Webinar Glamour # 71 (19-22)
|
(Pages 19-22) |
(Pages 19-22) |
Abstract |
Tóm lược |
|
Dissipation of Glamour Initiative webinar 71. Readings from “Glamour: A World Problem” pages 19-22. The glamors of pride and egotism were discussed, and how the Black Lodge attempts to hoodwink well-meaning aspirants with untruths that are fueled by illusion on the mental plane (manas) and desire on the astral plane (kama) that create glamour. When both combine on the etheric levels, DK tells us it creates a vital unthinking emotional mess (kama-manas) that fails to separate the two and because they occur simultaneously, they corrupt each other. The webinar was led by Michael D. Robbins, with Olivia Hansen and Tuija Robbins. This meeting was held on March 23, 2018. |
Hội thảo trực tuyến 71 của Sáng kiến Xua Tan Ảo Cảm. Các đoạn đọc từ “Ảo Cảm: Một Vấn Đề Thế Gian” trang 19-22. Các ảo cảm về kiêu hãnh và vị kỷ đã được thảo luận, cùng với việc Hắc đoàn tìm cách lừa gạt những người chí nguyện thiện chí bằng những điều không thật, được nuôi dưỡng bởi ảo tưởng trên cõi trí (manas) và dục vọng trên cõi cảm dục (kama), vốn tạo ra ảo cảm. Khi cả hai kết hợp trên các tầng dĩ thái, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng điều đó tạo ra một mớ hỗn độn cảm xúc sống động nhưng không suy nghĩ (trí-cảm) không tách bạch được hai yếu tố; và vì chúng xảy ra đồng thời, chúng làm bại hoại lẫn nhau. Hội thảo do Michael D. Robbins chủ trì, cùng với Olivia Hansen và Tuija Robbins. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 23 tháng 3 năm 2018. |
Text |
Trích dẫn |
|
[71_1] |
|
|
[Beginning of DOGI #71, pp. 19– 23Mar18 3 pm. |
[Khởi đầu DOGI #71, tr. 19– 23Mar18 3 pm. |
|
What I have to say to you as regards the subject of Glamour falls into certain broad generalisations such as: [1a] |
Những điều tôi phải nói với các bạn liên quan đến đề tài Ảo Cảm rơi vào một số khái quát rộng như sau: [1a] |
|
I. The Nature of Glamour. |
I. Bản chất của Ảo Cảm. |
|
II. The Causes of Glamour. |
II. Các nguyên nhân của Ảo Cảm. |
|
III. The Dissipation of Glamour. |
III. Việc xua tan Ảo Cảm. |
|
[Page 20] |
[Page 20] |
|
As we proceed we shall divide our subject up into greater detail, but in this instruction I only seek to get certain broad outlines into your minds so that the theme may fall into right places in your thoughts. [1b] [help us organize our minds… |
Khi chúng ta tiến hành, chúng ta sẽ phân chia đề tài này thành những chi tiết lớn hơn, nhưng trong chỉ dẫn này tôi chỉ tìm cách đưa vào thể trí các bạn một số nét phác thảo rộng, để chủ đề có thể rơi vào đúng vị trí trong tư tưởng của các bạn. [1b] [giúp chúng ta tổ chức thể trí… |
|
There are four phrases which have for long been bandied about among so-called occultists and esotericists. [1c] They are: glamour, illusion, maya and the expression, the dweller on the threshold. [1d] They all stand for the same general concept or some differentiation of that concept. [1e] Speaking generally, the interpretations have been as follows, and they are only partial interpretations, and are almost in the nature of distortions of the real truth, owing to the limitations of the human consciousness. [1f] |
Có bốn cụm từ từ lâu đã được đem ra bàn tán trong số những người được gọi là các nhà huyền bí học và các nhà bí truyền học. [1c] Đó là: ảo cảm, ảo tưởng, ảo lực và cụm từ kẻ chận ngõ. [1d] Tất cả đều tiêu biểu cho cùng một khái niệm tổng quát, hoặc một vài biến phân của khái niệm ấy. [1e] Nói chung, các cách giải thích đã như sau, và chúng chỉ là những giải thích một phần, và hầu như mang bản chất của những biến dạng của chân lý thực sự, do các giới hạn của tâm thức con người. [1f] |
|
[There follow misinterpretations. |
[Sau đây là những cách hiểu sai. |
|
Glamour has oft been regarded as a curious attempt of what are called the “black forces” to deceive and hoodwink well-meaning aspirants. [2a] Many fine people are almost flattered when they are “up against” some aspect of glamour, feeling that their demonstration of discipline has been so good that the black forces are interested sufficiently to attempt to hinder their fine work by submerging them in clouds of glamour [2b]. Nothing could be further from the truth. That idea is itself part of the glamour of the present time, and has its roots in human pride and satisfaction. [2c] |
Ảo cảm thường đã được xem như một nỗ lực kỳ lạ của cái được gọi là “các mãnh lực hắc ám” nhằm đánh lừa và lừa gạt những người chí nguyện thiện chí. [2a] Nhiều người tốt lành hầu như thấy được tâng bốc khi họ “đối mặt” với một khía cạnh nào đó của ảo cảm, cảm thấy rằng sự biểu lộ kỷ luật của họ đã tốt đẹp đến mức các mãnh lực hắc ám đủ quan tâm để cố gắng cản trở công việc tốt lành của họ bằng cách nhận chìm họ trong những đám mây ảo cảm [2b]. Không gì xa sự thật hơn điều đó. Ý tưởng ấy tự nó là một phần của ảo cảm của thời hiện tại, và có cội rễ trong sự kiêu hãnh và tự mãn của con người. [2c] |
|
Maya is oft regarded as being of the same nature as the concept promulgated by the Christian Scientist that there is no such thing as matter. [3a] [This is DENIAL… We are asked to regard the entire world phenomena as maya and to believe that its existence is simply an error of mortal mind, and a form of auto-suggestion or self-hypnotism. [3b] Through this induced belief we force ourselves into a state of mind which recognises that the tangible and the objective are only figments of man’s imaginative mind. [3c] This, in its turn, is likewise a travesty of reality. [3d] |
Ảo lực thường được xem như có cùng bản chất với quan niệm do các nhà Khoa Học Cơ Đốc truyền bá rằng không có cái gọi là vật chất. [3a] [Đây là SỰ PHỦ NHẬN… Chúng ta được yêu cầu xem toàn thể các hiện tượng thế gian như là ảo lực và tin rằng sự hiện hữu của chúng chỉ là một sai lầm của thể trí phàm nhân, và là một hình thức tự ám thị hay tự thôi miên. [3b] Qua niềm tin bị dẫn dụ này, chúng ta tự ép mình vào một trạng thái thể trí vốn nhận biết rằng cái hữu hình và cái khách quan chỉ là những sản phẩm hư cấu của trí tưởng tượng con người. [3c] Đến lượt nó, điều này cũng là một sự nhạo báng thực tại. [3d] |
|
[Page 21] |
[Page 21] |
|
Illusion is regarded rather the same way, only (as we define it) we lay the emphasis upon the finiteness of man’s mind. [4a] The world of phenomena is not denied, but we regard the mind as misinterpreting it and as refusing to see it as it is in reality. [4b] We consider this misinterpretation as constituting the Great Illusion. [4c] [This has some truth in it…. |
Ảo tưởng cũng được xem gần như vậy, chỉ khác là (theo định nghĩa của chúng ta) chúng ta đặt trọng tâm vào tính hữu hạn của thể trí con người. [4a] Thế giới hiện tượng không bị phủ nhận, nhưng chúng ta xem thể trí là đang diễn giải sai nó và từ chối nhìn nó như nó thật sự là. [4b] Chúng ta xem sự diễn giải sai này như cấu thành Đại Ảo Tưởng. [4c] [Điều này có phần đúng… |
|
The Dweller on the Threshold is usually regarded as presenting the final test of man’s courage, and as being in the nature of a gigantic thoughtform or factor which has to be dissipated, prior to taking initiation. [4d] Just what this thoughtform is, few people know, but their definition includes the idea of a huge elemental form which bars the way to the sacred portal, or the idea of a fabricated form, constructed sometimes by the disciple’s Master to test his sincerity. [4e] Some regard it as the sum total of a man’s faults, his evil nature, which hinders his being recognised as fit to tread the Path of Holiness. None of these definitions, however, give a true idea of the reality. [4f] |
Kẻ Chận Ngõ thường được xem như là phép thử cuối cùng đối với lòng can đảm của con người, và có bản chất như một hình tư tưởng khổng lồ hay một yếu tố phải được làm tiêu tan trước khi nhận điểm đạo. [4d] Hình tư tưởng này là gì thì ít người biết, nhưng định nghĩa của họ bao gồm ý niệm về một hình thể tinh linh khổng lồ chặn đường đến cánh cổng thiêng liêng, hoặc ý niệm về một hình thể được bịa dựng, đôi khi do Chân sư của đệ tử kiến tạo để thử thách sự chân thành của y. Một số người xem nó là tổng số các lỗi lầm của một người, bản chất xấu xa của y, vốn ngăn cản y được công nhận là xứng đáng bước đi trên Con Đường Thánh Khiết. Tuy nhiên, không định nghĩa nào trong số này đưa ra một ý niệm chân thật về thực tại. |
|
I would point out here that (generally speaking) these four expressions are four aspects of a universal condition that is the result of the activity—in time and space—of the human mind. [5a] [Mind is the slayer of the Real… |
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng (nói chung) bốn cách diễn đạt này là bốn phương diện của một tình trạng phổ quát, là kết quả của hoạt động—trong thời gian và không gian—của thể trí con người. [5a] [Thể trí là kẻ sát hại Sự Thực… |
|
The activity of MINDS! Ponder on this phrase for it gives you a clue to the truth. [5b] [And the distortions for which this activity is responsible |
Hoạt động của CÁC THỂ TRÍ! Hãy suy ngẫm cụm từ này vì nó cho các bạn một manh mối về chân lý. [5b] [Và những biến dạng mà hoạt động này phải chịu trách nhiệm |
|
The Problem of Illusion lies in the fact that it is a soul activity, and the result of the mind aspect of all the souls in manifestation. [5c] It is the soul which is submerged in the illusion [The soul-in-incarnation and the soul that fails to see with clarity until such time as it has learnt to pour the light of the soul [on the higher mental plane through into the mind and the brain [5d]. [Two types of soul, but one word used.] |
Vấn đề Ảo tưởng nằm ở chỗ nó là một hoạt động của linh hồn, và là kết quả của phương diện thể trí của tất cả các linh hồn trong biểu hiện. [5c] Chính linh hồn bị nhận chìm trong ảo tưởng [Linh hồn đang nhập thể và linh hồn không thấy rõ ràng cho đến khi nó đã học cách tuôn ánh sáng của linh hồn [trên cõi thượng trí xuyên vào thể trí và bộ não [5d]. [Hai loại linh hồn, nhưng dùng một từ.] |
|
Vấn đề Ảo cảm được thấy khi ảo tưởng trí tuệ bị dục vọng làm tăng cường. [5e] Điều mà nhà Thông Thiên Học gọi là “trí-cảm” tạo ra ảo cảm. Đó là ảo tưởng trên cõi cảm dục. [5f] [Chúng ta đã không tách bạch kama khỏi manas, và chúng xảy ra đồng thời và làm bại hoại lẫn nhau. [Page 22] |
|
|
The Problem of Maya is really the same as the above, plus the intense activity produced when both glamour and illusion are realised on etheric levels. [6a] [“Unthinking emotional mess] It is that vital unthinking emotional MESS (yes, brother of old, that is the word I seek to use) in which the majority of human beings seem always to live. [6b] [Obviously the incoming of the seventh ray will do much to bring order and rhythm to what was otherwise a MESS] |
Vấn đề Ảo lực thật ra cũng giống như trên, cộng thêm hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả ảo cảm lẫn ảo tưởng đều được thực hiện trên các tầng dĩ thái. [6a] [“Mớ hỗn độn cảm xúc không suy nghĩ] Đó là MỚ HỖN ĐỘN cảm xúc sống động nhưng không suy nghĩ (vâng, huynh đệ của tôi, đó là từ tôi muốn dùng) mà đa số nhân loại dường như luôn luôn sống trong đó. [Rõ ràng là sự đi vào của cung bảy sẽ làm nhiều việc để đem trật tự và nhịp điệu đến điều vốn dĩ là một MỚ HỖN ĐỘN] |
|
The Dweller on the Threshold is illusion-glamour-maya, as realised by the physical brain and recognised as that which must be overcome. [6c] [Recognition It is the bewildering thoughtform with which the disciple is confronted, when he seeks to pierce through the accumulated glamour of the ages and find his true home in the place of light. [6d] [It is the summation of opposition in the lower worlds. |
Kẻ Chận Ngõ là ảo tưởng-ảo cảm-ảo lực, như được chứng nghiệm bởi bộ não hồng trần và được nhận biết như điều phải được vượt thắng. [6c] [Sự nhận biết Đó là hình tư tưởng gây bối rối mà đệ tử phải đối diện khi y tìm cách xuyên qua ảo cảm tích lũy của các thời đại và tìm ra mái nhà đích thực của y trong nơi chốn ánh sáng. [Đó là sự tổng hợp của đối kháng trong ba cõi thấp. |
|
The above are necessarily only generalisations, and the result also of the activity of the analytical mind, but they serve to embody a part of the problem in words and to convey to your minds a definite thoughtform of what we shall later discuss in detail. [6e] [How deceived we all are and do not know it!] |
Những điều trên tất yếu chỉ là các khái quát, và cũng là kết quả của hoạt động của trí phân tích, nhưng chúng giúp thể hiện một phần vấn đề bằng lời và truyền đạt vào thể trí các bạn một hình tư tưởng xác định về điều mà sau này chúng ta sẽ bàn chi tiết. [6e] [Chúng ta đều bị lừa dối biết bao mà không hề hay biết!] |
|
[END of DOGI #71 23Mar18 pp 19–22 |
[KẾT THÚC DOGI #71 23Mar18 tr 19–22 |
|
Commentary |
Bình giảng |
|
Review |
Ôn lại |
|
Good morning, everybody here from Phoenix and our little University of the Seven Rays headquarters. |
Chào buổi sáng, tất cả mọi người từ Phoenix và trụ sở nhỏ của chúng tôi tại Đại học Bảy Cung. |
|
All right friends, let’s have a little alignment and then we’ll get into a new section of the book. My goodness, we’ve done almost 20 20 pages. |
Được rồi, các bạn hữu, chúng ta hãy chỉnh hợp một chút rồi sẽ đi vào một phần mới của quyển sách. Chúng ta đã đọc gần 20 trang rồi. |
|
2025 is still seven years away, so if we manage to hang in there somehow, we’ll keep going with this and with other books. I think in some of these meditations we do the readings from the books, like for instance when we have the ASK program Tuija is during the Thursday, Reappearance of the Christ meditation which the Tibetan has given us, basically she’s reading through the entire Reappearance of the Christ book. And we’re doing this with the Glamour book and there are others that we will have to initiate as we as we go along. So, we can have a very, I would say, a very full study of these materials before 2025. And why is that necessary because DK said, he can give us following 2025 material according to what we have assimilated up to that point. So, obviously if we’re somehow ignoring or treating lightly or going loosely over what has been given from the nineteen, well let’s say, from 1919 to 1949 in his second installment, well he is limited because we have not made proper use of what has been given to us. So, the study factor in Meditation Study and Service must certainly be emphasized. That in order to do that you have to clear the time to do it, things have to be kept in proportion of course, and we offer plenty of meditations and the service meditation can be a service, and we’re serving that way, and you have your own service in your life which you are going to determine by yourself and some of that service DK has told us. What it is, prepare men’s minds and hearts for the reappearance of the Christ, and that perpetuates the triangles work which must go on strength in the hands of the men and women of goodwill, strengthen the hands of the new group of world servers of which we hope to be apart. All of that is service. So, for the next seven years, meditate study and service and what we’re trying to do also is offer the opportunity to study online together, using the group minds so that we can really assimilate more and more of this magnificent and basically unassimilable teaching. |
