S9S6 Part I (TCF 1128 – 1132)
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Ngài Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của LVLVT được đặt cỡ chữ 14. Lời bình được đặt cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Đề nghị đọc Lời bình này đọc kèm với LVLVT sẵn bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới học Lời bình |
|
VI. EFFECTS OF SYNTHETIC MOTION |
VI. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỘNG TỔNG HỢP |
|
1. Introductory remarks on alignment. |
1. Những nhận xét mở đầu về chỉnh hợp. |
|
The effects of the synthetic activity of the centres, sheaths and causal body produce: |
Các tác động của hoạt động tổng hợp của các trung tâm, các thể bao và thể nguyên nhân tạo ra: |
|
Periodicity of manifestation. |
Tính chu kỳ của sự biểu lộ. |
|
1. The taking by the human Jiva of successive manifestations is the foremost microcosmic manifestation of this periodicity. |
1. Việc Jiva nhân loại thọ các lần biểu lộ kế tiếp nhau là sự biểu hiện vi mô hàng đầu của tính chu kỳ này. |
|
The linking of the Triangles. |
Sự nối kết của các Tam giác. |
|
2. This process render the etheric body a faithful representative of the higher energy sources within man—the causal body, the spiritual triad, even the Monad. Triangles are also generate within the astral body and the lower mental body. |
2. Tiến trình này làm cho thể dĩ thái trở thành một đại diện trung thực của các nguồn năng lượng cao hơn trong con người—thể nguyên nhân, Tam Nguyên Tinh Thần, thậm chí cả Chân thần. Các tam giác cũng được tạo trong thể cảm dục và thể hạ trí. |
|
The relation between: |
Mối liên hệ giữa: |
|
a. The alta major centre. |
a. Luân xa alta major. |
|
b. The throat centre. |
b. Luân xa cổ họng. |
|
c. The centres on the mental plane. |
c. Các trung tâm trên cõi trí. |
|
3. This is a relation established between centers through which the third aspect of divinity expresses. |
3. Đây là một mối liên hệ được thiết lập giữa các trung tâm qua đó phương diện thứ ba của thiên tính biểu lộ. |
|
If we summarize the thoughts conveyed here, we will find that it deals with some aspects of that very necessary alignment which must take place prior to full ability to serve in final liberation. |
Nếu chúng ta tóm lược các ý tưởng được chuyển tải ở đây, chúng ta sẽ thấy rằng nó bàn về vài phương diện của sự chỉnh hợp hết sức cần thiết vốn phải diễn ra trước khi có khả năng đầy đủ để phụng sự trong sự giải thoát tối hậu. |
|
4. The lower form must be prepared before it can express the second. There must be coordination within the third aspect of divinity before the consciousness can disengage and be liberated from lower form. |
4. Hình tướng thấp phải được chuẩn bị trước khi nó có thể biểu lộ phương diện thứ hai. Phải có sự phối hợp trong phương diện thứ ba của thiên tính trước khi tâm thức có thể tháo gỡ và được giải thoát khỏi hình tướng thấp. |
|
We have studied from many angles the component parts of man, the microcosm, and the mode whereby he manifests on earth in order to express that which lies hidden, |
Chúng ta đã học từ nhiều góc độ về các bộ phận cấu thành của con người, tiểu thiên địa, và cách thức y biểu lộ trên trần gian để bộc lộ cái còn ẩn tàng, |
|
5. This is the point; the form is meant to be an instrument of the higher two periodical vehicles. The form (the third aspect) must express first the second aspect and then the third. The ability to express fully occurs only when the consciousness is liberated from the form. |
5. Đây là điểm chính; hình tướng được dụng ý làm khí cụ cho hai vận cụ chu kỳ cao hơn. Hình tướng (phương diện thứ ba) phải biểu lộ trước phương diện thứ hai rồi tới phương diện thứ nhất. Khả năng biểu lộ một cách trọn vẹn chỉ xảy ra khi tâm thức được giải thoát khỏi hình tướng. |
|
and to make his energy felt in the group and place where he finds himself. |
và để làm cho năng lượng của y được cảm nhận trong nhóm và nơi chốn y hiện diện. |
|
6. Our purpose as occultists-in-training is to become mediums for the transmission of specialize energies for service purposes. |
6. Mục đích của chúng ta trong tư cách những nhà huyền bí học đang rèn luyện là trở thành các trung gian cho sự truyền dẫn các năng lượng chuyên biệt nhằm mục đích phụng sự. |
|
The constitution of the causal body has been seen to consist of a triple form of energy, with a fourth and more dynamic type of force latent at the heart, |
Cấu tạo của thể nguyên nhân đã được thấy là gồm một hình thức năng lượng tam phân, với một loại lực thứ tư và năng động tiềm ẩn ở trung tâm, |
|
7. Why does Master DK distinguish in this way between “energy” and “force”? In this case “force” is related to a more powerful type of energy. |
7. Tại sao Chân sư DK lại phân biệt như thế giữa “năng lượng” và “lực”? Trong trường hợp này “lực” liên quan đến một loại năng lượng mạnh mẽ hơn. |
|
8. We note that the potency of Shamballa is frequently called the “Shamballa force” as well as “Shamballa energy”. There are fifty-four references to “Shamballa force” and thirty-two to “Shamballa energy”. We might ask whether the term “force” is used more frequently when we are dealing with the first ray line. |
8. Chúng ta lưu ý rằng uy lực của Shamballa thường được gọi là “lực Shamballa” cũng như “năng lượng Shamballa”. Có năm mươi bốn lần nhắc “lực Shamballa” và ba mươi hai lần nhắc “năng lượng Shamballa”. Chúng ta có thể tự hỏi liệu thuật ngữ “lực” có được dùng thường xuyên hơn khi chúng ta xử lý tuyến cung một hay không. |
|
9. The fourth and dynamic type of force includes the potencies of both the synthesis petals and the central fire or “Jewel in the Lotus”. |
9. Loại lực thứ tư và năng động bao gồm các tiềm lực của cả những cánh hoa tổng hợp và hỏa quang trung tâm hay “Viên ngọc trong Hoa Sen”. |
|
ready to demonstrate when the other three forms are active, thus utilising them as a vehicle. |
sẵn sàng biểu lộ khi ba hình thức kia hoạt động, nhờ vậy sử dụng chúng như một vận cụ. |
|
10. The first ray line of energy is always applied when the other ray energies have completed their building process. The following two references from EP I demonstrate this: |
10. Tuyến năng lượng cung một luôn được áp dụng khi các năng lượng cung khác đã hoàn tất tiến trình kiến tạo. Hai tham chiếu sau đây từ TLHNM I minh họa điều này: |
|
2. Seek out the gentle way, Oh Lord of Power. Wait for thy brother on the path of Love. He builds the forms that can withstand thy power. |
2. Hãy tìm con đường hiền hòa, Ôi Chúa Tể của Quyền năng. Hãy đợi huynh đệ của Ngài trên Con đường của Tình thương. Ngài xây những hình tướng có thể chịu đựng nổi quyền năng của Ngài. |
|
