Con Người: Từ đâu đến và Đi về đâu – Chương 6-11

📘 Sách: Con người: Từ đâu đến, Bằng Cách Nào, Và Đi Về Đâu – Tác giả: C.W. Leadbeater

CHAPTER VI — CHƯƠNG VI

EARLY TIMES ON THE EARTH CHAIN — NHỮNG THỜI KỲ ĐẦU TRÊN DÃY ĐỊA CẦU

MEANWHILE the Earth Chain had been slowly forming, and the Lords of the Moon had been looking on at the building as we saw30; the time had come for shipping off to the new Chain the first of those who were to evolve in it during the coming ages. The Seed-Manu determined the contents of each ship-load and the order of its going, and the Root-Manu distributed them as they arrived successively on globe A of the terrene Chain.

TRONG KHI ẤY, Dãy Địa Cầu đã chậm rãi hình thành, và các Chúa Tể Mặt Trăng đã quan sát việc xây dựng như chúng ta đã thấy30; thời điểm đã đến để gửi đến Dãy mới những người đầu tiên sẽ tiến hóa trong đó suốt các thời đại sắp tới. Đức Chủng Tử-Manu quyết định thành phần của mỗi chuyến thuyền và thứ tự ra đi của nó, còn Đức Căn Chủng-Manu phân phối họ khi họ lần lượt đến bầu A của Dãy Địa Cầu.

The Occult Government of the Chain may here be briefly sketched, though only in broad outline, so that the student may realise something of the greatness of the evolutionary Plan which he is to survey.

Chính quyền Huyền bí của Dãy có thể được phác họa ngắn gọn ở đây, dù chỉ trong những nét lớn, để đạo sinh có thể nhận ra phần nào sự vĩ đại của Thiên Cơ tiến hóa mà y sắp khảo sát.

At the head is the Seed-Manu of the preceding Chain, Chakshushas, something of whose vast work we have seen in the lunar Chain. He is aided by Officials who report to Him how the members of any special division have responded to the influences He has thrown upon them during their stay in the Inter-Chain Nirvana. Just as the least advanced in’age’ are sent out to perform the task of inhabiting the most primitive forms, and the more advanced follow when the forms have evolved to a higher state, so, out of any special division brought over from the Moon and stored in the Inter-Chain Nirvana, those who have progressed least under His influence during the time of retirement are sent out first of their class into the new world.

Đứng đầu là Đức Chủng Tử-Manu của Dãy trước, Chakshushas, Đấng mà chúng ta đã thấy phần nào công việc bao la của Ngài trong Dãy Mặt Trăng. Ngài được trợ giúp bởi các Quan chức, những vị báo cáo với Ngài về cách các thành viên của bất cứ phân bộ đặc biệt nào đã đáp ứng với những ảnh hưởng mà Ngài đã phóng lên họ trong thời gian họ lưu lại Niết Bàn Liên-Dãy. Cũng như những người kém tiến bộ nhất về “tuổi” được gửi ra để thực hiện nhiệm vụ cư ngụ trong các hình tướng nguyên thủy nhất, và những người tiến bộ hơn theo sau khi các hình tướng đã tiến hóa đến một trạng thái cao hơn, thì trong bất cứ phân bộ đặc biệt nào được đưa từ Mặt Trăng sang và lưu giữ trong Niết Bàn Liên-Dãy, những người tiến bộ ít nhất dưới ảnh hưởng của Ngài trong thời gian ẩn cư được gửi ra trước tiên trong lớp của họ vào thế giới mới.

The Root-Manu of the terrene Chain, Vaivasvata, 31 who directs the whole order of its evolution, is a mighty Being from the fourth Chain of the Venus Scheme; two of His Assistants come from the same Chain, and a third is a high Adept who attained early in the lunar Chain.32 A Root-Manu of a Chain must achieve the level fixed for the Chain or Chains on which He is human, and become one of its Lords; then He becomes the Manu of a Race; then a Pratyeka Buddha; then a Lord of the World; then the Root-Manu, then the Seed-Manu of a Round, and only then the Root-Manu of a Chain. He directs the Manus of Rounds, who distribute the work among the Manus of Races. Further, each Chain yields a number of successful human beings, `the Lords of the Chain,’some of whom devote Themselves to the work of the new Chain, under its Root-Manu.

Đức Căn Chủng-Manu của Dãy Địa Cầu, Vaivasvata, 31 Đấng chỉ đạo toàn bộ trật tự tiến hóa của nó, là một Hữu Thể hùng mạnh từ Dãy thứ tư của hệ hành tinh Sao Kim; hai vị Phụ tá của Ngài đến từ cùng Dãy ấy, và vị thứ ba là một Chân sư cao cấp đã thành tựu sớm trong Dãy Mặt Trăng.32 Một Đức Căn Chủng-Manu của một Dãy phải đạt mức đã định cho Dãy hay các Dãy mà trên đó Ngài là người, và trở thành một trong các Chúa Tể của nó; rồi Ngài trở thành Manu của một nhân loại; rồi một Pratyeka Buddha; rồi một Đức Chúa Tể Thế Giới; rồi Đức Căn Chủng-Manu, rồi Đức Chủng Tử-Manu của một cuộc tuần hoàn, và chỉ sau đó mới là Đức Căn Chủng-Manu của một Dãy. Ngài chỉ đạo các Manu của các cuộc tuần hoàn, những vị phân phối công việc giữa các Manu của các nhân loại. Hơn nữa, mỗi Dãy sản sinh một số con người thành tựu, “các Chúa Tể của Dãy”, một số trong Các Ngài hiến mình cho công việc của Dãy mới, dưới quyền Đức Căn Chủng-Manu của nó.

We thus find, for our Chain, seven classes of Lords of the Moon, working under our Root-Manu, drawn from the seven globes of the Moon Chain; they form one of the two great classes of Helpers from outside, who are concerned in the guiding of the general evolution of the Earth Chain. The second important class of Helpers from outside are Those known as the Lords of the Flame, who arrive from Venus on the fourth globe, in the fourth Round, in the middle of the third Root Race, to quicken mental evolution, to found the Occult Hierarchy of the Earth, and to take over the government of the globe. It is They whose tremendous influence so quickened the germs of mental life that these burst into growth, and there followed the great down-rush through the Monad that we call the third Life-Wave, causing the formation of the causal body, the `birth’ or `descent of the ego’ for all those who had come up from the animal kingdom; so instantaneous was the response of the myriad inhabitants of Earth that They are sometimes said to have `given,’ to have `projected’ the spark of mind; but the spark was fanned into flame, not projected; the nature of the gift was the quickening of the germ already present in nascent humanity, the effect of a sun-ray on a seed, not a giving of a seed.33 By the Lords of the Flame was concentrated the power of the LOGOS upon the Monads, as the sun-rays might be concentrated by a lens, and under that influence the responsive spark appeared. These are the true Manasaputras, the Sons of Mind—coming, as They did from the fifth, the mental Round of Venus—the Sons of the Fire, the Lords of the Flame. 34

Như vậy, đối với Dãy của chúng ta, chúng ta thấy bảy lớp Chúa Tể Mặt Trăng, làm việc dưới quyền Đức Căn Chủng-Manu của chúng ta, được rút ra từ bảy bầu của Dãy Mặt Trăng; các Ngài tạo thành một trong hai lớp lớn những Đấng Trợ Giúp từ bên ngoài, liên quan đến việc hướng dẫn sự tiến hóa tổng quát của Dãy Địa Cầu. Lớp quan trọng thứ hai gồm các Đấng Trợ Giúp từ bên ngoài là Những Đấng được biết là các Chúa Tể Lửa, đến từ Sao Kim trên bầu thứ tư, trong cuộc tuần hoàn thứ tư, vào giữa giống dân gốc thứ ba, để thúc nhanh sự tiến hóa trí tuệ, thành lập Thánh đoàn Huyền bí của Trái Đất, và tiếp quản sự cai quản bầu hành tinh. Chính ảnh hưởng mãnh liệt của Các Ngài đã thúc nhanh các mầm sự sống trí tuệ đến nỗi chúng bừng nở, và sau đó là dòng tuôn xuống lớn lao xuyên qua chân thần mà chúng ta gọi là Làn Sóng Sự Sống thứ ba, gây nên sự hình thành thể nguyên nhân, “sự sinh ra” hay “sự giáng xuống của chân ngã” cho tất cả những ai đã đi lên từ giới động vật; sự đáp ứng của vô số cư dân Trái Đất nhanh chóng đến mức đôi khi người ta nói Các Ngài đã “ban”, đã “phóng chiếu” tia lửa trí tuệ; nhưng tia lửa ấy được quạt thành ngọn lửa, chứ không phải được phóng chiếu; bản chất của ân huệ là sự thúc nhanh mầm đã hiện diện trong nhân loại sơ sinh, là tác động của một tia nắng lên hạt giống, không phải là việc ban một hạt giống.33 Các Chúa Tể Lửa tập trung quyền năng của THƯỢNG ĐẾ lên các chân thần, như các tia nắng có thể được tập trung bởi một thấu kính, và dưới ảnh hưởng ấy tia lửa đáp ứng xuất hiện. Các Ngài là những Manasaputra đích thực, các Con của Trí Tuệ — vì Các Ngài đến từ cuộc tuần hoàn thứ năm, cuộc tuần hoàn trí tuệ của Sao Kim — các Con của Lửa, các Chúa Tể Lửa. 34

The seven classes of the Lords of the Moon were distributed by the Root-Manu over the Earth Chain, to take charge of the Rounds and globes, while the Manus of Races took special care of the evolution of Races, each of one Root Race.

Bảy lớp Chúa Tể Mặt Trăng được Đức Căn Chủng-Manu phân phối trên Dãy Địa Cầu, để đảm trách các cuộc tuần hoàn và các bầu, trong khi các Manu của các nhân loại chăm sóc đặc biệt sự tiến hóa của các Nhân loại, mỗi vị của một giống dân gốc.

THE FIRST ROUND — CUỘC TUẦN HOÀN THỨ NHẤT

The Lords of the Moon from globes A, B and C of the lunar Chain were the three classes who watched over, without partaking in, the physical construction of the globes of our Chain, as they were formed successively round the Spirit of each globe, as before described.35 They appear to have superintended the detailed work of the Lords who attained later. The lowest class, from globe G, made the primitive archetypal forms on globe A of the Earth Chain in the first Round, and guided the Lines who came in to fill them, and to evolve therein. The next class, from globe F, superintended the evolution of forms in the second Round; that from globe E the similar evolution in the third; and that from globe D the similar evolution in the fourth.36 Further, we find some of the Lords from globe E working on Mars in the fourth Round, while those from globe D become active later on the Earth.

Các Chúa Tể Mặt Trăng từ các bầu A, B và C của Dãy Mặt Trăng là ba lớp đã trông coi, mà không tham dự, việc kiến tạo hồng trần của các bầu thuộc Dãy chúng ta, khi chúng lần lượt được hình thành quanh tinh thần của mỗi bầu, như đã mô tả trước đây.35 Dường như Các Ngài đã giám sát công việc chi tiết của các Chúa Tể thành tựu muộn hơn. Lớp thấp nhất, từ bầu G, tạo ra các hình tướng nguyên mẫu sơ khai trên bầu A của Dãy Địa Cầu trong cuộc tuần hoàn thứ nhất, và hướng dẫn các Đường tuyến đi vào để lấp đầy chúng, và tiến hóa trong đó. Lớp kế tiếp, từ bầu F, giám sát sự tiến hóa của các hình tướng trong cuộc tuần hoàn thứ hai; lớp từ bầu E giám sát sự tiến hóa tương tự trong cuộc tuần hoàn thứ ba; và lớp từ bầu D giám sát sự tiến hóa tương tự trong cuộc tuần hoàn thứ tư.36 Hơn nữa, chúng ta thấy một số Chúa Tể từ bầu E làm việc trên Sao Hỏa trong cuộc tuần hoàn thứ tư, trong khi các vị từ bầu D trở nên hoạt động muộn hơn trên Trái Đất.

When the despatch of the first entities from the Inter-Chain Nirvana began, the first ships brought the Lines, and the great mass of animals from globe D of the Moon Chain; the first ship-loads succeeded each other at intervals of about one hundred thousand years, and then the supply stopped, and an immense period followed, during which the new arrivals, the pioneers on our Earth Chain, were pursuing their long journey of the first and second Rounds and part of the third.

Khi việc gửi các thực thể đầu tiên từ Niết Bàn Liên-Dãy bắt đầu, những chuyến thuyền đầu tiên mang theo các Đường tuyến, và đại khối loài vật từ bầu D của Dãy Mặt Trăng; những chuyến đầu tiên nối tiếp nhau cách khoảng chừng một trăm ngàn năm, rồi nguồn cung ngừng lại, và tiếp đó là một thời kỳ mênh mông, trong đó những kẻ mới đến, những người tiên phong trên Dãy Địa Cầu của chúng ta, theo đuổi hành trình dài của cuộc tuần hoàn thứ nhất, thứ hai và một phần cuộc tuần hoàn thứ ba.

The worlds are curious, like churning whirl-pools; our Earth, the most solid, is hot, muddy, sticky, and much of its territory does not seem to be anchored down very firmly. It is seething, and constantly changing in consistency; huge cataclysms engulf great multitudes from time to time, and in their embryonic condition they do not seem very much the worse for the engulfing, but increase and multiply in huge caves and caverns, as though they were living on the surface.

Các thế giới thật kỳ lạ, giống như những xoáy nước đang khuấy; Trái Đất của chúng ta, rắn chắc nhất, thì nóng, lầy lội, dính nhớp, và phần lớn lãnh thổ của nó dường như chưa được neo giữ thật vững. Nó sôi sục, và liên tục thay đổi độ đặc; những đại hồng tai khổng lồ thỉnh thoảng nuốt chửng những đám đông lớn, và trong tình trạng phôi thai của họ, họ dường như không tệ đi bao nhiêu vì bị nuốt chửng, mà còn tăng trưởng và sinh sôi trong những hang động và huyệt động khổng lồ, như thể họ đang sống trên bề mặt.

The first Round of the Earth Chain had its globes on the same levels as the seventh Round of the Moon Chain; globe A was on the higher mental plane, with some of the matter scarcely awakened; globe B was on the lower mental; globe C on the emotional; globe D on the physical; globe E on the emotional again; globe F on the lower mental; globe G on the higher mental. In the second Round the whole Chain descended, and three globes became physical, G, D, and E; but the living things on them were etheric in substance, and pudding-baggy—to borrow H. P. Blavatsky’s graphic epithet—in form. Globes C and E, which we now call Mars and Mercury, had at that time physical matter, but in a glowing gaseous state.

Cuộc tuần hoàn thứ nhất của Dãy Địa Cầu có các bầu ở cùng các cấp độ như cuộc tuần hoàn thứ bảy của Dãy Mặt Trăng; bầu A ở Cõi thượng trí, với một phần vật chất hầu như chưa thức tỉnh; bầu B ở cõi hạ trí; bầu C ở cõi cảm xúc; bầu D ở cõi hồng trần; bầu E lại ở cõi cảm xúc; bầu F ở cõi hạ trí; bầu G ở Cõi thượng trí. Trong cuộc tuần hoàn thứ hai, toàn bộ Dãy hạ xuống, và ba bầu trở thành hồng trần: G, D và E; nhưng các sinh vật trên đó có chất liệu dĩ thái, và có hình dạng như túi bột nhão — mượn cách nói hình ảnh của H. P. Blavatsky. Các bầu C và E, mà nay chúng ta gọi là Sao Hỏa và Sao Thủy, khi ấy có vật chất hồng trần, nhưng ở trạng thái khí rực sáng.

The human bodies on the Earth during the first Round were amoeboid, cloudy, drifting things, mostly etheric, and thus indifferent to the heat; they multiplied by fission. They seemed to succeed each other in Races but without separate incarnations, each form lasting for a Race. There were no births and no deaths; they enjoyed an amoeba-immortality, and were under the care of Lords of the Moon who had achieved Arhatship on globe G. Some etheric floating things appeared to be trying, but not very successfully, to be dreams of vegetables.

Các thể người trên Trái Đất trong cuộc tuần hoàn thứ nhất là những vật giống amip, mây mờ, trôi nổi, phần lớn dĩ thái, và vì thế dửng dưng với sức nóng; chúng sinh sôi bằng phân đôi. Dường như chúng nối tiếp nhau trong các Nhân loại nhưng không có các lần lâm phàm riêng biệt, mỗi hình tướng kéo dài suốt một Nhân loại. Không có sinh và không có tử; chúng hưởng một thứ bất tử amip, và ở dưới sự chăm sóc của các Chúa Tể Mặt Trăng đã đạt Arhat quả trên bầu G. Một số vật dĩ thái trôi nổi dường như đang cố, nhưng không mấy thành công, làm những giấc mơ về thực vật.

The minerals were somewhat more solid, for they were largely pelted on to the Earth by the Moon in a molten condition; the temperature might be anything above 3,500°C. (6,332° F.), for copper was in the condition of vapour, and it volatilises in an electrical furnace at this temperature. Silicon was visible, but most of the substances were proto-elements, not elements, and the present combinations seemed to be very rare; the earth was surrounded by huge masses of vapour shutting in the heat, and hence cooled very slowly. At the Pole there was some boiling mud, which generally settled down, and after some thousands of years a green scum appeared, which was vegetable; or perhaps it would be more accurate to say that it would become vegetable later on.

Các khoáng chất có phần rắn chắc hơn, vì phần lớn chúng được Mặt Trăng bắn xuống Trái Đất trong tình trạng nóng chảy; nhiệt độ có thể ở bất cứ mức nào trên 3.500°C. (6.332° F.), vì đồng ở trong tình trạng hơi, và nó bốc hơi trong lò điện ở nhiệt độ này. Silicon có thể thấy được, nhưng phần lớn các chất là tiền nguyên tố, không phải nguyên tố, và các tổ hợp hiện nay dường như rất hiếm; Trái Đất được bao quanh bởi những khối hơi khổng lồ giữ nhiệt lại, và vì thế nguội rất chậm. Ở Cực có một ít bùn sôi, thường lắng xuống, và sau vài ngàn năm một lớp váng xanh xuất hiện, đó là thực vật; hoặc có lẽ nói chính xác hơn, nó sẽ trở thành thực vật về sau.

SECOND ROUND — CUỘC TUẦN HOÀN THỨ HAI

In the second Round the temperature of globe D had dropped considerably, and the copper had cooled down and become liquid, in some places solid. There was some land near the Poles, but flames burst out if a hole was made, as at some points on the sides of the cone of Vesuvius. The pudding-bag creatures did not seem to mind the heat, but floated about indifferently, reminding one in their shape of wounded soldiers who had lost their legs and had had their clothes sewn round the trunk; a blow made an indentation, which slowly filled up again, like the flesh of a person suffering from dropsy; the fore part of the thing had a kind of sucking mouth, through which it drew in food, and it would fasten on another and draw it in, as though sucking an egg through a hole, whereupon the sucked one grew flabby and died; a struggle was noticed in which each had fixed its mouth on the other, and sucked away diligently. They had a kind of flap-hand, like the flap of a seal, and they made a cheerful kind of chirruping trumpeting noise, expressing pleasure—pleasure being a sort of general sense of bien-être, and pain a massive discomfort, nothing acute, only faint likes and dislikes. The skin was sometimes serrated, giving shades of colour. Later on, they became a little less shapeless and more human, and crawled on the ground like caterpillars. Later still, near the North Pole, on the cap of land there, these creatures were developing hands and feet, though unable to stand up, and more intelligence was noticeable. A Lord of the Moon—an Arhat who had attained on globe F of the Moon Chain—was observed, who had magnetised an island and shepherded on to it a flock of these creatures, reminding one of seacows or porpoises, though with no formed heads; they were taught to browse, instead of sucking each other, and when they did eat each other they chose some parts in preference to others, as though developing taste. The depression which served for mouth grew deeper into a kind of funnel, and a stomach began to develop, which was promptly turned inside out if any alien matter which was disapproved of found its way in. One turned himself entirely inside out, and seemed none the worse. The surface of the Earth being still very uncertain, they occasionally got burnt or partially cooked; this they evidently disliked, and if it went too far they collapsed. The heavy atmosphere made floating their usual method of locomotion, and this was pleasanter to look at than the writhing motion adopted on the ground recalling the “loathly worm”. Reproduction was by budding; a protuberance appeared, grew, and after a while broke off, and led an independent existence.

Trong cuộc tuần hoàn thứ hai, nhiệt độ của bầu D đã giảm đáng kể, và đồng đã nguội đi, trở thành chất lỏng, ở một số nơi thành rắn. Có một ít đất gần các Cực, nhưng lửa bùng ra nếu một lỗ được tạo, như ở vài điểm bên sườn nón núi Vesuvius. Các sinh vật dạng túi bột nhão dường như không bận tâm đến sức nóng, mà trôi nổi dửng dưng, hình dạng của chúng gợi nhớ đến những binh sĩ bị thương đã mất chân và quần áo được khâu quanh thân mình; một cú đánh tạo thành vết lõm, rồi chậm rãi đầy lại, như thịt của người bị phù thũng; phần trước của vật ấy có một loại miệng hút, qua đó nó hút thức ăn vào, và nó bám vào một vật khác rồi hút vật ấy vào, như thể hút một quả trứng qua một lỗ, sau đó vật bị hút trở nên nhũn và chết; người ta thấy một cuộc giằng co trong đó mỗi bên đã gắn miệng vào bên kia, và chăm chỉ hút. Chúng có một loại tay bẹt, như vây của hải cẩu, và phát ra một thứ tiếng kêu líu lo như kèn vui vẻ, biểu lộ khoái cảm — khoái cảm là một loại cảm giác chung về an lạc, còn đau đớn là một sự khó chịu khối lớn, không có gì sắc bén, chỉ là những ưa thích và không ưa thích mờ nhạt. Da đôi khi có răng cưa, tạo ra các sắc màu. Về sau, chúng bớt vô dạng một chút và giống người hơn, rồi bò trên đất như sâu bướm. Muộn hơn nữa, gần Bắc Cực, trên chỏm đất ở đó, các sinh vật này đang phát triển tay và chân, dù chưa thể đứng lên, và có thể nhận thấy thêm trí thông minh. Người ta quan sát thấy một Chúa Tể Mặt Trăng — một Arhat đã thành tựu trên bầu F của Dãy Mặt Trăng — Ngài đã từ hóa một hòn đảo và lùa lên đó một đàn sinh vật này, gợi nhớ đến bò biển hoặc cá heo, dù không có đầu đã hình thành; chúng được dạy gặm ăn, thay vì hút lẫn nhau, và khi chúng thật sự ăn lẫn nhau, chúng chọn một số phần hơn những phần khác, như thể đang phát triển vị giác. Chỗ lõm dùng làm miệng trở nên sâu hơn thành một loại phễu, và một dạ dày bắt đầu phát triển, nó lập tức lộn trái ra ngoài nếu bất cứ vật chất lạ nào không được chấp nhận lọt vào. Một con tự lộn hoàn toàn từ trong ra ngoài, và dường như không hề hấn gì. Bề mặt Trái Đất vẫn còn rất bất định, nên đôi khi chúng bị cháy hoặc bị nấu chín một phần; rõ ràng chúng không thích điều này, và nếu quá mức thì chúng sụp xuống. Bầu khí quyển nặng nề khiến sự trôi nổi là phương cách di chuyển thông thường của chúng, và điều này dễ nhìn hơn chuyển động quằn quại trên mặt đất, gợi nhớ đến “con giun ghê tởm”. Sự sinh sản diễn ra bằng nảy chồi; một chỗ lồi xuất hiện, lớn lên, và sau một thời gian tách ra, rồi sống độc lập.

Their intelligence was infantile, and one was seen who had aimed at a neighbour with his mouth, and, missing him, had caught hold of his own lower end, and then went on sucking contentedly till, presumably becoming uncomfortable, he spat himself out again. One fellow found out that by rolling his lower end in mud, he could float upright instead of lengthwise, and appeared to be very proud of himself Gradually the end which contained the funnel tapered off somewhat, and a small centre appeared in it, which, in far future ages, might become a brain. A small protuberance appeared, and the habit was formed of drifting forward, with this in front, as carrying the mouth, and impacts being constantly made on this, development was promoted.

Trí thông minh của chúng như trẻ sơ sinh, và người ta thấy một con nhắm miệng vào một con bên cạnh, nhưng trượt, nên chụp lấy đầu dưới của chính nó, rồi tiếp tục hút một cách mãn nguyện cho đến khi, có lẽ bắt đầu khó chịu, nó lại nhổ chính mình ra. Một gã phát hiện rằng bằng cách lăn đầu dưới của mình trong bùn, y có thể nổi thẳng đứng thay vì nằm ngang, và dường như rất tự hào về bản thân. Dần dần phần chứa cái phễu hơi thuôn lại, và một trung tâm nhỏ xuất hiện trong đó, trong các thời đại rất xa về sau có thể trở thành bộ não. Một chỗ lồi nhỏ xuất hiện, và thói quen trôi về phía trước được hình thành, với chỗ này ở phía trước, vì nó mang miệng, và do các va chạm liên tục xảy ra ở đó, sự phát triển được thúc đẩy.

Vegetable life developed during this period, aided by the heavy choking atmosphere; there were forest-like growths, much resembling grass, but forty feet high and proportionately thick. They grew in the warm mud, and flourished exceedingly.

Sự sống thực vật phát triển trong thời kỳ này, được trợ giúp bởi bầu khí quyển nặng nề và ngột ngạt; có những dạng tăng trưởng giống rừng, rất giống cỏ, nhưng cao bốn mươi bộ và dày tương xứng. Chúng mọc trong bùn ấm, và sinh sôi cực kỳ mạnh mẽ.

Towards the end of this period, some of the Earth was quite solid and only reasonably warm. There was much tumultuous cracking, apparently due to shrinkage, and every hill was an active volcano.

Về cuối thời kỳ này, một phần Trái Đất đã khá rắn và chỉ còn ấm vừa phải. Có nhiều tiếng nứt vỡ hỗn loạn, dường như do co rút, và mỗi ngọn đồi đều là một núi lửa đang hoạt động.

Mars became more solid, cooling more rapidly in consequence of its smaller size, but life on it was much like that on the Earth.

Sao Hỏa trở nên rắn chắc hơn, nguội nhanh hơn do kích thước nhỏ hơn, nhưng sự sống trên đó rất giống sự sống trên Trái Đất.

THIRD ROUND — CUỘC TUẦN HOÀN THỨ BA

In the third Round Mars was quite solid and firm, and some animals began to develop, though at first they looked rather like clumsy chunks of wood, sawed off logs. They recalled sketches made by children who had not learned how to draw; but as time went on, there were beings who were distinctly human, though more like gorillas than men.

Trong cuộc tuần hoàn thứ ba, Sao Hỏa đã hoàn toàn rắn chắc và ổn định, và một số loài vật bắt đầu phát triển, dù lúc đầu chúng trông khá giống những khúc gỗ thô kệch, những đoạn thân cây bị cưa cụt. Chúng gợi nhớ đến các bức phác họa của trẻ em chưa học vẽ; nhưng theo thời gian, có những hữu thể rõ ràng là người, dù giống khỉ đột hơn là người.

The configuration then was very different from that of the Mars now known to us. The water question had not arisen, for about three-fourths of the surface was water and only one-fourth dry land. Hence there were no canals, as now, and the general physical condition much resembled that of the Earth of to-day.

Cấu hình khi ấy rất khác với Sao Hỏa mà nay chúng ta biết. Vấn đề nước chưa nảy sinh, vì khoảng ba phần tư bề mặt là nước và chỉ một phần tư là đất khô. Do đó không có kênh đào như hiện nay, và tình trạng hồng trần tổng quát rất giống Trái Đất ngày nay.

The people who began with the linear indication of the causal body had by this time developed basket-work of a kind coarser, we noticed, than that which had been developed on the Moon. When this stage was reached the Basket-works from the Moon came streaming in, ship-loads again being sent off by the Seed-Manu to the Earth.

Những người bắt đầu với dấu hiệu tuyến tính của thể nguyên nhân đến lúc này đã phát triển một loại mạng rổ thô hơn, như chúng tôi nhận thấy, so với loại đã phát triển trên Mặt Trăng. Khi giai đoạn này đạt được, các Mạng rổ từ Mặt Trăng tuôn vào, những chuyến thuyền lại được Đức Chủng Tử-Manu gửi đến Trái Đất.

Looking at the Inter-Chain Nirvana, in order to trace out the coming of the Basket-works to Mars, we came upon an interesting point. The `shelves’ on which the `bulbs’ were stored were clearly of the higher mental matter; but the bulbs brought over in the Seed-Manu’s aura were brought over through the spiritual sphere, and the basket-work of Moon mental matter would thus be disintegrated, and would need to be reformed before these entities began their terrene career. They would have slept for ages in the spiritual sphere, and then would have been reclothed in basket-work of the equivalent terrene mental matter. There is no continuity of mental matter between Chains. The distance, of course, may be disregarded, as the terrene Chain occupies much the same position as the lunar, but the discontinuity of the mental matter renders necessary the disintegration and reintegration of the basket-work causal bodies.

Khi nhìn vào Niết Bàn Liên-Dãy để lần theo sự đến của các Mạng rổ trên Sao Hỏa, chúng tôi gặp một điểm thú vị. Các “kệ” trên đó các “củ giống” được lưu giữ rõ ràng thuộc vật chất thượng trí; nhưng các củ giống được mang sang trong hào quang của Đức Chủng Tử-Manu được mang qua khối cầu tinh thần, và mạng rổ bằng vật chất trí tuệ Mặt Trăng vì thế sẽ bị tan rã, cần được tái hình thành trước khi các thực thể này bắt đầu sự nghiệp Địa Cầu của họ. Họ hẳn đã ngủ nhiều thời đại trong khối cầu tinh thần, rồi được khoác lại bằng mạng rổ của vật chất trí tuệ Địa Cầu tương ứng. Không có sự liên tục của vật chất trí tuệ giữa các Dãy. Dĩ nhiên, khoảng cách có thể bỏ qua, vì Dãy Địa Cầu chiếm vị trí gần như giống Dãy Mặt Trăng, nhưng sự gián đoạn của vật chất trí tuệ khiến việc tan rã và tái tích hợp các thể nguyên nhân dạng mạng rổ trở nên cần thiết.

We saw a Manu coming over to Mars with a ship-load of Basket-works, reminding us of the stories in the Hindu Puranas of the Manu crossing the ocean in a ship, bearing with Him the seeds of a new world, and those in the Hebrew records of Noah, preserving in an ark all that was needed to repopulate the Earth after a flood. The legends preserved in the Scriptures of religions are often stories containing the records of the past, and the Manu truly came to the Martian world to give a new impulse to evolution. Arriving on Mars, He founded a colony of His Basket-works thereon.

Chúng tôi thấy một Manu đi sang Sao Hỏa với một chuyến thuyền chở các Mạng rổ, khiến chúng tôi nhớ đến các câu chuyện trong Puranas Ấn giáo về Manu vượt đại dương trong một con thuyền, mang theo Ngài các hạt giống của một thế giới mới, và những ghi chép Hebrew về Noah, bảo tồn trong một chiếc hòm mọi thứ cần thiết để tái lập dân cư Trái Đất sau trận lụt. Các truyền thuyết được bảo tồn trong Kinh điển của các tôn giáo thường là những câu chuyện chứa đựng ký ức về quá khứ, và Manu thật sự đã đến thế giới Sao Hỏa để trao một xung lực mới cho tiến hóa. Khi đến Sao Hỏa, Ngài lập một thuộc địa của các Mạng rổ của Ngài tại đó.

Tracing back this particular set, the first arrival of Basket-works in the terrene Chain, we found that they had come from globe G of the lunar Chain, having thereon become Basket-works. They were the least developed of the Basket-work crowd, having been the last to reach that stage; the Manu guided them to take birth in the most promising third Race families on Mars, and, as they grew, He led them off to His colony, where they would more quickly develop into fourth Race people. In the colony the people moved by a central will like bees in a hive, the central will being that of the Manu; He sent out streams of force and directed all. Two other sets of these Basket-work bees came to Mars, those who reached this stage on globes E and F of the Moon Chain; they arrived in reverse order from that of their leaving the Moon, those from globe F forming the fourth Race on Mars, and those from globe E the fifth. They developed some affection and some intelligence under the fostering care of the Manu; at first living in caves, they soon began to build, and to teach the aborigines to build under them, even Basket-works becoming leaders at this stage of evolution.

Lần ngược lại nhóm đặc biệt này, đợt Mạng rổ đầu tiên đến Dãy Địa Cầu, chúng tôi thấy rằng họ đã đến từ bầu G của Dãy Mặt Trăng, nơi họ đã trở thành Mạng rổ. Họ là những người kém phát triển nhất trong đám Mạng rổ, vì là những người cuối cùng đạt giai đoạn ấy; Manu hướng dẫn họ sinh vào các gia đình thuộc Nhân loại thứ ba hứa hẹn nhất trên Sao Hỏa, và khi họ lớn lên, Ngài dẫn họ đến thuộc địa của Ngài, nơi họ sẽ phát triển nhanh hơn thành những người của Nhân loại thứ tư. Trong thuộc địa, dân chúng di chuyển bởi một ý chí trung tâm như ong trong tổ, ý chí trung tâm ấy là ý chí của Manu; Ngài phát ra các dòng mãnh lực và chỉ đạo tất cả. Hai nhóm ong Mạng rổ khác đến Sao Hỏa, tức những người đạt giai đoạn này trên các bầu E và F của Dãy Mặt Trăng; họ đến theo thứ tự ngược với thứ tự rời Mặt Trăng, những người từ bầu F tạo thành Nhân loại thứ tư trên Sao Hỏa, và những người từ bầu E tạo thành Nhân loại thứ năm. Họ phát triển một ít tình cảm và một ít trí thông minh dưới sự chăm sóc nuôi dưỡng của Manu; lúc đầu sống trong hang, họ nhanh chóng bắt đầu xây dựng, và dạy các thổ dân xây dựng dưới quyền họ, ngay cả các Mạng rổ cũng trở thành người lãnh đạo ở giai đoạn tiến hóa này.

These people were hermaphrodite, but one sex was usually developed more than the other, and two individuals were necessary for reproduction. Other forms of reproduction also existed among the lower types, and there were some embryonic human beings of the hydra kind who reproduced by budding and others by exudation, while some were oviparous. But these were not found among the Basket-works.

Những người này là lưỡng tính, nhưng một giới thường phát triển hơn giới kia, và cần hai cá thể để sinh sản. Các hình thức sinh sản khác cũng tồn tại giữa các loại thấp hơn, và có một số con người phôi thai thuộc loại thủy tức sinh sản bằng nảy chồi, những loại khác bằng tiết xuất, trong khi một số đẻ trứng. Nhưng những hình thức này không thấy ở các Mạng rổ.

In the fifth Race the social arrangements changed, as more intelligence was developed; the bee system disappeared, but they still had little individuality, and moved rather in flocks and herds, shepherded by their Manu. The baskets became more closely woven, and represented what could be done by the unfolding life in those who were emphatically self-made men, unaided by the great stimulus given in the fourth Round by the Lords of the Flame. This type which moves in flocks is still largely represented among us by the people who hold conventional ideas because others hold them, and are wholly dominated by Mrs. Grundy. These are often quite good people, but are very sheepy and flocky, and are appallingly monotonous. There are differences among them, but they are like the differences between people who buy tea by the quarter-pound or by the ounce, noticeable chiefly by themselves.

Trong Nhân loại thứ năm, các sắp đặt xã hội thay đổi khi trí thông minh phát triển hơn; hệ thống ong biến mất, nhưng họ vẫn có ít cá tính, và di chuyển khá giống đàn chiên và bầy thú, được Manu của họ chăn dắt. Các chiếc rổ trở nên dệt chặt hơn, và biểu thị điều mà sự sống đang khai mở có thể làm được nơi những người nhấn mạnh là tự mình tạo nên chính mình, không được trợ giúp bởi kích thích vĩ đại do các Chúa Tể Lửa ban trong cuộc tuần hoàn thứ tư. Loại người di chuyển theo bầy đàn này hiện vẫn được đại diện rất nhiều giữa chúng ta bởi những người giữ các ý tưởng quy ước vì người khác giữ chúng, và hoàn toàn bị bà Grundy chi phối. Họ thường là những người khá tốt, nhưng rất cừu và rất bầy đàn, và đơn điệu đến kinh khủng. Có những khác biệt giữa họ, nhưng giống như khác biệt giữa những người mua trà theo một phần tư pound hay theo ounce, chủ yếu chỉ chính họ nhận thấy.

One fierce type of Basket-work was observed, not living in communities, but wandering about in forests in pairs; their heads ran up to a point behind matching the chin in front, and the head ending in two points looked odd and unattractive. They fought by butting against each other like goats, the top of the head being of very hard bone. There were some yet lower types, curious reptilian creatures, living in trees. They were larger than the Lines and far less intelligent, and ate the latter when they had the chance.

