LETTER VIII.—ACCESS TO THE MASTERS VIA MEDITATION – THƯ VIII.—TIẾP CẬN CÁC CHÂN SƯ QUA THAM THIỀN
|
1. Who are the Masters? |
1. Các Chân sư là ai? |
|
2. What access to a Master entails:— |
2. Việc tiếp cận một Chân sư đòi hỏi những gì:— |
|
a. From the standpoint of the pupil? |
a. Từ quan điểm của môn sinh? |
|
b. From the standpoint of the Master? |
b. Từ quan điểm của Chân sư? |
|
3. Methods of approach to the Master in meditation. |
3. Các phương pháp tiếp cận Chân sư trong tham thiền. |
|
4. The effect of this access on the three planes. [254] |
4. Tác động của sự tiếp cận này trên ba cõi. [254] |
|
Chart SOLAR AND PLANETARY HIERARCHIES [255] |
Biểu đồ CÁC THÁNH ĐOÀN THÁI DƯƠNG VÀ HÀNH TINH [255] |
|
Key to Diagram of Solar and Planetary Hierarchies [256] |
Chú giải Sơ đồ các Thánh đoàn Thái dương và Hành tinh [256] |
|
September 12th, 1920. |
Ngày 12 tháng 9 năm 1920. |
The search for the goal. – Tìm kiếm mục tiêu.
|
Today it may be possible to touch somewhat upon the subject of the Masters and how They may be approached through meditation. This I know is a subject close and dear to your heart, as it is to the heart of all those who earnestly follow the light within. I seek to handle this subject with you in such a way that at the close of this letter the Masters will be more real to you than ever before; the significance of approach to Them be better comprehended and the method more simplified; and the effect of contact with Them will be so demonstrated in the life that its immediate and practical attainment will be earnestly pursued. Let us, therefore, as we have always done, divide our subject into certain heads and divisions:— |
Hôm nay, có lẽ chúng ta có thể đề cập phần nào đến chủ đề các Chân sư và cách tiếp cận Các Ngài qua tham thiền. Tôi biết đây là một chủ đề gần gũi và thân thiết với tâm các bạn, cũng như với tâm của tất cả những ai tha thiết đi theo ánh sáng bên trong. Tôi tìm cách cùng các bạn bàn về chủ đề này sao cho, khi kết thúc bức thư, các Chân sư sẽ trở nên chân thực với các bạn hơn bao giờ hết; thâm nghĩa của việc tiếp cận Các Ngài sẽ được thấu hiểu rõ hơn và phương pháp sẽ đơn giản hơn; tác động của việc tiếp xúc với Các Ngài sẽ biểu hiện rõ trong đời sống đến mức các bạn tha thiết theo đuổi việc đạt được điều ấy ngay và trong thực tiễn. Vì vậy, như chúng ta vẫn luôn làm, hãy chia chủ đề thành một số đề mục và phần:— |
|
1. Who are the Masters? |
1. Các Chân sư là ai? |
|
2. What does access to Them entail:— |
2. Việc tiếp cận Các Ngài đòi hỏi những gì:— |
|
a. From the standpoint of the pupil? |
a. Từ quan điểm của môn sinh? |
|
b. From the standpoint of the Master? |
b. Từ quan điểm của Chân sư? |
|
3. Methods of approach to the Masters through meditation. |
3. Các phương pháp tiếp cận các Chân sư qua tham thiền. |
|
4. The effect of this access on the three planes. |
4. Tác động của sự tiếp cận này trên ba cõi. |
|
Everywhere throughout the whole world is felt the urge that drives a man to seek out someone who, for him, embodies the ideal. Even those who do not admit the existence of the Masters seek some ideal, and then visualise that ideal as embodied in some form on the physical plane. They picture themselves, perhaps, as the exponents [257] of ideal action, or visualise some great philanthropist, some superlative scientist, some notable artist or musician, as embodying their supreme conception. The human being,—simply because he is himself fragmentary and incomplete—has always this urge within himself to seek other and greater than himself. It is this that drives him back to the centre of his being, and it is this that forces him to take the path of return to the All-Self. Ever, throughout the aeons, does the Prodigal Son arise and go to his Father, and always latent within him is the memory of the Father’s home and the glory there to be found. But the human mind is so constituted that the search for light and for the ideal is necessarily long and difficult. “Now we see through a glass darkly, but then face to face”; now we catch glimpses through the occasional windows we pass in our ascension of the ladder, of other and greater Beings than ourselves; They hold out to us helping hands, and call to us in clarion tones to struggle bravely on if we hope to stand where They are now standing. |
Khắp nơi trên toàn thế giới đều có thể cảm nhận sự thôi thúc khiến con người tìm kiếm một người hiện thân cho lý tưởng của mình. Ngay cả những người không thừa nhận sự tồn tại của các Chân sư cũng tìm kiếm một lý tưởng nào đó, rồi hình dung lý tưởng ấy hiện thân trong một hình tướng nào đó trên cõi hồng trần. Có lẽ họ hình dung chính mình là những người thể hiện [257] hành động lý tưởng, hoặc hình dung một nhà từ thiện vĩ đại, một nhà khoa học xuất chúng, một nghệ sĩ hay nhạc sĩ nổi tiếng hiện thân cho quan niệm cao nhất của họ. Con người—chỉ vì bản thân y còn phân mảnh và chưa hoàn chỉnh—luôn có sự thôi thúc bên trong để tìm kiếm một người khác cao cả hơn mình. Chính điều này đưa y trở về trung tâm bản thể của mình, và chính điều này buộc y bước lên Con Đường Trở Về với Đại Ngã Toàn Thể. Suốt các thời đại, Người Con Hoang Đàng luôn đứng dậy và trở về với Cha mình, và trong y luôn tiềm tàng ký ức về ngôi nhà của Cha cùng vinh quang có thể tìm thấy nơi đó. Nhưng trí tuệ con người có cấu tạo khiến cuộc tìm kiếm ánh sáng và lý tưởng tất yếu dài lâu và khó khăn. “Giờ đây chúng ta nhìn qua một tấm gương mờ, nhưng khi ấy sẽ mặt đối mặt”; giờ đây, qua những cửa sổ thỉnh thoảng đi ngang khi leo lên chiếc thang, chúng ta thoáng thấy những Đấng khác cao cả hơn mình; Các Ngài đưa bàn tay trợ giúp và cất tiếng gọi vang rõ, thôi thúc chúng ta dũng cảm tiếp tục phấn đấu nếu hy vọng đứng được nơi Các Ngài hiện đang đứng. |
|
We sense beauties and glories surrounding us that as yet we cannot revel in; they flit into our vision, and we touch the glory at a lofty moment only again to lose the contact and to sink back again into the murky gloom that envelopes. But we know that outside and further on is something to be desired; we learn also the mystery that that external wonder can only be contacted by withdrawing within, till the centre of consciousness is found that vibrates in tune with those dimly realised wonders, and with those radiant Souls Who call Themselves our Elder Brothers. Only by trampling on the external sheaths that veil and hide the inner centre do we achieve the goal, and find the Ones we seek. Only by the domination of all forms, and the bringing of those forms under the rule of the God within, can we find the God in all, for it is only the [258] sheaths in which we move upon the plane of being that hide from us our inner God, and that shut us off from Those in Whom the God transcends all outer forms. |
Chúng ta cảm nhận những vẻ đẹp và vinh quang bao quanh mà hiện giờ chưa thể đắm mình trong đó; chúng thoáng lướt qua tầm nhìn, và trong một khoảnh khắc cao cả, chúng ta chạm đến vinh quang, rồi lại mất sự tiếp xúc và chìm trở lại vào bóng tối mịt mùng bao phủ. Nhưng chúng ta biết rằng ở bên ngoài và xa hơn có điều đáng khát khao; chúng ta cũng học được điều huyền nhiệm rằng chỉ có thể tiếp xúc với kỳ quan bên ngoài ấy bằng cách rút vào bên trong, cho đến khi tìm thấy trung tâm tâm thức rung động hoà điệu với những kỳ quan còn được nhận biết mơ hồ ấy và với những Linh Hồn rạng ngời tự gọi mình là các Huynh Trưởng của chúng ta. Chỉ bằng cách giẫm lên những lớp vỏ bên ngoài che phủ và giấu kín trung tâm bên trong, chúng ta mới đạt mục tiêu và tìm thấy các Đấng mình tìm kiếm. Chỉ bằng cách chế ngự mọi hình tướng và đặt chúng dưới quyền cai quản của Thượng đế bên trong, chúng ta mới có thể tìm thấy Thượng đế trong tất cả, vì chỉ những [258] lớp vỏ mà chúng ta mang khi di chuyển trên cõi hiện tồn mới che giấu Thượng đế bên trong khỏi chúng ta và ngăn cách chúng ta với những Đấng mà nơi Các Ngài, Thượng đế vượt trên mọi hình tướng bên ngoài. |
|
The great Initiate, Who voiced the words I quote, added still other words of radiant truth: “Then shall we know even as we are known.” The future holds for each and all who duly strive, who unselfishly serve and occultly meditate, the promise of knowing Those Who already have full knowledge of the struggler. Therein lies the hope for the student of meditation; as he struggles, as he fails, as he perseveres, and as he laboriously reiterates from day to day the arduous task of concentration and of mind control, there stand on the inner side Those Who know him, and Who watch with eager sympathy the progress that be makes. |
Vị Điểm đạo đồ vĩ đại đã nói những lời Tôi trích dẫn còn thêm những lời chân lý rạng ngời khác: “Bấy giờ chúng ta sẽ biết, cũng như chúng ta được biết.” Tương lai hứa hẹn với mỗi người và tất cả những ai nỗ lực đúng đắn, phụng sự vô kỷ và tham thiền theo phương pháp huyền môn rằng họ sẽ biết những Đấng đã biết đầy đủ về người đang phấn đấu ấy. Chính trong đó có niềm hy vọng cho đạo sinh tham thiền; khi y phấn đấu, khi y thất bại, khi y kiên trì và ngày qua ngày nhọc nhằn lặp lại nhiệm vụ gian khó của sự tập trung và kiểm soát thể trí, ở phía bên trong có những Đấng biết y và dõi theo bước tiến của y với lòng cảm thông tha thiết. |
|
Forget not the earlier part of the Initiate’s remarks where he points out the way whereby the darkness is dispelled, and knowledge of the Great Ones is reached. He emphasises that only by love is the path of light and knowledge trodden. Why this emphasis upon love? Because the goal for all is love, and therein lies the merging. To put scientifically what is oft a nebulous sentiment, we might express it as follows:—It is by the attainment of the vibration which is analogous to the Ray of Love-Wisdom (the Divine Ray) that the Lords of Love are contacted, that the Masters of Compassion are known, and that the possibility of entering into the consciousnesses of the Great Ones and of all our brothers of whatsoever degree, becomes a fact in manifestation. |
Đừng quên phần đầu trong lời của vị Điểm đạo đồ, nơi Ngài chỉ ra con đường xua tan bóng tối và đạt đến sự hiểu biết về Các Đấng Cao Cả. Ngài nhấn mạnh rằng chỉ bằng tình thương mới có thể bước trên con đường ánh sáng và tri thức. Vì sao lại nhấn mạnh tình thương như vậy? Vì mục tiêu của tất cả là tình thương, và chính trong đó có sự hoà nhập. Để diễn đạt một cách khoa học điều thường chỉ là một tình cảm mơ hồ, chúng ta có thể nói như sau:—Chính nhờ đạt được rung động tương đồng với Cung Bác Ái – Minh Triết (Cung Thiêng Liêng), chúng ta tiếp xúc với các Chúa Tể của Tình Thương, biết đến các Chân sư Từ Bi, và khả năng đi vào tâm thức của Các Đấng Cao Cả cùng tất cả các huynh đệ của chúng ta, bất kể cấp độ nào, trở thành một sự kiện trong biểu hiện. |
|
This is the path to be trodden by one and all, and the method is meditation. The goal is perfect love and wisdom; the steps are the surmounting of subplane after subplane on all the three planes; the method is that of occult meditation; the reward is the continuous expansion [259] of consciousness that puts a man eventually en rapport with his own Ego, with other selves, with the waiting eager Master to Whom he is assigned, with fellow disciples and more advanced Initiates whom he may contact in that Master’s aura, till he finally contacts the One Initiator, is admitted into the Secret Place, and knows the mystery that underlies consciousness itself. |
Đây là con đường mà mỗi người và tất cả đều phải bước đi, và phương pháp là tham thiền. Mục tiêu là tình thương và minh triết hoàn hảo; các bước tiến là vượt qua từng cõi phụ trên cả ba cõi; phương pháp là tham thiền huyền môn; phần thưởng là sự mở rộng liên tục [259] của tâm thức, cuối cùng đưa con người vào sự giao cảm với Chân ngã của chính mình, với những bản ngã khác, với Chân sư đang tha thiết chờ đợi mà y được giao cho, với các đệ tử đồng môn và những Điểm đạo đồ tiến xa hơn mà y có thể tiếp xúc trong hào quang của Chân sư ấy, cho đến khi cuối cùng y tiếp xúc với Đấng Điểm đạo Duy Nhất, được nhận vào Nơi Bí Mật và biết điều huyền nhiệm nằm sau chính tâm thức. |
|
September 14th, 1920. |
Ngày 14 tháng 9 năm 1920. |
Who are the Masters? – Các Chân sư là ai?
|
It might be of value to us in our consideration of the subject of access to the Masters via meditation if we started with a few fundamental statements, dealing with the Masters and Their place in evolution. We will therefore take up our first point. We shall thus bring before the readers of these letters some idea as to Their status, Their comprehensive development, and Their methods of work. Needless to say, much that will follow will carry nothing new in import. The things that concern us most closely and the things that are to us the most familiar are oft the most frequently overlooked, and the most nebulous to our reasoning faculty. |
Trong khi xem xét vấn đề tiếp cận các Chân sư qua tham thiền, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta bắt đầu bằng một vài phát biểu căn bản về các Chân sư và vị trí của Các Ngài trong tiến hoá. Vì vậy, chúng ta sẽ bàn đến điểm thứ nhất. Qua đó, chúng ta sẽ giúp độc giả của những bức thư này có một ý niệm về địa vị, sự phát triển toàn diện và các phương pháp hoạt động của Các Ngài. Không cần phải nói, phần lớn những điều tiếp theo sẽ không mang ý nghĩa gì mới. Những điều liên quan mật thiết nhất đến chúng ta và quen thuộc nhất với chúng ta thường lại là những điều hay bị bỏ qua nhất, và mơ hồ nhất đối với năng lực suy luận của chúng ta. |
|
A Master of the Wisdom is One Who has undergone the fifth initiation. That really means that His consciousness has undergone such an expansion that it now includes the fifth or spiritual kingdom. He has worked His way through the four lower kingdoms:—the mineral, the vegetable, the animal and the human—and has, through meditation and service, expanded His centre of consciousness till it now includes the plane of spirit. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã trải qua lần điểm đạo thứ năm. Điều đó thực sự có nghĩa là tâm thức của Ngài đã mở rộng đến mức giờ đây bao gồm giới thứ năm, tức giới tinh thần. Ngài đã tiến qua bốn giới thấp:—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại—và qua tham thiền cùng phụng sự, đã mở rộng trung tâm tâm thức của Ngài cho đến khi giờ đây bao gồm cả cõi tinh thần. |
|
A Master of the Wisdom is One Who has effected the transfer of polarisation from the three atoms of the personal life—as included in the causal body—into the three atoms of the spiritual Triad. He is consciously [260] spirit-intuition-abstract mind, or atma-buddhi-manas, and this is not potentially but in full effective power, realised through experience. This has been brought about, as earlier said, through the process of meditation. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã chuyển dịch sự phân cực từ ba nguyên tử của đời sống cá nhân—nằm trong thể nguyên nhân—sang ba nguyên tử của Tam Nguyên Tinh Thần. Một cách hữu thức, Ngài là [260] tinh thần–trực giác–trí trừu tượng, hay atma–Bồ đề–manas; điều này không còn ở dạng tiềm năng mà đã trở thành quyền năng đầy đủ và hữu hiệu, được chứng nghiệm qua kinh nghiệm. Như đã nói trước đây, điều này thành tựu qua tiến trình tham thiền. |
|
A Master of the Wisdom is One Who has found not only the chord of the Ego, but the full chord of the Monad, and can ring the changes therefore at will upon all the notes from the lowest to that of the monadic. This means occultly that He has now developed the creative faculty, and can sound the note for each plane and build thereon. This power—first to discover the notes of the monadic chord and secondly to use those notes in constructive building—is first realised through meditation occultly performed, balanced by service lovingly administered. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã tìm ra không chỉ hợp âm của Chân ngã mà cả hợp âm trọn vẹn của Chân thần, và vì vậy có thể tuỳ ý biến tấu mọi âm điệu, từ âm thấp nhất đến âm điệu chân thần. Theo nghĩa huyền bí, điều này có nghĩa là giờ đây Ngài đã phát triển năng lực sáng tạo, có thể xướng âm điệu của mỗi cõi và kiến tạo trên nền tảng ấy. Quyền năng này—trước hết là khám phá các âm điệu trong hợp âm chân thần, rồi sử dụng những âm điệu ấy để kiến tạo—ban đầu được chứng nghiệm qua tham thiền theo phương pháp huyền bí, cân bằng bằng sự phụng sự thực hiện với tình thương. |
|
A Master of the Wisdom is He Who can wield the law in the three worlds and can dominate all that evolves on those planes. By learning the laws of mind through the practice of meditation, He expands the laws of mind till they embrace the laws of the Universal Mind as demonstrated in lower manifestation. The Laws of Mind are mastered in meditation. They are applied in the life of service which is the logical outcome of true knowledge. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng có thể vận dụng định luật trong ba cõi giới và làm chủ mọi sự tiến hoá trên những cõi ấy. Nhờ học các định luật của trí tuệ qua thực hành tham thiền, Ngài mở rộng các định luật ấy cho đến khi chúng bao hàm các định luật của Vũ Trụ Trí như biểu lộ trong sự biểu hiện thấp. Các Định luật của Trí tuệ được nắm vững trong tham thiền. Chúng được áp dụng trong đời sống phụng sự, vốn là kết quả hợp lý của tri thức chân chính. |
|
A Master of the Wisdom is He Who has passed out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. He has there graduated through its five grades and has transmuted lower mind into mind pure and unalloyed, has transmuted desire into intuition, and has irradiated His consciousness with the light of pure Spirit. The discipline of meditation is the only way in which this can be accomplished. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã rời Phòng Học Tập để bước vào Phòng Minh triết. Tại đó, Ngài đã hoàn tất năm cấp bậc của Phòng này và chuyển hoá Hạ trí thành trí thuần khiết, không pha tạp, chuyển hoá dục vọng thành trực giác, và soi rọi tâm thức của Ngài bằng ánh sáng của Tinh thần thuần khiết. Kỷ luật tham thiền là con đường duy nhất để thành tựu điều này. |
|
A Master of the Wisdom is He Who, through knowledge acquired by means of the five senses, has learnt [261] that synthesis exists and has merged those five senses into the synthetic two, that mark the point of attainment in the solar system. Through meditation the geometrical sense of proportion is adjusted, the sense of values is clearly recognised, and through that adjustment and recognition, illusion is dispelled and reality is known. The practice of meditation and the inner concentration there brought about awakens the consciousness to the value and true use of form. Thereby reality is contacted and the three worlds can no more ensnare. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng, qua tri thức thu nhận bằng năm giác quan, đã biết [261] rằng sự tổng hợp hiện hữu, và đã hợp nhất năm giác quan ấy thành hai giác quan tổng hợp, đánh dấu mức thành tựu trong hệ mặt trời. Qua tham thiền, Ý thức về tỉ lệ hình học được điều chỉnh, ý thức về các giá trị được nhận biết rõ ràng; qua sự điều chỉnh và nhận biết ấy, ảo tưởng được xua tan và thực tại được nhận biết. Việc thực hành tham thiền cùng sự tập trung nội tâm do đó tạo nên đánh thức tâm thức trước giá trị và cách sử dụng đúng đắn hình tướng. Nhờ vậy, Ngài tiếp xúc với thực tại và ba cõi giới không còn có thể giam hãm Ngài. |
|
A Master of the Wisdom is He Who knows the meaning of consciousness, of life, and of spirit. He can pass—by the line of least resistance—straight to the “bosom of His Father in Heaven”. The approach to the line of least resistance, the direct path, is found through the practice of meditation. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng biết ý nghĩa của tâm thức, của sự sống và của tinh thần. Ngài có thể đi thẳng—theo con đường ít trở ngại nhất—vào “lòng Cha Ngài trên Trời”. Qua thực hành tham thiền, Ngài tìm được lối tiếp cận con đường ít trở ngại nhất, con đường trực tiếp ấy. |
|
