Con Người: Từ đâu đến và Đi về đâu – Chương 24-26

📘 Sách: Con người: Từ đâu đến, Bằng Cách Nào, Và Đi Về Đâu – Tác giả: C.W. Leadbeater

CHAPTER XXIV — CHƯƠNG XXIV

RELIGION AND THE TEMPLES — TÔN GIÁO VÀ CÁC THÁNH ĐIỆN

THIS practical absence of all regulations gives to the whole place an air of remarkable freedom, although at the same time the atmosphere of one-pointedness impresses itself upon us very forcibly. Men are of many different types, and are moving along lines of development through intellect, devotion and action; but all alike recognise that the Manu knows thoroughly well what He is doing, and that all these different ways are only so many methods of serving Him—that whatever development comes to one comes to him not for himself, but for the Race, that it may be handed on to his children. There are no longer different religions in our sense of the word, though the one teaching is given in different typical forms. The subject of religious worship is, however, of such great importance that we will now devote a special section to its consideration, following this up with the new methods of education, and the particulars of the personal, social, and corporate life of the community.

Sự vắng mặt thực tế của mọi quy định này đem lại cho toàn bộ nơi ấy một bầu không khí tự do đáng kể, mặc dù đồng thời bầu khí nhất tâm gây ấn tượng rất mạnh lên chúng ta. Con người thuộc nhiều kiểu khác nhau, và đang tiến theo các đường phát triển thông qua trí năng, sùng tín và hành động; nhưng tất cả đều cùng nhận ra rằng Đức Manu biết hoàn toàn rõ điều Ngài đang làm, và rằng tất cả những con đường khác nhau này chỉ là chừng ấy phương pháp để phụng sự Ngài — rằng bất cứ sự phát triển nào đến với một người cũng đến với y không phải cho chính y, mà cho giống dân, để nó có thể được truyền lại cho con cái của y. Không còn những tôn giáo khác nhau theo nghĩa của chúng ta về từ này, dù giáo huấn duy nhất được đưa ra dưới các hình thức điển hình khác nhau. Tuy nhiên, đề tài thờ phượng tôn giáo có tầm quan trọng lớn lao đến mức bây giờ chúng ta sẽ dành một phần đặc biệt để xem xét nó, tiếp theo là các phương pháp giáo dục mới, và những chi tiết về đời sống cá nhân, xã hội và tập thể của cộng đồng.

THEOSOPHY IN THE COMMUNITY — THÔNG THIÊN HỌC TRONG CỘNG ĐỒNG

Since the two Masters who founded the Theosophical Society are also the leaders of this community, it is quite natural that the religious opinion current there should be what we now call Theosophy. All that we now hold—all that is known in the innermost circles of our Esoteric Section—is the common faith of the community, and many points on which as yet our own knowledge is only rudimentary are thoroughly grasped and understood in detail. The outline of our Theosophy is no longer a matter of discussion but of certainty, and the facts of the life after death and the existence and nature of the higher worlds are matters of experimental knowledge for nearly all members of the colony. Here, as in our own time, different branches of the study attract different people; some think chiefly of the higher philosophy and metaphysics, while the majority prefer to express their religious feelings along some of the lines provided for them in the different Temples. A strong vein of practicality runs through all their thinking, and we should not go far wrong in saying that the religion of this community is to do what it is told. There is no sort of divorcement between science and religion, because both alike are bent entirely to the one object, and exist only for the sake of the State. Men no longer worship various manifestations, since all possess accurate knowledge as to the existence of the Solar Deity. It is still the custom with many to make a salutation to the Sun as he rises, but all are fully aware that he is to be regarded as a centre in the body of the Deity.

Vì hai Chân sư đã sáng lập Hội Thông Thiên Học cũng là những vị lãnh đạo của cộng đồng này, nên hoàn toàn tự nhiên khi quan điểm tôn giáo hiện hành ở đó là điều mà ngày nay chúng ta gọi là Thông Thiên Học. Tất cả những gì chúng ta hiện nắm giữ — tất cả những gì được biết trong các vòng nội tâm nhất của Phân bộ Nội môn của chúng ta — là đức tin chung của cộng đồng, và nhiều điểm mà cho đến nay tri thức của chính chúng ta mới chỉ sơ khởi thì ở đó được nắm bắt và thấu hiểu chi tiết. Đại cương của Thông Thiên Học của chúng ta không còn là vấn đề thảo luận mà là sự chắc chắn, và các sự kiện của đời sống sau khi chết cũng như sự hiện hữu và bản chất của các thế giới cao là những vấn đề của tri thức thực nghiệm đối với gần như tất cả các thành viên của thuộc địa. Ở đây, cũng như trong thời đại của chính chúng ta, những nhánh khác nhau của việc nghiên cứu thu hút những người khác nhau; một số người nghĩ chủ yếu về triết học cao và siêu hình học, trong khi đa số thích diễn đạt cảm xúc tôn giáo của mình theo một số đường hướng được cung cấp cho họ trong các Thánh điện khác nhau. Một mạch thực tiễn mạnh mẽ xuyên suốt mọi tư tưởng của họ, và chúng ta sẽ không sai lắm khi nói rằng tôn giáo của cộng đồng này là làm điều được bảo phải làm. Không có bất cứ sự ly dị nào giữa khoa học và tôn giáo, vì cả hai đều hoàn toàn hướng về một mục tiêu duy nhất, và chỉ hiện hữu vì Nhà nước. Con người không còn thờ phượng các biểu hiện khác nhau, vì tất cả đều sở hữu tri thức chính xác về sự hiện hữu của Thái dương Thượng đế. Nhiều người vẫn có tục chào Mặt Trời khi nó mọc, nhưng tất cả đều hoàn toàn biết rằng nó phải được xem như một trung tâm trong thể của Thượng đế.

THE DEVAS — CÁC THIÊN THẦN

One prominent feature of the religious life is the extent to which the Devas take part in it. Many religions of the twentieth century spoke of a Golden Age in the past in which Angels or Deities walked freely among men, but this happy state of things had then ceased because of the grossness of that stage of evolution. As regards our community this has again been realised, for great Devas habitually come among the people and bring to them many new possibilities of development, each drawing to himself those cognate to his own nature. This should not surprise us, for even in the twentieth century much help was being given by Devas to those who were able to receive it. Such opportunities of learning, such avenues of advancement, were not then open to the majority, but this was not because of the unwillingness of the Devas, but because of man’s backwardness in evolution. We were then much in the position of children in a primary class in this world-school. The great professors from the universities sometimes came to our school to instruct the advanced students, and we sometimes saw them pass at a distance; but their ministrations were as yet of no direct use to us simply because we were not at the age or state of development at which we could make any use of them. The classes were being held. The teachers were there, quite at our disposal as soon as we grew old enough. Our community has grown old enough, and therefore it is reaping the benefit of constant intercourse with these great Beings and of frequent instruction from them.

Một đặc điểm nổi bật của đời sống tôn giáo là mức độ mà các thiên thần tham dự vào đó. Nhiều tôn giáo của thế kỷ hai mươi đã nói về một Thời Đại Hoàng Kim trong quá khứ, trong đó các Thiên thần hay các Thượng đế đi lại tự do giữa loài người; nhưng tình trạng hạnh phúc này khi ấy đã chấm dứt vì sự thô trược của giai đoạn tiến hoá đó. Đối với cộng đồng của chúng ta, điều này một lần nữa đã được chứng nghiệm, vì các thiên thần vĩ đại thường xuyên đến giữa dân chúng và đem đến cho họ nhiều khả năng phát triển mới, mỗi vị thu hút về mình những ai tương hợp với bản chất của chính mình. Điều này không nên làm chúng ta ngạc nhiên, vì ngay trong thế kỷ hai mươi, nhiều sự trợ giúp đã được các thiên thần ban cho những ai có thể tiếp nhận nó. Những cơ hội học hỏi như vậy, những con đường tiến bộ như vậy, khi ấy chưa mở ra cho đa số, nhưng điều này không phải vì các thiên thần không sẵn lòng, mà vì sự chậm tiến của con người trong tiến hoá. Khi ấy, chúng ta phần nào ở vị trí của trẻ em trong một lớp sơ cấp của trường học thế giới này. Các giáo sư vĩ đại từ những đại học đôi khi đến trường chúng ta để chỉ dạy các đạo sinh tiến bộ, và chúng ta đôi khi thấy các vị đi qua từ xa; nhưng sự trợ giúp của các vị khi ấy chưa có ích trực tiếp cho chúng ta, đơn giản vì chúng ta chưa ở độ tuổi hay trạng thái phát triển có thể dùng được nó. Các lớp học vẫn đang được tổ chức. Các huấn sư vẫn ở đó, hoàn toàn sẵn sàng cho chúng ta ngay khi chúng ta đủ trưởng thành. Cộng đồng của chúng ta đã đủ trưởng thành, và do đó đang gặt hái lợi ích của sự giao tiếp thường xuyên với các Hữu Thể vĩ đại này và sự chỉ dạy thường xuyên từ các vị.

THE TEMPLE SERVICES — CÁC NGHI LỄ THÁNH ĐIỆN

These Devas are not merely making sporadic appearances, but are definitely working as part of the regular organisation under the direction of the Chief Priest, who takes entire control of the religious development of the community, and of its educational department. For the outward expression of this religion we find that various classes of Temple services are provided, and that the management of these is the especial function of the Devas. Four types of these Temples were observed, and though the outline and objects of the services were the same in all, there were striking differences in form and method, which we shall now endeavour to describe.

Các thiên thần này không chỉ xuất hiện rời rạc, mà chắc chắn đang làm việc như một phần của tổ chức thường xuyên dưới sự chỉ đạo của vị Đại Tư Tế, người nắm toàn quyền kiểm soát sự phát triển tôn giáo của cộng đồng, cũng như bộ phận giáo dục của nó. Đối với sự biểu đạt bên ngoài của tôn giáo này, chúng tôi thấy rằng nhiều loại nghi lễ Thánh điện khác nhau được cung cấp, và việc quản lý các nghi lễ này là chức năng đặc biệt của các thiên thần. Bốn kiểu Thánh điện này đã được quan sát, và mặc dù đại cương cùng các mục tiêu của các nghi lễ đều giống nhau trong tất cả, vẫn có những khác biệt nổi bật về hình thức và phương pháp, mà bây giờ chúng tôi sẽ cố gắng mô tả.

The keynote of the Temple service is that each man, belonging as he does to a particular type, has some one avenue through which he can most easily reach the Divine, and therefore be most easily reached in turn by divine influence. In some men that channel is affection, in others devotion, in others sympathy, in yet others intellect. For these four kinds of Temples exist, and in each of them the object is to bring the prominent quality in the man into active and conscious relationship with the corresponding quality in the LOGOS, of which it is a manifestation, for in that way the man himself can most easily be uplifted and helped. Thereby he can be raised for a time to a level of spirituality and power far beyond anything that is normally possible for him; and every such effort of spiritual elevation makes the next similar effort easier for him, and also raises slightly his normal level. Every service which a man attends is intended to have a definite and calculated effect upon him, and the services for a year or series of years are carefully ordered with a view to the average development of the congregation, and with the idea of carrying its members upward to a certain point. It is in this work that the co-operation of the Deva is so valuable, since he acts as a true priest and intermediary between the people and the LOGOS, receiving, gathering together and forwarding their streams of aspirational force, and distributing, applying and bringing down to their level the floods of divine influence which come as a response from on high.

Chủ âm của nghi lễ Thánh điện là mỗi người, vì thuộc về một kiểu riêng biệt, có một con đường nào đó qua đó y có thể dễ dàng nhất vươn tới Thiêng Liêng, và do đó đến lượt mình cũng được ảnh hưởng thiêng liêng chạm đến dễ dàng nhất. Ở một số người, kênh ấy là tình cảm; ở những người khác là sùng tín; ở những người khác nữa là cảm thông; và ở những người khác nữa là trí năng. Vì bốn loại Thánh điện này hiện hữu, và trong mỗi loại, mục tiêu là đưa phẩm tính nổi bật trong con người vào mối quan hệ tích cực và có ý thức với phẩm tính tương ứng trong Đức Thượng đế, mà nó là một biểu hiện; vì theo cách ấy, chính con người có thể được nâng lên và được trợ giúp dễ dàng nhất. Nhờ đó, y có thể được nâng lên trong một thời gian đến một cấp độ tinh thần và quyền năng vượt xa bất cứ điều gì bình thường có thể đối với y; và mỗi nỗ lực nâng cao tinh thần như vậy làm cho nỗ lực tương tự kế tiếp trở nên dễ dàng hơn đối với y, đồng thời cũng nâng nhẹ cấp độ bình thường của y. Mỗi nghi lễ mà một người tham dự được dự định có một hiệu quả xác định và được tính toán đối với y, và các nghi lễ cho một năm hay một chuỗi năm được sắp đặt cẩn thận nhằm sự phát triển trung bình của hội chúng, với ý tưởng đưa các thành viên của nó đi lên đến một điểm nhất định. Chính trong công việc này mà sự hợp tác của thiên thần có giá trị đến vậy, vì y hành động như một tư tế chân chính và trung gian giữa dân chúng và Đức Thượng đế, tiếp nhận, quy tụ và chuyển tiếp các dòng mãnh lực khát vọng của họ, đồng thời phân phối, áp dụng và đem xuống đến cấp độ của họ những dòng lũ ảnh hưởng thiêng liêng đến như một đáp ứng từ trên cao.

THE CRIMSON TEMPLE — THÁNH ĐIỆN ĐỎ THẪM

The first Temple entered for the purpose of examination was one of those which the Deva originally showed in his pictures—one of those where progress is principally made through affection, a great characteristic of the services of which is the splendid flood of colour which accompanies them, and is in fact their principal expression. Imagine a magnificent circular building somewhat resembling a cathedral, yet of no order of architecture at present known to us, and much more open to the outer air than it is possible for any cathedral to be in ordinary European climates. Imagine it filled with a reverent congregation, and the Deva-priest standing in the centre before them, on the apex of a kind of pyramidal or conical erection of filigree work, so that he is equally visible from every part of the great building.

Thánh điện đầu tiên được bước vào nhằm mục đích khảo sát là một trong những Thánh điện mà vị thiên thần ban đầu đã cho thấy trong các bức tranh của y — một trong những nơi sự tiến bộ chủ yếu được thực hiện thông qua tình cảm, một đặc điểm lớn lao của các nghi lễ trong đó là dòng lũ màu sắc huy hoàng đi kèm chúng, và thực ra là sự biểu đạt chính của chúng. Hãy hình dung một công trình hình tròn tráng lệ, phần nào giống một nhà thờ lớn, nhưng không thuộc bất cứ trật tự kiến trúc nào hiện được chúng ta biết đến, và mở ra với không khí bên ngoài nhiều hơn mức có thể đối với bất kỳ nhà thờ lớn nào trong khí hậu châu Âu thông thường. Hãy hình dung nó đầy một hội chúng tôn kính, và vị thiên thần-tư tế đứng ở trung tâm trước mặt họ, trên đỉnh của một kiểu cấu trúc hình tháp hay hình nón bằng công trình chạm lộng, đến nỗi y có thể được nhìn thấy như nhau từ mọi phần của tòa nhà vĩ đại.

It is noteworthy that every worshipper as he enters takes his seat on the pavement quietly and reverently, and then closes his eyes and passes before his mental vision a succession of sheets or clouds of colour, such as sometimes pass before one’s eyes in the darkness just before falling asleep. Each person has an order of his own for these colours, and they are evidently to some extent a personal expression of him. This seems to be of the nature of the preliminary prayer on entering a church of the twentieth century, and is intended to calm the man, to collect his thoughts, if they have been wandering, and to attune him to the surrounding atmosphere and the purpose which it subserves. When the service commences the Deva materialises on the apex of his pyramid, assuming for the occasion a magnificent and glorified human form, and wearing in these particular Temples flowing vestments of rich crimson (the colour varies with the type of Temple, as will presently be seen).

Điều đáng chú ý là mỗi người thờ phượng khi bước vào đều ngồi xuống trên nền một cách lặng lẽ và tôn kính, rồi nhắm mắt lại và cho đi qua trước tầm nhìn trí tuệ của mình một chuỗi những tấm hay đám mây màu sắc, giống như đôi khi lướt qua trước mắt người ta trong bóng tối ngay trước khi chìm vào giấc ngủ. Mỗi người có một trật tự riêng cho các màu sắc này, và rõ ràng chúng ở một mức độ nào đó là sự biểu đạt cá nhân của y. Điều này dường như có bản chất của lời cầu nguyện sơ khởi khi bước vào một nhà thờ của thế kỷ hai mươi, và nhằm làm yên tĩnh con người, thu gom các tư tưởng của y nếu chúng đã lang thang, và hòa điệu y với bầu khí xung quanh cùng mục đích mà nó phụng sự. Khi nghi lễ bắt đầu, vị thiên thần hiện hình trên đỉnh kim tự tháp của mình, khoác lấy cho dịp ấy một hình người tráng lệ và vinh quang, và trong các Thánh điện đặc biệt này, mặc những lễ phục buông dài màu đỏ thẫm phong phú, màu sắc thay đổi tùy theo loại Thánh điện, như sẽ được thấy ngay sau đây.

His first action is to cause a flashing-out above his head of a band of brilliant colours somewhat resembling a solar spectrum, save that on different occasions the colours are in different order and vary in their proportions. It is practically impossible to describe this band of colours with accuracy, for it is much more than a mere spectrum: it is a picture, yet not a picture; it has within it geometrical forms, yet we have at present no means by which it can be drawn or represented, for it is in more dimensions than are known to our senses as they are now constituted. This band is the keynote or text of that particular service, indicating to those who understand it the exact object which it is intended to attain, and the direction in which their affection and aspiration must be outpoured. It is a thought expressed in the colour-language of the Devas, and is intelligible as such to all the congregation. It is materially visible on the physical plane, as well as on the astral and mental, for although the majority of the congregation are likely to possess at least astral sight, there may still be some for whom such sight is only occasional.

Hành động đầu tiên của y là làm bừng sáng phía trên đầu mình một dải màu rực rỡ phần nào giống quang phổ mặt trời, ngoại trừ việc trong những dịp khác nhau, các màu sắc ở những trật tự khác nhau và thay đổi theo tỷ lệ của chúng. Trên thực tế, không thể mô tả chính xác dải màu này, vì nó còn hơn nhiều so với một quang phổ đơn thuần: nó là một bức tranh, nhưng lại không phải là một bức tranh; nó có bên trong các hình dạng hình học, nhưng hiện nay chúng ta không có phương tiện nào để có thể vẽ hay biểu thị nó, vì nó thuộc nhiều chiều hơn những chiều được các giác quan của chúng ta biết đến như chúng hiện được cấu tạo. Dải này là chủ âm hay bản văn của nghi lễ đặc biệt ấy, chỉ ra cho những ai thấu hiểu nó mục tiêu chính xác mà nó nhằm đạt tới, và hướng mà tình cảm cùng khát vọng của họ phải tuôn đổ ra. Nó là một tư tưởng được diễn đạt bằng ngôn ngữ màu sắc của các thiên thần, và với tư cách như vậy, nó có thể hiểu được đối với toàn thể hội chúng. Nó hiện thấy bằng vật chất trên cõi hồng trần, cũng như trên cõi cảm dục và cõi trí; vì mặc dù đa số hội chúng có khả năng sở hữu ít nhất là thị giác cảm dục, vẫn có thể có một số người mà thị giác ấy chỉ thỉnh thoảng mới có.

Each person present now attempts to imitate this text or keynote, forming by the power of his will in the air in front of himself a smaller band of colours as nearly like it as he can. Some succeed far better than others, so that each such attempt expresses not only the subject indicated by the Deva but also the character of the man who makes it. Some are able to make this so definitely that it is visible on the physical plane, while others can make it only at astral and mental levels. Some of those who produce the most brilliant and successful imitations of the form made by the Deva do not bring it down to the physical plane.

Giờ đây, mỗi người hiện diện cố gắng bắt chước bản văn hay chủ âm này, bằng quyền năng của ý chí mình tạo thành trong không khí trước mặt mình một dải màu nhỏ hơn giống với nó nhất có thể. Một số thành công hơn nhiều so với những người khác, đến nỗi mỗi nỗ lực như vậy diễn đạt không chỉ đề tài do vị thiên thần chỉ ra mà còn cả tính cách của người tạo ra nó. Một số có thể tạo ra điều này rõ rệt đến mức nó hiện thấy trên cõi hồng trần, trong khi những người khác chỉ có thể tạo ra nó ở các cấp độ cảm dục và trí tuệ. Một số trong những người tạo ra các bản sao rực rỡ và thành công nhất của hình tướng do vị thiên thần tạo ra lại không đem nó xuống cõi hồng trần.

The Deva, holding out his arms over the people, now pours out through this colour-form a wonderful stream of influence upon them—a stream which reaches them through their own corresponding colour-forms and uplifts them precisely in the proportion in which they have been successful in making their colour-forms resemble that of the Deva. The influence is not that of the Deva-priest alone, for above and altogether beyond him, and apart from the Temple or the material world, stands a ring of higher Devas for whose forces he acts as a channel. The astral effect of the outpouring is remarkable. A sea of pale crimson light suffuses the vast aura of the Deva and spreads out in great waves over the congregation, thus acting upon them and stirring their emotions into greater activity. Each of them shoots up into the rose-coloured sea his own particular form, but beautiful though that is, it is naturally of a lower order than that of the Deva, individually coarser and less brilliant than the totality of brilliancy in which it flashes forth, and so we have a curious and beautiful effect of deep crimson flames piercing a rose-coloured sea—as one might imagine volcanic flames shooting up in front of a gorgeous sunset.

Thiên thần, giơ hai tay trên dân chúng, lúc này tuôn đổ qua hình tướng-màu sắc này một dòng ảnh hưởng kỳ diệu lên họ—một dòng chạm đến họ qua các hình tướng-màu sắc tương ứng của chính họ, và nâng họ lên đúng theo mức độ họ đã thành công trong việc làm cho các hình tướng-màu sắc của mình giống với hình tướng-màu sắc của Thiên thần. Ảnh hưởng ấy không chỉ là của vị thiên thần-tư tế, vì ở bên trên và hoàn toàn vượt ngoài y, và tách khỏi Đền thờ hay thế giới vật chất, có một vòng các Thiên thần cao hơn mà y làm kênh dẫn cho các mãnh lực của các Ngài. Hiệu quả cảm dục của lần tuôn đổ ấy thật đáng chú ý. Một biển ánh sáng đỏ thẫm nhạt thấm nhuần hào quang rộng lớn của Thiên thần và lan ra thành những làn sóng lớn trên hội chúng, nhờ đó tác động lên họ và khuấy động các cảm xúc của họ vào hoạt động mạnh mẽ hơn. Mỗi người phóng lên biển màu hồng ấy hình tướng riêng của mình, nhưng dù hình tướng ấy đẹp, tự nhiên nó vẫn thuộc một cấp bậc thấp hơn hình tướng của Thiên thần, xét riêng từng cá nhân thì thô hơn và kém rực rỡ hơn toàn thể vẻ huy hoàng trong đó nó lóe sáng; và như thế chúng ta có một hiệu quả kỳ lạ và đẹp đẽ của những ngọn lửa đỏ thẫm xuyên qua một biển màu hồng—như người ta có thể hình dung những ngọn lửa núi lửa bắn lên trước một cảnh hoàng hôn rực rỡ.

To understand to some extent how this activity of sympathetic vibration is brought about we must realise that the aura of a Deva is far more extensive than that of a human being, and it is also far more flexible. The feeling which in an ordinary man expresses itself in a smile of greeting, in a Deva causes a sudden expansion and brightening of the aura, and manifests not only in colour but also in musical sound. A greeting from one Deva to another is a splendid chord of music, or rather an arpeggio; a conversation between two Devas is like a fugue; an oration delivered by one of them is a splendid oratorio. A Rupadeva of ordinary development has frequently an aura of many hundred yards in diameter, and when anything interests him or excites his enthusiasm it instantly increases enormously. Our Deva-priest therefore is including the whole of his congregation within his aura, and is consequently able to act upon them in a most intimate manner—from within as well as from without. Our readers may perhaps picture to themselves this aura, if they recollect that of the Arhat in Man Visible and Invisible; but they must think of it as less fixed and more fluidic, more fiery and sparkling—as consisting almost entirely of pulsating fiery rays, which yet give much the same general effect of arrangement of colour. It is as though those spheres of colour remain, but are formed of fiery rays which are ever flowing outward, yet as they pass through each section of the radius they take upon themselves its colour.

Để phần nào thấu hiểu hoạt động rung động đồng cảm này được tạo ra như thế nào, chúng ta phải nhận ra rằng hào quang của một Thiên thần rộng lớn hơn rất nhiều so với hào quang của một con người, và cũng linh động hơn rất nhiều. Cảm xúc vốn nơi một người bình thường tự biểu lộ bằng một nụ cười chào hỏi, nơi một Thiên thần lại gây nên sự mở rộng và sáng rực đột ngột của hào quang, và biểu hiện không chỉ bằng màu sắc mà còn bằng âm thanh nhạc điệu. Lời chào từ một Thiên thần này đến một Thiên thần khác là một hợp âm tráng lệ, hay đúng hơn là một arpeggio; cuộc trò chuyện giữa hai Thiên thần giống như một fugue; một bài diễn thuyết do một trong các Ngài trình bày là một oratorio huy hoàng. Một Rupadeva có mức phát triển bình thường thường có hào quang đường kính nhiều trăm yard, và khi điều gì khiến y quan tâm hoặc khơi dậy nhiệt tình của y, nó lập tức tăng lên vô cùng lớn. Vì vậy, vị thiên thần-tư tế của chúng ta đang bao gồm toàn thể hội chúng trong hào quang của mình, và do đó có thể tác động lên họ một cách thân mật nhất—từ bên trong cũng như từ bên ngoài. Độc giả của chúng ta có thể hình dung hào quang này, nếu họ nhớ lại hào quang của vị Arhat trong Con Người Hữu Hình và Vô Hình; nhưng họ phải nghĩ về nó như ít cố định hơn và linh động hơn, rực lửa và lấp lánh hơn—như thể gần như hoàn toàn gồm những tia lửa đang rung động, tuy vậy vẫn tạo ra hiệu quả tổng quát gần như giống nhau về sự sắp xếp màu sắc. Như thể các khối cầu màu sắc ấy vẫn còn, nhưng được tạo thành từ những tia lửa luôn tuôn chảy ra ngoài, thế nhưng khi đi qua từng phần của bán kính, chúng khoác lấy màu sắc của phần ấy.

This first outpouring of influence upon the people has the effect of bringing each person up to his highest level, and evoking from him the noblest affection of which he is capable. When the Deva sees that all are tuned to the proper key, he reverses the current of his force, he concentrates and defines his aura into a smaller spherical form, out of the top of which rises a huge column reaching upwards. Instead of extending his arms over the people he raises them above his head, and at that signal every man in the congregation sends towards the Deva-priest the utmost wealth of his affection and aspiration—pours himself out in worship and love at the feet of the Deity. The Deva draws all those fiery streams into himself; and pours them upward in one vast fountain of many-coloured flame, which expands as it rises and is caught by the circle of waiting Devas, who pass it through themselves and, transmuting it, converge it, like rays refracted through a lens, until it reaches the great chief Deva of their Ray, the mighty potentate who looks upon the very LOGOS Himself; and represents that Ray in relation to Him.

Lần tuôn đổ ảnh hưởng đầu tiên này lên dân chúng có hiệu quả đưa mỗi người lên cấp độ cao nhất của y, và gợi lên từ y tình thương cao quý nhất mà y có khả năng biểu lộ. Khi Thiên thần thấy rằng tất cả đã được điều chỉnh theo đúng chủ âm, y đảo ngược dòng mãnh lực của mình, y tập trung và định rõ hào quang của mình thành một hình cầu nhỏ hơn, từ đỉnh của nó vươn lên một cột khổng lồ hướng lên trên. Thay vì dang tay trên dân chúng, y giơ hai tay lên trên đầu, và theo dấu hiệu ấy, mỗi người trong hội chúng gửi về phía vị thiên thần-tư tế toàn bộ sự phong phú tối đa của tình thương và khát vọng của mình—tuôn đổ chính mình trong sự tôn thờ và tình thương dưới chân Thượng đế. Thiên thần thu hút tất cả những dòng lửa ấy vào trong chính mình; và tuôn chúng lên trên thành một đài phun khổng lồ bằng ngọn lửa nhiều màu, mở rộng khi vươn lên và được vòng các Thiên thần đang chờ đón bắt lấy; các Ngài dẫn nó qua chính mình và, chuyển hoá nó, hội tụ nó lại, như những tia sáng khúc xạ qua một thấu kính, cho đến khi nó chạm đến vị Thiên thần thủ lĩnh vĩ đại của Cung các Ngài, Đấng quyền năng hùng mạnh nhìn thẳng đến chính THƯỢNG ĐẾ; và đại diện cho Cung ấy trong tương quan với Ngài.

The great Chieftain is collecting similar streams from all parts of his world, and he weaves these many streams into one great rope which binds the earth to the Feet of its GOD; he combines these many streams into the one great river which flows around those Feet, and brings our petal of the lotus close to the heart of the flower. And He answers. In the light of the LOGOS Himself shines forth for a moment a yet greater brilliancy; back to the great Deva Chieftain flashes that instant recognition; through him on the waiting ring below flows down that flood of power; and as through them it touches the Deva-priest expectant on his pinnacle, once more he lowers his arms and spreads them out above his people in benediction. A flood of colours gorgeous beyond all description fills the whole vast cathedral; torrents as of liquid fire, yet delicate as the hues of an Egyptian sunset, are bathing every one in their effulgence; and out of all this glory each one takes to himself that which he is able to take, that which the stage of his development enables him to assimilate.

Vị Thủ lĩnh vĩ đại đang thu nhận những dòng tương tự từ mọi phần của thế giới của Ngài, và Ngài dệt nhiều dòng ấy thành một sợi dây lớn nối buộc Trái Đất với Bàn Chân của THƯỢNG ĐẾ của nó; Ngài kết hợp nhiều dòng ấy thành một con sông lớn chảy quanh Bàn Chân ấy, và đưa cánh hoa sen của chúng ta đến gần trái tim của đóa hoa. Và Ngài đáp lời. Trong ánh sáng của chính THƯỢNG ĐẾ, trong một khoảnh khắc, một vẻ rực rỡ còn lớn hơn bừng sáng; sự nhận biết tức thời ấy lóe trở lại vị Thủ lĩnh Thiên thần vĩ đại; qua Ngài, trận lũ quyền năng ấy chảy xuống vòng đang chờ bên dưới; và khi qua các Ngài nó chạm đến vị thiên thần-tư tế đang chờ trên đỉnh cao của mình, một lần nữa y hạ tay xuống và dang rộng trên dân chúng của mình trong sự ban phúc. Một trận lũ màu sắc lộng lẫy vượt ngoài mọi mô tả tràn ngập toàn bộ đại giáo đường rộng lớn; những dòng thác như lửa lỏng, nhưng tinh tế như sắc màu của hoàng hôn Ai Cập, đang tắm gội mọi người trong ánh huy hoàng của chúng; và từ tất cả vinh quang ấy, mỗi người tiếp nhận cho mình điều y có thể tiếp nhận, điều mà giai đoạn phát triển của y cho phép y đồng hóa.

All the vehicles of each man present are vivified into their highest activity by this stupendous down-rush of divine power, and for the moment each realises to his fullest capacity what the life of God really means, and how in each it must express itself as love for his fellow-man. This is a far fuller and more personal benediction than that poured out at the beginning of the service, for here is something exactly fitted to each man, strengthening him in his weakness and yet at the same time developing to its highest possibility all that is best in him, giving him not only a tremendous and transcendent experience at the time, but also a memory which shall be for him as a radiant and glowing light for many a day to come. This is the daily service—the daily religious practice of those who belong to this Ray of affection.

Tất cả các vận cụ của mỗi người hiện diện đều được tiếp sinh lực vào hoạt động cao nhất của chúng bởi dòng quyền năng thiêng liêng tuôn xuống kỳ vĩ này, và trong khoảnh khắc ấy mỗi người nhận biết đến hết khả năng của mình sự sống của Thượng đế thật sự có nghĩa là gì, và trong mỗi người nó phải tự biểu lộ như tình thương đối với đồng loại. Đây là một sự ban phúc đầy đủ hơn và cá nhân hơn rất nhiều so với sự ban phúc được tuôn đổ lúc bắt đầu buổi lễ, vì ở đây có một điều gì đó được điều chỉnh chính xác cho mỗi người, củng cố y trong điểm yếu của y và đồng thời phát triển đến khả năng cao nhất tất cả những gì tốt đẹp nhất nơi y, đem lại cho y không chỉ một trải nghiệm mãnh liệt và siêu việt vào lúc ấy, mà còn một ký ức sẽ đối với y như một ánh sáng rạng rỡ và bừng cháy trong nhiều ngày sắp tới. Đây là buổi lễ hằng ngày—thực hành tôn giáo hằng ngày của những người thuộc về Cung tình thương này.

Nor does the good influence of this service affect only those who are present; its radiations extend over a large district, and purify the astral and mental atmospheres. The effect is distinctly perceptible to any moderately sensitive person even two or three miles from the Temple. Each such service also sends out a huge eruption of rose-coloured thought-forms which bombard the surrounding country with thoughts of love, so that the whole atmosphere is full of it. In the Temple itself a vast crimson vortex is set up which is largely permanent, so that anyone entering the Temple immediately feels its influence, and this also keeps up a steady radiation upon the surrounding district. In addition to this each man as he goes home from the service is himself a centre of force of no mean order, and when he reaches his home the radiations which pour from him are strongly perceptible to any neighbours who have not been able to attend the service.

