Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Phần Bình Giảng tương ứng
Cosmic Fire S3
(Page 223 – 341)
SECTION TWO. The Fire of Mind – Solar Fire |
PHẦN HAI. Lửa của Trí Tuệ – Lửa Thái dương |
INTRODUCTORY QUESTIONS |
NHỮNG CÂU HỎI NHẬP ĐỀ |
|
[Page 223]1. What is the relation of the Son to the Sun? |
[Page 223]1. Mối liên hệ của Con với Mặt Trời là gì? |
|
2. What is evolution, and how does it proceed? |
2. Tiến hoá là gì, và nó diễn ra như thế nào? |
|
3. Why is the solar system evolving along the lines of duality? |
3. Tại sao hệ mặt trời lại tiến hoá theo những đường lối của nhị nguyên tính? |
|
4. What is consciousness and what is its place in the scheme? |
4. Tâm thức là gì và vị trí của nó trong hệ hành tinh là gì? |
|
5. Is there a direct analogy between a system, a planet, man and an atom? |
5. Có một sự tương đồng trực tiếp nào giữa một hệ thống, một hành tinh, con người và một nguyên tử không? |
|
6. What is the mind aspect? Who are the Manasaputras? |
6. Phương diện trí tuệ là gì? Các Manasaputra là ai? |
|
7. Why is the progress of evolution cyclic? |
7. Tại sao sự tiến bộ của tiến hoá lại có tính chu kỳ? |
|
8. Why is knowledge both exoteric and esoteric? |
8. Tại sao tri thức vừa là ngoại môn vừa là nội môn? |
|
9. What is the relation between— |
9. Mối liên hệ giữa— |
|
a. The ten schemes, |
a. mười hệ hành tinh, |
|
b. The seven sacred planets, |
b. bảy hành tinh thiêng liêng, |
|
c. The seven chains in a scheme, |
c. bảy dãy trong một hệ hành tinh, |
|
d. The seven globes in a chain, |
d. bảy bầu hành tinh trong một dãy, |
|
e. The seven rounds of a chain, |
e. bảy cuộc tuần hoàn của một dãy, |
|
f. The seven rootraces and subraces? |
f. bảy giống dân gốc và các giống dân phụ? |
|
Before taking up the subject of the fire of mind under the schedule already outlined, it might be of profit if certain facts are here pointed out, and one or two points clarified. The subject we are undertaking to elucidate is one of profound mystery, and is the basis of all that is now seen and known, both objectively and subjectively. We have somewhat studied that pole of manifestation called matter. The subject we are now entering upon concerns several things which might be considered in general terms as Consciousness, and in specified terms as including the following subjects,—hence its fundamental importance. [Page 224] |
Trước khi bàn đến đề tài lửa của trí tuệ theo dàn bài đã được phác ra, sẽ có ích nếu ở đây nêu ra một số sự kiện nhất định và làm sáng tỏ một hoặc hai điểm. Chủ đề mà chúng ta đang đảm nhận việc làm sáng tỏ là một chủ đề huyền nhiệm sâu xa, và là nền tảng của mọi điều hiện nay được thấy và được biết, cả khách quan lẫn chủ quan. Chúng ta đã phần nào nghiên cứu cực của biểu hiện được gọi là vật chất. Chủ đề mà giờ đây chúng ta bước vào liên quan đến một số điều mà theo những thuật ngữ tổng quát có thể được xem là Tâm thức, và theo những thuật ngữ chuyên biệt thì bao gồm các đề tài sau đây,—do đó tầm quan trọng căn bản của nó. [Page 224] |
|
a. Khoa học về tính khách quan. |
|
|
b. The manifestation of the Son through the Sun and its attendant spheres, or the solar system in its entirety. |
b. Sự biểu hiện của Con qua Mặt Trời và các khối cầu đi kèm của nó, hay toàn thể hệ mặt trời. |
|
c. The evolutionary development of consciousness in time and space, therefore, the evolution of spirit and matter. |
c. Sự phát triển tiến hoá của tâm thức trong thời gian và không gian, do đó là sự tiến hoá của tinh thần và vật chất. |
|
If the above three fundamentals are studied, it will be noted that they are very comprehensive, and, therefore, from the immensity of the theme, it will not be possible to do more than attempt to bring a general clarity of conception as to the broad outline of the process, and as to the gradual development of consciousness. For the sake of an intelligent following of this matter, it might be wise first to lay down a number of propositions which—(even if already known and appreciated)—will serve students as the scaffolding on which to erect the intended structure of knowledge. If a student of the Wisdom can grasp the nature of the general theme, he can then more easily and accurately fit the detailed information into its appropriate niche. Perhaps the best plan would be to formulate certain questions, and then proceed to answer them,—the answers to embody therefore the propositions that will be laid down. These questions arise naturally to the student of the Secret Doctrine, when he has reached the point where the big plan is becoming visible to him, but the pile of detailed material to be built in remains, as yet, inchoate. The questions we might ask and study are the following: |
Nếu ba điều căn bản trên được nghiên cứu, cần lưu ý rằng chúng rất bao quát, và vì vậy, do tính bao la của chủ đề, sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc cố gắng đem lại một sự sáng tỏ khái niệm tổng quát về đại cương của tiến trình, và về sự phát triển dần dần của tâm thức. Vì mục đích theo dõi vấn đề này một cách thông minh, trước hết có lẽ nên nêu ra một số mệnh đề mà—dù đã được biết và đánh giá đúng—sẽ phục vụ đạo sinh như bộ giàn giáo để dựng lên cấu trúc tri thức dự định. Nếu một đạo sinh của Minh triết có thể nắm được bản chất của chủ đề tổng quát, khi đó y có thể dễ dàng và chính xác hơn đặt thông tin chi tiết vào đúng vị trí thích hợp của nó. Có lẽ kế hoạch tốt nhất là nêu thành một số câu hỏi, rồi tiếp tục trả lời chúng,—do đó các câu trả lời sẽ bao hàm những mệnh đề sẽ được nêu ra. Những câu hỏi này tự nhiên nảy sinh nơi đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm, khi y đã đạt đến điểm mà đại kế hoạch bắt đầu trở nên hiển lộ đối với y, nhưng khối tài liệu chi tiết cần được xây dựng vào vẫn còn, cho đến nay, chưa thành hình. Những câu hỏi mà chúng ta có thể nêu ra và nghiên cứu là như sau: |
|
1. What is the relationship of the Son to the Sun? |
1. Mối liên hệ của Con với Mặt Trời là gì? |
|
2. What is evolution and how does it proceed? |
2. Tiến hoá là gì và nó diễn ra như thế nào? |
|
3. Why is this solar system evolving along the lines of duality? |
3. Tại sao hệ mặt trời này lại tiến hoá theo những đường lối của nhị nguyên tính? |
|
4. What is consciousness and what is its place in the present scheme of things? [Page 225] |
4. Tâm thức là gì và vị trí của nó trong hệ thống sự vật hiện nay là gì? [Page 225] |
|
5. Có một sự tương đồng trực tiếp nào giữa sự phát triển của các yếu tố sau đây: một hệ mặt trời, một hành tinh, một con người, và một nguyên tử không? |
|
|
6. What is the mind aspect and why is the manasic or mental principle of such importance? Who are the Manasaputras, or the Sons of Mind? |
6. Phương diện trí tuệ là gì và tại sao nguyên khí manas hay trí tuệ lại quan trọng đến thế? Các Manasaputra, hay các Con của Trí Tuệ, là ai? |
|
7. Why is the progress of evolution cyclic? |
7. Tại sao sự tiến bộ của tiến hoá lại có tính chu kỳ? |
|
8. Why, as yet, do we consider certain knowledge as esoteric, and other aspects of knowledge as exoteric? |
8. Tại sao, cho đến nay, chúng ta xem một số tri thức là nội môn, còn những phương diện tri thức khác là ngoại môn? |
|
9. What is the relationship between |
9. Mối liên hệ giữa |
|
a. The ten planetary schemes? |
a. mười hệ hành tinh? |
|
b. The seven sacred planets? |
b. bảy hành tinh thiêng liêng? |
|
c. The seven globes in a chain? |
c. bảy bầu hành tinh trong một dãy? |
|
d. The seven rounds in a globe? |
d. bảy cuộc tuần hoàn trong một bầu hành tinh? |
|
e. The seven root races and the subraces? |
e. bảy giống dân gốc và các giống dân phụ? |
|
When we have endeavored to answer in brief and concise fashion these nine questions, and have grasped, through their replies, something of the purpose lying behind the evolution of the consciousness of the Son (with all that is included in that expression) we shall be in a position to go more intelligently into a consideration of the plan, and to grasp more accurately the immediate stage ahead to be attained, working from our present standpoint as a basis. |
Khi chúng ta đã cố gắng trả lời ngắn gọn và súc tích chín câu hỏi này, và qua các câu trả lời của chúng nắm được phần nào mục đích nằm phía sau sự tiến hoá của tâm thức của Con (cùng mọi điều được bao hàm trong cách diễn đạt ấy), chúng ta sẽ ở vào vị thế để đi sâu hơn một cách thông minh vào việc xem xét Thiên Cơ, và nắm bắt chính xác hơn giai đoạn trước mắt cần đạt đến, lấy quan điểm hiện tại của chúng ta làm nền tảng. |
|
We must ever remember that a curious interest and a far-seeing grasp of the plan of the Logos is of no importance to a man unless he correlates the present with that which he believes to lie in the future, unless he ascertains the point achieved, and realises wherein consists the work immediately to be undertaken in this gradual process of attaining full consciousness. [Page 226] |
Chúng ta phải luôn nhớ rằng một sự quan tâm hiếu kỳ và một sự nắm bắt xa rộng về kế hoạch của Thượng đế không có tầm quan trọng gì đối với một người trừ phi ông liên hệ hiện tại với điều mà ông tin là nằm trong tương lai, trừ phi ông xác định được điểm đã đạt tới, và chứng nghiệm được công việc cần phải đảm nhận ngay trong tiến trình dần dần đạt đến tâm thức trọn vẹn này hệ tại ở đâu. [Page 226] |
|
CHART IV |
BIỂU ĐỒ IV |
|
Chart of the Pleroma according to Valentinus |
Biểu đồ về Pleroma theo Valentinus |

|
First the (Point), the Monad, Bythus (the Deep), the unknown and the unknowable Father. Then the (triangle), Bythus and the first emanated pair or Duad, Nous (Mind) and its syzygy Aletheia (Truth), Then the (Square), the dual Duad, Tetractys or Quaternary, two males ||, the Logos (Word) and Anthrôpos (Man), two females, their syzygies, = Zoê (Life) and Ekklesia (the Church or Assembly), Seven in all. The triangle, the Potentiality of Spirit, the Square the Potentiality of Matter; the vertical straight line the Potency of Spirit, and the horizontal the Potency of Matter. Next comes the Pentagram, the Pentad, the mysterious symbol of the Manasaputras or Sons of Wisdom, which together with their syzygies make 10, or the Decad; and last of all, the Hexalpha or interlaced Triangles the Hexad which with their syzygies make 12, or the Dodecad. Such are the contents of the Pleroma or Completion, the Ideas in the Divine mind, 28 in all, for Bythus or the Father is not reckoned, as it is the Root of all. The two small circles within the Pleroma are the syzygy Christos-Pneuma (Christ and the Holy Spirit): these are after-emanations, and, as such, form one aspect, typify the descent of Spirit to inform and evolve Matter, which essentially proceeds from the same source; and another, the desent or incarnation of the Kumâras or the Higher Egos of Humanity. |
Trước hết là (Điểm), Chân thần, Bythus (Vực Sâu), Người Cha vô danh và bất khả tri. Kế đến là (tam giác), Bythus và cặp đầu tiên được phát xạ hay Nhị nguyên, Nous (Trí Tuệ) và syzygy của nó là Aletheia (Chân Lý), rồi đến (Hình vuông), Nhị nguyên kép, Tetractys hay Bộ bốn, hai nam ||, Logos (Linh từ) và Anthrôpos (Con Người), hai nữ, các syzygy của các vị ấy, = Zoê (Sự Sống) và Ekklesia (Giáo Hội hay Hội Chúng), tổng cộng là Bảy. Tam giác là Tiềm năng của Tinh thần, Hình vuông là Tiềm năng của Vật chất; đường thẳng đứng là Uy lực của Tinh thần, và đường ngang là Uy lực của Vật chất. Tiếp theo là Ngũ giác tinh, Bộ năm, biểu tượng huyền nhiệm của các Manasaputra hay các Con của Minh Triết, những vị này cùng với các syzygy của mình tạo thành 10, hay Bộ mười; và sau cùng là Hexalpha hay các Tam giác đan xen, Bộ sáu mà cùng với các syzygy của chúng tạo thành 12, hay Bộ mười hai. Đó là nội dung của Pleroma hay Sự Viên Mãn, các Ý tưởng trong Trí của Thượng đế, tổng cộng là 28, vì Bythus hay Người Cha không được tính đến, bởi đó là Cội Rễ của tất cả. Hai vòng tròn nhỏ bên trong Pleroma là syzygy Christos-Pneuma (Christ và Chúa Thánh Thần): đây là những phát xạ về sau, và như thế tạo thành một phương diện, tiêu biểu cho sự giáng hạ của Tinh thần để thấm nhuần và làm cho Vật chất tiến hoá, điều mà về bản chất phát xuất từ cùng một nguồn; và một phương diện khác, là sự giáng hạ hay nhập thể của các Kumara hay các Chân ngã Cao Siêu của nhân loại. |
|
From “Lucifer” for May 1890 |
Trích từ “Lucifer” tháng Năm 1890 |
I. WHAT IS THE RELATIONSHIP OF THE SON TO THE SUN? |
I. MỐI LIÊN HỆ CỦA CON VỚI MẶT TRỜI LÀ GÌ? |
|
This question brings us primarily to a consideration as to Who is the Son, and what is His function. Two [Page 227] factors are universally recognised in all systems that merit the name of philosophy; they are the two factors of spirit and matter, of purusha and prakriti. There is at times a tendency to confound such terms as “life and form,” “consciousness and the vehicle of consciousness” with the terms “Spirit and matter.” They are related, but clarity of view would be facilitated if it were realised that prior to manifestation, or to the birth of a solar system, it is more correct to utilise the words, Spirit and matter. When these two are inter-related during manifestation, and after the cessation of the pralayic interval or interlude between two systems, then the terms, life and form, consciousness and its vehicles, are more correct, for during the period of abstraction consciousness is not, form is not, and life, demonstrating as an actual principle, is not. There is Spirit-substance but in a state of quiescence, of utter neutrality, of negativity, and of passivity. In manifestation the two are approximated; they interact upon each other; activity supersedes quiescence; positivity replaces negativity; movement is seen in place of passivity, and the two primordial factors are no longer neutral to each other, but attract and repulse, interact and utilise. Then and only then, can we have form animated by life, and consciousness demonstrated through appropriate vehicles. |
Câu hỏi này trước hết đưa chúng ta đến việc xem xét Con là Ai, và chức năng của Ngài là gì. Hai [Page 227] yếu tố được nhìn nhận phổ quát trong mọi hệ thống xứng đáng mang tên triết học; đó là hai yếu tố tinh thần và vật chất, purusha và prakriti. Đôi khi có khuynh hướng lẫn lộn những thuật ngữ như “sự sống và hình tướng,” “tâm thức và vận cụ của tâm thức” với các thuật ngữ “Tinh thần và vật chất.” Chúng có liên hệ với nhau, nhưng sự sáng tỏ trong cách nhìn sẽ được hỗ trợ nếu nhận ra rằng trước khi biểu hiện, hay trước khi một hệ mặt trời ra đời, thì dùng các từ Tinh thần và vật chất là chính xác hơn. Khi hai yếu tố này liên hệ với nhau trong khi biểu hiện, và sau khi chấm dứt khoảng hay quãng xen kẽ pralaya giữa hai hệ thống, thì các thuật ngữ sự sống và hình tướng, tâm thức và các vận cụ của nó, là chính xác hơn, vì trong thời kỳ trừu xuất thì không có tâm thức, không có hình tướng, và không có sự sống biểu lộ như một nguyên khí thực sự. Có tinh thần-chất liệu nhưng ở trong trạng thái tĩnh lặng, hoàn toàn trung tính, âm tính, và thụ động. Trong biểu hiện, hai yếu tố ấy được đưa lại gần nhau; chúng tác động lẫn nhau; hoạt động thay thế sự tĩnh lặng; dương tính thay thế âm tính; chuyển động xuất hiện thay cho thụ động, và hai yếu tố nguyên sơ không còn trung tính đối với nhau nữa, mà hút và đẩy, tương tác và sử dụng lẫn nhau. Khi đó và chỉ khi đó, chúng ta mới có thể có hình tướng được sự sống làm sinh động, và tâm thức được biểu lộ qua những vận cụ thích hợp. |
|
How can this be expressed? In terms of fire, when the two electric poles are brought into definite relationship we have demonstrated, along the line of occult sight and of occult feeling, both heat and light. This relationship is brought about and perfected during the evolutionary process. This heat and light are produced by the union of the two poles, or by the occult marriage of male and female, of Spirit (father) and matter (mother). In terms of the physical, this union produces the objective solar system, the Son of the Father and the Mother. In terms of the subjective, it produces the Sun, as the sum total of [Page 228] the qualities of light and heat. In terms of fire, by the union or at-one-ment of electric fire (Spirit) and fire by friction (energised matter) solar fire is produced. This solar fire will be distinguished above all else by its evolutionary development, and by the gradual intensification of the heat to be felt, and of the light to be seen. |
Điều này có thể được diễn đạt như thế nào? Theo thuật ngữ của lửa, khi hai cực điện được đưa vào một mối liên hệ xác định, chúng ta có sự biểu lộ, theo đường lối của thị giác huyền bí và cảm nhận huyền bí, cả nhiệt lẫn ánh sáng. Mối liên hệ này được tạo ra và hoàn thiện trong tiến trình tiến hoá. Nhiệt và ánh sáng này được tạo ra bởi sự kết hợp của hai cực, hay bởi cuộc hôn phối huyền bí giữa nam và nữ, giữa Tinh thần (cha) và vật chất (mẹ). Theo phương diện hồng trần, sự kết hợp này tạo ra hệ mặt trời khách quan, Con của Cha và Mẹ. Theo phương diện chủ quan, nó tạo ra Mặt Trời, như tổng thể của [Page 228] các phẩm tính ánh sáng và nhiệt. Theo thuật ngữ của lửa, bởi sự kết hợp hay hiệp nhất của Lửa Điện (Tinh thần) và Lửa ma sát (vật chất được tiếp năng lượng), Lửa Thái dương được tạo ra. Lửa Thái dương này sẽ được phân biệt trên hết bởi sự phát triển tiến hoá của nó, và bởi sự tăng cường dần dần của nhiệt được cảm nhận, và của ánh sáng được nhìn thấy. |
|
For a clearer comprehension of this abstract matter, we might consider the microcosm, or man evolving in the three worlds. Man is the product of the approximation (at present imperfect) of the two poles of Spirit (the Father in Heaven) and of matter (the Mother). The result of this union is an individualised Son of God, or unit of the divine Self, an exact replica in miniature on the lowest plane of the great Son of God, the All-Self, who is in Himself the totality of all the miniature sons, of all the individualised Selves, and of each and every unit. The microcosm, expressed in other terms or from the subjective point of view, is a miniature sun distinguished by the qualities of heat and light. At present that light is “under the bushel,” or deeply hidden by a veil of matter, but in due process of evolution it will shine forth to such an extent that the veils will be lost from sight in a blaze of exceeding glory. At present the microcosmic heat is of small degree, or the magnetic radiation between the microcosmic units is but little felt (in the occult significance of the term), but as time proceeds, the emanations of heat,—due to intensification of the inner flame, coupled with the assimilated radiation of other units—will increase, and become of such proportions that the interaction between the individualised Selves will result in the merging to perfection of the flame within each one, and a blending of the heat; this will proceed until there is “one flame with countless sparks” within it, until the heat is general and balanced. When this is the case and each Son of God is a perfected Sun, characterised by perfectly expressed light and heat, [Page 229] then the entire solar system, the greater Son of God, will be the perfected Sun. |
Để hiểu rõ hơn vấn đề trừu tượng này, chúng ta có thể xét đến tiểu thiên địa, hay con người đang tiến hoá trong ba cõi giới. Con người là sản phẩm của sự tiến gần (hiện nay còn bất toàn) giữa hai cực của Tinh thần (Người Cha trên Trời) và vật chất (Người Mẹ). Kết quả của sự kết hợp này là một Con của Thượng đế đã được biệt ngã hóa, hay một đơn vị của Đại Ngã thiêng liêng, một bản sao thu nhỏ chính xác trên cõi thấp nhất của Con vĩ đại của Thượng đế, Đại Ngã Toàn Thể, Đấng trong chính Ngài là tổng thể của mọi người con thu nhỏ, của mọi Đại Ngã đã được biệt ngã hóa, và của từng đơn vị một. Tiểu thiên địa, được diễn đạt theo những thuật ngữ khác hay từ quan điểm chủ quan, là một mặt trời thu nhỏ được phân biệt bởi các phẩm tính nhiệt và ánh sáng. Hiện nay ánh sáng ấy “ở dưới cái đấu,” hay bị che giấu sâu kín bởi một bức màn vật chất, nhưng theo đúng tiến trình tiến hoá, nó sẽ chiếu rạng đến mức các bức màn sẽ biến mất khỏi tầm nhìn trong một luồng vinh quang chói lọi tột bậc. Hiện nay nhiệt của tiểu thiên địa còn ở mức nhỏ, hay bức xạ từ tính giữa các đơn vị tiểu thiên địa chỉ được cảm nhận rất ít (theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này), nhưng khi thời gian trôi qua, các phát xạ nhiệt,—do sự tăng cường của ngọn lửa bên trong, kết hợp với bức xạ đã được đồng hoá của các đơn vị khác—sẽ gia tăng, và trở nên có quy mô đến mức sự tương tác giữa các Đại Ngã đã được biệt ngã hóa sẽ dẫn đến sự hòa nhập hoàn hảo của ngọn lửa bên trong mỗi đơn vị, và sự hòa trộn của nhiệt; điều này sẽ tiếp diễn cho đến khi có “một ngọn lửa với vô số tia lửa” bên trong nó, cho đến khi nhiệt trở nên phổ quát và quân bình. Khi điều này xảy ra và mỗi Con của Thượng đế là một Mặt Trời hoàn hảo, được đặc trưng bởi ánh sáng và nhiệt được biểu lộ hoàn toàn, [Page 229] khi đó toàn thể hệ mặt trời, Con lớn hơn của Thượng đế, sẽ là Mặt Trời hoàn hảo. |
|
The system will then be characterised by a “blaze of refulgent glory,” and by a radiation that will link it up with its cosmic centre, and thus effect the liberation of the Son, and His return to the far distant source from whence the primal impulse originated. Therefore, bear in mind: |
Khi đó hệ thống sẽ được đặc trưng bởi một “luồng vinh quang rực rỡ chói ngời,” và bởi một bức xạ sẽ nối kết nó với trung tâm vũ trụ của nó, và như thế thực hiện sự giải thoát của Con, cùng sự trở về của Ngài với nguồn cội xa xăm từ đó xung lực nguyên thủy đã phát sinh. Vì vậy, hãy ghi nhớ: |
|
Thứ nhất, rằng Con là kết quả rạng ngời của sự kết hợp giữa Tinh thần và Vật chất, và có thể được xem như tổng thể của hệ mặt trời, Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng. |
|
|
Second, that the Son manifests through his qualities of light and heat, as does the solar Sun. |
Thứ hai, rằng Con biểu lộ qua các phẩm tính ánh sáng và nhiệt của ngài, cũng như Mặt Trời thái dương biểu lộ vậy. |
|
Third, that the Son is the product of the electrical union of “fire by friction” and electric fire, and is Himself “solar fire” or the manifestation of the other two, hence that which is seen and that which is felt. |
Thứ ba, rằng Con là sản phẩm của sự kết hợp điện giữa “Lửa ma sát” và Lửa Điện, và chính Ngài là “Lửa Thái dương” hay sự biểu hiện của hai loại kia, do đó là điều được thấy và điều được cảm nhận. |
|
Finally, that the Son, therefore, is the middle manifestation, and is produced by that which is above, and that which is below, in the occult sense. Therefore, the Son on His own plane (the cosmic mental plane), is the egoic body of the Logos in the same sense as the egoic body of the microcosm is the product of the union of the Monad, or Spirit, and matter. Just as the body egoic of man (that which is called the causal body) is only in process of formation, and is not yet perfected, so we may predicate the same of the solar system, as it expresses the Life of God. It is in process of perfecting. The Son, manifesting through the Sun and its sphere of influence, is yet in a state of gradual development, and not until each cell within His body is fully alive and vibrating to a uniform measure, will He be “full grown” and perfected. Not until His radiation and His display of light is perfectly seen and felt, will His place among the heavenly constellations (the Son of God in a cosmic sense) be fully achieved. |
Sau cùng, rằng vì vậy Con là biểu hiện trung gian, và được tạo ra bởi điều ở trên và điều ở dưới, theo ý nghĩa huyền bí. Do đó, Con trên cõi riêng của Ngài (cõi trí vũ trụ), là thể chân ngã của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như thể chân ngã của tiểu thiên địa là sản phẩm của sự kết hợp giữa chân thần, hay Tinh thần, và vật chất. Cũng như thể chân ngã của con người (điều được gọi là thể nguyên nhân) chỉ mới đang trong tiến trình hình thành, và chưa hoàn thiện, thì chúng ta cũng có thể khẳng định điều tương tự về hệ mặt trời, khi nó biểu lộ Sự sống của Thượng đế. Nó đang trong tiến trình hoàn thiện. Con, biểu lộ qua Mặt Trời và khối cầu ảnh hưởng của Ngài, vẫn còn ở trong trạng thái phát triển dần dần, và chỉ khi mỗi tế bào trong thể của Ngài hoàn toàn sống động và rung động theo một nhịp độ đồng nhất, Ngài mới “trưởng thành đầy đủ” và hoàn hảo. Chỉ khi bức xạ của Ngài và sự biểu lộ ánh sáng của Ngài được thấy và cảm nhận một cách hoàn hảo, vị trí của Ngài giữa các chòm sao thiên giới (Con của Thượng đế theo nghĩa vũ trụ) mới được đạt đến trọn vẹn. |
|
[Page 230] Not until each cell in His body is a sphere of radiant glory—a blaze of fire and light, and a source of magnetic radiation or heat, occultly expressed, will the Son in the Heavens “shine forth.” From the cosmic point of view, as we know, our sun is but of the fourth order, and on the lowest cosmic plane. When the Son has, through the Sun, attained full expression (that is, perfected His display of light and heat) then He will shine forth upon another plane, that of the cosmic mental. We have the analogy in the microcosm or man. When a man’s light fully shines forth, when his magnetic radiation has reached the stage of vivid interaction or group activity, then he has attained full self-expression, and has included within his sphere of influence and control the mental plane. He is then considered a Master. He also is of the fourth order; he is the quaternary. The etheric plane is the centre of his life in the physical sense, just as we are told that the sun and the planets esoterically are considered as existing in etheric matter. As above, so below, is the occult law. Therefore, the relationship of the Son of the Father, and of the Mother, is to the Sun the same as man’s relationship to the vehicle through which he functions. It is His mode of enterprise, His vehicle of expression; it is the form which His life animates for the specific purpose of |
[Page 230] Chỉ khi mỗi tế bào trong thể của Ngài là một khối cầu vinh quang rạng ngời—một luồng lửa và ánh sáng chói lọi, và một nguồn bức xạ từ tính hay nhiệt, được diễn đạt theo huyền bí học—thì Con trên Thiên Giới mới “chiếu rạng.” Từ quan điểm vũ trụ, như chúng ta biết, mặt trời của chúng ta chỉ thuộc bậc thứ tư, và ở trên cõi vũ trụ thấp nhất. Khi Con, qua Mặt Trời, đã đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn (nghĩa là đã hoàn thiện sự biểu lộ ánh sáng và nhiệt của Ngài) thì Ngài sẽ chiếu rạng trên một cõi khác, cõi trí vũ trụ. Chúng ta có sự tương đồng nơi tiểu thiên địa hay con người. Khi ánh sáng của một người chiếu rạng hoàn toàn, khi bức xạ từ tính của y đã đạt đến giai đoạn tương tác sinh động hay hoạt động nhóm, thì y đã đạt đến sự tự biểu lộ trọn vẹn, và đã bao gồm trong khối cầu ảnh hưởng và kiểm soát của mình cõi trí. Khi đó y được xem là một Chân sư. Y cũng thuộc bậc thứ tư; y là bộ bốn. Cõi dĩ thái là trung tâm sự sống của y theo nghĩa hồng trần, cũng như chúng ta được cho biết rằng về mặt huyền bí, mặt trời và các hành tinh được xem là tồn tại trong vật chất dĩ thái. trên sao, dưới vậy, là định luật huyền bí. Vì vậy, mối liên hệ của Con của Cha và của Mẹ với Mặt Trời cũng giống như mối liên hệ của con người với vận cụ mà qua đó y hoạt động. Đó là phương thức hoạt động của Ngài, là vận cụ biểu lộ của Ngài; đó là hình tướng mà sự sống của Ngài làm sinh động vì mục đích cụ thể là |
|
a. Gaining experience. |
a. Thu nhận kinh nghiệm. |
|
b. Making contact. |
b. Tạo tiếp xúc. |
|
c. Developing full self-knowledge. |
c. Phát triển sự tự tri trọn vẹn. |
|
d. Achieving full mastery or control. |
d. Đạt được quyền làm chủ hay kiểm soát trọn vẹn. |
|
e. Attaining “manhood” cosmically. The cosmic Christ must measure up to the stature “of a full grown man,” as it is expressed in the Christian Bible.(Ep., 4:13) |
e. Đạt đến “trưởng thành” theo nghĩa vũ trụ. Đức Christ vũ trụ phải đạt đến tầm vóc “của một người trưởng thành đầy đủ,” như được diễn đạt trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo.(Ep., 4:13) |
|
f. Expanding His consciousness. |
f. Mở rộng tâm thức của Ngài. |
|
[Page 231] All these stages have to be achieved on cosmic levels, in exactly the same sense as the microcosm, on systemic levels, likewise strives for similar ideals. |
[Page 231] Tất cả các giai đoạn này đều phải được đạt đến trên các cấp độ vũ trụ, theo đúng cùng một ý nghĩa như tiểu thiên địa, trên các cấp độ hệ thống, cũng phấn đấu vì những lý tưởng tương tự. |
II. WHAT IS EVOLUTION AND HOW DOES IT PROCEED? |
II. TIẾN HOÁ LÀ GÌ VÀ NÓ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO? |
|
1. Life Cycles. |
1. Các chu kỳ sự sống. |
|
I do not propose to deal here with the evolutionary process in any other way than briefly to indicate that the whole method of evolution is simply that of adjusting the matter aspect to the Spirit aspect, so that the former proves entirely adequate as a body of expression for the latter. The life cycle of the Son is one hundred years of Brahma in the same sense as man has a life cycle consisting of a certain number of years, dependent upon his karma. During the life cycle of a man, he expresses what is in him at his particular stage, and gradually develops from the stage of the ante-natal period wherein the Self overshadows the matter aspect until the period wherein that Higher Self takes full possession of the prepared form. This stage varies with every individual. From that time on fuller self-consciousness is sought, and the man (if proceeding normally) expresses himself through the form ever more adequately. Each life of lesser cycle in the great cycle of the Ego or Self, sees that expression more complete, brings the form more under control and develops a conscious realisation of the Self until there comes a culminating cycle of lives in which the Self within rapidly dominates, and takes full authority. The form becomes wholly adequate; the fusion of the two poles of Spirit and matter is fully brought about; and the light (fire) and heat (radiation) is seen and felt systemically. Then the form is either consciously utilised for specific ends or is vacated, and the man is liberated. Electric fire and fire by friction are fused, and the consequent solar fire blazes forth in radiant glory. |
Ở đây tôi không định bàn đến tiến trình tiến hoá theo cách nào khác ngoài việc ngắn gọn chỉ ra rằng toàn bộ phương pháp của tiến hoá đơn giản là điều chỉnh phương diện vật chất cho phù hợp với phương diện Tinh thần, để phương diện trước chứng tỏ hoàn toàn thích hợp như một thể biểu lộ cho phương diện sau. Chu kỳ sự sống của Con là một trăm năm của Brahma theo cùng ý nghĩa như con người có một chu kỳ sự sống gồm một số năm nhất định, tùy thuộc vào nghiệp quả của y. Trong chu kỳ sự sống của một con người, y biểu lộ điều ở trong y tại giai đoạn riêng của mình, và dần dần phát triển từ giai đoạn tiền sinh, trong đó Đại Ngã phủ bóng phương diện vật chất, cho đến giai đoạn trong đó Đại Ngã Cao Siêu ấy hoàn toàn chiếm hữu hình tướng đã được chuẩn bị. Giai đoạn này thay đổi theo từng cá nhân. Từ lúc đó trở đi, ngã thức đầy đủ hơn được tìm kiếm, và con người (nếu tiến triển bình thường) biểu lộ chính mình qua hình tướng ngày càng thích đáng hơn. Mỗi đời sống của chu kỳ nhỏ hơn trong đại chu kỳ của Chân ngã hay Đại Ngã đều làm cho sự biểu lộ ấy hoàn chỉnh hơn, đưa hình tướng ngày càng nằm dưới sự kiểm soát và phát triển một sự chứng nghiệm hữu thức về Đại Ngã cho đến khi xuất hiện một chu kỳ đỉnh điểm của các đời sống, trong đó Đại Ngã bên trong nhanh chóng chi phối và nắm toàn quyền. Hình tướng trở nên hoàn toàn thích hợp; sự dung hợp của hai cực Tinh thần và vật chất được thực hiện trọn vẹn; và ánh sáng (lửa) cùng nhiệt (bức xạ) được thấy và được cảm nhận một cách hệ thống. Khi đó hình tướng hoặc được sử dụng một cách hữu thức cho những mục đích cụ thể hoặc bị bỏ lại, và con người được giải thoát. Lửa Điện và Lửa ma sát được dung hợp, và Lửa Thái dương phát sinh từ đó bừng lên trong vinh quang rạng ngời. |
|
Extend this idea from man, an individualised unit of [Page 232] consciousness, to the great Heavenly Men, in one of Whose bodies a man forms a cell. The body of expression of each Heavenly Man is one of the sacred planets, and They aim at the same goal as man—the attainment, on Their own levels, of full expression, and the development of Their vehicles of consciousness to a point where the Spirit may blaze forth as light divine, and as heat. This heat radiates consciously and with intense magnetic attraction between all the seven systemic groups, or planetary schemes. Their magnetic field of action will include the planetary radius of one and all. Carry this thought still further to include the Son, and the entire solar system which He animates; His attempt is to find full expression therein, so that eventually and consciously His light may be seen and His heat, or magnetic radiation, may be felt beyond His immediate sphere of influence, the logoic ring-pass-not. Both the light of the Son and the heat of the Son must be felt by the opposite cosmic pole, that constellation which is our system’s magnetic opposite. |
Hãy mở rộng ý tưởng này từ con người, một đơn vị tâm thức đã được biệt ngã hóa, [Page 232] đến các Đấng Thiên Nhân vĩ đại, trong một thể của Các Ngài mà con người tạo thành một tế bào. Thể biểu lộ của mỗi Đấng Thiên Nhân là một trong các hành tinh thiêng liêng, và Các Ngài nhắm đến cùng mục tiêu như con người—đạt được, trên các cấp độ riêng của Các Ngài, sự biểu lộ trọn vẹn, và phát triển các vận cụ tâm thức của Các Ngài đến một điểm mà tại đó Tinh thần có thể bừng sáng như ánh sáng thiêng liêng, và như nhiệt. Nhiệt này bức xạ một cách hữu thức và với sức hút từ tính mãnh liệt giữa tất cả bảy nhóm hệ thống, hay các hệ hành tinh. Trường hoạt động từ tính của Các Ngài sẽ bao gồm bán kính hành tinh của tất cả. Hãy đưa tư tưởng này đi xa hơn nữa để bao gồm Con, và toàn thể hệ mặt trời mà Ngài làm sinh động; nỗ lực của Ngài là tìm được sự biểu lộ trọn vẹn trong đó, để cuối cùng và một cách hữu thức ánh sáng của Ngài có thể được thấy và nhiệt của Ngài, hay bức xạ từ tính của Ngài, có thể được cảm nhận vượt ra ngoài khối cầu ảnh hưởng trực tiếp của Ngài, vòng-giới-hạn logoic. Cả ánh sáng của Con lẫn nhiệt của Con đều phải được cảm nhận bởi cực vũ trụ đối nghịch, chòm sao là đối cực từ tính của hệ thống chúng ta. |
|
2. The objective of the units of consciousness. |
2. Mục tiêu của các đơn vị tâm thức. |
|
Thus, the thought of union and of fusion underlies the entire scheme of evolution; Man, the Heavenly Men, and the cosmic Man (the Son of the Father and the Mother) have to |
Như vậy, tư tưởng về sự kết hợp và sự dung hợp nằm bên dưới toàn bộ hệ thống tiến hoá; Con người, các Đấng Thiên Nhân, và Con Người vũ trụ (Con của Cha và Mẹ) đều phải |
|
a. Radiate occult heat beyond their own individualised ring-pass-not. |
a. Bức xạ nhiệt huyền bí vượt ra ngoài vòng-giới-hạn đã được biệt ngã hóa của chính mình. |
|
b. Occultly blaze forth and demonstrate light or fiery objectivity. |
b. Bừng sáng một cách huyền bí và biểu lộ ánh sáng hay tính khách quan rực lửa. |
|
c. Expand so as to include that which lies beyond their own immediate spheres. |
c. Mở rộng để bao gồm điều nằm ngoài các khối cầu trực tiếp của chính mình. |
|
d. Fuse and blend the two fires so as to produce perfectly the central fire, solar fire. |
d. Dung hợp và hòa trộn hai ngọn lửa để tạo ra một cách hoàn hảo ngọn lửa trung tâm, Lửa Thái dương. |
|
e. Blend Spirit and matter so that a body is produced that will adequately express Spirit. |
e. Hòa trộn Tinh thần và vật chất để tạo ra một thể có thể biểu lộ Tinh thần một cách thích đáng. |
|
f. Merge the essence within the form, which is occultly [Page 233] qualified during evolution, with the essence in all form—humanly, in a planetary sense, and cosmically. |
f. Hòa nhập tinh túy bên trong hình tướng, vốn một cách huyền bí được [Page 233]định tính trong tiến hoá, với tinh túy trong mọi hình tướng—theo nghĩa nhân loại, theo nghĩa hành tinh, và theo nghĩa vũ trụ. |
|
g. Attain human, systemic and cosmic manhood. |
g. Đạt đến sự trưởng thành của con người, của hệ thống và của vũ trụ. |
|
h. Achieve mastery on three planes of the solar system, humanly speaking. |
h. Đạt được quyền làm chủ trên ba cõi của hệ mặt trời, xét theo nghĩa con người. |
|
i. Achieve mastery on five planes of the solar system, when speaking of a Heavenly Man. |
i. Đạt được quyền làm chủ trên năm cõi của hệ mặt trời, khi nói về một Đấng Thiên Nhân. |
|
j. Đạt được quyền làm chủ trên ba cõi vũ trụ khi nói về Đức Christ vũ trụ, Con, hay Thượng đế biểu lộ một cách khách quan. |
|
|
3. Các Đơn Vị Tâm Thức Biểu Hiện. (94) |
|
|
(94) “Cần nhớ rằng vật chất là toàn thể Hiện Hữu trong Vũ Trụ nằm trong bất kỳ cõi nào của tri giác khả hữu.”—S. D., I, 560. |
|
|
These Existences might be enumerated as follows: |
Các Hiện Hữu này có thể được liệt kê như sau: |
|
1. The Seven Heavenly Men. In their totality they make up the Body of the Grand Man of the Heavens, the Logos. |
1. Bảy Đấng Thiên Nhân. Trong tổng thể, Các Ngài tạo thành Thể của Đại Nhân trên Thiên Giới, Thượng đế. |
|
Những tên gọi khác của các Hữu thể này: |
|
|
a. The seven planetary Logoi or Spirits. |
a. Bảy Hành Tinh Thượng đế hay các Thánh Linh. |
|
b. The Prajapatis. |
b. Các Prajapati. |
|
c. The seven Lords of the Rays. |
c. Bảy Chúa Tể của các cung. |
|
d. The Dyhan Chohans. |
d. Các Dyhan Chohan. |
|
e. The seven Spirits before the Throne. |
e. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. |
|
f. The seven Archangels. |
f. Bảy Tổng Thiên Thần. |
|
g. The seven Logoi. |
g. Bảy Thượng đế. |
|
h. The seven Builders. |
h. Bảy Đấng kiến tạo. |
|
—S. D., I, 115, 130, 152, 535. |
—S. D., I, 115, 130, 152, 535. |
|
They are the informing Entities of the Divine Ray, the Ray of the Second Logos, in much the same sense as Fohat and his seven Brothers are the totality of the Primordial Ray.—S. D., I, 100, 108, 155. |
Các Ngài là những Thực Thể phú linh của Thiêng Liêng Cung, Cung của Thượng đế thứ hai, theo cùng một ý nghĩa như Fohat và bảy Huynh đệ của ngài là tổng thể của Nguyên Sơ Cung.—S. D., I, 100, 108, 155. |
|
a. Matter is fecundated by the Primordial Ray of Intelligence. This is the anima mundi, the soul of the world. |
a. Vật chất được thụ tinh bởi Nguyên Sơ Cung của Trí Tuệ. Đây là anima mundi, linh hồn của thế giới. |
|
b. The Primordial Ray is the vehicle for the Divine Ray of Love and Wisdom. The merging of these two is the aim of evolution. |
b. Nguyên Sơ Cung là vận cụ cho Thiêng Liêng Cung của Bác Ái và Minh Triết. Sự hòa nhập của hai cung này là mục tiêu của tiến hoá. |
|
c. The Divine Ray is sevenfold. It brings in seven Entities. |
c. Thiêng Liêng Cung là thất phân. Nó đem vào bảy Thực Thể. |
|
d. These seven are: |
d. Bảy vị này là: |
|
1. The Logos of Will or Power. |
1. Thượng đế của Ý Chí hay Quyền Năng. |
|
2. The Logos of Love and Wisdom. |
2. Thượng đế của Bác Ái và Minh Triết. |
|
3. The Logos of Activity. |
3. Thượng đế của Hoạt Động. |
|
4. The Logos of Harmony. |
4. Thượng đế của Hài Hòa. |
|
5. The Logos of Concrete Science |
5. Thượng đế của Khoa Học Cụ Thể |
|
6. The Logos of Devotion or Abstract Idealism. |
6. Thượng đế của Sùng Tín hay Duy Tâm Trừu Tượng. |
|
7. The Logos of Ceremonial Law or Order. |
7. Thượng đế của Định Luật hay Trật Tự Nghi Lễ. |
|
2. Men, The Monad, The Units of Consciousness. They, in their totality, make up the Bodies of the seven Heavenly Men. Each Monad is found upon one of the seven Rays.—S. D., I, 197, 285, 624; S. D., II, 85, 176, 196. |
2. Con người, Chân thần, Các Đơn Vị Tâm Thức. Trong tổng thể, họ tạo thành các Thể của bảy Đấng Thiên Nhân. Mỗi Chân thần được tìm thấy trên một trong bảy cung.—S. D., I, 197, 285, 624; S. D., II, 85, 176, 196. |
|
3. Devas.—S. D. I, 308; S. D., II, 107. |
3. Các thiên thần.—S. D. I, 308; S. D., II, 107. |
|
Such devas are, for instance: |
Chẳng hạn, các thiên thần như sau: |
|
a. The deva Lord of a plane. The sphere of his body is the entire plane. |
a. Chúa Tể thiên thần của một cõi. Khối cầu của thể ngài là toàn bộ cõi ấy. |
|
b. Groups of building devas. |
b. Các nhóm thiên thần kiến tạo. |
|
4. Entities involved in the mineral, vegetable, and animal kingdoms.—S. D., I, 210, 298. |
4. Các thực thể liên can trong các giới kim thạch, thực vật, và động vật.—S. D., I, 210, 298. |
|
a. The life of the third Logos—the atom of matter. |
a. Sự sống của Thượng đế thứ ba—nguyên tử của vật chất. |
|
b. The life of the second Logos—groups of atoms built into forms, plant, animal. |
b. Sự sống của Thượng đế thứ hai—các nhóm nguyên tử được xây dựng thành hình tướng, thực vật, động vật. |
|
c. The life of the first Logos—the forms indwelt by highest Spirit. |
c. Sự sống của Thượng đế thứ nhất—các hình tướng được Tinh thần cao nhất ngự bên trong. |
|
5. The spirit of a planet.—S. D., I, 178; S. D., II, 251, 500. |
5. tinh linh linh địa cầu của một hành tinh.—S. D., I, 178; S. D., II, 251, 500. |
|
He is the sum-total of the many involutionary lives upon a planet. |
Ngài là tổng thể của nhiều sự sống giáng hạ tiến hoá trên một hành tinh. |
|
6. The atom.—S. D., I, 559, 620-622. |
6. Nguyên tử.—S. D., I, 559, 620-622. |
|
Summing Up: For the purpose and the goal see S. D., I, 70, 132 (back) |
Tóm lại: Về mục đích và mục tiêu, xem S. D., I, 70, 132 (trở lại) |
|
If these stated aims are carefully considered, it will be seen how each has its place within the plan, and how [Page 234] evolution is but a term used to express the gradual development in time and space of the inherent capacity of a human being, of a Heavenly Man, and of the Grand Man of the Heavens. The place and position of one and all to each other must be borne in mind, for no one can develop without the other. What, therefore, have we? |
Nếu các mục tiêu đã nêu này được xem xét cẩn thận, sẽ thấy mỗi mục tiêu đều có vị trí của nó trong Thiên Cơ, và rằng [Page 234] tiến hoá chỉ là một thuật ngữ được dùng để diễn tả sự phát triển dần dần trong thời gian và không gian của năng lực cố hữu của một con người, của một Đấng Thiên Nhân, và của Đại Nhân trên Thiên Giới. Phải ghi nhớ vị trí và tương quan của tất cả đối với nhau, vì không ai có thể phát triển mà không có người kia. Vậy thì, chúng ta có gì? |
|
a. The Son, the Grand Man of the Heavens. He manifests through the Sun and the seven sacred planets, each of whom embodies one of His seven principles, just as He in His totality embodies one of the principles of a greater cosmic Entity. |
a. Con, Đại Nhân trên Thiên Giới. Ngài biểu lộ qua Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng, mỗi hành tinh thể hiện một trong bảy nguyên khí của Ngài, cũng như chính Ngài trong tổng thể thể hiện một trong các nguyên khí của một Thực Thể vũ trụ lớn hơn. |
|
b. A Heavenly Man. He manifests through a planet, and embodies one of the principles of the Son, the Logos. He Himself is likewise developing through seven principles, which are the source of His essential unity with all other Heavenly Men. Cosmically considered, the Son is developing the principle of a greater cosmic Being, that principle which we call love-wisdom. That is the fundamental characteristic He has to develop during His life cycle. Each Heavenly Man, therefore, embodies predominantly a subsidiary principle of the fundamental one. In like manner He Himself has six subsidiary principles, as has the Son. |
b. Một Đấng Thiên Nhân. Ngài biểu lộ qua một hành tinh, và thể hiện một trong các nguyên khí của Con, Thượng đế. Chính Ngài cũng đang phát triển qua bảy nguyên khí, là nguồn gốc của sự hợp nhất cốt yếu của Ngài với mọi Đấng Thiên Nhân khác. Xét theo nghĩa vũ trụ, Con đang phát triển nguyên khí của một Hữu thể vũ trụ lớn hơn, nguyên khí mà chúng ta gọi là bác ái-minh triết. Đó là đặc tính căn bản mà Ngài phải phát triển trong chu kỳ sự sống của mình. Vì vậy, mỗi Đấng Thiên Nhân chủ yếu thể hiện một nguyên khí phụ thuộc của nguyên khí căn bản ấy. Cũng theo cách đó, chính Ngài có sáu nguyên khí phụ thuộc, cũng như Con vậy. |
|
c. A Human Being, Man. He manifests on the physical [Page 235] plane through form, and has also seven principles; in each life cycle he works at their development. He likewise has His primary coloring, dependent upon the fundamental principle embodied by the Heavenly Man, Who is his originating source. Thus we have: |
c. Một Con Người, con người. Ngài biểu lộ trên cõi hồng trần [Page 235] qua hình tướng, và cũng có bảy nguyên khí; trong mỗi chu kỳ sự sống, y làm việc để phát triển chúng. Y cũng có sắc thái chính của mình, tùy thuộc vào nguyên khí căn bản được thể hiện bởi Đấng Thiên Nhân là nguồn gốc phát sinh của y. Như vậy chúng ta có: |
|
THƯỢNG ĐẾ |
|
|
Father-Spirit…………Mother-Matter. |
Cha-Tinh thần…………Mẹ-Vật chất. |
|
producing |
sinh ra |
|
The Son or the Grand Man of the Heavens, |
Con hay Đại Nhân trên Thiên Giới, |
|
the conscious logoic Ego |
Chân ngã logoic hữu thức |
|
evolving through |
tiến hoá qua |
|
The Sun and the seven sacred planets |
Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng |
|
each embodying a |
mỗi hành tinh thể hiện một |
|
Cosmic principle, in six differentiations |
Nguyên khí vũ trụ, trong sáu sự biến phân |
|
by method of |
bằng phương pháp |
|
a. Expansion, vibratory stimulation, magnetic interaction, or the law of attraction and repulsion. |
a. Mở rộng, kích thích rung động, tương tác từ tính, hay định luật hút và đẩy. |
|
b. Cyclic progress, rotary repetition, coupled to spiralling ascension, and developing |
b. Tiến bộ theo chu kỳ, lặp lại theo vòng quay, kết hợp với thăng tiến theo đường xoắn ốc, và phát triển |
|
a. The quality of love-wisdom, through the utilization of form by the means of active intelligence. |
a. Phẩm tính bác ái-minh triết, qua việc sử dụng hình tướng bằng phương tiện trí tuệ hoạt động. |
|
b. Full self-consciousness. |
b. Ngã thức trọn vẹn. |
|
c. A perfected solar system, or the form, adequate to the needs of the indwelling spirit. |
c. Một hệ mặt trời hoàn hảo, hay hình tướng thích hợp với các nhu cầu của tinh thần ngự bên trong. |
|
Here a similar tabulation may be worked out to demonstrate the similarity of the process in the case of a Heavenly Man and a human being. If we ask why ten schemes, and in effect ten planets (seven sacred and three concealed) [Page 236] it is because the seven sacred planets are eventually merged into the three, and finally the three are blended into the one. This can be traced along the line of analogy as we consider the seven Rays. These seven Rays, which in manifestation are diverse, are eventually synthesised. The minor four are blended, we are told, into the third major ray, and the three major rays are finally merged into the one synthetic ray, the Love-Wisdom Ray (the Dragon of Wisdom, the occult serpent swallowing its tail) (S. D., I, 704; II, 531). This has been pointed out by H. P. B. We have, therefore, the three crowning rays, but seven seen during the evolutionary process. In connection with the Heavenly Men, functioning through the planets, there are, therefore, three planets which might be considered as synthesising planets, and four which are blended eventually, until the three have absorbed the essence of the four; finally the one absorbs the essence of the three, and the work is completed. This process lies many millennia ahead, during the inevitable period of the gradual obscuration of our system. Four of the Heavenly Men find Their magnetic opposites, and fuse and blend. First this takes place between Themselves, the negative and the positive rays merging and fusing, forming then the two from the four. Again the two merge, producing a united whole, and the one thus produced blends with the major third ray, the intelligence aspect,—the ray represented in our planetary Hierarchy by the Mahachohan. So the fusion will proceed until ultimately unity is reached in the system, and the Son has accomplished His purpose. He is perfected love-wisdom; his light shines forth cosmically; His magnetic radius touches the periphery of His cosmic opposite, and the marriage of the Son is effected. The two cosmic units merge. |
Ở đây có thể lập ra một bảng biểu tương tự để chứng minh tính tương đồng của tiến trình trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân và một con người. Nếu chúng ta hỏi vì sao có mười hệ hành tinh, và thực ra là mười hành tinh (bảy hành tinh thiêng liêng và ba hành tinh ẩn kín) [Page 236] thì đó là vì bảy hành tinh thiêng liêng rốt cuộc được hợp nhất vào ba, và cuối cùng ba được dung hợp vào một. Điều này có thể được truy theo con đường tương đồng khi chúng ta xét đến bảy cung. Bảy cung này, vốn đa dạng trong biểu hiện, rốt cuộc được tổng hợp. Bốn cung nhỏ, như chúng ta được cho biết, được dung hợp vào cung lớn thứ ba, và ba cung lớn cuối cùng được hợp nhất vào một cung tổng hợp, Cung Bác Ái – Minh Triết (Con Rồng Minh Triết, con rắn huyền bí nuốt đuôi mình) (S. D., I, 704; II, 531). Điều này đã được H. P. B. chỉ ra. Vì vậy, chúng ta có ba cung tối cao, nhưng lại thấy bảy cung trong tiến trình tiến hoá. Liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, hoạt động qua các hành tinh, vì thế có ba hành tinh có thể được xem là các hành tinh tổng hợp, và bốn hành tinh cuối cùng được dung hợp, cho đến khi ba hành tinh đã hấp thu tinh túy của bốn hành tinh; cuối cùng một hành tinh hấp thu tinh túy của ba hành tinh, và công việc hoàn tất. Tiến trình này còn ở rất nhiều thiên niên kỷ phía trước, trong giai đoạn tất yếu của sự lu mờ dần dần của hệ chúng ta. Bốn Đấng Thiên Nhân tìm thấy các đối cực từ tính của Các Ngài, rồi dung hợp và hòa nhập. Trước hết điều này diễn ra giữa chính Các Ngài, các cung âm và dương hợp nhất và hòa nhập, từ đó hình thành hai từ bốn. Rồi hai lại hợp nhất, tạo ra một toàn thể thống nhất, và cái một được tạo ra như thế hòa nhập với cung lớn thứ ba, phương diện trí tuệ,—cung được biểu hiện trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta bởi Đức Mahachohan. Như vậy sự dung hợp sẽ tiếp diễn cho đến khi cuối cùng sự hợp nhất đạt được trong hệ, và Con đã hoàn thành mục đích của Ngài. Ngài là bác ái-minh triết toàn hảo; ánh sáng của Ngài chiếu tỏa ra một cách vũ trụ; bán kính từ tính của Ngài chạm đến chu vi của đối cực vũ trụ của Ngài, và cuộc hôn phối của Con được thành tựu. Hai đơn vị vũ trụ hợp nhất. |
|
If we here naturally ask which is the cosmic unit that is our solar opposite, we shall be told that that question [Page 237] lies hid for the present, though it is hinted at in the Secret Doctrine, and in other sacred books. A hint lies concealed in the relationship of the Pleiades to our earth, but not until a further precession of the equinoxes will it be more fully seen what is the exact relationship involved. (96) |
Nếu ở đây chúng ta tự nhiên hỏi đơn vị vũ trụ nào là đối cực thái dương của chúng ta, thì chúng ta sẽ được bảo rằng câu hỏi ấy [Page 237] hiện còn được che giấu, dù đã được gợi ý trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và trong các sách thiêng liêng khác. Một gợi ý được ẩn giấu trong mối liên hệ của chòm Thất Nữ với địa cầu chúng ta, nhưng chỉ sau một chu kỳ tuế sai nữa của các điểm phân thì mới thấy đầy đủ hơn mối liên hệ chính xác ấy là gì. (96) |
|
(96) Các đạo sinh có thể đối chiếu các dẫn chiếu sau đây rồi tự rút ra kết luận của mình.—S. D., I, 711 note, 545, 439; II, 811, 830, 581, 582, 426, 454, 654, 371. (back) |
|
III. WHY IS THIS SOLAR SYSTEM EVOLVING ALONG THE LINES OF DUALITY? |
III. VÌ SAO HỆ MẶT TRỜI NÀY ĐANG TIẾN HOÁ THEO NHỮNG ĐƯỜNG CỦA NHỊ NGUYÊN TÍNH? |
|
1. The Problem of Existence. |
1. Vấn Đề của Sự Tồn Tại. |
|
Câu hỏi thứ ba bao hàm một trong những vấn đề khó khăn nhất của siêu hình học, và trong sự khảo cứu của nó bao trùm toàn bộ huyền nhiệm gây bối rối về lý do vì sao lại có tính khách quan nói chung. |
|
|
