Letters On Occult Meditation
|
Received and Edited by |
Được Tiếp nhận và Biên tập bởi |
|
ALICE A. BAILEY |
ALICE A. BAILEY |
|
Dedicated to |
Kính Dâng Tặng |
|
THE TIBETAN TEACHER |
CHÂN SƯ TÂY TẠNG |
|
who wrote these letters |
người đã viết những lá thư này |
|
and authorised their publication |
và cho phép xuất bản chúng |
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN
|
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names. |
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi. |
|
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master. |
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các vị giáo sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư. |
|
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said. |
Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với hơi thở hổn hển) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ tâm trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói. |
|
AUGUST 1934 |
THÁNG 8 NĂM 1934 |
THE GREAT INVOCATION
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đ ức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |
|
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.” |
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.” |
|
ALICE A. BAILEY |
FOREWORD
[Commentary 1]
|
The constitution of man (see diagram above), as considered in the following pages, is basically threefold, as follows:— |
Cấu tạo của con người (xem sơ đồ trên), như được xem xét trong các trang sau, về cơ bản là tam phân, như sau:— |
I. The Monad, or pure Spirit, the Father in Heaven—Chân Thần, hay Tinh thần thuần khiết, Cha trên Trời.
|
This aspect reflects the three aspects of the Godhead: |
Phương diện này phản ánh ba phương diện của Thượng đế: |
|
1. Will or Power. . . . . . . . .The Father |
1. Ý Chí hoặc Quyền Năng. . . . . . . . .Cha |
|
2. Love-Wisdom . . . . . . . .The Son |
2. Bác Ái-Minh Triết . . . . . . . .Con |
|
3. Active Intelligence . . . . The Holy Spirit |
3. Trí Tuệ Linh Hoạt . . . . Chúa Thánh Thần |
|
and is only contacted at the final initiations, when man is nearing the end of his journey and is perfected. |
và chỉ được tiếp xúc tại các cuộc điểm đạo cuối cùng, khi con người đang đến gần cuối hành trình của mình và được hoàn thiện. |
|
The Monad reflects itself again in |
Chân Thần lại phản ánh chính nó trong |
II. The Ego, Higher Self, or Individuality—Chân Ngã, Cái Ngã Cao Cả, hay Cá Thể Tính.
|
This aspect is potentially :— |
Phương diện này tiềm tàng :— |
|
1. Spiritual Will . . . Atma |
1. Ý Chí Tinh Thần . . . Atma |
|
2. Intuition. . . .Buddhi, Love-Wisdom, the Christ principle. |
2. Trực giác. . . .Buddhi, Bác Ái-Minh Triết, nguyên khí Christ. |
|
3. Higher or abstract Mind . ..Higher Manas. |
3. Thượng Trí hay Trí trừu tượng . ..Thượng Manas. |
|
The Ego begins to make its power felt in advanced men, and increasingly on the Probationary Path until by the third initiation the control of the lower self by the higher is perfected, and the highest aspect begins to make its energy felt. |
Chân Ngã bắt đầu làm cho quyền năng của nó được cảm thấy ở những người tiến hóa cao, và ngày càng tăng trên Đường Dự Bị cho đến khi tại lần điểm đạo thứ ba, sự kiểm soát phàm ngã bởi chân ngã được hoàn thiện, và phương diện cao nhất bắt đầu làm cho năng lượng của nó được cảm thấy. |
|
The Ego reflects itself in |
Chân Ngã phản ánh chính nó trong |
|
III. The Personality, or lower self, physical plane man. |
III. Phàm Ngã, hay cái ngã thấp, con người cõi hồng trần. |
|
This aspect is also threefold:— |
Phương diện này cũng là tam phân:— |
|
1. A mental body . . .lower manas. |
1. Một thể trí . . .hạ manas. |
|
2. An emotional body . . . astral body. |
2. Một thể cảm dục . . . thể astral. |
|
3. A physical body . . .the dense physical and the etheric body. |
3. Một thể xác . . .thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. |
|
The aim of meditation is therefore to bring man to the realisation of the Egoic aspect and to bring the lower nature under its control. This is the immediate goal for the average man. |
Vì vậy, mục đích của tham thiền là đưa con người đến sự chứng nghiệm về phương diện Chân Ngã và đưa bản chất thấp kém vào dưới sự kiểm soát của nó. Đây là mục tiêu trước mắt đối với người trung bình. |
LETTER I—THE ALIGNMENT OF THE EGO WITH THE PERSONALITY
[Commentary 2]
|
1—The Aligning of the three lower bodies. |
1—Sự chỉnh hợp của ba thể thấp. |
|
2—Aligning with the Causal Body. |
2—Chỉnh hợp với Thể Nguyên Nhân. |
|
3—The Method of Alignment. |
3—Phương pháp chỉnh hợp. |
|
4—Macrocosmic and Microcosmic Alignment. [1] |
4—Sự chỉnh hợp vĩ mô và vi mô. [1] |
ALIGNMENT OF THE EGO WITH THE PERSONALITY —SỰ CHỈNH HỢP CỦA CHÂN NGÃ VỚI PHÀM NGÃ.
|
Sunday, May 16, 1920. |
Chủ nhật, ngày 16 tháng 5, 1920. |
|
It is in the aligning of the three vehicles, the physical, the emotional, and the lower mind body, within the causal periphery, and their stabilising there by an effort of the will, that the real work of the Ego or Higher Self in any particular incarnation can be accomplished. The great thinkers of the race, the true exponents of lower mind, are fundamentally those whose three lower bodies are aligned; that is to say those whose mental body holds the other two in circumspect alignment. The mental body, then, is in direct communication, unobstructed and free from interference, straight through to the physical brain. |
Chính trong việc chỉnh hợp ba vận cụ—thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí—ở trong chu vi nhân thể, và làm cho chúng ổn định tại đó bằng một nỗ lực của ý chí, mà công việc thực sự của Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu trong bất kỳ một kiếp lâm phàm cụ thể nào có thể được hoàn thành. Những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, những người thực sự tiêu biểu cho hạ trí, về căn bản là những người có ba thể thấp được chỉnh hợp; nghĩa là những người mà thể trí giữ hai thể kia trong sự chỉnh hợp thận trọng. Khi ấy, thể trí ở trong sự giao thông trực tiếp, không bị ngăn trở và không bị can thiệp, đi thẳng xuyên suốt đến bộ não hồng trần. |
|
When the alignment is fourfold and when the three above-mentioned bodies are aligned with the body of the Higher Self, the causal or egoic body, and held steady within its circumference, then the great leaders of the race,—those who emotionally and intellectually sway mankind, can be seen working; then the inspirational writers and dreamers can bring down their inspirations and dreams; and then the synthetic and abstract thinkers [2] can transfer their conceptions to the world of form. It is, right through, a question of an unimpeded channel. Study, therefore, in this connection and when time permits, physical co-ordination; then to physical co-ordination add emotional stability, and you have the two vehicles functioning as one. When the co-ordination extends to the mental body, the threefold lower man is reaching his apotheosis, and has rung most of the changes in the world of form. |
Khi sự chỉnh hợp là tứ phân và khi ba thể vừa nêu được chỉnh hợp với thể của Bản Ngã Cao Siêu, tức thể nguyên nhân hay thể chân ngã, và được giữ vững trong chu vi của nó, thì có thể thấy các nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân loại,—những người chi phối nhân loại về mặt cảm xúc và trí tuệ—đang làm việc; khi ấy các nhà văn đầy cảm hứng và những người mộng tưởng có thể đem các cảm hứng và giấc mơ của họ xuống; và khi ấy các nhà tư tưởng tổng hợp và trừu tượng [2] có thể chuyển các quan niệm của họ vào thế giới hình tướng. Xuyên suốt, đó là vấn đề của một kênh thông suốt không bị cản trở. Vì vậy, hãy nghiên cứu, trong mối liên hệ này và khi thời gian cho phép, sự phối hợp thể xác; rồi vào sự phối hợp thể xác hãy thêm sự ổn định cảm xúc, và các bạn sẽ có hai vận cụ hoạt động như một. Khi sự phối hợp mở rộng đến thể trí, phàm nhân tam phân đang đạt đến đỉnh cao của y, và đã trải qua hầu hết mọi biến chuyển trong thế giới hình tướng. |
|
Later comes co-ordination perfected with the Higher Self, the channel of communication reaching in line direct,—via an unimpeded funnel, if so I might express it,—to the physical brain consciousness. Heretofore it has only been direct at rare intervals. The four lesser brain centres are functioning at high vibration in the man of a highly co-ordinated personality; when the Ego is nearing alignment with the lower bodies, the pineal gland and the pituitary body are in process of development; and when they are functioning with correlation (which eventuates by the time the third Initiation is taken), then the third, or alta major centre, intensifies its hitherto gentle vibration. When the fifth Initiation is taken, the interplay between the three centres is perfected, and the alignment of the bodies is geometrically rectified; you have then the perfected fivefold superman. |
Về sau mới đến sự phối hợp được hoàn thiện với Bản Ngã Cao Siêu, kênh giao thông vươn tới theo một đường thẳng trực tiếp,—qua một cái phễu không bị cản trở, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy,—đến tâm thức bộ não hồng trần. Trước đây, nó chỉ trực tiếp trong những khoảng hiếm hoi. Bốn trung tâm não bộ nhỏ hơn đang hoạt động ở mức rung động cao ở người có một phàm ngã được phối hợp cao độ; khi Chân ngã đang tiến gần đến sự chỉnh hợp với các thể thấp, tuyến tùng và tuyến yên đang trong tiến trình phát triển; và khi chúng hoạt động trong sự tương quan phối hợp (điều này xảy ra vào lúc lần điểm đạo thứ ba), thì trung tâm thứ ba, hay trung tâm alta major, tăng cường sự rung động vốn trước đây còn nhẹ nhàng của nó. Khi lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, sự tương tác giữa ba trung tâm được hoàn thiện, và sự chỉnh hợp của các thể được hiệu chỉnh một cách hình học; khi ấy các bạn có siêu nhân ngũ phân hoàn thiện. |
|
For the average man, then, this alignment occurs only at intervals, in moments of stress, in hours of needed humanitarian effort and in times of intensest aspiration. Abstraction of a more or less degree has to enter in before the Ego takes continued notice of the personality or lower self. When that abstraction involves the emotions, is based in the mentality and contacts the physical brain, then alignment is commencing. [3] |
Vì vậy, đối với người bình thường, sự chỉnh hợp này chỉ xảy ra từng lúc, trong những khoảnh khắc căng thẳng, trong những giờ phút cần nỗ lực nhân đạo, và trong những thời điểm khát vọng mãnh liệt nhất. Phải có sự trừu xuất ở một mức độ nào đó trước khi Chân ngã liên tục lưu tâm đến phàm ngã hay bản ngã thấp. Khi sự trừu xuất ấy liên quan đến cảm xúc, dựa trên trí tuệ và tiếp xúc với bộ não hồng trần, thì sự chỉnh hợp đang bắt đầu. [3] |
|
Hence the work of meditation, for it tends to abstraction and seeks to awaken to abstract consciousness both the emotions and the mentality. |
Do đó cần tham thiền, vì nó hướng đến sự trừu xuất và tìm cách đánh thức tâm thức trừu tượng ở cảm xúc lẫn trí tuệ. |
Alignment and Vibration —Sự Chỉnh Hợp và Rung Động.
|
Forget not either that it is largely a question of matter and vibration. The abstract levels of the mental plane consist of the three higher levels, the first being that termed the third subplane. As I have explained to you before, each subplane has its correlations on the major planes. When, therefore, you have built into your bodies,—physical, emotional and mental,—matter of the third subplane of each of those planes, then the Higher self commences consciously and ever more continuously to function through the aligning Personality. Perhaps we might reverse the idea and state that it is only when third subplane matter of a certain percentage (which percentage is one of the secrets of Initiation) is contained in the vehicles, that the Personality as a conscious whole recognises and obeys that Higher self. After such a percentage is attained, it is then necessary to build in matter of the two higher subplanes on the physical and emotional planes; hence the struggle for the aspirant to purify and discipline the physical body and to subdue the emotional. Purification and subjugation describe the work to be done on the two planes. This involves the use of lower mind, and the three lower vehicles thus become aligned. |
Cũng đừng quên rằng phần lớn đây là vấn đề của vật chất và rung động. Các cấp độ trừu tượng của cõi trí gồm ba cấp độ cao hơn, trong đó cấp thứ nhất là cấp được gọi là cõi phụ thứ ba. Như Tôi đã giải thích với các bạn trước đây, mỗi cõi phụ đều có các tương quan của nó trên các cõi chính. Vì vậy, khi các bạn đã xây dựng vào trong các thể của mình,—thể xác, thể cảm dục và thể trí,—vật chất của cõi phụ thứ ba của mỗi cõi ấy, thì Bản Ngã Cao Siêu bắt đầu một cách có ý thức và ngày càng liên tục hơn hoạt động qua phàm ngã đã được chỉnh hợp. Có lẽ chúng ta có thể đảo ngược ý tưởng và nói rằng chỉ khi vật chất cõi phụ thứ ba đạt một tỷ lệ nhất định (tỷ lệ ấy là một trong những bí mật của điểm đạo) được chứa trong các vận cụ, thì phàm ngã như một toàn thể có ý thức mới nhận biết và vâng phục Bản Ngã Cao Siêu ấy. Sau khi đạt được tỷ lệ đó, thì cần xây dựng thêm vật chất của hai cõi phụ cao hơn trên cõi hồng trần và cõi cảm dục; bởi thế là cuộc đấu tranh của người chí nguyện nhằm thanh lọc và kỷ luật thể xác và chế ngự thể cảm dục. Thanh lọc và chế ngự mô tả công việc phải làm trên hai cõi ấy. Điều này liên quan đến việc sử dụng hạ trí, và do đó ba vận cụ thấp trở nên được chỉnh hợp. |
|
The vibrations of the abstract levels can then begin to be felt. You need to remember that they come via the causal body, the vehicle of the Higher Self, and the average causal body is on the third subplane of the mental plane. This is a point not sufficiently recognised. Ponder on it. Real abstract thought becomes possible only when the Personality has, by vibration reciprocal to that of the [4] Ego, aligned itself sufficiently to form a fairly unimpeded channel. Then at intervals, rare at first but of increasing frequency, will abstract ideas begin to filter down, to be followed in due time by flashes of real illumination or intuition from the spiritual Triad or the true threefold Ego itself. |
Khi ấy, các rung động của các cấp độ trừu tượng có thể bắt đầu được cảm nhận. Các bạn cần nhớ rằng chúng đến qua thể nguyên nhân, vận cụ của Bản Ngã Cao Siêu, và thể nguyên nhân trung bình ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Đây là một điểm chưa được nhận ra đầy đủ. Hãy suy ngẫm về điều đó. Tư tưởng trừu tượng thực sự chỉ trở nên khả dĩ khi phàm ngã, bằng rung động tương ứng với rung động của [4] Chân ngã, đã tự chỉnh hợp đủ để tạo thành một kênh khá thông suốt. Khi ấy, theo từng lúc—ban đầu hiếm hoi nhưng ngày càng thường xuyên—các ý niệm trừu tượng sẽ bắt đầu thấm lọc xuống, và theo thời gian thích hợp sẽ được tiếp nối bởi những tia chớp của sự soi sáng hay trực giác thực sự từ Tam Nguyên Tinh Thần hoặc từ chính Chân ngã tam phân đích thực. |
The Chord of the Ego —Hợp Âm của Chân Ngã.
