APPENDIX — PHỤ LỤC
FIVE GREAT SPIRITUAL EVENTS — NĂM BIẾN CỐ TINH THẦN VĨ ĐẠI
|
[741] |
[741] |
|
(Written February 1949) |
(Viết tháng Hai năm 1949) |
|
You (A.A.B.) have asked me what I considered the most important and significant events from the spiritual angle at this present time. This question highlights a theme which is exceedingly apposite, following as it does upon what I have just given anent the Great Renunciation (see pages 602-614) and its consequent revelation or (as the Christian churches call them) the Crucifixion and the Resurrection. The Christian resurrection is, however—from the angle of the great Lodge on Sirius—only a minor one and a passing resurrection, though the revelation subsequently accorded is lasting and permanent in its effects. |
Bạn (A.A.B.) đã hỏi tôi điều gì tôi xem là những biến cố quan trọng và có ý nghĩa nhất từ góc độ tinh thần vào thời điểm hiện nay. Câu hỏi này làm nổi bật một chủ đề hết sức thích đáng, tiếp nối điều tôi vừa trao ra liên quan đến Sự Từ Bỏ Vĩ Đại (xem các trang 602-614) và sự mặc khải hệ quả của nó hay (như các giáo hội Cơ Đốc gọi chúng) sự Đóng Đinh và sự Phục Sinh. Tuy nhiên, sự phục sinh của Cơ Đốc giáo—xét từ góc độ của đại Thánh đoàn trên Sirius—chỉ là một sự phục sinh nhỏ và thoáng qua, mặc dù sự mặc khải được ban sau đó thì bền vững và thường tồn trong các hiệu quả của nó. |
|
There are five great spiritual events in which all humanity is today sharing, and two which will take place later, when the first five have established their lasting effects. |
Có năm biến cố tinh thần vĩ đại mà toàn thể nhân loại ngày nay đang cùng chia sẻ, và còn hai biến cố sẽ diễn ra về sau, khi năm biến cố đầu tiên đã thiết lập được các hiệu quả lâu bền của chúng. |
|
These events are based upon a forced and not upon a spontaneous renunciation (as is the case in the true experience of the Renunciation Initiation); they will lead nevertheless to a revelation which is imminent in its dawning and which will confront humanity before so very long. |
Những biến cố này dựa trên một sự từ bỏ bị cưỡng bách chứ không phải tự phát (như trường hợp trong kinh nghiệm đích thực của Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ); tuy nhiên, chúng sẽ dẫn đến một sự mặc khải đang gần kề trong buổi bình minh của nó và sẽ đối diện nhân loại chẳng bao lâu nữa. |
|
The war of 1914-1945 is over; its aftermath of suffering, famine, selfish reactions, suspicion and unseemly struggle for supremacy is equally as bad as the past war; the effects are more lasting, because the war has been largely transferred to the mental plane. The physical effects of war are far more easily obliterated than are the mental effects. The great question with which the Hierarchy is today faced is: Will the race of men succeed in renouncing their present material objectives and so prepare the way for a great revelation? The Coming of the Christ Himself is not the revelation which is to be accorded, but He will simplify the thinking of men so that a widespread illumination and [742] recognition of the revelation will be possible. The next few years will indicate the way the tide will turn, and whether the reactionary, material and selfish forces which have controlled for millenia of years will finally control. This reactionary and material spirit taints every department of human life, and the churches are no exception. Humanity can, however, learn its lesson and turn thankfully to the “way of righteousness” and to the hitherto unknown technique of right human relations. |
Cuộc chiến tranh 1914-1945 đã chấm dứt; hậu quả của nó là đau khổ, đói kém, những phản ứng ích kỷ, sự nghi kỵ và cuộc tranh đấu không xứng đáng để giành quyền tối thượng cũng tệ hại như chính cuộc chiến trước đó; các hiệu quả còn lâu dài hơn, vì chiến tranh phần lớn đã được chuyển sang cõi trí. Các hiệu quả hồng trần của chiến tranh dễ bị xóa bỏ hơn nhiều so với các hiệu quả trí tuệ. Câu hỏi lớn mà Thánh đoàn ngày nay đang phải đối diện là: Liệu nhân loại có thành công trong việc từ bỏ các mục tiêu vật chất hiện tại của họ và như thế chuẩn bị con đường cho một sự mặc khải vĩ đại hay không? Chính sự Quang Lâm của Đức Christ không phải là sự mặc khải sẽ được ban cho, nhưng Ngài sẽ làm cho tư tưởng của con người trở nên đơn giản hơn để một sự soi sáng rộng khắp và [742] sự nhận biết về sự mặc khải trở nên khả hữu. Vài năm tới sẽ chỉ ra chiều hướng mà thủy triều sẽ xoay chuyển, và liệu các mãnh lực phản động, vật chất và ích kỷ đã kiểm soát suốt hàng thiên niên kỷ cuối cùng có tiếp tục kiểm soát hay không. Tinh thần phản động và vật chất này làm ô nhiễm mọi lĩnh vực của đời sống con người, và các giáo hội cũng không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, nhân loại có thể học bài học của mình và biết ơn quay về với “con đường chính trực” và với kỹ thuật cho đến nay chưa được biết đến của những tương quan đúng đắn giữa người với người. |
|
I seek not to deal in detail with the evil which holds the world in thrall. Enough is already known and a small handful (small in comparison to the many millions) of hierarchical workers in all departments of life are struggling to awaken humanity to the risks they are running, and to the finality of the decision which the next two generations will be forced to make. More will come to the surface as we study present-day happenings from the angle of renunciation and resurrection. |
Tôi không tìm cách bàn chi tiết về điều ác đang giam hãm thế giới trong vòng nô lệ. Đã có đủ điều được biết đến, và một nhóm nhỏ—nhỏ so với nhiều triệu người—những người hoạt động của Thánh đoàn trong mọi lĩnh vực đời sống đang nỗ lực đánh thức nhân loại trước những hiểm nguy mà họ đang đối mặt, và trước tính quyết định tối hậu của sự lựa chọn mà hai thế hệ kế tiếp sẽ buộc phải thực hiện. Nhiều điều nữa sẽ nổi lên bề mặt khi chúng ta nghiên cứu các biến cố hiện thời từ góc độ của Sự từ bỏ và phục sinh. |
|
I would like first of all to point out that: |
Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng: |
|
1. The mass of the people are sound, but ignorant of the higher values; that can be slowly righted. They are negative as yet in action, and prone to words and not deeds. They are easily led and also easily swayed by imparted fears. |
1. Quần chúng nói chung là lành mạnh, nhưng không biết đến các giá trị cao hơn; điều đó có thể được sửa chữa dần dần. Họ vẫn còn thụ động trong hành động, và thiên về lời nói hơn việc làm. Họ dễ bị dẫn dắt và cũng dễ bị dao động bởi những nỗi sợ được gieo vào. |
|
2. The evil in the world and that which is primarily guilty of swaying the masses at this time is focussed through a few powerful men or groups of powerful men. No country is free from this control, or from this attempted control. These powerful groups are swayed in their turn by the forces of evil—forces which were not “sealed in their own place,” because the plan of love and light and power still lacks positive and worldwide presentation. |
2. Điều ác trong thế giới và cái chủ yếu chịu trách nhiệm chi phối quần chúng vào lúc này được tập trung qua một vài người quyền lực hoặc những nhóm người quyền lực. Không quốc gia nào thoát khỏi sự kiểm soát này, hay khỏi nỗ lực kiểm soát này. Đến lượt mình, các nhóm quyền lực ấy lại bị chi phối bởi các mãnh lực của điều ác—những mãnh lực đã không bị “niêm phong trong chỗ riêng của chúng,” bởi vì kế hoạch của tình thương, ánh sáng và quyền năng vẫn còn thiếu một sự trình bày tích cực và trên phạm vi toàn cầu. |
|
3. The aspirants, disciples and spiritual workers of the world are not acting in full concert with the Hierarchy. They are swayed by fear, by a sense of futility and by a too acute understanding of the nature of the forces of evil with which they are confronted. The picture of what must be accomplished looms too large; there is little organised [743] cooperation among them, and no welding together into a united group for world salvage and service. |
3. Những người chí nguyện, các đệ tử và những người hoạt động tinh thần của thế giới không hành động trong sự hòa hợp trọn vẹn với Thánh đoàn. Họ bị chi phối bởi sợ hãi, bởi cảm giác vô ích và bởi một sự thấu hiểu quá sắc bén về bản chất của các mãnh lực ác mà họ đang đối diện. Bức tranh về điều phải được hoàn thành hiện ra quá lớn; giữa họ có rất ít sự hợp tác được tổ chức [743] và không có sự kết hợp thành một nhóm thống nhất để cứu vớt và phụng sự thế giới. |
|
The spiritual opportunity is, however, emerging with increasing clarity in the minds of thinking men and women, even if it is not expressed by them in orthodox (so-called) terms or in recognised or spiritual terms. Perhaps a clear statement of that which the active spiritual Forces are seeking to bring about may prove helpful. If the Forces of Evil are active and organised, the Forces of Light are equally active, but not so well organised. The basic goal is the freedom and the liberation of mankind, but the spiritual workers are handicapped by the fact that men themselves must make free choice and decision in order to be free; they can only be liberated when they—as individuals and later as groups—liberate themselves from the expressed thought-control of the powerful dominating groups and from the fears which these groups intentionally engender. Freedom can never be conferred through totalitarian methods; liberation cannot come through a dictator or dictating groups. A realisation of the manner in which the hierarchical forces are working and a recognition that all men are today immersed in vital spiritual happenings may serve to encourage the faithful and give a quickening vision to those who are struggling on behalf of human freedom. |
Tuy nhiên, cơ hội tinh thần đang xuất hiện ngày càng rõ rệt trong tâm trí của những người nam và nữ biết suy tư, dù họ không diễn đạt điều đó bằng những thuật ngữ chính thống (cái gọi là như vậy) hay bằng những thuật ngữ được công nhận hoặc tinh thần. Có lẽ một phát biểu rõ ràng về điều mà các Mãnh Lực tinh thần đang hoạt động tìm cách mang lại sẽ hữu ích. Nếu các Mãnh Lực Ác đang hoạt động và có tổ chức, thì các Mãnh Lực Ánh Sáng cũng hoạt động không kém, nhưng không được tổ chức tốt bằng. Mục tiêu căn bản là tự do và giải phóng nhân loại, nhưng những người hoạt động tinh thần bị cản trở bởi sự kiện là chính con người phải tự do lựa chọn và quyết định để được tự do; họ chỉ có thể được giải phóng khi chính họ—với tư cách cá nhân và sau đó là với tư cách nhóm—tự giải phóng mình khỏi sự kiểm soát tư tưởng được biểu lộ của các nhóm thống trị quyền lực và khỏi những nỗi sợ mà các nhóm ấy cố ý gây ra. Tự do không bao giờ có thể được ban cho bằng các phương pháp toàn trị; sự giải phóng không thể đến qua một nhà độc tài hay các nhóm độc đoán. Sự chứng nghiệm về cách thức các mãnh lực của Thánh đoàn đang hoạt động và sự nhận biết rằng ngày nay mọi người đều đang chìm trong những biến cố tinh thần sống động có thể giúp khích lệ những người trung tín và ban cho một linh thị sinh động hơn cho những ai đang đấu tranh vì tự do của nhân loại. |
|
What are the five spiritual events in which all are consciously or unconsciously participating? Let me list them: |
Năm biến cố tinh thần mà mọi người đều đang tham dự một cách hữu thức hay vô thức là gì? Hãy để tôi liệt kê chúng: |
|
1. The crisis of the ideologies. |
1. Cuộc khủng hoảng của các hệ tư tưởng. |
|
2. The steady awakening of men everywhere to better understanding. |
2. Sự thức tỉnh đều đặn của con người ở khắp nơi hướng tới sự thấu hiểu tốt đẹp hơn. |
|
3. The growth of goodwill, as it reveals cleavages. |
3. Sự tăng trưởng của thiện chí, khi nó làm lộ ra các chia rẽ. |
|
4. The partial sealing of the door where evil dwells. |
4. Sự niêm phong một phần cánh cửa nơi điều ác ngự trị. |
|
5. The use of the Great Invocation. |
5. Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện. |
|
These are the five deepest spiritual events happening in the world today. The two which lie ahead in the not too distant future (but which depend upon humanity availing itself of the present opportunity) are: |
Đó là năm biến cố tinh thần sâu xa nhất đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Hai biến cố đang ở phía trước trong một tương lai không quá xa (nhưng tùy thuộc vào việc nhân loại có tận dụng cơ hội hiện tại hay không) là: |
|
6. The closer Approach of the Hierarchy. |
6. Sự Tiếp Cận gần hơn của Thánh đoàn. |
|
7. The imminent Return of the Christ. [744] |
7. Sự Tái Lâm sắp xảy ra của Đức Christ. [744] |
|
1. The Crisis of the Ideologies |
1. Cuộc Khủng Hoảng của các Hệ Tư Tưởng |
|
Men are today confronted with conflicting and antagonistic ideologies or schools of thought, and automatically—according to their background, tradition, training and place of birth—they regard some one of these ideas as true and all the others as false and wrong. They are apt to forget that according to the locale of birth, the national mode of schooling and the nature of the national propaganda, so will be the chosen ideology or the imposed ideology. Very few people are free agents, even in the democracies. A man born in Central Russia, for instance, knows nothing but Communism; he cannot imagine another suitable form of government; again, a man born in the United States or in Great Britain boasts and is pleased that he was born in a democracy, but the accident of birth accounts largely for his attitude. Men need to remember these things and not blame each other for the place in which they are born! We have, therefore, ideologies and their opponents, great schools of thought and modes of government, confronted by organised opposition. One basic premise can be laid down: The platform of the leading ideologies is not necessarily wrong or wicked; it is the imposition by force and by a police state of an ideology, and its use by powerful men or groups for their own benefit, plus the keeping of the people in blind ignorance so that no free choice is theirs—which is fundamentally wicked and evil. |
Ngày nay con người đang đối diện với những hệ tư tưởng hay trường phái tư tưởng xung đột và đối kháng nhau, và một cách tự động—tùy theo bối cảnh, truyền thống, sự đào luyện và nơi sinh của mình—họ xem một trong các ý tưởng ấy là đúng còn tất cả những ý tưởng khác là sai lầm và lệch lạc. Họ dễ quên rằng tùy theo nơi sinh, phương thức giáo dục quốc gia và bản chất của tuyên truyền quốc gia mà hệ tư tưởng được chọn hay bị áp đặt sẽ hình thành. Rất ít người là tác nhân tự do, ngay cả trong các nền dân chủ. Chẳng hạn, một người sinh ra ở miền Trung nước Nga không biết gì ngoài Chủ nghĩa Cộng sản; y không thể hình dung một hình thức chính quyền thích hợp nào khác; cũng vậy, một người sinh ra ở Hoa Kỳ hay ở Anh quốc tự hào và hài lòng vì mình sinh ra trong một nền dân chủ, nhưng phần lớn thái độ của y là do sự ngẫu nhiên của nơi sinh. Con người cần nhớ những điều này và đừng trách cứ nhau vì nơi mình được sinh ra! Vì vậy, chúng ta có các hệ tư tưởng và những người chống đối chúng, các trường phái tư tưởng lớn và các phương thức cai trị, đối diện với sự chống đối có tổ chức. Có thể nêu ra một tiền đề căn bản: Cương lĩnh của các hệ tư tưởng hàng đầu không nhất thiết là sai hay ác; chính sự áp đặt bằng vũ lực và bằng một nhà nước cảnh sát một hệ tư tưởng, và việc sử dụng nó bởi những người quyền lực hay các nhóm quyền lực vì lợi ích riêng của họ, cộng với việc giữ dân chúng trong sự ngu dốt mù quáng để họ không có quyền lựa chọn tự do—đó mới là điều căn bản ác độc và xấu xa. |
