RULE FIVE — QUY LUẬT NĂM
|
[111] |
[111] |
|
Rule V, which we are now purposing to consider, is one of great interest and practicality. I would remind you that one of the new things which the coming era of spiritual expansion will see is the inauguration of something entirely new: Group Initiation. Hitherto, one by one, units of the human family have found their way through the Door of Initiation. If this system is to persist, and considering the vast numbers of souls in and out of incarnation who must eventually achieve the goal—two-thirds of the total in this world cycle—even the greater cycles which include many world cycles would prove too short a time. The space-time schedule of the planetary Logos Himself would be upset, for He has such a schedule for the cycle of His present incarnation. There is a term set for the appearance of His body of manifestation, our planet, just as there is for the human body. He therefore has to work out His plans within a certain time limit, and this factor conditions the experience of all the lives that move within the radius of His expression, including the human kingdom. |
Quy luật V, mà giờ đây chúng ta dự định xem xét, là một quy luật rất đáng quan tâm và thiết thực. Tôi muốn nhắc bạn rằng một trong những điều mới mà kỷ nguyên sắp đến của sự mở rộng tinh thần sẽ chứng kiến là sự khai mở một điều hoàn toàn mới: Điểm Đạo Nhóm. Cho đến nay, từng đơn vị một của gia đình nhân loại đã tìm đường đi qua Cánh Cửa Điểm Đạo. Nếu hệ thống này cứ tiếp tục, và xét đến số lượng khổng lồ các linh hồn trong và ngoài nhập thể cuối cùng phải đạt đến mục tiêu—hai phần ba tổng số trong chu kỳ thế giới này—thì ngay cả những chu kỳ lớn hơn bao gồm nhiều chu kỳ thế giới cũng sẽ tỏ ra là quá ngắn. Lịch trình không-thời gian của chính Hành Tinh Thượng đế sẽ bị đảo lộn, vì Ngài có một lịch trình như thế cho chu kỳ nhập thể hiện tại của Ngài. Có một thời hạn được ấn định cho sự xuất hiện của thể biểu hiện của Ngài, hành tinh của chúng ta, cũng như có một thời hạn cho thể người. Vì vậy Ngài phải thực hiện các kế hoạch của Ngài trong một giới hạn thời gian nhất định, và yếu tố này tác động lên kinh nghiệm của mọi sự sống vận động trong bán kính biểu hiện của Ngài, kể cả giới nhân loại. |
|
It must be remembered also that as humanity develops and more and more people begin to function as souls, the nature of the soul (which is relationship) begins to have an effect; men become larger in their outlook and their vision. The outlook of the separated self vanishes, and group relationship and group interest supersede that intense personal and interior relationship and interest which have made evolving man what he is: first of all an integrated personality, and then a disciple—a candidate for initiation. As more and more disciples come into group realisation it will become increasingly possible for the Hierarchy to admit such disciples in group formation. That is one reason necessitating the re-establishing of the Ancient Mysteries on Earth. That group relation has to be demonstrated in the three worlds and expressed by disciples in their group life upon the physical plane. Hence the new experiment being undertaken by the Hierarchy of externalising Their Ashrams. This process [112] involves immense difficulty, owing to the astralism, the ambitions and the growing personality influence of so many people. Many groups, under self-seeking leaders, will react to this experiment and will proclaim themselves as Masters with Ashrams and as occupied with training people for initiation. Signs of this can already be seen. |
Cũng phải nhớ rằng khi nhân loại phát triển và ngày càng nhiều người bắt đầu hoạt động như các linh hồn, bản chất của linh hồn (vốn là mối liên hệ) bắt đầu có hiệu quả; con người trở nên rộng lớn hơn trong quan điểm và tầm nhìn của mình. Quan điểm của bản ngã tách biệt biến mất, và mối liên hệ nhóm cùng lợi ích nhóm thay thế cho mối liên hệ và lợi ích mãnh liệt mang tính cá nhân và nội tại vốn đã làm cho con người đang tiến hoá trở thành như hiện nay: trước hết là một phàm ngã tích hợp, rồi là một đệ tử—một ứng viên cho điểm đạo. Khi ngày càng nhiều đệ tử đi vào chứng nghiệm nhóm, Thánh đoàn sẽ ngày càng có thể thừa nhận những đệ tử như thế trong đội hình nhóm. Đó là một lý do khiến việc tái lập các Cổ Huyền Nhiệm trên Trái Đất trở nên cần thiết. Mối liên hệ nhóm ấy phải được chứng minh trong ba cõi và được các đệ tử biểu lộ trong đời sống nhóm của họ trên cõi hồng trần. Do đó có thí nghiệm mới mà Thánh đoàn đang tiến hành là ngoại hiện các ashram của Các Ngài. Tiến trình này [112] bao hàm những khó khăn to lớn, do tính cảm dục, các tham vọng và ảnh hưởng phàm ngã ngày càng tăng của rất nhiều người. Nhiều nhóm, dưới sự lãnh đạo của những người vị kỷ, sẽ phản ứng với thí nghiệm này và sẽ tự xưng là các Chân sư với các ashram, và đang bận rộn huấn luyện con người cho điểm đạo. Những dấu hiệu của điều này đã có thể thấy được. |
|
The Hierarchy has been confronted with definite difficulty in this matter, for on the one hand the Masters were faced with the glamour-making tendency and astralism of the majority of people and, secondly, with the rapid advance of the human consciousness into the realm of group relationship, group life, group reactions and group activity. This has brought about the intention of the Hierarchy to train such ready minds and hearts for a united moving forward through the Door of Light onto the Lighted Way. That externalisation has not yet taken place. Tentative experiments are being made with some success and some discouragement. |
Thánh đoàn đã phải đối diện với khó khăn rõ rệt trong vấn đề này, bởi vì một mặt các Chân sư phải đối diện với khuynh hướng tạo ảo cảm và tính cảm dục của đa số mọi người, và mặt khác là sự tiến bộ nhanh chóng của tâm thức nhân loại vào lĩnh vực của mối liên hệ nhóm, đời sống nhóm, phản ứng nhóm và hoạt động nhóm. Điều này đã dẫn đến ý định của Thánh đoàn là huấn luyện những trí tuệ và trái tim sẵn sàng như thế cho một sự cùng nhau tiến bước qua Cánh Cửa Ánh Sáng lên Con Đường được Soi Sáng. Sự ngoại hiện đó vẫn chưa diễn ra. Những thí nghiệm thăm dò đang được thực hiện với một số thành công và một số thất vọng. |
|
Two things have therefore been decided upon by the Masters as They face the future of humanity and prepare to take the required steps to meet man’s advancing aspiration. I have chosen these two words with care. These two requirements have been demanded of the Hierarchy by Shamballa in order to safeguard the Mysteries and prevent a too premature precipitation of the hierarchical life upon the Earth. Both these requirements are expressed in this fifth Rule. |
Vì vậy, hai điều đã được các Chân sư quyết định khi Các Ngài đối diện với tương lai của nhân loại và chuẩn bị thực hiện những bước cần thiết để đáp ứng khát vọng đang tiến lên của con người. Tôi đã chọn hai từ này một cách cẩn trọng. Hai yêu cầu này đã được Shamballa đòi hỏi nơi Thánh đoàn để bảo vệ các Huyền Nhiệm và ngăn ngừa sự ngưng tụ quá sớm của đời sống Thánh đoàn trên Trái Đất. Cả hai yêu cầu này đều được biểu lộ trong quy luật thứ năm này. |
|
Rule V. |
Quy luật V. |
|
In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought, “My soul and thine.” |
Trong hợp nhất, hãy để nhóm nhận biết Tam nguyên tinh thần đang chiếu rạng, làm mờ ánh sáng của linh hồn và xóa đi ánh sáng của hình tướng. Toàn Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể đó và rồi không còn dùng tư tưởng “Linh hồn của tôi và của bạn.” |
|
The first demand made by Shamballa is that the groups being prepared for initiation should consist only of those who are in process of building the antahkarana, the bridge between the Triad and the personality; the second demand is that those being prepared should show some signs of the sense of synthesis. |
Yêu cầu đầu tiên do Shamballa đưa ra là các nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo chỉ nên gồm những người đang trong tiến trình xây dựng antahkarana, cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã; yêu cầu thứ hai là những người đang được chuẩn bị phải cho thấy một vài dấu hiệu của ý thức tổng hợp. |
|
[113] |
[113] |
|
You will note, therefore, some of the factors that have controlled the presentation of the truth which I have sought to give, down the years. The teaching on the Antahkarana (briefly hinted at by H.P.B.) has been expanded by me in the book, Education in the New Age and in this fifth volume of A Treatise on the Seven Rays (Part II), and has already been given to a number of senior aspirants in the hope that they would profit thereby; the need for synthesis has also been emphasised by me, and is closely related to the will-aspect, the first divine aspect. In the past, during the cycle of mysticism through which all aspirants very properly pass, they were taught to “see the vision”—a vision of the goal, of the beauty to be sought, of the loved one to be known, of liberation to be achieved, of spiritual satisfaction and an opened door to greater wonders. In the occult age which has now definitely dawned, the neophyte will be taught to see the picture whole, to think in the larger terms, to emerge out of the normal separative consciousness into the broad state of awareness that “sees no difference.” The goal, or rather the result of the mystic and occult way, is the merging of the vertical way of life with the horizontal way of service, and it is this merging which Shamballa demands should condition the attempt now in process of training those who will together seek initiation, will together pass through the Portal on to the Way, and who can together be presented to the One Initiator as a “unit of Light.” This sense of synthesis (which must be increasingly demonstrated as each initiation is taken in group formation) is possible only to those who have bridged the gap between the concrete lower mind and the higher mind or—to word it technically and in the language of academic occult science—between the mental unit and the manasic permanent atom. |
Do đó, bạn sẽ lưu ý một số yếu tố đã chi phối việc trình bày chân lý mà tôi đã cố gắng trao truyền qua nhiều năm. Giáo huấn về Antahkarana (được H.P.B. gợi ý ngắn gọn) đã được tôi khai triển trong cuốn Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới và trong tập thứ năm này của Luận về Bảy Cung (Phần II), và đã được trao cho một số người chí nguyện cao cấp với hy vọng rằng họ sẽ nhờ đó mà được lợi ích; nhu cầu về tổng hợp cũng đã được tôi nhấn mạnh, và nó liên hệ chặt chẽ với phương diện ý chí—phương diện thiêng liêng thứ nhất. Trong quá khứ, trong chu kỳ thần bí học mà mọi người chí nguyện đều rất đúng đắn phải đi qua, họ được dạy “hãy thấy linh ảnh”—một linh ảnh về mục tiêu, về vẻ đẹp cần tìm kiếm, về đấng được yêu thương cần được biết đến, về sự giải thoát cần đạt được, về sự thỏa mãn tinh thần và một cánh cửa mở ra những điều kỳ diệu lớn hơn. Trong kỷ nguyên huyền bí học hiện nay đã thực sự bắt đầu, người sơ cơ sẽ được dạy phải thấy toàn bộ bức tranh, phải suy nghĩ theo những thuật ngữ rộng lớn hơn, phải thoát ra khỏi tâm thức phân ly thông thường để đi vào trạng thái nhận biết bao quát “không thấy có khác biệt.” Mục tiêu, hay đúng hơn là kết quả của con đường thần bí và huyền bí, là sự hòa nhập của con đường thẳng đứng của đời sống với con đường nằm ngang của phụng sự, và chính sự hòa nhập này mà Shamballa đòi hỏi phải tác động lên nỗ lực hiện đang được tiến hành nhằm huấn luyện những người sẽ cùng nhau tìm kiếm điểm đạo, sẽ cùng nhau đi qua Cổng vào Con Đường, và có thể cùng nhau được trình diện trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất như một “đơn vị Ánh Sáng.” Ý thức tổng hợp này (phải được chứng minh ngày càng nhiều khi mỗi lần điểm đạo được nhận trong đội hình nhóm) chỉ có thể có nơi những ai đã bắt cầu qua khoảng cách giữa hạ trí cụ thể và thượng trí hay—nói theo ngôn ngữ kỹ thuật và ngôn ngữ của khoa học huyền bí hàn lâm—giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. |
|
The goal of the Probationary Path is made beautifully clear in the fifth Rule as given earlier in Initiation, Human and Solar. It says: |
Mục tiêu của Con Đường Dự Bị được làm sáng tỏ một cách đẹp đẽ trong Quy luật thứ năm như đã được nêu trước đây trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Nó nói: |
|
Let the applicant see to it that the solar Angel dims the light of the lunar angels, remaining the sole luminary in the microcosmic sky. |
Hãy để người thỉnh cầu bảo đảm rằng Thái dương Thiên Thần làm mờ ánh sáng của các thái âm thiên thần, vẫn là nguồn sáng duy nhất trong bầu trời tiểu thiên địa. |
|
[114] |
[114] |
|
The soul must be seen by the probationer as the sun of the life. All lesser lights must be put out by the light of the central luminary; all little fires must be obliterated by solar fire. The solar Angel controls the personality life and its forces. This, in the New Age, is the goal of the probationary path and of the applicant for discipleship. Hitherto it has been the goal of all the teaching given anent the Path of Discipleship, but the higher rate of intelligence of the modern applicant warrants a change, and as time goes on the present requirements for disciples, up to and including the second initiation, will be the requirements for the Probationary Path. |
Linh hồn phải được người dự bị thấy như mặt trời của sự sống. Mọi ánh sáng nhỏ hơn phải bị dập tắt bởi ánh sáng của nguồn sáng trung tâm; mọi ngọn lửa nhỏ phải bị xóa bỏ bởi Lửa Thái dương. Thái dương Thiên Thần kiểm soát đời sống phàm ngã và các mãnh lực của nó. Trong Kỷ Nguyên Mới, đây là mục tiêu của con đường dự bị và của người thỉnh cầu địa vị đệ tử. Cho đến nay, đó đã là mục tiêu của mọi giáo huấn được trao liên quan đến Con Đường Đệ Tử, nhưng mức độ trí tuệ cao hơn của người thỉnh cầu hiện đại đòi hỏi một sự thay đổi, và theo thời gian, các yêu cầu hiện nay đối với đệ tử, cho đến và kể cả lần điểm đạo thứ hai, sẽ là các yêu cầu của Con Đường Dự Bị. |
|
This will necessitate a clearer understanding of the Path of Discipleship. On that path, the major teaching given in the future will concern: |
Điều này sẽ đòi hỏi một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về Con Đường Đệ Tử. Trên con đường đó, giáo huấn chính được trao trong tương lai sẽ liên quan đến: |
|
1. The building of the rainbow bridge, the antahkarana. |
1. Việc xây dựng Cây cầu vồng, antahkarana. |
|
2. The nature of the intuition and its development, as it supersedes the mind in its two aspects: concrete and abstract, lower and higher. |
2. Bản chất của trực giác và sự phát triển của nó, khi nó thay thế trí tuệ trong hai phương diện của nó: cụ thể và trừu tượng, thấp và cao. |
|
3. The nature of life as the Monad expresses it. |
3. Bản chất của sự sống như chân thần biểu lộ nó. |
|
In these three approaches to truth the new revelation lies hid; it will take the place of the teaching upon the soul for the neophytes and disciples of the world, and the emphasis will be laid—for them—on the life aspect and not so much on the love aspect. The reason for this is that more and more people will be living as souls and therefore expressing love, and for them the nature of life and of monadic experience will constitute the normal next revelation—one that is, however, possible only to those who do attempt to live as souls, who cultivate love or the sense of non-separateness, and who are at least dwelling upon the periphery of the hierarchical world. It would therefore be inevitable that—to those so dwelling or treading the Path of Discipleship—the factors which inspire all hierarchical effort would begin to be dimly apparent and that, slowly, these factors would also assume for them the outlines of a dim and distant goal. |
Trong ba cách tiếp cận chân lý này, sự mặc khải mới được ẩn giấu; nó sẽ thay thế giáo huấn về linh hồn dành cho những người sơ cơ và các đệ tử của thế gian, và đối với họ, trọng tâm sẽ được đặt vào phương diện sự sống chứ không quá nhiều vào phương diện bác ái. Lý do là ngày càng có nhiều người sẽ sống như những linh hồn và do đó biểu lộ bác ái, và đối với họ, bản chất của sự sống và của kinh nghiệm chân thần sẽ tạo thành sự mặc khải kế tiếp bình thường—tuy nhiên, đó chỉ là điều có thể đối với những ai thực sự cố gắng sống như những linh hồn, vun bồi bác ái hay ý thức về sự không phân ly, và ít nhất đang cư ngụ nơi chu vi của thế giới Thánh đoàn. Vì vậy, điều tất yếu là—đối với những ai đang cư ngụ như thế hoặc đang bước trên Con Đường Đệ Tử—các yếu tố truyền cảm hứng cho mọi nỗ lực của Thánh đoàn sẽ bắt đầu hiện ra một cách mờ nhạt, và rồi dần dần, các yếu tố ấy cũng sẽ mang lấy đối với họ những đường nét của một mục tiêu xa xăm và mơ hồ. |
|
[115] |
[115] |
|
The two parts of this rule are consequently expressive of the new demands for disciples—not applicants. This becomes apparent when you study the two rules: one for applicants and one for disciples. The applicant is referred to the microcosm. The Macrocosm is held before the vision of the disciple. |
Do đó, hai phần của quy luật này biểu đạt những đòi hỏi mới dành cho các đệ tử—chứ không phải cho những người thỉnh cầu. Điều này trở nên rõ ràng khi bạn nghiên cứu hai quy luật: một dành cho những người thỉnh cầu và một dành cho các đệ tử. Người thỉnh cầu được hướng về Tiểu thiên địa. Đại thiên địa được đặt trước tầm nhìn của đệ tử. |
|
The two demands are expressed in Rule V as follows: |
Hai đòi hỏi ấy được diễn đạt trong Quy luật V như sau: |
|
1. In unison let the group receive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. |
1. Trong hợp nhất, hãy để nhóm tiếp nhận Tam nguyên tinh thần đang chiếu rạng, làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xoá đi ánh sáng của hình tướng. |
|
This is the demand for the building of the antahkarana which relates the disciple in his personality to the Triad. |
Đây là đòi hỏi về việc xây dựng antahkarana, nối kết đệ tử trong phàm ngã của y với Tam nguyên tinh thần. |
|
2. The Macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought, “My soul and thine.” |
2. Toàn Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng, “Linh hồn của tôi và của bạn.” |
|
This is the demand for a sense of synthesis which is occult vision and not mystic vision. These two demands will be the two basic requirements for the new schools of occultism. |
Đây là đòi hỏi về một ý thức tổng hợp, vốn là linh thị huyền bí chứ không phải linh ảnh thần bí. Hai đòi hỏi này sẽ là hai yêu cầu căn bản cho các trường huyền bí học mới. |
|
In view of all the instructions given earlier in this volume, and in view also of the clarity of the statement made above, there is little that it will be necessary for me to say anent this first demand. The word “demand” which has been used perhaps requires explanation. In considering this subject it should be remembered that admittance to Shamballa and a divine expression in life and service of the first great divine aspect, the will aspect, is the goal held before the members of the Hierarchy. They too are on the way of evolution, and Their goal is to pass through the “eye of the needle,” on Their way to the higher evolution. This higher evolution is that which opens up before a Master of the Wisdom. The use of this esoteric term by Christ in The New Testament story gives us a hint as to the nature of the exalted consciousness which He expressed. Faced by the rich young man who possessed so much, Christ indicated that he needed to prepare himself for a great negation and for a step forward. The true significance of this has never [116] been grasped and lies in the fact that the phrase “rich young man” is in reality a technical term which is frequently applied to an initiate of the third degree, just as the words “little ones” or “little child” apply to an initiate of the first or second degree. This rich young man was rich in his range of awareness, rich in his personality equipment, rich in his aspiration and in his recognition; he was rich as the result of age-long experience and evolutionary development. He is told by the Christ that he must now prepare himself for what is called in Rule V “the Triad shining forth”; he must now prepare for the unfoldment of the monadic consciousness and for the fourth initiation. In that initiation, the causal body, the body wherein the soul experiences and reaps the fruit of experience, must be and will be destroyed. This has to take place before the initiate can enter into the Council Chamber of the Most High and express the will-to-good and the will of God in fulfillment of the purposes of God. The will of this particular “rich young man,” initiate though he was, was not yet adequate to the requirements, so he went sadly away; he had to prepare himself for the fourth initiation, the Great Renunciation, the Crucifixion, and thus fit himself to pass through the needle’s eye. |
Xét theo mọi huấn thị đã được ban ra trước đó trong tập này, và cũng xét theo sự minh bạch của lời phát biểu nêu trên, thì có rất ít điều tôi cần phải nói thêm liên quan đến đòi hỏi thứ nhất này. Từ “đòi hỏi” đã được dùng ở đây có lẽ cần được giải thích. Khi xem xét chủ đề này, cần nhớ rằng việc được tiếp nhận vào Shamballa và sự biểu lộ thiêng liêng trong đời sống và phụng sự của phương diện thiêng liêng lớn thứ nhất, tức phương diện ý chí, là mục tiêu được đặt trước các thành viên của Thánh đoàn. Các Ngài cũng đang ở trên con đường tiến hoá, và mục tiêu của Các Ngài là đi qua “mắt kim,” trên đường tiến tới sự tiến hoá cao siêu. Sự tiến hoá cao siêu này là điều mở ra trước một Chân sư Minh triết. Việc Đức Christ dùng thuật ngữ huyền bí này trong câu chuyện của Tân Ước cho chúng ta một gợi ý về bản chất của tâm thức siêu việt mà Ngài đã biểu lộ. Đối diện với chàng thanh niên giàu có, người sở hữu quá nhiều, Đức Christ chỉ ra rằng ông cần chuẩn bị cho mình một sự phủ định lớn lao và cho một bước tiến lên phía trước. Ý nghĩa đích thực của điều này chưa bao giờ được [116] nắm bắt, và nằm ở sự kiện rằng cụm từ “chàng thanh niên giàu có” thực ra là một thuật ngữ chuyên môn thường được áp dụng cho một điểm đạo đồ bậc ba, cũng như các từ “những kẻ bé nhỏ” hay “đứa trẻ nhỏ” được áp dụng cho một điểm đạo đồ bậc một hay bậc hai. Chàng thanh niên giàu có này giàu có trong phạm vi nhận biết của ông, giàu có trong trang bị phàm ngã của ông, giàu có trong khát vọng và trong sự nhận thức của ông; ông giàu có do kết quả của kinh nghiệm lâu dài qua nhiều thời đại và sự phát triển tiến hoá. Đức Christ bảo ông rằng giờ đây ông phải chuẩn bị cho điều được gọi trong Quy luật V là “Tam nguyên tinh thần đang chiếu rạng”; giờ đây ông phải chuẩn bị cho sự khai mở của tâm thức chân thần và cho lần điểm đạo thứ tư. Trong lần điểm đạo ấy, thể nguyên nhân, thể trong đó linh hồn kinh nghiệm và gặt hái hoa trái của kinh nghiệm, phải bị và sẽ bị huỷ diệt. Điều này phải diễn ra trước khi điểm đạo đồ có thể bước vào Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao và biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện cùng Ý Chí của Thượng Đế trong việc hoàn thành các mục đích của Thượng đế. Ý chí của “chàng thanh niên giàu có” đặc biệt này, dù ông là một điểm đạo đồ, vẫn chưa đủ đáp ứng các yêu cầu, nên ông buồn bã bỏ đi; ông phải chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ Vĩ Đại, sự Đóng Đinh, và nhờ đó tự làm cho mình xứng đáng để đi qua mắt kim. |
|
There is a symbolic utterance in the Old Commentary which throws light upon the great opportunities which are found in the critical moments in the life of the soul as it experiences incarnation and becomes enriched thereby: |
Có một lời phát biểu biểu tượng trong Cổ Luận soi sáng những cơ hội lớn lao được tìm thấy trong các thời khắc khủng hoảng của đời sống linh hồn khi nó kinh nghiệm sự nhập thể và nhờ đó trở nên phong phú hơn: |
|
“Within the womb of time and circumscribed by space and limited by darkness—though sustained always by warmth—the life evolves. It develops faculty. It becomes in miniature that which it is. It takes on form and knows the divinity of separation. Such is its goal. Reflect. Knowledge will come. |
“Trong lòng dạ của thời gian và bị giới hạn bởi không gian và bị bóng tối hạn chế—dù luôn được nâng đỡ bởi hơi ấm—sự sống tiến hoá. Nó phát triển năng lực. Nó trở thành trong tiểu thể điều mà nó vốn là. Nó mang lấy hình tướng và biết thiên tính của sự phân ly. Đó là mục tiêu của nó. Hãy suy ngẫm. Tri thức sẽ đến. |
|
“Beyond the door is greater light and life. It knows itself for what it is. It suffices not unto itself and knows that it is That—part of the Whole, divinely one with others. Reflect. Union will come. |
“Bên kia cánh cửa là ánh sáng và sự sống lớn lao hơn. Nó biết chính mình là gì. Nó không còn đủ cho chính nó và biết rằng nó là Cái Đó—một phần của Toàn Thể, thiêng liêng hợp nhất với những kẻ khác. Hãy suy ngẫm. Hợp nhất sẽ đến. |
|
“Before the rampart of the place of God Himself, a [117] Son Of God comes forth. He stands before the needle’s eye and seeks to pass the hindering wall. He is not circumscribed by time or space, but light and life are his. He realises beauty and he knows that That exists. Instead of time and space and all the rich inducements of the form, he knows himself as rich in love, in knowledge, wisdom, insight, and all the panoply of God (as he can grasp it), except one thing. Reflect. Purpose will reveal itself; the Whole will stand revealed and then the soul—loaded with riches and the fruits of labour long—will vanish as the mist and only God, the living One, be left.” |
“Trước thành luỹ của nơi chốn của chính Thượng đế, một [117] Con của Thượng đế xuất hiện. Y đứng trước mắt kim và tìm cách vượt qua bức tường ngăn trở. Y không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian, nhưng ánh sáng và sự sống là của y. Y chứng nghiệm vẻ đẹp và y biết rằng Cái Đó hiện hữu. Thay vì thời gian và không gian và mọi sự quyến dụ phong phú của hình tướng, y biết mình giàu có trong bác ái, trong tri thức, minh triết, tuệ kiến, và toàn bộ khí giới của Thượng đế (theo mức y có thể nắm bắt), ngoại trừ một điều. Hãy suy ngẫm. Mục đích sẽ tự mặc khải; Toàn Thể sẽ hiển lộ và rồi linh hồn—chất đầy của cải và hoa trái của lao động lâu dài—sẽ tan biến như sương mù và chỉ còn lại Thượng đế, Đấng hằng sống.” |
|
There is still another set of phrases dealing with that through which the perfected Sons of God in Their high place must pass when Their work is done on Earth and a greater glory reveals itself ahead. But this I give not. I give only three symbols, which are: |
Còn có một loạt cụm từ khác nói về điều mà các Con của Thượng đế đã hoàn thiện ở địa vị cao của Các Ngài phải đi qua khi công việc của Các Ngài trên Trái Đất đã hoàn tất và một vinh quang lớn hơn tự hiển lộ ở phía trước. Nhưng điều này tôi không ban ra. Tôi chỉ đưa ra ba biểu tượng, đó là: |
|
The womb… individualisation… separation. |
Lòng dạ… biệt ngã hóa… phân ly. |
|
Leading to personality integration and self-realisation. |
Dẫn đến sự tích hợp phàm ngã và ngã thức. |
|
Climaxing on the Path of Initiation… the birth of the Christ. |
Đạt cực điểm trên Con Đường Điểm Đạo… sự giáng sinh của Đức Christ. |
|
Producing intelligent activity. |
Tạo ra hoạt động thông minh. |
|
Initiation. |
Điểm đạo. |
|
The two-leaved door… initiation… group consciousness. |
Cánh cửa hai lá… điểm đạo… tâm thức nhóm. |
|
Leading to soul expression. |
Dẫn đến sự biểu lộ của linh hồn. |
|
Climaxing in the third initiation. |
Đạt cực điểm trong lần điểm đạo thứ ba. |
|
Producing loving living. |
Tạo ra đời sống bác ái. |
|
The third initiation. |
Lần điểm đạo thứ ba. |
|
The eye of the needle.. higher evolution.. monadic consciousness. |
Mắt kim… tiến hoá cao siêu… tâm thức chân thần. |
|
Leading to life expression. |
Dẫn đến sự biểu lộ của sự sống. |
|
Climaxing in the fifth initiation. |
Đạt cực điểm trong lần điểm đạo thứ năm. |
|
Producing purposeful life. |
Tạo ra đời sống có mục đích. |
|
Consummation. |
Sự viên mãn. |
|
Such are the three points of entrance to the three planetary centres: Humanity, Hierarchy and Shamballa. |
Đó là ba điểm đi vào ba trung tâm hành tinh: Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa. |
|
This first demand is, curiously enough, the first expression of recognition—directly accorded—that the Great [118] Lives at Shamballa are now in direct relation with humanity. Hitherto that contact has not been direct, and They have not been in touch with current developments. Hitherto, all contacts and spiritual impulses from this highest centre have reached humanity via the Hierarchy, and vice versa. This demand concerns the negation, the obliteration, the absorption, the putting out or the synthesis of the lesser lights by the greater. All the words which I have employed are efforts to express the truth and all are entirely inadequate. |
Đòi hỏi thứ nhất này, một cách kỳ lạ, là sự biểu lộ đầu tiên của việc thừa nhận—được trực tiếp ban ra—rằng các Sự Sống Vĩ Đại [118] ở Shamballa hiện nay đang có liên hệ trực tiếp với nhân loại. Trước đây, sự tiếp xúc đó không trực tiếp, và Các Ngài không tiếp xúc với các diễn biến hiện thời. Trước đây, mọi tiếp xúc và xung lực tinh thần từ trung tâm tối cao này đều đến với nhân loại qua trung gian Thánh đoàn, và ngược lại. Đòi hỏi này liên quan đến sự phủ định, sự xoá bỏ, sự hấp thụ, sự dập tắt hay sự tổng hợp các ánh sáng nhỏ hơn bởi ánh sáng lớn hơn. Tất cả những từ mà tôi đã dùng đều là những nỗ lực nhằm diễn đạt chân lý và tất cả đều hoàn toàn bất cập. |
|
The moment the initiate or the disciple sees, even dimly, the light of the Spiritual Triad which veils and hides the Central Spiritual Sun, he realises that all other lights—that of the atom of matter, that of the form and that of the soul itself—must inevitably fade out in the stupendous glory and brilliance which emanate from God Himself and which he senses as in process of revelation. He becomes absorbed—intellectually, intuitively, spiritually and finally factually—in that Light. Here I would remind you that just as the light of the soul revealed to the struggling aspirant a new vision, set for him new goals, enhanced all qualities present in his equipment, and revealed the past, the present and the future of the individual, so this still greater light reveals to the initiate a horizon so vast that it has hitherto escaped his capacity and is yet but possible to vision by an initiate of the third degree, endows him with an occult perception hitherto not realised as existing—a perception which permits him to penetrate increasingly and to cooperate understandingly in the purpose of the Lord of the World. It enables him later to develop the equipment—qualities and gifts of a divine nature—which will eventually enable him to take his place in the Council Chamber at Shamballa and work in full unanimity with the Lords of Karma. |
Khoảnh khắc điểm đạo đồ hay đệ tử nhìn thấy, dù chỉ mờ nhạt, ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần, vốn che phủ và ẩn giấu Mặt trời Tinh thần Trung Ương, y nhận ra rằng mọi ánh sáng khác—ánh sáng của nguyên tử vật chất, của hình tướng và của chính linh hồn—ắt hẳn phải phai mờ trong vinh quang và huy hoàng kỳ vĩ phát xuất từ chính Thượng đế và điều mà y cảm nhận là đang trong tiến trình mặc khải. Y trở nên bị hấp thụ—về mặt trí tuệ, trực giác, tinh thần và cuối cùng là trên thực tế—vào trong Ánh Sáng ấy. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng cũng như ánh sáng của linh hồn đã mặc khải cho người chí nguyện đang tranh đấu một tầm nhìn mới, đặt ra cho y những mục tiêu mới, tăng cường mọi phẩm tính hiện có trong trang bị của y, và mặc khải quá khứ, hiện tại và tương lai của cá nhân, thì ánh sáng còn lớn lao hơn này cũng mặc khải cho điểm đạo đồ một chân trời bao la đến mức từ trước đến nay vượt ngoài khả năng của y và tuy vậy vẫn chỉ có thể được một điểm đạo đồ bậc ba hình dung ra; nó ban cho y một tri giác huyền bí mà trước đây y chưa từng nhận ra là hiện hữu—một tri giác cho phép y ngày càng thâm nhập sâu hơn và hợp tác một cách thấu hiểu vào mục đích của Đức Chúa Tể Thế Giới. Về sau, nó giúp y phát triển trang bị—những phẩm tính và ân tứ có bản chất thiêng liêng—rốt cuộc sẽ cho phép y đảm nhận vị trí của mình trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa và làm việc trong sự nhất trí hoàn toàn với các Đấng Nghiệp Quả. |
|
These qualities and gifts concern divine attributes and capacities for which we have as yet no words as they lie beyond the scope of human consciousness, being utterly unknown even to advanced human beings. They only begin to manifest as tendencies between the second and the third [119] initiations, in the same way as the instincts in a small child are, in reality, the germs of later intellectual attitudes and activities. It is needless, therefore, for me to enlarge upon them; unless you are an initiate of the third degree, my words would be meaningless to you and would convey naught. The clue lies for you in understanding the three words—Happiness, Joy, Bliss. Do you, as you speak of bliss, understand wherein it differs from happiness and joy? Bliss is associated with complete Being; it concerns the interior attitude of the Whole. |
Những phẩm tính và ân tứ này liên quan đến các thuộc tính thiêng liêng và những năng lực mà hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ nào để diễn đạt, vì chúng nằm ngoài phạm vi tâm thức con người, hoàn toàn không được biết đến ngay cả đối với những con người tiến bộ. Chúng chỉ bắt đầu biểu lộ như những khuynh hướng giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, cũng như các bản năng nơi một đứa trẻ nhỏ thực ra là những mầm mống của các thái độ và hoạt động trí tuệ về sau. Vì vậy, tôi không cần phải nói rộng thêm về chúng; trừ phi bạn là một điểm đạo đồ bậc ba, lời tôi nói sẽ vô nghĩa đối với bạn và không chuyển tải được gì. Manh mối dành cho bạn nằm trong việc thấu hiểu ba từ—Hạnh phúc, Hoan hỉ, Chí phúc. Khi nói về chí phúc, bạn có hiểu nó khác với hạnh phúc và hoan hỉ ở điểm nào không? Chí phúc gắn liền với Bản Thể trọn vẹn; nó liên quan đến thái độ nội tại của Toàn Thể. |
|
As the individual disciple builds the rainbow bridge, the antahkarana, and as a group of disciples build the group antahkarana, they make possible the “Triadal perception” referred to above. When the disciple has flung one strand of living light (through the power of magnetic love) across the space separating the Triad and the personality, he discovers that he is a part of a group. This group recognition—faulty and unintelligently expressed at first—is the factor which enables him to pass, along the anchored thread, into the Ashram of a Master. |
Khi đệ tử cá nhân xây dựng Cây cầu vồng, antahkarana, và khi một nhóm đệ tử xây dựng antahkarana nhóm, họ làm cho “tri giác Tam nguyên tinh thần” được nói đến ở trên trở nên khả hữu. Khi đệ tử đã phóng một sợi ánh sáng sống động (nhờ quyền năng của bác ái từ tính) bắc qua khoảng cách ngăn cách Tam nguyên tinh thần và phàm ngã, y khám phá rằng y là một phần của một nhóm. Sự nhận biết nhóm này—lúc đầu còn sai sót và được biểu lộ một cách thiếu thông minh—là yếu tố giúp y đi dọc theo sợi dây đã được neo giữ để bước vào ashram của một Chân sư. |
|
