
|
CÁC CUNG VÀ ĐIỂM ĐẠO |
|
|
VOLUME V |
QUYỂN V |
|
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS |
LUẬN VỀ BẢY CUNG |
|
by |
của |
|
ALICE A. BAILEY |
ALICE A. BAILEY |
|
Index Edition |
Ấn bản Mục lục |
|
Published by the Lucis Publishing Companies |
Xuất bản bởi các công ty xuất bản Lucis |
|
The first and only publisher of the complete works |
Nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất của toàn bộ tác phẩm |
|
of Alice A. Bailey |
của Alice A. Bailey |
|
www.lucistrust.org/books |
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN — TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
|
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names. |
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với các bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người nam và nữ khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (xét theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt ấy. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) còn biết tôi dưới một danh xưng và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong các danh xưng của tôi. |
|
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master. |
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Con Đường lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi giữa các huấn sư, nhưng tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức của Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng không nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dành cho tôi sự vâng phục mù quáng và lòng sùng kính ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y còn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn ấy cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng kính cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—chứ không phải đối với Chân sư. |
|
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said. |
Những cuốn sách tôi đã viết được gửi ra mà không đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thật và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự vận dụng trực giác là phần việc của các bạn. Cả tôi lẫn A.A.B. đều hoàn toàn không quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc có ai đó nói về chúng (với giọng đầy kính sợ) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được cống hiến trong các giáo huấn của thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà tại đó có thể tìm thấy các Chân sư) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy một sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế giới, và làm bừng lên trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo huấn ấy. Nhưng không phải cách nào khác. Nếu các phát biểu ấy cuối cùng được xác chứng, hoặc được xem là đúng dưới phép thử của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt đẹp. Nhưng nếu không phải vậy, thì đạo sinh chớ chấp nhận điều được nói ra. |
|
AUGUST 1934 |
THÁNG TÁM 1934 |
THE GREAT INVOCATION — ĐẠI KHẤN NGUYỆN
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |
|
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.” |
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.” |
|
ALICE A BAILEY |
ALICE A BAILEY |
PART ONE – THE FOURTEEN RULES FOR GROUP INITIATION — PHẦN MỘT – MƯỜI BỐN QUY LUẬT CHO ĐIỂM ĐẠO NHÓM
PRELIMINARY REMARKS — NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
|
(3) It might be here of value, my brothers, if I again laid emphasis upon the fact that the formless world is only entered when the aspirant has acquired somewhat the capacity to center himself on the abstract levels of the mental plane. This involves necessarily certain developments within the aspirant’s own nature. The demanded contact would otherwise be impossible. What is needed is self-exertion, the resultant developments of which might be touched upon as follows: |
(3) Ở đây, điều này có thể có giá trị, Huynh đệ của Tôi, nếu tôi lại nhấn mạnh sự kiện rằng thế giới vô tướng chỉ được đi vào khi người chí nguyện đã đạt được phần nào khả năng tự tập trung vào các cấp độ trừu tượng của cõi trí. Điều này tất yếu bao hàm một số phát triển nhất định trong chính bản chất của người chí nguyện. Nếu không, sự tiếp xúc được đòi hỏi sẽ là bất khả. Điều cần thiết là sự nỗ lực tự thân, mà các phát triển phát sinh từ đó có thể được đề cập như sau: |
|
I. The Repolarisation of the Entire Lower Man so that his attitude toward the aggregate of forms which make up his field of general contact has changed. He is no longer deluded by the things of the senses but has in his hand that thread or clue which will eventually guide him out of the maze of the lower life perceptions into the field of clear knowledge and the realm where daylight is found; he will then no longer need to walk in the dark. This repolarisation is brought about in four ways, each of which provides the next step forward, and in their totality (and when definitely followed) will eventuate in the total subjugation of the personality. These four ways are: |
I. Sự Tái Phân Cực của Toàn Bộ Phàm Nhân Hạ Đẳng để thái độ của y đối với tổng thể các hình tướng tạo nên phạm vi tiếp xúc chung của y đã thay đổi. Y không còn bị mê hoặc bởi những sự vật của giác quan nữa mà đã nắm trong tay sợi dây hay đầu mối mà cuối cùng sẽ dẫn dắt y ra khỏi mê cung của các tri giác hạ đẳng của đời sống để đi vào lĩnh vực của tri thức sáng tỏ và cõi giới nơi có ánh sáng ban ngày; khi ấy y sẽ không còn cần phải bước đi trong bóng tối nữa. Sự tái phân cực này được mang lại bằng bốn cách, mỗi cách cung cấp bước tiến kế tiếp, và trong tổng thể của chúng (và khi được theo đuổi một cách dứt khoát) sẽ dẫn đến sự khuất phục hoàn toàn của phàm ngã. Bốn cách ấy là: |
|
A constant and unfailing attempt to center the consciousness within the head. From this central position the real man, the directing agency will direct and guide all his members, imposing upon the “lunar lords” of the physical body a new rhythm and habit of response. Two factors are of value and helpful in the production of the necessary polarisation: |
Một nỗ lực liên tục và không sai sót nhằm tập trung tâm thức trong đầu. Từ vị trí trung tâm này, con người chân thực, tác nhân chỉ đạo, sẽ điều khiển và hướng dẫn mọi thành phần của y, áp đặt lên các “nguyệt tinh quân” của thể xác một nhịp điệu và thói quen đáp ứng mới. Có hai yếu tố có giá trị và hữu ích trong việc tạo ra sự phân cực cần thiết: |
|
The reiterated appreciation of the words “I am the Self, the Self am I.” |
Sự cảm nhận lặp đi lặp lại các lời: “Ta là Bản Ngã, Bản Ngã là ta.” |
|
The habit of early morning meditation wherein the Thinker centers himself in the point of control and [4] starts upon his day’s experience and contacts with the realisation that he is only the Observer, the Perceiver and Actor. |
Thói quen tham thiền vào sáng sớm, trong đó Nhà Tư Tưởng tự tập trung vào điểm kiểm soát và [4] bắt đầu những kinh nghiệm và tiếp xúc trong ngày của mình với sự chứng nghiệm rằng y chỉ là Người Quan Sát, Người Tri Giác và Người Hành Động. |
|
A close consideration throughout the day as to the use and misuse of energy. Every man should realise that in the use of energy lies direction and the treading of the Path. It produces eventually truthful manifestation and the displaying of one’s light in order that circumstances may be irradiated and fellow pilgrims helped. Students should familiarise themselves with the “energy concept” and learn to regard themselves as energy units displaying certain types of energy. In this connection it should be borne in mind that when spiritual energy and material energy (the two opposite poles) are brought into relationship, a third type of energy is produced, and the work of the fourth or human kingdom is to demonstrate this peculiar type. It might serve to clarify thought if students remembered that |
Sự xem xét kỹ lưỡng suốt cả ngày về việc sử dụng và lạm dụng năng lượng. Mỗi người nên chứng nghiệm rằng chính trong việc sử dụng năng lượng có sự định hướng và việc bước đi trên Con Đường. Cuối cùng nó tạo ra sự biểu hiện chân thật và sự phô bày ánh sáng của một người để các hoàn cảnh có thể được soi rạng và các lữ khách đồng hành được giúp đỡ. Các đạo sinh nên làm quen với “khái niệm năng lượng” và học cách xem mình như những đơn vị năng lượng biểu lộ một số loại năng lượng nhất định. Trong mối liên hệ này, cần ghi nhớ rằng khi năng lượng tinh thần và năng lượng vật chất (hai cực đối nghịch) được đưa vào tương quan, một loại năng lượng thứ ba được tạo ra, và công việc của giới thứ tư hay giới nhân loại là chứng minh loại năng lượng đặc thù này. Có thể giúp làm sáng tỏ tư tưởng nếu các đạo sinh nhớ rằng |
|
Superhuman entities display spiritual energy. |
Các thực thể siêu nhân biểu lộ năng lượng tinh thần. |
|
Subhuman entities display the energy of matter. |
Các thực thể dưới nhân loại biểu lộ năng lượng của vật chất. |
|
Human entities display soul energy. |
Các thực thể nhân loại biểu lộ năng lượng linh hồn. |
|
In the perfect manifestation of these three will the plan of creation be consummated. It should also be borne in mind that these three are nevertheless a manifestation of duality—spirit and matter—and that this is the manifestation of a great Existence and of His appearing. Therefore, what are called the “three gunas” in Hindu philosophy are but the qualities He manifests through these types of entities. |
Trong sự biểu hiện hoàn hảo của ba loại này, kế hoạch sáng tạo sẽ được hoàn tất. Cũng nên ghi nhớ rằng tuy vậy ba loại này vẫn là một biểu hiện của nhị nguyên tính—tinh thần và vật chất—và rằng đây là biểu hiện của một Hiện Hữu vĩ đại và của sự xuất hiện của Ngài. Vì thế, điều được gọi là “ba guna” trong triết học Ấn Độ chỉ là các phẩm tính mà Ngài biểu lộ qua các loại thực thể này. |
|
Superhuman lives express sattva, the guna of rhythm and of harmonious response to divine urge, of perfect display of coordinated cooperation with the purpose of manifestation. |
Các sự sống siêu nhân biểu lộ sattva, guna của nhịp điệu và của sự đáp ứng hài hòa với thúc đẩy thiêng liêng, của sự biểu lộ hoàn hảo sự hợp tác phối hợp với mục đích biểu hiện. |
|
Human lives demonstrate the quality of rajas, of mobility, of constant and conscious change in order to ascertain what is the Real and through the medium of experience demonstrate the true nature of rhythmic response. |
Các sự sống nhân loại chứng minh phẩm tính của rajas, của tính động, của sự thay đổi liên tục và có ý thức để xác định điều gì là Thực Tại và qua trung gian của kinh nghiệm chứng minh bản chất chân thực của sự đáp ứng có nhịp điệu. |
|
