Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S7 Part I (TCF 1137-1142)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S7 Part I (TCF 1137-1142)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày với cỡ chữ 16, nhằm giúp dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp. Các chú thích và tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày với cỡ chữ 14. Lời bình giải được trình bày với cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc Bản Bình Giải này đọc kèm với TCF sách bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn sẽ được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy, xin đọc trọn vẹn một đoạn rồi hãy học phần Bình Giải

Certain laws govern the appearance periodically of the three kingdoms of nature, which are the laws of involution, the laws of the elemental kingdoms, and the laws of the three great groups which hold the germs and seeds of all manifested forms.

Có những định luật chi phối sự xuất hiện định kỳ của ba giới tự nhiên, đó là các định luật của giáng hạ tiến hoá, các định luật của những giới hành khí, và các định luật của ba nhóm vĩ đại vốn lưu giữ mầm mống và hạt giống của mọi hình tướng biểu hiện.

1. We are entering a discussion of certain laws which are rather obscure. Let us tabulate them for ease of registration:

1. Chúng ta đang bước vào một thảo luận về những định luật khá u huyền. Chúng ta hãy liệt kê chúng để dễ ghi nhận:

a. The laws of involution

a. Các định luật của giáng hạ tiến hoá

b. The laws of the elemental kingdoms

b. Các định luật của các giới hành khí

c. The laws of the three great groups

c. Các định luật của ba nhóm vĩ đại

We have in logoic manifestation the following seven groups for consideration:

Trong biểu hiện của Thượng đế, chúng ta có những nhóm sau đây để khảo cứu:

2. We are speaking of manifestation within the body of the Solar Logos.

2. Chúng ta đang nói về sự biểu hiện bên trong thể của Thái dương Thượng đế.

1.  2. 3. Three groups of superhuman existence:

1. 2. 3. Ba nhóm của tồn tại siêu nhân:

3. We note that even the great Existences appear as groups.

3. Chúng ta ghi nhận rằng ngay cả các Đấng Vĩ Đại cũng xuất hiện như các nhóm.

a.  The group forming the Father aspect of which little can here be predicated.

a. Nhóm cấu thành Phương diện Cha, về đó ở đây khó mà phát biểu được nhiều điều.

4. Presumably, included amongst this group are the Three Persons of the Logoic Trinity—the First Logos, the Second Logos and the Third—the solar systemic Shiva, Vishnu and Brahma.

4. Có thể, bao gồm trong nhóm này là Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế—Đệ Nhất Thượng đế, Đệ Nhị Thượng đế và Đệ Tam—Shiva, Vishnu và Brahma của hệ mặt trời.

5. These Three Persons have Their major focus on the logoic plane of the cosmic physical plane. (cf. Chart V TCF 344)

5. Ba Ngôi này đặt trọng tâm chủ ở cõi Thượng đế của cõi hồng trần vũ trụ. (xem Biểu đồ V TCF 344)

b.  The group of seven planetary Logoi.

b. Nhóm bảy Hành Tinh Thượng đế.

6. Presumably, these are the Planetary Logoi of the seven sacred planets.

6. Có thể, đây là các Hành Tinh Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng.

7. The other Planetary Logoi must be considered as included within the major seven.

7. Các Hành Tinh Thượng đế khác phải được xem là nằm trong bảy vị chính yếu.

8. The Planetary Logos are Dragons of Wisdom and therefore are more related to the “Son” aspect than to the “Father” aspect.

8. Các Hành Tinh Thượng đế là những Rồng của Minh triết nên liên hệ nhiều hơn với phương diện “Con” hơn là phương diện “Cha”.

c.  The group of seven raja devas, or the life of each of the physical planes.

c. Nhóm bảy raja deva, tức là sự sống của mỗi cõi hồng trần.

9. We note their high status. They represent the Brahma aspect of divinity. They have an initiatory status equivalent to the seventh degree. The Deva Lords Who rule the subplanes of the seven solar planes have an initiatory status equivalent to the sixth degree.

9. Chúng ta ghi nhận địa vị cao của Các Ngài. Các Ngài đại diện phương diện Brahma của thiên tính. Các Ngài có địa vị điểm đạo tương đương bậc thứ bảy. Các Chúa Tể Thiên thần cai quản các cõi phụ của bảy cõi thái dương có địa vị điểm đạo tương đương bậc thứ sáu.

The devas are on the evolutionary path, on the upward way.  They are, as you know, the Builders of the system, working in graded and serried ranks.  Devas are to be found of the same rank as the Planetary Logoi, and the Rulers of the five planes of human evolution hold rank equal to that of a Master of the seventh Initiation.  Others are equal in development (along their own line) to a Master of the fifth Initiation, and they work consciously and willingly with the Masters of the Occult Hierarchy.  They can be found on all the lesser grades down to the little building devas who work practically unconsciously in their groups, building the many forms necessitated by the evolving life. (LOM 174)

Các thiên thần ở trên con đường thăng thượng tiến hoá, trên lộ trình đi lên. Như bạn biết, Các Ngài là những Đấng Kiến Tạo của hệ, làm việc theo những cấp bậc và hàng ngũ kế tiếp. Có thể thấy các thiên thần ở cùng cấp bậc với các Hành Tinh Thượng đế, và các Đấng Cai Quản của năm cõi tiến hoá nhân loại giữ đẳng cấp tương đương với địa vị của một Chân sư của lần thứ bảy Điểm đạo. Những vị khác có mức phát triển (theo đường lối riêng của Các Ngài) tương đương một Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, và Các Ngài làm việc một cách có ý thức và hoan hỷ với các Chân sư của Thánh Đoàn Huyền Bí. Có thể gặp Các Ngài ở mọi cấp bậc thấp hơn cho đến các tiểu thiên thần xây dựng, những vị làm việc hầu như vô thức trong các nhóm của mình, kiến tạo các hình tướng muôn vàn do sự sống đang tiến hoá đòi hỏi. (LOM 174)

4. A group of solar lives who are the manasaputras or man.

4. Một nhóm các sự sống thái dương là các manasaputra hay con người.

10. These are the Solar Angels and they are definitely “solar” lives.

10. Đây là các Thái dương Thiên Thần và Các Ngài đích thực là các sự sống “thái dương”.

11. We note that their status is lower than that of the Raja Deva Lords Who rule the seven solar planes.

11. Chúng ta ghi nhận địa vị của Các Ngài thấp hơn các Chúa Tể Raja Deva cai quản bảy cõi thái dương.

12. Interestingly they are mentioned fourth in order. They are also associated with the fourth systemic law—the Law of Magnetic Control.

12. Thật thú vị khi Các Ngài được nhắc đến ở vị trí thứ tư. Các Ngài cũng gắn với định luật hệ thống thứ tư—Định luật Kiểm Soát Từ Lực.

13. We wish to note the phrase “manasaputras or man”. This conjunction tells us that man is being considered a “solar” life and a manasaputra, and yet we realize that there is a significant distinction between the human Monad and the Solar Angels who are “returning Nivanis from a previous mahamanvantara”.

13. Chúng ta muốn lưu ý cụm từ “manasaputra hoặc con người”. Liên từ này cho thấy con người đang được xem như một sự sống “thái dương” và là một manasaputra, và tuy thế, chúng ta nhận ra có một khác biệt đáng kể giữa Chân thần nhân loại và các Thái dương Thiên Thần, là “các nirvani quay trở lại từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước.”

14. This equivalence between man and the Solar Angel must be pondered. In our particular chain of the Earth-scheme, man would not have come to be without the Solar Angels and yet, following the return of the Solar Angels to the Heart of the Sun and Central Spiritual Sun, man continues to exist, and he is not yet a Solar Angel.

14. Sự tương ứng giữa con người và Thái dương Thiên Thần này phải được suy ngẫm. Trong dãy của chúng ta thuộc Hệ Địa Cầu, con người đã không thể được hình thành  nếu không có các Thái dương Thiên Thần, vậy mà sau khi các Thái dương Thiên Thần trở về Tâm của Thái Dương và Mặt trời Tinh thần Trung Ương, con người vẫn tiếp tục tồn tại, và y vẫn chưa là một Thái dương Thiên Thần.

15. Because the human Monad is “that which finds its home within the sun” (IHS 195), it is, indeed, a solar life as is the Solar Angel. In this tabulation, interestingly, the two types of beings, man and Solar Angel, are considered as one.

15. Bởi vì Chân thần nhân loại là “cái vốn tìm nhà của mình trong mặt trời” (IHS 195), nên thực vậy, y là một sự sống thái dương  như Thái dương Thiên Thần. Trong bảng phân loại này, thật thú vị, hai loại hữu thể—con người và Thái dương Thiên Thần—được xem như một.

5. 6. 7. Three groups of elemental lives, who form the three involutionary elemental kingdoms.

5. 6. 7. Ba nhóm các sự sống hành khí, vốn hình thành ba giới hành khí giáng hạ.

16. These groups are the lunar lords of three varieties—mental, astral and physical elementals.

16. Các nhóm này là các nguyệt tinh quân thuộc ba loại—tinh linh trí tuệ, tinh linh cảm dục và tinh linh thể xác.

These three lower groups achieve concretion, and enter the upward arc, through the medium of the three lower kingdoms.

Ba nhóm thấp này đạt đến sự kết đặc, và đi vào cung vòm đi lên, thông qua trung gian của ba giới thấp.

17. This is a fascinating statement. The three lower kingdoms are already on the upward arc; they are evolutionary kingdoms.

17. Đây là một khẳng định đầy hấp dẫn. Ba giới thấp đã  ở trên cung vòm đi lên; chúng là các giới tiến hoá.

18. The members of the elemental kingdom have not yet entered upon the upward arc and are, thus, not yet evolutionary lives whereas the members of the mineral, vegetable and animal kingdom are.