[Commentary 3]
|
When I use the term “reciprocal vibration,” what do I mean? I mean the adaptation of the Personality or Lower Self, to the Ego, or Higher Self, the dominating of the Personality ray by the ray of the Ego and the combining of their tones. I mean the blending of the primary colour of the Higher Self with the secondary hue of the Lower Self until beauty is achieved. At first, there is dissonance and discord, a clashing of the colours, and a fight between the Higher and the Lower. But as time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of colour and tone is produced (a synonymous matter), until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned Personality, the dominant fifth of the Ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit. |
Khi Tôi dùng thuật ngữ “rung động tương ứng,” Tôi muốn nói gì? Tôi muốn nói đến sự thích nghi của phàm ngã hay phàm ngã đối với Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu; sự chế ngự cung phàm ngã bởi cung chân ngã và sự kết hợp các âm điệu của chúng. Tôi muốn nói đến sự hòa trộn màu sắc chủ đạo của Bản Ngã Cao Siêu với sắc độ thứ cấp của phàm ngã cho đến khi đạt được vẻ đẹp. Lúc đầu có sự bất hòa và chỏi nhau, sự xung đột của các màu sắc, và một cuộc chiến giữa Cao và Thấp. Nhưng khi thời gian trôi qua, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hòa về màu sắc và âm điệu được tạo ra (là một điều đồng nghĩa), cho đến cuối cùng các bạn sẽ có nốt nền tảng của vật chất, nốt thứ ba chủ yếu của phàm ngã đã được chỉnh hợp, nốt thứ năm át âm của Chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của Chân thần hay tinh thần. |
|
It is the dominant we seek at adeptship, and earlier the perfected third of the Personality. During our various incarnations we strike and ring the changes on all the intervening notes, and sometimes our lives are major and sometimes minor, but always they tend to flexibility and greater beauty . In due time, each note fits into its chord, the chord of the Spirit; each chord forms part of a phrase, the phrase or group to which the chord belongs; and the phrase goes to the completion of one seventh of the whole. The entire seven sections, then, complete the sonata of this solar system,—a part of the threefold masterpiece of the Logos or God, the Master-Musician. [5] |
Chính át âm là điều chúng ta tìm kiếm ở địa vị chân sư, và trước đó là note thứ ba đã được hoàn thiện của phàm ngã. Trong các kiếp lâm phàm khác nhau, chúng ta gảy lên và làm vang các biến đổi trên mọi nốt trung gian, và đôi khi đời sống của chúng ta là trưởng và đôi khi là thứ, nhưng luôn luôn chúng hướng đến tính linh hoạt và vẻ đẹp lớn hơn. Đến thời điểm thích hợp, mỗi nốt khớp vào hợp âm của nó, hợp âm của tinh thần; mỗi hợp âm tạo thành một phần của một cụm nhạc, cụm nhạc hay nhóm mà hợp âm ấy thuộc về; và cụm nhạc góp phần hoàn tất một phần bảy của toàn thể. Vậy thì toàn bộ bảy phần hoàn tất bản sonata của hệ mặt trời này,—một phần của kiệt tác tam phân của Thượng đế hay Thượng đế, Nhạc Sư Tối Thượng. [5] |
|
J u n e 2nd, 1920. 10 am. |
Ngày 2 tháng 6 năm 1920. 10 giờ sáng. |
|
A g ain for a week or two, brother of mine, we will take another cycle of instruction. You have correctly deduced that such is the intention and before I commence on the matter for communication I wish to make certain suggestions to you which you may follow for the good of the work if so you are inclined. We order not, nor give commands, we do but indicate, the working detail being left to the discrimination. |
Một lần nữa, trong một hoặc hai tuần, huynh đệ của tôi, chúng ta sẽ tiếp tục một chu kỳ giảng dạy khác. Bạn đã suy luận đúng rằng đó là ý định, và trước khi tôi bắt đầu về nội dung cần truyền đạt, tôi muốn đưa ra một số đề xuất mà bạn có thể thực hiện vì lợi ích của công việc, nếu bạn thấy phù hợp. Chúng tôi không ra lệnh, cũng không ban hành mệnh lệnh, mà chỉ đưa ra gợi ý, còn chi tiết thực hiện được để cho sự phân biện quyết định. |
|
1 . At the earliest moment write for the edification of the membership a letter on the Messenger indicating its present use and outlining a policy of greater usefulness. |
1. Ngay khi có thể, hãy viết một lá thư cho hội viên để làm sáng tỏ về Thông điệp, chỉ ra công dụng hiện tại của nó và phác thảo một chính sách nhằm gia tăng tính hữu ích. |
|
2 . With that article let FB [Foster Bailey] immediately publish a brief treatise on the system or proxies at present in use. The work that you do carrieth the blessing of the Great Ones and leadeth to results. Be not discouraged—the stage is being set, and the leading actor thereon shortly maketh his appearance. Not yet you know all the unforeseen oft upsetteth the plans well laid of parties politic. In steadfastness of purpose, wise utilisation of time, the elimination of anxiety, and a confidence firm in the working of the Law, will come the manifestation (through all of you who with altruism work) of the plans of our two Masters. |
2. Cùng với bài viết đó, hãy để FB [Foster Bailey] ngay lập tức xuất bản một chuyên luận ngắn về hệ thống đại diện đang được sử dụng. Công việc mà bạn thực hiện mang theo phước lành của các Đấng Cao Cả và dẫn đến kết quả. Đừng nản lòng—sân khấu đang được dàn dựng, và diễn viên chính của nó sẽ sớm xuất hiện. Hiện tại bạn chưa biết hết mọi thứ, và những điều không lường trước thường làm đảo lộn những kế hoạch được đặt ra chu đáo của các thế lực chính trị. Trong sự kiên định về mục đích, sự sử dụng khôn ngoan thời gian, việc loại bỏ lo âu và sự tin tưởng vững chắc vào sự vận hành của Định luật, sẽ có sự biểu hiện (thông qua tất cả những ai đang làm việc với tinh thần vị tha) của các kế hoạch từ hai vị Chân sư của chúng ta. |
|
3 . With speed accomplish the writing of the articles for BPW [B. P. Wadia]. It is desired that you get to the public with as little delay as may be. See that all are mailed to India prior to Convention. The next few weeks should be for you weeks of clearing off of accumulated work:—letters, home correspondence, and the filing of the communicated material. For you commenceth shortly your real life work, and it is always the part of wisdom to close each chapter of the book of existence with as much completeness as possible. See you to it brother of old. |
3. Hãy hoàn thành nhanh chóng việc viết các bài viết cho BPW [B. P. Wadia]. Mong muốn là bạn sẽ công bố chúng đến công chúng càng sớm càng tốt. Hãy đảm bảo rằng tất cả đều được gửi đến Ấn Độ trước kỳ Hội nghị. Vài tuần tới nên là thời gian để bạn giải quyết công việc tồn đọng:—các lá thư, thư tín gia đình và việc lưu trữ tài liệu đã được truyền đạt. Vì công việc thực sự của bạn sẽ sớm bắt đầu, và luôn là điều khôn ngoan khi khép lại mỗi chương của cuốn sách đời mình một cách trọn vẹn nhất có thể. Hãy lưu tâm đến điều đó, huynh đệ của ngày xưa. |
|
4 . Articles of explanatory interest for the public should be for you in the future a side issue of importance. Write on matters of psychic speculation, and on data conveying information in a style comprehended of the public anent matters regarded as occult. These articles may by you claim my attention, and where assistance is needed you are permitted to claim it. |
4. Trong tương lai, các bài viết mang tính giải thích dành cho công chúng đối với bạn chỉ nên là một vấn đề phụ, có tầm quan trọng thứ yếu. Hãy viết về những vấn đề thuộc suy đoán thông linh, và về những dữ liệu truyền đạt thông tin, bằng một văn phong mà công chúng có thể lĩnh hội được, liên quan đến các đề tài được xem là huyền bí học. Những bài viết này có thể được bạn trình lên để tôi lưu tâm, và khi cần sự trợ giúp, bạn được phép yêu cầu điều đó. |
|
5 . Begin in small measure as we send them to you to train in teaching those who are marked out by us as helpers in the coming work of reconstruction. Seek them not out. They will be indicated to you, and already we have sent to [you] JI and VB. I needed a link, and VB standeth in need of concrete instruction. |
5. Bắt đầu ở mức độ nhỏ, khi chúng tôi gửi đến bạn, việc đào tạo những người mà chúng tôi đã chỉ định là những trợ thủ trong công cuộc tái thiết sắp tới. Đừng chủ động tìm kiếm họ. Họ sẽ được chỉ dẫn đến bạn, và chúng tôi đã gửi đến [bạn] JI và VB. Tôi cần một liên kết, và VB đang cần sự hướng dẫn cụ thể. |
|
6 . FB is conjured to focus his attention fully on sectional matters and in the gathering of data and the preparation of papers available for use in convention lieth the work, added to the detail work of pamphleteering. Advise him from me to focus, and to vibrate more rapidly. |
6. FB được yêu cầu tập trung hoàn toàn vào các vấn đề theo từng phần và thu thập dữ liệu, chuẩn bị tài liệu có thể sử dụng trong hội nghị, cùng với công việc chi tiết về việc phổ biến tài liệu bằng sách nhỏ. Hãy khuyên y từ tôi rằng hãy tập trung và gia tăng tốc độ rung động. |
|
Y o u see, brother of old, I give no help or advice save on matter connected with the work we have in hand. On matters personal we leave you to work yourself, though we watch, or more occultly I put it, we study re-actions. One work only I give,—in adjustment to the plan comes expansion in service. See therefore that you build no wall through anxiety or the admission of personal issues. Through a clear channel cometh unimpeded vision and the accurate grasp of the work to be done. In application to that work, in the making of a beginning, comes to us indication of suitability, and then it behooveth us to facilitate the work by the removal of obstacles, financial or otherwise. But the beginning resteth with you. |
Bạn thấy đó, huynh đệ của ngày xưa, tôi không đưa ra sự giúp đỡ hay lời khuyên ngoại trừ những vấn đề liên quan đến công việc mà chúng ta đang thực hiện. Đối với những vấn đề cá nhân, chúng tôi để bạn tự xử lý, dù chúng tôi quan sát—hoặc nói một cách huyền môn hơn, chúng tôi nghiên cứu các phản ứng. Tôi chỉ đưa ra một chỉ dẫn—trong sự điều chỉnh với Thiên Cơ sẽ có sự mở rộng trong phụng sự. Do đó, hãy đảm bảo rằng bạn không dựng lên bất kỳ rào cản nào do lo lắng hoặc do những vấn đề cá nhân. Qua một kênh trong sáng, tầm nhìn sẽ đến một cách không bị cản trở và việc nắm bắt chính xác công việc cần làm sẽ được thực hiện. Trong sự ứng dụng vào công việc đó, trong việc khởi đầu một nhiệm vụ, chúng tôi sẽ nhận thấy dấu hiệu về sự thích hợp, và khi đó, chúng tôi có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc bằng cách loại bỏ các chướng ngại, dù là tài chính hay những trở ngại khác. Nhưng sự khởi đầu vẫn nằm ở bạn. |
[Commentary 4]
Microcosmic and Macrocosmic Alignment. —Sự Chỉnh Hợp Vi Mô và Vĩ Mô.
|
This morning, I would touch on the matter of egoic alignment again, showing you, under the Law of Correspondences, the universal application. It lies based in geometry, or in figures and numbers. |
Sáng nay, tôi muốn đề cập lại vấn đề chỉnh hợp chân ngã, và chỉ cho bạn thấy sự áp dụng phổ quát theo Định luật Tương ứng. Nó dựa trên cơ sở hình học, hoặc các con số và hình dạng. |
|
The aim of the evolution of man in the three worlds—the physical, emotional and mental planes—is the alignment of his threefold Personality with the body egoic, till the one straight line is achieved and the man becomes the One. |
Mục đích của sự tiến hóa của con người trong ba cõi giới—cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí—là sự chỉnh hợp của Phàm ngã tam phân với thể chân ngã, cho đến khi đạt được một đường thẳng và con người trở thành Đấng Duy Nhất. |
|
Each life that the Personality leads is, at the close, represented by some geometrical figure, some utilisation of the lines of the cube, and their demonstration in a form of some kind. Intricate and uncertain in outline and crude in design are the forms of the earlier lives; definite and clear in outline are the forms built by the average advanced man of this generation. But when he steps upon the Path of Discipleship, the purpose consists in merging all these many lines into one line, and gradually this consummation is achieved. The Master is He Who has blended all the lines of fivefold development first into the three, and then into the one. The six-pointed star becomes the five-pointed star, the cube becomes the triangle, and the triangle becomes the one; whilst the one (at the end of the greater cycle) becomes the point in the circle of manifestation. |
Mỗi kiếp sống mà Phàm ngã trải qua, vào lúc kết thúc được đại diện bởi một hình dạng hình học nào đó, một sự sử dụng nào đó các đường nét của khối lập phương, và sự thể hiện của chúng trong một hình tướng nào đó. Các hình thể của những kiếp sống ban đầu thì phức tạp, đường nét bất định và thiết kế thô kệch; còn các hình tướng do con người tiến bộ trung bình của thế hệ này kiến tạo thì xác định và rõ ràng trong đường nét. Nhưng khi y bước lên Con Đường Đệ Tử, mục đích bao gồm việc hợp nhất tất cả các đường nét này thành một đường, và dần dần sự viên mãn này đạt được. Chân sư là Đấng đã hòa quyện tất cả các đường nét của sự phát triển ngũ phân trước hết thành ba, và sau đó thành một. Ngôi sao sáu cánh trở thành ngôi sao năm cánh, khối lập phương trở thành tam giác, và tam giác trở thành một; trong khi một (vào cuối chu kỳ lớn hơn) trở thành điểm trong vòng tròn biểu hiện. |
|
Hence the effort made to teach all devotees simplicity, based on a trinity of foundation truths, and the inculcation of one-pointedness. |
Do đó có nỗ lực dạy cho tất cả những người sùng tín sự đơn giản, dựa trên một bộ ba các chân lý nền tảng, và việc khắc ghi tính nhất tâm. |
|
Each life tends to greater stability but seldom is the three-fold Personality yet to be found lined up, if so I [6] may put it, with the causal consciousness. Temporary moments occur when this is the case and when (in moments of highest aspiration and for purposes of unselfish endeavor) the higher and the lower form a line direct. Usually the emotional body, through violent emotion and vibration, or a fluctuating restlessness, is continuously out of alignment. Where the emotional body may be momentarily aligned, then the mental body acts as an obstruction, preventing the percolation down from the higher to the lower, and so to the physical brain. It takes many lives of strenuous endeavor before the emotional body can be stilled and a mental body built that will act as a filter and not as an impediment. Even when this has been somewhat accomplished and the emotional body is stabilised and a pure reflector, and the mental body serves the purpose of a sensitive plate and discriminator, and the intelligent explainer of the higher imparted truth,—even then, I say, it takes much discipline and many lives of effort to align the two at the same time. When that is done, the control of the physical brain and its final alignment remain to be effected, so that it may act as a direct receiver and transmitter of the imparted teaching, and may reflect with accuracy the higher consciousness. |
Mỗi kiếp sống đều hướng đến sự ổn định lớn hơn, nhưng hiếm khi có thể thấy phàm ngã tam phân đã được chỉnh hợp với tâm thức nhân thể, nếu tôi [6] có thể nói như vậy. Có những khoảnh khắc tạm thời khi điều này xảy ra, khi đó (trong những lúc khát vọng cao nhất và vì mục đích nỗ lực vô ngã) cái cao và cái thấp tạo thành một đường thẳng trực tiếp. Thông thường, thể cảm dục, do cảm xúc mãnh liệt và rung động, hoặc do một sự bồn chồn dao động, liên tục bị lệch khỏi sự chỉnh hợp. Khi thể cảm dục có thể được chỉnh hợp trong chốc lát, thì thể trí lại hành động như một vật cản, ngăn sự thấm xuống từ cái cao đến cái thấp, và do đó đến bộ não thể xác. Phải trải qua nhiều kiếp sống nỗ lực gian khổ thì thể cảm dục mới có thể được làm cho tĩnh lặng, một thể trí được xây dựng sao cho nó sẽ hành động như một bộ lọc chứ không phải như một chướng ngại. Ngay cả khi điều này đã phần nào được hoàn thành, thể cảm dục được ổn định và là một tấm phản chiếu thuần khiết, thể trí phục vụ mục đích như một tấm bản nhạy cảm và là một năng lực phân biện, kẻ giải thích thông minh về chân lý cao hơn được truyền đạt,—ngay cả khi ấy, tôi nhấn mạnh, vẫn cần nhiều kỷ luật và nhiều kiếp sống nỗ lực để chỉnh hợp cả hai cùng một lúc. Khi điều đó được thực hiện, thì sự kiểm soát bộ não hồng trần và sự chỉnh hợp sau cùng của nó vẫn còn phải được thực hiện, để nó có thể hành động như một bộ thu nhận và truyền đạt trực tiếp giáo huấn được truyền trao, và có thể phản chiếu một cách chính xác tâm thức cao hơn. |
|
Wherein, therefore, lies the macrocosmic correspondence? Where is the analogy in the Solar System? An indication I give here. In the direct alignment of certain planets in the process of systemic evolution, with each other and with the Sun comes Logoic or divine alignment. Think this out, but one word of warning I give. Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there. Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom. |
