Thư về Tham thiền Huyền môn – Lá Thư 1-3

📘 Sách: Thư Về Tham thiền Huyền môn

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Letters On Occult Meditation

Received and Edited by

Được Tiếp nhận và Biên tập bởi

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

Dedicated to

Kính Dâng Tặng

THE TIBETAN TEACHER

CHÂN SƯ TÂY TẠNG

who wrote these letters

người đã viết những lá thư này

and authorised their publication

và cho phép xuất bản chúng

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các vị giáo sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với hơi thở hổn hển) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ tâm trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.

AUGUST 1934

THÁNG 8 NĂM 1934

THE GREAT INVOCATION

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đ ức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A. BAILEY

FOREWORD

[Commentary 1]

The following letters were received during the period included within the dates, May 16th, 1920, and October 20th, 1920, with the exception of the two letters which were received in 1919. With the consent of their author they have been gathered together for publication.

Những lá thư sau đây được nhận trong khoảng thời gian bao gồm các ngày, từ 16 tháng 5, 1920, và 20 tháng 10, 1920, ngoại trừ hai lá thư được nhận vào năm 1919. Với sự đồng ý của tác giả, chúng đã được tập hợp lại để xuất bản.

They are published in full as received, with the exception of certain parts which have a purely personal application, those having reference to a certain occult school, and those of a prophetic or esoteric nature, which may not now be communicated.

Chúng được xuất bản đầy đủ như khi nhận được, ngoại trừ một số phần có ứng dụng hoàn toàn cá nhân, những phần liên quan đến một trường huyền môn nhất định, và những phần có tính chất tiên tri hoặc huyền bí, mà hiện nay chưa thể được truyền đạt.

It is hoped that those who read these letters will endeavour to do two things:

Hy vọng rằng những ai đọc những lá thư này sẽ nỗ lực thực hiện hai điều:

1. Read always with an open mind, remembering that the truth is a many-sided diamond, and that its different aspects will appear at different times, as those who guide the race see a need which must be met. Many books on meditation have been written, some too abstruse and some too superficial to satisfy the average educated man. The writer of these letters has apparently attempted to supply the need of a brief yet scientific exposition of a rationale of meditation, emphasising the goal immediately ahead and the intermediate stages.

1. Luôn đọc với một tâm trí cởi mở, nhớ rằng chân lý là một viên kim cương nhiều mặt, và rằng các phương diện khác nhau của nó sẽ xuất hiện vào những thời điểm khác nhau, khi những đấng dẫn dắt nhân loại thấy một nhu cầu cần phải được đáp ứng. Nhiều cuốn sách về tham thiền đã được viết ra, một số quá trừu tượng và một số quá hời hợt để thỏa mãn người có giáo dục trung bình. Tác giả của những lá thư này dường như đã cố gắng cung cấp nhu cầu về một sự trình bày ngắn gọn nhưng khoa học về cơ sở lý luận của tham thiền, nhấn mạnh vào mục tiêu ngay phía trước và các giai đoạn trung gian.

2. Judge of the letters on their merits and not upon claims put forth on behalf of the writer. For this reason he has chosen to preserve his anonymity and has requested the recipient of the letters to publish them under his pseudonym.

2. Đánh giá các lá thư dựa trên giá trị của chúng chứ không phải dựa trên những tuyên bố được đưa ra nhân danh người viết. Vì lý do này, ngài đã chọn giữ ẩn danh và đã yêu cầu người nhận thư xuất bản chúng dưới bút danh của ngài.

If the subject matter of the letters is of value it will call forth a response from the readers and serve to help some onward towards the goal, and prove to many the inspiration and aid it already has to a few.

Nếu chủ đề của các lá thư có giá trị, nó sẽ khơi gợi một sự đáp ứng từ độc giả và giúp ích cho một số người tiến về phía mục tiêu, và chứng minh cho nhiều người thấy nguồn cảm hứng và sự trợ giúp mà nó đã mang lại cho một số ít người.

ALICE A. BAILEY. NEW YORK, 1922.

ALICE A. BAILEY. NEW YORK, 1922.

A diagram of the universe



AI-generated content may be incorrect.

The constitution of man (see diagram above), as considered in the following pages, is basically threefold, as follows:—

Cấu tạo của con người (xem sơ đồ trên), như được xem xét trong các trang sau, về cơ bản là tam phân, như sau:—

I. The Monad, or pure Spirit, the Father in Heaven—Chân Thần, hay Tinh thần thuần khiết, Cha trên Trời.

This aspect reflects the three aspects of the Godhead:

Phương diện này phản ánh ba phương diện của Thượng đế:

1. Will or Power. . . . . . . . .The Father

1. Ý Chí hoặc Quyền Năng. . . . . . . . .Cha

2. Love-Wisdom . . . . . . . .The Son

2. Bác Ái-Minh Triết . . . . . . . .Con

3. Active Intelligence . . . . The Holy Spirit

3. Trí Tuệ Linh Hoạt . . . . Chúa Thánh Thần

and is only contacted at the final initiations, when man is nearing the end of his journey and is perfected.

và chỉ được tiếp xúc tại các cuộc điểm đạo cuối cùng, khi con người đang đến gần cuối hành trình của mình và được hoàn thiện.

The Monad reflects itself again in

Chân Thần lại phản ánh chính nó trong

II. The Ego, Higher Self, or Individuality—Chân Ngã, Cái Ngã Cao Cả, hay Cá Thể Tính.

This aspect is potentially :—

Phương diện này tiềm tàng :—

1. Spiritual Will . . . Atma

1. Ý Chí Tinh Thần . . . Atma

2. Intuition. . . .Buddhi, Love-Wisdom, the Christ principle.

2. Trực giác. . . .Buddhi, Bác Ái-Minh Triết, nguyên khí Christ.

3. Higher or abstract Mind . ..Higher Manas.

3. Thượng Trí hay Trí trừu tượng . ..Thượng Manas.

The Ego begins to make its power felt in advanced men, and increasingly on the Probationary Path until by the third initiation the control of the lower self by the higher is perfected, and the highest aspect begins to make its energy felt.

Chân Ngã bắt đầu làm cho quyền năng của nó được cảm thấy ở những người tiến hóa cao, và ngày càng tăng trên Đường Dự Bị cho đến khi tại lần điểm đạo thứ ba, sự kiểm soát phàm ngã bởi chân ngã được hoàn thiện, và phương diện cao nhất bắt đầu làm cho năng lượng của nó được cảm thấy.

The Ego reflects itself in

Chân Ngã phản ánh chính nó trong

III. The Personality, or lower self, physical plane man.

III. Phàm Ngã, hay cái ngã thấp, con người cõi hồng trần.

This aspect is also threefold:—

Phương diện này cũng là tam phân:—

1. A mental body . . .lower manas.

1. Một thể trí . . .hạ manas.

2. An emotional body . . . astral body.

2. Một thể cảm dục . . . thể astral.

3. A physical body . . .the dense physical and the etheric body.

3. Một thể xác . . .thể xác đậm đặc và thể dĩ thái.

The aim of meditation is therefore to bring man to the realisation of the Egoic aspect and to bring the lower nature under its control. This is the immediate goal for the average man.

Vì vậy, mục đích của tham thiền là đưa con người đến sự chứng nghiệm về phương diện Chân Ngã và đưa bản chất thấp kém vào dưới sự kiểm soát của nó. Đây là mục tiêu trước mắt đối với người trung bình.

LETTER I—THE ALIGNMENT OF THE EGO WITH THE PERSONALITY

[Commentary 2]

1—The Aligning of the three lower bodies.

1—Sự chỉnh hợp của ba thể thấp.

2—Aligning with the Causal Body.

2—Chỉnh hợp với Thể Nguyên Nhân.

3—The Method of Alignment.

3—Phương pháp chỉnh hợp.

4—Macrocosmic and Microcosmic Alignment. [1]

4—Sự chỉnh hợp vĩ mô và vi mô. [1]

ALIGNMENT OF THE EGO WITH THE PERSONALITY —SỰ CHỈNH HỢP CỦA CHÂN NGÃ VỚI PHÀM NGÃ.

Sunday, May 16, 1920.

Chủ nhật, ngày 16 tháng 5, 1920.

It is in the aligning of the three vehicles, the physical, the emotional, and the lower mind body, within the causal periphery, and their stabilising there by an effort of the will, that the real work of the Ego or Higher Self in any particular incarnation can be accomplished. The great thinkers of the race, the true exponents of lower mind, are fundamentally those whose three lower bodies are aligned; that is to say those whose mental body holds the other two in circumspect alignment. The mental body, then, is in direct communication, unobstructed and free from interference, straight through to the physical brain.

Chính trong việc chỉnh hợp ba vận cụ—thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí—ở trong chu vi nhân thể, và làm cho chúng ổn định tại đó bằng một nỗ lực của ý chí, mà công việc thực sự của Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu trong bất kỳ một kiếp lâm phàm cụ thể nào có thể được hoàn thành. Những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, những người thực sự tiêu biểu cho hạ trí, về căn bản là những người có ba thể thấp được chỉnh hợp; nghĩa là những người mà thể trí giữ hai thể kia trong sự chỉnh hợp thận trọng. Khi ấy, thể trí ở trong sự giao thông trực tiếp, không bị ngăn trở và không bị can thiệp, đi thẳng xuyên suốt đến bộ não hồng trần.

When the alignment is fourfold and when the three above-mentioned bodies are aligned with the body of the Higher Self, the causal or egoic body, and held steady within its circumference, then the great leaders of the race,—those who emotionally and intellectually sway mankind, can be seen working; then the inspirational writers and dreamers can bring down their inspirations and dreams; and then the synthetic and abstract thinkers [2] can transfer their conceptions to the world of form. It is, right through, a question of an unimpeded channel. Study, therefore, in this connection and when time permits, physical co-ordination; then to physical co-ordination add emotional stability, and you have the two vehicles functioning as one. When the co-ordination extends to the mental body, the threefold lower man is reaching his apotheosis, and has rung most of the changes in the world of form.

Khi sự chỉnh hợp là tứ phân và khi ba thể vừa nêu được chỉnh hợp với thể của Bản Ngã Cao Siêu, tức thể nguyên nhân hay thể chân ngã, và được giữ vững trong chu vi của nó, thì có thể thấy các nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân loại,—những người chi phối nhân loại về mặt cảm xúc và trí tuệ—đang làm việc; khi ấy các nhà văn đầy cảm hứng và những người mộng tưởng có thể đem các cảm hứng và giấc mơ của họ xuống; và khi ấy các nhà tư tưởng tổng hợp và trừu tượng [2] có thể chuyển các quan niệm của họ vào thế giới hình tướng. Xuyên suốt, đó là vấn đề của một kênh thông suốt không bị cản trở. Vì vậy, hãy nghiên cứu, trong mối liên hệ này và khi thời gian cho phép, sự phối hợp thể xác; rồi vào sự phối hợp thể xác hãy thêm sự ổn định cảm xúc, và các bạn sẽ có hai vận cụ hoạt động như một. Khi sự phối hợp mở rộng đến thể trí, phàm nhân tam phân đang đạt đến đỉnh cao của y, và đã trải qua hầu hết mọi biến chuyển trong thế giới hình tướng.

Later comes co-ordination perfected with the Higher Self, the channel of communication reaching in line direct,—via an unimpeded funnel, if so I might express it,—to the physical brain consciousness. Heretofore it has only been direct at rare intervals. The four lesser brain centres are functioning at high vibration in the man of a highly co-ordinated personality; when the Ego is nearing alignment with the lower bodies, the pineal gland and the pituitary body are in process of development; and when they are functioning with correlation (which eventuates by the time the third Initiation is taken), then the third, or alta major centre, intensifies its hitherto gentle vibration. When the fifth Initiation is taken, the interplay between the three centres is perfected, and the alignment of the bodies is geometrically rectified; you have then the perfected fivefold superman.

Về sau mới đến sự phối hợp được hoàn thiện với Bản Ngã Cao Siêu, kênh giao thông vươn tới theo một đường thẳng trực tiếp,—qua một cái phễu không bị cản trở, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy,—đến tâm thức bộ não hồng trần. Trước đây, nó chỉ trực tiếp trong những khoảng hiếm hoi. Bốn trung tâm não bộ nhỏ hơn đang hoạt động ở mức rung động cao ở người có một phàm ngã được phối hợp cao độ; khi Chân ngã đang tiến gần đến sự chỉnh hợp với các thể thấp, tuyến tùng và tuyến yên đang trong tiến trình phát triển; và khi chúng hoạt động trong sự tương quan phối hợp (điều này xảy ra vào lúc lần điểm đạo thứ ba), thì trung tâm thứ ba, hay trung tâm alta major, tăng cường sự rung động vốn trước đây còn nhẹ nhàng của nó. Khi lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, sự tương tác giữa ba trung tâm được hoàn thiện, và sự chỉnh hợp của các thể được hiệu chỉnh một cách hình học; khi ấy các bạn có siêu nhân ngũ phân hoàn thiện.

For the average man, then, this alignment occurs only at intervals, in moments of stress, in hours of needed humanitarian effort and in times of intensest aspiration. Abstraction of a more or less degree has to enter in before the Ego takes continued notice of the personality or lower self. When that abstraction involves the emotions, is based in the mentality and contacts the physical brain, then alignment is commencing. [3]

Vì vậy, đối với người bình thường, sự chỉnh hợp này chỉ xảy ra từng lúc, trong những khoảnh khắc căng thẳng, trong những giờ phút cần nỗ lực nhân đạo, và trong những thời điểm khát vọng mãnh liệt nhất. Phải có sự trừu xuất ở một mức độ nào đó trước khi Chân ngã liên tục lưu tâm đến phàm ngã hay bản ngã thấp. Khi sự trừu xuất ấy liên quan đến cảm xúc, dựa trên trí tuệ và tiếp xúc với bộ não hồng trần, thì sự chỉnh hợp đang bắt đầu. [3]

Hence the work of meditation, for it tends to abstraction and seeks to awaken to abstract consciousness both the emotions and the mentality.

Do đó cần tham thiền, vì nó hướng đến sự trừu xuất và tìm cách đánh thức tâm thức trừu tượng ở cảm xúc lẫn trí tuệ.

Alignment and Vibration —Sự Chỉnh Hợp và Rung Động.

Forget not either that it is largely a question of matter and vibration. The abstract levels of the mental plane consist of the three higher levels, the first being that termed the third subplane. As I have explained to you before, each subplane has its correlations on the major planes. When, therefore, you have built into your bodies,—physical, emotional and mental,—matter of the third subplane of each of those planes, then the Higher self commences consciously and ever more continuously to function through the aligning Personality. Perhaps we might reverse the idea and state that it is only when third subplane matter of a certain percentage (which percentage is one of the secrets of Initiation) is contained in the vehicles, that the Personality as a conscious whole recognises and obeys that Higher self. After such a percentage is attained, it is then necessary to build in matter of the two higher subplanes on the physical and emotional planes; hence the struggle for the aspirant to purify and discipline the physical body and to subdue the emotional. Purification and subjugation describe the work to be done on the two planes. This involves the use of lower mind, and the three lower vehicles thus become aligned.

Cũng đừng quên rằng phần lớn đây là vấn đề của vật chất và rung động. Các cấp độ trừu tượng của cõi trí gồm ba cấp độ cao hơn, trong đó cấp thứ nhất là cấp được gọi là cõi phụ thứ ba. Như Tôi đã giải thích với các bạn trước đây, mỗi cõi phụ đều có các tương quan của nó trên các cõi chính. Vì vậy, khi các bạn đã xây dựng vào trong các thể của mình,—thể xác, thể cảm dục và thể trí,—vật chất của cõi phụ thứ ba của mỗi cõi ấy, thì Bản Ngã Cao Siêu bắt đầu một cách có ý thức và ngày càng liên tục hơn hoạt động qua phàm ngã đã được chỉnh hợp. Có lẽ chúng ta có thể đảo ngược ý tưởng và nói rằng chỉ khi vật chất cõi phụ thứ ba đạt một tỷ lệ nhất định (tỷ lệ ấy là một trong những bí mật của điểm đạo) được chứa trong các vận cụ, thì phàm ngã như một toàn thể có ý thức mới nhận biết và vâng phục Bản Ngã Cao Siêu ấy. Sau khi đạt được tỷ lệ đó, thì cần xây dựng thêm vật chất của hai cõi phụ cao hơn trên cõi hồng trần và cõi cảm dục; bởi thế là cuộc đấu tranh của người chí nguyện nhằm thanh lọc và kỷ luật thể xác và chế ngự thể cảm dục. Thanh lọc và chế ngự mô tả công việc phải làm trên hai cõi ấy. Điều này liên quan đến việc sử dụng hạ trí, và do đó ba vận cụ thấp trở nên được chỉnh hợp.

The vibrations of the abstract levels can then begin to be felt. You need to remember that they come via the causal body, the vehicle of the Higher Self, and the average causal body is on the third subplane of the mental plane. This is a point not sufficiently recognised. Ponder on it. Real abstract thought becomes possible only when the Personality has, by vibration reciprocal to that of the [4] Ego, aligned itself sufficiently to form a fairly unimpeded channel. Then at intervals, rare at first but of increasing frequency, will abstract ideas begin to filter down, to be followed in due time by flashes of real illumination or intuition from the spiritual Triad or the true threefold Ego itself.

Khi ấy, các rung động của các cấp độ trừu tượng có thể bắt đầu được cảm nhận. Các bạn cần nhớ rằng chúng đến qua thể nguyên nhân, vận cụ của Bản Ngã Cao Siêu, và thể nguyên nhân trung bình ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Đây là một điểm chưa được nhận ra đầy đủ. Hãy suy ngẫm về điều đó. Tư tưởng trừu tượng thực sự chỉ trở nên khả dĩ khi phàm ngã, bằng rung động tương ứng với rung động của [4] Chân ngã, đã tự chỉnh hợp đủ để tạo thành một kênh khá thông suốt. Khi ấy, theo từng lúc—ban đầu hiếm hoi nhưng ngày càng thường xuyên—các ý niệm trừu tượng sẽ bắt đầu thấm lọc xuống, và theo thời gian thích hợp sẽ được tiếp nối bởi những tia chớp của sự soi sáng hay trực giác thực sự từ Tam Nguyên Tinh Thần hoặc từ chính Chân ngã tam phân đích thực.

The Chord of the Ego —Hợp Âm của Chân Ngã.

[Commentary 3]

When I use the term “reciprocal vibration,” what do I mean? I mean the adaptation of the Personality or Lower Self, to the Ego, or Higher Self, the dominating of the Personality ray by the ray of the Ego and the combining of their tones. I mean the blending of the primary colour of the Higher Self with the secondary hue of the Lower Self until beauty is achieved. At first, there is dissonance and discord, a clashing of the colours, and a fight between the Higher and the Lower. But as time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of colour and tone is produced (a synonymous matter), until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned Personality, the dominant fifth of the Ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit.

Khi Tôi dùng thuật ngữ “rung động tương ứng,” Tôi muốn nói gì? Tôi muốn nói đến sự thích nghi của phàm ngã hay phàm ngã đối với Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu; sự chế ngự cung phàm ngã bởi cung chân ngã và sự kết hợp các âm điệu của chúng. Tôi muốn nói đến sự hòa trộn màu sắc chủ đạo của Bản Ngã Cao Siêu với sắc độ thứ cấp của phàm ngã cho đến khi đạt được vẻ đẹp. Lúc đầu có sự bất hòa và chỏi nhau, sự xung đột của các màu sắc, và một cuộc chiến giữa Cao và Thấp. Nhưng khi thời gian trôi qua, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hòa về màu sắc và âm điệu được tạo ra (là một điều đồng nghĩa), cho đến cuối cùng các bạn sẽ có nốt nền tảng của vật chất, nốt thứ ba chủ yếu của phàm ngã đã được chỉnh hợp, nốt thứ năm át âm của Chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của Chân thần hay tinh thần.

It is the dominant we seek at adeptship, and earlier the perfected third of the Personality. During our various incarnations we strike and ring the changes on all the intervening notes, and sometimes our lives are major and sometimes minor, but always they tend to flexibility and greater beauty . In due time, each note fits into its chord, the chord of the Spirit; each chord forms part of a phrase, the phrase or group to which the chord belongs; and the phrase goes to the completion of one seventh of the whole. The entire seven sections, then, complete the sonata of this solar system,—a part of the threefold masterpiece of the Logos or God, the Master-Musician. [5]

Chính át âm là điều chúng ta tìm kiếm ở địa vị chân sư, và trước đó là note thứ ba đã được hoàn thiện của phàm ngã. Trong các kiếp lâm phàm khác nhau, chúng ta gảy lên và làm vang các biến đổi trên mọi nốt trung gian, và đôi khi đời sống của chúng ta là trưởng và đôi khi là thứ, nhưng luôn luôn chúng hướng đến tính linh hoạt và vẻ đẹp lớn hơn. Đến thời điểm thích hợp, mỗi nốt khớp vào hợp âm của nó, hợp âm của tinh thần; mỗi hợp âm tạo thành một phần của một cụm nhạc, cụm nhạc hay nhóm mà hợp âm ấy thuộc về; và cụm nhạc góp phần hoàn tất một phần bảy của toàn thể. Vậy thì toàn bộ bảy phần hoàn tất bản sonata của hệ mặt trời này,—một phần của kiệt tác tam phân của Thượng đế hay Thượng đế, Nhạc Sư Tối Thượng. [5]

J u n e 2nd, 1920. 10 am.

Ngày 2 tháng 6 năm 1920. 10 giờ sáng.

A g ain for a week or two, brother of mine, we will take another cycle of instruction. You have correctly deduced that such is the intention and before I commence on the matter for communication I wish to make certain suggestions to you which you may follow for the good of the work if so you are inclined. We order not, nor give commands, we do but indicate, the working detail being left to the discrimination.

Một lần nữa, trong một hoặc hai tuần, huynh đệ của tôi, chúng ta sẽ tiếp tục một chu kỳ giảng dạy khác. Bạn đã suy luận đúng rằng đó là ý định, và trước khi tôi bắt đầu về nội dung cần truyền đạt, tôi muốn đưa ra một số đề xuất mà bạn có thể thực hiện vì lợi ích của công việc, nếu bạn thấy phù hợp. Chúng tôi không ra lệnh, cũng không ban hành mệnh lệnh, mà chỉ đưa ra gợi ý, còn chi tiết thực hiện được để cho sự phân biện quyết định.

1 . At the earliest moment write for the edification of the membership a letter on the Messenger indicating its present use and outlining a policy of greater usefulness.

1. Ngay khi có thể, hãy viết một lá thư cho hội viên để làm sáng tỏ về Thông điệp, chỉ ra công dụng hiện tại của nó và phác thảo một chính sách nhằm gia tăng tính hữu ích.

2 . With that article let FB [Foster Bailey] immediately publish a brief treatise on the system or proxies at present in use. The work that you do carrieth the blessing of the Great Ones and leadeth to results. Be not discouraged—the stage is being set, and the leading actor thereon shortly maketh his appearance. Not yet you know all the unforeseen oft upsetteth the plans well laid of parties politic. In steadfastness of purpose, wise utilisation of time, the elimination of anxiety, and a confidence firm in the working of the Law, will come the manifestation (through all of you who with altruism work) of the plans of our two Masters.

2. Cùng với bài viết đó, hãy để FB [Foster Bailey] ngay lập tức xuất bản một chuyên luận ngắn về hệ thống đại diện đang được sử dụng. Công việc mà bạn thực hiện mang theo phước lành của các Đấng Cao Cả và dẫn đến kết quả. Đừng nản lòng—sân khấu đang được dàn dựng, và diễn viên chính của nó sẽ sớm xuất hiện. Hiện tại bạn chưa biết hết mọi thứ, và những điều không lường trước thường làm đảo lộn những kế hoạch được đặt ra chu đáo của các thế lực chính trị. Trong sự kiên định về mục đích, sự sử dụng khôn ngoan thời gian, việc loại bỏ lo âu và sự tin tưởng vững chắc vào sự vận hành của Định luật, sẽ có sự biểu hiện (thông qua tất cả những ai đang làm việc với tinh thần vị tha) của các kế hoạch từ hai vị Chân sư của chúng ta.