Subhuman lives express the guna of tamas or of inertia. They work blindly and have no ability to respond consciously [5] to the plan. They are the sumtotal of the “units of inertia” just as the human units are called “the points of light moving within the square.” This may have its appeal to Masons. |
Các sự sống dưới nhân loại biểu lộ guna của tamas hay quán tính. Chúng hoạt động một cách mù quáng và không có khả năng đáp ứng một cách có ý thức [5] với kế hoạch. Chúng là tổng số của “các đơn vị quán tính” cũng như các đơn vị nhân loại được gọi là “những điểm ánh sáng chuyển động trong hình vuông.” Điều này có thể hấp dẫn các hội viên Tam Điểm. |
|
This subject of the use or misuse of energy is capable of infinite expansion, and in my other books where I give you more upon the centres I have enlarged upon it. I but seek at this time to give you that which can be of immediate use to students and thus lay the foundation for later work. |
Chủ đề này về việc sử dụng hay lạm dụng năng lượng có thể được khai triển vô hạn, và trong các sách khác của tôi, nơi tôi cung cấp cho các bạn nhiều hơn về các trung tâm, tôi đã mở rộng về nó. Lúc này tôi chỉ tìm cách trao cho các bạn điều có thể hữu ích ngay lập tức cho các đạo sinh và như thế đặt nền tảng cho công việc về sau. |
|
A close study of the needed transmutation of astral and emotional energy into love, the energy of love. This involves the sublimation of personal feeling into group realisation or consciousness, and when carried out successfully produces in time the construction of a higher and subtler body, the buddhic sheath. When this sheath is thus materialised a very high stage of advancement is marked, but the earlier stages can be intelligently approached by any earnest student and probationer. To transmute emotion into love the following realisations will be found necessary: |
Một nghiên cứu kỹ lưỡng về sự chuyển hoá cần thiết của năng lượng cảm dục và cảm xúc thành bác ái, năng lượng của tình thương. Điều này bao hàm sự thăng hoa cảm xúc cá nhân thành sự chứng nghiệm hay tâm thức nhóm, và khi được thực hiện thành công, theo thời gian sẽ tạo ra việc kiến tạo một thể cao hơn và tinh tế hơn, là thể Bồ đề. Khi thể này được hiện hình như vậy, một giai đoạn tiến bộ rất cao được đánh dấu, nhưng các giai đoạn đầu có thể được bất kỳ đạo sinh và người dự bị nào chân thành tiếp cận một cách thông minh. Để chuyển hoá cảm xúc thành tình thương, các chứng nghiệm sau đây sẽ được thấy là cần thiết: |
|
1. A realisation that all moods, all display of sorrow, of pain, or of happy excitement are due to our identification with the objects of desire, with the form aspect, and with that which is material. |
1. Một sự chứng nghiệm rằng mọi tâm trạng, mọi biểu lộ buồn phiền, đau đớn, hay phấn khích vui sướng đều là do sự đồng hoá của chúng ta với các đối tượng của dục vọng, với phương diện hình tướng, và với điều thuộc vật chất. |
|
2. An understanding of the emotional or astral body and the place it plays in the student’s development. It should be recognised as the shadow of the monad, and a connection should be traced between |
2. Một sự thấu hiểu về thể cảm xúc hay thể cảm dục và vai trò mà nó giữ trong sự phát triển của đạo sinh. Nó nên được nhận biết như cái bóng của chân thần, và nên truy ra một mối liên hệ giữa |
|
The Astral Sheath….6th Plane |
Thể Cảm Dục….Cõi 6 |
|
The Buddhic Sheath…4th Plane |
Thể Bồ đề…Cõi 4 |
|
The Monadic Sheath…2nd Plane |
Thể Chân Thần…Cõi 2 |
|
and the place the love petals in the egoic lotus play should also be carefully considered. |
và vai trò mà các cánh hoa bác ái trong Hoa Sen Chân Ngã đảm nhiệm cũng nên được xem xét cẩn thận. |
|
3. A comprehension of the potency of the astral sheath owing to its undivided nature. |
3. Một sự lĩnh hội về tiềm lực của thể cảm dục do bản chất không phân chia của nó. |
|
4. A study of the purpose of the solar plexus, and the part it plays as an organ of transference of energy from the three great centres below the diaphragm to the three higher [6] centres. There is a very close analogy here to the solar lotus, the egoic body, occupying a midway point between the threefold Monad and the threefold lower man. The more advanced should follow this. |
4. Một nghiên cứu về mục đích của tùng thái dương, và vai trò mà nó giữ như một cơ quan chuyển dịch năng lượng từ ba trung tâm lớn dưới cơ hoành lên ba trung tâm cao hơn [6]. Ở đây có một sự tương đồng rất gần với hoa sen thái dương, thể chân ngã, chiếm một điểm ở giữa giữa Chân thần tam phân và phàm nhân tam phân. Những người tiến bộ hơn nên theo dõi điều này. |
|
The development of the faculty of mind control, so that the Thinker grips and holds steady the mental processes and learns to regard the mind as the interpreter of the states of consciousness, as the transmitter of egoic intent to the physical brain and as the window through which the Ego, the real Man looks out upon vast and (to the majority) unknown fields of knowledge. |
Sự phát triển năng lực kiểm soát trí tuệ, để Nhà Tư Tưởng nắm giữ vững vàng các tiến trình trí tuệ và học cách xem trí tuệ như người diễn giải các trạng thái tâm thức, như kẻ truyền đạt ý định chân ngã đến bộ não hồng trần và như cửa sổ qua đó Chân ngã, Con Người chân thực nhìn ra những lĩnh vực tri thức bao la và (đối với đa số) chưa biết. |
|
II. An emergence into Manifestation of the Subjective Aspect in Man. One of the objects of evolution is that the subjective reality should eventually be brought forward into recognition. This can be expressed in several symbolic ways, all of them dealing with the same one fact in nature: |
II. Sự Xuất Hiện vào Biểu Hiện của Phương Diện Chủ Quan trong Con Người. Một trong những mục tiêu của tiến hoá là thực tại chủ quan cuối cùng phải được đưa ra để được nhận biết. Điều này có thể được diễn tả bằng nhiều cách biểu tượng, tất cả đều đề cập đến cùng một sự kiện trong bản chất: |
|
The bringing to the birth of the Christ within. |
Đưa Đức Christ bên trong đến chỗ giáng sinh. |
|
The shining forth of the inner radiance or glory. |
Làm bừng sáng sự rạng ngời hay vinh quang nội tại. |
|
The demonstration of the 2nd or the Love aspect. |
Biểu lộ phương diện thứ 2 hay phương diện Bác Ái. |
|
The manifestation of the solar Angel. |
Biểu hiện của Thái dương Thiên Thần. |
|
The appearing of the Son of God, the Ego or the Soul within. |
Sự xuất hiện của Con của Thượng đế, Chân ngã hay Linh hồn bên trong. |
|
The full expression of buddhi, as it utilises manas. |
Sự biểu lộ trọn vẹn của Bồ đề, khi nó sử dụng manas. |
|
This emergence into manifestation is brought about through what is understood by the following terms: |
Sự xuất hiện vào biểu hiện này được mang lại qua điều được hiểu bởi các thuật ngữ sau đây: |
|
The refining of the bodies which form the casket or sheath hiding the reality. |
Sự tinh luyện các thể tạo thành chiếc tráp hay lớp vỏ che giấu thực tại. |
|
The process of ‘unveiling’ so that one by one those bodies which veil the Self are brought to a point where they are simply transparencies, permitting the full shining forth of the divine nature. |
Tiến trình “vén màn” để từng thể một, những thể che phủ Bản Ngã được đưa đến một điểm mà chúng chỉ còn là những vật trong suốt, cho phép bản chất thiêng liêng tỏa sáng trọn vẹn. |
|
An expansion of consciousness, which is brought about through the ability of the self to identify with its real nature as the Onlooker, and no longer regarding itself as the organ of perception. [7] |
Một sự mở rộng tâm thức, được mang lại qua khả năng của bản ngã tự đồng hoá với bản chất chân thực của mình như Đấng Quan Sát, và không còn xem mình như cơ quan tri giác nữa. [7] |
|
III. A Re-alignment of the Lower Sheaths so that the contact with the Real Man, the Thinker, the Solar Angel, on the higher levels of the mental plane may become complete and continuous. This only becomes possible as the other two points are beginning to be grasped and the theory as to man’s constitution and purpose is somewhat understood. As meditation is practiced, as the lower bodies are painstakingly dominated, and as the nature of the Sutratma or Thread is better comprehended it will become increasingly possible to bring into the lower personality on the physical plane that spiritual illumination and that divine energy which is the soul’s heritage. Little by little the light will shine forth, year by year the strength of the higher contact will grow, gradually the downpour of divine love and wisdom into the head centres will be increased until eventually the entire lower man will be transformed, his sheaths will be refined, controlled and used, and he will demonstrate upon earth the powers of Director, Teacher or Manipulator according to the major ray upon which his Monad may be found. |
III. Một Sự Chỉnh Hợp Lại các Vỏ Bọc Hạ Đẳng để sự tiếp xúc với Con Người Chân Thực, Nhà Tư Tưởng, Thái dương Thiên Thần, trên các cấp độ cao hơn của cõi trí có thể trở nên hoàn toàn và liên tục. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi hai điểm kia bắt đầu được nắm bắt và lý thuyết về cấu tạo và mục đích của con người được hiểu phần nào. Khi tham thiền được thực hành, khi các thể hạ đẳng được chế ngự một cách kiên trì, và khi bản chất của Sutratma hay Sợi dây được thấu hiểu rõ hơn, thì ngày càng có thể đem vào phàm ngã hạ đẳng trên cõi hồng trần sự soi sáng tinh thần và năng lượng thiêng liêng vốn là gia tài của linh hồn. Từng chút một ánh sáng sẽ tỏa ra, năm này qua năm khác sức mạnh của sự tiếp xúc cao hơn sẽ tăng trưởng, dần dần sự tuôn đổ của bác ái và minh triết thiêng liêng vào các trung tâm đầu sẽ gia tăng cho đến cuối cùng toàn bộ phàm nhân hạ đẳng sẽ được chuyển đổi, các vỏ bọc của y sẽ được tinh luyện, kiểm soát và sử dụng, và y sẽ biểu lộ trên trần gian các quyền năng của Người Chỉ Đạo, Huấn Sư hay Người Điều Khiển tùy theo cung chính mà chân thần của y có thể được tìm thấy trên đó. |
|
IV. A Series of Tests Leading to Initiation. When a man is beginning to demonstrate the qualities of his ray and to prove of gradually increasing importance to his group, he will be prepared through tests, through trials, and through temptations for those final stages in development which will put into his power: |
IV. Một Loạt Thử Thách Dẫn đến Điểm Đạo. Khi một người bắt đầu biểu lộ các phẩm tính của cung mình và chứng tỏ ngày càng có tầm quan trọng đối với nhóm của mình, y sẽ được chuẩn bị qua các thử thách, qua các khảo nghiệm, và qua các cám dỗ cho những giai đoạn cuối cùng trong sự phát triển, những giai đoạn sẽ đặt vào quyền năng của y: |
|
The knowledge of certain laws governing matter and form. |
Tri thức về một số định luật chi phối vật chất và hình tướng. |
|
The keys of the mysteries connected with energy, with polarity, and with group relation. |