Quality…… dynamic power. |
Phẩm tính…… quyền năng năng động. |
|
3. Withhold the hand until the time has come. Then give the gift of death, Oh Opener of the Door. |
3. Hãy nắm giữ bàn tay cho đến khi thời khắc đã điểm. Rồi hãy ban tặng món quà của cái chết, Ôi Đấng Mở Cửa. |
|
Quality……sense of time. (EP I 65) |
Phẩm tính……ý thức về thời gian. (TLHNM I 65) |
|
We have noted also that there are also three forms of energy which we call the sheaths of the personal self, and which have also to be actively functioning before the triple egoic force can make itself felt through their medium. |
Chúng ta cũng đã ghi nhận rằng có ba dạng năng lượng mà chúng ta gọi là các thể bao của phàm ngã, và chúng cũng phải hoạt động tích cực trước khi năng lực chân ngã tam phân có thể tự biểu lộ qua trung gian của chúng. |
|
11. That which lies ‘below’ must reach a certain stage of completeness before the time is right for the activation of that which is immediately ‘above’. The foundation must be built. The Third Ray Lord is called the “Builder of the Foundation” and His work must precede the world of the Second Ray Lord. |
11. Cái nằm ‘bên dưới’ phải đạt đến một giai đoạn hoàn chỉnh nào đó trước khi thời điểm chín muồi để hoạt hóa cái ‘ngay bên trên’. Nền móng phải được xây dựng. Đấng Chúa Tể Cung ba được gọi là “Vị Kiến Tạo Nền Móng” và công việc của Ngài phải đi trước công trình của Đấng Chúa Tể Cung hai. |
|
Added to these factors, must be mentioned the seven centres in etheric matter which find their place in the etheric body, and which awaken and become active as the sheaths swing into rhythmic activity. |
Thêm vào các yếu tố này, cần nhắc đến bảy trung tâm trong chất liệu dĩ thái, vốn chiếm vị trí của chúng trong thể dĩ thái, và vốn thức dậy và trở nên hoạt động khi các bao thể chuyển vào hoạt động có nhịp điệu. |
|
12. The idea of rhythm is related to the seventh ray. |
12. Ý niệm về nhịp điệu liên hệ với cung bảy. |
|
13. DK is making a summary of the various vehicles, sheaths and centers so that we may have a complete inventory of the equipment through which the higher vehicles and their principles must eventually work. |
13. Chân sư DK đang làm một bản tóm lược về các vận cụ, các bao thể và các trung tâm để chúng ta có một bảng kiểm kê đầy đủ các khí cụ qua đó các vận cụ cao hơn và các nguyên khí của chúng rốt cuộc phải vận hành. |
|
Of these centres the three major are of the main importance where[1129] egoic alignment is concerned, and their vital force only begins to make itself felt after the lower four are fully active. |
Trong số các trung tâm này, ba trung tâm chính là tối quan trọng khi [] nói đến sự chỉnh hợp chân ngã, và sinh lực của chúng chỉ bắt đầu tự biểu lộ sau khi bốn trung tâm thấp hoạt động trọn vẹn. |
|
14. We may question the meaning of the “higher three”. Anatomically, the highest three centers are the throat, ajna and head centers. But usually the head, heart and throat centers are consider the “major centres”. Here, for instance, is an example: |
14. Chúng ta có thể nêu vấn đề về ý nghĩa của “ba trung tâm cao hơn”. Về mặt giải phẫu, ba trung tâm cao nhất là cổ họng, ajna và đầu. Nhưng thường thì các trung tâm đầu, tim và cổ họng được xem là “các trung tâm chính”. Ở đây, chẳng hạn, là một ví dụ: |
|
“The constitution of the ego, or Soul, is the factor of paramount importance to the Master in the task of training the disciple for hierarchical work. This necessarily involves the three higher centres (head, heart and throat).” (DINA I 762) |
“Cấu trúc của chân ngã, hay Linh hồn, là yếu tố có tầm quan trọng tối thượng đối với Chân sư trong nhiệm vụ rèn luyện đệ tử cho công việc thuộc Thánh đoàn. Điều này tất yếu bao hàm ba trung tâm cao hơn (đầu, tim và cổ họng).” (DINA I 762) |
|
15. There are many other examples. |
15. Còn rất nhiều ví dụ khác. |
|
16. We note that the lower four centers (probably the base of the spine center, sacral center, solar plexus center and splenic center) must be fully active before the major three demonstrate real vitality. |
16. Chúng ta ghi nhận rằng bốn trung tâm thấp (có lẽ là trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương và trung tâm lá lách) phải hoạt động trọn vẹn trước khi ba trung tâm chính biểu lộ sinh lực thực sự. |
|
17. Sometimes the ajna center is considered among the highest centers, unless the ajna is linked as one with the major head center. |
17. Đôi khi trung tâm ajna được xem thuộc về các trung tâm cao nhất, trừ khi ajna được kết nối như một với trung tâm đầu chính. |
|
A second factor which works into the general scheme here is the latent triple kundalini fire which is aroused and mounts through the triple spinal channel just as soon as the three major centres (the head, the heart and the throat) form an esoteric triangle, |
Một yếu tố thứ hai tham dự vào sơ đồ chung ở đây là lửa kundalini tam phân tiềm tàng vốn được khơi dậy và dâng lên qua kênh cột sống tam phân ngay khi ba trung tâm chính (đầu, tim và cổ họng) hình thành một tam giác huyền môn, |
|
18. Here it is confirmed; the head, heart and throat are the “major centres”. The ajna is not included though in the latter days of evolution it has a special directorial function and a well-established connection with the spiritual triad. |
18. Ở đây điều đó được xác nhận; đầu, tim và cổ họng là “các trung tâm chính”. Ajna không được kể vào, dù trong những ngày cuối của tiến hóa, nó có một chức năng chỉ đạo đặc biệt và một liên kết vững vàng với Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
19. Something really important is here said about the timing of the rising of the kundalini fire. Only when the three centers here mentioned form an “esoteric triangle” can the kundalini rise. The rising seems to occur immediately as this esoteric triangle is complete. |
19. Ở đây có một điều thật sự quan trọng được nói về thời điểm của sự trỗi dậy của lửa kundalini. Chỉ khi ba trung tâm được nêu hình thành một “tam giác huyền môn” thì kundalini mới có thể trỗi dậy. Sự trỗi dậy dường như xảy ra ngay khi tam giác huyền môn này được hoàn tất. |
|
20. A kind of penultimate rising occurs at the third initiation and it is at this time that the triangle demonstrates in significant completeness. |
20. Có một dạng trỗi dậy gần như tối hậu xảy ra vào lần điểm đạo thứ ba và chính vào lúc này tam giác biểu hiện một mức độ hoàn thiện có ý nghĩa. |
|
21. We need to put these many items of information together to gain a complete picture of the process. |
21. Chúng ta cần ghép nối nhiều mảnh thông tin này với nhau để có một bức tranh trọn vẹn về tiến trình. |
|
and can thus pass the fiery energy hidden in each centre in circulatory fashion. |
