7. Cung và Điểm đạo – Ý Nghĩa của Tiến Trình Điểm đạo

📘 Sách: Các Cung và Các Cuộc Điểm đạo – Tác giả: Alice Bailey

THE MEANING OF THE INITIATORY PROCESS — Ý NGHĨA CỦA TIẾN TRÌNH ĐIỂM ĐẠO

Before proceeding with our next point concerning the fusion of the Master’s consciousness with that of His disciple, I would like to refer to the significance of the words I earlier emphasised, “the initiatory process.” I have dealt at length with the theme of initiation in many of my books and have endeavoured to present the subject in such a manner that it becomes apparent that it fits into the evolutionary process as a normal and inevitable procedure. Initiation has been so frequently presented as being a ceremony that I have felt it necessary to offset strenuously that erroneous significance. If, however, you are to comprehend that which I have to say, you will have to call in what measures of enlightened understanding you may possess.

Trước khi tiếp tục điểm kế tiếp của chúng ta liên quan đến sự dung hợp tâm thức của Chân sư với tâm thức của đệ tử Ngài, tôi muốn đề cập đến ý nghĩa của những từ mà trước đây tôi đã nhấn mạnh, “tiến trình điểm đạo.” Tôi đã bàn rất dài về chủ đề điểm đạo trong nhiều sách của tôi và đã cố trình bày đề tài này theo cách khiến rõ ràng rằng nó phù hợp với tiến trình tiến hoá như một thủ tục bình thường và tất yếu. Điểm đạo đã quá thường được trình bày như một nghi lễ đến nỗi tôi cảm thấy cần phải mạnh mẽ hóa giải ý nghĩa sai lầm ấy. Tuy nhiên, nếu bạn muốn hiểu điều tôi phải nói, bạn sẽ phải vận dụng bất cứ mức độ thấu hiểu giác ngộ nào mà bạn có thể sở hữu.

Initiation is only a ceremony in so far that there comes a climaxing point in the initiatory process in which the disciple’s consciousness becomes dramatically aware of the personnel of the Hierarchy and of his own position in relation to it. This realisation he symbolises to himself—successively and on an increasingly large scale—as a great [531] rhythmic ceremonial of progressive revelation in which he, as a candidate, is the centre of the hierarchical stage. This is definitely so (from the ceremonial angle) in the first two initiations, and in relation to the Christ as the Initiator. After the third initiation, the ceremonial angle lessens in his consciousness because the higher initiations are not registered by the mind (with its ability to reduce realisation into symbolic form) and thus transmitted to the brain, but they reach the brain and are there registered via the antahkarana; the results of the experience of expansion are now definitely of such a nature that they cannot be reduced to symbols or to symbolic happenings; they are formless and remain in the higher consciousness.

Điểm đạo chỉ là một nghi lễ trong chừng mực có một điểm cao trào trong tiến trình điểm đạo, trong đó tâm thức của đệ tử trở nên nhận biết một cách đầy kịch tính về thành phần nhân sự của Thánh đoàn và về vị trí của chính y trong liên hệ với nó. Sự chứng nghiệm này, y biểu tượng hóa cho chính mình—liên tiếp và trên một quy mô ngày càng lớn—như một nghi lễ nhịp điệu vĩ đại của sự mặc khải tiến bộ, trong đó y, với tư cách một ứng viên, là trung tâm của sân khấu thánh đoàn. Điều này rõ ràng là như vậy (xét từ góc độ nghi lễ) trong hai lần điểm đạo đầu tiên, và trong liên hệ với Đức Christ như Đấng Điểm đạo. Sau lần điểm đạo thứ ba, góc độ nghi lễ giảm bớt trong tâm thức của y vì các lần điểm đạo cao hơn không được trí tuệ ghi nhận (với khả năng quy giảm chứng nghiệm thành hình thức biểu tượng) rồi truyền đến bộ não, mà chúng đến bộ não và được ghi nhận ở đó qua antahkarana; các kết quả của kinh nghiệm mở rộng giờ đây rõ ràng có bản chất đến mức không thể quy giảm thành các biểu tượng hay các biến cố biểu tượng; chúng là vô tướng và vẫn ở trong tâm thức cao hơn.

I am not here saying that the teachings given in the past by various occult groups, or in my book Initiation, Human and Solar, are not correct or do not recount accurately what the candidate believes has taken place. The point I seek to make is that the ceremonial aspect is due to the thoughtform-making capacity of the disciple and (which is of major importance) constitutes his contribution to the future externalisation of the initiatory process in its earlier stages. When an adequate number of disciples will have succeeded in relating the Spiritual Triad to the soul-infused personality and have occultly “precipitated” the energies of the Monad through the medium of the antahkarana, then the first and second initiations can be “ceremoniously” enacted on earth.

Ở đây tôi không nói rằng các giáo huấn đã được đưa ra trong quá khứ bởi các nhóm huyền bí khác nhau, hay trong sách của tôi Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, là không đúng hay không thuật lại chính xác điều mà ứng viên tin rằng đã xảy ra. Điểm tôi muốn nêu ra là phương diện nghi lễ là do năng lực tạo hình tư tưởng của đệ tử và (điều này rất quan trọng) cấu thành phần đóng góp của y vào sự ngoại hiện tương lai của tiến trình điểm đạo trong các giai đoạn đầu của nó. Khi một số lượng đầy đủ các đệ tử đã thành công trong việc liên hệ Tam Nguyên Tinh Thần với phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và đã một cách huyền bí “ngưng tụ” các năng lượng của chân thần qua trung gian của antahkarana, khi ấy lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai có thể được thực hiện “một cách nghi lễ” trên Trái Đất.

The higher initiations cannot be thus presented but will be enacted on the mental plane, through the medium of symbols and not through the details of ceremonious happenings. This symbolic representation will hold good for the third, the fourth and the fifth initiations. After these five great expansions have taken place, the initiations will no longer be registered as factual ceremonials on earth or as symbolic visualisations on the mental plane. It is hard to find a word or a phrase which can express what occurs; the nearest I can approach to the truth is the “existence of illumination through revelation.” You [532] will note in this connection that the fifth initiation is given the name of Revelation. You therefore have a sequence of consequences or of the results of spiritual attainment which are as follows:

Các lần điểm đạo cao hơn không thể được trình bày như vậy mà sẽ được thực hiện trên cõi trí, qua trung gian của các biểu tượng chứ không qua các chi tiết của những diễn biến nghi lễ. Sự biểu hiện biểu tượng này sẽ đúng cho lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm. Sau khi năm sự mở rộng lớn lao này đã diễn ra, các lần điểm đạo sẽ không còn được ghi nhận như những nghi lễ thực tế trên Trái Đất hay như những sự hình dung biểu tượng trên cõi trí nữa. Thật khó tìm được một từ hay một cụm từ có thể diễn tả điều xảy ra; điều gần nhất mà tôi có thể tiến đến chân lý là “sự hiện hữu của soi sáng qua mặc khải.” Bạn [532] sẽ lưu ý trong mối liên hệ này rằng lần điểm đạo thứ năm được gọi là Mặc Khải. Vì vậy bạn có một chuỗi các hệ quả hay các kết quả của thành tựu tinh thần như sau:

1. Factual Ceremonials, based on externalisation.

1. Các Nghi Lễ Thực Tế, dựa trên sự ngoại hiện.

Initiation 1—The Birth.

Điểm đạo 1—Giáng Sinh.

Initiation 2—The Baptism.

Điểm đạo 2—Lễ Rửa Tội.

2. Symbolic Representation, based on spiritual visualisation.

2. Sự Biểu Hiện Biểu Tượng, dựa trên sự hình dung tinh thần.

Initiation 3—The Transfiguration.

Điểm đạo 3—Biến hình.

Initiation 4—The Renunciation.

Điểm đạo 4—Sự từ bỏ.

Initiation 5—The Revelation.

Điểm đạo 5—Mặc Khải.

3. Illumination through Revelation, based on living Light.

3. Soi sáng qua Mặc Khải, dựa trên Ánh sáng sống động.

Initiation 6—Decision.

Điểm đạo 6—Quyết Định.

Initiation 7—Resurrection.

Điểm đạo 7—Phục Sinh.

Initiation 8—Transition.

Điểm đạo 8—Chuyển tiếp.

Initiation 9—Refusal.

Điểm đạo 9—Khước Từ.

It will be obvious that these three attempts to define the process of initiation present only the outer form aspects each initiation has three aspects, as has all else in nature, for initiation is a natural process. There is first, its form aspect; then its soul or consciousness aspect; and finally, its life aspect.

Hiển nhiên là ba nỗ lực này nhằm định nghĩa tiến trình điểm đạo chỉ trình bày các phương diện hình tướng bên ngoài; mỗi lần điểm đạo có ba phương diện, cũng như mọi thứ khác trong thiên nhiên, vì điểm đạo là một tiến trình tự nhiên. Trước hết là phương diện hình tướng của nó; rồi đến phương diện linh hồn hay tâm thức của nó; và cuối cùng là phương diện sự sống của nó.

The form aspect culminates experience and presents the disciple’s comprehension of the initiatory process; the consciousness aspect indicates in a mysterious manner the rate of expansion as the disciple has undergone the process; the life aspect permits of extra-planetary contact, thus indicating the possible future and the eventual processes of identification. It might be added that the factual ceremonial admits the disciple into full fellowship with the Hierarchy; that the symbolic representation indicates to the disciple the Way into Shamballa, and that illumined revelation presents to the initiate the bridge between our cosmic physical plane and the inner subjective and cosmic worlds; this entrance to the bridge (I am speaking in symbols) [533] reveals the existence of the cosmic Antahkarana, created by the Lord of the World and His group of Executives.

Phương diện hình tướng kết thúc kinh nghiệm và trình bày sự hiểu biết của đệ tử về tiến trình điểm đạo; phương diện tâm thức chỉ ra một cách huyền nhiệm tốc độ mở rộng khi đệ tử đã trải qua tiến trình ấy; phương diện sự sống cho phép có sự tiếp xúc ngoài hành tinh, nhờ đó chỉ ra tương lai có thể có và các tiến trình đồng hoá sau cùng. Có thể thêm rằng nghi lễ thực tế cho phép đệ tử đi vào tình huynh đệ trọn vẹn với Thánh đoàn; rằng sự biểu hiện biểu tượng chỉ cho đệ tử Con Đường đi vào Shamballa, và rằng sự mặc khải được soi sáng trình bày cho điểm đạo đồ cây cầu giữa cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta và các thế giới nội tại chủ quan và vũ trụ; lối vào cây cầu này (tôi đang nói bằng biểu tượng) [533] mặc khải sự hiện hữu của Antahkarana vũ trụ, do Đức Chúa Tể Thế Giới và nhóm các Đấng Chấp Hành của Ngài tạo ra.

This information concerning the initiatory process is coordinating in its nature and is of service to you only in this connection. It demonstrates the underlying solar synthesis which was the fundamental platform I gave out in A Treatise on Cosmic Fire. Beyond that implication, the information is of no use to you. It enables you, however, to begin to develop the esoteric sense of synthesis.

Thông tin này liên quan đến tiến trình điểm đạo có bản chất phối hợp và chỉ hữu ích cho bạn trong mối liên hệ ấy. Nó chứng minh sự tổng hợp thái dương nền tảng vốn là nền tảng cơ bản mà tôi đã trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Ngoài hàm ý đó ra, thông tin này không có ích gì cho bạn. Tuy nhiên, nó giúp bạn bắt đầu phát triển ý thức huyền bí về sự tổng hợp.

These three grades of appreciation or of comprehension of the initiatory process are hinted at in the Masonic Work. The ceremonial aspect can be related to the degrees of Entered Apprentice and of Fellow Craft, plus certain little-practiced degrees, as for instance that of Mark Mason degree and one or two others; these are expansions of the implied teaching. The initiations, covered by the term symbolic representation, find their first hint in the sublime third degree, that of Master Mason, in the Holy Royal Arch and in one or two succeeding degrees; the higher degrees of the Scottish Rite constitute a vague and nebulous attempt to hold before the Masons of the world those expansions of consciousness and of growth into the Light which are experienced in the remaining higher initiations—those subject to the process called illumination through revelation.

Ba cấp độ đánh giá hay thấu hiểu tiến trình điểm đạo này được gợi ý trong Công Trình Tam Điểm. Phương diện nghi lễ có thể được liên hệ với các cấp bậc của Entered Apprentice và Fellow Craft, cộng với một số cấp bậc ít được thực hành, chẳng hạn như cấp Mark Mason và một hay hai cấp khác; đó là những mở rộng của giáo huấn hàm ẩn. Các lần điểm đạo, được bao hàm trong thuật ngữ sự biểu hiện biểu tượng, tìm thấy gợi ý đầu tiên của chúng trong cấp bậc thứ ba cao cả, tức Master Mason, trong Holy Royal Arch và trong một hay hai cấp tiếp theo; các cấp cao hơn của Scottish Rite cấu thành một nỗ lực mơ hồ và không rõ nét nhằm giữ trước mắt các Tam Điểm gia trên thế giới những sự mở rộng tâm thức và sự tăng trưởng vào Ánh sáng vốn được kinh nghiệm trong các lần điểm đạo cao hơn còn lại—những lần chịu sự chi phối của tiến trình được gọi là soi sáng qua mặc khải.

The Masonic Work is an ancient and laudable attempt to preserve in some germinal form the spiritual truth anent initiation. In spite of distortion, some loss of the Ancient Landmarks and a deplorable crystallisation, the truth is there and at a later date (in the early part of the next century) a group of enlightened Masons will re-arrange the rituals and adapt the present forms and formulas in such a manner that the spiritual possibilities, symbolically indicated, will emerge with greater clarity and a deepened spiritual potency; the coming form of Masonry in the New Age will necessarily rest upon the foundation of a newly interpreted and enlightened Christianity, having no relation to theology and being universal in [534] nature. Its present form, resting as it does on a Jewish foundation which is nearly five thousand years old, must disappear. This must take place, not because it is Jewish, but because it is old and reactionary and has not followed the evolutionary passage of the sun through the zodiac. That passage should and does symbolise human evolution, and just as the sin of the children of Israel in the wilderness was their reverting to a dispensation and religious ritual which had passed and gone (the religion of the people in the time of Taurus, the Bull, symbolised by their falling down and worshipping the golden calf), so today modern Masonry is in line to do the same; and the ancient usages and forms, consistent and right in the Jewish dispensation, are now obsolete and should be abrogated. It is equally true of the Jewish race that in the rejection of the Christ as the Messiah they have remained, metaphorically and practically, in the sign of Aries, the Ram, or of the Scapegoat; they have yet to pass into the sign (again speaking symbolically) of Pisces, the Fishes, and recognise their Messiah when He again comes in the sign Aquarius. Otherwise they are repeating their ancient sin of non-response to the evolutionary process.

Công Trình Tam Điểm là một nỗ lực cổ xưa và đáng ca ngợi nhằm bảo tồn dưới một hình thức mầm mống nào đó chân lý tinh thần liên quan đến điểm đạo. Bất chấp sự bóp méo, một phần mất mát của các Ancient Landmarks và một sự kết tinh đáng tiếc, chân lý vẫn ở đó và vào một ngày sau này (trong phần đầu của thế kỷ tới) một nhóm Tam Điểm gia giác ngộ sẽ sắp xếp lại các nghi thức và thích nghi các hình thức và công thức hiện nay theo cách sao cho các khả năng tinh thần, được chỉ ra một cách biểu tượng, sẽ xuất hiện với sự rõ ràng lớn hơn và một mãnh lực tinh thần sâu sắc hơn; hình thức Tam Điểm sắp đến trong Kỷ Nguyên Mới tất yếu sẽ đặt nền trên cơ sở của một Cơ Đốc giáo được diễn giải mới mẻ và giác ngộ, không liên hệ gì đến thần học và có bản chất phổ quát. Hình thức hiện nay của nó, vì đặt nền trên một cơ sở Do Thái đã gần năm nghìn năm tuổi, phải biến mất. Điều này phải xảy ra, không phải vì nó là Do Thái, mà vì nó cũ kỹ và phản động và đã không theo kịp sự vận hành tiến hoá của mặt trời qua hoàng đạo. Sự vận hành ấy nên và quả thực tượng trưng cho tiến hoá nhân loại, và cũng như tội lỗi của con cái Israel trong hoang mạc là việc họ quay trở lại một thời kỳ phân phối và nghi lễ tôn giáo đã qua và mất rồi (tôn giáo của dân chúng vào thời Kim Ngưu, Con Bò, được tượng trưng bằng việc họ sấp mình thờ con bê vàng), thì ngày nay Tam Điểm hiện đại cũng đang trên đường làm điều tương tự; và các tập tục và hình thức cổ xưa, nhất quán và đúng đắn trong thời kỳ Do Thái, nay đã lỗi thời và nên bị bãi bỏ. Điều này cũng đúng đối với chủng tộc Do Thái rằng trong việc khước từ Đức Christ như Đấng Messiah, họ đã vẫn còn, theo nghĩa ẩn dụ và thực tế, trong dấu hiệu hoàng đạo Bạch Dương, Con Cừu Đực, hay Con Dê Gánh Tội; họ còn phải đi vào dấu hiệu (lại nói theo biểu tượng) Song Ngư, Hai Con Cá, và nhận ra Đấng Messiah của họ khi Ngài lại đến trong dấu hiệu Bảo Bình. Nếu không, họ đang lặp lại tội lỗi xưa của mình là không đáp ứng với tiến trình tiến hoá.

Let us now consider what the initiatory process signifies to the disciple as he seeks to lead the dual life which it demands. You will note that I call it a process in contradistinction to the theosophical definition which regards it as a culminating ceremony of a period of training.

Giờ đây chúng ta hãy xét xem tiến trình điểm đạo có ý nghĩa gì đối với đệ tử khi y tìm cách sống đời sống nhị nguyên mà nó đòi hỏi. Bạn sẽ lưu ý rằng tôi gọi nó là một tiến trình để phân biệt với định nghĩa của Thông Thiên Học vốn xem nó như một nghi lễ cao trào của một thời kỳ huấn luyện.

The initiatory process is in reality the result of the activity of three energies:

Tiến trình điểm đạo thực ra là kết quả của hoạt động của ba năng lượng:

1. The energy generated by the disciple as he seeks to serve humanity.

1. Năng lượng do đệ tử tạo ra khi y tìm cách phụng sự nhân loại.

2. The energy made available to the disciple as he succeeds in building the antahkarana.

2. Năng lượng được cung cấp cho đệ tử khi y thành công trong việc xây dựng antahkarana.

3. The energy of the hierarchical Ashram into which he is being “absorbed” or integrated.

3. Năng lượng của ashram thánh đoàn mà y đang được “hấp thụ” vào hay được tích hợp vào.

It is these three energies, each with its own mode of expression and each producing its own specific results, which implement or engineer the initiatory process; these [535] energies are evoked by the disciple himself, and their increasing strength and revelatory capacity depend largely upon the disciple’s determination, purpose and will, his persistence and spiritual integrity. It is through his understanding of the word “process” that the disciple discovers the true meaning of the occult statement that “before a man can tread the Path he must become that Path himself.” Increasingly the disciple finds what it is to become a creative agent, using the creative faculties of the mind and conforming increasingly (as he creates) to the Plan of the Creator, the Lord of the World.

Chính ba năng lượng này, mỗi năng lượng với phương thức biểu lộ riêng và mỗi năng lượng tạo ra các kết quả đặc thù riêng, thực hiện hay điều hành tiến trình điểm đạo; các [535] năng lượng này được chính đệ tử gợi lên, và sức mạnh ngày càng tăng cùng năng lực mặc khải của chúng phần lớn tùy thuộc vào quyết tâm, mục đích và ý chí của đệ tử, vào sự kiên trì và tính toàn vẹn tinh thần của y. Chính qua sự hiểu biết của mình về từ “tiến trình” mà đệ tử khám phá ý nghĩa chân thực của phát biểu huyền bí rằng “trước khi một người có thể bước trên Con Đường, y phải tự mình trở thành Con Đường ấy.” Đệ tử ngày càng khám phá ra ý nghĩa của việc trở thành một tác nhân sáng tạo, sử dụng các năng lực sáng tạo của trí tuệ và ngày càng tuân theo (khi y sáng tạo) Thiên Cơ của Đấng Sáng Tạo, Đức Chúa Tể Thế Giới.

The first three initiations are definitely and in a most mysterious way concerned with the creative work, and with the spiritual expression in a human being of the third aspect of divinity, that of intelligent activity. The fourth, fifth and sixth initiations are as definitely related to the second aspect of love-wisdom as it expresses itself through created forms; the seventh, eighth and ninth initiations are occultly “inspired” by the first divine aspect, that of the Will. Only, therefore, at the ninth initiation is the human being a full and true expression of divinity; he then realises that in him all the divine aspects meet. Through them he is consciously, creatively and constructively en rapport with the consciousness of the One in Whom we live and move and have our being. All this is the result of a process and the effect of the inherent livingness which is found in all forms of life from the tiny atom up to Those great Lives Who are little more than names to the disciple.

Ba lần điểm đạo đầu tiên rõ ràng và theo một cách rất huyền nhiệm liên hệ đến công việc sáng tạo, và đến sự biểu lộ tinh thần trong một con người của phương diện thứ ba của thiên tính, tức hoạt động thông minh. Lần điểm đạo thứ tư, thứ năm và thứ sáu cũng rõ ràng liên hệ đến phương diện thứ hai của bác ái – minh triết khi nó biểu lộ qua các hình tướng được sáng tạo; lần điểm đạo thứ bảy, thứ tám và thứ chín được “truyền cảm hứng” một cách huyền bí bởi phương diện thiêng liêng thứ nhất, tức Ý Chí. Vì vậy, chỉ ở lần điểm đạo thứ chín con người mới là một biểu lộ trọn vẹn và chân thực của thiên tính; khi ấy y nhận ra rằng trong y mọi phương diện thiêng liêng gặp nhau. Qua chúng y có ý thức, một cách sáng tạo và xây dựng, trong sự tương thông với tâm thức của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, di chuyển và có bản thể của mình. Tất cả điều này là kết quả của một tiến trình và là hiệu quả của sự sống động cố hữu được tìm thấy trong mọi hình thức sự sống từ nguyên tử nhỏ bé cho đến các Sự Sống vĩ đại kia, những Đấng đối với đệ tử chỉ hơn những cái tên một chút.

This initiation process governs the dual life of the disciple in three ways:

Tiến trình điểm đạo này chi phối đời sống nhị nguyên của đệ tử theo ba cách:

1. It is expressed in the results effected in the three worlds and in the tangible and growing proof he gives of definitely defined areas of attainment.

1. Nó được biểu lộ trong các kết quả được tạo ra trong ba cõi giới và trong bằng chứng hữu hình, ngày càng tăng mà y đưa ra về những lĩnh vực thành tựu được xác định rõ ràng.

2. It is demonstrated as effects in his consciousness in the form of an increasing fusion of soul and personality as well as growing power to invoke the inflow of the higher light, through the medium of the antahkarana. [536]

2. Nó được chứng minh như những hiệu quả trong tâm thức của y dưới hình thức một sự dung hợp ngày càng tăng của linh hồn và phàm ngã cũng như quyền năng ngày càng tăng để khẩn cầu dòng ánh sáng cao hơn tuôn vào, qua trung gian của antahkarana. [536]

3. It is revealed both through the Spiritual Triad and the soul-infused personality as they unitedly prove the livingness of the divine Love-Nature. As this revelation takes hold of the disciple’s consciousness and conditions his expressive form of service, it initiates him into that mysterious area of the divine consciousness which we call the “Heart of God”; this is our planetary correspondence to the “Heart of the Sun.” The heart of God, i.e., of our planetary Logos, and the heart of the Sun, i.e., the solar Logos, are mysteriously related, and it is through this sustained relation that it becomes possible for human beings to enter the Hierarchy. Forget not that the Hierarchy is the expression of the energy of love. The relationship also enables them eventually to pass off the cosmic physical plane on to the cosmic astral plane.

3. Nó được mặc khải qua cả Tam Nguyên Tinh Thần lẫn phàm ngã được linh hồn thấm nhuần khi cả hai cùng nhau chứng minh sự sống động của Bản Chất Bác Ái thiêng liêng. Khi sự mặc khải này nắm lấy tâm thức của đệ tử và tác động lên hình thức biểu lộ phụng sự của y, nó điểm đạo y vào lĩnh vực huyền nhiệm của tâm thức thiêng liêng mà chúng ta gọi là “Trái Tim của Thượng đế”; đây là sự tương ứng hành tinh của chúng ta với “Trái Tim của Mặt Trời.” Trái tim của Thượng đế, tức của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và trái tim của Mặt Trời, tức Thái dương Thượng đế, liên hệ với nhau một cách huyền nhiệm, và chính nhờ mối liên hệ được duy trì này mà con người có thể đi vào Thánh đoàn. Đừng quên rằng Thánh đoàn là biểu hiện của năng lượng bác ái. Mối liên hệ này cũng giúp họ cuối cùng có thể rời khỏi cõi hồng trần vũ trụ để đi vào cõi cảm dục vũ trụ.

Each divine aspect has three subsidiary aspects, and in our planet and on the cosmic physical plane the lowest aspect of love (that which we call the Will-to-Good) is revealed. For humanity, struggling upon this cosmic physical plane, we subdivide unconsciously this will-to-good into three aspects; these we are only today beginning to grasp as existent possibilities. The lowest aspect we call goodwill. little realising the attitude to the universal goal which it sets; the second aspect we vaguely call love and hope to demonstrate that we do demonstrate love through our affiliation with the Hierarchy; the highest we call the will-to-good and leave it undefined because it is in no way possible, even for initiates of the fifth initiation, truly to comprehend what is the nature and purpose of the will-to-good which conditions divine activity.

Mỗi phương diện thiêng liêng có ba phương diện phụ, và trên hành tinh chúng ta cũng như trên cõi hồng trần vũ trụ, phương diện thấp nhất của bác ái (điều mà chúng ta gọi là Ý Chí-hướng Thiện) được mặc khải. Đối với nhân loại, đang vật lộn trên cõi hồng trần vũ trụ này, chúng ta vô thức phân chia ý chí-hướng thiện này thành ba phương diện; ngày nay chúng ta mới chỉ bắt đầu nắm bắt chúng như những khả năng hiện hữu. Phương diện thấp nhất chúng ta gọi là thiện chí, ít nhận ra thái độ đối với mục tiêu phổ quát mà nó thiết lập; phương diện thứ hai chúng ta mơ hồ gọi là bác ái và hy vọng biểu lộ nó, rằng chúng ta thực sự biểu lộ bác ái qua sự liên kết của mình với Thánh đoàn; phương diện cao nhất chúng ta gọi là Ý Chí-hướng Thiện và để nó không được định nghĩa vì hoàn toàn không thể, ngay cả đối với các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ năm, thực sự hiểu được bản chất và mục đích của ý chí-hướng thiện vốn tác động lên hoạt động thiêng liêng.

The emphasis in the earlier teaching was upon character as the determining factor in deciding whether a man could “take initiation” (as it was called), and this was another of the presentations which have greatly misled aspirants. Character is of major importance—of such recognised importance that it is not necessary to dwell upon it. It is character, however, which enables a man to become a disciple with the aim in view of eventually entering [537] the Ashram of a Master and passing then through the processes of initiation. It is character which is rightly regarded as the first requirement when a man steps off the Probationary Path on to the Path of Discipleship. But he is still, however, a long way from his goal, and a long way from being accepted by a Master as a disciple. The truth might be expressed this way: When the disciple’s eyes are removed from himself and his functioning in the three worlds is becoming spiritually controlled (or is in process of being controlled), then he is faced with becoming a truly mental being, with the focus of his life upon the mental level where it is subject to soul control; it then in turn becomes the directing agent of the man upon the physical plane. This does not mean that he is occupied with making his lower concrete mind active, directing and illumined; that is taking place gradually and automatically through the pressure of the higher influences pouring into and through him. He is occupied with the task of becoming aware of the activities of his higher or abstract mind and of the pure reason which controls and animates the buddhic plane, and which is itself susceptible to impression from the Monad. That plane has to become the one toward which his mental consciousness looks and upon which it focusses its attention. There it must be polarized, in the same sense as the consciousness of average humanity is today polarised on the plane of the emotions and of astral activity but is shifting with rapidity on to the mental plane.

Sự nhấn mạnh trong giáo huấn trước đây đặt trên Tính cách như yếu tố quyết định trong việc xác định liệu một người có thể “điểm đạo” hay không (như người ta gọi), và đây là một cách trình bày khác đã gây hiểu lầm rất lớn cho những người chí nguyện. Tính cách quả thật có tầm quan trọng lớn—một tầm quan trọng được thừa nhận đến mức không cần phải bàn dài về nó. Tuy nhiên, chính tính cách cho phép một người trở thành đệ tử với mục tiêu cuối cùng là đi vào [537] ashram của một Chân sư và rồi trải qua các tiến trình điểm đạo. Chính tính cách được xem một cách đúng đắn là yêu cầu đầu tiên khi một người bước khỏi Con Đường Dự Bị để vào Con Đường Đệ Tử. Nhưng dù vậy, y vẫn còn rất xa mục tiêu của mình, và còn rất xa việc được một Chân sư chấp nhận làm đệ tử. Chân lý có thể được diễn đạt như sau: Khi mắt của đệ tử được rời khỏi chính mình và sự hoạt động của y trong ba cõi giới đang trở nên được kiểm soát về mặt tinh thần (hoặc đang trong tiến trình được kiểm soát), thì y phải đối diện với việc trở thành một hữu thể thực sự trí tuệ, với trọng tâm đời sống của y ở cấp độ trí tuệ nơi nó chịu sự kiểm soát của linh hồn; đến lượt nó, khi ấy nó trở thành tác nhân chỉ đạo con người trên cõi hồng trần. Điều này không có nghĩa là y bận tâm làm cho hạ trí cụ thể của mình trở nên hoạt động, chỉ đạo và được soi sáng; điều đó đang diễn ra dần dần và tự động qua áp lực của các ảnh hưởng cao hơn đang tuôn vào và xuyên qua y. Y bận tâm với nhiệm vụ trở nên nhận biết các hoạt động của thượng trí hay trí trừu tượng của mình và của lý trí thuần túy vốn kiểm soát và làm sinh động cõi Bồ đề, và bản thân nó lại có thể tiếp nhận sự ghi ấn từ chân thần. Cõi ấy phải trở thành cõi mà tâm thức trí tuệ của y hướng đến và trên đó nó tập trung sự chú ý. Ở đó nó phải được phân cực, theo cùng nghĩa mà tâm thức của nhân loại trung bình ngày nay được phân cực trên cõi cảm xúc và hoạt động cảm dục nhưng đang nhanh chóng chuyển sang cõi trí.

This involves a dual activity; the lower mind becomes a potent factor in directing the service activities of the disciple. These activities become the major motivating potency in the disciple’s life and are a consequence of a growing soul fusion with the personality, thus developing and unfolding his sense of inclusiveness. Inclusiveness is the supreme key to the understanding of consciousness. At the same time, the higher mind is impressing the lower mind and drawing it into a higher fusion with itself.

Điều này bao hàm một hoạt động nhị nguyên; hạ trí trở thành một yếu tố mạnh mẽ trong việc chỉ đạo các hoạt động phụng sự của đệ tử. Những hoạt động này trở thành mãnh lực thúc đẩy chủ yếu trong đời sống của đệ tử và là hệ quả của sự dung hợp ngày càng tăng của linh hồn với phàm ngã, nhờ đó phát triển và khai mở ý thức bao gồm của y. Tính bao gồm là chìa khóa tối thượng để hiểu tâm thức. Đồng thời, thượng trí đang ghi ấn lên hạ trí và kéo nó vào một sự dung hợp cao hơn với chính nó.

This process of unfoldment creates certain major points of successive fusions, with consequent points of tension; [538] these points of tension (when consciously attained) become the actuating energy which enables the disciple to “stand in the light and in that light see greater Light; within that greater Light he knows and sees, grasps and absorbs that which has hitherto been dark and secret and unknown.” This is initiation.

Tiến trình khai mở này tạo ra một số điểm lớn của những sự dung hợp kế tiếp nhau, với các điểm tập trung nhất tâm kéo theo; [538] những điểm tập trung nhất tâm này (khi được đạt đến một cách hữu thức) trở thành năng lượng thúc đẩy giúp đệ tử “đứng trong ánh sáng và trong ánh sáng ấy thấy Ánh sáng lớn hơn; bên trong Ánh sáng lớn hơn ấy y biết và thấy, nắm bắt và hấp thụ điều mà cho đến nay vẫn tối tăm, bí mật và chưa được biết.” Đó là điểm đạo.

Periods of search, periods of pain, periods of detachment, periods of revelation producing points of fusion, points of tension and points of energy projection—such is the story of the Path of Initiation.

Những giai đoạn tìm kiếm, những giai đoạn đau khổ, những giai đoạn tách rời, những giai đoạn mặc khải tạo ra các điểm dung hợp, các điểm tập trung nhất tâm và các điểm phóng chiếu năng lượng—đó là câu chuyện của Con Đường Điểm Đạo.

Initiation is in truth the name given to the revelation or new vision which ever draws the disciple onward into greater light; it is not something conferred upon him or given to him. It is a process of light recognition and of light utilisation in order to enter into ever clearer light. Progress from a dimly lighted area in the divine manifestation into one of supernal glory is the story of the Path of Evolution.

Điểm đạo thật ra là tên gọi dành cho sự mặc khải hay linh ảnh mới luôn luôn kéo đệ tử tiến lên vào ánh sáng lớn hơn; nó không phải là điều gì được ban cho y hay trao cho y. Nó là một tiến trình nhận biết ánh sáng và sử dụng ánh sáng để đi vào ánh sáng ngày càng rõ hơn. Sự tiến bộ từ một khu vực mờ sáng trong biểu hiện thiêng liêng sang một khu vực của vinh quang thiên thượng là câu chuyện của Con Đường Tiến Hóa.

In the Masters’ Archives there are some Rules for Disciples of very ancient origin. Among them is one that is so old and so abstruse that it is only now possible to bring it to the attention of humanity, owing to the increased mental and Spiritual perception of the modern aspirant. It can be inadequately translated as follows:

Trong Văn Khố của các Chân sư có một số Quy Luật cho Đệ Tử có nguồn gốc rất cổ xưa. Trong số đó có một quy luật cổ đến mức và thâm áo đến mức chỉ bây giờ mới có thể đưa ra trước sự chú ý của nhân loại, do tri giác trí tuệ và tinh thần gia tăng của người chí nguyện hiện đại. Nó có thể được dịch một cách chưa đầy đủ như sau:

“The light is seen, a tiny point of piercing light. This light is warm and red. It nearer draws as it reveals the things that are, the things which may be. It pierces the third centre and removes all glamour and desire.

“Ánh sáng được thấy, một điểm nhỏ của ánh sáng xuyên thấu. Ánh sáng này ấm và đỏ. Nó tiến lại gần hơn khi nó mặc khải những điều đang là, những điều có thể là. Nó xuyên qua trung tâm thứ ba và xua tan mọi ảo cảm và dục vọng.

“A light is seen through the medium of the lower light—a light of warmth and heat. It pierces to the heart and in that light all forms are seen pervaded by a glowing light. The world of lighted forms is now perceived, linked each to each by light. This light is blue, and flaming is its nature. Between the warm and reddish light and this clear light there burns a glow of flame—a flame which must be entered, ere the light of blue is entered and is used. [539]

“Một ánh sáng được thấy qua trung gian của ánh sáng thấp hơn—một ánh sáng của sự ấm áp và nhiệt. Nó xuyên đến trái tim và trong ánh sáng ấy mọi hình tướng được thấy là thấm nhuần bởi một ánh sáng rực cháy. Thế giới của những hình tướng được soi sáng giờ đây được tri giác, mỗi hình tướng liên kết với nhau bằng ánh sáng. Ánh sáng này màu xanh lam, và bản chất của nó là bốc lửa. Giữa ánh sáng ấm và đỏ ấy với ánh sáng trong trẻo này có một quầng lửa bừng cháy—một ngọn lửa phải được đi vào trước khi ánh sáng xanh lam được đi vào và được sử dụng. [539]

“Another light is then perceived, the clear cold light which is not light but darkness in its purest purity—the LIGHT of God Himself. It renders dark all else beside Itself; all forms fade out and yet the whole of life is there. It is not light as we know light. It is that pure essential essence of that Light which reveals Itself through light.”

“Rồi một ánh sáng khác được tri giác, ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo không phải là ánh sáng mà là bóng tối trong sự tinh khiết thuần túy nhất của nó—ÁNH SÁNG của chính Thượng đế. Nó làm cho mọi thứ khác trở nên tối tăm bên cạnh Chính Nó; mọi hình tướng mờ đi nhưng toàn thể sự sống vẫn ở đó. Nó không phải là ánh sáng như chúng ta biết ánh sáng. Nó là tinh chất cốt yếu thuần túy của Ánh Sáng ấy, Đấng tự mặc khải qua ánh sáng.”

It was the second light to which the Buddha and the Christ both referred when They said: “I am the light of the world.” It is the Light of God Himself, the Lord of the Worlds, in which the Lives within the Council Chamber of Shamballa live and move and have Their Being.

Chính ánh sáng thứ hai này mà cả Đức Phật lẫn Đức Christ đều nói đến khi Các Ngài phán: “Ta là ánh sáng của thế gian.” Đó là Ánh Sáng của chính Thượng đế, Đức Chúa Tể các Thế Giới, trong đó các Sự Sống bên trong Phòng Hội Đồng của Shamballa sống, di chuyển và có Bản Thể của Các Ngài.

It is the recognition of the varying “lights” upon the Lighted Way that signifies readiness for initiation. The initiate enters into light in a peculiar sense; it permeates his nature according to his development at any point in time and space; it enables him to contact and see the hitherto unseen, and on the basis of the newly acquired knowledge to direct his steps still further.

Chính sự nhận biết các “ánh sáng” khác nhau trên Con Đường được Soi Sáng biểu thị sự sẵn sàng cho điểm đạo. Điểm đạo đồ đi vào ánh sáng theo một ý nghĩa đặc biệt; nó thấm vào bản chất của y tùy theo sự phát triển của y tại bất kỳ điểm nào trong thời gian và không gian; nó giúp y tiếp xúc và thấy điều trước đây chưa thấy, và trên cơ sở tri thức mới thu nhận được, chỉ đạo các bước chân của mình đi xa hơn nữa.

I am not here speaking in symbols. Each initiation dims the light already acquired and used, and then immerses the initiate in a higher light. Each initiation enables the disciple to perceive an area of divine consciousness hitherto unknown but which, when the disciple has familiarised himself with it and with its unique phenomena, vibratory quality and interrelations, becomes for him a normal field of experience and activity. Thus (if I may so express it) the “worlds of living forms and formless lives become his own.” Again duality enters into his mental perception, for he is now aware of the lighted area from which he comes to the point of tension or of initiation; through the initiatory process he discovers a new and more brilliantly lighted area into which he may now enter. This involves no leaving of the former field of activity in which he has worked and lived; it simply means that new fields of responsibility and of opportunity confront him because he is—through his own effort—able to see more light, to walk in a greater light, to prove more adequately than [540] heretofore his capacities within the greatly increased area of possibility.

Ở đây tôi không nói bằng biểu tượng. Mỗi lần điểm đạo làm mờ ánh sáng đã thu nhận và sử dụng trước đó, rồi nhấn chìm điểm đạo đồ vào một ánh sáng cao hơn. Mỗi lần điểm đạo giúp đệ tử tri giác một lĩnh vực của tâm thức thiêng liêng trước đây chưa biết, nhưng khi đệ tử đã làm quen với nó và với các hiện tượng độc đáo, phẩm tính rung động và các tương liên của nó, thì nó trở thành đối với y một lĩnh vực kinh nghiệm và hoạt động bình thường. Như vậy (nếu tôi có thể diễn đạt như thế) “các thế giới của những hình tướng sống động và những sự sống vô tướng trở thành của riêng y.” Một lần nữa nhị nguyên tính đi vào tri giác trí tuệ của y, vì giờ đây y nhận biết lĩnh vực được soi sáng mà từ đó y đi đến điểm tập trung nhất tâm hay điểm đạo; qua tiến trình điểm đạo y khám phá một lĩnh vực mới và được soi sáng rực rỡ hơn mà giờ đây y có thể đi vào. Điều này không bao hàm việc rời bỏ lĩnh vực hoạt động trước kia nơi y đã làm việc và sống; nó chỉ đơn giản có nghĩa là những lĩnh vực trách nhiệm và cơ hội mới đối diện với y vì y—qua nỗ lực của chính mình—có thể thấy nhiều ánh sáng hơn, bước đi trong ánh sáng lớn hơn, chứng tỏ đầy đủ hơn [540] trước đây các năng lực của mình trong lĩnh vực khả thể đã được mở rộng rất nhiều.

Initiation is, therefore, a constant fusion of the lights, progressively entered, thus enabling the initiate to see further, deeper and more inclusively. As one of the Masters has said: “The light must enter vertically and be diffused or radiated horizontally.” This creates the cross of service upon which the disciple is pendant until the Cross of Sanat Kumara is revealed to him; he knows then why this planet is—for wise and adequate reasons—the planet of distress, dispassion and detachment. When he knows this, he knows all that our planetary life can tell him and reveal to him. He has transmuted knowledge into wisdom.

Vì vậy, điểm đạo là một sự dung hợp liên tục của các ánh sáng, được đi vào dần dần, nhờ đó giúp điểm đạo đồ thấy xa hơn, sâu hơn và bao quát hơn. Như một trong các Chân sư đã nói: “Ánh sáng phải đi vào theo chiều dọc và được khuếch tán hay bức xạ theo chiều ngang.” Điều này tạo ra thập giá phụng sự mà trên đó đệ tử bị treo cho đến khi Thập Giá của Đức Sanat Kumara được mặc khải cho y; khi ấy y biết vì sao hành tinh này—vì những lý do minh triết và đầy đủ—là hành tinh của khổ đau, vô dục và tách rời. Khi y biết điều này, y biết tất cả những gì đời sống hành tinh của chúng ta có thể nói cho y và mặc khải cho y. Y đã chuyển hoá tri thức thành minh triết.

It is at the centre of this cross of service that the point of fusion and the point of tension must be found. The point of fusion is created by the focussing of all the power, aims and desires of the disciple dynamically upon the mental plane; the point of tension is created when the invocative power of this focal point becomes capable of evoking response from that which is invoked. For the average aspirant and for the disciple, this is either the soul or the Spiritual Triad. The meeting of the two focussed energies produces a point of tension. Disciples should not focus their attention upon the task of producing a point of tension. They should remember the life of dual activity; i.e., that which he is at any given moment of endeavour, and that with which he can fuse and blend this sum total of his achieved development. The potency of his thinking along these dual lines will automatically produce the point of tension, through the medium of the fusion of the appropriate dualities. It is through the activity of the lower mind that fusion with the soul is brought about, with successive, intensifying points of tension; it is through the activity established between higher and lower mind that fusion with the Spiritual Triad becomes possible, with points of tension arising at many points along the bridge, the antahkarana; it is through the activity of pure reason that fusion with the Hierarchy becomes possible, and it [541] is that which produces those points of tension which we call Initiations. There are necessarily still higher points of tension, but it is with those called initiations that we are dealing at this time.

Chính tại trung tâm của thập giá phụng sự này mà điểm dung hợp và điểm tập trung nhất tâm phải được tìm thấy. Điểm dung hợp được tạo ra bởi sự tập trung một cách năng động trên cõi trí của toàn bộ quyền năng, mục tiêu và dục vọng của đệ tử; điểm tập trung nhất tâm được tạo ra khi quyền năng khẩn cầu của điểm tập trung ấy trở nên có khả năng gợi lên sự đáp ứng từ điều được khẩn cầu. Đối với người chí nguyện trung bình và đối với đệ tử, đó hoặc là linh hồn hoặc là Tam Nguyên Tinh Thần. Sự gặp gỡ của hai năng lượng được tập trung tạo ra một điểm tập trung nhất tâm. Các đệ tử không nên tập trung sự chú ý của mình vào nhiệm vụ tạo ra một điểm tập trung nhất tâm. Họ nên ghi nhớ đời sống của hoạt động nhị nguyên; tức là, điều mà y là tại bất kỳ thời điểm nỗ lực nào, và điều mà y có thể dung hợp và hòa trộn tổng số sự phát triển đã đạt được này với nó. Hiệu lực của tư tưởng của y khi đi theo các đường nhị nguyên này sẽ tự động tạo ra điểm tập trung nhất tâm, qua trung gian của sự dung hợp các nhị nguyên tính thích hợp. Chính qua hoạt động của hạ trí mà sự dung hợp với linh hồn được mang lại, với các điểm tập trung nhất tâm liên tiếp và tăng cường; chính qua hoạt động được thiết lập giữa thượng trí và hạ trí mà sự dung hợp với Tam Nguyên Tinh Thần trở nên có thể, với các điểm tập trung nhất tâm phát sinh tại nhiều điểm dọc theo cây cầu, antahkarana; chính qua hoạt động của lý trí thuần túy mà sự dung hợp với Thánh đoàn trở nên có thể, và [541] chính điều đó tạo ra những điểm tập trung nhất tâm mà chúng ta gọi là Điểm đạo. Tất nhiên còn có những điểm tập trung nhất tâm cao hơn nữa, nhưng hiện nay chúng ta đang bàn đến những điểm được gọi là điểm đạo.

Light may enter your mind in this connection if you will constantly bear in mind the essential duality of manifestation itself; the negative and the positive poles present within the consciousness of every form. The achieved point of fusion (the result of active and positive work and effort) is rendered negative to that which is being invoked, and by this means another and positive point of tension can be achieved. Initiation—a dramatic and a major point of tension—connotes essentially the fusion of the negative and the positive aspects. Owing to this, in all initiatory processes, it is the will of the disciple which is active and which produces, first of all, a fusion and (as a consequence) the appearance of a point of tension.

Ánh sáng có thể đi vào trí tuệ bạn trong mối liên hệ này nếu bạn luôn ghi nhớ nhị nguyên tính cốt yếu của chính sự biểu hiện; các cực âm và dương hiện diện trong tâm thức của mọi hình tướng. Điểm dung hợp đã đạt được (kết quả của công việc và nỗ lực tích cực, chủ động) được làm cho trở thành âm đối với điều đang được khẩn cầu, và bằng phương tiện này một điểm tập trung nhất tâm khác và dương tính có thể đạt được. Điểm đạo—một điểm tập trung nhất tâm đầy kịch tính và quan trọng—về bản chất hàm ý sự dung hợp của các phương diện âm và dương. Do đó, trong mọi tiến trình điểm đạo, chính ý chí của đệ tử là yếu tố hoạt động và tạo ra, trước hết, một sự dung hợp và (như một hệ quả) sự xuất hiện của một điểm tập trung nhất tâm.

Let me illustrate. In the work of creating the antahkarana, the disciple first of all and as far as in him lies, through the medium of positive mental labour, focusses himself upon the mental plane. The fusion of the soul and of time personality is then present and is the result of a positive activity. The quality and the vibratory nature of that positive focal point is then rendered negative to that higher vibration or contact which is invoked by the existent radiance and potency. The response from the opposite pole is (if the disciple could but realise it) immediate and to the extent possible, determined by the disciple’s point of attainment.

Hãy để tôi minh họa. Trong công việc tạo ra antahkarana, trước hết đệ tử, trong chừng mực có thể, qua trung gian của lao động trí tuệ tích cực, tập trung chính mình trên cõi trí. Khi ấy sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã theo thời gian hiện diện và là kết quả của một hoạt động tích cực. Phẩm tính và bản chất rung động của điểm tập trung tích cực ấy sau đó được làm cho trở thành âm đối với rung động hay tiếp xúc cao hơn đang được khẩn cầu bởi bức xạ hiện hữu và hiệu lực. Sự đáp ứng từ cực đối diện là (nếu đệ tử có thể nhận ra điều đó) tức thì và, trong mức độ có thể, được quyết định bởi điểm thành tựu của đệ tử.

This invocative-evocative activity produces a point of tension but not—as yet—a point of fusion with the positive pole. From that point of tension the disciple works at the creation of the antahkarana; this will eventually bring about the desired fusion between the soul-infused personality and the Spiritual Triad. The same general process dictates all the desired fusions and produces those points of tension which are the secret of all growth. These [542] points of fusion and of tension the disciple consciously endeavours to bring about.

Hoạt động khẩn cầu-gợi lên này tạo ra một điểm tập trung nhất tâm nhưng chưa—vào lúc này—tạo ra một điểm dung hợp với cực dương. Từ điểm tập trung nhất tâm ấy đệ tử hoạt động để tạo ra antahkarana; điều này cuối cùng sẽ mang lại sự dung hợp mong muốn giữa phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và Tam Nguyên Tinh Thần. Cùng một tiến trình tổng quát chi phối mọi sự dung hợp mong muốn và tạo ra những điểm tập trung nhất tâm vốn là bí mật của mọi tăng trưởng. Những [542] điểm dung hợp và tập trung nhất tâm này, đệ tử một cách hữu thức nỗ lực mang lại.

These are the broad and general lines governing the initiatory process; the work here indicated is followed by all disciple-initiates of all degrees, and even by the Lord of the World Himself. He, in His high Place, holds the manifested world of energies in a state of fusion; points of tension successively occur as a consequence of a growing divine realisation within these forms of intelligent activity, of love-wisdom and of the will-to-good. These points of tension vary according to the divine purpose and the individual initiatory problem of Sanat Kumara Himself, as He submits to a cosmic initiatory process. Such a point of tension, of stupendous magnitude, is present in the world today; the intention behind this realised fusion and tension is to enable humanity (as an integral part of the divine body of manifestation) to move forward into greater light and nearer to the “heart of love,” which is the Hierarchy. As this takes place—and it is taking place—the Hierarchy Itself moves nearer to a conscious fusion with Humanity. The point of tension thereby achieved—and this has not yet appeared—will produce the Kingdom of God on Earth in exoteric form.

Đây là những đường nét rộng lớn và tổng quát chi phối tiến trình điểm đạo; công việc được chỉ ra ở đây được mọi đệ tử-điểm đạo đồ ở mọi cấp độ tuân theo, và ngay cả chính Đức Chúa Tể Thế Giới cũng vậy. Ngài, ở cương vị cao cả của Ngài, giữ thế giới biểu hiện của các năng lượng trong một trạng thái dung hợp; các điểm tập trung nhất tâm lần lượt xuất hiện như một hệ quả của sự chứng nghiệm thiêng liêng ngày càng tăng bên trong các hình tướng của hoạt động thông tuệ, của bác ái-minh triết và của Ý Chí-hướng Thiện. Các điểm tập trung nhất tâm này thay đổi tùy theo Thiên Ý và vấn đề điểm đạo cá nhân của chính Đức Sanat Kumara, khi Ngài thuận phục một tiến trình điểm đạo vũ trụ. Một điểm tập trung nhất tâm như thế, có tầm vóc phi thường, hiện đang hiện diện trong thế giới ngày nay; ý định đằng sau sự dung hợp và nhất tâm đã được chứng nghiệm này là giúp nhân loại (như một phần toàn vẹn của thể biểu hiện thiêng liêng) tiến vào ánh sáng lớn lao hơn và đến gần hơn với “trái tim của bác ái,” tức là Thánh đoàn. Khi điều này diễn ra—và nó đang diễn ra—chính Thánh đoàn cũng tiến gần hơn đến một sự dung hợp hữu thức với Nhân loại. Điểm tập trung nhất tâm nhờ đó đạt được—và điều này vẫn chưa xuất hiện—sẽ tạo ra Thiên Giới trên Trái Đất dưới hình thức ngoại môn.

We will now consider one of the lesser, though essential, fusions which must be achieved by the disciple, producing consequently in his life a point or points of tension.

Giờ đây chúng ta sẽ xét đến một trong những sự dung hợp nhỏ hơn, tuy thiết yếu, mà đệ tử phải đạt được, và do đó tạo ra trong đời sống của y một hay nhiều điểm tập trung nhất tâm.

Fusion of the Master’s consciousness with that of the disciple — Sự dung hợp tâm thức của Chân sư với tâm thức của đệ tử

Earlier I stated that the disciple’s private life automatically falls (once he has been accepted by the Master) into three stages:

Trước đây tôi đã nói rằng đời sống riêng tư của đệ tử tự động rơi vào ba giai đoạn (một khi y đã được Chân sư chấp nhận):

a. The stage in which the lower concrete mind and the higher mind are related in such a manner that the lower mind is not only soul-illumined but is subject also to impression from the Spiritual Triad.

a. Giai đoạn trong đó hạ trí cụ thể và thượng trí được liên hệ với nhau theo cách mà hạ trí không những được linh hồn soi sáng mà còn chịu sự cảm ứng từ Tam Nguyên Tinh Thần.

b. His relation to the Master is the next and sometimes paralleling stage and involves the bringing together [543] of the Master’s consciousness and his own. This has to be slowly developed and consciously grasped, with very interesting consequences.

b. Mối liên hệ của y với Chân sư là giai đoạn kế tiếp và đôi khi song hành, và bao hàm việc đưa lại gần nhau [543] tâm thức của Chân sư và tâm thức của chính y. Điều này phải được phát triển chậm rãi và nắm bắt một cách hữu thức, với những hệ quả rất lý thú.

c. Later comes the stage when the disciple’s consciousness can be gradually brought into a rapport with the Hierarchy as a whole. It might be mentioned, in clarification somewhat of this rather vague statement, that the disciple is absorbed into the Hierarchy and—at the same time—he assimilates in a new and mysterious manner certain united hierarchical impressions.

c. Về sau đến giai đoạn khi tâm thức của đệ tử có thể dần dần được đưa vào một sự tương thông với toàn thể Thánh đoàn. Có thể nói thêm, để phần nào làm sáng tỏ phát biểu khá mơ hồ này, rằng đệ tử được hấp thu vào Thánh đoàn và—đồng thời—y đồng hoá theo một cách mới mẻ và huyền nhiệm những cảm ứng hợp nhất nào đó của Thánh đoàn.

The disciple by now has made his approach to the Ashram and has demonstrated his ability to serve and thereby utilise any ashramic energy which he may contact and occultly include. He is slowly becoming aware of three vibratory impressions which are slightly differing though coloured by the ray which they express. First of all, he is aware of the vibration of his own soul; then he registers that of the Ashram, in the early stages focussed for him through the mediation of some disciple senior to him; and finally, he becomes conscious of the vibration of the Master. Slowly he learns to distinguish them and know them as constituting three different channels whereby energy reaches him. They contact his consciousness upon the mental plane; later, he discovers that contact with them is facilitated once he can register them consciously upon their appropriate plane and through the appropriate centre; it naturally takes time to develop this facility and (until he passes through the third initiation when major changes take place) he is expected to “retain the impression” upon the mental plane.

Đến lúc này đệ tử đã tiến gần đến ashram và đã chứng tỏ khả năng phụng sự của mình, nhờ đó sử dụng bất kỳ năng lượng ashram nào mà y có thể tiếp xúc và một cách huyền bí bao hàm vào trong mình. Y đang chậm rãi trở nên nhận biết ba cảm ứng rung động hơi khác nhau, tuy được nhuốm màu bởi cung mà chúng biểu lộ. Trước hết, y nhận biết rung động của chính linh hồn mình; rồi y ghi nhận rung động của ashram, trong các giai đoạn đầu được tập trung cho y qua sự trung gian của một đệ tử đàn anh hơn y; và cuối cùng, y trở nên hữu thức về rung động của Chân sư. Chậm rãi y học cách phân biệt chúng và biết chúng như cấu thành ba kênh khác nhau qua đó năng lượng đến với y. Chúng tiếp xúc với tâm thức của y trên cõi trí; về sau, y khám phá rằng sự tiếp xúc với chúng được tạo điều kiện dễ dàng hơn một khi y có thể ghi nhận chúng một cách hữu thức trên cõi thích hợp của chúng và qua trung tâm thích hợp; dĩ nhiên cần thời gian để phát triển khả năng này và (cho đến khi y trải qua lần điểm đạo thứ ba, khi những thay đổi lớn diễn ra) y được mong đợi là sẽ “giữ lại cảm ứng” trên cõi trí.

The development of sensitivity to contact, and the registering of “that which is other than the Self and yet which is the Self Itself,” are part of the great Science of Impression. This development—in the early stages of human evolution—is carried forward through the medium of the five senses and is to be found in the animal kingdom also. With this well-known and well-studied unfoldment I shall not deal, beyond saying that these five (in reality [544] seven) senses constitute avenues of spiritual approach to varying aspects of the divine manifestation in the three or five worlds of human evolution. It might here be pointed out that (in a mysterious manner) the seven centres in the etheric body are correspondences to the seven senses, for they are responsive to vibrations coming from the world soul or the human soul, from the Ashram and from the Master, as well as registering eventually the energies of all the seven rays; these pour into the disciple and through him as part of the great circulatory system of the sevenfold divine energy which is the basis of manifestation. I dealt with these senses and the circulating energies somewhat at length in A Treatise on Cosmic Fire.