3 . With speed accomplish the writing of the articles for BPW [B. P. Wadia]. It is desired that you get to the public with as little delay as may be. See that all are mailed to India prior to Convention. The next few weeks should be for you weeks of clearing off of accumulated work:—letters, home correspondence, and the filing of the communicated material. For you commenceth shortly your real life work, and it is always the part of wisdom to close each chapter of the book of existence with as much completeness as possible. See you to it brother of old.

3. Hãy hoàn thành nhanh chóng việc viết các bài viết cho BPW [B. P. Wadia]. Mong muốn là bạn sẽ công bố chúng đến công chúng càng sớm càng tốt. Hãy đảm bảo rằng tất cả đều được gửi đến Ấn Độ trước kỳ Hội nghị. Vài tuần tới nên là thời gian để bạn giải quyết công việc tồn đọng:—các lá thư, thư tín gia đình và việc lưu trữ tài liệu đã được truyền đạt. Vì công việc thực sự của bạn sẽ sớm bắt đầu, và luôn là điều khôn ngoan khi khép lại mỗi chương của cuốn sách đời mình một cách trọn vẹn nhất có thể. Hãy lưu tâm đến điều đó, huynh đệ của ngày xưa.

4 . Articles of explanatory interest for the public should be for you in the future a side issue of importance. Write on matters of psychic speculation, and on data conveying information in a style comprehended of the public anent matters regarded as occult. These articles may by you claim my attention, and where assistance is needed you are permitted to claim it.

4. Trong tương lai, các bài viết mang tính giải thích dành cho công chúng đối với bạn chỉ nên là một vấn đề phụ, có tầm quan trọng thứ yếu. Hãy viết về những vấn đề thuộc suy đoán thông linh, và về những dữ liệu truyền đạt thông tin, bằng một văn phong mà công chúng có thể lĩnh hội được, liên quan đến các đề tài được xem là huyền bí học. Những bài viết này có thể được bạn trình lên để tôi lưu tâm, và khi cần sự trợ giúp, bạn được phép yêu cầu điều đó.

5 . Begin in small measure as we send them to you to train in teaching those who are marked out by us as helpers in the coming work of reconstruction. Seek them not out. They will be indicated to you, and already we have sent to [you] JI and VB. I needed a link, and VB standeth in need of concrete instruction.

5. Bắt đầu ở mức độ nhỏ, khi chúng tôi gửi đến bạn, việc đào tạo những người mà chúng tôi đã chỉ định là những trợ thủ trong công cuộc tái thiết sắp tới. Đừng chủ động tìm kiếm họ. Họ sẽ được chỉ dẫn đến bạn, và chúng tôi đã gửi đến [bạn] JI và VB. Tôi cần một liên kết, và VB đang cần sự hướng dẫn cụ thể.

6 . FB is conjured to focus his attention fully on sectional matters and in the gathering of data and the preparation of papers available for use in convention lieth the work, added to the detail work of pamphleteering. Advise him from me to focus, and to vibrate more rapidly.

6. FB được yêu cầu tập trung hoàn toàn vào các vấn đề theo từng phần và thu thập dữ liệu, chuẩn bị tài liệu có thể sử dụng trong hội nghị, cùng với công việc chi tiết về việc phổ biến tài liệu bằng sách nhỏ. Hãy khuyên y từ tôi rằng hãy tập trung và gia tăng tốc độ rung động.

Y o u see, brother of old, I give no help or advice save on matter connected with the work we have in hand. On matters personal we leave you to work yourself, though we watch, or more occultly I put it, we study re-actions. One work only I give,—in adjustment to the plan comes expansion in service. See therefore that you build no wall through anxiety or the admission of personal issues. Through a clear channel cometh unimpeded vision and the accurate grasp of the work to be done. In application to that work, in the making of a beginning, comes to us indication of suitability, and then it behooveth us to facilitate the work by the removal of obstacles, financial or otherwise. But the beginning resteth with you.

Bạn thấy đó, huynh đệ của ngày xưa, tôi không đưa ra sự giúp đỡ hay lời khuyên ngoại trừ những vấn đề liên quan đến công việc mà chúng ta đang thực hiện. Đối với những vấn đề cá nhân, chúng tôi để bạn tự xử lý, dù chúng tôi quan sát—hoặc nói một cách huyền môn hơn, chúng tôi nghiên cứu các phản ứng. Tôi chỉ đưa ra một chỉ dẫn—trong sự điều chỉnh với Thiên Cơ sẽ có sự mở rộng trong phụng sự. Do đó, hãy đảm bảo rằng bạn không dựng lên bất kỳ rào cản nào do lo lắng hoặc do những vấn đề cá nhân. Qua một kênh trong sáng, tầm nhìn sẽ đến một cách không bị cản trở và việc nắm bắt chính xác công việc cần làm sẽ được thực hiện. Trong sự ứng dụng vào công việc đó, trong việc khởi đầu một nhiệm vụ, chúng tôi sẽ nhận thấy dấu hiệu về sự thích hợp, và khi đó, chúng tôi có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc bằng cách loại bỏ các chướng ngại, dù là tài chính hay những trở ngại khác. Nhưng sự khởi đầu vẫn nằm ở bạn.

[Commentary 4]

Microcosmic and Macrocosmic Alignment. —Sự Chỉnh Hợp Vi Mô và Vĩ Mô.

This morning, I would touch on the matter of egoic alignment again, showing you, under the Law of Correspondences, the universal application. It lies based in geometry, or in figures and numbers.

Sáng nay, tôi muốn đề cập lại vấn đề chỉnh hợp chân ngã, và chỉ cho bạn thấy sự áp dụng phổ quát theo Định luật Tương ứng. Nó dựa trên cơ sở hình học, hoặc các con số và hình dạng.

The aim of the evolution of man in the three worlds—the physical, emotional and mental planes—is the alignment of his threefold Personality with the body egoic, till the one straight line is achieved and the man becomes the One.

Mục đích của sự tiến hóa của con người trong ba cõi giới—cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí—là sự chỉnh hợp của Phàm ngã tam phân với thể chân ngã, cho đến khi đạt được một đường thẳng và con người trở thành Đấng Duy Nhất.

Each life that the Personality leads is, at the close, represented by some geometrical figure, some utilisation of the lines of the cube, and their demonstration in a form of some kind. Intricate and uncertain in outline and crude in design are the forms of the earlier lives; definite and clear in outline are the forms built by the average advanced man of this generation. But when he steps upon the Path of Discipleship, the purpose consists in merging all these many lines into one line, and gradually this consummation is achieved. The Master is He Who has blended all the lines of fivefold development first into the three, and then into the one. The six-pointed star becomes the five-pointed star, the cube becomes the triangle, and the triangle becomes the one; whilst the one (at the end of the greater cycle) becomes the point in the circle of manifestation.

Mỗi kiếp sống mà Phàm ngã trải qua, vào lúc kết thúc được đại diện bởi một hình dạng hình học nào đó, một sự sử dụng nào đó các đường nét của khối lập phương, và sự thể hiện của chúng trong một hình tướng nào đó. Các hình thể của những kiếp sống ban đầu thì phức tạp, đường nét bất định và thiết kế thô kệch; còn các hình tướng do con người tiến bộ trung bình của thế hệ này kiến tạo thì xác định và rõ ràng trong đường nét. Nhưng khi y bước lên Con Đường Đệ Tử, mục đích bao gồm việc hợp nhất tất cả các đường nét này thành một đường, và dần dần sự viên mãn này đạt được. Chân sư là Đấng đã hòa quyện tất cả các đường nét của sự phát triển ngũ phân trước hết thành ba, và sau đó thành một. Ngôi sao sáu cánh trở thành ngôi sao năm cánh, khối lập phương trở thành tam giác, và tam giác trở thành một; trong khi một (vào cuối chu kỳ lớn hơn) trở thành điểm trong vòng tròn biểu hiện.

Hence the effort made to teach all devotees simplicity, based on a trinity of foundation truths, and the inculcation of one-pointedness.

Do đó có nỗ lực dạy cho tất cả những người sùng tín sự đơn giản, dựa trên một bộ ba các chân lý nền tảng, và việc khắc ghi tính nhất tâm.

Each life tends to greater stability but seldom is the three-fold Personality yet to be found lined up, if so I [6] may put it, with the causal consciousness. Temporary moments occur when this is the case and when (in moments of highest aspiration and for purposes of unselfish endeavor) the higher and the lower form a line direct. Usually the emotional body, through violent emotion and vibration, or a fluctuating restlessness, is continuously out of alignment. Where the emotional body may be momentarily aligned, then the mental body acts as an obstruction, preventing the percolation down from the higher to the lower, and so to the physical brain. It takes many lives of strenuous endeavor before the emotional body can be stilled and a mental body built that will act as a filter and not as an impediment. Even when this has been somewhat accomplished and the emotional body is stabilised and a pure reflector, and the mental body serves the purpose of a sensitive plate and discriminator, and the intelligent explainer of the higher imparted truth,—even then, I say, it takes much discipline and many lives of effort to align the two at the same time. When that is done, the control of the physical brain and its final alignment remain to be effected, so that it may act as a direct receiver and transmitter of the imparted teaching, and may reflect with accuracy the higher consciousness.

Mỗi kiếp sống đều hướng đến sự ổn định lớn hơn, nhưng hiếm khi có thể thấy phàm ngã tam phân đã được chỉnh hợp với tâm thức nhân thể, nếu tôi [6] có thể nói như vậy. Có những khoảnh khắc tạm thời khi điều này xảy ra, khi đó (trong những lúc khát vọng cao nhất và vì mục đích nỗ lực vô ngã) cái cao và cái thấp tạo thành một đường thẳng trực tiếp. Thông thường, thể cảm dục, do cảm xúc mãnh liệt và rung động, hoặc do một sự bồn chồn dao động, liên tục bị lệch khỏi sự chỉnh hợp. Khi thể cảm dục có thể được chỉnh hợp trong chốc lát, thì thể trí lại hành động như một vật cản, ngăn sự thấm xuống từ cái cao đến cái thấp, và do đó đến bộ não thể xác. Phải trải qua nhiều kiếp sống nỗ lực gian khổ thì thể cảm dục mới có thể được làm cho tĩnh lặng, một thể trí được xây dựng sao cho nó sẽ hành động như một bộ lọc chứ không phải như một chướng ngại. Ngay cả khi điều này đã phần nào được hoàn thành, thể cảm dục được ổn định và là một tấm phản chiếu thuần khiết, thể trí phục vụ mục đích như một tấm bản nhạy cảm và là một năng lực phân biện, kẻ giải thích thông minh về chân lý cao hơn được truyền đạt,—ngay cả khi ấy, tôi nhấn mạnh, vẫn cần nhiều kỷ luật và nhiều kiếp sống nỗ lực để chỉnh hợp cả hai cùng một lúc. Khi điều đó được thực hiện, thì sự kiểm soát bộ não hồng trần và sự chỉnh hợp sau cùng của nó vẫn còn phải được thực hiện, để nó có thể hành động như một bộ thu nhận và truyền đạt trực tiếp giáo huấn được truyền trao, và có thể phản chiếu một cách chính xác tâm thức cao hơn.

Wherein, therefore, lies the macrocosmic correspondence? Where is the analogy in the Solar System? An indication I give here. In the direct alignment of certain planets in the process of systemic evolution, with each other and with the Sun comes Logoic or divine alignment. Think this out, but one word of warning I give. Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there. Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom.

Vậy thì, sự tương ứng đại vũ trụ nằm ở đâu? Sự tương đồng trong hệ mặt trời là ở đâu? Ở đây, Tôi sẽ đưa ra ở đây một chỉ dẫn. Trong sự thắng hàng trực tiếp của một số hành tinh nhất định trong tiến trình tiến hoá của hệ thống, của chúng với nhau và với Mặt Trời, sẽ đưa đến sự chỉnh hợp Thiêng liêng hay sự chỉnh hợp của Thượng đế. Hãy suy ngẫm về điều này, nhưng tôi đưa ra một lời cảnh báo. Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết về sự chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó. Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và cả ba đó trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp sau cùng, thì sự chỉnh hợp đánh dấu sự thành tựu [7] của Thượng đế về tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trái Đất không phải là một trong ba hành tinh ấy, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm dục.

Further still the alignment may be progressed:—in the alignment of our entire solar system with the system of Sirius lies a still more remote goal. It is a point far ahead in time, but holds hid the secret of the greater cycle.

Sự chỉnh hợp có thể được diễn ra xa hơn nữa:— có một mục tiêu xa xôi hơn nữa trong sự chỉnh hợp của toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta với hệ thống của Sirius. Đó là một điểm nằm xa về phía trước, nhưng nó ẩn chứa bí mật của chu kỳ lớn hơn.

LETTER II – THE IMPORTANCE OF MEDITATION

[Commentary 5]

LETTER II – IMPORTANCE OF MEDITATION

LÁ THƯ II – TẦM QUAN TRỌNG CỦA THAM THIỀN

l—It results in egoic contact and alignment.

1—Nó đưa đến sự tiếp xúc và chỉnh hợp với chân ngã.

2—It brings about a state of equilibrium.

2—Nó mang lại một trạng thái quân bình.

3—It stabilises vibration.

3—Nó ổn định rung động.

4—It assists in a transference of polarisation.

4—Nó hỗ trợ cho sự chuyển dịch phân cực.

JUNE 3, 1920.

NGÀY 3 THÁNG 6, 1920.

[Page 9]

[Page 9]

Let me this morning give you some more thoughts on the subject of meditation; they will bear somewhat on the matter given yesterday, and on the 16th ultimo.

Sáng nay, tôi muốn chia sẻ với bạn thêm một vài suy nghĩ về chủ đề tham thiền; chúng sẽ liên quan phần nào đến nội dung đã đưa ra hôm qua và vào ngày 16 tháng trước.

Fundamentally, meditation is to assist alignment and so permit of contact with the Higher Self; hence its institution. I would, in order duly to elucidate, take up the study of this topic under the following heads:

Về cơ bản, tham thiền là để hỗ trợ sự chỉnh hợp và từ đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; đó chính là lý do cho sự thiết lập của nó. Để làm sáng tỏ một cách đúng đắn, tôi sẽ thực hiện việc nghiên cứu chủ đề này theo các đề mục sau:

Points considered when assigning a Meditation.

Các điểm cần xem xét khi chỉ định một phương pháp thiền.

The use of the Sacred Word in Meditation.

Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong Tham thiền.

Dangers to be avoided in Meditation.

Các nguy hiểm cần tránh trong Tham thiền.

The use of Form in Meditation.

Việc sử dụng Hình thức trong Tham thiền.

The use of Colour and Sound in Meditation.

Việc sử dụng Màu sắc và Âm thanh trong Tham thiền.

Access to the Masters through Meditation.

Tiếp cận với các Chân sư thông qua Tham thiền.

Future Schools of Meditation.

Các Trường Tham thiền trong Tương lai.

Purification of the Vehicles.

Sự Thanh lọc các Vận cụ.

The Exoteric Life of Service.

Một Đời sống Phụng sự Bên Ngoài.

Let us today take up the consideration of the first point:—What makes Meditation of importance?

Hôm nay chúng ta hãy cùng xem xét điểm đầu tiên:—Điều gì làm cho Tham thiền trở nên quan trọng?

The emphasis upon the importance of meditation follows naturally upon the realisation by the student of the absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego.

Sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của tham thiền diễn ra một cách tự nhiên sau khi môn sinh nhận thức được sự cần thiết tuyệt đối của việc phàm ngã phải bị thống trị bởi Chân ngã.

Points considered when assigning a Meditation.

Các điểm cần xem xét khi chỉ định một Bài thiền.

Man at this time is engaged in many pursuits and through the force of circumstances he is polarised entirely in the lower self, that polarisation being in either the emotional or mental body. One point of interest I would indicate:—as long as the polarisation is purely [Page 10] physical or purely emotional, no need for meditation is ever felt. Even when the mental body is active, no urge arises until the man has run through many changes and many lives, has tasted the cup of pleasure and of pain through many incarnations, has sounded the depths of the life lived entirely for the lower self and found it unsatisfying. Then he begins to turn his thought to other things, to aspire to that which is unknown, to realize and sense within himself the pairs of opposites, and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, and yet from their use he derives no content; always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. The man begins to turn within and to seek the source from whence he came. Then he begins to meditate, to ponder, to intensify vibration until in process of time he garners the fruits of meditation.

Vào thời điểm hiện nay, con người đang dấn thân vào nhiều theo đuổi khác nhau, và do mãnh lực của hoàn cảnh, y hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã thấp, sự phân cực ấy nằm hoặc trong thể cảm dục, hoặc trong thể trí. Có một điểm đáng lưu ý mà tôi muốn chỉ ra: — chừng nào sự phân cực còn thuần túy ở thể xác hoặc thuần túy ở thể cảm dục, thì nhu cầu tham thiền hoàn toàn không bao giờ được cảm nhận. Ngay cả khi thể trí hoạt động, vẫn không có thôi thúc nào khởi lên cho đến khi con người đã trải qua nhiều biến đổi và nhiều kiếp sống, đã nếm cốc khoái lạc và đau khổ qua vô số lần nhập thể, đã dò đến tận đáy của đời sống được sống hoàn toàn cho phàm ngã và nhận ra rằng điều ấy không đem lại sự thỏa mãn. Khi ấy, y bắt đầu hướng tư tưởng của mình sang những điều khác, bắt đầu khát vọng hướng đến cái chưa biết, bắt đầu nhận ra và cảm nhận bên trong chính mình các cặp đối cực, và bắt đầu tiếp xúc trong tâm thức của y những khả năng và những lý tưởng mà trước đây y chưa từng mơ tưởng. Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; luôn luôn, thôi thúc bên trong vẫn dai dẳng cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức khát vọng vươn ra và vươn lên, khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. Con người bắt đầu quay vào nội tâm và tìm kiếm cội nguồn mà từ đó y đã đi ra. Khi ấy, y bắt đầu tham thiền, bắt đầu suy tư, bắt đầu gia tăng rung động cho đến khi, theo thời gian, y thu hoạch được những hoa trái của tham thiền.

Four things meditation does:—

Bốn điều mà tham thiền thực hiện:

l—It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies.

1—Nó cho phép một người tiếp xúc với Chân ngã và chỉnh hợp ba thể thấp.

2—It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. Thus is afforded opportunity to the Ego, and later to the Master, to disturb that equilibrium and tune the quiescent vibration to a higher note than heretofore; to cause the consciousness to vibrate to a newer and higher measure, and to swing (if so I may express it) into the periphery of the threefold Spirit. By the constant practice of this, the whole point of equilibrium is gradually shifted higher and higher, until the time comes when the lower point of [Page 11] attraction in the swinging and adjustment, is not the physical, touches not the emotional, contacts not the mental (the causal body even escaping) and the man is polarised in the spiritual consciousness from thenceforth.

2—Nó đưa con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở điểm cân bằng. Do đó tạo cơ hội cho Chân ngã, và sau này là Chân sư, làm xáo trộn sự thăng bằng đó và điều chỉnh rung động tĩnh lặng sang một âm điệu cao hơn trước đây; làm cho tâm thức rung động theo một nhịp độ mới hơn và cao hơn, và chuyển dịch (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) vào chu vi của Tinh thần tam phân. Bằng việc thực hành liên tục điều này, toàn bộ điểm thăng bằng dần dần được dịch chuyển ngày càng cao hơn, cho đến khi tới lúc điểm thu hút thấp hơn trong sự dao động và điều chỉnh không còn là cõi hồng trần, không chạm đến cõi cảm dục, không tiếp xúc với cõi trí (ngay cả thể nguyên nhân cũng thoát khỏi) và con người được phân cực trong tâm thức tinh thần từ đó trở đi.

This marks the fourth Initiation; after that Initiation, the Adept makes for Himself a body of manifestation, a free creation,—there is nothing in Him to call into objectivity a body for use in the three worlds and evolved under the Law of Causes.

Điều này đánh dấu lần Điểm đạo thứ tư; sau lần Điểm đạo đó, vị Cao đồ tự tạo cho Ngài một thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do,— trong Ngài không có gì khiến phải dùng một thể trong tam giới và phát triển theo Luật Nhân quả.

3—It stabilises the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes. It commences the work of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, until that subplane is dominated. The second subplane is then the next to be synchronised.

3—Nó ổn định các rung động thấp trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí. Nó bắt đầu công việc điều chỉnh phàm ngã theo rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi cõi trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị thống trị. Cõi phụ thứ hai sau đó là cõi tiếp theo được đồng bộ hóa.

A man reaches the point of personality attainment in this cycle when he has the capacity to vibrate and move consciously on the fourth subplane. We might term the fourth subplane on the physical, emotional and mental planes (when dominated, aligned and functioning simultaneously in the same incarnation) the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. That particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self,—physically perfect, emotionally vibrant, and mentally colossal. Then succeeding that, begins the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego.

Một người đạt đến điểm thành tựu phàm ngã trong chu kỳ này khi y có khả năng rung động và di chuyển một cách có ý thức trên cõi phụ thứ tư. Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí (khi được thống trị, chỉnh hợp và hoạt động đồng thời trong cùng một lần lâm phàm) là cõi của phàm ngã hoàn thiện theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp. Lần lâm phàm cụ thể đó sẽ là lần mà con người đạt được sự biểu hiện đầy đủ nhất của phàm ngã mình,—hoàn hảo về thể xác, sống động về cảm xúc và vĩ đại về trí tuệ. Sau đó, bắt đầu sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự nâng lên với Chân Ngã, và sự điều hòa Phàm Ngã, hay bậc ba chính, với bậc năm chủ đạo của Chân Ngã.

4—It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. Later I will elucidate this further. [Page 12]

4—Nó hỗ trợ trong việc chuyển dịch sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã sang nguyên tử tương ứng trong Tam nguyên tinh thần. Sau này tôi sẽ làm rõ điều này hơn.

Hence may easily be seen the essential nature of Meditation and its wise, diligent and serious following.

Do đó có thể dễ dàng thấy được bản chất cốt yếu của Tham thiền và việc tuân theo nó một cách khôn ngoan, siêng năng và nghiêm túc.

Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. Disorderly at first are his attempts, and sometimes several incarnations may go by in which the Higher self only forces the man to think and seriously to meditate at rare and separated intervals. More frequently come the occasions of withdrawing within, until there arises for the man several lives given to mystic meditation and aspiration, culminating usually in a life given entirely to it. It marks the point of the highest emotional aspiration, apart from the scientific application of the law, via the mental body. These laws are those governing the true occult meditation.

Giai đoạn đầu trong trải nghiệm, sau khi đạt được mức cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. Những nỗ lực của y lúc đầu lộn xộn, và đôi khi vài kiếp sống có thể trôi qua trong đó Bản Ngã Cao Siêu chỉ buộc con người suy nghĩ và tham thiền một cách nghiêm túc vào những khoảng thời gian hiếm hoi và tách biệt. Thường xuyên hơn là những dịp rút lui vào bên trong, cho đến khi nảy sinh đối với con người một vài kiếp sống dành cho tham thiền thần bí và khát vọng, thường lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống hoàn toàn dành cho nó. Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, tách biệt khỏi việc áp dụng định luật một cách khoa học, thông qua thể trí. Những định luật này là những định luật chi phối tham thiền huyền môn chân chính.

Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination: —the life of worldly apotheosis and the life of intensest meditation along the mystic or emotional-intuitional line. This meditative life was taken either in a monastery or nunnery in middle Europe by those linked with the Master Jesus and His disciples, or in India, Tibet or China by the pupils of the Master M. or the Master K. H.

Đằng sau mỗi người trong các bạn đang làm việc dứt khoát dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư, là hai kiếp sống tột đỉnh: —kiếp sống tôn vinh thế tục và kiếp sống tham thiền mãnh liệt nhất theo dòng thần bí hoặc cảm xúc-trực giác. Kiếp sống tham thiền này được thực hiện hoặc trong một tu viện hoặc ni viện ở trung tâm Châu Âu bởi những người liên kết với Chân sư Jesus và các đệ tử của Ngài, hoặc ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa bởi các học trò của Chân sư M. hoặc Chân sư K. H.

Now comes to all of you the most important series of lives to which the previous points of culmination were but stepping stones. In the lives immediately ahead of those upon the Path will come final achievement through the instrumentality of the ordered occult meditation, based on law. For some few may come attainment in this life or the next; for others, shortly in other lives. For a few there lies ahead the attainment of the mystic method, to be the basis later on of the occult or mental method.

