into conscious functioning and activity.

Tri thức–minh triết phải được thay thế bởi sự thấu hiểu trực giác [469]; điều này, trên thực tế, là sự tham gia bao hàm vào hoạt động sáng tạo của Thiêng Liêng. Ý tưởng thiêng liêng phải trở thành lý tưởng khả dĩ, và lý tưởng đó phải được khai mở và biểu hiện thành chất liệu trên cõi trần. Sợi dây sáng tạo, lúc này đã phần nào sẵn sàng, phải được đưa vào hoạt động và vận hành một cách có ý thức.

Desire-love must be interpreted in terms of divine attraction, involving the right use or misuse of energies and forces. This process puts the disciple in touch with divinity as a progressively revealed Whole. The part, through the magnetic development of its own nature, comes into touch gradually with all that IS. The disciple becomes aware of this sum total in increasingly vivid expansions of consciousness, leading to initiation, realisation and identification. These are the three stages of initiation.

Dục vọng–tình thương phải được hiểu theo nghĩa của sức hút thiêng liêng, bao hàm việc sử dụng đúng (hoặc sai) các năng lượng và mãnh lực. Tiến trình này đưa người đệ tử tiếp xúc với Thiêng Liêng như là một Toàn Thể được tiết lộ dần dần. Phần nhỏ, thông qua sự phát triển từ tính của chính nó, dần dần tiếp xúc với toàn bộ điều đang Hiện Hữu. Người đệ tử nhận biết tổng thể này qua những mở rộng ngày càng sinh động của tâm thức, dẫn đến điểm đạo, chứng ngộ và đồng nhất hóa. Đây là ba giai đoạn của sự điểm đạo.

The consciousness thread, in cooperation with the creative thread and the life thread, awakens to a fully aware process of participation in the divine creative Plan—a Plan which is motivated by love and intelligently carried forward.

Sợi dây tâm thức, phối hợp với sợi dây sáng tạo và sợi dây sự sống, thức tỉnh để tham gia một cách đầy đủ và có ý thức vào Thiên Cơ sáng tạo — một Thiên Cơ được thúc đẩy bởi tình thương và được triển khai một cách có trí tuệ.

Direction-Will (which are words describing the orientation produced by the understanding of the two processes of knowledge-wisdom and desire-love) must produce the final orientation of the personality and the soul, fused and blended and at-one, towards the freedom of the Spiritual Triad; then the conscious attempt to use these three energies eventuates in creating the antahkarana upon the mental plane. You will note that at this early stage of the process I am emphasising the words “orientation” and “attempt.” They simply indicate the final control of substance by the initiate.

Định hướng–Ý chí (là những từ mô tả hướng định được tạo ra nhờ sự hiểu biết hai tiến trình tri thức–minh triết và dục vọng–tình thương) phải tạo ra định hướng tối hậu của phàm ngã và linh hồn, đã dung hợp và hòa làm một, hướng đến sự tự do của Tam nguyên tinh thần; sau đó nỗ lực có ý thức nhằm sử dụng ba năng lượng này sẽ dẫn đến việc tạo ra antahkarana trên cõi trí. Các bạn sẽ lưu ý rằng ở giai đoạn sớm này của tiến trình, tôi đang nhấn mạnh các từ “định hướng” và “nỗ lực.” Chúng đơn giản chỉ ra sự kiểm soát chất liệu tối hậu của điểm đạo đồ.

One of the indications that a man is no longer upon the Probationary Path is his emerging from the realm of aspiration and devotion into the world of the focussed will. Another indication is that he begins to interpret life in terms of energy and forces, and not in terms of quality and desire. This marks a definite step forward. There is too little use of the spiritual will, as the result of right orientation, in the life of disciples today. [470]

Một trong những dấu hiệu cho thấy một người không còn ở trên Con Đường Dự Bị nữa là y đã thoát ra khỏi cảnh giới của khát vọng và tận hiến để bước vào thế giới của ý chí tập trung. Một dấu hiệu khác là y bắt đầu giải thích đời sống theo các thuật ngữ của năng lượng và mãnh lực, chứ không theo các thuật ngữ của phẩm tính và dục vọng. Đây là một bước tiến rõ rệt. Trong đời sống của các đệ tử ngày nay, có quá ít việc sử dụng ý chí tinh thần như là kết quả của định hướng đúng đắn. [470]

In the future, this Science of the Antahkarana and its lower correspondence, the Science of Social Evolution (which is the joint or united antahkarana of humanity as a whole), will be known as the Science of Invocation and Evocation. It is in reality the Science of Magnetic Rapport, in which right relationship is brought about by mutual invocation, producing a responsive process which is one of evocation. It is this science which lies behind all conscious awakening of the centres and their interrelation; it lies behind the rapport between man and man, group and group, and eventually between nation and nation. It is this invocation, and the consequent evocation, which eventually relate soul and personality and soul and monad. It is the outstanding objective of humanity’s appeal to God, to the Hierarchy and to the Spiritual Powers of the cosmos, no matter by what name you call them. The appeal goes forth. The invocation of humanity can and will and must evoke response from the spiritual Hierarchy and give the first demonstration upon a large scale of this new esoteric science—esoteric because it is based upon sound. Hence the use of the O.M. Into this science I cannot here go; we must confine our attention to our theme, which is the Science of the Antahkarana.

Trong tương lai, Khoa học về Antahkarana và hình thức tương ứng thấp hơn của nó, tức là Khoa học về Tiến Hóa Xã Hội (chính là antahkarana tập thể hay hợp nhất của toàn nhân loại), sẽ được biết đến như là Khoa học của Khẩn Nguyện và Dẫn Khởi. Trên thực tế, đây là Khoa học về Mối Liên Hệ Từ Tính, trong đó mối liên hệ đúng được thiết lập thông qua sự khẩn nguyện hỗ tương, tạo ra một tiến trình đáp ứng vốn là một sự dẫn khởi. Chính khoa học này nằm đằng sau mọi sự thức tỉnh có ý thức của các trung tâm và mối liên hệ tương hỗ giữa chúng; nó cũng nằm phía sau mối liên hệ giữa con người và con người, giữa nhóm và nhóm, và cuối cùng là giữa quốc gia và quốc gia. Chính sự khẩn nguyện này, và sự dẫn khởi hệ quả từ đó, cuối cùng sẽ nối kết linh hồn và phàm ngã, và nối kết linh hồn và Chân Thần. Đây là mục tiêu nổi bật trong lời kêu gọi của nhân loại gửi đến Thượng Đế, đến Thánh đoàn và đến các Quyền năng Thiêng liêng của vũ trụ, bất kể các bạn gọi các Đấng ấy bằng danh xưng nào. Lời khẩn nguyện được phát đi. Lời khẩn nguyện của nhân loại có thể, sẽ và nhất thiết phải dẫn khởi một phản ứng từ Thánh đoàn tinh thần và sẽ cung cấp minh chứng đầu tiên trên quy mô rộng lớn của khoa học huyền môn mới này — huyền môn vì nó được đặt nền tảng trên âm thanh. Do đó mới có việc sử dụng linh từ OM. Tôi không thể đi sâu vào khoa học này tại đây; chúng ta phải giới hạn sự chú tâm của mình vào chủ đề đang bàn, đó là Khoa học về Antahkarana.

Webinar 34

The Bridge as the Agent of Alignment

The word “alignment” is used much in modern esoteric training. I would point out that in making his alignment, the aspirant is only establishing the first stage of his process of realisation; he is establishing in his own consciousness the fact of his essential dualism. I would also point out that the critical aspect of this process is only arrived at when the distinction is sharply defined and recognised between the integrated and potent personality and the soul. It is an occult truism to state that the aspirant is to be recognised by or triplicity; the disciple by or recognised duality and the initiate by or unity. Note that the symbol of duality for undeveloped humanity is in which the separation of the higher nature from the lower is depicted; in the case of the disciple, it is showing the “path across” or the [471] narrow razor-edged Path between the pairs of opposites, forming later the antahkarana. These symbols, simple as they are, embody and convey vast truths to the illumined mind.

Từ “chỉnh hợp” được sử dụng rất nhiều trong huấn luyện huyền môn hiện đại. Tôi muốn chỉ ra rằng khi thực hiện sự chỉnh hợp của mình, người chí nguyện chỉ mới thiết lập giai đoạn đầu tiên của tiến trình chứng ngộ; y đang xác lập trong chính tâm thức của mình sự thật về tính nhị nguyên cốt lõi của bản thân. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng khía cạnh then chốt của tiến trình này chỉ được đạt đến khi sự phân biệt giữa phàm ngã tích hợp và mạnh mẽ với linh hồn được xác định một cách rõ rệt và được nhận biết. Có một chân lý huyền môn rằng: người chí nguyện được nhận biết qua tam phân thể của y; người đệ tử qua nhị nguyên thể đã được nhận thức; và điểm đạo đồ qua sự hợp nhất. Lưu ý rằng biểu tượng của nhị nguyên đối với nhân loại chưa phát triển là một hình thức thể hiện sự tách biệt giữa bản chất cao và thấp; trong trường hợp của người đệ tử, đó là hình ảnh “con đường vượt qua” hay Con Đường hẹp như lưỡi dao cạo giữa hai cặp đối nghịch, hình thành sau này thành antahkarana. Những biểu tượng này, tuy đơn giản, lại hàm chứa và truyền đạt những chân lý vĩ đại cho trí tuệ được soi sáng.

Relatively speaking, and speaking in terms of the mental consciousness, the realisation of duality is only to be found in the three worlds and on the mental plane. When the third initiation is taken, the power of the lower pair of opposites is no longer felt and exists no more. A liberated consciousness and an unrestricted awareness—unrestricted as regards the initiate, moving within the orbit of the planetary Logos (though not unrestricted as regards that greater Life which moves within still other and greater defined limits)—are both understood and expressed. Within the planetary ring-pass-not the initiate moves with freedom and knows no limitation in consciousness. That is why the higher levels of our planetary and systemic planes are called formless. It is this which is the true symbol of alignment, involving as it does the sense of duality but indicating at the same time the way through what are called “the walls of limitation.”

Tương đối mà nói, và xét theo phương diện tâm thức trí tuệ, sự nhận thức về nhị nguyên chỉ hiện hữu trong ba cõi và trên cõi trí. Khi lần điểm đạo thứ ba được trải qua, quyền lực của cặp đối nghịch thấp hơn không còn được cảm nhận và cũng không còn tồn tại nữa. Một tâm thức đã được giải thoát và một sự nhận biết không bị giới hạn — không bị giới hạn đối với điểm đạo đồ đang vận hành trong quỹ đạo của Hành Tinh Thượng Đế (dù vẫn còn bị giới hạn khi xét đến một Sự Sống lớn hơn vốn vận hành trong các giới hạn được xác lập rộng lớn hơn nữa) — cả hai đều được hiểu và thể hiện. Bên trong vòng-giới-hạn hành tinh, vị điểm đạo đồ vận hành với sự tự do và không còn biết đến bất kỳ giới hạn nào trong tâm thức. Đó là lý do vì sao các cõi cao của hành tinh và Thái Dương hệ được gọi là vô sắc. Chính điều này mới là biểu tượng chân thực của sự chỉnh hợp, bởi vì nó bao hàm ý thức về nhị nguyên nhưng đồng thời cũng chỉ ra con đường xuyên qua cái được gọi là “bức tường giới hạn.”

Students would do well to consider the building of the antahkarana as an extension in consciousness. This extension is the first definite effort made upon the Path to bring in the monadic influence with full awareness, and finally directly. This process constitutes the individual parallel to the present inflow of force from Shamballa, about which I have elsewhere spoken. That highest Centre of energy upon our planet is now having a definite effect upon that centre which we call Humanity. This is brought about by direct alignment, and not via the Hierarchy as has hitherto been the case. When the individual antahkarana has been successfully started, and there is even a tenuous thread of living energy connecting the threefold personality and the Spiritual Triad, then the inflow of the will-energy becomes possible. This, in the early stages, can be most dangerous when not offset by the love energy of the soul. Only one thread of the threefold antahkarana passes through the egoic lotus. [472] The other two threads relate themselves directly with the Triad, and hence eventually with the Monad, the source of the triadal life. This is true of the individual and of humanity as a whole, and the effects of this alignment can be seen demonstrating in the world at this time.

Các học viên sẽ có lợi nếu xem việc xây dựng antahkarana như là một sự mở rộng trong tâm thức. Sự mở rộng này là nỗ lực xác định đầu tiên được thực hiện trên Con Đường nhằm đưa ảnh hưởng của Chân Thần vào một cách trọn vẹn và sau cùng là trực tiếp. Tiến trình này cấu thành sự song song của cá nhân đối với dòng năng lượng hiện đang đổ xuống từ Shamballa, điều mà tôi đã đề cập nơi khác. Trung tâm năng lượng tối thượng trên hành tinh chúng ta hiện nay đang tạo ra một ảnh hưởng rõ rệt lên trung tâm được gọi là Nhân loại. Điều này được thực hiện thông qua sự chỉnh hợp trực tiếp, chứ không qua trung gian của Thánh đoàn như trước đây. Khi antahkarana cá nhân đã được khởi dựng thành công, và thậm chí chỉ cần một sợi dây năng lượng sống mỏng manh kết nối phàm ngã ba phần và Tam nguyên tinh thần, thì sự đổ xuống của năng lượng ý chí sẽ trở nên khả dĩ. Trong các giai đoạn đầu, điều này có thể vô cùng nguy hiểm nếu không được bù trừ bằng năng lượng tình thương của linh hồn. Chỉ một sợi trong antahkarana ba phần đi xuyên qua hoa sen chân ngã. [472] Hai sợi còn lại liên kết trực tiếp với Tam nguyên, và do đó sau cùng là với Chân Thần, nguồn gốc của sự sống tam nguyên. Điều này đúng đối với cả cá nhân lẫn toàn thể nhân loại, và những ảnh hưởng của sự chỉnh hợp này đang được biểu hiện trong thế giới hiện nay.

Webinar 35

This rather unexpected responsive activity has necessitated much increased activity on the part of the Hierarchy, in order to offset the consequences of any premature inflow of the will force. After the third initiation, when the soul body, the causal body, starts to dissipate, the line of relation or of connection can be and is direct. The initiate then “stands in the ocean of love, and through him pours that love; his will is love and he can safely work, for love divine will colour all his will, and he can wisely serve.” Love and intelligence then become the servants of the will. Soul energy and personality force contribute to the experience of the Monad in the three worlds of life service, and then the age-long task of the incarnating spiritual man is finally accomplished. He is ready for Nirvana, which is but the Way into new fields of spiritual experience and of divine development—incomprehensible as yet, even to the initiate of the third degree. This Way is revealed only when the antahkarana is built and completed and the man becomes focussed in the Triad as consciously as he is now focussed in the threefold lower nature.

Phản ứng đáp ứng khá bất ngờ này đã khiến Thánh đoàn phải gia tăng hoạt động để háo giải những hậu quả của bất kỳ sự đổ xuống sớm nào của mãnh lực ý chí. Sau lần điểm đạo thứ ba, khi thể linh hồn, tức thể nhân quả, bắt đầu tan rã, thì đường liên hệ hay kết nối có thể, và thực tế là, trở nên trực tiếp. Lúc đó điểm đạo đồ “đứng trong đại dương của tình thương, và qua y, tình thương tuôn chảy; ý chí của y là tình thương và y có thể hành động một cách an toàn, vì tình thương thiêng liêng sẽ nhuộm màu mọi ý chí của y, và y có thể phụng sự một cách sáng suốt.” Tình thương và trí tuệ khi ấy trở thành những người phụng sự cho ý chí. Năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã góp phần vào kinh nghiệm của Chân Thần trong ba cõi của sự phụng sự cuộc sống, và rồi nhiệm vụ kéo dài hàng kiếp của con người tâm linh nhập thế cuối cùng được hoàn tất. Y đã sẵn sàng cho trạng thái Niết Bàn, vốn chỉ là Con Đường dẫn vào các lãnh vực kinh nghiệm tâm linh và phát triển thiêng liêng mới — những điều hiện tại vẫn còn không thể lĩnh hội được, ngay cả đối với điểm đạo đồ bậc ba. Con Đường này chỉ được tiết lộ khi antahkarana được xây dựng và hoàn tất và con người trở nên tập trung trong Tam nguyên một cách có ý thức, cũng như hiện nay y đã tập trung có ý thức trong bản chất ba phần thấp hơn.

Then, and then only, is the true dualism of the divine nature apparent and the illusory duality disappears. Then you have Spirit-matter, Life-form. For this the triple experience of the unfolding consciousness is only preparatory. Through the unfolding consciousness, the initiate knows the significance of life and the uses of form, but stands completely unidentified with either, though blending these dualities in himself into a conscious synthesis. The attempt to convey his state of mind, in words that but limit and confuse, leads to apparent contradictions, and this is one of the peculiar paradoxes of the occult science. Do the above imparted facts make sense to you? Have they meaning for your mind? I think not. You have not yet the needed equipment [473] through which the type of implied awareness can work, or the realisation of that true Self-consciousness which would produce in you an understanding reaction. I simply make the esoteric assertion; later will come apprehension of the truth and that consequent energising which always comes when any abstract truth is truly appreciated and assimilated. But the time has not yet come for the comprehension of the above information. Disciples and aspirants grow through the means of a presented vision—unattainable as yet but definitely an extension of the known and previously grasped. Such is the mode of evolution, for it is ever a pressing forward towards the sensed.

Khi đó, và chỉ khi đó, nhị nguyên chân thật của bản chất thiêng liêng mới hiện rõ và sự nhị nguyên huyễn ảo sẽ biến mất. Lúc ấy các bạn có Thần linh–chất liệu, Sự sống–hình tướng. Toàn bộ kinh nghiệm ba phần của tâm thức đang khai mở chỉ là sự chuẩn bị cho điều đó. Thông qua tâm thức đang khai mở, điểm đạo đồ nhận biết được ý nghĩa của sự sống và công dụng của hình tướng, nhưng đứng hoàn toàn không đồng nhất với bất kỳ bên nào, dù y hòa hợp hai mặt đối nghịch này trong chính bản thân thành một sự tổng hợp có ý thức. Nỗ lực nhằm truyền đạt trạng thái tâm thức đó bằng ngôn từ — vốn chỉ giới hạn và gây nhầm lẫn — sẽ dẫn đến những mâu thuẫn có vẻ bề ngoài, và đây là một trong những nghịch lý đặc biệt của khoa học huyền môn. Những sự thật đã được truyền đạt ở trên có làm các bạn cảm thấy có ý nghĩa không? Chúng có mang lại điều gì cho trí tuệ của các bạn không? Tôi nghĩ là chưa. Các bạn vẫn chưa có được khí cụ cần thiết [473] để loại hình nhận thức được hàm ý đó có thể vận hành, cũng như chưa có được sự tự thức chân thật vốn sẽ tạo ra nơi các bạn một phản ứng hiểu biết. Tôi đơn thuần chỉ đưa ra khẳng định huyền môn; sự lĩnh hội chân lý và sự kích hoạt hệ quả — điều luôn xảy ra khi một chân lý trừu tượng được thực sự đón nhận và đồng hóa — sẽ đến sau. Nhưng thời điểm để hiểu được những thông tin ở trên vẫn chưa đến. Các đệ tử và người chí nguyện trưởng thành thông qua tầm nhìn được trình bày — tuy hiện tại vẫn chưa thể đạt tới nhưng chắc chắn là một sự mở rộng từ những điều đã biết và đã nắm bắt. Đó là phương thức tiến hóa, vì nó luôn là một sự thúc đẩy tiến về phía điều được cảm nhận.

Today, through human effort and hierarchical endeavour, a great alignment and linking up is taking place, and Monad-Soul-Personality are being more directly related than has hitherto been possible. One reason for this is that there are present in incarnation upon the planet many more initiates of the third degree than ever before; there are many more disciples being prepared for the third initiation; and in this third strictly human race, the Aryan (using this term in its generic sense and not in its prostituted German connotation), the three aspects of the personality are now so potent that their magnetic influence and their creative effect are making the building of the antahkarana an outstanding achievement, thus linking and aligning the three aspects in man. The same is true of the three divine centres in the planet which embody these divine qualities: Shamballa, Hierarchy, and Humanity. These are now closely aligned, thus producing a fusion of energies which is causing an inflow of the spiritual will, as well as a demonstration of the Destroyer aspect.

Ngày nay, thông qua nỗ lực của nhân loại và công cuộc cố gắng của Thánh đoàn, một sự chỉnh hợp và kết nối vĩ đại đang diễn ra, và Chân Thần – Linh Hồn – Phàm Ngã đang được liên kết một cách trực tiếp hơn bao giờ hết. Một trong những lý do cho điều này là hiện đang có mặt trong kiếp sống trên hành tinh nhiều điểm đạo đồ bậc ba hơn bao giờ hết; có nhiều đệ tử đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba; và trong giống dân thực sự thứ ba, giống dân Arya (sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa chung và không theo ý nghĩa bị lạm dụng của Đức quốc xã), ba khía cạnh của phàm ngã hiện nay mạnh mẽ đến mức ảnh hưởng từ hoá và hiệu ứng sáng tạo của chúng đang biến việc xây dựng antahkarana thành một thành tựu nổi bật, nhờ đó liên kết và chỉnh hợp ba khía cạnh trong con người. Điều tương tự cũng đúng với ba trung tâm thiêng liêng trên hành tinh vốn hiện thân cho các phẩm tính thiêng liêng này: Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Ba trung tâm này giờ đây đang được chỉnh hợp mật thiết với nhau, nhờ đó tạo ra một sự dung hợp các năng lượng đang gây ra một dòng đổ xuống của ý chí tinh thần, cũng như một sự biểu hiện của khía cạnh Hủy Diệt.

I have here indicated much of interest; I have pointed out a goal and indicated a Way. I have related (in consciousness) the Hierarchy and Shamballa. This signifies a great and critical moment in human affairs and an opportunity hitherto unparalleled in history. The need for a due appreciation of this will be evident, and should incite all who read to renewed effort and to fresh endeavour. Students must [474] seek to meet all the planetary changes and opportunities with corresponding changes in their own lives. They must seek those new attitudes and those new creative approaches which will result not alone in the building of the individual antahkarana, but also in the fusion of the many “radiant strands” which will produce those “connecting cables,” speaking symbolically, which will relate the planetary centres and present the medium along which can pass the fiery will and the predetermined purpose of Deity. This will bring about the reconstruction of the manifested worlds, and in this task each and every one of you can have his share.

Tôi đã chỉ ra ở đây nhiều điều thú vị; tôi đã vạch rõ một mục tiêu và chỉ ra một Con Đường. Tôi đã liên kết (trong tâm thức) Thánh đoàn và Shamballa. Điều này đánh dấu một khoảnh khắc vĩ đại và then chốt trong công cuộc nhân sự và một cơ hội chưa từng có trong lịch sử. Sự cần thiết phải nhận định đúng đắn về điều này là điều hiển nhiên, và nên thúc đẩy tất cả những ai đọc được điều này dốc lòng nỗ lực và cố gắng mới mẻ. Các học viên [474] phải tìm cách đáp ứng với mọi thay đổi và cơ hội trên bình diện hành tinh bằng những thay đổi tương ứng trong chính đời sống của họ. Họ phải tìm kiếm những thái độ mới và những phương pháp tiếp cận sáng tạo mới sẽ mang lại không chỉ việc xây dựng antahkarana cá nhân, mà còn là sự dung hợp của nhiều “sợi sáng rực rỡ” sẽ tạo thành những “dây cáp kết nối”, nói một cách biểu tượng, vốn sẽ liên kết các trung tâm hành tinh và tạo ra một phương tiện mà qua đó ý chí hừng hực và Thiên Ý đã định trước của Thượng Đế có thể tuôn chảy. Điều này sẽ mang lại sự tái thiết các thế giới hiện hình, và trong công việc này, mỗi người trong các bạn đều có phần của mình.

Let us now take up our next point in this section and indicate the technique for the constructing of the antahkarana. This will constitute an intensely practical teaching for which all that I have hitherto given should prove a firm foundation.

Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục điểm kế tiếp trong phần này và trình bày kỹ thuật xây dựng antahkarana. Điều này sẽ tạo thành một giáo lý hết sức thực tiễn, mà mọi điều tôi đã trình bày trước đây nên được xem như là nền tảng vững chắc.

Webinar 36

The Technique of Construction

It is my intention to be very practical. The building of the antahkarana (which is consciously undertaken upon the Path of Discipleship) is a process which is followed under certain ancient and proven rules. When these rules are correctly followed, the sequence of events and the appearance of the desired results are inevitable and unavoidable. There is much that I could say which would be of small use to the average aspirant, as it would be concerned with subjective realities which—though existent and occult facts in a natural process—are as yet unrealisable. My problem is to present the process in such a manner that—towards the end of this century—educators will be thinking, speaking and teaching in terms of bridging, and thus approaching basic statements which have a definite bearing upon this point which we are considering. I would like here very succinctly to recall a few of them to your attention:

Ý định của tôi là trình bày một cách rất thực tiễn. Việc xây dựng antahkarana (vốn được thực hiện một cách có ý thức trên Con Đường Đệ Tử) là một tiến trình được thực hiện theo những quy luật cổ xưa và đã được kiểm chứng. Khi những quy luật này được tuân theo một cách đúng đắn, chuỗi sự kiện và sự xuất hiện của kết quả mong muốn là điều không thể tránh khỏi. Có rất nhiều điều mà tôi có thể nói ra nhưng sẽ ít hữu ích đối với người chí nguyện trung bình, vì chúng liên quan đến các thực tại chủ quan — dù chúng tồn tại và là những sự kiện huyền môn trong một tiến trình tự nhiên — vẫn còn vượt ngoài khả năng nhận thức hiện thời. Vấn đề của tôi là trình bày tiến trình này theo một cách mà — vào cuối thế kỷ này — các nhà giáo dục sẽ bắt đầu suy nghĩ, nói và giảng dạy bằng những thuật ngữ về việc bắc cầu, và nhờ đó tiếp cận các khẳng định căn bản có liên hệ rõ rệt đến điểm mà chúng ta đang xem xét. Tại đây, tôi muốn nhắc lại một cách rất ngắn gọn một vài khẳng định như sau:

1. Knowledge-force expresses itself through the consciousness thread and the creative thread.

1. Mãnh lực-tri thức tự biểu hiện thông qua sợi dây tâm thức và sợi dây sáng tạo.

2. These two threads are, for the disciple, a fusion of [475] past knowledge (the consciousness thread) and the present (the creative thread).

2. Đối với người đệ tử, hai sợi dây này là sự dung hợp của [475] tri thức quá khứ (sợi dây tâm thức) và hiện tại (sợi dây sáng tạo).

3. The life thread or sutratma proper is closely blended with these two. You then have atma-buddhi-manas (the latter being the agent of creation) functioning to a certain degree consciously in the aspirant.

3. Sợi dây sự sống hay sutratma thực sự được hòa quyện mật thiết với hai sợi dây trên. Khi đó, các bạn có atma-buddhi-manas (trong đó manas là tác nhân của sáng tạo) đang hoạt động đến một mức độ nhất định có ý thức trong người chí nguyện.

4. The fusion of personality and soul is in process, but when it has reached a certain point it becomes apparent that a creativity or a creative activity of the Will is needed to bridge between the Spiritual Triad and the personality, via the soul.

4. Sự dung hợp giữa phàm ngã và linh hồn đang diễn tiến, nhưng khi nó đạt đến một điểm nhất định, sẽ trở nên rõ ràng rằng cần đến một sự sáng tạo hay một hoạt động sáng tạo của Ý chí để bắc cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã, thông qua trung gian là linh hồn.

5. The bridge which must be constructed is called, technically, the antahkarana.

5. Cây cầu phải được kiến tạo đó về mặt kỹ thuật được gọi là antahkarana.

6. This bridge has to be built by the aspirant who is focussed upon the mental plane, because it is mental substance (in three grades) which must be used, and the three aspects of the mind—the manasic permanent atom, the Son of Mind or Ego, and the mental unit—are all involved in the process.

6. Cây cầu này phải được xây dựng bởi người chí nguyện đã định vị trên cõi trí, vì chính chất liệu trí tuệ (trong ba cấp độ) phải được sử dụng, và ba khía cạnh của trí tuệ — nguyên tử trường tồn manasic, Đứa Con của Trí Tuệ hay Bản Ngã, và đơn vị trí tuệ — tất cả đều tham gia trong tiến trình này.

Students would do well to learn that this process of building the antahkarana is one of the means whereby man, the trinity, becomes a duality. When the task is completed and the antahkarana is definitely built—thus producing perfect alignment between the Monad and its expression upon the physical plane—the body of the soul (the causal body) is completely and finally destroyed by the fire of the Monad, pouring down the antahkarana. There is then complete reciprocity between the Monad and the fully conscious soul on the physical plane. The “divine intermediary” is no longer required. The “Son of God Who is the Son of Mind” dies; the “veil of the temple is rent in twain from the top to the bottom”; the fourth initiation is passed, and there then comes the revelation of the Father.

Các học viên nên hiểu rằng tiến trình xây dựng antahkarana là một trong những phương tiện qua đó con người — vốn là một tam phân thể — trở thành nhị nguyên. Khi nhiệm vụ này hoàn tất và antahkarana được kiến tạo rõ ràng — nhờ đó tạo ra sự chỉnh hợp hoàn hảo giữa Chân Thần và biểu hiện của Ngài trên cõi trần — thì thể linh hồn (thể nhân quả) sẽ hoàn toàn và dứt khoát bị hủy diệt bởi lửa của Chân Thần, đổ xuống qua antahkarana. Khi đó sẽ có sự thông giao hoàn toàn giữa Chân Thần và linh hồn đã hoàn toàn tỉnh thức trên cõi trần. “Đấng Trung Gian thiêng liêng” không còn cần thiết nữa. “Người Con của Thượng Đế, Đấng là Con của Trí Tuệ” chết đi; “bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới”; lần điểm đạo thứ tư được vượt qua, và khi đó sẽ có sự mặc khải của Đức Cha.

This is the final and far-reaching result of the building of the bridge which is, in reality, the establishing of a line of light between Monad and personality as a full expression of the soul—between spirit and matter, between Father and Mother. It is evidence that “spirit has mounted on the [476] shoulders of matter” to that high place from whence it originally came, plus the gain of experience and of full knowledge, and of all that life in material form could give and all that conscious experience could confer. The Son has done His work. The task of the Saviour or of the Mediator has been completed. The unity of all things is known to be a fact in consciousness, and a human spirit can say with intention and with understanding: “I and my Father are one.”

Đây là kết quả sau cùng và sâu xa của việc xây dựng cây cầu, vốn trên thực tế là sự thiết lập một dòng ánh sáng giữa Chân Thần và phàm ngã như là biểu hiện trọn vẹn của linh hồn — giữa tinh thần và vật chất, giữa Cha và Mẹ. Đó là bằng chứng cho thấy “tinh thần đã cưỡi trên [476] vai vật chất” để vươn đến nơi cao cả từ đó nó đã khởi hành, cộng với những gì đã thu được từ kinh nghiệm, từ tri thức trọn vẹn, và từ tất cả những gì mà đời sống trong hình tướng vật chất có thể ban tặng và mọi trải nghiệm có ý thức có thể truyền trao. Người Con đã hoàn tất công việc của Ngài. Nhiệm vụ của Đấng Cứu Độ hay của Đấng Trung Gian đã được hoàn thành. Sự hợp nhất của muôn vật được biết là một sự thật trong tâm thức, và một tinh thần nhân loại có thể nói với chủ ý và sự thấu hiểu rằng: “Ta và Cha là một.”