|
We have, for instance, the great crisis in the world today presented by the conflict between Communism and the democratic point of view. I mention this first because it is the one which is occupying a prominent position in the eyes of all men everywhere. This presents a dominant spiritual opportunity. The democratic attitude, dedicated as it claims to be to human freedom (however little of that freedom is yet truly attained) is—because of that freedom factor—sponsored today by the Hierarchy. Communism being an imposed ideology, forced on the people by totalitarian authority, is regarded as evil. It is not the communistic [745] theories which are necessarily wrong; it is the technique and the methods, rampant in the totalitarian lands, which are counter to the spiritual plan. Imposed Communism and all totalitarian methods imprison the human soul, and breed fear and hatred everywhere. Should the democratic principles therefore be imposed upon the world or any part of the world by a totalitarian regime, it would be equally wrong. |
Chẳng hạn, ngày nay chúng ta có cuộc khủng hoảng lớn của thế giới được trình bày qua sự xung đột giữa Chủ nghĩa Cộng sản và quan điểm dân chủ. Tôi nhắc đến điều này trước tiên vì đó là vấn đề đang chiếm vị trí nổi bật trong mắt mọi người ở khắp nơi. Điều này mở ra một cơ hội tinh thần chủ yếu. Thái độ dân chủ, vốn tự nhận là tận hiến cho tự do của con người (dù tự do ấy vẫn còn rất ít được thực sự đạt tới), ngày nay—chính vì yếu tố tự do đó—được Thánh đoàn ủng hộ. Chủ nghĩa Cộng sản, vì là một hệ tư tưởng bị áp đặt, cưỡng bức lên dân chúng bởi quyền lực toàn trị, nên bị xem là điều ác. Không nhất thiết các lý thuyết cộng sản là sai [745]; chính kỹ thuật và phương pháp, đang hoành hành trong các xứ sở toàn trị, mới đi ngược với Thiên Cơ tinh thần. Chủ nghĩa Cộng sản bị áp đặt và mọi phương pháp toàn trị đều giam hãm linh hồn con người, và gieo rắc sợ hãi cùng hận thù khắp nơi. Vậy thì các nguyên tắc dân chủ có nên bị áp đặt lên thế giới hay lên bất kỳ phần nào của thế giới bởi một chế độ toàn trị không? Nếu thế, điều đó cũng sai lầm như nhau. |
|
These conflicting ideologies are presenting clearly to the human consciousness certain great distinctions; these distinctions are found in techniques and methods far more than in the various tenets. Many of the people most violently fighting Communism could not tell you succinctly what those tenets are, but they are fighting—and rightly fighting—the totalitarian methods of cruelty, spying, murder, suppression and the lack of freedom. What they are doing in truth is fighting the abominable methods of imposing the rule of a few evil and ambitious men upon the ignorant masses, under the name of Communism. They are fighting the technique of exploiting the ignorant through misinformation, organised lying and limited education. They are fighting against the sealing up of nations within the confines of their own territory, against the police state, the lack of free enterprise and the reduction of men and women to automatons. This is the true imprisonment of the human spirit. The situation is, however, so pronounced and the evil so obvious (and the human spirit so basically and divinely strong) that it will eventually defeat itself; when the present group of totalitarian rulers (behind what you call the “iron curtain”) die out a different state of affairs will gradually supervene and a true Communism (in the spiritual sense of the term) will take the place of the present wickedness. |
Những hệ tư tưởng xung đột này đang trình bày rõ ràng cho tâm thức nhân loại một số khác biệt lớn; các khác biệt ấy được tìm thấy trong kỹ thuật và phương pháp nhiều hơn là trong các giáo điều khác nhau. Nhiều người đang chống Chủ nghĩa Cộng sản một cách dữ dội nhất lại không thể nói ngắn gọn cho bạn biết các giáo điều ấy là gì, nhưng họ đang chiến đấu—và chiến đấu đúng đắn—chống lại các phương pháp toàn trị của sự tàn ác, do thám, sát hại, đàn áp và thiếu tự do. Thực ra, điều họ đang làm là chiến đấu chống lại những phương pháp ghê tởm nhằm áp đặt sự cai trị của một vài người ác độc và đầy tham vọng lên quần chúng ngu dốt, dưới danh nghĩa Chủ nghĩa Cộng sản. Họ đang chiến đấu chống lại kỹ thuật khai thác người thiếu hiểu biết bằng thông tin sai lệch, dối trá có tổ chức và giáo dục hạn chế. Họ đang chiến đấu chống lại việc phong bế các quốc gia trong ranh giới lãnh thổ riêng của họ, chống lại nhà nước cảnh sát, chống lại sự thiếu vắng tự do kinh doanh và chống lại việc hạ thấp những người nam và nữ thành những cỗ máy tự động. Đó là sự giam cầm thực sự của tinh thần con người. Tuy nhiên, tình hình quá rõ rệt và điều ác quá hiển nhiên (và tinh thần con người về căn bản và thiêng liêng quá mạnh mẽ) đến nỗi cuối cùng nó sẽ tự đánh bại chính mình; khi nhóm những nhà cai trị toàn trị hiện nay (đằng sau cái mà các bạn gọi là “bức màn sắt”) qua đi, một tình trạng khác sẽ dần dần xuất hiện và một Chủ nghĩa Cộng sản chân chính (theo nghĩa tinh thần của thuật ngữ này) sẽ thay thế sự ác độc hiện tại. |
|
On the other hand, the much vaunted democracies have much to learn. Men are not truly free, even in democratic countries; the Negroes, for instance, lack their constitutional rights in parts of the United States; and in South Africa, their educational facilities and their opportunity [746] to work and live as free men are not equal to those of the white race; in the southern states, the Constitution of the United States is infringed every day by those who believe in white supremacy—a supremacy which will be put to a crucial test when Africa awakes. This attitude of the United States and their failure to live up to the Constitution where Negroes are concerned, have greatly weakened the faith of other countries in the wonder of America, and the situation in South Africa is not honoured by thinking men. I mention these two situations because there is widespread evil even in the democracies; a true house cleaning is sorely needed. |
Mặt khác, các nền dân chủ được ca tụng quá mức cũng còn nhiều điều phải học. Con người chưa thực sự tự do, ngay cả trong các quốc gia dân chủ; chẳng hạn, người da đen thiếu các quyền hiến định của họ ở một số vùng của Hoa Kỳ; và tại Nam Phi, điều kiện giáo dục của họ và cơ hội [746] làm việc và sống như những con người tự do không ngang bằng với người da trắng; tại các bang miền Nam, Hiến pháp Hoa Kỳ bị vi phạm mỗi ngày bởi những kẻ tin vào quyền tối thượng của người da trắng—một quyền tối thượng sẽ bị thử thách nghiêm trọng khi châu Phi thức tỉnh. Thái độ này của Hoa Kỳ và việc họ không sống đúng với Hiến pháp trong vấn đề người da đen đã làm suy yếu rất nhiều niềm tin của các quốc gia khác vào điều kỳ diệu của nước Mỹ, và tình trạng ở Nam Phi không được những người biết suy tư kính trọng. Tôi nhắc đến hai tình huống này vì ngay cả trong các nền dân chủ cũng có điều ác lan rộng; một cuộc thanh lọc thực sự là điều rất cần thiết. |
|
The imperialism of democratic Britain has badly marred an otherwise fine record on behalf of dependent peoples, but it is rapidly becoming a thing of the past, as Britain gives freedom of choice and democratic liberation to India, Pakistan, Ceylon and Burma. Each of those liberations was in the nature of a spiritual expansion of consciousness to the British people and a spiritual opportunity, of which only Ceylon and Pakistan show signs of being aware. Always, in every department of human living, the spiritual and the material aims are making their presence and their differences clearly felt; the spiritual issue, as I have lately pointed out to you, is the imprisonment of the human spirit or its freedom and liberation. |
Chủ nghĩa đế quốc của nước Anh dân chủ đã làm hoen ố nặng nề một thành tích vốn tốt đẹp trong việc bênh vực các dân tộc lệ thuộc, nhưng nó đang nhanh chóng trở thành chuyện của quá khứ, khi Anh trao quyền tự do lựa chọn và sự giải phóng dân chủ cho Ấn Độ, Pakistan, Tích Lan và Miến Điện. Mỗi sự giải phóng ấy đều mang bản chất của một sự mở rộng tâm thức tinh thần nơi dân tộc Anh và là một cơ hội tinh thần, mà chỉ Tích Lan và Pakistan cho thấy dấu hiệu nhận biết. Luôn luôn, trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, các mục tiêu tinh thần và vật chất đều làm cho sự hiện diện và sự khác biệt của chúng được cảm nhận rõ ràng; như gần đây tôi đã chỉ ra cho các bạn, vấn đề tinh thần là sự giam cầm tinh thần con người hay tự do và giải phóng của nó. |
|
True Democracy is as yet unknown; it awaits the time when an educated and enlightened public opinion will bring it to power; towards that spiritual event, mankind is hastening. The battle of Democracy will be fought out in the United States. There the people at present vote and organise their government on a personality basis and not from any spiritual or intelligent conviction. There is a material, selfish aspect to Democracy (rampant today), and there is a spiritual aspect, little sought after; there are material and spiritual aspects to Communism, but its adherents know them not, and only a ruthless materialism is conveyed to them. |
Nền Dân chủ chân chính vẫn còn chưa được biết đến; nó chờ đợi thời điểm khi một dư luận công chúng được giáo dục và soi sáng sẽ đưa nó lên nắm quyền; nhân loại đang vội vã tiến về biến cố tinh thần ấy. Trận chiến của Dân chủ sẽ được quyết định tại Hoa Kỳ. Ở đó, hiện nay dân chúng bỏ phiếu và tổ chức chính quyền của họ trên cơ sở phàm ngã chứ không phải từ bất kỳ xác tín tinh thần hay trí tuệ nào. Có một phương diện vật chất, ích kỷ của Dân chủ (đang hoành hành ngày nay), và có một phương diện tinh thần, ít được tìm kiếm; Chủ nghĩa Cộng sản cũng có các phương diện vật chất và tinh thần, nhưng những người theo nó không biết đến chúng, và chỉ có một chủ nghĩa duy vật tàn nhẫn được truyền đạt cho họ. |
|
There is again the ideology of Socialism which is regarded [747] by some as a basic evil. Socialism can degenerate into another form of totalitarianism, or it can be more democratic than the present expressions of Democracy. These issues will emerge clearly in Great Britain, where the socialist point of view is gaining ground among the masses, but which at present is a mixture of nationalisation of the public utilities and of free enterprise—a combination which may have true value, if preserved. |
Lại còn có hệ tư tưởng của Chủ nghĩa Xã hội, điều mà một số người xem là [747] một điều ác căn bản. Chủ nghĩa Xã hội có thể thoái hóa thành một hình thức toàn trị khác, hoặc nó có thể dân chủ hơn những biểu hiện hiện tại của Dân chủ. Những vấn đề này sẽ hiện ra rõ ràng tại Anh quốc, nơi quan điểm xã hội chủ nghĩa đang giành được chỗ đứng trong quần chúng, nhưng hiện nay là một sự pha trộn giữa quốc hữu hóa các tiện ích công cộng và tự do kinh doanh—một sự kết hợp có thể có giá trị thực sự, nếu được duy trì. |
|
There are other ideologies in the political, social and economic fields but these with which I have dealt constitute a triangle of schemes undergoing national and political experiments in different countries throughout the world. All of them have a religious and spiritual side; all of them are tainted with materialism; one of them is wickedly totalitarian and is finding followers; another is the victim of the stupid lack of interest of its people; another is in the throes of an experiment which may or may not prove successful. Under the impact of these ideologies the spiritual growth of the human family is fostered, because the emerging spiritual factor (under the evolutionary law) is ever present, and always there is to be found a tendency towards God and divine expression. That is why the issue is stressed between Christianity and Communism—a controversy emphasised by the Roman Catholic Church, but one into which the communistic nations are already drawing the Protestant churches. |
Còn có những hệ tư tưởng khác trong các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế, nhưng những hệ mà tôi đã bàn đến tạo thành một tam giác các mô hình đang trải qua những thử nghiệm quốc gia và chính trị tại các quốc gia khác nhau trên khắp thế giới. Tất cả chúng đều có một mặt tôn giáo và tinh thần; tất cả đều bị nhuốm màu duy vật; một trong số đó là toàn trị một cách ác độc và đang tìm được người theo; một hệ khác là nạn nhân của sự thiếu quan tâm ngu xuẩn nơi dân chúng của nó; một hệ khác nữa đang ở trong cơn quằn quại của một cuộc thử nghiệm có thể thành công hoặc không. Dưới tác động của các hệ tư tưởng này, sự tăng trưởng tinh thần của gia đình nhân loại được thúc đẩy, bởi vì yếu tố tinh thần đang xuất hiện (theo định luật tiến hoá) luôn hiện diện, và luôn luôn có thể tìm thấy một xu hướng hướng về Thượng đế và sự biểu lộ thiêng liêng. Đó là lý do vì sao vấn đề được nhấn mạnh giữa Cơ Đốc giáo và Chủ nghĩa Cộng sản—một cuộc tranh luận được Giáo hội Công giáo La Mã nhấn mạnh, nhưng cũng là điều mà các quốc gia cộng sản đang lôi kéo các giáo hội Tin Lành vào. |
|
From the standpoint of the Hierarchy, these three ideologies are three aspects of one great spiritual event; the outcome of the interplay between them can eventuate in an increased spiritual approach to divinity or (if the Forces of Light do not triumph) they can drive mankind deeper into the pit or prison of materialism. The intense political interest of the Catholic Church, plus its gross materialism, acts as a great handicap to the steady gain of the spiritual position; if however, the Catholic hierarchy can renounce or relinquish its material and political aims and present the love of God in its beauty, it can do much to lead humanity out of darkness into light. If the United States can equally [748] renounce its gross materialism, it can give a lead to the world along spiritual lines which will be beyond anything yet demonstrated and, aided by Great Britain, the two great democracies, expressing right human relations and the fellowship of man, can do great things for the race. Great Britain is learning a sense of values, and being drawn away from materialism through great privation; it is hoped that she will consciously renounce materialism. |
