S9S9 Part II (TCF 1160-1165)
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để giúp dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ những trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch chân, In đậm và Tô sáng bởi MDR) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Có đề nghị rằng Bản Bình Giải này nên được đọc kèm với TCF trong tay, vì lợi ích của tính liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày súc tích trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy, xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới học Bản Bình Giải |
|
The third eye is an energy centre constructed by man; it is a correspondence to the energy centre, the causal body, constructed by the Monad. |
Con mắt thứ ba là một trung tâm năng lượng do con người kiến tạo; nó là một tương ứng với trung tâm năng lượng—thể nguyên nhân—do Chân thần kiến tạo. |
|
1. This is a fascinating and important statement. The human being is not born with a third eye. During the processes of evolution he builds it. It is an evocation arising from the interplay of three energy-streams. |
1. Đây là một mệnh đề hấp dẫn và quan trọng. Con người không sinh ra đã có con mắt thứ ba. Trong tiến trình tiến hoá y kiến tạo nó. Nó là một sự hô ứng phát sinh từ sự tương tác của ba dòng năng lượng. |
|
2. Likewise, the Monad does not come forth on its own plane with a causal body already constructed. By a deliberate act-of-will the causal body is constructed at a certain point in the monadic process. Are there, we might wonder, the correspondence for the Monad of the three energy-streams from which the third eye arises within man? |
2. Tương tự, Chân thần cũng không xuất hiện trên chính cõi của Ngài với một thể nguyên nhân đã kiến tạo sẵn. Bằng một hành vi cố ý của Ý chí, thể nguyên nhân được kiến tạo vào một thời điểm nhất định trong tiến trình chân thần. Chúng ta có thể tự hỏi: liệu có, đối với Chân thần, các tương ứng của ba dòng năng lượng từ đó con mắt thứ ba nảy sinh trong con người chăng? |
|
The alta major centre is similarly constructed by other streams of force andcorresponds interestingly to the triple form constructed by the ego in the three worlds. |
Trung tâm alta major cũng được kiến tạo theo cách tương tự bởi các dòng lực khác và tương ứng một cách thú vị với hình thể tam phân do Chân ngã kiến tạo trong ba cõi. |
|
3. Are we to think that in the case of each type of construction three streams of force are involved? |
3. Chúng ta có nên nghĩ rằng trong mỗi kiểu kiến tạo đều có sự tham dự của ba dòng lực? |
|
4. This is certainly the case in relation to the formation of the third eye. We can conceive it to be so for the formation of the causal body. |
4. Điều này chắc chắn đúng đối với sự hình thành con mắt thứ ba. Ta có thể hình dung cũng như thế đối với sự hình thành thể nguyên nhân. |
|
5. DK is telling us that the alta major center is, in a way, threefold, and corresponds to the triple instrument of the soul in the three lower worlds. Is He giving us hints about the structure of the alta major center? |
5. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng trung tâm alta major, ở một phương diện, là tam phân, và tương ứng với khí cụ tam phân của linh hồn trong ba cõi thấp. Ngài đang gợi ý cho chúng ta về cấu trúc của trung tâm alta major chăng? |
|
6. Ultimately, all chakras are constructed from energy-streams emanating from the Monad. Chakras are the presence of monadic influence and action within the various vehicles. |
6. Sau cùng, mọi luân xa đều được kiến tạo từ các dòng năng lượng phóng xuất từ Chân thần. Luân xa là sự hiện diện của ảnh hưởng và tác động chân thần trong các vận cụ khác nhau. |
|
7. Here is the quotation which confirms this: |
7. Đây là trích dẫn xác nhận điều ấy: |
|
“The centres are formed entirely of streams of force, pouring down from the Ego, who transmits it from the Monad.” (TCF 166) |
“Các trung tâm được hình thành hoàn toàn từ những dòng lực, tuôn đổ xuống từ Chân ngã, Đấng truyền đạt nó từ Chân thần.” (TCF 166) |
|
When this dual work has proceeded to a certain evolutionary point, another triplicity becomes alive within the [1161] head itself as the result of these dual streams of triple energy. This triangle transmits fiery energy via the pineal gland, the pituitary body and the alta major centre and this reaches the head centre. |
Khi công việc kép này tiến triển đến một điểm tiến hoá nào đó, một bộ ba khác trở nên sinh động trong chính [] vùng đầu như là kết quả của những cặp dòng năng lượng tam phân này. Tam giác này truyền dẫn năng lượng lửa qua tuyến tùng, tuyến yên và trung tâm alta major và điều này đi tới trung tâm đầu. |
|
8. Tremendous hints re consummatory process are here given: |
8. Ở đây đưa ra những gợi ý to lớn liên hệ tiến trình viên mãn: |
|
9. We have three triangles involved. (Remember that this discussion began in the previous commentary: S9S9 Part I.) Let us tabulate them: |
9. Chúng ta có ba tam giác tham dự. (Hãy nhớ rằng cuộc thảo luận này bắt đầu trong bản bình giải trước: S9S9 Phần I.) Hãy liệt kê: |
|
a. Base of the spine, alta major center and throat center. (Why are they listed in this order, when the alta major center is ‘above’ the throat center)? |
a. Đáy cột sống, trung tâm alta major và trung tâm cổ họng. (Tại sao chúng được liệt kê theo thứ tự này, khi trung tâm alta major ở ‘trên’ trung tâm cổ họng)? |
|
b. Solar plexus, heart center and third eye |
b. Tùng thái dương, trung tâm tim và con mắt thứ ba |
|
c. And now, pineal gland, pituitary gland, and again, the alta major center. Could DK be referring more to the gland which corresponds to the alta major center? |
c. Và bây giờ, tuyến tùng, tuyến yên, và lại nữa, trung tâm alta major. Liệu Chân sư DK có đang ám chỉ nhiều hơn tới tuyến nội tiết tương ứng với trung tâm alta major? |
|
d. Or since the alta major center is repeated, should there be an interpolation of the “manasic centre” between the base of the spine center and the throat center? |
d. Hoặc bởi vì trung tâm alta major được lặp lại, có nên nội suy “trung tâm manas” giữa trung tâm đáy cột sống và trung tâm cổ họng không? |
|
In this way in these three triangles we have nine streams of energy converging and passing into the highest head lotus. |
Bằng cách này, trong ba tam giác này, chúng ta có chín dòng năng lượng hội tụ và đi vào hoa sen đầu cao nhất. |
|
10. One of the streams seem repeated, and this we have to solve—namely the stream of energy from the alta major center. However, if we consider that the carotid gland represents the alta major center, then this third triangle would be occurring not on an etheric level but between precipitations of etheric centers—namely the glands which represent those etheric centers. |
10. Có vẻ như một trong các dòng được lặp lại, và chúng ta phải giải thích điều này—tức là dòng năng lượng từ trung tâm alta major. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét rằng tuyến cảnh đại diện cho trung tâm alta major, thì tam giác thứ ba này sẽ không còn xảy ra trên một cấp dĩ thái nữa mà giữa các sự kết tụ của các trung tâm dĩ thái—tức là các tuyến nội tiết đại diện cho các trung tâm dĩ thái ấy. |
|
11. But is it justified to exclude the centers corresponding, for instance, to the pineal gland and the pituitary body? These would be, respectively, at least part of the highest head center and the ajna center (which one would think, should not be excluded). |
11. Nhưng liệu có chính đáng không khi loại trừ các trung tâm tương ứng, chẳng hạn, với tuyến tùng và tuyến yên? Chúng sẽ là, tương ứng, ít nhất là một phần của trung tâm đầu tối thượng và trung tâm ajna (mà người ta nghĩ rằng, không nên bị loại trừ). |
|
The correspondence to certain macrocosmical forces will here be apparent to all discerning students. |
Sự tương ứng với những lực vĩ mô vũ trụ nhất định ở đây sẽ hiển nhiên đối với mọi đạo sinh có khả năng phân biện. |
|
12. We have only to consult Chart VI in TCF, 373, to see some probably important correspondences to this idea of nine merging into one. |
12. Chúng ta chỉ cần tham chiếu Biểu đồ VI trong TCF, 373, để thấy một số tương ứng có lẽ quan trọng với ý niệm chín hợp nhất thành một này. |
|
13. We could also look for a correspondential threefold configuration by considering the relationship between three non-sacred planets, certain intermediary planets (which are sacred) and the three synthesizing planets. The numbers are close but do not work out exactly. Perhaps Mercury, in a special category (that of an intermediary?), must be excluded. |
13. Chúng ta cũng có thể tìm một cấu hình tương ứng tam phân bằng cách xét mối liên hệ giữa ba hành tinh không thiêng liêng, một số hành tinh trung gian (vốn là thiêng liêng) và ba hành tinh tổng hợp. Các con số thì gần nhưng không khớp hoàn toàn. Có lẽ Sao Thủy, thuộc một hạng mục đặc biệt (hành tinh trung gian?), phải được loại trừ. |
|
We have seen the close connection between the different centres and the gradually demonstrating effects to be noted as they are linked up and eventually produce a synthetic circulatory system for egoic energy in conjunction with the energy of the lower man, which forms a kind of medium by which the egoic force makes itself felt. |
Chúng ta đã thấy mối liên hệ mật thiết giữa các trung tâm khác nhau và những hiệu ứng dần bộc lộ cần được ghi nhận khi chúng được nối kết và rốt cuộc tạo ra một hệ thống lưu thông tổng hợp cho năng lượng chân ngã phối hợp với năng lượng của con người thấp, vốn hình thành một loại môi trường qua đó lực chân ngã khiến chính nó được cảm nhận. |
|
14. Within the lower man it is the linking of the centers in various triangles which produce that “synthetic circulatory system” which makes the circulation of egoic energy within the form possible. This circulating egoic energy conjoins the energy of the lower man. This conjoining can be thought of as the process of soul infusion. |
14. Bên trong con người thấp, chính việc nối kết các trung tâm trong những tam giác khác nhau tạo ra “hệ thống lưu thông tổng hợp” làm cho sự lưu thông năng lượng chân ngã trong hình tướng trở nên khả hữu. Năng lượng chân ngã lưu thông này phối liên với năng lượng của con người thấp. Sự phối liên này có thể được xem như tiến trình phú linh của linh hồn. |
|
Macrocosmically, but little can be said which would prove intelligible to man at his present stage of evolution. |
Ở cấp độ Đại thiên địa, khó có thể nói điều gì mà có thể minh bạch đối với con người ở giai đoạn tiến hoá hiện tại của y. |
|
15. Though Master DK makes valiant attempts… |
15. Dẫu vậy Chân sư DK vẫn nỗ lực phi thường… |
|
16. In this case, He would be speaking of the circulation of the solar logoic Ego through the triangles of energy between the various planets of our solar system. |
16. Trong trường hợp này, Ngài sẽ nói về sự lưu thông của Chân ngã Thái dương Thượng đế xuyên qua các tam giác năng lượng giữa các hành tinh khác nhau trong Thái dương hệ của chúng ta. |
|
17. Which planet, we might wonder, has a correspondence to the alta major center? It is possible to see relationship for Pluto, Earth and even Saturn. As has been stated numerous times throughout these commentaries, more than one planet can be seen as related to the same center. We have a situation of mutable function over time. |
17. Chúng ta có thể tự hỏi: Hành tinh nào có sự tương ứng với trung tâm alta major? Có thể thấy mối liên hệ đối với Sao Diêm Vương, Trái Đất và thậm chí Sao Thổ. Như đã nêu nhiều lần suốt các bình giải này, có thể có hơn một hành tinh liên hệ với cùng một trung tâm. Chúng ta có một tình huống về chức năng biến đổi theo thời gian. |
|
Some brief statements might, nevertheless, be given which (if pondered on and correlated with each other) may throw some light on planetary evolution and on the relation of the planetary Logoi to the solar Logos. |
Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài phát biểu ngắn gọn (nếu được suy ngẫm và đối chiếu với nhau) có thể soi rọi đôi chút về tiến hoá hành tinh và về mối liên hệ giữa các Hành Tinh Thượng đế với Thái dương Thượng đế. |
|
18. We welcome the opportunity to expand our minds in this regard. |
18. Chúng ta hoan nghênh cơ hội mở rộng thể trí mình theo hướng này. |
|
A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. |
Một Thái dương Thượng đế sử dụng các hệ hành tinh như là những trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ thể hiện một loại năng lượng đặc thù, và mỗi hệ, do đó, rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần của vị Thái dương Thượng đế, mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản ảnh mờ nhạt. |
|
19. It is amazing to think that the Solar Logos ‘has’ a Solar Angel just as we do. And there must be great hosts of such tremendous Solar Angels who work in connection with Grand Heavenly Men just as far lesser Solar Angels work in connection with men. I have often speculated whether the Monads of such stupendous Solar Angels might not be located on the ‘super-cosmic astral plane’. |