Chuỗi kiếp sống quan trọng nhất giờ đây đến với tất cả các bạn, mà những điểm đỉnh cao trước đó chỉ là những bước đệm dẫn tới. Thành tựu cuối cùng sẽ đến trong những kiếp sống ngay phía trước của những ai đang trên Thánh đạo thông qua công cụ của tham thiền huyền bí có trật tự, dựa trên định luật. Với một số ít các bạn, sự thành tựu có thể đến trong kiếp này hoặc kiếp kế tiếp; đối với những người khác, sẽ sớm trong các kiếp khác. Đối với một số ít, sự đạt được phương pháp thần bí đang chờ đợi phía trước, để trở thành nền tảng sau này cho phương pháp huyền bí hay phương pháp trí tuệ.

LETTER III – POINTS CONSIDERED WHEN ASSIGNING MEDITATION—

[Commentary 6]

LÁ THƯ THỨ BA – CÁC ĐIỂM CẦN XEM XÉT KHI CHỈ ĐỊNH THAM THIỀN

l—The Ray of the Ego or Higher self.

1—Cung của chân ngã hay Bản ngã cao siêu.

2—The Ray of the Personality or Lower self.

2—Cung của phàm ngã hay phàm nhân.

3—Karmic condition of the threefold man.

3—Tình trạng nghiệp quả của phàm ngã tam phân.

4—The condition of the Causal Body.

4—Tình trạng của thể nguyên nhân.

5—The need of the period and the man’s availability.

5—Nhu cầu của thời kỳ và khả năng sẵn sàng của người đó.

6—The groups, inner and outer, with which he is affiliated.

6—Các nhóm, bên trong và bên ngoài, mà y có liên kết.

JUNE 4, 1920

NGÀY 4 THÁNG 6, 1920

We have dealt with the importance of meditation, and I have suggested for your consideration four reasons out of the many why the practice should he followed. At this period when meditation is followed by many of you without the guidance of a teacher who is personally acquainted with you on the physical plane, it has been impossible to do more than formulate a plan for practice that carries in it the elements of safety and of universality.

Chúng ta đã bàn về tầm quan trọng của tham thiền, và tôi đã gợi ý cho các bạn xem xét bốn lý do trong số nhiều lý do tại sao nên thực hành điều đó. Trong giai đoạn này, khi việc tham thiền được nhiều người trong các bạn thực hiện mà không có sự hướng dẫn của một huấn sư quen biết cá nhân với các bạn trên cõi hồng trần, thì không thể làm gì hơn ngoài việc lập ra một kế hoạch thực hành mang trong mình các yếu tố an toàn và phổ quát.

When a teacher is on the spot, differentiated practice may be carried on suited to the temperament of the pupil, and having certain attributes that make that particular meditation the line of least resistance from the physical brain of the personality to the causal body.

Khi một huấn sư có mặt tại chỗ, việc thực hành biệt phân có thể được tiến hành phù hợp với khí chất của người môn sinh, và có những thuộc tính nhất định làm cho phương pháp thiền cụ thể đó trở thành con đường ít trở ngại nhất từ bộ não vật lý của phàm ngã đến thể nguyên nhân

In formulating methods of meditation certain factors must be taken into consideration. These factors I will now enumerate. I seek not to give you outlines and methods to be followed. I but indicate the underlying principles that guide the teacher in the choice of method suitable for the pupil. Later, when the teacher comes and the scientific application of the method to the individual is being demonstrated, you can then see if the rules laid down here are fundamentals or not. These fundamentals and principles are all I seek to give. Method and detail must be worked out through the use of discrimination, experience, courage and perseverance.

Trong việc lập ra các phương pháp tham thiền, một số yếu tố nhất định phải được xem xét. Những yếu tố này tôi sẽ liệt kê ngay bây giờ. Tôi không tìm cách đưa cho các bạn những đề cương và phương pháp để tuân theo. Tôi chỉ nêu ra các nguyên tắc cơ bản hướng dẫn huấn sư trong việc lựa chọn phương pháp phù hợp cho môn sinh. Sau này, khi huấn sư đến và sự áp dụng khoa học của phương pháp cho từng cá nhân được chứng minh, khi đó bạn có thể thấy liệu các quy luật được đặt ra ở đây có phải là nền tảng hay không. Những nền tảng và nguyên tắc này là tất cả những gì tôi tìm cách đưa ra. Phương pháp và chi tiết phải được rèn luyện thông qua việc sử dụng sự phân biện, kinh nghiệm, lòng can đảm và sự kiên trì.

The factors that must be considered by a teacher when assigning a meditation are six in number, if we deal only with the principal ones. They are as follows: [Trang 15]

Các yếu tố phải được huấn sư xem xét khi chỉ định một phương pháp thiền gồm có sáu yếu tố, nếu chúng ta chỉ bàn đến những yếu tố chính. Chúng như sau: [Trang 15]

l—The Ray of the pupil’s Ego, or Higher Self.

1—Cung của Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu của môn sinh.

2—The Ray of his Personality or Lower Self.

2—Cung của Phàm ngã hay Bản ngã thấp của y.

3—The Karmic condition of his threefold lower nature.

3—Tình trạng Nghiệp quả của bản chất thấp tam phân của y.

4—The condition of his Causal Body.

4—Tình trạng của Thể Nguyên nhân của y.

5—The immediate need of the period and his availability.

5—Nhu cầu tức thời của giai đoạn và sự sẵn sàng của y.

6—The groups, inner and outer, with which he may be affiliated.

6—Các nhóm, bên trong và bên ngoài, mà y có thể liên kết.

We will now take them up and consider them one by one.

Bây giờ chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng yếu tố một.

1 – The Ray of Higher Self

Cung của Chân Ngã Cao Siêu

The ray on which a man’s causal body is found, the egoic ray, should determine the type of meditation. Each ray necessitates a different method of approach, for the aim of all meditation is union with the divine. At this stage, it is union with the spiritual Triad, that has its lowest reflection on the mental plane. Let me illustrate briefly:

Cung mà thể nguyên nhân của một người được tìm thấy, cung chân ngã, nên quyết định loại hình tham thiền. Mỗi cung đòi hỏi một phương pháp tiếp cận khác nhau, vì mục tiêu của mọi sự tham thiền là hợp nhất với thiên tính. Ở giai đoạn này, đó là sự hợp nhất với Tam nguyên tinh thần, vốn có sự phản chiếu thấp nhất trên cõi trí. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn:

When the egoic ray is what is termed the Power Ray, the method of approach has to be by the application of the will in a dynamic form to the lower vehicles; it is largely what we term achievement by an intense focusing, a terrific one-pointedness, that inhibits all hindrances and literally forces a channel, thus driving itself into the Triad.

Khi cung chân ngã là cái được gọi là Cung Quyền Năng, phương pháp tiếp cận phải là bằng việc áp dụng ý chí dưới một hình thức năng động vào các vận cụ thấp; phần lớn đó là cái mà chúng ta gọi là thành tựu bằng một sự tập trung mãnh liệt, một sự nhất tâm khủng khiếp, ngăn chặn mọi trở ngại và theo đúng nghĩa đen là cưỡng ép mở ra một kênh dẫn, từ đó thúc đẩy chính nó vào Tam nguyên.

When the egoic ray is the second or the Love-Wisdom Ray, the path of least resistance lies along the line of expansion, of a gradual inclusion. It is not so much a driving forward as it is a gradual expanding from an inner centre to include the entourage, the environment, the allied souls, and the affiliated groups of pupils under [Trang 16] some one Master, until all are included in the consciousness. Carried to the point of achievement, this expansion results in the final shattering of the causal body at the fourth Initiation. In the first instance—achievement via the Power Ray—the driving forward and the forcing upward had a like result; the opened channel admitted the downflow of force or fire from the spirit and the causal body in time is equally destroyed.

Khi cung chân ngã là cung thứ hai hay Cung Bác Ái – Minh Triết, con đường ít trở ngại nhất nằm dọc theo đường lối mở rộng, của một sự bao gồm dần dần. Nó không hẳn là một sự thúc đẩy về phía trước mà là một sự mở rộng dần dần từ một trung tâm bên trong để bao gồm những người xung quanh, môi trường, các linh hồn đồng minh, và các nhóm môn sinh liên kết dưới [Trang 16] quyền của một Chân sư nào đó, cho đến khi tất cả được bao gồm trong tâm thức. Khi đạt đến điểm thành tựu, sự mở rộng này dẫn đến việc phá vỡ cuối cùng thể nguyên nhân tại lần Điểm đạo thứ tư. Trong trường hợp đầu tiên—thành tựu thông qua Cung Quyền lực—việc thúc đẩy về phía trước và cưỡng ép đi lên cũng có kết quả tương tự; kênh dẫn được mở ra đã cho phép luồng mãnh lực hoặc lửa tuôn xuống từ tinh thần, và thể nguyên nhân theo thời gian cũng bị phá hủy tương tự.

When the egoic ray is the third or Activity-adaptability Ray, the method is somewhat different. Not so much the driving forward, not so much the gradual expansion as the systematic adaptation of all knowledge and of all means to the end in view. It is in fact the process of the utilisation of the many for the use of the one; it is more the accumulation of needed material and quality for the helping of the world, and the amassing of information through love and discrimination that eventually causes the shattering of the causal body. In these “Rays of Aspect” or of divine expression, if so I may call them, the shattering is brought about by the widening of the channel, due to the driving power of will in the first case; by the expansion of the lower auric egg, the causal body, in the second case, due to the inclusiveness of the synthetic Ray of Love and Wisdom; and by the breaking of the periphery of the causal body in the third case, due to the accumulative faculty and systematic absorption of the Adaptability Ray.

Khi cung chân ngã là cung ba hay Cung Hoạt động-Thích ứng, phương pháp có phần khác biệt. Không hẳn là thúc đẩy về phía trước, không hẳn là mở rộng dần dần mà là sự thích ứng có hệ thống của mọi tri thức và mọi phương tiện cho mục đích đang hướng tới. Thực tế đó là quá trình tận dụng cái nhiều cho việc sử dụng của cái một; nó thiên về việc tích lũy chất liệu và phẩm tính cần thiết để giúp đỡ thế gian, và việc thu thập thông tin thông qua tình thương và sự phân biện mà cuối cùng gây ra sự phá vỡ thể nguyên nhân. Trong các “Cung Trạng Thái” hay của sự biểu hiện thiêng liêng này, nếu tôi có thể gọi như vậy, sự phá vỡ được mang lại bởi việc mở rộng kênh dẫn, do quyền năng thúc đẩy của ý chí trong trường hợp thứ nhất; bởi sự mở rộng của noãn hào quang thấp, thể nguyên nhân, trong trường hợp thứ hai, do tính bao gồm của Cung tổng hợp Bác ái và Minh triết; và bởi việc phá vỡ chu vi của thể nguyên nhân trong trường hợp thứ ba, do khả năng tích lũy và sự hấp thụ có hệ thống của Cung Thích ứng.

All these three different methods have the same result, and are fundamentally all forms of the one great method employed in the evolution of love or wisdom,—the goal of endeavour in this present solar system.

Tất cả ba phương pháp khác nhau này đều có cùng một kết quả, và về cơ bản đều là các hình thức của một phương pháp lớn được sử dụng trong sự tiến hóa của bác ái hay minh triết,—mục tiêu của nỗ lực trong hệ mặt trời hiện tại này.

You have the will driving a man on to perfection, through realisation of the Higher, and resulting in the service of power through love in activity. [Trang 17]

Bạn có ý chí thúc đẩy một người tiến tới sự hoàn thiện, thông qua việc chứng nghiệm cái Cao siêu, và dẫn đến sự phụng sự của quyền năng thông qua tình thương trong hoạt động. [Trang 17]

You have the wisdom or love aspect driving a man on to perfection through the utilisation of his oneness with all that breathes, resulting in the service of love through love in activity.

Bạn có phương diện minh triết hay bác ái thúc đẩy một người tiến tới sự hoàn thiện thông qua việc tận dụng sự hợp nhất của y với tất cả những gì đang thở, dẫn đến sự phụng sự của tình thương thông qua tình thương trong hoạt động.

You have the activity aspect driving a man on to perfection through the utilisation of all in the service of man; first by the utilisation of all for himself, then by the graded steps of the utilisation of all for the family, of all for those he personally loves, of all for his environing associates, and thus on and up till all is utilised in the service of humanity.

Bạn có phương diện hoạt động thúc đẩy một người tiến tới sự hoàn thiện thông qua việc tận dụng tất cả trong sự phụng sự con người; đầu tiên bằng việc tận dụng tất cả cho chính bản thân y, sau đó bằng các bước phân cấp của việc tận dụng tất cả cho gia đình, cho những người y yêu thương một cách cá nhân, cho các cộng sự xung quanh y, và cứ thế tiến lên cho đến khi tất cả được tận dụng trong sự phụng sự nhân loại.

When the egoic ray is the attributive Ray of Harmony, the fourth ray, the method will be along the line of the inner realisation of beauty and harmony; it causes the shattering of the causal body by the knowledge of Sound and Colour and the shattering effect of Sound. It is the process that leads to the realisation of the notes and tones of the solar system, the note and tone of individuals, and the endeavor to harmonise the egoic note with that of others. When the egoic note is sounded in harmony with other egos, the result is the shattering of the causal body, dissociation from the lower and the attainment of perfection. Its exponents develop along the line of music, rhythm and painting. They withdraw within in order to comprehend the life side of the form. The outer manifestation of that life side in the world is through that which we call art. The great painters and the superlative musicians are in many cases reaching their goal that way.

Khi cung chân ngã là Cung thuộc tính của sự Hài hòa, cung bốn, phương pháp sẽ theo dòng chứng nghiệm nội tâm về vẻ đẹp và sự hài hòa; nó gây ra sự phá vỡ thể nguyên nhân bằng tri thức về Âm thanh và Màu sắc và hiệu ứng phá vỡ của Âm thanh. Đó là quá trình dẫn đến việc chứng nghiệm các âm điệu và âm sắc của hệ mặt trời, âm điệu và âm sắc của các cá nhân, và nỗ lực hài hòa âm điệu chân ngã với âm điệu của những người khác. Khi âm điệu chân ngã được xướng lên hài hòa với các chân ngã khác, kết quả là sự phá vỡ thể nguyên nhân, sự tách rời khỏi cái thấp và đạt được sự hoàn thiện. Những người đại diện của nó phát triển theo dòng âm nhạc, nhịp điệu và hội họa. Họ rút lui vào bên trong để thấu hiểu phương diện sự sống của hình tướng. Sự biểu hiện bên ngoài của phương diện sự sống đó trong thế gian là thông qua cái mà chúng ta gọi là nghệ thuật. Các họa sĩ vĩ đại và các nhạc sĩ siêu việt trong nhiều trường hợp đang đạt đến mục tiêu của họ theo cách đó.

When the fifth ray, the Ray of Concrete Science or Knowledge is a man’s ray, the method is very interesting. It takes the form of the intense application of the concrete mind to some problem for the helping of the race; it is the bending of every mental quality and the [Trang 18] controlling of the lower nature so that one supreme endeavor is made to pierce through that which hinders the downflow of the higher knowledge. It involves also the will element (as might be expected) and results in the wresting of the desired information from the source of all knowledge.

Khi cung thứ năm, Cung Khoa học Cụ thể hay Tri thức là cung của một người, phương pháp này rất thú vị. Nó mang hình thức của sự áp dụng mãnh liệt trí cụ thể vào một vấn đề nào đó để giúp đỡ nhân loại; đó là việc uốn nắn mọi phẩm chất trí tuệ và [Trang 18] kiểm soát bản chất thấp để thực hiện một nỗ lực tối cao nhằm xuyên thấu qua những gì ngăn cản luồng tri thức cao siêu tuôn xuống. Nó cũng bao gồm yếu tố ý chí (như có thể dự đoán) và dẫn đến việc đoạt lấy thông tin mong muốn từ nguồn của mọi tri thức.

As the process is continued, the piercing of the periphery of the causal body becomes so frequent that in the end disintegration is produced and a man is set free. It is mentality driving a man on to perfection and forcing him to utilise all knowledge in the loving service of his race.

Khi quá trình này được tiếp tục, việc xuyên thấu chu vi của thể nguyên nhân trở nên thường xuyên đến mức cuối cùng sự tan rã được tạo ra và con người được giải phóng. Đó là trí năng thúc đẩy con người đi đến sự hoàn thiện và buộc y phải sử dụng mọi tri thức để phụng sự nhân loại với tình thương.

The Ray of Devotion is pre-eminently the ray of sacrifice. When it is the egoic ray the method of approach through meditation takes the form of one-pointed application, through love of some individual or ideal. A man learns to include through love of person or ideal; he bends every faculty and every effort to the contemplation of what is required, and in sacrifice for that person or ideal lays even his causal body on the flames of the altar. It is the method of divine fanaticism that counts all lost apart from the vision, and that eventually sacrifices joyously the entire personality. The causal body is destroyed through fire, and the liberated life streams upward to the spirit in divine beatification.

Cung Sùng Tín nổi trội là cung của sự hy sinh. Khi nó là cung chân ngã, phương pháp tiếp cận thông qua tham thiền mang hình thức của sự áp dụng nhất tâm, thông qua tình thương đối với một cá nhân hay lý tưởng nào đó. Một người học cách bao gồm thông qua tình thương đối với con người hay lý tưởng; y dồn mọi năng lực và mọi nỗ lực vào việc chiêm ngưỡng những gì được yêu cầu, và trong sự hy sinh cho người hay lý tưởng đó, y đặt ngay cả thể nguyên nhân của mình lên ngọn lửa của bàn thờ. Đó là phương pháp của sự cuồng tín thiêng liêng coi tất cả là mất mát nếu tách rời khỏi linh ảnh, và cuối cùng hy sinh toàn bộ phàm ngã một cách vui vẻ. Thể nguyên nhân bị tiêu hủy qua lửa, và sự sống được giải phóng tuôn trào lên trên tới tinh thần trong sự chân phúc thiêng liêng.

When the egoic ray is the seventh or Ray of Ceremony Law or Magic, the method is that of the glorification and comprehension of form in approach. As said earlier, the goal of all the meditation practices is approach to the divine within each one, and, through that, approach to the Deity Himself.

Khi cung chân ngã là cung thứ bảy hay Cung Nghi lễ Định luật hoặc Huyền thuật, phương pháp là sự tôn vinh và thấu hiểu hình tướng trong sự tiếp cận. Như đã nói trước đây, mục tiêu của mọi sự thực hành tham thiền là tiếp cận với thiên tính bên trong mỗi người, và thông qua đó, tiếp cận với chính Thượng đế.

The method, therefore, is the bringing under law, order and rule, of every act of the life in all the three bodies, and the building within the causal body of an [Trang 19] expanding form that results in the shattering of that body. It is the building of the Shrine under certain rules into a dwelling place for the Shekinah, and when the spiritual light flames forth, the Temple of Solomon rocks, reels and disintegrates. It is the study of the law and the consequent comprehension by the man of how that law is wielded and why; it is then the definite application of that law to the body of causes so as to render it needless and thus effect its shattering. Emancipation is the result, and the man frees himself from the three worlds. Many occultists are coming in on this ray at this time to continue the liberating process. It is the method that leads a man to liberation through the understanding and the intelligent application of the law to his own life, and to the ameliorating of conditions in the body of humanity, thus making the man a server of his race.

Do đó, phương pháp là đưa vào định luật, trật tự và quy luật mọi hành động của đời sống trong cả ba thể và xây dựng bên trong thể nguyên nhân một [Trang 19] hình tướng mở rộng dẫn đến sự phá vỡ thể đó. Đó là việc xây dựng Điện thờ theo những quy luật nhất định thành nơi trú ngụ cho Shekinah, và khi ánh sáng tinh thần bùng cháy, Đền thờ Solomon rung chuyển, lảo đảo và tan rã. Đó là việc nghiên cứu định luật và do đó sự thấu hiểu của con người về cách thức định luật đó được sử dụng và tại sao; sau đó là sự áp dụng dứt khoát định luật đó vào thể của các nguyên nhân để làm cho nó trở nên không cần thiết và từ đó thực hiện sự phá vỡ nó. Sự giải thoát là kết quả, và con người tự giải phóng mình khỏi ba cõi. Nhiều nhà huyền bí học đang đi vào cung này vào thời điểm này để tiếp tục quá trình giải phóng. Đó là phương pháp dẫn dắt một người đến sự giải thoát thông qua sự hiểu biết và sự áp dụng thông minh định luật vào đời sống của chính mình, và vào việc cải thiện các điều kiện trong cơ thể của nhân loại, từ đó làm cho con người trở thành một người phụng sự nhân loại mình.

This suffices for today.

Như vậy là đủ cho ngày hôm nay.

[Commentary 7]

2. THE RAY OF THE PERSONALITY—

2. Cung của Phàm ngã.

We have somewhat dealt with the first factor, the egoic ray, in determining the method of meditation. Today we might take up the function of the personality ray in determining this method. As you know, the personality ray is ever a sub-ray of the spiritual ray and varies with greater frequency than the egoic ray. With evolved egos such as may be contacted among the thinkers of the race and among the prominent workers in all departments of world work everywhere, the personality ray may vary from life to life, each life being based on a different note and demonstrating a different colour. In this way the causal body is more rapidly equipped. When the reincarnating unit has reached a point where he can consciously choose his mode of expression, he [Page 20] will first review his past lives, and from the knowledge gained thereby, he will guide his choice for the next. Prior to incarnation he will sound his egoic note and will note the lack of fullness or the discord it may contain; he will then decide upon which note he will base his coming personality vibration.

Chúng ta đã bàn phần nào về yếu tố thứ nhất, cung chân ngã, trong việc quyết định phương pháp tham thiền. Hôm nay chúng ta có thể bàn về chức năng của cung phàm ngã trong việc quyết định phương pháp này. Như bạn biết, cung phàm ngã luôn là một cung phụ của cung tinh thần và thay đổi với tần suất lớn hơn cung chân ngã. Với các chân ngã tiến hóa như những người có thể được tiếp xúc trong số các nhà tư tưởng của nhân loại và trong số các người hoạt động nổi bật trong mọi bộ phận của công việc thế gian ở khắp mọi nơi, cung phàm ngã có thể thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác, mỗi kiếp sống dựa trên một âm điệu khác nhau và thể hiện một màu sắc khác nhau. Bằng cách này, thể nguyên nhân được trang bị nhanh chóng hơn. Khi đơn vị tái sinh đã đạt đến điểm mà y có thể tự ý lựa chọn phương thức biểu hiện của mình, y [Page 20] trước tiên sẽ xem xét lại các kiếp quá khứ của mình, và từ tri thức thu được từ đó, y sẽ hướng dẫn sự lựa chọn của mình cho kiếp kế tiếp. Trước khi lâm phàm, y sẽ xướng lên âm điệu chân ngã của mình và sẽ lưu ý đến sự thiếu đầy đủ hoặc sự bất hòa mà nó có thể chứa đựng; sau đó y sẽ quyết định âm điệu nào y sẽ dùng làm nền tảng cho rung động phàm ngã sắp tới của mình.

The whole life, therefore, may be given over to the sounding of a particular note and to the stabilising of one particular vibration. This note must be sounded and this vibration stabilised in diversity of circumstances. Hence the necessity in the life of the aspirant or disciple for frequent change, and the explanation of the obvious condition of variety and apparent chaos in which these lives are spent.

Do đó, toàn bộ kiếp sống có thể được dành cho việc xướng lên một âm điệu cụ thể và cho việc ổn định một rung động cụ thể. Âm điệu này phải được xướng lên và rung động này phải được ổn định trong sự đa dạng của hoàn cảnh. Do đó có sự cần thiết trong đời sống của người chí nguyện hay đệ tử về sự thay đổi thường xuyên, và đây cũng là lời giải thích cho tình trạng hiển nhiên của sự đa dạng và sự hỗn loạn bề ngoài mà trong đó những kiếp sống này được trải qua.

When the discord has been corrected and when the vibration becomes steady and is not subject to change, then the needed work is done. The Ego can call in again his forces, prior to continuing the work of perfecting the causal body and carrying to perfect accuracy and clarity of tone the desired chord. See then the necessity of adapting the method of meditation to the need of the personality, and of synchronising it at the same time with the first factor, involving the ray of the Ego.