Các chìa khóa của những huyền nhiệm liên hệ đến năng lượng, đến cực tính, và đến tương quan nhóm. |
|
Certain Words of Power which will give him control over the elemental forces of nature. |
Một số Quyền năng từ sẽ trao cho y quyền kiểm soát các mãnh lực hành khí của bản chất. |
|
Insight into the planetary plans. |
Sự thấu suốt vào các kế hoạch hành tinh. |
|
Upon these I need not enlarge, nor need I take up with you here the subject of initiation. (Discipleship in the New Age, Volumes I and II). The first work to be done is the stimulating [8] of aspirants and the preparing of the few earnest ones to tread the Path of Discipleship. The final point of our theme concerns: |
Về những điều này tôi không cần khai triển, cũng không cần bàn với các bạn ở đây về chủ đề điểm đạo. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Quyển I và II). Công việc đầu tiên cần làm là kích thích [8] những người chí nguyện và chuẩn bị cho số ít người tha thiết bước đi trên Con Đường Đệ Tử. Điểm cuối cùng của chủ đề chúng ta liên quan đến: |
|
V. The Basic Essential of Pure Character. This is something more than just being good. It deals with the matter aspect and has relation to the hold or control that the form has over the man. We might express it this way and therefore give its more occult connotation. If one or other of the three lower elementals (the physical, the astral and the mental) are the controlling factors in the life of the man, he is—by that very fact—put into a position of danger and should take steps to arrest that control prior to an attempt to enter into the formless realm. The reason for this will be apparent. Under the governing law of matter, the law of Economy, the elemental life will attract to itself similar lives and this will result in a dual danger. These dangers are: |
V. Yếu Tố Căn Bản Thiết Yếu của Tính Cách Thanh Khiết. Điều này còn hơn cả việc chỉ là tốt. Nó đề cập đến phương diện vật chất và có liên hệ đến sự nắm giữ hay kiểm soát mà hình tướng có trên con người. Chúng ta có thể diễn đạt theo cách này và do đó đưa ra hàm nghĩa huyền bí hơn của nó. Nếu một hay một yếu tố khác trong ba hành khí hạ đẳng (hồng trần, cảm dục và trí tuệ) là các yếu tố kiểm soát trong đời sống của con người, thì chính vì sự kiện đó mà y bị đặt vào một vị thế nguy hiểm và nên thực hiện các bước để chặn đứng sự kiểm soát ấy trước khi cố gắng đi vào cõi vô tướng. Lý do của điều này sẽ hiển nhiên. Dưới định luật chi phối vật chất, Định luật Tiết Kiệm, sự sống hành khí sẽ hút về mình các sự sống tương tự và điều này sẽ dẫn đến một mối nguy kép. Những nguy hiểm này là: |
|
One: the gathering into the form, through the dominant note sounded by the form elemental, of matter with a synchronous vibration. This will tend to increase the magnitude of the task before the Ego and sweep into increasing dominance the lower man. The “lunar lords” will become increasingly powerful and the solar Lord correspondingly less august. |
Một: sự tập hợp vào trong hình tướng, qua âm điệu chi phối được hành khí của hình tướng phát ra, của vật chất có rung động đồng bộ. Điều này sẽ có khuynh hướng làm tăng quy mô của nhiệm vụ trước Chân ngã và cuốn phàm nhân hạ đẳng vào sự thống trị ngày càng lớn. Các “nguyệt tinh quân” sẽ ngày càng mạnh hơn và Chúa tể thái dương sẽ tương ứng kém uy nghi hơn. |
|
Two: the man will find himself surrounded in time with thoughtforms of a lower order (from the standpoint of the soul) and before he can penetrate into the Arcana of Wisdom and find his way into the Master’s world he will have to dispel the clouds of thoughtforms which he has attracted to himself. |
Hai: theo thời gian con người sẽ thấy mình bị bao quanh bởi các hình tư tưởng thuộc loại thấp hơn (xét theo quan điểm của linh hồn) và trước khi y có thể thâm nhập vào các Huyền Bí của Minh triết và tìm đường vào thế giới của Chân sư, y sẽ phải làm tiêu tan các đám mây hình tư tưởng mà y đã hút về mình. |
|
Unless the disciple learns that aspiration and self-discipline must proceed side by side, he will find that the spiritual energy he may appreciate and contact will only serve to stimulate the latent seeds of evil in his nature and thereby demonstrate the exactitude of the truth that the great Lord taught when He pictured the man who swept his house, cast out seven devils and eventually was in a worse condition than ever. It is essential that aspirants should [9] understand the nature of the lower man and should grasp the fact that every coherent system has its varying types of energy, and that perfection is achieved when the highest type of energy inherently possible dominates. |
Trừ phi đệ tử học được rằng khát vọng và tự kỷ luật phải tiến hành song song, y sẽ thấy rằng năng lượng tinh thần mà y có thể cảm nhận và tiếp xúc chỉ phục vụ cho việc kích thích các hạt giống tiềm ẩn của điều ác trong bản chất của y và nhờ đó chứng minh tính chính xác của chân lý mà Đức Chúa Tể vĩ đại đã dạy khi Ngài mô tả người quét dọn nhà mình, xua đuổi bảy quỷ và cuối cùng lại ở trong tình trạng tệ hơn bao giờ hết. Điều thiết yếu là những người chí nguyện phải [9] hiểu bản chất của phàm nhân hạ đẳng và phải nắm được sự kiện rằng mọi hệ thống kết hợp đều có các loại năng lượng khác nhau của nó, và sự hoàn hảo đạt được khi loại năng lượng cao nhất vốn có thể có thống trị. |
|
If the lower energy of the aggregate of the form-atoms is the controlling factor three things will take place: |
Nếu năng lượng thấp hơn của tổng thể các nguyên tử hình tướng là yếu tố kiểm soát thì ba điều sẽ xảy ra: |
|
1. The form itself will grow by accretion and will become ever more potent, until the dominant voice of its ‘lunar lords’ will stifle all other voices and the man be swept back into |
1. Chính hình tướng sẽ tăng trưởng bằng sự bồi đắp và sẽ ngày càng mạnh hơn, cho đến khi tiếng nói chi phối của các ‘nguyệt tinh quân’ của nó sẽ bóp nghẹt mọi tiếng nói khác và con người bị cuốn trở lại vào |
|
Inertia |
Quán tính |
|
Blindness |
Mù quáng |
|
Bondage |
Nô lệ |
|
2. Many people are not only under the control of some one or other of their forms but are the captives of all the three. In studying the lower threefold man and the energies or lives that seek to control him it should be remembered that they fall into three categories: |
2. Nhiều người không những chỉ ở dưới sự kiểm soát của một hình tướng nào đó của mình mà còn là tù nhân của cả ba hình tướng. Khi nghiên cứu con người tam phân hạ đẳng và các năng lượng hay sự sống tìm cách kiểm soát y, cần nhớ rằng chúng thuộc vào ba loại: |
|
a. The individual tiny lives which we call the atoms or cells of the body. These exist in three groups and compose respectively the four types of bodies: dense physical, etheric, astral and mental. |
a. Những sự sống nhỏ bé cá biệt mà chúng ta gọi là các nguyên tử hay tế bào của thể. Chúng tồn tại trong ba nhóm và lần lượt cấu thành bốn loại thể: hồng trần đậm đặc, dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. |
|
b. The aggregate of these lives which constitute in themselves four types of elementals or separate coherent, though not self-conscious, existences. These four lunar lords constitute what the Ageless Wisdom teaching calls “the four sides of the square.” They are the “lower quaternary,” “the imprisoning cubes,” or the cross upon which the inner spiritual Man is to be crucified. These four elementals have an intelligence all their own, are upon the involutionary arc, are following the law of their own being when they tend to become powerful, and thereby fully express that which is in them. |
b. Tổng thể của các sự sống này, tự chúng cấu thành bốn loại hành khí hay những hiện hữu riêng biệt có kết hợp, tuy không có ngã thức. Bốn nguyệt tinh quân này tạo thành điều mà giáo huấn của Minh Triết Ngàn Đời gọi là “bốn cạnh của hình vuông.” Chúng là “bộ tứ hạ đẳng,” “những khối lập phương giam hãm,” hay cây thập giá mà trên đó Con Người tinh thần nội tại phải bị đóng đinh. Bốn hành khí này có một trí tuệ riêng của chúng, đang ở trên cung giáng hạ tiến hoá, đang tuân theo định luật của chính bản thể chúng khi chúng có khuynh hướng trở nên mạnh mẽ, và nhờ đó biểu lộ trọn vẹn điều ở trong chúng. |
|
c. A dominant controlling lunar lord who is that which we understand by the term the ‘lower personality’; he (if the personal pronoun can be used) is the sumtotal of the physical, astral and mental elementals, and it [10] is this power which at present forces the ‘fiery energies’ of the body to feed the lower three centres. The etheric body has a unique and curious position, being simply the vehicle for prana or life and the centre which it uses exists in a category by itself. |
c. Một nguyệt tinh quân chi phối và kiểm soát, là điều mà chúng ta hiểu qua thuật ngữ ‘phàm ngã hạ đẳng’; y (nếu có thể dùng đại từ nhân xưng) là tổng số của các hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ, và [10] chính quyền lực này hiện nay buộc các ‘năng lượng rực lửa’ của thể phải nuôi dưỡng ba trung tâm thấp hơn. Thể dĩ thái có một vị trí độc đáo và kỳ lạ, vì nó chỉ đơn giản là vận cụ cho prana hay sự sống và trung tâm mà nó sử dụng tồn tại trong một loại riêng biệt. |
|
3. All subhuman forms in their aggregate prove a powerful deterrent factor in the progress towards emancipation of the Real Man. They form the opposite to what we understand by the world of the Master and the two are in direct opposition to each other from the standpoint of the aspirant. |
3. Tất cả các hình tướng dưới nhân loại trong tổng thể của chúng chứng tỏ là một yếu tố cản trở mạnh mẽ đối với sự tiến bộ hướng tới giải thoát của Con Người Chân Thực. Chúng tạo thành đối cực với điều chúng ta hiểu là thế giới của Chân sư và hai bên trực tiếp đối nghịch nhau theo quan điểm của người chí nguyện. |
|
The adept can enter the world of form, can contact it, work in it and remain unaffected by it because there is nothing in him to respond to it. He sees through the illusion to the reality behind and, knowing where he stands himself, there is naught in the appeal and the demand of these lunar lords to attract him. He stands midway between the pairs of opposites. In the realisation of the nature of this world of form, in a comprehension of the lives which compose it, and in an ability to hear the voice of the “formless One” above the strife of all the lower voices, comes the opportunity for the aspirant to escape from the dominance of matter. |