Người ta quan sát thấy một loại Mạng rổ dữ dằn, không sống thành cộng đồng, mà lang thang trong rừng thành từng đôi; đầu họ kéo dài thành một điểm nhọn phía sau tương ứng với cằm phía trước, và cái đầu kết thúc bằng hai điểm trông kỳ quặc và kém hấp dẫn. Họ chiến đấu bằng cách húc vào nhau như dê, đỉnh đầu là xương rất cứng. Có một số loại còn thấp hơn, những sinh vật bò sát kỳ lạ sống trên cây. Chúng lớn hơn các Đường tuyến và kém thông minh hơn nhiều, và ăn thịt những người kia khi có cơ hội.

There were also on Mars some carnivorous brutes; a huge crocodile-like animal was seen fiercely attacking a man, who rushed at it with a club, which did not seem a very effective weapon. However, he stumbled over a rock and fell headlong into the creature’s jaws, and so came to an untimely end.

Trên Sao Hỏa cũng có một số thú dữ ăn thịt; người ta thấy một con vật khổng lồ giống cá sấu hung hãn tấn công một người, y lao vào nó với một cây gậy, thứ dường như không phải vũ khí hiệu quả lắm. Tuy nhiên, y vấp phải một tảng đá và ngã chúi đầu vào hàm con vật, và như thế đi đến một kết thúc yểu mệnh.

The third Round on the Earth much resembled that on Mars, the people being smaller and denser, but, from our present standpoint, still huge and gorilla-like. The bulk of the Basket-works from globe D of the lunar Chain arrived on our Earth in this Round, and led the human evolution; the Basket-works from Mars fell in behind them, and the whole resembled fairly intelligent gorillas. The animals were very scaly, and even the creatures we must call birds were covered with scales rather than feathers; they all seemed to be made of a job-lot of fragments stuck together, half-bird, half-reptile, and wholly unattractive. Still, it was a little more like a world than the preceding globes, in fact than anything we had seen since we left the Moon; and later on cities were built. The work of the Lords of the Moon—who in this Round were Arhats from globe E—resembled the training of animals more than the evolution of a humanity. But it is noticeable that they were working on sections, as it were, of the different bodies, physical and subtle. The third sub-planes of the physical, astral and mental spheres were being specially worked through, and the spirillae of the atoms on these sub-planes were being vivified.37

Cuộc tuần hoàn thứ ba trên Trái Đất rất giống cuộc tuần hoàn ấy trên Sao Hỏa, người dân nhỏ hơn và đậm đặc hơn, nhưng theo quan điểm hiện nay của chúng ta, vẫn khổng lồ và giống khỉ đột. Phần lớn các Mạng rổ từ bầu D của Dãy Mặt Trăng đến Trái Đất của chúng ta trong cuộc tuần hoàn này, và dẫn dắt sự tiến hóa nhân loại; các Mạng rổ từ Sao Hỏa theo sau họ, và toàn bộ khá giống những con khỉ đột tương đối thông minh. Loài vật rất nhiều vảy, và ngay cả các sinh vật chúng ta phải gọi là chim cũng được phủ bằng vảy hơn là lông; tất cả dường như được làm từ một lô mảnh vụn ghép lại, nửa chim, nửa bò sát, và hoàn toàn kém hấp dẫn. Dù vậy, nó vẫn giống một thế giới hơn đôi chút so với các bầu trước, thật ra hơn bất cứ điều gì chúng tôi từng thấy kể từ khi rời Mặt Trăng; và về sau các thành phố được xây dựng. Công việc của các Chúa Tể Mặt Trăng — trong cuộc tuần hoàn này là các Arhat từ bầu E — giống việc huấn luyện loài vật hơn là sự tiến hóa của một nhân loại. Nhưng đáng chú ý là Các Ngài đang làm việc trên những phân đoạn, có thể nói như vậy, của các thể khác nhau, hồng trần và tinh anh. Các cõi phụ thứ ba của các khối cầu hồng trần, cảm dục và trí tuệ được đặc biệt tác động xuyên qua, và các loa tuyến của các nguyên tử trên những cõi phụ này đang được tiếp sinh lực.37

The methods of reproduction on our Earth during the third Round were those which are now confined to the lower kingdoms of nature. In the first and second Races, not thoroughly densified, fission still occurred, but in the third and onwards the methods were: budding-off like hydrae in the less organised; the exuding of cells from different organs of the body, which reproduced similar organs, and grew into a miniature duplication of the parent; the laying of eggs, within which the young human being developed. These were hermaphrodite, and gradually one sex predominated, but never sufficiently to represent a definite male and female.

Các phương pháp sinh sản trên Trái Đất của chúng ta trong cuộc tuần hoàn thứ ba là những phương pháp nay chỉ còn giới hạn trong các giới thấp của thiên nhiên. Trong Nhân loại thứ nhất và thứ hai, chưa đậm đặc hóa hoàn toàn, sự phân đôi vẫn xảy ra, nhưng từ Nhân loại thứ ba trở đi, các phương pháp là: nảy chồi như thủy tức ở những dạng ít tổ chức hơn; sự tiết xuất các tế bào từ những cơ quan khác nhau của thể, tái tạo các cơ quan tương tự, và lớn lên thành một bản sao thu nhỏ của cha mẹ; việc đẻ trứng, bên trong đó con người non trẻ phát triển. Những người này lưỡng tính, và dần dần một giới chiếm ưu thế, nhưng chưa bao giờ đủ để biểu thị một nam và nữ rõ rệt.

The passing of the life-wave from one globe to another is gradual and there is considerable over-lapping; it will be remembered that globe A of the terrene Chain began to form when globe A of the lunar Chain was in process of disintegration, the passing of the Spirit of the globe being the signal of the transference of activity.38 Thus life-activity is continuous, though egos have long periods of rest. A globe `passes into obscuration’ when the attention of the LOGOS is turned away from it, and thus His Light is withdrawn. It passes into a kind of coma, and there is a residuum of living creatures left behind; these creatures do not seem to increase in number during this period. But while the Races die out, the egos inhabiting them having passed on, the globe becomes a field for the Inner Round, a place to which egos in a transition state can be transferred for special treatment in order to quicken their evolution. The globe to which the attention of the LOGOS is turned starts into active life, and receives the streams of egos ready to go forward on their journey.

Sự chuyển dịch của làn sóng sự sống từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác diễn ra từ từ và có sự chồng lấn đáng kể; cần nhớ rằng bầu A của Dãy Trái Đất bắt đầu hình thành khi bầu A của Dãy Mặt Trăng đang trong tiến trình tan rã, sự chuyển dịch của Tinh thần của bầu hành tinh là dấu hiệu cho sự chuyển dịch hoạt động.38 Như vậy, hoạt động sự sống là liên tục, dù các chân ngã có những thời kỳ nghỉ ngơi rất dài. Một bầu hành tinh “đi vào thời kỳ che khuất” khi sự chú tâm của Thượng đế được chuyển khỏi nó, và vì vậy Ánh sáng của Ngài được rút lại. Nó đi vào một loại hôn mê, và còn lại một phần dư của các sinh vật sống; những sinh vật này dường như không gia tăng số lượng trong thời kỳ ấy. Nhưng trong khi các Nhân loại tàn lụi, các chân ngã cư ngụ trong đó đã chuyển onward, bầu hành tinh trở thành một trường hoạt động cho Cuộc Tuần Hoàn Bên Trong, một nơi mà các chân ngã trong trạng thái chuyển tiếp có thể được chuyển đến để được xử lý đặc biệt nhằm thúc nhanh tiến hoá của họ. Bầu hành tinh mà sự chú tâm của Thượng đế hướng đến bắt đầu đi vào sự sống hoạt động, và tiếp nhận các dòng chân ngã đã sẵn sàng tiến bước trên cuộc hành trình của mình.

Another point that may be noted is the recurrence of types at a higher level of evolution, in which they form but transitional stages. As in the development of the human embryo of to-day, the fish-, reptile-, and lower mammalian-types appear, repeating in a few months the aeonic evolution of the past, so do we see in each Round that a period of repetition precedes that of new advance. The third Round laboriously worked out in detail that which the third Race in the fourth Round would reproduce with comparative swiftness, while the second Race would similarly reflect the second Round, and the first Race the first Round. This broad principle once grasped, study becomes more easy, as the outline is clear into which details are to be fitted.

Một điểm khác có thể lưu ý là sự tái diễn của các kiểu mẫu ở một cấp độ tiến hoá cao hơn, trong đó chúng chỉ tạo thành các giai đoạn chuyển tiếp. Cũng như trong sự phát triển của phôi thai con người ngày nay, các kiểu cá, bò sát và động vật có vú thấp hơn xuất hiện, lặp lại trong vài tháng sự tiến hoá kéo dài qua các đại kỳ của quá khứ, thì trong mỗi Cuộc Tuần Hoàn chúng ta cũng thấy một thời kỳ lặp lại đi trước thời kỳ tiến bộ mới. Cuộc Tuần Hoàn thứ ba đã lao nhọc khai triển chi tiết điều mà Nhân loại thứ ba trong Cuộc Tuần Hoàn thứ tư sẽ tái tạo với tốc độ tương đối nhanh, trong khi Nhân loại thứ hai cũng phản ánh tương tự Cuộc Tuần Hoàn thứ hai, và Nhân loại thứ nhất phản ánh Cuộc Tuần Hoàn thứ nhất. Một khi nắm được nguyên lý rộng lớn này, việc nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn, vì đại cương đã rõ để các chi tiết được đặt vào đó.

CHAPTER VII — CHƯƠNG VII

EARLY STAGES OF THE FOURTH ROUND — CÁC GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CUỘC TUẦN HOÀN THỨ TƯ

IN taking a preliminary bird’s-eye view of the fourth Round, one important and far-reaching change is apparent in the surroundings amid which human evolution is to proceed. In the three preceding Rounds the elemental essence was practically untouched by man, and was affected only by the Devas, or Angels, by whose influences it evolved. Man was not sufficiently developed to affect it to any serious extent. But in this Round man’s influence plays a very important part, and his self-centred thoughts create swirls in the elemental essence surrounding him. The elementals, also, begin to show more hostility to him, as he emerges from the animal state into the dominating human, for he is, from their standpoint, no longer an animal among animals, but an independent and domineering entity, likely to be hostile and aggressive.

KHI nhìn sơ bộ toàn cảnh Cuộc Tuần Hoàn thứ tư, một thay đổi quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng hiện rõ trong các hoàn cảnh giữa đó sự tiến hoá của nhân loại sẽ diễn tiến. Trong ba Cuộc Tuần Hoàn trước, Tinh chất hành khí hầu như chưa bị con người chạm đến, và chỉ chịu ảnh hưởng của các thiên thần, hay các Thiên Thần, nhờ các ảnh hưởng của các Ngài mà nó tiến hoá. Con người chưa phát triển đủ để tác động đến nó một cách đáng kể. Nhưng trong Cuộc Tuần Hoàn này, ảnh hưởng của con người đóng vai trò rất quan trọng, và các tư tưởng tập trung vào bản thân của y tạo ra những xoáy trong Tinh chất hành khí bao quanh y. Các hành khí cũng bắt đầu tỏ ra thù nghịch hơn với y, khi y vươn ra khỏi trạng thái động vật để bước vào trạng thái nhân loại thống trị; vì theo quan điểm của chúng, y không còn là một con vật giữa các con vật nữa, mà là một Thực Thể độc lập và áp chế, có khả năng thù nghịch và gây hấn.

Another most important characteristic of the fourth Round, the midmost of the seven, is that, in it, the door was shut against the animal kingdom, and the door was opened to the Path. Both statements are general; here and there an animal, by very special help, may still be evolved to a point where a human incarnation is possible for it, but in almost all cases no human body can now be found of sufficiently low development for its embodiment; so also might a man who had attained Arhatship or more on the Moon Chain climb yet higher, but all below that rank who had complete causal bodies did not enter into evolution on the Earth Chain until the later third and early fourth Root Races.

Một đặc tính cực kỳ quan trọng khác của Cuộc Tuần Hoàn thứ tư, cuộc ở giữa trong bảy cuộc, là trong đó, cánh cửa đã đóng lại đối với giới động vật, và cánh cửa đã mở ra với Đường Đạo. Cả hai phát biểu đều có tính tổng quát; đây đó, một con vật nhờ sự trợ giúp rất đặc biệt vẫn có thể tiến hoá đến điểm mà một kiếp lâm phàm làm người trở nên khả hữu đối với nó, nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, hiện nay không còn có thể tìm được một thể người nào có mức phát triển đủ thấp để nó nhập thể; cũng vậy, một người đã đạt quả vị A La Hán hay cao hơn trên Dãy Mặt Trăng có thể leo cao hơn nữa, nhưng tất cả những ai dưới cấp bậc ấy mà đã có thể nguyên nhân hoàn chỉnh đều không đi vào tiến hoá trên Dãy Trái Đất cho đến giai đoạn muộn của giống dân gốc thứ ba và giai đoạn đầu của giống dân gốc thứ tư.

On Mars in the fourth Round we find a number of savages who had not been sufficiently advanced to leave that globe for the Earth when the mass of the egos went on in the preceding Round. On each globe some fail to go on, and remain behind as the globe begins its period of obscuration; and they return to this same globe when again it recommences full activity, and form a very backward class; these were Basket-works of a very poor kind, and were savages of the brutal and cruel type, some of those who had individualised through fear and anger.

Trên Sao Hỏa trong Cuộc Tuần Hoàn thứ tư, chúng ta thấy một số người man dã chưa đủ tiến bộ để rời bầu hành tinh đó đến Trái Đất khi khối đông các chân ngã tiếp tục đi trong Cuộc Tuần Hoàn trước. Trên mỗi bầu hành tinh, một số không thể tiếp tục đi, và ở lại khi bầu hành tinh bắt đầu thời kỳ che khuất; và họ trở lại chính bầu hành tinh ấy khi nó lại bắt đầu hoạt động trọn vẹn, và tạo thành một lớp rất lạc hậu; đây là những thể dạng đan rổ thuộc loại rất kém, và là những người man dã thuộc kiểu tàn bạo và độc ác, một số trong những kẻ đã biệt ngã hóa qua sợ hãi và giận dữ.

Mars, in the fourth Round, felt the stress of scarcity of water, and it was the Lords of the Moon—Arhats who had attained on Globe E—who planned out the system of canals, and the Basket-works who executed them under Their direction. The Martian seas are not salt, and the polar snowcaps, as they melt, supply the water necessary for irrigation, and thus enable the ground to be cultivated, and crops to be raised.

Sao Hỏa, trong Cuộc Tuần Hoàn thứ tư, cảm nhận áp lực của sự khan hiếm nước, và chính các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng—các A La Hán đã đạt thành trên Bầu E—đã hoạch định hệ thống kênh đào, còn các thể dạng đan rổ thi hành chúng dưới sự chỉ đạo của các Ngài. Các biển của Sao Hỏa không mặn, và các chỏm tuyết ở cực, khi tan ra, cung cấp nước cần thiết cho việc tưới tiêu, nhờ đó đất có thể được canh tác và mùa màng được gieo trồng.

The fifth Martian Root Race was white, and made considerable progress, and the Basket-work developed into a complete causal body. They were good, well-meaning, and kindly, though not capable of any large ideas, of widely spread feelings of affection, or of self-sacrifice. At a quite early stage, they began to divide food instead of fighting over it, developing the social feeling to some extent.

Giống dân gốc thứ năm của Sao Hỏa là người da trắng, và đã đạt tiến bộ đáng kể, còn thể dạng đan rổ phát triển thành một thể nguyên nhân hoàn chỉnh. Họ tốt lành, có thiện ý và nhân hậu, dù không có khả năng đối với những ý tưởng lớn, những tình cảm trìu mến lan rộng, hay sự hi sinh. Ở một giai đoạn khá sớm, họ bắt đầu chia sẻ thức ăn thay vì tranh giành vì nó, và phát triển phần nào tình cảm xã hội.

The first and second Root Races on the Earth were going on before Mars was deserted, some entities being available for these primitive conditions whom Mars in its later stages was too advanced to accommodate, and the full attention of the LOGOS not being turned on to the Earth in these early times. The Lords of the Moon—Arhats who had achieved on globe D of the lunar Chain—brought into these early Races a number of backward entities, so that these served as special coaches for the laggards, many of whom repaid the care bestowed upon them, and entered the first sub-race of the third Root Race, as its lowest types; they were egg-headed, with an eye at the top of their heads, a roll like a sausage representing a forehead, and prognathous jaws. The egg-headed type persisted for a very long time, but became much modified in the later sub-races of this third Root Race, and specimens of them are found in later Lemurian times, The blue people who formed the powerful sixth sub-race, and the white who composed the seventh sub-race, were finer types, but were still Lemurian, and showed a trace of egg-headedness, due to the retreating foreheads.39 The population of the Earth during the first and second Root Races was very limited, and this special help appears to have been given because in the fourth globe of the fourth Chain “the door is shut”. Furthermore, everything possible was done to bring forward all of whom anything could be made, before the coming of the Lords of the Flame, in the middle of the third Root Race, should make the gulf well-nigh impassable between the human and animal kingdoms.

Các giống dân gốc thứ nhất và thứ hai trên Trái Đất đã diễn tiến trước khi Sao Hỏa bị bỏ hoang, vì có một số thực thể thích hợp với những điều kiện sơ khai này mà Sao Hỏa trong các giai đoạn muộn đã quá tiến bộ để dung chứa, và sự chú tâm trọn vẹn của Thượng đế chưa hướng về Trái Đất trong các thời kỳ đầu ấy. Các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng—các A La Hán đã thành tựu trên bầu D của Dãy Mặt Trăng—đã đưa vào các Nhân loại đầu này một số thực thể lạc hậu, để các Nhân loại ấy làm những người kèm cặp đặc biệt cho những kẻ tụt hậu; nhiều người trong số họ đã đáp lại sự chăm sóc dành cho họ, và đi vào giống dân phụ thứ nhất của giống dân gốc thứ ba, như các kiểu thấp nhất của nó; họ có đầu hình trứng, với một mắt trên đỉnh đầu, một cuộn giống xúc xích biểu hiện trán, và hàm nhô ra. Kiểu đầu hình trứng tồn tại trong một thời gian rất dài, nhưng bị biến đổi nhiều trong các giống dân phụ về sau của giống dân gốc thứ ba này, và những mẫu của họ được tìm thấy trong các thời kỳ Lemuria muộn hơn. Người da xanh tạo thành giống dân phụ thứ sáu hùng mạnh, và người da trắng cấu thành giống dân phụ thứ bảy, là những kiểu tốt đẹp hơn, nhưng vẫn là Lemuria, và vẫn cho thấy một dấu vết của dạng đầu hình trứng, do trán thụt lùi.39 Dân số Trái Đất trong các giống dân gốc thứ nhất và thứ hai rất hạn chế, và sự trợ giúp đặc biệt này dường như đã được ban vì trong bầu hành tinh thứ tư của Dãy thứ tư “cánh cửa đã đóng lại”. Hơn nữa, mọi điều có thể đều đã được thực hiện để đưa tiến lên tất cả những ai còn có thể tạo nên điều gì đó, trước khi sự đến của các Đấng Chúa Tể của Lửa, vào giữa giống dân gốc thứ ba, khiến vực thẳm giữa giới nhân loại và giới động vật gần như không thể vượt qua.

Mars, at the end of its seventh Root Race, had a very considerable population to pour into the Earth, and these came streaming in for the third Root Race, to head it until the more advanced egos from the Moon Chain should come in to take over the leadership. These Basket-works, whose causal bodies were now completed, had made considerable progress on Mars, and they now prepared the way for the more advanced people who were soon to arrive. It was they who fought with the savage reptilian creatures, slimy and backboneless, who were the “water-men terrible and bad” of the Stanzas of Dzyan, the re-embodied remnants of the previous Rounds, who had been `water-men,’ i.e., amphibious, scaly, half-human animals, on Mars.

Sao Hỏa, vào cuối giống dân gốc thứ bảy của nó, có một dân số rất đáng kể để đổ vào Trái Đất, và họ tuôn đến cho giống dân gốc thứ ba, để dẫn đầu nó cho đến khi các chân ngã tiến bộ hơn từ Dãy Mặt Trăng đến để tiếp nhận quyền lãnh đạo. Những thể dạng đan rổ này, với thể nguyên nhân nay đã hoàn chỉnh, đã đạt tiến bộ đáng kể trên Sao Hỏa, và giờ đây họ chuẩn bị con đường cho những người tiến bộ hơn sắp đến. Chính họ đã chiến đấu với các sinh vật bò sát man dã, nhớt nhát và không xương sống, là những “người-nước khủng khiếp và xấu xa” của các Bài Kệ Dzyan, những tàn dư tái nhập thể của các Cuộc Tuần Hoàn trước, từng là “người-nước”, tức là, các động vật nửa người, có vảy, sống lưỡng cư, trên Sao Hỏa.

The many schemes of reproduction characteristic of the third Round reappear in this third Root Race, and run simultaneously in various parts of the Earth. The bulk of the population passed on through the successive stages and became mostly oviparous, but there were various little side-shows in which earlier methods persisted. It seems as though the various schemes of reproduction were suitable to egos at different stages of evolution, and were kept going for laggards after the bulk of the people had passed beyond them. The egg-scheme was dropped very slowly; the shell became thinner and thinner, the human being within developing into a hermaphrodite; then he became a hermaphrodite with one sex predominant; and then a unisexual being. These changes began some sixteen and a half million years ago, and occupied some five and a half to six million years, physical bodies changing very slowly and reversion frequently occurring. Moreover the original number was small, and needed time for multiplication. When this last type became quite stable, then the egg was preserved within the feminine body, and reproduction assumed the form which still persists.

Nhiều hệ thống sinh sản đặc trưng của Cuộc Tuần Hoàn thứ ba lại xuất hiện trong giống dân gốc thứ ba này, và diễn ra đồng thời ở nhiều phần khác nhau của Trái Đất. Phần đông dân số đi qua các giai đoạn kế tiếp và phần lớn trở thành loài đẻ trứng, nhưng có nhiều nhánh nhỏ bên lề trong đó các phương pháp trước đó vẫn tiếp tục. Dường như các hệ thống sinh sản khác nhau thích hợp với các chân ngã ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau, và được duy trì cho những kẻ tụt hậu sau khi khối đông dân chúng đã vượt qua chúng. Hệ thống trứng bị từ bỏ rất chậm; vỏ trở nên ngày càng mỏng, con người bên trong phát triển thành lưỡng tính; rồi y trở thành lưỡng tính với một phái tính chiếm ưu thế; và rồi thành một hữu thể đơn tính. Những thay đổi này bắt đầu khoảng mười sáu triệu rưỡi năm trước, và chiếm khoảng năm triệu rưỡi đến sáu triệu năm, các thể xác thay đổi rất chậm và sự thoái hồi thường xuyên xảy ra. Hơn nữa, số lượng nguyên thuỷ còn nhỏ, và cần thời gian để nhân lên. Khi kiểu cuối cùng này trở nên khá ổn định, trứng được giữ lại trong thân thể nữ giới, và sinh sản mang hình thức vẫn còn tồn tại.

To sum up: we have the first Root Race, repeating the first Round, etheric clouds drifting about in a hot heavy atmosphere, which enclosed a world rent by recurrent cataclysms; these multiplied by fission. The second Root Race, repeating the second Round, was of the `pudding-bag’ type, described under the second Round; these multiplied by budding. The early third Root Race, repeating the third Round, was human-gorilla in form, and reproduction was at first by extrusion of cells, the `sweat-born’ of The Secret Doctrine. Then comes the oviparous stage, and finally the unisexual.

Tóm lại: chúng ta có giống dân gốc thứ nhất, lặp lại Cuộc Tuần Hoàn thứ nhất, là những đám mây dĩ thái trôi dạt trong một bầu khí quyển nóng và nặng, bao bọc một thế giới bị xé nát bởi những đại biến định kỳ; họ sinh sôi bằng phân đôi. Giống dân gốc thứ hai, lặp lại Cuộc Tuần Hoàn thứ hai, thuộc kiểu “túi bột”, đã được mô tả dưới Cuộc Tuần Hoàn thứ hai; họ sinh sôi bằng nảy chồi. Giống dân gốc thứ ba sơ kỳ, lặp lại Cuộc Tuần Hoàn thứ ba, có hình dạng người-khỉ đột, và sinh sản lúc đầu bằng sự đùn ra các tế bào, “sinh từ mồ hôi” của Giáo Lý Bí Nhiệm. Rồi đến giai đoạn đẻ trứng, và cuối cùng là đơn tính.

Some very special treatment was applied to some of the eggs; they were taken away by the Lords of the Moon, and were carefully magnetised and kept at an equable temperature, until the human form, at this stage a hermaphrodite, broke out; it was then specially fed and carefully developed, and when ready, was taken possession of by one of the Lords of the Moon, many of whom became incarnate in order to work on the physical plane, and they used these carefully prepared bodies for a long period of time; some Devas also took some of these prepared bodies. This seems to have been only a few centuries before the separation of the sexes.

Một sự xử lý rất đặc biệt đã được áp dụng cho một số trứng; chúng được các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng mang đi, được từ điện hoá cẩn thận và giữ ở nhiệt độ điều hoà, cho đến khi hình tướng người, ở giai đoạn này là lưỡng tính, phá vỡ ra; khi ấy nó được nuôi dưỡng đặc biệt và phát triển cẩn thận, và khi đã sẵn sàng, một trong các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng chiếm hữu nó, nhiều vị trong các Ngài đã lâm phàm để làm việc trên cõi hồng trần, và các Ngài dùng những thân thể được chuẩn bị cẩn thận ấy trong một thời kỳ dài; một số thiên thần cũng lấy vài thân thể đã được chuẩn bị này. Điều này dường như chỉ xảy ra vài thế kỷ trước khi có sự phân ly phái tính.

While the later Egg-borns were in possession, the very best of the Basket-works came in, straight from the Inter-Chain Nirvana, and these were quickly followed by the lowest of those who had gained complete causal bodies on the Moon. Between the highest of the first and the lowest of the second there was but little difference. The first boat-load of the latter consisted of those who had responded but little to the influence of the Seed-Manu, from globes G, F, and E of the lunar Chain, the majority being from G, the stupidest of those who had gained complete causal bodies. The second boat-load had a large number from globe G, a low section from globe F, and a still lower from globe E. The third contained the best from globe G, with some fairly good from globe F, and good from globe E. The fourth boat-load had the best from globe F, and all but the very best of globe E. The fifth boat-load brought the best from globe E, with a few from globe D. These all seemed to be sorted out by `age’ rather than by `type,’ and were, in fact, of all types. One individual was noticed who was a chief in the savage mainland tribe which took Mars prisoner on the Moon, one who had individualised through fear. All these incarnated among the Egg-borns, some hundreds of thousands of them.

Trong khi những người sinh từ trứng về sau đang chiếm hữu các thân thể, những người tốt nhất trong các thể dạng đan rổ đi vào, thẳng từ Niết Bàn Liên Dãy, và ngay sau họ là những người thấp nhất trong số những ai đã đạt được thể nguyên nhân hoàn chỉnh trên Mặt Trăng. Giữa người cao nhất của nhóm thứ nhất và người thấp nhất của nhóm thứ hai chỉ có ít khác biệt. Chuyến thuyền đầu tiên của nhóm sau gồm những kẻ chỉ đáp ứng rất ít với ảnh hưởng của Đức Manu Hạt Giống, từ các bầu G, F và E của Dãy Mặt Trăng, phần lớn đến từ G, những người đần độn nhất trong số những ai đã đạt được thể nguyên nhân hoàn chỉnh. Chuyến thuyền thứ hai có một số đông từ bầu G, một nhóm thấp từ bầu F, và một nhóm còn thấp hơn từ bầu E. Chuyến thứ ba chứa những người tốt nhất từ bầu G, cùng một số khá tốt từ bầu F, và tốt từ bầu E. Chuyến thuyền thứ tư có những người tốt nhất từ bầu F, và tất cả trừ những người tốt nhất của bầu E. Chuyến thuyền thứ năm mang đến những người tốt nhất từ bầu E, cùng một ít từ bầu D. Tất cả những người này dường như được phân loại theo “tuổi” hơn là theo “kiểu”, và trên thực tế thuộc đủ mọi kiểu. Người ta ghi nhận một cá nhân từng là tù trưởng trong bộ lạc man dã trên lục địa đã bắt Sao Hỏa làm tù nhân trên Mặt Trăng, một kẻ đã biệt ngã hóa qua sợ hãi. Tất cả những người này lâm phàm giữa những người sinh từ trứng, gồm vài trăm nghìn người.

Then came, from ten to eleven million years ago, when separation of the sexes was fully established, the important stage when some of these incarnated Lords of the Moon descended on the seven-pointed Lemurian Polar Star, and formed etheric images of themselves, which were then materialised into greater density, multiplying these for the use of the incoming egos; the Lords were of different types, the “seven men each on his lot,” and gave bodies suited to the seven Rays, or temperamental types of humanity, making the forms on the points of the Star.

Rồi đến, từ mười đến mười một triệu năm trước, khi sự phân ly phái tính đã được thiết lập hoàn toàn, giai đoạn quan trọng trong đó một số Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng đang lâm phàm này giáng xuống trên Ngôi Sao Bắc Cực Lemuria bảy cánh, và tạo ra các hình ảnh dĩ thái của chính các Ngài, rồi các hình ảnh ấy được hiện hình vào độ đậm đặc lớn hơn, nhân lên để dùng cho các chân ngã đang đi vào; các Đấng Chúa Tể thuộc các kiểu khác nhau, “bảy người, mỗi người trên phần đất của mình”, và ban các thân thể phù hợp với bảy Cung, hay các kiểu khí chất của nhân loại, tạo các hình tướng trên các điểm của Ngôi Sao.

At this stage there were four human classes, pressing on each other to obtain better human forms. These were: (1) the set of the best Basket-works above-named, with the five boat-loads from globes G, F, and E, possessing complete causal bodies; then (2) the Basket-works from Mars; then (3) the Lines, who had been here all the time; then (4) the last, composed of those who were only now coming up out of the animals. Below these were the animals, plants, and minerals, with which we need not concern ourselves.

Ở giai đoạn này có bốn lớp người, chen lấn nhau để giành những hình tướng người tốt hơn. Đó là: (1) nhóm những thể dạng đan rổ tốt nhất đã nêu trên, cùng năm chuyến thuyền từ các bầu G, F và E, có thể nguyên nhân hoàn chỉnh; rồi (2) các thể dạng đan rổ từ Sao Hỏa; rồi (3) các Đường Dây, vốn đã ở đây suốt thời gian; rồi (4) lớp cuối cùng, gồm những kẻ chỉ nay mới đi lên từ loài vật. Bên dưới những lớp này là động vật, thực vật và khoáng vật, mà chúng ta không cần bận tâm.

The coming of these into the etheric forms provided by the Lords of the Moon was something of a struggle, for there were often many claimants for a single form, and the one who succeeded in gaining it could not always hold it for more than a few moments; the scene recalls the Greek idea that the Gods made the world amid shouts of laughter, for it decidedly had its comic element, as the egos struggled for the forms and could not manage them when they had obtained them. It is one of the descents into matter, the final materialisation of the body of man, the completion of `the fall of man’. Gradually they became accustomed to the new `coats of skin,’ and settled down to reproduce the seven great temperamental types. In various parts of the world other ways of reproduction continued for long periods of time; the successive stages over-lapped very much, owing to the great differences in evolution, and the classes that came in from other Rounds had not been in the two early Root Races on Earth; the tribes following the early methods gradually became sterile, while the true men and women multiplied greatly, until humanity, as we know it now, was definitely established all over the world.

Việc những lớp này đi vào các hình tướng dĩ thái do các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng cung cấp có phần giống một cuộc tranh giành, vì thường có nhiều kẻ đòi một hình tướng duy nhất, và người thành công giành được nó không phải lúc nào cũng giữ được hơn vài khoảnh khắc; cảnh tượng gợi nhớ ý niệm Hy Lạp rằng các vị Thần tạo nên thế giới giữa những tiếng cười vang, vì nó rõ ràng có yếu tố hài hước, khi các chân ngã vật lộn vì các hình tướng và không thể điều khiển chúng khi đã có được. Đó là một trong những cuộc giáng xuống vật chất, sự hiện hình cuối cùng của thân thể con người, sự hoàn tất của “sự sa ngã của con người”. Dần dần họ quen với những “áo da” mới, và ổn định để tái tạo bảy kiểu khí chất lớn. Ở nhiều phần khác nhau của thế giới, các cách sinh sản khác tiếp tục trong những thời kỳ dài; các giai đoạn kế tiếp chồng lấn rất nhiều, do những khác biệt lớn trong tiến hoá, và các lớp đi vào từ các Cuộc Tuần Hoàn khác đã không ở trong hai giống dân gốc đầu trên Trái Đất; các bộ lạc theo những phương pháp sơ kỳ dần dần trở nên vô sinh, trong khi những người nam và nữ đích thực sinh sôi rất mạnh, cho đến khi nhân loại, như chúng ta biết hiện nay, được thiết lập rõ rệt trên khắp thế giới.

The forms as thrown off by the Lords of the Moon were fairly good-looking, but being etheric they were very readily modifiable, and the incoming egos much distorted them; the children born of them were distinctly ugly; probably those using them were accustomed to think of the egg-shaped head and sausage-roll forehead, and hence these reappeared.

Các hình tướng do các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng phóng xuất ra thì khá ưa nhìn, nhưng vì là dĩ thái nên chúng rất dễ bị biến đổi, và các chân ngã đi vào đã làm chúng méo mó nhiều; con cái sinh ra từ chúng rõ ràng xấu xí; có lẽ những kẻ sử dụng chúng đã quen nghĩ đến cái đầu hình trứng và trán cuộn xúc xích, nên các đặc điểm này tái xuất hiện.

After many generations of well-established human beings, descended from the etheric materialised forms, had been evolved, the Arhats urged on those who had left globes A, B, and C of the lunar Chain—because they could make no further progress on it—that they should descend and take incarnation in the bodies now ready for their indwelling. There were three boat-loads of these; more than two million orange people from globe A, rather less than three million golden-yellow from globe B, and rather more than three million pink from globe C—about nine millions in all; they were guided to different areas of the world’s surface, with the view that they should form tribes. The orange, on seeing the bodies offered to them, refused to enter, not out of any wickedness but from pride, disdaining the unattractive forms, and perhaps also from their ancient hatred of sexual unions; but the yellow and pink were docile and obeyed, gradually improving the bodies they inhabited. These made the fourth Lemurian sub-race, the first which was in any sense, except the embryonic, human; and it may be dated from the giving of the forms. It is interesting to notice that H. P. Blavatsky in The Secret Doctrine speaks of this fourth sub-race as `yellow,’ apparently noting the incoming of the golden-yellow people from B of the Moon Chain; she can hardly have been referring to the established colour of the fourth sub-race, as that was black, and the black continued even in the lower classes of the sixth sub-race, in which the higher classes were of a quite respectable blue. Yet even in those there was an underlying tinge of black.

Sau nhiều thế hệ con người đã được thiết lập vững chắc, phát sinh từ các hình tướng dĩ thái đã hiện hình, được tiến hoá, các A La Hán thúc giục những người đã rời các bầu A, B và C của Dãy Mặt Trăng—vì họ không thể tiến bộ thêm trên đó—rằng họ nên giáng xuống và lâm phàm trong các thân thể nay đã sẵn sàng cho họ cư ngụ. Có ba chuyến thuyền như thế; hơn hai triệu người da cam từ bầu A, hơi dưới ba triệu người vàng kim từ bầu B, và hơi trên ba triệu người hồng từ bầu C—tổng cộng khoảng chín triệu; họ được hướng dẫn đến các khu vực khác nhau trên bề mặt thế giới, với mục đích để họ tạo thành các bộ lạc. Người da cam, khi thấy các thân thể được trao cho họ, đã từ chối đi vào, không phải vì bất kỳ sự gian ác nào mà vì kiêu hãnh, khinh thường những hình tướng không hấp dẫn, và có lẽ cũng vì lòng căm ghét cổ xưa của họ đối với các kết hợp tính dục; nhưng người vàng và hồng thì dễ dạy và vâng lời, dần dần cải thiện các thân thể mà họ cư ngụ. Những người này tạo thành giống dân phụ Lemuria thứ tư, giống đầu tiên theo bất kỳ nghĩa nào, trừ nghĩa phôi thai, là người; và có thể định niên đại của nó từ lúc ban các hình tướng. Thật thú vị khi nhận thấy rằng H. P. Blavatsky trong Giáo Lý Bí Nhiệm nói về giống dân phụ thứ tư này là “vàng”, dường như ghi nhận sự đi vào của người vàng kim từ bầu B của Dãy Mặt Trăng; bà khó có thể đang nói đến màu sắc đã ổn định của giống dân phụ thứ tư, vì màu ấy là đen, và màu đen vẫn tiếp tục ngay cả trong các lớp thấp của giống dân phụ thứ sáu, trong đó các lớp cao hơn có màu xanh khá đáng kể. Tuy nhiên, ngay cả trong họ vẫn có một sắc đen nền tảng.