A Master of the Wisdom is He Who has resolved Himself from the five into the three, and from the three into the two. He has become the five-pointed star, and when that moment is reached He sees that star flash out above the One Initiator, and recognises it in those of equal place to His. He has sanctified (in the occult sense) the Quaternary, has used it as the foundation stone upon which to erect the Temple of Solomon. He has grown beyond that Temple itself and has come to recognise it as limitation. He has withdrawn Himself from its confining walls and has entered within the Triad. He has done this always by the occult method, that is, consciously and with full knowledge of each step taken. He learns the meaning of each confining form; then, He has assumed control and wielded the law upon the plane consistent with the form. He has then outgrown the form and has discarded it for other and higher forms. Thus He has progressed always by means of the sacrifice and death of the form. Always [262] it is recognised as imprisoning; always it must be sacrificed and must die so that the life within may speed ever on and up. The path of resurrection presupposes crucifixion and death, and then leads to the Mount whence Ascension may be made. In meditation the value of the life, and the confines of the form, can be appreciated and known, and by knowledge and service can the life be set free from all that limits and trammels. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã quy bản thân từ năm về ba, rồi từ ba về hai. Ngài đã trở thành ngôi sao năm cánh; khi đạt đến thời điểm ấy, Ngài thấy ngôi sao đó loé sáng phía trên Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và nhận ra nó nơi những Đấng có địa vị ngang hàng với Ngài. Ngài đã thánh hoá (theo nghĩa huyền bí) bộ bốn, dùng nó làm nền móng để dựng Đền Solomon. Ngài đã phát triển vượt khỏi chính Ngôi Đền ấy và nhận ra nó là một giới hạn. Ngài đã rút khỏi những bức tường giam hãm của nó và bước vào Tam nguyên tinh thần. Ngài luôn thực hiện điều này bằng phương pháp huyền bí, nghĩa là một cách hữu thức và với sự hiểu biết đầy đủ về từng bước đã đi. Ngài học ý nghĩa của mỗi hình tướng giam hãm; rồi Ngài nắm quyền kiểm soát và vận dụng định luật trên cõi tương ứng với hình tướng ấy. Sau đó, Ngài phát triển vượt khỏi hình tướng và từ bỏ nó để tiếp nhận những hình tướng khác cao hơn. Như vậy, Ngài luôn tiến bộ nhờ sự hi sinh và cái chết của hình tướng. Luôn luôn [262] hình tướng được nhận ra là một nhà tù; luôn luôn nó phải được hi sinh và phải chết để sự sống bên trong có thể không ngừng tiến nhanh về phía trước và lên cao. Con đường phục sinh đòi hỏi trước đó phải có sự đóng đinh và cái chết, rồi dẫn đến Ngọn Núi nơi có thể Thăng Thiên. Trong tham thiền, người ta có thể nhận biết và hiểu rõ giá trị của sự sống cùng những giới hạn của hình tướng; qua tri thức và phụng sự, sự sống có thể thoát khỏi mọi điều giới hạn và trói buộc nó. |
|
A Master of the Wisdom is One Who has chosen to stay upon our planet to help His fellowmen…. By that the term is understood by the general public who enquire All who attain the fifth Initiation are Masters of the Wisdom, but all stay not and work as servers of the race. They pass to other work of greater or equal importance. To the general public the significance of the term lies in the thought that They choose to stay and limit Themselves for the sake of men who are pressing forward on the wave of evolution. Through meditation has the Great One reached His goal and (which is a thing not so oft comprehended) through meditation, or the manipulation of thought matter, and by work on the mental bodies of the race, is the work carried on that aids the evolutionary process. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã chọn ở lại hành tinh chúng ta để giúp đỡ đồng loại của Ngài…. Đó là cách công chúng hiểu thuật ngữ này khi tìm hiểu. Tất cả những Đấng đạt lần điểm đạo thứ năm đều là Chân sư Minh Triết, nhưng không phải tất cả đều ở lại và hoạt động như những Đấng phụng sự nhân loại. Các Ngài chuyển sang những công việc khác có tầm quan trọng ngang bằng hoặc lớn hơn. Đối với công chúng, thâm nghĩa của thuật ngữ này nằm ở ý tưởng rằng Các Ngài chọn ở lại và tự giới hạn vì những con người đang tiến lên trên làn sóng tiến hoá. Qua tham thiền, Đấng Cao Cả đã đạt mục tiêu của Ngài; và qua tham thiền, tức sự vận dụng vật chất tư tưởng, cùng công việc trên các thể trí của nhân loại, Ngài tiếp tục thực hiện công việc hỗ trợ tiến trình tiến hoá—một điều không mấy khi được thấu hiểu. |
|
A Master of the Wisdom is He Who has taken the first initiation that links Him up with the greater Brotherhood on Sirius. As afore I have told you, He is an Initiate of the First Degree in the greater Lodge. He has attained an expansion of consciousness that has admitted Him into touch with the solar system in many of its departments. Now He has ahead of Him a vast reach of expansions that will eventually take Him beyond systemic consciousness into something far greater and wider. He has to begin to learn the rudiments of that cosmic meditation that will admit Him into a Consciousness past our conceivable surmise. [263] |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất liên kết Ngài với Huynh đệ Đoàn lớn hơn trên Sirius. Như Tôi đã nói với các bạn trước đây, Ngài là một Điểm đạo đồ Bậc Nhất trong Đoàn thể lớn hơn ấy. Ngài đã đạt một sự mở rộng tâm thức cho phép Ngài tiếp xúc với nhiều bộ phận của hệ mặt trời. Giờ đây, trước Ngài là một phạm vi mở rộng bao la, cuối cùng sẽ đưa Ngài vượt khỏi tâm thức hệ mặt trời vào một điều gì đó vĩ đại và rộng lớn hơn nhiều. Ngài phải bắt đầu học những điều căn bản của sự tham thiền vũ trụ ấy, vốn sẽ đưa Ngài vào một Tâm thức vượt ngoài mọi suy đoán mà chúng ta có thể hình dung. [263] |
|
A Master of the Wisdom is He Who can consciously function as part of the Heavenly Man to Whose Body He may belong. He understands the laws governing groups and group souls. He governs a group soul consciously Himself (a group on the path of return and formed of the lives of many sons of men) and He knows His place in the body systemic. He realises the centre in the Body of the Heavenly Man by means of which He and His group are kept in sympathetic vibration, and conducts His relationship with other groups in the same Body under certain definite laws. The value of meditation as a preparation for this activity will be realised by all thoughtful students, for meditation is the one means whereby the sense of separateness is transcended, and unity with one’s kind occultly comprehended. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng có thể một cách hữu thức hoạt động như một phần của Đấng Thiên Nhân mà Ngài có thể thuộc về Thân thể của Đấng ấy. Ngài thấu hiểu các định luật chi phối các nhóm và các Hồn nhóm. Chính Ngài cai quản một Hồn nhóm một cách hữu thức (một nhóm trên Con Đường Trở Về, gồm những sự sống của nhiều người con của nhân loại), và Ngài biết vị trí của mình trong thân thể hệ mặt trời. Ngài chứng nghiệm trung tâm trong Thân thể của Đấng Thiên Nhân mà qua đó Ngài và nhóm của Ngài được duy trì trong rung động tương cảm, và điều hành mối quan hệ với những nhóm khác trong cùng Thân thể ấy theo những định luật xác định. Mọi đạo sinh biết suy ngẫm sẽ nhận ra giá trị của tham thiền như một sự chuẩn bị cho hoạt động này, vì tham thiền là phương tiện duy nhất để vượt qua cảm thức chia rẽ và thấu hiểu, theo nghĩa huyền bí, sự hợp nhất với những sinh linh cùng loại. |
|
A Master of the Wisdom is He Who has entrusted to Him, by virtue of work accomplished, certain Words of Power. By means of these Words He wields the law over other evolutions than the human, and through them He co-operates with the activity aspect of the Logos. Thus He blends His consciousness with that of the third Logos. Through these Words He assists with the building work, and the cohesive manipulating endeavor of the second Logos, and comprehends the inner working of the law of gravitation for attraction and repulsion) that governs all the functions of the second aspect logoic. Through these Words He co-operates with the work of the first Logos, and learns, as He takes the sixth and seventh Initiations (which is not always done) the meaning of Will as applied in the system. These Words are imparted orally, and through clairvoyant faculty but must be found by the Initiate Himself, by the use of atma and as He attains atmic consciousness…. When atmic consciousness is developing by means of the intuition, the [264] Initiate can contact the stores of knowledge inherent in the Monad, and thus learn the Words of Power. This ability comes only after the application of the Rod of Initiation as wielded by the Lord of the World. Therefore by the higher stages of occult meditation does a Master of the Wisdom increase still further His knowledge. Not static is His consciousness, but daily embracing more. Daily does He apply Himself to further expansion. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng, nhờ công việc đã hoàn thành, được giao phó một số Quyền năng từ. Qua những Linh từ này, Ngài vận dụng định luật đối với những dòng tiến hoá khác ngoài nhân loại, và qua đó hợp tác với phương diện hoạt động của Thượng đế. Như vậy, Ngài hoà nhập tâm thức của Ngài với tâm thức của Thượng đế thứ ba. Qua những Linh từ này, Ngài trợ giúp công việc kiến tạo và nỗ lực vận dụng nhằm cố kết của Thượng đế thứ hai, đồng thời thấu hiểu sự vận hành bên trong của định luật hấp dẫn (hay hút và đẩy) chi phối mọi chức năng của phương diện thứ hai của Thượng đế. Qua những Linh từ này, Ngài hợp tác với công việc của Thượng đế thứ nhất, và khi trải qua các lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy (điều không phải lúc nào cũng diễn ra), Ngài học ý nghĩa của Ý Chí khi áp dụng trong hệ mặt trời. Những Linh từ này được truyền bằng lời nói và qua năng lực thông nhãn, nhưng chính Điểm đạo đồ phải tìm ra chúng bằng việc sử dụng atma và khi Ngài đạt tâm thức atma…. Khi tâm thức atma đang phát triển qua trực giác, [264] Điểm đạo đồ có thể tiếp xúc với những kho tri thức vốn có trong Chân thần, và nhờ đó học được các Quyền năng từ. Năng lực này chỉ xuất hiện sau khi Đức Chúa Tể Thế Giới sử dụng Thần Trượng Điểm đạo tác động lên Ngài. Vì vậy, qua các giai đoạn cao hơn của tham thiền huyền bí, một Chân sư Minh Triết tiếp tục gia tăng tri thức của Ngài. Tâm thức của Ngài không tĩnh tại, mà mỗi ngày đều bao hàm nhiều hơn. Mỗi ngày, Ngài đều nỗ lực mở rộng thêm. |
|
A Master of the Wisdom is One Who has earned the right through similarity of vibration to work with the Heads of the Hierarchy of this planet, and in conjunction with analogous Heads on two other planets connected with our chain. When He has taken other initiations He can contact and work in conjunction with all the seven Planetary Logoi, and not just the three in control of allied chains. The whole system can be embraced by Him, and His consciousness has expanded to include the entire objective solar system. |
Một Chân sư Minh Triết là Đấng, nhờ sự tương đồng rung động, đã giành được quyền làm việc với các Đấng đứng đầu Thánh đoàn của hành tinh này, và cùng với các Đấng đứng đầu tương ứng trên hai hành tinh khác liên kết với dãy của chúng ta. Khi trải qua những lần điểm đạo khác, Ngài có thể tiếp xúc và làm việc cùng cả bảy Hành Tinh Thượng Đế, chứ không chỉ ba Đấng cai quản những dãy liên kết. Ngài có thể bao quát toàn bộ hệ mặt trời, và tâm thức của Ngài đã mở rộng để bao gồm toàn thể hệ mặt trời khách quan. |
|
I could enumerate still other definitions, and further elucidate the matter for you, but that imparted today suffices. The point reached by a Master is high, but only relatively so, and you must not forget that when attained by Him it seems low indeed, for He measures it up with the vista expanding before Him. Each expansion of consciousness, each step upon the ladder, but opens before the Initiate another sphere to be embraced, and another step ahead to be taken; each initiation achieved but reveals still higher ones to be mastered, and never comes the point where the aspirant (be he an average man, an initiate, a Master, a Chohan, or a Buddha) can remain in a condition static, and is incapable of future progress. Even the Logos Himself aspires, and even the One to Whom He aspires reaches up to a Greater. [265] |
Tôi có thể liệt kê thêm những định nghĩa khác và làm sáng tỏ vấn đề hơn nữa cho các bạn, nhưng những điều truyền đạt hôm nay đã đủ. Điểm mà một Chân sư đạt tới là cao, nhưng chỉ cao theo nghĩa tương đối; các bạn không được quên rằng khi Ngài đã đạt tới, điểm ấy quả thực có vẻ thấp, vì Ngài đánh giá nó trong tương quan với viễn cảnh đang mở rộng trước mắt. Mỗi sự mở rộng tâm thức, mỗi bước trên chiếc thang, chỉ mở ra trước Điểm đạo đồ một khối cầu khác để bao quát và một bước nữa để tiến tới; mỗi lần điểm đạo đạt được chỉ mặc khải những lần điểm đạo còn cao hơn cần chinh phục, và không bao giờ có thời điểm người chí nguyện (dù là một người bình thường, một điểm đạo đồ, một Chân sư, một Chohan hay một vị Phật) có thể ở mãi trong trạng thái tĩnh tại, không còn khả năng tiến bộ thêm. Ngay cả chính Thượng đế cũng có khát vọng, và ngay cả Đấng mà Ngài hướng khát vọng tới cũng vươn lên một Đấng Cao Cả hơn. [265] |
|
What happens in the system transpires likewise on cosmic levels, and what is mastered here must be repeated on a vaster scale in the cosmos itself. In this thought lies inspiration and development and not despair or weariness. The reward that comes with each step forward, the delight that lies in increased comprehension, rewards the struggling aspirant in adequate fashion…. Tomorrow we will deal with the more practical side, that of the man who aims at this high calling. |
Những gì diễn ra trong hệ mặt trời cũng diễn ra tương tự trên các cấp độ vũ trụ, và những gì được nắm vững ở đây phải được lặp lại trên một quy mô rộng lớn hơn trong chính vũ trụ. Chính trong tư tưởng này có cảm hứng và sự phát triển, chứ không phải tuyệt vọng hay mệt mỏi. Phần thưởng đến với mỗi bước tiến, niềm vui trong sự thấu hiểu ngày càng tăng, đền đáp xứng đáng cho người chí nguyện đang nỗ lực…. Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến phương diện thực tiễn hơn, phương diện của con người hướng tới thiên chức cao cả này. |
|
September 16th, 1920. |
Ngày 16 tháng 9 năm 1920. |
|
September 16th, 1920. 1 pm. |
Ngày 16 tháng 9 năm 1920. 1 giờ chiều. |
|
I would like to take up with you for a few minutes, brother of mine, the question I see lying within your mental body anent the work of the Star [apparently the Order of the Star in the East founded by Theosophists to prepare the world for the new manifestation of Christ-Maitreya]. You seek to know wherein advancement can be made and whether the organisation of the Star holdeth within it latent possibilities. |
Huynh đệ của Tôi, Tôi muốn cùng bạn bàn trong vài phút về vấn đề mà Tôi thấy hiện diện trong thể trí của bạn, liên quan đến công việc của Ngôi Sao [dường như là Hội Ngôi Sao Phương Đông do những nhà Thông Thiên Học thành lập để chuẩn bị thế giới cho sự biểu hiện mới của Đức Christ–Di Lặc]. Bạn muốn biết có thể đạt tiến bộ ở phương diện nào, và liệu tổ chức Ngôi Sao có chứa đựng những khả năng tiềm tàng hay không. |
|
The value of the Star existeth as yet largely on mental levels. The aggregate of thought matter as moulded by the members of the Star is necessarily very large and to have so much mental matter attuned to that vibration was one of the main purposes the founders had in view. That purpose is in process of seeing fulfilment. Much matter is satisfactorily tinctured. One note hath not yet been struck and it must be sounded before the ideal back of the Star becometh a fact in objective manifestation. Not yet hath DESIRE for the Advent been adequately awakened. The Star work must be brought down to the astral plane before it can fulfil its object. Therefore the need now is to awaken all Star members to the necessity of longing for the Coming, and of arousing in others and their immediate environment a yearning to see the Great Lord come. |
Giá trị của Ngôi Sao cho đến nay vẫn chủ yếu hiện hữu trên các cấp độ trí. Tổng lượng vật chất tư tưởng do các thành viên của Ngôi Sao định hình tất nhiên rất lớn, và việc có được nhiều vật chất trí hòa nhịp với rung động ấy là một trong những mục đích chính mà những người sáng lập hướng tới. Mục đích ấy đang dần thành tựu. Nhiều vật chất đã nhuốm sắc một cách thỏa đáng. Một âm điệu vẫn chưa được ngân lên, và âm điệu ấy phải vang lên trước khi lý tưởng đằng sau Ngôi Sao trở thành hiện thực trong sự biểu hiện khách quan. Cho đến nay, DỤC VỌNG mong đợi sự Giáng Lâm vẫn chưa được khơi dậy đầy đủ. Công việc của Ngôi Sao phải được đưa xuống cõi cảm dục trước khi có thể hoàn thành mục tiêu của mình. Vì vậy, điều cần thiết lúc này là thức tỉnh mọi thành viên của Ngôi Sao để họ nhận thấy sự cần thiết phải khát khao sự Giáng Lâm, đồng thời khơi dậy trong những người khác và trong môi trường trực tiếp quanh họ niềm mong mỏi được thấy Chúa Tể Vĩ Đại đến. |
|
When this hath been done then cometh response to that desire and He will come. |
Khi điều này đã hoàn tất, sự đáp ứng với dục vọng ấy sẽ đến, và Ngài sẽ đến. |
|
Your work therefore is clear;—to make people earnestly desire to hear His voice, and to touch the hem of His garment. This can be done in 3 ways, which I commend to your earnest consideration. |
Vì vậy, công việc của các bạn đã rõ ràng;—làm cho mọi người tha thiết mong muốn nghe tiếng nói của Ngài và chạm vào gấu áo của Ngài. Có thể thực hiện điều này theo 3 cách mà Tôi đề nghị các bạn nghiêm túc suy xét. |
|
1. By arousing in people a realisation of the work He will do and the message He will give when He walks the earth. |
1. Bằng cách khơi dậy trong mọi người sự nhận biết về công việc Ngài sẽ thực hiện và thông điệp Ngài sẽ trao khi Ngài bước đi trên mặt đất. |
|
2. By emphasising the futility of a new order of things—economic, political and social—apart for a new ideal and a new incentive. This ideal and this incentive will be His theme when again He sounds a message forth that will be the objective of the new cycle. The period called Piscean (the era of gathering out the fishes, and training the fishermen) is to be superseded by the era of service to all, the slaking of the thirst by means of the universally attainable supply. That supply will be distributed by those who in the era just past have been gathered out and trained. Ponder on this. |
2. Bằng cách nhấn mạnh rằng một trật tự mới—về kinh tế, chính trị và xã hội—sẽ vô ích nếu thiếu một lý tưởng mới và một động lực mới. Lý tưởng này và động lực này sẽ là chủ đề của Ngài khi Ngài lại xướng lên một thông điệp sẽ là mục tiêu của chu kỳ mới. Thời kỳ gọi là Song Ngư (kỷ nguyên tập hợp những con cá và huấn luyện những người đánh cá) sẽ nhường chỗ cho kỷ nguyên phụng sự tất cả mọi người, làm dịu cơn khát bằng nguồn cung ứng mà mọi người đều có thể tiếp cận. Những người đã được tập hợp và huấn luyện trong kỷ nguyên vừa qua sẽ phân phối nguồn cung ứng ấy. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
3. By familiarising the non-illuminated world with the names and functions of Those He will bring with Him on the impetus of His Own vibration; by scattering broadcast the secret wisdom thuths, and —in the face of scorn and scoffing—demonstrating that for many of you the Masters, Their Names, activities, Their Persons and Their groups are facts, not dreams. This inversely involveth on your part therefore, and on the part of all who believe in the Hierarchy a definite aim and endeavour to contact, so as to be able to say with clarion tone: “I speak that I do KNOW and testify that I have seen.” |
3. Bằng cách giúp thế giới chưa được soi sáng làm quen với danh xưng và chức năng của Các Đấng mà Ngài sẽ đưa đến cùng Ngài nhờ xung lực rung động của chính Ngài; bằng cách phổ biến rộng rãi những chân lý minh triết bí truyền, và—trước sự khinh miệt và chế giễu—chứng tỏ rằng đối với nhiều người trong các bạn, các Chân sư, Danh Xưng, hoạt động, chính Các Ngài và các nhóm của Các Ngài là sự thật, chứ không phải những giấc mơ. Do đó, ngược lại, điều này đòi hỏi các bạn và tất cả những ai tin vào Thánh đoàn phải có một mục tiêu rõ ràng và nỗ lực tiếp xúc, để có thể tuyên bố bằng giọng vang dội: “Tôi nói điều Tôi thực sự BIẾT và làm chứng về điều Tôi đã thấy.” |
|
These are the 3 things to be done, brother of mine, and much must be accomplished by the pen, the tongue, and personal endeavour, by meetings, and by meditation. As regards your immediate problem, the work in H-, I would make no remark save to point out that the wise server is he whom utiliseth that which he hath, and from a small beginning developeth that which will be. |
Huynh đệ của Tôi, đây là 3 điều cần làm, và còn nhiều việc phải hoàn thành bằng ngòi bút, lời nói và nỗ lực cá nhân, qua những cuộc gặp gỡ và tham thiền. Về vấn đề trước mắt của bạn, công việc tại H-, Tôi không muốn đưa ra nhận xét nào ngoài việc chỉ ra rằng người phụng sự minh triết là người biết sử dụng những gì y có, và từ một khởi đầu nhỏ bé phát triển nên điều sẽ thành hiện thực. |
|
This sufficeth, brother of mine, and I think answereth the queries in your mind. |
Huynh đệ của Tôi, như vậy là đủ, và Tôi nghĩ đã giải đáp những thắc mắc của bạn. |
|
Let us now do the matter in hand, for the time is brief, and the work to be done much, specially in the mechanical preparation of the MSS [manuscripts]. |
Giờ đây, chúng ta hãy làm công việc đang cần làm, vì thời gian rất ngắn ngủi, và công việc phải làm còn rất nhiều, đặc biệt là trong việc chuẩn bị về mặt kỹ thuật các MSS [bản thảo]. |
What access to the Master entails. – Việc tiếp cận Chân sư bao hàm những gì.