The above is a brief and probably meaningless statement except theoretically, but it summarises the task which lies ahead and the work of the disciple who is in process of constructing the antahkarana. There is a close connection between the fourth initiation, the quaternary in its evolved condition—vital body, emotional vehicle, mind and soul—and this fourth technical stage of building consciously the “rainbow bridge.” You have therefore:

Những điều trên chỉ là một tuyên bố ngắn gọn và có lẽ còn vô nghĩa nếu chỉ xét trên lý thuyết, nhưng nó tóm lược nhiệm vụ phía trước và công việc của người đệ tử đang trong tiến trình xây dựng antahkarana. Có một mối liên hệ mật thiết giữa lần điểm đạo thứ tư, bộ tứ trong trạng thái tiến hóa của nó — thể sinh lực, thể cảm xúc, trí tuệ và linh hồn — và giai đoạn kỹ thuật thứ tư này trong việc xây dựng một cách có ý thức “cây cầu cầu vồng.” Do đó, các bạn có:

1. The Quaternary, the creative factor on Earth.

1. Bộ tứ, yếu tố sáng tạo trên Địa cầu.

2. The fourth initiation, that of the Crucifixion.

2. Lần điểm đạo thứ tư, tức là lần đóng đinh.

3. The fourth technical stage of building the Antahkarana:

3. Giai đoạn kỹ thuật thứ tư của việc xây dựng Antahkarana:

a. Sutratma, the life thread.

a. Sutratma, sợi dây sự sống.

b. The consciousness thread.

b. Sợi dây tâm thức.

c. The creative thread, itself threefold.

c. Sợi dây sáng tạo, tự thân là ba phần.

d. The technical antahkarana, bridging between the threefold personality and the Spiritual Triad.

d. Antahkarana về mặt kỹ thuật, bắc cầu giữa phàm ngã ba phần và Tam nguyên tinh thần.

4. The four stages of the Path of Return:

4. Bốn giai đoạn của Con Đường Trở Về:

a. The stage of evolution itself.

a. Giai đoạn của chính tiến hóa.

b. The stage of the Probationary Path.

b. Giai đoạn của Con Đường Dự Bị.

c. The stage of the Path of Discipleship.

c. Giai đoạn của Con Đường Đệ Tử.

d. The stage of the Path of Initiation.

d. Giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo.

Yet it is one and the same entity which participates in and is responsible for all the differentiated aspects, steps and stages—experimenting, experiencing and expressing consciously in every one of these stages or modes of life, until the fourth initiation. Then consciousness itself gives place to life, and yet remains itself. To the above statement, add [477] the fact that it is the fourth kingdom in nature which undergoes all that is indicated above and is conditioned by the four aspects of the one sutratma. Once this is grasped, the beauty of the symbolism and the numerological relationships emerge significantly.

Tuy nhiên, đó vẫn là một và cùng một thực thể đang tham gia và chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh, các bước và các giai đoạn được phân biệt — thể nghiệm, trải nghiệm và biểu lộ một cách có ý thức trong từng giai đoạn hay phương thức sống này, cho đến lần điểm đạo thứ tư. Khi ấy, chính tâm thức được thay thế bởi sự sống, và tuy vậy vẫn giữ lại chính nó. Vào khẳng định trên, hãy bổ sung [477] thực tế rằng chính giới thứ tư trong thiên nhiên là giới trải qua tất cả những điều được chỉ ra ở trên và bị điều kiện hóa bởi bốn khía cạnh của một sutratma. Khi điều này được nắm bắt, vẻ đẹp của biểu tượng và các mối quan hệ số học sẽ hiện lộ một cách đầy ý nghĩa.

Webinar 37

The Construction of the Antahkarana…Past

In connection with this there is no need for elaboration, as it must be obvious that only the man who is the product of a very long and fruitful past experience is equipped to undertake the task of bridge building. The process involves much scientific experience in the art of living, and only the highly trained human enquirer can soundly and safely build the bridge between the highest and the lowest. Each of the major human races has been responsible for the expression and the employment of the threads which together form the antahkarana:

Liên quan đến điều này, không cần phải diễn giải dài dòng, vì rõ ràng rằng chỉ người nào là kết quả của một quá khứ rất dài và đầy thành quả mới được trang bị đầy đủ để đảm nhận nhiệm vụ xây dựng cây cầu. Tiến trình này bao hàm rất nhiều kinh nghiệm khoa học trong nghệ thuật sống, và chỉ người truy cầu nhân loại đã được huấn luyện cao mới có thể xây dựng cây cầu giữa cao và thấp một cách vững chắc và an toàn. Mỗi giống dân chính của nhân loại đều đã chịu trách nhiệm trong việc biểu hiện và sử dụng các sợi dây vốn cùng nhau tạo thành antahkarana:

1. In ancient Lemuria, the life thread, the sutratma per se, was the dominant factor in the life expression; the physical body, the animal form nature, and the dense outer factor was the focus of life exuberant, productive and vital.

1. Trong thời kỳ Lemuria cổ xưa, sợi dây sự sống, tức sutratma tự thân, là yếu tố chi phối trong sự biểu hiện của sự sống; thể xác, bản chất hình tướng thú vật, và yếu tố ngoại hiện đặc là trọng tâm của đời sống sung mãn, sinh động và mạnh mẽ.

2. In old Atlantis, the consciousness thread began to function in a way unrealised in Lemuria. Sensitivity, awareness and—as a result—desire and reaction were the keynotes. Active sensitivity as a prelude to full consciousness distinguished the human being. The astral vehicle was a controlling factor. The mind was relatively quiescent, except where the foremost members of the human race were concerned. The humanity of that world cycle were, however, all of them extremely psychic and mediumistic; they were “sensitives,” in the modern use of the term. The state of awareness was astral, and human beings were—as a race—clairaudient and clairvoyant, though in no way able to interpret that which they contacted; they were not able to distinguish astral phenomena from ordinary physical life (particularly in the middle period of their racial history), and the interpreting mind revealed nothing to them. They [478] simply lived and felt. Such was their life history. Two of the threads were functioning; one was not functioning at all. The bridge was not built.

2. Trong Atlantis xưa, sợi dây tâm thức bắt đầu vận hành theo cách mà ở Lemuria chưa từng có. Nhạy cảm, nhận thức và — kết quả là — dục vọng và phản ứng là những âm điệu chủ đạo. Sự nhạy cảm tích cực như là bước mở đầu cho tâm thức trọn vẹn là điều phân biệt con người. Thể cảm xúc là yếu tố chi phối. Trí tuệ tương đối yên tĩnh, trừ những trường hợp các thành viên tiên phong của nhân loại. Tuy nhiên, nhân loại trong chu kỳ thế giới đó hầu như đều rất có khả năng tâm linh và đồng cốt; họ là những “người nhạy cảm”, theo cách hiểu hiện đại của thuật ngữ này. Trạng thái nhận thức của họ là cảm dục, và với tư cách một chủng tộc, con người khi ấy là những người thông nhĩ và thông nhãn, tuy nhiên không hề có khả năng diễn giải những gì họ tiếp xúc được; họ không thể phân biệt hiện tượng cảm dục với đời sống vật chất thông thường (đặc biệt là trong giai đoạn giữa của lịch sử chủng tộc của họ), và trí tuệ diễn giải không hề hé lộ điều gì cho họ. Họ [478] đơn giản là sống và cảm nhận. Đó là lịch sử đời sống của họ. Hai sợi dây đã hoạt động; một sợi thì hoàn toàn chưa vận hành. Cây cầu chưa được xây dựng.

3. In our modern Aryan race—modern as far as racial histories are concerned—the third thread, the creative thread, comes into active expression and use. I would remind you that all these threads exist from the beginning of human existence, and that all these three streams of energy have been indissolubly present from the beginning of human consciousness. But for the greater part of human history, up to the present, men remained unaware of them, and quite unconsciously made use of and continued to make use of their presence. The process of recognising creative ability and of opportunity falls into two phases or stages:

3. Trong giống dân Arya hiện đại — gọi là hiện đại theo bối cảnh lịch sử chủng tộc — sợi dây thứ ba, sợi dây sáng tạo, bắt đầu được biểu hiện và sử dụng một cách tích cực. Tôi xin nhắc lại rằng tất cả các sợi dây này đã tồn tại từ khởi đầu của hiện hữu nhân loại, và rằng cả ba dòng năng lượng này đã hiện diện không thể tách rời từ khi tâm thức con người bắt đầu. Nhưng trong phần lớn lịch sử nhân loại cho đến nay, con người vẫn chưa nhận thức được chúng, và đã vô thức sử dụng cũng như tiếp tục sử dụng sự hiện diện của chúng. Tiến trình nhận biết năng lực sáng tạo và cơ hội được chia làm hai giai đoạn:

a. The stage wherein the mind principle is developed and unfolded and man becomes a mental creature. This produces the full activity of the mental unit, the integration of the three aspects of the personality, and the consequent awareness of the Son of Mind or soul.

a. Giai đoạn trong đó nguyên lý trí tuệ được phát triển và khai mở và con người trở thành một sinh linh trí tuệ. Điều này tạo ra hoạt động đầy đủ của đơn vị trí tuệ, sự tích hợp ba khía cạnh của phàm ngã, và sự nhận thức tương ứng về Đứa Con của Trí Tuệ hay linh hồn.

b. The stage of creative activity wherein the creative thread is brought into full use. This personality use of the thread—as distinguished from racial use—is characteristic of the Aryan race. It is only during the past five thousand years that it has gradually become the outstanding quality of mankind. In the other two races, and in the early stages of the Aryan race, although great creative monuments appeared everywhere upon the planet, they were not the product of the minds of the men of the time, but were the imposition of the creative will of the planetary Hierarchy upon those who were sensitive to the higher impression. The responsive sensitivity to creative impression was the outstanding quality of the later Atlantean consciousness and of the early Aryan period. It is today giving place to individual creativity, and consequently to the conscious creation of the bridging [479] antahkarana, which is the outcome of the fused and blended threefold thread.

b. Giai đoạn hoạt động sáng tạo trong đó sợi dây sáng tạo được đưa vào sử dụng hoàn toàn. Việc sử dụng sợi dây này bởi phàm ngã — khác biệt với việc sử dụng mang tính chủng tộc — là đặc điểm của giống dân Arya. Chỉ trong khoảng năm nghìn năm trở lại đây, điều này mới dần trở thành phẩm tính nổi bật của nhân loại. Trong hai giống dân trước đó, và trong các giai đoạn đầu của giống dân Arya, mặc dù các công trình sáng tạo vĩ đại đã xuất hiện khắp nơi trên hành tinh, chúng không phải là sản phẩm của trí tuệ con người thời đó, mà là sự áp đặt của ý chí sáng tạo từ Thánh đoàn hành tinh lên những ai nhạy cảm với ấn tượng cao siêu. Tính nhạy cảm đáp ứng với ấn tượng sáng tạo là đặc tính nổi bật của tâm thức Atlantis thời kỳ sau và của giai đoạn đầu giống dân Arya. Ngày nay, điều này đang nhường chỗ cho sự sáng tạo cá nhân, và do đó dẫn đến việc xây dựng có ý thức cây cầu antahkarana, vốn là kết quả của sợi dây ba phần đã được dung hợp và hòa quyện.

This brief summation of the past process is intended simply to give a synthetic background to all the work now to be done, and to convey to you an almost visual concept of the method whereby man has reached the stage of conscious life, of full self-awareness and creative expression. All of these were the expression of divine energy as it poured into his mechanism, via the silver thread of divine potency. This might be regarded as a threefold demonstration of the vertical life which becomes the horizontal life through the expression of creativity. Man then indeed becomes the Cross. When, however, he succeeds in constructing the rainbow bridge (which can only be done when man is upon the Fixed Cross), then finally the Cross gives place to the line. This takes place after the fourth initiation—that of the Crucifixion. There remains then only the vertical line “reaching from Heaven to Hell.” The goal of the initiate (between the fourth and the seventh initiations) is to resolve the line into the circle, and thus fulfill the law and the “rounding out” of the evolutionary process.

Bản tổng kết ngắn gọn về tiến trình trong quá khứ này nhằm đơn thuần cung cấp một bối cảnh tổng hợp cho toàn bộ công việc hiện nay phải thực hiện, và truyền đạt đến các bạn một hình ảnh gần như trực quan về phương pháp mà qua đó con người đã đạt đến giai đoạn sống có ý thức, tự thức trọn vẹn và biểu lộ sáng tạo. Tất cả những điều này là sự biểu hiện của năng lượng thiêng liêng khi nó tuôn đổ vào cơ cấu con người thông qua sợi dây bạc của quyền năng thiêng liêng. Điều này có thể được xem là một sự biểu hiện ba phần của đời sống theo chiều dọc, vốn trở thành đời sống theo chiều ngang thông qua biểu hiện của sự sáng tạo. Khi ấy, con người thực sự trở thành Thập Tự Giá. Tuy nhiên, khi con người thành công trong việc kiến tạo cây cầu cầu vồng (điều chỉ có thể thực hiện khi con người đang ở trên Thập Tự Giá Cố Định), thì cuối cùng Thập Tự Giá sẽ được thay thế bởi đường thẳng. Điều này xảy ra sau lần điểm đạo thứ tư — tức là lần đóng đinh. Khi ấy chỉ còn lại đường thẳng đứng “vươn từ Thiên đường đến Địa ngục.” Mục tiêu của điểm đạo đồ (giữa lần điểm đạo thứ tư và thứ bảy) là biến đường thẳng ấy thành vòng tròn, và như thế hoàn thành luật và việc “làm tròn đầy” tiến trình tiến hóa.

Another summation of the entire process may be found in the lines from Stanzas for Disciples which I gave out some time ago (June 1930) and which will also be found elsewhere in this volume.

Một bản tổng kết khác về toàn bộ tiến trình này có thể được tìm thấy trong các dòng thơ Stanzas for Disciples mà tôi đã ban ra từ lâu (tháng 6 năm 1930) và sẽ được tìm thấy ở nơi khác trong tập sách này.

“In the Cross is hidden Light. The vertical and horizontal in mutual friction creates a vibrant Cross scintillates, and motion originates. When the vertical assumes the horizontal, pralaya supervenes. Evolution is the movement of the horizontal to upright positiveness. In the secret of direction lies the hidden wisdoms in the doctrine of absorption lies the healing faculty in the point becoming the line, and the line becoming the cross is evolution. In the cross swinging to the horizontal lies salvation and pralayic peace.”

“Trong Thập Tự Giá ẩn giấu Ánh Sáng. Trục dọc và ngang trong sự ma sát hỗ tương tạo nên Thập Tự Giá sống động chói lòa, và chuyển động khởi sinh. Khi trục dọc trở thành trục ngang, pralaya xuất hiện. Tiến hóa là sự chuyển động từ chiều ngang sang tư thế thẳng đứng đầy khẳng quyết. Trong bí mật của phương hướng nằm ẩn các minh triết; trong giáo lý hấp thu nằm khả năng chữa lành; trong điểm trở thành đường, và đường trở thành thập tự là tiến hóa. Trong Thập Tự xoay về phương ngang nằm sự cứu rỗi và an bình pralaya.”

It might be said that few, very few, people are today at the Lemurian stage of consciousness wherein the life thread, [480] with its physical implications, is the dominant factor. Many, very many, people are at the Atlantean stage of development of “auric sensitivity.” A few—a very few in comparison with the untold masses of human beings—are utilising the results of the triple construction of energy within their own aura of awareness and their area of influence, in order to build, construct and utilise the bridge which links the various aspects of the mental plane. These three aspects they must employ simultaneously, and then later supersede them in such a manner that personality and ego disappear and only the Monad and its form upon the physical plane remain. In this connection, my earlier statement on the nature of form may be useful and lead to increased insight and understanding:

Có thể nói rằng rất ít, rất rất ít người hiện nay còn ở giai đoạn tâm thức Lemuria, nơi mà sợi dây sự sống [480] cùng với các hàm ý vật chất của nó là yếu tố chi phối. Rất nhiều, rất rất nhiều người đang ở giai đoạn Atlantis của sự “nhạy cảm hào quang.” Một số ít — rất ít so với vô số khối quần chúng nhân loại — đang sử dụng kết quả của sự kiến tạo năng lượng ba phần trong chính hào quang nhận thức và vùng ảnh hưởng của họ, nhằm kiến tạo, xây dựng và vận dụng cây cầu nối kết các khía cạnh khác nhau của cõi trí. Ba khía cạnh này họ phải sử dụng đồng thời, và rồi sau đó vượt lên trên chúng theo cách mà cả phàm ngã lẫn bản ngã đều biến mất, và chỉ còn lại Chân Thần cùng hình tướng của Ngài trên cõi trần. Liên quan đến điều này, phát biểu trước đó của tôi về bản chất của hình tướng có thể hữu ích và dẫn đến cái nhìn sâu sắc và sự thấu hiểu ngày càng tăng:

The physical plane is a complete reflection of the mental; the lowest three subplanes reflect the abstract subplanes, and the four etheric subplanes reflect the four mental concrete planes. The manifestation of the Ego on the mental plane for the causal body) is not the result of energy emanating from the permanent atoms as a nucleus of force, but is the result of different forces, and primarily of group force. It is predominantly marked by an act of an exterior force, and is lost in the mysteries of planetary karma. This is equally true of man’s lowest manifestations. It is the result of reflex action, and is based on the force of the group of etheric centres through which man (as an aggregate of lives) is functioning. The activity of these centres sets up an answering vibration in the three lowest subplanes of the physical plane, and the interaction between the two causes an adherence to or aggregation around, the etheric body of particles of what we erroneously term ‘dense substance.’ This type of energised substance is swept up in the vortex of force currents issuing from the centres and cannot escape. These units of force, therefore, pile up according to the energy direction around and within the etheric sheath till it is hidden and concealed, yet interpenetrating. An inexorable law, the law of matter itself, brings this [481] about, and only those can escape the effect of the vitality of their own centres who are definitely ‘Lords of Yoga’ and can—through the conscious will of their own being—escape the compelling force of the Law of Attraction working on the lowest cosmic physical subplane.

Cõi trần là một sự phản chiếu hoàn toàn của cõi trí; ba phân cảnh thấp nhất phản ánh các phân cảnh trừu tượng, và bốn phân cảnh khí chất phản ánh bốn phân cảnh trí cụ thể. Sự biểu hiện của Bản ngã trên cõi trí (tức là thể nhân quả) không phải là kết quả của năng lượng phát ra từ các nguyên tử trường tồn như một hạch nhân của mãnh lực, mà là kết quả của những mãnh lực khác nhau, và chủ yếu là của mãnh lực nhóm. Nó được đánh dấu rõ rệt bởi hành động của một mãnh lực bên ngoài, và bị che giấu trong các huyền nhiệm của nghiệp quả hành tinh. Điều này cũng đúng với các biểu hiện thấp nhất của con người. Đó là kết quả của phản ứng phản chiếu, và được đặt nền trên mãnh lực của nhóm các trung tâm khí chất thông qua đó con người (với tư cách là một tổng thể của các đơn vị sống) đang hoạt động. Hoạt động của các trung tâm này tạo ra một rung động đáp ứng trong ba phân cảnh thấp nhất của cõi trần, và sự tương tác giữa hai bên gây ra một sự bám dính hoặc sự tụ hợp quanh thể dĩ thái các hạt chất mà chúng ta lầm gọi là “chất đặc.” Loại chất được tiếp năng lượng này bị cuốn vào trong xoáy năng lượng phát xuất từ các trung tâm và không thể thoát ra. Do đó, các đơn vị mãnh lực này tích tụ lại tùy theo hướng năng lượng xung quanh và bên trong thể dĩ thái cho đến khi thể này bị che lấp, ẩn tàng, tuy vẫn xuyên thấu. Một định luật không thể lay chuyển, định luật của chính vật chất, mang lại điều này [481], và chỉ những ai thực sự là “Chúa Tể của Yoga” và có thể — thông qua ý chí có ý thức của bản thể họ — thoát khỏi mãnh lực bắt buộc của Định Luật Hấp Dẫn đang hoạt động trên phân cảnh thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ mới có thể vượt thoát hiệu ứng của sinh lực từ chính các trung tâm của mình.

A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGE 789

(A Treatise on Cosmic Fire, trang 789)

Webinar 38

I have earlier told you that the astral body is an illusion. It is eventually discovered to be nonexistent by the man who has achieved the consciousness of the initiate. When buddhi reigns, the lower psychic nature fades out.

Trước đây tôi đã nói với các bạn rằng thể cảm dục là một ảo tưởng. Nó rốt cuộc được người đã đạt đến tâm thức điểm đạo phát hiện là không tồn tại. Khi bồ đề ngự trị, bản chất tâm linh thấp hơn mờ dần đi.

When the antahkarana is built, and the mental unit is superseded by the manasic permanent atom, and the causal body disappears, then the adept knows that the lower mind, the mental body, is also an illusion and is, for him, non-existent. There are then—as far as his individual consciousness is concerned—only three focal points or anchorages (both of these expressions are inadequate to express the full meaning):

Khi antahkarana được xây dựng, và đơn vị trí tuệ được thay thế bởi nguyên tử trường tồn manasic, và thể nhân quả biến mất, khi ấy vị đạo đồ biết rằng trí tuệ thấp, thể trí, cũng là một ảo tưởng và đối với y không còn tồn tại. Khi đó — xét theo phương diện tâm thức cá nhân của y — chỉ còn ba điểm tập trung hay neo đậu (cả hai cách diễn đạt này đều không đủ để truyền tải trọn vẹn ý nghĩa):

1. Humanity, in which he can focus himself at will through the medium of what is called technically the “mayavirupa”—a bodily form which he creates for the fulfillment of monadic purpose.

1. Nhân loại, trong đó y có thể tập trung bản thân theo ý muốn thông qua trung giới của điều mà về mặt kỹ thuật được gọi là “mayavirupa” — một hình thể thể xác mà y tạo ra để thực hiện Thiên Ý của Chân Thần.

He then fully expresses all the energies of the Mutable Cross.*

Khi đó y hoàn toàn biểu lộ tất cả các năng lượng của Thập Giá Biến Đổi.

2. The Hierarchy. Here, as a focussed unit of all-inclusive buddhic awareness, he finds his place and mode of service, conditioned by his monadic ray.

2. Thánh đoàn. Tại đây, như một đơn vị tập trung của nhận thức Bồ đề bao trùm mọi sự, y tìm thấy vị trí và phương thức phụng sự của mình, được điều kiện hóa bởi cung của Chân Thần y.

He then expresses the values of the Fixed Cross *

Khi đó y biểu lộ các giá trị của Thập Giá Cố Định.

3. Shamballa. This is his highest point of focus, the goal of the exertions of all initiates of the higher degrees and the source of the sutratma, through which (and its differentiations) he can now consciously work.

3. Shamballa. Đây là điểm tập trung cao nhất của y, là mục tiêu của mọi nỗ lực của các điểm đạo đồ thuộc các cấp cao hơn và là nguồn của sutratma, thông qua đó (và các phân biệt của nó) y giờ đây có thể làm việc một cách có ý thức.

Here he finds himself still crucified, but on the Cardinal Cross*.

Tại đây y nhận thấy mình vẫn còn bị đóng đinh, nhưng trên Thập Giá Chủ Yếu.

*(A Treatise on the Seven Rays, Vol III, Esoteric Astrology, Chapter VI.)

(Luận về Bảy Cung, Tập III, Chiêm Tinh Học Nội Môn, Chương VI.)

The task with which the human being in all his stages [482] of unfoldment has been occupied might therefore be stated to be the bridging of the gap between:

Nhiệm vụ mà con người, qua tất cả các giai đoạn [482] khai mở của mình, đã và đang đảm nhận có thể được tuyên bố là bắc cầu khoảng cách giữa:

1. The Mutable Cross and the Fixed Cross.

1. Thập Giá Biến Đổi và Thập Giá Cố Định.

2. Humanity and the Hierarchy.

2. Nhân loại và Thánh đoàn.

3. The lower triplicity, the personality, and the Spiritual Triad.

3. Bộ ba thấp, tức là phàm ngã, và Tam nguyên tinh thần.

4. The Monad on its own plane and the outer objective world.

4. Chân Thần trên cõi riêng của nó và thế giới khách quan bên ngoài.

This he does through a process of Intention, Visualisation, Projection, Invocation and Evocation, Stabilisation and Resurrection. With these various stages, we will now deal.

Điều này y thực hiện thông qua tiến trình của Ý Định, Quán Tưởng, Phóng Chiếu, Khẩn Nguyện và Khơi Gợi, Ổn Định và Phục Sinh. Chúng ta sẽ bàn đến các giai đoạn khác nhau này ngay sau đây.

The Construction of the Antahkarana in the Aryan Race. Present

Việc Xây Dựng Antahkarana trong Giống Dân Arya. Hiện tại

I would like to pause here and make a few remarks anent this relatively new process of building the antahkarana. It has been known and followed by those who were training for affiliation with the Hierarchy, but it has not been given out before to the general public. There are two things which it is essential that the student should note: one is that unless it is borne in mind that we are concerned with energy, and with energy which must be scientifically used, this whole teaching will prove futile. Secondly, it must be remembered that we are dealing with a technique and process which are dependent upon the use of the creative imagination. When these two factors are brought together (consciously and deliberately)—the factor of energy substance and the factor of planned impulse—you have started a creative process which will be productive of major results. The human being lives in a world of varied energies which are sometimes expressing themselves as dynamic, positive energies, as receptive, negative energies, or as magnetic, attractive forces. An understanding of this statement will substantiate that made by H.P.B. that “matter is spirit at its lowest point,” and the reverse is equally true. The whole process is one of establishing constructive relations between negative and positive energies and the subsequent production of magnetic force. This is the creative [483] process. It is true of the activity of a solar Logos, of a planetary Logos and of a human being—the only conscious creators in the universe. It must prove true of the disciple, who is attempting to bring into a constructive relation the Monad and the human expression in the three worlds of human evolution.

Tôi muốn tạm dừng tại đây và đưa ra vài nhận xét liên quan đến tiến trình tương đối mới mẻ này—xây dựng antahkarana. Nó đã được biết đến và được thực hành bởi những ai đang được huấn luyện để gia nhập Thánh đoàn, nhưng chưa từng được phổ biến ra công chúng rộng rãi trước đây. Có hai điều mà học viên cần phải đặc biệt lưu ý: thứ nhất, nếu không ghi nhớ rằng chúng ta đang nói đến năng lượng, và đến năng lượng cần phải được sử dụng một cách khoa học, thì toàn bộ giáo lý này sẽ trở nên vô ích. Thứ hai, cần nhớ rằng chúng ta đang bàn đến một kỹ thuật và một tiến trình vốn phụ thuộc vào việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo. Khi hai yếu tố này được kết hợp lại (một cách có ý thức và chủ đích)—yếu tố chất liệu năng lượng và yếu tố xung lực được hoạch định—thì bạn đã khởi đầu một tiến trình sáng tạo có thể mang lại những kết quả trọng yếu. Con người sống trong một thế giới của các loại năng lượng đa dạng, đôi khi biểu lộ như những năng lượng động, tích cực; như những năng lượng tiếp nhận, tiêu cực; hoặc như những lực từ tính, lôi cuốn. Hiểu được mệnh đề này sẽ xác nhận phát biểu của H.P.B. rằng “vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó,” và điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng. Toàn bộ tiến trình là việc thiết lập các mối quan hệ có tính kiến tạo giữa các năng lượng âm và dương, và việc sản sinh mãnh lực từ tính tiếp theo sau đó. Đây chính là tiến trình sáng tạo [483]. Điều này đúng với hoạt động của một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế, và một con người—ba đối tượng sáng tạo có ý thức duy nhất trong vũ trụ. Điều đó cũng phải trở thành sự thật với người đệ tử, người đang cố gắng kiến tạo một mối liên hệ kiến tạo giữa Chân Thần và biểu lộ nhân loại của y trong ba cõi của sự tiến hóa nhân loại.

There has been much emphasis upon the life of the soul and its expression upon the physical plane; this has been necessary and a part of the evolutionary development of the human consciousness. The kingdom of souls must eventually give place to the rule of the spirit; the energy of the Hierarchy must become a force, receptive to the energy of Shamballa, just as the force of humanity has to become receptive to the energy of the kingdom of souls. Today all three processes are going on simultaneously, though the receptivity of the Hierarchy to the second aspect of the Shamballa energy is only now beginning to be recognisable. The Hierarchy has for long been receptive to the third or creative aspect of the Shamballa energy, and—at some very distant period—it will be responsive to the first aspect of that same energy. The triple nature of the divine manifestation must also express itself as a duality. This can be understood in a faint way when the disciple realises that (after the third initiation) he too must learn to function as a duality—Monad (spirit) and form (matter)—in direct rapport with the consciousness aspect, the mediating soul being absorbed into both of these two aspects of divine expression, but not functioning itself as a middle factor. When this has been achieved, the true nature of Nirvana will be comprehended, the beginning of that endless Way which leads to the One; this is the Way whereon duality is resolved into unity, the Way that Members of the Hierarchy are seeking to tread and for which They are preparing.

Đã có rất nhiều nhấn mạnh vào sự sống của linh hồn và biểu hiện của nó trên cõi trần; điều này là cần thiết và là một phần trong sự khai mở tiến hóa của tâm thức con người. Giới linh hồn cuối cùng phải nhường chỗ cho sự cai quản của tinh thần; năng lượng của Thánh đoàn phải trở thành một mãnh lực tiếp nhận năng lượng của Shamballa, cũng giống như mãnh lực của nhân loại phải trở nên tiếp nhận năng lượng của giới linh hồn. Ngày nay, cả ba tiến trình đó đang đồng thời diễn ra, mặc dù khả năng tiếp nhận của Thánh đoàn đối với khía cạnh thứ hai của năng lượng Shamballa chỉ mới bắt đầu được nhận ra. Thánh đoàn từ lâu đã tiếp nhận khía cạnh thứ ba hay khía cạnh sáng tạo của năng lượng Shamballa, và—vào một thời kỳ rất xa trong tương lai—sẽ đáp ứng với khía cạnh thứ nhất của năng lượng đó. Bản chất ba ngôi của sự biểu hiện thiêng liêng cũng phải tự biểu lộ như một nhị nguyên. Điều này có thể được hiểu một cách lờ mờ khi người đệ tử nhận ra rằng (sau lần điểm đạo thứ ba) y cũng phải học cách hoạt động như một nhị nguyên—Chân Thần (tinh thần) và hình thể (vật chất)—trong mối liên hệ trực tiếp với khía cạnh tâm thức, trong đó linh hồn trung giới được hấp thụ vào cả hai khía cạnh biểu hiện thiêng liêng này, nhưng bản thân nó không còn hoạt động như một yếu tố trung gian nữa. Khi điều này đạt được, bản chất thực sự của Niết-bàn sẽ được lĩnh hội, là khởi đầu của Con Đường bất tận dẫn đến Đấng Duy Nhất; đây chính là Con Đường mà các Thành Viên của Thánh đoàn đang nỗ lực bước đi và đang chuẩn bị để bước đi.

Webinar 39

The initial step towards bringing about this dualism is the building of the antahkarana, and this is consciously undertaken only when the disciple is preparing for the second initiation. As I have already said, there are literally [484] thousands so preparing, because it can be assumed that all earnest and true aspirants and disciples who work undeviatingly for spiritual advancement (with pure motive), and who are oriented unswervingly towards the soul, have taken the first initiation. This simply connotes the birth of the infant Christ within the heart, speaking symbolically. There should be many who are preparing to begin this task of building the rainbow bridge and who, under the influence of the Ageless Wisdom, are grasping the necessity and the importance of the revelation which this process conveys. What I am here writing has, therefore, a definite and useful purpose. My task has been for a long time the giving out, in book form, information anent the next stage of intelligent and spiritual recognition for humanity. Therefore, again, the understanding of the method of building the antahkarana is essential if humanity is to move forward as planned, and in this moving forward the disciples and aspirants must and do form the vanguard. Humanity will awaken steadily and as a whole to the incoming spiritual urge; an overwhelming impulse towards spiritual light and towards a major orientation will take place. Just as the individual disciple has to reverse himself upon the wheel of life and tread the Way counter-clockwise, so must humanity; and so humanity will. The two-thirds who will make the goal of evolution in this world cycle are already beginning to do so.