The area allotted to the orange tribe was thus left open, and the bodies they should have used were gladly seized upon by the entities just emerging from the animal kingdom, the lowest of the classes before mentioned, the very poorest human type; these, not unnaturally, felt little difference between themselves and the ranks from which they had just emerged, and hence arose the “sin of the mindless”.

Khu vực được dành cho bộ lạc da cam vì thế bị bỏ trống, và các thân thể đáng lẽ họ phải dùng đã bị các thực thể vừa mới trồi lên từ giới động vật vui mừng chiếm lấy, tức lớp thấp nhất trong các lớp đã nói trước, kiểu người nghèo nàn nhất; những kẻ này, cũng không lạ, cảm thấy rất ít khác biệt giữa chính họ và các hàng ngũ mà họ vừa mới nổi lên từ đó, và do đó phát sinh “tội lỗi của những kẻ vô trí”.

It is interesting to note the karma of this refusal of the orange people to take their due place in the work of peopling the world. Later, the law of evolution forced them into incarnation, and they had to take lower and coarser bodies, the Lords of the Moon having gone on into other work; they thus became a backward race, cunning but not good, and passed through many unpleasant experiences; they diminished in number by constantly coming into collision with the common order, and being hammered, largely by suffering, into ordinary folk. A few—strong, remorseless and unscrupulous—became Lords of the Dark Face in Atlantis; some were seen among the North American Indians with refined but hard faces; some few still persist, even down to our own day—the unscrupulous among the kings of finance, statesmen like Bismarck, conquerors like Napoleon; but they are gradually disappearing, for they have learned many bitter lessons. Those who are wanting in heart, who are always fighting, always opposing everything everywhere, on general principles, must ultimately, in a realm of law, be beaten into shape; a very few may end in black magic, but the steady pressure is too great for the majority. It is a hard road to choose for progress!

Thật thú vị khi ghi nhận nghiệp quả của sự từ chối này của người da cam trong việc chiếm lấy vị trí thích đáng của họ trong công việc làm đầy dân cư thế giới. Về sau, định luật tiến hoá buộc họ phải lâm phàm, và họ phải nhận lấy các thân thể thấp kém và thô hơn, vì các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng đã đi sang công việc khác; vì vậy họ trở thành một nhân loại lạc hậu, xảo quyệt nhưng không tốt lành, và trải qua nhiều kinh nghiệm khó chịu; họ giảm số lượng do thường xuyên va chạm với trật tự chung, và bị rèn giũa, phần lớn bằng đau khổ, thành những người bình thường. Một số ít—mạnh mẽ, tàn nhẫn và vô lương tâm—trở thành các Chúa Tể của Gương Mặt Tối trong Atlantis; một số được thấy giữa người da đỏ Bắc Mỹ với gương mặt tinh tế nhưng cứng rắn; một số ít vẫn còn tồn tại, thậm chí đến tận ngày nay—những kẻ vô lương tâm trong các ông vua tài chính, những chính khách như Bismarck, những nhà chinh phục như Napoleon; nhưng họ đang dần biến mất, vì họ đã học nhiều bài học cay đắng. Những ai thiếu trái tim, luôn chiến đấu, luôn chống đối mọi điều ở mọi nơi, theo nguyên tắc chung, cuối cùng trong một cõi giới của định luật phải bị đập cho thành khuôn; một số rất ít có thể kết thúc trong Hắc thuật, nhưng áp lực đều đặn thì quá lớn đối với đa số. Đó là một con đường gian khổ để chọn cho sự tiến bộ!

THE COMING OF THE LORDS OF THE FLAME — SỰ ĐẾN CỦA CÁC ĐẤNG CHÚA TỂ CỦA LỬA

The great Lemurian Polar Star was still perfect, and the huge Crescent still stretched along the equator, including Madagascar. The sea which occupied what is now the Gobi Desert still broke against the rocky barriers of the northern Himalayan slopes, and all was being prepared for the most dramatic moment in the history of the Earth—the Coming of the LORDS OF THE FLAME.

Ngôi Sao Bắc Cực Lemuria vĩ đại vẫn còn toàn vẹn, và Lưỡi Liềm khổng lồ vẫn trải dài dọc theo xích đạo, bao gồm Madagascar. Biển chiếm nơi hiện nay là Sa mạc Gobi vẫn còn vỗ vào các bức thành đá của sườn phía bắc Himalaya, và mọi sự đang được chuẩn bị cho khoảnh khắc kịch tính nhất trong lịch sử Trái Đất—Sự Đến của CÁC ĐẤNG CHÚA TỂ CỦA LỬA.

The Lords of the Moon and the Manu of the third Root Race had done all that was possible to bring men up to the point at which the germ of mind could be quickened, and the descent of the ego could be made. All the laggards had been pushed on; there were no more in the animal ranks capable of rising into man. The door against further immigrants into the human kingdom from the animal was only shut when no more were in sight, nor would be capable of reaching it without a repetition of the tremendous impulse only given once in the evolution of a Scheme, at its midmost point.

Các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng và Đức Manu của giống dân gốc thứ ba đã làm tất cả những gì có thể để đưa con người lên đến điểm mà mầm trí tuệ có thể được kích hoạt, và sự giáng xuống của chân ngã có thể được thực hiện. Tất cả những kẻ tụt hậu đã được thúc đẩy tiến lên; không còn ai trong hàng ngũ động vật có khả năng vươn lên thành người. Cánh cửa ngăn những di dân tiếp tục đi vào giới nhân loại từ giới động vật chỉ đóng lại khi không còn ai trong tầm mắt, cũng như sẽ không ai có khả năng đạt đến đó nếu không có sự lặp lại của xung lực khổng lồ vốn chỉ được ban một lần trong tiến hoá của một hệ hành tinh, tại điểm ở giữa của nó.

A great astrological event, when a very special collocation of planets occurred and the magnetic condition of the Earth was the most favourable possible, was chosen as the time. It was about six and a half million years ago. Nothing more remained to be done, save what only They could do.

Một biến cố chiêm tinh lớn, khi một sự phối hợp rất đặc biệt của các hành tinh xảy ra và tình trạng từ tính của Trái Đất thuận lợi nhất có thể, đã được chọn làm thời điểm. Đó là khoảng sáu triệu rưỡi năm trước. Không còn gì phải làm nữa, ngoại trừ điều chỉ các Ngài mới có thể làm.

Then, with the mighty roar of swift descent from incalculable heights, surrounded by blazing masses of fire which filled the sky with shooting tongues of flame, flashed through the aerial spaces the chariot of the Sons of the Fire, the Lords of the Flame from Venus; it halted, hovering over the `White Island,’ which lay smiling in the bosom of the Gobi Sea; green was it, and radiant with masses of fragrant many-coloured blossoms, Earth offering her best and fairest to welcome her coming King. There He stood, “the Youth of sixteen summers,” Sanat Kumara, the “Eternal Virgin-Youth,” the new Ruler of Earth, come to His kingdom, His Pupils, the three Kumaras, with Him, His Helpers around Him; thirty mighty Beings were there, great beyond Earth’s reckoning, though in graded order, clothed in the glorious bodies They had created by Kriyashakti, the first Occult Hierarchy, branches of the one spreading Banyan-Tree, the nursery of future Adepts, the centre of all occult life. Their dwelling-place was and is the Imperishable Sacred Land, on which ever shines down the Blazing Star, the symbol of Earth’s Monarch, the changeless Pole round which the life of our Earth is ever spinning.¹

Bấy giờ, với tiếng gầm hùng mạnh của cuộc giáng xuống nhanh chóng từ những độ cao không thể tính được, được bao quanh bởi những khối lửa rực cháy lấp đầy bầu trời bằng các lưỡi lửa phóng vút, cỗ xe của các Con của Lửa, các Đấng Chúa Tể của Lửa từ Sao Kim, lóe qua không gian không trung; nó dừng lại, lơ lửng trên “Đảo Trắng”, nằm mỉm cười trong lòng Biển Gobi; đảo ấy xanh tươi, rực rỡ với những khối hoa thơm nhiều màu, Trái Đất dâng hiến phần tốt đẹp và xinh đẹp nhất của mình để chào đón Vua đang đến của mình. Tại đó Ngài đứng, “Thanh Niên mười sáu mùa hạ”, Đức Sanat Kumara, “Đồng Trinh-Thanh Niên Vĩnh Cửu”, vị Cai Quản mới của Trái Đất, đến với vương quốc của Ngài, các Môn sinh của Ngài, ba vị Kumara, cùng với Ngài, các Đấng Trợ Giúp của Ngài vây quanh Ngài; ba mươi Hữu Thể Hùng Mạnh có mặt tại đó, vĩ đại vượt quá sự tính toán của Trái Đất, dù theo trật tự cấp bậc, khoác các thân thể vinh quang mà các Ngài đã tạo ra bằng Kriyashakti, Huyền Giai Huyền Bí đầu tiên, các nhánh của một Cây Đa lan rộng duy nhất, vườn ươm của các Chân sư tương lai, trung tâm của mọi sự sống huyền bí. Nơi cư ngụ của các Ngài đã và vẫn là Vùng Đất Thiêng Liêng Bất Diệt, nơi Ngôi Sao Rực Cháy luôn chiếu xuống, biểu tượng của Đấng Quân Vương Trái Đất, Cực bất biến mà quanh đó sự sống của Trái Đất chúng ta luôn xoay chuyển.¹

¹ The use of these occult symbols misled the readers of The Secret Doctrine, (perhaps even its writer) into the mistake that the `Pole’ and `Star’ mentioned in the Occult Commentary were the physical North Pole and North Star. I followed this mistaken idea in my Pedigree of Man. —A.B.

¹ Việc dùng các biểu tượng huyền bí này đã khiến độc giả của Giáo Lý Bí Nhiệm, (có lẽ ngay cả tác giả của nó) rơi vào sai lầm rằng “Cực” và Ngôi Sao” được nhắc đến trong Bình Giải Huyền Bí là Bắc Cực vật lý và Sao Bắc Đẩu. Tôi đã theo ý niệm sai lầm này trong Phả Hệ Con Người của tôi. —A.B.

A Catechism says: “Out of the seven Kumaras, four sacrificed themselves for the sins of the world, and the instruction of the ignorant, to remain till the end of the present Manvantara…. These are the Head, the Heart, the Soul and the Seed of undying knowledge.” H. P. Blavatsky adds: “Higher than the `Four’ is only ONE on Earth as in Heaven—that still more mysterious and solitary Being”—the Silent Watcher.40

Một Giáo Lý Vấn Đáp nói: “Trong bảy vị Kumara, bốn vị đã hi sinh chính mình vì tội lỗi của thế giới, và vì sự giáo huấn của những kẻ vô minh, để ở lại cho đến cuối Giai kỳ sinh hóa hiện tại…. Các Ngài là Đầu, Trái Tim, Linh hồn và Hạt Giống của tri thức bất tử.” H. P. Blavatsky thêm: “Cao hơn ‘Bốn’ chỉ có Đấng DUY NHẤT trên Trái Đất cũng như trên Thiên Đàng—Hữu Thể còn huyền nhiệm và cô tịch hơn nữa ấy”—Đấng Canh Giữ Im Lặng.40

Until the Coming of the Lords the shiploads from the Inter-Chain Nirvana had arrived separately, but now, with the tremendous stimulus given, fecundity increased rapidly like everything else, and perfect fleets were wanted to bring in egos to inhabit the bodies; these came pouring in, while others of lower types took possession of all the animals with the germs of mind who were individualised at the Coming, the Lords of the Flame doing in a moment for millions what we now do by long care for units.

Cho đến Sự Đến của các Đấng Chúa Tể, các chuyến thuyền từ Niết Bàn Liên Dãy đã đến riêng rẽ, nhưng nay, với sự kích thích khổng lồ được ban, khả năng sinh sản tăng nhanh như mọi điều khác, và cần đến những hạm đội hoàn chỉnh để đưa các chân ngã vào cư ngụ trong các thân thể; họ tuôn đến, trong khi những người khác thuộc các kiểu thấp hơn chiếm hữu tất cả các động vật có mầm trí tuệ đã được biệt ngã hóa vào lúc Sự Đến, các Đấng Chúa Tể của Lửa làm trong một khoảnh khắc cho hàng triệu điều mà nay chúng ta làm bằng sự chăm sóc lâu dài cho từng đơn vị.

And now the Arhats from globes A, B, and C came into incarnation, to help the Manu in founding and civilising the fifth, sixth and seventh sub-races of the Lemurians. The fourth sub-race continued, the very egg-headed one, with a stature of from twenty-four to twenty-seven feet in height, loosely and clumsily built, and black in colour; one whom we measured was twenty-five feet in height.² Their buildings were proportionate to their size, cyclopean in structure, made of enormous stones.

Và nay các A La Hán từ các bầu A, B và C đi vào lâm phàm, để giúp Đức Manu trong việc sáng lập và văn minh hóa các giống dân phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy của người Lemuria. Giống dân phụ thứ tư vẫn tiếp tục, kiểu có đầu rất hình trứng, với vóc dáng từ hai mươi bốn đến hai mươi bảy bộ chiều cao, thân hình lỏng lẻo và vụng về, màu đen; một người mà chúng tôi đo được cao hai mươi lăm bộ.² Các công trình của họ tương xứng với kích thước của họ, có cấu trúc Cyclops, làm bằng những khối đá khổng lồ.

² Some curiosity may arise as to how we measured him: first by standing by him, when we came, respectively, a little below and level with his knee; then by setting him against a first-floor balcony at Headquarters, where he could rest his raised hands on the parapet and put his chin on them. We later measured the height of the parapet. The poor image was not made welcome when he put his head over the balcony: “Take him away,” said the owner of the balcony; “he is very ugly and enough to frighten anybody.” Perhaps he was, poor thing.

² Có thể nảy sinh chút tò mò về cách chúng tôi đo y: trước hết bằng cách đứng cạnh y, khi chúng tôi lần lượt thấp hơn một chút và ngang với đầu gối của y; rồi đặt y cạnh ban công tầng một tại Trụ sở, nơi y có thể đặt hai bàn tay giơ lên trên lan can và đặt cằm lên đó. Sau đó chúng tôi đo chiều cao của lan can. Hình ảnh tội nghiệp ấy không được chào đón khi y đưa đầu qua ban công: “Đưa hắn đi,” chủ nhân của ban công nói; “hắn rất xấu và đủ làm bất cứ ai khiếp sợ.” Có lẽ y đúng là như vậy, tội nghiệp.

The Arhats became Kings in the later sub-races, the King-Initiates of the myths which are truer than history.

Các A La Hán trở thành các Vua trong các giống dân phụ về sau, các Vua-Điểm đạo đồ của những huyền thoại vốn thật hơn lịch sử.

A King-Initiate would gather a number of persons round Him, forming a clan, and then would teach this clan some of the arts of civilisation, and direct and help them in the building of a city. One large city was erected under such instruction on what is now the island of Madagascar, and many others were similarly built, over the great Crescent. The style of architecture was, as said above, cyclopean, impressive from its hugeness.

Một Vua-Điểm đạo đồ sẽ tụ tập một số người quanh Ngài, tạo thành một thị tộc, rồi dạy thị tộc này một số nghệ thuật của văn minh, và chỉ đạo cũng như giúp họ xây dựng một thành phố. Một thành phố lớn được dựng lên dưới sự huấn thị như thế trên nơi hiện nay là đảo Madagascar, và nhiều thành phố khác cũng được xây dựng tương tự, trên khắp Lưỡi Liềm lớn. Phong cách kiến trúc, như đã nói ở trên, là Cyclops, gây ấn tượng bởi sự khổng lồ của nó.

During the long period thus occupied, the physical appearance of the Lemurians was changing. The central eye at the top of the head was retreating, as it ceased to function, from the surface to the interior of the head, to form the pineal gland, while the two eyes—at first one on each side of it—were becoming active. The Greek legend of Cyclops is evidently a tradition from the early Lemurian age.

Trong thời kỳ dài được dùng như vậy, dáng vẻ hồng trần của người Lemuria đang thay đổi. Con mắt trung tâm trên đỉnh đầu đang rút lui, khi nó ngừng hoạt động, từ bề mặt vào bên trong đầu, để tạo thành tuyến tùng, trong khi hai mắt—lúc đầu mỗi mắt ở một bên của nó—đang trở nên hoạt động. Truyền thuyết Hy Lạp về Cyclops rõ ràng là một truyền thống từ thời Lemuria sơ kỳ.

There was some domestication of animals; one egg-headed Lemurian was seen leading about a scaly monster, almost as unattractive as his master. Animals of all sorts were eaten raw—among some tribes human flesh was not despised—and creatures of the grade of our slugs, snails and worms, much larger than their degenerate descendants, were regarded with peculiar favour as toothsome morsels.

Có một số việc thuần hóa động vật; một người Lemuria đầu hình trứng được thấy đang dắt đi một quái vật có vảy, gần như kém hấp dẫn chẳng khác gì chủ của nó. Động vật đủ loại bị ăn sống—trong một số bộ lạc thịt người cũng không bị khinh chê—và các sinh vật thuộc cấp độ của sên, ốc và giun của chúng ta, lớn hơn nhiều so với hậu duệ thoái hóa của chúng, được xem là đặc biệt được ưa thích như những miếng ăn ngon.

While the sixth sub-race was developing, a large number of Initiates and their disciples were sent off from the Inter-Chain Nirvana to the Earth,41 to help the Manu of the fourth Root Race by incarnating in the best bodies He had so far evolved. The very best bodies being given to those who had exhausted their karma, their occupants were able to improve them, and to get out of them everything which they were capable of yielding. These Arhats and their pupils worked under the Lords of the Moon and the Manus of the third and fourth Root Races; the seventh sub-race, the bluish-white, was evolved by their help, and furnished men and women of a better type for further moulding by the Manu of the fourth.

Trong khi giống dân phụ thứ sáu đang phát triển, một số đông các Điểm đạo đồ và đệ tử của các Ngài được phái từ Niết Bàn Liên Dãy đến Trái Đất,41 để giúp Đức Manu của giống dân gốc thứ tư bằng cách lâm phàm trong những thân thể tốt nhất mà Ngài cho đến lúc ấy đã tiến hoá được. Vì những thân thể tốt nhất được trao cho những ai đã cạn nghiệp quả, những người cư ngụ trong đó có thể cải thiện chúng, và rút ra từ chúng tất cả những gì chúng có khả năng cung cấp. Các A La Hán này và các môn sinh của các Ngài làm việc dưới quyền các Đấng Chúa Tể của Mặt Trăng và các Đức Manu của các giống dân gốc thứ ba và thứ tư; giống dân phụ thứ bảy, trắng xanh, được tiến hoá nhờ sự trợ giúp của các Ngài, và cung cấp những người nam và nữ thuộc kiểu tốt hơn để Đức Manu của giống dân thứ tư tiếp tục nặn khuôn.

CHAPTER VIII — CHƯƠNG VIII

THE FOURTH ROOT RACE — GIỐNG DÂN GỐC THỨ TƯ

THE Head of the Hierarchy began, almost immediately after His coming, to make arrangements for the founding of the fourth Root Race, employing the future Manu to pick out the smallest, densest and best of the Lemurian types available; and while the founding and growth of civilisation under the King-Initiates were going forward among the Lemurians, the Manu of the coming Race was diligently seeking for the egos suitable for His purpose, and selecting for them appropriate incarnations. He gathered together, in one case, thousands of people, and finally selected one, after tests that lasted over many years, evidently experiencing much difficulty in finding desirable ancestors for His Race. Tribes were set apart, their members inter-marrying for long periods, and the Manu chose promising specimens and transplanted them; He and His disciples incarnated in the progeny of these to raise the physical level. He carried on various experiments simultaneously on the points of the Star, utilising the differences of climate. It looked at first a hopeless task, as though negroes and mulattoes should inter-marry to made a white race; but after generations of selection within a tribe, He would take away one or two, and pair them off with another one or two, similarly selected from another tribe. The third Race Manu had evolved a blue type for His sixth sub-race, and a bluish-white for His seventh, though the masses of the Lemurians remained black; some of the fourth sub-race also mixed in with the blue, and slowly, very slowly, the general Lemurian type improved. It is noticeable also that when, in other parts of the world a lighter-coloured or better type appeared, it was sent off to the Manu, and He tried to find for it a suitable husband or wife; we observed one that was thus sent in from the Madagascan city, and others similarly came in from elsewhere.

ĐẦU của Thánh Đoàn, hầu như ngay sau khi Ngài đến, bắt đầu sắp đặt cho việc sáng lập giống dân gốc thứ tư, dùng vị Đức Manu tương lai để chọn ra những kiểu Lemuria nhỏ nhất, đậm đặc nhất và tốt nhất có sẵn; và trong khi việc sáng lập và tăng trưởng của văn minh dưới quyền các Vua-Điểm đạo đồ đang tiến hành giữa người Lemuria, Đức Manu của Nhân loại sắp đến siêng năng tìm kiếm các chân ngã thích hợp với mục đích của Ngài, và chọn cho họ những lần lâm phàm thích đáng. Trong một trường hợp, Ngài tập hợp hàng nghìn người, và cuối cùng chọn một người, sau các cuộc thử thách kéo dài nhiều năm, rõ ràng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm tổ tiên mong muốn cho Nhân loại của Ngài. Các bộ lạc được tách riêng, các thành viên của họ kết hôn nội bộ trong những thời kỳ dài, và Đức Manu chọn các mẫu hứa hẹn rồi di chuyển họ; Ngài và các đệ tử của Ngài lâm phàm trong hậu duệ của họ để nâng cao mức hồng trần. Ngài tiến hành nhiều thí nghiệm đồng thời trên các điểm của Ngôi Sao, tận dụng các khác biệt khí hậu. Thoạt đầu trông như một nhiệm vụ vô vọng, như thể người da đen và người lai kết hôn với nhau để tạo nên một nhân loại da trắng; nhưng sau nhiều thế hệ chọn lọc trong một bộ lạc, Ngài sẽ đưa đi một hay hai người, và ghép đôi họ với một hay hai người khác, được chọn tương tự từ bộ lạc khác. Đức Manu của Nhân loại thứ ba đã tiến hoá một kiểu xanh cho giống dân phụ thứ sáu của Ngài, và một kiểu trắng xanh cho giống dân phụ thứ bảy của Ngài, dù quần chúng Lemuria vẫn còn đen; một số thuộc giống dân phụ thứ tư cũng pha trộn với người xanh, và chậm rãi, rất chậm rãi, kiểu Lemuria tổng quát được cải thiện. Cũng đáng chú ý rằng khi ở các phần khác của thế giới xuất hiện một kiểu có màu sáng hơn hay tốt hơn, nó được gửi đến Đức Manu, và Ngài cố tìm cho nó một người chồng hay người vợ thích hợp; chúng tôi quan sát một người được gửi đến như vậy từ thành phố Madagascar, và những người khác cũng đến tương tự từ nơi khác.

More rapid progress was made after the arrival of the Initiates, mentioned at the close of the last chapter, the best of the bodies improved by their indwelling being taken by the Manu for the shaping of His first sub-race; the fourth Race had thus, ultimately, a very fine founding and nursing, thanks to the large number of developed people who took the lead and pressed things forward. The Manu was able, finally, to take the bodies of the seventh sub-race, improved by the Initiates using them, as the nucleus of His first sub-race, the Rmoahal, of the fourth Root Race. All who were taken on into the fourth Root Race were the Initiates and their disciples in these bodies, and none at this stage were taken from those who had previously been evolving on the Earth Chain.

Tiến bộ nhanh hơn được thực hiện sau khi các Điểm đạo đồ đến, như đã nhắc ở cuối chương trước; những thân thể tốt nhất được cải thiện nhờ sự cư ngụ của các Ngài được Đức Manu dùng để nặn khuôn giống dân phụ thứ nhất của Ngài; như vậy, cuối cùng, Nhân loại thứ tư đã có một sự sáng lập và nuôi dưỡng rất tốt đẹp, nhờ số đông những người phát triển đã nắm quyền dẫn dắt và thúc đẩy mọi việc tiến lên. Cuối cùng Đức Manu có thể lấy các thân thể của giống dân phụ thứ bảy, đã được cải thiện bởi các Điểm đạo đồ sử dụng chúng, làm hạt nhân cho giống dân phụ thứ nhất của Ngài, Rmoahal, thuộc giống dân gốc thứ tư. Tất cả những ai được đưa tiếp vào giống dân gốc thứ tư đều là các Điểm đạo đồ và đệ tử của các Ngài trong các thân thể này, và ở giai đoạn này không ai được lấy từ những kẻ trước đó đã tiến hoá trên Dãy Trái Đất.

Subba Rao distinguished the Lemurians as blue-black, the Atlanteans as red-yellow, and the Aryans as brown-white. We find the fourth Race Manu eliminating the blue from the colour of His people, passing through purple into the red of the Rmoahal sub-race, and then, by mixing in the blue-white of the seventh Lemurian sub-race, He obtained the first sub-race which seemed to be fully human, and that we could imagine as living among ourselves. After the race-type was fully established, He thus had the materials for the rich red-brown of the Toltec, the third subrace, the most splendid and imperial of the Atlantean peoples, which ruled the world for tens of thousands of years. After a long period of patient working, about a million years having been spent in taking stupendous trouble and care, He reached a fair resemblance to the type given to Him to produce; then He definitely founded the Race, He Himself taking incarnation, and calling His disciples to take bodies in His own family, His posterity thus forming the Race. In the most literal sense the Manu of a Race is its Progenitor, for the whole Race has its Manu as its physical ancestor.

Subba Rao phân biệt người Lemuria là xanh-đen, người Atlantis là đỏ-vàng, và người Arya là nâu-trắng. Chúng ta thấy Đức Manu của Nhân loại thứ tư loại bỏ màu xanh khỏi màu sắc của dân Ngài, đi qua màu tím đến màu đỏ của giống dân phụ Rmoahal, rồi bằng cách pha trộn màu trắng xanh của giống dân phụ Lemuria thứ bảy, Ngài đạt được giống dân phụ đầu tiên dường như hoàn toàn là người, và chúng ta có thể hình dung họ sống giữa chúng ta. Sau khi kiểu nhân loại đã được thiết lập hoàn toàn, Ngài nhờ đó có chất liệu cho màu nâu đỏ phong phú của Toltec, giống dân phụ thứ ba, dân tộc huy hoàng và đế vương nhất của các dân Atlantis, đã cai trị thế giới trong hàng chục nghìn năm. Sau một thời kỳ dài làm việc kiên nhẫn, khoảng một triệu năm đã được dùng trong sự khó nhọc và chăm sóc phi thường, Ngài đạt đến một sự tương đồng khá tốt với kiểu được trao cho Ngài để tạo ra; rồi Ngài chính thức sáng lập Nhân loại, chính Ngài lâm phàm, và kêu gọi các đệ tử của Ngài nhận thân thể trong gia đình của chính Ngài, nhờ đó hậu duệ của Ngài tạo thành Nhân loại. Theo nghĩa đen nhất, Đức Manu của một Nhân loại là Tổ Phụ của nó, vì toàn thể Nhân loại có Đức Manu của mình làm tổ tiên hồng trần.

Even the Manu’s immediate descendants, however, were not a very attractive-looking crowd, judging by our present standard, although a vast improvement on the surrounding population. They were smaller, but had no nervous organisation worth speaking of, and their astral bodies were shapeless. It is extraordinary what he made of such a body for Himself, moulding and shaping it after His own astral and mental bodies and modifying the pigment in the skin, till He worked it into more of the colour that He wished for His Race.

Tuy nhiên, ngay cả các hậu duệ trực tiếp của Đức Manu cũng không phải là một đám người có vẻ ngoài hấp dẫn lắm, xét theo tiêu chuẩn hiện nay của chúng ta, dù họ là một cải thiện lớn so với dân cư xung quanh. Họ nhỏ hơn, nhưng không có tổ chức thần kinh nào đáng nói, và các thể cảm dục của họ thì vô định hình. Thật phi thường khi thấy Ngài đã làm gì với một thân thể như thế cho chính Ngài, nặn khuôn và định hình nó theo các thể cảm dục và thể trí của chính Ngài, và biến đổi sắc tố trong da, cho đến khi Ngài làm nó thành gần hơn với màu sắc mà Ngài mong muốn cho Nhân loại của Ngài.

After this many generations passed before the young Race took possession of its continent, Atlantis, but from this point onwards ship-loads of egos began to come in from the Inter-Chain Nirvana, to inhabit the fourth Race bodies. The Manu arranged with the Root-Manu to send Him large numbers of egos ready for incarnation—those from globe D of the Moon Chain who had complete causal bodies, and who had individualised in the lunar fourth and fifth Rounds. Some of these came into the Tlavatli sub-race, and some later into the Toltec, when it was evolved; and then He again incarnated in the latter, and founded the City of the Golden Gates, the first of many successive Cities of that name. The founding was about one million years ago, one hundred and fifty thousand years before the first great catastrophe which rent the continent of Atlantis.

Sau đó nhiều thế hệ trôi qua trước khi Nhân loại trẻ chiếm hữu lục địa của mình, Atlantis, nhưng từ điểm này trở đi, các chuyến thuyền chở chân ngã bắt đầu đến từ Niết Bàn Liên Dãy, để cư ngụ trong các thân thể của Nhân loại thứ tư. Đức Manu sắp xếp với Đức Manu Gốc để gửi cho Ngài số lượng lớn các chân ngã sẵn sàng lâm phàm—những người từ bầu D của Dãy Mặt Trăng có thể nguyên nhân hoàn chỉnh, và đã biệt ngã hóa trong các Cuộc Tuần Hoàn thứ tư và thứ năm của Mặt Trăng. Một số đi vào giống dân phụ Tlavatli, và một số về sau vào giống Toltec, khi nó được tiến hoá; rồi Ngài lại lâm phàm trong giống sau, và sáng lập Thành Phố của các Cổng Vàng, thành đầu tiên trong nhiều Thành Phố kế tiếp mang tên ấy. Việc sáng lập diễn ra khoảng một triệu năm trước, một trăm năm mươi nghìn năm trước đại thảm họa đầu tiên xé nát lục địa Atlantis.

The Toltec was at this time the ruling Race, by virtue of its great superiority. It was a warrior race, going all over the world and subduing its inhabitants, but its pure types never formed the lower classes anywhere. Even in the City of the Golden Gates, only the aristocracy and the middle class were Toltec; the lower classes were of mixed blood, and were largely composed of men and women taken captive in wars with other sub-races, and reduced to servitude by their conquerors.

Toltec lúc này là Nhân loại cai trị, nhờ sự vượt trội lớn lao của nó. Đó là một nhân loại chiến binh, đi khắp thế giới và khuất phục cư dân của nó, nhưng các kiểu thuần của nó không bao giờ tạo thành các tầng lớp thấp ở bất cứ đâu. Ngay cả trong Thành Phố của các Cổng Vàng, chỉ tầng lớp quý tộc và trung lưu là Toltec; các tầng lớp thấp thuộc huyết thống pha trộn, và phần lớn gồm những người nam và nữ bị bắt làm tù binh trong các cuộc chiến với các giống dân phụ khác, rồi bị những kẻ chinh phục họ hạ xuống làm nô dịch.

At this time arrived on Earth a ship-load of egos, in a group of whom—which kept much together—we are specially interested, as it contained many old friends, Sirius, Orion, Leo and others; some of these were ear-marked on their arrival by Vaivasvata Manu—the Manu of the fifth Race—as part of His future materials. Hence H. P. Blavatsky speaks of the founding of the fifth Race as occurring one million years ago, though it was only led out from Atlantis in 79,997 B.C. These, later, formed the group with an average 1,200 to 1,000 years’ interval between death and re-birth.42

Vào lúc này, một chuyến thuyền chở chân ngã đến Trái Đất, trong một nhóm—vốn ở khá gần nhau—mà chúng ta đặc biệt quan tâm, vì nó chứa nhiều bạn cũ, Sirius, Orion, Leo và những người khác; một số trong họ được Đức Vaivasvata Manu—Đức Manu của Nhân loại thứ năm—đánh dấu khi đến như một phần chất liệu tương lai của Ngài. Vì vậy H. P. Blavatsky nói về việc sáng lập Nhân loại thứ năm như xảy ra một triệu năm trước, dù nó chỉ được dẫn ra khỏi Atlantis vào năm 79.997 trước Công nguyên. Về sau, những người này tạo thành nhóm có khoảng cách trung bình từ 1.200 đến 1.000 năm giữa cái chết và tái sinh.42

The interval between death and re-birth was at this time naturally somewhat shorter, for the material gathered in these primitive lives was not enough to make a long interval, however thinly spread out. The people were not yet capable of deep feeling, though making something out of the heaven-life. In the heaven-world these egos kept together, and the filmy beings connected with them in the intuitional sphere showed a strong affinity for each other. In the lower spheres there was apparently a dull, groping, sense of `want,’ as though they were very dimly sensing the absence of the old friends of former lives and of the Inter-Chain interval, who were still sleeping away in the Inter-Chain Nirvana, not to arrive on Earth for another 400,000 years. In the intuitional sphere, these 700-year people were in touch with the 1,200-year group, but it was only when the former arrived on the Earth that there was a time of general rejoicing among the egos in the higher mental sphere, due chiefly to the arrival of those who were the most deeply loved and revered—the future Masters. Those immediately connected with some of the earlier group were still in that Nirvana, although others had come to earth with the 1,200-year set, among them the two future Masters who now wear English bodies.43 A good deal of slight retarding or hastening of re-birth was resorted to, in order to keep the group together in incarnation.

Khoảng cách giữa cái chết và tái sinh vào lúc này tự nhiên có phần ngắn hơn, vì chất liệu thu thập trong các đời sống sơ khai này không đủ để tạo nên một khoảng cách dài, dù được trải ra mỏng đến đâu. Người ta chưa có khả năng cảm xúc sâu sắc, dù đã tạo được điều gì đó từ đời sống thiên giới. Trong cõi thiên giới, các chân ngã này ở cùng nhau, và các hữu thể mỏng manh liên hệ với họ trong khối cầu trực giác cho thấy một ái lực mạnh mẽ với nhau. Trong các khối cầu thấp hơn, dường như có một cảm giác “thiếu” mờ đục, dò dẫm, như thể họ đang cảm nhận rất lờ mờ sự vắng mặt của các bạn cũ trong các đời trước và trong khoảng Liên Dãy, những người vẫn còn ngủ trong Niết Bàn Liên Dãy, chưa đến Trái Đất trong 400.000 năm nữa. Trong khối cầu trực giác, những người 700 năm này tiếp xúc với nhóm 1.200 năm, nhưng chỉ khi nhóm trước đến Trái Đất thì mới có một thời kỳ hoan hỉ chung giữa các chân ngã trong khối cầu thượng trí, chủ yếu do sự đến của những người được yêu thương và tôn kính sâu sắc nhất—các Chân sư tương lai. Những người liên hệ trực tiếp với một số trong nhóm trước vẫn còn ở trong Niết Bàn ấy, dù những người khác đã đến Trái Đất với nhóm 1.200 năm, trong số đó có hai Chân sư tương lai hiện đang mang thân thể Anh.43 Một số việc làm chậm lại hoặc thúc nhanh tái sinh ở mức độ nhẹ đã được dùng đến, nhằm giữ nhóm cùng nhau trong lâm phàm.

In one of these early lives, Corona44 —a very fine fighter—came from the City of the Golden Gates, and conquered the Tlavatli tribe in which our friends had incarnated. Unconscious as he was of the tie between them, he was yet influenced by it, and treated the tribe kindly: instead of carrying them off as slaves, he introduced various improvements, and incorporated the tribe into the Toltec Empire. Sirius took several births in the Tlavatli sub-race, and then passed into the Toltec. Glancing forward, we saw him once incarnated among the Rmoahals, in order to be with Ursa and others, then several lives were passed in the Turanian, the fourth sub-race—a Chinese stage—and a number in the Akkadian, the sixth; he was observed trading among a people who resembled the Phoenicians of later times. He did not take the sub-races in any special order, and it is difficult, at present, to generalise on this question.

Trong một trong các đời sống đầu này, Corona44—một chiến sĩ rất xuất sắc—đến từ Thành Phố của các Cổng Vàng, và chinh phục bộ lạc Tlavatli mà các bạn của chúng ta đã lâm phàm vào. Dù y không ý thức về mối dây giữa họ, y vẫn chịu ảnh hưởng của nó, và đối xử tử tế với bộ lạc: thay vì bắt họ đi làm nô lệ, y đưa vào nhiều cải tiến, và sáp nhập bộ lạc vào Đế quốc Toltec. Sirius nhận nhiều lần sinh trong giống dân phụ Tlavatli, rồi chuyển sang Toltec. Nhìn thoáng về sau, chúng tôi thấy y một lần lâm phàm giữa người Rmoahal, để ở cùng Ursa và những người khác; rồi nhiều đời được trải qua trong giống Turania, giống dân phụ thứ tư—một giai đoạn Trung Hoa—và một số đời trong giống Akkadia, giống thứ sáu; y được quan sát đang buôn bán giữa một dân tộc giống người Phoenicia về sau. Y không đi qua các giống dân phụ theo bất kỳ thứ tự đặc biệt nào, và hiện nay khó khái quát về vấn đề này.