Năm 2025 vẫn còn cách bảy năm nữa, nên nếu chúng ta xoay xở để kiên trì được bằng cách nào đó, chúng ta sẽ tiếp tục với việc này và với các sách khác. Tôi nghĩ trong một số bài tham thiền này, chúng ta thực hiện các phần đọc từ sách; chẳng hạn khi chúng ta có chương trình ASK của Tuija vào ngày thứ Năm, trong bài tham thiền Tái Lâm của Đức Christ mà Chân sư Tây Tạng đã ban cho chúng ta, về cơ bản bà ấy đang đọc xuyên suốt toàn bộ quyển Sự Tái Lâm của Đức Christ. Và chúng ta đang làm điều này với quyển Ảo Cảm, và còn những quyển khác mà chúng ta sẽ phải khởi xướng khi chúng ta tiếp tục. Vì vậy, trước năm 2025, chúng ta có thể có—tôi muốn nói là—một sự nghiên cứu rất đầy đủ về các tài liệu này. Và vì sao điều đó cần thiết? Bởi vì Chân sư DK đã nói rằng, sau năm 2025, Ngài có thể ban cho chúng ta tài liệu tùy theo những gì chúng ta đã đồng hóa cho đến thời điểm đó. Vì vậy, rõ ràng là nếu bằng cách nào đó chúng ta đang phớt lờ, hoặc xem nhẹ, hoặc lướt qua một cách lỏng lẻo những gì đã được ban từ năm 1919 đến 1949 trong phần tuôn đổ thứ hai của Ngài, thì Ngài bị giới hạn vì chúng ta đã không sử dụng đúng đắn những gì đã được ban cho. Do đó, yếu tố nghiên cứu trong Tham Thiền, Nghiên Cứu và Phụng Sự chắc chắn phải được nhấn mạnh. Để làm được điều đó, các bạn phải thu xếp thời gian; dĩ nhiên mọi thứ phải được giữ đúng tỉ lệ; và chúng tôi cung cấp nhiều bài tham thiền, và bài tham thiền phụng sự có thể là một sự phụng sự, và chúng ta phụng sự theo cách ấy; và các bạn có sự phụng sự riêng trong đời sống của mình mà các bạn sẽ tự quyết định, và một phần của sự phụng sự đó Chân sư DK đã bảo chúng ta là gì: chuẩn bị thể trí và trái tim của nhân loại cho sự tái lâm của Đức Christ; và điều đó duy trì công việc tam giác vốn phải tiếp tục được tăng cường trong tay những người nam và nữ thiện chí; củng cố tay của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà chúng ta hy vọng được là một phần. Tất cả điều đó là phụng sự. Vì vậy, trong bảy năm tới: tham thiền, nghiên cứu và phụng sự; và điều chúng ta cũng đang cố gắng làm là trao cơ hội để cùng nhau học trực tuyến, sử dụng các thể trí nhóm, để chúng ta có thể thật sự đồng hóa ngày càng nhiều hơn giáo huấn tráng lệ và về cơ bản là khó có thể đồng hóa này. |
|
There’s no way as the Tibetan said modestly says, I’ve given you more than you can ever absorb. It’s a straight statement of fact than which does have to accept that. , we will continue to assimilate and try to be ready for the next great gift, and it’s great installment which we will have to attack all over again in the coming century, suppose it’s offered to begin with around 2025 just as the second instalment began to be offered in 1919. So, You can see that it would take about a century to absorb it, and even then we won’t absorb it, and by that time, we’ll be ready for the truth entrance into the Aquarian age. So, indeed what the Tibetan has given us is a series of bridging treatises. It’s for a three series basically one with Blavatsky, one with Bailey and who knows whether Alice Bailey will be the repeat of the next or whether some other initiate appear who will help to carry this forward. |
Không có cách nào khác; như Chân sư Tây Tạng đã khiêm tốn nói: Tôi đã ban cho các bạn nhiều hơn những gì các bạn có thể hấp thụ. Đó là một phát biểu thẳng thắn về sự thật, và chúng ta phải chấp nhận điều đó. Chúng ta sẽ tiếp tục đồng hóa và cố gắng sẵn sàng cho món quà lớn kế tiếp, và phần tuôn đổ vĩ đại mà chúng ta sẽ phải công phá lại từ đầu trong thế kỷ tới, giả sử nó được ban bắt đầu vào khoảng năm 2025, giống như phần tuôn đổ thứ hai bắt đầu được ban vào năm 1919. Vì vậy, các bạn có thể thấy rằng sẽ mất khoảng một thế kỷ để hấp thụ nó, và ngay cả khi đó chúng ta cũng sẽ không hấp thụ hết; và đến lúc ấy, chúng ta sẽ sẵn sàng cho sự đi vào của chân lý trong kỷ nguyên Bảo Bình. Vì vậy, quả thật, những gì Chân sư Tây Tạng đã ban cho chúng ta là một chuỗi các luận thuyết bắt cầu. Về cơ bản, đó là cho ba chuỗi: một với Blavatsky, một với Bailey, và ai biết liệu Alice Bailey có được lặp lại trong chuỗi kế tiếp hay không, hoặc liệu sẽ có một điểm đạo đồ khác xuất hiện để giúp đưa điều này tiến lên. |
|
Meditation |
Tham thiền |
|
… |
… |
|
, so we’ll have a little reading now, and now we have sort of moved through that section on symbolism. Of course, it’s ongoing, and we have to learn how to practice spiritual reading, and what this means is that our consciousness has succeeded in focusing consciously on the third subplane of the higher mental plane, and we are beginning to be capable of spiritual discernment, meaning that no matter what we see, we can detect the spiritual pattern which is operative behind it, and which is basically the cause of it. So, this we have to learn to exercise these siddhis, powers, response to group vibration, learn how to work and create and love and express and manifest together in the soul group manner, and finally something that we really have to work out within ourselves and that is the sacrificial will of the soul. |
Bây giờ chúng ta sẽ đọc một chút, và giờ đây chúng ta đã đi qua phần về biểu tượng. Dĩ nhiên, điều đó vẫn tiếp diễn, và chúng ta phải học cách thực hành việc đọc tinh thần; và điều này có nghĩa là tâm thức của chúng ta đã thành công trong việc tập trung một cách hữu thức trên cõi phụ thứ ba của cõi thượng trí, và chúng ta đang bắt đầu có khả năng phân biện tinh thần, nghĩa là bất kể chúng ta thấy gì, chúng ta có thể nhận ra mô hình tinh thần đang vận hành phía sau nó, và về cơ bản là nguyên nhân của nó. Vì vậy, chúng ta phải học cách vận dụng các siddhi này, các quyền năng, đáp ứng với rung động nhóm, học cách làm việc và sáng tạo và yêu thương và biểu lộ và biểu hiện cùng nhau theo cung cách hồn nhóm; và cuối cùng, có một điều mà chúng ta thật sự phải tự giải quyết bên trong chính mình, đó là ý chí hi sinh của linh hồn. |
|
One day, it will be clear to us how much the solar Angels have relinquished in apparent forward progress in order to help us, and we here, the bulk of humanity, anyway maybe what’s above 80, 85 percent or something like that, I guess we’ll be off to training to Sirius and come back in the next solar system, I suspect, or who knows how long that training takes. Will it be the next solar system? Or will it sooner, maybe it’s still this solar system? But return anyway to a solar system and help the upcoming human race of the time that has just been made human, and we, for those who go to Sirius, will participate in learning how to render the animal into the human. We have vast experiences before us, really unimaginable. We’ve been hiding or has been hidden from us our amazing potentials, but we certainly have to learn how to do a few fundamental things before those potentials can be revealed to us and can open to us. |
Một ngày nào đó, chúng ta sẽ thấy rõ các Thái dương Thiên Thần đã từ bỏ bao nhiêu trong sự tiến bộ bề ngoài để giúp chúng ta; và chúng ta ở đây—phần lớn nhân loại, dù sao đi nữa, có lẽ trên 80, 85 phần trăm hay gì đó—tôi đoán chúng ta sẽ đi huấn luyện ở Sirius và trở lại trong hệ mặt trời kế tiếp, tôi nghi vậy, hoặc ai biết việc huấn luyện đó mất bao lâu. Có phải là hệ mặt trời kế tiếp không? Hay là sớm hơn, có lẽ vẫn là hệ mặt trời này? Nhưng dù sao cũng sẽ trở lại một hệ mặt trời và giúp giống dân nhân loại đang đến của thời kỳ vừa mới trở thành người; và chúng ta—đối với những ai đi đến Sirius—sẽ tham dự vào việc học cách nâng giới thú vật thành giới nhân loại. Trước mắt chúng ta là những kinh nghiệm mênh mông, thật sự không thể tưởng tượng. Chúng ta đã che giấu, hoặc đã bị che giấu khỏi chúng ta, những tiềm năng kỳ diệu của mình; nhưng chắc chắn chúng ta phải học cách làm một vài điều căn bản trước khi những tiềm năng ấy có thể được mặc khải cho chúng ta và có thể mở ra cho chúng ta. |
|
So, anyway he seems to be beginning a new stage of the book and he’s saying. |
Vì vậy, dù sao, dường như Ngài đang bắt đầu một giai đoạn mới của quyển sách và Ngài nói. |
|
[71_1] |
|
|
[Beginning of DOGI #71, pp. 19– 23Mar18 3 pm. |
[Khởi đầu DOGI #71, tr. 19– 23Mar18 3 pm. |
|
What I have to say to you as regards the subject of Glamour falls into certain broad generalisations such as: |
Những điều tôi phải nói với các bạn liên quan đến đề tài Ảo Cảm rơi vào một số khái quát rộng như sau: |
|
I. The Nature of Glamour. |
I. Bản chất của Ảo Cảm. |
|
II. The Causes of Glamour. |
II. Các nguyên nhân của Ảo Cảm. |
|
III. The Dissipation of Glamour. |
III. Việc xua tan Ảo Cảm. |
|
[Page 20] |
[Page 20] |
|
As we proceed we shall divide our subject up into greater detail, but in this instruction I only seek to get certain broad outlines into your minds so that the theme may fall into right places in your thoughts. [help us organize our minds… |
Khi chúng ta tiến hành, chúng ta sẽ phân chia đề tài này thành những chi tiết lớn hơn, nhưng trong chỉ dẫn này tôi chỉ tìm cách đưa vào thể trí các bạn một số nét phác thảo rộng, để chủ đề có thể rơi vào đúng vị trí trong tư tưởng của các bạn. [giúp chúng ta tổ chức thể trí… |
|
There are four phrases which have for long been bandied about among so-called occultists and esotericists. They are: glamour, illusion, maya and the expression, the dweller on the threshold. They all stand for the same general concept or some differentiation of that concept. Speaking generally, the interpretations have been as follows, and they are only partial interpretations, and are almost in the nature of distortions of the real truth, owing to the limitations of the human consciousness. |
Có bốn cụm từ từ lâu đã được đem ra bàn tán trong số những người được gọi là các nhà huyền bí học và các nhà bí truyền học. Đó là: ảo cảm, ảo tưởng, ảo lực và cụm từ kẻ chận ngõ. Tất cả đều tiêu biểu cho cùng một khái niệm tổng quát, hoặc một vài biến phân của khái niệm ấy. Nói chung, các cách giải thích đã như sau, và chúng chỉ là những giải thích một phần, và hầu như mang bản chất của những biến dạng của chân lý thực sự, do các giới hạn của tâm thức con người. |
|
[There follow misinterpretations. |
[Sau đây là những cách hiểu sai. |
|
What I have to say to you as regards the subject of Glamour falls into certain broad generalisations such as: [1a] |
Những điều tôi phải nói với các bạn liên quan đến đề tài Ảo Cảm rơi vào một số khái quát rộng như sau: [1a] |
|
And he’ll go over all of these, and we can think with him on these. |
Và Ngài sẽ đi qua tất cả những điều này, và chúng ta có thể cùng suy nghĩ với Ngài về chúng. |
|
I. The Nature of Glamour. |
I. Bản chất của Ảo Cảm. |
|
II. The Causes of Glamour. |
II. Các nguyên nhân của Ảo Cảm. |
|
III. The Dissipation of Glamour. |
III. Việc xua tan Ảo Cảm. |
|
Even the nature of glamour is somewhat difficult for people like ourselves to apprehend, and actually… |
Ngay cả bản chất của ảo cảm cũng hơi khó để những người như chúng ta nắm bắt, và thật ra… |
|
As we proceed we shall divide our subject up into greater detail, but in this instruction I only seek to get certain broad outlines into your minds so that the theme may fall into right places in your thoughts. [1b] |
Khi chúng ta tiến hành, chúng ta sẽ phân chia đề tài này thành những chi tiết lớn hơn, nhưng trong chỉ dẫn này tôi chỉ tìm cách đưa vào thể trí các bạn một số nét phác thảo rộng, để chủ đề có thể rơi vào đúng vị trí trong tư tưởng của các bạn. [1b] |
|
Look, what is the Hierarchy? The Society of organized and the illumined minds. That’s one of the ways of describing, this very mental way of describing it, the Society of organized and illumined Minds, is not exactly Christ in His Church triumphant which is also the Hierarchy. So, there are many different ray perspectives from which we can describe the nature of the Hierarchy, but notice what he’s trying to do here. He’s trying to help us, and it’s needed to help us organize our minds. |
Hãy nhìn xem, Thánh Đoàn là gì? Đoàn thể của các thể trí được tổ chức và được soi sáng. Đó là một trong những cách mô tả—một cách mô tả rất mang tính thể trí—rằng đó là đoàn thể của các thể trí được tổ chức và được soi sáng; điều này không hẳn là Đức Christ trong Giáo hội khải hoàn của Ngài, mà cũng chính là Thánh Đoàn. Vì vậy, có nhiều viễn cảnh cung khác nhau để chúng ta mô tả bản chất của Thánh Đoàn, nhưng hãy lưu ý điều Ngài đang cố làm ở đây. Ngài đang cố giúp chúng ta, và điều đó cần thiết, để giúp chúng ta tổ chức thể trí. |
|
Now he’s going to talk about some common myth’s interpretations of certain familiar words about which the users of those words have no profound idea. |
Giờ Ngài sẽ nói về một số cách diễn giải thần thoại phổ biến của những từ quen thuộc mà người dùng những từ ấy không có ý niệm sâu sắc nào. |
|
There are four phrases which have for long been bandied about |
Có bốn cụm từ từ lâu đã được đem ra bàn tán |
|
You don’t hear those words much anymore, but it means used lightly, used casually, used unthinkingly, and so forth, |
Các bạn không còn nghe những từ ấy nhiều nữa, nhưng điều đó có nghĩa là được dùng một cách hời hợt, dùng một cách tùy tiện, dùng mà không suy nghĩ, v.v., |
|
have been bandied about among so-called occultists and esotericists [1c] |
đã được đem ra bàn tán trong số những người được gọi là các nhà huyền bí học và các nhà bí truyền học [1c] |
|
Not the real thing, right? |
Không phải thứ thật sự, đúng không? |
|
They are: glamour, illusion, maya and the expression, the Dweller on the Threshold. [1d] |
Đó là: ảo cảm, ảo tưởng, ảo lực và cụm từ Kẻ Chận Ngõ. [1d] |
|
I remember in my early days of my study of these things, I got hold of two books related to Masonry and it was a long time ago, 60 or anyway 50, more than 50 years ago, and one of them was Morals and Dogma by Albert Pike of Masonic Flame, and the others was Manly Hall’s, The lost keys of Masonry, and in this it showed some of the Egyptian rituals, in this Lost Keys Of Masonry, and you saw the candidate holding the ankh, the symbol of Venus and illumination and the power of the Ajna center up before gigantic horrible-looking figure that was blocking his way through the portal. That was my first exposure in this incarnation to the image of the Dweller on The Threshold, maybe there’s some truth to it, but it’s a little bit glamorized and exaggerated, and he’s going to talk about that. |
Tôi nhớ trong những ngày đầu tôi nghiên cứu những điều này, tôi đã tìm được hai quyển sách liên quan đến Hội Tam Điểm, rất lâu rồi—60 hay 50, hơn 50 năm trước—và một quyển là Luân Lý và Giáo Điều của Albert Pike thuộc Hội Tam Điểm, và quyển kia là của Manly Hall, Những Chìa Khóa Thất Lạc của Hội Tam Điểm; và trong đó có trình bày một số nghi lễ Ai Cập; trong quyển Những Chìa Khóa Thất Lạc của Hội Tam Điểm này, các bạn thấy người dự tuyển cầm ankh—biểu tượng của Sao Kim và sự soi sáng và quyền năng của trung tâm ajna—giơ lên trước một hình tượng khổng lồ trông ghê rợn đang chặn đường y qua cánh cổng. Đó là lần đầu trong kiếp lâm phàm này tôi tiếp xúc với hình ảnh Kẻ Chận Ngõ; có lẽ cũng có phần đúng, nhưng nó hơi bị ảo cảm hóa và phóng đại, và Ngài sẽ nói về điều đó. |
|
So these words, Glamour, Illusion, Maya, and Dweller On The Threshold, they all stand for the same general concept [1e] |
Vì vậy những từ này, Ảo Cảm, Ảo Tưởng, Ảo Lực, và Kẻ Chận Ngõ, tất cả đều tiêu biểu cho cùng một khái niệm tổng quát [1e] |
|