Bước đầu tiên nhằm thực hiện nhị nguyên này là xây dựng antahkarana, và điều này chỉ được thực hiện một cách có ý thức khi người đệ tử chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai. Như tôi đã nói trước đây, thực sự có [484] hàng ngàn người đang chuẩn bị cho điều đó, bởi có thể giả định rằng tất cả những người chí nguyện và đệ tử chân thành, nghiêm túc, làm việc không lay chuyển cho sự tiến bộ tinh thần (với động cơ trong sáng), và kiên định hướng về linh hồn, đều đã nhận lần điểm đạo thứ nhất. Điều này đơn giản có nghĩa là sự khai sinh của Chúa Hài Đồng bên trong trái tim, nói một cách biểu tượng. Phải có nhiều người đang chuẩn bị bắt đầu nhiệm vụ xây dựng cây cầu cầu vồng này và những người, dưới ảnh hưởng của Minh Triết Ngàn Đời, đang nắm bắt được sự cần thiết và tầm quan trọng của mặc khải mà tiến trình này mang lại. Những gì tôi đang viết ở đây, do đó, mang một mục đích rõ ràng và hữu ích. Nhiệm vụ của tôi từ lâu nay là truyền đạt, dưới dạng sách vở, những thông tin liên quan đến giai đoạn kế tiếp trong sự nhận biết thông minh và tinh thần của nhân loại. Do đó, một lần nữa, việc hiểu biết phương pháp xây dựng antahkarana là điều thiết yếu nếu nhân loại muốn tiến bước theo như Thiên Cơ, và trong tiến trình tiến bước này, các đệ tử và người chí nguyện phải và đang tạo thành lực lượng tiên phong. Nhân loại sẽ dần thức tỉnh, và như một tổng thể, trước xung lực tinh thần đang đến; sẽ xảy ra một xung động mạnh mẽ hướng đến ánh sáng tinh thần và một định hướng lớn lao. Cũng như người đệ tử cá nhân phải tự đảo chiều trên bánh xe cuộc sống và bước đi ngược chiều kim đồng hồ, thì nhân loại cũng vậy; và nhân loại sẽ làm như thế. Hai phần ba trong số họ—những người sẽ đạt đến mục tiêu tiến hóa trong chu kỳ thế gian này—đã bắt đầu làm điều đó.

In the process, however, the third divine aspect—that of the Creative Actor—comes into activity. It was so in the creative process where the tangible universe was concerned. It must also be when the individual disciple becomes the creating agent. For aeons, he has built and has used his vehicles of manifestation in the three worlds. Then came a time when advanced people began to create upon the mental plane; they dreamed dreams; they saw a vision; they contacted intangible beauty; they touched the Mind of God and returned to earth with an idea. To this idea they gave form and became creators upon the mental planet they became artists in some form of creative effort. In the task [485] of building the antahkarana the disciple has to work also on mental levels, and that which he there constructs will be of so fine a substance that it may not and cannot appear on physical levels. Because of his fixed orientation, that which he builds will “move upwards toward the centre of life,” and not “downwards toward the centre of consciousness or toward light appearance.”

Tuy nhiên, trong tiến trình đó, khía cạnh thiêng liêng thứ ba—khía cạnh của Đấng Sáng Tạo—bắt đầu đi vào hoạt động. Điều này đã từng xảy ra trong tiến trình sáng tạo liên quan đến vũ trụ hữu hình. Và điều đó cũng phải xảy ra khi người đệ tử cá nhân trở thành tác nhân sáng tạo. Trong vô số kiếp, y đã xây dựng và sử dụng các thể biểu lộ của mình trong ba cõi giới. Rồi đến một thời điểm, khi những con người tiến hóa bắt đầu sáng tạo trên cõi trí; họ mơ những giấc mơ; họ thấy những thị kiến; họ tiếp xúc với vẻ đẹp vô hình; họ chạm vào Trí Tuệ của Thượng đế và quay về trần gian với một ý tưởng. Cho ý tưởng đó, họ ban cho hình tướng và trở thành những người sáng tạo trên cõi trí; họ trở thành các nghệ sĩ trong một hình thức sáng tạo nào đó. Trong nhiệm vụ [485] xây dựng antahkarana, người đệ tử cũng phải làm việc trên các tầng trí, và điều mà y kiến tạo nơi đó sẽ được hình thành từ chất liệu tinh tế đến mức không thể và sẽ không thể biểu lộ trên các cõi trần. Do định hướng vững chắc của mình, điều y xây dựng sẽ “vươn lên hướng về trung tâm của sự sống,” chứ không “hạ xuống hướng về trung tâm của tâm thức hay hướng đến sự biểu hiện ánh sáng.”

Herein lies the difficulty for the beginner. He has, so to speak, to work in the dark, and is not in a position to verify the existence of that which he is attempting to construct. His physical brain is unable to register his creation as an accomplished fact. He has to depend entirely upon the proved technique of the work outlined, and to proceed by faith. The only evidence of success may be slow in coming, for the sensitivity of the brain is involved, and frequently where there is very real success the brain cells are not of the calibre which can register it. The possible evidences at this stage may be a flash of the spiritual intuition or the sudden realisation of the will-to-good in a dynamic and group form; it may also be simply an ability to understand and to make others understand certain spiritual and occult fundamentals; it may be a “facility of revelation,” both receptive and conditioning or distributing, and so world effective.

Đây chính là chỗ khó khăn cho người mới bắt đầu. Y, có thể nói như vậy, phải làm việc trong bóng tối, và không ở vào vị thế có thể xác minh sự tồn tại của điều mà y đang cố gắng kiến tạo. Bộ não thể xác của y không thể ghi nhận sự kiến tạo đó như một sự kiện đã hoàn tất. Y phải hoàn toàn dựa vào kỹ thuật đã được xác minh của công việc đã được vạch ra, và tiến bước bằng đức tin. Bằng chứng duy nhất về sự thành công có thể sẽ đến chậm, vì mức độ nhạy cảm của bộ não có liên quan, và thường thì, ngay cả khi có thành công thực sự, các tế bào não cũng không đủ phẩm chất để có thể ghi nhận điều đó. Những bằng chứng có thể có ở giai đoạn này có thể là một tia lóe sáng của trực giác tinh thần hoặc sự nhận thức đột ngột về Ý Chí-hướng Thiện trong một hình thức mang tính động lực và tập thể; nó cũng có thể đơn giản là khả năng hiểu biết và làm cho người khác hiểu được một số nền tảng tinh thần và huyền môn; nó có thể là một “năng lực mặc khải,” vừa có tính tiếp nhận vừa có tính điều kiện hay phân phối, và vì vậy mà có hiệu quả trên thế gian.

I am attempting to make a very abstruse subject clear, and words prove inadequate. I can but outline to you process and method and a consequent hope for the future; on your side, you can only experiment, obey, have confidence in the experience of those who teach, and then wait patiently for results.

Tôi đang cố gắng làm rõ một đề tài hết sức trừu tượng, và ngôn ngữ tỏ ra không đủ. Tôi chỉ có thể phác thảo cho các bạn tiến trình và phương pháp, cùng với một hy vọng hệ quả dành cho tương lai; còn về phía các bạn, các bạn chỉ có thể thực hành thử nghiệm, tuân theo, đặt niềm tin vào kinh nghiệm của những người giảng dạy, và sau đó kiên nhẫn chờ đợi kết quả.

The Six Stages of the Building Process

I have employed six words to express this process and its resultant condition. It might prove useful to study them from the angle of their occult significance—a significance which is not usually apparent except to the trained disciple who has been taught to penetrate into the world of meaning and to see interpretations not apparent to the neophyte. [486] Perhaps by the time we have investigated these words, the method of construction and the means whereby the antahkarana is built will appear with greater clarity.

Tôi đã sử dụng sáu từ để diễn đạt tiến trình này và trạng thái kết quả của nó. Có thể sẽ hữu ích nếu nghiên cứu chúng dưới góc độ thâm nghĩa huyền môn—một ý nghĩa thường không rõ ràng trừ phi đối với người đệ tử đã được huấn luyện để thâm nhập vào thế giới của ý nghĩa và thấy được những diễn giải mà người sơ học không thể nhận ra được [486]. Có lẽ khi chúng ta đã khảo sát những từ này, phương pháp kiến tạo và các phương tiện qua đó antahkarana được xây dựng sẽ trở nên sáng tỏ hơn.

These words cover a building technique or a process of energy manipulation which brings into being a rapport between the Monad and a human being who is aspiring towards full liberation and is treading the Path of Discipleship and Initiation; it can create a channel of light and life between the higher and the lower divine aspects and can produce a bridge between the world of spiritual life and the world of daily physical plane living. It is a technique for producing the highest form of dualism and of eliminating the threefold expression of divinity, thereby intensifying the divine expression and bringing man nearer to his ultimate goal. Disciples must always remember that soul consciousness is an intermediate stage. It is also a process whereby—from the angle of the subhuman kingdoms in nature—humanity itself becomes the divine intermediary and the transmitter of spiritual energy to those lives whose stages of consciousness are below that of self-consciousness. Humanity becomes to these lives—in their totality—what the Hierarchy is to humanity. This service only becomes possible when a sufficient number of the human race are distinguished by the knowledge of the higher duality and are increasingly soul-conscious and not just self-conscious. They can then make this transmission possible, and it is done by means of the antahkarana.

Những từ này bao quát một kỹ thuật kiến tạo hoặc một tiến trình thao tác năng lượng mà qua đó tạo ra được một mối tương quan giữa Chân Thần và con người đang khao khát đạt tới sự giải thoát toàn diện và đang bước đi trên Con Đường Đệ Tử và Điểm Đạo; nó có thể tạo ra một kênh ánh sáng và sự sống giữa hai phương diện thiêng liêng—thượng và hạ, và có thể kiến tạo một cây cầu nối giữa thế giới sự sống tinh thần và thế giới sinh hoạt hằng ngày trên cõi trần. Đây là một kỹ thuật để sản sinh hình thức cao nhất của nhị nguyên và loại bỏ sự biểu hiện tam phân của thiên tính, nhờ đó làm tăng cường biểu hiện thiêng liêng và đưa con người đến gần mục tiêu tối hậu của mình hơn. Các đệ tử luôn phải nhớ rằng tâm thức linh hồn chỉ là một giai đoạn trung gian. Đây cũng là một tiến trình mà—dưới góc nhìn từ các giới tiền nhân loại trong thiên nhiên—nhân loại trở thành trung giới thiêng liêng và là kẻ truyền dẫn năng lượng tinh thần đến các sự sống có mức tâm thức thấp hơn tâm thức tự ý thức. Nhân loại trở thành, đối với tổng thể những sự sống này, điều mà Thánh đoàn là đối với nhân loại. Sự phụng sự này chỉ trở nên khả thi khi có đủ số người trong nhân loại được phân biệt bởi sự hiểu biết về nhị nguyên cao hơn và ngày càng ý thức về linh hồn, chứ không chỉ đơn thuần có tâm thức bản ngã. Lúc đó, họ có thể thực hiện được sự truyền dẫn này, và điều đó được thực hiện nhờ vào antahkarana.

Webinar 40

Let us, therefore, take these six aspects of a basic building technique and endeavour to arrive at their occult and creative significance.

Vậy nên, chúng ta hãy xét sáu phương diện này của một kỹ thuật kiến tạo nền tảng và nỗ lực nắm bắt ý nghĩa huyền môn và sáng tạo của chúng.

1. Intention. By this is not meant a mental decision, wish or determination. The idea is more literally the focussing of energy upon the mental plane at the point of greatest possible tension. It signifies the bringing about of a condition in the disciple’s consciousness which is analogous to that of the Logos when—on His much vaster scale—He concentrated within a ring-pass-not (defining His desired [487] sphere of influence) the energy-substance needed to carry out His purpose in manifesting. This the disciple must also do, gathering his forces (to use a common expression) into the highest point of his mental consciousness and holding them there in a state of absolute tension. You can now see the purpose lying behind some of the meditation processes and techniques as embodied in the words so often used in the meditation outlines: “raise the consciousness to the head centre”; “hold the consciousness at the highest possible point”; “endeavour to hold the mind steady in the light”; and many similar phrases. They are all concerned with the task of bringing the disciple to the point where he can achieve the desired point of tension and of energy-focussing. This will enable him to begin the conscious task of constructing the antahkarana. It is this thought which really lies unrecognised behind the word “intention,” used so often by Roman Catholics and Anglo-Catholics when preparing candidates for communion. They indicate a different direction, however, for the orientation they desire is not that towards the Monad or spirit, but towards the soul, in an effort to bring about better character equipment in the personality and an intensification of the mystical approach.

1. Ý định (Intention). Ở đây không có nghĩa là một quyết định trí tuệ, một ước muốn hay một sự quyết tâm. Ý niệm này chính xác hơn là việc tập trung năng lượng trên cõi trí tại điểm căng thẳng cao nhất có thể đạt được. Nó biểu thị sự tạo lập một trạng thái trong tâm thức người đệ tử tương đồng với trạng thái của Logos khi—ở một quy mô vĩ đại hơn vô cùng—Ngài đã tập trung, trong một vòng-giới-hạn (xác định phạm vi ảnh hưởng mong muốn của Ngài), chất liệu-năng lượng cần thiết để thực hiện Thiên Ý trong sự biểu lộ. Người đệ tử cũng phải làm điều tương tự, gom tụ các mãnh lực của y (dùng một cách nói thông thường) vào điểm cao nhất trong tâm thức trí tuệ của mình và duy trì chúng ở đó trong một trạng thái căng thẳng tuyệt đối. Giờ đây các bạn có thể thấy được mục đích ẩn sau một số tiến trình và kỹ thuật tham thiền được thể hiện trong những cụm từ thường xuyên được dùng trong các sơ đồ tham thiền: “nâng tâm thức lên trung tâm đầu,” “duy trì tâm thức tại điểm cao nhất có thể,” “nỗ lực giữ cho trí tuệ an định trong ánh sáng,” và nhiều cụm từ tương tự. Tất cả đều liên quan đến nhiệm vụ đưa người đệ tử đến điểm mà y có thể đạt được mức căng thẳng và sự tập trung năng lượng như mong muốn. Chính tư tưởng này thực ra là ẩn tàng phía sau từ “ý định,” vốn được dùng thường xuyên bởi các tín đồ Công giáo La Mã và Anh giáo khi chuẩn bị ứng viên cho nghi lễ hiệp thông. Tuy nhiên, họ hướng theo một định hướng khác, bởi vì điều họ mong muốn không phải là hướng về Chân Thần hay tinh thần, mà là hướng về linh hồn, trong nỗ lực phát triển các phẩm tính tốt đẹp hơn nơi phàm ngã và làm sâu sắc hơn lối tiếp cận huyền bí.

In the “intention” of the disciple who is consciously occupied with the rainbow bridge, the first necessary steps are:

Trong “ý định” của người đệ tử đang một cách có ý thức dấn thân vào nhiệm vụ kiến tạo cầu vồng, các bước đầu tiên cần thiết là:

a. The achievement of right orientation; and this must take place in two stages: first, towards the soul as one aspect of the building energy, and second, towards the Triad.

a. Đạt được sự định hướng đúng đắn; và điều này phải diễn ra trong hai giai đoạn: đầu tiên, hướng về linh hồn như một phương diện của năng lượng xây dựng; và kế đến, hướng về Tam nguyên tinh thần.

b. A mental understanding of the task to be carried out. This involves the use of the mind in two ways: responsiveness to buddhic or intuitional impression and an act of the creative imagination.

b. Hiểu biết về mặt trí tuệ đối với nhiệm vụ cần thực hiện. Điều này bao gồm việc sử dụng trí tuệ theo hai cách: đáp ứng với ấn tượng Bồ đề hay trực giác, và hành động của trí tưởng tượng sáng tạo.

c. A process of energy gathering or of force absorption. in order that the needed energies are confined within a mental ring-pass-not, prior to the later process of visualisation and projection. [488]

c. Một tiến trình tụ hội năng lượng hoặc hấp thụ mãnh lực, nhằm mục đích giới hạn các năng lượng cần thiết trong một vòng-giới-hạn trên cõi trí, trước khi tiến tới tiến trình quán tưởng và phóng chiếu sau đó. [488]

d. A period of clear thinking anent process and intention. so that the dedicated bridge-builder may clearly perceive what is being done.

d. Một giai đoạn suy nghĩ rõ ràng liên quan đến tiến trình và ý định, để người kiến tạo cầu có tâm nguyện có thể nhận thức rõ ràng điều đang được thực hiện.

e. The steady preservation of tension without undue physical strain upon the brain cells.

e. Duy trì trạng thái căng thẳng đều đặn mà không gây căng thẳng quá mức đối với các tế bào não thể xác.

When this has been accomplished there will be found to be present a focal point of mental energy which previously had been nonexistent; the mind will be held steady in the light, and there will also be the alignment of a receptive attentive personality and a soul oriented towards the personality and in a state of constant, directed perception. I would remind you that the soul (as it lives its own life on its own level of awareness) is not always constantly aware of its shadow, the personality, in the three worlds. When the antahkarana is being built, this awareness must be present alongside the intention of the personality.

1. Khi điều này đã được thực hiện, sẽ thấy xuất hiện một điểm tiêu biểu của năng lượng trí tuệ mà trước đây chưa hề tồn tại; trí tuệ sẽ được giữ vững trong ánh sáng, và sẽ có sự chỉnh hợp giữa một phàm ngã tiếp nhận và chú tâm với một linh hồn hướng về phàm ngã và ở trong trạng thái tri nhận liên tục, có định hướng. Tôi muốn nhắc các bạn rằng linh hồn (khi sống đời sống riêng của nó trên cấp độ nhận thức riêng của nó) không phải lúc nào cũng luôn luôn nhận biết cái bóng của mình, tức là phàm ngã, trong ba cõi. Khi sợi dây antahkarana đang được kiến tạo, sự nhận biết này phải hiện diện song hành cùng với ý định của phàm ngã.

2. Visualisation. Up to this point the activity has been of a mental nature. The creative imagination has been relatively quiescent; the disciple has been occupied within the mind and upon mental levels, and has “looked neither up nor down.” But now the right point of tension has been reached; the reservoir or pool of needed energy has been restrained within the carefully delimited ring-pass-not, and the bridge-builder is ready for the next step. He therefore proceeds at this point to construct the blue print of the work to be done, by drawing upon the imagination and its faculties as they are to be found upon the highest level of his astral or sensitive vehicle. This does not relate to the emotions. Imagination is, as you know, the lowest aspect of the intuition, and this fact must be remembered at all times. Sensitivity, as an expression of the astral body, is the opposite pole to buddhic sensitivity. The disciple has purified and refined his imaginative faculties so that they are now responsive to the impression of the buddhic principle or of the intuitive perception—perception, apart from sight or any recorded possible vision. According to the responsiveness of the astral vehicle to the [489] buddhic impression, so will be the accuracy of the “plans” laid for the building of the antahkarana and the visualising of the bridge of light in all its beauty and completeness.

2. Hình dung. Cho đến điểm này, hoạt động vẫn mang tính trí tuệ. Trí tưởng tượng sáng tạo vẫn tương đối yên tĩnh; người đệ tử đã bận rộn trong trí tuệ và trên các cấp độ trí tuệ, và đã “không nhìn lên cũng không nhìn xuống.” Nhưng bây giờ điểm nhất tâm đúng đắn đã đạt được; hồ chứa hay bể năng lượng cần thiết đã được kiềm giữ trong vòng-giới-hạn được xác định cẩn thận, và người xây cầu đã sẵn sàng cho bước tiếp theo. Do đó, y tiến hành tại điểm này để kiến tạo bản thiết kế của công việc sẽ được thực hiện, bằng cách vận dụng trí tưởng tượng và các năng lực của nó như chúng được tìm thấy trên cấp độ cao nhất của thể cảm dục hay thể nhạy cảm của y. Điều này không liên quan đến cảm xúc. Trí tưởng tượng, như các bạn đã biết, là khía cạnh thấp nhất của trực giác, và sự thật này phải luôn luôn được ghi nhớ. Tính nhạy cảm, như là biểu hiện của thể cảm dục, là cực đối lập với tính nhạy cảm của Bồ đề. Người đệ tử đã thanh lọc và tinh luyện các năng lực tưởng tượng của y đến mức chúng giờ đây phản hồi với ấn tượng của nguyên khí Bồ đề hay của trực nhận trực giác — một sự tri nhận vượt khỏi thị giác hoặc bất kỳ hình ảnh được ghi nhận nào. Theo mức độ phản hồi của thể cảm dục đối với [489] ấn tượng Bồ đề, thì cũng sẽ là mức độ chính xác của những “kế hoạch” được lập ra cho việc xây dựng sợi dây antahkarana và việc hình dung cây cầu ánh sáng trong tất cả vẻ đẹp và sự trọn vẹn của nó.

The creative imagination has to be stepped up in its vibratory nature so that it can affect the “pool of energy” or the energy-substance which has been gathered for the building of the bridge. The creative activity of the imagination is the first organising influence which works upon and within the ring-pass-not of accumulated energies, held in a state of tension by the “intention” of the disciple. Ponder upon this occult and significant statement.

Trí tưởng tượng sáng tạo phải được nâng cao trong bản chất rung động của nó để nó có thể tác động đến “hồ năng lượng” hay chất liệu năng lượng đã được tập hợp để xây dựng cây cầu. Hoạt động sáng tạo của trí tưởng tượng là ảnh hưởng tổ chức đầu tiên hoạt động lên và trong vòng-giới-hạn của những năng lượng được tích tụ, được giữ trong trạng thái căng thẳng bởi “ý định” của người đệ tử. Hãy suy ngẫm về tuyên bố huyền môn và đầy ý nghĩa này.

The creative imagination is in the nature of an active energy, drawn up into relationship with the point of tension; it there and then produces effects in mental substance. The tension is thereby increased, and the more potent and the clearer the visualisation process, the more beautiful and strong will be the bridge. Visualisation is the process whereby the creative imagination is rendered active and becomes responsive to and attracted by the point of tension upon the mental plane.

Trí tưởng tượng sáng tạo mang bản chất của một năng lượng chủ động, được nâng lên trong mối liên hệ với điểm nhất tâm; tại đó và khi đó, nó tạo ra các hiệu quả trong chất liệu trí tuệ. Nhờ đó căng thẳng được gia tăng, và quá trình hình dung càng mạnh mẽ và rõ ràng, thì cây cầu càng đẹp đẽ và vững chắc. Hình dung là tiến trình qua đó trí tưởng tượng sáng tạo được kích hoạt và trở nên phản hồi với và bị thu hút bởi điểm nhất tâm trên cõi trí.

At this stage the disciple is occupied with two energies: one, quiescent and held within a ring-pass-not, but at a point of extreme tension, and the other active, picture-forming, outgoing and responsive to the mind of the bridge-builder. In this connection it should be remembered that the second aspect of the divine Trinity is the form-building aspect, and thus, under the Law of Analogy, it is the second aspect of the personality and the second aspect of the Spiritual Triad which are becoming creatively active. The disciple is now proceeding with the second stage of his building work, and so the numerical significance will become apparent to you. He must work slowly at this point, picturing what he wants to do, why he has to do it, what are the stages of his work, what will be the resultant effects of his planned activity, and what are the materials with which he has to work. He endeavours to visualise the entire process, and by this means sets up a definite rapport (if successful) between the buddhic intuition and the creative imagination [490] of the astral body. Consequently, you will have at this point:

Ở giai đoạn này, người đệ tử đang làm việc với hai loại năng lượng: một, tĩnh lặng và được giữ trong một vòng-giới-hạn, nhưng ở một điểm căng thẳng cực độ; và một cái khác, chủ động, tạo hình ảnh, hướng ra ngoài và phản hồi với trí tuệ của người xây cầu. Trong mối liên hệ này, cần phải nhớ rằng phương diện thứ hai của Tam vị Thiêng liêng là phương diện kiến tạo hình tướng, và do đó, theo Định luật Tương đồng, chính là phương diện thứ hai của phàm ngã và phương diện thứ hai của Tam nguyên tinh thần đang trở nên chủ động một cách sáng tạo. Người đệ tử hiện đang tiếp tục với giai đoạn thứ hai của công trình xây dựng của y, và vì vậy ý nghĩa về mặt con số sẽ trở nên rõ ràng đối với các bạn. Y phải làm việc chậm rãi ở điểm này, hình dung điều y muốn làm, lý do tại sao y phải làm điều đó, các giai đoạn của công việc là gì, kết quả của hoạt động có kế hoạch của y sẽ là gì, và chất liệu y phải làm việc là gì. Y cố gắng hình dung toàn bộ tiến trình, và bằng phương tiện này thiết lập một mối liên hệ chắc chắn (nếu thành công) giữa trực giác Bồ đề và trí tưởng tượng sáng tạo [490] của thể cảm dục. Do đó, tại điểm này, các bạn sẽ có:

The buddhic activity of impression.

Hoạt động Bồ đề của sự ấn tượng.

The tension of the mental vehicle, as it holds the needed energy-substance at the point of projection.

Điểm nhất tâm của thể trí, khi nó giữ chất liệu năng lượng cần thiết tại điểm phóng chiếu.

The imaginative processes of the astral body.

Quá trình tưởng tượng của thể cảm dục.

When the disciple has trained himself to be consciously aware of the simultaneity of this threefold work, then it goes forward successfully and almost automatically. This he does through the power of visualisation. A current of force is set up between these pairs of opposites (astral-buddhic) and—as it passes through the reservoir of force upon the mental plane—it produces an interior activity and an organisation of the substance present. There then supervenes a steadily mounting potency, until the third stage is reached and the work passes out of the phase of subjectivity into that of objective reality—objective from the standpoint of the spiritual man.

Khi người đệ tử đã rèn luyện bản thân để có ý thức nhận biết được sự đồng thời của ba công việc kép này, thì công việc đó sẽ tiến triển thành công và gần như một cách tự động. Y làm được điều này nhờ quyền năng hình dung. Một dòng mãnh lực được thiết lập giữa các cặp đối nghịch này (cảm dục – Bồ đề) và — khi nó đi qua hồ chứa mãnh lực trên cõi trí — nó tạo ra một hoạt động nội tại và một sự tổ chức của chất liệu đang hiện diện. Khi đó một năng lượng ngày càng gia tăng đều đặn kế tiếp diễn ra, cho đến khi đạt tới giai đoạn thứ ba và công việc chuyển từ pha chủ quan sang pha hiện thực khách quan — khách quan từ quan điểm của con người tinh thần.

Webinar 41

3. Projection. The task of the disciple has now reached a most critical point. Many aspirants reach this particular stage and—having developed a real capacity to visualise, and having therefore constructed by its means the desired form, and organised the substance which is to be employed in this later phase of the building process—find themselves unable to proceed any further. What then is the matter? Primarily, an inability to use the Will in the process of projection. This process is a combination of will, further and continued visualisation, and the use of the ray Word of Power. Up to the present stage in the process, the method for all the seven rays is identical; but at this point there comes a change. Each disciple, having successfully organised the bridge substance, having brought into activity the will aspect, and being consciously aware of process and performance, proceeds now to move the organised substance forward, so that from the centre of force which he has succeeded in accumulating there appears a line of light-substance or projection. This is sent forward upon a [491] Word of Power, as in the logoic creative process. This is in reality a reversal of the process of the Monad when It sent forth the thread of life which finally anchored itself in the soul. The soul, in reality, came into being through the means of this anchoring; then came the later process, when the soul in its turn sent forth a dual thread which finally found anchorage in the head and the heart of the lower threefold man, the personality. The disciple is focussed in the centre which he has constructed upon the mental plane, and is drawing all his resources (those of the threefold personality and the soul combined) into activity; he now projects a line towards the Monad.

3. Phóng chiếu. Nhiệm vụ của người đệ tử hiện đã đạt đến một điểm hết sức then chốt. Nhiều người chí nguyện đạt đến giai đoạn đặc biệt này và — sau khi đã phát triển một năng lực hình dung thực sự, và nhờ đó đã kiến tạo hình thể mong muốn, và đã tổ chức chất liệu sẽ được sử dụng trong giai đoạn sau của tiến trình xây dựng — nhận thấy mình không thể tiến xa hơn được nữa. Vậy thì vấn đề là gì? Trước hết là sự bất lực trong việc sử dụng Ý Chí trong tiến trình phóng chiếu. Tiến trình này là một sự kết hợp của ý chí, hình dung tiếp tục và sâu hơn, cùng với việc sử dụng linh từ Quyền năng của cung. Cho đến giai đoạn hiện tại trong tiến trình, phương pháp cho cả bảy cung là giống nhau; nhưng tại điểm này có một sự thay đổi. Mỗi người đệ tử, sau khi đã tổ chức thành công chất liệu cây cầu, đã kích hoạt được khía cạnh ý chí, và đang có ý thức về tiến trình và hiệu quả công việc, giờ đây tiến hành di chuyển chất liệu đã được tổ chức về phía trước, sao cho từ trung tâm mãnh lực mà y đã tích tụ thành công sẽ xuất hiện một đường chất liệu ánh sáng hay sự phóng chiếu. Điều này được gửi đi trên một [491] Linh từ Quyền năng, giống như trong tiến trình sáng tạo của Thượng đế. Đây thực ra là một sự đảo ngược tiến trình của Chân thần khi Nó đã phóng ra sợi dây sự sống vốn cuối cùng đã neo đậu vào linh hồn. Linh hồn, thực ra, đã hình thành thông qua phương tiện của sự neo đậu này; rồi đến tiến trình sau đó, khi linh hồn đến lượt mình phóng ra sợi dây kép, cuối cùng neo đậu vào đầu và tim của phàm nhân tam phân, tức là phàm ngã. Người đệ tử đang tập trung tại trung tâm mà y đã kiến tạo trên cõi trí, và đang tập hợp mọi tài nguyên của mình (bao gồm cả phàm ngã tam phân và linh hồn hợp nhất) vào hoạt động; giờ đây y phóng chiếu một đường đi về phía Chân thần.

It is along this line that the final withdrawal of the forces takes place, the forces which—upon the downward way or the involutionary path—focussed themselves in the personality and the soul. The antahkarana per se, completed by the bridge built by the disciple, is the final medium of abstraction or of the great withdrawal. It is with the antahkarana that the initiate is concerned in the fourth initiation, called sometimes the Great Renunciation—the renunciation or the withdrawal from form life, both personal and egoic. After this initiation neither of these aspects can hold the Monad any more. The “veil of the Temple” is rent in twain from the top to the bottom—that veil which separated the Outer Court (the personality life) from the Holy Place (the soul) and from the Holy of Holies (the Monad) in the Temple at Jerusalem. The implications and the analogies will necessarily be clear to you.