19. Thật đáng kinh ngạc khi nghĩ rằng Thái dương Thượng đế ‘cũng có’ một Thái dương Thiên Thần như chúng ta vậy. Và hẳn có những đoàn thể Thái dương Thiên Thần uy nghi vĩ đại như thế làm việc liên hệ với các Đấng Thiên Nhân Vĩ đại tương tự như các Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn làm việc liên hệ với con người. Tôi đã nhiều lần suy đoán rằng liệu các Chân thần của những Thái dương Thiên Thần siêu việt như vậy có đặt trên ‘cõi cảm dục siêu vũ trụ’ chăng. |
|
20. If Sirius is the source of the Solar Angels which now serve humanity on this planet, is it also the source of the greater Solar Angels which inform the causal body of our Solar Logos, or is there a far greater source? Would such greater Solar Angels emanate from a source of greater importance than Sirius within the encompassing life of the “One About Whom Naught May Be Said”? |
20. Nếu Sirius là cội nguồn của các Thái dương Thiên Thần hiện đang phụng sự nhân loại trên hành tinh này, thì nó cũng là cội nguồn của những Thái dương Thiên Thần vĩ đại hơn, những vị thấm nhuần thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế chúng ta, hay lại còn có một cội nguồn siêu việt hơn nữa? Những Thái dương Thiên Thần vĩ đại như vậy sẽ phát xuất từ một cội nguồn có tầm quan trọng vượt trên Sirius trong vòng bao la của sự sống của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” chăng? |
|
21. We have reaffirmed for us that the planetary schemes are to the Solar Logos as the chakras are to man. |
21. Một lần nữa, chúng ta được khẳng định rằng các hệ hành tinh đối với Thái dương Thượng đế cũng như các luân xa đối với con người. |
|
22. It should be noted that the astral and mental chakras of a Solar Logos would relate to the astral and mental natures of the planetary schemes which serve as etheric chakras. In other words, if, for instance, the planetary scheme of Mars functions as the sacral center of the Solar Logos, then the astral nature of Mars would function as the astral sacral center and the mental nature of the Mars-scheme would function as the mental sacral center. |
22. Cần lưu ý rằng các luân xa cảm dục và trí tuệ của Thái dương Thượng đế sẽ liên hệ với các bản tính cảm dục và trí tuệ của các hệ hành tinh vốn phụng sự như các luân xa dĩ thái. Nói cách khác, nếu, chẳng hạn, hệ hành tinh Sao Hỏa hoạt dụng như trung tâm xương cùng của Thái dương Thượng đế, thì bản tính cảm dục của Sao Hỏa sẽ hoạt dụng như trung tâm xương cùng cảm dục và bản tính trí tuệ của hệ Sao Hỏa sẽ hoạt dụng như trung tâm xương cùng trí tuệ. |
|
23. It would be interesting to consider the different rays assigned to the different chakras in the energy system of man. If we analogize to the macrocosm—the solar system—could these different rays shed light upon different rays pouring through the various planetary schemes? |
23. Sẽ thú vị khi xét các cung khác nhau được gán cho các luân xa khác nhau trong hệ năng lượng của con người. Nếu chúng ta liên hệ tương đồng đến Đại thiên địa—tức Thái dương hệ—thì liệu các cung khác nhau này có chiếu rọi ánh sáng lên các cung khác nhau tuôn qua các hệ hành tinh khác nhau không? |
|
24. The implications of DK’s statement above are interesting. If each of the planetary schemes in our solar system vibrates to the key of the logoic Solar Angel, then, analogously, each of the chakras in the human being vibrate to the key of the lesser Solar Angel which supervises the development of the man in whom those chakras serve as energy centers. This would be the case regardless of the ray which is usually transmitted through or from a particular chakra. |
24. Hệ quả của phát biểu trên của Chân sư DK thật thú vị. Nếu mỗi hệ hành tinh trong Thái dương hệ của chúng ta rung theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần của Thái dương Thượng đế, thì, theo tương đồng, mỗi luân xa trong con người rung theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần bé hơn vốn giám sát sự phát triển của con người mà trong y các luân xa ấy phụng sự như các trung tâm năng lượng. Điều này sẽ đúng bất kể cung nào thường được truyền qua hoặc từ một luân xa đặc thù. |
|
25. We do have to ask ourselves, however, about the “key” of a Solar Angel? Is it a ray key? And what would it mean for a chakra to vibrate to that key? Would it mean that it had to harmonize with that key? |
25. Tuy nhiên, chúng ta phải tự hỏi về “chủ âm” của một Thái dương Thiên Thần? Đó có phải là một chủ âm cung không? Và một luân xa rung theo chủ âm ấy có nghĩa gì? Liệu có nghĩa là nó phải hoà điệu với chủ âm ấy? |
|
26. We are led to the hypothesis that the ray of the soul (for man the microcosm) definitely conditions each of his chakras, and that this conditioning is likewise operative in the case of the Solar Logos. |
26. Chúng ta được dẫn tới giả thuyết rằng cung linh hồn (đối với con người vi mô) chắc chắn điều kiện hoá từng luân xa của y, và sự điều kiện hoá này cũng vận hành tương tự trong trường hợp của Thái dương Thượng đế. |
|
27. One could wonder whether each chakra within the energy system of a human being is colored by the specific ray quality of the supervisory Solar Angel. In other words, but ‘looking’ at the chakras of a human being (whether on the etheric, astral or mental level) could the soul ray be determined and the nature of the supervisory Solar Angel? |
27. Có thể tự hỏi liệu mỗi luân xa trong hệ năng lượng của con người có được nhuộm màu bởi phẩm tính cung chuyên biệt của Thái dương Thiên Thần giám sát hay không. Nói cách khác, bằng cách ‘quan sát’ các luân xa của một con người (dù trên cấp dĩ thái, cảm dục hay trí tuệ) liệu có thể xác định cung linh hồn và bản chất của Thái dương Thiên Thần giám sát? |
|
28. And would there be a note sounding from each of the chakras of the human energy system which would reveal the nature of the Solar Angel involved? |
28. Và liệu sẽ có một âm điệu vang lên từ mỗi luân xa của hệ năng lượng con người, âm điệu ấy sẽ tiết lộ bản chất của Thái dương Thiên Thần liên hệ? |
|
It is interesting here to note that as the human solar Angel is a unity, manifesting through three tiers of petals, |
Thú vị khi lưu ý rằng cũng như Thái dương Thiên Thần của con người là một nhất thể, biểu lộ qua ba tầng cánh, |
|
29. We note that the “human solar Angel” is not the petals through which it manifests. The petals are instruments for manifestation. |
29. Chúng ta lưu ý rằng “Thái dương Thiên Thần của con người” không phải là những cánh hoa qua đó Ngài biểu lộ. Các cánh hoa là khí cụ cho sự biểu lộ. |
|
30. The human Solar Angel is a unity, yes, but it is also suggested that a number of Solar Angels participate in (or, better, underlie) the structure of the egoic lotus. |
30. Thái dương Thiên Thần của con người là một nhất thể, đúng vậy, nhưng cũng được gợi rằng có nhiều Thái dương Thiên Thần tham dự (hay, đúng hơn, làm nền) cho cấu trúc của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
the logoic correspondence is even more interesting, for that great cosmic Entity demonstrates on the cosmic mental plane as a triple flame working through seven tiers of petals, |
sự tương ứng thuộc về Thái dương Thượng đế lại càng thú vị hơn, vì sinh thể vũ trụ vĩ đại ấy biểu lộ trên cõi trí vũ trụ như một ngọn lửa tam phân hoạt động qua bảy tầng cánh hoa, |
|
31. The number ten seems to be suggested—the triple flame and the seven tiers. |
31. Con số mười dường như được gợi—ngọn lửa tam phân và bảy tầng. |
|
32. As well, the number twenty-four could be suggested (a far higher correspondence of Shamballa) IF each tier or circle of petals has three petals. 3 x 7 = 21 + 3 = 24 |
32. Đồng thời, con số hai mươi bốn cũng có thể được gợi (một tương ứng cao xa của Shamballa) NẾU mỗi tầng hay vòng cánh có ba cánh. 3 x 7 = 21 + 3 = 24 |
|
33. Here we could have a kind of greater and lesser zodiac—a lesser twelve and a greater twelve, but how the twenty-four centers would be divided remains to be seen. |
33. Ở đây chúng ta có thể có một kiểu hoàng đạo lớn và nhỏ—một mười hai nhỏ và một mười hai lớn, nhưng cách phân chia hai mươi bốn trung tâm vẫn còn phải xét. |
|
34. When considering the demonstration of an egoic lotus, we cannot escape its function as a heart; thus we retain the significance of the twelve, even if (in the case of the egoic lotus of the Solar Logos) we double it. |
34. Khi xét sự biểu lộ của một Hoa Sen Chân Ngã, chúng ta không thể tránh chức năng của nó như một trái tim; vì thế ta duy trì ý nghĩa của con số mười hai, ngay cả nếu (trong trường hợp Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế) chúng ta nhân đôi nó. |
|
35. We can imagine that the heart center and heart-in-the-head center of the Solar Logos (with petals totaling twenty-four—so we may infer) both become active in relation to the egoic lotus through which the Cosmic Solar Angel expresses. |
35. Chúng ta có thể hình dung rằng trung tâm tim và tim-trong-đầu của Thái dương Thượng đế (với tổng số cánh là hai mươi bốn—điều này chúng ta có thể suy ra) đều trở nên tích cực liên hệ với Hoa Sen Chân Ngã qua đó Thái dương Thiên Thần Vũ trụ biểu lộ. |
|
36. The heart center and heart-in-the-head center (whether of man or of the Solar Logos) are probably correspondences to the lesser and greater zodiac respectively. |
36. Trung tâm tim và tim-trong-đầu (dù của con người hay của Thái dương Thượng đế) có lẽ là những tương ứng với hoàng đạo nhỏ và lớn tương ứng. |
|
and it is the energy from these seven circles of energy |
và chính là năng lượng từ bảy vòng tròn năng lượng này |
|
37. Note that “tiers” are often called “circles”—“circles of energy”. |
37. Lưu ý rằng “tầng” thường được gọi là “vòng”—“vòng tròn năng lượng”. |
|
which pulsates through the medium of any scheme. |
đập nhịp xuyên qua môi giới của bất kỳ một hệ nào. |
|
38. Do the sevenfold energies of this ‘Cosmic Solar Angel’ pulsate through all planetary schemes within the solar system? This is probably generally so, because, the human Solar Angel pulsates (as a whole) through all the chakras of a human being). But, additionally there could be more specificity? For instance, we can wonder if each of the seven tiers is connected with one or other of the seven sacred planets and thus, with some specificity, to other planets (non-sacred planets) connected with the sacred planets. |
38. Liệu bảy loại năng lượng của ‘Thái dương Thiên Thần Vũ trụ’ này đập nhịp xuyên qua mọi hệ hành tinh trong Thái dương hệ? Điều này có lẽ chung là như vậy, bởi vì Thái dương Thiên Thần của con người (như một toàn thể) đập nhịp xuyên qua tất cả luân xa của con người. Nhưng, ngoài ra có thể còn có tính đặc thù? Chẳng hạn, chúng ta có thể tự hỏi nếu mỗi trong bảy tầng liên hệ với một trong bảy hành tinh thiêng liêng và như thế, một cách đặc thù, đến các hành tinh khác (không thiêng liêng) liên hệ với các hành tinh thiêng liêng ấy. |
|
39. Seven energies are transmitted, but also ten, and perhaps also twenty-one and, as well, twenty-four. |
39. Có bảy năng lượng được truyền, nhưng cũng có mười, và có lẽ cũng có hai mốt, và đồng thời, hai mươi bốn. |
|
40. We can imagine that these Cosmic Solar Angels become newly active within any solar system when that system is on the point of having its heart center opened (to what degree we do not know) just as the lesser Solar Angels become activated when a Planetary Logos is on the point of having its heart center opened. The awakening of the lesser Solar Angels in relation to the Planetary Logoi probably has the force of the solar logoic Cosmic Solar Angel behind it. |
40. Chúng ta có thể hình dung rằng các Thái dương Thiên Thần Vũ trụ này trở nên hoạt hoá mới mẻ trong bất kỳ Thái dương hệ nào khi hệ ấy sắp mở trung tâm tim (đến mức độ nào thì chúng ta không biết) cũng như các Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn được hoạt hoá khi một Hành Tinh Thượng đế sắp mở trung tâm tim của Ngài. Sự thức tỉnh của các Thái dương Thiên Thần nhỏ liên hệ đến các Hành Tinh Thượng đế có lẽ có lực của Thái dương Thiên Thần Vũ trụ của Thái dương Thượng đế đứng sau hỗ trợ. |
|
41. Those Planetary Logoi within our solar system which are related to the logoic heart center would be implicated in this process. One thinks of Venus, Jupiter and Neptune. |
41. Những Hành Tinh Thượng đế trong Thái dương hệ của chúng ta liên hệ với trung tâm tim của Thái dương Thượng đế sẽ bị cuốn vào tiến trình này. Người ta nghĩ đến Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương. |
|
42. If we learn that the egoic body of the Solar Logos has at its center a “triple flame”, we must look for the correspondence of this triple flame within the causal body of man. Can we ally the “Jewel in the Lotus” in the egoic lotus of man to a “triple flame”? Certainly the spiritual triad can be considered a “triple flame” and the Monad is also threefold and has its ‘extended presence’ within the human “Jewel in the Lotus”. |
42. Nếu chúng ta biết rằng thể chân ngã của Thái dương Thượng đế có ở tâm điểm một “ngọn lửa tam phân”, chúng ta phải tìm tương ứng của ngọn lửa tam phân này bên trong thể nguyên nhân của con người. Liệu chúng ta có thể liên hệ “Bảo châu trong Hoa Sen” trong Hoa Sen Chân Ngã của con người với một “ngọn lửa tam phân” không? Chắc chắn Tam Nguyên Tinh Thần có thể được xem như một “ngọn lửa tam phân” và Chân thần cũng là tam phân và có ‘sự-hiện-diện-được-mở-rộng’ của Ngài bên trong “Bảo châu trong Hoa Sen” của con người. |
