Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S5 Part I (TCF 1119-1123)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S5 Part I (TCF 1119-1123)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt cỡ chữ 14. Lời bình giảng hiển thị ở cỡ chữ 12. Gạch chân, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc cùng với TCF trong tay, để giữ tính liên tục. Khi phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia tách, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy, xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu Lời Bình

In concluding what is to be said anent motion in the causal body, I would like to point out that it too—on its own plane—has the three characteristics of inertia, mobility and rhythm.

Khi kết lại những điều cần nói liên quan đến chuyển động trong thể nguyên nhân, tôi muốn chỉ ra rằng chính nó—trên cõi riêng của nó—cũng có ba đặc tính: trì trệ, linh động và nhịp điệu.

1. We have sometimes thought that these qualities (the three gunas) apply only to the eighteen lower subplanes. We see now that this is not the case.

1. Đôi khi chúng ta nghĩ rằng những phẩm tính này (ba guna) chỉ áp dụng cho mười tám cõi phụ thấp. Nay chúng ta thấy không phải vậy.

Inertia characterises the stage prior to the revolution of the different tiers of petals,

Sự trì trệ đặc trưng cho giai đoạn trước sự quay của các vòng cánh hoa khác nhau,

2. Thus, the stage of inertia occurs not only before any of the major manasic initiations, but probably before the two the minor initiations described below.

2. Như thế, giai đoạn trì trệ không chỉ xảy ra trước bất kỳ cuộc điểm đạo manasic lớn nào, mà có lẽ còn trước hai lần điểm đạo nhỏ được mô tả dưới đây.

Each circle of petals becomes, as evolution proceeds, likewise active, and revolves around the central Jewel, so that we have, not only the activity of the petals, not only the activity of the living points or the deva lives within the petal circumference, but likewise the unified activity of each tier of the threefold lotus. (TCF 1118)

Mỗi vòng cánh hoa, khi tiến hóa tiếp diễn, cũng trở nên linh hoạt, và quay quanh Bảo châu trung tâm, sao cho chúng ta có, không chỉ hoạt động của các cánh hoa, không chỉ hoạt động của các điểm sống hay các sự sống deva bên trong chu vi cánh hoa, mà cũng là hoạt động hợp nhất của mỗi vòng của hoa sen tam phân. (TCF 1118)

At the stage which we are considering (that of the organisation and unfoldment of the first tier of petals), the egoic influence felt at the beginning is but small, but when the three petals become sufficiently active and alive through the energy accumulated and stored up in the [870] ego during the activities of the personal life, a form of initiation then takes place which is a reflection (on a lower plane) of the great manasic initiations. The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold.  This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached.  This series of initiations is seldom recognised within the physical brain consciousness owing to the relatively inchoate stage of the bodies, and the unresponsiveness of the brain matter.  Yet they are nevertheless initiations of a definite though less important character, and they involve primarily the display (within the personal life of the man) of an intelligent recognition of his group relationships on earth.  This recognition is frequently selfish in character, as, for instance, that which the union worker displays, but it is indicative of group interplay.

Ở giai đoạn mà chúng ta đang xét (giai đoạn tổ chức và khai mở vòng cánh hoa thứ nhất), ảnh hưởng của chân ngã được cảm nhận lúc khởi đầu còn ít ỏi, nhưng khi ba cánh hoa trở nên đủ linh hoạt và sống động nhờ năng lượng tích lũy và dự trữ trong [870] chân ngã trong các hoạt động của đời sống phàm ngã, một dạng điểm đạo khi ấy xảy ra như một phản ảnh (trên một cõi thấp hơn) của các cuộc điểm đạo manasic vĩ đại. Năng lượng trong vòng ngoài của các cánh hoa khiến nó bật tách ra khỏi vòng kế cận, và khai mở. Năng lượng tam phân này trở nên tương tác, và một giai đoạn rất rõ rệt như vậy được đạt tới. Loạt điểm đạo này hiếm khi được nhận biết trong tâm thức bộ não hồng trần do các thể còn ở giai đoạn sơ khai tương đối, và vật chất não bộ không đáp ứng. Tuy thế, chúng vẫn là những điểm đạo có tính chất xác định mặc dù kém quan trọng, và chúng chủ yếu liên quan đến sự biểu lộ (trong đời sống phàm ngã của người) một sự nhận biết thông minh về các liên hệ nhóm của y trên địa cầu. Sự nhận biết này thường mang tính vị kỷ, như chẳng hạn điều người làm công thuộc công đoàn biểu lộ, nhưng nó biểu thị cho sự tương giao nhóm.

A similar process takes place when the second circle of petals is organised and ready for unfoldment.  This time the World Teacher, the Master and the Ego concerned are co-operating, for these smaller initiations deal with the love nature, with astral or emotional organisation, and with the recognition (by the man in his personal life) of some form of unselfish love, and of a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor, and to the negation of the lower self. (TCF 869-870)

Một tiến trình tương tự diễn ra khi vòng cánh hoa thứ hai được tổ chức và sẵn sàng khai mở. Lần này Đấng Huấn Sư Thế Gian, vị Chân sư và chính Chân ngã liên hệ cùng hợp tác, vì những lần điểm đạo nhỏ hơn này liên quan đến bản chất Tình Thương, đến sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc, và đến sự nhận ra (bởi người trong đời sống phàm ngã của y) một dạng tình thương vị tha, và một tình thương với một đối tượng, con người hay lý tưởng nào đó dẫn đến nỗ lực vị tha, và đến sự phủ định phàm ngã thấp. (TCF 869-870)

3. We gather that the above, there are certain important questions to solve. One of them concerns whether the springing apart of the outer tier of petals occurs at the same time as the revolution of that tier. It is quite possible, even probable, that the springing apart occurs before the rotation.

3. Từ đoạn trên, có một số câu hỏi quan trọng cần giải. Một trong số đó liên quan đến việc liệu sự bật tách của vòng cánh hoa ngoài xảy ra đồng thời với sự quay của vòng ấy hay không. Hoàn toàn có thể, thậm chí có khả năng, là sự bật tách xảy ra trước khi có sự quay.

and this revolution only begins [1120] to be felt when the petals are becoming active.

sự quay này chỉ bắt đầu [] được cảm nhận khi các cánh hoa trở nên linh hoạt.

4. It is apparent that only when all three petals in a tier are active can the revolution of the tier occur. The word “active” is important because it indicates a phase of petal development subsequent to that of “inertia”. The term “activity” suggests the stage of “mobility” (the rajasic phase).

4. Rõ ràng chỉ khi cả ba cánh hoa trong một vòng đều linh hoạt thì sự quay của vòng ấy mới có thể diễn ra. Từ “linh hoạt” quan trọng vì nó chỉ một giai đoạn phát triển của cánh hoa tiếp sau “trì trệ”. Thuật ngữ “hoạt động” gợi giai đoạn “linh động” (pha rajasic).

5. While the second tier of petals is becoming organized and ready for unfoldment, the outer tier becomes fully active (i.e., rotary)—exactly when we cannot yet say. May it be when the fifth petal is unfolding or, perhaps, only when the fifth petal is fully unfolded. If the latter is the case, then the third tier of petals will begin revolving only once the first initiation has been taken (for the full unfoldment of the fifth petal indicates the first initiation), but if the outer tier is completely unfolded before the fifth petal is completely unfolded, then the rotation of the outer tier can occur before the first initiation.

5. Trong khi vòng cánh hoa thứ hai đang được tổ chức và sẵn sàng khai mở, vòng ngoài trở nên hoàn toàn linh hoạt (tức là quay tròn)—chính xác là khi nào thì chúng ta chưa thể nói. Có thể là khi cánh hoa thứ năm đang khai mở hoặc, có lẽ, chỉ khi cánh hoa thứ năm đã hoàn toàn khai mở. Nếu là trường hợp sau, thì vòng cánh hoa thứ ba sẽ chỉ bắt đầu quay khi lần điểm đạo thứ nhất đã được tiến hành (vì sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ năm chỉ ra lần điểm đạo thứ nhất), nhưng nếu vòng ngoài hoàn toàn khai mở trước khi cánh hoa thứ năm hoàn toàn khai mở, thì sự quay của vòng ngoài có thể diễn ra trước khi  lần điểm đạo thứ nhất.