From the angle of the old teaching, the Ashram of the Master and the focus of the Hierarchy were on the higher levels of the mental plane. Today, that is not so. They are on the plane of spiritual love, of the intuition and of buddhi. The Hierarchy is both retreating towards the higher centre of Shamballa, and at the same time advancing towards the lower centre, Humanity. Both these activities have been made possible by man himself; the growing intuitive perception of humanity, in its higher brackets, enables him to function upon the Path of Discipleship and on higher levels than ever before. This the Hierarchy recognises. The growing aspiration of the masses is also drawing the Masters closer to humanity than ever before. This is an instance of the ability of the initiate consciousness to function on initiate levels and also in the three worlds simultaneously. Of this the dual activity of the mind is a symbol, acting as it does as the common sense and so dealing with all matters in the three worlds, and as the spiritual [120] mind at the same time, dealing with all matters connected with the soul, with light and illumination. |
Theo góc nhìn của giáo huấn cũ, ashram của Chân sư và tiêu điểm của Thánh đoàn ở trên các cấp cao của cõi trí. Ngày nay không còn như vậy nữa. Chúng ở trên cõi của bác ái tinh thần, của trực giác và của Bồ đề. Thánh đoàn vừa đang rút lui về phía trung tâm cao hơn là Shamballa, vừa đồng thời tiến về phía trung tâm thấp hơn là Nhân loại. Cả hai hoạt động này đều đã được chính con người làm cho khả hữu; tri giác trực giác ngày càng tăng của nhân loại, trong các tầng lớp cao hơn của nó, giúp con người hoạt động trên Con Đường Đệ Tử và trên những cấp độ cao hơn bao giờ hết. Điều này Thánh đoàn thừa nhận. Khát vọng ngày càng tăng của quần chúng cũng đang kéo các Chân sư đến gần nhân loại hơn bao giờ hết. Đây là một ví dụ về khả năng của tâm thức điểm đạo đồ hoạt động trên các cấp điểm đạo đồ và đồng thời trong ba cõi giới. Hoạt động nhị nguyên của trí tuệ là một biểu tượng cho điều này, vì nó vừa hoạt động như thường thức và do đó xử lý mọi vấn đề trong ba cõi giới, vừa đồng thời hoạt động như trí tuệ tinh thần, xử lý mọi vấn đề liên quan đến linh hồn, ánh sáng và sự soi sáng. |
|
The second demand, that the sense of synthesis should be the goal of the training given to applicants in the New Age, is a direct evidence of the new Shamballa contact, because synthesis is an attribute of the divine will and the outstanding quality of Deity. It was inevitable that intelligence and love should be evolutionary objectives on the planet and the first two divine aspects to be developed, for they are qualities of the will; they make the manifestation of the divine will possible; they guarantee its intelligent application and its magnetic power to draw to itself all that is needed for the expression or the manifestation of the divine envisaged purpose, visualised synthetically, and motivated, implemented, engineered and made possible by the dynamic aspect of the same will. |
Đòi hỏi thứ hai, rằng ý thức tổng hợp phải là mục tiêu của sự huấn luyện được ban cho những người thỉnh cầu trong Kỷ Nguyên Mới, là một bằng chứng trực tiếp của sự tiếp xúc mới với Shamballa, bởi vì tổng hợp là một thuộc tính của ý chí thiêng liêng và là phẩm tính nổi bật của Thượng đế. Điều tất yếu là trí tuệ và bác ái phải là những mục tiêu tiến hoá trên hành tinh và là hai phương diện thiêng liêng đầu tiên được phát triển, vì chúng là những phẩm tính của ý chí; chúng làm cho sự biểu lộ của ý chí thiêng liêng trở nên khả hữu; chúng bảo đảm việc áp dụng ý chí ấy một cách thông minh và quyền năng từ tính của nó để thu hút về mình mọi điều cần thiết cho sự biểu lộ hay sự hiển lộ của mục đích thiêng liêng đã được hình dung một cách tổng hợp, được thúc đẩy, thực hiện, điều phối và làm cho khả hữu bởi phương diện năng động của cùng một ý chí ấy. |
|
It is interesting to note that there is every evidence in the world today that the Shamballa energy is directly impinging upon the human consciousness and directly producing results. The destroyer aspect of the first Ray of Will or Power is producing worldwide destruction through the use of the first kingdom in nature, the mineral kingdom. That which is made of metals and chemicals is bringing catastrophe and destruction on earth, primarily in the human kingdom. At the same time the second attribute of the will, synthesis, is evoking an equally widespread response. This sense of synthesis has a mass effect earlier than it has an individual effect, and this is a thing of interest and importance to note at this time. Later, the dynamism inherent in the will, wielded by the New Group of World Servers and by the disciples and initiates of the world, will turn that instinctive mass response into factual experience and produce the “appearance” on earth of the new, developed “quality” which “life” seeks in the New Age to demonstrate. In the first volume of this Treatise, I called attention to the three divine aspects: Life, Quality and Appearance. They are now in process of making their appearance in final form for this particular cycle. |
Điều đáng chú ý là ngày nay có đầy đủ bằng chứng trên thế giới cho thấy năng lượng Shamballa đang trực tiếp tác động vào tâm thức con người và trực tiếp tạo ra kết quả. Phương diện huỷ diệt của Cung một của Ý Chí hay Quyền lực đang tạo ra sự tàn phá trên toàn thế giới qua việc sử dụng giới thứ nhất trong thiên nhiên, giới kim thạch. Điều được làm bằng kim loại và hoá chất đang mang đến tai hoạ và huỷ diệt trên địa cầu, chủ yếu trong giới nhân loại. Đồng thời, thuộc tính thứ hai của ý chí, tức tổng hợp, cũng đang gợi lên một đáp ứng rộng khắp tương tự. Ý thức tổng hợp này có tác động tập thể sớm hơn là tác động cá nhân, và đây là điều đáng quan tâm và quan trọng cần lưu ý vào lúc này. Về sau, tính năng động vốn có trong ý chí, được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cùng các đệ tử và điểm đạo đồ của thế gian vận dụng, sẽ biến đáp ứng bản năng của quần chúng ấy thành kinh nghiệm thực tế và tạo ra “sắc tướng” trên địa cầu của “phẩm tính” mới, đã phát triển, mà “sự sống” đang tìm cách biểu lộ trong Kỷ Nguyên Mới. Trong tập đầu của bộ Luận này, tôi đã lưu ý đến ba phương diện thiêng liêng: Sự sống, Phẩm tính và Sắc tướng. Hiện nay chúng đang trong tiến trình xuất hiện dưới hình thức cuối cùng cho chu kỳ đặc biệt này. |
|
[121] |
[121] |
|
Synthesis dictates the trend of all the evolutionary processes today; all is working towards larger unified blocs, towards amalgamations, international relationships, global planning, brotherhood, economic fusion, the free flow of commodities everywhere, interdependence, fellowship of faiths, movements based upon the welfare of humanity as a whole, and ideological concepts which deal with wholes and which militate against division, separation and isolation. |
Tổng hợp chi phối xu hướng của mọi tiến trình tiến hoá ngày nay; mọi sự đều đang vận hành hướng tới những khối hợp nhất lớn hơn, những sự hợp nhất, những quan hệ quốc tế, hoạch định toàn cầu, tình huynh đệ, dung hợp kinh tế, sự lưu thông tự do của hàng hoá khắp nơi, sự phụ thuộc lẫn nhau, tình thân hữu giữa các tín ngưỡng, những phong trào dựa trên phúc lợi của toàn thể nhân loại, và những quan niệm ý thức hệ đề cập đến các toàn thể và chống lại sự chia rẽ, phân ly và cô lập. |
|
Little as people realise it, these concepts are relatively new factors in the human consciousness, and the fact that they are the result of a new and direct relation between Those Who implement the will of God and humanity everywhere is the guarantee of the inevitability of their expression in the future. It is only in the immediate interim—a period of one hundred fifty years—that delay may seem the rule. Such, however, will not really be the case. The forms through which these new and impending ideas must take shape and manifest have yet to be created, and that takes time, for they are built by the power of thought and due process of educating the public consciousness until that consciousness becomes confirmed conviction and demonstrates as an immovable public opinion. |
Dù con người ít nhận ra điều đó, những quan niệm này là những yếu tố tương đối mới trong tâm thức nhân loại, và sự kiện rằng chúng là kết quả của một mối liên hệ mới và trực tiếp giữa Những Đấng thực thi Ý Chí của Thượng Đế và nhân loại khắp nơi là sự bảo đảm cho tính tất yếu của sự biểu lộ của chúng trong tương lai. Chỉ trong giai đoạn chuyển tiếp trước mắt—một thời kỳ một trăm năm mươi năm—sự trì hoãn mới có vẻ là quy luật. Tuy nhiên, thực ra sẽ không phải như vậy. Những hình tướng mà qua đó các ý tưởng mới và sắp đến này phải định hình và biểu lộ vẫn còn phải được tạo ra, và điều đó cần thời gian, vì chúng được xây dựng bằng quyền năng của tư tưởng và bằng tiến trình thích đáng của việc giáo dục tâm thức quần chúng cho đến khi tâm thức ấy trở thành niềm xác tín vững chắc và biểu lộ thành một dư luận công chúng bất lay chuyển. |
|
This sense of synthesis is one of the things which the new esoteric schools will develop in their students and neophytes, for it will be the people trained interiorly in these schools who will be the builders of the new world and the trainers of future public opinion. The labels and the names whereby these schools may call themselves mean but little. Many will proclaim themselves as esoteric schools and will communicate nothing of a truly esoteric nature. They will but attract to themselves the gullible and the foolish. There are many such functioning in this manner today. Others may refrain from all outer indication of esoteric and occult training, and yet convey the needed teaching. They will seek to relate the One, the Monad, to the personality, and to evoke in their students a true sense of synthesis. |
Ý thức tổng hợp này là một trong những điều mà các trường nội môn mới sẽ phát triển nơi các đạo sinh và người sơ cơ của mình, vì chính những người được huấn luyện nội tại trong các trường ấy sẽ là những người kiến tạo thế giới mới và là những người đào luyện dư luận công chúng tương lai. Những nhãn hiệu và danh xưng mà các trường ấy có thể tự gọi mình chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Nhiều trường sẽ tự xưng là trường nội môn và sẽ không truyền đạt điều gì có bản chất nội môn đích thực. Chúng chỉ thu hút về mình những kẻ nhẹ dạ và ngu xuẩn. Ngày nay có nhiều trường đang hoạt động theo cách đó. Những trường khác có thể tránh mọi dấu hiệu bên ngoài về sự huấn luyện nội môn và huyền bí, nhưng vẫn truyền đạt giáo huấn cần thiết. Chúng sẽ tìm cách liên hệ Đấng Duy Nhất, chân thần, với phàm ngã, và khơi dậy nơi các đạo sinh của mình một ý thức tổng hợp chân chính. |
|
It is the sense of synthesis, putting it very simply, which will be the goal of all the educational movements, once the [122] New Age idealism is firmly established. Physical coordination, personal integrity (which involves primarily the control and later the negation of the astral body), and personality integration will be the essential first steps. To this will succeed processes whereby the fusion of the personality with the soul, of the lower self with the higher Self, and of form with the divine Dweller in the form will follow next. Then the truly esoteric phase of the educational process will be attempted when the earlier steps or stages have been satisfactorily grasped and there is indication of some measure of real success. By that time the school of the Mysteries and the Halls of preparation for initiation will be generally recognised by the thinking people and believed in by the expectant masses. |
Nói một cách rất đơn giản, chính ý thức tổng hợp sẽ là mục tiêu của mọi phong trào giáo dục, một khi lý tưởng của Kỷ Nguyên Mới được thiết lập vững chắc. Sự phối hợp thể xác, sự toàn vẹn cá nhân (điều này chủ yếu bao hàm trước hết là sự kiểm soát và về sau là sự phủ định thể cảm dục), và sự tích hợp phàm ngã sẽ là những bước đầu tiên thiết yếu. Tiếp theo đó sẽ là những tiến trình nhờ đó sự dung hợp của phàm ngã với linh hồn, của phàm ngã với Bản Ngã Cao Siêu, và của hình tướng với Kẻ Chận Ngõ thiêng liêng trong hình tướng sẽ diễn ra kế tiếp. Khi những bước hay giai đoạn trước đó đã được nắm bắt một cách thoả đáng và có dấu hiệu của một mức độ thành công thực sự nào đó, thì giai đoạn thực sự nội môn của tiến trình giáo dục sẽ được thử nghiệm. Đến lúc ấy, trường học của các Mầu Nhiệm và các Phòng chuẩn bị cho điểm đạo sẽ được những người biết suy tư nhìn nhận rộng rãi và được quần chúng mong đợi tin tưởng. |
|
In those schools, those who are beginning to function as souls will be led on to take their next step. Their developed soul nature will be expressing itself through intelligent love and a sense of group fellowship; these two divine qualities will form a basis or foundation from which the next unfoldment can emerge and on which a more spiritual superstructure can be built. The Science of Meditation and the conscious building of the antahkarana will be the first two preliminary stages in the esoteric curriculum. Today, the true teaching of meditation and the construction of the bridge of light between the Triad and the personality are the most advanced teaching given anywhere. |
Trong các trường ấy, những ai đang bắt đầu hoạt động như những linh hồn sẽ được dẫn dắt để thực hiện bước kế tiếp của họ. Bản chất linh hồn đã phát triển của họ sẽ tự biểu lộ qua bác ái thông minh và ý thức tình huynh đệ nhóm; hai phẩm tính thiêng liêng này sẽ tạo thành một nền tảng hay cơ sở từ đó sự khai mở kế tiếp có thể xuất hiện và trên đó một kiến trúc thượng tầng tinh thần hơn có thể được xây dựng. Khoa Học Tham Thiền và việc xây dựng antahkarana một cách hữu thức sẽ là hai giai đoạn sơ khởi đầu tiên trong chương trình nội môn. Ngày nay, giáo huấn chân chính về tham thiền và việc kiến tạo cây cầu ánh sáng giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã là giáo huấn cao cấp nhất được ban ra ở bất cứ đâu. |
|
Humanity is, however, ready for exceedingly rapid development and this readiness will demonstrate increasingly in the postwar period, and for it the disciples of the world must make ready. Two factors will bring this about: the first is the tremendous stimulation which the war, its demands and its consequences have given to the human consciousness and, secondly, the coming in of very advanced souls ever since the year 1925. These souls will be ready to give the needed training and instruction when the right time comes, having brought it over with them when they came into incarnation, and knowing normally and naturally [123] what the modern esoteric student is struggling to grasp and understand. |
Tuy nhiên, nhân loại đã sẵn sàng cho một sự phát triển cực kỳ nhanh chóng, và sự sẵn sàng này sẽ ngày càng được chứng minh trong thời kỳ hậu chiến, và vì điều đó các đệ tử của thế gian phải chuẩn bị. Hai yếu tố sẽ mang lại điều này: thứ nhất là sự kích thích to lớn mà chiến tranh, các đòi hỏi của nó và các hậu quả của nó đã đem đến cho tâm thức con người, và thứ hai là sự nhập thể của những linh hồn rất tiến bộ kể từ năm 1925. Những linh hồn này sẽ sẵn sàng ban ra sự huấn luyện và chỉ dạy cần thiết khi thời điểm thích hợp đến, vì họ đã mang điều đó theo mình khi họ đi vào lâm phàm, và biết một cách bình thường và tự nhiên [123] điều mà đạo sinh nội môn hiện đại đang vật lộn để nắm bắt và thấu hiểu. |
|
A study of what I have here outlined as basic requirements will show that the esoteric schools about which I wrote in Letters on Occult Meditation lie far ahead in the distant future. The work of the preparatory schools must come first, and their work will proceed until such time that the work of the Ashrams of the Masters is recognised as forming part of an outer hierarchical activity. This in due time will lead to the giving of the first initiation publicly, as a part of the great service ritual of the then prevalent universal religion. The race of men will then—in its most advanced brackets and groups in every country in the world—be normally clairvoyant, and will therefore see for themselves the light within the candidates; they will know then that the first initiation is justifiably undergone, and they will also see the same light in thousands who in previous incarnations have taken that initiation. |
Một sự nghiên cứu về những gì tôi đã phác hoạ ở đây như những yêu cầu căn bản sẽ cho thấy rằng các trường nội môn mà tôi đã viết đến trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí còn ở rất xa trong tương lai. Công việc của các trường dự bị phải đến trước, và công việc của chúng sẽ tiếp tục cho đến khi công việc của các ashram của các Chân sư được nhìn nhận là tạo thành một phần của hoạt động Thánh đoàn bên ngoài. Điều này đến lượt nó sẽ dẫn, đúng thời điểm, đến việc ban lần điểm đạo thứ nhất một cách công khai, như một phần của nghi lễ phụng sự lớn lao của tôn giáo phổ quát đang thịnh hành khi ấy. Khi đó, nhân loại—trong những tầng lớp và nhóm tiến bộ nhất của mình ở mọi quốc gia trên thế giới—sẽ thông nhãn một cách bình thường, và do đó sẽ tự mình thấy ánh sáng bên trong các ứng viên; khi ấy họ sẽ biết rằng lần điểm đạo thứ nhất được trải qua là chính đáng, và họ cũng sẽ thấy cùng ánh sáng ấy nơi hàng ngàn người đã trải qua lần điểm đạo đó trong các kiếp trước. |
|
One thing only will I add to the above and to the elucidation of the significance of Rule V. The clue to all this esoteric work demanded by Shamballa is to be found in the development of the Art of Visualisation. Through visualisation, three expressions of the human consciousness will become possible: |
Tôi chỉ thêm một điều vào những gì đã nói ở trên và vào sự làm sáng tỏ ý nghĩa của Quy luật V. Manh mối cho toàn bộ công việc huyền bí này do Shamballa đòi hỏi được tìm thấy trong sự phát triển của Nghệ Thuật Hình Dung. Qua sự hình dung, ba biểu hiện của tâm thức con người sẽ trở nên khả hữu: |
|
1. The antahkarana can be built and the shining of the Triad be definitely seen. Such will be the new vision—an outcome of the development of the sense of vision. |
1. Antahkarana có thể được xây dựng và sự chiếu rạng của Tam nguyên tinh thần có thể được thấy một cách rõ rệt. Đó sẽ là linh thị mới—một kết quả của sự phát triển của ý thức về tầm nhìn. |
|
2. Groups, large wholes and major syntheses will also be visualised, and this will lead to a definite expansion of consciousness. Thus the sense of synthesis will be unfolded. |
2. Các nhóm, các toàn thể lớn và các tổng hợp chủ yếu cũng sẽ được hình dung, và điều này sẽ dẫn đến một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Nhờ đó ý thức tổng hợp sẽ được khai mở. |
|
3. All creative art will be fostered by this training, and the new art of the future in all departments of creativity will be rapidly developed as the training proceeds. The unfoldment of the sense of vision and of the sense of synthesis, through visualisation, will lead to a sense of livingness in form. |
3. Mọi nghệ thuật sáng tạo sẽ được khuyến khích bởi sự huấn luyện này, và nghệ thuật mới của tương lai trong mọi lĩnh vực sáng tạo sẽ được phát triển nhanh chóng khi sự huấn luyện tiến triển. Sự khai mở của ý thức về tầm nhìn và của ý thức tổng hợp, qua sự hình dung, sẽ dẫn đến một ý thức về tính sống động trong hình tướng. |
RULE SIX — QUY LUẬT SÁU
|
[124] |
[124] |
|
A superficial reading of Rule VI would give the impression that it is a simple statement as to the universality of Life, and also that it embodies an enunciation of the basic fact of hylozoism. The Rule runs as follows: |
Một cách đọc hời hợt Quy luật VI sẽ tạo ấn tượng rằng đó là một phát biểu đơn giản về tính phổ quát của Sự sống, và cũng rằng nó bao hàm một sự tuyên bố về sự kiện căn bản của thuyết vật hoạt. Quy luật như sau: |
|
Rule VI. |
Quy luật VI. |
|
Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh, and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life. |
Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, tuôn tràn đang tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến. Giới thứ năm nuôi dưỡng bằng giới thứ tư. Vậy hãy để nhóm—được dung hợp trong giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy, và chứng nghiệm rằng mọi quy luật nhỏ hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể giữ nhóm lại. Nhóm tiến lên trong sự sống. |
|
I find it extremely difficult to express the significance of this Rule in such a way that it will convey meaning to you, and this for two reasons: First, the idea of the One Life is so prevalent, and so customary and trite an unrealised truth, that it registers on ears with very little effect. Secondly, the whole story of life—which is purpose, divine will, and absolute determination—and the eternal planning of the Lord of the World is so hard of comprehension that we have as yet no words in the language of any nation which can express it. |
Tôi thấy cực kỳ khó diễn đạt ý nghĩa của Quy luật này theo cách có thể chuyển tải ý nghĩa đến bạn, và điều này vì hai lý do: Thứ nhất, ý tưởng về Một Sự Sống quá phổ biến, quá thông thường và là một chân lý sáo mòn chưa được chứng nghiệm, đến nỗi nó vang lên nơi tai với rất ít tác động. Thứ hai, toàn bộ câu chuyện về sự sống—vốn là mục đích, ý chí thiêng liêng và sự quyết tâm tuyệt đối—và sự hoạch định vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới khó hiểu đến mức hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ nào trong ngôn ngữ của bất kỳ quốc gia nào có thể diễn đạt được nó. |
|
What I am now writing is a series of instructions for disciples in process of training for initiation. I did not say in training for the higher initiations, for these are given in a different manner and the teaching is imparted in the inner Ashram. Therefore, as you have not taken the third initiation, monadic comprehension lies far beyond you; and only this highest state of understanding suffices for the clear perception of the fundamental divine intent lying behind all world phenomena, all evolutionary development, all unfoldment within the capacity of the four kingdoms in nature, and all preparatory extensions and expansions of consciousness. |
Điều tôi đang viết hiện nay là một loạt huấn thị dành cho các đệ tử đang trong tiến trình được huấn luyện cho điểm đạo. Tôi không nói là được huấn luyện cho các lần điểm đạo cao hơn, vì những lần ấy được ban theo một cách khác và giáo huấn được truyền đạt trong ashram nội tại. Vì vậy, do bạn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, sự thấu hiểu chân thần còn vượt rất xa bạn; và chỉ trạng thái thấu hiểu cao nhất này mới đủ cho sự tri giác rõ ràng về ý định thiêng liêng căn bản nằm sau mọi hiện tượng thế giới, mọi sự phát triển tiến hoá, mọi sự khai mở trong khả năng của bốn giới trong thiên nhiên, và mọi sự mở rộng và bành trướng tâm thức có tính chuẩn bị. |
|
All I can therefore do is to touch upon the inner significance [125] of the obvious and seek to express certain ideas which will strain your mental perception, evoke your intuition and institute that process of recognition and registration which leads eventually to the initiate-consciousness. |
Vì vậy, tất cả những gì tôi có thể làm là chạm đến ý nghĩa nội tại [125] của điều hiển nhiên và tìm cách diễn đạt một số ý tưởng sẽ làm căng khả năng tri giác trí tuệ của bạn, khơi dậy trực giác của bạn và khởi lập tiến trình nhận biết và ghi nhận, tiến trình rốt cuộc dẫn đến tâm thức điểm đạo đồ. |
|
This sixth Rule is the polar opposite of the rule as it was given to applicants. There, if you will refer to my exegesis upon that rule in Initiation, Human and Solar, you will find that the objective of that rule was physical purification with the emphasis upon the need for a vegetarian diet at a certain stage of the preparatory process. The reasons for such a discipline were two in number: purification and the necessity for the applicant (at that stage) to refrain from sharing in the benefits incident to the so-called “taking of life.” But, can one take life? I think not. Life IS. Naught in heaven or on earth can touch or affect it. This is a point oft forgotten. The rule as given to applicants consequently concerns their ability to accept and adhere to a self-imposed discipline. Through the means of that discipline, the control of the physical and astral natures are demonstrated by the applicant to himself, and the effect of the discipline is to reveal to him certain inevitable and basic weaknesses, such as control of the animal nature, the powerful imposition of desire, a sense of superiority, of pride and separativeness. His ability to sustain the discipline and his appreciation of himself for so doing, plus a sense of superiority to those who are not so disciplined, are all indicative of essential weaknesses. His fanaticism, latent or expressed, emerges in his consciousness with clarity, and—when he is sincere—he is conscious of having brought about a measure of physical purity; but at the same time, he is left with the awareness that he perhaps may be starting with the outer and the obvious when he should be beginning with the inner and with that which is not so easily contacted or expressed. This is a great and most important lesson. |
Quy luật thứ sáu này là cực đối lập với quy luật như đã được ban cho những người thỉnh cầu. Ở đó, nếu bạn tham khảo phần chú giải của tôi về quy luật ấy trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, bạn sẽ thấy rằng mục tiêu của quy luật đó là sự thanh lọc thể xác với trọng tâm đặt vào nhu cầu ăn chay ở một giai đoạn nhất định của tiến trình dự bị. Có hai lý do cho kỷ luật như vậy: sự thanh lọc và sự cần thiết để người thỉnh cầu (ở giai đoạn đó) tránh chia sẻ vào những lợi ích gắn liền với cái gọi là “lấy đi sự sống.” Nhưng liệu có thể lấy đi sự sống chăng? Tôi nghĩ là không. Sự sống LÀ. Không gì trên trời hay dưới đất có thể chạm đến hay tác động đến nó. Đây là một điểm thường bị quên lãng. Vì vậy, quy luật như được ban cho những người thỉnh cầu liên quan đến khả năng của họ trong việc chấp nhận và tuân thủ một kỷ luật do chính mình áp đặt. Nhờ phương tiện của kỷ luật ấy, sự kiểm soát bản chất thể xác và cảm dục được người thỉnh cầu chứng minh với chính mình, và tác động của kỷ luật là mặc khải cho y một số nhược điểm tất yếu và căn bản, như sự kiểm soát bản chất thú tính, sự áp đặt mạnh mẽ của dục vọng, cảm giác ưu việt, kiêu hãnh và phân ly. Khả năng duy trì kỷ luật của y và sự tự đánh giá cao mình vì làm được như vậy, cộng với cảm giác ưu việt hơn những người không được kỷ luật như thế, đều là những dấu hiệu của các nhược điểm cốt yếu. Tính cuồng tín của y, tiềm ẩn hay biểu lộ, hiện ra rõ ràng trong tâm thức y, và—khi y chân thành—y ý thức rằng mình đã tạo ra được một mức độ thanh khiết thể xác nào đó; nhưng đồng thời, y vẫn còn nhận biết rằng có lẽ mình đang bắt đầu từ cái bên ngoài và hiển nhiên trong khi lẽ ra phải bắt đầu từ cái bên trong và từ điều không dễ tiếp xúc hay biểu lộ đến thế. Đây là một bài học lớn và hết sức quan trọng. |
|
It is also an interesting illustration of the technique of the Masters, whereby They permit a fallacy to remain uncorrected (because it is originated by the disciple himself [126] and must be dissipated by him also) and the use of language which conveys a wrong impression. By so doing, the user of the language discovers eventually his erroneous approach to truth. Life cannot be taken in the spiritual sense. This error or mistake in the approach of truth enables men and women upon the Probationary Path to demonstrate the earnestness and sincerity of their aspiration by the discipline of substituting the produce “of the second,” and to refrain from sustaining life on the produce “of the third.” By sacrificing the life of the second kingdom in nature (to use the applicant’s own misstatements) and by nourishing the physical body thereby, the probationary disciple does succeed in ending the grip or potency of the physical nature, and that is always helpful. He as yet does not know that he is adhering to lesser “rules in time and space,” and that once he has demonstrated to himself that he can hold them and obey them, he is then freed from them and needs them no more. The disciple and the candidate for initiation knows that life is one, whether it takes form in the second kingdom or in the third or the fourth; he knows that the life in him is one with the life in the first kingdom, the mineral; he learns too that life is impregnable; that it cannot be taken or destroyed but “passes on” from form to form, from experience to experience, until the perfect will of God is expressed through life. |
Đây cũng là một minh hoạ thú vị về kỹ thuật của các Chân sư, nhờ đó Các Ngài cho phép một ngộ nhận vẫn không bị sửa chữa (vì nó do chính đệ tử tạo ra [126] và cũng phải do chính y làm tiêu tan) và cho phép việc sử dụng ngôn ngữ truyền đạt một ấn tượng sai lầm. Nhờ làm như vậy, người sử dụng ngôn ngữ cuối cùng sẽ khám phá ra cách tiếp cận chân lý sai lầm của mình. Sự sống không thể bị lấy đi theo nghĩa tinh thần. Sai lầm hay lỗi lầm này trong cách tiếp cận chân lý giúp những người nam và nữ trên Con Đường Dự Bị chứng minh sự tha thiết và chân thành của khát vọng của họ bằng kỷ luật thay thế sản phẩm “của giới thứ hai,” và tránh nuôi dưỡng sự sống bằng sản phẩm “của giới thứ ba.” Bằng cách hi sinh sự sống của giới thứ hai trong thiên nhiên (theo cách diễn đạt sai của chính người thỉnh cầu) và nhờ đó nuôi dưỡng thể xác, đệ tử dự bị thực sự thành công trong việc chấm dứt sự kềm giữ hay sức mạnh của bản chất thể xác, và điều đó luôn luôn hữu ích. Y chưa biết rằng mình đang tuân theo những “quy luật nhỏ hơn trong thời gian và không gian,” và rằng một khi y đã chứng minh với chính mình rằng y có thể giữ và tuân theo chúng, thì y được giải thoát khỏi chúng và không còn cần chúng nữa. Đệ tử và ứng viên cho điểm đạo biết rằng sự sống là một, dù nó mang hình tướng trong giới thứ hai hay giới thứ ba hay giới thứ tư; y biết rằng sự sống trong y là một với sự sống trong giới thứ nhất, giới kim thạch; y cũng học được rằng sự sống là bất khả xâm phạm; rằng nó không thể bị lấy đi hay huỷ diệt mà chỉ “chuyển tiếp” từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác, cho đến khi ý chí hoàn hảo của Thượng đế được biểu lộ qua sự sống. |
|
The true disciple does not need vegetarianism or any of the physical disciplines, for the reason that none of the fleshly appetites have any control over him. His problem lies elsewhere, and it is a waste of his time and energy to keep his eye focussed on “doing the right things physically,” because he does them automatically and his spiritual habits offset all the lower physical tendencies; automatically these developed habits enable him to surmount the appeal of those desires which work out in the fulfillment of lower desire. No one is accepted into the circle of the Ashram (which is the technical name given to the status of those who are on the eve of initiation or who are being prepared for initiation) whose physical appetites are in any danger [127] of controlling him. This is a statement of fact. This applies particularly and specifically to those preparing for the first initiation. Those preparing for the second initiation have to demonstrate their freedom from the slavery of ideas, from a fanatical reaction to any truth or spiritual leader, and from the control of their aspiration which—through the intensity of its application—would sacrifice time, people and life itself to the call of the Initiator—or rather, to be correct, to what they believe to be His call. |
Đệ tử chân chính không cần ăn chay hay bất kỳ kỷ luật thể xác nào, vì không một dục vọng xác thịt nào còn kiểm soát được y. Vấn đề của y nằm ở nơi khác, và việc cứ chăm chú vào “làm những điều đúng đắn về mặt thể xác” là một sự phí phạm thời gian và năng lượng của y, bởi vì y làm những điều ấy một cách tự động và các thói quen tinh thần của y hoá giải mọi khuynh hướng thể xác thấp; một cách tự động, những thói quen đã phát triển này giúp y vượt qua sức hấp dẫn của những dục vọng biểu lộ thành sự thoả mãn dục vọng thấp. Không ai được chấp nhận vào vòng tròn của ashram (đó là tên gọi chuyên môn dành cho địa vị của những người đang ở trước ngưỡng điểm đạo hay đang được chuẩn bị cho điểm đạo) mà các dục vọng thể xác của y còn có nguy cơ [127] kiểm soát y. Đây là một phát biểu sự kiện. Điều này áp dụng đặc biệt và chuyên biệt cho những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. Những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai phải chứng minh sự tự do của họ khỏi sự nô lệ của các ý tưởng, khỏi phản ứng cuồng tín đối với bất kỳ chân lý hay lãnh tụ tinh thần nào, và khỏi sự kiểm soát của chính khát vọng của họ, vốn—qua cường độ áp dụng của nó—sẽ hi sinh thời gian, con người và chính sự sống cho tiếng gọi của Đấng Điểm đạo—hay đúng hơn, nói cho chính xác, cho điều mà họ tin là tiếng gọi của Ngài. |
|
I would point out that the third initiation is approached from a level tableland of experience and of consciousness, and not from the heights of aspiration, or from fanatical sacrifice, or from the standpoint of a devotion which handicaps the service of the devotee and of the Master he seeks to serve. He knows, as a candidate for initiation, that: |
Tôi muốn chỉ ra rằng lần điểm đạo thứ ba được tiếp cận từ một cao nguyên bằng phẳng của kinh nghiệm và tâm thức, chứ không phải từ những đỉnh cao của khát vọng, hay từ sự hi sinh cuồng tín, hay từ quan điểm của một lòng sùng tín làm cản trở sự phụng sự của người sùng tín và của Chân sư mà y tìm cách phụng sự. Là một ứng viên cho điểm đạo, y biết rằng: |
|
1. Life is one and naught can ever take or touch that life. |
1. Sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. |
|
His sense of proportion as to form becomes adjusted. He is forward-looking towards the soul, and not backward-looking towards the form nature. Some very sincere devotees and promising applicants are so preoccupied with form and its disciplining that they have no real time to give to soul expansion. They are so interested in their reactions to their self-imposed discipline or to their capacity to conform or their failure to accept the discipline, that the spiritual truths—seeking entrance into their hearts—fail to make such an entrance. Temperance in all things, the wise use of all sustaining forms and self-forgetfulness are the hallmark of the disciple, but not of the beginner. Many disciples today who should be functioning in the Hall of Wisdom are still fanatically working in the Hall of Knowledge and are still so earnest over the physical disciplines that the disciplines of the soul are ignored. I would ask you to reflect on this. Applicants have to learn the significance of the words of Rule VI for disciples, “the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group.” |