It is one that has been asked under different forms by men of every school of thought—by religious people who enquire:—”Why did God create at all? Why is existence forced upon one and all?”; by scientists in their search for the ultimate truth and in their endeavor to find out the motivation of all that is seen, and to account for sensuous life; by philosophers in their equally diligent search for that animating subjectivity that is expressing itself through all the moral and ethical sciences in every civilisation and among every people; by the biologist in his persistent application to search for the discovery of the source of life, and in his strenuous endeavour to account for the principle of life that is seen ever to evade his investigations; by the mathematician, who, dealing with the form side of manifestation in all the grades of mathematics, decides that God geometrises, that law and rule pervade universally, that the one exists by means of the many, and who yet is unable to solve the problem as to who that geometrising [Page 238] identity may be. So the problems persist, and all the many lines of approach (in the endeavour to find the solution) end in the cul-de-sac of hypothesis, and in the recognition of an ultimate something of such an elusive nature, that men are forced seemingly to predicate a source of energy, of life, of intelligence, and to call it by diverse names according to the trend (religious, scientific or philosophical) of their minds. God, the Universal Mind, Energy, Force, the Absolute, the Unknown,—these terms and many others are forced from the lips of those who, by means of the form side, seek the Dweller within the form, and cannot find Him as yet. This failure to find Him is due to the limitations of the physical brain, and to the lack of development in the mechanism whereby the spiritual may be known, and whereby He may, and eventually will, be contacted. |
Đó là một câu hỏi đã được nêu ra dưới nhiều hình thức khác nhau bởi những người nam và nữ thuộc mọi trường phái tư tưởng—bởi những người có tôn giáo, những người hỏi rằng:—“Vì sao Thượng đế lại sáng tạo nói chung? Vì sao sự tồn tại lại bị áp đặt lên tất cả mọi người?”; bởi các nhà khoa học trong cuộc truy tầm chân lý tối hậu và trong nỗ lực tìm ra động cơ của mọi điều được thấy, cũng như giải thích đời sống cảm giác; bởi các triết gia trong cuộc tìm kiếm cũng chuyên cần không kém đối với tính chủ quan linh hoạt đang biểu lộ qua mọi khoa học đạo đức và luân lý trong mọi nền văn minh và giữa mọi dân tộc; bởi nhà sinh vật học trong sự chuyên chú bền bỉ nhằm khám phá nguồn gốc của sự sống, và trong nỗ lực mãnh liệt của ông để giải thích nguyên khí sự sống vốn luôn luôn lẩn tránh các cuộc khảo sát của ông; bởi nhà toán học, người khi xử lý phương diện hình tướng của biểu hiện trong mọi cấp độ toán học, đi đến kết luận rằng Thượng đế hình học hóa, rằng định luật và quy luật thấm khắp một cách phổ quát, rằng cái một tồn tại nhờ cái nhiều, nhưng vẫn không thể giải quyết vấn đề xem bản sắc đang hình học hóa ấy là ai. Vì vậy các vấn đề vẫn tồn tại, và mọi con đường tiếp cận khác nhau (trong nỗ lực tìm ra lời giải) đều kết thúc trong ngõ cụt của giả thuyết, và trong sự thừa nhận một cái gì đó tối hậu có bản chất quá đỗi khó nắm bắt, đến nỗi con người dường như buộc phải giả định một nguồn năng lượng, của sự sống, của trí tuệ, và gọi nó bằng nhiều tên khác nhau tùy theo xu hướng (tôn giáo, khoa học hay triết học) của trí tuệ họ. Thượng đế, Trí Tuệ Vũ Trụ, Năng lượng, Mãnh lực, Cái Tuyệt Đối, Đấng Vô Danh,—những thuật ngữ này cùng nhiều thuật ngữ khác bị buộc phải thốt ra từ môi miệng của những ai, bằng phương diện hình tướng, tìm kiếm Kẻ Chận Ngõ bên trong hình tướng mà vẫn chưa thể tìm thấy Ngài. Sự thất bại trong việc tìm thấy Ngài là do những giới hạn của bộ não hồng trần, và do sự thiếu phát triển của bộ máy nhờ đó cái tinh thần có thể được biết đến, và nhờ đó Ngài có thể, và cuối cùng sẽ, được tiếp xúc. |
|
The problem of duality is the problem of existence itself, and cannot be solved by the man who refuses to recognise the possibility of two occult facts: |
Vấn đề nhị nguyên tính là chính vấn đề của sự tồn tại, và không thể được giải quyết bởi người nào từ chối thừa nhận khả năng của hai sự kiện huyền bí: |
|
1. That the entire solar system embodies the consciousness of an Entity, who originates on planes entirely without the solar ring-pass-not. |
1. Rằng toàn bộ hệ mặt trời thể hiện tâm thức của một Thực Thể, Đấng khởi nguyên trên những cõi hoàn toàn ở ngoài vòng-giới-hạn thái dương. |
|
2. That manifestation is periodical and that the Law of Rebirth is the method that evolution takes in dealing with a man, a planetary Logos, and a solar Logos. Hence, the emphasis laid in the Proem of the Secret Doctrine on the three fundamentals, (I, 42-44) |
2. Rằng biểu hiện có tính chu kỳ và Định luật Tái Sinh là phương pháp mà tiến hoá sử dụng khi xử lý một con người, một Hành Tinh Thượng đế, và một Thái dương Thượng đế. Do đó, sự nhấn mạnh được đặt trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm vào ba chân lý căn bản, (I, 42-44) |
|
a. The Boundless Immutable Principle and |
a. Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến và |
|
b. The periodicity of the Universe. |
b. tính chu kỳ của Vũ Trụ. |
|
c. The identity of all souls with the Oversoul. |
c. bản sắc của mọi linh hồn với đại hồn. |
|
When scientists recognise these two facts then their explanations will take a different line and the truth, as it is, will begin to illuminate their reason. Few men are yet ready for illumination, which is simply the light of the [Page 239] intuition breaking through the barriers that the rational faculty has erected. The duality of the solar system will eventually be recognised as dependent upon the following factors: |
Khi các nhà khoa học thừa nhận hai sự kiện này thì các giải thích của họ sẽ đi theo một đường hướng khác và chân lý, đúng như nó là, sẽ bắt đầu soi sáng lý trí của họ. Chưa có nhiều người sẵn sàng cho sự soi sáng, vốn chỉ đơn giản là ánh sáng của [Page 239] trực giác xuyên thủng những rào cản mà năng lực lý trí đã dựng lên. Nhị nguyên tính của hệ mặt trời cuối cùng sẽ được thừa nhận là tùy thuộc vào các yếu tố sau: |
|
a. Existence itself. |
a. Chính sự tồn tại. |
|
b. Time and space. |
b. Thời gian và không gian. |
|
c. The quality of desire or necessity. |
c. Phẩm tính của dục vọng hay của sự cần thiết. |
|
d. The acquisitive faculty inherent in life itself. This faculty, by the means of motion, gathers to itself the material whereby it achieves its desire, whereby it fabricates the form through which expression is sought, and whereby it confines itself within the prison of the sheath in order to gain experience. |
d. Năng lực thủ đắc vốn cố hữu trong chính sự sống. Năng lực này, bằng phương tiện của chuyển động, thu hút về mình vật chất nhờ đó nó đạt được dục vọng của mình, nhờ đó nó tạo tác hình tướng qua đó sự biểu lộ được tìm kiếm, và nhờ đó nó tự giam mình trong ngục tù của lớp vỏ để thu nhận kinh nghiệm. |
|
Giả định cho rằng lý thuyết này mặc nhiên thừa nhận một Trí Tuệ hùng vĩ hoạt động như thế qua một kế hoạch có trật tự, và Đấng một cách hữu thức mang lấy hình tướng và nhập thể để thực hiện những mục đích riêng biệt của Ngài, là đúng. Nhưng giả thuyết này chỉ là sự kiện nền tảng nhất nằm bên dưới giáo huấn phương Đông, và là điều phần lớn được chấp nhận, dù được diễn đạt và nhìn nhận khác nhau, bởi các nhà tư tưởng thuộc mọi trường phái trên khắp địa cầu. Ngay cả quan niệm này cũng chỉ là một sự trình bày từng phần của Ý Tưởng thực sự, nhưng do những giới hạn của con người ở giai đoạn tiến hoá này, nó đủ làm nền tảng công tác để y có thể dựng nên ngôi đền chân lý của mình. |
|
|
This Entity, Whom we call the solar Logos, is in no sense the same as the personal God of the Christian, who is no more nor less than man himself, expanded into a being of awful power, and subject to the virtues and vices of man himself. The solar Logos is more than man, for He is the sumtotal of all the evolutions within the entire solar system, including the human, which is an evolution standing at a middle point in relation to the other evolutions. On one side of him are ranged hosts of beings who are more than human, and who, in [Page 240] past kalpas, reached and passed the stage where man now is; on the other side are hosts of the subhuman evolutions who in future kalpas will achieve the stage of humanity. Man stands midway between the two, and is at the point of balance; herein lies his problem. He does not partake wholly of the material side of evolution, nor is he wholly the expression of the third Logos, the Brahma aspect of the Deity, Who is an expression of pure energy or intelligence, motivating that tenuous something which we call substance. He is not wholly Spirit, the expression of the first Logos, the Mahadeva aspect, which is an expression of pure will or necessitous desire, impelling to manifestation. It is the fundamental motive itself or the great will to be. Man is a product of the union of the two; he is the meeting place of matter or active intelligent substance, and of Spirit or the basic will. He is the child born of their marriage or at-one-ment. He assumes objectivity in order to express that which is in each of the two opposites, plus the result of their merging in himself. |
Thực Thể này, Đấng mà chúng ta gọi là Thái dương Thượng đế, tuyệt nhiên không đồng nhất với vị Thượng đế có tính cách cá nhân của người Cơ Đốc, vốn không hơn không kém chính là con người được phóng đại thành một hữu thể có quyền năng đáng sợ, và chịu những đức hạnh cùng tật xấu của chính con người. Thái dương Thượng đế còn hơn con người, vì Ngài là tổng thể của mọi cuộc tiến hoá trong toàn bộ hệ mặt trời, kể cả cuộc tiến hoá nhân loại, là một cuộc tiến hoá đứng ở điểm giữa trong tương quan với các cuộc tiến hoá khác. Về một phía của y là vô số hữu thể cao hơn con người, những hữu thể mà trong [Page 240] các kalpa trước đây đã đạt đến và vượt qua giai đoạn mà con người hiện đang ở; về phía kia là vô số các cuộc tiến hoá dưới nhân loại, những cuộc tiến hoá mà trong các kalpa tương lai sẽ đạt đến giai đoạn nhân loại. Con người đứng ở giữa hai bên, và ở tại điểm quân bình; chính trong đó có vấn đề của y. Y không hoàn toàn dự phần vào phương diện vật chất của tiến hoá, cũng không hoàn toàn là biểu lộ của Thượng đế thứ ba, phương diện Brahma của Thượng đế, Đấng là biểu lộ của năng lượng thuần túy hay trí tuệ, thúc đẩy cái gì đó vi tế mà chúng ta gọi là chất liệu. Y cũng không hoàn toàn là Tinh thần, biểu lộ của Thượng đế thứ nhất, phương diện Mahadeva, vốn là biểu lộ của ý chí thuần túy hay dục vọng tất yếu, thúc đẩy đến biểu hiện. Đó là chính động cơ căn bản hay đại ý chí muốn hiện hữu. Con người là sản phẩm của sự kết hợp của hai điều ấy; y là nơi gặp gỡ của vật chất hay chất liệu trí tuệ hoạt động, và của Tinh thần hay ý chí căn bản. Y là đứa con sinh ra từ cuộc hôn phối hay sự hợp nhất của chúng. Y mang lấy tính khách quan để biểu lộ điều hiện diện trong mỗi một của hai đối cực, cộng thêm kết quả của sự hòa nhập của chúng trong chính y. |
|
2. Its Nature and Duality. |
2. Bản Chất và Nhị Nguyên Tính của Nó. |
|
In terms of quality what have we? Active intelligence at one with will or power produces that “Son of necessity” (S.D., I,74) (as H. P. B. expresses it) Who embodies intelligence, will or desire, and their united latent demonstration, love-wisdom. |
Xét theo phẩm tính thì chúng ta có gì? Trí tuệ hoạt động hợp nhất với ý chí hay quyền năng tạo ra “Con của sự cần thiết” ấy (S.D., I,74) (như H. P. B. diễn tả) Đấng thể hiện trí tuệ, ý chí hay dục vọng, và sự biểu lộ tiềm tàng hợp nhất của chúng, bác ái-minh triết. |
|
In terms of Fire how might we express an analogous thought? The fire latent in matter—itself a product of an earlier manifestation of the same cosmic Identity, or the relatively perfected quality worked out by Him in a previous cosmic incarnation—is set in motion again by the desire of that same Identity to circle once more the wheel of rebirth. That “fire by friction” produces heat and radiation and calls forth a reaction from its [Page 241] opposite “electric fire” or spirit. Here we have the thought of the Ray striking through matter, for the action of electric fire is ever forward, as earlier suggested. The one Ray “electric fire” drops into matter. This is the systemic marriage of the Father and the Mother. The result is the blending of these two fires, and their united production of that expression of fire which we call “solar fire.” Thus is produced the Son. Active Intelligence and Will are united and love-wisdom, when perfected through evolution, will be the outcome. |
Xét theo Lửa thì chúng ta có thể diễn đạt một tư tưởng tương tự như thế nào? Ngọn lửa tiềm ẩn trong vật chất—bản thân nó là sản phẩm của một biểu hiện trước đó của cùng Bản Sắc vũ trụ ấy, hay phẩm tính tương đối toàn hảo do Ngài khai triển trong một lần nhập thể vũ trụ trước đây—lại được đặt vào chuyển động bởi dục vọng của chính Bản Sắc ấy muốn một lần nữa quay vòng bánh xe tái sinh. “Lửa ma sát” ấy tạo ra nhiệt và bức xạ, và gọi ra một phản ứng từ [Page 241] đối cực của nó là “Lửa Điện” hay tinh thần. Ở đây chúng ta có tư tưởng về cung xuyên qua vật chất, vì tác động của Lửa Điện luôn luôn hướng về phía trước, như đã gợi ý trước đây. Cung duy nhất “Lửa Điện” giáng vào vật chất. Đây là cuộc hôn phối có tính hệ thống của Cha và Mẹ. Kết quả là sự hòa trộn của hai ngọn lửa này, và sự sản sinh hợp nhất của chúng ra biểu lộ của lửa mà chúng ta gọi là “Lửa Thái dương.” Như vậy Con được sinh ra. Trí tuệ Hoạt động và Ý chí được hợp nhất và bác ái-minh triết, khi được hoàn thiện qua tiến hoá, sẽ là kết quả. |
|
Electric fire or Spirit, united to fire by friction (heat) produces solar fire or light. |
Lửa Điện hay Tinh thần, hợp nhất với Lửa ma sát (nhiệt) tạo ra Lửa Thái dương hay ánh sáng. |
|
Hence, when the cosmic Entity takes form, there is added to the active intelligence which is the product of His earlier incarnation, a further quality, which is inherent and potential, that of love-wisdom. This is the ability to love that which is objective or the not-self, and ultimately to use with wisdom the form. Pure will is as yet an abstraction, and will only be brought into full development in another incarnation of the Logos. Mind or Intelligence is not an abstraction; it is something that IS. Neither is love-wisdom an abstraction. It is in process of development or bringing into manifestation, and is the aspect of the Son. |
Do đó, khi Thực Thể vũ trụ mang lấy hình tướng, thì ngoài trí tuệ hoạt động vốn là sản phẩm của lần nhập thể trước của Ngài, còn được thêm vào một phẩm tính nữa, vốn cố hữu và tiềm tàng, đó là bác ái-minh triết. Đây là khả năng yêu thương cái khách quan hay cái không-phải-ngã, và cuối cùng sử dụng một cách minh triết hình tướng. Ý chí thuần túy hiện vẫn còn là một sự trừu tượng, và chỉ sẽ được đưa đến sự phát triển đầy đủ trong một lần nhập thể khác của Thượng đế. Trí tuệ hay Trí tuệ không phải là một sự trừu tượng; nó là một cái gì đó HIỆN HỮU. Bác ái-minh triết cũng không phải là một sự trừu tượng. Nó đang trong tiến trình phát triển hay được đưa vào biểu hiện, và là phương diện của Con. |
|
What is above stated is in no way new, but these thoughts on essential duality are gathered together, in order to convey to our minds the necessity of viewing these things from the standpoint of their place in the cosmic scheme, and not from the point of view of our own planetary evolution and of man himself. Humanity is that evolution through which the Son aspect is to express itself most perfectly in this cosmic incarnation. Man blends the pairs of opposites, and the three fires meet in him. He is the best expression of the manasic principle and might be considered, from one very interesting [Page 242] standpoint, the chef-d’oeuvre of Brahma. He is the sheath for the life of God; he is the individualised consciousness of the Logos, manifesting through the seven divine Manasaputras, or Heavenly Men, in Whose bodies each unit of the human family finds place. He is the Vishnu aspect in process of development through the intelligence of Brahma, impelled by the will of Mahadeva. Therefore, in a peculiar sense man is very important, as he is the place of at-one-ment for all the three aspects; nevertheless, he is very unimportant for he is not the apex of the triangle, but simply the middle point, if we view the triangle thus: |
Điều được trình bày ở trên hoàn toàn không mới, nhưng những tư tưởng này về nhị nguyên tính cốt yếu được tập hợp lại để truyền đạt cho trí tuệ chúng ta sự cần thiết phải nhìn những điều này từ quan điểm vị trí của chúng trong hệ vũ trụ, chứ không phải từ quan điểm của tiến hoá hành tinh riêng của chúng ta và của chính con người. Nhân loại là cuộc tiến hoá mà qua đó phương diện Con sẽ biểu lộ chính nó một cách hoàn hảo nhất trong lần nhập thể vũ trụ này. Con người hòa hợp các cặp đối cực, và ba ngọn lửa gặp nhau trong y. Y là biểu lộ tốt nhất của nguyên khí manas và có thể được xem, từ một quan điểm rất thú vị [Page 242] nào đó, là kiệt tác của Brahma. Y là lớp vỏ cho sự sống của Thượng đế; y là tâm thức biệt ngã hóa của Thượng đế, biểu lộ qua bảy Manasaputra thiêng liêng, hay các Đấng Thiên Nhân, trong các thể của Các Ngài mỗi đơn vị của gia đình nhân loại đều tìm được chỗ đứng. Y là phương diện Vishnu đang trong tiến trình phát triển qua trí tuệ của Brahma, được thúc đẩy bởi ý chí của Mahadeva. Vì vậy, theo một ý nghĩa đặc biệt, con người rất quan trọng, vì y là nơi hợp nhất của cả ba phương diện; tuy nhiên, y lại rất không quan trọng vì y không phải là đỉnh của tam giác, mà chỉ đơn giản là điểm giữa, nếu chúng ta nhìn tam giác như sau: |
|
Spirit-Father. |
Tinh thần-Cha. |
|
The Son or man. |
Con hay con người. |
|
Matter-Mother. |
Vật chất-Mẹ. |
|
The evolution of the Son, or the cosmic incarnation of the Christ, is of immense importance in the plans of the Being greater than the solar Logos, HE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID. The animating principles of allied constellations and systems watch the progress of the evolution of the Son with keenest attention. |
Sự tiến hoá của Con, hay lần nhập thể vũ trụ của Đức Christ, có tầm quan trọng vô cùng lớn trong các kế hoạch của Hữu Thể vĩ đại hơn Thái dương Thượng đế, Đấng Bất Khả Tư Nghị. Các nguyên khí linh hoạt của những chòm sao và hệ liên kết theo dõi tiến trình tiến hoá của Con với sự chú tâm sâu sắc nhất. |
|
Just as the planet called the earth is regarded as the turning point or the battle-ground between Spirit and matter, and is therefore, from that very consideration, of great importance, so our solar system holds an analogous place in the cosmic scheme. The cosmic man, the solar Arjuna, is wrestling for His individualised perfected self-consciousness, and for freedom and liberation from the form, and from the not-self. So man on this planet battles for similar ideals on his tiny scale; so battle in heaven Michael and His Angels, or the divine Heavenly Men, Whose problem is the same on the higher scale. |
Cũng như hành tinh được gọi là địa cầu được xem là điểm xoay chuyển hay chiến trường giữa Tinh thần và vật chất, và vì thế, từ chính sự xét đoán ấy, có tầm quan trọng lớn lao, thì hệ mặt trời của chúng ta cũng giữ một vị trí tương tự trong hệ vũ trụ. Con người vũ trụ, Arjuna thái dương, đang vật lộn để giành lấy ngã thức biệt ngã hóa toàn hảo của Ngài, và để đạt tự do cùng giải thoát khỏi hình tướng, khỏi cái không-phải-ngã. Vì vậy con người trên hành tinh này chiến đấu cho những lý tưởng tương tự trên quy mô nhỏ bé của mình; vì vậy trên thiên giới Michael và các Thiên Thần của Ngài, hay các Đấng Thiên Nhân thiêng liêng, chiến đấu, mà vấn đề của Các Ngài cũng y hệt như thế trên cấp độ cao hơn. |
|
Duality, and the interplay between the two produces: [Page 243] |
Nhị nguyên tính, và sự tương tác giữa hai mặt ấy tạo ra: [Page 243] |
|
a. Objectivity, or the manifested Son or Sun. |
a. Tính khách quan, hay Con hay Mặt Trời biểu hiện. |
|
b. Evolution itself. |
b. Chính tiến hoá. |
|
c. The development of quality. |
c. Sự phát triển của phẩm tính. |
|
d. Time and space. |
d. Thời gian và không gian. |
|
The questions we are now engaged in answering embody certain fundamental aspects of manifestation, viewed principally from the subjective or psychic angle. |
Những câu hỏi mà hiện nay chúng ta đang bận trả lời bao hàm một số phương diện căn bản của biểu hiện, được nhìn chủ yếu từ góc độ chủ quan hay thông linh. |
IV. WHAT IS CONSCIOUSNESS? WHAT IS ITS PLACE IN THE SCHEME OF THINGS? |
IV. TÂM THỨC LÀ GÌ? VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG SỰ VẬT LÀ GÌ? |
|
Consciousness might be defined as the faculty of apprehension, and concerns primarily the relation of the Self to the not-self, of the Knower to the Known, and of the Thinker to that which is thought about. All these definitions involve the acceptance of the idea of duality, of that which is objective and of that which lies back of objectivity. (99) |
Tâm thức có thể được định nghĩa là năng lực lĩnh hội, và chủ yếu liên quan đến mối liên hệ của Ngã với cái không-phải-ngã, của thức giả với cái được biết, và của nhà tư tưởng với điều được suy tưởng đến. Tất cả những định nghĩa này đều bao hàm sự chấp nhận ý tưởng về nhị nguyên tính, về cái khách quan và về cái nằm phía sau tính khách quan. (99) |
|
(99) “Tâm thức là hạt giống vũ trụ của toàn tri siêu vũ trụ. Nó có tiềm năng nảy nở thành tâm thức thiêng liêng.”—S. D., III, 555. |
|
|
The universe is an aggregate of states of consciousness.—S. D., II, 633. |
Vũ trụ là một tổng thể của các trạng thái tâm thức.—S. D., II, 633. |
|
Consciousness may be roughly divided into: |
Tâm thức có thể được phân chia đại khái thành: |
|
1. Absolute or God Consciousness….. Unmanifested Logos. |
1. Tâm thức Tuyệt đối hay Tâm thức Thượng đế….. Thượng đế Không Biểu Hiện. |
|
“Ta là Cái Ta là.” |
|
|
2. Universal or Group Consciousness… Manifested Logos. |
2. Tâm thức Phổ quát hay Tâm thức Nhóm… Thượng đế Biểu Hiện. |
|
“I am That.”…. Consciousness of planetary Logos. |
“Ta là Cái Đó.”…. Tâm thức của Hành Tinh Thượng đế. |
|
3. Individual or Self-Consciousness…. Human consciousness. |
3. Tâm thức Cá nhân hay Ngã thức…. Tâm thức con người. |
|
“I am.” |
“Ta là.” |
|
4. Consciousness or Atomic |
4. Tâm thức hay Tâm thức |
|
Consciousness… Sub-human consciousness. |
Nguyên tử… Tâm thức dưới nhân loại. |
|
The goal of consciousness for: |
Mục tiêu của tâm thức đối với: |
|
1. A planetary Logos……. Absolute consciousness. |
1. Một Hành Tinh Thượng đế……. Tâm thức tuyệt đối. |
|
2. Man……………… Group consciousness. |
2. Con người…………….. Tâm thức nhóm. |
|
3. Atom…………….. Self-consciousness. |
3. Nguyên tử…………….. Ngã thức. |
|
The Logos is the Macrocosm for Man.—S. D., I, 288, 295. |
Thượng đế là Đại thiên địa đối với Con người.—S. D., I, 288, 295. |
|
Man is the Macrocosm for the Atom…. |
Con người là Đại thiên địa đối với Nguyên tử…. |
|
Summation: The Life and the Lives.—S. D., I, 281, 282. (back) |
Tổng kết: Sự sống và các sự sống.—S. D., I, 281, 282. (back) |
|
Consciousness expresses that which might be regarded as the middle point in manifestation. It does not involve entirely the pole of Spirit. It is produced by the union of the two poles, and the process of interplay and of adaptation that necessarily ensues. It might be tabulated as follows, in an effort to clarify by visualisation: [Page 244] |
Tâm thức biểu lộ điều có thể được xem là điểm giữa trong biểu hiện. Nó không hoàn toàn bao hàm cực của Tinh thần. Nó được tạo ra bởi sự kết hợp của hai cực, và bởi tiến trình tương tác cùng thích ứng tất yếu tiếp theo. Có thể lập bảng như sau, nhằm làm sáng tỏ bằng sự hình dung: [Page 244] |
|
First Pole |
The Point of Union |
Second Pole |
|
First Logos |
Second Logos |
Third Logos. |
|
Mahadeva |
Vishnu |
Brahma. |
|
Will |
Wisdom-Love |
Active Intelligence. |
|
Spirit |
Consciousness |
Matter. |
|
Father |
Son |
Mother. |
|
Monad |
Ego |
Personality. |
|
The Self |
The relation between |
The Not-Self. |
|
The Knower |
Knowledge |
The Known. |
|
Life |
Realisation |
Form. |
|
One could go on piling up terms, but the above suffices to demonstrate the relationship between the threefold Logos, during manifestation. Emphasis must be laid upon the above fact: The solar system embodies the above logoic relationship during evolutionary objectivity, and the whole aim of progressive development is to bring the Son of the Father and the Mother, to a point of full realisation, of complete self-consciousness, and to full and active knowledge. This Son is objectively the solar system, inherently will or power, and subjectively He is love-wisdom. This latter quality is in process of development through the utilisation of active intelligence. |
Người ta có thể tiếp tục chồng chất thêm các thuật ngữ, nhưng những điều trên đủ để chứng minh mối liên hệ giữa Thượng đế tam phân, trong thời kỳ biểu hiện. Phải nhấn mạnh vào sự kiện trên: Hệ mặt trời thể hiện mối liên hệ logoic nói trên trong tính khách quan tiến hoá, và toàn bộ mục tiêu của sự phát triển tiến bộ là đưa Con của Cha và Mẹ đến một điểm chứng nghiệm đầy đủ, ngã thức hoàn toàn, và tri thức đầy đủ cùng tích cực. Con này một cách khách quan là hệ mặt trời, một cách cố hữu là ý chí hay quyền năng, và một cách chủ quan Ngài là bác ái-minh triết. Phẩm tính sau này đang trong tiến trình phát triển qua việc sử dụng trí tuệ hoạt động. |
|
The three manifested Persons of the logoic Triad seek full development by means of each other. The will to be, of the Mahadeva aspect, seeks, with the aid of the intelligence of Brahma, to develop love-wisdom, or the Son aspect, the Vishnu aspect. In the microcosmic system, the reflection of the threefold Logos, the man is endeavoring through the three vehicles to attain the same development on his own plane. On higher planes the Heavenly Men (through atma-buddhi-manas) aim at a similar progression. These two, the Heavenly Men plus the units in Their bodies, which are composed of deva and human monads form, in their totality, the Grand Heavenly Man. When man achieves, then the Heavenly Men likewise achieve; when They reach Their full growth and knowledge, [Page 245] and are self-conscious on all planes, then the Son achieves, and the solar system (His body of manifestation and experience) has served its purpose. The Son is liberated. Extend the idea of this threefold development of consciousness to the Logos in a still larger cycle (to that of the three solar systems of which this is the middle one) and we have repeated on cosmic levels in connection with the Logos, the process of the development of man in the three worlds. |
Ba Ngôi biểu hiện của Tam nguyên tinh thần logoic tìm kiếm sự phát triển đầy đủ bằng phương tiện của nhau. Ý chí muốn hiện hữu, của phương diện Mahadeva, tìm cách, với sự trợ giúp của trí tuệ của Brahma, phát triển bác ái-minh triết, hay phương diện Con, phương diện Vishnu. Trong hệ vi mô, là phản ánh của Thượng đế tam phân, con người đang nỗ lực qua ba vận cụ để đạt đến cùng một sự phát triển trên cõi riêng của mình. Trên các cõi cao hơn, các Đấng Thiên Nhân (qua atma-buddhi-manas) nhắm đến một sự tiến triển tương tự. Hai điều này, các Đấng Thiên Nhân cộng với các đơn vị trong các thể của Các Ngài, vốn được cấu thành bởi các chân thần thiên thần và con người, tạo thành, trong tổng thể của chúng, Đại Đấng Thiên Nhân. Khi con người đạt được, thì các Đấng Thiên Nhân cũng đạt được; khi Các Ngài đạt đến sự tăng trưởng và tri thức đầy đủ của mình, [Page 245] và có ngã thức trên mọi cõi, thì Con đạt được, và hệ mặt trời (thể biểu hiện và kinh nghiệm của Ngài) đã phục vụ xong mục đích của nó. Con được giải thoát. Mở rộng ý tưởng về sự phát triển tâm thức tam phân này đến Thượng đế trong một chu kỳ còn lớn hơn nữa (đó là chu kỳ của ba hệ mặt trời mà hệ này là hệ ở giữa) thì chúng ta có sự lặp lại trên các cấp độ vũ trụ, liên quan đến Thượng đế, của tiến trình phát triển của con người trong ba cõi thấp. |
|
THE MACROCOSM |
ĐẠI THIÊN ĐỊA |
|
The first solar system |
embodied |
the “I am” principle. |
|
The second solar system |
is embodying |
the “I am that” principle. |
|
The third solar system |
will embody |
the “I am that I am” principle. |
|
THE MICROCOSM |
TIỂU THIÊN ĐỊA |
|
The first manifestation, the Personality, embodies the “I am” principle. |
Biểu hiện thứ nhất, phàm ngã, thể hiện nguyên lý “Ta là”. |
|
The second manifestation, the Ego, is embodying the “I am that” principle. |
Biểu hiện thứ hai, chân ngã, đang thể hiện nguyên lý “Ta là Cái Đó”. |
|
The third manifestation, the Monad, will embody the “I am that I am” principle. |
Biểu hiện thứ ba, chân thần, sẽ thể hiện nguyên lý “Ta là Cái Ta là”. |
|
Thus the different factors play their part in the general scheme of things, and all are interrelated, and all are interested parts and members one of the other. |
Như vậy các yếu tố khác nhau đều đóng vai trò của mình trong hệ thống sự vật tổng quát, và tất cả đều liên hệ với nhau, và tất cả đều là những phần cùng những thành viên hữu quan của nhau. |
V. IS THERE A DIRECT ANALOGY BETWEEN THE DEVELOPMENT OF A SYSTEM, A PLANET, A MAN AND AN ATOM? |
V. CÓ MỘT SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRỰC TIẾP GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT HỆ, MỘT HÀNH TINH, MỘT CON NGƯỜI VÀ MỘT NGUYÊN TỬ KHÔNG? |
|
If by this question the desire exists to demonstrate exact similarity, the answer must be: No, the analogy is never exact in detail but only in certain broad basic correspondences. In all the four factors, there will be found unchangeable points of resemblance, but in development the stages of growth may not appear the same in detailed evolution, viewed from the standpoint of a man in the [Page 246] three worlds, handicapped as he is by limited apprehension. The points of resemblance between the four might be summed up as follows, taking the atom on the physical plane as our starting point, and developing the concept from stage to stage: |
Nếu bởi câu hỏi này mà có mong muốn chứng minh một sự tương tự chính xác, thì câu trả lời phải là: Không, sự tương đồng không bao giờ chính xác trong chi tiết mà chỉ trong một số tương ứng căn bản rộng lớn. Trong cả bốn yếu tố, sẽ thấy có những điểm giống nhau bất biến, nhưng trong sự phát triển, các giai đoạn tăng trưởng có thể không xuất hiện giống nhau trong tiến hoá chi tiết, khi được nhìn từ quan điểm của một con người trong [Page 246] ba cõi thấp, bị hạn chế như y bởi năng lực lĩnh hội giới hạn. Những điểm tương đồng giữa bốn yếu tố có thể được tóm lược như sau, lấy nguyên tử trên cõi hồng trần làm điểm khởi đầu, và phát triển khái niệm từ giai đoạn này sang giai đoạn khác: |
|
Một Nguyên tử. (101) |
|
|
(101) In connection with the Atom, the Secret Doctrine says: |
(101) Liên quan đến Nguyên tử, Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng: |
|
1. Absolute intelligence thrills through every atom. S. D., I, 298. |
1. Trí tuệ tuyệt đối rung động xuyên qua mọi nguyên tử. S. D., I, 298. |
|
2. Wherever there is an atom of matter, there is life. S. D., I, 245, 269, 279. |
2. Bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, ở đó có sự sống. S. D., I, 245, 269, 279. |
|
3. The atom is a concrete manifestation of the Universal Energy. S. D., I, 281. |
3. Nguyên tử là một biểu hiện cụ thể của Năng Lượng Vũ Trụ. S. D., I, 281. |
|
4. The same invisible lives compose the atoms, etc.. S. D., I, 218. |
4. Cùng những sự sống vô hình ấy cấu thành các nguyên tử, v.v.. S. D., I, 218. |
|
5. Every atom in the universe has the potentiality of self-consciousness. S. D., I, 132; II, 742. |
5. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều có tiềm năng ngã thức. S. D., I, 132; II, 742. |
|
6. Atoms and souls are synonymous in the language of Initiates. S. D., I., 620, 622. |
6. Nguyên tử và linh hồn là đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các điểm đạo đồ. S. D., I., 620, 622. |
|
7. The atom belongs wholly to the domain of metaphysics. S. D., I, 559. |
7. Nguyên tử hoàn toàn thuộc về lĩnh vực siêu hình học. S. D., I, 559. |
|
8. Thượng đế ở trong mọi nguyên tử. S. D., I, 89, 183. |
|
|
9. Every atom is doomed to incessant differentiation. S. D., I, 167. |
9. Mọi nguyên tử đều bị định mệnh phải biến phân không ngừng. S. D., I, 167. |
|
l0. The object of the evolution of the atom is Man. S. D., I, 206. |
10. Mục tiêu của sự tiến hoá của nguyên tử là Con người. S. D., I, 206. |
|
11. A germ exists in the centre of every atom. S. D., I, 87; II, 622. |
11. Một mầm sống tồn tại ở trung tâm của mọi nguyên tử. S. D., I, 87; II, 622. |
|
12. There is heat in every atom. S. D., I, 112. |
12. Có nhiệt trong mọi nguyên tử. S. D., I, 112. |
|
13. Every atom has 7 planes of being. S. D., I, 174. |
13. Mọi nguyên tử có 7 cõi hiện hữu. S. D., I, 174. |
|
14. Atoms are vibrations. S. D., I, 694. (back) |
14. Các nguyên tử là những rung động. S. D., I, 694. (back) |
|
a. An atom consists of a spheroidal form containing within itself a nucleus of life. |
a. Một nguyên tử gồm một hình cầu chứa trong chính nó một hạt nhân sự sống. |
|
b. An atom contains within itself differentiated molecules, which in their totality form the atom itself. For instance, we are told that the physical atom contains within its periphery fourteen thousand millions of the archetypal atoms, yet these myriads demonstrate as one. |
b. Một nguyên tử chứa trong chính nó các phân tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành chính nguyên tử ấy. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng nguyên tử hồng trần chứa trong chu vi của nó mười bốn ngàn triệu nguyên tử nguyên mẫu, tuy nhiên vô số ấy lại biểu lộ như một. |
|
c. An atom is distinguished by activity, and shows forth the qualities of: |
c. Một nguyên tử được phân biệt bởi hoạt động, và biểu lộ các phẩm tính của: |
|
a. Rotary motion. |
a. Chuyển động quay. |
|
b. Discriminative power. |
b. Năng lực phân biện. |
|
c. Ability to develop. |
c. Khả năng phát triển. |
|
d. An atom, we are told, contains within itself three major spirals and seven lesser (102). which ten are in process [Page 247] of vitalisation, but have not yet attained full activity. Only four are functioning at this stage, and the fifth is in process of development. |
d. Một nguyên tử, như chúng ta được cho biết, chứa trong chính nó ba loa tuyến lớn và bảy (102). loa tuyến nhỏ, mà mười loa tuyến ấy đang trong tiến trình [Page 247] được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt đến hoạt động đầy đủ. Chỉ bốn loa tuyến đang hoạt động ở giai đoạn này, và loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình phát triển. |
|
(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back) |
(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back) |
|
e. An atom is governed by the Law of Economy, is coming slowly under the Law of Attraction, and will eventually come under the Law of Synthesis. |
e. Một nguyên tử được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, đang chậm rãi đi vào dưới Định luật Hấp Dẫn, và cuối cùng sẽ đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. |
|
f. An atom finds its place within all forms; it is the aggregation of atoms that produces form. |
f. Một nguyên tử tìm thấy vị trí của nó trong mọi hình tướng; chính sự tập hợp các nguyên tử tạo ra hình tướng. |
|
g. Its responsiveness to outer stimulation: |
g. Tính đáp ứng của nó đối với kích thích bên ngoài: |
|
Electrical stimulation, affecting its objective form. |
Kích thích điện, tác động đến hình tướng khách quan của nó. |
|
Magnetic stimulation, acting upon its subjective life. |
Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của nó. |
|
The united effect of the two stimulations, producing consequent internal growth and development. |
Hiệu quả hợp nhất của hai loại kích thích, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển nội tại tiếp theo. |
|
An atom therefore is distinguished by: |
Vì vậy một nguyên tử được phân biệt bởi: |
|
1. Its spheroidal shape. Its ring-pass-not is definite and seen. |
1. Hình cầu của nó. Vòng-giới-hạn của nó xác định và có thể thấy được. |
|
2. Its internal arrangement, which comprises the sphere of influence of any particular atom. |
2. Sự sắp xếp nội tại của nó, bao gồm khối cầu ảnh hưởng của bất kỳ nguyên tử đặc thù nào. |
|
3. Its life-activity, or the extent to which the life at the centre animates the atom, a relative thing at this stage. |
3. Hoạt động sự sống của nó, hay mức độ mà sự sống ở trung tâm làm sinh động nguyên tử, một điều tương đối ở giai đoạn này. |
|
4. Its sevenfold inner economy in process of evolution. |
4. Cơ cấu nội tại thất phân của nó đang trong tiến trình tiến hoá. |
|
5. Its eventual synthesis internally from the seven into the three. |
5. Sự tổng hợp nội tại cuối cùng của nó từ bảy vào ba. |
|
6. Its group relation. |
6. Mối liên hệ nhóm của nó. |
|
7. Its development of consciousness, or responsiveness. |
7. Sự phát triển tâm thức của nó, hay tính đáp ứng. |
|
Having predicated the above facts of the atom, we can extend the idea now to man, following the same general outline: |
Sau khi đã khẳng định các sự kiện trên về nguyên tử, giờ đây chúng ta có thể mở rộng ý tưởng ấy đến con người, theo cùng đại cương tổng quát: |
|
A Man. |
Một Con Người. |
|
a. A man is spheroidal in form, he can be seen as a circular ring-pass-not, a sphere of matter with a nucleus [Page 248] of life at the centre. In predicating this we are considering the true man in his fundamental position as the Ego, with his sphere of manifestation, the causal body,—that body which forms the middle point between Spirit and matter. |
a. Con người có hình cầu, y có thể được thấy như một vòng-giới-hạn hình tròn, một khối cầu vật chất với một hạt nhân [Page 248] sự sống ở trung tâm. Khi khẳng định điều này, chúng ta đang xét con người đích thực trong vị trí căn bản của y là chân ngã, với khối cầu biểu hiện của y, thể nguyên nhân,—thể tạo thành điểm giữa giữa Tinh thần và vật chất. |
|
b. A man contains within himself differentiated atoms, which in their totality make up the objective form of the man on the planes of his manifestation. All are animated by his life, by his persistent will-to-be; all vibrate according to the point reached by the man in evolution. As seen from the higher planes man demonstrates as a sphere (or spheres) of differentiated matter, vibrating to a certain measure, tinctured by a certain color, and rotating to a fixed key—the key of his life cycle. |
b. Con người chứa trong chính mình các nguyên tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành hình tướng khách quan của con người trên các cõi biểu hiện của y. Tất cả đều được làm sinh động bởi sự sống của y, bởi ý chí muốn hiện hữu bền bỉ của y; tất cả đều rung động tùy theo điểm mà con người đã đạt đến trong tiến hoá. Khi được nhìn từ các cõi cao hơn, con người biểu lộ như một khối cầu (hay các khối cầu) của vật chất đã biến phân, rung động theo một mức độ nhất định, nhuốm một màu sắc nhất định, và quay theo một chủ âm cố định—chủ âm của chu kỳ sự sống của y. |
|
c. A man is distinguished by activity on one or more planes in the three worlds, and shows forth the qualities of: |
c. Con người được phân biệt bởi hoạt động trên một hay nhiều cõi trong ba cõi giới, và biểu lộ các phẩm tính của: |
|
1. Rotary motion, or his particular cycling on the wheel of life, around his egoic pole. |
1. Chuyển động quay, hay chu kỳ riêng của y trên bánh xe sự sống, quanh cực chân ngã của y. |
|
2. Discriminative capacity, or the power to choose and gain experience. |
2. Năng lực phân biện, hay quyền năng chọn lựa và thu nhận kinh nghiệm. |
|
3. Ability to evolve, to increase vibration and to make contact. |
3. Khả năng tiến hoá, gia tăng rung động và tạo tiếp xúc. |
|
d. A man contains within himself three major principles,—will, love-wisdom, active intelligence or adaptability—and their differentiation into the seven principles. These, making the eventual ten of perfected manifestation, are in process of vitalisation, but have not yet attained full expression. Only four principles in man are active, and he is in process of developing the fifth, or manasic principle. Note how perfect is the analogy between man, viewed as the lower quaternary developing the principle of mind, and the atom with its four spirillae active; and the fifth in process of stimulation. |
d. Con người chứa trong chính mình ba nguyên khí lớn,—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ hoạt động hay khả năng thích ứng—và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Những nguyên khí này, tạo nên mười nguyên khí cuối cùng của biểu hiện toàn hảo, đang trong tiến trình được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt đến biểu lộ đầy đủ. Chỉ có bốn nguyên khí trong con người là hoạt động, và y đang trong tiến trình phát triển nguyên khí thứ năm, hay nguyên khí manas. Hãy lưu ý sự tương đồng hoàn hảo giữa con người, được nhìn như bộ tứ thấp đang phát triển nguyên khí trí tuệ, và nguyên tử với bốn loa tuyến của nó đang hoạt động; còn loa tuyến thứ năm thì đang trong tiến trình được kích thích. |
|
e. A man is governed by the Law of Attraction, is [Page 249] evolved through the Law of Economy, and is coming under the Law of Synthesis. Economy governs the material process with which he is not so much consciously concerned; attraction governs his connection with other units or groups, and synthesis is the law of his inner Self, of the life within the form. |
e. Con người được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, được [Page 249] tiến hoá qua Định luật Tiết Kiệm, và đang đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. Tiết kiệm chi phối tiến trình vật chất mà y không hữu thức quan tâm nhiều đến thế; hấp dẫn chi phối mối liên hệ của y với các đơn vị hay nhóm khác, và tổng hợp là định luật của Ngã bên trong của y, của sự sống bên trong hình tướng. |
|
f. Man finds his place within the group form. Egoic groups and the Heavenly Men are formed by the aggregate of human and of deva units. |
f. Con người tìm thấy vị trí của mình trong hình tướng nhóm. Các nhóm chân ngã và các Đấng Thiên Nhân được hình thành bởi sự tập hợp của các đơn vị con người và thiên thần. |
|
g. His responsiveness to outer stimulation: |
g. Tính đáp ứng của y đối với kích thích bên ngoài: |
|
a. Electrical stimulation, affecting the outer form, or pranic response. |
a. Kích thích điện, tác động đến hình tướng bên ngoài, hay đáp ứng prana. |
|
b. Magnetic stimulation, acting upon his subjective life. This emanates from his egoic group, and later from the Heavenly Man, in Whose body he is a cell. |
b. Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của y. Điều này phát ra từ nhóm chân ngã của y, và về sau từ Đấng Thiên Nhân, trong thể của Ngài y là một tế bào. |
|
c The united effect of these two stimulations, inducing steady growth and development. |
c Hiệu quả hợp nhất của hai loại kích thích này, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển đều đặn. |
|
A man is distinguished therefore by: |
Vì vậy con người được phân biệt bởi: |
|
1. His spheroidal shape. His ring-pass-not is definite and seen. |
1. Hình cầu của y. Vòng-giới-hạn của y xác định và có thể thấy được. |
|
2. His internal arrangement; his entire sphere of influence is in process of development. At present that sphere is limited and his range of activity is small. As the body egoic is developed, the nucleus of life at the centre increases its radius of control until the whole is brought under rule and government. |
2. Sự sắp xếp nội tại của y; toàn bộ khối cầu ảnh hưởng của y đang trong tiến trình phát triển. Hiện nay khối cầu ấy còn hạn chế và phạm vi hoạt động của y còn nhỏ. Khi thể chân ngã được phát triển, hạt nhân sự sống ở trung tâm gia tăng bán kính kiểm soát của nó cho đến khi toàn bộ được đưa vào dưới sự cai quản và điều hành. |
|
3. His life activity or the extent to which at any given time he demonstrates self-consciousness, or controls his threefold lower nature. |
3. Hoạt động sự sống của y hay mức độ mà vào bất kỳ thời điểm nào y biểu lộ ngã thức, hay kiểm soát bản chất thấp tam phân của mình. |
|
4. His sevenfold inner economy; the development of his seven principles. [Page 250] |
4. Cơ cấu nội tại thất phân của y; sự phát triển của bảy nguyên khí của y. [Page 250] |
|
5. His eventual internal synthesis under the working of the three laws from the seven into the three and later into the one. |
5. Sự tổng hợp nội tại cuối cùng của y dưới tác động của ba định luật từ bảy vào ba và về sau vào một. |
|
6. His group relation. |
6. Mối liên hệ nhóm của y. |
|
7. His development of consciousness, of responsiveness to contact, involving therefore the growth of awareness. |
7. Sự phát triển tâm thức của y, của tính đáp ứng đối với tiếp xúc, do đó bao hàm sự tăng trưởng của nhận biết. |
|
Một Đấng Thiên Nhân. (103) |
|
|
(103) Các Đấng Thiên Nhân này là: |
|
|
1. The sum-total of consciousness…S. D., I, 626, |
1. Tổng thể của tâm thức…S. D., I, 626, |
|
2. The Creators…S. D., I, 477, 481-485. |
2. Các Đấng Sáng Tạo…S. D., I, 477, 481-485. |
|
Compare S. D., II, 244. |
So sánh S. D., II, 244. |
|
a. They are the seven primary creations, or the taking of the etheric body by a Heavenly Man. |
a. Các Ngài là bảy sáng tạo nguyên thủy, hay việc một Đấng Thiên Nhân đảm nhận thể dĩ thái. |
|
b. They are the seven secondary creations, or the taking of the dense physical body. |
b. Các Ngài là bảy sáng tạo thứ cấp, hay việc đảm nhận thể xác hồng trần đậm đặc. |
|
Trace this in the Microcosm, and the work of the devas of the ethers in building the body. |
Hãy truy nguyên điều này trong Tiểu thiên địa, và công việc của các thiên thần của dĩ thái trong việc xây dựng thể. |
|
c. The aggregate of divine intelligence…S. D., I, 488, |
c. Tổng thể của trí tuệ thiêng liêng…S. D., I, 488, |
|
d. The mindborn Sons of Brahma…S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618. |
d. Các Con của Brahma được sinh ra từ trí tuệ…S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618. |
|
They are the logoic Quaternary, the Five, and the Seven. |
Các Ngài là Bộ Tứ của Thượng đế, Bộ Năm, và Bộ Bảy. |
|
e. The seven Rays…S. D., I, 561, S. D., II, 201. |
e. Bảy cung…S. D., I, 561, S. D., II, 201. |
|
They are the seven paths back to God……Spirit. |
Các Ngài là bảy con đường trở về với Thượng đế……Tinh thần. |
|
They are the seven principles metaphysically. |
Về mặt siêu hình học, các Ngài là bảy nguyên khí. |
|
They are the seven races physically. |
Về mặt hồng trần, các Ngài là bảy nhân loại. |
|
f. The Lords of ceaseless and untiring devotion…S. D., II, 92, |
f. Các Đấng Chúa Tể của sự tận tụy không ngừng nghỉ và không mệt mỏi…S. D., II, 92, |
|
g. The failures of the last system…S. D., II, 243, |
g. Những thất bại của hệ thống trước…S. D., II, 243, |
|
h. The polar opposites to the Pleiades…S. D., II, 579, 581. |
h. Các cực đối nghịch với chòm Pleiades…S. D., II, 579, 581. |
|
Our system is masculine occultly and the Pleiades is feminine. |
Hệ mặt trời của chúng ta, về mặt huyền bí, là nam tính còn Pleiades là nữ tính. |
|
A Heavenly Man in His planetary scheme creates in a similar manner. See S. D., II, 626. (back) |
Một Đấng Thiên Nhân trong hệ hành tinh của Ngài sáng tạo theo cách tương tự. Xem S. D., II, 626. (trở lại) |
|
a. Each Heavenly Man is likewise to be seen as spheroidal in shape. He has His ring-pass-not as has the atom and the man. This ring-pass-not comprises the entire planetary scheme; the dense physical globe of any one chain being analogous in His case to the physical body of any man, and to the atom on the physical plane. Each scheme of seven chains is the expression of the life of an Entity, Who occupies it, as does a man his body, for purposes of manifestation and in order to gain experience. |
a. Mỗi Đấng Thiên Nhân cũng được thấy là có hình cầu. Ngài có vòng-giới-hạn của Ngài cũng như nguyên tử và con người có vòng-giới-hạn của chúng. Vòng-giới-hạn này bao gồm toàn bộ hệ hành tinh; bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của bất kỳ dãy nào tương tự, trong trường hợp của Ngài, với thể xác của bất kỳ người nào, và với nguyên tử trên cõi hồng trần. Mỗi hệ gồm bảy dãy là biểu hiện của sự sống của một Thực Thể, Đấng cư ngụ trong đó như con người cư ngụ trong thể của mình, vì các mục đích biểu hiện và để đạt được kinh nghiệm. |
|
[Page 251] b. A Heavenly Man contains within Himself that which corresponds to the cells within the vehicles of expression of a human being. The atoms or cells in His body are made up of the aggregate of the deva and human units who vibrate to His key note, and who respond to the measure of His life. All are held together and animated by His will to be, and all vibrate according to the point achieved by Him in evolution. From the cosmic standpoint a Heavenly Man can be seen as a sphere of wondrous life, which includes within its radius of influence the vibratory capacity of an entire planetary scheme. He vibrates to a certain measure, which can be estimated by the activity of the life pulsating at the centre of the sphere; the entire planetary scheme is tinctured by a certain color, is rotating to a fixed key which is the key of His life cycle within the still greater mahamanvantara or logoic cycle. |
[Page 251] b. Một Đấng Thiên Nhân chứa trong chính Ngài điều tương ứng với các tế bào bên trong các vận cụ biểu hiện của một con người. Các nguyên tử hay tế bào trong thể của Ngài được cấu thành từ tổng thể các đơn vị thiên thần và nhân loại rung động theo chủ âm của Ngài, và đáp ứng với mức độ sự sống của Ngài. Tất cả được giữ lại với nhau và được tiếp sinh lực bởi ý chí hiện hữu của Ngài, và tất cả rung động tùy theo điểm mà Ngài đã đạt được trong tiến hoá. Từ quan điểm vũ trụ, một Đấng Thiên Nhân có thể được thấy như một khối cầu của sự sống kỳ diệu, bao gồm trong bán kính ảnh hưởng của Ngài năng lực rung động của toàn bộ một hệ hành tinh. Ngài rung động theo một mức độ nhất định, có thể được ước lượng bằng hoạt động của sự sống đang đập ở trung tâm khối cầu; toàn bộ hệ hành tinh được nhuốm một màu sắc nhất định, đang quay theo một chủ âm cố định là chủ âm của chu kỳ sự sống của Ngài bên trong đại giai kỳ sinh hóa còn lớn hơn nữa hay chu kỳ của Thượng đế. |
|
c. A Heavenly Man is distinguished by His activity on one or other of the planes which we call the Triadal, or Atma-Buddhi-Manas, in the same way as a man is distinguished by his activity on one of the planes in the three worlds, mental-astral-physical. Eventually a man is self-conscious on all three. Eventually a Heavenly Man is fully self-conscious on the higher three. Every forward movement or increased vitality in the aggregate of men in the three worlds, is paralleled by an analogous activity on the three higher planes. The action and the interaction between the life animating the groups or the Heavenly Men, and the life animating the atoms or men who form the units in groups is both mysterious and wonderful. A Heavenly Man on His own planes likewise shows forth the qualities of: |
c. Một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên một hay một cõi khác trong các cõi mà chúng ta gọi là Tam nguyên tinh thần, hay Atma-Buddhi-Manas, cũng như con người được phân biệt bởi hoạt động của y trên một trong các cõi của ba cõi giới, trí tuệ-cảm dục-hồng trần. Cuối cùng con người trở nên ngã thức trên cả ba. Cuối cùng một Đấng Thiên Nhân hoàn toàn ngã thức trên ba cõi cao. Mọi chuyển động tiến tới hay sự gia tăng sinh lực trong tổng thể loài người trong ba cõi giới đều song hành với một hoạt động tương tự trên ba cõi cao. Tác động và tương tác giữa sự sống làm sinh động các nhóm hay các Đấng Thiên Nhân, và sự sống làm sinh động các nguyên tử hay những con người tạo thành các đơn vị trong các nhóm, vừa huyền nhiệm vừa kỳ diệu. Một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng biểu lộ các phẩm tính sau: |