Ship-loads of egos continued to arrive, and the main cause of separation seemed to be the method of individualisation. Egos of all Rays, or temperaments, of similar general development were mixed up, but those of different intervals between re-births were not. Nor was there any mingling of the large classes of the Moon-Men and Animal-Men. Unless an individual had been taken through the Inner Round, and had undergone its special forcing, when he passed into the class ahead of him, the broad lines of distinction remained, and one class did not overtake another. Even when the Basket-works had completed their causal bodies, the basket origin remained discernible.

Các chuyến thuyền chở chân ngã tiếp tục đến, và nguyên nhân chính của sự phân tách dường như là phương pháp biệt ngã hóa. Các chân ngã thuộc mọi Cung, hay khí chất, có mức phát triển tổng quát tương tự, được trộn lẫn với nhau, nhưng những người có khoảng cách khác nhau giữa các lần tái sinh thì không. Cũng không có sự pha trộn nào giữa các lớp lớn của Người-Mặt Trăng và Người-Động Vật. Trừ khi một cá nhân đã được đưa qua Cuộc Tuần Hoàn Bên Trong, và đã trải qua sự thúc ép đặc biệt của nó, khi y chuyển vào lớp phía trước mình, các đường phân biệt rộng lớn vẫn còn, và lớp này không bắt kịp lớp khác. Ngay cả khi các thể dạng đan rổ đã hoàn chỉnh các thể nguyên nhân của mình, nguồn gốc đan rổ vẫn còn có thể nhận ra.

The first ship-load containing the 700-year group arrived on Earth about 600,000 B.C., some 250,000 years after the first great cataclysm which rent the continent of Atlantis. With it came the future Masters, Mars and Mercury and others, and Mars was born in the north in the Tlavatli sub-race, with Surya and Mercury for his father and mother. Herakles was also in the family, as an elder sister. Surya was the Chief of the tribe, and Mars, his eldest son, soon became its foremost warrior.45 At the age of fifteen, he was left for dead on a battle-field, but was searched for and found by his sister, who was passionately devoted to him, and who nursed him back to health. He succeeded his father as Chief, and had his first experience of earthly rule.

Đợt tàu đầu tiên chở nhóm 700 năm đã đến Trái Đất vào khoảng năm 600.000 trước Công nguyên, chừng 250.000 năm sau trận đại hồng tai thứ nhất đã xé toạc lục địa Atlantis. Cùng với đợt này có các Chân sư tương lai, Mars và Mercury cùng những vị khác; Mars được sinh ra ở phương bắc trong giống dân phụ Tlavatli, với Surya và Mercury là cha mẹ của y. Herakles cũng ở trong gia đình, là chị cả. Surya là Thủ lĩnh của bộ tộc, và Mars, con trai trưởng của ông, chẳng bao lâu đã trở thành chiến sĩ hàng đầu của bộ tộc ấy.45 Vào tuổi mười lăm, y bị bỏ mặc như đã chết trên chiến trường, nhưng được chị y, người hết lòng yêu thương y, tìm kiếm và tìm thấy, rồi chăm sóc y bình phục. Y kế vị cha làm Thủ lĩnh, và có kinh nghiệm đầu tiên về quyền cai trị trên trần thế.

There was one quite small but interesting group, only 105 in number who arrived about the same period, 600,000 B.C., but who did not come from the Moon. It was a contingent arranged for specially by the Head of the Hierarchy, and seemed to consist of some who in Venus had been pet animals of the Lords of the Flame, and were so strongly linked to Them by affection, that without Them they would not have evolved. They had individualised on Venus, and were brought over here, and He placed them all in the first and second Rays. There were other small groups, abnormal in evolution. Thus one little group, belonging to the third Round, was sent over to Mercury, for the special treatment possible under Mercury conditions, and was then brought back here. Some underwent treatment of this kind in preparation for the fifth Root Race. It may be noted that H. P. Blavatsky speaks of some who came to the Earth from Mercury.

Có một nhóm khá nhỏ nhưng thú vị, chỉ gồm 105 người, đến vào khoảng cùng thời kỳ, năm 600.000 trước Công nguyên, nhưng họ không đến từ Mặt Trăng. Đó là một đội ngũ được Đầu của Thánh Đoàn đặc biệt sắp đặt, và dường như gồm một số vị từng là thú nuôi thân thiết của các Chúa Tể Lửa trên Sao Kim, gắn bó với Các Ngài bằng tình thương mạnh mẽ đến nỗi nếu không có Các Ngài thì họ đã không tiến hoá. Họ đã biệt ngã hóa trên Sao Kim, được đưa sang đây, và Ngài đặt tất cả họ vào cung một và cung hai. Cũng có những nhóm nhỏ khác, bất thường trong tiến hoá. Như vậy, một nhóm nhỏ thuộc cuộc tuần hoàn thứ ba được gửi sang Sao Thủy để được xử lý đặc biệt khả dĩ dưới các điều kiện của Sao Thủy, rồi sau đó được đưa trở lại đây. Một số đã trải qua cách xử lý như thế để chuẩn bị cho giống dân gốc thứ năm. Có thể lưu ý rằng H. P. Blavatsky có nói đến một số người đến Trái Đất từ Sao Thủy.

Herakles’ third birth on earth was in the same tribe, in which many members of the group were re-united. They had a certain amount of civilisation, but the houses were mere huts, and—the climate being warm—the clothing was scanty. The life was marked by the re-knitting of the undesirable link with Scorpio, and has therefore a certain importance for those concerned. The tribe in which Herakles was a warrior was attacked by a very savage tribe to which Scorpio belonged; the plan of the latter was to surprise the other tribe and slaughter it as a sacrifice to their deity, or, failing that, to commit suicide, and thereby gain power to torment their enemies from the other world. They performed magical rites of an Obeah-like nature, which, though done in secret, seemed to have become known to Herakles. The final suicide was essential to the success of the whole plan of after-death activity, and the weird spells, with many tremendous `curses and swears,’ became then effective: the result of these was apparently as much dreaded by their foes as it was valued by themselves. The attack failed, and they proceeded to carry out the alternative to victory, a general suicide with gruesome rites. Herakles, partly because his religion did not permit suicide, partly moved by superstitious fears, and partly by the thought that the savages would make nice brawny slaves, interfered and saved a number of them whom he captured and bound. Later on these folk plotted to assassinate him, and he had them executed; thus began again, this time on earth, a long series of antagonisms not yet exhausted.

Lần sinh thứ ba của Herakles trên địa cầu là trong cùng bộ tộc ấy, nơi nhiều thành viên của nhóm được đoàn tụ. Họ có một mức độ văn minh nào đó, nhưng nhà cửa chỉ là những túp lều, và — vì khí hậu ấm áp — y phục rất ít. Đời sống ấy được đánh dấu bằng việc nối lại mối liên hệ không đáng mong muốn với Hổ Cáp, và vì thế có một tầm quan trọng nhất định đối với những người liên hệ. Bộ tộc trong đó Herakles là một chiến sĩ bị một bộ tộc rất man rợ, mà Hổ Cáp thuộc về, tấn công; kế hoạch của bộ tộc sau là đánh úp bộ tộc kia và tàn sát họ như một lễ hiến tế cho Thượng đế của họ, hoặc nếu thất bại thì tự sát, nhờ đó giành quyền năng để hành hạ kẻ thù từ thế giới bên kia. Họ thực hiện các nghi lễ huyền thuật có tính chất giống Obeah, tuy làm trong bí mật nhưng dường như đã bị Herakles biết được. Việc tự sát cuối cùng là thiết yếu cho sự thành công của toàn bộ kế hoạch hoạt động sau khi chết, và khi ấy những bùa chú kỳ dị, cùng nhiều lời “nguyền rủa và thề độc” khủng khiếp, trở nên hiệu nghiệm: kết quả của chúng rõ ràng được kẻ thù của họ khiếp sợ cũng nhiều như chính họ coi trọng. Cuộc tấn công thất bại, và họ bắt đầu thực hiện phương án thay thế chiến thắng: một cuộc tự sát tập thể với các nghi lễ ghê rợn. Herakles, một phần vì tôn giáo của y không cho phép tự sát, một phần vì bị thúc đẩy bởi những nỗi sợ mê tín, và một phần bởi ý nghĩ rằng những kẻ man rợ ấy sẽ là những nô lệ lực lưỡng tốt, đã can thiệp và cứu một số người trong bọn họ, bắt giữ và trói lại. Về sau những người này âm mưu ám sát y, và y cho xử tử họ; như vậy lại bắt đầu, lần này trên địa cầu, một chuỗi dài những đối kháng chưa hề cạn kiệt.

It may be noted, as bearing on the closeness of ties set up between individuals and enduring for hundreds of lives, that from this time forward a set of persons within the large groups of 1,200- and 700-years’ people—a set which we may, for the sake of distinction, dub `the Clan’ —while visiting almost every country in the world, kept generally together, and Sirius, especially, was rarely found to marry outside this little group. Taking a bird’s-eye view, we notice that there were occasional gatherings of the whole big Clan, as in the City of the Golden Gates when Mars was King, in Peru when he was Emperor, in the mainland near the White Island under the Manu, and in the second and third sub-races at their beginnings and their migrations—to take a few instances out of many. Herakles turned out to be a fighting sort of person, clinging closely to Mars; Sirius a more peaceful one, following Mercury continually; Alcyone is also of that ilk, with Mizar. A good many belonging to the larger groups with whom we were very familiar in those early days, however, seem to have dropped out by the way, and we have not met them in this life; some may be just now in the heaven-world. The Theosophical Society is another instance of the gathering of this same Clan, and people are coming into it all the time, who turn out to be old friends. Some again, like Corona, are just now awaiting a favourable opportunity for incarnation.

Có thể lưu ý, vì điều này liên quan đến sự mật thiết của các mối dây được thiết lập giữa các cá nhân và kéo dài qua hàng trăm kiếp sống, rằng từ thời điểm này trở đi, một nhóm người trong các nhóm lớn gồm những người 1.200 năm và 700 năm — một nhóm mà để phân biệt, chúng ta có thể gọi là “Thị tộc” — trong khi thăm viếng hầu như mọi quốc gia trên thế giới, nhìn chung vẫn ở cùng nhau, và đặc biệt Sirius hiếm khi kết hôn ngoài nhóm nhỏ này. Nhìn toàn cảnh, chúng ta nhận thấy thỉnh thoảng có những cuộc tụ họp của toàn bộ Thị tộc lớn, như ở Thành phố các Cổng Vàng khi Mars làm Vua, ở Peru khi y làm Hoàng đế, trên đại lục gần Đảo Trắng dưới quyền Đức Manu, và trong các giống dân phụ thứ hai và thứ ba vào buổi đầu cũng như trong các cuộc di cư của họ — chỉ nêu vài trường hợp trong số nhiều trường hợp. Herakles tỏ ra là một người thích chiến đấu, bám rất sát Mars; Sirius là người ôn hòa hơn, luôn đi theo Mercury; Alcyone cũng thuộc loại ấy, cùng với Mizar. Tuy nhiên, khá nhiều người thuộc các nhóm lớn hơn mà chúng ta rất quen thuộc trong những ngày đầu ấy dường như đã rơi rớt dọc đường, và chúng ta đã không gặp họ trong kiếp này; một số có thể hiện đang ở cõi thiên. Hội Thông Thiên Học là một trường hợp khác về sự tụ họp của chính Thị tộc này, và luôn có những người bước vào hội, rồi hóa ra là bạn cũ. Một số khác, như Corona, hiện đang chờ một cơ hội thuận lợi để lâm phàm.

The ship-loads continued to come in for a long time, only ceasing with the catastrophe of 75,000 B.C., so the phrase as to shutting the door evidently applies only to the animals coming up into humanity, and not to those whose causal bodies were already developed. The anthropoid apes, of whom H. P. Blavatsky spoke as still admissible to human bodies, would belong to the animal kingdom of the Moon, not to that of the Earth; they took up bodies produced by the “sin of the mindless,” and are the gorillas, chimpanzees, orang-utangs, baboons, and gibbons. They might be looked for in Africa, and might incarnate there in the still existing very low human races of Lemurian type.

Các đợt tàu tiếp tục đến trong một thời gian dài, chỉ chấm dứt với thảm họa năm 75.000 trước Công nguyên; vì vậy, câu nói về việc đóng cửa rõ ràng chỉ áp dụng cho các con thú đang tiến lên nhân loại, chứ không áp dụng cho những người mà thể nguyên nhân đã phát triển. Những loài vượn người mà H. P. Blavatsky nói là vẫn còn có thể được nhận vào thân người, hẳn thuộc về giới động vật của Mặt Trăng, chứ không thuộc giới của Trái Đất; chúng nhận lấy những thân thể được tạo ra bởi “tội lỗi của những kẻ vô trí”, và đó là khỉ đột, tinh tinh, đười ươi, khỉ đầu chó và vượn. Có thể tìm chúng ở châu Phi, và chúng có thể lâm phàm tại đó trong các nhân loại rất thấp kém thuộc kiểu Lemuria vẫn còn tồn tại.

Coming down to 220,000 B.C., to the City of the Golden Gates, we find Mars there ruling as Emperor, and bearing by inheritance the title of `Divine Ruler,’ transmitted from Those who had ruled in the past, the great Initiates of earlier days. Mercury was the chief Hierophant, the head of the State religion. It is remarkable how these two come down together through the ages, one always the Ruler, the Warrior, the other always the Teacher, the Priest. Noteworthy also is the fact that we never saw Mars in a woman’s body, whereas Mercury did take one from time to time.

Đi xuống đến năm 220.000 trước Công nguyên, đến Thành phố các Cổng Vàng, chúng ta thấy Mars đang cai trị tại đó với tư cách Hoàng đế, và thừa kế tước hiệu “Nhà Cai Trị Thiêng Liêng”, được truyền lại từ Những Đấng đã cai trị trong quá khứ, các điểm đạo đồ vĩ đại của những thời kỳ trước. Mercury là Đại Tư Tế chính, đứng đầu quốc giáo. Thật đáng chú ý biết bao khi hai vị này cùng đi xuống qua các thời đại, một vị luôn là Nhà Cai Trị, Chiến Sĩ, vị kia luôn là Huấn sư, Tư Tế. Cũng đáng lưu ý là sự kiện chúng ta chưa bao giờ thấy Mars trong thân thể nữ giới, trong khi Mercury thỉnh thoảng có nhận một thân như vậy.

There was quite a gathering of the Clan at this time. The Crown Prince was then Vajra, and Ulysses, who had been a successful leader on the frontier, was Captain of the Imperial Guard. This Guard formed a picked body of men, even the privates being of the upper classes, and they had charge of the Palace; they were not supposed to go out to war, but rather to strut about in gorgeous uniforms, to attend on the person of the Monarch during ceremonials, and increase his splendour. Later, however, after the death of Ulysses, Vajra became Captain of the Guard, and he persuaded his father to allow him to take his troop off into a campaign; being always a turbulent and restless person, he was not content to lead a life of show and luxury, and his soldiers, who adored him for his dash and courage, were willing enough to exchange their golden breastplates for the severer armament of war. Among them we find a number of our Clan: Herakles was there, with Pindar, Beatrix, Gemini, Capella, Lutetia, Bellona, Apis, Arcor, Capricorn, Theodoros, Scotus and Sappho. Herakles had as servant-boys three Tlavatli youths, captured in battle by his father and given to him—Hygeia, Bootes, and Alcmene. The soldiers were distinctly rowdy, indulging in orgies of eating and drinking, and then rioting about the city; but they had the merit of respecting learning, paid reverence to the priests, and attended religious ceremonies as part of their Palace duty. They had a certain code of honour among themselves and kept it very rigidly, and in this was included the protection of the weak. Their homes were not unrefined, after a fashion, though not squaring with modern ideas.

Vào thời điểm này có một cuộc tụ họp khá đông của Thị tộc. Thái tử khi ấy là Vajra, và Ulysses, người đã là một thủ lĩnh thành công ở vùng biên giới, là Đội trưởng Cấm vệ Hoàng gia. Đội Cấm vệ này là một đoàn người được tuyển chọn, ngay cả lính thường cũng thuộc tầng lớp trên, và họ phụ trách Hoàng cung; họ không được giả định là sẽ ra trận, mà đúng hơn là diễu hành trong những bộ quân phục lộng lẫy, hầu cận chính thân vị Quân vương trong các nghi lễ, và làm tăng thêm vẻ huy hoàng của Ngài. Tuy nhiên về sau, sau khi Ulysses qua đời, Vajra trở thành Đội trưởng Cấm vệ, và y thuyết phục cha cho phép y đưa đội quân của mình đi chiến dịch; vì luôn là một người náo động và không yên, y không bằng lòng sống đời phô trương và xa hoa, còn binh sĩ của y, những người tôn sùng y vì khí phách và lòng can đảm, cũng rất sẵn lòng đổi những tấm giáp ngực bằng vàng lấy trang bị nghiêm khắc hơn của chiến tranh. Trong số họ, chúng ta thấy nhiều người thuộc Thị tộc của mình: Herakles có mặt ở đó, cùng với Pindar, Beatrix, Gemini, Capella, Lutetia, Bellona, Apis, Arcor, Capricorn, Theodoros, Scotus và Sappho. Herakles có ba thiếu niên Tlavatli làm đầy tớ, do cha y bắt được trong chiến trận và trao cho y — Hygeia, Bootes và Alcmene. Binh sĩ rõ ràng khá ồn ào, sa vào những cuộc chè chén ăn uống rồi gây rối trong thành phố; nhưng họ có ưu điểm là kính trọng học vấn, tỏ lòng tôn kính các tư tế, và tham dự các nghi lễ tôn giáo như một phần bổn phận trong Hoàng cung. Họ có một quy tắc danh dự nhất định giữa họ với nhau và giữ nó rất nghiêm, trong đó bao gồm việc bảo vệ kẻ yếu. Gia đình của họ, theo một kiểu nào đó, không phải là thô lậu, tuy không phù hợp với những quan niệm hiện đại.

The death of Ulysses, the Captain of the Guard, must not be passed by unnoticed, for it linked in indissoluble bonds the three persons chiefly concerned. The Emperor Mars had placed in the Captain’s hands the care of his son Vajra, a daring, reckless lad; for the times were dangerous, conspiracies were rife in the Golden City, and the capture of the person of the Crown Prince would have been a great triumph for the conspirators. Hence Ulysses would not allow the Prince to leave the Palace grounds, much to that young man’s disgust. One day the Captain and the Prince were sitting at some little distance from the Palace, and a band of conspirators, greatly daring, crept up under the shelter of some bushes, and suddenly pounced upon the two. The Prince was struck down senseless, but Ulysses, bestriding his body, fought fiercely against the assailants, shouting for help. His cries were heard, and as he fell bleeding across the body of his young master, pierced by many wounds, some soldiers of the Guard came rushing up, and the conspirators took to their heels. The two unconscious bodies were lifted on to stretchers, carried to the Throne-room of the Palace, where the Emperor was sitting, and there laid at his feet. The dying Captain raised his eyes to his Emperor: “Sire, forgive; I did my best.”

Cái chết của Ulysses, Đội trưởng Cấm vệ, không thể được bỏ qua không nhắc đến, vì nó đã liên kết ba người liên hệ chính yếu bằng những mối dây không thể tháo gỡ. Hoàng đế Mars đã đặt việc chăm sóc con trai mình là Vajra, một chàng trai táo bạo và liều lĩnh, vào tay Đội trưởng; vì thời cuộc nguy hiểm, những âm mưu lan tràn trong Thành phố Vàng, và việc bắt được chính thân Thái tử sẽ là một thắng lợi lớn cho những kẻ mưu phản. Vì thế Ulysses không cho phép Hoàng tử rời khỏi khuôn viên Hoàng cung, khiến chàng trai trẻ hết sức bực bội. Một ngày nọ, Đội trưởng và Hoàng tử đang ngồi cách Hoàng cung một quãng ngắn, thì một nhóm mưu phản, hết sức liều lĩnh, bò đến dưới sự che chở của vài bụi cây, rồi bất ngờ nhảy xổ vào hai người. Hoàng tử bị đánh ngã bất tỉnh, nhưng Ulysses, đứng dạng chân trên thân thể chàng, chiến đấu dữ dội chống lại những kẻ tấn công, vừa hét gọi cứu viện. Tiếng kêu của ông được nghe thấy, và khi ông ngã xuống, máu chảy, phủ ngang thân thể người chủ trẻ của mình, bị nhiều vết thương đâm thủng, một số binh sĩ Cấm vệ lao tới, còn bọn mưu phản bỏ chạy. Hai thân thể bất tỉnh được đặt lên cáng, mang đến Phòng Ngai của Hoàng cung, nơi Hoàng đế đang ngồi, và đặt dưới chân Ngài. Vị Đội trưởng hấp hối ngước mắt nhìn Hoàng đế của mình: “Tâu Bệ hạ, xin tha thứ; thần đã làm hết sức.”

The Emperor stooped down, and dipped his finger in the blood welling up from the Captain’s breast; he touched with it the forehead of the dying man, his own forehead and his feet, and musically his voice fell upon the silence. “By the blood that was shed for me and mine, the bond between us shall never be broken. Depart in peace, faithful servant and friend.”

Hoàng đế cúi xuống, nhúng ngón tay vào máu đang trào ra từ ngực Đội trưởng; Ngài chạm nó vào trán người hấp hối, vào trán chính Ngài và vào chân Ngài, rồi giọng Ngài vang lên du dương trong im lặng. “Bởi dòng máu đã đổ vì ta và người của ta, mối dây giữa chúng ta sẽ không bao giờ bị phá vỡ. Hãy ra đi trong bình an, người hầu trung tín và người bạn của ta.”

The words reached the ears already becoming dull; Ulysses smiled, and died. The young Prince, who was only stunned, revived. And the bond lasted on, millennium after millennium, and became the bond between Master and disciples, for ever unbreakable.

Những lời ấy đến tai vốn đã trở nên mờ đục; Ulysses mỉm cười và qua đời. Vị Hoàng tử trẻ, vốn chỉ bị choáng, tỉnh lại. Và mối dây ấy kéo dài, thiên niên kỷ này sang thiên niên kỷ khác, và trở thành mối dây giữa Chân sư và các đệ tử, mãi mãi không thể phá vỡ.

The lives of Herakles were not remarkable in any way for a long time. They were spent in fighting, when the body was that of a man, in having very numerous babies when it was that of a woman.

Các kiếp sống của Herakles trong một thời gian dài không có gì đáng chú ý. Chúng trôi qua trong chiến đấu, khi thân thể là nam giới, và trong việc sinh rất nhiều con khi thân thể là nữ giới.

The spread of black magic in Atlantis led up to the second great catastrophe of 200,000 B.C., which left as remnants of the great continent which had joined Europe and Africa to America the huge islands of Ruta and Daitya. They endured until the catastrophe of 75,025 B.C. 46 overwhelmed them beneath the waters of the ocean we now call the Atlantic.

Sự lan tràn của Hắc thuật ở Atlantis dẫn đến trận đại hồng tai thứ hai năm 200.000 trước Công nguyên, để lại, như những phần còn sót của lục địa lớn từng nối châu Âu và châu Phi với châu Mỹ, hai đảo khổng lồ Ruta và Daitya. Chúng tồn tại cho đến thảm họa năm 75.025 trước Công nguyên 46 nhấn chìm chúng dưới làn nước của đại dương mà nay chúng ta gọi là Đại Tây Dương.

During the next hundred thousand years, the people of Atlantis flourished abundantly, and built up a mighty, but over-luxurious, civilisation. Its centre was in the City of the Golden Gates—the name was preserved—but it spread far and wide over the world, both over Africa and the West. Unhappily with the civilisation spread again also the knowledge giving control over nature which, used for selfish purposes, becomes black magic.

Trong một trăm nghìn năm kế tiếp, dân Atlantis phồn thịnh dồi dào, và xây dựng một nền văn minh hùng mạnh nhưng quá xa hoa. Trung tâm của nó ở Thành phố các Cổng Vàng — cái tên được giữ lại — nhưng nó lan rộng khắp thế giới, cả qua châu Phi lẫn phương Tây. Đáng buồn thay, cùng với nền văn minh ấy, tri thức đem lại quyền kiểm soát trên bản chất cũng lại lan rộng, và khi được dùng cho các mục đích ích kỷ, nó trở thành Hắc thuật.

Members of the Clan came into it, more or less, sometimes being born into families immersed in it, and breaking away; sometimes dallying with it and being a little tarred therewith. Some experiences of Alcyone’s that often tormented him in the form of dreams in a later life may here be put on record.47 They happened in a life that occurred about 100,000 B.C. Corona was then the White Emperor at the City of the Golden Gates; Mars was a general under him, and Herakles was the wife of Mars. A great rebellion was being plotted, and a man of strange and evil knowledge,—a `Lord of the Dark Face,’ leagued with the dark Earth-Spirits who form the `Kingdom of Pan,’ the semi-human, semi-animal creatures who are the originals of the Greek satyrs—was gradually gathering round himself a huge army which followed him as Emperor, the Emperor of the Midnight Sun, the Dark Emperor, set over against the White. The worship he established, with himself as central idol—huge images of himself being placed in the temples—was sensual and riotous, holding men through the gratification of their animal passions. Against the White Cave of Initiation in the City of the Golden Gates was set up the Dark Cave in which the mysteries of Pan, the Earth-God, were celebrated. All was working up toward another great catastrophe.

Các thành viên của Thị tộc ít nhiều đã bước vào đó, đôi khi được sinh ra trong những gia đình đắm chìm trong nó rồi tách ra; đôi khi đùa giỡn với nó và bị vấy nhiễm đôi chút. Một số kinh nghiệm của Alcyone, vốn thường hành hạ y dưới hình thức những giấc mơ trong một kiếp về sau, có thể được ghi lại ở đây.47 Chúng xảy ra trong một kiếp sống khoảng năm 100.000 trước Công nguyên. Corona khi ấy là Hoàng đế Trắng tại Thành phố các Cổng Vàng; Mars là một vị tướng dưới quyền ông, và Herakles là vợ của Mars. Một cuộc nổi loạn lớn đang được âm mưu, và một người có tri thức kỳ lạ và tà ác — một “Chúa Tể của Khuôn Mặt Tối”, liên minh với các Tinh linh Đất hắc ám cấu thành “Vương quốc của Pan”, những sinh vật nửa người nửa thú vốn là nguyên mẫu của các thần rừng Hy Lạp — đang dần dần quy tụ quanh mình một đạo quân khổng lồ, theo ông như Hoàng đế, Hoàng đế của Mặt Trời Nửa Đêm, Hoàng đế Hắc Ám, được đặt đối nghịch với Hoàng đế Trắng. Sự thờ phụng mà ông thiết lập, với chính ông làm thần tượng trung tâm — những tượng khổng lồ của chính ông được đặt trong các đền thờ — là nhục cảm và phóng túng, giữ con người bằng sự thỏa mãn các dục vọng thú tính của họ. Đối lập với Hang Trắng Điểm đạo trong Thành phố các Cổng Vàng, Hang Tối được dựng lên, nơi các bí nhiệm của Pan, Thần Đất, được cử hành. Tất cả đang tiến dần đến một đại hồng tai khác.

Alcyone, some one hundred and twenty lives back, was the son of a man who followed the hideous rites of this dark cult, but he held himself much aloof, shrinking from the wild orgies of animalism that enchained the bulk of the worshippers. But, as is too often the case, he fell into the trap baited by a woman’s beauty, and met a grievous fate. The story may be told, as it throws light on the conditions which brought down later upon Atlantis the heavy doom pronounced by the Occult Hierarchy.

Alcyone, cách đây khoảng một trăm hai mươi kiếp, là con trai của một người đi theo các nghi lễ ghê tởm của giáo phái hắc ám này, nhưng y giữ mình khá xa, co rút trước những cuộc truy hoan man dại của thú tính vốn xiềng xích phần lớn những kẻ thờ phụng. Nhưng, như thường quá hay xảy ra, y rơi vào cái bẫy được mồi bằng sắc đẹp của một người phụ nữ, và gặp một số phận đau buồn. Câu chuyện có thể được kể lại, vì nó soi sáng các điều kiện về sau đã kéo xuống trên Atlantis án phạt nặng nề do Huyền Giai Huyền Bí tuyên bố.

CHAPTER IX — CHƯƠNG IX

BLACK MAGIC IN ATLANTIS — HẮC THUẬT Ở ATLANTIS

AN EPISODE — MỘT GIAI THOẠI

ALCYONE is lying half asleep, half awake, on a grassy bank sloping down to a rippling brooklet. His face is perplexed, even anxious, the reflex of his troubled mind. He is the son of a wealthy and powerful family, belonging to the priesthood, the `Priesthood of the Midnight Sun,’ vowed to the service of the Gods of the Nether World, whom the priests sought in the gloom of night, in dark earth-caverns opening into passages that led down, down, into unknown depths.

ALCYONE đang nằm nửa ngủ nửa thức trên một bờ cỏ thoai thoải xuống một con suối nhỏ róc rách. Khuôn mặt y bối rối, thậm chí lo âu, phản chiếu thể trí rối ren của y. Y là con trai của một gia đình giàu có và quyền thế, thuộc hàng tư tế, “Tư tế đoàn của Mặt Trời Nửa Đêm”, đã thề phụng sự các Thượng đế của Hạ Giới, những Đấng mà các tư tế tìm kiếm trong bóng tối của đêm, trong các hang đất tối mở vào những lối đi dẫn xuống, xuống mãi, vào những vực sâu không ai biết.

At this time, the great civilised nations of Atlantis had drawn into two opposed camps: the one, looking to the ancient City of the Golden Gates as their sacred metropolis, maintained the traditional worship of their race, the worship of the Sun—the Sun in the beauty of his rising, clad in the bright colours of the dawning, encircled with the radiant youths and maidens of his court; the Sun in the zenith of his glory, the blazing strength of his mid-heaven, scattering abroad his brilliant rays of life and heat; the Sun in the splendid couch of his setting, touching into rarest softest hues the clouds he left as promise of his return. The people worshipped him with choral dances, with incense and with flowers, with joyous songs, and with offerings of gold and gems, with laughter and with minstrelsy, with joyous games and sports. Over these children of the Blazing Sun the White Emperor bore rule, and his race had for long millennia held unchallenged sway. But gradually the outlying kingdoms, ruled by his lieutenants, had become independent, and they were beginning to join together into a Federation, rallying round a man who had appeared among them, a remarkable but sinister figure.

Vào thời điểm này, các quốc gia văn minh lớn của Atlantis đã chia thành hai phe đối nghịch: một phe, hướng về Thành phố cổ của các Cổng Vàng như kinh đô thiêng liêng của họ, duy trì sự thờ phụng truyền thống của nhân loại họ, sự thờ phụng Mặt Trời — Mặt Trời trong vẻ đẹp lúc mọc, khoác những màu sắc rực rỡ của bình minh, được bao quanh bởi những thanh niên và thiếu nữ chói sáng trong triều đình của Ngài; Mặt Trời ở đỉnh cao vinh quang, sức mạnh rực lửa của thiên đỉnh, tung rải khắp nơi những tia sáng huy hoàng của sự sống và nhiệt; Mặt Trời trên chiếc giường lộng lẫy lúc lặn, nhuộm những đám mây Ngài để lại như lời hứa sẽ trở về bằng những sắc thái hiếm hoi và dịu mềm nhất. Dân chúng thờ phụng Ngài bằng các điệu múa hợp xướng, bằng hương trầm và hoa, bằng những bài ca hoan hỉ, bằng lễ vật vàng và châu báu, bằng tiếng cười và nhạc hát, bằng các trò chơi và cuộc vui hoan hỉ. Trên những người con của Mặt Trời Rực Cháy này, Hoàng đế Trắng cai trị, và giống dòng của ông đã nắm quyền không bị thách thức trong nhiều thiên niên kỷ. Nhưng dần dần các vương quốc ngoại biên, do các phó vương của ông cai trị, đã trở nên độc lập, và họ bắt đầu liên kết thành một Liên bang, quy tụ quanh một người đã xuất hiện giữa họ, một nhân vật phi thường nhưng hiểm độc.

This man, Oduarpa by name, ambitious and crafty by nature, had realised that, in order to give stability to the Federation and to make head against the White Emperor, it was necessary to call to his aid the resources of the darker magic, to make compact with the denizens of the Nether World, and to establish a worship which would attract the people by its sensuous pleasures, and by the weird unholy powers it placed within the reach of its adepts. He had himself, by such compact, extended his life over an abnormal period, and, when going into battle, rendered himself impervious to spear or sword-thrust by materialising a metallic coating over his body, which turned weapons aside as would a shirt of mail. He aimed at supreme power, and was in a fair way to reach it, and he dreamed of himself as sitting crowned in the Palace of the City of the Golden Gates.

Người này, tên là Oduarpa, tham vọng và xảo quyệt theo bản chất, đã nhận ra rằng để đem lại sự ổn định cho Liên bang và chống lại Hoàng đế Trắng, cần phải kêu gọi đến các tài nguyên của huyền thuật tối tăm hơn, lập giao ước với các cư dân của Hạ Giới, và thiết lập một hình thức thờ phụng sẽ thu hút dân chúng bằng những khoái lạc giác quan, cùng những quyền năng kỳ dị và bất thiêng mà nó đặt trong tầm tay các chân sư của nó. Bằng chính giao ước như thế, ông đã kéo dài đời mình qua một thời kỳ bất thường, và khi ra trận, khiến bản thân không bị giáo hay gươm đâm thủng bằng cách hiện hình một lớp phủ kim loại trên thân mình, làm vũ khí bật sang một bên như một áo giáp lưới. Ông nhắm đến quyền lực tối thượng, và đang trên đường khá chắc để đạt được nó, và ông mơ thấy mình ngồi đội vương miện trong Hoàng cung của Thành phố các Cổng Vàng.

The father of our youth was among the most intimate of his friends, and privy to his most secret designs, and both hoped that the lad would devote himself to the forwarding of their ambitions. But the youth had dreams and hopes of his own, nourished silently within his own heart; he had seen in the visions of the night the stately figure of Mars, a general of the White Emperor, Corona, had gazed into his deep compelling eyes, had heard, as from afar, his words: “Alcyone, thou art mine, of my people, and surely thou shalt come to me, and know thyself as mine. Pledge not thyself to mine enemies, thou who art mine.” And he had vowed himself his subject, as vassal to his lord.

Cha của chàng trai trẻ chúng ta là một trong những bạn thân thiết nhất của ông, biết rõ các mưu đồ bí mật nhất của ông, và cả hai đều hy vọng chàng trai sẽ hiến mình để thúc đẩy tham vọng của họ. Nhưng chàng trai có những giấc mơ và hy vọng riêng, được âm thầm nuôi dưỡng trong chính tim mình; y đã thấy trong các linh ảnh ban đêm dáng hình uy nghi của Mars, một vị tướng của Hoàng đế Trắng Corona, đã nhìn vào đôi mắt sâu thẳm đầy sức chế ngự của ông, đã nghe, như từ xa vọng lại, những lời của ông: “Alcyone, ngươi thuộc về ta, thuộc dân của ta, và chắc chắn ngươi sẽ đến với ta, và biết mình là của ta. Đừng thề phục vụ kẻ thù của ta, hỡi ngươi là người của ta.” Và y đã thề làm thần dân của ông, như chư hầu đối với lãnh chúa của mình.

Of this was Alcyone thinking, as he lay musing by the stream. For another influence was playing upon him, and his blood ran hotly in his veins. Ill-pleased at his indifference to their worship—nay, at his shrinking from it, even in its outward rites of animal sacrifice and poured out oblations of strong drink—his father and Oduarpa had conceived the plan of drawing him into the secret mysteries by the allurements of a maiden, Cygnus, dark and beauteous as the midnight sky star-studded, who loved him deeply, but had so far failed to win his young heart with her charms. Between her dusky brilliant eyes and his half-fascinated gaze would float the splendid face of his vision, and he would hear again the thrilling whisper: “Thou art mine.”