Ý thức về tỉ lệ của y đối với hình tướng trở nên được điều chỉnh. Y hướng về phía trước tới linh hồn, chứ không ngoái nhìn về phía bản chất hình tướng. Một số người sùng tín rất chân thành và những người thỉnh cầu đầy hứa hẹn quá bận tâm với hình tướng và việc kỷ luật nó đến nỗi họ không có thời gian thực sự để dành cho sự mở rộng của linh hồn. Họ quá quan tâm đến các phản ứng của mình đối với kỷ luật do chính mình áp đặt hoặc đến khả năng tuân theo hay thất bại trong việc chấp nhận kỷ luật, đến nỗi các chân lý tinh thần—đang tìm cách đi vào trái tim họ—không thể thực hiện được sự đi vào ấy. Tiết độ trong mọi sự, sử dụng khôn ngoan mọi hình tướng duy trì sự sống và quên mình là dấu ấn của đệ tử, nhưng không phải của người mới bắt đầu. Nhiều đệ tử ngày nay lẽ ra phải hoạt động trong Phòng Minh triết thì vẫn còn đang cuồng tín làm việc trong Phòng Hiểu Biết và vẫn còn quá tha thiết với các kỷ luật thể xác đến nỗi các kỷ luật của linh hồn bị bỏ qua. Tôi muốn bạn suy ngẫm về điều này. Những người thỉnh cầu phải học ý nghĩa của những lời trong Quy luật VI dành cho các đệ tử, “những quy luật nhỏ hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể giữ nhóm lại.” |
|
I wonder if you can grasp the type of consciousness which distinguishes the Hierarchy, even if you are only able [128] to do so imaginatively and theoretically. They “onward move in life.” They work in the realm of life energy; the form seems to Them something which They have definitely left behind, and the consciousness of appeal or rejection of the form nature and hold is to Them only a memory of a distant battle ground where the victory then won has been forgotten and the gains of victory are so far behind that they lie well below the threshold of consciousness. Broadly and generally speaking, workers in the ranks of the Hierarchy (I did not say “with the Hierarchy”) are divided into two main groups: those who are working with the unfoldment of the initiate consciousness in the disciples of the world, and those of a more advanced degree who are working with the life aspect and its expression in the lives of the world initiates. Working disciples (who are working in cooperation with the Hierarchy) are also working in two major divisions: Those who are dealing with applicants and are seeking to see the imposition of the physical disciplines, and with the impartation of certain minor values so that beginners may grasp the point that they have reached. There are those also who are working to substitute understanding and service for physical discipline and the earlier, inevitable, selfish ends. |
Tôi tự hỏi liệu bạn có thể nắm bắt được loại tâm thức phân biệt Thánh đoàn hay không, dù bạn chỉ có thể [128] làm được điều đó bằng trí tưởng tượng và trên lý thuyết. Các Ngài “tiến lên trong sự sống.” Các Ngài làm việc trong lĩnh vực năng lượng sự sống; đối với Các Ngài, hình tướng dường như là điều mà Các Ngài đã dứt khoát bỏ lại phía sau, và tâm thức về sự hấp dẫn hay sự khước từ của bản chất hình tướng và sự kềm giữ của nó đối với Các Ngài chỉ là ký ức về một chiến trường xa xưa, nơi chiến thắng giành được khi ấy đã bị quên lãng và những thành quả của chiến thắng đã ở quá xa phía sau đến nỗi nằm hẳn dưới ngưỡng tâm thức. Nói một cách rộng rãi và tổng quát, những người hoạt động trong hàng ngũ của Thánh đoàn (tôi không nói là “với Thánh đoàn”) được chia thành hai nhóm chính: những người đang làm việc với sự khai mở tâm thức điểm đạo đồ nơi các đệ tử của thế gian, và những người ở cấp độ cao hơn đang làm việc với phương diện sự sống và sự biểu lộ của nó trong đời sống của các điểm đạo đồ thế gian. Các đệ tử hoạt động (những người đang làm việc trong sự hợp tác với Thánh đoàn) cũng đang làm việc trong hai phân bộ lớn: những người đề cập đến các người thỉnh cầu và tìm cách thấy được sự áp đặt các kỷ luật thể xác, cùng với việc truyền đạt một số giá trị nhỏ để những người mới bắt đầu có thể nắm bắt được điểm mà họ đã đạt tới. Cũng có những người đang làm việc để thay thế kỷ luật thể xác và những mục tiêu ích kỷ ban đầu, tất yếu, bằng sự thấu hiểu và phụng sự. |
|
Let me repeat: the physical disciplines are of value in the beginning stage and impart a sense of proportion and an awareness of defects and of limitations. These have their place in time and space, and that is all. Once the world of the soul is entered, the disciple uses all forms wisely, with understanding of their purpose and with freedom from excess; he is not preoccupied with them or fundamentally interested in them. His eyes are off himself and are fixed on the world of true values. He has no sense of self-interest, because a group awareness is rapidly superseding his individual consciousness. The words: |
Xin để tôi nhắc lại: các kỷ luật thể xác có giá trị trong giai đoạn khởi đầu và truyền đạt một ý thức về tỉ lệ cùng một nhận biết về các khuyết điểm và giới hạn. Chúng có chỗ đứng của chúng trong thời gian và không gian, và chỉ có thế. Một khi thế giới của linh hồn đã được bước vào, đệ tử sử dụng mọi hình tướng một cách khôn ngoan, với sự hiểu biết về mục đích của chúng và với sự tự do khỏi thái quá; y không bận tâm đến chúng hay căn bản quan tâm đến chúng. Mắt y không còn hướng vào bản thân mà được cố định vào thế giới của các giá trị chân thực. Y không có ý thức về tư lợi, vì một nhận biết nhóm đang nhanh chóng thay thế tâm thức cá nhân của y. Những lời: |
|
2. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known |
2. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, tuôn tràn đang tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến |
|
are of prime importance to those who would and can profit [129] by what I am seeking to convey, as I interpret—as far as may be—these Rules. The knowing of the fifth kingdom in nature through the medium of the consciousness of the fourth and the sacrifice of the fourth kingdom to the fifth, of the human being to the soul and of humanity to the kingdom of God, is the parallel (on a higher turn of the spiral) of the sacrifice of the third kingdom, the animal kingdom, to the fourth, the human kingdom. Thus it proceeds down the scale—sacrifice always of the lower to the higher. |
có tầm quan trọng hàng đầu đối với những ai muốn và có thể thu lợi [129] từ điều tôi đang tìm cách chuyển đạt, khi tôi diễn giải—trong chừng mực có thể—các Quy luật này. Việc biết giới thứ năm trong thiên nhiên qua trung gian của tâm thức của giới thứ tư và sự hi sinh giới thứ tư cho giới thứ năm, của con người cho linh hồn và của nhân loại cho Thiên Giới, là sự tương ứng (trên một vòng xoắn cao hơn) với sự hi sinh của giới thứ ba, giới động vật, cho giới thứ tư, giới nhân loại. Cứ thế mà tiếp diễn xuống theo thang bậc—luôn luôn là sự hi sinh của cái thấp cho cái cao. |
|
It therefore behooves the individual disciple to decide whether he is an applicant, and consequently to be controlled by the “rules in time and space,” or a candidate for initiation who knows that life is one and that the form is of no material significance, except as a field of experience for the soul. |
Vì vậy, đệ tử cá nhân cần phải quyết định xem y là một người thỉnh cầu, và do đó bị kiểm soát bởi “những quy luật trong thời gian và không gian,” hay là một ứng viên cho điểm đạo, người biết rằng sự sống là một và hình tướng không có ý nghĩa vật chất nào, ngoại trừ như một lĩnh vực kinh nghiệm cho linh hồn. |
|
We now come to the most important part of this particular rule; it conveys the key to the immediate goal for those who have attained a certain measure of understanding. The words of importance are: |
Giờ đây chúng ta đi đến phần quan trọng nhất của quy luật đặc biệt này; nó chuyển tải chìa khoá cho mục tiêu trước mắt của những ai đã đạt được một mức độ thấu hiểu nhất định. Những lời quan trọng là: |
|
3. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh. |
3. Vậy hãy để nhóm—được dung hợp trong giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy. |
|
In other words: “Then let the group—which is identified with the soul—find its sustenance and vitality by the inflow of the intuition and of the spiritual will, emanating from the Spiritual Triad.” There are, of course, other meanings, but this is the most practical for disciples. A larger but similar concept lies in the realisation that the human family, the fourth kingdom in nature, is absorbed by the fifth or by the kingdom of God and (when this is the case) can become increasingly en rapport with the sixth and seventh kingdoms. To these kingdoms no names have as yet been given, because the possibility of their existence is only now just beginning faintly to penetrate into the consciousness of the disciple and the initiate. The sixth kingdom is that of the “overshadowing Triads”—that aggregation of liberated Lives of which the higher initiates in the Hierarchy [130] are a part; They are to that spiritual group what the New Group of World Servers is to Humanity. I know not how else to express this truth to you. |
Nói cách khác: “Vậy hãy để nhóm—đã đồng hoá với linh hồn—tìm sự nuôi dưỡng và sinh lực của mình nhờ dòng tuôn đổ của trực giác và của ý chí tinh thần, phát xuất từ Tam Nguyên Tinh Thần.” Dĩ nhiên còn có những ý nghĩa khác, nhưng đây là ý nghĩa thực tiễn nhất đối với các đệ tử. Một quan niệm lớn hơn nhưng tương tự nằm trong sự chứng nghiệm rằng gia đình nhân loại, giới thứ tư trong thiên nhiên, được hấp thụ vào giới thứ năm hay Thiên Giới và (khi điều này xảy ra) có thể ngày càng trở nên tương thông với giới thứ sáu và thứ bảy. Hai giới này hiện chưa có tên gọi, vì khả năng hiện hữu của chúng chỉ mới bắt đầu mơ hồ thâm nhập vào tâm thức của đệ tử và điểm đạo đồ. Giới thứ sáu là giới của “các Tam nguyên tinh thần phủ bóng”—sự tập hợp những Sự Sống đã được giải thoát mà các điểm đạo đồ cao cấp trong Thánh đoàn [130] là một phần của nó; Các Ngài đối với nhóm tinh thần ấy cũng như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với Nhân loại. Tôi không biết phải diễn đạt chân lý này với bạn bằng cách nào khác. |
|
The seventh kingdom in nature is that of the Lives Who participate in full capacity of understanding with the group of Beings Who are the nucleus of the Council at Shamballa. Around the Lord of the World this group pivots; Their consciousness and state of being is only dimly understood by the most advanced Members of the Hierarchy, and the relation of these Lives to the Lord of the World is similar, and yet fundamentally different, to the relation of the Members of the Hierarchy to the three Great Lords—the Christ, the Manu and the Mahachohan. Through these three Lords pours the energy which streams from Shamballa, transmitting the purpose and motivating the plan of Sanat Kumara—His Life Plan. What you call “the Plan” is the response of the Hierarchy to the inflaming purposeful will of the Lord of the World. Through Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Bible), flows the unknown energy of which the three divine Aspects are the expression. He is the Custodian of the will of the Great White Lodge on Sirius, and the burden of this “cosmic intention” is shared by the Buddhas of Activity and those Members of the Great Council Who are of so elevated a consciousness and vibration that only once a year (through Their emissary, the Buddha) is it safe for Them to contact the Hierarchy. |
Giới thứ bảy trong thiên nhiên là giới của những Sự Sống tham dự với đầy đủ năng lực thấu hiểu cùng nhóm các Đấng là hạt nhân của Hội Đồng tại Shamballa. Chung quanh Đức Chúa Tể Thế Giới, nhóm này xoay chuyển; tâm thức và trạng thái hiện hữu của Các Ngài chỉ được các Thành Viên tiến bộ nhất của Thánh đoàn hiểu một cách mờ nhạt, và mối liên hệ của những Sự Sống này với Đức Chúa Tể Thế Giới thì tương tự, nhưng lại khác biệt căn bản, với mối liên hệ của các Thành Viên Thánh đoàn với ba Đại Chúa Tể—Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. Qua ba Đấng Chúa Tể này tuôn đổ năng lượng phát ra từ Shamballa, truyền đạt mục đích và thúc đẩy Thiên Cơ của Đức Sanat Kumara—Thiên Cơ Sự Sống của Ngài. Điều bạn gọi là “Thiên Cơ” là sự đáp ứng của Thánh đoàn đối với ý chí có mục đích bừng cháy của Đức Chúa Tể Thế Giới. Qua Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh), tuôn chảy năng lượng chưa được biết đến mà ba Phương diện thiêng liêng là sự biểu lộ của nó. Ngài là Đấng Gìn Giữ ý chí của Thánh đoàn trên Sirius, và gánh nặng của “ý định vũ trụ” này được chia sẻ bởi các Đức Phật Hoạt Động và những Thành Viên của Đại Hội Đồng có tâm thức và rung động cao đến mức chỉ mỗi năm một lần (qua sứ giả của Các Ngài là Đức Phật) thì việc Các Ngài tiếp xúc với Thánh đoàn mới là an toàn. |
|
I am seeking only to point to a wider horizon than that usually registered by disciples and I use these broad analogies to expand your point of view. By so doing I can convey to the enlightened person a sense of synthesis, of purposeful planning and of planetary integrity. This great spiritual structure of Being, of Life and of Direction is something that the disciples and initiates of the world need—at this time—in their effort to stand steady under the pressure of world events, and in their determination to cooperate unwaveringly with the moves and plans made by the world Directors, that “Society of illumined and organised [131] Minds” which is known under the name of the Hierarchy. It is illumination and consequent organisation which is needed profoundly at this time. |
Tôi chỉ tìm cách chỉ ra một chân trời rộng lớn hơn chân trời mà các đệ tử thường ghi nhận, và tôi dùng những loại suy rộng lớn này để mở rộng quan điểm của bạn. Nhờ đó tôi có thể truyền đạt cho người được soi sáng một ý thức tổng hợp, về sự hoạch định có mục đích và về tính toàn vẹn hành tinh. Cấu trúc tinh thần vĩ đại này của Bản Thể, của Sự Sống và của Sự Chỉ Đạo là điều mà các đệ tử và điểm đạo đồ của thế gian cần—vào lúc này—trong nỗ lực đứng vững dưới áp lực của các biến cố thế giới, và trong quyết tâm hợp tác không lay chuyển với những chuyển động và kế hoạch do các Đấng Chỉ Đạo thế giới thực hiện, “Xã Hội của những [131] Trí Tuệ được soi sáng và được tổ chức” được biết dưới danh xưng Thánh đoàn. Điều đang rất cần vào lúc này là sự soi sáng và sự tổ chức hệ quả của nó. |
|
You will see, therefore, the significance of the teaching now being given out anent the building of the antahkarana. It is only through this bridge, this thread, that the disciple can mount on to that stage of the ladder of evolution which will lead him out of the three worlds, which will bring the personality into rapport with the Spiritual Triad, and which will finally lead the Members of the Hierarchy (when Their term of service is completed) on to the Path of the Higher Evolution. The antahkarana is built by aspirants and disciples and initiates of the seven ray types, and is therefore a sevenfold woven thread; it constitutes the first stage of the Path of the Higher Evolution. It is to that Path what experience in the mineral kingdom of the Life of God is to that same Life when it reaches the fourth or human kingdom. You can see, therefore, how significant is the coming Science of Comparison; not yet has this science of comparative analysis been turned into a definitely recognised line of approach to truth. The Law of Analogy is the key which unlocks the understanding. |
Vì vậy, bạn sẽ thấy ý nghĩa của giáo huấn hiện đang được ban ra liên quan đến việc xây dựng antahkarana. Chỉ qua cây cầu này, sợi dây này, mà đệ tử mới có thể leo lên giai đoạn ấy của chiếc thang tiến hoá, giai đoạn sẽ dẫn y ra khỏi ba cõi giới, sẽ đưa phàm ngã vào sự tương thông với Tam Nguyên Tinh Thần, và cuối cùng sẽ dẫn các Thành Viên của Thánh đoàn (khi nhiệm kỳ phụng sự của Các Ngài hoàn tất) tiến vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Antahkarana được xây dựng bởi những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ thuộc bảy loại cung, và vì vậy là một sợi dây dệt thất phân; nó tạo thành giai đoạn đầu tiên của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Đối với Con đường ấy, nó cũng như kinh nghiệm trong giới kim thạch của Sự Sống của Thượng đế đối với chính Sự Sống ấy khi nó đạt đến giới thứ tư hay giới nhân loại. Vì vậy, bạn có thể thấy Khoa Học So Sánh sắp đến có ý nghĩa biết bao; khoa học phân tích so sánh này vẫn chưa được biến thành một đường lối tiếp cận chân lý được nhìn nhận rõ ràng. Định luật tương đồng là chìa khoá mở ra sự thấu hiểu. |
|
Something of the quality and the revelatory power of the intuition is known by all disciples; it constitutes at times (from its very rarity) a major “spiritual excitement.” It produces effects and stimulation; it indicates future receptivity to dimly sensed truths and is allied—if you could but realise it—with the entire phenomena of prevision. A registration of some aspect of intuitional understanding is an event of major importance in the life of the disciple who is beginning to tread the Path to the Hierarchy. It provides testimony, which he can recognise, of the existence of knowledges, wisdom and significances of which the intelligentsia of humanity are not yet aware; it guarantees to him the unfolding possibility of his own higher nature, a realisation of his divine connections and the possibility of his ultimate highest spiritual attainment; it steadily supersedes soul knowledge, and the energy pouring in to his consciousness [132] from the Spiritual Triad—particularly the energy of the sixth and seventh spheres of activity—is the specific and particular energy which finally brings about the destruction of the causal body, the annihilation of the Temple of Solomon, and the liberation of the Life. |
Mọi đệ tử đều biết đôi chút về phẩm tính và quyền năng mặc khải của trực giác; đôi khi nó tạo thành (do chính sự hiếm hoi của nó) một “sự kích động tinh thần” lớn. Nó tạo ra các hiệu quả và sự kích thích; nó chỉ ra khả năng tiếp nhận trong tương lai đối với những chân lý được cảm nhận mơ hồ và có liên hệ—nếu bạn chỉ có thể nhận ra điều đó—với toàn bộ hiện tượng tiên tri. Việc ghi nhận một phương diện nào đó của sự thấu hiểu trực giác là một biến cố có tầm quan trọng lớn trong đời sống của đệ tử đang bắt đầu bước trên Con Đường đến Thánh đoàn. Nó cung cấp cho y một chứng cứ mà y có thể nhận ra về sự hiện hữu của những tri thức, minh triết và thâm nghĩa mà giới trí thức của nhân loại hiện chưa biết đến; nó bảo đảm cho y khả năng khai mở của bản chất cao hơn của chính mình, một sự chứng nghiệm về các liên hệ thiêng liêng của y và khả năng đạt được thành tựu tinh thần tối cao rốt ráo của y; nó dần dần thay thế tri thức của linh hồn, và năng lượng tuôn vào tâm thức y [132] từ Tam Nguyên Tinh Thần—đặc biệt là năng lượng của khối cầu hoạt động thứ sáu và thứ bảy—là năng lượng đặc thù và chuyên biệt cuối cùng mang lại sự huỷ diệt thể nguyên nhân, sự tiêu diệt Đền thờ Solomon, và sự giải thoát của Sự sống. |
|
Then that which in time and space has been termed the soul can “onward move in life.” Evolution as we now understand it ceases; yet evolutionary unfoldment proceeds along new lines which are based upon the past but which produce very different results to those sensed even by the advanced disciple in his highest moments. A new life-expression appears which moves onward freed from all form yet subject still to limitations “within the circle of influence of the greater Life,” but not limited by life within the many forms which progress, surrounded by that circle, that divine ring-pass-not. There is still the broad confining sweep of the purpose and the life-intent of the planetary Logos, but within that periphery and sphere of activity the Triads move with perfect freedom. Their onward push towards the higher states of Being is carried out in conformity with the life urge of the One in Whom they live and move and have their being. You will note, therefore, that these words in reality cover or deal with life processes and not with form building or the experience in forms, as usually understood. |
Khi đó, điều mà trong thời gian và không gian đã được gọi là linh hồn có thể “tiến bước trong sự sống.” Sự tiến hoá như hiện nay chúng ta hiểu sẽ chấm dứt; tuy nhiên, sự khai mở tiến hoá vẫn tiếp diễn theo những đường hướng mới, dựa trên quá khứ nhưng tạo ra những kết quả rất khác với những gì ngay cả đệ tử tiến bộ cũng chỉ cảm nhận được trong những khoảnh khắc cao nhất của y. Một biểu hiện sự sống mới xuất hiện, tiến lên phía trước, giải thoát khỏi mọi hình tướng, tuy vậy vẫn còn chịu những giới hạn “bên trong vòng ảnh hưởng của Sự sống vĩ đại hơn,” nhưng không bị giới hạn bởi sự sống trong nhiều hình tướng đang tiến hoá, được bao quanh bởi vòng tròn ấy, vòng-giới-hạn thiêng liêng đó. Vẫn còn có vòng bao quát rộng lớn nhưng giới hạn của mục đích và ý hướng sự sống của Hành Tinh Thượng đế, nhưng bên trong chu vi và khối cầu hoạt động đó, các Tam nguyên tinh thần vận động với sự tự do hoàn toàn. Sự thúc đẩy tiến lên của các Ngài hướng tới những trạng thái Bản Thể cao hơn được thực hiện phù hợp với xung lực sự sống của Đấng Duy Nhất, trong Ngài các Ngài sống, vận động và hiện hữu. Do đó, bạn sẽ lưu ý rằng những lời này thực ra bao quát hay đề cập đến các tiến trình sự sống chứ không phải việc xây dựng hình tướng hay kinh nghiệm trong các hình tướng như thường được hiểu. |
|
A consideration of these at present inaccessible truths may serve to inspire your minds, evoke your intuition and give you vision and increased spiritual perception. |
Việc suy xét những chân lý hiện còn bất khả tiếp cận này có thể giúp truyền cảm hứng cho trí tuệ các bạn, gợi lên trực giác của các bạn và ban cho các bạn tầm nhìn cùng sự tri giác tinh thần gia tăng. |
RULE SEVEN — QUY LUẬT BẢY
|
The Rule which is our theme for consideration at this time is one of deep significance and esoteric interest; it is concerned with the life of Shamballa and with the purposes of the Great Council. This rule is also one of rare beauty and extraordinary implications, and it offers me the opportunity to enlarge upon a subject little known or understood by any esotericist in the average esoteric group. The [133] reason for this is that it is only as the new cycle draws closer—as it is drawing today—that the new and fuller teaching, the greatly extended horizon and the tremendously enhanced perception of the spiritual observer and worker become possible and apparent. Much, very much, has been given out during the past one hundred years anent the Masters, and (as we are considering the subject of initiation and of preparation for that great transitional experience) it is necessary to understand somewhat the nature of Those with Whom the disciple has to associate, and the kind of world and of consciousness in which They live and move and have Their being. The fact of the Hierarchy is to many thinkers an established fact; the hypothesis that there may be a Hierarchy is a widespread recognition. Information concerning its grades, its modes of working and its objectives are now common property; much has been accepted and much proved by those who believe this teaching. |
Quy luật là chủ đề chúng ta xem xét vào lúc này là một quy luật có thâm nghĩa sâu xa và mối quan tâm huyền bí học; nó liên quan đến sự sống của Shamballa và các mục đích của Đại Mật Nghị. Quy luật này cũng có một vẻ đẹp hiếm có và những hàm ý phi thường, và cho tôi cơ hội để khai triển một chủ đề mà hầu như không nhà bí truyền học nào trong nhóm huyền bí học trung bình thực sự biết hay thấu hiểu. [133] Lý do là chỉ khi chu kỳ mới đến gần hơn—như hiện nay đang đến gần—thì giáo huấn mới và đầy đủ hơn, chân trời được mở rộng rất nhiều, và tri giác được tăng cường mạnh mẽ của nhà quan sát và người hoạt động tinh thần mới trở nên khả hữu và hiển nhiên. Trong một trăm năm qua, rất nhiều điều đã được công bố liên quan đến các Chân sư, và (vì chúng ta đang xét đến chủ đề điểm đạo và sự chuẩn bị cho kinh nghiệm chuyển tiếp vĩ đại đó) cần phải hiểu phần nào bản chất của Những Đấng mà đệ tử phải liên kết, cũng như loại thế giới và loại tâm thức trong đó Các Ngài sống, vận động và hiện hữu. Đối với nhiều nhà tư tưởng, sự kiện về Thánh Đoàn là một sự kiện đã được xác lập; giả thuyết rằng có thể có một Thánh Đoàn là một sự công nhận khá phổ biến. Thông tin liên quan đến các cấp bậc của Thánh Đoàn, các phương thức hoạt động và các mục tiêu của Thánh Đoàn nay đã trở thành tài sản chung; nhiều điều đã được chấp nhận và nhiều điều đã được chứng minh bởi những ai tin vào giáo huấn này. |
|
Before proceeding to a discussion of Rule VII, however, I would like to spend a moment studying some of the effects of this steadily growing fund of knowledge. It has become the possession of the many and not only of the rare and discreet esotericist and occult student; this teaching has now seeped down into the consciousness of the masses and is there producing curiosity, relief and hope, speculation and cynical laughter, conscious spiritual effort or sustained ridicule—according to the type of mind, the sensitivity to truth or the crass credulity of the recipient. But the knowledge, belief and hope in the existence of a planetary Hierarchy has today leavened the entire mass of human thinking in a far wider and deeper manner than perhaps the most optimistic suspect; herein lies the hope of the world, and here is to be found also a fertile field for spiritual work during the coming decades. For this all disciples must prepare. |
Tuy nhiên, trước khi đi vào bàn luận Quy luật VII, tôi muốn dành một chút thời gian để khảo sát vài hiệu quả của kho tri thức đang tăng trưởng đều đặn này. Nó đã trở thành sở hữu của số đông chứ không chỉ của nhà bí truyền học và đạo sinh huyền bí học hiếm hoi và kín đáo; giáo huấn này nay đã thấm xuống tâm thức quần chúng và ở đó đang tạo ra sự tò mò, nhẹ nhõm và hy vọng, suy đoán và cười nhạo cay độc, nỗ lực tinh thần có ý thức hoặc chế giễu dai dẳng—tuỳ theo loại trí tuệ, sự nhạy bén với chân lý hay tính cả tin thô thiển của người tiếp nhận. Nhưng tri thức, niềm tin và hy vọng vào sự hiện hữu của một Thánh Đoàn hành tinh ngày nay đã làm dậy men toàn bộ khối tư tưởng nhân loại theo một cách rộng lớn và sâu xa hơn nhiều so với điều mà có lẽ người lạc quan nhất cũng ngờ tới; chính trong đó có niềm hy vọng của thế giới, và ở đây cũng có thể tìm thấy một cánh đồng màu mỡ cho công việc tinh thần trong những thập niên sắp tới. Vì điều này, mọi đệ tử phải chuẩn bị. |
|
The rules whereby the Hierarchy may be reached are already well known to the aspirants of the world; they must become equally well known to the average person; the objectives of the hierarchical work must be emphasised and [134] the nature of the divine Plan unfolded so that purpose and goal may be presented to humanity; the synthesis of the chain of hierarchical Existences—from the smallest atom of matter up to and including the Lord of Life Himself—must be unfolded; the essential and spiritual interdependence of all and the interrelation of every unit of divine life must be proved. This will eventually lead to that established unity of effort which will express itself in the merging of the fourth and the fifth kingdoms in nature, and to the establishment of that brotherhood which will constitute the germ or the seed of the coming manifestation of the Hierarchy as the Heart of God (directly related to the Heart of the Sun) in physical expression. This is necessarily an ambiguous phrase; but is as close an expression, in words, of hierarchical purpose as I find it possible to make. |
Các quy luật nhờ đó có thể tiếp cận Thánh Đoàn đã được những người chí nguyện trên thế giới biết rõ; chúng cũng phải trở nên quen thuộc tương đương với con người trung bình; các mục tiêu của công việc theo Thánh Đoàn phải được nhấn mạnh và [134] bản chất của Thiên Cơ phải được khai mở để mục đích và mục tiêu có thể được trình bày cho nhân loại; tính tổng hợp của chuỗi các Hiện Hữu theo Thánh Đoàn—từ nguyên tử vật chất nhỏ nhất cho đến và kể cả chính Đức Chúa Tể của Sự Sống—phải được khai mở; tính tương thuộc cốt yếu và tinh thần của tất cả, cùng mối tương quan của mọi đơn vị sự sống thiêng liêng, phải được chứng minh. Điều này rốt cuộc sẽ dẫn đến sự hợp nhất nỗ lực đã được xác lập, biểu hiện qua sự hợp nhất của giới thứ tư và giới thứ năm trong thiên nhiên, và đến việc thiết lập tình huynh đệ sẽ cấu thành mầm hay hạt giống của sự biểu hiện sắp đến của Thánh Đoàn như Trái Tim của Thượng đế (liên hệ trực tiếp với Trái Tim của Mặt Trời) trong biểu hiện hồng trần. Đây tất nhiên là một cụm từ mơ hồ; nhưng đó là cách diễn đạt bằng lời gần nhất mà tôi có thể đưa ra về mục đích của Thánh Đoàn. |
|
The entire field of the world—meaning by that phrase all the kingdoms in nature in united inner and outer relationship—will be the medium of recognised spiritual experience and also the field of expression of certain divine qualities and aspects which have hitherto been in quiescent abeyance. What these qualities are, what divine aspects are awaiting precipitation, and which divine purposes are latent in that field of waiting expectancy, I cannot yet reveal or even indicate. The times are not yet ripe. |
Toàn bộ lĩnh vực của thế giới—ý tôi muốn nói bằng cụm từ đó là tất cả các giới trong thiên nhiên trong mối liên hệ bên trong và bên ngoài hợp nhất—sẽ là môi trường của kinh nghiệm tinh thần được công nhận và cũng là lĩnh vực biểu hiện của một số phẩm tính và phương diện thiêng liêng mà cho đến nay vẫn còn ở trong trạng thái tiềm ẩn yên lặng. Những phẩm tính ấy là gì, những phương diện thiêng liêng nào đang chờ ngưng tụ, và những mục đích thiêng liêng nào còn tiềm tàng trong lĩnh vực chờ đợi đầy kỳ vọng đó, tôi chưa thể tiết lộ hay thậm chí chỉ ra. Thời điểm vẫn chưa chín muồi. |
|
A great upheaval in all the kingdoms in nature has characterised this day and generation; a stupendous destruction of all forms of divine life and in every kingdom has been the outstanding note of this upheaval. Our modern civilisation has received a death blow from which it will never recover, but which will be recognised some day as the “blow of release” and as the signal for that which is better, new and more suitable for the evolving spirit, to make its appearance. Great and penetrating energies and their evoked forces have met in a conflict which has, figuratively speaking, elevated the mineral kingdom into the skies and which has brought down fire from heaven. I am talking to you factually and not just symbolically. The bodies of men, women and children, as well as of animals, have been [135] destroyed; the forms of the vegetable kingdom and the potencies of the mineral kingdom have been disintegrated, distributed and devastated. The coherent life of all the planetary forms has been temporarily rendered incoherent. As an ancient prophecy has put it: “No true united Sound goes out from form to form, from life to life. Only a cry of pain, a demand for restitution and an invocation for relief from agony, despair and fruitless effort goes out from here to There.” |
Một cuộc chấn động lớn trong mọi giới của thiên nhiên đã đặc trưng cho thời đại và thế hệ này; một sự tàn phá khủng khiếp đối với mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng trong mọi giới đã là chủ âm nổi bật của cuộc chấn động này. Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã nhận một đòn chí tử mà từ đó nó sẽ không bao giờ hồi phục, nhưng một ngày kia sẽ được nhìn nhận là “đòn giải thoát” và là tín hiệu cho điều gì đó tốt đẹp hơn, mới hơn và thích hợp hơn với tinh thần đang tiến hoá xuất hiện. Những năng lượng lớn lao và xuyên thấu cùng các mãnh lực do chúng gợi lên đã gặp nhau trong một cuộc xung đột mà, nói theo nghĩa bóng, đã nâng giới kim thạch lên bầu trời và đã kéo lửa từ thiên giới xuống. Tôi đang nói với các bạn một cách thực tế chứ không chỉ mang tính biểu tượng. Thể xác của những người nam và nữ cùng trẻ em, cũng như của loài vật, đã bị [135] hủy diệt; các hình tướng của giới thực vật và các tiềm lực của giới kim thạch đã bị phân rã, phân tán và tàn phá. Sự sống cố kết của mọi hình tướng hành tinh đã tạm thời bị làm cho mất tính cố kết. Như một lời tiên tri cổ đã nói: “Không có Âm Thanh hợp nhất chân thực nào phát ra từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ sự sống này sang sự sống khác. Chỉ có tiếng kêu đau đớn, một đòi hỏi hoàn nguyên và một lời khẩn cầu xin giải thoát khỏi thống khổ, tuyệt vọng và nỗ lực vô ích phát ra từ đây đến Kia.” |
|
All this upheaval of the “soil” of the world—spiritual, psychological and physical—all this disruption of the forms and of the familiar contours of our planetary life had to take place before there could come the emergence of the Hierarchy into the public consciousness; all this had to do its work upon the souls of men before the New Age could come in, bringing with it the Restoration of the Mysteries, and the rehabilitation of the peoples of the earth. The two go together. This is one of the major points which I am seeking to make. The disruption, disintegration and the completely chaotic conditions existing for the past five hundred years within all the kingdoms of nature have at last worked their way out into paralleling physical conditions. This is good and desirable; it marks the prelude to a better building of a better world, the construction of more adequate forms of life and of more correct human attitudes, plus a sounder orientation to reality. The best is yet to be. |
Tất cả sự xáo trộn của “mảnh đất” thế giới này—về tinh thần, tâm lý và hồng trần—tất cả sự phá vỡ các hình tướng và các đường nét quen thuộc của sự sống hành tinh của chúng ta đã phải xảy ra trước khi có thể có sự xuất hiện của Thánh Đoàn vào tâm thức công chúng; tất cả điều này đã phải thực hiện công việc của nó trên các linh hồn con người trước khi Kỷ Nguyên Mới có thể đến, mang theo nó sự Phục Hồi các Mầu Nhiệm, và sự phục hưng các dân tộc trên địa cầu. Hai điều ấy đi cùng nhau. Đây là một trong những điểm chính mà tôi đang cố gắng nêu ra. Sự phá vỡ, phân rã và các điều kiện hoàn toàn hỗn loạn đã tồn tại trong năm trăm năm qua bên trong mọi giới của thiên nhiên cuối cùng đã bộc lộ thành những điều kiện hồng trần song hành. Điều này là tốt và đáng mong muốn; nó đánh dấu khúc dạo đầu cho việc xây dựng tốt đẹp hơn một thế giới tốt đẹp hơn, việc kiến tạo những hình tướng sự sống thích đáng hơn và những thái độ nhân loại đúng đắn hơn, cộng thêm một sự định hướng lành mạnh hơn đối với thực tại. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước. |
|
Everything is being rapidly brought to the surface—the good and the bad, the desirable and the undesirable, the past and the future (for the two are one); the plough of God has nearly accomplished its work; the sword of the spirit has severed an evil past from the radiant future, and both are seen as contributory in the Eye of God; our material civilisation will be seen as giving place rapidly to a more spiritual culture; our church organisations, with their limiting and confusing theologies, will soon give place to the Hierarchy, with its emerging teaching—clear, factual, intuitive and non-dogmatic. |
Mọi sự đang nhanh chóng được đưa lên bề mặt—điều tốt và điều xấu, điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, quá khứ và tương lai (vì hai điều ấy là một); lưỡi cày của Thượng đế gần như đã hoàn tất công việc của nó; thanh gươm của tinh thần đã cắt rời một quá khứ xấu ác khỏi tương lai rạng ngời, và cả hai đều được nhìn thấy như những yếu tố đóng góp trong Con Mắt của Thượng đế; nền văn minh vật chất của chúng ta sẽ được thấy là đang nhanh chóng nhường chỗ cho một nền văn hoá tinh thần hơn; các tổ chức giáo hội của chúng ta, với những thần học hạn hẹp và gây rối, sẽ sớm nhường chỗ cho Thánh Đoàn, với giáo huấn đang xuất hiện của Thánh Đoàn—minh bạch, thực tế, trực giác và không giáo điều. |