Or some differentiation of that concept. There’s such fluidity in the use of these words. They don’t just stand for one location and one particular thing, although he does bring them into that proper assignment as he moves along. |
Hoặc một vài biến phân của khái niệm ấy. Có một sự linh động như vậy trong cách dùng những từ này. Chúng không chỉ tiêu biểu cho một vị trí và một điều đặc thù, mặc dù Ngài có đưa chúng vào sự phân định đúng đắn khi Ngài tiếp tục triển khai. |
|
20::01 |
20::01 |
|
Speaking generally, the interpretations have been as follows, and they are only partial interpretations, |
Nói chung, các cách giải thích đã từng là như sau, và chúng chỉ là những giải thích một phần, |
|
And there are elements of truth in them as we will see, but they |
Và như chúng ta sẽ thấy, trong đó có những yếu tố chân thật, nhưng chúng |
|
and are almost in the nature of distortions of the real truth, owing to the limitations of the human consciousness [1f] |
và hầu như mang bản chất của những biến dạng của chân lý thực sự, do các giới hạn của tâm thức con người [1f] |
|
So in the popular approach to these words, we cannot find the real truth, and our problem is here that our consciousness and our minds are limited. So, now he’s talking about the misinterpretations and the kind of distortions of understanding due to the limitations of human consciousness. These definitions have crept into human thinking, and unless we go deeper than what is here presented, then we’re not going to have a real handle on what these factors actually are. |
Vì vậy, trong cách tiếp cận phổ biến đối với những từ này, chúng ta không thể tìm ra chân lý thực sự; và vấn đề của chúng ta ở đây là tâm thức và thể trí của chúng ta bị giới hạn. Giờ ông ấy đang nói về những cách hiểu sai và những biến dạng của sự thấu hiểu do các giới hạn của tâm thức con người. Những định nghĩa này đã len lỏi vào tư tưởng nhân loại, và trừ khi chúng ta đi sâu hơn những gì được trình bày ở đây, nếu không chúng ta sẽ không nắm được thực chất những yếu tố này thật sự là gì. |
|
Glamour has oft been regarded as a curious attempt of what are called the “black forces” to deceive and hoodwink well-meaning aspirants. Many fine people are almost flattered when they are “up against” some aspect of glamour, feeling that their demonstration of discipline has been so good that the black forces are interested sufficiently to attempt to hinder their fine work by submerging them in clouds of glamour. Nothing could be further from the truth. That idea is itself part of the glamour of the present time, and has its roots in human pride and satisfaction. |
Ảo cảm thường đã được xem như một nỗ lực kỳ lạ của cái được gọi là “các mãnh lực hắc ám” nhằm đánh lừa và lừa gạt những người chí nguyện thiện chí. Nhiều người tốt lành hầu như thấy được tâng bốc khi họ “đối mặt” với một khía cạnh nào đó của ảo cảm, cảm thấy rằng sự biểu lộ kỷ luật của họ đã tốt đẹp đến mức các mãnh lực hắc ám đủ quan tâm để cố gắng cản trở công việc tốt lành của họ bằng cách nhận chìm họ trong những đám mây ảo cảm. Không gì xa sự thật hơn điều đó. Ý tưởng ấy tự nó là một phần của ảo cảm của thời hiện tại, và có cội rễ trong sự kiêu hãnh và tự mãn của con người. |
|
So Glamour has oft been regarded as a curious attempt of what are called the “black forces” to deceive and hoodwink well-meaning aspirants. [2a] |
Vì vậy Ảo cảm thường đã được xem như một nỗ lực kỳ lạ của cái được gọi là “các mãnh lực hắc ám” nhằm đánh lừa và lừa gạt những người chí nguyện thiện chí. [2a] |
|
, yeah, I think he finds it somewhat amusing, |
, vâng, tôi nghĩ Ngài thấy điều đó hơi buồn cười, |
|
Many fine people are almost flattered when they are “up against” some aspect of glamour, feeling that their demonstration of discipline has been so good that the black forces who almost never trouble with people like ourselves are interested sufficiently to attempt to hinder their fine work the sense the humor by submerging them in clouds of glamour. [2b] |
Nhiều người tốt lành hầu như thấy được tâng bốc khi họ “đối mặt” với một khía cạnh nào đó của ảo cảm, cảm thấy rằng sự biểu lộ kỷ luật của họ đã tốt đẹp đến mức các mãnh lực hắc ám hầu như chẳng bao giờ bận tâm đến những người như chúng ta đủ quan tâm để cố gắng cản trở công việc tốt lành của họ cảm giác hài hước bằng cách nhận chìm họ trong những đám mây ảo cảm. [2b] |
|
A little bit self-centered, wouldn’t you? |
Hơi tập trung vào bản thân một chút, phải không? |
|
And he says Nothing could be further from the truth. That idea is itself part of the glamour of the present time, and has its roots in human pride and satisfaction [2c] |
Và Ngài nói Không gì xa sự thật hơn điều đó. Ý tưởng ấy tự nó là một phần của ảo cảm của thời hiện tại, và có cội rễ trong sự kiêu hãnh và tự mãn của con người [2c] |
|
We remember when DK told a story about a disciple in the older days who was himself, and he was actually, as he said, quite keen on his own achievement and his own discipleship. And we are basically when we think of glamour in this way, we are still at the center of our own stage, and we have exaggerated our importance so that we imagine that somehow the Black Lodge is interested in us, and usually they’re much more effective than that. They don’t just trouble to work out some kind of attack upon a minor aspirant or disciple. it does happen at times, and there are some descriptions of that too. One of his disciples, RSW, who was under some kind of attack, and he says, look I’m not really going to help you here because you wouldn’t learn anything if I did so. Apparently it wasn’t so horrible that she couldn’t handle it herself. But then again these were disciples who were surrounding DK and were really members of his Ashram and had definitely progressed to that particular point of usefulness. |
Chúng ta nhớ khi Chân sư DK kể một câu chuyện về một đệ tử thời xưa, người ấy là chính y, và như Ngài nói, y thật sự khá say sưa với thành tựu của mình và với địa vị đệ tử của mình. Và về cơ bản, khi chúng ta nghĩ về ảo cảm theo cách này, chúng ta vẫn đang ở trung tâm sân khấu của chính mình, và chúng ta đã phóng đại tầm quan trọng của mình đến mức tưởng rằng bằng cách nào đó Hắc đoàn quan tâm đến chúng ta; và thường thì họ hiệu quả hơn thế nhiều. Họ không chỉ bận tâm để dựng lên một kiểu tấn công nào đó đối với một người chí nguyện hay một đệ tử nhỏ bé. Đôi khi điều đó có xảy ra, và cũng có một số mô tả về điều ấy. Một trong các đệ tử của Ngài, RSW, đã ở dưới một kiểu tấn công nào đó, và Ngài nói: hãy nhìn xem, tôi thật sự sẽ không giúp bạn ở đây, vì nếu tôi làm vậy thì bạn sẽ chẳng học được gì. Dường như nó không khủng khiếp đến mức bà ấy không thể tự xử lý. Nhưng mặt khác, đó là những đệ tử đang ở quanh Chân sư DK và thật sự là các thành viên của ashram của Ngài, và đã tiến bộ rõ rệt đến điểm hữu dụng đặc thù ấy. |
|
So, when we think a little bit too much of ourselves, and we think we’re somewhat spiritually important and the Black Lodge is focusing upon us. It’s obvious that we have failed in one of the five necessary D’s, it’s like the letter D, Discipline, Dispassion, Discrimination and Decentralization—that’s where we have failed, the decentralized personality followed by detachment which is the soul attitude. |
Vì vậy, khi chúng ta nghĩ hơi quá nhiều về bản thân, và nghĩ rằng mình có phần quan trọng về mặt tinh thần và Hắc đoàn đang tập trung vào mình, thì rõ ràng là chúng ta đã thất bại ở một trong năm chữ D cần thiết—giống như chữ D: Kỷ luật, Vô dục, Phân biện và Phi tập trung vào bản thân—đó là chỗ chúng ta đã thất bại; phàm ngã phi tập trung vào bản thân, tiếp theo là tách rời, vốn là thái độ của linh hồn. |
|
And, so only people who are still pretty fixated on themselves as a lesser personality, but an important one, will be affected by this particular definition of glamour and its misinterpretation. |
Và vì vậy, chỉ những người vẫn còn khá cố định vào bản thân như một phàm ngã nhỏ hơn nhưng quan trọng, mới bị ảnh hưởng bởi định nghĩa đặc thù này về ảo cảm và sự hiểu sai của nó. |
|
Maya is oft regarded as being of the same nature as the concept promulgated by the Christian Scientist that there is no such thing as matter. [This is DENIAL… We are asked to regard the entire world phenomena as maya and to believe that its existence is simply an error of mortal mind, and a form of auto-suggestion or self-hypnotism. Through this induced belief we force ourselves into a state of mind which recognises that the tangible and the objective are only figments of man’s imaginative mind. This, in its turn, is likewise a travesty of reality. |
Ảo lực thường được xem như có cùng bản chất với quan niệm do các nhà Khoa Học Cơ Đốc truyền bá rằng không có cái gọi là vật chất. [Đây là SỰ PHỦ NHẬN… Chúng ta được yêu cầu xem toàn thể các hiện tượng thế gian như là ảo lực và tin rằng sự hiện hữu của chúng chỉ là một sai lầm của thể trí phàm nhân, và là một hình thức tự ám thị hay tự thôi miên. Qua niềm tin bị dẫn dụ này, chúng ta tự ép mình vào một trạng thái thể trí vốn nhận biết rằng cái hữu hình và cái khách quan chỉ là những sản phẩm hư cấu của trí tưởng tượng con người. Đến lượt nó, điều này cũng là một sự nhạo báng thực tại. |
|
[Page 21] |
[Page 21] |
|
Maya , you know glamors, emotionally, we usually think, but it’s not being used as the general term. Maya is usually etheric when it’s not being used as a huge general term like the World Maya and the whole universe is Maya and all that. That’s also true in a way. Then, |
Ảo lực, các bạn biết đấy, ảo cảm, về mặt cảm xúc, chúng ta thường nghĩ như vậy, nhưng ở đây nó không được dùng như thuật ngữ tổng quát. Ảo lực thường là dĩ thái khi nó không được dùng như một thuật ngữ tổng quát khổng lồ kiểu như Ảo lực Thế Gian và toàn bộ vũ trụ là ảo lực và tất cả những điều đó. Theo một nghĩa nào đó, điều đó cũng đúng. Rồi, |
|
Maya is oft regarded as being of the same nature as the concept promulgated by the Christian Scientist that there is no such thing as matter. [3a] |
Ảo lực thường được xem như có cùng bản chất với quan niệm do các nhà Khoa Học Cơ Đốc truyền bá rằng không có cái gọi là vật chất. [3a] |
|
That’s the problem, isn’t it? The consciousness longs to be so absolute that matter itself is considered an illusion. This is DENIAL … which is more than a river in Africa or Egypt. |
Đó là vấn đề, phải không? Tâm thức khao khát tuyệt đối đến mức chính vật chất cũng bị xem là một ảo tưởng. Đây là SỰ PHỦ NHẬN… vốn còn hơn cả một con sông ở châu Phi hay Ai Cập. |
|
We are asked to regard the entire world phenomena as maya and to believe that its existence is simply an error of mortal mind obviously mortal mind makes a lot of errors of course, and a form of auto-suggestion or self-hypnotism, [3b] |
Chúng ta được yêu cầu xem toàn thể các hiện tượng thế gian như là ảo lực và tin rằng sự hiện hữu của chúng chỉ là một sai lầm của thể trí phàm nhân rõ ràng là thể trí phàm nhân mắc nhiều sai lầm, dĩ nhiên, và là một hình thức tự ám thị hay tự thôi miên, [3b] |
|
In other words, we’ve suggested to ourself, we’ve hypnotized ourselves into interpreting these phenomena as real, but when we release ourselves from that hypnotism, when we stop auto-suggesting, when we clear up the errors of mortal mind, then no phenomena will be seen as real. |
Nói cách khác, chúng ta đã tự ám thị, chúng ta đã tự thôi miên mình để diễn giải những hiện tượng này như là thật; nhưng khi chúng ta giải phóng mình khỏi sự thôi miên ấy, khi chúng ta ngừng tự ám thị, khi chúng ta làm sáng tỏ những sai lầm của thể trí phàm nhân, thì sẽ không còn thấy hiện tượng nào là thật nữa. |
|
Now, I think the Reality is that universe after universe according to the Great Breath we have to continue to deal with the lesser apprehension of ourselves, because in a way, all things are self perceptions and then repeat that all things are self perceptions of the Universal Being. So, it may be a limited perception, but it is a perception, and it may lack many of the higher under relations, but nevertheless it is a fact in consciousness, or what I call, an actuality in a way rather than a reality. |
Giờ, tôi nghĩ thực tại là: vũ trụ này qua vũ trụ khác, theo Đại Hơi Thở, chúng ta phải tiếp tục xử lý sự nhận biết kém hơn về chính mình; bởi vì theo một nghĩa nào đó, mọi sự đều là những tri giác về bản thân, và rồi lặp lại rằng mọi sự đều là những tri giác về bản thân của Thượng đế Vũ Trụ. Vì vậy, đó có thể là một tri giác hạn chế, nhưng vẫn là một tri giác; và nó có thể thiếu nhiều mối liên hệ cao hơn, nhưng dẫu vậy nó là một sự kiện trong tâm thức, hay điều mà tôi gọi là một tính hiện thực theo một nghĩa nào đó, hơn là một thực tại. |
|
, anyway, the Christian Science approach… I’ve attended some Christian Science lectures, and the people who lecture they really have soul themselves on this perspective, and of course, it’s a very stubborn mind set, and they don’t realize that the mind set itself is part of the Maya. |
Dù sao, cách tiếp cận của Khoa Học Cơ Đốc… tôi đã dự một số bài thuyết giảng của Khoa Học Cơ Đốc, và những người thuyết giảng thật sự có linh hồn theo viễn cảnh này, và dĩ nhiên đó là một khuôn định kiến thể trí rất cứng, và họ không nhận ra rằng chính khuôn định kiến ấy là một phần của ảo lực. |
|
Through this induced belief we force ourselves into a state of mind it’s usually because of a recoil from the horrors of the world, and all of the pain we have to go through on this particular planet of releasing sorrow and purifying pain, |
Qua niềm tin bị dẫn dụ này, chúng ta tự ép mình vào một trạng thái thể trí thường là vì phản ứng co rút trước những kinh hoàng của thế giới, và tất cả nỗi đau mà chúng ta phải trải qua trên hành tinh đặc thù này để giải phóng sầu khổ và thanh lọc đau đớn, |
|
we force ourselves into a state of mind where we just deny the pain and deny the cause of the pain. The Buddha has a different way of dealing with it, and we’ll come to that hopefully. |
chúng ta tự ép mình vào một trạng thái thể trí nơi chúng ta chỉ phủ nhận nỗi đau và phủ nhận nguyên nhân của nỗi đau. Đức Phật có một cách khác để xử lý điều đó, và hy vọng chúng ta sẽ đến được điều ấy. |
|
So, Through this induced belief we force ourselves into a state of mind which recognises that the tangible and the objective are only figments of man’s imaginative mind. [3c] |
Vì vậy, Qua niềm tin bị dẫn dụ này, chúng ta tự ép mình vào một trạng thái thể trí vốn nhận biết rằng cái hữu hình và cái khách quan chỉ là những sản phẩm hư cấu của trí tưởng tượng con người. [3c] |
|
from a very deep level this can possibly be so, because it’s the ideation of the one Universal Being that basically produces all things through self observation and self perception. However, the results among most people who try this kind of attitude as they just deny what’s in their face and what has to be dealt with it, if they’re going to remedy the chaotic situation which exists below in the World of Becoming, and which must somehow reflect one day the World of Being, and they’ll never get to that point. They just deny it. You see, what we have to reconstruct the World of Becoming so that it reflects the archetypes in the World of Being, and we would just ignore the World of Becoming. We’re never going to do that, and our redemptive purposes go astray. |