Khi sự bất hòa đã được sửa chữa và khi rung động trở nên ổn định và không còn bị thay đổi, thì công việc cần thiết đã hoàn thành. Chân ngã có thể triệu hồi lại các mãnh lực của mình, trước khi tiếp tục công việc hoàn thiện thể nguyên nhân và đưa hợp âm mong muốn đạt đến độ chính xác và rõ ràng hoàn hảo về âm sắc. Hãy thấy sự cần thiết của việc thích ứng phương pháp tham thiền với nhu cầu của phàm ngã, và đồng thời đồng bộ hóa nó với yếu tố thứ nhất, liên quan đến cung của Chân ngã.

A practical illustration

Một minh họa thực tế.

Let me illustrate, if in any way I can elucidate the matter; accuracy of comprehension is desired.

Hãy để tôi minh họa, nếu bằng bất cứ cách nào đó mà tôi có thể làm sáng tỏ vấn đề; sự thấu hiểu chính xác là điều mong muốn.

We will assume that the egoic ray of A is that of the Love or Wisdom Ray, whilst the ray of his lower self is that of the fifth or the Ray of Concrete Knowledge. A in past lives has demonstrated love and has made real progress in the method of the synthetic ray, that of expansion. He loves much and expands with fair facility his consciousness to include a just part of his environing [Page 21] circumstances. But, though of average intelligence, he lacks the stabilising vibration that attaches to the fifth ray. He has not that concentration that forces results, and he needs the basic foundation of facts before he can wisely and safely proceed much further. The wise teacher, in apprehending this necessity, uses the method of expansion inherent in the egoic ray and applies it to the expansion of the mental body. By a wisely adjudicated method, he will apply the faculty of expansion (hitherto used only to include others through love) to the one-pointed effort likewise to expand for the purpose of apprehending knowledge. When this is done, every effort of the personal life may apparently (in one particular incarnation) be given to the acquirement of scientific position and to the development of mind. Intellectual progress may seem of too paramount importance to the uninstructed onlooker; yet, after all, the work proceeds as desired by the inner guide, and only the life succeeding will demonstrate the wisdom of the egoic choice.

Chúng ta sẽ giả định rằng cung chân ngã của A là cung Bác Ái hay Minh Triết, trong khi cung của phàm ngã y là cung năm, hay Cung của Tri Thức Cụ Thể. Trong các kiếp sống quá khứ, A đã biểu lộ tình thương và đã đạt được những tiến bộ thực sự trong phương pháp của cung tổng hợp, tức là cung của sự mở rộng. Y yêu thương nhiều và khá dễ dàng mở rộng tâm thức của mình để bao gồm một phần thích đáng những hoàn cảnh bao quanh [Page 21] y. Nhưng, mặc dù có trí thông minh ở mức trung bình, y lại thiếu rung động ổn định gắn liền với cung năm. Y không có sự tập trung tạo ra kết quả, và y cần có nền tảng căn bản của các sự kiện trước khi có thể tiến xa hơn một cách khôn ngoan và an toàn. Vị huấn sư minh triết, khi nhận thức được nhu cầu này, sẽ sử dụng phương pháp mở rộng vốn có trong cung chân ngã và áp dụng nó vào sự mở rộng của thể trí. Bằng một phương pháp được cân nhắc một cách minh triết, Ngài sẽ áp dụng năng lực mở rộng (cho đến nay chỉ được dùng để bao gồm người khác thông qua tình thương) vào nỗ lực nhất tâm, đồng thời mở rộng vì mục đích lĩnh hội tri thức. Khi điều này được thực hiện, mọi nỗ lực của đời sống phàm ngã, bề ngoài có vẻ như (trong một kiếp sống đặc thù) đều được dành cho việc đạt được địa vị khoa học và cho sự phát triển của thể trí. Sự tiến bộ về trí tuệ có thể dường như giữ một tầm quan trọng quá mức đối với người quan sát chưa được chỉ dạy; tuy nhiên, sau tất cả, công việc vẫn tiến triển đúng như sự hướng dẫn của vị đạo sư nội tại mong muốn, và chỉ kiếp sống kế tiếp mới chứng minh được minh triết của sự chọn lựa nơi chân ngã.

June 7, 1920.

Ngày 7 tháng 6 năm 1920.

Intellectual expansion by the combination of second ray methods with fifth ray application will be achieved. Have I made this matter clear? I write for clarity for this question of meditation is of much vital importance to many.

Sự mở rộng trí tuệ bằng sự kết hợp các phương pháp cung hai với sự áp dụng cung năm sẽ đạt được. Tôi đã làm cho vấn đề này rõ ràng chưa? Tôi viết vì sự rõ ràng vì vấn đề tham thiền này có tầm quan trọng thiết yếu đối với nhiều người.

It will, therefore, be clear to you on careful perusal, that as one knows more, one judges less. A person may be well-developed on the love side, yet in some particular incarnation that side may lie in abeyance, and the line of development most apparent may be the purely intellectual. Reservation of opinion is the best line for the wise onlooker to take, for he has not yet the inner vision that sees the colour, nor the occult hearing that recognises the note. [Page 22]

Do đó, qua việc đọc kỹ, bạn sẽ thấy rõ rằng khi một người biết nhiều hơn, y sẽ phán xét ít đi. Một người có thể phát triển tốt về phương diện tình thương, nhưng trong một kiếp sống cụ thể nào đó phương diện đó có thể nằm trong trạng thái chờ, và dòng phát triển rõ rệt nhất có thể là thuần túy trí tuệ. Bảo lưu ý kiến là con đường tốt nhất cho người quan sát khôn ngoan nên chọn, vì y chưa có linh thị để thấy màu sắc, cũng như chưa có thính giác huyền bí để nhận ra âm điệu. [Page 22]

[Commentary 8]

3. The karmic condition of the threefold man.

Điều kiện nghiệp quả của con người tam phân

Today the karmic condition of the threefold man and his place in evolution comes up for consideration under our discussion of “Methods of Meditation.” It is our third point and of real moment in deciding wisely upon a method suitable for the individual. We have up till now considered first the importance of meditation; then we touched briefly upon the part the egoic ray plays in deciding upon that method, incidentally bringing out a point not much emphasized hitherto that the real goal of meditation is the gradual fracturing, breaking and shattering of the egoic body. Each ray necessitated, we saw, a different process. Then we took up the function of the personality ray in combination with the egoic ray, and saw how in wise consideration of the two factors a method could wisely be apportioned.

Hôm nay, trong cuộc thảo luận của chúng ta về “Các Phương pháp Tham thiền”, chúng ta xem xét tình trạng nghiệp quả của con người tam phân và vị trí của y trong sự tiến hóa. Đó là điểm thứ ba của chúng ta và có tầm quan trọng thực sự trong việc quyết định một cách khôn ngoan phương pháp phù hợp cho cá nhân. Cho đến nay, chúng ta đã xem xét trước hết tầm quan trọng của tham thiền; sau đó chúng ta đã bàn sơ qua phần mà cung chân ngã đóng góp trong việc quyết định phương pháp đó, đồng thời đưa ra một điểm chưa được nhấn mạnh nhiều cho đến nay rằng mục tiêu thực sự của tham thiền là sự rạn nứt, phá vỡ và đập tan dần thể chân ngã. Chúng ta đã thấy, mỗi cung đòi hỏi một quá trình khác nhau. Sau đó chúng ta đã bàn về chức năng của cung phàm ngã trong sự kết hợp với cung chân ngã, và thấy cách thức mà trong sự xem xét khôn ngoan hai yếu tố đó, một phương pháp có thể được phân bổ một cách khôn ngoan.

Now we take up more specifically the factor of time. Karma and time are more synonymous terms than is oft realised. Occult meditation and the definite commencement of the work of liberating the individual from the periphery of the causal body can only be begun when a certain point in evolution has been attained, and when (through its content) the causal body is of a certain specific gravity, and when the circumference of that body measures up to certain requirements. The whole process is one of law and not, as is so oft considered, one purely of aspiration and lofty desire. Consider wisely this sentence I have just written upon the karmic condition of the threefold man and his place on the ladder of evolution. What have I specified? Three factors for your consideration: [Page 23]

Bây giờ chúng ta bàn cụ thể hơn về yếu tố thời gian. Nghiệp quả và thời gian là những thuật ngữ đồng nghĩa hơn là thường được nhận ra. Tham thiền huyền môn và sự bắt đầu dứt khoát của công việc giải phóng cá nhân khỏi chu vi của thể nguyên nhân chỉ có thể được bắt đầu khi đã đạt đến một điểm tiến hóa nhất định, và khi (thông qua nội dung của nó) thể nguyên nhân có một trọng lượng riêng nhất định, và khi chu vi của thể đó đạt đến những yêu cầu nhất định. Toàn bộ quá trình là một quá trình của định luật chứ không phải, như thường được xem xét, là một quá trình thuần túy của khát vọng và mong muốn cao cả. Hãy xem xét một cách khôn ngoan câu tôi vừa viết về tình trạng nghiệp quả của con người tam phân và vị trí của y trên nấc thang tiến hóa. Tôi đã chỉ rõ điều gì? Đó là ba yếu tố để bạn xem xét: [Page 23]

a—The point in evolution.

a—Điểm tiến hóa.

b—The specific gravity of the causal body.

b—Trọng lượng riêng của thể nguyên nhân.

c—The size and circumference of the causal body.

c—Kích thước và chu vi của thể nguyên nhân.

Later I intend definitely taking up with you the question of the mental plane and its three higher subplanes, which are the planes of the Ego. We will deal with the position of the causal body on these planes and with the relationship of the causal body to other bodies on the same plane. In this letter I deal only with the three above-mentioned points. I deal, therefore, with the causal body itself, with the egoic consciousness and its relationship to the lower self. Later I will deal with the same consciousness on its own plane and its relationship to other egos and to the Hierarchy. Keep this clearly in mind: —the development of the egoic consciousness within the Personality is my main theme at this time. Do not confuse the two. We might word it otherwise:—I will deal with the relationship of the Higher Self to the threefold lower man, and the gradually increasing strength of that relationship through meditation. This increase is coincident with the three factors above named. Let us take them in order.

Sau này tôi dự định sẽ bàn cụ thể với bạn về vấn đề cõi trí và ba cõi phụ cao hơn của nó, vốn là các cõi của Chân ngã. Chúng ta sẽ đề cập đến vị trí của thể nguyên nhân trên các cõi này và mối quan hệ của thể nguyên nhân với các thể khác trên cùng một cõi. Trong bức thư này tôi chỉ đề cập đến ba điểm đã nêu trên. Do đó, tôi đề cập đến chính thể nguyên nhân, với tâm thức chân ngã và mối quan hệ của nó với phàm ngã. Sau này tôi sẽ đề cập đến cùng tâm thức đó trên cõi riêng của nó và mối quan hệ của nó với các chân ngã khác và với Thánh đoàn. Hãy ghi nhớ rõ điều này: —sự phát triển của tâm thức chân ngã bên trong Phàm ngã là chủ đề chính của tôi vào lúc này. Đừng nhầm lẫn hai điều đó. Chúng ta có thể diễn đạt theo cách khác:—tôi sẽ đề cập đến mối quan hệ của Chân Ngã với phàm nhân tam phân, và sức mạnh ngày càng tăng của mối quan hệ đó thông qua tham thiền. Sự gia tăng này trùng khớp với ba yếu tố nêu trên. Chúng ta hãy xem xét chúng theo thứ tự.

The Point in Evolution. —=

Điểm tiến hóa

The life of the evolving personality might be divided into five divisions. Ours is, after all, a fivefold evolution, and the life of the man (as a human being and prior to taking the fifth Initiation) may be considered as a series of five gradual steps, each step being gauged by the condition of the indwelling Flame of Spirit. From the standpoint of our occult planetary Hierarchy, as before I have told you, we are measured by our light.

Đời sống của phàm ngã đang tiến hóa có thể được chia thành năm phân đoạn. Suy cho cùng, sự tiến hóa của chúng ta là sự tiến hóa ngũ phân, và đời sống của con người (với tư cách là một con người và trước khi thụ nhận lần Điểm đạo thứ năm) có thể được coi là một chuỗi gồm năm bước dần dần, mỗi bước được đo lường bởi tình trạng của Ngọn lửa Tinh thần trú ngụ bên trong. Như trước đây tôi đã nói với bạn, từ quan điểm của Huyền Giai hành tinh huyền bí của chúng ta, chúng ta được đo lường bằng ánh sáng của mình.

The first division of progress might be measured from the moment when animal-man became a thinking entity, [Page 24] a human being, to that of the conscious functioning of the emotional body or to the point where the emotions are very largely paramount. It corresponds to the period covered by the Lemurian and early Atlantean days. During this period, the man is polarised in his physical body and is learning to be controlled by his desire body, the body of feeling or of emotion. He has no aspirations save such as pander to the pleasures of the body; he lives for his physical nature, and has no thought for aught that may be higher. This period parallels that of the child from one to seven years. At this time the watching Teachers of the race see the indwelling Flame as a tiny pin-point, and the permanent atom of the physical plane holds the polarisation. No attention is called for from the Teachers, for the instinctive force inherent in the Higher Self does the work, and the driving force of evolution carries all on to perfection.

Phân đoạn tiến bộ đầu tiên có thể được đo lường từ thời điểm khi người-thú trở thành một thực thể tư duy, [Page 24] một con người, cho đến giai đoạn hoạt động có ý thức của thể cảm dục, hoặc đến giai đoạn mà các cảm xúc chi phối phần lớn. Nó tương ứng với giai đoạn bao gồm thời kỳ Lemuria và đầu Atlantis. Trong giai đoạn này, con người phân cực trong thể xác của mình và đang học cách bị kiểm soát bởi thể dục vọng của mình, thể của cảm giác hay cảm xúc. Y không có khát vọng nào ngoại trừ những gì nuông chiều các khoái lạc của cơ thể; y sống cho bản chất hồng trần của mình, và không có ý nghĩ nào cho bất cứ điều gì có thể cao hơn. Giai đoạn này song hành với giai đoạn của đứa trẻ từ một đến bảy tuổi. Vào lúc này, các Huấn sư đang quan sát nhân loại thấy Ngọn lửa trú ngụ bên trong như một điểm nhỏ như đầu kim, và sự phân cực là ở nguyên tử trường tồn của cõi hồng trần. Không cần sự chú ý nào từ các Huấn sư, vì lực bản năng vốn có trong Chân Ngã thực hiện công việc, và lực thúc đẩy của tiến hóa mang tất cả tiến tới sự hoàn thiện.

The second period covers a point in development when the polarisation is largely in the emotional body and when lower mind desire is being developed. Later Atlantean days hold the analogy hid. The desires are not so purely physical, for mind is beginning to permeate, much as yeast causes a movement and a rising in a mass of dough. The man is conscious of vague pleasures not associated with his physical body; he is capable of a deep love for teachers and guides wiser than himself, of a wild unreasoning devotion for his environing associates, and of an equally wild and unreasoning hatred, for the equilibrium that mind achieves, and the balance that is the result of mental action, is wanting in his make-up. He suffers from extremes.

Thời kỳ thứ hai bao trùm một điểm trong sự phát triển khi sự phân cực chủ yếu nằm trong thể cảm dục và khi dục vọng của hạ trí đang được phát triển . Những ngày Atlantis về sau ẩn chứa sự tương đồng ấy. Các dục vọng không còn thuần túy hồng trần, vì trí tuệ đang bắt đầu thấm nhuần, giống như men làm cho khối bột nhào chuyển động và nổi lên. Con người nhận thức được những khoái lạc mơ hồ không liên quan đến thể xác mình; y có khả năng có một tình thương sâu sắc đối với các huấn sư và những người dẫn dắt khôn ngoan hơn mình, có một sự sùng mộ hoang dại không lý trí đối với các cộng sự xung quanh y, và có một sự thù hận hoang dại và không lý trí giống như vậy, vì sự thăng bằng mà trí tuệ đạt được, và sự cân bằng vốn là kết quả của hành động trí tuệ, còn thiếu trong cấu tạo của y. Y đau khổ vì những thái cực.

The polarisation lies now in the emotional permanent atom but, (when this point of development is reached) a light plays between the two atoms that have [Page 25] known polarisation—the emotional and the physical. What I am seeking to bring out at this stage is that the mental unit has not known the force of polarisation, the emotional is holding it, and the result is an integral difference within the periphery of the atom itself. The electronic combinations that compose the atom which has suffered polarisation are grouped in a different geometrical form to those which have not yet experienced the process. It is the effect of the life of the Ego, playing on the matter of the atom and causing various approximations and differentiations unseen in a non-polarised atom. The matter is abstruse and complex.

Sự phân cực hiện nay nằm trong nguyên tử trường tồn cảm dục, nhưng (khi điểm phát triển này được đạt tới) một luồng ánh sáng vận hành giữa hai nguyên tử đã [Page 25] từng mang sự phân cực — nguyên tử cảm dục và nguyên tử hồng trần. Điều tôi đang tìm cách làm rõ ở giai đoạn này là: đơn vị hạ trí chưa từng chịu tác động của mãnh lực phân cực; thể cảm dục đang nắm giữ sự phân cực ấy, và kết quả là xuất hiện một sự khác biệt nội tại bên trong chính chu vi của nguyên tử. Các tổ hợp điện tử cấu thành nguyên tử đã trải qua sự phân cực được sắp xếp theo một hình thức hình học khác với những nguyên tử chưa từng kinh nghiệm tiến trình này. Đó là tác động của sự sống của Chân ngã, đang vận hành trên chất liệu của nguyên tử và gây ra những sự xích lại gần nhau và những sự biến phân khác nhau mà không thể thấy được trong một nguyên tử chưa bị phân cực. Vấn đề này mang tính trừu tượng và phức tạp.

This period is an analogous one to that in the life of a child from seven to fourteen years, or that period when adolescence is traversed and the child is maturing. This maturity is the product of emotional and physical polarisation in alignment. Alignment is now easily achieved between the physical and emotional bodies. The problem is to bring both under alignment with the mental and later with the egoic bodies.

Giai đoạn này tương ứng với giai đoạn trong cuộc đời của một đứa trẻ từ bảy đến mười bốn tuổi, hoặc giai đoạn khi trải qua tuổi dậy thì và đứa trẻ đang trưởng thành. Sự trưởng thành này là sản phẩm của sự phân cực cảm dục và hồng trần trong sự chỉnh hợp. Sự chỉnh hợp hiện nay dễ dàng đạt được giữa thể xác và thể cảm dục. Vấn đề là đưa cả hai vào sự chỉnh hợp với thể trí và sau đó là với các thể chân ngã.

To the watching Guides of the race, the indwelling Flame or Light can be seen slightly more enlarged, but still so small as to be inappreciable. But, if I can in any way make clear without misleading by the use of words— whereas in the first period the physical atom could be seen illuminated, now in the second period the emotional atom is similarly lit up, a signal to the Teachers that the work progresses. All this covers a vast period of time, for progress at this period is inexpressibly slow. My allusion to the Atlantean and Lemurian races was but to trace analogy in object, and not analogy in time.

Đối với các Đấng Hướng dẫn đang quan sát nhân loại, Ngọn lửa hoặc Ánh sáng nội tại có thể được thấy mở rộng hơn một chút, nhưng vẫn còn quá nhỏ đến mức không đáng kể. Tuy nhiên, nếu tôi có thể làm rõ theo bất kỳ cách nào mà không gây hiểu lầm bằng việc sử dụng ngôn từ— trong khi ở giai đoạn đầu nguyên tử hồng trần có thể được thấy là đã phát sáng, thì nay ở giai đoạn thứ hai, nguyên tử cảm dục cũng được thắp sáng tương tự, một tín hiệu cho các Huấn sư rằng công việc đang tiến triển. Tất cả điều này bao trùm một khoảng thời gian bao la, vì sự tiến bộ ở giai đoạn này chậm chạp không thể tả. Việc tôi ám chỉ đến các giống dân Atlantis và Lemuria chỉ là để truy tìm sự tương đồng về mục tiêu, chứ không phải sự tương đồng về thời gian.

Now, on entering the third period, comes the most vital point in the development of the man, that in which [Page 26] mind is developing and the polarising life shifts to the mental unit. Speaking in terms of the solar system and viewing humanity as a unit, all of whose permanent atoms form the molecules in a corresponding cosmic atom, the work has progressed from physical to emotional polarisation and remains there. Not till the seventh cycle of the greater cycle, not till the calling of the system into obscuration and out of manifestation will the cosmic mental atom in the body of the Logos achieve polarisation. Here and there individuals are, as units, accomplishing the work and demonstrating therefore the hope for all.

Giờ đây, khi bước vào giai đoạn thứ ba, sẽ đến điểm quan trọng nhất trong sự phát triển của con người, đó là khi [Page 26] thể trí đang phát triển và sự sống phân cực chuyển dịch sang đơn vị hạ trí. Nói theo thuật ngữ của hệ mặt trời và nhìn nhân loại như một đơn vị, trong đó tất cả các nguyên tử trường tồn của nhân loại hợp thành các phân tử trong một nguyên tử vũ trụ tương ứng, thì công việc đã tiến triển từ sự phân cực thể xác sang sự phân cực cảm dục và hiện vẫn dừng lại ở đó. Chỉ đến chu kỳ thứ bảy của đại chu kỳ, chỉ đến khi hệ thống được gọi đi vào giai đoạn mờ khuất và rút ra khỏi sự biểu lộ, thì nguyên tử trí tuệ vũ trụ trong thân thể của Thượng đế mới đạt được sự phân cực. Tuy vậy, rải rác đây đó, có những cá nhân, với tư cách là các đơn vị, đang hoàn thành công việc này và do đó minh chứng niềm hy vọng cho tất cả.

This period corresponds to that between the ages fourteen and twenty-eight. The period here is longer for there is much to be done. Two atoms have felt polarisation, and one is receiving the shifting. It is the middle point. At this time the light plays between the three atoms (outlining the personality triangle). But the focal point is gradually shifting more and more into the mental unit, and the egoic body is becoming gradually more rounded out, and assuming its proportions.

Thời kỳ này tương ứng với giai đoạn từ mười bốn đến hai mươi tám tuổi. Thời kỳ này kéo dài hơn, vì còn rất nhiều việc phải được thực hiện. Hai nguyên tử đã cảm nhận được sự phân cực, và một nguyên tử đang tiếp nhận sự chuyển dịch. Đây là điểm ở giữa. Vào thời điểm này, ánh sáng vận hành giữa ba nguyên tử (phác họa nên tam giác phàm ngã). Tuy nhiên, tiêu điểm đang dần chuyển ngày càng nhiều vào đơn vị hạ trí, và thể chân ngã cũng đang từng bước trở nên tròn đầy hơn, đồng thời cân đối.

The man has control of the physical body and each life he builds a better; he has a desire body of more refined requirements (note the occult significance of that word); he realizes the joys of intellect and strives ever for a mental body of greater adequacy; his desires turn upward instead of downward, and become transmuted into aspiration, —at first aspiration towards the things of mind, and later towards that which is more abstract and synthetic. The indwelling egoic Flame or Light now radiates from an inner centre to the periphery, lighting the causal body and giving indication of burning. To the on-looking Hierarchy it is apparent that the divine fire is permeating and warming and radiating throughout [Page 27] the causal body, and that the Ego is becoming ever more conscious on his own plane, and ever more interested—via the permanent atoms, —in the life of the Personality. The physical brain of the Personality is not yet aware of the difference between inherent mental capacity and the directed impress of the indwelling Ego, but the time is becoming ripe for a change of some kind, and evolution is moving with rapidity. The fourth period approaches. I would here sound a warning. All this proceeds not in ordered sections, if so I may term it. It proceeds as proceeds the greater system, with constant overlapping, and with parallelism, due to the inherent ray of the spirit or Monad, to cyclic changes, to diversity of forces playing astrologically and oft from unknown cosmic centres upon the palpitating life within the atoms. Y o u can later trace the correspondence between the rounds and races.