Sự phát triển tính nhạy bén đối với tiếp xúc, và việc ghi nhận “điều gì đó khác với Bản Ngã mà tuy vậy lại chính là Bản Ngã,” là một phần của Khoa Học lớn về Cảm Ứng. Sự phát triển này—trong các giai đoạn đầu của tiến hoá nhân loại—được thực hiện qua trung gian của năm giác quan và cũng được thấy trong giới động vật. Với sự khai mở quen thuộc và đã được nghiên cứu kỹ này tôi sẽ không bàn đến, ngoài việc nói rằng năm giác quan này (thực ra [544] là bảy) cấu thành những con đường tiếp cận tinh thần đến các phương diện khác nhau của biểu hiện thiêng liêng trong ba hay năm cõi của tiến hoá nhân loại. Ở đây có thể chỉ ra rằng (theo một cách huyền nhiệm) bảy trung tâm trong thể dĩ thái là những tương ứng với bảy giác quan, vì chúng đáp ứng với các rung động đến từ đại hồn hay linh hồn con người, từ ashram và từ Chân sư, cũng như cuối cùng ghi nhận các năng lượng của cả bảy cung; các năng lượng này tuôn vào đệ tử và qua y như một phần của hệ tuần hoàn vĩ đại của năng lượng thiêng liêng thất phân vốn là nền tảng của biểu hiện. Tôi đã bàn khá dài về các giác quan này và các năng lượng tuần hoàn trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

With the theme of the fusion of the soul and the personality I have dealt adequately in other writings and in the teaching on the antahkarana. I will confine myself here to the fusion of the Master’s consciousness (as it is conditioned to the human kingdom) with that of the disciple. There is no fusion possible or comprehensible between the Master’s higher or Shamballic consciousness and that of any disciple who has not taken the fourth initiation. The completeness of the fusion to which I refer is not possible in the early stages of the disciple’s unfoldment; there again, the teaching hitherto presented by occult groups in connection with a Master’s relation to His disciple has been erroneous and the result of wishful thinking.

Với chủ đề sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã, tôi đã bàn đầy đủ trong các trước tác khác và trong giáo huấn về antahkarana. Ở đây tôi sẽ chỉ giới hạn vào sự dung hợp tâm thức của Chân sư (như nó được tác động theo giới nhân loại) với tâm thức của đệ tử. Không có sự dung hợp nào là khả hữu hay có thể hiểu được giữa tâm thức cao hơn hay tâm thức Shamballa của Chân sư với tâm thức của bất kỳ đệ tử nào chưa trải qua lần điểm đạo thứ tư. Sự hoàn chỉnh của sự dung hợp mà tôi nói đến không thể có trong các giai đoạn đầu của sự khai mở của đệ tử; ở đây nữa, giáo huấn từ trước đến nay do các nhóm huyền bí học trình bày liên quan đến mối liên hệ của một Chân sư với đệ tử của Ngài là sai lầm và là kết quả của lối suy nghĩ theo ước muốn.

The disciple is only permitted to have contact with the Master’s mind when his spiritual life has become habitual to him and when he can, at will, flood his personality with soul energy. Those who make occasional and rare soul contacts (and there are many who do) in their meditation work are not so privileged. It is the disciple who has established a usable contact with his soul, of which he can avail himself at any time he so chooses, who can begin to register impressions coming directly to him from the Master.

Đệ tử chỉ được phép có tiếp xúc với trí tuệ của Chân sư khi đời sống tinh thần của y đã trở thành thói quen nơi y và khi y có thể, theo ý muốn, tràn ngập phàm ngã của mình bằng năng lượng linh hồn. Những ai chỉ thỉnh thoảng và hiếm hoi tiếp xúc với linh hồn (và có nhiều người như thế) trong công việc tham thiền của họ thì không được đặc ân ấy. Chính đệ tử đã thiết lập được một tiếp xúc khả dụng với linh hồn mình, mà y có thể sử dụng bất cứ lúc nào y chọn, mới có thể bắt đầu ghi nhận các cảm ứng đến trực tiếp với y từ Chân sư.

Aspirants must not confuse teaching given to them by the Master in the work of the Ashram with this later [545] fusion of consciousness. In group formation, disciples are gathered together at times to receive instruction and are thereby protected within the group aura from the tremendous potency of the Master’s presence. It is difficult for the average aspirant to realise the necessity for this, yet even disciples themselves, and in the early stages of their admission to the Ashram and of their training, have a potent effect upon those whom they may contact. The effect is produced without intention and is caused by the higher quality of the disciple’s vibration or radiance to that of the person or group he contacts. The impression he makes produces stimulation—a stimulation which the person frequently finds it very difficult to handle, evoking not only good but also bad effects.

Những người chí nguyện không được lẫn lộn giáo huấn do Chân sư ban cho họ trong công việc của ashram với sự dung hợp [545] tâm thức về sau này. Trong việc hình thành nhóm, các đệ tử đôi khi được tập hợp lại để nhận huấn thị và nhờ đó được bảo vệ trong hào quang nhóm khỏi mãnh lực to lớn của sự hiện diện của Chân sư. Người chí nguyện trung bình khó nhận ra sự cần thiết của điều này, tuy nhiên ngay cả chính các đệ tử, trong các giai đoạn đầu được nhận vào ashram và được huấn luyện, cũng có một tác động mạnh mẽ lên những người mà họ có thể tiếp xúc. Tác động ấy được tạo ra mà không có chủ ý và do phẩm tính cao hơn của rung động hay bức xạ của đệ tử so với người hay nhóm mà y tiếp xúc. Ấn tượng mà y tạo ra gây nên sự kích thích—một sự kích thích mà người ấy thường thấy rất khó xử lý, khơi dậy không chỉ các hiệu quả tốt mà cả các hiệu quả xấu.

The application of this radiant energy is a definite mode of spiritual service and activity, but until a disciple has advanced in knowledge and can control his radiation (permitting only those streams of energy to escape from him which are appropriate to the need) the “passing-by” of a disciple can produce much difficulty, both for the individual and for the group.

Việc áp dụng năng lượng bức xạ này là một phương thức xác định của phụng sự và hoạt động tinh thần, nhưng cho đến khi một đệ tử đã tiến bộ trong tri thức và có thể kiểm soát bức xạ của mình (chỉ cho phép những dòng năng lượng thích hợp với nhu cầu thoát ra khỏi mình), thì việc một đệ tử “đi ngang qua” có thể gây ra nhiều khó khăn, cho cả cá nhân lẫn nhóm.

It will be obvious to you, therefore, that the presence of a Master will have a potent effect where an individual disciple is concerned. I have employed that separative term “individual disciple” because it indicates the cause of the possible difficulty or even danger. Such difficulty is always possible as long as any separative or self-centered instincts exist in the disciple; it takes a long time for a disciple to attain that disinterestedness and that inclusive spirit which will enable him to stand in the presence of the Master and present no barriers to direct contact with the Master’s mind. This contact, leading to the desired fusion, falls into certain clearly defined stages:

Do đó, hẳn bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng sự hiện diện của một Chân sư sẽ có một tác động mạnh mẽ khi liên quan đến một đệ tử cá nhân. Tôi đã dùng thuật ngữ phân ly “đệ tử cá nhân” ấy vì nó chỉ ra nguyên nhân của khó khăn hay thậm chí nguy hiểm có thể có. Khó khăn như thế luôn luôn có thể xảy ra chừng nào còn tồn tại bất kỳ bản năng phân ly hay tập trung vào bản thân nào trong đệ tử; phải mất một thời gian dài để một đệ tử đạt được sự vô tư lợi và tinh thần bao gồm ấy, điều sẽ giúp y đứng trong sự hiện diện của Chân sư mà không tạo ra rào cản nào đối với sự tiếp xúc trực tiếp với trí tuệ của Chân sư. Sự tiếp xúc này, dẫn đến sự dung hợp mong muốn, rơi vào những giai đoạn được xác định rõ ràng:

1. Occasionally in the disciple’s hours of meditation, at a moment of great tension or in a crisis (related to his service activities), there may occur a momentary fusion of the minds of the disciple and the Master. This can only [546] occur when the mental focus is so steady and so firmly directed in intention that emotional reactions or the intrusion of personality affairs are eliminated.

1. Thỉnh thoảng trong những giờ tham thiền của đệ tử, vào một khoảnh khắc căng thẳng lớn lao hay trong một cuộc khủng hoảng (liên quan đến các hoạt động phụng sự của y), có thể xảy ra một sự dung hợp chốc lát giữa trí tuệ của đệ tử và trí tuệ của Chân sư. Điều này chỉ có thể [546] xảy ra khi tập trung trí tuệ vững vàng đến mức và được hướng chắc chắn trong chủ đích đến mức các phản ứng cảm xúc hay sự xen vào của các việc thuộc phàm ngã bị loại bỏ.

2. Later on in his training, the Master may attempt to impress his mind unexpectedly, and thus train him to recognise what we might regard as a direct call from the Centre of the Ashram.

2. Về sau trong quá trình huấn luyện, Chân sư có thể tìm cách cảm ứng trí tuệ của y một cách bất ngờ, và nhờ đó huấn luyện y nhận ra điều mà chúng ta có thể xem như một tiếng gọi trực tiếp từ Trung Tâm của ashram.

3. As the disciple proves his value and demonstrates that he is desiring nothing for the separated self, the interrelation between the two minds—of the Master of the Ashram and the disciple—finds no impediment; there is consequently no risk of overstimulation, of self-satisfaction or of the emergence of qualities which would disturb the rhythm of the Ashram. There can take place (as the Master wills it) a flow of thought between the two. At first, the impression is carried forward entirely on the side of the Master, and the disciple is simply an agent who can be impressed by ideas and instructed along some particular line which may be of service to humanity; he can, however, produce no current of thought flowing back to the Master. Later on, as a disciple moves forward into light and is simultaneously a server, he can be permitted to reach the Master with his own reaction to the impression.

3. Khi đệ tử chứng tỏ giá trị của mình và cho thấy rằng y không mong muốn gì cho bản ngã phân ly, thì mối tương liên giữa hai trí tuệ—của Chân sư của ashram và của đệ tử—không gặp trở ngại nào; do đó không có nguy cơ bị kích thích quá mức, tự mãn hay xuất hiện những phẩm tính có thể làm xáo trộn nhịp điệu của ashram. Khi ấy có thể diễn ra (nếu Chân sư muốn) một dòng tư tưởng giữa hai bên. Lúc đầu, cảm ứng được chuyển đi hoàn toàn từ phía Chân sư, và đệ tử chỉ đơn giản là một tác nhân có thể được cảm ứng bởi các ý tưởng và được huấn thị theo một đường hướng đặc biệt nào đó có thể phụng sự nhân loại; tuy nhiên, y không thể tạo ra một dòng tư tưởng chảy ngược trở lại Chân sư. Về sau, khi một đệ tử tiến vào ánh sáng và đồng thời là một người phụng sự, y có thể được phép vươn tới Chân sư bằng phản ứng riêng của mình đối với cảm ứng.

4. Then comes the final stage wherein the disciple can be trusted to be the initiatory agent of impression and of contact and is allowed to evoke the Master’s attention and to penetrate to the Centre of the Ashram. Students would do well to relate these four stages to the Six Stages of Discipleship, dealt with in the latter part of Discipleship in the New Age, Vol. I; these four stages correspond to the final four considered in that book.

4. Rồi đến giai đoạn cuối cùng trong đó đệ tử có thể được tin cậy để là tác nhân điểm đạo của cảm ứng và tiếp xúc, và được phép gợi lên sự chú ý của Chân sư và thâm nhập vào Trung Tâm của ashram. Các đạo sinh nên liên hệ bốn giai đoạn này với Sáu Giai Đoạn của Địa vị đệ tử, được bàn đến ở phần sau của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I; bốn giai đoạn này tương ứng với bốn giai đoạn cuối cùng được xét trong quyển sách ấy.

These contacts are naturally in the field of telepathy, which is an aspect of the Science of Impression, and are entirely in the realm of mental interplay. I have dealt with the basic science itself in the book Telepathy and the Etheric Vehicle. The relation considered above is between the instrument of contact used by the Master—that of the higher or abstract mind, for the Masters do not work [547] through the lower mind at all—and the lower or concretising mind of the disciple. The Masters are therefore dependent upon the use of the antahkarana which the disciple is in process of building; this is rapidly becoming a part of the group Antahkarana, built by disciples (working in the three worlds but on mental levels) who have been admitted into the Ashram. You can see why, therefore, the teaching anent the Antahkarana was deemed by us to be timely and wise. Relationship to the Ashram and contact with the Master are dependent upon the existence of the Antahkarana. In the early stages of its creative construction, the Antahkarana is adequate to permit some contact with the Ashram and with certain of the disciples, though not with those of very high degree. Later, as the Antahkarana perfects itself, higher and more durable contacts become possible.

Các tiếp xúc này dĩ nhiên thuộc lĩnh vực viễn cảm, vốn là một phương diện của Khoa Học về Cảm Ứng, và hoàn toàn nằm trong phạm vi của sự tương tác trí tuệ. Tôi đã bàn về chính khoa học căn bản này trong quyển Telepathy and the Etheric Vehicle. Mối liên hệ được xét ở trên là giữa công cụ tiếp xúc mà Chân sư dùng—đó là thượng trí hay trí trừu tượng, vì các Chân sư hoàn toàn không làm việc [547] qua hạ trí—và hạ trí hay trí cụ thể hóa của đệ tử. Do đó các Chân sư tùy thuộc vào việc sử dụng antahkarana mà đệ tử đang trong tiến trình xây dựng; điều này đang nhanh chóng trở thành một phần của antahkarana nhóm, được xây dựng bởi các đệ tử (làm việc trong ba cõi giới nhưng trên các cấp độ trí tuệ) đã được nhận vào ashram. Vì vậy bạn có thể thấy tại sao giáo huấn liên quan đến antahkarana được chúng tôi xem là đúng lúc và khôn ngoan. Mối liên hệ với ashram và sự tiếp xúc với Chân sư tùy thuộc vào sự hiện hữu của antahkarana. Trong các giai đoạn đầu của sự kiến tạo sáng tạo của nó, antahkarana đủ để cho phép một vài tiếp xúc với ashram và với một số đệ tử, dù không phải với những vị có cấp độ rất cao. Về sau, khi antahkarana tự hoàn thiện, những tiếp xúc cao hơn và bền vững hơn trở nên khả hữu.

The results of these developed and registered contacts are finally seen in the complete impressibility—at any time and without any effort on either side—of the disciple’s mind. It is now so attuned to the Ashram and to the Master’s ray quality that his mind is one with that of the Master at the centre. Reciprocal activity becomes possible.

Kết quả của những tiếp xúc đã được phát triển và ghi nhận này cuối cùng được thấy trong tính dễ cảm ứng hoàn toàn—vào bất cứ lúc nào và không cần nỗ lực nào từ cả hai phía—của trí tuệ đệ tử. Giờ đây nó đã được chỉnh hợp đến mức với ashram và với phẩm tính cung của Chân sư đến nỗi trí tuệ của y là một với trí tuệ của Chân sư ở trung tâm. Hoạt động hỗ tương trở nên khả hữu.

It is needless, surely, for me to point out that the theme of all impressions coming from the Master to the disciple, and from the disciple to the Master, is the service of the Plan, the problems connected with group work in the Aquarian Age, or with the life and relationships within the Ashram. Forget not that the Ashram has its own objectives, intentions and inner techniques which are unconnected with the disciple’s life and his service in the three worlds. The work of the disciple in preparation for initiation is not basically concerned with his daily world service, though there would be no initiation for him if that life of service were lacking. His life of service is, in reality an expression of the particular initiation for which he is being prepared. This is a theme too vast for us to consider here, but it is an idea upon which you could well ponder. [548]

Hẳn là không cần để tôi chỉ ra rằng chủ đề của mọi cảm ứng đến từ Chân sư với đệ tử, và từ đệ tử đến Chân sư, là sự phụng sự Thiên Cơ, các vấn đề liên quan đến công việc nhóm trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, hay với đời sống và các mối liên hệ bên trong ashram. Đừng quên rằng ashram có những mục tiêu, ý định và kỹ thuật nội tại riêng của nó, không liên hệ với đời sống của đệ tử và sự phụng sự của y trong ba cõi giới. Công việc của đệ tử trong sự chuẩn bị cho điểm đạo về căn bản không liên quan đến sự phụng sự thế gian hằng ngày của y, mặc dù sẽ không có điểm đạo nào cho y nếu đời sống phụng sự ấy thiếu vắng. Đời sống phụng sự của y, trên thực tế, là một biểu hiện của lần điểm đạo đặc biệt mà y đang được chuẩn bị. Đây là một chủ đề quá rộng lớn để chúng ta xét ở đây, nhưng đó là một ý tưởng mà bạn rất nên suy ngẫm. [548]

One hint I will give you, based on the life of the Christ. The life history and the experiences of the great Initiates are rarely given, but much has been communicated to us anent the life of the Christ, both in the Gospels and in connection with His earlier incarnations. As you know, He took one of the greatest of the initiations (the sixth initiation, that of Decision). This initiation is related to the throat centre and also to its higher correspondence, the throat centre of the planetary Logos; this is the centre which we call Humanity. Thus “the Word came forth.” He had a dual mission to fulfill in order to prove His fitness (if one may use such a word in connection with an initiate of His exalted standing). He had, first of all, to give a great impetus to human evolution by proclaiming two things:

Tôi sẽ cho bạn một gợi ý, dựa trên cuộc đời của Đức Christ. Tiểu sử và kinh nghiệm của các Điểm đạo đồ vĩ đại hiếm khi được ban ra, nhưng nhiều điều đã được truyền đạt cho chúng ta liên quan đến cuộc đời của Đức Christ, cả trong các Phúc Âm lẫn liên quan đến các lần lâm phàm trước đó của Ngài. Như bạn biết, Ngài đã trải qua một trong những lần điểm đạo lớn lao nhất (lần điểm đạo thứ sáu, lần điểm đạo Quyết Định). Lần điểm đạo này liên hệ với trung tâm cổ họng và cũng với tương ứng cao hơn của nó, trung tâm cổ họng của Hành Tinh Thượng đế; đây là trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân loại. Như vậy “Linh từ đã phát ra.” Ngài có một sứ mệnh kép phải hoàn thành để chứng tỏ sự xứng đáng của Ngài (nếu người ta có thể dùng một từ như thế liên quan đến một điểm đạo đồ ở địa vị cao cả như Ngài). Trước hết, Ngài phải tạo ra một xung lực lớn cho tiến hoá nhân loại bằng cách công bố hai điều:

1. That “the blood is the life.”

1. Rằng “máu là sự sống.”

2. That all men everywhere are sons of God, and therefore divine.

2. Rằng mọi người ở khắp nơi đều là con của Thượng đế, và do đó là thiêng liêng.

Secondly, He had to bring to an end the Jewish dispensation which should have climaxed and passed away with the movement of the sun out of Aries into Pisces. He therefore presented Himself to them as their Messiah, which was His reason for manifesting through the Jewish race. They not only rejected Him, but have succeeded in perpetuating the Jewish dispensation through the medium of its religious presentation throughout the era of the Christian dispensation. This lies at the root of their trouble and is the cause of their constant emphasis upon the past—a past which is based on their experiences in Aries and not upon their growth in Pisces.

Thứ hai, Ngài phải chấm dứt thời kỳ phân phối Do Thái, vốn lẽ ra phải đạt đến đỉnh điểm và qua đi cùng với sự chuyển động của mặt trời ra khỏi Bạch Dương vào Song Ngư. Vì vậy Ngài đã trình diện chính mình với họ như Đấng Messiah của họ, đó là lý do Ngài biểu hiện qua chủng tộc Do Thái. Họ không những khước từ Ngài, mà còn thành công trong việc kéo dài thời kỳ phân phối Do Thái qua trung gian của sự trình bày tôn giáo của nó suốt thời đại của thời kỳ phân phối Cơ Đốc giáo. Điều này nằm ở gốc rễ của nỗi khổ của họ và là nguyên nhân của sự nhấn mạnh liên tục của họ vào quá khứ—một quá khứ dựa trên kinh nghiệm của họ trong Bạch Dương chứ không dựa trên sự tăng trưởng của họ trong Song Ngư.

This entire subject of the telepathic interplay between the disciple and the Ashram, and between the Master and the disciple, is one of unique interest. It is part of the dual life which all disciples must lead. It is that which intensifies the life of introspection which is only rightly understood and carried forward when the man is in truth a soul-infused personality. It is the source or origin of the extraverted life which the disciple must also lead, producing an intense activity in the three worlds—an activity [549] which in no way disturbs the calm procedures of the life of ashramic contacts. Rightly followed, it produces the possibility with which our third point deals.

Toàn bộ chủ đề này về sự tương tác viễn cảm giữa đệ tử và ashram, và giữa Chân sư và đệ tử, là một điều có mối quan tâm độc đáo. Nó là một phần của đời sống kép mà mọi đệ tử phải sống. Chính điều này làm tăng cường đời sống nội quan, vốn chỉ được hiểu đúng và được thực hiện đúng khi con người thật sự là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Nó là nguồn gốc hay xuất xứ của đời sống hướng ngoại mà đệ tử cũng phải sống, tạo ra một hoạt động mãnh liệt trong ba cõi giới—một hoạt động [549] không hề làm xáo trộn các tiến trình bình lặng của đời sống tiếp xúc ashram. Nếu được theo đuổi đúng đắn, nó tạo ra khả năng mà điểm thứ ba của chúng ta đề cập đến.

Impression on the mind of the disciple of hierarchical intent — Cảm ứng lên trí tuệ của đệ tử về ý định của Thánh đoàn

This is something far greater and more inclusive than the ability of the mind of the disciple to register the content of the minds within the Ashram with which he is affiliated or even the mind of the Master. The purpose aspect of the Plan begins to impress his now highly illumined abstract mind, for the integrated purpose—as far as the Hierarchy is concerned—begins slowly to impress him. Little by little, he begins to register impressions from Shamballa. With this I cannot deal; it concerns the growth which follows the fourth and fifth initiations, and therefore training given to a Master. With it you have no concern.

Đây là điều lớn lao hơn và bao gồm hơn nhiều so với khả năng của trí tuệ đệ tử trong việc ghi nhận nội dung của các trí tuệ bên trong ashram mà y liên kết, hay thậm chí trí tuệ của Chân sư. Phương diện mục đích của Thiên Cơ bắt đầu cảm ứng thượng trí nay đã được soi sáng cao độ của y, vì mục đích tích hợp—xét theo mức độ liên quan đến Thánh đoàn—bắt đầu chậm rãi cảm ứng y. Từng chút một, y bắt đầu ghi nhận các cảm ứng từ Shamballa. Về điều này tôi không thể bàn đến; nó liên quan đến sự tăng trưởng tiếp theo sau lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, và do đó là sự huấn luyện được ban cho một Chân sư. Với điều ấy bạn không có liên hệ.

Your major task, as aspirants, is to cultivate the higher sensitivity; to render yourselves so pure and selfless that your minds remain undisturbed by the happenings in the three worlds; to seek that attentive spiritual sense which will enable you to be impressed, and then to interpret correctly the impressions received.

Nhiệm vụ chính của các bạn, với tư cách những người chí nguyện, là vun bồi tính nhạy bén cao hơn; làm cho mình thanh khiết và vô ngã đến mức trí tuệ của các bạn vẫn không bị xáo động bởi những biến cố trong ba cõi giới; tìm kiếm giác quan tinh thần chú tâm ấy, điều sẽ giúp các bạn được cảm ứng, rồi diễn giải đúng các cảm ứng đã nhận.

I have said that initiation is in reality a great experiment with energy. The life of the occult student is consciously lived in the world of energies. Those energies have always been present, for the whole of existence in all the kingdoms of nature is manifested energy, but men are not aware of this. They are not conscious, for instance, when they succumb to irritation and find themselves voicing that irritation in loud words or in angry thoughts, that they are taking astral energy and using it. The use of this energy admits them with ease to a level of astral living which is not suitable for them; continual use of this energy brings about what the Master Morya has called “habits of residence which imperil the resident.” It is when the aspirant recognises that he himself is composed of energy units—held in coherent expression by a still stronger energy, that of integration—that he begins consciously to [550] work in a world of forces similarly composed; he then begins to use energy of a certain kind, and selectively, and takes one of the initial steps towards becoming a true occultist. This world of energy in which he lives and moves and has his being is the living, organised vehicle of manifestation of the planetary Logos. Through it energies are circulating all the time and are in constant movement, being directed and controlled by the head centre of the planetary Logos; they create great vortices of force or major points of tension throughout His body of manifestation. The Spiritual Hierarchy of our planet is such a vortex; Humanity itself is another, and one which is today in a condition of almost violent activity, owing to its becoming a focus of divine attention.

Tôi đã nói rằng điểm đạo thực ra là một thí nghiệm lớn với năng lượng. Đời sống của đạo sinh huyền bí học được sống một cách hữu thức trong thế giới của các năng lượng. Những năng lượng ấy luôn luôn hiện diện, vì toàn thể sự tồn tại trong mọi giới của bản chất là năng lượng biểu hiện, nhưng những người nam và nữ không nhận biết điều này. Chẳng hạn, họ không hữu thức rằng khi họ khuất phục trước sự bực tức và thấy mình thốt ra sự bực tức ấy bằng lời lẽ lớn tiếng hay bằng những tư tưởng giận dữ, thì họ đang lấy năng lượng cảm dục và sử dụng nó. Việc sử dụng năng lượng này dễ dàng đưa họ vào một cấp độ sống cảm dục không thích hợp với họ; việc sử dụng liên tục năng lượng này dẫn đến điều mà Chân sư Morya đã gọi là “những thói quen cư trú gây nguy hại cho kẻ cư ngụ.” Chính khi người chí nguyện nhận ra rằng bản thân mình được cấu thành bởi các đơn vị năng lượng—được giữ trong một biểu hiện cố kết bởi một năng lượng còn mạnh hơn nữa, đó là năng lượng của sự tích hợp—thì y bắt đầu một cách hữu thức [550] làm việc trong một thế giới các mãnh lực cũng được cấu thành tương tự; khi ấy y bắt đầu sử dụng năng lượng thuộc một loại nào đó, và một cách chọn lọc, và thực hiện một trong những bước đầu tiên để trở thành một nhà huyền bí học chân chính. Thế giới năng lượng này, trong đó y sống, vận động và hiện hữu, là vận cụ biểu hiện sống động, có tổ chức của Hành Tinh Thượng đế. Qua đó các năng lượng luôn luôn lưu chuyển và không ngừng vận động, được hướng dẫn và kiểm soát bởi trung tâm đầu của Hành Tinh Thượng đế; chúng tạo ra những xoáy lực lớn hay những điểm tập trung nhất tâm chủ yếu khắp thể biểu hiện của Ngài. Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta là một xoáy lực như thế; chính Nhân loại là một xoáy lực khác, và là một xoáy lực ngày nay ở trong tình trạng hoạt động gần như dữ dội, do việc nó đang trở thành một tiêu điểm của sự chú ý thiêng liêng.

Certain great readjustments are going on in that centre, for it is beginning to conform at long last to divine intention. I have elsewhere pointed out that for the first time in the long history of human development, energy from Shamballa has made a direct impact upon this third planetary centre. This is not due entirely to the point in evolution attained by mankind; this attainment is only a secondary reason or cause. It is due to the will of Sanat Kumara Himself as He prepares for a certain cosmic initiation. This initiation requires the reorganisation of the energies flowing through and composing that “centre which we call the race of men”; this creates a rearrangement within the centre itself, and thus brings into manifested expression certain aspects and qualities—always inherent in those energies—which have not hitherto been recognised. This creative crisis has been made possible by three major happenings:

Những sự tái điều chỉnh lớn lao nào đó đang diễn ra trong trung tâm ấy, vì cuối cùng nó đang bắt đầu phù hợp với ý định thiêng liêng. Ở nơi khác tôi đã chỉ ra rằng lần đầu tiên trong lịch sử lâu dài của sự phát triển nhân loại, năng lượng từ Shamballa đã tạo ra một tác động trực tiếp lên trung tâm hành tinh thứ ba này. Điều này không hoàn toàn do điểm tiến hoá mà nhân loại đã đạt được; thành tựu này chỉ là một lý do hay nguyên nhân thứ yếu. Nó là do ý chí của chính Đức Sanat Kumara khi Ngài chuẩn bị cho một lần điểm đạo vũ trụ nào đó. Lần điểm đạo này đòi hỏi sự tái tổ chức các năng lượng chảy qua và cấu thành “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại”; điều này tạo ra một sự sắp xếp lại bên trong chính trung tâm ấy, và do đó đưa vào biểu hiện những phương diện và phẩm tính nào đó—vốn luôn luôn tiềm ẩn trong các năng lượng ấy—mà từ trước đến nay chưa được nhận biết. Cuộc khủng hoảng sáng tạo này đã trở nên khả hữu nhờ ba biến cố lớn:

1. The conclusion of a twenty-five thousand year cycle or movement around what is called the lesser zodiac. This connotes a major cycle of experience in the life of our planetary Logos. It is related to the interplay between the planetary Logos and the solar Logos as the latter responds to energies emanating from the twelve zodiacal constellations. [551]

1. Sự kết thúc của một chu kỳ hai mươi lăm ngàn năm hay chuyển động quanh cái được gọi là hoàng đạo nhỏ. Điều này hàm ý một chu kỳ kinh nghiệm lớn trong đời sống của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Nó liên hệ với sự tương tác giữa Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế khi Đấng sau đáp ứng với các năng lượng phát ra từ mười hai chòm sao hoàng đạo. [551]

2. The end of the Piscean Age. This simply means that the energies coming from Pisces during the last two thousand years are now being rapidly superseded by energies coming from Aquarius. These result in major changes in the life of the planetary Logos and potently affect His body of manifestation through the medium of His three major centres: Shamballa, the Hierarchy and Humanity.

2. Sự chấm dứt của Kỷ Nguyên Song Ngư. Điều này đơn giản có nghĩa là các năng lượng đến từ Song Ngư trong hai ngàn năm qua hiện đang nhanh chóng bị thay thế bởi các năng lượng đến từ Bảo Bình. Các năng lượng này dẫn đến những thay đổi lớn trong đời sống của Hành Tinh Thượng đế và tác động mạnh mẽ lên thể biểu hiện của Ngài qua trung gian ba trung tâm chính của Ngài: Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại.

3. The increasingly dominant activity of the seventh Ray of Order or Ceremonial Magic, as it is somewhat erroneously called. This ray is now coming into manifestation and is in close cooperation with the two above factors; it produces also the lessening of the power of the sixth Ray of Idealism. This has had a long cycle and has greatly hastened the evolutionary process; it demonstrates its effective work in the emergence today of the great world ideologies. I am necessarily considering these energies only in relation to the human consciousness.

3. Hoạt động ngày càng chi phối của cung bảy của Trật Tự hay Huyền Thuật Nghi Lễ, như nó được gọi một cách hơi sai lầm. Cung này hiện đang đi vào biểu hiện và đang hợp tác chặt chẽ với hai yếu tố trên; nó cũng làm giảm bớt quyền lực của cung sáu của Chủ nghĩa Lý tưởng. Cung này đã có một chu kỳ dài và đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình tiến hoá; nó chứng tỏ công việc hữu hiệu của mình trong sự xuất hiện ngày nay của các hệ tư tưởng lớn trên thế giới. Tôi nhất thiết chỉ đang xét các năng lượng này trong mối liên hệ với tâm thức nhân loại.

There are other factors present in our planet today, but these are the ones which will (in a vague sense) mean something to you, as you think and seek to understand.

Ngày nay còn có những yếu tố khác hiện diện trên hành tinh chúng ta, nhưng đây là những yếu tố sẽ có ý nghĩa nào đó đối với bạn, theo một nghĩa mơ hồ, khi bạn suy nghĩ và tìm cách thấu hiểu.

The great cosmic initiation through which our planetary Logos is passing (forget not my words, “initiatory process”) produces an entire reorganisation of all the energies of which His body of manifestation is composed; it heightens the quality or the vibration of certain of the ray energies, and lessens the potency of others. Direction also enters in; certain planetary centres become the recipients (in a new and vital manner) of the redirected ray potencies. Among these, at this time, the human family (or the third vital centre) becomes a prime objective. The three major centres in the body of the planetary Logos are:

Cuộc điểm đạo vũ trụ lớn lao mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua (đừng quên lời tôi, “tiến trình điểm đạo”) tạo ra một sự tái tổ chức toàn bộ mọi năng lượng mà thể biểu hiện của Ngài được cấu thành từ đó; nó nâng cao phẩm tính hay rung động của một số năng lượng cung, và làm giảm hiệu lực của những năng lượng khác. Sự định hướng cũng tham gia vào; một số trung tâm hành tinh trở thành những nơi tiếp nhận (theo một cách mới mẻ và thiết yếu) các mãnh lực cung được tái định hướng. Trong số đó, vào lúc này, gia đình nhân loại (hay trung tâm thiết yếu thứ ba) trở thành một mục tiêu chủ yếu. Ba trung tâm chính trong thể của Hành Tinh Thượng đế là:

The head centre—Shamballa—1st Ray of Will

Trung tâm đầu—Shamballa—Cung một của Ý Chí

The heart centre—Hierarchy—2nd Ray of Love-Wisdom

Trung tâm tim—Thánh đoàn—Cung hai của Bác Ái – Minh Triết

The throat centre—Humanity—3rd Ray of Active Intelligence

Trung tâm cổ họng—Nhân loại—Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động

The impact of the new incoming energies upon Humanity [552] will result from a planned redirection. This will bring in an era of greatly enhanced creative activity; it will be an activity such as has never been seen before, and which will express itself in every department of human living.

Tác động của các năng lượng mới đang đi vào lên Nhân loại [552] sẽ là kết quả của một sự tái định hướng có kế hoạch. Điều này sẽ mang đến một kỷ nguyên hoạt động sáng tạo được tăng cường rất lớn; đó sẽ là một hoạt động chưa từng thấy trước đây, và sẽ biểu lộ trong mọi lĩnh vực của đời sống con người.

In this connection I would remind you of the relation existing between the sacral centre (the physical creative centre) and the throat centre, and of the teaching anent the raising of the energies from this lower centre to the throat centre. This can be seen happening in the human being as he progresses along the Path of Evolution, and is equally present in the life and experience of the planetary Logos.

Trong mối liên hệ này, tôi muốn nhắc bạn về mối liên hệ hiện hữu giữa trung tâm xương cùng (trung tâm sáng tạo hồng trần) và trung tâm cổ họng, và về giáo huấn liên quan đến việc nâng các năng lượng từ trung tâm thấp này lên trung tâm cổ họng. Có thể thấy điều này đang xảy ra nơi con người khi y tiến bước trên Con Đường Tiến Hoá, và nó cũng hiện diện tương tự trong đời sống và kinh nghiệm của Hành Tinh Thượng đế.

This progressive “creative raising” necessarily produces a cycle of tremendous difficulty in the life of the aspirant to initiation, for the microcosm undergoes—in his minute living process—what the planetary Logos undergoes in a cosmic process. When—as is the case today—Humanity itself is in process of becoming creative in the higher sense, and when this synchronises with a major creative planetary activity, then a cycle of very great disturbance eventuates which necessarily affects every individual within “the race of men.” Hence the sexual disturbance to be seen everywhere, with the license present in every country and the apparent breakdown of the marriage relation. This indicates the emergence eventually of a creativity of such wondrous dimensions that the world will stand amazed; nothing like it will have been seen before. A creative planning for human well-being and a political expression, implementing this planning, will demonstrate in every country; a creative thinking will be apparent which will express itself in writing and in poetry; creative imagining will produce the new art, the new colours, the new architecture and the new culture; a creative responsiveness to the “music of the spheres” will bring forth the new music. All this will be in response to the creative reorganisation and the newly directed energies which are engaging the attention of the planetary Logos at this time.

Sự “nâng lên sáng tạo” tiến bộ này tất yếu tạo ra một chu kỳ vô cùng khó khăn trong đời sống của người chí nguyện điểm đạo, vì tiểu thiên địa trải qua—trong tiến trình sống nhỏ bé của y—điều mà Hành Tinh Thượng đế trải qua trong một tiến trình vũ trụ. Khi—như trường hợp ngày nay—chính Nhân loại đang trong tiến trình trở nên sáng tạo theo nghĩa cao hơn, và khi điều này đồng bộ với một hoạt động sáng tạo hành tinh lớn, thì một chu kỳ xáo trộn rất lớn xảy ra, tất yếu ảnh hưởng đến mọi cá nhân trong “nhân loại.” Do đó có sự xáo trộn tình dục thấy ở khắp nơi, với sự buông thả hiện diện ở mọi quốc gia và sự đổ vỡ có vẻ như của quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy cuối cùng sẽ xuất hiện một sức sáng tạo có tầm vóc kỳ diệu đến mức thế giới sẽ kinh ngạc; chưa từng có điều gì như thế được thấy trước đây. Một sự hoạch định sáng tạo cho phúc lợi nhân loại và một biểu hiện chính trị thực thi sự hoạch định này sẽ được chứng tỏ ở mọi quốc gia; một tư duy sáng tạo sẽ hiển lộ, biểu hiện trong văn chương và thi ca; sự tưởng tượng sáng tạo sẽ tạo ra nghệ thuật mới, màu sắc mới, kiến trúc mới và văn hoá mới; một sự đáp ứng sáng tạo với “âm nhạc của các khối cầu” sẽ mang lại nền âm nhạc mới. Tất cả điều này sẽ là sự đáp ứng đối với sự tái tổ chức sáng tạo và các năng lượng mới được định hướng đang thu hút sự chú ý của Hành Tinh Thượng đế vào lúc này.

[553]

[553]

All this reorganisation and redirection of energies is carried forward in the realm of the divine third aspect, that of divine active intelligence. Therefore the human centre registers this major aspect and becomes intensely invocative; this invocative appeal, being unitedly directed towards the second major centre, the Hierarchy, inevitably evokes a response. Invocation, accompanied by the creative imagination, will produce that new creative activity which will bring “the new heavens and the new earth” into being.

Toàn bộ sự tái tổ chức và tái định hướng các năng lượng này được thực hiện trong lĩnh vực của phương diện thiêng liêng thứ ba, tức trí tuệ hoạt động thiêng liêng. Vì vậy trung tâm nhân loại ghi nhận phương diện chủ yếu này và trở nên khẩn cầu mãnh liệt; lời khẩn cầu này, được hợp nhất hướng về trung tâm chủ yếu thứ hai là Thánh đoàn, tất yếu gợi lên một sự đáp ứng. Khẩn Cầu, đi kèm với sự tưởng tượng sáng tạo, sẽ tạo ra hoạt động sáng tạo mới ấy, hoạt động sẽ đưa “trời mới và đất mới” vào hiện hữu.

Three points I would like to make here; they have a definite bearing upon our subject:

Tôi muốn nêu ở đây ba điểm; chúng có liên hệ xác định với chủ đề của chúng ta:

1. This intense creative activity falls into two parts:

1. Hoạt động sáng tạo mãnh liệt này chia thành hai phần:

a. A destructive cycle, wherein the old order passes away and that which has been created—human civilisation with its accompanying institutions—is destroyed. With this destructive action Humanity is today occupying itself—mostly unconsciously. The major creative agents are the intelligentsia of the race.

a. Một chu kỳ hủy diệt, trong đó trật tự cũ qua đi và điều đã được tạo ra—nền văn minh nhân loại cùng với các định chế đi kèm—bị phá hủy. Với hành động hủy diệt này, ngày nay Nhân loại đang bận rộn—phần lớn là vô thức. Các tác nhân sáng tạo chủ yếu là giới trí thức của nhân loại.

b. A cycle of restoration, with many accompanying difficulties in which the mass of men take part, under the influence and inspiration of a regenerated intelligentsia.

b. Một chu kỳ phục hồi, với nhiều khó khăn đi kèm, trong đó quần chúng tham gia, dưới ảnh hưởng và cảm hứng của một giới trí thức đã được tái sinh.

2. This process received its initial impulse as a result of a group decision within the Hierarchy itself. Certain Masters Who were facing the sixth Initiation of Decision at the time—a relatively small but powerful group—decided together to tread the Path of Earth Service (technically understood) in order to bring about the changes which They sensed as desirable and as already existing within the consciousness of the One Initiator, the planetary Logos. It was Their decision, taken early in this century, which precipitated—in the centre which we call “the race of men”—those potencies and stimulating energies which produced that major destructive agency, the world war (1914-1945). As these energies occultly “fell into the centre,” the effect produced was both good and bad. Human unity and unanimity, human planning for group welfare, and human [554] creativity (expressed primarily at this time through science) received a tremendous stimulation. Simultaneously, the entering potencies released by this decision produced an up-surging of evil in the hearts of men so inclined, leading to an analogous or paralleling unity, unanimity and creative activity of separative and hateful evil. This, in its turn, “opened the door where evil dwelt” and let loose on earth the full fury of the Black Lodge.

2. Tiến trình này nhận được xung lực ban đầu như là kết quả của một quyết định nhóm bên trong chính Thánh đoàn. Một số Chân sư đang đối diện với Cuộc Điểm Đạo Quyết Định thứ sáu vào lúc ấy—một nhóm tương đối nhỏ nhưng đầy quyền năng—đã cùng nhau quyết định bước trên Con đường Phụng sự Địa Cầu (theo nghĩa kỹ thuật) để mang lại những thay đổi mà Các Ngài cảm nhận là đáng mong muốn và đã hiện hữu sẵn trong tâm thức của Đấng Điểm đạo Duy Nhất, tức Hành Tinh Thượng đế. Chính quyết định của Các Ngài, được đưa ra vào đầu thế kỷ này, đã làm ngưng tụ—trong trung tâm mà chúng ta gọi là “nhân loại”—những mãnh lực và năng lượng kích thích đã tạo ra tác nhân hủy diệt lớn lao ấy, cuộc thế chiến (1914-1945). Khi các năng lượng này một cách huyền bí “rơi vào trung tâm,” hiệu quả được tạo ra vừa tốt vừa xấu. Sự hợp nhất và đồng tâm nhất trí của nhân loại, sự hoạch định của nhân loại cho phúc lợi nhóm, và sức sáng tạo của nhân loại [554] (được biểu hiện chủ yếu vào lúc này qua khoa học) đã nhận được một sự kích thích to lớn. Đồng thời, các mãnh lực đi vào được giải phóng bởi quyết định này đã tạo ra một sự trào dâng của điều ác trong trái tim những người vốn nghiêng về điều đó, dẫn đến một sự hợp nhất, đồng tâm nhất trí và hoạt động sáng tạo tương tự hay song hành của điều ác phân ly và đầy hận thù. Điều này, đến lượt nó, đã “mở cánh cửa nơi điều ác ngự trị” và thả tung trên địa cầu toàn bộ cơn cuồng nộ của Hắc đoàn.

That this would be the result the Masters knew when making Their decision; They consciously struck a blow at the materialism which was binding humanity and imprisoning the human spirit. This evoked a prompt reaction from the Forces of Evil which had created and “held in being” the modern materialistic world, with its emphasis upon forms and money. The Masters had confidence that the human spirit would be able to live through the period of upheaval and emerge eventually into the new era, ready to build the new world and to reorganise all human resources—material, mental and spiritual.

Các Chân sư biết rằng đây sẽ là kết quả khi đưa ra quyết định của Các Ngài; Các Ngài đã hữu thức giáng một đòn vào chủ nghĩa duy vật đang trói buộc nhân loại và giam cầm tinh thần con người. Điều này gợi lên một phản ứng tức thời từ các Mãnh Lực của Điều Ác, vốn đã tạo ra và “duy trì trong hiện hữu” thế giới duy vật hiện đại, với sự nhấn mạnh của nó vào hình tướng và tiền bạc. Các Chân sư tin tưởng rằng tinh thần con người sẽ có thể sống sót qua thời kỳ biến động và cuối cùng bước ra vào kỷ nguyên mới, sẵn sàng xây dựng thế giới mới và tái tổ chức mọi tài nguyên của nhân loại—vật chất, trí tuệ và tinh thần.

3. The response of humanity, from the angle of a spiritual realisation of the presented opportunity, was the emergence of the New Group of World Servers. They appeared in every country, conscious of their task of crystallising and making effective human goodwill, though generally unconscious of their hierarchical relationship. Their appearance evoked an immediate reaction from the Spiritual Hierarchy, and experienced disciples made their appearance in the ranks of the New Group of World Servers, directing their efforts, voicing their aims and stimulating their understanding. The new group worked in and through every department of human thinking, human welfare and human planning; as a result, and almost immediately, the men of goodwill everywhere in the world took heart of grace (a most appropriate phrase) and became active.

3. Sự đáp ứng của nhân loại, xét từ góc độ một sự chứng nghiệm tinh thần về cơ hội được trình ra, là sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Họ xuất hiện ở mọi quốc gia, ý thức được nhiệm vụ của mình là kết tinh và làm cho thiện chí nhân loại trở nên hữu hiệu, dù nhìn chung không ý thức về mối liên hệ của họ với Thánh đoàn. Sự xuất hiện của họ gợi lên một phản ứng tức thời từ Huyền Giai Tinh Thần, và các đệ tử giàu kinh nghiệm đã xuất hiện trong hàng ngũ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, định hướng các nỗ lực của họ, phát biểu các mục tiêu của họ và kích thích sự thấu hiểu của họ. Nhóm mới này làm việc trong và qua mọi lĩnh vực của tư tưởng nhân loại, phúc lợi nhân loại và hoạch định nhân loại; kết quả là, và gần như ngay lập tức, những người nam và nữ thiện chí ở khắp nơi trên thế giới đã lấy lại can đảm (một cụm từ rất thích hợp) và trở nên hoạt động.

The three points made here will demonstrate to you the factual nature of the circulation of energies. All these happenings are part of a process of planetary initiation; [555] such an initiation cannot take place without important effects, both in the Hierarchy and in the human family. In old Atlantean days, it was the Masters (facing the same sixth initiation) Who “decided” to bring that ancient civilisation to an end; They therefore sacrificed the form aspect of manifestation and created a situation in which the soul of humanity was liberated from the prison in which it found itself. Today, a material catastrophe, such as the flood, has not been deemed necessary; it is believed that humanity can and will find its own way out of the world difficulties.

Ba điểm được nêu ở đây sẽ chứng minh cho bạn bản chất thực tế của sự lưu chuyển các năng lượng. Tất cả những biến cố này là một phần của một tiến trình điểm đạo hành tinh; [555] một cuộc điểm đạo như thế không thể diễn ra mà không có những hiệu quả quan trọng, cả trong Thánh đoàn lẫn trong gia đình nhân loại. Trong những ngày Atlantis xưa, chính các Chân sư (đang đối diện cùng lần điểm đạo thứ sáu ấy) đã “quyết định” chấm dứt nền văn minh cổ xưa đó; vì vậy Các Ngài đã hi sinh phương diện hình tướng của biểu hiện và tạo ra một tình huống trong đó linh hồn của nhân loại được giải thoát khỏi nhà tù mà nó đang ở trong đó. Ngày nay, một thảm họa vật chất như trận đại hồng thủy đã không được xem là cần thiết; người ta tin rằng nhân loại có thể và sẽ tự tìm ra lối thoát khỏi những khó khăn của thế giới.

SECTION TWO – THE ASPIRANT AND THE MAJOR INITIATIONS — PHẦN HAI – NGƯỜI CHÍ NGUYỆN VÀ CÁC CUỘC ĐIỂM ĐẠO CHỦ YẾU

We now approach the second part of our theme, dealing with the major initiations; we will do so primarily from the standpoint of the ray energies, considering the subject from the initiate’s point of view. I wonder if you realise, my brother, that this has never before been done? The teaching hitherto given out on initiation has been pictorially and symbolically presented; the understanding of the process was dependent upon right interpretation. In this materialistic age, that interpretation has been largely material in nature; emphasis has been laid upon the tangible and supposed form aspect of initiation.

Giờ đây chúng ta tiến đến phần thứ hai của chủ đề, bàn về các cuộc điểm đạo chủ yếu; chúng ta sẽ làm điều đó chủ yếu từ quan điểm của các năng lượng cung, xét chủ đề từ góc nhìn của điểm đạo đồ. Tôi tự hỏi liệu bạn có nhận ra, Huynh đệ của Tôi, rằng điều này chưa từng được thực hiện trước đây chăng? Giáo huấn từ trước đến nay được ban ra về điểm đạo đã được trình bày bằng hình ảnh và biểu tượng; sự thấu hiểu tiến trình tùy thuộc vào sự diễn giải đúng. Trong thời đại duy vật này, sự diễn giải ấy phần lớn mang tính vật chất; sự nhấn mạnh đã được đặt vào phương diện hình tướng hữu hình và được cho là của điểm đạo.

I here propose a different approach, and would ask you to keep in mind some words out of the ancient Archives which are as follows:

Ở đây tôi đề nghị một cách tiếp cận khác, và xin bạn ghi nhớ vài lời từ các Cổ Thư như sau:

“Energy is all there is, O Chela in the Light, but is not known. It is the cause of knowledge and its application and its comprehension lead to expanded understanding.

“Năng lượng là tất cả những gì hiện hữu, hỡi Đệ tử trong Ánh sáng, nhưng chưa được biết đến. Nó là nguyên nhân của tri thức và việc áp dụng nó cùng sự thấu hiểu nó dẫn đến sự hiểu biết mở rộng.

Through energy the worlds were made and through that energy they make progression; through energy the forms unfold and die; through energy the kingdoms manifest and disappear below the threshold of the world which ever is and which will be forever.

Nhờ năng lượng mà các thế giới được tạo thành và nhờ năng lượng ấy mà chúng tiến triển; nhờ năng lượng mà các hình tướng khai mở và chết đi; nhờ năng lượng mà các giới biểu hiện và biến mất bên dưới ngưỡng của thế giới vốn luôn hiện hữu và sẽ tồn tại mãi mãi.

Through energy the Cross is mounted and from the vortex of the four uniting forces, the initiate passes through the door and is propelled into the Light—a light which grows from cycle unto cycle and is known as supernal Energy Itself.”

Nhờ năng lượng mà Thập giá được leo lên và từ xoáy lực của bốn mãnh lực hợp nhất, điểm đạo đồ đi qua cánh cửa và được đẩy vào Ánh sáng—một ánh sáng tăng trưởng từ chu kỳ này sang chu kỳ khác và được biết đến như chính Năng lượng thiên thượng.”

I shall not be able to avoid a measure of symbolic approach and I am forced to use words which will fail to express the truth. The extent of your understanding will be based upon your point in evolution, upon your attitude [557] of mind as you approach this theme, and upon the point of tension you are able to achieve.

Tôi sẽ không thể tránh được một mức độ tiếp cận bằng biểu tượng và buộc phải dùng những từ ngữ sẽ không diễn đạt được chân lý. Mức độ thấu hiểu của bạn sẽ dựa trên điểm tiến hoá của bạn, trên thái độ [557] trí tuệ của bạn khi tiếp cận chủ đề này, và trên điểm tập trung nhất tâm mà bạn có thể đạt được.

Initiation is (in its simplest definition) an understanding of the Way, for understanding is a revealing energy which permits you to achieve. Initiation is a growth in experience and the attainment thereby of a point of tension. Holding that point of tension, the initiate sees that which lies ahead. Initiation permits a progressive entry into the mind of the creating Logos. This last definition is perhaps one of the most important I have ever given. Ponder on my words.

Điểm đạo là (theo định nghĩa đơn giản nhất của nó) một sự thấu hiểu về Con Đường, vì sự thấu hiểu là một năng lượng mặc khải cho phép bạn đạt thành. Điểm đạo là một sự tăng trưởng trong kinh nghiệm và nhờ đó đạt được một điểm tập trung nhất tâm. Giữ vững điểm tập trung nhất tâm ấy, điểm đạo đồ thấy điều nằm phía trước. Điểm đạo cho phép một sự đi vào tiến bộ trong trí tuệ của Thượng đế sáng tạo. Định nghĩa cuối cùng này có lẽ là một trong những định nghĩa quan trọng nhất mà tôi từng đưa ra. Hãy suy ngẫm về lời tôi.

Initiation is a system or a scientific process whereby the septenate of energies which compose the sum total of all the existences within our planetary Life are realised and consciously used for the working out of the divine Plan. It might also be stated that initiation is a method whereby the circulation of energies is furthered by the opening or the awakening of certain planetary and human centres to the impact of their ray quality, potency and divine intention. It is this statement which lies at the heart of the teaching on Laya Yoga or the Science of the Centres.

Điểm đạo là một hệ thống hay một tiến trình khoa học nhờ đó bộ bảy năng lượng cấu thành tổng thể mọi hiện hữu bên trong Sự Sống Hành Tinh của chúng ta được chứng nghiệm và được sử dụng một cách hữu thức để thực hiện Thiên Cơ. Cũng có thể nói rằng điểm đạo là một phương pháp nhờ đó sự lưu chuyển các năng lượng được thúc đẩy bằng việc mở ra hay đánh thức một số trung tâm hành tinh và nhân loại đối với tác động của phẩm tính cung, hiệu lực và ý định thiêng liêng của chúng. Chính phát biểu này nằm ở trung tâm của giáo huấn về Laya Yoga hay Khoa Học về các Trung Tâm.

THE RELATION OF THE SEVEN RAYS TO THE INITIATIONS — MỐI LIÊN HỆ CỦA BẢY CUNG VỚI CÁC CUỘC ĐIỂM ĐẠO

It will be obvious to you that, as energy is the basis of our entire manifested world, an initiation is a condition of consciousness wherein the fully prepared disciple utilises the available energies (at the time of initiation) to bring about changes within consciousness of a momentous and revelatory nature. Each initiation puts the initiate in a position to control certain related energies and enables him to become increasingly a trained manipulator of those energies; each initiation gives him understanding of the related energy and of its field of activity; each initiation reveals to him the quality and the type of stimulation to be evoked when brought into contact with any particular ray energy; each initiation establishes relationship between the initiate and the ray energy involved, so that gradually [558] (no matter what may be his soul ray or his personality ray) he can work with the quality and the creative aspect of all the rays, though ever retaining a greater facility to work on his own soul ray, and later with the ray of the Monad—one of the three major Rays of Aspect.

Hẳn bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng, vì năng lượng là nền tảng của toàn bộ thế giới biểu hiện của chúng ta, một cuộc điểm đạo là một trạng thái tâm thức trong đó đệ tử đã được chuẩn bị đầy đủ sử dụng các năng lượng sẵn có (vào thời điểm điểm đạo) để tạo ra những thay đổi trong tâm thức có tính trọng đại và mặc khải. Mỗi cuộc điểm đạo đặt điểm đạo đồ vào vị thế kiểm soát một số năng lượng liên hệ và giúp y ngày càng trở thành một người thao tác lão luyện đối với các năng lượng ấy; mỗi cuộc điểm đạo cho y sự thấu hiểu về năng lượng liên hệ và lĩnh vực hoạt động của nó; mỗi cuộc điểm đạo mặc khải cho y phẩm tính và loại kích thích cần được gợi lên khi được đưa vào tiếp xúc với bất kỳ năng lượng cung đặc biệt nào; mỗi cuộc điểm đạo thiết lập mối liên hệ giữa điểm đạo đồ và năng lượng cung liên hệ, để dần dần [558] (bất kể cung linh hồn hay cung phàm ngã của y là gì) y có thể làm việc với phẩm tính và phương diện sáng tạo của mọi cung, dù luôn luôn vẫn giữ một khả năng dễ dàng hơn để làm việc trên cung linh hồn riêng của mình, và về sau với cung của chân thần—một trong ba Các Cung Trạng Thái chủ yếu.

I would ask you to remember that all human beings must finally express the quality and livingness of one of the three Rays of Aspect, even if—in time and space—their souls may originally be upon one of the four Rays of Attribute. It might be useful here to enumerate the rays, and thus refresh the memory of the neophyte:

Tôi muốn xin bạn nhớ rằng mọi con người cuối cùng đều phải biểu lộ phẩm tính và sức sống của một trong ba Các Cung Trạng Thái, ngay cả khi—trong thời gian và không gian—linh hồn của họ ban đầu có thể ở trên một trong bốn Các Cung Thuộc Tính. Ở đây có thể hữu ích nếu liệt kê các cung, và nhờ đó làm mới lại ký ức của người sơ cơ:

Rays of Aspect:

Các Cung Trạng Thái:

1. The Ray of Power, Will or Purpose

1. Cung của Quyền lực, Ý Chí hay Mục Đích

2. The Ray of Love-Wisdom

2. Cung của Bác Ái – Minh Triết

3. The Ray of Active Creative Intelligence

3. Cung của Trí Tuệ Sáng Tạo Hoạt Động

Rays of Attribute:

Các Cung Thuộc Tính:

4. The Ray of Harmony through Conflict

4. Cung của Hài Hòa qua Xung Đột

5. The Ray of Concrete Science or Knowledge

5. Cung của Khoa Học Cụ Thể hay Tri Thức

6. The Ray of Idealism or Devotion

6. Cung của Chủ Nghĩa Lý Tưởng hay Sùng Tín

7. The Ray of Order or Ceremonial Magic

7. Cung của Trật Tự hay Huyền Thuật Nghi Lễ

It is contact with the energy of the third Ray of Active Intelligence or (as it is sometimes called) the “acute energy of divine mental perception” which admits the consciousness of the initiate into the “secrets of the Mind of God”. It is the four Rays of Attribute which, in the evolutionary cycle, condition his character (or apparatus of contact) and evoke his essential quality. The three Rays of Aspect enable him to take the four higher initiations—initiations 6, 7, 8, 9—and are connected purely with Shamballa. The four Rays of Attribute, particularly as they are synthesised through the medium of the third Ray of Aspect, are related more definitely to the Hierarchy, and therefore are related to the first five initiations. The Rays of Aspect are essentially related to the life or will aspect of divinity; the Rays of Attribute are related to the consciousness aspect.