|
All this is hidden in the mystery of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and it is not possible for men to solve it,—the truth being obscure to even the highest Dhyan Chohan of our system. |
Tất cả điều này ẩn trong huyền nhiệm về ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và con người không thể giải quyết nó—chân lý ấy còn tối mù ngay cả đối với vị Dhyan Chohan cao nhất của hệ chúng ta. |
|
43. Master DK really proves that the mind of the Thinker upon the second ray “is ever unsatisfied with his highest attainments; no matter how great his knowledge, his mind is still fixed on the unknown, the beyond, and on the heights as yet unscaled.” (EP I 203) |
43. Chân sư DK thật sự chứng minh rằng thể trí của Vị Tư duy thuộc cung hai “không bao giờ thoả lòng với thành tựu cao nhất của mình; bất kể tri thức lớn đến đâu, tâm trí của y vẫn cố định vào cái chưa biết, cái vượt bên kia, và những đỉnh cao chưa trèo tới.” (EP I 203) |
|
44. So the solution to this mystery is obscure even to Planetary Logoi, considering them as Dhyan Chohans of the highest level within our solar system? |
44. Vậy lời giải cho huyền nhiệm này còn tối mù ngay cả đối với các Hành Tinh Thượng đế, nếu xem các Ngài như những Dhyan Chohan ở cấp cao nhất trong Thái dương hệ của chúng ta? |
|
45. In this context the meaning of the term “Dhyan Chohan” is uncertain, but we can imagine that it references Beings of very exalted intelligence compared with the intelligence of man. |
45. Trong bối cảnh này, ý nghĩa của thuật ngữ “Dhyan Chohan” chưa xác quyết, nhưng chúng ta có thể hình dung rằng nó ám chỉ các Đấng có trí tuệ vô cùng cao siêu so với trí tuệ con người. |
|
The energy centres of the solar Logos are themselves [1162] in the form of vast lotuses24 or wheels, at the centre of which lies hidden that central cosmic Life, we call a planetary Logos. |
Các trung tâm năng lượng của Thái dương Thượng đế tự thân [] ở hình thức những hoa sen hay bánh xe bao la24, nơi tâm điểm của chúng ẩn tàng Sự sống vũ trụ trung tâm mà chúng ta gọi là một Hành Tinh Thượng đế. |
|
46. We learn that the Planetary Logos express through vast lotuses. We might suspect that such lotuses are multi-dimensional and are not found only on the etheric-physical plane. |
46. Chúng ta biết rằng các Hành Tinh Thượng đế biểu lộ qua những hoa sen bao la. Ta có thể ngờ rằng những hoa sen như thế là đa chiều và không chỉ được tìm thấy trên cõi hồng trần dĩ thái. |
|
47. The Planetary Logos, as here considered, is ultimately the planetary logoic Monad. |
47. Hành Tinh Thượng đế, như được xét ở đây, tối hậu là Chân thần của Hành Tinh Thượng đế. |
|
Footnote 24: |
Chú thích 24: |
|
See Section VIII, Secret Doctrine, Volume I. |
Xem Phần VIII, Giáo Lý Bí Nhiệm, Quyển I. |
|
The Lotus is symbolical of both the Macrocosm and of the Microcosm. |
Hoa sen là biểu tượng của cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa. |
|
48. And, thus, revelatory analogies can be drawn between macrocosmic and microcosmic lotus development. |
48. Và, như vậy, có thể rút ra các tương đồng mặc khải giữa sự phát triển hoa sen vĩ mô và vi mô. |
|
a. The seeds of the Lotus contain in miniature the perfect plant. |
a. Hạt của Hoa sen chứa, ở dạng vi tiểu, toàn bộ cây hoàn chỉnh. |
|
49. This is a rarity. |
49. Đây là một điều hiếm có. |
|
50. What is the ‘seed’ of the human egoic lotus and in what way is its perfection contained within that seed? |
50. ‘Hạt’ của Hoa Sen Chân Ngã nơi con người là gì và sự toàn bích của nó được bao hàm trong hạt giống ấy theo cách nào? |
|
b. It is the product of fire and matter. |
b. Nó là sản phẩm của lửa và chất liệu. |
|
51. In occultism, matter and water are equivalent terms. |
51. Trong huyền học, chất liệu và nước là những thuật ngữ tương đương. |
|
52. The heart of the lotus is fire. |
52. Trái tim của hoa sen là lửa. |
|
53. Fire and matter, then, are spirit and matter. |
53. Vậy lửa và chất liệu chính là tinh thần và vật chất. |
|
c. It has its roots in the mud, it grows up through the water, it is fostered by the warmth of the sun, it blossoms in the air. |
c. Nó có rễ trong bùn, vươn lên qua nước, được sưởi ấm bởi hơi ấm mặt trời, và nở hoa trong không khí. |
|
54. The analogies here given relate to four planes and four elements: the physical-etheric plane and the element of earth; the astral plane and the element of water; the mental plane and the element of fire (the Sun); the buddhic plane and the element of air. |
54. Các tương đồng được đưa ra ở đây liên hệ với bốn cõi và bốn nguyên tố: cõi hồng trần-dĩ thái và nguyên tố đất; cõi cảm dục và nguyên tố nước; cõi trí và nguyên tố lửa (Mặt Trời); cõi Bồ đề và nguyên tố khí. |
|
55. Notice that the buddhic energy is needed for the final blossoming. This energy begins to infuse the human egoic lotus more fully after the third initiation. |
55. Hãy lưu ý rằng năng lượng Bồ đề cần thiết cho sự nở hoa cuối cùng. Năng lượng này bắt đầu thấm nhuần Hoa Sen Chân Ngã của con người đầy đủ hơn sau lần điểm đạo thứ ba. |
|
56. We can look at the following explanation in two ways. In the first way the interpretation relates only to that which transpires on the cosmic physical plane. In the second we can extrapolate to a larger picture. |
56. Chúng ta có thể nhìn lời giải thích sau đây theo hai cách. Ở cách thứ nhất, diễn giải chỉ liên hệ đến những gì diễn ra trên cõi hồng trần vũ trụ. Ở cách thứ hai, chúng ta có thể suy rộng ra một bức tranh lớn hơn. |
|
MACROCOSM |
ĐẠI THIÊN ĐỊA |
|
The mud…………….The objective physical solar system. |
Bùn…………….Hệ Mặt Trời vật chất-khách quan. |
|
57. First interpretation; we are speaking of the systemic etheric-physical plane. |
57. Diễn giải thứ nhất; chúng ta đang nói về cõi hồng trần-dĩ thái hệ thống. |
|
58. Second interpretation: This objective physical solar system includes the cosmic etheric planes—buddhic, atmic, monadic and logoic. |
58. Diễn giải thứ hai: Hệ Mặt Trời vật chất-khách quan này bao gồm các cõi dĩ thái vũ trụ—Bồ đề, atma, chân thần và thượng đế. |
|
Water………………..The emotional or astral nature. |
Nước………………..Bản tính cảm xúc hay cảm dục. |
|
59. First interpretation: we are dealing with the systemic astral plane. |
59. Diễn giải thứ nhất: chúng ta đang xử lý cõi cảm dục hệ thống. |
|
60. Second interpretation: the “water” is the cosmic astral plane. |
60. Diễn giải thứ hai: “nước” là cõi cảm dục vũ trụ. |
|
Flower on water….Fruition of the spiritual. |
Hoa trên nước….Hoa trái của điều tinh thần. |
|
61. First interpretation: fruition occurs on the mental and buddhic planes |
61. Diễn giải thứ nhất: hoa trái xảy ra trên cõi trí và Bồ đề |
|
62. Second interpretation: fruition occurs on the cosmic mental plane and even on the cosmic buddhic plane. |
62. Diễn giải thứ hai: hoa trái xảy ra trên cõi trí vũ trụ và thậm chí trên cõi Bồ đề vũ trụ. |
|
Method……………..Cosmic fire or intelligence. |
Phương pháp……………..Lửa vũ trụ hay trí tuệ. |
|
63. The method is of great interest. Here, “cosmic fire” is related to intelligence, and presumably, divine intelligence. It is the energy of the cosmic mental plane leading to the possibility of fruition first on the buddhic plane (the plane, in one respect, of the Solar Angels directly related to humanity) or (on a much higher turn of the spiral) on the cosmic buddhic plane which is the lowest of the cosmic etheric planes in the Life of the Super-Cosmic Logos. |
63. Phương pháp này rất đáng quan tâm. Ở đây, “lửa vũ trụ” liên hệ với trí tuệ, và như vậy, là trí tuệ thiêng liêng. Đó là năng lượng của cõi trí vũ trụ dẫn tới khả năng hoa trái trước hết trên cõi Bồ đề (cõi, ở một phương diện, của các Thái dương Thiên Thần trực tiếp liên hệ với nhân loại) hoặc (trên một vòng xoắn cao hơn rất nhiều) trên cõi Bồ đề vũ trụ vốn là cõi thấp nhất trong các cõi dĩ thái vũ trụ trong Sự sống của Thượng đế Siêu Vũ trụ. |
|
64. Is the plane of the Cosmic Solar Angels the cosmic buddhic plane just as the plane of the humanly-related Solar Angels the systemic buddhic plane? Perhaps, in each case, the true plane of these Beings is quite a bit higher. |
64. Cõi của các Thái dương Thiên Thần Vũ trụ có phải là cõi Bồ đề vũ trụ cũng như cõi của các Thái dương Thiên Thần liên hệ nhân loại là cõi Bồ đề hệ thống chăng? Có lẽ, trong mỗi trường hợp, cõi đích thực của các Đấng này còn cao hơn khá nhiều. |
|
65. It is as if cosmic fire guides the entire unfoldment of the Macrocosm. From this perspective we can consider cosmic fire as Divine Mind expressed through a Cosmic Solar Angel. |
65. Tựa như lửa vũ trụ dẫn dắt toàn bộ sự khai nở của Đại thiên địa. Từ quan điểm này, chúng ta có thể xem lửa vũ trụ như Đại Trí được biểu lộ qua một Thái dương Thiên Thần Vũ trụ. |
|
MICROCOSM |
TIỂU THIÊN ĐỊA |
|
The mud…………….The physical body. |
Bùn…………….Thể xác. |
|
Water………………..Emotional or astral nature. |
Nước………………..Bản tính cảm xúc hay cảm dục. |
|
Flower on water….Fruition of the buddhic or spiritual. |
Hoa trên nước….Hoa trái của Bồ đề hay điều tinh thần. |
|
Method……………..Fire of mind. |
Phương pháp……………..Lửa của trí tuệ. |
|
66. DK keeps the same order, interestingly placing the energy of the mental plane after noting the ‘place of fruition’ (which involves the buddhic plane). |
66. Chân sư DK giữ cùng một trật tự, thật thú vị khi đặt năng lượng của cõi trí sau khi nêu ‘nơi hoa trái’ (vốn liên hệ đến cõi Bồ đề). |
|
67. When we think of buddhi, the concept of “fruition” is descriptive. Fruition is related to perfection— a quality related to the number four as that number is related to the buddhic plane—the fourth systemic plane. |
67. Khi nghĩ về Bồ đề, khái niệm “hoa trái” là miêu tả đúng. Hoa trái liên hệ với sự toàn bích— một phẩm tính liên hệ với con số bốn khi con số ấy liên quan với cõi Bồ đề—cõi thứ tư của hệ thống. |
|
“The significance of the tradition that Brahma is born from or in the lotus, is the same. The lotus symbolises a world-system, and Brahma dwells therein representing action; |
“Ý nghĩa của truyền thống rằng Brahma sinh ra từ hay trong hoa sen cũng như thế. Hoa sen tượng trưng cho một hệ thế giới, và Brahma cư ngụ trong đó, đại diện cho hành động; |
|
68. Brahma is associated with the third aspect of divinity—the “Activity Aspect”. He is called the “lotus-born”. |
68. Brahma liên hệ với Phương diện thứ ba của thiên tính—“Phương diện Hoạt động”. Ngài được gọi là “sinh ra từ hoa sen”. |
|
69. We think of the Planetary Logoi and their relation to both Brahma (the activity aspect) and to the lotus. |
69. Chúng ta nghĩ đến các Hành Tinh Thượng đế và mối liên hệ của các Ngài với cả Brahma (phương diện hoạt động) và với hoa sen. |
|
70. With regard to certain Planetary Logoi the following is said: |
70. Liên quan đến một số Hành Tinh Thượng đế, có lời được nói như sau: |
|
“One group is called the “Lotus Lords of deep unseeing sleep.” They dream, and as Their dreams take form, the worlds speed on. The great and cruel maya of the planes of sweet illusion comes into being, draws into its snare the points of unconnected light, and dims their lustre.” (TCF 1272) |
“Một nhóm được gọi là ‘Các Chúa Tể Hoa Sen của giấc ngủ sâu không thấy’. Các Ngài mộng mơ, và khi những giấc mơ của Các Ngài kết hình, các thế giới tăng tốc. Đại ảo mộng khắc nghiệt của các cõi huyễn diệu ngọt ngào đi vào hiện hữu, kéo vào cạm bẫy của nó những điểm ánh sáng chưa liên kết, và làm lu mờ ánh quang của chúng.” (TCF 1272) |
|
he is therefore called the Kamal-asana, the Lotus-seated. |
vì thế Ngài được gọi là Kamal-āsana, vị Ngự Toạ trên Hoa sen. |
|
71. We see how the term “asana” represents posture, a certain physical attitude. |
71. Chúng ta thấy thuật ngữ “asana” biểu thị tư thế, một thái độ thân thể nhất định. |
|
72. We will analyze the fascinating quotation above when we come to that section of the book. We do notice that may is both “sweet” and “cruel”. The points of unconnected light” have not built their antahkarana and thus are prey to maya, glamor and illusion. |
72. Chúng ta sẽ phân tích trích dẫn hấp dẫn ở trên khi đến phần ấy của sách. Chúng ta lưu ý rằng maya vừa “ngọt ngào” lại vừa “khắc nghiệt”. Những “điểm ánh sáng chưa liên kết” chưa kiến tạo antahkarana và do đó trở thành mồi cho maya, ảo cảm và ảo tưởng. |
|
The lotus, again, is said to arise from or in the navel of Vishnu, because the navel of Vishnu or all-knowledge |
Hoa sen, một lần nữa, được nói là khởi lên từ hay trong rốn của Vishnu, bởi vì rốn của Vishnu hay toàn-tri |
|
73. Vishnu represents the second aspect of divinity which is associated with Omniscience or all-knowledge. |
73. Vishnu đại diện cho phương diện thứ hai của thiên tính vốn liên hệ với Tất tri hay toàn-tri. |
|
is necessary desire, the primal form of which, as embodied in the Veda-text, is: May I be born forth (as multitudinous progeny). |
là dục vọng tất yếu, hình thái nguyên sơ của nó, như được thể hiện trong văn bản Veda, là: Ước chi Ta được sinh ra (như vô số hậu duệ). |
|
74. From the solar plexus comes the desire to manifest multitudinously. |
74. Từ tùng thái dương phát sinh dục vọng được biểu hiện một cách đa tạp vô số. |
|
75. All-Knowledge seeks to be born through or in many forms which express that knowledge. |