Chân sư có thể đi vào thế giới hình tướng, có thể tiếp xúc với nó, làm việc trong nó và vẫn không bị nó ảnh hưởng vì trong Ngài không có gì đáp ứng với nó. Ngài nhìn xuyên qua ảo tưởng đến thực tại phía sau và, biết rõ chính mình đứng ở đâu, nên không có gì trong sức hấp dẫn và đòi hỏi của các nguyệt tinh quân này có thể lôi cuốn Ngài. Ngài đứng ở giữa các cặp đối nghịch. Trong sự chứng nghiệm về bản chất của thế giới hình tướng này, trong sự thấu hiểu các sự sống cấu thành nó, và trong khả năng nghe được tiếng nói của “Đấng vô tướng” vượt lên trên sự xung đột của mọi tiếng nói thấp hơn, đến cơ hội cho người chí nguyện thoát khỏi sự thống trị của vật chất. |
|
This is the true magical work, my brothers, the understanding of the sounds of all beings, and the ability to speak the language of the soul is the clue to the work. These faculties rightly used impose upon these lesser lives that control which will lead to the final liberation, and which will in due time, lead these lives themselves into the realm of self-consciousness. This aspect of the matter is as yet but little comprehended by the sons of men. If they but realised that by a disposition to fall under lunar control they drive the tiny lives in their little system deeper into the darkness of ignorance, they might more rapidly assume their just responsibilities; if they realised that by the constant attempt to impose the rhythm of the solar Lord upon the aggregate of the lunar lords, they were driving these lives onward to self-conscious unfoldment, they might proceed more earnestly and more intelligently. This is the message that must [11] go forth, for all the varying aspects of the life of God are interdependent and not one proceeds onward into fuller realisation without benefitting the entire group. |
Đây là công việc huyền thuật chân chính, Huynh đệ của Tôi, sự thấu hiểu các âm thanh của mọi hữu thể, và khả năng nói ngôn ngữ của linh hồn là đầu mối cho công việc ấy. Những năng lực này khi được sử dụng đúng sẽ áp đặt lên các sự sống nhỏ bé hơn ấy sự kiểm soát sẽ dẫn đến giải thoát cuối cùng, và đến lúc thích hợp sẽ dẫn chính các sự sống ấy vào cõi ngã thức. Phương diện này của vấn đề cho đến nay vẫn còn rất ít được những người con của nhân loại thấu hiểu. Nếu họ chỉ nhận ra rằng do khuynh hướng rơi vào sự kiểm soát của nguyệt tính, họ đẩy các sự sống nhỏ bé trong hệ thống nhỏ bé của mình sâu hơn vào bóng tối vô minh, thì họ có thể mau chóng đảm nhận các trách nhiệm chính đáng của mình hơn; nếu họ nhận ra rằng bằng nỗ lực không ngừng nhằm áp đặt nhịp điệu của Chúa tể thái dương lên tổng thể các nguyệt tinh quân, họ đang thúc đẩy các sự sống ấy tiến tới sự khai mở ngã thức, thì họ có thể tiến bước tha thiết và thông minh hơn. Đây là thông điệp phải [11] được truyền ra, vì mọi phương diện khác nhau của sự sống của Thượng đế đều tùy thuộc lẫn nhau và không một phương diện nào tiến lên đến sự chứng nghiệm đầy đủ hơn mà không mang lợi ích cho toàn thể nhóm. |
|
A few simple suggestions I will give you. These can be useful to all sincere aspirants. |
Tôi sẽ đưa ra cho các bạn một vài gợi ý đơn giản. Chúng có thể hữu ích cho mọi người chí nguyện chân thành. |
|
In the ordered regulation of the life comes eventual synthesis and the right control of time with all that eventuates therefrom. |
Trong sự điều hòa có trật tự của đời sống sẽ đến sự tổng hợp cuối cùng và sự kiểm soát đúng đắn thời gian cùng mọi điều phát sinh từ đó. |
|
In the right elimination of that which is secondary, and in a sense of rightly adjusted proportion comes that accuracy and one-pointedness which is the hallmark of the occultist. |
Trong sự loại bỏ đúng đắn điều thứ yếu, và trong ý thức về tỉ lệ được điều chỉnh đúng, sẽ đến sự chính xác và tính nhất tâm là dấu hiệu đặc trưng của nhà huyền bí học. |
|
In the right aspiration at the appointed time comes the necessary contact and the inspiration for the work that has to be done. |
Trong khát vọng đúng đắn vào thời điểm được chỉ định sẽ đến sự tiếp xúc cần thiết và cảm hứng cho công việc phải được thực hiện. |
|
In the steady adherence to self-appointed rules comes the gradual refining of the instrument and the perfecting of the vehicles that will be—to the Master—the medium of help among many little ones. |
Trong sự kiên định tuân thủ các quy luật do chính mình đặt ra sẽ đến sự tinh luyện dần dần của công cụ và sự hoàn thiện các vận cụ mà đối với Chân sư sẽ là phương tiện trợ giúp giữa nhiều người nhỏ bé. |
|
I commend the above thought to you knowing that you will apprehend the implications and will seriously consider the purport of my remarks. |
Tôi giao phó tư tưởng trên cho các bạn, biết rằng các bạn sẽ lĩnh hội các hàm ý và sẽ nghiêm túc suy xét ý nghĩa của những nhận xét của tôi. |
|
The world today is in the throes of agony. Just as in the evolving Ego, the moment of greatest development is oft the moment of greatest pain (if apprehension measure up to opportunity) so in the evolving world. To those of you who have the inner sight and intuitive comprehension comes the opportunity to aid that apprehension and to lead a despairing world—deep cast into darkness and distress—one step nearer to the light. The work you have to do is to take the knowledge which is yours and adjust its application to the world’s need so that recognition of the truth may be rapid. In the heart of every man lies hid the flower of the intuition. On that you can depend, and no eternal or cosmic fact clothed in a suitable form will fail to receive its meed of recognition and understanding. |
Thế giới ngày nay đang trong cơn hấp hối đau đớn. Cũng như trong Chân ngã đang tiến hoá, khoảnh khắc phát triển lớn lao nhất thường là khoảnh khắc đau đớn lớn lao nhất (nếu sự lĩnh hội tương xứng với cơ hội), thì trong thế giới đang tiến hoá cũng vậy. Đối với những ai trong các bạn có linh thị nội tại và sự thấu hiểu trực giác, cơ hội đến để trợ giúp sự lĩnh hội ấy và dẫn dắt một thế giới tuyệt vọng—bị ném sâu vào bóng tối và khốn khổ—tiến gần hơn một bước tới ánh sáng. Công việc các bạn phải làm là lấy tri thức vốn là của các bạn và điều chỉnh sự áp dụng của nó cho nhu cầu của thế giới để sự nhận biết chân lý có thể diễn ra nhanh chóng. Trong tim mỗi người đều ẩn giấu đóa hoa của trực giác. Các bạn có thể tin cậy vào điều đó, và không một sự kiện vĩnh cửu hay vũ trụ nào được khoác trong một hình thức thích hợp lại không nhận được phần nhận biết và thấu hiểu xứng đáng của nó. |
INTRODUCTORY STATEMENT — TUYÊN BỐ NHẬP ĐỀ
|
[12] |
[12] |
|
I have called you from refreshment to labour at this time (October 1942) because the coming few days are exceedingly busy ones for me as they are for all members of the Hierarchy. I seek to give you some further instructions anent the Hierarchy itself. (This teaching is the continuation of that which appears in “Discipleship in the New Age”, Volume I, pp. 671 – 773.) Students at this time would do well to remember that all basic and fundamental changes taking place upon the physical plane are necessarily the result of inner subjective causes, emanating from some level of the divine consciousness, and therefore from some plane other than the physical. The fact that tremendous and unusual upheavals are taking place in the kingdoms of nature is attributed by men to other men or to certain forces generated by human thinking, frailty and ambition. |
Tôi đã gọi các bạn từ chỗ nghỉ ngơi trở lại lao động vào lúc này (tháng Mười năm 1942) vì vài ngày sắp tới là những ngày cực kỳ bận rộn đối với tôi cũng như đối với mọi thành viên của Thánh Đoàn. Tôi tìm cách trao cho các bạn thêm một số chỉ dẫn liên quan đến chính Thánh Đoàn. (Giáo huấn này là phần tiếp nối của điều đã xuất hiện trong “Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới”, Tập I, trang 671 – 773.) Vào lúc này, các đạo sinh nên nhớ rằng mọi thay đổi căn bản và nền tảng đang diễn ra trên cõi hồng trần tất yếu là kết quả của các nguyên nhân chủ quan bên trong, phát xuất từ một cấp độ nào đó của tâm thức thiêng liêng, và do đó từ một cõi nào đó khác với cõi hồng trần. Sự kiện những biến động to lớn và khác thường đang diễn ra trong các giới của bản chất được những người nam và nữ quy cho những người nam và nữ khác hoặc cho một số mãnh lực do tư tưởng, sự yếu đuối và tham vọng của con người tạo ra. |
|
Is it not possible that these changes are being brought about as the result of certain profoundly important happenings upon inner planes of such advanced states of consciousness that all the average disciple can know about them is their word symbols and their much deleted effects—if I may use such a phrase to describe the happenings which are rending humanity today. The evil that is being wrought today on earth, by certain evil members of the human family, are effects of their response to the inflaming energies and indicate their basic wickedness and their prompt reaction to that which is counter to the good. Wherever the consciousness is focussed, there is the point of major emphasis and importance, and this is true of the individual man and of humanity as a whole. The significance of the present happenings is interpreted (and necessarily so) in terms of human awareness and responsiveness. This world war and its inevitable consequences—good and bad—are looked upon as concerned primarily with humanity, whereas that is not [13] basically so. Humanity suffers and experiences as a result of the inner occurrences and the meeting of subjective forces and inflaming energies. |
Có phải chăng những thay đổi này đang được mang lại như kết quả của một số biến cố hết sức quan trọng xảy ra trên các cõi bên trong, thuộc những trạng thái tâm thức cao siêu đến mức tất cả những gì đệ tử trung bình có thể biết về chúng chỉ là các biểu tượng bằng lời và những hiệu quả đã bị cắt giảm rất nhiều của chúng—nếu tôi có thể dùng một cụm từ như thế để mô tả những biến cố đang xé nát nhân loại ngày nay. Điều ác đang được gây ra hôm nay trên Trái Đất bởi một số thành viên xấu ác của gia đình nhân loại là những hiệu quả của sự đáp ứng của họ đối với các năng lượng kích động và cho thấy sự tà ác căn bản của họ cùng phản ứng mau lẹ của họ đối với điều gì đi ngược lại điều thiện. Tâm thức được tập trung ở đâu thì ở đó có điểm nhấn mạnh và quan trọng chủ yếu, và điều này đúng với cá nhân con người cũng như với toàn thể nhân loại. Thâm nghĩa của các biến cố hiện nay được diễn giải (và tất yếu là như vậy) theo các thuật ngữ của nhận biết và đáp ứng của con người. Cuộc thế chiến này và những hậu quả tất yếu của nó—tốt và xấu—được xem như chủ yếu liên quan đến nhân loại, trong khi về căn bản điều đó không [13] phải như vậy. Nhân loại đau khổ và kinh nghiệm như là kết quả của các diễn biến bên trong và của sự gặp gỡ giữa các mãnh lực chủ quan với các năng lượng kích động. |
|