|
Rotary motion, or His particular cycling activity around His life wheel, a planetary scheme, and thus around His egoic pole. [Page 252] |
Chuyển động quay, hay hoạt động tuần hoàn đặc thù của Ngài quanh bánh xe sự sống của Ngài, một hệ hành tinh, và như thế quanh cực chân ngã của Ngài. [Page 252] |
|
Discriminating capacity, or the power to choose and thereby gain experience. They are the embodiments of manas or the intelligent faculty (hence Their title of Divine Manasaputras) which comprehends, chooses and discards, thus attaining knowledge and self-consciousness. This manasic faculty They developed in earlier kalpas or solar systems. Their purpose is now to utilise that which is developed to bring about certain specific effects and to attain certain specific goals. |
Năng lực phân biện, hay quyền năng chọn lựa và nhờ đó đạt được kinh nghiệm. Các Ngài là hiện thân của manas hay năng lực trí tuệ (do đó có danh xưng là các Divine Manasaputras) vốn thấu hiểu, chọn lựa và loại bỏ, nhờ vậy đạt được tri thức và ngã thức. Năng lực manas này Các Ngài đã phát triển trong các đại kiếp hay các hệ mặt trời trước đây. Mục đích của Các Ngài hiện nay là sử dụng điều đã được phát triển ấy để tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó và đạt tới những mục tiêu đặc thù nào đó. |
|
Ability to evolve, to increase vibration, to gain knowledge, and to make contact. This increased vibration is of a gradual and evolutionary order and proceeds from centre to centre as it does in man, and as it does in the case of the atomic spirillae. Their aim is to achieve uniformity of contact with each other, and to merge eventually Their separated identities in the One Identity, retaining simultaneously full self-consciousness or individualised self-apprehension. |
Khả năng tiến hoá, gia tăng rung động, đạt được tri thức, và tạo tiếp xúc. Sự gia tăng rung động này thuộc loại tiệm tiến và thăng thượng tiến hoá, và diễn ra từ trung tâm này sang trung tâm khác như nơi con người, và như trong trường hợp các loa tuyến nguyên tử. Mục tiêu của Các Ngài là đạt được sự đồng nhất trong tiếp xúc với nhau, và cuối cùng hòa nhập các bản sắc tách biệt của Các Ngài vào trong Bản Sắc Duy Nhất, đồng thời vẫn giữ trọn ngã thức hay sự tự nhận biết đã được biệt ngã hóa. |
|
d. A Heavenly Man contains within Himself three major principles—will, love-wisdom, intelligence, and their manifestation through the seven principles so often discussed in our occult literature. These make the ten of His ultimate perfection, for the seven are resolved into the three, and the three into the one. |
d. Một Đấng Thiên Nhân chứa trong chính Ngài ba nguyên khí chính—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ—và sự biểu hiện của chúng qua bảy nguyên khí thường được bàn đến trong văn liệu huyền bí của chúng ta. Chúng tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài, vì bảy được quy về ba, và ba quy về một. |
|
Each Heavenly Man has, of course, His primary coloring or principle as has man and the atom. Man has for his primary coloring or principle that of the Heavenly Man in Whose body he is a unit. He has also the other two major principles (as has the Heavenly Man), and their differentiation into the seven as earlier said. The atom has for primary coloring or principle, that of the egoic ray of the human being for instance in whose body it finds place. This, of course, is in connection with the [Page 253] physical atom in a man’s body. This coloring manifests as the vibration setting the measure of the major three spirillae and the minor seven. |
Mỗi Đấng Thiên Nhân dĩ nhiên có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của Ngài cũng như con người và nguyên tử có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của chúng. Con người có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của mình là của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một đơn vị. Y cũng có hai nguyên khí chính kia (cũng như Đấng Thiên Nhân), và sự biến phân của chúng thành bảy như đã nói trước đây. Nguyên tử có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu là của cung chân ngã của con người chẳng hạn, trong thể của người ấy nó tìm được chỗ đứng. Điều này dĩ nhiên liên quan đến [Page 253] nguyên tử hồng trần trong thể của con người. Sắc thái này biểu lộ như rung động ấn định mức độ của ba loa tuyến chính và bảy loa tuyến phụ. |
|
Only four principles in the Heavenly Men are as yet manifesting to any extent, though One of Them is rather in advance of the others, and has the fifth principle vibrating adequately, while certain others are in process of perfecting the fourth. The Heavenly Man of our chain is vibrating somewhat to the fifth principle, or rather is in process of awakening it to life. His fourth vibration or principle in this fourth round or cycle, and on this fourth globe, is awakened, though not functioning as it will in the fifth round. Much of the trouble present in the planet at this time arises from the coming into activity of the higher or fifth vibration, which will be completed and transcended in the next or fifth cycle. The analogy, as in man and the atom, again holds good but not in exact detail. |
Cho đến nay, chỉ có bốn nguyên khí trong các Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ ở mức độ nào đó, mặc dù Một trong Các Ngài khá tiến trước những vị khác, và có nguyên khí thứ năm rung động đầy đủ, trong khi một số vị khác đang trong tiến trình hoàn thiện nguyên khí thứ tư. Đấng Thiên Nhân của dãy chúng ta đang rung động phần nào theo nguyên khí thứ năm, hay đúng hơn đang trong tiến trình đánh thức nó vào sự sống. Rung động thứ tư hay nguyên khí thứ tư của Ngài trong cuộc tuần hoàn hay chu kỳ thứ tư này, và trên bầu hành tinh thứ tư này, đã được đánh thức, dù chưa hoạt động như nó sẽ hoạt động trong cuộc tuần hoàn thứ năm. Phần lớn khó khăn hiện có trên hành tinh vào lúc này phát sinh từ việc rung động cao hơn hay rung động thứ năm đi vào hoạt động, điều sẽ được hoàn tất và vượt qua trong chu kỳ kế tiếp hay chu kỳ thứ năm. Sự tương đồng, như nơi con người và nguyên tử, một lần nữa vẫn đúng nhưng không đúng trong chi tiết chính xác. |
|
e. A Heavenly Man is governed by the Law of Attraction, has transcended the Law of Economy, and is rapidly coming under the Law of Synthesis. Note therefore the gradual stepping-up of the control and the fact that: |
e. Một Đấng Thiên Nhân được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, đã vượt qua Định luật Tiết Kiệm, và đang nhanh chóng đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. Vì vậy, hãy lưu ý sự nâng dần mức kiểm soát và sự kiện rằng: |
|
First. The Law of Economy is the primary law of the atom. The Law of Attraction is coming into control of the atom. The Law of Synthesis is but slightly felt by the life of the atom. It is the law of life. |
Thứ nhất. Định luật Tiết Kiệm là định luật chủ yếu của nguyên tử. Định luật Hấp Dẫn đang đi vào kiểm soát nguyên tử. Định luật Tổng Hợp chỉ được sự sống của nguyên tử cảm nhận rất ít. Đó là định luật của sự sống. |
|
Second. The Law of Attraction is the primary law of man. The Law of Economy is a secondary law for man. It governs the matter of his vehicles. The Law of Synthesis is steadily beginning to be felt. |
Thứ hai. Định luật Hấp Dẫn là định luật chủ yếu của con người. Định luật Tiết Kiệm là một định luật thứ yếu đối với con người. Nó chi phối vật chất của các vận cụ của y. Định luật Tổng Hợp đang đều đặn bắt đầu được cảm nhận. |
|
Third. The Law of Synthesis is the primary law of a Heavenly Man. The Law of Attraction has full sway. The Law of Economy is transcended. |
Thứ ba. Định luật Tổng Hợp là định luật chủ yếu của một Đấng Thiên Nhân. Định luật Hấp Dẫn có toàn quyền chi phối. Định luật Tiết Kiệm đã được vượt qua. |
|
The dense physical body is not a principle for a Heavenly Man, hence the Law of Economy is transcended. [Page 254] The Law of Attraction governs the material process of form building. The Law of Synthesis is the law of His Being. |
Thể xác hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí đối với một Đấng Thiên Nhân, do đó Định luật Tiết Kiệm đã được vượt qua. [Page 254] Định luật Hấp Dẫn chi phối tiến trình vật chất của việc xây dựng hình tướng. Định luật Tổng Hợp là định luật của Bản Thể Ngài. |
|
f. A Heavenly Man is finding His place within the logoic groups, and is seeking to realise His position among the seven and by realisation to approximate unity. |
f. Một Đấng Thiên Nhân đang tìm vị trí của Ngài trong các nhóm của Thượng đế, và đang tìm cách chứng nghiệm vị trí của Ngài giữa bảy vị và nhờ sự chứng nghiệm mà tiến gần đến hợp nhất. |
|
g. His responsiveness to outer stimulation. This viewed from the limited human standpoint touches on realms unattainable by man’s intellect as yet. It deals with: |
g. Khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này, khi được nhìn từ quan điểm hạn hẹp của con người, chạm đến những lĩnh vực mà trí tuệ con người hiện chưa thể đạt tới. Nó đề cập đến: |
|
Electrical stimulation, and concerns the response to solar radiation, and to paralleling planetary radiation. |
Kích thích điện, và liên quan đến sự đáp ứng đối với bức xạ mặt trời, và đối với bức xạ hành tinh song song. |
|
Magnetic stimulation, acting upon His subjective life. This radiation emanates from sources outside the system altogether. We might note the following facts: |
Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của Ngài. Bức xạ này phát ra từ những nguồn hoàn toàn ở ngoài hệ thống. Chúng ta có thể lưu ý các sự kiện sau: |
|
Magnetic stimulation of the physical atom emanates from man on astral levels, and later from buddhic levels. |
Kích thích từ tính của nguyên tử hồng trần phát ra từ con người trên các cấp độ cảm dục, và về sau từ các cấp độ Bồ đề. |
|
Magnetic stimulation of man emanates from the Heavenly Men on buddhic, and later on monadic levels. |
Kích thích từ tính của con người phát ra từ các Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ Bồ đề, và về sau trên các cấp độ chân thần. |
|
Magnetic stimulation of a Heavenly Man emanates extra-systemically, from the cosmic astral, the united effect of these stimulations inducing steady internal development. |
Kích thích từ tính của một Đấng Thiên Nhân phát ra từ ngoài hệ thống, từ cõi cảm dục vũ trụ; hiệu quả hợp nhất của các kích thích này gây ra sự phát triển nội tại đều đặn. |
|
A Heavenly Man is distinguished therefore by: |
Vì vậy, một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi: |
|
1. His spheroidal shape. His ring-pass-not, during objectivity, is definite and seen. |
1. Hình cầu của Ngài. Vòng-giới-hạn của Ngài, trong thời kỳ khách quan, là xác định và có thể thấy được. |
|
2. Sự sắp xếp nội tại của Ngài và khối cầu ảnh hưởng của Ngài, hay hoạt động làm sinh động dãy hành tinh. |
|
|
3. His spiritual life control at any given period. It is the power whereby He animates His sevenfold [Page 255] nature. Note the increase of influence as compared to man’s threefold radius. |
3. Sự kiểm soát sự sống tinh thần của Ngài trong bất kỳ thời kỳ nào. Đó là quyền năng nhờ đó Ngài làm sinh động bản chất thất phân của Ngài. Hãy lưu ý sự gia tăng ảnh hưởng so với bán kính tam phân của con người. [Page 255] |
|
4. His eventual ultimate synthesis from the seven into the three and from thence into one. This covers the obscuration of the globes, and the blending into unity of the seven principles which each globe is evolving. |
4. Sự tổng hợp tối hậu cuối cùng của Ngài từ bảy vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự che khuất của các bầu hành tinh, và sự hòa nhập vào hợp nhất của bảy nguyên khí mà mỗi bầu hành tinh đang tiến hoá. |
|
5. His evolution under Law and consequent development. |
5. Sự tiến hoá của Ngài dưới Định luật và sự phát triển hệ quả. |
|
6. His group relation. |
6. Quan hệ nhóm của Ngài. |
|
7. His development of consciousness and of awareness. |
7. Sự khai mở tâm thức và nhận biết của Ngài. |
|
Finally, we must extend these ideas to a solar Logos, and see how completely the analogy persists. The paragraphs dealing with stimulation, magnetic and electric, inevitably brings us back to the contemplation of fire, the basis and source of all life. |
Sau cùng, chúng ta phải mở rộng các ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, và thấy sự tương đồng được duy trì trọn vẹn đến mức nào. Các đoạn bàn về kích thích, từ tính và điện, tất yếu đưa chúng ta trở lại với việc chiêm ngưỡng lửa, nền tảng và nguồn gốc của mọi sự sống. |
|
A Solar Logos. |
Một Thái dương Thượng đế. |
|
a. A solar Logos, the Grand Man of the Heavens, is equally spheroidal in shape. His ring-pass-not comprises the entire circumference of the solar system, and all that is included within the sphere of influence of the Sun. The Sun holds a position analogous to the nucleus of life at the centre of the atom. This sphere comprises within its periphery the seven planetary chains with the synthesising three, making the ten of logoic manifestation. The Sun is the physical body of the solar Logos, His body of manifestation, and His life sweeps cycling through the seven schemes in the same sense as the life of a planetary Logos sweeps seven times around His scheme of seven chains. Each chain holds a position analogous to a globe in a planetary chain. Note the beauty of the correspondence, yet withal the lack of detailed analogy. (S.D., I, 136) |
a. Một Thái dương Thượng đế, Đại Thiên Nhân của các cõi trời, cũng có hình cầu. Vòng-giới-hạn của Ngài bao gồm toàn bộ chu vi của hệ mặt trời, và tất cả những gì được bao hàm trong khối cầu ảnh hưởng của Mặt Trời. Mặt Trời giữ một vị trí tương tự như hạt nhân của sự sống ở trung tâm nguyên tử. Khối cầu này bao gồm trong chu vi của nó bảy dãy hành tinh cùng với ba dãy tổng hợp, tạo thành mười của biểu hiện của Thượng đế. Mặt Trời là thể xác hồng trần của Thái dương Thượng đế, thể biểu hiện của Ngài, và sự sống của Ngài quét theo chu kỳ qua bảy hệ hành tinh theo cùng ý nghĩa như sự sống của một Hành Tinh Thượng đế quét bảy lần quanh hệ của Ngài gồm bảy dãy. Mỗi dãy giữ một vị trí tương tự như một bầu hành tinh trong một dãy hành tinh. Hãy lưu ý vẻ đẹp của sự tương ứng, nhưng đồng thời cũng lưu ý sự thiếu vắng tương đồng chi tiết. (S.D., I, 136) |
|
b. A solar Logos contains within Himself, as the atoms in His body of manifestation, all groups of every kind, [Page 256] from the involutionary group-soul to the egoic groups on the mental plane. He has (for the animating centres of His body) the seven major groups or the seven Heavenly Men, who ray forth Their influence to all parts of the logoic sphere, and who embody within Themselves all lesser lives, the lesser groups, human and deva units, cells, atoms and molecules. |
b. Một Thái dương Thượng đế chứa trong chính Ngài, như các nguyên tử trong thể biểu hiện của Ngài, mọi nhóm thuộc mọi loại, [Page 256] từ hồn nhóm giáng hạ tiến hoá đến các nhóm chân ngã trên cõi trí. Ngài có (làm các trung tâm sinh động của thể Ngài) bảy nhóm chính hay bảy Đấng Thiên Nhân, các Ngài phát ra ảnh hưởng của mình đến mọi phần của khối cầu của Thượng đế, và hiện thân trong chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn, các nhóm nhỏ hơn, các đơn vị nhân loại và thiên thần, các tế bào, nguyên tử và phân tử. |
|
Seen from cosmic levels, the sphere of the Logos can be visualised as a vibrating ball of fire of supernal glory, containing within its circle of influence, the planetary spheres likewise vibrating balls of fire. The Grand Man of the Heavens vibrates to a steadily increasing measure; the entire system is tinctured by a certain color,—the color of the life of the Logos, the One Divine Ray; and the system rotates to a certain measure, which is the key of the great kalpa or solar cycle, and revolves around its central solar pole. |
Được nhìn từ các cấp độ vũ trụ, khối cầu của Thượng đế có thể được hình dung như một quả cầu lửa rung động với vinh quang thiên thượng, chứa trong vòng ảnh hưởng của nó các khối cầu hành tinh cũng là những quả cầu lửa rung động. Đại Thiên Nhân của các cõi trời rung động theo một mức độ tăng dần đều đặn; toàn bộ hệ thống được nhuốm một màu sắc nhất định,—màu sắc của sự sống của Thượng đế, Cung Thiêng Liêng Duy Nhất; và hệ thống quay theo một mức độ nhất định, là chủ âm của đại kiếp hay chu kỳ mặt trời, và xoay quanh cực mặt trời trung tâm của nó. |
|
c. The solar Logos is distinguished by His activity on all the planes of the solar system; He is the sumtotal of all manifestation, from the lowest and densest physical atom up to the most radiant and cosmic ethereal Dhyan Chohan. This sevenfold vibratory measure is the key of the lowest cosmic plane, and its rate of rhythm can be felt on the cosmic astral, with a faint response on the cosmic mental. Thus the life of the logoic existence on cosmic levels, may be seen paralleling the life of a man in the three worlds, the lowest of the systemic planes. |
c. Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên mọi cõi của hệ mặt trời; Ngài là tổng thể của mọi biểu hiện, từ nguyên tử hồng trần thấp nhất và đậm đặc nhất cho đến vị Dhyan Chohan dĩ thái vũ trụ rực rỡ nhất. Mức độ rung động thất phân này là chủ âm của cõi vũ trụ thấp nhất, và nhịp điệu của nó có thể được cảm nhận trên cõi cảm dục vũ trụ, với một đáp ứng mờ nhạt trên cõi trí vũ trụ. Như vậy, sự sống của tồn tại của Thượng đế trên các cấp độ vũ trụ có thể được thấy là song hành với sự sống của con người trong ba cõi giới, tức các cõi thấp nhất của hệ thống. |
|
On His own planes the Logos likewise shows forth: |
Trên các cõi riêng của Ngài, Thượng đế cũng biểu lộ: |
|
First. Rotary motion. His life as it cycles through a day of Brahma, can be seen spiralling around His greater wheel, the ten schemes of a solar system. |
Thứ nhất. Chuyển động quay. Sự sống của Ngài, khi tuần hoàn qua một ngày của Brahma, có thể được thấy đang xoắn ốc quanh bánh xe lớn hơn của Ngài, mười hệ hành tinh của một hệ mặt trời. |
|
Second. Discriminatory capacity. His first act, as we know, was to discriminate or choose the matter he needed for manifestation. That choice was controlled by: [Page 257] |
Thứ hai. Năng lực phân biện. Hành động đầu tiên của Ngài, như chúng ta biết, là phân biện hay chọn lựa vật chất mà Ngài cần cho biểu hiện. Sự chọn lựa đó được kiểm soát bởi: [Page 257] |
|
Cosmic Karma. |
Nghiệp quả vũ trụ. |
|
Vibratory capacity. |
Năng lực rung động. |
|
Responsive coloring or quality. |
Sắc thái hay phẩm tính đáp ứng. |
|
Numerical factors involved in cosmic mathematics. |
Các yếu tố số học liên quan trong toán học vũ trụ. |
|
He is the embodiment of cosmic manas, and through the use of this faculty He seeks—by means of animated form—to build into His cosmic causal body, a paralleling quality of love-wisdom. |
Ngài là hiện thân của manas vũ trụ, và thông qua việc sử dụng năng lực này, Ngài tìm cách—bằng phương tiện hình tướng được làm sinh động—xây dựng vào thể nguyên nhân vũ trụ của Ngài một phẩm tính tương ứng của bác ái-minh triết. |
|
Third. Ability to progress, to increase vibration, and to gain full self-consciousness on cosmic levels. |
Thứ ba. Khả năng tiến bộ, gia tăng rung động, và đạt được ngã thức trọn vẹn trên các cấp độ vũ trụ. |
|
d. The solar Logos contains within Himself the three major principles or aspects, and their differentiation into seven principles. These make the ten of His ultimate perfection and are eventually synthesised into the one perfected principle of love-wisdom. This ultimate principle is His primary coloring. Each principle is embodied in one of the schemes, and is being worked out through one of the Heavenly Men. Only four principles are as yet manifested to any extent, for the evolution of the Logos parallels that of the Heavenly Men. |
d. Thái dương Thượng đế chứa trong chính Ngài ba nguyên khí hay phương diện chính, và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Chúng tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài và cuối cùng được tổng hợp vào một nguyên khí toàn thiện duy nhất là bác ái-minh triết. Nguyên khí tối hậu này là sắc thái chủ yếu của Ngài. Mỗi nguyên khí được hiện thân trong một hệ hành tinh, và đang được triển khai qua một trong các Đấng Thiên Nhân. Cho đến nay, chỉ có bốn nguyên khí được biểu lộ ở mức độ nào đó, vì sự tiến hoá của Thượng đế song hành với sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân. |
|
e. The solar Logos is governed by the Law of Synthesis. He holds all in synthetic unity or homogeneity. His subjective life is governed by the Law of Attraction; His material form is governed by the Law of Economy. He is coming under another cosmic law as yet incomprehensible to men, which law is but revealed to the highest initiates. |
e. Thái dương Thượng đế được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp. Ngài giữ mọi sự trong hợp nhất tổng hợp hay tính đồng nhất. Sự sống chủ quan của Ngài được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn; hình tướng vật chất của Ngài được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm. Ngài đang đi vào dưới một định luật vũ trụ khác mà con người hiện chưa thể hiểu được, định luật này chỉ được mặc khải cho các điểm đạo đồ cao nhất. |
|
f. The solar Logos is in process of ascertaining His place within the greater system in which He holds a place analogous to that of a Heavenly Man in a solar system. He seeks first to find the secret of His own existence, and to achieve full Self-Consciousness; secondly to ascertain the position and place of His polar opposite; thirdly to [Page 258] merge and blend with that polar opposite. This is the cosmic marriage of the Logos. |
f. Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình xác định vị trí của Ngài trong hệ thống lớn hơn, trong đó Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời. Ngài tìm cách trước hết khám phá bí mật của chính sự tồn tại của Ngài, và đạt được trọn vẹn Ngã-Thức; thứ hai xác định vị trí và chỗ đứng của cực đối nghịch của Ngài; thứ ba hòa nhập [Page 258] và dung hợp với cực đối nghịch đó. Đây là cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế. |
|
g. A solar Logos is distinguished by His responsiveness to outer stimulation. This concerns itself with: |
g. Một Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này liên quan đến: |
|
Electrical stimulation or His response to electrical fohatic force emanating from other stellar centres, and controlling largely the action of our system and its movements in space in relation to other constellations. |
Kích thích điện hay sự đáp ứng của Ngài đối với mãnh lực điện fohat phát ra từ các trung tâm tinh tú khác, và phần lớn kiểm soát hoạt động của hệ thống chúng ta cùng các chuyển động của nó trong không gian trong tương quan với các chòm sao khác. |
|
Magnetic stimulation, acting upon His subjective Life, and emanating from certain cosmic centres hinted at in the Secret Doctrine. These find their source on cosmic buddhic levels. |
Kích thích từ tính, tác động lên Sự sống chủ quan của Ngài, và phát ra từ một số trung tâm vũ trụ được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng tìm thấy nguồn của mình trên các cấp độ Bồ đề vũ trụ. |
|
It is their united effect which induces steady development. |
Chính hiệu quả hợp nhất của chúng gây ra sự phát triển đều đặn. |
|
The solar Logos is distinguished |
Thái dương Thượng đế được phân biệt |
|
1. By the spheroidicity of His manifesting existence. His solar ring-pass-not is definite and seen. This can only be demonstrated as yet by the endeavour to ascertain the extent of the subjective control, by the measure of the solar sphere of influence, or the magnetic attraction of the Sun to other lesser bodies which it holds in circular motion around itself. |
1. Bởi tính hình cầu của sự tồn tại biểu hiện của Ngài. Vòng-giới-hạn mặt trời của Ngài là xác định và có thể thấy được. Điều này hiện nay chỉ có thể được chứng minh bằng nỗ lực xác định mức độ của sự kiểm soát chủ quan, bằng thước đo khối cầu ảnh hưởng mặt trời, hay lực hút từ tính của Mặt Trời đối với các thiên thể nhỏ hơn khác mà nó giữ trong chuyển động tròn quanh chính nó. |
|
2. By the activity of the life animating the ten schemes. |
2. Bởi hoạt động của sự sống làm sinh động mười hệ hành tinh. |
|
3. By the extent of the control exerted by the Logos at any given period. |
3. Bởi mức độ kiểm soát được Thượng đế vận dụng trong bất kỳ thời kỳ nào. |
|
4. By the ultimate synthesis of the seven schemes into three and thence into one. This covers the obscuration of the schemes and the unification of the seven principles which they embody. |
4. Bởi sự tổng hợp tối hậu của bảy hệ hành tinh vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự che khuất của các hệ hành tinh và sự hợp nhất của bảy nguyên khí mà chúng hiện thân. |
|
5. By His subjection to the Law of His Being. |
5. Bởi sự phục tùng của Ngài đối với Định luật của Bản Thể Ngài. |
|
6. By His group relation. |
6. Bởi quan hệ nhóm của Ngài. |
|
7. By His unfoldment of Consciousness, the time factor [Page 259] being controlled by the measure of the unfoldment of all the conscious units in His body. |
7. Bởi sự khai mở Tâm thức của Ngài, yếu tố thời gian [Page 259] được kiểm soát bởi mức độ khai mở của mọi đơn vị có tâm thức trong thể Ngài. |
|
Ở đây chúng ta đã truy theo rất vắn tắt một số tương đồng giữa bốn yếu tố đã được nêu trước đó, và theo cách khái lược đã trả lời câu hỏi. Những điểm này, nếu được suy ngẫm, sẽ được thấy là thật sự hữu ích trong việc phát triển sự lĩnh hội trí tuệ của đạo sinh, và trong việc gia tăng sự nhận thức của y về vẻ đẹp của toàn bộ hệ mặt trời. |
|
VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS? |
VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRAS LÀ AI? |
|
We are now to touch upon the profoundest mystery of the whole manifested solar system—the mystery spoken of by H. P. B. as the mystery of electricity. (S.D., I, 439,221,107 It is intimately connected with the life of God as demonstrated through His seven Centres, the seven Heavenly Men, the Divine Manasaputras. This problem is not soluble as yet exoterically and but little can be revealed to the general public. This is for three reasons: |
Giờ đây chúng ta sẽ chạm đến huyền nhiệm sâu xa nhất của toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện—huyền nhiệm được H. P. B. nói đến như huyền nhiệm của điện. (S.D., I, 439,221,107 Nó liên hệ mật thiết với sự sống của Thượng đế như được biểu lộ qua bảy Trung tâm của Ngài, bảy Đấng Thiên Nhân, các Divine Manasaputras. Vấn đề này hiện chưa thể được giải quyết một cách ngoại môn và chỉ có thể được tiết lộ rất ít cho công chúng nói chung. Điều này là vì ba lý do: |
|
First, the stage reached by man does not permit of his correct apprehension of these abstractions. |
Thứ nhất, giai đoạn mà con người đã đạt tới không cho phép y lĩnh hội đúng đắn các trừu tượng này. |
|
Second, the greater part of the possible explanation is only revealed to initiates who have passed the third Initiation, and even to them in a carefully guarded manner. |
Thứ hai, phần lớn lời giải thích khả dĩ chỉ được tiết lộ cho các điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba, và ngay cả với họ cũng theo một cách được canh giữ cẩn mật. |
|
Third, the revelation of the close connection between mind and fohat or energy, or between thought power and electrical phenomena—the effect of fohatic impulse on matter—is fraught with peril, and the missing link (if so it might be termed) in the chain of reasoning from phenomena to its initiatory impulse, can only be safely imparted when the bridge between higher and lower mind, is adequately constructed. When the lower is under the control of the higher, or when the quaternary is merging into the triad, then man can be trusted with the remaining [Page 260] four fundamentals. Three of these fundamentals are laid down for us in the Proem of the Secret Doctrine, (I, 42-44) and with the evolving concept of psychology, make the revealed three and the dawning fourth. The other three are esoteric and must remain so until each man has for himself worked at his spiritual development, built the bridge between the higher and the lower mind, prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God, and turned his activities into altruistic helping of the evolutionary plans of the Logos. |
Thứ ba, sự mặc khải về mối liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và fohat hay năng lượng, hay giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện—hiệu quả của xung động fohat lên vật chất—chứa đầy hiểm nguy, và mắt xích còn thiếu (nếu có thể gọi như vậy) trong chuỗi lý luận từ hiện tượng đến xung lực điểm đạo của nó, chỉ có thể được truyền đạt một cách an toàn khi cây cầu giữa thượng trí và hạ trí được xây dựng đầy đủ. Khi cái thấp hơn ở dưới sự kiểm soát của cái cao hơn, hay khi bộ tứ đang hòa nhập vào tam nguyên tinh thần, khi ấy con người mới có thể được tin cậy để nhận bốn nền tảng còn lại [Page 260]. Ba trong số các nền tảng này đã được đặt ra cho chúng ta trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 42-44) và cùng với khái niệm đang tiến hoá của tâm lý học, tạo nên ba điều đã được mặc khải và điều thứ tư đang ló rạng. Ba điều kia là nội môn và phải vẫn như vậy cho đến khi mỗi người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình, xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí, chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh sáng của Thượng đế, và chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế. |
|
When these qualities are assuming a foremost place and when man has demonstrated the thoroughness of his will to serve, then the clue will be put into his hands and he will find the method whereby electrical impulse, demonstrating as heat, light and motion, is controlled and utilised; he will discover the source of the initial impulse from extra-systemic centres, and discover the basic rhythm. Then, and only then, will he be a truly intelligent co-operator, and (escaping from the control of the Law in the three worlds) wield the law himself within the lower spheres. |
Khi các phẩm tính này đang chiếm vị trí hàng đầu và khi con người đã chứng tỏ tính triệt để của ý chí phụng sự của mình, khi ấy đầu mối sẽ được đặt vào tay y và y sẽ tìm ra phương pháp nhờ đó xung lực điện, biểu lộ thành nhiệt, ánh sáng và chuyển động, được kiểm soát và sử dụng; y sẽ khám phá nguồn của xung lực ban đầu từ các trung tâm ngoài hệ thống, và khám phá nhịp điệu căn bản. Khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới là một cộng tác viên thật sự thông tuệ, và (thoát khỏi sự kiểm soát của Định luật trong ba cõi giới) tự mình vận dụng định luật trong các khối cầu thấp hơn. |
|
1. The Nature of Manifestation. |
1. Bản chất của Biểu hiện. |
|
Here are three important questions to be dealt with as one, all bearing on the same subject, and all concerned with the fact of intelligent objectivity itself. Perhaps if we paraphrased the threefold query, and brought it down to microcosmic objectivity, the problem might not appear so complex. We might express it thus: |
Ở đây có ba câu hỏi quan trọng cần được bàn đến như một, tất cả đều liên quan đến cùng một chủ đề, và tất cả đều gắn với chính sự kiện khách quan tính thông tuệ. Có lẽ nếu chúng ta diễn đạt lại câu hỏi tam phân này, và đưa nó xuống khách quan tính của tiểu thiên địa, thì vấn đề có thể sẽ không có vẻ phức tạp đến thế. Chúng ta có thể diễn đạt như sau: |
|
What is the thought aspect of a human being? Why is his mind and mental process of such importance? Who is the Thinker? |
Phương diện tư tưởng của một con người là gì? Tại sao trí tuệ và tiến trình trí tuệ của y lại quan trọng đến thế? Ai là Nhà Tư Tưởng? |
|
Man, in essential essence, is the higher triad demonstrating through a gradually evolving form, the egoic or causal body, and utilising the lower threefold personality [Page 261] as a means to contact the lower three planes. All this has for purpose the development of perfect self-consciousness. Above the triad stands the Monad or the Father in Heaven—a point of abstraction to man as he views the subject from the physical plane. The Monad stands to him in the position of the Absolute, in the same sense as the undifferentiated Logos stands to the threefold Trinity, to the three Persons of logoic manifestation. The parallel is exact. |
Con người, trong tinh túy cốt yếu, là tam nguyên tinh thần cao biểu lộ qua một hình tướng tiến hoá dần dần, thể chân ngã hay thể nguyên nhân, và sử dụng phàm ngã tam phân thấp hơn [Page 261] như một phương tiện để tiếp xúc với ba cõi thấp. Tất cả điều này nhằm mục đích phát triển ngã thức hoàn hảo. Bên trên tam nguyên tinh thần là Chân thần hay Đức Cha trên Trời—một điểm trừu tượng đối với con người khi y nhìn chủ đề này từ cõi hồng trần. Chân thần đứng đối với y ở vị trí của Tuyệt Đối, theo cùng ý nghĩa như Thượng đế không phân hóa đứng đối với Ba Ngôi tam phân, đối với ba Ngôi Vị của biểu hiện của Thượng đế. Sự song hành là chính xác. |
|
1. The Monad. |
1. Chân thần. |
|
2. The threefold Triad, Atma-Buddhi-Manas, or spiritual will, intuition, and higher mind. |
2. Tam nguyên tinh thần tam phân, Atma-Buddhi-Manas, hay ý chí tinh thần, trực giác, và thượng trí. |
|
3. The body egoic or the causal body, the shrine for the buddhic principle. This body is to be built by the power of the mind. It is the manifestation of the three. |
3. Thể chân ngã hay thể nguyên nhân, điện thờ cho nguyên khí Bồ đề. Thể này phải được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Nó là biểu hiện của bộ ba. |
|
4. The threefold lower nature, the points of densest objectivity. |
4. Bản chất thấp tam phân, các điểm của khách quan tính đậm đặc nhất. |
|
5. This threefold lower nature is in essence a quaternary—the etheric vehicle, animating life or prana, kama-manas, and lower mind. Manas or the fifth principle, forms the link between the lower and the higher. (S.D., I, 107) |
5. Bản chất thấp tam phân này về bản chất là một bộ tứ—vận cụ dĩ thái, sự sống làm sinh động hay prana, kama-manas, và hạ trí. Manas hay nguyên khí thứ năm tạo thành mắt xích giữa cái thấp hơn và cái cao hơn. (S.D., I, 107) |
|
We have, therefore, our lower four, our higher three, and the relation between them, the principle of mind. Here we have the seven formed by the union of the three and the four, and another factor, making eight. The ultimate seven will be seen when buddhi and manas are merged. Much has been hinted at in certain of our occult books about the eighth sphere. I would suggest that in this linking factor of intelligent mind, we have a clue to the mystery. When mind becomes unduly developed and ceases to unite the higher and the lower, it forms a sphere of its own. This is the greatest disaster that can overtake the human unit.[Page 262] |
Vì vậy, chúng ta có bốn thấp của mình, ba cao của mình, và mối liên hệ giữa chúng, nguyên khí trí tuệ. Ở đây chúng ta có bảy được hình thành bởi sự hợp nhất của ba và bốn, và một yếu tố khác, tạo thành tám. Bảy tối hậu sẽ được thấy khi buddhi và manas được hòa nhập. Trong một số sách huyền bí của chúng ta đã có nhiều ám chỉ về khối cầu thứ tám. Tôi muốn gợi ý rằng trong yếu tố liên kết này của trí tuệ thông tuệ, chúng ta có một đầu mối cho huyền nhiệm ấy. Khi trí tuệ trở nên phát triển quá mức và không còn hợp nhất cái cao hơn với cái thấp hơn, nó tạo thành một khối cầu của riêng nó. Đây là tai họa lớn nhất có thể xảy đến cho đơn vị nhân loại.[Page 262] |
|
Therefore we have: |
Vì vậy chúng ta có: |
|
Monad, the microcosmic absolute. |
Chân thần, tuyệt đối của tiểu thiên địa. |
|
Tinh thần thuần túy. |
|
|
The one and only. |
Đấng duy nhất và độc nhất. |
|
The monadic trinity. |
Bộ ba chân thần. |
|
First aspect |
Atma or spiritual will. |
|
Second aspect. |
Buddhi, the Christ principle. |
|
Third aspect |
Manas, or higher mind. |
|
The Son aspect in objectivity. |
Phương diện Con trong khách quan tính. |
|
The body egoic or causal body. |
Thể chân ngã hay thể nguyên nhân. |
|
The lower quaternary. |
Bộ tứ thấp. |
|
1. The mental body. |
3. Prana, or vital energy. |
|
2. The astral or emotional body. (108) |
4. Etheric body |
|
The microcosm reproduces the solar system in miniature. The above deals with the objective forms, corresponding to the sun and the seven sacred planets. But the exoteric form is paralleled by a psychic development which we call the seven principles. Man develops seven principles, which might be enumerated as follows: |
Tiểu thiên địa tái tạo hệ mặt trời trong dạng thu nhỏ. Phần trên đề cập đến các hình tướng khách quan, tương ứng với mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng. Nhưng hình thức ngoại môn được song hành bởi một sự phát triển thông linh mà chúng ta gọi là bảy nguyên khí. Con người phát triển bảy nguyên khí, có thể được liệt kê như sau: |
|
CÁC NGUYÊN KHÍ CỦA TIỂU THIÊN ĐỊA (109) |
|
|
(109) 1. Trong thiên nhiên có hai nguyên khí vũ trụ chính:— |
|
|
a. Active and passive, male and female.—S. D., II, 556. I, 46. |
a. Chủ động và thụ động, nam và nữ.—S. D., II, 556. I, 46. |
|
b. Buddhi and mahat. See also S. D., I, 357. II, 649. III, 273. |
b. Buddhi và mahat. Xem thêm S. D., I, 357. II, 649. III, 273. |
|
2. These higher principles united produce the three and the seven.—S. D., I, 46. |
2. Các nguyên khí cao này hợp nhất tạo ra bộ ba và bộ bảy.—S. D., I, 46. |
|
a. They are called the three Rays of Essence and the four Aspects.—S. D., I, 147. |
a. Chúng được gọi là ba Cung của Tinh Túy và bốn Phương diện.—S. D., I, 147. |
|
b. They can be called the three Vehicles with their three Aspects and Atma.—S. D., I, 182. |
b. Chúng có thể được gọi là ba Vận cụ với ba Phương diện của chúng và Atma.—S. D., I, 182. |
|
c. They are also called the three-tongued Flame of the Four Wicks.—S. D., I, 257. |
c. Chúng cũng được gọi là Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Tim Đèn.—S. D., I, 257. |
|
This is true cosmically and humanly. |
Điều này đúng cả về mặt vũ trụ lẫn nhân loại. |
|
The Principles of the Logos…. the seven Planetary Logoi.—S. D., I, 358, 365. |
Các Nguyên khí của Thượng đế…. bảy Hành Tinh Thượng đế.—S. D., I, 358, 365. |
|
The Principles of the planetary Logos…. The vehicle called a chain.—S. D., I, 194, 196. II, 626. |
Các Nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế…. Vận cụ được gọi là một dãy.—S. D., I, 194, 196. II, 626. |
|
The Principles of man…. The different vehicles. Note also:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189. |
Các Nguyên khí của con người…. Các vận cụ khác nhau. Cũng lưu ý:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189. |
|
Summation:—S. D., III, 475. |
Tóm lược:—S. D., III, 475. |
|
3. Cosmic Ideation, focussed in a principle results as the consciousness of the individual.—S. D., I, 351. |
3. Ý niệm Vũ trụ, được tập trung trong một nguyên khí, tạo ra tâm thức của cá nhân.—S. D., I, 351. |
|
a. Appropriation by the individual of a vehicle produces a display of energy of any particular plane. This energy will be of a peculiar colour and quality, according to the plane involved. |
a. Việc cá nhân chiếm dụng một vận cụ tạo ra sự biểu lộ năng lượng của bất kỳ cõi đặc thù nào. Năng lượng này sẽ có màu sắc và phẩm tính đặc biệt, tùy theo cõi liên quan. |
|
4. The seven principles are the manifestation of the one Flame.—S. D., 45. III, 374. |
4. Bảy nguyên khí là biểu hiện của một Ngọn Lửa.—S. D., 45. III, 374. |
|
Note also the function of the Gods in furnishing man with his principles. S. D., I, 308. (back) |
Cũng lưu ý chức năng của các Thượng đế trong việc cung cấp cho con người các nguyên khí của y. S. D., I, 308. (trở lại) |
|
Two higher principles: |
Hai nguyên khí cao hơn: |
|
1. Active intelligence. |
1. Trí tuệ chủ động. |
|
2. Latent love-wisdom. |
2. Bác ái-minh triết tiềm ẩn. |
|
[Page 263] (The psychic nature of the Monad is twofold.) |
[Page 263] (Bản chất thông linh của Chân thần là nhị phân.) |
|
1. The principle of atma. Spiritual nature. Will. |
1. Nguyên khí atma. Bản chất tinh thần. Ý chí. |
|
2. The principle of buddhi. Love nature. Wisdom. |
2. Nguyên khí buddhi. Bản chất bác ái. Minh triết. |
|
3. The principle of manas. Intelligence nature, Activity. |
3. Nguyên khí manas. Bản chất trí tuệ, Hoạt động. |
|
Note here that the three principles in terms of the Triad with the two synthesising principles on the plane of the Monad, make five principles and give the key to H. P. B.’s numbering in certain places. We might express it thus: |
Hãy lưu ý ở đây rằng ba nguyên khí xét theo Tam nguyên tinh thần cùng với hai nguyên khí tổng hợp trên cõi của Chân thần tạo thành năm nguyên khí và cho chìa khóa đối với cách đánh số của H. P. B. ở một số chỗ. Chúng ta có thể diễn đạt như sau: |
|
I. |
The Absolute |
The Monad. |
|
1. Prakriti |
Active intelligence. The Divine Manasaputra. |
|
|
2. Purusha |
Love-Wisdom. The Vishnu aspect. |
|
On the plane of objectivity. |
Trên cõi khách quan tính. |
|
III |
3. Atma |
The Triad. |
|
4. Buddhi |
The Triad. |
|
|
5. Manas |
The Triad. |
|
rom the standpoint of evolution we regard the higher two and the highest one as the correspondence to the Absolute as He manifests in duality. This is prior to objectivity, which requires the presence of the three. In manifestation we might regard the principles as follows: [Page 264] |
Từ quan điểm tiến hoá, chúng ta xem hai nguyên khí cao hơn và một nguyên khí cao nhất là sự tương ứng với Tuyệt Đối khi Ngài biểu lộ trong nhị nguyên tính. Điều này có trước khách quan tính, vốn đòi hỏi sự hiện diện của bộ ba. Trong biểu hiện, chúng ta có thể xem các nguyên khí như sau: [Page 264] |
|
First Principle |
The sphere of manifestation, the monadic egg. |
The sphere of manifestation, the monadic egg. |
|
Second Principle |
Atma |
Will. |
|
Third Principle |
Buddhi |
Pure reason, wisdom. |
|
Fourth Principle |
Manas |
Pure mind, higher mind. |
|
Fifth Principle |
Manas |
Lower mind. |
|
Sixth Principle |
Kama-manas |
|
|
Seventh Principle |
Pure emotion, or feeling. |
|
These are the principles for the microcosm viewed as having transcended the physical bodies altogether, and thus the tabulation deals entirely with the subjective life, or the development of the psyche or soul. |
Đây là các nguyên khí của tiểu thiên địa khi được nhìn như đã vượt hẳn các thể xác hồng trần, và như vậy bảng liệt kê này hoàn toàn đề cập đến sự sống chủ quan, hay sự phát triển của tâm linh hay linh hồn. |
|
This should be borne carefully in mind else confusion will ensue. In our enumeration we are here dealing with subjectivity and not with form. We have, therefore, considered: |
Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra. Trong sự liệt kê của chúng ta, ở đây chúng ta đang đề cập đến tính chủ quan chứ không phải hình tướng. Vì vậy, chúng ta đã xét đến: |
|
a. |
Sevenfold objectivity |
the material forms. |
|
b. |
Sevenfold subjectivity |
the psychic evolution. |
|
c. |
Sevenfold spirituality |
the life of the Entity. |
|
Chúng ta cũng sẽ lưu ý rằng trong bảng liệt kê về sự sống tinh thần của Chân thần, chúng ta đã xem nó là ngũ phân. Điều này tất yếu là như vậy trong sự tiến hoá ngũ phân này, nhưng hai nguyên khí còn lại có thể được xem là: |
|
|
6. The life of the Heavenly Man in Whose body the human Monad finds a place. |
6. Sự sống của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài Chân thần nhân loại tìm được chỗ đứng. |
|
7. The life of the Logos in Whose body the Heavenly Man finds place. |
7. Sự sống của Thượng đế mà trong thể của Ngài Đấng Thiên Nhân tìm được chỗ đứng. |
|
It might be useful here to consider another enumeration of the principles of man (110) as he manifests in the [Page 265] three worlds, the planes whereon the subjective and the objective are united. What have we there? Let us begin where man begins, with the lowest: |
Ở đây có thể hữu ích nếu xét đến một cách liệt kê khác về các nguyên khí của con người (110) khi y biểu lộ trong [Page 265] ba cõi giới, các cõi nơi chủ quan và khách quan được hợp nhất. Ở đó chúng ta có gì? Hãy bắt đầu từ nơi con người bắt đầu, với cái thấp nhất: |
|
(110) Sự liệt kê các Nguyên khí.—S. D., II, 627, 631. |
|
|
1st Principle……. Dense physical body. Sthula Sharira. |
Nguyên khí thứ 1……. Thể xác hồng trần đậm đặc. Sthula Sharira. |
|
2nd Principle…….Etheric body. Linga Sharira. |
Nguyên khí thứ 2…….Thể dĩ thái. Linga Sharira. |
|
3rd Principle……. Prana. Vital energy. |
Nguyên khí thứ 3……. Prana. Năng lượng sinh lực. |
|
4th Principle……. Kama-rupa. The energy of desire. —S. D., I, 136. |
Nguyên khí thứ 4……. Kama-rupa. Năng lượng của dục vọng. —S. D., I, 136. |
|
(These are the lower four principles.) |
(Đây là bốn nguyên khí thấp.) |
|
5th Principle……. Manas. The energy of thought. The middle principle.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669. |
Nguyên khí thứ 5……. Manas. Năng lượng của tư tưởng. Nguyên khí ở giữa.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669. |
|
6th Principle……. Buddhi. The energy of love.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58. |
Nguyên khí thứ 6……. Buddhi. Năng lượng của bác ái.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58. |
|
7th Principle……. Atma. The synthetic principle.—S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142. |
Nguyên khí thứ 7……. Atma. Nguyên khí tổng hợp.—G. L. B. N., I, 357, 201. G. L. B. N., III, 142. |
|
See S. D., III, 201, note. |
Xem G. L. B. N., III, 201, chú thích. |
|
a. Buddhi is the vehicle for atma. |
a. Buddhi là vận cụ của atma. |
|
b. Manas is the vehicle for buddhi. |
b. Manas là vận cụ của buddhi. |
|
c. Kamarupa is the vehicle for manas.—S. D., II, 171. |
c. Kamarupa là vận cụ của manas.—G. L. B. N., II, 171. |
|
d. Thể dĩ thái là vận cụ của prana. |
|
|
Remember also:— |
Cũng hãy ghi nhớ:— |
|
a. That the physical body is not a principle.—S. D., II, 652. III, 445. III, 652. |
a. Thể xác không phải là một nguyên khí.—G. L. B. N., II, 652. III, 445. III, 652. |
|
b. That atma is not a principle. See also S. D., III, 62, 63. III, 293. |
b. Atma không phải là một nguyên khí. Cũng xem G. L. B. N., III, 62, 63. III, 293. |
|
(Other enumerations, differing in certain particulars will be found:—S. D., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. The latter is more esoteric.) (back) |
(Những cách liệt kê khác, khác nhau ở một vài chi tiết, sẽ được tìm thấy:—G. L. B. N., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. Cách sau cùng có tính huyền bí hơn.) (back) |
|
7. |
The etheric body |
1. |
The vital body. |
|
6. |
Prana |
2. |
Vital force. |
|
5. |
Kama-manas |
3. |
Desire Mind. |
|
4. |
Lower mind |
4. |
Concrete mind. |
|
3. |
Manas |
5. |
Higher or abstract mind. |
|
2. |
Buddhi |
6. |
Wisdom, Christ force, intuition. |
|
1. |
Atma |
7. |
Spiritual Will. |
|
This is the lowest enumeration for little evolved man at the present time. |
Đây là cách liệt kê thấp nhất dành cho con người ít tiến hoá ở thời điểm hiện nay. |
|
From the standpoint of the Ego what can be seen? |
Từ quan điểm của chân ngã, có thể thấy điều gì? |
|
I. The Absolute……. Atma. Pure will-to-be. |
I. Tuyệt Đối……. Atma. Ý Chí-hướng-tồn tại thuần túy. |
|
II. The Duad. |
II. Nhị nguyên. |
|
1. Buddhi……… Pure reason, wisdom. |
1. Buddhi……… Lý trí thuần túy, minh triết. |
|
2. Manas……….Pure mind. |
2. Manas………. Trí tuệ thuần túy. |
|
III. The Triad. |
III. Tam nguyên. |
|
3. The causal body. |
3. Thể nguyên nhân. |
|
4. Hạ trí. [Page 266] |
|
|
5. Kama-manas. |
5. Kama-manas. |
|
6. Prana. |
6. Prana. |
|
7. The etheric body. |
7. Thể dĩ thái. |
|
In these various enumerations of the principles we are dealing with them (as H. P. B. has pointed out they must be dealt with) (S. D., III, 456.) (111), from differing standpoints, dependent upon the stage reached and the angle of vision. We have considered them thus in answering question six because we have sought to emphasise and to impress clearly upon our minds that the three lines of development must be remembered when considering the evolution of the Manasaputras. |
Trong những cách liệt kê khác nhau này về các nguyên khí, chúng ta đang đề cập đến chúng (như H. P. B. đã chỉ ra rằng chúng phải được đề cập đến) (G. L. B. N., III, 456.) (111), từ những quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn đã đạt được và góc độ tầm nhìn. Chúng ta đã xem xét chúng theo cách ấy khi trả lời câu hỏi thứ sáu vì chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh và ghi khắc rõ ràng vào trí tuệ mình rằng phải ghi nhớ ba đường phát triển khi xem xét sự tiến hoá của các Manasaputra. |
|
(111) H. P. Blavatsky says in the Secret Doctrine in connection with the Principles. |
(111) H. P. Blavatsky nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Nguyên khí. |
|
a. That mistakes in the classification are very possible.—S. D., II, 677. |
a. Rằng những sai lầm trong việc phân loại là hoàn toàn có thể xảy ra.—G. L. B. N., II, 677. |
|
b. That we must seek the occult meaning.—S. D., II, 652. |
b. Rằng chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa huyền bí.—G. L. B. N., II, 652. |
|
That there are really six not seven principles. |
Rằng thực ra có sáu chứ không phải bảy nguyên khí. |
|
c. That there are several classifications.—S. D., III, 374, 446. |
c. Rằng có nhiều cách phân loại.—G. L. B. N., III, 374, 446. |
|
d. That the esoteric enumeration cannot be made to correspond with the exoteric—S. D., III, 476. |
d. Rằng cách liệt kê nội môn không thể làm cho tương ứng với cách liệt kê ngoại môn—G. L. B. N., III, 476. |
|
e. That the numbering of the principles is a question of spiritual progress.—S. D., III, 456, 460. (back) |
e. Rằng việc đánh số các nguyên khí là một vấn đề của sự tiến bộ tinh thần.—G. L. B. N., III, 456, 460. (back) |
|
2. The Objective Development. |
2. Sự Phát Triển Khách Quan. |
|
This is sevenfold in evolution and in time, ninefold during obscuration, and tenfold at dissolution. |
Điều này có tính thất phân trong tiến hoá và trong thời gian, cửu phân trong thời kỳ che khuất, và thập phân khi tan rã. |
|
Macrocosmic |
Đại thiên địa |
|
1. The seven sacred planets of the solar system. |
1. Bảy hành tinh thiêng liêng của hệ mặt trời. |
|
2. The two which are hid, which are the synthesising planets. |
2. Hai hành tinh được che giấu, là những hành tinh tổng hợp. |
|
3. The one final synthesising planet—the Sun. Seven added to two added to one make ten. |
3. Một hành tinh tổng hợp tối hậu—Mặt Trời. Bảy cộng hai cộng một thành mười. |
|
There are ten centres in the Grand Heavenly Man. |
Có mười trung tâm trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. |
|
A Heavenly Man |
Một Đấng Thiên Nhân |
|
1. The seven chains of a scheme. |
1. Bảy dãy của một hệ hành tinh. |
|
2. The two synthesising chains. |
2. Hai dãy tổng hợp. |
|
3. One ultimate chain. |
3. Một dãy tối hậu. |
|
[Page 267] There are ten centres in a planetary Logos. |
[Page 267] Có mười trung tâm trong một Hành Tinh Thượng đế. |
|
Microcosm |
Tiểu thiên địa |
|
1. The seven vehicles employed: |
1. Bảy vận cụ được sử dụng: |
|
a. The atmic sheath. |
a. Vỏ bọc atma. |
|
b. The buddhic vehicle. |
b. Vận cụ Bồ đề. |
|
c. Thể nguyên nhân hay thể chân ngã. |
|
|
d. The mental body. |
d. Thể trí. |
|
e. The astral body. |
e. Thể cảm dục. |
|
f. The etheric body. |
f. Thể dĩ thái. |
|
g. The dense physical. |
g. Thể hồng trần đậm đặc. |
|
2. Two synthesising bodies: |
2. Hai thể tổng hợp: |
|
a. The causal body. |
a. Thể nguyên nhân. |
|
b. The physical body. |
b. Thể xác. |
|
3. One synthesising body: |
3. Một thể tổng hợp: |
|
a. The monadic sheath. |
a. Vỏ bọc chân thần. |
|
There are seven centres in the physical vehicle which correspond to these bodies, with the synthesising centres at the heart and throat; the head is then the ultimate synthesiser. This tabulation deals entirely with the form side, and with the vehicles indwelt by the Logos, the Manasaputras and by Man. |