75. Toàn-tri nỗ lực được sinh ra qua hay trong nhiều hình tướng vốn biểu lộ tri thức ấy. |
|
76. Thus far we have dealt with a more material lotus. There are also lotuses or centers on the plane of desire. |
76. Cho đến đây chúng ta đã đề cập đến một hoa sen vật chất hơn. Cũng có những hoa sen hay trung tâm trên cõi cảm dục. |
|
From such central and essential desire, the will to live, |
Từ khát vọng trung tâm và cốt yếu như thế, ý chí sống, |
|
77. This text equates “essential desire” with the “will to live”. This will is the power which sustains the desire to manifest all-knowledge multitudinously. |
77. Văn bản này đồng nhất “dục vọng cốt yếu” với “ý chí sống”. Ý chí này là quyền năng duy trì khát vọng biểu lộ toàn-tri theo muôn phương diện. |
|
arises the whole of becoming, all the operations, all the whirls and whorls, of change and manifestation, which make up life. |
phát sinh toàn thể sự đang-trở-thành, mọi vận hành, mọi vòng xoáy và vòng lượn của biến dịch và hiện lộ, hợp thành sự sống. |
|
78. The World of Becoming is being described in terms of vortices—whirls and whorls. A vortex is, in this context, a descending spiral embracing all three aspects of divinity. A vortex can also be ascending. When we think of vortices acting in a horizontal manner they ‘tunnel through space’ and represent that type of motion called “driving forward through space”. |
78. Thế Giới Đang Trở Thành đang được mô tả bằng các xoáy lốc—những vòng xoáy và vòng lượn. Trong ngữ cảnh này, một xoáy lốc là một đường xoắn ốc đi xuống bao trùm cả ba phương diện của thiên tính. Một xoáy lốc cũng có thể là đi lên. Khi chúng ta nghĩ về các xoáy lốc vận hành theo phương ngang, chúng “đào đường xuyên không gian” và biểu trưng loại chuyển động gọi là “xông thẳng qua không gian”. |
|
In such becoming dwells Brahma, and from him and by him, i.e., by incessant activity, arises and manifests the organised world, the tribhuvanam, the triple world. |
Trong sự đang-trở-thành như vậy cư ngụ Brahma, và từ Ngài cũng như bởi Ngài, tức là, bởi hoạt động không ngơi nghỉ, nảy sinh và hiện lộ thế giới có tổ chức, tribhuvanam, ba cõi. |
|
79. Brahma produces the “triple world”. We note the factor of organization associated with Brahma. From Shamballa emanate three basic energies associated with the third aspect of divinity—destruction, purification and organization respectively. |
79. Brahma sản sinh “ba cõi”. Chúng ta lưu ý yếu tố tổ chức gắn với Brahma. Từ Shamballa phát xuất ba loại năng lượng căn bản liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính—hủy diệt, thanh luyện và tổ chức tương ứng. |
|
Because first manifested, |
Bởi vì được biểu lộ trước hết, |
|
80. The third aspect of divinity precedes in manifestation the other two aspects. Brahma is the “Builder of the Foundation” and prepares the way for the manifestation of the other two aspects. |
80. Phương diện thứ ba của thiên tính đi trước hai phương diện kia trong hiện lộ. Brahma là “Đấng Xây Dựng Nền Móng” và chuẩn bị con đường cho sự hiện lộ của hai phương diện còn lại. |
|
therefore is Brahma named the first of the gods; |
do đó Brahma được gọi là vị thần thứ nhất; |
|
81. He is the first in appearance though He represents the third aspect. |
81. Ngài là đầu tiên về xuất hiện dù Ngài biểu trưng phương diện thứ ba. |
|
by action is manifestation, and he is the actor; and because actor, |
bởi hành động mà có hiện lộ, và Ngài là kẻ hành động; và bởi vì là kẻ hành động, |
|
82. The third ray is the Ray of Intelligent Activity. |
82. Cung ba là Cung của Hoạt động Thông tuệ. |
|
therefore is he also sometimes called the preserver or protector of the world; |
vì thế Ngài cũng đôi khi được gọi là đấng bảo tồn hay bảo hộ thế giới; |
|
83. This is the role usually reserved for Vishnu, the Representative of the second aspect of divinity. Perhaps Brahma with Vishnu expresses the manifestation of the principle of preservation or protection. |
83. Đây là vai trò thường dành cho Vishnu, Đại Diện của phương diện thứ hai của thiên tính. Có lẽ Brahma cùng với Vishnu biểu hiện sự hiện lộ của nguyên lý bảo tồn hay bảo hộ. |
|
for he who makes a thing desires also the maintenance and preservation of his handiwork, |
vì kẻ tạo tác một sự vật cũng mong duy trì và bảo tồn công trình của mình, |
|
84. It would seem that cooperation with the second aspect of divinity would be required. Of course, as is said: Vishnu and Shiva are in Brahma; Shiva and Brahma are in Vishnu; Brahma and Vishnu are in Shiva. There is a ninefold demonstration. |
84. Có vẻ như cần sự hợp tác với phương diện thứ hai của thiên tính. Dĩ nhiên, như đã nói: Vishnu và Shiva ở trong Brahma; Shiva và Brahma ở trong Vishnu; Brahma và Vishnu ở trong Shiva. Có một sự thị hiện cửu phân. |
|
and, moreover, by the making of the thing supplies the basis and opportunity for the operation of preservation, which, in strictness, of course, belong to Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 84, 311. |
và hơn nữa, bằng việc tạo tác sự vật ấy, cung cấp nền tảng và cơ hội cho vận hành của sự bảo tồn, vốn, một cách nghiêm ngặt, dĩ nhiên, thuộc về Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 84, 311. |
|
85. The author concludes as is suggested above. On our planet the Earth and within our Solar system, the second aspect of divinity is being blended into the third aspect of divinity. Consummation in this solar system will see their union. |
85. Tác giả kết luận như gợi ý bên trên. Trên hành tinh Địa Cầu của chúng ta và trong hệ mặt trời của chúng ta, phương diện thứ hai của thiên tính đang được hòa trộn vào phương diện thứ ba của thiên tính. Sự viên mãn trong hệ mặt trời này sẽ chứng kiến sự hợp nhất của chúng. |
|
[A Planetary Logos or a Solar Logos—the antecedent “He” is uncertain here, but let us assume that we are speaking of the Planetary Logos as in this section the focus seems to be on Planetary Logoi.] He is the meeting place for two types of force, spiritual or logoic, which reaches Him (via the logoic Lotus on cosmic mental planes) |
[ A Planetary Logos or a Solar Logos—the antecedent “He” is uncertain here, but let us assume that we are speaking of the Planetary Logos as in this section the focus seems to be on Planetary Logoi.] Ngài là nơi gặp gỡ của hai loại mãnh lực, tinh thần hay logoic, vốn đến với Ngài (thông qua Hoa Sen logoic trên các cõi trí-cosmic) |
|
86. We seem to be speaking of the structure of the Planetary Logos including the planetary logoic egoic lotus on the higher subplanes of the cosmic mental plane. |
86. Có vẻ chúng ta đang nói về cấu trúc của Hành Tinh Thượng đế, bao gồm hoa sen logoic của vị hành tinh này trên các cõi phụ cao của cõi trí-cosmic. |
|
87. Spiritual and logoic force are seen as equivalent and emanate from the Seven Rishis of the Great Bear. |
87. Mãnh lực tinh thần và logoic được xem là tương đương và phát xuất từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh. |
|
88. We note that the “spiritual or logoic” force from the Seven Rishis reaches a Planetary Logos via the logoic egoic lotus, and, perhaps, not directly—i.e., unmediated by the Solar Logos and His egoic lotus. |
88. Chúng ta lưu ý rằng mãnh lực “tinh thần hay logoic” từ bảy Rishi đến với một Hành Tinh Thượng đế qua hoa sen chân ngã logoic, và có lẽ không trực tiếp—tức là, không qua trung giới của Thái dương Thượng đế và Hoa Sen chân ngã của Ngài. |
|
89. The true plane of focus for these Rishis is likely the cosmic atmic plane and not the cosmic buddhic plane on which the Rishis are ‘placed’ in Chart V, TCF 344. The section of text below suggests this. |
89. Cõi tập trung chân chính của các Rishi này rất có khả năng là cõi atma-cosmic chứ không phải cõi Bồ đề-cosmic nơi các Rishi được ‘đặt’ trong Biểu đồ V, TCF 344. Đoạn văn dưới đây gợi điều này. |
|
from the seven Rishis of the Great Bear on Their own plane, and, secondly, of buddhic force, |
từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh trên cõi của Các Ngài, và thứ hai là, mãnh lực Bồ đề, |
|
90. Cosmic buddhic force… |
90. Mãnh lực Bồ đề-cosmic… |
|
91. The words “on Their own plane” in this context suggests that “Their own plane” is not the cosmic buddhic plane. |
91. Cụm từ “trên cõi của Các Ngài” trong ngữ cảnh này gợi rằng “cõi của Các Ngài” không phải là cõi Bồ đề-cosmic. |
|
92. The Seven Rishis are normally associated with the will aspect and it can be readily understood that atma is spiritual will. Thus, the likely association of the Seven Rishis with the cosmic atmic plane, even though they are represented on the cosmic buddhic plane. Probably they express on the cosmic buddhic plane but have a still higher focus on the cosmic atmic plane. |
92. Bảy Rishi thường được liên kết với phương diện ý chí và có thể dễ dàng hiểu rằng atma là ý chí tinh thần. Vậy nên, có khả năng gắn Bảy Rishi với cõi atma-cosmic, dẫu Các Ngài được biểu diễn trên cõi Bồ đề-cosmic. Có lẽ Các Ngài biểu hiện trên cõi Bồ đề-cosmic nhưng có điểm tập trung cao hơn nữa trên cõi atma-cosmic. |
|
which is transmitted via the Seven Sisters or the Pleiades from a constellation called the Dragon in some books, and from which has come the appellation “The Dragon of Wisdom.” |
vốn được truyền qua Bảy Chị Em, tức chòm sao Pleiades, từ một chòm sao được gọi là Con Rồng trong vài sách, và từ đó có danh xưng “Con Rồng Minh Triết”. |
|
93. Draco seems, in this context, to be a constellation which is superior to the Pleiades or, at least, to some aspect of the Pleiades which is associated with cosmic buddhi. It seems that the Logos of Draco is even a more potent source of cosmic buddhi than the Logos of the Pleiades. We must determine whether the Seven Sisters can be separated in any way from the 800 to 1000 stars which are presently judged to constitute the entirety of the Pleiades. |
93. Trong ngữ cảnh này, Draco dường như là một chòm sao trỗi vượt Pleiades, hoặc ít nhất là trỗi vượt một phương diện nào đó của Pleiades vốn liên hệ với Bồ đề-cosmic. Có vẻ Thượng đế của Draco còn là một nguồn Bồ đề-cosmic hùng mạnh hơn cả Thượng đế của Pleiades. Chúng ta phải xác định liệu Bảy Chị Em có thể được tách ra theo cách nào đó khỏi 800 đến 1000 ngôi sao hiện được xem là toàn bộ chòm Pleiades hay không. |
|
94. When thinking about the Logoi of great constellations, it should be remembered that such Logoi will not be characterized by only one ray, but by several just as for the human being. In this case it would seem that the Logos of Draco and the Logos of the Pleiades both have aspects of Themselves which express on the second ray (the ray of buddhi). |
94. Khi suy ngẫm về các Thượng đế của những chòm sao vĩ đại, cần nhớ rằng các Thượng đế ấy sẽ không chỉ được đặc trưng bởi một cung, mà bởi nhiều cung như nơi con người. Trong trường hợp này, có vẻ Thượng đế của Draco và Thượng đế của Pleiades đều có những phương diện của Chính Các Ngài biểu hiện trên cung hai (cung của Bồ đề). |
|
A third type of energy is added and, therefore, can be detected in these centres, |
Một loại năng lượng thứ ba được thêm vào và, do đó, có thể được nhận ra trong các trung tâm này, |
|
95. We continue to speak of the Planetary Logoi as centers within the Solar Logos. |
95. Chúng ta tiếp tục nói về các Hành Tinh Thượng đế như những trung tâm trong Thái dương Thượng đế. |
|
that of manasic type. |
thuộc loại manas. |
|
96. One aspect of the Sirian energy is certainly manasic. The fifth ray is prominent in Sirian expression, though it is not the only ray expressed through Sirius. |
96. Một phương diện của năng lượng đến từ Sirius chắc chắn là manas. Cung năm nổi bật trong biểu hiện Siri, dù đó không phải là cung duy nhất được biểu lộ qua Sirius. |
|
This reaches the logoic centres |
Điều này đến với các trung tâm logoic |
|
97. The Planetary Logoi… |
97. Các Hành Tinh Thượng đế… |
|
via the star Sirius, |
thông qua ngôi sao Sirius, |
|
98. It is being established that the Planetary Logos receive a stream of energy from Sirius just as they do from the Pleiades and from the Great Bear. Interesting, however, these Planetary Logoi are usually considered to receive manasic energy from the Pleiades! |
98. Ở đây được xác lập rằng các Hành Tinh Thượng đế tiếp nhận một dòng năng lượng từ Sirius cũng như từ Pleiades và từ Đại Hùng Tinh. Tuy nhiên, điều thú vị là những Hành Tinh Thượng đế này thường được xem là tiếp nhận năng lượng manas từ Pleiades! |
|
The sun “Sirius” is the source of logoic manas in the same sense as thePleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming in of mind in the Earth chain. (TCF 347) |
Mặt trời “Sirius” là nguồn của manas logoic theo cùng ý nghĩa như Pleiades có liên hệ với sự tiến hóa của manas nơi bảy Đấng Thiên Nhân, và Kim Tinh chịu trách nhiệm cho việc tâm trí đi vào trong Dãy Địa Cầu. (TCF 347) |
|
99. The term “connected with” is not necessarily the same as “source of”. |
99. Cụm “có liên hệ với” không nhất thiết đồng nghĩa với “nguồn của”. |
|
100. Are we saying that everything that reaches the Planetary Logoi from these three great sources (the Great Bear, the Pleiades and Sirius) must be transmitted to the Planetary Logoi via the Solar Logos? |