và nhờ thế có thể truyền đưa năng lượng hỏa ẩn tàng trong mỗi trung tâm theo lối lưu thông vòng tròn. |
|
22. What is the nature of the energy which is passed from center to center? Apparently there are three types, one type of energy hidden in each center and circulated to the other two. |
22. Bản chất của năng lượng được truyền từ trung tâm này sang trung tâm kia là gì? Hiển nhiên có ba loại, mỗi trung tâm ẩn tàng một loại năng lượng và được lưu chuyển tới hai trung tâm còn lại. |
|
23. We may also suggest that the correlation of the head, heart and throat centers corresponds to the correlation of the head, ajna and alta major centers which occurs approximately at the time of the third initiation and is correlated with the first steady and reliable functioning or the third eye. |
23. Chúng ta cũng có thể gợi ý rằng sự tương liên của các trung tâm đầu, tim và cổ họng tương ứng với sự tương liên của các trung tâm đầu, ajna và alta major, vốn xảy ra vào khoảng thời điểm của lần điểm đạo thứ ba và được tương liên với sự vận hành đều đặn và đáng tin cậy lần đầu của con mắt thứ ba. |
|
To summarise therefore: we have perfected alignment just as soon as the following factors have been put in touch with each other, or as soon as their motion or activity is synthesised; |
Tóm lại, chúng ta có sự chỉnh hợp hoàn tất ngay khi các yếu tố sau được đặt vào sự tiếp xúc với nhau, hoặc ngay khi chuyển động hay hoạt động của chúng được tổng hợp; |
|
24. Master DK is giving us some of the technicalities of alignment. These can be used for meditative purposes. |
24. Chân sư DK đang ban cho chúng ta một vài chi tiết kỹ thuật của sự chỉnh hợp. Những điều này có thể dùng vào mục đích tham thiền. |
|
this is a most important subject for students of meditation, and for those who tread the Path of attainment to consider and practically realise. |
đây là một chủ đề cực kỳ quan trọng cho các đạo sinh tham thiền, và cho những ai bước đi trên Thánh Đạo thành tựu để suy niệm và hiện thực một cách thực tiễn. |
|
25. These alignments can be visualized to good effect in the meditation process. |
25. Những sự chỉnh hợp này có thể được hình dung một cách hữu hiệu trong tiến trình tham thiền. |
|
1. The three tiers of petals. |
1. Ba tầng cánh hoa. |
|
2. The three sheaths. |
2. Ba bao thể. |
|
3. The three major centres. |
3. Ba trung tâm chính. |
|
4. The threefold Kundalini fire. |
4. Lửa Kundalini tam phân. |
|
5. The threefold spinal channel. |
5. Kênh cột sống tam phân. |
|
6. The three head centres, the pineal gland, the pituitary body, the alta major centre.20 |
6. Ba trung tâm đầu, tuyến tùng, tuyến yên, trung tâm alta major.20 |
|
26. Point “6.” deals with the physical correspondence to the triangle consisting of head, ajna and alta major center. To be entirely consistent the carotid body which is physical should be mentioned along with the other two strictly physical centers. |
26. Mục “6.” liên quan đến đối ứng hồng trần đối với tam giác gồm trung tâm đầu, ajna và alta major. Để hoàn toàn nhất quán, “thể cảnh” là cơ quan hồng trần cũng nên được nhắc cùng với hai trung tâm hồng trần còn lại. |
|
27. If this sixfold alignment is held in mind during advanced meditation process, there will be a linking up of significant aspects of the human energy system. |
27. Nếu sự chỉnh hợp lục phân này được ghi nhớ trong suốt tiến trình tham thiền cao cấp, sẽ có một sự kết nối giữa các phương diện có ý nghĩa của hệ thống năng lượng con người. |
|
Footnote 20: |
Chú thích 20: |
|
The alta major centre, which is formed at the point where the spinal channel contacts the skull and is therefore situated in the lowest part of the back of the head is formed of the lowest grade of etheric matter: matter of the fourth ether, |
Trung tâm alta major, vốn được hình thành tại điểm kênh cột sống tiếp xúc với hộp sọ và vì vậy nằm ở phần thấp nhất phía sau đầu, được cấu tạo bởi cấp thấp nhất của chất liệu dĩ thái: chất liệu của dĩ thái thứ tư, |
|
28. According to Chart VIII in TCF, four other chakras are also formed of matter of this lowest ether: the base of the spine center, the sacral center, the solar plexus center and the splenic center. (Cf. Chart VIII, TCF 817) |
28. Theo Biểu đồ VIII trong TCF, bốn luân xa khác cũng được kết cấu từ chất liệu dĩ thái thấp nhất này: trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương và trung tâm lá lách. (X. Biểu đồ VIII, TCF 817) |
|
whereas the etheric centres of the disciples are composed of matter of the higher ethers. |
trong khi các trung tâm dĩ thái của các đệ tử được cấu thành từ chất liệu của các dĩ thái cao hơn. |
|
29. This is a statement which must be researched carefully as (from Chart VIII, TCF 817) it is clear that DK locates the head center in the first ether, the heart center in the second, the throat center in the third and all other centers in the fourth ether. |
29. Đây là một mệnh đề cần được khảo cứu kỹ vì (theo Biểu đồ VIII, TCF 817) rõ ràng Chân sư DK đặt trung tâm đầu ở dĩ thái thứ nhất, trung tâm tim ở dĩ thái thứ hai, trung tâm cổ họng ở dĩ thái thứ ba và mọi trung tâm khác ở dĩ thái thứ tư. |
|
30. The testimony of Chart VIII (TCF 817) must be consulted when attempting to understand the etheric location of the various types of chakras. |
30. Chứng cứ từ Biểu đồ VIII (TCF 817) phải được tham chiếu khi tìm hiểu vị trí dĩ thái của các loại luân xa khác nhau. |
|
31. We are led to a question: “When a vortex appears in a plane, does it remain only on the plane of its appearance or it is registered on and through planes lower than the plane of its appearance?” |
31. Chúng ta được dẫn đến một câu hỏi: “Khi một xoáy điểm xuất hiện trên một cõi, nó chỉ tồn tại trên cõi xuất hiện của nó hay còn được ghi nhận ở và xuyên qua các cõi thấp hơn cõi xuất hiện của nó?” |
|
Another factor which must be allowed for in advanced stages of development, |
Một yếu tố khác cần được tính đến trong các giai đoạn phát triển cao, |
|
32. DK is referencing stages of development which begin around the period of the third initiation. |
32. Chân sư DK đang nói đến những giai đoạn phát triển bắt đầu vào khoảng thời kỳ của lần điểm đạo thứ ba. |
|
is the third eye which is to the occultist and true white magician what the fourth energy centre (the jewel in the lotus) is to the lotus, or to the three tiers of petals. |
là con mắt thứ ba, vốn đối với nhà huyền bí học và nhà huyền thuật chánh đạo chân chính giữ vai trò như trung tâm năng lượng thứ tư (Viên Ngọc trong Hoa Sen) đối với hoa sen, hay đối với ba tầng cánh hoa. |
|