Chính sự tiếp xúc với năng lượng của cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động hay (như đôi khi nó được gọi) “năng lượng sắc bén của tri giác trí tuệ thiêng liêng” cho phép tâm thức của điểm đạo đồ đi vào “những bí mật của Trí của Thượng đế”. Chính bốn Các Cung Thuộc Tính, trong chu kỳ tiến hoá, tác động lên tính cách của y (hay bộ máy tiếp xúc) và gợi lên phẩm tính cốt yếu của y. Ba Các Cung Trạng Thái giúp y trải qua bốn cuộc điểm đạo cao hơn—các cuộc điểm đạo 6, 7, 8, 9—và hoàn toàn liên hệ với Shamballa. Bốn Các Cung Thuộc Tính, đặc biệt khi được tổng hợp qua trung gian cung ba của Trạng Thái, liên hệ xác định hơn với Thánh đoàn, và do đó liên hệ với năm cuộc điểm đạo đầu tiên. Các Cung Trạng Thái về bản chất liên hệ với phương diện sự sống hay ý chí của thiên tính; Các Cung Thuộc Tính liên hệ với phương diện tâm thức.

Every human being, in the earlier stages of his development (in ancient Lemuria and Atlantis, or possessing [559] today the Lemurian or Atlantean state of consciousness—and there are many such), comes into incarnation upon one of the four Rays of Attribute, because these rays are peculiarly and uniquely related to the fourth kingdom in nature, and therefore to the fourth Creative Hierarchy. During the long, long cycle of the present fifth race, the so-called Aryan race, there came a period (lying now in the far distant and forgotten past) when individuals who had attained a certain state of consciousness transferred on to one of the three Rays of Aspect, according to the predominance of the energy or the line of force which was conditioned by these rays. One of the Rays of Aspect and two of the Rays of Attribute (rays 3, 5, 7) are conditioned by the first Ray of Power of Will, whilst rays 4 and 6 are conditioned by the second Ray of Love-Wisdom. This I much earlier pointed out. A cycle of lives upon the third Ray of Creative Intelligence (as I prefer to call it) always precedes this transference. This ray experience covers a vast period of time. Except in the occult teaching and the Archives which remain in the custody of the Masters, history—as we know it and as it expresses the emergence from primitive and primeval times—does not exist. From the angle of occultism, history only covers the emergence of those cultures and civilisations which are called the fifth rootrace, only a small part of it being recognised as Aryan; the latter is simply a modern and scientific nomenclature covering a small period of modern history. The Aryan cycle covers the period of the relation between groups and nations though positing (as a necessary hypothesis) previous but unknown cycles of human living wherein primitive man roamed the earth; or positing sometimes the existence of previous civilisations which have completely disappeared, leaving behind them faint traces of ancient organised civilisations and cultural remains, plus indications of interworld relationships of which there is no positive proof; these, it is suggested, must have existed owing to the similarity of architecture, language roots, traditions and the myths of religions. [560]

Mọi con người, trong các giai đoạn đầu của sự phát triển của y (trong Lemuria và Atlantis cổ xưa, hay hiện nay sở hữu [559] trạng thái tâm thức Lemuria hay Atlantis—và có nhiều người như thế), đi vào lâm phàm trên một trong bốn Các Cung Thuộc Tính, vì các cung này có liên hệ đặc biệt và độc đáo với giới thứ tư trong bản chất, và do đó với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Trong chu kỳ rất dài của giống dân thứ năm hiện nay, cái gọi là giống dân Arya, đã có một thời kỳ (nay nằm trong quá khứ xa xăm và bị quên lãng) khi những cá nhân đã đạt đến một trạng thái tâm thức nào đó chuyển sang một trong ba Các Cung Trạng Thái, tùy theo sự trội hơn của năng lượng hay đường lực được tác động bởi các cung này. Một trong Các Cung Trạng Thái và hai trong Các Cung Thuộc Tính (các cung 3, 5, 7) được tác động bởi cung một của Quyền lực hay Ý Chí, trong khi các cung 4 và 6 được tác động bởi cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Điều này tôi đã chỉ ra từ rất sớm. Một chu kỳ các kiếp sống trên cung ba của Trí Tuệ Sáng Tạo (như tôi thích gọi nó) luôn luôn đi trước sự chuyển dịch này. Kinh nghiệm cung này bao trùm một thời kỳ rất dài. Ngoại trừ trong giáo huấn huyền bí học và các Cổ Thư vẫn còn được các Chân sư lưu giữ, lịch sử—như chúng ta biết và như nó biểu lộ sự xuất hiện từ các thời nguyên thủy và sơ khai—không tồn tại. Từ góc độ huyền bí học, lịch sử chỉ bao quát sự xuất hiện của những nền văn hóa và văn minh được gọi là giống dân gốc thứ năm, mà chỉ một phần nhỏ của nó được công nhận là Arya; từ sau chỉ đơn giản là một danh xưng hiện đại và khoa học bao trùm một giai đoạn nhỏ của lịch sử hiện đại. Chu kỳ Arya bao trùm thời kỳ của mối liên hệ giữa các nhóm và các quốc gia, đồng thời giả định (như một giả thuyết cần thiết) những chu kỳ sống nhân loại trước đó nhưng chưa được biết đến, trong đó con người nguyên thủy lang thang trên địa cầu; hoặc đôi khi giả định sự hiện hữu của những nền văn minh trước đó đã hoàn toàn biến mất, để lại những dấu vết mờ nhạt của các nền văn minh có tổ chức cổ xưa và các di tích văn hóa, cộng với những chỉ dấu về các mối liên hệ liên thế giới mà không có bằng chứng xác thực; người ta gợi ý rằng những điều này hẳn đã tồn tại do sự tương đồng của kiến trúc, gốc ngôn ngữ, truyền thống và các huyền thoại tôn giáo. [560]

During these earlier periods all human beings were conditioned by the four Rays of Attribute; both as souls and as incarnated persons they were upon one of these four rays. Towards the middle of the Atlantean cycle (untold millions of years ago) the influence of the third Ray of Active Intelligence became exceedingly potent. Certain of the advanced humanity of the period gradually found their way on to, or rather into, the stream of divine energy which we call the third ray. The possibility, therefore, of their becoming integrated personalities was for the first time recognised, and humanly recognised. Such an integration must ever precede conscious human initiation.

Trong các thời kỳ sớm hơn ấy, mọi con người đều bị tác động bởi bốn Các Cung Thuộc Tính; cả với tư cách linh hồn lẫn với tư cách con người lâm phàm, họ đều ở trên một trong bốn cung ấy. Vào khoảng giữa chu kỳ Atlantis (hàng triệu triệu năm trước), ảnh hưởng của cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Một số người thuộc phần nhân loại tiến bộ của thời kỳ ấy dần dần tìm được đường đi lên, hay đúng hơn là đi vào, dòng năng lượng thiêng liêng mà chúng ta gọi là cung ba. Vì vậy, khả năng để họ trở thành những phàm ngã tích hợp lần đầu tiên được nhận biết, và được nhận biết theo nghĩa nhân loại. Sự tích hợp như thế luôn luôn phải đi trước điểm đạo nhân loại hữu thức.

Forget not my earlier statement that all the Rays of Attribute are focussed in and absorbed by the third Ray of Aspect. A study of the charts which I gave and permitted to appear in A Treatise on Cosmic Fire will help you to understand this. They will prove helpful, provided that you remember always that they are only symbolic in nature and constitute attempts to indicate visually a truth.

Đừng quên phát biểu trước đây của tôi rằng mọi Các Cung Thuộc Tính đều được tập trung vào và được hấp thu bởi cung ba của Trạng Thái. Một nghiên cứu các biểu đồ mà tôi đã đưa ra và cho phép xuất hiện trong Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ giúp bạn hiểu điều này. Chúng sẽ tỏ ra hữu ích, miễn là bạn luôn nhớ rằng chúng chỉ có tính biểu tượng và là những cố gắng nhằm chỉ ra bằng hình ảnh một chân lý.

The Atlantean race was predominantly a race wherein its leading exponents (the “flower of the race” or the “crest wave,” as it is called) expressed an active intelligence. It was intelligence which its initiates had to demonstrate, and not love-wisdom, as is the case today. This expressed itself in a mental focus, a trained mind capable of illumination, and great creative ability. In the Aryan race, which from the occult point of view can be regarded as encompassing practically the totality of history as we have it, the influence of the second Ray of Love-Wisdom is slowly becoming the dominating factor; men are rapidly finding their way on to that ray, and the number of people found upon that line of energy is already very great, though not yet as great as those upon the third ray, as it today expresses itself through one of the four Rays of Attribute. This latest of the human races (again through its foremost exponents) has to manifest the spirit of love through wisdom; the basis of this expression is an unfolding inclusiveness, a developing understanding, and a heightened spiritual perception [561] which is capable of envisaging that which lies beyond the three worlds of human evolution.

Nhân loại Atlantis chủ yếu là một nhân loại mà những đại biểu hàng đầu của nó (“hoa tinh của nhân loại” hay “làn sóng đỉnh cao,” như nó được gọi) biểu lộ một trí tuệ hoạt động. Chính trí tuệ là điều mà các điểm đạo đồ của nó phải chứng tỏ, chứ không phải bác ái-minh triết, như trường hợp ngày nay. Điều này biểu lộ trong một tập trung trí tuệ, một trí tuệ được huấn luyện có khả năng được soi sáng, và khả năng sáng tạo lớn lao. Trong nhân loại Arya, mà từ quan điểm huyền bí học có thể được xem như bao trùm hầu như toàn bộ lịch sử như chúng ta có, ảnh hưởng của cung hai của Bác Ái – Minh Triết đang chậm rãi trở thành yếu tố chi phối; những người nam và nữ đang nhanh chóng tìm được đường đi lên cung ấy, và số người được thấy trên đường năng lượng đó đã rất lớn, dù chưa lớn bằng số người ở trên cung ba, như nó ngày nay biểu lộ qua một trong bốn Các Cung Thuộc Tính. Nhân loại mới nhất này (một lần nữa qua các đại biểu ưu tú nhất của nó) phải biểu lộ tinh thần bác ái qua minh triết; nền tảng của biểu hiện này là một tính bao gồm đang khai mở, một sự thấu hiểu đang phát triển, và một tri giác tinh thần được nâng cao [561] có khả năng hình dung điều nằm vượt ra ngoài ba cõi giới của tiến hoá nhân loại.

It might here be said that the one-pointed life of the focussed intellectual (that life which the higher initiates demonstrated in the Atlantean initiations) and the extensive inclusive life of the modern or Aryan initiate, is the objective held before the disciple upon the Path of Discipleship and in the Masters’ ashrams. The presence in humanity today of an ardent intelligence and a growing inclusiveness is symbolised under the words “the vertical and the horizontal life”; it is therefore visually portrayed under the symbol of the Cross. I have here indicated to you, therefore, that the Cross is strictly the symbol of Aryan unfoldment. The symbol of old Atlantis was a line, indicating the vertical line of mental unfoldment and aspiration. The Christian consciousness, or the consciousness of the soul, is the perfecting and control of the mind, plus the demonstration of love in service; these are the outstanding characteristics of the Hierarchy and the essential qualities of those who form the kingdom of God.

Ở đây có thể nói rằng sự sống nhất tâm của nhà trí thức tập trung (sự sống mà các điểm đạo đồ cao hơn đã biểu lộ trong các cuộc điểm đạo Atlantis) và sự sống bao quát rộng lớn của điểm đạo đồ hiện đại hay Arya là mục tiêu được đặt ra trước đệ tử trên Con Đường Đệ Tử và trong các ashram của các Chân sư. Sự hiện diện trong nhân loại ngày nay của một trí tuệ nhiệt thành và một tính bao gồm đang tăng trưởng được tượng trưng bằng những lời “sự sống theo chiều dọc và chiều ngang”; vì vậy, nó được mô tả bằng biểu tượng Thập Giá. Do đó, ở đây tôi đã chỉ cho bạn thấy rằng Thập Giá, theo nghĩa nghiêm ngặt, là biểu tượng của sự khai mở Arya. Biểu tượng của Atlantis xưa là một đường thẳng, chỉ đường thẳng đứng của sự khai mở trí tuệ và khát vọng. Tâm thức Cơ Đốc, hay tâm thức của linh hồn, là sự hoàn thiện và kiểm soát trí tuệ, cộng với sự biểu lộ bác ái trong phụng sự; đó là những đặc tính nổi bật của Thánh Đoàn và là những phẩm tính cốt yếu của những ai tạo thành Thiên Giới.

In the coming race, which lies still far ahead and of which only initiates of degrees higher than the fifth are the expression, the Ray of Aspect which embodies the Will of God will gradually become dominant. Its symbol cannot yet be revealed. There will then come a blending of divine will energy with the developed and manifesting energies of intelligence and love. In the final race (lying untold ages ahead) there will appear a creative synthesis of all these three Rays of Aspect. Then all souls will be upon one of these three rays, and all personalities on one of the four Rays of Attribute. There will then be a perfect expression—through Humanity, the third divine planetary centre—of the livingness, the quality and the creative potency of all the rays.

Trong nhân loại sắp đến, vẫn còn ở rất xa phía trước và chỉ những điểm đạo đồ ở các cấp cao hơn lần điểm đạo thứ năm mới là biểu hiện của nó, Cung Trạng Thái hiện thân cho Ý Chí của Thượng Đế sẽ dần dần trở nên trội vượt. Biểu tượng của nó chưa thể được mặc khải. Khi đó sẽ có sự hòa trộn giữa năng lượng ý chí thiêng liêng với các năng lượng trí tuệ và bác ái đã phát triển và đang biểu hiện. Trong nhân loại cuối cùng (nằm ở những thời đại không thể kể xiết phía trước) sẽ xuất hiện một tổng hợp sáng tạo của cả ba Các Cung Trạng Thái này. Khi đó mọi linh hồn sẽ ở trên một trong ba cung này, và mọi phàm ngã ở trên một trong bốn Các Cung Thuộc Tính. Khi đó sẽ có một biểu hiện hoàn hảo—thông qua Nhân Loại, trung tâm hành tinh thiêng liêng thứ ba—của sức sống, phẩm tính và tiềm năng sáng tạo của tất cả các cung.

These are facts which I would have you bear in mind as we consider the relation of the seven rays to initiation in this particular world period and during the cycle of treading the Paths of Discipleship and Initiation. Great [562] transitions are then made; the power to include and to love in the truly esoteric sense automatically produces changes and a basic refocussing in the life of the accepted disciple and of the initiate; these changes, transitions and reactions are brought about by the action of the ray potencies during the period of initiation; the initiate then enters into relationship with rays which are conditioning him at the time. They affect his soul-infused personality, and also the ashram with which he is affiliated. The quality and potency of an ashram is definitely affected by the admission of an initiate; he brings into it not only his own potency and ray qualities as a soul, but also the energy of the rays which produced the changes and which conditioned him during the initiatory process he has just undergone. He then moves into a new stage of conscious contact within the Ashram. This new state of perceptive spirituality permits the initiate to enter into a relation with all those who have undergone a similar initiation. He therefore becomes increasingly a constructive and creative agent in the ashram.

Đó là những sự kiện mà tôi muốn bạn ghi nhớ khi chúng ta xem xét mối liên hệ của bảy cung với điểm đạo trong giai đoạn thế giới đặc biệt này và trong chu kỳ bước đi trên các Con Đường Đệ Tử và Điểm Đạo. Khi ấy, những chuyển tiếp lớn [562] được thực hiện; năng lực bao gồm và yêu thương theo nghĩa thực sự huyền bí tự động tạo ra những thay đổi và một sự tái tập trung căn bản trong đời sống của đệ tử được chấp nhận và của điểm đạo đồ; những thay đổi, chuyển tiếp và phản ứng này được tạo ra bởi tác động của các tiềm lực cung trong thời kỳ điểm đạo; khi ấy điểm đạo đồ đi vào mối liên hệ với các cung đang tác động lên y vào lúc đó. Chúng ảnh hưởng đến phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của y, và cả ashram mà y liên kết. Phẩm tính và tiềm lực của một ashram chắc chắn bị ảnh hưởng bởi việc tiếp nhận một điểm đạo đồ; y mang vào đó không chỉ tiềm lực riêng và các phẩm tính cung của y với tư cách một linh hồn, mà còn cả năng lượng của các cung đã tạo ra những thay đổi và đã tác động lên y trong tiến trình điểm đạo mà y vừa trải qua. Khi ấy y tiến vào một giai đoạn mới của sự tiếp xúc hữu thức bên trong Ashram. Trạng thái tinh thần tri giác mới này cho phép điểm đạo đồ đi vào mối liên hệ với tất cả những ai đã trải qua một điểm đạo tương tự. Vì vậy y ngày càng trở thành một tác nhân kiến tạo và sáng tạo trong ashram.

It is this which necessitates his careful preparation, which must be paralleled by a demonstration of his understanding of the initiatory process upon the outer plane of activity in service. He cannot be permitted to enter the life of the ashram and become the recipient of exceedingly active energies until he has proved that these energies will not be “occultly retained” by him but will become the “strength and potency” of his service among men.

Chính điều này đòi hỏi sự chuẩn bị cẩn trọng của y, và điều đó phải song hành với việc biểu lộ sự thấu hiểu của y về tiến trình điểm đạo trên cõi hoạt động bên ngoài trong phụng sự. Y không thể được phép bước vào đời sống của ashram và trở thành người tiếp nhận những năng lượng cực kỳ hoạt động cho đến khi y chứng minh rằng những năng lượng này sẽ không bị y “giữ lại một cách huyền bí” mà sẽ trở thành “sức mạnh và tiềm lực” của sự phụng sự của y giữa những người nam và nữ.

We are entering now upon a somewhat close analysis of the energies of the seven rays and their effects upon the initiatory processes which face the disciple. Every initiate enters upon the period of initiatory process possessed of a certain definite energy equipment. His personality is expressing itself within the periphery of the three worlds through clearly defined ray forms and relationships. He is a personality through the integration of his mind, his emotional nature and his physical body—the energy of the latter phenomenal factor being focussed in the physical [563] brain. All of these are composed of and conditioned by the energy units of which they are constituted, and all of them “focus their intention” through the medium of the physical brain, thus enabling the personality to be a self-directed entity upon the physical plane. To this personality a fifth major energy must be added: the energy of the soul. Each of these personality expressions is composed of and governed by one of the seven ray energies, so that a great and dynamic synthesis is present which—at the time when the initiatory process is begun—is in reality a composite of five energies:

Giờ đây chúng ta đang đi vào một sự phân tích khá sát về các năng lượng của bảy cung và các hiệu quả của chúng lên những tiến trình điểm đạo mà đệ tử phải đối diện. Mỗi điểm đạo đồ bước vào thời kỳ của tiến trình điểm đạo với một trang bị năng lượng nhất định. Phàm ngã của y đang biểu lộ trong chu vi của ba cõi giới thông qua những hình thái và những mối liên hệ cung được xác định rõ ràng. Y là một phàm ngã nhờ sự tích hợp của thể trí, bản chất cảm xúc và thể xác của y—năng lượng của yếu tố hiện tượng sau cùng này được tập trung trong bộ não hồng trần [563]. Tất cả những điều này đều được cấu thành từ và bị tác động bởi các đơn vị năng lượng tạo nên chúng, và tất cả chúng đều “tập trung chủ đích của mình” qua trung gian của bộ não hồng trần, nhờ đó làm cho phàm ngã trở thành một thực thể tự định hướng trên cõi hồng trần. Vào phàm ngã này phải thêm vào một năng lượng lớn thứ năm: năng lượng của linh hồn. Mỗi biểu hiện phàm ngã này được cấu thành từ và được chi phối bởi một trong bảy năng lượng cung, đến nỗi có mặt một tổng hợp lớn lao và năng động mà—vào lúc tiến trình điểm đạo bắt đầu—thực ra là một hợp thể của năm năng lượng:

1. The energy of the soul, in itself a threefold energy.

1. Năng lượng của linh hồn, tự thân là một năng lượng tam phân.

2. The energies of the personality which is of such a potency (being a fusion of three ray energies) that it has evoked a ray which dominates the personality and is called the personality ray:

2. Các năng lượng của phàm ngã vốn có một tiềm lực đến mức (vì là sự dung hợp của ba năng lượng cung) nó đã gợi lên một cung chi phối phàm ngã và được gọi là cung phàm ngã:

a. The energy composing the mental vehicle.

a. Năng lượng cấu thành vận cụ trí tuệ.

b. The energy which demonstrates as the emotional nature.

b. Năng lượng biểu lộ thành bản chất cảm xúc.

c. The energy of the physical body, focussed on the physical plane and conditioning the brain.

c. Năng lượng của thể xác, được tập trung trên cõi hồng trần và tác động lên bộ não.

All this information is elementary, but I repeat it for the sake of clarity and in order that we may know what it is that we are considering. In the case of the accepted disciple who is in preparation for initiation, the term applied to this system of integrated energies is “soul-infused personality.” The fusion is necessarily not complete, but enough soul energy is present to guarantee that minimum of soul control which will make the initiatory process effective.

Tất cả thông tin này là sơ đẳng, nhưng tôi nhắc lại vì sự rõ ràng và để chúng ta biết mình đang xem xét điều gì. Trong trường hợp của đệ tử được chấp nhận đang chuẩn bị cho điểm đạo, thuật ngữ áp dụng cho hệ thống các năng lượng tích hợp này là “phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.” Sự dung hợp tất nhiên chưa hoàn toàn, nhưng có đủ năng lượng linh hồn hiện diện để bảo đảm mức kiểm soát tối thiểu của linh hồn khiến tiến trình điểm đạo trở nên hữu hiệu.

It might also be said that this system of integrated energies is (through the initiatory process) confronted with still higher fusions, because initiation is a process whereby successive integrations—attended by consequent expansions of consciousness—become possible. These are—in their broader significance, seven, though entailing many minor points of integration—as follows: [564]

Cũng có thể nói rằng hệ thống các năng lượng tích hợp này (thông qua tiến trình điểm đạo) phải đối diện với những sự dung hợp còn cao hơn nữa, bởi vì điểm đạo là một tiến trình nhờ đó những sự tích hợp kế tiếp—đi kèm với những sự mở rộng tâm thức tương ứng—trở nên khả hữu. Theo ý nghĩa rộng hơn của chúng, những sự tích hợp này là bảy, dù kéo theo nhiều điểm tích hợp nhỏ hơn, như sau: [564]

1. Fusion of the energies of the soul-infused personality with the triple energies of the Spiritual Triad.

1. Dung hợp các năng lượng của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần với các năng lượng tam phân của Tam Nguyên Tinh Thần.

2. Fusion with the Monad—of which the Spiritual Triad is an expression.

2. Dung hợp với chân thần—mà Tam Nguyên Tinh Thần là một biểu hiện của nó.

3. Fusion with the world consciousness of the planetary Logos to a degree which makes the planetary life, with all its states of consciousness and phenomena, a major confining and constricting form for the initiate.

3. Dung hợp với tâm thức thế giới của Hành Tinh Thượng đế đến một mức độ khiến sự sống hành tinh, với mọi trạng thái tâm thức và hiện tượng của nó, trở thành một hình tướng giam hãm và hạn chế lớn đối với điểm đạo đồ.

In connection with this final fusion, it is worth while to point out that, when this stage of development is attained, it then becomes possible to enter into the “exalted state of mind” which holds the planetary Logos focussed in the consciousness of the sacrifice which He has made by means of the entire process of manifestation. As The Secret Doctrine has pointed out, this sacrifice which He has made on behalf of the untold myriad of lives which compose His body of manifestation, holds Him in physical expression until “the last weary pilgrim” has found his way home.

Liên quan đến sự dung hợp cuối cùng này, đáng để chỉ ra rằng khi giai đoạn phát triển này đạt được, khi ấy trở nên có thể đi vào “trạng thái trí tuệ siêu việt” giữ cho Hành Tinh Thượng đế được tập trung trong tâm thức về sự hi sinh mà Ngài đã thực hiện bằng toàn bộ tiến trình biểu hiện. Như Giáo Lý Bí Nhiệm đã chỉ ra, sự hi sinh mà Ngài đã thực hiện thay cho vô số không kể xiết các sự sống cấu thành thể biểu hiện của Ngài giữ Ngài trong biểu hiện hồng trần cho đến khi “người hành hương mệt mỏi cuối cùng” tìm được đường về nhà.

The extent and essential purpose of this divine sacrifice become increasingly clear to the initiate after the fifth initiation and constitute one of the prime factors which are considered by him when he faces the Initiation of Decision (the sixth initiation). At no stage of his unfoldment does he comprehend the basic purpose and (speaking occultly) the “dynamic extent” of this sacrifice, as it is implemented by the will of the planetary Logos. Nevertheless, he does respond to a mental understanding of the lowest objective aspect of this sacrifice and to the nature of the periphery, or to the imprisoning form (the sum total) in which the planetary Logos has chosen to imprison Himself. For the first time in his life experience he arrives at a comprehension of the principle of limitation. Beyond this exalted state of mental perception the initiate is not yet able to penetrate; he is limited by that sphere of activity which we call the seven planes, and which in their totality constitute the cosmic physical plane.

Mức độ và mục đích cốt yếu của sự hi sinh thiêng liêng này ngày càng trở nên rõ ràng đối với điểm đạo đồ sau lần điểm đạo thứ năm và tạo thành một trong những yếu tố chính được y cân nhắc khi đối diện với Cuộc Điểm Đạo Quyết Định (lần điểm đạo thứ sáu). Ở không giai đoạn nào trong sự khai mở của mình y hiểu được mục đích căn bản và—nói theo huyền bí học—“tầm mức năng động” của sự hi sinh này, như nó được thực thi bởi ý chí của Hành Tinh Thượng đế. Tuy nhiên, y có đáp ứng với một sự thấu hiểu trí tuệ về phương diện mục tiêu thấp nhất của sự hi sinh này và với bản chất của chu vi, hay hình tướng giam cầm (tổng thể) mà trong đó Hành Tinh Thượng đế đã chọn tự giam mình. Lần đầu tiên trong kinh nghiệm sống của mình, y đạt đến một sự hiểu biết về nguyên khí của giới hạn. Vượt quá trạng thái tri giác trí tuệ siêu việt này, điểm đạo đồ vẫn chưa thể xuyên thấu; y bị giới hạn bởi khối cầu hoạt động mà chúng ta gọi là bảy cõi, và trong tổng thể của chúng, chúng cấu thành cõi hồng trần vũ trụ.

Many lesser fusions take place within the phase of initiatory development which intervenes between initiation [565] and initiation—a triple mental fusion between the three aspects of the mind (the lower mental vehicle, the soul or the Son of Mind, and the higher or abstract mind), fusion with the Master’s consciousness, fusion with the ashram created by the ray energy which conditions his soul, fusion in consciousness with the sum total of the integrated ashrams which form the Ashram of Sanat Kumara. These successive and subsidiary fusions reveal to him the phenomena and quality of the two higher states of consciousness of the Spiritual Triad: the buddhic or the state of pure reason and the atmic or state of spiritually direct will intention. In giving you some insight into the relationship of the rays and the initiations, I find it essential to discover new and arresting words and word phrases by which to express the familiar hints and indications given by the occult groups who have sought to awaken the modern consciousness to the fact and purposes of initiation.

Nhiều sự dung hợp nhỏ hơn diễn ra trong giai đoạn phát triển điểm đạo xen giữa điểm đạo [565] này và điểm đạo khác—một sự dung hợp trí tuệ tam phân giữa ba phương diện của trí tuệ (vận cụ hạ trí, linh hồn hay Con của Trí Tuệ, và thượng trí hay trí trừu tượng), dung hợp với tâm thức của Chân sư, dung hợp với ashram được tạo ra bởi năng lượng cung tác động lên linh hồn của y, dung hợp trong tâm thức với tổng thể các ashram tích hợp tạo thành Ashram của Đức Sanat Kumara. Những sự dung hợp kế tiếp và phụ thuộc này mặc khải cho y các hiện tượng và phẩm tính của hai trạng thái tâm thức cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần: trạng thái Bồ đề hay trạng thái lý trí thuần túy và trạng thái atma hay trạng thái chủ đích ý chí trực tiếp tinh thần. Khi cho bạn một vài hiểu biết về mối liên hệ giữa các cung và các cuộc điểm đạo, tôi thấy điều cốt yếu là phải tìm ra những từ ngữ và cụm từ mới mẻ, gây chú ý để diễn đạt những gợi ý và chỉ dẫn quen thuộc do các nhóm huyền bí học đã đưa ra nhằm đánh thức tâm thức hiện đại đối với sự kiện và các mục đích của điểm đạo.

Initiation is a progressive sequence of directed energy impacts, characterised by points of crisis and of tension and governed—in a sense not hitherto realised—by the Law of Cause and Effect. This Law of Cause and Effect (from the spiritual angle) appears to the progressing initiate to reverse the process which has up till now governed his life. Instead of his being impelled forward on the path of evolution by spiritual energies which from higher spheres invoke and evoke his response and a developing expansion of consciousness, each successive initiation undergone, understood and demonstrated upon the physical plane becomes the cause and influence which propels the initiate forward upon the Path of Initiation. In one case the cause of progression is a streaming downward of the energies, producing effects in that which is thus stimulated; in the other case, the cause is to be found in the soul-infused personality and constitutes an upward movement of the initiatory self-directed activity, of the measure of love energy which his soul can express, and of the energy of will which is in itself the result of all the fusions he has at any given moment been capable of consciously focussing [566] and using. These are points which it will be difficult for you to grasp but which are of major importance.

Điểm đạo là một chuỗi tiến triển của những tác động năng lượng có định hướng, được đặc trưng bởi các điểm khủng hoảng và điểm tập trung nhất tâm, và được chi phối—theo một nghĩa chưa từng được nhận ra trước đây—bởi Định luật Nhân Quả. Định luật Nhân Quả này (xét từ góc độ tinh thần) dường như đối với điểm đạo đồ đang tiến bộ là đảo ngược tiến trình vốn cho đến nay đã chi phối đời sống của y. Thay vì bị thúc đẩy tiến lên trên đường tiến hoá bởi các năng lượng tinh thần từ các khối cầu cao hơn khẩn cầu và gợi lên sự đáp ứng của y cùng một sự mở rộng tâm thức đang phát triển, thì mỗi cuộc điểm đạo kế tiếp được trải qua, được thấu hiểu và được biểu lộ trên cõi hồng trần lại trở thành nguyên nhân và ảnh hưởng đẩy điểm đạo đồ tiến lên trên Con Đường Điểm Đạo. Trong một trường hợp, nguyên nhân của sự tiến bộ là một dòng năng lượng tuôn xuống, tạo ra các hiệu quả trong cái được kích thích như thế; trong trường hợp kia, nguyên nhân được tìm thấy trong phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và cấu thành một chuyển động đi lên của hoạt động điểm đạo tự định hướng, của mức độ năng lượng bác ái mà linh hồn y có thể biểu lộ, và của năng lượng ý chí vốn tự thân là kết quả của tất cả những sự dung hợp mà vào bất kỳ lúc nào y đã có khả năng tập trung một cách hữu thức [566] và sử dụng. Đây là những điểm mà bạn sẽ khó nắm bắt nhưng lại có tầm quan trọng lớn lao.

The human being is influenced upon the path of evolution from above downwards; the initiate is directed from within upwards. It is this which formulates the underlying significance of the energy of free will and is something only truly possible through self-direction; this can be seen struggling for expression today in that great world disciple, Humanity.

Con người bị ảnh hưởng trên đường tiến hoá từ trên xuống dưới; điểm đạo đồ được định hướng từ bên trong đi lên. Chính điều này hình thành thâm nghĩa nền tảng của năng lượng ý chí tự do và là điều chỉ thực sự khả hữu thông qua tự định hướng; ngày nay có thể thấy nó đang vật lộn để biểu lộ trong đệ tử thế giới vĩ đại ấy, Nhân Loại.

These concepts are worthy of your careful consideration. The sevenfold energy which is today agitating mankind marks a turning point in human history and indicates the possibility of the transition of humanity on to the Path of Discipleship; on that Path freedom of expression and conscious self-directed living will become increasingly possible.

Những khái niệm này xứng đáng để bạn suy xét cẩn trọng. Năng lượng thất phân hiện đang khuấy động nhân loại đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử loài người và chỉ ra khả năng chuyển tiếp của nhân loại sang Con Đường Đệ Tử; trên Con Đường đó, tự do biểu lộ và đời sống hữu thức tự định hướng sẽ ngày càng trở nên khả hữu.

THE RAYS AND THE FIVE INITIATIONS CONFRONTING HUMANITY — CÁC CUNG VÀ NĂM CUỘC ĐIỂM ĐẠO ĐỐI DIỆN NHÂN LOẠI

Let us now consider our theme of the rays and initiation. This signifies in reality a study of the rays as they actively condition the Path of Initiation. Forget not, we are dealing here with the Path of Initiation and not primarily with the Path of Discipleship, even though the two paths are very closely related; we are not dealing with the disciple’s character and actions. We are considering one thing only: the type of ray energy which makes any specific initiation possible, irrespective of the rays of the initiate.

Giờ đây chúng ta hãy xem xét chủ đề của mình về các cung và điểm đạo. Thực ra điều này có nghĩa là một nghiên cứu về các cung khi chúng tích cực tác động lên Con Đường Điểm Đạo. Đừng quên, ở đây chúng ta đang đề cập đến Con Đường Điểm Đạo chứ không chủ yếu là Con Đường Đệ Tử, dù hai con đường này liên hệ rất chặt chẽ; chúng ta không bàn đến tính cách và hành động của đệ tử. Chúng ta chỉ xem xét một điều: loại năng lượng cung nào làm cho bất kỳ cuộc điểm đạo đặc thù nào trở nên khả hữu, bất kể các cung của điểm đạo đồ là gì.

We are in fact considering initiation as a planetary process, and not that process as it affects the individual initiate. That we shall consider under our point “The Significance of the Initiations.” Then we shall take each initiation and consider it as outlined on page 340. This you will probably find more interesting, but you will comprehend what I then say with greater facility if you grasp some of the implications—as far as in you lies—of what I have now to impart. [567]

Thực ra chúng ta đang xem xét điểm đạo như một tiến trình hành tinh, chứ không phải tiến trình đó ảnh hưởng đến điểm đạo đồ cá nhân như thế nào. Điều đó chúng ta sẽ xem xét dưới mục “Thâm nghĩa của các cuộc điểm đạo.” Sau đó chúng ta sẽ lấy từng cuộc điểm đạo và xem xét nó như đã được phác họa ở trang 340. Có lẽ bạn sẽ thấy điều này thú vị hơn, nhưng bạn sẽ hiểu điều tôi nói khi ấy dễ dàng hơn nếu bạn nắm được một vài hàm ý—trong chừng mực bạn có thể—của điều tôi hiện phải truyền đạt. [567]

These five initiations are under the energy impulses of Rays 7, 6, 5, 4, plus the dynamic influence of Ray 1 at the time of the fifth initiation. You will note, therefore, that these initiations which confront average humanity are all of them conditioned by a minor ray, yet finally bring in the energy of the highest Ray of Aspect, that of Will or Power. This dynamic electric energy has to act in a new and different sense if the four higher initiations are to become living objectives in the initiate’s consciousness. It is for this reason that the fifth initiation is called the Initiation of Revelation. Some understanding of the first or will aspect is “conceded” at this initiation, and for the first time the nature of divine Purpose is revealed to the initiate; hitherto he has been preoccupied with the nature of the Plan, which is after all an effect of the Purpose.

Năm cuộc điểm đạo này nằm dưới các xung lực năng lượng của cung 7, 6, 5, 4, cộng với ảnh hưởng năng động của cung một vào lúc lần điểm đạo thứ năm. Vì vậy bạn sẽ lưu ý rằng những cuộc điểm đạo đối diện với nhân loại trung bình này đều bị tác động bởi một cung phụ, nhưng cuối cùng lại đưa vào năng lượng của Cung Trạng Thái cao nhất, tức cung Ý Chí hay Quyền Năng. Năng lượng điện năng động này phải hoạt động theo một ý nghĩa mới và khác nếu bốn cuộc điểm đạo cao hơn muốn trở thành những mục tiêu sống động trong tâm thức của điểm đạo đồ. Chính vì lý do này mà lần điểm đạo thứ năm được gọi là Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải. Một vài hiểu biết về phương diện thứ nhất hay phương diện ý chí được “ban cho” ở cuộc điểm đạo này, và lần đầu tiên bản chất của Thiên Ý được mặc khải cho điểm đạo đồ; cho đến nay y vẫn bận tâm với bản chất của Thiên Cơ, vốn rốt cuộc chỉ là một hiệu quả của Thiên Ý.

In these five preliminary initiations the true nature of the minor rays, in their creative aspect and as expressions of the quality of the manifested world, begins progressively to dawn upon the initiate. In the higher four initiations he slowly arrives at a dim understanding of the purpose of creation; the true purpose, however, and the nature of the will of the planetary Logos will only be revealed in the next solar system wherein the soul-infused Personality of the planetary Logos will demonstrate living purpose within the ring-pass-not of the three lower cosmic planes.

Trong năm cuộc điểm đạo sơ khởi này, bản chất chân thực của các cung phụ, trong phương diện sáng tạo của chúng và như những biểu hiện của phẩm tính của thế giới biểu hiện, bắt đầu dần dần ló rạng đối với điểm đạo đồ. Trong bốn cuộc điểm đạo cao hơn, y chậm rãi đi đến một sự hiểu biết mờ nhạt về mục đích của sáng tạo; tuy nhiên, mục đích thực sự và bản chất của ý chí của Hành Tinh Thượng đế sẽ chỉ được mặc khải trong hệ mặt trời kế tiếp, trong đó phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của Hành Tinh Thượng đế sẽ biểu lộ mục đích sống động bên trong vòng-giới-hạn của ba cõi thấp vũ trụ.

With these abstruse ideas we need not concern ourselves. Let us study the energy conditions wherein the initiate proceeds from one initiation to another until he stands at the portal of revelation.

Với những ý tưởng thâm áo này, chúng ta không cần bận tâm. Hãy nghiên cứu các điều kiện năng lượng trong đó điểm đạo đồ tiến từ cuộc điểm đạo này sang cuộc điểm đạo khác cho đến khi y đứng nơi cổng của sự mặc khải.

Initiation I. The Birth at Bethlehem. Ray VII. — Điểm đạo I. Sự Giáng Sinh tại Bethlehem. Cung VII.

The Energy of Order or Ceremonial Magic.

Năng lượng của Trật tự hay Huyền Thuật Nghi Lễ.

First of all, let us consider the type of energy which the seventh ray expresses and wherein lies its potency and efficacy, from the angle of the initiation. As we study these initiations and their conditioning rays, we will divide our ideas into three parts:B [568]

Trước hết, chúng ta hãy xem xét loại năng lượng mà cung bảy biểu lộ và chính trong đó có tiềm lực và hiệu quả của nó, xét từ góc độ điểm đạo. Khi nghiên cứu các cuộc điểm đạo này và các cung tác động lên chúng, chúng ta sẽ chia các ý tưởng của mình thành ba phần:B [568]

1. The type of energy and its quality in relation to the processes of the particular initiation with which it is associated.

1. Loại năng lượng và phẩm tính của nó trong mối liên hệ với các tiến trình của cuộc điểm đạo đặc thù mà nó gắn liền.

2. Its effect upon humanity, regarding humanity as a world disciple.

2. Hiệu quả của nó đối với nhân loại, xét nhân loại như một đệ tử thế giới.

3. The stimulating nature of the energy as it expresses itself:

3. Bản chất kích thích của năng lượng khi nó biểu lộ:

a. In the three aspects of the initiate’s nature—mental, astral and physical.

a. Trong ba phương diện của bản chất điểm đạo đồ—trí tuệ, cảm dục và hồng trần.

b. Through the soul-infused personality, the initiate “in good standing” a phrase of the deepest occult implication.

b. Thông qua phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, điểm đạo đồ “ở vị thế tốt đẹp”, một cụm từ có hàm ý huyền bí sâu xa nhất.

At this particular time in world history, seventh ray energy is of a growing potency because it is the new and incoming ray, superseding the sixth ray which has for so long held sway. When we speak of ray energy we are in reality considering the quality and the will-purpose aspect of a certain great Life to Whom we give the name “Lord of a Ray.” You will find much about these Ray Lords in the earlier volumes of A Treatise on the Seven Rays. His divine intention, will, purpose, or the determined projection of His mind, creates a radiation or stream of energy which—according to type and quality—plays upon all forms of manifested life within our planetary ring-pass-not. These Lords of the Rays are the creating and sustaining energies which implement the Will of the planetary Logos. They cooperate with Him in the defining and the expression of His supreme purpose. Their radiating emanations are cyclically objectified and are cyclically withdrawn. As they radiate forth into the three worlds, the impacting energies produce changes, disturbances, progress and unfoldment; they create the needed new forms and vitalise and qualify that through which the immediate divine intention is expressing itself; they intensify both the quality and the receptivity of consciousness.

Vào thời điểm đặc biệt này trong lịch sử thế giới, năng lượng cung bảy đang có tiềm lực ngày càng tăng vì đó là cung mới và đang đi vào, thay thế cung sáu đã ngự trị quá lâu. Khi nói đến năng lượng cung, thực ra chúng ta đang xem xét phẩm tính và phương diện mục đích-ý chí của một Sự sống vĩ đại nào đó mà chúng ta gọi là “Đấng Chúa Tể của một Cung.” Bạn sẽ thấy nhiều điều về các Đấng Chúa Tể Cung này trong các tập đầu của Luận về Bảy Cung. Chủ đích thiêng liêng, ý chí, mục đích, hay sự phóng chiếu quyết định của trí tuệ của Ngài tạo ra một bức xạ hay dòng năng lượng mà—tùy theo loại và phẩm tính—tác động lên mọi hình tướng của sự sống biểu hiện bên trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta. Các Đấng Chúa Tể Cung này là những năng lượng sáng tạo và duy trì thực thi Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế. Các Ngài hợp tác với Ngài trong việc xác định và biểu lộ mục đích tối thượng của Ngài. Những phát xạ bức xạ của Các Ngài được khách quan hóa theo chu kỳ và cũng được rút lại theo chu kỳ. Khi chúng bức xạ vào ba cõi giới, các năng lượng tác động tạo ra thay đổi, xáo trộn, tiến bộ và khai mở; chúng tạo ra những hình tướng mới cần thiết và tiếp sinh lực cũng như phẩm tính hóa cái mà qua đó chủ đích thiêng liêng tức thời đang biểu lộ; chúng làm tăng cường cả phẩm tính lẫn khả năng tiếp nhận của tâm thức.

At other times, during the process of being withdrawn “to their own place,” they cause the fading out or the dying of form aspects, of institutions, and the “organising [569] organisms” (to use a peculiar phrase); they therefore produce cycles of destruction and of cessation and thus make room for those new forms and life expressions which an incoming ray will produce. It has been the gradual withdrawing of the sixth Ray of Idealism and of one-pointed Devotion which has been responsible for the ferment, crystallisation, destruction, death and cleavages of the past century; old things are passing away as the Lord of the sixth Ray withdraws His attention, and therefore His energy; His radiation is today no longer centred or focussed in the life of the three worlds. Simultaneously, the energy and radiation of the Lord of the seventh Ray are becoming steadily more powerful in the three worlds.

Vào những lúc khác, trong tiến trình được rút về “nơi riêng của mình,” chúng làm cho các phương diện hình tướng, các định chế, và các “cơ thể tổ chức” [569] (dùng một cụm từ đặc biệt) phai tàn hoặc chết đi; vì vậy chúng tạo ra những chu kỳ hủy diệt và chấm dứt, nhờ đó dọn chỗ cho những hình tướng mới và những biểu hiện sự sống mà một cung đang đi vào sẽ tạo ra. Chính sự rút lui dần dần của cung sáu của Chủ nghĩa Duy tâm và Sùng tín nhất tâm đã chịu trách nhiệm cho sự sôi động, kết tinh, hủy diệt, chết chóc và chia rẽ của thế kỷ vừa qua; những điều cũ đang qua đi khi Đấng Chúa Tể của cung sáu rút sự chú ý của Ngài lại, và vì vậy rút năng lượng của Ngài; ngày nay bức xạ của Ngài không còn được đặt trọng tâm hay tập trung trong đời sống của ba cõi giới nữa. Đồng thời, năng lượng và bức xạ của Đấng Chúa Tể của cung bảy đang đều đặn trở nên mạnh mẽ hơn trong ba cõi giới.

This incoming of a ray always produces an intensified period of initiatory activity, and this is the case today. The major effect, as far as humanity is concerned, is to make possible the presentation of thousands of aspirants and applicants for the first initiation; men on a large scale and in mass formation can today pass through the experience of the Birth Initiation. Thousands of human beings can experience the birth of the Christ within themselves and can realise that the Christ life, the Christ nature and the Christ consciousness are theirs. This “new birth” initiation of the human family will take place in Bethlehem, symbolically understood, for Bethlehem is the “house of bread”—an occult term signifying physical plane experience. These great initiations, implemented by the ray energies, must be registered in the physical brain and recorded by the waking consciousness of the initiate, and this must be the case in this amazing period wherein—for the first time since humanity appeared on Earth—there can take place a mass initiation. The experience need not be expressed in occult terms, and in the majority of cases will not be; the individual initiate who takes this initiation is aware of great changes in his attitude to himself, to his fellowmen, to circumstances and to his interpretation of life events. These are peculiarly the reactions which attend the first initiation; a new orientation to life and a new [570] world of thought are registered by the initiate. This will be equally true on a large scale where modern man, the world initiate of the first degree, is concerned. Men will recognise the evidences in many lives of the emergence of the Christ-consciousness, and the standard of living will increasingly be adjusted to the truth as it exists in the teachings of the Christ.

Sự đi vào của một cung luôn tạo ra một thời kỳ hoạt động điểm đạo được tăng cường, và ngày nay đúng là như vậy. Hiệu quả chính, xét theo phương diện nhân loại, là làm cho việc trình diện hàng ngàn người chí nguyện và người xin dự lần điểm đạo thứ nhất trở nên khả hữu; ngày nay con người trên quy mô lớn và trong đội ngũ quần chúng có thể đi qua kinh nghiệm của Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh. Hàng ngàn con người có thể kinh nghiệm sự giáng sinh của Đức Christ bên trong chính mình và có thể chứng nghiệm rằng sự sống Christ, bản chất Christ và tâm thức Christ là của họ. Cuộc điểm đạo “tái sinh” này của gia đình nhân loại sẽ diễn ra tại Bethlehem, được hiểu theo biểu tượng, vì Bethlehem là “ngôi nhà bánh mì”—một thuật ngữ huyền bí chỉ kinh nghiệm cõi hồng trần. Những cuộc điểm đạo lớn lao này, được thực thi bởi các năng lượng cung, phải được ghi nhận trong bộ não hồng trần và được tâm thức thức tỉnh của điểm đạo đồ ghi lại, và điều này phải đúng trong thời kỳ kỳ diệu này, trong đó—lần đầu tiên kể từ khi nhân loại xuất hiện trên Trái Đất—một cuộc điểm đạo tập thể có thể diễn ra. Kinh nghiệm này không nhất thiết phải được diễn đạt bằng những thuật ngữ huyền bí, và trong đa số trường hợp sẽ không như vậy; điểm đạo đồ cá nhân trải qua cuộc điểm đạo này ý thức được những thay đổi lớn trong thái độ của mình đối với bản thân, đối với đồng loại, đối với hoàn cảnh và đối với cách giải thích các biến cố đời sống. Đó đặc biệt là những phản ứng đi kèm lần điểm đạo thứ nhất; một định hướng mới đối với đời sống và một thế giới tư tưởng mới [570] được điểm đạo đồ ghi nhận. Điều này cũng sẽ đúng trên quy mô lớn khi liên quan đến con người hiện đại, điểm đạo đồ thế giới của cấp thứ nhất. Con người sẽ nhận ra những bằng chứng trong nhiều cuộc đời về sự xuất hiện của tâm thức Christ, và tiêu chuẩn sống sẽ ngày càng được điều chỉnh theo chân lý như nó hiện hữu trong giáo huấn của Đức Christ.

This developing Christ-consciousness in the masses of men will create necessarily a ferment in the daily life of peoples everywhere; the life of the personality, oriented hitherto to the attaining of material and purely selfish ends, will be at war with the new and inner realisation; the “carnal” man (to use the words of Paul, the initiate) will be battling the spiritual man, each seeking to achieve control. In the early stages, after the “birth” and during the “infancy of the Christ-Child” (again speaking in symbols), the material aspect is triumphant. Later, the Christ life triumphs. This you well know. Each initiation indicates a stage in the growth and the development of this new factor in the human consciousness and expression, and this continues until the third initiation, when there emerges the “full-grown man in Christ.” The initiate is then ready, at the fifth initiation, to register, realise and record the long awaited revelation.

Tâm thức Christ đang phát triển này trong quần chúng nhân loại tất yếu sẽ tạo ra một sự sôi động trong đời sống hằng ngày của các dân tộc khắp nơi; đời sống của phàm ngã, cho đến nay vốn định hướng vào việc đạt được các mục đích vật chất và thuần túy ích kỷ, sẽ xung đột với sự chứng nghiệm mới mẻ và nội tại; con người “xác thịt” (dùng lời của Paul, điểm đạo đồ) sẽ chiến đấu với con người tinh thần, mỗi bên đều tìm cách giành quyền kiểm soát. Trong các giai đoạn đầu, sau “sự giáng sinh” và trong “thời thơ ấu của Hài Nhi Christ” (lại nói bằng biểu tượng), phương diện vật chất thắng thế. Về sau, sự sống Christ chiến thắng. Điều này bạn đã biết rõ. Mỗi cuộc điểm đạo chỉ ra một giai đoạn trong sự tăng trưởng và phát triển của yếu tố mới này trong tâm thức và biểu hiện của con người, và điều này tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ ba, khi “người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ” xuất hiện. Khi ấy điểm đạo đồ sẵn sàng, ở lần điểm đạo thứ năm, để ghi nhận, chứng nghiệm và ghi lại sự mặc khải được chờ đợi từ lâu.

In connection with the individual and the first initiation, the seventh ray is always active and the man is enabled consciously to register the fact of initiation because either the brain or the mind (and frequently both) are controlled by the seventh ray. It is this fact which is of importance today in connection with humanity, for it will enable mankind to pass through the door admitting them to the first initiatory process. It will be apparent to you why the present period in which human beings (in large groups) can take the first initiation corresponds to a situation in which bread is the major interest of men everywhere. Humanity will pass through this “birth” initiation and manifest the Christ life on a large scale for the first time during a period of economic adjustment of [571] which the word “bread” is but a symbol. This period started in the year 1825 and will continue until the end of this century. The unfoldment of the Christ life—as a result of the presence and activities of the second divine aspect of love—will result in the ending of economic fear, and the “house of bread” will become the “house of plenty.” Bread—as the symbol of material human need—will eventually be controlled by a vast group of initiates of the first initiation—by those whose lives are beginning to be controlled by the Christ-consciousness, which is the consciousness of responsibility and service. These initiates exist in their thousands today; they will be present in their millions by the time the year 2025 arrives. All this re-orientation and unfoldment will be the result of the activity of the seventh ray and of the impact of its radiation upon humanity.

Liên quan đến cá nhân và lần điểm đạo thứ nhất, cung bảy luôn hoạt động và con người được làm cho có khả năng ghi nhận một cách hữu thức sự kiện điểm đạo bởi vì hoặc bộ não hoặc trí tuệ (và thường là cả hai) được cung bảy kiểm soát. Chính sự kiện này có tầm quan trọng ngày nay liên quan đến nhân loại, vì nó sẽ giúp nhân loại đi qua cánh cửa cho phép họ bước vào tiến trình điểm đạo thứ nhất. Bạn sẽ thấy rõ vì sao thời kỳ hiện nay, trong đó con người (theo những nhóm lớn) có thể nhận lần điểm đạo thứ nhất, lại tương ứng với một tình huống mà bánh mì là mối quan tâm chính của con người khắp nơi. Nhân loại sẽ đi qua cuộc điểm đạo “giáng sinh” này và biểu lộ sự sống Christ trên quy mô lớn lần đầu tiên trong một thời kỳ điều chỉnh kinh tế mà [571] từ “bánh mì” chỉ là một biểu tượng. Thời kỳ này bắt đầu vào năm 1825 và sẽ tiếp tục cho đến cuối thế kỷ này. Sự khai mở của sự sống Christ—như một kết quả của sự hiện diện và hoạt động của phương diện thiêng liêng thứ hai là bác ái—sẽ dẫn đến việc chấm dứt nỗi sợ hãi kinh tế, và “ngôi nhà bánh mì” sẽ trở thành “ngôi nhà sung túc.” Bánh mì—như biểu tượng của nhu cầu vật chất của con người—cuối cùng sẽ được kiểm soát bởi một nhóm lớn các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ nhất—bởi những người mà đời sống đang bắt đầu được kiểm soát bởi tâm thức Christ, tức tâm thức trách nhiệm và phụng sự. Những điểm đạo đồ này hiện nay đã có mặt hàng ngàn; họ sẽ hiện diện hàng triệu khi năm 2025 đến. Tất cả sự tái định hướng và khai mở này sẽ là kết quả của hoạt động của cung bảy và của tác động bức xạ của nó lên nhân loại.

The seventh ray is, par excellence, the medium of relationship. It brings together the two fundamental aspects of spirit and matter. It relates soul and form and, where humanity is concerned, it relates soul and personality. In the first initiation, it makes the initiate aware of that relation; it enables him to take advantage of this “approaching duality” and—by the perfecting of the contact—to produce upon the physical plane the emergence into manifestation of the “new man.” At the first initiation, through the stimulation brought about by seventh ray energy, the personality of the initiate and the hovering overshadowing soul are consciously brought together; the initiate then knows that he is—for the first time—a soul-infused personality. His task is now to grow into the likeness of what he essentially is. This development is demonstrated at the third initiation, that of the Transfiguration.

Cung bảy, trên hết, là môi giới của mối liên hệ. Nó đưa hai phương diện căn bản của tinh thần và vật chất lại với nhau. Nó liên kết linh hồn và hình tướng, và trong trường hợp nhân loại, nó liên kết linh hồn và phàm ngã. Trong lần điểm đạo thứ nhất, nó làm cho điểm đạo đồ ý thức được mối liên hệ đó; nó giúp y tận dụng “nhị nguyên tính đang đến gần” này và—bằng sự hoàn thiện tiếp xúc—tạo ra trên cõi hồng trần sự xuất hiện vào biểu hiện của “con người mới.” Ở lần điểm đạo thứ nhất, nhờ sự kích thích do năng lượng cung bảy mang lại, phàm ngã của điểm đạo đồ và linh hồn đang lơ lửng phủ bóng được đưa lại với nhau một cách hữu thức; khi ấy điểm đạo đồ biết rằng y—lần đầu tiên—là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Nhiệm vụ của y bây giờ là tăng trưởng để trở nên giống với điều mà về bản chất y vốn là. Sự phát triển này được biểu lộ ở lần điểm đạo thứ ba, tức cuộc Biến hình.

The major function of this seventh ray is to bring together the negative and positive aspects of the natural processes. It consequently governs the sex relationship of all forms; it is the potency underlying the marriage relation, and hence as this ray comes into manifestation in this world cycle, we have the appearance of fundamental sex [572] problems—license, disturbance in the marriage relation, divorce and the setting in motion of those forces which will eventually produce a new attitude to sex and the establishing of those practices, attitudes and moral perceptions which will govern the relation between the sexes during the coming New Age.

Chức năng chính của cung bảy này là đưa các phương diện âm và dương của các tiến trình tự nhiên lại với nhau. Do đó nó chi phối mối liên hệ giới tính của mọi hình tướng; vì vậy nó là tiềm lực nằm dưới mối quan hệ hôn nhân, và bởi thế khi cung này đi vào biểu hiện trong chu kỳ thế giới này, chúng ta có sự xuất hiện của những vấn đề giới tính căn bản—phóng túng, xáo trộn trong quan hệ hôn nhân, ly dị và sự khởi động của những mãnh lực cuối cùng sẽ tạo ra một thái độ mới đối với giới tính và thiết lập những thực hành, thái độ và nhận thức đạo đức sẽ chi phối mối liên hệ giữa hai giới trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến.