Có bảy trung tâm trong vận cụ hồng trần tương ứng với các thể này, với các trung tâm tổng hợp ở tim và cổ họng; khi đó đầu là trung tâm tổng hợp tối hậu. Bảng này hoàn toàn đề cập đến phương diện hình tướng, và đến các vận cụ được Thượng đế, các Manasaputra và con người cư ngụ. |
|
3. The Subjective Development. |
3. Sự Phát Triển Chủ Quan. |
|
This is also sevenfold: |
Điều này cũng có tính thất phân: |
|
1. Astral |
pure desire, emotion, feeling. |
|
2. Kama-manas |
desire-mind. |
|
3. Manas |
lower concrete mind. |
|
4. Higher manas |
abstract or pure mind. |
|
5. Buddhi |
pure reason, intuition. |
|
6. Atma |
pure will, realisation. |
|
7. Monadic |
Will, love-wisdom, intelligence. |
|
This deals with the sevenfold development of inherent love-wisdom by the aid of mind. This proceeds macrocosmically through the seven Heavenly Men, Who are [Page 268] actively intelligent, inherently love, and are objectively seen through Their forms, the planetary schemes. In Their totality They are the Logos, the Grand Man of the Heavens. In the case of a Heavenly Man the development proceeds through the seven groups of human entities who form Their psychic centres. These groups are on their own plane developing intelligence, are inherently love, and can be objectively contacted on the seven chains of a scheme. In the case of individual man, the development proceeds through his seven centres, which are the key to his psychic evolution. A man is also developing intelligence, is inherently love, and is objectively seen through one or other of his bodies. |
Điều này đề cập đến sự phát triển thất phân của Bác Ái – Minh Triết cố hữu nhờ sự trợ giúp của trí tuệ. Điều này diễn ra ở cấp đại thiên địa qua bảy Đấng Thiên Nhân, là những Đấng [Page 268] thông tuệ linh hoạt, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua các hình tướng của Các Ngài, tức các hệ hành tinh. Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Thượng đế, Đại Thiên Nhân của các cõi trời. Trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, sự phát triển diễn ra qua bảy nhóm thực thể nhân loại tạo thành các trung tâm thông linh của Ngài. Các nhóm này trên cõi riêng của mình đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và có thể được tiếp xúc một cách khách quan trên bảy dãy của một hệ hành tinh. Trong trường hợp của từng con người, sự phát triển diễn ra qua bảy trung tâm của y, là chìa khóa cho sự tiến hoá thông linh của y. Con người cũng đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua một hay một thể khác của y. |
|
What I seek to emphasise is the fact of the psychic development, and also that subjective evolution is the main enterprise of the Logos, of a planetary Logos and of a man. Active intelligent love (the bringing forth from latency of the inherent quality of love by the intelligent application of the mind faculty) will be the result of the evolutionary process. Just as objectivity is dual, life-form, so subjectivity is dual, mind-love, and the blending of the two produces consciousness. Spirit alone is unity, and is undivided; the development of Spirit (or its assumption of the fruits of evolution) is only to be realised and brought about when the dual evolution of the form and the psyche is consummated. Then Spirit garners the fruits of evolution and gathers to itself the qualities nurtured during manifestation,—perfect love and perfect intelligence showing forth then as active intelligent love-wisdom. |
Điều tôi tìm cách nhấn mạnh là sự kiện của sự phát triển thông linh, và cũng là việc rằng tiến hoá chủ quan là công cuộc chính của Thượng đế, của một Hành Tinh Thượng đế và của con người. Bác ái thông tuệ linh hoạt (sự đưa phẩm tính bác ái cố hữu từ trạng thái tiềm ẩn ra biểu lộ bằng sự vận dụng thông tuệ của năng lực trí tuệ) sẽ là kết quả của tiến trình tiến hoá. Cũng như tính khách quan là nhị nguyên, sự sống-hình tướng, thì tính chủ quan cũng là nhị nguyên, trí tuệ-bác ái, và sự hòa trộn của hai điều ấy tạo ra tâm thức. Chỉ riêng tinh thần là hợp nhất, và không phân chia; sự phát triển của tinh thần (hay việc tinh thần tiếp nhận các thành quả của tiến hoá) chỉ có thể được chứng nghiệm và thực hiện khi sự tiến hoá nhị nguyên của hình tướng và tâm linh được hoàn tất. Khi đó tinh thần gặt hái các thành quả của tiến hoá và thu về cho chính nó những phẩm tính được nuôi dưỡng trong thời kỳ biểu hiện,—bác ái hoàn hảo và trí tuệ hoàn hảo khi ấy biểu lộ như bác ái-minh triết thông tuệ linh hoạt. |
|
We might, therefore, answer the questions: “What is the Mind aspect and why is it so important?” by saying that the mind aspect is in reality the ability or capacity of the logoic Existence to think, to act, to build, and to evolve in order to develop the faculty of active love. When the Logos, Who IS active intelligence, has run His [Page 269] life-cycle, He will be also love fully manifested throughout Nature. This can be likewise predicated of a Heavenly Man in His sphere and of a man in his tiny cycle. Thus the importance of manas can be fully seen. It is the means whereby evolution becomes possible, comprehension is achieved, and activity is generated and utilised. |
Vì vậy, chúng ta có thể trả lời các câu hỏi: “Phương diện Trí tuệ là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế?” bằng cách nói rằng phương diện trí tuệ thực ra là khả năng hay năng lực của Sự Tồn Tại logoic để suy tư, hành động, kiến tạo và tiến hoá nhằm phát triển năng lực bác ái linh hoạt. Khi Thượng đế, Đấng LÀ thông tuệ linh hoạt, đã hoàn tất chu kỳ sự sống của Ngài, Ngài cũng sẽ là bác ái được biểu hiện trọn vẹn khắp [Page 269] Thiên nhiên. Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân trong khối cầu của Ngài và đối với con người trong chu kỳ nhỏ bé của y. Như vậy, tầm quan trọng của manas có thể được thấy đầy đủ. Nó là phương tiện nhờ đó tiến hoá trở nên khả hữu, sự thấu hiểu được đạt tới, và hoạt động được tạo ra rồi được sử dụng. |
|
Let us now consider how this question can be expressed in terms of Fire: |
Giờ đây chúng ta hãy xem xét câu hỏi này có thể được diễn đạt theo thuật ngữ của Lửa như thế nào: |
|
Objectively |
Subjectively |
|
|
1. The sea of fire |
1. Our God is a consuming fire |
Energising will |
|
2. The akasha |
2. The Light of God |
Form aspect. |
|
3. The aether |
3. The heat of matter |
Activity aspect. |
|
4. The air |
4. The illumination of the intuition. |
|
|
5. Fire |
5. The fire of mind. |
|
|
6. The astral light |
6. The heat of the emotions. |
|
|
7. Physical plane electricity |
7. Kundalini and prana. |
|
Spiritually. |
Về mặt tinh thần. |
|
This is hid in a threefold mystery: |
Điều này được che giấu trong một huyền nhiệm tam phân: |
|
1. The mystery of electricity. |
1. Huyền nhiệm của điện. |
|
2. The mystery of the seven constellations. |
2. Huyền nhiệm của bảy chòm sao. |
|
3. The mystery of the ONE ABOVE THE LOGOS. |
3. Huyền nhiệm của ĐẤNG DUY NHẤT TRÊN CẢ THƯỢNG ĐẾ. |
|
4. The Heavenly Men and Man. |
4. Các Đấng Thiên Nhân và Con Người. |
|
The final part of question six is: Who are the Manasaputras? |
Phần cuối của câu hỏi thứ sáu là: Các Manasaputra là ai? |
|
This will be dealt with in greater detail in connection with our planet when taking up the subject of the coming of the Lords of Flame. It is desirable now to make certain facts clear which must form the basis of any thought upon this subject. |
Điều này sẽ được bàn đến chi tiết hơn liên quan đến hành tinh của chúng ta khi đề cập đến chủ đề sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa. Hiện giờ, điều đáng mong muốn là làm sáng tỏ một số sự kiện nhất định, những điều phải tạo thành nền tảng cho mọi tư tưởng về chủ đề này. |
|
[Page 270] The Divine Manasaputras, (113) (114) Who are known in the Secret Doctrine by diverse names, are the Mind-born Sons of Brahma, the third aspect logoic. |
[Page 270] Các Manasaputra thiêng liêng, (113) (114) được biết đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm dưới nhiều danh xưng khác nhau, là các Con của Brahma được sinh ra từ Trí tuệ, tức phương diện logoic thứ ba. |
|
(113) In the Secret Doctrine the Heavenly Men are spoken of as: |
(113) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Đấng Thiên Nhân được nói đến như là: |
|
1. Agents of creation. They are the totality of manifestation.—S. D., I, 470. |
1. Các tác nhân của sáng tạo. Các Ngài là tổng thể của sự biểu hiện.—G. L. B. N., I, 470. |
|
2. They are pre-cosmic.—S. D., I, 470. |
2. Các Ngài là tiền vũ trụ.—G. L. B. N., I, 470. |
|
3. They are the sumtotal of solar and lunar entities.—S. D., I, 152, 470. Compare II, 374. |
3. Các Ngài là tổng số của các thực thể thái dương và thái âm.—G. L. B. N., I, 152, 470. So sánh II, 374. |
|
4. They are the seven Biblical Archangels. |
4. Các Ngài là bảy Tổng Thiên Thần trong Kinh Thánh. |
|
They are the seven Forces or creative Powers. |
Các Ngài là bảy Mãnh lực hay các Quyền năng sáng tạo. |
|
They are the seven Spirits before the Throne. |
Các Ngài là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. |
|
They are the seven Spirits of the Planets.—S. D., I, 472, 153. |
Các Ngài là bảy Thánh Linh của các Hành tinh.—G. L. B. N., I, 472, 153. |
|
5. In Their totality They are the Secret Unpronounceable Name.—S. D., I, 473. |
5. Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Danh Xưng Bí Mật Không Thể Phát Âm.—G. L. B. N., I, 473. |
|
6. They are the collective Dhyan Chohans.—S. D., I, 477. |
6. Các Ngài là tập thể các Dhyan Chohan.—G. L. B. N., I, 477. |
|
7. They are the seven Kumaras. The seven Rishis.—S. D., I, 493. III, 196, 327. |
7. Các Ngài là bảy Kumara. Bảy Rishi.—G. L. B. N., I, 493. III, 196, 327. |
|
8. They are the Sons of Light.—S. D., I, 521, 522. |
8. Các Ngài là các Con của Ánh sáng.—G. L. B. N., I, 521, 522. |
|
9. They are the Hierarchy of creative Powers.—S. D., I, 233. |
9. Các Ngài là Thánh đoàn của các Quyền năng sáng tạo.—G. L. B. N., I, 233. |
|
10. They are the veiled synthesis.—S. D., I, 362. |
10. Các Ngài là sự tổng hợp được che giấu.—G. L. B. N., I, 362. |
|
11. They are our own planetary deities.—S. D., I, 153. |
11. Các Ngài là các thần linh hành tinh của chính chúng ta.—G. L. B. N., I, 153. |
|
12. They are all men, the product of other worlds.—S. D., I, 132. |
12. Các Ngài là tất cả loài người, sản phẩm của những thế giới khác.—G. L. B. N., I, 132. |
|
13. They are closely connected with the seven stars of the Great Bear.—S. D., I, 488. S. D., II 332. II, 579, 668. S. D., III, 195. |
13. Các Ngài có liên hệ mật thiết với bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh.—G. L. B. N., I, 488. G. L. B. N., II 332. II, 579, 668. G. L. B. N., III, 195. |
|
14. They are symbolised by circles.—S. D., II, 582. |
14. Các Ngài được biểu tượng hóa bằng các vòng tròn.—G. L. B. N., II, 582. |
|
15. They are collectively the fallen Angels.—S. D., II, 284, 541. (back) |
15. Xét tập thể, Các Ngài là các Thiên Thần sa ngã.—G. L. B. N., II, 284, 541. (back) |
|
(114) Các Con của Trí Tuệ: được biết đến bằng nhiều thuật ngữ khác nhau, như:— “Các Manasaputra, các Prajapati, các Kumara, Bảy Đấng Nguyên Sơ, các Rudra, các Đấng Thiên Nhân, các Rishi, các Thánh Linh trước Thánh Ngai.” (back) |
|
|
Các Ngài là bảy Hành tinh Thượng đế, và là các Chúa Tể của các Cung, bảy Đấng Thiên Nhân. Các Ngài đã phát triển phương diện trí tuệ trong hệ mặt trời thứ nhất, hệ mà Brahma là tối thượng, và trong chính Ngài đã hiện thân sự tồn tại khách quan. Điều này Ngài đã làm theo cùng ý nghĩa như phương diện thứ hai (phương diện Vishnu hay Rồng Minh Triết) là tổng thể của sự tồn tại trong hệ thứ hai này. |
|
|
The cells in Their bodies are made up of the units of the human and deva evolutions in the same manner (only on a higher turn of the spiral) as the bodies of human beings are made up of living organisms, the various animated cells, or the lesser lives. This is a basic fact in occultism, and the relationship between the cells in the human vehicles, and the cells in the bodies of a Heavenly [Page 271] Man, will be productive of illumination if carefully studied. |
Các tế bào trong các thể của Các Ngài được cấu thành từ các đơn vị của tiến hoá nhân loại và thiên thần theo cùng cách thức (chỉ ở một vòng xoắn cao hơn) như các thể của con người được cấu thành từ các cơ thể sống, các tế bào được tiếp sinh lực khác nhau, hay các sự sống nhỏ hơn. Đây là một sự kiện nền tảng trong huyền bí học, và mối liên hệ giữa các tế bào trong các vận cụ của con người, và các tế bào trong các thể của một Đấng Thiên Nhân, sẽ tạo ra sự soi sáng nếu được nghiên cứu cẩn thận.[Page 271] |
|
Just as a human being has an originating source, the Monad, and a semi-permanent vehicle, the causal body, but manifests through his lower principles (of which the dense physical is not one) so a Heavenly Man has an originating source, His Monad, a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system, but manifests through three lower sheaths, our atmic, buddhic, and manasic levels. He is extraneous to the astral and physical planes just as a human being is to the physical. Man vitalises the physical vehicle with his force or heat but he does not occultly count it as a principle. So the Heavenly Man is extraneous to the two lower planes of manifestation though He vitalises them with His force. The human being realises his relationship (as a cell in the body) to a Heavenly Man only when he is developing the consciousness of the Ego on its own plane. If it might be so expressed, the groups of causal bodies are the lowest forms through which a Heavenly Man manifests, just as the physical body is the lowest through which a human being manifests, and this in its etheric connotation. |
Cũng như một con người có một nguồn gốc khởi nguyên, chân thần, và một vận cụ bán thường tồn, thể nguyên nhân, nhưng biểu hiện qua các nguyên khí thấp của y (trong đó thể hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí) thì một Đấng Thiên Nhân cũng có một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài, một thể bán thường tồn trên các cấp chân thần của hệ mặt trời, nhưng biểu hiện qua ba vỏ bọc thấp hơn, tức các cấp atma, Bồ đề và manas của chúng ta. Ngài ở ngoài cõi cảm dục và cõi hồng trần cũng như con người ở ngoài cõi hồng trần. Con người tiếp sinh lực cho vận cụ hồng trần bằng mãnh lực hay nhiệt của mình nhưng về mặt huyền bí học y không tính nó là một nguyên khí. Cũng vậy, Đấng Thiên Nhân ở ngoài hai cõi thấp của biểu hiện mặc dù Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng mãnh lực của Ngài. Con người chỉ chứng nghiệm mối liên hệ của mình (như một tế bào trong thể) với một Đấng Thiên Nhân khi y đang phát triển tâm thức của chân ngã trên cõi riêng của nó. Nếu có thể diễn đạt như vậy, thì các nhóm thể nguyên nhân là những hình tướng thấp nhất qua đó một Đấng Thiên Nhân biểu hiện, cũng như thể xác là hình tướng thấp nhất qua đó con người biểu hiện, và điều này theo hàm nghĩa dĩ thái của nó. |
|
Cần ghi nhớ rằng các Sự Tồn Tại biểu hiện hiện thân một số cõi nhất định, và có những điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của Các Ngài ở những cấp độ khác nhau: |
|
|
a. A Man originates on the monadic level, has his main focal point on the fifth level, the mental, but is seeking full conscious development on the three lower planes, the mental, the astral and the physical. |
a. Một Con Người khởi nguyên trên cấp chân thần, có tiêu điểm chính trên cấp thứ năm, cõi trí, nhưng đang tìm kiếm sự phát triển hoàn toàn hữu thức trên ba cõi thấp, cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. |
|
b. A Heavenly Man has His source outside the solar system (as man outside the three worlds of his endeavor), has His main focal point on the second plane of the system, the monadic, and is seeking consciousness on the planes of the Triad,—this in relation to all the cells in His body. He developed consciousness on the three [Page 272] lower planes of the three worlds during the first solar system, again in relation to the cells in His body. Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara. In connection with the initiations this should be carefully borne in mind. |
b. Một Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc của Ngài ở ngoài hệ mặt trời (cũng như con người ở ngoài ba cõi giới của nỗ lực mình), có tiêu điểm chính trên cõi thứ hai của hệ, cõi chân thần, và đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam nguyên tinh thần,—điều này liên quan đến tất cả các tế bào trong thể của Ngài. Ngài đã phát triển tâm thức trên ba cõi thấp [Page 272] của ba cõi giới trong hệ mặt trời thứ nhất, một lần nữa là liên quan đến các tế bào trong thể của Ngài. Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ năm, điều sẽ đưa y đến một giai đoạn tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều. Liên quan đến các cuộc điểm đạo, điều này cần được ghi nhớ cẩn thận. |
|
c. A solar Logos has His origin on a still higher cosmic level, has His main focal point on the cosmic mental plane but is expressing Himself through the three lower cosmic planes just as man is seeking self-expression in the three worlds. Therefore, the seven major planes of the solar system are in the same relation to Him cosmically as the physical plane is to a human being. They form His etheric and dense bodies. It might be stated that: |
c. Một Thái dương Thượng đế có nguồn gốc của Ngài trên một cấp vũ trụ còn cao hơn nữa, có tiêu điểm chính trên cõi trí tuệ vũ trụ nhưng đang biểu hiện chính Ngài qua ba cõi vũ trụ thấp hơn cũng như con người đang tìm cách tự biểu hiện trong ba cõi giới. Vì vậy, bảy cõi chính của hệ mặt trời có cùng mối liên hệ với Ngài về mặt vũ trụ như cõi hồng trần đối với con người. Chúng tạo thành các thể dĩ thái và đậm đặc của Ngài. Có thể nói rằng: |
|
1. He vitalises them by His life and heat. |
1. Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng sự sống và nhiệt của Ngài. |
|
2. He animates them. |
2. Ngài làm cho chúng sống động. |
|
3. He is fully conscious through them. |
3. Ngài hoàn toàn hữu thức qua chúng. |
|
4. The etheric is in time His lowest principle, but the dense physical is not counted. The dense cosmic physical body is composed of matter of the three lower planes of the solar system, the mental, the astral and the physical. The buddhic plane is consequently the fourth cosmic ether. |
4. Thể dĩ thái theo thời gian là nguyên khí thấp nhất của Ngài, nhưng thể hồng trần đậm đặc không được tính đến. Thể hồng trần vũ trụ đậm đặc được cấu thành từ vật chất của ba cõi thấp của hệ mặt trời, cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó cõi Bồ đề là dĩ thái vũ trụ thứ tư. |
|
d. The Heavenly Men form the seven centres in the body of the Logos. Therefore, They are the spheres of fire which animate His body, and each of Them expresses one form of His force manifestation, according to Their place within the body. |
d. Các Đấng Thiên Nhân tạo thành bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Vì vậy, Các Ngài là những khối cầu lửa làm sinh động thể của Ngài, và mỗi Đấng trong Các Ngài biểu lộ một hình thức biểu hiện mãnh lực của Ngài, tùy theo vị trí của Các Ngài trong thể ấy. |
|
e. Human beings, when centred within their groups on causal levels, form one or other of the seven centres in the body of a Heavenly Man. |
e. Con người, khi được tập trung trong các nhóm của mình trên các cấp nguyên nhân, tạo thành một hay một trung tâm khác trong thể của một Đấng Thiên Nhân. |
|
f. The solar Logos forms one centre in the body of a still greater cosmic ENTITY. Human beings therefore [Page 273] find their place within one of the forty-nine centres (not groups, for a centre may be made up of many groups, corresponding to the different parts) of the seven Heavenly Men. |
f. Thái dương Thượng đế tạo thành một trung tâm trong thể của một THỰC THỂ vũ trụ còn vĩ đại hơn. Vì vậy, con người [Page 273] tìm thấy vị trí của mình trong một trong bốn mươi chín trung tâm (không phải nhóm, vì một trung tâm có thể được tạo thành từ nhiều nhóm, tương ứng với các phần khác nhau) của bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
A Heavenly Man, with His seven centres, forms one centre in the body of the solar Logos. I would here point out to you the close connection existing between the seven Rishis of the Great Bear and the seven Heavenly Men. The seven Rishis of the Great Bear are to Them what the Monad is to the evolving human unit. |
Một Đấng Thiên Nhân, với bảy trung tâm của Ngài, tạo thành một trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế. Ở đây tôi muốn chỉ ra cho bạn mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa bảy Rishi của Đại Hùng Tinh và bảy Đấng Thiên Nhân. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh đối với Các Ngài cũng như chân thần đối với đơn vị nhân loại đang tiến hoá. |
VII. WHY IS THE PROGRESS OF EVOLUTION CYCLIC? |
VII. TẠI SAO SỰ TIẾN BỘ CỦA TIẾN HOÁ LẠI CÓ TÍNH CHU KỲ? |
|
This question is one which necessarily appals us and makes us wonder. |
Đây là một câu hỏi tất yếu khiến chúng ta kinh ngạc và tự hỏi. |
|
Let us, therefore, deal with it as follows: Certain ideas are involved in the thought of cyclic progression, and these ideas it might pay us well to contemplate. |
Vì vậy, chúng ta hãy đề cập đến nó như sau: Một số ý tưởng nhất định hàm chứa trong tư tưởng về sự tiến triển theo chu kỳ, và những ý tưởng này có lẽ rất đáng để chúng ta chiêm ngưỡng. |
|
1. The Idea of Repetition. |
1. Ý Tưởng về Sự Lặp Lại. |
|
This repetition involves the following factors: |
Sự lặp lại này bao hàm các yếu tố sau: |
|
a. Repetition in time: The thought of cyclic activity necessitates periods of time of differing length—greater or lesser cycles—but (according to their length) of uniform degree. A manvantara, or Day of Brahma, is always of a certain length, and so is a mahamanvantara. The cycles wherein an atom of any plane revolves upon its axis are uniform on its own plane. |
a. Sự lặp lại trong thời gian: Tư tưởng về hoạt động theo chu kỳ đòi hỏi những khoảng thời gian có độ dài khác nhau—những chu kỳ lớn hơn hay nhỏ hơn—nhưng (tùy theo độ dài của chúng) có mức độ đồng đều. Một giai kỳ sinh hóa, hay Ngày của Brahma, luôn luôn có một độ dài nhất định, và một đại giai kỳ sinh hóa cũng vậy. Những chu kỳ trong đó một nguyên tử của bất kỳ cõi nào quay quanh trục của nó đều đồng đều trên cõi riêng của nó. |
|
b. Repetition in fact: This involves the idea of a key measure, or sound of any particular group of atoms that go to the composition of any particular form. This grouping of atoms will tend to the make-up of a particular series of circumstances and will repeat the measure or sound when an animating factor is brought to bear upon them. When the vitalising force is contacting at stated periods a certain set of atoms, it will call forth from them a specific sound which will demonstrate objectively as environing circumstances. In other words, [Page 274] the interplay of the Self and the not-self is invariably of a cyclic nature. The same quality in tone will be called forth by the Self as it indwells the form, but the key will ascend by gradual degrees. It is similar to the effect produced in striking the same note in different octaves, beginning at the base. |
b. Sự lặp lại trong thực tế: Điều này bao hàm ý tưởng về một nhịp điệu chủ âm, hay âm thanh của bất kỳ nhóm nguyên tử đặc thù nào góp phần cấu thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào. Sự tập hợp các nguyên tử này sẽ có khuynh hướng tạo nên một chuỗi hoàn cảnh đặc thù và sẽ lặp lại nhịp điệu hay âm thanh ấy khi một yếu tố làm sinh động tác động lên chúng. Khi mãnh lực tiếp sinh lực tiếp xúc vào những thời kỳ nhất định với một tập hợp nguyên tử nào đó, nó sẽ gọi ra từ chúng một âm thanh đặc thù, âm thanh này sẽ biểu lộ một cách khách quan thành những hoàn cảnh bao quanh. Nói cách khác, [Page 274] sự tương tác giữa Bản Ngã và phi-ngã luôn luôn có tính chu kỳ. Cùng một phẩm tính trong âm điệu sẽ được Bản Ngã gọi ra khi nó cư ngụ trong hình tướng, nhưng chủ âm sẽ tăng dần theo từng cấp độ. Điều này tương tự như hiệu quả được tạo ra khi đánh cùng một nốt ở những quãng tám khác nhau, bắt đầu từ âm trầm. |
|
c. Repetition in space: This concept is involved deep in the greater concept of karma, which is really the law that governs the matter of the solar system, and which commenced its work in earlier solar systems. We have, therefore, cycles in order, and repetition in an ever-ascending spiral, under definite law. |
c. Sự lặp lại trong không gian: Khái niệm này được hàm chứa sâu xa trong khái niệm lớn hơn về nghiệp quả, vốn thực sự là định luật chi phối vật chất của hệ mặt trời, và đã bắt đầu công việc của nó trong những hệ mặt trời trước đó. Vì vậy, chúng ta có các chu kỳ theo trật tự, và sự lặp lại trong một vòng xoắn luôn đi lên, dưới định luật xác định. |
|
The thoughts thus conveyed might be expressed likewise as follows: |
Những tư tưởng được truyền đạt như vậy cũng có thể được diễn đạt như sau: |
|
a. The solar system repeating its activity….Repetition in Space. |
a. Hệ mặt trời lặp lại hoạt động của nó….Sự lặp lại trong Không gian. |
|
b. A planetary chain repeating its activity….Repetition in Time. |
b. Một dãy hành tinh lặp lại hoạt động của nó….Sự lặp lại trong Thời gian. |
|
c. The constant consecutive reverberation of a plane note, of a subplane note, and of all that is called into objectivity by that note…..Plane Repetition. |
c. Sự vang dội liên tiếp không ngừng của một âm điệu cõi, của một âm điệu cõi phụ, và của tất cả những gì được gọi vào tính khách quan bởi âm điệu ấy…..Sự lặp lại của Cõi. |
|
d. Khuynh hướng của các nguyên tử duy trì hoạt động của chúng, và do đó tạo ra sự tương tự về hoàn cảnh, môi trường và vận cụ….Sự lặp lại của Hình tướng. |
|
|
When we carry these ideas on to every plane in the solar system, and from thence to the cosmic planes, we have opened up for ourselves infinitude. |
Khi chúng ta mang những ý tưởng này đến mọi cõi trong hệ mặt trời, và từ đó đến các cõi vũ trụ, chúng ta đã mở ra cho chính mình tính vô hạn. |
|
2. Repetition of Cyclic Action is Governed by Two Laws: |
2. Sự Lặp Lại của Hoạt Động Chu Kỳ Được Chi Phối bởi Hai Định Luật: |
|
Perhaps it is more accurate to say that it is governed by one law, primarily, and a subsidiary law. This leads [Page 275] to two general types of cycles, and is involved in the very nature of the Self and of the not-self. The interplay of the two by the aid of mind produces that which we call environment or circumstance. |
Có lẽ nói chính xác hơn là nó được chi phối chủ yếu bởi một định luật, và một định luật phụ. Điều này dẫn [Page 275] đến hai loại chu kỳ tổng quát, và được hàm chứa trong chính bản chất của Bản Ngã và của phi-ngã. Sự tương tác của hai điều ấy nhờ sự trợ giúp của trí tuệ tạo ra điều mà chúng ta gọi là môi trường hay hoàn cảnh. |
|
The general law, which produces cyclic effect, is the Law of Attraction and Repulsion, of which the subsidiary law is the Law of Periodicity, and of Rebirth. Cyclic evolution is entirely the result of the activity of matter, and of the Will or Spirit. It is produced by the interaction of active matter and moulding Spirit. Every form holds hid a Life. Every life constantly reaches out after the similar life latent in other forms. When Spirit and matter sound the same note evolution will cease. When the note sounded by the form is stronger than that of Spirit, we have attraction between forms. When the note sounded by Spirit is stronger than that of matter and form, we have Spirit repelling form. Here we have the basis for the battlefield of life, and its myriads of intermediate stages, which might be expressed as follows: |
Định luật tổng quát tạo ra hiệu quả chu kỳ là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, mà định luật phụ của nó là Định luật Chu Kỳ Tính, và Tái Sinh. Tiến hoá theo chu kỳ hoàn toàn là kết quả của hoạt động của vật chất, và của Ý Chí hay tinh thần. Nó được tạo ra bởi sự tương tác của vật chất linh hoạt và tinh thần tạo khuôn. Mỗi hình tướng đều ẩn chứa một Sự sống. Mỗi sự sống luôn luôn vươn tới sự sống tương tự tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Khi tinh thần và vật chất xướng cùng một âm điệu thì tiến hoá sẽ chấm dứt. Khi âm điệu do hình tướng xướng lên mạnh hơn âm điệu của tinh thần, chúng ta có sự hấp dẫn giữa các hình tướng. Khi âm điệu do tinh thần xướng lên mạnh hơn âm điệu của vật chất và hình tướng, chúng ta có tinh thần đẩy lùi hình tướng. Ở đây chúng ta có cơ sở cho chiến trường của sự sống, và vô số giai đoạn trung gian của nó, có thể được diễn đạt như sau: |
|
a. The period of the domination of the form note is that of involution. |
a. Thời kỳ mà âm điệu của hình tướng thống trị là thời kỳ giáng hạ tiến hoá. |
|
b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds. |
b. Thời kỳ tinh thần đẩy lùi hình tướng là thời kỳ chiến trường của ba cõi giới. |
|
c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path. |
c. Thời kỳ hấp dẫn giữa tinh thần và tinh thần, và do đó rút ra khỏi hình tướng là thời kỳ của Con Đường. |
|
d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution. |
d. Thời kỳ âm điệu của tinh thần thống trị là thời kỳ của các cõi cao hơn của tiến hoá. |
|
To the synchronisation of the notes, or to the lack of synchronisation, may be attributed all that occurs in the world cycles. Thus we have the production of harmony; first, the basic note of matter, then the note of Spirit gradually overcoming the lower note and usurping attention [Page 276] till gradually the note of Spirit overpowers all other notes. Yet it must be borne in mind that it is the note of the life that holds the form together. The note of the Sun, for instance, holds in just attraction the circling spheres, the planets. The notes synchronise and harmonise till the stage of adequacy is reached and the period of abstraction. Cyclic evolution proceeds. A human being, similarly, holds (by means of his note) the atoms of the three bodies together, being to them as the central sun to the planets. Primarily, nevertheless, it may be posited that the Law of Attraction is the demonstration of the powers of Spirit, whilst the Law of Repulsion governs the form. Spirit attracts Spirit throughout the greater cycle. In lesser cycles, Spirit temporarily attracts matter. The tendency of Spirit is to merge and blend with Spirit. Form repulses form, and thus brings about separation. But—during the great cycle of evolution—when the third factor of Mind comes in, and when the point of balance is the goal, the cyclic display of the interaction between Spirit and form is seen, and the result is the ordered cycles of the planets, of a human being, and of an atom. Thus, through repetition, is consciousness developed, and responsive faculty induced. When this faculty is of such a nature that it is an inherent part of the Entity’s working capital, it has to be exercised on every plane, and again cyclic action is the law, and hence rebirth again and again is the method of exercise. When the innate conscious faculty of every unit of consciousness has become co-ordinated as part of the equipment of the Logos on every plane of the solar system, then, and only then, will cyclic evolution cease, will rotary movement on every plane of the cosmic physical plane be of such a uniform vibration as to set up action on the next cosmic plane, the astral. [Page 277] |
Mọi điều xảy ra trong các chu kỳ thế giới đều có thể được quy cho sự đồng bộ của các âm điệu, hay sự thiếu đồng bộ. Như vậy chúng ta có sự tạo ra hài hòa; trước hết là âm điệu căn bản của vật chất, rồi âm điệu của tinh thần dần dần vượt thắng âm điệu thấp hơn và chiếm lấy sự chú ý [Page 276] cho đến khi dần dần âm điệu của tinh thần áp đảo mọi âm điệu khác. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng chính âm điệu của sự sống giữ cho hình tướng gắn kết với nhau. Chẳng hạn, âm điệu của Mặt Trời giữ trong sự hấp dẫn chính xác các khối cầu đang quay, tức các hành tinh. Các âm điệu đồng bộ và hài hòa cho đến khi đạt tới giai đoạn đầy đủ và thời kỳ trừu xuất. Tiến hoá theo chu kỳ tiếp diễn. Tương tự như vậy, con người giữ các nguyên tử của ba thể lại với nhau (bằng âm điệu của y), đối với chúng cũng như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh. Tuy nhiên, về căn bản, có thể khẳng định rằng Định luật Hấp Dẫn là sự biểu lộ các quyền năng của tinh thần, trong khi Định luật Đẩy Lùi chi phối hình tướng. Tinh thần hấp dẫn tinh thần trong suốt chu kỳ lớn hơn. Trong các chu kỳ nhỏ hơn, tinh thần tạm thời hấp dẫn vật chất. Khuynh hướng của tinh thần là hòa nhập và dung hợp với tinh thần. Hình tướng đẩy lùi hình tướng, và do đó tạo ra sự phân ly. Nhưng—trong đại chu kỳ tiến hoá—khi yếu tố thứ ba là Trí tuệ đi vào, và khi điểm quân bình là mục tiêu, thì sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa tinh thần và hình tướng được thấy rõ, và kết quả là các chu kỳ có trật tự của các hành tinh, của con người, và của nguyên tử. Như vậy, thông qua sự lặp lại, tâm thức được phát triển, và năng lực đáp ứng được tạo ra. Khi năng lực này có bản chất đến mức nó là một phần cố hữu trong vốn hoạt động của Thực Thể, thì nó phải được vận dụng trên mọi cõi, và một lần nữa hoạt động chu kỳ là định luật, và do đó tái sinh lặp đi lặp lại là phương pháp vận dụng. Khi năng lực tâm thức bẩm sinh của mọi đơn vị tâm thức đã được phối hợp như một phần của trang bị của Thượng đế trên mọi cõi của hệ mặt trời, thì khi ấy, và chỉ khi ấy, tiến hoá theo chu kỳ mới chấm dứt, chuyển động quay trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ mới có một rung động đồng đều đến mức thiết lập hoạt động trên cõi vũ trụ kế tiếp, tức cõi cảm dục. [Page 277] |
|
3. The Third Idea Involved Is That of the Two Types of Cycles |
3. Ý Tưởng Thứ Ba Được Hàm Chứa là Ý Tưởng về Hai Loại Chu Kỳ |
|
1. Rotation on the axis: This is to be seen whether we are dealing with a minute atom of substance, with a planet revolving on its axis, with the rotation of the causal body, or with the rotation of a solar system. |
1. Sự quay trên trục: Điều này có thể được thấy dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử cực nhỏ của chất liệu, một hành tinh quay trên trục của nó, sự quay của thể nguyên nhân, hay sự quay của một hệ mặt trời. |
|
a. In relation to the human being, this might be considered as the rotation of the various sheaths around the central consciousness during any one incarnation. |
a. Liên quan đến con người, điều này có thể được xem là sự quay của các vỏ bọc khác nhau quanh tâm thức trung tâm trong bất kỳ một lần nhập thể nào. |
|
b. In relation to a Heavenly Man it might be considered as the rotation of a globe within a chain, or the period of one incarnation. |
b. Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem là sự quay của một bầu hành tinh trong một dãy, hay thời kỳ của một lần nhập thể. |
|
c. In relation to a solar Logos it might be considered as one complete revolution of the Sun in space, with all that is included within the ring-pass-not. |
c. Liên quan đến một Thái dương Thượng đế, điều này có thể được xem là một vòng quay trọn vẹn của Mặt Trời trong không gian, cùng với tất cả những gì được bao gồm trong vòng-giới-hạn. |
|
2. Rotation around an orbit. This is the revolution of a sphere of life, not only on its axis, but along a spheroidal path or orbit around a central point. |
2. Sự quay quanh một quỹ đạo. Đây là sự tuần hoàn của một khối cầu sự sống, không chỉ trên trục của nó, mà còn dọc theo một đường đi hay quỹ đạo hình cầu quanh một điểm trung tâm. |
|
a. In connection with man this might be considered as the revolution of the wheel of life, or the passage of an entity through the three lower planes down into incarnation and back again. |
a. Liên quan đến con người, điều này có thể được xem là sự quay của bánh xe sự sống, hay sự đi qua của một thực thể qua ba cõi thấp xuống đến nhập thể rồi trở lại. |
|
b. In connection with a Heavenly Man it might be considered as the cycle which we call a round in which the life of the Heavenly Man cycles through all the seven globes. |
b. Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem là chu kỳ mà chúng ta gọi là một cuộc tuần hoàn, trong đó sự sống của Đấng Thiên Nhân tuần hoàn qua cả bảy bầu hành tinh. |
|
c. In connection with the solar Logos it is the complete revolution of the solar system around its cosmic centre. |
c. Liên quan đến Thái dương Thượng đế, đó là sự tuần hoàn trọn vẹn của hệ mặt trời quanh trung tâm vũ trụ của nó. |
|
It is to be noted at this point that the ideas dealt with in connection with cyclic evolution cannot be posited apart from the concept of consciousness. The ideas of [Page 278] time, of space, and of activity (from the point of view of the occultist), can only be conceived as relative to some conscious entity, to some Thinker. |
Cần lưu ý rằng ở điểm này, những ý tưởng được đề cập liên quan đến tiến hoá theo chu kỳ không thể được khẳng định tách rời khỏi khái niệm tâm thức. Những ý tưởng về [Page 278] thời gian, không gian, và hoạt động (theo quan điểm của nhà huyền bí học), chỉ có thể được quan niệm là tương đối đối với một thực thể hữu thức nào đó, đối với một Đấng Tư Tưởng nào đó. |
|
Time to the occultist is that cycle, greater or lesser, in which some life runs some specific course, in which some particular period begins, continues, and ends, in connection with the awareness of some Entity, and is recognised only as time when the participating life has reached a considerable stage of awareness. Time has been defined as a succession of states of consciousness, (115) and it therefore may be studied from the point of view of |
Đối với nhà huyền bí học, thời gian là chu kỳ, lớn hay nhỏ, trong đó một sự sống vận hành một tiến trình đặc thù nào đó, trong đó một giai đoạn đặc thù bắt đầu, tiếp diễn, và kết thúc, liên quan đến sự nhận biết của một Thực Thể nào đó, và chỉ được nhận ra là thời gian khi sự sống tham dự đã đạt đến một giai đoạn nhận biết đáng kể. Thời gian đã được định nghĩa là một chuỗi các trạng thái tâm thức, (115) và vì vậy nó có thể được nghiên cứu từ quan điểm của |
|
(115) Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng: |
|
|
1. The Universe is in reality but a huge aggregation of states of consciousness.—S. D., II, 633. I, 70, 626, |
1. Vũ trụ thực ra chỉ là một tập hợp khổng lồ các trạng thái tâm thức.—G. L. B. N., II, 633. I, 70, 626, |
|
2. Spirit and consciousness are synonymous terms.—S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593. |
2. Tinh thần và tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa.—G. L. B. N., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593. |
|
3. Every atom in the universe is endowed with consciousness.—S. D., I, 105. II, 709, 742. |
3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức.—G. L. B. N., I, 105. II, 709, 742. |
|
4. Six types of Consciousness as embodied in the Kingdom of Nature on the five planes of Human Evolution.—S. D., I, 123. II, 678. |
4. Sáu loại Tâm thức như được hiện thân trong Giới Thiên Nhiên trên năm cõi của Tiến Hoá Nhân Loại.—G. L. B. N., I, 123. II, 678. |
|
a. Giới Kim Thạch 1. |
|
|
Intelligent activity. All atoms show ability to select, to discriminate intelligently under the Law of Attraction and Repulsion.—S. D., I, 295. |
Hoạt động thông tuệ. Mọi nguyên tử đều cho thấy khả năng chọn lựa, phân biện một cách thông tuệ dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.—G. L. B. N., I, 295. |
|
b. Vegetable Kingdom 2. |
b. Giới Thực Vật 2. |
|
Intelligent activity plus embryo sensation or feeling. |
Hoạt động thông tuệ cộng với cảm giác hay cảm thọ phôi thai. |
|
c. Animal Kingdom 3. |
c. Giới Động Vật 3. |
|
Intelligent activity, sensation plus instinct, or embryo mentality.—S. D., III, 573, 574. |
Hoạt động thông tuệ, cảm giác cộng với bản năng, hay trí tuệ phôi thai.—G. L. B. N., III, 573, 574. |
|
These three embody the sub-human consciousness. |
Ba giới này hiện thân tâm thức dưới nhân loại. |
|
d. Human consciousness 4. |
d. Tâm thức nhân loại 4. |
|
Intelligent activity, love or perfected feeling or realisation and will, or intelligent purpose. The three aspects. S. D., I, 215, 231.—S. D., II, 552. III, 579. |
Hoạt động thông tuệ, tình thương hay cảm nhận hoặc (sự)chứng nghiệm đã hoàn thiện, và ý chí, hay mục đích thông tuệ. Ba phương diện. S. D., I, 215, 231.—S. D., II, 552. III, 579. |
|
This is Self-Consciousness—the middle point.—S. D., I, 297. |
Đây là Ngã thức—điểm ở giữa.—S. D., I, 297. |
|
e. Spiritual Consciousness 5. |
e. Tâm thức tinh thần 5. |
|
Buddhic realisation. The unit is aware of his group. The separated unit identifies himself with his ray or type.—S. D., III, 572. I, 183, 623. |
(Sự)chứng nghiệm Bồ đề. Đơn vị ý thức được nhóm của mình. Đơn vị tách biệt đồng hoá chính mình với cung hay kiểu của mình.—S. D., III, 572. I, 183, 623. |
|
f. Atmic Consciousness 6. |
f. Tâm thức atma 6. |
|
The consciousness of the unit of the Septenary solar system.—S. D., II, 673. II, 741. |
Tâm thức của đơn vị của hệ mặt trời thất phân.—S. D., II, 673. II, 741. |
|
These two embody super-consciousness. |
Hai loại này thể hiện siêu tâm thức. |
|
The seventh type embraces them all and is God Consciousness.—S. D., II, 740 note. |
Loại thứ bảy bao trùm tất cả chúng và là Tâm thức Thượng đế.—S. D., II, 740 note. |
|
Study also S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32 note, 741, 552 note.—S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584. (back) |
Cũng hãy nghiên cứu S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32 note, 741, 552 note.—S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584. (back) |
|
[Page 279] a. Logoic consciousness, or the successive states of divine realisation within the solar sphere. |
[Page 279] a. Tâm thức logoi, hay các trạng thái kế tiếp của (sự)chứng nghiệm thiêng liêng bên trong khối cầu thái dương. |
|
b. Planetary consciousness, or the consciousness of a Heavenly Man as He cycles successively through the scheme. |
b. Tâm thức hành tinh, hay tâm thức của một Đấng Thiên Nhân khi Ngài tuần tự chu chuyển qua hệ hành tinh. |
|
c. Causal consciousness, or the successive expanding of the intelligent awareness of a human being from life to life. |
c. Tâm thức nguyên nhân, hay sự mở rộng kế tiếp của nhận biết thông tuệ của một con người từ kiếp này sang kiếp khác. |
|
d. Human consciousness, or the awareness of a man on the physical plane, and progressively on the emotional and the mental planes. |
d. Tâm thức nhân loại, hay sự nhận biết của con người trên cõi hồng trần, và dần dần trên cõi cảm dục và cõi trí. |
|
e. Animal, vegetable and mineral consciousness which differs from the human consciousness in many particulars, and primarily in that it does not co-ordinate, or deduce and recognise separate identity. It resembles human consciousness in that it covers the response to successive contacts of the units involved during their small cycles. |
e. Tâm thức động vật, thực vật và khoáng vật khác với tâm thức nhân loại ở nhiều chi tiết, và chủ yếu ở chỗ nó không phối hợp, hay suy diễn và nhận ra bản sắc tách biệt. Nó giống tâm thức nhân loại ở chỗ nó bao gồm sự đáp ứng đối với các tiếp xúc kế tiếp của các đơn vị liên hệ trong các chu kỳ nhỏ của chúng. |
|
f. Tâm thức nguyên tử, biểu lộ qua các trạng thái kế tiếp của sự đẩy lùi và hút nhau. Chính trong định nghĩa cuối cùng này có chìa khóa cho các trạng thái tâm thức khác. |
|
|
An atom revolves upon its axis. In its revolution it comes within the field of activity of other atoms. These it either attracts and swings into its own field of operation, or it repulses and drives them outside its range of activity, causing separation. One thing to be borne in mind in the concept of mutual attraction is the preservation of identity in cohesion. |
Một nguyên tử quay trên trục của nó. Trong sự quay đó, nó đi vào trường hoạt động của các nguyên tử khác. Những nguyên tử này hoặc bị nó hút và cuốn vào trường vận hành riêng của nó, hoặc bị nó đẩy ra ngoài phạm vi hoạt động của nó, gây nên sự phân ly. Một điều cần ghi nhớ trong khái niệm về sự hút lẫn nhau là sự bảo tồn bản sắc trong sự kết dính. |
|
A human being in objective manifestation likewise revolves upon his axis, or around his central point, his mainspring of animation; this brings him within the range of activity of other men, other human atoms. This similarly either tends to co-operation or cohesion, or to separation or repulsion. Again it must be borne in mind that even in cohesion identity is preserved. |
Một con người trong biểu hiện khách quan cũng quay trên trục của y, hay quanh điểm trung tâm của y, nguồn động lực sinh hoạt của y; điều này đưa y vào trong phạm vi hoạt động của những người khác, những nguyên tử nhân loại khác. Điều này cũng tương tự hoặc dẫn đến hợp tác hay kết dính, hoặc dẫn đến phân ly hay đẩy lùi. Một lần nữa cần ghi nhớ rằng ngay cả trong sự kết dính, bản sắc vẫn được bảo tồn. |
|
[Page 280] A Heavenly Man, through the form of a planetary chain, similarly revolves upon His axis, and a like phenomenon may be observed. A planet repulses a planet similarly charged, for it is a known law that like particles repel each other, but occultly it is a known law that they will eventually attract each other as the vibration becomes sufficiently strong. A negative planet will be attracted by a positive, and so on through all forms. This is the manifestation of SEX in substance of every kind, from the tiny atom in the body to the vast planetary chains, and this is the basis of activity. Radiatory activity is simply the interplay between male and female, and this can be seen in the physical atom of the scientist, among men and women, and in the vaster atom of a solar system as it vibrates with its cosmic opposite. |
[Page 280] Một Đấng Thiên Nhân, qua hình tướng của một dãy hành tinh, cũng quay trên trục của Ngài, và có thể quan sát thấy một hiện tượng tương tự. Một hành tinh đẩy lùi một hành tinh mang điện tích tương tự, vì đó là một định luật đã biết rằng các hạt giống nhau đẩy nhau, nhưng về mặt huyền bí thì đó là một định luật đã biết rằng cuối cùng chúng sẽ hút nhau khi rung động trở nên đủ mạnh. Một hành tinh âm sẽ bị hút bởi một hành tinh dương, và cứ thế qua mọi hình tướng. Đây là biểu hiện của GIỚI TÍNH trong chất liệu thuộc mọi loại, từ nguyên tử nhỏ bé trong cơ thể đến các dãy hành tinh bao la, và đây là nền tảng của hoạt động. Hoạt động bức xạ chỉ đơn giản là sự tương tác giữa nam và nữ, và điều này có thể thấy trong nguyên tử hồng trần của nhà khoa học, giữa những người nam và nữ, và trong nguyên tử rộng lớn hơn của một hệ mặt trời khi nó rung động với đối cực vũ trụ của nó. |
|
We might, therefore, consider time as that process of activity, or that progression in development, wherein the indwelling Consciousness is seeking its opposite, and coming under the Law of Attraction, which leads to atomic, human, planetary, spiritual, solar and cosmic marriage. This idea is comparatively simple in relation to a human being, and can be seen in daily demonstration in his contacts with other men; these contacts are governed, for instance, very largely by his likes and dislikes. All these attractions and repulsions are under law, and their cause exists in form itself. The emotion of like or of dislike is nothing else but the realisation by the conscious entity of the swinging into his magnetic radius of an atomic form which he is led, by the very law of his own being, to either attract or repulse. Only when the form is transcended, and Spirit seeks out Spirit, will the phenomena of repulsion cease. This will be the inevitable finale at the cessation of solar evolution, and it will bring about pralaya. The duration of the interplay, the period of the search of Spirit for Spirit, and [Page 281] the vibratory process necessitated by the utilisation of the form, this we call Time, whether in connection with a man, a planetary Logos, or the Deity. |
Vì vậy, chúng ta có thể xem xét thời gian như tiến trình hoạt động đó, hay sự tiến triển trong phát triển đó, trong đó Tâm thức nội tại đang tìm kiếm đối cực của mình, và chịu dưới Định luật Hút, định luật dẫn đến hôn phối nguyên tử, nhân loại, hành tinh, tinh thần, thái dương và vũ trụ. Ý tưởng này tương đối đơn giản khi liên hệ đến một con người, và có thể thấy trong biểu hiện hằng ngày nơi các tiếp xúc của y với những người khác; chẳng hạn, các tiếp xúc này phần lớn được chi phối bởi những điều y thích và không thích. Tất cả những sự hút và đẩy này đều ở dưới định luật, và nguyên nhân của chúng tồn tại trong chính hình tướng. Cảm xúc thích hay không thích không là gì khác ngoài sự chứng nghiệm của thực thể có tâm thức về việc một hình tướng nguyên tử đi vào trong bán kính từ tính của y, hình tướng mà do chính định luật của bản thể mình, y bị dẫn dắt để hoặc hút hoặc đẩy lùi. Chỉ khi hình tướng được siêu vượt, và tinh thần tìm đến tinh thần, thì hiện tượng đẩy lùi mới chấm dứt. Đây sẽ là kết cục tất yếu khi sự tiến hoá thái dương chấm dứt, và nó sẽ đưa đến Giai kỳ qui nguyên. Thời lượng của sự tương tác, thời kỳ tinh thần tìm kiếm tinh thần, và [Page 281] tiến trình rung động cần thiết do việc sử dụng hình tướng, đó là điều chúng ta gọi là Thời gian, dù liên hệ với con người, một Hành Tinh Thượng đế, hay Thượng đế. |
|
Space, again, is included in the idea of consciousness, and its utilisation of matter. Space, for the Logos, is literally the form wherein His conscious activities and purposes are worked out—the solar ring-pass-not. The space wherein a planetary Logos works out His plans is similarly as much of solar space as His consciousness is developed enough to use. Man again repeats the process and his ring-pass-not is included in the radius of his consciousness, and may be very circumscribed as in the case of the little evolved, or may be inclusive of a portion of planetary space of great extent, and even in the case of the very highly evolved may begin to touch the periphery of the sphere of influence of the planetary Logos in Whose body he is a cell. |
Không gian, một lần nữa, được bao hàm trong ý niệm về tâm thức, và việc nó sử dụng vật chất. Đối với Thượng đế, không gian theo nghĩa đen là hình tướng trong đó các hoạt động và mục đích có tâm thức của Ngài được triển khai—vòng-giới-hạn thái dương. Không gian trong đó một Hành Tinh Thượng đế triển khai các kế hoạch của Ngài cũng tương tự là phần không gian thái dương mà tâm thức của Ngài đã phát triển đủ để sử dụng. Con người lại lặp lại tiến trình ấy và vòng-giới-hạn của y được bao gồm trong bán kính tâm thức của y, và có thể rất hạn hẹp như trong trường hợp kẻ ít tiến hoá, hoặc có thể bao gồm một phần không gian hành tinh rất rộng lớn, và ngay cả trong trường hợp kẻ rất cao tiến hoá cũng có thể bắt đầu chạm đến chu vi của khối cầu ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng đế mà trong thể của Ngài y là một tế bào. |
|
Space for the atom (for instance, the atom in the physical body of man) will be the radius of the form in which is found the greater centre of consciousness of which it is a part and it will be both attracted and repulsed—attracted and built into the form of the greater Life, yet repulsed and thereby prevented from moving from a certain point within that form. |
Không gian đối với nguyên tử (chẳng hạn nguyên tử trong thể xác của con người) sẽ là bán kính của hình tướng trong đó tìm thấy trung tâm tâm thức lớn hơn mà nó là một phần, và nó sẽ vừa bị hút vừa bị đẩy lùi—bị hút và được xây dựng vào hình tướng của Sự sống lớn hơn, nhưng cũng bị đẩy lùi và nhờ đó bị ngăn không cho di chuyển khỏi một điểm nhất định bên trong hình tướng ấy. |
|