Từ một tầng rất sâu, điều này có thể đúng, bởi vì chính sự tạo ý của Thượng đế Vũ Trụ Duy Nhất về cơ bản tạo ra mọi sự qua tự quan sát và tự tri giác. Tuy nhiên, kết quả nơi đa số người thử thái độ này là họ chỉ phủ nhận điều ngay trước mắt và điều phải được xử lý nếu họ muốn khắc phục tình trạng hỗn loạn đang tồn tại bên dưới trong Thế Giới Đang Trở Thành, và vốn phải bằng cách nào đó phản chiếu một ngày kia Thế Giới Bản Thể; và họ sẽ không bao giờ đến được điểm ấy. Họ chỉ phủ nhận. Các bạn thấy đấy, điều chúng ta phải làm là tái kiến tạo Thế Giới Đang Trở Thành để nó phản chiếu các nguyên mẫu trong Thế Giới Bản Thể, và chúng ta lại chỉ phớt lờ Thế Giới Đang Trở Thành. Chúng ta sẽ không bao giờ làm được điều đó, và các mục đích cứu chuộc của chúng ta sẽ đi lạc hướng. |
|
So, this in its turn is likewise a travesty of reality. [3d] |
Vì vậy, đến lượt nó, điều này cũng là một sự nhạo báng thực tại. [3d] |
|
DK doesn’t use that word travesty lightly. Once he talks about the image of the master is presented by what, in a broad sense, is called the “I Am Movement”, and of course the presentation of the Masters is just, it’s just childish, and he calls that a cheap comedy, and I think the word travesty is used there[1]. That’s the same idea. We don’t interpret and we come up believing in things which are preposterous,[2] childish, shallow, all that. We have to deepen deep in our mind. |
Chân sư DK không dùng từ nhạo báng một cách nhẹ nhàng. Có lần Ngài nói về hình ảnh Chân sư được trình bày bởi cái mà theo nghĩa rộng được gọi là “Phong trào Tôi Là”, và dĩ nhiên sự trình bày về các Chân sư chỉ là trẻ con; và Ngài gọi đó là một trò hài rẻ tiền, và tôi nghĩ từ nhạo báng được dùng ở đó. Đó là cùng một ý. Chúng ta diễn giải và rồi tin vào những điều lố bịch, trẻ con, nông cạn, tất cả như vậy. Chúng ta phải đào sâu thể trí của mình. |
|
30::02 |
30::02 |
|
Now, working under the supervision of master DK through his books, obviously anybody who sticks with that is going to have their mind deepened in quite a profound sense over the years, and though I’ve been in a long time, and I’m sure there are many here that that have been in a long time. You’ve probably noticed the deepening of your mind, and the deepening of understanding. |
Giờ, làm việc dưới sự giám sát của Chân sư DK qua các sách của Ngài, rõ ràng bất cứ ai kiên trì với điều đó sẽ làm cho thể trí của mình được đào sâu theo một nghĩa rất sâu sắc qua nhiều năm; và dù tôi đã ở trong đó một thời gian dài, và tôi chắc có nhiều người ở đây cũng đã ở trong đó một thời gian dài. Các bạn hẳn đã nhận thấy sự đào sâu của thể trí mình, và sự đào sâu của sự thấu hiểu. |
|
, now here’s another more or less misinterpretation about illusion. |
Giờ đây là một cách hiểu sai khác, ít nhiều, về ảo tưởng. |
|
Illusion is regarded rather the same way, only (as we define it) we lay the emphasis upon the finiteness of man’s mind. The world of phenomena is not denied, but we regard the mind as misinterpreting it and as refusing to see it as it is in reality. We consider this misinterpretation as constituting the Great Illusion. [This has some truth in it… |
Ảo tưởng cũng được xem gần như vậy, chỉ khác là (theo định nghĩa của chúng ta) chúng ta đặt trọng tâm vào tính hữu hạn của thể trí con người. Thế giới hiện tượng không bị phủ nhận, nhưng chúng ta xem thể trí là đang diễn giải sai nó và từ chối nhìn nó như nó thật sự là. Chúng ta xem sự diễn giải sai này như cấu thành Đại Ảo Tưởng. [Điều này có phần đúng trong đó… |
|
The Dweller on the Threshold is usually regarded as presenting the final test of man’s courage, and as being in the nature of a gigantic thoughtform or factor which has to be dissipated, prior to taking initiation. Just what this thoughtform is, few people know, but their definition includes the idea of a huge elemental form which bars the way to the sacred portal, or the idea of a fabricated form, constructed sometimes by the disciple’s Master to test his sincerity. Some regard it as the sum total of a man’s faults, his evil nature, which hinders his being recognised as fit to tread the Path of Holiness. None of these definitions, however, give a true idea of the reality. |
Kẻ Chận Ngõ thường được xem như là thể hiện thử thách cuối cùng về lòng can đảm của con người, và như là có bản chất của một hình tư tưởng khổng lồ hay một yếu tố phải được làm cho tan rã, trước khi được điểm đạo. Chính xác hình tư tưởng này là gì, ít người biết, nhưng định nghĩa của họ bao gồm ý tưởng về một hình thể tinh linh khổng lồ án ngữ con đường dẫn đến cánh cổng thánh thiện, hoặc ý tưởng về một hình hài giả tạo, đôi khi do Chân sư của đệ tử tạo ra để thử thách lòng thành của y. Một số người xem nó như là tổng thể mọi lỗi lầm của con người, bản chất xấu xa của y, điều ngăn cản y được công nhận là xứng đáng bước lên Con Đường Thánh Thiện. Tuy nhiên, không một định nghĩa nào trong số các định nghĩa ấy đem lại một ý niệm đúng về thực tại. |
|
Illusion is regarded rather the same way, only (as we define it) we lay the emphasis upon the finiteness of man’s mind. [4a] |
Ảo tưởng được xem theo cách gần giống vậy, chỉ khác là (khi chúng ta định nghĩa nó) chúng ta nhấn mạnh vào sự hữu hạn của thể trí con người. [4a] |
|
due to our mental limitations, we’ve created the Maya. , that may be profoundly inwardly true if we identify ourselves as the Universal Logos. But in terms of practicality and living in the world, we cannot dismiss it. Now, here we are with our mental faults, and we’re focusing on our mental limitations. We do have a finite mind, even though even the Universal Logos of this whole universe has a finite mind, the only infinite mind is in the pre and post cosmic state when there is no universe, or at least, the purity of it is when there is no universe. |
Do những giới hạn của thể trí, chúng ta đã tạo ra ảo lực. Điều đó có thể đúng một cách sâu xa ở bên trong nếu chúng ta đồng hoá mình với Thượng đế Vũ Trụ. Nhưng xét về tính thực tiễn và việc sống trong thế gian, chúng ta không thể gạt bỏ nó. Giờ đây, chúng ta ở đây với những khiếm khuyết của thể trí, và chúng ta đang tập trung vào những giới hạn của thể trí. Chúng ta quả thật có một thể trí hữu hạn, dù rằng ngay cả Thượng đế Vũ Trụ của toàn thể vũ trụ này cũng có một thể trí hữu hạn; thể trí vô hạn duy nhất là ở trạng thái tiền vũ trụ và hậu vũ trụ, khi không có vũ trụ, hoặc ít ra, sự thuần khiết của nó là khi không có vũ trụ. |
|
So, anyway, our minds are finite, The world of phenomena note in this case, is not denied, but we regard the mind as misinterpreting it and as refusing to see it as it is in reality [4b] |
Vì vậy, dù sao đi nữa, thể trí của chúng ta là hữu hạn; thế giới hiện tượng—cần lưu ý trong trường hợp này—không bị phủ nhận, nhưng chúng ta xem thể trí như là giải thích sai nó và như là từ chối nhìn thấy nó đúng như nó thực sự là [4b] |
|
the idea of refusal is interesting. Sometimes I think it is just limitation, but notice that we’re not denying. There is some truth in this. |
Ý niệm về “từ chối” thật thú vị. Đôi khi tôi nghĩ đó chỉ là sự giới hạn, nhưng hãy lưu ý rằng chúng ta không phủ nhận. Có một phần chân lý trong điều này. |
|
We consider the misinterpretation as constituting the Great Illusion. [4c] |
Chúng ta xem sự diễn dịch sai lầm ấy như là cấu thành Đại Ảo Tưởng. [4c] |
|
Now, when I have thought about illusion, I know this is my own way of going about it. I have thought of fragmentation, how we look for unity of consciousness and all things are not only interrelated in an archetypal unity, but they are really one. , but then I’ve said to myself, if my eye was the eye of a grasshopper, I could approximate what illusion is. |
Giờ đây, khi tôi đã suy nghĩ về ảo tưởng, tôi biết đây là cách riêng của tôi để tiếp cận nó. Tôi đã nghĩ về sự phân mảnh: cách chúng ta tìm kiếm sự hợp nhất của tâm thức, và mọi sự không chỉ liên hệ lẫn nhau trong một sự hợp nhất nguyên mẫu, mà thật ra chúng là một. Nhưng rồi tôi đã tự nói với mình: nếu mắt tôi là mắt của một con châu chấu, tôi có thể ước lượng được ảo tưởng là gì. |
|
Now, I mean, maybe from studying biology, the grasshopper and maybe some other insects have a compound eye. They don’t have a round eye like the mammals have and like man has. It’s geometrically fragmented. It divides everything up into pieces. And when we do that, when we have the type of the consciousness that divides everything up into little pieces, and we can’t put it back together in an archetypal form, that is illusion. The more the fragmentation, the less the unity, the greater the illusion. And we overcome illusion, as DK tells us, through intuition, or the dispelling of illusion through the buddhi. Now, the buddhi obviously makes things whole and which starts to remove those artificial boundaries between all of our perceptions, so we begin to see things in a unified manner. |
Ý tôi là, có lẽ do học sinh học, châu chấu và có lẽ một số côn trùng khác có mắt kép. Chúng không có mắt tròn như loài có vú và như con người. Nó bị phân mảnh theo hình học. Nó chia mọi thứ thành từng mảnh. Và khi chúng ta làm như vậy—khi chúng ta có loại tâm thức chia mọi thứ thành những mảnh nhỏ, và chúng ta không thể ghép nó lại trong một hình thái nguyên mẫu—đó là ảo tưởng. Càng phân mảnh, càng ít hợp nhất, ảo tưởng càng lớn. Và chúng ta vượt qua ảo tưởng, như Chân sư DK nói với chúng ta, nhờ trực giác, hay nhờ sự xua tan ảo tưởng qua Bồ đề. Giờ đây, Bồ đề hiển nhiên làm cho mọi sự trở nên toàn vẹn, và bắt đầu loại bỏ những ranh giới nhân tạo giữa mọi tri giác của chúng ta, để chúng ta bắt đầu thấy mọi sự theo một cách hợp nhất. |
|
That’s kind of my reference point regarding illusion and fragmentation, but the factor of misinterpretation is definitely mentioned by DK when discussing illusion, and later in the book, we’ll get into that difficult area where he discusses illusion rather than glamour, and I think we’ll learn something there of course. If you’re a student in the Morya Federation, there is a section in our early work where we take on of a factor of illusion. |
Đó là điểm quy chiếu của tôi về ảo tưởng và sự phân mảnh; nhưng yếu tố “diễn dịch sai” chắc chắn được Chân sư DK nêu ra khi bàn về ảo tưởng, và về sau trong sách, chúng ta sẽ đi vào lãnh vực khó khăn nơi Ngài bàn về ảo tưởng hơn là ảo cảm, và tôi nghĩ dĩ nhiên chúng ta sẽ học được điều gì đó ở đó. Nếu bạn là môn sinh trong Liên Đoàn Morya, có một phần trong công việc ban đầu của chúng ta nơi chúng ta đề cập đến một yếu tố của ảo tưởng. |
|
Now, the next thing is the Dweller on The Threshold |
Giờ đây, điều kế tiếp là Kẻ Chận Ngõ |
|
The Dweller on the Threshold is usually regarded as presenting the final test of man’s courage [4d] |
Kẻ Chận Ngõ thường được xem như là thể hiện thử thách cuối cùng về lòng can đảm của con người [4d] |
|
if you see the Manly Palmer Hall’s illustration in this book, the Lost Keys Of Masonry, you would see why courage is required. It’s the sum total of everything we’ve done wrong for all of our lives. It says the sum total of all our unredeemed sins presented in some form of elemental entity which it takes a lot of courage to face. But, of course, the truth is lying deeper than that rather overdramatized picture. |
Nếu bạn xem hình minh hoạ của Manly Palmer Hall trong quyển sách này, Những Chìa Khoá Thất Lạc của Hội Tam Điểm, bạn sẽ thấy vì sao cần có lòng can đảm. Đó là tổng thể mọi điều chúng ta đã làm sai trong suốt mọi kiếp sống của mình. Ông nói đó là tổng thể mọi tội lỗi chưa được chuộc của chúng ta, được trình hiện dưới một dạng thực thể tinh linh nào đó mà phải có rất nhiều can đảm mới đối diện được. Nhưng dĩ nhiên, chân lý nằm sâu hơn bức tranh bị kịch hoá quá mức ấy. |
|
So, a test of a man’s courage, and as being in the nature of a gigantic thought form or factor which has to be dissipated prior to taking initiation |
Vì vậy, đó là một thử thách về lòng can đảm của con người, và như là có bản chất của một hình tư tưởng khổng lồ hay một yếu tố phải được làm cho tan rã trước khi được điểm đạo |
|
Now, let’s see if I can get this here. Let’s see. here we go. |
Giờ đây, hãy xem tôi có thể nắm được điều này ở đây không. Hãy xem. Đây rồi. |
|
Just what this thoughtform is, few people know, but their definition includes the idea of a huge elemental form which bars the way to the sacred portal, just as in the Manly Palmer Hall’s book, or the idea of a fabricated form, constructed sometimes by the disciple’s Master to test his sincerity [4e] |
Chính xác hình tư tưởng này là gì, ít người biết, nhưng định nghĩa của họ bao gồm ý tưởng về một hình thể tinh linh khổng lồ án ngữ con đường dẫn đến cánh cổng thánh thiện, cũng như trong sách của Manly Palmer Hall, hoặc ý tưởng về một hình hài giả tạo, đôi khi do Chân sư của đệ tử tạo ra để thử thách lòng thành của y [4e] |
|
Again, you see how self-centered he is, that attitude the Master is spending his time to cook up this big thought form to see whether you’re really worthy, and all the time there you are the one who has not decentralized. You’re standing in the center of your own stage, and everybody’s concerned about you. So, it’s the opposite of decentralization. |
Một lần nữa, bạn thấy y tập trung vào bản thân đến mức nào: thái độ cho rằng Chân sư đang dành thời gian để “nấu” ra hình tư tưởng lớn này nhằm xem liệu bạn có thật sự xứng đáng hay không; trong khi suốt thời gian đó, chính bạn là người chưa phi tập trung vào bản thân. Bạn đứng ở trung tâm sân khấu của chính mình, và mọi người đều bận tâm về bạn. Vì vậy, đó là điều đối nghịch với sự phi tập trung vào bản thân. |
|
So, Some regard it as the sum total of a man’s faults, his evil nature, which hinders his being recognised as fit to tread the Path of Holiness. [4f] |
Vì vậy, một số người xem nó như là tổng thể mọi lỗi lầm của con người, bản chất xấu xa của y, điều ngăn cản y được công nhận là xứng đáng bước lên Con Đường Thánh Thiện. [4f] |
|
That’s not bad. There’s some of that in the accumulation of all of our sins and unfinished business, all kinds of unexpired karma. There’s something there of the truth, but nevertheless |
Điều đó không tệ. Có một phần như vậy trong sự tích tụ mọi tội lỗi và mọi việc còn dang dở của chúng ta, đủ loại nghiệp quả chưa hết hạn. Có một điều gì đó của chân lý ở đây, nhưng dẫu vậy, |
|
None of these definitions, however, give a true idea of the reality |
tuy nhiên, không một định nghĩa nào trong số các định nghĩa ấy đem lại một ý niệm đúng về thực tại |
|
of this dweller. |
của kẻ chận ngõ này. |
|
Now, look, it turns out and maybe you remember from your reading that the Dwell on the Threshold can even be the highly developed entirety of the integrated personality, not necessarily a bad thing at all, but just something that’s so good in its own world, that it’s hard to move beyond it into higher values and higher possibilities, because you like exercising that particular integrated personality. There’s another analogy to that. Look what happens when you hang on to your highly developed causal body, then that comes later you can’t follow the Christ. He says, “Take what you own or have and sell it, and give the money to the poor, and follow me!” So, in that is some magnificent advice, but on a higher turn of the spiral, it’s the same thing. We become attached to something that’s very good, highly developed in our nature, and we don’t want to move on to the uncertainty of what lies ahead, for instance following the Christ. It’s full of immediate uncertainty although the end is sure. |