The first initiation is therefore closely related to this problem. The seventh ray governs the sacral centre and the sublimation of its energy into the throat or into the higher creative centre; this ray is therefore setting in motion a period of tremendous creative activity, both on the material plane through the stimulation of the sex life of all peoples and in the three worlds through the stimulation brought about when soul and form are consciously related. The first major proof that humanity (through the medium of the majority of its advanced people) has undergone the first initiation will be the appearance of a cycle of entirely new creative art. This creative urge will take forms which will express the new incoming energies. Just as the period governed by the sixth ray has culminated in a world wherein men work in great workshops and factories to produce the plethora of objects men deem needful for their happiness and well-being, so in the seventh ray cycle we shall see men engaged on an even larger scale in the field of creative art. Devotion to objects will eventually be superseded by the creation of that which will more truly express the Real; ugliness and materiality will give place to beauty and reality. On a large scale, humanity has already been “led from darkness to light” and the light of knowledge fills the land. In the period which lies ahead and under the influencing radiation of the seventh ray, humanity will be “led from the unreal to the Real.” This the first initiation makes possible for the individual and will make possible for the mass of men.

Vì vậy lần điểm đạo thứ nhất liên hệ chặt chẽ với vấn đề này. Cung bảy chi phối trung tâm xương cùng và sự thăng hoa năng lượng của nó lên trung tâm cổ họng hay trung tâm sáng tạo cao hơn; do đó cung này đang khởi động một thời kỳ hoạt động sáng tạo to lớn, cả trên cõi vật chất thông qua sự kích thích đời sống giới tính của mọi dân tộc lẫn trong ba cõi giới thông qua sự kích thích được tạo ra khi linh hồn và hình tướng được liên hệ một cách hữu thức. Bằng chứng lớn đầu tiên cho thấy nhân loại (thông qua đa số những người tiến bộ của mình) đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất sẽ là sự xuất hiện của một chu kỳ nghệ thuật sáng tạo hoàn toàn mới. Xung lực sáng tạo này sẽ mang những hình thức biểu lộ các năng lượng mới đang đi vào. Cũng như thời kỳ được cung sáu chi phối đã lên đến cực điểm trong một thế giới nơi con người làm việc trong những xưởng lớn và nhà máy để sản xuất vô số vật dụng mà con người cho là cần thiết cho hạnh phúc và an lạc của mình, thì trong chu kỳ cung bảy chúng ta sẽ thấy con người tham gia trên quy mô còn lớn hơn nữa trong lĩnh vực nghệ thuật sáng tạo. Sự sùng bái đối với đồ vật cuối cùng sẽ được thay thế bằng sự sáng tạo ra cái sẽ biểu lộ chân thực hơn Thực Tại; sự xấu xí và tính vật chất sẽ nhường chỗ cho vẻ đẹp và thực tại. Trên quy mô lớn, nhân loại đã được “dẫn từ bóng tối ra ánh sáng” và ánh sáng tri thức tràn ngập khắp nơi. Trong thời kỳ phía trước và dưới bức xạ ảnh hưởng của cung bảy, nhân loại sẽ được “dẫn từ cái không thực đến Thực Tại.” Điều này lần điểm đạo thứ nhất làm cho cá nhân có thể đạt được và cũng sẽ làm cho quần chúng nhân loại có thể đạt được.

Seventh ray energy is the energy needed to bring order out of chaos and rhythm to replace disorder. It is this energy which will bring in the new world order for which all men wait; it will restore the ancient landmarks, indicate [573] the new institutions and forms of civilisation and culture which human progress demands, and nurture the new life and the new states of consciousness which advanced humanity will increasingly register. Nothing can arrest this activity; all that is happening today as men search for the new ways, for organised unity and peaceful security, is being implemented through the incoming Ray of Order or Ceremonial Magic. The white magic of right human relations cannot be stopped; it must inevitably demonstrate effectively, because the energy of this seventh ray is present, and the Lord of the Ray is cooperating with the Lord of the World to bring about the needed “reforming.” Soul-infused personalities, acting under this ray influence, will create the new world, express the new qualities and institute those new regimes and organised modes of creative activity which will demonstrate the new livingness and the new techniques of living. It is the distortion of these seventh ray ideals and the prostitution of this incoming energy to serve the unenlightened and selfish ambitions of greedy men which has produced those totalitarian systems which today so terribly imprison the free spirit of men.

Năng lượng cung bảy là năng lượng cần thiết để mang lại trật tự từ hỗn loạn và nhịp điệu thay cho vô trật tự. Chính năng lượng này sẽ mang đến trật tự thế giới mới mà mọi người đang chờ đợi; nó sẽ khôi phục những cột mốc cổ xưa, chỉ ra [573] những định chế và hình thức mới của văn minh và văn hóa mà sự tiến bộ của nhân loại đòi hỏi, và nuôi dưỡng sự sống mới cùng những trạng thái tâm thức mới mà nhân loại tiến bộ sẽ ngày càng ghi nhận. Không gì có thể ngăn chặn hoạt động này; tất cả những gì đang diễn ra ngày nay khi con người tìm kiếm những con đường mới, sự hợp nhất có tổ chức và an ninh hòa bình, đều đang được thực thi thông qua cung Trật Tự hay Huyền Thuật Nghi Lễ đang đi vào. Chánh Thuật của những mối liên hệ đúng đắn giữa người với người không thể bị ngăn lại; nó tất yếu phải biểu lộ một cách hữu hiệu, bởi vì năng lượng của cung bảy này đang hiện diện, và Đấng Chúa Tể của Cung đang hợp tác với Đức Chúa Tể Thế Giới để mang lại sự “cải cách” cần thiết. Những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, hoạt động dưới ảnh hưởng của cung này, sẽ tạo ra thế giới mới, biểu lộ những phẩm tính mới và thiết lập những chế độ mới cùng những phương thức hoạt động sáng tạo có tổ chức sẽ biểu lộ sức sống mới và những kỹ thuật sống mới. Chính sự bóp méo những lý tưởng cung bảy này và sự lạm dụng năng lượng đang đi vào này để phục vụ những tham vọng ích kỷ và thiếu giác ngộ của những kẻ tham lam đã tạo ra những hệ thống toàn trị ngày nay đang giam hãm khủng khiếp tinh thần tự do của con người.

To sum up what I have said:

Tóm lại những gì tôi đã nói:

1. The energy of the seventh ray is the potent agent of initiation when taken on the physical plane, that is, during the process of the first initiation.

1. Năng lượng của cung bảy là tác nhân mạnh mẽ của điểm đạo khi được nhận trên cõi hồng trần, tức là trong tiến trình của lần điểm đạo thứ nhất.

2. Its effect upon humanity will be:

2. Hiệu quả của nó đối với nhân loại sẽ là:

a. To bring about the birth of the Christ-consciousness among the masses of intelligently aspiring human beings.

a. Mang lại sự giáng sinh của tâm thức Christ giữa quần chúng những con người chí nguyện một cách thông minh.

b. To set in motion certain relatively new evolutionary processes which will transform humanity (the world disciple) into humanity (the world initiate).

b. Khởi động một số tiến trình tiến hoá tương đối mới sẽ chuyển đổi nhân loại (đệ tử thế giới) thành nhân loại (điểm đạo đồ thế giới).

c. To establish in a new and intelligible manner the ever-existent sense of relationship and thus bring about upon the physical plane right human relations. The agent of this is goodwill, a reflection [574] of the will-to-good of the first divine aspect. Of this first Ray of Will or Purpose, goodwill is the reflection.

c. Thiết lập theo một cách mới mẻ và dễ hiểu ý thức về mối liên hệ vốn luôn hiện hữu và nhờ đó mang lại trên cõi hồng trần những mối liên hệ đúng đắn giữa người với người. Tác nhân của điều này là thiện chí, một phản ánh [574] của Ý Chí-hướng Thiện của phương diện thiêng liêng thứ nhất. Thiện chí là phản ánh của cung một của Ý Chí hay Mục Đích này.

d. To readjust negative and positive relationships, and—today—this will be carried forward primarily in connection with the sex relation and marriage.

d. Điều chỉnh lại các mối liên hệ âm và dương, và—ngày nay—điều này sẽ được thúc đẩy chủ yếu liên quan đến quan hệ giới tính và hôn nhân.

e. To intensify human creativity and thus bring in the new art as a basis for the new culture and as a conditioning factor in the new civilisation.

e. Tăng cường tính sáng tạo của con người và nhờ đó mang đến nghệ thuật mới như một nền tảng cho nền văn hóa mới và như một yếu tố tác động trong nền văn minh mới.

f. To reorganise world affairs and so initiate the new world order. This is definitely in the realm of ceremonial magic.

f. Tái tổ chức các công việc thế giới và nhờ đó khởi xướng trật tự thế giới mới. Điều này chắc chắn thuộc lĩnh vực huyền thuật nghi lễ.

3. The stimulation of this seventh ray will, in relation to the individual initiate,

3. Sự kích thích của cung bảy này, liên quan đến điểm đạo đồ cá nhân, sẽ

a. Bring into being upon the mental plane a widespread and recognised relation between the soul and the mind.

a. Làm xuất hiện trên cõi trí một mối liên hệ rộng khắp và được công nhận giữa linh hồn và trí tuệ.

b. Produce a measure of order in the emotional processes of the initiate, thus aiding the preparatory work of the second initiation.

b. Tạo ra một mức độ trật tự trong các tiến trình cảm xúc của điểm đạo đồ, nhờ đó hỗ trợ công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai.

c. Enable the initiate—upon the physical plane—to establish certain service relationships, to learn the practice of elementary white magic, and to demonstrate the first stage of a truly creative life.

c. Giúp điểm đạo đồ—trên cõi hồng trần—thiết lập một số mối liên hệ phụng sự, học thực hành Chánh Thuật sơ đẳng, và biểu lộ giai đoạn đầu tiên của một đời sống thực sự sáng tạo.

As far as the individual initiate is concerned, the effect of seventh ray energy in his life is potent in the extreme; this is easily realised, owing to the fact that his mind and his brain are conditioned by the seventh ray at the time that the initiatory process is consciously taking place. The effect of this upon the mental plane is similar to that seen—on a much larger scale—in the planet, for it was this ray energy which the planetary Logos utilised when He brought together the major dualities of spirit and matter at the commencement of His creative work. The two aspects of the mind (the lower concrete mind and the soul, the Son of Mind) become more closely related and enter eventually into a conscious, recognised association on the [575] astral plane; it is the seventh ray which restores order within the astral consciousness, and (on the mental plane), it is this influence which produces creativity, the organising of the life, and the bringing together “within the head” of the lower and higher energies in such a manner that “the Christ is born.” This latter point we shall consider in some detail when we take up the significance of the initiations; we shall then find that the relationship between the pituitary body and the pineal gland is involved.

Xét theo điểm đạo đồ cá nhân, hiệu quả của năng lượng cung bảy trong đời sống của y cực kỳ mạnh mẽ; điều này dễ nhận ra, do sự kiện rằng trí tuệ và bộ não của y bị cung bảy tác động vào lúc tiến trình điểm đạo đang diễn ra một cách hữu thức. Hiệu quả của điều này trên cõi trí tương tự như điều được thấy—trên quy mô lớn hơn nhiều—trong hành tinh, vì chính năng lượng cung này đã được Hành Tinh Thượng đế sử dụng khi Ngài đưa các nhị nguyên tính lớn của tinh thần và vật chất lại với nhau vào lúc khởi đầu công việc sáng tạo của Ngài. Hai phương diện của trí tuệ (hạ trí cụ thể và linh hồn, Con của Trí Tuệ) trở nên liên hệ chặt chẽ hơn và cuối cùng đi vào một sự liên kết hữu thức, được nhận biết trên cõi [575] cảm dục; chính cung bảy khôi phục trật tự trong tâm thức cảm dục, và (trên cõi trí), chính ảnh hưởng này tạo ra tính sáng tạo, sự tổ chức đời sống, và việc đưa các năng lượng thấp và cao lại với nhau “bên trong đầu” theo cách mà “Đức Christ được sinh ra.” Điểm sau cùng này chúng ta sẽ xem xét khá chi tiết khi bàn đến thâm nghĩa của các cuộc điểm đạo; khi ấy chúng ta sẽ thấy rằng mối liên hệ giữa tuyến yên và tuyến tùng có liên quan.

Finally, it is seventh ray energy which—in the initiatory process between the first and the second initiations—enables the initiate (in his physical plane life) to demonstrate a developing sense of order and of organisation, to express consciously and increasingly a desire to help his fellowmen, and thereby establish relationship with them, and to make his life creative in many ways.

Sau cùng, chính năng lượng cung bảy—trong tiến trình điểm đạo giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai—giúp điểm đạo đồ (trong đời sống cõi hồng trần của y) biểu lộ một ý thức đang phát triển về trật tự và tổ chức, biểu lộ một cách hữu thức và ngày càng tăng một ước muốn giúp đỡ đồng loại, nhờ đó thiết lập mối liên hệ với họ, và làm cho đời sống của y trở nên sáng tạo theo nhiều cách.

All these factors are embryonic in his nature, but he now begins to consciously lay the foundation for the future initiatory work; the physical disciplines are at this time of great importance, though their value is frequently over-emphasised and their effect is not always good; the relationships established and fostered are sometimes of small value, owing to the disciple being usually self-centered and thus lacking—from ignorance and lack of discrimination—complete purity of motive. Nevertheless, the changes brought about by the influence of this ray become increasingly effective from life to life; the disciple’s relation to the Hierarchy, the reorganising of his life on the physical plane, and his growing effort to demonstrate the esoteric sense of white magic will become more and more vital until he is ready for the second initiation.

Tất cả những yếu tố này còn ở dạng phôi thai trong bản chất của y, nhưng giờ đây y bắt đầu một cách hữu thức đặt nền móng cho công việc điểm đạo tương lai; các kỷ luật hồng trần vào lúc này có tầm quan trọng lớn, dù giá trị của chúng thường bị nhấn mạnh quá mức và hiệu quả của chúng không phải lúc nào cũng tốt; những mối liên hệ được thiết lập và nuôi dưỡng đôi khi ít giá trị, vì đệ tử thường tập trung vào bản thân và do đó thiếu—vì vô minh và thiếu phân biện—sự thanh khiết hoàn toàn của động cơ. Tuy nhiên, những thay đổi do ảnh hưởng của cung này mang lại ngày càng trở nên hữu hiệu từ đời này sang đời khác; mối liên hệ của đệ tử với Thánh Đoàn, sự tái tổ chức đời sống của y trên cõi hồng trần, và nỗ lực ngày càng tăng của y nhằm biểu lộ ý nghĩa huyền bí của Chánh Thuật sẽ ngày càng trở nên sống động cho đến khi y sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ hai.

Initiation II. The Baptism in Jordan. Ray VI. — Điểm đạo II. Phép Rửa tại Jordan. Cung VI.

The Energy of Idealism and Devotion.

Năng lượng của Chủ nghĩa Duy tâm và Sùng tín.

In the initiatory process between the first initiation of the Birth of the Christ and the beginning of the conscious unfoldment of the Christ life and awareness, the life of the initiate has undergone a pronounced reorientation. [576] He is now capable of an equally pronounced and often fanatical adherence to the programme of aspiration and of devotion to the good (as he sees it at this stage). This is symbolised for us in the story of the twelve year old Jesus Who was so conscious that He “must be about His Father’s business” that He defied His parents, caused them distress, and astonished those older than He by His spiritual poise and knowledge. This He offset by going down to Galilee and being “subservient” to His parents. A somewhat similar attitude (without the developed and inclusive understanding manifested by the Christ) can be seen expressing itself in the disciple during the period wherein the new orientation is taking place; the disciple is learning to discipline his lower nature and to achieve a measure of mastery over his physical inclinations; he thus releases physical energy and brings order into his life. This takes a very long time and may cover a cycle of many incarnations. He is constantly fighting against his lower nature, and the requirements of his soul (as he somewhat ignorantly interprets them) are in constant session against the animal nature, and increasingly in relation to the emotional nature.

Trong tiến trình điểm đạo giữa lần điểm đạo thứ nhất của Sự Giáng Sinh của Đức Christ và sự khởi đầu của sự khai mở hữu thức của sự sống và nhận biết Christ, đời sống của điểm đạo đồ đã trải qua một sự tái định hướng rõ rệt. [576] Giờ đây y có khả năng bám chặt một cách cũng rõ rệt và thường là cuồng tín vào chương trình khát vọng và sùng tín đối với điều thiện (như y thấy ở giai đoạn này). Điều này được tượng trưng cho chúng ta trong câu chuyện về Đức Jesus mười hai tuổi, Đấng ý thức sâu sắc rằng Ngài “phải lo việc của Cha Ngài” đến nỗi Ngài đã trái ý cha mẹ, gây phiền muộn cho họ, và làm kinh ngạc những người lớn tuổi hơn Ngài bởi sự điềm tĩnh tinh thần và tri thức của Ngài. Ngài hóa giải điều này bằng cách trở về Galilee và “phục tùng” cha mẹ mình. Một thái độ phần nào tương tự (không có sự thấu hiểu phát triển và bao gồm được Đức Christ biểu lộ) có thể thấy đang biểu lộ nơi đệ tử trong thời kỳ sự tái định hướng mới đang diễn ra; đệ tử đang học cách kỷ luật bản chất thấp của mình và đạt được một mức độ làm chủ các khuynh hướng hồng trần; nhờ đó y giải phóng năng lượng hồng trần và mang trật tự vào đời sống của mình. Điều này mất một thời gian rất dài và có thể bao trùm một chu kỳ nhiều kiếp sống. Y liên tục chiến đấu chống lại bản chất thấp của mình, và những đòi hỏi của linh hồn y (như y giải thích chúng một cách phần nào vô minh) luôn luôn đối đầu với bản chất thú vật, và ngày càng liên quan đến bản chất cảm xúc.

Above all, he becomes aware of a secondary relation, involving a most difficult problem and one which enhances the fight and intensifies his problem. He discovers that his emotional nature, his lower psychic faculties, his astral development and the potency of glamour are now all arrayed against him.

Trên hết, y trở nên ý thức về một mối liên hệ thứ yếu, bao hàm một vấn đề cực kỳ khó khăn và là điều làm tăng thêm cuộc chiến cũng như làm gay gắt vấn đề của y. Y khám phá ra rằng bản chất cảm xúc của mình, các năng lực thông linh thấp, sự phát triển cảm dục và tiềm lực của ảo cảm giờ đây đều dàn trận chống lại y.

The reorientation with which he is now faced has to be brought about primarily upon the astral plane, because that has been for untold aeons the level of his major polarisation and the sphere of activity and the state of consciousness which has dominated him. The physical body is not a principle; his etheric body has, since Atlantean days, been the agent of his astral energy, for the mind nature is not yet developed and cannot, therefore, adequately take control. He discovers that he lives in a chaos of emotional reactions and of conditioning glamours. He slowly begins [577] to realise that in order to take the second initiation he must demonstrate emotional control; he realises also that he must have some knowledge of those spiritual energies which will dissipate glamour, plus an understanding of the technique whereby illumination from the mind—as the transmitting agent of the light of the soul—can dispel these glamours and thus “clarify the atmosphere”, in the technical sense.

Sự tái định hướng mà giờ đây y phải đối diện phải được mang lại chủ yếu trên cõi cảm dục, bởi vì đó đã là cấp độ phân cực chính của y trong vô số đại kiếp và là khối cầu hoạt động cùng trạng thái tâm thức đã chi phối y. Thể xác không phải là một nguyên khí; thể dĩ thái của y, từ thời Atlantis, đã là tác nhân của năng lượng cảm dục của y, vì bản chất trí tuệ chưa phát triển và do đó chưa thể kiểm soát đầy đủ. Y khám phá ra rằng mình sống trong một hỗn loạn của những phản ứng cảm xúc và những ảo cảm tác động. Y chậm rãi bắt đầu [577] nhận ra rằng để nhận lần điểm đạo thứ hai, y phải biểu lộ sự kiểm soát cảm xúc; y cũng nhận ra rằng y phải có một ít hiểu biết về những năng lượng tinh thần sẽ làm tiêu tan ảo cảm, cộng với sự thấu hiểu về kỹ thuật nhờ đó sự soi sáng từ trí tuệ—với tư cách tác nhân truyền dẫn ánh sáng của linh hồn—có thể xua tan những ảo cảm này và nhờ đó “làm trong bầu khí quyển”, theo nghĩa kỹ thuật.

I might emphasise that as yet no initiate demonstrates complete control during the intermediate period between any initiation and the next higher initiation; the intermediate period is regarded as “a cycle of perfecting” That which is being left behind and subordinated to the higher realisation is slowly dominated by energies which are to be released into the consciousness of the initiate at the initiation for which he is being prepared. This interim period is always one of great difficulty. The energies being registered, made active and finally used, are steadily increasing in number and potency at each initiation; these impacts upon the rays of the soul and the personality rays of the initiate, and on the subsidiary vehicles through which he works in the three worlds and upon their individual conditioning rays, produce at first tremendous difficulties; these the initiate must master and the problems involved he must solve. He thereby becomes a Master, and the process, as it goes forward from initiation to initiation, becomes (after the third initiation, the Transfiguration) less hard and distressing; the reason for this is that he is increasingly master of his own individual situation. He is, however, occultly involved in the difficulties and the problems of the group and of that totality of groups which we call humanity.

Tôi có thể nhấn mạnh rằng cho đến nay chưa có điểm đạo đồ nào biểu lộ sự kiểm soát hoàn toàn trong thời kỳ trung gian giữa bất kỳ cuộc điểm đạo nào và cuộc điểm đạo cao hơn kế tiếp; thời kỳ trung gian được xem là “một chu kỳ hoàn thiện.” Cái đang bị bỏ lại phía sau và bị đặt dưới sự chứng nghiệm cao hơn được chậm rãi chi phối bởi những năng lượng sẽ được giải phóng vào tâm thức của điểm đạo đồ tại cuộc điểm đạo mà y đang được chuẩn bị. Thời kỳ chuyển tiếp này luôn là một thời kỳ vô cùng khó khăn. Các năng lượng đang được ghi nhận, được làm cho hoạt động và cuối cùng được sử dụng, đều tăng đều đặn về số lượng và tiềm lực ở mỗi cuộc điểm đạo; những tác động này lên các cung của linh hồn và các cung phàm ngã của điểm đạo đồ, và lên các vận cụ phụ mà qua đó y hoạt động trong ba cõi giới cùng các cung tác động riêng của chúng, lúc đầu tạo ra những khó khăn to lớn; điểm đạo đồ phải làm chủ chúng và phải giải quyết những vấn đề liên quan. Nhờ đó y trở thành một Chân sư, và tiến trình này, khi tiến từ cuộc điểm đạo này sang cuộc điểm đạo khác, trở nên (sau lần điểm đạo thứ ba, cuộc Biến hình) bớt khắc nghiệt và đau đớn hơn; lý do là vì y ngày càng làm chủ được hoàn cảnh cá nhân của chính mình. Tuy nhiên, về mặt huyền bí, y vẫn bị cuốn vào những khó khăn và vấn đề của nhóm và của toàn thể các nhóm mà chúng ta gọi là nhân loại.

The initiatory process between the first and the second initiations is for many the worst time of distress, difficulty, realisation of problems and the constant effort to “clear himself” (as it is occultly called), to which the disciple is at any time subjected. The phrase stating that the objective of the initiate is “to clear himself” is perhaps the most [578] arresting and illuminating of all possible definitions of the task to be undertaken. The storm aroused by his emotional nature, the dark clouds and mists in which he constantly walks and which he has created throughout the entire cycle of incarnated living, have all to be cleared away in order that the initiate can say that—for him—the astral plane no longer exists, and that all that remains of that ancient and potent aspect of his being is aspiration, a sensitive response to all forms of divine life and a form through which the lowest aspect of divine love, goodwill, can flow without impediment.

Đối với nhiều người, tiến trình điểm đạo giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai là thời kỳ tồi tệ nhất của đau khổ, khó khăn, nhận ra vấn đề và nỗ lực liên tục để “tự thanh lọc mình” (như cách gọi huyền bí), mà đệ tử phải chịu vào bất cứ lúc nào. Cụm từ nói rằng mục tiêu của điểm đạo đồ là “tự thanh lọc mình” có lẽ là định nghĩa gây chú ý và soi sáng nhất [578] trong mọi định nghĩa có thể có về nhiệm vụ phải đảm đương. Cơn bão do bản chất cảm xúc của y khơi dậy, những đám mây đen và sương mù mà y liên tục bước đi trong đó và chính y đã tạo ra suốt toàn bộ chu kỳ sống nhập thể, tất cả đều phải được quét sạch để điểm đạo đồ có thể nói rằng—đối với y—cõi cảm dục không còn tồn tại nữa, và tất cả những gì còn lại của phương diện cổ xưa và mạnh mẽ ấy trong bản thể y là khát vọng, một sự đáp ứng nhạy bén với mọi hình thức của sự sống thiêng liêng và một hình tướng qua đó phương diện thấp nhất của bác ái thiêng liêng, tức thiện chí, có thể tuôn chảy không bị cản trở.

From the larger point of view, it is this struggle to clear the world atmosphere which will confront humanity after the first initiation, so close at hand today. You will see, therefore, why the Christ must come at this time, for He is the One Who presides at the first and second initiations, and it is His coming which will indicate that humanity has taken the first initiation, which will confirm and consolidate the work done and which will inaugurate the world cycle and period in which the task of reorganising the emotional and psychic life of humanity will take place; this period will release the energy of goodwill and thus automatically bring about right human relations.

Xét từ quan điểm rộng lớn hơn, chính cuộc đấu tranh để thanh lọc bầu khí quyển thế giới này sẽ đối diện nhân loại sau lần điểm đạo thứ nhất, hiện nay đã rất gần. Vì vậy bạn sẽ thấy vì sao Đức Christ phải đến vào lúc này, vì Ngài là Đấng chủ trì lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, và chính sự đến của Ngài sẽ chỉ ra rằng nhân loại đã nhận lần điểm đạo thứ nhất, sẽ xác nhận và củng cố công việc đã làm, và sẽ khai mở chu kỳ thế giới và thời kỳ trong đó nhiệm vụ tái tổ chức đời sống cảm xúc và thông linh của nhân loại sẽ diễn ra; thời kỳ này sẽ giải phóng năng lượng thiện chí và nhờ đó tự động mang lại những mối liên hệ đúng đắn giữa người với người.

As regards humanity as a whole, polarised as it is in the emotional nature, the effect of this sixth ray is potent in the extreme. Its energy has been playing upon men ever since it came into incarnation, and the last one hundred fifty years have seen that potency become extremely effective. Two factors have enhanced this effect:

Đối với toàn thể nhân loại, vốn phân cực trong bản chất cảm xúc, hiệu quả của cung sáu này cực kỳ mạnh mẽ. Năng lượng của nó đã tác động lên con người kể từ khi nó đi vào lâm phàm, và một trăm năm mươi năm qua đã chứng kiến tiềm lực đó trở nên cực kỳ hữu hiệu. Hai yếu tố đã làm tăng cường hiệu quả này:

1. The sixth Ray of Idealism or of Devotion is the ray which normally governs the astral plane, controlling its phenomena and colouring its glamour.

1. Cung sáu của Chủ nghĩa Duy tâm hay Sùng tín là cung thường chi phối cõi cảm dục, kiểm soát các hiện tượng của nó và nhuộm màu ảo cảm của nó.

2. The stream of energy, coming into our planetary life from the constellation Pisces, has for two thousand years conditioned human experience and is peculiarly fitted to blend with and complement this sixth ray energy and to produce exactly the situation which is today governing world affairs.

2. Dòng năng lượng đi vào sự sống hành tinh của chúng ta từ chòm sao Song Ngư đã tác động lên kinh nghiệm của con người trong hai ngàn năm và đặc biệt thích hợp để hòa trộn với và bổ sung cho năng lượng cung sáu này, nhờ đó tạo ra chính xác tình huống hiện đang chi phối các công việc thế giới.

[579]

[579]

The united activity of these two great streams of cosmic energy, playing upon and through the third planetary centre, Humanity, has created the unique condition in which “the race of men” can stand before the planetary Initiator, the Christ, and under the focussed stimulation of the Hierarchy, pass through the appropriate initiation.

Hoạt động hợp nhất của hai dòng năng lượng vũ trụ lớn này, tác động lên và xuyên qua trung tâm hành tinh thứ ba là Nhân Loại, đã tạo ra điều kiện độc đáo trong đó “nhân loại” có thể đứng trước Đấng Điểm đạo hành tinh, Đức Christ, và dưới sự kích thích tập trung của Thánh Đoàn, đi qua cuộc điểm đạo thích hợp.

It should here be remembered that the masses of men can and will take the first initiation, but that a very large group of aspirants (far larger than is realised) will pass through the experience of the second initiation, that of the purifying Baptism. These are the people who express the essential qualities of ideological recognition, devoted adherence to truth as sensed, profound reaction to the physical disciplines (imposed since they participated in the first initiation many lives earlier) and a growing responsiveness to the aspirational aspect of the astral body; this aspiration is occupied with reaching out towards contact with and expression of the mental principle. This particular group in the human family are “kama-manasic” initiates, just as those taking the first initiation are “physico-etheric” initiates.

Ở đây cần nhớ rằng quần chúng nhân loại có thể và sẽ nhận lần điểm đạo thứ nhất, nhưng một nhóm rất lớn những người chí nguyện (lớn hơn nhiều so với người ta nhận ra) sẽ đi qua kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ hai, tức phép Rửa thanh lọc. Đó là những người biểu lộ những phẩm tính cốt yếu của sự nhận biết ý thức hệ, sự gắn bó sùng tín với chân lý như được cảm nhận, phản ứng sâu sắc với các kỷ luật hồng trần (được áp đặt từ khi họ tham dự lần điểm đạo thứ nhất nhiều kiếp trước) và một sự đáp ứng ngày càng tăng với phương diện khát vọng của thể cảm dục; khát vọng này bận tâm với việc vươn tới sự tiếp xúc với và biểu lộ nguyên khí trí tuệ. Nhóm đặc thù này trong gia đình nhân loại là những điểm đạo đồ “trí-cảm”, cũng như những người nhận lần điểm đạo thứ nhất là những điểm đạo đồ “hồng trần-dĩ thái”.

It is the activity of this sixth ray which has brought out into the light of day the growing ideological tendencies of mankind. These world ideologies (of which there are many present in the world today) are created by a triple reaction to the two streams of energy mentioned above:

Chính hoạt động của cung sáu này đã đưa ra ánh sáng ban ngày những khuynh hướng ý thức hệ đang tăng trưởng của nhân loại. Những ý thức hệ thế giới này (mà ngày nay có rất nhiều trong thế giới) được tạo ra bởi một phản ứng tam phân đối với hai dòng năng lượng đã nêu ở trên:

1. The unfoldment of the mental principle in mankind during this Aryan Age has forced desire into the form of great mass concepts; these unitedly are governing the mass tendency toward mental unfoldment.

1. Sự khai mở của nguyên khí trí tuệ trong nhân loại trong Kỷ Nguyên Arya này đã buộc dục vọng phải mang hình thức của những khái niệm quần chúng lớn lao; hợp lại, chúng đang chi phối khuynh hướng quần chúng hướng tới sự khai mở trí tuệ.

2. The steadily growing soul influence, working like a leaven on the astral plane, has lifted kama or desire out of its purely self-centred focus and brought in a new and hitherto unexpressed group emotional consciousness; this leads the fused emotional nature of men into great ideological mass expression, still selfish; expressed and impulsed as yet by emotional excesses, but indicating new and better goals. These goals will assume clearer and more desirable [580] outlines when the second initiation is undergone by the world aspirant.

2. Ảnh hưởng linh hồn tăng trưởng đều đặn, hoạt động như men dậy trên cõi cảm dục, đã nâng kama hay dục vọng ra khỏi trọng tâm thuần túy tập trung vào bản thân của nó và đưa vào một tâm thức cảm xúc nhóm mới mẻ, từ trước đến nay chưa được biểu lộ; điều này dẫn bản chất cảm xúc dung hợp của những người nam và nữ vào sự biểu lộ quần chúng mang tính ý thức hệ lớn lao, tuy vẫn còn ích kỷ; cho đến nay vẫn được biểu lộ và thúc đẩy bởi những thái quá cảm xúc, nhưng cho thấy các mục tiêu mới và tốt đẹp hơn. Những mục tiêu này sẽ mang những đường nét rõ ràng và đáng mong muốn hơn [580] khi lần điểm đạo thứ hai được người chí nguyện thế gian trải qua.

3. The influence generated by the Shamballa energy which has, for the first time, made direct contact with Humanity, is producing an emotional vortex in which old ideals and institutions are seen divorced from their hitherto controlling glamours, thus permitting the new and better ideologies to emerge in the consciousness of the race.

3. Ảnh hưởng do năng lượng Shamballa tạo ra, vốn lần đầu tiên đã tiếp xúc trực tiếp với Nhân loại, đang tạo nên một xoáy lực cảm xúc trong đó các lý tưởng và định chế cũ được thấy là đã tách rời khỏi những ảo cảm từng kiểm soát chúng từ trước đến nay, nhờ đó cho phép các ý thức hệ mới và tốt đẹp hơn xuất hiện trong tâm thức của nhân loại.

All these factors are responsible for the world situation at this time; great ideologies, potent groupings of workers and thinkers dedicated to the changing of the old order, and massed efforts to end separativeness are all present simultaneously. The essential etheric world unity (of which the telephone, the radio and the airplane are the tangible expression) is swinging vast groups of men everywhere into united emotional activity, thus creating those preliminary testings which ever precede initiation, and by means of which those capable of taking the second initiation are today passing.

Tất cả các yếu tố này đều chịu trách nhiệm về tình hình thế giới vào lúc này; các ý thức hệ lớn lao, những tập hợp đầy mãnh lực của những người hoạt động và tư tưởng gia tận hiến cho việc thay đổi trật tự cũ, cùng những nỗ lực quần chúng nhằm chấm dứt tính chia rẽ đều đang hiện diện đồng thời. Sự hợp nhất dĩ thái cốt yếu của thế giới (mà điện thoại, radio và máy bay là biểu hiện hữu hình của nó) đang đưa những nhóm người rộng lớn ở khắp nơi vào hoạt động cảm xúc hợp nhất, nhờ đó tạo ra những thử nghiệm sơ bộ vốn luôn đi trước điểm đạo, và nhờ đó những ai có khả năng nhận lần điểm đạo thứ hai ngày nay đang đi qua.

I cannot here enlarge upon the various ideologies which are presenting themselves to the world of men—impulsed by the Hierarchy, precipitated into the human consciousness from the mental plane by the new group of world servers, implemented by the energy of the sixth ray, by the dominant Piscean energy and by the organising energy of the incoming seventh ray, and responded to emotionally by the masses of men focussed on the astral plane. To all intelligent observers, this ideological situation is clear; it is a needed and preliminary stage to the creation of the new world order; it provides a point of crisis and the required point of tension which will enable those aspirants who are ready today, in their thousands, to pass through the experience of the second initiation and to undergo the purification of the fluid emotional nature in the Baptism Initiation. Through this experience the kama-manasic aspirant will be in a positive and spiritual condition to bring about (on the astral plane) those fundamental changes, rearrangements and readjustments which will [581] bring that level of planetary consciousness into line with the immediate divine purpose: the manifestation of the Kingdom of God.

Tôi không thể ở đây bàn rộng về các ý thức hệ khác nhau đang trình hiện trước thế giới loài người—được Thánh Đoàn thúc đẩy, được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ngưng tụ vào tâm thức nhân loại từ cõi trí, được thực thi bởi năng lượng cung sáu, bởi năng lượng Song Ngư đang chi phối và bởi năng lượng tổ chức của cung bảy đang đi vào, và được quần chúng loài người tập trung trên cõi cảm dục đáp ứng về mặt cảm xúc. Đối với mọi Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, tình thế ý thức hệ này là rõ ràng; đó là một giai đoạn cần thiết và sơ bộ để tạo ra trật tự thế giới mới; nó cung cấp một điểm khủng hoảng và điểm tập trung nhất tâm cần thiết, nhờ đó những người chí nguyện đã sẵn sàng ngày nay, với số lượng hàng ngàn, có thể đi qua kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ hai và trải qua sự thanh luyện bản chất cảm xúc lưu chất trong Cuộc Điểm Đạo Thanh Tẩy bằng Nước. Qua kinh nghiệm này, người chí nguyện trí-cảm sẽ ở trong một tình trạng tích cực và tinh thần để mang lại (trên cõi cảm dục) những thay đổi, tái sắp xếp và điều chỉnh căn bản sẽ [581] đưa cấp độ tâm thức hành tinh đó phù hợp với thiên ý trước mắt: sự biểu hiện của Thiên Giới.

The work of sixth ray energy, the result of the long cycle of Piscean energy, and the impact of the incoming Aquarian energy will bring a potent transformation in the “watery realm” of the astral plane. The symbol of that plane has ever been water—fluid, stormy, reflecting all impressions, the source of mist and fog, and yet ever essential to human living. The Piscean Age, now in process of passing away, is also closely related to this plane and to the symbol of water; it fixed in the human consciousness the realisation that “men are as fishes, immersed in the sea of emotions.” Aquarius is also known by the symbol of water, for Aquarius is the “water-carrier.” The sixth ray will bring together all these energies in time and space: ray energy, Piscean energy, Aquarian energy and the energy of the astral plane itself; this again produces a vortex of force which is invocative of mental energy; it is a controlling factor, which has plunged humanity into a tumultuous awareness of clashing ideologies, which has precipitated a reflected vortex in the world war, and which is responsible for the present crisis and point of tension. This critical point of tension will enable groups of aspirants who—having passed through the first initiation—can undergo the Baptism experience, again a word identified with water. Simultaneously, large masses of men will take the first initiation and “in the house of bread” stand before the Initiator.

Công việc của năng lượng cung sáu, kết quả của chu kỳ dài của năng lượng Song Ngư, và tác động của năng lượng Bảo Bình đang đi vào sẽ mang lại một sự chuyển đổi mạnh mẽ trong “cõi nước” của cõi cảm dục. Biểu tượng của cõi đó từ lâu vẫn là nước—lưu chất, giông bão, phản chiếu mọi ấn tượng, nguồn gốc của sương mù và mù sương, nhưng vẫn luôn thiết yếu cho đời sống con người. Kỷ nguyên Song Ngư, hiện đang trong tiến trình qua đi, cũng liên hệ mật thiết với cõi này và với biểu tượng nước; nó đã cố định trong tâm thức nhân loại sự chứng nghiệm rằng “con người như cá, chìm ngập trong biển cảm xúc.” Bảo Bình cũng được biết đến bằng biểu tượng nước, vì Bảo Bình là “người mang nước.” Cung sáu sẽ quy tụ tất cả các năng lượng này trong thời gian và không gian: năng lượng cung, năng lượng Song Ngư, năng lượng Bảo Bình và chính năng lượng của cõi cảm dục; điều này lại tạo ra một xoáy lực có tính khẩn cầu đối với năng lượng trí tuệ; đó là một yếu tố kiểm soát, đã đẩy nhân loại vào một nhận biết hỗn loạn về các ý thức hệ xung đột, đã ngưng tụ một xoáy lực phản chiếu trong cuộc chiến tranh thế giới, và là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện nay cùng điểm tập trung nhất tâm hiện tại. Điểm tập trung nhất tâm có tính khủng hoảng này sẽ giúp các nhóm người chí nguyện—những người, sau khi đã đi qua lần điểm đạo thứ nhất—có thể trải qua kinh nghiệm Thanh Tẩy bằng Nước, lại là một từ gắn liền với nước. Đồng thời, những khối quần chúng lớn sẽ nhận lần điểm đạo thứ nhất và “trong nhà bánh mì” đứng trước Đấng Điểm đạo.

The coming Christ will therefore initiate two groups of aspirants within the near future and in preparation for His coming; it is the closer approach of the Christ and of the Hierarchy of Masters to humanity which is implementing the initiatory energies, which is crystallising the ideologies present today in the human consciousness, and fostering—if I may so express it—the latent ideology of the Kingdom of God.

Do đó, Đức Christ sắp đến sẽ điểm đạo cho hai nhóm người chí nguyện trong tương lai gần và để chuẩn bị cho sự quang lâm của Ngài; chính sự tiếp cận gần hơn của Đức Christ và của Thánh Đoàn các Chân sư đối với nhân loại đang thực thi các năng lượng điểm đạo, đang kết tinh các ý thức hệ hiện diện ngày nay trong tâm thức nhân loại, và đang nuôi dưỡng—nếu tôi có thể diễn đạt như vậy—ý thức hệ tiềm ẩn của Thiên Giới.

As regards the individual initiate who is to undergo the initiation of the Baptism, the effect of sixth ray energy [582] upon his nature is easily apparent, owing to the extreme potency of the second aspect of the personality in the three worlds, his astral body or nature. In the early stages of the impact of sixth ray energy upon his emotional nature a perfect vortex of force is generated, his emotional reactions are violent and compelling, his glamours are intensified and controlling, and his aspiration steadily mounts, but is at the same time limited and hindered by the strength of his devotion to some sensed ideology. Later, under the influence of an increasing soul contact (itself the second aspect of his essential divinity), his emotional, kamic and aspirational nature becomes quieter and is more controlled through the agency of the mind; his alignment becomes astral-mental-soul. When this state of consciousness has been achieved and the “waters” of the astral body are quiet and can reflect the beautiful and the true, and when his emotions have been purified by intense self-effort, then the disciple can step into the baptismal waters; he is then subjected to an intense purificatory experience which, occultly speaking, enables him “for ever to step out of the waters and be no longer in danger of drowning or of submergence”; he can now “walk on the surface of the sea and with safety proceed onward towards his goal.”

Xét về điểm đạo đồ cá nhân sắp trải qua điểm đạo Thanh Tẩy bằng Nước, tác động của năng lượng cung sáu [582] lên bản chất của y rất dễ thấy, do mãnh lực cực lớn của phương diện thứ hai của phàm ngã trong ba cõi giới, tức thể cảm dục hay bản chất cảm xúc của y. Trong các giai đoạn đầu của tác động của năng lượng cung sáu lên bản chất cảm xúc của y, một xoáy lực hoàn hảo được tạo ra, các phản ứng cảm xúc của y dữ dội và cưỡng bách, các ảo cảm của y được tăng cường và kiểm soát, và khát vọng của y tăng lên đều đặn, nhưng đồng thời bị giới hạn và cản trở bởi sức mạnh của lòng sùng tín của y đối với một ý thức hệ nào đó mà y cảm nhận được. Về sau, dưới ảnh hưởng của sự tiếp xúc linh hồn ngày càng tăng (bản thân nó là phương diện thứ hai của thiên tính cốt yếu của y), bản chất cảm xúc, kama và khát vọng của y trở nên yên lắng hơn và được kiểm soát nhiều hơn nhờ tác nhân của trí tuệ; sự chỉnh hợp của y trở thành cảm dục-trí tuệ-linh hồn. Khi trạng thái tâm thức này đã đạt được và “các làn nước” của thể cảm dục đã yên lặng và có thể phản chiếu cái đẹp và cái chân thật, và khi các cảm xúc của y đã được thanh luyện bằng nỗ lực tự thân mãnh liệt, thì đệ tử có thể bước vào các làn nước thanh tẩy; khi ấy y chịu một kinh nghiệm thanh luyện mãnh liệt mà, nói theo huyền bí học, giúp y “mãi mãi bước ra khỏi các làn nước và không còn nguy cơ bị chết đuối hay bị nhấn chìm nữa”; giờ đây y có thể “đi trên mặt biển và an toàn tiến về phía trước hướng đến mục tiêu của mình.”

The effect of sixth ray activity upon the mental nature is, as you may imagine, a tendency—first of all—to the crystallising of thought, a reaction to imprisoning ideologies, and a fanatical mental adherence to mass ideals, with no understanding of their relationship to the need of the time or to their intended creative aspects. Later, as the disciple prepares for the second initiation, these tendencies are transformed into spiritual devotion to human welfare and to a one-pointed adherence to the Plan of the Hierarchy; all emotional reaction to the Hierarchy of Masters fades out, and the disciple can now work without being hindered by constant astral disturbances.

Tác động của hoạt động cung sáu lên bản chất trí tuệ, như bạn có thể hình dung, trước hết là một khuynh hướng kết tinh tư tưởng, một phản ứng đối với các ý thức hệ giam hãm, và một sự bám chặt cuồng tín về mặt trí tuệ vào các lý tưởng quần chúng, mà không hiểu mối liên hệ của chúng với nhu cầu của thời đại hay với các phương diện sáng tạo mà chúng nhắm đến. Về sau, khi đệ tử chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai, các khuynh hướng này được chuyển đổi thành lòng sùng tín tinh thần đối với phúc lợi nhân loại và sự gắn bó nhất tâm với Thiên Cơ của Thánh Đoàn; mọi phản ứng cảm xúc đối với Thánh Đoàn các Chân sư đều phai nhạt đi, và giờ đây đệ tử có thể làm việc mà không bị cản trở bởi những xáo động cảm dục liên miên.

The effect of sixth ray energy upon the integrated personality of the disciple can only be described as producing a condition wherein he is definitely astral-buddhic [583] in his nature; gradually his one-pointed emotional effort towards orientation to the soul makes him “an aspiring point of tension, oblivious of crisis and firmly anchored in the love which streams forth from the soul.”

Tác động của năng lượng cung sáu lên phàm ngã tích hợp của đệ tử chỉ có thể được mô tả là tạo ra một tình trạng trong đó y rõ rệt là cảm dục-Bồ đề [583] trong bản chất của mình; dần dần nỗ lực cảm xúc nhất tâm của y hướng đến sự định hướng về linh hồn khiến y trở thành “một điểm tập trung nhất tâm đầy khát vọng, không màng đến khủng hoảng và được neo vững chắc trong tình thương tuôn chảy từ linh hồn.”

Let me sum up what I have said anent the effect of sixth ray energy:

Hãy để tôi tóm lược điều tôi đã nói liên quan đến tác động của năng lượng cung sáu:

1. The energy of the sixth ray produces two major results:

1. Năng lượng cung sáu tạo ra hai kết quả chính:

a. An embryonic realisation of the will nature which determines the life of the initiate.

a. Một sự chứng nghiệm phôi thai về bản chất ý chí, vốn quyết định đời sống của điểm đạo đồ.

b. A pronounced conflict between the lower and the higher self. This reveals to the initiate the ancient conflict between the emotional nature and true realisation.

b. Một xung đột rõ rệt giữa phàm ngã và chân ngã. Điều này mặc khải cho điểm đạo đồ cuộc xung đột cổ xưa giữa bản chất cảm xúc và sự chứng nghiệm chân thực.

This brings about a basic reorientation of the life of the initiate and of humanity as a whole.

Điều này mang lại một sự tái định hướng căn bản cho đời sống của điểm đạo đồ và của toàn thể nhân loại.

2. In connection with humanity, the effects of the sixth ray are as follows:

2. Liên quan đến nhân loại, các tác động của cung sáu như sau:

a. The development of a tendency to clarify the world atmosphere, thus releasing the energy of goodwill.

a. Sự phát triển một khuynh hướng làm sáng tỏ bầu khí quyển thế giới, nhờ đó giải phóng năng lượng thiện chí.

b. The production of a condition wherein “the race of men” can take either the first or the second initiation.

b. Việc tạo ra một tình trạng trong đó “nhân loại” có thể nhận hoặc lần điểm đạo thứ nhất hoặc lần điểm đạo thứ hai.

c. The sudden and powerful emergence of the world ideologies.

c. Sự xuất hiện đột ngột và mạnh mẽ của các ý thức hệ thế giới.

d. A basic transformation within the astral plane itself which is producing points of crisis and a point of tension.

d. Một sự chuyển đổi căn bản ngay trong chính cõi cảm dục, đang tạo ra các điểm khủng hoảng và một điểm tập trung nhất tâm.

3. In relation to the individual initiate, the sixth ray produces:

3. Liên hệ với điểm đạo đồ cá nhân, cung sáu tạo ra:

a. An acute situation wherein a vortex of force is generated.

a. Một tình huống gay gắt trong đó một xoáy lực được tạo ra.

b. In this vortex all the emotional and ideological reactions of the aspirant are intensified.

b. Trong xoáy lực này, mọi phản ứng cảm xúc và ý thức hệ của người chí nguyện đều được tăng cường.

c. Later, when this subsides, the initiate’s alignment becomes astral-mental-soul.

c. Về sau, khi điều này lắng xuống, sự chỉnh hợp của điểm đạo đồ trở thành cảm dục-trí tuệ-linh hồn.

d. There takes place, in connection with his mental vehicle, a crystallisation of all thought and a fanatical adherence to mass idealism. [584]

d. Có sự kết tinh của mọi tư tưởng và một sự bám chặt cuồng tín vào chủ nghĩa lý tưởng quần chúng liên quan đến thể trí của y. [584]

e. These tendencies are later transformed into spiritual devotion to human welfare.

e. Về sau các khuynh hướng này được chuyển đổi thành lòng sùng tín tinh thần đối với phúc lợi nhân loại.

f. The personality becomes definitely astral-buddhic in nature and expression.

f. Phàm ngã trở nên rõ rệt là cảm dục-Bồ đề trong bản chất và biểu hiện.

You will see, therefore, how immediate and important is the opportunity confronting humanity today. Vast numbers of men will take the first step towards the unfolding of the Christ consciousness and thus pass through the first initiation. This often (I might well say usually) takes place without the conscious realisation of the physical brain. This first initiation is—and always has been—mass initiation, even when individually registered and recorded. Thousands of aspirants in every country (as a result of conscious effort to understand) will stand before the initiator and undergo the Baptism Initiation; bread and water are the symbols of these first two initiations; both are basic essentials for life in the physical sense, and are equally basic in their implications spiritually; this the initiate knows. These two initiations are the only two of significant importance at this time, owing to their relative immediacy.

Do đó, bạn sẽ thấy cơ hội đang đối diện nhân loại ngày nay cấp bách và quan trọng đến mức nào. Những số lượng người rất lớn sẽ bước bước đầu tiên hướng tới sự khai mở tâm thức Christ và nhờ đó đi qua lần điểm đạo thứ nhất. Điều này thường (tôi có thể nói là thường lệ) diễn ra mà không có sự chứng nghiệm hữu thức của bộ não hồng trần. Lần điểm đạo thứ nhất này là—và luôn luôn là—điểm đạo quần chúng, ngay cả khi được ghi nhận và lưu hồ sơ một cách cá nhân. Hàng ngàn người chí nguyện ở mọi quốc gia (như kết quả của nỗ lực hữu thức nhằm thấu hiểu) sẽ đứng trước Đấng Điểm đạo và trải qua Cuộc Điểm Đạo Thanh Tẩy bằng Nước; bánh mì và nước là các biểu tượng của hai lần điểm đạo đầu tiên này; cả hai đều là những điều thiết yếu căn bản cho sự sống theo nghĩa hồng trần, và cũng căn bản tương đương trong các hàm ý tinh thần của chúng; điều này điểm đạo đồ biết. Hai lần điểm đạo này là hai lần duy nhất có tầm quan trọng đáng kể vào lúc này, do tính gần kề tương đối của chúng.

It is the return of the Christ which has brought these subjective spiritual tendencies of mankind to the surface and made these two initiations possible; it is the activity of the seventh Ray of Order and of the sixth Ray of Idealism which has generated the tendency in humanity towards the white magic of right human relations. They have fostered the trend to ideological control of the human consciousness. It is the passing out of the Piscean Age with its type of energy, and the coming into power of the Aquarian Age (with its potent purificatory energies and its quality of synthesis and universality) which will make the new world order possible. It is therefore apparent that the opportunity confronting humanity has never been so promising and that the corporate relation and fusion of all these energies makes the manifestation of the Sons of God and the appearance of the Kingdom of God an inevitable happening in our planetary life. [585]

Chính sự trở lại của Đức Christ đã đưa các khuynh hướng tinh thần chủ quan này của nhân loại lên bề mặt và làm cho hai lần điểm đạo này trở nên khả hữu; chính hoạt động của cung bảy Trật Tự và của cung sáu Duy Tâm đã tạo ra trong nhân loại khuynh hướng hướng tới chánh thuật của các tương quan nhân loại đúng đắn. Chúng đã nuôi dưỡng xu hướng kiểm soát tâm thức nhân loại bằng ý thức hệ. Chính sự qua đi của Kỷ nguyên Song Ngư với loại năng lượng của nó, và sự lên nắm quyền của Kỷ nguyên Bảo Bình (với các năng lượng thanh luyện mạnh mẽ và phẩm tính tổng hợp cùng phổ quát của nó) sẽ làm cho trật tự thế giới mới trở nên khả hữu. Do đó hiển nhiên là cơ hội đang đối diện nhân loại chưa bao giờ đầy hứa hẹn đến thế và rằng mối liên hệ tập thể cùng sự dung hợp của tất cả các năng lượng này khiến sự biểu hiện của Các Con của Thượng đế và sự xuất hiện của Thiên Giới trở thành một biến cố tất yếu trong đời sống hành tinh của chúng ta. [585]

As we study the other ray energies and their initiatory effect, we shall not be able to indicate a great deal in relation to humanity itself. Only the first two initiations which are implemented by the Christ and which are “under the supervisory probation of the spiritual Hierarchy” are as yet possible to humanity. The initiation of the Transfiguration is not yet for the mass of men. We can, however, study the effects of these rays where the individual disciple is concerned, because the later initiations—from the third initiation onward—are administered by the Lord of the World from His high place in Shamballa; in the present world period, these initiations are individually administered and registered, and are undergone consciously and with an entirely awakened awareness.

Khi nghiên cứu các năng lượng cung khác và tác động điểm đạo của chúng, chúng ta sẽ không thể nói được nhiều liên quan đến chính nhân loại. Chỉ hai lần điểm đạo đầu tiên, được Đức Christ thực thi và “nằm dưới sự giám sát dự bị của Huyền Giai Tinh Thần,” là hiện nay còn khả hữu đối với nhân loại. Cuộc điểm đạo Biến hình chưa dành cho quần chúng loài người. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghiên cứu các tác động của các cung này nơi đệ tử cá nhân, bởi vì các lần điểm đạo sau—từ lần điểm đạo thứ ba trở đi—được Đức Chúa Tể Thế Giới ban truyền từ chốn cao của Ngài tại Shamballa; trong giai đoạn thế giới hiện nay, các lần điểm đạo này được ban truyền và ghi nhận một cách cá nhân, và được trải qua một cách hữu thức với sự tỉnh thức hoàn toàn.

It will be apparent to you that I shall necessarily have more to say anent the first three initiations and the ray effects upon the initiate and upon humanity than will be possible when the higher initiations come under consideration. The effects of ray impacts in the first three initiations come via the soul, and the initiate is—during this period—a struggling aspirant, under the inspiration and the stimulation of the Hierarchy of which he is becoming increasingly aware. After the third initiation, which is in reality as you well know, the first major initiation, the ray energy is applied (if I may use such an inadequate word) via the Spiritual Triad, utilising the antahkarana.

Bạn sẽ thấy rõ rằng tất yếu tôi sẽ phải nói nhiều hơn về ba lần điểm đạo đầu tiên và các tác động của cung lên điểm đạo đồ và lên nhân loại so với điều có thể làm được khi các lần điểm đạo cao hơn được xét đến. Các tác động của những va chạm cung trong ba lần điểm đạo đầu tiên đến qua linh hồn, và điểm đạo đồ—trong giai đoạn này—là một người chí nguyện đang đấu tranh, dưới cảm hứng và sự kích thích của Thánh Đoàn mà y ngày càng nhận biết rõ hơn. Sau lần điểm đạo thứ ba, vốn thực ra như bạn biết rõ là lần điểm đạo lớn đầu tiên, năng lượng cung được áp dụng (nếu tôi có thể dùng một từ không đầy đủ như vậy) qua Tam Nguyên Tinh Thần, sử dụng antahkarana.

After the fourth initiation, the effects are felt predominantly in the initiate’s group and in his field of service; there, he constitutes a point of tension and precipitates great points of crisis. His own points of crisis and of tension are existent but, mysteriously, only in relation to his consciousness of the group in which he plays an increasingly potent part.

Sau lần điểm đạo thứ tư, các tác động được cảm nhận chủ yếu trong nhóm của điểm đạo đồ và trong lĩnh vực phụng sự của y; ở đó, y tạo thành một điểm tập trung nhất tâm và ngưng tụ những điểm khủng hoảng lớn. Các điểm khủng hoảng và điểm tập trung nhất tâm của riêng y vẫn hiện hữu nhưng, một cách huyền nhiệm, chỉ trong mối liên hệ với tâm thức của nhóm mà trong đó y đóng một vai trò ngày càng mạnh mẽ.