It might be stated that the passing of the Pilgrim through the Hall of Ignorance corresponds to the period of “egoic inertia.”

Có thể nói rằng việc Người Lữ Hành đi qua Phòng Vô Minh tương ứng với thời kỳ “trì trệ chân ngã”.

6. The true “Pilgrim” is the Monad. The term can, however, be reasonably though conventionally applied to the human being in the three lower worlds. The human being is not only the representative of the soul but of the Monad as well.

6. “Người Lữ Hành” đích thực là chân thần. Tuy nhiên, thuật ngữ này có thể được dùng một cách hợp lý, dẫu mang tính quy ước, cho con người trong ba cõi thấp. Con người không chỉ là đại diện của linh hồn mà còn của chân thần nữa.

7. The Hall of Ignorance pertains specifically to the work done within the outer tier of petals.

7. Phòng Vô Minh thuộc riêng về công việc được thực hiện trong vòng cánh hoa ngoài.

8. We can see that any revolution thus far discussed in DK’s text is not the revolution/rotation of the second tier of petals, because by the time the second tier begins to revolve or rotate, the sixth petal must be fully unfolded and the man must have taken the second initiation. The revolution thus far indicated occurs much before this initiation.

8. Chúng ta có thể thấy rằng mọi sự quay đã được DK bàn tới cho đến giờ không phải là sự quay của vòng cánh hoa thứ hai, bởi vì đến khi vòng thứ hai bắt đầu quay, cánh hoa thứ sáu phải được khai mở trọn vẹn và người ấy phải đã trải qua lần điểm đạo thứ hai. Sự quay được nói đến cho đến giờ xảy ra sớm hơn nhiều so với lần điểm đạo này.

9. Just as the eighth petal is related to the sixth, so the fifth is related to the third. Just as the partial unfoldment of the eighth petal indicates the full unfoldment of the sixth, so the partial unfoldment of the fifth petal could indicate the full unfoldment of the third. This analogy might incline one to believe that revolution/rotation of the outer or knowledge tier could occur only at the first of the manasic initiations (when the fifth petal is completely unfolded), but that the unfoldment of the first tier (prior to it rotation) could be correlated to the first of the minor initiations—yet there is no certainty in this possibility. In fact, the revolution/rotation of the first circle could occur before the first manasic initiation.

9. Cũng như cánh hoa thứ tám liên hệ với cánh hoa thứ sáu, cánh hoa thứ năm liên hệ với cánh hoa thứ ba. Cũng như sự khai mở bộ phận của cánh hoa thứ tám chỉ ra sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ sáu, thì sự khai mở bộ phận của cánh hoa thứ năm có thể chỉ ra sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ ba. Phép tương đồng này có thể khiến người ta nghiêng về quan niệm rằng sự quay của vòng ngoài hay vòng tri thức có thể xảy ra chỉ  vào lần điểm đạo manasic thứ nhất  (khi cánh hoa thứ năm hoàn toàn khai mở), nhưng rằng sự khai mở  của vòng thứ nhất (trước khi nó quay) có thể được tương ứng với lần thứ nhất của các cuộc điểm đạo nhỏ  —tuy nhiên không có gì chắc chắn trong khả thể này. Thực tế, sự quay của vòng thứ nhất có thể  xảy ra trước lần điểm đạo manasic thứ nhất.

10. We are proceeding by inference here until direct sight can confirm the proper sequence of developments.

10. Lúc này chúng ta suy luận qua phép nội suy, cho đến khi cái thấy trực tiếp có thể xác nhận trật tự đúng của các triển khai.

During this period, the permanent atoms are the most noticeable points of light in the lotus;

Trong giai đoạn này, các nguyên tử trường tồn là những điểm ánh sáng dễ nhận biết nhất trong hoa sen;

11. DK is speaking of the period of inertia within the development of the causal body. We must remember that deva lives are also “points” of life and light to be found within the petals of the egoic lotus.

11. DK đang nói về thời kỳ trì trệ trong sự phát triển của thể nguyên nhân. Chúng ta phải nhớ rằng các sự sống deva cũng là những “điểm” của sự sống và ánh sáng hiện diện trong các cánh hoa của hoa sen chân ngã.

12. DK may be telling us that during the period of inertia the permanent atoms are of greater brilliance of the petals themselves. This would correspond to the thought that during this period, the personality vehicles in themselves are much more prominent in expression than the soul through those personality vehicles.

12. DK có thể đang nói rằng trong thời kỳ trì trệ các nguyên tử trường tồn sáng rực hơn chính các cánh hoa. Điều này tương ứng với ý nghĩ rằng trong giai đoạn này, các vận cụ của phàm ngã tự thân nổi bật hơn nhiều trong biểu lộ so với linh hồn thông qua  các vận cụ phàm ngã ấy.

they constitute the “energy feeders” of the petal.

chúng tạo thành các “bộ phận tiếp năng lượng” cho cánh hoa.

13. This is an important statement. The petals store quality. All that which is to be abstracted from the members of the atomic triangle and transmutatively worked into quality by the Solar Angel is first accumulated in the permanent atoms and mental unit of the atomic triangle.

13. Đây là một mệnh đề quan trọng. Các cánh hoa tích trữ phẩm tính.  Mọi điều sẽ được trừu xuất từ các thành phần của tam giác nguyên tử và được Thái dương Thiên Thần chuyển hóa thành phẩm tính đều trước hết được tích lũy trong các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí của tam giác nguyên tử.

14. It would seem logical to conclude that the physical permanent atom feeds the knowledge petals; the astral permanent atom feeds the love petals; and the mental unit feeds the sacrifice tier of petals.

14. Có vẻ logic để kết luận rằng nguyên tử trường tồn thể xác tiếp năng lượng cho các cánh hoa tri thức; nguyên tử trường tồn cảm dục tiếp năng lượng cho các cánh hoa bác ái; và đơn vị hạ trí tiếp năng lượng cho vòng cánh hoa hi sinh.

Later, as the Pilgrim on the physical plane

Về sau, khi Người Lữ Hành trên cõi hồng trần

15. There is the Pilgrim on the spiritual planes (i.e., the Jiva leaving the “Father’s Home”, and the Pilgrim on the physical plane—i.e., the personalized Jiva.

15. Có Người Lữ Hành trên các cõi tinh thần (tức Jiva rời “Nhà của Cha”), và Người Lữ Hành trên cõi hồng trần—tức Jiva đã cá nhân hóa.

becomes more active and the egoic lotus is consequently unfolding with greater rapidity, the stage of mobility supervenes, and the circles commence their revolution.

trở nên linh hoạt hơn và hoa sen chân ngã theo đó khai mở nhanh hơn, giai đoạn linh động tiếp nối, và các vòng bắt đầu sự quay.

16. Note the word “commence”. It is not logical to conclude that the revolution of the second tier of petals occurs during the period of “mobility” though one can conclude this in relation to the outer tier of petals.

16. Lưu ý từ “bắt đầu”. Không hợp lý để kết luận rằng sự quay của vòng cánh hoa thứ hai diễn ra trong thời kỳ “linh động”, dù có thể kết luận như vậy với vòng cánh hoa ngoài.

17. If the period of inertia occurs before the rotation of the petals, may we say that the period of mobility (rajas) signals the possibility of revolution/rotation, but not the revolution/rotation of all three tiers?

17. Nếu thời kỳ trì trệ diễn ra trước sự quay của các cánh hoa, thì chúng ta có thể nói rằng thời kỳ linh động  (rajas) báo hiệu khả thể quay tròn/xoay vòng, nhưng không phải sự quay của tất cả  ba vòng?

18. We must realize that the different circles do not commence their revolution all at the same time. It seems necessary that the rotation of the second and third tiers can only occur during the period of “sattva” and not during the period of “mobility”.

18. Chúng ta phải nhận ra rằng các vòng khác nhau không bắt đầu quay cùng lúc. Có vẻ cần thiết rằng sự quay của vòng thứ hai và thứ ba chỉ có thể diễn ra trong thời kỳ “sattva” chứ không phải trong thời kỳ “linh động”.