Giờ đây, hãy nhìn xem: hoá ra—và có lẽ bạn nhớ từ việc đọc của mình—Kẻ Chận Ngõ thậm chí có thể là toàn thể phàm ngã tích hợp được phát triển rất cao, không nhất thiết là điều xấu chút nào, mà chỉ là một điều tốt đến mức, trong thế giới của chính nó, thật khó vượt qua nó để đi vào những giá trị cao hơn và những khả năng cao hơn, bởi vì bạn thích vận dụng phàm ngã tích hợp đặc thù ấy. Có một phép loại suy khác cho điều đó. Hãy nhìn điều xảy ra khi bạn bám chặt lấy thể nguyên nhân được phát triển rất cao của mình; rồi về sau bạn không thể theo Đức Christ. Ngài nói: “Hãy lấy những gì ngươi sở hữu hay có, bán đi, đem tiền cho người nghèo, và theo Ta!” Vì vậy, trong đó có một lời khuyên tuyệt diệu; nhưng ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, đó là cùng một điều. Chúng ta trở nên dính mắc vào một điều rất tốt, được phát triển rất cao trong bản chất của chúng ta, và chúng ta không muốn tiến lên vào sự bất định của điều nằm phía trước—chẳng hạn như theo Đức Christ. Nó đầy sự bất định tức thời, dù rằng kết cục là chắc chắn. |
|
So, we could ponder on some of these things, and we all of us have these factors. We have the glamour. We have the Maya. We have the Illusion, and we have this unified synthetic combination of all of them which is the highly developed integrated personality, and before that the personality with all of its faults and its unfinished business with karma not expiated, so it has a lot of ugly things in it that under the process of initiation we gradually expiate under the process of karma, we gradually beautify and balance. |
Vì vậy, chúng ta có thể suy ngẫm về một số điều này, và tất cả chúng ta đều có những yếu tố ấy. Chúng ta có ảo cảm. Chúng ta có ảo lực. Chúng ta có ảo tưởng. Và chúng ta có sự kết hợp hợp nhất, tổng hợp của tất cả chúng—đó là phàm ngã tích hợp được phát triển rất cao; và trước đó là phàm ngã với mọi lỗi lầm của nó và mọi việc còn dang dở với nghiệp quả chưa được chuộc, nên nó có nhiều điều xấu xí trong đó; dưới tiến trình điểm đạo, chúng ta dần dần chuộc lại; dưới tiến trình nghiệp quả, chúng ta dần dần làm đẹp và quân bình. |
|
I would point out here that (generally speaking) these four expressions are four aspects of a universal condition that is the result of the activity—in time and space—of the human mind. The activity of MINDS! Ponder on this phrase for it gives you a clue to the truth. {And the distortions for which this activity is responsible |
Ở đây tôi muốn nêu ra rằng (nói chung) bốn cách diễn tả này là bốn khía cạnh của một tình trạng chung vốn là kết quả của sự hoạt động—trong thời gian và không gian—của trí tuệ con người. Hoạt động của TRÍ TUỆ! Hãy suy gẫm câu này vì nó mang lại cho bạn manh mối đưa đến chân lý. {Và những sự bóp méo mà hoạt động này phải chịu trách nhiệm |
|
The Problem of Illusion lies in the fact that it is a soul activity, and the result of the mind aspect of all the souls in manifestation. It is the soul which is submerged in the illusion {The soul-in-incarnation and the soul that fails to see with clarity until such time as it has learnt to pour the light of the soul {on the higher mental plane through into the mind and the brain. {Two types of soul, but one word used. |
Vấn đề Ảo tưởng nằm trong sự thật đó là một hoạt động của linh hồn, và là kết quả của phương diện thể trí của mọi linh hồn đang biểu lộ. Chính linh hồn đang bị đắm chìm trong ảo tưởng {Linh hồn đang lâm phàm và linh hồn không nhìn thấy một cách rõ ràng cho đến khi theo thời gian, linh hồn học được cách tuôn đổ ánh sáng của linh hồn {trên cõi thượng trí vào thể trí và bộ não. {Hai loại linh hồn, nhưng dùng một từ. |
|
The Problem of Glamour is found when the mental illusion is intensified by desire. What the Theosophist calls “kama-manas” produces glamour. It is illusion on the astral plane. {We have failed to separate kama from manas, and they occur simultaneously and corrupt each other… |
Vấn đề Ảo cảm được tìm thấy khi ảo tưởng của thể trí bị dục vọng làm cho mạnh thêm. Điều mà nhà Thần Triết gọi là “kama-manas” tạo ra ảo cảm. Đó là ảo tưởng trên cõi cảm dục. {Chúng ta đã không tách được kama khỏi manas, và chúng xảy ra đồng thời và làm bại hoại lẫn nhau… |
|
[Page 22] |
[Page 22] |
|
I would point out here that (generally speaking) these four expressions are four aspects of a universal condition that is the result of the activity—in time and space which itself is illusory —of the human mind. [5a] |
Tôi muốn nêu ra ở đây rằng (nói chung) bốn cách diễn tả này là bốn khía cạnh của một tình trạng chung vốn là kết quả của sự hoạt động—trong thời gian và không gian—mà tự nó là ảo tưởng—của trí tuệ con người. [5a] |
|
40::01 |
40::01 |
|
So, basically our own mental limitations have created these factors, this disorganization, this exaggeration, this misinterpretation… All of these things have been created by the limitations of our mind. We do not interpret reality correctly, and we cannot get the energies together in the right way. |
Vì vậy, về cơ bản, chính những giới hạn của thể trí chúng ta đã tạo ra các yếu tố này: sự vô tổ chức, sự phóng đại, sự diễn dịch sai… Tất cả những điều này đã được tạo ra bởi những giới hạn của thể trí chúng ta. Chúng ta không diễn dịch thực tại một cách đúng đắn, và chúng ta không thể gom các năng lượng lại theo cách đúng. |
|
Now, there’s the World of Becoming and the World of Being. This is from the Greek philosophy. You’re the World of Becoming, we have all kinds of chaotic energies, influx and process. What are they trying to do? They’re trying to relate to each other in such a way that they reflect the archetypes in the World of Being, on the Monadic and Logoic plane. So, we are faced with chaos initially, and we’re faced with the illusion of the reality, of time and space, and all of this is because our minds can’t yet really grasp the truth of the relationship. So, obviously when a highly mental master like Master DK comes along, he’s teaching us the illumination of the mind so we can overcome these lower the factors which inhibit the true spiritual realization of our personality. |
Giờ đây, có Thế Giới Đang Trở Thành và Thế Giới Bản Thể. Điều này đến từ triết học Hy Lạp. Bạn là Thế Giới Đang Trở Thành; chúng ta có đủ loại năng lượng hỗn loạn, sự tuôn vào và tiến trình. Chúng đang cố làm gì? Chúng đang cố liên hệ với nhau theo cách phản chiếu các nguyên mẫu trong Thế Giới Bản Thể, trên cõi chân thần và cõi Thượng đế. Vì vậy, ban đầu chúng ta đối diện với hỗn loạn, và chúng ta đối diện với ảo tưởng về thực tại—về thời gian và không gian—và tất cả điều này là vì thể trí chúng ta chưa thể thật sự nắm bắt chân lý của mối liên hệ. Vì vậy, hiển nhiên khi một chân sư phân cực trí tuệ rất cao như Chân sư DK xuất hiện, Ngài dạy chúng ta sự soi sáng của thể trí để chúng ta có thể vượt qua những yếu tố thấp hơn vốn ngăn trở sự chứng nghiệm tinh thần chân thật của phàm ngã chúng ta. |
|
, so it’s the mind, The activity of MINDS! [5b] |
Vì vậy, đó là thể trí, hoạt động của TRÍ TUỆ! [5b] |
|
Then he makes the exclamation point. Ponder on this phrase for it gives you a clue to the truth. |
Rồi Ngài đặt dấu chấm than. Hãy suy gẫm câu này vì nó mang lại cho bạn manh mối đưa đến chân lý. |
|
And it was so, and we all get together and think in the wrong way. We create massive thoughtforms which condition other people, and before it, we’re seeing things as they not really are. We’re seeing things through illusion, through glamour, and we’re in chaos. , so we have to clarify our minds and learn how to think together as disciples and initiates in the new way. |
Và đúng là như vậy: chúng ta cùng nhau suy nghĩ theo cách sai lầm. Chúng ta tạo ra những hình tư tưởng khổng lồ tác động lên người khác, và trước đó, chúng ta đang nhìn mọi sự không đúng như chúng thật sự là. Chúng ta nhìn mọi sự qua ảo tưởng, qua ảo cảm, và chúng ta ở trong hỗn loạn. Vì vậy, chúng ta phải làm sáng tỏ thể trí mình và học cách suy nghĩ cùng nhau như các đệ tử và các điểm đạo đồ theo cách mới. |
|
Now, maybe he’s going to elaborate here a little more. I’d like to go on just a little more. |
Giờ đây, có lẽ Ngài sẽ triển khai thêm một chút ở đây. Tôi muốn đi tiếp thêm một chút nữa. |
|
The Problem of Illusion |
Vấn đề Ảo tưởng |
|
this is interesting |
Điều này thật thú vị |
|
lies in the fact that it is a soul activity, and the result of the mind aspect of all the souls in manifestation [5c] |
nằm trong sự thật đó là một hoạt động của linh hồn, và là kết quả của phương diện thể trí của mọi linh hồn đang biểu lộ [5c] |
|
You are an extended consciousness in a way. Your consciousness from the higher levels is extended into the lower worlds, and basically, you are the soul-in-incarnation, but you’re not the fully-illumined soul-in-incarnation. |
Bạn là một tâm thức được mở rộng theo một cách nào đó. Tâm thức của bạn từ các cấp độ cao hơn được mở rộng vào các cõi thấp hơn, và về cơ bản, bạn là linh hồn đang lâm phàm, nhưng bạn không phải là linh hồn đang lâm phàm đã được soi sáng hoàn toàn. |
|
It is the soul which is submerged in the illusion |
Chính linh hồn đang bị đắm chìm trong ảo tưởng |
|
and the soul is our own higher consciousness, cramped[3], compressed, desensitized and made subject to lower worlds. This is the soul-in-incarnation, |
và linh hồn là tâm thức cao hơn của chính chúng ta, bị co rút, bị nén lại, bị làm tê giảm và bị đặt dưới sự chi phối của các cõi thấp. Đây là linh hồn đang lâm phàm, |
|
and the soul |
và linh hồn |
|
the soul an incarnation at least |
ít nhất là linh hồn đang lâm phàm |
|
that fails to see with clarity until such time as it has learnt to pour the light of the soul through into the mind and the brain. [5d] |
không nhìn thấy một cách rõ ràng cho đến khi theo thời gian, nó học được cách tuôn đổ ánh sáng của linh hồn vào thể trí và bộ não. [5d] |
|
Now, notice how we use soul in different ways. Soul is a very fluid word, and people pulled their hair, “How can I define that word soul?” So, the way you can define it is on different levels. It’s always consciousness but it’s consciousness subject to the various limitations of the Prakriti or matter in which it is immersed. Is the soul upon the higher mental plane the full soul? No, there’s much more soul in the Triad, much more consciousness, much more liberated consciousness in the Triad. Is the triad all soul, the full soul? No, it’s not. The soul of the Monad, we might say, the awareness, the consciousness of the Monad is much more liberated, but it’s all soul, it’s all consciousness, cribbed, cabined and confined, as it is said, by various grades of matter. |
Giờ đây, hãy lưu ý cách chúng ta dùng từ linh hồn theo những cách khác nhau. Linh hồn là một từ rất linh động, và người ta vò đầu bứt tóc: “Làm sao tôi có thể định nghĩa từ linh hồn?” Vì vậy, cách bạn có thể định nghĩa nó là theo các cấp độ khác nhau. Nó luôn là tâm thức, nhưng là tâm thức chịu các giới hạn khác nhau của Prakriti hay vật chất mà nó bị đắm chìm trong đó. Linh hồn trên cõi thượng trí có phải là linh hồn trọn vẹn không? Không, còn nhiều linh hồn hơn nữa trong Tam Nguyên Tinh Thần, nhiều tâm thức hơn nữa, nhiều tâm thức được giải phóng hơn nữa trong Tam Nguyên Tinh Thần. Tam Nguyên Tinh Thần có phải là toàn bộ linh hồn, linh hồn trọn vẹn không? Không, không phải. Linh hồn của chân thần, chúng ta có thể nói như vậy—sự nhận biết, tâm thức của chân thần—được giải phóng hơn nhiều; nhưng tất cả đều là linh hồn, tất cả đều là tâm thức, bị bó buộc, bị giam hãm và bị giới hạn, như người ta nói, bởi các cấp độ vật chất khác nhau. |
|
So, we are, all of us, submerged in various levels of the great illusion, or specifically submerged in the mental plane, in the astral plane, in the etheric physical plane, but eventually we tap the light of what we are, and had poured through, and it shows us how to free ourselves from that illusion, how to free ourselves from the illusion in which we have been submersed. |
Vì vậy, tất cả chúng ta đều bị đắm chìm trong các cấp độ khác nhau của Đại Ảo Tưởng; hay cụ thể là bị đắm chìm trong cõi trí, trong cõi cảm dục, trong cõi hồng trần dĩ thái; nhưng cuối cùng chúng ta chạm được ánh sáng của điều chúng ta là, và đã tuôn đổ xuyên qua, và nó chỉ cho chúng ta cách giải phóng mình khỏi ảo tưởng ấy, cách giải phóng mình khỏi ảo tưởng mà chúng ta đã bị đắm chìm trong đó. |
|
Ok, so the problem of illusion, that’s one of the sticky things about it. It’s a soul issue. |
Được rồi, vậy vấn đề ảo tưởng—đó là một trong những điều “dính” của nó. Đó là một vấn đề của linh hồn. |
|
All right, the Problem of Glamour. Now I think it’s a wonderful linking of illusion to glamour, and a good way to think about it. |
Được rồi, Vấn đề Ảo cảm. Giờ đây tôi nghĩ đó là một sự nối kết tuyệt vời giữa ảo tưởng và ảo cảm, và là một cách tốt để suy nghĩ về nó. |
|
The Problem of Glamour is found when the mental illusion |
Vấn đề Ảo cảm được tìm thấy khi ảo tưởng của thể trí |
|
mistakes in mentality, misinterpretations, incomplete understanding |
những sai lầm trong trí tuệ, những diễn dịch sai, sự thấu hiểu chưa trọn vẹn |
|
is intensified by desire [5e] |
bị dục vọng làm cho mạnh thêm [5e] |
|
when mental illusion is intensified by desire. |
khi ảo tưởng của thể trí bị dục vọng làm cho mạnh thêm. |
|
let’s look at World War II, Germany who was the epitome[4] of glamour in that great struggle, like Japan was Maya, and Italy was Illusion. Germany thinks it’s the master race, that the Germans are the master race, and that’s a huge misinterpretation. It’s based on an ignorant interpretation of occult leaning[5] books, because they were really into occultism those people. Then, what happens? They get really enthusiastic about that idea. They get so enthusiastic that it becomes almost an obsession. They desire to force the master race upon humanity and to be the rulers above over all of all humanity, and to be rid of those who demonstrate impurity. Now, of course there’s a huge irony in the air, and it all comes from the fact that people don’t really see themselves all that clearly. If you look at Hitler, if you look at Goebbels, if you look at… what’s his name. Oh, I’ve got his face in front of me, that other guy that was the head of the SS,[6] and anyway, none of them look like the master race, but they all looked like rather poor specimens of human beings 😊. So, they were so disgusted with themselves on a certain inner level that they projected that disgust on others, and sought to eliminate, Himmler, that’s what was. They fought to eliminate others, and this is amazingly how it can work that the very people who are undergoing kind of the purification needed like second initiation, and but they don’t know how to do it, and they completely misinterpret it, and they don’t understand psychology or their own projection. They see it all outwardly, and they project upon others their own extreme self-hatred and dissatisfaction. |