The groups affected by the progressive initiatory process to which the disciple is being subjected are three in number, and these effects differentiate and condition his group service, according to the initiation being undergone; it is from this angle we must study the initiation, [586] the ray effects, and the results produced within the three groups. These are:

Các nhóm bị ảnh hưởng bởi tiến trình điểm đạo tiến triển mà đệ tử đang được đưa qua có số lượng là ba, và các tác động này phân biệt và tác động lên công việc phụng sự nhóm của y, tùy theo lần điểm đạo đang được trải qua; chính từ góc độ này mà chúng ta phải nghiên cứu điểm đạo, [586] các tác động của cung, và các kết quả được tạo ra trong ba nhóm. Đó là:

1. The group in which the initiate is working upon the physical plane and which is an externalisation (existing on the mental and astral planes) of some phase of work sponsored by the New Group of World Servers. All disciples and initiates in physical manifestation are at this time members of that group, which is the focal point of the present effort being made by the Hierarchy. Through it spiritual energy from five of the Ashrams is flowing. These five are:

1. Nhóm mà điểm đạo đồ đang làm việc trên cõi hồng trần và là một sự ngoại hiện (tồn tại trên cõi trí và cõi cảm dục) của một phương diện công việc nào đó do Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bảo trợ. Mọi đệ tử và điểm đạo đồ đang biểu hiện trên cõi hồng trần hiện nay đều là thành viên của nhóm đó, nhóm là tiêu điểm của nỗ lực hiện tại do Thánh Đoàn thực hiện. Qua nhóm này, năng lượng tinh thần từ năm ashram đang tuôn chảy. Năm ashram đó là:

a. The Ashram of the Master K.H., particularly in regard to the work of education.

a. Ashram của Chân sư K.H., đặc biệt liên quan đến công việc giáo dục.

b. The Ashram of the Master D.K. (myself), particularly in regard to aspirants for initiation.

b. Ashram của Chân sư D.K. (chính tôi), đặc biệt liên quan đến những người chí nguyện điểm đạo.

c. The Ashram of the Master R., particularly in regard to the reorganising and the reconstruction of Europe, from the point of view of economics.

c. Ashram của Chân sư R., đặc biệt liên quan đến việc tái tổ chức và tái thiết châu Âu, từ quan điểm kinh tế.

d. The Ashram of the Master Morya, as He seeks to find, influence and direct the activities of workers in the political field throughout the planet.

d. Ashram của Chân sư Morya, khi Ngài tìm cách tìm ra, ảnh hưởng và chỉ đạo các hoạt động của những người hoạt động trong lĩnh vực chính trị trên khắp hành tinh.

e. The Ashram of the Master Hilarion, as He supervises the discoveries (and the application of such discoveries) of the scientific movement in the world today.

e. Ashram của Chân sư Hilarion, khi Ngài giám sát các khám phá (và việc áp dụng các khám phá ấy) của phong trào khoa học trong thế giới ngày nay.

You will note, therefore, the profound and widespread interest of this field of energy wherein ray energy is now active.

Do đó, bạn sẽ lưu ý đến mối quan tâm sâu rộng và sâu sắc của lĩnh vực năng lượng này, nơi năng lượng cung hiện đang hoạt động.

2. The group which may regard itself consciously as the initiate’s own group, in the sense that he is slowly influencing those around him, collecting the personnel and forming the nucleus of the Ashram by means of which he may some day serve the world. All those who are taking initiation do not necessarily create their own ashrams, though a large number do so. The work of those initiates who do not form an ashram is mysterious in the extreme, from the point of view of aspiring humanity, and there is little that I may say about the subject. These initiates work [587] in connection with plans emanating from Shamballa, of which humanity can know nothing; they work with the three subhuman kingdoms in nature, each of which has its own peculiar and specific band of initiate-workers. If they do not do this, they transfer into certain groups of workers who are engaged in activities connected with the deva or angel evolution, or in relation to the manifestation of energies about which I can tell you nothing. We shall deal only with the expansion of consciousness and the experience of those initiates who remain—in their activities and aims—related to humanity and to the Hierarchy. It might here be pointed out that:

2. Nhóm có thể tự xem mình một cách hữu thức là nhóm riêng của điểm đạo đồ, theo nghĩa là y đang từ từ ảnh hưởng những người quanh mình, tập hợp nhân sự và hình thành hạt nhân của ashram mà nhờ đó một ngày nào đó y có thể phụng sự thế giới. Không phải tất cả những ai đang nhận điểm đạo đều nhất thiết tạo ra ashram riêng của mình, mặc dù một số lượng lớn có làm như vậy. Công việc của những điểm đạo đồ không hình thành một ashram thì cực kỳ huyền nhiệm, xét từ quan điểm của nhân loại chí nguyện, và tôi có rất ít điều có thể nói về đề tài này. Những điểm đạo đồ này làm việc [587] liên hệ với các kế hoạch phát xuất từ Shamballa, những điều mà nhân loại không thể biết gì; họ làm việc với ba giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, mỗi giới có dải người hoạt động điểm đạo riêng biệt và đặc thù của mình. Nếu họ không làm điều này, họ chuyển dịch vào một số nhóm người hoạt động đang dấn thân trong các hoạt động liên hệ với tiến hoá thiên thần hay thiên sứ, hoặc liên hệ với sự biểu hiện của những năng lượng mà tôi không thể nói gì với bạn. Chúng ta sẽ chỉ bàn đến sự mở rộng tâm thức và kinh nghiệm của những điểm đạo đồ vẫn còn—trong hoạt động và mục tiêu của họ—liên hệ với nhân loại và với Thánh Đoàn. Ở đây có thể chỉ ra rằng:

a. The work of the deva evolution comes under the ray energy of the third Buddha of Activity.

a. Công việc của tiến hoá thiên thần thuộc dưới năng lượng cung của Đức Phật Hoạt Động thứ ba.

b. The work with humanity comes under the influence of the ray energy of the second Buddha of Activity, Who embodies in a most peculiar sense the conditioning energy of the Hierarchy.

b. Công việc với nhân loại thuộc dưới ảnh hưởng của năng lượng cung của Đức Phật Hoạt Động thứ hai, Đấng hiện thân theo một ý nghĩa rất đặc biệt năng lượng tác động của Thánh Đoàn.

c. The work with the subhuman kingdoms of nature is under the energy stimulation of the first Buddha of Activity.

c. Công việc với các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên thuộc dưới sự kích thích năng lượng của Đức Phật Hoạt Động thứ nhất.

Each of these great energising Lives works through certain Masters and Initiates of the sixth initiation; these Masters work in full consciousness upon the atmic plane, the plane of the spiritual will; from that high level, They function as transmitting agents for the energy of one of the three Buddhas of Activity. These three Buddhas are the creative Agents of the planetary Logos and are Wielders of the Law of Evolution.

Mỗi một trong các Sự Sống gia năng lượng vĩ đại này hoạt động qua một số Chân sư và Điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ sáu; các Chân sư này hoạt động với tâm thức trọn vẹn trên cõi atma, cõi của ý chí tinh thần; từ cấp độ cao đó, Các Ngài vận hành như những tác nhân truyền dẫn cho năng lượng của một trong ba Đức Phật Hoạt Động. Ba Đức Phật này là các Tác Nhân sáng tạo của Hành Tinh Thượng đế và là những Đấng Nắm Giữ Định luật Tiến Hóa.

3. The ashramic group of which the initiate is a part and within which his influence or spiritual radiation is increasingly felt.

3. Nhóm ashram mà điểm đạo đồ là một phần trong đó và bên trong đó ảnh hưởng hay bức xạ tinh thần của y ngày càng được cảm nhận.

The awareness of the initiate and his ability to work consciously within this triplicity of groups becomes the major objective of all his efforts, once the third initiation is left behind. His magnetic radiation and the expression of his controlling energies-prior to this stage of unfoldment—is [588] that of the soul, working through the personality. After the third initiation this radiation and the energy expressed become increasingly monadic and subject to three stages:

Sự nhận biết của điểm đạo đồ và khả năng làm việc một cách hữu thức trong bộ ba nhóm này trở thành mục tiêu chính của mọi nỗ lực của y, một khi lần điểm đạo thứ ba đã ở phía sau. Bức xạ từ tính của y và sự biểu lộ các năng lượng kiểm soát của y—trước giai đoạn khai mở này—là [588] của linh hồn, hoạt động qua phàm ngã. Sau lần điểm đạo thứ ba, bức xạ này và năng lượng được biểu lộ trở nên ngày càng chân thần hơn và chịu ba giai đoạn:

1. The stage wherein the lowest aspect of the Spiritual Triad (that of the abstract mind) becomes potent as the conveyor of ideas; these are transformed by the initiate into ideals for the service of humanity.

1. Giai đoạn trong đó phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần (đó là trí trừu tượng) trở nên mạnh mẽ như kẻ chuyển tải các ý tưởng; các ý tưởng này được điểm đạo đồ chuyển thành các lý tưởng để phụng sự nhân loại.

2. The stage wherein pure reason, plus the spiritual will, makes him an effective server of the Plan and a transmitter, in a progressive manner, of the Purpose underlying the Plan.

2. Giai đoạn trong đó lý trí thuần túy, cộng với ý chí tinh thần, khiến y trở thành một người phụng sự hữu hiệu của Thiên Cơ và một người truyền dẫn, theo cách tiến triển, Thiên Ý nằm bên dưới Thiên Cơ.

3. The stage wherein pure monadic energy pours through him, focussing the will-to-good, as registered by the Hierarchy, and the sense of universality (not a vague phrase, but a specific potency) upon the physical plane. A close study of these developing ranges of activity and of expanded consciousness will indicate why and how our planetary life is one immense synthesis of ordered activity.

3. Giai đoạn trong đó năng lượng chân thần thuần túy tuôn qua y, tập trung Ý Chí-hướng Thiện, như được Thánh Đoàn ghi nhận, và ý thức về tính phổ quát (không phải một cụm từ mơ hồ, mà là một mãnh lực đặc thù) trên cõi hồng trần. Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các phạm vi hoạt động đang phát triển này và về tâm thức mở rộng sẽ cho thấy vì sao và bằng cách nào đời sống hành tinh của chúng ta là một tổng hợp bao la của hoạt động có trật tự.

The ray energies, utilising the created form world and the “world of formless forms” (that is, the cosmic etheric levels of activity), constitute a great and applied process of initiatory activity, governing, controlling and conditioning every expression of divine life in all the kingdoms of nature—subhuman, human and superhuman. It is into this world of active moving energies that the initiate penetrates and within which he must consciously play his part. As you well know, the work of the aspirant today is to become a conscious, self-controlled and spiritual worker in energy within the ring-pass-not of the three worlds and—as I have frequently pointed out—to function, first of all, in control of his physical instrument, demonstrating this at the first initiation and during the succeeding initiatory processes; secondly, to control his emotional, feeling nature, demonstrating that control at the second initiation; at the third initiation, he has to bring into visible activity the mental element, and thus function in the three worlds as a soul-infused personality, utilising the illumined mind as the fusing and synthesising factor. These things [589] accomplished, he can—again in full consciousness—begin to be active as “a radiating point of crisis and a producer of the needed tension.”

Các năng lượng cung, sử dụng thế giới hình tướng đã được tạo ra và “thế giới của các hình tướng vô tướng” (nghĩa là các cấp độ dĩ thái vũ trụ của hoạt động), cấu thành một tiến trình lớn lao và được áp dụng của hoạt động điểm đạo, cai quản, kiểm soát và tác động lên mọi biểu hiện của sự sống thiêng liêng trong tất cả các giới của thiên nhiên—dưới nhân loại, nhân loại và siêu nhân loại. Chính vào thế giới của các năng lượng hoạt động và chuyển động này mà điểm đạo đồ thâm nhập và trong đó y phải hữu thức đóng vai trò của mình. Như bạn biết rõ, công việc của người chí nguyện ngày nay là trở thành một người hoạt động hữu thức, tự kiểm soát và tinh thần trong năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của ba cõi giới và—như tôi thường chỉ ra—trước hết vận hành trong sự kiểm soát khí cụ hồng trần của mình, chứng minh điều này ở lần điểm đạo thứ nhất và trong các tiến trình điểm đạo tiếp theo; thứ hai, kiểm soát bản chất cảm xúc, cảm giác của mình, chứng minh sự kiểm soát đó ở lần điểm đạo thứ hai; ở lần điểm đạo thứ ba, y phải đưa yếu tố trí tuệ vào hoạt động hữu hình, và nhờ đó vận hành trong ba cõi giới như một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, sử dụng trí tuệ được soi sáng như yếu tố dung hợp và tổng hợp. Khi những điều này [589] đã hoàn tất, y có thể—một lần nữa trong tâm thức trọn vẹn—bắt đầu hoạt động như “một điểm khủng hoảng bức xạ và một kẻ tạo ra sự tập trung nhất tâm cần thiết.”

These three groups are essentially points of planetary tension and are producers of crisis in the lives of the individuals influenced and in the Hierarchy, as well as in the planetary life. Thus the conditions are created which make evolution possible. Some day the story of the evolutionary process will be written by an initiate of the great White Lodge, from the angle of its points of crisis and the subsequent points of tension. This enables the living forms, under this dual impact, to emerge into larger areas of consciousness. Each kingdom in nature can itself be regarded as a point of tension within the sphere of Being of the planetary Logos, and each—in time and space—is in process of generating those points of crisis which will produce a potent (and often sudden) moving forward upon the Path of Evolution. Humanity is today, in its present situation as a point of planetary crisis, generating such a point of tension that it will shortly be enabled to move forward into the new age dispensation, culture and civilisation. The study of the individual aspirant parallels this.

Ba nhóm này về bản chất là những điểm tập trung nhất tâm của hành tinh và là những kẻ tạo ra khủng hoảng trong đời sống của các cá nhân bị ảnh hưởng, trong Thánh Đoàn, cũng như trong đời sống hành tinh. Nhờ đó các điều kiện được tạo ra khiến tiến hoá trở nên khả hữu. Một ngày nào đó câu chuyện của tiến trình tiến hoá sẽ được một điểm đạo đồ của Thánh đoàn viết ra từ góc độ các điểm khủng hoảng của nó và các điểm tập trung nhất tâm tiếp theo. Điều này giúp các hình tướng sống, dưới tác động kép này, xuất hiện vào những vùng tâm thức rộng lớn hơn. Mỗi giới trong thiên nhiên tự nó có thể được xem như một điểm tập trung nhất tâm trong phạm vi Bản Thể của Hành Tinh Thượng đế, và mỗi giới—trong thời gian và không gian—đang trong tiến trình tạo ra những điểm khủng hoảng sẽ sản sinh một sự tiến bước mạnh mẽ (và thường đột ngột) trên Con Đường Tiến Hóa. Nhân loại ngày nay, trong tình thế hiện tại của mình như một điểm khủng hoảng hành tinh, đang tạo ra một điểm tập trung nhất tâm như thế để chẳng bao lâu nữa có thể tiến vào sự phân phối mới của kỷ nguyên, văn hóa và văn minh mới. Việc nghiên cứu người chí nguyện cá nhân song hành với điều này.

These thoughts and ideas must be borne in mind as we study the remaining three major initiations confronting average humanity.

Những tư tưởng và ý niệm này phải được ghi nhớ khi chúng ta nghiên cứu ba lần điểm đạo lớn còn lại đang đối diện nhân loại trung bình.

Initiation III. The Transfiguration. Ray V. — Điểm Đạo III. Biến hình. Cung V.

The Energy of Concrete Knowledge.

Năng Lượng của Tri Thức Cụ Thể.

As all disciples have to be focussed on the mental plane and must operate from that level of consciousness, the understanding of this type of consciousness is one of major importance. It is glibly and most easily said that disciples and (necessarily so) initiates must use the mind, and that their polarisation must be mental. But what does this mean? Let me give you some concise definitions of this ray energy, leaving you to make your own individual application, and from your study of these concepts anent the mind, learn to gauge your own mental condition. [590]

Vì mọi đệ tử đều phải được tập trung trên cõi trí và phải hoạt động từ cấp độ tâm thức đó, nên việc thấu hiểu loại tâm thức này là điều hết sức quan trọng. Người ta nói rất trơn tru và rất dễ dàng rằng các đệ tử và (đương nhiên là như vậy) các điểm đạo đồ phải sử dụng trí tuệ, và sự phân cực của họ phải là trí tuệ. Nhưng điều đó có nghĩa là gì? Hãy để tôi đưa ra cho bạn vài định nghĩa ngắn gọn về năng lượng cung này, để bạn tự áp dụng cho riêng mình, và từ việc nghiên cứu các khái niệm này liên quan đến trí tuệ, học cách đo lường tình trạng trí tuệ của chính mình. [590]

1. The energy of what is so peculiarly called “concrete science” is the quality or the conditioning nature of the fifth ray.

1. Năng lượng của cái được gọi một cách rất đặc biệt là “khoa học cụ thể” là phẩm tính hay bản chất tác động của cung năm.

2. It is pre-eminently the substance of the mental plane. This plane corresponds to the third subplane of the physical plane, and is therefore gaseous in nature—if you care to use its correspondence as a symbol of its nature. It is volatile, easily dispersed, is the receptive agent of illumination, and can be poisonous in its effect, for there are undoubtedly conditions in which “the mind is the slayer of the Real.”

2. Nó nổi bật là chất liệu của cõi trí. Cõi này tương ứng với cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần, và vì vậy có bản chất khí—nếu bạn muốn dùng sự tương ứng của nó như một biểu tượng cho bản chất ấy. Nó dễ bay hơi, dễ phân tán, là tác nhân tiếp nhận của sự soi sáng, và có thể độc hại trong tác động của nó, vì chắc chắn có những tình trạng trong đó “trí tuệ là kẻ sát hại Thực Tại.”

3. This energy is characterised by three qualities:

3. Năng lượng này được đặc trưng bởi ba phẩm tính:

a. The quality which is the result of relationship with the Spiritual Triad. We call this “abstract mind” and the impact which affects it comes from the atmic level of the Spiritual Triad, that of spiritual will.

a. Phẩm tính là kết quả của mối liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta gọi đây là “trí trừu tượng” và tác động ảnh hưởng đến nó đến từ cấp độ atma của Tam Nguyên Tinh Thần, tức cấp độ của ý chí tinh thần.

b. The quality which in this solar system is easily responsive to the major ray of the planet, that of love-wisdom. So responsive is it that—in conjunction with emanations from the three worlds—it has produced the one existent form upon the mental plane. This form (in the planetary sense) is that of the Kingdom of God and, in the individual sense, is that of the ego or soul.

b. Phẩm tính mà trong hệ mặt trời này dễ dàng đáp ứng với cung chính của hành tinh, tức cung bác ái-minh triết. Nó đáp ứng mạnh đến mức—kết hợp với các phát xạ từ ba cõi giới—đã tạo ra hình tướng hiện tồn duy nhất trên cõi trí. Hình tướng này (theo nghĩa hành tinh) là hình tướng của Thiên Giới và, theo nghĩa cá nhân, là hình tướng của chân ngã hay linh hồn.

c. The quality which is basically related to the emanations or vibrations arising from the three worlds; these creatively result in the myriads of thoughtforms which are found upon the lower levels of the mental plane. It might therefore be said that these qualities or aspects of the fifth ray of spiritual energy produce:

c. Phẩm tính về căn bản liên hệ với các phát xạ hay rung động phát sinh từ ba cõi giới; các rung động này một cách sáng tạo tạo ra vô số hình tư tưởng được tìm thấy trên các cấp thấp của cõi trí. Vì vậy có thể nói rằng các phẩm tính hay phương diện này của năng lượng tinh thần cung năm tạo ra:

Pure thought

Tư tưởng thuần túy

The thinker or the Son of Mind

Thức giả hay Con của Trí Tuệ

Thoughtforms

Các hình tư tưởng

4. This energy (as far as mankind is concerned) is the thoughtform making energy, and all impressions from the physical, etheric and astral planes force it into activity on the level of concrete knowledge, with a resultant kaleidoscopic presentation of thoughtforms. [591]

4. Năng lượng này (xét theo nhân loại) là năng lượng tạo hình tư tưởng, và mọi ấn tượng từ cõi hồng trần, cõi dĩ thái và cõi cảm dục đều buộc nó vào hoạt động ở cấp độ tri thức cụ thể, với kết quả là một sự trình hiện muôn hình vạn trạng của các hình tư tưởng. [591]

5. It is fundamentally the most potent energy at this time in the planet, because it was brought to maturity in the first solar system, that of active intelligence.

5. Về căn bản, đây là năng lượng mạnh nhất trên hành tinh vào lúc này, bởi vì nó đã được đưa đến chín muồi trong hệ mặt trời thứ nhất, tức hệ của trí tuệ linh hoạt.

6. It is the energy which admits humanity (and particularly the trained disciple or initiate) into the mysteries of the Mind of God Himself. It is the “substantial” key to the Universal Mind.

6. Đây là năng lượng cho phép nhân loại (và đặc biệt là đệ tử lão luyện hay điểm đạo đồ) đi vào các huyền nhiệm của chính Trí của Thượng đế. Nó là chiếc chìa khóa “bản thể” dẫn vào Vũ Trụ Trí.

7. It is profoundly susceptible to the energy of Love-Wisdom, and its fusion with the love aspect is given the name of “wisdom” by us, because all wisdom is knowledge gained by experience and implemented by love.

7. Nó hết sức nhạy cảm với năng lượng Bác Ái – Minh Triết, và sự dung hợp của nó với phương diện bác ái được chúng ta gọi là “minh triết”, bởi vì mọi minh triết đều là tri thức đạt được qua kinh nghiệm và được tình thương thực thi.

8. This energy, in its three aspects, is related in a peculiar sense to the three Buddhas of Activity. These great Lives reached Their present state of development in the previous solar system.

8. Năng lượng này, trong ba phương diện của nó, liên hệ theo một ý nghĩa đặc biệt với ba Đức Phật Hoạt Động. Các Sự Sống vĩ đại này đã đạt đến trạng thái phát triển hiện nay của Các Ngài trong hệ mặt trời trước.

9. This energy, in so far as it is considered as the mental energy of a human being—and this is one of its minor limitations though a major one for a human being—is the higher correspondence of the physical brain. It might be said that the brain exists because the mind exists and needs a brain as its focal point upon the physical plane.

9. Năng lượng này, trong chừng mực nó được xem là năng lượng trí tuệ của một con người—và đây là một trong những giới hạn nhỏ của nó, dù lại là một giới hạn lớn đối với con người—là đối ứng cao hơn của bộ não hồng trần. Có thể nói rằng bộ não tồn tại vì trí tuệ tồn tại và cần một bộ não làm tiêu điểm của nó trên cõi hồng trần.

10. The quality of this energy of concrete knowledge or science is twofold:

10. Phẩm tính của năng lượng tri thức cụ thể hay khoa học này là nhị phân:

a. It is extraordinarily responsive to impressions coming from some source or other.

a. Nó đáp ứng một cách phi thường với các ấn tượng đến từ nguồn này hay nguồn khác.

b. It is rapidly thrown into forms in response to impression.

b. Nó nhanh chóng bị ném vào các hình tướng để đáp ứng với ấn tượng.

11. The impressions received come from three sources and are sequentially revealed to man. These three are:

11. Các ấn tượng được tiếp nhận đến từ ba nguồn và được mặc khải tuần tự cho con người. Ba nguồn đó là:

a. Impressions from the three worlds; these come, first of all, from the individual and then, secondly, from the levels of planetary consciousness.

a. Các ấn tượng từ ba cõi giới; trước hết chúng đến từ cá nhân và sau đó, thứ hai, từ các cấp độ tâm thức hành tinh.

b. Impressions from the soul, the Son of Mind, upon the level of mentality itself.

b. Các ấn tượng từ linh hồn, Con của Trí Tuệ, trên chính cấp độ trí tuệ.

c. Impressions from the Spiritual Triad, via the antahkarana; these come when the antahkarana is constructed or in process of construction. [592]

c. Các ấn tượng từ Tam Nguyên Tinh Thần, qua antahkarana; chúng đến khi antahkarana đã được xây dựng hoặc đang trong tiến trình xây dựng. [592]

12. This energy is essentially a light-bearer. It responds—again sequentially in time and space—to the light of the Logos. It is for this reason that the mind is regarded both as illumined when higher contacts are present and as an illuminator where the lower planes are concerned.

12. Năng lượng này về bản chất là kẻ mang ánh sáng. Nó đáp ứng—cũng tuần tự trong thời gian và không gian—với ánh sáng của Thượng đế. Chính vì lý do này mà trí tuệ vừa được xem là được soi sáng khi có các tiếp xúc cao hơn hiện diện, vừa là một kẻ soi sáng đối với các cõi thấp.

13. This energy is (from the human standpoint) awakened and brought into activity through the action of the five senses which are the conveyors of information from the three worlds to the mental plane. It might be said that

13. Năng lượng này (từ quan điểm con người) được đánh thức và đưa vào hoạt động qua tác động của năm giác quan, là những kẻ chuyển tải thông tin từ ba cõi giới đến cõi trí. Có thể nói rằng

a. Five streams of informative energy, therefore, make their impact upon the concrete mind and emanate from the physico-astral plane.

a. Do đó, năm dòng năng lượng thông tin tạo tác động lên trí cụ thể và phát ra từ cõi hồng trần-cảm dục.

b. Three streams of energy, coming from the soul, also make an impression upon the concrete mind.

b. Ba dòng năng lượng, đến từ linh hồn, cũng tạo ấn tượng lên trí cụ thể.

c. One stream of energy—during the initiatory process—contacts the mind. This comes from the Spiritual Triad and utilises the antahkarana.

c. Một dòng năng lượng—trong tiến trình điểm đạo—tiếp xúc với trí tuệ. Nó đến từ Tam Nguyên Tinh Thần và sử dụng antahkarana.

14. The energy of this fifth ray might be regarded as the commonsense, because it receives all these impacts of varying energies, synthesises them, produces order out of the many ceaseless impacts and interprets them, thus creating the multiplicity of forms to which we give the name of “world thought”.

14. Năng lượng của cung năm này có thể được xem như thường thức, bởi vì nó tiếp nhận tất cả các tác động của những năng lượng khác nhau này, tổng hợp chúng, tạo ra trật tự từ vô số tác động không ngừng và diễn giải chúng, nhờ đó tạo ra tính đa tạp của các hình tướng mà chúng ta gọi là “tư tưởng thế giới”.

15. This energy transforms the divine ideas into human ideals, relating the knowledges and sciences of humanity to these ideals, thus making them workable factors in human evolution, its cultures and civilisations.

15. Năng lượng này chuyển đổi các ý tưởng thiêng liêng thành các lý tưởng nhân loại, liên hệ các tri thức và khoa học của nhân loại với các lý tưởng ấy, nhờ đó làm cho chúng trở thành những yếu tố khả dụng trong tiến hoá nhân loại, trong các nền văn hóa và văn minh của nó.

There is much more that I could add, but the above gives you a series of simple definitions of value as you study the mental unfoldment of the disciple, as he undergoes the initiatory process which is our theme at this time. It also throws light upon the ray effects upon humanity as a whole. This ray energy is indeed sadly concrete in its expression in our Aryan race—a race, however, which will see more people take initiation than ever before in human history, and which will, in a peculiar sense, see the descent of the Kingdom of God to Earth as a result of the ascent of so many upon the ladder of evolution. Just as the disciple [593] or the initiate is a soul-infused personality, so will humanity—upon the physical plane—be also soul-infused, thus precipitating the Kingdom of God and giving birth to a new kingdom in nature. This great spiritual descent will be prefaced (if I may use such a word) by the appearance of the Christ among the peoples of the world and by a stupendous inflow of love-wisdom. There is a tendency in the minds of esotericists always to refer to the great lines of force: 1-3-5-7 and 2-4-6. I would have you remember with still greater emphasis the relation of rays II and V and of the second plane, the monadic plane, and the fifth plane, the mental plane; it is the relation of these major energies which makes the initiation of the Transfiguration possible.

Còn nhiều điều tôi có thể thêm vào, nhưng những điều trên cung cấp cho bạn một loạt định nghĩa đơn giản có giá trị khi bạn nghiên cứu sự khai mở trí tuệ của đệ tử, khi y trải qua tiến trình điểm đạo là chủ đề của chúng ta vào lúc này. Điều đó cũng soi sáng các tác động của cung lên nhân loại như một toàn thể. Năng lượng cung này quả thật biểu lộ một cách đáng buồn là quá cụ thể trong nhân loại Arya của chúng ta—tuy nhiên đó là một nhân loại sẽ chứng kiến nhiều người nhận điểm đạo hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người, và theo một ý nghĩa đặc biệt, sẽ chứng kiến sự giáng hạ của Thiên Giới xuống Trái Đất như kết quả của sự thăng lên của rất nhiều người trên chiếc thang tiến hoá. Cũng như đệ tử [593] hay điểm đạo đồ là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, thì nhân loại—trên cõi hồng trần—cũng sẽ được linh hồn thấm nhuần như vậy, nhờ đó ngưng tụ Thiên Giới và sinh ra một giới mới trong thiên nhiên. Sự giáng hạ tinh thần vĩ đại này sẽ được mở đầu (nếu tôi có thể dùng một từ như vậy) bằng sự xuất hiện của Đức Christ giữa các dân tộc trên thế giới và bởi một dòng tuôn đổ bác ái-minh triết kỳ vĩ. Trong trí của các nhà bí truyền học luôn có khuynh hướng quy chiếu đến các tuyến mãnh lực lớn: 1-3-5-7 và 2-4-6. Tôi muốn bạn ghi nhớ với sự nhấn mạnh còn lớn hơn nữa mối liên hệ của cung II và cung V, của cõi thứ hai, cõi chân thần, và cõi thứ năm, cõi trí; chính mối liên hệ của các năng lượng chính này làm cho cuộc điểm đạo Biến hình trở nên khả hữu.

What is the effect of this ray upon humanity as a whole and at this time? The effect of these influences is very great and of supreme importance in this fifth root race, the Aryan race, in this second solar system. Again you can see the clarity of the correspondences which are emerging. I would have you note them again.

Tác động của cung này lên toàn thể nhân loại và vào lúc này là gì? Tác động của các ảnh hưởng này là rất lớn và có tầm quan trọng tối cao trong giống dân gốc thứ năm này, giống dân Arya, trong hệ mặt trời thứ hai này. Một lần nữa bạn có thể thấy sự rõ ràng của các tương ứng đang xuất hiện. Tôi muốn bạn lưu ý lại chúng.

1. Ray II, the Ray of Love-Wisdom; and Ray V, the Ray of Concrete Knowledge or Science.

1. Cung II, Cung Bác Ái – Minh Triết; và Cung V, Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.

2. The second plane, the monadic plane; and the fifth plane, the mental plane.

2. Cõi thứ hai, cõi chân thần; và cõi thứ năm, cõi trí.

3. The second solar system of love; and the fifth root race, the Aryan race, of active intelligence.

3. Hệ mặt trời thứ hai của bác ái; và giống dân gốc thứ năm, giống dân Arya, của trí tuệ linh hoạt.

In all these basic relationships, that which is the fifth in order is destined to be the instrument, the vehicle or the implementing factor for the second. The Universal Mind, as it works through all the planes of our conscious planetary life, is the creative agent and the form-building factor which makes the revelation of love possible.

Trong tất cả các mối liên hệ căn bản này, cái đứng thứ năm theo trật tự được định sẵn là khí cụ, vận cụ hay yếu tố thực thi cho cái thứ hai. Vũ Trụ Trí, khi hoạt động qua mọi cõi của đời sống hành tinh hữu thức của chúng ta, là tác nhân sáng tạo và yếu tố xây dựng hình tướng làm cho sự mặc khải của bác ái trở nên khả hữu.

Today in our Aryan age and race, we see the vital expression of this fifth ray energy. When I use the word “race” I deal not with man-made or pseudo-scientific differentiations of nations and races or types. I deal with a state of consciousness which is the Aryan or mental consciousness or state of thinking; this finds its exponents and [594] its “race members” in every nation, without any distinction or omissions. This I would have you carefully remember, for there is no new race in process of appearing, from the territorial angle; there is only a general distribution of those persons who have what have been called the sixth root race characteristics. This state of consciousness will find its expression in people as far apart racially as the Japanese and the American or the Negro and the Russian. It posits an ability to function with clarity upon the mental plane, to collate information, rightly to interpret and relate that information, and to create the needed thoughtforms or concepts for those interpretations.

Ngày nay trong thời đại và nhân loại Arya của chúng ta, chúng ta thấy sự biểu lộ sinh động của năng lượng cung năm này. Khi tôi dùng từ “nhân loại”, tôi không đề cập đến những phân biệt do con người tạo ra hay giả-khoa-học về các quốc gia và chủng tộc hay loại người. Tôi đề cập đến một trạng thái tâm thức là tâm thức Arya hay trí tuệ, hay trạng thái tư duy; trạng thái này tìm thấy những người biểu hiện của nó và [594] những “thành viên nhân loại” của nó trong mọi quốc gia, không có phân biệt hay loại trừ nào. Tôi muốn bạn ghi nhớ điều này cẩn thận, vì không có một nhân loại mới nào đang xuất hiện xét từ góc độ lãnh thổ; chỉ có một sự phân bố chung của những người có các đặc tính của giống dân gốc thứ sáu như đã được gọi. Trạng thái tâm thức này sẽ tìm thấy sự biểu lộ nơi những người khác biệt về chủng tộc xa nhau như người Nhật và người Mỹ hay người da đen và người Nga. Nó giả định một khả năng hoạt động minh bạch trên cõi trí, thu thập thông tin, diễn giải và liên hệ thông tin đó một cách đúng đắn, và tạo ra các hình tư tưởng hay khái niệm cần thiết cho những diễn giải ấy.

These thoughtforms fall into three major fields of thought or thoughtform areas of consciousness:

Các hình tư tưởng này rơi vào ba lĩnh vực tư tưởng chính hay ba vùng tâm thức hình tư tưởng:

1. Science. Under this word I include all that which the educational processes cover or are supposed to cover, and such a useful science as medicine.

1. Khoa học. Dưới từ này tôi bao gồm tất cả những gì mà các tiến trình giáo dục bao trùm hoặc được cho là phải bao trùm, và cả một khoa học hữu ích như y học.

2. Philosophy, with its presentation of great conditioning ideas.

2. Triết học, với sự trình bày các ý tưởng tác động lớn lao.

3. Psychology, with its effort to account for humanity and to discover what man is essentially and how he functions.

3. Tâm lý học, với nỗ lực giải thích nhân loại và khám phá con người về bản chất là gì và y vận hành như thế nào.

You will note that I have not included religion in this analysis. The reason for this is that IF the world religions were really controlled by concrete knowledge or science, they would not be the vague, speculative, mystical and glamour-controlled systems which they are at present. Some day the minds of men—illumined by the light of the soul—will formulate the One universal religion, recognisable by all. Then the Kingdom of God will be known for what it is, another kingdom in nature. Speculation, wishful thinking and hopeful aspiration will disappear. The science of occultism is the first step upon the way of true religion, and the scientific investigation of human psychology will greatly help toward this end.

Bạn sẽ lưu ý rằng tôi không đưa tôn giáo vào phân tích này. Lý do là nếu các tôn giáo thế giới thực sự được kiểm soát bởi tri thức cụ thể hay khoa học, thì chúng đã không phải là những hệ thống mơ hồ, suy đoán, thần bí và bị ảo cảm kiểm soát như hiện nay. Một ngày nào đó trí tuệ của con người—được soi sáng bởi ánh sáng của linh hồn—sẽ hình thành Tôn giáo phổ quát duy nhất, được mọi người công nhận. Khi đó Thiên Giới sẽ được biết đúng như nó là, một giới khác trong thiên nhiên. Sự suy đoán, tư duy ước vọng và khát vọng đầy hy vọng sẽ biến mất. Khoa học huyền bí học là bước đầu tiên trên con đường của tôn giáo chân chính, và sự khảo cứu khoa học về tâm lý học con người sẽ giúp ích rất nhiều cho mục tiêu này.

Today we find this ray energy expressing itself mainly through science—a science sadly debased and corrupted by materialism and human greed, but a science which (when [595] animated entirely by goodwill) will lift humanity on to higher levels of consciousness, thus laying the foundation for that time when humanity on a large scale can pass through the Transfiguration Initiation. Steps in this direction are already being laid and the existence of the press, the radio and the rapid means of transportation have done much to further the revelation of that unity and that Oneness which is the major characteristic of the Universal Mind.

Ngày nay chúng ta thấy năng lượng cung này biểu lộ chủ yếu qua khoa học—một khoa học đáng buồn là đã bị hạ thấp và làm băng hoại bởi chủ nghĩa duy vật và lòng tham của con người, nhưng là một khoa học mà (khi được thiện chí làm sinh động hoàn toàn) sẽ nâng nhân loại lên các cấp độ tâm thức cao hơn, nhờ đó đặt nền móng cho thời kỳ khi nhân loại trên quy mô lớn có thể đi qua Cuộc Điểm Đạo Biến Hình. Những bước đi theo hướng này đã được đặt nền, và sự hiện hữu của báo chí, radio và các phương tiện vận chuyển nhanh đã làm rất nhiều để thúc đẩy sự mặc khải về sự hợp nhất và tính duy nhất vốn là đặc tính chính của Vũ Trụ Trí.

These developments can be regarded as the initial steps of the initiatory process for the third initiation—far ahead as that initiation may lie for the mass of men. It is unification and a growing sense of oneness which is required in order to take this initiation, and it is the integrated personality which takes it. The major sin of Russia, and that which has prostituted and warped the initial divine impulse underlying the ideology of that country, is the determination she demonstrates at this time to be separative and to shut the Russian people away from world contact, using the implements of deception and the withholding of information. It is not the totalitarian nature of the Russian government which is the prime disaster; it is the refusal to develop the universal consciousness. Many governments today are totalitarian in nature, either openly or subtly, but—at the same time—their peoples have free access to press and radio and are not kept in ignorance of world events. Russia is drifting into a pronounced expression of the great heresy of separateness. There lies her problem—a problem which is refused recognition by her rulers.

Những phát triển này có thể được xem như các bước đầu của tiến trình điểm đạo cho lần điểm đạo thứ ba—dù lần điểm đạo đó còn ở rất xa đối với quần chúng loài người. Điều cần thiết để nhận lần điểm đạo này là sự hợp nhất và ý thức ngày càng tăng về tính duy nhất, và chính phàm ngã tích hợp là kẻ nhận nó. Tội lỗi lớn của nước Nga, và điều đã làm sa đọa và bóp méo xung lực thiêng liêng ban đầu nằm dưới ý thức hệ của quốc gia đó, là quyết tâm mà nước này đang biểu lộ vào lúc này muốn tách biệt và cô lập dân Nga khỏi sự tiếp xúc với thế giới, sử dụng các công cụ lừa dối và việc giữ lại thông tin. Không phải bản chất toàn trị của chính phủ Nga là tai họa chủ yếu; mà là sự từ chối phát triển tâm thức phổ quát. Nhiều chính phủ ngày nay có bản chất toàn trị, hoặc công khai hoặc tinh vi, nhưng đồng thời dân chúng của họ có quyền tiếp cận tự do với báo chí và radio và không bị giữ trong vô minh về các biến cố thế giới. Nước Nga đang trôi dần vào một biểu hiện rõ rệt của Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Chính ở đó có vấn đề của nước này—một vấn đề mà những người cai trị của họ từ chối nhìn nhận.

The existence of a closed mind on a national scale is dangerous in the extreme, just as the individual is in a dangerous “state of mind” when he closes it to world contact, world news and world understanding, and when he refuses to admit new ideas and new modes of behaviour. Fortunately, the influence of this fifth ray energy—which is always present, whether the ray is in incarnation or not—is steadily leading humanity towards illumination. [596]

Sự tồn tại của một trí tuệ khép kín trên quy mô quốc gia là cực kỳ nguy hiểm, cũng như cá nhân ở trong một “trạng thái trí tuệ” nguy hiểm khi y khép trí mình lại trước sự tiếp xúc với thế giới, tin tức thế giới và sự thấu hiểu thế giới, và khi y từ chối tiếp nhận các ý tưởng mới và các phương thức hành xử mới. May thay, ảnh hưởng của năng lượng cung năm này—vốn luôn hiện diện, dù cung có đang lâm phàm hay không—đang đều đặn dẫn dắt nhân loại tới sự soi sáng. [596]

This ray energy operates always in connection with the Law of Cleavages. Today, tremendous cleavages between the past and the present are in order. The importance of this statement is to be found in the fact that—for the first time in human history—humanity is aware of cleavage at the time it is being brought about. Hitherto cleavages have been noted during an historical retrospect. Today, all men everywhere are conscious of the fact that the old order, the old cultures and civilisations are rapidly passing away, and they are universally clamouring for the new. Everywhere men are laying the foundation for the new order, the coming of which is threatened only by one country, Russia, owing to its separativeness (and not because of its ideology), and by one world group in every country, those guilty of financial greed and consequent aggressiveness.

Năng lượng cung này luôn hoạt động liên hệ với Định luật Phân Ly. Ngày nay, những sự phân ly to lớn giữa quá khứ và hiện tại là điều cần thiết. Tầm quan trọng của phát biểu này nằm ở sự kiện rằng—lần đầu tiên trong lịch sử loài người—nhân loại nhận biết sự phân ly ngay vào lúc nó đang được tạo ra. Trước đây, các sự phân ly chỉ được ghi nhận trong sự hồi cố lịch sử. Ngày nay, mọi người ở khắp nơi đều ý thức được sự kiện rằng trật tự cũ, các nền văn hóa và văn minh cũ đang nhanh chóng qua đi, và họ đồng loạt kêu gọi cái mới. Ở khắp nơi con người đang đặt nền móng cho trật tự mới, mà sự xuất hiện của nó chỉ bị đe dọa bởi một quốc gia, nước Nga, do tính chia rẽ của nước này (chứ không phải vì ý thức hệ của nó), và bởi một nhóm thế giới trong mọi quốc gia, những kẻ phạm tội vì lòng tham tài chính và tính xâm lấn hệ quả.

Before humanity can pass through the Transfiguration Initiation the new world order must be functioning and the coming civilisation must be at its height. It is useless for me to consider with you this third initiation in connection with humanity as a whole, or its preparatory or subsequent initiatory process. All this lies too far ahead for even advanced humanity to consider; there are, however, senior disciples who are preparing for this initiation, just as there are a few who are passing through the initiatory process, prior to taking the fourth initiation.

Trước khi nhân loại có thể đi qua Cuộc Điểm Đạo Biến Hình, trật tự thế giới mới phải đang vận hành và nền văn minh sắp đến phải ở đỉnh cao của nó. Tôi bàn với bạn về lần điểm đạo thứ ba này liên hệ với toàn thể nhân loại, hay về tiến trình điểm đạo chuẩn bị hay tiếp theo của nó, là điều vô ích. Tất cả điều đó còn ở quá xa phía trước để ngay cả nhân loại tiến bộ cũng có thể xem xét; tuy nhiên, có những đệ tử cao cấp đang chuẩn bị cho lần điểm đạo này, cũng như có một số ít đang đi qua tiến trình điểm đạo trước khi nhận lần điểm đạo thứ tư.

The outstanding expression of this fifth ray energy can be seen in the rapid formulating of the many ideologies which have taken place since the year 1900. Such words as Fascism, Communism, National Socialism, Socialism as the British accept it, and the names of many schools of psychology and philosophy, were unknown one hundred years ago; today they are the common talk and phrases of the man in the street. The inflow of this mental energy into the world of men, the attainment in consciousness of mental ability by many thousands, and the achievement of mental polarisation by aspirants all the world over, are all due to the activity of this fifth ray energy; this may be [597] regarded as preparatory work for the first and the second initiations. Some of this success is due also to a little-realised function of this fifth ray energy—that of telepathic interplay. Few people realise in the slightest degree how naturally telepathic every human being is or how impressionable are their minds; this again is an effect of fifth ray influence.

Biểu hiện nổi bật của năng lượng cung năm này có thể được thấy trong việc hình thành nhanh chóng nhiều ý thức hệ đã diễn ra từ năm 1900. Những từ như Chủ nghĩa Phát xít, Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, Chủ nghĩa Xã hội như người Anh chấp nhận nó, và tên gọi của nhiều trường phái tâm lý học và triết học, đều chưa được biết đến cách đây một trăm năm; ngày nay chúng là những lời nói và cụm từ thông dụng của người bình thường ngoài phố. Dòng tuôn đổ của năng lượng trí tuệ này vào thế giới loài người, sự đạt được khả năng trí tuệ trong tâm thức của nhiều ngàn người, và việc đạt được sự phân cực trí tuệ của những người chí nguyện trên khắp thế giới, tất cả đều là do hoạt động của năng lượng cung năm này; điều này có thể được [597] xem như công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Một phần của thành công này cũng là do một chức năng ít được nhận ra của năng lượng cung năm này—đó là sự tương tác viễn cảm. Rất ít người nhận ra dù chỉ ở mức nhỏ nhất rằng mọi con người đều viễn cảm một cách tự nhiên đến thế nào hay trí tuệ của họ dễ tiếp nhận ấn tượng đến mức nào; đây lại là một tác động của ảnh hưởng cung năm.

The creation (and, I should add, the over-creation) of the millions of material things which men everywhere regard as essential to their well-being is also the result of the creative activity of the fifth ray consciousness. This is, of course, as it demonstrates upon the physical plane. When it demonstrates upon the mental plane, we then talk of ideas, concepts, philosophies and ideologies. When it demonstrates upon the astral plane, we are aware of the religious impulse, of mysticism and of the emotional and conditioning desires. All these aspects are present in the consciousness of men everywhere today. Everything is crystallising in human consciousness, and this takes place in order to make man aware of where he stands upon the ladder of evolution, and of what is wrong and what is right. All this again is due to the influence of fifth ray energy. This will begin to transform human living and human desires and also human affairs and attitudes, and will lead eventually (in the middle of the sixth root race) to the great Transfiguration Initiation in which the reality that lies behind all human phenomena will stand revealed.

Việc tạo ra (và tôi nên thêm là tạo ra quá mức) hàng triệu vật dụng vật chất mà con người ở khắp nơi xem là thiết yếu cho phúc lợi của mình cũng là kết quả của hoạt động sáng tạo của tâm thức cung năm. Dĩ nhiên, đây là khi nó biểu lộ trên cõi hồng trần. Khi nó biểu lộ trên cõi trí, khi ấy chúng ta nói đến các ý tưởng, khái niệm, triết học và ý thức hệ. Khi nó biểu lộ trên cõi cảm dục, chúng ta nhận biết xung lực tôn giáo, thần bí học và các dục vọng cảm xúc cùng tác động. Tất cả các phương diện này đều hiện diện trong tâm thức của con người ở khắp nơi ngày nay. Mọi thứ đang kết tinh trong tâm thức nhân loại, và điều này diễn ra để làm cho con người nhận biết mình đang đứng ở đâu trên chiếc thang tiến hoá, và điều gì là sai, điều gì là đúng. Tất cả điều này một lần nữa là do ảnh hưởng của năng lượng cung năm. Điều này sẽ bắt đầu chuyển đổi đời sống con người và các dục vọng của con người, cũng như các công việc và thái độ của con người, và cuối cùng sẽ dẫn đến (vào giữa giống dân gốc thứ sáu) Cuộc Điểm Đạo Biến Hình vĩ đại, trong đó thực tại nằm sau mọi hiện tượng nhân loại sẽ được mặc khải.

Let us now consider the effect of this ray energy upon the life of the individual, as he faces the third initiation. This third initiation is, as earlier said, the first initiation, from the angle of the Hierarchy; it is the one in which the spiritual man demonstrates his complete control of the personality. The physical body has been controlled through the medium of the physical disciplines; the emotional nature has been reorganised and made receptive to spiritual impression coming from the plane of pure reason (the buddhic plane) through the transforming processes of the mind or the fifth principle. In this connection, the mind has acted as an organiser of astral reaction and as a dispeller [598] of glamour. The disciple is now focussed in his everyday consciousness upon the mental plane, and the triangular relation of the three aspects of the mind upon this plane is now dominant. In the next initiation, the Renunciation, this relationship becomes a dual one instead of a triangular one, through the destruction of the soul vehicle which is no longer needed. Soul fusion with the personality is now completed.

Bây giờ chúng ta hãy xét đến tác động của năng lượng cung này lên đời sống của cá nhân, khi y đối diện với lần điểm đạo thứ ba. Lần điểm đạo thứ ba này, như đã nói trước đây, là lần điểm đạo thứ nhất, xét từ góc độ của Thánh đoàn; đó là lần điểm đạo trong đó con người tinh thần chứng tỏ sự kiểm soát hoàn toàn của mình đối với phàm ngã. Thể xác đã được kiểm soát qua trung gian của các kỷ luật hồng trần; bản chất cảm xúc đã được tái tổ chức và trở nên tiếp nhận ấn tượng tinh thần đến từ cõi của lý trí thuần túy (cõi Bồ đề) qua các tiến trình chuyển hoá của trí tuệ hay nguyên khí thứ năm. Trong mối liên hệ này, trí tuệ đã hoạt động như một tác nhân tổ chức phản ứng cảm dục và như một tác nhân làm tiêu tan [598] ảo cảm. Giờ đây đệ tử được tập trung trong tâm thức hằng ngày của mình trên cõi trí, và mối liên hệ tam giác của ba phương diện của trí tuệ trên cõi này hiện đang chi phối. Trong lần điểm đạo kế tiếp, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, mối liên hệ này trở thành nhị nguyên thay vì tam giác, do sự hủy diệt của vận cụ linh hồn vốn không còn cần thiết nữa. Sự dung hợp của linh hồn với phàm ngã nay đã hoàn tất.

During the initiatory process preceding the third initiation, the mind works in a new manner. Its transmuting work with the physical body has been accomplished; its transforming work with the emotional nature has been successful, and now its transfiguring work with the personality as a whole is carried forward, making the initiation of the Transfiguration possible. It is of value to the student to consider these three activities of the mind. The transmuting agent in the first case is the lower or concrete mind; the transforming agent is the soul, whilst the transfiguring agent is the Spiritual Triad, working through the higher or abstract mind. You will here note the wonderful synthesis of the spiritual work. When this work is concluded, you have the initiation of the third degree made possible. This produces impelling and new contacts. It should here be remembered that when I use the word “new” I mean that which is new in consciousness, for the basic synthesis and fundamental relationship always exists in factual recognition, but is only progressively realised by the evolving spiritual man.

Trong tiến trình điểm đạo dẫn đến lần điểm đạo thứ ba, trí tuệ hoạt động theo một cách mới. Công việc chuyển hoá của nó đối với thể xác đã được hoàn thành; công việc chuyển đổi của nó đối với bản chất cảm xúc đã thành công, và giờ đây công việc biến hình của nó đối với toàn thể phàm ngã đang được tiếp tục, làm cho lần điểm đạo Biến hình trở nên khả hữu. Việc đạo sinh suy xét ba hoạt động này của trí tuệ là điều có giá trị. Tác nhân chuyển hoá trong trường hợp thứ nhất là hạ trí hay trí cụ thể; tác nhân chuyển đổi là linh hồn, trong khi tác nhân biến hình là Tam Nguyên Tinh Thần, hoạt động qua thượng trí hay trí trừu tượng. Ở đây bạn sẽ lưu ý đến sự tổng hợp kỳ diệu của công việc tinh thần. Khi công việc này kết thúc, lần điểm đạo bậc ba trở nên khả hữu. Điều này tạo ra những tiếp xúc mới và có tính thúc đẩy. Ở đây cần nhớ rằng khi tôi dùng từ “mới”, tôi muốn nói đến điều mới trong tâm thức, vì sự tổng hợp căn bản và mối liên hệ nền tảng luôn luôn tồn tại trong sự nhận biết thực tại, nhưng chỉ được con người tinh thần đang tiến hoá chứng nghiệm dần dần.

It is well nigh impossible to differentiate the results of fifth ray energy in the various aspects of the personality, for the reason that the initiate is now functioning as a soul-infused personality, and therefore the three aspects of that personality are nothing more or less than agents of the soul, and thus are progressively responsive to the inflow of triadal energy. It might therefore be said that, as a result of the Transfiguration Initiation—the culminating point of strictly human unfoldment—the three types of energy which are expressed through the Spiritual Triad [599] man begin—only begin—to flow through the reflection of itself in the three worlds. Let me state this as follows:

Hầu như không thể phân biệt các kết quả của năng lượng cung năm trong các phương diện khác nhau của phàm ngã, vì điểm đạo đồ hiện nay đang hoạt động như một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, và do đó ba phương diện của phàm ngã ấy không hơn không kém gì những tác nhân của linh hồn, và vì vậy ngày càng đáp ứng với dòng tuôn đổ của năng lượng tam nguyên. Do đó có thể nói rằng, như là kết quả của Cuộc Điểm Đạo Biến hình—điểm cao nhất của sự khai mở thuần túy nhân loại—ba loại năng lượng được biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần [599] của con người bắt đầu—chỉ mới bắt đầu—tuôn chảy qua sự phản chiếu của chính nó trong ba cõi thấp. Tôi xin trình bày điều này như sau:

1. The directing energy of the higher mind is—as a result of the Transfiguration Initiation and via the antahkarana—thrown into the brain; therefore the man upon the physical plane is guided, directed and controlled by group purpose and by the hierarchical plan.

1. Năng lượng chỉ đạo của thượng trí—như là kết quả của Cuộc Điểm Đạo Biến hình và qua antahkarana—được phóng vào bộ não; do đó con người trên cõi hồng trần được hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm soát bởi mục đích nhóm và bởi Thiên Cơ của Thánh đoàn.

2. The illuminating energy of pure reason, emanating from the buddhic plane, pours down into the clarified and organised body of sensitive response which is all that remains of what has been called the astral body. This produces complete freedom from glamour and the creation of “a limpid pool of such reasonable response to the love of divine relationship” that the initiate becomes a sensitive revealer of that love.

2. Năng lượng soi sáng của lý trí thuần túy, phát ra từ cõi Bồ đề, tuôn xuống thể đáp ứng nhạy cảm đã được làm trong sáng và tổ chức, là tất cả những gì còn lại của cái từng được gọi là thể cảm dục. Điều này tạo ra sự giải thoát hoàn toàn khỏi ảo cảm và sự tạo thành “một hồ nước trong vắt với sự đáp ứng hợp lý như thế đối với tình thương của mối liên hệ thiêng liêng” đến nỗi điểm đạo đồ trở thành một đấng mặc khải nhạy bén của tình thương ấy.

3. The dynamic energy from the atmic plane (the highest aspect of the Spiritual Triad) pours into the mind and begins slowly to reveal the will-to-good, which is essentially the will of God.

3. Năng lượng năng động từ cõi atma (phương diện cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần) tuôn vào trí tuệ và bắt đầu chậm rãi mặc khải Ý Chí-hướng Thiện, vốn về bản chất là Ý Chí của Thượng Đế.

Behind these three differentiations which are all of them expressions or aspects of the divine or the universal mind, the initiate dimly senses or becomes consciously aware of what has been called the Monad or Spirit or Life. This is subtly revealed in the Transfiguration Initiation of the Master Jesus Who re-enacted all the five human initiations for the benefit of humanity. In this dramatic picturing of the third initiation, the three disciples (or the three vehicles of the personality) prostrate themselves upon the ground and the Master Himself (the glorified personality) is transfigured before them. At this climaxing point they hear that which is called “the voice of the Father” speaking to the transfigured Jesus.

Đằng sau ba sự phân biệt này, vốn tất cả đều là những biểu hiện hay phương diện của trí tuệ thiêng liêng hay Trí Tuệ Vũ Trụ, điểm đạo đồ mơ hồ cảm nhận hoặc trở nên hữu thức về điều đã được gọi là Chân thần hay Tinh thần hay Sự sống. Điều này được mặc khải một cách vi tế trong Cuộc Điểm Đạo Biến hình của Đức Jesus, Đấng đã tái hiện cả năm lần điểm đạo nhân loại vì lợi ích của nhân loại. Trong sự mô tả đầy kịch tính này về lần điểm đạo thứ ba, ba đệ tử (hay ba vận cụ của phàm ngã) phủ phục xuống đất và chính Chân sư (phàm ngã được vinh quang hóa) được biến hình trước mặt họ. Ở điểm cao trào này họ nghe điều được gọi là “tiếng nói của Đức Cha” phán với Đức Jesus đã được biến hình.

The personality is now possessed of knowledge, for fifth ray energy has done its needed work; the disciple is also aware that he is in possession of the wisdom which enables him to use knowledge in the furtherance of the Plan, and therefore to work as an illuminating factor in the world of men. He knows clearly what has been accomplished [600] and senses something of what lies ahead. The great principle of cleavage (which the fifth ray governs) is the dominating factor in his time sense; he now differentiates sharply between past and present and that which has to be ascertained in the future. Cleavage, in the sense of separateness, is finished for him and he now feels and knows something of the essential unity of all manifested life; therefore, from the angle of space, he has dominated and overcome cleavage and division; in the sense of time he has not. The great heresy of separateness no longer exists in his consciousness; the consciousness of the initiatory process is not yet over, however for that involves the recognition of time.