Vậy thì, sự tương ứng đại vũ trụ nằm ở đâu? Sự tương đồng trong hệ mặt trời là ở đâu? Ở đây, Tôi sẽ đưa ra ở đây một chỉ dẫn. Trong sự thắng hàng trực tiếp của một số hành tinh nhất định trong tiến trình tiến hoá của hệ thống, của chúng với nhau và với Mặt Trời, sẽ đưa đến sự chỉnh hợp Thiêng liêng hay sự chỉnh hợp của Thượng đế. Hãy suy ngẫm về điều này, nhưng tôi đưa ra một lời cảnh báo. Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết về sự chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó. Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và cả ba đó trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp sau cùng, thì sự chỉnh hợp đánh dấu sự thành tựu [7] của Thượng đế về tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trái Đất không phải là một trong ba hành tinh ấy, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
Further still the alignment may be progressed:—in the alignment of our entire solar system with the system of Sirius lies a still more remote goal. It is a point far ahead in time, but holds hid the secret of the greater cycle. |
Sự chỉnh hợp có thể được diễn ra xa hơn nữa:— có một mục tiêu xa xôi hơn nữa trong sự chỉnh hợp của toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta với hệ thống của Sirius. Đó là một điểm nằm xa về phía trước, nhưng nó ẩn chứa bí mật của chu kỳ lớn hơn. |
LETTER II – THE IMPORTANCE OF MEDITATION
[Commentary 5]
|
LETTER II – IMPORTANCE OF MEDITATION |
LÁ THƯ II – TẦM QUAN TRỌNG CỦA THAM THIỀN |
|
l—It results in egoic contact and alignment. |
1—Nó đưa đến sự tiếp xúc và chỉnh hợp với chân ngã. |
|
2—It brings about a state of equilibrium. |
2—Nó mang lại một trạng thái quân bình. |
|
3—It stabilises vibration. |
3—Nó ổn định rung động. |
|
4—It assists in a transference of polarisation. |
4—Nó hỗ trợ cho sự chuyển dịch phân cực. |
|
JUNE 3, 1920. |
NGÀY 3 THÁNG 6, 1920. |
|
[Page 9] |
[Page 9] |
|
Let me this morning give you some more thoughts on the subject of meditation; they will bear somewhat on the matter given yesterday, and on the 16th ultimo. |
Sáng nay, tôi muốn chia sẻ với bạn thêm một vài suy nghĩ về chủ đề tham thiền; chúng sẽ liên quan phần nào đến nội dung đã đưa ra hôm qua và vào ngày 16 tháng trước. |
|
Fundamentally, meditation is to assist alignment and so permit of contact with the Higher Self; hence its institution. I would, in order duly to elucidate, take up the study of this topic under the following heads: |
Về cơ bản, tham thiền là để hỗ trợ sự chỉnh hợp và từ đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; đó chính là lý do cho sự thiết lập của nó. Để làm sáng tỏ một cách đúng đắn, tôi sẽ thực hiện việc nghiên cứu chủ đề này theo các đề mục sau: |
|
Points considered when assigning a Meditation. |
Các điểm cần xem xét khi chỉ định một phương pháp thiền. |
|
The use of the Sacred Word in Meditation. |
Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong Tham thiền. |
|
Dangers to be avoided in Meditation. |
Các nguy hiểm cần tránh trong Tham thiền. |
|
The use of Form in Meditation. |
Việc sử dụng Hình thức trong Tham thiền. |
|
The use of Colour and Sound in Meditation. |
Việc sử dụng Màu sắc và Âm thanh trong Tham thiền. |
|
Access to the Masters through Meditation. |
Tiếp cận với các Chân sư thông qua Tham thiền. |
|
Future Schools of Meditation. |
Các Trường Tham thiền trong Tương lai. |
|
Purification of the Vehicles. |
Sự Thanh lọc các Vận cụ. |
|
The Exoteric Life of Service. |
Một Đời sống Phụng sự Bên Ngoài. |
|
Let us today take up the consideration of the first point:—What makes Meditation of importance? |
Hôm nay chúng ta hãy cùng xem xét điểm đầu tiên:—Điều gì làm cho Tham thiền trở nên quan trọng? |
|
The emphasis upon the importance of meditation follows naturally upon the realisation by the student of the absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego. |
Sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của tham thiền diễn ra một cách tự nhiên sau khi môn sinh nhận thức được sự cần thiết tuyệt đối của việc phàm ngã phải bị thống trị bởi Chân ngã. |
|
Points considered when assigning a Meditation. |
Các điểm cần xem xét khi chỉ định một Bài thiền. |
|
Man at this time is engaged in many pursuits and through the force of circumstances he is polarised entirely in the lower self, that polarisation being in either the emotional or mental body. One point of interest I would indicate:—as long as the polarisation is purely [Page 10] physical or purely emotional, no need for meditation is ever felt. Even when the mental body is active, no urge arises until the man has run through many changes and many lives, has tasted the cup of pleasure and of pain through many incarnations, has sounded the depths of the life lived entirely for the lower self and found it unsatisfying. Then he begins to turn his thought to other things, to aspire to that which is unknown, to realize and sense within himself the pairs of opposites, and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, and yet from their use he derives no content; always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. The man begins to turn within and to seek the source from whence he came. Then he begins to meditate, to ponder, to intensify vibration until in process of time he garners the fruits of meditation. |
Vào thời điểm hiện nay, con người đang dấn thân vào nhiều theo đuổi khác nhau, và do mãnh lực của hoàn cảnh, y hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã thấp, sự phân cực ấy nằm hoặc trong thể cảm dục, hoặc trong thể trí. Có một điểm đáng lưu ý mà tôi muốn chỉ ra: — chừng nào sự phân cực còn thuần túy ở thể xác hoặc thuần túy ở thể cảm dục, thì nhu cầu tham thiền hoàn toàn không bao giờ được cảm nhận. Ngay cả khi thể trí hoạt động, vẫn không có thôi thúc nào khởi lên cho đến khi con người đã trải qua nhiều biến đổi và nhiều kiếp sống, đã nếm cốc khoái lạc và đau khổ qua vô số lần nhập thể, đã dò đến tận đáy của đời sống được sống hoàn toàn cho phàm ngã và nhận ra rằng điều ấy không đem lại sự thỏa mãn. Khi ấy, y bắt đầu hướng tư tưởng của mình sang những điều khác, bắt đầu khát vọng hướng đến cái chưa biết, bắt đầu nhận ra và cảm nhận bên trong chính mình các cặp đối cực, và bắt đầu tiếp xúc trong tâm thức của y những khả năng và những lý tưởng mà trước đây y chưa từng mơ tưởng. Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; luôn luôn, thôi thúc bên trong vẫn dai dẳng cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức khát vọng vươn ra và vươn lên, khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. Con người bắt đầu quay vào nội tâm và tìm kiếm cội nguồn mà từ đó y đã đi ra. Khi ấy, y bắt đầu tham thiền, bắt đầu suy tư, bắt đầu gia tăng rung động cho đến khi, theo thời gian, y thu hoạch được những hoa trái của tham thiền. |
|
Four things meditation does:— |
Bốn điều mà tham thiền thực hiện: |
|
l—It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies. |
1—Nó cho phép một người tiếp xúc với Chân ngã và chỉnh hợp ba thể thấp. |
|
2—It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. Thus is afforded opportunity to the Ego, and later to the Master, to disturb that equilibrium and tune the quiescent vibration to a higher note than heretofore; to cause the consciousness to vibrate to a newer and higher measure, and to swing (if so I may express it) into the periphery of the threefold Spirit. By the constant practice of this, the whole point of equilibrium is gradually shifted higher and higher, until the time comes when the lower point of [Page 11] attraction in the swinging and adjustment, is not the physical, touches not the emotional, contacts not the mental (the causal body even escaping) and the man is polarised in the spiritual consciousness from thenceforth. |
2—Nó đưa con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở điểm cân bằng. Do đó tạo cơ hội cho Chân ngã, và sau này là Chân sư, làm xáo trộn sự thăng bằng đó và điều chỉnh rung động tĩnh lặng sang một âm điệu cao hơn trước đây; làm cho tâm thức rung động theo một nhịp độ mới hơn và cao hơn, và chuyển dịch (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) vào chu vi của Tinh thần tam phân. Bằng việc thực hành liên tục điều này, toàn bộ điểm thăng bằng dần dần được dịch chuyển ngày càng cao hơn, cho đến khi tới lúc điểm thu hút thấp hơn trong sự dao động và điều chỉnh không còn là cõi hồng trần, không chạm đến cõi cảm dục, không tiếp xúc với cõi trí (ngay cả thể nguyên nhân cũng thoát khỏi) và con người được phân cực trong tâm thức tinh thần từ đó trở đi. |
|
This marks the fourth Initiation; after that Initiation, the Adept makes for Himself a body of manifestation, a free creation,—there is nothing in Him to call into objectivity a body for use in the three worlds and evolved under the Law of Causes. |
Điều này đánh dấu lần Điểm đạo thứ tư; sau lần Điểm đạo đó, vị Cao đồ tự tạo cho Ngài một thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do,— trong Ngài không có gì khiến phải dùng một thể trong tam giới và phát triển theo Luật Nhân quả. |
|
3—It stabilises the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes. It commences the work of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, until that subplane is dominated. The second subplane is then the next to be synchronised. |
3—Nó ổn định các rung động thấp trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí. Nó bắt đầu công việc điều chỉnh phàm ngã theo rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi cõi trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị thống trị. Cõi phụ thứ hai sau đó là cõi tiếp theo được đồng bộ hóa. |
|
A man reaches the point of personality attainment in this cycle when he has the capacity to vibrate and move consciously on the fourth subplane. We might term the fourth subplane on the physical, emotional and mental planes (when dominated, aligned and functioning simultaneously in the same incarnation) the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. That particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self,—physically perfect, emotionally vibrant, and mentally colossal. Then succeeding that, begins the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego. |
Một người đạt đến điểm thành tựu phàm ngã trong chu kỳ này khi y có khả năng rung động và di chuyển một cách có ý thức trên cõi phụ thứ tư. Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí (khi được thống trị, chỉnh hợp và hoạt động đồng thời trong cùng một lần lâm phàm) là cõi của phàm ngã hoàn thiện theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp. Lần lâm phàm cụ thể đó sẽ là lần mà con người đạt được sự biểu hiện đầy đủ nhất của phàm ngã mình,—hoàn hảo về thể xác, sống động về cảm xúc và vĩ đại về trí tuệ. Sau đó, bắt đầu sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự nâng lên với Chân Ngã, và sự điều hòa Phàm Ngã, hay bậc ba chính, với bậc năm chủ đạo của Chân Ngã. |
|
4—It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. Later I will elucidate this further. [Page 12] |
4—Nó hỗ trợ trong việc chuyển dịch sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã sang nguyên tử tương ứng trong Tam nguyên tinh thần. Sau này tôi sẽ làm rõ điều này hơn. |
|
Hence may easily be seen the essential nature of Meditation and its wise, diligent and serious following. |
Do đó có thể dễ dàng thấy được bản chất cốt yếu của Tham thiền và việc tuân theo nó một cách khôn ngoan, siêng năng và nghiêm túc. |
|
Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. Disorderly at first are his attempts, and sometimes several incarnations may go by in which the Higher self only forces the man to think and seriously to meditate at rare and separated intervals. More frequently come the occasions of withdrawing within, until there arises for the man several lives given to mystic meditation and aspiration, culminating usually in a life given entirely to it. It marks the point of the highest emotional aspiration, apart from the scientific application of the law, via the mental body. These laws are those governing the true occult meditation. |
Giai đoạn đầu trong trải nghiệm, sau khi đạt được mức cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. Những nỗ lực của y lúc đầu lộn xộn, và đôi khi vài kiếp sống có thể trôi qua trong đó Bản Ngã Cao Siêu chỉ buộc con người suy nghĩ và tham thiền một cách nghiêm túc vào những khoảng thời gian hiếm hoi và tách biệt. Thường xuyên hơn là những dịp rút lui vào bên trong, cho đến khi nảy sinh đối với con người một vài kiếp sống dành cho tham thiền thần bí và khát vọng, thường lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống hoàn toàn dành cho nó. Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, tách biệt khỏi việc áp dụng định luật một cách khoa học, thông qua thể trí. Những định luật này là những định luật chi phối tham thiền huyền môn chân chính. |
|
Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination: —the life of worldly apotheosis and the life of intensest meditation along the mystic or emotional-intuitional line. This meditative life was taken either in a monastery or nunnery in middle Europe by those linked with the Master Jesus and His disciples, or in India, Tibet or China by the pupils of the Master M. or the Master K. H. |
Đằng sau mỗi người trong các bạn đang làm việc dứt khoát dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư, là hai kiếp sống tột đỉnh: —kiếp sống tôn vinh thế tục và kiếp sống tham thiền mãnh liệt nhất theo dòng thần bí hoặc cảm xúc-trực giác. Kiếp sống tham thiền này được thực hiện hoặc trong một tu viện hoặc ni viện ở trung tâm Châu Âu bởi những người liên kết với Chân sư Jesus và các đệ tử của Ngài, hoặc ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa bởi các học trò của Chân sư M. hoặc Chân sư K. H. |
|
Now comes to all of you the most important series of lives to which the previous points of culmination were but stepping stones. In the lives immediately ahead of those upon the Path will come final achievement through the instrumentality of the ordered occult meditation, based on law. For some few may come attainment in this life or the next; for others, shortly in other lives. For a few there lies ahead the attainment of the mystic method, to be the basis later on of the occult or mental method. |
Chuỗi kiếp sống quan trọng nhất giờ đây đến với tất cả các bạn, mà những điểm đỉnh cao trước đó chỉ là những bước đệm dẫn tới. Thành tựu cuối cùng sẽ đến trong những kiếp sống ngay phía trước của những ai đang trên Thánh đạo thông qua công cụ của tham thiền huyền bí có trật tự, dựa trên định luật. Với một số ít các bạn, sự thành tựu có thể đến trong kiếp này hoặc kiếp kế tiếp; đối với những người khác, sẽ sớm trong các kiếp khác. Đối với một số ít, sự đạt được phương pháp thần bí đang chờ đợi phía trước, để trở thành nền tảng sau này cho phương pháp huyền bí hay phương pháp trí tuệ. |
LETTER III – POINTS CONSIDERED WHEN ASSIGNING MEDITATION—
[Commentary 6]
LÁ THƯ THỨ BA – CÁC ĐIỂM CẦN XEM XÉT KHI CHỈ ĐỊNH THAM THIỀN
|
l—The Ray of the Ego or Higher self. |
1—Cung của chân ngã hay Bản ngã cao siêu. |
|
2—The Ray of the Personality or Lower self. |
2—Cung của phàm ngã hay phàm nhân. |
|
3—Karmic condition of the threefold man. |
3—Tình trạng nghiệp quả của phàm ngã tam phân. |
|
4—The condition of the Causal Body. |
4—Tình trạng của thể nguyên nhân. |
|
5—The need of the period and the man’s availability. |
5—Nhu cầu của thời kỳ và khả năng sẵn sàng của người đó. |
|
6—The groups, inner and outer, with which he is affiliated. |
6—Các nhóm, bên trong và bên ngoài, mà y có liên kết. |
|
JUNE 4, 1920 |
NGÀY 4 THÁNG 6, 1920 |
|
We have dealt with the importance of meditation, and I have suggested for your consideration four reasons out of the many why the practice should he followed. At this period when meditation is followed by many of you without the guidance of a teacher who is personally acquainted with you on the physical plane, it has been impossible to do more than formulate a plan for practice that carries in it the elements of safety and of universality. |
Chúng ta đã bàn về tầm quan trọng của tham thiền, và tôi đã gợi ý cho các bạn xem xét bốn lý do trong số nhiều lý do tại sao nên thực hành điều đó. Trong giai đoạn này, khi việc tham thiền được nhiều người trong các bạn thực hiện mà không có sự hướng dẫn của một huấn sư quen biết cá nhân với các bạn trên cõi hồng trần, thì không thể làm gì hơn ngoài việc lập ra một kế hoạch thực hành mang trong mình các yếu tố an toàn và phổ quát. |
|
When a teacher is on the spot, differentiated practice may be carried on suited to the temperament of the pupil, and having certain attributes that make that particular meditation the line of least resistance from the physical brain of the personality to the causal body. |
Khi một huấn sư có mặt tại chỗ, việc thực hành biệt phân có thể được tiến hành phù hợp với khí chất của người môn sinh, và có những thuộc tính nhất định làm cho phương pháp thiền cụ thể đó trở thành con đường ít trở ngại nhất từ bộ não vật lý của phàm ngã đến thể nguyên nhân |
|
In formulating methods of meditation certain factors must be taken into consideration. These factors I will now enumerate. I seek not to give you outlines and methods to be followed. I but indicate the underlying principles that guide the teacher in the choice of method suitable for the pupil. Later, when the teacher comes and the scientific application of the method to the individual is being demonstrated, you can then see if the rules laid down here are fundamentals or not. These fundamentals and principles are all I seek to give. Method and detail must be worked out through the use of discrimination, experience, courage and perseverance. |