100. Chúng ta có đang nói rằng mọi thứ đến với các Hành Tinh Thượng đế từ ba nguồn lớn này (Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius) đều phải được truyền đến các Hành Tinh Thượng đế qua trung giới Thái dương Thượng đế hay không? |
|
and is transmitted from that constellation which (as earlier I have [1163]hinted) must remain obscure at present. |
và được truyền từ chòm sao (như trước đây tôi đã []gợi ý) hiện phải còn mờ ám. |
|
101. Is it that Sirius is known as “that constellation” but that knowledge about it must remain obscure, or that there is a constellation which transmits manas through Sirius and thence to the Heavenly Men, but that the name of this constellation cannot be revealed? |
101. Có phải Sirius được biết như “chòm sao ấy” nhưng tri thức về nó phải còn mờ ám, hay là có một chòm sao truyền manas qua Sirius rồi đến các vị Thiên Nhân, song tên chòm sao này chưa thể được tiết lộ? |
|
102. The latter possibility is more probable. |
102. Khả năng sau có vẻ xác đáng hơn. |
|
These three great streams of energy form the total manifestation of a logoic centre. This is known to us as a planetary scheme. |
Ba dòng năng lượng vĩ đại này tạo thành toàn bộ hiện lộ của một trung tâm logoic. Điều này được chúng ta biết đến như một hệ thống hành tinh (planetary scheme). |
|
103. In various ways we have been discussing how a center can be formed by three streams of energy; the third eye is one such center. We are also told that the alta major center is formed of streams of energy (though the number of streams is not given). |
103. Bằng nhiều cách, chúng ta đã bàn về việc một trung tâm được hình thành bởi ba dòng năng lượng; con mắt thứ ba là một trung tâm như thế. Chúng ta cũng được cho biết trung tâm alta major được cấu thành từ những dòng năng lượng (dù số lượng dòng không được nêu). |
|
104. DK seems to be telling us that a planetary scheme is formed by these three great streams of energy. Perhaps He is telling that all the planetary schemes in our solar system are formed by the combination of these three great streams. |
104. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng một hệ thống hành tinh được hình thành bởi ba dòng năng lượng vĩ đại này. Có lẽ Ngài đang nói rằng mọi hệ thống hành tinh trong Thái Dương Hệ của chúng ta đều được cấu thành bởi sự kết hợp của ba dòng năng lượng vĩ đại này. |
|
105. Is it being indicated to us that “three great streams” somehow combine to form of vortex from which proceeds manifestation? Are three always involved in the manifestation of one? |
105. Có phải đang hàm ý với chúng ta rằng “ba dòng năng lượng vĩ đại” bằng cách nào đó kết hợp để hình thành một xoáy lốc từ đó hiện lộ phát sinh? Phải chăng bao giờ cũng có ba yếu tố tham dự vào sự hiện lộ của một đơn vị? |
|
Within the planetary scheme, these streams of energy work paramountly in the following manner: |
Trong hệ thống hành tinh, các dòng năng lượng này vận hành chủ yếu theo cách sau: |
|
a. Spiritual energy..three higher planes…. the Monads. |
a. Năng lượng tinh thần… ba cõi cao hơn… các Chân thần. |
|
106. This is logoic/spiritual force. The three higher planes, in this case, are the logoic, the monadic and the atmic planes. |
106. Đây là mãnh lực logoic/tinh thần. Ba cõi cao hơn, trong trường hợp này, là cõi logoic, cõi chân thần và cõi atma. |
|
107. Yet there are four “gates” to Shamballa. Are not Monads capable of functioning through the buddhic permanent atom on the buddhic plane? |
107. Tuy nhiên có bốn “cổng” vào Shamballa. Chẳng phải các Chân thần có khả năng hoạt dụng qua nguyên tử trường tồn Bồ đề trên cõi Bồ đề hay sao? |
|
108. Notice in this case that Monads are associated with the term “spiritual” and not only with the term “divine”. |
108. Lưu ý trong trường hợp này rằng Chân thần được gắn với thuật ngữ “tinh thần” chứ không chỉ với thuật ngữ “thiêng liêng”. |
|
109. What is also evident is that every planetary scheme includes the logoic dimension. This stands to reason as the Logos of such a scheme has vehicles which extend far ‘above’ and ‘beyond’ the logoic plane in subtlety. |
109. Điều hiển nhiên nữa là mọi hệ thống hành tinh đều bao gồm chiều kích logoic. Điều này hợp lý, vì Thượng đế của một hệ hành tinh có những vận cụ trải rộng ‘bên trên’ và ‘vượt ngoài’ cõi logoic về độ vi tế. |
|
b. Buddhic force…..fourth plane…………… the solar Angels. |
b. Mãnh lực Bồ đề….. cõi thứ tư………………. các Thái dương Thiên Thần. |
|
110. It cannot yet be easily established which plane is the true plane of the Solar Angels (‘their own plane’). We do know, however, that these Angels are much associated with the energy of buddhi. Checking Tabulation II in Esoteric Astrology we find that Solar Angels are definitely assigned to the buddhic plane, though they express, sacrificially, on the higher mental plane. |
110. Chưa thể dễ dàng xác quyết đâu là cõi đích thực của các Thái dương Thiên Thần (‘cõi của Các Ngài’). Tuy vậy, chúng ta biết rằng Các Ngài rất gắn với năng lượng Bồ đề. Đối chiếu Bảng II trong Chiêm Tinh Học Nội Môn chúng ta thấy Thái dương Thiên Thần được minh thị gán cho cõi Bồ đề, dẫu Các Ngài hy hiến biểu hiện trên cõi thượng trí. |
|
c. Manasic force…..two lower planes……. the four kingdoms of nature. |
c. Mãnh lực manas….. hai cõi thấp………. bốn giới của thiên nhiên. |
|
111. A plane is missing. Which is it? Can we consider it to be the physical-etheric plane? The four kingdoms of nature, do manifest, however, on the three lower planes and not only one two. |
111. Thiếu một cõi. Cõi nào? Liệu có thể xem đó là cõi hồng trần-dĩ thái? Tuy nhiên, bốn giới của thiên nhiên biểu hiện trên ba cõi thấp chứ không chỉ trên hai cõi. |
|
112. Is DK, in some manner, skipping the systemic astral plane as something that does not exist. |
112. Phải chăng Chân sư DK, theo một cách nào đó, đang bỏ qua cõi cảm dục hệ thống như một điều không hiện tồn? |
|
113. It is always interesting when Master DK appears to leave out an expected item in an enumeration. One has to enquire why he has done so. |
113. Thật luôn thú vị khi Chân sư DK dường như bỏ qua một hạng mục dự kiến trong một liệt kê. Ta cần truy vấn vì sao Ngài làm vậy. |
|
Physical energy, the left-over of a previous solar system, demonstrates through the dense physical form and in the material which is energised during the involutionary cycle. |
Năng lượng hồng trần, phần còn lại của một hệ mặt trời trước, biểu lộ qua hình thể hồng trần đậm đặc và trong chất liệu được tiếp năng lượng trong chu kỳ giáng hạ tiến hoá. |
|
114. Is “physical energy” the seventh in relation to “the three higher planes”, “the fourth plane” and “two lower planes”? |
114. “Năng lượng hồng trần” có phải là yếu tố thứ bảy so với “ba cõi cao hơn”, “cõi thứ tư” và “hai cõi thấp” không? |
|
115. DK appears to be talking about the very densest material energy related to the three lowest subplanes of the systemic etheric-physical plane. It seems that the systemic ethers are not included in which He describes as “physical energy”. |
115. DK dường như đang nói về năng lượng vật chất đậm đặc nhất liên quan đến ba cõi phụ thấp nhất của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống. Có vẻ các dĩ thái hệ thống không được bao gồm trong điều Ngài mô tả là “năng lượng hồng trần”. |
|
It is not considered a principle; and is regarded as the basis of maya or illusion. |
Nó không được xem là một nguyên khí; và được coi là nền tảng của maya hay ảo tưởng. |
|
116. From one perspective, the entirety of the eighteen lower subplanes are the dense physical body of the Planetary Logos and the twenty-one lower systemic subplanes are the dense physical body of the Solar Logos. The twenty-one are not a principle to the Solar Logos and the eighteen are not a principle to our Planetary Logos. |
116. Từ một quan điểm, toàn bộ mười tám cõi phụ thấp là thể hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và hai mươi mốt cõi phụ thấp hệ thống là thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Hai mươi mốt cõi không là một nguyên khí đối với Thái dương Thượng đế và mười tám cõi không là một nguyên khí đối với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
117. But DK may be focusing His attention on the three lowest systemic subplanes alone, stating that the energies of the three very lowest subplanes are the basis of maya or illusion. |
117. Nhưng DK có thể đang tập trung chú ý vào riêng ba cõi phụ hệ thống thấp nhất, nói rằng các năng lượng của ba cõi phụ rất thấp này là cơ sở của ảo lực hay ảo tưởng. |
|
The various planetary schemes are not all alike and differ as to: |
Các hệ thống hành tinh khác nhau không hoàn toàn giống nhau và khác nhau về: |
|
a. Type of energy, |
a. Loại năng lượng, |
|
b. Point in evolution, |
b. Điểm tiến hoá, |
|
c. Position in the general plan, |
c. Vị trí trong Thiên Cơ tổng quát, |
|
d. Karmic opportunity, |
d. Cơ hội nghiệp quả, |
|
e. Rate of vibration. |
e. Tần số rung động. |
|
118. These are very important distinctions. Our knowledge of planetary lore is small (in fact, such knowledge is deliberately veiled from us), but Master DK has given us enough to make some comparisons. |
118. Đây là những phân biệt rất quan trọng. Tri thức của chúng ta về huyền học hành tinh còn ít (thực vậy, tri thức ấy cố ý được che màn khỏi chúng ta), nhưng Chân sư DK đã ban cho đủ để chúng ta có thể so sánh. |
|
119. These schemes differ in ray energy; degree of unfoldment (which may not be the same as evolutionary status or “point in evolution”); the chakra or chakras a planetary scheme represents; the degree to which the possibility of stimulated unfoldment is presently offered to the Logos of such a planetary scheme; the key or keynote which the particular Planetary Logos is expressing. Each Planetary Logos has many rates of vibration depending upon which ones of His vehicles we are considering, but perhaps there is an overall rate of vibration. |
119. Các hệ thống này khác nhau về năng lượng cung; mức độ khai nở (có thể không đồng nhất với tình trạng tiến hoá hay “điểm tiến hoá”); luân xa hay các luân xa mà một hệ thống hành tinh đại diện; mức độ mà khả thể được kích thích khai mở hiện đang được trao cho Thượng đế của hệ thống hành tinh ấy; điệu chủ hay chủ âm mà Hành Tinh Thượng đế đặc thù đang biểu hiện. Mỗi Hành Tinh Thượng đế có nhiều tần số rung động tùy theo vận cụ nào của Ngài đang được xét, nhưng có lẽ có một tần số tổng quát. |
|
The main distinction exists in the fact, as we have so oft repeated, that three of them form the three higher etheric energy centres of the Logos, and four constitute the lower centres. |
Phân biệt chính yếu nằm ở sự kiện, như chúng ta đã nhiều lần nhắc lại, rằng ba trong số chúng tạo thành ba trung tâm năng lượng dĩ thái cao hơn của Thượng đế, và bốn trung tâm còn lại cấu thành các trung tâm thấp. |
|
120. This is confirmation of something long suspected—namely that the arrangement of human chakras found in TCF, Chart VIII, may have its higher correspondence. This would mean that just as not all seven chakras are located in the same systemic ethers in the case of the human being, so it is the case for the subplane distribution of the chakras of a Solar Logos or Planetary Logos. |
120. Đây là sự xác nhận điều từ lâu được nghi hoặc—rằng bố trí các luân xa nhân loại trong TCF, Biểu đồ VIII, có thể có đối ứng cao hơn. Điều ấy có nghĩa là cũng như không phải cả bảy luân xa đều nằm trên cùng các dĩ thái hệ thống trong trường hợp con người, thì cũng vậy đối với sự phân bố các cõi phụ của các luân xa của một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế. |
|
121. There is some question as to whether solar logoic etheric chakras are all to be found on the systemic buddhic plane or whether they are distributed over the various cosmic-etheric subplanes as the chakras of the human being are distributed over the various systemic subplanes. In this case, for the Planetary Logos, the supreme head center would be found on the logoic plane; His heart center would be found on the monadic plane; His throat center would be found on the atmic plane; and the other four chakras (solar plexus, splenic center, sacral center and base of the spine) would be found on the buddhic plane. As for the ajna center, it could also be found on the logoic plane but on a different subplane from that of the supreme head center. |
121. Có câu hỏi liệu các luân xa dĩ thái của Thái dương Thượng đế có đều được tìm thấy trên cõi Bồ đề hệ thống hay được phân bố trên nhiều cõi phụ dĩ thái-cosmic khác nhau, giống như các luân xa con người được phân bố trên các cõi phụ hệ thống khác nhau. Trong trường hợp này, đối với Hành Tinh Thượng đế, trung tâm đầu tối thượng sẽ ở trên cõi logoic; trung tâm tim của Ngài ở trên cõi chân thần; trung tâm cổ họng của Ngài ở trên cõi atma; và bốn luân xa khác (tùng thái dương, trung tâm lá lách, trung tâm xương cùng và đáy cột sống) sẽ ở trên cõi Bồ đề. Còn trung tâm ajna, nó cũng có thể ở trên cõi logoic nhưng ở cõi phụ khác với trung tâm đầu tối thượng. |
|
Saturn is of interest to us here because the Logos of Saturn holds a position in the body logoic similar to that held by the throat centre in the microcosm. |