Phàm ngã giờ đây sở hữu tri thức, vì năng lượng cung năm đã hoàn thành công việc cần thiết của nó; đệ tử cũng ý thức rằng mình đang sở hữu minh triết, điều giúp y sử dụng tri thức để thúc đẩy Thiên Cơ, và do đó hoạt động như một nhân tố soi sáng trong thế giới loài người. Y biết rõ điều gì đã được hoàn thành [600] và cảm nhận phần nào điều nằm phía trước. Đại nguyên lý của sự phân ly (mà cung năm chi phối) là yếu tố thống trị trong cảm thức thời gian của y; giờ đây y phân biệt rõ rệt giữa quá khứ và hiện tại và điều phải được xác định trong tương lai. Sự phân ly, theo nghĩa tách biệt, đã chấm dứt đối với y và giờ đây y cảm nhận và biết được phần nào sự hợp nhất cốt yếu của mọi sự sống biểu hiện; do đó, xét từ góc độ không gian, y đã chế ngự và vượt qua sự phân ly và chia rẽ; nhưng xét theo nghĩa thời gian thì chưa. Đại Tà thuyết về sự tách biệt không còn tồn tại trong tâm thức của y nữa; tuy nhiên, tâm thức về tiến trình điểm đạo vẫn chưa chấm dứt, vì điều đó bao hàm sự nhận biết thời gian.

During the initiatory process between the second and the third initiations, the initiate has to battle with illusion in exactly the same sense as he earlier had to battle with glamour. Illusion is, in the last analysis, the control of the mental processes by great and massive thoughtforms; this conflict persists from the moment that the disciple has achieved mental polarisation (at a midway point between the second and the third initiations) until he stands before the Initiator at the sixth Initiation of Decision, when the last illusion disappears. You will feel and comment that the Masters are therefore subject to illusion. This They definitely are, and there are great and basic illusions governing life within the Hierarchy. Nevertheless, they are illusions of such a high order that—for advanced humanity—they would signify achievement. I may not give you more than one instance of such illusion, but that should prove clear and sufficient. It is not until the sixth Initiation of Decision that the illusion of the planetary ring-pass-not finally disappears. The Master then knows that such a limitation is non-existent. For Him, the choice between the seven Paths becomes possible. This basic illusion constitutes for mankind a great hierarchical mystery and is based upon the Principle of Privation, by means of which the planetary Logos chooses to circumscribe His freedom and to limit His activities. [601]

Trong tiến trình điểm đạo giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ phải chiến đấu với ảo tưởng đúng theo cùng ý nghĩa như trước đây y đã phải chiến đấu với ảo cảm. Ảo tưởng, xét đến cùng, là sự kiểm soát các tiến trình trí tuệ bởi những hình tư tưởng lớn lao và đồ sộ; cuộc xung đột này kéo dài từ lúc đệ tử đạt được sự phân cực trí tuệ (ở một Điểm ở giữa giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba) cho đến khi y đứng trước Đấng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ sáu của Quyết Định, khi ảo tưởng cuối cùng biến mất. Bạn sẽ cảm thấy và nhận xét rằng như vậy các Chân sư cũng chịu ảo tưởng chi phối. Điều này quả thật đúng, và có những ảo tưởng lớn lao và căn bản chi phối đời sống bên trong Thánh đoàn. Tuy nhiên, đó là những ảo tưởng ở một cấp độ cao đến mức—đối với nhân loại tiến bộ—chúng sẽ biểu thị thành tựu. Tôi không thể cho bạn hơn một ví dụ về loại ảo tưởng ấy, nhưng như thế hẳn là đủ rõ và đầy đủ. Chỉ đến lần điểm đạo thứ sáu của Quyết Định thì ảo tưởng về vòng-giới-hạn hành tinh mới hoàn toàn biến mất. Khi ấy Chân sư biết rằng một giới hạn như thế không hề tồn tại. Đối với Ngài, sự lựa chọn giữa bảy Con Đường trở nên khả hữu. Ảo tưởng căn bản này tạo thành một huyền nhiệm lớn của Thánh đoàn đối với nhân loại và dựa trên Nguyên khí Tước Đoạt, nhờ đó Hành Tinh Thượng đế chọn tự giới hạn sự tự do của Ngài và hạn chế các hoạt động của Ngài. [601]

This curious freedom from successive limitations is experienced at the third, the sixth and the ninth initiations; these are, all three of them, related in a mysterious manner to each other. Transfiguration leads eventually to Decision, which culminates in due time with a final refusal to accept any planetary limitations whatsoever.

Sự giải thoát kỳ lạ này khỏi những giới hạn kế tiếp nhau được kinh nghiệm ở lần điểm đạo thứ ba, thứ sáu và thứ chín; cả ba lần này đều liên hệ với nhau theo một cách huyền nhiệm. Biến hình cuối cùng dẫn đến Quyết Định, và đến đúng thời điểm sẽ lên đến tột đỉnh bằng một sự từ chối sau cùng không chấp nhận bất kỳ giới hạn hành tinh nào nữa.

It will be obvious to you that the higher the initiation, the less will any involved energy have a personality control or connection. Progressive and recognised fusions have taken place as one initiation after another is undergone; the effect of the energy involved will be noted in relation to humanity as a whole, to the work of the Ashram within the Hierarchy and to the planetary life. This must ever be borne in mind and must necessarily limit the scope of the teaching which I am able to give you.

Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng điểm đạo càng cao thì bất kỳ năng lượng liên hệ nào càng ít có sự kiểm soát hay liên hệ với phàm ngã. Những sự dung hợp tiến bộ và được nhận biết đã diễn ra khi lần điểm đạo này tiếp nối lần điểm đạo khác; tác động của năng lượng liên hệ sẽ được lưu ý trong mối liên hệ với toàn thể nhân loại, với công việc của ashram bên trong Thánh đoàn và với sự sống hành tinh. Điều này phải luôn luôn được ghi nhớ và tất yếu phải giới hạn phạm vi giáo huấn mà tôi có thể truyền đạt cho bạn.

Let me now summarise the effects of this fifth ray energy in relation to humanity and to the individual initiate:

Bây giờ tôi xin tóm lược các tác động của năng lượng cung năm này trong mối liên hệ với nhân loại và với điểm đạo đồ cá nhân:

1. I gave, first of all, fifteen items of information anent this fifth ray energy, or fifteen definitions of its activity. These will warrant careful study.

1. Trước hết, tôi đã đưa ra mười lăm mục thông tin liên quan đến năng lượng cung năm này, hay mười lăm định nghĩa về hoạt động của nó. Những điều này đáng được nghiên cứu cẩn thận.

2. The effect of this fifth ray energy upon humanity in this fifth root race was considered; it was noted that this Aryan effect was dominant and dynamic in the extreme and that it has greatly hastened human evolution.

2. Tác động của năng lượng cung năm này lên nhân loại trong giống dân gốc thứ năm này đã được xem xét; đã lưu ý rằng tác động Arya này cực kỳ chi phối và năng động, và đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tiến hoá của nhân loại.

3. I pointed out the close relation between love and mind, as follows:

3. Tôi đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa bác ái và trí tuệ, như sau:

a. Ray II and Ray V

a. Cung hai và cung năm

b. Plane II and plane V

b. Cõi II và cõi V

c. Solar system II and root race V

c. Hệ mặt trời II và giống dân gốc V

In all of these relationships, the fifth in order is the prime agent and the revealer of the second type of spiritual energy

Trong tất cả các mối liên hệ này, yếu tố thứ năm theo thứ tự là tác nhân chủ yếu và là đấng mặc khải loại năng lượng tinh thần thứ hai

4. The fifth ray energy produces three major areas of thought, or three prime conditions wherein the thought-form-making energy expresses itself:

4. Năng lượng cung năm này tạo ra ba lĩnh vực tư tưởng chính, hay ba điều kiện chủ yếu trong đó năng lượng tạo hình tư tưởng biểu lộ:

a. Science… education… medicine

a. Khoa học… giáo dục… y học

b. Philosophy… ideas… ideals

b. Triết học… ý tưởng… lý tưởng

c. Psychology… in process of modern development

c. Tâm lý học… đang trong tiến trình phát triển hiện đại

[602]

[602]

5. This fifth ray energy operates in connection with the Law of Cleavages.

5. Năng lượng cung năm này hoạt động liên hệ với Định luật của các Sự Phân Ly.

6. It is also responsible for the rapid formation of great conditioning ideologies.

6. Nó cũng chịu trách nhiệm cho sự hình thành nhanh chóng của các hệ tư tưởng lớn có tính định hình.

7. This fifth ray energy is the important factor in making possible the first major initiation, the Transfiguration Initiation.

7. Năng lượng cung năm này là yếu tố quan trọng làm cho lần điểm đạo lớn đầu tiên, Cuộc Điểm Đạo Biến hình, trở nên khả hữu.

8. Fifth ray energy works in three ways in connection with the three aspects of the personality:

8. Năng lượng cung năm hoạt động theo ba cách liên hệ với ba phương diện của phàm ngã:

a. As the transmuting agent… the physical body

a. Như tác nhân chuyển hoá… thể xác

b. As the transforming agent… the astral body

b. Như tác nhân chuyển đổi… thể cảm dục

c. As the transfiguring agent… the mental body

c. Như tác nhân biến hình… thể trí

This gives you much food for thought; it indicates the personality goal and the mode whereby it is attained. After the third initiation, we reach out in consciousness to higher expansions of consciousness and will then enter a realm of ideas which are not yet easy for the disciple to appreciate or to understand. Much that I will have to say anent ray energy and the higher initiations will mean little to many, but it will mean much to the initiate-consciousness. The world initiates will be coming into incarnation at this time, and will read my words towards the end of this century with great understanding.—

Điều này cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm; nó chỉ ra mục tiêu của phàm ngã và phương thức nhờ đó mục tiêu ấy được đạt đến. Sau lần điểm đạo thứ ba, chúng ta vươn ra trong tâm thức đến những sự mở rộng tâm thức cao hơn và khi ấy sẽ bước vào một lĩnh vực ý tưởng mà hiện nay đệ tử chưa dễ đánh giá hay thấu hiểu. Nhiều điều tôi sẽ phải nói liên quan đến năng lượng cung và các lần điểm đạo cao hơn sẽ có ít ý nghĩa đối với nhiều người, nhưng sẽ có nhiều ý nghĩa đối với tâm thức điểm đạo đồ. Các điểm đạo đồ của thế gian sẽ đang lâm phàm vào lúc này, và sẽ đọc lời tôi vào cuối thế kỷ này với sự thấu hiểu sâu sắc.—

Initiation IV. The Renunciation. Ray IV. — Điểm đạo IV. Sự Từ Bỏ. Cung IV.

The Energy of Harmony through Conflict.

Năng lượng của Hài Hòa qua Xung Đột.

Our study today is of profound interest and has a great bearing on the present world situation. I would like to make clear two important facts:

Bài nghiên cứu của chúng ta hôm nay có mối quan tâm sâu sắc và có liên hệ lớn đến tình hình thế giới hiện nay. Tôi muốn làm rõ hai sự kiện quan trọng:

1. The fact that the world war (1914-1945) was quite unavoidable, though the conflict might have been retained upon mental levels, had humanity decided rightly.

1. Sự kiện rằng chiến tranh thế giới (1914-1945) hoàn toàn không thể tránh khỏi, mặc dù xung đột có thể đã được giữ lại trên các cấp độ trí tuệ, nếu nhân loại đã quyết định đúng đắn.

2. The fact of the inevitability of the return of the Christ in this era and in the relatively immediate future. We are here dealing with immutable law, for the energies of the various rays move under law; humanity can therefore do naught but accept, determining only what I might [603] call the locale, or the sphere of activity, of both these major events. The determination of mankind to fight out the issues involved in the world war upon the physical plane, at the same time automatically determined the sphere of Christ’s activity—as I shall attempt to show you. In many ways, this particular instruction is one of the most important I have yet given because of its essential and obvious implications. We will therefore study the fourth initiation and its relation to the fourth Ray of Harmony through Conflict.

2. Sự kiện về tính tất yếu của sự trở lại của Đức Christ trong kỷ nguyên này và trong tương lai tương đối gần. Ở đây chúng ta đang đề cập đến định luật bất biến, vì các năng lượng của những cung khác nhau vận động dưới định luật; do đó nhân loại không thể làm gì khác ngoài chấp nhận, chỉ quyết định điều mà tôi có thể [603] gọi là địa điểm, hay phạm vi hoạt động, của cả hai biến cố lớn này. Việc nhân loại quyết tâm giải quyết các vấn đề liên hệ trong chiến tranh thế giới trên cõi hồng trần, đồng thời tự động quyết định phạm vi hoạt động của Đức Christ—như tôi sẽ cố gắng chỉ ra cho bạn. Theo nhiều phương diện, huấn thị đặc biệt này là một trong những huấn thị quan trọng nhất mà tôi từng đưa ra vì những hàm ý cốt yếu và hiển nhiên của nó. Do đó chúng ta sẽ nghiên cứu lần điểm đạo thứ tư và mối liên hệ của nó với cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột.

This fourth ray, as you have several times been told, is out of incarnation, as far as the reincarnating egos or souls of men are concerned. From another angle, however, it is always active and ever present, because it is the ray which governs the fourth kingdom in nature, the human kingdom in the three worlds of strictly human evolution.

Cung bốn này, như bạn đã nhiều lần được bảo, hiện không lâm phàm, xét theo các chân ngã hay linh hồn của loài người đang tái sinh. Tuy nhiên, từ một góc độ khác, nó luôn luôn hoạt động và luôn hiện diện, vì đó là cung chi phối giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại trong ba cõi thấp của sự tiến hoá thuần túy nhân loại.

It is the dominant energy, always exerting pressure upon the fourth kingdom; this pressure began to exert itself primarily towards the end of the fourth human race, the Atlantean race of men; at that time men began to give evidence of a growing sense of responsibility, and therefore of the power to demonstrate discriminative choice. This led to the great war in the fourth race which culminated in the Flood, to which all parts of the world testify and to which the majority of the world Scriptures bear evidence. In that era, in which the then known world of men was extensively involved, the Black and the White Lodges of adepts were also implicated, and the first major fight between the demonstrators of evil and the Forces of Light took place; it was inconclusive, with the evidence for defeat to be found on the side of the good more than on the side of evil. Under the symbolism of the Flood, it is apparent to students that the fight was focussed primarily upon the astral plane, though fought out historically upon the physical plane; it resulted in the destruction of the world by water, as it might be symbolically expressed.

Đó là năng lượng chi phối, luôn luôn gây áp lực lên giới thứ tư; áp lực này bắt đầu tự biểu lộ chủ yếu vào cuối nhân loại thứ tư, nhân loại Atlantis; vào thời điểm đó con người bắt đầu cho thấy bằng chứng về một ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng, và do đó về năng lực biểu lộ sự lựa chọn có phân biện. Điều này dẫn đến cuộc chiến lớn trong nhân loại thứ tư, lên đến tột đỉnh trong Đại Hồng Thủy, điều mà mọi nơi trên thế giới đều làm chứng và phần lớn các Kinh điển thế giới đều xác nhận. Trong kỷ nguyên ấy, khi thế giới loài người được biết đến lúc bấy giờ bị cuốn vào trên diện rộng, Hắc đoàn và Thánh đoàn của các chân sư cũng bị liên lụy, và cuộc chiến lớn đầu tiên giữa những kẻ biểu lộ điều ác và các Lực lượng Ánh sáng đã diễn ra; nó không ngã ngũ, với bằng chứng thất bại được tìm thấy ở phía thiện nhiều hơn phía ác. Dưới biểu tượng của Đại Hồng Thủy, đối với các đạo sinh, rõ ràng là cuộc chiến chủ yếu tập trung trên cõi cảm dục, dù về mặt lịch sử được chiến đấu trên cõi hồng trần; kết quả là sự hủy diệt thế giới bởi nước, nếu có thể diễn tả một cách biểu tượng như vậy.

In the climaxing war of the immediate past, the mental plane was the focus of the amalgamated forces, for [604] the war was in reality a clash of ideologies and has been far more the result of man’s thinking than of man’s emotional desires. It therefore automatically involved the three levels of human activity and was fought out upon the physical plane, although it was impulsed from the mental plane. The symbol of fire was this time involved, instead of water, and this fire led to the destruction of men and of cities by fire (literally, “fire from heaven”), by the evocation of the fiery emotions so prevalent in the councils of men at this time, and by the drought of the year 1947 which burnt up the terrain in Europe and in Great Britain, being—curiously enough—preceded by the floods and waters of the earlier spring, thus evidencing the repetition of cycles; this repetition is distinctive of natural process, leaving each stage of man’s evolution depicted, but producing a climaxing point which is indicative of the past and of the present, but leaving (as is the case today) the future locked in the determinative processes of man’s thinking and planning. As man thinks and decides “in his heart,” so will the future of humanity prove to be, for it is the same process for mankind as a whole as it is for the individual.

Trong cuộc chiến cao trào của quá khứ gần đây, cõi trí là tiêu điểm của các lực lượng hợp nhất, vì [604] chiến tranh thực ra là một sự va chạm của các hệ tư tưởng và là kết quả của tư tưởng con người nhiều hơn là của các ham muốn cảm xúc của con người. Do đó nó tự động bao gồm ba cấp độ hoạt động của con người và được chiến đấu trên cõi hồng trần, mặc dù được thúc đẩy từ cõi trí. Lần này biểu tượng của lửa được bao hàm thay vì nước, và lửa này đã dẫn đến sự hủy diệt con người và các thành phố bằng lửa (theo nghĩa đen là “lửa từ trời”), bằng sự gợi lên những cảm xúc bốc lửa rất phổ biến trong các hội đồng của loài người vào lúc này, và bằng cơn hạn hán năm 1947 đã thiêu cháy địa hình ở châu Âu và tại Anh quốc, điều này—một cách kỳ lạ—lại được đi trước bởi các trận lụt và nước của đầu mùa xuân trước đó, do vậy cho thấy sự lặp lại của các chu kỳ; sự lặp lại này là đặc trưng của tiến trình tự nhiên, để lại mỗi giai đoạn tiến hoá của con người được mô tả, nhưng tạo ra một điểm cao trào biểu thị quá khứ và hiện tại, song để lại (như trường hợp ngày nay) tương lai bị khóa trong các tiến trình quyết định của tư tưởng và hoạch định của con người. Con người suy nghĩ và quyết định “trong tim mình” thế nào, thì tương lai của nhân loại sẽ chứng tỏ như thế ấy, vì đối với toàn thể nhân loại cũng là cùng một tiến trình như đối với cá nhân.

I would like to cover this theme by dividing my subject into the following parts:

Tôi muốn trình bày chủ đề này bằng cách chia đề tài của mình thành các phần sau:

1. The particular type of energy involved and its initiatory effect. This concerns the Principle of Conflict as contained in the activity of this fourth ray.

1. Loại năng lượng đặc thù liên hệ và tác động điểm đạo của nó. Điều này liên quan đến Nguyên khí Xung Đột như được chứa đựng trong hoạt động của cung bốn này.

2. The effect upon humanity as a whole. The “Renunciation Initiation” is an expression of the result of the activity of this Principle.

2. Tác động lên toàn thể nhân loại. “Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ” là một biểu hiện của kết quả hoạt động của Nguyên khí này.

3. The factor of the second Ray of Love-Wisdom as it basically controls Ray IV and implements the return of the Christ, because the potency of the heart centre is involved.

3. Yếu tố của cung hai Bác Ái – Minh Triết khi nó kiểm soát căn bản cung IV và thực hiện sự trở lại của Đức Christ, vì năng lực của trung tâm tim có liên hệ.

4. The effect of this Ray IV in the modern world of nations and of fundamental organisations.

4. Tác động của cung IV này trong thế giới hiện đại của các quốc gia và các tổ chức nền tảng.

5. The result of this fourth ray activity upon the individual disciple: [605]

5. Kết quả của hoạt động cung bốn này lên đệ tử cá nhân: [605]

a. In the three aspects of his nature, physical, emotional and mental.

a. Trong ba phương diện của bản chất y, hồng trần, cảm xúc và trí tuệ.

b. Upon the soul-infused personality.

b. Lên phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

6. Summation of the whole theme and a forecast of future possibilities.

6. Tổng kết toàn bộ chủ đề và một dự báo về những khả năng tương lai.

I shall attempt to deal with this as concisely as possible, and will keep the handling of this subject exceedingly brief, or as brief as its historical importance will permit and its definitive angle will allow. The whole of human history has been conditioned by the fourth Ray of Harmony through Conflict, and it is this ray which has determined the ring-pass-not within which humanity must work.

Tôi sẽ cố gắng đề cập đến điều này một cách ngắn gọn nhất có thể, và sẽ giữ cách xử lý chủ đề này cực kỳ vắn tắt, hay ngắn gọn trong mức mà tầm quan trọng lịch sử của nó cho phép và góc độ xác định của nó chấp nhận. Toàn bộ lịch sử nhân loại đã bị cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột tác động định hình, và chính cung này đã xác định vòng-giới-hạn trong đó nhân loại phải hoạt động.

At this time, the effect of this ray is predominantly of a group nature, and there are—except in the ranks of disciples of the Great White Lodge—no fourth ray souls in incarnation. Once humanity has decided upon the goal and the method of reconstruction and of reorganisation which is to take place within the periphery of the fourth ray ring-pass-not, then (if humanity’s decision is correct and is not postponed) many fourth ray souls will resume incarnation, and so implement human decision. This will mark a great turning point in human history and will enable seventh ray energy to be turned to the best advantage.

Hiện nay, tác động của cung này chủ yếu có tính nhóm, và—ngoại trừ trong hàng ngũ các đệ tử của Thánh đoàn—không có linh hồn cung bốn nào đang lâm phàm. Một khi nhân loại đã quyết định về mục tiêu và phương pháp tái thiết và tái tổ chức sẽ diễn ra trong chu vi của vòng-giới-hạn cung bốn, thì (nếu quyết định của nhân loại là đúng và không bị trì hoãn) nhiều linh hồn cung bốn sẽ lại lâm phàm, và như thế thực hiện quyết định của nhân loại. Điều này sẽ đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân loại và sẽ làm cho năng lượng cung bảy có thể được sử dụng với lợi thế tốt nhất.

The Particular Type of Energy involved and its Initiatory Effect

Loại Năng Lượng Đặc Thù Liên Hệ và Tác Động Điểm Đạo của Nó

Here we are confronted with a basic problem, i.e., the nature of the Principle of Conflict which is the outstanding characteristic of this fourth Ray of Harmony through Conflict. This is by no means an easy subject to handle or to make clear, for the correctness of conflict, its naturally separative and eliminative effect and its power to condition not only Humanity but also the Hierarchy, will have to be considered. When we study the fourth initiation, that of the Renunciation, the effects of its activity will emerge more clearly.

Ở đây chúng ta đối diện với một vấn đề căn bản, tức là bản chất của Nguyên khí Xung Đột, vốn là đặc tính nổi bật của cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột này. Đây hoàn toàn không phải là một chủ đề dễ xử lý hay dễ làm sáng tỏ, vì tính đúng đắn của xung đột, tác động tự nhiên có tính tách biệt và loại trừ của nó, và năng lực của nó trong việc tác động định hình không chỉ Nhân loại mà cả Thánh đoàn, sẽ phải được xem xét. Khi chúng ta nghiên cứu lần điểm đạo thứ tư, lần điểm đạo của Sự Từ Bỏ, các tác động của hoạt động của nó sẽ hiện ra rõ ràng hơn.

Fundamentally, this fourth ray is that which is responsible [606] for the strains and the stresses, and for the initial conflict between the major pair of opposites to which we give the name of spirit-matter. It is this fourth ray energy which makes apparent the distinction (so often misunderstood by man) between good and evil. In Atlantean days, the leaders of men, under the influence of this paramount fourth ray energy, made a decision which laid the emphasis upon the matter aspect, according to their desire and their emotional reaction, which is present in the essential duality of manifestation, and thus inaugurated the Age of Materialism. This age has wrought itself out through its accompanying greeds, hate, separativeness and aggression. During the present century, this materialism led to the world war which was in reality the expression of a shifting orientation, and therefore to a certain extent, of a coming triumph of Good.

Về căn bản, cung bốn này là cung chịu trách nhiệm [606] cho những căng thẳng và áp lực, và cho cuộc xung đột ban đầu giữa cặp đối cực lớn mà chúng ta gọi là tinh thần-vật chất. Chính năng lượng cung bốn này làm hiển lộ sự phân biệt (thường bị con người hiểu sai) giữa thiện và ác. Trong thời Atlantis, các nhà lãnh đạo loài người, dưới ảnh hưởng của năng lượng cung bốn tối thượng này, đã đưa ra một quyết định đặt trọng tâm vào phương diện vật chất, theo dục vọng và phản ứng cảm xúc của họ, vốn hiện diện trong tính nhị nguyên cốt yếu của biểu hiện, và như thế khai mở Kỷ Nguyên Duy Vật. Kỷ nguyên này đã tự triển khai qua những lòng tham, hận thù, tính tách biệt và sự xâm lược đi kèm. Trong thế kỷ hiện tại, chủ nghĩa duy vật này đã dẫn đến chiến tranh thế giới, vốn thực ra là biểu hiện của một sự chuyển đổi định hướng, và do đó ở một mức độ nào đó, là của một chiến thắng sắp đến của Điều Thiện.

The balance is slowly, very slowly, swinging over to the side of the spirit aspect of the duality; it has not yet swung, even in intention, completely over, but the issues are becoming increasingly clearer in men’s minds and the indications are that man will eventually decide correctly, will attain a point of balance or equilibrium, and will finally throw the weight of public opinion on the side of spiritual values, thus leading to a collective renunciation of materialism, particularly in its grosser and physical forms. The time is not yet, but a great awakening is in process; men, however, will only see correctly when this Principle of Conflict is properly evaluated as a spiritual necessity and is used by humanity as an instrument to bring about emergence from the wrong controls and principles. Just as the individual disciple uses it to emerge out of the control of matter in the three worlds, beginning with the emergence from the control of the physical body, passing out of the control of the emotional nature, and formulating for himself a spiritual ideology which enables him to pass out of the control of the three worlds of forms, and so begin to function as a soul-infused personality, so mankind also has to do the same in mass formation. [607]

Cán cân đang chậm rãi, rất chậm rãi, nghiêng về phía phương diện tinh thần của tính nhị nguyên; nó vẫn chưa nghiêng hẳn sang, ngay cả trong ý định, nhưng các vấn đề đang ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong trí tuệ con người và các dấu hiệu cho thấy rằng cuối cùng con người sẽ quyết định đúng, sẽ đạt đến một điểm quân bình hay cân bằng, và rốt cuộc sẽ đặt sức nặng của dư luận về phía các giá trị tinh thần, như thế dẫn đến một sự từ bỏ tập thể đối với chủ nghĩa duy vật, đặc biệt trong những hình thức thô thiển và hồng trần hơn của nó. Thời điểm ấy chưa đến, nhưng một sự thức tỉnh lớn đang diễn ra; tuy nhiên, con người sẽ chỉ thấy đúng khi Nguyên khí Xung Đột này được đánh giá đúng như một tất yếu tinh thần và được nhân loại sử dụng như một công cụ để đưa đến sự thoát ra khỏi những kiểm soát và nguyên khí sai lầm. Cũng như đệ tử cá nhân sử dụng nó để thoát khỏi sự kiểm soát của vật chất trong ba cõi thấp, bắt đầu bằng việc thoát khỏi sự kiểm soát của thể xác, vượt ra khỏi sự kiểm soát của bản chất cảm xúc, và hình thành cho mình một hệ tư tưởng tinh thần giúp y vượt ra khỏi sự kiểm soát của ba cõi giới của hình tướng, và như thế bắt đầu hoạt động như một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, thì nhân loại cũng phải làm điều tương tự trong sự hình thành tập thể. [607]

This whole process culminates when the fourth initiation, the Great Renunciation, is taken by man today, and by humanity in some distant future; this “point of emergence” is reached by right decision and as a result of a right use of the Principle of Conflict.

Toàn bộ tiến trình này lên đến tột đỉnh khi lần điểm đạo thứ tư, Đại Từ Bỏ, được con người ngày nay và nhân loại trong một tương lai xa xôi tiếp nhận; “điểm thoát ra” này đạt được nhờ quyết định đúng và như là kết quả của việc sử dụng đúng Nguyên khí Xung Đột.

It will be obvious to you that this Principle of Conflict is closely related to death. By death, I mean extraction from form conditions—physical, emotional or mental; I mean cessation of contact (temporarily or permanently) with physical form, with astral glamour and with mental illusion; I mean the rejection of Maya, the name of that all-inclusive effect which overwhelms a man who is immersed in materialism of any kind, and is therefore overcome (from the soul angle) by life in the three worlds. It is the Principle of Conflict, latent in every atom of substance, which produces, first of all, conflict, then renunciation, and finally emancipation; which produces war in some form or another, then rejection, and finally liberation. This principle is, as you can well see, closely linked to the law of Karma; it is to this principle that Mrs. Besant refers when she speaks in one of her books of the fact that the substance whereof all forms are made is already—from the very dawn of the creative process—tinged with karma. There is deep occult significance to the thought, often voiced, that death is the great Liberator; it means that the Principle of Conflict has succeeded in bringing about conditions wherein the spirit aspect is released (temporarily or permanently) from imprisonment in some kind of form life, either individual or group.

Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng Nguyên khí Xung Đột này liên hệ mật thiết với cái chết. Bởi cái chết, tôi muốn nói đến sự rút ra khỏi các điều kiện hình tướng—hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ; tôi muốn nói đến sự chấm dứt tiếp xúc (tạm thời hay vĩnh viễn) với hình tướng hồng trần, với ảo cảm cảm dục và với ảo tưởng trí tuệ; tôi muốn nói đến sự khước từ ảo lực, tên gọi của hiệu quả bao trùm tất cả ấy vốn áp đảo một con người bị chìm đắm trong chủ nghĩa duy vật dưới bất kỳ hình thức nào, và do đó bị đời sống trong ba cõi thấp chế ngự (xét từ góc độ linh hồn). Chính Nguyên khí Xung Đột, tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử chất liệu, trước hết tạo ra xung đột, rồi đến từ bỏ, và cuối cùng là giải thoát; tạo ra chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác, rồi đến khước từ, và cuối cùng là tự do. Như bạn có thể thấy rõ, nguyên khí này liên hệ chặt chẽ với định luật Nghiệp quả; chính đến nguyên khí này mà bà Besant đề cập khi bà nói trong một cuốn sách của mình về sự kiện rằng chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành, ngay từ buổi bình minh của tiến trình sáng tạo, đã nhuốm màu nghiệp quả. Có ý nghĩa huyền bí sâu xa trong tư tưởng thường được phát biểu rằng cái chết là Đấng Giải Thoát vĩ đại; điều đó có nghĩa là Nguyên khí Xung Đột đã thành công trong việc tạo ra những điều kiện mà trong đó phương diện tinh thần được giải thoát (tạm thời hay vĩnh viễn) khỏi sự giam cầm trong một loại đời sống hình tướng nào đó, cá nhân hay tập thể.

You will all, as disciples or aspirants, be able to interpret the working of this principle as you watch the effect, in your own lives, of the action of the strains and stresses, the points of crisis or of tension which the conflict between soul and personality produces. Conflict is always present prior to renunciation, and it is only at this fourth great spiritual crisis that conflict, as we understand it, ends. In the realms of formless living wherein the Hierarchy lives and moves and has its being, conflict, which has developed [608] in man the sense of discriminative choice, is superseded by crises of decision—not decision based upon discriminative perception between right and wrong or between spirituality and materialism, but crises of decision based upon perception of the Plan, participation in the Purpose, and the prevention of evil. I would have you ponder on these three phrases which distinguish the crises of decision which confront the Master after the fourth initiation, and which take the place of the crises of discrimination which precede that stage:

Tất cả các bạn, với tư cách là đệ tử hay người chí nguyện, sẽ có thể diễn giải hoạt động của nguyên khí này khi quan sát tác động, trong chính đời sống của mình, của hành động của những căng thẳng và áp lực, những điểm khủng hoảng hay điểm tập trung nhất tâm mà cuộc xung đột giữa linh hồn và phàm ngã tạo ra. Xung đột luôn luôn hiện diện trước sự từ bỏ, và chỉ ở cuộc khủng hoảng tinh thần lớn thứ tư này thì xung đột, theo cách chúng ta hiểu, mới chấm dứt. Trong các lĩnh vực của đời sống vô tướng nơi Thánh đoàn sống, vận động và tồn tại, xung đột, vốn đã phát triển [608] trong con người ý thức về sự lựa chọn có phân biện, được thay thế bằng các khủng hoảng của quyết định—không phải quyết định dựa trên sự nhận thức phân biện giữa đúng và sai hay giữa tinh thần và duy vật, mà là các khủng hoảng của quyết định dựa trên sự nhận thức Thiên Cơ, sự tham dự vào Thiên Ý, và sự ngăn ngừa điều ác. Tôi muốn bạn suy ngẫm về ba cụm từ này, vốn phân biệt các khủng hoảng của quyết định mà Chân sư phải đối diện sau lần điểm đạo thứ tư, và thay thế cho các khủng hoảng của sự phân biện đi trước giai đoạn đó:

Perception of the Plan.

Nhận thức Thiên Cơ.

Participation in the Purpose.

Tham dự vào Thiên Ý.

Prevention of evil.

Ngăn ngừa điều ác.

These decisions are based, first of all, on goodwill to all forms in the three worlds, and secondly, upon the will-to-good which impulses and implements the three creative and manifesting aspects of divinity.

Những quyết định này trước hết dựa trên thiện chí đối với mọi hình tướng trong ba cõi thấp, và thứ hai, dựa trên Ý Chí-hướng Thiện vốn thúc đẩy và thực hiện ba phương diện sáng tạo và biểu hiện của thiên tính.

These are deep things whereof we speak; it is wise to remember that all crises in the material world—individual crises and those related to humanity as a whole—are governed by the Principle of Conflict, whilst crises in the spiritual world are controlled by the esoteric Principle of Decision.

Đây là những điều sâu xa mà chúng ta đang nói đến; thật khôn ngoan khi nhớ rằng mọi khủng hoảng trong thế giới vật chất—các khủng hoảng cá nhân và những khủng hoảng liên hệ đến toàn thể nhân loại—đều được chi phối bởi Nguyên khí Xung Đột, trong khi các khủng hoảng trong thế giới tinh thần được kiểm soát bởi Nguyên khí Quyết Định huyền bí.

The Principle of Conflict is the prime factor lying behind the evolution of form as the field of experience for the soul in the four kingdoms in nature: the human and the three subhuman. It is based on the intellectual factor of discrimination which is inherent in the smallest atom of substance, and which reaches its fullest expression in advanced humanity; the indications that it has achieved its purpose, as far as humanity is concerned, are to be found in the passing through the Initiation of Renunciation. The Principle of Decision which controls the Master governs His work within the Hierarchy, in relation to Shamballa and in connection with all the service rendered in the three worlds; it is based on the energy of the second Ray of Love-Wisdom, just as the Principle of Conflict is based on the energy of the third Ray of Active Intelligence. [609] This Principle of Decision, as a controlling factor, is put to the test at the sixth initiation, the Initiation of Decision; at that time, the will aspect of divinity summarises in a unique manner all past achievements of the two principles and brings in a final cycle of unfoldment to which I can give no truly appropriate name, but which climaxes in the ninth Initiation of Refusal. You have, therefore, in relation to these principles (which are all related to the Law of Karma) three great initiations at which the effectiveness of the liberation brought about by their inherent action is finally tested:

Nguyên khí Xung Đột là yếu tố chủ yếu nằm sau sự tiến hoá của hình tướng như là cánh đồng kinh nghiệm cho linh hồn trong bốn giới trong thiên nhiên: giới nhân loại và ba giới dưới nhân loại. Nó dựa trên yếu tố trí tuệ của sự phân biện vốn tiềm ẩn trong nguyên tử nhỏ nhất của chất liệu, và đạt đến biểu hiện đầy đủ nhất trong nhân loại tiến bộ; những dấu hiệu cho thấy nó đã hoàn thành mục đích của mình, xét theo nhân loại, được tìm thấy trong việc đi qua Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ. Nguyên khí Quyết Định, vốn kiểm soát Chân sư, chi phối công việc của Ngài trong Thánh đoàn, trong mối liên hệ với Shamballa và trong sự liên hệ với mọi sự phụng sự được thực hiện trong ba cõi thấp; nó dựa trên năng lượng của cung hai Bác Ái – Minh Triết, cũng như Nguyên khí Xung Đột dựa trên năng lượng của cung ba Trí Tuệ Linh Hoạt. [609] Nguyên khí Quyết Định này, như một yếu tố kiểm soát, được đem ra thử thách ở lần điểm đạo thứ sáu, Cuộc Điểm Đạo Quyết Định; vào lúc đó, phương diện ý chí của thiên tính tổng hợp theo một cách độc đáo mọi thành tựu quá khứ của hai nguyên khí và đưa vào một chu kỳ khai mở cuối cùng mà tôi không thể đặt cho nó một tên gọi thật sự thích hợp, nhưng nó lên đến tột đỉnh trong lần Điểm Đạo thứ chín của Sự Khước Từ. Do đó, trong mối liên hệ với các nguyên khí này (vốn tất cả đều liên hệ với Định luật Nghiệp quả), bạn có ba lần điểm đạo lớn mà tại đó hiệu lực của sự giải thoát do hành động nội tại của chúng mang lại được thử nghiệm sau cùng:

1. The Initiation of Renunciation… 4th Initiation

1. Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ… lần điểm đạo thứ 4

The Principle of Conflict

Nguyên khí Xung Đột

Governed by Ray IV

Được chi phối bởi cung IV

Active in the Human Kingdom, the 4th

Hoạt động trong Giới Nhân Loại, giới thứ 4

Leading to right Discrimination

Dẫn đến sự Phân Biện đúng đắn

2. The Initiation of Decision… 6th Initiation

2. Cuộc Điểm Đạo Quyết Định… lần điểm đạo thứ 6

The Principle of Decision

Nguyên khí Quyết Định

Governed by Ray III

Được chi phối bởi cung III

Active in the Hierarchy

Hoạt động trong Thánh đoàn

Leading to right Perception

Dẫn đến sự Nhận thức đúng đắn

and Participation

và sự Tham dự

3. The Initiation of Refusal… 9th Initiation

3. Cuộc Điểm Đạo Khước Từ… lần điểm đạo thứ 9

The Principle of liberated Being (shall we call it thus?)

Nguyên khí của Bản Thể được giải thoát (chúng ta hãy gọi như vậy chăng?)

Governed by all three major Rays

Được chi phối bởi cả ba Cung chính

Active in Shamballa

Hoạt động trong Shamballa

Leading to one or other of the 7 Paths

Dẫn đến một trong 7 Con Đường

In the above tabulation you have a wide and general picture of three major Principles, leading to three great spiritual events, each of which is an expression of the personality, the soul and the Monad. Where humanity as a whole is involved, the effect is upon the reincarnating soul of the human kingdom, then on the liberated souls of the members of the Hierarchy, and finally on the Being which is distinctive of the Council at Shamballa.

Trong bảng liệt kê trên, bạn có một bức tranh rộng lớn và khái quát về ba Nguyên khí lớn, dẫn đến ba biến cố tinh thần vĩ đại, mỗi biến cố là một biểu hiện của phàm ngã, linh hồn và chân thần. Khi toàn thể nhân loại có liên hệ, tác động là lên linh hồn tái sinh của giới nhân loại, rồi lên các linh hồn được giải thoát của các thành viên Thánh đoàn, và cuối cùng lên Bản Thể vốn là nét đặc trưng của Hội Đồng tại Shamballa.

A planned synthesis thus appears, producing immutability, [610] inevitability and correct prevision; it is also the result of the liberation of free will, and in no way infringes the right of the individual man or disciple to make free choice, once the Principle of Conflict has made him aware of the basic dualism of the manifested worlds. This presents him with a battleground and a field of experience wherein he makes great experimental choices and comes eventually to correct orientation and to the door of initiation, progressively revealed to him as the result of right choice, right perception and right decision. Thus the nine initiations are covered.

Như thế một sự tổng hợp có kế hoạch xuất hiện, tạo ra tính bất biến, [610] tính tất yếu và sự tiên liệu đúng đắn; nó cũng là kết quả của sự giải phóng ý chí tự do, và không hề xâm phạm quyền của con người hay đệ tử cá nhân trong việc đưa ra lựa chọn tự do, một khi Nguyên khí Xung Đột đã làm cho y ý thức được tính nhị nguyên căn bản của các thế giới biểu hiện. Điều này đặt trước y một chiến trường và một cánh đồng kinh nghiệm, nơi y thực hiện những lựa chọn thử nghiệm lớn lao và cuối cùng đi đến định hướng đúng và đến cánh cửa điểm đạo, dần dần được mặc khải cho y như là kết quả của lựa chọn đúng, nhận thức đúng và quyết định đúng. Như thế chín lần điểm đạo đều được bao quát.

The Principle of Conflict has a close connection with the Path of Discipleship, and here lies the reason for the inclusive and synthetic aspect of the present world conflict; though the physical aspects of the conflict are today greatly lessened (but are still present on a small scale in various parts of the world), the conflict is by no means over or yet resolved. It is still being violently waged by advanced human beings upon the mental plane and by the masses upon the plane of emotional reactions; it will be some time before the war truly is brought to a finish.

Nguyên khí Xung Đột có liên hệ mật thiết với Con Đường Đệ Tử, và chính ở đây có lý do cho phương diện bao gồm và tổng hợp của cuộc xung đột thế giới hiện nay; mặc dù các phương diện hồng trần của xung đột ngày nay đã giảm đi rất nhiều (nhưng vẫn còn hiện diện ở quy mô nhỏ tại nhiều nơi trên thế giới), xung đột hoàn toàn chưa chấm dứt hay được giải quyết. Nó vẫn đang được tiến hành dữ dội bởi những con người tiến bộ trên cõi trí và bởi quần chúng trên cõi của các phản ứng cảm xúc; sẽ còn một thời gian nữa trước khi chiến tranh thật sự được kết thúc.

There could, however, be no disaster more serious than a too abrupt ending of this clash of the emotional reactions of humanity and of the current ideologies. It is essential that the issues become still clearer in the minds of men, prior to any final choice or decision. This must be remembered, and students would do well to avoid discouragement and train themselves to wait with spiritual optimism for the way of humanity to clear. Too prompt a choice at this time might prove only a makeshift decision and one based on expediency and impatience. The Hierarchy is in no way discouraged, though somewhat concerned that the factor of timing may not prove correct.

Tuy nhiên, không thể có tai họa nào nghiêm trọng hơn một sự chấm dứt quá đột ngột của sự va chạm giữa các phản ứng cảm xúc của nhân loại và các hệ tư tưởng hiện hành. Điều cốt yếu là các vấn đề phải trở nên rõ ràng hơn nữa trong trí tuệ con người trước bất kỳ sự lựa chọn hay quyết định cuối cùng nào. Điều này phải được ghi nhớ, và các đạo sinh nên tránh nản lòng và tự rèn luyện để chờ đợi với tinh thần lạc quan cho đến khi con đường của nhân loại trở nên sáng tỏ. Một sự lựa chọn quá vội vàng vào lúc này có thể chỉ chứng tỏ là một quyết định tạm bợ và dựa trên tính vụ lợi cùng sự thiếu kiên nhẫn. Thánh đoàn hoàn toàn không nản lòng, dù có phần quan ngại rằng yếu tố thời điểm có thể không chứng tỏ là đúng.

This Principle of Conflict is a familiar one to every struggling aspirant and conditions his whole life, producing crises and tensions, sometimes almost past endurance; they indicate nevertheless rapid development and steady progress. The activity of this principle is greatly increased [611] at this time through the medium of the following spiritual events (the full discussion appears on pages 741-760):

Nguyên khí Xung Đột này là điều quen thuộc với mọi người chí nguyện đang đấu tranh và tác động định hình toàn bộ đời sống của y, tạo ra các khủng hoảng và căng thẳng, đôi khi gần như vượt quá sức chịu đựng; tuy nhiên, chúng cho thấy sự phát triển nhanh chóng và tiến bộ vững chắc. Hoạt động của nguyên khí này hiện đang được gia tăng mạnh mẽ [611] qua trung gian của các biến cố tinh thần sau đây (phần thảo luận đầy đủ xuất hiện ở các trang 741-760):

1. The crisis of the ideologies.

1. Cuộc khủng hoảng của các hệ tư tưởng.

2. The awakening of humanity to better understanding.

2. Sự thức tỉnh của nhân loại đối với sự thấu hiểu tốt hơn.

3. The growth of goodwill which leads to the presentation of certain fundamental cleavages which must be bridged by human effort.

3. Sự tăng trưởng của thiện chí dẫn đến việc trình bày một số sự phân ly căn bản phải được bắt cầu bằng nỗ lực của con người.

4. The partial “sealing of the door where evil dwells.”

4. Sự “niêm phong một phần cánh cửa nơi điều ác ngự trị.”

5. The use of the Great Invocation with its extraordinary and rapid effects, at present unrealised by you.

5. Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện với những tác động phi thường và nhanh chóng của nó, hiện nay bạn chưa nhận ra.

6. The gradual approach of the Hierarchy to a closer and more intimate relation to Humanity.

6. Sự tiếp cận dần dần của Thánh đoàn đến một mối liên hệ gần gũi và mật thiết hơn với Nhân loại.

7. The imminent return of the Christ.

7. Sự trở lại sắp xảy ra của Đức Christ.

There are other factors, but these will be adequate to demonstrate to you the increased expression of conflict on all the three levels of strictly human evolution. It is a conflict which has engulfed the masses in every land, which is still producing physical conflict, emotional strain and tremendous mental issues, and which will greatly lessen when the masses of people everywhere are convinced that right human relations are of far greater importance than greed, human pride, territorial grabbing, and material possessions.

Còn có những yếu tố khác, nhưng những điều này đủ để chứng minh cho bạn sự biểu lộ gia tăng của xung đột trên cả ba cấp độ của sự tiến hoá thuần túy nhân loại. Đó là một cuộc xung đột đã cuốn lấy quần chúng ở mọi quốc gia, vẫn đang tạo ra xung đột hồng trần, căng thẳng cảm xúc và những vấn đề trí tuệ to lớn, và sẽ giảm đi rất nhiều khi quần chúng ở khắp nơi được thuyết phục rằng những tương quan nhân loại đúng đắn quan trọng hơn rất nhiều so với lòng tham, lòng kiêu hãnh của con người, sự chiếm đoạt lãnh thổ và của cải vật chất.

The Effect of the Energy of Harmony through Conflict upon Humanity — Tác Động của Năng Lượng Hài Hòa qua Xung Đột lên Nhân Loại

It will be obvious that this ray energy, embodying the Principle of Conflict, has a unique and curious effect upon relationships. This is due to the interrelation of this Ray of Harmony through Conflict and the second Ray of Love-Wisdom; this second ray is primarily the ray of right human relations—as far as the fourth kingdom in nature is concerned. The energy of love governs all relations between souls and controls the Hierarchy, the Kingdom of Souls; the energy of wisdom should govern all relations within the fourth kingdom, the human; some day it will inevitably do so, hence the emphasis laid upon the need for soul-infused personalities in the world today, as promulgated by all true esoteric schools. [612]

Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng năng lượng cung này, hiện thân cho Nguyên khí Xung Đột, có một tác động độc đáo và kỳ lạ lên các mối liên hệ. Điều này là do sự tương liên giữa cung Hài Hòa qua Xung Đột này và cung hai Bác Ái – Minh Triết; cung hai này trước hết là cung của những tương quan nhân loại đúng đắn—xét theo giới thứ tư trong thiên nhiên. Năng lượng bác ái chi phối mọi mối liên hệ giữa các linh hồn và kiểm soát Thánh đoàn, Vương Quốc của các Linh Hồn; năng lượng minh triết phải chi phối mọi mối liên hệ trong giới thứ tư, giới nhân loại; một ngày nào đó nó tất yếu sẽ làm như vậy, do đó mới có sự nhấn mạnh đặt lên nhu cầu về những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần trong thế giới ngày nay, như được mọi trường phái huyền bí chân chính công bố. [612]

It might be said that the effect of the Principle of Conflict, operating under Ray IV and controlled by Ray II, will be—as far as humanity is concerned—to bring about right human relations and the growth of the universal spirit of goodwill among men. Only the most benighted and uncouth of thinkers would fail to see that these two results of the conflict, engendered at this time, are the two most desirable factors for which all men of goodwill should work. The inflow of energy into humanity at this time is all in favour of such efforts, and the Principle of Conflict has worked so effectively that all men are desiring harmony, peace, equilibrium, right adjustment to life and circumstances, and right and balanced human relations.

Có thể nói rằng tác động của Nguyên khí Xung Đột, hoạt động dưới cung IV và được kiểm soát bởi cung II, sẽ là—xét theo nhân loại—đưa đến những tương quan nhân loại đúng đắn và sự tăng trưởng của tinh thần thiện chí phổ quát giữa loài người. Chỉ những nhà tư tưởng tối tăm và thô lậu nhất mới không thấy rằng hai kết quả này của cuộc xung đột, được tạo ra vào lúc này, là hai yếu tố đáng mong muốn nhất mà mọi người thiện chí nên nỗ lực vì chúng. Dòng năng lượng tuôn vào nhân loại lúc này hoàn toàn ủng hộ những nỗ lực như thế, và Nguyên khí Xung Đột đã hoạt động hiệu quả đến mức mọi người đều mong muốn hài hòa, hòa bình, quân bình, sự thích nghi đúng đắn với đời sống và hoàn cảnh, và những tương quan nhân loại đúng đắn và cân bằng.

In every country and among all types of men—sincerely or insincerely—the talk of the newspapers, on the radio and upon the lecture platforms is on behalf of harmony and a widespread recognition of the needed adjustments. Even the evil forces which still remain active hide their greedy purposes behind a spurious desire for world unity, world harmony and right human relations. The masses of the people in all lands have been convinced by the evidence made available by the Principle of Conflict that basic changes in man’s attitude and goals must be brought about if humanity is to survive; they are, in their own ways (wisely or unwisely), seeking a solution.

Ở mọi quốc gia và giữa mọi loại người—chân thành hay không chân thành—những gì được nói đến trên báo chí, trên đài phát thanh và trên các diễn đàn thuyết giảng đều là vì sự hài hòa và sự nhìn nhận rộng rãi về những điều chỉnh cần thiết. Ngay cả các lực lượng ác vẫn còn hoạt động cũng che giấu những mục đích tham lam của chúng sau một khát vọng giả tạo về sự hợp nhất thế giới, hài hòa thế giới và những tương quan nhân loại đúng đắn. Quần chúng ở mọi quốc gia đã được thuyết phục bởi bằng chứng do Nguyên khí Xung Đột cung cấp rằng những thay đổi căn bản trong thái độ và mục tiêu của con người phải được thực hiện nếu nhân loại muốn tồn tại; họ đang, theo cách riêng của mình (khôn ngoan hay không khôn ngoan), tìm kiếm một giải pháp.

The war has produced much good—in spite of the destruction of forms. The causes of war are better understood; the issues involved are slowly being clarified; information about all nations—even when incorrectly presented—has awakened mankind to the fact of the One World; the community of pain, sorrow, anxiety, starvation and despair have brought all men closer together, and this relation is a far greater breeder of harmony than man realises; the world of men today is more closely knit subjectively (in spite of all outer cleavages and conflicts) than ever before in human history; there is a firmer determination to establish right human relations and a clearer perception of the factors involved; the new Principle of Sharing, [613] inherent in the second Ray of Love-Wisdom which is concerned so fundamentally with relationships, is gaining ground, and its potency is being released by the activity of the fourth Ray of Harmony through Conflict. This Principle of Sharing, though still divorced from any official sanctions, is under consideration and will some day be the governing factor in the economic life of the world, regulated and controlled by those men who are alert to human need upon the physical plane.

Chiến tranh đã tạo ra nhiều điều tốt đẹp—bất chấp sự hủy diệt các hình tướng. Nguyên nhân của chiến tranh được hiểu rõ hơn; các vấn đề liên hệ đang dần được làm sáng tỏ; thông tin về mọi quốc gia—ngay cả khi được trình bày không đúng—đã đánh thức nhân loại trước sự kiện về Một Thế Giới; sự đồng cảm trong đau đớn, buồn khổ, lo âu, đói khát và tuyệt vọng đã đưa mọi người đến gần nhau hơn, và mối liên hệ này là một tác nhân tạo ra hài hòa lớn hơn con người nhận ra; thế giới loài người ngày nay gắn bó với nhau chặt chẽ hơn về mặt chủ quan (bất chấp mọi sự phân ly và xung đột bên ngoài) hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại; có một quyết tâm vững chắc hơn để thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn và một nhận thức rõ ràng hơn về các yếu tố liên hệ; Nguyên khí Chia Sẻ mới, [613] vốn tiềm ẩn trong cung hai Bác Ái – Minh Triết, cung liên hệ rất căn bản đến các mối liên hệ, đang ngày càng được chấp nhận, và năng lực của nó đang được giải phóng bởi hoạt động của cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột. Nguyên khí Chia Sẻ này, dù vẫn chưa gắn với bất kỳ sự chuẩn nhận chính thức nào, đang được xem xét và một ngày nào đó sẽ là yếu tố chi phối trong đời sống kinh tế của thế giới, được điều chỉnh và kiểm soát bởi những người nhạy bén trước nhu cầu của con người trên cõi hồng trần.

This Principle of Conflict is also active in all institutions, groups and organisations in all lands and in every department of human thought. Its results are, first, the awakening of humanity to certain major human developments and possibilities, and secondly, it will lead to certain basic renunciations, once the issues are clearly seen and the cleavage which exists in reality between the desirable spiritual values and the undesirable material values has been made clear. In politics, for instance, the two-party system is based upon a correct premise, but it is not at present a satisfactory system because of human stupidity. It stands in truth for the reactionary groups in any land and also for the progressive party who are alert to the new possibilities; one party aims at the holding back of the life of the spirit, at clarifying by obstruction and at holding back or preventing the too rapid rushing forward of the impatient and the immature; the progressive party should be composed of those who are aware of the unneeded and old issues, and who pioneer all the time, even though frequently without much still in action. Such a clear line of demarcation between the two basic world parties is not yet possible, nor are the spiritual values of either group appreciated by the unthinking masses. Today, party politics are as selfish, and therefore as reactionary, as are the mass of men; the real good of humanity is not the goal of the average politician in either group, for usually only his own selfish ambition and the desire to preserve a certain political ideology which has put him into power are the goal of his efforts. [614]

Nguyên khí Xung Đột này cũng hoạt động trong mọi định chế, nhóm và tổ chức ở mọi quốc gia và trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người. Kết quả của nó, thứ nhất, là sự thức tỉnh của nhân loại trước một số phát triển và khả năng lớn của con người, và thứ hai, nó sẽ dẫn đến một số sự từ bỏ căn bản, một khi các vấn đề được thấy rõ và sự phân ly thực sự tồn tại giữa các giá trị tinh thần đáng mong muốn và các giá trị vật chất không đáng mong muốn đã được làm sáng tỏ. Chẳng hạn trong chính trị, hệ thống hai đảng dựa trên một tiền đề đúng, nhưng hiện nay không phải là một hệ thống thỏa đáng vì sự ngu muội của con người. Thực ra nó đại diện cho các nhóm phản động ở bất kỳ quốc gia nào và cũng cho đảng tiến bộ nhạy bén trước những khả năng mới; một đảng nhắm đến việc kìm hãm đời sống của tinh thần, làm sáng tỏ bằng sự cản trở và giữ lại hay ngăn chặn sự lao tới quá nhanh của những người thiếu kiên nhẫn và chưa trưởng thành; đảng tiến bộ lẽ ra phải gồm những người nhận thức được các vấn đề cũ kỹ và không cần thiết, và luôn luôn tiên phong, dù thường không có nhiều điều vẫn còn đang hoạt động. Một đường ranh giới phân định rõ ràng như thế giữa hai đảng cơ bản của thế giới hiện chưa thể có, và các giá trị tinh thần của cả hai nhóm cũng không được quần chúng thiếu suy nghĩ đánh giá đúng. Ngày nay, chính trị đảng phái cũng ích kỷ, và do đó cũng phản động, như chính quần chúng; lợi ích thực sự của nhân loại không phải là mục tiêu của chính khách trung bình trong bất kỳ nhóm nào, vì thường chỉ có tham vọng ích kỷ của riêng ông và mong muốn duy trì một hệ tư tưởng chính trị nào đó đã đưa ông lên nắm quyền mới là mục tiêu cho các nỗ lực của ông. [614]

The Principle of Conflict is working also in the churches, but more slowly, unfortunately, owing to the corruption and soporific effect of theological churchianity; I would have you note my choice of words; I said not “of Christianity,” for true Christianity, as Christ taught it, is free from theological abuses and must and will be restored or—perhaps more accurately—reach its first stage of expression.

Nguyên khí Xung Đột cũng đang hoạt động trong các giáo hội, nhưng chậm hơn, thật đáng tiếc, do ảnh hưởng suy đồi và gây mê ngủ của chủ nghĩa giáo hội thần học; tôi muốn bạn lưu ý đến cách chọn từ của tôi; tôi không nói “của Cơ Đốc giáo,” vì Cơ Đốc giáo chân chính, như Đức Christ đã dạy, không có những lạm dụng thần học và phải, và sẽ, được phục hồi hoặc—có lẽ nói chính xác hơn—đạt đến giai đoạn biểu lộ đầu tiên của nó.