|
The Hierarchy has been invoked and its Members are [136] ready for a great “act of evocation,” of response to the invoking sound of humanity and of a definite (though relatively temporary) “act of orientation.” This will force the Hierarchy, of its own freewill, to turn towards a new and more intimate type of relation with humanity. That period of orientation will end when a powerful, earthly Hierarchy will factually, externally and in reality hold sway on earth, working in all the kingdoms of nature and thus bringing about (in truth) the expression of the divine Plan. This plan is implemented through the medium of the senior Members of the Hierarchy, Who invoke the “Lights which carry out the Will of God”; They are Themselves invoked by the Light-Bearers, the Masters; They again, in Their turn, are invoked by the aspirants and disciples of the world. Thus is the chain of Hierarchy only a life line, along which travel the love and life of God, from Him to us and from us to Him. |
Thánh Đoàn đã được khẩn cầu và các Thành viên của Thánh Đoàn đang [136] sẵn sàng cho một “hành động gợi lên” lớn lao, một sự đáp ứng đối với âm thanh khẩn cầu của nhân loại và một “hành động định hướng” xác định (dù tương đối tạm thời). Điều này sẽ buộc Thánh Đoàn, bằng chính ý chí tự do của mình, quay về phía một loại quan hệ mới và mật thiết hơn với nhân loại. Giai đoạn định hướng đó sẽ chấm dứt khi một Thánh Đoàn hồng trần hùng mạnh thực sự, bên ngoài và trên thực tế nắm quyền trên địa cầu, hoạt động trong mọi giới của thiên nhiên và nhờ đó mang lại (thực sự) sự biểu hiện của Thiên Cơ. Thiên Cơ này được thực hiện qua trung gian các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, Các Ngài khẩn cầu “những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế”; chính Các Ngài lại được các Đấng Mang Ánh Sáng, tức các Chân sư, khẩn cầu; rồi đến lượt mình, các Chân sư lại được những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới khẩn cầu. Như vậy, chuỗi Thánh Đoàn chỉ là một đường dây sự sống, dọc theo đó tình thương và sự sống của Thượng đế chuyển vận, từ Ngài đến chúng ta và từ chúng ta đến Ngài. |
|
This dual thought of the relationship between humanity and the Hierarchy, and between the Hierarchy and the highest Centre, Shamballa, is completely covered in Rule VII in its two forms—for applicants, and for disciples and initiates. |
Tư tưởng nhị nguyên này về mối liên hệ giữa nhân loại và Thánh Đoàn, và giữa Thánh Đoàn với Trung tâm tối cao, Shamballa, được bao quát hoàn toàn trong Quy luật VII dưới hai hình thức của nó—dành cho người thỉnh cầu, và dành cho đệ tử cùng điểm đạo đồ. |
|
Rule VII. |
Quy luật VII. |
|
For Applicants: Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the hall where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya. |
Dành cho Người Thỉnh Cầu: Hãy để đệ tử hướng sự chú ý của y vào việc phát ra những âm thanh vang vọng trong đại sảnh nơi Chân sư bước đi. Hãy để y đừng xướng những nốt thấp hơn vốn đánh thức rung động trong các đại sảnh của ảo lực. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked themselves with the Great Council in the highest Secret Place. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the “Lights which carry out the Will of God.” |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng trong những ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại vận động. Các Ngài không còn là con người như các Chân sư nữa, nhưng vì đã vượt qua giai đoạn thấp hơn đó, Các Ngài đã liên kết chính mình với Đại Mật Nghị trong Nơi Bí Mật tối cao. Hãy để nhóm xướng lên một hợp âm kép, vang dội trong các đại sảnh nơi các Chân sư vận động nhưng tìm thấy sự ngừng lại và kéo dài trong những đại sảnh rạng ngời nơi vận động những “Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế.” |
|
[137] |
[137] |
|
Of real importance, though relatively small, are two contrasts. These emerge with clarity if you compare the instructions given to applicants for discipleship and those given to initiates. The applicant (or young disciple) is addressed as an individual and is told to give forth “those sounds” which will be heard by the Master in His Ashram—for that is the true significance of the words. The initiate functions in a group (always in a group) and has developed or is rapidly developing group consciousness; in unison with his group and as an integral conscious part of it, the Word must be enunciated; this is not a medley of sounds, but is one clear Word of invocation. You need to remember that the disciple is occupied in resolving the many sounds into the Word; when he has done this, his individual approach to reality terminates, and he begins to act with his group where all activity is concerned. This is a point of major importance for the newer type of disciple to grasp. In the past, the emphasis has been on what the individual initiate had to do in order to fit himself to take initiation, and so become a Master of the Wisdom and a member of the planetary Hierarchy. In the coming new cycle the emphasis will be upon group work and activity, upon group initiation and group approach to the Center of Life. The required mode of life and the needed individual eliminations and adjustments are now so well known (theoretically, at least) that they should have dropped below the threshold of consciousness and should consequently be automatic in their effects. This should also provide a steady inducement to thought which will make the initiate what he ought to be, because his conscious mind is free for group functioning. This is a concept which must be increasingly cultivated; “As a man thinketh in his heart, so he is.” The lower mind should be the organ of heart expression and be as unconscious in its functioning as is the rhythm of the heart itself—the physical heart. The higher mind is intended to become increasingly the field of the initiate’s effort, and hence the constant need for him to build the antahkarana. |
Có hai điểm tương phản, tuy tương đối nhỏ, nhưng thực sự quan trọng. Chúng hiện ra rõ ràng nếu bạn so sánh các chỉ dẫn dành cho người thỉnh cầu địa vị đệ tử với các chỉ dẫn dành cho các điểm đạo đồ. Người thỉnh cầu (hay đệ tử trẻ) được nói đến như một cá nhân và được bảo phải phát ra “những âm thanh” sẽ được Chân sư nghe thấy trong ashram của Ngài—vì đó là ý nghĩa thực sự của những lời ấy. Điểm đạo đồ hoạt động trong một nhóm (luôn luôn trong một nhóm) và đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức nhóm; trong sự đồng thanh với nhóm của mình và như một phần hữu thức toàn vẹn của nhóm, Linh từ phải được phát ra; đây không phải là một mớ âm thanh hỗn tạp, mà là một Linh từ khẩn cầu rõ ràng duy nhất. Bạn cần nhớ rằng đệ tử đang bận rộn giải quyết nhiều âm thanh thành Linh từ; khi y đã làm được điều này, cách tiếp cận thực tại của cá nhân y chấm dứt, và y bắt đầu hành động cùng với nhóm của mình trong mọi hoạt động có liên quan. Đây là một điểm có tầm quan trọng lớn mà loại đệ tử mới hơn cần phải nắm bắt. Trong quá khứ, sự nhấn mạnh đặt trên điều mà điểm đạo đồ cá nhân phải làm để tự làm cho mình thích hợp nhận điểm đạo, và nhờ đó trở thành một Chân sư Minh triết và một thành viên của Thánh Đoàn hành tinh. Trong chu kỳ mới sắp đến, sự nhấn mạnh sẽ đặt trên công việc và hoạt động nhóm, trên điểm đạo nhóm và sự tiếp cận nhóm đến Trung Tâm của Sự Sống. Phương thức sống được đòi hỏi và những loại bỏ cùng điều chỉnh cá nhân cần thiết nay đã được biết rõ đến mức (ít nhất là về mặt lý thuyết) chúng lẽ ra phải rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và do đó phải trở nên tự động trong các hiệu quả của chúng. Điều này cũng phải cung cấp một động lực tư tưởng bền vững sẽ làm cho điểm đạo đồ trở thành điều y phải là, bởi vì trí tuệ hữu thức của y được tự do cho chức năng nhóm. Đây là một khái niệm phải được vun bồi ngày càng nhiều; “Con người nghĩ gì trong tim mình, thì y là như vậy.” Hạ trí phải là cơ quan biểu hiện của tim và phải vô thức trong hoạt động của nó cũng như nhịp điệu của chính trái tim—trái tim hồng trần. Thượng trí được dự định ngày càng trở thành lĩnh vực nỗ lực của điểm đạo đồ, và do đó mới có nhu cầu thường xuyên để y xây dựng antahkarana. |
|
In this Rule we are therefore dealing with the work [138] to be done by a group of pledged disciples and initiates; they are learning together to make an approach to Shamballa (involving the Will element); this is as much a goal of the Hierarchy as approach to the Hierarchy is the goal of advanced humanity. It concerns the interrelation of great centres of force. This is a point which esoteric students should attempt to grasp for it completes the planetary chain of Hierarchy and throws a light upon the Way of the Higher Evolution. |
Vì vậy, trong Quy luật này chúng ta đang đề cập đến công việc [138] phải được thực hiện bởi một nhóm đệ tử và điểm đạo đồ đã tuyên thệ; họ đang học cùng nhau để thực hiện một sự tiếp cận đến Shamballa (bao hàm yếu tố Ý Chí); đây là mục tiêu của Thánh Đoàn cũng nhiều như việc tiếp cận Thánh Đoàn là mục tiêu của nhân loại tiến bộ. Điều này liên quan đến mối tương quan của các trung tâm mãnh lực lớn. Đây là một điểm mà các đạo sinh huyền bí học nên cố gắng nắm bắt vì nó hoàn tất chuỗi Thánh Đoàn hành tinh và soi sáng Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
Great movements and progressions have always taken place upon the subjective side of life; it is these subjective activities which have made it hard for disciples to grasp the truth and arrive at some true realisation of the subjective situation which ever exists between the Hierarchy and Shamballa. The energies concerned are so subtle, and the Beings involved are so advanced and so highly developed (even from the angle of the initiate of the third degree), that it is well-nigh impossible for the teachings (which I seek to give) to be worded in such a manner that they become comprehensible. All that I can do is to make certain statements which (from the standpoint of those I teach) are not verifiable; they have to be accepted on trust and with the reservation that time and the point of view of the individual disciple will later prove their truth—or their non-truth. |
Những vận động và tiến trình lớn lao luôn luôn diễn ra ở mặt chủ quan của sự sống; chính những hoạt động chủ quan này đã khiến các đệ tử khó nắm bắt chân lý và đạt đến một sự chứng nghiệm chân thực nào đó về tình huống chủ quan luôn tồn tại giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Các năng lượng liên quan quá vi tế, và các Đấng hữu quan quá tiến bộ và phát triển quá cao (ngay cả từ góc độ của điểm đạo đồ cấp ba), đến nỗi gần như không thể diễn đạt các giáo huấn (mà tôi tìm cách truyền đạt) theo cách khiến chúng trở nên khả hiểu. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra một số phát biểu mà (theo quan điểm của những người tôi đang dạy) không thể kiểm chứng; chúng phải được chấp nhận trên cơ sở tín nhiệm và với sự dè dặt rằng thời gian cùng quan điểm của từng đệ tử sau này sẽ chứng minh tính chân thực—hay phi chân thực—của chúng. |
|
The objective of all training given to the disciple is to shift his conscious awareness from the point where he is to levels which are higher than those in the three worlds of definitely human evolution; the intention is to teach him to function on those planes of conscious contact which are as yet so subjective that he only accepts them as existent in theory. The trained initiate knows that they have to become his natural habitat, and that eventually he has to relegate the ordinary and normal human experience to the three worlds of daily expression. These become eventually the worlds that exist below the threshold of consciousness; they are relegated to the realm of the subconscious—recoverable consciously, if necessary for right service of humanity, [139] but as much below the threshold of consciousness as are the ordinary emotional reactions of the average man. These are always recoverable (as modern psychoanalysis has demonstrated) and can become capable of expression and of formulation into conditioning concepts—thus actuating mental perception if deemed of adequate importance. However, it should be borne in mind that the greater part of the emotional life of the disciple must become increasingly subconscious, just as the physical plane life of the normal, healthy human being is entirely automatic and thus subconscious. When the disciple has striven to expand his consciousness, when he has learnt to stabilise his consciousness in the Spiritual Triad, then he becomes part of a great and constant hierarchical effort which strives upwards towards the “Place of Clear Electric Light,” to which the clear cold light of the reason is the first key to the first door. |
Mục tiêu của mọi sự huấn luyện được trao cho đệ tử là chuyển sự nhận biết hữu thức của y từ điểm hiện tại của y lên những cấp độ cao hơn các cấp độ trong ba cõi của tiến hoá nhân loại xác định; ý định là dạy y hoạt động trên những cõi tiếp xúc hữu thức mà hiện nay còn quá chủ quan đến mức y chỉ chấp nhận chúng như hiện hữu trên lý thuyết. Điểm đạo đồ đã được huấn luyện biết rằng chúng phải trở thành môi trường sống tự nhiên của y, và rằng cuối cùng y phải đẩy kinh nghiệm nhân loại thông thường và bình thường xuống ba cõi của biểu hiện hằng ngày. Cuối cùng, những cõi này trở thành các thế giới tồn tại bên dưới ngưỡng tâm thức; chúng bị đẩy xuống lĩnh vực tiềm thức—có thể được phục hồi một cách hữu thức, nếu cần cho việc phụng sự đúng đắn đối với nhân loại, [139] nhưng ở dưới ngưỡng tâm thức cũng nhiều như những phản ứng cảm xúc thông thường của con người trung bình. Những phản ứng này luôn có thể được phục hồi (như phân tâm học hiện đại đã chứng minh) và có thể trở nên có khả năng biểu hiện và được công thức hoá thành những khái niệm tác động định hình—nhờ đó kích hoạt tri giác trí tuệ nếu được xem là đủ quan trọng. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng phần lớn đời sống cảm xúc của đệ tử phải ngày càng trở nên tiềm thức, cũng như đời sống cõi hồng trần của con người bình thường, khoẻ mạnh hoàn toàn là tự động và do đó là tiềm thức. Khi đệ tử đã nỗ lực mở rộng tâm thức của mình, khi y đã học cách ổn định tâm thức của mình trong Tam Nguyên Tinh Thần, thì y trở thành một phần của nỗ lực lớn lao và liên tục của Thánh Đoàn đang vươn lên phía trên hướng tới “Nơi của Ánh Sáng Điện Minh Bạch,” mà ánh sáng lạnh trong sáng của lý trí là chiếc chìa khoá đầu tiên mở cánh cửa thứ nhất. |
|
There are three doors into Shamballa, speaking figuratively: |
Nói theo nghĩa biểu tượng, có ba cánh cửa đi vào Shamballa: |
|
1. There is the door of the reason, of pure perception of truth. Christ gave the clue to this teaching when He said “I am the Way, the Truth and the Life.” Of that Way we know much, because upon the Way a vast body of teaching has been given, and that teaching, if followed, brings a man into the Hierarchy. He then becomes a factual part of the hierarchical membership. Of that Truth, we know (as aspirants) relatively very little. Truth—as we understand it during the early treading of the Path of Discipleship—is concerned with great verities which are (from the insight of the Enlightened Ones) only the a b c of life. These truths are: |
1. Có cánh cửa của lý trí, của sự tri giác thuần khiết về chân lý. Đức Christ đã trao chìa khoá cho giáo huấn này khi Ngài nói “Ta là Đường Đi, Chân Lý và Sự Sống.” Về Con Đường đó, chúng ta biết nhiều, bởi vì trên Con Đường ấy một khối lượng giáo huấn rộng lớn đã được ban ra, và giáo huấn đó, nếu được tuân theo, sẽ đưa con người vào Thánh Đoàn. Khi ấy y trở thành một phần thực sự của thành viên Thánh Đoàn. Về Chân Lý đó, chúng ta biết tương đối rất ít (với tư cách những người chí nguyện). Chân lý—như chúng ta hiểu trong giai đoạn đầu bước đi trên Con Đường Đệ Tử—liên quan đến những chân lý lớn mà (theo linh thị của các Đấng Giác Ngộ) chỉ là bảng chữ cái a b c của sự sống. Những chân lý này là: |
|
The manifestation of divinity on the physical plane. |
Sự biểu hiện của thiên tính trên cõi hồng trần. |
|
The doctrine of Avatars. This religious history reveals. |
Giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Lịch sử tôn giáo cho thấy điều này. |
|
The nature of consciousness, through the development of psychology. |
Bản chất của tâm thức, thông qua sự phát triển của tâm lý học. |
|
The doctrine of the Trinity, as it expresses itself through the aspects and the attributes. |
Giáo lý về Ba Ngôi, như nó biểu hiện qua các phương diện và các thuộc tính. |
|
These four expressions of truth will be found to convey all the knowledge with which the initiate must stand equipped [140] when he climbs the Mount of Transfiguration at the time of the third initiation. They have given him a spiritual perception of the Plan. |
Bốn biểu hiện chân lý này sẽ được thấy là chuyển tải toàn bộ tri thức mà điểm đạo đồ phải được trang bị [140] khi y leo lên Núi Biến Hình vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. Chúng đã ban cho y một tri giác tinh thần về Thiên Cơ. |
|
Of that Life, we know nothing whatsoever. The contemplation of its significance belongs to Those Who can move at will within the “precincts of the Lord of Life”—in Shamballa itself. All we can know about it is its lowest step. This enables us to study the impulse or instinct which enables all forms of life to function, which embodies the principles of responsiveness to contacts and to environment, and which embodies itself in the breath of life; this is also related to the air in some mysterious manner, and also to fire. More anent this subject it would be useless for me to say. |
Về Sự Sống đó, chúng ta hoàn toàn không biết gì cả. Việc chiêm ngưỡng ý nghĩa của nó thuộc về Những Đấng có thể tùy ý vận động trong “khuôn viên của Đức Chúa Tể của Sự Sống”—ngay trong Shamballa. Tất cả những gì chúng ta có thể biết về nó là nấc thấp nhất của nó. Điều này cho phép chúng ta nghiên cứu xung lực hay bản năng khiến mọi hình tướng sự sống hoạt động, vốn hiện thân các nguyên khí của sự đáp ứng với tiếp xúc và với môi trường, và hiện thân trong hơi thở của sự sống; điều này cũng liên hệ với không khí theo một cách huyền nhiệm nào đó, và cũng liên hệ với lửa. Nói thêm về chủ đề này thì tôi cũng vô ích. |
|
2. There is also the door of the will. This is a penetrating power which relates Plan to Purpose and which has in it the faculty of coherent persistence. The reason for this persistence is that it is not dependent upon the content of the form—whether it is the form of an atom, of a man or of a planet—but upon a vital dynamic and immutable purpose, latent in the consciousness of the planetary Being Who, “having pervaded this entire universe with a fragment” of Himself, REMAINS—greater, more inscrutable and “firmer in intent” than any of His creations, even the most advanced and the closest to Him. Only those have clear perception of His divine purpose who do not belong to our earth humanity at all; these are the Lives who came with Him to this planet when He came, and Who remain with Him as “the prisoners of loving intention” until the last “weary pilgrim has found his way home.” |
2. Cũng có cánh cửa của ý chí. Đây là một quyền năng xuyên thấu liên kết Thiên Cơ với Mục Đích và trong đó có năng lực kiên trì cố kết. Lý do của sự kiên trì này là vì nó không phụ thuộc vào nội dung của hình tướng—dù đó là hình tướng của một nguyên tử, một con người hay một hành tinh—mà phụ thuộc vào một mục đích sống động, năng động và bất biến, tiềm tàng trong tâm thức của Đấng Hành Tinh, Đấng mà, “sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của Chính Ngài,” vẫn CÒN LẠI—vĩ đại hơn, khó hiểu hơn và “kiên định hơn trong ý định” so với bất kỳ sáng tạo nào của Ngài, ngay cả những sáng tạo tiến bộ nhất và gần Ngài nhất. Chỉ những ai hoàn toàn không thuộc về nhân loại địa cầu của chúng ta mới có tri giác rõ ràng về mục đích thiêng liêng của Ngài; đó là những Sự Sống đã đến cùng Ngài với hành tinh này khi Ngài đến, và vẫn ở lại với Ngài như “những tù nhân của ý định yêu thương” cho đến khi “người hành hương mệt mỏi cuối cùng đã tìm được đường về nhà.” |
|
This spiritual will is something of which humanity knows nothing; it is hidden and veiled by the self-will of the individual and the group will of the soul. Through both of these experiences the human being moves until his individual will is developed and grounded, focussed and reoriented, and his group will is unfolded so that it includes and swallows up the dedicated, conscious, individual will. When this fusion has taken place (at the third initiation) a [141] great revelation unfolds itself, and for the first time the initiate senses and then contacts the universal will; from that moment the initiate says, “Father, not my will but Thine be done.” Just a little of what that will includes may emerge as we study this seventh rule and some of the succeeding rules. |
Ý chí tinh thần này là điều mà nhân loại không biết gì cả; nó bị che giấu và che màn bởi ý chí vị kỷ của cá nhân và ý chí nhóm của linh hồn. Qua cả hai kinh nghiệm này, con người tiến bước cho đến khi ý chí cá nhân của y được phát triển và đặt nền, được tập trung và tái định hướng, và ý chí nhóm của y được khai mở để bao gồm và nuốt trọn ý chí cá nhân hữu thức, tận hiến. Khi sự dung hợp này đã diễn ra (ở lần điểm đạo thứ ba) một [141] sự mặc khải lớn lao sẽ tự khai mở, và lần đầu tiên điểm đạo đồ cảm nhận rồi tiếp xúc với ý chí vũ trụ; từ khoảnh khắc đó điểm đạo đồ nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha.” Một chút ít về điều mà ý chí đó bao hàm có thể sẽ xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu quy luật thứ bảy này và một số quy luật tiếp theo. |
|
3. I can find no words to express the nature of the third door. Let us, in default of a better term, call it the door of the monadic sense of essential duality. Body and life, soul and personality, the Spiritual Triad and its expression, the Christ in incarnation—all these dualities have played their part. Man has passed from one expansion of consciousness to another. Now he comes to the final duality of spirit and matter, prior to their resolution into something to which the terms “isolated unity” and “universal synthesis” give only faint and inadequate clues. To the development of this system of identification the initiate of the degree of Master of the Wisdom, and also (on a higher turn of the spiral) of the degree of the Christ, are focussing all Their efforts. Up to the fourth initiation, the term “system of expansions” would seem illuminating; after that great initiation, the term “system of identification” would appear more appropriate. |
3. Tôi không tìm được lời nào để diễn tả bản chất của cánh cửa thứ ba. Tạm thời, vì không có thuật ngữ nào tốt hơn, chúng ta hãy gọi nó là cánh cửa của cảm thức chân thần về nhị nguyên tính cốt yếu. Thể và sự sống, linh hồn và phàm ngã, Tam Nguyên Tinh Thần và biểu hiện của nó, Đức Christ đang lâm phàm—tất cả những nhị nguyên này đã đóng vai trò của chúng. Con người đã đi từ một sự mở rộng tâm thức này sang một sự mở rộng khác. Giờ đây y đi đến nhị nguyên cuối cùng của tinh thần và vật chất, trước khi chúng được giải quyết thành một điều gì đó mà các thuật ngữ “hợp nhất cô lập” và “tổng hợp vũ trụ” chỉ gợi ra những đầu mối mờ nhạt và không đầy đủ. Vào sự phát triển của hệ thống đồng hoá này, điểm đạo đồ ở cấp Chân sư Minh triết, và cả (trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc) ở cấp của Đức Christ, đang tập trung mọi nỗ lực của Các Ngài. Cho đến lần điểm đạo thứ tư, thuật ngữ “hệ thống các sự mở rộng” dường như có tính soi sáng; sau lần điểm đạo lớn lao đó, thuật ngữ “hệ thống đồng hoá” dường như thích hợp hơn. |
|
When the initiate has passed through the three doors, symbolically speaking, he then faces all life, all events, all pre-determinations, all wisdom, all activity and all that the future may hold of service and progress from the angle of the pure reason (infallible and immutable), of true spiritual will (completely identified with the purpose of the planetary Logos), and of the highest possible focussed relation. The mystery of relationship becomes revealed to him. Then the entire scheme of evolution and of the intention of the One in Whom he lives and moves and has his being becomes clear to him; he has no more to learn within this planetary scheme; he has become universal in his attitude to all forms of life, and is also identified with the “isolated unity” of Sanat Kumara. Few of the great Lives Who form the inner group of the Council Chamber at Shamballa are now of [142] greater advancement than he; the “Supernal Three,” the “Radiant Seven,” the “Lives embodying the forty-nine Fires,” the “Buddhas of Activity,” and certain “Eternal Spirits” from such centres of dynamic spiritual life as Sirius, or from the constellation which at any one time forms a triangle with our Sun and Sirius” and a Representative from Venus are of greater—far greater—advancement. Otherwise, all initiates of the sixth degree, and a few of the Masters Who have undergone specialised training because They are upon the first Ray of Will or Power (the ray conditioning Shamballa itself), form part of the Great Council. Many Masters and Chohans, however, after serving upon the planet in various capacities, working with the Law of Evolution, pass out of our planetary life altogether. |
Khi điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa, nói theo nghĩa biểu tượng, khi ấy y đối diện với toàn bộ sự sống, mọi biến cố, mọi tiền định, mọi minh triết, mọi hoạt động và mọi điều mà tương lai có thể chứa đựng về phụng sự và tiến bộ từ góc độ của lý trí thuần khiết (không sai lầm và bất biến), của ý chí tinh thần chân thực (được đồng hoá hoàn toàn với mục đích của Hành Tinh Thượng đế), và của mối liên hệ tập trung cao nhất có thể có. Mầu nhiệm của mối liên hệ được mặc khải cho y. Khi ấy toàn bộ hệ thống tiến hoá và ý định của Đấng Duy Nhất, trong Đấng ấy y sống, vận động và hiện hữu, trở nên minh bạch đối với y; y không còn gì để học trong hệ hành tinh này nữa; y đã trở nên phổ quát trong thái độ của mình đối với mọi hình tướng sự sống, và cũng được đồng hoá với “hợp nhất cô lập” của Đức Sanat Kumara. Hiện nay, ít có những Sự Sống vĩ đại tạo thành nhóm nội môn của Phòng Hội Đồng tại Shamballa lại [142] tiến bộ hơn y; “Ba Đấng Thiên Thượng,” “Bảy Đấng Rạng Ngời,” “những Sự Sống hiện thân bốn mươi chín Ngọn Lửa,” “các Đức Phật Hoạt Động,” và một số “Tinh Thần Vĩnh Cửu” từ những trung tâm của sự sống tinh thần năng động như Sirius, hoặc từ chòm sao mà vào bất kỳ thời điểm nào tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Sirius,” cùng một Đại Diện từ Sao Kim thì tiến bộ hơn—vượt xa hơn. Ngoài ra, mọi điểm đạo đồ cấp sáu, và một số ít Chân sư đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt vì Các Ngài thuộc Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng (cung điều kiện hoá chính Shamballa), đều tạo thành một phần của Đại Mật Nghị. Tuy nhiên, nhiều Chân sư và Chohan, sau khi phụng sự trên hành tinh trong nhiều năng lực khác nhau, làm việc với Định luật Tiến hoá, sẽ rời khỏi hoàn toàn sự sống hành tinh của chúng ta. |
|
All the above information concerning the Lives which are far in advance of the disciples of the world contains little of moment for you, except in so far as it falls into a diagrammatic pattern of our planetary life and purpose, and enabling you, therefore, to get a faint glimpse of a synthetic theme and purpose to which all evolving lives must and will eventually conform. |
Tất cả thông tin trên liên quan đến những Sự Sống vượt xa các đệ tử trên thế giới chứa đựng rất ít điều quan trọng đối với bạn, ngoại trừ ở chỗ nó rơi vào một mô hình sơ đồ của sự sống và mục đích hành tinh của chúng ta, và do đó cho phép bạn có được một thoáng nhìn mờ nhạt về một chủ đề và mục đích tổng hợp mà mọi sự sống đang tiến hoá cuối cùng phải và sẽ tuân theo. |
|
It must ever be borne in mind that the great theme of LIGHT underlies our entire planetary purpose. The full expression of perfect LIGHT, occultly understood, is the engrossing life-purpose of our planetary Logos. Light is the great and obsessing enterprise in the three worlds of human evolution; everywhere men rate the light of the sun as essential to healthy living; some idea of the human urge to light can be grasped if you consider the brilliance of the physically engendered light in which we live when night arrives, and compare it with the mode of lighting the streets and homes of the world prior to the discovery of gas, and later of electricity. The light of knowledge, as the reward of educational processes, is the incentive behind all our great schools of learning in every country in the world and is the goal of much of our world organisation; the terminology of light controls even our computation of time. The mystery of electricity is unfolding gradually before our rapt [143] eyes and the electrical nature of man is being slowly proven and will later demonstrate that, throughout the human structure and form, man is composed primarily of light atoms, and that the light in the head (so familiar to esotericists) is no fiction or figment of wishful thinking or of a hallucinated imagination, but is definitely brought about by the junction or fusion of the light inherent in substance itself and the light of the soul. |
Phải luôn ghi nhớ rằng chủ đề lớn về ÁNH SÁNG nằm bên dưới toàn bộ mục đích hành tinh của chúng ta. Sự biểu hiện trọn vẹn của ÁNH SÁNG hoàn hảo, được hiểu theo huyền bí học, là mục đích sự sống hấp dẫn toàn bộ của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Ánh sáng là công cuộc lớn lao và ám ảnh trong ba cõi của tiến hoá nhân loại; ở khắp nơi con người đều đánh giá ánh sáng mặt trời là thiết yếu cho đời sống lành mạnh; có thể nắm được phần nào xung lực của con người hướng tới ánh sáng nếu bạn suy xét sự rực rỡ của ánh sáng được tạo ra bằng phương tiện hồng trần mà chúng ta sống trong đó khi đêm xuống, và so sánh nó với cách thắp sáng đường phố và nhà cửa trên thế giới trước khi khám phá ra khí đốt, và sau đó là điện. Ánh sáng của tri thức, như phần thưởng của các tiến trình giáo dục, là động lực đằng sau mọi trường học lớn của chúng ta ở mọi quốc gia trên thế giới và là mục tiêu của phần lớn tổ chức thế giới của chúng ta; ngay cả thuật ngữ về ánh sáng cũng chi phối cách chúng ta tính thời gian. Mầu nhiệm của điện đang dần dần khai mở trước [143] mắt chúng ta đang say mê, và bản chất điện của con người đang chậm rãi được chứng minh và về sau sẽ cho thấy rằng, xuyên suốt cấu trúc và hình tướng nhân loại, con người chủ yếu được cấu thành bởi các nguyên tử ánh sáng, và rằng ánh sáng trong đầu (rất quen thuộc với các nhà bí truyền học) không phải là điều hư cấu hay sản phẩm của tư duy mong muốn hoặc của sự tưởng tượng ảo giác, mà chắc chắn được tạo ra bởi sự kết hợp hay dung hợp của ánh sáng vốn có trong chính chất liệu và ánh sáng của linh hồn. |
|
It will be found that this will be capable of scientific proof. It will also be shown that the soul itself is light, and that the entire Hierarchy is a great centre of light, causing the symbology of light to govern our thinking, our approach to God, and enabling us to understand somewhat the meaning of the words of Christ “I am the Light of the world.” These words carry meaning to all true disciples and present them with an analogous goal which they define to themselves as that of finding the light, appropriating the light, and themselves becoming light-bearers. The theme of light runs through all the world Scriptures; the idea of enlightenment conditions all the training given to the youth of the world (limited though the application of this idea may be), and the thought of more light governs all the inchoate yearnings of the human spirit. |
Người ta sẽ thấy rằng điều này sẽ có khả năng được chứng minh một cách khoa học. Cũng sẽ được chỉ ra rằng chính linh hồn là ánh sáng, và toàn thể Thánh Đoàn là một trung tâm ánh sáng vĩ đại, khiến biểu tượng học về ánh sáng chi phối tư tưởng của chúng ta, cách tiếp cận của chúng ta đối với Thượng đế, và giúp chúng ta phần nào hiểu được ý nghĩa của lời Đức Christ: “Ta là Ánh sáng của thế gian.” Những lời này mang ý nghĩa đối với mọi đệ tử chân chính và trình bày cho họ một mục tiêu tương đồng mà họ tự xác định là tìm ra ánh sáng, chiếm hữu ánh sáng, và chính họ trở thành những người mang ánh sáng. Chủ đề ánh sáng xuyên suốt mọi Thánh Kinh của thế giới; ý tưởng về giác ngộ tác động định hình toàn bộ sự huấn luyện được trao cho thanh niên trên thế giới (dù việc áp dụng ý tưởng này có hạn chế đến đâu), và tư tưởng về nhiều ánh sáng hơn chi phối mọi khát vọng còn phôi thai của tinh thần con người. |
|
We have not yet carried the concept up to the Centre of Life where dwells the Ancient of Days, the Eternal Youth, the Lord of the World, Sanat Kumara, Melchizedek—God. Yet from that Centre streams what has been called the Light of Life, the Light Supernal. These are empty words as yet until we know, as trained initiates, that light is a symptom and an expression of Life, and that essentially, occultly and in a most mysterious way the terms, Light and Life, are interchangeable within the limits of the planetary ring-pass-not. Beyond those limits—who knows? Light can be regarded as a symptom, a reaction to the meeting and consequent fusion of spirit and matter. |
Chúng ta vẫn chưa nâng khái niệm này lên đến Trung Tâm của Sự Sống nơi ngự trị Đấng Thái Cổ, Đấng Thanh Xuân Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara, Melchizedek—Thượng đế. Tuy nhiên, từ Trung Tâm đó tuôn ra điều đã được gọi là Ánh Sáng của Sự Sống, Ánh Sáng Thiên Thượng. Những từ này hiện vẫn còn rỗng cho đến khi chúng ta biết, như những điểm đạo đồ đã được huấn luyện, rằng ánh sáng là một triệu chứng và một biểu hiện của Sự Sống, và rằng về bản chất, theo huyền bí học và theo một cách hết sức huyền nhiệm, các thuật ngữ Ánh Sáng và Sự Sống có thể thay thế cho nhau trong giới hạn của vòng-giới-hạn hành tinh. Vượt ra ngoài những giới hạn đó—ai biết được? Ánh sáng có thể được xem như một triệu chứng, một phản ứng đối với sự gặp gỡ và do đó là sự dung hợp của tinh thần và vật chất. |
|
Therefore, where that great point of fusion and of solar crisis (for that is what it is, even when producing a planetary crisis) appears in time and space, light also immediately [144] appears and of such intensity that only those who know the light of the soul, and who can bear the hierarchical light can be trained to enter into and form part of the light of Shamballa and walk in those “radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God.” |
Vì vậy, ở đâu điểm dung hợp lớn lao và khủng hoảng thái dương đó (vì đó chính là điều nó là, ngay cả khi tạo ra một cuộc khủng hoảng hành tinh) xuất hiện trong thời gian và không gian, thì ánh sáng cũng lập tức [144] xuất hiện, với cường độ đến mức chỉ những ai biết ánh sáng của linh hồn, và có thể chịu đựng ánh sáng của Thánh Đoàn, mới có thể được huấn luyện để đi vào và tạo thành một phần của ánh sáng Shamballa và bước đi trong những “đại sảnh rạng ngời nơi vận động những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế.” |