18. Các thành viên của giới hành khí chưa đi vào cung vòm đi lên và vì thế chưa phải là các sự sống tiến hoá, trong khi các thành viên của giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật thì là.

19. The nature of these three elemental groups needs careful study. In what ways are they involutionary? In what ways do they participate in the evolution of the three lower kingdoms?

19. Bản tính của ba nhóm hành khí này cần được khảo cứu cẩn trọng. Theo những cách nào chúng là giáng hạ tiến hoá? Theo những cách nào chúng tham dự vào tiến hoá  của ba giới thấp?

20. Of course, we must ask a tantalizing question—whether the members of the mineral, vegetable and animal kingdoms are not really expressions of the Monads of the Fourth Creative Hierarchy? This seems a strange thought, but the human Monad does pass through what has been called its “inmineralization”, its “invegetalization” and its “in-zoonation”. As we look at the three lower kingdoms we may, indeed, be looking at a non-individualized expression of the human Monad. From this perspective, the Fourth Creative Hierarchy can be considered the macrocosm of the lower kingdoms and the lower Creative Hierarchies (with the exception of at least part of the Fifth Creative Hierarchy.

20. Tất nhiên, chúng ta phải nêu một câu hỏi nhức nhối—liệu các thành viên của giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật có thật sự không phải là những biểu hiện của các Chân thần thuộc Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư chăng? Đây có vẻ là một ý nghĩ lạ lùng, nhưng Chân thần nhân loại quả có đi qua cái được gọi là “thạch hoá”, “thảo hoá” và “thú hoá” của mình. Khi chúng ta nhìn vào ba giới thấp, rất có thể chúng ta đang nhìn vào một biểu hiện chưa biệt ngã hóa của Chân thần nhân loại. Từ phối cảnh này, Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư có thể được xem là đại thiên địa của các giới thấp và các Huyền Giai Sáng Tạo thấp hơn (ngoại trừ ít nhất một phần của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm).

The fourth group is the most important in some ways during the present cycle for it borrows from all the other six groups and is therefore the synthesis of energies taken from each and manifested.

Nhóm thứ tư là quan trọng nhất theo vài phương diện trong chu kỳ hiện tại vì nó vay mượn từ tất cả sáu nhóm kia và do đó là sự tổng hợp các năng lượng lấy từ mỗi nhóm và được biểu lộ.

21. In this case Master DK is speaking about man as a manasaputra. Man is the meeting place for the higher and lower kingdoms and the higher and lower forms of life. The Solar Angel helps to make man what he is.

21. Trong trường hợp này Chân sư DK đang nói về con người như một manasaputra. Con người là nơi gặp gỡ của các giới cao và thấp và của các dạng sống cao và thấp. Thái dương Thiên Thần giúp làm cho con người trở thành như y là.

22. Man is definitely a synthesis of a number of groups and Creative Hierarchies, which provide him with his lower and higher vehicles.

22. Con người đích thực là một tổng hợp của nhiều nhóm và các Huyền Giai Sáng Tạo, vốn cung cấp cho y các vận cụ thấp và cao.

The higher three groups are closely allied, and until a man has passed out of the period of existence wherein he is controlled by [1138] that which he has borrowed from the three lower kingdoms, he cannot comprehend the nature and purpose of the three higher.

Ba nhóm cao hợp chặt chẽ, và cho đến khi một người đã vượt qua thời kỳ tồn tại trong đó y chịu kiểm soát bởi [] cái mà y đã vay mượn từ ba giới thấp, y không thể thấu hiểu bản chất và mục đích của ba nhóm cao.

23. Any control of man by the lunar lords, the lunar elementals, disqualifies him from comprehension of the greater Lives. While thus hampered, he cannot respond to their energies.

23. Bất kỳ sự kiểm soát nào của con người bởi các nguyệt tinh quân, các hành khí nguyệt, đều khiến y không đủ điều kiện để thấu hiểu các Sự Sống vĩ đại hơn. Khi còn bị cản trở như vậy, y không thể đáp ứng các năng lượng của Các Ngài.

24. That phase of human evolution in which the soul-in-incarnation cultivates awareness of the soul on its own plane, is a period in which the human being can begin to comprehend the nature and purpose of the three higher groups.

24. Giai đoạn tiến hoá nhân loại trong đó linh hồn-đang-nhập-thể nuôi dưỡng sự nhận biết về linh hồn trên chính cõi của nó, là một thời kỳ trong đó con người có thể bắt đầu  thấu hiểu bản chất và mục đích của ba nhóm cao.

We might express the matter as follows:

Chúng ta có thể diễn đạt vấn đề như sau:

The three higher groups are sattvic.

Ba nhóm cao là sattvic.

The three lower groups are tamasic.

Ba nhóm thấp là tamasic.

The fourth group, or human, is rajasic.

Nhóm thứ tư, tức nhân loại, là rajasic.

25. Man as a manasaputra is considered rajasic. From this point of view, the Solar Angel may be considered more rajasic that sattvic. Viewing B/beings in relation to the gunas is a relative matter. It all depends on the perspective of the viewer.

25. Con người như một manasaputra được xem là rajasic. Từ điểm nhìn này, có thể xem Thái dương Thiên Thần là rajasic hơn là sattvic. Xem xét các Hữu thể trong tương quan với các guna là vấn đề tương đối. Tất cả tuỳ thuộc phối cảnh của người quan sát.

26. A manasaputra is a “mind-born son”. If man, the Jiva, is considered an emanation of the Monad (and not a being created through the conjunction of male and female) then, indeed, he is a mind-born son.

26. Một manasaputra là “người con sinh bởi trí tuệ”. Nếu con người, Jiva, được xem là một xuất lộ của Chân thần (và không phải một hữu thể được tạo ra qua sự phối hợp của nam và nữ) thì thật vậy, y là một người con sinh bởi trí tuệ.

27. The Lives forming the Father Aspect (i.e., the Three Persons of the Logoic Trinity and associated Spirits of Darkness), Planetary Logoi (related to the Seven Ray Lives) and Raja Deva Lords (related to the forty-nine Sons of Fohat) are considered sattvic. The lunar elementals are considered tamasic.

27. Các Sự Sống cấu thành Phương diện Cha (tức là Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế và các Linh Hồn của Bóng Tối liên hệ), các Hành Tinh Thượng đế (liên hệ với Bảy Sự Sống Cung) và các Chúa Tể Raja Deva (liên hệ với bốn mươi chín Các Con của Fohat) được xem là sattvic. Các hành khí nguyệt được xem là tamasic.

Again, the three higher groups are energised by three streams of force which enter along the line of the three spirillae of the logoic permanent atom.

Lại nữa, ba nhóm cao được điểm linh bởi ba dòng lực đi vào dọc theo tuyến của ba tiểu luân của Nguyên tử trường tồn logoic.

28. The Solar Logos has a number of permanent atoms, but only one on the cosmic physical plane and it is probably to this permanent atom that the text refers.

28. Thái dương Thượng đế có nhiều nguyên tử trường tồn, nhưng chỉ một trên cõi hồng trần vũ trụ và có lẽ văn bản đang nói về nguyên tử trường tồn này.

29. We are not generally speaking of the higher aspects of the great Lives—those aspects found upon the cosmic astral plane and the cosmic mental plane.

29. Chúng ta nói chung không đề cập đến các phương diện cao hơn của các Sự Sống vĩ đại—những phương diện nằm trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

30. Since the spirillae of the logoic permanent atoms are, in fact, planes, DK is telling us that the logoic, monadic and atmic planes are involved in the energizing of the three higher groups of Lives.

30. Vì các tiểu luân của các nguyên tử trường tồn logoic thực chất là các cõi,  Chân sư DK cho biết rằng các cõi logoic, chân thần và atma được tham dự trong việc điểm linh ba nhóm cao của các Sự Sống.

The three lower groups are energised by energy entering by the three lowest spirillae (which we call the three lowest planes)

Ba nhóm thấp được điểm linh bởi năng lượng đi vào qua ba tiểu luân thấp nhất (mà chúng ta gọi là ba cõi thấp nhất)

31. With regard to the Solar Logos, the planes of His solar system are “spirillae”. Here we have a statement which is a confirmation of this thought.

31. Đối với Thái dương Thượng đế, các cõi của Thái dương hệ của Ngài là “các tiểu luân”. Ở đây có một phát biểu xác nhận ý niệm này.

32. It is not only permanent atoms which are energizers but planes as well (or, rather, energies found upon the solar planes).

32. Không chỉ các nguyên tử trường tồn mới là những kẻ điểm linh mà các cõi cũng vậy (đúng hơn là những năng lượng có trên các cõi thái dương).

and these spirillae energise the logoic dense body, were vitalised in the previous solar system, and are no longer in any way controlling factors in logoic existence.

và các tiểu luân này điểm linh thể đậm đặc logoic, đã được tiếp sinh lực trong hệ mặt trời trước kia, và không còn là những nhân tố kiểm soát theo bất kỳ cách nào trong sự tồn tại logoic.

33. The three lower spirillae are an aspect of logoic existence but, in this solar system, no longer controlling factors as they were in the previous solar system.

33. Ba tiểu luân thấp là một phương diện của sự tồn tại logoic nhưng, trong Thái dương hệ này, không còn là các nhân tố kiểm soát như chúng đã là trong Thái dương hệ trước.

34. We may hypothesize that the previous solar system was given to the development of the logoic personality (perhaps as an entirety). Compared to this solar system, it was a ‘material’ solar system.

34. Chúng ta có thể giả thuyết rằng Thái dương hệ trước dành cho sự phát triển của phàm ngã logoic (có lẽ như một toàn thể). So với Thái dương hệ hiện tại, đó là một Thái dương hệ ‘vật chất’.

35. We are being told that the three elemental groups (the lower three of the seven) are to be associated with the three lowest spirillae of the logoic physical permanent atom.