19. The period in which the two minor initiations are taken is the period of mobility.

19. Giai đoạn mà hai lần điểm đạo nhỏ được trải qua là giai đoạn của “linh động”.

20. There are at least five stages of development which we must keep in mind relative to any tier of petals (though other thinkers might enumerate these stages differently):

20. Có ít nhất năm giai đoạn phát triển mà chúng ta cần ghi nhớ liên hệ đến bất kỳ một vòng cánh hoa nào (dẫu những người tư duy khác có thể liệt kê khác đi):

a. Stimulation and organization

– Kích thích và tổ chức – Khai mở dần dần dù có thể chưa trọn của các cánh hoa riêng lẻ – Bật tách và khai mở trọn vẹn của vòng, và như thế của mọi cánh hoa trong vòng – Tính tương tác của các cánh hoa để chuẩn bị cho sự quay – Sự quay tròn/xoay vòng

b. Gradual through probably incomplete unfoldment of individual petals

21. Một lần nữa, các giai đoạn này được liệt kê dựa trên suy luận. Cái thấy trực tiếp có thể chỉnh sửa bảng liệt kê các giai đoạn này.

c. Springing apart and full unfoldment of the tier and thus of all petals within the tier

Năng lượng trong vòng ngoài của các cánh hoa khiến nó bật tách ra khỏi vòng kế cận, và khai mở. Năng lượng tam phân này trở nên tương tác, và một giai đoạn rất rõ rệt như vậy được đạt tới (TCF 869)

d. Interactivity of the petals preparatory to revolution/rotation

22. Có khả năng rằng lần điểm đạo thứ nhất khởi đầu điều gọi là thời kỳ “sattva”. Lúc đó vòng thứ nhất chắc chắn đang quay. Từ điều được nói ngay trên, có vẻ khả hữu rằng sự quay của vòng thứ nhất bắt đầu trước khi  lần điểm đạo manasic thứ nhất.

e. Revolution/rotation

23. Như vậy, có thể lý luận cả hai cách—rằng sự quay của vòng thứ nhất có thể xảy ra trước  lần điểm đạo manasic thứ nhất, hoặc chỉ khi lần điểm đạo ấy đang diễn ra, hoặc chỉ khi  lần điểm đạo manasic thứ nhất diễn ra. Nếu mạo muội đưa ra một phỏng đoán có cân nhắc, tôi sẽ nói rằng vì thời kỳ sattvic là thời kỳ của điểm đạo chân chính và vì sự quay của vòng ngoài bắt đầu khi thời kỳ linh động  đang diễn tiến, nên có lẽ sự quay của vòng thứ nhất xảy ra trước lần điểm đạo manasic thứ nhất.

21. Again, these stages are listed on the basis of inference. Direct vision could modify this tabulation of stages.

24. Tuy nhiên, sẽ thỏa mãn về mặt trí tuệ nếu hình dung rằng sự quay của vòng thứ nhất diễn ra ở lần điểm đạo thứ nhất; sự quay của vòng thứ hai ở lần điểm đạo thứ hai; và sự quay của vòng thứ ba ở lần điểm đạo thứ ba. Kịch bản này có lẽ đúng với vòng thứ hai và thứ ba, nhưng có lẽ việc không tương ứng giữa sự quay của vòng thứ nhất với lần điểm đạo thứ nhất là ngoại lệ.

The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold.  This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached (TCF 869)

25. Không có phép suy luận nào thay thế được cái thấy trực tiếp.

22. It is likely that the first initiation begins what is called the period of “sattva”. By that time the first circle is surely revolving. From what is said immediately above, it seems likely that the revolution of the first circle begins before the first manasic initiation.

Cuối cùng, khi con người bước đi trên Thánh Đạo và mục đích của y được tăng cường, nụ trung tâm khai mở,

23. Thus, it is possible to reason both ways—that the rotation of the first tier may occur before the first manasic initiation or only as that initiation is occurring or only when the first manasic initiation is occurring. If I were to hazard[1] an educated guess, I would say that since the sattvic period is the period of true initiation and since rotation of the outer tier begins when the period of mobility is underway, it is probable that the rotation of the first tier occurs before the first manasic initiation.

26. Điều này bắt đầu xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất khi các cánh hoa tổng hợp bắt đầu chậm rãi khai mở. Sự khai mở bộ phận của mỗi trong ba cánh hoa tổng hợp được tương ứng với mỗi trong ba lần điểm đạo đầu tiên.

24. It would however be mentally satisfying to conceive that the revolution of the first tier occurred at the first initiation; the revolution of the second at the second initiation; and the revolution of the third tier at the third initiation. This scenario is probable with respect to the second and third tiers, but perhaps the non-correlation of the revolution of the first tier with the first initiation is the exception.

sự quay được hợp nhất,

25. No reasoning can take the place of direct sight.

27. Rốt cuộc ba vòng đều cùng quay, và, chúng ta có thể suy đoán, theo cùng một hướng.

Finally, when the man treads the Path and his purpose is intensified, the central bud unfolds,

thông qua sự rọi chiếu của các lửa từ Bảo châu, một nhịp điệu cụ thể được ấn định lên hoa sen, và các năng lượng của nó được ổn định.

26. This begins to occur at the first initiation as the synthesis petals begin slowly to unfold. The partial unfoldment of each of the three synthesis petals is correlated with each of the first three initiations.

28. Chúng ta đang nói về sự thiết lập một “nhịp điệu cụ thể” trong hoa sen chân ngã do tác động của “Bảo châu”. Tác động này, như chúng ta sẽ biết, phụ thuộc vào loại Chân thần liên hệ và “Nguyên Hình thiêng liêng” hay Hành Tinh Thượng đế của chân thần.

the revolution is unified,

29. Có tám lửa hay tia rọi phát từ “Bảo châu”. Sự ấn định “nhịp điệu cụ thể” này dứt khoát thuộc phần thời kỳ sattvic trong tiến trình của hoa sen chân ngã.

27. Eventually the three tiers all turn together, and, we may presume, in the same direction.

30. Thật thú vị khi xét rằng trước khi có sự rọi chiếu của các lửa từ “Bảo châu”, các năng lượng của “Bảo châu” chưa được xem là “ổn định”.

and through the raying forth of the fires of the Jewel, a specific rhythm is imposed upon the lotus, and its energies are stabilised.

31. Có tám  tia trong “sự rọi chiếu” này. Chúng ta phải liên hệ con số tám với tiến trình ổn định.

28. We are speaking of the establishment of a “specific rhythm” in the egoic lotus due to the action of the “Jewel”. This action is dependent, we will learn, on the type of Monad involved and the “divine Prototype” or Planetary Logos of the Monad.

Bản thân Bảo châu vẫn tĩnh tại một cách huyền nhiệm, và không lưu chuyển. Nó là một điểm bình an; nó đập nhịp đều như trái tim con người, và từ đó rọi ra tám dòng lửa sống vươn tới các đầu mút của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân [] này là atma-buddhi. Chính sự rọi chiếu cuối cùng này tạo ra sự tan rã rốt cuộc của thể của Chân ngã. (TCF 1118-1119)

29. There are eight fires or rays raying forth from the “Jewel”. The imposition of the “specific rhythm” is definitely part of the sattvic period within the egoic lotus process.

Nhịp điệu này đa dạng tùy theo loại Chân thần liên hệ, hoặc theo bản tính của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung của con người, tức Nguyên Hình thiêng liêng của y.

30. It is interesting to consider that before the raying forth of the fires of the “Jewel”, the energies of the “Jewel” are not considered to be “stabilised”.

32. Hai điều quyết định bản chất của nhịp điệu được áp lên hoa sen chân ngã trong sự rọi chiếu từ “Bảo châu”:

31. There are eight rays in this “raying forth”. We must related the number eight to the process of stabilization.

a. Bản tính của Chân thần b. Bản tính của Hành Tinh Thượng đế mà chân thần ‘thuộc về’

The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate.  It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals.  This eight-fold [1119] energy is atma-buddhi.  It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego. (TCF 1118-1119)

33. Lưu ý rằng từ “thiêng liêng” được dùng, chỉ rằng chân thần có liên quan. Chúng ta có thể tự hỏi liệu ta nên liên hệ linh hồn với “Nguyên Hình thiêng liêng” của con người hay là chân thần. Thuật ngữ “thiêng liêng” gợi rằng “cung của một người” ở đây thực sự là cung chân thần  của y.