Trong việc lập ra các phương pháp tham thiền, một số yếu tố nhất định phải được xem xét. Những yếu tố này tôi sẽ liệt kê ngay bây giờ. Tôi không tìm cách đưa cho các bạn những đề cương và phương pháp để tuân theo. Tôi chỉ nêu ra các nguyên tắc cơ bản hướng dẫn huấn sư trong việc lựa chọn phương pháp phù hợp cho môn sinh. Sau này, khi huấn sư đến và sự áp dụng khoa học của phương pháp cho từng cá nhân được chứng minh, khi đó bạn có thể thấy liệu các quy luật được đặt ra ở đây có phải là nền tảng hay không. Những nền tảng và nguyên tắc này là tất cả những gì tôi tìm cách đưa ra. Phương pháp và chi tiết phải được rèn luyện thông qua việc sử dụng sự phân biện, kinh nghiệm, lòng can đảm và sự kiên trì. |
|
The factors that must be considered by a teacher when assigning a meditation are six in number, if we deal only with the principal ones. They are as follows: [Trang 15] |
Các yếu tố phải được huấn sư xem xét khi chỉ định một phương pháp thiền gồm có sáu yếu tố, nếu chúng ta chỉ bàn đến những yếu tố chính. Chúng như sau: [Trang 15] |
|
l—The Ray of the pupil’s Ego, or Higher Self. |
1—Cung của Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu của môn sinh. |
|
2—The Ray of his Personality or Lower Self. |
2—Cung của Phàm ngã hay Bản ngã thấp của y. |
|
3—The Karmic condition of his threefold lower nature. |
3—Tình trạng Nghiệp quả của bản chất thấp tam phân của y. |
|
4—The condition of his Causal Body. |
4—Tình trạng của Thể Nguyên nhân của y. |
|
5—The immediate need of the period and his availability. |
5—Nhu cầu tức thời của giai đoạn và sự sẵn sàng của y. |
|
6—The groups, inner and outer, with which he may be affiliated. |
6—Các nhóm, bên trong và bên ngoài, mà y có thể liên kết. |
|
We will now take them up and consider them one by one. |
Bây giờ chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng yếu tố một. |
|
1 – The Ray of Higher Self |
Cung của Chân Ngã Cao Siêu |
|
The ray on which a man’s causal body is found, the egoic ray, should determine the type of meditation. Each ray necessitates a different method of approach, for the aim of all meditation is union with the divine. At this stage, it is union with the spiritual Triad, that has its lowest reflection on the mental plane. Let me illustrate briefly: |
Cung mà thể nguyên nhân của một người được tìm thấy, cung chân ngã, nên quyết định loại hình tham thiền. Mỗi cung đòi hỏi một phương pháp tiếp cận khác nhau, vì mục tiêu của mọi sự tham thiền là hợp nhất với thiên tính. Ở giai đoạn này, đó là sự hợp nhất với Tam nguyên tinh thần, vốn có sự phản chiếu thấp nhất trên cõi trí. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn: |
|
When the egoic ray is what is termed the Power Ray, the method of approach has to be by the application of the will in a dynamic form to the lower vehicles; it is largely what we term achievement by an intense focusing, a terrific one-pointedness, that inhibits all hindrances and literally forces a channel, thus driving itself into the Triad. |
Khi cung chân ngã là cái được gọi là Cung Quyền Năng, phương pháp tiếp cận phải là bằng việc áp dụng ý chí dưới một hình thức năng động vào các vận cụ thấp; phần lớn đó là cái mà chúng ta gọi là thành tựu bằng một sự tập trung mãnh liệt, một sự nhất tâm khủng khiếp, ngăn chặn mọi trở ngại và theo đúng nghĩa đen là cưỡng ép mở ra một kênh dẫn, từ đó thúc đẩy chính nó vào Tam nguyên. |
|
When the egoic ray is the second or the Love-Wisdom Ray, the path of least resistance lies along the line of expansion, of a gradual inclusion. It is not so much a driving forward as it is a gradual expanding from an inner centre to include the entourage, the environment, the allied souls, and the affiliated groups of pupils under [Trang 16] some one Master, until all are included in the consciousness. Carried to the point of achievement, this expansion results in the final shattering of the causal body at the fourth Initiation. In the first instance—achievement via the Power Ray—the driving forward and the forcing upward had a like result; the opened channel admitted the downflow of force or fire from the spirit and the causal body in time is equally destroyed. |
Khi cung chân ngã là cung thứ hai hay Cung Bác Ái – Minh Triết, con đường ít trở ngại nhất nằm dọc theo đường lối mở rộng, của một sự bao gồm dần dần. Nó không hẳn là một sự thúc đẩy về phía trước mà là một sự mở rộng dần dần từ một trung tâm bên trong để bao gồm những người xung quanh, môi trường, các linh hồn đồng minh, và các nhóm môn sinh liên kết dưới [Trang 16] quyền của một Chân sư nào đó, cho đến khi tất cả được bao gồm trong tâm thức. Khi đạt đến điểm thành tựu, sự mở rộng này dẫn đến việc phá vỡ cuối cùng thể nguyên nhân tại lần Điểm đạo thứ tư. Trong trường hợp đầu tiên—thành tựu thông qua Cung Quyền lực—việc thúc đẩy về phía trước và cưỡng ép đi lên cũng có kết quả tương tự; kênh dẫn được mở ra đã cho phép luồng mãnh lực hoặc lửa tuôn xuống từ tinh thần, và thể nguyên nhân theo thời gian cũng bị phá hủy tương tự. |
|
When the egoic ray is the third or Activity-adaptability Ray, the method is somewhat different. Not so much the driving forward, not so much the gradual expansion as the systematic adaptation of all knowledge and of all means to the end in view. It is in fact the process of the utilisation of the many for the use of the one; it is more the accumulation of needed material and quality for the helping of the world, and the amassing of information through love and discrimination that eventually causes the shattering of the causal body. In these “Rays of Aspect” or of divine expression, if so I may call them, the shattering is brought about by the widening of the channel, due to the driving power of will in the first case; by the expansion of the lower auric egg, the causal body, in the second case, due to the inclusiveness of the synthetic Ray of Love and Wisdom; and by the breaking of the periphery of the causal body in the third case, due to the accumulative faculty and systematic absorption of the Adaptability Ray. |
Khi cung chân ngã là cung ba hay Cung Hoạt động-Thích ứng, phương pháp có phần khác biệt. Không hẳn là thúc đẩy về phía trước, không hẳn là mở rộng dần dần mà là sự thích ứng có hệ thống của mọi tri thức và mọi phương tiện cho mục đích đang hướng tới. Thực tế đó là quá trình tận dụng cái nhiều cho việc sử dụng của cái một; nó thiên về việc tích lũy chất liệu và phẩm tính cần thiết để giúp đỡ thế gian, và việc thu thập thông tin thông qua tình thương và sự phân biện mà cuối cùng gây ra sự phá vỡ thể nguyên nhân. Trong các “Cung Trạng Thái” hay của sự biểu hiện thiêng liêng này, nếu tôi có thể gọi như vậy, sự phá vỡ được mang lại bởi việc mở rộng kênh dẫn, do quyền năng thúc đẩy của ý chí trong trường hợp thứ nhất; bởi sự mở rộng của noãn hào quang thấp, thể nguyên nhân, trong trường hợp thứ hai, do tính bao gồm của Cung tổng hợp Bác ái và Minh triết; và bởi việc phá vỡ chu vi của thể nguyên nhân trong trường hợp thứ ba, do khả năng tích lũy và sự hấp thụ có hệ thống của Cung Thích ứng. |
|
All these three different methods have the same result, and are fundamentally all forms of the one great method employed in the evolution of love or wisdom,—the goal of endeavour in this present solar system. |
Tất cả ba phương pháp khác nhau này đều có cùng một kết quả, và về cơ bản đều là các hình thức của một phương pháp lớn được sử dụng trong sự tiến hóa của bác ái hay minh triết,—mục tiêu của nỗ lực trong hệ mặt trời hiện tại này. |
|
You have the will driving a man on to perfection, through realisation of the Higher, and resulting in the service of power through love in activity. [Trang 17] |
Bạn có ý chí thúc đẩy một người tiến tới sự hoàn thiện, thông qua việc chứng nghiệm cái Cao siêu, và dẫn đến sự phụng sự của quyền năng thông qua tình thương trong hoạt động. [Trang 17] |
|
You have the wisdom or love aspect driving a man on to perfection through the utilisation of his oneness with all that breathes, resulting in the service of love through love in activity. |
Bạn có phương diện minh triết hay bác ái thúc đẩy một người tiến tới sự hoàn thiện thông qua việc tận dụng sự hợp nhất của y với tất cả những gì đang thở, dẫn đến sự phụng sự của tình thương thông qua tình thương trong hoạt động. |
|
You have the activity aspect driving a man on to perfection through the utilisation of all in the service of man; first by the utilisation of all for himself, then by the graded steps of the utilisation of all for the family, of all for those he personally loves, of all for his environing associates, and thus on and up till all is utilised in the service of humanity. |
Bạn có phương diện hoạt động thúc đẩy một người tiến tới sự hoàn thiện thông qua việc tận dụng tất cả trong sự phụng sự con người; đầu tiên bằng việc tận dụng tất cả cho chính bản thân y, sau đó bằng các bước phân cấp của việc tận dụng tất cả cho gia đình, cho những người y yêu thương một cách cá nhân, cho các cộng sự xung quanh y, và cứ thế tiến lên cho đến khi tất cả được tận dụng trong sự phụng sự nhân loại. |
|
When the egoic ray is the attributive Ray of Harmony, the fourth ray, the method will be along the line of the inner realisation of beauty and harmony; it causes the shattering of the causal body by the knowledge of Sound and Colour and the shattering effect of Sound. It is the process that leads to the realisation of the notes and tones of the solar system, the note and tone of individuals, and the endeavor to harmonise the egoic note with that of others. When the egoic note is sounded in harmony with other egos, the result is the shattering of the causal body, dissociation from the lower and the attainment of perfection. Its exponents develop along the line of music, rhythm and painting. They withdraw within in order to comprehend the life side of the form. The outer manifestation of that life side in the world is through that which we call art. The great painters and the superlative musicians are in many cases reaching their goal that way. |
Khi cung chân ngã là Cung thuộc tính của sự Hài hòa, cung bốn, phương pháp sẽ theo dòng chứng nghiệm nội tâm về vẻ đẹp và sự hài hòa; nó gây ra sự phá vỡ thể nguyên nhân bằng tri thức về Âm thanh và Màu sắc và hiệu ứng phá vỡ của Âm thanh. Đó là quá trình dẫn đến việc chứng nghiệm các âm điệu và âm sắc của hệ mặt trời, âm điệu và âm sắc của các cá nhân, và nỗ lực hài hòa âm điệu chân ngã với âm điệu của những người khác. Khi âm điệu chân ngã được xướng lên hài hòa với các chân ngã khác, kết quả là sự phá vỡ thể nguyên nhân, sự tách rời khỏi cái thấp và đạt được sự hoàn thiện. Những người đại diện của nó phát triển theo dòng âm nhạc, nhịp điệu và hội họa. Họ rút lui vào bên trong để thấu hiểu phương diện sự sống của hình tướng. Sự biểu hiện bên ngoài của phương diện sự sống đó trong thế gian là thông qua cái mà chúng ta gọi là nghệ thuật. Các họa sĩ vĩ đại và các nhạc sĩ siêu việt trong nhiều trường hợp đang đạt đến mục tiêu của họ theo cách đó. |
|
When the fifth ray, the Ray of Concrete Science or Knowledge is a man’s ray, the method is very interesting. It takes the form of the intense application of the concrete mind to some problem for the helping of the race; it is the bending of every mental quality and the [Trang 18] controlling of the lower nature so that one supreme endeavor is made to pierce through that which hinders the downflow of the higher knowledge. It involves also the will element (as might be expected) and results in the wresting of the desired information from the source of all knowledge. |
Khi cung thứ năm, Cung Khoa học Cụ thể hay Tri thức là cung của một người, phương pháp này rất thú vị. Nó mang hình thức của sự áp dụng mãnh liệt trí cụ thể vào một vấn đề nào đó để giúp đỡ nhân loại; đó là việc uốn nắn mọi phẩm chất trí tuệ và [Trang 18] kiểm soát bản chất thấp để thực hiện một nỗ lực tối cao nhằm xuyên thấu qua những gì ngăn cản luồng tri thức cao siêu tuôn xuống. Nó cũng bao gồm yếu tố ý chí (như có thể dự đoán) và dẫn đến việc đoạt lấy thông tin mong muốn từ nguồn của mọi tri thức. |
|
As the process is continued, the piercing of the periphery of the causal body becomes so frequent that in the end disintegration is produced and a man is set free. It is mentality driving a man on to perfection and forcing him to utilise all knowledge in the loving service of his race. |
Khi quá trình này được tiếp tục, việc xuyên thấu chu vi của thể nguyên nhân trở nên thường xuyên đến mức cuối cùng sự tan rã được tạo ra và con người được giải phóng. Đó là trí năng thúc đẩy con người đi đến sự hoàn thiện và buộc y phải sử dụng mọi tri thức để phụng sự nhân loại với tình thương. |
|
The Ray of Devotion is pre-eminently the ray of sacrifice. When it is the egoic ray the method of approach through meditation takes the form of one-pointed application, through love of some individual or ideal. A man learns to include through love of person or ideal; he bends every faculty and every effort to the contemplation of what is required, and in sacrifice for that person or ideal lays even his causal body on the flames of the altar. It is the method of divine fanaticism that counts all lost apart from the vision, and that eventually sacrifices joyously the entire personality. The causal body is destroyed through fire, and the liberated life streams upward to the spirit in divine beatification. |
Cung Sùng Tín nổi trội là cung của sự hy sinh. Khi nó là cung chân ngã, phương pháp tiếp cận thông qua tham thiền mang hình thức của sự áp dụng nhất tâm, thông qua tình thương đối với một cá nhân hay lý tưởng nào đó. Một người học cách bao gồm thông qua tình thương đối với con người hay lý tưởng; y dồn mọi năng lực và mọi nỗ lực vào việc chiêm ngưỡng những gì được yêu cầu, và trong sự hy sinh cho người hay lý tưởng đó, y đặt ngay cả thể nguyên nhân của mình lên ngọn lửa của bàn thờ. Đó là phương pháp của sự cuồng tín thiêng liêng coi tất cả là mất mát nếu tách rời khỏi linh ảnh, và cuối cùng hy sinh toàn bộ phàm ngã một cách vui vẻ. Thể nguyên nhân bị tiêu hủy qua lửa, và sự sống được giải phóng tuôn trào lên trên tới tinh thần trong sự chân phúc thiêng liêng. |
|
When the egoic ray is the seventh or Ray of Ceremony Law or Magic, the method is that of the glorification and comprehension of form in approach. As said earlier, the goal of all the meditation practices is approach to the divine within each one, and, through that, approach to the Deity Himself. |
Khi cung chân ngã là cung thứ bảy hay Cung Nghi lễ Định luật hoặc Huyền thuật, phương pháp là sự tôn vinh và thấu hiểu hình tướng trong sự tiếp cận. Như đã nói trước đây, mục tiêu của mọi sự thực hành tham thiền là tiếp cận với thiên tính bên trong mỗi người, và thông qua đó, tiếp cận với chính Thượng đế. |
|
The method, therefore, is the bringing under law, order and rule, of every act of the life in all the three bodies, and the building within the causal body of an [Trang 19] expanding form that results in the shattering of that body. It is the building of the Shrine under certain rules into a dwelling place for the Shekinah, and when the spiritual light flames forth, the Temple of Solomon rocks, reels and disintegrates. It is the study of the law and the consequent comprehension by the man of how that law is wielded and why; it is then the definite application of that law to the body of causes so as to render it needless and thus effect its shattering. Emancipation is the result, and the man frees himself from the three worlds. Many occultists are coming in on this ray at this time to continue the liberating process. It is the method that leads a man to liberation through the understanding and the intelligent application of the law to his own life, and to the ameliorating of conditions in the body of humanity, thus making the man a server of his race. |
Do đó, phương pháp là đưa vào định luật, trật tự và quy luật mọi hành động của đời sống trong cả ba thể và xây dựng bên trong thể nguyên nhân một [Trang 19] hình tướng mở rộng dẫn đến sự phá vỡ thể đó. Đó là việc xây dựng Điện thờ theo những quy luật nhất định thành nơi trú ngụ cho Shekinah, và khi ánh sáng tinh thần bùng cháy, Đền thờ Solomon rung chuyển, lảo đảo và tan rã. Đó là việc nghiên cứu định luật và do đó sự thấu hiểu của con người về cách thức định luật đó được sử dụng và tại sao; sau đó là sự áp dụng dứt khoát định luật đó vào thể của các nguyên nhân để làm cho nó trở nên không cần thiết và từ đó thực hiện sự phá vỡ nó. Sự giải thoát là kết quả, và con người tự giải phóng mình khỏi ba cõi. Nhiều nhà huyền bí học đang đi vào cung này vào thời điểm này để tiếp tục quá trình giải phóng. Đó là phương pháp dẫn dắt một người đến sự giải thoát thông qua sự hiểu biết và sự áp dụng thông minh định luật vào đời sống của chính mình, và vào việc cải thiện các điều kiện trong cơ thể của nhân loại, từ đó làm cho con người trở thành một người phụng sự nhân loại mình. |
|
This suffices for today. |
Như vậy là đủ cho ngày hôm nay. |
[Commentary 7]
[Commentary 8]
[Commentary 9]
The Specific Gravity and Content of the Causal Body.—Tỷ trọng và Nội dung của Thể Nguyên nhân.