|
We deal today with the second point in our eighth letter, and we have to look at the subject in two ways, briefly from the standpoint of the Master, and rather lengthily from the viewpoint of the pupil. |
Hôm nay chúng ta bàn đến điểm thứ hai trong lá thư thứ tám của chúng ta, và phải xem xét chủ đề này theo hai cách: ngắn gọn từ lập trường của Chân sư, và khá dài từ quan điểm của môn sinh. |
|
We have in these letters given a broad outline of the magnitude of the task that lies ahead of the man who proposes to attain. Much that has been written has no interest for the man who is only of average development, but chiefly concerns the man who has reached a specific point in evolution, and stands upon the Path of Probation. Much that might be said upon this matter has been covered in that earlier series I communicated to you. I seek not to cover the same ground here, but to deal more specifically with the internal relationship which exists between Master and pupil. |
Trong những lá thư này, chúng ta đã phác họa khái quát tầm vóc của nhiệm vụ đang chờ đợi người muốn đạt đến thành tựu. Phần lớn những điều đã viết không hấp dẫn người chỉ có mức phát triển trung bình, mà chủ yếu liên quan đến người đã đạt một điểm tiến hoá cụ thể và đang đứng trên Con Đường Dự Bị. Phần lớn những điều có thể nói về vấn đề này đã được đề cập trong loạt thư trước mà Tôi đã truyền đạt cho các bạn. Ở đây, Tôi không muốn lặp lại những nội dung ấy, mà muốn bàn cụ thể hơn về mối quan hệ nội tại giữa Chân sư và môn sinh. |
|
That relationship exists in four grades, in each of which a man progresses nearer to his Master. These four grades are as follows and cover the period wherein the man is under training until the time when he himself becomes an adept. |
Mối quan hệ ấy có bốn cấp độ, trong mỗi cấp độ, con người tiến gần hơn đến Chân sư của mình. Bốn cấp độ này như sau, bao quát giai đoạn con người được huấn luyện cho đến khi chính y trở thành một chân sư. |
|
They are:— |
Đó là:— |
|
a. The period wherein he is on probation. [266] |
a. Giai đoạn y ở địa vị dự bị. [266] |
|
b. The period wherein he is an accepted disciple. |
b. Giai đoạn y là một đệ tử được chấp nhận. |
|
c. The period wherein he is regarded as the Master’s intimate, or—as it is esoterically termed—the “Son of the Master.” |
c. Giai đoạn y được xem là người thân cận của Chân sư, hay—như cách gọi theo nội môn—“Người Con của Chân sư”. |
|
d. The period wherein the final three initiations are taken, and he knows himself as one with the Master. He ranks then as the “Beloved of the Master,” a position analogous to that which John, the beloved disciple, held in the Bible story. |
d. Giai đoạn y trải qua ba lần điểm đạo cuối cùng và biết mình hợp nhất với Chân sư. Khi ấy, y có địa vị “Người Được Chân sư Yêu Mến”, một địa vị tương tự địa vị của John, người đệ tử được yêu mến trong câu chuyện Kinh Thánh. |
|
All these stages are governed by two things:— |
Tất cả những giai đoạn này đều chịu sự chi phối của hai điều:— |
|
a. Similarity of vibration. |
a. Sự tương đồng về rung động. |
|
b. Karma, |
b. Nghiệp quả, |
|
and all are involved in the ability of tie man to develop group consciousness. |
và tất cả đều gắn liền với khả năng của con người trong việc phát triển tâm thức nhóm. |
|
On the planes of the higher mind, on the second subplane you have a reflection of what can be seen on the highest planes of our solar system. What have you there? The seven Heavenly Men are there to be found, each of Whom is composed (from the standpoint of form) of group souls,—those group souls being made up of the individual human and angel units of consciousness. On the second subplane of the mental plane you have the groups belonging to the Masters, if so I may express it. These groups are animated and vitalised from the atomic subplane where the Masters (when manifesting for the helping of the sons of men) have Their habitat,* just as the Heavenly Men have Their originating source and the cause of Their life on the atomic plane of the solar system, that which we call the plane of adi, or the first plane. These groups are formed around a Master, are enclosed within His aura, and are a part of His consciousness. They include people whose egoic ray is the same as His, or whose monadic ray is the same. [267] |
Trên các cõi thượng trí, ở cõi phụ thứ hai, các bạn có một hình ảnh phản chiếu những gì có thể thấy trên các cõi cao nhất của hệ mặt trời chúng ta. Ở đó có gì? Ở đó có bảy Đấng Thiên Nhân, mỗi Ngài được cấu thành (từ lập trường hình tướng) từ các Hồn nhóm,—những Hồn nhóm ấy gồm các đơn vị tâm thức cá biệt của con người và thiên thần. Trên cõi phụ thứ hai của cõi trí có các nhóm thuộc về các Chân sư, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Những nhóm này nhận sức sống và sinh lực từ cõi phụ nguyên tử, nơi các Chân sư (khi biểu hiện để trợ giúp những người con của nhân loại) cư ngụ,* cũng như các Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc và nguyên nhân sự sống của Các Ngài trên cõi nguyên tử của hệ mặt trời, tức cõi mà chúng ta gọi là cõi adi, hay cõi thứ nhất. Những nhóm này hình thành quanh một Chân sư, nằm trong hào quang của Ngài và là một phần tâm thức của Ngài. Chúng bao gồm những người có cung chân ngã hoặc cung chân thần giống cung của Ngài. [267] |
|
This means that two types of people are concerned:— |
Điều này có nghĩa là có hai loại người liên quan:— |
|
1. Those who are preparing for the first and second initiations, taken upon the ray of the Ego, and |
1. Những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, diễn ra trên cung của Chân ngã, và |
|
2. Those who are preparing for the two next initiations, which are taken upon the ray of the Monad. You have here a cause of the transference of people from one ray to another. It is only an apparent transference, even though it entails passing into the group of a different Master. This takes place after the second initiation. |
2. Những người đang chuẩn bị cho hai lần điểm đạo tiếp theo, diễn ra trên cung của Chân thần. Ở đây, các bạn có một nguyên nhân khiến con người chuyển từ cung này sang cung khác. Đó chỉ là một sự chuyển dịch bề ngoài, dù nó bao hàm việc chuyển vào nhóm của một Chân sư khác. Điều này diễn ra sau lần điểm đạo thứ hai. |
A Probationer’s three objects. – Ba mục tiêu của người dự bị.
|
During the period wherein a man is under probation, he is supposed to be developing three things:— |
Trong giai đoạn ở địa vị dự bị, con người cần phát triển ba điều:— |
|
1. The ability to contact his group, or in other words, to be sensible of the vibration of the group of which some particular Master is the focal point. He contacts it at times and at rare intervals at first. During the early part of his probation, whilst he is under observation, he can only sense and hold the group vibration (which is the Master’s vibration) for a very brief interval. He will at some high moment link up with the Master and with the group, and his whole being will be flooded with that high vibration, and surge upward in an outburst of his group colour. Then he will relax, drop back and lose the contact. His bodies are not refined enough and his vibration is too unstable to hold it long. |
1. Khả năng tiếp xúc với nhóm của mình, hay nói cách khác, cảm nhận rung động của nhóm mà một Chân sư cụ thể là tiêu điểm. Ban đầu, y chỉ thỉnh thoảng tiếp xúc với nhóm, vào những khoảng cách xa nhau. Trong thời kỳ đầu của giai đoạn dự bị, khi đang được quan sát, y chỉ có thể cảm nhận và duy trì rung động của nhóm (vốn là rung động của Chân sư) trong một khoảng thời gian rất ngắn. Vào một thời khắc thăng hoa nào đó, y sẽ kết nối với Chân sư và với nhóm; toàn bộ con người y sẽ tràn ngập rung động cao ấy và dâng trào lên trong một đợt bùng phát sắc màu của nhóm mình. Rồi y sẽ buông lỏng, trở lại trạng thái cũ và mất sự tiếp xúc. Các thể thấp của y chưa đủ tinh luyện, và rung động của y còn quá bất ổn để duy trì sự tiếp xúc ấy lâu dài. |
|
But, as time progresses (longer or shorter according to the earnestness of the pupil) the frequency of the times of contact increases; he can hold the vibration somewhat longer, and does not relax back to normal with so much ease. Then the time comes when he can be trusted to hold the contact fairly stably. He passes then to the second stage. [268] |
Nhưng theo thời gian (dài hay ngắn tùy vào sự thiết tha của môn sinh), những lần tiếp xúc diễn ra thường xuyên hơn; y có thể duy trì rung động lâu hơn đôi chút và không còn dễ dàng buông lỏng để trở lại trạng thái bình thường như trước. Rồi đến lúc có thể tin tưởng rằng y sẽ duy trì sự tiếp xúc khá ổn định. Khi ấy, y bước sang giai đoạn thứ hai. [268] |
|
2. The second thing he is supposed to be developing on the probationary path is the faculty of abstract thought, or the power to link up with the higher mind, via the causal body. He must learn to contact the lower mind simply as an instrument whereby he can reach the higher, and thus transcend it, until he becomes polarised in the causal body. Then, through the medium of the causal body, he links up with the abstract levels. Until he can do this he cannot really contact the Master, for, as you have been told, the pupil has to raise himself from his world (the lower) into Their world (the higher). |
2. Điều thứ hai y cần phát triển trên con đường dự bị là năng lực tư duy trừu tượng, hay quyền năng kết nối với Thượng trí qua thể nguyên nhân. Y phải học cách tiếp xúc với Hạ trí chỉ như một công cụ để vươn đến Thượng trí, và nhờ đó vượt qua Hạ trí, cho đến khi y trở nên phân cực trong thể nguyên nhân. Khi ấy, qua trung gian thể nguyên nhân, y kết nối với các cấp độ trừu tượng. Chừng nào chưa làm được điều này, y chưa thể thực sự tiếp xúc với Chân sư, vì như các bạn đã được cho biết, môn sinh phải tự nâng mình từ thế giới của y (thấp hơn) lên thế giới của Các Ngài (cao hơn). |
|
Now both these things—the power to touch the Master and the Master’s group, and the power to polarise himself in the causal body and touch the abstract levels—are definitely the result of meditation, and the earlier letters you have received from me will have made this clear. There is therefore no need to recapitulate the earlier imparted data, save to point out that by strenuous meditation, and the faculty of one-pointed application to the duty in hand (which is after all the fruit of meditation worked out in daily living) will come the increased faculty to hold steadily the higher vibration. Again and again would I reiterate the apparently simple truth, that only similarity of vibration will draw a man to the higher group to which he may belong, to the Master Who represents to him the Lord of His Ray, to the World Teacher Who administers to him the mysteries, to the One Initiator Who effects the final liberation, and to the centre within the Heavenly Man in Whose Body he finds a place. It is the working out of the Law of Attraction and Repulsion on all the planes that gathers the life divine out of the mineral kingdom, out of the vegetable and animal kingdoms, that draws the latent Deity from out of the limitations of the human kingdom, and affiliates the man [269] with his divine group. The same law effects his liberation from subtler forms that likewise bind, and blends him back into his animating source, the Lord of the Ray in Whose Body his Monad may be found. Therefore the work of the probationer is to attune his vibration to that of his Master, to purify his three lower bodies so that they form no hindrance to that contact, and so to dominate his lower mind that it is no longer a barrier to the downflow of light from the threefold Spirit. Thus he is permitted to touch that Triad and the group on the subplane of the higher mental to which he—by right and karma—-belongs. All this is brought about by meditation, and there is no other means for achieving these aims. |
Giờ đây, cả hai điều này—quyền năng tiếp xúc với Chân sư và nhóm của Ngài, cùng quyền năng tự phân cực trong thể nguyên nhân và tiếp xúc với các cấp độ trừu tượng—đều rõ ràng là kết quả của tham thiền, và những lá thư trước mà các bạn đã nhận từ Tôi hẳn đã làm sáng tỏ điều này. Vì vậy, không cần nhắc lại những dữ liệu đã truyền đạt trước đây, ngoài việc chỉ ra rằng tham thiền miệt mài và năng lực nhất tâm chuyên chú vào bổn phận trước mắt (xét cho cùng, chính là thành quả của tham thiền được thể hiện trong đời sống hằng ngày) sẽ làm tăng khả năng duy trì vững vàng rung động cao hơn. Tôi muốn nhắc đi nhắc lại chân lý có vẻ đơn giản rằng chỉ sự tương đồng về rung động mới thu hút con người đến với nhóm cao hơn mà y có thể thuộc về, đến với Chân sư đại diện cho y về Đấng Chúa Tể cung của Ngài, đến với Đức Chưởng Giáo truyền cho y các huyền nhiệm, đến với Đấng Điểm đạo Duy Nhất thực hiện sự giải thoát cuối cùng, và đến với trung tâm bên trong Đấng Thiên Nhân mà trong Thân Thể Ngài, y có một vị trí. Chính sự vận hành của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi trên mọi cõi thu gom sự sống thiêng liêng ra khỏi giới kim thạch, khỏi giới thực vật và giới động vật, lôi cuốn Thượng đế tiềm ẩn ra khỏi những giới hạn của giới nhân loại, và gắn kết con người [269] với nhóm thiêng liêng của y. Cũng định luật ấy thực hiện sự giải thoát y khỏi những hình tướng tinh tế hơn vốn cũng ràng buộc y, và hòa nhập y trở lại với nguồn ban sức sống cho y, Đấng Chúa Tể của Cung mà trong Thân Thể Ngài có Chân thần của y. Vì vậy, công việc của người dự bị là điều hòa rung động của mình cho đồng điệu với rung động của Chân sư, thanh lọc ba thể thấp của mình để chúng không cản trở sự tiếp xúc ấy, và làm chủ Hạ trí đến mức nó không còn là rào cản đối với dòng ánh sáng tuôn xuống từ Tinh thần tam phân. Nhờ đó, y được phép tiếp xúc với Tam nguyên tinh thần ấy và với nhóm trên cõi phụ của Cõi thượng trí mà y thuộc về theo quyền và nghiệp quả. Tất cả điều này đều thành tựu nhờ tham thiền, và không có phương tiện nào khác để đạt những mục tiêu ấy. |
|
3. The third thing the probationer has to do is to equip himself emotionally and mentally, and to realise and prove that he has somewhat to impart to the group with which he is esoterically affiliated. Think upon this: too much emphasis is laid at times upon that which the pupil will get when he becomes an accepted disciple or probationer. I tell you here, in all earnestness, that he will not take these desired steps until he has somewhat to give, and something to add that will increase the beauty of the group, that will add to the available equipment that the Master seeks for the helping of the race, and that will increase the richness of the group colouring. This can be brought about in two ways that mutually interact:— |
3. Điều thứ ba người dự bị phải làm là tự trang bị về cảm xúc và trí tuệ, đồng thời nhận ra và chứng minh rằng y có điều gì đó để truyền đạt cho nhóm mà y gắn kết về mặt nội môn. Hãy suy ngẫm điều này: đôi khi người ta quá nhấn mạnh những gì môn sinh sẽ nhận được khi trở thành đệ tử được chấp nhận hoặc người dự bị. Ở đây, Tôi hết sức nghiêm túc nói với các bạn rằng y sẽ không thực hiện được những bước tiến mong muốn ấy cho đến khi y có điều gì đó để cho, có điều gì đó để đóng góp nhằm gia tăng vẻ đẹp của nhóm, bổ sung cho những phương tiện sẵn có mà Chân sư tìm kiếm để trợ giúp nhân loại, và làm phong phú sắc màu của nhóm. Điều này có thể thành tựu bằng hai cách tương tác với nhau:— |
|
a. By the definite equipping, through study and application, of the content of the emotional and mental bodies. |
a. Qua học tập và ứng dụng, chủ động làm phong phú nội dung của thể cảm dục và thể trí. |
|
b. By the utilisation of that equipment in service to the race on the physical plane, thereby demonstrating to the eyes of the watching Hierarchy that the pupil has somewhat to give. He must show that his one desire is to be a benefactor and [270] to serve, rather than to grasp and acquire for himself. This life of acquisition for the purposes of giving must have for incentive the ideals touched in meditation, and for inspiration those downpourings from the higher mental levels and from the buddhic levels which are the result of occult meditation. |
b. Sử dụng những gì đã trang bị ấy để phụng sự nhân loại trên cõi hồng trần, qua đó chứng minh trước Thánh đoàn đang quan sát rằng môn sinh có điều gì đó để cho. Y phải cho thấy mong muốn duy nhất của mình là mang lại lợi ích cho người khác và [270] phụng sự, chứ không phải nắm giữ và thu nhận cho bản thân. Đời sống thu nhận nhằm mục đích cho đi này phải lấy những lý tưởng tiếp xúc được trong tham thiền làm động lực, và lấy những dòng tuôn đổ từ các cấp độ thượng trí và các cấp độ Bồ đề—vốn là kết quả của tham thiền huyền môn—làm cảm hứng. |
|
When these three results are brought about, and when the high vibration touched is more frequent and stable, then the probationer takes the next step forward and becomes an accepted disciple. |
Khi ba kết quả này thành tựu, và khi việc tiếp xúc với rung động cao diễn ra thường xuyên và ổn định hơn, người dự bị sẽ tiến thêm bước tiếp theo và trở thành một đệ tử được chấp nhận. |
Accepted Discipleship. – Địa vị đệ tử được chấp nhận.