This rhythm is diverse according to the type of Monad concerned, or the nature of the planetary Logos of a man’s ray, his divine Prototype.

34. Chúng ta sẽ biết rằng có bảy loại nhịp điệu  có thể được gây nên bởi sự phát xạ của “Bảo châu”.

32. Two things account for the nature of the rhythm imposed upon the egoic lotus during the raying forth from the “Jewel”:

Thông qua việc dùng những thuật ngữ nhất định, thông tin được chuyển tới Các Vị Công tác của hành tinh,

a. The nature of the Monad

35. Việc từ “Các Vị Công tác” được viết hoa gợi rằng họ là thành viên của Huyền Giai Tinh Thần.

b. The nature of the Planetary Logos to which the Monad ‘belongs’

Huynh Đệ Đoàn Ánh Sáng, về bản tính của Chân ngã liên hệ, phẩm tính của cung của y, con số rung động của y, và điểm tiến hoá đã đạt.

33. Note that the word “divine” is used, indicating that the Monad is involved. We might wonder whether we are to relate the soul to the man’s “divine Prototype” or the Monad. The term “divine” suggests that “a man’s ray” is really his monadic ray.

36. Bốn yếu tố được làm sáng tỏ bởi những thuật ngữ nhất định (thường là mật  ngữ) như sau:

34. We will learn that there are seven types of rhythm which can be induced by the radiation of the “Jewel”.

– Bản tính của Chân ngã – Phẩm tính của Cung của Chân ngã. Chúng ta không thể chắc rằng DK chỉ nói duy  cung chân ngã. Thông tin về cung chân thần cũng có thể được chuyển đạt. – Con số rung động của Chân ngã – Điểm tiến hoá đã đạt bởi Chân ngã

By the use of certain terms, information is conveyed to the Workers of the planet,

Do vậy, sẽ hiển nhiên tại sao không được phép ở đây công bố các tên gọi của bảy nhóm nhịp điệu.

35. The fact that the word “Workers” is capitalized, suggests that they are members of the Spiritual Hierarchy.

37. Người ta có thể tự hỏi liệu tên của một vài “bảy nhóm nhịp điệu” này có thể được trực giác phần nào từ các thuật ngữ trình bày ở các trang 1081 và 1082 khi các nhóm chân thần khác nhau được bàn đến hay không.

the Brotherhood of Light, as to the nature of Ego concerned, the quality of his Ray, the number of his vibration, and the point of evolution attained.

38. Chúng ta nhớ rằng bản chất của bảy nhóm nhịp điệu tùy thuộc phẩm tính của cung chân thần và bản tính của “Nguyên Hình thiêng liêng” hay Hành Tinh Thượng đế mà chân thần ‘thuộc về’.

36. Four factors illuminated by certain terms (often secret terms) are listed:

39. Điều này hàm ý rằng có bảy  loại chân thần khác nhau. Thực tế có thể có bảy loại cung phụ  chân thần khác nhau (và như vậy bảy biệt hóa chân thần), nhưng, cốt yếu, chỉ có ba  loại chân thần, chí ít xét theo cung  chân thần chính. Những hàm ý này rõ ràng nếu người ta xét cõi phụ thứ nhất và thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ trên Biểu Đồ V của TCF (tr. 344). Sự phân ba/bảy được thể hiện rõ.

a. The nature of the Ego

40. Vì cảm ứng nhịp điệu tự bản chất là một vấn đề chân thần, “  phẩm tính  của cung chân ngã” quả có vẻ tùy thuộc vào Chân Thần. Đôi khi thuật ngữ “Chân ngã” thậm chí hàm ý “Chân Thần”. (Nghiên cứu EP II 211) Chúng ta không thể chắc rằng điều này không phải là trường hợp đối với chỗ tham chiếu đang xét.

b. The quality of the Ego’s Ray. We cannot be certain that DK is speaking only the egoic ray. Information re the monadic ray may also be conveyed.

Một trong các hiệu ứng được tạo ra nơi phàm nhân thông qua các luân xa, thông qua sự hoạt động hợp nhất của thể nguyên nhân, là sự phối hợp các năng lượng thấp của con người.

c. The number of the Ego’s vibration

41. Đây là một mệnh đề trọng yếu. Chúng ta có thể tự hỏi phàm nhân rốt cuộc trở thành một phàm ngã tích hợp bằng cách nào. Chúng ta thấy rằng cần có sự hoạt động hợp nhất của thể nguyên nhân để thực hiện sự phối hợp như thế và tiến tới tích hợp dần dần.

d. The point of evolution attained by the Ego

42. Một phàm ngã thật sự tích hợp là một điểm đạo đồ bậc ba. Đến khi nhận lần điểm đạo thứ ba, cả ba  tầng cánh hoa đều đang xoay! Cuộc cách mạng nội tại là nguyên nhân của sự tích hợp bên ngoài. Tất nhiên, tất yếu có một vòng hồi tiếp giữa thể nguyên nhân và bộ máy phàm ngã.

It will be apparent therefore, why it is not permitted here to make public the names of the seven rhythmic groups.

Những năng lượng thấp này, như chúng ta biết, biểu lộ qua môi giới của:

37. One might wonder whether the names of some of these “seven rhythmic groups” might not be somewhat intuited from the terms presented in pages 1081 and 1082 when various monadic groupings are discussed.

a. Ba nhóm luân xa trong ba thể.

38. We remember that the nature of the seven rhythmic groups depends upon the quality of the monadic ray and the nature of the “divine Prototype” or Planetary Logos to which the Monad ‘belongs’.

b. Bản thân thể dĩ thái.

39. This implies that there are seven different types of Monads. In fact there can be seven different types of monadic subrays (and, thus, seven monadic differentiations), but, essentially, only three types of Monads, at least with regard to the major monadic ray. These implications are clear if one examines the first and second subplanes of the cosmic physical plane on Chart V of TCF 344). The seven/three division is clear.

c. Một số trung tâm trong thể xác như tuyến tùng, tuyến yên và lá lách.

40. Since rhythmic induction is essentially a monadic matter, the “ quality of the Ego’s ray” does seem to depend upon the Monad. Sometimes the term “Ego” even means “Monad”. (Study EP II 211) We cannot be sure that this is not the case with respect to the reference under consideration.

43. Trên đây là liệt kê các nhóm năng lượng cần được phối hợp rồi tích hợp.

One of the effects produced in the lower man via the centres, through the unified activity of the causal body, is the co-ordination of the lower energies of the human being.

Ở đây chúng ta không đề cập đến công việc của các luân xa như nó được tự khởi xướng vì vốn tiềm ẩn trong chính bản tánh của chúng, [] mà là những tác động sẽ được thấy trong chúng khi ba tầng của cánh hoa hoạt động với độ hòa hợp, ngày càng tăng, và mãnh lực hàm tàng trong Bảo Châu khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận.

41. This is a vitally important statement. We may wonder how the lower man comes, at last, to be an integrated personality. We see that the unified activity of the causal body is required for such coordination and gradual integration.

44. Đây là một phân biệt quan trọng. Các luân xa có thể bị tác động bởi con người như một phàm ngã. Những kết quả như thế, như thể nói, là “được khởi công từ bên dưới”. Trong một thời gian dài, các luân xa trong những vận cụ phàm ngã khác nhau vận hành (dường như) theo một cung cách đặc trưng mà không có ảnh hưởng trực tiếp từ các phần khác nhau của thể nguyên nhân.

42. A truly integrated personality is an initiate of the third degree. By the time the third degree is taken, all three tiers of petals are revolving! The inner revolution is the cause of the outer integration. Of course, there is necessarily a feedback loop between the causal body and the personality mechanism.

45. Chúng ta đang nói về một kiểu công việc bổ sung do các luân xa thực hiện khi chúng bắt đầu được các tầng cánh hoa (chính chúng được xem như những nguồn năng lượng và là những trung tâm) và bởi “Bảo Châu trong Hoa Sen” ảnh hưởng.