|
To carry the concept a little nearer home: only when the will of the personality and the will of the soul come together—evoked by love—does the light of the soul dominate the material light of the personality. This is a statement of importance. Only when the will of the Monad and the will of the Hierarchy of souls meet and blend in the “upper brackets” (if I may use such a modern business phrase) can the radiant light of Life dominate the blended lights of Humanity and of the Hierarchy. Faintly this group fusion and junction can be seen to be taking place. |
Để đưa khái niệm này đến gần hơn với kinh nghiệm của chúng ta: chỉ khi ý chí của phàm ngã và ý chí của linh hồn đến với nhau—được gợi lên bởi tình thương—thì ánh sáng của linh hồn mới thống trị ánh sáng vật chất của phàm ngã. Đây là một phát biểu quan trọng. Chỉ khi ý chí của chân thần và ý chí của Thánh Đoàn các linh hồn gặp nhau và hoà trộn trong “những ngoặc trên” (nếu tôi có thể dùng một cụm từ kinh doanh hiện đại như thế) thì ánh sáng rạng ngời của Sự Sống mới có thể thống trị những ánh sáng đã hoà trộn của Nhân Loại và của Thánh Đoàn. Mờ nhạt, người ta có thể thấy sự dung hợp và kết hợp nhóm này đang diễn ra. |
|
It is also the first touch of the radiance of Shamballa which is bringing the universal revelation of evil, a radiance which is now producing the world unrest and which has brought about the lining up of good and evil; this touch of radiance is the conditioning factor behind what is called post-war planning and the ideas of reconstruction and of world rebuilding which are dominating the best human thinking at this time. |
Cũng chính sự chạm đầu tiên của bức xạ Shamballa đang mang lại sự mặc khải phổ quát về điều ác, một bức xạ hiện đang tạo ra tình trạng bất an thế giới và đã dẫn đến sự phân tuyến của thiện và ác; sự chạm của bức xạ này là yếu tố điều kiện hoá đằng sau điều được gọi là việc hoạch định hậu chiến và các ý tưởng tái thiết cùng xây dựng lại thế giới đang chi phối tư tưởng tốt đẹp nhất của nhân loại vào lúc này. |
|
It should be carefully borne in mind that evil (cosmic evil or the source of planetary evil) is much closer to Shamballa than it is to Humanity. The Great Lives there move entirely free from glamour; Their vision is one of extreme simplicity; They are concerned only with the great and simple duality of spirit and matter, and not with the many forms which the fusion of these two brings into being. The domination of spirit (and its reflection, soul) by matter is what constitutes evil and this is true whether the statement is applied to the development of the individual or of the group. The “Lights which carry out the will of God” move free from the spell of evil. The Light in which They move safeguards Them, and Their Own innate and inherent radiance repels evil. But They “move alongside the evil to which all lesser forms are prone”; They are part of a great [145] observing Group which “moves forward in time and space”; its members watch the great war and conflict proceed on Earth between the Forces of Light and the Forces of Evil. They have let loose upon Earth the Forces of Light, whilst the Forces of Evil are inherent in substance itself—of which all the many forms of life are constructed. |
Cần phải ghi nhớ cẩn thận rằng điều ác (ác vũ trụ hay nguồn gốc của ác hành tinh) gần với Shamballa hơn nhiều so với gần Nhân Loại. Những Sự Sống Vĩ Đại ở đó vận động hoàn toàn tự do khỏi ảo cảm; linh thị của Các Ngài là một linh thị cực kỳ đơn giản; Các Ngài chỉ quan tâm đến nhị nguyên lớn lao và đơn giản của tinh thần và vật chất, chứ không quan tâm đến nhiều hình tướng mà sự dung hợp của hai điều này tạo ra. Sự thống trị của vật chất đối với tinh thần (và phản ánh của nó là linh hồn) chính là điều cấu thành cái ác và điều này đúng dù phát biểu ấy được áp dụng cho sự phát triển của cá nhân hay của nhóm. Những “Ánh Sáng thực hiện ý chí của Thượng đế” vận động tự do khỏi bùa mê của điều ác. Ánh Sáng mà trong đó Các Ngài vận động bảo vệ Các Ngài, và bức xạ bẩm sinh và cố hữu của chính Các Ngài đẩy lùi điều ác. Nhưng Các Ngài “vận động song hành với điều ác mà mọi hình tướng thấp hơn đều dễ mắc phải”; Các Ngài là một phần của một Nhóm quan sát vĩ đại [145] đang “tiến bước trong thời gian và không gian”; các thành viên của nhóm ấy quan sát cuộc chiến và xung đột lớn lao đang diễn ra trên Trái Đất giữa Các Mãnh Lực của Ánh Sáng và Các Mãnh Lực của Điều Ác. Các Ngài đã phóng thích lên Trái Đất Các Mãnh Lực của Ánh Sáng, trong khi Các Mãnh Lực của Điều Ác vốn cố hữu trong chính chất liệu—thứ mà từ đó mọi hình tướng sự sống được cấu tạo. |
|
At this time, the work of the Great Council at Shamballa, working until now through the Hierarchy, is with the life within the form; They have to proceed with the utmost caution as They thus work, because these Lights know that the danger of premature direct contact with humanity, and of consequent overstimulation, are great. One of the causes of the present cataclysm is the fact that humanity was deemed capable of taking and receiving a “touch from Shamballa,” without stepping it down via the Hierarchy, as has hitherto been the custom. The determination to apply this touch (which is in the nature of a great experiment) was made in 1825, when the Great Council had its usual centennial meeting. The results you know; they are working out before your eyes. The industrial movement began to take shape one hundred years ago and received a great impetus from this touch. The evil in nations—aggression, greed, intolerance and hate—was aroused as never before, and two world wars occurred, one of which is still raging (written October 1943). Paralleling this was an uprising of good, again in response to the divine “touch,” resulting in the growth of understanding, the spread of idealism, the purification of our educational systems and the inauguration of reforms in every department of human life. All has been speeded up and little such growth was seen on a worldwide scale prior to 1825. The knowledge of the Hierarchy is also spreading over the earth; the facts anent discipleship and initiation are becoming common property; humanity has consequently moved onward into a greater measure of light. Good and evil stand out in clearer focus; light and dark are in a more brilliant juxtaposition; issues of right and wrong are appearing with cleared definition, and humanity as a whole sees the great problems of righteousness [146] and love, of sin and separateness upon a worldwide scale. |
Vào lúc này, công việc của Đại Mật Nghị tại Shamballa, cho đến nay hoạt động thông qua Thánh Đoàn, là với sự sống bên trong hình tướng; Các Ngài phải tiến hành với sự thận trọng tối đa khi làm việc như vậy, bởi vì những Ánh Sáng này biết rằng nguy cơ của sự tiếp xúc trực tiếp quá sớm với nhân loại, và hậu quả là sự kích thích quá mức, là rất lớn. Một trong những nguyên nhân của đại biến động hiện nay là sự kiện rằng nhân loại đã được xem là có khả năng tiếp nhận một “sự chạm từ Shamballa,” mà không cần hạ thấp nó qua Thánh Đoàn, như từ trước đến nay vẫn là thông lệ. Quyết định áp dụng sự chạm này (vốn có bản chất của một thí nghiệm lớn) đã được đưa ra vào năm 1825, khi Đại Mật Nghị có cuộc họp thường lệ theo chu kỳ một trăm năm. Các bạn biết kết quả rồi; chúng đang diễn ra trước mắt các bạn. Phong trào công nghiệp bắt đầu thành hình một trăm năm trước và nhận được một xung lực lớn từ sự chạm này. Điều ác trong các quốc gia—sự xâm lược, lòng tham, tính bất dung và hận thù—đã bị khơi dậy như chưa từng có, và hai cuộc thế chiến đã xảy ra, một trong số đó vẫn còn đang diễn ra (viết tháng Mười năm 1943). Song song với điều này là sự trỗi dậy của điều thiện, cũng lại để đáp ứng với “sự chạm” thiêng liêng, dẫn đến sự tăng trưởng của hiểu biết, sự lan rộng của lý tưởng, sự thanh lọc các hệ thống giáo dục của chúng ta và việc khởi xướng các cải cách trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại. Mọi sự đã được thúc đẩy nhanh lên và rất ít sự tăng trưởng như vậy được thấy trên quy mô toàn cầu trước năm 1825. Tri thức về Thánh Đoàn cũng đang lan rộng khắp địa cầu; các sự kiện liên quan đến địa vị đệ tử và điểm đạo đang trở thành tài sản chung; do đó nhân loại đã tiến lên vào một mức độ ánh sáng lớn hơn. Thiện và ác nổi bật trong tiêu điểm rõ ràng hơn; ánh sáng và bóng tối ở trong sự tương phản rực rỡ hơn; các vấn đề đúng và sai đang xuất hiện với định nghĩa sáng tỏ hơn, và toàn thể nhân loại nhìn thấy những vấn đề lớn về chính trực [146] và tình thương, về tội lỗi và sự chia rẽ trên quy mô toàn cầu. |
|
The old age and the coming new age, old rhythms of thought and new approaches to truth and consequent new and better ways of life are presented with clarity to the minds of men. The guarantee of the success of the experiment started more than a century ago is the fact that (in spite of much that is undesirable) so many nations have ranged themselves upon the side of right, and only two definitely and altogether upon the side of evil. The evil is more concentrated, and therefore more powerful temporarily upon the physical plane; the good is more diffused and not so pure in its concentrated essence being coloured by many undesirable aspects; the good, however, is concentrating rapidly and will triumph. The “Lights that carry out the will of God” now wait to give another touch which will enable the reconstruction work to move forward along right lines, but They wait for the invocative cry of humanity and for the dust of battle and of conflict to die down. |
Thời đại cũ và thời đại mới sắp đến, những nhịp điệu tư tưởng cũ và những cách tiếp cận mới đối với chân lý cùng những lối sống mới và tốt đẹp hơn do đó, đang được trình bày rõ ràng trước trí tuệ con người. Sự bảo đảm cho thành công của thí nghiệm được khởi sự hơn một thế kỷ trước là sự kiện rằng (bất chấp nhiều điều không đáng mong muốn) rất nhiều quốc gia đã đứng về phía chính nghĩa, và chỉ có hai quốc gia dứt khoát và hoàn toàn đứng về phía điều ác. Điều ác tập trung hơn, và do đó tạm thời mạnh hơn trên cõi hồng trần; điều thiện phân tán hơn và không thuần khiết bằng trong bản chất tập trung của nó vì bị nhuốm nhiều phương diện không đáng mong muốn; tuy nhiên, điều thiện đang nhanh chóng tập trung và sẽ chiến thắng. Những “Ánh Sáng thực hiện ý chí của Thượng đế” hiện đang chờ để ban một sự chạm khác, điều sẽ giúp công việc tái thiết tiến lên theo những đường hướng đúng đắn, nhưng Các Ngài chờ tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và chờ bụi của chiến trận và xung đột lắng xuống. |
|
The next two rules will reveal the issues still more clearly and will outline for you when better understood, explained and amplified, the processes and methods of hierarchical work, carried on in conjunction with the Great Council of Shamballa. To this must be added the cooperation—as far as may be—of all enlightened men, working under the Lightbearers, the Masters, and under the inspiration of the Lights which carry out the will of God. |
Hai quy luật tiếp theo sẽ làm sáng tỏ các vấn đề hơn nữa và sẽ phác hoạ cho các bạn, khi được hiểu rõ hơn, giải thích và khai triển, các tiến trình và phương pháp của công việc theo Thánh Đoàn, được tiến hành phối hợp với Đại Mật Nghị của Shamballa. Vào đó phải thêm vào sự hợp tác—trong chừng mực có thể—của mọi người giác ngộ, làm việc dưới các Đấng Mang Ánh Sáng, tức các Chân sư, và dưới cảm hứng của những Ánh Sáng thực hiện ý chí của Thượng đế. |
|
In the foregoing I have endeavoured to give some faint idea of the relation existing between the Hierarchy and Shamballa. I did this in order that you might grasp some measure of the synthesis underlying the entire planetary life; in order also that this rule for initiates could be interpreted as intended, as far as is possible, to the uninitiate consciousness; and finally, in order that the entire concept of Shamballa and its immense reservoir of energy, which we call the will or the life of God, may take its rightful place in the occult presentation of truth. The will of God and the life of God are esoterically synonymous terms, and when the life aspect of an individual and his spiritual, selfless will [147] are completely synchronised, then you have—in a human being—the full expression of divinity or what has been called esoterically, “Shamballa is consummated in him.” |
Trong phần trên, tôi đã cố gắng đưa ra một vài ý niệm mờ nhạt về mối liên hệ hiện hữu giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Tôi làm điều này để các bạn có thể nắm bắt phần nào tính tổng hợp nằm dưới toàn bộ sự sống hành tinh; cũng để quy luật này dành cho các điểm đạo đồ có thể được diễn giải như dự định, trong mức có thể, cho tâm thức chưa được điểm đạo; và cuối cùng, để toàn bộ khái niệm về Shamballa và hồ chứa năng lượng mênh mông của nó, mà chúng ta gọi là ý chí hay sự sống của Thượng đế, có thể chiếm vị trí chính đáng của nó trong sự trình bày chân lý theo huyền bí học. Ý chí của Thượng đế và sự sống của Thượng đế, về mặt huyền bí học, là những thuật ngữ đồng nghĩa, và khi phương diện sự sống của một cá nhân cùng ý chí tinh thần, vô ngã của y [147] được đồng bộ hoàn toàn, thì khi ấy bạn có—trong một con người—sự biểu hiện trọn vẹn của thiên tính hay điều đã được gọi theo huyền bí học là, “Shamballa được hoàn tất trong y.” |
|
This again is, of course, only relative but the expression of this relationship may elucidate the problem somewhat, and the aspirant or disciple needs to remember that it is only through the analogies existing in the microcosm to the Macrocosm that enlightenment can come. And how, I ask you, will he understand the relation existing between the three great planetary centres (Shamballa, the Hierarchy and Humanity) when as yet he scarcely knows himself as a human being? How can he grasp these fundamental and advanced truths when he is only just beginning to learn the nature of the hierarchical quality of love and when his spiritual will (which links him to Shamballa) is as yet totally unawakened? And I mean, totally. But the dim outlines of the general picture must be grasped, and each decade in the future will see the aspirant and the disciple more capable of grasping it. |
Dĩ nhiên, điều này một lần nữa chỉ là tương đối, nhưng cách diễn đạt mối liên hệ này có thể làm sáng tỏ phần nào vấn đề, và người chí nguyện hay đệ tử cần nhớ rằng chỉ thông qua những tương đồng hiện hữu trong tiểu thiên địa với đại thiên địa mà giác ngộ mới có thể đến. Và tôi hỏi bạn, làm sao y có thể hiểu được mối liên hệ hiện hữu giữa ba trung tâm hành tinh lớn (Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại) khi y còn hầu như chưa biết chính mình như một con người? Làm sao y có thể nắm bắt những chân lý nền tảng và cao siêu này khi y chỉ mới bắt đầu học bản chất của phẩm tính bác ái theo Thánh Đoàn và khi ý chí tinh thần của y (điều nối kết y với Shamballa) vẫn còn hoàn toàn chưa thức tỉnh? Và ý tôi là, hoàn toàn. Nhưng những đường nét mờ nhạt của bức tranh tổng quát phải được nắm bắt, và mỗi thập niên trong tương lai sẽ thấy người chí nguyện và đệ tử có khả năng nắm bắt nó nhiều hơn. |
RULE EIGHT — QUY LUẬT TÁM
|
Rule VIII now comes up for consideration. The previous seven rules have been of a wide and general connotation. They have been largely postulates, emphasising group life, group planetary relationships, and the fundamental Science of Invocation and Evocation which underlies all world processes, which is the inspiring energy behind all evolutionary unfoldment, and which creates the medium or channel of related communication between the great centres in our planet, through which the life of our Logos flows and His purposes are worked out. I would remind you that the creative process was initiated by Sound, and in that Sound the Logos both invoked and evoked. He issued the call and He engineered and implemented the response and thus the “Army of the Voice” (as The Secret Doctrine calls it) came into being. |
Quy luật VIII nay được đưa ra để xem xét. Bảy quy luật trước đã có nội hàm rộng lớn và tổng quát. Phần lớn chúng là những định đề, nhấn mạnh sự sống nhóm, các mối liên hệ hành tinh nhóm, và Khoa Học nền tảng về Khẩn Cầu và Gợi Lên vốn nằm dưới mọi tiến trình thế giới, là năng lượng truyền cảm hứng đằng sau mọi sự khai mở tiến hoá, và tạo ra môi trường hay kênh giao tiếp liên hệ giữa các trung tâm lớn trên hành tinh chúng ta, qua đó sự sống của Thượng đế của chúng ta tuôn chảy và các mục đích của Ngài được thực hiện. Tôi muốn nhắc các bạn rằng tiến trình sáng tạo đã được khởi xướng bằng Âm Thanh, và trong Âm Thanh đó Thượng đế vừa khẩn cầu vừa gợi lên. Ngài phát ra tiếng gọi và Ngài điều hành cũng như thực hiện sự đáp ứng, và do đó “Đạo Quân của Âm Thanh” (như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi) đã đi vào hiện hữu. |
|
[148] |
[148] |
|
The Head (the idea), the Heart (the ideal) and the Throat (the creative agent of the resulting idol, the temporary and fleeting expression of the ideal, inspired by the idea) came into being; three great Centres emerged in time and space and—at this point in the evolutionary cycle—we call them Shamballa, the Hierarchy and Humanity. |
Đầu (ý tưởng), Tim (lý tưởng) và Cổ Họng (tác nhân sáng tạo của ngẫu tượng kết quả, biểu hiện tạm thời và thoáng qua của lý tưởng, được cảm hứng bởi ý tưởng) đã đi vào hiện hữu; ba Trung Tâm lớn xuất hiện trong thời gian và không gian và—ở điểm này trong chu kỳ tiến hoá—chúng ta gọi chúng là Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. |
|
With these fundamental factors the first seven rules have been occupied, and I have tried to help you to see their significance somewhat, from the angle of the initiate-consciousness. |
Bảy quy luật đầu đã đề cập đến những yếu tố nền tảng này, và tôi đã cố gắng giúp các bạn thấy phần nào ý nghĩa của chúng từ góc độ tâm thức điểm đạo đồ. |
|
We come now to a close consideration of this Rule VIII, where it might be said that the specific rules for the training of initiates begin. These remaining seven rules must be studied most carefully from that angle. They are not susceptible of casual and superficial analysis. I realise that only those who have taken initiation will be in a position to grasp the esoteric significance of the words I use and of much that I may say, but it is for them I write; their numbers are even today more than are suspected, and their ranks will be steadily increased in the post-war period, both through the strenuous effort of disciples in training to “make the grade,” and through the coming into incarnation of initiates of all degrees—some of whom are the children of today. |
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét kỹ lưỡng Quy luật VIII này, nơi có thể nói rằng các quy luật chuyên biệt cho việc huấn luyện các điểm đạo đồ bắt đầu. Bảy quy luật còn lại này phải được nghiên cứu hết sức cẩn thận từ góc độ đó. Chúng không thể bị phân tích một cách tuỳ tiện và hời hợt. Tôi nhận ra rằng chỉ những ai đã nhận điểm đạo mới ở vào vị thế nắm bắt được ý nghĩa huyền bí của những lời tôi dùng và của nhiều điều tôi có thể nói, nhưng chính cho họ mà tôi viết; số lượng của họ ngay cả ngày nay cũng nhiều hơn người ta ngờ tới, và hàng ngũ của họ sẽ tăng đều trong thời kỳ hậu chiến, vừa nhờ nỗ lực mãnh liệt của các đệ tử đang được huấn luyện để “đạt chuẩn,” vừa nhờ sự lâm phàm của các điểm đạo đồ ở mọi cấp độ—một số trong họ là những trẻ em ngày nay. |
|
Rule VIII. |
Quy luật VIII. |
|
For Applicants: When the disciple nears the Portal, the greater seven must awaken and bring forth response from the lesser seven upon the double circle. |
Dành cho Người Thỉnh Cầu: Khi đệ tử đến gần Cửa, bảy lớn hơn phải thức tỉnh và khơi ra sự đáp ứng từ bảy nhỏ hơn trên vòng tròn kép. |
|
For Disciples and Initiates: Let the group and within itself response to the greater seven groups which carry out the hierarchical will with love and understanding. The group contains all seven, the perfect group. The lesser seven, the greater seven and the planetary seven form one great whole, and these the group must know. When this is realised and the Law of the Supplementary Seven is understood, let the group understand the Three and then the ONE. This they can do with the united breath and the united rhythm. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm và bên trong chính nó đáp ứng với bảy nhóm lớn hơn thực hiện ý chí theo Thánh Đoàn bằng bác ái và thấu hiểu. Nhóm chứa đựng cả bảy, nhóm hoàn hảo. Bảy nhỏ hơn, bảy lớn hơn và bảy hành tinh tạo thành một toàn thể vĩ đại, và nhóm phải biết điều này. Khi điều này được chứng nghiệm và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Bộ Ba rồi đến Đấng Duy Nhất. Điều này họ có thể làm bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu hợp nhất. |
|
On the surface, this rules appears to be one of surprising [149] complexity and immense difficulty. It deals with so many groups and septenates and this seems to complicate understanding considerably. Yet every person in the world is dealing with the multiplicity of units and combinations of forces which make up his entire daily life and which create his environment and his life circumstances. Life would be simple indeed if the average man had only seven factors to consider, with which to conform, to work with and to use. Advance into the world of spiritual values and into the realm of triadal existence (in which the initiate moves) is definitely an advance into simplicity. It is an advance from the complications of the multiplication table and its resultant arithmetic into the simplicity of the symbolic formulas as used in the higher mathematics; it is a moving out of the world of kaleidoscopic figures in constant movement, into the world of meaning; it is a process of getting behind the world of effects into the world of causes, realising that one simple cause or directed movement of energy can set in motion a myriad of effects. The way of the initiate is not a complicated one, once he has grasped the fact that he must release himself from the world of seeming and of illusion and stand free in the world of light, where all stand clearly revealed. Then he can begin to face the lessons and take the training which will enable him to handle energy—having released himself from the control of forces—and begin to direct energy in conformity with the great Plan. The complexity lies in the thinking of the neophyte. The initiate knows it not. |
Trên bề mặt, quy luật này dường như là một quy luật có [149] tính phức tạp đáng ngạc nhiên và vô cùng khó khăn. Nó đề cập đến quá nhiều nhóm và bộ bảy, và điều này dường như làm cho sự thấu hiểu phức tạp thêm đáng kể. Tuy nhiên, mỗi người trên thế giới đều đang xử lý tính đa tạp của các đơn vị và các tổ hợp mãnh lực tạo nên toàn bộ đời sống hằng ngày của mình và tạo ra môi trường cùng hoàn cảnh sống của mình. Quả thật đời sống sẽ đơn giản nếu con người trung bình chỉ có bảy yếu tố để xem xét, để thích ứng, để làm việc cùng và để sử dụng. Tiến vào thế giới của các giá trị tinh thần và vào lĩnh vực hiện hữu tam nguyên tinh thần (trong đó điểm đạo đồ vận động) rõ ràng là một bước tiến vào sự đơn giản. Đó là một bước tiến từ những phức tạp của bảng cửu chương và phép số học phát sinh từ đó đến sự đơn giản của các công thức biểu tượng như được dùng trong toán học cao cấp; đó là một sự chuyển ra khỏi thế giới của những hình ảnh vạn hoa luôn chuyển động, để đi vào thế giới của ý nghĩa; đó là một tiến trình đi ra phía sau thế giới của các hiệu quả để vào thế giới của các nguyên nhân, chứng nghiệm rằng một nguyên nhân đơn giản hay một chuyển động năng lượng có định hướng có thể làm khởi động vô số hiệu quả. Con đường của điểm đạo đồ không phải là một con đường phức tạp, một khi y đã nắm được sự kiện rằng y phải giải thoát mình khỏi thế giới của vẻ ngoài và ảo tưởng và đứng tự do trong thế giới ánh sáng, nơi mọi sự đều được phơi bày rõ ràng. Khi ấy y có thể bắt đầu đối diện với các bài học và nhận sự huấn luyện sẽ giúp y xử lý năng lượng—sau khi đã giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của các mãnh lực—và bắt đầu định hướng năng lượng phù hợp với Thiên Cơ vĩ đại. Sự phức tạp nằm trong tư tưởng của người sơ cơ. Điểm đạo đồ không biết điều đó. |
|
First let us clearly define the various septenates referred to in this rule. I will first tabulate them in the order of their appearance and define them, and then I will enlarge upon them in order to point out where the training enters in, where the rule applies, and how the embodied rule is in the nature of a Law which the initiate may not evade. |
Trước hết, chúng ta hãy xác định rõ các bộ bảy khác nhau được nhắc đến trong quy luật này. Trước tiên tôi sẽ lập bảng chúng theo thứ tự xuất hiện và định nghĩa chúng, rồi sau đó tôi sẽ khai triển về chúng để chỉ ra nơi nào sự huấn luyện đi vào, nơi nào quy luật được áp dụng, và quy luật được hiện thân ấy có bản chất của một Định luật mà điểm đạo đồ không thể né tránh. |
|
I would ask you here to refer to what I earlier said anent rules, laws and orders when starting with you this particular study. [150] |
Tôi muốn yêu cầu các bạn ở đây hãy tham khảo điều tôi đã nói trước đó liên quan đến các quy luật, định luật và mệnh lệnh khi bắt đầu cùng các bạn nghiên cứu đặc biệt này. [150] |
|
1. The seven greater groups… The seven groups or Ashrams within the Hierarchy. |
1. Bảy nhóm lớn hơn… Bảy nhóm hay bảy ashram trong Thánh Đoàn. |
|
THE HIERARCHY |
THÁNH ĐOÀN |
|
These carry out the hierarchical will, which is love. |
Các nhóm này thực thi ý chí của Thánh đoàn, tức là bác ái. |
|
They work through love and understanding. |
Các nhóm này hoạt động qua bác ái và sự thấu hiểu. |
|
Each is presided over by a Chohan and a group is called an Ashram. |
Mỗi nhóm do một Chohan chủ trì và một nhóm được gọi là một Ashram. |
|
These major Ashrams have many affiliated Ashrams, presided over by a Master on the same ray as the Chohan, and are capable at any moment of being absorbed into the primary Ashram. |
Các ashram chính yếu này có nhiều ashram trực thuộc, do một Chân sư cùng cung với Chohan chủ trì, và vào bất cứ lúc nào cũng có thể được hấp thu vào ashram chính. |
|
The perfect or complete group is the Hierarchy itself, containing all the seven major Ashrams and their affiliates. |
Nhóm hoàn hảo hay trọn vẹn là chính Thánh đoàn, bao gồm cả bảy ashram chính yếu và các ashram trực thuộc của chúng. |
|
2. The Planetary seven groups… the seven rays, the central septenate of energy. |
2. Bảy nhóm hành tinh… bảy cung, bộ bảy năng lượng trung tâm. |
|
SHAMBALLA |
SHAMBALLA |
|
These embody the will of Shamballa, which is divine purpose. |
Các nhóm này thể hiện ý chí của Shamballa, tức là Thiên Ý. |
|
They work as life energy, as quality, and produce appearance. |
Các nhóm này hoạt động như năng lượng sự sống, như phẩm tính, và tạo ra sắc tướng. |
|
Each is presided over by one of the seven Spirits before the Throne; by one of the seven Ray Lords. |
Mỗi nhóm do một trong Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai chủ trì; do một trong bảy Đấng Chúa Tể Cung chủ trì. |
|
Each of these rays has its seven subrays which relate it to all the other rays. |
Mỗi cung này có bảy cung phụ của riêng nó, liên hệ nó với tất cả các cung khác. |
|
These seven rays can, under divine purpose, be re-absorbed into the Three and then into the One. |
Bảy cung này, dưới Thiên Ý, có thể được tái hấp thu vào Bộ Ba rồi sau đó vào Đấng Duy Nhất. |
|
3. The lesser seven… the seven types of men and also the seven root races. |
3. Bảy nhóm nhỏ hơn… bảy loại người và cũng là bảy giống dân gốc. |
|
HUMANITY |
NHÂN LOẠI |
|
These embody the intelligence of the Logos as it expresses itself through creativity. |
Các nhóm này thể hiện trí tuệ của Logos khi nó biểu lộ qua tính sáng tạo. |
|
They are learning to work intelligently with matter in order to develop love in response to divine purpose—which is will or life. |
Các nhóm này đang học cách hoạt động một cách thông minh với vật chất để phát triển bác ái nhằm đáp ứng Thiên Ý—vốn là ý chí hay sự sống. |
|
Each of the seven types, responsive to one or [151] other of the seven rays, is conditioned or ruled by its prototype, the soul on its own plane. |
Mỗi một trong bảy loại, đáp ứng với cung này hay cung kia trong bảy cung, đều được tác động hay được cai quản bởi nguyên mẫu của nó, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. [151] |
|
These major types or races of men have many subraces and subsidiary types, developed during the evolutionary process; all will eventually demonstrate the seven major types. |
Các loại chính yếu hay các nhân loại người này có nhiều giống dân phụ và các loại phụ thuộc, được phát triển trong tiến trình tiến hoá; cuối cùng tất cả sẽ biểu lộ bảy loại chính yếu. |
|
The perfect type is the Christ, the Heavenly Man, Who expresses all the major types and Who is the “pattern of things as they are.” |
Loại hoàn hảo là Đức Christ, Đấng Thiên Nhân, Đấng biểu lộ mọi loại chính yếu và là “mô hình của vạn vật như chúng là.” |
|
4. The supplementary seven… the seven centres of energy in the individual man. |
4. Bảy nhóm bổ sung… bảy trung tâm năng lượng trong con người cá nhân. |
|
HUMANITY |
NHÂN LOẠI |
|
These together embody the combined forces of the planetary life as registered by the perfected individual. They will eventually enable the man to achieve perfection. |
Các trung tâm này cùng nhau thể hiện các mãnh lực kết hợp của sự sống hành tinh như được cá nhân hoàn thiện ghi nhận. Cuối cùng chúng sẽ giúp con người đạt đến sự hoàn hảo. |
|
They enable the individual to respond to material forces, to soul energy and spiritual life, and they constitute a complete response apparatus to the planetary life, purpose, intent and form. |
Chúng giúp cá nhân đáp ứng với các mãnh lực vật chất, với năng lượng linh hồn và sự sống tinh thần, và chúng cấu thành một bộ máy đáp ứng hoàn chỉnh đối với sự sống, mục đích, ý định và hình tướng hành tinh. |
|
Each of the seven centres is responsive to one or other of the seven rays and their qualities under the conditioning energy of the soul ray and the forces, emanating from the environment. |
Mỗi một trong bảy trung tâm đều đáp ứng với cung này hay cung kia trong bảy cung và các phẩm tính của chúng dưới năng lượng tác động của cung linh hồn và các mãnh lực phát ra từ môi trường. |
|
These centres develop progressively and under the impact of circumstances and the Law of the Supplementary Seven, but all will eventually express in some measure the seven types of ray energy. |
Các trung tâm này phát triển dần dần dưới tác động của hoàn cảnh và Định luật của Bảy Bổ Sung, nhưng cuối cùng tất cả đều sẽ biểu lộ ở một mức độ nào đó bảy loại năng lượng cung. |
|
The Law of the Supplementary Seven can be worded as follows: |
Định luật của Bảy Bổ Sung có thể được diễn đạt như sau: |
|
“The Law demands the entrance of that which can effect a change. |
“Định luật đòi hỏi sự đi vào của cái có thể tạo ra một sự thay đổi. |
|
The Law demands that right direction should then guide the entering forces. |
Định luật đòi hỏi rằng sự định hướng đúng đắn khi ấy phải dẫn dắt các mãnh lực đi vào. |
|
The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light and lay the emphasis upon life. [152] |
Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo ra như thế phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng và đặt trọng tâm vào sự sống. [152] |
|
The Law demands that this is brought about by the One, working through the Three, energising the Seven and creating the straight line from there to here, and ending in a point which ignores the Three.” |
Định luật đòi hỏi rằng điều này được thực hiện bởi Đấng Duy Nhất, hoạt động qua Bộ Ba, tiếp năng lượng cho Bộ Bảy và tạo ra đường thẳng từ đó đến đây, và kết thúc trong một điểm không màng đến Bộ Ba.” |
|
When, the rule goes on, this is understood and applied, then four things happen: |
Khi, như quy luật tiếp tục nói, điều này được hiểu và được áp dụng, thì bốn điều xảy ra: |
|
1. The group must understand the nature of the Three. |
1. Nhóm phải hiểu bản chất của Bộ Ba. |
|
2. The nature of the One must be grasped and comprehended. |
2. Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và thấu hiểu. |
|
3. The group must work through the medium of the united breath. |
3. Nhóm phải hoạt động qua trung gian của hơi thở hợp nhất. |
|
4. The group must attain a unified rhythm. |
4. Nhóm phải đạt được một nhịp điệu hợp nhất. |
|
Here you have a relatively simple analysis (on the face of it, though not in reality) of a complex rule which the initiate has to apply to himself once he has grasped the significance of the seven basic postulates. The first seven rules provide the framework within which his work has to be done. The last seven rules concern various significant matters which, step by step, are revealed to the initiate as his consciousness is expanded. They relate to: |
Ở đây bạn có một phân tích tương đối đơn giản (trên bề mặt là thế, dù thực ra không phải vậy) về một quy luật phức tạp mà điểm đạo đồ phải áp dụng cho chính mình một khi y đã nắm được thâm nghĩa của bảy định đề căn bản. Bảy quy luật đầu cung cấp khuôn khổ trong đó công việc của y phải được thực hiện. Bảy quy luật cuối liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng khác nhau, từng bước một được mặc khải cho điểm đạo đồ khi tâm thức của y được mở rộng. Chúng liên hệ đến: |
|
1. The work which the initiate must accomplish within himself. |
1. Công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn thành trong chính mình. |
|
2. The group relations of the initiate and his absolute need to work with his group and as an integrated and conscious part of it. |
2. Các liên hệ nhóm của điểm đạo đồ và nhu cầu tuyệt đối của y phải hoạt động với nhóm của mình và như một phần tích hợp và hữu thức của nhóm ấy. |
|
3. The place which invocation and evocation must take as instruments in his pledged intelligent service. |
3. Vị trí mà Khẩn Cầu và Gợi Lên phải giữ như những công cụ trong sự phụng sự trí tuệ đã được cam kết của y. |
|
4. The blending of the four lessons which the applicant has to master and the four lessons which the initiate has to complete in order that a complete fusion of personality and Monad can be brought about. |
4. Sự hòa trộn của bốn bài học mà người thỉnh cầu phải làm chủ và bốn bài học mà điểm đạo đồ phải hoàn tất để có thể đem lại một sự dung hợp hoàn toàn giữa phàm ngã và chân thần. |
|
5. The significance of resurrection and ascension, particularly the latter, because little has been given out to date anent ascension. |
5. Thâm nghĩa của sự phục sinh và thăng thiên, đặc biệt là điều sau, bởi vì cho đến nay rất ít điều đã được công bố liên quan đến sự thăng thiên. |
|
There are certain major frameworks (if I may continue to use this phrase) within which the initiate has to learn [153] consciously to work, recognising them for what they are; once he has learnt to master that which lies within some particular framework, he finds that it is only a part, a small fraction, of a still greater whole, within which he must also learn to function and play his part. |