Ảnh hưởng tốt lành của buổi lễ này cũng không chỉ tác động đến những người hiện diện; các bức xạ của nó lan rộng trên một vùng lớn, và thanh lọc bầu khí cảm dục và trí tuệ. Hiệu quả ấy rõ ràng có thể nhận biết đối với bất cứ người nào nhạy cảm vừa phải, ngay cả cách Đền thờ hai hay ba dặm. Mỗi buổi lễ như thế cũng phóng ra một vụ phun trào khổng lồ các hình tư tưởng màu hồng, bắn phá vùng chung quanh bằng những tư tưởng yêu thương, đến nỗi toàn bộ bầu khí đầy tràn nó. Trong chính Đền thờ, một xoáy đỏ thẫm rộng lớn được thiết lập và phần lớn có tính thường tồn, đến nỗi bất cứ ai bước vào Đền thờ lập tức cảm thấy ảnh hưởng của nó, và điều này cũng duy trì một bức xạ đều đặn trên vùng chung quanh. Ngoài ra, mỗi người khi trở về nhà sau buổi lễ tự mình là một trung tâm mãnh lực không nhỏ, và khi y về đến nhà, các bức xạ tuôn ra từ y được những người láng giềng không thể tham dự buổi lễ cảm nhận rất rõ.

THE SERMON — BÀI GIẢNG

Sometimes, in addition to this, or perhaps as a service apart from this, the Deva delivers what may be described as a kind of colour-sermon, taking up that colour-form which we have mentioned as the keynote or text for the day, explaining it to his people by an unfolding process, and mostly without spoken words, and perhaps causing it to pass through a series of mutations intended to convey to them instruction of various kinds. One exceedingly vivid and striking colour-sermon of this nature was intended to show the effect of love upon the various qualities in others with which it comes into contact. The black clouds of malice, the scarlet of anger, the dirty green of deceit, or the hard brown-grey of selfishness, the brownish-green of jealousy, and the heavy dull-grey of depression, were all in turn subjected to the glowing crimson fire of love. The stages through which they pass were shown, and it was made clear that in the end none of them could resist its force, and all of them at last melted into it and were consumed.

Đôi khi, ngoài điều này, hoặc có lẽ như một buổi lễ tách riêng khỏi điều này, Thiên thần trình bày điều có thể được mô tả như một loại bài giảng bằng màu sắc, lấy hình tướng-màu sắc mà chúng ta đã đề cập như chủ âm hay đề tài của ngày hôm ấy, giải thích nó cho dân chúng của y bằng một tiến trình khai mở, phần lớn không dùng lời nói, và có lẽ khiến nó đi qua một chuỗi biến đổi nhằm truyền đạt cho họ sự chỉ dẫn thuộc nhiều loại khác nhau. Một bài giảng bằng màu sắc thuộc loại này, hết sức sống động và nổi bật, nhằm cho thấy hiệu quả của tình thương đối với những phẩm tính khác nhau nơi người khác mà nó tiếp xúc. Những đám mây đen của ác tâm, màu đỏ tươi của giận dữ, màu xanh lục bẩn của sự lừa dối, hoặc màu nâu xám cứng của tính ích kỷ, màu xanh lục nâu của lòng ghen tị, và màu xám nặng nề u ám của sự chán nản, lần lượt đều được đặt dưới ngọn lửa đỏ thẫm rực sáng của tình thương. Các giai đoạn mà chúng trải qua được trình bày, và rõ ràng rằng cuối cùng không một thứ nào trong chúng có thể chống lại mãnh lực của nó, và tất cả sau cùng đều tan chảy vào nó và bị thiêu rụi.

INCENSE — HƯƠNG

Though colour is in every way the principal feature in this service which we have described, the Deva does not disdain to avail himself of the channels of other senses than that of sight. All through his service, and even before it began, incense has been kept burning in swinging censers underneath his golden pyramid, where stand two boys to attend to it. The kind of incense burnt varies with the different parts of the service. The people are far more sensitive to perfumes than we of earlier centuries; they are able to distinguish accurately all the different kinds of incense, and they know exactly what each kind means and for what purpose it is used. The number of pleasant odours available in this way is much larger than that of those previously in use, and they have discovered some method of making them more volatile; so that they penetrate instantly through every part of the building. This acts upon the etheric body somewhat as the colours do upon the astral, and bears its part in bringing all the vehicles of the man rapidly into harmony. These people possess a good deal of new information as to the effect of odours upon certain parts of the brain, as we shall see more fully when we come to deal with the educational processes.

Dù màu sắc về mọi mặt là đặc điểm chính trong buổi lễ mà chúng ta đã mô tả, Thiên thần không khinh thường việc tận dụng các kênh của những giác quan khác ngoài thị giác. Suốt buổi lễ của y, và ngay cả trước khi nó bắt đầu, hương đã được giữ cho cháy trong những lư hương đu đưa bên dưới kim tự tháp vàng của y, nơi có hai cậu bé đứng chăm sóc. Loại hương được đốt thay đổi theo các phần khác nhau của buổi lễ. Dân chúng nhạy cảm với hương thơm hơn chúng ta trong các thế kỷ trước rất nhiều; họ có thể phân biệt chính xác mọi loại hương khác nhau, và họ biết chính xác mỗi loại có nghĩa gì và được dùng cho mục đích nào. Số lượng mùi hương dễ chịu có thể sử dụng theo cách này lớn hơn nhiều so với những mùi trước kia được dùng, và họ đã khám phá ra một phương pháp nào đó khiến chúng dễ bay hơi hơn; vì vậy chúng thâm nhập tức thì qua mọi phần của tòa nhà. Điều này tác động lên thể dĩ thái phần nào như màu sắc tác động lên thể cảm dục, và góp phần đưa tất cả các vận cụ của con người nhanh chóng vào trạng thái hài hòa. Những người này sở hữu khá nhiều thông tin mới về hiệu quả của mùi hương đối với một số phần của bộ não, như chúng ta sẽ thấy đầy đủ hơn khi bàn đến các tiến trình giáo dục.

SOUND — ÂM THANH

Naturally every change of colour is accompanied by its appropriate sound, and though this is a subordinate feature in the colour-Temple which we have described, it is yet by no means without its effect. We shall now, however, attempt to describe a somewhat similar service in a Temple where music is the predominant feature, and colour comes only to assist its effect, precisely as sound has assisted colour in the Temple of affection. In common parlance, these Temples in which progress is made principally by the development of affection are called `crimson Temples’ —first because everyone knows that crimson is the colour in the aura which indicates affection, and therefore that is the prevailing colour of all the splendid outpourings which take place in it; and secondly, because in recognition of the same fact all the graceful lines of the architecture are indicated by lines of crimson, and there are even some Temples entirely of that hue. The majority of these Temples are built of a stone of a beautiful pale grey with a polished surface much like that of marble, and when this is the case only the external decorations are of the colour which indicates the nature of the services performed within. Sometimes, however, the Temples of affection are built entirely of stone of a lovely pale rose colour, which stands out with marvellous beauty against the vivid green of the trees with which they are always surrounded. The Temples in which music is the dominant factor are similarly known as `blue Temples,’ because, since their principal object is the arousing of the highest possible devotion, blue is the colour most prominent in connection with their services, and consequently the colour adopted for both exterior and interior decoration.

Tự nhiên, mỗi thay đổi màu sắc đều đi kèm âm thanh thích hợp của nó, và dù đây là một đặc điểm phụ trong Đền thờ màu sắc mà chúng ta đã mô tả, nó vẫn hoàn toàn không phải là không có hiệu quả. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta sẽ cố gắng mô tả một buổi lễ phần nào tương tự trong một Đền thờ nơi âm nhạc là đặc điểm chủ đạo, và màu sắc chỉ đến để hỗ trợ hiệu quả của nó, đúng như âm thanh đã hỗ trợ màu sắc trong Đền thờ tình thương. Theo cách nói thông thường, những Đền thờ trong đó sự tiến bộ được tạo ra chủ yếu bằng sự phát triển tình thương được gọi là “Đền thờ đỏ thẫm”—trước hết vì mọi người đều biết rằng đỏ thẫm là màu trong hào quang biểu thị tình thương, và do đó đó là màu chủ đạo của tất cả những lần tuôn đổ huy hoàng diễn ra trong đó; và thứ hai, vì để công nhận cùng sự thật ấy, mọi đường nét duyên dáng của kiến trúc đều được chỉ rõ bằng các đường đỏ thẫm, và thậm chí có một số Đền thờ hoàn toàn mang sắc ấy. Phần lớn các Đền thờ này được xây bằng một loại đá có màu xám nhạt đẹp đẽ với bề mặt bóng láng rất giống đá cẩm thạch, và khi như vậy chỉ những trang trí bên ngoài mới mang màu biểu thị bản chất của các buổi lễ được thực hiện bên trong. Tuy nhiên, đôi khi các Đền thờ tình thương được xây hoàn toàn bằng đá có màu hồng nhạt đáng yêu, nổi bật với vẻ đẹp kỳ diệu trên nền xanh tươi rực rỡ của cây cối luôn bao quanh chúng. Những Đền thờ trong đó âm nhạc là yếu tố chủ đạo cũng được biết đến tương tự như “Đền thờ xanh lam,” bởi vì, do mục tiêu chính của chúng là khơi dậy lòng sùng tín cao nhất có thể, xanh lam là màu nổi bật nhất liên quan đến các buổi lễ của chúng, và do đó là màu được dùng cho cả trang trí bên ngoài lẫn bên trong.

THE BLUE TEMPLE — ĐỀN THỜ XANH LAM

The general outline of the services in one of the blue Temples closely resembles that which we have already described, except that in their case sound takes the place of colour as the principal agent. Just as the endeavour in the colour-Temple was to stimulate the love in man by bringing it consciously into relation with the divine love, so in this Temple the object is to promote the evolution of the man through the quality of devotion, which by the use of music is enormously uplifted and intensified and brought into direct relation with the LOGOS who is its object. Just as in the crimson Temple there exists a permanent vortex of the highest and noblest affection, so in this music-Temple there exists a similar atmosphere of unselfish devotion which instantly affects everyone who enters it.

Đường nét tổng quát của các buổi lễ trong một trong các Đền thờ xanh lam rất giống với điều chúng ta đã mô tả, ngoại trừ trong trường hợp của chúng, âm thanh thay thế màu sắc làm tác nhân chính. Cũng như nỗ lực trong Đền thờ màu sắc là kích thích tình thương nơi con người bằng cách đưa nó một cách hữu thức vào tương quan với tình thương thiêng liêng, thì trong Đền thờ này mục tiêu là thúc đẩy sự tiến hoá của con người qua phẩm tính sùng tín, vốn nhờ việc sử dụng âm nhạc được nâng cao và tăng cường vô cùng lớn, và được đưa vào tương quan trực tiếp với THƯỢNG ĐẾ là đối tượng của nó. Cũng như trong Đền thờ đỏ thẫm có một xoáy thường tồn của tình thương cao nhất và cao quý nhất, thì trong Đền thờ âm nhạc này cũng có một bầu khí tương tự của lòng sùng tín vô kỷ, lập tức tác động đến mọi người bước vào đó.

Into this atmosphere come the members of the congregation, each bringing in his hand a curious musical instrument, unlike any formerly known on earth. It is not a violin; it is perhaps rather of the nature of a small circular harp with strings of some shining metal. But this strange instrument has many remarkable properties. It is in fact much more than a mere instrument; it is specially magnetised for its owner, and no other person must use it. It is tuned to the owner; it is an expression of the owner—a funnel through which he can be reached on this physical plane. He plays upon it, and yet at the same time he himself is played upon in doing so. He gives out and receives vibrations through it.

Các thành viên của hội chúng bước vào bầu khí này, mỗi người mang trong tay một nhạc cụ kỳ lạ, không giống bất cứ thứ gì trước kia được biết đến trên Trái Đất. Nó không phải là vĩ cầm; có lẽ nó có bản chất gần giống một cây đàn hạc tròn nhỏ với dây làm bằng một kim loại sáng nào đó. Nhưng nhạc cụ lạ lùng này có nhiều đặc tính đáng chú ý. Thật ra nó còn hơn nhiều so với một nhạc cụ đơn thuần; nó được từ hoá đặc biệt cho chủ nhân của nó, và không người nào khác được dùng nó. Nó được lên dây theo chủ nhân; nó là một biểu hiện của chủ nhân—một cái phễu qua đó y có thể được chạm đến trên cõi hồng trần này. Y chơi nó, và đồng thời chính y cũng được chơi qua nó khi làm như vậy. Y phát ra và tiếp nhận các rung động qua nó.

THE DEVOTIONAL SERVICE — BUỔI LỄ SÙNG TÍN

When the worshipper enters the Temple, he calls up before his mind a succession of beautiful sounds—a piece of music which fulfils for him the same office as the series of colours which pass before the eyes of the man in the colour-Temple at the same stage of the proceedings. When the Deva materialises he also takes up an instrument of similar nature, and he commences the service by striking upon it a chord (or rather an arpeggio) which fulfils the function of the keynote in colour which is used in the other Temple. The effect of this chord is most striking. His instrument is but a small one and apparently of no great power, though wonderfully sweet in tone; but as he strikes it, the chord seems to be taken up in the air around him as though it were repeated by a thousand invisible musicians, so that it resounds through the great dome of the Temple and pours out in a flood of harmony, a sea of rushing sound, over the entire congregation. Each member of the congregation now touches his own instrument, and very softly at first, but gradually swelling out into a greater volume, until everyone is taking part in this wonderful symphony. Thus, as in the colour-Temple, every member is brought into harmony with the principal idea which the Deva wishes to emphasise at this service, and in this case, as in the other, a benediction is poured over the people which raises each to the highest level possible for him, and draws from him an eager response which shows itself both in sound and in colour.

Khi người thờ phượng bước vào Đền thờ, y gợi lên trước thể trí của mình một chuỗi âm thanh đẹp đẽ—một khúc nhạc thực hiện cho y cùng chức năng như chuỗi màu sắc đi qua trước mắt người trong Đền thờ màu sắc ở cùng giai đoạn của nghi thức. Khi Thiên thần hiện hình, y cũng cầm lấy một nhạc cụ có bản chất tương tự, và y bắt đầu buổi lễ bằng cách gảy trên đó một hợp âm, hay đúng hơn là một arpeggio, thực hiện chức năng của chủ âm bằng màu sắc được dùng trong Đền thờ kia. Hiệu quả của hợp âm này hết sức nổi bật. Nhạc cụ của y chỉ là một cái nhỏ và dường như không có quyền năng lớn, dù âm sắc ngọt ngào kỳ diệu; nhưng khi y gảy nó, hợp âm dường như được không khí quanh y tiếp lấy như thể được lặp lại bởi một nghìn nhạc công vô hình, đến nỗi nó vang dội qua vòm lớn của Đền thờ và tuôn ra thành một trận lũ hòa âm, một biển âm thanh cuồn cuộn, trên toàn thể hội chúng. Lúc này mỗi thành viên của hội chúng chạm vào nhạc cụ của mình, ban đầu rất nhẹ, nhưng dần dần nở rộng thành âm lượng lớn hơn, cho đến khi mọi người đều tham gia vào bản giao hưởng kỳ diệu này. Như vậy, cũng như trong Đền thờ màu sắc, mỗi thành viên được đưa vào hài hòa với ý tưởng chính mà Thiên thần muốn nhấn mạnh trong buổi lễ này, và trong trường hợp này, cũng như trong trường hợp kia, một sự ban phúc được tuôn đổ trên dân chúng, nâng mỗi người lên cấp độ cao nhất có thể đối với y, và rút ra từ y một sự đáp ứng nồng nhiệt biểu lộ cả bằng âm thanh lẫn màu sắc.

Here also incense is being used, and it varies at different points of the service, much as in the other case. Then when the congregation is thoroughly tuned, each man begins definitely to play. All are clearly taking recognised parts, although it does not seem that this has been arranged or rehearsed beforehand. As soon as this stage is in full operation the Deva-priest draws in his aura, and begins to pour his sound inwards instead of out over the people. Each man is putting his very life into his playing, and definitely aiming at the Deva, so that through him it may rise. The effect on the higher emotions of the people is most remarkable, and the living aspiration and devotion of the congregation is poured upwards in a mighty stream through the officiating Deva to a great circle of Devas above, who, as before, draw it into themselves, transmuting it to an altogether higher level, and send it forward in a still mightier stream towards the great Deva at the head of their Ray. Upon him converge thousands of such streams from all the devotion of the earth, and he in his turn gathers all. these together and weaves them into one, which, as he sends it upwards, links him with the Solar LOGOS Himself.

Ở đây hương cũng được dùng, và nó thay đổi ở các điểm khác nhau của buổi lễ, gần giống như trường hợp kia. Rồi khi hội chúng đã được điều chỉnh hoàn toàn, mỗi người bắt đầu thật sự chơi. Tất cả rõ ràng đều đảm nhận những phần đã được thừa nhận, mặc dù dường như điều này không được sắp đặt hay tập dượt trước. Ngay khi giai đoạn này đi vào hoạt động đầy đủ, vị thiên thần-tư tế thu hào quang của mình lại, và bắt đầu tuôn âm thanh của mình vào bên trong thay vì ra ngoài trên dân chúng. Mỗi người đặt chính sự sống của mình vào việc chơi nhạc, và dứt khoát hướng về Thiên thần, để qua y nó có thể vươn lên. Hiệu quả trên các cảm xúc cao của dân chúng thật đáng chú ý, và khát vọng cùng lòng sùng tín sống động của hội chúng được tuôn lên trên thành một dòng hùng mạnh qua Thiên thần hành lễ đến một vòng lớn các Thiên thần bên trên, các Ngài, như trước kia, thu nó vào chính mình, chuyển hoá nó lên một cấp độ hoàn toàn cao hơn, và gửi nó tiến tới trong một dòng còn hùng mạnh hơn về phía vị Thiên thần vĩ đại đứng đầu Cung của các Ngài. Trên Ngài hội tụ hàng nghìn dòng như thế từ toàn bộ lòng sùng tín của Trái Đất, và đến lượt Ngài thu gom tất cả những dòng này lại và dệt chúng thành một, rồi khi Ngài gửi nó lên trên, nó liên kết Ngài với chính Thái dương Thượng đế.

In it he is bearing his share in a concert which comes from all the worlds of the system, and these streams from all the worlds make somehow the mighty twelve-stringed lyre upon which the LOGOS Himself plays as He sits upon the Lotus of His system. It is impossible to put this into words; but the writer has seen it, and knows that it is true. He hears, He responds, and He Himself plays upon His system. Thus for the first time we have one brief glimpse of the stupendous life which He lives among the other LOGOI who are His peers; but thought fails before this glory; our minds are inadequate to comprehend it. At least it is clear that the great music-Devas, taken in their totality, represent music to the LOGOS, and He expresses Himself through them in music to His worlds.

Trong đó Ngài đang đảm nhận phần của mình trong một buổi hòa nhạc đến từ tất cả các thế giới của hệ thống, và những dòng này từ tất cả các thế giới, theo một cách nào đó, tạo nên cây đàn lyre mười hai dây hùng mạnh mà chính THƯỢNG ĐẾ chơi khi Ngài ngự trên Hoa sen của hệ thống của Ngài. Không thể đưa điều này vào lời; nhưng người viết đã thấy nó, và biết rằng nó là thật. Ngài nghe, Ngài đáp ứng, và chính Ngài chơi trên hệ thống của Ngài. Như vậy lần đầu tiên chúng ta có một thoáng nhìn ngắn ngủi về sự sống kỳ vĩ mà Ngài sống giữa các THƯỢNG ĐẾ khác là các Đấng đồng hàng với Ngài; nhưng tư tưởng bất lực trước vinh quang này; thể trí của chúng ta không đủ để lĩnh hội nó. Ít nhất điều rõ ràng là các Thiên thần âm nhạc vĩ đại, xét trong toàn thể, đại diện cho âm nhạc đối với THƯỢNG ĐẾ, và Ngài biểu lộ chính mình qua các Ngài bằng âm nhạc đến các thế giới của Ngài.

THE BENEDICTION — SỰ BAN PHÚC

Then comes the response—a downpouring flood of ordered sound too tremendous to be described, flowing back through the Chieftain of the Ray to the circle of Devas below, and from them to the Deva-priest in the Temple, transmuted at each stage to lower levels, so that at last it pours out through the officiant in the Temple in a form in which it may be assimilated by his congregation—a great ocean of soft, sweet, swelling sound, an outburst of celestial music which surrounds, enwraps, overwhelms them, and yet pours into them through their own instruments vibrations so living, so uplifting, that their higher bodies are brought into action and their consciousness is raised to levels which in their outer life it could not even approach. Each man holds out his instrument in front of him, and it is through that that this marvellous effect is produced upon him. It seems as though from the great symphony each instrument selected the chords appropriate to itself—that is to say, to the owner whose expression it is. Yet each harp somehow not only selects and responds, but also calls into existence far more than its own volume of sound.

Rồi đến sự đáp ứng—một trận lũ âm thanh có trật tự tuôn xuống, quá mãnh liệt không thể mô tả, chảy ngược qua vị Thủ lĩnh của Cung đến vòng các Thiên thần bên dưới, và từ các Ngài đến vị thiên thần-tư tế trong Đền thờ, được chuyển hoá ở mỗi giai đoạn xuống các cấp độ thấp hơn, để cuối cùng nó tuôn ra qua vị hành lễ trong Đền thờ dưới một hình thức mà hội chúng của y có thể đồng hóa—một đại dương âm thanh êm dịu, ngọt ngào, dâng trào, một bùng phát của âm nhạc thiên thượng bao quanh, bọc lấy, áp đảo họ, và tuy vậy vẫn tuôn vào họ qua chính nhạc cụ của họ những rung động sống động đến thế, nâng cao đến thế, đến nỗi các thể cao của họ được đưa vào hoạt động và tâm thức của họ được nâng lên những cấp độ mà trong đời sống bên ngoài nó thậm chí không thể đến gần. Mỗi người đưa nhạc cụ của mình ra trước mặt, và chính qua nó mà hiệu quả kỳ diệu này được tạo ra nơi y. Dường như từ bản giao hưởng vĩ đại, mỗi nhạc cụ chọn ra những hợp âm thích hợp với chính nó—nghĩa là, với chủ nhân mà nó là biểu hiện. Tuy vậy, theo một cách nào đó, mỗi cây đàn hạc không chỉ chọn và đáp ứng, mà còn gọi vào hiện hữu một âm lượng vượt xa âm lượng của chính nó.

The whole atmosphere is surcharged by the Gandharvas, or music-Devas, so that veritably every sound is multiplied, and for every single tone is produced a great chord of overtones and undertones, all of unearthly sweetness and beauty. This benedictory response from on high is an utterly amazing experience, but words completely fail when we endeavour to find expression for it. It must be seen and heard and felt before it can in any way be understood.

Toàn bộ bầu khí được các Gandharva, hay các Thiên thần âm nhạc, nạp đầy, đến nỗi thật sự mỗi âm thanh được nhân lên, và với mỗi âm đơn lại tạo ra một hợp âm lớn gồm các âm bồi và âm trầm, tất cả đều có sự ngọt ngào và vẻ đẹp không thuộc trần gian. Sự đáp ứng ban phúc từ trên cao này là một trải nghiệm hoàn toàn đáng kinh ngạc, nhưng lời nói hoàn toàn bất lực khi chúng ta cố gắng tìm cách diễn đạt nó. Nó phải được thấy, được nghe và được cảm nhận trước khi có thể được thấu hiểu theo bất cứ cách nào.

This magnificent final swell goes sounding home with the people, as it were; it lives inside them still even though the service is over, and often the member will try to reproduce it in a minor degree in a kind of little private service at home. In this Temple also there may be what corresponds to a sermon, but in this case it is delivered by the Deva through his instrument and received by the people through theirs. It is clear that it is not the same to all—that some get more and some less of the meaning of the Deva and of the effect which he intends to produce.

Đợt dâng trào cuối cùng huy hoàng này, có thể nói, vang theo dân chúng về nhà; nó vẫn sống bên trong họ dù buổi lễ đã kết thúc, và thường thành viên sẽ cố tái tạo nó ở mức độ nhỏ hơn trong một loại buổi lễ riêng tư nho nhỏ tại nhà. Trong Đền thờ này cũng có thể có điều tương ứng với một bài giảng, nhưng trong trường hợp này nó được Thiên thần truyền qua nhạc cụ của y và được dân chúng tiếp nhận qua nhạc cụ của họ. Rõ ràng rằng nó không giống nhau đối với tất cả—rằng một số người nhận được nhiều hơn và một số người ít hơn về ý nghĩa của Thiên thần và về hiệu quả mà y định tạo ra.

INTELLECT — TRÍ NĂNG

All the effects which are produced in the crimson Temple through affection by the gorgeous seas of colour are attained here through devotion by this marvellous use of music. It is clear that in both cases the action is primarily on the intuitional and emotional bodies of the people—on the intuitional directly, in those who have developed it to the responsive stage, and on the intuitional through the emotional for others who are somewhat less advanced. The intellect is touched only by reflection from these planes, whereas in the next variety of Temple to be described this action is reversed, for the stimulation is brought to bear directly upon the intellect, and it is only through and by means of that that the intuitional is presently to be awakened. Eventual results are no doubt the same, but the order of procedure is different.

Tất cả những hiệu quả được tạo ra trong Đền thờ đỏ thẫm qua tình thương bằng những biển màu sắc lộng lẫy, ở đây được đạt đến qua lòng sùng tín bằng việc sử dụng âm nhạc kỳ diệu này. Rõ ràng trong cả hai trường hợp, tác động chủ yếu là trên các thể trực giác và cảm xúc của dân chúng—trực tiếp trên thể trực giác, nơi những người đã phát triển nó đến giai đoạn đáp ứng, và trên thể trực giác qua thể cảm xúc đối với những người khác kém tiến bộ hơn đôi chút. Trí năng chỉ được chạm đến bằng sự phản chiếu từ các cõi này, trong khi ở loại Đền thờ kế tiếp sẽ được mô tả, tác động này được đảo ngược, vì sự kích thích được đưa trực tiếp vào trí năng, và chỉ qua đó, cũng như bằng phương tiện đó, trực giác mới sẽ được đánh thức. Kết quả cuối cùng chắc chắn là như nhau, nhưng trình tự tiến hành thì khác.

THE YELLOW TEMPLE — ĐỀN THỜ VÀNG

If we think of the men of the crimson Temple as developing through colour, and those of the blue as utilising sound, we might perhaps put form as the vehicle principally employed in the yellow Temple—for naturally yellow is the colour of the Temple especially devoted to intellectual development, since it is in that way that it symbolises itself in the various vehicles of man.

Nếu chúng ta nghĩ về những người của Đền thờ đỏ thẫm như đang phát triển qua màu sắc, và những người của Đền thờ xanh lam như sử dụng âm thanh, thì có lẽ chúng ta có thể đặt hình tướng như vận cụ chủ yếu được dùng trong Đền thờ vàng—vì tự nhiên vàng là màu của Đền thờ đặc biệt dành cho sự phát triển trí năng, bởi chính theo cách ấy nó biểu tượng hóa chính mình trong các vận cụ khác nhau của con người.

Once more the architecture and the internal structure of the Temple are the same, except that all decorations and outlinings are in yellow instead of blue or crimson. The general scheme of the service, too, is identical—the text or keynote first, which brings all into union, then the aspiration or prayer or effort of the people, which calls down the response from the LOGOS. The form of instruction which, for want of a better name, I have called the sermon also has its part in all the services. All alike use incense, though the difference between the kind used in this yellow Temple and that of the blue and the crimson is noticeable. The vortex in this case stimulates intellectual activity, so that merely to enter the Temple makes a man feel more keenly alive mentally, better able to understand and to appreciate.

Một lần nữa, kiến trúc và cấu trúc bên trong của Đền thờ vẫn giống nhau, ngoại trừ tất cả trang trí và đường viền đều màu vàng thay vì xanh lam hay đỏ thẫm. Sơ đồ tổng quát của buổi lễ cũng đồng nhất—trước hết là đề tài hay chủ âm, đưa tất cả vào sự hợp nhất, rồi đến khát vọng hay lời cầu nguyện hay nỗ lực của dân chúng, kêu gọi sự đáp ứng từ THƯỢNG ĐẾ tuôn xuống. Hình thức chỉ dạy mà, vì thiếu một tên gọi tốt hơn, tôi đã gọi là bài giảng cũng có phần trong tất cả các buổi lễ. Tất cả đều dùng hương, dù sự khác biệt giữa loại được dùng trong Đền thờ vàng này và loại của Đền thờ xanh lam cùng đỏ thẫm là đáng chú ý. Xoáy trong trường hợp này kích thích hoạt động trí năng, đến nỗi chỉ cần bước vào Đền thờ cũng khiến con người cảm thấy sống động hơn về mặt trí tuệ, có khả năng thấu hiểu và trân trọng tốt hơn.

These people do not bring with them any physical instruments, and instead of passing before their eyes a succession of clouds of colour, they begin, as soon as they take their seats, to visualise certain mental forms. Each man has his own form, which is clearly intended to be an expression of himself, just as was the physical instrument of the musician, or the special colour-scheme of the worshipper in the Temple of affection. These forms are all different, and many of them distinctly imply the power to visualise in the physical brain some of the simpler four-dimensional figures. Naturally the power of visualisation differs; so some people are able to make their figures much more complete and definite than others. But, curiously, the indefiniteness seems to shows itself at both ends of the scale. The less educated of the thinkers—those who are as yet only learning how to think—often make forms which are not clearly cut, or even if at first they are able to make them clear they are not able to maintain them so, and they constantly slip into indefiniteness. They do not actually materialise them, but they do form them strongly in mental matter, and almost all of them, even at quite an early stage, seem to be able to do this. The forms are evidently at first prescribed for them, and they are told to hold them rather as a means than as an object of contemplation. They are clearly intended to be each an expression of its creator, whose further progress will involve modifications of the form, though these do not change it essentially. He is intended to think through it and to receive vibrations through it, just as the musical man received them through his instrument, or the member of the colour congregation through his colour-form. With the more intelligent persons the form becomes more definite and more complicated; but with some of the most definite of all it is again taking on an appearance suggesting indefiniteness, because it is beginning to be so much upon a still higher plane—because it is taking on more and more of the dimensions, and is becoming so living that it cannot be kept still.

Những người này không mang theo bất cứ nhạc cụ hồng trần nào, và thay vì để một chuỗi các đám mây màu sắc đi qua trước mắt, họ bắt đầu, ngay khi ngồi xuống, hình dung một số hình tướng trí tuệ nhất định. Mỗi người có hình tướng riêng của mình, rõ ràng được định là một biểu hiện của chính y, giống như nhạc cụ hồng trần của nhạc công, hay sơ đồ màu sắc đặc biệt của người thờ phượng trong Đền thờ tình thương. Tất cả các hình tướng này đều khác nhau, và nhiều hình tướng trong đó rõ ràng hàm ý quyền năng hình dung trong bộ não hồng trần một số hình thể bốn chiều đơn giản hơn. Tự nhiên quyền năng hình dung khác nhau; vì vậy một số người có thể làm cho hình thể của họ hoàn chỉnh và xác định hơn nhiều so với người khác. Nhưng, kỳ lạ thay, sự bất định dường như biểu lộ ở cả hai đầu của thang đo. Những người suy tư ít được giáo dục hơn—những người vẫn chỉ đang học cách suy nghĩ—thường tạo ra các hình tướng không được cắt gọt rõ ràng, hoặc ngay cả nếu lúc đầu họ có thể làm chúng rõ ràng, họ cũng không thể duy trì chúng như vậy, và chúng thường xuyên trượt vào sự bất định. Họ không thật sự hiện hình chúng, nhưng họ tạo chúng mạnh mẽ trong vật chất trí tuệ, và gần như tất cả họ, ngay cả ở giai đoạn khá sớm, dường như có thể làm điều này. Rõ ràng lúc đầu các hình tướng được quy định cho họ, và họ được bảo giữ chúng như một phương tiện hơn là như một đối tượng chiêm ngưỡng. Rõ ràng mỗi hình tướng được định là một biểu hiện của người sáng tạo ra nó, mà sự tiến bộ thêm của y sẽ bao hàm các biến đổi của hình tướng, dù những biến đổi này không thay đổi nó một cách cốt yếu. Y được định là suy nghĩ qua nó và tiếp nhận các rung động qua nó, đúng như người âm nhạc tiếp nhận chúng qua nhạc cụ của mình, hay thành viên của hội chúng màu sắc qua hình tướng-màu sắc của y. Với những người thông minh hơn, hình tướng trở nên xác định hơn và phức tạp hơn; nhưng với một số hình tướng xác định nhất trong tất cả, nó lại đang khoác lấy một dáng vẻ gợi ý sự bất định, bởi vì nó bắt đầu hiện hữu rất nhiều trên một cõi còn cao hơn—bởi vì nó đang khoác lấy ngày càng nhiều chiều kích hơn, và đang trở nên sống động đến nỗi không thể giữ nó đứng yên.

THE INTELLECTUAL STIMULUS — SỰ KÍCH THÍCH TRÍ NĂNG

When the Deva appears he also makes a form—not a form which is an expression of himself, but, as in the other Temples, one which is to be the keynote of the service, which defines the special object at which on this occasion he is aiming. His congregation then project themselves into their forms, and try through those to respond to his form and to understand it. Sometimes it is a changing form—one which unfolds or unveils itself in a number of successive movements. Along with the formation of this, and through it, the Deva-priest pours out upon them a great flood of yellow light which applies intense stimulus to their intellectual faculties along the particular line which he is indicating. He is acting strongly upon both their causal and mental bodies, but very little comparatively on the emotional or the intuitional. Some who have not normally the consciousness of the mental body have it awakened in them by this process, so that for the first time they can use it quite freely and see clearly by its means. In others, who have it not normally, it awakens the power of four-dimensional sight for the first time; in others less advanced it only makes them see things a little more clearly, and comprehend temporarily ideas which are usually too metaphysical for them.

Khi Thiên thần xuất hiện, y cũng tạo một hình tướng—không phải hình tướng là biểu hiện của chính y, mà, như trong các Đền thờ khác, là hình tướng sẽ làm chủ âm của buổi lễ, xác định mục tiêu đặc biệt mà lần này y đang nhắm đến. Khi ấy hội chúng của y phóng chiếu chính mình vào các hình tướng của họ, và cố gắng qua chúng đáp ứng với hình tướng của y và thấu hiểu nó. Đôi khi đó là một hình tướng biến đổi—một hình tướng tự khai mở hoặc tự vén màn trong một số chuyển động kế tiếp. Cùng với sự tạo thành của hình tướng này, và qua nó, vị thiên thần-tư tế tuôn đổ lên họ một trận lũ lớn ánh sáng vàng, áp dụng sự kích thích mãnh liệt lên các quan năng trí năng của họ theo đường lối đặc biệt mà y đang chỉ ra. Y tác động mạnh mẽ lên cả thể nguyên nhân và thể trí của họ, nhưng tương đối rất ít lên thể cảm xúc hay thể trực giác. Một số người bình thường không có tâm thức của thể trí được đánh thức nó trong họ bằng tiến trình này, đến nỗi lần đầu tiên họ có thể sử dụng nó khá tự do và thấy rõ bằng phương tiện của nó. Ở những người khác, vốn bình thường không có nó, tiến trình ấy đánh thức quyền năng thấy bốn chiều lần đầu tiên; ở những người khác kém tiến bộ hơn, nó chỉ khiến họ thấy sự vật rõ hơn một chút, và tạm thời lĩnh hội các ý tưởng thường quá siêu hình đối với họ.