Chính dọc theo đường này mà sự rút lui sau cùng của các mãnh lực diễn ra, những mãnh lực mà — trong hành trình đi xuống hay con đường giáng hạ tiến hóa — đã tập trung vào phàm ngã và linh hồn. Sợi dây antahkarana tự nó, được hoàn tất bởi cây cầu do người đệ tử kiến tạo, là phương tiện sau cùng của sự siêu thoát hay của sự rút lui vĩ đại. Chính với antahkarana mà vị điểm đạo đồ phải bận tâm trong lần điểm đạo thứ tư, đôi khi còn được gọi là Đại Xả Bỏ — sự xả bỏ hay sự rút lui khỏi đời sống hình tướng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn linh hồn. Sau lần điểm đạo này, không phương diện nào trong hai phương diện đó có thể giữ chân Chân thần nữa. “Bức màn của Thánh Điện” bị xé đôi từ trên xuống dưới — bức màn đã phân cách Tiền Đình (đời sống phàm ngã) với Thánh Điện (linh hồn) và với Nơi Cực Thánh (Chân thần) trong Thánh Điện ở Jerusalem. Những hàm ý và các điểm tương đồng chắc chắn sẽ rõ ràng với các bạn.

In order, therefore, to bring about the needed projection of the accumulated energies, organised by the creative imagination and brought to a point of excessive tension by the focussing of the mental impulse (an aspect of the will), the disciple then calls upon the resources of his soul, stored up in what is technically called “the jewel in the lotus.” This is the anchorage of the Monad—a point which must not be forgotten. The aspects of the soul which we call knowledge, love and sacrifice, and which are expressions of the causal body, are only effects of this monadic radiation. [492]

Do đó, để tạo ra được sự phóng chiếu cần thiết của các mãnh lực đã được tích tụ, được tổ chức bởi trí tưởng tượng sáng tạo và được đưa đến điểm căng thẳng cực độ bởi sự tập trung của xung lực trí tuệ (một khía cạnh của ý chí), người đệ tử sau đó kêu gọi đến những tài nguyên của linh hồn mình, được lưu giữ trong cái mà về mặt kỹ thuật được gọi là “viên ngọc trong hoa sen.” Đây là nơi Chân thần neo đậu — một điểm không được quên. Những khía cạnh của linh hồn mà chúng ta gọi là tri thức, tình thương và hy sinh, và vốn là những biểu hiện của thể nguyên nhân, chỉ là các hiệu ứng của sự phát xạ từ Chân thần [492].

Therefore, before the bridge can be truly built and “projected on the upward way, providing safe travelling for the pilgrim’s weary feet” (as the Old Commentary puts it), the disciple must begin to react in response to the closed lotus bud or jewel at the centre of the opened lotus. This he does when the sacrifice petals of the egoic lotus are assuming control in his life, when his knowledge is being transmuted into wisdom, and his love for the whole is growing; to these is being added the “power to renounce”. These three egoic qualities—when functioning with a measure of potency—produce an increased activity at the very centre of soul life, the heart of the lotus. It should be remembered that the correspondences in the egoic lotus to the three planetary centres are as follows:

Do đó, trước khi cây cầu có thể thực sự được kiến tạo và “được phóng chiếu trên con đường đi lên, tạo điều kiện an toàn cho đôi chân mệt mỏi của người hành hương” (như Cổ Luận có nói), người đệ tử phải bắt đầu phản hồi lại với nụ hoa sen khép kín hay viên ngọc nơi trung tâm của hoa sen đang nở. Y làm được điều này khi các cánh hoa hy sinh của hoa sen chân ngã đang nắm quyền kiểm soát trong đời sống của y, khi tri thức của y đang được chuyển hoá thành minh triết, và tình thương của y đối với toàn thể đang lớn dần lên; kèm theo đó là “năng lực xả bỏ.” Ba phẩm tính chân ngã này — khi vận hành với một mức độ hiệu lực nhất định — tạo ra một hoạt động gia tăng nơi chính trung tâm của đời sống linh hồn, tức là trái tim của hoa sen. Cần ghi nhớ rằng những điểm tương ứng trong hoa sen chân ngã với ba trung tâm hành tinh như sau:

Shamballa. . . . The jewel in the lotus.

Shamballa . . . . Viên ngọc trong hoa sen.

Hierarchy . . . . The three groups of petals.

Thánh đoàn . . . . Ba nhóm cánh hoa.

Humanity . . . .The three permanent atoms within the aura of the lotus.

Nhân loại . . . . Ba nguyên tử trường tồn trong hào quang của hoa sen.

Students should also bear in mind that they need to rid themselves of the usual idea of sacrifice as a process of giving-up, or renunciation of all that makes life worth living. Sacrifice is, technically speaking, the achievement of a state of bliss and of ecstasy because it is the realisation of another divine aspect, hidden hitherto by both the soul and the personality. It is understanding and recognition of the will-to-good which made creation possible and inevitable, and which was the true cause of manifestation. Ponder on this, for it is very different in its significance to the usual concepts anent sacrifice.

Các học viên cũng cần ghi nhớ rằng họ cần loại bỏ ý niệm thông thường về hy sinh như là một tiến trình từ bỏ, hay xả bỏ tất cả những gì khiến đời sống trở nên đáng sống. Hy sinh, nói một cách kỹ thuật, là sự thành tựu một trạng thái phúc lạc và ngây ngất vì đó là sự nhận biết một khía cạnh thiêng liêng khác, vốn bị che khuất từ trước đến nay bởi cả linh hồn lẫn phàm ngã. Đó là sự thấu hiểu và công nhận Ý Chí – Hướng Thiện vốn đã làm cho sự sáng tạo trở nên khả hữu và tất yếu, và là nguyên nhân thật sự của sự biểu lộ. Hãy suy ngẫm điều này, vì ý nghĩa của nó rất khác với những khái niệm thông thường về hy sinh.

When the disciple has gained the fruit of experience which is knowledge and is learning to transmute it into wisdom, when his objective is to live truly and in reality, and when the will-to-good is the crowning goal of his daily life, then he can begin to evoke the Will. This will make the link between the lower and the higher minds, between spirit and matter and between Monad and personality a definite and existent fact. Duality then supervenes upon [493] triplicity, and the potency of the central nucleus in the egoic vehicle destroys—at the fourth initiation—the three surrounding expressions. They disappear, and then the so-called destruction of the causal body has taken place. This is the true “second death”—death to form altogether.

Khi người đệ tử đã thu hoạch được trái quả của kinh nghiệm, tức là tri thức, và đang học cách chuyển hoá nó thành minh triết, khi mục tiêu của y là sống một cách chân thực và thực tế, và khi Ý Chí – Hướng Thiện là mục tiêu tối thượng trong đời sống hàng ngày của y, thì y có thể bắt đầu triệu gọi Ý Chí. Điều này sẽ tạo ra mối liên kết giữa hạ trí và thượng trí, giữa tinh thần và vật chất, và giữa Chân thần và phàm ngã trở thành một sự thật cụ thể và hiện hữu. Khi đó nhị nguyên thay thế [493] tam phân, và năng lực của hạt nhân trung tâm trong thể chân ngã tiêu huỷ — tại lần điểm đạo thứ tư — ba biểu hiện bao quanh. Chúng biến mất, và khi đó cái gọi là sự tiêu hủy của thể nguyên nhân đã xảy ra. Đây chính là “cái chết thứ hai” thực sự — sự chết đối với hình tướng trên mọi phương diện.

This is practically all that I can tell you anent the process of projection. It is a living process, growing out of the conscious daily experience and dependent upon the expression of the divine aspects in the life upon the physical plane, as far as is possible. Where there is an attempt to approximate the personality life to the demands of the soul and to use the intellect on behalf of humanity, love is beginning to control; and then the significance of the “divine sacrifice” is increasingly understood and becomes a natural, spontaneous expression of individual intention. Then it becomes possible to project the bridge. The vibration is then set up on lower levels of divine manifestation and becomes strong enough to produce response from the higher. Then, when the Word of Power is known and rightly used, the bridge is rapidly built.

Đó gần như là tất cả những gì tôi có thể nói với các bạn về tiến trình phóng chiếu. Đây là một tiến trình sống động, phát sinh từ kinh nghiệm ý thức hàng ngày và tùy thuộc vào mức độ biểu hiện của các khía cạnh thiêng liêng trong đời sống trên cõi trần, trong phạm vi có thể. Khi có một nỗ lực để đưa đời sống phàm ngã tiệm cận với các yêu cầu của linh hồn và sử dụng trí tuệ vì lợi ích nhân loại, thì tình thương bắt đầu kiểm soát; và khi đó ý nghĩa của “sự hy sinh thiêng liêng” được thấu hiểu ngày càng sâu sắc và trở thành một biểu hiện tự nhiên, tự phát của ý định cá nhân. Khi ấy việc phóng chiếu cây cầu trở nên khả thi. Rung động khi ấy được thiết lập trên các cấp độ thấp hơn của sự biểu lộ thiêng liêng và trở nên đủ mạnh để tạo ra sự đáp ứng từ cấp cao hơn. Rồi, khi Linh từ Quyền năng được biết đến và được sử dụng đúng cách, cây cầu sẽ được kiến tạo một cách nhanh chóng.

Students need feel in no way discouraged by this picture. Much can happen on the inner planes where there is right intention, as well as occult intention (purpose and tension combined), and the bridge reaches stages of definite outline and structure long before the disciple is aware of it.

Các học viên không cần cảm thấy nản lòng bởi bức tranh này. Nhiều điều có thể xảy ra trên các cõi nội giới khi có ý định đúng đắn, cũng như có ý định huyền môn (kết hợp giữa mục đích và điểm nhất tâm), và cây cầu sẽ đạt đến những giai đoạn có hình dạng và cấu trúc rõ rệt từ rất lâu trước khi người đệ tử nhận thức được điều đó.

Webinar 42

4. Invocation and Evocation. The three preceding stages mark, in reality, the three stages of personality work. The remaining three are expressions of response from higher levels of the spiritual life; beyond briefly indicating them, there is very little that I can put into words. The task of Invocation, based on Intention, Visualisation and Projection, has been carefully undertaken by the disciple and he has at least some measure of clear perception as to the work he has done by the dual means of spiritual living and scientific, technical, occult work. He is therefore himself invocative. His life effect is registered upon the higher levels of consciousness and he is recognised as “a point of invocative tension.” This tension and this [494] reservoir of living energy, which is the disciple himself, is set in motion by projected thought, the use of the will and a sounded Word or Phrase of Power.

4. Sự Kêu Gọi và Sự Đáp Lại. Ba giai đoạn trước đánh dấu, trên thực tế, ba giai đoạn công việc của phàm ngã. Ba giai đoạn còn lại là sự biểu hiện của sự đáp ứng từ các mức độ cao hơn của đời sống tinh thần; vượt ra ngoài việc chỉ ra sơ lược về chúng, tôi không thể diễn đạt nhiều bằng lời. Công việc của sự Kêu Gọi, dựa trên Ý Định, Hình Tưởng và Sự Phóng Chiếu, đã được người đệ tử thực hiện một cách cẩn trọng, và y đã đạt được ít nhiều mức độ nhận thức rõ ràng về công việc mà y đã thực hiện thông qua hai phương tiện kép: đời sống tinh thần và công việc huyền môn mang tính khoa học và kỹ thuật. Do đó, chính bản thân y trở nên có tính kêu gọi. Tác động của đời sống y được ghi nhận trên các mức độ cao hơn của tâm thức và y được công nhận là “một điểm của căng thẳng kêu gọi.” Sự căng thẳng này và hồ chứa năng lượng sống—chính là người đệ tử—được khởi động bởi tư tưởng được phóng chiếu, việc sử dụng ý chí và một Linh Từ hay Cụm Từ của Quyền Năng được xướng lên.

The result is that his developed potency and its radius of influence are now sufficiently strong to call out a response from the Spiritual Triad. There is then a going forth towards the aspect of the antahkarana, constructed by the disciple, along which the life of soul and body can travel. The Father (Monad), working through the thread, now goes forth to meet the Son (the soul, enriched by the experience of personality life in the three worlds), and from the higher levels a line of responsive projection of energy is sent forth which will eventually make contact with the lower projection. Thus the antahkarana is built. The tension of the lower evokes the attention of the higher.

Kết quả là, năng lực đã được phát triển của y và bán kính ảnh hưởng của nó giờ đây đủ mạnh để kêu gọi một sự đáp ứng từ Tam nguyên tinh thần. Khi đó có một sự tiến tới khía cạnh của sợi dây antahkarana, được người đệ tử kiến tạo, dọc theo đó, sự sống của linh hồn và thể xác có thể di chuyển. Đức Cha (Chân thần), làm việc qua sợi dây, giờ đây tiến đến gặp Đức Con (linh hồn, được làm phong phú qua kinh nghiệm của đời sống phàm ngã trong ba cõi), và từ các mức độ cao hơn, một dòng năng lượng phóng chiếu hồi ứng được phát ra, điều này cuối cùng sẽ tạo ra sự tiếp xúc với dòng phóng chiếu thấp hơn. Như vậy, sợi dây antahkarana được kiến tạo. Sự căng thẳng của cõi thấp gọi lên sự chú tâm của cõi cao.

This is the technical process of invocation and evocation. There is a gradual approach from both the divine aspects. Little by little, the vibration of both becomes stronger reciprocally. There comes then a moment when contact between the two projections is made in meditation. This is not a contact between soul and personality (the goal of the average aspirant), but a contact between the fused soul and personality energy and the energy of the Monad, working through the Spiritual Triad. This does not constitute a moment of crisis, but is in the nature of a Flame of Light, a realisation of liberation, and a recognition of the esoteric fact that a man is himself the Way. There is no longer the sense of personality and soul or of ego and form, but simply the One, functioning on all planes as a point of spiritual energy and arriving at the one sphere of planned activity by means of the path of Light. In considering this process, words prove completely inadequate. At this stage, when very advanced, there is no form attracting the Monad outwards into manifestation. There is no way in which the call of matter or of form can evoke a response from the Monad. There remains only the great pull of the consciousness of humanity as a whole and to this, response can be made via the completed antahkarana. Down—or rather [495] across—this bridge, descent can be made at will, in order to serve humanity and to carry out the will of Shamballa.

Đây là tiến trình kỹ thuật của sự kêu gọi và sự đáp lại. Có một sự tiếp cận dần dần từ cả hai phương diện thiêng liêng. Từng chút một, rung động của cả hai trở nên mạnh hơn một cách tương hỗ. Rồi đến một thời điểm khi sự tiếp xúc giữa hai dòng phóng chiếu diễn ra trong lúc tham thiền. Đây không phải là sự tiếp xúc giữa linh hồn và phàm ngã (mục tiêu của người chí nguyện trung bình), mà là sự tiếp xúc giữa năng lượng hợp nhất của linh hồn và phàm ngã với năng lượng của Chân thần, hoạt động thông qua Tam nguyên tinh thần. Điều này không cấu thành một thời điểm khủng hoảng, mà có tính chất như một Ngọn Lửa Ánh Sáng, một sự nhận thức về sự giải thoát, và một sự công nhận thực tại huyền môn rằng con người chính là Con Đường. Không còn cảm giác về phàm ngã và linh hồn hay ngã và hình tướng, mà chỉ còn Một, vận hành trên mọi cõi như một điểm của năng lượng tinh thần và đi đến một lĩnh vực duy nhất của hoạt động đã được hoạch định bằng phương tiện của con đường Ánh sáng. Khi xem xét tiến trình này, lời nói hoàn toàn trở nên bất lực. Ở giai đoạn này, khi đã rất cao, không còn hình tướng nào hấp dẫn Chân thần tiến ra ngoài vào sự biểu hiện. Không còn cách nào để tiếng gọi của vật chất hay hình tướng có thể khơi lên một sự đáp ứng từ Chân thần. Chỉ còn lại lực hút lớn lao từ tâm thức của toàn thể nhân loại, và với điều này, sự đáp ứng có thể được thực hiện thông qua sợi dây antahkarana đã hoàn tất. Dọc theo—hay đúng hơn là ngang qua—chiếc cầu này, sự hạ giáng có thể được thực hiện theo ý chí, nhằm phụng sự nhân loại và thực thi Thiên Ý của Shamballa.

This is a statement of the final consummation. But before that can take place in its perfected completion, there must be a long period of gradual approach of the two aspects of the bridge—the higher, emanating from the Spiritual Triad, in response to monadic impulse, and the lower, emanating from the personality, aided by the soul—across the chasm of the separating mind. Finally, contact between that which the Monad projects and that which the disciple is projecting is made, and then come the fifth and sixth stages.

Đây là tuyên bố về sự viên mãn sau cùng. Nhưng trước khi điều đó có thể diễn ra trong sự hoàn thiện trọn vẹn của nó, phải có một thời kỳ dài của sự tiếp cận dần dần từ hai khía cạnh của chiếc cầu—phía trên, xuất lộ từ Tam nguyên tinh thần, để đáp ứng với xung lực từ Chân thần, và phía dưới, xuất lộ từ phàm ngã, với sự trợ giúp của linh hồn—băng qua hố ngăn cách do trí tuệ chia rẽ tạo ra. Cuối cùng, sự tiếp xúc giữa cái mà Chân thần phóng chiếu và cái mà người đệ tử đang phóng chiếu được thực hiện, và khi đó xuất hiện giai đoạn thứ năm và thứ sáu.

5 and 6. Stabilisation and Resurrection. The bridge is now built. Thin and tenuous may be its strands at the beginning, but time and active understanding will slowly weave thread after thread until the bridge stands finished, stable and strong and capable of being used. It must perforce be used, because there is now no other medium of intercourse between the initiate and the One Whom he now knows to be himself. He ascends in full consciousness into the sphere of monadic life; he is resurrected from the dark cave of the personality life into the blazing light of divinity; he is no longer only a part of humanity and a member also of the Hierarchy, but he belongs to the great company of Those Whose will is consciously divine and Who are the Custodians of the Plan. They are responsive to impression from Shamballa and are under the direction of the Heads of the Hierarchy.

5 và 6. Ổn định và Phục sinh. Chiếc cầu giờ đây đã được xây dựng. Ban đầu, những sợi dây của nó có thể mỏng manh và yếu ớt, nhưng thời gian và sự thấu hiểu chủ động sẽ dần dần đan sợi này nối tiếp sợi kia cho đến khi chiếc cầu được hoàn thiện, vững vàng và mạnh mẽ, và có thể được sử dụng. Nó bắt buộc phải được sử dụng, vì giờ đây không còn phương tiện giao tiếp nào khác giữa điểm đạo đồ và Đấng mà y giờ đây biết chính là bản thân mình. Y thăng lên trong sự tỉnh thức trọn vẹn vào lĩnh vực của sự sống thuộc chân thần; y được phục sinh khỏi hang tối của đời sống phàm ngã vào ánh sáng rực rỡ của thiên tính; y không còn chỉ là một phần của nhân loại và cũng là một thành viên của Thánh đoàn, mà y thuộc về đại ngũ của Những Đấng có ý chí là thiêng liêng một cách tự ý thức và là Những Đấng Bảo Tồn Thiên Cơ. Các Ngài nhạy cảm với sự ấn tượng từ Shamballa và dưới sự chỉ đạo của các Vị Đứng Đầu Thánh đoàn.

The “freedom of the three Centres” is Theirs. They can express at will the triple energy of Humanity, the dual energy of the Hierarchy, and the one energy of Shamballa.

“Quyền tự do của ba Trung Tâm” là của Các Ngài. Các Ngài có thể biểu hiện theo ý muốn năng lượng ba ngôi của nhân loại, năng lượng nhị nguyên của Thánh đoàn, và năng lượng đơn nhất của Shamballa.

Such, my brothers, is the goal of the disciple as he begins to work at the building of the antahkarana. Reflect upon these matters and proceed with the work.

Như vậy, hỡi các huynh đệ, đó là mục tiêu của người đệ tử khi y bắt đầu công cuộc xây dựng antahkarana. Hãy suy ngẫm về những vấn đề này và tiếp tục công việc.

(In some Talks to Disciples, the Tibetan makes the following remarks which apply here with peculiar force. A.A.B.) [496]

(Trong một vài cuộc nói chuyện với các đệ tử, Chân sư Tây Tạng đưa ra những nhận xét sau đây, rất phù hợp với phần này. A.A.B.) [496]

“Your major need is for an intensification of your inner spiritual aspiration. You need to work more definitely from what might be called a point of tension. Study what is said about tension and intensity. It is intensity of purpose which will change you from the plodding fairly satisfactory aspirant into the disciple whose heart and mind are aflame. Perhaps, however, you prefer to go forward steadily, with no group effort, making your work for me and for the group an ordered part of the daily life, which you can adjust pretty much as you like, and in which the life of the spirit receives its reasonable share, in which the service aspect is not neglected, and your life presentation is neatly balanced and carried forward without much real strain. When this is the case, it may be your personality choice or your soul decision for a specific life, but it means that you are not the disciple, with everything subordinated to the life of discipleship.

“Nhu cầu chính yếu của các bạn là làm mãnh liệt hơn khát vọng tinh thần nội tâm. Các bạn cần phải làm việc một cách dứt khoát hơn từ cái mà người ta có thể gọi là một điểm nhất tâm. Hãy nghiên cứu những gì được nói về sự nhất tâm và mãnh liệt. Chính sự mãnh liệt của mục đích sẽ biến các bạn từ người chí nguyện đều đặn, khá thỏa đáng, thành người đệ tử có trái tim và trí tuệ bừng cháy. Tuy nhiên, có lẽ các bạn thích tiến bước đều đặn, không có nỗ lực nhóm, khiến công việc của các bạn cho tôi và cho nhóm trở thành một phần được sắp xếp trong đời sống hằng ngày, mà các bạn có thể điều chỉnh khá tùy ý, trong đó đời sống tinh thần nhận được phần hợp lý của nó, trong đó phương diện phụng sự không bị lãng quên, và sự thể hiện đời sống của các bạn được cân bằng một cách gọn gàng và được tiếp tục mà không có nhiều căng thẳng thực sự. Khi điều này xảy ra, có thể đó là sự chọn lựa của phàm ngã hoặc quyết định của linh hồn các bạn cho một kiếp sống cụ thể, nhưng điều đó có nghĩa là các bạn không phải là người đệ tử, người đặt mọi thứ dưới sự phục tùng của đời sống đệ tử.

“I would like here to point out two things. First: if you can so change your tension that you are driven by the life of the spirit, it will entail a galvanic upheaval in your inner life. For this, are you prepared? Secondly: it will not produce any outer change in your environing relationships. Your outer obligations and interests must continue to be met, but I am talking in terms of inner orientations, dynamic inner decisions, and an interior organising for service and for sacrifice. Perhaps you prefer the slower and easier way? If that is so, it is entirely your own affair, and you are still on your way. You are still a constructive and useful person. I am simply here facing you with one of the crises which come in the life of all disciples, wherein choices have to be made that are determining for a cycle, but for a cycle only. It is pre-eminently a question of speed and of organising for speed. This means eliminating the non-essentials and concentrating on the essentials—the inner essentials, as they concern the soul and its relation to the personality, and the outer ones as they concern you and your environment.

“Tôi muốn chỉ ra hai điều tại đây. Thứ nhất: nếu các bạn có thể thay đổi điểm nhất tâm của mình đến mức bị thôi thúc bởi đời sống tinh thần, điều đó sẽ kéo theo một cơn chấn động mãnh liệt trong đời sống nội tâm. Các bạn đã sẵn sàng cho điều này chưa? Thứ hai: điều đó sẽ không tạo ra bất kỳ thay đổi nào bên ngoài trong các mối quan hệ xung quanh. Các nghĩa vụ và mối quan tâm bên ngoài của các bạn phải tiếp tục được đáp ứng, nhưng tôi đang nói theo những thuật ngữ của định hướng nội tâm, các quyết định nội tâm đầy năng động, và một sự tổ chức bên trong cho phụng sự và hy sinh. Có lẽ các bạn thích con đường chậm hơn và dễ hơn? Nếu đúng như vậy, đó hoàn toàn là việc riêng của các bạn, và các bạn vẫn đang trên hành trình. Các bạn vẫn là những con người có ích và xây dựng. Tôi đơn giản chỉ đang đặt trước mặt các bạn một trong những khủng hoảng xuất hiện trong đời sống của mọi người đệ tử, nơi các lựa chọn phải được đưa ra, những lựa chọn có tính quyết định cho một chu kỳ—nhưng chỉ trong một chu kỳ mà thôi. Điều này đặc biệt là một vấn đề về tốc độ và tổ chức để đạt được tốc độ. Điều này có nghĩa là loại bỏ những điều không thiết yếu và tập trung vào những điều thiết yếu—các yếu tố thiết yếu bên trong, khi chúng liên quan đến linh hồn và mối quan hệ của nó với phàm ngã, và những yếu tố thiết yếu bên ngoài khi chúng liên quan đến các bạn và môi trường của các bạn.

“I would give you three key thoughts for deep reflection [497] during the next six months; will you ponder on them, one each month for three months, within the head, and during the second three months brood on them in the heart. These key thoughts are:

“Tôi muốn đưa cho các bạn ba ý tưởng then chốt để suy ngẫm sâu sắc [497] trong sáu tháng tới; các bạn có sẵn lòng suy tưởng về chúng, mỗi tháng một ý tưởng trong ba tháng đầu tiên, trong đầu, và trong ba tháng sau, chiêm nghiệm về chúng trong trái tim không? Những tư tưởng then chốt này là:

1. The necessity for speed.

1. Sự cần thiết của tốc độ.

2. The reorganisation of standards of thought and of living.

2. Sự tái tổ chức các tiêu chuẩn tư duy và đời sống.

3. The expression of: Sincerity, Sacrifice, Simplicity.” (Discipleship in the New Age. Vol I, p 358)

3. Sự biểu lộ của: Chân thành, Hy sinh, Giản dị.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, tr. 358)

Webinar 43

In the many strands of light, woven by the aspirants, disciples and initiates of the world, we can see the group antahkarana gradually appearing—that bridge whereby humanity as a whole will be able to abstract itself from matter and form. This building of the antahkarana is the great and ultimate service which all true aspirants can render.

Trong nhiều sợi dây ánh sáng, được đan dệt bởi các người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ trên thế giới, chúng ta có thể nhìn thấy antahkarana nhóm dần dần hiện ra—chiếc cầu nhờ đó nhân loại như một toàn thể sẽ có thể tự tách mình ra khỏi vật chất và hình tướng. Việc xây dựng antahkarana này chính là sự phụng sự vĩ đại và tối hậu mà mọi người chí nguyện chân chính có thể cống hiến.

The immediate Task ahead

What I have now to say is in the nature of a generalisation. I would like to indicate, as far as possible (asking you to remember that all generalisations are basically sound but erroneous in detail), the point where humanity stands in relation to the antahkarana. It might be said that the whole goal of normal evolution is to bring humanity to the point where a direct line of contact is established between the personality and the Spiritual Triad, via the soul—or rather, through the medium of using the soul consciousness to achieve this awareness. This is consummated at the time of the third initiation. We will now for a minute consider the Monad.

Những gì tôi sắp nói đây mang tính khái quát. Tôi muốn chỉ ra, trong phạm vi có thể (yêu cầu các bạn nhớ rằng mọi khái quát đều cơ bản là đúng nhưng sai ở chi tiết), vị trí mà nhân loại hiện đang đứng trong mối liên hệ với antahkarana. Có thể nói rằng toàn bộ mục tiêu của tiến hóa thông thường là đưa nhân loại đến điểm mà một đường tiếp xúc trực tiếp được thiết lập giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần, thông qua linh hồn—hay đúng hơn, thông qua việc sử dụng tâm thức linh hồn để đạt được sự tỉnh thức này. Điều này được hoàn tất vào thời điểm điểm đạo lần thứ ba. Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét về Chân thần.

I would remind you that there is an analogy in the relation between personality and soul, to that between the Triad and the Monad. This is an analogy that is essentially complete, from the standpoint of consciousness, but not from the standpoint of form. What finally takes place at the most advanced stage of development is the complete fusion of the unified personality and soul with the unified Monad and Spiritual Triad. Only when this has been truly [498] accomplished is there the complete release of the Lives informing our solar system from all form control. Bear this carefully in mind, realising the significance of the word Service, used so frequently in the occult science, and realising also the fact that, for aspirants and disciples, the immediate task ahead is:

Tôi muốn nhắc các bạn rằng có một sự tương đồng trong mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn, với mối liên hệ giữa Tam nguyên và Chân thần. Đây là một sự tương đồng vốn về bản chất là trọn vẹn, xét theo quan điểm của tâm thức, nhưng không phải xét theo hình tướng. Điều sau cùng xảy ra ở giai đoạn phát triển cao nhất chính là sự dung hợp hoàn toàn giữa phàm ngã và linh hồn đã được hợp nhất với Chân thần và Tam nguyên tinh thần đã hợp nhất. Chỉ khi điều này thực sự [498] được hoàn thành thì mới có sự giải thoát hoàn toàn cho các Đơn vị Sống vốn hoạt hóa Thái Dương Hệ của chúng ta khỏi mọi sự kiểm soát của hình tướng. Hãy ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng, nhận ra ý nghĩa của từ “Phụng sự” vốn thường xuyên được dùng trong khoa học huyền môn, và cũng nhận ra rằng, đối với các người chí nguyện và đệ tử, nhiệm vụ trước mắt là:

1. To bring about the at-one-ment of soul and body, through the medium of alignment.

1. Mang lại sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác, thông qua phương tiện là sự chỉnh hợp.

2. To build the antahkarana, using the six modes or means outlined by me previously, and thus evoke response to the Triad. The thought of Alignment-Invocation-Evocation are the three major ideas for you to hold in mind as we proceed with this study.

2. Xây dựng antahkarana, sử dụng sáu phương thức mà tôi đã trình bày trước đây, và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng từ Tam nguyên. Tư tưởng về Chỉnh hợp–Khẩn cầu–Gợi lên là ba ý tưởng chính để các bạn ghi nhớ khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu này.

The reason that I am giving out what was earlier regarded as some of the preparatory work prior to the third initiation is due to the fact that the race is now at the point of development which warrants complete change in the approach to divinity as taught by the Hierarchy. This does not mean that past teaching is abrogated, but it is shifted back to the earlier stages on the Path of Discipleship, whilst the teaching given in those stages now becomes the work done by the aspirants upon the Probationary Path. Emphasis has been laid upon purification, upon the need for the development of the Christ life, upon the mystical vision and upon philosophy. Occult truths have been given to the race and have evoked much interest, criticism and discussion; they have appealed to all types of mind; they have been distorted and misapplied. Nevertheless, they have been instrumental in aiding advanced aspirants to move forward on to the Path of Discipleship, with a paralleling moving forward of accepted disciples. Once firmly established upon the Path, the truths become self-evident and individual application and verification can be made, leading the disciple inevitably to the Portal of Initiation.

Lý do khiến tôi đưa ra những điều vốn trước đây được xem là công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba là vì giống dân hiện đang ở điểm phát triển cho phép có sự thay đổi hoàn toàn trong cách tiếp cận với Thượng đế như đã được Thánh đoàn giảng dạy. Điều này không có nghĩa là giáo lý cũ bị bãi bỏ, mà nó được chuyển trở lại về các giai đoạn sớm hơn trên Con Đường Đệ Tử, trong khi những giáo lý được ban cho trong các giai đoạn đó nay trở thành công việc của các người chí nguyện đang trên Con Đường Dự Bị. Trọng tâm đã từng được đặt vào sự thanh luyện, vào nhu cầu phát triển đời sống theo Đức Christ, vào thị kiến huyền nhiệm và triết lý. Các chân lý huyền môn đã được truyền ra cho giống dân và đã khơi dậy nhiều sự quan tâm, phê phán và tranh luận; chúng đã thu hút mọi loại trí tuệ; chúng đã bị bóp méo và áp dụng sai. Tuy nhiên, chúng đã đóng vai trò hỗ trợ các người chí nguyện tiến bộ bước vào Con Đường Đệ Tử, đồng thời các đệ tử chính thức cũng tiến bước song hành. Một khi đã được thiết lập vững chắc trên Con Đường, các chân lý trở nên hiển nhiên, và có thể được áp dụng và kiểm chứng cá nhân, dẫn người đệ tử tiến đến Cánh Cửa Điểm Đạo một cách không thể tránh khỏi.