It is of course not possible for me to give you any true picture of the interior events and happenings in the life of our planetary Being. I can only indicate and point out that the world situation is simply an embodiment of the reaction and the response by mankind to great paralleling and originating happenings which involve the following groups: |
Dĩ nhiên tôi không thể trao cho các bạn bất kỳ bức tranh chân thực nào về các biến cố và diễn tiến nội tại trong sự sống của Đấng Hành Tinh của chúng ta. Tôi chỉ có thể gợi ý và chỉ ra rằng tình hình thế giới chỉ đơn giản là sự thể hiện của phản ứng và đáp ứng của nhân loại đối với những biến cố song hành và khởi nguyên vĩ đại liên quan đến các nhóm sau đây: |
|
1. The emanating Avatar and His relationship to the Lord of the World, our planetary Logos. |
1. Đấng Hoá Thân đang xuất lộ và mối liên hệ của Ngài với Đức Chúa Tể Thế Giới, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
2. The Lords of Liberation, focussed in Their high place, as They become conscious of the invocation of humanity and become more closely related to the three Buddhas of Activity. |
2. các Đấng Giải Thoát, tập trung tại chốn cao siêu của Các Ngài, khi Các Ngài trở nên hữu thức về sự khẩn cầu của nhân loại và trở nên liên hệ mật thiết hơn với ba Đức Phật Hoạt Động. |
|
3. The Great Council at Shamballa and the planetary Hierarchy. |
3. Đại Hội Đồng tại Shamballa và Thánh Đoàn hành tinh. |
|
4. The Buddha and His Arhats as They unitedly cooperate with the Christ and His disciples, the Masters of the Wisdom. |
4. Đức Phật và các vị A La Hán của Ngài khi Các Ngài cùng nhau hợp tác với Đức Christ và các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh triết. |
|
5. The Hierarchy, the embodiment of the fifth kingdom in nature, and its magnetic attractive rapport with the human kingdom, the fourth. |
5. Thánh Đoàn, hiện thân của giới thứ năm trong bản chất, và mối tương giao từ tính hấp dẫn của nó với giới nhân loại, giới thứ tư. |
|
6. The effect of all these great groups of Lives upon humanity, and the inherent consequences as they work out in the subhuman kingdoms. |
6. Hiệu quả của tất cả các nhóm Sự Sống vĩ đại này lên nhân loại, và những hậu quả cố hữu khi chúng biểu lộ trong các giới dưới nhân loại. |
|
A study of the above in terms of forces and energy will give some idea of the underlying synthesis of relationships and the unity of the whole. |
Một sự nghiên cứu điều trên theo các thuật ngữ của mãnh lực và năng lượng sẽ cho một vài ý niệm về sự tổng hợp nền tảng của các mối liên hệ và sự hợp nhất của toàn thể. |
|
There is therefore a line of descending energy which has its origin outside our planetary life altogether; the inflow of this energy, its inevitable effect under cyclic law and its consequences, as they work out upon the physical plane, has produced and is producing all the changes of which mankind is so terribly aware at this time. This swings into immediate conflict the past and the future, and in this statement I have expressed the deepest esoteric truth which mankind [14] is competent to grasp; it brings into a culminating struggle the Great White Lodge and the Black Lodge and opens the door to great contending energies which we can call spirit and matter, spirituality and materialism, or life and death. These words are, in the last analysis, as meaningless as the terms good and evil, which have significance only in the human consciousness and its inherent limitations. |
Do đó có một dòng năng lượng giáng hạ có nguồn gốc hoàn toàn ở bên ngoài sự sống hành tinh của chúng ta; sự tuôn vào của năng lượng này, hiệu quả tất yếu của nó dưới định luật chu kỳ và các hậu quả của nó, khi chúng biểu lộ trên cõi hồng trần, đã tạo ra và đang tạo ra mọi thay đổi mà nhân loại hiện nay nhận biết một cách đau đớn đến thế. Điều này đưa quá khứ và tương lai vào xung đột tức thời, và trong lời phát biểu này tôi đã diễn đạt chân lý huyền bí sâu xa nhất mà nhân loại [14] có khả năng nắm bắt; nó đưa Thánh đoàn và Hắc đoàn vào một cuộc đấu tranh lên đến tột đỉnh và mở cánh cửa cho những năng lượng đối kháng lớn lao mà chúng ta có thể gọi là tinh thần và vật chất, tinh thần tính và chủ nghĩa vật chất, hoặc sự sống và cái chết. Rốt cuộc, những từ này cũng vô nghĩa như các thuật ngữ thiện và ác, vốn chỉ có ý nghĩa trong tâm thức con người và trong những giới hạn cố hữu của nó. |
|
These descending energies, as they pass through any of the major levels of consciousness which we call planes, produce reactions and responses, dependent upon the state of the conditioning consciousness, and (strange as this may seem to you and well-nigh unintelligible) the effects upon the Hierarchy are even more compelling and transmuting than they are upon humanity. I would add also that the point of lowest descent of the energies has now been reached, and the nature of the present opportunity is therefore changing. These energies have now passed what we might call the turning point and have reached their point of ascension, with all that that phrase implies. As they descend, they produce stimulation; as they ascend, they produce transmutation and abstraction, and the one effect is as unalterable as the other. It is upon this inevitability of the ascending energies, and the effects which they will bring about, that the entire hope of the future depends; nothing can arrest their return or their progress through the planes and back again to their source. Upon this dual process of descent and ascension the whole cyclic panorama of manifestation rests, and upon the inflow and activity of new and higher energies the whole fact of the evolutionary process depends. |
Những năng lượng giáng hạ này, khi đi qua bất kỳ cấp độ lớn nào của tâm thức mà chúng ta gọi là các cõi, đều tạo ra các phản ứng và đáp ứng, tùy thuộc vào trạng thái của tâm thức đang tác động; và (dù điều này có vẻ kỳ lạ với các bạn và gần như không thể hiểu nổi) các hiệu quả đối với Thánh Đoàn còn có tính cưỡng bách và chuyển hoá hơn cả đối với nhân loại. Tôi cũng xin nói thêm rằng điểm giáng hạ thấp nhất của các năng lượng nay đã đạt tới, và vì vậy bản chất của cơ hội hiện tại đang thay đổi. Những năng lượng này nay đã vượt qua điều mà chúng ta có thể gọi là điểm ngoặt và đã đạt tới điểm thăng lên của chúng, với tất cả những gì cụm từ đó hàm ý. Khi giáng xuống, chúng tạo ra sự kích thích; khi thăng lên, chúng tạo ra sự chuyển hoá và sự rút trừu, và hiệu quả này cũng bất biến như hiệu quả kia. Toàn bộ hy vọng của tương lai tùy thuộc vào tính tất yếu này của các năng lượng thăng lên và các hiệu quả mà chúng sẽ mang lại; không gì có thể ngăn cản sự quay trở về của chúng hoặc sự tiến triển của chúng xuyên qua các cõi rồi trở lại nguồn của chúng. Toàn cảnh chu kỳ của sự biểu hiện dựa trên tiến trình kép này của giáng hạ và thăng lên, và toàn bộ sự kiện của tiến trình tiến hoá tùy thuộc vào sự tuôn vào và hoạt động của các năng lượng mới và cao hơn. |
|
It will therefore be apparent to you that the descent of energy brings with it—under the cyclic law—certain new “inspirations,” certain new “seeds of hope” for the future, and certain active Agents as well, Who are and will be responsible for the task of preparation, of fertilisation and of all the coming new age enterprises. These descending energies evoke also the obstructing forces, and I would here remind you that these obstructing evil forces (so-called) are [15] met with upon the highest spiritual levels because they are—in their turn—evoked by the impelling impact of the coming Avatar Whose “note is heard ahead of Him, and His energy spreads before Him.” This is a great mystery and can only be understood (and then merely theoretically) if you bear in mind that all our planes—even the very highest—are the subplanes of the cosmic physical plane. When this fact is somewhat grasped there comes a simplification of thought. |
Vì vậy các bạn sẽ thấy rõ rằng sự giáng hạ của năng lượng mang theo nó—dưới định luật chu kỳ—một số “cảm hứng” mới, một số “hạt giống hy vọng” mới cho tương lai, và cả một số Tác Nhân hoạt động, là những Đấng đang và sẽ chịu trách nhiệm cho công việc chuẩn bị, thụ tinh và mọi công cuộc của kỷ nguyên mới sắp đến. Những năng lượng giáng hạ này cũng gợi lên các mãnh lực cản trở, và ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng các mãnh lực ác cản trở này (cái gọi là như vậy) được [15] gặp thấy trên các cấp độ tinh thần cao nhất vì đến lượt chúng cũng được gợi lên bởi tác động thúc đẩy của Đấng Hoá Thân đang đến, Đấng mà “âm điệu của Ngài được nghe thấy đi trước Ngài, và năng lượng của Ngài lan tỏa trước Ngài.” Đây là một huyền nhiệm lớn lao và chỉ có thể được thấu hiểu (và ngay cả khi ấy cũng chỉ trên lý thuyết) nếu các bạn ghi nhớ rằng tất cả các cõi của chúng ta—ngay cả những cõi cao nhất—đều là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Khi sự kiện này được nắm bắt phần nào thì tư tưởng trở nên đơn giản hơn. |
|
As a consequence of all this, great and fundamental readjustments are going on within the Hierarchy itself and within that intervening area of the divine consciousness to which we give the name (as far as humanity is concerned) of the Spiritual Triad—an area covered by the higher mental planes, the buddhic and the atmic levels of awareness and of divine activity. The downpouring avataric stimulation is enabling certain of the Masters to take some of the major initiations, and to do so far earlier than would otherwise have been possible. Thus a great process of ascension and of spiritual attainment is under way, though as yet only its faint beginnings can be traced, owing to the intensity of the point of conflict. Hence also many probationary disciples are finding their way into the ranks of accepted disciples, and many disciples are taking initiation. To this fact of hierarchical upheaval—paralleling and intensifying the upheaval upon the physical plane—can be traced the process of preparation which I have instituted among some disciples, thus hastening the period and point of attainment, provided I receive due cooperation from them. (Discipleship in the New Age, Vols. I and II.) |
Hệ quả của tất cả điều này là những sự điều chỉnh lớn lao và căn bản đang diễn ra bên trong chính Thánh Đoàn và bên trong khu vực trung gian của tâm thức thiêng liêng mà chúng ta gọi tên (xét theo nhân loại) là Tam Nguyên Tinh Thần—một khu vực bao gồm các cõi thượng trí, các cấp độ Bồ đề và atma của nhận biết và hoạt động thiêng liêng. Sự kích thích avatar tuôn đổ đang giúp một số Chân sư có thể tiếp nhận vài cuộc điểm đạo lớn, và làm như vậy sớm hơn rất nhiều so với lẽ ra có thể. Do đó một tiến trình lớn của sự thăng lên và thành tựu tinh thần đang diễn ra, dù hiện nay mới chỉ có thể nhận ra những khởi đầu mờ nhạt của nó, do cường độ của điểm xung đột. Vì thế mà nhiều đệ tử dự bị đang tìm được đường vào hàng ngũ các đệ tử được chấp nhận, và nhiều đệ tử đang tiếp nhận điểm đạo. Chính từ sự kiện biến động trong Thánh Đoàn này—song hành và làm tăng cường biến động trên cõi hồng trần—mà có thể truy nguyên tiến trình chuẩn bị mà tôi đã thiết lập nơi một số đệ tử, nhờ đó đẩy nhanh thời kỳ và điểm thành tựu, miễn là tôi nhận được sự hợp tác thích đáng từ họ. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I và II.) |