Alcyone đang nghĩ về điều này khi y nằm trầm tư bên dòng suối. Vì một ảnh hưởng khác đang tác động lên y, và máu y nóng ran trong mạch. Không hài lòng trước sự thờ ơ của y đối với sự thờ phụng của họ — hơn nữa, trước sự co rút của y khỏi nó, ngay cả trong các nghi lễ bên ngoài gồm hiến tế thú vật và rót lễ phẩm rượu mạnh — cha y và Oduarpa đã nghĩ ra kế hoạch lôi kéo y vào các bí nhiệm bí mật bằng sự quyến rũ của một thiếu nữ, Cygnus, đen và đẹp như bầu trời nửa đêm đầy sao, người yêu y sâu đậm nhưng cho đến nay vẫn chưa chiếm được trái tim trẻ của y bằng sắc đẹp của nàng. Giữa đôi mắt sẫm màu sáng rực của nàng và cái nhìn nửa bị mê hoặc của y, khuôn mặt lộng lẫy trong linh ảnh của y lại hiện ra, và y lại nghe tiếng thì thầm làm rung động: “Ngươi thuộc về ta.”

At length, however, she had so far won him—persuaded to the task by her mother, a veritable witch-hag, who had told her that thus alone might she gain his love—as to obtain from him a promise that he would accompany her to the underground caves in which the magical rites were performed, which drew the denizens of the Nether World from their retreats, and gained from them the forbidden knowledge which changed the human into the animal form, thus giving opportunity for free play to the passions of the brute hidden in man, passions of lust and slaughter. Cygnus had played upon his heart with skill taught by her own passion, and had fanned his indifference into fire, not enduring, indeed, but warm while it lasted. And to-day the passion was hot upon him, and the power of her allurement swayed him. For she had just left him, after coaxing him to promise to meet her after sunset near the caverns where the mysteries were performed, and he was struggling between his longing to follow her, and his repulsion from the guessed-at scenes in which he would be expected to take part. The sun sank below the horizon and the sky darkened while still Alcyone lay musing; with a shudder he started to his feet, but now his mind was made up, and he turned his steps towards the rendezvous.

Tuy nhiên, cuối cùng nàng đã chinh phục y đến mức — được mẹ nàng, một mụ phù thủy già thực sự, thuyết phục thực hiện nhiệm vụ, bà đã nói với nàng rằng chỉ bằng cách ấy nàng mới có thể giành được tình yêu của y — nhận được từ y lời hứa rằng y sẽ đi cùng nàng đến các hang ngầm nơi các nghi lễ huyền thuật được thực hiện, những nghi lễ lôi kéo cư dân của Hạ Giới ra khỏi nơi ẩn náu của họ, và giành từ họ tri thức bị cấm đoán, vốn biến hình người thành hình thú, nhờ đó tạo cơ hội cho các dục vọng của con thú ẩn trong con người được tự do tung hoành, những dục vọng của nhục dục và tàn sát. Cygnus đã khéo léo đánh vào tim y bằng kỹ năng do chính đam mê của nàng dạy cho, và đã thổi sự thờ ơ của y thành lửa, quả thật không bền lâu, nhưng nóng khi còn cháy. Và hôm nay đam mê đang bừng nóng trong y, và quyền lực quyến rũ của nàng chi phối y. Vì nàng vừa rời khỏi y, sau khi dỗ dành y hứa gặp nàng sau hoàng hôn gần các hang nơi các bí nhiệm được cử hành, và y đang giằng co giữa niềm khao khát đi theo nàng và sự ghê sợ trước những cảnh đoán biết được mà y sẽ bị mong đợi tham dự. Mặt trời lặn xuống dưới chân trời và bầu trời tối lại trong khi Alcyone vẫn nằm trầm tư; với một cái rùng mình, y bật dậy, nhưng lúc này thể trí y đã quyết định, và y hướng bước về nơi hẹn.

To his surprise a considerable company was gathered at the spot; his father was there with his priestly friends, and Cygnus with a crescent moon on her head, the sign of the bride, and a band of maidens round her, all clad in gauzy star-spangled raiment, through which the brown lithe limbs gleamed duskily; a band of youths of his own age, among whom he recognised his nearest friends, were also waiting, with spotted skins of animals for raiment, and light cymbals which they clashed as they danced round him like fauns.

Trước sự ngạc nhiên của y, một đoàn người khá đông đã tụ tập tại nơi ấy; cha y có mặt ở đó cùng các bạn tư tế của ông, và Cygnus đội một vầng trăng lưỡi liềm trên đầu, dấu hiệu của cô dâu, cùng một đoàn thiếu nữ quanh nàng, tất cả mặc y phục mỏng như sương có rắc sao, qua đó những chi thể nâu mềm dẻo lấp ló trong bóng tối; một nhóm thanh niên cùng tuổi với y, trong đó y nhận ra những bạn thân nhất, cũng đang chờ, mặc da thú đốm làm y phục, và cầm những chũm chọe nhẹ mà họ đánh vang khi nhảy múa quanh y như các thần rừng.

“Hail, Alcyone!” they cried, “favourite of the Dark Sun, child of the Night! See where thy Moon and her Stars await thee. But first thou must win her from us, her defenders.”

“Kính chào, Alcyone!” họ kêu lên, “kẻ được Mặt Trời Hắc Ám sủng ái, con của Đêm! Hãy xem Mặt Trăng của ngươi và các Ngôi Sao của nàng đang chờ ngươi kia. Nhưng trước hết ngươi phải giành nàng từ tay chúng ta, những người bảo vệ nàng.”

Suddenly she was whirled away in the midst of the dancers, and vanished in the darkness of the cavern yawning wide in front, and Alcyone was seized, stripped of his garments, a skin like that of the rest thrown over him, and intoxicated, maddened, he fled in her pursuit, amid laughter and cheers: “Hey! young hunter, be swift, lest the hounds pull down thy deer!”

Bất ngờ nàng bị cuốn đi giữa những vũ công, và biến mất trong bóng tối của hang đang há miệng rộng phía trước; Alcyone bị túm lấy, bị lột y phục, một tấm da như của những người còn lại được khoác lên y, và trong cơn say, cuồng loạn, y lao theo nàng giữa tiếng cười và reo hò: “Này! thợ săn trẻ, hãy nhanh lên, kẻo đàn chó săn hạ gục con nai của ngươi!”

After a few minutes Alcyone, with the shouting crowd at his heels, had raced through the outer caverns, and had reached a vast hall, blazing with crimson light. In the midst rose a huge canopy, red in colour and studded with great carbuncles, that tossed back the light like splashes of fiery blood; beneath the canopy was a copper throne, inlaid with gold, and before it a yawning gulf, out of which flashed tongues of flame, lurid and roaring. Heavy clouds of strange incense filled the air, intoxicating, maddening.

Sau vài phút, Alcyone, với đám đông la hét bám sát sau lưng, đã chạy qua các hang ngoài, và đến một đại sảnh mênh mông, rực cháy ánh sáng đỏ thẫm. Ở giữa nổi lên một tán che khổng lồ, màu đỏ và nạm những viên hồng ngọc lớn, hất trả ánh sáng như những vệt máu lửa; dưới tán che là một ngai đồng, khảm vàng, và trước nó là một vực sâu há miệng, từ đó những lưỡi lửa lóe lên, đỏ bầm và gầm rú. Những đám mây hương lạ nặng nề tràn đầy không khí, gây say và làm cuồng loạn.

The rush swept him onwards, and he was caught up into a wild tumultuous whirl of dancers, who shouted, yelled, sprang into the air in wild bounds, circling round the canopied throne, and crying: “Oduarpa! Oduarpa! Come, we are craving for thee!”

Dòng người cuốn y tiến tới, và y bị cuốn vào một vòng xoáy vũ công hoang dại hỗn loạn, họ gào thét, tru lên, nhảy vọt trong những cú bật dữ dội, xoay quanh ngai có tán che, và kêu: “Oduarpa! Oduarpa! Hãy đến, chúng ta đang khát khao ngài!”

A low roll of thunder crept muttering round the cavern, growing louder and louder, and ending in a tremendous clap just overhead; the flames leapt up, and amid them rose the mighty form of Oduarpa, steel-grey in his magic sheathing, stern, majestic, with his face grave, even sad, as that of a fallen Archangel, but strong with unbending pride and iron resolution. He took his seat on the throne, where he sat throughout all that followed, silent and sombre, taking no part in the riot; he waved his hand, and the mad orgy recommenced, the wildest dancers bathing in the flames which lapped over the edges of the gulf and tossed themselves high in the air. Alcyone had caught sight of Cygnus in the midst of the youths and the girls, and he raced, mad with excitement, in her direction; she eluded him, her escort baffled him, he touched her only to see her whirled out of his reach. At last, panting, wild, he made a desperate rush, and the escort fled with screams of laughter, each youth with a girl, and he leapt on Cygnus and clasped her in his arms.

Một tiếng sấm trầm lăn rì rầm quanh hang, lớn dần, lớn dần, rồi kết thúc bằng một tiếng nổ kinh hoàng ngay trên đầu; lửa vọt lên, và giữa lửa nổi lên hình dáng hùng mạnh của Oduarpa, xám thép trong lớp vỏ huyền thuật, nghiêm khắc, uy nghi, với khuôn mặt trang trọng, thậm chí buồn bã như một Tổng Thiên Thần sa ngã, nhưng mạnh mẽ với niềm kiêu hãnh bất khuất và ý chí sắt đá. Ông ngồi lên ngai, nơi ông ngồi suốt mọi điều tiếp diễn sau đó, im lặng và u ám, không tham gia cuộc truy hoan; ông phẩy tay, và cuộc truy hoan điên cuồng lại bắt đầu, những vũ công hoang dại nhất tắm trong lửa liếm qua mép vực và tự tung cao lên không trung. Alcyone đã nhìn thấy Cygnus giữa các thanh niên và thiếu nữ, và y lao chạy, điên cuồng vì kích động, về phía nàng; nàng lẩn tránh y, đoàn hộ tống nàng ngăn cản y, y chỉ chạm được nàng để rồi thấy nàng bị cuốn ra khỏi tầm với của mình. Cuối cùng, thở hổn hển, cuồng dại, y lao tới một cú tuyệt vọng, và đoàn hộ tống bỏ chạy với tiếng cười thét, mỗi thanh niên cùng một cô gái, còn y nhảy đến Cygnus và ôm nàng trong tay.

Wilder and wilder grew the revel; slaves bearing huge pitchers of strong drink appeared, accompanied by others with goblets. Madness of drink was added to madness of motion, and the lurid lights sank low into twilight of redness. The orgy which followed is better hidden than described.

Cuộc vui càng lúc càng hoang dại; các nô lệ mang những vò rượu mạnh khổng lồ xuất hiện, kèm theo những người khác mang cốc. Sự điên cuồng của rượu được cộng thêm vào sự điên cuồng của chuyển động, và những ánh sáng đỏ bầm chìm xuống thấp thành bóng hoàng hôn đỏ. Cuộc truy hoan tiếp theo tốt hơn nên được che giấu hơn là miêu tả.

But see! out of the passage whence had emerged Oduarpa, comes a wild procession; hairy bipeds, long-armed and claw-footed, with animals’ heads and manes streaming over shoulders, horrent, appalling, non-human, yet horribly human. They hold in their claw-like hands phials and boxes, and as they mingle with the wildest dancers they give these to the revellers most mad with drink and lust. These smear over their limbs the ointment in the boxes, drink the contents of the phials, and lo! they drop senseless, huddled on the ground, but from each huddled heap there springs an animal form, snarling, ravening, and vanishes from the cavern into the darkness of the outside night.

Nhưng kìa! Từ lối đi nơi Oduarpa đã xuất hiện, một đám rước hoang dại tiến ra; những sinh vật hai chân đầy lông, tay dài và chân có móng vuốt, với đầu thú và bờm xõa qua vai, dựng đứng, kinh khiếp, phi nhân, nhưng lại giống người một cách khủng khiếp. Chúng cầm trong những bàn tay giống móng vuốt các lọ và hộp, và khi hòa vào những vũ công hoang dại nhất, chúng trao những thứ ấy cho các kẻ truy hoan điên cuồng nhất vì rượu và dục vọng. Những kẻ này bôi thuốc mỡ trong hộp lên các chi thể, uống chất chứa trong các lọ, và kìa! họ ngã xuống bất tỉnh, co cụm trên mặt đất, nhưng từ mỗi đống thân co cụm ấy một hình thú bật ra, gầm gừ, đói khát, rồi biến khỏi hang vào bóng tối của đêm bên ngoài.

The bright Gods help the wayfarers who meet these bedevilled astral materialisations, fierce and conscienceless as animals, cruel and crafty as men! But the bright Gods are sleeping, and only the hosts of the Midnight Sun, ghosts, goblins and all evil things, are abroad. The creatures return, their jaws dripping with blood, their hides draggled with filth, ere morning dawns, and, crouching on the huddled forms on the floor of the cavern, sink into them and disappear.

Cầu các Thượng đế sáng chói giúp những lữ khách gặp các hiện hình cảm dục bị quỷ ám này, dữ tợn và vô lương tâm như thú vật, tàn nhẫn và xảo quyệt như con người! Nhưng các Thượng đế sáng chói đang ngủ, và chỉ các đạo quân của Mặt Trời Nửa Đêm, ma quỷ, yêu tinh và mọi vật tà ác, đang lảng vảng ngoài kia. Những sinh vật ấy trở về trước khi bình minh ló dạng, hàm nhỏ máu, da lông bê bết bẩn thỉu, rồi thu mình trên các hình thể co cụm trên sàn hang, chìm vào chúng và biến mất.

Such orgies as these were held from time to time, Oduarpa using them to increase his hold upon the people, and he established similar rites at many places, making himself the central figure in all, becoming a veritable object of worship, and gradually welding the people together in allegiance to himself, until he became the acknowledged Emperor. His relations with the inhabitants of the Nether. World—called in latter days, as said above, the `Kingdom of Pan’ —gave him much additional power, and he had trusted lieutenants—bound to him by their common knowledge of; and participation in, the ghastly abominations of that realm—ever prompt to carry out his commands.

Những cuộc truy hoan như thế được tổ chức thỉnh thoảng, Oduarpa dùng chúng để gia tăng quyền nắm giữ của mình trên dân chúng, và ông thiết lập các nghi lễ tương tự ở nhiều nơi, tự biến mình thành nhân vật trung tâm trong tất cả, trở thành một đối tượng thờ phụng thực sự, và dần dần hàn gắn dân chúng lại trong lòng trung thành với chính ông, cho đến khi ông trở thành Hoàng đế được thừa nhận. Các quan hệ của ông với cư dân của Hạ Giới — được gọi trong những ngày sau, như đã nói ở trên, là “Vương quốc của Pan” — đem lại cho ông nhiều quyền năng phụ thêm, và ông có những phó tướng đáng tin cậy — bị ràng buộc với ông bởi tri thức chung của họ về, và sự tham dự vào, những điều ghê tởm kinh hoàng của cõi ấy — luôn sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của ông.

He finally succeeded in assembling a very large army and began his march against the White Emperor, directing his course towards the City of the Golden Gates. He hoped to overawe and conquer, not only by fair assault of arms, but by the terror that would be spread by his hellish allies, and the ghastly transformations of the black wizards into animal forms. He himself had a body-guard of magic animals round him, powerful desire-forms materialised into physical bodies, who guarded him and devoured any who approached him with hostile intent. When a battle was raging, and the issue doubtful, Oduarpa would suddenly loose against his foes his horde of demoniacal allies, who would rush into the fray, tearing with teeth and claws, and spread panic among the startled hosts. When his enemies broke into flight, he would send these swift demons in pursuit, and the troops of wizards would likewise take animal forms, gorging themselves on the bodies of the slain.

Cuối cùng ông thành công trong việc tập hợp một đạo quân rất lớn và bắt đầu cuộc hành quân chống lại Hoàng đế Trắng, hướng đường tiến về Thành phố các Cổng Vàng. Ông hy vọng làm khiếp sợ và chinh phục, không chỉ bằng cuộc tấn công vũ trang chính quy, mà còn bằng nỗi kinh hoàng sẽ được gieo rắc bởi các đồng minh địa ngục của ông, và những biến hình ghê rợn của các phù thủy hắc ám thành hình thú. Chính ông có quanh mình một đội cận vệ gồm các con thú huyền thuật, những hình tướng dục vọng mạnh mẽ được hiện hình thành thân thể hồng trần, canh giữ ông và nuốt chửng bất cứ ai đến gần ông với ý định thù địch. Khi một trận chiến đang diễn ra dữ dội và kết quả còn bất định, Oduarpa sẽ bất ngờ thả đạo quân đồng minh quỷ dữ của mình chống lại kẻ thù, chúng lao vào cuộc giao tranh, xé bằng răng và móng vuốt, và gieo hoảng loạn giữa các đạo quân kinh hãi. Khi kẻ thù bỏ chạy, ông sẽ sai những ác quỷ nhanh nhẹn này đuổi theo, và các đoàn phù thủy cũng sẽ nhận hình thú, ăn ngấu nghiến thân xác những người bị giết.

Thus he fought his way onwards, northward ever, till he came near the City of the Golden Gates, where the last army of the White Emperor lay embattled. Alcyone had fought as a soldier in the army, partly under a spell, and yet awake enough to be sick at heart at his surroundings, and Cygnus, with other ladies, had accompanied the camp. The day of the decisive battle dawned; the imperial army was led by the White Emperor himself; Corona, and the right wing of the army was under the command of his most trusted general, Mars. During the preceding night, Alcyone had been visited once more by his early vision, and had heard the well-loved voice: “Alcyone, thou art fighting against thy true lord, and to-morrow wilt thou meet me, face to face. Break thou then thy rebel sword and yield thee to me; thou shalt die by my side, and it shall yet be well.”

Như thế ông chiến đấu tiến lên, luôn về phía bắc, cho đến khi đến gần Thành phố các Cổng Vàng, nơi đạo quân cuối cùng của Hoàng đế Trắng đã dàn trận. Alcyone đã chiến đấu như một binh sĩ trong quân đội, phần nào dưới một bùa chú, nhưng vẫn đủ tỉnh để đau lòng trước khung cảnh quanh mình, và Cygnus, cùng các quý bà khác, đã đi theo doanh trại. Ngày của trận chiến quyết định ló dạng; đạo quân hoàng gia do chính Hoàng đế Trắng, Corona, dẫn đầu, và cánh phải của quân đội dưới quyền chỉ huy của vị tướng được ông tin cậy nhất, Mars. Trong đêm trước đó, Alcyone lại được linh ảnh ban đầu viếng thăm một lần nữa, và nghe giọng nói yêu dấu: “Alcyone, ngươi đang chiến đấu chống lại vị lãnh chúa chân chính của mình, và ngày mai ngươi sẽ gặp ta, mặt đối mặt. Khi ấy hãy bẻ gươm phản loạn của ngươi và quy phục ta; ngươi sẽ chết bên cạnh ta, và điều ấy rồi sẽ tốt đẹp.”

And so indeed it happed. For in the fierce shock of battle, as the imperial troops were giving way, the Emperor slain, Alcyone saw, struggling gallantly against overwhelming odds, the face of his vision, the general, Mars. With a cry he sprang forward, breaking his sword in two, and catching up a spear, he threw himself at Mars’ back, fiercely thrusting through a soldier who struck at Mars from behind. At that moment Oduarpa charged up, mad with fury, and struck Mars down, and with a cry that rang across the field, he summoned Cygnus, by swift spell changing her into a fierce animal, which rushed with bared fangs at Alcyone, fainting from loss of blood. But in the very act, the love which had been her life cried out from Cygnus’soul and wrought her rescue; for its strong flow changed into loving woman the form of ravening hate, and with a dying kiss on Alcyone’s dying face she breathed away her life.

Và quả thật sự việc đã xảy ra như thế. Vì trong cú va chạm dữ dội của trận chiến, khi quân hoàng gia đang thối lui, Hoàng đế bị giết, Alcyone thấy, đang anh dũng chống chọi với số đông áp đảo, khuôn mặt trong linh ảnh của mình, vị tướng Mars. Với một tiếng kêu, y phóng tới, bẻ gươm làm đôi, và chộp lấy một ngọn giáo, y lao mình ra sau lưng Mars, dữ dội đâm xuyên một binh sĩ đánh Mars từ phía sau. Ngay lúc ấy Oduarpa xông lên, điên cuồng vì giận dữ, đánh Mars ngã xuống, và với một tiếng kêu vang khắp chiến trường, ông triệu gọi Cygnus, bằng một bùa chú nhanh chóng biến nàng thành một con thú dữ, lao tới Alcyone với răng nanh nhe ra, trong khi y ngất đi vì mất máu. Nhưng ngay trong hành động ấy, tình yêu từng là sự sống của nàng cất tiếng từ linh hồn Cygnus và thực hiện sự cứu rỗi nàng; vì dòng chảy mạnh mẽ của nó đã biến hình tướng của lòng căm ghét đói khát thành người phụ nữ yêu thương, và bằng một nụ hôn hấp hối trên khuôn mặt hấp hối của Alcyone, nàng trút hơi thở cuối cùng.

Herakles, the wife of Mars, was captured by Oduarpa in the assault on the City of the Golden Gates that followed and completed his victory; she indignantly repulsed his advances, and catching up a dagger stabbed at him with all her strength. The dagger slipped aside on his metallic casing, and, laughing, he struck her down, outraging her as she lay half senseless: when she recovered consciousness, he summoned his horrible animals, and they tore her into pieces and devoured her.

Herakles, vợ của Mars, bị Oduarpa bắt trong cuộc tấn công vào Thành phố các Cổng Vàng tiếp sau đó và hoàn tất chiến thắng của ông; nàng phẫn nộ xua đuổi những lời ve vãn của ông, và chộp lấy một con dao găm, đâm ông bằng tất cả sức lực. Con dao trượt sang một bên trên lớp vỏ kim loại của ông, và cười lớn, ông đánh nàng ngã xuống, xúc phạm nàng khi nàng nằm nửa mê nửa tỉnh: khi nàng hồi tỉnh, ông triệu gọi những con thú khủng khiếp của mình, và chúng xé nàng ra từng mảnh rồi nuốt chửng.

Oduarpa, enthroned on a pile of corpses, and surrounded by his animal and half-animal guards, was crowned Emperor of the City of the Golden Gates, assuming the desecrated title of `Divine Ruler’. But his triumph was not of long duration, for Vaivasvata Manu marched against him with a great army, and His mere presence put to flight the denizens of the Kingdom of Pan, while he destroyed the artificial thought-forms, created by black magic. A crushing victory scattered the army of the Emperor, and he himself was shut up in a tower whither he had fled in the rout. The building was fired, and he perished miserably, literally boiled to death within his materialised metallic shell.

Oduarpa, ngự trên một đống xác chết, và được bao quanh bởi các cận vệ thú và nửa thú của mình, được tôn làm Hoàng đế của Thành phố các Cổng Vàng, nhận lấy tước hiệu bị báng bổ “Nhà Cai Trị Thiêng Liêng”. Nhưng chiến thắng của ông không kéo dài lâu, vì Đức Vaivasvata Manu tiến quân chống lại ông với một đạo quân lớn, và chỉ riêng sự hiện diện của Ngài đã khiến cư dân của Vương quốc Pan bỏ chạy, trong khi Ngài hủy diệt các hình tư tưởng nhân tạo do Hắc thuật tạo ra. Một chiến thắng nghiền nát đã làm tan rã đạo quân của Hoàng đế, và chính ông bị nhốt trong một ngọn tháp nơi ông đã chạy trốn trong cuộc tháo chạy. Tòa nhà bị phóng hỏa, và ông chết thảm, đúng nghĩa là bị luộc chết bên trong lớp vỏ kim loại đã hiện hình của mình.

Vaivasvata Manu purified the City and re-established there the rule of the White Emperor, consecrating to that office a trusted servant of the Hierarchy. For a time things went on well, but slowly the evil again gathered power, and the southern centre once more grew strong; until, at last, the same Lord of the Dark Face, appearing in a new reincarnation, again fought against the White Emperor of the time, and set up his own throne against him. Then the words of doom were spoken by the Head of the Hierarchy, and as the Occult Commentary tells us: the “Great King of the Dazzling Face”—the White Emperor—sent to his brother Chiefs: “Prepare. Arise, ye men of the Good Law, and cross the land while yet dry.” The “Rod of the Four”—the Kumaras—was raised. “The hour has struck, the black night is ready.” The “servants of the Great Four” warned their people, and many escaped. “Their Kings reached them in their Vimanas48 and led them on to the lands of fire and metal [east and north].”49 Explosions of gas, floods and earthquakes destroyed Ruta and Daitya, the huge islands of Atlantis, left from the catastrophe of 200,000 B.C., and only the island of Poseidonis remained, the last remnant of the once huge continent of the Atlantic. These islands perished in 75,025 B.C., Poseidonis enduring to 9,564 B.C., when it also was whelmed beneath the ocean.

Đức Vaivasvata Manu thanh tẩy Thành phố và tái lập tại đó sự cai trị của Hoàng đế Trắng, thánh hiến cho chức vụ ấy một người phụng sự đáng tin cậy của Thánh Đoàn. Trong một thời gian mọi sự diễn tiến tốt đẹp, nhưng chậm rãi điều ác lại tích tụ quyền lực, và trung tâm phía nam một lần nữa trở nên mạnh; cho đến sau cùng, cùng một Chúa Tể của Khuôn Mặt Tối ấy, xuất hiện trong một lần tái sinh mới, lại chiến đấu chống lại Hoàng đế Trắng của thời đó, và dựng ngai của mình chống lại ông. Khi ấy những lời định mệnh được Đầu của Thánh Đoàn phán ra, và như Chú Giải Huyền Bí cho chúng ta biết: “Đại Vương của Khuôn Mặt Chói Lòa” — Hoàng đế Trắng — gửi lời đến các Thủ lĩnh huynh đệ của mình: “Hãy chuẩn bị. Hãy đứng dậy, hỡi những người của Thiện Luật, và băng qua đất khi nó còn khô.” “Thần Trượng của Bốn” — các Kumara — được nâng lên. “Giờ đã điểm, đêm đen đã sẵn sàng.” “Những người phụng sự của Bốn Đấng Vĩ Đại” cảnh báo dân của họ, và nhiều người thoát nạn. “Các Vua của họ đến với họ trong các Vimana48 và dẫn họ đến những vùng đất của lửa và kim loại [đông và bắc].”49 Những vụ nổ khí, lũ lụt và động đất đã hủy diệt Ruta và Daitya, các đảo khổng lồ của Atlantis, còn sót lại từ thảm họa năm 200.000 trước Công nguyên, và chỉ còn đảo Poseidonis tồn tại, tàn tích cuối cùng của lục địa Đại Tây Dương từng rộng lớn. Các đảo ấy diệt vong năm 75.025 trước Công nguyên, còn Poseidonis tồn tại đến năm 9.564 trước Công nguyên, khi nó cũng bị nhấn chìm dưới đại dương.

CHAPTER X — CHƯƠNG X

THE CIVILISATION OF ATLANTIS50 — NỀN VĂN MINH CỦA ATLANTIS50

ATLANTIS peopled many countries with its sub-races, and built many splendid civilisations. Egypt, Mesopotamia, India, North and South America, knew them, and the Empires they raised endured for long, and reached a point of glory that the Aryan Race has not yet over-topped. The chapters XI-XIII on Peru and Chaldea in the present work show remnants of their greatness, and these may be supplemented by some additional details.

ATLANTIS đã đưa các giống dân phụ của mình đến cư trú ở nhiều quốc gia, và xây dựng nhiều nền văn minh huy hoàng. Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Bắc Mỹ và Nam Mỹ đều biết đến họ, và các Đế quốc họ dựng nên đã tồn tại lâu dài, đạt đến một mức vinh quang mà nhân loại Arya vẫn chưa vượt qua. Các chương XI-XIII về Peru và Chaldea trong tác phẩm hiện tại cho thấy những tàn dư của sự vĩ đại ấy, và có thể bổ sung bằng vài chi tiết thêm.

Mr. Scott-Elliot thus describes the famous City of the Golden Gates: “A beautifully wooded park-like country surrounded the city. Scattered over a large area of this were the villa-residences of the wealthier classes. To the west lay a range of mountains, from which the water-supply of the city was drawn. The city itself was built on the slopes of a hill, which rose from the plain about five hundred feet. On the summit of this hill lay the Emperor’s palace and gardens, in the centre of which welled up from the earth a never-ending stream of water, supplying first the palace and the fountains in the gardens, thence flowing in the four directions, and falling in cascades into a canal or moat which encompassed the palace grounds, and thus separated them from the city which lay below on every side. From this canal four channels led the water through four quarters of the city to cascades which, in their turn, supplied another encircling canal at a lower level. There were three such canals forming concentric circles, the outermost and lowest of which was still above the level of the plain. A fourth canal at this lowest level, but on a rectangular plan, received the constantly flowing waters, and in it turn discharged them into the sea. The city extended over part of the plain, up to the edge of this great outermost moat, which surrounded and defended it with a line of waterways extending about twelve miles by ten miles square.

Ông Scott-Elliot mô tả Thành phố nổi tiếng của các Cổng Vàng như sau: “Một vùng đất giống công viên, có rừng cây đẹp đẽ, bao quanh thành phố. Rải rác trên một khu vực rộng lớn của vùng này là các biệt thự cư trú của những tầng lớp giàu có hơn. Về phía tây là một dãy núi, từ đó nguồn nước của thành phố được dẫn về. Chính thành phố được xây trên các sườn của một ngọn đồi, nhô lên khỏi đồng bằng khoảng năm trăm bộ. Trên đỉnh ngọn đồi này là cung điện và các khu vườn của Hoàng đế, ở trung tâm có một dòng nước không bao giờ cạn phun lên từ lòng đất, trước hết cung cấp cho cung điện và các đài phun nước trong vườn, rồi từ đó chảy theo bốn hướng, đổ thành thác xuống một kênh hay hào bao quanh khuôn viên cung điện, và như vậy tách nó khỏi thành phố nằm phía dưới ở mọi phía. Từ kênh này, bốn đường dẫn nước đưa nước qua bốn khu của thành phố đến các thác nước, đến lượt chúng lại cung cấp cho một kênh bao quanh khác ở cấp thấp hơn. Có ba kênh như thế tạo thành các vòng tròn đồng tâm, trong đó kênh ngoài cùng và thấp nhất vẫn còn cao hơn mặt đồng bằng. Một kênh thứ tư ở cấp thấp nhất này, nhưng theo sơ đồ hình chữ nhật, nhận những dòng nước chảy liên tục, rồi đến lượt nó xả chúng ra biển. Thành phố trải rộng trên một phần đồng bằng, đến mép của hào lớn ngoài cùng này, vốn bao quanh và bảo vệ nó bằng một tuyến đường thủy kéo dài khoảng mười hai dặm nhân mười dặm vuông.

“It will thus be seen that the city was divided into three great belts, each hemmed in by its canals. The characteristic feature of the upper belt, that lay just below the palace grounds, was a circular race-course and large public gardens. Most of the houses of the court officials also lay on this belt, and here also was an institution of which we have no parallel in modern times. The term `Strangers’ Home’ amongst us suggests a mean appearance and sordid surroundings; but this was a palace where all strangers who might come to the city were entertained as long as they might choose to stay—being treated all the time as guests of the Government. The detached houses of the inhabitants and the various temples scattered throughout the city occupied the other two belts. In the days of the Toltec greatness there seems to have been no real poverty—even the retinue of slaves attached to most houses being well fed and clothed—but there were a number of comparatively poor houses in the lowest belt to the north, as well as outside the outermost canal towards the sea. The inhabitants of this part were mostly connected with the shipping, and their houses, though detached, were built closer together than in other districts.”

“Như vậy có thể thấy rằng thành phố được chia thành ba vành đai lớn, mỗi vành đai bị bao bọc bởi các kênh của nó. Đặc điểm nổi bật của vành đai trên, nằm ngay dưới khuôn viên cung điện, là một trường đua hình tròn và các khu vườn công cộng rộng lớn. Phần lớn nhà của các quan chức triều đình cũng nằm trên vành đai này, và tại đây cũng có một cơ sở mà chúng ta không có gì tương đương trong thời hiện đại. Thuật ngữ ‘Nhà cho Người Lạ’ nơi chúng ta gợi ý một vẻ ngoài tầm thường và khung cảnh tồi tàn; nhưng đây là một cung điện nơi tất cả người lạ có thể đến thành phố đều được tiếp đãi bao lâu tùy họ muốn ở lại — suốt thời gian ấy được đối xử như khách của Chính phủ. Các ngôi nhà riêng biệt của cư dân và các đền thờ khác nhau rải rác khắp thành phố chiếm hai vành đai còn lại. Vào những ngày vĩ đại của Toltec, dường như không có sự nghèo khổ thực sự — ngay cả đoàn nô lệ tùy tùng gắn với hầu hết các nhà cũng được ăn no mặc đủ — nhưng có một số nhà tương đối nghèo ở vành đai thấp nhất về phía bắc, cũng như bên ngoài kênh ngoài cùng hướng ra biển. Cư dân của phần này phần lớn liên hệ với ngành hàng hải, và nhà của họ, tuy tách rời nhau, được xây sát nhau hơn so với các khu vực khác.”

Other large towns, built on the plains, were protected by immense banks of earth, sloping towards the town, and sometimes terraced, while, on the outward side, they were faced with thick plates of metal, clamped together; these were supported on great beams of wood, the uprights being driven deeply into the earth; when these were in place, and connected with heavy crossbars, the plates were attached to them, overlapping like scales, and then the space between the earth-work and the barrier was filled with earth, solidly rammed together. The whole formed a practically impregnable barrier against the spears, swords, and bows and arrows which were the usual weapons of the time. But such a city necessarily lay open to assaults from above, and the Atlanteans carried the making of air-ships—aeroplanes, we should call them now—to a high pitch of excellence; and, if such a city were to be attacked, these birds-of-war were sent to hover over it, and to drop into it bombs which burst in the air, and discharged a rain of heavy poisonous vapour, destructive of human life. Allusions to these may be found in the conflicts related in the great epics and Puranas of the Hindus. They had also weapons which projected sheaves of fire-tipped arrows, which scattered far and wide as they hurtled through the air like deadly rockets, and many others of similar kinds, all constructed by men well-versed in the higher branches of scientific knowledge. Many of these are described in the very ancient books above referred to, and they are mentioned as being given by some superior Being. The knowledge required for their construction was never made common.

Các đô thị lớn khác, được xây dựng trên các đồng bằng, được bảo vệ bằng những ụ đất khổng lồ, dốc về phía thành phố, và đôi khi được làm thành bậc thềm; còn ở phía ngoài, chúng được ốp bằng những tấm kim loại dày, kẹp chặt với nhau; các tấm này được chống đỡ trên những dầm gỗ lớn, những cột đứng được đóng sâu xuống đất; khi chúng đã vào vị trí và được nối bằng các thanh ngang nặng, các tấm kim loại được gắn vào đó, chồng lên nhau như vảy, rồi khoảng trống giữa công sự đất và hàng rào được lấp đầy bằng đất, nện chặt lại. Toàn bộ tạo thành một hàng rào hầu như bất khả xâm phạm trước giáo, kiếm, cung và tên, vốn là những vũ khí thông dụng của thời ấy. Nhưng một thành phố như thế tất nhiên vẫn để ngỏ trước các cuộc tấn công từ trên cao, và người Atlantis đã đưa việc chế tạo phi thuyền—ngày nay chúng ta gọi là máy bay—đến một trình độ hoàn thiện rất cao; và nếu một thành phố như vậy bị tấn công, những chim chiến tranh ấy được phái đến lượn trên nó và thả vào đó những quả bom nổ giữa không trung, phóng ra một trận mưa hơi độc nặng nề, hủy diệt sự sống con người. Có thể tìm thấy những ám chỉ về các thứ ấy trong những cuộc xung đột được thuật lại trong các đại sử thi và Puranas của người Ấn. Họ cũng có những vũ khí phóng ra từng bó mũi tên đầu lửa, tản rộng khắp nơi khi lao vút qua không khí như những hỏa tiễn chết chóc, cùng nhiều loại khác tương tự, tất cả đều do những người tinh thông các ngành cao của tri thức khoa học chế tạo. Nhiều thứ trong số này được mô tả trong những sách rất cổ đã nói ở trên, và được nhắc đến như những vật do một Đấng cao siêu nào đó ban cho. Tri thức cần thiết để chế tạo chúng chưa bao giờ được phổ biến rộng rãi.

The land system of the Toltecs will be described in the chapters on Peru, and the absence of poverty and the general well-being of the population were largely due to the provision therein made for universal primary education. The whole scheme of government was planned out by the Wise for the benefit of all, and not by special classes for their own advantage. Hence the general comfort was immensely higher than in modern civilisations.

Hệ thống đất đai của người Toltec sẽ được mô tả trong các chương về Peru, và sự vắng bóng của nghèo đói cùng an lạc chung của dân chúng phần lớn là nhờ sự sắp đặt trong đó cho nền giáo dục sơ cấp phổ cập. Toàn bộ hệ thống cai trị được các Bậc Minh Triết hoạch định vì lợi ích của mọi người, chứ không phải do những giai cấp đặc quyền vì lợi ích riêng của họ. Do đó mức tiện nghi chung cao hơn vô cùng so với các nền văn minh hiện đại.