Có những khuôn khổ lớn nhất định (nếu tôi có thể tiếp tục dùng cụm từ này) mà trong đó điểm đạo đồ phải học cách [153] hoạt động một cách hữu thức, nhận biết chúng đúng như bản chất của chúng; một khi y đã học cách làm chủ điều nằm trong một khuôn khổ đặc biệt nào đó, y sẽ thấy rằng đó chỉ là một phần, một phần rất nhỏ, của một toàn thể còn lớn hơn nữa, trong đó y cũng phải học cách hoạt động và đóng vai trò của mình. |
|
First he, as a disciple, has to learn to work within the framework of his blending soul-personality. This task at first takes the form of character building and disciplining (whilst upon the Probationary Path), of a struggle to see, of an endeavour to make a continuity of his soul contact. Finally, this leads to the beginning of the stage of soul and personality merging and at this point he steps upon the Path of Discipleship, technically understood. From then on his problem is to know himself as he truly is, to direct energy to the needed centres which are awaiting scientific attention, to superintend consciously the fitting of himself, as a personality, to act as the instrument of the soul and later of the Hierarchy, to learn to contact energy, to handle and direct it. This entails a comprehension of the mechanism within himself—the seven centres within the vital body—through which the contacted energy must flow under soul direction, and it also means the perfecting of the response apparatus and the newly constructed spiritual mechanism which exoterically enables him to contact the outside world, and esoterically enables him to contact the world of souls. It implies a steady process of interior perfecting until nothing further remains to be done within that individual framework. The bulk of this work has been covered by the time the fourth initiation has been taken, and has been completely covered when the fifth initiation is undergone. |
Trước hết, y, với tư cách là một đệ tử, phải học cách hoạt động trong khuôn khổ của linh hồn-phàm ngã đang dung hợp của mình. Lúc đầu nhiệm vụ này mang hình thức lập hạnh và rèn luyện kỷ luật (trong khi còn ở trên Con Đường Dự Bị), của một cuộc đấu tranh để thấy, của một nỗ lực nhằm tạo ra sự liên tục trong tiếp xúc linh hồn của y. Cuối cùng, điều này dẫn đến sự khởi đầu của giai đoạn linh hồn và phàm ngã hòa nhập, và tại điểm này y bước lên Con Đường Đệ Tử theo nghĩa kỹ thuật. Từ đó trở đi, vấn đề của y là biết chính mình như y thực sự là, hướng năng lượng đến các trung tâm cần thiết đang chờ được chú ý một cách khoa học, hữu thức giám sát việc tự thích nghi của mình, với tư cách một phàm ngã, để hoạt động như công cụ của linh hồn và về sau của Thánh đoàn, học cách tiếp xúc năng lượng, xử lý và định hướng nó. Điều này đòi hỏi sự hiểu biết về bộ máy bên trong chính y—bảy trung tâm trong thể sinh lực—qua đó năng lượng được tiếp xúc phải tuôn chảy dưới sự chỉ đạo của linh hồn, và điều đó cũng có nghĩa là hoàn thiện bộ máy đáp ứng và cơ cấu tinh thần mới được kiến tạo, vốn về mặt ngoại môn giúp y tiếp xúc thế giới bên ngoài, và về mặt nội môn giúp y tiếp xúc thế giới các linh hồn. Điều đó hàm ý một tiến trình hoàn thiện nội tại bền bỉ cho đến khi không còn gì phải làm thêm trong khuôn khổ cá nhân ấy. Phần lớn công việc này đã được hoàn tất vào lúc lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận, và hoàn toàn hoàn tất khi lần điểm đạo thứ năm được trải qua. |
|
This all takes much time, but when a certain measure of success has been achieved, when the initiate’s understanding is somewhat enlightened and his energy-use and his power of direction are becoming intelligently applied, he can then begin to work within the framework of the greater seven groups, that is, within the Hierarchy. This he does first upon the periphery of the hierarchical aura and later as a conscious, accepted and pledged worker in some [154] Ashram—the Ashram being dependent upon his ray type. He then is in a position to discover the close interlocking that exists between the supplementary seven (his own seven centres) and the seven great groups within the Hierarchy; he comes to realise that only when his centres are somewhat awakened and attuned is it possible for him to work within the larger framework of the Hierarchy, and this because the quality of the greater groups and the life expression of the seven planetary groups, the seven rays, are being slowly developed by him under the influence of hierarchical supervision through the medium of his own seven centres—the supplementary seven. |
Tất cả điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian, nhưng khi đã đạt được một mức độ thành công nào đó, khi sự thấu hiểu của điểm đạo đồ đã phần nào được soi sáng và việc sử dụng năng lượng cùng quyền năng định hướng của y đang được áp dụng một cách thông minh, thì khi ấy y có thể bắt đầu hoạt động trong khuôn khổ của bảy nhóm lớn hơn, tức là trong Thánh đoàn. Trước hết y làm điều này ở chu vi của hào quang Thánh đoàn và về sau như một người hoạt động hữu thức, được chấp nhận và đã cam kết trong một [154] ashram nào đó—ashram ấy tùy thuộc vào loại cung của y. Khi ấy y ở vào vị thế có thể khám phá sự đan kết chặt chẽ hiện hữu giữa bảy bổ sung (bảy trung tâm của chính y) và bảy nhóm lớn trong Thánh đoàn; y đi đến chỗ nhận ra rằng chỉ khi các trung tâm của y phần nào được thức tỉnh và điều hòa thì y mới có thể hoạt động trong khuôn khổ lớn hơn của Thánh đoàn, và điều này là vì phẩm tính của các nhóm lớn hơn và biểu hiện sự sống của bảy nhóm hành tinh, tức bảy cung, đang được y từ từ phát triển dưới ảnh hưởng của sự giám sát của Thánh đoàn qua trung gian của chính bảy trung tâm của y—bảy bổ sung. |
|
Thus, from a new angle which is practical and not simply theoretical, it begins to dawn on him that he is an inalienable part of a group whole and that this incontrovertible fact involves responsibilities and duties. He discovers that his major responsibility—spiritually speaking—is to permit no hindrance, on the part of the supplementary seven, to the free flow of love from the greater seven, and later the free flow of life (inspired by purpose) from the planetary seven. He knows now that all form a great interlocking directorate through which the will of God is working out. He now knows himself to be a minute part of that great interlocking Whole, a responsible conscious atom within its periphery. Then as he goes on and learns to submit to the Law of the Supplementary Seven, he finds that from the life angle and through his own conscious direction, gradually developed, all the potencies of divinity are his to use, once he can be trusted, as the advanced initiate can ever be trusted. He is then set free for complete cooperation with the purpose lying behind the Plan. He has passed out of the human kingdom into the Hierarchy; later he will pass out of the hierarchical group into Shamballa, or out of our planetary life altogether, and either here or there will begin a greater and more extended service. |
Như vậy, từ một góc độ mới mang tính thực tiễn chứ không chỉ lý thuyết, dần dần y nhận ra rằng mình là một phần bất khả phân ly của một toàn thể nhóm và rằng sự kiện không thể phủ nhận này bao hàm những trách nhiệm và bổn phận. Y khám phá ra rằng trách nhiệm chính yếu của mình—xét về mặt tinh thần—là không cho phép bảy bổ sung gây ra bất kỳ cản trở nào đối với dòng chảy tự do của bác ái từ bảy nhóm lớn hơn, và về sau là dòng chảy tự do của sự sống (được cảm hứng bởi mục đích) từ bảy nhóm hành tinh. Giờ đây y biết rằng tất cả tạo thành một ban điều hành đan kết vĩ đại qua đó Ý Chí của Thượng Đế đang được thực hiện. Giờ đây y biết mình là một phần cực nhỏ của Toàn Thể đan kết vĩ đại ấy, một nguyên tử hữu thức có trách nhiệm trong chu vi của nó. Rồi khi tiếp tục tiến lên và học cách phục tùng Định luật của Bảy Bổ Sung, y thấy rằng từ góc độ sự sống và qua sự định hướng hữu thức của chính mình, được phát triển dần dần, mọi tiềm năng của thiên tính đều thuộc quyền sử dụng của y, một khi y có thể được tin cậy, như điểm đạo đồ cao cấp luôn có thể được tin cậy. Khi ấy y được giải phóng để hoàn toàn hợp tác với mục đích nằm sau Thiên Cơ. Y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để đi vào Thánh đoàn; về sau y sẽ vượt ra khỏi nhóm Thánh đoàn để vào Shamballa, hoặc vượt hẳn ra khỏi sự sống hành tinh của chúng ta, và hoặc ở đây hoặc ở đó sẽ bắt đầu một sự phụng sự lớn lao và bao quát hơn. |
|
Coming down to the immediate practical issues, the initiate is confronted with the problem of work within the individual framework, for I am not here dealing with the [155] requirements for the initiations above or beyond the third. Here the initiate has reached the point where he grasps the significant fact that the way into the innermost Centre is most securely guarded; no one can pass onward and take those more advanced steps which admit into the higher worlds of being and of unparalleled potency until he has demonstrated within the framework of his own life a definite control of energy (and this the black adept also possesses), purity of motive (which the black adept can likewise have, if by purity of motive you mean single-hearted and one-pointed intent), deep love of humanity (which the black adept never has), selflessness, willingness to follow the light wherever it may lead, ability to begin work within the larger framework the moment such an attempt becomes possible, clear vision and spiritual insight, a developed intuition, and an undeviating intention and strong faith in the future. When these qualities begin to show themselves, it then becomes possible to admit the initiate to further advancement upon the Way. |
Trở lại với những vấn đề thực tiễn trước mắt, điểm đạo đồ phải đối diện với vấn đề công việc trong khuôn khổ cá nhân, vì ở đây tôi không bàn đến các [155] điều kiện cho các lần điểm đạo cao hơn hay vượt quá lần thứ ba. Ở đây điểm đạo đồ đã đạt đến điểm mà y nắm được sự kiện quan trọng rằng con đường đi vào Trung Tâm nội tại nhất được canh giữ hết sức nghiêm ngặt; không ai có thể tiến xa hơn và thực hiện những bước cao cấp hơn cho phép đi vào các thế giới cao hơn của bản thể và của quyền năng vô song cho đến khi y đã chứng minh trong khuôn khổ của chính đời sống mình một sự kiểm soát năng lượng rõ rệt (và nhà hắc thuật cũng sở hữu điều này), sự thanh khiết của động cơ (mà nhà hắc thuật cũng có thể có, nếu bởi sự thanh khiết của động cơ bạn muốn nói đến ý hướng đơn thành và nhất tâm), tình yêu sâu sắc đối với nhân loại (điều mà nhà hắc thuật không bao giờ có), tính vô ngã, sự sẵn lòng đi theo ánh sáng bất cứ nơi nào nó có thể dẫn đến, khả năng bắt đầu hoạt động trong khuôn khổ lớn hơn ngay khi nỗ lực ấy trở nên khả thi, tầm nhìn sáng rõ và linh thị tinh thần, một trực giác đã phát triển, và một ý hướng không chệch hướng cùng niềm tin mạnh mẽ vào tương lai. Khi các phẩm tính này bắt đầu biểu lộ, khi ấy mới có thể cho phép điểm đạo đồ tiến xa hơn nữa trên Đạo Lộ. |
|
It is believed to be safe for him now to move on a few more steps into greater light, and then—having reached his next point of testing—he must there again demonstrate the rightness of his work within the individual framework and his ability to work within the greater framework in group formation. He must appreciate the fact that as he passes upon the upward way he may not safely so do without the safeguards which protect the Way from him until he knows more; he must learn also that the group protects him and that only with the group can he proceed with security; he begins to realise that the group is not only a protection but also his chosen and destined field of service. He begins to learn with his group the meaning of the “united breath” referred to in the rule, and also to work with the group in “unified rhythm.” |
Giờ đây người ta tin rằng y có thể an toàn tiến thêm vài bước vào ánh sáng lớn hơn, và rồi—sau khi đã đạt đến điểm thử thách kế tiếp—y lại phải chứng minh tại đó tính đúng đắn của công việc của mình trong khuôn khổ cá nhân và khả năng hoạt động trong khuôn khổ lớn hơn theo đội hình nhóm. Y phải nhận thức sự kiện rằng khi y đi trên con đường đi lên, y không thể an toàn làm như vậy nếu không có những sự bảo vệ che chở Đạo Lộ khỏi y cho đến khi y biết nhiều hơn; y cũng phải học rằng nhóm bảo vệ y và chỉ cùng với nhóm y mới có thể tiến bước một cách an toàn; y bắt đầu nhận ra rằng nhóm không chỉ là một sự bảo vệ mà còn là lĩnh vực phụng sự được chọn lựa và định sẵn của y. Y bắt đầu học cùng với nhóm của mình ý nghĩa của “hơi thở hợp nhất” được nói đến trong quy luật, và cũng hoạt động với nhóm trong “nhịp điệu hợp nhất.” |
|
Thus he goes from strength to strength. All the time the Hierarchy is aiding in his development and at the same time protecting the Way from him until such time as glamour cannot reach him. This individual security of his [156] is only reached between the time of taking the second initiation and the third. Prior to that, he is still regarded as a potential hazard and as unstable. After that, he may suffer from illusion, but there is then no fear of his permanently turning back and reaching the left-hand path and so perhaps, in rare cases, finding his way into the Black Lodge. The major liability of the average initiate is sloth or lack of speed. Ponder on that. |
Như vậy y đi từ sức mạnh này đến sức mạnh khác. Suốt thời gian ấy Thánh đoàn đang trợ giúp sự phát triển của y và đồng thời bảo vệ Đạo Lộ khỏi y cho đến khi ảo cảm không còn có thể chạm tới y. Sự an toàn cá nhân này của y [156] ichỉ đạt được trong khoảng thời gian giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba. Trước đó, y vẫn còn được xem là một mối nguy tiềm tàng và là bất ổn. Sau đó, y có thể chịu ảo tưởng, nhưng khi ấy không còn nỗi sợ rằng y sẽ vĩnh viễn quay lui và đi đến tả đạo, và như thế có lẽ, trong những trường hợp hiếm hoi, tìm đường vào Hắc đoàn. Trách nhiệm lớn nhất của điểm đạo đồ trung bình là sự lười nhác hay thiếu tốc độ. Hãy suy ngẫm về điều đó. |
|
I would have you grasp clearly the highly condensed presentation I have given you. Some of it you know already but it is the synthetic presentation which I would have you appreciate and appropriate. We can then take up the work to be done within the individual framework by the initiate; I will endeavour to help you to understand somewhat more clearly what the initiate-consciousness would read into the Law of the Supplementary Seven. |
Tôi muốn bạn nắm thật rõ phần trình bày cực kỳ cô đọng mà tôi đã đưa ra cho bạn. Một phần trong đó bạn đã biết rồi, nhưng chính sự trình bày tổng hợp này là điều tôi muốn bạn trân trọng và tiếp nhận. Khi ấy chúng ta có thể bắt đầu công việc phải được thực hiện trong khuôn khổ cá nhân bởi điểm đạo đồ; tôi sẽ cố gắng giúp bạn hiểu rõ hơn đôi chút điều mà tâm thức điểm đạo đồ sẽ đọc ra trong Định luật của Bảy Bổ Sung. |
|
Beginning with this eighth rule which we are now studying, we enter upon the consideration of certain major unfoldments, major spiritual happenings and a series of major awakenings in consciousness which are in the nature of events. These involve likewise certain major recognitions and appreciations which will affect the initiate increasingly and bring about his eventual attainment. These are the factors which condition the date of his achievement and not the character undertakings and the soul contacts which are so necessary upon the Path of Probation and upon the Path of Discipleship. |
Bắt đầu với quy luật thứ tám này mà hiện nay chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta đi vào việc xem xét một số khai mở lớn lao, những biến cố tinh thần lớn lao và một chuỗi những thức tỉnh lớn lao trong tâm thức vốn có bản chất của các sự kiện. Chúng cũng bao hàm một số nhận thức và trân trọng lớn lao nhất định, những điều sẽ ngày càng tác động đến điểm đạo đồ và đem lại thành tựu cuối cùng của y. Đây là những yếu tố tác động đến thời điểm thành tựu của y chứ không phải những nỗ lực về tính cách và những tiếp xúc linh hồn vốn rất cần thiết trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Đệ Tử. |
|
We are principally concerned at this point with the interpretation of the Law of the Supplementary Seven. It must be remembered that the Laws of Nature are imposed upon the mass of men, and cannot be avoided. If these laws are broken, infringed or evaded, they carry their own penalty within themselves, and this also cannot be avoided. These great protective laws are intended to guard the personalities through which the soul incarnates and eventually to cement and further all the great and possible relationships. The man passes from the stage of antagonism (as an individual) to the control of these natural though divine [157] laws, to a recognition of their inevitability and of their wisdom. They automatically then control him. |
Tại điểm này, chúng ta chủ yếu quan tâm đến việc diễn giải Định luật của Bảy Bổ Sung. Cần nhớ rằng các Định luật của Tự Nhiên được áp đặt lên đại đa số nhân loại, và không thể tránh khỏi. Nếu các định luật này bị phá vỡ, vi phạm hay né tránh, chúng mang sẵn hình phạt của chính chúng trong bản thân chúng, và điều này cũng không thể tránh khỏi. Những định luật bảo vệ lớn lao này nhằm che chở các phàm ngã qua đó linh hồn nhập thể và cuối cùng nhằm gắn kết và thúc đẩy mọi mối liên hệ lớn lao và khả hữu. Con người đi từ giai đoạn đối kháng (với tư cách một cá nhân) đến sự bị kiểm soát bởi các định luật tự nhiên tuy thiêng liêng này, đến sự nhận biết tính tất yếu và minh triết của chúng. Khi ấy chúng tự động kiểm soát y. |
|
When this control by the Laws of Nature has become complete, the man becomes an aspirant and begins to come under the Laws of the Soul, which are laws concerned primarily with the establishing of the great Fellowship of the Universe. There has been much confusion among esotericists upon these points. They confuse the discipline to which the personality has to submit when coming under soul influence, with the Laws of the Soul which have naught to do with the petty little affairs of the personality—unimportant and unnoticed by the soul on its own plane—but with the growing recognition of right group relations; these are based upon a growing understanding of the hierarchical mode of work and of inter-hierarchical relationships. The Laws of Nature, therefore, concern the activities of the soul in form and are mandatory and accepted by the form nature. The Laws of the Soul concern the life of the soul upon its own plane, and the relation which the blending soul and personality learn to establish with other souls and with the Hierarchy. These are consciously and voluntarily obeyed, and are not just accepted as mandatory and as forced upon the man by force of circumstances, experience and evolution. They tend to bring about increasing relation between the Hierarchy of Souls and Humanity as a whole, between the great planetary centre which is the custodian of the principle of love and the planetary centre, humanity, which nurtures and distributes the energy of mind. |
Khi sự kiểm soát này của các Định luật Tự Nhiên đã trở nên hoàn toàn, con người trở thành một người chí nguyện và bắt đầu chịu sự chi phối của Các Định luật của Linh hồn, là những định luật chủ yếu liên quan đến việc thiết lập Đại Huynh Đệ của Vũ Trụ. Đã có nhiều nhầm lẫn giữa các nhà bí truyền học về những điểm này. Họ nhầm lẫn kỷ luật mà phàm ngã phải phục tùng khi chịu ảnh hưởng của linh hồn với các Định luật của Linh hồn, vốn không liên quan gì đến những chuyện vụn vặt nhỏ bé của phàm ngã—không quan trọng và không được linh hồn trên cõi riêng của nó lưu ý—mà liên quan đến sự nhận biết ngày càng tăng về các liên hệ nhóm đúng đắn; những liên hệ này dựa trên sự hiểu biết ngày càng tăng về phương thức hoạt động của Thánh đoàn và về các mối liên hệ liên-thánh-đoàn. Vì vậy, các Định luật của Tự Nhiên liên quan đến các hoạt động của linh hồn trong hình tướng và có tính bắt buộc và được bản chất hình tướng chấp nhận. Các Định luật của Linh hồn liên quan đến đời sống của linh hồn trên cõi riêng của nó, và mối liên hệ mà linh hồn và phàm ngã đang dung hợp học cách thiết lập với các linh hồn khác và với Thánh đoàn. Chúng được tuân phục một cách hữu thức và tự nguyện, chứ không chỉ được chấp nhận như bắt buộc và bị áp đặt lên con người bởi sức mạnh của hoàn cảnh, kinh nghiệm và tiến hoá. Chúng có xu hướng đem lại mối liên hệ ngày càng tăng giữa Thánh đoàn của các linh hồn và toàn thể Nhân loại, giữa đại trung tâm hành tinh là nơi gìn giữ nguyên khí bác ái và trung tâm hành tinh là nhân loại, nơi nuôi dưỡng và phân phối năng lượng trí tuệ. |
|
The Law of the Supplementary Seven is the great synthetic Law of Life or of Spirit and is the law with which the initiate works; it is this law he wields. From acceptance of the laws of nature and obedience to the laws of the soul, he passes into the positive phase of understanding and wielding the Law of Life. Because this is a governing law for all initiates, and because we know that the nature of life-energy or of spirit cannot be grasped until after the third initiation, it is exceedingly difficult for me to write in explanation of this law. You have not yet the initiate consciousness. [158] I have therefore had to express this law in terms of form, whereas the initiate understands it from its formless angle. |
Định luật của Bảy Bổ Sung là Định luật của Sự sống hay của Tinh thần tổng hợp vĩ đại và là định luật mà điểm đạo đồ hoạt động với; chính định luật này y vận dụng. Từ sự chấp nhận các định luật của tự nhiên và sự tuân phục các định luật của linh hồn, y bước vào giai đoạn tích cực của việc thấu hiểu và vận dụng Định luật của Sự sống. Bởi vì đây là một định luật cai quản mọi điểm đạo đồ, và bởi vì chúng ta biết rằng bản chất của năng lượng sự sống hay của tinh thần không thể được nắm bắt cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, nên đối với tôi việc viết để giải thích định luật này là vô cùng khó khăn. Bạn chưa có tâm thức điểm đạo đồ. [158] Vì vậy tôi đã phải diễn đạt định luật này bằng các thuật ngữ của hình tướng, trong khi điểm đạo đồ hiểu nó từ góc độ vô tướng của nó. |
|
This law is concerned with the wielding of energy in the world of the Spiritual Triad and not with the distribution or the transmission of this energy to the three worlds in which average humanity habitually dwells. Right wielding of this law (controlling energy in the initiatory world of causes) automatically brings about activity, movement, force expression, and right distribution of these forces in the lower three worlds. These are, under the evolutionary law, direct reflections of the three higher worlds of the triadal light and life. Motivation, the use of the eye of vision (turned this time by the initiate functioning in the world of causes upon the worlds of human living), and the correct direction of force in cooperation with the hierarchical Plan condition all the activities of the initiate working with this law. Clearer than this I cannot be. |
Định luật này liên quan đến việc vận dụng năng lượng trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần chứ không liên quan đến việc phân phối hay truyền dẫn năng lượng này đến ba cõi giới nơi nhân loại trung bình thường cư ngụ. Việc vận dụng đúng đắn định luật này (kiểm soát năng lượng trong thế giới nguyên nhân của điểm đạo) tự động đem lại hoạt động, chuyển động, biểu hiện mãnh lực, và sự phân phối đúng đắn các mãnh lực này trong ba cõi thấp. Dưới định luật tiến hoá, các cõi này là những phản ánh trực tiếp của ba thế giới cao hơn của ánh sáng và sự sống tam nguyên. Động cơ, việc sử dụng con mắt của tầm nhìn (lần này được điểm đạo đồ đang hoạt động trong thế giới nguyên nhân hướng về các thế giới của đời sống nhân loại), và sự định hướng đúng đắn của mãnh lực trong hợp tác với Thiên Cơ của Thánh đoàn, tác động lên mọi hoạt động của điểm đạo đồ đang làm việc với định luật này. Tôi không thể nói rõ hơn thế. |
|
This Law of the Supplementary Seven is concerned with the inflow of energy from the seven planetary centres to the seven groups or types of men, via the seven groups within the Hierarchy. In this work of transmission the seven centres of the initiate are used as agencies; their work, therefore, is not the interrelated work of right transmission of energy within the septenary constitution of the etheric body of the individual initiate, implementing his life expression, but is the task of being responsive to the seven types of planetary energy which are received in a pure state. It is then channeled through the seven centres in the initiate’s etheric vehicle and out into the world of men as regenerative and constructive forces. These living spiritual energies—transmitted by the individual initiate from the planetary centres—are handled by him under a great uniform plan and are the means whereby salvation (to use an old familiar word) can come to the aid of humanity. This is the “saving force” in its various aspects, of which the Great Invocation speaks: “The hour of service of the Saving Force has now arrived”. (The Externalisation of the Hierarchy, page 249.) [159] The high Initiates (Those above the rank of Master) work with the energies coming from the seven planets of the solar system at this time active; these feed or implement the seven planetary centres. But the Law of the Supplementary Seven is applied by initiates below the rank of Master, and they are therefore working solely with the seven centres within the Form of the One in Whom we live and move and have our being. |
Định luật của Bảy Bổ Sung liên quan đến dòng năng lượng tuôn vào từ bảy trung tâm hành tinh đến bảy nhóm hay loại người, qua bảy nhóm trong Thánh đoàn. Trong công việc truyền dẫn này, bảy trung tâm của điểm đạo đồ được dùng như những tác nhân; vì vậy công việc của chúng không phải là công việc liên hệ hỗ tương của sự truyền dẫn đúng đắn năng lượng trong cấu tạo thất phân của thể dĩ thái của điểm đạo đồ cá nhân, nhằm thực hiện biểu hiện sự sống của y, mà là nhiệm vụ đáp ứng với bảy loại năng lượng hành tinh được tiếp nhận trong trạng thái tinh khiết. Khi ấy nó được dẫn qua bảy trung tâm trong vận cụ dĩ thái của điểm đạo đồ và đi ra thế giới loài người như những mãnh lực tái sinh và kiến tạo. Những năng lượng tinh thần sống động này—được điểm đạo đồ cá nhân truyền từ các trung tâm hành tinh—được y xử lý dưới một kế hoạch đồng nhất vĩ đại và là phương tiện nhờ đó sự cứu rỗi (dùng một từ cũ quen thuộc) có thể đến trợ giúp nhân loại. Đây là “Mãnh Lực Cứu Rỗi” trong các phương diện khác nhau của nó, mà Đại Khấn Nguyện có nói đến: “Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến.” (Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn, trang 249.) [159] Các Điểm đạo đồ cao cấp (Những Vị trên cấp bậc Chân sư) làm việc với các năng lượng đến từ bảy hành tinh của hệ mặt trời hiện đang hoạt động; các năng lượng này nuôi dưỡng hay thực hiện bảy trung tâm hành tinh. Nhưng Định luật của Bảy Bổ Sung được áp dụng bởi các điểm đạo đồ dưới cấp bậc Chân sư, và vì vậy họ chỉ làm việc với bảy trung tâm trong Hình Tướng của Đấng Duy Nhất, trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. |
|
One of their first tasks is to bring about a free flow and right energy relations between the three major centres in our planet which correspond to the head, heart and throat centres in man. They are occupied with the circulation of energy between Shamballa, the Hierarchy and Humanity. This circulation, which for the first time in planetary history includes the highest centre, Shamballa, is not yet completely established. Shamballa has been in touch with the centre called Humanity by impact several times in the history of the race. But there has been no reciprocal action and no free flow. Humanity has taken the impact of energy and this impact has wrought changes in the activity of the centre, but there has been no “responsive return,” as it is esoterically called, and hence no circulation. The Shamballa force has hitherto been transmitted via the Hierarchy. For the first time, and in this century there has been direct impact. The diagram on page 160 may make this clearer. |
Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của họ là tạo ra một dòng chảy tự do và những liên hệ năng lượng đúng đắn giữa ba trung tâm chính yếu trên hành tinh chúng ta, tương ứng với các trung tâm đầu, tim và cổ họng nơi con người. Họ bận tâm với sự lưu chuyển năng lượng giữa Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Sự lưu chuyển này, lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh bao gồm trung tâm cao nhất là Shamballa, vẫn chưa được thiết lập hoàn toàn. Shamballa đã tiếp xúc với trung tâm gọi là Nhân loại bằng tác động nhiều lần trong lịch sử nhân loại. Nhưng đã không có hành động đáp ứng qua lại và không có dòng chảy tự do. Nhân loại đã tiếp nhận tác động của năng lượng và tác động này đã tạo ra những thay đổi trong hoạt động của trung tâm, nhưng đã không có “sự đáp ứng quay trở lại,” như cách gọi nội môn, và do đó không có sự lưu chuyển. Mãnh lực Shamballa cho đến nay vẫn được truyền qua Thánh đoàn. Lần đầu tiên, và trong thế kỷ này, đã có tác động trực tiếp. Biểu đồ ở trang 160 có thể làm điều này rõ hơn. |
|
We shall eventually have a free circulation and a veritable vortex of force set up between the three centres; it will be of such an increasing radiatory activity that—moving in both directions around the three centres—it will eventually contact the radiations emanating from the other four centres of the planetary Life, thus completing the interplay and the interrelation between all seven. These four include the three lower kingdoms of nature and a certain basic centre (corresponding to the centre at the base of the spine in man) about which nothing is as yet known nor will be known for ages to come. [160] |
Cuối cùng chúng ta sẽ có một sự lưu chuyển tự do và một xoáy lực thực sự được thiết lập giữa ba trung tâm; nó sẽ có một hoạt động bức xạ ngày càng tăng đến mức—chuyển động theo cả hai hướng quanh ba trung tâm—cuối cùng nó sẽ tiếp xúc với các bức xạ phát ra từ bốn trung tâm khác của Sự sống hành tinh, nhờ đó hoàn tất sự tương tác và tương liên giữa cả bảy trung tâm. Bốn trung tâm này bao gồm ba giới thấp của tự nhiên và một trung tâm căn bản nào đó (tương ứng với trung tâm ở đáy cột sống nơi con người) mà hiện nay chưa có gì được biết đến và sẽ còn không được biết đến trong nhiều thời đại nữa. [160] |

|
The importance, therefore, of the centre which we call Humanity will be apparent. The Secret Doctrine has ever taught that mankind has a special function in saving and regenerating nature. The “saving force”—a circulatory combination of the three major energies—is radiated by humanity as a group-creative impulse, and this gradually sweeps all forms of life into the field of its magnetic potency, thus relating them (or rather the soul of each kingdom) to the Hierarchy and to Shamballa. This involves a great mystery which is closely tied up—little as you may realise it—with the doctrine of Avatars or of World Saviours. |
Vì vậy, tầm quan trọng của trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân loại sẽ trở nên hiển nhiên. Giáo Lý Bí Nhiệm từ lâu đã dạy rằng nhân loại có một chức năng đặc biệt trong việc cứu vớt và tái sinh tự nhiên. “Mãnh lực cứu rỗi”—một sự kết hợp lưu chuyển của ba năng lượng chính yếu—được nhân loại phát xạ như một xung lực sáng tạo tập thể, và điều này dần dần cuốn mọi hình thức sự sống vào trường quyền năng từ tính của nó, nhờ đó liên hệ chúng (hay đúng hơn là linh hồn của mỗi giới) với Thánh đoàn và với Shamballa. Điều này bao hàm một huyền nhiệm lớn lao gắn chặt—dù bạn có thể ít nhận ra điều đó—với giáo lý về các Đấng Hoá Thân hay các Đấng Cứu Thế. |
|
It is in this connection that the words I gave you previously are pertinent: [161] |
Chính trong mối liên hệ này mà những lời tôi đã đưa cho bạn trước đây là thích đáng: [161] |
|
1. “The group must understand the nature of the Three.” This will be seen to refer to the three major centres and the nature of their relationship, and not specifically to the Trinity. |
1. “Nhóm phải hiểu bản chất của Bộ Ba.” Điều này sẽ được thấy là quy chiếu đến ba trung tâm chính yếu và bản chất của mối liên hệ của chúng, chứ không đặc biệt quy chiếu đến Tam Vị. |
|
2. “The nature of the One must be grasped and comprehended.” This has reference to the fact that our planetary Life is Itself a centre within a still greater Life, and is today one of the three planetary centres (even if not yet one of the seven sacred planets) which are the custodians of the force, in process of transmission, which will be to the greater Life what Shamballa, the Hierarchy and Humanity are to Our planetary Logos. |
2. “Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và thấu hiểu.” Điều này quy chiếu đến sự kiện rằng Sự sống hành tinh của chúng ta tự thân là một trung tâm trong một Sự sống còn lớn hơn nữa, và ngày nay là một trong ba trung tâm hành tinh (dù chưa phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng) là những nơi gìn giữ mãnh lực, đang trong tiến trình truyền dẫn, mà đối với Sự sống lớn hơn sẽ là điều mà Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại là đối với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
3. “The group must work through the medium of the united breath.” This deals with the processes of circulation, for the breath is the life and pours through all the centres. |
3. “Nhóm phải hoạt động qua trung gian của hơi thở hợp nhất.” Điều này liên quan đến các tiến trình lưu chuyển, vì hơi thở là sự sống và tuôn qua mọi trung tâm. |
|
4. “The group must attain a unified rhythm.” This has no reference in reality to the work of a group of disciples, but to a group of centres of life, such as the three major centres or the entire group of seven centres. |
4. “Nhóm phải đạt được một nhịp điệu hợp nhất.” Điều này thực ra không quy chiếu đến công việc của một nhóm đệ tử, mà đến một nhóm các trung tâm sự sống, như ba trung tâm chính yếu hay toàn bộ nhóm bảy trung tâm. |
|
A study of these ideas may carry illumination, but I would again remind you that I write for initiates, living at a later period in this century and in the next. |
Việc nghiên cứu những ý tưởng này có thể đem lại sự soi sáng, nhưng tôi lại xin nhắc bạn rằng tôi viết cho các điểm đạo đồ, sống vào một giai đoạn muộn hơn trong thế kỷ này và trong thế kỷ tới. |
|
In considering this Law of the Supplementary Seven, I would like to point out that the word “supplementary” is of real significance. It brings in a factor of great interest, from the angle of initiation. You must bear in mind that when the antahkarana is constructed and in use, there is consequently a free play of energy in a direct line between the Spiritual Triad and the personality; i.e., between the Monad and its “earthly anchor.” You will also remember that the soul body, the form on the higher levels of the mental plane which has “shrouded” the soul, eventually disappears. This, as you know, takes place at the fourth initiation and is one of the best recognised facts in the occult teaching. In the three worlds, the correspondence to this disappearance of the form of the second divine aspect, the soul, is the dissolution of the astral body—the second aspect [162] of the personality. Then the personality stands free from its control. Sensitivity and reaction to contact in the three worlds has been perfectly developed, but it no longer holds the disciple a prisoner. |