|
As regards the Hierarchy itself, speaking esoterically and technically, its Members (many of Them) are “being abstracted from the middle point of holiness and absorbed into the Council of the Lord.” In other words, They are passing onward into higher work and are becoming custodians of the energy of the divine will and not simply the custodians of the energy of love. They will work henceforth as power-units, and not just as units of light. Their work [16] becomes dynamic instead of being attractive and magnetic, and is concerned with the life aspect and not just with the soul or consciousness aspect. Their places are being taken—under the Law of Ascension—by Their senior disciples, the initiates in Their Ashrams, and (under the same great process) the place of these initiates, who are thus being “raised” to more important work, is being taken by disciples and probationers. It is this truth, misinterpreted and shockingly travestied, which lies behind the teaching anent the so-called Ascended Masters, put out by the leaders of the “I AM” movement, thus prostituting and bringing down almost into the realm of cheap comedy one of the most notable happenings which has ever taken place upon our planet. |
Liên quan đến chính Thánh Đoàn, nói theo cách huyền bí và kỹ thuật, các Thành viên của nó (nhiều Vị trong số Các Ngài) đang “được rút trừu khỏi điểm giữa của sự thiêng liêng và được hấp thu vào Hội Đồng của Đức Chúa.” Nói cách khác, Các Ngài đang tiến vào công việc cao hơn và đang trở thành những vị gìn giữ năng lượng của ý chí thiêng liêng chứ không chỉ đơn thuần là những vị gìn giữ năng lượng của bác ái. Từ nay Các Ngài sẽ hoạt động như những đơn vị quyền năng, chứ không chỉ như những đơn vị ánh sáng. Công việc của Các Ngài [16] trở nên năng động thay vì hấp dẫn và từ tính, và liên quan đến phương diện sự sống chứ không chỉ phương diện linh hồn hay tâm thức. Chỗ của Các Ngài đang được thay thế—dưới Định luật Thăng lên—bởi các đệ tử cao cấp của Các Ngài, các điểm đạo đồ trong các ashram của Các Ngài, và (dưới cùng tiến trình vĩ đại ấy) chỗ của các điểm đạo đồ này, những người do đó được “nâng lên” để làm công việc quan trọng hơn, đang được thay thế bởi các đệ tử và người dự bị. Chính chân lý này, bị diễn giải sai lạc và bị xuyên tạc một cách đáng kinh ngạc, nằm phía sau giáo huấn liên quan đến cái gọi là các Chân sư Thăng thiên, do các lãnh đạo của phong trào “I AM” phổ biến, qua đó làm ô uế và hạ thấp gần như xuống lĩnh vực hài kịch rẻ tiền một trong những biến cố đáng chú ý nhất từng xảy ra trên hành tinh chúng ta. |
|
There is therefore, owing to the inflow of energy from extra-planetary sources, a general shifting of the focus of consciousness of embodied and disembodied lives at this time; this shift is one of the prime factors producing the present disruption. Students today are searching for the causes in human motives, in past history and in karmic relationships. To these they add the so-called factor of wickedness. All these factors of course exist, but are of lesser origin and are inherent in the life of the three worlds. They are themselves set in motion by far deeper-seated factors latent in the relationship between spirit and matter and inherent in the dualism of the solar system, and not in its triplicity. This dualism, as far as our planet is concerned, is profoundly affected by the will-purpose of the Lord of the World and by the intensity of His one-pointed thought. He has succeeded in achieving a point of tension, preparatory to bringing about stupendous changes in His life-expression, within His vehicle of manifestation, a planet. This point of invocation will be evocative of great happenings, and will involve every aspect of His nature, including the dense physical; this of necessity involves also all that concerns the human family for “in Him we live and move and have our being.” Those three words or phrases express the triplicity of manifestation, for “Being” connotes the Spirit aspect, [17] “moving” the soul or consciousness aspect, and “living” signifies appearance upon the physical plane. Upon that outer plane the basic synthesis of incarnated life is to be found. |
Do đó, vì sự tuôn vào của năng lượng từ các nguồn ngoài hành tinh, hiện nay đang có một sự chuyển dịch tổng quát trong tiêu điểm tâm thức của các sự sống có hiện thân và không hiện thân; sự chuyển dịch này là một trong những yếu tố chủ yếu tạo ra sự đổ vỡ hiện tại. Ngày nay các đạo sinh đang tìm kiếm nguyên nhân trong các động cơ của con người, trong lịch sử quá khứ và trong các mối liên hệ nghiệp quả. Vào đó họ còn thêm cái gọi là yếu tố tà ác. Dĩ nhiên tất cả các yếu tố này đều tồn tại, nhưng có nguồn gốc thấp hơn và vốn cố hữu trong sự sống của ba cõi giới. Bản thân chúng được khởi động bởi những yếu tố ăn sâu hơn nhiều, tiềm ẩn trong mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất và cố hữu trong tính nhị nguyên của hệ mặt trời, chứ không phải trong bộ ba của nó. Tính nhị nguyên này, xét theo hành tinh chúng ta, bị ảnh hưởng sâu xa bởi mục đích-ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới và bởi cường độ của tư tưởng nhất tâm của Ngài. Ngài đã thành công trong việc đạt tới một điểm tập trung nhất tâm, chuẩn bị để mang lại những thay đổi phi thường trong sự biểu lộ sự sống của Ngài, bên trong vận cụ biểu hiện của Ngài là một hành tinh. Điểm khẩn cầu này sẽ gợi lên những biến cố lớn lao, và sẽ liên quan đến mọi phương diện trong bản chất của Ngài, kể cả hồng trần đậm đặc; điều này tất yếu cũng liên quan đến mọi điều liên hệ đến gia đình nhân loại vì “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Ba từ hay cụm từ ấy diễn đạt bộ ba của sự biểu hiện, vì “Hiện hữu” hàm ý phương diện Tinh thần, [17] “chuyển động” là phương diện linh hồn hay tâm thức, và “sống” biểu thị sự xuất hiện trên cõi hồng trần. Trên cõi bên ngoài ấy có thể tìm thấy sự tổng hợp căn bản của sự sống nhập thể. |
|
It will be apparent to you, therefore, that in this achievement of planetary tension it is not life in the three worlds that is the sphere of this tension, but the realm of hierarchical activity. The shift resulting from this point of tension, the “moving” which is its consequence, is in the realm of soul experience and soul awareness. The secondary effect can be noted in the human consciousness by the awakening which has been going on among men—an awakening to the higher spiritual values, to the trends and ideologies which are everywhere appearing, and to the clear lines of demarcation which have emerged in the realm of human determinations and objectives. These are all the results of great changes in the field of the higher consciousness and are conditioned by the soul of all things, lying largely in the realm of the anima mundi; of this great sumtotal the human soul and the spiritual soul are but aspects or expressions. |
Vì vậy các bạn sẽ thấy rõ rằng trong thành tựu này của sự nhất tâm hành tinh, không phải sự sống trong ba cõi giới là khối cầu của sự nhất tâm này, mà là lĩnh vực hoạt động của Thánh Đoàn. Sự chuyển dịch phát sinh từ điểm tập trung nhất tâm này, sự “chuyển động” là hậu quả của nó, nằm trong lĩnh vực kinh nghiệm linh hồn và nhận biết linh hồn. Hiệu quả thứ yếu có thể được ghi nhận trong tâm thức con người qua sự thức tỉnh đang diễn ra giữa những người nam và nữ—một sự thức tỉnh đối với các giá trị tinh thần cao hơn, đối với các xu hướng và các hệ tư tưởng đang xuất hiện khắp nơi, và đối với những ranh giới phân định rõ ràng đã nổi lên trong lĩnh vực các quyết tâm và mục tiêu của con người. Tất cả những điều này đều là kết quả của những thay đổi lớn lao trong lĩnh vực của tâm thức cao hơn và được tác động bởi linh hồn của vạn vật, phần lớn nằm trong lĩnh vực của anima mundi; trong tổng thể vĩ đại ấy, linh hồn con người và linh hồn tinh thần chỉ là các phương diện hay các biểu hiện. |
|
It is these changes in the “moving, shifting realities” of the soul consciousness and spiritual awareness of the Members of the Hierarchy which are responsible for the new trends in the life of the Spirit and the new methods in training disciples—in such an experiment, for instance, as externalising the Ashrams of the Masters. It is this new approach to life conditions, as a result of the inflow of new energies, which is producing the universal trend towards group awareness, and its highest result in the human family is the taking the first steps towards group initiation. Such a thing as group initiation was never heard of prior to the present time, except in connection with the higher initiations emanating from the Shamballa centre. Group initiation is based upon a uniform and united group will, consecrated towards the service of humanity and based upon loyalty, cooperation and interdependence. In the past, the emphasis was upon the individual, his training and approach to initiation, and his solitary admittance to the Temple [18] of Initiation. But this individual concentration will, in the future, give place to a group condition which will enable several disciples unitedly to move forward, unitedly to stand before the Initiator, and unitedly and simultaneously to achieve the great realisation which is the result and the reward of successful discipleship. |
Chính những thay đổi này trong các “thực tại chuyển động, dịch chuyển” của tâm thức linh hồn và nhận biết tinh thần của các Thành viên Thánh Đoàn chịu trách nhiệm cho các xu hướng mới trong sự sống của Tinh thần và các phương pháp mới trong việc huấn luyện đệ tử—chẳng hạn như trong một thử nghiệm như ngoại hiện các ashram của các Chân sư. Chính cách tiếp cận mới này đối với các điều kiện của sự sống, như là kết quả của sự tuôn vào của các năng lượng mới, đang tạo ra xu hướng phổ quát hướng tới nhận biết nhóm, và kết quả cao nhất của nó trong gia đình nhân loại là việc thực hiện những bước đầu tiên hướng tới điểm đạo nhóm. Một điều như điểm đạo nhóm chưa từng được nghe nói đến trước thời hiện nay, ngoại trừ trong liên hệ với các cuộc điểm đạo cao hơn phát xuất từ trung tâm Shamballa. Điểm đạo nhóm dựa trên một ý chí nhóm đồng nhất và hợp nhất, được thánh hiến cho việc phụng sự nhân loại và dựa trên lòng trung thành, sự hợp tác và tính tương thuộc. Trong quá khứ, sự nhấn mạnh đặt trên cá nhân, sự huấn luyện và cách tiếp cận điểm đạo của y, và sự một mình được thừa nhận vào Đền [18] Điểm Đạo. Nhưng trong tương lai, sự tập trung cá nhân này sẽ nhường chỗ cho một điều kiện nhóm, điều sẽ giúp một số đệ tử cùng nhau tiến lên, cùng nhau đứng trước Đấng Điểm đạo, và cùng nhau đồng thời đạt được sự chứng nghiệm lớn lao là kết quả và phần thưởng của địa vị đệ tử thành công. |