Từ quan điểm của Thánh đoàn, ba hệ tư tưởng này là ba phương diện của một biến cố tinh thần lớn; kết quả của sự tương tác giữa chúng có thể dẫn đến một sự tiếp cận tinh thần gia tăng đối với thiên tính hoặc (nếu các Mãnh Lực Ánh Sáng không chiến thắng) chúng có thể đẩy nhân loại sâu hơn vào hố hay nhà tù của chủ nghĩa duy vật. Mối quan tâm chính trị mãnh liệt của Giáo hội Công giáo, cộng với chủ nghĩa duy vật thô thiển của nó, là một trở ngại lớn đối với sự tiến triển vững chắc của lập trường tinh thần; tuy nhiên, nếu phẩm trật Công giáo có thể từ bỏ hay buông bỏ các mục tiêu vật chất và chính trị của mình và trình bày tình thương của Thượng đế trong vẻ đẹp của nó, thì giáo hội ấy có thể làm nhiều điều để dẫn dắt nhân loại ra khỏi bóng tối vào ánh sáng. Nếu Hoa Kỳ cũng có thể [748] từ bỏ chủ nghĩa duy vật thô thiển của mình, thì nước ấy có thể dẫn dắt thế giới theo những đường hướng tinh thần vượt xa bất cứ điều gì từng được biểu lộ, và với sự trợ giúp của Anh quốc, hai nền dân chủ lớn này, biểu lộ các mối tương quan nhân loại đúng đắn và tình huynh đệ của con người, có thể làm những việc lớn lao cho nhân loại. Anh quốc đang học một ý thức về giá trị, và đang được kéo ra khỏi chủ nghĩa duy vật qua những thiếu thốn lớn lao; hy vọng rằng bà sẽ một cách hữu thức từ bỏ chủ nghĩa duy vật. |
|
I would like to remind you here that the spiritual Hierarchy of our planet cares not whether a man is a democrat, a socialist or a communist, or whether he is a Catholic, a Buddhist, or an unbeliever of any kind. It cares only that humanity—as a whole—avail itself of spiritual opportunity. It is an opportunity which is present today in a more compelling way than ever before. |
Tôi muốn nhắc các bạn ở đây rằng Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta không quan tâm một người là người dân chủ, người xã hội chủ nghĩa hay người cộng sản, hay người đó là người Công giáo, Phật tử, hay một kẻ vô tín ngưỡng dưới bất kỳ hình thức nào. Điều duy nhất Thánh đoàn quan tâm là nhân loại—như một toàn thể—phải tận dụng cơ hội tinh thần. Đó là một cơ hội hiện diện ngày nay theo một cách thôi thúc hơn bao giờ hết. |
|
2. Man’s steady Awakening to better Understanding |
2. Sự Thức Tỉnh đều đặn của con người hướng tới sự Thấu Hiểu tốt đẹp hơn |
|
The general effect of these clashing ideologies and the result of the war among the world religions have started men thinking in every land. Men are emerging out of the mental lethargy which has characterised them for so long. The man in the street is today thinking, pondering, wondering, planning and deciding. In past centuries, it was only those who had benefited by education and those in the “upper brackets” who thought and planned. This tendency to thought indicates the coming into activity of a new and better civilisation, and this is preparatory to spiritual events of major importance. The spirit of man, usually unconsciously, is driving onwards towards a more spiritual civilisation and culture. I did not say towards a more religious expression of truth. A more spiritual inter-relation is on its way and the establishing on a worldwide scale of right human relations indicates this. We shall have eventually a spiritual focussing which will be divorced from the present orthodox religions, but which will be in tune with the hidden, spiritual factor in all religions. Men are not, in reality, looking for the Christ to come as a religious leader; they look for Him to come to them in the field of [749] their greatest need, to point the way to resurrection and the revelation which will inevitably follow man’s renunciation of the material values. |
Tác động chung của các hệ tư tưởng va chạm này và kết quả của cuộc chiến giữa các tôn giáo thế giới đã khiến con người bắt đầu suy nghĩ ở mọi xứ sở. Con người đang thoát ra khỏi sự trì trệ trí tuệ vốn đã đặc trưng cho họ quá lâu. Người bình thường ngày nay đang suy nghĩ, cân nhắc, tự hỏi, hoạch định và quyết định. Trong các thế kỷ trước, chỉ những ai được hưởng nền giáo dục và những người thuộc “tầng lớp trên” mới suy nghĩ và hoạch định. Khuynh hướng hướng tới tư tưởng này cho thấy sự xuất hiện hoạt động của một nền văn minh mới và tốt đẹp hơn, và đó là sự chuẩn bị cho những biến cố tinh thần có tầm quan trọng lớn lao. Tinh thần của con người, thường là một cách vô thức, đang thúc đẩy tiến lên hướng tới một nền văn minh và văn hóa tinh thần hơn. Tôi không nói là hướng tới một sự biểu lộ chân lý mang tính tôn giáo hơn. Một mối tương quan tinh thần hơn đang trên đường xuất hiện và việc thiết lập các mối tương quan nhân loại đúng đắn trên quy mô toàn cầu là dấu hiệu của điều đó. Cuối cùng chúng ta sẽ có một sự tập trung tinh thần tách rời khỏi các tôn giáo chính thống hiện nay, nhưng sẽ hòa điệu với yếu tố tinh thần ẩn tàng trong mọi tôn giáo. Thực ra, con người không tìm kiếm Đức Christ đến như một nhà lãnh đạo tôn giáo; họ mong Ngài đến với họ trong lĩnh vực [749] nhu cầu lớn nhất của họ, để chỉ ra con đường dẫn tới phục sinh và sự mặc khải chắc chắn sẽ theo sau sự từ bỏ các giá trị vật chất của con người. |
|
The prevalent spirit of expectancy and of a truly divine discontent are the guarantees that this second spiritual event is a real factor in our time. Many factors contribute to this awakening. In most countries, through the radio, through the newspapers, through books, magazines and travel, through lectures and forums and simplified human intercourse (to which the automobile and the airplane have greatly contributed) men everywhere are free to know and to understand. This is, of course, not true of those countries where the freedom of the human spirit is attacked. There are two ways in which that freedom of choice can be infringed: First, as in Russia, by keeping the citizenry in ignorance of world affairs, and secondly, by giving them biassed news and misinformation, or a garbled or distorted slant on world affairs, as is the case in most other countries, particularly in the United States. An instance of this can be seen in the fact that the Arabs never got a true hearing in the American newspapers or on the radios; the American people were “pressured” (I think that that is the word you use) into an acceptance of the Zionist position—the motive being oil and mineral riches. |
Tinh thần mong đợi đang lan rộng và một sự bất mãn thực sự thiêng liêng là những bảo chứng rằng biến cố tinh thần thứ hai này là một yếu tố có thật trong thời đại chúng ta. Nhiều yếu tố góp phần vào sự thức tỉnh này. Ở hầu hết các quốc gia, qua radio, báo chí, sách vở, tạp chí và du hành, qua các bài giảng và diễn đàn, và qua sự giao tiếp nhân loại được đơn giản hóa (mà xe hơi và máy bay đã góp phần rất lớn), con người ở khắp nơi được tự do để biết và thấu hiểu. Dĩ nhiên, điều này không đúng với những quốc gia nơi tự do của tinh thần con người bị tấn công. Có hai cách mà quyền tự do lựa chọn ấy có thể bị xâm phạm: thứ nhất, như ở Nga, bằng cách giữ công dân trong sự ngu dốt về các vấn đề thế giới, và thứ hai, bằng cách cung cấp cho họ tin tức thiên lệch và thông tin sai lệch, hay một cách trình bày méo mó hoặc xuyên tạc về các vấn đề thế giới, như trường hợp ở hầu hết các quốc gia khác, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Một ví dụ về điều này có thể thấy ở chỗ người Ả Rập chưa bao giờ có được một sự lắng nghe công bằng trên báo chí Mỹ hay trên radio; dân chúng Mỹ đã bị “gây áp lực” (tôi nghĩ đó là từ các bạn dùng) để chấp nhận lập trường của người Zionist—động cơ là dầu mỏ và khoáng sản giàu có. |
|
But the mentality of man is daily developing and his ability to grasp world affairs is growing. That is one of the greatest of spiritual events and is the foundational fact which makes the life of the soul and the growth of intuitive perception possible on a large scale. This is a by-product of the clash of the ideologies, but is the true and beautiful result of the universal educational system which—faulty though it may be and is—has made it possible for all men to read, to write and to communicate with each other. |
Nhưng trí tuệ của con người đang phát triển từng ngày và khả năng nắm bắt các vấn đề thế giới của y đang tăng lên. Đó là một trong những biến cố tinh thần lớn nhất và là sự kiện nền tảng làm cho đời sống của linh hồn và sự tăng trưởng của linh thị trực giác trở nên khả hữu trên quy mô lớn. Đây là một sản phẩm phụ của sự va chạm giữa các hệ tư tưởng, nhưng là kết quả chân thực và đẹp đẽ của hệ thống giáo dục phổ quát mà—dù có khiếm khuyết đến đâu—đã làm cho mọi người có thể đọc, viết và giao tiếp với nhau. |
|
3. The Growth of Goodwill and the Revelation of Cleavages |
3. Sự Tăng Trưởng của Thiện Chí và Sự Mặc Khải các Chia Rẽ |
|
The result of the world war, of disease, famine and pain, has developed a spirit of community in suffering and [750] in deprivation; this has led to a consequent understanding participation in human difficulties everywhere which is rapidly changing into a spirit of world goodwill. |
Kết quả của chiến tranh thế giới, của bệnh tật, nạn đói và đau khổ, đã phát triển một tinh thần cộng đồng trong đau khổ [750] và trong thiếu thốn; điều này đã dẫn đến một sự tham dự đầy thấu hiểu vào những khó khăn của con người ở khắp nơi, đang nhanh chóng chuyển thành một tinh thần thiện chí thế giới. |
|
This worldwide goodwill, when truly established and correctly organised, is the needed preliminary to revelation, for this coming revelation will be a planetary revelation, shared by all men everywhere. Unitedly all men realise, even today, the need to rise out of the prison of self-interest into the freedom of shared opportunity, and the factor which will bring about this resurrection is goodwill. |
Thiện chí toàn cầu này, khi được thiết lập chân chính và tổ chức đúng đắn, là bước chuẩn bị cần thiết cho sự mặc khải, vì sự mặc khải sắp đến này sẽ là một sự mặc khải hành tinh, được mọi người ở khắp nơi cùng chia sẻ. Ngay cả hôm nay, tất cả mọi người đều cùng nhận ra nhu cầu phải vươn ra khỏi nhà tù của tư lợi để bước vào tự do của cơ hội được chia sẻ, và yếu tố sẽ mang lại sự phục sinh này chính là thiện chí. |
|
One interesting aspect of goodwill is that, as it develops in the human consciousness, it first of all brings a revelation of the existent cleavages which distinguish the political, the religious, the social and the economic life of people everywhere. The revelation of a cleavage is ever accompanied (for such is the beauty of the human spirit) by efforts along all possible lines to bridge or heal the cleavage. This is testified to by the thousands of groups and organisations working to end cleavages and to pull down the barriers to right human relationships. That these efforts may be faulty and fruitless is often of less importance than the fact that the attempts to heal, to help and to establish right human relations are everywhere being made. Modern psychology is an evidence of this, dealing as it does with the problem of the integration of the human being and the healing of the cleavages of his nature. One of the first things to be done is to educate the individual in the necessity to have goodwill not only to his fellowmen but also to himself. The emphasis of medieval Christianity upon weakness, wickedness and the innate sinfulness of the human being has today to be of offset by a true appreciation of divinity in human form. |
Một phương diện thú vị của thiện chí là, khi nó phát triển trong tâm thức nhân loại, trước hết nó mang lại sự mặc khải về những chia rẽ hiện hữu vốn phân biệt đời sống chính trị, tôn giáo, xã hội và kinh tế của con người ở khắp nơi. Sự mặc khải về một chia rẽ luôn đi kèm (vì đó là vẻ đẹp của tinh thần con người) với những nỗ lực theo mọi đường hướng có thể để bắt cầu hay chữa lành chia rẽ ấy. Điều này được chứng thực bởi hàng ngàn nhóm và tổ chức đang hoạt động để chấm dứt các chia rẽ và phá bỏ những rào cản đối với các mối tương quan nhân loại đúng đắn. Những nỗ lực ấy có thể sai lầm và vô hiệu quả, nhưng điều đó thường ít quan trọng hơn sự kiện là những cố gắng chữa lành, giúp đỡ và thiết lập các mối tương quan nhân loại đúng đắn đang được thực hiện ở khắp nơi. Tâm lý học hiện đại là một bằng chứng cho điều này, vì nó đề cập đến vấn đề sự tích hợp của con người và việc chữa lành các chia rẽ trong bản chất của y. Một trong những điều đầu tiên cần làm là giáo dục cá nhân về sự cần thiết phải có thiện chí không chỉ với đồng loại mà còn với chính mình. Sự nhấn mạnh của Cơ Đốc giáo thời trung cổ vào sự yếu đuối, tội lỗi và tính tội lỗi bẩm sinh của con người ngày nay cần được hóa giải bằng một sự đánh giá đúng đắn về thiên tính trong hình tướng con người. |
|
It is not possible to list the cleavages which represent men’s failure to establish and hold good and decent relationships with their fellowmen; there are today cleavages between man and man, between group and group, and also between religions and between nations. The terminology which will express good relations, instead of these, already [751] exists: Union, United, League, Federation, Commonwealth, Right Understanding, Kindness, Human Welfare and many similar terms; they mean, as yet, but little. Some day, however, they will stand for certain substantial realities, but that day is not immediate. The concept of easier, unified and happy relations is nevertheless existent in the minds of many thousands everywhere, and the factual reality will materialise some day. |
Không thể liệt kê hết các chia rẽ biểu hiện sự thất bại của con người trong việc thiết lập và duy trì những mối tương quan tốt đẹp và tử tế với đồng loại; ngày nay có những chia rẽ giữa người với người, giữa nhóm với nhóm, và cả giữa các tôn giáo cũng như giữa các quốc gia. Thuật ngữ sẽ diễn đạt các mối tương quan tốt đẹp, thay cho những điều ấy, đã [751] tồn tại rồi: Liên hiệp, Hợp nhất, Liên đoàn, Liên bang, Khối Thịnh vượng chung, Thấu hiểu Đúng đắn, Lòng tử tế, Phúc lợi Nhân loại và nhiều thuật ngữ tương tự; nhưng hiện nay chúng vẫn còn có ý nghĩa rất ít. Tuy nhiên, một ngày nào đó chúng sẽ tượng trưng cho những thực tại nhất định và vững chắc, nhưng ngày ấy chưa đến ngay. Dẫu vậy, khái niệm về những mối tương quan dễ dàng hơn, hợp nhất hơn và hạnh phúc hơn vẫn đang hiện hữu trong tâm trí của nhiều ngàn người ở khắp nơi, và thực tại thực tế ấy rồi sẽ hiện hình vào một ngày nào đó. |
|
The first step is the wholesome recognition that cleavages exist; it is here that goodwill can do its most useful and necessary work. I do not intend here to stress the nature of that work or state how it should be carried forward. That I have done already many times. It is the cultivation of a spiritual attitude that is needed and the dedication, at all times, and in every possible way, to the will-to-good. The majority of the existent cleavages are now recognised; the delay comes in the task of bridging them and also in shouldering responsibility. Many nations, and especially the U.S.S.R. and the U.S.A., are prompt to adjudicate blame, to point out errors and to advise other nations what is wrong and how to put it right. They both need to clean house themselves and attend to the righting of the wrongs within their own borders. The same is true of all nations, but the others are not so openly engaged in telling other peoples what they should do. Why, for instance, should the U.S.A. deal with the problem of the Indonesian strife and seek to force the Dutch to do what Americans feel should be done, and (at the same time) give not constitutional aid to the just cause of the Negro minority within the States? Why accuse other nations of constant wrong doing, as does Russia, and of breaking treaties, when Russia fails on all points to keep her word or to cooperate in righting world affairs? |