Hãy nhìn Thế chiến thứ hai: Đức là điển hình của ảo cảm trong cuộc đấu tranh lớn ấy, giống như Nhật là ảo lực, và Ý là ảo tưởng. Đức nghĩ đó là giống dân chủng tộc thượng đẳng, rằng người Đức là chủng tộc thượng đẳng—đó là một sự diễn dịch sai khổng lồ. Nó dựa trên sự diễn dịch ngu dốt các sách có khuynh hướng về huyền bí học, bởi vì những người ấy thật sự rất say mê huyền bí học. Rồi điều gì xảy ra? Họ trở nên cực kỳ hăng hái với ý tưởng đó. Họ hăng hái đến mức nó gần như trở thành một ám ảnh. Họ khao khát áp đặt chủng tộc thượng đẳng lên nhân loại và trở thành kẻ cai trị ở trên toàn thể nhân loại, và loại bỏ những ai biểu lộ sự “ô uế”. Giờ đây, dĩ nhiên có một sự mỉa mai lớn trong không khí, và tất cả đến từ sự thật rằng con người không thật sự nhìn thấy chính mình rõ ràng đến thế. Nếu bạn nhìn Hitler, nếu bạn nhìn Goebbels, nếu bạn nhìn… người kia tên gì nhỉ. À, tôi thấy mặt y ngay trước mắt—người khác là thủ lĩnh SS—và dù sao đi nữa, không ai trong số họ trông giống chủng tộc thượng đẳng, mà họ trông giống những mẫu người khá tồi của nhân loại. Vì vậy, họ ghê tởm chính mình ở một mức độ nội tâm nào đó đến mức họ phóng chiếu sự ghê tởm ấy lên người khác, và tìm cách loại trừ—Himmler, đúng rồi, đó là tên y. Họ chiến đấu để loại trừ người khác; và thật đáng kinh ngạc là nó có thể vận hành như vậy: chính những người đang trải qua kiểu thanh lọc cần thiết như lần điểm đạo thứ hai, nhưng họ không biết cách làm, và họ hoàn toàn diễn dịch sai nó, và họ không hiểu tâm lý học hay sự phóng chiếu của chính họ. Họ nhìn mọi thứ ra bên ngoài, và họ phóng chiếu lên người khác sự tự căm ghét cực độ và sự bất mãn của chính họ. |
|
So, it’s been said why is it that so many of the leaders of the Nazi group don’t look like the great Aryan. They look rather peculiar. Why is that? , and that’s probably the psychological dynamic. |
Vì vậy, người ta đã nói: vì sao nhiều lãnh tụ của nhóm Quốc xã lại không trông giống người Arya vĩ đại? Họ trông khá kỳ quặc. Vì sao vậy? Và đó có lẽ là động lực tâm lý. |
|
So, anyway, |
Vì vậy, dù sao đi nữa, |
|
mental illusion is intensified by desire. |
ảo tưởng của thể trí bị dục vọng làm cho mạnh thêm. |
|
that’s what happened in Germany |
đó là điều đã xảy ra ở Đức |
|
What the Theosophist calls “kama-manas” produces glamour. It is illusion on the astral plane. [5f] |
Điều mà nhà Thần Triết gọi là “kama-manas” tạo ra ảo cảm. Đó là ảo tưởng trên cõi cảm dục. [5f] |
|
Now, what is kama-manas? Kama is pure sentiency, and Manas is pure thought, but they are somehow conflated. They are moved together in such a way that you have what Carl Jung calls feeling toned thoughts, and thought toned feelings. You have an inseparable combination of the two, and you can’t get them clear. So, there’s no true objective thinking when you are subject to kama-manas, however necessary a stage it may be as we progress. |
Vậy kama-manas là gì? Kama là cảm thụ thuần tuý, và manas là tư tưởng thuần tuý, nhưng chúng bằng cách nào đó bị trộn lẫn. Chúng bị kéo lại với nhau theo cách khiến bạn có điều mà Carl Jung gọi là những tư tưởng nhuốm sắc cảm xúc, và những cảm xúc nhuốm sắc tư tưởng. Bạn có một sự kết hợp bất khả phân của cả hai, và bạn không thể làm cho chúng rõ ràng. Vì vậy, không có tư duy khách quan chân thật khi bạn bị chi phối bởi kama-manas, dù đó có thể là một giai đoạn cần thiết khi chúng ta tiến bộ. |
|
50::01 |
50::01 |
|
So, and use the definition of glamor, and it’s a really a different angle, isn’t it? |
Vì vậy, và dùng định nghĩa về ảo cảm—đó thật sự là một góc nhìn khác, phải không? |
|
It is illusion on the astral plane |
Đó là ảo tưởng trên cõi cảm dục |
|
the misinterpretation has been dragged down, your erroneous thoughts have been dragged down, your limited mind as it sees the world has been presenting you with interpretations, those really want you put all your desire nature into it, and you create a huge distortion which varies from the truth. So, when we start to use the fifth ray as master DK would have us do, we’ve learned how to separate kama from manas, and by the time we reach the 3rd initiation with the ajna center prominent, and the fifth ray of Venus prominent, and the fourth ray of Mercury bringing in the intuition, we have learned to separate kama from manas, and overall we are not subject to the human types of glamors. Now, who knows what other types of higher glamors they may be. |
sự diễn dịch sai đã bị kéo xuống; những tư tưởng sai lầm của bạn đã bị kéo xuống; thể trí hữu hạn của bạn khi nhìn thế giới đã trình ra cho bạn những diễn dịch; rồi bạn thật sự đặt toàn bộ bản chất dục vọng của mình vào đó, và bạn tạo ra một sự bóp méo khổng lồ lệch khỏi chân lý. Vì vậy, khi chúng ta bắt đầu dùng cung năm như Chân sư DK muốn chúng ta làm, chúng ta học cách tách kama khỏi manas; và đến khi chúng ta đạt lần điểm đạo thứ ba với trung tâm ajna nổi bật, và cung năm của Sao Kim nổi bật, và cung bốn của Sao Thủy mang trực giác vào, chúng ta đã học cách tách kama khỏi manas, và nhìn chung chúng ta không bị chi phối bởi các loại ảo cảm của nhân loại. Giờ đây, ai biết được còn những loại ảo cảm cao hơn nào khác. |
|
So, have we been able to keep them from occurring simultaneously and corrupting each other, and as Roberto Assagioli said, “Try to look at yourself the way a scientist would look”, he says, “Don’t react, just study, as if you were studying objectively some specimen of something else. Don’t react, don’t get involved with what you see. Just take note of what it is”. |
Vì vậy, chúng ta đã có thể ngăn chúng xảy ra đồng thời và làm bại hoại lẫn nhau chưa? Và như Roberto Assagioli đã nói: “Hãy cố nhìn chính mình như một nhà khoa học sẽ nhìn”, ông nói, “Đừng phản ứng, chỉ nghiên cứu, như thể bạn đang nghiên cứu một cách khách quan một mẫu vật của một điều gì đó khác. Đừng phản ứng, đừng dính vào điều bạn thấy. Chỉ ghi nhận nó là gì”. |
|
Now, that kind of attitude that fifth ray attitude coming through this ajna center and its fifth ray is going to go a long way towards separating manas from kama, and we all have to do that, and we will be given the rays to do that. All right |
Giờ đây, kiểu thái độ ấy—thái độ cung năm đi qua trung tâm ajna này và cung năm của nó—sẽ đi rất xa trong việc tách manas khỏi kama; và tất cả chúng ta đều phải làm điều đó, và chúng ta sẽ được ban các cung để làm điều đó. Được rồi. |
|
The Problem of Maya is really the same as the above, plus the intense activity produced when both glamour and illusion are realised on etheric levels {“Unthinking emotional mess. It is that vital unthinking emotional MESS (yes, brother of old, that is the word I seek to use) in which the majority of human beings seem always to live. {Obviously the incoming of the seventh ray will do much to bring order and rhythm to what was otherwise a MESS. |
Vấn đề Ảo lực thật ra cũng giống như trên, cộng thêm hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả hai ảo cảm và ảo tưởng được nhận biết trên các cõi phụ dĩ thái {“Mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ. Đó là mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đầy sinh lực (vâng, huynh đệ của ngày xưa, đó là từ ngữ mà tôi muốn dùng) mà đa số nhân loại dường như luôn sống trong đó. {Hiển nhiên sự tuôn vào của cung bảy sẽ làm nhiều việc để đem trật tự và nhịp điệu vào điều vốn dĩ là một MỚ HỖN ĐỘN. |
|
The Dweller on the Threshold is illusion-glamour-maya, as realised by the physical brain and recognised as that which must be overcome. {Note: Recognition It is the bewildering thoughtform with which the disciple is confronted, when he seeks to pierce through the accumulated glamour of the ages and find his true home in the place of light. {It is the summation of opposition in the lower worlds. |
Kẻ Chận Ngõ là ảo tưởng−ảo cảm−ảo lực, như được nhận thức bởi bộ óc hồng trần và được công nhận là điều phải được vượt qua. {Lưu ý: Sự công nhận. Đó là hình tư tưởng gây hoang mang mà vị đệ tử phải đối diện, khi y tìm cách xuyên thủng ảo cảm tích tụ từ bao đời và tìm thấy ngôi nhà đích thực của mình ở nơi chốn ánh sáng. {Đó là sự tổng hợp của mọi đối kháng trong các cõi thấp. |
|
The above are necessarily only generalisations, and the result also of the activity of the analytical mind, but they serve to embody a part of the problem in words and to convey to your minds a definite thoughtform of what we shall later discuss in detail. |
Những điều trên tất nhiên chỉ là các khái quát, và cũng là kết quả của sự hoạt động của thể trí phân tích, nhưng chúng phục vụ để thể hiện một phần của vấn đề bằng ngôn từ và đưa đến thể trí bạn một hình tư tưởng rõ rệt về những gì mà chúng ta sẽ bàn bạc kỹ hơn sau này. |
|
The Problem of Maya is really the same as the above, plus the intense activity produced when both glamour and illusion are realised on etheric levels. [6a] |
Vấn đề Ảo lực thật ra cũng giống như trên, cộng thêm hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả hai ảo cảm và ảo tưởng được nhận biết trên các cõi phụ dĩ thái. [6a] |
|
Intense activity, there you go, produced when both glamour and illusion are realized on etheric levels. You want to do something about it. Now, you have a thought. You intensely desire for that thoughts to be followed. What are you going to do? So, the doing occurs on the etheric level. |
Hoạt động mãnh liệt—đó đây rồi—được tạo ra khi cả hai ảo cảm và ảo tưởng được nhận biết trên các cõi phụ dĩ thái. Bạn muốn làm điều gì đó về nó. Giờ đây, bạn có một ý nghĩ. Bạn khao khát mãnh liệt để ý nghĩ ấy được thực hiện. Bạn sẽ làm gì? Vì vậy, việc làm xảy ra trên cõi dĩ thái. |
|
Now, really I would just have to call it this amusing definition of Maya—it is that vital unthinking emotional mess. Now, the minute. It’s unthinking, your habit of nature is involved. You just do it. It’s an automatism. When you look at your astrological chart, you want to find out how Maya is operating? Take a look at your moon because it will give you all those automatic systems which you are dragging over from other lives at which you’ve had created in this life. You don’t think about it. You just do it. So, sometimes you really have to observe what you do because so many of our actions are unconscious. They’re just on the habitual nature. |
Thật ra tôi chỉ phải gọi đó là định nghĩa thú vị này về ảo lực—đó là mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đầy sinh lực. Giờ đây, ngay lập tức: nó thiếu suy nghĩ; thói quen bản chất của bạn can dự vào. Bạn cứ làm. Đó là một sự tự động. Khi bạn nhìn vào lá số chiêm tinh của mình, bạn muốn biết ảo lực đang vận hành ra sao ư? Hãy nhìn Mặt Trăng của bạn, vì nó sẽ cho bạn thấy tất cả những hệ thống tự động mà bạn đang kéo theo từ các kiếp khác và đã tạo ra trong kiếp này. Bạn không nghĩ về nó. Bạn cứ làm. Vì vậy, đôi khi bạn thật sự phải quan sát điều mình làm, bởi vì rất nhiều hành động của chúng ta là vô thức. Chúng chỉ ở trên bản chất thói quen. |
|
It is that vital unthinking emotional MESS (yes, brother of old, that is the word I seek to use) in which the majority of human beings seem always to live [6b] |
Đó là mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đầy sinh lực (vâng, huynh đệ của ngày xưa, đó là từ ngữ mà tôi muốn dùng) mà đa số nhân loại dường như luôn sống trong đó [6b] |
|
Not a not sanguine interpretation of how we’re living our lives in a vital unthinking emotional mess, and that’s why the very first veil which has to be lifted on the etheric plane is called the Veil of Impulsion. It’s just like you start doing things before you think. |
Không phải là một cách diễn giải lạc quan về cách chúng ta đang sống đời mình trong một mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đầy sinh lực; và đó là vì sao tấm màn đầu tiên phải được vén lên trên cõi dĩ thái được gọi là Tấm Màn Xung Động. Nó giống như bạn bắt đầu làm mọi thứ trước khi bạn nghĩ. |
|
, but the amazing thing about the fifth ray is that it thinks before it does, and that it is what can separate all of these automatic systems from each other, and bring them under control. Now, look we’re coming into a seventh ray, aren’t we? And for 2500 years, the seventh ray will accompany the energies of the sign Aquarius. So, we all know that the seventh ray is the ray of order and the rhythm, and obviously you need order and rhythm to get rid of the mess. Some people say, we’re entering the greater Age of Aquarius, and so we will have the seventh ray for twenty five thousand years. I don’t know that it is legitimate to make that jump, but at least for approximately 2500 years, we have that seventh ray to help us straighten out that unthinking emotional mess. When you get the sixth ray and the third ray together, you have a real problem, because there’s that impulse do it now, and the third ray becomes chaotic and disorganized at first, and then you really are involved in chaos, emotional and activational. |
Nhưng điều đáng kinh ngạc về cung năm là nó nghĩ trước khi làm; và đó là điều có thể tách tất cả những hệ thống tự động này khỏi nhau, và đem chúng vào dưới sự kiểm soát. Giờ đây, hãy nhìn: chúng ta đang bước vào một cung bảy, phải không? Và trong 2500 năm, cung bảy sẽ đồng hành cùng các năng lượng của dấu hiệu Bảo Bình. Vì vậy, tất cả chúng ta đều biết cung bảy là cung của trật tự và nhịp điệu, và hiển nhiên bạn cần trật tự và nhịp điệu để loại bỏ mớ hỗn độn. Có người nói chúng ta đang bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình lớn hơn, và vì vậy chúng ta sẽ có cung bảy trong hai mươi lăm ngàn năm. Tôi không biết việc nhảy vọt ấy có hợp lệ không, nhưng ít nhất trong khoảng 2500 năm, chúng ta có cung bảy ấy để giúp chúng ta chỉnh đốn mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đó. Khi bạn có cung sáu và cung ba cùng nhau, bạn có một vấn đề thật sự, bởi vì có xung lực “làm ngay bây giờ”, và cung ba lúc đầu trở nên hỗn loạn và vô tổ chức, rồi bạn thật sự bị cuốn vào hỗn loạn—cảm xúc và hoạt động. |
|
Now, the Dweller on The Threshold. What is it? He’s summarizing these things. |
Giờ đây, Kẻ Chận Ngõ. Nó là gì? Ngài đang tổng kết những điều này. |
|
The Dweller on the Threshold is illusion-glamour-maya, as realised by the physical brain and recognised as that which must be overcome. [6c] |
Kẻ Chận Ngõ là ảo tưởng−ảo cảm−ảo lực, như được nhận thức bởi bộ óc hồng trần và được nhận thức như là điều phải được vượt qua. [6c] |
|
Now, notice there’s a word here, and that word is recognition. Recognition because by the time we reach this point, we’re seeing this whole kind of integrated personality, and how it is an obstacle to soul life. |
Giờ đây, hãy lưu ý có một từ ở đây, và từ đó là “nhận thức”. Nhận thức, bởi vì đến lúc chúng ta đạt đến điểm này, chúng ta đang thấy toàn bộ loại phàm ngã tích hợp này, và cách nó là một chướng ngại đối với đời sống linh hồn. |
|
It is the bewildering thoughtform |
Đó là hình tư tưởng gây hoang mang |
|
And very, very old because we drag it over anciently from all of our past mistakes, |
và rất, rất cổ xưa, bởi vì chúng ta kéo nó theo từ xa xưa từ mọi sai lầm quá khứ của mình, |
|
with which the disciple is confronted, when he seeks to pierce through |
mà vị đệ tử phải đối diện, khi y tìm cách xuyên thủng |
|
noticeable piercing, that the Horn of the unicorn, the fifth ray, the first ray, piercing, the laser beam. |
hãy lưu ý sự xuyên thủng: sừng của kỳ lân, cung năm, cung một, sự xuyên thủng, tia laser. |
|
when he seeks to pierce through the accumulated glamour of the ages and find his true home in the place of light. [6d] |
khi y tìm cách xuyên thủng ảo cảm tích tụ từ bao đời và tìm thấy ngôi nhà đích thực của mình ở nơi chốn ánh sáng. [6d] |
|