Khi xem xét Định luật của Bảy Bổ Sung này, tôi muốn chỉ ra rằng từ “bổ sung” có một ý nghĩa thực sự quan trọng. Nó đưa vào một yếu tố rất đáng quan tâm, từ góc độ điểm đạo. Bạn phải ghi nhớ rằng khi antahkarana được kiến tạo và được sử dụng, thì do đó có một sự vận hành tự do của năng lượng theo một đường trực tiếp giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã; tức là giữa chân thần và “mỏ neo trần thế” của nó. Bạn cũng sẽ nhớ rằng thể linh hồn, hình tướng trên các cấp cao hơn của cõi trí đã “bao phủ” linh hồn, cuối cùng sẽ biến mất. Như bạn biết, điều này xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư và là một trong những sự kiện được thừa nhận rõ nhất trong giáo huấn huyền bí học. Trong ba cõi giới, sự tương ứng với sự biến mất này của hình tướng của phương diện thiêng liêng thứ hai, tức linh hồn, là sự tan rã của thể cảm dục—phương diện thứ hai [162] của phàm ngã. Khi ấy phàm ngã đứng tự do khỏi sự kiểm soát của nó. Tính nhạy cảm và phản ứng đối với tiếp xúc trong ba cõi giới đã được phát triển hoàn hảo, nhưng nó không còn giữ đệ tử làm tù nhân nữa. |
|
Then, at a later stage upon the Path of Initiation, the causal body also disappears and the initiate stands free in the three worlds. The astral body and the causal or soul body are—in the language of esotericism—supplementary to reality. They have had a temporary reality during the evolutionary process, but (having served their purpose and having endowed man with certain required assets—consciousness, feeling, sensitivity, the ability to establish and register contact) they pass away and the initiate remains, possessed of power over form and a fully awakened consciousness. He is a soul and the fusion is complete. |
Rồi, ở một giai đoạn muộn hơn trên Con Đường Điểm Đạo, thể nguyên nhân cũng biến mất và điểm đạo đồ đứng tự do trong ba cõi giới. Thể cảm dục và thể nguyên nhân hay thể linh hồn—theo ngôn ngữ của huyền bí học—là những cái bổ sung cho thực tại. Chúng đã có một thực tại tạm thời trong tiến trình tiến hoá, nhưng (sau khi đã phục vụ mục đích của chúng và đã ban cho con người một số tài sản cần thiết—tâm thức, cảm giác, tính nhạy cảm, khả năng thiết lập và ghi nhận tiếp xúc) chúng qua đi và điểm đạo đồ còn lại, sở hữu quyền năng trên hình tướng và một tâm thức hoàn toàn thức tỉnh. Y là một linh hồn và sự dung hợp đã hoàn tất. |
|
What is true of the individual is true too of the Heavenly Man, the planetary Logos. In the long period of a world cycle there comes a time when the Hierarchy itself, as a body organised and functioning in order to implement certain evolutionary ends, is no longer needed. It is then regarded as “supplementary,” and under the Law its life, its potency and its entire consciousness are absorbed into the planetary head centre, Shamballa. A great process of abstraction or of withdrawal takes place, covering necessarily a long period of time, and which is consummated only when evolution—as we know it—comes to an end and the planetary Life (again as we know it) also comes to an end. This process of abstraction is always going on. Men become disciples and then initiates. Some stay as hierarchical workers, choosing to work with the planetary forces of evolution. Others pass on into the great Council Chamber of the Lord of the World, and still others pass out of our planetary ring-pass-not altogether. |
Điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế. Trong thời kỳ dài của một chu kỳ thế giới, sẽ đến một lúc mà chính Thánh đoàn, như một cơ thể được tổ chức và hoạt động để thực hiện những cứu cánh tiến hoá nhất định, không còn cần thiết nữa. Khi ấy nó được xem là “bổ sung,” và dưới Định luật, sự sống, quyền năng và toàn bộ tâm thức của nó được hấp thu vào trung tâm đầu hành tinh là Shamballa. Một tiến trình trừu xuất hay rút lui lớn lao diễn ra, tất nhiên bao trùm một thời kỳ dài, và chỉ hoàn tất khi tiến hoá—như chúng ta biết—đi đến chấm dứt và Sự sống hành tinh (một lần nữa, như chúng ta biết) cũng đi đến chấm dứt. Tiến trình trừu xuất này luôn luôn đang diễn ra. Con người trở thành đệ tử rồi thành điểm đạo đồ. Một số ở lại như những người hoạt động của Thánh đoàn, chọn làm việc với các mãnh lực tiến hoá của hành tinh. Những người khác tiến vào Đại Nghị Sảnh của Đức Chúa Tể Thế Giới, và những người khác nữa vượt hẳn ra ngoài vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta. |
|
Thus the Law of the Supplementary Seven is ever in force. It functions in the processes going on in the seven centres of the individual man, gathering energy from one centre into another until all are centred, controlled and directed in the head. In the stage of what the Hindus call [163] “samadhi” the vital energies from all the centres are concentrated in the highest head centre in the etheric body, in the area just above the physical head. Thus the analogy is complete. The processes of abstraction are (as you may thus see) connected with the life aspect, are set in motion by an act of the spiritual will, and constitute the “resurrection principle which lies hidden in the work of the Destroyer,” as an old esoteric saying expresses it. The lowest manifestation of this principle is to be seen in the process of what we call Death—which is in reality a means of abstracting the life principle, informed by consciousness, from the form or the bodies in the three worlds. |
Như vậy Định luật của Bảy Bổ Sung luôn luôn có hiệu lực. Nó hoạt động trong các tiến trình diễn ra trong bảy trung tâm của con người cá nhân, gom năng lượng từ trung tâm này vào trung tâm khác cho đến khi tất cả đều được tập trung, kiểm soát và định hướng trong đầu. Trong giai đoạn mà người Hindu gọi là [163] “samadhi,” các năng lượng sinh lực từ mọi trung tâm được tập trung trong trung tâm đầu cao nhất trong thể dĩ thái, ở vùng ngay phía trên đầu hồng trần. Như vậy sự tương đồng là hoàn chỉnh. Các tiến trình trừu xuất, như bạn có thể thấy, liên hệ với phương diện sự sống, được khởi động bởi một hành vi của ý chí tinh thần, và cấu thành “nguyên lý phục sinh ẩn giấu trong công việc của Đấng Hủy Diệt,” như một câu nói nội môn cổ diễn đạt. Biểu hiện thấp nhất của nguyên lý này được thấy trong tiến trình mà chúng ta gọi là Sự Chết—thực ra là một phương tiện để trừu xuất nguyên lý sự sống, được thấm nhuần bởi tâm thức, ra khỏi hình tướng hay các thể trong ba cõi giới. |
|
Thus, the great synthesis emerges, and destruction, death, and dissolution are in reality naught but life processes. Abstraction is indicative of process, progress and development. |
Như vậy, đại tổng hợp xuất hiện, và sự hủy diệt, cái chết, và sự tan rã thực ra chẳng qua chỉ là những tiến trình của sự sống. Sự trừu xuất là dấu hiệu của tiến trình, tiến bộ và phát triển. |
|
It is this aspect of the Law of Life (or the Law of Synthesis as it is called in certain larger connotations) with which the initiate specifically deals when wielding the Law of the Supplementary Seven. The group angle of the matter can be seen if you remember that the individual initiate, when wielding this law, draws upon the united energy of the Will as the group is expressing it in “unified rhythm.” It is by the use of the “united breath” of the entire group (as much of it as his individual will can assimilate, focus, use and direct) that he augments his own will and its directed force. The breath, as we well know, is the life; this Law is the one wielded by the living or risen Christ, in perfect harmony with the will of Shamballa. Herein lies one of the mysteries of the resurrection initiation about which so little has been told, and it is the very heart of the mystery of the ascension initiation. In this latter initiation the living risen Christ withdraws or abstracts Himself and enters consciously and permanently into the great centre, Shamballa. The resurrection and the ascension are the results of the death or destruction of the causal body. It can be seen, therefore, how true the Gospel story is to the purposes of Shamballa. |
Chính phương diện này của Định luật Sự sống (hay Định luật Tổng Hợp như nó được gọi trong một số hàm nghĩa rộng lớn hơn) mà điểm đạo đồ đặc biệt xử lý khi vận dụng Định luật của Bảy Bổ Sung. Góc độ nhóm của vấn đề có thể được thấy nếu bạn nhớ rằng điểm đạo đồ cá nhân, khi vận dụng định luật này, rút lấy năng lượng hợp nhất của Ý Chí như nhóm đang biểu lộ nó trong “nhịp điệu hợp nhất.” Chính bằng việc sử dụng “hơi thở hợp nhất” của toàn nhóm (nhiều đến mức ý chí cá nhân của y có thể đồng hoá, tập trung, sử dụng và định hướng) mà y tăng cường ý chí riêng của mình và mãnh lực được định hướng của nó. Như chúng ta đều biết rõ, hơi thở là sự sống; đây là định luật được vận dụng bởi Đức Christ sống động hay đã phục sinh, trong sự hòa hợp hoàn hảo với ý chí của Shamballa. Chính trong điều này có một trong những huyền nhiệm của cuộc điểm đạo phục sinh mà rất ít điều đã được nói ra, và đó là chính trái tim của huyền nhiệm cuộc điểm đạo thăng thiên. Trong cuộc điểm đạo sau này, Đức Christ sống động đã phục sinh rút lui hay trừu xuất Chính Ngài và đi vào một cách hữu thức và vĩnh viễn đại trung tâm là Shamballa. Sự phục sinh và sự thăng thiên là kết quả của cái chết hay sự hủy diệt của thể nguyên nhân. Vì vậy có thể thấy câu chuyện Phúc Âm chân thực biết bao đối với các mục đích của Shamballa. |
|
Let us now briefly interpret or rather paraphrase the [164] four sentences by means of which I have sought to embody this law, or as much of it as it is possible to put into words, for the enlightenment of the initiates of the future. |
Bây giờ chúng ta hãy ngắn gọn diễn giải hay đúng hơn là diễn ý lại [164] bốn câu mà qua đó tôi đã tìm cách thể hiện định luật này, hay nhiều đến mức có thể diễn đạt bằng lời, để soi sáng cho các điểm đạo đồ của tương lai. |
|
1. The Law demands the entrance of that which can effect a change. |
1. Định luật đòi hỏi sự đi vào của cái có thể tạo ra một sự thay đổi. |
|
Bearing in mind what I have elsewhere given, it is obvious that that which must find entrance is that vital concentrated will which, when set in motion in an individual, in a group, in a nation, in a kingdom of nature (a planetary centre), and in the planet as a whole, i.e., in all the planetary centres simultaneously, will cause a stirring, a changed measure, a new movement and momentum, an uprising and a consequent abstraction. The changes wrought in the centres when the death of the physical body is taking place have never yet been observed or recorded; they are, however, definitely present to the eye of the initiate and prove most interesting and informative. It is the recognition of the condition of the centres which enables the initiate to know—when in process of bestowing healing—whether the physical healing of the body is permissible or not. He can see whether the will principle of abstraction to which I have been referring is actively present or not. The same process can be seen taking place in organisations and in civilisations in which the form aspect is being destroyed in order that the life may be abstracted and later again rebuild for itself a more adequate form. It is the same under the great processes of initiation, which are not only processes of expanding the consciousness but are rooted in the death or the abstraction process, leading to resurrection and ascension. |
Ghi nhớ điều tôi đã trình bày ở nơi khác, hiển nhiên là cái phải đi vào là ý chí sống động tập trung ấy, khi được khởi động trong một cá nhân, trong một nhóm, trong một quốc gia, trong một giới tự nhiên (một trung tâm hành tinh), và trong toàn thể hành tinh, tức là trong mọi trung tâm hành tinh đồng thời, sẽ gây ra một sự khuấy động, một nhịp độ thay đổi, một chuyển động và động lượng mới, một sự trỗi dậy và một sự trừu xuất tiếp theo. Những thay đổi được tạo ra trong các trung tâm khi cái chết của thể xác đang diễn ra cho đến nay chưa bao giờ được quan sát hay ghi chép; tuy nhiên, chúng chắc chắn hiện diện trước mắt điểm đạo đồ và tỏ ra hết sức thú vị và giàu thông tin. Chính sự nhận biết tình trạng của các trung tâm giúp điểm đạo đồ biết được—khi đang tiến hành ban phát trị liệu—liệu việc chữa lành thể xác có được phép hay không. Y có thể thấy liệu nguyên lý ý chí trừu xuất mà tôi đã nói đến có hiện diện một cách tích cực hay không. Cũng có thể thấy cùng tiến trình ấy diễn ra trong các tổ chức và trong các nền văn minh mà trong đó phương diện hình tướng đang bị hủy diệt để sự sống có thể được trừu xuất và về sau lại tự kiến tạo cho mình một hình tướng thích hợp hơn. Điều này cũng đúng dưới các tiến trình lớn lao của điểm đạo, vốn không chỉ là những tiến trình mở rộng tâm thức mà còn bén rễ trong tiến trình chết hay trừu xuất, dẫn đến phục sinh và thăng thiên. |
|
That which effects a change is a discharge (to use a totally inadequate phrase) of directed and focussed will-energy. This is so magnetic in quality that it draws to itself the life of the centres, bringing about the dissolution of the form and the release of the life. Death comes to the individual man, in the ordinary sense of the term, when the will-to-live in a physical body goes and the will-to-abstract [165] takes its place. This we call death. In cases of death in war, for instance, it is not then a case of the individual will-to-withdraw, but an enforced participation in a great group abstraction. From its own place, the soul of the individual man recognises the end of a cycle of incarnation and recalls its life. This it does through a discharge of the will-energy that is strong enough to bring about the change. |
Cái tạo ra sự thay đổi là một sự phóng thích (dùng một cụm từ hoàn toàn không đầy đủ) của năng lượng ý chí được định hướng và tập trung. Nó có phẩm tính từ tính đến mức hút về mình sự sống của các trung tâm, đem lại sự tan rã của hình tướng và sự giải phóng của sự sống. Cái chết đến với con người cá nhân, theo nghĩa thông thường của từ này, khi ý chí muốn sống trong một thể xác hồng trần ra đi và ý chí muốn trừu xuất [165] thay thế nó. Điều này chúng ta gọi là cái chết. Chẳng hạn trong những trường hợp tử trận, khi ấy đó không phải là trường hợp của ý chí cá nhân muốn rút lui, mà là một sự tham dự bị cưỡng bách vào một cuộc trừu xuất tập thể lớn lao. Từ vị trí riêng của mình, linh hồn của con người cá nhân nhận ra sự kết thúc của một chu kỳ nhập thể và gọi sự sống của nó trở về. Nó làm điều này qua một sự phóng thích năng lượng ý chí đủ mạnh để tạo ra sự thay đổi. |
|
2. The Law demands that right direction should then guide the entering forces. |
2. Định luật đòi hỏi rằng sự định hướng đúng đắn khi ấy phải dẫn dắt các mãnh lực đi vào. |
|
The entering forces, working under this law, are directed first of all to the head centre, from thence to the ajna centre and then to that centre which has been the governing and most active centre during the incarnation of the life principle. This varies according to the point reached upon the ladder of evolution, and according to the personality ray, with later the soul ray bringing about a major conditioning and change. In the work of the initiate who is consciously wielding this law, the principle of abstraction (when entering the body) is held focussed in the head and is of such a magnetic potency that the energy of the remaining centres is rapidly gathered up and withdrawn. What is true of the individual process of abstracting the life principle, under the Law of the Supplementary Seven, is equally true of the process in all forms and in all groups of forms. Christ referred to this work of abstraction, as regards the third great planetary centre, Humanity, when He said (and He was speaking as the Representative of the Hierarchy, the second planetary centre into which all human beings achieving initiation are “withdrawn” esoterically), “I, if I be lifted up will draw all men unto me.” A different word to this word of His will be spoken at the end of the age when the Lord of the World will speak from Shamballa, will abstract the life principle from the Hierarchy, and all life and consciousness will then be focussed in the planetary head centre—the great Council Chamber at Shamballa. |
Các mãnh lực đi vào, hoạt động dưới định luật này, trước hết được hướng đến trung tâm đầu, từ đó đến trung tâm ajna và rồi đến trung tâm đã là trung tâm cai quản và hoạt động mạnh nhất trong suốt thời kỳ nhập thể của nguyên lý sự sống. Điều này thay đổi tùy theo điểm đã đạt được trên nấc thang tiến hoá, và tùy theo cung phàm ngã, về sau cung linh hồn đem lại một sự tác động và thay đổi lớn lao. Trong công việc của điểm đạo đồ đang hữu thức vận dụng định luật này, nguyên lý trừu xuất (khi đi vào thể) được giữ tập trung trong đầu và có một quyền năng từ tính đến mức năng lượng của các trung tâm còn lại nhanh chóng được thu gom và rút lui. Điều gì đúng với tiến trình cá nhân trừu xuất nguyên lý sự sống, dưới Định luật của Bảy Bổ Sung, thì cũng đúng như vậy với tiến trình trong mọi hình tướng và trong mọi nhóm hình tướng. Đức Christ đã nhắc đến công việc trừu xuất này, liên quan đến trung tâm hành tinh lớn thứ ba là Nhân loại, khi Ngài nói (và Ngài đang nói với tư cách là Đại Diện của Thánh đoàn, trung tâm hành tinh thứ hai mà vào đó tất cả những con người đạt điểm đạo đều được “rút vào” theo nghĩa nội môn), “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến cùng Ta.” Một lời khác với lời này của Ngài sẽ được nói ra vào cuối thời đại khi Đức Chúa Tể Thế Giới sẽ nói từ Shamballa, sẽ trừu xuất nguyên lý sự sống khỏi Thánh đoàn, và khi ấy mọi sự sống và tâm thức sẽ được tập trung trong trung tâm đầu hành tinh—Đại Nghị Sảnh tại Shamballa. |
|
3. The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light, and lay the emphasis upon life. |
3. Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo ra như thế phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng, và đặt trọng tâm vào sự sống. |
|
[166] |
[166] |
|
Here the three great aspects—form, quality and life—are brought into relation and the point of the evolutionary objective is seen in its true light—LIFE. Note this phrasing. Form or appearance, having served its purpose, disappears. Death of the form takes place. Quality, the major divine attribute being developed in this planet, becomes dominant and is “conscious of itself “—as the ancient writings put it. It is identified and individual but has no implementing form, except that of the greater whole in which it finds its place. Neither form nor quality (body nor consciousness) are paramount in the new state of Being, but only the life aspect, the spirit on its own plane, becomes the dominating factor. Some faint dim light on the significance of this may come if you bear in mind that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane. The process of developing sensitivity in this sevenfold evolution has been undergone in order to enable the initiate to function upon the cosmic astral plane, when withdrawn or abstracted after the higher initiations. He is abstracted from our planetary life altogether. Only one factor could prevent this, and that might be his pledge to serve temporarily within the planetary ring-pass-not. Such Members of the Hierarchy Who pledge Themselves to this work are stated to have the Buddhic consciousness, and the line of Their descent (occultly understood) is from the Eternal Pilgrim, the Lord of the World, then the Buddha, and then the Christ. They remain identified through the free choice with the “quality seen within the light,” and for the term of Their freely rendered service They work with the consciousness aspect in order to lay the emphasis later upon the life aspect. |
Ở đây ba phương diện lớn—hình tướng, phẩm tính và sự sống—được đặt vào mối liên hệ với nhau và điểm đích của mục tiêu tiến hoá được thấy trong ánh sáng chân thực của nó—SỰ SỐNG. Hãy lưu ý cách diễn đạt này. Hình tướng hay sắc tướng, sau khi đã phục vụ mục đích của nó, biến mất. Cái chết của hình tướng diễn ra. Phẩm tính, thuộc tính thiêng liêng chủ yếu đang được phát triển trên hành tinh này, trở nên trội vượt và “hữu thức về chính nó”—như các trước tác cổ nói. Nó được nhận diện và biệt lập nhưng không có hình tướng thực hiện nào, ngoại trừ hình tướng của toàn thể lớn hơn trong đó nó tìm thấy vị trí của mình. Trong trạng thái Bản Thể mới, cả hình tướng lẫn phẩm tính (thể hay tâm thức) đều không phải là tối thượng, mà chỉ có phương diện sự sống, tinh thần trên cõi riêng của nó, trở thành yếu tố chi phối. Một chút ánh sáng mờ nhạt về thâm nghĩa của điều này có thể đến nếu bạn ghi nhớ rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Tiến trình phát triển tính nhạy cảm trong cuộc tiến hoá thất phân này đã được trải qua để giúp điểm đạo đồ hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ, khi được rút lui hay trừu xuất sau các lần điểm đạo cao hơn. Y được trừu xuất hoàn toàn khỏi sự sống hành tinh của chúng ta. Chỉ có một yếu tố có thể ngăn cản điều này, và đó có thể là lời cam kết của y phụng sự tạm thời trong vòng-giới-hạn hành tinh. Những Thành Viên của Thánh đoàn cam kết với công việc này được nói là có tâm thức Bồ đề, và dòng giáng hạ của Các Ngài (theo nghĩa huyền bí) là từ Đấng Lữ Hành Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi đến Đức Phật, rồi đến Đức Christ. Các Ngài vẫn đồng nhất hóa, do sự lựa chọn tự do, với “phẩm tính được thấy trong ánh sáng,” và trong thời hạn phụng sự tự nguyện của Các Ngài, Các Ngài làm việc với phương diện tâm thức để về sau đặt trọng tâm vào phương diện sự sống. |
|
4. The Law demands that this is brought about by the One, working through the Three, energising the Seven and creating the straight line from there to here, and ending in a point which ignores the Three. |
4. Định luật đòi hỏi rằng điều này được thực hiện bởi Đấng Duy Nhất, hoạt động qua Bộ Ba, tiếp năng lượng cho Bộ Bảy và tạo ra đường thẳng từ đó đến đây, và kết thúc trong một điểm không màng đến Bộ Ba. |
|
Let me paraphrase this, for detailed comment is not possible or permissible. The One directed will (of the individual, [167] of humanity, of the Hierarchy) and the great Lords of Shamballa, working through the three major centres (head, heart and throat; Humanity, the Hierarchy and Shamballa), thereby energise all the seven centres (to the point of abstraction), using the straight line of the antahkarana from above downwards (from the centre of power, the head or Shamballa), and gather all upwards into a point which is neither of the Three (Shamballa, the Hierarchy and Humanity) and ignores them, for they must no longer limit the life. This point lies outside manifestation altogether. Abstraction is complete. |
Hãy để tôi diễn ý lại điều này, vì bình luận chi tiết là không thể hay không được phép. Ý chí được định hướng duy nhất (của cá nhân, [167] của nhân loại, của Thánh đoàn) và các Đại Chúa Tể của Shamballa, hoạt động qua ba trung tâm chính yếu (đầu, tim và cổ họng; Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa), nhờ đó tiếp năng lượng cho cả bảy trung tâm (đến mức trừu xuất), sử dụng đường thẳng của antahkarana từ trên xuống dưới (từ trung tâm quyền năng, đầu hay Shamballa), và gom tất cả đi lên vào một điểm không thuộc Bộ Ba (Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại) và không màng đến chúng, vì chúng không còn được giới hạn sự sống nữa. Điểm này nằm hoàn toàn ngoài biểu hiện. Sự trừu xuất đã hoàn tất. |
|
Ponder, therefore, upon this doctrine of abstraction. It covers all life processes, and will convey to you the eternally lovely secret of Death, which is entrance into life. |
Vì vậy, hãy suy ngẫm về giáo lý trừu xuất này. Nó bao trùm mọi tiến trình của sự sống, và sẽ truyền đạt cho bạn bí mật vĩnh hằng tuyệt mỹ của Sự Chết, vốn là sự đi vào sự sống. |
RULE NINE — QUY LUẬT CHÍN
|
As we proceed with the study of these rules the difficulty of interpreting and explaining them becomes increasingly great. We have arrived at a section of the rules which requires initiate-consciousness for right and true comprehension; we are studying ideas for which we have, as yet, no adequate language. Briefly, we have considered certain of the lower aspects of the Laws of Life as they appear to the initiate and are interpreted by him within the sphere of his normal consciousness—that of the Spiritual Triad. The presentation which I gave you had to be confined within the area of consciousness which we call “manasic awareness,” which is that of the abstract mind. Just in so far as that abstract mind is developed in you and the antahkarana tenuously constructed will be your understanding of my words. |
Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các quy luật này, sự khó khăn trong việc diễn giải và giải thích chúng ngày càng lớn. Chúng ta đã đi đến một phần của các quy luật đòi hỏi tâm thức điểm đạo đồ để có thể thấu hiểu đúng và chân thực; chúng ta đang nghiên cứu những ý tưởng mà hiện nay chúng ta vẫn chưa có ngôn ngữ thích hợp. Nói ngắn gọn, chúng ta đã xem xét một số phương diện thấp hơn của các Định luật của Sự sống như chúng xuất hiện đối với điểm đạo đồ và được y diễn giải trong phạm vi tâm thức bình thường của y—tức tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần. Phần trình bày mà tôi đã đưa cho bạn phải bị giới hạn trong phạm vi tâm thức mà chúng ta gọi là “nhận biết manas,” tức là nhận biết của trí trừu tượng. Chừng nào trí trừu tượng ấy được phát triển nơi bạn và antahkarana được kiến tạo một cách mong manh, thì chừng ấy sẽ là mức độ bạn hiểu được lời tôi. |
|
The difficulty becomes still greater as we arrive at the study of Rule IX. It was of real difficulty when presented in its lower form to applicants. That rule, as you may remember, ran as follows: [168] |
Sự khó khăn còn lớn hơn nữa khi chúng ta đi đến việc nghiên cứu Quy luật IX. Nó đã thực sự khó khăn khi được trình bày dưới hình thức thấp hơn của nó cho những người thỉnh cầu. Như bạn có thể nhớ, quy luật đó như sau: [168] |
|
Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. |
Hãy để đệ tử hòa nhập chính mình vào trong vòng tròn của các bản ngã khác. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ xuất hiện. Chỉ khi nhóm được biết đến và được cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát xạ một cách minh triết. |
|
Three major ideas appear in this easier rule: |
Ba ý tưởng chính yếu xuất hiện trong quy luật dễ hơn này: |
|
1. The idea of complete identity with all other selves. |
1. Ý tưởng về sự đồng nhất hoàn toàn với mọi bản ngã khác. |
|
2. The idea of the uniformity of their spiritual presentation to the world when unity is established. |
2. Ý tưởng về tính đồng nhất trong sự trình hiện tinh thần của họ ra thế giới khi sự hợp nhất được thiết lập. |
|
3. The idea that—as a result of the two above achievements—the group force, as a real and focussed energy, can then be used. |
3. Ý tưởng rằng—như một kết quả của hai thành tựu trên—mãnh lực nhóm, như một năng lượng thực sự và được tập trung, khi ấy có thể được sử dụng. |
|
Glibly the neophyte talks of identifying himself with others, and eagerly he endeavours to ascertain his group and merge with it; yet in so doing the constant concept of duality is ever present—himself and all other selves, himself and the group, himself and the group energy which he may now wield. Yet this is not so in reality. Where true identity is achieved, there is no sense of this and that; where the merging is complete, there is no recognition of individual activity within the group, because the will of the merged soul is identical with that of the group and automatic in its working; where true unity is present, the individual applicant becomes only a channel for the group will and activity, and this with no effort of his own but simply as a spontaneous reaction. |
Người sơ cơ nói một cách trơn tru về việc đồng hoá mình với người khác, và hăm hở cố gắng xác định nhóm của mình rồi hòa nhập vào đó; tuy nhiên khi làm như vậy, khái niệm thường hằng về nhị nguyên tính vẫn luôn hiện diện—chính y và mọi bản ngã khác, chính y và nhóm, chính y và năng lượng nhóm mà giờ đây y có thể vận dụng. Tuy nhiên, trong thực tại không phải như thế. Nơi nào đạt được bản sắc chân thực, nơi đó không có cảm thức về cái này và cái kia; nơi nào sự hòa nhập là trọn vẹn, nơi đó không có sự nhận biết về hoạt động cá nhân bên trong nhóm, bởi vì ý chí của linh hồn đã hòa nhập là đồng nhất với ý chí của nhóm và tự động trong sự vận hành của nó; nơi nào có sự hợp nhất chân thực, người thỉnh cầu cá nhân chỉ trở thành một kênh dẫn cho ý chí và hoạt động của nhóm, và điều này không cần nỗ lực nào của riêng y mà chỉ như một phản ứng tự phát. |
|
I have emphasised the above because in the rule for disciples and initiates, this will be found to be still more the case and the results are brought about by a conscious use of the will which is divine synthesis in action; also, the group referred to is not the Ashram of some particular Master, but that of all Ashrams as they in their entirety reflect the purpose of Shamballa and work out the Plan within the active sphere of the hierarchical consciousness. |
Tôi đã nhấn mạnh điều trên bởi vì trong quy luật dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ, điều này sẽ còn đúng hơn nữa và các kết quả được tạo ra bởi việc sử dụng có ý thức ý chí, vốn là tổng hợp thiêng liêng trong hành động; đồng thời, nhóm được nói đến không phải là ashram của một Chân sư cá biệt nào, mà là của tất cả các ashram khi trong tính toàn thể của chúng phản ánh mục đích của Shamballa và triển khai Thiên Cơ trong phạm vi hoạt động của tâm thức Thánh đoàn. |
|
The Ashrams of the Masters are to be found on every level of consciousness in the threefold world of the Spiritual Triad. Some Masters pre-eminently occupy themselves with the mind aspect within all forms, and therefore their Ashrams are conditioned by the manasic consciousness; they are [169] the Ashrams of those initiates who have taken the fourth initiation but who are not yet Masters. They are largely adepts upon the third and fifth rays, and work with the manas or mind as it is developing in all forms. They do foundational work of great importance, but are little understood and their lives are consequently lives of great sacrifice and the term of their service in this particular connection is relatively short. Certain aspects of their developed consciousness have to be kept in abeyance and must remain temporarily unexpressed in order to permit them to work with substance and specifically with the consciousness of the atoms which constitute the forms in all the subhuman kingdoms of nature. They do very little work with humanity, except with certain advanced members of humanity who are on the scientific line, drawing to their Ashrams only those who are on the third and fifth rays and who can continue with the work, being trained along peculiar and special lines. |
Các ashram của các Chân sư được tìm thấy trên mọi cấp độ tâm thức trong thế giới tam phân của Tam Nguyên Tinh Thần. Một số Chân sư đặc biệt bận tâm đến phương diện trí tuệ bên trong mọi hình tướng, và vì thế các ashram của Các Ngài được điều kiện hóa bởi tâm thức manas; chúng là [169] các ashram của những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ tư nhưng chưa phải là Chân sư. Phần lớn họ là các chân sư trên cung ba và cung năm, và làm việc với manas hay trí tuệ khi nó đang phát triển trong mọi hình tướng. Họ thực hiện công việc nền tảng có tầm quan trọng lớn lao, nhưng ít được thấu hiểu và do đó đời sống của họ là những đời sống hi sinh lớn lao, còn thời hạn phụng sự của họ trong mối liên hệ đặc biệt này thì tương đối ngắn. Một số phương diện trong tâm thức đã phát triển của họ phải được giữ trong trạng thái đình hoãn và tạm thời không được biểu lộ để cho phép họ làm việc với chất liệu và đặc biệt với tâm thức của các nguyên tử cấu thành các hình tướng trong mọi giới dưới nhân loại của bản chất. Họ làm rất ít việc với nhân loại, ngoại trừ với một số thành viên tiến bộ của nhân loại đang ở trên đường lối khoa học, chỉ thu hút vào các ashram của họ những ai thuộc cung ba và cung năm và có thể tiếp tục công việc, được huấn luyện theo những đường lối đặc thù và chuyên biệt. |
|
The Ashrams of the Masters (to be found on all the rays) Who work in particular with humanity, are mostly to be found upon the buddhic levels of the triadal consciousness. There the note of “loving understanding” predominates, but even these words must be interpreted esoterically and not according to their usual and obvious meaning. It is not a case of “I understand because I love,” or that “this,” with love, understands “that.” It is something far deeper, involving the idea of identification, of participation, and of synthetic realisation—lovely euphonious words, but meaning little to the non-initiates. |
Các ashram của các Chân sư (được tìm thấy trên mọi cung) là những Đấng đặc biệt làm việc với nhân loại, phần lớn được tìm thấy trên các cấp độ Bồ đề của tâm thức tam nguyên tinh thần. Ở đó, âm điệu của “sự thấu hiểu đầy bác ái” chiếm ưu thế, nhưng ngay cả những lời này cũng phải được diễn giải một cách huyền bí chứ không theo ý nghĩa thông thường và hiển nhiên của chúng. Đây không phải là trường hợp “Tôi thấu hiểu vì tôi yêu thương,” hay “cái này,” với tình thương, thấu hiểu “cái kia.” Đó là điều gì sâu xa hơn nhiều, bao hàm ý tưởng về sự đồng hoá, sự tham dự, và sự chứng nghiệm tổng hợp—những từ ngữ đẹp đẽ, du dương, nhưng ít ý nghĩa đối với những ai chưa được điểm đạo. |
|
On atmic levels, the levels of the spiritual will, are to be found the Ashrams of those Masters Who are interpreting the will of Shamballa and to Whom is committed the task of transmitting the purpose and organising the plans whereby that purpose can be fulfilled. As on manasic levels the Ashrams as a whole are presided over by the Master R., the Lord of Civilisation, so on buddhic levels all Ashrams are supervised by the Master K.H., with the aid of myself (the Master D.K.) and three senior and initiated [170] disciples; the objective is the unfoldment of group awareness and of loving understanding, in order that the forms prepared and conditioned under the supervision of the Master R. may be sensitised and become increasingly conscious of reality through the development of an inner mechanism of light which—in its turn—will condition and develop the outer mechanism of contact. Ashrams on atmic levels are under the control of the Master M., Who fosters the will aspect within the developed forms and Who (as the Old Commentary expresses it) “adds darkness unto light so that the stars appear, for in the light the stars shine not, but in the darkness light diffused is not, but only focussed points of radiance.” The symbolism will be obvious to you though not the full significance. |