Con người đã kiểm soát được thể xác và mỗi kiếp sống y lại xây dựng một thể tốt hơn; y có một thể dục vọng với những yêu cầu tinh tế hơn (lưu ý thâm nghĩa huyền môn của từ đó); y nhận ra những niềm vui của trí tuệ và luôn nỗ lực cho một thể trí đầy đủ hơn; những dục vọng của y hướng thượng thay vì hướng hạ, và được chuyển hóa thành khát vọng, —lúc đầu là khát vọng hướng tới những điều của trí tuệ, và sau đó hướng tới những gì trừu tượng và tổng hợp hơn. Ngọn lửa hoặc Ánh sáng chân ngã nội tại giờ đây tỏa rạng từ một trung tâm bên trong ra chu vi, thắp sáng thể nguyên nhân và cho thấy dấu hiệu của sự bùng cháy. Đối với Thánh đoàn đang quan sát, rõ ràng là lửa thiêng đang thấm nhuần, sưởi ấm và tỏa rạng khắp [Page 27] thể nguyên nhân, và Chân ngã đang ngày càng trở nên có ý thức hơn trên cõi giới của chính nó, và ngày càng quan tâm hơn —thông qua các nguyên tử trường tồn—đến đời sống của Phàm ngã. Bộ não hồng trần của Phàm ngã vẫn chưa nhận thức được sự khác biệt giữa năng lực trí tuệ vốn có và ấn tượng được dẫn dắt của Chân ngã nội tại, nhưng thời gian đang chín muồi cho một sự thay đổi nào đó, và sự tiến hóa đang chuyển động nhanh chóng. Giai đoạn thứ tư đang đến gần. Ở đây tôi muốn đưa ra một lời cảnh báo. Tất cả điều này không diễn ra theo các phần có thứ tự, nếu tôi có thể gọi như vậy. Nó diễn ra như đại hệ thống diễn ra, với sự chồng lấp liên tục và với sự song hành, do cung vốn có của tinh thần hoặc Chân thần, do những thay đổi theo chu kỳ, do sự đa dạng của các mãnh lực tác động theo chiêm tinh và thường là từ các trung tâm vũ trụ chưa biết đến tác động lên sự sống đang rung động bên trong các nguyên tử. Sau này bạn có thể truy tìm sự tương ứng giữa các cuộc tuần hoàn và các giống dân.

The fourth period is that within which co-ordination of the Personality is completed, and that wherein the man comes to himself (as did the prodigal in the far country) and says: “I will arise and go to my Father.” This is the result of the first meditation. The three permanent atoms are functioning and the man is an active, feeling, thinking entity. He reaches the consummation of the personality life and he begins to shift consciously ( t h e whole point, brother of old) h i s polarization from the personality life to the egoic. He stands upon the Path of Discipleship or Probation, or is close to it. He commences the work of transmutation; he laboriously, painfully and carefully, forces his consciousness higher and to expand at will; at any cost he determines to dominate and function in full liberation on the three lower planes; he realises that the Ego must have perfect expression,—physical, emotional and mental,— and he makes, therefore, at infinite cost, the necessary channel. He attracts the attention of the Teachers. [Page 28] In what way does he do this? The causal body begins to radiate the indwelling Light. It has been constructed to a point where it is fine enough to act as a transparency and, where the contact of the Ego is made with the Triad, (a correspondence to the top of the head in the human body) a point of Flame appears…. The light is no longer under the bushel, but suddenly flames forth, and catches the eager eye of the Master.

Giai đoạn thứ tư là giai đoạn mà sự phối hợp của Phàm ngã được hoàn tất, và là giai đoạn mà con người trở về với chính mình (như đứa con hoang đàng ở phương xa đã trở về) và nói: “Tôi sẽ đứng dậy và đi về với Cha tôi.” Đây là kết quả của sự tham thiền đầu tiên. Ba nguyên tử trường tồn đang hoạt động và con người là một thực thể hoạt động, cảm nhận và tư duy. Y đạt đến sự viên mãn của đời sống phàm ngã và y bắt đầu chuyển dịch một cách có ý thức (toàn bộ vấn đề là ở đây, huynh đệ của ngày xưa) sự phân cực của mình từ đời sống phàm ngã sang chân ngã. Y đứng trên Con Đường Đệ Tử hoặc Dự Bị, hoặc đang ở gần đó. Y bắt đầu công việc chuyển hóa; y nỗ lực một cách gian khổ, đau đớn và cẩn thận, buộc tâm thức mình lên cao hơn và mở rộng theo ý muốn; bằng mọi giá y quyết tâm chế ngự và hoạt động trong sự giải thoát hoàn toàn trên ba cõi thấp; y nhận ra rằng Chân ngã phải có sự biểu hiện hoàn hảo,—hồng trần, cảm dục và trí tuệ,— và do đó, y tạo ra kênh dẫn cần thiết với cái giá vô hạn. Y thu hút sự chú ý của các Huấn sư. [Page 28] Y làm điều này bằng cách nào? Thể nguyên nhân bắt đầu tỏa rạng Ánh sáng nội tại. Nó đã được xây dựng đến mức đủ tinh tế để đóng vai trò như một vật trong suốt và, nơi mà sự tiếp xúc của Chân ngã được thực hiện với Tam nguyên tinh thần, (tương ứng với đỉnh đầu trong cơ thể người) một điểm Lửa xuất hiện…. Ánh sáng không còn bị che giấu nữa, mà bỗng nhiên bùng cháy rực rỡ, và thu hút ánh nhìn đầy mong đợi của Chân sư.

This marks the period between twenty-eight and thirty-five in the life of the adult. It is the period wherein a man finds himself, discovers what his line of activity may be, what he can accomplish, and from the worldly standpoint, comes into his own.

Điều này đánh dấu giai đoạn từ hai mươi tám đến ba mươi lăm tuổi trong cuộc đời của người trưởng thành. Đó là giai đoạn mà một người tìm thấy chính mình, khám phá ra đường hướng hoạt động của mình là gì, y có thể hoàn thành điều gì, và từ quan điểm thế gian, y đạt được vị thế của mình.

During the fifth period the Flame gradually breaks through the periphery of the causal body, and the “path of the just shineth ever more and more unto the perfect day.” It is in the fourth period that meditation commences,— the mystic meditation that leads, in the fifth period, to that occult meditation that brings about results, being under the law and hence following the line of the ray. It is by meditation that the man—as a Personality—feels out the vibration of the Ego, and seeks to reach up to the Ego and bring the egoic consciousness ever more and more down, so as to include consciously the physical plane. It is by meditation or by retreating within that the man learns the significance of Fire, and applies that fire to all the bodies, till naught is left save the fire itself. It is by meditation, or the reaching from the concrete to the abstract, that the causal consciousness is entered, and man—during this final period—becomes the Higher self and not the Personality.

Trong giai đoạn thứ năm, Ngọn lửa dần dần phá vỡ chu vi của thể nguyên nhân, và “con đường của người công chính ngày càng sáng rực cho đến ngày hoàn hảo.” Chính trong giai đoạn thứ tư mà sự tham thiền bắt đầu, —sự tham thiền thần bí dẫn dắt, trong giai đoạn thứ năm, đến sự tham thiền huyền môn mang lại kết quả, vì nằm dưới định luật và do đó đi theo đường hướng của cung. Chính nhờ tham thiền mà con người—với tư cách là một Phàm ngã—cảm nhận được rung động của Chân ngã, và tìm cách vươn lên tới Chân ngã và đưa tâm thức chân ngã ngày càng xuống thấp hơn, để bao gồm một cách có tâm thức cõi hồng trần. Chính nhờ tham thiền hoặc bằng cách rút lui vào bên trong mà con người học được thâm nghĩa của Lửa, và áp dụng ngọn lửa đó cho tất cả các thể, cho đến khi không còn gì sót lại ngoại trừ chính ngọn lửa. Chính nhờ tham thiền, hoặc việc vươn từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, mà tâm thức nguyên nhân được thâm nhập, và con người—trong giai đoạn cuối cùng này—trở thành Bản Ngã Cao Siêu chứ không phải Phàm ngã.

The polarisation shifts during the fifth period (the period of the Path of Initiation) entirely from the Personality to the Ego, until, at the close of that period, liberation is complete, and the man is set free. Even the [Page 29] causal body is known as a limitation and the emancipation is completed. The polarisation then shifts higher into the Triad— the shifting beginning at the third Initiation. The physical permanent atom goes and the polarisation becomes higher mental; the emotional permanent atom goes and the polarisation becomes intuitional; the mental unit goes and the polarisation becomes spiritual. The man then becomes a Master of the Wisdom and is of the symbolic age of forty-two, the point of perfected maturity in the solar system.

Sự phân cực chuyển dịch trong giai đoạn thứ năm (giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo) hoàn toàn từ Phàm ngã sang Chân ngã, cho đến khi, vào cuối giai đoạn đó, sự giải thoát được hoàn tất, và con người được tự do. Ngay cả [Page 29] thể nguyên nhân cũng được biết đến như một sự giới hạn và sự giải thoát được hoàn tất. Sự phân cực sau đó chuyển dịch cao hơn vào Tam nguyên tinh thần— sự chuyển dịch bắt đầu tại lần Điểm đạo thứ ba. Nguyên tử trường tồn hồng trần mất đi và sự phân cực trở thành thượng trí; nguyên tử trường tồn cảm dục mất đi và sự phân cực trở thành trực giác; đơn vị hạ trí mất đi và sự phân cực trở thành tinh thần. Con người sau đó trở thành một Chân sư Minh triết và ở độ tuổi biểu tượng là bốn mươi hai, điểm trưởng thành hoàn hảo trong hệ mặt trời.

A still later period comes, corresponding to the ages forty-two to forty-nine, wherein the sixth and seventh Initiations may be taken, but this period concerns not the readers of these letters….

Một giai đoạn thậm chí muộn hơn sẽ đến, tương ứng với độ tuổi bốn mươi hai đến bốn mươi chín, trong đó lần Điểm đạo thứ sáu và thứ bảy có thể được tiếp nhận, nhưng giai đoạn này không liên quan đến những người đọc những bức thư này….

June 9, 1920.

Ngày 9 tháng 6 năm 1920.

J u n e 8th, 1920. 8:45 pm.

Ngày 8 tháng 6 năm 1920. 8:45 tối.

A s you know, brother of mine, the Teachers on the inner side, if they are of the true order, w a st e not their time in supervising the details of the life of the aspirant. General supervision as to the line of work we may and do give, but the details of activity and the personal application of the law to the everyday life concerneth us not. We give the principles, we judge by results, we leave time and then painful working out of karmic effects to teach the needed lessons. But, in work such as you are doing, which is not work along ordinary lines but really work due to an inherent quality in the ego and in faculty engendered through many lives of withdrawing, certain things may be suggested. These suggestions are not prompted from the desire to see you as a personality make progress. That is but secondary. They are prompted by the need of the world for such teaching and the desire to use the apparatus that your bodies provide for the transmission of the needed teaching. In so desiring we seek to increase your response and to safeguard your bodies from any kind of danger. The instruments that we use receive expert care. Forget that not, and go forward fearlessly,—only remember, brother of mine, that safety lieth in conformity to the law and the wise following of any hints that we may give. With such as you the danger is not so much physical disaster, but lies in the fact that if the path of discretion is not followed we should simply cease to use you for the period of this incarnation. That would be sad, brother of mine, for the teaching is needed and you do provide an ever increasingly satisfactory apparatus,—not by any means perfect yet daily becoming more responsive and inclusive. Therefore I make the following suggestions, advising that for three months you follow them, judging at the close of the period yourself as to results.

Như bạn đã biết, huynh đệ của tôi, các vị Huấn sư ở nội giới, nếu thuộc về trật tự chân chính, không lãng phí thời gian để giám sát các chi tiết trong đời sống của người chí nguyện. Chúng tôi có thể và thực sự cung cấp sự giám sát tổng quát về hướng đi của công việc, nhưng những chi tiết của hoạt động và việc áp dụng cá nhân Định luật vào cuộc sống hàng ngày không phải là điều chúng tôi quan tâm. Chúng tôi đưa ra các nguyên tắc, đánh giá qua kết quả, để cho thời gian và những tác động nghiệp quả đau đớn dạy cho các bài học cần thiết. Nhưng, trong công việc mà bạn đang thực hiện—một công việc không theo những đường lối thông thường mà thực sự là kết quả của một phẩm tính nội tại trong chân ngã và một khả năng đã được hun đúc qua nhiều kiếp sống rút lui khỏi đời sống thế gian—một số điều có thể được đề xuất. Những gợi ý này không xuất phát từ mong muốn thấy bạn, với tư cách là một phàm ngã, đạt tiến bộ. Điều đó chỉ là thứ yếu. Chúng xuất phát từ nhu cầu của thế giới đối với sự giảng dạy như vậy và mong muốn sử dụng cơ cấu mà các thể của bạn cung cấp để truyền tải những giáo huấn cần thiết. Khi mong muốn như vậy, chúng tôi tìm cách gia tăng khả năng đáp ứng của bạn và bảo vệ các thể khỏi bất kỳ nguy hiểm nào. Các công cụ mà chúng tôi sử dụng được chăm sóc một cách chuyên nghiệp. Đừng quên điều đó và hãy tiến về phía trước không sợ hãi—chỉ cần nhớ, huynh đệ của tôi, rằng sự an toàn nằm ở việc tuân thủ Định luật và theo dõi một cách khôn ngoan bất kỳ gợi ý nào mà chúng tôi đưa ra. Đối với những người như bạn, nguy hiểm không nằm ở những thảm họa thể chất mà là ở thực tế rằng nếu con đường thận trọng không được tuân theo, chúng tôi sẽ đơn giản ngừng sử dụng bạn trong giai đoạn của kiếp sống này . Điều đó sẽ là điều đáng tiếc, huynh đệ của tôi, vì sự giảng dạy là cần thiết, và bạn đang cung cấp một công cụ ngày càng đáp ứng và bao trùm hơn—dù chưa hoàn hảo nhưng đang tiến bộ từng ngày. Do đó, tôi đưa ra các đề xuất sau và khuyên bạn nên tuân theo chúng trong ba tháng, sau đó tự đánh giá kết quả.

1 . Stop drinking tea, and try honey in boiling water as a substitute. The honey should be in quantity large else you will suffer from the lack of stimulant.

1. Ngừng uống trà và thử dùng mật ong pha nước sôi thay thế. Lượng mật ong nên đủ lớn, nếu không bạn sẽ bị thiếu chất kích thích.

2 . Rise ever at 5 o’clock and be ever in bed by 10 at the latest. Take always the same numbers of hours of repose. It bringeth the bodies under law. Seven hours sleep at present you need. Later less.

2. Hãy luôn dậy lúc 5 giờ sáng và không ngủ muộn hơn 10 giờ tối. Hãy duy trì số giờ nghỉ ngơi cố định. Điều đó sẽ giúp các thể vận hành theo luật. Hiện tại, bạn cần bảy giờ ngủ. Sau này sẽ cần ít hơn.

3 . The little daughter, when well, can sleep alone. Undisturbed slumber will be your wisest aim.

3. Khi con gái nhỏ của bạn khỏe mạnh, bé có thể ngủ một mình. Giấc ngủ không bị gián đoạn sẽ là mục tiêu sáng suốt nhất của bạn .

4 . I say not to you, avoid contact with your fellows. In many contacts and many lines of activity lieth the path of safety. Lack of balance resulteth from too close application to one line of thought. You are needed in several fields, but the necessary strength is forthcoming.

4. Tôi không bảo bạn tránh tiếp xúc với người khác. Con đường an toàn nằm ở nhiều mối liên hệ và nhiều lĩnh vực hoạt động. Việc mất cân bằng là kết quả của sự tập trung quá mức vào một dòng tư tưởng. Bạn được cần đến trong nhiều lĩnh vực, nhưng sức mạnh cần thiết sẽ đến khi cần.

5 . Abstain from all drugs and narcotics. The head centers are working and need therefore safeguarding. In the elimination of stimulants, in the necessary hours of sleep and the cultivation of physical poise (such as slow walking, gentle speech, and regulated hours) cometh the health sufficient unto the work. Each year will see you stronger. Have no fear.

5. Tránh tất cả các loại ma tuý và chất gây nghiện. Các trung tâm ở đầu đang hoạt động và do đó cần được bảo vệ. Trong việc loại bỏ các chất kích thích, duy trì số giờ ngủ cần thiết và phát triển sự thăng bằng thể chất (như đi bộ chậm, lời nói nhẹ nhàng và giờ giấc điều độ) sẽ đến sức khỏe đủ để phục vụ công việc. Mỗi năm bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đừng sợ hãi.

If you conform to these suggestions, brother of mine, as regard your physical plane life, you will increase your capacity for service. One further hint I give—eggs are not for you. I think you will recollect that two years ago I made the same suggestion.

Nếu bạn tuân theo những gợi ý này trong đời sống cõi trần, huynh đệ của tôi, bạn sẽ gia tăng năng lực phụng sự. Một gợi ý nữa tôi đưa ra— trứng không phù hợp với bạn . Tôi nghĩ bạn còn nhớ rằng hai năm trước tôi cũng đã đưa ra đề xuất tương tự.

If you will eliminate fear of all kinds, and aim at being only a channel for the love of the Master, then you will achieve the needed point of astral poise. It will tend to the regulation of your astral plane life.

Nếu bạn loại bỏ mọi nỗi sợ hãi và chỉ nhắm đến việc trở thành một kênh cho tình thương của Chân sư, thì bạn sẽ đạt được điểm quân bình cần thiết trên cõi cảm dục. Điều đó sẽ giúp điều chỉnh đời sống cảm dục của bạn.

A s regards your mental plane life for you there must be hard stern thinking, the wrestling with problems; good literature of all kinds you should read,—poetry, good books, novels and books that educate. So much reading of the short unilluminating story in the current periodical is hardly worthy of your mental body. It resembleth the man who sought to feed his children on husks—unnourishing, harsh and unsuitable.

Về đời sống trí tuệ của bạn , cần có sự suy tư nghiêm túc và nỗ lực đấu tranh với các vấn đề; bạn nên đọc những tác phẩm văn học có giá trị—thơ ca, sách hay, tiểu thuyết và những cuốn sách có tính giáo dục. Việc đọc quá nhiều những câu chuyện ngắn kém minh triết trên các tạp chí đương thời thì không xứng đáng với thể trí của bạn . Nó giống như một người cố gắng nuôi con mình bằng vỏ trấu—vô bổ, khô khan và không thích hợp.

N o w we will continue with some occult sentences before going on with the lesson for today on the specific gravity, the content, and the circumference of the causal body.

Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục với một số câu huyền môn trước khi đi vào bài học hôm nay về trọng lượng riêng, nội dung và chu vi của thể nguyên nhân.

The end of the text removed from the book.

Kết thúc phần bổ sung

[Commentary 9]

The Specific Gravity and Content of the Causal Body.—Tỷ trọng và Nội dung của Thể Nguyên nhân.

This subject, anent the causal body, opens up for the thinker much food for speculation. The literal figures and the dimensional lines cannot be given. They form one of the secrets of initiation but certain ideas may be suggested and submitted to the consideration of all interested.

Chủ đề này, liên quan đến thể nguyên nhân, mở ra cho nhà tư tưởng nhiều điều đáng suy ngẫm. Các con số chính xác và các chiều cạnh không thể được công bố. Chúng tạo thành một trong những bí mật của điểm đạo nhưng một số ý tưởng có thể được gợi ý và đệ trình để những ai quan tâm cân nhắc.

Just what do you mean when you speak of the causal body? Say not glibly, the body of causes, for words thus spoken are oft but nebulous and vague. Let us now consider the causal body and find out its component parts.

Khi các bạn nói về thể nguyên nhân, các bạn thực sự muốn nói gì? Đừng nói ngay rằng đó là thể của các nguyên nhân, vì những lời nói như vậy thường chỉ là mơ hồ và không rõ ràng. Bây giờ, hãy xem xét thể nguyên nhân và tìm ra các phần cấu thành của nó.

On the involutionary path you have what is termed the Group Soul, aptly described (as far as earth words permit) as a collection of triads, enclosed in a triple envelop of monadic essence. On the evolutionary path, groups of causal bodies correspond and are similarly composed, three factors entering in. [30]

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, các bạn có điều được gọi là Hồn nhóm, được mô tả thích đáng (trong mức độ ngôn từ trần thế cho phép) như một tập hợp các tam nguyên, được bao bọc trong một lớp vỏ tam phân của tinh chất chân thần. Trên con đường tiến hoá, cũng các nhóm thể nguyên nhân tương ứng và được cấu thành tương tự, với ba yếu tố tham dự. [30]

The causal body is a collection of permanent atoms, three in all, enclosed in an envelop of mental essence…. What happens at the moment when animal-man becomes a thinking entity, a human being? The approximation of the self and the not-self by means of mind, for man is “that being in whom highest spirit and lowest matter are linked together by intelligence.” What do I mean by this phrase? Just this: that when animal-man had reached a point of adequacy; when his physical body was sufficiently co-ordinated, when he had an emotional or desire nature sufficiently strong to form a basis for existence, and to guide it by means of instinct, and when the germ of mentality was sufficiently implanted to have donated the instinctive memory and correlation of ideas that can be seen in the average domesticated animal, then the descending spirit (which had taken to itself an atom on the mental plane) judged the time ripe for taking possession of the lower vehicles. The Lords of the Flame were called in and they effected the transfer of polarisation from the lower atom of the Triad to the lowest atom of the Personality. Even then, the indwelling Flame could come no lower than the third subplane of the mental plane. The life of the first Logos must be blended with that of the second Logos and based on the activity of the third Logos.

Thể nguyên nhân là một tập hợp các nguyên tử trường tồn, tổng cộng ba nguyên tử, được bao bọc trong một lớp vỏ bằng tinh chất cõi trí…. Điều gì xảy ra vào khoảnh khắc khi người thú trở thành một thực thể biết tư duy, một con người? Đó là sự xích lại gần nhau giữa ngã và phi-ngã nhờ phương tiện là thể trí, vì con người là “thực thể mà trong đó tinh thần cao nhất và vật chất thấp nhất được liên kết với nhau bởi trí tuệ.” Tôi muốn nói gì qua cụm từ này? Chỉ điều này: rằng khi người thú đã đạt đến một mức độ đầy đủ; khi thể xác của y đã được phối hợp đủ mức, khi y có một bản chất cảm xúc hay dục vọng đủ mạnh để làm nền tảng cho sự tồn tại, và để hướng dẫn sự tồn tại ấy bằng bản năng, và khi mầm mống trí tuệ đã được cấy đủ để ban tặng ký ức bản năng và sự liên hệ các ý niệm—điều có thể thấy nơi con vật đã được thuần hoá trung bình—thì tinh thần đang giáng xuống (vốn đã nhận lấy cho mình một nguyên tử trên cõi trí) xét thấy thời điểm đã chín muồi để chiếm hữu các vận cụ thấp. Các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa được thỉnh mời và Các Ngài đã thực hiện sự chuyển dịch phân cực từ nguyên tử thấp của Tam Nguyên sang nguyên tử thấp nhất của phàm ngã. Ngay cả khi ấy, Ngọn Lửa nội tại cũng không thể xuống thấp hơn cõi phụ thứ ba của cõi trí. Sự sống của Thượng đế thứ nhất phải được hoà trộn với sự sống của Thượng đế thứ hai và đặt nền trên hoạt động của Thượng đế thứ ba.

Therefore, you have at the moment of individualisation, which is the term used to express this hour of contact, on the third subplane of the mental plane a point of light, enclosing three atoms, and itself enclosed in a [31] sheath of mental matter. The work then to be done consists of:

Vì vậy, vào khoảnh khắc biệt ngã hoá—là thuật ngữ dùng để diễn tả giờ phút tiếp xúc này—trên cõi phụ thứ ba của cõi trí có một điểm sáng, bao bọc ba nguyên tử, và tự nó lại được bao bọc trong một lớp vỏ [31] bằng vật chất thể trí. Khi ấy, công việc cần làm gồm có:

1. Causing that point of light to become a flame, by steadily fanning the spark and feeding the fire.

1. Làm cho điểm sáng ấy trở thành một ngọn lửa, bằng cách đều đặn quạt bùng tia lửa và nuôi dưỡng ngọn lửa.

2. Causing the causal body to grow and expand from being a colourless ovoid, holding the Ego like a yolk within the egg-shell, to a thing of rare beauty, containing within itself all the colour of the rainbow. This is an occult fact. The causal body will palpitate in due course of time with an inner irradiation, and an inner glowing flame that will gradually work its way from the centre to the periphery. It will then pierce through that periphery, using the body (that product of millennia of lives of pain and endeavour) as fuel for its flames. It will burn all up, it will mount upward to the Triad, and (becoming one with that Triad) will be re-absorbed into the spiritual consciousness,—will carry with it—using heat as the symbol—an intensity of heat or quality of colour or vibration that before were lacking.