So, it’s a more integrated factor. That’s been around a long time and is filled with habituation which come into this life. The word is skandhas, skandhas. We come into this life with many skandhas or tendencies which we have not resolved from the past, and they are habitual, and we don’t even give them a second thought. That’s just how we are, that’s how I am, and these things have to be seen, has to be analyzed, have to be pierced through, have to be dissipated, if we’re going to live the true life of the soul. |
Vì vậy, đó là một yếu tố tích hợp hơn. Nó đã tồn tại rất lâu và đầy những thói quen được mang vào kiếp này. Từ đó là skandha, skandha. Chúng ta bước vào kiếp này với nhiều skandha hay khuynh hướng mà chúng ta chưa giải quyết từ quá khứ, và chúng là thói quen, và chúng ta thậm chí không nghĩ lần thứ hai về chúng. “Đó là tôi, đó là cách tôi là”, và những điều này phải được thấy, phải được phân tích, phải được xuyên thủng, phải được làm cho tan rã, nếu chúng ta muốn sống đời sống chân thật của linh hồn. |
|
All right, so that DK has given us then a few better definitions. |
Được rồi, vì vậy Chân sư DK đã cho chúng ta một vài định nghĩa tốt hơn. |
|
The above are necessarily only generalisations, and the result also of the activity of the analytical mind, |
Những điều trên tất nhiên chỉ là các khái quát, và cũng là kết quả của sự hoạt động của thể trí phân tích, |
|
Which is not complete truth but at least you’ve analyzed something with real clarity, reasonable clarity |
điều không phải là chân lý trọn vẹn, nhưng ít nhất bạn đã phân tích một điều gì đó với sự rõ ràng thật sự, sự rõ ràng hợp lý, |
|
but they serve to embody a part of the problem in words and to convey to your minds a definite thoughtform of what we shall later discuss in detail. [6e] |
nhưng chúng phục vụ để thể hiện một phần của vấn đề bằng ngôn từ và đưa đến thể trí bạn một hình tư tưởng rõ rệt về những gì mà chúng ta sẽ bàn bạc kỹ hơn sau này. |
|
Now, |
Bây giờ, |
|
… |
… |
|
He gives us some of the distortions of the truth, Glamour rooted in pride, Maya in denial of the phenomenal world, illusion yes partially as misinterpretation and I offered the idea of fragmentation, and the Dweller on The Threshold really much more than this being evil thought-form that stands between you and the portal of initiation, and it’s all dependent on the distortions of the human mind. And I wanted to say, write it down here, that ‘Mind is the Slayer of the Real’. , it’s also the Revealer of the Real, Master DK tells us. But at first, lower concrete mind has created all of these kinds of conditions or a decent exacerbates them. We can’t go to a caveman or somebody in middle of Lemurian times who has not much mind and say mind cause your mayavic condition. We can’t go to a person who’s living in Atlantis highly emotional not to thinking, and say mind has caused your glamour. But mind does exacerbate these situations for the modern Aryan fifth root race disciple. |
Ngài cho chúng ta một số sự bóp méo của chân lý: ảo cảm bắt rễ trong kiêu hãnh; ảo lực trong sự phủ nhận thế giới hiện tượng; ảo tưởng—vâng—một phần như là sự diễn dịch sai; và tôi đã nêu ý tưởng về sự phân mảnh; và Kẻ Chận Ngõ thật sự còn hơn thế nhiều so với việc là một hình tư tưởng xấu xa đứng giữa bạn và cổng điểm đạo; và tất cả đều tuỳ thuộc vào những sự bóp méo của trí tuệ con người. Và tôi muốn nói, ghi lại ở đây, rằng “Cái trí là kẻ sát hại cái Thực”. Nhưng nó cũng là kẻ vén lộ cái Thực, Chân sư DK nói với chúng ta. Nhưng lúc đầu, hạ trí cụ thể đã tạo ra tất cả những loại tình trạng này hoặc ít nhất làm chúng trầm trọng thêm. Chúng ta không thể đến với một người thời hang động hay ai đó giữa thời Lemuria, người không có nhiều trí tuệ, và nói rằng thể trí gây ra tình trạng ảo lực của bạn. Chúng ta không thể đến với một người sống ở Atlantis, rất phân cực cảm xúc, không suy nghĩ nhiều, và nói rằng thể trí đã gây ra ảo cảm của bạn. Nhưng thể trí quả thật làm trầm trọng thêm những tình trạng này đối với đệ tử của giống dân gốc thứ năm Arya hiện đại. |
|
… |
… |
|
So, now friends, questions, thoughts, glamour, illusion, Maya, the dweller on the threshold, that’s this pause for a minute. |
Vì vậy, giờ đây các bạn, câu hỏi, suy nghĩ: ảo cảm, ảo tưởng, ảo lực, Kẻ Chận Ngõ—đó là chỗ chúng ta dừng lại một phút. |
|
Now, if you stand back as it were you the soul-in-incarnation and you inwardly look at your etheric physical, your astral, your lower mental, your whole personality, do you sense the operation of any of these factors as an inhibition to greater soul living? Just try to take a look and see what you see, because remember most people, he says, are living in that vital unthinking emotional mess. That’s not too optimistic a statement and the whole of humanity’s consciousness is shrouded in glamor, and we’re just about misinterpreting everything in terms of what the concrete mind does to reality, fragmenting it and denying unity, and then we have this thing you’ve created over the many centuries, and if we get too stuck in the personality, we just don’t become the soul-in-incarnation and we don’t learn how to live as a soul which we have to do if we’re going to be harmless who lives consciously as a soul whose nature is Love, whose method is Inclusiveness. These are factors that the Dweller prevents. get into the habit of trying to see yourself scientifically as if from a distance, and without reacting. When we react, that’s going to be a sign that something’s going on there in the emotional nature which needs to be dealt with. It doesn’t mean you’re cold like a stone, but the idea of losing your emotional control and reacting to something. I do it all the time. It means something has to be solved in there, and probably that trigger is not even known to us what it really is. |
Giờ đây, nếu bạn lùi lại, như thể bạn là linh hồn đang lâm phàm, và bạn nhìn vào bên trong: thể xác dĩ thái của bạn, thể cảm dục của bạn, hạ trí của bạn, toàn bộ phàm ngã của bạn—bạn có cảm nhận sự vận hành của bất kỳ yếu tố nào trong số này như một sự ngăn trở đối với đời sống linh hồn lớn hơn không? Hãy thử nhìn và xem bạn thấy gì, bởi vì hãy nhớ: đa số con người, Ngài nói, đang sống trong mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đầy sinh lực đó. Đó không phải là một phát biểu quá lạc quan; và toàn bộ tâm thức của nhân loại bị che phủ trong ảo cảm; và chúng ta gần như đang diễn dịch sai mọi thứ theo cách mà hạ trí cụ thể làm đối với thực tại—phân mảnh nó và phủ nhận sự hợp nhất; rồi chúng ta có thứ mà bạn đã tạo ra qua nhiều thế kỷ; và nếu chúng ta bị kẹt quá nhiều trong phàm ngã, chúng ta không trở thành linh hồn đang lâm phàm, và chúng ta không học cách sống như một linh hồn—điều chúng ta phải làm nếu chúng ta muốn vô tổn hại, sống một cách hữu thức như một linh hồn có bản chất là Bác ái, có phương pháp là tính bao gồm. Đó là những yếu tố mà Kẻ Chận Ngõ ngăn cản. Hãy tập thói quen cố nhìn chính mình một cách khoa học như thể từ xa, và không phản ứng. Khi chúng ta phản ứng, đó sẽ là dấu hiệu rằng có điều gì đó đang diễn ra trong bản chất cảm xúc cần được xử lý. Điều đó không có nghĩa bạn lạnh như đá, nhưng ý tưởng ở đây là việc mất kiểm soát cảm xúc và phản ứng trước một điều gì đó. Tôi luôn luôn thực hành điều đó. Nó có nghĩa là có điều gì đó phải được giải quyết ở bên trong, và có lẽ cái “cò súng” ấy thậm chí chúng ta cũng không biết thật sự nó là gì. |
|
So, then he does go on and he says illusion is a soul activity, and glamour is intensified illusion plus desire, and Maya is a vital unthinking emotional mess, and the Dweller is a huge thing and it’s an accumulation, and these are generalizations. But we have to see are they operating in our life. |
Vì vậy, rồi Ngài tiếp tục và Ngài nói: ảo tưởng là một hoạt động của linh hồn; ảo cảm là ảo tưởng được tăng cường cộng với dục vọng; ảo lực là một mớ hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ đầy sinh lực; và Kẻ Chận Ngõ là một thứ khổng lồ và là một sự tích tụ; và đây là những khái quát. Nhưng chúng ta phải thấy: chúng có đang vận hành trong đời sống của chúng ta không. |
|
… |
… |
|
[76:32] |
[76:32] |
|
There is a usefulness to kama-manas, and interestingly enough, Venus is associated with kama-manas, and Sirius is also, and there’s something about kama-manas which is useful to the artistic temperament. I think that in the field of the arts, people are putting kama-manas manners to use in a very constructive way, and there’s something there as well that the fourth ray [of all rays] seems to be the ray which somehow combines the kama and the manas, and it can be used, if you’re not looking for exact purity of definition and utter pristine mentality as the fifth ray sometimes does, or just pure emotion. Then under the fourth ray, we can use that kama manasic field in a constructive manner, the raising things to the throat center and then beyond, and even to the ajna center. In other words, we put things together in a useful manner rather than in a way that distorts. So, I think, I go back to my life, I used to be an opera director long ago, and I think I was using kama-manas all the time under the 4th ray—try this blend of, how does it feel, what’s happening, what’s the drama… And it was useful. But there comes a time also, I think, as one moves, as we all will one day, to the third initiation, and the pure fifth ray that we really have to separate these things, and see what is this pure mentality untainted by bias. Because always there seems to be in the astral nature some form of bias, some leaning this way, leaning that way, and not seeing things in proportion. And of course, Libra will come in and help us with that as well. |
Có một tính hữu dụng nơi kama-manas, và điều thú vị là Sao Kim có liên hệ với kama-manas, và Sirius cũng vậy; và có điều gì đó nơi kama-manas hữu ích cho khí chất nghệ sĩ. Tôi nghĩ rằng trong lĩnh vực nghệ thuật, người ta đang đem các phương thức kama-manas ra sử dụng theo một cách rất xây dựng; và ở đó cũng có điều này nữa: cung bốn [trong mọi cung] dường như là cung nào đó kết hợp kama và manas; và nó có thể được dùng, nếu các bạn không tìm sự thuần khiết tuyệt đối của định nghĩa và một trạng thái trí tuệ hoàn toàn tinh khiết như cung năm đôi khi vẫn làm, hoặc chỉ thuần cảm xúc. Khi ở dưới cung bốn, chúng ta có thể dùng trường trí-cảm ấy theo một cách xây dựng: nâng các sự việc lên trung tâm cổ họng rồi vượt lên nữa, thậm chí đến trung tâm ajna. Nói cách khác, chúng ta kết hợp các sự việc theo một cách hữu ích, thay vì theo một cách làm méo mó. Vì vậy, tôi nghĩ, tôi quay lại đời mình: ngày xưa tôi từng là một đạo diễn opera, và tôi nghĩ tôi đã dùng kama-manas suốt thời gian dưới cung bốn—thử sự pha trộn này: cảm giác ra sao, điều gì đang diễn ra, kịch tính là gì… Và điều đó hữu ích. Nhưng cũng có một thời điểm, tôi nghĩ, khi người ta tiến lên—như tất cả chúng ta rồi sẽ tiến lên một ngày nào đó—đến lần điểm đạo thứ ba, và đến cung năm thuần khiết, thì chúng ta thật sự phải tách các điều ấy ra, và xem thế nào là trí tuệ thuần khiết không bị nhuốm bởi thiên kiến. Bởi vì dường như trong bản chất cảm dục luôn có một dạng thiên kiến nào đó, một sự nghiêng về phía này, nghiêng về phía kia, và không thấy sự việc theo đúng tỉ lệ. Và dĩ nhiên, Thiên Bình cũng sẽ đến và giúp chúng ta về điều đó. |
|
80::00 |
80::00 |
|
1. So, when you play a role in a play, when you work with it, somehow you also maintain a certain separation, is that correct? |
1. Vậy, khi bạn đóng một vai trong một vở kịch, khi bạn làm việc với nó, bằng cách nào đó bạn cũng duy trì một sự tách biệt nhất định, có đúng không? |
|
Yes, it seems to me that with creative imagination, you are not necessarily the victim of what you feel. You are apportioning your feelings for the best dramatic artistic, a beautiful effect, the mind is always the supervisor. I’m reminded of certain actors. I think there was an actor back in the 19th century called Edwin Booth, and he was a famous actor. He might have even been a relative of John Wilkes Booth, and he once got totally into his part so he did not maintain a discriminative analysis of what he was doing while he was doing it, and he thought it was the most wonderful thing to be totally that character. And he was later told that it was one of his cursed performances, because he did not maintain that critical objectivity, that “I” upon all that was transpiring, it is exacting. So, I think we have the observation as and later DK tells us that the fourth ray type will in its following of the urge to the creative life, will be involved in a certain kind of occults meditation which will produce an entirely new art, not based only on emotional impulse, however, that impulse is regulated. So, we have new things coming up in our new Renaissance, and I think, with a fourth ray it has to be very flexible. You have to be able to change your position all the time. Its ray ruled by Mercury, and so you have to be in the feelings, out of the feelings. At the same time you keep that eye on whatever you’re doing. So, that there is the critique operating and people say, then you can’t be authentic. But I think that in fact you can be, and that’s the way to do it. So, those are possible it seems to me and the 4th ray is very important for blending these two in a constructive manner rather than a distorting manner. |
Vâng, đối với tôi dường như rằng với sự tưởng tượng sáng tạo, bạn không nhất thiết là nạn nhân của điều bạn cảm thấy. Bạn đang phân bổ các cảm xúc của mình để đạt hiệu quả kịch tính–nghệ thuật tốt nhất, một hiệu quả đẹp; trí tuệ luôn là người giám sát. Tôi nhớ đến một số diễn viên. Tôi nghĩ có một diễn viên vào thế kỷ 19 tên là Edwin Booth, và ông là một diễn viên nổi tiếng. Ông thậm chí có thể là họ hàng của John Wilkes Booth, và có lần ông hoàn toàn nhập vào vai đến mức ông không duy trì một sự phân tích phân biện về điều mình đang làm trong khi đang làm; và ông nghĩ rằng thật tuyệt vời khi hoàn toàn là nhân vật ấy. Về sau, người ta nói với ông rằng đó là một trong những màn trình diễn bị nguyền rủa của ông, bởi vì ông đã không duy trì được tính khách quan phê phán ấy, cái “tôi” đứng trên tất cả những gì đang diễn ra; điều đó đòi hỏi nghiêm ngặt. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta có sự quan sát này, và về sau Chân sư DK bảo chúng ta rằng kiểu người cung bốn, trong việc đi theo thôi thúc hướng tới đời sống sáng tạo, sẽ dính líu vào một loại tham thiền huyền bí nào đó, và điều ấy sẽ tạo ra một nghệ thuật hoàn toàn mới, không chỉ dựa trên xung lực cảm xúc—dẫu xung lực ấy được điều tiết. Vì vậy, có những điều mới đang xuất hiện trong thời Phục Hưng mới của chúng ta, và tôi nghĩ rằng với cung bốn, nó phải rất linh hoạt. Bạn phải có khả năng thay đổi lập trường của mình mọi lúc. Cung ấy do Sao Thủy cai quản, và vì vậy bạn phải ở trong cảm xúc, rồi ra khỏi cảm xúc. Đồng thời, bạn vẫn để mắt đến bất cứ điều gì bạn đang làm. Như vậy, có những lời chỉ trích, và người ta nói rằng như thế thì bạn không thể chân thực. Nhưng tôi nghĩ rằng thật ra bạn có thể, và đó là cách để làm. Vì vậy, điều đó dường như là khả hữu; và cung bốn rất quan trọng cho việc pha trộn hai điều này theo một cách xây dựng thay vì một cách làm méo mó. |
|
Question: on the soul and egoic Lotus. On the screen there is the soul reincarnation is learning, to put its lights through the mind and brain. So say we are in the middle of the development of the egoic Lotus, it is maybe developed in the middle, few petals opened, and many of them still to be developed. |