35. Chúng ta đang được cho biết rằng ba nhóm hành khí (ba nhóm thấp trong bảy nhóm) được liên hệ với ba tiểu luân thấp nhất của Nguyên tử trường tồn hồng trần logoic.

36. If we follow an evident analogy, we would ask when the lowest spirillae in the human physical permanent atom were energized and what if any effect they have upon the human being at this time?

36. Nếu chúng ta theo một tương đồng hiển nhiên, chúng ta sẽ hỏi khi nào các tiểu luân thấp nhất trong Nguyên tử trường tồn hồng trần của con người  được điểm linh và chúng có ảnh hưởng gì, nếu có, lên con người vào thời điểm này?

37. Would we associate such lower spirillae (in the physical permanent atom of the human being) with the gaseous, liquid and dense subplanes of the systemic etheric-physical plane?

37. Chúng ta có gắn các tiểu luân thấp như vậy (trong Nguyên tử trường tồn hồng trần của con người) với các cõi phụ khí, thủy và đặc của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống không?

38. If the spirillae of the physical permanent atom of the Solar Logos are each associated with one of the systemic or solar planes, we would think that the third spirilla must still be active in relation to man—a mental being.

38. Nếu các tiểu luân của Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế mỗi cái gắn với một cõi thái dương hay Thái dương hệ, chúng ta sẽ nghĩ rằng tiểu luân thứ ba ắt vẫn còn hoạt động liên hệ với con người—một hữu thể trí tuệ.

The fourth group, the human, is energised by the force of the fourth spirilla, to which we give the name of buddhic energy,

Nhóm thứ tư, tức nhân loại, được điểm linh bởi lực của tiểu luân thứ tư, mà chúng ta đặt tên là năng lượng Bồ đề,

39. How interesting that without the intervention of buddhi, and its contact with the highest specimens of the animal kingdom, the human kingdom, the fourth, would not have been created.

39. Thật thú vị là nếu không có sự can dự của Bồ đề, và tiếp xúc của nó với các mẫu vật cao nhất của giới động vật, thì giới thứ tư—giới nhân loại—đã không được hình thành.

40. Buddhi is the sixth principle of man but is to be associated with the fourth plane (the buddhic plane). There is, therefore, a close association between the energy of the fourth plane and the founding and sustainment of the fourth kingdom, the human.

40. Bồ đề là nguyên khí thứ sáu  của con người nhưng lại gắn với cõi thứ tư  (cõi Bồ đề). Do đó, có một liên hệ mật thiết giữa năng lượng của cõi thứ tư và sự hình thành cũng như sự duy trì giới thứ tư, tức nhân loại.

41. Is this idea suggesting that the Solar Angels which are so essential to the formation of man in this solar system and in this planetary chain are really buddhi beings?

41. Ý niệm này có gợi rằng các Thái dương Thiên Thần, vốn tối hệ trọng đối với việc hình thành con người trong Thái dương hệ này và trong dãy hành tinh này, thực ra là các hữu thể Bồ đề  chăng?

and this fourth group has, therefore, the problem of bringing about conditions whereby the buddhic vibrations may dominate the other, and lower, three.

nhóm thứ tư này, vì thế, có bài toán thiết lập những điều kiện nhờ đó các rung động Bồ đề có thể chế ngự ba nhóm khác, và thấp hơn, kia.

42. The destiny of man is here described in a few words. The purpose of the many millions of years of human evolution is to bring the buddhic vibration into full expression so that it dominates the lower three elemental expressions—the expressions of three types of involutionary lives.

42. Vận mệnh của con người được mô tả ở đây bằng vài lời. Mục đích của hàng triệu triệu năm tiến hoá nhân loại là đem rung động Bồ đề đến mức biểu lộ viên mãn để nó chế ngự ba biểu lộ hành khí thấp—những biểu lộ của ba loại sự sống giáng hạ.

43. In doing this the buddhic vibration dominates the mental, astral and etheric-physical vibrations.

43. Khi làm điều này, rung động Bồ đề chế ngự các rung động trí tuệ, cảm dục và dĩ thái-hồng trần.

44. We see that there is a very good reason for the fact that the Fourth Creative Hierarchy finds its field of intended expression upon the buddhic plane, as the Table of Creative Hierarchies on EA 35 illustrates.

44. Chúng ta thấy có một lý do rất chính đáng cho thực tế là Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư tìm trường biểu lộ dự định của mình trên cõi Bồ đề, như Bảng Huyền Giai Sáng Tạo trong EA 35 minh hoạ.

It is this imposition which eventually releases the human units, and permits of their passing into the higher group.

Chính sự áp đặt này rốt cuộc giải thoát các đơn vị nhân loại, và cho phép họ thông qua vào nhóm cao hơn.

45. DK is telling us that the imposition of buddhi into the life of human units prepares conditions for their release—probably at the fourth initiation.

45. Chân sư DK cho biết rằng việc áp đặt Bồ đề vào đời sống của các đơn vị nhân loại chuẩn bị các điều kiện cho sự giải thoát của họ—có lẽ ở lần điểm đạo thứ tư.

46. Into which group is this? Seven groups are discussed. There would be ten if the three lower kingdoms were numbered among the seven, but for some reason they are not listed (unless these three kingdoms are all to be considered as expressions of the human Monad).

46. Vào nhóm nào? Bảy nhóm được bàn đến. Sẽ là mười nếu ba giới thấp được kể trong bảy, nhưng vì một lý do nào đó chúng không được liệt kê (trừ khi ba giới này đều được xem là những biểu hiện của Chân thần nhân loại).

47. A group into which the majority of human beings normally passes (eventually) is the group of Solar Angels (via the Path to Sirius), but in the enumeration used in this section of text, the manasadevas (Solar Angels) and men are seen as equivalent.

47. Một nhóm mà phần đông nhân loại rốt cuộc sẽ đi vào là nhóm các Thái dương Thiên Thần (qua Con Đường đến Sirius), nhưng trong cách liệt kê dùng trong đoạn văn này, các manasadeva (Thái dương Thiên Thần) và con người  được xem là tương đương.

48. Another higher group, however, could be considered the Fifth Kingdom (the Kingdom of Souls), which is still within the Fourth Creative Hierarchy of human Monads.

48. Tuy nhiên, một nhóm cao hơn khác có thể được xem là Giới thứ Năm (Giới của các Linh hồn), vốn vẫn nằm trong Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư của các Chân thần nhân loại.

The elemental group souls find correspondences in the higher—first, in the human kingdom in the three main groups of Egos,

Các hồn nhóm hành khí tìm thấy các tương ứng ở cấp cao hơn—trước hết, trong giới nhân loại nơi có ba nhóm chính của các Chân ngã,

49. There are three elemental group souls working through the three lower kingdoms.

49. Có ba hồn nhóm hành khí làm việc thông qua  ba giới thấp.

50. The three main groups of Egos can be considered those characterized by the three major rays; also the Egos who are in the Department of the Manu, the Bodhisattva and Mahachohan, respectively.

50. Ba nhóm chính của các Chân ngã có thể được xem là những nhóm được đặc trưng bởi ba cung chính; cũng là các Chân ngã thuộc về Cơ quan của Manu, của Bồ tát và của Mahachohan, tương ứng.

in whom the three types of energy predominate;

trong đó ba loại năng lượng trội hơn;

51. These are presumably the energies of the seven rays. All seven are really expression of the three major rays.

51. Đây hẳn là các năng lượng của bảy cung. Tất cả bảy thực ra là những biểu hiện của ba cung chính.

52. It seems that these human groups are distinguished by differences in energy expression rather than differences in degree of unfoldment. It would be somewhat difficult to divide the human family into three parts based upon different degrees of unfoldment. In one way it could be done: the Hall of Ignorance; the Hall of Learning; and the Hall of Wisdom.

52. Có vẻ các nhóm nhân loại này được phân biệt bởi khác biệt về biểu lộ năng lượng  hơn là khác biệt về mức độ khai mở. Sẽ hơi khó phân chia gia đình nhân loại thành ba phần dựa trên các mức độ khai mở khác nhau. Theo một cách nào đó có thể làm: Phòng Vô Minh; Phòng Hiểu Biết; và Phòng Minh triết.

again in the three main or major planetary groups,

lại nữa trong ba nhóm hành tinh chính yếu,

53.  The three main or planetary groups can be considered as the major Planetary Logoi on the Rays of Aspect.

53. Ba nhóm hành tinh chính yếu có thể được xem là các Hành Tinh Thượng đế chính yếu trên các Cung Trạng Thái.

54. One way of understanding this is to look at Chart VI, TCF, 373. Here we find three major planetary groupings: Uranus, Neptune and the many Planetary Logoi gathered around the planet Saturn and within ‘Greater Saturn’—comprising them all.

54. Một cách để hiểu điều này là xem Biểu đồ VI, TCF, 373. Ở đó, chúng ta thấy ba nhóm hành tinh chính: Uranus, Neptune và nhiều Hành Tinh Thượng đế quy tụ quanh hành tinh Saturn và trong ‘Saturn Lớn’—bao gồm tất cả.

and finally in the three aspects.

và rốt cuộc là trong ba Phương diện.

55. The “three aspects” are a still higher Triplicity: the Three Persons of the Logoic Trinity.

55. “Ba Phương diện” là một Bộ Ba còn cao hơn: Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế.

56. Of course the third aspect of divinity are universal and extend far, far beyond our solar system.

56. Tất nhiên phương diện thứ ba của thiên tính là phổ quát  và vượt xa, rất xa ngoài Thái dương hệ của chúng ta.

Elemental group animal kingdom  Sattvic… Solar Logos

Hồn nhóm hành khí giới động vật Sattvic… Thái dương Thượng đế

Uranus.  Father aspect.

Uranus. Phương diện Cha.