Saturn đáng quan tâm với chúng ta ở đây vì Thượng đế của Saturn giữ một vị trí trong thân thể logoic tương tự như vị trí mà trung tâm cổ họng giữ trong tiểu thiên địa. |
|
122. This is a definite statement of fact (if we believe that the Tibetan offers only that which is true and factual—which most of us do). |
122. Đây là một khẳng định xác quyết (nếu chúng ta tin rằng Chân sư Tây Tạng chỉ đưa ra điều chân thật và sự kiện—mà hầu hết chúng ta tin). |
|
123. So the logoic throat center is identified with Saturn but other centers are not so definitively given. Venus is given as representing the heart center, but there are problems and ambiguities surrounding this assignment. |
123. Vậy trung tâm cổ họng logoic được đồng nhất với Saturn nhưng các trung tâm khác chưa được chỉ định dứt khoát như vậy. Venus được nêu đại diện cho trung tâm tim, nhưng quanh sự chỉ định này có những vấn đề và mơ hồ. |
|
124. We may wish to remember that Saturn has also been identified as a correspondence to the logoic permanent atom on the logoic plane. |
124. Chúng ta có thể muốn nhớ rằng Saturn cũng đã được nhận định như một đối ứng với nguyên tử trường tồn logoic trên cõi logoic. |
|
125. In what way the Logos of Saturn can stand for both ‘positions’ is uncertain. It may be that the planet Saturn is the correspondence to the logoic physical permanent atom but that the Logos of Saturn is the correspondence to the logoic throat center on all its levels on the cosmic planes through which the energy system of the Solar Logos manifests—including the cosmic astral plane and the cosmic mental plane. |
125. Chưa rõ bằng cách nào Thượng đế của Saturn có thể đại diện cho cả hai ‘vị trí’. Có thể rằng hành tinh Saturn là đối ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic nhưng Thượng đế của Saturn là đối ứng với trung tâm cổ họng logoic trên mọi cấp của các cõi cosmic mà hệ năng lượng của Thái dương Thượng đế biểu lộ—bao gồm cõi cảm dục-cosmic và cõi trí-cosmic. |
|
Neptune, Uranus, and Saturn will, therefore, have absorbed the essence of manifestation and (in connection with the solar Logos) they correspond to the three permanent atoms in the causal body of a man. We say “correspond” for the analogy is not in detail. Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. (TCF 406) |
Neptune, Uranus và Saturn, do đó, sẽ hấp thụ tinh tuý của hiện lộ và (liên hệ với Thái dương Thượng đế) chúng tương ứng với ba nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân của con người. Chúng tôi nói “tương ứng” vì sự tương đồng không chi tiết. Uranus và Neptune là các phản chiếu của nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ logoic. Saturn thật ra là đối ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic. Đây là một huyền bí học thuật và không được tách khỏi chân lý liên hệ của nó trong đồ hình cosmic. (TCF 406) |
|
Three centres towards the close of manifestation will become aligned in the same way as the centre at the base of the spine, the throat centre and the alta major centre. |
Ba trung tâm vào gần cuối kỳ hiện lộ sẽ được chỉnh hàng theo cùng cách như trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm cổ họng và trung tâm alta major. |
|
126. Which logoic centers are these? The Earth is commonly associated with the base of the spine center. The Logos of Saturn, we have just seen, is the correspondence to the logoic throat center. Which, then is the correspondence to the alta major center—could it be Pluto, as a sort of base of the spine center in the head? |
126. Ba trung tâm logoic nào đây? Địa Cầu thường được liên kết với trung tâm đáy cột sống. Thượng đế của Saturn, như ta vừa thấy, là đối ứng với trung tâm cổ họng logoic. Vậy đối ứng với trung tâm alta major là gì—có thể là Pluto chăng, như một dạng trung tâm đáy cột sống trong đầu? |
|
Here it must be pointed out that there are three planetary schemes which [1164] hold a place analogous to that held by the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre, but they are not the schemes referred to as centres, or known to us as informed by planetary Logoi. |
Ở đây cần chỉ ra rằng có ba hệ thống hành tinh [] giữ một vị trí tương tự như vị trí mà tuyến tùng, tuyến yên và trung tâm alta major giữ, nhưng chúng không phải là những hệ thống được gọi là các trung tâm, hay được chúng ta biết đến như do các Hành Tinh Thượng đế thấm nhuần. |
|
127. We can sense the presence of an occult blind. Who is “us”? Is “us” the Members of the Spiritual Hierarchy? Or is “us” humanity, which simply does not yet know enough to understand what type of Planetary Logoi could be associated with such centers? |
127. Chúng ta có thể cảm nhận sự hiện diện của một bức màn huyền bí. “Chúng ta” là ai? “Chúng ta” là các Thành viên của Huyền Giai Tinh Thần? Hay “chúng ta” là nhân loại, vốn đơn giản chưa biết đủ để hiểu loại Hành Tinh Thượng đế nào có thể gắn với những trung tâm như thế? |
|
128. When we speak of dense precipitations such as glands or “bodies” (pituitary body), the type of Logoi associated with them (IF Planetary Logoi are associated with them) seem not to be the same as those Planetary Logoi associated with the etheric centers. |
128. Khi chúng ta nói về các ngưng kết đậm đặc như các tuyến hay “thể” (tuyến yên), kiểu Thượng đế gắn với chúng (NẾU Hành Tinh Thượng đế có gắn với chúng) dường như không giống với những Hành Tinh Thượng đế gắn với các trung tâm dĩ thái. |
|
129. Can there be planetary schemes which are not informed by Planetary Logoi? It would seem not. Perhaps, DK is simply indicating that we (humanity) are ignorant of which Planetary Logoi and which type of Planetary Logoi inform such apparently lesser systemic centers. |
129. Có thể có những hệ thống hành tinh không được một Hành Tinh Thượng đế thấm nhuần không? Có vẻ là không. Có lẽ DK chỉ đang chỉ ra rằng chúng ta (nhân loại) không biết Hành Tinh Thượng đế nào và loại Hành Tinh Thượng đế nào thấm nhuần những trung tâm hệ thống tưởng như thứ yếu ấy. |
|
130. There are many types of Logoi in our solar system, and many unknown Planetary Logoi. At the time that this book was written, Pluto, for instance, had not be discovered. |
130. Có nhiều loại Thượng đế trong Thái Dương Hệ của chúng ta, và nhiều Hành Tinh Thượng đế chưa biết. Vào thời cuốn sách này được viết, Pluto, chẳng hạn, vẫn chưa được phát hiện. |
|
131. The principle is that glands and “bodies” are of lesser status than etheric centers, and, accordingly, the type of Logoi to be associated with them are of lesser status than the Planetary Logoi associated with etheric centers. |
131. Nguyên lý là: các tuyến và “thể” có địa vị thấp hơn các trung tâm dĩ thái, và, tương ứng, loại Thượng đế được gắn với chúng có địa vị thấp hơn các Hành Tinh Thượng đế gắn với các trung tâm dĩ thái. |
|
Certain of the planetoids |
Một số tiểu hành tinh |
|
132. But not all… |
132. Nhưng không phải tất cả… |
|
have their place here, |
có vị trí ở đây, |
|
133. Perhaps as analogues of the endocrine glands in the human energy system… |
133. Có lẽ như các đối ảnh của những tuyến nội tiết trong hệ năng lượng con người… |
|
134. We must ask, however, the nature of the Lives informing the planetoids. If they are not called “Planetary Logoi”, what are they called? Are they in some way lesser Planetary Logoi? Yet, it is not probable that they will be Chain-Lords as Chain-Lords are the chakras of the Planetary Logoi who express through planetary schemes. |
134. Tuy vậy, chúng ta phải hỏi về bản chất của các Sự Sống thấm nhuần các tiểu hành tinh. Nếu chúng không được gọi là “Hành Tinh Thượng đế”, thì chúng được gọi là gì? Chúng có phải là các Hành Tinh Thượng đế theo một nghĩa nào đó thấp hơn? Tuy nhiên, khó có khả năng chúng là các Vị Chúa Tể Dãy, vì các Vị Chúa Tể Dãy là những luân xa của các Hành Tinh Thượng đế vốn biểu hiện qua các hệ thống hành tinh. |
|
135. Are planetoids to be considered as associated with a planet (for instance, the moons of certain planets), or are planetoids bodies which like the greater planets have their orbit around the Sun? |
135. Có phải tiểu hành tinh được xem là gắn với một hành tinh (ví dụ, các vệ tinh của một số hành tinh), hay tiểu hành tinh là các thể vốn, giống như các hành tinh lớn, có quỹ đạo riêng quanh Mặt Trời? |
|
136. What human astronomers call “moons”, DK could regard as planetoids. Yet it may be, after all, that planetoids have their own orbit around the Sun whereas moons orbit around the planet with which they are in closest association. This is perhaps the distinction between them. |
136. Điều mà các nhà thiên văn học nhân loại gọi là “vệ tinh”, DK có thể xem là tiểu hành tinh. Dẫu vậy, vẫn có thể tiểu hành tinh có quỹ đạo riêng quanh Mặt Trời trong khi vệ tinh thì quay quanh hành tinh mà chúng gắn bó mật thiết. Có lẽ đây là phân biệt giữa chúng. |
|
and one scheme which has passed out of activity, and is in a condition of quiescence and nonactivity. |
và một hệ thống đã thoát khỏi hoạt động, đang ở trong tình trạng tĩnh lặng và bất hoạt. |
|
137. This does not mean that it has passed out of manifestation entirely. This scheme may be one of those which we recognize as a planet. |
137. Điều này không có nghĩa là nó đã ra khỏi hiện lộ hoàn toàn. Hệ thống này có thể là một trong những cái mà chúng ta nhận ra như một hành tinh. |
|
138. This scheme is probably not Mars, but we are told that it is in a state of quiescence. |
138. Hệ thống này có lẽ không phải là Hỏa Tinh, nhưng chúng ta được cho biết rằng nó đang ở trong tình trạng tĩnh lặng. |
|
139. Of interest is the fact that for most human beings, the pineal gland is in a state of relative quiescence of inactivity. |
139. Điều đáng lưu ý là, đối với đa số con người, tuyến tùng ở trong tình trạng tương đối tĩnh lặng, bất hoạt. |
|
140. One is forced to consider the history of the planet Vulcan. Was Vulcan in the past more active? Has it passed out of activity? Will it return to greater activity? One can find a number of convincing associations relating the function of Vulcan to the function of the third eye. |
140. Người ta buộc phải suy xét lịch sử của hành tinh Vulcan. Phải chăng Vulcan trước kia năng hoạt hơn? Nó có đã qua khỏi hoạt động? Nó sẽ trở lại năng hoạt hơn chăng? Ta có thể tìm thấy nhiều liên hệ thuyết phục giữa chức năng của Vulcan với chức năng của con mắt thứ ba. |
|
This latter scheme is the correspondence in the logoic body to the atrophied third eye in the fourth kingdom of nature. |
Hệ thống sau cùng này là đối ứng trong thân thể logoic với con mắt thứ ba bị thoái hóa trong giới thứ tư của thiên nhiên. |
|
141. Yes, exactly. Of course the real third eye is etheric in nature. It is not correct to call the pineal gland (a dense physical structure) the “third eye”. |
141. Vâng, chính xác. Tất nhiên con mắt thứ ba đích thực là dĩ thái. Không đúng khi gọi tuyến tùng (một cấu trúc hồng trần đậm đặc) là “con mắt thứ ba”. |
|
142. We should not consider that this scheme will be unimportant, even though in a state of quiescence. The third eye is a very important etheric/magnetic field within the human energy system, and, therefore, the scheme in question may be proven to be of quite some importance. |
142. Chúng ta không nên xem hệ thống này là không quan trọng, dẫu đang trong tình trạng tĩnh lặng. Con mắt thứ ba là một trường dĩ thái/từ lực rất quan trọng trong hệ năng lượng con người, và, do đó, hệ thống đang xét có thể được chứng minh là khá quan trọng. |
|
When man has developed etheric vision and thus has expanded his range of vision, he will become aware of these facts, for he will see. |
Khi con người phát triển thị kiến dĩ thái và như vậy mở rộng tầm nhìn, y sẽ nhận biết các sự kiện này, vì y sẽ thấy. |
|
143. When we speak of a scheme which has passed out of activity, does it then mean that it has also passed out of dense physicality? This statement immediately above seems to direct our thought to strictly etheric centers—i.e., planetary schemes which have no dense physical body. |
143. Khi chúng ta nói về một hệ thống đã thoát khỏi hoạt động, liệu có nghĩa là nó cũng đã ra khỏi thể hồng trần đậm đặc? Mệnh đề ngay phía trên dường như hướng tư tưởng chúng ta về các trung tâm thuần dĩ thái —nghĩa là, các hệ thống hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc. |
|
Many planetary schemes which are found only in etheric matter will be revealed to his astonished gaze, |
Nhiều hệ thống hành tinh vốn chỉ được tìm thấy trong chất liệu dĩ thái sẽ hiển lộ trước cái nhìn kinh ngạc của y, |
|
144. Perhaps, then, the scheme which stands for the third eye of the Logos is to be found only in etheric matter. |
144. Có lẽ, vậy, hệ thống vốn đứng cho con mắt thứ ba của Thượng đế chỉ được tìm thấy trong chất liệu dĩ thái. |
|
145. One wonders, somewhat, about the role of Vulcan in relation to these matters. Is Vulcan an etheric planet or a planet which has a dense physical body. In TCF it is listed as one of the “Dense Physical Planets” (TCF 373) |
145. Người ta có phần tự hỏi về vai trò của Vulcan trong những điều này. Vulcan là một hành tinh dĩ thái hay là một hành tinh có thể hồng trần đậm đặc? Trong TCF, Vulcan được liệt vào nhóm “Các Hành Tinh Hồng Trần Đậm Đặc” (TCF 373) |
|