The race as a whole stands now at the very entrance to the Path of Discipleship. The racial gaze is forward to the vision, whether it is the vision of the soul, a vision of a better way of life, of an improved economic situation, or of [499] better inter-racial relationship. That this vision is oft distorted, that it is materially oriented or only partially seen is sadly true; but in some form or another there exists today an appreciable grasp of the “new and desirable” by the masses—a thing hitherto unknown. In the past, it was the intelligentsia or the elect who were privileged to have the vision. Today, it is the mass of men. Humanity, therefore, as a whole stands ready for a general alignment process, and that is the spiritual reason which lay behind the world war. The “sharp shears of sorrow must separate the real from the unreal; the lash of pain must awaken the sleepy soul to exquisite life; the wrenching away of the roots of life from the soil of selfish desire must be undergone, and then the man stands free.” So runs the Old Commentary in one of its more mystical stanzas. Thus it points prophetically to the close of the Aryan Race—not a close in the sense of completion, but a closing of a cycle of mental perfecting, preparatory to a cycle wherein the mind will be rightly used as an instrument of alignment, then as the searchlight of the soul, and as the controller of the personality.

Giống dân nói chung hiện đang đứng ngay ngưỡng cửa của Con Đường Đệ Tử. Ánh nhìn của giống dân hướng về thị kiến, dù đó là thị kiến của linh hồn, một viễn cảnh về đời sống tốt đẹp hơn, một tình hình kinh tế được cải thiện, hay [499] mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa các chủng tộc. Rằng thị kiến đó thường bị bóp méo, rằng nó hướng về vật chất hoặc chỉ được nhìn thấy một phần là điều đáng tiếc nhưng đúng; tuy nhiên, dưới một hình thức này hay khác, hiện nay có một sự lĩnh hội đáng kể trong quần chúng về điều “mới và đáng mong muốn”—điều mà trước đây chưa từng có. Trong quá khứ, chỉ có giới trí thức hoặc tầng lớp tinh hoa mới có đặc quyền tiếp nhận thị kiến. Ngày nay, đó là quần chúng. Do đó, nhân loại như một tổng thể đã sẵn sàng cho một tiến trình chỉnh hợp chung, và đó chính là lý do tinh thần đằng sau cuộc đại chiến thế giới. “Lưỡi kéo sắc bén của khổ đau phải cắt lìa điều thực với điều hư; roi đau đớn phải đánh thức linh hồn đang ngủ mê để sống một đời sống diệu kỳ; việc bứng rễ của sự sống khỏi lớp đất của dục vọng ích kỷ phải được trải qua, và rồi con người đứng trong tự do.” Đó là lời của Cổ Luận trong một khổ kệ có tính huyền nhiệm. Như vậy, nó đã tiên tri về sự kết thúc của Giống Dân Aryan—không phải là sự kết thúc theo nghĩa hoàn mãn, mà là sự kết thúc của một chu kỳ hoàn thiện trí tuệ, để chuẩn bị cho một chu kỳ mà trong đó trí tuệ sẽ được sử dụng đúng đắn như một công cụ của sự chỉnh hợp, sau đó như đèn pha của linh hồn, và là kẻ điều khiển phàm ngã.

For the masses—under the slow processes of evolution—the next step forward is the aligning of the soul and the form, so that there can be a blending in consciousness, following on a mental appreciation of the Christ principle and its deep expression in the life of the race. This is something which can be seen quite clearly emerging, if you have the eyes to see. It is evident in the universal interest in goodwill, leading eventually to peace; this desire for peace may be based on individual or national selfishness, or upon a true desire to see a happier world wherein man can lead a fuller spiritual life and base his efforts on truer values; it can be seen in all the planning which is going on for a new world order, based on human liberty, belief in human rights and right human relations; it is demonstrating also in the work of the great humanitarian movements, the welfare organisations, and the widespread evocation of the human mind through the network of educational institutions throughout the world. The Christ spirit is expressively present, [500] and the failure to recognise this fact has been largely due to the prevalent human effort to explain and interpret this phrase solely in terms of religion, whereas the religious interpretation is but one mode of understanding Reality. There are others of equal importance. All the great avenues of approach to Reality are spiritual in nature and interpretive of divine purpose, and whether the religious Christian speaks of the Kingdom of God, or the humanitarian emphasises the brotherhood of man, or the leaders against evil head the fight for the new world order or for the Four Freedoms or the Atlantic Charter, they all express the emergence of the love of God in its form of the spirit of Christ.

Đối với quần chúng—dưới những tiến trình tiến hóa chậm rãi—bước kế tiếp là sự chỉnh hợp giữa linh hồn và hình tướng, để có thể có sự hòa hợp trong tâm thức, nối tiếp sau một sự lĩnh hội bằng trí tuệ về nguyên lý của Đức Christ và sự biểu lộ sâu sắc của nguyên lý này trong đời sống của giống dân. Đây là điều mà các bạn có thể thấy đang xuất hiện một cách khá rõ ràng, nếu các bạn có con mắt để thấy. Điều đó hiển hiện qua sự quan tâm phổ quát đến thiện chí, cuối cùng dẫn đến hòa bình; khát vọng cho hòa bình này có thể dựa trên sự ích kỷ cá nhân hay quốc gia, hoặc trên một khát khao chân thật nhằm nhìn thấy một thế giới hạnh phúc hơn, nơi con người có thể sống một đời sống tinh thần trọn vẹn hơn và đặt nỗ lực của mình trên các giá trị chân thật hơn; điều đó có thể được thấy qua tất cả các kế hoạch hiện đang được thực hiện cho một trật tự thế giới mới, dựa trên tự do con người, niềm tin vào nhân quyền và các mối quan hệ đúng đắn giữa con người với nhau; nó cũng đang được biểu lộ trong công việc của các phong trào nhân đạo vĩ đại, các tổ chức phúc lợi, và sự gợi mở rộng khắp của trí tuệ con người thông qua mạng lưới các cơ sở giáo dục trên toàn thế giới. Tinh thần của Đức Christ đang hiện diện một cách rõ ràng, [500] và sự thất bại trong việc công nhận thực tế này phần lớn là do nỗ lực phổ biến của con người nhằm giải thích và diễn đạt cụm từ này chỉ thuần túy trong các thuật ngữ tôn giáo, trong khi cách hiểu tôn giáo chỉ là một trong nhiều phương thức để lĩnh hội Thực Tại. Còn nhiều cách khác có tầm quan trọng ngang bằng. Tất cả các con đường tiếp cận Thực Tại đều mang tính tinh thần và có vai trò diễn đạt Thiên Ý, và cho dù người Kitô hữu tôn giáo nói đến Vương quốc của Thượng đế, hay người nhân đạo nhấn mạnh đến tình huynh đệ của nhân loại, hay những người lãnh đạo trong cuộc chiến chống lại ác lực dẫn đầu trong việc thiết lập trật tự thế giới mới, hoặc đấu tranh cho Bốn Tự Do hay Hiến Chương Đại Tây Dương, tất cả họ đều đang biểu lộ sự xuất hiện của Tình Thương của Thượng đế dưới hình thức tinh thần của Đức Christ.

Humanity in the mass has therefore reached a point of emergence from darkness; it has itself evoked the reaction of the powers of evil, and hence their attempt to arrest the progress of the human spirit and to stop the onward march of the good, the true and the beautiful.

Do đó, nhân loại như một toàn thể đã đạt đến một điểm của sự trỗi dậy khỏi bóng tối; chính nó đã gợi lên phản ứng từ các quyền lực của ác lực, và vì thế xảy ra nỗ lực của chúng nhằm ngăn chặn sự tiến bộ của tinh thần con người và chặn đứng bước tiến của điều thiện, điều chân thật và điều mỹ lệ.

Aspirants and probationary disciples are occupied with a definite process of focussing their consciousness in the soul. This process falls into two parts:

Các người chí nguyện và các đệ tử dự bị đang dấn thân vào một tiến trình xác định nhằm tập trung tâm thức của mình vào linh hồn. Tiến trình này chia thành hai phần:

An intensification of the personality life, so that it is developed to its highest individualistic powers.

– Một sự tăng cường đời sống phàm ngã, để nó được phát triển đến mức tối đa các năng lực cá nhân hóa cao nhất của nó.

A process of moving forward into the light and of conscious soul contact.

– Một tiến trình tiến vào ánh sáng và tiếp xúc có ý thức với linh hồn.

This involves the earlier stage of the alignment process, which is a mode of focussed, concentrated effort, according to the ray and life purpose of the soul. This may take the form of a profound application to some scientific endeavour or a deep concentration on the spiritual work of the world, or it may be a complete dedication to humanitarian effort; it matters not. I would call your attention to that statement. In every case the motivating power must be betterment; it must be carried forward by extreme effort; but—given right motive and the effort to develop simultaneously a good character and a stable purpose—the aspirant or probationary disciple will eventually find that he has succeeded in establishing a definite soul relation; he will have discovered that [501] the path of contact between soul and brain, via the mind, has been opened, and that he has mastered the first stage in the needed alignment process.

Điều này bao hàm giai đoạn đầu tiên của tiến trình chỉnh hợp, vốn là một phương thức nỗ lực tập trung và chú tâm, tùy theo cung và mục đích sống của linh hồn. Điều này có thể biểu hiện dưới hình thức ứng dụng sâu sắc vào một nỗ lực khoa học nào đó, hoặc sự tập trung sâu xa vào công cuộc tâm linh của thế giới, hoặc có thể là sự cống hiến trọn vẹn cho các nỗ lực nhân đạo; điều đó không quan trọng. Tôi muốn các bạn chú ý đến lời phát biểu đó. Trong mọi trường hợp, động lực thúc đẩy phải là vì sự cải thiện; điều đó phải được thực hiện bằng một nỗ lực tối đa; nhưng—nếu có động cơ đúng đắn và có nỗ lực đồng thời để phát triển một tính cách tốt và một mục đích ổn định—người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị cuối cùng sẽ thấy rằng y đã thành công trong việc thiết lập một mối liên hệ rõ ràng với linh hồn; y sẽ nhận ra rằng [501] con đường tiếp xúc giữa linh hồn và bộ não, thông qua trí tuệ, đã được mở ra, và rằng y đã làm chủ được giai đoạn đầu tiên của tiến trình chỉnh hợp cần thiết.

When this has been accomplished, the man passes on to the Path of Discipleship and can undertake the work I am outlining for you in this treatise. Thus you can see how the entire human family has reached a central and most important point upon the evolutionary path. The immediate path ahead for all—each in his own place—is to stand with right orientation, undeterred by circumstances, and then unflinchingly move forward.

Khi điều này đã được hoàn tất, con người sẽ bước tiếp trên Con Đường Đệ Tử và có thể đảm nhận công việc mà tôi đang trình bày cho các bạn trong trước tác này. Như vậy, các bạn có thể thấy rõ toàn thể gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm trung tâm và hết sức quan trọng trên con đường tiến hóa. Con đường trước mắt ngay lập tức cho tất cả—mỗi người tại vị trí của mình—là đứng vững với sự định hướng đúng đắn, không bị hoàn cảnh làm dao động, và rồi tiến bước không nao núng.

Webinar 44

I have given you the six methods of building the antahkarana, and as we proceed to take up our next point, I would have you refer to them at frequent intervals. The ray methods with which we shall be concerned are the methods, uniquely possible on the seven major lines of emanatory energy, which differing ray types will bring to bear on these six stages of the building process. All disciples on all these seven rays use the same building technique of Intention, Visualisation, Projection, Invocation and Evocation, Stabilisation and Resurrection. Of these the first two are uniform in technique for all the rays, but when the stage of Projection is reached, then the ray techniques begin to differ, and it is these techniques or methods of ray work, coupled with the seven Words of Power, which we shall now proceed to consider.

Tôi đã trình bày cho các bạn sáu phương pháp xây dựng antahkarana, và khi chúng ta tiếp tục sang điểm kế tiếp, tôi muốn các bạn thường xuyên tham khảo lại chúng. Các phương pháp theo cung mà chúng ta sẽ xem xét là những phương pháp một cách đặc thù có thể được áp dụng trên bảy dòng năng lượng phát xạ chính yếu, mà các loại hình cung khác nhau sẽ vận dụng vào sáu giai đoạn của tiến trình xây dựng này. Tất cả các đệ tử thuộc cả bảy cung đều sử dụng cùng một kỹ thuật xây dựng gồm: Ý định, Hình dung, Phóng chiếu, Khẩn cầu và Gợi lên, Ổn định và Phục sinh. Trong số đó, hai giai đoạn đầu tiên có kỹ thuật đồng nhất cho tất cả các cung, nhưng khi đến giai đoạn Phóng chiếu, các kỹ thuật theo cung mới bắt đầu có sự khác biệt, và chính những kỹ thuật hay phương pháp làm việc theo cung này, kết hợp với bảy Quyền năng từ, là điều mà chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu sau đây.

The Seven Ray Methods used in the Construction Process

Until the stage of projection is reached, the methods employed by all disciples on all rays are identical. Their intention is one, and they all have to attain the same measure of tension and of preparation for the construction of the bridge by gathering the needed energy from two sources—the personality and the soul. By this focussing and its resultant tension, by thus evoking the Spiritual Triad and starting the dual process of building from both ends of the bridge (if such a phrase is possible and permissible), the work goes forward uniformly. The use of the creative imagination [502] is now called forth and this forms the second stage. This presents a real difficulty for the first ray and the seventh ray aspirants. Neither type can with facility organise the material energy, orient energy currents, and see their objective clearly in the mind’s eye pictorially. It is a process which is profoundly difficult for them. It must, however, in some way be done, because the use of the visual imagination is an essential factor in the building process and one of the major means of focussing, prior to projection.

Cho đến khi đạt đến giai đoạn phóng chiếu, các phương pháp được sử dụng bởi tất cả các đệ tử thuộc mọi cung đều giống nhau. Ý định của họ là một, và tất cả đều phải đạt đến cùng một mức độ nhất tâm và chuẩn bị cho việc xây dựng chiếc cầu bằng cách tập hợp năng lượng cần thiết từ hai nguồn—phàm ngã và linh hồn. Nhờ vào sự tập trung này và mức độ căng thẳng sinh ra từ đó, bằng cách gợi lên Tam nguyên tinh thần và bắt đầu tiến trình kép của việc xây dựng từ cả hai đầu của chiếc cầu (nếu có thể dùng một cụm từ như vậy), công việc được tiến hành một cách đồng đều. Việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo [502] giờ đây được gọi vào hành động và điều này tạo thành giai đoạn thứ hai. Điều này gây ra một khó khăn thực sự cho các người chí nguyện thuộc cung một và cung bảy. Cả hai loại này đều không dễ dàng tổ chức năng lượng vật chất, định hướng các dòng năng lượng, và thấy rõ mục tiêu của mình dưới dạng hình ảnh trong “mắt trí tuệ.” Đây là một tiến trình cực kỳ khó khăn đối với họ. Tuy vậy, nó vẫn phải được thực hiện theo một cách nào đó, vì việc sử dụng trí tưởng tượng thị giác là một yếu tố thiết yếu trong tiến trình xây dựng và là một trong những phương tiện chính yếu của sự tập trung, trước khi đến giai đoạn phóng chiếu.

This process of projection falls into three main activities:

Tiến trình phóng chiếu này bao gồm ba hoạt động chính:

1. After due focussing and after careful, sequential and systematic picturing the “rainbow bridge,” the disciple—by a distinct and separate effort—calls in the will aspect of his nature, as far as he can in this incarnation. It is in this connection that the differing ray methods make their appearance, the difference being determined by the quality of the ray life.

1. Sau khi đã tập trung đúng mức và hình dung một cách cẩn trọng, tuần tự và có hệ thống về “chiếc cầu cầu vồng,” người đệ tử—bằng một nỗ lực rõ ràng và riêng biệt—gọi mời khía cạnh Ý chí của bản chất mình, trong mức độ có thể trong kiếp sống hiện tại. Chính trong mối liên hệ này mà các phương pháp theo cung khác biệt bắt đầu xuất hiện, và sự khác biệt đó được quyết định bởi phẩm tính của sự sống thuộc cung.

2. The disciple has to preserve steadily the triple consciousness, not simply theoretically but also factually, so that three paralleling lines of thought, or three streams of active energy, are used by him simultaneously:

2. Người đệ tử phải duy trì đều đặn ba trạng thái tâm thức, không chỉ trên lý thuyết mà còn trong thực tế, để ba dòng tư tưởng song song, hoặc ba dòng năng lượng hoạt động, được y sử dụng một cách đồng thời:

a. He is aware of himself, personality and soul, as occupied with the process of bridge building. He never for one second loses his sense of conscious identity.

a. Y ý thức được chính mình, phàm ngã và linh hồn, như đang tham gia vào tiến trình xây dựng chiếc cầu. Y không một giây phút nào đánh mất ý thức bản ngã của mình.

b. He is aware of the point of focussed tension which he has succeeded in producing and that three streams of energy have contributed to it—the focussed energy of the personality, poised in the lower concrete mind, the inflowing magnetic energy of the soul, streaming out from the twelve petals of the three tiers plus the innermost tier of the egoic lotus, and the energy of the “jewel in the lotus”—all streaming into the centre of tension on the mental levels of the lower mind.

b. Y ý thức được điểm tập trung căng thẳng mà y đã thành công trong việc tạo ra, và rằng ba dòng năng lượng đã góp phần vào đó—năng lượng tập trung của phàm ngã, được giữ thế quân bình trong thể trí cụ thể thấp; năng lượng từ tính đang tuôn đổ của linh hồn, tuôn ra từ mười hai cánh hoa của ba tầng và tầng sâu nhất của Hoa Sen Chân Ngã; và năng lượng của “viên ngọc trong hoa sen”—tất cả đều tuôn vào trung tâm của sự căng thẳng trên các tầng trí tuệ của hạ trí.

c. He is aware of as much of the consciousness of his ray energy as can enter into his awareness; this is his egoic ray energy and not personality force. He endeavours to see himself as a point of particular energy [503] coloured by his ray life, and carefully bears in mind that the energy of his egoic ray is the major energy through which the Monad is attempting to express itself, and also that his threefold egoic vehicle is a reflection of and closely related to the three aspects of the Spiritual Triad. It is this relation (and its conscious interplay and effect) which is evoked by the building of the antahkarana, and which eventually (when it is powerful enough) brings into radiant activity the “jewel in the lotus.”

c. Y ý thức được càng nhiều càng tốt tâm thức của năng lượng thuộc cung linh hồn y có thể thâm nhập vào nhận thức của y; đây là năng lượng cung linh hồn chứ không phải là mãnh lực của phàm ngã. Y cố gắng thấy chính mình như một điểm năng lượng đặc thù [503] được tô màu bởi sự sống thuộc cung của y, và luôn nhớ rằng năng lượng cung linh hồn của y là năng lượng chính yếu mà qua đó Chân thần đang tìm cách biểu hiện, và rằng ba thể linh hồn hợp nhất của y là sự phản ánh và có mối quan hệ chặt chẽ với ba phương diện của Tam nguyên tinh thần. Chính mối quan hệ này (và sự tương tác có ý thức và hiệu quả của nó) được gợi lên thông qua việc xây dựng antahkarana, và cuối cùng (khi đủ mạnh) làm cho “viên ngọc trong hoa sen” biểu hiện một cách rực rỡ.

3. When these three stages of realisation have been completed as far as the disciple feels he is capable of carrying them, then and only then does he prepare himself for the distinctive use of his ray method in preparing for the “projecting sound” or Word of Power.

3. Khi ba giai đoạn nhận thức này đã được hoàn tất trong mức độ mà người đệ tử cảm thấy y có thể đảm nhận, thì và chỉ khi đó y mới chuẩn bị cho việc sử dụng phương pháp đặc thù theo cung của mình trong việc chuẩn bị cho “âm thanh phóng chiếu” hay Quyền năng từ.

You can see from all the above that this constitutes a definitely planned process of a basic scientific nature, and requires as careful following as the procedure of any scientist in search of some advanced chemical formula. The only difference, scientifically speaking, is that the whole process is carried forward upon subjective levels and in the realm of consciousness, thus requiring a consciousness and a concentration not needed when working more tangibly on the outer plane of awareness. At first it seems complicated, as the disciple tries to master the different stages of the process, but it all becomes entirely automatic when once mastered. Here is a summary of process up to the point of definite projection:

Từ tất cả những điều trên, các bạn có thể thấy rằng đây là một tiến trình được hoạch định rõ ràng, mang bản chất khoa học căn bản, và đòi hỏi sự tuân thủ cẩn thận như cách một nhà khoa học làm việc với một công thức hóa học tiên tiến. Sự khác biệt duy nhất, xét theo góc độ khoa học, là toàn bộ tiến trình này được thực hiện trên các tầng chủ quan và trong lĩnh vực tâm thức, do đó đòi hỏi một mức độ tỉnh thức và tập trung không cần thiết khi làm việc một cách cụ thể hơn trên bình diện ngoại tại của ý thức. Lúc đầu, nó có vẻ phức tạp, khi người đệ tử cố gắng nắm vững các giai đoạn khác nhau của tiến trình, nhưng một khi đã được làm chủ, mọi thứ trở nên hoàn toàn tự động. Dưới đây là bảng tóm lược tiến trình cho đến điểm phóng chiếu xác định:

I. Intention, producing focussing and tension.

I. Ý định, tạo ra sự tập trung và căng thẳng.

II. Visualisation, produced by:

II. Hình dung, được tạo ra bởi:

1. The buddhic activity of “impression.”

1. Hoạt động Bồ đề của “ấn tượng.”

2. The tension of the mental body.

2. Sự căng thẳng của thể trí.

3. The imaginative processes of the astral body.

3. Tiến trình tưởng tượng của thể cảm xúc.

III. Projection:

III. Phóng chiếu:

1. The calling in of the Will aspect.

1. Gọi mời khía cạnh Ý chí.

2. The preservation of a triple state of awareness in order that: [504]

2. Duy trì ba trạng thái nhận thức để: [504]

a. The disciple is aware constantly of his own identity.

a. Người đệ tử luôn ý thức về bản ngã của chính mình.

b. He is conscious of a fixed point of tension.

b. Y ý thức về một điểm căng thẳng cố định.

c. He is aware actively of his soul ray or his soul energy.

c. Y ý thức một cách tích cực về cung linh hồn hay năng lượng linh hồn của mình.

3. He starts in to use that distinctive ray energy correctly.

3. Y bắt đầu sử dụng đúng đắn năng lượng cung đặc thù đó.

4. He then, when all the above is completed, uses the Word of Power which is the agent of his Will.

4. Sau khi tất cả điều trên được hoàn tất, y sử dụng Quyền năng từ, vốn là tác nhân của Ý chí.

This short tabulation should aid in the process, and you can see how stage grows out of stage and how, once familiarity has been established, it should be possible for the preliminary work to be rapidly carried forward.

Bảng tóm tắt ngắn gọn này sẽ hỗ trợ trong tiến trình, và các bạn có thể thấy mỗi giai đoạn phát triển từ giai đoạn trước, và một khi sự quen thuộc đã được thiết lập, thì công việc chuẩn bị có thể được tiến hành nhanh chóng.

When, however, the distinctive methods of the ray energy of the disciple reach the point of definite use, it is not so simple as it sounds. Success in the building process is dependent upon the ability of the disciple to do three things:

Tuy nhiên, khi các phương pháp đặc thù của năng lượng cung nơi người đệ tử đạt đến điểm được sử dụng một cách xác định, thì mọi thứ không đơn giản như vẻ bề ngoài. Sự thành công trong tiến trình xây dựng tùy thuộc vào khả năng của người đệ tử trong việc thực hiện ba điều:

1. Hold the mind steady in the light, i.e., preserving the point of tension at its highest possible point at any given time in the disciple’s unfoldment and building activity.

1. Giữ vững trí tuệ trong ánh sáng, tức là duy trì điểm căng thẳng ở mức cao nhất có thể tại bất kỳ thời điểm nào trong tiến trình phát triển và hoạt động xây dựng của người đệ tử.

2. Register consciousness of soul contact, thus bringing about an increasing fusion between the soul and the personality, so that complete at-one-ment is increasingly attained. Technically, this means that the energy of the soul ray and of the personality ray merge together, with the soul ray dominating always.

2. Ghi nhận tâm thức về sự tiếp xúc với linh hồn, từ đó tạo nên sự dung hợp ngày càng tăng giữa linh hồn và phàm ngã, để đạt được sự hợp nhất hoàn toàn một cách ngày càng vững chắc. Về mặt kỹ thuật, điều này có nghĩa là năng lượng của cung linh hồn và cung phàm ngã được dung hợp lại, với cung linh hồn luôn giữ vị trí chủ đạo.

3. Hold in mind, specifically and in detail, the method to be employed in building the bridge, according to the particular ray technique, and with the objective in view of relating (in a new and significant manner, factually and not just theoretically) the Spiritual Triad and the personality.

3. Ghi nhớ trong trí, một cách cụ thể và chi tiết, phương pháp được áp dụng trong việc xây dựng chiếc cầu, theo kỹ thuật riêng của từng cung, với mục tiêu liên kết (một cách mới mẻ và có ý nghĩa, trên thực tế chứ không chỉ trên lý thuyết) giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã.

The soul, therefore, as a separate entity, is fading slowly out of the picture because it is being absorbed into and by the personality, which is becoming more and more the soul in incarnation. Eventually the relation is established between [505] spirit (Monad) and personality (form or matter), with a tiny point of consciousness eternally present which is aware of both these factors and yet preserves inviolate its own identity. This latter realisation is the result of aeonian work, carried forward by the soul. Paradoxically, we say that the soul fades or drops out, yet in the last analysis it remains, for in this solar system there is naught else but only this consciousness of being.

Vì vậy, linh hồn, như một thực thể riêng biệt, đang dần mờ nhạt khỏi bức tranh, bởi vì nó đang được hấp thu vào và bởi phàm ngã, vốn ngày càng trở thành linh hồn nhập thể. Cuối cùng, mối liên hệ được thiết lập giữa [505] tinh thần (Chân thần) và phàm ngã (hình tướng hay vật chất), với một điểm nhỏ của tâm thức hiện diện vĩnh viễn, vốn nhận biết được cả hai yếu tố này và đồng thời vẫn bảo toàn nguyên vẹn bản chất riêng của nó. Nhận thức sau cùng này là kết quả của công trình mang tính trường cửu được thực hiện bởi linh hồn. Nghịch lý thay, chúng ta nói rằng linh hồn mờ dần hay biến mất, nhưng xét đến tận cùng thì nó vẫn hiện hữu, bởi trong Thái Dương Hệ này không có gì khác ngoài tâm thức về sự hiện hữu.

One point I would touch upon here before taking up the seven ray methods of projection. The bridge to be built is called frequently the “rainbow bridge” because it is constituted of all the colours of the seven rays. Speaking specifically and from the angle of the disciple, the bridge which he builds between the personality and the Spiritual Triad is composed of seven strands of energy, or seven streams of force; he uses all the seven rays, having gained facility in so doing because again and again his personality has (in the long cycle of incarnations) been on all the seven rays many times. But his soul ray dominates eventually, and in the rainbow bridge the “colours of his rays are heard vibrating; the note of his ray is seen.” The bridge built by humanity as a whole is one bridge composed of the multiplicity of individual bridges, built by the many disciples. It is therefore formed eventually of seven strands or streams of energy coming from the seven egoic groups (one group of each ray type). To this bridge the creative work of all human beings who reach the stage of soul contact contributes. Their dominant strands of light fuse into one whole and their lesser strands are lost to sight in the radiant light of the sevenfold bridge which humanity will eventually complete.

Tôi muốn đề cập một điểm tại đây trước khi bước vào các phương pháp phóng chiếu của bảy cung. Chiếc cầu cần xây thường được gọi là “chiếc cầu cầu vồng” vì nó được tạo thành từ tất cả các màu sắc của bảy cung. Nói một cách cụ thể và dưới góc nhìn của người đệ tử, chiếc cầu mà y xây dựng giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần được cấu thành từ bảy sợi năng lượng, hoặc bảy dòng mãnh lực; y sử dụng tất cả bảy cung, vì trong chuỗi dài của các kiếp sống, phàm ngã của y đã nhiều lần hoạt động trên cả bảy cung, nên y đã trở nên thành thạo trong việc sử dụng chúng. Tuy nhiên, cung linh hồn của y cuối cùng sẽ chiếm ưu thế, và trong chiếc cầu cầu vồng ấy, “các màu sắc của cung y rung động và âm thanh của cung y được thấy.” Chiếc cầu do nhân loại xây dựng như một tổng thể là một chiếc cầu được tạo thành từ vô số những chiếc cầu riêng lẻ do nhiều đệ tử xây dựng. Do đó, nó cuối cùng được hình thành từ bảy sợi hoặc dòng năng lượng đến từ bảy nhóm linh hồn (mỗi nhóm thuộc một loại cung). Vào chiếc cầu này, công trình sáng tạo của tất cả những con người đạt đến giai đoạn tiếp xúc với linh hồn đều đóng góp. Các sợi sáng chủ đạo của họ dung hợp thành một chỉnh thể, và các sợi phụ biến mất khỏi tầm nhìn trong ánh sáng rực rỡ của chiếc cầu bảy lần mà nhân loại cuối cùng sẽ hoàn tất.

Even in this finally completed bridge—at the end of the world cycle—one ray light and colour will predominate, the second ray, with the fourth ray as the subsidiary ray. The fourth ray might be symbolically called “the main cable” for humanity, because it is the dominant note of the Fourth Creative Hierarchy. Now let us take up the seven ray methods, one by one.

Ngay cả trong chiếc cầu được hoàn tất sau cùng đó—vào cuối chu kỳ thế giới—sẽ có một ánh sáng và màu sắc cung chiếm ưu thế: cung hai, với cung bốn là cung phụ. Cung bốn có thể được gọi biểu tượng là “dây cáp chính” cho nhân loại, vì nó là âm thanh chủ đạo của Đệ Tứ Huyền Giai Sáng Tạo. Giờ đây chúng ta hãy xem xét từng phương pháp của bảy cung.

Webinar 45   

[506] As we consider these seven ray techniques with their accompanying Words of Power, you must bear carefully in mind that we are dealing entirely with the Will aspect. This necessitates a higher process of alignment and the evocation of a divine aspect hitherto relatively quiescent, except in so far as the will finds its reflection in the activity of the sacrifice petals of the egoic lotus, plus its distorted shadow in the mind nature. This consequently posits a fairly high stage of spiritual unfoldment upon the part of the builder of the antahkarana; it means that there are indications of it (to say the least) between the mind, the sacrifice petals and the atmic principle. This may be simply the most tenuous thread imaginable, a thousand times finer than a gossamer web, but it must inevitably be present. When, from the angle of the esotericist, this is a tangible fact, you will then have the following direct contact:

[506] Khi chúng ta nghiên cứu các kỹ thuật của bảy cung này cùng với các Quyền năng từ tương ứng, các bạn phải ghi nhớ một cách cẩn trọng rằng chúng ta đang hoàn toàn xử lý với phương diện Ý chí. Điều này đòi hỏi một tiến trình chỉnh hợp ở cấp cao hơn và sự gợi lên của một phương diện thiêng liêng vốn từ trước đến nay tương đối tĩnh tại, ngoại trừ chừng nào ý chí còn được phản ánh trong hoạt động của các cánh hoa hy sinh trong Hoa Sen Chân Ngã, cộng thêm bóng méo mó của nó trong bản chất trí tuệ. Hệ quả là điều này giả định một trình độ khai mở tinh thần tương đối cao nơi người kiến tạo antahkarana; điều đó có nghĩa là đã có những dấu hiệu (ít nhất là vậy) của sự liên hệ giữa trí tuệ, các cánh hoa hy sinh và nguyên khí atma. Điều này có thể chỉ là sợi dây mỏng manh nhất có thể tưởng tượng, mảnh hơn cả sợi tơ nhện đến hàng ngàn lần, nhưng nó nhất thiết phải hiện diện. Khi, dưới góc nhìn của nhà huyền môn, điều này trở thành một thực tại có thể cảm nhận được, các bạn sẽ có được sự tiếp xúc trực tiếp sau đây:

image_2704.jpg

This contact, when completed, marks an entire unit of spiritual work, if I might so word it, bringing the man upon the physical plane into complete alignment; this unity is consummated at the time of the fourth initiation, the Great Renunciation at which time the first aspect begins to dominate the other two.