Science was carried far; for, the use of clairvoyance being habitual, the processes of nature, now invisible to most, were readily observed. Its applications to arts and crafts were also numerous and useful. The rays of sunshine, sent through coloured glass, were used for promoting the growth of plants and animals; scientific breeding was carefully carried out for the improvement of promising species; experiments were tried in crossing —e.g., the crossing of wheat with various grasses produced different kinds of grain; less satisfactory were the attempts which produced wasps from bees; and white ants from ants.51 The seedless banana was evolved from a melon-like ancestor, containing, like the melon, large quantities of seeds. Forces, the knowledge of which has been lost, were known to the science of the day; one of these was used for the propulsion of both air—and water-ships; another for so changing the relation of heavy bodies to the earth that the earth repelled instead of attracting them, so making the raising of gigantic stones to a lofty height a matter of the greatest ease. The subtler of these were not applied by machinery, but were controlled by will-power, using the thoroughly understood and developed mechanism of the human body, “the vina of a thousand strings”.

Khoa học đã được phát triển rất xa; vì việc sử dụng thông nhãn là thói quen, nên các tiến trình của thiên nhiên, nay vô hình đối với đa số, khi ấy được quan sát dễ dàng. Những ứng dụng của nó vào nghệ thuật và thủ công cũng nhiều và hữu ích. Các tia nắng mặt trời, chiếu qua kính màu, được dùng để thúc đẩy sự tăng trưởng của cây cối và động vật; việc gây giống khoa học được tiến hành cẩn thận nhằm cải thiện các loài có triển vọng; các thí nghiệm lai giống đã được thử —chẳng hạn, việc lai lúa mì với nhiều loài cỏ khác nhau đã tạo ra các loại ngũ cốc khác nhau; kém thành công hơn là những nỗ lực tạo ra ong bắp cày từ ong mật, và mối trắng từ kiến.51 Chuối không hạt đã được tiến hoá từ một tổ tiên giống dưa, cũng chứa, như dưa, một lượng lớn hạt. Những mãnh lực mà tri thức về chúng nay đã thất truyền từng được khoa học thời ấy biết đến; một trong các mãnh lực này được dùng để đẩy cả phi thuyền lẫn tàu thủy; một mãnh lực khác được dùng để thay đổi tương quan của các vật nặng với Trái Đất đến mức Trái Đất đẩy chúng ra thay vì hút chúng vào, khiến việc nâng những khối đá khổng lồ lên độ cao lớn trở thành việc hết sức dễ dàng. Những mãnh lực tinh vi hơn trong số này không được áp dụng bằng máy móc, mà được kiểm soát bằng quyền năng ý chí, sử dụng bộ máy của thể con người đã được thấu hiểu và phát triển trọn vẹn, “cây vina ngàn dây”.

Metals were much used and admirably wrought, gold, silver and aurichalcum being those most employed in decoration and in domestic utensils. They were more often alchemically produced than sought for in the crust of the earth, and were often very artistically introduced to add richness to schemes of decoration, carried out in brilliant colours. Armour was gorgeously inlaid with them, and that used merely for show in pageants and ceremonies was often entirely made of the precious metals; golden helmets, breast-plates and greaves being worn on such occasions over tunics and stockings of the most brilliant colours—scarlet, orange, and a very exquisite purple.

Kim loại được sử dụng nhiều và được chế tác tuyệt diệu; vàng, bạc và aurichalcum là những kim loại được dùng nhiều nhất trong trang trí và đồ dùng gia đình. Chúng thường được tạo ra bằng thuật luyện kim hơn là được tìm kiếm trong vỏ Trái Đất, và thường được đưa vào một cách rất nghệ thuật để làm tăng vẻ phong phú cho các đồ án trang trí, được thực hiện bằng những màu sắc rực rỡ. Giáp trụ được khảm chúng lộng lẫy, và loại chỉ dùng để phô diễn trong các cuộc rước và nghi lễ thường được làm hoàn toàn bằng kim loại quý; trong những dịp ấy, người ta đội mũ vàng, mặc giáp ngực và giáp ống chân bằng vàng bên ngoài áo chẽn và vớ có những màu sáng chói nhất—đỏ tươi, cam, và một sắc tím hết sức tinh xảo.

Food differed in different classes. The masses of the people ate meat, fish, and even reptiles—perhaps one should not say `even,’ remembering the turtle of our City Fathers. The carcase of an animal, with all its contents, was slit down the breast and stomach, and hung up over a large fire; when it was thoroughly cooked through it was removed from the fire, the contents were scooped out and, among the more refined, placed on dishes, while the rougher people gathered round the carcase itself; and plunged their hands into its interior, selecting toothsome dainties—a plan which sometimes led to quarrels; the rest was thrown away or given to domestic animals, the flesh itself being considered as offal. The higher classes partook of similar food, but those belonging immediately to the Court made rather a secret of such banquets. The Divine King, of course, and those closely connected with Him, ate only food composed of grains cooked in various ways, vegetables, fruits, and milk, the latter being drunk as a liquid, or made into many sweet preparations. Fruit-juices were also largely used as drinks. Some of the courtiers and dignitaries, while partaking of these milder comestibles publicly, were observed quietly stealing away to their private chambers and feasting on more toothsome viands, among which fish, as `high’ as modern game, played a not inconspicuous part.

Thức ăn khác nhau tùy giai cấp. Quần chúng ăn thịt, cá, và cả bò sát—có lẽ không nên nói “cả”, khi nhớ đến món rùa của các bậc Trưởng lão Thành phố chúng ta. Xác một con vật, cùng toàn bộ phần bên trong, được rạch dọc theo ngực và bụng, rồi treo trên một đống lửa lớn; khi đã chín kỹ hoàn toàn, nó được lấy ra khỏi lửa, phần bên trong được múc ra và, trong giới tinh tế hơn, đặt lên các đĩa, trong khi những người thô lỗ hơn tụ quanh chính cái xác, thọc tay vào trong, chọn lấy những miếng ngon—một cách làm đôi khi dẫn đến cãi vã; phần còn lại bị vứt bỏ hoặc cho gia súc nuôi, vì chính phần thịt bị xem là đồ bỏ. Các giai cấp cao hơn cũng dùng thức ăn tương tự, nhưng những người trực thuộc Triều đình thì giữ khá kín những yến tiệc như thế. Dĩ nhiên, Đức Vua Thiêng Liêng và những người liên hệ mật thiết với Ngài chỉ ăn thức ăn gồm ngũ cốc nấu theo nhiều cách, rau củ, trái cây và sữa; sữa được uống như chất lỏng, hoặc chế thành nhiều món ngọt. Nước ép trái cây cũng được dùng rộng rãi làm thức uống. Một số triều thần và dignitary, trong khi công khai dùng những món ăn nhẹ nhàng ấy, lại bị quan sát thấy lặng lẽ lẻn về phòng riêng và yến tiệc bằng những món ngon miệng hơn, trong đó cá, “nặng mùi” như thịt thú săn ngày nay, giữ một vai trò không hề nhỏ.

Government was autocratic, and in the palmy days of Toltec civilisation under the Divine Kings, no system could have been happier for the people; but as the unchecked powers They wielded passed into the hands of younger souls, abuses crept in and troubles arose; for here, as everywhere, decay began in the corruption of the highest. The system was that Governors were held accountable for the welfare and happiness of their provinces, and crime or famine was regarded as due to their negligence or incapacity. They were drawn chiefly from the upper classes, but specially promising children were drafted out into the higher schools to be trained for the service of the State, whenever they were found. Sex was no disqualification, as it is now, for any office in the State.52

Chính quyền mang tính chuyên chế, và trong những ngày huy hoàng của nền văn minh Toltec dưới các Đức Vua Thiêng Liêng, không hệ thống nào có thể đem lại hạnh phúc hơn cho dân chúng; nhưng khi những quyền lực không bị kiềm chế mà Các Ngài nắm giữ chuyển sang tay các linh hồn trẻ hơn, các lạm dụng len vào và rắc rối nảy sinh; vì ở đây, cũng như khắp nơi, sự suy tàn bắt đầu từ sự tha hóa của tầng lớp cao nhất. Hệ thống ấy quy định rằng các Thống đốc phải chịu trách nhiệm về phúc lợi và hạnh phúc của các tỉnh mình, và tội phạm hay nạn đói được xem là do sự sao nhãng hoặc bất lực của họ. Họ chủ yếu được tuyển từ các giai cấp trên, nhưng những trẻ em đặc biệt có triển vọng, hễ được phát hiện, đều được đưa vào các trường cao hơn để đào tạo cho việc phụng sự Quốc gia. Giới tính không phải là một điều kiện loại trừ đối với bất kỳ chức vụ nào trong Quốc gia, như hiện nay.52

The immense growth of wealth and of luxury gradually undermined the most splendid civilisation that the world has yet seen. Knowledge was prostituted to individual gain, and control over the powers of nature was turned from service to oppression. Hence Atlantis fell, despite the glory of its achievements and the might of its Empires; and the leading of the world passed into the hands of a daughter Race, the Aryan, which, though it has to its credit many magnificent achievements in the past, has not yet reached the zenith of its glory and its power, and will, some centuries hence, rise even higher than Atlantis rose in its palmiest days.

Sự gia tăng khổng lồ của của cải và xa hoa dần dần làm suy yếu nền văn minh huy hoàng nhất mà thế giới từng thấy. Tri thức bị đem bán rẻ cho lợi ích cá nhân, và quyền kiểm soát các quyền năng của thiên nhiên bị chuyển từ phụng sự sang áp bức. Do đó Atlantis sụp đổ, bất chấp vinh quang của các thành tựu và sức mạnh của các Đế quốc của nó; và quyền lãnh đạo thế giới chuyển vào tay một Nhân loại con, Arya, vốn tuy có nhiều thành tựu huy hoàng trong quá khứ, nhưng chưa đạt đến đỉnh cao vinh quang và quyền lực của mình, và trong vài thế kỷ nữa sẽ vươn lên còn cao hơn cả Atlantis trong những ngày cực thịnh nhất của nó.

We have chosen two daughter civilisations which grew up in later days, far from the great centre of the fourth Root Race—one descended from the third sub-race, the Toltec, the other from the fourth sub-race, the Turanian—in order to give a more vivid and detailed picture of the level reached by the Atlanteans. These did not form part of the investigations made in the summer of 1910, and chronicled in the present book; they were done during the last decade of the nineteenth century by the present writers, working with some other members of the T.S., whose names we are not at liberty to give. One of the present writers put them into the form of articles for The Theosophical Review, and these articles are here reprinted. in their proper place, as part of a much larger work.

Chúng tôi đã chọn hai nền văn minh con phát triển về sau, cách xa trung tâm lớn của giống dân gốc thứ tư—một nền xuất phát từ giống dân phụ thứ ba, Toltec, nền kia từ giống dân phụ thứ tư, Turanian—để đưa ra một bức tranh sinh động và chi tiết hơn về cấp độ mà người Atlantis đã đạt tới. Những điều này không thuộc về các cuộc khảo cứu được thực hiện vào mùa hè năm 1910 và ghi lại trong sách hiện tại; chúng được thực hiện trong thập niên cuối của thế kỷ mười chín bởi các tác giả hiện nay, làm việc cùng một số hội viên khác của Hội Thông Thiên Học, những người mà chúng tôi không được phép nêu tên. Một trong các tác giả hiện nay đã đưa chúng vào hình thức các bài viết cho The Theosophical Review, và các bài ấy được in lại ở đây, đúng vị trí của chúng, như một phần của một công trình rộng lớn hơn nhiều.

CHAPTER XI — CHƯƠNG XI

TWO ATLANTEAN CIVILISATIONS53 — HAI NỀN VĂN MINH ATLANTIS53

Toltec, in Ancient Peru, 12,000 B.C. — Toltec, tại Peru cổ đại, 12.000 trước Công nguyên

THE civilisation of Peru in the thirteenth millennium B.C. so closely resembled that of the Toltec Empire in its zenith, that, having closely studied that period, we utilise it here as an example of Atlantean civilisation. Egypt and India in their Atlantean periods, offered other examples, but, on the whole, the chief features of the Toltec Empire are best reproduced in the Peru which is here described. The Government was autocratic—no other Government in those days was possible.

NỀN văn minh Peru vào thiên niên kỷ thứ mười ba trước Công nguyên giống nền văn minh của Đế quốc Toltec ở đỉnh cao của nó đến mức, sau khi đã nghiên cứu kỹ thời kỳ ấy, chúng tôi dùng nó ở đây như một ví dụ về nền văn minh Atlantis. Ai Cập và Ấn Độ trong các thời kỳ Atlantis của họ cũng đưa ra những ví dụ khác, nhưng nhìn chung, những đặc điểm chính của Đế quốc Toltec được tái hiện rõ nhất trong Peru được mô tả ở đây. Chính quyền mang tính chuyên chế—không có chính quyền nào khác trong những ngày ấy là khả hữu.

To show why this was so, we must look back in thought to a period far earlier—to the original segregation of the great fourth Root Race. It will be obvious that when the Manu and His lieutenants—great Adepts from a far higher evolution—incarnated among the youthful Race which They were labouring to develop, They were to those people absolutely as Gods in knowledge and power, so far were They in advance of them in every conceivable respect. Under such circumstances there could be no form of Government possible but an autocracy, for the Ruler was the only person who really knew anything, and so he had to take the control of everything. These Great Ones became therefore the natural rulers and guides of child-humanity, and ready obedience was ever paid to Them, for it was recognised that wisdom gave authority and that the greatest help that could be given to the ignorant was that they should be guided and trained. Hence all the order of the new society came, as all true order must ever come, from above and not from below; as the new Race spread the principle persisted, and on this basis the mighty monarchies of remote antiquity were founded, in most cases beginning under great King-Initiates, whose power and wisdom guided Their infant States through all their initial difficulties.

Để cho thấy vì sao điều này là như vậy, trong tư tưởng chúng ta phải nhìn lại một thời kỳ xa xưa hơn nhiều—sự phân tách ban đầu của giống dân gốc thứ tư vĩ đại. Rõ ràng khi Đức Manu và các phụ tá của Ngài—những Chân sư vĩ đại từ một cuộc tiến hoá cao hơn rất nhiều—lâm phàm giữa Nhân loại trẻ tuổi mà Các Ngài đang lao tác để phát triển, thì đối với dân chúng ấy, Các Ngài hoàn toàn như các Vị Thượng đế về tri thức và quyền năng, vì Các Ngài vượt xa họ trong mọi phương diện có thể quan niệm. Trong những hoàn cảnh như vậy, không thể có hình thức chính quyền nào khác ngoài chế độ chuyên chế, vì Vị Cai Trị là người duy nhất thật sự biết điều gì, và do đó Ngài phải nắm quyền kiểm soát mọi sự. Vì thế, Các Đấng Cao Cả này trở thành những vị cai trị và hướng đạo tự nhiên của nhân loại thơ ấu, và sự vâng phục sẵn sàng luôn được dành cho Các Ngài, vì người ta nhận ra rằng minh triết ban cho thẩm quyền, và sự trợ giúp lớn nhất có thể dành cho kẻ vô minh là họ được hướng dẫn và đào tạo. Do đó, toàn bộ trật tự của xã hội mới phát xuất, như mọi trật tự chân chính luôn phải phát xuất, từ trên xuống chứ không từ dưới lên; khi Nhân loại mới lan rộng, nguyên lý ấy vẫn được duy trì, và trên nền tảng này, những nền quân chủ hùng mạnh của thời cổ đại xa xăm được thiết lập, trong phần lớn trường hợp khởi đầu dưới các vị Vua-Điểm đạo đồ vĩ đại, mà quyền năng và minh triết của Các Ngài đã hướng dẫn các Quốc gia thơ ấu của Các Ngài vượt qua mọi khó khăn ban đầu.

Thus it happened that, even when the original Divine Rulers had yielded Their positions into the hands of Their pupils, the true principle of Government was still understood, and hence, when a new Kingdom was founded, the endeavour was always to imitate as closely as might be, under the new circumstances, the splendid institutions which the Divine Wisdom had already given to the world. It was only as selfishness arose among both peoples and rulers that gradually the old order changed, and gave place to experiments that were not wise, to Governments which were inspired by greed and ambition, instead of by the fulfilment of duty.

Vì vậy, ngay cả khi các Vị Cai Trị Thiêng Liêng ban đầu đã nhường vị trí của Các Ngài vào tay các học trò, nguyên lý chân chính của chính quyền vẫn được thấu hiểu; và do đó, khi một Vương quốc mới được thành lập, nỗ lực luôn là noi theo sát hết mức có thể, trong những hoàn cảnh mới, các định chế huy hoàng mà Minh Triết Thiêng Liêng đã ban cho thế giới. Chỉ khi sự ích kỷ nổi lên nơi cả dân chúng lẫn nhà cai trị, trật tự cũ mới dần thay đổi và nhường chỗ cho những thử nghiệm không khôn ngoan, cho các chính quyền được cảm hứng bởi tham lam và tham vọng, thay vì bởi sự hoàn thành bổn phận.

At the period with which we have to deal—12,000 B.C.—the earlier Cities of the Golden Gates had been sunk beneath the waves for many thousands of years, and though the chief of the Kings of the Island of Poseidonis still arrogated to himself the beautiful title which had belonged to them, he made no pretence to imitate the methods of Government which had ensured them a stability so far beyond the common lot of human arrangements. Some centuries before, however, a well-conceived attempt to revive—though of course on a much smaller scale—the life of that ancient system had been made by the Monarchs of the country afterwards called Peru, and at the time of which we are speaking this revival was in full working order, and perhaps at the zenith of its glory, though it maintained its efficiency for many centuries after. It is, then, with this Peruvian revival that we are now concerned.

Vào thời kỳ mà chúng ta phải đề cập—12.000 trước Công nguyên—các Thành phố Cổng Vàng trước kia đã chìm dưới sóng biển từ nhiều nghìn năm, và dù vị đứng đầu các Vua của Đảo Poseidonis vẫn tự phụ nhận cho mình danh hiệu đẹp đẽ từng thuộc về các vị ấy, ông không hề giả vờ noi theo những phương pháp cai trị đã bảo đảm cho họ một sự ổn định vượt xa số phận thường tình của các sắp đặt nhân loại. Tuy nhiên, vài thế kỷ trước đó, một nỗ lực được suy nghĩ kỹ để phục hưng—dĩ nhiên trên một quy mô nhỏ hơn nhiều—đời sống của hệ thống cổ xưa ấy đã được các Quân vương của xứ về sau gọi là Peru thực hiện; và vào thời điểm chúng ta đang nói, cuộc phục hưng này đang vận hành đầy đủ, có lẽ ở đỉnh cao vinh quang của nó, dù nó vẫn duy trì hiệu quả trong nhiều thế kỷ sau. Vậy chính cuộc phục hưng Peru này là điều chúng ta hiện đang quan tâm.

It is a little difficult to give an idea of the physical appearance of the race inhabiting the country, for no race at present existing on earth sufficiently resembles it to suggest a comparison, without misleading our readers in one direction or another. Such representatives of the great third sub-race of the Atlantean Root Race as are still to be seen on earth are degraded and debased, as compared with the Race in its glory. Our Peruvian had the high cheek-bones and the general shape of face which we associate with the highest type of the Red Indian, and yet he had modifications in its contour which made him almost more Aryan than Atlantean; his expression differed fundamentally from that of most modern Red Men, for it was usually frank, joyous, and mild, and in the higher classes keen intellect and great benevolence frequently showed themselves. In colour he was reddish-bronze, lighter on the whole among the upper classes, and darker among the lower, though the intermingling between the classes was such that it is scarcely possible to make even this distinction.

Có hơi khó để đưa ra một ý niệm về diện mạo hồng trần của nhân loại cư ngụ tại xứ ấy, vì hiện nay trên Trái Đất không có nhân loại nào đủ giống họ để gợi một so sánh mà không khiến độc giả của chúng ta bị dẫn lạc theo hướng này hay hướng khác. Những đại diện của giống dân phụ thứ ba vĩ đại thuộc giống dân gốc Atlantis còn có thể thấy trên Trái Đất đều đã suy thoái và thấp kém so với Nhân loại ấy trong thời vinh quang. Người Peru của chúng ta có gò má cao và dáng mặt tổng quát mà chúng ta liên hệ với kiểu cao nhất của người Da Đỏ, nhưng y lại có những biến đổi trong đường nét khiến y hầu như giống Arya hơn Atlantis; nét biểu cảm của y khác căn bản với hầu hết người Da Đỏ hiện đại, vì thường cởi mở, vui tươi và hiền hòa, còn trong các giai cấp cao hơn, trí tuệ sắc bén và lòng nhân ái lớn lao thường biểu lộ. Về màu da, y có sắc đồng đỏ, nhìn chung sáng hơn nơi các giai cấp trên và sẫm hơn nơi các giai cấp dưới, dù sự pha trộn giữa các giai cấp đến mức hầu như không thể đưa ra ngay cả sự phân biệt này.

The disposition of the people was on the whole happy, contented, and peaceful. The laws were few, suitable, and well administered, and so the people were naturally law-abiding; the climate was for the most part delightful, and enabled them to do without undue toil all the work connected with the tilling of the land, giving them a bountiful harvest in return for moderate exertion—a climate calculated to make the people contented and disposed to make the best of life. Obviously such a state of mind among their people gave the rulers of the country an enormous advantage to begin with.

Tính khí của dân chúng nói chung hạnh phúc, mãn nguyện và hiền hòa. Luật pháp ít, thích hợp và được thi hành tốt, nên dân chúng tự nhiên tuân thủ luật pháp; khí hậu phần lớn dễ chịu, giúp họ thực hiện mọi công việc liên quan đến canh tác đất đai mà không cần lao nhọc quá mức, ban cho họ một mùa gặt dồi dào để đáp lại nỗ lực vừa phải—một khí hậu có khả năng làm dân chúng mãn nguyện và có khuynh hướng tận dụng đời sống một cách tốt đẹp nhất. Rõ ràng, một trạng thái trí như vậy nơi dân chúng đã đem lại cho những nhà cai trị của xứ ấy một lợi thế khổng lồ ngay từ đầu.

As has already been remarked, the Monarchy was absolute, yet it differed so entirely from anything now existing that the mere statement conveys no idea of the facts. The key-note of the entire system was responsibility. The King had absolute power, certainly, but he had also the absolute responsibility for everything; he had been trained from his earliest years to understand that if, anywhere in his vast Empire, an avoidable evil of any kind existed—if a man willing to work could not get the kind of work that suited him, if even a child was ill and could not get proper attention—this was a slur upon his administration, a blot upon his reign, a stain upon his personal honour.

Như đã nhận xét, nền quân chủ là tuyệt đối, nhưng nó khác hoàn toàn với bất cứ điều gì hiện nay đang tồn tại đến mức chỉ riêng phát biểu ấy không truyền đạt được ý niệm nào về sự kiện. Chủ âm của toàn hệ thống là trách nhiệm. Nhà Vua chắc chắn có quyền lực tuyệt đối, nhưng ông cũng có trách nhiệm tuyệt đối đối với mọi sự; ông đã được đào tạo từ những năm đầu đời để hiểu rằng nếu, ở bất cứ nơi nào trong Đế quốc rộng lớn của mình, có một điều ác nào có thể tránh được tồn tại—nếu một người sẵn lòng làm việc không thể có được loại công việc phù hợp với y, nếu ngay cả một đứa trẻ bị bệnh mà không thể nhận được sự chăm sóc thích đáng—thì đó là một vết nhơ trên nền cai trị của ông, một vết bẩn trên triều đại của ông, một dấu ô trên danh dự cá nhân của ông.

He had a large governing class to assist him in his labours, and he subdivided the whole huge nation in the most elaborate and systematic manner under its care. First of all the Empire was divided into provinces, over each of which was a kind of Viceroy; under them again were what we might call Lord-Lieutenants of counties; and under them again Governors of cities or of smaller districts. Every one of these was directly responsible to the man next above him in rank for the well-being of every person in his division. This subdivision of responsibility went on until we come to a kind of Centurion—an official who had a hundred families in his care, for whom he was absolutely responsible. This was the lowest member of the governing class; but he, on his part, usually aided himself in his work by appointing some one out of every tenth household as a kind of voluntary assistant, to bring him the more instant news of anything that was needed or anything that went wrong.54

Ông có một giai cấp cai trị đông đảo để trợ giúp trong các công việc của mình, và ông chia toàn bộ quốc gia khổng lồ thành những đơn vị hết sức tinh vi và hệ thống dưới sự chăm sóc của giai cấp ấy. Trước hết Đế quốc được chia thành các tỉnh, trên mỗi tỉnh có một loại Phó vương; dưới các vị này lại có những người mà chúng ta có thể gọi là Tổng trấn các hạt; và dưới họ nữa là Thống đốc các thành phố hoặc các khu nhỏ hơn. Mỗi người trong số này chịu trách nhiệm trực tiếp với người ở cấp bậc ngay trên mình về an lạc của mọi người trong khu vực của mình. Sự phân chia trách nhiệm này tiếp diễn cho đến khi chúng ta gặp một loại Bách phu trưởng—một viên chức chăm sóc một trăm gia đình, mà y chịu trách nhiệm tuyệt đối. Đây là thành viên thấp nhất của giai cấp cai trị; nhưng về phần mình, y thường tự trợ giúp trong công việc bằng cách chỉ định một người trong mỗi mười hộ làm một loại phụ tá tự nguyện, để đem đến cho y tin tức tức thời hơn về bất cứ điều gì cần thiết hoặc bất cứ điều gì trục trặc.54

If any one of this elaborate network of officials neglected any part of his work, a word to his next superior would bring down instant investigation, for that superior’s own honour was involved in the perfect contentment and well-being of everyone within his jurisdiction. And this sleepless vigilance in the performance of public duty was enforced not so much by law (though law no doubt there was), as by the universal feeling among the governing class—a feeling akin to the honour of a gentleman, a force far stronger than the command of any mere outer law can ever be, because it is in truth the working of a higher law from within—the dictation of the awakening ego to his personality on some subject which he knows.

Nếu bất cứ người nào trong mạng lưới viên chức tinh vi này sao nhãng bất kỳ phần nào trong công việc của mình, một lời báo cho cấp trên kế tiếp của y sẽ lập tức đem đến một cuộc điều tra, vì danh dự của chính cấp trên ấy liên hệ đến sự mãn nguyện và an lạc hoàn hảo của mọi người trong thẩm quyền của mình. Và sự cảnh giác không ngủ trong việc thi hành bổn phận công cộng này được cưỡng hành không phải nhiều bởi luật pháp, dù chắc chắn có luật pháp, mà bởi cảm thức phổ quát trong giai cấp cai trị—một cảm thức gần giống danh dự của một người quân tử, một mãnh lực mạnh hơn rất nhiều so với mệnh lệnh của bất kỳ luật bên ngoài đơn thuần nào, vì thật ra đó là sự vận hành của một định luật cao hơn từ bên trong—mệnh lệnh của chân ngã đang thức tỉnh đối với phàm ngã của y về một chủ đề mà y biết.

It will be seen that we are thus introduced to a system which was in every respect founded on the very antithesis of all ideas which have arrogated to themselves the name of modern progress. The factor which made such a Government, so based, a possible and a workable one, was the existence among all classes of the community of an enlightened public opinion—an opinion so strong and definite, so deeply ingrained, as to make it practically impossible for any man to fail in his duty to the State. Any one who had so failed would have been regarded as an uncivilised being, unworthy of the high privilege of citizenship in this great Empire of `The Children of the Sun,’ as these early Peruvians called themselves; he would have been looked upon with something of the same horror and pity as was an excommunicated person in mediaeval Europe.

Có thể thấy rằng như vậy chúng ta được đưa vào một hệ thống, trong mọi phương diện, được đặt nền trên sự đối nghịch hoàn toàn với tất cả các ý tưởng đã tự phụ nhận lấy danh xưng tiến bộ hiện đại. Yếu tố khiến một Chính quyền như thế, được đặt nền như thế, trở thành khả hữu và vận hành được, là sự tồn tại trong mọi giai cấp của cộng đồng một dư luận công chúng giác ngộ—một dư luận mạnh mẽ và xác định đến mức, ăn sâu đến mức, khiến cho hầu như không thể có người nào thất bại trong bổn phận của mình đối với Quốc gia. Bất cứ ai đã thất bại như vậy sẽ bị xem là một sinh linh chưa văn minh, không xứng đáng với đặc ân cao quý của tư cách công dân trong Đế quốc vĩ đại của “Những Đứa Con của Mặt Trời”, như những người Peru sơ kỳ này tự gọi mình; y sẽ bị nhìn bằng một nỗi kinh hãi và thương hại tương tự như người bị tuyệt thông trong châu Âu thời trung cổ.

From this state of affairs—so remote from anything now existing as to be barely conceivable to us—arose another fact almost as difficult to realise. There were practically no laws in old Peru, and consequently no prisons; indeed, our system of punishments and penalties would have appeared absolutely unreasonable to the nation of which we are thinking. The life of a citizen of the Empire was in their eyes the only life worth living; but it was thoroughly well understood that every man held his place in the community only on condition that he fulfilled his duty towards it. If a man in any way fell short of this (an almost unheard-of occurrence, because of the force of opinion which is above described), an explanation would be expected by the officer in charge of his district; and if; on examination, he proved blameworthy, he would be reprimanded by that officer. Anything like continued neglect of duty ranked among the heinous offences, such as murder or theft; and for all these there was only one punishment—that of exile.

Từ tình trạng sự việc này—xa lạ với bất cứ điều gì đang tồn tại hiện nay đến mức chúng ta hầu như không thể quan niệm—nảy sinh một sự kiện khác gần như cũng khó nhận ra như vậy. Trong Peru cổ hầu như không có luật pháp, và do đó không có nhà tù; thật vậy, hệ thống trừng phạt và hình phạt của chúng ta hẳn sẽ hiện ra như hoàn toàn phi lý đối với dân tộc mà chúng ta đang nghĩ đến. Trong mắt họ, đời sống của một công dân Đế quốc là đời sống duy nhất đáng sống; nhưng người ta hiểu rất rõ rằng mỗi người chỉ giữ vị trí của mình trong cộng đồng với điều kiện y hoàn thành bổn phận đối với cộng đồng ấy. Nếu một người theo cách nào đó không đạt tới điều này—một sự việc hầu như chưa từng nghe đến, vì sức mạnh của dư luận đã mô tả ở trên—viên chức phụ trách khu vực của y sẽ yêu cầu một lời giải thích; và nếu, sau khi xem xét, y tỏ ra đáng trách, y sẽ bị viên chức ấy khiển trách. Bất cứ điều gì giống như sự sao nhãng bổn phận kéo dài đều được xếp vào hàng những tội ác nghiêm trọng, như giết người hay trộm cắp; và đối với tất cả các tội ấy chỉ có một hình phạt—lưu đày.

The theory upon which this arrangement was based was an exceedingly simple one. The Peruvian held that the civilised man differed from the savage principally in that he understood and intelligently fulfilled his duties towards the State of which he formed a unit; if a man did not fulfil those duties he at once became a danger to the State, he showed himself unworthy to participate in its benefits, and he was consequently expelled from it, and left to live among the barbarous tribes on the fringes of the Empire. Indeed, it is perhaps characteristic of the attitude of the Peruvians in this matter that the very word by which these tribes were designated in their language means, when literally translated, `the lawless ones’.

Lý thuyết làm nền cho sắp đặt này hết sức đơn giản. Người Peru cho rằng con người văn minh khác người man rợ chủ yếu ở chỗ y hiểu và hoàn thành một cách thông minh các bổn phận của mình đối với Quốc gia mà y là một đơn vị; nếu một người không hoàn thành những bổn phận ấy, y lập tức trở thành một mối nguy cho Quốc gia, y chứng tỏ mình không xứng đáng tham dự vào các lợi ích của nó, và do đó y bị trục xuất khỏi nó, để sống giữa các bộ lạc man rợ ở rìa Đế quốc. Thật vậy, có lẽ thái độ của người Peru trong vấn đề này được đặc trưng bởi chính từ mà họ dùng trong ngôn ngữ của mình để chỉ các bộ lạc ấy; khi dịch sát nghĩa, từ ấy có nghĩa là “những kẻ vô luật”.

It was, however, only rarely that it became necessary to resort to this extreme measure of exile; in most cases the officials were revered and beloved, and a hint from one of them was more than sufficient to bring back any unruly spirit to the path of order. Nor were even the few who were exiled irrevocably cast forth from their native country; after a certain period they were allowed to return upon probation to their place among civilised men, and once more to enjoy the advantages of citizenship, as soon as they had shown themselves worthy of them.

Tuy nhiên, chỉ hiếm khi cần phải dùng đến biện pháp cực đoan lưu đày này; trong phần lớn trường hợp, các viên chức được tôn kính và yêu mến, và một lời gợi ý từ một trong các vị ấy là quá đủ để đưa bất kỳ tinh thần ngỗ nghịch nào trở lại con đường trật tự. Ngay cả một số ít người bị lưu đày cũng không bị vĩnh viễn đuổi khỏi quê hương; sau một thời gian nhất định, họ được phép trở về trong thời kỳ dự bị với vị trí của họ giữa những người văn minh, và một lần nữa hưởng các lợi thế của tư cách công dân, ngay khi họ đã chứng tỏ mình xứng đáng với chúng.

Among their manifold functions the officials (or `fathers,’ as they were called) included those of judges, although, as there was practically no law, in our sense of the word, to administer, they perhaps corresponded more closely to our idea of arbitrators. All disputes which arose between man and man were referred to them, and in this case, as in all others, any one who felt dissatisfied with a decision could always appeal to the official next above, so that it was within the bounds of possibility that a knotty point might be carried to the very footstool of the King himself.

Trong số nhiều chức năng của họ, các viên chức, hay “các người cha” như họ được gọi, bao gồm chức năng thẩm phán, mặc dù vì hầu như không có luật pháp theo nghĩa của chúng ta để thi hành, có lẽ họ tương ứng gần hơn với ý niệm của chúng ta về trọng tài. Mọi tranh chấp nảy sinh giữa người với người đều được đưa đến họ, và trong trường hợp này, cũng như trong mọi trường hợp khác, bất cứ ai cảm thấy không hài lòng với một quyết định luôn có thể kháng cáo lên viên chức cấp trên kế tiếp, đến mức về mặt khả năng, một điểm khó xử có thể được đưa đến tận bệ chân của chính Nhà Vua.

Every effort was made by the higher authorities render themselves readily accessible to all, and part of the plan arranged for this purpose consisted in an elaborate system of visitations. Once in seven years the King himself made a tour of his Empire for this purpose; and in the same way the Governor of a province had to travel over it yearly; and his sub-ordinates in their turn had constantly to see with their own eyes that all was going well with those under their charge, and to give every opportunity for any one who wished to consult them or appeal to them. These various royal and official progresses were made with considerable state, and were always occasions of the greatest rejoicing among the people.

Các thẩm quyền cao hơn luôn nỗ lực hết sức để khiến mình dễ dàng tiếp cận đối với mọi người, và một phần của kế hoạch được sắp đặt cho mục đích này gồm một hệ thống thăm viếng tinh vi. Cứ bảy năm một lần, chính Nhà Vua đi tuần du Đế quốc của mình vì mục đích này; và tương tự, Thống đốc một tỉnh phải đi khắp tỉnh ấy hằng năm; đến lượt các thuộc cấp của ông phải thường xuyên tận mắt thấy rằng mọi sự đều tốt đẹp với những người dưới sự chăm sóc của họ, và phải tạo mọi cơ hội cho bất cứ ai muốn tham vấn hay kháng cáo với họ. Các cuộc tuần du hoàng gia và viên chức khác nhau này được thực hiện với nghi thức đáng kể, và luôn là những dịp dân chúng vui mừng lớn lao nhất.

The scheme of Government had at least this much in common with that of our own day, that a complete and careful system of registration was adopted, births, marriages and deaths being catalogued with scrupulous accuracy, and statistics compiled from them in quite the modern style. Each Centurion had a detailed record of the names of all who were under his charge, and kept for each of them a curious little tablet upon which the principal events of his life were entered as they occurred. To his superior in turn he reported not names, but numbers—so many sick, so many well, so many births, so many deaths, etc.,—and these small reports gradually converged and were added together as they passed higher and higher up the official hierarchy, until an abstract of them all periodically reached the monarch himself; who had thus a kind of perpetual census of his Empire always ready to his hand.