Everywhere the fourth Ray of Harmony through Conflict is active in the human family and is dominating human affairs; everywhere in the life of the individual, in the lives of groups, organisations and churches, in the life of nations and in the life of mankind as a whole, the issues are being clarified, and humanity is being led from one renunciation to another, until some day the human kingdom will unitedly take the fourth initiation and the Great Renunciation will be accepted; this step, lying far ahead as yet in the future, will affiliate humanity with the Hierarchy and release millions of men from the thralldom of materialism. This moment in human history will inevitably come. The first indication that the distant vision has been glimpsed might perhaps be noted in the prevalent instinct to share, motivated at present by the instinct to self-preservation, but definitely developing as a possible mode of action upon the far horizon of man’s thinking. True sharing definitely involves many little renunciations, and it is upon these small renunciations that the capacity for freedom is slowly being generated and the habit of renunciation can eventually be stabilised; this capacity and these habits, these unselfish activities and these spiritual habitual attitudes are the preparatory stages for the Initiation of Renunciation, just as the effort to serve one’s fellowmen is preparatory to the taking of the third Initiation, of the Transfiguration.

Khắp nơi, cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột đang hoạt động trong gia đình nhân loại và đang chi phối các công việc của con người; khắp nơi trong đời sống cá nhân, trong đời sống của các nhóm, tổ chức và giáo hội, trong đời sống các quốc gia và trong đời sống của toàn thể nhân loại, các vấn đề đang được làm sáng tỏ, và nhân loại đang được dẫn dắt từ sự từ bỏ này sang sự từ bỏ khác, cho đến một ngày nào đó giới nhân loại sẽ cùng nhau tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư và Đại Từ Bỏ sẽ được chấp nhận; bước này, hiện còn ở rất xa trong tương lai, sẽ liên kết nhân loại với Thánh đoàn và giải thoát hàng triệu người khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa duy vật. Thời điểm này trong lịch sử nhân loại tất yếu sẽ đến. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh ảnh xa xôi ấy đã được thoáng thấy có lẽ có thể nhận ra trong bản năng phổ biến muốn chia sẻ, hiện nay được thúc đẩy bởi bản năng tự bảo tồn, nhưng chắc chắn đang phát triển như một phương thức hành động khả dĩ trên chân trời xa của tư tưởng con người. Sự chia sẻ chân chính chắc chắn bao hàm nhiều sự từ bỏ nhỏ, và chính trên những sự từ bỏ nhỏ này mà năng lực hướng đến tự do đang dần được tạo ra và thói quen từ bỏ cuối cùng có thể được ổn định; năng lực này và những thói quen này, những hoạt động vô ngã này và những thái độ tinh thần mang tính thói quen này là các giai đoạn chuẩn bị cho Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, cũng như nỗ lực phụng sự đồng loại là sự chuẩn bị cho việc tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, Biến hình.

The Factor of the Ray of Love-Wisdom as it controls the Ray of Harmony through Conflict and implements the Return of the Christ — Yếu Tố của Cung Bác Ái – Minh Triết khi nó kiểm soát Cung Hài Hòa qua Xung Đột và thực hiện sự Trở Lại của Đức Christ

In the first paragraph of this instruction, I ascribed the inevitability of Christ’s imminent return to the decision [615] of humanity to precipitate the existent conflict on to the physical plane, thus determining the sphere of Christ’s activity. In earlier teachings also I have pointed out that He might come in one of three ways or in all three of them simultaneously. The issues which have emerged as the result of the conflict upon the physical plane, and of its shifting (by man’s decision) today on to the mental plane, have made completely evident the fact that the locale of Christ’s influence will be, therefore, the entire three worlds Of human evolution, which naturally includes the physical levels of experience and demands His physical Presence.

Trong đoạn đầu của huấn thị này, tôi đã quy tính tất yếu của sự trở lại sắp xảy ra của Đức Christ cho quyết định [615] của nhân loại trong việc ngưng tụ cuộc xung đột hiện hữu xuống cõi hồng trần, như thế quyết định phạm vi hoạt động của Đức Christ. Trong các giáo huấn trước đây, tôi cũng đã chỉ ra rằng Ngài có thể đến theo một trong ba cách hoặc đồng thời theo cả ba cách ấy. Các vấn đề đã xuất hiện như là kết quả của cuộc xung đột trên cõi hồng trần, và của việc nó được chuyển dịch (do quyết định của con người) ngày nay lên cõi trí, đã làm hiển lộ hoàn toàn sự kiện rằng địa điểm ảnh hưởng của Đức Christ, do đó, sẽ là toàn bộ ba cõi giới của sự tiến hoá nhân loại, điều này tự nhiên bao gồm các cấp độ kinh nghiệm hồng trần và đòi hỏi Sự Hiện Diện hồng trần của Ngài.

Let me make the facts somewhat clearer and enlarge somewhat upon these three modes of His appearing, of His coming, His advent and of His physical recognition by humanity:

Để tôi làm cho các sự kiện rõ ràng hơn đôi chút và khai triển thêm đôi chút về ba phương thức xuất hiện của Ngài, về sự đến của Ngài, cuộc giáng lâm của Ngài và sự được nhân loại nhận biết về mặt hồng trần của Ngài:

1. By His overshadowing of all initiates and disciples who are today, or will be at the time of His arrival, active in the three worlds of human evolution. This involves His influencing their minds telepathically. This overshadowing or influencing will be His primary work upon the mental plane. This will constitute one of His most effective methods in His proposed spiritual interference in world affairs. Through the medium of these members or affiliates of the Hierarchy, He will have outposts of His consciousness in every nation. Through them He can work.

1. Bằng sự phủ bóng của Ngài lên tất cả các điểm đạo đồ và đệ tử hiện nay đang hoạt động, hoặc sẽ hoạt động vào lúc Ngài quang lâm, trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại. Điều này bao hàm việc Ngài ảnh hưởng lên trí tuệ của họ bằng viễn cảm. Sự phủ bóng hay ảnh hưởng này sẽ là công việc chính yếu của Ngài trên cõi trí. Điều này sẽ tạo thành một trong những phương pháp hữu hiệu nhất của Ngài trong sự can thiệp tinh thần mà Ngài dự định thực hiện vào các công việc thế giới. Qua trung gian của các thành viên hay các cộng sự viên này của Thánh Đoàn, Ngài sẽ có những tiền đồn của tâm thức Ngài trong mọi quốc gia. Qua họ, Ngài có thể hoạt động.

2. By the pouring out of the Christ life or consciousness upon the masses everywhere and in every nation. This spiritual inflow will bring about the reorienting of human desire and will evoke the emotional reaction to His Presence. This therefore brings the astral plane within the active sphere of His influence; this involves the release of the energy of goodwill into the hearts of men, predisposing them towards right human relations. It is this establishing of right relations which is the major objective of His coming triple activity. The masses everywhere will be responsive to the work and the message of the Christ, as it is [616] implemented from the mental plane by the disciples and initiates, overshadowed by the mind of Christ.

2. Bằng sự tuôn đổ sự sống hay tâm thức của Đức Christ lên quần chúng ở khắp nơi và trong mọi quốc gia. Dòng tuôn đổ tinh thần này sẽ đem lại sự tái định hướng của dục vọng nhân loại và sẽ khơi dậy phản ứng cảm xúc đối với Hiện Diện của Ngài. Vì vậy, điều này đưa cõi cảm dục vào trong phạm vi hoạt động của ảnh hưởng Ngài; điều này bao hàm sự giải phóng năng lượng thiện chí vào trái tim con người, khiến họ thiên về các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Chính việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn này là mục tiêu chủ yếu của hoạt động tam phân mà sự quang lâm của Ngài sẽ thực hiện. Quần chúng ở khắp nơi sẽ đáp ứng với công việc và thông điệp của Đức Christ, khi điều đó được [616] các đệ tử và điểm đạo đồ, được trí của Đức Christ phủ bóng, thực hiện từ cõi trí.

3. By His physical appearance among men. Through His Own immediate appearance, He can establish a potent focal point of hierarchical energy upon Earth in a manner not hitherto possible. He has never deserted humanity and has always kept His promise to stay with us all the days, even unto the end of the age. Men in all lands will know where He can be found. The locale of this focal point of His threefold spiritual activity cannot here be disclosed, for it is contingent upon the results of the sequential processes of overshadowing and outpouring.

3. Bằng sự xuất hiện hồng trần của Ngài giữa loài người. Qua chính sự xuất hiện trực tiếp của Ngài, Ngài có thể thiết lập một tiêu điểm mãnh liệt của năng lượng Thánh đoàn trên Trái Đất theo một cách mà trước đây chưa thể có. Ngài chưa bao giờ bỏ rơi nhân loại và luôn giữ lời hứa ở cùng chúng ta mọi ngày, cho đến tận cùng thời đại. Con người ở mọi xứ sở sẽ biết có thể tìm thấy Ngài ở đâu. Địa điểm của tiêu điểm này cho hoạt động tinh thần tam phân của Ngài không thể được tiết lộ ở đây, vì nó tùy thuộc vào kết quả của các tiến trình tuần tự là phủ bóng và tuôn đổ.

The first of the methods which will lead to the eventual physical reappearance of the Christ has already been set in motion; disciples and initiates in all lands are starting the work preparatory to the outpouring of the Christ spiritual force, leading to the awakening of the Christ consciousness (as it is usually called) in the hearts of men. This outpouring will come as the result of three activities:

Phương pháp thứ nhất trong các phương pháp sẽ dẫn đến sự tái xuất hiện hồng trần sau cùng của Đức Christ đã được khởi động; các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi xứ sở đang bắt đầu công việc chuẩn bị cho sự tuôn đổ mãnh lực tinh thần của Đức Christ, dẫn đến sự thức tỉnh tâm thức Christ (như thường được gọi) trong trái tim con người. Sự tuôn đổ này sẽ đến như kết quả của ba hoạt động:

1. The work and the teaching of the trained disciples and initiates, as each of them, in his own way, points out the surety of Christ’s coming and thus implements the innate expectancy of the masses.

1. Công việc và giáo huấn của các đệ tử và điểm đạo đồ đã được huấn luyện, khi mỗi người trong họ, theo cách riêng của mình, chỉ ra tính chắc chắn của sự quang lâm của Đức Christ và nhờ đó thực hiện sự mong đợi bẩm sinh của quần chúng.

2. The evocation of a united hierarchical response through the use of the Great Invocation. You will note how this invocation can be interpreted in terms of the three modes of the return of the Christ:

2. Sự gợi lên một đáp ứng hợp nhất của Thánh đoàn qua việc sử dụng Đại Khấn Nguyện. Bạn sẽ lưu ý cách khấn nguyện này có thể được diễn giải theo ba phương thức quang lâm của Đức Christ:

a. “Let Light stream forth into the minds of men.”

a. “Hãy để Ánh sáng tuôn đổ vào trí tuệ loài người.”

The influencing of the minds of disciples.

Sự ảnh hưởng lên trí tuệ của các đệ tử.

The enlightening of intelligent humanity.

Sự soi sáng nhân loại thông minh.

The mental plane.

Cõi trí.

Stanza I.

Bài kệ I.

b. “Let Love stream forth into the hearts of men.”

b. “Hãy để Tình thương tuôn đổ vào trái tim loài người.”

The influencing of the masses everywhere.

Sự ảnh hưởng lên quần chúng ở khắp nơi.

The outpouring of the Christ spirit.

Sự tuôn đổ tinh thần của Đức Christ.

The astral plane.

Cõi cảm dục.

Stanza II. [617]

Bài kệ II. [617]

c. “The Purpose which the Masters know and serve.”

c. “Thiên Ý mà các Chân sư biết và phụng sự.”

The anchoring of hierarchical energy on Earth.

Sự neo giữ năng lượng Thánh đoàn trên Trái Đất.

The physical appearance of the Christ.

Sự xuất hiện hồng trần của Đức Christ.

The physical plane.

Cõi hồng trần.

Stanza III.

Bài kệ III.

What this divine purpose may be the Christ Himself will reveal upon His arrival; the focal point of His activity will be dependent upon the medium used by Him to implement that purpose—known only to Him and to the senior members of the Hierarchy. Should politics be the medium through which He best can serve, that then will determine the locality of the focal point; if it should be the religious organisations of the world, it may prove to be elsewhere; if the field of economics or of the social sciences, then still another locality may prove appropriate. The determining factor in all cases, and that which will indicate to Him the appropriate place for this focal point, will be the number and the ability and status of the disciples found active in the chosen field. More, I may not suggest.

Thiên Ý này có thể là gì thì chính Đức Christ sẽ mặc khải khi Ngài quang lâm; tiêu điểm hoạt động của Ngài sẽ tùy thuộc vào phương tiện mà Ngài dùng để thực hiện Thiên Ý đó—chỉ mình Ngài và các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn biết. Nếu chính trị là phương tiện mà qua đó Ngài có thể phụng sự tốt nhất, thì điều đó sẽ quyết định địa điểm của tiêu điểm; nếu đó là các tổ chức tôn giáo của thế giới, thì có thể sẽ là một nơi khác; nếu là lĩnh vực kinh tế hay khoa học xã hội, thì một địa điểm khác nữa có thể thích hợp. Yếu tố quyết định trong mọi trường hợp, và điều sẽ chỉ cho Ngài nơi thích hợp cho tiêu điểm này, sẽ là số lượng, khả năng và địa vị của các đệ tử được thấy đang hoạt động trong lĩnh vực được chọn. Tôi không thể gợi ý thêm.

3. The demand or prayer or outgoing desire of the masses for the appearance of a Liberator and for the establishing of right human relations, plus the work of all the spiritually-minded people in all nations and of all faiths. All these three factors are today present but have not yet the needed potency to prove immediately effective. This triple nucleus of determining factors is, however, already firmly established; in this fact is to be found a sure ground for a sane optimism.

3. Nhu cầu hay lời cầu nguyện hay dục vọng hướng ngoại của quần chúng đối với sự xuất hiện của một Đấng Giải Thoát và đối với việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, cộng với công việc của tất cả những người có tinh thần ở mọi quốc gia và thuộc mọi tín ngưỡng. Cả ba yếu tố này ngày nay đều hiện diện nhưng chưa có đủ mãnh lực cần thiết để chứng tỏ hiệu quả tức thời. Tuy nhiên, hạt nhân tam phân của các yếu tố quyết định này đã được thiết lập vững chắc; chính trong sự kiện này có thể tìm thấy một nền tảng chắc chắn cho một sự lạc quan lành mạnh.

It should be pointed out that the Principle of Conflict is motivated strongly by these same factors. The over-shadowing of all disciples and initiates, and the consequent stimulation of their natures and of their environment, must inevitably produce conflict; the outpouring of the stimulating love of God into the hearts of men must equally and inevitably produce conflict; the line of cleavage between men of goodwill and the unresponsive natures of those uninfluenced by this quality will be made abundantly, usefully and constructively clear. It will be obvious also [618] that when Christ establishes the “centre or focal point of the divine Purpose” in some definite place on Earth, its radiation and implementary potency will also produce the needed conflict which precedes the clarification and the renunciation of obstructions.

Cần chỉ ra rằng Nguyên Khí Xung Đột cũng được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chính các yếu tố này. Sự phủ bóng lên tất cả các đệ tử và điểm đạo đồ, và sự kích thích tiếp theo đối với bản chất của họ và môi trường của họ, tất yếu phải tạo ra xung đột; sự tuôn đổ tình thương kích thích của Thượng đế vào trái tim con người cũng đồng thời và tất yếu tạo ra xung đột; đường phân cách giữa những người thiện chí và bản chất không đáp ứng của những kẻ không bị ảnh hưởng bởi phẩm tính này sẽ được làm cho rõ ràng một cách dồi dào, hữu ích và có tính xây dựng. Cũng sẽ hiển nhiên [618] rằng khi Đức Christ thiết lập “trung tâm hay tiêu điểm của Thiên Ý” tại một nơi xác định nào đó trên Trái Đất, sự bức xạ và hiệu lực thực thi của nó cũng sẽ tạo ra xung đột cần thiết, vốn đi trước sự làm sáng tỏ và sự từ bỏ các chướng ngại.

But there will come a point in all these three spheres of Christ’s proposed activity when conflict will be superseded by harmony; this is due to the fact that the energy of harmony through conflict is under the control or influence of the energy of the second Ray of Love-Wisdom. As far as humanity as a sum total is concerned, the conflict of ideas and of emotional desire is today so acute that it will finally exhaust itself, and men will turn, with relief and with a longing to escape from further turmoil, towards right human relations; this will constitute the first major human decision leading to the longed-for harmony. The attitude of the masses will then be soundly tending towards harmony, owing to the work of the men and women of goodwill as they implement the “streaming forth of the love of God into the hearts of men.”

Nhưng sẽ đến một thời điểm trong cả ba lĩnh vực hoạt động mà Đức Christ dự định này khi xung đột sẽ được thay thế bằng hài hoà; điều này là do năng lượng của hài hoà qua xung đột nằm dưới sự kiểm soát hay ảnh hưởng của năng lượng cung hai Bác Ái – Minh Triết. Xét về nhân loại như một tổng thể, xung đột của các ý tưởng và của dục vọng cảm xúc ngày nay gay gắt đến mức cuối cùng nó sẽ tự làm kiệt quệ, và con người sẽ quay về, với sự nhẹ nhõm và với khát vọng thoát khỏi những hỗn loạn tiếp theo, hướng tới các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; điều này sẽ tạo thành quyết định lớn đầu tiên của nhân loại dẫn đến sự hài hoà được mong mỏi. Khi đó thái độ của quần chúng sẽ vững vàng hướng về hài hoà, nhờ công việc của những người nam và nữ thiện chí khi họ thực hiện “sự tuôn đổ tình thương của Thượng đế vào trái tim loài người.”

We have now reached a point where the inevitability of Christ’s return is established, scientifically and under law; this constitutes a call which He may not deny and one which He must obey. This fourth Ray of Harmony through Conflict works (where the initiatory process is concerned) through the heart, or through what esotericists call “the heart centre”—the focal point through which the energy of love can flow. When the Christ founds His focal point on Earth, it will be in the nature of a tiny heart centre through which the love energy of the Hierarchy can persistently flow. The harmony (which the Principle of Conflict produces) causes an alignment, so that the love—streaming forth from the Heart of God—enters the hearts of men; so that the Hierarchy (which is the heart centre or the place where love prevails upon our planet) is brought into relationship with humanity; so that the New Group of World Servers (implementing the love of God and enlightened by the Mind of God) are brought also into relation with the [619] men and women of goodwill in all lands whose task it is to make men’s hearts responsive to and receptive of the love of God; this is another way of saying receptive to the consciousness of the Christ.

Giờ đây chúng ta đã đạt đến một điểm mà tính tất yếu của sự trở lại của Đức Christ đã được xác lập, một cách khoa học và dưới định luật; điều này tạo thành một tiếng gọi mà Ngài không thể từ chối và một tiếng gọi mà Ngài phải tuân theo. Cung bốn Hài Hoà qua Xung Đột này hoạt động (xét về tiến trình điểm đạo) qua tim, hay qua điều mà các nhà huyền bí học gọi là “trung tâm tim”—tiêu điểm mà qua đó năng lượng bác ái có thể tuôn chảy. Khi Đức Christ thiết lập tiêu điểm của Ngài trên Trái Đất, nó sẽ có bản chất của một trung tâm tim nhỏ bé mà qua đó năng lượng bác ái của Thánh Đoàn có thể tuôn chảy bền bỉ. Sự hài hoà (do Nguyên Khí Xung Đột tạo ra) gây nên một sự chỉnh hợp, để cho tình thương—tuôn đổ từ Trái Tim của Thượng đế—đi vào trái tim con người; để cho Thánh Đoàn (là trung tâm tim hay nơi mà bác ái ngự trị trên hành tinh chúng ta) được đưa vào mối liên hệ với nhân loại; để cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian (thực hiện tình thương của Thượng đế và được Trí của Thượng đế soi sáng) cũng được đưa vào mối liên hệ với [619] những người nam và nữ thiện chí ở mọi xứ sở, mà nhiệm vụ của họ là làm cho trái tim con người đáp ứng và tiếp nhận tình thương của Thượng đế; đây là một cách khác để nói rằng tiếp nhận tâm thức của Đức Christ.

This alignment is now in process of being made; it will be brought about automatically when the effectiveness of the Principle of Conflict in producing liberation is generally recognised. Thus the hearts of men, the heart of the planet, i.e., the Hierarchy, and the heart of the Hierarchy, the Christ, are in a state of positive contact; when this channel is open and unobstructed, then the Christ will come. Nothing can stop His appearance and—under law—He may not turn His back upon the presented opportunity.

Sự chỉnh hợp này hiện đang trong tiến trình được thực hiện; nó sẽ được mang lại một cách tự động khi hiệu quả của Nguyên Khí Xung Đột trong việc tạo ra giải thoát được nhìn nhận rộng rãi. Như vậy, trái tim con người, trái tim của hành tinh, tức là Thánh Đoàn, và trái tim của Thánh Đoàn, tức là Đức Christ, đang ở trong trạng thái tiếp xúc tích cực; khi kênh này được mở ra và không bị cản trở, thì Đức Christ sẽ đến. Không gì có thể ngăn chặn sự xuất hiện của Ngài và—dưới định luật—Ngài không thể quay lưng với cơ hội được trao ra.

Thus, eventually, the Lord of Love—in response to the invocative cry of humanity, aroused by the Principle of Conflict—must “proceed again to the high place of sacrifice and walk openly with men on Earth.” His heart, embodying as it does the love of God, is drawn forth from the heart of the planet (the Hierarchy) to the hearts of men, and the path of His return to Earth service stands unchallenged and unobstructed. Again, under law, a profound optimism is engendered and may be rightly developed.

Như vậy, cuối cùng, Chúa Tể của Bác Ái—đáp lại tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại, được Nguyên Khí Xung Đột khơi dậy—phải “một lần nữa tiến lên nơi cao của hi sinh và công khai bước đi với loài người trên Trái Đất.” Trái tim của Ngài, vì hiện thân cho tình thương của Thượng đế, được kéo ra từ trái tim của hành tinh (Thánh Đoàn) đến trái tim con người, và con đường Ngài trở lại phụng sự trên Trái Đất đứng vững, không bị thách thức và không bị cản trở. Một lần nữa, dưới định luật, một sự lạc quan sâu xa được sinh ra và có thể được phát triển một cách đúng đắn.

The heart centre of humanity is created by the sum total of the hearts (symbolically speaking) of all those men of goodwill (in or out of the churches and irrespective of their political concepts) who are serving their fellowmen, sponsoring human welfare movements, working for the establishing of right human relations, and constantly offsetting the separativeness of the human mind through the inclusiveness of the divine love nature. You have, therefore, as a guarantee of the return of Christ into public recognition, an implementing of a great alignment. This alignment, when effectively concluded, will bring about a clear channel or pathway of return or line of light or magnetic power between:

Trung tâm tim của nhân loại được tạo nên bởi tổng số các trái tim (nói theo biểu tượng) của tất cả những người thiện chí ấy (ở trong hay ngoài các giáo hội và bất kể quan niệm chính trị của họ) đang phụng sự đồng loại, bảo trợ các phong trào phúc lợi nhân loại, hoạt động cho việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, và không ngừng hóa giải tính chia rẽ của trí tuệ con người bằng tính bao gồm của bản chất bác ái thiêng liêng. Vì vậy, bạn có, như một bảo chứng cho sự trở lại của Đức Christ vào sự nhìn nhận công khai, một sự thực hiện của một chỉnh hợp lớn lao. Sự chỉnh hợp này, khi được hoàn tất một cách hữu hiệu, sẽ đem lại một kênh rõ ràng hay một con đường trở lại hay một đường ánh sáng hay quyền năng từ tính giữa:

1. The centre where the will of God is known. This is Shamballa where the will-to-good originates. This will-to-good is essential love. [620]

1. Trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến. Đây là Shamballa, nơi Ý Chí-hướng Thiện phát sinh. Ý Chí-hướng Thiện này là tình thương cốt yếu. [620]

2. The Hierarchy, which is the planetary heart centre.

2. Thánh Đoàn, là trung tâm tim của hành tinh.

3. The Christ, the very heart of love within the Hierarchy.

3. Đức Christ, chính là trái tim của bác ái bên trong Thánh Đoàn.

4. The initiates, disciples and aspirants who form the New Group of World Servers, seeking to embody the love and light needed in the world today.

4. Các điểm đạo đồ, đệ tử và người chí nguyện tạo thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đang tìm cách hiện thân cho tình thương và ánh sáng cần thiết trong thế giới ngày nay.

5. The hearts of the men of goodwill in all lands who are responsive to love as it can express itself through right human relations.

5. Trái tim của những người thiện chí ở mọi xứ sở, những người đáp ứng với tình thương khi nó có thể biểu lộ qua các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

6. The focal point through which the Lord of Love will work on Earth.

6. Tiêu điểm mà qua đó Chúa Tể của Bác Ái sẽ hoạt động trên Trái Đất.

If you will study this sixfold progression of divine love from the highest manifestation of Deity down to its appearance through the medium of some focal point in our known modern world, it will be apparent to you that a very definite “structure of approach” has been created, and that a “Path of Return” is being constructed which will bring the long-awaited Christ into our midst. Nothing can stop or prevent His return today; the evidence of this structure can be seen everywhere.

Nếu bạn nghiên cứu sự tiến triển lục phân này của tình thương thiêng liêng từ biểu hiện cao nhất của Thượng đế xuống đến sự xuất hiện của nó qua trung gian của một tiêu điểm nào đó trong thế giới hiện đại quen thuộc của chúng ta, thì bạn sẽ thấy rõ rằng một “cấu trúc tiếp cận” rất xác định đã được tạo ra, và một “Con Đường Trở Về” đang được xây dựng, con đường sẽ đưa Đức Christ được chờ đợi từ lâu vào giữa chúng ta. Không gì ngày nay có thể ngăn chặn hay cản trở sự trở lại của Ngài; bằng chứng của cấu trúc này có thể được thấy ở khắp nơi.

The Effect of the Ray of Harmony through Conflict in the modern world of Nations — Hiệu quả của cung Hài Hoà qua Xung Đột trong thế giới hiện đại của các Quốc gia

As we approach what some may regard as a highly controversial subject, I would remind you that we must attempt to see the picture whole in some such manner as the Agents of the divine Will see it, embracing the past of the nations involved (a past which is seldom good), seeing the effects of that past as they work out in the present and as they are the inevitable result of the Law of Cause and Effect, and attempting also to foresee the future in terms of lessons learnt and new habits of a better nature established (written in 1948). I would remind you also that the governing principle of this ray is conditioning all the nations and has done so with increasing potency since the year 1850. Just in the same manner as this principle of conflict controls the battling life of the aspirant and of the world aspirant, the entire human family, so it must [621] inevitably control the life of nations to a greater or lesser degree, according to their materialistic or their spiritual status, according to the type of energy which may be expressing itself through them, and according to the age of the nation under consideration. From certain angles, the youngest of the nations are Germany and Italy, for they only arrived at nationhood in the nineteenth century; the oldest nation with the clearest unified record is Japan. The United States of America is always regarded as a young nation, but from the angle of a unified central government, the two Axis Powers are still younger, and this has had a definite bearing on their activities.

Khi chúng ta tiến đến điều mà một số người có thể xem là một chủ đề rất gây tranh cãi, tôi muốn nhắc bạn rằng chúng ta phải cố gắng nhìn toàn cảnh theo một cách nào đó giống như các Tác Nhân của Ý Chí thiêng liêng nhìn thấy nó, bao quát quá khứ của các quốc gia liên hệ (một quá khứ hiếm khi tốt đẹp), thấy các hiệu quả của quá khứ ấy khi chúng vận hành trong hiện tại và khi chúng là kết quả tất yếu của Định luật Nhân Quả, đồng thời cũng cố gắng thấy trước tương lai theo các bài học đã học được và các thói quen mới có bản chất tốt đẹp hơn đã được thiết lập (viết năm 1948). Tôi cũng muốn nhắc bạn rằng nguyên lý chi phối của cung này đang tác động lên tất cả các quốc gia và đã làm như vậy với mãnh lực ngày càng tăng kể từ năm 1850. Cũng đúng như nguyên lý xung đột này kiểm soát đời sống chiến đấu của người chí nguyện và của người chí nguyện thế giới, tức toàn thể gia đình nhân loại, thì nó cũng tất yếu [621] kiểm soát đời sống của các quốc gia ở mức độ lớn hay nhỏ, tùy theo địa vị vật chất hay tinh thần của họ, tùy theo loại năng lượng có thể đang biểu lộ qua họ, và tùy theo tuổi đời của quốc gia đang được xét đến. Từ một số góc độ, trẻ nhất trong các quốc gia là Đức và Ý, vì họ chỉ đạt đến tư cách quốc gia trong thế kỷ mười chín; quốc gia lâu đời nhất với hồ sơ thống nhất rõ ràng nhất là Nhật Bản. Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ luôn được xem là một quốc gia trẻ, nhưng xét từ góc độ một chính quyền trung ương thống nhất, hai Cường quốc Trục còn trẻ hơn nữa, và điều này đã có ảnh hưởng rõ rệt lên các hoạt động của họ.

In the world at this time the two aspects of this fourth ray—the aspect or Principle of Conflict and the aspect or Principle of Harmony—are struggling to bring about the liberation into equilibrium of mankind. Until quite lately, the Principle of Conflict has grown increasingly in power, yet as a result of this conflict a definite trend towards harmony can be seen emerging in human thinking; the concept of harmony through the establishing of right human relations is slowly coming into recognition. The activities of mankind, and particularly of governments, have been ignobly selfish and controlled by the concepts of fighting, aggression and competition for untold millenia; the territories of the planet have changed hands many times and the earth has been the playground of a long succession of conquerors; the heroes of the race—perpetuated in history, stone and human thinking—have been the warriors, and conquest has been an ideal. The world war (1914-1945) marked a culminating point in the work of the Principle of Conflict and, as I have shown, the results of this work are today inaugurating a new era of harmony and cooperation because the trend of human thinking is towards the cessation of conflict. This is an event of major importance and should be regarded as indicating a turning point in human affairs. This trend is impulsed by a weariness of fighting, by a changing rating as to the values in human accomplishment, and by a recognition that true greatness [622] is not expressed through such activities as those of Alexander the Great, Julius Caesar, Napoleon or Hitler, but by those who see life, humanity and the world as one united whole, interrelated, cooperative and harmonised. Those who struggle for this world unity, and who educate the race in the Principles of Harmony and of right human relations, will some day be recognised as the true heroes.

Trong thế giới vào lúc này, hai phương diện của cung bốn này—phương diện hay Nguyên Khí Xung Đột và phương diện hay Nguyên Khí Hài Hoà—đang đấu tranh để đem lại sự giải phóng vào thế quân bình của nhân loại. Cho đến khá gần đây, Nguyên Khí Xung Đột đã ngày càng tăng quyền lực, tuy nhiên như một kết quả của xung đột này, một xu hướng rõ rệt hướng tới hài hoà có thể được thấy đang xuất hiện trong tư tưởng nhân loại; khái niệm về hài hoà qua việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người đang chậm rãi được nhìn nhận. Các hoạt động của nhân loại, và đặc biệt của các chính phủ, đã ích kỷ một cách thấp hèn và bị kiểm soát bởi các khái niệm chiến đấu, xâm lược và cạnh tranh trong vô số thiên niên kỷ; các lãnh thổ của hành tinh đã đổi chủ nhiều lần và trái đất đã là sân chơi của một chuỗi dài những kẻ chinh phục; các anh hùng của nhân loại—được lưu truyền trong lịch sử, trong đá và trong tư tưởng con người—đã là các chiến binh, và chinh phục đã là một lý tưởng. Đại chiến thế giới (1914-1945) đánh dấu một điểm cực thịnh trong công việc của Nguyên Khí Xung Đột và, như tôi đã chỉ ra, các kết quả của công việc này ngày nay đang khai mở một kỷ nguyên mới của hài hoà và hợp tác vì xu hướng của tư tưởng nhân loại là hướng tới sự chấm dứt xung đột. Đây là một biến cố có tầm quan trọng lớn lao và nên được xem như chỉ ra một bước ngoặt trong các công việc nhân loại. Xu hướng này được thúc đẩy bởi sự mệt mỏi vì chiến đấu, bởi một sự thay đổi trong cách đánh giá các giá trị của thành tựu nhân loại, và bởi sự nhìn nhận rằng sự vĩ đại đích thực [622] không được biểu lộ qua những hoạt động như của Alexander Đại Đế, Julius Caesar, Napoleon hay Hitler, mà bởi những ai nhìn sự sống, nhân loại và thế giới như một toàn thể hợp nhất, tương liên, hợp tác và hài hoà. Những ai đấu tranh cho sự hợp nhất thế giới này, và giáo dục nhân loại về các Nguyên Khí Hài Hoà và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, một ngày nào đó sẽ được nhìn nhận là những anh hùng chân chính.

The factor that must and will relate the Principle of Conflict to the expression of harmony and bring about the new world order, the new civilisation and culture, is the trend and the voice of public opinion, and the opportunity offered to people everywhere to bring about social security and right human relations. It is not the government of any nation which will bring this about, but the innate rightness of the people themselves when they have been educated to see the issues clearly, the relationships which should be established, and the immense subjective unity of mankind. This will not come about without an intensive period of planned education, of a truly free press and radio—both free to speak the exact truth and to present the facts as they occur, without being controlled or influenced by governmental interference, pressure groups, religious organisations, or by any dictating parties or dictators. The sin of the Roman Catholic Church is its effort to dictate to people what they should think—theologically and politically—what they should do, read and wear; this, to a still greater extent, is the crime of Russia. The mass of the people in the strictly Catholic countries are not as free in their thinking as are those living in the Protestant lands; the Russian people know no freedom and have no opportunity to form their own point of view; commercial interests and expediency impose restrictions in other countries. By means of these sources of control, the growth of true understanding is prevented, distorted or stunted. Curiously enough, the intention of the dictating agents, in both the Catholic Church and in Russia, is basically good; they believe that the uneducated masses are not fitted to decide for themselves what they should hear, think or [623] decide; they must therefore be protected—in the one case by decrees and prohibitions from the Vatican (via the organised priesthood) as to right attitude and right action to be followed without questioning; and in the other, by withholding the truth as to events and happenings. But men are awakening everywhere and—given some sound leadership, which at present is not to be found in any country in the world—they can be trusted to swing the tide into a great harmonising and unifying movement.

Yếu tố phải và sẽ liên hệ Nguyên Khí Xung Đột với sự biểu lộ của hài hoà và đem lại trật tự thế giới mới, nền văn minh và văn hoá mới, là xu hướng và tiếng nói của dư luận quần chúng, cùng cơ hội được trao cho con người ở khắp nơi để đem lại an sinh xã hội và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Không phải chính phủ của bất kỳ quốc gia nào sẽ đem lại điều này, mà là sự đúng đắn bẩm sinh của chính người dân khi họ đã được giáo dục để thấy rõ các vấn đề, các mối liên hệ cần được thiết lập, và sự hợp nhất chủ quan bao la của nhân loại. Điều này sẽ không xảy ra nếu không có một giai đoạn giáo dục chuyên sâu có kế hoạch, một nền báo chí và phát thanh thực sự tự do—cả hai đều tự do nói lên sự thật chính xác và trình bày các sự kiện như chúng xảy ra, mà không bị kiểm soát hay ảnh hưởng bởi sự can thiệp của chính phủ, các nhóm áp lực, các tổ chức tôn giáo, hay bất kỳ đảng phái hay nhà độc tài nào áp đặt. Tội lỗi của Giáo hội Công giáo La Mã là nỗ lực áp đặt cho con người phải nghĩ gì—về thần học và chính trị—phải làm gì, đọc gì và mặc gì; điều này, ở mức độ còn lớn hơn, là tội ác của nước Nga. Quần chúng ở các quốc gia thuần Công giáo không được tự do trong tư tưởng như những người sống ở các xứ Tin Lành; người dân Nga không biết đến tự do và không có cơ hội hình thành quan điểm riêng của mình; các quyền lợi thương mại và tính vụ lợi áp đặt những hạn chế ở các quốc gia khác. Bằng các nguồn kiểm soát này, sự tăng trưởng của sự thấu hiểu chân chính bị ngăn cản, bóp méo hoặc làm còi cọc. Điều kỳ lạ là ý định của các tác nhân áp đặt, cả trong Giáo hội Công giáo lẫn ở Nga, về căn bản là tốt; họ tin rằng quần chúng chưa được giáo dục không thích hợp để tự quyết định điều họ nên nghe, nghĩ hay [623] quyết định; vì thế họ phải được bảo vệ—trong trường hợp này bằng các sắc lệnh và cấm đoán từ Vatican (qua hàng giáo phẩm có tổ chức) về thái độ đúng và hành động đúng phải được tuân theo mà không được chất vấn; và trong trường hợp kia, bằng việc che giấu sự thật về các biến cố và sự việc. Nhưng con người đang thức tỉnh ở khắp nơi và—nếu được trao một sự lãnh đạo lành mạnh, điều hiện nay không thể tìm thấy ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới—họ có thể được tin cậy để xoay chuyển dòng triều thành một phong trào lớn lao của hài hoà và hợp nhất.

As we study the effect of the Principle of Conflict as the instigator of eventual harmony in relation to the nations. let us remember that the widespread extent of the conflict is indicative of climax, that the “points of crisis” which express the conflict are today well known to all men, that a “point of tension” has now been reached (of which the United Nations is a symbol) which will eventually prove to be the agent that will bring about a “point of emergence.” I would ask you to keep these three phrases—descriptive of the working of the Ray of Harmony through Conflict—constantly in mind in relation to developments in your own life, in the life of your nation or of any nation, and in the life of humanity as a whole. They embody the technique whereby the spiritual Hierarchy of our planet brings good out of evil without originating the evil or infringing the free will of mankind.

Khi chúng ta nghiên cứu hiệu quả của Nguyên Khí Xung Đột như kẻ khởi phát của sự hài hoà sau cùng trong mối liên hệ với các quốc gia, hãy nhớ rằng mức độ lan rộng của xung đột là dấu hiệu của cực điểm, rằng các “điểm khủng hoảng” biểu lộ xung đột ngày nay đều đã được mọi người biết rõ, rằng một “điểm tập trung nhất tâm” nay đã đạt tới (mà Liên Hiệp Quốc là một biểu tượng) và cuối cùng sẽ chứng tỏ là tác nhân đem lại một “điểm xuất hiện.” Tôi muốn yêu cầu bạn luôn ghi nhớ ba cụm từ này—mô tả hoạt động của cung Hài Hoà qua Xung Đột—trong mối liên hệ với các diễn biến trong chính đời sống của bạn, trong đời sống của quốc gia bạn hay của bất kỳ quốc gia nào, và trong đời sống của toàn thể nhân loại. Chúng hiện thân cho kỹ thuật mà Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta dùng để rút điều thiện ra từ điều ác mà không khởi sinh điều ác hay xâm phạm ý chí tự do của nhân loại.

There are certain nations which are necessarily more responsive to the energy of this fourth ray than some of the others, because it is either the energy which is conditioning their personality activities or that which conditions their soul expression. Forget not that nations are like individuals, expressive of soul and body. The nations responsive to this ray energy are:

Có một số quốc gia tất yếu đáp ứng với năng lượng cung bốn này nhiều hơn một số quốc gia khác, bởi vì đó hoặc là năng lượng đang tác động lên các hoạt động phàm ngã của họ hoặc là năng lượng tác động lên sự biểu lộ linh hồn của họ. Đừng quên rằng các quốc gia cũng như các cá nhân, biểu lộ linh hồn và thể xác. Các quốc gia đáp ứng với năng lượng cung này là:

India, whose personality or material ray is that of Harmony through Conflict. This could be seen in full expression in that unhappy country during the years 1947-1948. India is old and crystallised in her separativeness, in her myriads of diversified sects and religious groups, in her manifold languages and in her ancient antagonisms; [624] it will be long before there is any basic synthesis or harmony. There lies her problem, and unfortunately she lacks pure disinterested leadership; as is the case elsewhere in the world, party politics and religious cleavages condition her many peoples. The soul energy of India is that of the Will to Power or government, but that spiritual energy will not come into true activity until she has resolved her many differences and has returned to the old ways of spiritual understanding and of enlightened wisdom which distinguished her many centuries ago. India has nearly lost the light, but when she has passed through the coming points of crisis, and has achieved a point of united tension, then she will find the door or point of emergence into light.

Ấn Độ, mà cung phàm ngã hay cung vật chất là Hài Hoà qua Xung Đột. Điều này có thể được thấy biểu lộ trọn vẹn tại quốc gia bất hạnh ấy trong các năm 1947-1948. Ấn Độ già cỗi và kết tinh trong tính chia rẽ của mình, trong vô số giáo phái và nhóm tôn giáo đa dạng, trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và trong các đối kháng cổ xưa của mình; [624] sẽ còn lâu mới có được bất kỳ sự tổng hợp hay hài hoà căn bản nào. Đó là vấn đề của bà, và đáng tiếc là bà thiếu sự lãnh đạo thuần khiết vô tư; cũng như ở những nơi khác trên thế giới, chính trị đảng phái và các chia rẽ tôn giáo tác động lên nhiều dân tộc của bà. Năng lượng linh hồn của Ấn Độ là Ý Chí hướng tới Quyền lực hay cai quản, nhưng năng lượng tinh thần đó sẽ không đi vào hoạt động chân chính cho đến khi bà giải quyết được nhiều dị biệt của mình và trở về với những con đường xưa của sự thấu hiểu tinh thần và minh triết giác ngộ đã từng làm nên nét đặc trưng của bà nhiều thế kỷ trước. Ấn Độ gần như đã đánh mất ánh sáng, nhưng khi bà đã đi qua các điểm khủng hoảng sắp tới, và đã đạt được một điểm nhất tâm hợp nhất, thì bà sẽ tìm thấy cánh cửa hay điểm xuất hiện đi vào ánh sáng.

The ray governing the soul expression of the German race is that of Harmony through Conflict, but her materialistic personality, focussed in the emotional nature and not yet under control of the soul, is conditioned by the first Ray of Power. Germany as a nation is too young, immature, and negative to realise the true uses of power; she lacks the wisdom to use power, and her sense of inferiority (based on youth) leads her to misuse it when she has it. The German race is very old, and the German leaders during the past one hundred years have confused racial issues and national ambitions. Races are basically subjective, and nations are basically objective. Their leaders have permitted the ideal of power (which is a great spiritual responsibility) to lead them to make the Germanic race synchronise with the German nation. It was this immaturity and this misguided and almost childish ambition which set the Principle of Conflict operating violently through the world war (1914-1945) in order to bring to an end the increasing nationalism of Germany and of all the nations. Great Britain is at the point of emergence from the nationalistic thoughtform; the United States and Russia are arriving—the first at the point of tension where the concept is concerned, and the other at the point of crisis. Germany’s point of crisis and of tension led to the explosion of the world war; nevertheless, after due process of pain, of re-education [625] and of training in right human relations, the German people will discover their soul, and then the soul-infused personality of the German people will demonstrate in a unique manner the significance of harmony. The basic and subjective synthesis of the Germanic race must not be confused with the separate nation of the German people, and the underlying emotional and sentimental unity (using the word “sentimental” in its correct sense) must not be confounded with territorial unity. There is a racial and subjective unity between the British Commonwealth of Nations and the United States of America, but this in turn must not be confused with the outer national groupings and aims.

Cung chi phối sự biểu lộ linh hồn của nhân loại Đức là Hài Hoà qua Xung Đột, nhưng phàm ngã duy vật của họ, tập trung trong bản chất cảm xúc và chưa được linh hồn kiểm soát, lại bị tác động bởi Cung một Quyền lực. Đức với tư cách một quốc gia còn quá trẻ, non nớt và tiêu cực để nhận ra những cách sử dụng chân chính của quyền lực; bà thiếu minh triết để sử dụng quyền lực, và cảm giác tự ti của bà (dựa trên tuổi trẻ) khiến bà lạm dụng nó khi có được nó. Nhân loại Đức thì rất cổ xưa, và các nhà lãnh đạo Đức trong một trăm năm qua đã nhầm lẫn các vấn đề chủng tộc với các tham vọng quốc gia. Các chủng tộc về căn bản là chủ quan, còn các quốc gia về căn bản là khách quan. Các nhà lãnh đạo của họ đã để cho lý tưởng quyền lực (vốn là một trách nhiệm tinh thần lớn lao) dẫn họ đến chỗ làm cho nhân loại Germanic đồng bộ với quốc gia Đức. Chính sự non nớt này và tham vọng lầm lạc, gần như trẻ con này đã khiến Nguyên Khí Xung Đột vận hành dữ dội qua đại chiến thế giới (1914-1945) nhằm chấm dứt chủ nghĩa dân tộc ngày càng tăng của Đức và của mọi quốc gia. Đại Anh đang ở điểm xuất hiện ra khỏi hình tư tưởng quốc gia chủ nghĩa; Hoa Kỳ và Nga đang tiến đến—nước thứ nhất đến điểm tập trung nhất tâm xét về khái niệm này, còn nước kia đến điểm khủng hoảng. Điểm khủng hoảng và điểm nhất tâm của Đức đã dẫn đến sự bùng nổ của đại chiến thế giới; tuy nhiên, sau một tiến trình thích đáng của đau khổ, tái giáo dục [625] và huấn luyện trong các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, dân tộc Đức sẽ khám phá linh hồn của mình, và khi đó phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của dân tộc Đức sẽ biểu lộ theo một cách độc đáo ý nghĩa của hài hoà. Sự tổng hợp căn bản và chủ quan của nhân loại Germanic không được nhầm lẫn với quốc gia riêng biệt của dân tộc Đức, và sự hợp nhất cảm xúc và tình cảm nằm bên dưới (dùng từ “tình cảm” theo nghĩa đúng của nó) không được lẫn lộn với sự hợp nhất lãnh thổ. Có một sự hợp nhất chủng tộc và chủ quan giữa Khối Thịnh vượng chung Anh và Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, nhưng điều này cũng không được nhầm lẫn với các tập hợp và mục tiêu quốc gia bên ngoài.

Italy also is influenced by the Ray of Harmony through Conflict because her personality or material expression is conditioned by this ray. During the world war, Italy had a king, a dictator, and a pope, and this produced a vortex of conflict in the highly intelligent Italian people. The dictator is no longer there; the monarchy has also disappeared, and only the continuing voice of the Vatican is left, but—curiously enough—receives less attention in Italy than in the other Catholic countries. Conflict during the centuries has done much for the Italian people, and their highly extraverted psychology has produced in them a balance which may prove most promising in the future. The conflict of thought through which they have passed during the past one hundred years has worked well for them. Torn as they are by party politics, in revolt against ecclesiasticism, and lacking leadership, they are nevertheless well on the way to the resolution of their problem.

Ý cũng chịu ảnh hưởng của cung Hài Hoà qua Xung Đột vì sự biểu lộ phàm ngã hay vật chất của bà bị tác động bởi cung này. Trong đại chiến thế giới, Ý có một vị vua, một nhà độc tài và một giáo hoàng, và điều này tạo ra một xoáy lốc xung đột trong dân tộc Ý rất thông minh. Nhà độc tài không còn nữa; chế độ quân chủ cũng đã biến mất, và chỉ còn tiếng nói liên tục của Vatican, nhưng—điều kỳ lạ là—ở Ý lại nhận được ít chú ý hơn ở các quốc gia Công giáo khác. Xung đột trong nhiều thế kỷ đã làm được nhiều điều cho dân tộc Ý, và tâm lý học rất hướng ngoại của họ đã tạo ra nơi họ một sự quân bình có thể tỏ ra đầy hứa hẹn trong tương lai. Xung đột tư tưởng mà họ đã trải qua trong một trăm năm qua đã tác động tốt cho họ. Bị xé rách bởi chính trị đảng phái, nổi loạn chống giáo quyền, và thiếu lãnh đạo, tuy nhiên họ vẫn đang trên đường đi tốt đẹp tới việc giải quyết vấn đề của mình.

When the fourth Ray of Harmony through Conflict is the energy expressing itself through the soul, the indications are that the country concerned is nearing the Path of Discipleship or the Path of Probation. Austria and Germany are nearing the Path of Discipleship; Brazil is on the Path of Probation and will rapidly move forward; Austria is nearer true discipleship than is Germany and, spiritually, Austria has much eventually to give. Spiritual [626] leadership will not be lacking once a measure of security and better living conditions have been assured. Germany has a bitter price to pay because her immaturity and childish interpretation of world affairs, her lack of thinking capacity and her curious innate cruelty permitted the Forces of Evil (temporarily) to work through Germany and precipitate the world conflict. But Germany will recover, provided she does not again permit herself to become a battleground, owing to her strategic position in central Europe. It is for this recovery that all men of goodwill must work.

Khi cung bốn Hài Hoà qua Xung Đột là năng lượng biểu lộ qua linh hồn, các dấu hiệu cho thấy quốc gia liên hệ đang tiến gần Con Đường Đệ Tử hoặc Con Đường Dự Bị. Áo và Đức đang tiến gần Con Đường Đệ Tử; Brazil đang ở trên Con Đường Dự Bị và sẽ nhanh chóng tiến lên; Áo gần với địa vị đệ tử chân chính hơn Đức và, về mặt tinh thần, Áo cuối cùng còn có nhiều điều để cống hiến. Sự lãnh đạo tinh thần [626] sẽ không thiếu một khi một mức độ an ninh và điều kiện sống tốt hơn đã được bảo đảm. Đức phải trả một giá cay đắng vì sự non nớt và cách diễn giải trẻ con của bà về các công việc thế giới, sự thiếu năng lực tư duy và sự tàn nhẫn bẩm sinh kỳ lạ của bà đã cho phép các Lực lượng Ác tà (tạm thời) hoạt động qua Đức và làm ngưng tụ xung đột thế giới. Nhưng Đức sẽ hồi phục, miễn là bà không một lần nữa cho phép mình trở thành một chiến trường, do vị trí chiến lược của bà ở trung Âu. Chính cho sự hồi phục này mà mọi người thiện chí phải hoạt động.

It is perhaps appropriate to point out here that the spiritual forces of the planet do not greatly fear a renewed outbreak of war upon the physical plane. There are many chances that it can be averted because the mounting revolt of the masses against physical plane war, the general fatigue of the nations and the use of the United Nations councils for the ventilation of difficulties and problems may prove effective.

Có lẽ thích hợp để chỉ ra ở đây rằng các lực lượng tinh thần của hành tinh không quá lo sợ về một sự bùng nổ chiến tranh mới trên cõi hồng trần. Có nhiều khả năng điều đó có thể được ngăn ngừa vì sự nổi dậy ngày càng tăng của quần chúng chống lại chiến tranh trên cõi hồng trần, sự mệt mỏi chung của các quốc gia và việc sử dụng các hội đồng Liên Hiệp Quốc để thông khí các khó khăn và vấn đề có thể tỏ ra hữu hiệu.

Each of the three Great Powers has its own internal conflict, conditioned by its historical tradition, its national emphases, and its developed habits of thought or—as the case may be—of feeling.

Mỗi một trong ba Cường quốc đều có xung đột nội bộ riêng, bị tác động bởi truyền thống lịch sử, các điểm nhấn quốc gia, và các thói quen tư tưởng đã phát triển của mình hoặc—tuỳ trường hợp—của cảm xúc.

The major conflict in Great Britain at this time is between the reactionary thinkers and those unskilled labourers in the political field who favour the socialistic ideology. This conflict goes deep and is undermining and destroying old forms and producing intense national friction in all groups and parties. One group is fighting to preserve the old order; the other group is fighting fiercely to abolish all the old ways in the shortest possible time; other groups are fighting for their various ideologies and complicating the problem. The interesting thing is that the conflict is largely between party leaders and their immediate convinced followers, with the mass of people questioning the wisdom, the capacity and the activities of both groups and slowly deciding that they like and desire neither of them, but (lacking real leadership) they know not what [627] to do. The predisposing characteristic of the British is a sense of justice and it is for this that the people seek. They find, however, that neither party has an effective plan or programme, that both are animated by party politics, and that the interests of the people as a whole which could be served by a wise coalition are not of major importance to the present party leaders. This internal conflict is slowly, however, going to produce a harmony of purpose and of intention within the mind of the population; this will largely be the result of the increasing power of women in the land and their increasing penetration in municipal and national politics. The quality of the British historical retrospect has been predominantly masculine. Today the balancing factor of feminine interpretation and the feminine point of view is needed and will be provided. Great Britain, from the angle of its personality or material problem, is governed by the energy or Ray of Will or Power, whilst the soul of the country is conditioned by the Ray of Love-Wisdom. In this you have the presentation of a positive and a negative energy, and when they are fused and blended you will have a balance and a wisdom which is at present lacking.

Xung đột chủ yếu ở Đại Anh vào lúc này là giữa các nhà tư tưởng phản động và những người lao động không lành nghề trong lĩnh vực chính trị, những người ủng hộ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Xung đột này đi rất sâu và đang làm xói mòn, phá huỷ các hình tướng cũ và tạo ra sự ma sát quốc gia dữ dội trong mọi nhóm và đảng phái. Một nhóm đang chiến đấu để bảo tồn trật tự cũ; nhóm kia đang chiến đấu dữ dội để bãi bỏ mọi lề lối cũ trong thời gian ngắn nhất có thể; các nhóm khác đang chiến đấu cho các hệ tư tưởng khác nhau của họ và làm cho vấn đề thêm phức tạp. Điều thú vị là xung đột phần lớn diễn ra giữa các lãnh tụ đảng và những người theo họ một cách xác tín trực tiếp, trong khi quần chúng thì đang đặt câu hỏi về minh triết, năng lực và hoạt động của cả hai nhóm và chậm rãi quyết định rằng họ không thích và cũng không mong muốn nhóm nào cả, nhưng (vì thiếu sự lãnh đạo thực sự) họ không biết [627] phải làm gì. Đặc tính thiên hướng của người Anh là ý thức về công lý và chính điều này là điều dân chúng tìm kiếm. Tuy nhiên, họ nhận thấy rằng không đảng nào có một kế hoạch hay chương trình hữu hiệu, rằng cả hai đều bị thúc đẩy bởi chính trị đảng phái, và rằng quyền lợi của toàn thể dân chúng, vốn có thể được phụng sự bởi một liên minh khôn ngoan, lại không phải là điều quan trọng hàng đầu đối với các lãnh tụ đảng hiện nay. Tuy nhiên, xung đột nội bộ này sẽ chậm rãi tạo ra một sự hài hoà về mục đích và ý định trong trí tuệ của dân chúng; điều này phần lớn sẽ là kết quả của quyền lực ngày càng tăng của phụ nữ trong nước và sự thâm nhập ngày càng tăng của họ vào chính trị địa phương và quốc gia. Phẩm tính của cái nhìn hồi cố lịch sử của người Anh chủ yếu là nam tính. Ngày nay cần đến yếu tố quân bình của sự diễn giải nữ tính và quan điểm nữ tính, và điều đó sẽ được cung cấp. Đại Anh, xét từ góc độ vấn đề phàm ngã hay vật chất của mình, được chi phối bởi năng lượng hay cung Ý Chí hoặc Quyền lực, trong khi linh hồn của quốc gia này bị tác động bởi cung Bác Ái – Minh Triết. Trong điều này bạn có sự trình bày của một năng lượng dương và một năng lượng âm, và khi chúng được dung hợp và hòa trộn, bạn sẽ có một sự quân bình và một minh triết hiện nay còn thiếu.

In France, where the contributing rays are both along the line of the intellect, you have necessarily and naturally a strong materialistic influence and the conflict there is hard to resolve. It is ever the mind aspect which produces all the separativeness, the cleavages and the differences in the human arena in France, making it the playground of untold numbers of conflicting ideas, a diversity of groups and of clashing personalities, and leading to an intense preoccupation with France and its welfare; there is small interest in anything else, or in any other nations or groups, except as they affect France or the French people. The French are in no way as yet ready to balance conflict with harmony, even interiorly. The qualities of the mind—pride, self-centredness, a separative attitude, a selfish planning and a materialism which penetrates deep into the mass consciousness—are dominating in their activity and are [628] focussed upon the material well-being of France. There is no dominant ideology, so that the conflict is not lifted on to the ideological level, and until a recognised idealism begins to sway the French mind and the mass consciousness, France cannot grow; there is no basic religious or spiritual sense to be found on a large scale, because the mind which can so inspiringly illumine the plane of the spirit is focussed primarily upon the three worlds of material living. This pronounced activity of the intellect, of which the French are so proud, is largely responsible for the situation in the political and economic fields in France, plus the difficulties which they share with all the nations which were implicated in the war. Any prospect of internal harmony is still far away but it will come. Forget not what I wrote much earlier in one of my books that it is France which will eventually reveal the true nature of the soul or of the psyche and inaugurate the era of true esoteric psychology. To do this she must inevitably find her own soul, and in finding it—through the medium of the illumined mind—she will bring light to humanity. The conflict now raging in France will eventually be resolved into harmony, and France will awaken to the higher spiritual values. Once her soul ray of pure knowledge is active, it will dominate her personality or material Ray of Active Intelligence, once the most powerful of all the rays. The task of the Ray of Harmony through Conflict is to bring this about, thus releasing France into the light.