Sự tiếp xúc này, khi hoàn thành, đánh dấu một đơn vị trọn vẹn của công việc tinh thần, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, mang con người trên cõi trần vào sự chỉnh hợp hoàn toàn; sự hợp nhất này được hoàn thành vào thời điểm của lần điểm đạo thứ tư, Sự Từ Bỏ Vĩ Đại, khi đó trạng thái thứ nhất bắt đầu chi phối hai trạng thái còn lại.

Then the soul life—as hitherto understood—fades out and the causal body disappears. The sum total of memory, [507] quality and acquirements is then absorbed into the Monad. The words “I and my Father are one” become true. The astral body also vanishes in the same great process of renunciation, and the physical body (as an automatic agent of the vital body) is no longer needed, though it persists and serves a purpose when so required by the Monad. From the form aspect, you then have the Monad, the sphere of the Spiritual Triad and the etheric body upon the physical plane. I would here remind you that the levels of conscious existence which we regard as formless are only relatively so, because our seven planes are the seven subplanes of the cosmic physical plane. The centre of consciousness is now in the Will nature, when this point of attainment is reached, and is no longer in the love nature. Activity and love are still present in full measure, but the focus of the initiate’s attention is in the will aspect of divinity.

Rồi đời sống linh hồn—như đã được hiểu cho đến nay—mờ dần và thể nguyên nhân biến mất. Tổng số ký ức, phẩm tính và thành quả sau đó được hấp thụ vào Chân Thần. Những lời “Ta và Cha Ta là một” trở thành sự thật. Thể cảm xúc cũng biến mất trong quá trình từ bỏ vĩ đại tương tự, và thể xác (như một tác nhân tự động của thể sinh lực) không còn cần thiết nữa, mặc dù nó vẫn tồn tại và phục vụ một mục đích khi Chân Thần yêu cầu. Từ khía cạnh hình tướng, bạn sẽ có Chân Thần, phạm vi của Tam nguyên tinh thần và thể dĩ thái trên cõi trần. Tôi xin nhắc nhở bạn rằng các cấp độ tồn tại tâm thức mà chúng ta coi là vô tướng chỉ mang tính tương đối, vì bảy cõi giới của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi trần vũ trụ. Trung tâm tâm thức bây giờ nằm trong bản chất Ý Chí, khi điểm thành tựu này đạt được, và không còn nằm trong bản chất tình thương nữa. Hoạt động và tình thương vẫn hiện diện đầy đủ, nhưng tiêu điểm chú ý của điểm đạo đồ nằm trong khía cạnh ý chí của thiên tính.

It has been said in an ancient book belonging to the Masters’ Archives that:

Trong một cuốn sách cổ thuộc Văn Khố của các Chân Sư đã nói rằng:

“The preservation of values is the task of the initiate of the first ray; the attainment of positivity is the goal of the initiate of the second ray. He who works upon the third ray must reach the path from here to there.

“Việc bảo tồn các giá trị là nhiệm vụ của điểm đạo đồ cung một; việc đạt được tính tích cực là mục tiêu của điểm đạo đồ cung hai. Y, người làm việc trên cung ba, phải đạt đến con đường từ đây đến đó.

The initiate of the fourth ray arrives at the will aspect when conflict steps into its rightful place and causes no undue concern. These four attainments mark the goal for men and sway them all upon the lower point of consciousness. The ray of vision and of application indicates the way direct, evokes the will to follow, and welds the love of God, the love of man and all that breathes into the purpose underlying all, and towards that purpose and its earthly consummation the seventh ray gives all it has.”

Điểm đạo đồ cung bốn đạt đến khía cạnh ý chí khi xung đột bước vào vị trí chính đáng của nó và không gây ra lo lắng không đáng có. Bốn thành tựu này đánh dấu mục tiêu cho con người và chi phối tất cả họ trên điểm tâm thức thấp hơn. Cung của tầm nhìn và sự ứng dụng chỉ ra con đường trực tiếp, khơi dậy ý chí theo đuổi, và hàn gắn tình thương của Thượng đế, tình thương của con người và tất cả những gì có hơi thở vào mục đích nằm dưới tất cả, và hướng tới mục đích đó và sự hoàn thành trần thế của nó, cung bảy cho đi tất cả những gì nó có.”

It has not been easy to put these abstruse ideas, expressed in the most archaic language and symbolism, into modern terms and words. I have but conveyed the general idea—the collaboration of all the seven rays in the building processes of Deity and their planned interaction, on a tiny scale, [508] infinitesimal in comparison with the great Whole. Man responds within the circle of humanity, enclosed within the greater circle of the Hierarchy, and becomes conscious of this fusion and uses the potencies of both groups of lives, through the medium of the antahkarana. The moment the disciple approaches that point in consciousness and the antahkarana is firmly anchored (even if as yet but a tenuous structure), he becomes aware of the factor of the greater circle which encloses the other two—Shamballa, the Secret Place where the will of God is formulated for the immediate present and for the long range future.

Không dễ dàng để đưa những ý tưởng trừu tượng này, được diễn đạt bằng ngôn ngữ và biểu tượng cổ xưa nhất, thành những thuật ngữ và từ ngữ hiện đại. Tôi chỉ truyền đạt ý tưởng chung—sự cộng tác của tất cả bảy cung trong các quá trình kiến tạo của Thượng đế và sự tương tác được lên kế hoạch của chúng, trên một quy mô nhỏ, vô cùng nhỏ bé so với Đại Toàn Thể. Con người đáp ứng trong vòng nhân loại, được bao bọc trong vòng lớn hơn của Thánh đoàn, và nhận thức được sự dung hợp này và sử dụng tiềm năng của cả hai nhóm sự sống, thông qua trung gian của antahkarana. Vào thời điểm đệ tử tiếp cận điểm đó trong tâm thức và antahkarana được neo đậu vững chắc (ngay cả khi chỉ là một cấu trúc mong manh), y nhận thức được yếu tố của vòng tròn lớn hơn bao bọc hai vòng tròn kia—Shamballa, Nơi Bí Mật nơi ý chí của Thượng đế được xây dựng cho hiện tại trước mắt và cho tương lai dài hạn.

With this vision and suggested preamble let us now ascertain the seven techniques to be employed at the projection stage of the building process.

Với tầm nhìn này và lời nói đầu gợi ý, chúng ta hãy xác định bảy kỹ thuật được sử dụng ở giai đoạn phóng chiếu của quá trình kiến tạo.

Ray One…Will or Power

Cung Một…Ý Chí hoặc Quyền Năng

To understand the first ray technique, the basic quality of the ray must be grasped. It is dynamic. The point at the centre is the First Ray of Power, and its technique is never to move from the centre but from that point to work dynamically. Perhaps the word that would best express its mode of work is Inspiration. The Father inspires response from the material aspect, or from the Mother if you like that symbolism, but it accomplishes this by remaining immovably itself. From the point where he is, the Builder (human or divine) works, not by the Law of Attraction, as does the second ray, but by the Law of Synthesis, by a fiat of the will, based on a clearly formulated purpose and programme. You will see, therefore, that the first ray personality has to ascertain (as in fact do all disciples) which aspect he himself is of a particular ray. It is not possible for any disciple who has not taken the third initiation to ascertain his monadic ray, but any disciple building the antahkarana, and who has reached the stage of projection, should know his soul ray and his personality ray, and should remember that their fused or blended potency must perform the act of projection. The energy of the Monad can be evoked, but it results in a down-pouring towards its [509] working agent and it is not an act of projection per se. The act of projection is the work of the “shadow and the reflection.” The Old Commentary says in this connection, when dealing with the Word of Power for each ray:

Để hiểu kỹ thuật cung một, phẩm tính cơ bản của cung phải được nắm bắt. Nó mang tính năng động. Điểm ở trung tâm là Cung Quyền Năng Thứ Nhất, và kỹ thuật của nó là không bao giờ di chuyển khỏi trung tâm mà từ điểm đó làm việc một cách năng động. Có lẽ từ ngữ diễn đạt phương thức làm việc của nó tốt nhất là Cảm Hứng. Cha truyền cảm hứng cho sự đáp ứng từ khía cạnh vật chất, hoặc từ Mẹ nếu bạn thích biểu tượng đó, nhưng y hoàn thành điều này bằng cách giữ nguyên không lay chuyển. Từ điểm y đang ở, Đấng Kiến Tạo (con người hoặc thiêng liêng) làm việc, không phải bằng Định luật Hấp dẫn, như cung hai, mà bằng Định luật Tổng Hợp, bằng một mệnh lệnh của ý chí, dựa trên một mục đích và chương trình được xây dựng rõ ràng. Do đó, bạn sẽ thấy rằng phàm ngã cung một phải xác định (như tất cả các đệ tử thực sự làm) khía cạnh nào của một cung cụ thể mà y là. Không thể cho bất kỳ đệ tử nào chưa thực hiện lần điểm đạo thứ ba để xác định cung chân thần của mình, nhưng bất kỳ đệ tử nào xây dựng antahkarana, và đã đạt đến giai đoạn phóng chiếu, nên biết cung linh hồn và cung phàm ngã của mình, và nên nhớ rằng tiềm năng được dung hợp hoặc pha trộn của chúng phải thực hiện hành động phóng chiếu. Năng lượng của Chân Thần có thể được khơi dậy, nhưng nó dẫn đến một sự tuôn đổ xuống tác nhân làm việc của nó và nó không phải là một hành động phóng chiếu tự thân. Hành động phóng chiếu là công việc của “cái bóng và sự phản chiếu.” Cổ Luận nói trong mối liên hệ này, khi đề cập đến Quyền năng từ cho mỗi cung:

“When there is no shadow, for the Sun is clear, and no reflection for the water is no more, then naught remains but the one who stands with eyes directing life and form. The threefold shadow now is one. The three of self exists no more. The higher three descends and all the nine are one. Await the time.”

“Khi không có bóng tối, vì Mặt Trời quang đãng, và không có sự phản chiếu vì nước không còn nữa, thì không còn gì ngoài người đứng đó với đôi mắt chỉ đạo sự sống và hình tướng. Cái bóng tam phân giờ đây là một. Ba cái tôi không còn tồn tại nữa. Ba cái tôi cao hơn giáng xuống và tất cả chín cái tôi là một. Hãy đợi thời điểm.”

When, therefore, the ray of the soul dominates the ray of the personality, then the self becomes the acting agent, aided by the ray of the lower self. The rays of the three vehicles are no longer active, but only the basic duality of soul and personality remains, and there is no lesser differentiation.

Do đó, khi cung của linh hồn chi phối cung của phàm ngã, thì cái tôi trở thành tác nhân hành động, được cung của cái tôi thấp hơn hỗ trợ. Các cung của ba thể không còn hoạt động nữa, mà chỉ còn lại nhị nguyên cơ bản của linh hồn và phàm ngã, và không có sự phân biệt thấp hơn.

In considering all these seven rays, I seek to do three things in every case:

Khi xem xét tất cả bảy cung này, tôi tìm cách thực hiện ba điều trong mọi trường hợp:

1. Give the technique of projection. This technique falls into four stages:

1. Đưa ra kỹ thuật phóng chiếu. Kỹ thuật này được chia thành bốn giai đoạn:

a. The preparatory stage in which the consciousness becomes focussed in the soul ray.

a. Giai đoạn chuẩn bị trong đó tâm thức tập trung vào cung linh hồn.

b. An interlude in which the projecting agent realises with intensity the existence of the “point of tension” and the finished product of the visualisation process.

b. Một khoảng thời gian xen kẽ trong đó tác nhân phóng chiếu nhận ra một cách mãnh liệt sự tồn tại của “điểm nhất tâm” và sản phẩm hoàn chỉnh của quá trình hình dung.

c. A focussed activity of the will, according to the ray, in which a line of light or of living substance is imaginatively and creatively sent out or projected from the mental unit, as far as possible towards the Spiritual Triad, using constantly the creative imagination.

c. Một hoạt động tập trung của ý chí, theo cung, trong đó một đường ánh sáng hoặc chất liệu sống được tưởng tượng và sáng tạo gửi đi hoặc phóng chiếu từ đơn vị trí tuệ, càng xa càng tốt về phía Tam nguyên tinh thần, liên tục sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo.

d. This line of light (this strand or bridge) is then pictured as coloured by the two ray qualities, and it is held stably aligned in the light of the Spiritual Triad—not the light of the soul. This corresponds to the much earlier stage of development in which the mind was held steady in the light. The mind still is held in this manner, but the mind (as the agent of the soul and the [510] personality) is no longer quiescent, but itself becomes an active holding agent.

d. Đường ánh sáng này (sợi hoặc cầu nối này) sau đó được hình dung có màu sắc bởi hai phẩm tính cung, và nó được giữ chỉnh hợp ổn định trong ánh sáng của Tam nguyên tinh thần—không phải ánh sáng của linh hồn. Điều này tương ứng với giai đoạn phát triển sớm hơn nhiều, trong đó trí tuệ được giữ vững trong ánh sáng. Trí tuệ vẫn được giữ theo cách này, nhưng trí tuệ (với tư cách là tác nhân của linh hồn và phàm ngã) không còn tĩnh lặng nữa, mà tự nó trở thành một tác nhân giữ vững tích cực.

2. Indicate briefly the effect of the Word of Power. When adequate stability has been acquired, the disciple utters a Word of Power which serves to carry the light still further on and up. When correctly uttered, this Word produces three effects:

2. Chỉ ra ngắn gọn hiệu quả của Quyền năng từ. Khi sự ổn định đầy đủ đã đạt được, đệ tử phát ra một Quyền năng từ phục vụ để mang ánh sáng đi xa hơn và lên cao hơn. Khi được phát ra chính xác, Quyền năng từ này tạo ra ba hiệu ứng:

a. It keeps the channel for the descending light of the Spiritual Triad clear of all impediments.

a. Nó giữ cho kênh dẫn ánh sáng giáng xuống của Tam nguyên tinh thần không bị cản trở.

b. It reaches (by means of its vibratory activity) the centre of power which we call the Spiritual Triad, focussed temporarily in the manasic permanent atom, and evokes a response in the form of a thread of descending triadal light.

b. Nó chạm đến (bằng hoạt động rung động của nó) trung tâm quyền năng mà chúng ta gọi là Tam nguyên tinh thần, tạm thời tập trung vào nguyên tử trường tồn trí tuệ, và khơi dậy một sự đáp ứng dưới dạng một sợi ánh sáng tam nguyên giáng xuống.

c. It causes a vibration throughout the antahkarana which in its turn evokes response from the “rainbow bridge” as built by all other disciples. Thus the work of constructing the racial antahkarana is furthered.

c. Nó gây ra một rung động khắp antahkarana, đến lượt nó khơi dậy sự đáp ứng từ “cầu vồng” được xây dựng bởi tất cả các đệ tử khác. Do đó, công việc xây dựng antahkarana chủng tộc được thúc đẩy hơn nữa.

I am here doing two things—speaking to you in symbols. There is, literally speaking, no up or down or higher and lower, as you know, nor do any of the separative actions as outlined by the occult sciences exist. Yet the truth has to be thus presented owing to the mind consciousness of the disciple. I have also been giving in human terms the outline of a process which, if adequately followed, will enable you to make real progress in the preparatory understanding required by all who hope some day to take initiation.

Ở đây tôi đang làm hai việc—nói chuyện với bạn bằng biểu tượng. Theo nghĩa đen, không có lên hay xuống hoặc cao hơn và thấp hơn, như bạn biết, cũng như không có bất kỳ hành động tách biệt nào như được vạch ra bởi khoa học huyền bí. Tuy nhiên, sự thật phải được trình bày như vậy do tâm thức trí tuệ của đệ tử. Tôi cũng đã đưa ra bằng thuật ngữ con người phác thảo của một quá trình, nếu được tuân thủ đầy đủ, sẽ cho phép bạn đạt được tiến bộ thực sự trong sự hiểu biết chuẩn bị cần thiết cho tất cả những người hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện điểm đạo.

3. This brings us to the third point, the nature of initiation. Initiation falls really into three major expansions of consciousness.

3. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ ba, bản chất của điểm đạo. Điểm đạo thực sự được chia thành ba sự mở rộng tâm thức chính.

a. The expansion of consciousness of the dedicated personality into that of the soul; this is completely consummated at the third initiation.

a. Sự mở rộng tâm thức của phàm ngã tận tụy vào tâm thức của linh hồn; điều này được hoàn thành trọn vẹn ở lần điểm đạo thứ ba.

b. The expansion of this fused and blended consciousness [511] into that of the Spiritual Triad, completely consummated at the fifth initiation.

b. Sự mở rộng tâm thức được dung hợp và pha trộn này vào tâm thức của Tam nguyên tinh thần, hoàn thành trọn vẹn ở lần điểm đạo thứ năm.

c. The expansion of consciousness toward which the Masters are working, which is consummated at the seventh initiation.

c. Sự mở rộng tâm thức mà các Chân Sư đang hướng tới, được hoàn thành ở lần điểm đạo thứ bảy.

Students today have made much progress towards the control of the personality, and the disciples in the world are now so numerous that the hierarchical emphasis is today upon the states of consciousness which follow the third initiation. Hence the giving out to the public of the teaching upon the antahkarana.

Các học viên ngày nay đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc kiểm soát phàm ngã, và các đệ tử trên thế giới hiện nay đông đảo đến mức sự nhấn mạnh của Huyền Giai ngày nay là vào các trạng thái tâm thức sau lần điểm đạo thứ ba. Do đó, việc công bố cho công chúng giáo lý về antahkarana.

You will find below, in tabulated form, the teaching anent the six stages so that you may have a visual picture of the intended process. The following of the process is, of course, another matter and its success is dependent upon more than a theoretical grasp of process. It is dependent upon your ability to live more definitely in the world of meaning than hitherto, upon your knowledge of your soul and personality rays and upon your capacity to focus in your blended consciousness, and from that point—holding the mind steady in the light—utter the Word of Power which will carry your created thread of light forward towards the Spiritual Triad.

Bạn sẽ tìm thấy bên dưới, ở dạng bảng, giáo lý về sáu giai đoạn để bạn có thể có một bức tranh trực quan về quá trình dự định. Tất nhiên, việc tuân theo quá trình là một vấn đề khác và sự thành công của nó phụ thuộc vào nhiều hơn là một sự nắm bắt lý thuyết về quá trình. Nó phụ thuộc vào khả năng của bạn sống rõ ràng hơn trong thế giới ý nghĩa so với trước đây, vào kiến thức của bạn về các cung linh hồn và phàm ngã, và vào khả năng tập trung vào tâm thức pha trộn của bạn, và từ điểm đó—giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng—phát ra Quyền năng từ sẽ mang sợi ánh sáng được tạo ra của bạn tiến về phía Tam nguyên tinh thần.

OUTLINE FOR REFLECTIVE CONTEMPLATION ON CONSTRUCTING THE ANTAHKARANA

I. Points to have in mind.

I. Những điểm cần lưu ý.

This work of construction concerns the handling of energy. Students should ponder upon the distinction between energy and force.

Công việc xây dựng này liên quan đến việc xử lý năng lượng. Học viên nên suy ngẫm về sự khác biệt giữa năng lượng và mãnh lực.

It is dependent upon the use of the creative imagination. Students would do well to reflect upon the relationship of the imagination to the intuition and of both to the mind.

Nó phụ thuộc vào việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo. Học viên nên suy ngẫm về mối quan hệ giữa trí tưởng tượng với trực giác và cả hai với trí tuệ.

The work of building the antahkarana must be done with as much conscious understanding as possible. [512]

Công việc xây dựng antahkarana phải được thực hiện với sự thấu hiểu có ý thức càng nhiều càng tốt.

II. The six steps or methods of building the Antahkarana.

II. Sáu bước hoặc phương pháp xây dựng Antahkarana.

1. Intention.

1. Ý Định.

a. The achieving of right orientation

a. Đạt được sự định hướng đúng đắn

Towards the soul

Hướng tới linh hồn

Towards the Spiritual Triad

Hướng tới Tam nguyên tinh thần

b. A mental understanding of the work to be done is necessary.

b. Cần có sự thấu hiểu trí tuệ về công việc cần làm.

c. A ring-pass-not of consciously gathered energies must be created and held in a state of tension.

c. Một vòng-giới-hạn của các năng lượng được thu thập có ý thức phải được tạo ra và giữ ở trạng thái nhất tâm.

d. A period of clear thinking anent this process of Intention must be attempted.

d. Một khoảng thời gian tư duy rõ ràng về quá trình Ý Định này phải được cố gắng.

e. Then follows the preservation of a point of tension.

e. Sau đó là việc duy trì một điểm nhất tâm.

2. Visualisation.

2. Hình dung.

a. The use of the creative imagination or the picture-making faculty.

a. Sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo hoặc khả năng tạo hình ảnh.

b. Response to intuitional or buddhic impression.

b. Đáp ứng với ấn tượng trực giác hoặc bồ đề.

c. Preoccupation with two energies:

c. Chú tâm đến hai loại năng lượng:

The energy held at a point of tension within the previously created ring-pass-not.

Năng lượng được giữ ở một điểm nhất tâm trong vòng-giới-hạn được tạo ra trước đó.

The active picture-forming energy brought into action by the mind of the builder.

Năng lượng tạo hình ảnh tích cực được đưa vào hoạt động bởi trí tuệ của người xây dựng.

3. Projection.

3. Phóng chiếu.

a. The calling in of the will through the method appropriate to the Ray of the disciple, the soul ray.

a. Kêu gọi ý chí thông qua phương pháp phù hợp với Cung của đệ tử, cung linh hồn.

b. The simultaneous preservation of three lines of thought:

b. Đồng thời duy trì ba luồng tư tưởng:

Awareness of the blended personality and soul.

Nhận thức về phàm ngã và linh hồn được pha trộn.

Awareness of the point of focussed tension.

Nhận thức về điểm nhất tâm tập trung.

Awareness of the Ray energy in its will aspect.

Nhận thức về năng lượng Cung trong khía cạnh ý chí của nó.

c. The use of one or other of the seven Ray methods of projection, according to the Ray of the disciple.

c. Sử dụng một hoặc phương pháp phóng chiếu trong bảy phương pháp Cung, theo Cung của đệ tử.

d. the use of a Word of Power.

d. sử dụng một Quyền năng từ.

4. Invocation and Evocation.

4. Khẩn cầu và Triệu hồi.

a. The blended soul and personality are now invocative, and their united intention is expressed in the previous three stages.

a. Linh hồn và phàm ngã được pha trộn bây giờ mang tính khẩn cầu, và ý định thống nhất của chúng được thể hiện trong ba giai đoạn trước.

b. Then a response comes from the Spiritual Triad, which that intention, propelled by an act of will from a point of tension has evoked.

b. Sau đó, một sự đáp ứng đến từ Tam nguyên tinh thần, mà ý định đó, được thúc đẩy bởi một hành động ý chí từ một điểm nhất tâm, đã triệu hồi.

5. Stabilisation.

5. Ổn định.

This is bought about by long patient use of the four [513] previous processes and followed by a conscious use of the antahkarana.

Điều này được mua bằng việc sử dụng kiên nhẫn lâu dài bốn quá trình trước đó và tiếp theo là việc sử dụng có ý thức antahkarana.

6. Resurrection and Ascension.

6. Phục sinh và Thăng thiên.

This is the rising up of the consciousness out of soul and personality limitations (from the angle of the monad) and its passing into that of the Spiritual Triad.

Đây là sự trỗi dậy của tâm thức ra khỏi những giới hạn của linh hồn và phàm ngã (từ góc độ của chân thần) và sự chuyển vào tâm thức của Tam nguyên tinh thần.

Webinar 46

Here I would touch upon one important point connected with all Words of Power. I could give you these words in their ancient Sensa form, but it would not be possible for me to teach, through the medium of writing, their ancient and peculiar pronunciation or the note upon which they should be sounded forth. This used to be regarded of supreme importance. Today, disciples are being taught to work far more upon the inner planes of meaning and not to depend, as heretofore, upon the outer activity of sound. Remember that you are not creating now upon the outer plane. The physical sound or sounds are therefore of relatively no importance. What does matter is the ability of the disciple to feel the meaning of the Word of Power as he silently utters it. It is the quality of his idea which will bring the right effect, and not the way in which he makes a sound with the aid of his vocal cords and his mouth. Students have been taught that the A.U.M. sounded inaudibly and listened for, is of greater potency than when sounded audibly. This was preparatory to the utterance of these Words of Power. They have been learning the significance of the O.M., even if they did not realise it. This was all in preparation for the use of the Ray Words. It is the thought behind the form, the registered feeling anent the words, and the understanding of their significance which are of importance; it is the ability to think, to feel and silently to send out the call of quality to quality, of meaning to meaning, of nature to nature, of form to spirit which matters, remembering ever that that which is found upon the physical plane is not a principle. The physical sound is not that which will lead to a successful building of the antahkarana. It is the quality of a particular [514] type of subjective nature (the soul ray as it dominates the personality ray) which makes appeal to that which is still more subjective; that is what in truth accomplishes the work. It should be borne in mind that from the angle of the Spiritual Triad the soul nature is definitely objective. This is a statement of occult fact which will be better understood when the nature of man (as taught in the occult sciences) is admitted by thinkers, scientists and psychologists.

Ở đây tôi muốn đề cập đến một điểm quan trọng liên quan đến tất cả các Quyền năng từ. Tôi có thể đưa cho bạn những từ này ở dạng Sensa cổ xưa của chúng, nhưng tôi không thể dạy, qua phương tiện viết, cách phát âm cổ xưa và đặc biệt của chúng hoặc nốt mà chúng nên được xướng lên. Điều này từng được coi là tối quan trọng. Ngày nay, các đệ tử đang được dạy làm việc nhiều hơn trên các cõi ý nghĩa bên trong và không phụ thuộc, như trước đây, vào hoạt động âm thanh bên ngoài. Hãy nhớ rằng bạn không tạo ra bây giờ trên cõi bên ngoài. Do đó, âm thanh vật lý hoặc các âm thanh tương đối không quan trọng. Điều quan trọng là khả năng của đệ tử cảm nhận ý nghĩa của Quyền năng từ khi y thầm phát ra nó. Chính phẩm tính ý tưởng của y sẽ mang lại hiệu quả đúng đắn, chứ không phải cách y tạo ra âm thanh với sự trợ giúp của dây thanh quản và miệng. Học viên đã được dạy rằng A.U.M. được xướng lên không nghe thấy và được lắng nghe, có hiệu lực lớn hơn khi được xướng lên có thể nghe thấy. Điều này là chuẩn bị cho việc phát ra những Quyền năng từ này. Họ đã học được ý nghĩa của O.M., ngay cả khi họ không nhận ra điều đó. Tất cả điều này là sự chuẩn bị cho việc sử dụng các Lời Cung. Chính tư tưởng đằng sau hình tướng, cảm giác được ghi nhận về các từ ngữ và sự hiểu biết về ý nghĩa của chúng là điều quan trọng; chính khả năng suy nghĩ, cảm nhận và thầm gửi đi lời kêu gọi phẩm tính đến phẩm tính, ý nghĩa đến ý nghĩa, bản chất đến bản chất, hình tướng đến tinh thần là điều quan trọng, luôn nhớ rằng những gì được tìm thấy trên cõi trần không phải là một nguyên khí. Âm thanh vật lý không phải là thứ sẽ dẫn đến việc xây dựng thành công antahkarana. Chính phẩm tính của một loại bản chất chủ quan cụ thể (cung linh hồn khi nó chi phối cung phàm ngã) tạo ra sự hấp dẫn đối với những gì còn chủ quan hơn; đó là điều thực sự hoàn thành công việc. Cần lưu ý rằng từ góc độ của Tam nguyên tinh thần, bản chất linh hồn chắc chắn là khách quan. Đây là một tuyên bố về sự thật huyền bí sẽ được hiểu rõ hơn khi bản chất của con người (như được dạy trong khoa học huyền bí) được các nhà tư tưởng, nhà khoa học và nhà tâm lý học thừa nhận.

The point I wish to make is that no particular word is going to be given by me, because it would be useless. The O.M. is useless to most people, even though trained students may now be deriving benefit from its use. This general uselessness is caused not only because people do not use the Word correctly, but also because, even when using it they are not holding its significance firmly in their consciousness. So it is with a Word of Power. Of what use would it be if I attempted to give the Word of the first ray, which looks (when presented in its symbolic written form) something like this—UKRTAPKLSTI? Certain sounds in this word-form are omitted because there is no way of depicting them, since they are neither vowels nor consonants. Correctly sounded, the above forms three words. But I can give, as far as possible, the English equivalent in meaning, and it is this meaning which I ask you to have in mind as you mentally utter the sound or Word of Power and visually attempt to see it performing the esoteric miracle of bridge building.

Điểm tôi muốn nhấn mạnh là không có từ ngữ cụ thể nào được tôi đưa ra, vì nó sẽ vô ích. O.M. vô ích đối với hầu hết mọi người, mặc dù các học viên được đào tạo hiện có thể thu được lợi ích từ việc sử dụng nó. Sự vô dụng chung này không chỉ gây ra bởi vì mọi người không sử dụng Quyền năng từ một cách chính xác, mà còn bởi vì, ngay cả khi sử dụng nó, họ không giữ vững ý nghĩa của nó trong tâm thức của mình. Cũng như vậy đối với một Quyền năng từ. Nó sẽ có ích gì nếu tôi cố gắng đưa ra Quyền năng từ của cung một, trông (khi được trình bày ở dạng viết tượng trưng) giống như thế này—UKRTAPKLSTI? Một số âm thanh trong dạng từ này bị bỏ qua vì không có cách nào để mô tả chúng, vì chúng không phải là nguyên âm cũng không phải là phụ âm. Được xướng lên chính xác, dạng trên tạo thành ba từ. Nhưng tôi có thể đưa ra, trong phạm vi có thể, ý nghĩa tương đương tiếng Anh, và chính ý nghĩa này mà tôi yêu cầu bạn ghi nhớ khi bạn thầm phát ra âm thanh hoặc Quyền năng từ và trực quan cố gắng nhìn thấy nó thực hiện phép lạ huyền bí của việc xây cầu.

The first ray disciple has, therefore, to meet the requirements to the best of his ability and to follow the four stages of the technique of projection (pages 489-493, 509). When he has faithfully followed this outlined routine, personality and soul fusion has to be consciously attempted and to some measure achieved, and then these blended factors are held steady in the triadal light. Another point of focussed intention is now brought about, resulting in a new and still more dynamic tension. In the completed silence which results, the act of projecting the antahkarana is performed, [515] and it is then carried forward on the impetus of a Word of Power. The symbolism connected with this lies behind the Masonic usage of the words, translated into English, “So mote it be,” uttered with the right hand stretched forth and signifying the embodied will of the Lodge, itself a symbol of the Will and Purpose of the Most High.