33. An important analogy is here given. The third eye is to the occultist/white magician what the “Jewel in the Lotus” is to the egoic lotus with its three tiers of petals. In this analogy each vehicle of the white magician corresponds to one of the three tiers of petals. The third eye corresponds to the “Jewel in the Lotus” plus the three synthesis petals. |
33. Ở đây đưa ra một tương quan quan trọng. Con mắt thứ ba đối với nhà huyền bí học/nhà huyền thuật chánh đạo như “Viên Ngọc trong Hoa Sen” đối với hoa sen chân ngã với ba tầng cánh hoa của nó. Trong tương quan này, mỗi vận cụ của nhà huyền thuật chánh đạo tương ứng với một tầng cánh hoa. Con mắt thứ ba tương ứng với “Viên Ngọc trong Hoa Sen” cộng với ba cánh hoa tổng hợp. |
|
34. By the time the third initiation is taken the “Jewel in the Lotus” is somewhat disclosed (though not entirely so until the fourth degree) and the third eye is reasonable functional. |
34. Đến lúc thọ lần điểm đạo thứ ba, “Viên Ngọc trong Hoa Sen” phần nào được hiển lộ (dù chưa trọn vẹn cho đến cấp độ thứ tư) và con mắt thứ ba vận hành ở mức hợp lý. |
|
35. The unfolding of the petals of synthesis reveals the “Jewel in the Lotus” and the third eye is the ‘ synthetic eye’. We see the correspondences. |
35. Sự khai mở của các cánh hoa tổng hợp phơi bày “Viên Ngọc trong Hoa Sen” và con mắt thứ ba là ‘con mắt tổng hợp ’. Chúng ta thấy các tương ứng. |
|
The correspondence is interesting: |
Tương ứng này thật thú vị: |
|
The jewel in the lotus is the director of energy from the monad, whilst the third eye directs the energy of the Ego on the physical plane. |
Viên ngọc trong hoa sen là cơ quan điều hướng năng lượng từ Chân thần, trong khi con mắt thứ ba điều hướng năng lượng của Chân ngã trên cõi hồng trần. |
|
36. Here is another important analogy. The “Jewel in the Lotus” is the directing ‘eye’ of the Monad; the third eye is the directing eye of the Ego. In each case the ‘eye’ is ‘located’ in a more materially immersed position than the source the energy of which it directs. |
36. Đây là một tương quan quan trọng khác. “Viên Ngọc trong Hoa Sen” là ‘con mắt’ điều hướng của Chân thần; con mắt thứ ba là con mắt điều hướng của Chân ngã. Ở mỗi trường hợp, ‘con mắt’ được ‘đặt’ ở vị trí chìm sâu vào chất liệu hơn nguồn năng lượng mà nó điều hướng. |
|
37. Note the first ray (directorial) function of each type of ‘eye’. |
37. Lưu ý chức năng (tính chỉ đạo) cung một của mỗi loại ‘con mắt’. |
|
38. Thus the Monad sees on the higher mental plane through the agency of the “Jewel in the Lotus” while the Ego on the higher mental plane ‘sees’ on the etheric-physical plane through the agency of the third eye. |
38. Như vậy, Chân thần ‘thấy’ trên cõi thượng trí thông qua cơ quan của “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, trong khi Chân ngã trên cõi thượng trí ‘thấy’ trên cõi dĩ thái–hồng trần qua cơ quan của con mắt thứ ba. |
|
39. Through the “Jewel in the Lotus”, however (as we will learn below) the Monad sees more than that which is to be seen on the higher mental plane and through the third eye, the Ego sees more than is to be seen on the etheric planes. |
39. Tuy nhiên, qua “Viên Ngọc trong Hoa Sen” (như ta sẽ học ở dưới), Chân thần thấy nhiều hơn những gì có thể thấy trên cõi thượng trí, và qua con mắt thứ ba, Chân ngã thấy nhiều hơn những gì có thể thấy trên các cõi dĩ thái. |
|
40. When visualizing the “Jewel in the Lotus”, its connection to the Monad should always be held in mind. When visualizing the third eye, its connection to the Ego should likewise be held in mind. |
40. Khi hình dung “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, cần luôn ghi nhớ mối liên kết của nó với Chân thần. Khi hình dung con mắt thứ ba, cũng vậy, cần ghi nhớ mối liên kết của nó với Chân ngã. |
|
The jewel in the Lotus is the centre of force which links [1130]the buddhic and mental planes. When it is to be seen and felt, the man can function consciously on the buddhic plane. The third eye links the awakened physical plane man with the astral or subjective world, and enables him to function consciously there. |
Viên Ngọc trong Hoa Sen là trung tâm năng lực liên kết [] cõi Bồ đề và cõi trí. Khi nó được thấy và được cảm thụ, con người có thể hoạt động một cách có ý thức trên cõi Bồ đề. Con mắt thứ ba liên kết người trên cõi hồng trần đã thức tỉnh với cõi cảm dục hay cõi chủ quan, và cho phép y hoạt động có ý thức tại đó. |
|
41. The important analogies continue. |
41. Các tương quan quan trọng tiếp tục. |
|
42. Each type of ‘eye’ (the “Jewel in the Lotus” and the third eye) are linking centers. |
42. Mỗi loại ‘con mắt’ (“Viên Ngọc trong Hoa Sen” và con mắt thứ ba) đều là các trung tâm liên kết. |
|
43. We can imagine ‘feeling’ the power of the “Jewel in the Lotus”, but what is it that ‘sees’ the “Jewel”? Probably the ‘seeing’ occurs through the vision of a seer external to the one in whom the “Jewel” is being revealed. The ‘feeling’ of the activation of the “Jewel” is something that occurs within the energy system of the one in whom the “Jewel” is being revealed. |
43. Chúng ta có thể hình dung ‘cảm’ được quyền lực của “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, nhưng điều gì ‘thấy’ được “Viên Ngọc”? Có lẽ ‘cái thấy’ xảy ra qua thị kiến của một nhà tiên tri ở bên ngoài người nơi đó “Viên Ngọc” đang được hiển lộ. Còn ‘cảm’ được sự hoạt hóa của “Viên Ngọc” là điều xảy ra trong hệ thống năng lượng của người mà nơi đó “Viên Ngọc” đang được hiển lộ. |
|
44. Note DK’s use of the word “awakened”. When discussing the opening of the third eye we are speaking of an initiate of the third degree (even though this eye is slowly and gradually opening during the span from the first degree to the third degree). |
44. Lưu ý cách Chân sư DK dùng từ “đã thức tỉnh”. Khi bàn về sự mở của con mắt thứ ba, chúng ta đang nói về một điểm đạo đồ cấp ba (dù con mắt này đang từ từ và dần dần mở ra trong khoảng từ cấp một đến cấp ba). |
|
45. It is probable that feeling the activation of the “Jewel” and the opening of the third eye occur at a similar time in the developmental history of the individual. |
45. Có khả năng việc cảm nhận sự hoạt hóa của “Viên Ngọc” và sự mở ra của con mắt thứ ba diễn ra vào một thời điểm tương tự trong lịch sử phát triển của cá nhân. |
|
46. We gather the impression that a certain amount of conscious functioning of the buddhic plane can occur after the third initiation once the three synthesis petals open sufficiently to reveal the jewel. However, polarization upon the buddhic plane can only occur after the fourth initiation. |