|
This subject, anent the causal body, opens up for the thinker much food for speculation. The literal figures and the dimensional lines cannot be given. They form one of the secrets of initiation but certain ideas may be suggested and submitted to the consideration of all interested. |
Chủ đề này, liên quan đến thể nguyên nhân, mở ra cho nhà tư tưởng nhiều điều đáng suy ngẫm. Các con số chính xác và các chiều cạnh không thể được công bố. Chúng tạo thành một trong những bí mật của điểm đạo nhưng một số ý tưởng có thể được gợi ý và đệ trình để những ai quan tâm cân nhắc. |
|
Just what do you mean when you speak of the causal body? Say not glibly, the body of causes, for words thus spoken are oft but nebulous and vague. Let us now consider the causal body and find out its component parts. |
Khi các bạn nói về thể nguyên nhân, các bạn thực sự muốn nói gì? Đừng nói ngay rằng đó là thể của các nguyên nhân, vì những lời nói như vậy thường chỉ là mơ hồ và không rõ ràng. Bây giờ, hãy xem xét thể nguyên nhân và tìm ra các phần cấu thành của nó. |
|
On the involutionary path you have what is termed the Group Soul, aptly described (as far as earth words permit) as a collection of triads, enclosed in a triple envelop of monadic essence. On the evolutionary path, groups of causal bodies correspond and are similarly composed, three factors entering in. [30] |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, các bạn có điều được gọi là Hồn nhóm, được mô tả thích đáng (trong mức độ ngôn từ trần thế cho phép) như một tập hợp các tam nguyên, được bao bọc trong một lớp vỏ tam phân của tinh chất chân thần. Trên con đường tiến hoá, cũng các nhóm thể nguyên nhân tương ứng và được cấu thành tương tự, với ba yếu tố tham dự. [30] |
|
The causal body is a collection of permanent atoms, three in all, enclosed in an envelop of mental essence…. What happens at the moment when animal-man becomes a thinking entity, a human being? The approximation of the self and the not-self by means of mind, for man is “that being in whom highest spirit and lowest matter are linked together by intelligence.” What do I mean by this phrase? Just this: that when animal-man had reached a point of adequacy; when his physical body was sufficiently co-ordinated, when he had an emotional or desire nature sufficiently strong to form a basis for existence, and to guide it by means of instinct, and when the germ of mentality was sufficiently implanted to have donated the instinctive memory and correlation of ideas that can be seen in the average domesticated animal, then the descending spirit (which had taken to itself an atom on the mental plane) judged the time ripe for taking possession of the lower vehicles. The Lords of the Flame were called in and they effected the transfer of polarisation from the lower atom of the Triad to the lowest atom of the Personality. Even then, the indwelling Flame could come no lower than the third subplane of the mental plane. The life of the first Logos must be blended with that of the second Logos and based on the activity of the third Logos. |
Thể nguyên nhân là một tập hợp các nguyên tử trường tồn, tổng cộng ba nguyên tử, được bao bọc trong một lớp vỏ bằng tinh chất cõi trí…. Điều gì xảy ra vào khoảnh khắc khi người thú trở thành một thực thể biết tư duy, một con người? Đó là sự xích lại gần nhau giữa ngã và phi-ngã nhờ phương tiện là thể trí, vì con người là “thực thể mà trong đó tinh thần cao nhất và vật chất thấp nhất được liên kết với nhau bởi trí tuệ.” Tôi muốn nói gì qua cụm từ này? Chỉ điều này: rằng khi người thú đã đạt đến một mức độ đầy đủ; khi thể xác của y đã được phối hợp đủ mức, khi y có một bản chất cảm xúc hay dục vọng đủ mạnh để làm nền tảng cho sự tồn tại, và để hướng dẫn sự tồn tại ấy bằng bản năng, và khi mầm mống trí tuệ đã được cấy đủ để ban tặng ký ức bản năng và sự liên hệ các ý niệm—điều có thể thấy nơi con vật đã được thuần hoá trung bình—thì tinh thần đang giáng xuống (vốn đã nhận lấy cho mình một nguyên tử trên cõi trí) xét thấy thời điểm đã chín muồi để chiếm hữu các vận cụ thấp. Các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa được thỉnh mời và Các Ngài đã thực hiện sự chuyển dịch phân cực từ nguyên tử thấp của Tam Nguyên sang nguyên tử thấp nhất của phàm ngã. Ngay cả khi ấy, Ngọn Lửa nội tại cũng không thể xuống thấp hơn cõi phụ thứ ba của cõi trí. Sự sống của Thượng đế thứ nhất phải được hoà trộn với sự sống của Thượng đế thứ hai và đặt nền trên hoạt động của Thượng đế thứ ba. |
|
Therefore, you have at the moment of individualisation, which is the term used to express this hour of contact, on the third subplane of the mental plane a point of light, enclosing three atoms, and itself enclosed in a [31] sheath of mental matter. The work then to be done consists of: |
Vì vậy, vào khoảnh khắc biệt ngã hoá—là thuật ngữ dùng để diễn tả giờ phút tiếp xúc này—trên cõi phụ thứ ba của cõi trí có một điểm sáng, bao bọc ba nguyên tử, và tự nó lại được bao bọc trong một lớp vỏ [31] bằng vật chất thể trí. Khi ấy, công việc cần làm gồm có: |
|
1. Causing that point of light to become a flame, by steadily fanning the spark and feeding the fire. |
1. Làm cho điểm sáng ấy trở thành một ngọn lửa, bằng cách đều đặn quạt bùng tia lửa và nuôi dưỡng ngọn lửa. |
|
2. Causing the causal body to grow and expand from being a colourless ovoid, holding the Ego like a yolk within the egg-shell, to a thing of rare beauty, containing within itself all the colour of the rainbow. This is an occult fact. The causal body will palpitate in due course of time with an inner irradiation, and an inner glowing flame that will gradually work its way from the centre to the periphery. It will then pierce through that periphery, using the body (that product of millennia of lives of pain and endeavour) as fuel for its flames. It will burn all up, it will mount upward to the Triad, and (becoming one with that Triad) will be re-absorbed into the spiritual consciousness,—will carry with it—using heat as the symbol—an intensity of heat or quality of colour or vibration that before were lacking. |
2. Làm cho thể nguyên nhân lớn lên và mở rộng, từ chỗ là một hình bầu dục không màu, giữ Chân ngã như lòng đỏ ở bên trong vỏ trứng, trở thành một vật hiếm có tuyệt mỹ, chứa trong nó mọi sắc màu của cầu vồng. Đây là một sự kiện huyền bí. Theo thời gian, thể nguyên nhân sẽ rung động với một sự chiếu rọi nội tại, và một ngọn lửa rực sáng bên trong sẽ dần dần đi từ trung tâm ra đến chu vi. Rồi nó sẽ xuyên thủng chu vi ấy, dùng chính thể (sản phẩm của hàng thiên niên kỷ những kiếp sống đau khổ và nỗ lực) làm nhiên liệu cho ngọn lửa của nó. Nó sẽ thiêu rụi tất cả, nó sẽ vươn lên Tam Nguyên, và (trở thành một với Tam Nguyên ấy) sẽ được tái hấp thụ vào tâm thức tinh thần,—sẽ mang theo vonó—lấy nhiệt làm biểu tượng—một cường độ nhiệt hay phẩm tính màu sắc hay rung động mà trước đó còn thiếu. |
|
Therefore the work of the Personality—for we have to view all from that angle until egoic vision may be ours,—is first to beautify, build and expand the causal body; secondly to withdraw within it the life of the Personality, sucking the good out of the personal life and storing it in the body of the Ego. We might term this the Divine Vampirism, for always evil is but the other side of good. Then, having accomplished this, comes the application of the flame to the causal body itself and the joyous standing by whilst the work of destruction goes on, and the Flame—the live inner man and the spirit of divine life—is set free and mounts to its source. |
Vì vậy, công việc của phàm ngã—vì chúng ta phải nhìn mọi việc từ góc độ ấy cho đến khi linh thị chân ngã có thể là của chúng ta,—trước hết là làm đẹp, xây dựng và mở rộng thể nguyên nhân; thứ hai là rút sự sống của phàm ngã vào trong đó, hút lấy điều thiện từ đời sống cá nhân và tích trữ nó trong thể của Chân ngã. Ta có thể gọi điều này là Sự Hút Máu Thiêng Liêng, vì điều ác luôn chỉ là mặt kia của điều thiện. Khi đã hoàn tất điều ấy, sẽ đến việc áp dụng ngọn lửa lên chính thể nguyên nhân và vui mừng đứng bên trong khi công việc huỷ diệt diễn ra, và Ngọn Lửa—con người nội tại sống động và tinh thần của sự sống thiêng liêng—được giải phóng và vươn lên về nguồn của nó. |
[Commentary 10] |
|
|
The specific gravity of the causal body fixes the moment of emancipation and marks the time when the work of beautifying and building is completed, when the [32] Temple of Solomon is erected, and when the weight (occultly understood) of the causal body measures up to the standard looked for by the Hierarchy. Then the work of destruction supervenes and liberation approaches. Spring has been experienced, the full verdure of summer has succeeded, now must be felt the disintegrating force of autumn,—only this time it is felt and applied on mental levels and not on physical. The axe is laid to the root of the tree, but the life essence is garnered into the divine storehouse. |
Tỷ trọng của thể nguyên nhân ấn định khoảnh khắc giải thoát và đánh dấu thời điểm khi công việc làm đẹp và xây dựng đã hoàn tất, khi [32] Đền thờ Solomon được dựng lên, và khi trọng lượng (được hiểu theo nghĩa huyền bí) của thể nguyên nhân đo đạt đến tiêu chuẩn mà Thánh Đoàn trông đợi. Khi ấy, công việc huỷ diệt sẽ tiếp diễn và sự giải thoát đến gần. Mùa xuân đã được trải nghiệm, sắc xanh tràn đầy của mùa hạ đã nối tiếp, giờ đây phải cảm nhận mãnh lực phân rã của mùa thu,—nhưng lần này nó được cảm nhận và áp dụng trên các cấp độ thể trí chứ không phải trên hồng trần. Lưỡi rìu đã đặt vào gốc cây, nhưng tinh chất sự sống được thu góp vào kho tàng thiêng liêng. |
|
The content of the causal body is the accumulation by slow and gradual process of the good in each life. The building proceeds slowly at first, but towards the end of incarnation,—on the Probationary Path and on the Path of Initiation—the work proceeds rapidly. The structure has been reared, and each stone quarried in the personal life. On the Path, in each of its two divisions [ t y p escript has: o n the Probationary Path and on the Path of Initiation], th e work of completing and beautifying the Temple proceeds with greater rapidity … . When writing the book that this material is intended [for] as foundation you can,—without my h elp—enlarge on method and process. Emphasise the fact that toward the period of completion the Thinker worketh with the law and consciously applieth. |
Nội dung của thể nguyên nhân là sự tích luỹ, qua một tiến trình chậm rãi và dần dần, của điều thiện trong mỗi kiếp sống. Việc xây dựng lúc đầu tiến hành chậm, nhưng về cuối của một kiếp lâm phàm,—trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo—công việc tiến hành nhanh chóng. Cấu trúc đã được dựng lên, và mỗi viên đá đều được khai thác trong đời sống cá nhân. Trên Con Đường, trong mỗi một trong hai phân bộ của nó [bản đánh máy có: trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo] , công việc hoàn tất và làm đẹp Đền thờ tiến hành với tốc độ lớn hơn…. Khi viết cuốn sách mà chất liệu này được dự định làm nền tảng, bạn có thể,—không cần sự giúp đỡ của tôi—mở rộng về phương pháp và tiến trình. Hãy nhấn mạnh sự kiện rằng, về cuối giai đoạn hoàn tất, Người Tư Duy làm việc với định luật và áp dụng một cách hữu thức. |
|
Briefly and in conclusion of this matter, I would seek to point out that the circumference of the causal body varies according to type and ray. Some egoic bodies are of a form more circular than others; some are more ovoid, and others more elongated in shape. It is the content and the pliability that matter, and above all the occult permeability of the lower auric egg that permits of contact with other egos, yet retains identity; that merges itself with its fellows, yet preserves individuality; and that absorbs all that is desirable, yet keeps ever its own shape. |
Tóm lược và để kết thúc vấn đề này, tôi muốn chỉ ra rằng chu vi của thể nguyên nhân thay đổi tuỳ theo loại và cung. Một số thể chân ngã có hình dạng tròn hơn những thể khác; một số bầu dục hơn, và một số khác thì thuôn dài hơn. Điều quan trọng là nội dung và tính mềm dẻo, và trên hết là tính thẩm thấu huyền bí của noãn hào quang thấp cho phép tiếp xúc với các chân ngã khác mà vẫn giữ được bản sắc; hoà nhập với các đồng loại mà vẫn bảo toàn tính cá biệt; và hấp thụ mọi điều đáng mong muốn mà vẫn luôn giữ hình dạng riêng của nó. |
|
June 16, 1920. |
Ngày 16 tháng 6 năm 1920. |
|
Ngày 16 tháng 6 năm 1920, 3 giờ chiều. |
|
|
Y o u can write today, brother of mine, only see to it you go to bed early tonight; this book on meditation is of importance and formeth part of a plan whose consummation is as yet unseen by you. The sentence [i.e. a fragment from occult Archives] yesterday may wisely be despatched for publication. Collect these sentences you get, and in book form later publish. More will come to you and in their publication cometh recognition—a recognition that is needed if you are to teach as wished and reach those whose karma it is to be reached by you. |
Hôm nay bạn có thể viết, huynh đệ của tôi, chỉ cần đảm bảo rằng tối nay bạn đi ngủ sớm; quyển sách về tham thiền này rất quan trọng và là một phần của một kế hoạch mà sự hoàn thành của nó hiện vẫn chưa hiển lộ đối với bạn. Câu [tức là một đoạn trích từ Kho lưu trữ nội môn] mà bạn nhận được hôm qua có thể được gửi đi xuất bản một cách khôn ngoan. Hãy thu thập những câu mà bạn nhận được và sau này xuất bản dưới dạng sách. Sẽ có thêm nhiều câu đến với bạn, và việc xuất bản chúng sẽ mang lại sự công nhận—một sự công nhận cần thiết nếu bạn muốn giảng dạy như mong muốn và tiếp cận những người có nghiệp duyên cần được bạn tiếp cận. |
|
A s regards these later sentences you need have no inner qualms as regards their fathering. You rightly felt that in some ways you got them differently than you did the other dictated material. They are more yours than you think. In transcribing them they come largely from your own ego, aided by me in transmission. In this type of work we are only assisting the working down to the physical brain of direct impress from your Higher Self. At present you need the heightening of vibration that my presence affecteth in order to receive. Later, if success attend this effort, you may be able to transcribe alone, but no strain is being permitted and time will demonstrate. |
Về những câu sau này, bạn không cần phải băn khoăn về nguồn gốc của chúng. Bạn đã cảm nhận đúng rằng bằng một cách nào đó, bạn tiếp nhận chúng khác với những tài liệu được truyền đạt khác. Chúng thuộc về bạn nhiều hơn bạn nghĩ. Khi chép lại chúng, chúng phần lớn đến từ chính chân ngã của bạn, với sự hỗ trợ của tôi trong việc truyền tải. Trong loại công việc này, chúng tôi chỉ hỗ trợ quá trình hạ xuống não bộ vật lý những ấn tượng trực tiếp từ Chân Thần của bạn. Hiện tại, bạn cần sự gia tăng rung động mà sự hiện diện của tôi tác động để có thể tiếp nhận. Sau này, nếu nỗ lực này thành công, bạn có thể tự mình chép lại, nhưng không có áp lực nào được phép đặt lên bạn, và thời gian sẽ chứng minh điều đó. |
|
T a k e now my dictation. |
Bây giờ hãy nhận sự truyền đạt của tôi. |
4—Condition of the Causal Body—Tình trạng của Thể Nguyên nhân.