INTELLECTUAL FEELING — CẢM XÚC TRÍ NĂNG

The mental effort is not entirely unaccompanied by feeling, for there is at least an intense delight in reaching upwards, though even that very delight is felt almost exclusively through the mental body. They all pour their thoughts through their forms into the Deva-priest, as before, and they offer up these individual contributions as a kind of sacrifice to the LOGOS of the best that they have to give. Into him and through him they give themselves in surrender to the burning Light above; they merge themselves, throw themselves, into him. It is the white heat of intellectuality raised to its highest power. As in the other Temples, the Deva-priest synthesises all the different forms which are sent to him, and blends together all the streams of force, before forwarding it to the circle above him, which this time consists of that special class which for the present we will call the yellow Devas—those who are developing intellect, and revel in assisting and guiding it in man.

Nỗ lực trí tuệ không hoàn toàn không đi kèm cảm xúc, vì ít nhất có một niềm vui mãnh liệt trong việc vươn lên, dù ngay cả chính niềm vui ấy cũng được cảm nhận gần như hoàn toàn qua thể trí. Tất cả họ tuôn các tư tưởng của mình qua các hình tướng của họ vào vị thiên thần-tư tế, như trước kia, và họ dâng lên những đóng góp cá nhân này như một loại hiến tế cho THƯỢNG ĐẾ, bằng điều tốt nhất mà họ có để trao. Vào trong y và qua y, họ hiến dâng chính mình trong sự phó thác cho Ánh sáng bừng cháy bên trên; họ hòa nhập chính mình, ném chính mình, vào y. Đó là sức nóng trắng của trí năng được nâng lên quyền năng cao nhất của nó. Như trong các Đền thờ khác, vị thiên thần-tư tế tổng hợp tất cả những hình tướng khác nhau được gửi đến y, và hòa trộn tất cả các dòng mãnh lực, trước khi chuyển nó đến vòng bên trên y, vòng này lần này gồm lớp đặc biệt mà hiện nay chúng ta sẽ gọi là các Thiên thần vàng—những vị đang phát triển trí năng, và vui thích trong việc trợ giúp và hướng dẫn nó nơi con người.

As before, they absorb the force, but only to send it out again at a higher level and enormously increased in quantity to the great Chieftain who is the head of their Ray, and a kind of centre for the exchange of forces. The intellect aspect of the LOGOS plays upon him and through him from above, while all human intellect reaches up to him and through him from below. He receives and forwards the contribution from the Temple, and in turn he opens the flood-gates of divine intelligence which, lowered through many stages on the way, pours out upon the waiting people and raises them out of their everyday selves into what they will be in the future. The temporary effect of such a downpouring is almost incalculable. All egos present are brought into vigorous activity, and the consciousness in the causal body is brought into action in all of those in whom it is as yet in any way possible. In others it means merely greatly increased mental activity; some are so lifted out of themselves that they actually leave the body, and others pass into a kind of Samadhi, because the consciousness is drawn up into a vehicle which is not yet sufficiently developed to be able to express it.

Như trước kia, các Ngài hấp thụ mãnh lực, nhưng chỉ để phóng nó ra lại ở một cấp độ cao hơn và được tăng lên vô cùng lớn về số lượng đến vị Thủ lĩnh vĩ đại là người đứng đầu Cung của các Ngài, và là một loại trung tâm cho sự trao đổi mãnh lực. Phương diện trí năng của THƯỢNG ĐẾ tác động lên Ngài và qua Ngài từ bên trên, trong khi toàn bộ trí năng nhân loại vươn lên đến Ngài và qua Ngài từ bên dưới. Ngài tiếp nhận và chuyển tiếp đóng góp từ Đền thờ, và đến lượt Ngài mở các cửa lũ của trí tuệ thiêng liêng, vốn, được hạ xuống qua nhiều giai đoạn trên đường đi, tuôn đổ lên dân chúng đang chờ và nâng họ ra khỏi những bản ngã hằng ngày của họ vào điều họ sẽ là trong tương lai. Hiệu quả tạm thời của một lần tuôn xuống như thế hầu như không thể tính toán. Tất cả các chân ngã hiện diện được đưa vào hoạt động mạnh mẽ, và tâm thức trong thể nguyên nhân được đưa vào hoạt động nơi tất cả những người mà trong họ điều ấy đến nay còn có thể theo bất cứ cách nào. Ở những người khác, nó chỉ có nghĩa là hoạt động trí tuệ tăng lên rất nhiều; một số được nâng ra khỏi chính mình đến nỗi họ thật sự rời khỏi thể xác, và những người khác đi vào một loại Samadhi, bởi vì tâm thức được hút lên vào một vận cụ chưa phát triển đủ để có thể biểu lộ nó.

The response from above is not merely a stimulation. It contains also a vast mass of forms—it would seem all possible forms along whatever is the special line of the day. These forms also are assimilated by such of the congregation as can utilise them, and it is noteworthy that the same form means much more to some people than to others. For example, a form which conveys some interesting detail of physical evolution to one man to another represent a whole vast stage of cosmic development. For many people it is as though they were seeing in visible form the Stanzas of Dzyan. All are trying to think on the same line, yet they do it in different ways, and consequently they attract to themselves different forms out of the vast ordered system which is at their disposal. Each man draws out of this multitude that which is most suited to him. Some people, for example, are simply getting new lights on the subject, substituting for their own thought-form another which is in reality in no way superior to it, but simply another side of the question.

Sự đáp ứng từ bên trên không chỉ là một sự kích thích. Nó cũng chứa một khối lượng hình tướng rộng lớn—dường như là tất cả các hình tướng có thể có theo bất cứ đường lối đặc biệt nào của ngày hôm ấy. Các hình tướng này cũng được những người trong hội chúng có thể sử dụng chúng đồng hóa, và điều đáng chú ý là cùng một hình tướng có ý nghĩa lớn hơn nhiều đối với một số người so với những người khác. Chẳng hạn, một hình tướng truyền đạt một chi tiết thú vị nào đó của tiến hoá hồng trần cho một người, đối với người khác lại đại diện cho cả một giai đoạn rộng lớn của sự phát triển vũ trụ. Đối với nhiều người, như thể họ đang thấy bằng hình thức hữu hình các Bài kệ Dzyan. Tất cả đang cố suy nghĩ theo cùng một đường lối, tuy vậy họ làm điều đó theo những cách khác nhau, và do đó họ thu hút về chính mình những hình tướng khác nhau từ hệ thống có trật tự rộng lớn đang nằm trong tầm sử dụng của họ. Mỗi người rút ra từ vô số ấy điều thích hợp nhất với y. Chẳng hạn, một số người chỉ đơn giản nhận được những ánh sáng mới về chủ đề, thay cho hình tư tưởng của chính họ bằng một hình tư tưởng khác thật ra không hề cao hơn nó, mà chỉ là một mặt khác của vấn đề.

Men are evidently raised into the intuitional consciousness along these lines. By intense thinking, by comprehension of the converging streams, they attain first an intellectual grasp of the constitution of the universe, and then by intense pressure upwards they realise it and break through. It usually comes with a rush and almost overwhelms the man—all the more so as along his line he has had little practice before in understanding the feelings of humanity. From his intellectual point of view he has been philosophically examining and dissecting people, as though they were plants under a microscope; and now, in a moment, it is borne in upon him that all these also are divine as himself, that all these are full of their own feelings and emotions, understandings and misunderstandings, that these are more than brothers, since they are actually within himself and not without. This is a great shock for the man to whom it comes, and he needs time to readjust himself and to develop some other qualities which he has been hitherto to some extent neglecting. The service ends much as the others did, and each man’s mental form is permanently somewhat the better for the exercise through which he has passed.

Rõ ràng con người được nâng vào tâm thức trực giác theo những đường lối này. Bằng suy nghĩ mãnh liệt, bằng sự lĩnh hội các dòng hội tụ, trước hết họ đạt đến sự nắm bắt trí năng về cấu tạo của vũ trụ, rồi bằng áp lực mãnh liệt hướng lên, họ chứng nghiệm nó và xuyên phá qua. Nó thường đến như một cơn trào dâng và gần như áp đảo con người—càng như vậy bởi vì theo đường lối của y, trước kia y có ít thực hành trong việc thấu hiểu các cảm xúc của nhân loại. Từ quan điểm trí năng của mình, y đã xem xét và mổ xẻ con người một cách triết học, như thể họ là cây cối dưới kính hiển vi; và giờ đây, trong một khoảnh khắc, điều ấy được đưa vào y rằng tất cả những người này cũng thiêng liêng như chính y, rằng tất cả đều đầy những cảm xúc và xúc cảm, những thấu hiểu và hiểu lầm riêng của họ, rằng họ còn hơn cả huynh đệ, bởi vì thật sự họ ở bên trong chính y chứ không ở bên ngoài. Đây là một cú sốc lớn đối với người nhận được nó, và y cần thời gian để tự điều chỉnh lại và phát triển một số phẩm tính khác mà cho đến nay y đã phần nào bỏ bê. Buổi lễ kết thúc gần giống như các buổi lễ khác, và hình tướng trí tuệ của mỗi người trở nên tốt hơn đôi chút một cách thường tồn nhờ bài luyện tập mà y đã trải qua.

MENTAL MAGIC — HUYỀN THUẬT TRÍ TUỆ

Here also we have the form of instruction which we have called the sermon, and in this case it is usually an exposition of the changes which take place in a certain form or set of forms. In this case the Deva occasionally makes use of spoken words, though only few of them. It is as though he were showing them changing magic-lantern pictures, and naming them as they pass before them. He materialises strongly and clearly the special thought-form which he is showing them, and each member of the congregation tries to copy it in his own mental matter. In one case which is observed, that which is described is the transference of forms from plane to plane—a kind of mental magic which shows how one thought can be changed into another. On the lower mental plane he shows how a selfish thought may become unselfish. None of his people are crudely selfish, or they would not be in the community; but there may still remain subtle forms of self-centred thought. There is a certain danger also of intellectual pride, and it is shown how this can be transmuted into worship of the wisdom of the LOGOS.

Ở đây cũng có hình thức chỉ dạy mà chúng ta đã gọi là bài giảng, và trong trường hợp này thường là một sự trình bày về những thay đổi diễn ra trong một hình tướng hay một nhóm hình tướng nhất định. Trong trường hợp này, Thiên thần đôi khi dùng lời nói, dù chỉ rất ít. Như thể y đang cho họ xem những hình ảnh đèn chiếu huyền thuật biến đổi, và gọi tên chúng khi chúng đi qua trước họ. Y hiện hình một cách mạnh mẽ và rõ ràng hình tư tưởng đặc biệt mà y đang cho họ thấy, và mỗi thành viên của hội chúng cố sao chép nó trong vật chất trí tuệ của chính mình. Trong một trường hợp được quan sát, điều được mô tả là sự chuyển dịch các hình tướng từ cõi này sang cõi khác—một loại huyền thuật trí tuệ cho thấy cách một tư tưởng có thể được thay đổi thành một tư tưởng khác. Trên cõi hạ trí, y cho thấy cách một tư tưởng ích kỷ có thể trở nên vô kỷ. Không ai trong dân chúng của y ích kỷ một cách thô thiển, nếu không họ đã không ở trong cộng đồng; nhưng vẫn có thể còn lại những hình thức tinh vi của tư tưởng tập trung vào bản thân. Cũng có một nguy cơ nhất định về niềm kiêu hãnh trí năng, và người ta cho thấy cách điều này có thể được chuyển hoá thành sự tôn thờ minh triết của THƯỢNG ĐẾ.

In other cases most interesting metamorphoses are shown—forms changing into one another by turning inside out like a globe. In this way, for example, a dodecahedron becomes an icosahedron. Not only are these changes shown, but also their inner meaning on all the different planes is explained, and here also it is interesting to see the unfoldment of the successive esoteric meanings and to notice how some members of the congregation stop at one of these, feeling it to the highest possible degree, and well satisfied with themselves for being able to see it, while others go on one, two or more stages beyond them, further into the real heart of the meaning. What is applied only as a transmutation of their own thoughts by the majority of the congregation may be to the few who have gone further a translation of cosmic force from one plane to another. Such a sermon is a veritable training in mental intensity and activity, and it needs a closely sustained attention to follow it.

Trong các trường hợp khác, những biến thái hết sức thú vị được trình bày—các hình tướng chuyển thành nhau bằng cách lộn từ trong ra ngoài như một bầu hành tinh. Theo cách này, chẳng hạn, một khối mười hai mặt trở thành một khối hai mươi mặt. Không chỉ những thay đổi này được trình bày, mà thâm nghĩa bên trong của chúng trên tất cả các cõi khác nhau cũng được giải thích, và ở đây cũng thú vị khi thấy sự khai mở của các thâm nghĩa huyền bí kế tiếp, và nhận ra cách một số thành viên của hội chúng dừng lại ở một trong những thâm nghĩa này, cảm nhận nó đến mức cao nhất có thể, và rất hài lòng với chính mình vì có thể thấy nó, trong khi những người khác đi tiếp một, hai hoặc nhiều giai đoạn hơn họ, tiến xa hơn vào trái tim thật sự của ý nghĩa. Điều mà đa số hội chúng chỉ áp dụng như một sự chuyển hoá các tư tưởng của chính họ, đối với số ít đã đi xa hơn có thể là một sự chuyển dịch mãnh lực vũ trụ từ cõi này sang cõi khác. Một bài giảng như thế là một cuộc huấn luyện đích thực về cường độ và hoạt động trí tuệ, và cần sự chú ý được duy trì chặt chẽ để theo kịp nó.

In all these Temples alike a great point is made of the training of the will which is necessary in order to keep the attention focused upon all the different parts of their variations in the pictures, the music, or the thought-forms. All this is shown most prominently by the intense glow of the causal bodies, but it reacts upon the mental vehicles and even upon the physical brain, which appears on the whole to be distinctly larger among these pioneers of the sixth Root Race than with men of the fifth. It used to be thought by many that much study and intellectual development tended greatly to atrophy or destroy the power of visualisation, but that is not at all the case with the devotees of the yellow Temple. Perhaps the difference may be that in the old days study was so largely a study of mere words, whereas in the case of all these people they have for many lives been devoting themselves also to meditation, which necessarily involves the constant practice of visualisation in a high degree.

Trong tất cả các Đền thờ này như nhau, người ta nhấn mạnh rất nhiều vào việc huấn luyện ý chí cần thiết để giữ sự chú ý tập trung trên tất cả các phần khác nhau trong những biến đổi của hình ảnh, âm nhạc, hay các hình tư tưởng. Tất cả điều này được biểu lộ nổi bật nhất bằng sự rực sáng mãnh liệt của các thể nguyên nhân, nhưng nó phản ứng lên các vận cụ trí tuệ và thậm chí lên bộ não hồng trần, vốn nhìn chung dường như rõ ràng lớn hơn nơi những người tiên phong này của giống dân gốc thứ sáu so với con người của giống dân thứ năm. Trước kia nhiều người từng nghĩ rằng việc học tập nhiều và phát triển trí năng có khuynh hướng làm teo lại hoặc phá hủy mạnh mẽ quyền năng hình dung, nhưng điều đó hoàn toàn không đúng với những người sùng tín của Đền thờ vàng. Có lẽ sự khác biệt là trong những ngày xưa, việc học phần lớn là học những lời nói đơn thuần, trong khi trong trường hợp của tất cả những người này, qua nhiều kiếp sống họ cũng đã hiến mình cho tham thiền, điều tất yếu bao hàm việc thực hành thường xuyên quyền năng hình dung ở mức độ cao.

THE GREEN TEMPLE — ĐỀN THỜ XANH LỤC

Yet one more type of Temple remains to be described—a type which is decorated in a lovely pale green, because the thought-forms generated in it are of precisely that colour. Of the Temples already mentioned the crimson and the blue seem to have many points in common, and a similar link seems to join the yellow and the green. One might perhaps say that the blue and the crimson correspond to two types of what in India is called Bhakti-yoga; in that case the yellow Temple might be thought of as offering us the Jnana-yoga, and the green Temple Karma-yoga; or in English we might characterise them as the Temples of affection, devotion, intellect and action respectively. The congregation of the green Temple works also chiefly on the mental plane, but its particular line is the translating of thought into action—to get things done. It is part of its regular service to send out intentionally arranged thought-currents, primarily towards its own community, but also through them to the world at large. In the other Temples too they think of the outside world, for they include it in their thoughts of love and devotion or treat it intellectually; but the idea of these people of the green Temple is action with regard to everything, and they consider that they have not surely grasped an idea until they have translated it into action.

Vẫn còn một loại Đền thờ nữa cần được mô tả—một loại được trang trí bằng màu xanh lục nhạt đáng yêu, bởi vì các hình tư tưởng được tạo ra trong đó chính xác mang màu ấy. Trong các Đền thờ đã được đề cập, đỏ thẫm và xanh lam dường như có nhiều điểm chung, và một mối liên kết tương tự dường như nối vàng và xanh lục. Có lẽ người ta có thể nói rằng xanh lam và đỏ thẫm tương ứng với hai loại của điều ở Ấn Độ được gọi là Bhakti Yoga; trong trường hợp đó, Đền thờ vàng có thể được nghĩ là đem đến cho chúng ta Jnana Yoga, và Đền thờ xanh lục là Karma Yoga; hoặc trong tiếng Anh chúng ta có thể lần lượt mô tả chúng là các Đền thờ của tình thương, sùng tín, trí năng và hành động. Hội chúng của Đền thờ xanh lục cũng hoạt động chủ yếu trên cõi trí, nhưng đường lối đặc biệt của họ là chuyển dịch tư tưởng thành hành động—làm cho sự việc được thực hiện. Một phần của buổi lễ thường lệ của họ là cố ý phóng ra các dòng tư tưởng đã được sắp xếp, trước hết hướng về cộng đồng của chính họ, nhưng cũng qua họ đến thế giới rộng lớn. Trong các Đền thờ khác, họ cũng nghĩ đến thế giới bên ngoài, vì họ bao gồm nó trong các tư tưởng yêu thương và sùng tín của mình hoặc xử lý nó bằng trí năng; nhưng ý tưởng của những người thuộc Đền thờ xanh lục này là hành động đối với mọi sự, và họ cho rằng họ chưa chắc đã nắm bắt một ý tưởng cho đến khi họ đã chuyển dịch nó thành hành động.

The people of the yellow Temple, on the other hand, take the same idea quite differently, and consider it perfectly possible to have the fullest comprehension without action. But the devotees of this green Temple cannot feel that they are really fulfilling their place in the world unless they are constantly in active motion. A thought-form to them is not an effective thought-form unless it contains some of their typical green—because, as they say, it is lacking in sympathy—so that all their forces express themselves in action, action, action, and in action is their happiness, and through the self-sacrifice in the action they attain.

Mặt khác, những người của Đền thờ vàng tiếp nhận cùng ý tưởng ấy theo cách hoàn toàn khác, và cho rằng hoàn toàn có thể có sự lĩnh hội đầy đủ nhất mà không cần hành động. Nhưng những người sùng tín của Đền thờ xanh lục này không thể cảm thấy rằng họ thật sự đang hoàn thành vị trí của mình trong thế giới trừ khi họ liên tục ở trong chuyển động tích cực. Đối với họ, một hình tư tưởng không phải là một hình tư tưởng hiệu quả trừ khi nó chứa một phần màu xanh lục tiêu biểu của họ—bởi vì, như họ nói, nó thiếu sự đồng cảm—đến nỗi tất cả các mãnh lực của họ tự biểu lộ trong hành động, hành động, hành động, và trong hành động là hạnh phúc của họ, và qua sự hy sinh bản thân trong hành động, họ đạt thành tựu.

They have powerful and concentrated plans in their minds, and in some cases it is noticed that many of them combine to think out one plan and to get the thing done. They are careful to accumulate much knowledge about whatever subject they take up as a specialty. Often each one takes some area in the world into which he pours his thought-forms for a certain object. One, for example, will take up education in Greenland, or social reform in Kamschatka. They are naturally dealing with all sorts of out-of-the-way places like these, because by this time everything conceivable has already been done in every place of which we have ever heard in ordinary life. They do not use hypnotism, however; they do not in any way try to dominate the will of any man whom they wish to help; they simply try to impress their ideas and improvements on his brain.

Họ có những kế hoạch mạnh mẽ và tập trung trong thể trí của mình, và trong một số trường hợp, người ta nhận thấy nhiều người trong họ kết hợp để suy nghĩ ra một kế hoạch và thực hiện việc ấy. Họ cẩn thận tích lũy nhiều tri thức về bất cứ chủ đề nào họ chọn làm chuyên môn. Thường mỗi người chọn một vùng nào đó trong thế giới để tuôn các hình tư tưởng của mình vào đó vì một mục tiêu nhất định. Chẳng hạn, một người sẽ đảm nhận giáo dục ở Greenland, hoặc cải cách xã hội ở Kamschatka. Tự nhiên họ đang xử lý đủ loại nơi xa xôi hẻo lánh như thế, bởi vì vào thời điểm này mọi điều có thể hình dung đã được thực hiện ở mọi nơi mà chúng ta từng nghe nói trong đời sống bình thường. Tuy nhiên, họ không dùng thôi miên; họ không bằng bất cứ cách nào cố thống trị ý chí của bất cứ người nào mà họ muốn giúp; họ chỉ đơn giản cố in các ý tưởng và cải tiến của mình lên bộ não của người ấy.

THE LINE OF THE HEALING-DEVAS — ĐƯỜNG LỐI CỦA CÁC THIÊN THẦN CHỮA LÀNH

Once more, the general scheme of their service is like that of the others. They do not bring with them any physical instruments, but they have their mental forms just as the intellectual people have, only in this case they are always plans of activity. Each has some special plan to which he is devoting himself, though at the same time through it he is devoting himself to the LOGOS. They hold their plans and the realisation of them before them, just in the same way as the other men do their thought- or colour-forms. It is noteworthy that these plans are always carried to a great height of conception. For example, a man’s plan for the organisation of the backward country would include and be mainly centred in the idea of the mental and moral uplifting of its inhabitants. These devotees of the green Temple are not actually philanthropical in the old sense of the word, though their hearts are filled with sympathy with their fellow-men which expresses itself in the most beautiful shade of their characteristic colour. Indeed, from what glimpses have been caught of the outer world it seems evident that ordinary philanthropy is quite unnecessary, because poverty has disappeared. Their schemes are all plans for helping people, or for the improvement of conditions in some way.

Một lần nữa, đường nét chung trong việc phụng sự của họ cũng giống như của những người khác. Họ không mang theo bất cứ khí cụ hồng trần nào, nhưng họ có các hình tướng trí tuệ của mình, cũng như những người trí thức có vậy, chỉ khác là trong trường hợp này chúng luôn luôn là các kế hoạch hoạt động. Mỗi người có một kế hoạch đặc biệt nào đó mà y đang hiến mình cho nó, dù đồng thời qua đó y đang hiến mình cho Thượng đế. Họ giữ các kế hoạch của mình và sự chứng nghiệm chúng trước mắt, cũng giống như những người khác giữ các hình tư tưởng hay hình màu sắc của họ. Điều đáng chú ý là các kế hoạch này luôn được nâng lên một tầm quan niệm rất cao. Chẳng hạn, kế hoạch của một người về việc tổ chức một xứ sở lạc hậu sẽ bao gồm, và chủ yếu tập trung vào, ý tưởng nâng cao trí tuệ và đạo đức cho cư dân nơi đó. Những người sùng tín của Đền màu lục này thật ra không phải là những nhà từ thiện theo nghĩa cũ của từ ấy, mặc dù tâm họ đầy sự cảm thông với đồng loại, điều này biểu lộ qua sắc thái đẹp đẽ nhất của màu đặc trưng nơi họ. Thật vậy, qua những thoáng nhìn đã bắt gặp về thế giới bên ngoài, dường như rõ ràng rằng lòng từ thiện thông thường là hoàn toàn không cần thiết, vì nghèo đói đã biến mất. Các hệ thống của họ đều là những kế hoạch nhằm giúp đỡ con người, hoặc nhằm cải thiện các điều kiện theo một cách nào đó.

Suggestions of all kinds and sorts of activity find their place here, and they appeal to the active or healing-Devas, the type identified by Christian Mystics with the hierarchy of the Archangel Raphael. Their Deva-priest puts before them as his text, or as the dominant idea of the service, something which will be an aspect of all their ideas and will strengthen every one of them. They try to present clearly their several schemes, and through that they gain development for themselves in trying to sympathise with and help other people. After the preliminary tuning up and the opening benediction, there comes once more the offering of their plans. The opening benediction may be thought of as bringing the sympathy of the Devas for all their schemes and the identification of the Deva-priest with each and all of them.

Những gợi ý thuộc đủ mọi loại và đủ mọi hình thức hoạt động đều tìm thấy chỗ của mình ở đây, và chúng kêu gọi các thiên thần hoạt động hoặc chữa lành, mẫu hình mà các nhà thần bí Cơ Đốc đồng hóa với huyền giai của Tổng lãnh Thiên thần Raphael. Vị tư tế thiên thần của họ đặt trước họ, như bản văn chủ đề, hay như ý tưởng chi phối của buổi phụng sự, một điều gì đó sẽ là một phương diện của mọi ý tưởng của họ và sẽ củng cố từng ý tưởng ấy. Họ cố gắng trình bày rõ ràng các hệ thống riêng của mình, và qua đó họ đạt được sự phát triển cho chính mình trong nỗ lực cảm thông với và giúp đỡ người khác. Sau phần chỉnh âm sơ khởi và lời ban phúc mở đầu, lại đến việc dâng hiến các kế hoạch của họ. Lời ban phúc mở đầu có thể được xem như đem lại sự cảm thông của các thiên thần đối với mọi hệ thống của họ và sự đồng hóa của vị tư tế thiên thần với từng hệ thống cũng như tất cả các hệ thống ấy.

When the time of aspiration comes, each offers his plan as something of his own which he has to give, as his contribution, as the fruit of his brain, which he lays before the Lord, and also he has the thought that thus he throws himself and his life into his schemes as a sacrifice for the sake of the LOGOS. Once more we get the same magnificent effect, the splendid sheet and fountains, the great glowing sea of pale luminous sunset green, and among it the flames of darker green shooting up from the sympathetic thought of each member present. Just as before, all this is gathered into a focus by the Deva-priest, is sent up by him to a circle of healing-Devas above, and through them to the Chieftain of their Ray, who once more presents this aspect of the world to the LOGOS.

Khi thời điểm khát vọng đến, mỗi người dâng kế hoạch của mình như một điều gì đó của riêng y mà y phải trao tặng, như phần đóng góp của y, như hoa trái của bộ não y, mà y đặt trước Chúa Tể; đồng thời y cũng có tư tưởng rằng bằng cách ấy y ném chính mình và đời sống của mình vào các hệ thống ấy như một sự hi sinh vì Thượng đế. Một lần nữa chúng ta có được cùng hiệu quả huy hoàng, tấm màn và các vòi phun rực rỡ, biển lớn sáng ngời màu lục nhạt của ánh hoàng hôn, và giữa đó là những ngọn lửa lục đậm hơn vọt lên từ tư tưởng cảm thông của mỗi thành viên hiện diện. Cũng như trước kia, tất cả những điều này được vị tư tế thiên thần gom lại thành một tiêu điểm, được Ngài gửi lên một vòng các thiên thần chữa lành ở phía trên, và qua các Ngài đến vị Thủ lĩnh Cung của họ, Đấng một lần nữa trình diện phương diện này của thế giới lên Thượng đế.

When they thus offer themselves and their thoughts, there comes back the great flow of response, the outpouring of good-will and of blessing, which in turn illuminates the sacrifice which they have offered through the line to which each has directed himself. The great Devas seem to magnetise the man and increase his power along this and cognate lines, raising it to higher levels, even while they increase it. The response not only strengthens such thoughts of good as they already have, but also opens up to them the conception of further activities for their thoughts. It is a definite act of projection, and it is done by them in a time of silent meditation after the reception of the blessing.

Khi họ dâng hiến chính mình và các tư tưởng của mình như vậy, dòng đáp ứng vĩ đại trở lại, lần tuôn đổ thiện chí và phúc lành, đến lượt nó soi sáng sự hi sinh mà họ đã dâng qua đường hướng mà mỗi người đã tự hướng mình vào. Các thiên thần vĩ đại dường như từ hóa con người và gia tăng quyền năng của y theo đường hướng này cùng các đường hướng tương cận, nâng nó lên các cấp độ cao hơn ngay cả khi các Ngài làm nó tăng trưởng. Sự đáp ứng không chỉ củng cố những tư tưởng thiện lành mà họ đã có, mà còn mở ra cho họ quan niệm về các hoạt động xa hơn dành cho các tư tưởng của họ. Đó là một hành vi phóng chiếu xác định, và họ thực hiện điều ấy trong một thời gian tham thiền im lặng sau khi tiếp nhận phúc lành.

There are many types among these people; they bring different chakrams or centres in the mental body into activity, and their streams of thought-force are projected sometimes from one chakram and sometimes from another. In the final benediction it seems as though the LOGOS pours Himself through His Devas into them, and then again out through them to the objects of their sympathy, so that an additional transmutation of the force takes place, and the culmination of their act is to be an active agent for His action. Intense sympathy is the feeling most cultivated by these people; it is their keynote, by which they gradually rise through the mental and causal bodies to the intuitional, and there find the acme of sympathy, because there the object of sympathy is no longer outside themselves, but within.

Có nhiều mẫu hình trong số những người này; họ đưa các luân xa hay trung tâm khác nhau trong thể trí vào hoạt động, và các dòng mãnh lực tư tưởng của họ đôi khi được phóng chiếu từ luân xa này, đôi khi từ luân xa khác. Trong lời ban phúc sau cùng, dường như Thượng đế tuôn đổ Chính Ngài qua các thiên thần của Ngài vào họ, rồi lại qua họ đến những đối tượng của sự cảm thông nơi họ, khiến một sự chuyển hoá bổ sung của mãnh lực diễn ra, và điểm tột đỉnh của hành vi nơi họ là trở thành một tác nhân hoạt động cho hành động của Ngài. Sự cảm thông mãnh liệt là cảm xúc được những người này vun bồi nhiều nhất; đó là chủ âm của họ, nhờ đó họ dần dần vươn lên qua các thể trí và thể nguyên nhân đến thể trực giác, và ở đó tìm thấy đỉnh cao của sự cảm thông, vì ở đó đối tượng của sự cảm thông không còn ở bên ngoài họ nữa, mà ở bên trong.

The sermon in this case is frequently an exposition of the adaptability of various types of elemental essence to the thought-force which they require. Such a sermon is illustrated as it goes on, and the thought-forms are constructed before the congregation by the Deva and materialised for them, so that they may learn exactly the best way to produce them and the best materials of which to build them.

Bài giảng trong trường hợp này thường là một sự trình bày về khả năng thích ứng của nhiều loại tinh chất hành khí khác nhau đối với mãnh lực tư tưởng mà họ cần. Một bài giảng như thế được minh họa trong khi diễn tiến, và các hình tư tưởng được vị thiên thần kiến tạo trước hội chúng rồi hiện hình cho họ, để họ có thể học chính xác cách tốt nhất để tạo ra chúng và những chất liệu tốt nhất để xây dựng chúng.

INDEPENDENTS — NHỮNG NGƯỜI ĐỘC LẬP

In the special lines of development of these Temples there seems a curious half-suggestion of the four lower subplanes of the mental plane as they present themselves during the life after death, for it will be remembered that affection is the chief characteristic of one of these planes, devotion of another, action for the sake of the Deity of a third, and the clear conception of right for right’s sake of the fourth. It is, however, quite evident that there is no difference in advancement between the egos who follow one line and those who follow another; all these paths are clearly equal, all alike are stairways leading from the level of ordinary humanity to the Path of Holiness which rises to the level of Adeptship. To one or other of these types belong the great majority of the people of the community, so that all these temples are daily filled with crowds of worshippers.

Trong các đường hướng phát triển đặc biệt của những Đền này, dường như có một gợi ý nửa vời kỳ lạ về bốn cõi phụ thấp của cõi trí như chúng tự trình hiện trong đời sống sau khi chết; vì cần nhớ rằng tình cảm là đặc tính chính của một trong các cõi này, sự sùng tín của một cõi khác, hành động vì Thượng đế của cõi thứ ba, và quan niệm sáng tỏ về điều đúng vì chính điều đúng của cõi thứ tư. Tuy nhiên, rõ ràng là không có sự khác biệt nào về mức tiến bộ giữa các chân ngã đi theo một đường hướng và những chân ngã đi theo đường hướng khác; tất cả các con đường này rõ ràng là ngang nhau, tất cả đều là những bậc thang dẫn từ cấp độ của nhân loại thông thường đến Con Đường Thánh Thiện, vốn vươn lên cấp độ của địa vị Chân sư. Đại đa số người trong cộng đồng thuộc về một hay một nhóm khác trong các mẫu hình này, nên tất cả các đền ấy hằng ngày đều đầy những đám đông người thờ phụng.

A few people there are who do not attend any of these services, simply because none of these are to them the most appropriate ways of development. There is not, however, the slightest feeling that these few are therefore irreligious or in any way inferior to the most regular attendants. It is thoroughly recognised that there are many paths to the summit of the mountain, and that each man is absolutely at liberty to take that which seems best to him. In most cases a man selects his path and keeps to it, but it would never occur to him to blame his neighbour for selecting another, or even for declining to select any one of those provided. Every man is trying his best in his own way to fit himself for the work that he will have to do in the future, as well as to carry out to the best of his ability the work at present before him. Nobody harbours the feeling: “I am in a better way than so-and-so,” because he sees another doing differently. The habitual attendants of one Temple also quite often visit the others; indeed, some people try them all in turn rather according to their feeling of the moment, saying to themselves: “I think I need a touch of yellow this morning to brighten up my intellect”; or: “Perhaps I am becoming too metaphysical, let me try a tonic of the green Temple”; or on the other hand: “I have been straining hard lately along intellectual lines; let me now give a turn to affection or devotion.”