|
The second period, wherein a man is an accepted disciple, is perhaps one of the most difficult in a man’s whole period of lives. It is made so in several ways:— |
Giai đoạn thứ hai, khi con người là một đệ tử được chấp nhận, có lẽ là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong toàn bộ chuỗi kiếp sống của y. Có nhiều điều khiến giai đoạn này trở nên như vậy:— |
|
He is definitely a part of the Master’s group, and is within the consciousness of the Master at all times, being kept within His aura. This involves the steady holding of a high vibration. I would have you ponder on what the effect of this would be. To hold this vibration is at all times a difficult thing to do; it frequently involves an intensification of all that subsists within a man’s nature, and may lead (especially at first) to curious demonstration. Yet, if ever a man is to be able to hold the force that is the result of the application of the Rod of Initiation, he has to demonstrate his ability to do so at an earlier stage, and be able to hold himself stably and to move steadily forward when subjected to the intensification of vibration that comes from the Master. |
Y thực sự là một phần trong nhóm của Chân sư, luôn ở trong tâm thức của Ngài và được giữ trong hào quang của Ngài. Điều này đòi hỏi phải duy trì đều đặn một rung động cao. Tôi muốn các bạn suy ngẫm xem điều này sẽ có tác động ra sao. Duy trì rung động ấy lúc nào cũng là một việc khó; nó thường làm tăng cường tất cả những gì tồn tại trong bản chất con người, và có thể dẫn đến những biểu hiện kỳ lạ (đặc biệt lúc ban đầu). Tuy nhiên, nếu con người muốn có khả năng duy trì mãnh lực do việc sử dụng Thần Trượng Điểm đạo tạo ra, y phải chứng tỏ khả năng ấy ở một giai đoạn trước đó, và phải có khả năng tự giữ vững, tiến bước đều đặn khi chịu sự tăng cường rung động đến từ Chân sư. |
|
He has to discipline himself so that nothing can enter into his consciousness that could in any way harm the group to which he belongs, or be antagonistic to the Master’s vibration. If I might so express it, so as to give [271] you some conception of my meaning, when he first forms part of the group enclosed in the Master’s aura, he is kept on the periphery of that aura until he has learnt to throw off automatically, and to reject immediately, every thought and desire unworthy of the Self and thus harmful to the group. Until he has learnt to do this he cannot advance into a closer relationship, but must remain where he can be automatically shut off. But gradually he purifies himself still more, gradually he develops group consciousness and thinks in group terms of service, gradually his aura takes on more and more the colouring of his Master’s aura, till he blends and has earned the right to be gathered closer to his Master’s Heart. Later I will explain the technical meaning of this phrase, when dealing with the work of the Master with the pupil. Suffice it to say, that as the term of “accepted disciple” progresses (and it varies in different cases) the disciple advances ever closer to the heart of the group, and finds his own place and functional activity in that body corporate. That is the secret: the finding of one’s place,—not so much one’s place upon the ladder of evolution (for that is approximately known), but in service. This is of more importance than is realised, for it covers the period which, at the end, will definitely demonstrate which path a man will follow after the fifth initiation. |
Y phải tự rèn luyện kỷ luật sao cho không điều gì có thể đi vào tâm thức của y mà có thể gây tổn hại dưới bất kỳ hình thức nào cho nhóm y thuộc về, hoặc đối nghịch với rung động của Chân sư. Nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy để giúp [271] các bạn phần nào hình dung ý Tôi muốn nói, thì khi y mới trở thành một phần của nhóm nằm trong hào quang của Chân sư, y được giữ ở rìa hào quang ấy cho đến khi học được cách tự động loại bỏ và tức khắc khước từ mọi tư tưởng và dục vọng không xứng đáng với Chân ngã, và do đó gây hại cho nhóm. Cho đến khi học được điều này, y chưa thể tiến đến một mối quan hệ gần gũi hơn, mà phải ở lại nơi có thể tự động ngắt sự tiếp xúc với y. Nhưng dần dần, y thanh lọc mình hơn nữa; dần dần, y phát triển tâm thức nhóm và suy nghĩ về phụng sự trên phương diện nhóm; dần dần, hào quang của y ngày càng mang sắc màu của hào quang Chân sư, cho đến khi y hòa nhập và xứng đáng được đưa đến gần Tâm của Chân sư hơn. Sau này, Tôi sẽ giải thích ý nghĩa chuyên môn của cụm từ này khi bàn đến công việc của Chân sư với môn sinh. Chỉ cần nói rằng, trong tiến trình của thời kỳ “đệ tử được chấp nhận” (vốn khác nhau tùy trường hợp), đệ tử tiến ngày càng gần đến tâm điểm của nhóm, và tìm được vị trí cùng hoạt động chức năng của mình trong tập thể ấy. Đó là bí mật: tìm ra vị trí của mình,—không hẳn là vị trí trên thang tiến hoá (vì vị trí ấy đã được biết tương đối), mà là trong phụng sự. Điều này quan trọng hơn người ta nhận ra, vì nó bao quát giai đoạn mà khi kết thúc sẽ cho thấy rõ con đường con người sẽ đi sau lần điểm đạo thứ năm. |
Sonship to the Master. – Địa vị Người Con của Chân sư.
|
We now come to the time when the disciple moves on to the much coveted position of a “Son of the Master.” He is then a part consciously and at all times of the Master’s consciousness. The interplay between the Master and disciple is being rapidly perfected, and the disciple can now consciously and at will link up with the Master and ascertain His thoughts. He can enter into His plans, desires [272] and will. This he has won by the right of similarity of vibration, and because the shutting off process (necessitated earlier by discordant vibration) is practically superseded; the disciple has so purified himself that his thoughts and desires cause no disquietude to the Master, and no contrary vibration to the group. He has been tried and not been found wanting. His life of service in the world is more concentrated and perfected, and he is daily developing his power to give, and increasing his equipment. All this concerns his relationship to some Master and to some one group soul. It is not dependent upon his taking initiation. Initiation is a technical matter and can be expressed in terms of esoteric science. A man can take initiation and yet not be a “son of a Master.” Discipleship is a personal relationship, governed by terms of karma and affiliation, and is not dependent upon a man’s status in the Lodge. Keep this clear in your mind. Cases have been known when a man has acquired—through diligence—the technical requisites for initiation before becoming affiliated with any particular Master. |
Giờ đây chúng ta đến thời điểm đệ tử tiến lên địa vị rất được khao khát: “Người Con của Chân sư”. Khi ấy, y là một phần có ý thức và thường trực trong tâm thức của Chân sư. Sự tương tác giữa Chân sư và đệ tử đang nhanh chóng đạt đến hoàn thiện; giờ đây, đệ tử có thể kết nối với Chân sư một cách có ý thức và theo ý muốn, đồng thời biết rõ tư tưởng của Ngài. Y có thể hòa vào các kế hoạch, mong muốn [272] và ý chí của Ngài. Y đạt được điều này nhờ quyền có được từ sự tương đồng về rung động, và vì tiến trình ngắt tiếp xúc (trước kia cần thiết do rung động bất hòa) trên thực tế đã không còn cần nữa; đệ tử đã thanh lọc mình đến mức tư tưởng và dục vọng của y không gây bất an cho Chân sư, cũng không tạo rung động đối nghịch cho nhóm. Y đã trải qua thử thách và không tỏ ra thiếu sót. Đời sống phụng sự của y trên thế gian tập trung và hoàn thiện hơn; mỗi ngày, y phát triển quyền năng cho đi và gia tăng những gì mình được trang bị. Tất cả điều này liên quan đến mối quan hệ của y với một Chân sư và một Hồn nhóm nào đó. Nó không phụ thuộc vào việc y được điểm đạo. Điểm đạo là một vấn đề chuyên môn và có thể diễn đạt bằng các thuật ngữ của khoa học nội môn. Một người có thể được điểm đạo mà vẫn chưa là “người con của một Chân sư”. Địa vị đệ tử là một mối quan hệ cá nhân, chịu sự chi phối của nghiệp quả và sự gắn kết, chứ không phụ thuộc vào địa vị của con người trong Thánh đoàn. Hãy ghi nhớ rõ điều này. Đã có những trường hợp một người—nhờ chuyên cần—đạt được các điều kiện chuyên môn cần thiết cho điểm đạo trước khi gắn kết với một Chân sư cụ thể nào. |
|
This later relationship of “son” to some Master has a peculiar sweetness all its own, and carries with it certain privileges. The disciple can then lift some of the burden off his Master’s shoulders, and relieve Him of some of His responsibilities, thereby setting Him free for more extended work. Hence the emphasis laid on service, for it is only as a man serves that he advances. It is the keynote of the vibration of the second abstract level. The Master at this period will confer with His “Son” and plan the work to be done upon their united point of view. In this way He will develop His pupil’s discrimination and judgment, and lighten His own load along certain lines, thus setting Himself free for other important work. [273] |
Mối quan hệ về sau này của “người con” với một Chân sư có sự ngọt ngào đặc biệt riêng, và mang theo một số đặc ân. Khi ấy, đệ tử có thể đỡ bớt gánh nặng trên vai Chân sư và chia sẻ một phần trách nhiệm của Ngài, nhờ đó giải phóng Ngài để thực hiện công việc rộng lớn hơn. Vì thế, người ta nhấn mạnh phụng sự, vì chỉ khi phụng sự, con người mới tiến bộ. Đó là chủ âm của rung động ở cấp độ trừu tượng thứ hai. Trong thời kỳ này, Chân sư sẽ bàn bạc với “Người Con” của Ngài và hoạch định công việc cần làm dựa trên quan điểm chung của hai bên. Bằng cách này, Ngài sẽ phát triển khả năng phân biện và phán đoán của môn sinh, đồng thời giảm nhẹ gánh nặng của chính Ngài trong một số lĩnh vực, nhờ đó giải phóng mình để thực hiện công việc quan trọng khác. [273] |
|
The final period of those under discussion can have but little submitted about it. It covers the period when a man is mastering the final stages of the Path and is entering into closer and closer touch with his group and with the Hierarchy. He is not only vibrating in tune with his group and with his Master, but is beginning now to gather out his own people, and form a group himself. This group will be at first only on emotional and physical levels and on the lower mental. After the fifth initiation he will enclose within his aura these groups and those on egoic levels who are his own. This in no way prevents his being one with his Master and group, but the method of interblending is one of the secrets of initiation. |
Chỉ có thể trình bày rất ít về giai đoạn cuối cùng trong những giai đoạn đang bàn. Giai đoạn này bao quát thời kỳ con người đang làm chủ những chặng cuối của Đường Đạo và tiếp xúc ngày càng mật thiết hơn với nhóm của mình và với Thánh đoàn. Y không chỉ rung động đồng điệu với nhóm và với Chân sư của mình, mà giờ đây còn bắt đầu tập hợp những người thuộc về mình và tự hình thành một nhóm. Lúc đầu, nhóm này chỉ hiện diện ở các cấp độ cảm dục, hồng trần và hạ trí. Sau lần điểm đạo thứ năm, y sẽ bao bọc trong hào quang của mình những nhóm này cùng những người thuộc về y ở các cấp độ chân ngã. Điều này hoàn toàn không ngăn cản y hợp nhất với Chân sư và nhóm của mình, nhưng phương pháp hòa nhập lẫn nhau là một trong những bí mật của điểm đạo. |
|
All this, coupled with what has been earlier imparted, will give you some idea of the rights and powers acquired on the Probationary Path and on the Path of Initiation. The means of development are ever the same:—occult meditation and service; the inner life of concentration and the outer life of practice; the inner ability to contact the higher, and the outer ability to express that faculty in terms of holy living; the inner irradiation from the Spirit, and the outer shining before men. |
Tất cả điều này, kết hợp với những gì đã truyền đạt trước đây, sẽ giúp các bạn phần nào hình dung những quyền và quyền năng đạt được trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Điểm Đạo. Các phương tiện phát triển luôn như nhau:—tham thiền huyền môn và phụng sự; đời sống tập trung bên trong và đời sống thực hành bên ngoài; khả năng bên trong tiếp xúc với cái cao hơn, và khả năng bên ngoài thể hiện năng lực ấy qua lối sống thánh thiện; sự chiếu rọi bên trong từ Tinh thần, và sự tỏa sáng bên ngoài trước con người. |
|
September 17th, 1920. |
Ngày 17 tháng 9 năm 1920. |
|
September 17th, 1920. 5:30 pm. |
Ngày 17 tháng 9 năm 1920. 5:30 chiều. |
|
I awoke you early this morning, brother of mine, so as to guarantee your taking my dictation with a mind free from the hindrances of lesser world vibration. That which I have for communication is not of great length but accuracy is desired and capacity to take with facility my dictation. |
Huynh đệ của Tôi, Tôi đã đánh thức bạn sớm sáng nay, để bảo đảm rằng bạn ghi lại lời đọc của Tôi với một thể trí không bị cản trở bởi những rung động của thế giới thấp hơn. Điều Tôi muốn truyền đạt không dài nhưng cần sự chính xác và khả năng ghi lại dễ dàng lời đọc của Tôi. |
|
……The subject that we have for the past few days been studying, though not so technical as some of the earlier imparted data, yet carries with it a vibration that will make this eighth letter one of those with the most potent appeals in the series. We have dealt with the facts as to the Masters and Who They are, and Their place in the scheme of things, and we have touched briefly upon what access to a Master entails from the standpoint of a pupil. We have seen that that access is a gradual process and carries a man from an occasional outer contact with [274] a Master and His group to a position of the closest intimacy, and to an attitude that places the pupil within the aura and close to the heart of his Teacher. Today we will consider for a while what this gradual changing of position has entailed on the part of the Master and what it has necessitated on His side. |
……Chủ đề mà chúng ta nghiên cứu trong vài ngày qua, tuy không mang tính chuyên môn như một số dữ liệu đã truyền đạt trước đây, vẫn mang một rung động khiến lá thư thứ tám này trở thành một trong những lá thư có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong cả loạt. Chúng ta đã bàn đến những sự thật về các Chân sư, Các Ngài là ai, và vị trí của Các Ngài trong trật tự vạn vật; chúng ta cũng đã đề cập ngắn gọn đến những gì việc tiếp cận một Chân sư bao hàm từ lập trường của môn sinh. Chúng ta đã thấy rằng sự tiếp cận ấy là một tiến trình từng bước, đưa con người từ sự tiếp xúc bên ngoài thỉnh thoảng với [274] một Chân sư và nhóm của Ngài đến địa vị thân cận nhất, và đến một thái độ đặt môn sinh trong hào quang, gần với tâm của huấn sư mình. Hôm nay, chúng ta sẽ dành ít thời gian xem xét sự thay đổi địa vị dần dần này đã bao hàm những gì đối với Chân sư và đòi hỏi điều gì từ phía Ngài. |
The relationship of Master and pupil. – Mối quan hệ giữa Chân sư và môn sinh.