We have here dealt a little with time and space in their relation to a specific centre of consciousness; we have seen that they are simply forms of ideas to express the cyclic activity of an entity. The subject is exceedingly abstruse, due to the low stage of the human intelligence, which is as yet so occupied with the objective or material side of manifestation that the attraction existing between Spirit and Spirit is little more than a concept. When more of the human family have their centre of consciousness in the Ego and hence are busy with the work of repulsing matter, and with the withdrawal of [Page 282] Spirit from form, then only will the transmutative process be comprehended, then only will time (as known in the three worlds) be transcended, and then only will space (as manifested to man through the three lower planes or the eighteen subplanes) be found to be a barrier. This same statement can be predicated of the seven Logoi and of the solar Logos, extending the idea to other planes, solar and cosmic. So also can it be narrowed down to the subhuman, and to the involutionary lives, remembering ever that as the consciousness is more confined and restricted so inertia, lack of response and limitation of radiation will be seen. |
Ở đây chúng ta đã bàn đôi chút về thời gian và không gian trong mối liên hệ của chúng với một trung tâm tâm thức đặc thù; chúng ta đã thấy rằng chúng chỉ đơn giản là những hình tướng của các ý tưởng để diễn đạt hoạt động chu kỳ của một thực thể. Chủ đề này cực kỳ trừu tượng, do giai đoạn thấp của trí tuệ nhân loại, vốn cho đến nay còn quá bận tâm với phương diện khách quan hay vật chất của biểu hiện đến nỗi sự hút tồn tại giữa tinh thần và tinh thần hầu như không hơn gì một khái niệm. Khi nhiều thành viên hơn của gia đình nhân loại có trung tâm tâm thức của họ ở chân ngã và do đó bận rộn với công việc đẩy lùi vật chất, và với sự rút lui của [Page 282] tinh thần khỏi hình tướng, thì chỉ khi ấy tiến trình chuyển hoá mới được thấu hiểu, chỉ khi ấy thời gian (như được biết trong ba cõi giới) mới được siêu vượt, và chỉ khi ấy không gian (như biểu lộ cho con người qua ba cõi thấp hay mười tám cõi phụ) mới được thấy là một rào cản. Cùng một phát biểu này có thể được áp dụng cho bảy Các Thượng đế và cho Thái dương Thượng đế, mở rộng ý tưởng sang các cõi khác, thái dương và vũ trụ. Tương tự, nó cũng có thể được thu hẹp xuống giới dưới nhân loại, và xuống các sự sống giáng hạ tiến hoá, luôn ghi nhớ rằng khi tâm thức càng bị giam hãm và hạn chế hơn thì quán tính, sự thiếu đáp ứng và sự giới hạn của bức xạ sẽ càng được thấy rõ. |
|
By a close scrutiny of chart V, it will be apparent wherein lies the problem of the Logos, and wherein lies the accuracy of the correspondence between Him and His reflection Man. |
Qua việc khảo sát kỹ biểu đồ V, sẽ rõ chính trong đâu có vấn đề của Thượng đế, và chính trong đâu có sự chính xác của định luật tương ứng giữa Ngài và phản ảnh của Ngài là Con Người. |
|
First. Both are in objective manifestation on the physical plane. |
Thứ nhất. Cả hai đều ở trong biểu hiện khách quan trên cõi hồng trần. |
|
Second. Both are at their point of deepest involution. |
Thứ hai. Cả hai đều ở tại điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình. |
|
Third. Both are trammelled by matter, and are developing consciousness (egoic consciousness) on the physical plane—man on the solar physical, and the Logos on the cosmic physical plane. |
Thứ ba. Cả hai đều bị vật chất trói buộc, và đang phát triển tâm thức (tâm thức chân ngã) trên cõi hồng trần—con người trên cõi hồng trần thái dương, và Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
Fourth. Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement. |
Thứ tư. Con người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ có ý thức. Qua sự kiểm soát đó y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và vận dụng vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai còn xa mới đạt được thành tựu. |
|
Fifth. Both work in, with, and by, electrical force. |
Thứ năm. Cả hai đều hoạt động trong, với, và bằng mãnh lực điện. |
|
Sixth. Both come under the laws governing forms and hence both are controlled in time and space by KARMA, which is the Law of forms. It has to do with quality, as force has to do with vibration. |
Thứ sáu. Cả hai đều chịu dưới các định luật chi phối các hình tướng và do đó cả hai đều bị kiểm soát trong thời gian và không gian bởi NGHIỆP QUẢ, vốn là Định luật của các hình tướng. Nó liên hệ đến phẩm tính, cũng như mãnh lực liên hệ đến rung động. |
|
Seventh. Both work through forms made up of: [Page 283] |
Thứ bảy. Cả hai đều hoạt động qua các hình tướng được cấu thành bởi: [Page 283] |
|
a. Three main types of forms: A mental form, one aspect of manifestation; an astral form, a second aspect; and a physical form, the third aspect. The mental vibration sets the key measure and seeks to utilise and co-ordinate the physical body at Will. It deals with or links up the consciousness to the three forms in one direction; it repulses and causes separation in another. The astral vibration deals with the quality, with the attractive measure. It is the psychic element. The physical is the meeting ground of consciousness with the material form. This last is the result produced by the union of the key measure and the quality of tone. |
a. Ba loại hình tướng chính: Một hình tướng trí tuệ, một phương diện của biểu hiện; một hình tướng cảm dục, phương diện thứ hai; và một hình tướng hồng trần, phương diện thứ ba. Rung động trí tuệ đặt ra nhịp điệu chủ chốt và tìm cách sử dụng và phối hợp thể xác theo Ý chí. Nó đề cập đến hay nối kết tâm thức với ba hình tướng theo một hướng; nó đẩy lùi và gây ra phân ly theo hướng khác. Rung động cảm dục liên hệ đến phẩm tính, đến nhịp độ hút. Đó là yếu tố thông linh. Hồng trần là nơi gặp gỡ của tâm thức với hình tướng vật chất. Điều cuối cùng này là kết quả được tạo ra bởi sự kết hợp của nhịp điệu chủ chốt và phẩm tính của âm điệu. |
|
b. Seven centres of force which hold the three forms in one coherent whole, and cause their vitalisation and their co-ordination. They put the triple unit into correlation with their main centre of consciousness on the higher planes, whether that centre is the causal body of man, of a planetary Logos, or of a solar Logos. |
b. Bảy trung tâm mãnh lực giữ ba hình tướng trong một toàn thể cố kết, và gây nên sự tiếp sinh lực và sự phối hợp của chúng. Chúng đặt đơn vị tam phân vào trong tương quan với trung tâm tâm thức chính của chúng trên các cõi cao hơn, dù trung tâm đó là thể nguyên nhân của con người, của một Hành Tinh Thượng đế, hay của một Thái dương Thượng đế. |
|
c. Millions of infinitesimal cells, each embodying a lesser life, each in a condition of constant activity, and each repulsing other cells so as to preserve individuality or identity, yet each held to each by a central attractive force. Thus we have produced the objective form of a crystal, a vegetable, an animal, a man, a planet, a system. |
c. Hàng triệu tế bào cực vi, mỗi tế bào thể hiện một sự sống nhỏ hơn, mỗi tế bào ở trong tình trạng hoạt động không ngừng, và mỗi tế bào đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn cá thể tính hay bản sắc, tuy nhiên mỗi tế bào vẫn được giữ với nhau bởi một mãnh lực hút trung tâm. Như vậy chúng ta tạo ra hình tướng khách quan của một tinh thể, một thực vật, một động vật, một con người, một hành tinh, một hệ thống. |
|
Finally, both work, therefore, in a dual manner and each demonstrates both attraction and repulsion. |
Sau cùng, vì vậy, cả hai đều hoạt động theo cách kép và mỗi bên đều biểu lộ cả hút lẫn đẩy. |
|
Attraction of matter to Spirit and the building of a form for the use of Spirit is the result of electrical energy in the universe, which in each case brings the lesser lives or spheres into its range of influence. The magnetic force, the life of the Logos gathers together His body of manifestation. The magnetic force of the Heavenly Man, the planetary Logos, gathers out of the solar ring-pass-not that which He needs for each incarnation. |
Sự hút của vật chất đối với tinh thần và việc xây dựng một hình tướng cho tinh thần sử dụng là kết quả của năng lượng điện trong vũ trụ, năng lượng trong mỗi trường hợp đưa các sự sống hay các khối cầu nhỏ hơn vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Mãnh lực từ tính, sự sống của Thượng đế, tập hợp thể biểu hiện của Ngài. Mãnh lực từ tính của Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế, tập hợp từ vòng-giới-hạn thái dương điều mà Ngài cần cho mỗi lần nhập thể. |
|
[Page 284] The magnetic force of the Ego gathers, at each rebirth, matter within the particular sphere or scheme within which the Ego has place. So on down the scale, we find the lesser pursuing its round ever within the greater. |
[Page 284] Mãnh lực từ tính của chân ngã tập hợp, trong mỗi lần tái sinh, vật chất bên trong khối cầu hay hệ hành tinh đặc thù mà trong đó chân ngã có vị trí. Cứ thế đi xuống theo thang bậc, chúng ta thấy cái nhỏ hơn luôn theo đuổi cuộc tuần hoàn của nó bên trong cái lớn hơn. |
|
Therefore we have (during a period of Attraction and Repulsion, or a life cycle) that which we call Time and Space, and this holds equally true in the life cycle of a Logos or an ant, or a crystal. There are cycles of activity in matter, due to some energising Will, and then Time and Space are known. There are cycles of non-being when Time and Space are not, and the energising Will is withdrawn. But we must not forget that this is purely relative, and only to be considered from the standpoint of the particular life or entity involved, and the special stage of awareness reached. All must be interpreted in terms of consciousness. |
Vì vậy chúng ta có (trong một thời kỳ Hút và Đẩy, hay một chu kỳ sống) điều mà chúng ta gọi là Thời gian và Không gian, và điều này đúng như nhau trong chu kỳ sống của một Thượng đế, một con kiến, hay một tinh thể. Có những chu kỳ hoạt động trong vật chất, do một Ý chí tiếp năng lượng nào đó, và khi ấy Thời gian và Không gian được biết đến. Có những chu kỳ phi hữu thể khi Thời gian và Không gian không hiện hữu, và Ý chí tiếp năng lượng được rút lại. Nhưng chúng ta không được quên rằng điều này hoàn toàn có tính tương đối, và chỉ được xem xét từ quan điểm của sự sống hay thực thể đặc thù liên hệ, và giai đoạn nhận biết đặc biệt đã đạt tới. Mọi sự đều phải được diễn giải theo các thuật ngữ của tâm thức. |
|
The first type of cycle, or the period involved in one entire revolution of a sphere around its own centre of consciousness, is to the particular Entity involved (be he God or man) a lesser cycle. The second type of cycle or the period involved in the complete circling of an orbit, or the revolution of a sphere around the centre of which it is an integral part, we can consider as a greater cycle. The third type of cycle has not so much to do with the transition of the form through a certain location in space but as the cycle which includes both the greater and the lesser cycles. It has to do with the response of the ENTITY, to Whom our solar Logos is but a centre in His Body, to the contacts made on that centre and on its cosmic opposite. These two centres, for instance, our solar system and its cosmic opposite, in their interaction create a cycle period which has a relation to the “ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS.” This is, of course, beyond human conception, but must be included in our enumeration of cycles if exactitude is to be achieved. [Page 285] |
Loại chu kỳ thứ nhất, hay thời kỳ bao hàm trong một vòng quay trọn vẹn của một khối cầu quanh trung tâm tâm thức riêng của nó, đối với Thực Thể đặc thù liên hệ (dù là Thượng đế hay con người) là một chu kỳ nhỏ hơn. Loại chu kỳ thứ hai hay thời kỳ bao hàm trong sự chu chuyển trọn vẹn của một quỹ đạo, hay sự quay của một khối cầu quanh trung tâm mà nó là một phần toàn vẹn, chúng ta có thể xem là một chu kỳ lớn hơn. Loại chu kỳ thứ ba không liên hệ nhiều đến sự chuyển tiếp của hình tướng qua một vị trí nào đó trong không gian cho bằng chu kỳ bao gồm cả chu kỳ lớn hơn lẫn chu kỳ nhỏ hơn. Nó liên hệ đến sự đáp ứng của THỰC THỂ mà đối với Ngài Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ là một trung tâm trong Thể của Ngài, đối với các tiếp xúc được tạo ra trên trung tâm đó và trên đối cực vũ trụ của nó. Chẳng hạn, hai trung tâm này, hệ mặt trời của chúng ta và đối cực vũ trụ của nó, trong sự tương tác của chúng tạo ra một thời kỳ chu kỳ có liên hệ với “ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA.” Dĩ nhiên điều này vượt ngoài quan niệm của con người, nhưng phải được bao gồm trong sự liệt kê các chu kỳ của chúng ta nếu muốn đạt được tính chính xác. [Page 285] |
VIII. WHY IS KNOWLEDGE BOTH EXOTERIC AND ESOTERIC? |
VIII. TẠI SAO TRI THỨC VỪA NGOẠI MÔN VỪA NỘI MÔN? |
|
(116) |
|
|
(116) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết rằng có bảy ngành tri thức được nhắc đến trong các Purana. S. D., I, 192. |
|
|
Correspondences can here be worked out in connection with:— |
Ở đây có thể triển khai các tương ứng liên hệ với:— |
|
a. The seven Rays, the Lords of Sacrifice, Love and Knowledge. |
a. bảy cung, các Đấng Chúa Tể của Hi sinh, Bác ái và Tri thức. |
|
b. The seven states of consciousness. |
b. bảy trạng thái tâm thức. |
|
c. The seven states of matter or planes. |
c. bảy trạng thái của vật chất hay các cõi. |
|
d. The seven types of forces. |
d. bảy loại mãnh lực. |
|
e. The seven Initiations and many other septenates. |
e. bảy cuộc điểm đạo và nhiều bộ bảy khác. |
|
The Gnosis, the hidden knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles.—S. D., I, 299. |
Gnosis, tri thức ẩn tàng, là nguyên khí thứ bảy, sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí.—S. D., I, 299. |
|
These six schools are:— |
Sáu trường phái này là:— |
|
a. The school of Logic..Proof of right perception. |
a. Trường phái Luận lý..Chứng minh về tri giác đúng đắn. |
|
b. The atomic school…System of particulars. Elements. Alchemy and chemistry. |
b. Trường phái nguyên tử…Hệ thống các đặc tính riêng biệt. Các nguyên tố. Thuật luyện kim và hoá học. |
|
c. The Sankhya school…System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti. |
c. Trường phái Sankhya…Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti. |
|
d. The school of Yoga…Union. The rule of daily life. Mysticism. |
d. Trường phái Yoga…Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học. |
|
e. The school of Ceremonial religion…Ritual. Worship of the devas or Gods. |
e. Trường phái Tôn giáo nghi lễ…Nghi thức. Sự thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế. |
|
f. The Vedanta school…Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atma in man to the Logos. |
f. Trường phái Vedanta…Liên hệ đến phi nhị nguyên. Đề cập đến mối liên hệ của Atma trong con người với Thượng đế. |
|
The Gnosis or hidden knowledge is the same as Atma vidya, or Theosophy, and includes the other six. (back) |
Gnosis hay tri thức ẩn tàng cũng chính là Atma vidya, hay Thông Thiên Học, và bao gồm sáu trường phái kia. (back) |
|
We can now take up the question next in order, which was worded: “Why do we consider certain aspects of knowledge esoteric and other aspects as exoteric?” |
Giờ đây chúng ta có thể nêu câu hỏi kế tiếp theo thứ tự, được diễn đạt như sau: “Tại sao chúng ta xem một số phương diện tri thức là nội môn và các phương diện khác là ngoại môn?” |
|
The answer to this practically involves the realisation that some knowledge deals with the subjective side of life, and the other type of knowledge with the objective side; that one type of knowledge is concerned with energy and force (hence the danger of undue hasty revelation) and another with that which is energised. Therefore it will be apparent that until the faculty of ascertaining subjective information is achieved, whole ranges of facts will remain outside the scope of the consciousness of the majority. |
Câu trả lời cho điều này trên thực tế bao hàm sự chứng nghiệm rằng một loại tri thức đề cập đến phương diện chủ quan của sự sống, còn loại tri thức kia đề cập đến phương diện khách quan; rằng một loại tri thức liên quan đến năng lượng và mãnh lực (do đó có sự nguy hiểm của việc mặc khải quá vội vàng) và loại kia liên quan đến điều được tiếp năng lượng. Vì vậy sẽ rõ rằng cho đến khi đạt được khả năng xác định thông tin chủ quan, toàn bộ những phạm vi sự kiện sẽ vẫn nằm ngoài tầm của tâm thức của đa số. |
|
As we have been told, the goal of evolution is the attainment of consciousness on all planes; owing to the small evolutionary attainment of the race only the physical plane is as yet in any way brought under conscious control. The knowledge which deals with that plane, [Page 286] the information which is concerned with densest objectivity, the sumtotal of facts connected with the five lower subplanes of the physical plane are (from the occult standpoint) considered exoteric. During the next two races the other two subplanes will be mastered, and the entire mass of knowledge concerned with physical and etheric matter, with energy, form and experience on the physical plane, will be easily available to man, and concern only his five physical senses. |
Như chúng ta đã được cho biết, mục tiêu của tiến hoá là đạt được tâm thức trên mọi cõi; do thành tựu tiến hoá còn nhỏ bé của nhân loại, cho đến nay chỉ có cõi hồng trần phần nào được đưa vào dưới sự kiểm soát có ý thức. Tri thức đề cập đến cõi đó, [Page 286] thông tin liên quan đến tính khách quan đậm đặc nhất, tổng số các sự kiện gắn với năm cõi phụ thấp của cõi hồng trần, đều được xem là ngoại môn (theo quan điểm huyền bí học). Trong hai nhân loại kế tiếp, hai cõi phụ còn lại sẽ được làm chủ, và toàn bộ khối tri thức liên quan đến vật chất hồng trần và dĩ thái, đến năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần, sẽ dễ dàng sẵn có cho con người, và chỉ liên quan đến năm giác quan hồng trần của y. |
|
Information and knowledge of the life evolving through the forms will for a considerably longer time be considered esoteric, as also will the apprehension and comprehension of the matter aspect, and the laws governing energy on the astral and the mental planes. This is stated in connection with average man, the rank and file of humanity. Objective or exoteric information is largely that obtained or ascertained by men in the Hall of Learning by means of the five senses, and by experiment. Experiment in due course of time and after many cycles of incarnation is transmuted into experience, and this produces eventually that which we call instinct, or the habitual reaction of some type of consciousness to a given set of circumstances, or of environment. These two factors of the senses and of experimental contact can be seen working out in the animal and human kingdoms; the difference between the two exists in the ability of the man consciously to remember, apprehend, anticipate, and utilise the fruits of past experience, and thus influence the present and prepare for the future. He employs the physical brain for this purpose. An animal likewise has an instinctual memory, apprehension, and an embryo anticipation, but (lacking mind) he is unable to adjust them to circumstances in the sense of prearrangement, and lacks the capacity consciously to utilise, and thus reap, the benefit of past events, and to learn from experience in the manner which a man does. The [Page 287] animal uses the solar plexus in the same way that a man uses the brain; it is the organ of instinct. |
Thông tin và tri thức về sự sống đang tiến hoá qua các hình tướng sẽ còn được xem là nội môn trong một thời gian dài hơn đáng kể, cũng như sự lĩnh hội và thấu hiểu phương diện vật chất, và các định luật chi phối năng lượng trên cõi cảm dục và cõi trí. Điều này được nói ra liên hệ đến con người trung bình, hàng ngũ đông đảo của nhân loại. Thông tin khách quan hay ngoại môn phần lớn là điều được con người thu nhận hay xác định trong Phòng Hiểu Biết bằng năm giác quan, và bằng thực nghiệm. Thực nghiệm theo thời gian và sau nhiều chu kỳ nhập thể được chuyển hoá thành kinh nghiệm, và cuối cùng điều này tạo ra cái mà chúng ta gọi là bản năng, hay phản ứng quen thuộc của một loại tâm thức nào đó đối với một tập hợp hoàn cảnh hay môi trường nhất định. Hai yếu tố này của giác quan và của tiếp xúc thực nghiệm có thể được thấy đang vận hành trong giới động vật và giới nhân loại; sự khác biệt giữa hai giới tồn tại ở khả năng của con người trong việc nhớ lại một cách có ý thức, lĩnh hội, dự liệu, và sử dụng thành quả của kinh nghiệm quá khứ, và nhờ đó ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Y sử dụng bộ não hồng trần cho mục đích này. Động vật cũng có ký ức bản năng, sự lĩnh hội, và một mầm mống dự liệu, nhưng (do thiếu trí tuệ) nó không thể điều chỉnh chúng theo hoàn cảnh theo nghĩa sắp đặt trước, và thiếu khả năng sử dụng một cách có ý thức, và do đó gặt hái, lợi ích của các biến cố quá khứ, cũng như học hỏi từ kinh nghiệm theo cách mà con người làm. Con [Page 287] vật sử dụng tùng thái dương theo cùng cách mà con người sử dụng bộ não; đó là cơ quan của bản năng. |
|
All that can be acquired by instinct and by the use of the concrete mind functioning through the physical brain can be considered as dealing with that which we call exoteric. It is thus evident how the range of fact will differ according to: |
Tất cả những gì có thể đạt được bằng bản năng và bằng việc sử dụng trí cụ thể hoạt động qua bộ não hồng trần đều có thể được xem là đề cập đến điều mà chúng ta gọi là ngoại môn. Do đó hiển nhiên là phạm vi sự kiện sẽ khác nhau tuỳ theo: |
|
a. The age of the soul. |
a. tuổi của linh hồn. |
|
b. Experience developed and used. |
b. kinh nghiệm được phát triển và sử dụng. |
|
c. Condition of the brain and the physical body. |
c. tình trạng của bộ não và thể xác. |
|
d. Circumstances and environment. |
d. hoàn cảnh và môi trường. |
|
As time progresses and man reaches a fair state of evolution, mind is more rapidly developed, and a new factor comes gradually into play. Little by little the intuition, or the transcendental mind, begins to function, and eventually supersedes the lower or concrete mind. It then utilises the physical brain as a receiving plate, but at the same time develops certain centres in the head, and thus transfers the zone of its activity from the physical brain to the higher head centres, existing in etheric matter. For the mass of humanity, this will be effected during the opening up of the etheric subplanes during the next two races. This is paralleled in the animal kingdom by the gradual transference of the zone of activity from the solar plexus to the rudimentary brain, and its gradual development by the aid of manas. |
Khi thời gian tiến triển và con người đạt đến một trạng thái tiến hoá khá tốt, trí tuệ phát triển nhanh hơn, và một yếu tố mới dần dần đi vào hoạt động. Từng chút một, trực giác, hay Trí Tuệ Siêu Việt, bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thay thế hạ trí hay trí cụ thể. Khi ấy nó sử dụng bộ não hồng trần như một tấm tiếp nhận, nhưng đồng thời phát triển một số trung tâm trong đầu, và nhờ đó chuyển vùng hoạt động của nó từ bộ não hồng trần sang các trung tâm đầu cao hơn, tồn tại trong vật chất dĩ thái. Đối với đại đa số nhân loại, điều này sẽ được thực hiện trong thời kỳ khai mở các cõi phụ dĩ thái trong hai nhân loại kế tiếp. Điều này được song hành trong giới động vật bởi sự chuyển dịch dần dần vùng hoạt động từ tùng thái dương sang bộ não sơ khai, và sự phát triển dần dần của nó nhờ sự trợ giúp của manas. |
|
As we consider these points, it will become apparent that the esoteric aspects of knowledge are really those zones of consciousness which are not yet conquered, and brought within the radius of control of the indwelling Entity. |
Khi chúng ta xem xét các điểm này, sẽ trở nên rõ ràng rằng các phương diện nội môn của tri thức thực ra là những vùng tâm thức chưa được chinh phục, và chưa được đưa vào trong bán kính kiểm soát của Thực Thể nội tại. |
|
The point to be emphasised is that when this is realised the true significance of the esoteric and the occult will be appreciated, and the endeavor of all KNOWERS will be to draw within the zone of their knowledge other [Page 288] units who are ready for a similar expansion of consciousness. In this thought lies the key to the work of the Brotherhood. They attract by Their force into certain fields of realisation and endeavor and by that attraction and the response of those human atoms who are ready, the group soul on the upward arc, or a particular centre of a Heavenly Man, is co-ordinated. |
Điểm cần nhấn mạnh là khi điều này được chứng nghiệm, thâm nghĩa đích thực của nội môn và huyền bí học sẽ được đánh giá đúng, và nỗ lực của tất cả CÁC THỨC GIẢ sẽ là đưa vào trong vùng tri thức của mình những [Page 288] đơn vị khác đã sẵn sàng cho một sự mở rộng tâm thức tương tự. Trong tư tưởng này có chìa khóa cho công việc của Huynh đệ Đoàn. Các Ngài hút bằng mãnh lực của Các Ngài vào những lĩnh vực chứng nghiệm và nỗ lực nhất định, và nhờ sự hút đó cùng sự đáp ứng của những nguyên tử nhân loại đã sẵn sàng, hồn nhóm trên cung đi lên, hay một trung tâm đặc thù của một Đấng Thiên Nhân, được phối hợp. |
|
In the same way the animal is brought at a certain stage into the zone of influence of the lesser sons of mind—human beings who are the elder brothers of the animals, as the Masters of the Wisdom are the Elder Brothers where humanity is concerned. So the interlocking proceeds and the division of responsibility. |
Cũng theo cách ấy, động vật được đưa vào ở một giai đoạn nhất định trong vùng ảnh hưởng của các con nhỏ hơn của trí tuệ—những con người là các huynh trưởng của loài vật, cũng như các Chân sư Minh Triết là các Huynh Trưởng đối với nhân loại. Cứ thế sự móc nối tiếp diễn và sự phân chia trách nhiệm cũng vậy. |
IX. WHAT IS THE RELATION BETWEEN: |
IX. MỐI LIÊN HỆ GIỮA: |
|
a. The ten planetary schemes? |
a. mười hệ hành tinh là gì? |
|
b. The seven sacred planets? |
b. bảy hành tinh thiêng liêng là gì? |
|
c. The seven chains in a scheme? |
c. bảy dãy trong một hệ hành tinh là gì? |
|
d. The seven globes in a chain? |
d. bảy bầu hành tinh trong một dãy là gì? |
|
e. The seven rounds on a globe? |
e. bảy cuộc tuần hoàn trên một bầu hành tinh là gì? |
|
f. The seven root-races and the seven subraces? |
f. bảy giống dân gốc và bảy giống dân phụ là gì? |
|
We have in this question a vast quantity of matter to deal with and it will be impossible for us to do more than to get a broad and general idea. |
Trong câu hỏi này chúng ta có một khối lượng chất liệu rất lớn để bàn đến và chúng ta sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc nắm được một ý niệm rộng và tổng quát. |
|
The subject is so vast and the comprehensiveness of the interrelated points is so great that we shall only attain lucidity if we confine our attention to certain broad general conceptions, leaving the subsidiary points for more detailed elucidation at some later period. |
Chủ đề này quá bao la và tính bao quát của các điểm liên hệ lẫn nhau quá lớn đến nỗi chúng ta chỉ có thể đạt được sự sáng tỏ nếu giới hạn sự chú ý của mình vào một số quan niệm tổng quát rộng lớn, để các điểm phụ thuộc lại cho sự làm sáng tỏ chi tiết hơn vào một thời kỳ sau. |
|
1. The Inter-related Parts |
1. Các phần liên hệ lẫn nhau |
|
Primarily I would suggest that we consider this subject only as it concerns a Heavenly Man, that we omit from our immediate calculations the consideration of the cellular composition of His body (those separated units of consciousness which we call deva and human [Page 289] beings), and that we view the matter from what is to the human being, the group concept, and not the individual. |
Trước hết tôi xin gợi ý rằng chúng ta chỉ xem xét chủ đề này trong chừng mực nó liên hệ đến một Đấng Thiên Nhân, rằng chúng ta tạm thời bỏ ra ngoài các tính toán trực tiếp của mình việc xem xét thành phần tế bào của thể Ngài (những đơn vị tâm thức tách biệt mà chúng ta gọi là thiên thần và con người [Page 289]), và rằng chúng ta nhìn vấn đề từ điều mà đối với con người là quan niệm nhóm, chứ không phải cá nhân. |
|
The entire middle section of this treatise on the Fires has to do with the development of the consciousness of a Heavenly Man, and the application by Him of the knowledge gained (through the aid of manas or mind) in a previous solar system, to the acquisition of wisdom through objectivity, and to the transmutation of the earlier acquired faculty into applied Love. This is His work in the same sense that the work of the cells within His body is to develop the mind principle. When through experience in the three worlds the human units have accomplished this, they can then gain—through the final initiations—something of the group concept, or the conscious realisation of place, and of energised activity within the ring-pass-not of their particular planetary Logos. Therefore, we might consider the following points: |
Toàn bộ phần giữa của bộ luận này về các Loại Lửa đề cập đến sự phát triển tâm thức của một Đấng Thiên Nhân, và việc Ngài áp dụng tri thức đã đạt được (nhờ sự trợ giúp của manas hay trí tuệ) trong một hệ mặt trời trước đây, vào việc đạt được minh triết qua tính khách quan, và vào việc chuyển hoá năng lực đã đạt được trước kia thành Bác Ái được áp dụng. Đây là công việc của Ngài theo cùng ý nghĩa như công việc của các tế bào trong thể Ngài là phát triển nguyên khí trí tuệ. Khi qua kinh nghiệm trong ba cõi giới các đơn vị nhân loại đã hoàn thành điều này, khi ấy họ có thể đạt được—qua các cuộc điểm đạo cuối cùng—một phần nào quan niệm nhóm, hay sự chứng nghiệm có ý thức về vị trí, và về hoạt động được tiếp năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của họ. Vì vậy, chúng ta có thể xem xét các điểm sau: |
|
First: The work of the units who go to the make-up of a particular planetary Logos. This is of a threefold nature: |
Thứ nhất: Công việc của các đơn vị tạo nên thành phần của một Hành Tinh Thượng đế đặc thù. Điều này có bản chất tam phân: |
|
a. To attain the consciousness of the realised control of their own individual ring-pass-not, or of their own sphere of activity. This covers the period of evolution up to the first Initiation, or their entrance upon the Path, and thus into the spiritual kingdom. It concerns the awakening of consciousness on the three lower planes. |
a. Đạt được tâm thức về sự kiểm soát đã chứng nghiệm đối với vòng-giới-hạn cá nhân của chính họ, hay đối với khối cầu hoạt động riêng của họ. Điều này bao trùm thời kỳ tiến hoá cho đến lần điểm đạo thứ nhất, hay việc họ bước vào Con Đường, và do đó vào giới tinh thần. Nó liên hệ đến sự thức tỉnh tâm thức trên ba cõi thấp. |
|
b. To attain the consciousness of the particular centre in the body of one of the planetary Logoi—which centre embodies their group activity. This carries them to the fifth Initiation, and covers the period wherein consciousness is awakened on the five planes of evolution. |
b. Đạt được tâm thức về trung tâm đặc thù trong thể của một trong các Hành Tinh Thượng đế—trung tâm thể hiện hoạt động nhóm của họ. Điều này đưa họ đến lần điểm đạo thứ năm, và bao trùm thời kỳ trong đó tâm thức được thức tỉnh trên năm cõi tiến hoá. |
|
c. To attain to the consciousness of the centre in the Body of the Logos of which any particular planetary [Page 290] Logos is the sumtotal. This carries them to the seventh Initiation and covers the period of the awakening of consciousness on the seven planes of the solar system. |
c. Đạt đến tâm thức về trung tâm trong Thể của Thượng đế mà bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào cũng là tổng thể. Điều này đưa họ đến lần điểm đạo thứ bảy và bao trùm thời kỳ thức tỉnh tâm thức trên bảy cõi của hệ mặt trời. |
|
These expansions are attained by the aid of mind, transmuted in due course of time into love-wisdom, and entail the conscious control of the entire seven planes of the solar system, or of the lowest cosmic plane. |
Những sự mở rộng này đạt được nhờ sự trợ giúp của trí tuệ, được chuyển hoá theo thời gian thành Bác Ái – Minh Triết, và bao hàm sự kiểm soát có ý thức đối với toàn bộ bảy cõi của hệ mặt trời, hay cõi vũ trụ thấp nhất. |
|
Second: The work of the Heavenly Men Who in their totality are the seven centres in the body of the Logos. This work is again threefold: |
Thứ hai: Công việc của các Đấng Thiên Nhân là những Đấng trong tổng thể của Các Ngài là bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Công việc này lại cũng tam phân: |
|
a. To attain to full self-consciousness, or to individual consciousness on the five planes; to vibrate with conscious activity within Their Own ring-pass-not, a planetary scheme. This covers a period in the scheme of involution, and of that period during the evolutionary stage which is comprised within the first three rounds up to the entrance upon the fourth round. |
a. Đạt đến ngã thức trọn vẹn, hay tâm thức cá nhân trên năm cõi; rung động với hoạt động có ý thức bên trong vòng-giới-hạn riêng của Các Ngài, một hệ hành tinh. Điều này bao trùm một thời kỳ trong hệ hành tinh của giáng hạ tiến hoá, và của thời kỳ đó trong giai đoạn tiến hoá được bao gồm trong ba cuộc tuần hoàn đầu cho đến khi bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư. |
|
b. To attain to the consciousness of the solar Logos, within Whose body They form the centres. It entails the attainment by a Heavenly Man of a group consciousness of a sevenfold nature, or the achievement of accurate vibratory relationship with the other Heavenly Men Who form the other centres. It carries with it the capacity to have full conscious control on the seven planes of the solar system, and covers that period of development which is undergone in a planetary chain during the fourth, fifth, and sixth rounds. It should be borne in mind that a paralleling recognition should here be given to the fact that the solar Logos holds an analogous position in the body of a cosmic Entity to that held by a Heavenly Man in the body of a solar Logos. |
b. Đạt đến tâm thức của Thái dương Thượng đế, trong thể của Ngài Các Ngài tạo thành các trung tâm. Điều đó bao hàm việc một Đấng Thiên Nhân đạt được một tâm thức nhóm có bản chất thất phân, hay thành tựu mối liên hệ rung động chính xác với các Đấng Thiên Nhân khác tạo thành các trung tâm khác. Nó mang theo khả năng có sự kiểm soát hoàn toàn có ý thức trên bảy cõi của hệ mặt trời, và bao trùm thời kỳ phát triển được trải qua trong một dãy hành tinh trong cuộc tuần hoàn thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Cần ghi nhớ rằng ở đây cũng nên thừa nhận một sự nhận biết song hành đối với sự kiện rằng Thái dương Thượng đế giữ một vị trí tương tự trong thể của một Thực Thể vũ trụ như vị trí mà một Đấng Thiên Nhân giữ trong thể của một Thái dương Thượng đế. |
|
c. To attain to the consciousness of a greater centre on cosmic levels. This covers the period of the seventh round, and gives to a Heavenly Man (when these rounds are viewed in the light of the Eternal Now, and not from the standpoint of time and of space) the consciousness of [Page 291] the cosmic astral, or the second lowest plane of the cosmic planes. A great deal of the problem to be seen slowly working out at this time to a solution is due to the fact that the control of the Heavenly Man, Whose body our scheme may be, is as yet but partial, and His cosmic experience is as yet but imperfect. This necessarily affects the cells in His body in the same way that lack of astral control in the case of a human being, affects his vehicle. It might here be pointed out that the evolution of the Heavenly Men is unequal, and that our planetary Logos has not the control, for instance, that the Heavenly Man of the Venus chain has achieved. In each round one subplane of the cosmic astral plane is brought under control, and the consciousness of the Heavenly Man expands to include one subplane more. The planetary Lord of Venus has dominated and controlled the five subplanes and is working on the sixth. Our planetary Logos is engaged in a similar work on the fourth and fifth. The work, as in all cycles, overlaps and it might be explained thus: |
c. Đạt đến tâm thức của một trung tâm lớn hơn trên các cấp độ vũ trụ. Điều này bao trùm thời kỳ của cuộc tuần hoàn thứ bảy, và mang lại cho một Đấng Thiên Nhân (khi các cuộc tuần hoàn này được nhìn dưới ánh sáng của Hiện Tại Vĩnh Cửu, chứ không từ quan điểm của thời gian và không gian) tâm thức của [Page 291] cõi cảm dục vũ trụ, hay cõi thấp thứ hai trong các cõi vũ trụ. Phần lớn vấn đề hiện đang được thấy chậm rãi tiến tới một giải pháp là do sự kiện rằng sự kiểm soát của Đấng Thiên Nhân mà thể Ngài có thể là hệ hành tinh của chúng ta, cho đến nay vẫn chỉ là từng phần, và kinh nghiệm vũ trụ của Ngài cho đến nay vẫn chưa hoàn hảo. Điều này tất yếu ảnh hưởng đến các tế bào trong thể Ngài theo cùng cách mà sự thiếu kiểm soát cảm dục trong trường hợp một con người ảnh hưởng đến vận cụ của y. Ở đây có thể chỉ ra rằng sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân là không đồng đều, và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chẳng hạn chưa có được sự kiểm soát mà Đấng Thiên Nhân của dãy Kim Tinh đã đạt được. Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ được đưa vào dưới sự kiểm soát, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân mở rộng để bao gồm thêm một cõi phụ nữa. Chúa Tể Hành Tinh của Kim Tinh đã chế ngự và kiểm soát năm cõi phụ và đang làm việc trên cõi phụ thứ sáu. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang dấn thân vào một công việc tương tự trên cõi phụ thứ tư và thứ năm. Công việc này, như trong mọi chu kỳ, có sự chồng lấn và có thể được giải thích như sau: |
|
He is perfecting the control of the fourth subplane on the cosmic astral plane, and has nearly completed it. He is beginning to work at the control of the fifth subplane—a control which will be perfected in the fifth round. |
Ngài đang hoàn thiện sự kiểm soát cõi phụ thứ tư trên cõi cảm dục vũ trụ, và gần như đã hoàn tất. Ngài đang bắt đầu làm việc để kiểm soát cõi phụ thứ năm—một sự kiểm soát sẽ được hoàn thiện trong cuộc tuần hoàn thứ năm. |
|
He is sensing and responding to the vibration of the sixth subplane, but is not as yet fully conscious on that subplane. |
Ngài đang cảm nhận và đáp ứng với rung động của cõi phụ thứ sáu, nhưng cho đến nay chưa hoàn toàn có ý thức trên cõi phụ đó. |
|
We have a corresponding reflection to this in the fourth and fifth root-races on this planet, in which the astral consciousness of the Atlantean cycle is being perfected, the fifth principle is being developed, and the sixth is being gradually sensed. This deserves thoughtful consideration. |
Chúng ta có một phản ảnh tương ứng của điều này trong giống dân gốc thứ tư và thứ năm trên hành tinh này, trong đó tâm thức cảm dục của chu kỳ Atlantis đang được hoàn thiện, nguyên khí thứ năm đang được phát triển, và nguyên khí thứ sáu đang dần dần được cảm nhận. Điều này đáng được suy ngẫm cẩn trọng. |
|
Third: The work of a solar logos is again of a corresponding nature: |
Thứ ba: Công việc của một Thái dương Thượng đế lại cũng có bản chất tương ứng: |
|
[Page 292] a. He has to attain to the full consciousness of His entire ring-pass-not, or of the seven planes of the solar system. This covers a period wherein five of the Heavenly Men, or five of His centres, and therefore, five schemes, reach a stage of accurate response to contact and stimulation. |
[Page 292] a. Ngài phải đạt đến tâm thức trọn vẹn về toàn bộ vòng-giới-hạn của Ngài, hay về bảy cõi của hệ mặt trời. Điều này bao trùm một thời kỳ trong đó năm Đấng Thiên Nhân, hay năm trung tâm của Ngài, và do đó năm hệ hành tinh, đạt đến một giai đoạn đáp ứng chính xác đối với tiếp xúc và kích thích. |
|
b. He has to attain to the consciousness of the cosmic Logos within Whose body He is a centre. He must find by experience His place within the cosmic group of which He is a part, in much the same way as a planetary Logos pursues a similar course. This is achieved when all the Heavenly Men or each of the seven centres are awakened and functioning consciously and freely, with their systemic inter-relation adjusted and controlled by the Law of Action and Reaction. It brings within His control not only the seven subplanes of the cosmic physical plane (our seven major planes) but necessarily also the cosmic astral plane. |
b. Ngài phải đạt đến tâm thức của Thượng đế vũ trụ mà trong thể của Ngài, Ngài là một trung tâm. Ngài phải tìm ra bằng kinh nghiệm vị trí của mình trong nhóm vũ trụ mà Ngài là một phần, theo cách rất giống như một Hành Tinh Thượng đế theo đuổi một tiến trình tương tự. Điều này đạt được khi tất cả các Đấng Thiên Nhân hay mỗi một trong bảy trung tâm đều được thức tỉnh và hoạt động một cách có ý thức và tự do, với mối liên hệ hệ thống của chúng được điều chỉnh và kiểm soát bởi Định luật Hành Động và Phản Ứng. Điều đó đưa vào dưới sự kiểm soát của Ngài không chỉ bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi chính của chúng ta) mà tất yếu còn cả cõi cảm dục vũ trụ nữa. |
|
c. To attain to the consciousness of the centre in the body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. This centre is formed by the sphere of influence of a cosmic Logos. In the body of a cosmic Logos, a solar Logos is a centre. |
c. Đạt đến tâm thức của trung tâm trong thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Trung tâm này được tạo thành bởi khối cầu ảnh hưởng của một Thượng đế vũ trụ. Trong thể của một Thượng đế vũ trụ, một Thái dương Thượng đế là một trung tâm. |
|
We must bear in mind that this enumeration is given from the standpoint of the present, and from the angle of vision (relatively limited) of the Heavenly Man of our particular scheme, and that it is therefore circumscribed by His peculiar conditions, which govern the intelligence of the cells in His body; it is given from the point of view of differentiation and not of synthesis. A synthetic absorption proceeds eventually in connection with all these Entities, and each undergoes a process, paralleling on His Own level that undergone by the Microcosm; in the case of the Microcosm the causal body or the body of the Ego acts as the synthesiser of the energy of the Quaternary or lower Self, and the spiritual |
Chúng ta phải ghi nhớ rằng sự liệt kê này được đưa ra từ quan điểm của hiện tại, và từ góc nhìn (tương đối hạn chế) của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh đặc thù của chúng ta, và do đó bị giới hạn bởi các điều kiện đặc thù của Ngài, những điều kiện chi phối trí tuệ của các tế bào trong thể Ngài; nó được đưa ra từ quan điểm của biến phân chứ không phải của tổng hợp. Cuối cùng một sự hấp thu tổng hợp sẽ diễn ra liên hệ với tất cả các Thực Thể này, và mỗi vị đều trải qua một tiến trình, song hành trên cấp độ riêng của Ngài với tiến trình mà Tiểu thiên địa trải qua; trong trường hợp của Tiểu thiên địa, thể nguyên nhân hay thể của chân ngã hoạt động như yếu tố tổng hợp năng lượng của Bộ Tứ hay phàm ngã thấp, và tinh thần |
|
[Page 293] TABULATION II |
[Page 293] BẢNG II |
|
EVOLUTION IN THE UNIVERSE |
TIẾN HOÁ TRONG VŨ TRỤ |
|
Entity |
Vehicle |
Centre |
Space |
Time |
|
The Unknown |
7 constellations. |
cosmic Logos |
5 cosmic planes. |
|
|
A cosmic Logos |
7 solar systems |
solar Logos |
4 cosmic planes. |
|
|
A solar Logos |
7 planetary |
|||
|
schemes |
Heavenly |
|||
|
Man |
3 cosmic planes. |
Period of three solar systems. |
||
|
A Heavenly Man |
7 planetary |
|||
|
chains |
Chohans and |
|||
|
groups |
2 cosmic planes. |
Period of one solar system. |
||
|
A Man |
7 etheric centrcs |
a Principle |
1 cosmic plane |
Period of one planetary scheme. |
|
[Page 294] or monadic sheath as the synthesiser of the seven principles, making thus the three, the seven, and the ten. |
[Page 294] hoặc vỏ bọc chân thần như đấng tổng hợp của bảy nguyên khí, do đó tạo thành bộ ba, bộ bảy và bộ mười. |
|
In closing I would point out that the mind must carefully be kept from reducing all these ideas into a rankly materialistic concept. It must be rigidly borne in mind that we are dealing with the subjective life, and not with the objective form, and that we are considering, for instance, the synthesis of the principles or the qualitating energies and not the synthesis of form. |
Để kết thúc, tôi xin chỉ ra rằng thể trí phải hết sức được giữ cho khỏi quy giản tất cả các ý tưởng này thành một khái niệm duy vật thô thiển. Phải luôn ghi nhớ một cách nghiêm ngặt rằng chúng ta đang đề cập đến sự sống chủ quan, chứ không phải hình tướng khách quan, và rằng chẳng hạn, chúng ta đang xem xét sự tổng hợp của các nguyên khí hay các năng lượng phẩm tính chứ không phải sự tổng hợp của hình tướng. |
|
Through each etheric centre man is bringing to perfect vibration some one principle or quality through which the subjective life may express itself. |
Qua mỗi trung tâm dĩ thái, con người đang đưa một nguyên khí hay phẩm tính nào đó đến rung động hoàn hảo, nhờ đó sự sống chủ quan có thể biểu lộ chính nó. |
|
Through each chain in a scheme a Heavenly Man is endeavoring to do the same. |
Qua mỗi Dãy trong một hệ hành tinh, một Đấng Thiên Nhân đang nỗ lực làm điều tương tự. |
|
Qua mỗi hệ hành tinh trong một hệ mặt trời, một Thái dương Thượng đế đang hoạt động cho cùng một việc; mục tiêu là phẩm tính tổng hợp chứ không chủ yếu là sự hoàn thiện của hình tướng. Sự đáp ứng của hình tướng được tiếp năng lượng đối với sự sống phẩm tính, một cách tự nhiên—dưới định luật—tương xứng với nhu cầu, nhưng điều này chỉ quan trọng hàng thứ yếu và không phải là mục tiêu được nhắm đến. |
|
|
We have seen that the work to be accomplished in all the above cases is necessarily threefold: |
Chúng ta đã thấy rằng công việc phải được hoàn thành trong mọi trường hợp nêu trên tất yếu là tam phân: |
|
First. The development of individual consciousness. |
Thứ nhất. Sự phát triển của tâm thức cá nhân. |
|
Second. The development of group consciousness. |
Thứ hai. Sự phát triển của tâm thức nhóm. |
|
Third. The development of God consciousness, of that consciousness in each case which represents the highest spiritual Source, and which is recognised as the same in essence as the God within the individual, whether man or solar Logos. |
Thứ ba. Sự phát triển của tâm thức Thượng đế, của tâm thức trong mỗi trường hợp vốn biểu thị Nguồn tinh thần cao nhất, và được nhận biết là đồng nhất về bản chất với Thượng đế bên trong cá nhân, dù là con người hay Thái dương Thượng đế. |
|
This concept must be meditated upon by all thinkers and its synthesis emphasised. The relation of the cell to the group, of the group to the aggregate of groups, and of them all to the indwelling Entity Who holds them in synthetic correlation by means of the Law of Attraction and Repulsion is of vital moment. Two main ideas must always be borne in mind: [Page 295] |
Mọi nhà tư tưởng phải tham thiền về khái niệm này và nhấn mạnh sự tổng hợp của nó. Mối liên hệ của tế bào với nhóm, của nhóm với tổng thể các nhóm, và của tất cả chúng với Thực Thể nội tại, Đấng giữ chúng trong sự tương quan tổng hợp bằng Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, là điều có tầm quan trọng thiết yếu. Luôn phải ghi nhớ hai ý tưởng chính: [Page 295] |
|
That the terms “cell, group, or congery of groups” relate entirely to the form of vehicle, and thus to the matter aspect. |
Rằng các thuật ngữ “tế bào, nhóm, hay tập hợp các nhóm” hoàn toàn liên hệ đến hình tướng của vận cụ, và do đó đến phương diện vật chất. |
|
That the idea of an Entity Who synthesises the groups and is the animating life of the cell has to do with the Spirit aspect. |
Rằng ý tưởng về một Thực Thể tổng hợp các nhóm và là sự sống linh hoạt của tế bào thì liên quan đến phương diện Tinh thần. |
|
These two concepts lead necessarily to a third, that of the development of consciousness, which is the gradual expansion of the realisation of the Indweller in the form, the apprehension by the Self of the relation of the form to Itself, and of its slow utilisation and control. This persists until that Realisation includes the cell, the group, and the totality of groups. These ideas can be applied to the three grades of consciousness referred to. As follows: |
Hai khái niệm này tất yếu dẫn đến một khái niệm thứ ba, đó là sự phát triển của tâm thức, tức sự mở rộng dần dần của sự chứng nghiệm về Đấng Nội Tại trong hình tướng, sự lĩnh hội của Bản Ngã về mối liên hệ của hình tướng với chính Nó, và việc sử dụng cùng kiểm soát nó một cách chậm rãi. Điều này tiếp diễn cho đến khi sự Chứng Nghiệm ấy bao gồm tế bào, nhóm và toàn thể các nhóm. Những ý tưởng này có thể được áp dụng vào ba cấp độ tâm thức đã được nói đến. Như sau: |
|
Man, the lowest type of coherent consciousness (using the word “consciousness” in its true connotation as the “One who knows”) is but a cell, a minute atom within a group. |
Con người, loại tâm thức mạch lạc thấp nhất (dùng từ “tâm thức” theo hàm nghĩa chân thực của nó như là “Đấng biết”) chỉ là một tế bào, một nguyên tử nhỏ bé bên trong một nhóm. |
|
A Heavenly Man represents a coherent conscious group. |
Một Đấng Thiên Nhân biểu thị một nhóm tâm thức mạch lạc. |
|
A solar Logos on His Own plane holds an analogous place to that of a Heavenly Man in a solar system, and from a still higher standpoint to that of a man within the solar system. When the place of the solar planes within the cosmic scheme is duly apprehended it will be recognised that on cosmic levels of a high order the solar Logos is an Intelligence as relatively low in the order of cosmic consciousness as man is in relation to solar consciousness. He is but a cell in the body of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID. His work parallels on cosmic levels the work of man on the solar planes. He has to undergo on the three lower cosmic planes a process of developing an apprehension of His environment of the same nature as man in the three worlds. This fact should be remembered by all students [Page 296] of this central division of our subject; above all the analogy between the cosmic physical planes and the solar physical planes must be pondered upon. It holds hid the fourfold mystery: |
Một Thái dương Thượng đế trên cõi riêng của Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời, và từ một quan điểm còn cao hơn nữa thì tương tự như vị trí của một con người trong hệ mặt trời. Khi vị trí của các cõi thái dương trong hệ vũ trụ được lĩnh hội đúng mức, người ta sẽ nhận ra rằng trên các cấp độ vũ trụ cao, Thái dương Thượng đế là một Trí Tuệ tương đối thấp trong trật tự tâm thức vũ trụ, cũng như con người tương đối với tâm thức thái dương. Ngài chỉ là một tế bào trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Công việc của Ngài trên các cấp độ vũ trụ song hành với công việc của con người trên các cõi thái dương. Ngài phải trải qua trên ba cõi vũ trụ thấp một tiến trình phát triển sự lĩnh hội về môi trường của Ngài có cùng bản chất như con người trong ba cõi giới. Mọi đạo sinh của [Page 296] phân bộ trung tâm này của đề tài chúng ta cần ghi nhớ sự kiện này; trên hết, phải suy ngẫm về sự tương đồng giữa các cõi hồng trần vũ trụ và các cõi hồng trần thái dương. Trong đó ẩn giấu bí nhiệm tứ phân: |
|
1. The mystery of the Akasha. |
1. Bí nhiệm của Akasha. |
|
2. The secret of the fifth round. |
2. Bí mật của cuộc tuần hoàn thứ năm. |
|
3. The esoteric significance of Saturn, the third planet. |
3. Ý nghĩa huyền bí của Sao Thổ, hành tinh thứ ba. |
|
4. The occult nature of cosmic kundalini, or the electrical force of the system. |
4. Bản chất huyền môn của kundalini vũ trụ, hay mãnh lực điện của hệ thống. |
|