57. This group corresponds to the Three Persons of the Logoic Trinity. Uranus is a more ancient ‘Father’ than even Saturn.

57. Nhóm này đối ứng với Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế. Uranus là một ‘Cha’ cổ xưa hơn cả Saturn.

58. Uranus is, in many ways, the ruler of individuality and individualization. It creates the sense of uniqueness (eventually) in the animal consciousness.

58. Uranus, ở nhiều phương diện, là chủ tinh của tính cá thể và sự biệt ngã hóa. Nó tạo ra (rốt cuộc) cảm thức độc nhất trong tâm thức động vật.

Elemental group  vegetable… Rajasic… Planetary Logoi

Hồn nhóm hành khí giới thực vật… Rajasic… Các Hành Tinh Thượng đế

Neptune.  Son aspect

Neptune. Phương diện Con

59. This group corresponds to the Planetary Logoi.

59. Nhóm này đối ứng với các Hành Tinh Thượng đế.

Elemental group mineral kingdom. Tamasic… Plane devas

Hồn nhóm hành khí giới kim thạch. Tamasic… Các thiên thần của cõi

Saturn. Mother, Brahma aspect. 

Saturn. Mẹ, phương diện Brahma.

[1139]

[]

60. This group corresponds to the Raja Deva Lords

60. Nhóm này đối ứng với các Chúa Tể Raja Deva.

61. It is interesting that Saturn is associated with both the Father and the Mother (as found in the Kabala).

61. Thật thú vị là Saturn gắn với cả Cha lẫn Mẹ (như thấy trong Kabala).

62. It is curious to see (when considering lower correspondences in the lower three kingdoms) that the animal kingdom (so relatively Martian and rajasic) is considered sattvic and the vegetable kingdom, rajasic. That the mineral kingdom is assigned the guna of sattva comes as no surprise.

62. Thật lạ khi thấy (khi xem xét các tương ứng hạ trong ba giới thấp) rằng giới động vật (vốn tương đối có tính Hỏa Tinh và rajasic) lại được xem là sattvic còn giới thực vật là rajasic. Việc giới kim thạch được gán guna sattva thì không có gì đáng ngạc nhiên.

The fourth or human group, unites all three lives.

Nhóm thứ tư, tức nhân loại, hợp nhất cả ba sự sống.

63. Humanity is the macrocosm not only for the lower three kingdoms, but for the groups of elemental lives working through those kingdoms.

63. Nhân loại là đại thiên địa không chỉ cho ba giới thấp, mà còn cho các nhóm sự sống hành khí làm việc thông qua  các giới ấy.

64. One of the mysteries to be clarified is the relationship between the three groups of elemental lives and the three lower kingdoms.

64. Một trong những huyền bí cần làm rõ là mối liên hệ giữa ba nhóm sự sống hành khí và ba giới thấp.

The periodic manifestation of the three elemental groups (through the medium of the three lower kingdoms)

biểu lộ tuần hoàn của ba nhóm hành khí ( thông qua trung gian của ba giới thấp)

65. Again we find this formulation—“through the three lower kingdoms”. These lower kingdoms are definitely on the evolutionary path, but the three elemental groups apparently are not. Theirs, therefore, is a mysterious relationship. How can involutionary elemental groups express through evolutionary kingdoms? Unless, the elemental groups are not really involutionary. Perhaps only the building essences related to the three lower planes are truly involutionary.

65. Một lần nữa chúng ta gặp cấu trúc này—“thông qua ba giới thấp”. Ba giới thấp chắc chắn ở trên  con đường tiến hoá, nhưng ba nhóm hành khí thì dường như không. Vì thế, quan hệ của chúng thật bí ẩn. Làm sao các nhóm hành khí giáng hạ lại có thể biểu hiện qua các giới tiến hoá? Trừ phi, các nhóm hành khí ấy thực sự không  phải giáng hạ. Có lẽ chỉ các tinh chất kiến tạo liên hệ với ba cõi thấp mới thật sự là giáng hạ.

66. We take note that the three elemental groups manifest periodically. There are cyclic laws which determine this type of manifestation.

66. Chúng ta ghi nhận rằng ba nhóm hành khí biểu lộ theo chu kỳ. Có các định luật chu kỳ chi phối loại biểu hiện này.

is, therefore, governed by factors hidden in the nature of that great vibration which we call tamasic, or heavy rhythm.

vì thế, chịu sự chi phối bởi các nhân tố ẩn tàng trong bản tính của đại rung động mà chúng ta gọi là tamasic, hay nhịp nặng.

67. Tamas is a “great vibration” including many kinds of lives related to the lunar energy and to the energy of the previous solar system.

67. Tamas là một “đại rung động” bao gồm nhiều loại sự sống liên hệ với năng lượng nguyệt và năng lượng của Thái dương hệ trước.

68. Although the Elemental Groups are each assigned one of the gunas, when considered as a whole, they are tamasic.

68. Tuy các Nhóm Hành khí mỗi nhóm được gán một trong các guna, nhưng khi được xem như một toàn thể, chúng là tamasic.

It is the vibration of Brahma, the third aspect, the mother or matter aspect.

Đó là rung động của Brahma, phương diện thứ ba, phương diện Mẹ hay vật chất.

69. We can certainly judge that Brahma had much more to do with the previous solar system than with our own, although it is foundational to our present solar system.

69. Chúng ta có thể chắc chắn rằng Brahma liên quan nhiều hơn đến Thái dương hệ trước so với Thái dương hệ của chúng ta, mặc dù là nền tảng cho Thái dương hệ hiện tại.

70. The “Primordial Ray” (the third ray) provides the “vibration of Brahma”.

70. “Cung Nguyên Thuỷ” (cung ba) cung cấp “rung động của Brahma”.

Their appearance,

Sự xuất hiện của chúng,

71. The appearance of the “three elemental groups”…

71. Sự xuất hiện của “ba nhóm hành khí”…

therefore, is one of a very slow manifestation,

vì vậy, là một sự biểu hiện rất chậm,

72. Presumably with the group soul informing the mineral kingdom appearing first, because the mineral kingdom is the first of the three lower kingdoms to appear; the group soul informing the vegetable kingdom second; and lastly the group soul informing the animal kingdom.

72. Có lẽ với hồn nhóm thấm nhuần giới kim thạch xuất hiện trước, bởi giới kim thạch là giới thứ nhất trong ba giới thấp xuất hiện; sau đó là hồn nhóm thấm nhuần giới thực vật; và sau cùng là hồn nhóm thấm nhuần giới động vật.

the seven subsidiary vibrations bringing in one or other of the seven groups of each group soul in a very slow alternation.

bảy rung động thứ cấp lần lượt đưa một trong bảy nhóm của mỗi hồn nhóm nhập cuộc theo một sự luân phiên rất chậm.

73. It is vibrations of certain kinds which bring the group souls into incarnation. Seven subsidiary vibrations bring the seven parts of each group soul into incarnation according to certain established cycles.

73. Chính là các rung động thuộc loại nào đó đưa các hồn nhóm vào lâm phàm. Bảy rung động thứ cấp đưa bảy bộ phận của mỗi hồn nhóm vào lâm phàm theo các chu kỳ đã định.

74. Obviously, the Tibetan is not telling us what these cycles are. He does use the word “alternation”. Does this mean that these seven subsidiary groups come in one at a time, or is the manner of their appearance more complex?

74. Rõ ràng, Đức Tây Tạng không cho chúng ta biết các chu kỳ ấy là gì. Ngài dùng từ “luân phiên”. Điều này có nghĩa là bảy nhóm thứ cấp ấy đến từng nhóm một, hay cách thức xuất hiện của chúng phức tạp hơn?

75. We see from this account that there must be twenty-one subsidiary vibrations and twenty-one subsidiary groups in all the three group souls combined.

75. Từ trình bày này, chúng ta thấy phải có hai mươi mốt rung động thứ cấp và tổng cộng hai mươi mốt nhóm thứ cấp trong tất cả  ba hồn nhóm.

The cycles cannot be given;

Không thể nêu các chu kỳ này;

76. As stated. We are spared the particulars because we would not know how to do anything constructive with them.

76. Như đã nói. Chúng ta được miễn khỏi các chi tiết vì chúng ta cũng không biết làm gì hữu ích với chúng.

two things only can be said:  the appearance of these groups

chỉ có thể nói hai điều: sự xuất hiện của những nhóm này

77. Groups and seven subsidiary groups in each group soul.

77. Các nhóm và bảy nhóm thứ cấp trong mỗi hồn nhóm.

as units in manifestation

như các đơn vị đang biểu lộ

78. We note that each group is considered as a “unit”.

78. Chúng ta ghi nhận rằng mỗi nhóm được xem như một “đơn vị”.

is controlled by three factors:

được kiểm soát bởi ba nhân tố:

1. The moon, for these are the many lunar fathers.

1. mặt trăng, vì đó là các nguyệt phụ thân nhiều vô kể.

79. The word “pitri” means “father”. These elemental lives are directly associated with the former chain in the Earth-scheme—the Moon-chain. They still respond, from habit, to the cycles of the Moon, even though the Moon, we are told, has no “radiation” per se.

79. Từ “pitri” nghĩa là “phụ thân”. Các sự sống hành khí này liên hệ trực tiếp với dãy trước trong Hệ Địa Cầu—Dãy Mặt Trăng. Chúng vẫn đáp ứng, do thói quen, theo các chu kỳ của Mặt Trăng, mặc dù Mặt Trăng, như được cho biết, tự thân không có “bức xạ”.

2. The ray in manifestation at any time.

2. cung đang biểu lộ vào bất kỳ thời điểm nào.