These lower energies, as we know, demonstrate through the medium of:

46. Chúng ta phải học xem các cánh hoa và các tầng của thể nguyên nhân như thể chúng là các nguồn ảnh hưởng, những trung tâm lực có ảnh hưởng.

a.  The three groups of centres in the three bodies.

47. Vậy nên, các cánh hoa và các tầng không chỉ là ‘bộ phận tích lũy thụ động’ của phẩm tính ‘được khởi công’ từ bên dưới. Bởi các cánh hoa và các tầng này cũng được Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần ảnh hưởng, chúng trở thành các trung tâm lực đúng theo vị thế riêng của chúng,  dù ảnh hưởng của chúng tăng trưởng trong tiến trình mà phẩm tính được xây vào thể nguyên nhân như kết quả của công phu của phàm ngã.

b.  The etheric body itself.

Có thể nói một cách cụ thể rằng những hiệu ứng này tự biểu lộ theo ba phương diện:

c. Certain centres in the physical body such as the pineal gland, the pituitary body and the spleen.

48. Chúng ta đang nói về các hiệu ứng được gây ra nơi các luân xa bởi những động lực phát triển xảy ra trong thể nguyên nhân.

43. The above details the groups of energies which are to be coordinated and then integrated.

Trước hết, chúng khiến nhóm “bánh xe” hay các luân xa trên mỗi cõi (hoặc trong mỗi vận cụ vi tế)

We are not here referring to the work of those centres as it is self-initiated because inherent in their very nature, [1121] but to the effects to be seen in them as the three tiers of petals function with increasing coherence, and the force latent in the Jewel makes its presence felt.

49. Một bộ bảy chính trong thể dĩ thái; một bộ bảy chính trong thể cảm dục; và một bộ bốn chính trong thể hạ trí…

44. This is an important distinction. The centers can be influenced by the man-as-personality. Such results are, as it were, “worked up from below”. For a long while the centers in the various personality vehicles function (so it appears) in a characteristic manner without direct influence from the different parts of the causal body.

trở nên bốn chiều, và vận hành như “những bánh xe tự quay trên chính mình”.

45. We are speaking of an additional type of work performed by the centers as they begin to be influenced by the tiers of petals (considered, themselves, as energy sources and centers) and by the “Jewel in the Lotus”.

50. Sự xoay bốn chiều này dường như được gây khởi trong mỗi vận cụ ở mỗi lần điểm đạo: trong thể dĩ thái ở lần điểm đạo thứ nhất; trong thể cảm dục ở lần điểm đạo thứ hai; và trong thể trí ở lần điểm đạo thứ ba.

46. We must learn to consider the petals and tiers of the causal body as if they were influential sources, influential force centers.

Trước khi điểm đạo, tất cả các luân xa sẽ quay theo trật tự bốn chiều, nhưng sau khi điểm đạo chúng trở thành những bánh xe rực lửa, và—được thấy bằng thông nhãn—có vẻ đẹp hiếm có. Lửa Kundalini khi ấy được đánh thức và đang tiến lên theo những xoắn ốc cần thiết. Vào lần điểm đạo thứ hai, các luân xa cảm dục được đánh thức tương tự, và vào lần điểm đạo thứ ba những luân xa trên cõi trí được chạm đến. Người điểm đạo khi ấy có thể đứng trong Hiện Diện của Đại Vương, Đấng Điểm đạo Duy Nhất. (LOM 75)

47. The petals and tiers, therefore, are not just ‘passive accumulators’ of quality ‘worked up’ from below. Because these petals and tiers are also influenced by the spiritual triad and by the Monad, they become centers of force in their own right, though their influence grows during the process which sees quality built into the causal body as a result of the labors of the personality.

51. Chúng ta đã nghiên cứu hiện tượng xoay bốn chiều của các luân xa trước đó trong sách (như trên). Giờ đây chúng ta thấy rằng các động lực của thể nguyên nhân (vốn chính chúng được gây khởi bởi động lực chân thần) phần lớn chịu trách nhiệm cho các động lực của thể nguyên nhân như thế.

It might specifically be said that these effects show themselves in a threefold manner:

Thứ hai, chúng tạo ra sự phân phối năng lượng có trật tự bằng cách hình thành các tam giác năng lượng khác nhau trong các thể.

48. We are speaking of the effects induced in the centers by developmental dynamics occurring within the causal body.

52. Các luân xa có thể được nhóm lại theo nhiều dạng tam giác khác nhau và các tam giác này phải được kích thích và đưa vào hoạt động đầy đủ.

First, they cause the group of “wheels” or centres on each plane (or in each of the subtler vehicles)

53. Trong tất cả điều này chúng ta đang học thấy việc xây dựng thể nguyên nhân thành một khí cụ ảnh hưởng hữu hiệu là quan trọng dường nào.

49. A major seven in the etheric body; a major seven in the astral body; and a major four in the lower mental body…

Điều này đã được đề cập trước đó, và ở đây chỉ cần nêu rằng chính năng lượng, tích tụ trong thể nguyên nhân và từ đó khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận, vốn sinh ra giữa các luân xa sự tuần hoàn huyền bí của lực vốn rốt cuộc liên kết mỗi luân xa theo một kiểu hình học đặc thù, do đó đưa mọi phần của bản tánh phàm nhân vào sự khuất phục.

to become fourth dimensional, and to function as “wheels which turn upon themselves.”

54. Đây là những mệnh đề khác thường. Chúng ta hãy lần theo tiến trình:

50. This fourth dimensional rotation appears to be induced in a different vehicle at each initiation: in the etheric body at the first initiation; in the astral body at the second initiation; and in the mental body at the third initiation.

Năng lượng tích tụ trong thể nguyên nhân qua các tiến trình nỗ lực và kinh nghiệm cá nhân trong các lần lâm phàm lặp lại

Before initiation, all the centres will be rotating in fourth-dimensional order,but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty,  The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals.  At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched.  The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator. (LOM 74-75)

Năng lượng tích tụ này khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận trong phàm ngã thông qua các vận cụ của phàm ngã và các luân xa trong các vận cụ ấy.

51. We have studied the appearance of fourth dimensional rotation of the chakras earlier in the book (as above). Now we see that the dynamics of the causal body (themselves induced by monadic dynamics) are largely responsible for such causal-body dynamics.

Năng lượng này tạo ra giữa các luân xa của các vận cụ phàm ngã khác nhau một “tuần hoàn huyền bí của lực”

Secondly, they produce the orderly distribution of force by the forming of various triangles of energy within the bodies.

Tuần hoàn huyền bí của lực này rốt cuộc liên kết các luân xa khác nhau theo một kiểu hình học đặc thù—lại nữa tùy thuộc vào cung của Chân Thần và “Bản Mẫu thiêng liêng” mà Chân Thần liên hệ.

52. The chakras can be grouped together in various triangular formations and these triangles must be stimulated and brought into full functioning activity.

Các luân xa kiểm soát mọi phần phụ của mỗi vận cụ, gồm cả nhiều trung tâm thứ yếu và nhỏ ti li, và cả các tuyến nội tiết của thể xác đậm đặc. Khi mô thức hình học đã được tạo lập, mọi phương diện của vận cụ phàm ngã đều được đưa vào sự khuất phục.

53. In all this we are learning how important it is to build the causal body into an effective instrument of influence.

55. Dù nhiều chi tiết được bàn luận, chúng ta thấy bản tánh của Chân Thần nằm sau mọi động lực được mô tả ở đây.

This has been earlier dealt with, and it is only necessary here to point out that it is the energy, accumulating in the causal body and from thence making its presence felt, which produces among the centres the esoteric circulation of force which eventually links each centre up in a peculiar geometrical fashion, thus bringing every part of the nature of the lower man into subjection.

56. Chúng ta phải nhận ra rằng mọi điều được tích chứa và lưu giữ trong thể nguyên nhân đều trở nên có ảnh hưởng về mặt năng lượng đối với sự phát triển tương lai của phàm ngã.