Do đó, đệ tử cung một phải đáp ứng các yêu cầu tốt nhất khả năng của mình và tuân theo bốn giai đoạn của kỹ thuật phóng chiếu (trang 489-493, 509). Khi y đã trung thành tuân theo quy trình được vạch ra này, sự dung hợp phàm ngã và linh hồn phải được cố gắng một cách có ý thức và đạt được ở một mức độ nào đó, và sau đó các yếu tố pha trộn này được giữ vững trong ánh sáng tam nguyên. Một điểm ý định tập trung khác bây giờ được tạo ra, dẫn đến một sự nhất tâm mới và năng động hơn. Trong sự im lặng hoàn toàn kết quả, hành động phóng chiếu antahkarana được thực hiện, và sau đó nó được mang đi trên động lực của một Quyền năng từ. Biểu tượng liên quan đến điều này nằm sau việc sử dụng các từ của Hội Tam Điểm, được dịch sang tiếng Anh, “Vậy thì hãy như vậy,” được phát ra với bàn tay phải duỗi ra và biểu thị ý chí được thể hiện của Nhà, bản thân nó là một biểu tượng của Ý Chí và Thiên Ý của Đấng Tối Cao.

The meaning of the Word of Power to be used at this point of accomplished projection might be summed up in the words: “I ASSERT THE FACT.” This is the nearest form I can give you for the word-form earlier mentioned. A little deep reflection on these words will show that if uttered with an understanding of their meaning, they are of terrific potency. The disciple who utters them assumes and then asserts:

Ý nghĩa của Quyền năng từ được sử dụng tại điểm phóng chiếu hoàn thành này có thể được tóm tắt trong các từ: “TÔI KHẲNG ĐỊNH SỰ THẬT.” Đây là dạng gần nhất mà tôi có thể đưa cho bạn đối với dạng từ được đề cập trước đó. Một chút suy ngẫm sâu sắc về những từ này sẽ cho thấy rằng nếu được phát ra với sự hiểu biết về ý nghĩa của chúng, chúng có hiệu lực khủng khiếp. Đệ tử phát ra chúng giả định và sau đó khẳng định:

1. The Spiritual Triad is a fact.

1. Tam nguyên tinh thần là một sự thật.

2. The relation between the fused and blended personality and the soul is a fact.

2. Mối quan hệ giữa phàm ngã và linh hồn được dung hợp và pha trộn là một sự thật.

3. The antahkarana is also a fact.

3. Antahkarana cũng là một sự thật.

4. The dual expression of the basic duality of manifestation—personality or form and Monad or Spirit—is a fact.

4. Sự thể hiện kép của nhị nguyên cơ bản của biểu hiện—phàm ngã hoặc hình tướng và Chân Thần hoặc Tinh Thần—là một sự thật.

5. The will of the Monad is the factor to be evoked.

5. Ý chí của Chân Thần là yếu tố cần được khơi dậy.

6. The knowing, purposeful One can be depended upon to contact the instrument of its will upon the physical plane.

6. Đấng Hiểu Biết, Có Mục Đích có thể được tin cậy để tiếp xúc với công cụ ý chí của y trên cõi trần.

7. The work is done.

7. Công việc đã hoàn thành.

This factual assumption is not faith, but knowledge and conviction, and upon this realised conviction the disciple rests, acts and depends. It becomes an unalterable and unchangeable attitude. The meaning of the above seven-fold statement will become clearer if the disciple will ponder the distinction between faith and conviction. It is this divine assertion which holds the universe in being; it is this divine assertion which is the embodied summation of all knowledge and love, and the first ray disciple must begin to use this technique, resting back upon his divine prerogative of assertion. Ponder on this statement. It is the [516] technique of Shamballa and the established right, prerogative and privilege of all first ray souls.

Giả định thực tế này không phải là đức tin, mà là kiến thức và sự xác tín, và trên sự xác tín được nhận ra này, đệ tử nghỉ ngơi, hành động và phụ thuộc. Nó trở thành một thái độ không thể thay đổi và không thể thay đổi. Ý nghĩa của tuyên bố thất phân trên sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu đệ tử suy ngẫm sự khác biệt giữa đức tin và sự xác tín. Chính sự khẳng định thiêng liêng này giữ cho vũ trụ tồn tại; chính sự khẳng định thiêng liêng này là sự tổng kết được thể hiện của tất cả kiến thức và tình thương, và đệ tử cung một phải bắt đầu sử dụng kỹ thuật này, dựa vào đặc quyền khẳng định thiêng liêng của mình. Hãy suy ngẫm về tuyên bố này. Đó là kỹ thuật của Shamballa và quyền, đặc quyền và đặc ân đã được thiết lập của tất cả các linh hồn cung một.

Ray Two…Love-Wisdom

Cung Hai…Bác Ái-Minh Triết

Again the first two stages of Intention and Visualisation have been carefully followed and the four stages of the Projection have been carried through to their highest point. The vivid light of the second ray soul (the most vivid in this second ray solar system) dominates the light of form and radiates out to the triadal light. Then comes a moment of intense concentration and the peculiar Word of Power of the second ray is enunciated. Of this Word, the dual symbol SXPRULXS takes form in the mind of the disciple and signifies the assertion: “I SEE THE GREATEST LIGHT.” This statement has relation to the Central Spiritual Sun and not to the Heart of the Sun; it involves, if I might so express it, the most intense effort to see in the light the relation of the whole, and this is one of the most potent experiences to which the disciple can be subjected. It is not vision or even aspiration to see the vision. It is complete sight and of this the Masonic symbol of the “Eye of God,” the “All-Seeing Eye,” is the expression. It involves realisation of the light of the divine countenance; of this the light of the soul is the dim reflection. The disciple has learnt the significance of solar and lunar light (soul and form light), but this is something other. It is the great obliterating light of reality itself, revealing the fact of the higher Lighted Way which leads to Nirvana; Of this, the projected antahkarana is the stage first consciously realised by the disciple.

Một lần nữa, hai giai đoạn đầu tiên của Ý Định và Hình dung đã được tuân thủ cẩn thận và bốn giai đoạn của Phóng Chiếu đã được thực hiện đến điểm cao nhất của chúng. Ánh sáng sống động của linh hồn cung hai (sống động nhất trong hệ mặt trời cung hai này) chi phối ánh sáng của hình tướng và tỏa ra ánh sáng tam nguyên. Sau đó đến một khoảnh khắc tập trung mãnh liệt và Quyền năng từ đặc biệt của cung hai được phát ra. Về Quyền năng từ này, biểu tượng kép SXPRULXS hình thành trong trí tuệ của đệ tử và biểu thị sự khẳng định: “TÔI NHÌN THẤY ÁNH SÁNG VĨ ĐẠI NHẤT.” Tuyên bố này có liên quan đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương và không phải đến Tâm của Mặt Trời; nó bao gồm, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, nỗ lực mãnh liệt nhất để nhìn thấy trong ánh sáng mối quan hệ của toàn bộ, và đây là một trong những trải nghiệm mạnh mẽ nhất mà đệ tử có thể trải qua. Nó không phải là tầm nhìn hoặc thậm chí là khát vọng nhìn thấy tầm nhìn. Đó là thị giác hoàn chỉnh và biểu hiện của điều này là biểu tượng Hội Tam Điểm của “Mắt của Thượng đế”, “Mắt Thấy Tất Cả”. Nó bao gồm sự nhận ra ánh sáng của dung nhan thiêng liêng; ánh sáng của linh hồn là sự phản chiếu mờ nhạt của điều này. Đệ tử đã học được ý nghĩa của ánh sáng mặt trời và ánh trăng (ánh sáng linh hồn và ánh sáng hình tướng), nhưng đây là một điều khác. Đó là ánh sáng xóa bỏ vĩ đại của chính thực tại, tiết lộ sự thật về Con Đường Ánh Sáng Cao Hơn dẫn đến Niết Bàn; về điều này, antahkarana được phóng chiếu là giai đoạn đầu tiên được đệ tử nhận ra một cách có ý thức.

I am faced with difficulty in making these Words of Power clear to you, because essentially it is the Word made flesh or the soul in incarnation which at this point registers power; it is the symbol (the form aspect) and the power (the Spirit aspect) which acts as a great creative agency and bridges across all barriers and separative states of consciousness, thus establishing complete unity.

Tôi gặp khó khăn trong việc làm rõ những Quyền năng từ này cho bạn, vì về cơ bản, chính Linh từ hóa thân hoặc linh hồn đang nhập thể tại thời điểm này đăng ký quyền năng; chính biểu tượng (khía cạnh hình tướng) và quyền năng (khía cạnh Tinh Thần) hoạt động như một tác nhân sáng tạo vĩ đại và bắc cầu qua tất cả các rào cản và trạng thái tâm thức tách biệt, do đó thiết lập sự hợp nhất hoàn chỉnh.

I have indicated to you certain vowels and consonants [517] which are the nearest approach which I can make to making these Words clear, and I have done so in the case of the first and second rays. I shall give you no others, as it is entirely useless. I shall only give you the significances, the concepts involved and the meaning of which these archaic word-forms (which I have attempted to portray in Anglo-Saxon letters) are the embodiment. As the race passes more and more into the world of meaning, these word-forms assume less and less importance, and only the concentrated thought, based on understanding comprehension, can achieve the results. It is into this somewhat new form of work we are now pioneering.

Tôi đã chỉ ra cho bạn một số nguyên âm và phụ âm là cách tiếp cận gần nhất mà tôi có thể thực hiện để làm rõ những Quyền năng từ này, và tôi đã làm như vậy trong trường hợp của cung một và cung hai. Tôi sẽ không đưa cho bạn những cái khác, vì nó hoàn toàn vô ích. Tôi sẽ chỉ đưa cho bạn những ý nghĩa, các khái niệm liên quan và ý nghĩa mà những dạng từ cổ xưa này (mà tôi đã cố gắng mô tả bằng chữ cái Anglo-Saxon) là hiện thân. Khi nhân loại ngày càng đi vào thế giới ý nghĩa, những dạng từ này ngày càng ít quan trọng hơn, và chỉ có tư tưởng tập trung, dựa trên sự thấu hiểu toàn diện, mới có thể đạt được kết quả. Chúng ta hiện đang tiên phong vào hình thức làm việc có phần mới này.

Webinar 47—48

Ray Three… Active Intelligence

Cung Ba…Trí Tuệ Tích Cực

The processes of Intention and Visualisation have been followed, and again the four stages of the Projection technique have been concluded. At the point of highest tension, the disciple utters the Word of Power for the third ray. It is not easy for the disciple on this ray to achieve the necessary focal point of silence; his intense fluidity leads to many words or to great mental activity, frequently carried forward under the impulse of glamour. This lessens the potency of what he seeks to do. But when he has succeeded in achieving “mental silence” and is simply a point of intelligent concentration, then he can use the Word of Power with great effectiveness. The difficulty is that he has to overcome the tendency to use it with the idea of physical plane results in his consciousness. Always he works from the angle of that divine quality which characterises matter; just as the second ray disciple works always from the angle of quality and the first ray disciple from the positivity of spirit. But once he intuitively comprehends and factually grasps the concept that spirit-matter are one reality, and once he has achieved within himself the sublimation of matter, then he can divorce himself from all that the human being understands in relation to form. He can then utter the Word of Power which will make possible his complete identification with spirit, via the antahkarana. This word is “PURPOSE ITSELF AM I”

Các quá trình Ý Định và Hình dung đã được tuân theo, và một lần nữa bốn giai đoạn của kỹ thuật Phóng Chiếu đã được hoàn thành. Tại điểm nhất tâm cao nhất, đệ tử phát ra Quyền năng từ cho cung ba. Đệ tử trên cung này không dễ dàng đạt được điểm tập trung im lặng cần thiết; tính lưu động mãnh liệt của y dẫn đến nhiều từ ngữ hoặc hoạt động trí tuệ lớn, thường được mang đi dưới sự thúc đẩy của ảo cảm. Điều này làm giảm hiệu lực của những gì y tìm cách làm. Nhưng khi y đã thành công trong việc đạt được “sự im lặng trí tuệ” và chỉ đơn giản là một điểm tập trung thông minh, thì y có thể sử dụng Quyền năng từ một cách hiệu quả cao. Khó khăn là y phải vượt qua xu hướng sử dụng nó với ý tưởng về kết quả cõi trần trong tâm thức của mình. Y luôn làm việc từ góc độ phẩm tính thiêng liêng đặc trưng cho vật chất; giống như đệ tử cung hai luôn làm việc từ góc độ phẩm tính và đệ tử cung một từ tính tích cực của tinh thần. Nhưng một khi y trực giác thấu hiểu và nắm bắt thực tế khái niệm rằng tinh thần-vật chất là một thực tại, và một khi y đã đạt được trong chính mình sự thăng hoa của vật chất, thì y có thể tách mình khỏi tất cả những gì con người hiểu liên quan đến hình tướng. Sau đó, y có thể phát ra Quyền năng từ sẽ giúp y có thể hoàn toàn đồng nhất với tinh thần, thông qua antahkarana. Quyền năng từ này là “BẢN THÂN TÔI LÀ MỤC ĐÍCH”

[518] As regards the other and remaining Words of Power connected with the four Rays of Attribute, I shall simply list them, as there is little that I can say about them. They can be comprehended in the light of what I have said anent the three Words of Power used upon the Rays of Aspect.

Liên quan đến các Quyền năng từ còn lại khác được kết nối với bốn Cung Thuộc Tính, tôi sẽ chỉ liệt kê chúng, vì có rất ít điều tôi có thể nói về chúng. Chúng có thể được thấu hiểu dưới ánh sáng của những gì tôi đã nói về ba Quyền năng từ được sử dụng trên các Cung Trạng Thái.

Ray Four…Harmony through Conflict

Cung Bốn…Hài Hòa qua Xung Đột

“TWO MERGE WITH ONE”

“HAI DUNG HỢP VỚI MỘT”

Ray Five…Concrete Knowledge or Science

Cung Năm…Kiến Thức Cụ Thể hoặc Khoa Học

“THREE MINDS UNITE”

“BA TRÍ HỢP NHẤT”

(This asserts the fact that the Universal Mind, the higher mind and the lower concrete mind are blended through the projected antahkarana.)

(Điều này khẳng định sự thật rằng Trí tuệ Vũ Trụ, thượng trí và hạ trí cụ thể được pha trộn thông qua antahkarana được phóng chiếu.)

Ray Six…Devotion or Idealism

Cung Sáu…Sự Tận Tâm hoặc Chủ Nghĩa Duy Tâm

“THE HIGHEST LIGHT CONTROLS”

“ÁNH SÁNG CAO NHẤT KIỂM SOÁT”

Ray Seven…Ceremonial Law or Order

Cung Bảy…Luật Nghi Lễ hoặc Trật Tự

“THE HIGHEST AND THE LOWEST MEET”

“CAO NHẤT VÀ THẤP NHẤT GẶP NHAU”

You will note that in all these Words of Power, two obvious thoughts emerge; first, that the goal of all activity is the complete fusion of the three Aspects, and secondly, that consciousness of this comes through the building and use of the bridge between the Spiritual Triad and the Personality. You will note that these are all definite assertions, based on knowledge leading to conviction. The various schools of affirmation found today throughout the world are but the distorted efforts of humanity to arrive at the affirmative position which the blended soul and personality always necessarily assumes, and demonstrate a kind of instinctual reaction to a new realisation which is coming into the consciousness of humanity, via its disciples and initiates.

Bạn sẽ lưu ý rằng trong tất cả những Quyền năng từ này, hai tư tưởng rõ ràng xuất hiện; thứ nhất, mục tiêu của mọi hoạt động là sự dung hợp hoàn chỉnh của ba Trạng Thái, và thứ hai, nhận thức về điều này đến thông qua việc xây dựng và sử dụng cầu nối giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm Ngã. Bạn sẽ lưu ý rằng đây đều là những khẳng định chắc chắn, dựa trên kiến thức dẫn đến sự xác tín. Các trường phái khẳng định khác nhau được tìm thấy ngày nay trên khắp thế giới chỉ là những nỗ lực méo mó của nhân loại để đạt được vị trí khẳng định mà linh hồn và phàm ngã được pha trộn luôn nhất thiết phải đảm nhận, và thể hiện một loại phản ứng bản năng đối với một sự nhận ra mới đang đi vào tâm thức của nhân loại, thông qua các đệ tử và điểm đạo đồ của nó.

We have practically concluded our study of the antahkarana; however, I want to enlarge a little further upon the three final stages of the building process as dealt with and outlined earlier. These three stages were most briefly considered, owing to their abstract nature. They are part, however, of the six building methods. The first [519] three were considered in greater detail than the last three, and I have felt that it might serve a useful purpose if I gave more teaching anent Invocation and Evocation in particular, for it will condition—consciously and exoterically—the new world religion, as it has hitherto conditioned it esoterically and unconsciously.

Chúng ta đã thực tế kết thúc nghiên cứu về antahkarana; tuy nhiên, tôi muốn mở rộng thêm một chút về ba giai đoạn cuối cùng của quá trình xây dựng như đã được đề cập và phác thảo trước đó. Ba giai đoạn này được xem xét rất ngắn gọn, do bản chất trừu tượng của chúng. Tuy nhiên, chúng là một phần của sáu phương pháp xây dựng. Ba phương pháp đầu tiên được xem xét chi tiết hơn ba phương pháp cuối cùng, và tôi cảm thấy rằng có thể phục vụ một mục đích hữu ích nếu tôi đưa ra nhiều giáo lý hơn về Khẩn cầu và Triệu hồi nói riêng, vì nó sẽ điều kiện—một cách có ý thức và ngoại môn—tôn giáo thế giới mới, như nó đã điều kiện một cách nội môn và vô thức cho đến nay.

Webinar 49

Invocation and Evocation (continued from pages 493-495):

Khẩn cầu và Triệu hồi (tiếp theo từ trang 493-495):

These two words are descriptive of that mysterious something—emanation, voiceless appeal, inherent urge towards the light—which is innate in all forms, which produces interplay and relationship, and which is the cause of all progress or pushing forward along the path of an expanding consciousness and a penetration into the light. This is true of a plant pushing its way out of the darkness of earth into the light of the sun, a child extricating itself under the life impulse from the womb of its mother, of the human being pushing himself into realms of greater knowledge and effective physical living, of the aspirant driving forward out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom, of the disciple penetrating into the realm of soul light and life, of the initiate passing from grade to grade in the Hierarchy of Liberation, of the Christ moving on into the Council Chamber of Shamballa, and of the Lord of the World Himself undertaking those processes which will lead Him into realms of divine life—of which even the highest initiate on our planet has no conception. All comes about as part of a great system of invocation and evocation, of appeal and response, and all are distinctive of the “mode of Life” which governs the entire graded hierarchy of Being upon our planet.

Hai từ này mô tả một điều gì đó bí ẩn—xuất lộ phát xạ, lời kêu gọi không lời, sự thôi thúc bẩm sinh hướng tới ánh sáng—điều bẩm sinh trong tất cả các hình tướng, tạo ra sự tương tác và mối quan hệ, và là nguyên nhân của mọi tiến bộ hoặc sự thúc đẩy về phía trước trên con đường của một tâm thức đang mở rộng và sự thâm nhập vào ánh sáng. Điều này đúng với một cái cây đẩy mình ra khỏi bóng tối của đất vào ánh sáng mặt trời, một đứa trẻ tự giải thoát mình dưới xung động sự sống khỏi bụng mẹ, con người tự đẩy mình vào các lĩnh vực kiến thức lớn hơn và cuộc sống vật lý hiệu quả, người chí nguyện lái mình về phía trước ra khỏi Phòng Học Tập vào Phòng Minh Triết, đệ tử thâm nhập vào lĩnh vực ánh sáng và sự sống linh hồn, điểm đạo đồ vượt qua từ cấp độ này sang cấp độ khác trong Huyền Giai Giải Thoát, Đức Christ tiến vào Phòng Hội Đồng của Shamballa, và chính Đức Chúa Tể Thế Giới thực hiện những quá trình sẽ dẫn Ngài vào các lĩnh vực sự sống thiêng liêng—điều mà ngay cả điểm đạo đồ cao nhất trên hành tinh của chúng ta cũng không có khái niệm. Tất cả đều diễn ra như một phần của một hệ thống khẩn cầu và triệu hồi vĩ đại, của lời kêu gọi và sự đáp ứng, và tất cả đều đặc trưng cho “phương thức Sự Sống” chi phối toàn bộ Huyền Giai Phẩm Trật của Bản Thể trên hành tinh của chúng ta.

This evolutionary pushing forward along the Lighted Way, out of darkness into light, from the unreal to the real, and from death to immortality, is an inherent urge in all forms. It constitutes one of the most subtle and one of the least understood laws of the universe, being related to the Life principle, of which we know as yet naught; it underlies the Law of Evolution as well as the Law of Karma [520] and is, in reality, the Law of the Life Purpose of the planetary Logos; it is an expression of His dynamic intention as it forces all substance in manifestation and in time and space to act and react in conformity to His Will. He thus enables His form—the planet which is a compound of all the seven kingdoms in nature—to express logoic intention for the “duration of the Great Breath”; of this breath, time and space are the two aspects. It affects the tiniest atom and the most exalted Being within the sphere of His consciousness and the scope of His livingness; it affects the subhuman kingdoms, unconsciously to them, and is (in relation to them) sometimes spoken of as “the Law of Life of the Sun.” The human family, after the stage of personality integration is reached, reacts with increasing consciousness of the divine purpose. Once the antahkarana is constructed and the higher initiations are taken, the initiate then cooperates with that purpose in full understanding and intention. He no longer simply reacts to his own interior urges, which force him ever to invoke the higher aspect of life and of consciousness which he senses on ahead. He now knows. He sees; he participates in the Plan; he relates himself to the divine Intention through an understanding of the doctrine or Science of Tension; he makes the divine Intention his, as far as he can grasp it. This reciprocal interplay produces the mutability of form and the immutability of the divine nature which is distinctive of those liberated Consciousnesses which have freed Themselves from the prison of form.

Sự thúc đẩy tiến hóa này về phía trước dọc theo Con Đường Ánh Sáng, ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái không có thật đến cái có thật, và từ cái chết đến sự bất tử, là một sự thôi thúc bẩm sinh trong tất cả các hình tướng. Nó cấu thành một trong những định luật tinh tế nhất và ít được hiểu nhất của vũ trụ, liên quan đến nguyên khí Sự Sống, mà chúng ta vẫn chưa biết gì; nó nằm dưới Định Luật Tiến Hóa cũng như Định Luật Nghiệp Quả và trên thực tế, là Định Luật Mục Đích Sự Sống của Hành Tinh Thượng Đế; nó là một sự thể hiện ý định năng động của Ngài khi Ngài buộc tất cả vật chất trong biểu hiện và trong thời gian và không gian hành động và phản ứng phù hợp với Ý Chí của Ngài. Do đó, Ngài cho phép hình tướng của Ngài—hành tinh là một hợp chất của tất cả bảy giới trong tự nhiên—thể hiện ý định thượng đế cho “khoảng thời gian của Đại Hơi Thở”; về hơi thở này, thời gian và không gian là hai khía cạnh. Nó ảnh hưởng đến nguyên tử nhỏ nhất và Bản Thể cao quý nhất trong phạm vi tâm thức và phạm vi sự sống của Ngài; nó ảnh hưởng đến các giới dưới loài người, một cách vô thức đối với chúng, và (liên quan đến chúng) đôi khi được gọi là “Định Luật Sự Sống của Mặt Trời”. Gia đình nhân loại, sau khi giai đoạn tích hợp phàm ngã đạt được, phản ứng với sự nhận thức ngày càng tăng về mục đích thiêng liêng. Một khi antahkarana được xây dựng và các lần điểm đạo cao hơn được thực hiện, điểm đạo đồ sau đó hợp tác với mục đích đó với sự thấu hiểu và ý định đầy đủ. Y không còn đơn giản phản ứng với những thôi thúc nội tâm của chính mình, buộc y luôn khẩn cầu khía cạnh cao hơn của sự sống và tâm thức mà y cảm nhận được ở phía trước. Bây giờ y biết. Y nhìn thấy; y tham gia vào Thiên Cơ; y liên hệ mình với Thiên Ý thông qua sự thấu hiểu giáo lý hoặc Khoa Học về Sự Nhất Tâm; y biến Thiên Ý thành của mình, trong phạm vi y có thể nắm bắt được. Sự tương tác hỗ tương này tạo ra tính khả biến của hình tướng và tính bất biến của bản chất thiêng liêng, đặc trưng cho những Tâm Thức được giải thoát đã tự giải thoát khỏi nhà tù của hình tướng.

Elsewhere (The Reappearance of the Christ. p 157-158) I said that “The definition of religion, which will in the future prove of greater accuracy than any yet formulated by the theologians, might be expressed as follows:

Ở nơi khác (Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ. tr. 157-158) tôi đã nói rằng “Định nghĩa về tôn giáo, trong tương lai sẽ chứng minh độ chính xác lớn hơn bất kỳ định nghĩa nào được các nhà thần học đưa ra, có thể được diễn đạt như sau:

Religion is the name given to the invocative appeal of humanity and the evocative response of the greater Life to that cry.

Tôn giáo là tên gọi được đặt cho lời kêu gọi khẩn cầu của nhân loại và sự đáp ứng triệu hồi của Sự Sống vĩ đại hơn đối với tiếng kêu đó.”

It is, in fact, the recognition by the part of its relationship to the Whole, plus a constantly growing demand for increased [521] awareness of that relation; it draws forth the recognition of the Whole that the demand has been made. It is the impact of the vibration of humanity—oriented specifically to the Great Life of which it feels itself a part—upon that Life, and the responsive impact of that “All surrounding Love” upon the lesser vibration. It is only now that the impact of the human vibration can dimly be sensed in Shamballa; hitherto its most potent activity has only reached the Hierarchy. Religion, the science of invocation and evocation as far as humanity is concerned, is the approach (in the coming New Age) of a mentally polarised humanity. In the past, religion has had an entirely emotional appeal. It concerned the relation of the individual to the world of reality, of the seeking aspirant to the sought-for divinity. Its technique was the process of fitting oneself for the revelation of that divinity, of achieving a perfection which would warrant that revelation, and of developing a sensitivity and a loving response to the ideal Man, summarised for present day humanity in the Christ.

Trên thực tế, đó là sự nhận ra của phần về mối quan hệ của nó với Toàn Thể, cộng với nhu cầu ngày càng tăng về nhận thức lớn hơn về mối quan hệ đó; nó rút ra sự nhận ra của Toàn Thể rằng nhu cầu đã được đưa ra. Đó là tác động của sự rung động của nhân loại—được định hướng cụ thể đến Sự Sống Vĩ Đại mà nó cảm thấy mình là một phần—lên Sự Sống đó, và tác động đáp ứng của “Tình Thương Bao Quanh Tất Cả” đó lên sự rung động nhỏ hơn. Chỉ bây giờ tác động của sự rung động của con người mới có thể được cảm nhận một cách lờ mờ ở Shamballa; cho đến nay hoạt động mạnh mẽ nhất của nó chỉ đạt đến Huyền Giai. Tôn giáo, khoa học về khẩn cầu và triệu hồi liên quan đến nhân loại, là sự tiếp cận (trong Kỷ Nguyên Mới sắp tới) của một nhân loại phân cực trí tuệ. Trong quá khứ, tôn giáo đã có một sự hấp dẫn hoàn toàn mang tính cảm xúc. Nó liên quan đến mối quan hệ của cá nhân với thế giới thực tại, của người chí nguyện đang tìm kiếm với thiên tính đang được tìm kiếm. Kỹ thuật của nó là quá trình tự chuẩn bị cho sự mặc khải của thiên tính đó, đạt được một sự hoàn hảo đảm bảo cho sự mặc khải đó, và phát triển sự nhạy cảm và sự đáp ứng yêu thương đối với Con Người lý tưởng, được tóm tắt cho nhân loại ngày nay trong Đức Christ.

Christ came to end the cycle of this emotional approach which had existed since Atlantean days; He demonstrated in Himself the visioned perfection and then presented to humanity an example—in full manifestation—of every possibility latent in man up to that time. The achieving of the perfection of the Christ-consciousness became the emphasised goal of humanity.”

Đức Christ đến để kết thúc chu kỳ của sự tiếp cận cảm xúc này đã tồn tại từ thời Atlantis; Ngài đã chứng minh trong chính mình sự hoàn hảo được hình dung và sau đó trình bày cho nhân loại một tấm gương—trong sự biểu hiện đầy đủ—về mọi khả năng tiềm ẩn trong con người cho đến thời điểm đó. Việc đạt được sự hoàn hảo của tâm thức Christ trở thành mục tiêu được nhấn mạnh của nhân loại.”

The activity of all previous Teachers and demonstrating Sons of God became only the presentation of the various aspects of a divine perfection which the Christ summarised in Himself. But He did far more than just this. Had this been all that He accomplished, He would have presented to humanity a picture of a static achievement, a culmination of perfection such as the evolutionary status of man at that time demanded; He would have given us, in fact, a Figure of very great, but at the same time, arrested development. This was of course impossible, but the religion which He founded has never recognised this fact or considered what lay beyond Christ, what was the nature of His [522] subjective background and what was His point of achievement, and whether He still had other possibilities. This was perhaps an unavoidable omission owing to the fact that the idea of evolution was unknown until relatively very late, in the human consciousness. Orthodox religion has been preoccupied with an emotional and aspirational approach to this Figure of Perfection; it has not looked beyond the Figure to the Reality which He represents. This Christ Himself foresaw as a possibility, and sought to obviate when He pointed out to His disciples that they could do “greater things” than He had done, because He was going “to the Father.” He, in those words, pointed beyond Himself to the One Who was responsible for His Being, and to the Way of the Higher Evolution—a subject with which the church has never satisfactorily dealt. In the above words He indicated a state of being which He had never demonstrated on earth, owing to the unpreparedness of man, and also to the fact that He Himself was only “on His Way.”

Hoạt động của tất cả các Huấn Sư trước đây và các Con của Thượng đế đang chứng minh chỉ trở thành sự trình bày các khía cạnh khác nhau của một sự hoàn hảo thiêng liêng mà Đức Christ đã tóm tắt trong chính mình. Nhưng Ngài đã làm được nhiều hơn thế. Nếu đây là tất cả những gì Ngài đã hoàn thành, Ngài sẽ trình bày cho nhân loại một bức tranh về một thành tựu tĩnh tại, một đỉnh cao của sự hoàn hảo như tình trạng tiến hóa của con người vào thời điểm đó yêu cầu; trên thực tế, Ngài sẽ cho chúng ta một Hình Tượng rất vĩ đại, nhưng đồng thời, sự phát triển bị đình trệ. Điều này tất nhiên là không thể, nhưng tôn giáo mà Ngài sáng lập chưa bao giờ nhận ra sự thật này hoặc xem xét những gì nằm ngoài Đức Christ, bản chất bối cảnh chủ quan của Ngài là gì và điểm thành tựu của Ngài là gì, và liệu Ngài vẫn còn những khả năng khác hay không. Đây có lẽ là một thiếu sót không thể tránh khỏi do thực tế là ý tưởng về sự tiến hóa đã không được biết đến cho đến tương đối muộn trong tâm thức con người. Tôn giáo chính thống đã bận tâm đến một sự tiếp cận cảm xúc và khát vọng đối với Hình Tượng Hoàn Hảo này; nó đã không nhìn xa hơn Hình Tượng đến Thực Tại mà Ngài đại diện. Chính Đức Christ đã thấy điều này như một khả năng, và tìm cách loại bỏ khi Ngài chỉ ra cho các đệ tử của mình rằng họ có thể làm “những điều lớn lao hơn” những gì Ngài đã làm, bởi vì Ngài sẽ “đi đến Cha.” Trong những lời đó, Ngài đã chỉ ra ngoài chính mình đến Đấng chịu trách nhiệm cho Bản Thể của Ngài, và đến Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu—một chủ đề mà nhà thờ chưa bao giờ giải quyết thỏa đáng. Trong những lời trên, Ngài đã chỉ ra một trạng thái tồn tại mà Ngài chưa bao giờ chứng minh trên trái đất, do sự thiếu chuẩn bị của con người, và cũng do thực tế là chính Ngài chỉ “đang Trên Đường Đi.”