Có một ít người không tham dự bất cứ buổi phụng sự nào trong số này, đơn giản vì không có buổi nào là đường lối phát triển thích hợp nhất đối với họ. Tuy nhiên, không hề có chút cảm giác nào rằng vì thế những người ít ỏi này là vô tôn giáo hay thấp kém hơn theo bất cứ cách nào so với những người tham dự đều đặn nhất. Người ta hoàn toàn thừa nhận rằng có nhiều con đường dẫn lên đỉnh núi, và mỗi người tuyệt đối tự do chọn con đường nào có vẻ tốt nhất đối với y. Trong phần lớn trường hợp, một người chọn con đường của mình và giữ theo nó, nhưng y sẽ không bao giờ nghĩ đến việc trách cứ người láng giềng vì chọn một con đường khác, hay thậm chí vì từ chối chọn bất cứ con đường nào trong những con đường đã được cung cấp. Mỗi người đều đang cố gắng hết sức theo cách riêng của mình để tự làm cho mình thích hợp với công việc mà y sẽ phải làm trong tương lai, cũng như để thực hiện hết khả năng công việc hiện đang ở trước y. Không ai nuôi dưỡng cảm giác: “Tôi đang ở trên một đường lối tốt hơn người này người kia,” bởi vì y thấy một người khác hành động khác đi. Những người thường xuyên tham dự một Đền cũng khá thường viếng thăm các Đền khác; thật vậy, một số người thử tất cả các Đền theo lượt, tùy theo cảm giác nhất thời của họ, tự nhủ: “Tôi nghĩ sáng nay tôi cần một chút màu vàng để làm sáng trí tuệ của mình”; hoặc: “Có lẽ tôi đang trở nên quá siêu hình, hãy để tôi thử một liều bổ của Đền màu lục”; hoặc ngược lại: “Gần đây tôi đã căng sức nhiều theo các đường hướng trí thức; bây giờ hãy để tôi xoay sang tình cảm hay sự sùng tín.”

CONGREGATION OF THE DEAD — HỘI CHÚNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT

Many people also make a practice of attending the magnificent, though more elementary, services which are frequently held in the Temples, ostensibly for children; these will be described in detail when we come to the subject of education. It is interesting to observe that the peculiar nature of the Temple services of this community has evidently attracted much attention in the astral world, for large numbers of dead people make a practice of attending the services. They have discovered the participation of the Devas and the tremendous forces which are consequently playing through them, and they evidently wish to partake of the advantages. This congregation of the dead is recruited exclusively from the outside world; for in the community there are no dead, since every man, when he puts aside one physical body, promptly assumes another in order to carry on the work to which he has devoted himself.

Nhiều người cũng có thói quen tham dự các buổi phụng sự huy hoàng, dù sơ đẳng hơn, thường được tổ chức trong các Đền, bề ngoài là dành cho trẻ em; các buổi này sẽ được mô tả chi tiết khi chúng ta đến đề tài giáo dục. Thật thú vị khi quan sát rằng bản chất đặc biệt của các buổi phụng sự trong Đền của cộng đồng này hiển nhiên đã thu hút nhiều chú ý trong cõi cảm dục, vì rất nhiều người đã chết có thói quen tham dự các buổi phụng sự. Họ đã khám phá sự tham dự của các thiên thần và những mãnh lực vô cùng lớn do đó đang vận hành qua các Ngài, và hiển nhiên họ muốn dự phần vào các lợi ích ấy. Hội chúng của những người đã chết này được bổ sung độc nhất từ thế giới bên ngoài; vì trong cộng đồng không có người chết, bởi mỗi người, khi bỏ qua một thể xác, liền khoác lấy một thể khác để tiếp tục công việc mà y đã hiến mình cho nó.

THE MASTER OF RELIGION — CHÂN SƯ CỦA TÔN GIÁO

The religious and educational side of the life of the community is under the direction of the Master K.H.; and He Himself makes it a point to visit all the Temples in turn, taking the place of the officiating Deva, and in doing so showing the fact that He combines within Himself in the highest possible degree all the qualities of all the types. The Devas who are doing work connected with religion and education are all marshalled under His orders. Some members of the community are being specially trained by the Devas, and it seems probable that such men will in due course pass on to the line of the Deva evolution.

Phương diện tôn giáo và giáo dục trong đời sống của cộng đồng nằm dưới sự chỉ đạo của Chân sư K.H.; và chính Ngài lấy việc lần lượt viếng thăm tất cả các Đền làm điều quan trọng, thay chỗ vị thiên thần chủ lễ, và khi làm như vậy, Ngài cho thấy sự thật rằng Ngài kết hợp trong Chính Ngài, ở mức độ cao nhất có thể, mọi phẩm tính của tất cả các mẫu hình. Các thiên thần đang làm công việc liên hệ với tôn giáo và giáo dục đều được sắp đặt dưới mệnh lệnh của Ngài. Một số thành viên của cộng đồng đang được các thiên thần huấn luyện đặc biệt, và dường như có khả năng rằng những người như thế đến thời điểm thích hợp sẽ chuyển sang đường hướng tiến hoá của thiên thần.

CHAPTER XXV — CHƯƠNG XXV

EDUCATION AND THE FAMILY — GIÁO DỤC VÀ GIA ĐÌNH

THE EDUCATION OF CHILDREN — VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM

AS we should naturally expect, much attention is paid in this community to the education of the children. It is considered of such paramount importance that nothing which can in any way help is neglected, and all sorts of adjuncts are brought into play; colour, light, sound, form, electricity are all pressed into the service, and the Devas who take so large a part in the work avail themselves of the aid of armies of nature-spirits. It has been realised that many facts previously ignored or considered insignificant have their place and their influence in educational processes—that, for example, the surroundings most favourable for the study of mathematics are not at all necessarily the same that are best suited for music or geography.

Như chúng ta tự nhiên có thể mong đợi, trong cộng đồng này người ta dành nhiều chú ý cho việc giáo dục trẻ em. Điều đó được xem là có tầm quan trọng tối thượng đến nỗi không có gì có thể giúp ích theo bất cứ cách nào mà lại bị bỏ qua, và đủ mọi loại phương tiện phụ trợ đều được đưa vào sử dụng; màu sắc, ánh sáng, âm thanh, hình tướng, điện lực đều được huy động để phụng sự, và các thiên thần, những Đấng giữ phần rất lớn trong công việc này, sử dụng sự trợ giúp của các đạo quân tinh linh tự nhiên. Người ta đã nhận ra rằng nhiều sự kiện trước kia bị bỏ qua hoặc bị xem là không đáng kể đều có vị trí và ảnh hưởng của chúng trong các tiến trình giáo dục—chẳng hạn, các hoàn cảnh xung quanh thuận lợi nhất cho việc học toán học hoàn toàn không nhất thiết là những hoàn cảnh thích hợp nhất cho âm nhạc hay địa lý.

People have learnt that different parts of the physical brain may be stimulated by different lights and colours—that for certain subjects an atmosphere slightly charged with electricity is useful, while for others it is positively detrimental. In the corner of every class-room, therefore, there stands a variant upon an electrical machine, by means of which the surrounding conditions can be changed at will. Some rooms are hung with yellow, decorated exclusively with yellow flowers, and permeated with yellow light. In others, on the contrary, blue, red, violet, green or white predominates. Various perfumes are also found to have a stimulating effect, and these also are employed according to a regular system.

Người ta đã học được rằng những phần khác nhau của bộ não hồng trần có thể được kích thích bởi những ánh sáng và màu sắc khác nhau—rằng đối với một số môn học, một bầu không khí hơi tích điện là hữu ích, trong khi đối với những môn khác nó lại thật sự có hại. Vì vậy, ở góc của mỗi phòng học có đặt một biến thể của một máy điện, nhờ đó các điều kiện xung quanh có thể được thay đổi tùy ý. Một số phòng được treo màu vàng, trang trí riêng bằng hoa vàng, và thấm nhuần ánh sáng vàng. Ngược lại, trong những phòng khác, màu lam, đỏ, tím, lục hoặc trắng chiếm ưu thế. Nhiều hương thơm khác nhau cũng được thấy là có tác dụng kích thích, và chúng cũng được sử dụng theo một hệ thống đều đặn.

Perhaps the most important innovation is the work of the nature-spirits, who take a keen delight in executing the tasks committed to them, and enjoy helping and stimulating the children much as gardeners might delight in the production of especially fine plants. Among other things they take up all the appropriate influences of light and colour, sound and electricity, and focus them; and as it were spray them upon the children, so that they may produce the best possible effect. They are also employed by the teachers in individual cases; if; for example, one scholar in a class does not understand the point put before him, a nature-spirit is at once set to touch and stimulate a particular centre in his brain, and then in a moment he is able to comprehend. All teachers must be clairvoyant; it is an absolute prerequisite for the office. These teachers are members of the community—men and women indiscriminately; Devas frequently materialise for special occasions or to give certain lessons, but never seem to take the entire responsibility of a school.

Có lẽ đổi mới quan trọng nhất là công việc của các tinh linh tự nhiên, những sinh linh hết sức vui thích thực hiện các nhiệm vụ được giao cho chúng, và thích giúp đỡ cũng như kích thích trẻ em, gần giống như các người làm vườn có thể vui thích trong việc tạo ra những cây đặc biệt tốt đẹp. Trong số những việc khác, chúng tiếp nhận tất cả các ảnh hưởng thích hợp của ánh sáng và màu sắc, âm thanh và điện lực, rồi tập trung chúng; và như thể phun chúng lên trẻ em, để chúng có thể tạo ra hiệu quả tốt nhất có thể. Chúng cũng được các giáo viên sử dụng trong những trường hợp cá biệt; chẳng hạn, nếu một học sinh trong lớp không thấu hiểu điểm được trình bày trước y, một tinh linh tự nhiên liền được giao chạm vào và kích thích một trung tâm đặc biệt trong bộ não của y, và rồi trong khoảnh khắc y có thể hiểu được. Tất cả giáo viên đều phải là người thông nhãn; đó là một điều kiện tiên quyết tuyệt đối cho chức vụ này. Các giáo viên ấy là thành viên của cộng đồng—những người nam và nữ không phân biệt; các thiên thần thường hiện hình trong những dịp đặc biệt hoặc để đưa ra một số bài học nào đó, nhưng dường như không bao giờ nhận toàn bộ trách nhiệm của một trường học.

The four great types which are symbolised by the Temples are seen to exist here also. The children are carefully observed and treated according to the results of observation. In most cases they sort themselves out at a quite early period into one or other of these lines of development, and every opportunity is given to them to select that which they prefer. Here again there is nothing of the nature of compulsion. Even tiny children are perfectly acquainted with the object of the community, and fully realise that it is their duty and their privilege to order their lives accordingly. It must be remembered that all these people are immediate reincarnations, and that most of them bring over at least some memory of all their past lives, so that for them education is simply a process of as rapidly as possible getting a new set of vehicles under control and recovering as quickly as may be any links that may have been lost in the process of transition from one physical body to another.

Bốn mẫu hình lớn được biểu tượng hóa bởi các Đền cũng được thấy hiện hữu ở đây. Trẻ em được quan sát cẩn thận và được đối xử theo các kết quả của sự quan sát. Trong phần lớn trường hợp, chúng tự phân loại mình khá sớm vào một trong các đường hướng phát triển này hay đường hướng khác, và mọi cơ hội đều được trao cho chúng để chọn điều chúng ưa thích. Ở đây một lần nữa không có gì mang bản chất cưỡng ép. Ngay cả những trẻ rất nhỏ cũng hoàn toàn quen thuộc với mục tiêu của cộng đồng, và hoàn toàn nhận ra rằng bổn phận và đặc quyền của chúng là sắp đặt đời sống của mình theo đó. Cần nhớ rằng tất cả những người này đều là những sự tái sinh tức thời, và phần lớn họ mang theo ít nhất một phần ký ức về mọi đời sống quá khứ của mình, nên đối với họ giáo dục chỉ đơn giản là một tiến trình kiểm soát một bộ hiện thể mới càng nhanh càng tốt và khôi phục nhanh nhất có thể bất cứ mối liên kết nào có thể đã bị mất trong tiến trình chuyển tiếp từ một thể xác sang một thể xác khác.

It does not of course in any way follow that the children of a man who is on (let us say) the musical line need themselves be musical. As their previous births are always known to the parents and schoolmasters; every facility is given to them to develop either along the line of their last life or along any other which may seem to come most easily to them. There is the fullest co-operation between the parents and schoolmasters. A particular member who was noticed took his children to the schoolmaster, explained them all to him in detail, and constantly visited him to discuss might be best for them. If, for example, the schoolmaster thinks that a certain colour is especially desirable for a particular pupil he communicates his idea to the parents, and much of that colour is put before the child at home as well as at school; he is surrounded with it, and it is used in his dress and so on. All schools are under the direction of the Master K.H., and every schoolmaster is personally responsible to Him.

Dĩ nhiên, điều đó không hề có nghĩa rằng con cái của một người đang ở trên đường hướng âm nhạc, chẳng hạn, chính chúng cũng cần phải có năng khiếu âm nhạc. Vì các lần sinh trước của chúng luôn được cha mẹ và thầy giáo biết rõ, mọi phương tiện đều được trao cho chúng để phát triển hoặc theo đường hướng của đời sống gần nhất, hoặc theo bất cứ đường hướng nào khác có vẻ đến với chúng dễ dàng nhất. Có sự hợp tác đầy đủ nhất giữa cha mẹ và thầy giáo. Một thành viên đặc biệt được chú ý đã đưa con mình đến thầy giáo, giải thích tất cả về chúng cho ông một cách chi tiết, và thường xuyên đến thăm ông để thảo luận điều gì có thể là tốt nhất cho chúng. Chẳng hạn, nếu thầy giáo nghĩ rằng một màu nào đó đặc biệt cần thiết cho một học sinh riêng biệt, ông truyền đạt ý tưởng của mình cho cha mẹ, và nhiều màu ấy được đặt trước đứa trẻ ở nhà cũng như ở trường; y được bao quanh bởi màu ấy, và màu ấy được dùng trong y phục của y, v.v. Tất cả các trường đều ở dưới sự chỉ đạo của Chân sư K.H., và mỗi thầy giáo đích thân chịu trách nhiệm trước Ngài.

TRAINING THE IMAGINATION — HUẤN LUYỆN SỰ TƯỞNG TƯỢNG

Let me take as an example the practice of a school attached to one of the yellow Temples, and see how they begin the intellectual development of the lowest class. First the master sets before them a little shining ball, and they are asked to make an image of it in their minds. Some who are quite babies can do it really well. The teacher says:

Hãy để tôi lấy làm ví dụ thực hành của một trường gắn với một trong các Đền màu vàng, và xem họ bắt đầu sự phát triển trí tuệ của lớp thấp nhất như thế nào. Trước hết vị thầy đặt trước chúng một quả cầu nhỏ sáng chói, và chúng được yêu cầu tạo một hình ảnh của nó trong trí mình. Một số em còn rất bé có thể làm điều đó thật sự tốt. Giáo viên nói:

“You can see my face; now, shut your eyes; can you see it still? Now look at this ball; can you shut your eyes and still see it?”

“Các con có thể thấy mặt thầy; bây giờ, hãy nhắm mắt lại; các con vẫn có thể thấy nó chứ? Bây giờ hãy nhìn quả cầu này; các con có thể nhắm mắt lại mà vẫn thấy nó chứ?”

The teacher, by the use of his clairvoyant faculty, can see whether or not the children are making satisfactory images. Those who can do it are set to practise day by day, with all sorts of simple forms and colours. Then they are asked to suppose that point moving, and leaving a track behind it as a shooting star does; then to imagine the luminous track, that is to say, a line. Then they are asked to imagine this line as moving at right angles to itself, every point in it leaving a similar track, and thus they mentally construct for themselves a square. Then all sorts of permutations and divisions of that square are put before them. It is broken up into triangles of various sorts, and it is explained to them that in reality all these things are living symbols with a meaning. Even quite the babies are taught some of these things.

Giáo viên, bằng cách sử dụng năng lực thông nhãn của mình, có thể thấy trẻ em có tạo được các hình ảnh thỏa đáng hay không. Những em có thể làm điều đó được cho thực hành ngày này qua ngày khác, với đủ mọi hình tướng và màu sắc đơn giản. Rồi chúng được yêu cầu giả định rằng điểm ấy đang chuyển động, và để lại một vệt phía sau như một ngôi sao băng; rồi tưởng tượng vệt sáng ấy, nghĩa là một đường thẳng. Sau đó chúng được yêu cầu tưởng tượng đường thẳng này đang chuyển động vuông góc với chính nó, mỗi điểm trong nó để lại một vệt tương tự, và như vậy chúng tự kiến tạo trong trí mình một hình vuông. Rồi đủ mọi hoán vị và phân chia của hình vuông ấy được đặt trước chúng. Nó được chia thành những tam giác thuộc nhiều loại khác nhau, và người ta giải thích cho chúng rằng thật ra tất cả những điều này là các biểu tượng sống có ý nghĩa. Ngay cả những em rất bé cũng được dạy một số điều này.

“What does the point mean to you?”

“Điểm ấy có nghĩa gì đối với con?”

“One.”

“Một.”

“Who is One?”

“Ai là Một?”

“God.”

“Thượng đế.”

“Where is He?”

“Ngài ở đâu?”

“He is everywhere.”

“Ngài ở khắp nơi.”

And then presently they learn that two signifies the duality of Spirit and matter, that three dots of a certain kind and colour mean three aspects of the Deity, while three others of a different kind mean the soul in man. A later class has also an intermediate three which obviously mean the Monad. In this way, by associating grand ideas with simple objects, even tiny little children possess an amount of Theosophical information which would seem quite surprising to a person accustomed to an older and less intelligent educational system. An ingenious kind of kindergarten machine was observed, a sort of ivory ball—at least it looked like ivory—which, when a spring is touched, opens out into a cross with a rose drawn upon it like the Rosicrucian symbol, out of which come a number of small balls each of which in turn subdivides. By another movement it can be made to close again, the mechanism being cleverly concealed. This is meant as a symbol to illustrate the idea of the One becoming many and of the eventual return of the many into the One.

Và rồi chẳng bao lâu chúng học rằng hai biểu thị Nhị nguyên của Tinh thần và vật chất, rằng ba chấm thuộc một loại và màu sắc nào đó có nghĩa là ba phương diện của Thượng đế, trong khi ba chấm khác thuộc một loại khác có nghĩa là linh hồn trong con người. Một lớp về sau cũng có một bộ ba trung gian, rõ ràng có nghĩa là chân thần. Theo cách này, bằng cách liên kết các ý tưởng cao cả với các đối tượng đơn giản, ngay cả trẻ rất nhỏ cũng sở hữu một lượng thông tin Thông Thiên Học có vẻ khá đáng ngạc nhiên đối với một người quen với một hệ thống giáo dục cũ hơn và kém thông minh hơn. Người ta quan sát thấy một loại máy mẫu giáo khéo léo, một thứ quả cầu bằng ngà—ít nhất trông giống như ngà—khi chạm vào một lò xo thì mở ra thành một thập giá có vẽ một bông hồng trên đó giống như biểu tượng Rosicrucian, từ đó xuất hiện một số quả cầu nhỏ, mỗi quả lại lần lượt phân chia. Bằng một chuyển động khác, nó có thể được làm khép lại, cơ cấu được che giấu một cách tài tình. Điều này nhằm làm biểu tượng minh họa ý tưởng về Đấng Duy Nhất trở thành nhiều, và về sự trở về cuối cùng của nhiều vào Đấng Duy Nhất.

MORE ADVANCED CLASSES — CÁC LỚP CAO HƠN

For a later class that luminous square moves again at right angles to itself and produces a cube, and then still later the cube moves at right angles to itself and produces a tesseract, and most of the children are able to see it and to make its image clearly in their minds. Children who have a genius for it are taught to paint pictures, trees and animals, landscapes and scenes from history, and each child is taught to make his picture living. He is taught that the concentration of his thought can actually alter the physical picture, and the children are proud when they can succeed in doing this. Having painted a picture as well as they can, the children concentrate upon it and try to improve it, to modify it by their thought. In a week or so, working at the concentration for some time each day, they are able to produce considerable modifications, and a boy of fourteen can, from much practice, do it quite rapidly.

Đối với một lớp về sau, hình vuông sáng ấy lại chuyển động vuông góc với chính nó và tạo ra một hình lập phương, rồi về sau nữa hình lập phương chuyển động vuông góc với chính nó và tạo ra một tesseract, và phần lớn trẻ em có thể thấy nó và tạo hình ảnh của nó rõ ràng trong trí mình. Những trẻ có thiên tài về điều ấy được dạy vẽ tranh, cây cối và động vật, phong cảnh và các cảnh trong lịch sử, và mỗi trẻ được dạy làm cho bức tranh của mình trở nên sống động. Y được dạy rằng sự tập trung tư tưởng của y có thể thật sự làm biến đổi bức tranh hồng trần, và trẻ em hãnh diện khi chúng có thể thành công trong việc này. Sau khi vẽ một bức tranh tốt nhất có thể, trẻ em tập trung vào nó và cố gắng cải thiện nó, sửa đổi nó bằng tư tưởng của mình. Trong khoảng một tuần, bằng cách làm việc với sự tập trung một thời gian mỗi ngày, chúng có thể tạo ra những biến đổi đáng kể, và một cậu bé mười bốn tuổi, nhờ thực hành nhiều, có thể làm điều đó khá nhanh.

Having modified his picture, the child is taught to make a thought-form of it, to look at it, to contemplate it earnestly, and then to shut his eyes and visualise it. He takes, first, ordinary physical pictures; then a glass vessel containing a coloured gas is given to him, and by the effort of his will he has to mould the gas into certain shapes—to make it take a form by thought—to make it become, inside its vessel, a sphere, a cube, a tetrahedron or some such shape. Many children can do this easily after a little practice. Then they are asked to make it take the shape of a man, and then that of the picture at which they have previously been looking. When they can manage this gaseous matter fairly easily they try to do it in etheric, then in astral, and then in purely mental matter. The teacher himself makes materialisations for them to examine when necessary, and in this way they gradually work upward to more advanced acts of thought-creation. All these classes are open to visits from parents and friends, and often many older people like to attend them and themselves practise the exercises set for the children.

Sau khi đã sửa đổi bức tranh của mình, đứa trẻ được dạy tạo một hình tư tưởng của nó, nhìn nó, chiêm ngưỡng nó một cách nghiêm túc, rồi nhắm mắt lại và hình dung nó. Trước hết y lấy các bức tranh hồng trần thông thường; rồi người ta trao cho y một bình thủy tinh chứa một chất khí có màu, và bằng nỗ lực của ý chí, y phải nắn chất khí ấy thành những hình dạng nhất định—làm cho nó mang một hình tướng bằng tư tưởng—làm cho nó trở thành, bên trong bình của nó, một khối cầu, một khối lập phương, một tứ diện hay một hình dạng nào đó tương tự. Nhiều trẻ em có thể làm điều này dễ dàng sau một ít thực hành. Rồi chúng được yêu cầu làm cho nó mang hình dạng của một người, và sau đó là hình dạng của bức tranh mà trước đó chúng đã nhìn. Khi chúng có thể xử lý vật chất khí này khá dễ dàng, chúng thử làm điều đó trong chất liệu dĩ thái, rồi trong chất liệu cảm dục, và rồi trong vật chất trí tuệ thuần túy. Chính giáo viên tạo các hiện hình cho chúng khảo sát khi cần thiết, và bằng cách này chúng dần dần tiến lên đến những hành vi sáng tạo bằng tư tưởng cao hơn. Tất cả các lớp này đều mở cho cha mẹ và bạn bè đến thăm, và thường có nhiều người lớn tuổi thích tham dự chúng và tự mình thực hành các bài tập dành cho trẻ em.

THE SCHOOL SYSTEM — HỆ THỐNG TRƯỜNG HỌC

There is nothing in the nature of the boarding-school, and all children live happily at home and attend the school which is most convenient for them. In a few cases the Deva-priests are training children to take their places; but even in these cases the child is not taken away from home, though he is usually surrounded by a special protective shell, so that the influence which the Deva pours in upon him may not be interfered with by other vibrations.

Không có gì mang bản chất của trường nội trú, và tất cả trẻ em sống hạnh phúc ở nhà và đi học tại trường thuận tiện nhất cho chúng. Trong một vài trường hợp, các tư tế thiên thần đang huấn luyện trẻ em để thay thế vị trí của mình; nhưng ngay cả trong các trường hợp này, đứa trẻ cũng không bị đưa khỏi nhà, mặc dù y thường được bao quanh bởi một lớp vỏ bảo vệ đặc biệt, để ảnh hưởng mà vị thiên thần tuôn vào y không bị các rung động khác can thiệp.

A child does not belong to a class at all in the same way as under older methods; each child has a list of numbers for different subjects; he may be in the first class for one subject, in the third for another, in the fifth for some other. Even for small children the arrangement seems to be far less a class than a kind of lecture-room. In trying to comprehend the system, we must never for a moment forget the effect of the immediate reincarnations, and that consequently not only are these children on the average far more intelligent and developed than other children of their age, but also they are unequally developed. Some children of four remember more of a previous incarnation, and of what they learnt then, than other children of eight or nine; and again some children remember a certain subject fully and clearly, and yet have almost entirely lost their knowledge of some other subjects which seem quite as easy. So that we are dealing with entirely abnormal conditions, and the schemes adopted have to be suited to them.

Một đứa trẻ hoàn toàn không thuộc về một lớp theo cùng cách như dưới các phương pháp cũ; mỗi trẻ có một danh sách số cho các môn học khác nhau; y có thể ở lớp thứ nhất về một môn, lớp thứ ba về một môn khác, lớp thứ năm về một môn khác nữa. Ngay cả đối với trẻ nhỏ, sự sắp xếp dường như ít giống một lớp học hơn rất nhiều so với một loại phòng giảng. Khi cố gắng thấu hiểu hệ thống này, chúng ta không bao giờ được quên dù chỉ trong khoảnh khắc hiệu quả của các sự tái sinh tức thời, và do đó những trẻ em này không chỉ trung bình thông minh và phát triển hơn nhiều so với những trẻ khác cùng tuổi, mà còn phát triển không đồng đều. Một số trẻ bốn tuổi nhớ nhiều hơn về một kiếp trước, và về những gì chúng đã học khi đó, so với những trẻ khác tám hay chín tuổi; và lại có một số trẻ nhớ một môn nào đó đầy đủ và rõ ràng, nhưng hầu như đã hoàn toàn mất tri thức về một số môn khác có vẻ cũng dễ như vậy. Vì thế chúng ta đang xử lý những điều kiện hoàn toàn bất thường, và các hệ thống được áp dụng phải phù hợp với chúng.

At what corresponds to the opening of the school, they all stand together and sing something. They get four lessons into their morning session, but the lessons are short, and there is always an interval for play between them. Like all their houses, the schoolroom has no walls, but is supported entirely on pillars, so that practically the whole life of the children, as well as of the rest of the community, is lived in the open air; but nevertheless the children are turned out even from that apology for a room after each of the lessons, and left to play about in the park which surrounds the school. Girls and boys are taught together promiscuously. This morning session covers all of what would be called the compulsory subjects—the subjects which everybody learns; there are some extra lessons in the afternoon on additional subjects for those who wish to take them, but a considerable number of the children are satisfied with the morning work.

Vào thời điểm tương ứng với việc mở đầu buổi học, tất cả chúng đứng cùng nhau và hát một điều gì đó. Chúng có bốn bài học trong buổi sáng, nhưng các bài học đều ngắn, và luôn có một khoảng nghỉ để chơi giữa các bài. Giống như mọi ngôi nhà của chúng, phòng học không có tường, mà hoàn toàn được chống đỡ trên các cột, đến nỗi hầu như toàn bộ đời sống của trẻ em, cũng như của phần còn lại trong cộng đồng, được sống ngoài trời; tuy nhiên, sau mỗi bài học, trẻ em vẫn bị đưa ra khỏi ngay cả cái hình thức phòng học ấy, và được để chơi trong công viên bao quanh trường. Bé gái và bé trai được dạy chung không phân biệt. Buổi học sáng này bao gồm tất cả những gì có thể gọi là các môn bắt buộc—những môn mà mọi người đều học; có một số bài học thêm vào buổi chiều về các môn bổ sung cho những ai muốn học, nhưng một số đáng kể trẻ em thỏa mãn với công việc buổi sáng.

THE CURRICULUM — CHƯƠNG TRÌNH HỌC

The school curriculum is different from that of the twentieth century. The very subjects are mostly different, and even those which are the same are taught in an entirely different way. Arithmetic, for example, has been greatly simplified; there are no complex weights and measures of any kind, everything being arranged on a decimal system; they calculate but little, and the detailed working-out of long rows of figures would be denounced as insufferably tedious. Nothing is taught but what is likely to be practically useful to the average person in after-life; all the rest is a matter of reference. In earlier centuries they had books of logarithms, by reference to which long and complicated calculations could be avoided; now they have the same system immensely extended, and yet, at the same time, much more compressed. It is a scheme by which the result of practically any difficult calculation can be looked up in a few moments by a person who knows the book. The children know how to calculate, just as a man may know how to make his own logarithms, and yet habitually use a book for them to avoid the waste of time in tedious processes involving long rows of figures.

Chương trình học khác với chương trình của thế kỷ hai mươi. Chính các môn học phần lớn đã khác, và ngay cả những môn giống nhau cũng được dạy theo một cách hoàn toàn khác. Chẳng hạn, số học đã được đơn giản hóa rất nhiều; không có bất cứ hệ thống cân đo phức tạp nào, mọi thứ được sắp xếp theo hệ thập phân; họ tính toán rất ít, và việc giải chi tiết những hàng dài con số sẽ bị lên án là buồn tẻ không chịu nổi. Không gì được dạy ngoài những điều có khả năng hữu dụng thực tiễn cho người trung bình trong đời sống về sau; tất cả phần còn lại là vấn đề tra cứu. Trong các thế kỷ trước, họ có các sách logarit, nhờ tra cứu mà những phép tính dài và phức tạp có thể tránh được; nay họ có cùng hệ thống ấy được mở rộng vô cùng, nhưng đồng thời lại cô đọng hơn nhiều. Đó là một hệ thống nhờ đó kết quả của hầu như bất cứ phép tính khó nào cũng có thể được tra ra trong vài khoảnh khắc bởi một người biết cuốn sách ấy. Trẻ em biết cách tính toán, cũng như một người có thể biết cách tự lập logarit của mình, nhưng vẫn thường dùng một cuốn sách cho chúng để tránh lãng phí thời gian vào những tiến trình buồn tẻ liên quan đến những hàng dài con số.

Arithmetic with them is hardly a subject in itself, but is taken only as leading up to calculations connected with the geometry which deals with solid figures and the higher dimensions. The whole thing is so different from previous ideas that it is not easy to describe it clearly. For example, in all the children’s sums there is no question of money, and no complicated calculation. To understand the sum and know how to do it is sufficient. The theory in the school-master’s mind is not to cram the brains of the children, but to develop their faculties and tell them where to find facts. Nobody, for example, would dream of multiplying a line of six figures by another similar line, but would employ either a calculating machine (for these are common), or one of the books to which I have referred.

Đối với họ, số học hầu như không phải là một môn tự thân, mà chỉ được dùng như dẫn nhập đến các phép tính liên quan với hình học xử lý các khối rắn và các chiều cao hơn. Toàn bộ sự việc khác với những ý tưởng trước kia đến nỗi không dễ mô tả nó rõ ràng. Chẳng hạn, trong tất cả bài toán của trẻ em không có vấn đề tiền bạc, và không có phép tính phức tạp. Thấu hiểu bài toán và biết cách làm là đủ. Lý thuyết trong trí của thầy giáo không phải là nhồi nhét bộ não trẻ em, mà là phát triển các năng lực của chúng và cho chúng biết nơi tìm các sự kiện. Chẳng hạn, không ai mơ đến việc nhân một hàng sáu chữ số với một hàng tương tự khác, mà sẽ dùng hoặc một máy tính, vì những máy này rất phổ biến, hoặc một trong những cuốn sách mà tôi đã đề cập.

The whole problem of reading and writing is far simpler than it used to be, for all spelling is phonetic, and pronunciation cannot be wrong when a certain syllable must always have a certain sound. The writing has somewhat the appearance of shorthand. There is a good deal to learn in it, but at the same time, when he has learnt it, the child is in possession of a finer and more flexible instrument than any of the older languages since he can write at least as fast as any ordinary person can speak. There is a large amount of convention about it, and a whole sentence is often expressed by a mark like a flash of lightning.

Toàn bộ vấn đề đọc và viết đơn giản hơn rất nhiều so với trước kia, vì mọi chính tả đều theo âm, và cách phát âm không thể sai khi một âm tiết nhất định luôn phải có một âm thanh nhất định. Chữ viết có phần mang dáng vẻ của tốc ký. Có khá nhiều điều phải học trong đó, nhưng đồng thời, khi đã học xong, đứa trẻ sở hữu một khí cụ tinh vi và linh hoạt hơn bất cứ ngôn ngữ cũ nào, vì y có thể viết ít nhất nhanh bằng bất cứ người bình thường nào có thể nói. Có rất nhiều quy ước trong đó, và cả một câu thường được biểu đạt bằng một dấu hiệu giống như tia chớp.

The language which they are speaking is naturally English, since the community has arisen in an English-speaking country, but it has been modified considerably. Many participial forms have disappeared, and some of the words are different. All subjects are learnt so differently now. Nobody learns any history, except isolated interesting stories, but everyone has in his house a book in which an epitome of all history can be found. Geography is still learnt to a limited extent. They know where all the different races live, and with great precision in what these races differ, and what qualities they are developing. But the commercial side has dropped; no one bothers about the exports of Bulgaria; nobody knows where they make woollen cloth, or wants to know. All these things can be turned up at a moment’s notice in books which are part of the free furniture of every house, and it would be considered a waste of time to burden the memory with such valueless facts.