46. Chúng ta có ấn tượng rằng một mức độ nào đó của hoạt động có ý thức trên cõi Bồ đề có thể xảy ra sau lần điểm đạo thứ ba, một khi ba cánh hoa tổng hợp mở ra đủ để hiển lộ viên ngọc. Tuy nhiên, sự phân cực trên cõi Bồ đề chỉ có thể xảy ra sau lần điểm đạo thứ tư. |
|
The jewel, or diamond concealed by the egoic lotus, is the window of the Monad or Spirit whereby he looks outward into the three worlds. |
Viên ngọc, hay kim cương được Hoa Sen Chân Ngã che giấu, là cửa sổ của Chân thần hay Tinh Thần, qua đó Ngài nhìn ra ngoài vào ba cõi giới. |
|
47. We see that the vision of the Monad through the “Jewel in the Lotus” is not limited to the higher mental plane. It seems that planes lower than the higher mental are revealed. |
47. Chúng ta thấy rằng thị kiến của Chân thần qua “Viên Ngọc trong Hoa Sen” không bị giới hạn ở cõi thượng trí. Có vẻ như các cõi thấp hơn cõi thượng trí cũng được hiển lộ. |
|
48. Notice the equivalence of “Monad” and “Spirit”. |
48. Lưu ý tính tương đương giữa “Chân thần” và “Tinh Thần”. |
|
49. The implication of what is here said is that the Monad cannot ‘see’ into the three worlds until that “Jewel” is somewhat disclosed by the opening of the synthesis petals. This means that the Monad does not ‘see’ “outward” into the three worlds (especially the lower eighteen subplanes) until the third initiation, though perhaps some vision is accorded in the short space between the second and third degrees. |
49. Hàm ý ở đây là Chân thần không thể ‘thấy’ vào ba cõi giới cho đến khi “Viên Ngọc” phần nào được hiển lộ bởi sự mở ra của các cánh hoa tổng hợp. Điều này có nghĩa là Chân thần không ‘thấy’ “ra ngoài” vào ba cõi giới (nhất là mười tám cõi phụ thấp) cho đến lần điểm đạo thứ ba, dù có lẽ một ít thị kiến được ban trong khoảng thời gian ngắn giữa cấp hai và cấp ba. |
|
50. The thought above correlates with the teaching that the man consciously contacts the Monad at the third initiation, though ‘feeling after’ the Monad occurs between the second and third degree. |
50. Ý tưởng trên tương hợp với giáo huấn rằng con người tiếp xúc Chân thần một cách có ý thức tại lần điểm đạo thứ ba, dù ‘lần theo’ Chân thần diễn ra giữa cấp hai và cấp ba. |
|
The third eye is the window of the Ego or soul functioning on the physical plane whereby he looks inward into the three worlds. |
Con mắt thứ ba là cửa sổ của Chân ngã hay linh hồn đang hoạt động trên cõi hồng trần, qua đó y nhìn vào trong ba cõi giới. |
|
51. In both cases the object of vision is the three worlds. The contrast is between the outward -looking Monad and the inward -gazing soul-in-incarnation on the physical plane. |
51. Ở cả hai trường hợp, đối tượng của thị kiến là ba cõi giới. Sự tương phản là giữa Chân thần nhìn ra ngoài và linh hồn-đang-nhập-thể trên cõi hồng trần nhìn vào trong. |
|
52. If we think about this, we understand that it cannot be the Ego on the higher mental plane which looks inward into the three worlds because, to this Ego, the three worlds are not interior to its ‘position’ or ‘station’ on the higher mental plane. It must be the soul-in-incarnation (as an extension and expression of the Ego) that looks “inward”. |
52. Nếu suy nghĩ về điều này, chúng ta hiểu rằng không thể là Chân ngã trên cõi thượng trí ‘nhìn vào trong ’ ba cõi giới, vì đối với Chân ngã ấy, ba cõi giới không phải là nội tại so với ‘vị trí’ hay ‘điểm trụ’ của nó trên cõi thượng trí. Ắt hẳn là linh hồn-đang-nhập-thể (như là sự phóng xuất và biểu lộ của Chân ngã) đang “nhìn vào trong”. |
|
53. Of course we have just learned, as well, that the “Jewel in the Lotus” (considered as an ‘eye’ with respect to the Monad) reveals a plane higher than its normal station as well as the planes of the three worlds—i.e., it reveals the buddhic plane or at least provides the linking of the higher mental plane with the buddhic plane and the ability of the consciousness within the Ego to function on the buddhic plane. Thus, the “Jewel in the Lotus” (considered as an ‘eye’) does not reveal only that which is lower than itself or on the same level (the higher mental plane) but is also related to a dimension which is higher than its ‘station’ and perhaps to more than one higher dimension. |
53. Tất nhiên, chúng ta vừa học rằng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” (được xem như một ‘con mắt’ đối với Chân thần) hiển lộ một cõi cao hơn điểm trụ bình thường của nó cũng như các cõi thuộc ba cõi giới—tức là, nó hiển lộ cõi Bồ đề, hoặc chí ít cung cấp sự liên kết giữa cõi thượng trí với cõi Bồ đề và khả năng cho tâm thức trong Chân ngã hoạt động trên cõi Bồ đề. Như vậy, “Viên Ngọc trong Hoa Sen” (được xem như một ‘con mắt’) không chỉ hiển lộ điều gì thấp hơn chính nó hay ở cùng cấp (cõi thượng trí) mà còn liên hệ tới một chiều kích cao hơn ‘điểm trụ’ của nó và có lẽ tới hơn một chiều kích cao hơn. |
|
The jewel in the lotus is situated between manas and buddhi whilst the third eye is found between the right and left eyes. |
Viên Ngọc trong Hoa Sen nằm giữa manas và Bồ đề, còn con mắt thứ ba được tìm thấy giữa mắt phải và mắt trái. |
|
54. Another important point is given and it may raise more questions than it answers. We can take at face value that the “Jewel in the Lotus” is situated between manas and buddhi and that the lower correspondence of this ‘situation’ is a position between the left eye of manas and the right eye of buddhi. The third eye, however, is really recessed and is found etherically in the region of the pineal gland or, more specifically, etherically between the region of the pineal gland and the region of the pituitary body. We can imagine a “vesica pisces” created by the overlap between the etheric field surrounding the pineal gland and the etheric field surrounding the pituitary body. Three spherical fields (adding that of the alta major center) will make the “triquetra” or “Flower of Life”. There is something in these figures which needs to be examined closely for hints about the origin and structure of the third eye. |
54. Một điểm quan trọng khác được nêu ra và có thể khơi lên nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Chúng ta có thể hiểu theo nghĩa đen rằng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” nằm giữa manas và Bồ đề, và đối ứng thấp hơn của ‘vị trí’ này là một vị trí giữa mắt trái của manas và mắt phải của Bồ đề. Tuy nhiên, con mắt thứ ba thật sự nằm thụt vào và được tìm thấy về mặt dĩ thái trong vùng tuyến tùng hoặc, nói chính xác hơn, về mặt dĩ thái, ở giữa vùng tuyến tùng và vùng tuyến yên. Chúng ta có thể hình dung một “vesica pisces” [picture] được tạo ra bởi sự chồng lấn giữa trường dĩ thái bao quanh tuyến tùng và trường dĩ thái bao quanh tuyến yên. Ba trường hình cầu (thêm trường của trung tâm alta major) sẽ tạo thành “triquetra” [picture] hay “Hoa của Sự Sống”. Có điều gì đó trong các hình này cần được khảo sát kỹ lưỡng để có những gợi ý về nguồn gốc và cấu trúc của con mắt thứ ba. |