and he will find that (as in the body microcosmic) there are seven (or ten), |
và y sẽ thấy rằng (như trong thân thể tiểu thiên địa) có bảy (hoặc mười), |
|
146. This alternation between seven and ten always requires interpretation. We have different ways by which we can number the energy system of man. |
146. Sự thay đổi giữa bảy và mười luôn đòi hỏi sự biện giải. Chúng ta có những cách khác nhau để đếm hệ năng lượng của con người. |
|
paramount centres |
các trung tâm tối trọng |
|
147. It is easy to number seven paramount centers, but can one number ten such? Will the higher correspondences of the human “pranic triangle” be included? Will the alta major center be included? It would seem that certain planets which we now call “non-sacred” would have to be included. |
147. Dễ đếm bảy trung tâm tối trọng, nhưng có thể đếm tới mười chăng? Liệu các đối ứng cao của “tam giác sinh khí” nơi con người sẽ được bao gồm? Liệu trung tâm alta major sẽ được bao gồm? Có vẻ một số hành tinh mà nay ta gọi là “không-thiêng liêng” sẽ phải được tính vào. |
|
but numbers of other centres for the purpose of energising various organs. |
nhưng còn nhiều trung tâm khác để tiếp sinh lực cho nhiều cơ năng. |
|
148. A book on the chakras by Malvin Artley is called “A Thousand Points of Light”. There are chakras—major, minor and minute, and perhaps miniscule. Logoi of certain kinds must necessarily inform them. |
148. Một cuốn sách về các luân xa của Malvin Artley có tên “Ngàn Điểm Sáng”. Có những luân xa—đại, tiểu và vi, và có lẽ cực vi. Tất yếu phải có những loại Thượng đế nào đó thấm nhuần chúng. |
|
So likewise the body macrocosmic has myriads of energy focal points or feeders |
Tương tự, thân thể đại thiên địa có vô số điểm-đỉnh năng lượng hay “mạch cấp” (feeders) |
|
149. “Feeders” sound like nadis. A “feeder” is an energy-stream and a point is a nexus (we might presume), for a number of feeders. |
149. “Mạch cấp” nghe như các nadi. Một “mạch cấp” là một dòng năng lượng và một điểm là một nút nối (chúng ta có thể suy đoán), cho nhiều mạch cấp. |
|
which have their place, their function, and their felt effects. |
vốn có chỗ đứng, chức năng và các hiệu ứng có thể cảm biết của chúng. |
|
150. DK us widening for us the possibility of apprehension. There is so much more to perceive than that which is thus far perceived. |
150. DK đang mở rộng cho chúng ta khả thể nắm thấu. Còn quá nhiều điều để tri giác vượt xa những gì hiện đang được tri giác. |
|
These centres, with no dense physical globe, constitute what has sometimes been called “the inner round” and transmit their force through those greater centres which have been spoken of in occult books as having a connection with the inner round. |
Những trung tâm này, không có cầu hồng trần đậm đặc, cấu thành điều đôi khi được gọi là “vòng nội” và truyền dẫn lực của chúng qua các trung tâm lớn hơn vốn đã được nói đến trong các sách huyền bí như có liên hệ với vòng nội. |
|
151. To understand the “inner round” then, we have to identify certain etheric planets (planets with no dense physical body) and determine the connection of these etheric planets with well-known planets which are connected to the etheric planets. |
151. Vậy muốn hiểu “vòng nội”, chúng ta phải nhận định các hành tinh dĩ thái (những hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc) và xác định mối nối giữa các hành tinh dĩ thái này với các hành tinh quen thuộc vốn liên hệ với chúng. |
|
152. Mercury, often associated with the “inner round” must be such a planet connected to planets which have no dense physical body. |
152. Mercury, thường gắn với “vòng nội”, hẳn là một hành tinh như vậy, liên hệ với các hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc. |
|
Each of these planetary schemes can be seen as a lotus having seven major petals, of which each chain forms one petal, but having also subsidiary petals of a secondary colour according to the nature and karma of the Entity concerned. |
Mỗi hệ thống hành tinh trong số này có thể được nhìn như một hoa sen có bảy cánh chính, trong đó mỗi Dãy tạo thành một cánh, nhưng cũng có các cánh phụ với một màu phụ tuỳ theo bản tánh và nghiệp quả của Đơn vị liên hệ. |
|
153. We could perhaps think we are dealing with the number twelve—seven plus five, just as there are seven sacred planets and five non-sacred planets, but it is highly unlikely that the various planetary lotuses all have the same number of petals (whether those petals are to be considered primary, secondary or tertiary). |
153. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ mình đang xử lý con số mười hai—bảy cộng năm, cũng như có bảy hành tinh thiêng liêng và năm hành tinh không-thiêng liêng, nhưng rất khó tin rằng các hoa sen hành tinh khác nhau đều có cùng số cánh (dẫu xét là chính, phụ hay tam cấp). |
|
154. It is interesting that the colors of the secondary petals are determined partially by the “karma” of the Entity. One would expect the color to be determined by the inner nature of the planet and not by its condition in time and space. |
154. Điều thú vị là màu sắc của các cánh phụ được quyết định một phần bởi “nghiệp quả” của Đơn vị. Người ta sẽ trông đợi màu sắc được quyết định bởi bản tánh nội tại của hành tinh chứ không phải bởi tình trạng của nó trong thời-không. |
|
155. Is only one secondary colour involved (according to the nature and karma of the Planetary Logos concerned) or do all the subsidiary petals have different colors. |
155. Chỉ có một màu phụ được tham dự (tùy theo bản tánh và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế liên hệ) hay tất cả các cánh phụ đều có những màu khác nhau? |
|
156. It seems evident from what is said that the seven major petals of each Planetary Logos are characterized by a certain color which is different to the “secondary colour” of the subsidiary petals. |
156. Dường như rõ ràng từ điều được nói rằng bảy cánh chính của mỗi Hành Tinh Thượng đế được đặc trưng bởi một màu nào đó khác với “màu phụ” của các cánh cấp hai. |
|
157. It is also possible that while there may be “seven major petals” for each Planetary Logos, that not all of them are yet unfolded or that not all of them, as yet, are manifesting as major. |
157. Cũng có thể rằng, dẫu có “bảy cánh chính” cho mỗi Hành Tinh Thượng đế, thì không phải tất cả đã khai mở hoặc không phải tất cả, hiện thời, đang biểu hiện như là chính. |
|
It is in the enumeration of these solar lotuses that occult students go astray. |
Chính trong sự liệt kê các hoa sen Thái dương này mà các đạo sinh huyền bí đi sai đường. |
|
158. By this, DK means the enumeration of the number of major and minor petals in each of these lotuses. |
158. DK muốn nói về việc liệt kê số cánh chính và phụ trong mỗi hoa sen đó. |
|
159. While the heart center of each Planetary Logos may be a twelve-petalled lotus, the planetary schemes in which this heart centers are found may be seen as a lotuses with differing numbers of petals. |
159. Dẫu trung tâm tim của mỗi Hành Tinh Thượng đế có thể là một hoa sen mười hai cánh, thì những hệ thống hành tinh nơi các trung tâm tim này được tìm thấy có thể được thấy như những hoa sen với các số cánh khác nhau. |
|
160. The following tabulation re twelve-petalled lotuses contains this hint: |
160. Bảng biểu sau về các hoa sen mười hai cánh hàm chứa gợi ý này: |
|
a. The logoic twelve-petalled egoic Lotus. Cosmic mental plane. |
a. Hoa Sen chân ngã mười hai cánh của logoic. Cõi trí-cosmic. |
|
b. The solar twelve-petalled Lotus. |
b. Hoa Sen mười hai cánh của Thái dương hệ. |
|
c. The planetary logoic Heart, also a twelve-petalled Lotus. |
c. Quả Tim logoic hành tinh, cũng là một Hoa Sen mười hai cánh. |
|
d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane. |
d. Hoa sen chân ngã mười hai cánh của con người trên cõi trí. |
|
e. The twelve-petalled heart centre in a human being. (TCF 1205) |
e. Trung tâm tim mười hai cánh trong một con người. (TCF 1205) |
|
It is, for instance, correct to say that the planetary scheme corresponding to the microcosmic base of the spine is a fourfold lotus and has, therefore, four petals. |
Ví dụ, nói rằng hệ thống hành tinh tương ứng với đáy cột sống trong tiểu thiên địa là một hoa sen tứ phân và vì vậy có bốn cánh là điều đúng. |
|
161. Is Master DK here describing the Earth which is hinted as the macrocosmic base of the spine center? |
161. Ở đây Chân sư DK có đang mô tả Địa Cầu, vốn được ám chỉ là trung tâm đáy cột sống vĩ mô, hay không? |
|
162. We are told that the microcosmic base of the spine center has four petals. |
162. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm đáy cột sống tiểu thiên địa có bốn cánh. |
|
There are four outstanding petals of a peculiar hue, but there are three of a secondary colour, and nine of a tertiary nature. (To students with intuition the hint here conveyed may reveal the name of the planet, and the nature of its evolution). [1165] |
Có bốn cánh nổi trội với một sắc thái đặc dị, nhưng có ba cánh mang màu phụ, và chín cánh thuộc bậc ba. (Đối với những đạo sinh có trực giác, gợi ý ở đây có thể tiết lộ tên hành tinh, và bản tính của tiến hóa của nó). [] |
|
163. Could the three hues relate to the three major rays of the Planetary Logos in question. |
163. Liệu ba sắc độ có liên hệ với ba cung chính của Hành Tinh Thượng đế ấy không? |
|
164. Would the hue of the “outstanding petals” related to the monadic ray, and the secondary and tertiary colors relate to the soul ray and personality ray respectively? |
164. Sắc độ của “các cánh nổi trội” có liên hệ với cung chân thần, và các màu phụ và tam cấp liên hệ tương ứng với cung linh hồn và cung phàm ngã chăng? |
|
165. The number sixteen can be related to Earth, because microcosmically the Earth can stand for the throat center (in the average person) along with Saturn (standing for the throat center in the disciple). The number of petals in the microcosmic throat center is sixteen. |
165. Con số mười sáu có thể liên hệ với Địa Cầu, vì trong tiểu thiên địa Địa Cầu có thể đứng cho trung tâm cổ họng (nơi người trung bình) cùng với Saturn (đứng cho trung tâm cổ họng nơi đệ tử). Số cánh trong trung tâm cổ họng tiểu thiên địa là mười sáu. |
|
166. However, it is clear from what has been said in this commentary that Saturn, not Earth, is the macrocosmic throat center to which the number sixteen should apply—especially if there is a parallelism to be found between the number of petals in the microcosmic and macrocosmic lotuses. |
166. Tuy vậy, rõ ràng từ những gì đã nêu trong chú giải này rằng Saturn, chứ không phải Địa Cầu, là trung tâm cổ họng vĩ mô mà con số mười sáu nên được gán—đặc biệt nếu có một sự song hành giữa số cánh trong các hoa sen tiểu thiên địa và vĩ mô. |
|
167. Perhaps a hint is given suggesting that the number of major petals in any planetary lotus will correspond to the number of petals in a paralleling microcosmic lotus, but that additional petals will be found in the macrocosmic lotus. One could, however, wonder whether there are additional subsidiary petals (not mentioned, thus far in the Teaching) which are to be found in relation to the microcosmic lotuses as well? |
167. Có lẽ một gợi ý được đưa ra rằng số cánh chính trong bất kỳ hoa sen hành tinh nào sẽ tương ứng với số cánh trong một hoa sen tiểu thiên địa song chiếu, nhưng sẽ có thêm các cánh trong hoa sen vĩ mô. Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu cũng tồn tại các cánh phụ (chưa được nhắc, cho đến nay trong Giáo huấn) được thấy liên hệ với các hoa sen tiểu thiên địa hay không? |
|
168. In this particular case, since Earth is directly related to Saturn in a number of ways, perhaps the total number of petals relate any given planetary lotus to the numbering of another (and higher?) planetary chakra to which it is closely related. |
168. Trong trường hợp đặc thù này, vì Địa Cầu liên hệ trực tiếp với Saturn theo nhiều cách, có lẽ tổng số cánh liên hệ một hoa sen hành tinh bất kỳ với cách đếm của một luân xa hành tinh khác (và cao hơn?) mà nó gắn kết mật thiết. |
|
169. If for instance, Mercury can be thought to stand for the solar logoic ajna center, and Uranus for the solar logoic head center, we can see how the number 96 relates to both. The microcosmic ajna center has 96 (plus two great petals) petals and the microcosmic head center has 960 petals (plus twelve greater petals—ruled probably by Neptune and not by Uranus). |
169. Nếu chẳng hạn, Mercury có thể được xem là đứng cho trung tâm ajna của Thái dương Thượng đế, và Uranus cho trung tâm đầu của Thái dương Thượng đế, ta có thể thấy con số 96 liên hệ đến cả hai. Trung tâm ajna tiểu thiên địa có 96 cánh (cộng hai đại cánh) và trung tâm đầu tiểu thiên địa có 960 cánh (cộng mười hai đại cánh—có lẽ do Neptune chi phối chứ không phải Uranus). |
|
170. VSK enters here with some speculations on the colors involved: |
170. VSK chen vào đây với vài suy đoán về các màu liên hệ: |
|
a. This could be blue-green, this may be the sacred blue (as a combination of ray two and ray three (blue and green), and shows up in the Earth as four petals. |
a. Điều này có thể là xanh lục-xanh lam, có thể là xanh thiêng (như sự phối hiệp của cung hai và cung ba (xanh lam và xanh lục), và hiện ra trên Địa Cầu như bốn cánh. |