Ngôn ngữ họ đang nói tự nhiên là tiếng Anh, vì cộng đồng đã phát sinh trong một xứ nói tiếng Anh, nhưng nó đã được biến đổi đáng kể. Nhiều hình thức phân từ đã biến mất, và một số từ đã khác. Mọi môn học nay được học khác đi rất nhiều. Không ai học lịch sử, ngoại trừ những câu chuyện thú vị riêng lẻ, nhưng mọi người đều có trong nhà một cuốn sách trong đó có thể tìm thấy bản tóm lược toàn bộ lịch sử. Địa lý vẫn được học ở một mức độ giới hạn. Họ biết tất cả các nhân loại khác nhau sống ở đâu, và biết với độ chính xác cao những nhân loại này khác nhau ở điểm nào, và những phẩm tính nào họ đang phát triển. Nhưng phương diện thương mại đã rơi rụng; không ai bận tâm về hàng xuất khẩu của Bulgaria; không ai biết họ sản xuất vải len ở đâu, hay muốn biết. Tất cả những điều này có thể được tra ra ngay lập tức trong các sách vốn là một phần đồ dùng miễn phí của mỗi nhà, và việc chất gánh nặng lên ký ức bằng những sự kiện vô giá trị như thế sẽ bị xem là lãng phí thời gian.

The scheme is in every respect strictly utilitarian; they do not teach the children anything which can be easily obtained from an encyclopaedia. They have developed a scheme of restricting education to necessary and valuable knowledge. A boy of twelve usually has behind him, in his physical brain, the entire memory of what he knew in previous lives. It is the custom to carry a talisman over from life to life, which helps the child to recover the memory in the new vehicles—a talisman which he wore in his previous birth, so that it is thoroughly loaded with the magnetism of that birth and can now stir up again the same vibrations.

Hệ thống này trong mọi phương diện đều hết sức thực dụng; họ không dạy trẻ em bất cứ điều gì có thể dễ dàng lấy được từ một bách khoa thư. Họ đã phát triển một hệ thống giới hạn giáo dục vào tri thức cần thiết và có giá trị. Một cậu bé mười hai tuổi thường đã có phía sau mình, trong bộ não hồng trần, toàn bộ ký ức về những gì y đã biết trong các đời sống trước. Tập quán là mang một bùa hộ mệnh từ đời này sang đời khác, giúp đứa trẻ khôi phục ký ức trong các hiện thể mới—một bùa hộ mệnh mà y đã đeo trong lần sinh trước, nên nó được nạp đầy từ điện của lần sinh ấy và nay có thể lại khuấy động các rung động tương tự.

CHILDREN’s SERVICES — CÁC BUỔI PHỤNG SỰ CỦA TRẺ EM

Another interesting educational feature is what is called the children’s service at the Temple. Many others than children attend this, especially those who are not yet quite up to the level of the other services already described. The children’s service in the music-Temple is exceedingly beautiful; the children perform a series of graceful evolutions, and both sing and play upon instruments as they march about. That in the colour-Temple is something like an especially gorgeous Drury Lane pantomime, and has evidently been many times carefully rehearsed.

Một nét giáo dục thú vị khác là điều được gọi là buổi phụng sự của trẻ em tại Đền. Nhiều người khác ngoài trẻ em cũng tham dự buổi này, đặc biệt là những người chưa hoàn toàn đạt tới cấp độ của các buổi phụng sự khác đã được mô tả. Buổi phụng sự của trẻ em trong Đền âm nhạc vô cùng đẹp đẽ; trẻ em thực hiện một loạt những chuyển động duyên dáng, vừa hát vừa chơi nhạc cụ khi chúng diễu quanh. Buổi ở Đền màu sắc thì giống như một vở kịch câm Drury Lane đặc biệt lộng lẫy, và hiển nhiên đã được tập luyện cẩn thận nhiều lần.

In one case they are reproducing the choric dance of the priests of Babylon, which represents the movement of the planets round the sun. This is performed upon an open plain, as it used to be in Assyria, and groups of children dress in special colours (representing the various planets) and move harmoniously, so that in their play they have also an astronomical lesson. But it must be understood that they fully feel that they are engaging in a sacred religious rite, and that to do it well and thoroughly will not only be helpful to themselves, but that it also constitutes a kind of offering of their services to the Deity. They have been told that this used to be done in an old religion many thousands of years ago.

Trong một trường hợp, chúng tái hiện vũ điệu hợp xướng của các tư tế Babylon, tượng trưng cho chuyển động của các hành tinh quanh mặt trời. Việc này được thực hiện trên một đồng bằng mở, như xưa kia ở Assyria, và các nhóm trẻ mặc những màu đặc biệt, tượng trưng cho các hành tinh khác nhau, và chuyển động hài hòa, để trong trò chơi của mình chúng cũng có một bài học thiên văn. Nhưng cần hiểu rằng chúng hoàn toàn cảm thấy mình đang tham dự một nghi lễ tôn giáo thiêng liêng, và rằng làm điều đó tốt đẹp và trọn vẹn sẽ không chỉ hữu ích cho chính chúng, mà còn cấu thành một loại dâng hiến sự phụng sự của chúng lên Thượng đế. Chúng đã được bảo rằng điều này từng được thực hiện trong một tôn giáo cổ xưa cách đây nhiều ngàn năm.

The children take great delight in it, and there is quite a competition to be chosen to be part of the Sun! Proud parents also look on, and are pleased to be able to say: “My boy is part of Mercury to-day,” and so on. The planets all have their satellites—more satellites in some cases than used to be known, so that astronomy has evidently progressed. The rings of Saturn are remarkably well represented by a number of children in constant motion in a figure closely resembling the `grand chain’ at the commencement of the fifth figure of the Lancers. An especially interesting point is that even the inner `crape’ ring of Saturn is represented, for those children who are on the inside of the next ring keep a gauzy garment floating out so as to represent it. The satellites are single children or pairs of children waltzing outside the ring. All the while, though they enjoy it immensely, they never forget that they are performing a religious function and that they are offering this to God. Another dance evidently indicates the transfer of life from the Moon Chain to the Earth Chain. All sorts of instruction is given to the children in this way, half a play and half a religious ceremony.

Trẻ em rất thích thú với điều đó, và có hẳn một sự cạnh tranh để được chọn làm một phần của Mặt Trời! Cha mẹ đầy tự hào cũng đứng xem, và hài lòng khi có thể nói: “Hôm nay con trai tôi là một phần của Sao Thủy,” v.v. Tất cả các hành tinh đều có các vệ tinh của chúng—trong một số trường hợp có nhiều vệ tinh hơn trước kia người ta từng biết, nên hiển nhiên thiên văn học đã tiến bộ. Các vành đai của Sao Thổ được trình bày đáng chú ý bởi một số trẻ em liên tục chuyển động trong một hình thức rất giống “chuỗi lớn” ở phần mở đầu của hình thứ năm trong điệu Lancers. Một điểm đặc biệt thú vị là ngay cả vòng “lụa mỏng” bên trong của Sao Thổ cũng được biểu thị, vì những trẻ ở phía trong của vòng kế tiếp giữ một y phục mỏng nhẹ bay ra để tượng trưng cho nó. Các vệ tinh là những trẻ đơn lẻ hoặc từng cặp trẻ nhảy valse bên ngoài vòng. Suốt thời gian ấy, mặc dù chúng vui thích vô cùng, chúng không bao giờ quên rằng chúng đang thực hiện một chức năng tôn giáo và đang dâng điều này lên Thượng đế. Một vũ điệu khác hiển nhiên chỉ sự chuyển dịch sự sống từ Dãy Mặt Trăng sang Dãy Địa Cầu. Đủ mọi loại giáo huấn được trao cho trẻ em theo cách này, nửa là trò chơi và nửa là nghi lễ tôn giáo.

SYMBOLIC DANCES — CÁC VŨ ĐIỆU BIỂU TƯỢNG

There are great festivals which each Temple celebrates by special performances of this kind, and on these occasions they all do their best in the way of gorgeous decoration. The buildings are so arranged that the lines are picked out in a kind of permanent phosphorescence, not a line of lamps, but a glow which seems to come from the substance. The lines of the architecture are graceful, and this has a splendid effect. The children’s service is an education in colours. The combinations are really wonderful, and the drilling of the children is perfect. Great masses of them are dressed identically in the most lovely hues, delicate and yet brilliant, and they move in and out among one another in the most complicated figures. In their choric dance they are taught that they must not only wear the colour of the star for spectacular purposes, but must also try mentally to make the same colour. They are instructed to try to fancy themselves that colour, and try to think that they actually are part of the planet Mercury or Venus, as the case may be. As they move they sing and play, each planet having it own special chords, so that all the planets as they go round the sun may produce an imitation of the music of the spheres. In these children’s services also the Devas often take part, and aid with the colours and the music. Both kama and rupa Devas move quite freely among the people, and take part in daily life.

Có những lễ hội lớn mà mỗi Đền cử hành bằng các trình diễn đặc biệt thuộc loại này, và trong những dịp ấy tất cả họ đều làm hết sức mình về mặt trang hoàng lộng lẫy. Các tòa nhà được sắp đặt sao cho các đường nét được nhấn bằng một loại lân quang thường trực, không phải là một hàng đèn, mà là một ánh sáng dường như phát ra từ chính chất liệu. Các đường nét của kiến trúc rất duyên dáng, và điều này tạo một hiệu quả huy hoàng. Buổi phụng sự của trẻ em là một nền giáo dục về màu sắc. Các kết hợp thật sự kỳ diệu, và việc huấn luyện trẻ em thật hoàn hảo. Những khối lớn trẻ em mặc giống hệt nhau trong các sắc màu đáng yêu nhất, tinh tế nhưng rực rỡ, và chúng di chuyển ra vào giữa nhau trong những hình thể phức tạp nhất. Trong vũ điệu hợp xướng của mình, chúng được dạy rằng không những chúng phải mặc màu của ngôi sao nhằm mục đích trình diễn, mà còn phải cố gắng trong trí tạo ra cùng màu ấy. Chúng được chỉ dẫn cố gắng tưởng tượng chính mình là màu ấy, và cố gắng nghĩ rằng chúng thật sự là một phần của hành tinh Sao Thủy hay Sao Kim, tùy trường hợp. Khi chuyển động, chúng hát và chơi nhạc, mỗi hành tinh có các hợp âm đặc biệt của riêng mình, để tất cả các hành tinh khi đi quanh mặt trời có thể tạo ra một sự mô phỏng âm nhạc của các khối cầu. Trong các buổi phụng sự của trẻ em này, các thiên thần cũng thường tham dự, và hỗ trợ bằng màu sắc và âm nhạc. Cả các thiên thần kama và rupa đều di chuyển khá tự do giữa mọi người, và tham dự vào đời sống hằng ngày.

The children’s service in connection with the yellow Temple is exceedingly interesting. Here they dance frequently in geometrical figures, but the evolutions are difficult to describe. One performance, for example, is exceedingly pretty and effective. Thirty-two boys wearing golden brocaded robes are arranged in a certain order, not all standing on the same level, but on raised stages. They evidently represent the angles of some solid figure. They hold in their hands thick ropes of a golden-coloured thread, and they hold these ropes from one to another so as to indicate the outline of a certain figure—say a dodecahedron. Suddenly, at a preconcerted signal, they drop one end of the rope or throw it to another boy, and in a moment the outline has changed into that of an icosahedron. This is wonderfully effective, and gives quite a remarkable illusory effect of changing solid figures one into another. All such changes are gone through in a certain order, which is somehow connected with the evolution of the matter of the planes at the commencement of a solar system. Another evolution is evidently to illustrate something of the formation of atoms out of bubbles. The children represent bubbles. A number of them rush out from the centre and arrange themselves in a certain way. Then they rush back again to the centre and again come still further out, and group themselves in quite a different way. All this needs much training, but the children appear most enthusiastic about it.

Buổi phụng sự của trẻ em liên hệ với Đền màu vàng vô cùng thú vị. Ở đây chúng thường múa theo các hình hình học, nhưng các chuyển động khó mô tả. Chẳng hạn, một màn trình diễn vô cùng xinh đẹp và hiệu quả. Ba mươi hai bé trai mặc áo choàng gấm vàng được sắp xếp theo một trật tự nhất định, không phải tất cả đứng trên cùng một cấp độ, mà trên các bục nâng cao. Hiển nhiên chúng tượng trưng cho các góc của một khối nào đó. Chúng cầm trong tay những sợi dây thừng dày bằng chỉ màu vàng, và giữ các dây này từ em này sang em khác để chỉ đường viền của một hình nào đó—chẳng hạn một thập nhị diện. Bất ngờ, theo một tín hiệu đã định trước, chúng thả một đầu dây hoặc ném nó cho một bé trai khác, và trong khoảnh khắc đường viền đã đổi thành đường viền của một nhị thập diện. Điều này hiệu quả kỳ diệu, và tạo ra một ảo giác đáng chú ý về các khối rắn biến đổi từ khối này sang khối khác. Tất cả những thay đổi như thế được thực hiện theo một trật tự nhất định, bằng cách nào đó liên hệ với sự tiến hoá của vật chất các cõi vào lúc khởi đầu của một hệ mặt trời. Một chuyển động khác hiển nhiên nhằm minh họa điều gì đó về sự hình thành các nguyên tử từ các bong bóng. Trẻ em tượng trưng cho các bong bóng. Một số em lao ra từ trung tâm và tự sắp xếp theo một cách nhất định. Rồi chúng lao trở lại trung tâm và lại đi ra xa hơn nữa, rồi nhóm lại theo một cách hoàn toàn khác. Tất cả điều này cần nhiều huấn luyện, nhưng trẻ em dường như hết sức nhiệt tình với nó.

THE UNDERLYING IDEA — Ý TƯỞNG NỀN TẢNG

The education and the religion are so closely mingled that it is difficult clearly to differentiate one from the other. The children are playing in the Temple. The underlying idea which is kept before them is that all this is only the physical side of something far greater and grander, which belongs to higher worlds, so that they feel that to everything they do there is an inner side, and they hope to realise this and to be able to see and comprehend it directly; and this is always held before them as the final reward of their efforts.

Giáo dục và tôn giáo hòa lẫn chặt chẽ đến nỗi khó phân biệt rõ ràng cái này với cái kia. Trẻ em đang chơi trong Đền. Ý tưởng nền tảng luôn được đặt trước chúng là tất cả điều này chỉ là phương diện hồng trần của một điều gì đó lớn lao và cao cả hơn rất nhiều, thuộc về các thế giới cao hơn, để chúng cảm thấy rằng đối với mọi điều chúng làm đều có một phương diện bên trong, và chúng hy vọng chứng nghiệm điều này cũng như có thể thấy và thấu hiểu nó trực tiếp; và điều này luôn được đặt trước chúng như phần thưởng cuối cùng cho các nỗ lực của chúng.

BIRTH AND DEATH — SINH VÀ TỬ

The various influences which take such a prominent part in the education of the children are brought to bear upon them even before birth. Once more we must reiterate that when a birth is about to take place the father and mother and all parties concerned are quite aware what ego is to come to them, and therefore they take care that for months before the actual birth takes place the surroundings shall in every way be suitable to that ego, and such as may conduce to a perfect physical body. Great stress is laid upon the influence of beautiful surroundings. The future mother has always before her eyes lovely pictures and graceful statues. The whole of life is pervaded with this idea of beauty—so much so that it would be considered a crime against the community that any object should be ugly or ungraceful. In all architecture this beauty of line as well as of colour is the first consideration, and the same is true with regard to all the minor accessories of life. Even before the child’s birth preparation will be made for him; his mother dresses chiefly in certain colours, and surrounds herself with flowers and lights of what are considered the most appropriate kind.

Các ảnh hưởng khác nhau giữ phần nổi bật như thế trong việc giáo dục trẻ em được đem tác động lên chúng ngay cả trước khi sinh. Một lần nữa chúng ta phải nhắc lại rằng khi một sự sinh ra sắp diễn ra, người cha và người mẹ cùng tất cả các bên liên quan đều hoàn toàn biết chân ngã nào sẽ đến với họ, và vì vậy họ lo liệu để trong nhiều tháng trước khi sự sinh ra thực sự diễn ra, hoàn cảnh xung quanh trong mọi phương diện phải thích hợp với chân ngã ấy, và có thể dẫn đến một thể xác hoàn hảo. Người ta đặt sự nhấn mạnh lớn vào ảnh hưởng của các hoàn cảnh đẹp đẽ xung quanh. Người mẹ tương lai luôn có trước mắt mình những bức tranh đáng yêu và các pho tượng duyên dáng. Toàn bộ đời sống thấm nhuần ý tưởng về cái đẹp này—đến mức việc bất cứ vật nào xấu xí hay không duyên dáng sẽ bị xem là một tội ác chống lại cộng đồng. Trong mọi kiến trúc, vẻ đẹp của đường nét cũng như của màu sắc là sự quan tâm đầu tiên, và điều tương tự cũng đúng đối với mọi phụ kiện nhỏ của đời sống. Ngay cả trước khi đứa trẻ sinh ra, sự chuẩn bị cũng sẽ được thực hiện cho y; mẹ y mặc chủ yếu một số màu nhất định, và bao quanh mình bằng hoa cùng ánh sáng thuộc loại được xem là thích hợp nhất.

Parentage is a matter of arrangement between all parties concerned, and death is usually voluntary. As the members of this community live entirely healthy lives, and have surrounded themselves with perfect sanitary conditions, disease has been practically eliminated, so that except in the rare case of an accident no one dies except of old age, and they do not drop the body as long as it is useful. They do not feel at all that they are giving up life, but only that they are changing a worn-out vehicle. The absence of worry and unhealthy conditions has certainly tended on the whole to lengthen physical life. Nobody looks at all old until at least eighty, and many pass beyond the century.

Việc làm cha mẹ là một vấn đề sắp đặt giữa tất cả các bên liên quan, và cái chết thường là tự nguyện. Vì các thành viên của cộng đồng này sống những đời sống hoàn toàn lành mạnh, và đã bao quanh mình bằng các điều kiện vệ sinh hoàn hảo, bệnh tật hầu như đã bị loại trừ, nên ngoại trừ trường hợp hiếm hoi của tai nạn, không ai chết trừ vì tuổi già, và họ không bỏ thể xác chừng nào nó còn hữu dụng. Họ hoàn toàn không cảm thấy rằng mình đang từ bỏ sự sống, mà chỉ rằng họ đang thay đổi một vận cụ đã mòn cũ. Sự vắng mặt của lo âu và các điều kiện không lành mạnh chắc chắn nhìn chung đã có khuynh hướng kéo dài đời sống hồng trần. Không ai trông có vẻ già cho đến ít nhất tám mươi tuổi, và nhiều người vượt quá một thế kỷ.

When a man begins to find his powers failing him, he also begins to look round him for a desirable re-birth. He selects a father and mother whom he thinks would suit him, and goes round to call upon them to ask whether they are willing to take him. If they are, he tells them that he expects to die soon, and then hands over to them his personal talisman which he has worn all his life, and also sends to them any personal effects which he wishes to carry over to his next life. The talisman is usually a jewel of the particular type appropriate to the ego, according to the sign of the Zodiac to which as an ego he belongs, the influence under which he attained individuality. This charm he always wears, so that it may be fully impregnated with his magnetism, and he is careful to make arrangements that it may be handed over to him in his next birth, in order to help in the arousing in the new body of the memory of past lives, so as to make it easier to keep unbroken the realisation of life as an ego. This amulet is always correspondent to his name as an ego—the name which he carries with him from life to life. In many cases men are already using this name in ordinary life, though in others they have perpetuated the name which they bore when they entered the community, carrying it on from life to life and altering its termination so as to make it masculine or feminine according to the sex of the moment. Each person has therefore his own name, his permanent name, and in addition in each incarnation he takes that of the family into which he happens or chooses to be born.

Khi một người bắt đầu thấy các quyền năng của mình suy giảm, y cũng bắt đầu nhìn quanh để tìm một sự tái sinh mong muốn. Y chọn một người cha và một người mẹ mà y nghĩ sẽ thích hợp với mình, và đến thăm họ để hỏi xem họ có sẵn lòng nhận y hay không. Nếu họ sẵn lòng, y nói với họ rằng y dự kiến sẽ sớm chết, rồi trao cho họ bùa hộ mệnh cá nhân mà y đã đeo suốt đời, và cũng gửi cho họ bất cứ đồ dùng cá nhân nào mà y muốn mang sang đời sống kế tiếp. Bùa hộ mệnh thường là một viên ngọc thuộc loại đặc biệt thích hợp với chân ngã, theo dấu hiệu hoàng đạo mà y thuộc về với tư cách một chân ngã, ảnh hưởng dưới đó y đạt được sự biệt ngã hóa. Bùa này y luôn đeo, để nó có thể được thấm nhuần đầy đủ bằng từ điện của y, và y cẩn thận sắp đặt để nó có thể được trao lại cho y trong lần sinh kế tiếp, nhằm giúp khơi dậy trong thể mới ký ức về các đời sống quá khứ, để dễ dàng hơn trong việc giữ cho sự chứng nghiệm đời sống như một chân ngã không bị gián đoạn. Bùa hộ mệnh này luôn tương ứng với tên của y như một chân ngã—cái tên mà y mang theo từ đời này sang đời khác. Trong nhiều trường hợp, người ta đã dùng tên này trong đời sống thường ngày, mặc dù trong những trường hợp khác họ vẫn duy trì tên mà họ mang khi gia nhập cộng đồng, đem nó tiếp tục từ đời này sang đời khác và thay đổi phần kết thúc của nó để làm cho nó thành nam tính hay nữ tính tùy theo giới tính trong lúc ấy. Vì vậy mỗi người có tên riêng của mình, tên thường tồn của mình, và thêm vào đó trong mỗi lần lâm phàm y nhận lấy tên của gia đình mà y tình cờ hoặc lựa chọn sinh vào.

The personal effects do not include anything of the nature of money, for money is no longer used, and no man has more than a life-interest in houses or land, or in other property. But he has sometimes a few books or ornaments which he wishes to preserve, and if so he hands them over to his prospective father and mother, who, when they hear that his death is approaching, can begin to prepare for him. He does not alter his ordinary mode of life; he does nothing which in the slightest degree resembles committing suicide; but he simply loses the will to live—lets his life go, as it were—and generally passes away peacefully in sleep within a short period of time. Usually, indeed, he takes up his abode with the prospective father and mother as soon as the agreement is made, and dies at their house.

Các vật dụng cá nhân không bao gồm bất cứ thứ gì thuộc bản chất tiền bạc, vì tiền không còn được dùng nữa, và không ai có quyền gì hơn là quyền hưởng dụng suốt đời đối với nhà cửa hay đất đai, hoặc các tài sản khác. Nhưng đôi khi y có một ít sách hay đồ trang sức mà y muốn giữ lại, và nếu vậy, y trao chúng cho người cha và người mẹ tương lai của mình; khi họ nghe rằng cái chết của y đang đến gần, họ có thể bắt đầu chuẩn bị cho y. Y không thay đổi lối sống thường ngày; y không làm điều gì dù ở mức nhỏ nhất giống với việc tự sát; nhưng y chỉ đơn giản mất đi ý chí sống — có thể nói là buông cho sự sống của mình ra đi — và thường qua đời bình an trong giấc ngủ trong một thời gian ngắn. Thật vậy, thường thì y đến ở với người cha và người mẹ tương lai ngay khi thỏa thuận được lập, và chết tại nhà họ.

There is no funeral ceremony of any sort, as death is not regarded as an event of any importance. The body is not cremated, but is instead placed in a kind of retort into which some chemical is poured—probably a strong acid of some sort. The retort is then hermetically sealed, and a power resembling electricity, but far stronger, is passed through it. The acid fizzes vigorously, and in a few minutes the whole body is entirely dissolved. When the retort is opened and the process is completed there is nothing left but a fine grey powder. This is not preserved or regarded with any reverence. The operation of disposing of the body is easily performed at the house, the apparatus being brought there when desired. There is no ceremony of any kind, and the friends of the deceased do not assemble for the occasion. They do, however, come round and pay him a visit soon after his rebirth, as the sight of them is supposed to help to reawaken the memory in the new baby body. Under these circumstances there are of course no prayers or ceremonies of any kind for the dead, nor is there any need of help upon the astral plane, for every member of the community remembers his past lives and knows perfectly well the body which he is about to take as soon as it can be prepared for him. Many members of the community continue to act as invisible helpers to the rest of the world, but within the community itself nothing of that kind is necessary.

Không có nghi lễ tang ma thuộc bất cứ loại nào, vì cái chết không được xem là một sự kiện có tầm quan trọng nào. Thể xác không được hỏa táng, mà thay vào đó được đặt trong một loại bình chưng cất, rồi người ta đổ vào đó một hóa chất nào đó — có lẽ là một loại axít mạnh. Sau đó bình được niêm kín hoàn toàn, và một quyền năng giống như điện, nhưng mạnh hơn nhiều, được truyền qua nó. Axít sủi bọt mạnh, và trong vài phút toàn bộ thể xác tan rã hoàn toàn. Khi bình được mở ra và tiến trình hoàn tất, không còn lại gì ngoài một lớp bột mịn màu xám. Thứ này không được giữ lại hay được xem với bất cứ sự tôn kính nào. Việc xử lý thể xác được thực hiện dễ dàng tại nhà, dụng cụ được mang đến đó khi cần. Không có nghi lễ thuộc bất cứ loại nào, và bạn bè của người đã mất không tụ họp nhân dịp ấy. Tuy nhiên, họ có đến thăm y ngay sau khi y tái sinh, vì việc nhìn thấy họ được cho là giúp đánh thức lại ký ức trong thể em bé mới. Trong những hoàn cảnh ấy, dĩ nhiên không có lời cầu nguyện hay nghi lễ nào dành cho người chết, cũng không cần sự trợ giúp nào trên cõi cảm dục, vì mỗi thành viên của cộng đồng đều nhớ các kiếp trước của mình và biết hoàn toàn rõ thể mà y sắp nhận lấy ngay khi thể ấy có thể được chuẩn bị cho y. Nhiều thành viên của cộng đồng tiếp tục hoạt động như những người trợ giúp vô hình cho phần còn lại của thế giới, nhưng trong chính cộng đồng thì không cần điều gì thuộc loại ấy.

The Manu has a careful record kept of all the successive incarnations of each of the members of His community, and in some rare cases He interferes with an ego’s choice of his parents. As a general rule all the members of the community have already disposed of such grosser karma as would limit them in their choice, and they also know enough of their own type and of the conditions which they require not to make an unsuitable selection, so that in almost every case they are left perfectly free to make their own arrangements. The matter is, however, always within the knowledge of the Manu, so that He may alter the plan if He does not approve.

Đức Manu cho lưu giữ một hồ sơ cẩn thận về tất cả các lần lâm phàm kế tiếp nhau của từng thành viên trong cộng đồng của Ngài, và trong một số trường hợp hiếm hoi, Ngài can thiệp vào sự lựa chọn cha mẹ của một chân ngã. Theo quy luật chung, tất cả các thành viên của cộng đồng đã xử lý xong loại nghiệp quả thô nặng hơn vốn có thể giới hạn họ trong sự lựa chọn của mình, và họ cũng biết đủ về loại hình riêng của họ cũng như các điều kiện mà họ cần, để không đưa ra một lựa chọn không thích hợp; vì thế, trong hầu như mọi trường hợp, họ được hoàn toàn tự do sắp đặt lấy. Tuy nhiên, vấn đề ấy luôn nằm trong tri thức của Đức Manu, để Ngài có thể thay đổi Thiên Cơ nếu Ngài không chấp thuận.

As a rule the dying man is at liberty to select the sex of his next birth, and many people seem to make a practice of taking birth alternately as man and as woman. There is no actual regulation as to this, and everything is left as free as possible; but at the same time the due proportion of the sexes in the community must be maintained, and if the number of either sex falls temporarily below what it should be, the Manu calls for volunteers to bring things once more into harmony. Parents usually arrange to have ten or twelve children in the family, and generally the same number of girls as boys. Twins, and even triplets, are not at all uncommon. Between the birth of one child and the next there is mostly an interval of two or three years, and there are evidently theories with regard to this matter. The great object is to produce perfect children, and no cripples or deformed persons are to be seen, nor is there any infant mortality. It is manifest that the labour of child-birth has diminished almost to vanishing-point; indeed, there seems to be scarcely any trouble, except perhaps a little with the first child.

Theo quy luật, người sắp chết được tự do chọn giới tính cho lần sinh kế tiếp của mình, và nhiều người dường như có thói quen sinh ra luân phiên làm nam rồi làm nữ. Không có quy định thực sự nào về việc này, và mọi sự được để tự do hết mức có thể; nhưng đồng thời, tỷ lệ đúng giữa các giới trong cộng đồng phải được duy trì, và nếu số lượng của một giới nào đó tạm thời giảm xuống dưới mức nên có, Đức Manu kêu gọi những người tình nguyện để đưa mọi việc trở lại hài hòa. Cha mẹ thường sắp xếp để có mười hoặc mười hai người con trong gia đình, và thường số con gái bằng số con trai. Sinh đôi, và thậm chí sinh ba, hoàn toàn không hiếm. Giữa lần sinh của một đứa trẻ và lần sinh kế tiếp thường có khoảng cách hai hoặc ba năm, và hiển nhiên có những lý thuyết liên quan đến vấn đề này. Mục tiêu lớn là tạo ra những đứa trẻ hoàn hảo, và không thấy có người què quặt hay dị dạng, cũng không có tử vong ở trẻ sơ sinh. Rõ ràng việc sinh nở đã giảm nhẹ gần như đến mức biến mất; thật vậy, dường như hầu như không có khó khăn nào, ngoại trừ có lẽ một chút với đứa con đầu lòng.

MARRIAGE — HÔN NHÂN

This brings us to the question of marriage. There is no restriction placed upon this, except the one great restriction that no one must marry outside the community; but it is generally regarded as rather undesirable that people of the same type of religious feeling should intermarry. There is no rule against it, but it is understood that on the whole the Manu prefers that it should not take place. There is a certain, all-sufficing expression which practically puts any matter beyond the limits of discussion: “It is not His wish.”

Điều này đưa chúng ta đến vấn đề hôn nhân. Không có hạn chế nào đặt lên việc này, ngoại trừ một hạn chế lớn là không ai được kết hôn bên ngoài cộng đồng; nhưng nói chung, người ta xem là khá không nên khi những người thuộc cùng một loại cảm thức tôn giáo kết hôn với nhau. Không có quy luật nào chống lại điều đó, nhưng người ta hiểu rằng xét toàn thể Đức Manu thích điều ấy không xảy ra. Có một cách diễn đạt nhất định, đủ để kết thúc mọi vấn đề và thực tế đặt nó ra ngoài giới hạn tranh luận: “Đó không phải là ý muốn của Ngài.”

People choose their own partners for life—fall in love, in fact—much as they used to do, but the dominant idea of duty is always supreme, and even in matters of the heart no one permits himself to do anything or feel anything which he does not think to be for the best for the community. The great motive is not passion, but duty. The ordinary sex passions have been dominated, so that people now unite themselves definitely with a view to carrying on the community and to creating good bodies for the purpose. They regard married life chiefly as an opportunity to that end, and what is necessary for such production is a religious and magical action which needs to be carefully directed. It forms part of the sacrifice of themselves to the LOGOS, so that no one must lose his balance or his reason in connection with it.

Người ta tự chọn bạn đời của mình — thật ra là yêu nhau — cũng gần như cách họ từng làm, nhưng ý tưởng chủ đạo về bổn phận luôn tối thượng, và ngay cả trong những vấn đề của trái tim, không ai cho phép mình làm hay cảm thấy điều gì mà y không nghĩ là tốt nhất cho cộng đồng. Động lực lớn không phải là đam mê, mà là bổn phận. Những đam mê tính dục thông thường đã được chế ngự, vì thế giờ đây người ta kết hợp với nhau một cách xác định nhằm tiếp tục cộng đồng và tạo ra những thể tốt cho mục đích ấy. Họ xem đời sống hôn nhân chủ yếu như một cơ hội cho mục tiêu đó, và điều cần thiết cho sự sinh sản như vậy là một hành động tôn giáo và huyền thuật cần được hướng dẫn cẩn thận. Nó tạo thành một phần trong sự hiến dâng chính họ cho Thượng đế, vì thế không ai được mất thăng bằng hay lý trí liên quan đến điều ấy.

When people fall in love, and, as we should say, engage themselves, they go to the Manu Himself and ask Him for a benediction on their union. Usually they also arrange with a prospective son or daughter, so that when they go to the Manu they say that such and such a man wishes to be born from them, and ask that they may be permitted to marry. The Manu examines them to see whether they will suit each other, and if He approves He pronounces for them a formula: “Your life together shall be blessed.” Marriage is regarded almost entirely from the point of view of the prospective offspring. Sometimes it is even arranged by them. One man will call on another and say:

Khi người ta yêu nhau và, như chúng ta sẽ nói, đính hôn, họ đến với chính Đức Manu và xin Ngài ban phúc lành cho sự kết hợp của họ. Thường thì họ cũng sắp xếp với một người con trai hay con gái tương lai, vì thế khi họ đến với Đức Manu, họ nói rằng người này hay người kia muốn được sinh ra từ họ, và xin được phép kết hôn. Đức Manu xem xét họ để thấy liệu họ có phù hợp với nhau không, và nếu Ngài chấp thuận, Ngài tuyên đọc cho họ một công thức: “Đời sống chung của các con sẽ được ban phúc.” Hôn nhân hầu như được nhìn hoàn toàn từ quan điểm của hậu duệ tương lai. Đôi khi nó thậm chí do chính những người ấy sắp đặt. Một người sẽ đến thăm một người khác và nói:

“I am expecting to die in a few weeks, and I should like to have you and Miss X for my father and mother, as I have some karmic ties with both of you that I should like to work off; would that be agreeable to you?”

“Tôi dự kiến sẽ chết trong vài tuần nữa, và tôi muốn anh cùng cô X làm cha mẹ của tôi, vì tôi có một số ràng buộc nghiệp quả với cả hai người mà tôi muốn giải quyết; điều đó có thuận tiện cho anh không?”