Bước đầu tiên là sự nhìn nhận lành mạnh rằng các chia rẽ đang tồn tại; chính ở đây thiện chí có thể thực hiện công việc hữu ích và cần thiết nhất của nó. Tôi không có ý nhấn mạnh ở đây bản chất của công việc ấy hay nói nó nên được tiến hành như thế nào. Điều đó tôi đã làm nhiều lần rồi. Điều cần thiết là sự vun bồi một thái độ tinh thần và sự tận hiến, vào mọi lúc và bằng mọi cách có thể, cho Ý Chí-hướng Thiện. Phần lớn các chia rẽ hiện hữu nay đã được nhận ra; sự chậm trễ nằm ở nhiệm vụ bắt cầu chúng và cả ở việc gánh vác trách nhiệm. Nhiều quốc gia, đặc biệt là Liên Xô và Hoa Kỳ, rất nhanh chóng quy trách nhiệm, chỉ ra sai lầm và khuyên các quốc gia khác điều gì là sai và phải sửa thế nào. Cả hai đều cần tự thanh lọc chính mình và lo sửa chữa những sai trái trong biên giới của mình. Điều này cũng đúng với mọi quốc gia, nhưng các quốc gia khác không công khai tham gia vào việc bảo các dân tộc khác phải làm gì nhiều đến thế. Chẳng hạn, tại sao Hoa Kỳ lại phải đề cập đến vấn đề xung đột Indonesia và tìm cách ép người Hà Lan làm điều mà người Mỹ cảm thấy nên làm, trong khi đồng thời lại không trao sự trợ giúp hiến định cho chính nghĩa của thiểu số người da đen trong các bang của mình? Tại sao Nga lại buộc tội các quốc gia khác liên tục làm sai, như Nga vẫn làm, và vi phạm các hiệp ước, trong khi chính Nga lại không giữ lời mình ở mọi điểm và không hợp tác trong việc chỉnh đốn các vấn đề thế giới? |
|
The task which the Hierarchy wishes to see accomplished at this time is the spread of goodwill; each person, community and nation should begin with a diagnosis of their own attitude towards goodwill, and then set an example by eliminating cleavages in the home, the business, [752] or the nation. Goodwill is contagious; once a definite start has been made in a pure and disinterested spirit, goodwill will permeate the world and right human relations will be rapidly established. The healing of cleavages is a practical matter. The Spirit of Synthesis, working through the great first ray Avatar (the Avatar of Synthesis) is closer to the Earth than ever before, and the clarity which will emerge in the Light of His Presence is already available; the tendency to integration can therefore be more easily fostered and a new synthesis attained among men. Before, however, integration and synthesis are possible, this first ray energy must work to destroy all that prevents integration and all that is hindering a needed synthesis. Human beings themselves must also destroy the prejudices, the animosities and the fixed ideas which have prevented synthesis, which have created cleavages and hindered right understanding. |
Nhiệm vụ mà Thánh đoàn mong muốn được hoàn thành vào lúc này là sự lan truyền thiện chí; mỗi cá nhân, cộng đồng và quốc gia nên bắt đầu bằng một sự chẩn đoán thái độ của chính mình đối với thiện chí, rồi nêu gương bằng cách loại bỏ các chia rẽ trong gia đình, công việc kinh doanh, [752] hay quốc gia. Thiện chí có tính lây lan; một khi đã có một khởi đầu rõ rệt trong tinh thần thanh khiết và vô tư, thiện chí sẽ thấm khắp thế giới và các mối tương quan nhân loại đúng đắn sẽ nhanh chóng được thiết lập. Việc chữa lành các chia rẽ là một vấn đề thực tiễn. Đấng Tinh thần Tổng Hợp, hoạt động qua Đấng Hoá Thân cung một vĩ đại (Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp), đang ở gần Trái Đất hơn bao giờ hết, và sự minh triết sẽ xuất hiện trong Ánh sáng của Hiện Diện của Ngài đã sẵn có; vì vậy khuynh hướng hướng tới sự tích hợp có thể được nuôi dưỡng dễ dàng hơn và một sự tổng hợp mới có thể đạt được giữa loài người. Tuy nhiên, trước khi sự tích hợp và tổng hợp trở nên khả hữu, năng lượng cung một này phải hoạt động để phá hủy mọi điều ngăn cản sự tích hợp và mọi điều cản trở một sự tổng hợp cần thiết. Chính con người cũng phải phá hủy những thành kiến, những thù nghịch và những ý tưởng cố chấp đã ngăn cản sự tổng hợp, đã tạo ra chia rẽ và cản trở sự thấu hiểu đúng đắn. |
|
4. The partial Sealing of the Door where Evil dwells |
4. Sự Niêm Phong một phần Cánh Cửa nơi Điều Ác ngự trị |
|
Just what do these words mean? More than I can tell you or put into words, for the problem of evil is too difficult a one for the average man to grasp. The problem of the Hierarchy (if I may put it both accurately and yet symbolically) is to liberate the good, free the beautiful, release the true and “immure in prison under seal” that which is not good, that which breeds ugliness and hate, and that which distorts the truth and lies about the future. I have chosen all these words with care; their meaning is obvious, but there are significances far too deep and dangerous for you to grasp. |
Chính xác thì những lời này có nghĩa gì? Nhiều hơn những gì tôi có thể nói với các bạn hay diễn đạt thành lời, vì vấn đề điều ác quá khó để người bình thường nắm bắt. Vấn đề của Thánh đoàn (nếu tôi có thể diễn đạt vừa chính xác vừa biểu tượng) là giải phóng điều thiện, làm tự do cái đẹp, giải thoát chân lý và “giam kín dưới niêm phong” điều không thiện, điều sinh ra xấu xí và hận thù, và điều bóp méo chân lý và nói dối về tương lai. Tôi đã chọn tất cả những từ này một cách cẩn trọng; ý nghĩa của chúng là hiển nhiên, nhưng có những thâm nghĩa quá sâu xa và nguy hiểm để các bạn có thể nắm bắt. |
|
It has been humanity—cumulatively and over millions of years—which has released evil into the world. Thoughts of hate, deeds of cruelty, lying words, sadistic action, selfish intentions and the foulest kind of ambitious selfishness have created a pathway to the “door where evil dwells.” Evil is in reality of two kinds: There is that innate tendency to selfishness and to separation which is inherent in the substance of our planet; of it all forms are made and our planetary Logos inherited it from the residue left over [753] from a previous solar system. That is something unavoidable and something that provides mankind with a needed opportunity and one which men are well equipped to handle and control. There is that in them which can transmute and change it, and it is this that basically constitutes the Science of Redemption. |
Chính nhân loại—một cách tích lũy và qua hàng triệu năm—đã giải phóng điều ác vào thế giới. Những tư tưởng hận thù, những hành động tàn ác, những lời dối trá, những hành vi bạo ngược, những ý định ích kỷ và loại ích kỷ tham vọng bẩn thỉu nhất đã tạo nên một con đường dẫn tới “cánh cửa nơi điều ác ngự trị.” Thực ra điều ác có hai loại: có khuynh hướng bẩm sinh hướng tới ích kỷ và chia rẽ vốn cố hữu trong chất liệu của hành tinh chúng ta; mọi hình tướng đều được tạo nên từ đó, và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã thừa hưởng nó từ phần cặn dư còn lại [753] từ một hệ mặt trời trước. Đó là điều không thể tránh khỏi và là điều cung cấp cho nhân loại một cơ hội cần thiết, một cơ hội mà con người được trang bị đầy đủ để xử lý và kiểm soát. Trong họ có cái có thể chuyển hoá và thay đổi nó, và chính điều này về căn bản cấu thành Khoa Học Cứu Chuộc. |
|
But humanity has not chosen to exert itself in this redemptive activity, and for thousands of years has been controlled by that which is material; it has thus constructed the “broad and easy way” which leads to the place where another kind of evil dwells—an evil which is not indigenous to our planet, an evil with which it was never intended that men should deal. For untold aeons, the Hierarchy has stood like a shield, guarding humanity. But with the coming of a greatly increased mental development, with the repudiation of the Hierarchy by the bulk of humanity, and by the prostitution of religion to material ends and narrow theological and mental tenets, the Hierarchy has been forced (much against its will) to withdraw some measure of its protecting power (though not all of it, fortunately for mankind). The way to the door where evil dwells was unimpeded, and humanity opened wide the door. The entrance for what might be regarded as cosmic evil was first opened in the decadent days of the Roman Empire (which was one reason why the Christ chose to manifest in those days), was opened wider under the corrupt regime of the Kings of France and, in our own day, has been opened still wider by evil men in every land. |
Nhưng nhân loại đã không chọn nỗ lực trong hoạt động cứu chuộc này, và trong hàng ngàn năm đã bị điều vật chất kiểm soát; do đó họ đã xây dựng nên “con đường rộng và dễ” dẫn tới nơi một loại điều ác khác ngự trị—một điều ác không phải bản địa của hành tinh chúng ta, một điều ác mà con người chưa bao giờ được dự định phải đối phó. Trong những thời đại không thể đếm được, Thánh đoàn đã đứng như một tấm khiên che chở, bảo vệ nhân loại. Nhưng với sự xuất hiện của một sự phát triển trí tuệ gia tăng mạnh mẽ, với việc phần lớn nhân loại khước từ Thánh đoàn, và với việc biến tôn giáo thành công cụ cho các mục đích vật chất và những giáo điều thần học và trí tuệ hẹp hòi, Thánh đoàn đã buộc phải (dù rất trái với ý muốn của mình) rút bớt một phần quyền năng bảo hộ của mình (dù may mắn thay không phải toàn bộ, đối với nhân loại). Con đường dẫn tới cánh cửa nơi điều ác ngự trị không còn bị cản trở, và nhân loại đã mở toang cánh cửa ấy. Lối vào cho cái có thể được xem là điều ác vũ trụ lần đầu tiên được mở ra trong những ngày suy đồi của Đế quốc La Mã (đó là một lý do vì sao Đức Christ chọn biểu lộ trong thời kỳ ấy), được mở rộng hơn dưới chế độ thối nát của các Vua nước Pháp, và trong thời đại của chính chúng ta, đã được mở rộng hơn nữa bởi những kẻ ác ở mọi xứ sở. |
|
Remember that the evil to which I refer here is not necessarily the foul and vile things about which people speak with bated breath. These are largely curable and the processes of incarnation eventually purify them. The true nature of cosmic evil finds its major expression in wrong thinking, false values and the supreme evil of materialistic selfishness and the sense of isolated separativeness. These (to speak again in symbols) are the weights which keep the door of evil open and which precipitated upon the world the horrors of war, with all its attendant disasters. |
Hãy nhớ rằng điều ác mà tôi nói đến ở đây không nhất thiết là những điều bẩn thỉu và ghê tởm mà người ta nhắc đến với hơi thở nín lại. Phần lớn những điều ấy có thể chữa được và các tiến trình nhập thể cuối cùng sẽ thanh lọc chúng. Bản chất thực sự của điều ác vũ trụ biểu lộ chủ yếu trong tư tưởng sai lầm, các giá trị giả dối và điều ác tối thượng là ích kỷ duy vật cùng cảm thức chia lìa cô lập. Những điều này (nói lại bằng biểu tượng) là những sức nặng giữ cho cánh cửa của điều ác mở ra và đã giáng xuống thế giới những kinh hoàng của chiến tranh, cùng mọi tai họa đi kèm. |
|
[754] |
[754] |
|
The realisation of what was happening did more temporarily to unify the world and heal the cleavages among nations than any other thing. The nations of the world allied themselves with the Forces of Light to a very large extent, and little by little, cosmic evil was forced back and the door which “conceals the place of endless death and hides the countenances of the Lords of wicked pride and hateful lust” was partially closed, but not entirely shut; its final closing and sealing is not yet accomplished. |
Sự chứng nghiệm về điều đang xảy ra đã làm nhiều tạm thời để hợp nhất thế giới và chữa lành các chia rẽ giữa các quốc gia hơn bất cứ điều gì khác. Các quốc gia trên thế giới đã liên kết với các Mãnh Lực Ánh Sáng ở một mức độ rất lớn, và từng chút một, điều ác vũ trụ bị đẩy lùi và cánh cửa “che giấu nơi của cái chết vô tận và ẩn đi dung nhan của các Chúa Tể của kiêu hãnh độc ác và dục vọng đáng ghét” đã được đóng lại một phần, nhưng chưa hoàn toàn khép kín; việc đóng và niêm phong cuối cùng của nó vẫn chưa được hoàn tất. |
|
There are certain areas of evil in the world today through which these forces of darkness can reach humanity. What they are and where they are I do not intend to say. I would point out, however, that Palestine should no longer be called the Holy Land; its sacred places are only the passing relics of three dead and gone religions. The spirit has gone out of the old faiths and the true spiritual light is transferring itself into a new form which will manifest on earth eventually as the new world religion. To this form all that is true and right and good in the old forms will contribute, for the forces of right will withdraw that good, and incorporate it in the new form. Judaism is old, obsolete and separative and has no true message for the spiritually-minded which cannot be better given by the newer faiths; the Moslem faith has served its purpose and all true Moslems await the coming of the Imam Mahdi who will lead them to light and to spiritual victory; the Christian faith also has served its purpose; its Founder seeks to bring a new Gospel and a new message that will enlighten all men everywhere. Therefore, Jerusalem stands for nothing of importance today, except for that which has passed away and should pass away. The “Holy Land” is no longer holy, but is desecrated by selfish interests, and by a basically separative and conquering nation. |
Ngày nay có những khu vực của điều ác trong thế giới mà qua đó các mãnh lực bóng tối này có thể tiếp cận nhân loại. Chúng là gì và ở đâu thì tôi không có ý nói ra. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng Palestine không còn nên được gọi là Thánh Địa nữa; những nơi thiêng liêng của nó chỉ là những di tích thoáng qua của ba tôn giáo đã chết và qua đi. Tinh thần đã rời khỏi các đức tin cũ và ánh sáng tinh thần chân thực đang chuyển dịch vào một hình thức mới, hình thức cuối cùng sẽ biểu lộ trên trần gian như tôn giáo thế giới mới. Vào hình thức này, tất cả những gì chân thật, đúng đắn và tốt lành trong các hình thức cũ sẽ đóng góp, vì các mãnh lực của điều đúng sẽ rút lấy điều thiện ấy và kết hợp nó vào hình thức mới. Do Thái giáo đã cũ, lỗi thời và chia rẽ, và không có thông điệp chân thực nào cho người có tâm trí tinh thần mà các đức tin mới hơn không thể truyền đạt tốt hơn; đức tin Hồi giáo đã hoàn thành mục đích của nó và mọi tín đồ Hồi giáo chân chính đều đang chờ đợi sự xuất hiện của Imam Mahdi, Đấng sẽ dẫn họ tới ánh sáng và tới chiến thắng tinh thần; đức tin Cơ Đốc cũng đã hoàn thành mục đích của nó; Đấng Sáng Lập của nó đang tìm cách mang đến một Phúc Âm mới và một thông điệp mới sẽ soi sáng mọi người ở khắp nơi. Vì vậy, ngày nay Jerusalem không tượng trưng cho điều gì quan trọng, ngoại trừ điều đã qua đi và nên qua đi. “Thánh Địa” không còn thiêng liêng nữa, mà đã bị xúc phạm bởi các lợi ích ích kỷ, và bởi một quốc gia về căn bản là chia rẽ và chinh phục. |