|
In the first thesis which I presented to the public I outlined the Rules for Applicants, (Initiation, Human and Solar, pp. 192-208), summarising the past propositions and indicating the individual preparation and requirements. These will now apply to the probationary groups of disciples, and not to accepted disciples. They must and will still remain the character and purificatory objectives of the dedicated individual, but are regarded as adequately grasped by humanity; they have been proclaimed by all the great world religions down the centuries and have been recognised as the main conditioning qualities of all disciples. |
Trong luận đề đầu tiên mà tôi trình bày trước công chúng, tôi đã phác thảo các quy luật cho những người dự tuyển, (Initiation, Human and Solar, trang 192-208), tóm lược các mệnh đề của quá khứ và chỉ ra sự chuẩn bị cùng các đòi hỏi cá nhân. Giờ đây các quy luật này sẽ áp dụng cho các nhóm đệ tử dự bị, chứ không áp dụng cho các đệ tử được chấp nhận. Chúng vẫn phải và sẽ vẫn là các mục tiêu về Tính cách và thanh luyện của cá nhân tận hiến, nhưng được xem là đã được nhân loại nắm bắt đầy đủ; chúng đã được mọi tôn giáo lớn của thế giới công bố qua nhiều thế kỷ và đã được nhìn nhận là các phẩm tính tác động chủ yếu của mọi đệ tử. |
|
These same Rules or Formulas of Approach are the lower correspondences of higher rules to which groups of disciples are pledged to conform, and which they must follow and obey together. The Hierarchy into which they will enter when full acceptance and demonstration have been shown will be the same Hierarchy, characterised by the same soul awareness, animated by the same spiritual activity, functioning under the same laws, but conditioned by two progressive and evolutionary developments: |
Chính các Quy luật hay Công thức Tiếp cận này là những tương ứng thấp của các quy luật cao hơn mà các nhóm đệ tử cam kết tuân theo, và họ phải cùng nhau theo và vâng phục. Thánh Đoàn mà họ sẽ bước vào khi đã biểu lộ đầy đủ sự chấp nhận và chứng minh sẽ vẫn là cùng một Thánh Đoàn, được đặc trưng bởi cùng một nhận biết linh hồn, được sinh động bởi cùng một hoạt động tinh thần, vận hành dưới cùng những định luật, nhưng được tác động bởi hai sự phát triển tiến bộ và tiến hoá: |
|
1. A much closer contact—invocative and evocative—with Shamballa, and therefore a fuller responsiveness to the Will aspect of divinity. |
1. Một sự tiếp xúc mật thiết hơn nhiều—mang tính khẩn cầu và gợi lên—với Shamballa, và do đó một sự đáp ứng đầy đủ hơn đối với phương diện Ý Chí của thiên tính. |
|
2. An invocative attitude on the part of humanity, based on a fundamental decentralisation of the selfish human consciousness and a rapidly awakening group consciousness. |
2. Một thái độ khẩn cầu từ phía nhân loại, dựa trên sự phi tập trung vào bản thân căn bản của tâm thức ích kỷ con người và một tâm thức nhóm đang thức tỉnh nhanh chóng. |
|
In reality, this means that the Hierarchy will be more closely related to the Great Council at Shamballa, and very much more closely interrelated with humanity, so that a dual fusion will be taking place. This will bring about that integrative [19] process which will be the quality of the New Age and will inaugurate the Aquarian phase of planetary history. |
Thực ra, điều này có nghĩa là Thánh Đoàn sẽ liên hệ mật thiết hơn với Đại Hội Đồng tại Shamballa, và liên hệ tương hỗ chặt chẽ hơn rất nhiều với nhân loại, đến nỗi một sự dung hợp kép sẽ diễn ra. Điều này sẽ mang lại tiến trình tích hợp [19] vốn sẽ là phẩm tính của Kỷ Nguyên Mới và sẽ khai mở giai đoạn Bảo Bình của lịch sử hành tinh. |
|
I would now like to bring into a close relation the earlier imparted Rules for Applicants and the new Rules for Disciples, embodying the new group activity and group discipleship, resulting in group initiation. |
Giờ đây tôi muốn đặt các Quy luật cho Người Dự tuyển đã được truyền dạy trước đây vào mối liên hệ chặt chẽ với các Quy luật cho Đệ tử mới, thể hiện hoạt động nhóm và địa vị đệ tử nhóm mới, đưa đến điểm đạo nhóm. |
|
These Rules are fourteen in number. Today I will simply give you, first of all the rule for the individual disciple, and then its higher corresponding rule for groups in preparation for group initiation, reminding you that such groups are ever composed of those who have taken the first initiation, and the name of these is legion. They are to be found in every country. There are not, however, so many who are ready for the new era of group initiation. |
Các Quy luật này gồm mười bốn điều. Hôm nay trước hết tôi sẽ chỉ trao cho các bạn quy luật dành cho đệ tử cá nhân, rồi đến quy luật tương ứng cao hơn của nó dành cho các nhóm đang chuẩn bị cho điểm đạo nhóm, đồng thời nhắc các bạn rằng những nhóm như thế luôn gồm những người đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất, và số người này thì vô số. Họ có mặt ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, không có nhiều người sẵn sàng cho kỷ nguyên mới của điểm đạo nhóm. |
|
Rule I. |
Quy luật I. |
|
For Applicants: Let the disciple search within the heart’s deep cave. If there the fire burns bright, warming his brother yet heating not himself, the hour has come for making application to stand before the door. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để đệ tử tìm kiếm trong hang sâu của tim. Nếu ở đó ngọn lửa cháy sáng, sưởi ấm huynh đệ của y mà không làm nóng chính y, thì giờ đã đến để nộp đơn xin đứng trước cánh cửa. |
|
For Disciples and Initiates: Within the fire of mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand. The burning ground has done its work. The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để nhóm đứng vững. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo chiếu rạng, và nó lạnh lẽo, tuy nhiên sức nóng—được gợi lên bởi bác ái nhóm—cho phép sự ấm áp của chuyển động đầy năng lượng hướng ra ngoài. Phía sau nhóm là Cánh Cửa. Trước mặt họ mở ra Con Đường. Hãy để đoàn huynh đệ cùng nhau tiến lên—ra khỏi lửa, vào trong cái lạnh, và hướng tới một sự nhất tâm mới hơn. |
|
Rule II. |
Quy luật II. |
|
For Applicants: When application has been made in triple form, then let the disciple withdraw that application and forget it has been made. |
Dành cho Người Dự tuyển: Khi đơn thỉnh cầu đã được thực hiện dưới hình thức tam phân, thì hãy để đệ tử rút lại đơn thỉnh cầu ấy và quên rằng nó đã được thực hiện. |
|
For Disciples and Initiates: The Word has now gone forth from the great point of tension: Accepted as a group. Withdraw not now your application. You could not, if you [20] would; but add to it three great demands and forward move. Let there be no recollection and yet let memory rule. Work from the point of all that is within the content of the group’s united life. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Linh từ nay đã phát ra từ điểm tập trung nhất tâm lớn lao: Được chấp nhận như một nhóm. Giờ đây đừng rút lại đơn thỉnh cầu của các bạn. Các bạn không thể, dù các bạn [20] muốn; nhưng hãy thêm vào đó ba đòi hỏi lớn và tiến lên phía trước. Đừng để có sự hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức cai quản. Hãy làm việc từ điểm của tất cả những gì nằm trong nội dung của sự sống hợp nhất của nhóm. |
|
Rule III. |
Quy luật III. |
|
For Applicants: Triple the call must be and long it takes to sound it forth. Let the disciple sound the call across the desert, over all the seas and through the fires which separate him from the veiled and hidden door. |
Dành cho Người Dự tuyển: Tiếng gọi phải là tam phân và phải mất nhiều thời gian mới xướng lên được. Hãy để đệ tử xướng tiếng gọi xuyên qua sa mạc, vượt mọi biển cả và xuyên qua những ngọn lửa ngăn cách y với cánh cửa che kín và ẩn giấu. |
|
For Disciples and Initiates: Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great SOUND, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Sự tiến lên là nhị phân. Cánh Cửa bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố của quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm. Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm sáng chói nằm rất xa phía trước. Khi đòi hỏi và đáp ứng tan biến trong một ÂM THANH vĩ đại, hãy tiến ra khỏi sa mạc, bỏ biển cả lại phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa. |
|
Rule IV. |
Quy luật IV. |
|
For Applicants: Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ hơn và nhờ đó giữ cho bánh xe quay. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm thấy rằng cả mười tám ngọn lửa đều lụi tàn và các sự sống nhỏ hơn trở về hồ chứa của sự sống. Điều này họ phải mang lại qua việc gợi lên Ý Chí. Những bánh xe nhỏ hơn không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay. |
|
Rule V. |
Quy luật V. |
|
For Applicants: Let the applicant see to it that the Solar Angel dims the light of the lunar angels, remaining the sole luminary in the microcosmic sky. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để người dự tuyển bảo đảm rằng Thái dương Thiên Thần làm mờ ánh sáng của các thái âm thiên thần, vẫn là nguồn sáng duy nhất trên bầu trời tiểu thiên địa. |
|
For Disciples and Initiates: In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought “My soul and thine.” [21] |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Trong sự đồng nhất, hãy để nhóm nhận biết Tam nguyên tinh thần chiếu rạng, làm mờ ánh sáng của linh hồn và xóa đi ánh sáng của hình tướng. Toàn Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng “Linh hồn của tôi và của bạn.” [21] |
|
Rule VI. |
Quy luật VI. |
|
For Applicants: The purificatory fires burn dim and low when the third is sacrificed to the fourth. Therefore let the disciple refrain from taking life and let him nourish that which is lowest with the produce of the second. |
Dành cho Người Dự tuyển: Những ngọn lửa thanh luyện cháy mờ và thấp khi cái thứ ba được hi sinh cho cái thứ tư. Vì vậy hãy để đệ tử kiêng việc lấy đi sự sống và hãy nuôi dưỡng cái thấp nhất bằng sản phẩm của cái thứ hai. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching Life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm tới sự sống ấy. Hãy để nhóm biết Sự Sống sống động, rực cháy, tuôn tràn, làm ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến. Giới thứ năm nuôi bằng giới thứ tư. Vậy hãy để nhóm—được dung hợp trong giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy và chứng nghiệm rằng mọi quy luật thấp hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể giữ nhóm lại. Nhóm tiến lên trong sự sống. |