Trên các cấp độ atma, các cấp độ của ý chí tinh thần, được tìm thấy các ashram của những Chân sư đang diễn giải ý chí của Shamballa và được giao phó nhiệm vụ truyền đạt mục đích và tổ chức các kế hoạch nhờ đó mục đích ấy có thể được hoàn thành. Cũng như trên các cấp độ manas, toàn thể các ashram được Chân sư R., Chúa Tể của Văn Minh, chủ trì, thì trên các cấp độ Bồ đề, mọi ashram đều được Chân sư K.H. giám sát, với sự trợ giúp của tôi (Chân sư D.K.) và ba đệ tử [170] cao cấp đã được điểm đạo; mục tiêu là sự khai mở nhận thức nhóm và sự thấu hiểu đầy bác ái, để cho các hình tướng được chuẩn bị và điều kiện hóa dưới sự giám sát của Chân sư R. có thể được làm cho nhạy cảm và ngày càng trở nên có tâm thức về thực tại thông qua sự phát triển của một bộ máy ánh sáng bên trong mà đến lượt nó sẽ điều kiện hóa và phát triển bộ máy tiếp xúc bên ngoài. Các ashram trên các cấp độ atma nằm dưới sự kiểm soát của Chân sư M., Đấng nuôi dưỡng phương diện ý chí bên trong các hình tướng đã phát triển và Đấng (như Cổ Luận diễn tả) “thêm bóng tối vào ánh sáng để các vì sao xuất hiện, vì trong ánh sáng các vì sao không chiếu sáng, nhưng trong bóng tối ánh sáng không tản mạn mà chỉ là những điểm bức xạ hội tụ.” Biểu tượng học này sẽ hiển nhiên đối với bạn, dù không phải toàn bộ thâm nghĩa của nó. |
|
Embracing, fusing and unifying the endeavour of all these groups of Ashrams, stands the living Christ, the Head of all Ashrams and the Master of the Masters, the Mediator between Shamballa and the Hierarchy and between the Hierarchy and Humanity. Will you gain some insight into the all-pervading conditions if I state that His work of mediating between humanity and the Hierarchy was perfected by Him and carried to a conclusion when He was last on Earth, and that He is now achieving facility in the higher mediatorship which will bring about a closer relation of the Hierarchy with Shamballa at this time. This mediatory work, based on the blending of the spiritual will (which He has already developed) with the universal will (which He is developing), marks for Him a goal which will be consummated when He takes the ninth initiation. These are great mysteries and I only indicate them in order to convey to you a sense of the synthesis of the whole scheme and a recognition of the urge-to-good which pervades every aspect of the planetary Life from the smallest atom of substance, through all the intermediate living forms, on and up to the planetary Logos Himself. |
Bao trùm, dung hợp và hợp nhất nỗ lực của tất cả các nhóm ashram này là Đức Christ hằng sống, Đầu của mọi ashram và là Chân sư của các Chân sư, Đấng Trung Gian giữa Shamballa và Thánh đoàn, và giữa Thánh đoàn và Nhân loại. Liệu bạn có đạt được phần nào linh thị về các điều kiện bao trùm khắp nơi nếu tôi nói rằng công việc trung gian của Ngài giữa nhân loại và Thánh đoàn đã được Ngài hoàn thiện và đưa đến kết thúc khi Ngài còn ở Trái Đất lần trước, và rằng hiện nay Ngài đang đạt tới sự thành thạo trong vai trò trung gian cao hơn, điều sẽ mang lại một mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa Thánh đoàn với Shamballa vào lúc này. Công việc trung gian này, dựa trên sự hòa trộn giữa ý chí tinh thần (mà Ngài đã phát triển) với ý chí vũ trụ (mà Ngài đang phát triển), đánh dấu cho Ngài một mục tiêu sẽ được hoàn tất khi Ngài trải qua lần điểm đạo thứ chín. Đây là những huyền nhiệm lớn lao và tôi chỉ nêu ra để truyền đạt cho bạn một cảm nhận về tính tổng hợp của toàn bộ hệ thống và một sự nhận biết về xung lực-hướng thiện đang thấm nhuần mọi phương diện của Sự sống Hành tinh từ nguyên tử nhỏ nhất của chất liệu, xuyên qua mọi hình tướng sống trung gian, cho đến chính Hành Tinh Thượng đế. |
|
The will is too often regarded as a power by means of which things are done, activities are instituted and plans worked out. This general definition is the easiest for men [171] to formulate because it is understood by them in terms of their own self-will, the will to individual self-betterment—selfish and misunderstood at first but tending eventually to selflessness as evolution carries out its beneficent task. Then the will is interpreted in terms of the hierarchical plan, and the effort of the individual man becomes that of negating his self-will and seeking to merge his will with that of the group, the group being itself an aspect of the hierarchical effort. This is a great step onward in orientation and will lead to a change in consciousness eventually. This last sentence is of importance. |
Ý chí quá thường được xem như một quyền năng nhờ đó mọi việc được thực hiện, các hoạt động được khởi xướng và các kế hoạch được triển khai. Định nghĩa tổng quát này là điều dễ nhất để con người [171] hình thành, bởi vì họ hiểu nó theo ý chí cá nhân của riêng mình, ý chí hướng đến sự cải thiện bản thân cá nhân—ích kỷ và bị hiểu sai lúc đầu nhưng cuối cùng có xu hướng trở nên vô ngã khi tiến hoá thực hiện nhiệm vụ từ thiện của nó. Khi đó ý chí được diễn giải theo Thiên Cơ của Thánh đoàn, và nỗ lực của con người cá nhân trở thành nỗ lực phủ định ý chí riêng của mình và tìm cách hòa nhập ý chí của mình với ý chí của nhóm, mà bản thân nhóm là một phương diện của nỗ lực Thánh đoàn. Đây là một bước tiến lớn trong sự định hướng và cuối cùng sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong tâm thức. Câu cuối này rất quan trọng. |
|
It is at this stage that most aspirants today find themselves. However, the will is in reality something very different to these expressions of it which exist in the human consciousness as men attempt to interpret the divine will in terms of their present point in evolution. The clue to understanding (the clue which will be the easiest for you to understand) is to be found in the words “blotting out all form.” When the lure of substance is overcome and desire dies, then the attractive power of the soul becomes dominant and the emphasis for so long laid upon individual form and individual living and activity gives place to group form and group purpose. Then the attractive power of the Hierarchy and of the Ashrams of the Masters supersedes the lower attractions and the lesser focal points of interest. When these, in their turn, assume their rightful place in consciousness then the dynamic “pull” of Shamballa can be felt, entirely unrelated to form or forms, to a group or groups. Only a group sense of “well-Being,” esoterically understood is realised, for it is comprehended as the will-to-good. No forms can then hold; no group or Ashram can then confine the consciousness of the initiate, and all differences of every kind disappear. This preamble is given in an effort to clarify your minds before we study Rule IX care-fully and arrive at its essential meaning. |
Chính ở giai đoạn này mà phần lớn những người chí nguyện ngày nay đang đứng. Tuy nhiên, trong thực tại, ý chí là điều gì đó rất khác với những biểu hiện của nó đang tồn tại trong tâm thức con người khi họ cố gắng diễn giải ý chí thiêng liêng theo điểm tiến hoá hiện tại của mình. Manh mối để thấu hiểu (manh mối mà bạn sẽ dễ hiểu nhất) được tìm thấy trong những lời “xóa bỏ mọi hình tướng.” Khi sức quyến rũ của chất liệu được vượt qua và dục vọng chết đi, thì quyền năng hấp dẫn của linh hồn trở nên chi phối và sự nhấn mạnh đã được đặt quá lâu vào hình tướng cá nhân cùng đời sống và hoạt động cá nhân nhường chỗ cho hình tướng nhóm và mục đích nhóm. Khi đó quyền năng hấp dẫn của Thánh đoàn và của các ashram của các Chân sư thay thế các sức hút thấp hơn và các tiêu điểm quan tâm nhỏ hơn. Khi đến lượt chúng đảm nhận vị trí đúng đắn của mình trong tâm thức thì “sức kéo” năng động của Shamballa có thể được cảm nhận, hoàn toàn không liên hệ với hình tướng hay các hình tướng, với một nhóm hay các nhóm. Chỉ có một cảm thức nhóm về “Hiện Hữu tốt lành,” được hiểu theo nghĩa huyền bí, được chứng nghiệm, vì nó được lĩnh hội như ý chí-hướng thiện. Khi đó không hình tướng nào có thể giữ lại; không nhóm hay ashram nào có thể giam hãm tâm thức của điểm đạo đồ, và mọi khác biệt thuộc mọi loại đều biến mất. Phần dẫn nhập này được đưa ra nhằm cố gắng làm sáng tỏ trí tuệ của các bạn trước khi chúng ta nghiên cứu cẩn thận Quy luật IX và đạt đến ý nghĩa cốt yếu của nó. |
|
Rule IX. |
Quy luật IX. |
|
Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let [172] darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when first the Door was passed. |
Hãy để nhóm biết rằng không có các bản ngã khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để [172] bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa bỏ mọi hình tướng. Rồi—tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa lạnh trong sáng, và trong lửa (ngay tại chính trung tâm của nó) hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu rạng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua. |
|
The greatest problem facing aspirants and disciples prior to the third initiation is that of comprehending the nature of identification. This concerns (in the first instance) the relation of the self to the Self and of all selves to the all-inclusive SELF. It involves the mystery of duality with which they are occupied, and the very moment that theory as to essential unity becomes definite realisation, then the realm of synthesis is entered. For that type of realisation, language as we now have it has no words, and it is therefore impossible to formulate concepts to interpret the consequent and resultant state of being. “Identification with” is the phrase which approaches the closest to the initial idea, and until man has grasped his identical at-one-ness with even one human being, it is not possible for him even to think about it in any truly constructive manner. The complete fusion of the negative and the positive aspects in marriage, at the moment that life is transmitted and transferred, is the only tangible though unsatisfactory symbol of this life-sharing process which takes place when an individual or a group knows actually and not simply theoretically that “there are no other selves.” |
Vấn đề lớn nhất đối diện với những người chí nguyện và các đệ tử trước lần điểm đạo thứ ba là việc lĩnh hội bản chất của sự đồng hoá. Điều này liên quan (trước hết) đến mối liên hệ của bản ngã với Bản Ngã và của mọi bản ngã với BẢN NGÃ bao gồm tất cả. Nó bao hàm huyền nhiệm của nhị nguyên tính mà họ đang bận tâm, và ngay khoảnh khắc lý thuyết về sự hợp nhất cốt yếu trở thành sự chứng nghiệm xác định, thì lĩnh vực của tổng hợp được bước vào. Đối với loại chứng nghiệm đó, ngôn ngữ như hiện nay chúng ta có không có từ ngữ nào, và vì thế không thể hình thành các khái niệm để diễn giải trạng thái hiện hữu hệ quả và kết quả ấy. “Đồng hoá với” là cụm từ gần nhất với ý tưởng ban đầu, và cho đến khi con người nắm bắt được sự nhất thể đồng nhất của mình với dù chỉ một con người khác, thì y cũng không thể nào suy nghĩ về điều đó theo bất kỳ cách thức thực sự có tính xây dựng nào. Sự dung hợp hoàn toàn của các phương diện âm và dương trong hôn nhân, vào khoảnh khắc sự sống được truyền đạt và chuyển dịch, là biểu tượng hữu hình duy nhất dù không thỏa đáng của tiến trình chia sẻ sự sống này, vốn diễn ra khi một cá nhân hay một nhóm thực sự biết, chứ không chỉ biết về mặt lý thuyết, rằng “không có các bản ngã khác.” |
|
Identification (to use the only word available for our purpose) is connected with dynamic life, with conscious enhancement, with completion and with creative sharing, plus process. It is a process of participation—consciously and constructively undertaken—in the life actions and reactions of the One in Whom we live and move and have our being; it is related to the network of life channels which keep the form aspect of the planetary Logos functioning as a “Divine Representation.” Note that wording. It is connected with the circulation of that “life more abundantly” to which the Christ referred when dealing with the true nature of His [173] mission. It might be said that as He uttered this phrase this mission dawned on Him and He made a preliminary effort to serve Shamballa, instead of the Hierarchy of which He was even then the Head. Later, He enunciated as best He could the extent of this realisation, in the words so familiar to Christians, “I and the Father are One.” This He also attempted to elucidate in the seventeenth chapter of St. John’s Gospel. There is no other passage in the literature of the world which has exactly the same quality. Oneness, unity, synthesis and identification exist today as words related to consciousness and as expressing what is at present unattainable to the mass of men. This manifesto or declaration of the Christ constitutes the first attempt to convey reaction to contact with Shamballa, and can be correctly interpreted only by initiates of some standing and experience. A concept of unity, leading to cooperation, to impersonality, to group work and to realisation, plus a growing absorption in the Plan are some of the terms which can be used to express soul awareness in relation to the Hierarchy. These reactions to the united Ashrams which constitute the Hierarchy are steadily increasing and are beneficently conditioning the consciousness of the leading members of the forefront of the human wave at present in process of evolution. |
Sự đồng hoá (dùng từ duy nhất có sẵn cho mục đích của chúng ta) gắn liền với sự sống năng động, với sự tăng cường có ý thức, với sự hoàn tất và với sự chia sẻ sáng tạo, cộng với tiến trình. Đó là một tiến trình tham dự—được thực hiện một cách có ý thức và có tính xây dựng—vào các hành động và phản ứng của sự sống của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu; nó liên hệ với mạng lưới các kênh sự sống giữ cho phương diện hình tướng của Hành Tinh Thượng đế hoạt động như một “Biểu Hiện Thiêng Liêng.” Hãy lưu ý cách diễn đạt đó. Nó liên hệ với sự lưu chuyển của “sự sống phong phú hơn” mà Đức Christ đã nói đến khi bàn về bản chất chân thực của [173] sứ mệnh của Ngài. Có thể nói rằng khi Ngài thốt ra cụm từ này thì sứ mệnh ấy đã ló rạng nơi Ngài và Ngài đã thực hiện một nỗ lực sơ khởi để phụng sự Shamballa, thay vì phụng sự Thánh đoàn mà ngay cả lúc đó Ngài đã là Đầu. Về sau, Ngài đã tuyên bố, theo cách tốt nhất có thể, mức độ của sự chứng nghiệm này bằng những lời rất quen thuộc với các tín đồ Cơ Đốc, “Ta và Cha là Một.” Ngài cũng đã cố gắng làm sáng tỏ điều này trong chương mười bảy của Phúc Âm Thánh John. Không có đoạn văn nào khác trong văn học thế giới có đúng cùng một phẩm tính như vậy. Nhất thể, hợp nhất, tổng hợp và đồng hoá ngày nay tồn tại như những từ ngữ liên hệ với tâm thức và diễn tả điều hiện nay quần chúng nhân loại chưa thể đạt tới. Bản tuyên ngôn hay lời tuyên bố này của Đức Christ cấu thành nỗ lực đầu tiên nhằm truyền đạt phản ứng đối với sự tiếp xúc với Shamballa, và chỉ có thể được diễn giải đúng bởi các điểm đạo đồ có một mức độ và kinh nghiệm nhất định. Một khái niệm về sự hợp nhất, dẫn đến hợp tác, đến vô ngã, đến công việc nhóm và đến chứng nghiệm, cộng với sự hấp thụ ngày càng tăng vào Thiên Cơ là một số thuật ngữ có thể được dùng để diễn tả nhận thức của linh hồn trong mối liên hệ với Thánh đoàn. Những phản ứng này đối với các ashram hợp nhất cấu thành Thánh đoàn đang đều đặn gia tăng và đang tác động một cách từ thiện lên tâm thức của các thành viên dẫn đầu nơi tiền tuyến của làn sóng nhân loại hiện đang trong tiến trình tiến hoá. |
|
Beyond this state of awareness there lies a state of being which is as far removed from the consciousness of Members of the Hierarchy as that is, in its turn, removed from the consciousness of the mass of men. Endeavour to grasp this, even if your brain and your power to formulate thought rejects the possibility of this exalted livingness. Be not discouraged at this inability to understand; remember that this state of being embraces the goal towards which the Masters strive, and which the Christ Himself is only now attaining. |
Vượt lên trên trạng thái nhận thức này là một trạng thái hiện hữu xa cách với tâm thức của các Thành Viên của Thánh đoàn cũng như trạng thái ấy, đến lượt nó, xa cách với tâm thức của quần chúng nhân loại. Hãy cố gắng nắm bắt điều này, ngay cả khi bộ não và năng lực hình thành tư tưởng của bạn bác bỏ khả năng của trạng thái sống động cao siêu ấy. Đừng nản lòng vì sự bất lực này trong việc thấu hiểu; hãy nhớ rằng trạng thái hiện hữu này bao gồm mục tiêu mà các Chân sư đang phấn đấu hướng tới, và chính Đức Christ cũng chỉ mới đang đạt tới. |
|
It is for this reason that the symbolism of light and darkness is used in the words: Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light. |
Chính vì lý do này mà biểu tượng của ánh sáng và bóng tối được dùng trong những lời: Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng. |
|
Just as the individual has to pass through the stage wherein all “colour” goes out of life as he emerges out of [174] the glamour which conditions the astral plane, so groups in preparation for initiation must go through the same devastating process. Glamour disappears, and for the first time the group (as is the case with the individual) walks in the light. As the group thus walks, unitedly its units learn a lesson (one clearly enunciated by modern science) that light and substance are synonymous terms; the true nature of substance as a field and medium of activity becomes clear to the initiate-members of the group. To this H.P.B. referred when he said that the true occultist works entirely in the field of forces and energies. |
Cũng như cá nhân phải đi qua giai đoạn trong đó mọi “màu sắc” rời khỏi đời sống khi y thoát ra khỏi [174] ảo cảm vốn điều kiện hóa cõi cảm dục, thì các nhóm đang chuẩn bị cho điểm đạo cũng phải trải qua cùng tiến trình tàn phá ấy. Ảo cảm biến mất, và lần đầu tiên nhóm (cũng như trường hợp của cá nhân) bước đi trong ánh sáng. Khi nhóm bước đi như thế, trong hợp nhất, các đơn vị của nó học được một bài học (được khoa học hiện đại phát biểu rõ ràng) rằng ánh sáng và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; bản chất chân thực của chất liệu như một trường và môi trường hoạt động trở nên rõ ràng đối với các thành viên điểm đạo của nhóm. H.P.B. đã nói đến điều này khi bà nói rằng nhà huyền bí học chân chính làm việc hoàn toàn trong lĩnh vực các mãnh lực và năng lượng. |
|
The next lesson which the group unitedly apprehends is the significance of the words that “darkness is pure spirit.” This recognition, realisation, apprehensive, comprehensive (call it what you will) is so overwhelming and all-embracing that distinctions and differences disappear. The disciple realises that they are only the result of the activity of substance in its form-making capacity and are consequently illusion and non-existent, from the angle of the spirit at rest in its own centre. The only realisation left is that of pure Being Itself. |
Bài học kế tiếp mà nhóm cùng nhau lĩnh hội là thâm nghĩa của những lời rằng “bóng tối là tinh thần thuần túy.” Sự nhận biết, chứng nghiệm, lĩnh hội trực giác, lĩnh hội toàn diện này (hãy gọi nó thế nào tùy ý) quá áp đảo và bao trùm đến nỗi mọi phân biệt và khác biệt đều biến mất. Đệ tử nhận ra rằng chúng chỉ là kết quả của hoạt động của chất liệu trong năng lực tạo hình của nó và do đó là ảo tưởng và không hiện hữu, xét từ góc độ của tinh thần an trụ trong trung tâm riêng của nó. Sự chứng nghiệm duy nhất còn lại là chứng nghiệm về chính Hiện Hữu thuần túy. |
|
This realisation necessarily comes to the disciple through the means of graded revelation and in balanced sequence; each contact with the Initiator leads the initiate closer to the centre of pure darkness—a darkness which is the very antithesis of darkness as the non-initiate and the unenlightened understand. It is a centre or point of such intense brilliance that everything fades out and at the place of tension, and at that darkest point, let the group see a point of clear cold fire. |
Sự chứng nghiệm này tất yếu đến với đệ tử qua phương tiện của sự mặc khải theo cấp bậc và theo trình tự quân bình; mỗi lần tiếp xúc với Đấng Điểm đạo đưa điểm đạo đồ đến gần hơn với trung tâm của bóng tối thuần túy—một bóng tối hoàn toàn đối nghịch với bóng tối như người chưa được điểm đạo và người chưa giác ngộ hiểu. Đó là một trung tâm hay một điểm có độ rực sáng mãnh liệt đến nỗi mọi thứ đều mờ đi và tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy, hãy để nhóm thấy một điểm lửa lạnh trong sáng. |
|
It is a tension and a point of attainment that is only possible in group formation. Even in the earlier initiations, and when the initiate has proved his right to be initiated, the process is still a group proceeding; it is undergone in the protective presence of initiates of the same standing and unfoldment. It is their united focus that enables the candidate for initiation to see the point of clear cold light and their united will that “brings him upright, [175] standing, unafraid, with open eye before the One Who from the very first has conferred on him the gifts of life and light, and Who now—with lifted rod, surrounded by the fire, reveals to him the significance of life and the purpose of the light.” It is that of which the minds of men know naught, and which even the highest intellect is unable to grasp or even sense. |
Đó là một sự căng thẳng và một điểm thành tựu chỉ có thể có trong sự hình thành nhóm. Ngay cả trong các lần điểm đạo trước đó, và khi điểm đạo đồ đã chứng minh quyền được điểm đạo của mình, tiến trình vẫn là một thủ tục nhóm; nó được trải qua trong sự hiện diện bảo hộ của các điểm đạo đồ cùng cấp bậc và cùng mức khai mở. Chính tiêu điểm hợp nhất của họ giúp ứng viên điểm đạo nhìn thấy điểm ánh sáng lạnh trong sáng và chính ý chí hợp nhất của họ “đưa y đứng thẳng, [175] đứng vững, không sợ hãi, với mắt mở trước Đấng mà ngay từ đầu đã ban cho y những tặng phẩm của sự sống và ánh sáng, và Đấng giờ đây—với thần trượng giơ cao, được bao quanh bởi lửa—mặc khải cho y thâm nghĩa của sự sống và mục đích của ánh sáng.” Đó là điều mà trí tuệ con người không biết gì, và ngay cả trí năng cao nhất cũng không thể nắm bắt hay thậm chí cảm nhận. |
|
In the familiar words (familiar to all esotericists) which are so often said or chanted at moments of highest spiritual aspiration, the neophyte refers to the time when “we stand where the One Initiator is invoked, when we see His star shine forth.” Two ideas then stand forth: the idea of invocation and of the result of that invocation, which is the sudden and unexpected shining forth of the Star. This star is simply a point of vivid light. This invocation, though used as the affirmation of a fixed objective by the aspirant to initiation, is nevertheless a mantram definitely appropriate to the third initiation. It is only effective in its invocative appeal when used in conjunction with a Word of Power. This Word of Power is communicated to the candidate (ever an initiate of the second degree) by the Christ Who has initiated him in the first two initiations but Whose protective aura (in conjunction with the initiate’s Master and another Master or an adept of the fourth initiation) is required before the star can shine forth—the focussed light of the One Initiator. For the first time the expanded consciousness of the initiate can contact Shamballa and the One Who rules there, the Lord of the World. For the first time, the focussed purpose which brought Sanat Kumara into incarnation makes an impact upon the enlightened brain of the initiate, bringing something new and different into his equipment, into his nature and his consciousness. I know not how else to express these ideas. It is a blinding conviction of an unalterable will, carrying all before it, oblivious of time and space, aware only of intensity of direction, and carrying with it two major qualifications or basic recognitions to the initiate: a sense of essential being which obliterates all the actions and reactions of time and [176] space, and a focussed will-to-good which is so dynamic in its effect that evil disappears. Evil is after all only an impelling sense of difference, leading inevitably to separative action. |
Trong những lời quen thuộc (quen thuộc với mọi nhà bí truyền học) thường được nói hay xướng lên vào những lúc khát vọng tinh thần cao nhất, người sơ cơ nhắc đến thời điểm khi “chúng ta đứng nơi Đấng Điểm đạo Duy Nhất được khẩn cầu, khi chúng ta thấy ngôi sao của Ngài chiếu rạng.” Khi đó hai ý tưởng nổi bật lên: ý tưởng về sự khẩn cầu và kết quả của sự khẩn cầu ấy, tức sự chiếu rạng đột ngột và bất ngờ của Ngôi Sao. Ngôi sao này chỉ đơn giản là một điểm ánh sáng rực rỡ. Sự khẩn cầu này, dù được dùng như sự khẳng định một mục tiêu cố định bởi người chí nguyện điểm đạo, tuy nhiên lại là một mantram rõ ràng thích hợp với lần điểm đạo thứ ba. Nó chỉ có hiệu lực trong sức khẩn cầu của nó khi được dùng kết hợp với một Quyền năng từ. Quyền năng từ này được Đức Christ truyền đạt cho ứng viên (luôn là một điểm đạo đồ bậc hai), Đấng đã điểm đạo cho y trong hai lần điểm đạo đầu nhưng hào quang bảo hộ của Ngài (kết hợp với Chân sư của điểm đạo đồ và một Chân sư khác hay một chân sư của lần điểm đạo thứ tư) là điều cần thiết trước khi ngôi sao có thể chiếu rạng—ánh sáng hội tụ của Đấng Điểm đạo Duy Nhất. Lần đầu tiên tâm thức mở rộng của điểm đạo đồ có thể tiếp xúc với Shamballa và Đấng cai quản nơi đó, Đức Chúa Tể Thế Giới. Lần đầu tiên mục đích hội tụ đã đưa Đức Sanat Kumara vào lâm phàm tạo ra một tác động lên bộ não được soi sáng của điểm đạo đồ, mang đến điều gì đó mới mẻ và khác biệt vào trang bị, vào bản chất và vào tâm thức của y. Tôi không biết phải diễn đạt những ý tưởng này cách nào khác. Đó là một xác tín chói lòa về một ý chí bất biến, cuốn phăng mọi thứ trước nó, không màng thời gian và không gian, chỉ nhận biết cường độ của phương hướng, và mang theo hai phẩm tính lớn hay hai sự nhận biết căn bản cho điểm đạo đồ: một cảm thức về hiện hữu cốt yếu xóa bỏ mọi hành động và phản ứng của thời gian và [176] không gian, và một ý chí-hướng thiện hội tụ năng động đến mức trong hiệu quả của nó, điều ác biến mất. Rốt cuộc, điều ác chỉ là một cảm thức thúc đẩy về sự khác biệt, tất yếu dẫn đến hành động phân ly. |
|
The dualities are then resolved in synthesis and, again for the first time, the initiate comprehends the meaning of the ancient words, so inappropriately translated “isolated unity.” To him, in the future, there is no light or dark, no good or evil, no difference or separation. The star that has shone forth, veiling and standing between him and the Lord of the World, the Ancient of Days, is seen as the entrance or doorway and as the admitting agency into something other and larger than simply the planetary life. In the earlier two initiations, the Angel of the Presence stood between the disciple-candidate and the Presence. At the later initiations, the Angel of the Presence is the Christ Himself, one with the soul of the candidate (the individual Angel of the Presence). Through the heart of Christ passes the dynamic power of the One Initiator, as a stream of light, stepped down or toned down by the Christ in order that the candidate can appropriate its potency without risk or danger. |
Khi đó các nhị nguyên được giải quyết trong tổng hợp và, một lần nữa lần đầu tiên, điểm đạo đồ lĩnh hội ý nghĩa của những lời cổ xưa, đã được dịch một cách không thích hợp là “Hợp Nhất Cô Lập.” Đối với y, trong tương lai, không còn ánh sáng hay bóng tối, không còn thiện hay ác, không còn khác biệt hay phân ly. Ngôi sao đã chiếu rạng, che phủ và đứng giữa y với Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, được thấy như lối vào hay cánh cửa và như tác nhân cho phép bước vào một điều gì khác và lớn lao hơn chỉ đơn thuần là sự sống hành tinh. Trong hai lần điểm đạo đầu, Thiên Thần của Hiện Diện đứng giữa đệ tử-ứng viên và Hiện Diện. Trong các lần điểm đạo sau, Thiên Thần của Hiện Diện chính là Đức Christ, một với linh hồn của ứng viên (Thiên Thần của Hiện Diện cá nhân). Qua trái tim của Đức Christ đi qua quyền năng năng động của Đấng Điểm đạo Duy Nhất, như một dòng ánh sáng, được Đức Christ hạ thấp hay làm dịu đi để ứng viên có thể tiếp nhận tiềm lực của nó mà không có rủi ro hay nguy hiểm. |
|
After the third initiation, the candidate must face the One Initiator alone, with no protective Individual standing between him and the eternal source of all-power. The Christ is present, supporting and attentive. He stands directly behind the initiate so as to arrest and distribute the potency passing through the initiate’s body and centres; the candidate is also flanked on either side by a Master. Nevertheless, he faces the Initiator alone and unprotected. Even now, at this much later initiation, he cannot see “eye to eye”—as the phrase goes. He becomes aware of a growing point of light which, from a pin-point of intensest brilliance develops before him into a five-pointed star. At the fourth initiation, it is not a star which shines forth before him, but a triangle; and within that triangle he will perceive an eye regarding him, and for the first time he does see the Most High “eye to eye.” At the fifth initiation no [177] symbol or light substance separates or protects him, but he stands before the Initiator face to face, and the freedom of the City of God is his. He is not yet a Member of the Great Council, but he has the right of entrance into Shamballa, and from that point he passes on to a more intimate relation, if that is his chosen destiny. He may not even finally become a Member of the Great Council; that is reserved for relatively few and for Those Who can take even still higher initiations within the ring-pass-not of our planet—a task of profound difficulty. There are other and interesting alternatives, as I have elsewhere told you. The initiate may pass out of this planetary life altogether along one or other of the various Paths by means of which a Master can start upon the Path of the Higher Evolution and for which all that has transpired in the past will have prepared Him. Whichever Way He goes, the Master remains a part of the purpose; He knows forever the secret of the darkness which brings light, and the “inscrutable will of God” is no longer a mystery to Him. He comprehends the divine idea and can now cooperate with it; He has reached a point of realisation which enables Him to fathom what lies behind the Plan for which the Hierarchy has worked for aeons. |
Sau lần điểm đạo thứ ba, ứng viên phải đối diện với Đấng Điểm đạo Duy Nhất một mình, không có một Cá Thể bảo hộ nào đứng giữa y và nguồn vĩnh cửu của mọi quyền năng. Đức Christ hiện diện, nâng đỡ và chăm chú. Ngài đứng trực tiếp phía sau điểm đạo đồ để chặn lại và phân phối tiềm lực đi qua thể và các trung tâm của điểm đạo đồ; ứng viên cũng được kèm hai bên bởi hai Chân sư. Tuy nhiên, y vẫn đối diện với Đấng Điểm đạo một mình và không được che chở. Ngay cả lúc này, trong lần điểm đạo muộn hơn nhiều này, y vẫn chưa thể thấy “mắt đối mắt”—như cách nói ấy. Y nhận biết một điểm ánh sáng đang lớn dần, từ một điểm kim có độ rực sáng mãnh liệt nhất phát triển trước mặt y thành một ngôi sao năm cánh. Ở lần điểm đạo thứ tư, không phải một ngôi sao chiếu rạng trước mặt y, mà là một tam giác; và bên trong tam giác ấy y sẽ nhận thấy một con mắt đang nhìn y, và lần đầu tiên y thực sự thấy Đấng Tối Cao “mắt đối mắt.” Ở lần điểm đạo thứ năm, không còn [177] biểu tượng hay chất liệu ánh sáng nào ngăn cách hay bảo vệ y, mà y đứng trước Đấng Điểm đạo mặt đối mặt, và quyền tự do của Thành của Thượng đế là của y. Y chưa phải là một Thành Viên của Đại Hội Đồng, nhưng y có quyền vào Shamballa, và từ điểm đó y tiến tới một mối liên hệ mật thiết hơn, nếu đó là định mệnh được chọn của y. Thậm chí cuối cùng y có thể không trở thành một Thành Viên của Đại Hội Đồng; điều đó được dành cho tương đối ít người và cho những Đấng có thể trải qua những lần điểm đạo còn cao hơn nữa trong vòng-giới-hạn của hành tinh chúng ta—một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Có những lựa chọn khác thú vị, như tôi đã nói với bạn ở nơi khác. Điểm đạo đồ có thể rời khỏi hẳn sự sống hành tinh này theo một hay một con đường khác trong số các Con Đường khác nhau nhờ đó một Chân sư có thể bắt đầu bước lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu và cho điều đó tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ sẽ chuẩn bị cho Ngài. Dù Ngài đi theo Con Đường nào, Chân sư vẫn là một phần của mục đích; Ngài mãi mãi biết bí mật của bóng tối mang lại ánh sáng, và “ý chí khôn dò của Thượng đế” không còn là một huyền nhiệm đối với Ngài. Ngài lĩnh hội ý tưởng thiêng liêng và giờ đây có thể hợp tác với nó; Ngài đã đạt đến một điểm chứng nghiệm cho phép Ngài dò thấu điều nằm sau Thiên Cơ mà Thánh đoàn đã làm việc vì nó qua các đại kiếp. |
|
Just as the disciple enters the world of meaning and so can interpret events, just as the Hierarchy works in the world of mediation, applying the Plan which the world of meaning has revealed, so the higher initiate works consciously in the world of purpose which the Plan implements, the world of meaning interprets, and the world of events expresses in sequential order and under the evolutionary Law. |
Cũng như đệ tử bước vào thế giới của ý nghĩa và nhờ đó có thể diễn giải các biến cố, cũng như Thánh đoàn làm việc trong thế giới của trung gian, áp dụng Thiên Cơ mà thế giới của ý nghĩa đã mặc khải, thì điểm đạo đồ cao cấp làm việc một cách có ý thức trong thế giới của mục đích mà Thiên Cơ thực thi, thế giới của ý nghĩa diễn giải, và thế giới của các biến cố biểu lộ theo trình tự tuần tự và dưới Định luật tiến hoá. |
|
The symbol which expresses the door of evolution is the crescent moon; that of the process of evolution—as it affects the material or substantial life of the man—is the waxing and the waning moon—the symbol of growing desire and of the dying out of desire. The symbol of the world of meaning is Light—the light which shines upon the ways of men, interpreting events and bestowing revelation. The [178] symbol of the world of mediation is the revolving Cross, whilst the symbol of the world of purpose is a twofold one: the five-pointed star and then the radiant heart of the Sun. Remember that when we talk and think in symbols, we are placing something between ourselves and reality—something protective, interpretive and significant, but something nevertheless veiling and hiding. After the fifth initiation all veils are rent and naught stands between the initiate and Essential Being. |
Biểu tượng diễn tả cánh cửa của tiến hoá là trăng lưỡi liềm; biểu tượng của tiến trình tiến hoá—khi nó tác động đến đời sống vật chất hay chất liệu của con người—là trăng tròn dần rồi khuyết dần—biểu tượng của dục vọng tăng trưởng và của dục vọng tàn lụi. Biểu tượng của thế giới của ý nghĩa là Ánh sáng—ánh sáng chiếu soi các nẻo đường của con người, diễn giải các biến cố và ban cho sự mặc khải. Biểu tượng [178] của thế giới của trung gian là Thập giá quay tròn, còn biểu tượng của thế giới của mục đích là một biểu tượng nhị phân: ngôi sao năm cánh rồi đến trái tim rực sáng của Mặt Trời. Hãy nhớ rằng khi chúng ta nói và suy nghĩ bằng biểu tượng, chúng ta đang đặt một cái gì đó giữa chính mình và thực tại—một cái gì đó có tính bảo hộ, diễn giải và đầy thâm nghĩa, nhưng dẫu sao vẫn là cái gì đó che phủ và che giấu. Sau lần điểm đạo thứ năm, mọi màn che đều bị xé toạc và không còn gì đứng giữa điểm đạo đồ và Hiện Hữu Cốt Yếu. |