Hệ thống cai trị này ít nhất có điểm chung với hệ thống ngày nay của chúng ta ở chỗ một hệ thống đăng ký đầy đủ và cẩn thận đã được áp dụng; sinh, hôn nhân và tử đều được ghi chép với độ chính xác tỉ mỉ, và các thống kê được tổng hợp từ đó theo phong cách khá hiện đại. Mỗi Bách phu trưởng có một hồ sơ chi tiết về tên của tất cả những người dưới sự chăm sóc của mình, và giữ cho mỗi người một tấm bảng nhỏ kỳ lạ, trên đó những sự kiện chính trong đời y được ghi vào khi chúng xảy ra. Đến lượt cấp trên của y, y không báo cáo tên mà báo cáo số—bao nhiêu người bệnh, bao nhiêu người khỏe, bao nhiêu sinh, bao nhiêu tử, v.v.—và những báo cáo nhỏ này dần hội tụ và được cộng lại khi chúng đi lên ngày càng cao trong phẩm trật viên chức, cho đến khi một bản tóm lược của tất cả chúng định kỳ đến tay chính quân vương; nhờ vậy ông luôn có sẵn trong tay một loại kiểm kê dân số thường trực của Đế quốc mình.

Another point of similarity between this ancient system and our own is to be found in the exceeding care with which the land was surveyed, parcelled out, and above all analysed —the chief object of all this investigation being to discover the exact constitution of the earth in every part of the country, in order that the most appropriate crop might be planted in it, and the most made out of it generally. Indeed, it may be said that almost more importance was attached to the study of what we should now call scientific agriculture than to any other line of work.

Một điểm tương đồng khác giữa hệ thống cổ xưa này và hệ thống của chúng ta được tìm thấy trong sự chăm chút tột độ khi đất đai được khảo sát, chia lô, và trên hết là được phân tích —mục tiêu chính của toàn bộ khảo sát này là khám phá cấu tạo chính xác của đất ở mọi phần của xứ sở, để loại cây trồng thích hợp nhất có thể được gieo trên đó, và nói chung có thể khai thác được nhiều nhất từ đó. Thật vậy, có thể nói rằng tầm quan trọng gần như lớn hơn được gán cho việc nghiên cứu điều mà ngày nay chúng ta gọi là nông nghiệp khoa học hơn bất kỳ ngành công việc nào khác.

This brings us directly to the consideration of perhaps the most remarkable of all the institutions of this ancient race—its land system. So excellently suited to the country was this unique arrangement, that the far inferior race which, thousands of years later, conquered and enslaved the degenerate descendants of our Peruvians, endeavoured to carry it on as well as they could, and the admiration of the Spanish invaders was excited by such relics of it as were still in working order at the time of their arrival. Whether such a scheme could be as successfully carried out in less fertile and more thickly-populated countries may be doubtful, but at any rate it was working capitally at the time and place where we thus find it in action. This system we must now endeavour to explain, dealing first, for clearness’sake, with the broad outline of it only, and leaving many points of vital importance to be treated under other headings.

Điều này đưa chúng ta trực tiếp đến việc xem xét có lẽ là định chế đáng chú ý nhất trong tất cả các định chế của nhân loại cổ xưa này—hệ thống đất đai của họ. Sự sắp đặt độc đáo này phù hợp với xứ sở đến mức nhân loại thấp kém hơn rất nhiều, những người nhiều nghìn năm sau đã chinh phục và nô dịch hóa các hậu duệ suy thoái của người Peru chúng ta, đã cố gắng duy trì nó hết sức có thể; và sự ngưỡng mộ của những kẻ xâm lược Tây Ban Nha đã bị khơi dậy bởi những tàn dư của nó vẫn còn vận hành vào lúc họ đến. Liệu một hệ thống như thế có thể được thực hiện thành công như vậy trong các xứ kém màu mỡ hơn và đông dân hơn hay không thì có thể còn đáng nghi, nhưng dù sao, nó đã vận hành xuất sắc vào thời gian và nơi chốn mà chúng ta thấy nó hoạt động như vậy. Bây giờ chúng ta phải cố gắng giải thích hệ thống này, trước hết, để rõ ràng, chỉ đề cập đến nét đại cương của nó, và để lại nhiều điểm có tầm quan trọng thiết yếu sẽ được bàn dưới các đề mục khác.

Every town or village, then, had assigned to it for cultivation a certain amount of such arable land as lay around it—an amount strictly proportioned to the number of its inhabitants. Among those inhabitants were in every case a large number of workers who were appointed to till that land—what we may call a labouring class, in fact; not that all the others did not labour also, but that these were set apart for this particular kind of work. How this labouring class was recruited must be explained later; let it be sufficient for the moment to say that all its members were men in the prime of life and strength, between twenty and five-and-forty years of age—that no old men or children, no sickly or weakly persons, were to be seen among its ranks.

Vậy, mỗi thị trấn hay làng mạc được giao để canh tác một lượng nhất định đất trồng trọt nằm quanh nó—một lượng được quy định nghiêm ngặt theo số cư dân của nó. Trong số các cư dân ấy, trong mọi trường hợp đều có một số lớn người lao động được chỉ định để cày cấy đất ấy—thực ra là điều chúng ta có thể gọi là một giai cấp lao động; không phải tất cả những người khác không lao động, mà vì những người này được tách riêng cho loại công việc đặc biệt này. Giai cấp lao động này được tuyển mộ như thế nào sẽ được giải thích sau; lúc này chỉ cần nói rằng mọi thành viên của nó đều là những người nam đang ở thời kỳ sung sức của đời sống và sức mạnh, giữa hai mươi và bốn mươi lăm tuổi—không có người già hay trẻ em, không có người bệnh tật hay yếu ớt nào được thấy trong hàng ngũ của họ.

The land assigned for cultivation to any given village was first of all divided into two halves, which we will call the private land and the public land. Both these halves had to be cultivated by the labourers, the private land for their own individual benefit and support, and the public land for the good of the community. That is to say, the cultivation of the public land may be regarded as taking the place of the payment of rates and taxes in our modern State. Naturally the idea will at once occur that a tax which is equivalent to half a man’s income, or which takes up half the time and energy that he expends (which in this case is the same thing) is an enormously heavy and most iniquitous one. Let the reader wait until he learns what was done with the produce of that tax, and what part it played in the national life, before he condemns it as an oppressive imposition. Let him realise also that the practical result of the rule was by no means severe; the cultivation of both public and private lands meant far less hard work than falls to the lot of the agriculturalist in England; for while at least twice a year it involved some weeks of steady work from morning till night, there were long intervals when all that was required could easily be done in two hours’ work each day.

Đất được giao để canh tác cho bất kỳ làng nào trước hết được chia thành hai nửa, mà chúng ta sẽ gọi là đất tư và đất công. Cả hai nửa này đều phải được những người lao động canh tác, đất tư vì lợi ích và sự nuôi dưỡng cá nhân của chính họ, còn đất công vì lợi ích của cộng đồng. Nghĩa là, việc canh tác đất công có thể được xem như thay thế cho việc nộp phí và thuế trong Quốc gia hiện đại của chúng ta. Tự nhiên, ý tưởng sẽ lập tức nảy sinh rằng một loại thuế tương đương với một nửa thu nhập của một người, hoặc chiếm một nửa thời gian và năng lượng mà y sử dụng, trong trường hợp này là cùng một điều, là một loại thuế vô cùng nặng nề và bất công nhất. Xin độc giả hãy chờ cho đến khi biết sản phẩm của loại thuế ấy được dùng vào việc gì, và nó đóng vai trò nào trong đời sống quốc gia, trước khi kết án nó là một khoản áp đặt áp bức. Cũng hãy nhận ra rằng kết quả thực tế của quy luật ấy không hề nghiêm khắc; việc canh tác cả đất công lẫn đất tư có nghĩa là ít lao động nặng nhọc hơn rất nhiều so với phần việc rơi vào người nông dân ở Anh; vì trong khi ít nhất hai lần mỗi năm nó đòi hỏi vài tuần làm việc đều đặn từ sáng đến tối, thì lại có những khoảng thời gian dài khi mọi điều cần làm có thể dễ dàng hoàn tất trong hai giờ làm việc mỗi ngày.

The private land, with which we will deal first, was divided among the inhabitants with the most scrupulous fairness. Each year, after the harvest had been gathered in, a certain definite amount of land was apportioned to every adult, whether man or woman, though all the cultivation was done by the men. Thus a married man without children would have twice as much as a single man; a widower with, say, two adult unmarried daughters would have three times as much as a single man; but when one of those daughters married, her portion would go with her—that is, it would be taken from her father and given to her husband. For every child born to the couple, a small additional assignment would be made to them, the amount increasing as the children grew older—the intention of course being that each family should always have what was necessary for its support.

Đất tư, mà chúng ta sẽ bàn trước, được chia giữa cư dân với sự công bằng hết sức tỉ mỉ. Mỗi năm, sau khi mùa gặt đã thu xong, một lượng đất xác định được phân cho mỗi người trưởng thành, dù nam hay nữ, mặc dù mọi việc canh tác đều do nam giới thực hiện. Như vậy, một người nam đã kết hôn mà không có con sẽ có gấp đôi một người độc thân; một người góa vợ có, giả sử, hai con gái trưởng thành chưa kết hôn sẽ có gấp ba một người độc thân; nhưng khi một trong các con gái ấy kết hôn, phần của cô sẽ đi theo cô—nghĩa là nó sẽ được lấy khỏi cha cô và trao cho chồng cô. Với mỗi đứa con sinh ra cho cặp vợ chồng, một phần bổ sung nhỏ sẽ được cấp cho họ, số lượng tăng lên khi con cái lớn hơn—dĩ nhiên ý định là mỗi gia đình luôn có những gì cần thiết cho sự nuôi dưỡng của mình.

A man could do absolutely what he chose with his land, except leave it uncultivated. Some crop or other he must make it produce, but as long as he made his living out of it, the rest was his own affair. At the same time the best advice of the experts was always at his service for the asking, so that he could not plead ignorance if his selection proved unsuitable. A man not belonging to our technical `labouring class’ —that is, a man who was making his living in some other way—could either cultivate his plot in his leisure time, or employ a member of that class to do it for him in addition to his own work; but in this latter case the produce of the land belonged not to the original assignee, but to the man who had done the work. The fact that in this way one labouring man could, and frequently quite voluntarily did, perform two men’s work, is another proof that the fixed amount of labour was in reality an extremely light task.

Một người có thể làm hoàn toàn điều y muốn với đất của mình, ngoại trừ để nó không canh tác. Y phải khiến nó sản xuất ra một loại cây trồng nào đó, nhưng miễn là y kiếm sống từ nó, phần còn lại là chuyện riêng của y. Đồng thời, lời khuyên tốt nhất của các chuyên gia luôn sẵn sàng phục vụ y khi y hỏi, nên y không thể viện cớ thiếu hiểu biết nếu sự lựa chọn của mình tỏ ra không thích hợp. Một người không thuộc “giai cấp lao động” kỹ thuật của chúng ta—nghĩa là một người đang kiếm sống theo cách khác—có thể hoặc canh tác mảnh đất của mình trong thời gian rảnh, hoặc thuê một thành viên của giai cấp ấy làm việc đó cho mình ngoài công việc riêng của người kia; nhưng trong trường hợp sau này, sản phẩm của đất không thuộc về người được phân ban đầu, mà thuộc về người đã làm công việc. Sự kiện rằng theo cách này một người lao động có thể, và thường hoàn toàn tự nguyện, làm công việc của hai người, là một bằng chứng khác cho thấy lượng lao động cố định thật ra là một nhiệm vụ hết sức nhẹ nhàng.

It is pleasant to be able to record that a great deal of good feeling and helpfulness was always shown with regard to this agricultural work. The man who had a large family of children, and therefore an unusually large piece of ground, could always count upon much kindly assistance from his neighbours as soon as they had completed their own lighter labours; and any one who had reason for taking a holiday never lacked a friend to supply his place during his absence. The question of sickness is not touched upon, for reasons which will presently appear.

Thật dễ chịu khi có thể ghi lại rằng rất nhiều thiện cảm và sự giúp đỡ luôn được biểu lộ liên quan đến công việc nông nghiệp này. Người có một gia đình đông con, và do đó có một mảnh đất lớn bất thường, luôn có thể trông cậy vào nhiều sự trợ giúp tử tế từ láng giềng ngay khi họ đã hoàn thành các công việc nhẹ hơn của riêng mình; và bất cứ ai có lý do để nghỉ lễ không bao giờ thiếu một người bạn thay thế mình trong thời gian vắng mặt. Vấn đề bệnh tật không được đụng đến, vì những lý do sẽ sớm xuất hiện.

As to disposing of the produce, there was never any difficulty about that. Most men chose to grow grain, vegetables or fruits which they themselves could use for food; their surplus they readily sold or bartered for clothes and other goods; and at the worst, the Government was always prepared to buy any amount of grain that could be offered, at a fixed rate, a trifle below the market price, in order to store it in the enormous granaries which were invariably kept full in case of famine or emergency.

Về việc xử lý sản phẩm, chưa bao giờ có khó khăn nào về điều đó. Hầu hết người ta chọn trồng ngũ cốc, rau củ hoặc trái cây mà chính họ có thể dùng làm thức ăn; phần dư thừa họ dễ dàng bán hoặc trao đổi lấy quần áo và hàng hóa khác; và trong trường hợp xấu nhất, Chính quyền luôn sẵn sàng mua bất kỳ lượng ngũ cốc nào được đưa ra, theo một mức giá cố định, hơi thấp hơn giá thị trường, để lưu trữ trong các kho thóc khổng lồ vốn luôn được giữ đầy phòng khi nạn đói hoặc tình trạng khẩn cấp.

But now let us consider what was done with the produce of that other half of the cultivated ground which we have called the public land. This public land was itself divided into two equal parts (each of which therefore represented a quarter of the whole arable land of the country), one of which was called the land of the King, the other the land of the Sun. And the law was that the land of the Sun must first be tilled, before any man turned a sod of his own private land; when that was done, each man was expected to cultivate his own piece of land, and only after all the rest of the work was safely over was he required to do his share towards tilling the land of the King—so that if unexpected bad weather delayed the harvest the loss would fall first upon the King, and except in an exceedingly inclement season could scarcely affect the people’s private share; while that of the Sun would be safeguarded in almost any possible contingency short of absolute failure of the crops.

Nhưng bây giờ chúng ta hãy xem xét sản phẩm của nửa đất canh tác kia, mà chúng ta đã gọi là đất công, được dùng vào việc gì. Chính đất công này lại được chia thành hai phần bằng nhau, mỗi phần vì thế đại diện cho một phần tư toàn bộ đất trồng trọt của xứ sở; một phần được gọi là đất của Vua, phần kia là đất của Mặt Trời. Và luật là đất của Mặt Trời phải được cày cấy trước, trước khi bất kỳ người nào lật một mảng cỏ trên đất tư của mình; khi việc ấy xong, mỗi người được kỳ vọng canh tác phần đất riêng của mình, và chỉ sau khi tất cả phần việc còn lại đã an toàn kết thúc, y mới phải làm phần của mình trong việc cày cấy đất của Vua—để nếu thời tiết xấu bất ngờ làm trì hoãn mùa gặt, tổn thất sẽ trước hết rơi lên Nhà Vua, và ngoại trừ trong một mùa cực kỳ khắc nghiệt, hầu như không thể ảnh hưởng đến phần tư của dân chúng; trong khi phần của Mặt Trời sẽ được bảo vệ trong hầu như mọi tình huống có thể, trừ trường hợp mùa màng thất bại hoàn toàn.

In regard to the question of irrigation (always an important one in a country, a great part of which is so sterile), the same order was always observed. Until the lands of the Sun were fully watered, no drop of the precious fluid was directed elsewhere; until every man’s private field had all that it needed, there was no water for the lands of the King. The reason of this arrangement will be obvious later on, when we understand how the produce of these various sections was employed.

Về vấn đề tưới tiêu, vốn luôn quan trọng trong một xứ mà phần lớn rất cằn cỗi, cùng trật tự ấy luôn được tuân giữ. Cho đến khi đất của Mặt Trời được tưới đầy đủ, không một giọt lưu chất quý giá nào được dẫn đi nơi khác; cho đến khi ruộng tư của mỗi người có tất cả những gì nó cần, không có nước cho đất của Vua. Lý do của sắp đặt này sẽ rõ ràng về sau, khi chúng ta hiểu sản phẩm của các khu vực khác nhau này được sử dụng như thế nào.

Thus it will be seen that a quarter of the entire wealth of the country went directly into the hands of the King; for in the case of money derived from manufactures or mining industries the division was still the same—first one-fourth to the Sun, then one-half to the worker, and then the remaining fourth to the King. What then did the King do with this enormous revenue?

Như vậy có thể thấy rằng một phần tư toàn bộ của cải của xứ sở đi thẳng vào tay Nhà Vua; vì trong trường hợp tiền thu được từ các ngành chế tạo hoặc khai mỏ, sự phân chia vẫn như vậy—trước hết một phần tư cho Mặt Trời, rồi một nửa cho người lao động, và sau đó một phần tư còn lại cho Nhà Vua. Vậy Nhà Vua làm gì với nguồn thu khổng lồ này?

First, he kept up the entire machinery of Government to which reference has already been made. The salaries of the whole official class—from the stately Viceroys of great provinces down to the comparatively humble Centurions—were paid by him, and not only their salaries but all the expenses of their various progresses and visitations.

Trước hết, ông duy trì toàn bộ bộ máy Chính quyền đã được nhắc đến. Lương của toàn thể giai cấp viên chức—từ các Phó vương uy nghi của những tỉnh lớn xuống đến các Bách phu trưởng tương đối khiêm nhường—đều do ông chi trả, và không chỉ lương của họ mà cả mọi chi phí của các cuộc tuần du và thăm viếng khác nhau của họ.

Secondly, out of that revenue he executed all the mighty public works of his Empire, the mere ruins of some of which are still wonders to us now, fourteen thousand years later. The marvellous roads which joined city to city and town to town throughout the Empire, hollowed out through mountains of granite, carried by stupendous bridges over the most impracticable ravines, the splendid series of aqueducts—which, by feats of engineering skill in no way inferior to that of our own day, were enabled to spread the life-giving fluid over the remotest corners of an often sterile country—all these were constructed and maintained out of the income derived from the lands of the King.

Thứ hai, từ nguồn thu ấy ông thực hiện tất cả những công trình công cộng hùng vĩ của Đế quốc mình, mà chỉ riêng tàn tích của một số công trình ấy vẫn còn là kỳ quan đối với chúng ta hiện nay, mười bốn nghìn năm sau. Những con đường kỳ diệu nối thành phố với thành phố và thị trấn với thị trấn khắp Đế quốc, được khoét xuyên qua các núi đá granit, được đưa qua những khe núi khó vượt nhất bằng các cây cầu phi thường; chuỗi kênh dẫn nước huy hoàng—nhờ những kỳ công kỹ thuật không hề thua kém thời nay của chúng ta, đã có thể trải lưu chất ban sự sống đến những góc xa xôi nhất của một xứ thường cằn cỗi—tất cả những thứ ấy được xây dựng và duy trì từ nguồn thu lấy từ đất của Vua.

Thirdly, he built and kept always filled a series of huge granaries, established at frequent intervals all over the Empire. For sometimes it would happen that the rainy season failed altogether, and then famine would threaten the unfortunate agriculturalist; so the rule was that there should always be in store two years’ provision for the entire nation—a store of food such as perhaps no other race in the world has ever attempted to keep. Yet, colossal as was the undertaking, it was faithfully carried out in spite of all difficulties; though perhaps even the mighty power of the Peruvian Monarch could not have achieved it, but for the method of concentrating food which was one of the discoveries of his chemists—a method which will be mentioned later.

Thứ ba, ông xây dựng và luôn giữ đầy một chuỗi kho thóc khổng lồ, được đặt ở những khoảng cách thường xuyên khắp Đế quốc. Vì đôi khi mùa mưa hoàn toàn thất bại, và khi đó nạn đói sẽ đe dọa người nông dân bất hạnh; cho nên quy luật là phải luôn dự trữ lương thực đủ hai năm cho toàn quốc—một kho thức ăn mà có lẽ không nhân loại nào khác trên thế giới từng cố giữ. Tuy nhiên, dù công trình ấy khổng lồ, nó vẫn được thực hiện trung thành bất chấp mọi khó khăn; mặc dù có lẽ ngay cả quyền năng hùng mạnh của Quân vương Peru cũng không thể đạt được điều ấy, nếu không nhờ phương pháp cô đặc thực phẩm, vốn là một trong những khám phá của các nhà hóa học của ông—một phương pháp sẽ được nhắc đến sau.

Fourthly, out of this share he kept up his army—for an army he had, and a highly trained one, though he contrived to utilise it for many other purposes besides mere fighting, of which indeed there was not often much to be done, since the less civilised tribes which surrounded his Empire had learnt to know and respect his power.

Thứ tư, từ phần này ông duy trì quân đội của mình—vì ông có một quân đội, và là một quân đội được huấn luyện cao, dù ông khéo sử dụng nó cho nhiều mục đích khác ngoài việc chiến đấu đơn thuần; thật vậy, thường không có nhiều việc chiến đấu phải làm, vì các bộ lạc kém văn minh hơn bao quanh Đế quốc của ông đã học biết và tôn trọng quyền lực của ông.

It will be better not to pause now to describe the special work of the army, but rather to fill in the remainder of our rough outline of the polity of this ancient State by indicating the place held in it by the great Guild of the Priests of the Sun, so far as the civil side of the work of that priesthood is concerned. How did this body employ their vast revenues, equal in amount to those of the King when his were at their highest point, and far more certain than his not to be diminished in time of distress or scarcity?

Tốt hơn là lúc này không dừng lại để mô tả công việc đặc biệt của quân đội, mà nên hoàn tất phần còn lại của phác thảo sơ bộ về chính thể của Quốc gia cổ xưa này bằng cách chỉ ra vị trí mà Đại Hội Đoàn các Tu sĩ của Mặt Trời nắm giữ trong đó, xét về phương diện dân sự của công việc thuộc hàng giáo sĩ ấy. Tập thể này đã sử dụng nguồn thu khổng lồ của họ như thế nào, nguồn thu ngang bằng với của Nhà Vua khi của ông ở mức cao nhất, và chắc chắn hơn nhiều so với của ông ở chỗ không bị giảm sút trong thời kỳ khốn khó hay khan hiếm?

The King indeed performed wonders with his share of the country’s wealth, but his achievements pale when compared with those of the priests. First, they kept up the splendid temples of the Sun all over the land—kept them up on such a scale that many a small village shrine had golden ornaments and decorations that would now represent many thousands of pounds, while the great cathedrals of the larger cities blazed with a magnificence which has never since been approached anywhere upon earth.

Quả thật Nhà Vua đã thực hiện những điều kỳ diệu với phần của ông trong của cải của xứ sở, nhưng các thành tựu của ông lu mờ khi so với các thành tựu của các tu sĩ. Trước hết, họ duy trì các đền thờ Mặt Trời huy hoàng khắp xứ—duy trì chúng ở quy mô đến mức nhiều điện thờ làng nhỏ có đồ trang trí và vật trang hoàng bằng vàng mà ngày nay trị giá nhiều nghìn bảng, trong khi các đại thánh đường của những thành phố lớn rực cháy với một vẻ tráng lệ mà từ đó về sau chưa nơi nào trên Trái Đất từng đạt tới.

Secondly, they gave free education to the entire youth of the Empire, male and female—not merely an elementary education, but a technical training that carried them steadily through years of close application up to the age of twenty, and sometimes considerably beyond. Of this education details will be given later.

Thứ hai, họ cung cấp giáo dục miễn phí cho toàn thể thanh thiếu niên của Đế quốc, nam và nữ—không chỉ một nền giáo dục sơ cấp, mà là một sự đào tạo kỹ thuật dẫn dắt họ đều đặn qua nhiều năm chuyên tâm học tập cho đến tuổi hai mươi, và đôi khi xa hơn đáng kể. Chi tiết về nền giáo dục này sẽ được đưa ra sau.

Thirdly (and this will probably seem to our readers the most extraordinary of their functions), they took absolute charge of all sick people. It is not meant that they were merely the physicians of the period (though that they were also), but that the moment a man, woman or child fell ill in any way, he at once came under the charge of the priests or, as they more gracefully put it, became the `guest of the Sun’. The sick person was immediately and entirely absolved from all his duties to the State, and, until his recovery, not only the necessary medicines, but also his food, were supplied to him free of all charge from the nearest temple of the Sun, while in any serious case he was usually taken to that temple as to a hospital, in order to receive more careful nursing. If the sick man were the breadwinner of the family, his wife and children also became `guests of the Sun’ until he recovered. In the present day any arrangement even remotely resembling this would certainly lead to fraud and malingering; but that is because modern nations lack as yet that enlightened and universally-diffused public opinion which made these things possible in ancient Peru.

Thứ ba, và điều này có lẽ sẽ hiện ra với độc giả của chúng ta như chức năng phi thường nhất của họ, họ hoàn toàn phụ trách mọi người bệnh. Ý muốn nói không phải chỉ là họ là các y sĩ của thời kỳ ấy, dù họ cũng là như vậy, mà là ngay khoảnh khắc một người nam, nữ hay trẻ em mắc bệnh theo bất kỳ cách nào, y lập tức thuộc về sự chăm sóc của các tu sĩ, hay như họ diễn đạt một cách duyên dáng hơn, trở thành “khách của Mặt Trời”. Người bệnh lập tức và hoàn toàn được miễn mọi bổn phận đối với Quốc gia, và cho đến khi hồi phục, không chỉ các thuốc men cần thiết mà cả thức ăn của y cũng được cung cấp miễn phí cho y từ đền thờ Mặt Trời gần nhất; còn trong bất kỳ trường hợp nghiêm trọng nào, y thường được đưa đến đền ấy như đến một bệnh viện, để nhận sự chăm sóc chu đáo hơn. Nếu người bệnh là trụ cột nuôi gia đình, vợ và con của y cũng trở thành “khách của Mặt Trời” cho đến khi y hồi phục. Ngày nay, bất kỳ sắp đặt nào dù chỉ hơi giống điều này chắc chắn sẽ dẫn đến gian lận và giả bệnh; nhưng đó là vì các quốc gia hiện đại vẫn còn thiếu dư luận công chúng giác ngộ và được lan tỏa phổ quát đã khiến những điều này khả hữu ở Peru cổ.

Fourthly—and perhaps this statement will be considered even more astonishing than the last—the entire population over the age of forty-five (except the official class) were also `guests of the Sun’. It was considered that a man who had worked for twenty-five years from the age of twenty—when he was first expected to begin to take his share of the burdens of the State—had earned rest and comfort for the remainder of his life, whatever that might be. Consequently every person, when he or she attained the age of forty-five, might, if he wished, attach himself to one of the temples and live a kind of monastic life of study, or, if he preferred still to reside with his relatives as before, he might do so, and might employ his leisure as he would. But in any case he was absolved from all work for the State, and his maintenance was provided by the priesthood of the Sun. Of course he was in no way prohibited from continuing to work in any way that he wished, and as a matter of fact most men preferred to occupy themselves in some way, even though it were but with a hobby. Indeed, many most valuable discoveries and inventions were made by those who, being free from all need for constant labour, were at liberty to follow out their ideas, and experimentalise at leisure in a way that no busy man could do.

Thứ tư—và có lẽ phát biểu này sẽ được xem là còn đáng kinh ngạc hơn phát biểu trước—toàn thể dân chúng trên bốn mươi lăm tuổi, ngoại trừ giai cấp viên chức, cũng là “khách của Mặt Trời”. Người ta cho rằng một người đã làm việc hai mươi lăm năm từ tuổi hai mươi—khi y lần đầu được kỳ vọng bắt đầu nhận phần gánh nặng của Quốc gia—đã xứng đáng được nghỉ ngơi và tiện nghi cho phần còn lại của đời mình, bất kể phần ấy là gì. Do đó, mỗi người, khi y đạt tuổi bốn mươi lăm, nếu muốn, có thể gắn mình với một trong các đền thờ và sống một loại đời sống tu viện nghiên cứu; hoặc nếu y vẫn thích cư trú với thân quyến như trước, y có thể làm vậy, và có thể sử dụng thời gian nhàn rỗi theo ý mình. Nhưng trong mọi trường hợp, y được miễn mọi công việc cho Quốc gia, và sự nuôi dưỡng của y được hàng giáo sĩ Mặt Trời cung cấp. Dĩ nhiên, y không hề bị cấm tiếp tục làm việc theo bất cứ cách nào y muốn, và trên thực tế hầu hết người nam thích tự làm bận rộn theo cách nào đó, dù chỉ là một thú tiêu khiển. Thật vậy, nhiều khám phá và phát minh rất quý giá đã được thực hiện bởi những người, nhờ được giải thoát khỏi mọi nhu cầu lao động thường xuyên, có tự do theo đuổi các ý tưởng của mình, và thí nghiệm nhàn nhã theo một cách mà không người bận rộn nào có thể làm.

Members of the official class, however, did not retire from active work at the age of forty-five, except in case of illness, nor did the priests themselves. In those two classes it was felt that the added wisdom and experience of age were too valuable not to be utilised; so in most cases priests and officials died in harness.

Tuy nhiên, các thành viên của giai cấp viên chức không rút khỏi công việc tích cực ở tuổi bốn mươi lăm, trừ trường hợp bệnh tật, và chính các tu sĩ cũng vậy. Trong hai giai cấp ấy, người ta cảm thấy rằng minh triết và kinh nghiệm tăng thêm của tuổi tác quá quý giá để không được sử dụng; vì vậy trong phần lớn trường hợp, các tu sĩ và viên chức chết khi vẫn còn tại nhiệm.

It will now be obvious why the work of the priests was considered the most important, and why, whatever else failed, the contributions to the treasury of the Sun must not fall short, for on them depended not only the religion of the people, but the education of the young and the care of the sick and the aged.

Vào lúc này, sẽ rõ vì sao công việc của các tư tế được xem là quan trọng nhất, và vì sao, dù những điều khác có thất bại thế nào, các khoản đóng góp vào ngân khố của Mặt Trời vẫn không được thiếu hụt, bởi trên đó không chỉ tôn giáo của dân chúng lệ thuộc, mà cả việc giáo dục thanh thiếu niên và chăm sóc người bệnh cùng người già cũng lệ thuộc.

What was achieved by this strange system of long ago, then, was this: for every man and woman a thorough education was assured, with every opportunity for the development of any special talent he or she might possess; then followed twenty-five years of work—steady indeed, but never either unsuitable in character or overwhelming in amount—and after that, a life of assured comfort and leisure, in which the man was absolutely free from any sort of care or anxiety. Some, of course, were poorer than others, but what we now call poverty was unknown, and destitution was impossible, while, in addition to this, crime was practically non-existent. Small wonder that exile from that State was considered the direst earthly punishment, and that the barbaric tribes on its borders became absorbed into it as soon as they could be brought to understand its system!

Vậy điều mà hệ thống kỳ lạ thuở xa xưa ấy đã đạt được là như sau: đối với mọi người nam và nữ, một nền giáo dục toàn diện được bảo đảm, cùng mọi cơ hội để phát triển bất cứ tài năng đặc biệt nào mà y hoặc bà có thể sở hữu; rồi tiếp đó là hai mươi lăm năm lao động—quả thật đều đặn, nhưng không bao giờ không phù hợp về tính chất hay quá nặng nề về khối lượng—và sau đó là một đời sống tiện nghi và nhàn nhã được bảo đảm, trong đó con người hoàn toàn thoát khỏi mọi loại lo toan hay âu sầu. Dĩ nhiên, có người nghèo hơn người khác, nhưng điều mà hiện nay chúng ta gọi là nghèo đói thì không hề được biết đến, và cảnh khốn cùng là điều không thể xảy ra; trong khi, thêm vào đó, tội phạm hầu như không tồn tại. Không lạ gì khi việc bị lưu đày khỏi Quốc gia ấy được xem là hình phạt trần thế khủng khiếp nhất, và các bộ lạc man rợ ở biên giới của nó đã bị hấp thu vào đó ngay khi họ có thể được đưa đến chỗ thấu hiểu hệ thống của nó!

It will be of interest to us to examine the religious ideas of these men of the olden time. If we had to classify their faith among those with which we are now acquainted, we should be obliged to call it a kind of Sun-worship, though of course they never thought for a moment of worshipping the physical sun. They regarded it, however, as something much more than a mere symbol; if we endeavour to express their feeling in Theosophical terminology, we shall perhaps come nearest to it by saying that they looked upon the sun as the physical body of the LOGOS, though that attributes to them a precision of idea which they would probably have considered irreverent. They would have told an enquirer that they worshipped the Spirit of the Sun, from whom everything came, and to whom everything must return—by no means an unsatisfactory presentment of a mighty truth.

Sẽ là điều đáng quan tâm đối với chúng ta khi khảo sát các ý niệm tôn giáo của những con người thời cổ ấy. Nếu phải phân loại đức tin của họ trong số những đức tin mà hiện nay chúng ta quen biết, chúng ta buộc phải gọi đó là một hình thức thờ Mặt Trời, mặc dù dĩ nhiên họ chưa từng trong một khoảnh khắc nào nghĩ đến việc thờ phụng mặt trời hồng trần. Tuy nhiên, họ xem nó là một điều gì đó hơn rất nhiều so với một biểu tượng đơn thuần; nếu chúng ta cố gắng diễn đạt cảm nhận của họ bằng thuật ngữ Thông Thiên Học, có lẽ chúng ta sẽ đến gần nhất với nó bằng cách nói rằng họ xem mặt trời như thể xác của THƯỢNG ĐẾ, dù nói như vậy là gán cho họ một sự chính xác về ý niệm mà có lẽ họ sẽ xem là bất kính. Họ hẳn sẽ nói với một người hỏi rằng họ thờ phụng Đấng Tinh thần của Mặt Trời, từ Ngài mọi sự phát sinh, và về với Ngài mọi sự phải trở lại—một cách trình bày không hề bất xứng về một chân lý hùng mạnh.

It does not seem that they had any clear conception of the doctrine of reincarnation. They were quite certain that man was immortal, and they held that his eventual destiny was to go to the Spirit of the Sun—perhaps to become one with Him, though this was not clearly defined in their teachings. They knew that before this final consummation many other long periods of existence must intervene, but we cannot find that they realised with certainty that any part of that future life would be spent upon this earth again.

Dường như họ không có quan niệm rõ ràng nào về giáo lý luân hồi. Họ hoàn toàn chắc chắn rằng con người là bất tử, và họ cho rằng định mệnh tối hậu của y là đi đến Đấng Tinh thần của Mặt Trời—có lẽ là trở nên hợp nhất với Ngài, dù điều này không được định nghĩa rõ ràng trong giáo huấn của họ. Họ biết rằng trước sự thành tựu cuối cùng này, nhiều thời kỳ tồn tại dài lâu khác phải xen vào, nhưng chúng ta không thấy rằng họ nhận biết chắc chắn rằng bất cứ phần nào của đời sống tương lai ấy sẽ lại được trải qua trên Trái Đất này.

The most prominent characteristic of the religion was its joyousness. Grief or sorrow of any kind was held to be absolutely wicked and ungrateful, since it was taught that the Deity wished to see His children happy, and would Himself be grieved if He saw them grieving. Death was regarded not as an occasion for mourning, but rather for a kind of solemn and reverent joy, because the Great Spirit had accounted another of His children worthy to approach nearer to Himself. Suicide, on the other hand, was, in pursuance of the same idea, regarded with the utmost horror, as an act of the grossest presumption; the man who committed suicide thrust himself uninvited into higher realms, for which he was not yet judged fit by the only authority who possessed the requisite knowledge to decide the question. But indeed at the time of which we are writing suicide was practically unknown, for the people as a whole were a most contented race.

Đặc tính nổi bật nhất của tôn giáo ấy là sự vui tươi. Đau buồn hay sầu khổ dưới bất cứ hình thức nào đều bị xem là hoàn toàn xấu xa và vô ơn, vì giáo huấn dạy rằng Thượng đế muốn thấy con cái của Ngài hạnh phúc, và chính Ngài sẽ đau buồn nếu Ngài thấy họ đau buồn. Cái chết không được xem là một dịp để than khóc, mà đúng hơn là một dịp cho một loại hoan hỉ trang nghiêm và kính cẩn, bởi Đấng Tinh thần Vĩ đại đã xem một người con khác của Ngài là xứng đáng được đến gần chính Ngài hơn. Trái lại, tự sát, theo cùng ý tưởng ấy, bị xem với sự kinh hãi tột độ, như một hành vi của sự tự phụ thô thiển nhất; người tự sát tự mình xông vào các cảnh giới cao hơn khi chưa được mời, những cảnh giới mà y chưa được thẩm định là thích hợp bởi thẩm quyền duy nhất sở hữu tri thức cần thiết để quyết định vấn đề. Nhưng thật ra vào thời kỳ mà chúng ta đang viết, tự sát hầu như không được biết đến, vì toàn thể dân chúng là một nhân loại rất mãn nguyện.

Their public services were of the simplest character. Praise was offered daily to the Spirit of the Sun, but never prayer; because they were taught that the Deity knew better than they what was required for their welfare—a doctrine which one would like to see more fully comprehended at the present day. Fruit and flowers were offered in their temples, not from any idea that the Sun-God desired such service, but simply as a token that they owed all to Him; for one of the most prominent theories of their faith was that all light and life and power came from the Sun—a theory which is fully borne out by the discoveries of modern science. On their great festivals splendid processions were organised, and special exhortations and instructions were delivered to the people by the priests; but even in these sermons simplicity was a chief characteristic, the teachings being given largely by means of picture and parable.