|
Rule VII. |
Quy luật VII. |
|
For Applicants: Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the hall where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để đệ tử hướng sự chú ý của y vào việc phát ra những âm thanh vang dội trong đại sảnh nơi Chân sư bước đi. Hãy để y không xướng những âm điệu thấp hơn vốn đánh thức rung động trong các đại sảnh của ảo lực. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters but having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest Secret Place. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng trong những ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại vận động. Các Ngài không còn là con người như các Chân sư nữa, mà vì đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, Các Ngài đã liên kết chính mình với Đại Hội Đồng tại Nơi Bí Mật cao nhất. Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang dội trong các đại sảnh nơi các Chân sư vận động nhưng tìm thấy sự ngừng lại và kéo dài trong những đại sảnh rạng ngời nơi các Đấng Ánh Sáng vận động, những Đấng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế. |
|
Rule VIII. |
Quy luật VIII. |
|
For Applicants: When the disciple nears the Portal, the greater seven must awaken and bring forth response from the lesser seven upon the double circle. |
Dành cho Người Dự tuyển: Khi đệ tử đến gần Cổng, bảy cái lớn hơn phải thức tỉnh và mang lại sự đáp ứng từ bảy cái nhỏ hơn trên vòng tròn kép. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group find within itself response to the greater seven groups which carry out the hierarchical will with love and understanding. The group contains all seven, the perfect group. The lesser seven, [22] the greater seven and the planetary seven form one great whole, and these the group must know. When this is realised and the Law of the Supplementary Seven is understood let the group understand the Three and then the ONE. This they can do with the united breath and the unified rhythm. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm tìm thấy trong chính mình sự đáp ứng đối với bảy nhóm lớn hơn, những nhóm thực hiện ý chí của Thánh Đoàn bằng bác ái và thấu hiểu. Nhóm chứa đựng cả bảy, nhóm hoàn hảo. Bảy cái nhỏ hơn, [22] bảy cái lớn hơn và bảy cái hành tinh tạo thành một toàn thể vĩ đại, và nhóm phải biết điều này. Khi điều này được chứng nghiệm và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Bộ Ba rồi đến Đấng Duy Nhất. Điều này họ có thể làm bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu hợp nhất. |
|
Rule IX. |
Quy luật IX. |
|
For Applicants: Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để đệ tử hòa nhập chính mình vào vòng tròn của các bản ngã khác. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ xuất hiện. Chỉ khi nhóm được biết đến và được cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát xạ một cách minh triết. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm biết rằng không có các bản ngã khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay chỗ ánh sáng, che giấu mọi dị biệt, xóa đi mọi hình tướng. Khi đó—tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo lạnh lẽo, và trong lửa (ngay tại chính trung tâm của nó) hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu rạng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua. |
|
Rule X. |
Quy luật X. |
|
For Applicants: The Army of the Voice, the devas in their serried ranks work ceaselessly. Let the disciple apply himself to a consideration of their methods; let him learn the rules whereby the Army works within the veils of maya. |
Dành cho Người Dự tuyển: Đạo Quân của Âm Thanh, các thiên thần trong hàng ngũ dày đặc của họ, làm việc không ngừng nghỉ. Hãy để đệ tử chuyên tâm xem xét các phương pháp của họ; hãy để y học các quy luật nhờ đó Đạo Quân hoạt động trong các màn che của ảo lực. |
|
For Disciples and Initiates: The rules for work within the veils of maya are known and have been used. Let the group widen all the rents within those veils and thus let in the light. Let the Army of the Voice be no more heard and let the brothers onward move within the Sound. Then let them know the meaning of the O.M. and let them hear that O.M. as it is sounded forth by Him Who stands and waits at the very centre of the Council Chamber of the Lord. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Các quy luật để làm việc trong các màn che của ảo lực đã được biết và đã được sử dụng. Hãy để nhóm mở rộng mọi vết rách trong các màn che ấy và nhờ đó để ánh sáng đi vào. Hãy để Đạo Quân của Âm Thanh không còn được nghe thấy nữa và hãy để các huynh đệ tiến lên trong Âm Thanh. Rồi hãy để họ biết ý nghĩa của O.M. và hãy để họ nghe O.M. ấy khi nó được xướng lên bởi Đấng đứng và chờ đợi tại chính trung tâm của Phòng Hội Đồng của Đức Chúa. |
|
Rule XI. |
Quy luật XI. |
|
For Applicants: Let the disciple transfer the fire from the lower triangle to the higher and preserve that which is created through the fire at the midway point. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để đệ tử chuyển lửa từ tam giác thấp lên tam giác cao và bảo tồn điều được tạo ra qua lửa tại điểm ở giữa. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad and [23] let them find the Word which will carry out that task. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point. When the point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment, then will this work be done. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm cùng nhau chuyển lửa trong Viên Ngọc trong Hoa Sen vào Tam nguyên tinh thần và [23] hãy để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ ấy. Hãy để họ bằng Ý Chí năng động của mình hủy diệt điều đã được tạo ra tại điểm ở giữa. Khi điểm tập trung nhất tâm được các huynh đệ đạt tới trong chu kỳ lớn thứ tư của thành tựu, thì công việc này sẽ được hoàn tất. |
|
Rule XII. |
Quy luật XII. |
|
For Applicants: Let the disciple learn to use the hand in service; let him seek the mark of the Messenger in his feet and let him learn to see with the eye which looks out from between the two. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy để đệ tử học cách dùng bàn tay trong phụng sự; hãy để y tìm dấu hiệu của Sứ Giả nơi đôi chân mình và hãy để y học cách thấy bằng con mắt nhìn ra từ giữa hai mắt. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group serve as Aquarius indicates; let Mercury speed the group upon the upward Way and let Taurus bring illumination and the attainment of the vision; let the mark of the Saviour, as the group toils in Pisces, be seen above the aura of the group. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm phụng sự như Bảo Bình chỉ ra; hãy để Sao Thủy thúc đẩy nhóm trên Con Đường đi lên và hãy để Kim Ngưu mang lại sự soi sáng và thành tựu của linh ảnh; hãy để dấu hiệu của Đấng Cứu Thế, khi nhóm lao động trong Song Ngư, được thấy phía trên hào quang của nhóm. |
|
Rule XIII. |
Quy luật XIII. |
|
For Applicants: Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shown the inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetisation make the second; the third is transmutation or the secret lost of alchemy; and lastly, the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic. |
Dành cho Người Dự tuyển: Có bốn điều đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho huyền nhiệm thâm sâu nhất: thứ nhất, các định luật của điều phát xạ; năm ý nghĩa của sự từ hóa tạo thành điều thứ hai; điều thứ ba là sự chuyển hoá hay bí mật đã mất của thuật luyện kim; và sau cùng là chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền đạt, hay danh xưng chân ngã ẩn giấu. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group get ready to reveal the hidden mystery. Let the group demonstrate the higher meaning of the lessons learnt, and these are four and yet are one. Let the group understand the Law of Synthesis, of unity and fusion; let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three where the Will of God holds sway; let Transfiguration follow Transformation and may Transmutation disappear. Let the O.M. be heard right at the centre of the group, proclaiming God is All. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm chuẩn bị để mặc khải huyền nhiệm ẩn giấu. Hãy để nhóm biểu lộ ý nghĩa cao hơn của các bài học đã học, và những bài học này là bốn nhưng lại là một. Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, của hợp nhất và dung hợp; hãy để phương thức tam phân làm việc với điều năng động mang nhóm cùng nhau hướng tới Bộ Ba Cao Hơn nơi Ý Chí của Thượng Đế ngự trị; hãy để Biến hình tiếp theo Chuyển đổi và cầu mong Chuyển hoá biến mất. Hãy để O.M. được nghe thấy ngay tại trung tâm của nhóm, tuyên bố rằng Thượng đế là Tất Cả. |
|
Rule XIV. |
Quy luật XIV. |
|
For Applicants: Listen, touch, see, apply, know. |
Dành cho Người Dự tuyển: Hãy lắng nghe, chạm, thấy, áp dụng, biết. |
|
For Disciples and Initiates: Know, express, reveal, destroy and resurrect. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy biết, biểu lộ, mặc khải, hủy diệt và phục sinh. |
|
[24] |
[24] |
|
These are the rules for group initiation and I am dealing with them to give you a fuller understanding of the Laws of Group Life with which I dealt in some of my other books. |
Đây là các quy luật cho điểm đạo nhóm và tôi đang bàn đến chúng để trao cho các bạn một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về các Định luật của Sự sống Nhóm mà tôi đã đề cập trong một số sách khác của tôi. |
|
I will take these rules and expound for you somewhat of their meaning and indicate their significances as far as these can be grasped now. These instructions are written for future disciples towards the end of this century. They form part of the last volume of A Treatise on the Seven Rays and will, therefore, go out to the general public who will not understand, but thus the needed teaching will be preserved. |
Tôi sẽ lấy các quy luật này và giải thích cho các bạn phần nào ý nghĩa của chúng, đồng thời chỉ ra các thâm nghĩa của chúng trong chừng mực hiện nay có thể được nắm bắt. Những chỉ dẫn này được viết cho các đệ tử tương lai vào cuối thế kỷ này. Chúng tạo thành một phần của tập cuối cùng của Luận về Bảy Cung và vì vậy sẽ được phổ biến ra công chúng nói chung, những người sẽ không hiểu, nhưng nhờ thế giáo huấn cần thiết sẽ được bảo tồn. |