Not infrequently the suggestion seems to be accepted, and the plan works out well. One man, who was taken at random for the purpose of investigation, was found to have three egos desiring to incarnate through him, so that when he took his prospective wife to the Manu he asked:

Không hiếm khi lời đề nghị dường như được chấp nhận, và kế hoạch diễn ra tốt đẹp. Một người, được chọn ngẫu nhiên cho mục đích khảo sát, được thấy là có ba chân ngã muốn lâm phàm qua y, vì thế khi y đưa người vợ tương lai của mình đến với Đức Manu, y hỏi:

“May we two marry, with these three egos waiting to take birth through us?”

“Hai chúng con có thể kết hôn, với ba chân ngã này đang chờ sinh ra qua chúng con, được không?”

And the Manu gave His consent. There is no other marriage ceremony than this benediction given by the Manu, nor is a wedding made the occasion of feasting or the giving of presents. There is nothing in the nature of a marriage contract. The arrangements are exclusively monogamous, and there is no such thing as divorce, though the agreement is always terminable by mutual consent. People marry distinctly with a view of furnishing a vehicle for a certain soul, and when that is safely done it seems to be entirely at their option whether they renew their agreement or not. Since the parents are selected with care, in the majority of cases the agreement is renewed, and they remain as husband and wife for life; but there are cases in which the agreement is terminated, and both parties form other alliances. Here also, as in everything else, duty is the one ruling factor, and everyone is always ready to yield his personal preference to what is thought to be best for the community as a whole. There is therefore far less of passion in these lives than in those of the older centuries; and the strongest affection is probably that between parents and children.

Và Đức Manu đã ban sự đồng thuận của Ngài. Không có nghi lễ hôn nhân nào khác ngoài phúc lành do Đức Manu ban, cũng không có tiệc cưới hay việc tặng quà nhân dịp hôn lễ. Không có gì thuộc bản chất của một khế ước hôn nhân. Các sắp đặt đều hoàn toàn một vợ một chồng, và không có điều gọi là ly dị, dù thỏa thuận luôn có thể chấm dứt bằng sự đồng thuận của cả hai. Người ta kết hôn rõ ràng với mục tiêu cung cấp một vận cụ cho một linh hồn nhất định, và khi điều đó đã được thực hiện an toàn, dường như việc họ có gia hạn thỏa thuận hay không hoàn toàn tùy chọn. Vì cha mẹ được chọn lựa cẩn thận, trong đa số trường hợp thỏa thuận được gia hạn, và họ vẫn là vợ chồng suốt đời; nhưng có những trường hợp thỏa thuận chấm dứt, và cả hai bên tạo lập những liên kết khác. Ở đây cũng vậy, như trong mọi điều khác, bổn phận là yếu tố cai quản duy nhất, và mọi người luôn sẵn sàng nhường sở thích cá nhân của mình cho điều được xem là tốt nhất cho toàn thể cộng đồng. Vì vậy, trong những đời sống này có ít đam mê hơn rất nhiều so với các thế kỷ xưa; và tình cảm mạnh mẽ nhất có lẽ là giữa cha mẹ và con cái.

There are cases in which the unwritten rule as to not marrying a person of the same type is abrogated, as, for example, when it is desired to produce children who can be trained by the Devas as priests for a particular Temple. In the rare case where a man is killed by some accident, he is at once impounded in the astral body and arrangements are made for his re-birth. Large numbers of people desire to be born as children of the members of the Council; those, however, have only the usual number of children, lest the quality should be deteriorated. Birth in the family of the Manu Himself is the greatest of all honours; but of course He selects His children Himself. There is no difference of status between the sexes, and they take up indifferently any work that is to be done. On this matter it may be interesting to record the opinion of a mind of that period which was examined for that special purpose. This man does not seem to think much of the difference between man and woman. He says that there must be both, in order that the Race may be founded, but that we know there is a better time coming for the women. He feels that in bearing children the women are taking a harder share of the work, and are therefore to be pitied and protected. The Council, however, is composed entirely of men, and, under the direction of the Manu, its members are making experiments in the creation of mind-born bodies. They have produced some respectable copies of humanity, but have not yet succeeded in satisfying the Manu.

Có những trường hợp trong đó quy luật bất thành văn về việc không kết hôn với người cùng loại được bãi bỏ, chẳng hạn khi người ta muốn tạo ra những đứa trẻ có thể được các thiên thần huấn luyện làm tư tế cho một Đền Thờ đặc biệt. Trong trường hợp hiếm hoi một người bị chết do tai nạn nào đó, y lập tức bị giữ lại trong thể cảm dục và các sắp đặt được thực hiện cho sự tái sinh của y. Rất nhiều người muốn được sinh ra làm con của các thành viên Hội Đồng; tuy nhiên, những người ấy chỉ có số con thông thường, e rằng phẩm tính bị suy giảm. Sinh ra trong gia đình của chính Đức Manu là vinh dự lớn nhất trong tất cả; nhưng dĩ nhiên chính Ngài tự chọn con cái của Ngài. Không có khác biệt về địa vị giữa các giới, và họ đảm nhận một cách bình đẳng bất cứ công việc nào cần làm. Về vấn đề này, có thể thú vị khi ghi lại ý kiến của một thể trí thuộc thời kỳ ấy, đã được khảo sát cho mục đích đặc biệt đó. Người này dường như không nghĩ nhiều về sự khác biệt giữa nam và nữ. Y nói rằng phải có cả hai để Nhân loại có thể được thiết lập, nhưng chúng ta biết rằng một thời kỳ tốt đẹp hơn đang đến cho phụ nữ. Y cảm thấy rằng khi sinh con, phụ nữ đang nhận phần công việc khó khăn hơn, và do đó đáng được thương xót và bảo vệ. Tuy nhiên, Hội Đồng hoàn toàn gồm nam giới, và dưới sự hướng dẫn của Đức Manu, các thành viên của Hội Đồng đang thực nghiệm việc tạo ra các thể sinh bởi trí. Họ đã tạo ra một số bản sao khá đáng kể của nhân loại, nhưng vẫn chưa thành công trong việc làm Đức Manu hài lòng.

CHAPTER XXVI — CHƯƠNG XXVI

BUILDINGS AND CUSTOMS — CÁC CÔNG TRÌNH VÀ PHONG TỤC

RACIAL CHARACTERISTICS — ĐẶC TÍNH CHỦNG TỘC

IN appearance the community is still like the sixth sub-race from which it sprang—that is to say, it is a white Race, although there are among it people with darker hair and eyes and a Spanish or Italian complexion. The stature of the Race has distinctly increased, for none of the men are under six feet, and even the women are but little short of this. The people are all muscular and well-proportioned, and much attention is paid to exercise and the equal development of the muscles. It is noteworthy that they preserve a free and graceful carriage even to extreme old age.

Về vẻ ngoài, cộng đồng vẫn giống như giống dân phụ thứ sáu mà từ đó nó phát sinh — nghĩa là, đó là một Nhân loại da trắng, mặc dù trong đó có những người có tóc và mắt sẫm màu hơn, cùng nước da Tây Ban Nha hay Ý. Tầm vóc của Nhân loại ấy đã tăng lên rõ rệt, vì không người nam nào thấp hơn sáu bộ, và ngay cả phụ nữ cũng chỉ thấp hơn đôi chút. Tất cả mọi người đều cơ bắp và cân đối, và người ta rất chú ý đến việc luyện tập cũng như sự phát triển đồng đều của các cơ. Điều đáng chú ý là họ giữ được dáng điệu tự do và duyên dáng ngay cả đến tuổi rất già.

PUBLIC BUILDINGS — CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG

It was mentioned in the beginning that when the community was founded a vast block of central buildings was erected, and that the houses of the first settlers were grouped round that, though always with ample space between them for beautiful gardens. By this time many subordinate towns have sprung up in the district—though perhaps the word town may mislead a twentieth century reader, since there is nothing in the least resembling the sort of town to which he is accustomed. The settlements may rather be called groups of villas thinly scattered amidst lovely parks and gardens; but at least all such settlements have their Temples, so that every inhabitant is always within easy reach of a Temple of the variety which he happens to prefer. The inhabited part of the estate is not of great size, some forty or fifty miles in diameter, so that even the great central buildings are, after all, quite easily available for anyone who wishes to visit them. Each Temple has usually in its neighbourhood a block of other public buildings—a sort of public hall, an extensive library, and also a set of school buildings.

Ở phần đầu đã có nói rằng khi cộng đồng được thành lập, một khối công trình trung tâm đồ sộ được dựng lên, và nhà của những người định cư đầu tiên được nhóm quanh đó, dù luôn có khoảng không gian rộng rãi giữa chúng dành cho những khu vườn đẹp. Đến thời điểm này, nhiều thị trấn phụ đã mọc lên trong khu vực — dù có lẽ từ thị trấn có thể khiến độc giả thế kỷ hai mươi hiểu lầm, vì không có gì dù là chút ít giống loại thị trấn mà y quen thuộc. Đúng hơn, các khu định cư có thể được gọi là những nhóm biệt thự thưa thớt rải giữa các công viên và vườn tược đáng yêu; nhưng ít nhất mọi khu định cư như vậy đều có các Đền Thờ của mình, để mỗi cư dân luôn ở trong tầm dễ dàng đến một Đền Thờ thuộc loại mà y tình cờ ưa thích. Phần có cư dân của điền địa không lớn lắm, đường kính khoảng bốn mươi hay năm mươi dặm, vì thế ngay cả các công trình trung tâm lớn rốt cuộc cũng khá dễ tiếp cận đối với bất cứ ai muốn đến thăm. Mỗi Đền Thờ thường có gần đó một khối các công trình công cộng khác — một loại hội trường công cộng, một thư viện rộng lớn, và cả một nhóm các tòa nhà trường học.

HOUSES — NHÀ CỬA

The houses built for the community before its foundation were all on the same general plan and, though a good deal of individual taste has been shown in those erected since, the broad principle is still the same. The two great features of their architecture which much differentiate it from almost all that preceded it, are the absence of walls and of corners. Houses, temples, schools, factories, all of them are nothing but roofs supported upon pillars—pillars in most cases as lofty as those of the Egyptian Temples, though far lighter and more graceful. There is, however, provision for closing the spaces between the pillars when necessary—something distantly resembling the patent automatic rolling shop-blinds of earlier centuries, but they can be made transparent at will. These devices, however, are rarely employed, and the whole of the life of the people, night and day, is in reality spent in the open air.

Những ngôi nhà được xây cho cộng đồng trước khi nó được thành lập đều theo cùng một kiểu mẫu chung, và mặc dù khá nhiều thị hiếu cá nhân đã được thể hiện trong những ngôi nhà được dựng lên sau đó, nguyên tắc rộng vẫn như cũ. Hai đặc điểm lớn trong kiến trúc của họ, vốn phân biệt nó nhiều với hầu như mọi thứ đi trước, là sự vắng mặt của tường và góc. Nhà cửa, đền thờ, trường học, nhà máy, tất cả chỉ là những mái được đỡ trên các cột — những cột trong hầu hết các trường hợp cao như cột của các Đền Thờ Ai Cập, dù nhẹ hơn và duyên dáng hơn nhiều. Tuy nhiên, có phương tiện để đóng các khoảng trống giữa các cột khi cần — một thứ hơi giống xa xa với các màn cuốn tự động có bằng sáng chế của những cửa hàng trong các thế kỷ trước, nhưng chúng có thể được làm trong suốt theo ý muốn. Tuy vậy, các thiết bị này hiếm khi được dùng, và toàn bộ đời sống của dân chúng, ngày cũng như đêm, thực sự diễn ra ngoài trời.

Domes of many shapes and sizes are prominent features. Some of them are of the shape of that of S. Peter’s, though smaller; some are low and broad, like those of San Giovanni degli Eremiti, in Palermo; some with the lotus-bud shape of those of a Muhammadan mosque. These domes are full of windows, or are often themselves built of some transparent substance of various colours. Every Temple has a great central dome, and every house has one at least. The general scheme of the house is to have a sort of great circular or oval hall under the dome, which is the general living room. Fully three-fourths of its circumference is quite open, but behind the fourth part are often built rooms and offices of various kinds, which usually rise to only half the height of the columns, having above them other small rooms which are used as bed rooms. All those rooms, though separated from one another by partitions, have no outside walls, so that in them also people are still practically in the open air. There are no corners anywhere, every room being circular or oval. There is always some part of the roof upon which it is possible to walk. Every house is full of flowers and statues, and another striking feature is the abundance of water everywhere; there are fountains, artificial cascades, miniature lakes and pools in all directions.

Các mái vòm đủ hình dạng và kích cỡ là những đặc điểm nổi bật. Một số có hình dạng như mái vòm của Thánh Phêrô, dù nhỏ hơn; một số thấp và rộng, như các mái vòm của San Giovanni degli Eremiti ở Palermo; một số có hình nụ sen như các mái vòm của một thánh đường Hồi giáo. Những mái vòm này đầy cửa sổ, hoặc thường chính chúng được xây bằng một chất liệu trong suốt có nhiều màu. Mỗi Đền Thờ có một mái vòm trung tâm lớn, và mỗi ngôi nhà có ít nhất một mái vòm. Sơ đồ chung của ngôi nhà là có một loại đại sảnh tròn hay bầu dục lớn dưới mái vòm, đó là phòng sinh hoạt chung. Trọn ba phần tư chu vi của nó hoàn toàn mở, nhưng phía sau phần tư còn lại thường xây các phòng và văn phòng đủ loại, thường chỉ cao bằng nửa chiều cao của các cột, phía trên chúng có các phòng nhỏ khác dùng làm phòng ngủ. Tất cả các phòng ấy, dù được ngăn cách với nhau bằng vách ngăn, không có tường ngoài, vì thế trong đó người ta cũng vẫn thực tế ở ngoài trời. Không có góc nào ở bất cứ đâu, mọi phòng đều tròn hay bầu dục. Luôn có một phần nào đó của mái mà người ta có thể đi lại trên đó. Mỗi ngôi nhà đều đầy hoa và tượng, và một đặc điểm nổi bật khác là sự phong phú của nước ở khắp nơi; có các vòi phun, thác nhân tạo, hồ nhỏ và ao ở mọi hướng.

The houses are always lighted from the roof. No lamps or lanterns are seen, but the dome is made to glow out in a mass of light, the colour of which can be changed at will, and in the smaller rooms a section of the ceiling is arranged to glow in the same way. All the parks and streets are thoroughly lighted at night with a soft and moonlike but penetrating light—a far nearer approach to daylight than anything previously secured.

Nhà cửa luôn được chiếu sáng từ mái. Không thấy đèn hay lồng đèn nào, nhưng mái vòm được làm cho phát sáng thành một khối ánh sáng, màu sắc của nó có thể thay đổi theo ý muốn, và trong các phòng nhỏ hơn, một phần trần được bố trí để phát sáng theo cùng cách. Tất cả các công viên và đường phố đều được chiếu sáng kỹ vào ban đêm bằng một ánh sáng dịu và giống ánh trăng nhưng xuyên thấu — gần với ánh sáng ban ngày hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì từng đạt được trước đó.

FURNISHING — ĐỒ ĐẠC

Furniture is principally conspicuous by its absence. There are scarcely any chairs in the houses, and there are no seats of any sort in the Temples or public halls. The people recline upon cushions somewhat in the oriental style, or rather perhaps like the ancient Romans, for they do not sit cross-legged. The cushions, however, are curious; they are always either air-cushions or entirely vegetable products stuffed with some especially soft fibrous material, not altogether unlike coconut fibre. These things are washable, and indeed are constantly being washed. When going to the Temple, to the library or to any public meeting each person usually carries his own air-cushion with him, but in the houses large numbers are seen lying about which may be used by anybody. There are small low tables—or perhaps they are rather to be described as book-rests, which can be so arranged as to be flat like a table. All the floors are of marble, or of stone polished like marble—often a rich crimson hue. Beds, filled either with air or water, or made of the same vegetable material as that used for the cushions, are laid upon the floor, or sometimes suspended like hammocks, but no bedsteads are used. In the few cases where there are comparatively permanent walls, as for example between the bed rooms and offices and the great hall, they are always beautifully painted with landscapes and historic scenes. Curiously, all these things are interchangeable, and there is a department which is always prepared to arrange exchanges—a kind of circulating library for decorations, through the medium of which any person can change the wall-panels or statues which decorate his house, whenever he wishes to do so.

Đồ đạc nổi bật chủ yếu bởi sự vắng mặt của nó. Hầu như không có ghế trong nhà, và không có chỗ ngồi thuộc bất cứ loại nào trong các Đền Thờ hay hội trường công cộng. Người ta ngả mình trên các đệm theo kiểu hơi phương Đông, hoặc có lẽ đúng hơn giống người La Mã cổ, vì họ không ngồi xếp bằng. Tuy nhiên, các đệm ấy thật kỳ lạ; chúng luôn là đệm khí hoặc hoàn toàn là sản phẩm thực vật được nhồi bằng một chất liệu sợi đặc biệt mềm, không hoàn toàn khác xơ dừa. Những thứ này có thể giặt được, và thật vậy thường xuyên được giặt. Khi đi đến Đền Thờ, thư viện hay bất cứ cuộc họp công cộng nào, mỗi người thường mang theo đệm khí riêng của mình, nhưng trong nhà có rất nhiều đệm nằm rải rác mà bất cứ ai cũng có thể dùng. Có những bàn nhỏ thấp — hoặc có lẽ đúng hơn nên mô tả chúng như giá đỡ sách, có thể được sắp đặt để phẳng như một cái bàn. Tất cả sàn đều bằng cẩm thạch, hoặc bằng đá đánh bóng như cẩm thạch — thường có sắc đỏ thẫm phong phú. Giường, được chứa đầy không khí hoặc nước, hoặc làm bằng cùng chất liệu thực vật như dùng cho đệm, được đặt trên sàn, hoặc đôi khi treo như võng, nhưng không dùng khung giường. Trong vài trường hợp có các bức tường tương đối cố định, chẳng hạn giữa các phòng ngủ và văn phòng với đại sảnh, chúng luôn được vẽ đẹp đẽ bằng phong cảnh và các cảnh lịch sử. Kỳ lạ thay, tất cả những thứ này đều có thể hoán đổi, và có một bộ phận luôn sẵn sàng sắp xếp các cuộc trao đổi — một loại thư viện luân chuyển dành cho trang trí, qua đó bất cứ người nào cũng có thể thay các tấm tường hay tượng trang trí nhà mình bất cứ khi nào y muốn.

DRESS — TRANG PHỤC

The dress of the people is simple and graceful, but at the same time strictly utilitarian. Most of it is not unlike that of India, though we sometimes see an approach to the ancient Greek dress. There is no uniformity about it, and people wear all sorts of different things. But there is nothing inharmonious; all is in perfect taste. Colours both brilliant and delicate are worn by both men and women alike, for there seems to be no distinction between the clothing of the sexes. Not a single article is made of wool; it is never worn. The substance employed is exclusively linen or cotton, but it is steeped in some chemical which preserves its fibres so that the garments last for a long time, even though all are washed daily. The chemical process imparts a glossy satin-like surface, but does not interfere in the least with the softness or flexibility of the material. No shoes or sandals or any other foot-coverings are worn by the members of the community, and scarcely any people wear hats, though there are a few something like the panama, and one or two small linen caps were seen. The idea of distinctive clothes for certain offices has disappeared; no uniforms of any sort are worn, except that the officiating Deva always materialises round himself robes of the colour of his Temple while conducting a service; and the children, as before described, dress themselves in certain colours when they are about to take part in the religious festivals.

Trang phục của dân chúng đơn giản và duyên dáng, nhưng đồng thời hoàn toàn thực dụng. Phần lớn không khác lắm trang phục Ấn Độ, dù đôi khi chúng ta thấy có nét gần với trang phục Hy Lạp cổ. Không có sự đồng nhất trong đó, và người ta mặc đủ loại khác nhau. Nhưng không có gì bất hòa; tất cả đều hoàn toàn có thẩm mỹ. Cả nam lẫn nữ đều mặc những màu sắc vừa rực rỡ vừa tinh tế, vì dường như không có sự phân biệt giữa y phục của các giới. Không một món nào làm bằng len; len không bao giờ được mặc. Chất liệu được dùng hoàn toàn là lanh hoặc bông, nhưng nó được ngâm trong một hóa chất nào đó để bảo tồn các sợi của nó, khiến y phục bền trong thời gian dài, dù tất cả đều được giặt hằng ngày. Tiến trình hóa học đem lại một bề mặt bóng như xa tanh, nhưng không hề cản trở chút nào đến độ mềm hay tính linh hoạt của chất liệu. Các thành viên của cộng đồng không mang giày, dép hay bất cứ vật che chân nào khác, và hầu như không ai đội mũ, dù có vài thứ hơi giống mũ panama, và người ta thấy một hai chiếc mũ nhỏ bằng vải lanh. Ý tưởng về y phục phân biệt cho một số chức vụ đã biến mất; không mặc đồng phục thuộc bất cứ loại nào, ngoại trừ vị thiên thần hành lễ luôn hiện hình quanh mình các áo choàng có màu của Đền Thờ của Ngài khi đang cử hành một buổi lễ; và trẻ em, như đã mô tả trước đây, tự mặc những màu sắc nhất định khi chúng sắp tham dự các lễ hội tôn giáo.

FOOD — THỨC ĂN

The community is entirely vegetarian, because it is one of the standing rules that nothing must be killed. Even the outer world is by this time largely vegetarian, because it has begun to be recognised that the eating of flesh is coarse, vulgar, and above all unfashionable! Comparatively few people take the trouble of preparing their own meals, or eat in their own houses, though they are perfectly free to do so if they wish. Most go to what may be called restaurants although, as they are practically entirely in the open air, they may be supposed rather to resemble tea-gardens. Fruit enters largely into the diet of the period. We have a bewildering variety of fruits, and centuries of care have been devoted to scientific crossing of fruits, so as to produce the most perfect forms of nourishment and to give them at the same time remarkable flavours.

Cộng đồng hoàn toàn ăn chay, vì một trong các quy luật thường trực là không được giết bất cứ gì. Đến thời này, ngay cả thế giới bên ngoài phần lớn cũng ăn chay, vì người ta đã bắt đầu nhận ra rằng việc ăn thịt là thô lỗ, tầm thường, và trên hết là không hợp thời! Tương đối ít người chịu khó tự chuẩn bị bữa ăn cho mình, hoặc ăn trong nhà riêng, dù họ hoàn toàn tự do làm vậy nếu muốn. Phần lớn đến những nơi có thể gọi là nhà hàng, mặc dù, vì chúng thực tế hoàn toàn ở ngoài trời, có lẽ nên xem chúng giống các vườn trà hơn. Trái cây chiếm phần lớn trong chế độ ăn của thời kỳ ấy. Chúng ta có một sự đa dạng gây choáng ngợp về trái cây, và nhiều thế kỷ chăm sóc đã được dành cho việc lai tạo trái cây một cách khoa học, nhằm tạo ra những hình thức dinh dưỡng hoàn hảo nhất và đồng thời đem lại cho chúng những hương vị đáng chú ý.

If we look in at a fruit-farm we see that the section devoted to each kind of fruit is always divided into smaller sections, and each section is labelled as having a particular flavour. We may have, for example, grapes or apples, let us say, with a strawberry flavour, a clove flavour, a vanilla flavour, and so on—mixtures which would seem curious from the point of view of those who are not accustomed to them. This is a country where there is almost no rain, so that all cultivation is managed by means of irrigation, and as they irrigate these different sections they throw into the water what is called `plant-food’ and by variations in this they succeed in imparting different flavours. By varying the food, growth can be intensified or retarded, and the size of the fruits can also be regulated. The estate of the community runs up into the hills, so they have the opportunity at different levels of cultivating almost all possible kinds of fruit.

Nếu chúng ta ghé nhìn một nông trại trái cây, chúng ta thấy rằng khu vực dành cho mỗi loại trái cây luôn được chia thành các khu nhỏ hơn, và mỗi khu được ghi nhãn là có một hương vị đặc biệt. Chẳng hạn, chúng ta có thể có nho hoặc táo, giả sử vậy, với hương dâu, hương đinh hương, hương vani, vân vân — những hỗn hợp có vẻ kỳ lạ từ quan điểm của những người chưa quen với chúng. Đây là một xứ gần như không có mưa, vì thế mọi canh tác được quản lý bằng tưới tiêu, và khi họ tưới các khu khác nhau này, họ đưa vào nước thứ được gọi là “thức ăn thực vật”, và bằng cách biến đổi thứ này họ thành công trong việc truyền các hương vị khác nhau. Bằng cách thay đổi thức ăn, sự tăng trưởng có thể được tăng cường hoặc làm chậm lại, và kích cỡ của trái cây cũng có thể được điều chỉnh. Điền địa của cộng đồng vươn lên các đồi, vì thế ở các độ cao khác nhau họ có cơ hội trồng hầu như mọi loại trái cây có thể có.

The food which is most eaten is a sort of substance somewhat resembling blanc-mange. It is to be had in all kinds of colourings, and the colouring indicates the flavour, just as it used to do in ancient Peru. There is a large selection. Perhaps the choice of different flavours in the food may to some extent take the place of many habits which have now disappeared, such as smoking, wine-drinking, or the eating of sweets. There is also a substance which looks like cheese, but is sweet. It is certainly not cheese, for no animal products are used, and no animals are kept in the colony except as pets. Milk is used, but it is exclusively the vegetable milk obtained from what is sometimes called the cow-tree, or an exact imitation made from some kind of bean. Knives and forks do not appear, but spoons are still used, and most people bring their own with them. The attendant has a sort of weapon like a hatchet with which he opens fruits and nuts. It is made of an alloy which has all the qualities of gold but has a hard edge, which apparently does not need resharpening. It is possibly made of one of the rarer metals, such as iridium. In these restaurant gardens also there are no chairs, but each person half-reclines in a marble depression in the ground, and there is a marble slab which can be turned round in front of him so that he can put his food upon it, and when he has finished he turns this up and water flows over it.

Thức ăn được ăn nhiều nhất là một loại chất hơi giống bánh blanc-mange. Nó có đủ mọi loại màu, và màu sắc cho biết hương vị, giống như từng như vậy ở Peru cổ. Có một sự lựa chọn rất lớn. Có lẽ việc chọn các hương vị khác nhau trong thức ăn ở một mức độ nào đó thay thế nhiều thói quen nay đã biến mất, như hút thuốc, uống rượu, hay ăn đồ ngọt. Cũng có một chất trông giống phô mai, nhưng có vị ngọt. Chắc chắn đó không phải là phô mai, vì không dùng sản phẩm động vật nào, và trong thuộc địa không giữ động vật nào ngoại trừ làm thú nuôi. Sữa được dùng, nhưng hoàn toàn là sữa thực vật lấy từ thứ đôi khi được gọi là cây bò sữa, hoặc một mô phỏng chính xác làm từ một loại đậu nào đó. Dao và nĩa không xuất hiện, nhưng thìa vẫn được dùng, và phần lớn người ta mang theo thìa riêng. Người phục vụ có một loại dụng cụ giống rìu nhỏ để mở trái cây và các loại hạt. Nó được làm bằng một hợp kim có mọi phẩm tính của vàng nhưng có lưỡi cứng, rõ ràng không cần mài lại. Có thể nó được làm từ một trong các kim loại hiếm hơn, như iridi. Trong các vườn nhà hàng này cũng không có ghế, nhưng mỗi người nửa ngả mình trong một chỗ lõm bằng cẩm thạch trên mặt đất, và có một phiến cẩm thạch có thể xoay ra trước mặt y để y đặt thức ăn lên đó, và khi y ăn xong, y xoay nó lên và nước chảy qua nó.

On the whole people eat distinctly less than in the twentieth century. The usual custom is to have one regular meal in the middle of the day, and to take a light refection of fruit in the morning and evening. Everybody is at breakfast just after sunrise, for people are always up then or a little before. The light evening meal is at about five o’ clock, for most people go to bed fairly early. So far as has been seen, no one sits down to a heavy meal in the evening; but there is complete individual freedom with regard to all these matters, so that people follow their own taste. The drinking of tea or coffee has not been observed; indeed there seems to be but little drinking of any sort, possibly because so much fruit is eaten.

Nhìn chung, người ta ăn ít hơn rõ rệt so với thế kỷ hai mươi. Tập quán thông thường là có một bữa chính đều đặn vào giữa ngày, và dùng một bữa nhẹ bằng trái cây vào buổi sáng và buổi tối. Mọi người ăn sáng ngay sau khi mặt trời mọc, vì lúc ấy người ta luôn đã thức dậy hoặc thức dậy trước đó một chút. Bữa nhẹ buổi tối vào khoảng năm giờ, vì phần lớn người ta đi ngủ khá sớm. Theo những gì đã thấy, không ai ngồi xuống ăn một bữa nặng vào buổi tối; nhưng có tự do cá nhân hoàn toàn liên quan đến mọi vấn đề này, vì thế người ta theo khẩu vị riêng của mình. Việc uống trà hay cà phê không được quan sát thấy; thật vậy dường như có rất ít việc uống thuộc bất cứ loại nào, có thể vì người ta ăn quá nhiều trái cây.

Plenty of water is available everywhere, even though there is almost no rain. They have enormous works for the distillation of sea-water, which is raised to a great height and then sent out on a most liberal scale. It is worthy of note, however, that the water specially sent out for drinking is not the pure result of the distillation, but they add to it a small proportion of certain chemicals—the theory being that pure distilled water is not the most healthy for drinking purposes. The manager of the distillation-works explains that they use natural spring water as far as it will go, but they cannot get nearly enough of it, and so it has to be supplemented by the distilled water; but then it is necessary to add the chemicals to this in order to make it fresh and sparkling and really thirst-quenching.

Nước có sẵn dồi dào ở khắp nơi, dù hầu như không có mưa. Họ có những công trình khổng lồ để chưng cất nước biển, được nâng lên một độ cao lớn rồi phân phối ra trên một quy mô rất rộng rãi. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là nước được gửi riêng để uống không phải là kết quả tinh khiết của sự chưng cất, mà họ thêm vào đó một tỷ lệ nhỏ của một số hóa chất — lý thuyết là nước chưng cất tinh khiết không phải là thứ lành mạnh nhất cho mục đích uống. Người quản lý các công trình chưng cất giải thích rằng họ dùng nước suối tự nhiên đến mức có thể, nhưng họ không thể có gần đủ lượng nước ấy, nên nó phải được bổ sung bằng nước chưng cất; nhưng khi ấy cần thêm các hóa chất vào nước này để làm cho nó tươi, có bọt lăn tăn và thật sự làm dịu cơn khát.

LIBRARIES — THƯ VIỆN

The literary arrangements are curious but perfect. Every house is provided, gratis and as part of its permanent fittings, with a sort of encyclopaedia of the most comprehensive nature, containing an epitome of practically all that is known, put as tersely as possible and yet with great wealth of detail, so as to contain all the information that an ordinary man is ever likely to want on any subject. If, however, for some reason he needs to know more, he has only to go to the nearest district library, of which there is one connected with each Temple. There he finds a far fuller encyclopaedia, in which the article on any given subject contains a careful epitome of every book that has ever been written upon it—a most colossal work. If he wants to know still more, or if he wants to consult original books printed in the old languages or the ancient Roman type now disused, he has to go to the central library of the community, which is on a scale commensurate with that of the British Museum. Translations into the English of the day printed in this shorthand-like script are always appended to these originals.

Các sắp đặt văn học thật kỳ lạ nhưng hoàn hảo. Mỗi ngôi nhà được cung cấp miễn phí và như một phần của trang bị cố định thường xuyên, một loại bách khoa thư có tính bao quát nhất, chứa một bản tóm lược gần như tất cả những gì được biết đến, được trình bày ngắn gọn nhất có thể nhưng vẫn hết sức giàu chi tiết, để chứa mọi thông tin mà một người bình thường có thể cần về bất cứ chủ đề nào. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó y cần biết thêm, y chỉ cần đến thư viện khu vực gần nhất, mà mỗi Đền Thờ đều có một thư viện liên kết. Ở đó y tìm thấy một bách khoa thư đầy đủ hơn nhiều, trong đó bài viết về bất cứ chủ đề nào cũng chứa một bản tóm lược cẩn thận của mọi cuốn sách từng được viết về chủ đề ấy — một công trình đồ sộ nhất. Nếu y muốn biết thêm nữa, hoặc nếu y muốn tham khảo các sách nguyên bản được in bằng các ngôn ngữ xưa hoặc kiểu chữ La Mã cổ nay không còn dùng, y phải đến thư viện trung tâm của cộng đồng, có quy mô tương xứng với Bảo tàng Anh. Các bản dịch sang tiếng Anh của thời ấy, được in bằng lối chữ giống tốc ký này, luôn được đính kèm với các nguyên bản ấy.

Thus it is possible for a man to study to the fullest any subject in which he is interested, for all instruments of research and books are provided free in this way. New books are being written all the time on all conceivable subjects. The fiction of the day is almost entirely based upon reincarnation, the characters always passing from life to life and exemplifying the working of karma; but a novelist in these days writes not with a view to fame or money, but always to the good of the community. Some people are writing short articles, and these are always on view at their own district Temple hall. Anyone may go and read them there, and anyone who is interested has only to go and ask for a copy and it is given to him. If a man is writing a book it is exhibited in this way, chapter by chapter; the whole life is in this way communal; the people share with their neighbours what they are doing while they are doing it.

Như vậy, một người có thể nghiên cứu đến mức đầy đủ nhất bất cứ chủ đề nào mà y quan tâm, vì mọi dụng cụ nghiên cứu và sách vở đều được cung cấp miễn phí theo cách này. Sách mới luôn được viết về mọi chủ đề có thể tưởng tượng được. Tiểu thuyết của thời ấy hầu như hoàn toàn dựa trên luân hồi, các nhân vật luôn chuyển từ đời này sang đời khác và minh họa hoạt động của nghiệp quả; nhưng một tiểu thuyết gia trong thời này viết không nhằm danh tiếng hay tiền bạc, mà luôn vì điều tốt đẹp của cộng đồng. Một số người viết các bài ngắn, và những bài này luôn được trưng bày tại hội trường Đền Thờ khu vực của chính họ. Bất cứ ai cũng có thể đến đó đọc, và bất cứ ai quan tâm chỉ cần đến xin một bản sao thì sẽ được trao cho. Nếu một người đang viết một cuốn sách, nó được trưng bày theo cách này, từng chương một; toàn bộ đời sống theo cách ấy là cộng đồng; người ta chia sẻ với láng giềng của mình điều họ đang làm ngay trong khi họ đang làm nó.