2. Làm cho thể nguyên nhân lớn lên và mở rộng, từ chỗ là một hình bầu dục không màu, giữ Chân ngã như lòng đỏ ở bên trong vỏ trứng, trở thành một vật hiếm có tuyệt mỹ, chứa trong nó mọi sắc màu của cầu vồng. Đây là một sự kiện huyền bí. Theo thời gian, thể nguyên nhân sẽ rung động với một sự chiếu rọi nội tại, và một ngọn lửa rực sáng bên trong sẽ dần dần đi từ trung tâm ra đến chu vi. Rồi nó sẽ xuyên thủng chu vi ấy, dùng chính thể (sản phẩm của hàng thiên niên kỷ những kiếp sống đau khổ và nỗ lực) làm nhiên liệu cho ngọn lửa của nó. Nó sẽ thiêu rụi tất cả, nó sẽ vươn lên Tam Nguyên, và (trở thành một với Tam Nguyên ấy) sẽ được tái hấp thụ vào tâm thức tinh thần,—sẽ mang theo vonó—lấy nhiệt làm biểu tượng—một cường độ nhiệt hay phẩm tính màu sắc hay rung động mà trước đó còn thiếu.

Therefore the work of the Personality—for we have to view all from that angle until egoic vision may be ours,—is first to beautify, build and expand the causal body; secondly to withdraw within it the life of the Personality, sucking the good out of the personal life and storing it in the body of the Ego. We might term this the Divine Vampirism, for always evil is but the other side of good. Then, having accomplished this, comes the application of the flame to the causal body itself and the joyous standing by whilst the work of destruction goes on, and the Flame—the live inner man and the spirit of divine life—is set free and mounts to its source.

Vì vậy, công việc của phàm ngã—vì chúng ta phải nhìn mọi việc từ góc độ ấy cho đến khi linh thị chân ngã có thể là của chúng ta,—trước hết là làm đẹp, xây dựng và mở rộng thể nguyên nhân; thứ hai là rút sự sống của phàm ngã vào trong đó, hút lấy điều thiện từ đời sống cá nhân và tích trữ nó trong thể của Chân ngã. Ta có thể gọi điều này là Sự Hút Máu Thiêng Liêng, vì điều ác luôn chỉ là mặt kia của điều thiện. Khi đã hoàn tất điều ấy, sẽ đến việc áp dụng ngọn lửa lên chính thể nguyên nhân và vui mừng đứng bên trong khi công việc huỷ diệt diễn ra, và Ngọn Lửa—con người nội tại sống động và tinh thần của sự sống thiêng liêng—được giải phóng và vươn lên về nguồn của nó.

[Commentary 10]

The specific gravity of the causal body fixes the moment of emancipation and marks the time when the work of beautifying and building is completed, when the [32] Temple of Solomon is erected, and when the weight (occultly understood) of the causal body measures up to the standard looked for by the Hierarchy. Then the work of destruction supervenes and liberation approaches. Spring has been experienced, the full verdure of summer has succeeded, now must be felt the disintegrating force of autumn,—only this time it is felt and applied on mental levels and not on physical. The axe is laid to the root of the tree, but the life essence is garnered into the divine storehouse.

Tỷ trọng của thể nguyên nhân ấn định khoảnh khắc giải thoát và đánh dấu thời điểm khi công việc làm đẹp và xây dựng đã hoàn tất, khi [32] Đền thờ Solomon được dựng lên, và khi trọng lượng (được hiểu theo nghĩa huyền bí) của thể nguyên nhân đo đạt đến tiêu chuẩn mà Thánh Đoàn trông đợi. Khi ấy, công việc huỷ diệt sẽ tiếp diễn và sự giải thoát đến gần. Mùa xuân đã được trải nghiệm, sắc xanh tràn đầy của mùa hạ đã nối tiếp, giờ đây phải cảm nhận mãnh lực phân rã của mùa thu,—nhưng lần này nó được cảm nhận và áp dụng trên các cấp độ thể trí chứ không phải trên hồng trần. Lưỡi rìu đã đặt vào gốc cây, nhưng tinh chất sự sống được thu góp vào kho tàng thiêng liêng.

The content of the causal body is the accumulation by slow and gradual process of the good in each life. The building proceeds slowly at first, but towards the end of incarnation,—on the Probationary Path and on the Path of Initiation—the work proceeds rapidly. The structure has been reared, and each stone quarried in the personal life. On the Path, in each of its two divisions [ t y p escript has: o n the Probationary Path and on the Path of Initiation], th e work of completing and beautifying the Temple proceeds with greater rapidity . When writing the book that this material is intended [for] as foundation you can,—without my h elp—enlarge on method and process. Emphasise the fact that toward the period of completion the Thinker worketh with the law and consciously applieth.

Nội dung của thể nguyên nhân là sự tích luỹ, qua một tiến trình chậm rãi và dần dần, của điều thiện trong mỗi kiếp sống. Việc xây dựng lúc đầu tiến hành chậm, nhưng về cuối của một kiếp lâm phàm,—trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo—công việc tiến hành nhanh chóng. Cấu trúc đã được dựng lên, và mỗi viên đá đều được khai thác trong đời sống cá nhân. Trên Con Đường, trong mỗi một trong hai phân bộ của nó [bản đánh máy có: trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo] , công việc hoàn tất và làm đẹp Đền thờ tiến hành với tốc độ lớn hơn…. Khi viết cuốn sách mà chất liệu này được dự định làm nền tảng, bạn có thể,—không cần sự giúp đỡ của tôi—mở rộng về phương pháp và tiến trình. Hãy nhấn mạnh sự kiện rằng, về cuối giai đoạn hoàn tất, Người Tư Duy làm việc với định luật và áp dụng một cách hữu thức.

Briefly and in conclusion of this matter, I would seek to point out that the circumference of the causal body varies according to type and ray. Some egoic bodies are of a form more circular than others; some are more ovoid, and others more elongated in shape. It is the content and the pliability that matter, and above all the occult permeability of the lower auric egg that permits of contact with other egos, yet retains identity; that merges itself with its fellows, yet preserves individuality; and that absorbs all that is desirable, yet keeps ever its own shape.

Tóm lược và để kết thúc vấn đề này, tôi muốn chỉ ra rằng chu vi của thể nguyên nhân thay đổi tuỳ theo loại và cung. Một số thể chân ngã có hình dạng tròn hơn những thể khác; một số bầu dục hơn, và một số khác thì thuôn dài hơn. Điều quan trọng là nội dung và tính mềm dẻo, và trên hết là tính thẩm thấu huyền bí của noãn hào quang thấp cho phép tiếp xúc với các chân ngã khác mà vẫn giữ được bản sắc; hoà nhập với các đồng loại mà vẫn bảo toàn tính cá biệt; và hấp thụ mọi điều đáng mong muốn mà vẫn luôn giữ hình dạng riêng của nó.

June 16, 1920.

Ngày 16 tháng 6 năm 1920.

J u n e 16th, 1920. 3 pm.

Ngày 16 tháng 6 năm 1920, 3 giờ chiều.

Y o u can write today, brother of mine, only see to it you go to bed early tonight; this book on meditation is of importance and formeth part of a plan whose consummation is as yet unseen by you. The sentence [i.e. a fragment from occult Archives] yesterday may wisely be despatched for publication. Collect these sentences you get, and in book form later publish. More will come to you and in their publication cometh recognition—a recognition that is needed if you are to teach as wished and reach those whose karma it is to be reached by you.

Hôm nay bạn có thể viết, huynh đệ của tôi, chỉ cần đảm bảo rằng tối nay bạn đi ngủ sớm; quyển sách về tham thiền này rất quan trọng và là một phần của một kế hoạch mà sự hoàn thành của nó hiện vẫn chưa hiển lộ đối với bạn. Câu [tức là một đoạn trích từ Kho lưu trữ nội môn] mà bạn nhận được hôm qua có thể được gửi đi xuất bản một cách khôn ngoan. Hãy thu thập những câu mà bạn nhận được và sau này xuất bản dưới dạng sách. Sẽ có thêm nhiều câu đến với bạn, và việc xuất bản chúng sẽ mang lại sự công nhận—một sự công nhận cần thiết nếu bạn muốn giảng dạy như mong muốn và tiếp cận những người có nghiệp duyên cần được bạn tiếp cận.

A s regards these later sentences you need have no inner qualms as regards their fathering. You rightly felt that in some ways you got them differently than you did the other dictated material. They are more yours than you think. In transcribing them they come largely from your own ego, aided by me in transmission. In this type of work we are only assisting the working down to the physical brain of direct impress from your Higher Self. At present you need the heightening of vibration that my presence affecteth in order to receive. Later, if success attend this effort, you may be able to transcribe alone, but no strain is being permitted and time will demonstrate.

Về những câu sau này, bạn không cần phải băn khoăn về nguồn gốc của chúng. Bạn đã cảm nhận đúng rằng bằng một cách nào đó, bạn tiếp nhận chúng khác với những tài liệu được truyền đạt khác. Chúng thuộc về bạn nhiều hơn bạn nghĩ. Khi chép lại chúng, chúng phần lớn đến từ chính chân ngã của bạn, với sự hỗ trợ của tôi trong việc truyền tải. Trong loại công việc này, chúng tôi chỉ hỗ trợ quá trình hạ xuống não bộ vật lý những ấn tượng trực tiếp từ Chân Thần của bạn. Hiện tại, bạn cần sự gia tăng rung động mà sự hiện diện của tôi tác động để có thể tiếp nhận. Sau này, nếu nỗ lực này thành công, bạn có thể tự mình chép lại, nhưng không có áp lực nào được phép đặt lên bạn, và thời gian sẽ chứng minh điều đó.

T a k e now my dictation.

Bây giờ hãy nhận sự truyền đạt của tôi.

4—Condition of the Causal Body—Tình trạng của Thể Nguyên nhân.

The fourth factor underlying the choice of a method [33] of meditation is our subject today and consists of the condition of the causal body.

Yếu tố thứ tư nằm dưới sự lựa chọn một phương pháp [33] tham thiền là chủ đề hôm nay của chúng ta và gồm tình trạng của thể nguyên nhân.

We have dealt with the causal body in its relationship to the Personality or lower self, showing the interplay between the two and their interdependence. Through steady application to occult meditation, and through the gradual stilling of the lower mind, through concentration and the wise following of the egoic ray meditation, balanced by the personality ray mediation, we found that the relationship of the causal body to the Personality became ever closer and the channel connecting the two became ever more clear and adequate. This resulted eventually, we saw, in a shifting of polarisation from the lower to the higher and later to complete emancipation from both,—centralisation ensuing then in the spiritual consciousness. We dealt with the matter from the lower point of view, seeing it from the standpoint of a man in the three worlds.

Chúng ta đã bàn về thể nguyên nhân trong mối liên hệ của nó với phàm nhân hay phàm ngã, cho thấy sự tương tác giữa hai bên và tính phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Nhờ sự áp dụng tham thiền huyền bí một cách kiên trì, và nhờ sự dần dần làm lắng yên hạ trí, nhờ tập trung và theo đuổi khôn ngoan việc hành thiền theo cung chân ngã, được quân bình bởi việc hành thiền theo cung phàm ngã, chúng ta thấy rằng mối liên hệ của thể nguyên nhân với phàm ngã ngày càng khắng khít, và kênh nối giữa hai bên ngày càng rõ ràng và đầy đủ. Kết quả cuối cùng, như chúng ta đã thấy, là sự chuyển dịch phân cực từ thấp lên cao và sau đó là sự giải thoát hoàn toàn khỏi cả hai,—khi ấy sự tập trung hoá diễn ra trong tâm thức tinh thần. Chúng ta đã xử lý vấn đề từ quan điểm thấp, nhìn nó từ lập trường của một con người trong ba cõi thấp.

Today we will deal with the matter from the standpoint of the Higher Self, from the egoic level, and consider the relationship of that Self to the Hierarchy, to surrounding egos, and to the Spirit. It will be difficult to do more than give some few hints, for much that I could say would be little comprehended, and much be too occult and dangerous for general communication.

Hôm nay chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề từ lập trường của Bản Ngã Cao Siêu, từ cấp độ chân ngã, và xét mối liên hệ của Bản Ngã ấy với Thánh Đoàn, với các chân ngã xung quanh, và với Tinh thần. Sẽ khó làm gì hơn ngoài việc đưa ra một vài gợi ý, vì nhiều điều tôi có thể nói sẽ ít được thấu hiểu, và nhiều điều quá huyền bí và nguy hiểm để truyền đạt rộng rãi.

Three things may be imparted, which—when wisely meditated upon—may lead to illumination:

Có thể truyền đạt ba điều, mà—khi được tham thiền một cách khôn ngoan—có thể dẫn đến sự soi sáng:

The Ego on its own plane, realises consciously its relationship to the Master, and seeks to transmit that consciousness to the Personality.

Chân ngã trên cõi của chính nó, chứng nghiệm hữu thức mối liên hệ của nó với Chân sư, và tìm cách truyền tâm thức ấy xuống phàm ngã.

The Higher self on its own plane, is not trammeled by time and space, and (knowing the future as well as that which is past) seeks to bring the desired end nearer and make it more rapidly a fact. [34]

Bản Ngã Cao Siêu trên cõi của chính nó, không bị trói buộc bởi thời gian và không gian, và (biết tương lai cũng như điều đã qua) tìm cách đưa mục tiêu mong muốn đến gần hơn và làm cho nó nhanh chóng trở thành một sự thật. [34]

The Higher Self or Ego on its own plane has direct relationship with other egos on the same ray, and on a corresponding concrete or abstract ray, and—realising that progress is made in group formation—works on that plane at the helping of his kind. These facts are already half apprehended among students but by a slight elaboration I may make it clearer.

Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã trên cõi của chính nó có mối liên hệ trực tiếp với các chân ngã khác trên cùng một cung, và trên một cung cụ thể hay trừu tượng tương ứng, và—nhận ra rằng tiến bộ được tạo ra trong sự hình thành nhóm—làm việc trên cõi ấy để trợ giúp đồng loại của y. Những sự kiện này đã được các đạo sinh nắm bắt một nửa, nhưng qua sự triển khai thâm chút ít, tôi có thể làm cho nó rõ hơn.

Relationship of the Ego to the Hierarchy.—Mối quan hệ của Chân ngã với Thánh đoàn.

The relationship of the Ego to some one Master is at this stage consciously realised, but is nevertheless, itself of evolutionary development. As we have been told, there are sixty thousand million units of consciousness or spirits in the evolving human hierarchy. These are found on causal levels, though the numbers are slightly less now, owing to the attainment of the fourth Initiation by individuals from time to time. These egos at different stages of development are all linked with their Monad, Spirit or Father in Heaven, in much the same way (only in finer matter) as the Ego is linked with the Personality.

Ở giai đoạn này, mối liên hệ của Chân ngã với một Chân sư nào đó được chứng nghiệm một cách hữu thức, nhưng dẫu vậy, chính nó vẫn thuộc về sự phát triển tiến hoá. Như chúng ta đã được dạy, có sáu mươi tỷ đơn vị tâm thức hay tinh thần trong Huyền Giai nhân loại đang tiến hoá. Chúng được tìm thấy trên các cấp độ nguyên nhân, dù con số hiện nay hơi ít hơn, do việc các cá nhân thỉnh thoảng đạt đến lần điểm đạo thứ tư. Các chân ngã này ở những giai đoạn phát triển khác nhau đều được liên kết với chân thần của mình, Tinh thần hay Cha trên Trời, gần giống như cách (chỉ là trong vật chất tinh tế hơn) mà Chân ngã được liên kết với phàm ngã.

All the Monads are, as you know, under the control, or rather form part, of the consciousness of one of the Planetary Spirits. On egoic levels, the egos are in a similar condition. An Adept of their ray supervises their general evolution, dealing with them in groups. These groups are formed under three conditions:

Như các bạn biết, tất cả các chân thần đều nằm dưới sự cai quản, hay đúng hơn là tạo thành một phần, của tâm thức của một trong các Hành Tinh Thượng đế. Trên các cấp độ chân ngã, các chân ngã cũng ở trong một tình trạng tương tự. Một Chân sư của cung của họ giám sát sự tiến hoá chung của họ, xử lý họ theo nhóm. Các nhóm này được hình thành dưới ba điều kiện:

a—As to sub-ray of the egoic ray.

a—Xét theo cung phụ của cung chân ngã.

b—As to period of individualisation or of entrance into the human kingdom.

b—Xét theo thời kỳ biệt ngã hoá hay thời điểm bước vào giới nhân loại.

c—As to point of attainment.

c—Xét theo điểm thành tựu.

The Adept of their ray handles the general supervision but under Him work the Masters each on His own ray, and with Their own individual groups, who are affiliated with Them through period, through karma and [35] through point of vibration. Under the Masters work the disciples who have the consciousness of the Higher Self, and are therefore able to work on causal levels and aid in the development of those egos whose causal bodies are less developed than their own.

Chân sư của cung của họ đảm trách sự giám sát chung, nhưng dưới Ngài có các Chân sư làm việc, mỗi Ngài trên cung riêng của Ngài, và với các nhóm cá biệt của Các Ngài, vốn liên kết với Các Ngài qua thời kỳ, qua nghiệp quả và [35] qua điểm rung động. Dưới các Chân sư làm việc có các đệ tử có tâm thức của Chân ngã, và vì vậy có thể làm việc trên các cấp độ nguyên nhân và trợ giúp sự phát triển của những chân ngã có thể nguyên nhân kém phát triển hơn của họ.

All is beautifully subject to law, and as the work of developing the egoic body is dependent upon the progress made in the threefold personality, the Ego is consequently aided on lower levels by two different disciples, one working on emotional levels and reporting to another disciple who works upon the mental vehicle. He in his turn reports to the disciple with causal consciousness, who reports again to the Master. All this is done with the co-operation of the indwelling consciousness in the causal body. This, as you see, entails five factors concerning themselves with the aiding of the Ego in his evolutionary development:

Mọi sự đều tuân theo định luật một cách tuyệt đẹp, và vì công việc phát triển thể chân ngã tuỳ thuộc vào tiến bộ đạt được trong phàm ngã tam phân, nên Chân ngã được trợ giúp trên các cấp độ thấp bởi hai đệ tử khác nhau, một người làm việc trên các cấp độ cảm xúc và báo cáo cho một đệ tử khác làm việc trên thể trí. Người này đến lượt mình báo cáo cho đệ tử có tâm thức nguyên nhân, và người ấy lại báo cáo cho Chân sư. Tất cả điều này được thực hiện với sự hợp tác của tâm thức nội tại trong thể nguyên nhân. Như các bạn thấy, điều này kéo theo năm yếu tố liên quan đến việc trợ giúp Chân ngã trong sự phát triển tiến hoá của y:

l—The Adept of his Ray.

l—Chân sư của cung của y.

2—The Master of his group.

2—Chân sư của nhóm của y.

3—A disciple with causal consciousness.

3—Một đệ tử có tâm thức nguyên nhân.

4—A disciple on the mental plane.

4—Một đệ tử trên cõi trí.

5—A helper on the emotional plane.

5—Một người trợ giúp trên cõi cảm xúc.

For a long period of lives the Ego remains practically unconscious of the Personality. The magnetic link exists, but that is all until the time comes when the personal life reaches a point where it has somewhat to add to the content of the causal body—a body at first small, colourless and insignificant. But the hour comes when the stones are first brought perfected from the quarry of the personal life, and the first colours are painted in by the man, the builder and the artist. Then the Ego begins to give attention, rarely at first, but with increasing frequency, until lives come around in which the Ego [36] definitely works at the subjugation of the lower self, at the enlargement of the communicating channel, and at the transmission to the physical brain consciousness of the fact of its existence and the goal of its being. Once that is accomplished, and the inner fire is freer in its passage, lives are then given to the stabilising of that impression, and to the making of that inner consciousness a part of the conscious life. The flame radiates downward more and more until gradually the different vehicles come into line, and the man stands on the Probationary Path. He is ignorant yet of what lies ahead, and is conscious only of wild and earnest aspiration and of innate divine longings. He is eager to make good, longing to know, and dreaming always of someone or something higher than himself. All this is backed by the profound conviction that in service to humanity will the dreamed-of goal be reached, will the vision become reality, the longing fructify into satisfaction, and aspiration be merged in sight.

Trong một thời kỳ dài của nhiều kiếp sống, Chân ngã hầu như không ý thức về phàm ngã. Mối liên kết từ tính tồn tại, nhưng chỉ có thế, cho đến khi thời điểm đến khi đời sống cá nhân đạt đến một mức mà nó có thể đóng góp phần nào vào nội dung của thể nguyên nhân—một thể lúc đầu nhỏ bé, không màu và không đáng kể. Nhưng giờ phút đến khi những viên đá đầu tiên được mang đến, đã được hoàn thiện từ mỏ đá của đời sống cá nhân, và những màu sắc đầu tiên được người ấy—đấng kiến tạo và nghệ sĩ—tô vẽ vào. Khi ấy Chân ngã bắt đầu chú ý, lúc đầu hiếm hoi, nhưng với tần suất ngày càng tăng, cho đến khi có những kiếp sống mà Chân ngã [36] dứt khoát làm việc để khuất phục phàm ngã, để mở rộng kênh giao thông, và để truyền xuống tâm thức của bộ não hồng trần sự kiện về sự tồn tại của mình và mục tiêu của sự hiện hữu của mình. Khi điều đó đã hoàn thành, và nội hoả được tự do hơn trong sự lưu thông, thì các kiếp sống được dành cho việc ổn định ấn tượng ấy, và làm cho tâm thức nội tại ấy trở thành một phần của đời sống hữu thức. Ngọn lửa bức xạ xuống ngày càng nhiều cho đến khi các vận cụ khác nhau dần dần chỉnh hợp, và con người đứng trên Con Đường Dự Bị. Y còn chưa biết điều gì ở phía trước, và chỉ ý thức về khát vọng mãnh liệt và chân thành cùng những khao khát thiêng liêng bẩm sinh. Y khao khát làm điều thiện, khao khát biết, và luôn mơ về một ai đó hay điều gì đó cao hơn chính mình. Tất cả điều này được nâng đỡ bởi niềm xác tín sâu xa rằng trong sự phụng sự nhân loại, mục tiêu mơ ước sẽ đạt được, tầm nhìn sẽ trở thành hiện thực, nỗi khao khát sẽ kết trái thành sự thoả mãn, và khát vọng sẽ hoà nhập vào sự thấy biết.

The Hierarchy begins to take action and his instruction is carried out as aforesaid…. Until now the Teachers have only watched and guided without definitely dealing with the man himself; all has been left to the Ego and the life divine to carry out the plan, the attention of the Masters being directed to the Ego on his own plane. The Ego bends every effort to quicken vibration, and to force the oft-rebelling lower vehicles to respond and measure up to the rapidly increasing force. It is largely a matter of increased fire or heat, and consequent intensification of vibratory capacity. The egoic fire waxes ever greater until the work is done, and the purificatory fire becomes the Light of Illumination. Ponder on this sentence. As above, so below; on each rung of the ladder the process is repeated; the [37] Monad, at the third Initiation, begins itself to be conscious of the Ego. The work, then, is more rapid owing to the rarity of the material and to the fact that resistance is a factor in the three worlds but not elsewhere.

Thánh Đoàn bắt đầu hành động và sự huấn luyện của y được thực hiện như đã nói ở trên…. Cho đến nay, các huấn sư chỉ quan sát và hướng dẫn mà không trực tiếp xử lý với chính người ấy; mọi sự được để cho Chân ngã và sự sống thiêng liêng thực hiện kế hoạch, còn sự chú ý của các Chân sư thì hướng về Chân ngã trên cõi của nó. Chân ngã dốc mọi nỗ lực để làm gia tăng rung động, buộc các vận cụ thấp vốn thường phản kháng phải đáp ứng và đáp ứng tương xứng với mãnh lực đang gia tăng nhanh chóng. Đây phần lớn là vấn đề gia tăng lửa hay nhiệt, và do đó tăng cường năng lực rung động. Lửa chân ngã ngày càng lớn cho đến khi công việc hoàn tất, và lửa thanh luyện trở thành Ánh Sáng Soi Sáng. Hãy suy ngẫm câu này. Trên sao, dưới vậy; trên mỗi nấc thang, tiến trình được lặp lại; chân thần, ở lần điểm đạo thứ ba, bắt đầu tự nó ý thức về Chân ngã. Khi ấy, công việc nhanh hơn do chất liệu tinh vi hơn và do sự kiện rằng kháng lực là một yếu tố trong ba cõi thấp nhưng không ở nơi khác.