|
The fourth factor underlying the choice of a method [33] of meditation is our subject today and consists of the condition of the causal body. |
Yếu tố thứ tư nằm dưới sự lựa chọn một phương pháp [33] tham thiền là chủ đề hôm nay của chúng ta và gồm tình trạng của thể nguyên nhân. |
|
We have dealt with the causal body in its relationship to the Personality or lower self, showing the interplay between the two and their interdependence. Through steady application to occult meditation, and through the gradual stilling of the lower mind, through concentration and the wise following of the egoic ray meditation, balanced by the personality ray mediation, we found that the relationship of the causal body to the Personality became ever closer and the channel connecting the two became ever more clear and adequate. This resulted eventually, we saw, in a shifting of polarisation from the lower to the higher and later to complete emancipation from both,—centralisation ensuing then in the spiritual consciousness. We dealt with the matter from the lower point of view, seeing it from the standpoint of a man in the three worlds. |
Chúng ta đã bàn về thể nguyên nhân trong mối liên hệ của nó với phàm nhân hay phàm ngã, cho thấy sự tương tác giữa hai bên và tính phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Nhờ sự áp dụng tham thiền huyền bí một cách kiên trì, và nhờ sự dần dần làm lắng yên hạ trí, nhờ tập trung và theo đuổi khôn ngoan việc hành thiền theo cung chân ngã, được quân bình bởi việc hành thiền theo cung phàm ngã, chúng ta thấy rằng mối liên hệ của thể nguyên nhân với phàm ngã ngày càng khắng khít, và kênh nối giữa hai bên ngày càng rõ ràng và đầy đủ. Kết quả cuối cùng, như chúng ta đã thấy, là sự chuyển dịch phân cực từ thấp lên cao và sau đó là sự giải thoát hoàn toàn khỏi cả hai,—khi ấy sự tập trung hoá diễn ra trong tâm thức tinh thần. Chúng ta đã xử lý vấn đề từ quan điểm thấp, nhìn nó từ lập trường của một con người trong ba cõi thấp. |
|
Today we will deal with the matter from the standpoint of the Higher Self, from the egoic level, and consider the relationship of that Self to the Hierarchy, to surrounding egos, and to the Spirit. It will be difficult to do more than give some few hints, for much that I could say would be little comprehended, and much be too occult and dangerous for general communication. |
Hôm nay chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề từ lập trường của Bản Ngã Cao Siêu, từ cấp độ chân ngã, và xét mối liên hệ của Bản Ngã ấy với Thánh Đoàn, với các chân ngã xung quanh, và với Tinh thần. Sẽ khó làm gì hơn ngoài việc đưa ra một vài gợi ý, vì nhiều điều tôi có thể nói sẽ ít được thấu hiểu, và nhiều điều quá huyền bí và nguy hiểm để truyền đạt rộng rãi. |
|
Three things may be imparted, which—when wisely meditated upon—may lead to illumination: |
Có thể truyền đạt ba điều, mà—khi được tham thiền một cách khôn ngoan—có thể dẫn đến sự soi sáng: |
|
The Ego on its own plane, realises consciously its relationship to the Master, and seeks to transmit that consciousness to the Personality. |
Chân ngã trên cõi của chính nó, chứng nghiệm hữu thức mối liên hệ của nó với Chân sư, và tìm cách truyền tâm thức ấy xuống phàm ngã. |
|
The Higher self on its own plane, is not trammeled by time and space, and (knowing the future as well as that which is past) seeks to bring the desired end nearer and make it more rapidly a fact. [34] |
Bản Ngã Cao Siêu trên cõi của chính nó, không bị trói buộc bởi thời gian và không gian, và (biết tương lai cũng như điều đã qua) tìm cách đưa mục tiêu mong muốn đến gần hơn và làm cho nó nhanh chóng trở thành một sự thật. [34] |
|
The Higher Self or Ego on its own plane has direct relationship with other egos on the same ray, and on a corresponding concrete or abstract ray, and—realising that progress is made in group formation—works on that plane at the helping of his kind. These facts are already half apprehended among students but by a slight elaboration I may make it clearer. |
Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã trên cõi của chính nó có mối liên hệ trực tiếp với các chân ngã khác trên cùng một cung, và trên một cung cụ thể hay trừu tượng tương ứng, và—nhận ra rằng tiến bộ được tạo ra trong sự hình thành nhóm—làm việc trên cõi ấy để trợ giúp đồng loại của y. Những sự kiện này đã được các đạo sinh nắm bắt một nửa, nhưng qua sự triển khai thâm chút ít, tôi có thể làm cho nó rõ hơn. |
Relationship of the Ego to the Hierarchy.—Mối quan hệ của Chân ngã với Thánh đoàn.
|
The relationship of the Ego to some one Master is at this stage consciously realised, but is nevertheless, itself of evolutionary development. As we have been told, there are sixty thousand million units of consciousness or spirits in the evolving human hierarchy. These are found on causal levels, though the numbers are slightly less now, owing to the attainment of the fourth Initiation by individuals from time to time. These egos at different stages of development are all linked with their Monad, Spirit or Father in Heaven, in much the same way (only in finer matter) as the Ego is linked with the Personality. |
Ở giai đoạn này, mối liên hệ của Chân ngã với một Chân sư nào đó được chứng nghiệm một cách hữu thức, nhưng dẫu vậy, chính nó vẫn thuộc về sự phát triển tiến hoá. Như chúng ta đã được dạy, có sáu mươi tỷ đơn vị tâm thức hay tinh thần trong Huyền Giai nhân loại đang tiến hoá. Chúng được tìm thấy trên các cấp độ nguyên nhân, dù con số hiện nay hơi ít hơn, do việc các cá nhân thỉnh thoảng đạt đến lần điểm đạo thứ tư. Các chân ngã này ở những giai đoạn phát triển khác nhau đều được liên kết với chân thần của mình, Tinh thần hay Cha trên Trời, gần giống như cách (chỉ là trong vật chất tinh tế hơn) mà Chân ngã được liên kết với phàm ngã. |
|
All the Monads are, as you know, under the control, or rather form part, of the consciousness of one of the Planetary Spirits. On egoic levels, the egos are in a similar condition. An Adept of their ray supervises their general evolution, dealing with them in groups. These groups are formed under three conditions: |
Như các bạn biết, tất cả các chân thần đều nằm dưới sự cai quản, hay đúng hơn là tạo thành một phần, của tâm thức của một trong các Hành Tinh Thượng đế. Trên các cấp độ chân ngã, các chân ngã cũng ở trong một tình trạng tương tự. Một Chân sư của cung của họ giám sát sự tiến hoá chung của họ, xử lý họ theo nhóm. Các nhóm này được hình thành dưới ba điều kiện: |
|
a—As to sub-ray of the egoic ray. |
a—Xét theo cung phụ của cung chân ngã. |
|
b—As to period of individualisation or of entrance into the human kingdom. |
b—Xét theo thời kỳ biệt ngã hoá hay thời điểm bước vào giới nhân loại. |
|
c—As to point of attainment. |
c—Xét theo điểm thành tựu. |
|
The Adept of their ray handles the general supervision but under Him work the Masters each on His own ray, and with Their own individual groups, who are affiliated with Them through period, through karma and [35] through point of vibration. Under the Masters work the disciples who have the consciousness of the Higher Self, and are therefore able to work on causal levels and aid in the development of those egos whose causal bodies are less developed than their own. |
Chân sư của cung của họ đảm trách sự giám sát chung, nhưng dưới Ngài có các Chân sư làm việc, mỗi Ngài trên cung riêng của Ngài, và với các nhóm cá biệt của Các Ngài, vốn liên kết với Các Ngài qua thời kỳ, qua nghiệp quả và [35] qua điểm rung động. Dưới các Chân sư làm việc có các đệ tử có tâm thức của Chân ngã, và vì vậy có thể làm việc trên các cấp độ nguyên nhân và trợ giúp sự phát triển của những chân ngã có thể nguyên nhân kém phát triển hơn của họ. |
|
All is beautifully subject to law, and as the work of developing the egoic body is dependent upon the progress made in the threefold personality, the Ego is consequently aided on lower levels by two different disciples, one working on emotional levels and reporting to another disciple who works upon the mental vehicle. He in his turn reports to the disciple with causal consciousness, who reports again to the Master. All this is done with the co-operation of the indwelling consciousness in the causal body. This, as you see, entails five factors concerning themselves with the aiding of the Ego in his evolutionary development: |
Mọi sự đều tuân theo định luật một cách tuyệt đẹp, và vì công việc phát triển thể chân ngã tuỳ thuộc vào tiến bộ đạt được trong phàm ngã tam phân, nên Chân ngã được trợ giúp trên các cấp độ thấp bởi hai đệ tử khác nhau, một người làm việc trên các cấp độ cảm xúc và báo cáo cho một đệ tử khác làm việc trên thể trí. Người này đến lượt mình báo cáo cho đệ tử có tâm thức nguyên nhân, và người ấy lại báo cáo cho Chân sư. Tất cả điều này được thực hiện với sự hợp tác của tâm thức nội tại trong thể nguyên nhân. Như các bạn thấy, điều này kéo theo năm yếu tố liên quan đến việc trợ giúp Chân ngã trong sự phát triển tiến hoá của y: |
|
l—The Adept of his Ray. |
l—Chân sư của cung của y. |
|
2—The Master of his group. |
2—Chân sư của nhóm của y. |
|
3—A disciple with causal consciousness. |
3—Một đệ tử có tâm thức nguyên nhân. |
|
4—A disciple on the mental plane. |
4—Một đệ tử trên cõi trí. |
|
5—A helper on the emotional plane. |
5—Một người trợ giúp trên cõi cảm xúc. |
|
For a long period of lives the Ego remains practically unconscious of the Personality. The magnetic link exists, but that is all until the time comes when the personal life reaches a point where it has somewhat to add to the content of the causal body—a body at first small, colourless and insignificant. But the hour comes when the stones are first brought perfected from the quarry of the personal life, and the first colours are painted in by the man, the builder and the artist. Then the Ego begins to give attention, rarely at first, but with increasing frequency, until lives come around in which the Ego [36] definitely works at the subjugation of the lower self, at the enlargement of the communicating channel, and at the transmission to the physical brain consciousness of the fact of its existence and the goal of its being. Once that is accomplished, and the inner fire is freer in its passage, lives are then given to the stabilising of that impression, and to the making of that inner consciousness a part of the conscious life. The flame radiates downward more and more until gradually the different vehicles come into line, and the man stands on the Probationary Path. He is ignorant yet of what lies ahead, and is conscious only of wild and earnest aspiration and of innate divine longings. He is eager to make good, longing to know, and dreaming always of someone or something higher than himself. All this is backed by the profound conviction that in service to humanity will the dreamed-of goal be reached, will the vision become reality, the longing fructify into satisfaction, and aspiration be merged in sight. |
Trong một thời kỳ dài của nhiều kiếp sống, Chân ngã hầu như không ý thức về phàm ngã. Mối liên kết từ tính tồn tại, nhưng chỉ có thế, cho đến khi thời điểm đến khi đời sống cá nhân đạt đến một mức mà nó có thể đóng góp phần nào vào nội dung của thể nguyên nhân—một thể lúc đầu nhỏ bé, không màu và không đáng kể. Nhưng giờ phút đến khi những viên đá đầu tiên được mang đến, đã được hoàn thiện từ mỏ đá của đời sống cá nhân, và những màu sắc đầu tiên được người ấy—đấng kiến tạo và nghệ sĩ—tô vẽ vào. Khi ấy Chân ngã bắt đầu chú ý, lúc đầu hiếm hoi, nhưng với tần suất ngày càng tăng, cho đến khi có những kiếp sống mà Chân ngã [36] dứt khoát làm việc để khuất phục phàm ngã, để mở rộng kênh giao thông, và để truyền xuống tâm thức của bộ não hồng trần sự kiện về sự tồn tại của mình và mục tiêu của sự hiện hữu của mình. Khi điều đó đã hoàn thành, và nội hoả được tự do hơn trong sự lưu thông, thì các kiếp sống được dành cho việc ổn định ấn tượng ấy, và làm cho tâm thức nội tại ấy trở thành một phần của đời sống hữu thức. Ngọn lửa bức xạ xuống ngày càng nhiều cho đến khi các vận cụ khác nhau dần dần chỉnh hợp, và con người đứng trên Con Đường Dự Bị. Y còn chưa biết điều gì ở phía trước, và chỉ ý thức về khát vọng mãnh liệt và chân thành cùng những khao khát thiêng liêng bẩm sinh. Y khao khát làm điều thiện, khao khát biết, và luôn mơ về một ai đó hay điều gì đó cao hơn chính mình. Tất cả điều này được nâng đỡ bởi niềm xác tín sâu xa rằng trong sự phụng sự nhân loại, mục tiêu mơ ước sẽ đạt được, tầm nhìn sẽ trở thành hiện thực, nỗi khao khát sẽ kết trái thành sự thoả mãn, và khát vọng sẽ hoà nhập vào sự thấy biết. |
|
The Hierarchy begins to take action and his instruction is carried out as aforesaid…. Until now the Teachers have only watched and guided without definitely dealing with the man himself; all has been left to the Ego and the life divine to carry out the plan, the attention of the Masters being directed to the Ego on his own plane. The Ego bends every effort to quicken vibration, and to force the oft-rebelling lower vehicles to respond and measure up to the rapidly increasing force. It is largely a matter of increased fire or heat, and consequent intensification of vibratory capacity. The egoic fire waxes ever greater until the work is done, and the purificatory fire becomes the Light of Illumination. Ponder on this sentence. As above, so below; on each rung of the ladder the process is repeated; the [37] Monad, at the third Initiation, begins itself to be conscious of the Ego. The work, then, is more rapid owing to the rarity of the material and to the fact that resistance is a factor in the three worlds but not elsewhere. |
Thánh Đoàn bắt đầu hành động và sự huấn luyện của y được thực hiện như đã nói ở trên…. Cho đến nay, các huấn sư chỉ quan sát và hướng dẫn mà không trực tiếp xử lý với chính người ấy; mọi sự được để cho Chân ngã và sự sống thiêng liêng thực hiện kế hoạch, còn sự chú ý của các Chân sư thì hướng về Chân ngã trên cõi của nó. Chân ngã dốc mọi nỗ lực để làm gia tăng rung động, buộc các vận cụ thấp vốn thường phản kháng phải đáp ứng và đáp ứng tương xứng với mãnh lực đang gia tăng nhanh chóng. Đây phần lớn là vấn đề gia tăng lửa hay nhiệt, và do đó tăng cường năng lực rung động. Lửa chân ngã ngày càng lớn cho đến khi công việc hoàn tất, và lửa thanh luyện trở thành Ánh Sáng Soi Sáng. Hãy suy ngẫm câu này. Trên sao, dưới vậy; trên mỗi nấc thang, tiến trình được lặp lại; chân thần, ở lần điểm đạo thứ ba, bắt đầu tự nó ý thức về Chân ngã. Khi ấy, công việc nhanh hơn do chất liệu tinh vi hơn và do sự kiện rằng kháng lực là một yếu tố trong ba cõi thấp nhưng không ở nơi khác. |
|
Hence, pain ceases for a Master. That is, pain as we know it on earth, which is largely pain in matter. The pain that lies hid in comprehension, not resistance, is felt to the highest circles, yea, it reaches to the Logos Himself. But this is beside the point and well-nigh incomprehensible to you who are yet trammelled by matter. |
Vì vậy, đau khổ chấm dứt đối với một Chân sư. Nghĩa là, thứ đau khổ như chúng ta biết trên cõi trần, vốn phần lớn là đau khổ trong vật chất. Còn nỗi đau ẩn tàng trong sự thấu hiểu, chứ không phải trong sự chống cự, thì được cảm nhận tới những cấp cao nhất; vâng, nó vươn tới chính Thượng đế. Nhưng điều này thì nằm ngoài trọng điểm và hầu như không thể hiểu nổi đối với các bạn, những người vẫn còn bị vật chất trói buộc. |
Relationship of the Ego to its own development.—Mối quan hệ của Chân ngã với sự phát triển của chính nó.