NEWSPAPERS — BÁO CHÍ

The daily newspaper has disappeared—or perhaps we may rather say that it survives in a much amended form. To make it comprehensible it must be premised that in each house there is a machine which is a kind of combination of a telephone and recording tape-machine. This is in connection with a central office in the capital city, and is so arranged that not only can one speak through it as through a telephone, but that anything written or drawn upon a specially prepared plate and put into the box of the large machine at the central office will reproduce itself automatically upon slips which fall into the box of the machine in each of the houses. What takes the place of the morning newspaper is managed in this way. It may be said that each person has his newspaper printed in his own house. When any news of importance arrives at any time it is instantly forwarded in this way to every house in the community; but a special collection of such news is sent early each morning and is commonly called the Community Breakfast Chat. It is a comparatively small affair and has a certain resemblance to a table of contents and an index, for it gives the briefest epitome of the news, but attaches a number to each item, the different departments being printed upon different colours. If any person wants full information as to any of the items, he has only to ring up the central office and ask for details of number so-and-so, and all that is available is at once sent along his wire and dropped before him. But the newspaper differs greatly from those of older times. There is hardly any political news, for even the outer world has changed in many ways. There is a great deal of information upon scientific subjects, and as to new theories. There are still notes of the private doings of royal people, but they are quite brief. There is a department for community news, but even that is chiefly concerned with scientific papers, inventions and discoveries, although it also records marriages and births.

Tờ báo hằng ngày đã biến mất — hoặc có lẽ đúng hơn chúng ta có thể nói rằng nó vẫn tồn tại dưới một hình thức đã được cải thiện rất nhiều. Để làm cho điều này dễ hiểu, cần nói trước rằng trong mỗi ngôi nhà có một chiếc máy là một loại kết hợp giữa điện thoại và máy ghi băng. Nó liên kết với một văn phòng trung tâm trong thủ đô, và được sắp xếp sao cho không chỉ người ta có thể nói qua nó như qua điện thoại, mà bất cứ thứ gì được viết hay vẽ trên một tấm bản được chuẩn bị đặc biệt và đặt vào hộp của chiếc máy lớn tại văn phòng trung tâm sẽ tự động tái hiện trên các mảnh giấy rơi vào hộp của chiếc máy trong mỗi ngôi nhà. Thứ thay thế tờ báo buổi sáng được quản lý theo cách này. Có thể nói rằng mỗi người có tờ báo của mình được in ngay trong nhà mình. Khi bất cứ tin tức quan trọng nào đến vào bất cứ lúc nào, nó lập tức được chuyển theo cách này đến mọi nhà trong cộng đồng; nhưng một tuyển tập đặc biệt các tin tức như vậy được gửi đi vào sáng sớm mỗi ngày và thường được gọi là Cuộc Trò Chuyện Bữa Sáng của Cộng Đồng. Đó là một việc tương đối nhỏ và có phần giống với mục lục và bảng chỉ dẫn, vì nó đưa ra bản tóm lược ngắn nhất của tin tức, nhưng gắn một con số cho mỗi mục, các ban khác nhau được in trên các màu khác nhau. Nếu bất cứ người nào muốn thông tin đầy đủ về một mục nào đó, y chỉ cần gọi văn phòng trung tâm và hỏi chi tiết của số này hay số kia, và tất cả những gì có sẵn lập tức được gửi dọc theo đường dây của y và rơi xuống trước mặt y. Nhưng tờ báo khác rất nhiều với những tờ báo của thời xưa. Hầu như không có tin chính trị, vì ngay cả thế giới bên ngoài cũng đã thay đổi theo nhiều cách. Có rất nhiều thông tin về các chủ đề khoa học và về các lý thuyết mới. Vẫn còn những ghi chú về các việc riêng của những người thuộc hoàng gia, nhưng chúng rất ngắn. Có một ban dành cho tin tức cộng đồng, nhưng ngay cả ban ấy cũng chủ yếu liên quan đến các bài khoa học, phát minh và khám phá, mặc dù nó cũng ghi nhận các cuộc hôn nhân và sinh nở.

The same instrument is also used for adding to the household encyclopaedias whenever it is necessary. Extra slips are sent out daily whenever there is anything to say, so that just as the newspaper is being delivered in slices all day, so now and then come little slips to be added to the various departments of the encyclopaedia.

Cùng một dụng cụ ấy cũng được dùng để bổ sung cho các bách khoa thư trong gia đình bất cứ khi nào cần. Các mảnh giấy bổ sung được gửi ra hằng ngày bất cứ khi nào có điều gì cần nói, vì thế cũng như tờ báo được chuyển đến từng phần suốt cả ngày, thì thỉnh thoảng lại có những mảnh giấy nhỏ để thêm vào các ban khác nhau của bách khoa thư.

PUBLIC MEETINGS — CÁC CUỘC HỌP CÔNG CỘNG

In connection with each Temple there is a definite scheme of educational buildings, so that broadly speaking the school-work of each district is done under the aegis of its Temple. The great central Temple has in connection with it the huge open-air places of assembly, where, when necessary, almost the entire community can be gathered together. More usually, when the Manu desires to promulgate some edict or information to all His people He Himself speaks in the great central Temple, and what He says is simultaneously produced by a sort of altogether improved phonographic system in all the other Temples. It would seem that each of the district Temples has a sort of representative phonograph in the central Temple, which records at the other end of the line all that takes place there, so that all particulars are in this way immediately reproduced.

Liên quan đến mỗi Đền Thờ có một hệ thống nhất định các tòa nhà giáo dục, vì thế nói chung công việc trường học của mỗi khu vực được thực hiện dưới sự bảo trợ của Đền Thờ của khu ấy. Đền Thờ trung tâm lớn có liên kết với nó những nơi hội họp khổng lồ ngoài trời, nơi khi cần thiết hầu như toàn thể cộng đồng có thể được tập hợp lại. Thường hơn, khi Đức Manu muốn ban bố một sắc lệnh hay thông tin nào đó cho toàn dân của Ngài, chính Ngài nói trong Đền Thờ trung tâm lớn, và những gì Ngài nói được một loại hệ thống ghi âm đã cải tiến hoàn toàn tạo ra đồng thời trong tất cả các Đền Thờ khác. Dường như mỗi Đền Thờ khu vực có một loại máy ghi âm đại diện trong Đền Thờ trung tâm, ghi lại ở đầu kia của đường dây mọi điều diễn ra tại đó, để mọi chi tiết theo cách này được tái hiện ngay lập tức.

SCIENCE DEPARTMENTS — CÁC BAN KHOA HỌC

Mention has already been made of the great central library in connection with the central Temple. In addition to that, as another part of the same great mass of buildings, there is a complete and well-appointed museum, and also what may be called a university. Many branches of study are taken up here, but they are pursued by methods different from those of old. The study of animals and plants, for example, is entirely and only done by means of clairvoyance, and never by destruction of any kind, only those being professors and students of these arts who have developed sufficient sight to work in this manner. There is a department of what we may call physical geography, which has already mapped out the entire earth in a vast number of large-scale models, which show by coloured signs and inscriptions not only the nature of the surface soil, but also what is to he found in the way of minerals and fossils down to a considerable depth.

Trước đây đã có nhắc đến thư viện trung tâm lớn liên kết với Đền Thờ trung tâm. Ngoài ra, như một phần khác của cùng khối công trình lớn ấy, có một bảo tàng hoàn chỉnh và được trang bị tốt, và cũng có thứ có thể gọi là một trường đại học. Nhiều ngành học được tiến hành ở đây, nhưng chúng được theo đuổi bằng các phương pháp khác với xưa. Chẳng hạn, việc nghiên cứu động vật và thực vật hoàn toàn và chỉ được thực hiện bằng thông nhãn, và không bao giờ bằng bất cứ hình thức hủy diệt nào; chỉ những người đã phát triển đủ khả năng thấy để làm việc theo cách này mới là giáo sư và đạo sinh của các nghệ thuật ấy. Có một ban mà chúng ta có thể gọi là địa lý hồng trần, đã lập bản đồ toàn bộ Trái Đất trong một số lượng rất lớn các mô hình tỷ lệ lớn, cho thấy bằng các dấu hiệu màu và chữ ghi không chỉ bản chất của lớp đất bề mặt, mà còn những gì có thể tìm thấy về khoáng vật và hóa thạch xuống đến một độ sâu đáng kể.

There is also an elaborate ethnographical department in which there are life-size statues of all races of men which have ever existed on the earth, and also models of those existing on other planets of this chain. There is even a department with reference to the other chains of the solar system. For each of the statues there is an exhaustive description with diagrams showing in what way his higher vehicles differ. The whole is tabulated and arranged from the point of view of the Manu, to show what the development of mankind has been in the various Races and sub-races. A good deal is also shown of the future, and models with detailed explanations are given for them also. In addition to this there is also the anatomical department, dealing with the whole detailed anatomy of the human and animal bodies in the past, the present and the future. There is not exactly any medical department, for illness no longer exists; it has been eliminated. There is still, however, surgery for cases of accident, though even that has been much improved. Few professors of that art are needed, for naturally accidents are rare. There is nothing corresponding to the great hospitals of former times, but only a few light and airy rooms, in which the victims of accidents can be temporarily laid if necessary.

Cũng có một ban dân tộc học công phu, trong đó có các tượng kích thước thật của tất cả các nhân loại từng tồn tại trên Trái Đất, và cả các mô hình của những nhân loại tồn tại trên các hành tinh khác của Dãy này. Thậm chí còn có một ban liên quan đến các Dãy khác của hệ mặt trời. Đối với mỗi pho tượng có một mô tả đầy đủ với các sơ đồ cho thấy các vận cụ cao của y khác nhau như thế nào. Toàn bộ được lập bảng và sắp xếp từ quan điểm của Đức Manu, để cho thấy sự phát triển của nhân loại đã diễn ra như thế nào trong các Nhân loại và giống dân phụ khác nhau. Một phần đáng kể của tương lai cũng được trình bày, và các mô hình cùng những giải thích chi tiết cũng được đưa ra cho chúng. Ngoài ra còn có ban giải phẫu, đề cập đến toàn bộ giải phẫu chi tiết của các thể người và động vật trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Không hẳn có một ban y học nào, vì bệnh tật không còn tồn tại; nó đã bị loại trừ. Tuy nhiên, vẫn còn phẫu thuật cho các trường hợp tai nạn, dù ngay cả điều đó cũng đã được cải thiện nhiều. Cần rất ít giáo sư của nghệ thuật ấy, vì tự nhiên tai nạn hiếm khi xảy ra. Không có gì tương ứng với các bệnh viện lớn của thời trước, mà chỉ có vài phòng sáng sủa và thoáng khí, nơi các nạn nhân tai nạn có thể được đặt tạm thời nếu cần.

Connected with the centre of learning is also an elaborate museum of all sorts of arts and crafts which have existed in the world from the beginning onwards. There are also models of all kinds of machinery, most of which is new to us, since it has been invented between the twentieth century and the twenty-eighth. There is also much Atlantean machinery which had long been forgotten, so that there is a complete arrangement for any kind of study along these lines.

Liên kết với trung tâm học thuật cũng có một bảo tàng công phu về đủ loại nghệ thuật và thủ công từng tồn tại trên thế giới từ ban đầu trở đi. Cũng có các mô hình của đủ loại máy móc, phần lớn là mới đối với chúng ta, vì chúng đã được phát minh trong khoảng giữa thế kỷ hai mươi và thế kỷ hai mươi tám. Cũng có nhiều máy móc Atlantis từ lâu đã bị quên lãng, vì thế có một sự sắp đặt hoàn chỉnh cho bất cứ loại nghiên cứu nào theo các tuyến này.

History is still being written, and it has been in process of production for more than a hundred years; but it is being written from a reading of the records. It is illustrated by a method which is quite new to us—a method which precipitates a scene from the records when it is considered important. We have in addition a series of models illustrating the history of the world at all periods. In the central library there are certain small rooms somewhat like telephone-cabinets, into which students can take the record of any prominent event in history, and by putting it into a machine and setting that in motion they can have the whole scene reproduced audibly and visibly, with the exact presentment of the appearance of the actors, and their words in the very tones in which they were spoken.

Lịch sử vẫn đang được viết, và nó đã ở trong tiến trình tạo ra hơn một trăm năm; nhưng nó đang được viết từ việc đọc các hồ sơ. Nó được minh họa bằng một phương pháp hoàn toàn mới đối với chúng ta — một phương pháp ngưng tụ một cảnh từ các hồ sơ khi cảnh ấy được xem là quan trọng. Ngoài ra, chúng ta có một loạt mô hình minh họa lịch sử thế giới ở mọi thời kỳ. Trong thư viện trung tâm có một số phòng nhỏ hơi giống buồng điện thoại, nơi các đạo sinh có thể mang hồ sơ của bất cứ biến cố nổi bật nào trong lịch sử vào, và bằng cách đặt nó vào một chiếc máy rồi cho máy ấy hoạt động, họ có thể có toàn cảnh được tái hiện bằng âm thanh và hình ảnh, với sự trình bày chính xác vẻ ngoài của các nhân vật, và lời nói của họ đúng bằng những âm sắc mà chúng đã được nói ra.

There is also an astronomical department, with most interesting machinery indicating the exact position at any moment of everything visible in the sky. There is a great mass of information about all these worlds. There are two departments, one for direct observation by various means and another for the tabulation of information acquired by testimony. Much of this information has been given by Devas connected with various planets and stars; but this is always kept entirely apart from the results of direct observation. Chemistry has been carried to a wonderful height and depth. All possible combinations are now fully understood, and the science has an extension in connection with elemental essence, which leads on to the whole question of nature-spirits and Devas as a definite department of science, studied with illustrative models. There is also a department of talismans, so that any sensitive person can by psychometry go behind the mere models, and see the things in themselves.

Cũng có một ban thiên văn, với những máy móc rất thú vị cho biết vị trí chính xác vào bất cứ khoảnh khắc nào của mọi thứ nhìn thấy được trên bầu trời. Có một khối lượng thông tin lớn về tất cả các thế giới này. Có hai ban, một ban dành cho quan sát trực tiếp bằng nhiều phương tiện khác nhau và một ban khác dành cho việc lập bảng thông tin thu được qua lời chứng. Phần lớn thông tin này do các thiên thần liên kết với các hành tinh và ngôi sao khác nhau cung cấp; nhưng điều này luôn được giữ hoàn toàn tách biệt với các kết quả của quan sát trực tiếp. Hóa học đã được đưa lên một chiều cao và chiều sâu kỳ diệu. Mọi kết hợp có thể có nay đều được thấu hiểu đầy đủ, và khoa học này có một phần mở rộng liên quan đến Tinh chất hành khí, dẫn đến toàn bộ vấn đề tinh linh tự nhiên và các thiên thần như một ban khoa học xác định, được nghiên cứu với các mô hình minh họa. Cũng có một ban bùa hộ mệnh, để bất cứ người nhạy cảm nào cũng có thể nhờ Thuật trắc tâm đi ra sau các mô hình đơn thuần, và thấy chính các sự vật.

ARTS — NGHỆ THUẬT

It does not seem that lecturing holds at all a prominent place. Sometimes a man who is studying a subject may talk to a few friends about it, but beyond that, if he has anything to say he submits it to the officials and it gets into the daily news. If anybody writes poetry or an essay he communicates it to his own family, and perhaps puts it up in the district hall. People still paint, but only as a kind of recreation. No one now devotes the whole of his time to that. Art, however, permeates life to a far greater extent than ever before, for everything, even the simplest object for daily use, is artistically made, and the people put something of themselves into their work and are always trying new experiments.

Dường như việc thuyết giảng hoàn toàn không giữ một vị trí nổi bật. Đôi khi một người đang nghiên cứu một chủ đề có thể nói chuyện với vài người bạn về nó, nhưng ngoài điều đó, nếu y có điều gì muốn nói, y nộp nó cho các viên chức và nó đi vào tin tức hằng ngày. Nếu ai đó viết thơ hay một tiểu luận, y truyền đạt nó cho gia đình riêng của mình, và có lẽ đưa nó lên hội trường khu vực. Người ta vẫn vẽ tranh, nhưng chỉ như một loại giải trí. Nay không ai dành toàn bộ thời gian của mình cho việc ấy. Tuy nhiên, nghệ thuật thấm nhuần đời sống ở mức độ lớn hơn nhiều so với trước kia, vì mọi thứ, ngay cả vật dụng đơn giản nhất cho đời sống hằng ngày, đều được làm một cách nghệ thuật, và người ta đặt một phần chính mình vào công việc của họ và luôn thử những thí nghiệm mới.

There is nothing corresponding to a theatre, and on bringing the idea to the notice of an inhabitant, a definition of it comes into his mind as a place in which people used to run about and declaim, pretending to be other than they were, and taking the parts of great people. They consider it as archaic and childish. The great choric dances and processions may be considered as theatrical, but to them these appear as religious exercises.

Không có gì tương ứng với nhà hát, và khi đưa ý tưởng ấy đến sự chú ý của một cư dân, trong thể trí của y xuất hiện một định nghĩa về nó như một nơi mà người ta từng chạy qua chạy lại và ngâm diễn, giả vờ là khác với chính họ, và đóng vai các nhân vật lớn. Họ xem điều đó là cổ xưa và trẻ con. Các điệu múa đồng ca và đoàn rước lớn có thể được xem là có tính sân khấu, nhưng đối với họ, những điều này xuất hiện như các thực hành tôn giáo.

Games and athletics are prominent in this new life. There are gymnasiums, and much attention is given to physical development in women as well as in men. A game much like lawn-tennis is one of the principal favourites. The children play about just as of old, and enjoy great freedom.

Trò chơi và thể thao nổi bật trong đời sống mới này. Có các phòng thể dục, và người ta rất chú ý đến sự phát triển thể chất ở phụ nữ cũng như nam giới. Một trò chơi rất giống quần vợt sân cỏ là một trong những trò được ưa thích chính. Trẻ em chơi đùa như xưa và tận hưởng sự tự do lớn.

WILL-POWER — QUYỀN NĂNG Ý CHÍ

The force of will is universally recognised in the community and many things are performed by its direct action. Nature-spirits are well known, and take a prominent part in the daily life of the people, most of whom can see them. Almost all children are able to see them and to use them in various ways, but they often lose some of this power as they grow up. The use of such methods, and also of telepathy, is a kind of game among the children, and the grown-up people recognise their superiority in this respect, so that if they want to convey a message to some friend at a distance they often call the nearest child and ask him to send it rather than attempt to do it themselves. He can send the message telepathically to some child at the other end, who then immediately conveys it to the person for whom it is intended, and this is a quite reliable and usual method of communication. Adults often lose the power at the time of their marriage, but some few of them retain it, though it needs a far greater effort for them than it does for the child.

Mãnh lực của ý chí được công nhận phổ quát trong cộng đồng và nhiều việc được thực hiện bằng tác động trực tiếp của nó. Các tinh linh tự nhiên được biết rõ, và giữ một phần nổi bật trong đời sống hằng ngày của dân chúng, phần lớn trong số họ có thể thấy chúng. Hầu như mọi trẻ em đều có thể thấy chúng và sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau, nhưng chúng thường mất một phần quyền năng này khi lớn lên. Việc dùng các phương pháp như vậy, và cả viễn cảm, là một loại trò chơi giữa trẻ em, và người lớn nhận ra sự vượt trội của chúng về phương diện này; vì thế nếu họ muốn truyền một thông điệp đến một người bạn ở xa, họ thường gọi đứa trẻ gần nhất và nhờ nó gửi đi hơn là tự cố làm. Nó có thể gửi thông điệp bằng viễn cảm đến một đứa trẻ nào đó ở đầu kia, đứa trẻ ấy lập tức chuyển nó đến người mà thông điệp dành cho, và đây là một phương pháp giao tiếp hoàn toàn đáng tin cậy và thông thường. Người lớn thường mất quyền năng này vào lúc kết hôn, nhưng một số ít trong họ giữ được nó, dù điều đó đòi hỏi nơi họ một nỗ lực lớn hơn rất nhiều so với nơi đứa trẻ.

ECONOMIC CONDITIONS — ĐIỀU KIỆN KINH TẾ

Some effort was made to comprehend the economic conditions of the colony, but it was not found easy to understand them. The community is self-supporting, making for itself everything which it needs. The only importations from outside are curiosities such as ancient manuscripts, books and objects of art. These are always paid for by the officials of the community, who have a certain amount of the money of the outside world, which has been brought in by tourists or visitors. Also they have learnt the secret of making gold and jewels of various kinds by alchemical means, and these are often used for payment for the few goods imported from the outside. If a private member wishes for something which can only be bought from the outer world, he gives notice of his desire to the nearest official, and work of some sort is assigned to him in addition to the daily work which he is normally doing, so that by that he may earn the value of whatever he desires.

Một nỗ lực nào đó đã được thực hiện để thấu hiểu các điều kiện kinh tế của thuộc địa, nhưng người ta thấy không dễ gì thấu hiểu chúng. Cộng đồng này tự túc, tự làm ra mọi thứ mình cần. Những thứ duy nhất được nhập từ bên ngoài là các vật lạ quý hiếm như bản thảo cổ, sách và tác phẩm nghệ thuật. Những thứ này luôn do các viên chức của cộng đồng chi trả; họ có một lượng tiền nhất định của thế giới bên ngoài, do khách du lịch hoặc khách viếng thăm mang vào. Ngoài ra, họ cũng đã học được bí quyết chế tạo vàng và các loại đá quý bằng phương tiện thuật luyện kim, và những thứ này thường được dùng để thanh toán cho số ít hàng hóa nhập từ bên ngoài. Nếu một thành viên tư nhân muốn có thứ gì chỉ có thể mua từ thế giới bên ngoài, y báo ý muốn của mình cho viên chức gần nhất, và một loại công việc nào đó được giao thêm cho y ngoài công việc hằng ngày mà y thường làm, để nhờ đó y có thể kiếm được giá trị của bất cứ thứ gì y mong muốn.

Everybody undertakes some work for the good of the community, but it is usually left entirely to each to choose what it is to be. No one kind of work is esteemed nobler than any other kind, and there is no idea of caste of any sort. The child at a certain age chooses what he will do, and it is always open to him to change from one kind of work to another by giving due notice. Education is free, but the free tuition of the central university is given only to those who have already shown themselves specially proficient in the branches which they wish to pursue. Food and clothing are given freely to all—or rather, to each person is distributed periodically a number of tokens in exchange for one of which he can obtain a meal at any of the great restaurant-gardens anywhere all over the colony. Or if he prefers it he can go to certain great stores and there obtain food-materials, which he can take home and prepare as he wishes. The arrangement appears complicated to an outsider, but it works perfectly simply among those who thoroughly understand it.

Mọi người đều đảm nhận một công việc nào đó vì lợi ích của cộng đồng, nhưng thường thì mỗi người hoàn toàn được tự chọn công việc ấy là gì. Không một loại công việc nào được coi là cao quý hơn loại công việc khác, và không có ý niệm về giai cấp dưới bất cứ hình thức nào. Đến một độ tuổi nhất định, đứa trẻ chọn việc mình sẽ làm, và y luôn có thể chuyển từ loại công việc này sang loại công việc khác bằng cách báo trước đúng hạn. Giáo dục miễn phí, nhưng việc giảng dạy miễn phí tại đại học trung tâm chỉ dành cho những người đã tỏ ra đặc biệt thành thạo trong các ngành mà họ muốn theo đuổi. Thực phẩm và y phục được cấp miễn phí cho tất cả—hay đúng hơn, mỗi người định kỳ được phân phát một số thẻ, đổi lấy một thẻ thì y có thể nhận một bữa ăn tại bất kỳ nhà hàng-vườn lớn nào ở bất cứ nơi đâu trong toàn thuộc địa. Hoặc nếu thích, y có thể đến một số cửa hàng lớn và tại đó nhận nguyên liệu thực phẩm, rồi mang về nhà và chuẩn bị theo ý muốn. Sự sắp đặt này có vẻ phức tạp đối với người ngoài, nhưng nó vận hành hoàn toàn đơn giản giữa những người thấu hiểu nó.

All the people are working for the community, and among the work done is the production of food and clothing, which it then proceeds to hand round. Take, for example, the case of a cloth factory. It is the Government’s factory, and it is turning out on an average so much cloth, but the output can be increased or decreased at will. The work is chiefly in the hands of girls; who join the factory voluntarily; indeed, there is a competition to get in, for only a certain number are needed. If things are not wanted they are not made. If cloth is wanted the factory is there to produce it; if not, it simply waits. The superintendent in charge of the cloth-store of the Government calculates that in a certain time he will need so much cloth, that he has in stock so much, and therefore requires for renewal so much, and he asks for it accordingly; if he does not want any, he says he has enough. The factory never closes, though the hours vary considerably.

Tất cả mọi người đều làm việc cho cộng đồng, và trong số công việc được thực hiện có việc sản xuất thực phẩm và y phục, rồi cộng đồng lại phân phối chúng. Hãy lấy ví dụ trường hợp một xưởng dệt. Đó là xưởng của Chính phủ, và trung bình xưởng sản xuất một lượng vải nhất định, nhưng sản lượng có thể tăng hoặc giảm tùy ý. Công việc chủ yếu nằm trong tay các cô gái; họ tự nguyện gia nhập xưởng; thật vậy, còn có sự cạnh tranh để được vào, vì chỉ cần một số lượng nhất định. Nếu không cần đồ vật thì chúng không được làm ra. Nếu cần vải thì xưởng có đó để sản xuất; nếu không, nó chỉ đơn giản chờ đợi. Người giám quản phụ trách kho vải của Chính phủ tính rằng trong một thời gian nhất định ông sẽ cần bấy nhiêu vải, rằng trong kho ông có bấy nhiêu, và do đó cần bấy nhiêu để bổ sung, rồi ông yêu cầu tương ứng; nếu ông không cần gì, ông nói mình đã có đủ. Xưởng không bao giờ đóng cửa, dù giờ làm thay đổi khá nhiều.

In this cloth factory the workers are mostly women, quite young, and they are doing little but superintending certain machines and seeing that they do not go wrong. Each of them is managing a kind of loom into which she has put a number of patterns. Imagine something like a large clock-face with a number of movable studs on it. When a girl starts her machine she arranges these studs according to her own ideas, and as the machine goes on its movements produce a certain design. She can set it to turn out fifty cloths, each of different pattern, and then leave it. Each girl sets her machine differently—that is where their art comes in; every piece is different from every other piece, unless she allows the machine to run through its list over again after it has finished the fifty. In the meantime, after having started the machines the girls need to glance at them occasionally, and the machinery is so perfect that practically nothing ever goes wrong with it. It is arranged to run almost silently, so that while they are waiting one of the girls reads from a book to the rest.

Trong xưởng dệt này, công nhân phần lớn là phụ nữ, còn rất trẻ, và họ hầu như chỉ giám sát một số máy móc nhất định và xem chúng không trục trặc. Mỗi người điều khiển một loại khung cửi mà vào đó cô đã đặt một số kiểu mẫu. Hãy hình dung một thứ giống như mặt đồng hồ lớn có nhiều chốt di động trên đó. Khi một cô gái khởi động máy của mình, cô sắp xếp các chốt này theo ý tưởng riêng, và khi máy vận hành, các chuyển động của nó tạo ra một kiểu thiết kế nhất định. Cô có thể đặt máy để dệt ra năm mươi tấm vải, mỗi tấm có hoa văn khác nhau, rồi rời đi. Mỗi cô gái đặt máy của mình theo cách khác nhau—chính ở đó nghệ thuật của họ xuất hiện; mỗi mảnh đều khác với mọi mảnh khác, trừ khi cô cho phép máy chạy lại danh sách của nó sau khi đã hoàn tất năm mươi tấm. Trong lúc đó, sau khi đã khởi động máy, các cô gái chỉ cần thỉnh thoảng liếc nhìn chúng, và máy móc hoàn hảo đến nỗi trên thực tế hầu như chẳng bao giờ có trục trặc. Chúng được sắp xếp để vận hành gần như im lặng, nên trong khi chờ đợi, một trong các cô gái đọc sách cho những người còn lại nghe.

THE NEW POWER — QUYỀN NĂNG MỚI

One feature which makes an enormous difference is the way in which power is supplied. There are no longer any fires anywhere, and therefore no heat, no grime, no smoke, and hardly any dust. The whole world has evolved by this time beyond the use of steam, or any other form of power which needs heat to generate it. There seems to have been an intermediate period when some method was discovered of transferring electrical power without loss for enormous distances, and at that time all the available water-power of the earth was collected and syndicated; falls in Central Africa and in all sorts of out-of-the-way places were made to contribute their share, and all this was gathered together at great central stations and internationally distributed. Tremendous as was the power available in that way, it has now been altogether transcended, and all that elaborate arrangement has been rendered useless by the discovery of the best method to utilise what the late Mr. Keely called dynaspheric force—the force concealed in every atom of physical matter.

Một đặc điểm tạo nên sự khác biệt to lớn là cách cung cấp quyền năng. Không còn lửa ở bất cứ đâu, và vì vậy không có nhiệt, không có cáu bẩn, không có khói, và hầu như không có bụi. Đến thời điểm này, toàn thế giới đã tiến hoá vượt khỏi việc sử dụng hơi nước, hay bất kỳ hình thức quyền năng nào khác cần nhiệt để sinh ra nó. Dường như đã có một thời kỳ trung gian khi người ta khám phá ra một phương pháp truyền quyền năng điện đi những khoảng cách khổng lồ mà không tổn thất, và vào thời ấy tất cả thủy năng sẵn có của Trái Đất được thu gom và hợp doanh; các thác nước ở Trung Phi và ở đủ mọi nơi hẻo lánh đều được khiến đóng góp phần của mình, và tất cả được gom lại tại các trạm trung tâm lớn rồi phân phối quốc tế. Dù quyền năng có được theo cách ấy là phi thường, nay nó đã hoàn toàn bị vượt qua, và toàn bộ sự sắp đặt công phu ấy đã trở nên vô dụng nhờ việc khám phá ra phương pháp tốt nhất để sử dụng điều mà ông Keely quá cố gọi là mãnh lực dynaspheric—mãnh lực ẩn giấu trong mỗi nguyên tử vật chất hồng trần.

It will be remembered that as long ago as 1907, Sir Oliver Lodge remarked that “the total output of a million-kilowatt station for thirty million years exists permanently and at present inaccessibly in every cubic millimetre of space”. (Philosophical Magazine, April, 1907, p. 493.) At the period which we are now describing, this power is no longer inaccessible, and consequently unlimited power is supplied free to everyone all over the world. It is on tap, like gas or water, in every house and every factory in this community, as well as everywhere else where it is needed, and it can be utilised for all possible purposes to which power can be turned. Every kind of work all over the world is now done in this way. Heating and lighting are simply manifestations of it. For example, whenever heat is required, no one in any civilised country dreams of going through the clumsy and wasteful process of lighting a fire. He simply turns on the force and, by a tiny little instrument which can be carried in the pocket, converts it into heat at exactly the point required. A temperature of many thousands of degrees can be produced instantly wherever needed, even in an area as small as a pin’s head.

Cần nhớ rằng từ xa xưa như năm 1907, Ngài Oliver Lodge đã nhận xét rằng “tổng sản lượng của một nhà máy một triệu kilowatt trong ba mươi triệu năm tồn tại thường trực và hiện nay chưa thể tiếp cận trong mỗi milimét khối không gian”. (Tạp chí Triết học, tháng Tư, 1907, tr. 493.) Vào thời kỳ mà chúng ta đang mô tả, quyền năng này không còn không thể tiếp cận nữa, và do đó quyền năng vô hạn được cung cấp miễn phí cho mọi người trên khắp thế giới. Nó có sẵn như khí đốt hay nước, trong mỗi ngôi nhà và mỗi nhà máy của cộng đồng này, cũng như ở mọi nơi khác cần đến nó, và nó có thể được sử dụng cho mọi mục đích có thể dùng quyền năng. Mọi loại công việc trên khắp thế giới nay đều được thực hiện theo cách này. Sưởi ấm và chiếu sáng chỉ đơn giản là những biểu hiện của nó. Chẳng hạn, bất cứ khi nào cần nhiệt, không ai trong bất kỳ quốc gia văn minh nào còn nghĩ đến việc trải qua tiến trình thô kệch và lãng phí là nhóm lửa. Y chỉ đơn giản mở mãnh lực và, bằng một dụng cụ cực nhỏ có thể mang trong túi, chuyển nó thành nhiệt đúng tại điểm cần thiết. Một nhiệt độ nhiều ngàn độ có thể được tạo ra tức thì ở bất cứ nơi nào cần đến, ngay cả trong một diện tích nhỏ như đầu kim.

By this power all the machines are running in the factory which we inspected, and one result of this is that all the workers emerge at the end of the day without having even soiled their hands. Another consequence is that the factory is no longer the ugly and barren horror to which in earlier ages we were painfully accustomed. It is beautifully decorated—all the pillars are carved and wreathed with intricate ornament, and there are statues standing all about, white and rose and purple—the last being made of porphyry beautifully polished. Like all the rest of the buildings, the factory has no walls, but only pillars. The girls wear flowers in their hair, and indeed flowers plentifully decorate the factory in all directions. It is quite as beautiful architecturally as a private house.

Nhờ quyền năng này, tất cả máy móc trong xưởng mà chúng tôi khảo sát đều vận hành, và một kết quả của điều này là tất cả công nhân ra về vào cuối ngày mà thậm chí tay cũng không bị bẩn. Một hệ quả khác là nhà máy không còn là nỗi kinh hoàng xấu xí và cằn cỗi mà ở các thời đại trước chúng ta đã đau đớn quen thuộc. Nó được trang hoàng đẹp đẽ—tất cả các cột đều được chạm khắc và quấn quanh bằng hoa văn tinh xảo, và tượng đứng khắp nơi, trắng, hồng và tím—loại sau được làm bằng đá porphyr đánh bóng tuyệt đẹp. Giống như tất cả các tòa nhà còn lại, xưởng không có tường, mà chỉ có cột. Các cô gái cài hoa trên tóc, và quả thật hoa trang trí xưởng dồi dào khắp mọi hướng. Về kiến trúc, nó đẹp chẳng kém gì một ngôi nhà riêng.