Hence, pain ceases for a Master. That is, pain as we know it on earth, which is largely pain in matter. The pain that lies hid in comprehension, not resistance, is felt to the highest circles, yea, it reaches to the Logos Himself. But this is beside the point and well-nigh incomprehensible to you who are yet trammelled by matter.

Vì vậy, đau khổ chấm dứt đối với một Chân sư. Nghĩa là, thứ đau khổ như chúng ta biết trên cõi trần, vốn phần lớn là đau khổ trong vật chất. Còn nỗi đau ẩn tàng trong sự thấu hiểu, chứ không phải trong sự chống cự, thì được cảm nhận tới những cấp cao nhất; vâng, nó vươn tới chính Thượng đế. Nhưng điều này thì nằm ngoài trọng điểm và hầu như không thể hiểu nổi đối với các bạn, những người vẫn còn bị vật chất trói buộc.

Relationship of the Ego to its own development.—Mối quan hệ của Chân ngã với sự phát triển của chính nó.

The Ego seeks to bring about the desired end in three ways:—

Chân ngã tìm cách đưa mục tiêu mong muốn thành hiện thực theo ba cách:—

1—By definite work on abstract levels. It aspires to contact and enclose the permanent atom, its first direct approach to the Triad.

1—Bằng công việc xác định trên các cấp độ trừu tượng. Nó khao khát tiếp xúc và bao bọc nguyên tử trường tồn, là sự tiếp cận trực tiếp đầu tiên của nó với Tam Nguyên.

2—By definite work on colour and sound with the aim in view of stimulation and vivification, working thus in groups and under the guidance of a Master.

2—Bằng công việc xác định về màu sắc và âm thanh với mục tiêu là kích thích và tiếp sinh lực, làm việc như vậy theo nhóm và dưới sự hướng dẫn của một Chân sư.

3—By frequent attempts to definitely control the lower self, a thing distasteful to the Ego, whose tendency is to rest content with consciousness and aspiration on its own plane. Forget not that the Ego itself has somewhat to wrestle with. The refusal to incarnate is not found only on spiritual levels, but is found also on that of the Higher Self. Certain developments also, incidental to the factors of time and space (as understood in the three worlds) are aimed at by the Ego, such as the increase of the causal periphery through the study of divine telepathy, systemic psychology and the knowledge of the law of fire. [38]

3—Bằng những nỗ lực thường xuyên nhằm kiểm soát một cách xác định phàm ngã, điều mà Chân ngã không ưa, vì khuynh hướng của Chân ngã là an trú mãn nguyện với tâm thức và khát vọng trên cõi của chính nó. Đừng quên rằng chính Chân ngã cũng có điều phải vật lộn. Sự từ chối nhập thể không chỉ có trên các cấp độ tinh thần, mà cũng có trên cấp độ của Bản Ngã Cao Siêu. Một số sự phát triển khác nữa, phát sinh kèm theo các yếu tố thời gian và không gian (như được hiểu trong ba cõi thấp), cũng được Chân ngã nhắm đến, như việc gia tăng chu vi nhân thể thông qua việc nghiên cứu viễn cảm thiêng liêng, tâm lý học hệ thống và tri thức về định luật lửa. [38]

[Commentary 11]

Relationship of the Ego to other egos.—Mối quan hệ của Chân ngã với các chân ngã khác.

Certain things need to be remembered:—

Có một số điều cần ghi nhớ:—

The factor of periodicity. Egos that are in incarnation, and egos that are out of incarnation are differentiated and capable of different work. Egos whose reflections are in incarnation are more limited than those who are not. It is almost as if the Higher Self were directed downwards, or willingly circumscribing itself to three-dimensioned existence, whereas the egos out of incarnation are not so limited but work in another direction or dimension. The difference lies in the focusing of attention, during physical plane life. The matter is hard for you to grasp, is it not so? I scarcely know how to express the difference more clearly. It is perhaps as if the incarnating egos were more positive, and the non-incarnating egos more negative.

Yếu tố tính chu kỳ. Các chân ngã đang nhập thể và các chân ngã không nhập thể được phân biệt và có khả năng làm những công việc khác nhau. Các chân ngã có phản ảnh đang nhập thể bị giới hạn hơn những chân ngã không nhập thể. Gần như thể Bản Ngã Cao Siêu bị hướng xuống, hay tự nguyện thu hẹp mình vào sự tồn tại ba chiều, trong khi các chân ngã không nhập thể không bị giới hạn như vậy mà làm việc theo một hướng hay một chiều kích khác. Sự khác biệt nằm ở sự tập trung chú ý trong đời sống cõi hồng trần. Điều này khó để các bạn nắm bắt, phải không? Tôi hầu như không biết diễn đạt sự khác biệt ấy rõ hơn thế nào. Có lẽ như thể các chân ngã đang nhập thể thì dương tính hơn, còn các chân ngã không nhập thể thì âm tính hơn.

The factor of activity. This is largely a matter of ray, and affects closely the relationship between egos. Those on similar rays coalesce and vibrate more readily to each other than those on different rays, and it is only as the second or wisdom aspect is developed that synthesis becomes possible.

Yếu tố hoạt động. Điều này phần lớn là vấn đề cung, và ảnh hưởng chặt chẽ đến mối liên hệ giữa các chân ngã. Những người trên các cung tương tự hoà nhập và rung động với nhau dễ dàng hơn những người trên các cung khác nhau, và chỉ khi phương diện thứ hai hay phương diện minh triết được phát triển thì sự tổng hợp mới trở nên khả hữu.

On the third subplane of the mental plane egos are separated into groups—individual separation exists not, but group separation can be felt, incidental to ray and point in evolution.

Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, các chân ngã được phân thành nhóm—không có sự phân cách cá nhân, nhưng có thể cảm nhận sự phân cách theo nhóm, phát sinh do cung và điểm tiến hoá.

On the second subplane the groups become merged and blend, and from their forty-nine groups are formed (by merging) forty-two. The process of synthesis might be tabulated as follows:

Trên cõi phụ thứ hai, các nhóm hoà nhập và dung hợp, và từ bốn mươi chín nhóm của chúng hình thành (do hoà nhập) bốn mươi hai nhóm. Tiến trình tổng hợp có thể được lập bảng như sau:

Mental plane

1st subplane

35 groups

7×5

Cõi trí

Cõi phụ thứ nhất

35 nhóm

7×5

2nd subplane

42 groups

7×6

Cõi phụ thứ hai

42 nhóm

7×6

3rd subplane

49 groups

7×7

Cõi phụ thứ ba

49 nhóm

7×7

Buddhic plane

3rd subplane

28 groups

7×4

Cõi Bồ đề

Cõi phụ thứ ba

28 nhóm

7×4

1st subplane

21 groups

7×3

Cõi phụ thứ nhất

21 nhóm

7×3

Atmic plane

1st subplane

14 groups

7×2

Cõi atma

Cõi phụ thứ nhất

14 nhóm

7×2

Monadic plane

7 great groups

Cõi chân thần

7 nhóm vĩ đại

I have given a few hints here. It is so little, compared with what will later be known when those of you now studying expand the consciousness still further, but it is all I can as yet impart, and only this has been given with the intent of showing how much has to be considered, when meditation forms are duly set by a Master. He has to take into wise consideration the egoic ray, and the condition of the causal body in its relationship to the lower self and to the Hierarchy. The state of the body must be known, and its content; its relationship to other egos must be duly considered, for all is in group formation. Meditation must therefore be given which is in line with the group to which the Ego is assigned, for as each man meditates he contacts not only his own Ego but also his egoic group, and through that group the Master to Whom he is consequently linked, though the efficacy of a meditation depends upon the work being done in an occult manner and under law. The group significance of meditation is little understood, but the above thoughts are commended to you for your wise study.

Tôi đã đưa ra một vài gợi ý ở đây. Nó thật ít ỏi so với những gì sau này sẽ được biết đến khi những bạn đang nghiên cứu hiện nay mở rộng tâm thức thêm nữa, nhưng đó là tất cả những gì tôi có thể truyền đạt cho đến nay, và điều này chỉ được đưa ra với ý định cho thấy cần phải cân nhắc bao nhiêu điều khi một Chân sư thiết lập phương pháp tham thiền một cách đúng đắn. Ngài phải cân nhắc một cách khôn ngoan về cung chân ngã, và tình trạng của thể nguyên nhân trong mối quan hệ của nó với phàm ngã và với Thánh đoàn. Trạng thái của thể đó phải được biết rõ, cũng như nội dung của nó; mối quan hệ của nó với các chân ngã khác phải được xem xét kỹ lưỡng, vì tất cả đều nằm trong sự hình thành nhóm. Do đó, phương pháp thiền phải được đưa ra sao cho phù hợp với nhóm mà Chân ngã đó được chỉ định, vì khi mỗi người tham thiền, y không chỉ tiếp xúc với Chân ngã của chính mình mà còn với nhóm chân ngã của y, và thông qua nhóm đó tiếp xúc với Chân sư mà y được liên kết theo đó, mặc dù hiệu quả của phương pháp thiền phụ thuộc vào việc công phu được thực hiện theo cách thức huyền bí và tuân theo định luật. Ý nghĩa nhóm của sự tham thiền ít được thấu hiểu, nhưng những tư tưởng trên đây được gửi đến các bạn để các bạn nghiên cứu một cách khôn ngoan.

June 17, 1920

Ngày 17 tháng 6 năm 1920

5—Immediate Need of Period and Man’s Availability—Nhu cầu Cấp thiết của Giai đoạn và Sự sẵn sàng của Con người.

Today we will consider factor five in deciding methods of Meditation, and will deal with the need of the particular period and the suitability of the man to meet the need.

Hôm nay chúng ta sẽ xét yếu tố thứ năm trong việc quyết định các phương pháp Tham Thiền, và sẽ bàn về nhu cầu của thời kỳ đặc thù và sự thích hợp của con người để đáp ứng nhu cầu ấy.

Let us first of all briefly recapitulate, for the value of reiteration is profound. We have taken up briefly the [40] factor of the egoic ray, as it is considered by a teacher in assigning a meditation, and we have seen how each ray aimed at the same goal along a different route, and that each ray necessitated a different type of meditation. We have touched on the modification of the meditation through consideration of the personality ray. Then we took up the factor of time as shown in the causal body, its point of development, and the relationship of that body to its three lower expressions, finishing yesterday with a few brief hints anent the causal body on its own level and its scope of consciousness. All this will have indicated to you how wise must be the teacher who presumes to indicate meditation. One point I would here interpolate:—No meditation that is truly and occultly suitable can be assigned by a teacher who has not the capacity of causal consciousness and contact. When the teacher knows the note, the rate of vibration and the colour, then he can wisely assign, but not before. Before that time, generalisation only is possible, and a meditation given that may approximate the need and also be safe.

Trước hết, chúng ta hãy tóm lược ngắn gọn, vì giá trị của sự nhắc lại là sâu sắc. Chúng ta đã đề cập ngắn gọn yếu tố [40] của cung chân ngã, như được một huấn sư cân nhắc khi chỉ định một phương pháp thiền, và chúng ta đã thấy rằng mỗi cung nhắm đến cùng một mục tiêu theo một con đường khác nhau, và rằng mỗi cung đòi hỏi một loại tham thiền khác nhau. Chúng ta đã bàn đến sự điều chỉnh phương pháp thiền qua việc xét đến cung phàm ngã. Rồi chúng ta xét yếu tố thời gian như được biểu lộ trong thể nguyên nhân, điểm phát triển của nó, và mối liên hệ của thể ấy với ba biểu hiện thấp của nó, kết thúc hôm qua bằng vài gợi ý ngắn về thể nguyên nhân trên cấp độ riêng của nó và phạm vi tâm thức của nó. Tất cả điều này hẳn đã chỉ ra cho các bạn thấy huấn sư phải khôn ngoan biết bao khi tự cho mình quyền chỉ định phương pháp thiền. Có một điểm mà tôi muốn xen vào tại đây: — không một bài tham thiền nào thực sự thích hợp và đúng theo huyền môn có thể được giao phó bởi một huấn sư nếu người ấy không có năng lực tâm thức nguyên nhân và sự tiếp xúc tương ứng. Chỉ khi huấn sư biết được chủ âm, nhịp độ rung động và màu sắc, thì khi ấy Ngài mới có thể giao phó một cách minh triết; còn trước đó thì chưa thể. Trước giai đoạn ấy, chỉ có thể đưa ra những khái quát chung, và bài tham thiền được trao chỉ có thể gần đúng với nhu cầu, đồng thời vẫn bảo đảm tính an toàn.

Another factor enters now,—a factor that varies somewhat according to the need of the period. All cycles are not as fundamentally important. The periods in a cycle that are of real moment are the termini, and those where overlapping and merging occur. They demonstrate on the physical plane in great revolutions, gigantic cataclysms, and fundamental upheavals in all three departments of the Hierarchy,—the department of the World Teacher, that of the Head of a root-race and that of the Ruler of civilisation or of force. At the points of merging in a cycle, cross-currents are found, and all the system seems to be in a chaotic condition. The middle part of a cycle where the incoming vibration is stabilised and the [41] old has passed away, manifests in a period of calm and apparent equilibrium.

Giờ đây, một yếu tố khác xuất hiện — một yếu tố thay đổi phần nào tùy theo nhu cầu của từng thời kỳ. Không phải mọi chu kỳ về căn bản đều quan trọng như nhau. Những giai đoạn trong một chu kỳ thực sự mang ý nghĩa then chốt chính là các điểm tận cùng của nó, cũng như những thời điểm mà sự chồng lấn và hòa nhập diễn ra. Trên cõi hồng trần, chúng biểu hiện qua những cuộc cách mạng lớn lao, những thảm họa khổng lồ, và những biến động nền tảng trong cả ba bộ phận của Thánh đoàn — bộ phận của Đức Chưởng Giáo, bộ phận của Người Đứng đầu một giống dân gốc, và bộ phận của Đấng Cai quản nền văn minh hay mãnh lực. Tại những điểm hòa nhập trong một chu kỳ, các dòng năng lượng giao thoa xuất hiện, và toàn bộ hệ thống dường như rơi vào trạng thái hỗn loạn. Trái lại, phần giữa của một chu kỳ — khi rung động đang đi vào đã được ổn định và cái cũ đã thực sự qua đi — lại biểu lộ thành một thời kỳ yên lặng và một trạng thái quân bình bề ngoài.

[Commentary 12]

At no time in the history of the race has this been better shown than in the present half century. The sixth Ray of Devotion passes away and the Ray of Ceremonial Law enters and with that entering comes a swinging into prominence of the outstanding features and faculties of the department of force and activity, the synthesis, forget not, of the four minor rays. Therefore you have the fighting for ideals and the devoted adherence to a cause, as demonstrated under the ray of the Master Jesus; therefore the clashing in every field of endeavor of the idealists (right or wrong) and their bitter warfare. What was the world war but the culmination of two opposing ideals, fighting it out on the physical plane?—it was an instance of the force of the sixth ray. Now will come, as the sixth ray passes out, a gradual cessation of the clashing, and the gradual domination of organisation, rule and order under the sway of the incoming force, that of the ray of the Master R—. Out of the present turbulence will arise the ordered and organised form of the new world. Gradually the new rhythm will impose itself on the disorganised communities of men, and instead of social chaos as now you will have social order and rule; instead of the religious differences and the differentiated sects of the many so-called religions, you will have religious expression itself regulated into form and all ordered by law; instead of economic and political strain and stress will be seen the harmonious working of the system under certain fundamental forms; all will be dominated by ceremonial with the inner results aimed at by the Hierarchy gradually taking shape. Forget not that in the apotheosis of law and order and their resultant forms and limitations lies, towards the close (I choose my words with deliberation), a [42] fresh period of chaos, and the escape of the imprisoned life from even those limitations, bearing with it the imparted faculty and the essence of the development aimed at by the Logos of the seventh ray.

Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại điều này được biểu lộ rõ hơn như trong nửa thế kỷ hiện tại. Cung sáu của Sự Sùng Tín đang qua đi và Cung của Định luật Nghi Lễ đang đi vào, và cùng với sự đi vào ấy là sự nổi bật lên của những đặc điểm và năng lực nổi trội của bộ phận mãnh lực và hoạt động, là sự tổng hợp—đừng quên—của bốn cung phụ. Vì vậy các bạn có cuộc đấu tranh vì lý tưởng và sự bám chặt đầy sùng tín vào một chính nghĩa, như được biểu lộ dưới cung của Chân sư Jesus; vì vậy có sự xung đột trong mọi lĩnh vực nỗ lực của những người theo lý tưởng (đúng hay sai) và cuộc chiến cay đắng của họ. Cuộc thế chiến vừa qua là gì, nếu không phải là sự bùng phát đến đỉnh điểm của hai lý tưởng đối nghịch, đối đầu và quyết chiến trên cõi hồng trần? — đó chính là một minh chứng cho mãnh lực của cung sáu. Giờ đây, khi cung sáu dần rút lui, sẽ diễn ra sự lắng dịu từ từ của những va chạm, và đồng thời là sự trỗi dậy từng bước của tổ chức, kỷ cương và trật tự dưới ảnh hưởng chi phối của mãnh lực đang đi vào, tức là cung của Chân sư R—. Từ cơn biến động hiện nay, hình thái có trật tự và được tổ chức của thế giới mới sẽ xuất hiện. Dần dần nhịp điệu mới sẽ áp đặt lên các cộng đồng người đang rối loạn, và thay vì hỗn loạn xã hội như hiện nay, các bạn sẽ có trật tự và cai quản xã hội; thay vì những khác biệt tôn giáo và những giáo phái phân hoá của nhiều tôn giáo được gọi là tôn giáo, các bạn sẽ có chính sự biểu đạt tôn giáo được điều chỉnh vào hình thức và mọi sự được sắp đặt theo định luật; thay vì căng thẳng kinh tế và chính trị sẽ thấy sự vận hành hài hoà của hệ thống dưới những hình thức căn bản nhất định; mọi sự sẽ được chi phối bởi nghi lễ, với các kết quả nội tại mà Thánh Đoàn nhắm đến dần dần thành hình. Đừng quên rằng trong sự tôn vinh tột đỉnh của định luật và trật tự cùng những hình thức và giới hạn do chúng tạo ra, về cuối (tôi chọn từ một cách thận trọng), có một [42] thời kỳ hỗn loạn mới, và sự thoát ra của sự sống bị giam cầm khỏi cả những giới hạn ấy, mang theo năng lực được truyền trao và tinh chất của sự phát triển mà Thượng đế của cung bảy nhắm đến.

Such is the situation from time to time down through the ages. Each ray sweeps into power, bearing its own incarnating spirits to whom the period marks a point of least resistance comparatively. They contact six other types of force in the worlds and six other groups of beings who must be impressed by that force and be carried forward in its sweep towards the universal goal. Such is also the specific situation in the period in which you live, a period wherein the seventh Logos of Ceremonial Law and Order seeks to straighten out the temporary chaos, and aims at the reduction within limits of the life escaping from the old and worn-out forms. The new forms are needed now and will be adequate. It is only after the middle period in a new cycle that limitation will again be felt and the attempt to escape be started anew.

Tình huống là như vậy qua các thời đại. Mỗi cung tiến vào quyền năng, mang theo các tinh thần đang nhập thể của nó, những người mà giai đoạn này đánh dấu một điểm tương đối ít trở ngại nhất. Họ tiếp xúc với sáu loại mãnh lực khác trong các cõi giới và sáu nhóm sinh linh khác phải được ấn tượng bởi mãnh lực đó và được mang tiến về phía trước trong luồng quét của nó hướng tới mục tiêu vũ trụ. Đó cũng chính là tình trạng đặc thù của giai đoạn mà các bạn đang sống — một giai đoạn trong đó Thượng đế thứ bảy của Luật Lệ Lễ nghi và Trật tự đang tìm cách chỉnh đốn sự hỗn loạn tạm thời, và nhằm đưa vào khuôn khổ dòng sự sống đang thoát ra khỏi những hình tướng cũ kỹ, hao mòn. Hiện nay, những hình tướng mới là cần thiết và sẽ đáp ứng đầy đủ. Chỉ sau giai đoạn giữa của một chu kỳ mới, cảm nhận về sự hạn chế mới lại xuất hiện, và nỗ lực thoát ra khỏi nó mới lại được khởi sự một lần nữa.

Therefore the wise teacher at this time considers the situation and weighs the effect of the incoming ray on the spirits in incarnation. Here, therefore, you have a third ray and its bearing to be considered in the assigning of meditation. Complex you feel the task to be? Fortunately the Hall of Wisdom equips its graduates for the task.

Vì vậy, huấn sư khôn ngoan trong thời điểm này cân nhắc tình thế và cân đo tác động của cung đang đi vào đối với các tinh thần đang nhập thể. Vì vậy, ở đây các bạn có một cung thứ ba và sự liên hệ của nó cần được cân nhắc trong việc chỉ định tham thiền. Các bạn có cảm thấy nhiệm vụ phức tạp không? May thay, Phòng Minh triết trang bị cho các vị tốt nghiệp của nó để đảm đương nhiệm vụ này.

At this particular period the aspect of the Form in meditation (whether meditation based principally on the egoic ray or on the personality ray) will be much developed. You can look to see very definite forms built up and assigned, both to individuals and to groups, resulting in an increase of white magic, and the consequent resultant, on the physical plane, of law and order. The coming period of reconstruction goes forward in line with the ray, and its ultimate success and achievement is more nearly [43] possible than perhaps is looked for. The Great Lord comes in under the law and naught can stop His approach.

Trong thời kỳ đặc thù này, phương diện Hình Tướng trong tham thiền (dù tham thiền đặt nền tảng chủ yếu trên cung chân ngã hay trên cung phàm ngã) sẽ được phát triển rất nhiều. Các bạn có thể trông đợi những hình thức rất xác định được xây dựng và được chỉ định, cho cả cá nhân lẫn nhóm, đưa đến sự gia tăng chánh thuật, và kết quả tiếp theo của nó, trên cõi hồng trần, là luật lệ và trật tự. Thời kỳ tái thiết sắp đến tiến hành phù hợp với cung, và sự thành công cùng thành tựu tối hậu của nó gần [43] như chắc chắn hơn có lẽ người ta vẫn tưởng. Đại Chúa Vĩ Đại đến theo định luật và không gì có thể ngăn bước tiến của Ngài.

Just now the great need of the time is for those who understand the law and can work with it. Now is the opportunity, too, for the development of that principle and the training of people in the helping of the world.

Ngay lúc này, nhu cầu lớn của thời đại là những người thấu hiểu định luật và có thể làm việc với nó. Đây cũng là cơ hội cho sự phát triển nguyên tắc đó và cho việc huấn luyện con người trong sự trợ giúp thế gian.

The minor Rays of Harmony and Science respond quickly to this seventh influence; by that statement I mean that their monads are easily influenced in this direction. The monads of the sixth Ray of Devotion find conformity more difficult, until nearing the point of synthesis. The monads of the first and second rays find in this ray a field of expression. First ray monads have a direct link with this ray and seek to wield the law through power, whilst second ray monads, being the synthetic type, guide and rule through love.

Các cung phụ của Hoà Hợp và Khoa Học đáp ứng nhanh với ảnh hưởng cung bảy này; với phát biểu này, tôi muốn nói rằng các chân thần của họ dễ bị ảnh hưởng theo hướng này. Các chân thần của Cung sáu của Sùng Tín thấy sự tuân hợp khó hơn, cho đến khi gần điểm tổng hợp. Các chân thần của cung một và cung hai tìm thấy trong cung này một trường biểu đạt. Các chân thần cung một có một liên kết trực tiếp với cung này và tìm cách vận dụng định luật bằng quyền năng, trong khi các chân thần cung hai, là loại tổng hợp, hướng dẫn và cai quản bằng bác ái.

I think I have today given you enough to engender thought on this fifth factor. This is all I seek to do. To the guiding light of the intuition is the rest left and what that inner guide reveals is of more value to the individual than aught exoterically imparted. Therefore, ponder and consider.