The Way of the Higher Evolution has also its two phases, as has the Lighted Way. In the early stages of the unfoldment of the Christ consciousness and in the attainment of the third initiation, the Transfiguration, the aspirant and the initiate-disciple pass along the first part of the Path of Discipleship. In the treading of the Way of the Higher Evolution (for which we have as yet only this somewhat cumbersome name) the initiate-disciple treads the Way of Antahkarana and the Way of the Higher Initiations. In making this statement I would again remind you that the third initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, whilst the two previous initiations are considered as only preparatory in their nature. The training given in preparation for them, and the consequent expansions of consciousness, reveal to the initiate the nature of the soul, the scope (widespread and universal) of the divine consciousness, and his relation to the Father, the Monad. They enable him to become the soul in manifestation to such an extent that his awareness is definitely and unalterably [523] that of the soul; at the fourth initiation the soul-body, the causal vehicle, is no longer needed, and it then disappears, dissipates, and is entirely destroyed, thus leaving the initiate free to tread the Way of the Higher Evolution and to follow in the footsteps of the Christ. He was the first of our planetary humanity to blaze the trail (is not that a phrase much used?) to the higher spheres of revelation.

Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu cũng có hai giai đoạn, giống như Con Đường Ánh Sáng. Trong giai đoạn đầu của sự khai mở tâm thức Christ và trong việc đạt được lần điểm đạo thứ ba, Sự Biến Hình, người chí nguyện và đệ tử điểm đạo đồ đi dọc theo phần đầu tiên của Con Đường Đệ Tử. Trong việc bước đi trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu (mà chúng ta vẫn chỉ có cái tên có phần rườm rà này), đệ tử điểm đạo đồ bước đi trên Con Đường Antahkarana và Con Đường Điểm Đạo Cao Hơn. Khi đưa ra tuyên bố này, tôi xin nhắc lại với bạn rằng lần điểm đạo thứ ba được Huyền Giai coi là lần điểm đạo chính đầu tiên, trong khi hai lần điểm đạo trước đó chỉ được coi là mang tính chuẩn bị trong bản chất của chúng. Sự huấn luyện được đưa ra để chuẩn bị cho chúng, và sự mở rộng tâm thức tiếp theo, tiết lộ cho điểm đạo đồ bản chất của linh hồn, phạm vi (rộng lớn và phổ quát) của tâm thức thiêng liêng và mối quan hệ của y với Cha, Chân Thần. Chúng cho phép y trở thành linh hồn trong sự biểu hiện đến mức nhận thức của y chắc chắn và không thể thay đổi là nhận thức của linh hồn; ở lần điểm đạo thứ tư, thể linh hồn, thể nguyên nhân, không còn cần thiết nữa, và sau đó nó biến mất, tiêu tan và bị phá hủy hoàn toàn, do đó để điểm đạo đồ tự do bước đi trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu và bước theo dấu chân của Đức Christ. Ngài là người đầu tiên trong nhân loại hành tinh của chúng ta khai phá con đường (không phải đó là một cụm từ được sử dụng nhiều sao?) đến các cõi mặc khải cao hơn.

I would here also remind you that, during this stage of human evolution, all these various phases exist simultaneously; this largely accounts for the relative differences and difficulties which characterise all the religions of the world and all relationships. Emotional appeal is needed by the masses, and their goal—some way ahead—is soul consciousness and soul control. It is the mystical way and the way of the early and preparatory stages of the science of Invocation and Evocation. It is the method to be followed by average humanity at this time, because men are largely Atlantean in their approach and their natures; they must learn to tread the Path by becoming the Path Itself, and in this way develop the mechanism and the capacities which are inherent in the divine Mind, which “spins the thread of connecting light and relates all beings within the planetary ring-pass-not into Itself.”

Ở đây tôi cũng xin nhắc nhở bạn rằng, trong giai đoạn tiến hóa của con người này, tất cả các giai đoạn khác nhau này cùng tồn tại; điều này phần lớn giải thích cho những khác biệt và khó khăn tương đối đặc trưng cho tất cả các tôn giáo trên thế giới và tất cả các mối quan hệ. Sự hấp dẫn cảm xúc là cần thiết cho quần chúng, và mục tiêu của họ—một con đường nào đó ở phía trước—là tâm thức linh hồn và sự kiểm soát linh hồn. Đó là con đường thần bí và con đường của các giai đoạn đầu và chuẩn bị của khoa học Khẩn cầu và Triệu hồi. Đó là phương pháp được nhân loại trung bình tuân theo vào thời điểm này, bởi vì con người phần lớn là người Atlantis trong cách tiếp cận và bản chất của họ; họ phải học cách bước đi trên Con Đường bằng cách trở thành Chính Con Đường, và theo cách này phát triển cơ chế và khả năng vốn có trong Trí Tuệ thiêng liêng, “quay sợi dây ánh sáng kết nối và liên hệ tất cả các sinh vật trong vòng-giới-hạn hành tinh vào Chính Nó.”

By becoming the Path, symbolically speaking, and by a process of reorientation, the aspirant who is seeking to tread the Lighted Way of purification and of discipleship reaches a point where that light and that path have brought him to a specific goal. Then the light which he has generated from within himself, and is learning rapidly to use, reveals to him the Way of the Higher Evolution, the fact of a still greater goal further on ahead—called by the Christ “the Father’s House.”

Bằng cách trở thành Con Đường, theo nghĩa tượng trưng, và bằng một quá trình tái định hướng, người chí nguyện đang tìm cách bước đi trên Con Đường Ánh Sáng của sự thanh lọc và địa vị đệ tử đạt đến một điểm mà ánh sáng và con đường đó đã đưa y đến một mục tiêu cụ thể. Sau đó, ánh sáng mà y đã tạo ra từ bên trong chính mình, và đang nhanh chóng học cách sử dụng, tiết lộ cho y Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, sự thật về một mục tiêu lớn hơn nữa ở phía trước—được Đức Christ gọi là “Nhà của Cha.”

At the fourth initiation he becomes aware, for the first time in his experience, that there is a hiatus or gap separating him from his distant goal. This constituted the major part of the agony upon the Cross. There was a fusion of agonies at that supreme moment, if I might attempt to express what occurred. The Master Jesus, crucified there, [524] felt the agony of human need and renounced His own life and gave His all (again symbolically speaking) to meet that need. The Christ, at that time over-shadowing His great Disciple, also passed simultaneously through a great initiatory experience. The agony of His yearning for revelation and increased enlightenment (in order to enhance His equipment as World Saviour) revealed to Him the new possibilities, from which—when confronted with them dimly in the garden of Gethsemane and later upon the Cross—His whole nature shrank.

Ở lần điểm đạo thứ tư, y nhận thức được, lần đầu tiên trong kinh nghiệm của mình, rằng có một khoảng trống hoặc khoảng cách ngăn cách y với mục tiêu xa xôi của mình. Điều này cấu thành phần lớn sự đau khổ trên Thập Giá. Đã có một sự hợp nhất của những đau khổ vào thời điểm tối cao đó, nếu tôi có thể cố gắng diễn đạt những gì đã xảy ra. Đức Thầy Jesus, bị đóng đinh ở đó, cảm thấy sự đau khổ của nhu cầu con người và từ bỏ cuộc sống của chính mình và trao đi tất cả của mình (lại nói theo nghĩa tượng trưng) để đáp ứng nhu cầu đó. Đức Christ, vào thời điểm đó phủ bóng lên Đệ Tử vĩ đại của Ngài, cũng đồng thời trải qua một kinh nghiệm điểm đạo vĩ đại. Sự đau khổ của sự khao khát của Ngài đối với sự mặc khải và sự khai sáng gia tăng (để nâng cao trang bị của Ngài với tư cách là Đấng Cứu Độ Thế Giới) đã tiết lộ cho Ngài những khả năng mới, mà—khi đối mặt với chúng một cách lờ mờ trong vườn Gethsemane và sau đó trên Thập Giá—toàn bộ bản chất của Ngài đã co rúm lại.

Great as is this mystery to you, and impossible as it is for you to comprehend that whereof I speak, it is wise to establish the fact in your consciousness that at the Crucifixion initiation, the Master Jesus took the fourth initiation and the Christ took the sixth initiation. The Master Jesus reached the culminating experience of the Lighted Way, whilst the Christ made that final effort which enabled Him entirely to complete and traverse the “rainbow bridge” and to “go to the Father” (as He told His disciples), thus moving forward on to the first stage of the Way of the Higher Evolution.

Vĩ đại như bí ẩn này đối với bạn, và không thể nào bạn có thể thấu hiểu những gì tôi nói, điều khôn ngoan là thiết lập sự thật trong tâm thức của bạn rằng tại lần điểm đạo Đóng Đinh, Đức Thầy Jesus đã thực hiện lần điểm đạo thứ tư và Đức Christ đã thực hiện lần điểm đạo thứ sáu. Đức Thầy Jesus đã đạt đến kinh nghiệm đỉnh cao của Con Đường Ánh Sáng, trong khi Đức Christ đã thực hiện nỗ lực cuối cùng đó cho phép Ngài hoàn toàn hoàn thành và đi qua “cầu vồng” và “đi đến Cha” (như Ngài đã nói với các đệ tử của mình), do đó tiến lên giai đoạn đầu tiên của Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu.

The practical point for aspirants and disciples to remember is that the Science of Invocation and Evocation entered a new phase when Christ came and presented Himself before humanity; He then gave the teaching which summarised all the past and indicated the new aspects of the future teaching. He opened the door to the Way of the Higher Evolution, hitherto closed, just as the Buddha epitomised in Himself the achievements of the Lighted Way and the attainment of all knowledge and wisdom. Christ, in opening this “greater door beyond the lesser door,” anchored—if I may so inadequately express it—the Will of God on Earth, particularly in relation to the consciousness of men. He lifted the entire Science of Invocation and Evocation to the mental plane and made possible a new approach to divinity. It is difficult to give you a symbol which could clarify this matter in your mind. But the one given may carry some enlightenment: [525]

Điểm thực tế mà những người chí nguyện và đệ tử cần nhớ là Khoa học Khẩn cầu và Triệu hồi đã bước vào một giai đoạn mới khi Đức Christ đến và trình diện trước nhân loại; sau đó Ngài đã đưa ra giáo lý tóm tắt tất cả quá khứ và chỉ ra những khía cạnh mới của giáo lý tương lai. Ngài đã mở cánh cửa đến Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, trước đây đã đóng, giống như Đức Phật đã tóm tắt trong chính Ngài những thành tựu của Con Đường Ánh Sáng và sự đạt được tất cả kiến thức và minh triết. Đức Christ, khi mở “cánh cửa lớn hơn vượt ra ngoài cánh cửa nhỏ hơn” này, đã neo đậu—nếu tôi có thể diễn đạt một cách không đầy đủ như vậy—Ý Chí của Thượng đế trên Trái Đất, đặc biệt liên quan đến tâm thức của con người. Ngài đã nâng toàn bộ Khoa học Khẩn cầu và Triệu hồi lên cõi trí và tạo ra một sự tiếp cận mới đối với thiên tính. Thật khó để đưa cho bạn một biểu tượng có thể làm rõ vấn đề này trong tâm trí bạn. Nhưng biểu tượng được đưa ra có thể mang lại một số sự khai sáng:

6.-the-science-of-the-antahkarana-04.png

[526]

It must be remembered that intelligence and love were present upon Earth, the first in greater degree than the second, and that the task of all the great World Saviours (emerging from the Secret Place, from the illimitable past until the present time) has been to anchor, organise, and implement these divine aspects, energies, attributes, and to further their development within the body of the planetary Logos. They also, from time to time, demonstrated to the humanity of Their period of appearing, the point in that development which had been reached. These Representatives of Deity have been of all grades, degrees and differing points of spiritual unfoldment; They have been chosen for Their aptitude to respond to invocation, to manifest certain divine qualities, and to attract around Themselves those who had latent the same divine qualities, and who could therefore step down the teaching that the World Saviour came to give, and translate into human equivalents as much of the divine inspiration as was possible. Many of Them have been forgotten even if Their work was successful. Others have been resolved into myths by the thoughtform-making faculty of man but Their work is still thereby remembered, and to this, monuments and tradition constantly testify; greater Sons of God possessed a potency and a love of humanity which, even at the close of many centuries, evokes the attention of mankind and conditions even yet the reactions of millions of people.

Phải nhớ rằng trí tuệ và tình thương đã hiện diện trên Trái Đất, cái thứ nhất ở mức độ lớn hơn cái thứ hai, và nhiệm vụ của tất cả các Đấng Cứu Độ Thế Giới vĩ đại (xuất hiện từ Nơi Bí Mật, từ quá khứ vô hạn cho đến thời điểm hiện tại) là neo đậu, tổ chức và thực hiện những khía cạnh, năng lượng, thuộc tính thiêng liêng này, và thúc đẩy sự phát triển của chúng trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế. Họ cũng, theo thời gian, chứng minh cho nhân loại trong thời kỳ xuất hiện của Họ, điểm trong sự phát triển đó đã đạt được. Những Đại Diện của Thượng Đế này thuộc mọi cấp bậc, trình độ và điểm khai mở tinh thần khác nhau; Họ đã được chọn vì năng khiếu đáp ứng lời khẩn cầu, thể hiện những phẩm tính thiêng liêng nhất định và thu hút xung quanh Họ những người có tiềm ẩn những phẩm tính thiêng liêng tương tự, và do đó có thể hạ thấp giáo lý mà Đấng Cứu Độ Thế Giới đến để đưa ra, và dịch sang những tương đương con người càng nhiều cảm hứng thiêng liêng càng tốt. Nhiều người trong số Họ đã bị lãng quên ngay cả khi công việc của Họ thành công. Những người khác đã được giải quyết thành những huyền thoại bởi khả năng tạo hình tư tưởng của con người nhưng công việc của Họ vẫn được ghi nhớ, và những tượng đài và truyền thống liên tục chứng thực điều này; những Con của Thượng đế vĩ đại hơn sở hữu một tiềm năng và tình thương đối với nhân loại, ngay cả khi kết thúc nhiều thế kỷ, vẫn gợi lên sự chú ý của nhân loại và điều kiện ngay cả những phản ứng của hàng triệu người.

Vyasa—the original Vyasa, Who was the Great Individuality evoked by the invocation of the early animal-men—is still more than just a name, even though He has passed out of our planetary scheme millions of years ago. He opened a door into the human kingdom through His response to the animal kingdom in its higher invocative ranks; His work brought about the process known as individualisation. Down through the ages, these Sons of God have come, evoked by human invocation; in Their turn, They have invoked certain aspects of the divine nature, deeply hidden in mankind—all related hitherto to consciousness and to responsiveness of the part to the Whole. [527] Eventually Hercules came forth and opened the door on to the Path of Discipleship, His work being preserved for us in the Twelve Labours of Hercules. These epitomised the various tests to which all disciples are subjected, prior to the various initiations. Shri Krishna came and opened the door through which mankind could pass to the Second Initiation. The Buddha, a still greater Figure, the One Who is known as the “Enlightened One,” also came and demonstrated to humanity the nature of the Lighted Way, its revelations and its effects in consciousness. He enacted for us the supreme achievements of the mystic way. Then came the Christ and performed a triple work:

Vyasa—Vyasa nguyên thủy, Đấng là Cá Tính Vĩ Đại được triệu hồi bởi lời khẩn cầu của những người thú ban đầu—vẫn còn hơn cả một cái tên, mặc dù Ngài đã rời khỏi hệ hành tinh của chúng ta hàng triệu năm trước. Ngài đã mở một cánh cửa vào giới nhân loại thông qua sự đáp ứng của Ngài đối với giới động vật trong các cấp bậc khẩn cầu cao hơn của nó; công việc của Ngài đã mang lại quá trình được gọi là sự biệt ngã hóa. Qua các thời đại, những Con của Thượng đế này đã đến, được triệu hồi bởi lời khẩn cầu của con người; đến lượt Họ, Họ đã triệu hồi những khía cạnh nhất định của bản chất thiêng liêng, được ẩn giấu sâu sắc trong nhân loại—tất cả đều liên quan cho đến nay đến tâm thức và sự đáp ứng của phần đối với Toàn Thể. Cuối cùng, Hercules xuất hiện và mở cánh cửa vào Con Đường Đệ Tử, công việc của Ngài được bảo tồn cho chúng ta trong Mười Hai Kỳ Công của Hercules. Những điều này tóm tắt các thử thách khác nhau mà tất cả các đệ tử phải chịu, trước các lần điểm đạo khác nhau. Shri Krishna đến và mở cánh cửa mà qua đó nhân loại có thể vượt qua để đến Lần Điểm Đạo Thứ Hai. Đức Phật, một Hình Tượng vĩ đại hơn, Đấng được biết đến với tên gọi “Đấng Giác Ngộ”, cũng đến và chứng minh cho nhân loại bản chất của Con Đường Ánh Sáng, những mặc khải và ảnh hưởng của nó trong tâm thức. Ngài đã thực hiện cho chúng ta những thành tựu tối cao của con đường thần bí. Sau đó, Đức Christ đến và thực hiện một công việc tam phân:

1. He opened the door to the third initiation.

1. Ngài mở cánh cửa đến lần điểm đạo thứ ba.

2. He anchored on Earth “the Will of God in the matrix of love” (as it has been esoterically called).

2. Ngài neo đậu trên Trái Đất “Ý Chí của Thượng đế trong ma trận của tình thương” (như nó đã được gọi một cách nội môn).

3. He pointed the way through “the needle’s eye” which gives entrance to the passage through the Pyramid (the symbol of the Spiritual Triad in this case. A.A.B.) which leads out on to the Way which terminates in Shamballa.

3. Ngài chỉ ra con đường qua “lỗ kim” cho phép lối vào lối đi qua Kim Tự Tháp (biểu tượng của Tam nguyên tinh thần trong trường hợp này. A.A.B.) dẫn ra Con Đường kết thúc ở Shamballa.

His work was of a major consummating nature; He demonstrated in Himself two divine aspects, thus giving “shape and substance to love”; this had been sequentially fostered by several preceding lesser World Saviours, of Whom Shri Krishna was the greatest.

Công việc của Ngài mang tính chất hoàn thành chính; Ngài đã chứng minh trong chính Ngài hai khía cạnh thiêng liêng, do đó “mang lại hình dạng và chất liệu cho tình thương”; điều này đã được nhiều Đấng Cứu Độ Thế Giới nhỏ hơn trước đó thúc đẩy tuần tự, trong đó Shri Krishna là vĩ đại nhất.

The Christ completed the work of the Buddha by manifesting in its fullness the nature of love, thus permitting the full expression of love-wisdom in its dual aspect—the one aspect demonstrated by the Buddha and the other by the Christ. But His greatest work has not yet been emphasised in the worlds of thought and of religion—the revelation of the Way of the Higher Evolution. This entails the bringing through of pure divine will and the relating of the spiritual Hierarchy to the great Council at Shamballa. It will be apparent to you, therefore, that He was the first to carry through—from stage to stage—the complete revelation of humanity to the Hierarchy and of the Hierarchy to Shamballa. This He did by virtue of a [528] completely finished and constructed antahkarana, and thus He facilitated the work of all future aspirants and disciples. He made possible their unimpeded progress, as far as the opening of each stage of the planetary antahkarana is concerned. He presented the “first thread of living substance, irradiated by love, intelligently woven and energised by will” which any human being of our Earth humanity had interwoven with the planetary antahkarana. Here lies the secret of the sixth initiation, which has not yet received the attention of the occultist—it is that of the Ascension.

Đức Christ đã hoàn thành công việc của Đức Phật bằng cách biểu hiện đầy đủ bản chất của tình thương, do đó cho phép biểu hiện đầy đủ của bác ái-minh triết trong khía cạnh kép của nó—một khía cạnh được Đức Phật chứng minh và khía cạnh kia được Đức Christ chứng minh. Nhưng công việc vĩ đại nhất của Ngài vẫn chưa được nhấn mạnh trong thế giới tư tưởng và tôn giáo—sự mặc khải về Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Điều này đòi hỏi phải mang lại ý chí thiêng liêng thuần túy và liên hệ Huyền Giai Tinh Thần với Hội Đồng vĩ đại tại Shamballa. Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng Ngài là người đầu tiên thực hiện—từ giai đoạn này sang giai đoạn khác—sự mặc khải hoàn chỉnh của nhân loại cho Huyền Giai và của Huyền Giai cho Shamballa. Ngài đã làm điều này nhờ một antahkarana được hoàn thành và xây dựng hoàn toàn, và do đó Ngài đã tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của tất cả những người chí nguyện và đệ tử trong tương lai. Ngài đã tạo điều kiện cho sự tiến bộ không bị cản trở của họ, liên quan đến việc mở từng giai đoạn của antahkarana hành tinh. Ngài đã trình bày “sợi dây đầu tiên của chất liệu sống, được chiếu xạ bởi tình thương, được dệt một cách thông minh và được tiếp sinh lực bởi ý chí” mà bất kỳ con người nào trong nhân loại Trái Đất của chúng ta đã dệt vào antahkarana hành tinh. Ở đây nằm bí mật của lần điểm đạo thứ sáu, vẫn chưa nhận được sự chú ý của nhà huyền bí—đó là sự Thăng Thiên.

Here comes a climaxing note. The whole evolutionary scheme is based upon a series of ascensions. These ascensions are the result of a process, a technique, a method (choose which word you will) of invocation by the lesser individual, group or kingdom, and the evocation of that which is greater, more inclusive and more enlightened. This is true, whether it concerns a lonely aspirant upon the Way or an entire kingdom in nature. The greatest of the incarnating Sons of God are necessarily Those Who can include whole kingdoms or states of divine Being in Their consciousness. Here is the key as to why the invocation by a group “standing with massed intent” can bring forth, and has done so many times in our planetary history, One Who could meet the need which the invocation voiced, upon “a way of escape,” and embody in Himself the required vision or goal.

Đây là một nốt cao trào. Toàn bộ hệ thống tiến hóa dựa trên một loạt các sự thăng thiên. Những sự thăng thiên này là kết quả của một quá trình, một kỹ thuật, một phương pháp (hãy chọn từ nào bạn muốn) khẩn cầu của cá nhân, nhóm hoặc giới nhỏ hơn, và sự triệu hồi của những gì lớn hơn, bao gồm hơn và giác ngộ hơn. Điều này đúng, cho dù nó liên quan đến một người chí nguyện cô đơn trên Con Đường hay toàn bộ giới trong tự nhiên. Những Con của Thượng đế hóa thân vĩ đại nhất nhất thiết là Những Đấng có thể bao gồm toàn bộ các giới hoặc trạng thái Bản Thể thiêng liêng trong tâm thức của Họ. Đây là chìa khóa lý do tại sao lời khẩn cầu của một nhóm “đứng với ý định tập thể” có thể mang lại, và đã làm như vậy nhiều lần trong lịch sử hành tinh của chúng ta, Một Đấng có thể đáp ứng nhu cầu mà lời khẩn cầu đã lên tiếng, trên “một con đường thoát,” và thể hiện trong chính Ngài tầm nhìn hoặc mục tiêu cần thiết.

You will note here that I have carried the teaching (earlier given upon the subject) into the realm of the whole. Previously, I dealt with the process as it applied to the disciple invoking his soul; later I carried the concept farther, and we considered the disciple invoking his Father in Heaven, the Monad. Now, we have briefly touched upon humanity as a whole, standing at a great point of invocation wherein the entire human kingdom is involved. Thus you have the final three of the six great stages in the process we are considering: Invocation, leading to Evocation, to Revelation (at the Fifth initiation) and to Decision (at the sixth).

Bạn sẽ lưu ý ở đây rằng tôi đã mang giáo lý (được đưa ra trước đó về chủ đề này) vào lĩnh vực của toàn thể. Trước đây, tôi đã đề cập đến quá trình này khi nó áp dụng cho đệ tử khẩn cầu linh hồn của mình; sau đó tôi đã mang khái niệm này đi xa hơn, và chúng ta đã xem xét đệ tử khẩn cầu Cha của mình trên Thiên Đường, Chân Thần. Bây giờ, chúng ta đã đề cập ngắn gọn đến nhân loại nói chung, đứng ở một điểm khẩn cầu vĩ đại, trong đó toàn bộ giới nhân loại tham gia. Do đó, bạn có ba giai đoạn cuối cùng trong sáu giai đoạn vĩ đại trong quá trình chúng ta đang xem xét: Khẩn cầu, dẫn đến Triệu hồi, đến Mặc khải (ở lần điểm đạo thứ năm) và đến Quyết định (ở lần điểm đạo thứ sáu).

[529] To sum up. We have carried our study of the esoteric aspects of mental unfoldment to a point where we have lifted the entire spiritual man into realms which are neither those of the soul nor of the personality; they are those which make him an integral part of monadic experience. We are therefore dealing definitely with initiate experience. That the personality remains as an instrument or vehicle of expression for the one universal soul in its many personality aspects upon the physical plane has been duly emphasised; that the soul per se has been lost to consciousness in the sea of universal realisation has also been made clear; that the state of being which the initiate has now reached, as a result of the six stages of conscious building of the antahkarana, has been detailed; but I have pointed out in this connection that what has transpired lies beyond what we call consciousness, and is consequently undefinable by the human intellect. We have dealt with certain high stages of unfoldment which remain impossible to any human comprehension outside that of Those Who can function in the Courts of Shamballa. When these stages have been passed, then the goal of all the evolutionary processes has been reached, as far as humanity is concerned. These concepts cover our presentation of truth and of our theme up to the present point. Further we cannot go, for it would be profitless; nor would the human constitution prove adequate to the imposed task.

Tóm lại. Chúng ta đã mang nghiên cứu về các khía cạnh nội môn của sự khai mở trí tuệ đến một điểm mà chúng ta đã nâng toàn bộ con người tinh thần vào các lĩnh vực không phải là của linh hồn cũng không phải là của phàm ngã; chúng là những lĩnh vực khiến y trở thành một phần không thể thiếu trong kinh nghiệm chân thần. Do đó, chúng ta đang đề cập một cách dứt khoát đến kinh nghiệm điểm đạo đồ. Việc phàm ngã vẫn là một công cụ hoặc phương tiện biểu hiện cho linh hồn phổ quát duy nhất trong nhiều khía cạnh phàm ngã của nó trên cõi trần đã được nhấn mạnh đúng mức; việc linh hồn tự thân đã bị mất vào tâm thức trong biển nhận thức phổ quát cũng đã được làm rõ; trạng thái tồn tại mà điểm đạo đồ hiện đã đạt được, do kết quả của sáu giai đoạn xây dựng có ý thức antahkarana, đã được trình bày chi tiết; nhưng tôi đã chỉ ra trong mối liên hệ này rằng những gì đã xảy ra nằm ngoài những gì chúng ta gọi là tâm thức, và do đó không thể được trí tuệ con người định nghĩa. Chúng ta đã đề cập đến một số giai đoạn khai mở cao mà bất kỳ sự thấu hiểu nào của con người bên ngoài Những Đấng có thể hoạt động trong Triều Đình của Shamballa đều không thể đạt được. Khi những giai đoạn này đã qua, thì mục tiêu của tất cả các quá trình tiến hóa đã đạt được, liên quan đến nhân loại. Những khái niệm này bao gồm sự trình bày sự thật và chủ đề của chúng ta cho đến thời điểm hiện tại. Chúng ta không thể đi xa hơn, vì nó sẽ vô ích; cũng như thể chất con người sẽ không chứng tỏ đủ khả năng cho nhiệm vụ được áp đặt.

I have in these previous sections carried our theme to the point where it climaxes all that has been hitherto given out anent the human mind and its capabilities. I have indicated the method whereby the mind, trained in meditation, and therefore soul-conscious, can—through the construction of the antahkarana—reach heights and stages of inclusiveness which will introduce to it certain aspects of the so-called Universal Mind, the mind of God, as it is familiarly called. What I have really done is to deal very briefly with the mode whereby the disciple or the initiate can, with increasing power, tune in on the mind of the planetary Logos, Sanat Kumara. Just as the disciple can, [530] when soul conscious, tune in on the mind of his Master, so the initiate, upon a higher turn of the spiral, can register the thoughts of the divine Being in Whom we all live and move and have our being.

Trong các phần trước, tôi đã mang chủ đề của chúng ta đến điểm mà nó đạt đến đỉnh điểm tất cả những gì đã được đưa ra cho đến nay về trí tuệ con người và khả năng của nó. Tôi đã chỉ ra phương pháp mà qua đó trí tuệ, được huấn luyện trong tham thiền, và do đó có tâm thức linh hồn, có thể—thông qua việc xây dựng antahkarana—đạt đến những đỉnh cao và giai đoạn bao gồm sẽ giới thiệu cho nó những khía cạnh nhất định của cái gọi là Trí Tuệ Vũ Trụ, trí tuệ của Thượng đế, như nó thường được gọi. Những gì tôi thực sự đã làm là đề cập rất ngắn gọn đến phương thức mà qua đó đệ tử hoặc điểm đạo đồ có thể, với sức mạnh ngày càng tăng, điều chỉnh theo trí tuệ của Hành Tinh Thượng Đế, Sanat Kumara. Giống như đệ tử có thể, khi có tâm thức linh hồn, điều chỉnh theo trí tuệ của Chân Sư của mình, thì điểm đạo đồ, trên một vòng xoắn ốc cao hơn, có thể ghi nhận những tư tưởng của Bản Thể thiêng liêng mà trong Ngài tất cả chúng ta sống và di chuyển và tồn tại.

Through the development of the antahkarana and its conscious, scientific use, the initiate becomes aware of what transpires in the Council Chamber of Shamballa; he can then efficiently begin to work as an exponent of the Will aspect of divinity. Yet all this time we have confined ourselves entirely to the consideration of the mind aspect in its three phases upon the mental plane, and with their extension into states of being unknown to all except trained disciples and initiates. It has been my intention thus to give a theoretical, though not yet practical insight into modes of activity and possible states of being to which you can some day aspire and eventually attain.

Thông qua sự phát triển của antahkarana và việc sử dụng có ý thức, khoa học của nó, điểm đạo đồ nhận thức được những gì xảy ra trong Phòng Hội Đồng của Shamballa; sau đó y có thể bắt đầu làm việc hiệu quả như một người giải thích khía cạnh Ý Chí của thiên tính. Tuy nhiên, trong suốt thời gian này, chúng ta đã giới hạn hoàn toàn việc xem xét khía cạnh trí tuệ trong ba giai đoạn của nó trên cõi trí, và với sự mở rộng của chúng vào các trạng thái tồn tại mà tất cả trừ các đệ tử và điểm đạo đồ được huấn luyện đều không biết. Mục đích của tôi là đưa ra một cái nhìn sâu sắc về mặt lý thuyết, mặc dù chưa thực tế, về các phương thức hoạt động và các trạng thái tồn tại có thể mà bạn có thể một ngày nào đó khao khát và cuối cùng đạt được.

Leave a Comment

Scroll to Top