One hint on this fourth point may be given for wise consideration. When the electrical interplay between the planets is better ascertained (and by this I mean their negative or positive interplay), then it will be revealed which are related or connected, and which are nearing the point of balance. I would here point out very briefly certain facts, not pausing to elaborate or to elucidate, but simply making various statements which—as the knowledge of man progresses—will assume their rightful place in the ordered scheme. They will then be seen as enlightening and revealing the necessary sequence of development. |
Có thể đưa ra một gợi ý về điểm thứ tư này để suy xét một cách minh triết. Khi sự tương tác điện giữa các hành tinh được xác định rõ hơn (và bởi điều này tôi muốn nói đến sự tương tác âm hay dương của chúng), khi đó sẽ được tiết lộ hành tinh nào có liên hệ hay kết nối với nhau, và hành tinh nào đang tiến gần đến điểm quân bình. Ở đây tôi xin rất ngắn gọn chỉ ra vài sự kiện, không dừng lại để khai triển hay làm sáng tỏ, mà chỉ đơn giản nêu ra nhiều mệnh đề khác nhau, những điều này—khi tri thức của con người tiến bộ—sẽ đảm nhận vị trí đúng đắn của chúng trong hệ thống có trật tự. Khi ấy chúng sẽ được thấy là soi sáng và tiết lộ trình tự phát triển tất yếu. |
|
2. The Work of the Atomic Units. |
2. Công việc của các đơn vị nguyên tử. |
|
a. The seven Heavenly Men, considered in relation to the Entity of Whom the solar Logos is a reflection, are as the seven centres in the physical body of a human being. This will be realised as the correspondence between the cosmic physical plane and the systemic physical plane is studied. |
a. Bảy Đấng Thiên Nhân, được xét trong mối liên hệ với Thực Thể mà Thái dương Thượng đế là sự phản chiếu của Ngài, cũng như bảy trung tâm trong thể xác của một con người. Điều này sẽ được nhận ra khi sự tương ứng giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi hồng trần hệ thống được nghiên cứu. |
|
b. Three of these centres, therefore |
b. Vì vậy, ba trung tâm này |
|
Concern the lower centres of the cosmic Being. |
Liên quan đến các trung tâm thấp của Hữu thể vũ trụ. |
|
Have their analogies on the dense, liquid and gaseous planes. |
Có những tương đồng của chúng trên các cõi đậm đặc, lỏng và khí. |
|
Are at present the object of the attention of cosmic kundalini. |
Hiện nay là đối tượng chú ý của kundalini vũ trụ. |
|
[Page 297] c. One of these centres corresponds to the solar plexus and is the synthesiser of the lower three, thus making a quaternary. |
[Page 297] c. Một trong các trung tâm này tương ứng với tùng thái dương và là đấng tổng hợp của ba trung tâm thấp, do đó tạo thành một bộ bốn. |
|
d. The centre which is analogous to that at the base of the spine, or the reservoir of kundalini, has a permanence which is not seen in the other two lower centres. The Heavenly Man Who embodies this principle and is the source of generative heat to His Brothers, must be sought for by the aid of the intuition. Concrete Mind will not here avail. |
d. Trung tâm tương tự với trung tâm ở đáy cột sống, hay hồ chứa kundalini, có một tính thường tồn không thấy nơi hai trung tâm thấp kia. Đấng Thiên Nhân hiện thân cho nguyên khí này và là nguồn nhiệt sinh sản cho các Huynh Đệ của Ngài, phải được tìm ra nhờ trực giác. Trí cụ thể ở đây sẽ không hữu dụng. |
|
e. The three higher centres, or the Heavenly Men Who correspond to the head, the heart and the throat of the solar Logos, have Their etheric analogies on the three higher etheric levels of the cosmic physical plane, just as the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus finds His manifesting source on the fourth etheric. |
e. Ba trung tâm cao, hay các Đấng Thiên Nhân tương ứng với đầu, tim và cổ họng của Thái dương Thượng đế, có những đối phần dĩ thái của Các Ngài trên ba cấp dĩ thái cao của cõi hồng trần vũ trụ, cũng như Đấng Thiên Nhân hiện thân cho tùng thái dương của Thượng đế tìm thấy nguồn biểu hiện của Ngài trên cõi dĩ thái thứ tư. |
|
f. Đấng Thiên Nhân này, với xoáy lực dĩ thái hay bánh xe lực của Ngài trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, là một nhân tố thiết yếu trong tiến hoá hành tinh. |
|
|
g. When the Heavenly Man, Who is at present demonstrating through the Earth scheme, has succeeded in vitalising His middle centre, or in directing the force of planetary kundalini away from the lower centres to the solar plexus centre, a new cycle will be reached, and much of the present distress will be ended. His work is as yet in an embryonic condition, and two and a half more cycles must transpire before He has accomplished the necessary work. When that is done, the result in connection with the human units in incarnation will be threefold: |
g. Khi Đấng Thiên Nhân, Đấng hiện đang biểu lộ qua hệ hành tinh Địa Cầu, thành công trong việc tiếp sinh lực cho trung tâm giữa của Ngài, hay trong việc hướng mãnh lực kundalini hành tinh ra khỏi các trung tâm thấp đến trung tâm tùng thái dương, thì một chu kỳ mới sẽ đạt tới, và phần lớn nỗi khốn khổ hiện nay sẽ chấm dứt. Công việc của Ngài hiện vẫn còn trong tình trạng phôi thai, và phải thêm hai chu kỳ rưỡi nữa trôi qua trước khi Ngài hoàn thành công việc cần thiết. Khi điều đó được thực hiện, kết quả liên quan đến các đơn vị nhân loại đang lâm phàm sẽ là tam phân: |
|
Sex stimulation, as now understood, will be showing a tendency to manifest in creation, not so much on the physical plane, as on the astral and mental, demonstrating in the creations of art and beauty, and the objective work of the scientists. |
Sự kích thích tính dục, như hiện nay được hiểu, sẽ cho thấy khuynh hướng biểu lộ trong sáng tạo, không nhiều trên cõi hồng trần bằng trên cõi cảm dục và cõi trí, được chứng tỏ trong các sáng tạo của nghệ thuật và mỹ lệ, và trong công trình khách quan của các nhà khoa học. |
|
Crime, as now seen, based largely on the sex emotion, [Page 298] will be a thing of the past, and physical plane license, orgy and horror will be reduced seventy-five per cent. |
Tội ác, như hiện nay được thấy, phần lớn dựa trên cảm xúc tính dục, [Page 298] sẽ trở thành chuyện quá khứ, và sự buông thả, cuồng loạn và kinh hoàng trên cõi hồng trần sẽ giảm bảy mươi lăm phần trăm. |
|
The interplay between the three dense physical planets will be perfected and man will pass at will from one to another. |
Sự tương tác giữa ba hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ được hoàn thiện và con người sẽ tùy ý đi từ hành tinh này sang hành tinh khác. |
|
I would here point out the inadvisability of the method whereby the names of the globes in a chain, just as the names of a chain in a scheme, follow the planetary nomenclature. This has led to confusion. |
Ở đây tôi xin chỉ ra tính không thích đáng của phương pháp theo đó tên các bầu hành tinh trong một Dãy, cũng như tên một Dãy trong một hệ hành tinh, lại theo danh pháp hành tinh. Điều này đã dẫn đến sự lẫn lộn. |
|
A clue tending towards the correct understanding lies hid in the words: “Venus is the Earth’s primary.” (S.D., II, 33. I, 323) |
Một đầu mối hướng đến sự thấu hiểu đúng đắn nằm ẩn trong những lời: “Sao Kim là hành tinh gốc của Trái Đất.” (S.D., II, 33. I, 323) |
|
It is not permissible to say much about this mystery, that “Venus is the Earth’s alter ego,” nor is it advisable, but certain ideas may be suggested which—if brooded on—may result in a wider grasp of the beauty of nature’s synthesis, and of the wonderful correlation of all that is in process of evolution. |
Không được phép nói nhiều về bí nhiệm này, rằng “Sao Kim là alter ego của Trái Đất,” và cũng không nên làm vậy, nhưng có thể gợi ra vài ý tưởng mà—nếu được suy ngẫm sâu xa—có thể dẫn đến một sự nắm bắt rộng lớn hơn về vẻ đẹp của sự tổng hợp trong bản chất, và về sự tương quan kỳ diệu của mọi điều đang trong tiến trình tiến hoá. |
|
Perhaps some idea may be gained if we remember that, in an occult sense, Venus is to the Earth what the higher Self is to man. |
Có lẽ có thể đạt được một vài ý niệm nếu chúng ta nhớ rằng, theo nghĩa huyền bí, Sao Kim đối với Trái Đất cũng như chân ngã đối với con người. |
|
The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. |
Sự giáng lâm của các Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất đều hoàn toàn theo định luật chứ không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh có sự tương ứng của nó trong mối liên hệ giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. Cũng như antahkarana được con người cá nhân xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được con người tập thể trên hành tinh này xây dựng đến hành tinh gốc của nó là Sao Kim. |
|
In connection with these two planets, it must be remembered that Venus is a sacred planet and the Earth is not. This means that certain of the planets are to the Logos what the permanent atoms are to man. They embody principles. Certain planets afford only temporary [Page 299] homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one. |
Liên quan đến hai hành tinh này, phải nhớ rằng Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng còn Trái Đất thì không. Điều này có nghĩa là một số hành tinh đối với Thượng đế cũng như các nguyên tử trường tồn đối với con người. Chúng hiện thân cho các nguyên khí. Một số hành tinh chỉ cung cấp những nơi cư ngụ tạm thời [Page 299] cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa. Sao Kim là một trong số đó. |
|
Three of the sacred planets, it should be remembered, are the home of the three major Rays, of the embodied forms of the three logoic aspects or principles. Other planets are embodiments of the four minor rays. We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time. Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here. The evolution of the inner round has a close connection with this problem. Perhaps some light may be thrown upon the obscurity of the matter by the realisation that just as the Logos has (in the non-sacred planets) the correspondence to the permanent atoms in the human being, so the middle evolution between these two (God and man) is the Heavenly Man, whose body is made up of human and deva monads, and Who has likewise His permanent atoms. Always the three higher principles can be distinguished in importance from the four lower. |
Cần nhớ rằng ba hành tinh thiêng liêng là nơi cư ngụ của ba Cung chính, của các hình tướng hiện thân của ba phương diện hay nguyên khí của Thượng đế. Các hành tinh khác là hiện thân của bốn cung phụ. Chúng ta có thể xét—từ quan điểm hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được xem là các vận cụ của ba siêu-nguyên khí vào lúc này. Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa liên hệ mật thiết với ba hành tinh ấy, nhưng ở đây có một bí nhiệm ẩn giấu. Sự tiến hoá của cuộc tuần hoàn nội tại có liên hệ chặt chẽ với vấn đề này. Có lẽ một ít ánh sáng có thể được rọi vào sự tối nghĩa của vấn đề nếu nhận ra rằng cũng như Thượng đế có (trong các hành tinh không thiêng liêng) sự tương ứng với các nguyên tử trường tồn trong con người, thì sự tiến hoá trung gian giữa hai bên này (Thượng đế và con người) là Đấng Thiên Nhân, mà thể của Ngài được cấu thành bởi các chân thần người và thiên thần, và Ngài cũng có các nguyên tử trường tồn của riêng Ngài. Luôn luôn có thể phân biệt ba nguyên khí cao là quan trọng hơn bốn nguyên khí thấp. |
|
The key is hidden in the fact that between the number of a globe in a chain and its corresponding chain lies a method of communication. The same is true likewise of the correspondence between a chain of globes and a scheme of analogous number. The connection between Venus and the Earth lies hid in number, and it took a moment of mysterious alignment between a globe, its corresponding chain and the scheme of allied number to effect the momentous occurrence known as the coming of the Lords of Flame. It occurred in the third rootrace in the fourth round. Here we have an analogy between the quaternary and the Triad, carrying the interpretation up to a Heavenly Man. The chain was the fourth chain and the globe, the fourth. The fourth [Page 300] chain in the Venus scheme and the fourth globe in that chain were closely involved in the transaction. |
Chìa khóa ẩn giấu trong sự kiện rằng giữa số của một bầu hành tinh trong một Dãy và Dãy tương ứng của nó có một phương pháp thông giao. Điều tương tự cũng đúng đối với sự tương ứng giữa một Dãy các bầu hành tinh và một hệ hành tinh có số tương tự. Mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất ẩn trong con số, và cần đến một khoảnh khắc chỉnh hợp huyền nhiệm giữa một bầu hành tinh, Dãy tương ứng của nó và hệ hành tinh có số liên hệ để tạo nên biến cố trọng đại được biết đến như sự giáng lâm của các Chúa Tể của Lửa. Điều đó xảy ra trong giống dân gốc thứ ba ở cuộc tuần hoàn thứ tư. Ở đây chúng ta có một sự tương đồng giữa bộ bốn và Tam nguyên tinh thần, đưa cách giải thích lên đến một Đấng Thiên Nhân. Dãy ấy là Dãy thứ tư và bầu hành tinh cũng là bầu thứ tư. Dãy thứ tư [Page 300] trong hệ hành tinh Sao Kim và bầu hành tinh thứ tư trong Dãy ấy có liên quan mật thiết đến giao dịch này. |
|
h. The progress of development of the Heavenly Men is by no means uniform. One point has not been emphasised hitherto, and that is, that the problem before each of Them is dissimilar, and, therefore, it is not possible for man correctly to gauge the work done by Them and Their relative point of attainment. It has been said that as Venus is in the fifth round, the Venusian Lord is further progressed than His brothers. This is not altogether so. Just as in the development of humanity three main lines may be seen with four lesser lines merging into one of the three main lines, so in connection with the Heavenly Men, there are three main lines of which the Venusian is not one. The Lord of Venus holds place in the logoic quaternary, as does the Lord of Earth. |
h. Sự tiến triển phát triển của các Đấng Thiên Nhân hoàn toàn không đồng đều. Có một điểm cho đến nay chưa được nhấn mạnh, đó là vấn đề trước mặt mỗi Đấng là khác nhau, và vì vậy con người không thể đánh giá đúng công việc do Các Ngài thực hiện cũng như điểm thành tựu tương đối của Các Ngài. Người ta đã nói rằng vì Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm nên Chúa Tể Kim Tinh tiến bộ hơn các Huynh Đệ của Ngài. Điều này không hoàn toàn đúng. Cũng như trong sự phát triển của nhân loại có thể thấy ba đường chính với bốn đường phụ hòa nhập vào một trong ba đường chính, thì liên quan đến các Đấng Thiên Nhân cũng có ba đường chính mà đường của Kim Tinh không phải là một. Chúa Tể của Sao Kim giữ vị trí trong bộ bốn của Thượng đế, cũng như Chúa Tể của Trái Đất. |
|
The main idea underlying the question we have been endeavoring to answer has to do with the relationship between the schemes, chains, rounds, and races, and it should be borne in mind that these manifestations bear the same relationship to a Heavenly Man as incarnations do to a human being. This gives the opportunity here to bring out perhaps a little more clearly the place of cycles in the evolution of all these Entities from a man up to a cosmic Logos, via a Heavenly Man and a solar Logos. (S.D., I, 258) Just as it is pointed out in the Secret Doctrine that there are greater and lesser cycles in the evolution of a solar system, so it can be predicated equally of a Heavenly Man, of a human being, and of an atom. This brings us, therefore, to another statement: |
Ý tưởng chính nằm bên dưới câu hỏi mà chúng ta đã cố gắng trả lời liên quan đến mối tương quan giữa các hệ hành tinh, các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại, và cần ghi nhớ rằng các biểu hiện này có cùng mối liên hệ với một Đấng Thiên Nhân như các lần nhập thể đối với một con người. Điều này cho ta cơ hội ở đây để có lẽ làm sáng tỏ hơn đôi chút vị trí của các chu kỳ trong sự tiến hoá của tất cả các Thực Thể này từ con người lên đến một Thượng đế vũ trụ, qua một Đấng Thiên Nhân và một Thái dương Thượng đế. (S.D., I, 258) Cũng như trong Giáo Lý Bí Nhiệm đã chỉ ra rằng có những chu kỳ lớn và nhỏ trong sự tiến hoá của một hệ mặt trời, thì điều đó cũng có thể được khẳng định tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân, một con người và một nguyên tử. Do đó, điều này đưa chúng ta đến một phát biểu khác: |
|
i. The cycles in the evolutionary process of all these Entities may be divided mainly into three groups, though necessarily these groups can be extended into septennates and into an infinity of multiples of seven. [Page 301] |
i. Các chu kỳ trong tiến trình tiến hoá của tất cả các Thực Thể này có thể được chia chủ yếu thành ba nhóm, dù tất yếu các nhóm này có thể được mở rộng thành các bộ bảy và thành vô số bội số của bảy. [Page 301] |
|
In connection with a solar Logos the cycles might be called: |
Liên quan đến một Thái dương Thượng đế các chu kỳ có thể được gọi là: |
|
1. One hundred years of Brahma. |
1. Một trăm năm của Brahma. |
|
2. A year of Brahma. |
2. Một năm của Brahma. |
|
3. A day of Brahma. |
3. Một ngày của Brahma. |
|
These periods have been computed by the Hindu students and are the sumtotal of time as we understand it or the duration of a solar system. |
Những thời kỳ này đã được các đạo sinh Ấn giáo tính toán và là tổng số của thời gian như chúng ta hiểu, hay thời lượng của một hệ mặt trời. |
|
In connection with a Heavenly Man we have the corresponding cycles to those of the Logos: |
Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân chúng ta có các chu kỳ tương ứng với các chu kỳ của Thượng đế: |
|
1. The period of a planetary scheme. |
1. Thời kỳ của một hệ hành tinh. |
|
2. The period of a planetary chain. |
2. Thời kỳ của một Dãy hành tinh. |
|
3. The period of a planetary round. |
3. Thời kỳ của một cuộc tuần hoàn hành tinh. |
|
Within these three divisions, which are the differentiations of the three great cycles of incarnation of a planetary Logos, are numerous lesser cycles or incarnations but they all fall within one or other of the three main divisions. Such lesser cycles might be easily comprehended if it were pointed out that they mark such periods as: |
Trong ba phân bộ này, vốn là những sự biến phân của ba chu kỳ nhập thể lớn của một Hành Tinh Thượng đế, có vô số chu kỳ nhỏ hơn hay các lần nhập thể nhỏ hơn, nhưng tất cả đều thuộc vào một trong ba phân bộ chính. Những chu kỳ nhỏ hơn như thế có thể dễ dàng được hiểu nếu chỉ ra rằng chúng đánh dấu những thời kỳ như: |
|
a. The period of manifestation on a globe. |
a. Thời kỳ biểu hiện trên một bầu hành tinh. |
|
b. The period of a root-race. |
b. Thời kỳ của một giống dân gốc. |
|
c. The period of a sub-race. |
c. Thời kỳ của một giống dân phụ. |
|
d. The period of a branch race. |
d. Thời kỳ của một nhân loại nhánh. |
|
In order to apprehend even cursorily the identity of manifestation of a planetary Logos in a root-race, for instance, it must be remembered that the sumtotal of human and deva units upon a planet make the body vital of a planetary Logos, whilst the sumtotal of lesser lives upon a planet (from the material bodies of men or devas down to the other kingdoms of nature) form His body corporeal, and are divisible into two types of such lives: |
Để lĩnh hội dù chỉ sơ lược bản sắc của sự biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế trong một giống dân gốc, chẳng hạn, phải nhớ rằng tổng số các đơn vị người và thiên thần trên một hành tinh tạo nên thể sinh lực của một Hành Tinh Thượng đế, trong khi tổng số các sự sống nhỏ hơn trên một hành tinh (từ các thể vật chất của người hay thiên thần cho đến các giới khác trong bản chất) tạo thành thể xác, và có thể chia thành hai loại sự sống như thế: |
|
a. Those on the evolutionary arc, such as in the animal kingdom.[Page 302] |
a. Những sự sống trên cung tiến hoá, như trong giới động vật.[Page 302] |
|
b. Those on the involutionary arc, such as the totality of all elemental material forms within His sphere of influence. All the involutionary lives, as earlier pointed out, form the vehicles for the spirit of the planet, or the planetary entity, who is the sumtotal of the elemental essences in process of involution. He holds a position (in relation to a Heavenly Man) analogous to that held by the different elementals that go to the make-up of man’s three bodies, physical, astral and mental, and he is—like all manifesting beings—threefold in his nature, but involutionary. Therefore, man and devas (differentiating the devas from the lesser Builders) form the SOUL of a Heavenly Man. Other lives form his BODY, and it is with body and soul that we are concerned in these two divisions of our thesis on FIRE. One group manifests the fire of matter, the other group the fire of mind, for the devas are the personification of the active universal mind, even though man is considered manasic in a different sense. Man bridges in essence; the devas bridge in matter. |
b. Những sự sống trên cung giáng hạ tiến hoá, như toàn thể mọi hình tướng vật chất hành khí trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Tất cả các sự sống giáng hạ tiến hoá, như đã chỉ ra trước đây, tạo thành các vận cụ cho tinh linh linh địa cầu, hay thực thể hành tinh, là tổng số các tinh chất hành khí đang trong tiến trình giáng hạ tiến hoá. Ông giữ một vị trí (liên hệ với một Đấng Thiên Nhân) tương tự như vị trí của các hành khí khác nhau cấu thành ba thể của con người, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, và ông—giống như mọi hữu thể biểu hiện—có bản chất tam phân, nhưng là giáng hạ tiến hoá. Vì vậy, con người và thiên thần (phân biệt thiên thần với các vị tiểu kiến tạo) tạo thành LINH HỒN của một Đấng Thiên Nhân. Những sự sống khác tạo thành THỂ của Ngài, và chính với thể và linh hồn mà chúng ta quan tâm trong hai phân bộ này của luận đề về LỬA. Một nhóm biểu hiện lửa của vật chất, nhóm kia biểu hiện lửa của trí tuệ, vì thiên thần là sự nhân cách hóa của trí tuệ vũ trụ năng động, dù con người được xem là manas theo một nghĩa khác. Con người bắt cầu trong bản chất; thiên thần bắt cầu trong vật chất. |
|
In connection with Man the cycles are equally threefold: |
Liên quan đến Con người các chu kỳ cũng là tam phân: |
|
1. The Monadic cycle, which corresponds in man to the 100 years of Brahma, and to a planetary scheme. |
1. Chu kỳ chân thần, tương ứng nơi con người với 100 năm của Brahma, và với một hệ hành tinh. |
|
2. The Egoic cycle. |
2. Chu kỳ chân ngã. |
|
3. The Personality cycle. |
3. Chu kỳ phàm ngã. |
|
In these thoughts on cycles we have opened up a vast range of thought, especially if we link the idea of egoic and personality cycles to the vaster periods in connection with a planetary Logos. The idea is capable of vast expansion, and is governed by certain fundamental ideas that must be carefully considered and contemplated. |
Trong những tư tưởng này về các chu kỳ, chúng ta đã mở ra một phạm vi tư tưởng rộng lớn, đặc biệt nếu liên kết ý tưởng về các chu kỳ chân ngã và phàm ngã với những thời kỳ bao la hơn liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế. Ý tưởng này có thể được mở rộng rất lớn, và được chi phối bởi một số ý tưởng nền tảng phải được cân nhắc và chiêm ngưỡng cẩn thận. |
|
[Page 303] The cycles in a man’s personality manifestation demonstrate in groups of fours and sevens, and follow the usual evolutionary sequence, as: |
[Page 303] Các chu kỳ trong sự biểu hiện phàm ngã của một người biểu lộ theo các nhóm bốn và bảy, và tuân theo trình tự tiến hoá thông thường, như: |
|
a. Differentiation, the involutionary process, or the one becoming the many, the homogeneous becoming the heterogeneous. |
a. Biến phân, tiến trình giáng hạ tiến hoá, hay cái một trở thành cái nhiều, cái đồng nhất trở thành cái dị biệt. |
|
b. Balance, or the process of karmic adjustment. |
b. Quân bình, hay tiến trình điều chỉnh nghiệp quả. |
|
c. Synthesis, or spiritualisation, the many again becoming the One. |
c. Tổng hợp, hay tinh thần hóa, cái nhiều lại trở thành Cái Một. |
|
d. Obscuration, or liberation, the end of the evolutionary process, or the freeing of Spirit from the limitations of matter. |
d. Che mờ, hay giải thoát, sự kết thúc của tiến trình tiến hoá, hay sự giải phóng Tinh thần khỏi những giới hạn của vật chất. |
|
By this we must understand that all incarnations on the physical plane are not of equal importance, but some are of more moment than others; some, from the point of view of the Ego, are practically negligible, others count; some are to the evolving human Spirit of importance analogous to the incarnation of a planetary Logos in a globe, or through a root-race, whilst others are as relatively unimportant to him as the manifestation of a branch-race is to a Heavenly Man. |
Bởi điều này chúng ta phải hiểu rằng không phải mọi lần nhập thể trên cõi hồng trần đều có tầm quan trọng ngang nhau, mà một số quan trọng hơn những số khác; một số, từ quan điểm của chân ngã, hầu như có thể bỏ qua, những số khác thì đáng kể; một số có tầm quan trọng đối với Tinh thần nhân loại đang tiến hoá tương tự như sự nhập thể của một Hành Tinh Thượng đế trong một bầu hành tinh, hay qua một giống dân gốc, trong khi những số khác tương đối không quan trọng đối với y như sự biểu hiện của một nhân loại nhánh đối với một Đấng Thiên Nhân. |
|
As yet, owing to the small point of development of the average man, the astral incarnations or cycles count for little, but they are by no means to be discounted, and are oft relatively of more importance than the physical. In due course of time the astral cycles will be better comprehended and their relation to the physical. When it is realised that the physical body is not a principle but that the kama-manasic principle (or desire-mind principle) is one of the most vital to man then the period or cycle in which a man functions on the fifth subplane of the astral (the fundamentally kama-manasic plane) will assume its rightful place. It is so again with the mental cycles and so with the causal. The causal cycles or the egoic cycles, which include all the groups of lesser [Page 304] cycles in the three worlds correspond to a complete round in the cycles of a Heavenly Man. There are seven such cycles, but the number of lesser cycles (included within the seven) is one of the secrets of Initiation. |
Hiện nay, do điểm phát triển còn nhỏ của con người trung bình, các lần nhập thể hay chu kỳ cảm dục ít được tính đến, nhưng tuyệt nhiên không thể xem nhẹ chúng, và chúng thường tương đối quan trọng hơn cõi hồng trần. Đến đúng thời, các chu kỳ cảm dục và mối liên hệ của chúng với cõi hồng trần sẽ được hiểu rõ hơn. Khi người ta nhận ra rằng thể xác không phải là một nguyên khí mà nguyên khí trí-cảm (hay nguyên khí dục-vọng-trí tuệ) là một trong những nguyên khí thiết yếu nhất đối với con người, thì thời kỳ hay chu kỳ trong đó một người hoạt động trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục (cõi căn bản trí-cảm) sẽ giữ vị trí đúng đắn của nó. Điều này cũng đúng với các chu kỳ trí tuệ và cũng đúng với các chu kỳ nguyên nhân. Các chu kỳ nguyên nhân hay các chu kỳ chân ngã, bao gồm mọi nhóm chu kỳ nhỏ hơn [Page 304] trong ba cõi giới, tương ứng với một cuộc tuần hoàn hoàn chỉnh trong các chu kỳ của một Đấng Thiên Nhân. Có bảy chu kỳ như thế, nhưng số lượng các chu kỳ nhỏ hơn (được bao gồm trong bảy chu kỳ ấy) là một trong những bí mật của Điểm đạo. |
|
The egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, and not in groups of fours and sevens as do the personality cycles, and the same ratio must be predicated of the central cycles of a Heavenly Man and of a solar Logos. |
Các chu kỳ chân ngã tiến hành theo các nhóm bảy và ba, chứ không theo các nhóm bốn và bảy như các chu kỳ phàm ngã, và cùng một tỷ lệ ấy phải được khẳng định đối với các chu kỳ trung tâm của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế. |
|
The monadic cycles proceed in groups of ones and of threes as do the basic cycles of those great Entities of which man is the microcosmic reflection. If the general concept here laid down is studied in relation to the schemes, and other forms of manifestation to each other and, if the microcosm himself is studied as the clue to the whole, some idea will begin to permeate the mind as to the purpose underlying all these manifestations. It should be borne also in mind that just as the average man in each incarnation achieves three objects: |
Các chu kỳ chân thần tiến hành theo các nhóm một và ba cũng như các chu kỳ căn bản của những Thực Thể vĩ đại mà con người là sự phản chiếu tiểu thiên địa. Nếu khái niệm tổng quát được nêu ra ở đây được nghiên cứu trong mối liên hệ giữa các hệ hành tinh và các hình thức biểu hiện khác với nhau, và nếu chính tiểu thiên địa được nghiên cứu như đầu mối cho toàn thể, thì một vài ý niệm sẽ bắt đầu thấm nhuần thể trí về mục đích nằm bên dưới tất cả các biểu hiện này. Cũng cần ghi nhớ rằng cũng như con người trung bình trong mỗi lần nhập thể đạt được ba mục tiêu: |
|
1. The development of consciousness or the awakening of the faculty of awareness, |
1. Sự phát triển của tâm thức hay sự thức tỉnh năng lực nhận biết, |
|
2. The achievement of a certain proportion of permanent faculty, or the definite increase of the content of the causal body, |
2. Sự đạt được một tỷ lệ nhất định của năng lực trường tồn, hay sự gia tăng xác định nội dung của thể nguyên nhân, |
|
3. The making of karma, or the setting in motion (by action), of causes which necessitate certain unavoidable effects, |
3. Việc tạo nghiệp quả, hay khởi động (bằng hành động) những nguyên nhân đòi hỏi những kết quả tất yếu nào đó, |
|
so a Heavenly Man at one stage of His evolution does the same. As man progresses and as he enters upon the Probationary Path and the subsequent Path of Initiation, he succeeds in bringing about some further noticeable developments. |
thì một Đấng Thiên Nhân ở một giai đoạn tiến hoá của Ngài cũng làm như vậy. Khi con người tiến bộ và khi y bước vào Con Đường Dự Bị rồi tiếp đó là Con Đường Điểm Đạo, y thành công trong việc tạo ra một số phát triển thêm đáng chú ý. |
|
1. As before, his consciousness expands, but he begins to work intelligently from above and does not work blindly on the lower planes. [Page 305] |
1. Như trước, tâm thức của y mở rộng, nhưng y bắt đầu hoạt động một cách thông minh từ bên trên và không hoạt động mù quáng trên các cõi thấp. [Page 305] |
|
2. The building of the causal body is carried to full completion, and he begins next to shatter what he earlier wrought, and to destroy the Temple so carefully constructed, finding it too to be a limitation. |
2. Việc xây dựng thể nguyên nhân được đưa đến chỗ hoàn tất trọn vẹn, và tiếp theo y bắt đầu phá vỡ điều mà trước đây y đã tạo dựng, và hủy diệt Ngôi Đền đã được kiến tạo cẩn trọng đến thế, vì thấy rằng nó cũng là một giới hạn. |
|
3. He ceases to make karma in the three worlds, but begins to work it off, or, literally, to “wind up his affairs.” |
3. Y ngừng tạo nghiệp quả trong ba cõi giới, nhưng bắt đầu giải trừ nó, hay nói theo nghĩa đen, “thu xếp công việc của mình.” |
|
So do the Heavenly Men, for They likewise have a cosmic path to tread, analogous to that trodden by man, as he nears the goal of his endeavor. |
Các Đấng Thiên Nhân cũng vậy, vì Các Ngài cũng có một Con Đường vũ trụ phải bước đi, tương tự với con đường mà con người bước đi khi y tiến gần mục tiêu nỗ lực của mình. |
|
Again we can with exactitude carry the concept further still, and predicate action of a similar nature by the solar Logos. |
Một lần nữa, chúng ta có thể với độ chính xác tiếp tục mở rộng khái niệm này hơn nữa, và khẳng định hành động có bản chất tương tự nơi Thái dương Thượng đế. |
|
The consideration of this question is nearly concluded and it must be apparent that the relation between the aforementioned manifestations is of a psychic nature (using the word psychic in its true sense, as having reference to the psyche, or soul, or consciousness) and deals with the gradual expansion of Soul-Knowledge in a Heavenly Man. A word of warning should here be sounded. Though all these cosmic Beings find in man a reflection of Their Own Nature, yet the analogy of resemblance must not be pushed to extremity. Man reflects, but he reflects not perfectly; man is evolving, but he is not occupied with the same problems in exact detail as are the perfected Manasaputras. |
Việc xem xét câu hỏi này gần như đã kết thúc và hẳn phải rõ ràng rằng mối liên hệ giữa các biểu hiện đã nêu ở trên có bản chất thông linh (dùng từ thông linh theo nghĩa chân thực của nó, như có liên hệ đến psyche, hay linh hồn, hay tâm thức) và liên quan đến sự mở rộng dần dần của Tri Thức Linh Hồn trong một Đấng Thiên Nhân. Ở đây cần đưa ra một lời cảnh báo. Dù tất cả các Hữu thể vũ trụ này đều tìm thấy nơi con người một sự phản chiếu của Bản Chất riêng của Các Ngài, tuy nhiên sự tương đồng về giống nhau không được đẩy đến cực đoan. Con người phản chiếu, nhưng không phản chiếu một cách hoàn hảo; con người đang tiến hoá, nhưng y không bận tâm đến cùng những vấn đề chi tiết chính xác như các Manasaputra đã hoàn thiện. |
|
Man aims at becoming a Divine Manasaputra, or perfected Son of Mind showing forth all the powers inherent in mind, and thus becoming like unto his monadic source, a Heavenly Man. A Heavenly Man has developed Manas, and is occupied with the problem of becoming a Son of Wisdom, not inherently but in full manifestation. A solar Logos is both a Divine Manasaputra and likewise a Dragon of Wisdom, and His problem concerns itself [Page 306] with the development of the principle of cosmic Will which will make Him what has been called a “Lion of Cosmic Will.” |
Con người nhắm đến việc trở thành một Manasaputra Thiêng Liêng, hay Con của Trí Tuệ hoàn hảo biểu lộ mọi quyền năng vốn có trong trí tuệ, và do đó trở nên giống với nguồn chân thần của mình là một Đấng Thiên Nhân. Một Đấng Thiên Nhân đã phát triển Manas, và đang bận tâm với vấn đề trở thành một Con của Minh Triết, không phải vốn sẵn như vậy mà là trong sự biểu hiện trọn vẹn. Một Thái dương Thượng đế vừa là một Manasaputra Thiêng Liêng vừa là một Rồng của Minh Triết, và vấn đề của Ngài liên quan đến [Page 306] sự phát triển nguyên khí Ý Chí vũ trụ, điều sẽ làm cho Ngài trở thành điều đã được gọi là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ.” |
|
Throughout all these graded manifestations the law holds good, and the lesser is included in the greater. Hence the need for the student to preserve with care a due sense of proportion, a discrimination as to time in evolution, and a just appreciation of the place of each unit within its greater sphere. Having sounded this note of warning we can now proceed with the concluding remarks anent this final question. |
Xuyên suốt tất cả những biểu hiện có cấp bậc này, định luật vẫn đúng, và cái nhỏ hơn được bao gồm trong cái lớn hơn. Do đó cần cho đạo sinh phải cẩn trọng giữ gìn một Ý thức về tỉ lệ thích đáng, một sự phân biện về thời gian trong tiến hoá, và một sự đánh giá đúng đắn về vị trí của mỗi đơn vị trong khối cầu lớn hơn của nó. Sau khi đã gióng lên nốt cảnh báo này, giờ đây chúng ta có thể tiếp tục với những nhận xét kết luận liên quan đến câu hỏi cuối cùng này. |
|
It has been stated that a mystery lies hid in the 777 incarnations. This figure provides room for much speculation. (S.D., I, 191) It should be pointed out that it does not hold the number of a stated cycle of incarnations through which a man must pass, but holds the key to the three major cycles previously mentioned. Primarily this number applies to the planetary Logos of our scheme and not so much to other schemes. Each Heavenly Man has His number and the number of our Heavenly Man lies hid in the above three figures, just as 666 and 888 holds the mystery hid of two other Heavenly Men. This number 777 is also the number of transmutation, which is the fundamental work of all the Heavenly Men. The basic work of man is accumulation and acquisition, or the acquiring of that which must later be transmuted. The work of transmutation, or the true cycle of 777 commences on the Probationary Path, and is definitely the activity of a Heavenly Man being realised and responded to by the cells in His Body. Only when His Body has reached a certain vibratory movement can He truly influence the individual cells. This work of transmuting cell activity was begun on this planet during the last root-race, and the divine alchemy proceeds. The progress made is as yet but small, but each transmuted [Page 307] conscious cell increases the speed and the accuracy of the work. Time alone is needed for the completion of the work. In connection with this matter of transmutation comes the legend of the Philosopher’s Stone, which is literally the application of the Rod of Initiation, in one sense. |
Đã có nói rằng một bí nhiệm ẩn giấu trong 777 lần nhập thể. Con số này mở ra chỗ cho nhiều suy đoán. (S.D., I, 191) Cần chỉ ra rằng nó không nắm giữ số lượng của một chu kỳ nhập thể xác định mà con người phải trải qua, nhưng nắm giữ chìa khóa của ba chu kỳ chính đã được đề cập trước đây. Trước hết, con số này áp dụng cho Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta chứ không nhiều đối với các hệ hành tinh khác. Mỗi Đấng Thiên Nhân có con số của Ngài và con số của Đấng Thiên Nhân của chúng ta ẩn trong ba chữ số trên, cũng như 666 và 888 nắm giữ bí nhiệm ẩn giấu của hai Đấng Thiên Nhân khác. Con số 777 này cũng là con số của sự chuyển hoá, vốn là công việc căn bản của tất cả các Đấng Thiên Nhân. Công việc căn bản của con người là tích lũy và thu nhận, hay thu nhận điều mà về sau phải được chuyển hoá. Công việc chuyển hoá, hay chu kỳ chân thực của 777, bắt đầu trên Con Đường Dự Bị, và rõ ràng là hoạt động của một Đấng Thiên Nhân đang được các tế bào trong Thể của Ngài chứng nghiệm và đáp ứng. Chỉ khi Thể của Ngài đã đạt đến một chuyển động rung động nhất định thì Ngài mới thực sự có thể ảnh hưởng đến các tế bào cá biệt. Công việc chuyển hoá hoạt động của tế bào này đã được bắt đầu trên hành tinh này trong giống dân gốc cuối cùng, và thuật luyện kim thiêng liêng vẫn tiếp diễn. Tiến bộ đạt được cho đến nay vẫn còn nhỏ, nhưng mỗi tế bào hữu thức được chuyển hoá lại làm tăng tốc độ và độ chính xác của công việc. Chỉ cần thời gian để hoàn tất công việc. Liên quan đến vấn đề chuyển hoá này xuất hiện truyền thuyết về Hòn Đá của Nhà Hiền Triết, theo một nghĩa, đúng theo nghĩa đen là sự áp dụng Thần Trượng Điểm đạo.[Page 307] |
DIVISION A – THE NATURE MANAS OR MIND |
PHÂN BỘ A – BẢN CHẤT CỦA MANAS HAY TRÍ TUỆ |
|
[Page 308] I. Three manifestations of manas. |
[Page 308] I. Ba biểu hiện của manas. |
|
II. Some definitions of manas: |
II. Một số định nghĩa về manas: |
|
1. Manas is the fifth principle. |
1. Manas là nguyên khí thứ năm. |
|
2. Manas is electricity. |
2. Manas là điện. |
|
3. Manas is that which produces cohesion. |
3. Manas là cái tạo ra sự cố kết. |
|
4. Manas is the key opening the door into the fifth kingdom. |
4. Manas là chìa khóa mở cánh cửa vào giới thứ năm. |
|
5. Manas is the synthetic vibration of five rays. |
5. Manas là rung động tổng hợp của năm cung. |
|
6. Manas is the intelligent will or ordered purpose of an existence. |
6. Manas là ý chí thông minh hay mục đích có trật tự của một hiện hữu. |
|
We enter now upon a very important division of our subject, and take up for consideration the Fire of Mind, cosmically, systemically, and humanly considered. We have dealt with the fire of matter, and studied for a while its purpose, origin and work. We considered somewhat the factor of Consciousness, and saw that the great work of a solar Logos, with all included manifesting lives, was the development of a conscious control, and a psychic awareness within certain set limits. Having laid down these preliminary foundation thoughts, we need now to block out, for the sake of clarity, the mass of material that is available on the subject of the manasic fire, which is the animating principle of consciousness itself. Let us first of all get one broad general outline and then proceed to fill in the details. |
Giờ đây chúng ta bước vào một phân bộ rất quan trọng của đề tài, và bắt đầu xem xét Lửa của Trí Tuệ, xét theo vũ trụ, hệ thống và con người. Chúng ta đã đề cập đến lửa của vật chất, và đã nghiên cứu một thời gian về mục đích, nguồn gốc và công việc của nó. Chúng ta đã phần nào xem xét yếu tố Tâm thức, và thấy rằng công việc lớn lao của một Thái dương Thượng đế, cùng với mọi sự sống biểu hiện được bao gồm, là sự phát triển một sự kiểm soát có ý thức và một sự nhận biết thông linh trong những giới hạn nhất định. Sau khi đã đặt ra những tư tưởng nền tảng sơ bộ này, giờ đây chúng ta cần phác họa, vì mục đích sáng tỏ, khối lượng tư liệu sẵn có về đề tài lửa manas, vốn là nguyên khí linh hoạt của chính tâm thức. Trước hết, hãy có một đại cương rộng lớn rồi sau đó tiếp tục điền vào các chi tiết. |
I. THREE MANIFESTATIONS OF MANAS |
I. BA BIỂU HIỆN CỦA MANAS |
|
(120) |
|
|
(120) “Manas là biệt ngã tính hay chân ngã tinh thần về phía Tam nguyên tinh thần cao, và là phàm ngã hay chân ngã cảm dục về phía bộ bốn thấp. Manas là trục xoay của cấu trúc con người, hay trung tâm mà trên đó các phần tinh thần và vật chất của con người được làm cho quay.” |
|
|
“Lower manas is only a ray of the higher manas let into the fleshly tabernacle for illuminating its being and giving it thought, desire and memory.” |
“Hạ manas chỉ là một tia của thượng manas được đưa vào lều trại bằng xương thịt để soi sáng hiện hữu của nó và ban cho nó tư tưởng, dục vọng và ký ức.” |
|
“It is because manas is the turning point in the cycle that H. P. B. has considered it under the two aspects—higher and lower—the higher the attainer and experiencer of spiritual heights and the lower, the soul of the lower three, the triangle that completes embodiment. Manas is therefore the battle-ground of forces contained in the microcosm….The stage of evolution which we have reached is the very starting point of the great struggle.”—Some Thoughts on the Gita. (back) |
“Chính vì manas là điểm xoay chuyển trong chu kỳ mà H. P. B. đã xem xét nó dưới hai phương diện—cao và thấp—phương diện cao là kẻ đạt đến và kinh nghiệm những đỉnh cao tinh thần, còn phương diện thấp là linh hồn của ba phần thấp, tam giác hoàn tất sự nhập thể. Do đó manas là chiến trường của các mãnh lực chứa đựng trong tiểu thiên địa….Giai đoạn tiến hoá mà chúng ta đã đạt tới chính là điểm khởi đầu của cuộc đấu tranh lớn.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita. (trở lại) |
|
1. The fire of mind, cosmically considered. [Page 309] |
1. Lửa của trí tuệ, xét theo vũ trụ. [Page 309] |
|
2. The fire of mind viewed systemically. |
2. Lửa của trí tuệ, xét theo hệ thống. |
|
3. The fire of mind in connection with a human being. |
3. Lửa của trí tuệ liên quan đến một con người. |
|
Nói cách khác, điều chúng ta đang cố gắng làm là nghiên cứu Trí Tuệ trong một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và trong Tiểu thiên địa. Mỗi một trong ba phân bộ chính này có thể được bàn đến dưới bốn đề mục phụ, có thể được diễn đạt như sau: |
|
|
a. The origin of cosmic, systemic and microcosmic mind. |
a. Nguồn gốc của trí tuệ vũ trụ, hệ thống và tiểu thiên địa. |
|
b. The place of mind in evolution in all three cases. |
b. Vị trí của trí tuệ trong tiến hoá trong cả ba trường hợp. |
|
c. The present stage of development of mind in each of the three groups. |
c. Giai đoạn phát triển hiện nay của trí tuệ trong mỗi một trong ba nhóm. |
|
d. The future of mind, or of manasic unfoldment. |
d. Tương lai của trí tuệ, hay của sự khai mở manas. |
|
When we have taken up these points, we should have a clearer idea as to the purpose and place of the fire of the intelligence, and should be able accurately to comprehend its correlating synthetic work. |
Khi chúng ta đã xét đến những điểm này, chúng ta hẳn sẽ có một ý niệm rõ ràng hơn về mục đích và vị trí của lửa của trí tuệ, và sẽ có thể thấu hiểu một cách chính xác công việc tổng hợp tương liên của nó. |
|
Before, however, following up these ideas it might prove of value to us if we sought to define this principle of manas and see what is already understood by it. |
Tuy nhiên, trước khi tiếp tục theo đuổi những ý tưởng này, sẽ có ích cho chúng ta nếu chúng ta tìm cách định nghĩa nguyên khí manas này và xem điều gì đã được thấu hiểu về nó. |
II. DEFINITIONS OF MANAS OR MIND |
II. CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ MANAS HAY TRÍ TUỆ |
1. Manas, as we already know, is the fifth principle. |
1. Manas, như chúng ta đã biết, là nguyên khí thứ năm. |
|
Here enter in certain factors and analogies that it would be of profit to us to mention at this juncture. |
Ở đây xuất hiện một số yếu tố và các tương đồng mà sẽ có lợi cho chúng ta nếu nêu ra vào lúc này. |
|
This fifth principle embodies the basic vibration of the fifth plane, either cosmically or systemically considered. A certain sound of the logoic Word, when it [Page 310] reaches the mental plane, causes a vibration in the matter of that plane, arrests its tendency to dissipate, causes it to take spheroidal form, and builds it literally into a body which is held in coherent shape by a mighty deva Entity, the Raja Lord of the mental plane. Exactly the same procedure ensued on cosmic levels, when a still mightier sound was uttered by the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and the utterance of this caused a vibration on the fifth cosmic plane. Certain great Entities became active, including such relatively unimportant Beings as our solar Logos and His group. |
Nguyên khí thứ năm này thể hiện rung động căn bản của cõi thứ năm, dù được xét theo vũ trụ hay theo hệ thống. Một âm thanh nào đó của Linh từ logoic, khi nó [Page 310] đạt đến cõi trí, gây ra một rung động trong vật chất của cõi ấy, ngăn chặn khuynh hướng làm tiêu tan của nó, khiến nó mang hình cầu, và thực sự xây dựng nó thành một thể được giữ trong hình dạng kết dính bởi một Thực Thể thiên thần hùng mạnh, Chúa Tể Raja của cõi trí. Chính cùng một tiến trình như thế đã xảy ra trên các cấp độ vũ trụ, khi một âm thanh còn hùng mạnh hơn nữa được xướng lên bởi Đấng Bất Khả Tư Nghị, và sự xướng lên này gây ra một rung động trên cõi vũ trụ thứ năm. Một số Thực Thể vĩ đại trở nên hoạt động, kể cả những Hữu Thể tương đối không quan trọng như Thái dương Thượng đế của chúng ta và nhóm của Ngài. |
|
This fifth principle is the distinctive coloring of a particular group of solar Logoi on the causal level of the cosmic mental, and is the animating factor of Their Existence, the reason of Their manifesting through various solar systems, and the great Will-to-be that brings Them forth into objectivity. |
Nguyên khí thứ năm này là sắc thái đặc trưng của một nhóm Thái dương Thượng đế đặc biệt trên cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ, và là yếu tố tiếp sinh lực cho Sự Tồn Tại của Các Ngài, là lý do khiến Các Ngài biểu lộ qua nhiều hệ mặt trời khác nhau, và là Ý Chí-hướng-tồn-tại vĩ đại đưa Các Ngài vào tính khách quan. |
|
Manas has been defined as mind, or that faculty of logical deduction and reasoning, and of rational activity that distinguishes man from the animals. Yet it is something much more than that for it underlies all manifestation, and the very shape of an amoeba, and the discriminative faculty of the lowest atom or cell, is actuated by mind of some kind or another. It is only as the place of that discriminating cell or atom within its greater sphere is apprehended, and recognised, that any clear conception will be gained of what that coherent rational inclusive mentality may be. |
Manas đã được định nghĩa là trí tuệ, hay năng lực suy diễn và lý luận logic, và của hoạt động hữu lý phân biệt con người với loài vật. Tuy nhiên, nó còn hơn thế rất nhiều, vì nó nằm bên dưới mọi biểu hiện, và chính hình dạng của một con amip, cùng năng lực phân biện của nguyên tử hay tế bào thấp nhất, đều được thúc đẩy bởi một loại trí tuệ nào đó. Chỉ khi nào vị trí của tế bào hay nguyên tử phân biện ấy trong khối cầu lớn hơn của nó được lĩnh hội và được nhận biết, thì mới có thể đạt được một quan niệm rõ ràng nào đó về trí tuệ kết dính, hữu lý và bao gồm ấy. |
2. Manas is electricity. (121) |
2. Manas là điện.(121) |
|
(121) Điện: |
|
|
… “We know of no phenomenon in nature—entirely unconnected with either magnetism or electricity—since, where there are motion, heat, friction, light, there magnetism and its Alter Ego (according to our humble opinion)—electricity will always appear, as either cause or effect—or rather both if we but fathom the manifestation to its origin. All the phenomena of earth currents, terrestrial magnetism and atmospheric electricity, are due to the fact that the earth is an electrified conductor, whose potential is ever changing owing to its rotation and its annual orbital motion, the successive cooling and heating of the air, the formation of clouds and rain, storms and winds, etc. This you may perhaps find in some text book. But then Science would be unwilling to admit that all these changes are due to Akasic magnetism incessantly generating electric currents which tend to restore the disturbed equilibrium.” |
… “Chúng ta không biết hiện tượng nào trong thiên nhiên—hoàn toàn không liên hệ với từ điện hay điện—vì ở đâu có chuyển động, nhiệt, ma sát, ánh sáng, ở đó từ điện và Alter Ego của nó (theo ý kiến khiêm tốn của chúng tôi)—điện—sẽ luôn luôn xuất hiện, hoặc như nguyên nhân hoặc như kết quả—hay đúng hơn là cả hai nếu chúng ta truy nguyên biểu hiện ấy đến cội nguồn của nó. Mọi hiện tượng của các dòng điện địa cầu, từ điện địa cầu và điện khí quyển đều là do sự kiện rằng trái đất là một vật dẫn điện, mà điện thế của nó luôn luôn thay đổi do sự quay của nó và chuyển động quỹ đạo hằng năm của nó, do sự lạnh đi và nóng lên kế tiếp nhau của không khí, sự hình thành mây và mưa, bão tố và gió, v.v. Có lẽ bạn có thể tìm thấy điều này trong một sách giáo khoa nào đó. Nhưng khi ấy Khoa Học sẽ không sẵn lòng thừa nhận rằng tất cả những biến đổi này là do từ điện Akasha không ngừng tạo ra các dòng điện có khuynh hướng khôi phục trạng thái quân bình đã bị xáo trộn.” |
|
… “The sun is neither a Solid nor a Liquid, nor yet a gaseous glow; but a gigantic ball of electro-magnetic Forces, the store-house of universal Life and Motion, from which the latter pulsate in all directions, feeding the smallest atom as the greatest genius with the same material unto the end of the Maha Yug.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, pp. 160, 165. (back) |
… “Mặt trời không phải là một khối Rắn cũng không phải là một khối Lỏng, cũng không phải là một khối sáng khí thể; mà là một quả cầu khổng lồ của các Mãnh Lực điện-từ, kho chứa của Sự sống và Chuyển động vũ trụ, từ đó hai điều này đập nhịp theo mọi hướng, nuôi dưỡng nguyên tử nhỏ nhất cũng như thiên tài vĩ đại nhất bằng cùng một chất liệu cho đến hết Đại giai kỳ sinh hóa.”—Thư của các Chân sư gửi A. P. Sinnett, tr. 160, 165. (back) |
|
The fire of Mind is fundamentally electricity, shown in its higher workings, and not considered so much as [Page 311] force in matter. Electricity in the solar system shows itself in seven major forms, which might be expressed as follows: |
Lửa của Trí Tuệ về căn bản là điện, được biểu lộ trong các hoạt động cao hơn của nó, và không được xét nhiều như là [Page 311] mãnh lực trong vật chất. Điện trong hệ mặt trời biểu lộ thành bảy hình thức chính, có thể được diễn đạt như sau: |
|
Electricity on the first plane, the logoic or divine, demonstrates as the Will-to-be, the primary aspect of that force which eventually results in objectivity. Cosmically considered, it is that initial impulse or vibration, which emanates from the logoic causal body on the cosmic mental plane, and makes contact with the first cosmic etheric, or the solar plane of adi. |
Điện trên cõi thứ nhất, cõi logoic hay thiêng liêng, biểu lộ như Ý Chí-hướng-tồn-tại, phương diện sơ khởi của mãnh lực ấy mà cuối cùng dẫn đến tính khách quan. Xét theo vũ trụ, đó là xung lực hay rung động ban đầu phát ra từ thể nguyên nhân logoic trên cõi trí vũ trụ, và tiếp xúc với cõi dĩ thái vũ trụ thứ nhất, hay cõi adi của hệ mặt trời. |