|
The Ego seeks to bring about the desired end in three ways:— |
Chân ngã tìm cách đưa mục tiêu mong muốn thành hiện thực theo ba cách:— |
|
1—By definite work on abstract levels. It aspires to contact and enclose the permanent atom, its first direct approach to the Triad. |
1—Bằng công việc xác định trên các cấp độ trừu tượng. Nó khao khát tiếp xúc và bao bọc nguyên tử trường tồn, là sự tiếp cận trực tiếp đầu tiên của nó với Tam Nguyên. |
|
2—By definite work on colour and sound with the aim in view of stimulation and vivification, working thus in groups and under the guidance of a Master. |
2—Bằng công việc xác định về màu sắc và âm thanh với mục tiêu là kích thích và tiếp sinh lực, làm việc như vậy theo nhóm và dưới sự hướng dẫn của một Chân sư. |
|
3—By frequent attempts to definitely control the lower self, a thing distasteful to the Ego, whose tendency is to rest content with consciousness and aspiration on its own plane. Forget not that the Ego itself has somewhat to wrestle with. The refusal to incarnate is not found only on spiritual levels, but is found also on that of the Higher Self. Certain developments also, incidental to the factors of time and space (as understood in the three worlds) are aimed at by the Ego, such as the increase of the causal periphery through the study of divine telepathy, systemic psychology and the knowledge of the law of fire. [38] |
3—Bằng những nỗ lực thường xuyên nhằm kiểm soát một cách xác định phàm ngã, điều mà Chân ngã không ưa, vì khuynh hướng của Chân ngã là an trú mãn nguyện với tâm thức và khát vọng trên cõi của chính nó. Đừng quên rằng chính Chân ngã cũng có điều phải vật lộn. Sự từ chối nhập thể không chỉ có trên các cấp độ tinh thần, mà cũng có trên cấp độ của Bản Ngã Cao Siêu. Một số sự phát triển khác nữa, phát sinh kèm theo các yếu tố thời gian và không gian (như được hiểu trong ba cõi thấp), cũng được Chân ngã nhắm đến, như việc gia tăng chu vi nhân thể thông qua việc nghiên cứu viễn cảm thiêng liêng, tâm lý học hệ thống và tri thức về định luật lửa. [38] |
[Commentary 11]
Relationship of the Ego to other egos.—Mối quan hệ của Chân ngã với các chân ngã khác.
|
Certain things need to be remembered:— |
Có một số điều cần ghi nhớ:— |
|
The factor of periodicity. Egos that are in incarnation, and egos that are out of incarnation are differentiated and capable of different work. Egos whose reflections are in incarnation are more limited than those who are not. It is almost as if the Higher Self were directed downwards, or willingly circumscribing itself to three-dimensioned existence, whereas the egos out of incarnation are not so limited but work in another direction or dimension. The difference lies in the focusing of attention, during physical plane life. The matter is hard for you to grasp, is it not so? I scarcely know how to express the difference more clearly. It is perhaps as if the incarnating egos were more positive, and the non-incarnating egos more negative. |
Yếu tố tính chu kỳ. Các chân ngã đang nhập thể và các chân ngã không nhập thể được phân biệt và có khả năng làm những công việc khác nhau. Các chân ngã có phản ảnh đang nhập thể bị giới hạn hơn những chân ngã không nhập thể. Gần như thể Bản Ngã Cao Siêu bị hướng xuống, hay tự nguyện thu hẹp mình vào sự tồn tại ba chiều, trong khi các chân ngã không nhập thể không bị giới hạn như vậy mà làm việc theo một hướng hay một chiều kích khác. Sự khác biệt nằm ở sự tập trung chú ý trong đời sống cõi hồng trần. Điều này khó để các bạn nắm bắt, phải không? Tôi hầu như không biết diễn đạt sự khác biệt ấy rõ hơn thế nào. Có lẽ như thể các chân ngã đang nhập thể thì dương tính hơn, còn các chân ngã không nhập thể thì âm tính hơn. |
|
The factor of activity. This is largely a matter of ray, and affects closely the relationship between egos. Those on similar rays coalesce and vibrate more readily to each other than those on different rays, and it is only as the second or wisdom aspect is developed that synthesis becomes possible. |
Yếu tố hoạt động. Điều này phần lớn là vấn đề cung, và ảnh hưởng chặt chẽ đến mối liên hệ giữa các chân ngã. Những người trên các cung tương tự hoà nhập và rung động với nhau dễ dàng hơn những người trên các cung khác nhau, và chỉ khi phương diện thứ hai hay phương diện minh triết được phát triển thì sự tổng hợp mới trở nên khả hữu. |
|
On the third subplane of the mental plane egos are separated into groups—individual separation exists not, but group separation can be felt, incidental to ray and point in evolution. |
Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, các chân ngã được phân thành nhóm—không có sự phân cách cá nhân, nhưng có thể cảm nhận sự phân cách theo nhóm, phát sinh do cung và điểm tiến hoá. |
|
On the second subplane the groups become merged and blend, and from their forty-nine groups are formed (by merging) forty-two. The process of synthesis might be tabulated as follows: |
Trên cõi phụ thứ hai, các nhóm hoà nhập và dung hợp, và từ bốn mươi chín nhóm của chúng hình thành (do hoà nhập) bốn mươi hai nhóm. Tiến trình tổng hợp có thể được lập bảng như sau: |
|
Mental plane |
1st subplane |
35 groups |
7×5 |
|
Cõi trí |
Cõi phụ thứ nhất |
35 nhóm |
7×5 |
|
2nd subplane |
42 groups |
7×6 |
|
|
Cõi phụ thứ hai |
42 nhóm |
7×6 |
|
|
3rd subplane |
49 groups |
7×7 |
|
|
Cõi phụ thứ ba |
49 nhóm |
7×7 |
|
|
Buddhic plane |
3rd subplane |
28 groups |
7×4 |
|
Cõi Bồ đề |
Cõi phụ thứ ba |
28 nhóm |
7×4 |
|
1st subplane |
21 groups |
7×3 |
|
|
Cõi phụ thứ nhất |
21 nhóm |
7×3 |
|
|
Atmic plane |
1st subplane |
14 groups |
7×2 |
|
Cõi atma |
Cõi phụ thứ nhất |
14 nhóm |
7×2 |
|
Monadic plane |
7 great groups |
||
|
Cõi chân thần |
7 nhóm vĩ đại |
|
I have given a few hints here. It is so little, compared with what will later be known when those of you now studying expand the consciousness still further, but it is all I can as yet impart, and only this has been given with the intent of showing how much has to be considered, when meditation forms are duly set by a Master. He has to take into wise consideration the egoic ray, and the condition of the causal body in its relationship to the lower self and to the Hierarchy. The state of the body must be known, and its content; its relationship to other egos must be duly considered, for all is in group formation. Meditation must therefore be given which is in line with the group to which the Ego is assigned, for as each man meditates he contacts not only his own Ego but also his egoic group, and through that group the Master to Whom he is consequently linked, though the efficacy of a meditation depends upon the work being done in an occult manner and under law. The group significance of meditation is little understood, but the above thoughts are commended to you for your wise study. |
Tôi đã đưa ra một vài gợi ý ở đây. Nó thật ít ỏi so với những gì sau này sẽ được biết đến khi những bạn đang nghiên cứu hiện nay mở rộng tâm thức thêm nữa, nhưng đó là tất cả những gì tôi có thể truyền đạt cho đến nay, và điều này chỉ được đưa ra với ý định cho thấy cần phải cân nhắc bao nhiêu điều khi một Chân sư thiết lập phương pháp tham thiền một cách đúng đắn. Ngài phải cân nhắc một cách khôn ngoan về cung chân ngã, và tình trạng của thể nguyên nhân trong mối quan hệ của nó với phàm ngã và với Thánh đoàn. Trạng thái của thể đó phải được biết rõ, cũng như nội dung của nó; mối quan hệ của nó với các chân ngã khác phải được xem xét kỹ lưỡng, vì tất cả đều nằm trong sự hình thành nhóm. Do đó, phương pháp thiền phải được đưa ra sao cho phù hợp với nhóm mà Chân ngã đó được chỉ định, vì khi mỗi người tham thiền, y không chỉ tiếp xúc với Chân ngã của chính mình mà còn với nhóm chân ngã của y, và thông qua nhóm đó tiếp xúc với Chân sư mà y được liên kết theo đó, mặc dù hiệu quả của phương pháp thiền phụ thuộc vào việc công phu được thực hiện theo cách thức huyền bí và tuân theo định luật. Ý nghĩa nhóm của sự tham thiền ít được thấu hiểu, nhưng những tư tưởng trên đây được gửi đến các bạn để các bạn nghiên cứu một cách khôn ngoan. |
|
June 17, 1920 |
Ngày 17 tháng 6 năm 1920 |
5—Immediate Need of Period and Man’s Availability—Nhu cầu Cấp thiết của Giai đoạn và Sự sẵn sàng của Con người.
|
Today we will consider factor five in deciding methods of Meditation, and will deal with the need of the particular period and the suitability of the man to meet the need. |
Hôm nay chúng ta sẽ xét yếu tố thứ năm trong việc quyết định các phương pháp Tham Thiền, và sẽ bàn về nhu cầu của thời kỳ đặc thù và sự thích hợp của con người để đáp ứng nhu cầu ấy. |
|
Let us first of all briefly recapitulate, for the value of reiteration is profound. We have taken up briefly the [40] factor of the egoic ray, as it is considered by a teacher in assigning a meditation, and we have seen how each ray aimed at the same goal along a different route, and that each ray necessitated a different type of meditation. We have touched on the modification of the meditation through consideration of the personality ray. Then we took up the factor of time as shown in the causal body, its point of development, and the relationship of that body to its three lower expressions, finishing yesterday with a few brief hints anent the causal body on its own level and its scope of consciousness. All this will have indicated to you how wise must be the teacher who presumes to indicate meditation. One point I would here interpolate:—No meditation that is truly and occultly suitable can be assigned by a teacher who has not the capacity of causal consciousness and contact. When the teacher knows the note, the rate of vibration and the colour, then he can wisely assign, but not before. Before that time, generalisation only is possible, and a meditation given that may approximate the need and also be safe. |
Trước hết, chúng ta hãy tóm lược ngắn gọn, vì giá trị của sự nhắc lại là sâu sắc. Chúng ta đã đề cập ngắn gọn yếu tố [40] của cung chân ngã, như được một huấn sư cân nhắc khi chỉ định một phương pháp thiền, và chúng ta đã thấy rằng mỗi cung nhắm đến cùng một mục tiêu theo một con đường khác nhau, và rằng mỗi cung đòi hỏi một loại tham thiền khác nhau. Chúng ta đã bàn đến sự điều chỉnh phương pháp thiền qua việc xét đến cung phàm ngã. Rồi chúng ta xét yếu tố thời gian như được biểu lộ trong thể nguyên nhân, điểm phát triển của nó, và mối liên hệ của thể ấy với ba biểu hiện thấp của nó, kết thúc hôm qua bằng vài gợi ý ngắn về thể nguyên nhân trên cấp độ riêng của nó và phạm vi tâm thức của nó. Tất cả điều này hẳn đã chỉ ra cho các bạn thấy huấn sư phải khôn ngoan biết bao khi tự cho mình quyền chỉ định phương pháp thiền. Có một điểm mà tôi muốn xen vào tại đây: — không một bài tham thiền nào thực sự thích hợp và đúng theo huyền môn có thể được giao phó bởi một huấn sư nếu người ấy không có năng lực tâm thức nguyên nhân và sự tiếp xúc tương ứng. Chỉ khi huấn sư biết được chủ âm, nhịp độ rung động và màu sắc, thì khi ấy Ngài mới có thể giao phó một cách minh triết; còn trước đó thì chưa thể. Trước giai đoạn ấy, chỉ có thể đưa ra những khái quát chung, và bài tham thiền được trao chỉ có thể gần đúng với nhu cầu, đồng thời vẫn bảo đảm tính an toàn. |
|
Another factor enters now,—a factor that varies somewhat according to the need of the period. All cycles are not as fundamentally important. The periods in a cycle that are of real moment are the termini, and those where overlapping and merging occur. They demonstrate on the physical plane in great revolutions, gigantic cataclysms, and fundamental upheavals in all three departments of the Hierarchy,—the department of the World Teacher, that of the Head of a root-race and that of the Ruler of civilisation or of force. At the points of merging in a cycle, cross-currents are found, and all the system seems to be in a chaotic condition. The middle part of a cycle where the incoming vibration is stabilised and the [41] old has passed away, manifests in a period of calm and apparent equilibrium. |
Giờ đây, một yếu tố khác xuất hiện — một yếu tố thay đổi phần nào tùy theo nhu cầu của từng thời kỳ. Không phải mọi chu kỳ về căn bản đều quan trọng như nhau. Những giai đoạn trong một chu kỳ thực sự mang ý nghĩa then chốt chính là các điểm tận cùng của nó, cũng như những thời điểm mà sự chồng lấn và hòa nhập diễn ra. Trên cõi hồng trần, chúng biểu hiện qua những cuộc cách mạng lớn lao, những thảm họa khổng lồ, và những biến động nền tảng trong cả ba bộ phận của Thánh đoàn — bộ phận của Đức Chưởng Giáo, bộ phận của Người Đứng đầu một giống dân gốc, và bộ phận của Đấng Cai quản nền văn minh hay mãnh lực. Tại những điểm hòa nhập trong một chu kỳ, các dòng năng lượng giao thoa xuất hiện, và toàn bộ hệ thống dường như rơi vào trạng thái hỗn loạn. Trái lại, phần giữa của một chu kỳ — khi rung động đang đi vào đã được ổn định và cái cũ đã thực sự qua đi — lại biểu lộ thành một thời kỳ yên lặng và một trạng thái quân bình bề ngoài. |
[Commentary 12] |
|
|
At no time in the history of the race has this been better shown than in the present half century. The sixth Ray of Devotion passes away and the Ray of Ceremonial Law enters and with that entering comes a swinging into prominence of the outstanding features and faculties of the department of force and activity, the synthesis, forget not, of the four minor rays. Therefore you have the fighting for ideals and the devoted adherence to a cause, as demonstrated under the ray of the Master Jesus; therefore the clashing in every field of endeavor of the idealists (right or wrong) and their bitter warfare. What was the world war but the culmination of two opposing ideals, fighting it out on the physical plane?—it was an instance of the force of the sixth ray. Now will come, as the sixth ray passes out, a gradual cessation of the clashing, and the gradual domination of organisation, rule and order under the sway of the incoming force, that of the ray of the Master R—. Out of the present turbulence will arise the ordered and organised form of the new world. Gradually the new rhythm will impose itself on the disorganised communities of men, and instead of social chaos as now you will have social order and rule; instead of the religious differences and the differentiated sects of the many so-called religions, you will have religious expression itself regulated into form and all ordered by law; instead of economic and political strain and stress will be seen the harmonious working of the system under certain fundamental forms; all will be dominated by ceremonial with the inner results aimed at by the Hierarchy gradually taking shape. Forget not that in the apotheosis of law and order and their resultant forms and limitations lies, towards the close (I choose my words with deliberation), a [42] fresh period of chaos, and the escape of the imprisoned life from even those limitations, bearing with it the imparted faculty and the essence of the development aimed at by the Logos of the seventh ray. |
Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại điều này được biểu lộ rõ hơn như trong nửa thế kỷ hiện tại. Cung sáu của Sự Sùng Tín đang qua đi và Cung của Định luật Nghi Lễ đang đi vào, và cùng với sự đi vào ấy là sự nổi bật lên của những đặc điểm và năng lực nổi trội của bộ phận mãnh lực và hoạt động, là sự tổng hợp—đừng quên—của bốn cung phụ. Vì vậy các bạn có cuộc đấu tranh vì lý tưởng và sự bám chặt đầy sùng tín vào một chính nghĩa, như được biểu lộ dưới cung của Chân sư Jesus; vì vậy có sự xung đột trong mọi lĩnh vực nỗ lực của những người theo lý tưởng (đúng hay sai) và cuộc chiến cay đắng của họ. Cuộc thế chiến vừa qua là gì, nếu không phải là sự bùng phát đến đỉnh điểm của hai lý tưởng đối nghịch, đối đầu và quyết chiến trên cõi hồng trần? — đó chính là một minh chứng cho mãnh lực của cung sáu. Giờ đây, khi cung sáu dần rút lui, sẽ diễn ra sự lắng dịu từ từ của những va chạm, và đồng thời là sự trỗi dậy từng bước của tổ chức, kỷ cương và trật tự dưới ảnh hưởng chi phối của mãnh lực đang đi vào, tức là cung của Chân sư R—. Từ cơn biến động hiện nay, hình thái có trật tự và được tổ chức của thế giới mới sẽ xuất hiện. Dần dần nhịp điệu mới sẽ áp đặt lên các cộng đồng người đang rối loạn, và thay vì hỗn loạn xã hội như hiện nay, các bạn sẽ có trật tự và cai quản xã hội; thay vì những khác biệt tôn giáo và những giáo phái phân hoá của nhiều tôn giáo được gọi là tôn giáo, các bạn sẽ có chính sự biểu đạt tôn giáo được điều chỉnh vào hình thức và mọi sự được sắp đặt theo định luật; thay vì căng thẳng kinh tế và chính trị sẽ thấy sự vận hành hài hoà của hệ thống dưới những hình thức căn bản nhất định; mọi sự sẽ được chi phối bởi nghi lễ, với các kết quả nội tại mà Thánh Đoàn nhắm đến dần dần thành hình. Đừng quên rằng trong sự tôn vinh tột đỉnh của định luật và trật tự cùng những hình thức và giới hạn do chúng tạo ra, về cuối (tôi chọn từ một cách thận trọng), có một [42] thời kỳ hỗn loạn mới, và sự thoát ra của sự sống bị giam cầm khỏi cả những giới hạn ấy, mang theo năng lực được truyền trao và tinh chất của sự phát triển mà Thượng đế của cung bảy nhắm đến. |
|
Such is the situation from time to time down through the ages. Each ray sweeps into power, bearing its own incarnating spirits to whom the period marks a point of least resistance comparatively. They contact six other types of force in the worlds and six other groups of beings who must be impressed by that force and be carried forward in its sweep towards the universal goal. Such is also the specific situation in the period in which you live, a period wherein the seventh Logos of Ceremonial Law and Order seeks to straighten out the temporary chaos, and aims at the reduction within limits of the life escaping from the old and worn-out forms. The new forms are needed now and will be adequate. It is only after the middle period in a new cycle that limitation will again be felt and the attempt to escape be started anew. |
Tình huống là như vậy qua các thời đại. Mỗi cung tiến vào quyền năng, mang theo các tinh thần đang nhập thể của nó, những người mà giai đoạn này đánh dấu một điểm tương đối ít trở ngại nhất. Họ tiếp xúc với sáu loại mãnh lực khác trong các cõi giới và sáu nhóm sinh linh khác phải được ấn tượng bởi mãnh lực đó và được mang tiến về phía trước trong luồng quét của nó hướng tới mục tiêu vũ trụ. Đó cũng chính là tình trạng đặc thù của giai đoạn mà các bạn đang sống — một giai đoạn trong đó Thượng đế thứ bảy của Luật Lệ Lễ nghi và Trật tự đang tìm cách chỉnh đốn sự hỗn loạn tạm thời, và nhằm đưa vào khuôn khổ dòng sự sống đang thoát ra khỏi những hình tướng cũ kỹ, hao mòn. Hiện nay, những hình tướng mới là cần thiết và sẽ đáp ứng đầy đủ. Chỉ sau giai đoạn giữa của một chu kỳ mới, cảm nhận về sự hạn chế mới lại xuất hiện, và nỗ lực thoát ra khỏi nó mới lại được khởi sự một lần nữa. |
|
Therefore the wise teacher at this time considers the situation and weighs the effect of the incoming ray on the spirits in incarnation. Here, therefore, you have a third ray and its bearing to be considered in the assigning of meditation. Complex you feel the task to be? Fortunately the Hall of Wisdom equips its graduates for the task. |
Vì vậy, huấn sư khôn ngoan trong thời điểm này cân nhắc tình thế và cân đo tác động của cung đang đi vào đối với các tinh thần đang nhập thể. Vì vậy, ở đây các bạn có một cung thứ ba và sự liên hệ của nó cần được cân nhắc trong việc chỉ định tham thiền. Các bạn có cảm thấy nhiệm vụ phức tạp không? May thay, Phòng Minh triết trang bị cho các vị tốt nghiệp của nó để đảm đương nhiệm vụ này. |
|
At this particular period the aspect of the Form in meditation (whether meditation based principally on the egoic ray or on the personality ray) will be much developed. You can look to see very definite forms built up and assigned, both to individuals and to groups, resulting in an increase of white magic, and the consequent resultant, on the physical plane, of law and order. The coming period of reconstruction goes forward in line with the ray, and its ultimate success and achievement is more nearly [43] possible than perhaps is looked for. The Great Lord comes in under the law and naught can stop His approach. |
Trong thời kỳ đặc thù này, phương diện Hình Tướng trong tham thiền (dù tham thiền đặt nền tảng chủ yếu trên cung chân ngã hay trên cung phàm ngã) sẽ được phát triển rất nhiều. Các bạn có thể trông đợi những hình thức rất xác định được xây dựng và được chỉ định, cho cả cá nhân lẫn nhóm, đưa đến sự gia tăng chánh thuật, và kết quả tiếp theo của nó, trên cõi hồng trần, là luật lệ và trật tự. Thời kỳ tái thiết sắp đến tiến hành phù hợp với cung, và sự thành công cùng thành tựu tối hậu của nó gần [43] như chắc chắn hơn có lẽ người ta vẫn tưởng. Đại Chúa Vĩ Đại đến theo định luật và không gì có thể ngăn bước tiến của Ngài. |
|
Just now the great need of the time is for those who understand the law and can work with it. Now is the opportunity, too, for the development of that principle and the training of people in the helping of the world. |
Ngay lúc này, nhu cầu lớn của thời đại là những người thấu hiểu định luật và có thể làm việc với nó. Đây cũng là cơ hội cho sự phát triển nguyên tắc đó và cho việc huấn luyện con người trong sự trợ giúp thế gian. |
|
The minor Rays of Harmony and Science respond quickly to this seventh influence; by that statement I mean that their monads are easily influenced in this direction. The monads of the sixth Ray of Devotion find conformity more difficult, until nearing the point of synthesis. The monads of the first and second rays find in this ray a field of expression. First ray monads have a direct link with this ray and seek to wield the law through power, whilst second ray monads, being the synthetic type, guide and rule through love. |
Các cung phụ của Hoà Hợp và Khoa Học đáp ứng nhanh với ảnh hưởng cung bảy này; với phát biểu này, tôi muốn nói rằng các chân thần của họ dễ bị ảnh hưởng theo hướng này. Các chân thần của Cung sáu của Sùng Tín thấy sự tuân hợp khó hơn, cho đến khi gần điểm tổng hợp. Các chân thần của cung một và cung hai tìm thấy trong cung này một trường biểu đạt. Các chân thần cung một có một liên kết trực tiếp với cung này và tìm cách vận dụng định luật bằng quyền năng, trong khi các chân thần cung hai, là loại tổng hợp, hướng dẫn và cai quản bằng bác ái. |
|
I think I have today given you enough to engender thought on this fifth factor. This is all I seek to do. To the guiding light of the intuition is the rest left and what that inner guide reveals is of more value to the individual than aught exoterically imparted. Therefore, ponder and consider. |
Tôi nghĩ hôm nay tôi đã đưa ra đủ để khơi dậy nhiều điều đáng suy ngẫm về yếu tố thứ năm này. Đó là tất cả điều tôi muốn làm. Phần còn lại được để cho ánh sáng dẫn đường của trực giác, và điều mà vị hướng dẫn bên trong mặc khải có giá trị đối với cá nhân hơn bất cứ điều gì được truyền dạy theo ngoại môn. Vì vậy, hãy suy ngẫm và cân nhắc. |
|
June 18, 1920 |
Ngày 18 tháng 6, 1920 |
|
J u n e 18th, 1920. 2:15 pm. |
Ngày 18 tháng 6, 1920. 2:15 chiều. |
|
Y o u r concern and anxiety, brother of mine, are but natural and draw forth but sympathy from those of us who watch. …… |
Huynh đệ của tôi, mối bận tâm và lo âu của bạn là điều tự nhiên và chỉ khơi dậy sự cảm thông từ những người trong chúng tôi đang dõi theo. …… |
Some Words of Cheer—Vài Lời Khích Lệ.
|
……It is only as the disciple is willing to relinquish all in the service of the Great One, and to hold naught back, that liberation is achieved, and the body of desire becomes transmuted into the body of the higher intuition. It is the serving perfectly each day—with no thought or calculation about the future—that brings a man to the position of the perfect Server. And, may I suggest one thing? All care and anxiety is based primarily on selfish motive. You fear further pain, you shrink from further [44] sad experience. It is not thus that the goal is reached; it is reached by the path of renunciation. Perhaps it may mean the renunciation of joy, or the renunciation of good reputation, or the renunciation of friends, and the renunciation of all that the heart clings to. I say perhaps; I say not, it is so. I but seek to point out to you that if that is the way you are to reach your goal, then for you it is the perfect way. Aught that brings you rapidly to Their Presence and to Their Lotus Feet, is by you to be desired and eagerly welcomed. |
……Chỉ khi đệ tử sẵn lòng từ bỏ tất cả trong sự phụng sự Đấng Vĩ Đại, và không giữ lại điều gì, thì sự giải thoát mới đạt được, và thể dục vọng được chuyển hoá thành thể trực giác cao. Chính việc phụng sự trọn vẹn mỗi ngày—không nghĩ hay tính toán về tương lai—đưa một người đến vị thế của Người Phụng Sự hoàn hảo. Và, tôi có thể gợi ý một điều chứ? Mọi lo toan và lo âu trước hết đều dựa trên động cơ ích kỷ. Các bạn sợ đau đớn thêm, các bạn co rút trước những [44] trải nghiệm buồn bã thêm. Mục tiêu không đạt được theo cách đó; mục tiêu đạt được bằng Con Đường Từ Bỏ. Có lẽ điều đó có thể hàm ý sự từ bỏ niềm vui, hoặc sự từ bỏ danh tiếng tốt, hoặc sự từ bỏ bạn bè, và sự từ bỏ mọi điều mà trái tim bám víu. Tôi nói có lẽ; tôi không nói rằng đúng là như vậy. Tôi chỉ muốn chỉ ra cho các bạn rằng nếu đó là con đường để các bạn đạt mục tiêu, thì đối với các bạn đó là con đường hoàn hảo. Bất cứ điều gì đưa các bạn nhanh chóng đến Hiện Diện của Các Ngài và đến Chân Hoa Sen của Các Ngài, đều là điều các bạn nên khao khát và hân hoan đón nhận. |
|
Cultivate daily, therefore, that supreme desire that seeks solely the commendation of the inner Guide and Teacher, and the egoic response to good action dispassionately performed. |
Vì vậy, hãy nuôi dưỡng hằng ngày khát vọng tối thượng ấy, chỉ tìm kiếm sự tán thưởng của vị Hướng Dẫn và Huấn Sư nội tại, và sự đáp ứng chân ngã đối với hành động thiện được thực hiện một cách vô tư. |
|
Should bereavement come your way, smile through it all; it will end in a rich reward and the return of all that has been lost. Should scorn and despisings be your lot, smile still, for only the look of commendation that comes from the Master is the one to seek. Should lying tongues take action, fear not, but forge ahead. A lie is a thing of earth and can be left behind as a thing too vile to be touched. The single eye, the unalloyed desire, the consecrated purpose, and the ear that turns in deafness to all earth’s noise—such is the aim for the disciple. I say no more. I but desire that you do not dissipate needless force in vain imaginings, feverish speculations and troubled expectations. |
Nếu sự mất mát đến với bạn, hãy mỉm cười vượt qua tất cả; nó sẽ kết thúc trong một phần thưởng phong phú và sự trở lại của tất cả những gì đã mất. Nếu sự khinh thường và miệt thị là phần của bạn, vẫn hãy mỉm cười, vì chỉ có cái nhìn tán thưởng đến từ Chân sư mới là điều cần tìm kiếm. Nếu những lưỡi gian dối hành động, đừng sợ hãi, mà hãy tiến về phía trước. Một lời nói dối là một vật của trần gian và có thể bị bỏ lại phía sau như một thứ quá đê tiện để chạm vào. Con mắt duy nhất, khát vọng thuần khiết, mục đích thánh hiến, và tai quay đi trong sự điếc tai với mọi tiếng ồn của trần gian—đó là mục tiêu cho đệ tử. Tôi không nói thêm gì nữa. Tôi chỉ mong rằng bạn đừng làm tiêu tan mãnh lực không cần thiết trong những tưởng tượng vô ích, những suy đoán sốt ruột và những mong đợi xáo trộn. |
6—The Groups, Inner and Outer, with which the Pupil is Affiliated—Các Nhóm Bên Trong và Bên Ngoài mà Môn sinh được Liên kết.
|
The point for consideration today is of practical interest. It deals with the factor of a man’s groups. The relationship to a Master we have somewhat considered, [45] and I will therefore proceed with the instruction on the group connection. |
Điểm cần xét hôm nay có tính thực tiễn. Nó bàn đến yếu tố các nhóm của một người. Mối liên hệ với một Chân sư chúng ta đã phần nào xét đến, [45] và vì vậy tôi sẽ tiếp tục sự huấn thị về mối liên hệ nhóm. |
|
We showed yesterday the importance of meditation in connection with the group to which a man is allied on egoic levels. Today we deal with the group to which he may be called on earth. This group is not exactly a reflection of the group on egoic levels as might be anticipated, for only certain units of an egoic group will be in incarnation at any one time. We deal with the Law of Cause and Effect, as demonstrated in the groups national, religious or family. |
Hôm qua chúng ta đã cho thấy tầm quan trọng của tham thiền liên quan đến nhóm mà một người được liên kết trên các cấp độ chân ngã. Hôm nay chúng ta bàn đến nhóm mà y có thể thuộc về trên cõi trần. Nhóm này không hẳn là một phản ảnh của nhóm trên các cấp độ chân ngã như người ta có thể dự đoán, vì chỉ một số đơn vị của một nhóm chân ngã sẽ nhập thể vào bất kỳ thời điểm nào. Chúng ta bàn đến Định luật Nhân Quả, như được biểu lộ trong các nhóm quốc gia, tôn giáo hay gia đình. |
Four groups connected with the pupils.—Bốn nhóm liên quan đến các môn sinh.