|
The task ahead of humanity is to close the door upon this worst and yet secondary evil and shut it in its own place. There is enough for humanity to do in transmuting planetary evil without undertaking to battle with that which the Masters Themselves can only keep at bay, but [755] cannot conquer. The handling of this type of evil and its dissipation, and therefore the release of our planet from its danger, is the destined task of Those Who work and live in “the centre where the Will of God is known,” at Shamballa; it is not the task of the Hierarchy or of humanity. Remember this, but remember also that what man has loosed he can aid to imprison; this he can do by fostering right human relations, by spreading the news of the approach of the spiritual Hierarchy, and by preparing for the reappearance of the Christ. Forget not also, the Christ is a Member of the Great Council at Shamballa and brings the highest spiritual energy with Him. Humanity can also cease treading the path to the “door where evil dwells” and can remove itself and seek the Path which leads to light and to the Door of Initiation. |
Nhiệm vụ trước mắt của nhân loại là đóng cánh cửa này lại đối với loại điều ác tồi tệ nhất nhưng vẫn là thứ yếu ấy và nhốt nó vào chỗ riêng của nó. Nhân loại đã có đủ việc phải làm trong việc chuyển hoá điều ác hành tinh mà không cần đảm nhận cuộc chiến với cái mà chính các Chân sư chỉ có thể ngăn chặn, nhưng [755] không thể chinh phục. Việc xử lý loại điều ác này và làm tiêu tan nó, và do đó giải thoát hành tinh chúng ta khỏi hiểm họa của nó, là nhiệm vụ định mệnh của Những Đấng hoạt động và sống trong “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến,” tại Shamballa; đó không phải là nhiệm vụ của Thánh đoàn hay của nhân loại. Hãy nhớ điều này, nhưng cũng hãy nhớ rằng điều gì con người đã thả lỏng ra thì con người có thể giúp giam giữ lại; điều này y có thể làm bằng cách thúc đẩy các mối tương quan nhân loại đúng đắn, bằng cách loan truyền tin tức về sự tiếp cận của Thánh đoàn tinh thần, và bằng cách chuẩn bị cho sự tái xuất hiện của Đức Christ. Cũng đừng quên rằng Đức Christ là một Thành viên của Đại Hội Đồng tại Shamballa và mang theo Ngài năng lượng tinh thần cao nhất. Nhân loại cũng có thể ngừng bước đi trên con đường dẫn tới “cánh cửa nơi điều ác ngự trị” và có thể tự rút lui khỏi đó để tìm kiếm Con Đường dẫn tới ánh sáng và tới Cánh Cửa Điểm Đạo. |
|
5. The Use of the Great Invocation |
5. Việc Sử Dụng Đại Khấn Nguyện |
|
Some time ago I gave out to the world—under instruction from the Christ—an Invocation that is destined to become of major usefulness in bringing about certain great events. These are: |
Cách đây một thời gian, tôi đã trao cho thế giới—theo chỉ thị của Đức Christ—một Khấn Nguyện được định sẵn sẽ trở nên vô cùng hữu ích trong việc mang lại một số biến cố lớn. Đó là: |
|
1. An outpouring of love and light upon mankind, from Shamballa. |
1. Một lần tuôn đổ tình thương và ánh sáng lên nhân loại, từ Shamballa. |
|
2. An invocatory appeal to the Christ, the Head of the Hierarchy, to reappear. |
2. Một lời kêu gọi khẩn cầu hướng tới Đức Christ, Đấng đứng đầu Thánh đoàn, để Ngài tái xuất hiện. |
|
3. The establishing on earth of the divine Plan, to be accomplished willingly by humanity itself. |
3. Việc thiết lập Thiên Cơ thiêng liêng trên trần gian, được hoàn thành một cách tự nguyện bởi chính nhân loại. |
|
Incidentally, these three events are relatively near and will be brought about by a conscious working out of the immediate phase of the plan, which it is the divine intention to bring about to a certain extent, before the reappearance of the Christ. The establishing of right human relations is the immediate task and is that phase of the Plan of Love and Light to which humanity can most easily respond and for which they are already evidencing a sense of responsibility. |
Nhân tiện, ba biến cố này tương đối gần và sẽ được mang lại bởi sự triển khai có ý thức giai đoạn trước mắt của Thiên Cơ, điều mà ý định thiêng liêng muốn thực hiện ở một mức độ nào đó trước khi Đức Christ tái xuất hiện. Việc thiết lập các mối tương quan nhân loại đúng đắn là nhiệm vụ trước mắt và là giai đoạn của Thiên Cơ Bác Ái và Ánh Sáng mà nhân loại có thể đáp ứng dễ dàng nhất và đối với đó họ đã đang biểu lộ một ý thức trách nhiệm. |
|
Little attention has been paid to the factor of invocation as expressed by the people of the world; yet down the [756] ages the invocative cry of humanity has risen to the Hierarchy and brought response. Some day a scientific study will be made of the great world prayers, spiritual statements and invocative appeals and their relation to world events; this relationship will become illuminatingly apparent and the result will be a closer linking of earth and the spiritual centres of love and life. This has not yet been done. Let me illustrate: The spiritual statement by Shri Krishna, to be found in the Lord’s Song, the Bhagavad Gita, was an announcement, preparatory to the coming of the Christ. In that Song He says: |
Ít sự chú ý đã được dành cho yếu tố khẩn cầu như được biểu lộ bởi dân chúng thế giới; tuy nhiên, suốt [756] các thời đại, tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại đã dâng lên Thánh đoàn và mang lại sự đáp ứng. Một ngày nào đó sẽ có một nghiên cứu khoa học về những lời cầu nguyện lớn của thế giới, những tuyên ngôn tinh thần và những lời kêu gọi khẩn cầu, cùng mối liên hệ của chúng với các biến cố thế giới; mối liên hệ này sẽ trở nên hiển nhiên một cách soi sáng, và kết quả sẽ là một sự liên kết chặt chẽ hơn giữa trái đất và các trung tâm tinh thần của tình thương và sự sống. Điều này vẫn chưa được thực hiện. Hãy để tôi minh họa: Tuyên ngôn tinh thần của Shri Krishna, được tìm thấy trong Khúc Ca của Chúa, Bhagavad Gita, là một lời công bố chuẩn bị cho sự xuất hiện của Đức Christ. Trong Khúc Ca ấy Ngài nói: |
|
“Whenever there is a withering of the Law and an uprising of lawlessness on all sides, then I manifest Myself. For the salvation of the righteous and the destruction of such as do evil, for the firm establishing of the Law, I come to birth in age after age.” |
“Bất cứ khi nào có sự tàn lụi của Định luật và sự nổi dậy của vô luật pháp ở khắp nơi, thì Ta biểu lộ chính Ta. Vì sự cứu rỗi của người công chính và sự hủy diệt những kẻ làm điều ác, vì sự thiết lập vững chắc Định luật, Ta giáng sinh hết thời đại này đến thời đại khác.” |
|
In the lawless and wicked period of the Roman Empire, the Christ came. |
Trong thời kỳ vô pháp và ác độc của Đế quốc La Mã, Đức Christ đã đến. |
|
Another instance of a notable and most ancient invocation is to be found in the Gayatri where the people invoke the Sun of Righteousness in the words: “Unveil to us the face of the true spiritual Sun, hidden by a disk of golden light, that we may know the truth and do our whole duty, as we journey to Thy sacred Feet.” |
Một ví dụ khác về một lời khẩn cầu đáng chú ý và rất cổ xưa được tìm thấy trong Gayatri, nơi dân chúng khẩn cầu Mặt Trời của Chính Nghĩa bằng những lời: “Xin vén cho chúng con dung nhan của Mặt trời tinh thần chân thực, bị che khuất bởi một đĩa ánh sáng vàng, để chúng con có thể biết chân lý và làm trọn bổn phận của mình, khi chúng con tiến bước tới Chân thiêng liêng của Ngài.” |
|
To this we should also add the Four Noble Truths, as enunciated by the Buddha and which are so well known to all of us, summarising as they do the causes and the sources of all the troubles which concern humanity. There are many translations of these truths to which I have referred; they all convey the same longing and appeal and they are all essentially correct as to meaning. During the Jewish dispensation, there was given a statement as to human conduct in the words of the Ten Commandments; upon these, human law has been based and upon them the laws governing the relationships of people in the West have been founded. It has eventuated in a somewhat narrow conception of Deity; these Commandments are didactic and [757] present the negative angle. Then Christ came and gave to us the fundamental law of the universe, the law of love; He also gave us the Lord’s Prayer with its emphasis upon the Fatherhood of God, the coming of the Kingdom and right human relations. |
Vào đây chúng ta cũng nên thêm Bốn Chân Lý Cao Quý, như được Đức Phật tuyên thuyết và vốn rất quen thuộc với tất cả chúng ta, vì chúng tóm lược các nguyên nhân và nguồn gốc của mọi rắc rối liên quan đến nhân loại. Có nhiều bản dịch của những chân lý này mà tôi vừa nhắc đến; tất cả đều chuyển tải cùng một khát vọng và lời kêu cầu, và tất cả về căn bản đều đúng về ý nghĩa. Trong thời kỳ Do Thái giáo, đã có một tuyên ngôn về hạnh kiểm con người trong những lời của Mười Điều Răn; trên đó luật pháp loài người đã được xây dựng và trên đó các luật lệ chi phối các mối tương quan của con người ở phương Tây đã được đặt nền tảng. Điều đó đã dẫn đến một quan niệm phần nào hẹp hòi về Thượng đế; các Điều Răn này mang tính giáo huấn và [757] trình bày góc độ phủ định. Rồi Đức Christ đến và ban cho chúng ta định luật căn bản của vũ trụ, định luật của tình thương; Ngài cũng ban cho chúng ta Kinh Lạy Cha với sự nhấn mạnh vào Phụ tính của Thượng đế, sự xuất hiện của Thiên Giới và các mối tương quan nhân loại đúng đắn. |
|
Now the Great Invocation, as used by the Hierarchy itself, has been given out to the world. So reactionary is human thinking that the claim made by me that it is one of the greatest of the world’s prayers and is on a par with the other voiced expressions of spiritual desire and intention will evoke criticism. That is of no importance. Only a few—a very few—in the early days of Christianity employed the Lord’s Prayer, because it needed recording, expression in understandable terms, and adequate translation before its widespread use became possible. That effort took centuries to accomplish. Today, we have all the facilities for rapid distribution and these have all been employed on behalf of the Great Invocation. |
Giờ đây Đại Khấn Nguyện, như được chính Thánh đoàn sử dụng, đã được trao cho thế giới. Tư tưởng con người phản động đến mức lời khẳng định của tôi rằng đây là một trong những lời cầu nguyện vĩ đại nhất của thế giới và ngang hàng với những biểu đạt thành lời khác của khát vọng và ý định tinh thần sẽ gợi lên sự chỉ trích. Điều đó không quan trọng. Chỉ có một số ít—rất ít—trong những ngày đầu của Cơ Đốc giáo sử dụng Kinh Lạy Cha, vì nó cần được ghi chép lại, diễn đạt bằng những thuật ngữ có thể hiểu được, và được dịch thích đáng trước khi việc sử dụng rộng rãi của nó trở nên khả hữu. Nỗ lực ấy đã mất nhiều thế kỷ để hoàn thành. Ngày nay, chúng ta có mọi phương tiện để phổ biến nhanh chóng và tất cả đều đã được sử dụng để phục vụ Đại Khấn Nguyện. |
|
The uniqueness connected with the Invocation consists in the fact that it is, in reality, a great method of integration. It links the Father, the Christ and humanity in one great relationship. Christ emphasised ever the Fatherhood of God and substituted it in place of the cruel, jealous tribal Jehovah of the nation to which He had gone for a physical vehicle. Christ was a Jew. In the 17th chapter of St. John’s Gospel (which is another of the major spiritual statements of the world) Christ emphasised the relation of the Christ consciousness to the consciousness of Deity itself. He linked the concept of the Monad to the fully developed soul-infused personality, and the underlying unity existing between all beings in all forms and the Father. The possibility which He there expressed still remains distant, except in connection with the spiritual Hierarchy; it is good, however, to remember that They have achieved a goal towards which all true disciples and initiates are working. The Great Invocation relates the will of the Father (or of Shamballa), the love of the Hierarchy, and the service of Humanity into one great Triangle of [758] Energies; this triangle will have two major results: the “sealing of the door where evil dwells,” and the working out through the Power of God, let loose on earth through the Invocation, of the Plan of Love and Light. |
Tính độc đáo gắn liền với Khấn Nguyện nằm ở chỗ nó thực sự là một phương pháp tích hợp vĩ đại. Nó liên kết Đức Cha, Đức Christ và nhân loại trong một mối tương quan lớn. Đức Christ luôn nhấn mạnh Phụ tính của Thượng đế và thay thế nó cho Jehovah bộ lạc tàn nhẫn, ghen tuông của dân tộc mà Ngài đã đến để nhận một vận cụ hồng trần. Đức Christ là một người Do Thái. Trong chương 17 của Phúc Âm Thánh John (đó cũng là một trong những tuyên ngôn tinh thần lớn của thế giới), Đức Christ nhấn mạnh mối liên hệ của tâm thức Christ với chính tâm thức của Thượng đế. Ngài liên kết khái niệm chân thần với phàm ngã được linh hồn thấm nhuần đã phát triển đầy đủ, và với sự hợp nhất nền tảng hiện hữu giữa mọi hữu thể trong mọi hình tướng và Đức Cha. Khả năng mà Ngài đã diễn đạt ở đó vẫn còn xa vời, ngoại trừ liên hệ với Thánh đoàn tinh thần; tuy nhiên, thật tốt khi nhớ rằng Các Ngài đã đạt được một mục tiêu mà mọi đệ tử chân chính và điểm đạo đồ đều đang hướng tới. Đại Khấn Nguyện liên hệ ý chí của Đức Cha (hay của Shamballa), tình thương của Thánh đoàn, và sự phụng sự của Nhân loại thành một tam giác [758] năng lượng lớn; tam giác này sẽ có hai kết quả chính: “niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị,” và triển khai, qua Quyền năng của Thượng đế được giải phóng trên trần gian nhờ Khấn Nguyện, Thiên Cơ của Bác Ái và Ánh Sáng. |
|
This is no idle dream. From the angle of the human consciousness, the vehicle of Light is, first of all, the great educational systems of the world, with their capacity for improvement and for the extension of science along the lines of the betterment of mankind, and not for its destruction as is so oft the case today; to this must be coupled the steady changing or conversion of scientific attainment, by the enlightenment which wisdom brings; this has in the past safeguarded human aspiration and human progress into light. In the light which enlightenment brings we shall eventually see Light, and the day will come when thousands of the sons of men and countless groups will be able to say with Hermes and with Christ: “I am (or we are) the light of the world.” |
Đây không phải là một giấc mơ viển vông. Từ góc độ tâm thức nhân loại, vận cụ của Ánh Sáng trước hết là các hệ thống giáo dục lớn của thế giới, với khả năng cải tiến và mở rộng khoa học theo những đường hướng cải thiện nhân loại, chứ không phải để hủy diệt nhân loại như quá thường xảy ra ngày nay; điều này phải đi đôi với sự thay đổi đều đặn hay chuyển đổi thành tựu khoa học nhờ sự soi sáng mà minh triết mang lại; trong quá khứ, điều này đã bảo vệ khát vọng nhân loại và sự tiến bộ của nhân loại vào ánh sáng. Trong ánh sáng mà sự soi sáng mang lại, cuối cùng chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng, và ngày sẽ đến khi hàng ngàn những người con của nhân loại và vô số nhóm sẽ có thể nói cùng với Hermes và với Đức Christ: “Ta là (hay chúng ta là) ánh sáng của thế giới.” |