Tôi nghĩ hôm nay tôi đã đưa ra đủ để khơi dậy nhiều điều đáng suy ngẫm về yếu tố thứ năm này. Đó là tất cả điều tôi muốn làm. Phần còn lại được để cho ánh sáng dẫn đường của trực giác, và điều mà vị hướng dẫn bên trong mặc khải có giá trị đối với cá nhân hơn bất cứ điều gì được truyền dạy theo ngoại môn. Vì vậy, hãy suy ngẫm và cân nhắc.

June 18, 1920

Ngày 18 tháng 6, 1920

J u n e 18th, 1920. 2:15 pm.

Ngày 18 tháng 6, 1920. 2:15 chiều.

Y o u r concern and anxiety, brother of mine, are but natural and draw forth but sympathy from those of us who watch. ……

Huynh đệ của tôi, mối bận tâm và lo âu của bạn là điều tự nhiên và chỉ khơi dậy sự cảm thông từ những người trong chúng tôi đang dõi theo. ……

Some Words of Cheer—Vài Lời Khích Lệ.

……It is only as the disciple is willing to relinquish all in the service of the Great One, and to hold naught back, that liberation is achieved, and the body of desire becomes transmuted into the body of the higher intuition. It is the serving perfectly each day—with no thought or calculation about the future—that brings a man to the position of the perfect Server. And, may I suggest one thing? All care and anxiety is based primarily on selfish motive. You fear further pain, you shrink from further [44] sad experience. It is not thus that the goal is reached; it is reached by the path of renunciation. Perhaps it may mean the renunciation of joy, or the renunciation of good reputation, or the renunciation of friends, and the renunciation of all that the heart clings to. I say perhaps; I say not, it is so. I but seek to point out to you that if that is the way you are to reach your goal, then for you it is the perfect way. Aught that brings you rapidly to Their Presence and to Their Lotus Feet, is by you to be desired and eagerly welcomed.

……Chỉ khi đệ tử sẵn lòng từ bỏ tất cả trong sự phụng sự Đấng Vĩ Đại, và không giữ lại điều gì, thì sự giải thoát mới đạt được, và thể dục vọng được chuyển hoá thành thể trực giác cao. Chính việc phụng sự trọn vẹn mỗi ngày—không nghĩ hay tính toán về tương lai—đưa một người đến vị thế của Người Phụng Sự hoàn hảo. Và, tôi có thể gợi ý một điều chứ? Mọi lo toan và lo âu trước hết đều dựa trên động cơ ích kỷ. Các bạn sợ đau đớn thêm, các bạn co rút trước những [44] trải nghiệm buồn bã thêm. Mục tiêu không đạt được theo cách đó; mục tiêu đạt được bằng Con Đường Từ Bỏ. Có lẽ điều đó có thể hàm ý sự từ bỏ niềm vui, hoặc sự từ bỏ danh tiếng tốt, hoặc sự từ bỏ bạn bè, và sự từ bỏ mọi điều mà trái tim bám víu. Tôi nói có lẽ; tôi không nói rằng đúng là như vậy. Tôi chỉ muốn chỉ ra cho các bạn rằng nếu đó là con đường để các bạn đạt mục tiêu, thì đối với các bạn đó là con đường hoàn hảo. Bất cứ điều gì đưa các bạn nhanh chóng đến Hiện Diện của Các Ngài và đến Chân Hoa Sen của Các Ngài, đều là điều các bạn nên khao khát và hân hoan đón nhận.

Cultivate daily, therefore, that supreme desire that seeks solely the commendation of the inner Guide and Teacher, and the egoic response to good action dispassionately performed.

Vì vậy, hãy nuôi dưỡng hằng ngày khát vọng tối thượng ấy, chỉ tìm kiếm sự tán thưởng của vị Hướng Dẫn và Huấn Sư nội tại, và sự đáp ứng chân ngã đối với hành động thiện được thực hiện một cách vô tư.

Should bereavement come your way, smile through it all; it will end in a rich reward and the return of all that has been lost. Should scorn and despisings be your lot, smile still, for only the look of commendation that comes from the Master is the one to seek. Should lying tongues take action, fear not, but forge ahead. A lie is a thing of earth and can be left behind as a thing too vile to be touched. The single eye, the unalloyed desire, the consecrated purpose, and the ear that turns in deafness to all earth’s noise—such is the aim for the disciple. I say no more. I but desire that you do not dissipate needless force in vain imaginings, feverish speculations and troubled expectations.

Nếu sự mất mát đến với bạn, hãy mỉm cười vượt qua tất cả; nó sẽ kết thúc trong một phần thưởng phong phú và sự trở lại của tất cả những gì đã mất. Nếu sự khinh thường và miệt thị là phần của bạn, vẫn hãy mỉm cười, vì chỉ có cái nhìn tán thưởng đến từ Chân sư mới là điều cần tìm kiếm. Nếu những lưỡi gian dối hành động, đừng sợ hãi, mà hãy tiến về phía trước. Một lời nói dối là một vật của trần gian và có thể bị bỏ lại phía sau như một thứ quá đê tiện để chạm vào. Con mắt duy nhất, khát vọng thuần khiết, mục đích thánh hiến, và tai quay đi trong sự điếc tai với mọi tiếng ồn của trần gian—đó là mục tiêu cho đệ tử. Tôi không nói thêm gì nữa. Tôi chỉ mong rằng bạn đừng làm tiêu tan mãnh lực không cần thiết trong những tưởng tượng vô ích, những suy đoán sốt ruột và những mong đợi xáo trộn.

6—The Groups, Inner and Outer, with which the Pupil is Affiliated—Các Nhóm Bên Trong và Bên Ngoài mà Môn sinh được Liên kết.

The point for consideration today is of practical interest. It deals with the factor of a man’s groups. The relationship to a Master we have somewhat considered, [45] and I will therefore proceed with the instruction on the group connection.

Điểm cần xét hôm nay có tính thực tiễn. Nó bàn đến yếu tố các nhóm của một người. Mối liên hệ với một Chân sư chúng ta đã phần nào xét đến, [45] và vì vậy tôi sẽ tiếp tục sự huấn thị về mối liên hệ nhóm.

We showed yesterday the importance of meditation in connection with the group to which a man is allied on egoic levels. Today we deal with the group to which he may be called on earth. This group is not exactly a reflection of the group on egoic levels as might be anticipated, for only certain units of an egoic group will be in incarnation at any one time. We deal with the Law of Cause and Effect, as demonstrated in the groups national, religious or family.

Hôm qua chúng ta đã cho thấy tầm quan trọng của tham thiền liên quan đến nhóm mà một người được liên kết trên các cấp độ chân ngã. Hôm nay chúng ta bàn đến nhóm mà y có thể thuộc về trên cõi trần. Nhóm này không hẳn là một phản ảnh của nhóm trên các cấp độ chân ngã như người ta có thể dự đoán, vì chỉ một số đơn vị của một nhóm chân ngã sẽ nhập thể vào bất kỳ thời điểm nào. Chúng ta bàn đến Định luật Nhân Quả, như được biểu lộ trong các nhóm quốc gia, tôn giáo hay gia đình.

Four groups connected with the pupils.—Bốn nhóm liên quan đến các môn sinh.

A man, when in incarnation, has four sets of people to consider as his group:—

Một người, khi đang lâm phàm, có bốn tập hợp người cần xét như nhóm của y:—

1. The big national group to which he belongs, the karma of which (through aggregation of numbers) is so strong that he cannot break away from it even if he will. Certain racial characteristics, certain temperamental tendencies are his because they are hidden in the racial physical body, and he must carry that constitution, and the tendencies inherent in that particular type of body, throughout his life on earth. That body provides the needed lesson, or (as evolution proceeds) it provides the best body for the type of work that has to be accomplished. An oriental type of body has one set of qualifications, and an occidental body has another set, and equally good, if I might so express it. I seek here to make this point clear, for the tendency of the westerner is to ape the oriental and to endeavor to force his vibrations to the same key as that of the oriental. At times, this causes concern to the inner Teachers, and occasionally leads to trouble in the vehicles. [46]

1. Nhóm quốc gia lớn mà y thuộc về, nghiệp quả của nhóm ấy (do sự tập hợp của số đông) mạnh đến nỗi y không thể tách ra khỏi nó, dù y có muốn. Một số đặc tính của nhân loại, một số khuynh hướng khí chất là của y, vì chúng ẩn tàng trong thể xác của nhân loại, và y phải mang thể chất ấy, cùng các khuynh hướng vốn có trong kiểu thể xác đặc thù đó, suốt kiếp sống của y trên trần gian. Thể xác ấy cung cấp bài học cần thiết, hoặc (khi tiến hoá tiến triển) nó cung cấp thể xác tốt nhất cho loại công việc phải được hoàn thành. Một thể xác phương Đông có một tập hợp phẩm chất và một thể xác phương Tây có một tập hợp khác, và cả hai đều tốt như nhau, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Tôi muốn làm rõ điểm này, vì khuynh hướng của người phương Tây là bắt chước người phương Đông và cố gắng ép rung động của mình vào cùng một chủ âm như người phương Đông. Đôi khi, điều này gây mối bận tâm cho các Huấn sư nội môn, và thỉnh thoảng dẫn đến rắc rối trong các vận cụ. [46]

There has been too much tendency to believe that to be an oriental holds the goal for all. Forget not that even the Great Ones Themselves are not all orientals, and the Masters in European bodies are of equal accomplishment to the better known Eastern Adepts. Ponder on this. It needs much wise consideration, hence my emphasis of the fact. When more is known along these lines, and when schools of meditation are founded and conducted on truly occult lines by graduated Teachers, forms of meditation will he planned, suited to nationality and to the temperamental differences existing among nations. Each nation has its virtues and each has its defects; it will therefore be the work of the superintending Teacher to apportion meditations that will intensify the virtues and remedy the defects. The field opened up by these ideas is so vast that I cannot deal with it here. Specialists will later take up the problem, and the time comes when the orient and the occident will each have their own schools, subject to the same basic rules and under the superintendence of the same inner Teachers, but wisely differing on certain points, and (though aiming at the same goal) following different routes. You will later see these schools founded in each nation; admission into them will not be easy of attainment, but each applicant for instruction will be subjected to a drastic entrance examination. You will find each school will differ somewhat, not in fundamentals but in methods of application, due to the wise discrimination of the Head of the school. This Head, being of the same nationality as the pupils, and having the faculties of the causal body fully developed, will apply the method to the immediate need.

Đã có quá nhiều khuynh hướng tin rằng trở thành người phương Đông là mục tiêu cho tất cả. Đừng quên rằng ngay cả chính Các Đấng Cao Cả cũng không phải tất cả đều là người phương Đông, và các Chân sư trong các thể xác châu Âu cũng có thành tựu ngang bằng với các Chân sư phương Đông được biết đến nhiều hơn. Hãy suy ngẫm về điều này. Điều này cần nhiều sự cân nhắc khôn ngoan, vì thế tôi nhấn mạnh sự kiện ấy. Khi người ta biết nhiều hơn theo những đường hướng này, và khi các trường tham thiền được thành lập và điều hành theo những đường lối thực sự huyền bí bởi các Huấn sư đã tốt nghiệp, thì các hình thức tham thiền sẽ được hoạch định, phù hợp với quốc tịch và với những khác biệt khí chất hiện hữu giữa các quốc gia. Mỗi quốc gia có các đức tính của mình và mỗi quốc gia có các khiếm khuyết của mình; do đó, công việc của Huấn sư giám sát sẽ là phân bổ các phương pháp tham thiền sao cho làm tăng cường các đức tính và khắc phục các khiếm khuyết. Các ý tưởng này mở ra lĩnh vực rộng lớn đến nỗi tôi không thể bàn đến ở đây. Về sau, các chuyên gia sẽ đảm nhận vấn đề này, và sẽ đến lúc phương Đông và phương Tây sẽ có các trường của riêng mình, tuân theo cùng những quy luật căn bản và dưới sự giám sát của cùng các Huấn sư nội môn, nhưng khác nhau một cách minh triết ở một số điểm, và (dù nhắm đến cùng một mục tiêu) đi theo những con đường khác nhau. Về sau các bạn sẽ thấy những trường này được thành lập trong mỗi quốc gia; việc được nhận vào đó sẽ không dễ dàng, nhưng mỗi người xin được huấn luyện sẽ phải trải qua một kỳ khảo hạch nhập học nghiêm ngặt. Các bạn sẽ thấy mỗi trường sẽ khác nhau đôi chút, không phải ở các nguyên lý căn bản mà ở các phương pháp áp dụng, do sự phân biện khôn ngoan của vị Hiệu Trưởng tcủa rường. Vị Hiệu Trưởng này, là người cùng quốc tịch với các học viên, và có các năng lực của thể nguyên nhân được phát triển đầy đủ, sẽ áp dụng phương pháp theo nhu cầu trước mắt.

Later I may further expand the future of the meditation schools for your edification, but I seek now principally to generalise. [47]

Về sau tôi có thể mở rộng thêm về tương lai của các trường tham thiền để các bạn hiểu rõ, nhưng hiện giờ tôi chủ yếu tìm cách khái quát. [47]

2—The second group, which is of importance in the life of the pupil, is his family group, involving its special family heredity and characteristics. Every man, who has reached a point in evolution where occult meditation is desirable and possible, has entered some particular family from deliberate choice:—

2—Nhóm thứ hai, quan trọng trong đời sống của học viên, là nhóm gia đình của y, bao hàm di truyền và các đặc tính gia tộc đặc thù. Mỗi người, đã đạt đến một điểm tiến hoá mà tham thiền huyền bí là đáng mong muốn và khả dĩ, đều đã bước vào một gia đình nào đó do sự chọn lựa có chủ ý:—

a—To work off karma as rapidly as may be.

a—Để trả nghiệp quả nhanh nhất có thể.

b—Because of the physical vehicle it provides.

b—Vì vận cụ thể xác mà nó cung cấp.

You will easily see, therefore, that in the assigning of occult meditation to be carried out on the physical plane and in a physical vehicle, it will be the concern of the Teacher to know somewhat of the physical pedigree and the inherent characteristics of the pupil, both from the point of view of finding the line of least resistance and of demonstrating what must be overcome. (Some of you who meditate are apt to be so engrossed straining after intuitional consciousness that you overlook the very necessary physical vehicles.) The physical brain and the conformity of the head play a large part in the process and must not be overlooked in the future as they are at present. This is necessarily so, for the dearth of trained teachers in the physical bodies is so insuperable at present.

Vì vậy, các bạn sẽ dễ thấy rằng, trong việc ấn định tham thiền huyền bí để được thực hiện trên cõi hồng trần và trong một vận cụ thể xác, mối quan tâm của Huấn sư sẽ là biết đôi điều về phả hệ thể xác và các đặc tính vốn có của học viên, từ quan điểm tìm ra con đường ít trở ngại nhất, và cũng từ quan điểm chứng tỏ điều gì phải được vượt qua. (Một số người trong các bạn tham thiền có xu hướng quá mải mê nỗ lực đạt tới tâm thức trực giác mà bỏ qua các vận cụ hồng trần rất cần thiết). Bộ não thể xác và sự tương hợp của đầu đóng một vai trò lớn trong tiến trình này và không được bỏ qua trong tương lai như hiện nay. Điều này tất yếu là như vậy, vì hiện nay sự thiếu hụt các huấn sư đã được đào luyện đang nhập thể là một trở ngại quá khó vượt qua.

Therefore the family group is the second thing of moment that enters into consideration, and the matter is of more vital importance than perhaps you think.

Vì vậy, nhóm gia đình là điều quan trọng thứ hai được đưa vào xem xét, và vấn đề này có tầm quan trọng sống còn hơn có lẽ các bạn nghĩ.

In the coming schools of meditation there will be records kept as to the pupil’s forbears, his family history, the progress of his youth and life and his medical history. This record will be minutely accurate, and much will be learnt this way. The life will be regulated and the scientific purification of the physical body will be one of the [48] first things attempted. Incidentally (in speaking of these schools) I would like to urge that you picture not some isolated spot for their location. In the world, yet not of the world is the ideal, and only in the advanced stages or just prior to taking Initiation will the pupil be permitted to retire for periods of any length. It is the inner detachment that counts, and the ability to dissociate the self from the environment that matters, and not so much the physical plane isolation.

Trong các trường tham thiền sắp đến, sẽ có các hồ sơ ghi chép về tổ tiên của học viên, lịch sử gia đình, tiến trình thời niên thiếu và đời sống của y, cùng tiền sử y khoa của y. Hồ sơ này sẽ chính xác đến từng chi tiết, và rất nhiều điều sẽ được biết theo cách này. Đời sống sẽ được điều chỉnh, và sự thanh lọc thể xác một cách khoa học sẽ là một trong những [48] điều đầu tiên được thử thực hiện. Nhân tiện (khi nói về các trường này) tôi muốn thúc giục các bạn hãy hình dung rằng địa điểm của chúng không phải là một nơi biệt lập nào đó. Ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian là lý tưởng, và chỉ trong các giai đoạn tiến bộ hoặc ngay trước khi nhận điểm đạo, học viên mới được phép lui về ẩn dật trong những khoảng thời gian dài. Điều đáng kể là sự tách rời nội tâm, và khả năng tách mình khỏi môi trường mới là điều quan trọng, chứ không phải sự cô lập trên cõi hồng trần.

3—The third group that a man has to consider is the particular band of servers to which he may be affiliated. Any man who is ready for occult meditation must have demonstrated first for many lives his intelligent willingness to serve and to work among the sons of men. Unselfish service is the bed-rock of the life of the occultist, and danger lurks when it exists not, and occult meditation carries a menace. Hence, the man must be an active worker in some part of the field of the world, and on the inner planes he must likewise be playing his part. Certain things will then have to be considered by the Teacher:

3—Nhóm thứ ba mà một người phải cân nhắc là nhóm phụng sự cụ thể mà y có thể liên kết. Bất kỳ người nào sẵn sàng cho tham thiền huyền bí đều phải trước hết chứng tỏ qua nhiều kiếp sự sẵn lòng phụng sự một cách thông minh và làm việc giữa những người con của nhân loại. Phụng sự vô ngã là nền đá của đời sống nhà huyền bí học, và nguy hiểm ẩn nấp khi điều đó không hiện hữu, và tham thiền huyền bí mang theo một mối đe dọa. Vì thế, y phải là một người hoạt động tích cực trong một phần nào đó của đời sống thế gian, và trên các cõi nội giới, y cũng phải đang đóng vai trò của mình. Khi ấy, Huấn sư sẽ phải cân nhắc một số điều:

a—The group work a man is doing and how best he may be qualified to serve better in that group.

a—Công việc nhóm mà một người đang làm và làm thế nào để y có thể được trang bị tốt nhất nhằm phụng sự tốt hơn trong nhóm ấy.

In the ES [Esoteric Section], which is the meditation school of the TS [Theosophical Society] the great aim is mind regulation and the stabilising of the astral body. Why? To form a foundation for a further step, the definite contacting of the inner planes and the knowledge experimentally of a Master and of the Higher Self. Why again? Because the need of the world now is for KNOWERS, for those who say not: “we believe’, for that hath been said for centuries, but who say: “we know”, and who demonstrate they know by assisting others to the same knowledge.

Trong ES [Phân bộ Huyền bí], vốn là trường học tham thiền của TS [Hội Thông Thiên Học], mục tiêu lớn lao là điều hòa trí tuệ và làm ổn định thể cảm dục. Vì sao? Để tạo nền tảng cho một bước tiến xa hơn—việc tiếp xúc rõ ràng với các cõi bên trong và sự nhận thức một cách thực nghiệm về một Chân sư cũng như Chân Thần. Vì sao nữa? Bởi vì thế giới hiện nay cần những THỨC GIẢ (NGƯỜI BIẾT), những người không nói: “chúng tôi tin”, bởi điều đó đã được nói suốt nhiều thế kỷ, mà nói rằng: “chúng tôi biết” và chứng minh sự hiểu biết của họ bằng cách giúp đỡ người khác đạt đến cùng tri thức ấy.

Th e ES is laying a foundation. Not yet is it really occult. It is a school of concentration. It is Grade I in an attempt to develop the higher consciousness. Before so very long Grade II may be started, by the direct institution of teaching of definite occult meditations for those qualified to enter that grade. The above digression, brother of mine, is not for exoteric publication, but is left for your wise communication to those judged ready.

Phân Bộ Bí truyền (ES) đang đặt nền tảng. Hiện tại, nó chưa thực sự mang tính huyền môn. Nó là một trường học về sự tập trung. Nó là Bậc I trong nỗ lực phát triển tâm thức cao hơn. Trong tương lai không xa, có thể Bậc II sẽ được khởi xướng, bằng cách thiết lập trực tiếp việc giảng dạy các phương pháp tham thiền huyền môn rõ ràng dành cho những người đủ điều kiện bước vào bậc đó. Huynh đệ của tôi, phần ngoài lề trên đây không dành cho công bố ngoại môn, mà để bạn truyền đạt một cách khôn ngoan đến những ai được xét là sẵn sàng tiếp nhận.

b—The type of a man’s work, and his relationship in that work to his associates—a very important occult factor—will be carefully weighed before a meditation is assigned, and certain types of meditation (perhaps desired by the man himself) may be withheld on account of their being unsuited to the work in hand, and because of their tendency to develop certain qualities which might handicap the server in his work. Those meditations which [49] will increase ability to serve will ever be the aim. The greater aim includes, after all, the lesser.

b—Loại công việc của một người, và mối quan hệ của y trong công việc ấy với các cộng sự—một yếu tố huyền bí rất quan trọng—sẽ được cân nhắc cẩn thận trước khi một phương pháp hành thiền được ấn định, và một số loại tham thiền (có lẽ chính người ấy mong muốn) có thể bị giữ lại vì chúng không phù hợp với công việc đang làm, và vì khuynh hướng của chúng là phát triển một số phẩm chất có thể gây trở ngại cho người phụng sự trong công việc của y. Những phương pháp hành thiền nào [49] làm tăng khả năng phụng sự sẽ luôn là mục tiêu. Rốt cuộc, mục tiêu lớn hơn bao hàm mục tiêu nhỏ hơn.

4—The fourth group that has a place in the calculations of the Teacher is that to which a man belongs on the inner plane, the band of helpers to which he is assigned, or—if he is a disciple,—the group of pupils of which he forms a part. Their particular type of group work will be considered, the capacity of the pupil to progress with his fellows will be fostered, and his ability to fill his appointed post will be increased.

4—Nhóm thứ tư có vị trí trong các tính toán của Huấn sư là nhóm mà một người thuộc về trên nội giới, nhóm trợ giúp mà y được phân công, hoặc—nếu y là một đệ tử,—nhóm học viên mà y là một phần trong đó. Loại công việc nhóm đặc thù của họ sẽ được cân nhắc, năng lực của học viên để tiến bộ cùng các bạn đồng môn sẽ được nuôi dưỡng, và khả năng của y để đảm nhiệm vị trí được chỉ định sẽ được gia tăng.

I have but hinted in these last few communications at the many things that arise for consideration in the assignment of a meditation. You have three rays to consider, the point in evolution of the causal body and its interrelation on its own plane with its group, with the Hierarchy and with its reflection, the Personality. You have also the factor of karma, the need of the time and of the man himself, and his relationship with four different groups.

Tôi chỉ mới gợi ý trong vài thông tin cuối cùng này về nhiều điều nảy sinh để cân nhắc trong việc chỉ định một bài thiền. Các bạn có ba cung để cân nhắc, điểm tiến hoá của thể nguyên nhân và mối tương quan của nó trên chính cõi của nó với nhóm của nó, với Thánh Đoàn và với sự phản chiếu của nó là phàm ngã. Các bạn cũng có yếu tố nghiệp quả, nhu cầu của thời đại và của chính người ấy, và mối quan hệ của y với bốn nhóm khác nhau.

All this is possible and will some day be recognized, but the period of laying a foundation is not yet over, and for long will remain with you. The control of the mind is the present aim of meditation, and must always be the elementary step. [50]

Tất cả điều này là khả hữu và một ngày nào đó sẽ được thừa nhận, nhưng thời kỳ đặt nền móng vẫn chưa kết thúc, và trong một thời gian dài sẽ còn ở với các bạn. Việc kiểm soát thể trí là mục tiêu hiện tại của tham thiền, và luôn phải là bước sơ khởi. [50]

Scroll to Top