|
Electricity on the monadic plane demonstrates as the first manifestation of form, as that which causes forms to cohere. Matter (electrified by “fire by friction”) and the electric fire of spirit meet and blend, and form appears. Form is the result of the desire for existence, hence the dynamic fire of Will is transmuted into the burning fire of Desire. I would call attention to the choice of those two phrases, which might also be expressed under the terms: |
Điện trên cõi chân thần biểu lộ như sự biểu hiện đầu tiên của hình tướng, như điều khiến các hình tướng kết dính. Vật chất (được điện hoá bởi “Lửa ma sát”) và Lửa Điện của tinh thần gặp nhau và hòa nhập, và hình tướng xuất hiện. Hình tướng là kết quả của khát vọng tồn tại, do đó lửa năng động của Ý Chí được chuyển hoá thành lửa bừng cháy của Dục vọng. Tôi muốn lưu ý đến sự lựa chọn của hai cụm từ ấy, cũng có thể được diễn đạt bằng các thuật ngữ: |
|
Dynamic electrical manifestation. |
Biểu hiện điện năng động. |
|
Burning electrical manifestation. |
Biểu hiện điện bừng cháy. |
|
Here on the second plane, the sea of electrical fire, which distinguished the first plane, is transformed into the akasha, or burning etheric matter. It is the plane of the flaming Sun, just as the first plane is that of the fire mist [Page 312] or the nebulae. This idea will be easier to comprehend if it is borne in mind that we are dealing with the cosmic physical plane. |
Ở đây trên cõi thứ hai, biển lửa điện, vốn là đặc trưng của cõi thứ nhất, được chuyển đổi thành akasha, hay vật chất dĩ thái bừng cháy. Đây là cõi của Mặt Trời rực lửa, cũng như cõi thứ nhất là cõi của sương lửa [Page 312] hay các tinh vân. Ý tưởng này sẽ dễ thấu hiểu hơn nếu ghi nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần vũ trụ. |
|
Certain things take place on the second plane which need realisation, even if already theoretically conceded: |
Một số điều xảy ra trên cõi thứ hai cần được chứng nghiệm, dù về mặt lý thuyết đã được thừa nhận: |
|
Heat or flaming radiation is first seen. |
Nhiệt hay bức xạ bừng cháy được thấy lần đầu tiên. |
|
Form is taken, and the spheroidal shape of all existence originates. |
Hình tướng được mang lấy, và hình cầu của mọi tồn tại bắt nguồn. |
|
The first interplay between the polar opposites is felt. |
Sự tương tác đầu tiên giữa các cực đối nghịch được cảm nhận. |
|
Differentiation is first seen, not only in the recognised duality of all things, but in differentiation in motion; two vibrations are recognised. |
Biến phân được thấy lần đầu tiên, không chỉ trong nhị nguyên tính được nhận biết của mọi sự vật, mà còn trong sự biến phân trong chuyển động; hai rung động được nhận biết. |
|
Certain vibratory factors begin to work such as attraction, repulsion, discriminative rejection, coherent assimilation, and the allied manifestation of revolving forms, orbital paths and the beginning of that curious downward pull into matter that results in evolution itself. |
Một số yếu tố rung động bắt đầu hoạt động như hấp dẫn, đẩy lùi, loại bỏ bằng phân biện, đồng hoá kết dính, và biểu hiện liên hệ của các hình tướng quay tròn, các quỹ đạo, và sự khởi đầu của lực kéo kỳ lạ đi xuống vật chất, vốn dẫn đến chính tiến hoá. |
|
The primary seven manifestations of logoic existence find expression and the three, with the four, commence their work. |
Bảy biểu hiện sơ khởi của sự tồn tại logoic tìm được sự biểu lộ và bộ ba cùng với bộ bốn bắt đầu công việc của chúng. |
|
The seven wheels, or etheric centres in the body etheric of that great cosmic Entity, of Whom our solar Logos is a reflection, begin to vibrate and His life activity can be seen. |
Bảy bánh xe, hay các trung tâm dĩ thái trong thể dĩ thái của Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy, mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phản ánh của Ngài, bắt đầu rung động và hoạt động sự sống của Ngài có thể được thấy. |
|
We are at this juncture considering the manifestations of electricity on the different planes of the cosmic physical plane, or on our solar systemic planes. Hence, all that can be seen in manifestation is fundamentally physical electricity. We have seen that the primary manifestation is that which vitalised, tinctured, and pervaded the matter of space, thus embodying—in connection with logoic manifestation—that which is analogous to the vital heat, activity and radiation of a human being, [Page 313] manifesting on the solar physical plane. Certain electrical phenomena distinguish a human being, only (as they have not been expressed or considered in terms of electricity) the analogy has been lost sight of. These demonstrations might be considered as: |
Hiện nay chúng ta đang xét các biểu hiện của điện trên các cõi khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ, hay trên các cõi của hệ mặt trời chúng ta. Do đó, tất cả những gì có thể được thấy trong biểu hiện về căn bản là điện hồng trần. Chúng ta đã thấy rằng biểu hiện sơ khởi là điều đã tiếp sinh lực, nhuộm sắc và thấm nhuần vật chất của không gian, nhờ đó thể hiện—liên hệ với biểu hiện logoic—điều tương tự với nhiệt lực sống, hoạt động và bức xạ của một con người, [Page 313] biểu lộ trên cõi hồng trần thái dương. Một số hiện tượng điện phân biệt con người, chỉ có điều (vì chúng chưa được diễn đạt hay xét theo thuật ngữ điện) nên sự tương đồng đã bị bỏ qua. Những biểu hiện này có thể được xem là: |
|
First, that coherent VITALITY which holds the entire body revolving around the central unit of force. It must here be remembered that the entire manifestation of a solar system consists of the etheric body, and the dense body of a Logos. |
Thứ nhất, sinh lực kết dính ấy giữ toàn bộ thể quay quanh đơn vị trung tâm của mãnh lực. Ở đây cần nhớ rằng toàn bộ biểu hiện của một hệ mặt trời gồm thể dĩ thái và thể đậm đặc của một Logos. |
|
Second, that radiatory MAGNETISM which distinguishes man, and makes him active in two ways: |
Thứ hai, từ điện bức xạ ấy phân biệt con người, và khiến y hoạt động theo hai cách: |
|
In relation to the matter of which his vehicles are composed. |
Trong liên hệ với vật chất mà các vận cụ của y được cấu thành từ đó. |
|
In relation to the units which form his group. |
Trong liên hệ với các đơn vị tạo thành nhóm của y. |
|
Third, that ACTIVITY on the physical plane which results in due performance of the will and desire of the indwelling entity, and which in man is the correspondence of the Brahma aspect. |
Thứ ba, hoạt động ấy trên cõi hồng trần dẫn đến việc thực hiện thích đáng ý chí và dục vọng của thực thể nội tại, và nơi con người là sự tương ứng của phương diện Brahma. |
|
These three electrical manifestations—vitality, magnetism, and fohatic impulse—are to be seen at work in a solar Logos, a Heavenly Man and a human being. They are the objective manifestations of the psychic nature, which (in a solar Logos, for instance) we speak of in terms of quality, and call will, wisdom, activity. Therefore, it should be noted here that the first three planes of the cosmic physical plane—the logoic, monadic, and atmic planes—are of prime importance and are the basic planes from whence emanate the secondary four; in other words, the first three cosmic ethers embody in a literal sense those three Entities whom we know as Mahadeva, Vishnu, and Brahma. In a similar sense these Three find Their densest objectivity in the three physical ethers. The lower four manifest during evolution, but are eventually synthesised into the higher [Page 314] three. It should be also remembered that on all the seven subplanes of a solar plane a process, in connection with electrical phenomena in etheric matter, will parallel all the processes on the major planes. This is easily to be seen on the mental plane, for instance, in connection with Man. Theoretically, the absorption of all faculty by the causal body, and the discontinuance of all enforced objectivity in the three worlds at the close of the synthesising period is conceded. On the other planes it is not so obvious. On the buddhic plane, the Builders on the evolutionary arc, or a large part of the deva evolution, undergo a paralleling synthesis. On the physical plane a mysterious synthesis in connection with the “spirit of the Earth” is undergone, and the first three ethers are related to him in a way as yet little understood. |
Ba biểu hiện điện này—sinh lực, từ điện, và xung lực fohat—được thấy đang hoạt động trong một Thái dương Thượng đế, một Đấng Thiên Nhân và một con người. Chúng là những biểu hiện khách quan của bản chất thông linh, mà (chẳng hạn trong một Thái dương Thượng đế) chúng ta nói đến bằng các thuật ngữ phẩm tính, và gọi là ý chí, minh triết, hoạt động. Do đó, cần lưu ý ở đây rằng ba cõi đầu tiên của cõi hồng trần vũ trụ—các cõi logoic, chân thần, và atma—có tầm quan trọng hàng đầu và là những cõi căn bản từ đó bốn cõi thứ yếu phát ra; nói cách khác, ba cõi dĩ thái vũ trụ đầu tiên thể hiện theo nghĩa đen ba Thực Thể mà chúng ta biết là Mahadeva, Vishnu, và Brahma. Theo một nghĩa tương tự, Ba Đấng này tìm thấy tính khách quan đậm đặc nhất của Các Ngài trong ba cõi dĩ thái hồng trần. Bốn cõi thấp biểu lộ trong tiến hoá, nhưng cuối cùng được tổng hợp vào ba cõi [Page 314] cao hơn. Cũng nên nhớ rằng trên cả bảy cõi phụ của một cõi thái dương, một tiến trình liên hệ với các hiện tượng điện trong vật chất dĩ thái sẽ song hành với mọi tiến trình trên các cõi chính. Chẳng hạn, điều này dễ thấy trên cõi trí trong liên hệ với Con Người. Về mặt lý thuyết, sự hấp thu mọi năng lực bởi thể nguyên nhân, và sự chấm dứt mọi tính khách quan bị cưỡng bách trong ba cõi thấp vào lúc kết thúc thời kỳ tổng hợp, đã được thừa nhận. Trên các cõi khác điều đó không rõ ràng như vậy. Trên cõi Bồ đề, các đấng kiến tạo trên cung tiến hoá, hay một phần lớn của tiến hoá thiên thần, trải qua một sự tổng hợp song hành. Trên cõi hồng trần, một sự tổng hợp huyền nhiệm liên hệ với “tinh linh linh địa cầu” được trải qua, và ba cõi dĩ thái đầu tiên liên hệ với y theo một cách mà cho đến nay vẫn còn ít được thấu hiểu. |
|
We might sum it up thus: |
Chúng ta có thể tóm lược như sau: |
|
First, the balancing of electrical phenomena, or the achievement of synthesis in connection with Man, transpires on the three higher levels of the mental plane. |
Thứ nhất, sự quân bình các hiện tượng điện, hay sự thành tựu tổng hợp liên hệ với Con Người, diễn ra trên ba cấp độ cao hơn của cõi trí. |
|
Second, a similar process in connection with a Heavenly Man transpires on the three higher subplanes of the monadic plane. Viewed in a larger sense it takes place on the three major planes—the atmic, buddhic, and manasic—just as in the three worlds of human evolution—the physical, astral, and mental—the synthesising process proceeds on the higher of the three involved. |
Thứ hai, một tiến trình tương tự liên hệ với một Đấng Thiên Nhân diễn ra trên ba cõi phụ cao hơn của cõi chân thần. Xét theo nghĩa rộng hơn, nó diễn ra trên ba cõi chính—atma, Bồ đề, và manas—cũng như trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại—hồng trần, cảm dục, và trí tuệ—tiến trình tổng hợp diễn ra trên cõi cao hơn trong ba cõi liên hệ. |
|
Thứ ba, liên hệ với một Thái dương Thượng đế (bên trong hệ thống và không xét đến sự tổng hợp vũ trụ của Ngài), ba cõi phụ cao hơn của cõi logoic chứng kiến sự hấp thu hay trừu xuất cuối cùng của Ngài, và ba cõi của ba Logos cũng được liên hệ tương tự. |
|
|
It should here be carefully borne in mind that we are dealing with electrical matter, and are therefore concerned with cosmic etheric substance; all matter in the system is necessarily etheric. We are consequently dealing literally with physical phenomena on all planes of [Page 315] the system. In time and space we are concerned with units of different polarity which—during the evolutionary process—seek union, balance, equilibrium or synthesis, and eventually find it. This electrical interplay between two units causes that which we call light, and thereby objectivity. During evolution this demonstrates as heat and magnetic interaction and is the source of all vital growth; at the achievement of the desired goal, at union, or at-one-ment, two things occur: |
Ở đây cần cẩn thận ghi nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến vật chất điện, và do đó đang quan tâm đến chất liệu dĩ thái vũ trụ; mọi vật chất trong hệ thống tất yếu đều là dĩ thái. Vì vậy, theo nghĩa đen chúng ta đang đề cập đến các hiện tượng hồng trần trên mọi cõi của [Page 315] hệ thống. Trong thời gian và không gian, chúng ta quan tâm đến các đơn vị có cực tính khác nhau, những đơn vị—trong tiến trình tiến hoá—tìm kiếm sự hợp nhất, quân bình, cân bằng hay tổng hợp, và cuối cùng tìm thấy điều đó. Sự tương tác điện này giữa hai đơn vị gây ra điều mà chúng ta gọi là ánh sáng, và nhờ đó là tính khách quan. Trong tiến hoá, điều này biểu lộ như nhiệt và sự tương tác từ tính và là nguồn gốc của mọi sự tăng trưởng sống; khi đạt được mục tiêu mong muốn, trong sự hợp nhất, hay hiệp nhất, hai điều xảy ra: |
|
First, the approximation of the two poles, or their blending, causes a blazing forth, or radiant light. |
Thứ nhất, sự xích lại gần của hai cực, hay sự hòa nhập của chúng, gây ra một sự bùng cháy, hay ánh sáng rực rỡ. |
|
Second, obscuration, or the final disintegration of matter owing to intense heat. |
Thứ hai, sự che khuất, hay sự tan rã cuối cùng của vật chất do nhiệt độ mãnh liệt. |
|
This can be seen in connection with man, a Heavenly Man and a solar Logos, and their bodies of objectivity. In man this polarity is achieved, the three different types of electrical phenomena are demonstrated, and the light blazes forth, irradiating the causal body, and lighting up the entire sutratma, or thread (literally the Path) which connects the causal vehicle with the physical brain. Then disintegration or destruction ensues; the causal body vanishes in a blaze of electrical fire, and the real “man” or self is abstracted from the three world-bodies. So will it be seen in the body of a Heavenly Man, a planetary scheme, and so likewise in the body of the Logos, a solar system. |
Điều này có thể được thấy liên hệ với con người, một Đấng Thiên Nhân và một Thái dương Thượng đế, cùng các thể khách quan của các Ngài. Nơi con người, cực tính này đạt được, ba loại hiện tượng điện khác nhau được biểu lộ, và ánh sáng bùng lên, chiếu rọi thể nguyên nhân, và soi sáng toàn bộ sutratma, hay sợi dây (theo nghĩa đen là Con Đường) nối vận cụ nguyên nhân với bộ não hồng trần. Khi đó sự tan rã hay hủy diệt xảy ra; thể nguyên nhân biến mất trong một luồng chớp của lửa điện, và “con người” hay bản ngã thực sự được trừu xuất khỏi các thể của ba cõi giới. Cũng sẽ được thấy như vậy trong thể của một Đấng Thiên Nhân, một hệ hành tinh, và cũng tương tự trong thể của Logos, một hệ mặt trời. |
|
The difficulty in apprehending these thoughts is great, for we are necessarily handicapped by lack of adequate terms, but the main ideas only are those I seek to deal with, and the one we are primarily concerned with in this division is the electrical manifestation of magnetism, just as earlier we dealt cursorily with the same electrical phenomena, manifesting as the activity of matter. |
Khó khăn trong việc lĩnh hội những tư tưởng này là rất lớn, vì tất yếu chúng ta bị hạn chế bởi sự thiếu vắng các thuật ngữ thích đáng, nhưng tôi chỉ tìm cách bàn đến những ý tưởng chính, và điều mà chúng ta chủ yếu quan tâm trong phần này là biểu hiện điện của từ điện, cũng như trước đây chúng ta đã đề cập sơ lược đến cùng hiện tượng điện ấy, biểu lộ như hoạt động của vật chất. |
|
Therefore you have: [Page 316] |
Do đó bạn có: [Page 316] |
|
1. Activity…… electrical manifestation of matter. |
1. Hoạt động…… biểu hiện điện của vật chất. |
|
2. Magnetism… electrical manifestation of form. |
2. Từ điện… biểu hiện điện của hình tướng. |
|
3. Vitality…… electrical manifestation of existence. |
3. Sinh lực…… biểu hiện điện của sự tồn tại. |
|
This is literally (as pointed out by H. P. B.) (S.D.,I, 567. II, 258) fire by friction, solar fire, and electric fire. |
Điều này theo nghĩa đen là (như H. P. B. đã chỉ ra) (S.D.,I, 567. II, 258) Lửa ma sát, Lửa Thái dương, và Lửa Điện. |
|
Fire by friction is electricity animating the atoms of matter, or the substance of the solar system, and resulting in: |
Lửa ma sát là điện tiếp sinh lực cho các nguyên tử của vật chất, hay chất liệu của hệ mặt trời, và dẫn đến: |
|
The spheroidal form of all manifestation. |
Hình cầu của mọi biểu hiện. |
|
The innate heat of all spheres. |
Nhiệt nội tại của mọi khối cầu. |
|
Differentiation of all atoms one from another. |
Sự biến phân của mọi nguyên tử với nhau. |
|
Solar fire is electricity animating forms or congeries of atoms, and resulting in: |
Lửa Thái dương là điện tiếp sinh lực cho các hình tướng hay các tập hợp nguyên tử, và dẫn đến: |
|
Coherent groups. |
Các nhóm kết dính. |
|
The radiation from all groups, or the magnetic interaction of these groups. |
Bức xạ từ mọi nhóm, hay sự tương tác từ tính của các nhóm này. |
|
The synthesis of form. |
Sự tổng hợp của hình tướng. |
|
Electric fire is electricity demonstrating as vitality or the will-to-be of some Entity, and manifests as: |
Lửa Điện là điện biểu lộ như sinh lực hay ý chí-hướng-tồn-tại của một Thực Thể nào đó, và biểu hiện như: |
|
Abstract Being. |
Bản Thể trừu tượng. |
|
Darkness. |
Bóng tối. |
|
Hợp nhất. |
|
|
We have seen that electrical manifestation on the first plane caused initial vibration, and on the second its activity resulted in the archetypal form of all manifestation from a God to man, and an atom. |
Chúng ta đã thấy rằng biểu hiện điện trên cõi thứ nhất gây ra rung động ban đầu, và trên cõi thứ hai hoạt động của nó dẫn đến hình tướng nguyên mẫu của mọi biểu hiện từ một Thượng đế đến con người, và một nguyên tử. |
|
On the third plane which, is primarily the plane of Brahma, this electrical force showed itself in intelligent purpose. The will-to-be, and the form desired, are correlated by intelligent purpose underlying all. This intelligent purpose, or active will, utilising an instrument, brings us to that most difficult of metaphysical problems, the distinction between will and desire. It is not possible [Page 317] here to handle this delicate subject, save simply to point out that in both will and desire, intelligence or manas is a fundamental factor, and must be recognised. This permeating principle of manas—colouring as it does both the will aspect and the desire aspect—is the cause of much confusion to students, and clarity of thought will eventuate only as it is realised: |
Trên cõi thứ ba, vốn chủ yếu là cõi của Brahma, mãnh lực điện này biểu lộ như mục đích thông tuệ. Ý chí-hướng-tồn-tại, và hình tướng được mong muốn, được tương liên bởi mục đích thông tuệ nằm bên dưới tất cả. Mục đích thông tuệ này, hay ý chí hoạt động, sử dụng một công cụ, đưa chúng ta đến một trong những vấn đề siêu hình khó khăn nhất, là sự phân biệt giữa ý chí và dục vọng. Không thể [Page 317] ở đây xử lý chủ đề tinh tế này, ngoại trừ chỉ đơn giản chỉ ra rằng trong cả ý chí lẫn dục vọng, trí tuệ hay manas là một yếu tố căn bản, và phải được nhận biết. Nguyên khí manas thấm nhuần này—vì nó nhuộm sắc cả phương diện ý chí lẫn phương diện dục vọng—là nguyên nhân của nhiều sự lẫn lộn nơi các đạo sinh, và sự minh xác trong tư tưởng sẽ chỉ xuất hiện khi chứng nghiệm được rằng: |
|
First, that all manifestation emanates, or is electrified, from the cosmic mental plane. |
Thứ nhất, mọi biểu hiện đều phát ra, hay được điện hoá, từ cõi trí vũ trụ. |
|
Second, that the Universal Mind, or the divine thinker, is the intelligent Principle which makes Itself known as the Will-to-be, Desire or Love-of-Being, and that active intelligent purpose which animates the solar system. |
Thứ hai, Trí Tuệ Vũ Trụ, hay Đấng tư tưởng thiêng liêng, là Nguyên khí thông tuệ tự biểu lộ như Ý Chí-hướng-tồn-tại, Dục vọng hay Tình thương-hướng-tồn-tại, và mục đích hoạt động thông tuệ tiếp sinh lực cho hệ mặt trời. |
|
Third, that Maha-deva, or the Divine Will, Vishnu, the Wisdom aspect, or the manifested “Son of Necessity,” and Brahma or active purpose are the sum-total of intelligent consciousness, and are (to the manifesting cosmic Entity) what the mental body, the desire body, and the physical body are to man, the thinker in the three worlds, functioning in the causal body. We must not forget that the causal body contains the three permanent atoms or the three spheres which embody the principle of intelligence, of desire, and of physical objectivity. Always must the analogy be held between the threefold Logos and threefold man, and definiteness of thought and of concept results when the one likeness between these is pondered on. Man is a unit, functioning as a unit in the causal body. He is a triplicity functioning under the will aspect, or mental body; under the desire or wisdom aspect, the astral body; and under the activity aspect, the physical body. He electrifies or vitalises all three bodies or aspects, unifying them into one, and bringing about—by means of the Intelligence He is—coherency of action, simultaneity of purpose, and synthetic endeavour. |
Thứ ba, Maha-deva, hay Ý Chí thiêng liêng, Vishnu, phương diện Minh triết, hay “Con của Tất Yếu” biểu lộ, và Brahma hay mục đích hoạt động là tổng thể của tâm thức thông tuệ, và là (đối với Thực Thể vũ trụ đang biểu lộ) điều mà thể trí, thể dục vọng, và thể xác là đối với con người, thức giả trong ba cõi giới, hoạt động trong thể nguyên nhân. Chúng ta không được quên rằng thể nguyên nhân chứa ba nguyên tử trường tồn hay ba khối cầu thể hiện nguyên khí trí tuệ, dục vọng, và tính khách quan hồng trần. Luôn luôn phải giữ sự tương đồng giữa Logos tam phân và con người tam phân, và sự xác định rõ ràng của tư tưởng và khái niệm sẽ xuất hiện khi sự giống nhau duy nhất giữa hai bên này được suy gẫm. Con người là một đơn vị, hoạt động như một đơn vị trong thể nguyên nhân. Y là một bộ ba hoạt động dưới phương diện ý chí, hay thể trí; dưới phương diện dục vọng hay minh triết, thể cảm dục; và dưới phương diện hoạt động, thể xác. Y điện hoá hay tiếp sinh lực cho cả ba thể hay phương diện, hợp nhất chúng thành một, và mang lại—nhờ Trí Tuệ mà y là—sự kết dính của hành động, tính đồng thời của mục đích, và nỗ lực tổng hợp. |
|
[Page 318] Finally, therefore, it is apparent that, no matter from what angle we study, the threefold Logos (or His reflection, the microcosm) through the Manasic principle, intelligently reduces matter to form, and utilises that form for the fulfilment of the will, desire and purpose of the indwelling Existence; this principle can be seen underlying all three aspects. |
[Page 318] Cuối cùng, do đó, hiển nhiên là, bất kể chúng ta nghiên cứu từ góc độ nào, Logos tam phân (hay phản ánh của Ngài, tiểu thiên địa) thông qua nguyên khí Manas, một cách thông tuệ làm cho vật chất quy về hình tướng, và sử dụng hình tướng ấy để hoàn thành ý chí, dục vọng và mục đích của Sự Tồn Tại nội tại; nguyên khí này có thể được thấy nằm bên dưới cả ba phương diện. |
|
There is no need here to point out the different triplicities which can be built up on the basic idea of Spirit and Matter, linked by Intelligence. This has often been done. I but seek to emphasize that INTELLIGENCE is the main quality of the Logos; that it shows as will, as desire or wisdom, and as activity; and that the reason for this is due to the work earlier accomplished by the cosmic Entity, involving cycles which have passed into the dim mist of retrospect, even from the angle of vision of a solar Logos. |
Ở đây không cần chỉ ra các bộ ba khác nhau có thể được xây dựng trên ý tưởng căn bản về Tinh thần và Vật chất, được nối kết bởi Trí Tuệ. Điều này đã thường được thực hiện. Tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh rằng TRÍ TUỆ là phẩm tính chính của Logos; rằng nó biểu lộ như ý chí, như dục vọng hay minh triết, và như hoạt động; và rằng lý do của điều này là do công việc đã được Thực Thể vũ trụ hoàn thành từ trước, liên quan đến những chu kỳ đã đi vào màn sương mờ của hồi cố, ngay cả từ góc nhìn của một Thái dương Thượng đế. |
|
This developed manasic principle is the intelligent purpose that is bringing about at-one-ment on each plane of the solar system in connection with the subplanes. It will eventually bring about the synthesis of all the planes, and thus bring the cosmic physical plane, as a unified whole, under the complete control of that cosmic Entity Who is seeking expression through that threefold manifestation we call a solar system, or the body logoic. |
Nguyên khí manas đã phát triển này là mục đích thông tuệ đang mang lại sự hiệp nhất trên mỗi cõi của hệ mặt trời trong liên hệ với các cõi phụ. Cuối cùng nó sẽ mang lại sự tổng hợp của mọi cõi, và nhờ đó đưa cõi hồng trần vũ trụ, như một toàn thể hợp nhất, dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Thực Thể vũ trụ đang tìm cách biểu lộ qua biểu hiện tam phân mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời, hay thể logoic. |
|
Trên cõi thứ ba này, nguyên khí thông tuệ ấy biểu lộ như hoạt động kết dính, dù là theo hệ thống, hành tinh, hay chân thần, và cũng như rung động tam phân của tinh thần-vật chất-trí tuệ, vang lên như Linh từ Thiêng liêng tam phân, hay điện biểu lộ như âm thanh. |
|
|
We have here an interesting sequence or inversion, according to the angle of vision, involving the planes as we know them: |
Ở đây chúng ta có một chuỗi thú vị hay một sự đảo ngược, tùy theo góc nhìn, liên quan đến các cõi như chúng ta biết: |
|
Electricity as vibratory impulse. This causes the aggregation of matter, and its activity within certain bounds, or its awakening to activity within the solar [Page 319] ring-pass-not. This is the first syllable of the Sacred Word. |
Điện như xung lực rung động. Điều này gây ra sự kết tụ của vật chất, và hoạt động của nó trong những giới hạn nhất định, hay sự thức tỉnh của nó vào hoạt động bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời [Page 319]. Đây là âm tiết thứ nhất của Linh từ Thiêng liêng. |
|
Electricity as Light, causing spheroidal objectivity. This is the birth of the Son. It covers the enunciation of the second syllable of the Sacred Word. (123) |
Điện như Ánh sáng, gây ra tính khách quan hình cầu. Đây là sự sinh ra của Con. Nó bao hàm sự phát âm âm tiết thứ hai của Linh từ Thiêng liêng. (123) |
|
(123) “Nhờ tham thiền hoàn toàn tập trung vào ánh sáng trong đầu mà linh thị về các Chân sư đã đạt được xuất hiện.” |
|
|
“Truyền thống nói rằng có một trung tâm mãnh lực nào đó trong đầu, có lẽ là ‘tuyến tùng’, mà một số triết gia phương Tây của chúng ta đã cho là nơi cư ngụ của linh hồn,—một trung tâm mà, có thể nói, là cánh cửa giữa con người tự nhiên và con người tinh thần. Đó là chỗ ngự của tâm thức tốt đẹp và minh triết hơn ấy ở phía sau tâm thức hướng ra ngoài ở phần trước của đầu; tâm thức tốt đẹp và minh triết hơn ấy của ‘phía sau trí tuệ’, vốn nhìn các sự vật tinh thần, và tìm cách gây ấn tượng quan điểm tinh thần lên tâm thức hướng ra ngoài ở phần trước của đầu. Đó là con người tinh thần đang tìm cách hướng dẫn con người tự nhiên, tìm cách đưa con người tự nhiên quan tâm đến những điều thuộc sự bất tử của mình. Điều này được gợi ý trong những lời của Upanishad đã được trích dẫn. ‘Ở đó, nơi đường rẽ của tóc quay lại, kéo dài lên đến đỉnh đầu’; tất cả điều này có thể nghe rất huyễn tưởng, cho đến khi người ta bắt đầu thấu hiểu nó.” |
|
|
“It is said that when this power is fully awakened, it brings a vision of the great Companions of the spiritual man, those who have already attained, crossing over to the further shore of the sea of death and rebirth. Perhaps it is to this divine sight that the Master alluded, who is reported to have said: ‘I counsel you to buy of me eye salve, that you may see.’”—Yoga Sutras of Patanjali, Book III, 32. (C. Johnston’s Edition.) (back) |
“Người ta nói rằng khi quyền năng này được thức tỉnh hoàn toàn, nó mang lại linh thị về những Bạn Đồng Hành vĩ đại của con người tinh thần, những vị đã đạt được rồi, vượt qua đến bờ bên kia của biển chết và tái sinh. Có lẽ chính đến linh thị thiêng liêng này mà Chân sư đã ám chỉ, Đấng được tường thuật là đã nói: ‘Ta khuyên ngươi hãy mua của ta thuốc xức mắt, để ngươi có thể thấy.’”—Kinh Yoga của Patanjali, Quyển III, 32. (Bản của C. Johnston.) (back) |
|
Electricity as Sound. Here we have the completed threefold Sacred Word. |
Điện như Âm thanh. Ở đây chúng ta có Linh từ Thiêng liêng tam phân đã hoàn tất. |
|
On the fourth plane this electrical force shows itself as colour. In these four we have the fundamental concepts of all manifestation; all four have an electrical dynamic origin; all are basically a differentiation or effect of impulse, emanating from the cosmic mental plane and taking form (with intelligent purpose in view) on the cosmic physical. Man repeats the process on his tiny scale, dealing only with three planes, and flashing into objectivity on the solar physical. It will be demonstrated later as science attains more and more of the truth that |
Trên cõi thứ tư, mãnh lực điện này biểu lộ như màu sắc. Trong bốn điều này, chúng ta có các khái niệm căn bản của mọi biểu hiện; cả bốn đều có nguồn gốc năng động điện; tất cả về căn bản đều là một sự biến phân hay hiệu quả của xung lực, phát ra từ cõi trí vũ trụ và mang lấy hình tướng (với mục đích thông tuệ được nhắm đến) trên cõi hồng trần vũ trụ. Con người lặp lại tiến trình ấy trên quy mô nhỏ bé của mình, chỉ đề cập đến ba cõi, và lóe vào tính khách quan trên cõi hồng trần thái dương. Sau này sẽ được chứng minh khi khoa học ngày càng đạt đến chân lý nhiều hơn rằng |
|
1. All physical phenomena as we understand the term have an electrical origin, and an initial vibration on the first sub-plane of the physical plane. [Page 320] |
1. Mọi hiện tượng hồng trần như chúng ta hiểu thuật ngữ này đều có nguồn gốc điện, và một rung động ban đầu trên cõi phụ thứ nhất của cõi hồng trần. [Page 320] |
|
2. That Light, physical plane light, has a close connection with, and uses, as a medium, the second ether. |
2. Ánh sáng, ánh sáng cõi hồng trần, có liên hệ mật thiết với cõi dĩ thái thứ hai và sử dụng nó như một môi trường. |
|
3. That sound functions through the third ether. |
3. Âm thanh hoạt động qua cõi dĩ thái thứ ba. |
|
4. That colour in a peculiar sense is allied to the fourth ether. |
4. Màu sắc theo một nghĩa đặc biệt liên hệ với cõi dĩ thái thứ tư. |
|
We must note here that in the development of the senses, hearing preceded sight, as sound precedes colour. |
Ở đây chúng ta phải lưu ý rằng trong sự phát triển của các giác quan, thính giác đi trước thị giác, cũng như âm thanh đi trước màu sắc. |
|
An interesting analogy may here be noted between the fourth cosmic ether, and the fourth ether on the physical plane of the solar system. Both are in process of becoming exoteric—one from the standpoint of man in the three worlds, and the other from the standpoint of a Heavenly Man. The fourth ether is even now being investigated by scientists, and much that they predicate concerning ether, the atom, radium, and the ultimate “protyle” has to do with this fourth ether. It will eventually be brought under scientific formula, and some of its properties, knowledge concerning its range of influence, and its utilisation will become known unto men. Paralleling this, the buddhic plane, the plane of the Christ principle, is gradually becoming known to those advanced beings who are individually able to cognise their place in the body of a Logos of a planetary scheme. The influence of the buddhic plane, and the electrical force that is its peculiar characteristic, are beginning to be felt, and its energy is also beginning to have a definite effect on the egoic bodies of men; the fourth ether of the physical systemic plane is likewise assuming its rightful place in the minds of men, and the electrical force of that subplane is already being adapted and utilised by man in the assistance of the mechanical arts, for methods of transportation, for widespread illumination, and in healing. These four adaptations of electricity: [Page 321] |
Ở đây có thể lưu ý một sự tương đồng thú vị giữa cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư và cõi dĩ thái hồng trần thứ tư của hệ mặt trời. Cả hai đều đang trong tiến trình trở nên ngoại môn—một từ quan điểm của con người trong ba cõi giới, và cái kia từ quan điểm của một Đấng Thiên Nhân. Cõi dĩ thái thứ tư ngay lúc này đang được các nhà khoa học khảo cứu, và nhiều điều họ khẳng định liên quan đến dĩ thái, nguyên tử, radium, và “protyle” tối hậu đều có liên quan đến cõi dĩ thái thứ tư này. Cuối cùng nó sẽ được đưa vào công thức khoa học, và một số tính chất của nó, tri thức liên quan đến phạm vi ảnh hưởng của nó, và việc sử dụng nó sẽ được loài người biết đến. Song song với điều này, cõi Bồ đề, cõi của nguyên khí Christ, đang dần dần được biết đến đối với những hữu thể tiến bộ có khả năng cá nhân nhận biết vị trí của mình trong thể của một Logos của một hệ hành tinh. Ảnh hưởng của cõi Bồ đề, và mãnh lực điện là đặc tính riêng của nó, đang bắt đầu được cảm nhận, và năng lượng của nó cũng đang bắt đầu có một tác động rõ rệt lên các thể chân ngã của con người; cõi dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần hệ thống cũng đang đảm nhận vị trí chính đáng của nó trong trí tuệ loài người, và mãnh lực điện của cõi phụ ấy đã được con người thích nghi và sử dụng để hỗ trợ các kỹ nghệ cơ khí, cho các phương pháp vận chuyển, cho sự chiếu sáng rộng khắp, và trong trị liệu. Bốn sự thích nghi này của điện: [Page 321] |
|
1. For mechanical uses, |
1. Cho các công dụng cơ khí, |
|
2. For transportation, |
2. Cho vận chuyển, |
|
3. For illumination, |
3. Cho chiếu sáng, |
|
4. In healing, |
4. Trong trị liệu, |
|
are but the working out on the physical plane of paralleling utilisation of buddhic electrical force. |
chỉ là sự triển khai trên cõi hồng trần của việc sử dụng song hành mãnh lực điện Bồ đề. |
|
Ở đây có thể đặt câu hỏi tại sao màu sắc chủ yếu lại được nói đến như biểu hiện Bồ đề của điện. Ở đây chúng ta dùng từ “màu sắc” theo nghĩa nguyên thủy và căn bản của nó là “điều che phủ.” Màu sắc che phủ sự biến phân thất phân của biểu hiện logoic và, từ góc nhìn của con người trong ba cõi giới, chỉ có thể được thấy trong toàn bộ ý nghĩa của nó trên cõi Bồ đề. Mọi lửa và mọi sự biểu lộ điện sẽ được thấy là thể hiện bảy màu sắc. |
|
|
Again another correspondence between the fourth cosmic ether and the fourth physical ether lies in the fact that they are both primarily concerned with the work of the great builders, bearing in mind that they build the real body of the Logos in etheric matter; the dense physical vehicle is not so much the result of their work as it is the result of the meeting of the seven streams of force or electricity, which causes that apparent congestion in matter that we call the dense physical planes (the three lower subplanes). This apparent congestion is, after all, but the exceeding electronic activity or energy of the mass of negative atoms awaiting the stimulation that will result from the presence of a certain number of positive atoms. This needs to be borne in mind. The work of evolution is based on two methods and demonstrates as: |
Lại nữa, một sự tương ứng khác giữa cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư và cõi dĩ thái hồng trần thứ tư nằm ở sự kiện rằng cả hai đều chủ yếu liên quan đến công việc của các đấng đại kiến tạo, ghi nhớ rằng các Ngài xây dựng thể thực của Logos bằng vật chất dĩ thái; vận cụ hồng trần đậm đặc không phải là kết quả công việc của các Ngài nhiều bằng kết quả của sự gặp gỡ của bảy dòng mãnh lực hay điện, điều gây ra sự tắc nghẽn biểu kiến trong vật chất mà chúng ta gọi là các cõi hồng trần đậm đặc (ba cõi phụ thấp hơn). Sự tắc nghẽn biểu kiến này, rốt cuộc, chỉ là hoạt động điện tử hay năng lượng quá mức của khối nguyên tử âm đang chờ sự kích thích sẽ phát sinh từ sự hiện diện của một số nguyên tử dương nhất định. Điều này cần được ghi nhớ. Công việc của tiến hoá dựa trên hai phương pháp và biểu lộ như: |
|
Involution, wherein the negative electrons of matter preponderate. The percentage of these feminine electrons is one of the secrets of initiation and is so vast during the involutionary stage that the rarity of the positive [Page 322] atoms is very noticeable; they are so rare as only to serve to keep the mass coherent. |
Giáng hạ tiến hoá, trong đó các điện tử âm của vật chất chiếm ưu thế. Tỷ lệ của các điện tử nữ tính này là một trong những bí mật của điểm đạo và lớn lao đến mức trong giai đoạn giáng hạ tiến hoá, sự hiếm hoi của các nguyên tử dương [Page 322] rất dễ nhận thấy; chúng hiếm đến mức chỉ đủ để giữ cho khối ấy kết dính. |
|
Evolution, wherein, due to the action of manas, these negative atoms become stimulated and either dissipate back into the central electrical reservoir, or merge in their opposite pole, and are consequently again lost. This results in: |
Tiến hoá, trong đó, do tác động của manas, các nguyên tử âm này được kích thích và hoặc làm tiêu tan trở lại vào bể chứa điện trung tâm, hoặc hòa nhập vào cực đối nghịch của chúng, và do đó lại bị mất đi. Điều này dẫn đến: |
|
Synthesis. |
Tổng hợp. |
|
Đồng nhất tính. |
|
|
The rarity instead of the density of matter. The fourth cosmic ether, the buddhic, is the plane of air, and is also the plane of absorption for the three worlds. This rarefication of dense matter (as we know it) simply means that at the close of the evolutionary process it will have been transmuted and be practically, from our point of view, non-existent; all that will be left will be the positive atoms, or certain vortices of force which—having absorbed the negative will demonstrate as electrical phenomena of a form inconceivable to man at his present stage of knowledge. These vortices will be distinguished by: |
Sự thưa loãng thay vì sự đậm đặc của vật chất. Cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề, là cõi của khí, và cũng là cõi hấp thu đối với ba cõi giới. Sự làm loãng vật chất đậm đặc này (như chúng ta biết) đơn giản có nghĩa là vào lúc kết thúc tiến trình tiến hoá, nó sẽ được chuyển hoá và thực tế, từ quan điểm của chúng ta, sẽ không còn tồn tại; tất cả những gì còn lại sẽ là các nguyên tử dương, hay một số xoáy lực mà—sau khi đã hấp thu cái âm—sẽ biểu lộ như các hiện tượng điện dưới một hình thức mà con người ở giai đoạn tri thức hiện nay không thể hình dung được. Các xoáy này sẽ được phân biệt bởi: |
|
1. Intense vibratory activity. |
1. Hoạt động rung động mãnh liệt. |
|
2. The predominance of one certain colour according to the quality of the etheric display, and its source. |
2. Sự trội vượt của một màu sắc nhất định tùy theo phẩm tính của sự biểu lộ dĩ thái, và nguồn gốc của nó. |
|
3. Repulsion to all bodies of similar vibratory rate and polarity. Their attractive quality at the end of evolution will cease owing to the fact that naught remains to be attracted. |
3. Sự đẩy lùi đối với mọi thể có cùng nhịp độ rung động và cực tính. Phẩm tính hấp dẫn của chúng vào cuối tiến hoá sẽ chấm dứt do sự kiện rằng không còn gì để hấp dẫn nữa. |
|
The vortices in each planetary scheme will be, during evolution, seven. Later, during the period of obscuration, three of the vortices will approximate their masculine pole and eventually but one will be left. In man a similar procedure can be seen in connection with his [Page 323] seven centres during the process of initiation. First there are seven, then three absorb the lower four through electrical interaction. We are here viewing the subject wholly from the point of view of our present discussion. Finally, only the head centre is left, for it is the positive pole to all the others. |
Các xoáy trong mỗi hệ hành tinh sẽ là bảy trong tiến hoá. Về sau, trong thời kỳ che khuất, ba trong các xoáy sẽ tiến gần đến cực nam tính của chúng và cuối cùng chỉ còn lại một. Nơi con người, một tiến trình tương tự có thể được thấy liên hệ với bảy trung tâm của y trong tiến trình điểm đạo. Trước hết có bảy, rồi ba hấp thu bốn thấp hơn qua sự tương tác điện. Ở đây chúng ta đang nhìn chủ đề hoàn toàn từ quan điểm của cuộc thảo luận hiện tại. Cuối cùng, chỉ còn trung tâm đầu, vì nó là cực dương đối với tất cả các trung tâm khác. |
|
This question of the electrical polarity of the centres is one of real difficulty, and little can be communicated on the matter. It may be safely pointed out, however, that the generative organs are the negative pole to the throat centre as is the solar plexus to the heart. The order of the development of the centres, the ray-type and colour, coupled to the fact that during certain stages of the evolutionary process different centres (such as the base of the spine) are positive to all the others, not even excluding the head centre, leads to the vast complexity of the subject. Likewise certain of the planetary schemes are positive and others negative; three of the schemes are dual, both negative and positive. The same can be predicated anent a solar system, and, curiously enough, anent the planes themselves. For instance, in connection with the earth scheme we have a positive polarity of a temporary nature based on the type of incarnation our particular Heavenly Man is undergoing on our planet. By this is meant that there are masculine and feminine incarnations undergone by Heavenly Men as by men, considering the entire subject from the angle of electrical polarity and not from sex as understood in connection with the physical body. |
Vấn đề cực tính điện của các trung tâm này là một vấn đề thực sự khó khăn, và rất ít điều có thể được truyền đạt về nó. Tuy nhiên, có thể an toàn chỉ ra rằng các cơ quan sinh sản là cực âm đối với trung tâm cổ họng cũng như tùng thái dương là cực âm đối với tim. Trật tự phát triển của các trung tâm, loại cung và màu sắc, cùng với sự kiện rằng trong một số giai đoạn nhất định của tiến trình tiến hoá, các trung tâm khác nhau (chẳng hạn như đáy cột sống) là cực dương đối với tất cả các trung tâm khác, thậm chí không loại trừ trung tâm đầu, dẫn đến sự phức tạp to lớn của chủ đề này. Tương tự, một số hệ hành tinh là dương và những hệ khác là âm; ba hệ là Kép, vừa âm vừa dương. Điều tương tự có thể được khẳng định về một hệ mặt trời, và kỳ lạ thay, về chính các cõi. Chẳng hạn, liên hệ với hệ địa cầu, chúng ta có một cực tính dương có tính tạm thời dựa trên loại nhập thể mà Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta đang trải qua trên hành tinh của chúng ta. Điều này có nghĩa là có những nhập thể nam tính và nữ tính mà các Đấng Thiên Nhân trải qua cũng như con người, nếu xét toàn bộ chủ đề từ góc độ cực tính điện chứ không phải từ giới tính như được hiểu liên hệ với thể xác. |
|
Venus is negatively polarised, and hence it became possible for a mysterious absorption by the Earth of Venusian force. Again in this connection the question of sex may serve to elucidate. The karmic tie between the two Heavenly Men—one in a positive incarnation and the other in a negative—caused the working out of an old debt and a planetary alliance. Light flashed forth [Page 324] in Lemurian days in a number of great groups of the human family when these two opposite poles made electrical connection. It needed the joint work of the two Heavenly Men, working on buddhic levels (the fourth cosmic ether) to bring about the blazing forth of the light of manas in the causal groups on the fifth cosmic gaseous plane, the mental plane of the solar system. It will be remembered that it was earlier pointed out that the majority of men function consciously on the fifth subplane of the three planes in the three worlds. In them the fifth principle is beginning to function, but not in sufficient force as yet to do more than keep them in line with the electrical force flowing from the fourth cosmic ether down to the next subplane of the cosmic physical. |
Sao Kim bị phân cực âm, và do đó một sự hấp thu huyền nhiệm của Trái Đất đối với mãnh lực Kim Tinh trở nên khả hữu. Một lần nữa, trong liên hệ này, vấn đề giới tính có thể giúp làm sáng tỏ. Mối ràng buộc nghiệp quả giữa hai Đấng Thiên Nhân—một trong nhập thể dương và vị kia trong nhập thể âm—đã gây ra sự giải quyết một món nợ cũ và một liên minh hành tinh. Ánh sáng đã bùng lên [Page 324] trong thời Lemuria trong một số nhóm lớn của gia đình nhân loại khi hai cực đối nghịch này tạo nên sự tiếp xúc điện. Cần đến công việc phối hợp của hai Đấng Thiên Nhân, hoạt động trên các cấp độ Bồ đề (cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư) để mang lại sự bùng cháy của ánh sáng manas trong các nhóm nguyên nhân trên cõi khí thể vũ trụ thứ năm, cõi trí của hệ mặt trời. Sẽ nhớ rằng trước đây đã chỉ ra rằng đa số loài người hoạt động hữu thức trên cõi phụ thứ năm của ba cõi trong ba cõi giới. Trong họ, nguyên khí thứ năm đang bắt đầu hoạt động, nhưng chưa đủ mạnh để làm gì hơn ngoài việc giữ họ phù hợp với mãnh lực điện đang tuôn chảy từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư xuống cõi phụ kế tiếp của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
It must ever be borne in mind that each plane and each subplane which is numerically allied, is embodying the same type of force, and is consequently of the same polarity. |
Phải luôn luôn ghi nhớ rằng mỗi cõi và mỗi cõi phụ có liên hệ tương ứng về số đều thể hiện cùng một loại mãnh lực, và do đó có cùng cực tính. |
|
Again, the astral plane and the buddhic plane are related, as we already know; the astral is negative in relation to the buddhic plane. When the polarity of the different planes is known, when the polarity of the subplanes is comprehended, and when the interaction between them and the corresponding cosmic planes is grasped, then will man be free, but not before. When the polarity of the ethers to each other and their relationship to the whole is comprehended, human evolution will have run its course. A Master has solved the problem of electrical phenomena in the three worlds, hence His freedom. Further, when the relationship of the negative form to the positive Spirit is grasped, and their joint connection with the cosmic Entities Who indwell the whole system is somewhat apprehended, group liberation will be achieved. |
Một lần nữa, cõi cảm dục và cõi Bồ đề có liên hệ với nhau, như chúng ta đã biết; cõi cảm dục là âm đối với cõi Bồ đề. Khi cực tính của các cõi khác nhau được biết đến, khi cực tính của các cõi phụ được thấu hiểu, và khi sự tương tác giữa chúng với các cõi vũ trụ tương ứng được nắm bắt, bấy giờ con người sẽ được tự do, nhưng không phải trước đó. Khi cực tính của các dĩ thái đối với nhau và mối liên hệ của chúng với toàn thể được thấu hiểu, tiến trình tiến hoá của nhân loại sẽ hoàn tất. Một Chân sư đã giải quyết được vấn đề các hiện tượng điện trong ba cõi thấp, do đó có được sự tự do của Ngài. Hơn nữa, khi mối liên hệ của hình tướng âm với Tinh thần dương được nắm bắt, và sự liên kết chung của chúng với các Thực Thể vũ trụ ngự bên trong toàn bộ hệ thống được phần nào lĩnh hội, sự giải thoát theo nhóm sẽ đạt được. |
|
Perhaps in considering this abstruse matter it may [Page 325] help to clarify the point of view if it is recollected that man is essentially positive in his own nature but his vehicles are negative; hence he is the central unit of positive electricity that draws and holds to him atoms of an opposite polarity. When he has merged and blended the two poles, and produced light of a definite magnitude during any particular incarnation (which magnitude is settled by the Ego prior to incarnation) then obscuration takes place. The electrical manifestation burns up and destroys the medium, and the light goes out; what we call physical death ensues, for the electrical current burns up that which had caused objectivity, and that which shone. Let us carry this idea further and realise that these units called men (who are positive as regards their own vehicles) are but the negative cells in the body of a Heavenly Man, and are held within His sphere of influence by the force of His electrical life. Bear in mind again that the Heavenly Men are thus positive as regards the lesser lives, but in Their turn are negative as regards the greater Life that contains Them. |
Có lẽ khi xem xét vấn đề thâm áo này, điều đó có thể [Page 325] giúp làm sáng tỏ quan điểm nếu nhớ rằng con người về bản chất riêng của mình là dương, nhưng các vận cụ của y là âm; do đó y là đơn vị trung tâm của điện dương, thu hút và giữ lấy cho mình các nguyên tử có cực tính đối nghịch. Khi y đã hợp nhất và dung hợp hai cực, và tạo ra ánh sáng có cường độ xác định trong bất kỳ kiếp lâm phàm đặc thù nào (mức độ này do chân ngã ấn định trước khi nhập thể) thì sự che mờ xảy ra. Biểu hiện điện đốt cháy và hủy diệt môi trường, và ánh sáng tắt đi; điều mà chúng ta gọi là cái chết hồng trần tiếp theo sau, vì dòng điện đốt cháy cái đã gây ra tính khách quan, và cái đã chiếu sáng. Chúng ta hãy tiếp tục ý tưởng này và chứng nghiệm rằng các đơn vị được gọi là con người này (vốn là dương đối với chính các vận cụ của mình) chỉ là những tế bào âm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, và được giữ trong khối cầu ảnh hưởng của Ngài bởi mãnh lực của sự sống điện của Ngài. Hãy lại ghi nhớ rằng các Đấng Thiên Nhân như thế là dương đối với các sự sống nhỏ hơn, nhưng đến lượt Các Ngài lại là âm đối với Sự sống lớn hơn bao hàm Các Ngài. |
|
Here again is demonstrated the truth of the teaching given by H. P. B. |
Ở đây một lần nữa chân lý của giáo huấn do H. P. B. ban ra lại được chứng minh. |
|
Electric Fire |
Positive |
Spirit. |
|
Fire by Friction |
Negative |
Matter. |
|
Solar Fire |
Light |
The two blended and thus producing the objective blaze. |
|
We have thus considered the question of the electrical origin of all manifestation in connection with the four higher subplanes of the solar system—those four planes which are the four cosmic ethers, and therefore form the body of objectivity of a Heavenly Man in exactly the same sense as the four physical ethers of the solar system form the etheric body of a man. I have here repeated the fact, as its importance has not yet been grasped by the average occult student; this fact—when [Page 326] conceded and realised—serves in a wonderful way to clarify the whole subject of planetary evolution. We have now reached the three planes wherein man functions, or the gaseous, liquid, and dense subplanes of the cosmic physical. |
Như vậy, chúng ta đã xem xét vấn đề về nguồn gốc điện của mọi biểu hiện liên hệ với bốn cõi phụ cao của hệ mặt trời—bốn cõi ấy là bốn dĩ thái vũ trụ, và do đó tạo thành thể khách quan của một Đấng Thiên Nhân theo đúng cùng ý nghĩa như bốn dĩ thái hồng trần của hệ mặt trời tạo thành thể dĩ thái của con người. Tôi đã lặp lại ở đây sự kiện này, vì tầm quan trọng của nó vẫn chưa được đạo sinh huyền bí học trung bình nắm bắt; sự kiện này—khi [Page 326] được thừa nhận và chứng nghiệm—phục vụ một cách kỳ diệu cho việc làm sáng tỏ toàn bộ chủ đề tiến hoá hành tinh. Giờ đây chúng ta đã đến ba cõi trong đó con người hoạt động, hay các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
The whole subject of the akasha will be greatly clarified as exoteric science delves into the question of the ethers. As knowledge of the four types of ethers is available, as the vibratory action of these ethers is realised, and as the details concerning their composition, utilisation, light-bearing capacity, and the various angles from which they may be studied become known then paralleling knowledge anent the corresponding four cosmic ethers will be forthcoming. Much concerning them may be deduced from the already apprehended facts which relate to the four solar physical ethers. |