|
We are told by the Christ that men “love darkness rather than light because their deeds are evil.” Nevertheless, one of the great emerging beauties of the present time is that light is being thrown into every dark place, and there is nothing hidden which shall not be revealed. |
Đức Christ đã nói với chúng ta rằng con người “yêu bóng tối hơn ánh sáng vì việc làm của họ là ác.” Tuy nhiên, một trong những vẻ đẹp lớn đang xuất hiện của thời đại hiện nay là ánh sáng đang được rọi vào mọi nơi tối tăm, và không có gì ẩn giấu mà sẽ không bị phơi bày. |
|
When we invoke the Mind of God and say: “Let light stream forth into the minds of men, let light descend on Earth,” we are voicing one of the great needs of humanity and—if invocation and prayer mean anything at all—the answer is certain and sure. When we find present in all people at all times, in every age and in every situation, the urge to voice an appeal to the unseen spiritual Centre, there is a fixed surety that such a Centre exists. Invocation is as old as the hills or as old as humanity itself; therefore no other argument for its usefulness or its potency is required. |
Khi chúng ta khẩn cầu Trí của Thượng đế và nói: “Cầu xin ánh sáng tuôn đổ vào tâm trí loài người, cầu xin ánh sáng giáng xuống Trái Đất,” chúng ta đang cất lên một trong những nhu cầu lớn của nhân loại và—nếu khẩn cầu và cầu nguyện có nghĩa lý gì—thì sự đáp ứng là chắc chắn và bảo đảm. Khi chúng ta thấy nơi mọi người vào mọi lúc, trong mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh, có sự thôi thúc cất lên một lời kêu cầu hướng tới Trung Tâm tinh thần vô hình, thì có một sự xác tín vững chắc rằng một Trung Tâm như thế thực sự tồn tại. Khẩn cầu xưa như núi đồi hay xưa như chính nhân loại; vì vậy không cần thêm một luận cứ nào khác cho tính hữu ích hay hiệu lực của nó. |
|
The usual invocative appeal has hitherto been selfish in its nature and temporary in its formulation. Men have prayed for themselves; they have invoked divine help for those they love; they have given a material interpretation to their basic needs. The invocation, lately given to us by [759] the Hierarchy, is a world prayer; it has no personal appeal or temporal invocative urge; it expresses humanity’s need and pierces through all the difficulties, doubts and questionings—straight to the Mind and the Heart of the One in Whom we live and move and have our being—the One Who will stay with us until the end of time itself and “until the last weary pilgrim has found his way home.” |
Cho đến nay, lời kêu gọi khẩn cầu thông thường vốn mang tính ích kỷ trong bản chất và tạm thời trong cách diễn đạt. Con người đã cầu nguyện cho chính mình; họ đã khẩn cầu sự trợ giúp thiêng liêng cho những người họ yêu thương; họ đã diễn giải các nhu cầu căn bản của mình theo nghĩa vật chất. Khấn Nguyện, gần đây được trao cho chúng ta bởi [759] Thánh đoàn, là một lời cầu nguyện thế giới; nó không có lời kêu cầu cá nhân hay xung lực khẩn cầu nhất thời; nó biểu lộ nhu cầu của nhân loại và xuyên thẳng qua mọi khó khăn, nghi ngờ và thắc mắc—đi thẳng tới Trí và Trái Tim của Đấng Duy Nhất, trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu—Đấng sẽ ở cùng chúng ta cho đến tận cùng của thời gian và “cho đến khi người hành hương mệt mỏi cuối cùng tìm được đường về nhà.” |
|
But the Invocation is not vague or nebulous. It voices the basic needs of mankind today—the need for light and love, for understanding of the divine will and for the end of evil. It says triumphantly: “Let light descend on earth; may Christ return to earth; let purpose guide the little wills of men; let the Plan seal the door where evil dwells.” It then sums it all up in the clarion words: “Let light and love and power restore the Plan on Earth.” Always the emphasis is laid upon the place of appearance and of manifestation: the Earth. |
Nhưng Khấn Nguyện không mơ hồ hay mịt mờ. Nó cất lên những nhu cầu căn bản của nhân loại ngày nay—nhu cầu về ánh sáng và tình thương, về sự thấu hiểu ý chí thiêng liêng và về sự chấm dứt điều ác. Nó tuyên bố một cách khải hoàn: “Cầu xin ánh sáng giáng xuống trần gian; cầu xin Đức Christ trở lại trần gian; cầu xin mục đích hướng dẫn những ý chí nhỏ bé của loài người; cầu xin Thiên Cơ niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị.” Sau đó nó tổng kết tất cả trong những lời vang dội như kèn lệnh: “Cầu xin ánh sáng, tình thương và quyền năng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất.” Sự nhấn mạnh luôn được đặt vào nơi xuất hiện và biểu lộ: Trái Đất. |
|
Already this Invocation is doing much to change world affairs—far more than may appear to your eyes. Much remains to be done. I would ask all students, all men of goodwill and all who are participating in the work of the Triangles and helping to build the network of light and goodwill, to do all that is possible to spread the use of the Invocation. The year 1952 will be a year of spiritual crisis and a year when it should prove possible to close more tightly the door where evil dwells. |
Ngay từ bây giờ Khấn Nguyện này đang làm nhiều điều để thay đổi các vấn đề thế giới—nhiều hơn rất nhiều so với điều có thể hiện ra trước mắt các bạn. Vẫn còn nhiều việc phải làm. Tôi muốn yêu cầu tất cả các đạo sinh, tất cả những người có thiện chí và tất cả những ai đang tham gia vào công việc của các Tam Giác và giúp xây dựng mạng lưới ánh sáng và thiện chí, hãy làm mọi điều có thể để phổ biến việc sử dụng Khấn Nguyện. Năm 1952 sẽ là một năm khủng hoảng tinh thần và là một năm mà trong đó có thể chứng tỏ là khả hữu để đóng chặt hơn cánh cửa nơi điều ác ngự trị. |
|
The Invocation has been sent out by the combined Ashrams of the Masters and by the entire Hierarchy; it is used by its Members with constancy, exactitude and power. It will serve to integrate the two great centres: the Hierarchy and Humanity, and to relate them both in a new and dynamic manner to the “centre where the Will of God is known.” |
Khấn Nguyện đã được gửi ra bởi các ashram phối hợp của các Chân sư và bởi toàn thể Thánh đoàn; nó được các Thành viên của Thánh đoàn sử dụng với sự kiên định, chính xác và quyền năng. Nó sẽ giúp tích hợp hai trung tâm lớn: Thánh đoàn và Nhân loại, và liên hệ cả hai theo một cách mới mẻ và năng động với “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến.” |
|
I ask you, therefore, during the coming years to prepare to use and distribute the Invocation and make it a major endeavour. I would have you call all the people in every country in the world (whom you are in a position to reach) to a united voicing of the Invocation on the same day [760] in every land (World Invocation Day was launched in June 1952, and is held annually on the day of the June (Gemini) Full Moon). I would ask you to collect all that I have said or written anent the Invocation and then prepare a brief manual as to its use and purpose, putting a copy in the hands of all those who are willing to use it. A comprehension of its origin, meaning and potency will render it far more effective. The year 1952 should see a major turning point in the thinking of humanity, in human goals and human affairs. For implementing this I would ask you to work. |
Vì vậy, trong những năm sắp tới, tôi yêu cầu các bạn chuẩn bị để sử dụng và phân phát Khẩn Cầu và biến nó thành một nỗ lực trọng yếu. Tôi muốn các bạn kêu gọi tất cả mọi người ở mọi quốc gia trên thế giới (mà các bạn có thể tiếp cận) cùng đồng thanh xướng Khẩn Cầu vào cùng một ngày [760] trên khắp mọi miền đất (Ngày Khẩn Cầu Thế Giới được khởi xướng vào tháng Sáu năm 1952, và được tổ chức hằng năm vào ngày Trăng Tròn tháng Sáu (Song Tử)). Tôi muốn các bạn thu thập tất cả những gì tôi đã nói hoặc viết liên quan đến Khẩn Cầu, rồi chuẩn bị một cẩm nang ngắn về cách sử dụng và mục đích của nó, trao một bản cho tất cả những ai sẵn lòng dùng nó. Sự thấu hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa và uy lực của nó sẽ làm cho nó hữu hiệu hơn rất nhiều. Năm 1952 phải chứng kiến một bước ngoặt lớn trong tư tưởng của nhân loại, trong các mục tiêu của con người và trong các công việc của con người. Vì việc thực hiện điều này, tôi yêu cầu các bạn hãy làm việc. |
|
Here you have a short resume of the five most important spiritual results of the present century. The war itself has cleared the way for them. They are a natural and normal outcome of the war and have arisen (with the exception of the Great Invocation) out of the masses of the people and from their thinking; it was also their unvoiced demand and the appeal of their suffering hearts which brought the Invocation to them. |
Ở đây các bạn có một bản tóm lược ngắn về năm kết quả tinh thần quan trọng nhất của thế kỷ hiện tại. Chính cuộc chiến đã dọn đường cho chúng. Chúng là kết quả tự nhiên và bình thường của chiến tranh và đã phát sinh (ngoại trừ Đại Khấn Nguyện) từ quần chúng nhân dân và từ tư tưởng của họ; cũng chính nhu cầu không thốt nên lời của họ và lời kêu cầu từ những trái tim đau khổ của họ đã mang Khẩn Cầu đến với họ. |
|
The two other spiritual events which I listed lie, as you know, still in the future. They are the closer approach of the members of the spiritual Hierarchy to our humanity; and the reappearance of the Christ. With these two points I will not deal. I have dealt with the last stupendous event in the book by that name; and in the book, The Externalisation of the Hierarchy, I have dealt exhaustively with the emergence of the Hierarchy on to the physical plane. |
Hai biến cố tinh thần khác mà tôi đã liệt kê, như các bạn biết, vẫn còn ở tương lai. Đó là sự tiếp cận gần hơn của các thành viên của Thánh đoàn tinh thần đối với nhân loại chúng ta; và sự tái lâm của Đức Christ. Với hai điểm này tôi sẽ không bàn đến. Tôi đã bàn đến biến cố kỳ vĩ sau cùng ấy trong cuốn sách mang chính tên đó; và trong cuốn Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn, tôi đã bàn cặn kẽ về sự xuất hiện của Thánh đoàn trên cõi hồng trần. |
|
I am anxious to have you concentrate on the work which is preparatory to these two “emergences”; seek to make the five spiritual events which are already within your working knowledge a definite part of your own spiritual endeavour. |
Tôi tha thiết mong các bạn tập trung vào công việc chuẩn bị cho hai sự “xuất hiện” này; hãy tìm cách biến năm biến cố tinh thần vốn đã nằm trong tầm hiểu biết thực hành của các bạn thành một phần xác định trong nỗ lực tinh thần của chính các bạn. |
|
Let humanity constitute your field of service, and may it be said of you that you knew the spiritual facts and were a dynamic part of these spiritual events; may it not be said of you that you knew these things and did nothing about them and failed to exert yourself. Let not time slip by as you work. |
Hãy để nhân loại là cánh đồng phụng sự của các bạn, và mong rằng người ta có thể nói về các bạn rằng các bạn đã biết các sự kiện tinh thần và là một phần năng động của các biến cố tinh thần này; mong rằng người ta sẽ không nói về các bạn rằng các bạn biết những điều này mà không làm gì với chúng và đã không nỗ lực. Khi các bạn làm việc, đừng để thời gian trôi qua. |
STANZAS FOR DISCIPLES — CÁC BÀI KỆ CHO ĐỆ TỬ
|
THE PATH [761] |
CON ĐƯỜNG [761] |
|
Seek not, O twice-blessed One, to attain the spiritual essence before the mind absorbs. Not thus is wisdom sought. Only he who has the mind in leash, and sees the world as in a mirror can be safely trusted with the inner sense. Only he who knows the five senses to be but illusion, and that naught remains save the two ahead, can be admitted into the secret of the Cruciform transposed. |
Hỡi Đấng được ban phúc hai lần, chớ tìm đạt đến tinh túy tinh thần trước khi trí tuệ hấp thụ. Minh triết không được tìm cầu theo cách ấy. Chỉ người nào chế ngự được trí tuệ, và thấy thế giới như trong gương, mới có thể được tin cậy mà giao phó ý nghĩa bên trong. Chỉ người nào biết năm giác quan chỉ là ảo tưởng, và rằng không gì còn lại ngoài hai điều ở phía trước, mới có thể được tiếp nhận vào bí mật của Thập Giá bị chuyển vị. |
|
The path that is trodden by the Server is the path of fire that passes through his heart and leads to the head. It is not on the path of pleasure, nor on the path of pain that liberation may be taken or that wisdom comes. It is by the transcendence of the two, by the blending of pain with pleasure, that the goal is reached, that goal that lies ahead, like a point of light seen in the darkness of a winter’s night. That point of light may call to mind the tiny candle in some attic drear, but—as the path that leads to that light is trodden through the blending of the pair of opposites—that pin point cold and flickering grows with steady radiance till the warm light of some blazing lamp comes to the mind of the wanderer by the way. |
Con đường mà Người Phụng Sự bước đi là con đường lửa đi qua tim y và dẫn đến đầu. Không phải trên con đường khoái lạc, cũng không phải trên con đường đau khổ mà sự giải thoát có thể đạt được hay minh triết xuất hiện. Chính bằng sự siêu vượt cả hai, bằng sự hòa trộn đau khổ với khoái lạc, mà mục tiêu được đạt đến, mục tiêu nằm phía trước, như một điểm sáng được thấy trong bóng tối của một đêm đông. Điểm sáng ấy có thể gợi nhớ đến ngọn nến nhỏ trong một căn gác xép ảm đạm nào đó, nhưng—khi con đường dẫn đến ánh sáng ấy được bước qua bằng sự hòa trộn cặp đối cực—điểm sáng nhỏ bé, lạnh lẽo và chập chờn ấy lớn dần với ánh rạng ổn định cho đến khi ánh sáng ấm áp của một ngọn đèn rực cháy hiện lên trong trí người lữ khách trên đường. |
|
Pass on, O Pilgrim, with steady perseverance. No candle light is there nor earth lamp fed with oil. Ever the radiance grows till the path ends within a blaze of glory, and the wanderer through the night becomes the child of the sun, and enters within the portals of that radiant orb. |
Hãy tiến lên, hỡi Người Hành Hương, với sự kiên trì vững chắc. Ở đó không có ánh nến cũng không có đèn đất được nuôi bằng dầu. Ánh rạng cứ lớn dần cho đến khi con đường kết thúc trong một hào quang vinh quang, và kẻ lang thang trong đêm trở thành con của mặt trời, và bước vào cổng của quả cầu rạng ngời ấy. |
|
THE CUP OF KARMA [762] |
CHÉN NGHIỆP QUẢ [762] |
|
There is a cup held to the lips of those who drink, by four great Lords of Karma. The draught within that cup must all be drained, down to the nethermost drop, e’er it is possible to fill the cup with a purer, sweeter one. The seven Lords of cosmic Love await the hour of filling. |