80. We can assume that the seven groups within every group soul are each keyed to the seven rays.

80. Chúng ta có thể giả định rằng bảy nhóm trong mỗi hồn nhóm đều được điều âm với bảy cung.

81. The incoming seventh ray probably affects these groups strongly.

81. Cung bảy đang đến có lẽ tác động mạnh mẽ lên các nhóm này.

3. The karma of the informing Life of any kingdom.

3. nghiệp của Sự Sống thấm nhuần bất kỳ giới nào.

82. This is a more abstruse matter. The mineral kingdom, vegetable kingdom and (so we might think) the animal kingdom are all informed by great Lives, high on the ladder of evolution (c.f. TCF 844). However, below, we shall see the human kingdom substituted for the animal kingdom, and we will have to ponder why this might be the case.

82. Đây là một vấn đề uyên áo hơn. Giới kim thạch, giới thực vật và (chúng ta có thể nghĩ) giới động vật, tất cả đều được thấm nhuần bởi các Sự Sống vĩ đại, ở cao trên chiếc thang tiến hoá (xem TCF 844). Tuy nhiên, phía dưới, chúng ta sẽ thấy giới nhân loại thay cho giới động vật, và chúng ta sẽ phải suy ngẫm vì sao lại như vậy.

83. The karma of any Life expressing through incarnation is determined by its past. If the great Life is affected, so will be the aspects of that Life—the group soul and its subsidiary aspects.

83. Nghiệp của bất kỳ Sự Sống nào biểu hiện qua lâm phàm được quyết định bởi quá khứ của nó. Nếu Đại Sự Sống bị ảnh hưởng, thì các phương diện của Sự Sống đó—hồn nhóm và các phương diện thứ cấp của nó—cũng sẽ bị ảnh hưởng.

The second consideration

Xét đến điểm thứ hai

84. Regarding the manifestation of the group souls…

84. Liên quan đến sự biểu lộ của các hồn nhóm…

is the karma and life-history of the planetary entity.

là nghiệp và lịch sử đời sống của thực thể hành tinh.

85. The planetary entity is a great, deeply unconscious Life which will only see fuller development in the next solar system.

85. Thực thể hành tinh là một Sự Sống vĩ đại, cực kỳ vô thức, chỉ đến Thái dương hệ tới mới thấy sự phát triển đầy đủ hơn.

He sleeps and awakes;

Nó ngủ và thức;

86. Cycles for this Life are suggested…

86. Gợi ý các chu kỳ cho Sự Sống này…

87. That this entity “awakes” does not suggest that it is self-conscious.

87. Việc thực thể này “thức dậy” không ngụ ý rằng nó có tự tri.

he is the embodiment of tamas,

nó là hiện thân của tamas,

88. The vibration of this Life is everything that we recognize as tamasic. It must be a Life strongly influenced by the residual Moon-chain energies and the energies of the previous solar system.

88. Rung động của Sự Sống này là mọi điều mà chúng ta nhận biết như tamasic. Đây hẳn là một Sự Sống chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các năng lượng tồn dư của Dãy Mặt Trăng và các năng lượng của Thái dương hệ trước.

and as he progresses and evolves so do the lower kingdoms.

và khi nó tiến triển và tiến hoá thì các giới thấp cũng như vậy.

89. The evolution of lesser lives is tied to the evolution of the greater Life in which they “live and move and have their being”.

89. Sự tiến hoá của các sự sống nhỏ hơn gắn với sự tiến hoá của Đại Sự Sống trong đó chúng “sống, chuyển động và hiện hữu”.

The lunar pitris are to the planetary entity what the three major centres are to man or to the Logoi.

Các nguyệt pitri đối với thực thể hành tinh cũng như ba trung tâm chính đối với con người hay đối với các Thượng đế.

90. This suggests the possibility of forms of life (other than the lunar pitris) which embody or express even lower centers.

90. Điều này gợi khả năng có những loại hình sự sống (khác với các nguyệt pitri) vốn là hiện thân hay biểu lộ các trung tâm thấp hơn nữa.

91. In the lunar scale of evolution, the lunar pitris are, thus, relatively high.

91. Trong thang tiến hoá nguyệt, các nguyệt pitri như vậy là tương đối cao.

92. Man expresses his essential nature (monadic nature) through the three major centers and especially through one of them.

92. Con người biểu lộ bản tính cốt tuỷ của mình (bản tính chân thần) qua ba trung tâm chính, và nhất là qua một trong số chúng.

93. The planetary entity, apparently, expresses its essential nature through the lunar pitris considered as its three higher centers.

93. Thực thể hành tinh, hiển nhiên, biểu lộ bản tính cốt tuỷ của nó qua các nguyệt pitri, được xem như ba trung tâm cao của nó.

The lunar Pitris who contribute the human form are (to the planetary entity) the correspondence to the head centre.

Các nguyệt Pitri đóng góp hình hài con người là (đối với thực thể hành tinh) sự tương ứng với trung tâm đầu.

94. Here are some most interesting specifications with respect to the planetary entity.

94. Đây là những quy định vô cùng thú vị liên quan đến thực thể hành tinh.

95. We see below that the three major centers are involved—head, heard and throat.

95. Chúng ta thấy bên dưới rằng ba trung tâm chính  được liên hệ—đầu, tim và cổ họng.

96. It the pitris of the mineral kingdom are analogous to the throat center and those of the vegetable kingdom to the heart center, then why are not the pitris associated with the animal kingdom analogous to the head center?

96. Nếu các pitri của giới kim thạch tương ứng với trung tâm cổ họng và các pitri của giới thực vật tương ứng với trung tâm tim, vậy tại sao các pitri liên hệ với giới động vật  lại không tương ứng với trung tâm đầu?

Those who are the fathers of the vegetable forms correspond to his heart centre, whilst the Pitris of the mineral kingdom are analogous to the throat centre.  This is all very obscure but hints of much value lie here.

Những vị là cha của các hình thể thực vật thì tương ứng với trung tâm tim, trong khi các Pitri của giới kim thạch thì giống như trung tâm cổ họng. Tất cả điều này rất tối tăm nhưng ẩn chứa nhiều gợi ý giá trị.

97. Yet, in this listing, the animal kingdom is passed over and the pitris associated with the human kingdom are given the role of the head center in the planetary entity.

97. Tuy vậy, trong bảng này, giới động vật bị bỏ qua và các pitri liên hệ với giới nhân loại được trao vai trò trung tâm đầu trong thực thể hành tinh.

98.  One  of the higher centers, however, is not mentioned—the ajna center, so we must wonder whether the pitris associated with the animal kingdom do not fulfill the role of ajna center in the planetary entity.

98. Tuy nhiên, Một  trong các trung tâm cao không được nhắc đến—trung tâm ajna, nên chúng ta phải tự hỏi liệu các pitri liên hệ với giới động vật có đảm nhiệm vai trò trung tâm ajna trong thực thể hành tinh hay không.

99. One thing may have to be taken into consideration—the very close relationship, in general, between the lunar pitris and the animal kingdom. There is a line of evolution for lunar pitris leading eventually to individualization and it passes through the animal kingdom.

99. Có thể cần xét đến một điều—mối liên hệ rất gần nói chung giữa các nguyệt pitri và giới động vật. Có một nẻo tiến hoá cho các nguyệt pitri dẫn đến biệt ngã hóa rốt cuộc, và nó đi qua giới động vật.

100.  The following from the tabulation on TCF, 844, hold many hints:

100. Những điều sau đây từ bảng ở TCF, 844, ẩn chứa nhiều ám chỉ:

7.

The lunar Pitris

To become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation.

8.

The animal evolution

Human kingdom.

9.

The vegetable evolution

The animal kingdom.

101.  The complexity of these considerations have much to do with the fact that two types of evolution are presently evolving through our Earth-chain—the normal evolution of the fourth chain and the evolution of the third chain (the Moon-chain) transferred from that chain into ours.

101. Sự phức tạp của các xem xét này có nhiều liên hệ với thực tế là hai loại tiến hoá đang cùng vận hành trong Dãy Địa Cầu của chúng ta—tiến hoá bình thường của dãy thứ tư và tiến hoá của dãy thứ ba (Dãy Mặt Trăng) được chuyển từ dãy đó sang dãy của chúng ta.

It is not possible to give much further information relative to the periodical appearing of the subhuman forms of life.

Không thể cho thêm nhiều thông tin liên hệ đến sự xuất hiện tuần hoàn của các hình thức sống dưới nhân loại.

102.  It would seem that all groups of lives appear periodically and that the sub-aspects of these groups also have their own cycles determining periodic appearance within the larger cycles of the group to which they belong.

102. Có vẻ như mọi nhóm sự sống đều xuất hiện theo chu kỳ và các phương diện phụ của những nhóm ấy cũng có các chu kỳ riêng quyết định sự xuất hiện tuần hoàn trong các chu kỳ lớn hơn của nhóm mà chúng thuộc về.

The subject is too obscure, and the detail too vast.

Chủ đề này quá tối tăm, và chi tiết thì quá bao la.

103.  We can certainly realize this to be the case. All this will have to be solved by the scientific occultists of the future. They will have to be specialists to penetrate the obscurity.

103. Chúng ta chắc chắn có thể nhận ra điều đó. Hết thảy sẽ phải được giải quyết bởi các nhà huyền bí học khoa học của tương lai. Họ sẽ phải là các chuyên gia mới có thể xuyên qua màn u tối.

Until the student has fitted himself to appreciate [1140] the symbolic, or hieroglyphic writings of the adepts,22 it is impossible for him to grasp the matter.

Cho đến khi đạo sinh tự rèn để có thể thẩm thấu [] các bản văn biểu tượng, hay tượng hình, của các chân sư,22 thì y không thể nắm bắt được vấn đề.

104.  This, in itself, is a hint and encourages us to learn the nature of the Senza Language, study it, and apply it to the interpretation of life.

104. Bản thân điều này là một gợi ý và khích lệ chúng ta học bản chất của Ngôn ngữ Senza, nghiên cứu nó, và áp dụng vào việc diễn dịch sự sống.