|
As you have frequently been told, the attention of a Master is attracted to a man by the brilliance of the indwelling light. When that light has reached a certain intensity, when the bodies are composed of a certain grade of matter, when the aura has attained a certain hue and when the vibration has reached a specific rate and measure, and when a man’s life commences to sound occultly in the three worlds (which sound is to be heard through the life of service), some one particular Master begins to test him out by the application of some higher vibration, and by the study of his reaction to that vibration. The choice of a pupil by a Master is governed by past karma and by old association, by the ray on which they both may be found, and by the need of the hour. The Master’s work (as much of it as may wisely be made exoteric) is varied and interesting, and is based on a scientific comprehension of human nature. What is it that a Master has to do with a pupil? By enumerating the chief things to be done we may get some idea of the scope of His work:— |
Như các bạn thường được cho biết, ánh sáng nội tại rực rỡ thu hút sự chú ý của một Chân sư đến với một người. Khi ánh sáng ấy đạt đến một cường độ nhất định, khi các thể thấp được cấu thành từ một cấp độ vật chất nhất định, khi hào quang đạt đến một sắc thái nhất định, khi rung động đạt đến một tốc độ và mức độ cụ thể, và khi đời sống con người bắt đầu vang lên về mặt huyền bí trong ba cõi giới (âm thanh ấy có thể nghe được qua đời sống phụng sự), một Chân sư cụ thể bắt đầu thử thách y bằng cách áp dụng một rung động cao hơn và nghiên cứu phản ứng của y đối với rung động ấy. Việc Chân sư lựa chọn một môn sinh chịu sự chi phối của nghiệp quả quá khứ và mối liên hệ cũ, của cung mà cả hai cùng thuộc về, và của nhu cầu đương thời. Công việc của Chân sư (trong phạm vi có thể công khai một cách khôn ngoan) đa dạng và thú vị, dựa trên sự thấu hiểu khoa học về bản chất con người. Chân sư phải làm gì với một môn sinh? Bằng cách liệt kê những việc chính cần làm, chúng ta có thể phần nào hình dung phạm vi công việc của Ngài:— |
|
He has to accustom the pupil to raise his rate of vibration till he can continuously carry a high one, and then assist him until that high vibration becomes the stable measure of the pupil’s bodies. |
Ngài phải tập cho môn sinh quen nâng tốc độ rung động của mình cho đến khi y có thể liên tục duy trì một rung động cao, rồi trợ giúp y cho đến khi rung động cao ấy trở thành mức ổn định của các thể thấp của môn sinh. |
|
He has to assist the pupil to effect the transfer of polarisation from the lower three atoms of the Personality to the higher ones of the Spiritual Triad. [275] |
Ngài phải trợ giúp môn sinh thực hiện việc chuyển dịch sự phân cực từ ba nguyên tử thấp của Phàm ngã sang những nguyên tử cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần. [275] |
|
He has to watch over the work accomplished by the pupil whilst making the channel between higher and lower mind, whilst he builds and employs this channel (the antahkarana). This channel eventually supersedes the causal body as a means of communication between the higher and the lower. The causal body is itself eventually done away with when the pupil takes the fourth initiation and can freely create his own body of manifestation. |
Ngài phải trông coi công việc môn sinh thực hiện trong khi y tạo đường thông giữa thượng trí và hạ trí, trong khi y xây dựng và sử dụng đường thông này (antahkarana). Cuối cùng, đường thông này thay thế thể nguyên nhân làm phương tiện giao tiếp giữa phần cao và phần thấp. Chính thể nguyên nhân cuối cùng cũng được loại bỏ khi môn sinh nhận lần điểm đạo thứ tư và có thể tự do tạo ra thân thể biểu hiện của mình. |
|
He definitely assists at the vivification of the various centres and their correct awakening, and He later aids the pupil to work consciously through those centres, and to carry the circulating fire in right geometrical progression from the base of the spine to the head centre. |
Ngài trực tiếp hỗ trợ việc tiếp sinh lực cho các trung tâm khác nhau và đánh thức chúng đúng cách; về sau, Ngài giúp môn sinh hoạt động một cách có ý thức qua những trung tâm ấy, và dẫn lửa lưu chuyển theo trình tự hình học đúng đắn từ đáy cột sống đến trung tâm đầu. |
|
He superintends the work of the pupil on different planes and makes records of the extent of the work accomplished, and the far-reaching effect of the spoken word as enunciated by the pupil. This is (putting it occultly) the effect on the inner planes of the note of the pupil’s exoteric life. |
Ngài giám sát công việc của môn sinh trên các cõi khác nhau và ghi nhận mức độ công việc đã hoàn thành, cùng tác động sâu rộng của lời nói do môn sinh thốt ra. Nói theo ngôn ngữ huyền bí, đây là tác động trên các cõi bên trong của âm điệu đời sống ngoại môn của môn sinh. |
|
He enlarges the consciousness of the pupil in various ways, and develops his capacity to include and contact other rates of vibration than the human, to understand the consciousness of other evolutions than the human, and move with facility in other spheres than the earth sphere. |
Ngài mở rộng tâm thức của môn sinh bằng nhiều cách, và phát triển khả năng của y để bao gồm và tiếp xúc với những nhịp độ rung động khác với nhịp độ của nhân loại, thấu hiểu tâm thức của những dòng tiến hoá khác với dòng tiến hoá nhân loại, và di chuyển dễ dàng trong những khối cầu khác với khối cầu Trái Đất. |
|
His immediate goal in working with the pupil is to prepare him for the first initiation. This takes place when the capacity of the pupil to hold a certain rate of vibration for a specific length of time is developed, the length of time being that wherein he must stand before the Lord of the first two initiations. This is accomplished by a gradual raising of the vibration at few and stated intervals, and later more frequently, until the pupil can vibrate with greater ease and comfort to the vibration of his Master, and can hold the vibration for an ever increasing [276] length of time. When he can hold it for this period (the length of which is of course one of the secrets of the first initiation) he is subjected to the application of a still higher vibration which—when held—will enable him to stand before the Great Lord for a length of time sufficient to permit of the initiation ceremony. The application then of the Rod of Initiation effects something that stabilises vibration, and makes it easier to progress in the task of vibrating to the higher measure of the subtler planes. |
Mục tiêu trước mắt của Ngài khi làm việc với môn sinh là chuẩn bị cho y nhận lần điểm đạo thứ nhất. Điều này diễn ra khi môn sinh đã phát triển khả năng duy trì một nhịp độ rung động nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể, tức khoảng thời gian y phải đứng trước Chúa Tể của hai lần điểm đạo đầu tiên. Khả năng này hình thành nhờ nâng dần rung động vào những thời điểm định trước, ban đầu thưa thớt, về sau thường xuyên hơn, cho đến khi môn sinh có thể rung động theo rung động của Chân sư mình một cách dễ dàng và thoải mái hơn, và có thể duy trì rung động ấy trong một khoảng thời gian ngày càng [276] dài hơn. Khi y có thể duy trì rung động ấy trong khoảng thời gian này (độ dài của khoảng thời gian ấy dĩ nhiên là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất), y được tác động bằng một rung động còn cao hơn nữa; khi duy trì được rung động này, y sẽ có thể đứng trước Chúa Tể Vĩ Đại đủ lâu để cử hành nghi lễ điểm đạo. Khi ấy, việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo tạo ra một tác động giúp ổn định rung động, và khiến y dễ tiến bộ hơn trong nhiệm vụ rung động theo nhịp độ cao hơn của các cõi tinh tế hơn. |
|
He develops the capacity of the pupil to work in group formation. He studies his action and interaction on his own affiliated group. He works with the pupil’s causal body and its expansion and development, and teaches the pupil to understand the law of his own being and through that understanding brings him to a comprehension of the macrocosm. |
Ngài phát triển khả năng của môn sinh để hoạt động theo đội hình nhóm. Ngài nghiên cứu hành động và sự tương tác của y trong nhóm mà y liên kết. Ngài làm việc với thể nguyên nhân của môn sinh, với sự mở rộng và phát triển của thể ấy, và dạy môn sinh thấu hiểu định luật của chính sự hiện tồn của mình; qua sự thấu hiểu đó, Ngài đưa y đến chỗ lĩnh hội đại thiên địa. |
|
Now all these various aspects of the Master’s work (and these are but a few of the points which might be considered) might be dealt with at length and would prove of illuminating interest to the reader. All the above paragraphs could be extended and prove of exceeding interest. But the main point I seek to make here is in connection with the earlier stages of this work, before the pupil is admitted into the later stages of close intimacy with his Master. The Master during this period works with his disciple principally:— |
Giờ đây, tất cả những phương diện khác nhau này trong công việc của Chân sư (và đây chỉ là một vài điểm có thể xem xét) đều có thể được bàn luận chi tiết và sẽ đem lại cho người đọc những điều lý thú có sức soi sáng. Tất cả các đoạn trên đều có thể được triển khai thêm và sẽ hết sức lý thú. Nhưng điểm chính Tôi muốn nêu ở đây liên quan đến những giai đoạn đầu của công việc này, trước khi môn sinh được bước vào những giai đoạn sau với mối quan hệ gần gũi mật thiết cùng Chân sư của mình. Trong thời kỳ này, Chân sư làm việc với đệ tử của Ngài chủ yếu:— |
|
a. At night, when he is out of the physical body. |
a. Vào ban đêm, khi y ở ngoài thể xác. |
|
b. During the periods when the disciple is meditating. |
b. Trong những thời kỳ đệ tử đang tham thiền. |
|
According to the success of the meditation, according to the ability of the student to shut off the lower and contact the higher, so will come the opportunity of the Master to accomplish successfully the scientific definite work that [277] needs His attention. Students of meditation would be astounded and perhaps discouraged, could they realise how seldom they provide the right conditions through meditation which will enable their watching Teacher to bring about certain effects. By the frequency of the student’s ability to do this comes indication of progress, and the possibility of carrying him on another step. Emphasise this point in teaching, for it carries with it an incentive to greater diligence and application. If the pupil himself on his side provides not the just conditions, the Master’s hands are tied and He can do but little. Self-effort is the key to progress, coupled to conscious comprehending application to the work laid down. When that effort is made with perseverance, then comes the opportunity of the Master to carry out His side of the work. |
Tuỳ theo mức độ thành công của việc tham thiền, tuỳ theo khả năng của đạo sinh gạt bỏ phần thấp và tiếp xúc với phần cao, Chân sư sẽ có cơ hội hoàn thành thành công công việc khoa học cụ thể [277] cần Ngài chú tâm. Những đạo sinh thực hành tham thiền sẽ kinh ngạc, và có lẽ nản lòng, nếu họ nhận ra rằng mình hiếm khi tạo được những điều kiện thích hợp qua tham thiền để huấn sư đang dõi theo họ có thể tạo ra những tác động nhất định. Tần suất đạo sinh làm được điều này cho thấy sự tiến bộ và khả năng đưa y tiến thêm một bước. Hãy nhấn mạnh điểm này trong việc giảng dạy, vì nó khuyến khích sự chuyên cần và nỗ lực thực hành nhiều hơn. Nếu về phần mình, chính môn sinh không tạo ra những điều kiện thích hợp, thì Chân sư đành bó tay và Ngài chỉ có thể làm được rất ít. Nỗ lực của bản thân là chìa khoá của sự tiến bộ, kết hợp với việc chuyên tâm thực hiện công việc đã đề ra một cách có ý thức và thấu hiểu. Khi nỗ lực ấy được duy trì bền bỉ, Chân sư mới có cơ hội thực hiện phần công việc của Ngài. |
|
As the pupil meditates with occult accuracy he brings his three lower bodies into alignment and—with emphasis I reiterate—only as alignment is effected is the Master able to work with the bodies of the pupil. If naught else is effected by the publication of these letters except the intensification of the desire to meditate with correctness, the object in view will be largely attained. In that effort the right conditions between pupil and Master, and a correct interrelation will be brought about. Meditation provides these conditions, when rightly followed. It prepares the field for labour and for work. |
Khi môn sinh tham thiền đúng theo phương pháp huyền bí, y đưa ba thể thấp của mình vào sự chỉnh hợp; và Tôi nhấn mạnh, chỉ khi sự chỉnh hợp diễn ra, Chân sư mới có thể làm việc với các thể của môn sinh. Nếu việc xuất bản những bức thư này không đem lại kết quả nào khác ngoài việc tăng cường mong muốn tham thiền đúng cách, thì mục tiêu đã đề ra cũng phần lớn được thành tựu. Trong nỗ lực ấy, những điều kiện thích hợp giữa môn sinh và Chân sư, cùng một mối tương quan đúng đắn, sẽ hình thành. Tham thiền tạo ra những điều kiện này khi được thực hành đúng cách. Nó chuẩn bị môi trường cho sự lao động và công việc. |
|
Let us briefly consider the various periods as enumerated yesterday when considering the pupil’s relationship to a Master. |
Chúng ta hãy xem xét ngắn gọn những thời kỳ khác nhau đã liệt kê hôm qua khi bàn về mối quan hệ của môn sinh với một Chân sư. |
|
In the period when the man is under probation and supervision……… with a view to seeing his application and ultimate suitability for the position of accepted disciple, he is left almost entirely to himself and is only conscious of the attention of the Master at rare and irregular intervals. His physical brain is not often receptive to the higher contact, and though his Ego [278] is fully aware of his position on the Path, not yet is the physical brain in a condition to know. But on this point no hard and fast rule can be laid down. When a man has been for several lives making contacts with his Ego or with his Master he may be aware of it. Individuals differ so much that no universal rule in detail can be formulated. As you know, the Master makes a small image of the probationer, which image is stored in certain subterranean centres in the Himalayas. The image is magnetically linked with the probationer, and shows all the fluctuations of his nature. Being composed of emotion and mental matter it pulsates with every vibration of those bodies. It shows their predominating hues, and by studying it the Master can rapidly gauge the progress made and judge when the probationer may be admitted into a closer relationship. The Master views the image at stated intervals, rarely at first, as the progress made in the beginning stages is not so rapid, but with ever increasing frequency as the student of meditation comprehends more readily and more consciously co-operates. The Master when inspecting the images works with them, and through their means effects certain results. Just as later the Rod of Initiation is applied to the bodies and centres of the initiate, so at certain times the Master applies certain contacts to the images and via them stimulates the bodies of the pupil. |
Trong thời kỳ con người đang được thử thách và giám sát……… nhằm xem xét sự chuyên tâm của y và mức độ phù hợp sau cùng của y đối với địa vị đệ tử được chấp nhận, y hầu như hoàn toàn phải tự xoay xở và chỉ nhận biết sự quan tâm của Chân sư vào những thời điểm hiếm hoi, không đều đặn. Bộ não hồng trần của y không thường xuyên tiếp nhận được sự tiếp xúc cao hơn; và dù chân ngã của y [278] hoàn toàn biết rõ vị trí của y trên Đường Đạo, bộ não hồng trần vẫn chưa ở trong trạng thái có thể biết được. Nhưng về điểm này, không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc nào. Khi một người đã tiếp xúc với chân ngã hoặc Chân sư của mình trong nhiều kiếp, y có thể nhận biết điều ấy. Các cá nhân khác nhau nhiều đến mức không thể lập ra một quy luật phổ quát về chi tiết. Như các bạn biết, Chân sư tạo ra một hình ảnh nhỏ của người dự bị, rồi lưu giữ hình ảnh ấy tại những trung tâm nhất định dưới lòng đất ở dãy Himalaya. Hình ảnh liên kết với người dự bị bằng từ tính và cho thấy mọi biến động trong bản chất của y. Vì cấu tạo từ vật chất cảm dục và trí, nó rung nhịp theo mọi rung động của các thể ấy. Nó cho thấy những sắc màu chủ đạo của chúng; bằng cách nghiên cứu nó, Chân sư có thể nhanh chóng đánh giá sự tiến bộ và phán đoán khi nào người dự bị có thể được tiếp nhận vào một mối quan hệ gần gũi hơn. Chân sư xem xét hình ảnh vào những thời điểm định trước, ban đầu ít khi xem, vì sự tiến bộ trong các giai đoạn đầu chưa nhanh; nhưng tần suất ngày càng tăng khi đạo sinh tham thiền thấu hiểu dễ dàng hơn và hợp tác có ý thức hơn. Khi xem xét các hình ảnh, Chân sư làm việc với chúng và qua chúng tạo ra những kết quả nhất định. Cũng như về sau Thần Trượng Điểm đạo được áp dụng lên các thể và trung tâm của điểm đạo đồ, vào những thời điểm nhất định, Chân sư tác động lên các hình ảnh bằng những tiếp xúc nhất định, và qua đó kích thích các thể của môn sinh. |
|
A time comes when the Master sees, from His inspection of the image, that the needed rate of vibration can be held, that the required eliminations have been made, and a certain depth of colour attained. He can then take the risk (for risk it is) and admit the probationer within the periphery of His own aura. He becomes then an accepted disciple. [279] |
Đến một lúc, qua việc xem xét hình ảnh, Chân sư thấy rằng môn sinh có thể duy trì nhịp độ rung động cần thiết, đã thực hiện những sự loại bỏ đòi hỏi, và đã đạt tới một độ sâu nhất định của màu sắc. Khi ấy, Ngài có thể chấp nhận rủi ro (vì quả thực đây là một rủi ro) và tiếp nhận người dự bị vào bên trong chu vi hào quang của chính Ngài. Bấy giờ, y trở thành một đệ tử được chấp nhận. [279] |
|
During the period wherein a man is an accepted disciple the work done by the Master is of very real interest. The pupil is assigned to special classes conducted by more advanced disciples under the supervision of the Master, and though he may attend still the larger general classes in the Ashram (the Master’s hall for teaching) he is subjected to a more intensified training………. Some day later when you are in a position to give definite papers for the benefit of the ES students (which time is not yet) I will enlarge upon the work done by a pupil and the aspects also of the Master’s work. The time is not ripe. Hints only may here be given. |
Trong thời kỳ một người là đệ tử được chấp nhận, công việc Chân sư thực hiện thực sự rất lý thú. Môn sinh được phân vào những lớp đặc biệt do các đệ tử tiến bộ hơn hướng dẫn dưới sự giám sát của Chân sư; và dù y vẫn có thể tham dự những lớp chung đông người hơn trong ashram (phòng giảng dạy của Chân sư), y được huấn luyện chuyên sâu hơn………. Một ngày nào đó về sau, khi các bạn có thể cung cấp những tài liệu cụ thể vì lợi ích của các đạo sinh ES (thời điểm ấy chưa đến), Tôi sẽ trình bày rộng hơn về công việc của môn sinh và cả những phương diện trong công việc của Chân sư. Thời điểm chưa chín muồi. Ở đây chỉ có thể đưa ra những gợi ý. |
|
The Master works in the earlier stages in four main ways:— |
Trong những giai đoạn đầu, Chân sư làm việc theo bốn cách chính:— |
|
a. At intervals, and when the progress of the pupil justifies it, He “gathers the pupil to His Heart.” This is an esoteric statement of a very interesting experience to which the pupil will be subjected. At the close of some class in the ashram, or during some specially successful meditation wherein the pupil has reached a certain rate of vibration, the Master will gather him close to Himself, bringing him from the periphery of His aura to the centre of His consciousness. He thereby gives him a tremendous temporary expansion of consciousness, and enables him to vibrate at an unusual rate for him. |
a. Vào những thời điểm nhất định, khi sự tiến bộ của môn sinh cho phép, Ngài “thu môn sinh vào Tâm Ngài.” Đây là một cách diễn đạt nội môn về một trải nghiệm rất lý thú mà môn sinh sẽ trải qua. Khi kết thúc một buổi học trong ashram, hoặc trong một lần tham thiền đặc biệt thành công, khi môn sinh đã đạt tới một nhịp độ rung động nhất định, Chân sư sẽ thu y lại gần Ngài, đưa y từ chu vi hào quang của Ngài vào trung tâm tâm thức của Ngài. Qua đó, Ngài ban cho y một sự mở rộng tâm thức tạm thời vô cùng lớn lao, và giúp y rung động ở một nhịp độ khác thường đối với y. |
|
Hence the need for meditation. The reward of such an experience far outweighs any of the strenuous parts of the work. |
Vì thế, tham thiền là điều cần thiết. Phần thưởng của một trải nghiệm như vậy vượt xa bất cứ phần việc gian khổ nào. |
|
b. The Master works upon the bodies of his pupil with colour, and brings about results in those bodies that enable the pupil to make more rapid progress. Now you will see why…… in the ES school so much emphasis is laid upon colour. It is not only because it holds the secret of form and manifestation (which secret must be known by the occultist) but the emphasis is laid thus in order that he may consciously co-operate in the work of the [280] Master on his bodies, and intelligently follow the effects brought about. Ponder on this. |