Có một chiếc chén được bốn vị Đại Chúa Tể Nghiệp Quả nâng lên môi những ai uống. Chất nước trong chén ấy phải được uống cạn hoàn toàn, đến giọt thấp nhất, trước khi có thể đổ đầy chén bằng một thứ tinh khiết hơn, ngọt ngào hơn. Bảy Đấng Chúa Tể của Bác Ái vũ trụ chờ đợi giờ phút rót đầy. |
|
The cup is naught. The draught within distils forth drop by drop. It will not all be drained until the final hour wherein the Pilgrim takes the cup. He lifts it from the hand of those Who, bending, hold it to his lips. Until that day the cup is held, and in inner blind dismay the Pilgrim drinks. After that hour he lifts his head he sees the light beyond; he takes the cup and, with a radiant joy, drains to the very dregs. |
Chiếc chén chẳng là gì cả. Chất nước bên trong nhỏ từng giọt một. Nó sẽ không được uống cạn hoàn toàn cho đến giờ phút cuối cùng khi Người Hành Hương cầm lấy chiếc chén. Y nâng nó khỏi tay Những Đấng, cúi mình, giữ nó nơi môi y. Cho đến ngày ấy chiếc chén vẫn được giữ, và trong nỗi kinh hoàng mù quáng bên trong, Người Hành Hương uống. Sau giờ phút ấy y ngẩng đầu lên, y thấy ánh sáng phía bên kia; y cầm lấy chiếc chén và, với niềm hoan hỉ rạng ngời, uống cạn đến tận cặn. |
|
The contents of the cup are changed; the bitter now becomes the sweet; the fiery essence then is lost in cool, life-giving streams. The fire absorbed within has burned and scarred and seared. The draught now taken soothes the burns; it heals the scars and permeates the whole. |
Nội dung của chiếc chén đổi khác; vị đắng giờ trở thành vị ngọt; tinh chất rực lửa khi ấy tan mất trong những dòng mát lành ban sự sống. Ngọn lửa được hấp thụ bên trong đã thiêu đốt, để lại sẹo và làm cháy xém. Chất nước giờ được uống làm dịu các vết bỏng; nó chữa lành các vết sẹo và thấm khắp toàn thể. |
|
The Four bend down and see the work. They release the cup of Karma. The tender Lords of Cosmic Love then mix another draught, and—when the cup is empty seen (emptied by conscious will)—they pour within that which is needed now for broader, larger living. Until the cup has once been used, filled, drained, and seen as naught, it cannot safely hold within that which is later given. |
Bốn Đấng cúi xuống và thấy công việc. Các Ngài giải phóng chén Nghiệp Quả. Khi ấy các Đấng Chúa Tể dịu hiền của Bác Ái Vũ Trụ pha một chất nước khác, và—khi chiếc chén được thấy là trống rỗng (được làm trống bằng ý chí hữu thức)—các Ngài rót vào đó điều hiện giờ cần thiết cho một đời sống rộng hơn, lớn hơn. Chừng nào chiếc chén chưa từng được dùng, được đổ đầy, được uống cạn, và được thấy là không gì cả, thì nó không thể an toàn chứa đựng điều sẽ được ban về sau. |
|
But when to utter emptiness the Pilgrim drains the cup then to the world in torment now he turns. With cup in hand (drained once, filled again, and refused to selfish need) he tends the need of struggling men who tread the way with him. The draught of love, of sacred fire, of cool, health-giving stream he lifts not towards himself but holds it forth to others. Upon the road of weary man he becomes a Lord of Power—power gained through work accomplished, power reached through conscious will. Through the cup of Karma drained he gains the right to serve. |
Nhưng khi Người Hành Hương uống cạn chiếc chén đến mức hoàn toàn trống rỗng, khi ấy y quay về thế giới hiện đang đau khổ. Với chiếc chén trong tay (đã từng được uống cạn, lại được đổ đầy, và bị từ chối cho nhu cầu ích kỷ), y chăm lo nhu cầu của những người đang vật lộn bước đi cùng đường với y. Chất nước của bác ái, của lửa thiêng liêng, của dòng mát lành ban sức khỏe, y không nâng về phía mình mà đưa ra cho người khác. Trên con đường của con người mệt mỏi, y trở thành một Chúa Tể của Quyền năng—quyền năng đạt được qua công việc đã hoàn tất, quyền năng đạt đến qua ý chí hữu thức. Qua chén Nghiệp Quả đã uống cạn, y giành được quyền phụng sự. |
|
Look on, O Pilgrim, to the goal. See shining far ahead [763] the glory that envelops and the light that naught can dim. Seize on the cup and swiftly drain, delay not for the pain. The empty cup, the steady hand, the firm and strong endeavour lead to a moment’s agony and thence to radiant life. |
Hãy nhìn về mục tiêu, hỡi Người Hành Hương. Hãy thấy chiếu sáng xa phía trước [763] vinh quang bao bọc và ánh sáng mà không gì có thể làm lu mờ. Hãy nắm lấy chiếc chén và mau chóng uống cạn, đừng trì hoãn vì đau đớn. Chiếc chén trống rỗng, bàn tay vững vàng, nỗ lực kiên định và mạnh mẽ dẫn đến một khoảnh khắc thống khổ và từ đó đến đời sống rạng ngời. |
|
THE LISTENING PILGRIM |
NGƯỜI HÀNH HƯƠNG LẮNG NGHE |
|
Listen, O Pilgrim, to the chanting of the Word by the great Deva Lords. Hush all earth vibration, still the restless strivings of lower mind, and with ear intent hark to the sounds that rise to the throne of the Logos. Only the pure in heart can hear, only the gentle can respond. |
Hãy lắng nghe, hỡi Người Hành Hương, tiếng xướng Linh từ của các Đại Chúa Tể thiên thần. Hãy làm lặng mọi rung động của đất, làm yên những cố gắng bất an của hạ trí, và với tai chăm chú hãy nghe những âm thanh dâng lên ngai của Thượng đế. Chỉ những ai có trái tim thanh khiết mới có thể nghe, chỉ những ai dịu hiền mới có thể đáp ứng. |
|
The stormy sounds of all earth struggle, the shrill vibration of the watery sphere, the crashing note marking the place of thought, dims the sound and shuts out the tone. He who is silent, quiet and calm within, who sees all by means of light divine and is not led by light reflected within the threefold spheres, is he who will shortly hear. From out the environing ether will strike a note upon his ear unlike the tones that sound within the world terrestrial. |
Những âm thanh dữ dội của mọi cuộc đấu tranh trên đất, rung động chói gắt của khối cầu nước, âm điệu va đập đánh dấu nơi chốn của tư tưởng, làm mờ âm thanh và ngăn mất thanh điệu. Người nào im lặng, yên tĩnh và bình an bên trong, người thấy mọi sự bằng ánh sáng thiêng liêng và không bị dẫn dắt bởi ánh sáng phản chiếu trong các khối cầu tam phân, chính là người sẽ sớm nghe được. Từ dĩ thái bao quanh sẽ vang đến tai y một âm điệu khác hẳn những thanh âm vang lên trong thế giới trần thế. |
|
Listen, O Pilgrim, for when that sound strikes in colourful vibration upon the inner sense, know that a point has been achieved marking a great transition. |
Hãy lắng nghe, hỡi Người Hành Hương, vì khi âm thanh ấy giáng xuống trong rung động đầy màu sắc lên cảm quan bên trong, hãy biết rằng một điểm đã được đạt tới, đánh dấu một chuyển tiếp lớn lao. |
|
Watch then, O Pilgrim, for the coming of that hour. With purified endeavour mount nearer to that Sound. Know when its tone steals through the misty dawn, or in the mellow sunlight strikes soft upon the ear, that soon the inner hearing will become expanded feeling and will give place to sight and perfect comprehension. |
Khi ấy hãy canh chừng, hỡi Người Hành Hương, sự đến của giờ phút ấy. Với nỗ lực được thanh lọc, hãy tiến gần hơn đến Âm Thanh đó. Hãy biết rằng khi thanh điệu của nó len qua bình minh mờ sương, hay trong ánh nắng dịu dàng chạm nhẹ vào tai, thì chẳng bao lâu nữa thông nhĩ bên trong sẽ trở thành cảm nhận mở rộng và sẽ nhường chỗ cho thị giác và sự thấu hiểu hoàn hảo. |
|
Know when the music of the spheres comes to you note by note, in misty dawn or sunny noon, at cool of eve, or sounding through the deep of night, that in their rhythmic tone lies secret revelation. |
Hãy biết rằng khi nhạc điệu của các khối cầu đến với bạn từng nốt một, trong bình minh mờ sương hay giữa trưa nắng sáng, trong sự mát dịu của chiều tối, hay vang lên giữa chiều sâu của đêm, thì chính trong thanh điệu nhịp nhàng của chúng có sự mặc khải bí mật. |
|
AN ESOTERIC FRAGMENT [764] |
MỘT MẢNH HUYỀN BÍ [764] |
|
Where is the gate, O Lanoo, which guards the triple-way? |
Cánh cổng ở đâu, hỡi Lanoo, cánh cổng canh giữ con đường tam phân? |
|
Within the sacred heart of Him Who is the threefold Path. I reach the gate and pass within, entering thus the Heart, through the means of wide compassion. |
Trong trái tim thiêng liêng của Đấng là Con Đường tam phân. Tôi đến cổng và bước vào bên trong, nhờ đó đi vào Trái Tim, bằng phương tiện của lòng từ bi bao la. |
|
How many gates are there, O Passer on the Way? |
Có bao nhiêu cổng, hỡi Người Bước Trên Đường? |
|
The gates are seven, each leading to the centre of a great sphere of bliss. By the one who seeks to know, the first gate must be found. That entered, in periodic cycles he will find the other six. |
Có bảy cổng, mỗi cổng dẫn đến trung tâm của một khối cầu chí phúc lớn lao. Người tìm cầu để biết phải tìm ra cổng thứ nhất. Khi đã vào đó, trong các chu kỳ tuần hoàn, y sẽ tìm thấy sáu cổng kia. |
|
You speak of wide compassion as the key that opens wide the gates. Explain in words the simplest the need that this involves. |
Ông nói về lòng từ bi bao la như chiếc chìa khóa mở rộng các cổng. Hãy giải thích bằng những lời đơn giản nhất nhu cầu mà điều đó bao hàm. |
|
The need of gentle mercy, which knows and sees yet understands; the need of tears of crystal to wash away a brother’s sins; the need of fiery courage that can hold a brother’s hand, and lift and elevate him though all the world cry “nay”; the need of comprehension, that has experienced and knows; the occult sense of oneness must guide unto the gate. |
Nhu cầu về lòng thương xót dịu hiền, biết và thấy nhưng vẫn thấu hiểu; nhu cầu về những giọt lệ pha lê để rửa sạch tội lỗi của một huynh đệ; nhu cầu về lòng can đảm rực lửa có thể nắm lấy tay một huynh đệ, nâng y lên và đưa y cao hơn dù cả thế gian kêu “không”; nhu cầu về sự thấu hiểu, điều đã từng trải nghiệm và biết; cảm quan huyền bí về sự hợp nhất phải dẫn đến cổng. |
|
What else will lead a man to the portal of the Path? |
Còn điều gì khác sẽ dẫn một người đến cổng của Con Đường? |
|
Compassion first and conscious oneness; then death to every form that holds and hides the life; next wisdom linked with learning, and the wise use of the Word; speech of an occult nature and the silence of the Centre, held in the noise of all the world. |
Trước hết là lòng từ bi và sự hợp nhất hữu thức; rồi đến cái chết đối với mọi hình tướng đang nắm giữ và che giấu sự sống; kế đó là minh triết gắn liền với học hỏi, và việc sử dụng khôn ngoan Linh từ; lời nói có bản chất huyền bí và sự im lặng của Trung Tâm, được giữ vững giữa tiếng ồn của toàn thế giới. |
|
Can you, O Lanoo, blend these thoughts into a threefold charge? |
Ngài có thể, hỡi Lanoo, kết hợp những tư tưởng này thành một huấn lệnh tam phân không? |
|
First Oneness, then the Word, and lastly Growth. |
Trước hết là Hợp Nhất, rồi đến Linh từ, và sau cùng là Tăng Trưởng. |
|
HEALING [765] |
TRỊ LIỆU [765] |
|
A centre of violet, orbed by yellow, melts into red. Yellow develops and protects. It ensheaths the nucleus. When you attain the significance of violet, the laws of health and magnetic alleviation will be no longer sealed. The seal is being loosed by the devas of the shadows; the yellow approaches the violet and the red progresses. The ranks approach and cooperation is possible. In loosening the seal the gateway opens. These three are the great Helpers and in Their hands lies knowledge for the next generation. Approach. |
Một trung tâm màu tím, được bao quanh bởi màu vàng, tan vào màu đỏ. Màu vàng phát triển và bảo vệ. Nó bao bọc hạt nhân. Khi bạn đạt đến thâm nghĩa của màu tím, các định luật về sức khỏe và sự làm dịu bằng từ tính sẽ không còn bị niêm phong nữa. Ấn niêm đang được nới lỏng bởi các thiên thần của bóng tối; màu vàng tiến gần màu tím và màu đỏ tiến triển. Các hàng ngũ tiến gần nhau và sự hợp tác trở nên khả hữu. Trong việc nới lỏng ấn niêm, cánh cổng mở ra. Ba Đấng này là những Đấng Phụ Trợ lớn lao và trong tay Các Ngài có tri thức cho thế hệ kế tiếp. Hãy đến gần. |
|
THE HIDDEN PORTAL |
CÁNH CỔNG ẨN KÍN |
|
An immense cone of fire is seen in the midst of an arid desert. A man stands in front of the scene in an attitude of indecision. The cone stands between the man and a fruitful country. |
Một hình nón lửa khổng lồ được thấy giữa một sa mạc khô cằn. Một người đứng trước cảnh tượng ấy trong tư thế do dự. Hình nón đứng giữa người ấy và một miền đất phì nhiêu. |
|
Rises the cone from out the arid waste. Naught but its heat is felt, naught but its glare is seen. Its flames have swept the country and left the desert bare. It radiates forth a fire that devours all before it. All green things die and the dwellers on the sphere recede before its flame, scorching and burning, cruel and superb. |
Hình nón vươn lên từ vùng hoang mạc khô cằn. Không gì được cảm thấy ngoài sức nóng của nó, không gì được thấy ngoài ánh chói của nó. Ngọn lửa của nó đã quét qua miền đất và để lại sa mạc trơ trụi. Nó phát ra một ngọn lửa thiêu hủy mọi thứ trước mặt. Mọi vật xanh tươi đều chết đi và những kẻ cư ngụ trên khối cầu lùi xa trước ngọn lửa của nó, cháy bỏng và thiêu đốt, tàn nhẫn và siêu tuyệt. |
|
White is its inner heart, red the surrounding flame, and yellow the spreading fire. Like a mantle of fierce heat it shuts out the vision and obscures the beyond. Like a pall of rosy red tinged with an orange deep it veils all the distance. |
Trắng là trái tim bên trong của nó, đỏ là ngọn lửa bao quanh, và vàng là lửa lan rộng. Như một tấm áo choàng của sức nóng dữ dội, nó che khuất tầm nhìn và làm mờ phía bên kia. Như một tấm khăn liệm đỏ hồng pha sắc cam đậm, nó phủ kín mọi khoảng xa. |
|
From out the country full and green, across the arid waste had travelled far the Pilgrim. Naught had he held and kept, naught save his strong desire, back on the road he might not go, but onward to the fire. |
Từ miền đất đầy đặn và xanh tươi, băng qua vùng hoang mạc khô cằn, Người Hành Hương đã đi rất xa. Y không nắm giữ và giữ lại điều gì, không gì ngoài khát vọng mãnh liệt của mình; y không thể quay lại con đường phía sau, mà chỉ có thể tiến tới ngọn lửa. |
|
From out that cone of fire, echoing from its heart, swift to his ears a voice that said: “Behold the place of God.” |
Từ hình nón lửa ấy, vọng ra từ trái tim của nó, một tiếng nói mau lẹ đến tai y rằng: “Hãy nhìn nơi chốn của Thượng đế.” |
|
From out the cone of fire a note fell on his ear that touched a chord within his breast, and awakened quick response. |
Từ hình nón lửa ấy, một âm điệu rơi vào tai y, chạm đến một dây đàn trong ngực y, và đánh thức sự đáp ứng mau lẹ. |
|
[766] |
[766] |
|
Press on, O Pilgrim, towards the flame; brave the fierce ardour of the fire; enter within the portal which is hidden by its light. |
Hãy tiến lên, hỡi Người Hành Hương, hướng về ngọn lửa; hãy can đảm đối diện sức nóng dữ dội của lửa; hãy bước vào cánh cổng bị ánh sáng của nó che khuất. |
|
The door is there, unseen, unknown, watched by the Lords of Flame. Deep in the heart of yellow, close by the outer rim, lies the key that holds hid the secret. The threshold of that inner door, the step unseen that must be reached, will meet the feet within the fringe of flame. Put forth the hand and touch the door, knock thrice with pure intent. A voice will answer to that call. The words will sound: “Who is it seeks the way?” |