Ở Pháp, nơi các cung đóng góp đều nằm trên đường của trí tuệ, tất yếu và tự nhiên có một ảnh hưởng duy vật mạnh mẽ và xung đột ở đó khó giải quyết. Chính phương diện trí tuệ luôn tạo ra mọi tính chia rẽ, các phân cách và dị biệt trong đấu trường nhân loại ở Pháp, khiến nước này trở thành sân chơi của vô số ý tưởng xung đột, một sự đa dạng của các nhóm và các phàm ngã va chạm nhau, và dẫn đến một sự bận tâm mãnh liệt với nước Pháp và phúc lợi của nước này; hầu như không có mối quan tâm nào đến bất cứ điều gì khác, hay đến bất kỳ quốc gia hay nhóm nào khác, ngoại trừ khi chúng ảnh hưởng đến nước Pháp hay dân tộc Pháp. Người Pháp hiện chưa sẵn sàng theo bất kỳ cách nào để quân bình xung đột với hài hoà, ngay cả trong nội tâm. Các phẩm tính của trí tuệ—kiêu hãnh, sự tập trung vào bản thân, thái độ chia rẽ, sự hoạch định ích kỷ và một chủ nghĩa duy vật thấm sâu vào tâm thức quần chúng—đang chi phối hoạt động của họ và đang [628] tập trung vào phúc lợi vật chất của nước Pháp. Không có một hệ tư tưởng chi phối nào, nên xung đột không được nâng lên cấp độ hệ tư tưởng, và cho đến khi một chủ nghĩa lý tưởng được nhìn nhận bắt đầu chi phối trí tuệ Pháp và tâm thức quần chúng, nước Pháp không thể tăng trưởng; không có cảm thức tôn giáo hay tinh thần căn bản nào được tìm thấy trên quy mô lớn, bởi vì trí tuệ, vốn có thể soi sáng cõi tinh thần một cách đầy cảm hứng, lại chủ yếu tập trung vào ba cõi giới của đời sống vật chất. Hoạt động nổi bật này của trí tuệ, điều mà người Pháp rất tự hào, phần lớn chịu trách nhiệm cho tình hình trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế ở Pháp, cộng với những khó khăn mà họ chia sẻ với tất cả các quốc gia đã bị lôi cuốn vào chiến tranh. Bất kỳ triển vọng nào về hài hoà nội bộ vẫn còn rất xa nhưng nó sẽ đến. Đừng quên điều tôi đã viết sớm hơn nhiều trong một trong các sách của tôi rằng chính nước Pháp cuối cùng sẽ mặc khải bản chất chân thật của linh hồn hay của psyche và khai mở kỷ nguyên của Tâm Lý Học Nội Môn chân chính. Để làm điều này, bà tất yếu phải tìm thấy linh hồn của chính mình, và khi tìm thấy nó—qua trung gian của trí tuệ được soi sáng—bà sẽ mang ánh sáng đến cho nhân loại. Xung đột hiện đang diễn ra ở Pháp cuối cùng sẽ được giải quyết thành hài hoà, và nước Pháp sẽ thức tỉnh đối với các giá trị tinh thần cao hơn. Một khi cung linh hồn của bà là tri thức thuần khiết hoạt động, nó sẽ chi phối cung phàm ngã hay cung vật chất của bà là Trí Tuệ Hoạt Động, vốn từng là mạnh nhất trong tất cả các cung. Nhiệm vụ của cung Hài Hoà qua Xung Đột là đem lại điều này, nhờ đó giải phóng nước Pháp vào trong ánh sáng.

In the United States, this fourth energy is peculiarly active, because of the conflict of races, nations, ideas, political theories, immature development, corrupt politics, and childish selfishness; this is more prevalent among the leaders in the municipalities and in politics than it is among the masses of little people in every state, who are basically sound though easily misled by their so-called leaders; the southern states are, however, almost unbelievably degenerated and deluded. Remember always, as we look at these various nations dispassionately, that we are concerned with the same trends and ideas which are to be [629] found in each individual aspirant—the conflict of ingrained personality habits and thoughts and faults, with a steadily increasing soul pressure. The United States, though one of the younger nations, is—owing to the many racial types represented—one of the oldest; this curious balancing must inevitably lead to a rapid development, with a consequent assumption of power, a growing incentive to love and a shouldering of responsibility.

Ở Hoa Kỳ, năng lượng cung bốn này hoạt động một cách đặc biệt, vì xung đột của các chủng tộc, quốc gia, ý tưởng, lý thuyết chính trị, sự phát triển non nớt, chính trị thối nát, và tính ích kỷ trẻ con; điều này phổ biến nơi các nhà lãnh đạo ở các đô thị và trong chính trị hơn là nơi quần chúng bình dân ở mọi tiểu bang, những người về căn bản là lành mạnh dù dễ bị các nhà lãnh đạo tự xưng của họ dẫn lạc; tuy nhiên, các bang miền nam thì gần như suy đồi và mê lầm đến khó tin. Hãy luôn nhớ, khi chúng ta nhìn các quốc gia khác nhau này một cách vô tư, rằng chúng ta đang đề cập đến cùng những xu hướng và ý tưởng được [629] tìm thấy nơi mỗi người chí nguyện cá nhân—xung đột giữa các thói quen, tư tưởng và lỗi lầm ăn sâu của phàm ngã với áp lực linh hồn ngày càng tăng đều đặn. Hoa Kỳ, dù là một trong những quốc gia trẻ hơn, lại—do nhiều loại chủng tộc được đại diện—là một trong những quốc gia cổ hơn; sự quân bình kỳ lạ này tất yếu sẽ dẫn đến một sự phát triển nhanh chóng, với việc đảm nhận quyền lực tiếp theo, một động lực bác ái ngày càng tăng và sự gánh vác trách nhiệm.

The conflict in the United States is between a love of freedom which amounts almost to irresponsibility and license, and a growing humanitarian ideology which will result in world service and non-separateness. The rays of energy governing the United States are the 6th Ray of Idealism, which is the energy of the country’s personality, and the 2nd Ray of Love-Wisdom, which governs the soul of the country. I would here point out to you that it is the soul ray of the United States which relates it to Great Britain. The sixth ray personality energy (at the present stage of unfoldment) produces an idealism which requires transmuting and changing from an idealism intensely preoccupied with the preservation of a high standard of living and physical comfort to an idealistic appreciation of the real spiritual values; these are at present veiled and hidden in the material philosophy of the country. The youthful interpretation of this idealism can be seen in the complete conviction of the American people that everything in the United States is better than anything anywhere else, in its willingness to tell all the world what should or should not be done, in its revolt from all controls, in its unthinking acceptance of any information which falls in with its preconceived ideas and prejudices; the mature aspect of American idealism leads its people to a prompt response to the good, the beautiful and the true, to the expression of an active humanitarianism and an invocative spiritual approach to reality.

Xung đột ở Hoa Kỳ là giữa một tình yêu tự do gần như thành vô trách nhiệm và buông thả, với một hệ tư tưởng nhân đạo đang tăng trưởng, hệ tư tưởng này sẽ dẫn đến phụng sự thế giới và tính không chia rẽ. Các cung năng lượng chi phối Hoa Kỳ là cung sáu Lý Tưởng, là năng lượng của phàm ngã quốc gia, và cung hai Bác Ái – Minh Triết, chi phối linh hồn quốc gia. Ở đây tôi muốn chỉ cho bạn rằng chính cung linh hồn của Hoa Kỳ liên hệ nước này với Đại Anh. Năng lượng phàm ngã cung sáu (ở giai đoạn khai mở hiện nay) tạo ra một chủ nghĩa lý tưởng cần được chuyển hoá và thay đổi từ một chủ nghĩa lý tưởng bận tâm mãnh liệt với việc bảo tồn mức sống cao và tiện nghi thể xác sang một sự đánh giá lý tưởng về các giá trị tinh thần chân thật; các giá trị này hiện đang bị che phủ và ẩn giấu trong triết lý duy vật của quốc gia. Sự diễn giải trẻ trung của chủ nghĩa lý tưởng này có thể được thấy trong niềm xác tín hoàn toàn của người Mỹ rằng mọi thứ ở Hoa Kỳ đều tốt hơn bất cứ thứ gì ở bất cứ nơi nào khác, trong sự sẵn sàng nói cho cả thế giới biết điều gì nên hay không nên làm, trong sự nổi loạn chống lại mọi kiểm soát, trong sự chấp nhận thiếu suy nghĩ bất kỳ thông tin nào phù hợp với các ý tưởng và thành kiến có sẵn của họ; phương diện trưởng thành của chủ nghĩa lý tưởng Mỹ dẫn dân chúng của họ đến một đáp ứng mau lẹ với điều thiện, điều đẹp và điều chân, đến sự biểu lộ của một chủ nghĩa nhân đạo tích cực và một cách tiếp cận tinh thần mang tính khẩn cầu đối với thực tại.

It is interesting to note the unusual alignment of ray energies to be found at this time in the United States: [630]

Thật thú vị khi lưu ý sự chỉnh hợp khác thường của các năng lượng cung hiện có vào lúc này ở Hoa Kỳ: [630]

The energy of the soul…Ray of Love-Wisdom…Ray II

Năng lượng của linh hồn…cung Bác Ái – Minh Triết…cung II

The energy of the personality…Ray of Idealism…Ray VI

Năng lượng của phàm ngã…cung Lý Tưởng…cung VI

The energy relating the two…Ray of Harmony through conflict…Ray IV

Năng lượng liên hệ hai cung ấy…cung Hài Hoà qua xung đột…cung IV

These Rays—2, 4, 6—are all on the second line of spiritual energy and lack all the stiffening and strengthening dualities of the first line of ray energy—l, 3, 5, 7—which are governed by Will or Power. The American civilisation, with all its clamour of youthful precocity, is in reality the heir of the passing sixth ray civilisation, the Piscean; therefore, you have here the reason for the tendency of the American people to adopt violently conditioning idealisms and ideologies. It is the idealistic tendency in conflict with pronounced materialistic trends of this particular modern era which will finally evoke the harmony which will liberate the spirit of America, which will reveal to its people that it is one world and which will enable the people of this land to harmonise with the rest of the world and draw forth the loving response of other nations. It is for this that the men of goodwill must work.

Các cung này—2, 4, 6—đều nằm trên tuyến thứ hai của năng lượng tinh thần và thiếu mọi nhị nguyên tính làm cứng và tăng cường của tuyến thứ nhất của năng lượng cung—1, 3, 5, 7—vốn được chi phối bởi Ý Chí hay Quyền lực. Nền văn minh Mỹ, với tất cả sự ồn ào của tính chín sớm trẻ trung, trên thực tế là người thừa kế của nền văn minh cung sáu đang qua đi, nền văn minh Song Ngư; vì vậy, ở đây bạn có lý do cho khuynh hướng của người Mỹ chấp nhận một cách mãnh liệt các chủ nghĩa lý tưởng và hệ tư tưởng có tính tác động mạnh. Chính khuynh hướng lý tưởng đang xung đột với các xu hướng duy vật rõ rệt của kỷ nguyên hiện đại đặc biệt này cuối cùng sẽ gợi lên sự hài hoà sẽ giải phóng tinh thần của nước Mỹ, sẽ mặc khải cho dân chúng của nước này rằng chỉ có một thế giới và sẽ giúp dân chúng của xứ sở này hài hoà với phần còn lại của thế giới và rút ra đáp ứng bác ái của các quốc gia khác. Chính cho điều này mà những người thiện chí phải hoạt động.

Russia is, if you could but realise it, a battleground today within her own sealed walls. Her iron curtain is to Russia what the Monroe Doctrine was to the American people. In connection with all the three Great Powers—the U.S.S.R., the U.S.A. and the U.K.—certain major conflicts are being specifically precipitated; these will fundamentally affect the destiny of humanity. These three nations constitute the three points of a most potent world triangle of energy, and once there is a free circulation and a true understanding established between them, then world peace will be assured and the Christ can come. This understanding and this free harmony (if I may use such a term) will come as the result of each of the three Nations arriving at a real measure of internal harmony as a result of their own particular conflict, and then moving forward in an effort to harmonise with each other and the rest of the world.

Nga, nếu bạn chỉ có thể nhận ra điều đó, ngày nay là một chiến trường bên trong những bức tường khép kín của chính mình. Bức màn sắt của bà đối với nước Nga cũng giống như Học thuyết Monroe đối với người dân Mỹ. Liên quan đến cả ba Cường quốc—Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh Quốc—một số xung đột lớn đang được làm ngưng tụ một cách đặc biệt; những xung đột này sẽ ảnh hưởng căn bản đến số phận của nhân loại. Ba quốc gia này tạo thành ba điểm của một tam giác năng lượng thế giới cực kỳ mãnh liệt, và một khi có sự lưu thông tự do và một sự thấu hiểu chân chính được thiết lập giữa họ, thì hoà bình thế giới sẽ được bảo đảm và Đức Christ có thể quang lâm. Sự thấu hiểu này và sự hài hoà tự do này (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy) sẽ đến như kết quả của việc mỗi một trong ba Quốc gia đạt đến một mức độ hài hoà nội bộ thực sự như kết quả của xung đột riêng của mình, rồi sau đó tiến lên trong nỗ lực hài hoà với nhau và với phần còn lại của thế giới.

Russia has the same personality ray as the United [631] States and her seventh ray soul (conditioned by the Ray of Order) is closely related to the personality ray of Great Britain, the first Ray of Will or Power; the will aspect of divinity works out on the physical plane as the seventh Ray of Order or of conformity to the inner divine will.

Nga có cùng cung phàm ngã với Hoa [631] Kỳ và cung linh hồn bảy của bà (bị tác động bởi cung Trật Tự) liên hệ chặt chẽ với cung phàm ngã của Đại Anh, cung một Ý Chí hay Quyền lực; phương diện ý chí của thiên tính được biểu lộ trên cõi hồng trần như cung bảy Trật Tự hay sự tuân hợp với ý chí thiêng liêng bên trong.

The interior problem of the U.S.S.R. is the conflict raging between the imposed, arrogant will of a handful of powerful dictators and the fluid, unstable and ignorant reaction of a people from whom the truth is constantly withheld; they therefore have to fight blindly for their freedom, to fight instinctively and without knowledge of the facts. They are not yet waging a successful fight.

Vấn đề nội tại của Liên Xô là xung đột đang diễn ra giữa ý chí áp đặt, ngạo mạn của một nhóm nhỏ các nhà độc tài quyền lực và phản ứng linh động, bất ổn và thiếu hiểu biết của một dân tộc mà sự thật luôn bị che giấu; vì thế họ phải chiến đấu một cách mù quáng cho tự do của mình, chiến đấu theo bản năng và không biết các sự kiện. Họ chưa tiến hành một cuộc chiến thành công.

The point, however, which is of major importance to us is the recognition that each of these three nations is distinguished by:

Tuy nhiên, điểm có tầm quan trọng chủ yếu đối với chúng ta là sự nhìn nhận rằng mỗi một trong ba quốc gia này đều được phân biệt bởi:

a. A similarity of problem.

a. Một sự tương đồng về vấn đề.

b. A battleground which is leading to the formation of a triangle of relationships brought about through the Principle of Conflict.

b. Một chiến trường đang dẫn đến sự hình thành một tam giác các mối liên hệ được tạo ra qua Nguyên Khí Xung Đột.

The similarity of problems consists in the fact that each of these three nations is essentially composite in nature and is formed by an amalgamation of many nations, of many peoples speaking many different languages, and is consequently staging a great experiment in fusion.

Sự tương đồng về các vấn đề nằm ở chỗ mỗi một trong ba quốc gia này về căn bản đều có bản chất tổng hợp và được hình thành bởi sự hòa trộn của nhiều quốc gia, của nhiều dân tộc nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, và do đó đang tiến hành một thí nghiệm lớn về dung hợp.

1. The U.K. is the nucleus or the living germ of the British Commonwealth of Nations wherein a great experiment in free government is being tried out; this gives complete internal freedom and choice to each related Dominion, plus an equally complete and free interrelationship. The Dominions are all of them independent nations, but belong to a united Commonwealth; a pattern is thereby presented for world consideration.

1. Anh Quốc là hạt nhân hay mầm sống của Khối Thịnh vượng chung Anh, trong đó một thí nghiệm lớn về chính quyền tự do đang được thử nghiệm; điều này trao cho mỗi Dominion liên hệ sự tự do và lựa chọn nội bộ hoàn toàn, cộng với một mối tương liên cũng hoàn toàn và tự do như vậy. Các Dominion đều là những quốc gia độc lập, nhưng thuộc về một Khối Thịnh vượng chung hợp nhất; nhờ đó một mô hình được trình bày cho thế giới xem xét.

2. The U.S.A. is a fusing centre wherein all nationalities are represented and are being slowly blended into a miniature One Humanity. A great experiment in right relationships is being undertaken and is making real progress. A culture and a civilisation will emerge which will be the [632] result of right human relations and which can provide a world pattern in relationships. I refer here to the presentation of democracy. There is nothing satisfactory yet in the presentation of the dreamed-of democracy. France and Great Britain are equally democratic, and more successful because more mature and experienced, but the “melting pot” of the U.S.A. will provide eventually the outstanding experiment in right relations because of its many races and nationalities—all blended together within the borders of one country.

2. Hoa Kỳ là một trung tâm dung hợp, trong đó mọi quốc tịch đều được đại diện và đang chậm rãi được hòa trộn thành một Nhân Loại Duy Nhất thu nhỏ. Một thí nghiệm lớn về các mối quan hệ đúng đắn đang được tiến hành và đang đạt tiến bộ thực sự. Một nền văn hoá và một nền văn minh sẽ xuất hiện, là [632] kết quả của các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và có thể cung cấp một mô hình thế giới về các mối liên hệ. Ở đây tôi nói đến sự trình bày của nền dân chủ. Hiện chưa có gì thỏa đáng trong sự trình bày nền dân chủ được mơ ước. Pháp và Đại Anh cũng dân chủ như vậy, và thành công hơn vì trưởng thành và giàu kinh nghiệm hơn, nhưng “nồi nấu chảy” của Hoa Kỳ cuối cùng sẽ cung cấp thí nghiệm nổi bật về các mối quan hệ đúng đắn vì có nhiều chủng tộc và quốc tịch—tất cả được hòa trộn với nhau trong biên giới của một quốc gia.

3. The U.S.S.R. is also seeking to blend and unite into one great national project many diverse nations and races—European and Asiatic—and the effort is still largely embryonic. In Russia a world ideology is being wrought out which (when proven) can be presented to the world as a model system; this, however, will not come as a result of dictatorship, nor can it be presented aggressively to the world. Russia is in reality—whether She realises it or not at present—undertaking a great experiment in education and, in spite of evil methods and sinning against the soul of human freedom, eventually this educational process will prove convincing to the world and provide a world model. This can only take place when the present group of dictators and arrogant men have passed away or been forced out of power by an awakening people.

3. Liên Xô cũng đang tìm cách hòa trộn và hợp nhất vào một dự án quốc gia lớn nhiều quốc gia và chủng tộc đa dạng—Âu và Á—và nỗ lực này vẫn còn phần lớn ở giai đoạn phôi thai. Ở Nga, một hệ tư tưởng thế giới đang được xây dựng, hệ tư tưởng này (khi được chứng minh) có thể được trình bày cho thế giới như một hệ thống kiểu mẫu; tuy nhiên, điều này sẽ không đến như kết quả của chế độ độc tài, cũng không thể được trình bày một cách hung hăng cho thế giới. Trên thực tế, Nga—dù hiện nay bà có nhận ra hay không—đang tiến hành một thí nghiệm lớn về giáo dục và, bất chấp các phương pháp xấu xa và việc phạm tội chống lại linh hồn của tự do nhân loại, cuối cùng tiến trình giáo dục này sẽ tỏ ra có sức thuyết phục đối với thế giới và cung cấp một mô hình thế giới. Điều này chỉ có thể xảy ra khi nhóm các nhà độc tài và những kẻ ngạo mạn hiện nay đã qua đi hoặc bị một dân tộc thức tỉnh buộc phải rời khỏi quyền lực.

In these three great nations, therefore, the three major divine aspects are being brought into manifestation, thus laying the foundation for the new world order. All three are of equal importance.

Vì vậy, trong ba quốc gia lớn này, ba phương diện thiêng liêng chủ yếu đang được đưa vào biểu hiện, nhờ đó đặt nền móng cho trật tự thế giới mới. Cả ba đều quan trọng ngang nhau.

In Great Britain—right human government—Will or Power

Ở Đại Anh—chính quyền đúng đắn của con người—Ý Chí hay Quyền lực

In the U.S.A.—right human relations—Love-Wisdom

Ở Hoa Kỳ—các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người—Bác Ái – Minh Triết

In the U.S.S.R.—right use of the mind—Intelligence

Ở Liên Xô—sự sử dụng đúng đắn trí tuệ—Trí Tuệ

This must be remembered and taught, and men of goodwill everywhere should work for a closer relationship between these three peoples. These three points of a divine triangle of energy should not be isolated points, each holding its own point of tensions they should be related points, each point distributing strengthening energy to the other [633] points and admitting a free circulation between all points around the triangle.

Điều này phải được ghi nhớ và giảng dạy, và những người thiện chí ở khắp nơi nên hoạt động cho một mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa ba dân tộc này. Ba điểm này của một tam giác năng lượng thiêng liêng không nên là những điểm cô lập, mỗi điểm giữ lấy điểm tập trung nhất tâm riêng của mình; chúng phải là những điểm có liên hệ, mỗi điểm phân phối năng lượng tăng cường cho hai điểm kia [633] và cho phép một sự lưu thông tự do giữa mọi điểm quanh tam giác.

These great world problems are also being worked out in each of these three nations:

Những vấn đề lớn của thế giới này cũng đang được giải quyết trong mỗi một của ba quốc gia này:

1. In Great Britain, the problem of socialism is being resolved and the sound judgment of the people will eventually balance the two conditions of a socialist programme and free enterprise; this needs doing, for the extreme position in either case is untenable. This today presents a conflict which all the world is watching. The transition period between group living (in the true and spiritual sense) and the present and past period of an intense individualism is not easy, and in Great Britain the whole matter is being put to the test. The bridge will be built.

1. Ở Đại Anh, vấn đề của chủ nghĩa xã hội đang được giải quyết và phán đoán lành mạnh của dân chúng cuối cùng sẽ quân bình hai điều kiện của một chương trình xã hội chủ nghĩa và doanh nghiệp tự do; điều này cần phải được thực hiện, vì lập trường cực đoan trong cả hai trường hợp đều không thể đứng vững. Điều này ngày nay tạo ra một xung đột mà cả thế giới đang theo dõi. Giai đoạn chuyển tiếp giữa đời sống nhóm (theo nghĩa chân chính và tinh thần) và giai đoạn hiện tại cũng như quá khứ của một chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt không phải là điều dễ dàng, và ở Đại Anh toàn bộ vấn đề đang được đem ra thử nghiệm. Cây cầu sẽ được xây dựng.

2. In the U.S.A. you have the problem of the relationship between capital and labour awaiting solution; the conflict is fierce but a compromise will eventually be worked out if capital concedes certain arrogant powers, recognises the rights of other human beings and demonstrates less selfish greed, and if labour will work with less selfishness, prove less exacting and evince a more understanding spirit. The bridge between these two great groups must and will be built.

2. Ở Hoa Kỳ, bạn có vấn đề về mối liên hệ giữa tư bản và lao động đang chờ được giải quyết; xung đột rất dữ dội nhưng cuối cùng một sự thỏa hiệp sẽ được hình thành nếu tư bản nhượng bộ một số quyền lực ngạo mạn, nhìn nhận các quyền của những con người khác và biểu lộ ít lòng tham ích kỷ hơn, và nếu lao động sẽ làm việc với ít ích kỷ hơn, bớt đòi hỏi hơn và biểu lộ một tinh thần thấu hiểu hơn. Cây cầu giữa hai nhóm lớn này phải và sẽ được xây dựng.

3. In the U.S.S.R. you have the problem of the levelling of the masses in all classes; this levelling has produced a low standard of living and the work to be done is to raise more than to bridge. This levelling produces serious conflict and one that is little realised by those who cannot penetrate into the sealed citadel which is Russia. It is really a conflict between the mounting human spirit and the force of the totalitarian regime which seeks to hold it down, killing individualism. The innate strength of the human spirit to rise has never yet failed, and this conflict will prove the agent in harmonising many factors.

3. Trong U.S.S.R. các bạn có vấn đề về sự san bằng quần chúng trong mọi giai cấp; sự san bằng này đã tạo ra một mức sống thấp và công việc cần làm là nâng lên hơn là bắt cầu. Sự san bằng này tạo ra xung đột nghiêm trọng, và đó là một xung đột ít được nhận ra bởi những ai không thể thâm nhập vào thành trì khép kín là nước Nga. Thực ra đó là một xung đột giữa tinh thần nhân loại đang dâng lên và mãnh lực của chế độ toàn trị đang tìm cách đè nén nó xuống, giết chết tính cá nhân. Sức mạnh bẩm sinh của tinh thần nhân loại trong việc vươn lên chưa bao giờ thất bại, và xung đột này sẽ chứng tỏ là tác nhân điều hòa nhiều yếu tố.

Within the comity of nations, certain of them have ever been prime agents for producing conflict. This is largely owing to their fiery temperament and their strong [634] emotional bias and condition. The Poles and the Irish are prime “catalysts of conflict” and are constantly instigating difficulties between peoples. Such has ever been their history. French aggression in the Middle Ages has also caused difficulty, and in later days, Germany became the prime agent of conflict. Today the Jewish people are engineering trouble, and it is interesting to note that the main contention in the past of Poland, lately of the Irish, and today of the Jews, is territory, thus evidencing a most distorted sense of values. There is in the last analysis but one world and one humanity, and in a shorter time than you may think boundaries and territories will mean but little. World citizenship will be the only factor of importance.

Trong cộng đồng các quốc gia, một số quốc gia trong đó từ trước đến nay vẫn luôn là những tác nhân chủ yếu tạo ra xung đột. Điều này phần lớn là do khí chất bốc lửa của họ và thiên kiến cùng trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của họ. [634] Người Ba Lan và người Ireland là những “chất xúc tác của xung đột” điển hình và liên tục kích động những khó khăn giữa các dân tộc. Lịch sử của họ từ trước đến nay vẫn là như vậy. Sự hiếu chiến của Pháp trong thời Trung Cổ cũng đã gây ra khó khăn, và về sau, nước Đức trở thành tác nhân chủ yếu của xung đột. Ngày nay dân tộc Do Thái đang tạo ra rối ren, và điều đáng chú ý là điểm tranh chấp chính trong quá khứ của Ba Lan, gần đây của người Ireland, và ngày nay của người Do Thái, là lãnh thổ, do đó cho thấy một ý thức giá trị bị bóp méo sâu sắc nhất. Rốt cuộc chỉ có một thế giới và một nhân loại, và trong một thời gian ngắn hơn các bạn nghĩ, biên giới và lãnh thổ sẽ chỉ còn rất ít ý nghĩa. Quyền công dân thế giới sẽ là yếu tố quan trọng duy nhất.

The Jews are governed by the third Ray of Active Intelligence, the energy which permeates and controls matter or substance. They were also, during the years immediately following the war, under the control of a glamour imposed by the Zionist Dictators, who were attempting (somewhat unsuccessfully) to be to the Jewish people what Stalin and his group, and Hitler and his gang, have been to their people. They worked through the same methods—terrorising, withholding information, browbeating their opponents, making false claims and bribing and corrupting. They were and are a minority, but a powerful minority because of their great wealth and their being in positions of power. They are claiming a land to which they have no possible right and which the Jews have ignored for two thousand years. Their attitude is perhaps the culminating aggressive action of the age and marks a climaxing point; it has produced a serious world tension, but out of this good may come and a “point of emergence for mankind” be reached. The issue of aggression can be more clearly seen because of their activities. Very few lands today are in the possession of their original inhabitants, and if restoration is made to all original inhabitants (which is not possible) an impossible situation would be brought about just as legitimate as the Zionist position. If the Zionist claims are to be considered (and they have been) they in their turn [635] should realise that (if The Old Testament is to be believed) they originally took the land of Palestine away from its original owners nearly three thousand years ago, at the point of the sword and through an unprovoked aggression.

Người Do Thái được cai quản bởi cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động, năng lượng thấm nhuần và kiểm soát vật chất hay chất liệu. Họ cũng đã, trong những năm ngay sau chiến tranh, ở dưới sự kiểm soát của một ảo cảm do các nhà độc tài Zion áp đặt, những kẻ đang cố gắng (khá là không thành công) trở thành đối với dân Do Thái điều mà Stalin và nhóm của ông, cùng Hitler và bọn của ông, đã là đối với dân của họ. Họ hoạt động bằng cùng những phương pháp—khủng bố, bưng bít thông tin, uy hiếp đối thủ, đưa ra những tuyên bố sai sự thật, và hối lộ cùng làm băng hoại. Họ đã và đang là một thiểu số, nhưng là một thiểu số đầy quyền lực vì tài sản to lớn của họ và vì họ nắm giữ những vị trí quyền lực. Họ đang đòi hỏi một vùng đất mà họ hoàn toàn không có quyền gì đối với nó và là vùng đất mà người Do Thái đã phớt lờ suốt hai ngàn năm. Thái độ của họ có lẽ là hành động hiếu chiến lên đến tột đỉnh của thời đại này và đánh dấu một điểm cực đỉnh; nó đã tạo ra một sự căng thẳng nghiêm trọng trên thế giới, nhưng từ đó điều tốt lành có thể xuất hiện và một “điểm xuất hiện của nhân loại” có thể đạt tới. Vấn đề xâm lược có thể được nhìn thấy rõ hơn nhờ các hoạt động của họ. Ngày nay rất ít vùng đất còn nằm trong tay những cư dân nguyên thủy của nó, và nếu việc hoàn trả được thực hiện cho tất cả cư dân nguyên thủy (điều không thể làm được) thì sẽ nảy sinh một tình thế bất khả thi, cũng chính đáng như lập trường của người Zion. Nếu những đòi hỏi của người Zion được xem xét đến (và chúng đã được xem xét) thì đến lượt họ [635] cũng nên nhận ra rằng (nếu Cựu Ước là đáng tin) thì ban đầu họ đã chiếm lấy vùng đất Palestine từ những chủ nhân nguyên thủy của nó gần ba ngàn năm trước, bằng mũi gươm và qua một hành động xâm lược vô cớ.

This conflict which the Zionists have precipitated is basic and useful. It constitutes a test case, being based upon physical plane aggression, being fought with the most violent emotional disturbance and being founded upon completely illogical premises. The Jew has ever been (could he but usefully remember it) the symbol of humanity—evolving, seeking, restless, materialistic, separative and greedy. He is the symbol of the mass consciousness, presenting this consciousness in an exaggerated form; he is ever seeking and searching a home and is the true Prodigal Son of The New Testament.

Xung đột mà những người Zion đã làm bùng phát này là căn bản và hữu ích. Nó tạo thành một trường hợp thử nghiệm, vì nó dựa trên sự xâm lược ở cõi hồng trần, được tiến hành với sự xáo trộn cảm xúc dữ dội nhất, và được xây dựng trên những tiền đề hoàn toàn phi lý. Người Do Thái từ trước đến nay vẫn là (nếu y có thể nhớ điều đó một cách hữu ích) biểu tượng của nhân loại—đang tiến hoá, đang tìm kiếm, bất an, duy vật, chia rẽ và tham lam. Y là biểu tượng của tâm thức quần chúng, biểu hiện tâm thức này dưới một hình thức cường điệu; y luôn luôn tìm kiếm và truy tầm một mái nhà và là Đứa Con Hoang Đàng đích thực của Tân Ước.

Curiously enough, the Jews have never been a fighting race since the time of the sorry story of the conquest of the early tribes in Palestine; they have been persecuted and repudiated down the centuries, but have retaliated simply by moving on—the wandering Jew seeking a home, wandering humanity, saying always, “I must arise and go to my Father.” The motive given to the Prodigal Son in the Gospel story is a strictly material one, and we have here an outstanding instance of the prophetic knowledge of the Christ.

Điều kỳ lạ là người Do Thái chưa bao giờ là một nhân loại hiếu chiến kể từ thời câu chuyện đáng buồn về cuộc chinh phục các bộ lạc đầu tiên ở Palestine; họ đã bị bách hại và bị khước từ qua nhiều thế kỷ, nhưng chỉ đáp trả bằng cách tiếp tục di chuyển—người Do Thái lang thang tìm kiếm một mái nhà, nhân loại lang thang, luôn luôn nói rằng: “Tôi phải đứng dậy và đi đến với Cha tôi.” Động cơ được gán cho Đứa Con Hoang Đàng trong câu chuyện Phúc Âm là một động cơ hoàn toàn vật chất, và ở đây chúng ta có một ví dụ nổi bật về tri thức tiên tri của Đức Christ.

The Jewish people have not only repudiated the Messiah (which their race produced), but they have forgotten their unique relation to humanity; they forget that millions in the world today have suffered as they have suffered and that—for instance—there are eighty per cent of other people in the concentration camps of Europe and only twenty per cent Jews. The Jew, however, fought only for himself, and largely ignored the sufferings of his fellowmen in the concentration camps.

Dân tộc Do Thái không những đã khước từ Đấng Messiah (mà chính nhân loại của họ đã sinh ra), mà họ còn quên mất mối liên hệ độc đáo của họ với nhân loại; họ quên rằng hàng triệu người trên thế giới ngày nay đã chịu đau khổ như họ đã chịu đau khổ và rằng—chẳng hạn—có tám mươi phần trăm những người khác trong các trại tập trung ở châu Âu và chỉ có hai mươi phần trăm là người Do Thái. Tuy nhiên, người Do Thái chỉ chiến đấu cho chính mình, và phần lớn phớt lờ những đau khổ của đồng loại mình trong các trại tập trung.

I have enlarged thus upon the Jewish conflict because it is the symbol of all past conflicts in human history, based upon universal selfishness and the greed of undeveloped humanity, and because the crucial test of the nations and [636] of the United Nations Assembly is to be found in the decisions which they made and may make concerning Palestine.

Tôi đã nói rộng như vậy về cuộc xung đột Do Thái vì nó là biểu tượng của mọi xung đột trong quá khứ của lịch sử nhân loại, dựa trên tính ích kỷ phổ quát và lòng tham của nhân loại chưa phát triển, và vì phép thử quyết định của các quốc gia và [636] của Đại hội Liên Hiệp Quốc được tìm thấy trong những quyết định mà họ đã đưa ra và có thể sẽ đưa ra liên quan đến Palestine.

The test, as far as the nations are concerned, lies in their willingness to give refuge to the Jews, and such a refuge would have been offered if the partitioning of Palestine had been refused. The unwillingness of the nations to admit the Jews (though many have willingly offered), and particularly the refusal of the United States to admit them, is separative, wrong and based upon political expediency. The test, as far as the United Nations is concerned, was whether they would endorse partition, and thus perpetuate the spirit of aggression and territorial greed, against which the Forces of Light were arrayed in the last war. The United Nations has already made a major mistake by their original admittance of Russia—a totalitarian power, as was Germany—to their councils. Now they have made another. In the first mistake they precipitated into the United Nations the element of conflict and that spirit of “fanatical imposition” which is distinctive of the totalitarian ideology; in this second case, through the endorsement of partition, they perpetuate the ancient technique of taking what is wanted (with force of arms, if necessary) from the rightful owners. It was a test for the United States, for it is the American Jews who have created the situation, with relatively little help or endorsement from the Jews of other nations. The United States, urged by expediency, by the financial weight of the Zionists, and by the strategic position of Palestine, have thrown the weight of their influence into the conflict on the side of aggression and of territorial theft. They could have worked for the Principle of Harmony and permitted time and the non-separativeness of the nations to adjust and solve the Jewish problem.

Phép thử, xét theo phía các quốc gia, nằm ở sự sẵn lòng của họ trong việc cho người Do Thái nơi trú ẩn, và nơi trú ẩn như vậy đã có thể được trao nếu việc phân chia Palestine bị từ chối. Sự không sẵn lòng của các quốc gia trong việc tiếp nhận người Do Thái (dù nhiều nước đã sẵn lòng đề nghị), và đặc biệt là sự từ chối của Hoa Kỳ không tiếp nhận họ, là chia rẽ, sai lầm và dựa trên sự thuận tiện chính trị. Phép thử, xét theo phía Liên Hiệp Quốc, là liệu họ có tán thành việc phân chia hay không, và như thế kéo dài tinh thần xâm lược và lòng tham lãnh thổ, điều mà các Lực Lượng Ánh Sáng đã chống lại trong cuộc chiến vừa qua. Liên Hiệp Quốc đã phạm một sai lầm lớn ngay từ việc ban đầu chấp nhận Nga—một cường quốc toàn trị, cũng như Đức—vào hội đồng của mình. Giờ đây họ lại phạm thêm một sai lầm nữa. Trong sai lầm thứ nhất, họ đã đưa vào Liên Hiệp Quốc yếu tố xung đột và tinh thần “áp đặt cuồng tín” vốn là nét đặc trưng của ý thức hệ toàn trị; trong trường hợp thứ hai này, qua việc tán thành sự phân chia, họ kéo dài kỹ thuật cổ xưa là lấy điều mình muốn (bằng vũ lực, nếu cần) từ những chủ nhân chính đáng. Đây là một phép thử đối với Hoa Kỳ, vì chính người Do Thái Mỹ đã tạo ra tình thế này, với tương đối ít sự giúp đỡ hay tán thành từ người Do Thái ở các quốc gia khác. Hoa Kỳ, bị thúc đẩy bởi sự thuận tiện, bởi sức nặng tài chính của những người Zion, và bởi vị trí chiến lược của Palestine, đã dồn sức nặng ảnh hưởng của mình vào cuộc xung đột về phía xâm lược và trộm cắp lãnh thổ. Họ đã có thể hoạt động cho Nguyên Khí Hài Hòa và cho phép thời gian cùng tính không chia rẽ của các quốc gia điều chỉnh và giải quyết vấn đề Do Thái.

More I will not say; the symbolic nature of this basic world problem and its dynamic importance to humanity have led me thus to enlarge. The decision anent the Jews is one of hierarchical importance, owing to the karmic relation of the Christ to the Jewish race, to the fact that they repudiated Him as the Messiah and are still doing so, [637] and of the interpretive nature of the Jewish problem as far as the whole of humanity is concerned.

Tôi sẽ không nói thêm nữa; bản chất biểu tượng của vấn đề thế giới căn bản này và tầm quan trọng năng động của nó đối với nhân loại đã khiến tôi nói rộng như vậy. Quyết định liên quan đến người Do Thái là một quyết định có tầm quan trọng đối với Thánh đoàn, do mối liên hệ nghiệp quả của Đức Christ với nhân loại Do Thái, do sự kiện rằng họ đã khước từ Ngài như Đấng Messiah và vẫn còn đang làm như vậy, [637] và do bản chất diễn giải của vấn đề Do Thái đối với toàn thể nhân loại.

The Results of the Fourth Ray Activity upon the individual Disciple — Kết Quả của Hoạt Động Cung Bốn đối với người Đệ tử cá nhân

The disciples of the world today are submerged in an ocean of warring energies; the Principle of Conflict touches every life, is potent in the consciousness of each individual aspirant, and is conditioning the mass consciousness of mankind. Emotionally and physically, the masses in every land are roused by this conflict; the disciples on earth and the thinking people everywhere are aroused mentally, as well as emotionally and physically, and hence the intensity of their problem. The points of crisis in the lives of disciples have—during the past few decades—been many; a point of tension has now been reached of an extreme nature; how rapidly can this tension bring about the needed point of emergence?

Các đệ tử của thế giới ngày nay đang chìm ngập trong một đại dương những năng lượng giao chiến; Nguyên Khí Xung Đột chạm đến mọi sự sống, đầy mãnh lực trong tâm thức của mỗi người chí nguyện cá nhân, và đang tác động lên tâm thức quần chúng của nhân loại. Về cảm xúc và thể xác, quần chúng ở mọi quốc gia đều bị khuấy động bởi xung đột này; các đệ tử trên Trái Đất và những người biết suy nghĩ ở khắp nơi đều bị khuấy động về trí tuệ, cũng như về cảm xúc và thể xác, và do đó vấn đề của họ trở nên mãnh liệt. Những điểm khủng hoảng trong đời sống của các đệ tử—trong vài thập niên qua—đã rất nhiều; giờ đây một điểm tập trung nhất tâm có tính chất cực độ đã đạt tới; sự căng thẳng này có thể nhanh chóng đưa đến điểm xuất hiện cần thiết đến mức nào?

It is not my intention to deal at length with the effect of this conflict in the life of disciples. It deals with the most familiar story to all of them; the aspirants and the disciples are, from the angle of evolution, the most strictly human beings to be found in the fourth kingdom in nature, for the reason that mind, emotion and physical activity are integrated or are in process of integration into one functioning whole. The disciple knows, however, that—as a result of conflict—the complete harmonising of his entire nature will be brought about; the fusion of soul and personality will be consummated, and for this he works. The same principle can also be applied by him in his consideration of general human affairs; he needs to see in all world conflict the needed steps towards an eventual harmony—a harmony based upon a true mental perception and a sound idealism. It is this process of developing mental understanding and a sound rational yet spiritual attitude which is now going on; the emergence of the many ideologies are the guarantee that the true idealism will eventually appear and control—the ideal of right human relations; it is the [638] struggle between emotional control and a steadily developing mind control which is conditioning mankind at this time. When a mental, an emotional and a physical conflict are raging simultaneously, the results must necessarily be difficult, but they are surmountable.

Tôi không có ý định bàn dài về ảnh hưởng của xung đột này trong đời sống của các đệ tử. Nó liên quan đến câu chuyện quen thuộc nhất đối với tất cả họ; những người chí nguyện và các đệ tử, xét từ góc độ tiến hoá, là những con người đúng nghĩa nhất được tìm thấy trong giới thứ tư của thiên nhiên, vì lý do là trí tuệ, cảm xúc và hoạt động thể xác đã được tích hợp hoặc đang trong tiến trình tích hợp thành một toàn thể hoạt động duy nhất. Tuy nhiên, đệ tử biết rằng—như là kết quả của xung đột—sự điều hòa hoàn toàn toàn bộ bản chất của y sẽ được mang lại; sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã sẽ được hoàn tất, và vì điều này mà y hoạt động. Cùng nguyên lý ấy cũng có thể được y áp dụng trong việc xem xét các vấn đề chung của nhân loại; y cần thấy trong mọi xung đột thế giới những bước cần thiết hướng tới một sự hài hòa cuối cùng—một sự hài hòa dựa trên nhận thức trí tuệ chân chính và một chủ nghĩa lý tưởng lành mạnh. Chính tiến trình phát triển sự thấu hiểu trí tuệ và một thái độ hợp lý nhưng tinh thần lành mạnh này hiện đang diễn ra; sự xuất hiện của nhiều hệ tư tưởng là bảo chứng rằng chủ nghĩa lý tưởng chân chính cuối cùng sẽ xuất hiện và kiểm soát—lý tưởng về những liên hệ đúng đắn giữa người với người; chính là cuộc [638] đấu tranh giữa sự kiểm soát của cảm xúc và sự kiểm soát của trí tuệ đang phát triển vững chắc đang tác động lên nhân loại vào lúc này. Khi một xung đột trí tuệ, một xung đột cảm xúc và một xung đột thể xác cùng lúc diễn ra, thì kết quả tất yếu phải khó khăn, nhưng chúng có thể vượt qua được.

Today, the conflicts are numerous, vital and unavoidable; they are present in the individual consciousness and in the mass consciousness; they present constant points of crises and are today bringing about a point of world tension which seems well-nigh unbearable. But ahead of the individual disciple and of humanity lies a point of emergence.

Ngày nay, các xung đột thì nhiều, sống động và không thể tránh; chúng hiện diện trong tâm thức cá nhân và trong tâm thức quần chúng; chúng tạo ra những điểm khủng hoảng liên tục và ngày nay đang đưa đến một điểm tập trung nhất tâm của thế giới dường như gần như không thể chịu nổi. Nhưng phía trước người đệ tử cá nhân và phía trước nhân loại là một điểm xuất hiện.

What must the disciple do whilst the point of tension is dominating him and his fellowmen? The answer is a simple one. Let each disciple and all groups of disciples develop the ability to think sanely, with right orientation and a broad point of view; let them think truly, evading no issues, but preserving always a calm, dispassionate and loving understanding; let them demonstrate in their environment the qualities which will establish right human relations and show on a small scale the behaviour which will some day characterise enlightened humanity; let them not be discouraged, but let them hold firmly to the conviction of the inevitable spiritual destiny of humanity; let them realise practically that “the souls of men are one” and learn to look beyond the immediate outer seeming to the inner (and sometimes remote) spiritual consciousness; let them know that the present world conflict will be terminated.

Đệ tử phải làm gì trong khi điểm tập trung nhất tâm đang chi phối y và đồng loại của y? Câu trả lời thật đơn giản. Hãy để mỗi đệ tử và mọi nhóm đệ tử phát triển khả năng suy nghĩ lành mạnh, với định hướng đúng đắn và một quan điểm rộng lớn; hãy để họ suy nghĩ chân thật, không né tránh vấn đề nào, nhưng luôn luôn giữ một sự thấu hiểu bình tĩnh, vô tư và đầy bác ái; hãy để họ biểu lộ trong môi trường của mình những phẩm tính sẽ thiết lập những liên hệ đúng đắn giữa người với người và cho thấy ở quy mô nhỏ hành vi mà một ngày kia sẽ đặc trưng cho nhân loại được giác ngộ; hãy để họ không nản lòng, nhưng giữ vững niềm xác tín về định mệnh tinh thần tất yếu của nhân loại; hãy để họ nhận ra một cách thực tiễn rằng “các linh hồn của loài người là một” và học cách nhìn vượt qua vẻ ngoài tức thời bên ngoài để đến với tâm thức tinh thần bên trong (và đôi khi xa xôi); hãy để họ biết rằng cuộc xung đột thế giới hiện nay sẽ chấm dứt.

The perfect outcome of the conflict will necessarily be lacking, for perfection is not yet possible to man; nevertheless, a situation can be brought about which will permit the return of the Christ into objective relation with mankind, and which will enable Him to set about His task of resurrecting the human spirit, out of the tomb of materialism into the clear light of spiritual perception. For this, all men must work. [639]

Kết quả hoàn hảo của xung đột tất yếu sẽ không có, vì sự hoàn hảo vẫn chưa thể có đối với con người; tuy nhiên, một tình thế có thể được tạo ra cho phép Đức Christ trở lại trong mối liên hệ khách quan với nhân loại, và sẽ giúp Ngài bắt tay vào nhiệm vụ phục sinh tinh thần nhân loại, ra khỏi ngôi mộ của chủ nghĩa duy vật để bước vào ánh sáng trong trẻo của tri giác tinh thần. Vì điều này, mọi người phải hoạt động. [639]

A Summation and Forecast — Tóm Lược và Dự Báo

Let me now summarise for you some of the points of importance in this instruction:

Giờ đây hãy để tôi tóm lược cho các bạn một số điểm quan trọng trong huấn thị này:

1. The fourth Ray of Harmony through Conflict is a controlling factor in human affairs at all times, and peculiarly today.

1. Cung bốn của Hài Hòa thông qua Xung Đột là một yếu tố kiểm soát trong các vấn đề nhân loại vào mọi lúc, và đặc biệt là ngày nay.

2. The Principle of Conflict is the agent of the Principle of Harmony and produces the strains and the stresses which will lead, finally, to liberation.

2. Nguyên Khí Xung Đột là tác nhân của Nguyên Khí Hài Hòa và tạo ra những căng thẳng và áp lực cuối cùng sẽ dẫn đến giải thoát.

3. The great initiation of the Renunciation, plus the many smaller renunciations, is the result of inner conflict and ever precedes liberation into harmony and peace.

3. cuộc điểm đạo lớn của Sự từ bỏ, cộng với nhiều sự từ bỏ nhỏ hơn, là kết quả của xung đột bên trong và luôn luôn đi trước sự giải thoát vào hài hòa và bình an.

4. Conflict produces: War-Renunciation-Liberation.

4. Xung đột tạo ra: Chiến tranh-Sự từ bỏ-Giải thoát.

5. Humanity is subjected to crises of discrimination, leading to right choice. That is the problem confronting humanity today, leading to a crisis within the United Nations.

5. Nhân loại đang chịu những khủng hoảng của sự phân biện, dẫn đến lựa chọn đúng đắn. Đó là vấn đề đang đối diện nhân loại ngày nay, dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong Liên Hiệp Quốc.

6. The Hierarchy is subjected to crises of decision, leading to perception of the Plan, participation in the Purpose, and the prevention of evil.

6. Thánh Đoàn đang chịu những khủng hoảng của quyết định, dẫn đến sự nhận thức Thiên Cơ, sự tham dự vào Thiên Ý, và sự ngăn chặn điều ác.

7. The Principle of Conflict is today active in all nations, in all religions, in all organisations, leading to the emergence of the New Age.

7. Nguyên Khí Xung Đột ngày nay đang hoạt động trong mọi quốc gia, trong mọi tôn giáo, trong mọi tổ chức, dẫn đến sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Mới.

8. Conflict produces points of crisis, then a point of tension, and eventually a point of emergence.

8. Xung đột tạo ra những điểm khủng hoảng, rồi một điểm tập trung nhất tâm, và cuối cùng là một điểm xuất hiện.

9. This Principle of Conflict is preparing the way for the return of the Christ, Who will inaugurate the new era of harmony.

9. Nguyên Khí Xung Đột này đang chuẩn bị con đường cho sự trở lại của Đức Christ, Đấng sẽ khai mở kỷ nguyên mới của hài hòa.

10. Christ will come in three different ways:

10. Đức Christ sẽ đến theo ba cách khác nhau:

a. Through the overshadowing, on the mental plane, of all disciples and aspirants.

a. Qua sự phủ bóng, trên cõi trí, lên tất cả các đệ tử và người chí nguyện.

b. Through the pouring out of love or of the Christ consciousness upon the masses on the emotional plane.

b. Qua sự tuôn đổ tình thương hay tâm thức Christ lên quần chúng trên cõi cảm dục.

c. Through His recognised physical Presence upon Earth.

c. Qua Sự Hiện Diện thể xác được nhận biết của Ngài trên Trái Đất.

11. Certain nations are today torn with conflict but are [640] moving toward harmony. Other nations are focal points of discord and thereby serve the Principle of Conflict.

11. Một số quốc gia ngày nay đang bị giằng xé bởi xung đột nhưng đang [640] tiến tới hài hòa. Những quốc gia khác là các tiêu điểm của bất hòa và nhờ đó phụng sự Nguyên Khí Xung Đột.

12. The U.S.S.R., the U.S.A., and the U.K. constitute a governing triangle of energy which, when right relations have been established, can and will create and foster right human relations among men.

12. U.S.S.R., U.S.A., và U.K. tạo thành một tam giác năng lượng cai quản mà, khi những liên hệ đúng đắn đã được thiết lập, có thể và sẽ tạo ra và nuôi dưỡng những liên hệ đúng đắn giữa người với người.

13. The Jewish race is a symbol of humanity in its mass sense; in the resolution of its conflict and in the taking of right action, a great step forward in human liberation will take place.

13. Nhân loại Do Thái là biểu tượng của nhân loại theo ý nghĩa quần chúng; trong việc giải quyết xung đột của họ và trong việc thực hiện hành động đúng đắn, một bước tiến lớn trong sự giải thoát của nhân loại sẽ diễn ra.

14. As the individual disciple learns to harmonise himself through conflict, he sets an example which is of definite aid to humanity as a whole.

14. Khi người đệ tử cá nhân học cách điều hòa chính mình thông qua xung đột, y nêu một tấm gương có sự trợ giúp rõ rệt cho toàn thể nhân loại.

What can I prophesy? What may I foretell in relation to human affairs and of the future ahead of the race?

Tôi có thể tiên tri điều gì? Tôi có thể báo trước điều gì liên quan đến các vấn đề nhân loại và tương lai phía trước của nhân loại?

I would remind you that even the Hierarchy of spiritual and liberated souls, the Church of God invisible, knows not the way that humanity will choose to go. General trends are watched and possibilities are considered; the energies pouring into the human family are directed and manipulated, and conditions can frequently be adjusted, but men decide for themselves direct action; they make their own choices and exert unimpeded the free will with which they may at any time be equipped. I prophecy not, because I do not know. I can, however, say that the issues at stake are now becoming so clear that right decision is more possible than at any other time in human history. Unless, therefore, emotional stresses are too acute, humanity will decide upon right action eventually. Emotions are, however, running high and the spiritual people of the world are not sufficiently aroused as yet to handle them. It is the arousing and the awakening to the critical nature of the time and to the world problems which is immediately needed, and this all men of goodwill should regard as their paramount duty.

Tôi muốn nhắc các bạn rằng ngay cả Thánh Đoàn của các linh hồn tinh thần và được giải thoát, Giáo Hội vô hình của Thượng đế, cũng không biết con đường mà nhân loại sẽ chọn để đi. Những xu hướng chung được theo dõi và những khả năng được xem xét; các năng lượng tuôn vào gia đình nhân loại được định hướng và điều động, và các điều kiện thường có thể được điều chỉnh, nhưng con người tự quyết định hành động trực tiếp cho chính mình; họ tự đưa ra lựa chọn của mình và thực thi không bị cản trở ý chí tự do mà họ có thể được trang bị vào bất cứ lúc nào. Tôi không tiên tri, vì tôi không biết. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng những vấn đề đang bị đe dọa hiện nay đang trở nên rõ ràng đến mức quyết định đúng đắn có thể thực hiện được hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, trừ phi những căng thẳng cảm xúc quá gay gắt, nhân loại cuối cùng sẽ quyết định hành động đúng đắn. Tuy nhiên, cảm xúc đang dâng cao và những người tinh thần trên thế giới vẫn chưa được đánh thức đầy đủ để xử lý chúng. Điều cần thiết ngay lập tức là sự thức tỉnh và sự tỉnh thức trước tính chất nguy cấp của thời đại và trước các vấn đề thế giới, và tất cả những người thiện chí nên xem đó là bổn phận tối thượng của mình.

As I earlier remarked, if the trends which are today being established are rightly developed, the Hierarchy does not foresee the immediacy of war; war can be averted if [641] the nations are fully occupied with the task of reconstruction and if an educational programme in right human relations is launched and systematically and most carefully carried out. If the subjective relations between the nations are emphasised and the outer frictions and the objective disagreements are ignored, a great fusion of human interests can take place; this will be binding and lasting; if the cleavage between separateness and right relations is clearly to be seen, men will know of themselves what action they should take.

Như tôi đã nhận xét trước đây, nếu những xu hướng đang được thiết lập ngày nay được phát triển đúng đắn, Thánh Đoàn không thấy trước tính cấp bách của chiến tranh; chiến tranh có thể được ngăn chặn nếu [641] các quốc gia hoàn toàn bận rộn với nhiệm vụ tái thiết và nếu một chương trình giáo dục về những liên hệ đúng đắn giữa người với người được khởi xướng và được thực hiện một cách có hệ thống và hết sức cẩn trọng. Nếu những liên hệ chủ quan giữa các quốc gia được nhấn mạnh và những ma sát bên ngoài cùng những bất đồng khách quan bị bỏ qua, thì một sự dung hợp lớn lao của các lợi ích nhân loại có thể diễn ra; điều này sẽ có tính ràng buộc và bền vững; nếu sự phân rẽ giữa tính chia rẽ và những liên hệ đúng đắn được nhìn thấy rõ ràng, con người sẽ tự biết mình nên hành động thế nào.

In the war raging today between conflicting ideas, it is essential that this cleavage be made abundantly clear. Only the voice of a trained public opinion and the intelligent demand of the masses for right human relations can save the world from chaos. If this is so, then the duty of each individual disciple, man of goodwill and intelligent thinker is also clear. Let me bring the theme to a close with this thought and this indicated action.

Trong cuộc chiến đang diễn ra ngày nay giữa những ý tưởng xung đột, điều cốt yếu là sự phân rẽ này phải được làm cho hết sức rõ ràng. Chỉ có tiếng nói của một dư luận công chúng được rèn luyện và đòi hỏi thông minh của quần chúng về những liên hệ đúng đắn giữa người với người mới có thể cứu thế giới khỏi hỗn loạn. Nếu đúng như vậy, thì bổn phận của mỗi đệ tử cá nhân, người thiện chí và nhà tư tưởng thông minh cũng rõ ràng. Hãy để tôi kết thúc chủ đề bằng tư tưởng này và hành động được chỉ ra này.

Leave a Comment

Scroll to Top