|
55. But what is meant by a situating of the “Jewel in the Lotus” between manas and buddhi? Presumably the “Jewel in the Lotus” is still found on the higher mental plane, but possibly on the very ‘edge’ of the manasic sphere, perhaps on the first subplane. |
55. Nhưng “nằm giữa manas và Bồ đề” đối với “Viên Ngọc trong Hoa Sen” nghĩa là gì? Dường như “Viên Ngọc trong Hoa Sen” vẫn ở trên cõi thượng trí, nhưng có thể ở ngay ‘rìa’ của khối cầu manas, có lẽ ở cõi phụ thứ nhất. |
|
56. The Tibetan’s diagrams, however, do not confirm this positioning but rather a positioning on the second subplane. If this is the case can the “Jewel in the Lotus” really be said to be “between” manas and buddhi. Rather it would seem solidly within upon the plane of higher manas though very ‘near’ to the buddhic plane. |
56. Tuy nhiên, các sơ đồ của Chân sư Tây Tạng không xác nhận vị trí này, mà là một vị trí ở cõi phụ thứ hai. Nếu vậy, liệu có thể thật sự nói rằng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” “nằm giữa” manas và Bồ đề chăng? Đúng hơn, dường như nó vững vàng ở trong trên cõi thượng trí dù rất ‘gần’ với cõi Bồ đề. |
|
57. Of course, if by “manas” the Tibetan is referencing the lower mental plane, then the situating of the “Jewel in the Lotus” on the higher mental plane is, indeed, “between” manas and buddhi, i.e., between the plane of lower manas and the buddhic plane. |
57. Tất nhiên, nếu bằng “manas” Chân sư Tây Tạng muốn nói tới cõi hạ trí, thì việc đặt “Viên Ngọc trong Hoa Sen” trên cõi thượng trí quả là “nằm giữa” manas và Bồ đề, tức là giữa cõi hạ trí và cõi Bồ đề. |
|
58. In some ways it would not make sense for the “Jewel in the Lotus” to be situated on the first subplane of the higher mental plane, because the diagrams show lines connecting the “Jewel in the Lotus” (on the second subplane of the mental plane) to the manasic permanent atom (on the first subplane). If the “Jewel in the Lotus” were on the first subplane as the manasic permanent atom is, the connecting lines would not make sense. Further, the antahkaranic triangle (cf. TCF, Chart IX) would have to be interpreted in a very different manner. |
58. Ở một số phương diện, sẽ không hợp lý nếu đặt “Viên Ngọc trong Hoa Sen” ở cõi phụ thứ nhất của cõi thượng trí, vì các sơ đồ cho thấy các đường nối “Viên Ngọc trong Hoa Sen” (ở cõi phụ thứ hai của cõi trí) với nguyên tử trường tồn manas (ở cõi phụ thứ nhất). Nếu “Viên Ngọc trong Hoa Sen” ở cõi phụ thứ nhất như nguyên tử trường tồn manas, những đường nối ấy sẽ không có ý nghĩa. Hơn nữa, tam giác antahkarana (x. TCF, Biểu đồ IX) sẽ phải được diễn giải theo một cách rất khác. |
|
59. So there is much to be investigated here. |
59. Vì vậy, có rất nhiều điều cần được khảo sát ở đây. |
|
One of the main functions of the Master in this cycle (though not in all cycles) is to teach His pupil how to reconcile all these factors, how to synthesise their various modes of motion or expression, and how to co-ordinate them all so that the vibration is uniform. |
Một trong các chức năng chính của Chân sư trong chu kỳ này (dù không phải trong mọi chu kỳ) là dạy Đệ tử của Ngài cách hòa giải tất cả những yếu tố này, cách tổng hợp các kiểu chuyển động hay biểu hiện khác nhau của chúng, và cách phối hợp tất cả để cho rung động trở nên đồng nhất. |
|
60. We see that there are many factors to reconcile and coordinate. This cycle (the fourth round), planetarily, is ruled by the fourth ray—the ‘Ray of Reconciliation’. Harmonization and integration are the watchwords. |
60. Chúng ta thấy có rất nhiều yếu tố cần hòa giải và phối hợp. Chu kỳ này (cuộc tuần hoàn thứ tư) xét trên bình diện hành tinh, do cung bốn cai quản—‘Cung của Hòa giải’. Hài hòa và tích hợp là khẩu hiệu. |
|
61. We may recoil from the complexity suggested, but, nonetheless, there are many factors to be managed and our aversion to managing them will not relieve us of the task. |
61. Chúng ta có thể chùn bước trước sự phức tạp được gợi ý, nhưng dẫu vậy, có nhiều yếu tố phải được xử lý và sự né tránh của chúng ta đối với việc xử lý chúng sẽ không miễn trừ chúng ta khỏi nhiệm vụ. |
|
When energy from the Ego controls, or imposes its rhythm upon the various sheaths via their respective major centres, |
Khi năng lượng từ Chân ngã khống chế, hoặc áp đặt nhịp điệu của nó lên các bao thể khác nhau qua những trung tâm chính tương ứng, |
|
62. For all sheaths have chakric centers, three of them “major”… |
62. Vì mọi bao thể đều có các trung tâm luân xa, trong đó có ba trung tâm “chính”… |
|
when the triple fire is mounting in orderly fashion via the triple channel, and when the three head centres are united in triangular fashion, |
khi lửa tam phân đang dâng lên một cách có trật tự qua kênh tam phân, và khi ba trung tâm đầu được hợp nhất theo dạng tam giác, |
|
63. This is both an etheric and physical process. |
63. Đây vừa là một tiến trình dĩ thái vừa là tiến trình hồng trần. |
|
then we have illumination or the irradiance of the entire personality life, darkness gives place to light, and the Sun of Knowledge arises and dispels the darkness of ignorance. |
khi đó chúng ta có sự soi sáng hay quang chiếu toàn bộ đời sống phàm ngã, bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, và Mặt Trời Tri thức mọc lên xua tan bóng tối vô minh. |
|
64. Master DK is not merely speaking in terms symbolic. |
64. Chân sư DK không chỉ nói theo lối biểu tượng. |
|
65. The full opening of the third eye is implied and the glorification of the man. |
65. Sự mở trọn vẹn của con mắt thứ ba được ngụ ý và sự hiển quang của con người diễn ra. |
|
The minor centres are concerned with the internal co-ordination of the sheath, the major with the group co-ordination or the interrelation of one sheath to another. |
Các trung tâm thứ yếu liên quan đến sự phối hợp nội tại của bao thể, còn các trung tâm chính liên quan đến sự phối hợp theo nhóm hay mối tương liên giữa bao thể này với bao thể khác. |
|
66. Here we have a sentence of great importance carrying an idea which is found, as far as I know, only in this section of text. |
66. Ở đây là một câu hết sức quan trọng chứa đựng một ý niệm theo tôi biết chỉ xuất hiện trong phần văn bản này. |
|
67. Before a sheath can be linked harmoniously to another, it must be harmoniously coordinated within itself. |
67. Trước khi một bao thể có thể được liên kết hài hòa với bao thể khác, nó phải được phối hợp hài hòa trong chính nó. |
|