Các nghi lễ công cộng của họ có tính chất hết sức giản dị. Lời tán dương được dâng hằng ngày lên Đấng Tinh thần của Mặt Trời, nhưng không bao giờ có lời cầu xin; bởi họ được dạy rằng Thượng đế biết rõ hơn họ điều gì cần thiết cho phúc lợi của họ—một giáo lý mà người ta mong muốn thấy được thấu hiểu đầy đủ hơn vào thời hiện nay. Trái cây và hoa được dâng trong các đền thờ của họ, không phải từ bất cứ ý tưởng nào rằng Thần Mặt Trời mong muốn sự phụng sự như thế, mà đơn giản như một dấu hiệu rằng họ nợ Ngài tất cả; vì một trong những lý thuyết nổi bật nhất của đức tin họ là mọi ánh sáng, sự sống và quyền năng đều đến từ Mặt Trời—một lý thuyết được các khám phá của khoa học hiện đại xác nhận đầy đủ. Trong các đại lễ của họ, những đoàn rước lộng lẫy được tổ chức, và các tư tế ban cho dân chúng những lời khuyến dụ cùng huấn thị đặc biệt; nhưng ngay cả trong những bài giảng ấy, sự giản dị vẫn là một đặc tính chính, giáo huấn phần lớn được truyền đạt bằng hình ảnh và dụ ngôn.

It happened once that, in the course of our researches into the life of a particular person, we followed him to one of these assemblies, and heard with him the sermon delivered on that occasion by an old white-haired priest. The few simple words which were then uttered will perhaps give a better idea of the inner spirit of this old-world religion than any description that we can offer. The preacher, robed in a sort of golden cope, which was the symbol of his office, stood at the top of the temple steps and looked round upon his audience. Then he began to talk to them in a gentle yet resonant voice, speaking quite familiarly, more like a father telling a story to his children than like one delivering a set oration.

Một lần, trong khi nghiên cứu đời sống của một người đặc biệt, chúng tôi đã theo y đến một trong những hội chúng này, và cùng y nghe bài giảng do một tư tế già tóc bạc truyền vào dịp ấy. Vài lời giản dị được thốt ra khi đó có lẽ sẽ cho một ý niệm rõ hơn về tinh thần bên trong của tôn giáo cổ xưa này so với bất cứ sự mô tả nào mà chúng tôi có thể đưa ra. Vị thuyết giảng, khoác một loại áo choàng lễ màu vàng kim, vốn là biểu tượng chức vụ của ông, đứng trên đỉnh các bậc thềm đền thờ và nhìn quanh thính chúng. Rồi ông bắt đầu nói với họ bằng một giọng dịu dàng nhưng vang vọng, nói rất thân tình, giống một người cha kể chuyện cho con cái hơn là một người đang đọc một bài diễn văn soạn sẵn.

He spoke to them of their Lord the Sun, calling upon them to remember how everything that they needed for their physical well-being was brought into existence by Him; how without His glorious light and heat the world would be cold and dead, and all life would be impossible; how to His action was due the growth of the fruits and grains which formed the staple of their food, and even the fresh water, which was the most precious and necessary of all. Then he explained to them how the wise men of old had taught that behind this action which all could see, there was always another and still grander action which was invisible, but could yet be felt by those whose lives were in harmony with their Lord’s; how what the Sun in one aspect did for the life of their bodies, that same office He also performed, in another and even more wonderful aspect, for the life of their souls. He pointed out that both these actions were absolutely continuous—that though sometimes the Sun was hidden from the sight of His child the earth, yet the cause of such temporary obscuration was to be found in the earth and not in the Sun, for one had only to climb far enough up the mountains in order to rise above the overshadowing clouds, and discover that their Lord was shining on in glory all the time, entirely unaffected by the veil which seemed so dense when seen from below.

Ông nói với họ về Chúa Tể của họ là Mặt Trời, kêu gọi họ nhớ rằng mọi thứ họ cần cho an lạc hồng trần của họ đều được Ngài đưa vào hiện hữu; rằng nếu không có ánh sáng và sức nóng vinh quang của Ngài, thế giới sẽ lạnh lẽo và chết chóc, và mọi sự sống sẽ không thể có; rằng do tác động của Ngài mà các loại trái cây và ngũ cốc vốn tạo thành phần chính trong thực phẩm của họ tăng trưởng, và ngay cả nước ngọt, thứ quý giá và cần thiết nhất trong tất cả, cũng vậy. Rồi ông giải thích cho họ rằng các bậc minh triết thời xưa đã dạy rằng đằng sau tác động mà tất cả đều có thể thấy này, luôn có một tác động khác và còn vĩ đại hơn, vô hình, nhưng vẫn có thể được cảm nhận bởi những ai có đời sống hòa hợp với Chúa Tể của họ; rằng điều Mặt Trời, trong một phương diện, làm cho sự sống của thân thể họ, thì chính chức năng ấy Ngài cũng thực hiện, trong một phương diện khác và còn kỳ diệu hơn, cho sự sống của linh hồn họ. Ông chỉ ra rằng cả hai tác động này đều tuyệt đối liên tục—rằng dù đôi khi Mặt Trời bị che khuất khỏi tầm nhìn của đứa con Ngài là Trái Đất, nguyên nhân của sự che khuất tạm thời ấy phải được tìm thấy nơi Trái Đất chứ không phải nơi Mặt Trời; bởi người ta chỉ cần leo đủ cao lên núi để vượt lên trên những đám mây phủ bóng, và khám phá rằng Chúa Tể của họ vẫn luôn chiếu sáng trong vinh quang, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi bức màn trông có vẻ dày đặc khi nhìn từ bên dưới.

From this the transition was easy to the spiritual depression or doubt which might sometimes seem to shut out the higher influences from the soul; and the preacher was most emphatic in his fervent assurance that, despite all appearances to the contrary, the analogy held good here also; that the clouds were always of men’s own making, and that they had only to raise themselves high enough in order to realise that He was unchanged, and that spiritual strength and holiness were pouring down all the while, as steadily as ever. Depression and doubt, consequently, were to be cast aside as the offspring of ignorance and unreason, and to be reprobated as showing ingratitude to the Giver of all good.

Từ đó, sự chuyển tiếp đến tình trạng suy sụp tinh thần hay nghi ngờ, đôi khi có vẻ như ngăn chặn những ảnh hưởng cao hơn khỏi linh hồn, là điều dễ dàng; và vị thuyết giảng đặc biệt nhấn mạnh trong lời bảo đảm nhiệt thành của ông rằng, bất chấp mọi vẻ ngoài trái ngược, định luật tương đồng ở đây cũng vẫn đúng; rằng các đám mây luôn do chính con người tạo nên, và họ chỉ cần tự nâng mình lên đủ cao để nhận ra rằng Ngài không đổi thay, và rằng sức mạnh tinh thần cùng sự thánh thiện vẫn tuôn xuống suốt thời gian ấy, đều đặn như trước. Do đó, sự suy sụp và nghi ngờ phải bị gạt bỏ như con đẻ của vô minh và phi lý trí, và phải bị khiển trách như biểu hiện của sự vô ơn đối với Đấng Ban Cho mọi điều thiện hảo.

The second part of the homily was equally practical. The full benefit of the Sun’s action, continued the priest, could be experienced only by those who were themselves in perfect health. Now the sign of perfect health on all levels was that men should resemble their Lord the Sun. The man who was in the enjoyment of full physical health was himself a kind of minor sun, pouring out strength and life upon all around, so that by his very presence the weak became stronger, the sick and the suffering were helped. In exactly the same way, he insisted, the man who was in perfect moral health was also a spiritual sun, radiating love and purity and holiness on all who were happy enough to come into contact with him. This, he said, was the duty of man—to show his gratitude for the good gifts of his Lord, first by preparing himself to receive them in all their fullness, and secondly by passing them undiminished to his fellow-men. And both these objects together could be attained in one way, and in one way only—by that constant imitation of the benevolence of the Spirit of the Sun, which alone drew His children ever nearer and nearer to Him.

Phần thứ hai của bài giảng cũng thực tiễn như vậy. Vị tư tế tiếp tục rằng lợi ích trọn vẹn từ tác động của Mặt Trời chỉ có thể được kinh nghiệm bởi những ai tự họ ở trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo. Giờ đây, dấu hiệu của sức khỏe hoàn hảo trên mọi cấp độ là con người phải giống Chúa Tể của họ là Mặt Trời. Người đang hưởng sức khỏe hồng trần đầy đủ tự y là một loại mặt trời nhỏ, tuôn đổ sức mạnh và sự sống lên tất cả xung quanh, đến nỗi bởi chính sự hiện diện của y, kẻ yếu trở nên mạnh hơn, người bệnh và người đau khổ được giúp đỡ. Cũng đúng như vậy, ông nhấn mạnh, người ở trong tình trạng sức khỏe đạo đức hoàn hảo cũng là một mặt trời tinh thần, tỏa chiếu tình thương, sự tinh khiết và thánh thiện lên tất cả những ai hạnh phúc đủ để tiếp xúc với y. Ông nói, đây là bổn phận của con người—biểu lộ lòng biết ơn đối với những ân huệ tốt lành của Chúa Tể mình, trước hết bằng cách chuẩn bị chính mình để tiếp nhận chúng trong tất cả sự viên mãn của chúng, và thứ hai bằng cách chuyển trao chúng không suy giảm cho đồng loại. Và cả hai mục tiêu này cùng nhau chỉ có thể đạt được bằng một cách, và chỉ một cách mà thôi—bằng sự noi theo không ngừng lòng nhân từ của Đấng Tinh thần của Mặt Trời, điều duy nhất lôi cuốn con cái của Ngài ngày càng đến gần Ngài hơn.

Such was this sermon of fourteen thousand years ago, and, simple though it be, we cannot but admit that its teaching is eminently Theosophical, and that it shows a much greater knowledge of the facts of life than many more eloquent addresses which are delivered at the present day. Here and there we notice minor points of especial significance; the accurate knowledge, for example, of the radiation of superfluous vitality from a healthy man seems to point to the possession of clairvoyant faculty among the ancestors from whom the tradition was derived.

Đó là bài giảng của mười bốn nghìn năm trước, và tuy giản dị, chúng ta không thể không thừa nhận rằng giáo huấn của nó có tính Thông Thiên Học nổi bật, và rằng nó cho thấy một tri thức về các sự kiện của đời sống lớn hơn nhiều so với nhiều bài diễn thuyết hùng biện hơn được trình bày vào thời hiện nay. Đây đó chúng ta nhận thấy những điểm nhỏ có thâm nghĩa đặc biệt; chẳng hạn, tri thức chính xác về sự tỏa phát sinh lực dư thừa từ một người khỏe mạnh dường như chỉ ra sự sở hữu khả năng thông nhãn nơi các tổ tiên mà truyền thống ấy phát xuất từ họ.

It will be remembered that, besides what we may call their purely religious work, the priests of the Sun had entire charge of the education of the country. All education was absolutely free, and its preliminary stages were exactly the same for all classes and for both sexes. The children attended preparatory classes from an early age, and in all these the boys and girls were taught together. Something corresponding to what we now think of as elementary education was given in these, though the subjects embraced differed considerably. Reading, writing, and a certain kind of arithmetic, indeed, were taught, and every child had to attain facility in these subjects, but the system included a great deal more that is somewhat difficult to classify—a sort of rough and ready knowledge of all the general rules and common interests of life, so that no child of either sex arriving at the age of ten or eleven could be ignorant of the way in which the ordinary necessaries of life were obtained, or of how any common work was done. The utmost kindness and affection prevailed in the relations between teachers and children, and there was nothing in the least corresponding to the insane system of imposition and punishments which occupies so prominent and so baneful a position in modern school life.

Cần nhớ rằng, ngoài điều chúng ta có thể gọi là công việc thuần túy tôn giáo của họ, các tư tế của Mặt Trời còn hoàn toàn phụ trách nền giáo dục của đất nước. Mọi giáo dục đều hoàn toàn miễn phí, và các giai đoạn sơ khởi của nó hoàn toàn giống nhau cho mọi giai cấp và cho cả hai giới. Trẻ em tham dự các lớp dự bị từ tuổi rất nhỏ, và trong tất cả các lớp này, bé trai và bé gái được dạy chung. Một điều gì đó tương ứng với điều hiện nay chúng ta nghĩ là giáo dục tiểu học được truyền dạy trong các lớp ấy, dù các môn học bao gồm khác biệt đáng kể. Thật vậy, đọc, viết và một loại số học nào đó được dạy, và mọi trẻ em phải đạt sự thành thạo trong các môn này, nhưng hệ thống còn bao gồm nhiều điều hơn nữa, hơi khó phân loại—một loại tri thức thô sơ nhưng dùng được về mọi quy luật chung và những mối quan tâm phổ thông của đời sống, để không trẻ em nào thuộc bất cứ giới nào khi đến tuổi mười hay mười một lại có thể không biết cách các nhu yếu phẩm thông thường của đời sống được thu nhận, hoặc bất cứ công việc thông thường nào được làm ra sao. Lòng nhân hậu và tình thương tối đa ngự trị trong quan hệ giữa thầy cô và trẻ em, và không hề có điều gì dù nhỏ nhất tương ứng với hệ thống điên rồ của hình phạt chép phạt và trừng phạt, vốn chiếm một vị trí quá nổi bật và tai hại trong đời sống học đường hiện đại.

School hours were long, but the occupations were so varied, and included so much that we should not think of as school work, that the children were never unduly fatigued Every child, for example, was taught how to prepare and cook certain simple kinds of food, how to distinguish poisonous fruits from wholesome ones, how to find food and shelter if lost in the forest, how to use the simpler tools required in carpentering, in building, or in agriculture, how to make his way from place to place by the positions of the sun and stars, how to manage a canoe, as well as to swim, to climb, and to leap with amazing dexterity. They were also instructed in the method of dealing with wounds and accidents, and the use of certain herbal remedies was explained to them. All this varied and remarkable curriculum was no mere matter of theory for them; they were constantly required to put the whole of it into practice, so that before they were allowed to pass out of this preparatory school they had become exceedingly handy little people; capable of acting for themselves to some extent in almost any emergency that might arise.

Giờ học thì dài, nhưng các hoạt động đa dạng đến mức, và bao gồm quá nhiều điều mà chúng ta sẽ không nghĩ là công việc học đường, nên trẻ em không bao giờ bị mệt mỏi quá mức. Chẳng hạn, mọi trẻ em được dạy cách chuẩn bị và nấu một vài loại thức ăn đơn giản, cách phân biệt trái cây độc với trái lành, cách tìm thức ăn và nơi trú ẩn nếu bị lạc trong rừng, cách sử dụng những dụng cụ đơn giản hơn cần trong nghề mộc, xây dựng hay nông nghiệp, cách tìm đường từ nơi này sang nơi khác dựa vào vị trí của mặt trời và các vì sao, cách điều khiển một chiếc xuồng, cũng như bơi, leo trèo và nhảy với sự khéo léo đáng kinh ngạc. Chúng cũng được hướng dẫn phương pháp xử lý vết thương và tai nạn, và được giải thích cách dùng một số phương thuốc thảo mộc. Toàn bộ chương trình đa dạng và đáng chú ý này không phải chỉ là vấn đề lý thuyết đối với chúng; chúng thường xuyên được yêu cầu đem tất cả vào thực hành, đến nỗi trước khi được phép rời khỏi trường dự bị này, chúng đã trở thành những con người nhỏ bé cực kỳ tháo vát, có khả năng tự hành động đến một mức nào đó trong hầu như bất cứ tình huống khẩn cấp nào có thể phát sinh.

They were also carefully instructed in the constitution of their country, and the reasons for its various customs and regulations were explained to them. On the other hand, they were entirely ignorant of many things which European children learn; they were unacquainted with any language except their own, and though great stress was laid upon speaking that with purity and accuracy, facility in this was attained by constant practice rather than by the observance of grammatical rules. They knew nothing of algebra, geometry or history, and nothing of geography beyond that of their own country. On leaving this first school they could have built you a comfortable house, but could not have made a sketch of it for you; they knew nothing whatever of chemistry, but were thoroughly well instructed in the general principles of practical hygiene.

Chúng cũng được hướng dẫn cẩn thận về hiến chế của đất nước mình, và các lý do cho những tập tục cùng quy định khác nhau của đất nước được giải thích cho chúng. Mặt khác, chúng hoàn toàn không biết nhiều điều mà trẻ em châu Âu học; chúng không quen biết bất cứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng của chính mình, và dù việc nói ngôn ngữ ấy một cách trong sáng và chính xác được nhấn mạnh rất nhiều, sự thành thạo trong việc này đạt được nhờ thực hành thường xuyên hơn là nhờ tuân thủ các quy luật ngữ pháp. Chúng không biết gì về đại số, hình học hay lịch sử, và không biết gì về địa lý ngoài địa lý của chính đất nước mình. Khi rời ngôi trường đầu tiên này, chúng có thể xây cho bạn một ngôi nhà tiện nghi, nhưng không thể phác họa nó cho bạn; chúng hoàn toàn không biết gì về hóa học, nhưng được hướng dẫn rất kỹ về các nguyên tắc chung của vệ sinh thực hành.

A certain definite standard in all these varied qualifications for good citizenship had to be attained before the children could pass out of this preliminary school. Most of them easily gained this level by the time they were twelve years old; a few of the less intelligent needed several years longer. On the chief teachers of these preparatory schools rested the serious responsibility of determining the pupil’s future career; or, rather perhaps, of advising him as to it, for no child was ever forced to devote himself to work which he disliked. Some definite career, however, he had to select, and when this was decided, he was drafted into a kind of technical school, which was specially intended to prepare him for the line of life that he had chosen. Here he spent the remaining nine or ten years of his pupilage, chiefly in practical work of the kind to which he was to devote his energies. This characteristic was prominent all through the scheme of instruction; there was comparatively little theoretical teaching; but, after being shown a thing a few times, the boys or girls were always set to do the thing themselves, and to do it over and over again until facility was acquired.

Một tiêu chuẩn xác định nào đó trong tất cả các năng lực đa dạng này để trở thành công dân tốt phải được đạt tới trước khi trẻ em có thể rời khỏi trường sơ khởi này. Phần lớn chúng dễ dàng đạt mức này khi mười hai tuổi; một số ít kém thông minh hơn cần thêm vài năm. Trên các giáo viên chính của những trường dự bị này đặt nặng trách nhiệm nghiêm túc là quyết định nghề nghiệp tương lai của học trò; hay có lẽ đúng hơn là khuyên y về điều đó, vì không trẻ em nào từng bị ép buộc hiến mình cho công việc mà y không thích. Tuy nhiên, y phải chọn một nghề nghiệp xác định nào đó, và khi điều này được quyết định, y được đưa vào một loại trường kỹ thuật, được đặc biệt dự định để chuẩn bị y cho tuyến đời sống mà y đã chọn. Tại đây y trải qua chín hay mười năm còn lại của thời học trò, chủ yếu trong công việc thực hành thuộc loại mà y sẽ hiến năng lực của mình. Đặc tính này nổi bật xuyên suốt toàn bộ chương trình giảng dạy; có tương đối ít giáo huấn lý thuyết; nhưng sau khi được chỉ cho thấy một điều vài lần, các bé trai hay bé gái luôn được giao tự làm điều ấy, và làm đi làm lại cho đến khi đạt được sự thành thạo.

There was a great deal of elasticity about all these arrangements; a child, for example, who after due trial found himself unsuited for the special work he had undertaken, was allowed, in consultation with his teachers, to choose another vocation and transfer himself to the school appropriate to it. Such transfers, however, seem to have been rare; for in most cases before the child left his first school he had shown a decided aptitude for one or another of the lines of life which lay open before him.

Có rất nhiều tính linh hoạt trong tất cả các sắp xếp này; chẳng hạn, một trẻ em sau khi thử nghiệm đầy đủ mà thấy mình không phù hợp với công việc đặc biệt mà y đã đảm nhận, được phép, sau khi tham khảo với các giáo viên của mình, chọn một nghề khác và chuyển mình sang trường thích hợp với nghề ấy. Tuy nhiên, những sự chuyển đổi như vậy dường như hiếm; vì trong hầu hết trường hợp, trước khi trẻ rời ngôi trường đầu tiên, y đã cho thấy năng khiếu rõ ràng đối với một hay một tuyến đời sống khác đang mở ra trước y.

Every child, whatever might be his birth, had the opportunity of being trained to join the governing class of the country if he wished it, and if his teachers approved. The training for this honour was, however, so exceedingly severe, and the qualifications required so high, that the number of applicants was never unduly large. The instructors, indeed, were always watching for children of unusual ability, in order that they might endeavour to fit them for this honourable but arduous position, if they were willing to undertake it.

Mọi trẻ em, bất kể xuất thân của y thế nào, đều có cơ hội được huấn luyện để gia nhập giai cấp cai trị của đất nước nếu y muốn, và nếu các giáo viên của y chấp thuận. Tuy nhiên, việc huấn luyện cho vinh dự này khắc nghiệt đến mức, và các phẩm chất đòi hỏi cao đến mức, số lượng ứng viên không bao giờ quá lớn. Thật vậy, các huấn luyện viên luôn quan sát những trẻ có năng lực khác thường, để họ có thể cố gắng chuẩn bị chúng cho vị trí vinh dự nhưng gian khó này, nếu chúng sẵn lòng đảm nhận.

There were various vocations among which a boy could make his choice, besides the governing class and the priesthood. There were many kinds of manufactures—some with large openings for the development of artistic faculty in various ways; there were the different lines of working in metals, of making and improving machinery, of architecture of all sorts. But perhaps the principal pursuit of the country was that of scientific agriculture.

Có nhiều nghề khác nhau mà một bé trai có thể lựa chọn, ngoài giai cấp cai trị và chức tư tế. Có nhiều loại sản xuất—một số mở ra những cơ hội lớn cho sự phát triển năng khiếu nghệ thuật theo nhiều cách khác nhau; có các ngành khác nhau về làm việc với kim loại, chế tạo và cải tiến máy móc, kiến trúc đủ loại. Nhưng có lẽ ngành theo đuổi chính yếu của đất nước là nông nghiệp khoa học.

Upon this the welfare of the nation largely depended, and to this therefore a great deal of attention had always been given. By a long series of patiently conducted experiments, extending over many generations, the capabilities of the various kinds of soil which were to be found in the country had been thoroughly ascertained, so that at the time with which we are dealing there already existed a large body of tradition on this subject. Detailed accounts of all the experiments were kept in what we should now call the archives of the Agricultural Department, but the general results were epitomised for popular use in a series of short maxims, so arranged as to be readily memorised by the students.

Phúc lợi của quốc gia phần lớn lệ thuộc vào ngành này, và vì vậy luôn dành rất nhiều chú ý cho nó. Qua một chuỗi dài các thí nghiệm được tiến hành kiên nhẫn, kéo dài qua nhiều thế hệ, các khả năng của những loại đất khác nhau được tìm thấy trong đất nước đã được xác định thấu đáo, đến nỗi vào thời kỳ mà chúng ta đang đề cập, đã tồn tại một khối truyền thống lớn về đề tài này. Các bản tường thuật chi tiết của mọi thí nghiệm được lưu giữ trong điều mà hiện nay chúng ta sẽ gọi là văn khố của Bộ Nông Nghiệp, nhưng các kết quả chung được tóm lược để dân chúng sử dụng trong một chuỗi châm ngôn ngắn, được sắp xếp sao cho các đạo sinh dễ ghi nhớ.

Those who adopted farming as a profession were not, however, by any means expected to depend exclusively upon the opinions of their forefathers. On the contrary every encouragement was given to new experiment, and anyone who succeeded in inventing a new and useful manure, or a labour-saving machine, was highly honoured and rewarded by the Government. All over the country were scattered a large number of Government Farms, where young men were carefully trained; and here again, as in the earlier schools, the training was less theoretical than practical, each student learning thoroughly how to do for himself every detail of the work which he would afterwards have to superintend.

Tuy nhiên, những người chọn nghề nông không hề được kỳ vọng lệ thuộc hoàn toàn vào ý kiến của tổ tiên họ. Trái lại, mọi sự khuyến khích đều được dành cho thí nghiệm mới, và bất cứ ai thành công trong việc phát minh một loại phân bón mới và hữu ích, hay một máy móc tiết kiệm lao động, đều được Chính phủ hết sức tôn vinh và tưởng thưởng. Khắp đất nước rải rác một số lượng lớn các Nông Trại Chính Phủ, nơi những người trẻ được huấn luyện cẩn thận; và ở đây một lần nữa, như trong các trường trước đó, việc huấn luyện ít tính lý thuyết hơn thực hành, mỗi đạo sinh học một cách thấu đáo cách tự mình làm mọi chi tiết của công việc mà sau này y sẽ phải giám sát.

It was at these training-farms that all new experiments were tried, at the cost of the Government. The inventor had none of the trouble in securing a patron with capital to test his discovery, which is so often a fatal bar to his success in the present day; he simply submitted his idea to the Chief of his district, who was assisted when necessary by a council of experts, and unless these were able to point out some obvious flaw in his reasoning, his scheme was tried, or his machine constructed, under his own supervision, without any outlay or trouble at all on his part. If experience showed that there was anything in his invention, it was at once adopted by the Government and employed wherever it was likely to be of use.

Chính tại các nông trại huấn luyện này mà mọi thí nghiệm mới được thử, với chi phí của Chính phủ. Nhà phát minh không gặp chút khó khăn nào trong việc tìm một người bảo trợ có vốn để thử nghiệm khám phá của mình, điều vốn rất thường là rào cản chí mạng đối với thành công của y vào thời hiện nay; y chỉ đơn giản trình ý tưởng của mình lên Trưởng khu của mình, người khi cần sẽ được một hội đồng chuyên gia trợ giúp, và trừ khi những người này có thể chỉ ra một thiếu sót hiển nhiên nào đó trong lập luận của y, kế hoạch của y được thử nghiệm, hoặc máy móc của y được chế tạo, dưới sự giám sát của chính y, hoàn toàn không cần bất cứ chi phí hay phiền toái nào về phía y. Nếu kinh nghiệm cho thấy phát minh của y có giá trị nào đó, nó lập tức được Chính phủ chấp nhận và sử dụng ở bất cứ nơi nào có khả năng hữu ích.

The farmers had elaborate theories as to the adaptation of various kinds of manure to the different soils They not only used the material which we now import for that purpose from that very country, but also tried all sorts of chemical combinations, some of which were remarkably successful. They had an ingenious though cumbersome system of the utilisation of sewage, which was, however, quite as effective as anything of that kind which we have at the present day.

Các nông dân có những lý thuyết công phu về sự thích nghi của các loại phân bón khác nhau với các loại đất khác nhau. Họ không chỉ dùng vật liệu mà hiện nay chúng ta nhập khẩu cho mục đích ấy từ chính đất nước đó, mà còn thử đủ loại kết hợp hóa học, một số trong đó thành công đáng kể. Họ có một hệ thống khéo léo dù cồng kềnh để tận dụng nước thải, tuy nhiên hệ thống này hiệu quả chẳng kém bất cứ thứ gì cùng loại mà chúng ta có vào thời hiện nay.

They had achieved considerable advances also in the construction and use of machinery, though most of it was simpler and rougher than ours, and they had nothing like the extreme accuracy in the fitting together of minute parts, which is so prominent a characteristic of modern work. On the other hand, though their machinery was often large and cumbrous, it was effective, and apparently not at all liable to get out of order. One example that we noted was a curious machine for sowing seed, the principal part of which looked as though it had been modelled from the ovipositor of some insect. It was something of the shape of a very wide low cart, and as it was dragged across a field it automatically drilled ten lines of holes at a regular distance apart, dropped a seed into each, watered it, and raked the ground even again.

Họ cũng đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc chế tạo và sử dụng máy móc, dù phần lớn máy móc ấy đơn giản và thô hơn của chúng ta, và họ không có điều gì giống sự chính xác cực độ trong việc lắp ráp các bộ phận nhỏ, vốn là một đặc tính quá nổi bật của công việc hiện đại. Mặt khác, dù máy móc của họ thường lớn và cồng kềnh, nó hiệu quả, và dường như không hề dễ hư hỏng. Một ví dụ mà chúng tôi ghi nhận là một máy gieo hạt kỳ lạ, phần chính của nó trông như thể được mô phỏng từ cơ quan đẻ trứng của một loài côn trùng nào đó. Nó có hình dạng phần nào giống một chiếc xe kéo rất rộng và thấp, và khi được kéo qua một cánh đồng, nó tự động khoan mười hàng lỗ cách nhau đều đặn, thả một hạt vào mỗi lỗ, tưới nước cho nó, rồi cào đất cho bằng lại.

They had evidently some knowledge of hydraulics also, for many of their machines were worked by hydraulic pressure—especially those employed in their elaborate system of irrigation, which was unusually perfect and effective. A great deal of the land was hilly and could not be cultivated to any advantage in its natural state; but these ancient inhabitants carefully laid it out in terraces, much as is done now in the hill country of Ceylon. Anyone who has travelled by rail from Rambukkana to Peradeniya can scarcely have failed to notice many examples of this sort of work. In old Peru every corner of ground near the great centres of population was utilised with the most scrupulous care.

Rõ ràng họ cũng có một ít tri thức về thủy lực, vì nhiều máy móc của họ vận hành bằng áp lực thủy lực—đặc biệt là những máy được dùng trong hệ thống tưới tiêu công phu của họ, vốn hoàn hảo và hiệu quả khác thường. Rất nhiều đất đai là đồi núi và không thể được canh tác có lợi trong trạng thái tự nhiên; nhưng những cư dân cổ xưa này cẩn thận bố trí nó thành các ruộng bậc thang, gần giống như hiện nay được làm ở vùng đồi núi Ceylon. Bất cứ ai đã đi tàu hỏa từ Rambukkana đến Peradeniya hẳn khó có thể không nhận thấy nhiều ví dụ của loại công trình này. Ở Peru cổ, mọi góc đất gần các trung tâm dân cư lớn đều được tận dụng với sự chăm chút kỹ lưỡng nhất.

There was a good deal of scientific knowledge among them but all their science was of a severely practical kind. They had no sort of idea of such an abstract study of science as exists among ourselves. They made a careful study of botany, for example, but not in the least from our point of view. They knew and cared nothing about the classification of plants as endogenous and exogenous, nothing about the number of stamens in a flower, or the arrangement of leaves on a stem; what they wanted to know about a plant was what properties it possessed, what use could be made of it in medicine, as a food-stuff, or to furnish a dye. This they did know, and thoroughly.

Có khá nhiều tri thức khoa học trong họ, nhưng toàn bộ khoa học của họ thuộc loại thực hành nghiêm ngặt. Họ không có bất cứ ý niệm nào về một sự nghiên cứu khoa học trừu tượng như tồn tại nơi chúng ta. Chẳng hạn, họ nghiên cứu thực vật học cẩn thận, nhưng hoàn toàn không theo quan điểm của chúng ta. Họ không biết và cũng không quan tâm gì đến việc phân loại cây cối là nội sinh hay ngoại sinh, không biết gì về số lượng nhị trong một bông hoa, hay cách sắp xếp lá trên một thân cây; điều họ muốn biết về một loài cây là nó sở hữu những đặc tính nào, có thể dùng nó vào việc gì trong y học, như một thực phẩm, hay để cung cấp một chất nhuộm. Điều này thì họ biết, và biết thấu đáo.

In the same way in their chemistry: they had no knowledge as to the number and arrangement of atoms in a carbon compound; indeed, they had no thought of atoms and molecules at all, so far as we could see. What interested them were such chemicals as could be utilised: those which could be combined into valuable manures or plant-foods, those which could be employed in their various manufactures, which would yield them a beautiful dye or a useful acid. All scientific studies were made with some special practical point in view; they were always trying to find out something, but always with a definite object connected with human life, never for the sake of knowledge in the abstract.

Cũng như vậy trong hóa học của họ: họ không có tri thức về số lượng và cách sắp xếp các nguyên tử trong một hợp chất carbon; thật vậy, theo như chúng tôi có thể thấy, họ hoàn toàn không nghĩ đến nguyên tử và phân tử. Điều làm họ quan tâm là những hóa chất có thể được sử dụng: những chất có thể kết hợp thành các loại phân bón hay thức ăn thực vật có giá trị, những chất có thể được dùng trong các ngành sản xuất khác nhau của họ, những chất đem lại cho họ một màu nhuộm đẹp hay một loại acid hữu ích. Mọi nghiên cứu khoa học đều được thực hiện với một điểm thực hành đặc biệt nào đó trong tầm nhìn; họ luôn cố gắng tìm ra điều gì đó, nhưng luôn với một mục tiêu xác định liên quan đến đời sống con người, không bao giờ vì tri thức trong nghĩa trừu tượng.

Perhaps their nearest approach to abstract science was their study of astronomy; but this was regarded rather as religious than as merely secular knowledge. It differed from the rest in that it was purely traditional, and that no efforts were made to add to their stock of information in this direction. The stock was not a great one, though accurate enough as far as it went. They understood that the planets differed from the rest of the stars, and spoke of them as the sisters of the earth—for they recognised that the earth was one of them—or sometimes `the elder children of the Sun’. They knew that the earth was globular in shape, that day and night were due to its rotation on its axis, and the seasons to its annual revolution round the sun. They were aware also that the fixed stars were outside the solar system, and they regarded comets as messengers from these other great Beings to their Lord the Sun; but it is doubtful whether they had anything like an adequate conception of the real size of any of the bodies involved.

Có lẽ cách tiếp cận gần nhất của họ với khoa học trừu tượng là nghiên cứu thiên văn học; nhưng điều này được xem là tri thức tôn giáo hơn là tri thức thế tục đơn thuần. Nó khác với phần còn lại ở chỗ nó thuần túy là truyền thống, và không có nỗ lực nào được thực hiện để bổ sung vào kho thông tin của họ theo hướng này. Kho ấy không lớn, dù đủ chính xác trong phạm vi của nó. Họ hiểu rằng các hành tinh khác với phần còn lại của các vì sao, và gọi chúng là các chị em của Trái Đất—vì họ nhận ra rằng Trái Đất là một trong số chúng—hoặc đôi khi là “những người con trưởng của Mặt Trời”. Họ biết rằng Trái Đất có hình cầu, rằng ngày và đêm là do sự quay của nó quanh trục, và các mùa là do cuộc cách mạng hằng năm của nó quanh mặt trời. Họ cũng biết rằng các sao cố định ở bên ngoài hệ mặt trời, và họ xem sao chổi là sứ giả từ những Đấng vĩ đại khác này đến Chúa Tể của họ là Mặt Trời; nhưng đáng nghi ngờ liệu họ có bất cứ quan niệm nào gần với đầy đủ về kích thước thật sự của bất cứ thiên thể nào liên quan hay không.

They were able to predict eclipses both of the sun and moon with perfect accuracy, but this was not done by observation, but by use of a traditional formula; they understood their nature, and do not seem to have attached much importance to them. There is abundant evidence to show that those from whom they inherited their traditions must have been either capable of direct scientific observation, or else in possession of clairvoyant powers which rendered such observation needless; but neither of these advantages appertained to the Peruvians at the date of our examination of them. The only attempt that they were seen to make at anything like personal observation was that the exact moment of noon was found by carefully measuring the shadow of a lofty column in the grounds of the temple, a set of little pegs being moved along stone grooves to mark it accurately. The same primitive apparatus was employed to find the date of the summer and winter solstices, since in connection with these periods there were special religious services.

Họ có thể dự đoán nhật thực và nguyệt thực với sự chính xác hoàn hảo, nhưng điều này không được thực hiện bằng quan sát, mà bằng cách dùng một công thức truyền thống; họ hiểu bản chất của chúng, và dường như không gán nhiều tầm quan trọng cho chúng. Có chứng cứ dồi dào cho thấy những người mà họ thừa hưởng truyền thống hẳn phải hoặc có khả năng quan sát khoa học trực tiếp, hoặc sở hữu quyền năng thông nhãn khiến sự quan sát như vậy trở nên không cần thiết; nhưng không lợi thế nào trong hai lợi thế này thuộc về người Peru vào thời điểm chúng tôi khảo sát họ. Nỗ lực duy nhất mà họ được thấy là thực hiện một điều gì đó giống như quan sát cá nhân là xác định chính xác khoảnh khắc giữa trưa bằng cách đo cẩn thận bóng của một cột cao trong khuôn viên đền thờ, một bộ chốt nhỏ được di chuyển dọc theo các rãnh đá để đánh dấu nó chính xác. Cùng dụng cụ thô sơ ấy được dùng để tìm ngày hạ chí và đông chí, vì liên quan đến các thời kỳ này có những nghi lễ tôn giáo đặc biệt.

Leave a Comment

Scroll to Top