Footnote 22:

Chú thích 22:

Symbols.

Biểu tượng.

“In a symbol lies concealment or revelation.”—Carlyle.

“Trong một biểu tượng có sự che giấu hoặc sự mặc khải.”—Carlyle.

1. Symbols are intended for:—

1. Biểu tượng được dùng cho:—

a. The little evolved.  They teach great truths in simple form.

a. Người ít khai mở. Chúng truyền dạy các chân lý lớn theo hình thức đơn giản.

b. The bulk of humanity.  They preserve truth intact and embody cosmic facts.

b. Đại đa số nhân loại. Chúng bảo tồn chân lý nguyên vẹn và hiện thân các sự kiện vũ trụ.

c. The pupils of the Masters.  They develop intuition.

c. Các môn sinh của các Chân sư. Chúng phát triển trực giác.

105.  We see here a triple function of symbols. For the first two categories of human beings, the symbol may be taken for the reality. Anyone who takes that which is presented to consciousness by the senses as a reality is mistaking a symbol for a reality. The art of spiritual reading is not yet understood.

105. Ở đây chúng ta thấy một chức năng tam phân  của biểu tượng. Đối với hai hạng người đầu trong nhân loại, biểu tượng có thể được lấy làm thực tại. Bất kỳ ai coi cái mà giác quan phô diễn trước tâm thức như một thực tại đều đang lầm lẫn biểu tượng với thực tại. Nghệ thuật đọc tinh thần vẫn chưa được hiểu.

106.  The pupils of the Masters know the distinction between rupa and arupa and, thus, use the symbol (as it appears in the rupa worlds) to intuit the nature of the formless reality.

106. Các môn sinh của các Chân sư biết sự phân biệt giữa rupa và arupa và, vì thế, dùng biểu tượng (như nó xuất hiện trong các cõi rupa) để trực nhận bản chất của thực tại vô tướng.

2. Symbolic books in the Master’s archives used for instruction.  These books are interpreted:—

2. Các sách biểu tượng trong kho lưu trữ của các Chân sư dùng để huấn dạy. Những sách này được diễn giải:—

a. By their colour.

a. Bằng màu sắc của chúng.

b. By their position, i.e. above, on and beneath a line.

b. Bằng vị trí của chúng, tức ở trên, trên hay ở dưới một đường.

107.  The line probably reveals a degree of evolutionary unfoldment and whether the matters dealt with concern energy patterns which have not yet reached the line or those which have transcended it. Such a line could represent individualization itself.

107. Cái “đường” có lẽ phơi bày mức độ khai mở tiến hoá và liệu các vấn đề được đề cập có liên hệ đến những mô thức năng lượng còn chưa chạm đến đường ấy hay những mô thức đã vượt quá nó. Một đường như vậy có thể biểu tượng chính sự biệt ngã hóa.

c. By their connection with each other.

c. Bằng mối liên hệ của chúng với nhau.

108.  A book cannot be understood in isolation. The books of symbols to which it is related must be considered.

108. Một cuốn sách không thể được hiểu một cách cô lập. Cần phải xét đến những cuốn sách biểu tượng có liên hệ với nó.

d. By their key.  One page may be read four ways:—

d. Bằng “chìa khoá” của chúng. Một trang có thể đọc theo bốn cách:—

1. From above downwards… involution.

1. Từ trên xuống… giáng hạ tiến hoá.

109.  The meaning of this direction for reaching makes perfect sense.

109. Ý nghĩa của chiều đọc này hoàn toàn hợp lý.

110.  Certain of the oriental languages are read in this way.

110. Một số ngôn ngữ phương Đông được đọc theo cách này.

2. From beneath upwards… evolution.

2. Từ dưới lên… tiến hoá.

111.  Again this makes perfect sense.

111. Điều này, một lần nữa, hoàn toàn hợp lý.

3. Right to left… greater cycles, etc.

3. Từ phải sang trái… các chu kỳ lớn, v.v.

112.  What does this say about those languages which are read from right to left? Yet, they are usually ancient languages relating to conditions long antedating the modern era.

112. Điều này nói gì về các ngôn ngữ được đọc từ phải sang trái? Tuy vậy, chúng thường là các ngôn ngữ cổ liên hệ với những hoàn cảnh có từ rất lâu trước thời hiện đại.

113.  When interpreting the place of, for instance, planetary globes within a chain—for, whether the Venus-globe is the second or the sixth —this method of reading may have application.

113. Khi diễn giải vị trí của, chẳng hạn, các bầu hành tinh trong một dãy—về việc bầu sao Kim là thứ hai  hay thứ sáu  —phương pháp đọc này có thể được áp dụng.

114.  Two directions are used and they represent respectively mystical interpretation and occult interpretation. Reading from the right to the left may represent the occult method of interpretation and in that case the Venus-globe would be the second.

114. Hai chiều đọc được dùng và chúng lần lượt biểu thị diễn giải huyền nhiệm và diễn giải huyền bí. Đọc từ phải sang trái có thể biểu thị phương pháp huyền bí  của diễn giải, và trong trường hợp đó bầu sao Kim sẽ là thứ hai.

115.  Reading from the left to the right might represent the mystical way of interpretation and in that case the Venus-globe would be the sixth.

115. Đọc từ trái sang phải có thể biểu thị phương pháp huyền nhiệm  của diễn giải, và trong trường hợp đó bầu sao Kim sẽ là thứ sáu.

116.  In any case, this footnote offers important hints.

116. Dù sao, chú thích này đưa ra các gợi ý quan trọng.

4. Left to right…  lesser cycles.

4. Từ trái sang phải… các chu kỳ nhỏ.

117.  Are we to abandon our usual interpretation of “from left to right” as forwards? And “from right to left” as backwards? I think there are modes of interpretation in which this abandonment would not be justified.

117. Chúng ta có nên bỏ cách hiểu thông thường của mình về “từ trái sang phải” là tiến tới  và “từ phải sang trái” là lùi lại  không? Tôi nghĩ có những lối diễn giải trong đó sự bỏ qua ấy không  được biện minh.

3. The three keys:—

3. Ba chìa khoá:—

1. Cosmic interpretation.  The symbols standing for cosmic facts.  i.e., Darkness.  Light.  The cross.  The triangle.

1. Diễn giải vũ trụ. Các biểu tượng đứng cho các sự kiện vũ trụ. tức: Bóng tối. Ánh sáng. Thập giá. Tam giác.

118.  The cosmic interpretation will take us outside the realm of our solar system.

118. Cách diễn giải ở tầm vũ trụ sẽ đưa chúng ta ra ngoài phạm vi của hệ mặt trời chúng ta.

119.  The cross and triangle obviously have a cosmic significance. Certainly no man-made religion ‘owns’ either. As for Darkness and Light they are obviously cosmic in their significance.

119. Thập giá và tam giác hiển nhiên có một ý nghĩa vũ trụ. Chắc chắn không có tôn giáo do con người lập ra nào “sở hữu” một trong hai. Còn về Bóng Tối và Ánh Sáng, chúng hiển nhiên mang ý nghĩa vũ trụ.

120.  The same symbols, however, can be applied on lesser levels.

120. Tuy nhiên, các biểu tượng y hệt cũng có thể áp dụng ở các cấp độ nhỏ hơn.

2. Systemic interpretation.  Dealing with evolution of system and all therein.

2. Diễn giải thuộc Hệ thống. Đề cập đến tiến hoá của Hệ thống và mọi sự trong đó.

121.  The triangle, for instance, could represent the Three Persons of the Logoic Trinity.

121. Chẳng hạn, tam giác có thể tượng trưng cho Ba Ngôi của Tam Vị Logoic.

122.  The cross, for instance, could represent the crucifixion of the Solar Logos on the Cross of Matter.

122. Còn thập giá, chẳng hạn, có thể tượng trưng cho sự “đóng đinh” của Thái dương Thượng đế trên Thập Giá của Chất Liệu.

123.  It could also represent the presence of the Four Maharajas, or Lords of Karma.

123. Nó cũng có thể tượng trưng cho sự hiện diện của Bốn Maharaja, hay các Chúa Tể của Nghiệp Quả.

124.  The cross, as well, could represent the personality of the Solar Logos.

124. Thập giá, đồng thời, cũng có thể tượng trưng cho phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

3. Human interpretation.  Dealing with man himself.  The cross of humanity.

3. Diễn giải nhân loại. Đề cập đến chính con người. Thập giá của nhân loại.

125.  The “cross of humanity” is the fourfold lunar, material nature upon which the consciousness of humanity is bound.

125. “Thập giá của nhân loại” là bản chất nguyệt tính, vật chất tứ phân, mà trên đó tâm thức của nhân loại bị trói buộc.

126.  As well, man is subject to the cross considered as the four elements of his elemental nature.

126. Đồng thời, con người chịu sự chi phối của thập giá xét như bốn nguyên tố của bản chất hành khí nơi y.

Seven-branched candlestick.

Chân nến bảy nhánh.

127.  This symbol is similar to the “Saptaparna” –the ‘Seven-Leaved Plant”—the symbol of the seven vehicles or seven principles of man.

127. Biểu tượng này tương tự “Saptaparna” – “Cây Bảy Lá”—biểu tượng của bảy vận cụ hay bảy nguyên khí của con người.

4. Four kinds of symbols:—

4. Bốn loại biểu tượng:—

1. Symbols of extraneous objects  …physical plane things.

1. Biểu tượng của các khách thể bên ngoài … những vật ở cõi hồng trần.

128.  From this perspective, all forms upon the physical plane are to be considered as symbolic. The interpretation of all physical plane objects can lead towards an understanding of the subtler patterns which are responsible for their existence.