b. Chân sư dùng màu sắc tác động lên các thể của môn sinh, tạo ra trong những thể ấy các kết quả giúp môn sinh tiến bộ nhanh hơn. Giờ đây, các bạn sẽ hiểu vì sao…… trong trường ES màu sắc lại được nhấn mạnh đến vậy. Không chỉ vì nó chứa đựng bí mật của hình tướng và sự biểu hiện (bí mật mà nhà huyền bí học phải biết), mà còn nhấn mạnh như vậy để y có thể hợp tác một cách có ý thức trong công việc của [280] Chân sư trên các thể của mình, và theo dõi một cách sáng suốt những tác động được tạo ra. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
c. At stated intervals the Master takes His pupils, and enables them to contact other evolutions, such as the great angels and devas, the lesser builders and the sub-human evolutions. This can be safely done by the pupil through the protective effect of the Master’s aura. Later, when himself an initiate, the pupil will be taught how to protect himself and to make his own contacts. |
c. Vào những thời điểm định trước, Chân sư đưa các môn sinh của Ngài đi và giúp họ tiếp xúc với những dòng tiến hoá khác, như các thiên sứ và thiên thần vĩ đại, các vị tiểu kiến tạo và những dòng tiến hoá dưới nhân loại. Môn sinh có thể làm điều này một cách an toàn nhờ tác dụng bảo vệ của hào quang Chân sư. Về sau, khi chính y là một điểm đạo đồ, môn sinh sẽ được dạy cách tự bảo vệ và tự thiết lập những sự tiếp xúc của mình. |
|
d. The Master presides over the work of stimulating the centres in the pupil’s bodies and the awakening of the inner fire. He teaches the pupil the meaning of the centres and their correct fourth dimensional rotation and in time He will bring the pupil to a point where he can consciously and with full knowledge of the law work with his centres, and bring them to a point where they can be safely stimulated by the Rod of Initiation. More on this subject is not yet possible……… (Brother of mine, may I here interpolate a personal word of advice? The need of the hour is so great, and our desire to transmit further teaching to students of meditation, that those of you who shew signs of being able to make contacts that permit of our transmitting the teaching are begged to so discipline and purify your vehicles at any cost that we may still further use you. Much may be later imparted anent the centres should you and others whom we can reach shew signs of siwe [wise?] discrimination and intuitive insight. Work, therefore, brother of old, at your own bodies, strengthening and purifying them. Mayhap the time will then come when further light upon this matter may be safely communicated, for in the centres lies hid the secret and in their wise development cometh the awakening of the powers of the Spirit and the rounding out of the 3-fold man.) |
d. Chân sư chủ trì công việc kích thích các trung tâm trong các thể của môn sinh và đánh thức lửa bên trong. Ngài dạy môn sinh ý nghĩa của các trung tâm và sự quay đúng đắn của chúng trong chiều thứ tư; đến lúc thích hợp, Ngài sẽ đưa môn sinh tới chỗ có thể làm việc với các trung tâm của mình một cách hữu thức, với sự hiểu biết đầy đủ về định luật, và đưa chúng tới chỗ có thể an toàn tiếp nhận sự kích thích của Thần Trượng Điểm đạo. Hiện chưa thể nói thêm về chủ đề này……… (Huynh đệ của Tôi, xin cho Tôi được xen vào đây một lời khuyên riêng tư. Nhu cầu của thời điểm này quá lớn, và chúng tôi mong muốn truyền thêm giáo huấn cho các đạo sinh về tham thiền, nên chúng tôi khẩn thiết đề nghị những bạn có dấu hiệu cho thấy khả năng thiết lập những tiếp xúc cho phép chúng tôi truyền đạt giáo huấn, hãy rèn luyện và thanh lọc các hiện thể của mình bằng mọi giá, để chúng tôi có thể tiếp tục dùng các bạn. Sau này, có thể truyền đạt nhiều điều về các trung tâm, nếu các bạn và những người khác mà chúng tôi có thể tiếp cận cho thấy dấu hiệu của sự [khôn ngoan?] phân biện và sự thấu suốt bằng trực giác. Huynh đệ của Ngày Xưa, vì vậy, hãy làm việc với chính các thể của bạn, củng cố và thanh lọc chúng. Có lẽ khi ấy sẽ đến lúc có thể an toàn truyền đạt thêm ánh sáng về vấn đề này, vì bí mật ẩn giấu trong các trung tâm và chính trong sự phát triển khôn ngoan của chúng có sự đánh thức các quyền năng của Tinh thần và sự hoàn thiện con người tam phân.) |
|
I have only touched in the briefest manner on a few of the things a Master has to do with His pupils. I take not up the later stages of the pupil’s progress. We lead all on by gradual steps, and as yet even accepted disciples are rare. If by meditation, service, and the purifying of the bodies, those now on probation can be led to make more rapid progress, then will come the time for the communication of further information. What use is it to give facts of which the student cannot as yet make use? We waste not time in interesting intellectually those we seek to help. When the pupil has equipped himself, when he has purified himself and is vibrating adequately, naught can withhold all knowledge from him. When he opens the [281] door and widens the channel, light and knowledge will pour in. |
Tôi chỉ đề cập hết sức vắn tắt đến một vài điều mà một Chân sư phải làm với các môn sinh của Ngài. Tôi không bàn đến những giai đoạn tiến bộ về sau của môn sinh. Chúng tôi dẫn dắt tất cả tiến lên từng bước, và cho đến nay, ngay cả các đệ tử được chấp nhận cũng còn hiếm. Nếu nhờ tham thiền, phụng sự và thanh lọc các thể của mình, những người hiện đang trên Con Đường Dự Bị có thể tiến bộ nhanh hơn, thì sẽ đến lúc truyền đạt thêm thông tin. Cung cấp những sự kiện mà đạo sinh chưa thể vận dụng thì có ích gì? Chúng tôi không lãng phí thời gian để khơi gợi hứng thú trí tuệ ở những người chúng tôi tìm cách giúp đỡ. Khi môn sinh đã tự trang bị, đã thanh lọc bản thân và rung động ở mức thích hợp, không gì có thể ngăn y tiếp nhận toàn bộ tri thức. Khi y mở [281] cánh cửa và mở rộng đường dẫn, ánh sáng và tri thức sẽ tuôn vào. |
|
Tomorrow we will take up our third point, methods of approach to a Master via meditation; certain types of meditation will be slightly enlarged upon which will facilitate contact, but forget not that the life of objective service must keep pace with the subjective growth; only when the two are seen together and approved are the necessary steps for contact permitted. A Master is only interested in a man from the point of view of his usefulness in the group soul, and his capacity to help. |
Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến điểm thứ ba: các phương pháp tiếp cận một Chân sư qua tham thiền; chúng ta sẽ trình bày rộng hơn đôi chút về một số loại tham thiền giúp việc tiếp xúc được thuận lợi, nhưng đừng quên rằng đời sống phụng sự khách quan phải theo kịp sự tăng trưởng chủ quan; chỉ khi cả hai cùng được xem xét và chấp thuận thì mới cho phép thực hiện những bước cần thiết để tiếp xúc. Một Chân sư chỉ quan tâm đến một người xét theo tính hữu ích của y trong Hồn nhóm và khả năng giúp đỡ của y. |
|
September 19th, 1920. |
Ngày 19 tháng 9 năm 1920. |
|
We can today take up our last two points practically simultaneously. They deal with methods of approach to the Masters and the objective effects on the three planes of human evolution. Some of the points touched upon are already well known. Others may not be so familiar to the general student……. We have, during the writing of these letters, touched briefly and in the form of wide generalities this very abstruse and occult subject of meditation. In these letters we have dealt with the student himself and what he has to bring to the endeavour; we have indicated likewise his goal—and very sketchily—the forms and methods whereby success may be achieved. We have dealt also with those aids to meditation, the Sacred Word, Colour and Sound, and have indicated that which (brooded upon in silence) may lead to the student making some discoveries for himself. Lastly we have tried to bring the Masters and Their reality nearer to the student, and thereby facilitate his approach to Them. |
Hôm nay, chúng ta có thể bàn đến hai điểm cuối cùng gần như đồng thời. Hai điểm này đề cập đến các phương pháp tiếp cận các Chân sư và những hiệu quả khách quan trên ba cõi tiến hoá của nhân loại. Một số điểm được đề cập đã khá quen thuộc. Những điểm khác có thể chưa quen thuộc đến thế với đạo sinh nói chung……. Trong quá trình viết những bức thư này, chúng ta đã đề cập ngắn gọn và dưới dạng những khái quát rộng đến chính chủ đề tham thiền rất thâm sâu và huyền bí này. Trong những bức thư này, chúng ta đã đề cập đến chính đạo sinh và những gì y phải đóng góp vào nỗ lực ấy; chúng ta cũng đã chỉ ra mục tiêu của y và—chỉ rất sơ lược—những hình thức cùng phương pháp có thể đưa đến thành công. Chúng ta cũng đã đề cập đến những phương tiện hỗ trợ tham thiền, tức Linh từ Thiêng liêng, Màu sắc và Âm thanh, và đã chỉ ra điều mà, khi suy ngẫm trong im lặng, có thể dẫn đạo sinh đến một số khám phá của riêng mình. Cuối cùng, chúng ta đã cố gắng đưa các Chân sư và thực tại của Các Ngài đến gần đạo sinh hơn, qua đó giúp y tiếp cận Các Ngài dễ dàng hơn. |
|
What now remains to be done? To indicate five things that may be looked for with conviction by the student who has endeavoured to conform his life to the lines laid down by me in these letters. If the student but provides the right conditions, if he conforms to the necessary [282] rules, if he aims always at regularity, at calmness, at that inner concentration that holds the mystery of the High Places, he will on certain occasions and with ever-increasing frequency awake to some definite realisations. These realisations will be the outer recognition of inner results, and will be the guarantee to him that he is on the right path. But I would here point out again that these results are only achieved after long practice, strenuous struggle, diligent disciplining of the threefold lower man, and consecrated service to the world. |
Giờ đây còn phải làm gì? Chỉ ra năm điều mà đạo sinh đã cố gắng điều chỉnh cuộc sống theo những đường hướng Tôi trình bày trong các bức thư này có thể tin chắc sẽ gặp được. Chỉ cần đạo sinh tạo ra những điều kiện thích hợp, tuân theo các [282] quy luật cần thiết, luôn hướng đến sự đều đặn, sự bình tâm và sự tập trung nội tâm chứa đựng huyền nhiệm của những Chốn Cao Siêu, thì vào những lúc nhất định, và ngày càng thường xuyên hơn, y sẽ bừng tỉnh trước một số nhận biết rõ rệt. Những nhận biết này sẽ là sự ghi nhận bên ngoài về các kết quả bên trong, và bảo đảm với y rằng y đang đi đúng đường. Nhưng ở đây, Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng chỉ sau thời gian thực hành lâu dài, đấu tranh quyết liệt, chuyên cần rèn luyện phàm nhân tam phân và phụng sự thế gian với tinh thần thánh hiến, mới có thể đạt được những kết quả này. |
Methods of approach and effects obtained. – Các phương pháp tiếp cận và những hiệu quả đạt được.
|
The methods of approach are broadly three and we might indicate five results that will eventuate from the employment of these methods. The three methods are:— |
Nhìn chung, có ba phương pháp tiếp cận, và chúng ta có thể chỉ ra năm kết quả sẽ phát sinh khi sử dụng các phương pháp này. Ba phương pháp ấy là:— |
|
1. Sanctified service. |
1. Phụng sự thánh hiến. |
|
2. Love demonstrating through wisdom. |
2. Tình thương biểu lộ qua minh triết. |
|
3. Intellectual application. |
3. Vận dụng trí năng. |
|
They are all three but diverse methods of expressing one and the same thing,—active one-pointedness that expresses itself in service for the race through love and wisdom. But some individuals express this in one way and some in another; some carry the outer appearance of intellectuality and others of love, yet before the attainment is possible intellectuality must be based on love, whilst love without mental development and that discrimination that mind affords is apt to be unbalanced and unwise. Both love and mind must be expressed in terms of service before the full flower of either is attained. Let us consider each of these methods separately and indicate the meditation to be followed thereon:— |
Cả ba chỉ là những phương pháp khác nhau để biểu đạt cùng một điều,—sự nhất tâm tích cực biểu lộ trong việc phụng sự nhân loại qua tình thương và minh triết. Nhưng người này biểu đạt điều đó theo cách này, người khác theo cách khác; một số người có vẻ ngoài thiên về trí năng, những người khác thiên về tình thương, nhưng trước khi có thể thành tựu, trí năng phải đặt nền tảng trên tình thương, trong khi tình thương thiếu sự phát triển trí tuệ và khả năng phân biện mà trí tuệ mang lại thì dễ mất quân bình và thiếu sáng suốt. Cả tình thương lẫn trí tuệ đều phải biểu đạt qua phụng sự trước khi một trong hai có thể nở hoa trọn vẹn. Chúng ta hãy xem xét riêng từng phương pháp và chỉ ra cách tham thiền cần thực hành theo phương pháp ấy:— |
|
Sanctified Service. This is the method of the man who wields the law, the method of the occultist, and the rudiments of the method are laid down in raja-yoga [283]………….. discipline in the ES. The word “sanctification,” as you know, in the basic sense signifies the complete surrender of the whole being to one object, the Lord or Ruler. It means the giving wholly to the one the devotee aspires to. It means the consecration of the whole threefold man to the work in hand. It entails, therefore, the application of the entire time and self to the bringing of each body under the subjugation of the Ego, and the complete mastery of each plane and subplane. It involves the comprehension of each evolution and form of divine life as found on those planes and sub-planes, with one aim in view and only one—the furthering of the plan of the Hierarchy of Light. The method followed is that of the intensest application to the work of rounding out the bodies and of making them fit instruments for service. It is perhaps the hardest way that a man can tread. It leaves no department of the life untouched. All is brought under law. In meditation therefore the form of that meditation will be a threefold structure:— |
Phụng Sự Thánh Hiến. Đây là phương pháp của người vận dụng định luật, phương pháp của nhà huyền bí học, và những nền tảng sơ khởi của phương pháp này được trình bày trong phép yoga vương giả [283]………….. sự rèn luyện trong ES [Phân bộ Nội Môn]. Như các bạn biết, từ “thánh hiến”, theo nghĩa căn bản, chỉ sự hiến dâng trọn vẹn toàn bộ con người cho một đối tượng duy nhất, tức Chúa Tể hay Đấng Cai Quản. Nó hàm ý hiến dâng hoàn toàn cho Đấng mà người sùng tín khao khát hướng tới. Nó hàm ý thánh hiến toàn bộ con người tam phân cho công việc đang thực hiện. Vì vậy, nó đòi hỏi dành toàn bộ thời gian và bản thân để đưa từng thể của phàm ngã dưới quyền điều khiển của Chân ngã, và hoàn toàn làm chủ từng cõi cùng từng cõi phụ. Nó bao hàm việc thấu hiểu từng dòng tiến hoá và từng hình tướng của sự sống thiêng liêng trên các cõi và cõi phụ ấy, với một mục tiêu duy nhất—thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh đoàn Ánh sáng. Phương pháp thực hành là dốc sức cao độ nhất vào công việc hoàn thiện các thể của phàm ngã và làm cho chúng trở thành những công cụ thích hợp để phụng sự. Có lẽ đây là con đường khó khăn nhất mà con người có thể đi. Không một lĩnh vực nào của cuộc sống nằm ngoài tác động của nó. Tất cả đều được đưa vào khuôn khổ định luật. Vì vậy, khi tham thiền, hình thức của bài tham thiền ấy sẽ có cấu trúc tam phân:— |
|
a. The laws governing the physical body will be studied and brooded over. This brooding will find expression in a rigid disciplining of the physical body. It will be set apart wholly for service, and subjected consequently to a process that will attune and develop it more quickly. |
a. Những định luật chi phối thể xác sẽ được nghiên cứu và suy ngẫm. Sự suy ngẫm này sẽ biểu lộ qua việc rèn luyện thể xác nghiêm ngặt. Thể xác sẽ hoàn toàn dành riêng cho phụng sự, và do đó trải qua một tiến trình giúp nó hoà nhịp và phát triển nhanh hơn. |
|
b. The body of the emotions will be scientifically studied and the laws of water (occultly understood) will be comprehended. The significance of the term, “there shall be no more sea” will be known, and the sea of storm and passion will be superseded by the sea of glass, which directly reflects the higher intuition, and mirrors it with perfect accuracy, being unruffled and immovable. The emotional body will [284] be set apart wholly for service, and its place in the threefold microcosm will be regarded as corresponding to that in the macrocosm, whilst the occult significance of its being the only complete unit in the threefold lower nature will be apprehended, and the fact made use of to effect certain results. Ponder on this. |
b. Thể cảm dục sẽ được nghiên cứu một cách khoa học, và những định luật của nước (hiểu theo nghĩa huyền bí) sẽ được thấu hiểu. Thâm nghĩa của câu “sẽ không còn biển nữa” sẽ được nhận biết, và biển bão tố cùng đam mê sẽ nhường chỗ cho biển pha lê, trực tiếp phản chiếu trực giác cao siêu với độ chính xác hoàn hảo, vì nó không gợn sóng và bất lay chuyển. Thể cảm dục sẽ [284] hoàn toàn dành riêng cho phụng sự, và vị trí của nó trong tiểu thiên địa tam phân sẽ được xem là tương ứng với vị trí ấy trong đại thiên địa; đồng thời, thâm nghĩa huyền bí của việc nó là đơn vị hoàn chỉnh duy nhất trong bản chất thấp tam phân sẽ được lĩnh hội, và sự kiện này sẽ được vận dụng để tạo ra những kết quả nhất định. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
c. The place of lower mind in the scheme of things will be studied, and the quality of discrimination developed. Discrimination and fire are occultly allied and just as the Logos by fire tries every man’s work of what sort it is, so the microcosm on a lesser scale has to do the same. Just as the Logos likewise does this paramountly in the fifth round of judgment and of separation, so the microcosm on his lesser scale does the same in the last and fifth period of his evolution,—touched upon and described earlier in these letters. Every power of the mind will be utilised to the uttermost for the furtherance of the plans of evolution; first in the man’s own development, then in the special field of work wherein he expresses himself, and lastly in his relationship with other units of the race, as he constitutes himself their guide and servant. |
c. Vị trí của hạ trí trong trật tự vạn vật sẽ được nghiên cứu, và phẩm tính phân biện sẽ được phát triển. Phân biện và lửa có mối liên hệ huyền bí; cũng như Thượng đế dùng lửa để thử nghiệm công việc của mỗi người, xem công việc ấy thuộc loại nào, tiểu thiên địa cũng phải làm như thế ở quy mô nhỏ hơn. Tương tự, cũng như Thượng đế thực hiện điều này chủ yếu trong cuộc tuần hoàn thứ năm của sự phán xét và phân chia, tiểu thiên địa cũng làm như thế ở quy mô nhỏ hơn trong giai đoạn cuối cùng, tức giai đoạn thứ năm của tiến hoá của y,—đã được đề cập và mô tả trước đây trong những bức thư này. Mọi quyền năng của trí tuệ sẽ được vận dụng đến mức tối đa để thúc đẩy những kế hoạch tiến hoá; trước hết trong sự phát triển của chính con người ấy, rồi trong lĩnh vực công việc đặc biệt mà qua đó y biểu đạt bản thân, và cuối cùng trong quan hệ của y với những đơn vị khác của nhân loại, khi y trở thành người hướng dẫn và phụng sự họ. |
|
See you therefore the synthesis of it? First the strenuous one-pointedness that is the sign of the occultist blended with the wisdom and love which are reflected from the higher in the mirror of the emotional body, and then the intellect forced to act as the servant of the Ego through one-pointed effort animated by love and wisdom. The result will be the true Yogi. |
Vậy các bạn có thấy sự tổng hợp trong đó không? Trước hết là sự nhất tâm mạnh mẽ, dấu hiệu của nhà huyền bí học, hoà quyện với minh triết và tình thương từ cõi cao phản chiếu trong tấm gương của thể cảm dục; rồi trí năng được buộc phải phụng sự Chân ngã qua nỗ lực nhất tâm do tình thương và minh triết thúc đẩy. Kết quả sẽ là hành giả yoga chân chính. |
|
I would point out here that the true Yogi is he who, after due carrying out of the set forms and times of meditation, merges that meditation in the everyday living, and will eventually be in the attitude of meditation all the day. [285] Meditation is the means whereby the higher consciousness is contacted. When the contact becomes continuous, meditation, as you understand it, is superseded. In this first method the occult student works from the periphery to the centre, from the objective to the subjective, from the form to the life within the form. Therefore through the emphasis laid in Raja Yoga on the physical body and its wise control the occultist realises the essential importance of the physical, and the uselessness of all his knowledge apart from a physical body whereby he can express himself and serve the race. It is the line of the first ray, and its affiliated or complementary ray. |
Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng hành giả yoga chân chính là người, sau khi thực hành đúng những hình thức và thời gian tham thiền đã ấn định, hoà nhập sự tham thiền ấy vào cuộc sống hằng ngày, và cuối cùng sẽ giữ thái độ thiền định suốt cả ngày. [285] Tham thiền là phương tiện để tiếp xúc với tâm thức cao siêu. Khi sự tiếp xúc trở nên liên tục, tham thiền, như các bạn hiểu, sẽ nhường chỗ cho trạng thái ấy. Trong phương pháp thứ nhất này, đạo sinh huyền bí học đi từ chu vi vào trung tâm, từ khách quan đến chủ quan, từ hình tướng đến sự sống bên trong hình tướng. Vì vậy, qua sự chú trọng của phép yoga vương giả vào thể xác và việc kiểm soát thể xác một cách sáng suốt, nhà huyền bí học nhận ra tầm quan trọng thiết yếu của phương diện hồng trần, cũng như sự vô ích của mọi kiến thức của y nếu thiếu một thể xác để qua đó y có thể biểu đạt bản thân và phụng sự nhân loại. Đây là đường hướng của cung một, cùng cung liên hệ hoặc bổ trợ của nó. |
|
Love and Wisdom. This method is the line of least resistance for the sons of men. It is the sub-ray of the synthetic ray of an analogous vibration, of which our solar system is the objective manifestation. But I would seek to point out that the love achieved by the student of meditation who follows this line is not the sentimental conception that is so often discussed. It is not the non-discriminating love that sees no limitation, nor concedes a fault. It is not the love that seeks not to correct and that expresses itself in an ill advised attitude to all who live. It is not the love that sweeps all into service, suitable or unsuitable, and that recognises no difference in point of development. Much that is called love,—if logically followed out—would apparently dispense with the ladder of evolution, and rank all as of equal value. So potentially all are, but in present terms of service all are not. |
Tình Thương và Minh Triết. Phương pháp này là con đường ít trở ngại nhất đối với những người con của nhân loại. Nó là cung phụ của cung tổng hợp có rung động tương đồng, mà hệ mặt trời của chúng ta là biểu hiện khách quan. Nhưng Tôi muốn chỉ ra rằng tình thương mà đạo sinh tham thiền theo đường hướng này đạt được không phải là quan niệm tình cảm thường được bàn luận. Đó không phải là tình thương thiếu phân biện, không thấy giới hạn nào và không thừa nhận lỗi lầm nào. Đó không phải là tình thương không tìm cách sửa chữa và biểu lộ qua thái độ thiếu sáng suốt đối với mọi sinh linh. Đó không phải là tình thương lôi cuốn tất cả vào phụng sự, dù thích hợp hay không, và không nhận ra khác biệt về mức độ phát triển. Nhiều điều được gọi là tình thương,—nếu suy xét đến cùng một cách hợp lý—dường như sẽ xoá bỏ thang tiến hoá và xem tất cả đều có giá trị ngang nhau. Về tiềm năng, tất cả quả thật như thế, nhưng xét theo khả năng phụng sự hiện tại thì không phải tất cả đều như vậy. |
|
True love or wisdom sees with perfect clarity the deficiencies of any form, and bends every effort to aid the indwelling life to liberate itself from trammels. It wisely recognises those that need help, and those that need not its attention. It hears with precision, and sees the thought of the heart and seeks ever to blend into one whole the [286] workers in the field of the world. This it achieves not by blindness, but by discrimination and wisdom, separating contrary vibrations and placing them in position diverse. Too much emphasis has been laid on that called love (interpreted by man, according to his present place in evolution) and not enough has been placed on wisdom, which is love expressing itself in service, such a service that recognises the occult law, the significance of time, and the point achieved. |
Tình thương hay minh triết chân chính nhìn thấy hết sức rõ ràng những thiếu sót của bất kỳ hình tướng nào, và dốc mọi nỗ lực giúp sự sống nội tại tự giải thoát khỏi những ràng buộc. Nó sáng suốt nhận ra ai cần trợ giúp, và ai không cần sự chú ý của nó. Nó nghe chính xác, thấy được tư tưởng trong lòng và luôn tìm cách hoà nhập thành một tổng thể những [286] người hoạt động trong trường phụng sự thế gian. Nó đạt được điều này không phải bằng sự mù quáng, mà bằng phân biện và minh triết, tách những rung động đối nghịch ra và đặt chúng vào những vị trí khác nhau. Người ta đã quá chú trọng điều gọi là tình thương (theo cách con người diễn giải từ vị trí hiện tại của mình trong tiến hoá), mà chưa chú trọng đủ đến minh triết, vốn là tình thương biểu lộ qua phụng sự—một sự phụng sự nhận biết định luật huyền bí, thâm nghĩa của thời gian và mức độ đã đạt được. |
|
This is the line of the second ray and its affiliated and complementary rays. Later it is the all-inclusive one, and the solvent and absorber. It can be followed, being synthetic, on either the Raja Yoga line or the Christian Gnostic line, owing to its synthetic significance…. Later, when the ES disciplines are re-adjusted and expanded, the Christian gnostic discipline will be otherwise named, and it will include all who seek the path of wisdom, e’en when not expressed in terms of Christianity. |
Đây là đường hướng của cung hai cùng các cung liên hệ và bổ trợ của nó. Về sau, nó trở thành đường hướng bao gồm tất cả, hoà tan và hấp thu. Do tính tổng hợp của nó, người ta có thể theo đường hướng này qua phép yoga vương giả hoặc qua đường hướng Ngộ đạo Cơ Đốc, nhờ thâm nghĩa tổng hợp của nó…. Về sau, khi các phép rèn luyện của ES [Phân bộ Nội Môn] được điều chỉnh lại và mở rộng, phép rèn luyện Ngộ đạo Cơ Đốc sẽ có một tên gọi khác, và sẽ bao gồm tất cả những ai tìm đến con đường minh triết, ngay cả khi không diễn đạt theo cách của Cơ Đốc giáo. |
|
Intellectual application. Here the order is reversed and the student, being frequently polarised in his mental body has to learn through that mind to understand the other two, to dominate and control, and to utilise to the uttermost the powers inherent in the threefold man. The method here is perhaps not so hard in some ways, but the limitations of the fifth principle have to be transcended before real progress can be made. These limitations are largely crystallisation and that which you call pride. Both have to be broken before the student who progresses through intellectual application can serve his race with love and wisdom as the animating cause. |
Vận dụng trí năng. Ở đây, trình tự đảo ngược, và đạo sinh, do thường phân cực trong thể trí, phải học cách dùng thể trí ấy để thấu hiểu hai thể kia, chế ngự và kiểm soát chúng, đồng thời vận dụng tối đa những quyền năng vốn có trong con người tam phân. Theo một số phương diện, phương pháp này có lẽ không khó bằng, nhưng phải vượt qua những giới hạn của nguyên khí thứ năm trước khi có thể thực sự tiến bộ. Những giới hạn này chủ yếu là sự kết tinh và điều mà các bạn gọi là lòng kiêu hãnh. Cả hai đều phải bị phá vỡ trước khi đạo sinh tiến bộ qua việc vận dụng trí năng có thể phụng sự nhân loại với tình thương và minh triết làm động lực. |
|
He has to learn the value of the emotions, and in so learning he has to master the effect of fire on water, occultly understood. He has to learn the secret of that plane, which secret (when known) gives him the key to the downpour of illumination from the Triad via the causal and thence to the astral. It holds the key also of the fourth etheric level. This will not as yet be comprehended [287] by you, but the above hint holds for the student much of value. |
Y phải học giá trị của cảm xúc, và trong khi học như thế, y phải làm chủ tác động của lửa lên nước, hiểu theo nghĩa huyền bí. Y phải học bí mật của cõi ấy; bí mật này, khi được biết, sẽ trao cho y chìa khoá để sự soi sáng tuôn xuống từ Tam nguyên tinh thần qua thể nguyên nhân, rồi từ đó đến thể cảm dục. Nó cũng nắm giữ chìa khoá của cõi phụ dĩ thái thứ tư. Hiện nay, các bạn chưa thể thấu hiểu điều này [287], nhưng gợi ý trên chứa đựng nhiều điều có giá trị đối với đạo sinh. |
|
This is the line of the third ray and of its four subsidiary rays, and is one of great activity, of frequent transference, and of much mental display in the lower worlds. |
Đây là đường hướng của cung ba cùng bốn cung phụ thuộc của nó, một đường hướng có hoạt động mạnh mẽ, thường xuyên chuyển dịch và nhiều biểu lộ trí tuệ trong các cõi thấp. |
|
Only when the student, who progresses by intellectual application, has learned the secret of the fifth plane, will he live the life of sanctified service, and so blend the three rays. Always synthesis most be attained, but always the fundamental colouring or tone remains. The next or fifth round will show the greatest exposition of this method. It will be the round of supreme mental development, and will carry its evolving Monads to heights undreamed of now. |
Chỉ khi đạo sinh tiến bộ bằng việc vận dụng trí năng đã học được bí mật của cõi thứ năm, y mới sống đời phụng sự thánh hiến, và nhờ đó hoà nhập ba cung. Luôn phải đạt đến sự tổng hợp, nhưng sắc thái hay âm điệu căn bản luôn còn lại. Cuộc tuần hoàn kế tiếp, tức cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ biểu lộ phương pháp này ở mức cao nhất. Đó sẽ là cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối cao, đưa các chân thần đang tiến hoá của nó lên những đỉnh cao mà hiện nay chưa ai mơ tới. |
|
This round marks the height of the second method, that through love or wisdom. It is the fourth round, that wherein the emotional reaches a high point of vibration, and there is direct connection between the fourth plane of harmony, between the emotional body, or the fourth principle, the quaternary, the fourth root-race or the Atlantean which co-ordinated the astral. I give you food for thought in these correspondences. |
Cuộc tuần hoàn hiện tại đánh dấu đỉnh cao của phương pháp thứ hai, phương pháp qua tình thương hay minh triết. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, trong đó phương diện cảm xúc đạt đến một mức rung động cao, và có sự liên hệ trực tiếp giữa cõi thứ tư của sự hài hoà, thể cảm dục hay nguyên khí thứ tư, bộ bốn, và Giống dân gốc thứ tư, tức Atlantis, đã phối hợp phương diện cảm dục. Qua những sự tương ứng này, Tôi trao cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm. |
|
It is the method of the Pythagorean discipline as taught in the ES. |
Đây là phương pháp rèn luyện theo trường phái Pythagoras, như được giảng dạy trong ES [Phân bộ Nội Môn]. |
|
September 21st, 1920. |
Ngày 21 tháng 9 năm 1920. |
Five effects of Meditation in the three worlds. – Năm hiệu quả của Tham thiền trong ba cõi giới.
|
Today we are to take up the five effects in the three bodies in the lower worlds that the student of meditation will be conscious of if he has duly followed the course laid down. |
Hôm nay, chúng ta sẽ bàn đến năm hiệu quả trong ba thể của phàm ngã ở các cõi thấp mà đạo sinh tham thiền sẽ nhận biết nếu y đã thực hành đúng đường hướng được trình bày. |
|
These effects are not specifically effects in the life as apparent to the onlooking world, such as greater love or [288] spirituality or capacity to serve. What I seek today to bring out are the indications in the physical brain consciousness of the student that he has done some of the necessary work and is attaining somewhat the desired object. Keep this very clearly in mind. I do not seek to make clear all the many and various results achieved by the successful following of the occult laws of meditation. I deal here only with one phase of the matter, and that is, the realisation, in the physical brain consciousness, of certain results along the line of our immediate topic,—access to the Masters. |
Những hiệu quả này không phải cụ thể là các hiệu quả trong cuộc sống mà thế giới bên ngoài có thể quan sát, chẳng hạn như tình thương lớn hơn hay [288] tính tinh thần hoặc khả năng phụng sự cao hơn. Điều Tôi muốn làm nổi bật hôm nay là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần của đạo sinh cho thấy y đã thực hiện một phần công việc cần thiết và đang phần nào đạt được mục tiêu mong muốn. Hãy ghi nhớ điều này thật rõ ràng. Tôi không tìm cách làm sáng tỏ mọi kết quả đa dạng có thể đạt được nhờ tuân theo thành công những định luật huyền bí của tham thiền. Ở đây, Tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh của vấn đề, tức là sự nhận biết, trong tâm thức bộ não hồng trần, về một số kết quả theo đường hướng của chủ đề trực tiếp chúng ta đang bàn,—tiếp cận các Chân sư. |
|
This narrows down our subject to that of a conscious realisation of the Masters and of some one particular Master by the student in his physical brain. This realisation is very largely independent of his place upon the Path, of his nearness to or distance from initiation. Some very advanced egos may be working at this problem, and be close indeed to their Master, without being able to bring through to the physical brain specific facts proving to them this nearness. Some effect this knowledge at earlier stages than others. It is dependent upon the type of body in use and the work done in previous lives, resulting in a physical vehicle that is a fairly just exponent of the inner man. Oft the man is of far greater calibre and attainment on the inner planes than he is on the physical. So many of our most earnest workers in this particular half century are working out evil karma through the possession of inadequate bodies. Through diligence, application, high endeavour, and the long and patient following of the rules laid down, there comes a time when the student is suddenly conscious—right within the physical brain—of certain unexpected events, an illumination or a seeing that has before been unknown. It is something that is so real yet so momentarily surprising that no amount of subsequent [289] apparent disproving can take away fron him the knowledge that he saw, he contacted, he felt. |
Điều này thu hẹp chủ đề của chúng ta vào sự nhận biết có ý thức của đạo sinh, trong bộ não hồng trần của y, về các Chân sư và một Chân sư cụ thể nào đó. Sự nhận biết này phần lớn không phụ thuộc vào vị trí của y trên Đường Đạo, hay mức độ gần hoặc xa của y đối với điểm đạo. Một số chân ngã rất tiến bộ có thể đang nỗ lực giải quyết vấn đề này và thực sự ở rất gần Chân sư của mình, nhưng vẫn không thể đưa vào bộ não hồng trần những sự kiện cụ thể chứng minh cho họ thấy sự gần gũi ấy. Một số người đạt được sự hiểu biết này ở những giai đoạn sớm hơn những người khác. Điều đó phụ thuộc vào loại thân thể đang sử dụng và công việc đã thực hiện trong những kiếp trước, dẫn đến một vận cụ hồng trần có thể biểu đạt tương đối trung thực con người bên trong. Con người thường có tầm vóc và sự thành tựu trên các cõi bên trong lớn hơn nhiều so với trên cõi hồng trần. Rất nhiều người hoạt động nhiệt thành nhất của chúng ta trong nửa thế kỷ này đang giải quyết nghiệp quả xấu qua việc có những thân thể không thích hợp. Nhờ chuyên cần, dốc sức, nỗ lực cao cả và kiên nhẫn tuân theo lâu dài những quy luật đã trình bày, sẽ đến một lúc đạo sinh đột nhiên nhận biết—ngay trong bộ não hồng trần—một số sự kiện bất ngờ, một sự soi sáng hay một sự thấy biết trước đây chưa từng có. Đó là điều chân thực đến mức, dù gây kinh ngạc trong khoảnh khắc, không một sự [289] bác bỏ có vẻ thuyết phục nào về sau có thể tước khỏi y sự biết chắc rằng y đã thấy, đã tiếp xúc, đã cảm nhận. |
|
As often I have told you, it is not possible in any way in this work to do more than widely generalise. Sixty thousand million souls in process of evolving, each following certain rounds of lives totally different from those of others, offer a wide field to choose from, and no one experience is exactly the same as another. But it might be generally laid down that there are five ways (out of the many possible) which are of such frequent occurrence, comparatively speaking, as to warrant our enumerating them. All have been hinted at, but I may somewhat enlarge the already imparted data. |
Như Tôi đã thường nói với các bạn, trong công việc này, không thể làm gì hơn ngoài việc khái quát rộng. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang tiến hoá, mỗi linh hồn đi qua những chu kỳ kiếp sống hoàn toàn khác với những linh hồn khác, tạo nên một phạm vi lựa chọn rộng lớn, và không một trải nghiệm nào hoàn toàn giống một trải nghiệm khác. Nhưng có thể nói một cách khái quát rằng có năm cách, trong số nhiều cách có thể có, xảy ra tương đối thường xuyên đến mức đáng để chúng ta liệt kê. Tất cả đều đã được gợi ý, nhưng Tôi có thể khai triển thêm phần nào những thông tin đã truyền đạt. |
Seeing the Master and the self within the cave of the heart. – Thấy Chân sư và bản thân trong hang động của trái tim.
|
As you know, the student has often been told to visualise himself and the Master—about the size of a quarter inch—within the circumference of the etheric heart. He is told to picture, toward the close of his meditation the heart etheric, and therein build minute forms of the Master to Whom he is drawn and of himself. This he proceeds to do with due and elaborate care, with the aid of the imagination and loving effort, working daily on his figures till they become to him very real, and their building and forming becomes almost an automatic part of his meditation form. Then comes a day (usually when astrological conditions are fit and the moon approaches the full) when he becomes conscious within his brain that those figures are not the little puppets he thinks, but that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity before the Master. This occurs at rare intervals at first, and the consciousness of the fact is held but for a few brief seconds; as progress is made, and every department of his nature and of his service develops, with greater frequency will come the experience, [290] with longer periods will it be marked, until there comes a time when the pupil can link up as easily in this manner with his Master as earlier he formed his figures. |
Như các bạn biết, đạo sinh thường được hướng dẫn hình dung bản thân và Chân sư—với kích thước khoảng một phần tư inch—bên trong chu vi của trái tim dĩ thái. Y được hướng dẫn rằng, khi sắp kết thúc buổi tham thiền, hãy hình dung trái tim dĩ thái và xây dựng trong đó những hình tướng rất nhỏ của Chân sư mà y bị thu hút đến, cùng hình tướng của chính mình. Y thực hiện điều này với sự cẩn trọng thích đáng và kỹ lưỡng, nhờ sự tưởng tượng cùng nỗ lực đầy tình thương, hằng ngày chăm chút những hình tượng ấy cho đến khi chúng trở nên rất chân thực đối với y, và việc xây dựng, tạo hình chúng gần như trở thành một phần tự động trong hình thức tham thiền của y. Rồi sẽ đến một ngày, thường khi những điều kiện chiêm tinh thích hợp và mặt trăng gần tròn, y nhận biết trong bộ não rằng những hình tượng ấy không phải là những con rối nhỏ như y nghĩ, mà y đang ở bên trong hình tượng đại diện cho mình, và thực sự đứng trước Chân sư theo đúng nghĩa đen. Lúc đầu, điều này hiếm khi xảy ra, và sự nhận biết về sự kiện ấy chỉ kéo dài vài giây ngắn ngủi; khi y tiến bộ, và mọi lĩnh vực trong bản chất cùng việc phụng sự của y phát triển, trải nghiệm ấy sẽ đến thường xuyên hơn, [290] kéo dài lâu hơn, cho đến một lúc môn sinh có thể liên kết với Chân sư của mình theo cách này dễ dàng như trước đây y tạo dựng những hình tượng ấy. |
|
Just what did occur? The pupil had succeeded in doing three things:— |
Chính xác điều gì đã xảy ra? Môn sinh đã thành công trong ba việc:— |
|
1. Identifying himself with the figure within the heart, and aspiring to the Master. |
1. Đồng hoá với hình tượng bên trong trái tim và khát vọng hướng tới Chân sư. |
|
2. Making a definite channel between the heart centre (wherein he is endeavouring to focus his consciousness) and its corresponding head centre. Each of the seven centres in the body, as you know, has a counterpart within the head. It is in the linking up of the centre with its counterpart in the head that illumination comes. This,—in the case in point—has been accomplished by the student. He has connected the heart with its head centre. |
2. Tạo một đường dẫn rõ rệt giữa trung tâm tim, nơi y cố gắng tập trung tâm thức, và trung tâm đầu tương ứng của nó. Như các bạn biết, mỗi trung tâm trong số bảy trung tâm của thân thể đều có một đối phần trong đầu. Chính khi liên kết trung tâm ấy với đối phần của nó trong đầu, sự soi sáng xuất hiện. Trong trường hợp đang xét, đạo sinh đã hoàn thành điều này. Y đã nối trung tâm tim với trung tâm đầu tương ứng của nó. |
|
3. Not only has he accomplished the two above things but he has so purified that part of the physical brain that corresponds with the particular head centre that it can respond to the higher vibration necessitated, and therefore accurately record what has transpired. |
3. Không những hoàn thành hai việc trên, y còn thanh lọc phần bộ não hồng trần tương ứng với trung tâm đầu cụ thể ấy đến mức nó có thể đáp ứng với rung động cao hơn cần thiết, và do đó ghi nhận chính xác những gì đã xảy ra. |
Recognition of vibration. – Nhận biết rung động.