54. These are extraordinary statements. Let us track the process:

Thứ ba, chúng đưa đến sự kích thích một số tuyến nội tiết của thân thể vốn hiện nay được xem là thuần vật lý, nhờ đó giúp Thái dương Thiên Thần nắm bắt và giữ theo Mục Đích của Ngài đối với thể xác đậm đặc.

a. Energy accumulates in the causal body through the processes of personal effort and experience during repeated incarnations

57. Điều này đã được gợi ý trong cuộc bàn luận của chúng ta nhưng ở đây được phát biểu minh nhiên.

b. This accumulated energy makes its presence felt within the personality through its vehicles and the chakras within those vehicles.

58. Bởi vậy, sự kích thích hệ tuyến (mang tính tinh thần) là kết quả của các động lực phát triển xảy ra trong thể nguyên nhân. Chúng ta phải luôn nhớ mức độ mà Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần ảnh hưởng thể nguyên nhân. Biểu đồ VIII, tr. 817, trong Luận về Lửa Vũ Trụ minh họa điều này.

c. This energy produces between the chakras of the various personality vehicles an “esoteric circulation of force”

59. Lưu ý rằng Thái dương Thiên Thần xoay xở đạt được một sự chế ngự rất vật chất đối với khí cụ của mình. Mọi phương diện của phàm nhân đều phải chịu sự kiểm soát của Ngài.

d. This esoteric circulation of force eventually links the various centers in a particular geometrical fashion—again depending upon the ray of the Monad and the “divine Prototype” to which the Monad is related.

Sẽ hữu ích nếu môn sinh ghi nhớ rằng mỗi luân xa đều có thể được xem như một bằng chứng của hỏa năng hay lửa Thái dương, biểu lộ như một môi giới của hỏa năng thấp hay lửa do ma sát.

e. The chakras control all subsidiary parts of each vehicle including many minor and minute centers and also the endocrine glands of the dense physical body. Once the geometrical patterning is created, all aspects of the personality vehicle are brought under subjugation.

60. Thực sự nguồn gốc của các luân xa là gì? Ở đây chúng ta được cho biết rằng lửa Thái dương của thể nguyên nhân là một nguồn quan trọng của sự hiện lộ của chúng. Tuy vậy trích dẫn sau cho thấy nguồn  thật sự của các luân xa là Chân Thần:

55. Although many details are discussed, we do see that the nature of the Monad lies behind all the dynamics here described.

Các luân xa hoàn toàn được hình thành bởi những dòng lực, tuôn đổ xuống từ Chân ngã, Đấng truyền đạt nó từ Chân Thần. Trong điều này chúng ta có bí nghiệm về sự gia tốc rung động dần dần của các luân xa khi Chân ngã trước hết nắm quyền kiểm soát, hay hoạt động, và sau đó (sau điểm đạo) là Chân Thần, nhờ thế mang lại những thay đổi và tăng thêm sinh lực trong các hình cầu lửa hay của lực sự sống thuần túy này. (TCF 166)

56. We must realize that all that is accumulated and stored in the causal body becomes energetically influential with regard to future development of the personality.

Ở nơi các luân xa này hiện hữu Thái dương Thiên Thần có thể dần dần áp đặt nhịp điệu và rung động của Ngài lên cái vốn rung động theo cái được xem là một nhịp điệu thấp.

Thirdly, they bring about the stimulation of certain of the glands of the body which are deemed at present purely physical, and thus enable the solar Angel to grip and hold to His purpose the dense physical body.

61. Nhịp điệu thấp phát sinh từ các mô thức năng lượng liên hệ đến Phương diện thứ ba của Thiêng tính và từ một dãy cùng một hệ mặt trời trước.

57. This was suggested in our discussion but here is explicitly stated.

62. Chúng ta phải nhận ra rằng các luân xa trong các vận cụ thấp đã xuất hiện rất lâu trước khi Thái dương Thiên Thần dấn thân với kiểu thú thể vốn sẽ trở thành con người. Vận cụ của con người vốn mang tính thú thể trước khi “người thú” thành hình và như thế từ rất lâu trước khi Thái dương Thiên Thần xuất hiện trên khung cảnh.

58. Glandular stimulation (of a spiritual kind), therefore, is the result of developmental dynamics occurring within the causal body. We must always remember the degree to which the spiritual triad and the Monad influence the causal body. Chart VIII, p. 817, in A Treatise on Cosmic Fire illustrates this.

63. Chúng ta có hai nhịp điệu được áp đặt:

59. Notice that the Solar Angel manages to achieve a very physical grip upon its instrument. All aspects of the lower man have to come under its control.

Một là do Chân Thần (và Bản Mẫu của Ngài) áp đặt và sản sinh một trong bảy nhịp điệu bí ẩn, vô danh trong thể nguyên nhân.

It may be helpful if the student bears in mind the fact that every centre may be considered as an evidence of solar energy or fire, manifesting as a medium of lower energy or fire by friction.

Kiểu nhịp điệu kia do Thái dương Thiên Thần áp đặt lên các vận cụ của phàm ngã. Nhịp điệu này hẳn liên hệ chặt chẽ với nhịp điệu do Chân Thần và Hành Tinh Thượng đế mà Chân Thần rốt cuộc liên hệ mật thiết nhất áp đặt.

60. What actually is the origin of the chakras? Here we are told that the solar fire of the causal body is an important source of their manifestation. Yet the following quotation demonstrates that the real source of the chakras is the Monad:

64. Chúng ta thấy có một ảnh hưởng trực tiếp từ Chân Thần ngay cả khi Nó tác động lên các động lực phát triển trong vận cụ thấp nhất của phàm ngã.

The centres are formed entirely of streams of force, pouring down from the Ego, who transmits it from the Monad.  In this we have the secret of the gradual vibratory quickening of the centres as the Ego first comes into control, or activity, and later (after initiation) the Monad, thus bringing about changes and increased vitality within these spheres of fire or of pure life force. (TCF 166)

Như thế Ngài dần đưa toàn thể chất-liệu-hình tướng thấp vào dưới sự kiểm soát của Ngài.

Where these centres exist the solar Angel is enabled gradually to impose his rhythm and vibration upon that which vibrates to what is regarded as a lower rhythm.

65. Chúng ta đang được cho một góc nhìn mới về cách thức mà sự kiểm soát và sau đó là sự phối hợp và tích hợp của phàm ngã được thành tựu.

61. The lower rhythm arises from energy patterns related to the third aspect of divinity and from an earlier chain and solar system.

Trước sự giải thoát cuối cùng

62. We must realize that chakras in the lower vehicles appeared long before the Solar Angel engaged with the type of animal which was to become man. The vehicle of man was animal-like before “animal-man” came into being and, thus long before the Solar Angel appeared on the scene.

66. Trong trường hợp này, “giải thoát cuối cùng” là lần điểm đạo thứ tư.

63. We have two rhythms being imposed:

nhưng sau khi phần chủ yếu của các tiến trình thanh lọc và chỉnh hợp đã hoàn tất, các vận cụ của vị điểm đạo đồ trình bày một vẻ huy hoàng diệu kỳ, do những dòng năng lượng từ thể chân ngã vốn [] có thể đến với y.

a. One is imposed by the Monad (and its Prototype) and produces one of seven unnamed, mysterious rhythms within the causal body.

67. Chúng ta đã được cho biết về màn trình hiện kỳ diệu của một thể nguyên nhân phát triển hoàn mãn, nhưng ở đây chúng ta biết thêm rằng các vận cụ phàm ngã của vị điểm đạo đồ cũng trình bày một “vẻ huy hoàng diệu kỳ”.

b. The other type of rhythm is imposed by the Solar Angel upon the vehicles of the personality. This rhythm is probably closely related to the rhythm imposed by the Monad and by the Planetary Logos to which the Monad is ultimately most closely related.

Hoa sen chân ngã đã khai mở, và “lửa” trung tâm hiển lộ.

64. We see that there is a direct influence from the Monad even as it impacts developmental dynamics within the lowest of the personality vehicles.

68. Ba cánh hoa hợp nhất đã “bật mở” để lộ “Bảo Châu”.

Thus He gradually swings the entire lower form-substance into His control.

Mỗi cánh hoa và mỗi vòng cánh hoa đang rung động với sự sống và sắc màu, và đang chuyển động linh hoạt, xoay với tốc độ lớn

65. We are being given a new slant on how the control and subsequent coordination and integration of the personality are achieved.