Cánh cửa ở đó, không được thấy, không được biết, được các Chúa Tể của Lửa canh giữ. Sâu trong trái tim của màu vàng, gần sát vành ngoài, có chiếc chìa khóa giữ kín bí mật. Ngưỡng của cánh cửa bên trong ấy, bậc thềm vô hình phải đạt đến, sẽ chạm vào chân bên trong viền lửa. Hãy đưa tay ra và chạm vào cánh cửa, gõ ba lần với ý định thanh khiết. Một tiếng nói sẽ đáp lại lời gọi ấy. Những lời sẽ vang lên: “Ai là kẻ tìm con đường?” |
|
THE KEY |
CHIẾC CHÌA KHÓA |
|
Key the first lies hid under the Threshold, guarded by the Watcher. He who breaks in must stoop and seize after a search of strenuous decision. The hand that grasps the key must have the nail-mark through the centre there located. When this is so, door the first will open. |
Chìa khóa thứ nhất ẩn dưới Ngưỡng, được Người Canh Giữ bảo vệ. Kẻ nào đột nhập phải cúi xuống và chộp lấy nó sau một cuộc tìm kiếm với quyết định mãnh liệt. Bàn tay nắm lấy chìa khóa phải có dấu đinh nằm ở chính giữa. Khi điều này xảy ra, cánh cửa thứ nhất sẽ mở ra. |
|
Key the second lies across the Threshold, over the heap of thorns. From the centres in the feet must pour the blood that dissolves all hindrances. In the bloodstained feet and the nail-marked hands lies hid the secret. Seek you them. Then door the second will open to your touch. |
Chìa khóa thứ hai nằm ngang qua Ngưỡng, trên đống gai nhọn. Từ các trung tâm nơi bàn chân phải tuôn ra máu làm tan mọi chướng ngại. Trong đôi chân đẫm máu và đôi tay mang dấu đinh ẩn giấu bí mật. Hãy tìm chúng. Khi ấy cánh cửa thứ hai sẽ mở ra trước sự chạm của bạn. |
|
Key the third lies half way up. Just at the level of the heart that key is seen. Before it can be seized and used the spear must pierce and thus the blood pour forth, cleansing and making whole. Only those thus purified can grasp the key and pass through door the third. |
Chìa khóa thứ ba nằm ở nửa đường lên. Chính ở ngang mức tim mà chiếc chìa khóa ấy được thấy. Trước khi nó có thể được nắm lấy và sử dụng, ngọn giáo phải đâm xuyên và như thế máu phải tuôn ra, thanh tẩy và làm cho toàn vẹn. Chỉ những ai được thanh tẩy như vậy mới có thể nắm lấy chìa khóa và đi qua cánh cửa thứ ba. |
|
AN OCCULT MESSAGE |
MỘT THÔNG ĐIỆP HUYỀN BÍ |
|
The key is found; and with the pressure of the hands in service of the Light and with a beating heart of love, that key is turned. The door swings wide open. |
Chiếc chìa khóa đã được tìm thấy; và với sức ép của đôi tay trong sự phụng sự Ánh sáng và với trái tim yêu thương đang đập, chiếc chìa khóa ấy được xoay. Cánh cửa mở rộng. |
|
With hasty feet the one who hastens towards the light enters that doors then waits. He holds the door ajar for those who follow after and thus—in action—waits. |
Với bước chân vội vã, người đang hấp tấp tiến về ánh sáng bước vào cánh cửa ấy rồi chờ đợi. Y giữ cánh cửa hé mở cho những người theo sau và như thế—trong hành động—chờ đợi. |
|
A Voice sounds forth: My brother, close that door, for [767] each must turn the key with his own hand and each must enter through that door alone. The blazing light within the Temple of the Lord is not for all at the same moment or the same hour of each day. Each knows his hour. Your hour is Now. |
Một Tiếng Nói vang lên: Huynh đệ của Tôi, hãy đóng cánh cửa ấy lại, vì [767] mỗi người phải tự tay xoay chìa khóa và mỗi người phải một mình bước qua cánh cửa ấy. Ánh sáng rực cháy bên trong Đền thờ của Chúa không dành cho tất cả cùng một lúc hay cùng một giờ trong mỗi ngày. Mỗi người biết giờ của mình. Giờ của bạn là Bây Giờ. |
|
So, brother, close that door. Remember, those behind know not the door has opened or the door has closed. They see it not. Rest on that thought, my brother, and passing through the door close it with care, and enter upon another stage upon the upward Way—alone, yet not alone. |
Vì vậy, huynh đệ, hãy đóng cánh cửa ấy lại. Hãy nhớ rằng những người phía sau không biết cánh cửa đã mở hay cánh cửa đã đóng. Họ không thấy nó. Hãy an nghỉ trên tư tưởng ấy, Huynh đệ của Tôi, và khi bước qua cánh cửa hãy cẩn thận đóng nó lại, rồi đi vào một giai đoạn khác trên Con Đường đi lên—một mình, nhưng không cô độc. |
|
THE CRUCIFIXION |
SỰ ĐÓNG ĐINH |
|
In the mystic Heart, with its two lobes, lies the key to the reservoir. In the out-going and the return the cross is made. Midway it stands, with the right hand and the left hand path on either side. There the man is crucified, with the two on either hand—one on the right and one on the left. In the apprehension of the key, in the opening and shutting of doors, lies life eternal. Know you and understand. |
Trong Trái Tim thần bí, với hai thùy của nó, có chiếc chìa khóa dẫn đến hồ chứa. Trong sự đi ra và sự quay về, thập giá được tạo thành. Nó đứng ở giữa, với chánh đạo và tả đạo ở hai bên. Ở đó con người bị đóng đinh, với hai kẻ ở hai bên—một bên phải và một bên trái. Trong việc nắm bắt chiếc chìa khóa, trong việc mở và đóng các cánh cửa, có sự sống vĩnh cửu. Hãy biết và thấu hiểu. |
|
THE CROSS |
THẬP GIÁ |
|
In the Cross is hidden Light. The vertical and horizontal in mutual friction create; a vibrant Cross scintillates, and motion originates. When the vertical assumes the horizontal, pralaya supervenes. Evolution is the movement of the horizontal to upright positiveness. In the secret of direction lies the hidden wisdom; in the doctrine of absorption lies the healing faculty; in the point becoming the line, and the line becoming the cross is evolution. In the cross swinging to the horizontal lies salvation and pralayic peace. |
Trong Thập Giá ẩn giấu Ánh sáng. Chiều dọc và chiều ngang trong ma sát hỗ tương tạo ra; một Thập Giá rung động lấp lánh, và chuyển động khởi sinh. Khi chiều dọc đảm nhận chiều ngang, Giai kỳ qui nguyên xảy đến. Tiến hoá là sự chuyển động của chiều ngang đến tính tích cực thẳng đứng. Trong bí mật của phương hướng có minh triết ẩn kín; trong tâm pháp về sự hấp thụ có năng lực chữa lành; trong điểm trở thành đường, và đường trở thành thập giá là tiến hoá. Trong thập giá đung đưa về chiều ngang có sự cứu rỗi và sự bình an của giai kỳ qui nguyên. |
|
THE CHALICE |
CHÉN THÁNH |
|
The lower chalice rises like a flower of colour dark or somber. Dull it appears to the outer vision, but within a light will sometime shine and shatter the illusion. |
Chiếc chén thấp hơn vươn lên như một đóa hoa màu tối hay ảm đạm. Nó hiện ra mờ đục đối với vẻ ngoài, nhưng bên trong một ánh sáng rồi sẽ chiếu rạng và phá tan ảo tưởng. |
|
Chalice the second rises from out the lower sheath as does the flower from out the calix green. Of colour rose it [768] is, and many shades thereof; and to the onlooker it seems as if the colour might transcend the inner shining light. But this is but illusion which time itself dispels. |
Chiếc chén thứ hai vươn lên từ lớp vỏ thấp hơn như đóa hoa vươn lên từ đài xanh. Màu của nó là hồng [768] với nhiều sắc độ; và đối với người quan sát, dường như màu sắc ấy có thể vượt hơn ánh sáng chiếu rạng bên trong. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng mà chính thời gian sẽ xua tan. |
|
Chalice the third surmounts all and opens wide in time its outspread petals. Blue does it appear and blends with the rose, forming at first a deep impenetrable shade which shuts out the light. |
Chiếc chén thứ ba vượt lên trên tất cả và theo thời gian mở rộng các cánh hoa xòe ra của nó. Nó hiện ra màu xanh lam và hòa với màu hồng, lúc đầu tạo thành một sắc tối sâu không thể xuyên thấu, che khuất ánh sáng. |
|
Within the three, deep hidden in the heart, tiny at first yet ever waxing greater, shines the light divine. This light, through radiating heat and innate divine vibration, constructs for itself a sheath of iridescence. It emerges from the threefold chalice as a floating bubble alights on a flower. |
Bên trong cả ba, ẩn sâu trong tim, lúc đầu rất nhỏ nhưng ngày càng lớn hơn, ánh sáng thiêng liêng chiếu rạng. Ánh sáng này, qua sức nóng tỏa ra và rung động thiêng liêng bẩm sinh, tự kiến tạo cho mình một lớp vỏ óng ánh. Nó xuất hiện từ chiếc chén tam phân như một bong bóng lơ lửng đậu trên một đóa hoa. |
|
Within this iridescent sheath burns the inner Flame, and in its turn it burns out the lower gross material. E’en as the Path is neared, clearer the light shines out. Forth through the chalice gross and dark that forms the foundation shines the light supernal, till all who see the radiation cry out within themselves: “Behold, a God is here.” |
Bên trong lớp vỏ óng ánh này, Ngọn Lửa bên trong cháy sáng, và đến lượt nó thiêu hủy vật chất thô nặng thấp hơn. Càng đến gần Con Đường, ánh sáng càng chiếu ra rõ hơn. Xuyên qua chiếc chén thô nặng và tối tăm tạo thành nền tảng, ánh sáng thiên thượng chiếu rạng, cho đến khi tất cả những ai thấy sự bức xạ ấy đều kêu lên trong lòng mình: “Kìa, một Thượng đế ở đây.” |
|
Forth from the chalice rosy red shines the inner glow, till soon the red of earth desire becomes the glow of heaven’s fire, and all is lost save aspiration that shades not the cup with karmic colour. |
Từ chiếc chén đỏ hồng, ánh sáng rực bên trong chiếu ra, cho đến khi chẳng bao lâu sắc đỏ của dục vọng trần thế trở thành ánh rực của lửa thiên giới, và mọi sự đều mất đi ngoại trừ khát vọng, điều không phủ bóng chiếc chén bằng màu sắc nghiệp quả. |
|
Forth from the chalice blue shines and glows the inner light divine till all the forms are burnt and gone, and naught is left save one divine abstraction. Naught but the shells remain below, naught but the forms for use, and at the culmination what strange event is seen? Tarry, O Pilgrim, at the strange appearance, with bowed head watch the progress of the fire. Slowly the chalice threefold merges into an altar, and from that triple altar mounts the fire unto its Source. As mounts and spreads the inner flame, the beauty of the central sphere, lit with a radiance white, causes the worlds to stand and cry: “Behold, a God is here.” |
Từ chiếc chén xanh lam, ánh sáng thiêng liêng bên trong chiếu rạng và phát sáng cho đến khi mọi hình tướng đều bị thiêu hủy và biến mất, và không gì còn lại ngoài một sự trừu tượng thiêng liêng duy nhất. Không gì còn lại bên dưới ngoài các vỏ bọc, không gì ngoài các hình tướng để sử dụng, và ở đỉnh điểm thì biến cố kỳ lạ nào được thấy? Hãy dừng lại, hỡi Người Hành Hương, trước cảnh tượng kỳ lạ ấy, với đầu cúi xuống hãy quan sát tiến trình của lửa. Chậm rãi, chiếc chén tam phân hòa nhập thành một bàn thờ, và từ bàn thờ tam phân ấy lửa bốc lên đến Nguồn của nó. Khi ngọn lửa bên trong bốc lên và lan rộng, vẻ đẹp của khối cầu trung tâm, được thắp sáng bằng ánh rạng trắng, khiến các thế giới đứng yên và kêu lên: “Kìa, một Thượng đế ở đây.” |
|
Ever the flames mount higher, ever the warmth streams forth, till—in the moment of the hour set—the flame destroys all, and all is gone, the work of ages passes, in a moment, into nothingness. |
Ngọn lửa cứ bốc cao hơn mãi, hơi ấm cứ tuôn ra mãi, cho đến—vào đúng giờ đã định—ngọn lửa hủy diệt tất cả, và mọi sự biến mất, công trình của bao thời đại trong một khoảnh khắc đi vào hư vô. |
|
But forth from the fourfold fire, up from the altar of [769] the ages, springs the Liberated One, the Flame. Back to the fire of Cosmos springs the dual flame. Into the Three is absorbed the essence, and becomes one with its Source. The Spark becomes the Flame, the Flame becomes the Fire, and forms part of the great Cosmic blaze that holds the secret of the Five hidden within the heart. |
Nhưng từ ngọn lửa tứ phân, từ bàn thờ của [769] các thời đại, Đấng Được Giải Thoát, Ngọn Lửa, vọt lên. Trở lại Lửa của Vũ Trụ, ngọn lửa nhị phân vọt lên. Tinh chất được hấp thụ vào Bộ Ba, và trở thành một với Nguồn của nó. Tia Lửa trở thành Ngọn Lửa, Ngọn Lửa trở thành Lửa, và tạo thành một phần của đám cháy Vũ Trụ vĩ đại, đám cháy nắm giữ bí mật của Năm ẩn kín trong tim. |
|
A FIRE MANTRAM |
MỘT HỎA MANTRAM |
|
The point of light within the glowing arc, O Pilgrim on the Way, waxes and wanes as application hard or not betrays the purpose within the heart. |
Điểm sáng bên trong vòng cung rực cháy, hỡi Người Hành Hương trên Đường, tăng rồi giảm khi sự áp dụng chuyên cần hay không để lộ mục đích trong tim. |
|
That point is ever there, unnoticed and unseen. Dark is the night and drear, and sore the heart of the unilluminated Pilgrim. Dark is the night but drearness is not felt when within the gloomy portal is seen the bright illusive light, the light that flickers ever on ahead, enticing with its gleam the Pilgrim ever onward. |
Điểm ấy luôn luôn ở đó, không được nhận thấy và không được nhìn thấy. Đêm tối tăm và ảm đạm, và trái tim của Người Hành Hương chưa được soi sáng thì đau đớn. Đêm tối tăm nhưng sự ảm đạm không được cảm thấy khi bên trong cánh cổng u tối người ta thấy ánh sáng sáng ngời đầy ảo ảnh, ánh sáng luôn chập chờn phía trước, dùng ánh lóe của nó để luôn lôi cuốn Người Hành Hương tiến lên. |
|
Six times the light may wax and wane, six times the glow is felt, but at the seventh glowing hour the Flame bursts forth. |
Sáu lần ánh sáng có thể tăng rồi giảm, sáu lần ánh rực được cảm nhận, nhưng vào giờ rực sáng thứ bảy, Ngọn Lửa bùng phát. |
|
Six times the Flame bursts forth, six times the burning starts, but at the seventh hour the altar is lost sight of and only Flame is seen. |
Sáu lần Ngọn Lửa bùng phát, sáu lần sự cháy bắt đầu, nhưng vào giờ thứ bảy bàn thờ không còn được thấy nữa và chỉ còn Ngọn Lửa. |
|
Six times the circle of the burning fire, six times the roaring furnace burns and separates, but at the seventh naught is left save the ascending Flame, that mounts to the Triadal Spirit. |
Sáu lần vòng tròn của lửa cháy, sáu lần lò lửa gầm rú cháy lên và phân ly, nhưng đến lần thứ bảy không gì còn lại ngoài Ngọn Lửa đi lên, bốc lên đến Tinh Thần Tam Nguyên. |
|
Six times the Flame mounts up, six times the cloud recedes, but at the seventh naught is seen save everlasting fire. |
Sáu lần Ngọn Lửa bốc lên, sáu lần đám mây lùi xa, nhưng đến lần thứ bảy không gì được thấy ngoài ngọn lửa vĩnh cửu. |
|
Six times the flames absorbs the water, six times the moisture disappears, but at the seventh great absorption naught is left save iridescent fire. |
Sáu lần ngọn lửa hấp thụ nước, sáu lần độ ẩm biến mất, nhưng trong sự hấp thụ lớn lao thứ bảy không gì còn lại ngoài lửa óng ánh. |
|
Three times the fire envelops, three times the sun recedes; at time the fourth the work is done, and naught is left save Flame primordial. That Flame absorbs, revolves, receives, and remains. When all that is has traversed the Flame, then Time is not. |
Ba lần lửa bao bọc, ba lần mặt trời lùi xa; đến lần thứ tư công việc hoàn tất, và không gì còn lại ngoài Ngọn Lửa nguyên sơ. Ngọn Lửa ấy hấp thụ, xoay chuyển, tiếp nhận, và còn lại. Khi tất cả những gì hiện hữu đã đi xuyên qua Ngọn Lửa, thì Thời Gian không còn nữa. |