68. We are dealing with a process of integration. Each sheath must be integrated within its own nature and, then, the various sheaths must be integrated with each other. |
68. Chúng ta đang xử lý một tiến trình tích hợp. Mỗi bao thể phải được tích hợp trong tự tính riêng của nó, rồi sau đó các bao thể khác nhau phải được tích hợp với nhau. |
|
69. The base of the spine center, solar plexus center and throat center are three important centers, each of them correlated with one of the personality vehicles. Coordinating and harmonizing these personality vehicles with each other involves the interplay of these three centers (though other centers will naturally figure into the process in a secondary manner). |
69. Trung tâm đáy cột sống, trung tâm tùng thái dương và trung tâm cổ họng là ba trung tâm quan trọng, mỗi trung tâm tương ứng với một trong các vận cụ phàm ngã. Việc phối hợp và hài hòa các vận cụ phàm ngã này với nhau bao hàm sự tương tác của ba trung tâm ấy (dù các trung tâm khác dĩ nhiên cũng tham dự ở bậc thứ yếu). |
|
The man becomes a burning and a shining light, radiating forth a light which burns from within. |
Con người trở nên một ánh sáng bừng cháy và rực rỡ, tỏa chiếu một ánh sáng bùng lên từ bên trong. |
|
70. Here is a picture of a glorious consummation. It is not fanciful. It lies before each of us, sooner or later, according to the sincerity and intensity of our efforts. |
70. Đây là hình ảnh của một sự viên thành huy hoàng. Điều này không hão huyền. Nó nằm ở phía trước mỗi chúng ta, sớm hay muộn, tùy theo lòng thành và cường độ nỗ lực của chúng ta. |
|
71. We have three words: “burning”, “shining” and “radiating”. Perhaps we can link the three with the three aspects—“burning” with the third aspect; “shining” with the second aspect; “radiating” with the first aspect. |
71. Chúng ta có ba từ: “bừng cháy”, “rực rỡ” và “tỏa chiếu”. Có lẽ chúng ta có thể liên kết ba từ với ba phương diện—“bừng cháy” với phương diện thứ ba; “rực rỡ” với phương diện thứ hai; “tỏa chiếu” với phương diện thứ nhất. |
|
72. Yet, all three words also relate to the display of energy which occurs immediately before and as the causal body is destroyed. |
72. Tuy nhiên, cả ba từ cũng liên hệ đến sự phô bày năng lượng xảy ra ngay trước khi, và đồng thời với, sự hủy diệt thể nguyên nhân. |
|
When the next step is accomplished, and the energy of the Monad, focussed through the jewel, makes itself felt also on the physical plane, passing through the triple egoic lotus via the channels already utilised by the Ego, [1131] we have a man who is “inspired,” who is a spiritual creator, and who is himself “a Sun of Healing Radiance.” |
Khi bước kế tiếp được hoàn tất, và năng lượng của Chân thần, được hội tụ qua viên ngọc, tự biểu lộ cả trên cõi hồng trần nữa, đi xuyên qua Hoa Sen Chân Ngã tam phân qua những kênh mà Chân ngã đã sử dụng, [] chúng ta có một con người “được linh hứng”, một nhà sáng tạo tinh thần, và tự thân y là “một Mặt Trời của Quang Minh Hóa Độ”. |
|
73. How beautiful, how powerful this is! We see that the Monad eventually grounds itself in physical expression and utilizes well-established channels (channels long-established by the Ego) to reach the lowest levels. |
73. Thật đẹp đẽ và hùng mạnh biết bao! Chúng ta thấy rằng Chân thần rốt cuộc tự đặt nền trên biểu hiện hồng trần và sử dụng những kênh được thiết lập vững chắc (các kênh đã lâu do Chân ngã dùng) để vươn tới các cõi thấp nhất. |
|
74. It is sometimes thought that the Monad can descend no lower in its effectiveness than the “Jewel in the Lotus”. This is obviously erroneous. The inspired life is the monadic life in full expression through the etheric body and thus through the dense physical body as well. |
74. Đôi khi người ta nghĩ rằng Chân thần không thể hạ thấp hiệu lực của mình xuống dưới “Viên Ngọc trong Hoa Sen”. Điều này rõ ràng là sai. Đời sống được linh hứng là đời sống Chân thần biểu lộ trọn vẹn qua thể dĩ thái và như vậy qua thể hồng trần đậm đặc. |
|
75. A hint is given concerning the healing power of the man who lives inspired by the Monad. |
75. Một gợi ý được đưa ra về năng lực chữa lành của người sống được Chân thần linh hứng. |
|
These are the objectives before all those who tread the path and the goal ahead for those who follow the necessary discipline of life, and the stages of unfoldment through meditation. |
Đây là những mục tiêu trước mắt tất cả những ai bước trên thánh đạo, và là đích đến cho những ai theo sự tuân luyện cần thiết của đời sống, và các giai đoạn khai mở qua tham thiền. |
|
76. Periodically, DK seeks to offer us inspiration by offering a vision of the future. |
76. Định kỳ, Chân sư DK tìm cách khơi dậy cảm hứng bằng cách cho thấy một viễn kiến về tương lai. |
|
77. This glorious consummation, however, will not take place unless the necessary disciplines are instituted. The true student of occultism realizes this. |
77. Tuy nhiên, sự viên thành huy hoàng này sẽ không xảy ra nếu các tuân luyện cần thiết không được thực thi. Môn sinh đích thực của huyền bí học hiểu điều này. |
|
There are, needless to say, certain modes of work and mantric formulas known to the Masters which enable Them to hasten the process (when necessary) |
Tất nhiên có những phương thức làm việc và công thức mantram nhất định, được các Chân sư biết, cho phép Các Ngài đẩy nhanh tiến trình (khi cần) |
|
78. And, apparently, it is “necessary” only infrequently! |
78. Và, dường như, chỉ thỉnh thoảng mới “cần”! |
|
for Their disciples, but these are secrets scrupulously guarded and not frequently used. |
cho các đệ tử của Các Ngài, nhưng đây là những bí nhiệm được canh giữ hết sức nghiêm ngặt và không thường được dùng. |
|
79. The implication is that it is better to let the disciple achieve mostly by himself if possible. A more secure basis for still further accomplishment is thus created and the disciple inevitably learns much through his mistakes. |
79. Hàm ý là tốt hơn nên để đệ tử tự mình đạt thành phần lớn nếu có thể. Như vậy, một nền tảng vững chắc hơn cho những thành tựu tiếp theo sẽ được tạo ra và đệ tử tất yếu học được nhiều điều qua những sai lầm của mình. |
|
The usual method, a lengthy and laborious one, is to let the pupil find out each step of the way for himself, to teach him the constitution of his own body, the nature of the sheaths, and the function and apparatus of energy and so let him gradually become aware of the forces latent in himself. |
Phương pháp thông thường—dài lâu và nặng nhọc—là để môn sinh tự tìm ra từng bước đường cho chính mình, dạy y về cấu tạo của chính các thể, bản tính của các bao thể, và chức năng cùng cơ cấu của năng lượng, và nhờ vậy để y dần dần trở nên ý thức về các mãnh lực tiềm tàng trong tự thân. |