69. Có lẽ, trong khoa học về hoa sen chân ngã, có một tốc độ xoay nhất định.

Before the final liberation

70. Sự “đập nhịp” gợi ý kiểu ảnh hưởng phát xuất từ “Bảo Châu trong Hoa Sen”. Tác động của Cung một liên hệ với nhịp đập.

66. In this instance, the “final liberation” is the fourth initiation.

với dòng năng lượng sống lưu lưu tuần hoàn trong mọi phần của hoa sen.

but after the major part of the purificatory and aligning processes are complete, the vehicles of the initiate present a wonderful appearance, due to the streams of energy from the egoic body which [1122]can reach him.

71. Vì sao Chân sư DK dùng từ “sống”? Ắt hẳn có hoạt động chư thiên mạnh mẽ trong hoa sen chân ngã đã khai mở trọn vẹn.

67. We have been told of the marvellous display presented by a fully developed causal body, but here we learn that the personality vehicles of the initiate also present a “wonderful appearance”.

Ba nguyên tử trường tồn rực sáng và bừng cháy và hình thành, thông qua sự xoay nhanh và tương tác của chúng, cái trông như một điểm lửa rực cháy,

The egoic lotus is unfolded, and the central “fire” displayed.

72. Trước hết thấy một tam giác ba điểm rồi sau đó là một điểm lửa rực cháy.

68. The three synthesis petals have “burst open” revealing the “Jewel”.

đến nỗi đôi khi nó được gọi là “phản ảnh của Bảo Châu trên trán Mẹ”.

Each petal and each circle of petals is pulsating with life and colour, and is in active movement, revolving with great rapidity

73. Ở đây chúng ta có một liên hệ giữa “Bảo Châu trong Hoa Sen”, dấu hiệu Kim Ngưu và “điểm lửa rực cháy” được tạo bởi sự xoay nhanh của năng lượng giữa ba thành viên của tam giác nguyên tử.

69. Presumably, in the science of the egoic lotus, there is a rate of revolution.

74. Điều quan trọng là nhận ra rằng các thành viên được kích thích cao của tam giác nguyên tử (vốn, như chúng kết lại, tạo thành “một điểm lửa rực cháy”) là một “phản ảnh” của “Bảo Châu trong Hoa Sen”.

70. Pulsation suggests the type of influence coming from the “Jewel in the Lotus”. The action of the first ray is related to pulsation.

75. Chúng ta đang xử lý nhiều sự thức tỉnh đồng thời và sự tương tác của các phương diện đang thức tỉnh của hoa sen chân ngã.

with the stream of living energy circulating in every part of the lotus.

Mười tám luân xa trên ba cõi (bốn trên cõi trí và bảy trên mỗi trong hai cõi thấp) là những bánh xe lửa rạng ngời,

71. Why does Master DK use the word “living”? Presumably, there is great devic activity in the fully unfolded egoic lotus.

76. Điều này ám chỉ “vẻ huy hoàng diệu kỳ” của các vận cụ phàm ngã, cộng thêm màn hiển lộ ngoạn mục đang xảy ra trong hoa sen chân ngã.

The three permanent atoms glow and blaze and form, through their rapid revolution and interplay, what appears to be a blazing point of fire,

mỗi nhóm được phân biệt bởi một màu sắc đặc thù, và xoay với tốc độ nhanh đến nỗi mắt hầu như khó theo kịp.

72. First a triangle of three points is seen and then a blazing point of fire.

77. DK đang nói đến một con mắt nội —ắt hẳn là trong trường hợp các luân xa cảm dục và trí.

so that it has been called at times “the reflection of the Jewel in the Mother’s forehead.”

78. Có lẽ các luân xa dĩ thái, cảm dục và trí đều có màu riêng của chúng. Chúng ta có thể liên hệ tím với các luân xa dĩ thái, hồng với các luân xa cảm dục và, có lẽ, cam với các luân xa hạ trí.

73. We have here a connection between the “Jewel in the Lotus”, the sign Taurus and the “blazing point of fire” formed by the rapid revolution of energy between the three members of the atomic triangle.

Các thể được cấu thành bởi những cấp chất liệu cao nhất,

74. It is important to realize that the highly stimulated members of the atomic triangle (forming as they do, a “blazing point of fire”) are a “reflection” of the “Jewel in the Lotus”.

79. Trong trường hợp này là chất liệu nguyên tử. Điều này đạt được vào thời kỳ lần điểm đạo thứ tư.

75. We are dealing with a number of simultaneous awakenings and the interplay of the awakening aspects of the egoic lotus.

mỗi nguyên tử cá biệt, vì thế, đều có khả năng rung động tăng cường, và rực sáng bằng ánh sáng của lửa trung tâm riêng của nó.

The eighteen centres on the three planes (four on the mental and seven on each of the two lower planes) are radiant wheels of fire,

80. Chân sư DK đang nói không chỉ về các nguyên tử là thành viên của tam giác nguyên tử mà còn về mọi nguyên tử chất liệu trong các vận cụ khác nhau.

76. This references the “wonderful appearance” of the personality vehicles adding to the spectacular display occurring within the egoic lotus.

Đặc biệt cần lưu ý thể dĩ thái vì ở giai đoạn này nó là kẻ truyền dẫn loại prana tinh khiết nhất,

each group distinguished by a specific colour, and revolving with such rapidity that the eye can scarce follow them.

81. Có bốn hay năm phẩm độ prana, hay ít nhất bốn hoặc năm phân khu của thể dĩ thái, mỗi phân khu với kiểu prana riêng của nó.

77. DK is speaking of an inner eye—certainly in the case of the astral and mental chakras.

82. Năm loại prana là: Prana, Samana, Apana, Upana và Vyana. Có lẽ mỗi loại này có nhiều cấp độ tinh luyện khác nhau.

78. Presumably the etheric, astral and mental chakras each have their own distinctive color. We might associate violet with the etheric chakras, rose with the astral chakras and, perhaps, orange with the lower mental chakras.

83. Chúng ta có thể giả định rằng khi các lần điểm đạo tiến triển, thể dĩ thái có thể truyền dẫn những loại prana ngày càng tinh khiết. Người ta nghĩ rằng prana liên hệ nhất với cõi phụ nguyên tử là “loại prana tinh khiết nhất”.

The bodies are formed of the highest grades of substance,

và xứng với tên đôi khi được đặt cho nó là “thể của Mặt Trời”.

79. In this case, atomic substance. This is achieved at the period of the fourth initiation.

84. “Thể của Mặt Trời” này chỉ xuất hiện khi lần điểm đạo thứ tư sắp được thọ lãnh.

each individual atom, therefore, being capable of intensified vibration, and glowing with the light of its own central fire.

85. Có vẻ như có sự đồng nhất giữa “thể của Mặt Trời” và “thể lửa” hay “thể bất hoại” được dẫn trên TCF 166.

80. Master DK is speaking not only the atoms which are members of the atomic triangle but of all the atoms of substance in the various vehicles.

Nó là bọc bao giữ các ngọn lửa của hệ vi mô;

The etheric body especially is to be noticed as it is a transmitter at this stage of the purest type of prana,

86. DK đang mô tả thể dĩ thái. Rốt cuộc thể dĩ thái có thể giữ và truyền tất cả các lửa cao của hệ vi mô. Nhờ thế, qua thể dĩ thái, “trời giáng xuống đất”.

81. There are four or five grades of prana, or at least four or five divisions of the etheric body, each division with its own type of prana.

trong đó không chỉ tập trung các lửa pranic, mà còn cả bảy luân xa vốn là các bộ truyền dẫn mọi năng lượng cao từ Chân ngã, và từ hai thể vật chất cao hơn.

82. The five types of prana are: Prana, Samana, Apana, Upana and Vyana. Perhaps each of these types comes in various grades of refinement.

87. DK đang mô tả thể dĩ thái vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư.

83. We can assume that as initiations progress, the etheric body can transmit an increasingly pure type of prana. One would think that the prana most associated with the atomic subplane is the “purest type of prana”.

88. “Hai thể vật chất cao hơn” là thể cảm dục và thể hạ trí.

and deserves the name sometimes given to it of “the body of the Sun.”