Toàn bộ chủ đề về akasha sẽ được làm sáng tỏ rất nhiều khi khoa học ngoại môn đào sâu vào vấn đề các dĩ thái. Khi tri thức về bốn loại dĩ thái trở nên khả dụng, khi tác động rung động của các dĩ thái này được chứng nghiệm, và khi các chi tiết liên quan đến thành phần, sự sử dụng, khả năng mang ánh sáng, cùng các góc độ khác nhau mà từ đó chúng có thể được nghiên cứu trở nên được biết đến, thì song song với tri thức ấy, tri thức về bốn dĩ thái vũ trụ tương ứng cũng sẽ xuất hiện. Nhiều điều liên quan đến chúng có thể được suy diễn từ những sự kiện đã được lĩnh hội vốn liên hệ đến bốn dĩ thái hồng trần thái dương. |
|
For instance, the fourth ether (which is even now being what we might call “discovered”), is at this stage characterised by certain things. I might enumerate a few of these facts with exceeding brevity, as follows: |
Chẳng hạn, dĩ thái thứ tư (ngay lúc này đang được, như chúng ta có thể gọi, “khám phá”) ở giai đoạn này được đặc trưng bởi một số điều. Tôi có thể liệt kê vài sự kiện ấy hết sức vắn tắt như sau: |
|
a. It is the ether which the violet ray uses as a medium. |
a. Đó là dĩ thái mà cung tím sử dụng làm môi trường. |
|
b. The fourth ether is that whereof the majority of the etheric bodies of men are made. |
b. Dĩ thái thứ tư là chất liệu mà phần lớn các thể dĩ thái của con người được tạo thành từ đó. |
|
c. The fourth ether is largely the principal sphere of influence of the “devas of the shadows,” or those violet devas which are closely concerned with the physical evolution of man. |
c. Dĩ thái thứ tư phần lớn là khối cầu ảnh hưởng chính của các “thiên thần của bóng tối”, hay những thiên thần tím có liên hệ mật thiết với sự tiến hoá hồng trần của con người. |
|
d. It is the etheric sphere within which, at a little later date, the human and the deva evolutions will touch. |
d. Đó là khối cầu dĩ thái bên trong đó, vào một thời điểm muộn hơn đôi chút, hai tiến hoá nhân loại và thiên thần sẽ tiếp xúc nhau. |
|
e. From this fourth etheric sphere the dense physical bodies are created. |
e. Từ khối cầu dĩ thái thứ tư này, các thể hồng trần đậm đặc được tạo ra. |
|
f. It is the sphere of physical individualisation. Only when the animal to be individualised was fully conscious on that subplane of the physical plane was it possible to co-ordinate the corresponding spheres on the astral and mental planes and by means of this triple co-ordination to effect the necessary steps which enabled the quaternary to succeed in its effort to approximate the Triad. [Page 327] |
f. Đó là khối cầu của sự biệt ngã hóa hồng trần. Chỉ khi con vật sắp được biệt ngã hóa hoàn toàn hữu thức trên cõi phụ ấy của cõi hồng trần thì mới có thể phối hợp các khối cầu tương ứng trên cõi cảm dục và cõi trí, và bằng phương tiện của sự phối hợp tam phân này mà thực hiện các bước cần thiết giúp bộ tứ thành công trong nỗ lực tiến gần Tam nguyên tinh thần. [Page 327] |
|
g. This fourth ether in this fourth round and on this fourth chain has to be completely mastered and controlled by the Human Hierarchy, the fourth creative. Every unit of the human family has to attain this mastery before the end of this round. |
g. Dĩ thái thứ tư này trong cuộc tuần hoàn thứ tư và trên dãy thứ tư này phải được Huyền Giai nhân loại, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hoàn toàn làm chủ và kiểm soát. Mọi đơn vị của gia đình nhân loại đều phải đạt được sự làm chủ này trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn này. |
|
h. It is the sphere wherein the initiations of the threshold are undergone, and the fivefold initiations of the physical plane are entered upon. |
h. Đó là khối cầu trong đó các cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa được trải qua, và năm cuộc điểm đạo của cõi hồng trần được bắt đầu. |
|
Còn có thể bổ sung thêm nhiều điều nữa vào danh sách này, nhưng tôi chỉ tìm cách chỉ ra những điều có thể dễ dàng được chứng nghiệm là có sự tương ứng trên cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư. Cần ghi nhớ rằng cõi hồng trần của chúng ta trong các cõi phụ của nó cũng có sự tương đồng với toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ. |
|
|
COSMIC PHYSICAL PLANE |
CÕI HỒNG TRẦN VŨ TRỤ |
|
1. Adi |
First cosmic ether. |
1. Atomic subplane |
First ether. |
|
2. Monadic |
Second cosmic ether. |
2. Sub-atomic |
Second ether. |
|
3. Atmic |
Third cosmic ether. |
3. Super-etheric |
Third ether. |
|
4. Buddhic |
Fourth cosmic ether. |
4. Etheric |
Fourth ether. |
|
5. Mental |
Cosmic liquid. |
5. Gaseous. |
|
|
6. Astral |
Cosmic liquid. |
6. Liquid. |
|
|
7. Physical |
Cosmic dense. |
7. Dense physical. |
|
The solar physical plane might also be expressed accurately as follows, working out the anaIogy to the major planes: |
Cõi hồng trần thái dương cũng có thể được diễn đạt chính xác như sau, triển khai sự tương đồng với các cõi chính: |
|
SOLAR PHYSICAL PLANE |
CÕI HỒNG TRẦN THÁI DƯƠNG |
|
First subplane |
atomic |
first ether |
physical adi. |
|
Second subplane |
sub-atomic |
second ether |
physical anupadaka. |
|
Third subplane |
super-etheric |
third ether |
physical atmic. |
|
Fourth subplane |
etheric |
fourth ether |
physical buddhic. |
|
Fifth subplane |
gaseous |
physical mental. |
|
|
Sixth subplane |
liquid |
physical astral. |
|
|
Seventh subplane |
dense |
physical dense. |
|
[Page 328] In both the cosmic and solar physical planes, the plane of buddhi is ever the plane of at-one-ment, or the meeting ground of diversities, and of their blending—not into a fundamental unity—but into group unity. This is owing to the fact that the buddhic plane is pre-eminently the plane most concerned with the evolution of the Heavenly Men. What I have therefore predicated anent the fourth physical ether can likewise be extended to the fourth cosmic ether, and find its analogy on the buddhic plane. The place, for instance, of violet in the spectrum is of prime importance in connection with the greater cycles, and marks the end of a cycle and the beginning of a new one. The buddhic plane is peculiarly the plane of violet, even though all the colours find their place there; the Lord of the Ray of Ceremonial Magic, Who embodies the violet ray or hierarchy, has a special relationship to the buddhic plane. It must be borne in mind that each planetary Logos works primarily on one of the seven planes; from this we can infer that His influence finds its line of least resistance on some one plane, even though it be exerted on all planes. |
[Page 328] Trong cả cõi hồng trần vũ trụ lẫn cõi hồng trần thái dương, cõi Bồ đề luôn luôn là cõi của sự hợp nhất, hay nơi gặp gỡ của các dị biệt, và của sự dung hợp chúng—không phải thành một hợp nhất căn bản—mà thành hợp nhất nhóm. Điều này là do cõi Bồ đề nổi bật hơn hết là cõi liên hệ nhiều nhất đến sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân. Vì vậy, điều tôi đã khẳng định liên quan đến dĩ thái hồng trần thứ tư cũng có thể được mở rộng đến dĩ thái vũ trụ thứ tư, và tìm thấy sự tương đồng của nó trên cõi Bồ đề. Chẳng hạn, vị trí của màu tím trong quang phổ có tầm quan trọng hàng đầu liên hệ với các chu kỳ lớn hơn, và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ cùng sự khởi đầu của một chu kỳ mới. Cõi Bồ đề đặc biệt là cõi của màu tím, dù mọi màu sắc đều có chỗ đứng ở đó; Đấng Chúa Tể của Cung Huyền Thuật Nghi Lễ, Đấng hiện thân cung tím hay Huyền Giai, có một mối liên hệ đặc biệt với cõi Bồ đề. Cần ghi nhớ rằng mỗi Hành Tinh Thượng đế hoạt động chủ yếu trên một trong bảy cõi; từ đó chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Ngài tìm thấy con đường ít trở ngại nhất trên một cõi nào đó, dù nó được vận dụng trên mọi cõi. |
|
Again, extend the second statement anent the etheric composition of the bodies of men to Those of the Heavenly Men, and it will be found that just as the majority of human etheric bodies are built of matter of the fourth ether, so it may also be said that four of the Heavenly Men have Their etheric vehicles composed of this fourth cosmic ether (buddhic matter). |
Một lần nữa, hãy mở rộng phát biểu thứ hai liên quan đến thành phần dĩ thái của các thể người sang các thể của các Đấng Thiên Nhân, và sẽ thấy rằng cũng như phần lớn các thể dĩ thái của con người được kiến tạo bằng vật chất của dĩ thái thứ tư, thì cũng có thể nói rằng bốn Đấng Thiên Nhân có các vận cụ dĩ thái được cấu thành từ dĩ thái vũ trụ thứ tư này (vật chất Bồ đề). |
|
Further, the two great evolutions (human and deva) find their group unity on the buddhic plane, and portions of both hierarchies blend and merge so as to form the body of the divine Hermaphrodite. (124, 125) Earlier, at certain fixed points, they may temporarily approximate each [Page 329] other. On the buddhic plane definite and permanent alliance may be seen. On this plane also the “devas of the shadows” who are concerned in the building of the planetary scheme, pursue their work, and thus parallel the work done in the three worlds by the lesser builders who work with the etheric body of man. So can the analogies be worked out, for ever this Law of Resemblance holds good; yet ever must it be remembered that the analogy is of a psychic nature, and demonstrates in work, activity, and quality, and not in literal identity of form. |
Hơn nữa, hai tiến hoá lớn (nhân loại và thiên thần) tìm thấy sự hợp nhất nhóm của mình trên cõi Bồ đề, và các phần của cả hai Huyền Giai dung hợp và hòa nhập để tạo thành thể của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. (124, 125) Trước đó, tại những điểm cố định nhất định, chúng có thể tạm thời tiến gần nhau [Page 329]. Trên cõi Bồ đề có thể thấy một liên minh xác định và thường tồn. Trên cõi này cũng vậy, các “thiên thần của bóng tối” có liên hệ đến việc xây dựng hệ hành tinh theo đuổi công việc của mình, và như thế song hành với công việc được thực hiện trong ba cõi thấp bởi các vị tiểu kiến tạo làm việc với thể dĩ thái của con người. Như vậy các sự tương đồng có thể được triển khai, vì Định luật Tương Tự này luôn luôn đúng; tuy nhiên luôn luôn phải nhớ rằng sự tương đồng ấy có bản chất thông linh, và được chứng minh trong công việc, hoạt động và phẩm tính, chứ không phải trong sự đồng nhất theo nghĩa đen của hình tướng. |
|
(124) The Pairs of Opposites:—From The Science of Social Organization, by Bhagavan Das. (back) |
(124) Các Cặp Đối Lập:—Trích từ Khoa Học về Tổ Chức Xã Hội, của Bhagavan Das. (trở lại) |
|
As time elapses the work of the Heavenly Men in the cosmic etheric spheres will be better comprehended, and assisted intelligently by those lesser intelligences who—by the study of the physical ethers—will eventually hold the key of the greater manifestation. Science is the handmaiden of wisdom, and opens the door to those infinite reaches and to those cosmic expanses, where stand Those vaster Intelligences, Who manipulate the matter of the higher planes, and bend it to the desired form, causing the vibrations thus set up to be felt at the furthest bounds of the solar ring-pass-not. Automatically then all lesser lives and all the denser materials are swept and carried into the needed channels and forms. Vibration, or initial activity, light, or activity taking form and animating form, sound the basis of differentiation and the source of the evolutionary process, and colour the sevenfold differentiation—thus is the work carried on. We have been dealing with these four in connection with a solar Logos, and equally with the work of a Heavenly Man and of Man, of the human monad. |
Theo thời gian, công việc của các Đấng Thiên Nhân trong các khối cầu dĩ thái vũ trụ sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và được hỗ trợ một cách thông minh bởi những trí tuệ nhỏ hơn, những trí tuệ—nhờ nghiên cứu các dĩ thái hồng trần—cuối cùng sẽ nắm giữ chìa khóa của biểu hiện lớn hơn. Khoa học là nữ tỳ của minh triết, và mở cánh cửa đến những tầm mức vô hạn và những không gian vũ trụ, nơi đứng đó những Trí Tuệ bao la hơn, Các Ngài thao tác vật chất của các cõi cao và uốn nó theo hình tướng mong muốn, khiến các rung động được khởi lên như thế được cảm nhận ở những ranh giới xa nhất của vòng-giới-hạn thái dương. Khi ấy, một cách tự động, mọi sự sống nhỏ hơn và mọi vật liệu đậm đặc hơn đều bị cuốn và mang vào các kênh dẫn và hình tướng cần thiết. Rung động, hay hoạt động khởi đầu, ánh sáng, hay hoạt động mang hình tướng và tiếp sinh lực cho hình tướng, âm thanh, nền tảng của sự biến phân và nguồn gốc của tiến trình tiến hoá, và màu sắc sự biến phân thất phân—công việc được tiến hành như thế. Chúng ta đã bàn đến bốn điều này trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế, và cũng tương tự với công việc của một Đấng Thiên Nhân và của Con Người, của chân thần nhân loại. |
|
Students should also bear in mind another point that is often forgotten, which is that every plane can be studied and divided in two ways: |
Đạo sinh cũng nên ghi nhớ một điểm khác thường bị quên lãng, đó là mỗi cõi có thể được nghiên cứu và phân chia theo hai cách: |
|
First. The seven subplanes can be divided into the [Page 330] higher three planes or the abstract planes, and the lower four or the concrete planes. This division is the best and most purely metaphysical, for it embodies the entire idea of the Self, the Not-Self, and the Intelligence, with their synthesis, which produces the objective universe, whether solar system, planetary scheme, or human incarnation. In connection with the Logos it is fully discussed and illuminatingly considered in the first volume of the Secret Doctrine, where the work of the Father and the Mother in producing the Son through conscious intelligent co-operation is handled by H. P. B. in a masterly manner. |
Thứ nhất. Bảy cõi phụ có thể được chia thành [Page 330] ba cõi cao hay các cõi trừu tượng, và bốn cõi thấp hay các cõi cụ thể. Sự phân chia này là tốt nhất và thuần siêu hình nhất, vì nó bao hàm toàn bộ ý niệm về Bản Ngã, Phi-Ngã, và Trí Tuệ, cùng sự tổng hợp của chúng, vốn tạo ra vũ trụ khách quan, dù là hệ mặt trời, hệ hành tinh, hay sự lâm phàm của con người. Liên hệ với Thượng đế, điều này được bàn luận đầy đủ và xem xét một cách soi sáng trong quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm, nơi công việc của Cha và Mẹ trong việc sinh ra Người Con qua sự hợp tác hữu thức thông minh được H. P. B. trình bày một cách bậc thầy. |
|
In connection with man the point can be grasped more easily if the causal body on the abstract levels of the mental plane is considered in connection with the lower four or concrete levels from whence manifestation emanates. |
Liên hệ với con người, điểm này có thể được nắm bắt dễ hơn nếu thể nguyên nhân trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí được xem xét trong liên hệ với bốn cấp độ thấp hay cụ thể, từ đó biểu hiện phát xuất. |
|
Second. Dividing the seven subplanes into the same higher three but making the fourth plane the plane of meeting or of at-one-ment, and regarding the lower three as the planes of endeavour. This division primarily concerns man. |
Thứ hai. Chia bảy cõi phụ thành cùng ba cõi cao ấy nhưng lấy cõi thứ tư làm cõi gặp gỡ hay hợp nhất, và xem ba cõi thấp là các cõi của nỗ lực. Sự phân chia này chủ yếu liên quan đến con người. |
|
Both these divisions will be seen later as existing on every plane in the system and as having their origin in electrical force which shows itself differently on each plane but acts on all under three laws: Attraction or Repulsion, Economy, and Synthesis. The lower three planes or subplanes act under the Law of Economy primarily; the plane of meeting or of union acts under a phase of the Law of Attraction. Paralleling them, of course, during evolution are their opposites, showing as Dispersion, Repulsion, and Differentiation. |
Về sau, cả hai cách phân chia này sẽ được thấy là tồn tại trên mọi cõi trong hệ thống và có nguồn gốc trong mãnh lực điện, mãnh lực này biểu lộ khác nhau trên mỗi cõi nhưng tác động trên tất cả dưới ba định luật: Hấp Dẫn hay Đẩy Lùi, Tiết Kiệm, và Tổng Hợp. Ba cõi hay cõi phụ thấp tác động chủ yếu dưới Định luật Tiết Kiệm; cõi gặp gỡ hay hợp nhất tác động dưới một phương diện của Định luật Hấp Dẫn. Song song với chúng, dĩ nhiên, trong tiến hoá là các đối cực của chúng, biểu hiện thành Sự Phân Tán, Đẩy Lùi, và Biến Phân. |
|
The question of the electrical manifestation of the akasha on the seven planes has therefore to be studied in its three main divisions, then plane by plane or the sevenfold consideration, and finally as the forty-nine [Page 331] fires. Throughout it must be recollected that the subject is still further complicated by the factor of time which brings these forty-nine fires at different stages under different spheres of influence and under the three laws of the cosmos. Thus the same fire at different periods will show itself forth as constructive light, or again bring about combustion and eventual obscuration as the result of burning out. |
Do đó, vấn đề biểu hiện điện của akasha trên bảy cõi phải được nghiên cứu trong ba phân bộ chính của nó, rồi từng cõi một hay theo sự xem xét thất phân, và cuối cùng như bốn mươi chín [Page 331] ngọn lửa. Suốt toàn bộ, phải nhớ rằng chủ đề này còn phức tạp thêm bởi yếu tố thời gian, yếu tố đưa bốn mươi chín ngọn lửa này ở những giai đoạn khác nhau vào dưới các khối cầu ảnh hưởng khác nhau và dưới ba định luật của vũ trụ. Vì thế, cùng một ngọn lửa ở những thời kỳ khác nhau sẽ biểu lộ như ánh sáng kiến tạo, hoặc lại gây ra sự cháy và cuối cùng là sự che mờ như kết quả của việc cháy cạn. |
|
In connection with the manifestation of electricity on the mental, astral and physical planes. We will not enlarge upon the subject, as it will later be discussed as fully as may be possible. Suffice it to say that the law holds good and that what is laid down as fact anent a Heavenly Man on His Own planes is equally true of man on the four lower planes. Thus: |
Liên hệ với biểu hiện của điện trên các cõi trí, cảm dục và hồng trần. Chúng ta sẽ không mở rộng về chủ đề này, vì về sau nó sẽ được bàn đến đầy đủ nhất có thể. Chỉ cần nói rằng định luật này là đúng và điều được nêu ra như sự kiện liên quan đến một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng đúng tương tự đối với con người trên bốn cõi thấp. Như vậy: |
|
A SOLAR LOGOS |
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ |
|
1. Electrical vibration |
the plane logoic or adi. |
|
2. Electrical light |
the plane monadic or anupadaka. |
|
3. Electrical sound |
the plane of atma. |
|
4. Electrical colour |
the plane of buddhi. |
|
A HEAVENLY MAN |
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN |
|
1. Electrical vibration |
the plane monadic. |
|
2. Electrical light |
the plane of atma. |
|
3. Electrical sound |
the plane of buddhi. |
|
4. Electrical colour |
the mental plane |
|
MAN |
CON NGƯỜI |
|
1. Electrical vibration |
buddhic plane. |
|
2. Electrical light |
the mental plane. |
|
3. Electrical sound |
the astral plane. |
|
4. Electrical colour |
the physical plane |
|
We need to remember here that we were earlier dealing with the Logos, and with the Heavenly Men as incorporate parts of His body of manifestation. In the tabulation above given we are dealing with each separately, [Page 332] and it should be observed that the manifestation of the groups of causal bodies on the mental plane is the colour manifestation of a Heavenly Man and His lowest point of objectivity. In man his lowest point of objectivity is the fifth subplane of the physical plane, as the liquid and the dense subplanes are not counted as principles any more than the cosmic liquid and dense (the astral and the systemic physical planes) count with a Heavenly Man. |
Ở đây chúng ta cần nhớ rằng trước đó chúng ta đang bàn đến Thượng đế, và đến các Đấng Thiên Nhân như những phần nhập thể trong thể biểu hiện của Ngài. Trong bảng liệt kê trên đây, chúng ta đang xét từng vị một cách riêng biệt, [Page 332] và cần lưu ý rằng biểu hiện của các nhóm thể nguyên nhân trên cõi trí là biểu hiện màu sắc của một Đấng Thiên Nhân và là điểm khách quan thấp nhất của Ngài. Ở con người, điểm khách quan thấp nhất của y là cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, vì các cõi phụ lỏng và đậm đặc không được tính là các nguyên khí, cũng như các cõi lỏng và đậm đặc vũ trụ (cõi cảm dục và cõi hồng trần hệ thống) không được tính đối với một Đấng Thiên Nhân. |
|
We have seen that manas or mind is the fifth principle, or the basic vibration of the cosmic mental plane, the fifth plane; it was therefore impulse originating from the causal levels of the cosmic mental plane, which drove our solar Logos into manifestation, in the same way that the force which brings man into incarnation emanates from his causal body on the mental plane of the solar system. We have seen also that manas is that discriminative faculty which animates all substance, and which is also the electrical fire of the system showing forth as attraction and repulsion, with all that is involved in those two words. In the widest sense of the idea the Laws of Economy and of Synthesis are only divisions of that same cosmic law of which Attraction and Repulsion are also manifestations. This cosmic law, demonstrating thus in a threefold manner, might (for lack of a better term) be called the Law of Being, and is of a nature so incomprehensible to the finite mind of man that he can only sense it partially through the aforesaid three branches. |
Chúng ta đã thấy rằng manas hay trí tuệ là nguyên khí thứ năm, hay rung động căn bản của cõi trí vũ trụ, cõi thứ năm; do đó chính xung lực phát sinh từ các cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ đã thúc đẩy Thái dương Thượng đế của chúng ta đi vào biểu hiện, cũng theo cùng cách mà mãnh lực đưa con người vào nhập thể phát xuất từ thể nguyên nhân của y trên cõi trí của hệ mặt trời. Chúng ta cũng đã thấy rằng manas là năng lực phân biện làm sinh động mọi chất liệu, và cũng là lửa điện của hệ thống biểu lộ thành hấp dẫn và đẩy lùi, cùng mọi điều hàm chứa trong hai từ ấy. Theo nghĩa rộng nhất của ý niệm này, các Định luật Tiết Kiệm và Tổng Hợp chỉ là những phân bộ của cùng một định luật vũ trụ mà Hấp Dẫn và Đẩy Lùi cũng là các biểu hiện. Định luật vũ trụ này, biểu lộ như thế theo cách tam phân, có thể (vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn) được gọi là Định luật Bản Thể, và có bản chất khó hiểu đến mức trí tuệ hữu hạn của con người chỉ có thể cảm nhận nó phần nào qua ba nhánh nói trên. |
3. MANAS IS THAT WHICH PRODUCES COHESION |
3. MANAS LÀ CÁI TẠO RA SỰ CỐ KẾT |
|
We come now to our third definition: The manasic principle is above all else that cohesive something which enables an Entity (whether Logos, Heavenly Man, or man) to work: |
Giờ đây chúng ta đến định nghĩa thứ ba: nguyên khí manas trên hết mọi sự là cái gì đó có tính cố kết, giúp cho một Thực Thể (dù là Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, hay con người) có thể hoạt động: |
|
a. Through form, and thus exist. [Page 333] |
a. Qua hình tướng, và như thế tồn tại. [Page 333] |
|
b. By means of progressive development or cyclic evolution. |
b. Bằng phương tiện của sự phát triển tiến bộ hay tiến hoá theo chu kỳ. |
|
c. On certain planes, that are, for the entity concerned, the battleground of life, and the field of experience. |
c. Trên những cõi nhất định, là chiến trường của sự sống và là lĩnh vực kinh nghiệm đối với thực thể liên hệ. |
|
d. By the method of manifestation, which is a gradual growth from a dim and distant dawn through an ever increasing splendour of light to a blaze of effulgent glory; then through a steadily dimming twilight to final obscuration. Dawn, day, midday, twilight, night—thus is the order for the Logos, for a planetary Logos, and for man. |
d. Bằng phương pháp biểu hiện, vốn là một sự tăng trưởng dần dần từ bình minh mờ nhạt và xa xăm qua ánh huy hoàng ngày càng tăng của ánh sáng đến một ngọn lửa vinh quang rực rỡ; rồi qua hoàng hôn mờ dần đều đặn đến sự che mờ cuối cùng. Bình minh, ban ngày, giữa trưa, hoàng hôn, đêm tối—đó là trật tự đối với Thượng đế, đối với một Hành Tinh Thượng đế, và đối với con người. |
|
If the above four points are carefully studied, it will be found that they are fairly comprehensive, and embody the four points that are as yet the only ones available for man in this fourth round. |
Nếu bốn điểm trên được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng chúng khá bao quát, và bao hàm bốn điểm mà hiện nay là những điểm duy nhất khả dụng cho con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. |
|
Man regards himself as a synthesised aggregate of physical body, emotional nature, and mentality, yet knows himself as more than these three, and recognises himself as the utiliser of form, of emotion, and of mentality, holding them all together coherently so that he is a unit. A planetary Logos similarly does the same, with the difference that manas is not the medium whereby he is a coherent whole. Owing to his more advanced stage of development, wisdom is for Him the dominant factor. A solar logos achieves through Will what a planetary Logos does through wisdom or buddhi, and man (on his tiny scale) through manas. Yet, as both planetary Logos and man are but parts of their greater whole, the electric fire of will permeates them also, merging with the solar fire of buddhi, and fanning the fires of matter. In all these distinctions and differentiations it must be remembered that they do not exist from the logoic standpoint, but are only to be predicated in relation [Page 334] to the lesser bodies which are included in the solar ring-pass-not. |
Con người xem mình là một tổng thể tổng hợp gồm thể xác, bản chất cảm xúc, và trí tuệ, tuy nhiên biết mình còn hơn ba điều ấy, và nhận ra mình là kẻ sử dụng hình tướng, cảm xúc, và trí tuệ, giữ tất cả chúng lại với nhau một cách cố kết để y là một đơn vị. Một Hành Tinh Thượng đế cũng làm điều tương tự, với khác biệt là manas không phải là môi trường nhờ đó Ngài là một toàn thể cố kết. Do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài, minh triết là yếu tố chi phối đối với Ngài. Một Thái dương Thượng đế thành tựu bằng Ý Chí điều mà một Hành Tinh Thượng đế thực hiện bằng minh triết hay Bồ đề, và con người (trên quy mô nhỏ bé của mình) bằng manas. Tuy nhiên, vì cả Hành Tinh Thượng đế lẫn con người chỉ là những phần của toàn thể lớn hơn của mình, lửa điện của ý chí cũng thấm nhuần họ, hòa nhập với lửa thái dương của Bồ đề, và quạt bùng các ngọn lửa của vật chất. Trong mọi sự phân biệt và biến phân này, phải nhớ rằng chúng không tồn tại từ quan điểm logoic, mà chỉ có thể được khẳng định trong liên hệ [Page 334] với các thể nhỏ hơn được bao hàm trong vòng-giới-hạn thái dương. |
|
A man is a coherent unit in objective manifestation for very brief periods on the physical plane simply because as yet he works only through manas and not through wisdom. His cycles are consequently soon run, and gone like a flash in the night. A planetary Logos, Who is perfected manas and works through wisdom, has longer cycles, and from the angle of vision of man endures for aeons; His life is the basis of the comparative permanence of the egoic cycles of man. The cycle of objectivity of a solar Logos persists for the greater mahamanvantara or solar cycle because it is based on will as well as on wisdom and manas. Therefore, it will be apparent that: |
Con người là một đơn vị cố kết trong biểu hiện khách quan trong những thời kỳ rất ngắn trên cõi hồng trần chỉ vì hiện nay y chỉ hoạt động qua manas chứ chưa qua minh triết. Do đó các chu kỳ của y nhanh chóng hoàn tất, và qua đi như một tia chớp trong đêm. Một Hành Tinh Thượng đế, Đấng là manas hoàn hảo và hoạt động qua minh triết, có các chu kỳ dài hơn, và từ góc nhìn của con người thì tồn tại qua các đại kiếp; sự sống của Ngài là nền tảng cho tính thường tồn tương đối của các chu kỳ chân ngã của con người. Chu kỳ khách quan của một Thái dương Thượng đế kéo dài suốt đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn hay chu kỳ thái dương vì nó được đặt nền trên ý chí cũng như trên minh triết và manas. Do đó, sẽ hiển nhiên rằng: |
|
a. Manas or intelligence is the basis of the separative manifestation of man. |
a. Manas hay trí tuệ là nền tảng của biểu hiện phân ly của con người. |
|
b. Wisdom or buddhi is the basis of the group manifestation of a Heavenly Man. |
b. Minh triết hay Bồ đề là nền tảng của biểu hiện nhóm của một Đấng Thiên Nhân. |
|
c. Will is the basis of the One Life which synthesises all groups. |
c. Ý chí là nền tảng của Sự Sống Duy Nhất tổng hợp mọi nhóm. |
|
Therefore again, in studying this Fire of Mind, we must remember that it is that which man is developing and with which he is learning to work, but that it is also that which a Heavenly Man has developed in an earlier system; it is to Him as automatic in its action as is the subconscious activity of a man’s physical organs. |
Vì vậy, một lần nữa, khi nghiên cứu Lửa của Trí Tuệ này, chúng ta phải nhớ rằng đó là điều con người đang phát triển và đang học cách làm việc với nó, nhưng đó cũng là điều mà một Đấng Thiên Nhân đã phát triển trong một hệ thống trước; đối với Ngài, nó tự động trong hoạt động của mình cũng như hoạt động tiềm thức của các cơ quan hồng trần của con người vậy. |
4. MANAS IS THE KEY TO THE FIFTH KINGDOM IN NATURE |
4. MANAS LÀ CHÌA KHÓA ĐẾN GIỚI THỨ NĂM TRONG THIÊN NHIÊN |
|
We might also define manas as the key to the door through which entrance is made into th5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYSe fifth kingdom of nature, the spiritual kingdom. Each of the five kingdoms is entered by some one key, and in connection the first two kingdoms—the mineral and vegetable—the key or method whereby the life escapes into the higher kingdom is so inexplicable to man as his present stage [Page 335] of intelligent apprehension that we will not pause to consider it. In relation to the animal kingdom it might be said that the key whereby entrance is effected into the human kingdom is that of instinct. This instinct, towards the final stages of the animal’s evolution, and as it becomes more and more detached from the group soul, (126) becomes transmuted into mentality, or into that embryo mind which is latent in animal-man, and which simply needed the stimulating vibration which emanated from the Earth’s Primary to be fanned into something definitely human. We must always bear in mind that the method of individualisation on this globe was not the one followed on others, and that many of the present advanced units of humanity individualised normally, and through the driving force of evolution itself. They found (to express it as far as possible in terms of fire), their opposite electrical pole through the activity of animal instinct, and by the blending of the two a human being was produced,—the union of the three fires in the causal vehicle. |
Chúng ta cũng có thể định nghĩa manas là chìa khóa của cánh cửa qua đó sự đi vào giới thứ năm trong thiên nhiên, giới tinh thần, được thực hiện. Mỗi một trong năm giới được đi vào bằng một chìa khóa nào đó, và liên hệ với hai giới đầu tiên—giới kim thạch và giới thực vật—chìa khóa hay phương pháp nhờ đó sự sống thoát vào giới cao hơn khó giải thích đối với con người ở giai đoạn hiện nay của [Page 335] sự lĩnh hội thông minh của y đến mức chúng ta sẽ không dừng lại để xem xét nó. Liên hệ với giới động vật, có thể nói rằng chìa khóa nhờ đó sự đi vào giới nhân loại được thực hiện là bản năng. Bản năng này, vào các giai đoạn cuối của sự tiến hoá của con vật, và khi nó ngày càng tách rời khỏi Hồn nhóm, (126) được chuyển hoá thành trí tuệ, hay thành cái mầm trí tuệ tiềm ẩn trong người thú, và chỉ cần rung động kích thích phát ra từ Đấng Sơ Khởi của Trái Đất để được quạt bùng thành một cái gì đó rõ rệt là con người. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng phương pháp biệt ngã hóa trên bầu hành tinh này không phải là phương pháp được theo trên các bầu hành tinh khác, và rằng nhiều đơn vị hiện nay tiến bộ của nhân loại đã biệt ngã hóa một cách bình thường, và qua chính động lực thúc đẩy của tiến hoá. Họ đã tìm thấy (để diễn đạt điều đó càng nhiều càng tốt bằng các thuật ngữ của lửa) cực điện đối nghịch của mình qua hoạt động của bản năng động vật, và bằng sự dung hợp của hai cực ấy mà một con người được tạo ra,—sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong vận cụ nguyên nhân. |
|
(126) “A Group-soul is a collection of permanent Triads in a triple envelope of monadic essence. The permanent Triads are a reflection upon the lower planes of the spiritual Triads on the higher. This description is true of all group-souls functioning on the physical plane, but gives no idea of the extreme complexity of the subject.”—From A Study in Consciousness, by Annie Besant. (back) |
(126) “Một Hồn nhóm là một tập hợp các Tam nguyên trường tồn trong một bao bọc tam phân bằng tinh chất chân thần. Các Tam nguyên trường tồn là một phản ánh trên các cõi thấp của các Tam nguyên tinh thần trên các cõi cao. Mô tả này đúng với mọi hồn nhóm hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng không cho ý niệm nào về tính cực kỳ phức tạp của chủ đề này.”—Trích từ Nghiên Cứu về Tâm Thức, của Annie Besant. (trở lại) |
|
Man passes into the fifth kingdom through the transmutation of the discriminative faculty of mind, which—as in the animal’s individualisation—brings about at a certain stage a spiritual individualisation which is the correspondence on higher levels to what transpired in Lemurian days. Therefore, we have: |
Con người đi vào giới thứ năm qua sự chuyển hoá năng lực phân biện của trí tuệ, năng lực này—cũng như trong sự biệt ngã hóa của động vật—ở một giai đoạn nhất định tạo ra một sự biệt ngã hóa tinh thần, là sự tương ứng trên các cấp độ cao với điều đã xảy ra trong những ngày Lemuria. Do đó, chúng ta có: |
|
Instinct |
The key from the animal into the human kingdom or from the third into the fourth kingdom. |
|
Manas |
The key from the human into the spiritual kingdom, or from the fourth kingdom into the fifth kingdom. |
|
[Page 336] Higher we need not go, for the transmutation of manas proceeds, and much as yet remains to be done. |
[Page 336] Chúng ta không cần đi cao hơn nữa, vì sự chuyển hoá của manas vẫn đang tiếp diễn, và còn nhiều điều phải làm. |
5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYS |
5. MANAS LÀ SỰ TỔNG HỢP CỦA NĂM CUNG |
|
One other definition might be given even though its abstruseness may prove but a bewilderment to the student. |
Có thể đưa ra thêm một định nghĩa nữa dù tính thâm áo của nó có thể chỉ gây bối rối cho đạo sinh. |
|
Manas is the united faculty of four of the Heavenly Men, synthesised through a fifth Heavenly Man on the third plane of the system. These five Heavenly Men were the logoic embodiment in an earlier system and achieved the fullness of manasic life. Their synthetic life is that which is primarily understood when we speak of Brahma, that cosmic Entity Who is the sum-total of logoic active intelligence. For lack of better terms we call Them the Lords of the four minor Rays, Who find Their synthesis through the third Ray of Activity. They have been called in an endeavour to express the principles which They embody: |
Manas là năng lực hợp nhất của bốn Đấng Thiên Nhân, được tổng hợp qua một Đấng Thiên Nhân thứ năm trên cõi thứ ba của hệ thống. Năm Đấng Thiên Nhân này là hiện thân logoic trong một hệ thống trước và đã đạt đến sự viên mãn của sự sống manas. Sự sống tổng hợp của Các Ngài là điều chủ yếu được hiểu khi chúng ta nói đến Brahma, Thực Thể vũ trụ là tổng thể của trí tuệ hoạt động logoic. Vì thiếu những thuật ngữ tốt hơn, chúng ta gọi Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của bốn Cung nhỏ, những Đấng tìm thấy sự tổng hợp của mình qua cung ba Hoạt Động. Các Ngài đã được gọi như thế trong nỗ lực diễn tả các nguyên khí mà Các Ngài hiện thân: |
|
1. Đấng Chúa Tể của Huyền Thuật Nghi Lễ. |
|
|
2. The Lord of Abstract Idealism, or Devotion. |
2. Đấng Chúa Tể của Chủ Nghĩa Duy Tâm Trừu Tượng, hay Sùng Tín. |
|
3. The Lord of Concrete Science. |
3. Đấng Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể. |
|
4. The Lord of Harmony and Art. |
4. Đấng Chúa Tể của Hài Hòa và Nghệ Thuật. |
|
These four function through the fourth cosmic ether, and have vehicles of buddhic matter. They merge into the greater life of the Lord of the third Ray of Aspect on atmic levels, and these four (with the one synthetic Ray), are the totality of manasic energy. They are the life of the five lower planes. They are the five Kumaras, and two remain, making the seven Kumaras or Builders of the universe; these five have been called the five Mind-born Sons of Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Manas, therefore, is the psychic effect of Their united group work, and shows forth in different ways according to the units involved, the forms [Page 337] animated, and the planes concerned. They demonstrate predominantly on the five lower subplanes of each plane, and this factor should be remembered in connection with the major initiations of manas. Nevertheless—as They are the sumtotal of the third or Brahma aspect—Their main sphere of influence is on the lowest or third division of the manifested universe or on the mental, astral, and physical planes. |
Bốn Đấng này hoạt động qua dĩ thái vũ trụ thứ tư, và có các vận cụ bằng vật chất Bồ đề. Các Ngài hòa nhập vào sự sống lớn hơn của Đấng Chúa Tể của cung ba Trạng Thái trên các cấp độ atma, và bốn Đấng này (cùng với một Cung tổng hợp) là toàn thể năng lượng manas. Các Ngài là sự sống của năm cõi thấp. Các Ngài là năm Kumara, và còn lại hai vị, tạo thành bảy Kumara hay các Đấng Kiến Tạo của vũ trụ; năm vị này đã được gọi là năm Người Con do Tâm sinh của Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Do đó, manas là hiệu quả thông linh của công việc nhóm hợp nhất của Các Ngài, và biểu lộ theo những cách khác nhau tùy theo các đơn vị liên hệ, các hình tướng được [Page 337] làm sinh động, và các cõi liên hệ. Các Ngài biểu lộ chủ yếu trên năm cõi phụ thấp của mỗi cõi, và yếu tố này cần được ghi nhớ liên hệ với các cuộc điểm đạo lớn của manas. Tuy nhiên—vì Các Ngài là tổng thể của phương diện thứ ba hay phương diện Brahma—khối cầu ảnh hưởng chính của Các Ngài là trên phân bộ thấp nhất hay thứ ba của vũ trụ biểu hiện, tức là trên các cõi trí, cảm dục, và hồng trần. |
|
I would here suggest a third division of the major planes of the system which will hold much of interest for the real student of occultism. |
Ở đây tôi muốn gợi ý một sự phân chia thứ ba của các cõi chính trong hệ thống, điều sẽ chứa đựng nhiều điều lý thú cho đạo sinh chân chính của huyền bí học. |
|
First Logos |
Mahadeva. |
Will Aspect |
First plane. |
|
Second Logos |
Vishnu |
Wisdom Aspect |
Second, Third, Fourth. |
|
Third Logos |
Brahma |
Intelligence |
Fifth, Sixth, Seventh. |
|
In these five definitions of manas we have suggested scope for thought and much has been hinted at for those who have ears to hear. Many more explanatory words might be spoken but we aim to start students thinking for themselves, and seek to see them defining these ideas in their own words. |
Trong năm định nghĩa này về manas, chúng ta đã gợi ra phạm vi cho tư tưởng và đã ám chỉ nhiều điều cho những ai có tai để nghe. Có thể nói thêm nhiều lời giải thích nữa, nhưng chúng tôi nhắm đến việc khởi động đạo sinh tự suy nghĩ, và mong thấy họ định nghĩa các ý tưởng này bằng chính lời lẽ của mình. |
6. MANAS IS THE INTELLIGENT WILL OR PURPOSE OF AN EXISTENCE |
6. MANAS LÀ Ý CHÍ THÔNG MINH HAY MỤC ĐÍCH CỦA MỘT HIỆN HỮU |
|
Manas might finally be defined as the intelligent will and ordered purpose of every self-conscious entity. I would urge the student to bear in mind certain basic facts which will serve to keep his mind clear, and which will enable him to comprehend something of the place which this fire of mind holds in the cosmos and the solar system, and (needless to say), in his life also,—the reflection of the other two. |
Cuối cùng, manas có thể được định nghĩa là ý chí thông minh và mục đích có trật tự của mọi thực thể ngã thức. Tôi muốn thúc giục đạo sinh ghi nhớ một số sự kiện căn bản sẽ giúp giữ cho thể trí của y được sáng rõ, và sẽ giúp y thấu hiểu phần nào vị trí mà lửa của trí tuệ này giữ trong vũ trụ và trong hệ mặt trời, và dĩ nhiên, cả trong đời sống của chính y nữa,—sự phản ánh của hai lửa kia. |
|
He should ever remember that manas is a principle of the Logos, and necessarily therefore is felt in all those [Page 338] evolutions which are a part of His nature but is allied especially to the throat and head centres; it is the active intelligent factor which enables a solar Logos, a planetary Logos or Heavenly Man, and a human being to: |
Y nên luôn luôn nhớ rằng manas là một nguyên khí của Thượng đế, và do đó tất yếu được cảm nhận trong mọi [Page 338] tiến hoá là một phần của bản chất Ngài nhưng đặc biệt liên kết với các trung tâm cổ họng và đầu; đó là yếu tố hoạt động thông minh giúp cho một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân, và một con người có thể: |
|
a. Use intelligently a form or vehicle. |
a. Sử dụng một hình tướng hay vận cụ một cách thông minh. |
|
b. Build faculty into the causal body. |
b. Xây dựng năng lực vào thể nguyên nhân. |
|
c. Reap the benefit of experience. |
c. Gặt hái lợi ích của kinh nghiệm. |
|
d. Expand the consciousness. |
d. Mở rộng tâm thức. |
|
e. Make progress towards a specified goal. |
e. Tiến bộ hướng đến một mục tiêu xác định. |
|
f. Discriminate between the two poles. |
f. Phân biện giữa hai cực. |
|
g. Choose the direction in which his activity shall trend. |
g. Chọn hướng mà hoạt động của y sẽ nghiêng theo. |
|
h. Perfect the form as well as use it. |
h. Hoàn thiện hình tướng cũng như sử dụng nó. |
|
i. Obtain control of active substance, and turn its forces into desired channels. |
i. Đạt được sự kiểm soát chất liệu hoạt động, và chuyển các mãnh lực của nó vào những kênh dẫn mong muốn. |
|
j. Co-ordinate the different grades of matter, and synthesise the utilised forms till each and all show a unanimous line of action and express simultaneously the will of the Indweller. |
j. Phối hợp các cấp độ vật chất khác nhau, và tổng hợp các hình tướng được sử dụng cho đến khi mỗi và tất cả đều biểu lộ một đường lối hành động nhất trí và biểu lộ đồng thời ý chí của Đấng Ngự Bên Trong. |
|
Tất cả các mục tiêu này là kết quả của sự phát triển manas, và có lẽ đạo sinh có thể lĩnh hội ý tưởng nền tảng rõ hơn nếu chứng nghiệm rằng |
|
|
a. The Spirit employs manas in all that concerns matter, the electrical substance, or the active akasha. |
a. Tinh thần sử dụng manas trong mọi điều liên quan đến vật chất, chất liệu điện, hay akasha hoạt động. |
|
b. The Spirit employs buddhi in all that relates to the psyche, that relates to the soul of the world, to the soul of an individual, or to the soul of every form. |
b. Tinh thần sử dụng buddhi trong mọi điều liên hệ đến psyche, liên hệ đến linh hồn của thế giới, đến linh hồn của một cá nhân, hay đến linh hồn của mọi hình tướng. |
|
c. The Spirit employs will or atma in all that relates to the essence of all, to itself, considering the essence and the Self as pure Spirit as distinguished from spirit-matter. |
c. Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma trong mọi điều liên hệ đến tinh túy của vạn hữu, đến chính nó, xét tinh túy và Bản Ngã như Tinh thần thuần túy phân biệt với tinh thần-vật chất. |
|
In the first case, the distinctive quality of manas is discrimination which enables the Spirit to differentiate between: [Page 339] |
Trong trường hợp thứ nhất, phẩm tính đặc thù của manas là sự phân biện, giúp Tinh thần phân biệt giữa: [Page 339] |
|
1. The Self and the Not-Self. |
1. Bản Ngã và Phi-Ngã. |
|
2. Spirit and Matter. |
2. Tinh thần và Vật chất. |
|
3. The planes and the subplanes. |
3. Các cõi và các cõi phụ. |
|
4. The different grades of atomic matter in the system. |
4. Các cấp độ khác nhau của vật chất nguyên tử trong hệ thống. |
|
5. Vibrations, engendered by will, working through love-wisdom, and energising substance. |
5. Các rung động, được tạo ra bởi ý chí, hoạt động qua bác ái – minh triết, và tiếp năng lượng cho chất liệu. |
|
6. All that concerns forms of every kind and in every type of essential existence. |
6. Mọi điều liên quan đến các hình tướng thuộc mọi loại và trong mọi kiểu hiện hữu bản chất. |
|
In the second case, the buddhic principle has for its distinctive quality love, and demonstrates as wisdom working through love and producing: |
Trong trường hợp thứ hai, nguyên khí Bồ đề có phẩm tính đặc thù là bác ái, và biểu lộ như minh triết hoạt động qua bác ái và tạo ra: |
|
1. Unity between all Selves. |
1. Sự hợp nhất giữa mọi Bản Ngã. |
|
2. Group coherence. |
2. Sự cố kết nhóm. |
|
3. Qualities that are distinctively along the line of what we call love. |
3. Các phẩm tính đặc biệt theo đường lối của điều chúng ta gọi là bác ái. |
|
4. Effective work in connection with evolution, or the fundamentals of hierarchical work. |
4. Công việc hữu hiệu liên hệ với tiến hoá, hay các nền tảng của công việc phân cấp. |
|
Trong trường hợp thứ ba, Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma (trong con người), phương diện này có, như đặc điểm riêng biệt của nó, mãnh lực cố kết giữ cho mục đích của thực thể luôn luôn ở trong tầm nhìn, triển khai nó qua bác ái trong hình tướng chất liệu. |
|
|
I have pointed out these distinctions as it serves to bring the scope, and equally the limitations, of the active mental principle somewhat more clearly before the student. In the Hall of Ignorance the accumulative side of manas and its ability to store and acquire knowledge and information is being developed. A man, for instance, acquires facts, and application, and sets up vibrations which have to be worked out intelligently. The acquisitive side of this principle is showing forth. In the Hall of Learning the discriminative side is being developed, and the man learns not only to choose but to discard, and he begins to merge the two poles intelligently. In the [Page 340] Hall of Wisdom he discards also, and perfectly blends the two poles, thereby producing that objective something we call light. The illuminating side of manas is shown. He becomes an intelligent creator, and by the time he has taken the four major initiations he has: |
Tôi đã chỉ ra những phân biệt này vì điều đó giúp đưa phạm vi, và đồng thời cả những giới hạn, của nguyên khí trí tuệ hoạt động hiện ra phần nào rõ hơn trước đạo sinh. Trong Phòng Vô Minh phương diện tích lũy của manas và khả năng lưu trữ, thu nhận tri thức và thông tin của nó đang được phát triển. Chẳng hạn, một người thu nhận các sự kiện và sự ứng dụng, và thiết lập các rung động phải được triển khai một cách thông minh. Phương diện thu nhận của nguyên khí này đang biểu lộ. Trong Phòng Hiểu Biết phương diện phân biện đang được phát triển, và con người học không chỉ chọn lựa mà còn loại bỏ, và y bắt đầu hòa nhập hai cực một cách thông minh. Trong [Page 340] Phòng Minh triết y cũng loại bỏ, và dung hợp hoàn hảo hai cực, nhờ đó tạo ra cái gì đó khách quan mà chúng ta gọi là ánh sáng. Phương diện soi sáng của manas được biểu lộ. Y trở thành một đấng kiến tạo thông minh, và vào lúc y đã trải qua bốn cuộc điểm đạo lớn, y đã: |
|
1. Developed perfectly the Brahma aspect, which—as pointed out—functions primarily in the three worlds. It is the active intelligent aspect. |
1. Phát triển hoàn hảo phương diện Brahma, phương diện—như đã chỉ ra—hoạt động chủ yếu trong ba cõi giới. Đó là phương diện hoạt động thông minh. |
|
2. Achieved the point of development at which a Heavenly Man, the Divine Manasaputra, commenced this circle of manifestation we call a solar system. |
2. Đạt đến điểm phát triển mà tại đó một Đấng Thiên Nhân, Đấng Manasaputra thiêng liêng, đã khởi đầu vòng biểu hiện này mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời. |
|
3. Transmuted manas into wisdom or love. |
3. Chuyển hoá manas thành minh triết hay bác ái. |
|
4. Synthesised the Rays of Activity or Intelligence and is beginning to merge this synthesis into the higher one of love-wisdom. |
4. Tổng hợp các Cung Hoạt Động hay Trí Tuệ và đang bắt đầu hòa nhập sự tổng hợp này vào sự tổng hợp cao hơn của bác ái – minh triết. |
|
To sum it all up in words of fire: The fire of matter has blazed out perfectly, and the vibratory activity of the man has been keyed up to synchronise with that of a Heavenly Man, thus enabling a man to function consciously, or be vitally active on the buddhic plane. |
Tóm lại tất cả bằng những lời của lửa: Lửa của vật chất đã bùng cháy một cách hoàn hảo, và hoạt động rung động của con người đã được nâng lên để đồng bộ với hoạt động của một Đấng Thiên Nhân, nhờ đó giúp con người hoạt động một cách hữu thức, hay sinh động thiết yếu trên cõi Bồ đề. |
|
The fire of mind has blended with the fire of matter and has stimulated it to such an extent that it has brought about the liberation of the entity, man, from the three worlds, and has occultly “obscured” his manifestation on the three planes in exactly the same way as the manifestation of a Logos “goes out” (occultly) when the fires are sufficiently fierce. As regards the fire of Spirit, or pure electric fire, this is finally synthesised with the other two and brings about the escape of the life on to another plane cosmically considered. [Page 341] |
Lửa của trí tuệ đã hòa trộn với lửa của vật chất và đã kích thích nó đến mức giải phóng thực thể là con người ra khỏi ba cõi giới, và một cách huyền bí đã “làm lu mờ” biểu hiện của y trên ba cõi đúng theo cùng cách mà biểu hiện của một Thượng đế “tắt đi” (theo nghĩa huyền bí) khi các ngọn lửa đủ mãnh liệt. Còn về lửa của Tinh thần, hay Lửa Điện thuần túy, thì cuối cùng nó được tổng hợp với hai lửa kia và đưa đến sự thoát ra của sự sống sang một cõi khác nếu xét theo vũ trụ.[Page 341] |
|
A MAN |
CON NGƯỜI |
|
a. The blending of the fire of matter and of the fire of mind liberates from the three worlds. |
a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng khỏi ba cõi giới. |
|
b. The blending of electric fire with the two other fires brings about liberation from the five lower planes, and enables a man to function consciously on the cosmic physical plane. |
b. Sự hòa trộn của Lửa Điện với hai lửa kia đem lại sự giải phóng khỏi năm cõi thấp, và giúp con người hoạt động một cách hữu thức trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
A HEAVENLY MAN |
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN |
|
a. The blending of the fire of matter and of mind liberates from the three planes of His manifestation. |
a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng Ngài khỏi ba cõi biểu hiện của Ngài. |
|
b. The blending of the electric fire in His case brings about escape from the planetary ring-pass-not and enables Him to function consciously on the cosmic astral plane. |
b. Sự hòa trộn của Lửa Điện trong trường hợp của Ngài đem lại sự thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh và giúp Ngài hoạt động một cách hữu thức trên cõi cảm dục vũ trụ. |
|
A SOLAR LOGOS |
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ |
|
a. The blending of the fire of matter and of mind liberates Him from the solar ring-pass-not, and gives Him the freedom of the cosmic physical, astral and the lower subplanes of the cosmic mental planes. |
a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng Ngài khỏi vòng-giới-hạn thái dương, và ban cho Ngài sự tự do của cõi hồng trần vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và các cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ. |
|
b. The blending of electric fire with the other two enables Him to function consciously in His causal body thus paralleling the work of Man in the three worlds. |
b. Sự hòa trộn của Lửa Điện với hai lửa kia giúp Ngài hoạt động một cách hữu thức trong thể nguyên nhân của Ngài, như thế song hành với công việc của Con Người trong ba cõi giới. |