CONDITIONS OF WORK — ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC

A visitor who calls to look over the factory obligingly asks some questions from the manageress—a young girl with black hair and a gorgeous garland of scarlet flowers in it. The latter replies:

Một khách viếng thăm ghé vào xem xưởng ân cần hỏi vài câu với nữ quản lý—một cô gái trẻ tóc đen, trên tóc có một vòng hoa đỏ thắm rực rỡ. Cô ấy đáp:

“Oh, we are told how much we are to do. The manager of the community cloth-stores considers that he will want so many cloths by such a time. Sometimes few are wanted, sometimes many, but always some, and we work accordingly. I tell my girls to come to-morrow according to this demand—for one hour, or two, or four according to what there is to do. Usually about three hours is a fair average day’s work, but they have worked as long as five hours a day when there was a great festival approaching. Oh, no, not so much because new clothes were required for the festival, but because the girls themselves wanted to be entirely free from work for a week, in order to attend the festival. You see we always know beforehand how much we are expected to turn out in a given week or month, and we calculate that we can do it by working, say, two and a half hours each day. But if the girls want a week’s holiday for a festival, we can compress two weeks’ work into one by working five hours a day for that week, and then we can close altogether during the next one, and yet deliver the appointed amount of cloth at the proper time. Of course, we rarely work as much as five hours; we should more usually spread the work of the holiday-week over some three previous weeks, so that an hour extra each day would provide all that is needed. An individual girl frequently wants such a holiday, and she can always arrange it by asking someone to come and act as a substitute for her, or the other girls will gladly work a few minutes longer so as to make up for the amount which she would have done. They are all good friends and thoroughly happy. When they take a holiday they generally go in to visit the central library or cathedral, to do which comfortably they need a whole day free.”

“Ồ, chúng tôi được cho biết mình phải làm bao nhiêu. Quản lý các kho vải của cộng đồng xét rằng ông sẽ cần bấy nhiêu tấm vải vào thời điểm như thế. Đôi khi cần ít, đôi khi cần nhiều, nhưng luôn cần một ít, và chúng tôi làm việc tương ứng. Tôi bảo các cô gái của tôi đến ngày mai theo nhu cầu này—một giờ, hoặc hai, hoặc bốn, tùy theo việc phải làm. Thường thì khoảng ba giờ là mức trung bình hợp lý cho một ngày làm việc, nhưng họ từng làm đến năm giờ một ngày khi có một đại lễ sắp tới. Ồ, không, không hẳn vì cần quần áo mới cho lễ hội, mà vì chính các cô gái muốn hoàn toàn rảnh việc trong một tuần để tham dự lễ hội. Bạn thấy đó, chúng tôi luôn biết trước mình được trông đợi phải sản xuất bao nhiêu trong một tuần hay một tháng nhất định, và chúng tôi tính rằng mình có thể làm điều đó bằng cách làm việc, giả sử, hai giờ rưỡi mỗi ngày. Nhưng nếu các cô gái muốn nghỉ một tuần để dự lễ hội, chúng tôi có thể nén công việc của hai tuần vào một tuần bằng cách làm năm giờ mỗi ngày trong tuần ấy, rồi sau đó có thể đóng cửa hoàn toàn trong tuần kế tiếp, mà vẫn giao đủ lượng vải đã định vào đúng thời hạn. Dĩ nhiên, chúng tôi hiếm khi làm đến năm giờ; thông thường hơn, chúng tôi sẽ phân bổ công việc của tuần nghỉ lễ ấy qua khoảng ba tuần trước đó, để mỗi ngày thêm một giờ là đủ cung ứng tất cả những gì cần thiết. Một cô gái riêng lẻ thường muốn có một kỳ nghỉ như thế, và cô luôn có thể sắp xếp bằng cách nhờ ai đó đến thay mình, hoặc các cô gái khác sẽ vui lòng làm lâu hơn vài phút để bù vào phần việc mà cô ấy đáng lẽ đã làm. Tất cả họ đều là bạn tốt và hoàn toàn hạnh phúc. Khi nghỉ, họ thường vào thăm thư viện trung tâm hoặc thánh đường, và để làm việc đó thoải mái, họ cần trọn một ngày rảnh.”

A visitor from the outside world wonders that anyone should work at all where there is no compulsion, and asks why people do so, but meets with little sympathy or comprehension from the inhabitants:

Một khách viếng thăm từ thế giới bên ngoài ngạc nhiên rằng ở nơi không có cưỡng bách mà vẫn có người làm việc, và hỏi vì sao người ta làm như vậy, nhưng gặp rất ít sự đồng cảm hoặc thấu hiểu từ cư dân:

“What do you mean?” says one of them, in answer, “we are here to work. If there is work to do, it is done for His sake. If there is no work, it is a calamity that it happens so, but He knows best.”

“Bạn muốn nói gì?” một người trong số họ đáp, “chúng tôi ở đây để làm việc. Nếu có việc phải làm, việc ấy được làm vì Ngài. Nếu không có việc, thì đó là một tai họa khi sự việc xảy ra như thế, nhưng Ngài biết rõ nhất.”

“It is another world!” exclaims the visitor.

“Đây là một thế giới khác!” vị khách kêu lên.

“But what other world is possible?” asks the bewildered colonist; “for what does man exist?”

“Nhưng còn thế giới nào khác có thể có được?” người thuộc địa bối rối hỏi; “con người hiện hữu để làm gì?”

The visitor gives up the point in despair, and asks:

Vị khách tuyệt vọng bỏ qua điểm ấy, rồi hỏi:

“But who tells you to work, and when and where?”

“Nhưng ai bảo các bạn làm việc, và khi nào, ở đâu?”

“Every child reaches a certain stage,” replies the colonist. “He has been carefully watched by teachers and others, to see in what direction his strength moves most easily. Then he chooses accordingly, perfectly freely, but with the advice of others to help him. You say work must begin at this time or at that time, but that is a matter of agreement between the workers, and of arrangement each day.”

“Mỗi đứa trẻ đạt đến một giai đoạn nhất định,” người thuộc địa đáp. “Nó đã được các huấn sư và những người khác quan sát cẩn thận, để xem sức mạnh của nó chuyển động dễ dàng nhất theo hướng nào. Rồi nó chọn tương ứng, hoàn toàn tự do, nhưng với lời khuyên của người khác để giúp nó. Bạn nói công việc phải bắt đầu vào lúc này hay lúc kia, nhưng đó là vấn đề thỏa thuận giữa những người làm việc, và sắp xếp mỗi ngày.”

There is a certain difficulty in following this conversation, for though the language is the same a good many new words have been introduced, and the grammar has been much modified. There is, for example, a common-gender pronoun, which signifies either `he’ or `she’. It is probable that the invention of this has become a necessity because of the fact that people remember and frequently have to speak of incarnations in both sexes.

Có một khó khăn nhất định trong việc theo dõi cuộc trò chuyện này, vì dù ngôn ngữ vẫn là một, khá nhiều từ mới đã được đưa vào, và ngữ pháp đã được sửa đổi nhiều. Chẳng hạn, có một đại từ chung giống, biểu thị hoặc ‘ông ấy’ hoặc ‘bà ấy’. Có lẽ việc phát minh ra nó đã trở thành một nhu cầu do sự kiện người ta nhớ và thường phải nói về các lần lâm phàm trong cả hai giới tính.

At all the various kinds of factories visited the methods of work are of much the same kind. In every place the people work by watching machines doing the work, and occasionally touching adjusting buttons or setting the machine going anew. In all, the same short hours of labour are the rule, except that the arrangements at the restaurant-gardens are somewhat different. In this case the staff cannot altogether absent itself simultaneously, because food has to be ready at all times, so that there are always some workers on duty, and no one can go away for a whole day without previous arrangement. In all places where perpetual attendance is necessary, as it is at a restaurant, and at certain repairing shops, and in some other departments, there is an elaborate scheme of substitution. The staff is always greatly in excess of the requirements, so that only a small proportion of it is on duty at any one time. The cooking or arrangement of food, for example, at each of the restaurants is done by one man or one woman for each meal—one for the big meal in the middle of the day, another for morning breakfast, another for tea, each being on duty something like three hours.

Tại tất cả các loại xưởng khác nhau đã được thăm, phương pháp làm việc gần như cùng một loại. Ở mọi nơi, người ta làm việc bằng cách quan sát máy móc làm việc, và thỉnh thoảng chạm vào các nút điều chỉnh hoặc khởi động lại máy. Ở tất cả, những giờ lao động ngắn như nhau là quy luật, ngoại trừ những sắp đặt tại các nhà hàng-vườn hơi khác. Trong trường hợp này, toàn bộ nhân viên không thể đồng thời vắng mặt, vì thức ăn phải sẵn sàng mọi lúc, nên luôn có một số người làm việc trực, và không ai có thể đi vắng cả ngày nếu không sắp xếp trước. Ở mọi nơi cần sự túc trực liên tục, như tại nhà hàng, tại một số xưởng sửa chữa, và trong vài bộ phận khác, có một hệ thống thay thế công phu. Nhân viên luôn vượt xa nhu cầu, nên chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số đó trực vào bất cứ thời điểm nào. Chẳng hạn, việc nấu nướng hay sắp xếp thức ăn tại mỗi nhà hàng do một người nam hoặc một người nữ thực hiện cho mỗi bữa—một người cho bữa chính lớn vào giữa ngày, một người khác cho bữa sáng, một người khác cho bữa trà, mỗi người trực khoảng ba giờ.

Cooking has been revolutionised. The lady who does this work sits at a kind of office-table with a regular forest of knobs within her reach. Messages reach her by telephone as to the things that are required; she presses certain knobs which squirt the required flavour into the blanc-mange, for example, and then it is shot down a kind of tube and is delivered to the attendant waiting in the garden below. In some cases the application of heat is required, but that also she does without moving from her seat, by another arrangement of knobs. A number of little girls hover about her and wait upon her—little girls from eight to fourteen years old. They are evidently apprentices, learning the business; they are seen to pour things out of little bottles, and also to mix other foods in little bowls. But even among these little girls, if one wants a day or a week off, she asks another little girl to take her place, and the request is always granted; and though of course the substitute is likely to be unskilled, yet the companions are always so eager to help her that no difficulty ever arises. There is always a large amount of interplay and exchange in all these matters; but perhaps the most striking thing is the eager universal good-will which is displayed—everybody anxious to help everybody else, and no one ever thinking that he is being unfairly treated or “put upon”.

Việc nấu nướng đã được cách mạng hóa. Người phụ nữ làm công việc này ngồi tại một loại bàn làm việc với cả một rừng núm vặn trong tầm tay. Các thông điệp đến với bà qua điện thoại về những món cần thiết; bà nhấn một số núm nhất định để phun hương vị cần thiết vào món blanc-mange, chẳng hạn, rồi nó được bắn xuống một loại ống và giao cho người phục vụ đang chờ trong khu vườn bên dưới. Trong vài trường hợp, cần áp dụng nhiệt, nhưng bà cũng làm điều đó mà không rời khỏi chỗ ngồi, bằng một sự sắp xếp núm vặn khác. Một số bé gái lượn quanh bà và phục vụ bà—các bé gái từ tám đến mười bốn tuổi. Rõ ràng các em là người học việc, đang học nghề; người ta thấy các em rót các thứ từ những chai nhỏ, và cũng trộn các thức ăn khác trong những bát nhỏ. Nhưng ngay cả giữa các bé gái này, nếu một em muốn nghỉ một ngày hay một tuần, em nhờ một bé gái khác thay chỗ, và yêu cầu ấy luôn được chấp thuận; và dù dĩ nhiên người thay thế có thể chưa thạo việc, các bạn đồng hành luôn háo hức giúp em đến nỗi chẳng bao giờ nảy sinh khó khăn. Luôn có rất nhiều sự tương tác và trao đổi trong tất cả những vấn đề này; nhưng có lẽ điều nổi bật nhất là thiện chí phổ quát đầy nhiệt tình được biểu lộ—ai cũng mong giúp mọi người khác, và không ai từng nghĩ rằng mình bị đối xử bất công hay “bị lợi dụng”.

It is also pleasant to see, as has been already mentioned, that no class of work is considered as inferior to any other class. But indeed there is no longer any mean or dirty labour left. Mining is no longer undertaken, because all that is needed can be as a rule alchemically produced with much less trouble. The knowledge of the inner side of chemistry is such that almost anything can be made in this way, but some things are difficult and therefore impracticable for ordinary use. There are many alloys which were not known to the older world.

Cũng thật dễ chịu khi thấy, như đã đề cập, rằng không hạng công việc nào bị xem là thấp kém hơn hạng công việc khác. Nhưng quả thật không còn lao động hèn kém hay bẩn thỉu nào tồn tại. Việc khai mỏ không còn được tiến hành, vì theo quy luật, mọi thứ cần thiết đều có thể được sản xuất bằng thuật luyện kim với ít phiền toái hơn nhiều. Tri thức về mặt bên trong của hóa học đến mức hầu như bất cứ thứ gì cũng có thể được tạo ra theo cách này, nhưng một số thứ khó và do đó không thực tế cho việc sử dụng thông thường. Có nhiều hợp kim mà thế giới xưa không biết.

All agricultural work is now done by machinery, and no person any longer needs to dig or to plough by hand. A man does not even dig his own private garden, but uses instead a curious little machine which looks something like a barrel on legs, which digs holes to any required depth, and at any required distance apart, according to the way in which it is set, and shifts itself along a row automatically, needing only to be watched and turned back at the end of the row. There is no manual labour in the old sense of the word, for even the machinery itself is now made by other machinery; and though machinery still needs oiling, even that appears to be done in a clean manner. There is really no low or dirty labour required. There are not even drains, for everything is chemically converted and eventually emerges as an odourless grey powder, something like ashes, which is used as a manure for the garden. Each house has its own converter.

Mọi công việc nông nghiệp nay đều do máy móc thực hiện, và không ai còn cần đào hay cày bằng tay. Một người thậm chí không đào khu vườn riêng của mình, mà thay vào đó dùng một chiếc máy nhỏ kỳ lạ trông hơi giống một cái thùng trên chân, có thể đào lỗ đến bất kỳ độ sâu cần thiết nào, và ở bất kỳ khoảng cách cần thiết nào, tùy theo cách nó được đặt, rồi tự động dịch chuyển dọc theo một hàng, chỉ cần được quan sát và quay lại ở cuối hàng. Không có lao động chân tay theo nghĩa cũ của từ ấy, vì ngay cả chính máy móc nay cũng do máy móc khác chế tạo; và dù máy móc vẫn cần tra dầu, ngay cả việc ấy dường như cũng được thực hiện một cách sạch sẽ. Thật sự không cần lao động thấp kém hay bẩn thỉu nào. Thậm chí không có cống rãnh, vì mọi thứ đều được chuyển đổi bằng hóa học và cuối cùng xuất hiện như một loại bột xám không mùi, hơi giống tro, được dùng làm phân bón cho vườn. Mỗi nhà có bộ chuyển hóa riêng.

There are no servants in this scheme of life, because there is practically nothing for them to do; but there are always plenty of people ready to come and help if necessary. There are times in the life of every lady when she is temporarily incapacitated from managing her household affairs; but in such a case some one always comes in to help—sometimes a friendly neighbour, and at other times a kind of ladies’ help, who comes because she is glad to help, but not for a wage. When any such assistance is required, the person who needs it simply applies through the recognised means of communication, and some one at once volunteers.

Không có người hầu trong sơ đồ đời sống này, vì trên thực tế chẳng có gì cho họ làm; nhưng luôn có nhiều người sẵn sàng đến giúp nếu cần. Có những lúc trong đời mỗi phụ nữ tạm thời không đủ khả năng quản lý việc nhà; nhưng trong trường hợp như thế luôn có ai đó đến giúp—đôi khi là một hàng xóm thân thiện, và lúc khác là một loại phụ tá nữ giới, đến vì bà vui lòng giúp đỡ, chứ không vì tiền công. Khi cần bất kỳ sự trợ giúp nào như thế, người cần chỉ đơn giản yêu cầu qua các phương tiện liên lạc được công nhận, và lập tức có người tình nguyện.

PRIVATE PROPERTY — TÀI SẢN RIÊNG

There is but little idea of private property in anything. The whole colony, for example, belongs to the community. A man lives in a certain house, and the gardens are his so that he can alter or arrange them in any way that he chooses, but he does not keep people out of them in any way, nor does he encroach upon his neighbours. The principle in the community is not to own things, but to enjoy them. When a man dies, since he usually does so voluntarily, he takes care to arrange all his business. If he has a wife living, she holds his house until her death or her remarriage. Since all, except in the rarest cases, live to old age, it is scarcely possible that any children can be left unprotected, but if such a thing does happen there are always many volunteers anxious to adopt them. At the death of both parents, if the children are all married, the house lapses to the community and is handed over to the next young couple in the neighbourhood who happen to marry. It is usual on marriage for the young couple to take a new house, but there are cases in which one of the sons or daughters is asked by the parents to remain with them and take charge of the house for them. In one case an extension is built on to a house for a grandchild who marries, in order that she may still remain in close touch with the old people; but this is exceptional.

Hầu như rất ít ý niệm về tài sản riêng trong bất cứ điều gì. Chẳng hạn, toàn bộ thuộc địa thuộc về cộng đồng. Một người sống trong một ngôi nhà nhất định, và các khu vườn là của y để y có thể thay đổi hoặc sắp xếp chúng theo bất kỳ cách nào y chọn, nhưng y không ngăn người khác vào đó theo bất kỳ cách nào, cũng không lấn sang hàng xóm. Nguyên tắc trong cộng đồng không phải là sở hữu các vật, mà là thưởng thức chúng. Khi một người chết, vì y thường làm điều đó một cách tự nguyện, y lo sắp xếp mọi công việc của mình. Nếu y còn vợ đang sống, bà giữ nhà của y cho đến khi bà chết hoặc tái hôn. Vì tất cả, trừ những trường hợp hiếm hoi nhất, đều sống đến tuổi già, hầu như không thể có việc con cái bị bỏ lại không ai bảo hộ, nhưng nếu điều ấy xảy ra thì luôn có nhiều người tình nguyện nóng lòng nhận nuôi chúng. Khi cả cha lẫn mẹ đều chết, nếu con cái đều đã kết hôn, ngôi nhà trở lại cộng đồng và được trao cho cặp trẻ kế tiếp trong khu vực tình cờ kết hôn. Thông thường khi kết hôn, cặp trẻ nhận một ngôi nhà mới, nhưng có những trường hợp một trong các con trai hoặc con gái được cha mẹ yêu cầu ở lại với họ và thay họ trông coi ngôi nhà. Trong một trường hợp, một phần mở rộng được xây thêm vào ngôi nhà cho một cháu gái kết hôn, để cô vẫn có thể giữ liên hệ gần gũi với những người già; nhưng điều này là ngoại lệ.

There is no restriction to prevent people from gathering portable property, and handing it over before death to the parents selected for the next life. This is always done with the talisman, as has already been said, and not infrequently a few books accompany it, and sometimes perhaps a favourite picture or object of art. A man, as we have mentioned, can earn money if he wishes, and can buy things in the ordinary way, but it is not necessary for him to do so, since food, clothing and lodging are provided free, and there is no particular advantage in the private ownership of other objects.

Không có hạn chế nào ngăn người ta thu gom tài sản có thể mang đi, và trao nó trước khi chết cho những cha mẹ đã chọn cho đời sống kế tiếp. Điều này luôn được làm với linh phù, như đã nói, và không hiếm khi vài quyển sách đi kèm, đôi khi có lẽ cả một bức tranh hay tác phẩm nghệ thuật yêu thích. Như chúng tôi đã đề cập, một người có thể kiếm tiền nếu muốn, và có thể mua đồ theo cách thông thường, nhưng y không cần làm vậy, vì thực phẩm, y phục và nơi ở được cung cấp miễn phí, và việc sở hữu riêng các vật khác không đem lại lợi thế đặc biệt nào.

A PARK-LIKE CITY — MỘT THÀNH PHỐ NHƯ CÔNG VIÊN

Although in this community so large a number of people are gathered together into one central city and other subordinate centres, there is no effect of crowding. Nothing now exists in the least like what used to be meant by the central part of a city in earlier centuries. The heart of the great central city is the cathedral, with its attendant block of museum, university and library buildings. This has perhaps a certain resemblance to the buildings of the Capitol and Congressional Library at Washington, though on a still larger scale. Just as in that case, a great park surrounds it. The whole city and even the whole community exists in a park—a park abundantly interspersed with fountains, statues and flowers. The remarkable abundance of water everywhere is one of the striking features. In every direction one finds splendid fountains, shooting up like those at the Crystal Palace of old. In many cases one recognises with pleasure exact copies of old and familiar beauties; for example, one fountain is exactly imitated from the Fontana di Trevi at Rome. The roads are not at all streets in the old sense of the word, but more like drives through the park, the houses always standing well back from them. It is not permitted to erect them at less than a certain minimum distance one from another.

Mặc dù trong cộng đồng này một số lượng rất lớn người được tụ họp vào một thành phố trung tâm và các trung tâm phụ thuộc khác, không có cảm giác chen chúc. Hiện nay chẳng có gì dù là chút ít giống với điều từng được hiểu là khu trung tâm của một thành phố trong các thế kỷ trước. Trái tim của thành phố trung tâm lớn là thánh đường, cùng khối công trình bảo tàng, đại học và thư viện đi kèm. Điều này có lẽ phần nào giống các tòa nhà của Điện Capitol và Thư viện Quốc hội ở Washington, dù ở quy mô còn lớn hơn. Cũng như trường hợp đó, một công viên lớn bao quanh nó. Toàn bộ thành phố và thậm chí toàn bộ cộng đồng tồn tại trong một công viên—một công viên được điểm xuyết dồi dào bằng đài phun nước, tượng và hoa. Sự phong phú đáng chú ý của nước ở khắp nơi là một trong những đặc điểm nổi bật. Theo mọi hướng, người ta thấy những đài phun nước tráng lệ, phun lên như những đài tại Crystal Palace xưa. Trong nhiều trường hợp, người ta vui mừng nhận ra những bản sao chính xác của các vẻ đẹp cũ và quen thuộc; chẳng hạn, một đài phun nước được mô phỏng chính xác từ Fontana di Trevi ở Rome. Đường sá hoàn toàn không phải là phố theo nghĩa cũ của từ ấy, mà giống những lối xe chạy qua công viên hơn, các ngôi nhà luôn nằm lùi xa khỏi chúng. Không được phép dựng nhà dưới một khoảng cách tối thiểu nhất định với nhau.

There is practically no dust, and there are no street sweepers. The road is all in one piece, not made of blocks, for there are no horses now to slip. The surface is a beautiful polished stone with a face like marble and yet an appearance of grain somewhat like granite. The roads are broad, and they have at their sides slight curb-stones; or rather it would be clearer to say that the road is sunk slightly below the level of the grass at each side, and that the curbstones rise to the level of the grass. The whole is thus a kind of shallow channel of polished marble, which is flooded with water every morning, so that the roads are thus kept clean and spotless without the necessity of the ordinary army of cleaners. The stone is of various colours. Most of the great streets are a lovely pale rose-colour, but some are laid in pale green.

Hầu như không có bụi, và không có người quét đường. Mặt đường là một khối liền, không làm bằng các viên lát, vì nay không có ngựa để trượt. Bề mặt là một loại đá bóng đẹp có mặt giống cẩm thạch nhưng lại có vẻ hạt hơi giống hoa cương. Đường rộng, và hai bên có đá viền thấp; hay đúng hơn, nói rõ hơn là mặt đường hơi chìm xuống dưới mức cỏ ở mỗi bên, và đá viền vươn lên ngang mức cỏ. Như vậy toàn bộ là một loại rãnh nông bằng cẩm thạch bóng, được xả nước mỗi buổi sáng, nhờ đó đường sá được giữ sạch sẽ không tì vết mà không cần đội quân quét dọn thông thường. Đá có nhiều màu khác nhau. Phần lớn các đại lộ có màu hồng nhạt đáng yêu, nhưng một số được lát màu xanh lục nhạt.

Thus there is really nothing but grass and highly polished stone for the people to walk upon, which explains the fact that they are always able to go bare-footed, not only without inconvenience but with the maximum of comfort. Even after a long walk the feet are scarcely soiled, but notwithstanding, at the door of every house or factory, there is a depression in the stone—a sort of shallow trough, through which there is a constant rush of fresh water. The people, before entering the house, step into this and their feet are instantly cooled and cleansed. All the Temples are surrounded by a ring of shallow flowing water, so that each person before entering must step into this. It is as though one of the steps leading up to the Temple were a kind of shallow trough, so that no one carries into the Temple even a speck of dust.

Vì vậy thật ra không có gì ngoài cỏ và đá bóng cao để người ta bước đi, điều này giải thích sự kiện họ luôn có thể đi chân trần, không những không bất tiện mà còn với mức thoải mái tối đa. Ngay cả sau một cuộc đi bộ dài, bàn chân hầu như không bẩn, nhưng dù vậy, ở cửa mỗi nhà hoặc xưởng, có một chỗ lõm trong đá—một loại máng nông, qua đó luôn có dòng nước tươi chảy mạnh. Trước khi vào nhà, người ta bước vào đó và chân họ lập tức được làm mát và rửa sạch. Tất cả các Đền đều được bao quanh bởi một vòng nước nông chảy, nên mỗi người trước khi bước vào đều phải đặt chân vào đó. Nó như thể một trong các bậc dẫn lên Đền là một loại máng nông, để không ai mang vào Đền dù chỉ một hạt bụi.

LOCOMOTION — DI CHUYỂN

All this park-like arrangement and the space between the houses make the capital of our community emphatically a `city of magnificent distances’. This, however, does not cause the slightest practical inconvenience, since every house possesses several light running cars of graceful appearance. They are not in the least like any variety of motor-car—they rather resemble bath-chairs made of light metal filigree work, probably aluminium, with tyres of some exceedingly elastic substance, though apparently not pneumatic. They run with perfect smoothness and can attain a high speed, but are so light that the largest size can be readily pushed with one finger. They are driven by the universal power; a person wishing to start on a journey charges from the power-tap a sort of flat shallow box which fits under the seat. This gives him sufficient to carry him clear across the community without recharging, and if he wishes for more than that, he simply calls at the nearest house, and asks to be allowed to attach his accumulator to its tap for a few moments. These little cars are perpetually used; they are in fact the ordinary means of locomotion, and the beautiful hollow polished roads are almost entirely for them, as pedestrians mostly walk along the little paths among the grass. There is little heavy transport—no huge and clumsy vehicles. Any large amount of goods or material is carried in a number of small vehicles, and even large beams and girders are supported on a number of small trolleys which distribute the weight. Flying machines are observed to be commonly in use in the outer world, but are not fashionable in the community, as the members feel that they ought to be able to get about freely in their astral bodies, and therefore rather despise other means of aerial locomotion. They are taught at school to use astral consciousness, and they have a regular course of lessons in the projection of the astral body.

Toàn bộ sự sắp đặt như công viên này và khoảng không giữa các ngôi nhà khiến thủ đô của cộng đồng chúng ta rõ ràng là một “thành phố của những khoảng cách tráng lệ”. Tuy nhiên, điều này không gây ra chút bất tiện thực tế nào, vì mỗi nhà đều có vài chiếc xe chạy nhẹ có dáng vẻ duyên dáng. Chúng không hề giống bất kỳ loại xe hơi nào—chúng giống hơn những ghế đẩy làm bằng kim loại nhẹ chạm rỗng, có lẽ là nhôm, với lốp bằng một chất cực kỳ đàn hồi nào đó, dù dường như không phải loại bơm hơi. Chúng chạy hoàn toàn êm ái và có thể đạt tốc độ cao, nhưng nhẹ đến nỗi loại lớn nhất có thể dễ dàng được đẩy bằng một ngón tay. Chúng được vận hành bằng quyền năng phổ quát; một người muốn khởi hành sạc từ vòi quyền năng một loại hộp dẹt nông khớp dưới ghế. Điều này cung cấp cho y đủ để đưa y đi xuyên qua cộng đồng mà không cần sạc lại, và nếu y muốn nhiều hơn thế, y chỉ đơn giản ghé vào nhà gần nhất, và xin phép gắn bộ tích điện của mình vào vòi của nhà ấy trong vài khoảnh khắc. Những chiếc xe nhỏ này được dùng liên tục; thật ra chúng là phương tiện di chuyển thông thường, và các con đường lõm bóng đẹp hầu như hoàn toàn dành cho chúng, vì người đi bộ phần lớn đi dọc các lối nhỏ giữa cỏ. Có ít vận chuyển nặng—không có những xe cộ khổng lồ và cồng kềnh. Bất kỳ lượng lớn hàng hóa hay vật liệu nào cũng được chở trong nhiều xe nhỏ, và ngay cả các dầm và xà lớn cũng được đỡ trên nhiều xe đẩy nhỏ phân phối trọng lượng. Người ta quan sát thấy máy bay thường được dùng trong thế giới bên ngoài, nhưng chúng không thịnh hành trong cộng đồng, vì các thành viên cảm thấy rằng họ phải có khả năng đi lại tự do trong thể cảm dục của mình, và do đó khá xem thường các phương tiện di chuyển trên không khác. Họ được dạy ở trường cách sử dụng tâm thức cảm dục, và có một khóa học đều đặn về sự phóng chiếu thể cảm dục.

SANITATION AND IRRIGATION — VỆ SINH VÀ TƯỚI TIÊU

There is no trouble with regard to sanitation. The method of chemical conversion, mentioned some time ago, includes deodorisation, and the gases thrown off from it are not in any way injurious. They seem to be principally carbon and nitrogen, with some chlorine, but no carbon dioxide. The gases are passed through water, which contains some solution, as it has a sharp acid feeling. All the gases are perfectly harmless, and so is the grey powder, of which only a little is present. All bad smells of every kind are against the law now, even in the outer world. There is not what we should call a special business-quarter in the town, though certain factories are built comparatively near one another, for convenience in interchanging various products. There is, however, so little difference between a factory and a private house that it is difficult to know them apart, and as the factory makes no noise or smell it is not in any way an objectionable neighbour.

Không có rắc rối gì liên quan đến vệ sinh. Phương pháp chuyển đổi hóa học, đã đề cập trước đây, bao gồm cả khử mùi, và các khí thải ra từ đó không gây hại dưới bất cứ cách nào. Dường như chúng chủ yếu là carbon và nitrogen, với một ít chlorine, nhưng không có carbon dioxide. Các khí được dẫn qua nước, trong đó có một dung dịch nào đó, vì nó có cảm giác acid sắc. Tất cả các khí đều hoàn toàn vô hại, và bột xám cũng vậy, mà chỉ hiện diện một ít. Mọi mùi hôi thuộc mọi loại nay đều trái luật, ngay cả trong thế giới bên ngoài. Trong thành phố không có cái mà chúng ta gọi là khu thương mại đặc biệt, dù một số xưởng được xây tương đối gần nhau, để tiện trao đổi các sản phẩm khác nhau. Tuy nhiên, có quá ít khác biệt giữa một xưởng và một ngôi nhà riêng đến nỗi khó phân biệt chúng, và vì xưởng không gây tiếng ồn hay mùi, nó không phải là láng giềng khó chịu theo bất kỳ cách nào.

One great advantage which these people have is their climate. There is no real winter, and in the season corresponding to it the whole land is still covered with flowers just as at other times. They irrigate even where they do not cultivate; the system has been extended in a number of cases into fields and woods and the country in general, even where there is no direct cultivation. They have specialised the eschscholtzia, which was so common in California even centuries ago, and have developed many varieties of it, scarlet as well as brilliant orange, and they have sown them all about and allowed them to run wild. They have evidently in the beginning imported seeds of all sorts extensively from all parts of the world. People sometimes grow in their gardens plants which require additional heat in winter, but this is not obtained by putting them in a green-house, but by surrounding them with little jets of the power in its heat form. They have not yet needed to build anywhere near the boundary line of the community, nor are there any towns or villages for some distance on the other side of that boundary. The whole estate was a kind of huge farm before they bought it, and it is surrounded principally by smaller farms. The laws of the outside world do not trouble or affect the community, and the Government of the continent does not in any way interfere with it, as it receives a nominal yearly tribute from it. The people of the community are well informed as regards the outside world; even schoolchildren know the names and location of all the principal towns in the world.

Một lợi thế lớn mà những người này có là khí hậu của họ. Không có mùa đông thật sự, và vào mùa tương ứng với nó, toàn bộ vùng đất vẫn phủ đầy hoa như các thời điểm khác. Họ tưới tiêu ngay cả nơi họ không canh tác; hệ thống đã được mở rộng trong nhiều trường hợp vào đồng ruộng, rừng cây và miền quê nói chung, ngay cả nơi không có canh tác trực tiếp. Họ đã chuyên biệt hóa loài eschscholtzia, vốn rất phổ biến ở California ngay cả nhiều thế kỷ trước, và đã phát triển nhiều giống của nó, đỏ thắm cũng như cam rực rỡ, rồi gieo chúng khắp nơi và để chúng mọc hoang. Rõ ràng ngay từ đầu họ đã nhập hạt giống đủ loại rất rộng rãi từ mọi phần của thế giới. Đôi khi người ta trồng trong vườn những cây cần thêm nhiệt vào mùa đông, nhưng điều này không được thực hiện bằng cách đặt chúng trong nhà kính, mà bằng cách bao quanh chúng bằng những tia nhỏ của quyền năng dưới hình thức nhiệt. Họ vẫn chưa cần xây dựng ở bất cứ đâu gần đường biên của cộng đồng, cũng không có thị trấn hay làng mạc nào trong một khoảng cách nào đó ở phía bên kia ranh giới ấy. Toàn bộ khu đất từng là một loại trang trại khổng lồ trước khi họ mua nó, và nó chủ yếu được bao quanh bởi các trang trại nhỏ hơn. Luật của thế giới bên ngoài không làm phiền hay ảnh hưởng đến cộng đồng, và Chính phủ của lục địa không can thiệp vào nó theo bất cứ cách nào, vì nhận từ nó một khoản cống nạp danh nghĩa hằng năm. Người dân của cộng đồng rất am hiểu về thế giới bên ngoài; ngay cả học sinh cũng biết tên và vị trí của tất cả các thành phố chính trên thế giới.

Leave a Comment

Scroll to Top