|
80. While this usual method is perhaps much slower, it is more secure. As awareness gradually dawns, the disciple comes to terms with forces, energies, principles and vehicles of which he is made aware. The foundation is thus very solidly built. There is danger is rushing this sensitive process, but sometimes in times of emergency the danger must be risked. |
80. Dù phương pháp thông thường này có lẽ chậm hơn nhiều, nó lại chắc chắn hơn. Khi nhận thức dần hé mở, đệ tử làm chủ các mãnh lực, năng lượng, nguyên khí và các vận cụ mà y được làm cho ý thức. Nền móng như vậy được xây dựng vô cùng vững chãi. Có hiểm nguy khi vội vã trong tiến trình tinh tế này, nhưng đôi khi trong thời kỳ khẩn cấp, hiểm nguy ấy phải được liều. |
|
What is meant by the “three periodical vehicles” and the seven principles or qualities of force, is slowly revealed to him, and through experience, experiment, frequent failures, occasional success, mature reflection and introspection, and frequent incarnation, he is brought to the point where he has produced a certain measure of alignment through self-induced and continuous effort. |
Điều được hiểu bởi “ba vận cụ tuần hoàn” và bảy nguyên khí hay phẩm tính của năng lượng, được dần dần hé lộ cho y, và qua kinh nghiệm, thí nghiệm, những lần thất bại thường xuyên, đôi lần thành công, suy tư chín chắn và tự tỉnh sát, và qua những lần lâm phàm thường xuyên, y được đưa tới điểm mà ở đó y đã tạo ra một mức độ chỉnh hợp nào đó nhờ nỗ lực tự thân và liên tục. |
|
81. Master DK does not glamorize the picture. We have all been through this laborious process with its many trials. We stand where we stand now (minimally as aspirants and disciples) by dint of great effort, and because we have persisted despite many failures. |
81. Chân sư DK không tô hồng bức tranh. Tất cả chúng ta đều đã trải qua tiến trình nặng nhọc này với lắm thử thách. Chúng ta đang đứng ở chỗ đứng hiện nay (tối thiểu là những người chí nguyện và đệ tử) nhờ tận lực to lớn, và bởi vì chúng ta đã kiên trì bất chấp nhiều thất bại. |
|
82. It is certainly better to build securely than, through insufficient preparation, to jeopardize the structure at a later date. |
82. Xây dựng vững chắc chắc chắn tốt hơn là, do sự chuẩn bị chưa đủ, lại phải mạo hiểm làm nguy khốn cấu trúc ở một ngày sau đó. |
|
He is then taught how to utilise that alignment, and how to manipulate energy consciously so that he can bring about on the physical plane results in service that for many lives have been probably a dream or an impossible vision. |
Khi ấy y được dạy cách sử dụng sự chỉnh hợp đó, và cách thao tác năng lượng một cách có ý thức để y có thể đem lại trên cõi hồng trần những kết quả trong phụng sự mà trong nhiều kiếp có lẽ chỉ là mơ ước hay một viễn tượng bất khả. |
|
83. Fulfillment is promised. Much patience is required in preparation for the advanced teaching conferred when the time is right. |
83. Sự viên mãn được hứa hẹn. Cần rất nhiều nhẫn nại trong sự chuẩn bị cho giáo huấn cao hơn được truyền trao khi thời điểm đã đến. |
|
When he is proficient in these two things—stabilisation |
Khi y thuần thục trong hai điều này—vững định |
|
84. Through correct and rightly sustained alignment… |
84. Nhờ sự chỉnh hợp đúng và được duy trì đúng đắn… |
|
and manipulation— |
và thao tác— |
|
85. Of the forces, energies, principles and vehicles emerging into awareness… |
85. Đối với các mãnh lực, năng lượng, nguyên khí và vận cụ đang đi vào nhận thức… |
|
then, and only then, are committed to him the words and secrets which produce the demonstration on the physical plane of spiritual, or monadic, energy by means of the soul or egoic energy, |
khi ấy, và chỉ khi ấy, những lời và các bí nhiệm mới được trao cho y—là những điều tạo ra sự biểu hiện trên cõi hồng trần của năng lượng tinh thần, hay năng lượng Chân thần, bằng phương tiện năng lượng của linh hồn hay chân ngã, |
|
86. “Spiritual” energy is of the spiritual triad. Monadic energy is of the Spirit! |
86. “Năng lượng tinh thần” là của Tam Nguyên Tinh Thần. Năng lượng Chân thần là của Tinh Thần! |
|
utilising in its turn the energy of the material forms in the worlds, or what we might call bodily energy. |
và đến lượt nó, sử dụng năng lượng của các hình thức vật chất trong các cõi, hay chúng ta có thể gọi là năng lượng thân thể. |
|
87. There are certain words which facilitate the bringing through of triadal and monadic energy—through the use of egoic energy and the subsequent use of material energies. |
87. Có những lời giúp đưa năng lượng tam nguyên và năng lượng Chân thần xuyên qua—thông qua sự sử dụng năng lượng chân ngã, và tiếp đó là sự sử dụng các năng lượng vật chất. |
|
88. There are magical words that produce a thorough alignment—‘from top to bottom’. |
88. Có những Linh từ huyền diệu tạo nên một sự chỉnh hợp triệt để—‘từ trên xuống dưới’. |
|
This has been expressed in the following mystical and occult phrase: |
Điều này được diễn đạt trong câu ngữ thần bí và huyền môn sau: |
|
“When the jewel sparkles as does the diamond under the influence of the rays of the blazing sun, |
“Khi viên ngọc lấp lánh như kim cương dưới ảnh hưởng tia quang của vầng nhật chói lòa, |
|
89. The “blazing sun” in this instance, is the Monad. |
89. “Vầng nhật chói lòa” trong trường hợp này là Chân thần. |
|
then the setting likewise [1132] gleams and rays forth light. |
thì cái đế gắn cũng vậy [] bừng sáng và tỏa quang. |
|
90. This “setting” can be considered as the entire egoic lotus or simply the three inmost petals. Probably, however, we are speaking of the entire egoic lotus and its irradiation by intensified monadic light passing through the “Jewel”. |
90. “Cái đế gắn” có thể được xem như toàn thể hoa sen chân ngã hoặc đơn giản là ba cánh hoa ở trong cùng. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta đang nói về toàn thể hoa sen chân ngã và sự được chiếu rọi của nó bởi quang minh Chân thần tăng cường đi xuyên qua “Viên Ngọc”. |
|
As the diamond shines with increasing brilliance, the fire is generated which sets on fire that which held and enclosed.” |
Khi kim cương chiếu sáng với ánh quang mỗi lúc một gia tăng, lửa được phát sinh, thiêu đốt cái đã nắm giữ và bao bọc nó.” |
|
91. That which has enclosed the “Jewel” is the entire egoic lotus. It is clear that a major impulse for the destruction of the egoic lotus comes from the “Jewel in the Lotus” and, ultimately, from the Monad. |
91. Cái đã bao bọc “Viên Ngọc” là toàn thể hoa sen chân ngã. Rõ ràng một xung lực chủ yếu cho sự hủy diệt hoa sen chân ngã đến từ “Viên Ngọc trong Hoa Sen” và tối hậu từ Chân thần. |