Câu hỏi: về linh hồn và Hoa Sen Chân Ngã. Trên màn hình có nói rằng linh hồn đang nhập thể đang học cách đưa ánh sáng của nó xuyên qua thể trí và bộ não. Vậy giả sử chúng ta đang ở giữa sự phát triển của Hoa Sen Chân Ngã, có lẽ nó phát triển ở mức trung gian, một vài cánh hoa đã mở, và nhiều cánh hoa vẫn còn phải được phát triển. |
|
2. When we say in meditation we are trying to align with the soul, are we allowing making alignment with the Egoic Lotus or beyond? |
2. Khi chúng ta nói rằng trong tham thiền chúng ta đang cố gắng chỉnh hợp với linh hồn, thì chúng ta đang cho phép tạo sự chỉnh hợp với Hoa Sen Chân Ngã hay vượt lên trên? |
|
The Solar Angel is a high initiate which has in a way fallen twice. It has been to Sirius for training. It has fallen back on to the cosmic physical plane. So the Monad that is the solar angel, all beings are essentially Monads, has received its training and has fallen. |
Thái dương Thiên Thần là một điểm đạo đồ cao cấp, theo một nghĩa nào đó đã sa ngã hai lần. Ngài đã đến Sirius để được huấn luyện. Ngài đã sa ngã trở lại cõi hồng trần vũ trụ. Vì vậy, Chân Thần vốn là thái dương thiên thần—mọi hữu thể về bản chất đều là các Chân Thần—đã nhận sự huấn luyện của nó và đã sa ngã. |

|
, so it’s already been on the cosmic astral plane, that’s the trip to Sirius takes place, and cosmic astral levels about which master DK says he doesn’t even know, he hasn’t been there. |
Vì vậy ngài đã từng ở cõi cảm dục vũ trụ; chuyến đi đến Sirius diễn ra ở đó; và các tầng cảm dục vũ trụ mà Chân sư DK nói rằng Ngài thậm chí cũng không biết, Ngài chưa từng đến đó. |
|
, then there’s a second fall, but then there is a projection from the fullness of the Solar Angel as it can exist on the buddhic plane into the higher mental plane, and I call that projection the Angel of Presence, at least it’s as much of the Solar Angel as is deemed fit to project to merge with the consciousness of the down flowing Monad. |
Rồi có một lần sa ngã thứ hai; nhưng rồi có một sự phóng chiếu từ sự viên mãn của Thái dương Thiên Thần—như nó có thể hiện hữu trên cõi Bồ đề—vào cõi thượng trí; và tôi gọi sự phóng chiếu ấy là Thiên Thần của Hiện Diện, ít nhất đó là phần của Thái dương Thiên Thần được xem là thích hợp để phóng chiếu nhằm dung hợp với tâm thức của Chân Thần đang tuôn chảy xuống. |
|
Now, let me see if I can try to be clear about that… this is it, and we assume that the Solar Angel is in its fullness as far as it can be full ,on the cosmic physical plane, is located as a buddhic being, a Heart of Fiery Love and all that, so many wonderful love names, will that be on the intuitional plane. But it projects a fragment of itself on to the higher mental plane, and works in the matter of the higher mental plane to create the egoic Lotus, and the thing that the Solar Angel does in projection “having pervaded the universe with a fragment of myself I remain”. So there’s this pervasive ray or fragment of the Solar Angel which is coming to the higher mental plane. It blends the human Monadic consciousness. |
Bây giờ, để xem tôi có thể cố gắng nói rõ điều đó… đây là điều ấy, và chúng ta giả định rằng Thái dương Thiên Thần, trong sự viên mãn của nó—trong chừng mực nó có thể viên mãn—trên cõi hồng trần vũ trụ, được định vị như một hữu thể Bồ đề, một Trái Tim của Bác Ái Rực Lửa và tất cả những điều đó, bao nhiêu danh xưng bác ái tuyệt vời; điều đó sẽ ở trên cõi trực giác. Nhưng nó phóng chiếu một mảnh của chính ngài xuống cõi thượng trí, và làm việc trong vật chất của cõi thượng trí để tạo ra Hoa Sen Chân Ngã; và điều mà Thái dương Thiên Thần làm trong sự phóng chiếu là: “sau khi đã thấm khắp vũ trụ bằng một mảnh của chính mình, Ta vẫn ở lại”. Vì vậy có một tia thấm khắp hay một mảnh của Thái dương Thiên Thần đang đi đến cõi thượng trí. Nó dung hợp tâm thức Chân Thần của con người. |
|
Now, all Monads are one and there’s only one Monad and all that, but because of mind in the universe, we divide things. So, from the level here of the Monad is a projection of that which the Monad is, into the higher mental plane, and here’s the Solar Angel off to the side and is projecting a fragment of itself into the higher mental plane, and these two consciousnesses blend, the Monadic consciousness and the Solar Angelic projection blend on the higher mental plane, and when we say we’re contacting the soul, the first thing we’re going to contact is that ray of the Solar Angel which is projected onto the higher mental plane. Later, we make contact as we approach the fourth initiation, the greater fullness of the Solar Angel which is the non projected part, and which will help with the destruction of the causal body. |
Bây giờ, mọi Chân Thần là một và chỉ có một Chân Thần, và tất cả những điều đó; nhưng vì có thể trí trong vũ trụ, chúng ta phân chia mọi thứ. Vì vậy, từ cấp độ ở đây của Chân Thần có một sự phóng chiếu của điều mà Chân Thần là, vào cõi thượng trí; và đây là Thái dương Thiên Thần ở bên cạnh, đang phóng chiếu một mảnh của chính ngài vào cõi thượng trí; và hai tâm thức này dung hợp—tâm thức Chân Thần và sự phóng chiếu của Thái dương Thiên Thần dung hợp trên cõi thượng trí—và khi chúng ta nói rằng chúng ta đang tiếp xúc với linh hồn, điều đầu tiên chúng ta sẽ tiếp xúc là tia của Thái dương Thiên Thần được phóng chiếu xuống cõi thượng trí. Về sau, khi chúng ta tiến gần lần điểm đạo thứ tư, chúng ta tiếp xúc với sự viên mãn lớn hơn của Thái dương Thiên Thần, tức phần không được phóng chiếu, và phần ấy sẽ giúp cho việc hủy diệt thể nguyên nhân. |
|
So, the egoic lotus is simply a structure, a form through which the human Monad at that stage of limitation can express on the higher mental plane, and through which the Solar Angel and its ray can make available to the consciousness of the Monad, certain qualities, abilities, perceptions, Isness, whatever you want to call it, that it has and that the Monad in projection coming downward needs. |
Vì vậy, Hoa Sen Chân Ngã đơn giản chỉ là một cấu trúc, một hình tướng, qua đó Chân Thần của con người—ở giai đoạn giới hạn ấy—có thể biểu lộ trên cõi thượng trí; và qua đó Thái dương Thiên Thần và cung của nó có thể làm cho tâm thức của Chân Thần tiếp cận được một số phẩm tính, năng lực, tri giác, tính Hiện Hữu—bất cứ các bạn muốn gọi nó là gì—mà nó có, và mà Chân Thần trong sự phóng chiếu đi xuống cần đến. |
|
So you’ve got a blend of consciousness as going on here in the egoic Lotus, the solar angelic ray and the Monadic extension. And then I call it the angel of the presence because then it kind of gets out of the way and reveals the Monad from which the original consciousness came. So, I just have some words for it, but obviously it’s something we have to go through on the higher planes as we approach the fourth initiation really understand. Is that a little clarifying? |
Vì vậy, trong Hoa Sen Chân Ngã đang diễn ra một sự pha trộn tâm thức: cung thái dương thiên thần và Chân Thần-trong-sự-mở-rộng. Và rồi tôi gọi nó là Thiên Thần của Hiện Diện, bởi vì khi ấy nó như thể lùi sang một bên và mặc khải Chân Thần, từ đó tâm thức nguyên thủy đã đến. Vì vậy, tôi chỉ có vài từ để gọi nó; nhưng hiển nhiên đó là điều chúng ta phải đi qua trên các cõi cao khi tiến gần lần điểm đạo thứ tư thì mới thật sự hiểu. Như vậy có làm rõ thêm một chút không? |

|
3. Can you Elaborate On Mind and Brain. Is mind equal to mental? |
3. Bạn có thể triển khai rõ hơn về thể trí và bộ não không. Thể trí có bằng trí tuệ không? |
|
90::00 |
90::00 |
|
In my book on the seventh rays, Tapestry of the Gods, I’ve got a whole bunch of functions of the human mind, what it does, how it may relate, how it may do those functions when it’s ruled by different rays. I can’t remember all that, but basically the mind is going to take things apart and put them back together in the simplest way. It’s going to focus intensely on some small aspect of possible perception, clarify that perception, and relate to another clarified perception, and then Mercury will art with lights, and will bring together those two factors, contributing to the bringing together of all the pieces of the jigsaw until it represents the archetype that we find on higher planes. |
Trong cuốn sách của tôi về bảy cung, Tấm Thảm của Thượng đế, tôi có nêu cả một loạt chức năng của thể trí con người—nó làm gì, nó có thể liên hệ ra sao, nó có thể thực hiện các chức năng ấy như thế nào khi bị các cung khác nhau cai quản. Tôi không nhớ hết, nhưng về cơ bản, thể trí sẽ tháo rời các sự việc và lắp chúng lại theo cách đơn giản nhất. Nó sẽ tập trung mãnh liệt vào một khía cạnh nhỏ của tri giác khả hữu, làm rõ tri giác ấy, và liên hệ nó với một tri giác khác đã được làm rõ; rồi Sao Thủy sẽ dệt bằng ánh sáng, và sẽ kết hợp hai yếu tố ấy, góp phần gom lại tất cả các mảnh của bức tranh ghép cho đến khi nó biểu thị nguyên mẫu mà chúng ta tìm thấy trên các cõi cao. |
|
So, you say it elaborates, what is the meaning of the word elaborate? I’m trying to give you maybe my interpretation. It is not equal to mental, right? |
Vậy, bạn nói nó triển khai, nghĩa của từ triển khai là gì? Tôi đang cố gắng đưa ra có lẽ cách hiểu của tôi. Nó không bằng trí tuệ, đúng không? |
|
The mind and mental, it just depends on what we mean by the word. The concrete mind is mental, the higher mind is mental, the buddhic plane of pure reason is called the plane of transcendental mind, the highest function of Mercury, it’s mental too but in a higher way. And then we get to the atmic and we discovered that the atmic is the third plane from above ,and because it’s the number three, it also is mental. It’s the unification of mind and will, and when you look for a planet that unifies mind and will, we’ve got Saturn, and Saturn does rule that atmic plane and it is a mental planet. So, I guess we have to figure out what mental, how we’re going to assign the meaning, expresses. |
Thể trí và trí tuệ—điều đó chỉ tùy thuộc vào việc chúng ta muốn nói gì bằng từ ấy. Trí cụ thể là trí tuệ, thượng trí là trí tuệ; cõi Bồ đề của lý trí thuần khiết được gọi là cõi của Trí Tuệ Siêu Việt; chức năng cao nhất của Sao Thủy—điều đó cũng là trí tuệ nhưng theo một cách cao hơn. Rồi chúng ta đến cõi atma và khám phá rằng atma là cõi thứ ba tính từ trên xuống; và vì nó là số ba, nó cũng là trí tuệ. Đó là sự hợp nhất của thể trí và ý chí; và khi bạn tìm một hành tinh hợp nhất thể trí và ý chí, chúng ta có Sao Thổ; và Sao Thổ cai quản cõi atma, và nó là một hành tinh trí tuệ. Vì vậy, tôi đoán chúng ta phải xác định xem “trí tuệ” sẽ được gán nghĩa như thế nào, và nó biểu đạt điều gì. |
|
Let me read it again. The mind is that function of our brain that expresses physical astral and mental, but if you press in and arranges and rearranges and links up and separates, it does all those things, piece by piece, separating, clarifying, linking… check in my book Tapestry Of The Gods about the various functions of the minds. I can’t even tell you where it is. It’s been a while but it’s there. |
Để tôi đọc lại. Thể trí là chức năng của bộ não chúng ta biểu đạt hồng trần, cảm dục và trí tuệ; nhưng nó thúc ép vào, và sắp xếp rồi sắp xếp lại, và liên kết rồi tách rời; nó làm tất cả những điều ấy, từng mảnh một: tách ra, làm rõ, liên kết… hãy xem trong sách Tấm Thảm của Thượng đế của tôi về các chức năng khác nhau của thể trí. Tôi thậm chí không thể nói với các bạn nó ở chỗ nào. Lâu rồi nhưng nó có ở đó. |
|
It is not equal to mental right? and that I said, it depends on how we define mental, and then maybe more than elaborates, I mean expresses. So, look, the mind is the great arranger, when chaos prevails and everything is in inconstant relationship with everything else, moving too fast to form any stable relationship, mind enters, under the law of fixation, and fixates the various items which have to be related to each other until eventually in this chaotic World of Becoming we begin to approximate the archetypes of the World of Being through the exercise of mind having rearranged the chaos, so that it reflects the archetype. And the seventh ray, while it’s a balance ray, it’s mental emotional physical, but it really gets in there to rearrange the chaos. I guess that’s all I can say for the moment about that. |
Nó không tương đương với trí tuệ, đúng không? Và như tôi đã nói, điều đó tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa “trí tuệ”; và rồi có lẽ hơn là “triển khai”, ý tôi là “biểu đạt”. Vậy thì, hãy xem: thể trí là kẻ sắp đặt vĩ đại; khi hỗn loạn ngự trị và mọi thứ ở trong những mối liên hệ bất định với mọi thứ khác, chuyển động quá nhanh để hình thành bất kỳ mối liên hệ ổn định nào, thể trí bước vào—dưới định luật cố định—và cố định các yếu tố khác nhau vốn phải được liên hệ với nhau, cho đến khi cuối cùng, trong Thế Giới Đang Trở Thành hỗn loạn này, chúng ta bắt đầu xấp xỉ các nguyên mẫu của Thế Giới Bản Thể, nhờ sự vận dụng thể trí đã sắp xếp lại hỗn loạn, để nó phản chiếu nguyên mẫu. Và cung bảy, tuy là một cung quân bình—trí tuệ, cảm xúc, hồng trần—nhưng nó thật sự đi vào đó để sắp xếp lại hỗn loạn. Tôi đoán đó là tất cả những gì tôi có thể nói lúc này về điều đó. |
|
If you’re referring to Tapestry of the Gods Volume I, I think it’s page 345 where you have the attributes of the mental field. |
Nếu bạn đang nói đến Tấm Thảm của Thượng đế, Tập I, tôi nghĩ đó là trang 345, nơi bạn có các thuộc tính của trường trí tuệ. |
|
I think it’s got some things written a long time, I still think, even though I’ve changed my mind, that means that they’re seeing a value in there. I think I used a lot of fifth ray writing that book. I don’t think I have a fifth ray mind per se, but I think I somehow appropriated that ray and used it analytically, and then trying to put everything back together. The mind separates and puts together, separates and puts together 😊. |
Tôi nghĩ tôi đã viết một số điều từ rất lâu trước đây; tôi vẫn nghĩ—dù tôi đã đổi ý—rằng điều đó có nghĩa là họ thấy có một giá trị ở trong đó. Tôi nghĩ tôi đã dùng khá nhiều cung năm khi viết cuốn sách ấy. Tôi không nghĩ tôi có một thể trí cung năm, xét chính nó, nhưng tôi nghĩ bằng cách nào đó tôi đã chiếm dụng cung ấy và dùng nó một cách phân tích, rồi cố gắng ghép mọi thứ lại với nhau. Thể trí tách ra và ghép lại, tách ra và ghép lại. |
[1] The Masters brought before the general public by such movements as the I AM movement are a travesty of the reality. The Masters portrayed in the many theosophical movements (since the time of H.P.B.) are not distinguished by intelligence and show little judgment in the choice of those whom the organisations claim are initiates or important members of the Hierarchy. UAB 256
Các Chân sư được những phong trào như phong trào I AM giới thiệu trước công chúng nói chung là một sự xuyên tạc nghiêm trọng đối với thực tại. Những Chân sư được mô tả trong nhiều phong trào Thông Thiên Học (kể từ thời của H. P. B.) không thể hiện đặc tính của trí tuệ và cho thấy rất ít sự phán đoán đúng đắn trong việc lựa chọn những người mà các tổ chức ấy tuyên bố là các vị điểm đạo hay là những thành viên quan trọng của Thánh Đoàn. UAB 256
[2] ngớ ngẩn, lố bịch
[3] chật hẹp, tù túng, không được tự do
[4] bản tóm tắt, bản cô lại, bản toát yếu
[5] khuynh hướng, thiên hướng
[6] Himmler