89. Chân ngã bao hàm nhiều năng lượng, một số trong đó là ảnh hưởng trực tiếp từ Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần.

84. This “body of the Sun” appears only as the fourth initiation is about to be taken.

Mọi sự được tập trung, và vận cụ dĩ thái chờ được sử dụng trên cõi hồng trần trong hợp tác với môi giới đậm đặc cho đến khi con người có thể thành công trong việc liên kết tâm thức của hai phương diện của thể đậm đặc để cho tính liên tục được duy trì.

85. It would seem that there is an identicality between the “body of the Sun” and the “body of fire” or “body incorruptible” referenced on TCF 166.

90. Chân sư DK đang mô tả một trong các điều kiện để đạt “tính liên tục của tâm thức”.

It is the envelope which holds the fires of the microcosmic system;

91. Có vẻ được hàm ý rằng thể dĩ thái là một trong hai phương diện của thể đậm đặc. Lưu ý DK không nói “thể hồng trần đậm đặc”. Thể dĩ thái vẫn là một thể thuộc cõi hồng trần.

86. DK is describing the etheric body. Eventually the etheric body can hold and transmit all the higher fires of the microcosmic system. Thus, via the etheric body, “heaven descends to Earth”.

Khi công việc này hoàn tất, ba trung tâm có bản chất hoàn toàn vật chất—tuyến tùng, tuyến yên và lá lách—tự chúng trở nên sáng rỡ và rực rỡ,

in it are centred not only the pranic fires, but those seven centres which are the transmitters of all the higher energies from the Ego, and from the two higher material bodies.

92. Tuyến liên hệ với trung tâm alta major không được nhắc đến.

87. DK is describing the etheric body at the time of the fourth initiation.

93. Chúng ta thấy rằng quang huy, vẻ huy hoàng phát sinh vào lúc lần điểm đạo thứ tư không chỉ giới hạn ở các phương diện vi tế của con người. Sẽ có một tuyến tùng rực rỡ, một tuyến yên rực rỡ và một lá lách rực rỡ. Lá lách, dĩ nhiên, là một “cơ quan thái dương” liên hệ với prana rực rỡ.

88. The “two higher material bodies” are the astral and lower mental bodies.

và mọi lửa của thân thể được kích thích đến mức các nguyên tử cấu thành vỏ bọc thể xác dường như phát quang.

89. The Ego contains many energies, some of them direct influences from the spiritual triad and Monad.

94. Ngay cả những nguyên tử chất liệu li ti cũng dường như phát sáng.

All is centralised, and the etheric vehicle waits for use on the physical plane in co-operation with the dense medium until the man can succeed in linking the consciousness of the two aspects of the dense body so that the continuity is preserved.

95. Chúng ta đang nói về sự quang minh của vận cụ. Chúng ta không chỉ nói về sự soi sáng chủ quan.

90. Master DK is describing one of the requirements for achieving continuity of consciousness.

Đây là chân lý huyền môn đằng sau niềm tin rằng mọi sứ giả đến từ Thánh đoàn và mọi Đấng [] Cứu Thế của nhân loại tự nhiên là một vị chữa lành.

91. It seems inferred that the etheric body is one of the two aspects of the dense body. Note DK did not say “dense physical body”. The etheric body is still a physical body.

96. Quang huy được khơi dậy trong các vận cụ vào lần điểm đạo thứ tư và những lần sau đó khiến sự chữa lành này trở nên khả hữu.

This work accomplished, the three centres which are of a strictly physical nature—the pineal gland, the pituitary body and the spleen-themselves become luminous and radiant,

Các lực chảy qua một người mà các nguyên tử, luân xa, các vỏ bao, và thể nguyên nhân hợp thành một đơn vị nhất quán trong hoạt động đầy đủ và rạng ngời mạnh đến độ có tác động rõ rệt lên bản tính của những ai họ tiếp xúc.

92. The gland(s) associated with the alta major center is/are not mentioned.

97. Một tiểu vũ trụ được soi sáng, tích hợp là một khí cụ chữa lành tuyệt hảo.

93. We see that the radiance, the wonderful appearance emerging at the time of the fourth initiation is not limited to the subtler aspects of man. There will be a radiant pineal gland, pituitary gland and spleen. The spleen is, of course, a ‘solar organ’ related to radiant prana.

Họ chữa lành, kích thích và nâng mức rung động của đồng loại.

and all the fires of the body are so stimulated that the atoms which form the physical sheath appear to radiate.

98. Vậy nên, mọi thành viên của Thánh đoàn không chỉ là các nhà tâm lý học nội môn (như chúng ta đã được cho biết) mà còn là các nhà trị liệu huyền môn.

94. Even the tiny atoms of substance appear to radiate.

Tất cả điều này phải được phần nào nhận ra và hình dung trước khi một người trên cõi hồng trần sẵn lòng chịu đựng kỷ luật thanh luyện, và bước đi trên Thánh Đạo nhờ đó y tìm thấy tâm điểm của mình và làm việc từ lập trường quyền năng đó.

95. We are speaking of vehicular illumination. We are not speaking solely of the subjective illumination.

99. Giờ chúng ta thấy một trong những lý do chính khiến Chân sư DK mô tả tiến trình hoàn tất sự phát triển của thể nguyên nhân: nó cung cấp một khích lệ cho con người ở cõi hồng trần chịu đựng những kỷ luật cần thiết để đưa đến sự viên thành này.

This is the occult truth behind the belief that every messenger from the Lodge and every Saviour [1123] of man is naturally a healer.

Y phải chỉnh hợp những yếu tố khác nhau này, hay các trung tâm năng lượng, và như thế đưa xuống cõi hồng trần quyền năng để được dùng trong việc chữa lành các dân tộc.

96. The radiance induced in the vehicles at the fourth initiation and beyond makes this healing possible.

100. Chúng ta thấy rằng để “chữa lành các dân tộc” cần có cả sự soi sáng và quang huy của ngay cả thể xác đậm đặc.

The forces which flow through a man whose atoms, centres, sheaths, and causal body form a coherent unit in full and radiant activity are of such strength and purity as to have a definite effect upon the nature of those they contact.

101. Đồng thời chúng ta được gợi ý về một trong các chức năng hành tinh chính của Huyền Giai Tinh Thần.

97. An illumined, integrated microcosm is a superb instrument of healing.

Khi vinh quang của Thần nội tại nơi một người được thấy, khi quang huy của y bừng tỏa thì sẽ được nói về y cũng như về những ai đã đi trước y trên Thánh Đạo: “Bấy giờ Mặt Trời Công Chính sẽ mọc lên, trong cánh Ngài có sự chữa lành.”19 [Kinh Thánh. Ma-la-chi, 4:2]

They heal, stimulate and increase the vibration of their fellow men.

102. Chúng ta đang nói về ‘sự hiển vinh của con người’—cách thức y được đưa đến một trạng thái thành tựu rạng ngời.

98. Thus, all members of the Lodge are not only esoteric psychologists (as we have been told) but esoteric healers as well.

103. Có nhiều câu Kinh Thánh sẽ không được hiểu trọn vẹn trừ phi được giải thích qua minh triết triết học và huyền môn tinh thần.

All this must be somewhat realised and visioned before a man on the physical plane will be willing to undergo the purifying discipline, and tread the Path whereby he finds his centre and works from that standpoint of power.

99. We now see one of the main reasons that Master DK described the process of the consummation of the development of the causal body: it provides an incentive to physical plane man to undergo the disciplines necessary to bring about this consummation.

He has to align these various factors, or energy centres, and thus bring on to the physical plane power to be used in the healing of the nations.

100.  We see that for the “healing of the nations” the illumination and radiance of even the dense physical body is required.

101.  Also we are given a hint regarding one of the major planetary functions of the Spiritual Hierarchy.

When the glory of a man’s inner God is seen, when his radiance shines forth then will it be said of him as of those who have preceded him along the Path: “Then shall the Sun of Righteousness arise with healing in his wings.”19 [Bible. Malachi, 4:2]

102.  We are speaking of the ‘glorification of man’—the manner in which he is brought to a state of radiant consummation.

103.  Many are the Biblical phrases which will be incompletely understood unless explained through philosophical, spiritual occultism.

Scroll to Top