|
In this instance the method is not quite the same. The student becomes conscious during his moments of intensest aspiration in meditation of a certain peculiar vibration or sensation in his head. It may be in one of three places:— |
Trong trường hợp này, phương pháp không hoàn toàn giống như trên. Trong những khoảnh khắc khát vọng mãnh liệt nhất khi tham thiền, đạo sinh nhận biết một rung động hay cảm giác đặc biệt nào đó trong đầu. Nó có thể xuất hiện ở một trong ba vị trí:— |
|
a. At the top of the spine. |
a. Ở đỉnh cột sống. |
|
b. In the forehead. |
b. Ở trán. |
|
c. At the top of the head. |
c. Ở đỉnh đầu. |
|
I speak not here of the sensation that comes when psychic faculty develops, though there is an alliance between the two, but I speak of a definite vibration that accompanies contact with one of the Great Ones. The student at first is only conscious of a feeling of momentary heightening, which takes the form of a ripple or movement in the head. [291] At first it may be attended with some discomfort, if felt in the forehead it may cause tears and weeping, if at the top of the spine or base of the skull exhilaration and even dizziness, and if at the top of the head a sense of expansion with a feeling of fullness, as if the limiting skull were too confining. This wears off with greater use. It is all caused by a contact, momentary at first, with some one Master. In time the student comes to recognise this vibration and to associate it with some particular Great One, for each Master has His own vibration which impresses itself upon His pupils in a specific manner. This method of contact is frequently attended by perfume. In time the pupil learns how to raise his vibration to a certain pitch. Having done this he holds the vibration steady until he senses the Master’s answering vibration or the perfume. Then he endeavours to merge his consciousness with the Master’s as far as may be, to ascertain the Master’s will, and to understand what it is that the Master has to communicate. As time progresses and the response of the pupil grows, the Master on His side will attract his attention or signal to him approval (for instance by arousing this vibration within his head)…. |
Ở đây, Tôi không nói đến cảm giác xuất hiện khi năng lực thông linh phát triển, dù có mối liên hệ giữa hai điều này, mà nói đến một rung động rõ rệt đi kèm sự tiếp xúc với một trong Các Đấng Cao Cả. Lúc đầu, đạo sinh chỉ nhận biết một cảm giác được nâng cao trong khoảnh khắc, biểu lộ như một làn gợn hay một chuyển động trong đầu. [291] Ban đầu, nó có thể kèm theo một chút khó chịu; nếu cảm thấy ở trán, nó có thể khiến nước mắt trào ra và gây khóc; nếu ở đỉnh cột sống hay đáy hộp sọ, nó có thể gây hưng phấn và thậm chí chóng mặt; nếu ở đỉnh đầu, nó có thể tạo cảm giác mở rộng cùng cảm giác đầy tràn, như thể hộp sọ giới hạn quá chật hẹp. Những cảm giác này sẽ giảm dần khi việc thực hành trở nên thường xuyên hơn. Tất cả đều do sự tiếp xúc với một Chân sư nào đó, lúc đầu chỉ trong khoảnh khắc. Theo thời gian, đạo sinh dần nhận ra rung động này và liên hệ nó với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng của Ngài, tạo ấn tượng lên các môn sinh theo một cách đặc thù. Phương pháp tiếp xúc này thường đi kèm hương thơm. Theo thời gian, môn sinh học cách nâng rung động của mình lên một mức nhất định. Sau khi làm được điều này, y giữ rung động ổn định cho đến khi cảm nhận rung động đáp ứng của Chân sư hoặc hương thơm. Rồi y cố gắng hoà nhập tâm thức của mình với tâm thức của Chân sư đến mức có thể, để xác định ý chí của Ngài và thấu hiểu điều Ngài muốn truyền đạt. Khi thời gian trôi qua và sự đáp ứng của môn sinh tăng trưởng, về phía mình, Chân sư sẽ thu hút sự chú ý của y hoặc ra dấu tán thành với y, chẳng hạn bằng cách khơi dậy rung động này trong đầu y…. |
|
We will take the other 3 tomorrow, brother of mine. The little daughter causeth a vibration of lower mind, and I desire accuracy. |
Huynh đệ của Tôi, ngày mai chúng ta sẽ bàn đến ba điểm còn lại. Cô con gái nhỏ gây nên một rung động của Hạ trí, và Tôi muốn có sự chính xác. |
|
September 23rd, 1920. |
Ngày 23 tháng 9 năm 1920. |
|
Sept. 23rd, 1920. 7:30 pm. |
Ngày 23 tháng 9 năm 1920. 7 giờ 30 tối. |
|
There is quiet and peace now, brother of mine, and it may therefore be possible for us to conclude this 9th letter, having then but one more to complete the series I have intended giving you. The work for you hath been somewhat arduous by the constant touching of the vibration that maketh this work possible hath had and will have a definite effect that may make further apprehension of truth possible. Every time an aspirant aspires and temporarily succeeds in reaching the point aimed at, tendeth to stability and maketh the new and high vibration more accessible later. |
Huynh đệ của Tôi, hiện giờ đã có sự yên tĩnh và bình an, vì vậy có lẽ chúng ta có thể kết thúc bức thư thứ 9 này; khi đó chỉ còn một bức nữa để hoàn tất loạt thư Tôi đã dự định trao cho bạn. Công việc này đối với bạn có phần nhọc nhằn, vì việc liên tục tiếp xúc với rung động khiến công việc này có thể thực hiện đã và sẽ có một tác động rõ rệt, có thể giúp bạn lĩnh hội chân lý sâu hơn. Mỗi lần một người chí nguyện khát vọng và tạm thời thành công trong việc đạt đến điểm mình nhắm tới, điều đó giúp tạo sự ổn định và khiến rung động mới và cao ấy dễ tiếp cận hơn về sau. |
|
……We have now our three remaining points to take up, having already dealt with the two that touched upon contact with the Master in the cave of the heart, and the recognition of His vibration. There are still three other ways (out of many, forget not) whereby the earnest student may be conscious in his physical brain of having contacted his Master. |
……Giờ đây chúng ta còn ba điểm để bàn đến, sau khi đã đề cập hai điểm liên quan đến việc tiếp xúc với Chân sư trong hang động của trái tim và nhận biết rung động của Ngài. Vẫn còn ba cách khác (trong số nhiều cách, đừng quên điều đó) để đạo sinh thành tâm có thể biết trong bộ não hồng trần của mình rằng y đã tiếp xúc với Chân sư của y. |
|
Đưa ký ức về ashram của Chân sư và những bài học được truyền dạy tại đó vào tâm thức của bộ não hồng trần. [292] |
|
|
As the student perseveres in his meditation, as he increases his facility to throw himself into the right vibration, he builds up a pathway (if so we may term it) that leads him direct to his Master. This is a literal statement of fact. Good work earns for the man in time the right to be with the Master at stated periods. This entails good work in meditation coupled with active service for the race. These intervals are rare at first but come more frequently as progress is made. He will then become aware of this contact through remembrance on awakening. He will see the room of the Master, and remember his associates in the work of the class. He will remember certain sentences, as spoken by his Master, and will bring back a recollection of work suggested or of admonition. This is one of the methods which are indicative to the pupil that he is succeeding, through the ability built up in meditation, in gaining access to the Master. |
Khi đạo sinh kiên trì tham thiền, khi y ngày càng thành thạo việc đưa mình vào rung động đúng đắn, y xây dựng một con đường (nếu chúng ta có thể gọi như vậy) dẫn thẳng đến Chân sư của y. Đây là một sự thật theo nghĩa đen. Theo thời gian, việc làm tốt giúp con người có được quyền ở bên Chân sư vào những thời điểm ấn định. Điều này đòi hỏi thực hành tham thiền tốt kết hợp với việc tích cực phụng sự nhân loại. Ban đầu, những dịp ấy hiếm hoi, nhưng sẽ thường xuyên hơn khi y tiến bộ. Khi ấy, y sẽ biết về sự tiếp xúc này qua ký ức khi thức dậy. Y sẽ thấy căn phòng của Chân sư và nhớ những người cùng tham gia công việc của lớp học. Y sẽ nhớ một số câu Chân sư đã nói, và mang về ký ức về công việc Ngài gợi ý hoặc lời khuyên bảo. Đây là một trong những phương pháp cho môn sinh biết rằng, nhờ năng lực được xây dựng trong tham thiền, y đang thành công trong việc tiếp cận Chân sư. |
The attainment of a certain amount of causal consciousness. – Đạt được một mức độ tâm thức nguyên nhân nhất định.
|
This is indicative of the pupil’s having developed (mayhap in small degree, yet definitely realised) the power to enter somewhat into Their world. The faculty of abstract thought and contemplation, the power to transcend the limitations of time and space, are powers of the body egoic, and as all egoic groups are—as aforesaid—controlled by some one Master, the development of egoic consciousness (when consciously recognised) is indicative of contact and access. Many souls unconsciously contact their Ego, and temporarily have flashes of egoic consciousness but when the pupil can consciously raise himself, when he with deliberation intensifies his vibration, and transfers his polarisation into the body egoic, even if for a brief moment, then he can know that he is for that brief moment vibrating to the key of the Master of his group. He has made contact. He may not remember [293] in his physical brain, at first, the details of that contact, he may not realise the appearance of the Master or the words that passed His lips, but having consciously conformed to rule, and entered within the silence of the high places, the law ever works, and he has made his contact. Some disciples know their Master intimately on the inner planes and work under His direction, but many lives may elapse before they comprehend the law and with deliberation can make the channel of access, through power developed in meditation. |
Điều này cho thấy môn sinh đã phát triển quyền năng phần nào đi vào thế giới của Các Ngài (có thể chỉ ở mức nhỏ, nhưng đã chứng nghiệm rõ rệt). Năng lực tư duy trừu tượng và chiêm ngưỡng, quyền năng vượt qua những giới hạn của thời gian và không gian, là những quyền năng của thể chân ngã; và vì mọi nhóm chân ngã đều—như đã nói—chịu sự điều khiển của một Chân sư nào đó, nên sự phát triển tâm thức chân ngã (khi được nhận biết một cách có ý thức) là dấu hiệu của sự tiếp xúc và tiếp cận. Nhiều linh hồn tiếp xúc với Chân ngã của mình một cách vô thức và tạm thời có những thoáng tâm thức chân ngã; nhưng khi môn sinh có thể tự nâng mình lên một cách có ý thức, khi y chủ tâm tăng cường rung động của mình và chuyển dịch sự phân cực vào thể chân ngã, dù chỉ trong chốc lát, thì y có thể biết rằng trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, y đang rung động theo giọng của Chân sư thuộc nhóm mình. Y đã tiếp xúc. Ban đầu, có thể y không nhớ [293] những chi tiết của sự tiếp xúc ấy trong bộ não hồng trần, có thể y không nhận biết diện mạo của Chân sư hay những lời Ngài đã nói; nhưng vì đã có ý thức tuân theo quy luật và bước vào sự im lặng của những chốn cao siêu, định luật luôn vận hành, và y đã thực hiện sự tiếp xúc. Một số đệ tử biết Chân sư của mình một cách thân thiết trên các cõi bên trong và làm việc dưới sự chỉ đạo của Ngài, nhưng nhiều kiếp sống có thể trôi qua trước khi họ thấu hiểu định luật và có thể chủ tâm tạo ra kênh tiếp cận nhờ quyền năng phát triển trong tham thiền. |
|
As time elapses this ability to contact increases until the point is reached when the pupil can at any time find out what is the will of the Master and have access to His heart. |
Theo thời gian, năng lực tiếp xúc này gia tăng cho đến khi môn sinh đạt tới điểm có thể bất cứ lúc nào cũng biết ý chí của Chân sư là gì và tiếp cận trái tim Ngài. |
|
This fifth method is not so usual but it is known to some natures. |
Phương pháp thứ năm này không phổ biến lắm, nhưng một số người có bản chất nhất định biết đến nó. |
Through sound the aspirant is aware of success. – Qua âm thanh, người chí nguyện biết mình đã thành công.
|
He follows his usual form of meditation. He perseveres from day to day and works on all the three planes over the work to be done. He continuously raises his vibration and aspires in the needed endeavour, coupling all interior effort to the external life of loving service. At some one meditation he will suddenly become aware of a note of music, that seems to be sounded within his head or to emanate from his heart. It will not be evoked by the sounding of the Sacred Word, which Word when sounded by the man on a certain key may call forth a musical response from the Ego, but it will come as a result or culmination of the meditation, and the sound of the note will vibrate within the centre so distinctly as never to be forgotten. It is again an indication of success. The Master has been contacted, and has responded by sounding the tone of the man’s own Ego. This is really the basis of the custom of the doorkeeper responding to the would-be aspirant to the mysteries of the group. When the work [294] is properly done, the aspirant will sound the admission word in his own key or tone, endeavouring to strike the note that will evoke the Ego. The doorkeeper will respond and chant forth the reply in the same full sonorous tone, thereby, through the power of sound, linking the man up with the Master of the coming ceremonies. This puts each member of the group—through his own effort and through the third factor, the doorkeeper—en rapport with the Master. In time this will be more fully understood and effort will be made to keep the tone reverberating between those who enter and those who guard the Threshold. When perfectly accomplished (a thing impossible now) it forms a perfect protection. Groups will be formed according to egoic formation and the particular Master. The note of the group will be known to the one who guards the entrance, and no one can get in who sounds not the note in either the higher or lower octave. This applies to groups consecrated to inner spiritual development, and that are directly concerned with the work of a Master with His affiliated pupils or disciples or probationers. Other groups, formed of units diverse and under different rays and Masters, will guard their door by another method, later to be revealed. |
Y thực hành hình thức tham thiền thường lệ của mình. Y kiên trì ngày này qua ngày khác và thực hiện công việc cần làm trên cả ba cõi. Y liên tục nâng cao rung động và nuôi dưỡng khát vọng trong nỗ lực cần thiết, kết hợp mọi cố gắng bên trong với đời sống phụng sự đầy tình thương bên ngoài. Trong một buổi tham thiền nào đó, y sẽ đột nhiên nhận biết một âm điệu, dường như vang lên trong đầu hoặc phát ra từ trái tim mình. Âm điệu ấy không do việc xướng Linh từ Thiêng liêng gợi lên; khi con người xướng Linh từ ấy theo một giọng nhất định, nó có thể khơi dậy một sự đáp ứng bằng âm nhạc từ Chân ngã. Nhưng âm điệu này sẽ đến như kết quả hoặc đỉnh điểm của tham thiền, và âm thanh của nó sẽ rung lên trong trung tâm rõ rệt đến mức không bao giờ có thể quên. Đây lại là một dấu hiệu thành công. Y đã tiếp xúc với Chân sư, và Ngài đã đáp ứng bằng cách xướng âm điệu của chính Chân ngã y. Đây thực sự là nền tảng của tập tục người giữ cửa đáp lại người mong được thâu nhận vào những huyền nhiệm của nhóm. Khi công việc [294] được thực hiện đúng cách, người chí nguyện sẽ xướng linh từ nhập môn theo giọng hoặc âm điệu của mình, cố gắng xướng đúng âm điệu sẽ gợi lên Chân ngã. Người giữ cửa sẽ đáp ứng và ngân lời đáp bằng cùng âm điệu đầy đặn, vang vọng ấy, nhờ đó, qua quyền năng của âm thanh, kết nối con người với Chân sư chủ trì những nghi lễ sắp tới. Điều này đưa mỗi thành viên của nhóm—qua nỗ lực của chính mình và qua yếu tố thứ ba là người giữ cửa—vào sự giao cảm với Chân sư. Theo thời gian, điều này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn, và người ta sẽ cố gắng giữ cho âm điệu ngân vang giữa những người bước vào và những người canh giữ Ngưỡng Cửa. Khi hoàn thành một cách hoàn hảo (điều hiện nay chưa thể thực hiện), nó tạo thành một sự bảo vệ hoàn hảo. Các nhóm sẽ hình thành theo cơ cấu chân ngã và Chân sư cụ thể. Người canh giữ lối vào sẽ biết âm điệu của nhóm, và không ai có thể vào nếu không xướng âm điệu ấy ở quãng tám cao hơn hoặc thấp hơn. Điều này áp dụng cho những nhóm thánh hiến cho sự phát triển tinh thần bên trong, và trực tiếp liên quan đến công việc của một Chân sư với những môn sinh, đệ tử hoặc người dự bị liên kết với Ngài. Những nhóm khác, gồm các đơn vị khác nhau thuộc những cung và Chân sư khác nhau, sẽ canh giữ cửa bằng một phương pháp khác, sẽ được mặc khải sau này. |
|
When, in meditation, a student hears this inner musical note, he should endeavour to register it, and cultivate the faculty of both recognising it and utilising it. This is not easy at first, as the sounding is both unlooked for and too brief to catch. But as time progresses, and the pupil succeeds in again and yet again getting a similar response, then he can begin to find out the method and watch the causes that set the vibration in motion. |
Khi một đạo sinh nghe âm điệu bên trong này trong lúc tham thiền, y nên cố gắng ghi nhận nó và trau dồi năng lực vừa nhận biết vừa sử dụng nó. Ban đầu điều này không dễ, vì âm thanh vang lên bất ngờ và quá ngắn để nắm bắt. Nhưng theo thời gian, khi môn sinh thành công hết lần này đến lần khác trong việc nhận được một sự đáp ứng tương tự, y có thể bắt đầu tìm ra phương pháp và quan sát những nguyên nhân khởi động rung động ấy. |
|
As I have said before, many are the methods whereby a pupil becomes aware of success in the path of access. Above are but five out of these many. Later, when the [295] Schools are organised and watched over by a Master in physical plane consciousness, records will be kept of the times and modes of contact and in this manner much knowledge will accrue. I would in conclusion point out that always the calling forth of the response must be the work of the pupil, and that the hour of that response depends upon the earnestness of his work, the consecration of his service and his karmic liabilities. When he merits certain response it will be demonstrated in his stars, and naught can hinder or delay. Equally, naught can really hasten, so the pupil need not waste time in doleful ponderings upon the lack of response. His the part to obey the rules, to conform to the forms laid down, to ponder and wisely adhere to the prescribed instructions, and to definitely work and to ardently serve his fellowmen. When he has done all this, when he has built the necessary vibrating material into his three lower bodies, when he has aligned them with the body egoic (even if only for a brief minute) suddenly he may see, suddenly he may hear, suddenly he may sense a vibration, and then forever he may say that faith is merged in sight, and aspiration has become recognition. [296] |
Như Tôi đã nói trước đây, có nhiều phương pháp giúp môn sinh biết mình đã thành công trên con đường tiếp cận. Trên đây chỉ là năm trong số nhiều phương pháp ấy. Sau này, khi các [295] Trường được tổ chức và do một Chân sư có tâm thức trên cõi hồng trần trông coi, người ta sẽ ghi chép những thời điểm và cách thức tiếp xúc, và nhờ vậy tích lũy được nhiều tri thức. Để kết luận, Tôi muốn chỉ ra rằng việc khơi dậy sự đáp ứng luôn phải là công việc của môn sinh, và thời điểm có sự đáp ứng ấy tùy thuộc vào mức độ thành tâm trong công việc của y, sự thánh hiến trong việc phụng sự và những nghĩa vụ nghiệp quả của y. Khi y xứng đáng nhận một sự đáp ứng nhất định, điều đó sẽ thể hiện trong các tinh tú của y, và không gì có thể ngăn cản hoặc trì hoãn. Cũng vậy, không gì thực sự có thể thúc đẩy nó đến sớm hơn, nên môn sinh không cần lãng phí thời gian trong những suy tư buồn bã về việc chưa có sự đáp ứng. Phần việc của y là tuân thủ các quy luật, làm theo những hình thức đã đặt ra, suy ngẫm và sáng suốt tuân theo những chỉ dẫn quy định, làm việc dứt khoát và nhiệt thành phụng sự đồng loại. Khi y đã làm tất cả những điều này, khi y đã xây dựng chất liệu rung động cần thiết vào ba thể thấp của mình, khi y đã chỉnh hợp chúng với thể chân ngã (dù chỉ trong một phút ngắn ngủi), đột nhiên y có thể thấy, đột nhiên y có thể nghe, đột nhiên y có thể cảm nhận một rung động, và từ đó mãi mãi y có thể nói rằng đức tin đã hòa vào sự thấy biết, và khát vọng đã trở thành sự nhận biết. [296] |