128. Từ góc nhìn này, mọi hình tướng trên cõi hồng trần đều phải được xem là biểu tượng. Việc diễn giải mọi vật thể ở cõi hồng trần có thể dẫn đến sự thấu hiểu các mô hình vi tế hơn vốn chịu trách nhiệm cho sự hiện hữu của chúng.

2. Symbols of emotional nature… astral plane things; pictures.

2. Biểu tượng của bản chất cảm xúc… các sự vật của cõi cảm dục; tranh ảnh.

129.  On the astral plane we find an outpicturing of the forms which are found upon the physical plane. There is a distinct similarity between them.

129. Trên cõi cảm dục, chúng ta gặp sự trình hiện bằng hình ảnh của các hình tướng vốn thấy trên cõi hồng trần. Có một sự tương tự rõ rệt giữa chúng.

130.  If a picture reflecting the physical plane is presented to consciousness, we know that picture to belong to the astral plane.

130. Nếu một bức tranh phản chiếu cõi hồng trần được trình ra cho tâm thức, chúng ta biết bức tranh đó thuộc về cõi cảm dục.

3. Numerical symbolism… Lower mental.

3. Tượng trưng số học… Cõi hạ trí.

Man used himself to count by.

Con người đã dùng chính mình làm chuẩn để đếm.

131.  We learn that arithmetic and its numbers belong to the lower mental plane.

131. Chúng ta học được rằng số học và các con số thuộc về cõi hạ trí.

132.  We are given hints as to the manner in which man began to enumerate his surroundings—probably with reference to the digits of his hands. Many people still count in this manner—to keep track of their enumeration.

132. Chúng ta được gợi ý về cách thức con người khởi đầu đếm môi trường quanh mình—có lẽ bằng cách dựa vào các ngón tay. Nhiều người vẫn đếm theo lối này—để theo dõi việc liệt kê của họ.

4. Geometrical symbolism abstract symbolism, higher mental.

4. Tượng trưng hình học, tượng trưng trừu tượng, thượng trí.

133. Here we have an important distinction. Geometrical symbolism (expressing patterned relationships) pertains to the higher mental plane and numbers, per se, to the lower. Numbers suggest quantity but not relationship in space.

133. Ở đây có một phân biệt quan trọng. Tượng trưng hình học (biểu lộ các quan hệ có mẫu thức) thuộc về cõi thượng trí, còn các con số, tự thân, thuộc về cõi hạ trí. Con số gợi ý về lượng chứ không gợi về quan hệ trong không gian.

134.  Numbering seems to come under the rulership of Saturn where as geometrization, under the second ray influence of Jupiter.

134. Sự đánh số dường như nằm dưới quyền chi phối của Sao Thổ, còn sự hình học hoá thì dưới ảnh hưởng cung hai của Sao Mộc.

Much of the teaching on this matter is found in records in the department of the Manu, as it concerns primarily the initial stages of form building.

Nhiều phần của giáo huấn về vấn đề này được lưu trong hồ sơ trong ban của Đức Manu, vì nó chủ yếu liên quan đến các giai đoạn sơ khởi của việc kiến tạo hình tướng.

135.  This is a fascinating idea., The Manu’s Department is involve not only with the creation of the form of man, but apparently, the creation of the forms found in all the lower kingdoms.

135. Đây là một ý tưởng hấp dẫn. Ban của Manu không chỉ can dự vào sự tạo lập hình tướng của con người, mà dường như còn tạo lập các hình tướng thấy trong mọi giới thấp.

136.  The initial stages of form building involve the following apparently:

136. Các giai đoạn sơ khởi của việc kiến tạo hình tướng có vẻ bao gồm:

a. Picturing or outpicturing—an astral activity

a. Hình ảnh hoá hay trình hiện thành ảnh—một hoạt động cảm dục

b. Numbering—a lower mental activity

b. Đánh số—một hoạt động hạ trí

c. Geometrization or arranging items in spatial relationships—a higher mental activity.

c. Hình học hoá hay sắp đặt các yếu tố trong những quan hệ không gian—một hoạt động thượng trí.

137.  We are also led to believe that those in the Manu’s Department must become adept at understanding symbolic or hieroglyphic writing.

137. Chúng ta cũng được dẫn đến niềm tin rằng những vị trong Ban của Manu phải trở thành những bậc tinh thông trong sự thấu hiểu văn tự tượng trưng hay chữ tượng hình.

It might be said that the appearance of any life in manifestation is due to primary activity on the part of some Entity, which activity is largely the expression of the first Ray.

Có thể nói rằng sự xuất hiện của bất kỳ sự sống nào trong hiện hữu là do một hoạt động sơ nguyên nơi một Thực Thể nào đó, mà hoạt động ấy phần lớn là sự biểu lộ của cung một.

138.  The first ray always controls the factors of appearance or disappearance, which, from the human perspective, we call “life” and “death”—though philosophically we may find reason to reverse them.

138. Cung một luôn kiểm soát các yếu tố xuất hiện hay biến mất, mà từ góc nhìn nhân loại, chúng ta gọi là “sự sống” và “cái chết”—dẫu về mặt triết học chúng ta có thể tìm thấy lý do để đảo ngược chúng.

139.  We are being given important information on the work of the Manu’s Department.

139. Chúng ta đang được ban cho thông tin quan trọng về công việc của Ban của Manu.

This concerns the periodical manifestation of the life or lives of any round just as it concerns also the ephemeral existence of a dragon fly;

Điều này liên quan đến sự hiện lộ định kỳ của sự sống hay các sự sống của bất kỳ cuộc tuần hoàn nào cũng như liên quan đến kiếp sống phù du của một con chuồn chuồn;

140.  The emergence or disappearance of any form (great or small) is under the influence of the first ray.

140. Sự xuất hiện hay biến mất của bất kỳ hình tướng nào (lớn hay nhỏ) đều nằm dưới ảnh hưởng của cung một.

it deals with the form through which what we call a race is evolving and concerns itself with the tiny life of an individual in that race.

nó xử lý với hình tướng mà qua đó cái mà chúng ta gọi là một giống dân đang tiến hoá, và tự thân nó lại liên quan đến sự sống bé nhỏ của một cá nhân trong giống dân ấy.

141.  All that aggregates must de-aggregate. All that comes together must at length come apart.

141. Mọi cái được kết tụ đều phải giải kết. Mọi cái hợp lại rồi rốt cuộc phải tan rã.

142.  We can see here how the first ray influences the great Law of Attraction, usually considered under the second ray.

142. Ở đây chúng ta có thể thấy cung một ảnh hưởng đến Đại Định luật Hấp Dẫn, vốn thường được xem xét dưới cung hai.

The same laws govern all, though the response to the law may be relative and in degree.

Cùng một định luật chi phối tất cả, dù sự đáp ứng với định luật có thể là tương đối và theo cấp độ.

143.  This is an important statement because the responses of different forms to the same law differ in scope and extent.

143. Đây là một khẳng định quan trọng, vì sự đáp ứng của những hình tướng khác nhau đối với cùng một định luật khác nhau về tầm mức và mức độ.

This law has the generic name of the “Law of Cycles,” and is expressed in terms of time;

Định luật này có tên chung là ” Định luật về Chu Kỳ,” và được diễn đạt theo thuật ngữ thời gian;

144.  We are speaking of the law which concerns the appearance or disappearance of any form. Master DK is calling this the “Law of Cycles”.

144. Chúng ta đang nói đến định luật liên hệ đến sự xuất hiện hay biến mất của bất kỳ hình tướng nào. Chân sư DK gọi đây là “Định luật Chu Kỳ”.

145.  From this perspective, it is a third ray law and relates to Aquarius, Saturn and Uranus.

145. Từ góc nhìn này, nó là một định luật cung ba và liên hệ đến Bảo Bình, Sao Thổ và Sao Thiên Vương.

146.  As the first ray and third ray are closely related, there is obviously a first ray component to this law.

146. Vì cung một và cung ba liên hệ mật thiết, hiển nhiên có một thành tố cung một trong định luật này.

147.  And since we are dealing with aggregation and de-aggregation, the second ray Law of Attraction and Repulsion is involved.

147. Và bởi vì chúng ta đang đề cập đến kết tụ và giải kết, Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi của cung hai cũng dự phần.

[1141] but the secret to the cycles may not as yet be given as it would convey to the intuitive too much dangerous information. 

[] nhưng bí quyết về các chu kỳ có lẽ chưa thể được trao truyền vì nó sẽ truyền cho bậc trực giác quá nhiều thông tin nguy hiểm.

148.  Is the “intuitive” here mentioned of good moral character? Perhaps the information would be considered dangerous even if the recipient were an insufficiently developed server of the Great White Lodge.

148. “Bậc trực giác” được nhắc đến ở đây có phẩm hạnh đạo đức tốt đẹp chăng? Có lẽ thông tin ấy sẽ bị xem là nguy hiểm ngay cả khi người tiếp nhận là một người phụng sự của Thánh đoàn chưa đủ phát triển.

149.  We note that the concrete mind would not necessarily understand the information conveyed. The intuition would have to be evoked.

149. Chúng ta lưu ý rằng hạ trí cụ thể không nhất thiết hiểu được thông tin truyền đạt. Trực giác phải được khơi gọi.

It is the knowledge of this law as it concerns rounds, races, subraces, groups (involutionary and evolutionary) and individuals (human and superhuman) which enables the Lords of Karma, and the Adepts of the good Law, to manipulate force or energy, and so carry all that is, on to its triumphant conclusion.

Chính tri thức về định luật này khi nó liên quan đến các cuộc tuần hoàn, các giống dân, các giống dân phụ, các nhóm (giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá) và các cá nhân (nhân loại và siêu nhân loại) giúp cho các Chúa Tể của Nghiệp Quả, và các Chân sư của Thiện Luật, thao tác mãnh lực hay năng lượng, nhờ đó đưa mọi cái đang là, tiến tới kết cuộc khải hoàn của nó.

150.  In the description above, we do see the relation of this law to the third ray.

150. Trong mô tả trên, chúng ta quả thấy mối liên hệ của định luật này với cung ba.

151.  As well, the “Law of Cycles” must be related to the highest of the siddhis which DK has ventured to discuss—the siddhi of “All Knowledge”, focused on the third subplane of the atmic plane.

151. Đồng thời, “Định luật Chu Kỳ” hẳn liên hệ với siddhi cao nhất mà Chân sư DK dám đề cập—siddhi “Biết Hết Thảy”, định tâm trên cõi phụ thứ ba của cõi atma.

In connection with this, students may get much light on this difficult question of force if they bear in mind that every form in every kingdom on the downward, and the upward arc, is in itself a negative force impelled into activity by a positive force and demonstrating as a combination of the two.

Liên hệ với điều này, các đạo sinh có thể được soi sáng nhiều về vấn đề khó khăn của mãnh lực nếu họ ghi nhớ rằng mọi hình tướng trong mọi giới, trên cung giáng hạ và cung thăng thượng, tự thân là một mãnh lực âm được thúc đẩy vào hoạt động bởi một mãnh lực dương và biểu lộ như một sự phối hợp của cả hai.

152.  This statement holds whether or not the form is found upon the downward or upward arc. There is no such thing as a form which is not impelled into activity by a more positive force than the force embodied in the form.

152. Mệnh đề này đúng bất kể hình tướng ấy ở trên cung giáng hạ hay cung thăng thượng. Không hề có một hình tướng nào không bị một mãnh lực dương hơn lực được thể hiện trong hình tướng ấy thôi thúc vào hoạt động.

153.  Forms are negative force patterns—relatively.

153. Các hình tướng là những mô thức mãnh lực âm—mang tính tương đối.

154.  Another way of stating this proposition is that every form consists of both Spirit and matter. The form itself represents the second aspect of divinity which is the aspect of form building. The second aspect is responsible for the magnetic aggregation of matter, itself ruled by the third aspect of divinity.

154. Cách khác để phát biểu mệnh đề này là: mọi hình tướng đều bao gồm cả Linh và chất. Chính hình tướng tự thân tượng trưng cho phương diện thứ hai của thần tính—phương diện kiến tạo hình tướng. Phương diện thứ hai chịu trách nhiệm cho sự kết tụ từ tính của chất liệu, vốn được phương diện thứ ba của thần tính cai quản.

The distinctions are demonstrated in the fact that some forms are negative-positive, others positive-negative, whilst still others are at the point of equilibrium.

Các phân biệt được trình bày ở chỗ có những hình tướng âm-dương, những hình tướng dương-âm, và cũng có những hình tướng đang ở điểm thăng bằng.

155.  This is clear. For involutionary forms the negative energy predominates over the positive. For superhuman forms, the positive, Spirit aspect, definitely prevails over the negative. The human being is a unit of force in which a point of evolution is reached where equilibrium between the two aspects is demonstrated.

155. Điều này rõ ràng. Với các hình tướng giáng hạ, năng lượng âm trội hơn năng lượng dương. Với các hình tướng siêu nhân loại, phương diện dương, tức Linh, rõ ràng thắng thế phương diện âm. Con người là một đơn vị mãnh lực, trong đó đạt tới một điểm tiến hoá nơi sự thăng bằng giữa hai phương diện được biểu lộ.

156.  From another perspective, the point of equilibrium could be considered the ‘turn’ which distinguishes involutionary forms from evolutionary forms.

156. Từ một góc nhìn khác, điểm thăng bằng có thể được xem như “khúc ngoặt” phân biệt các hình tướng giáng hạ với các hình tướng thăng thượng.

This includes all the intermediate stages.

Điều này bao gồm mọi giai đoạn trung gian.

157.  The human kingdom, itself, represents an intermediate stage spanning millions of years of process.

157. Chính giới nhân loại biểu trưng cho một giai đoạn trung gian, bao quát hàng triệu năm của tiến trình.

The Builders of the cosmos work under cyclic law consciously,

Các Nhà Kiến Tạo của vũ trụ làm việc một cách có ý thức dưới định luật chu kỳ,

158.  We note the word is capitalized—“Builders”. These are greater Lives Who are consciously cooperating with the “Law of Cycles”.

158. Chúng ta lưu ý chữ được viết hoa—“Các Nhà Kiến Tạo”. Đây là những Sự sống Cao cả đang hợp tác một cách có ý thức với “Định luật Chu Kỳ”.

and utilise the aggregate of these forces in any kingdom, any group or any unit to bring about the consummation of the plan.

và sử dụng tổng thể các mãnh lực ấy trong bất kỳ giới nào, bất kỳ nhóm hay bất kỳ đơn vị nào để đem lại sự viên mãn của Thiên Cơ.

159.  These “Builders” are wise manipulators of energy and force.

159. Những “Nhà Kiến Tạo” này là các nhà thao tác năng lượng và mãnh lực vô cùng minh triết.

It would interest men much if they could see and interpret some of the records in the hierarchical records, for in them men and angels, minerals and elements, animals and vegetables, kingdoms and groups, Gods and ants are specified in terms of energy formulas

Con người sẽ thấy rất hứng thú nếu họ có thể xem và diễn giải một số hồ sơ trong các biên mục của Thánh Đoàn, vì ở đó, người và thiên thần, khoáng vật và các nguyên tố, thú vật và thực vật, các giới và các nhóm, chư Thần và loài kiến được xác định theo các thuật ngữ về năng lượng công thức

160.  How very fascinating! Occultism (a scientific pursuit) leads directly to the understanding of such formulas. We are being given an entirely impersonal way of regarding the quality of all manner of E/entities.

160. Thật là hấp dẫn! Huyền bí học (một theo đuổi khoa học) dẫn thẳng tới sự thấu hiểu những công thức như thế. Chúng ta đang được ban cho một cách nhìn hoàn toàn phi ngã về phẩm tính của mọi hạng Thực Thể.

161.  Behind all these formulas stands the One Being Who is the Essence of each. “I mastered energy for I am energy itself. The Master and the mastered are but One.” (EP I 417)

161. Ở đằng sau mọi công thức ấy là Đấng Duy Nhất vốn là Bản Thể của từng cái. “Ta đã làm chủ năng lượng vì Ta chính là năng lượng. Bậc Làm Chủ và cái bị làm chủ vốn chỉ là Một.” (EP I 417)

and by a scrutiny of these records the approximate increase of vibration in any form of any kind can be found out at any time.

và bằng sự khảo sát các hồ sơ ấy sự xấp xỉ gia tăng của rung động trong bất kỳ hình tướng thuộc bất kỳ loại nào cũng có thể được tìm ra vào bất kỳ lúc nào.

162.  Even the Master must study these records carefully.

162. Ngay cả một Chân sư cũng phải cẩn thận nghiên cứu các hồ sơ đó.

163.  There records can be used to ascertain the vibratory differences between various kinds of forms, but, perhaps, as well, the increase of vibration which distinguishes forms of the same general type.

163. Những biên mục này có thể được dùng để xác định sai biệt rung động giữa các loại hình tướng khác nhau, và có lẽ, cả mức tăng rung động phân biệt các hình tướng cùng loại tổng quát.

This might be expressed in terms also of the Gunas; it will be found by disciples (when permitted access to the records) that they themselves, along with every other expression of the divine life, are described by a triple formula which conveys to the mind of the initiate the proportions of tamas or inertia, of rajas or activity, and of sattva or rhythm to be found in any form.

Điều này cũng có thể được diễn đạt theo thuật ngữ của các Guna; rồi các đệ tử (khi được phép tiếp cận các hồ sơ) sẽ thấy rằng chính họ, cùng với mọi biểu hiện khác của sự sống thiêng liêng, đều được mô tả bằng một công thức tam phân truyền đạt cho thể trí của vị điểm đạo đồ tỷ lệ của tamas hay ì trệ, của rajas hay hoạt động, và của sattva hay nhịp điệu nơi bất kỳ hình tướng nào.

164.  This is comprehensible. Relative to the average human being, the Master would be a sattvic manifestation of Divinity.

164. Điều này dễ nắm bắt. So với người trung bình, một Chân sư sẽ là một biểu hiện sattvic của Thần tính.

165.  The proportion of the Gunas active in a human being would have a correspondence to the groups of chakras which were more or less active.

165. Tỷ lệ các Guna hoạt động nơi một con người sẽ tương ứng với các nhóm luân xa hoạt động nhiều hay ít.

166.  In the tamasic period the lower centers would be the most active; in the rajasic period, the middle centers; in the sattvic period, obviously the highest centers.

166. Trong thời kỳ tamasic, các trung tâm thấp hoạt động nhiều nhất; trong thời kỳ rajasic, các trung tâm giữa; trong thời kỳ sattvic, dĩ nhiên là các trung tâm cao.

This, therefore, through correspondences, imparts knowledge as to past achievement, present opportunity and the immediate [1142] future of any unit or embodied life, manifesting under any of the three aspects.

Do sự tương ứng, điều này truyền đạt tri thức về thành tựu quá khứ, cơ hội hiện tại và tương lai [] cận kề của bất kỳ đơn vị hay sự sống nhập thể nào, đang biểu lộ dưới bất kỳ trong ba phương diện.

167.  The Lords of Karma would find the use of such information indispensable.

167. Các Chúa Tể của Nghiệp Quả hẳn thấy việc sử dụng những thông tin như thế là không thể thiếu.

168.  Presumably, for man at this time, an increase of the sattvic vibration is what is required. Modern man is certainly a rajasic being.

168. Suy ra, đối với con người vào thời điểm này, điều cần thiết là gia tăng rung động sattvic. Con người hiện đại chắc chắn là một hữu thể rajasic.

Fellowship of Cosmic FireTình Huynh Đệ của Lửa Vũ Trụ

Scroll to Top