|
b. Or in higher turn, a relation to Saturn, as sixteen suggests relation to the throat centre. Silvery blue? If cyan, the aqua of the ball of earth, be suggested, whichever: cyan is the true opposite (optically) of red (complement, i.e., in the secondary trinity of light, with yellow and magenta-violet). Cyan is a result of red and blue light combined. |
b. Hoặc ở cung độ cao hơn, một liên hệ với Saturn, vì mười sáu gợi liên hệ với trung tâm cổ họng. Xanh lam ánh bạc? Nếu là lục lam, thứ xanh nước của quả địa cầu, thì dù thế nào: lục lam là đối bổ (về quang học) thực sự của đỏ (màu bổ sung, tức là, trong tam nguyên thứ cấp của ánh sáng, với vàng và tím-đỏ cánh sen). Lục lam là kết quả của ánh sáng đỏ và xanh lam kết hợp. |
|
c. Note that cyan is the result of stimulation of red light on light-sensitive medium? The ‘negative’ of a silver oxide, or photographic film.) |
c. Lưu ý rằng lục lam là kết quả của sự kích thích ánh sáng đỏ trên môi chất nhạy sáng? “Bản âm” của ôxít bạc, hay phim ảnh.) |
|
d. In an order of counting from the colours of light, the primaries are red, blue, green, for 1, 2, and 3. The secondaries produced by red plus green plus blue are, violet-magenta (red plus blue), cyan (blue plus green), and yellow (red plus green). |
d. Trong một trật tự đếm từ các màu của ánh sáng, các sơ cấp là đỏ, xanh lam, xanh lục, cho 1, 2 và 3. Các thứ cấp được tạo bởi đỏ cộng xanh lục cộng xanh lam là, tím-đỏ cánh sen (đỏ cộng xanh lam), lục lam (xanh lam cộng xanh lục), và vàng (đỏ cộng xanh lục). |
|
e. The seventh is the synthesis, which, in light, is white. Synthesis of all pigments of matter (red plus blue plus yellow), is (dirty) black, with the inability to absorb (or reject) light (white) by a material. |
e. Thứ bảy là tổng hợp, mà, trong ánh sáng, là trắng. Tổng hợp của tất cả các sắc tố vật chất (đỏ cộng xanh lam cộng vàng) là (đen) đục, với sự bất năng hấp thu (hay loại bỏ) ánh sáng (trắng) bởi vật chất. |
|
Each of these solar lotuses, or planetary schemes, |
Mỗi hoa sen Thái dương, hay hệ thống hành tinh, trong số này, |
|
171. A planetary scheme is a solar lotus. It is good to understand the various ways of describing the same thing. |
171. Một hệ thống hành tinh là một hoa sen Thái dương. Thật tốt khi hiểu các cách khác nhau để mô tả cùng một thực tại. |
|
unfolds in three great stages of activity, in each one of which one of the three types of energy dominates. |
khai mở trong ba giai đoạn hoạt động lớn, trong mỗi giai đoạn, một trong ba loại năng lượng chiếm ưu thế. |
|
172. A hint is here given that there will be secondary and tertiary colors found in each solar lotus and that at different stages of unfoldment, different colors in the lotus will stand forth. |
172. Ở đây có gợi ý rằng sẽ có các màu thứ cấp và tam cấp được tìm thấy trong mỗi hoa sen Thái dương và rằng ở những giai đoạn khai mở khác nhau, các màu khác nhau trong hoa sen sẽ nổi bật. |
|
173. Is it possible that these secondary and tertiary colors correspond to the two ‘other’ rays of the Planetary Logos in question?> |
173. Có thể chăng các màu thứ cấp và tam cấp này tương ứng với hai ‘cung’ còn lại của Hành Tinh Thượng đế liên can?> |
|
174. We know (from writing in a later book, Esoteric Astrology) that three major rays of the Earth are the first, second and third, corresponding roughly to red, blue and green. Is it reasonable to think that the colors of the major petals correspond to the monadic ray, with the other two colors corresponding to the soul and personality rays? |
174. Chúng ta biết (từ những trước tác ở một tác phẩm sau này, Chiêm Tinh Học Nội Môn) rằng ba cung chính của Địa Cầu là cung một, hai và ba, tương ứng xấp xỉ với đỏ, xanh lam và xanh lục. Có hợp lý không khi nghĩ rằng các màu của những cánh chính tương ứng với cung chân thần, còn hai màu kia tương ứng với cung linh hồn và cung phàm ngã? |
|
175. We can see how a planet could play three different roles in a solar system, depending upon the color which it was most vibrantly demonstrating at a particular time. |
175. Chúng ta có thể thấy một hành tinh đóng ba vai trò khác nhau trong một Thái Dương Hệ, tùy theo màu nào nó đang biểu hiện sinh động nhất tại một thời điểm nào đó. |
|
176. Earth, for instance, is most powerfully demonstrating the third ray—the ray of its personality. Does it presently have a function which is more of third ray nature than of a second or first ray nature? |
176. Địa Cầu, chẳng hạn, đang biểu hiện mạnh nhất cung ba—cung của phàm ngã nó. Hiện nay nó có một chức năng thiên về cung ba hơn là về cung hai hay cung một hay không? |
|
177. Eventually, perhaps in the next solar system, but perhaps slightly before, the Earth will begin responding to its monadic ray, which is now occultly “non-effective” (EA 363). Does this mean that, at that time, the color red will be the primary color demonstration of this planet? |
177. Rốt cuộc, có lẽ trong hệ mặt trời sau, nhưng có thể hơi sớm hơn, Địa Cầu sẽ bắt đầu đáp ứng với cung chân thần của mình, hiện đang huyền bí “bất hiệu lực” (EA 363). Điều này có nghĩa, khi ấy, màu đỏ sẽ là biểu hiện màu chủ của hành tinh này chăng? |
|
178. We are dealing with the mystery of mutability or relativity of planetary function in time and space. |
178. Chúng ta đang xử lý huyền bí của tính biến dịch hay tính tương đối của chức năng hành tinh trong thời-không. |
|
As the unfolding proceeds, the vibratory activity increases, and the appearance of the manifesting activity changes. |
Khi sự khai mở tiến hành, hoạt động rung động gia tăng, và diện mạo của hoạt động hiện lộ thay đổi. |
|
179. Due to increase of vibration, any sphere of expression alters its appearance. Does it also alter its function within the whole of which it is a part? |
179. Do sự tăng rung động, bất kỳ cảnh vực biểu hiện nào cũng đổi thay diện mạo. Liệu nó cũng đổi thay chức năng của mình trong toàn cuộc mà nó là một phần hay chăng? |
|
a. The motion of the lotus or wheel for a long time is simply that of a slow revolution. |
a. Chuyển động của hoa sen hay bánh xe trong một thời gian dài chỉ đơn giản là một sự quay chậm. |
|
180. This is certainly so for the microcosmic chakras. They are relatively quiescent, saucer-like depressions which pulsate and which rotate very slowly. |
180. Điều này chắc chắn đúng đối với các luân xa trong tiểu thiên địa. Chúng tương đối tĩnh lặng, như những hõm đĩa, có sự đập nhịp và xoay rất chậm. |
|
181. Macrocosmically, do we have any planetary schemes which are presently in this condition? If so, how would we identify them? |
181. Xét theo phương diện Đại thiên địa, liệu chúng ta có những hệ hành tinh hiện đang ở trong tình trạng này không? Nếu có, chúng ta sẽ nhận diện chúng như thế nào? |
|
b. Later, for a still vaster period, each petal revolves within the greater whole, and at an angle different to that of the whole revolution. |
b. Về sau, trong một chu kỳ còn mênh mông hơn, mỗi cánh hoa tự quay trong toàn thể lớn hơn, và ở một góc khác với góc của toàn bộ sự quay. |
|
182. Analogically, it seems that petals could almost have their own ‘orbits’ around the center of the lotus. |
182. Theo lối suy tỷ, có vẻ như các cánh hoa gần như có thể có “quỹ đạo” riêng của chúng quanh trung tâm của hoa sen. |
|
183. It is interesting that this second phase last even longer than the first. In the unfoldment of the egoic lotus, the first phase of unfoldment (that of the first circle of petals) is by far the longest. |
183. Điều thú vị là giai đoạn thứ hai này còn kéo dài lâu hơn cả giai đoạn thứ nhất. Trong quá trình khai mở của Hoa Sen Chân Ngã, giai đoạn khai mở thứ nhất (tức vòng cánh hoa thứ nhất) dài hơn rất nhiều. |
|
184. We can say that “revolution” is a type of movement corresponding to the second ray, and rotation to the third. |
184. Chúng ta có thể nói “revolution” là một kiểu chuyển động tương ứng với cung hai, còn rotation tương ứng với cung ba. |
|
185. When we consider this “angle different to that of the whole revolution”, we may wish to remember that planes rotate from east to west and rays from north to south. Are we dealing with the formation of the cross? |
185. Khi chúng ta cân nhắc “một góc khác với góc của sự quay toàn thể”, chúng ta có thể muốn nhớ rằng các cõi quay từ đông sang tây còn các cung từ bắc xuống nam. Có phải chúng ta đang đề cập đến sự hình thành của thập giá? |
|
c. Finally, these two activities are increased by the appearance of a form of energy which, originating from the centre, pulsates so powerfully that it produces what look to be streams of energy passing backwards and forwards from the centre to the periphery. |
c. Sau cùng, hai hoạt động này được tăng cường bởi sự xuất hiện của một hình thức năng lượng, vốn khởi phát từ trung tâm, đập nhịp mạnh đến mức tạo ra những cái trông như các dòng năng lượng đi qua lại từ trung tâm đến chu vi. |
|
186. This type activity is more of a pulsation and corresponds to the first ray. We have the appearance of that which goes ‘out’ and then ‘returns’. The first ray impulses an entity along the path of its ‘journey’ and then draws it back |
186. Loại hoạt động này mang tính đập nhịp nhiều hơn và tương ứng với cung một. Chúng ta thấy xuất hiện hiện tượng cái gì đó “đi ra” rồi “trở về”. Cung một xung động một chủ thể dọc theo con đường “lữ hành” của nó rồi hút nó trở lại. |
|
187. The following quotation will have its relevance in this context: |
187. Trích dẫn sau đây sẽ có liên quan trong bối cảnh này: |
|
188. |
188. |
|
“The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego.” (TCF 1118-1119) |
“Viên Ngọc tự nó tĩnh tại theo nghĩa huyền bí, và không lưu hành. Nó là một điểm bình an; nó đập nhịp nhàng như tim của người, và từ đó chiếu ra tám dòng lửa sống động vươn tới đầu các bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân này là atma-buddhi. Chính sự chiếu ra sau cùng này tạo nên sự tan rã rốt cuộc của thể nguyên nhân.” (TCF 1118-1119) |
|
d. When these three are working in unison, the effect is wonderful in the extreme, and impossible for the eye to follow, the mind of man to conceive, or the pen to express in words. |
d. Khi cả ba hoạt động này vận hành hoà đồng, hiệu quả đạt đến mức diệu kỳ tột bậc, và con mắt không thể theo, thể trí con người không thể lĩnh hội, hay ngòi bút không thể diễn đạt bằng lời. |
|
189. DK seems to be speaking of the consummation of any lotus, including the egoic lotus at the fourth initiation. |
189. Có vẻ Chân sư DK đang nói về sự viên mãn của bất kỳ hoa sen nào, kể cả Hoa Sen Chân Ngã ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
It is this stage, macrocosmic and microcosmic, which constitutes the different grades of alignment, for it must never be forgotten by students that all that manifests is a sphere, |
Chính giai đoạn này, xét cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa, cấu thành các cấp độ khác nhau của sự chỉnh hợp, vì các môn sinh không bao giờ được quên rằng mọi cái biểu lộ đều là một cầu thể, |
|
190. All forms of manifestation are essentially spherical. This has to do with the inner forms. Perhaps, eventually, the outer form, too, will take on a spherical appearance—even the appearance of man. |
190. Mọi hình tướng biểu lộ về bản chất là hình cầu. Điều này liên quan đến các hình tướng nội tại. Có lẽ, rốt cuộc, hình tướng ngoại tại cũng sẽ mang dáng hình cầu—ngay cả hình dáng của con người. |
|
191. The consummatory phase is a spherical phase. |
191. Giai đoạn viên mãn là một giai đoạn hình cầu. |
|
and alignment really consists in unimpeded communication between the heart of the sphere and the periphery or the bound of the influence of the dynamic will and the centre. |
và chỉnh hợp thật sự hệ ở sự thông giao không bị ngăn trở giữa trái tim của cầu thể và chu vi, hoặc ranh giới ảnh hưởng của ý chí năng động và trung tâm. |
|
192. This is a most important definition of alignment, and transfers our thought towards the dynamic of “in and out” rather than “up and down”. |
192. Đây là một định nghĩa cực kỳ quan trọng về chỉnh hợp, và chuyển hướng tư duy của chúng ta về động lực “vào và ra” hơn là “lên và xuống”. |
|
193. “Up and down” and “in and out” are really arbitrary descriptions of the increase and decrease of vibration, however there is seemingly more occult reality in “in and out” than in “up and down”. For example, we are told that “the Kingdom of God is within ”. We are not told (esoterically), as so many believers seem to believe, that the ‘Kingdom of God is above ”. |
193. “Lên và xuống” và “vào và ra” thực ra là những mô tả ước lệ về sự tăng và giảm của rung động, tuy nhiên dường như “vào và ra” có thực tại huyền bí hơn “lên và xuống”. Ví dụ, người ta nói rằng “Thiên Giới ở bên trong ”. Người ta không nói (một cách nội môn), như rất nhiều tín đồ dường tin, rằng ‘Thiên Giới ở bên trên ’. |
|
Within each planetary scheme, are found the seven chains which are the seven planetary centres, |
Trong mỗi hệ hành tinh, có bảy Dãy, vốn là bảy trung tâm của hệ hành tinh, |
|
194. This corresponds to the seven major planetary schemes which serve as the seven major chakras in the energy system of the Solar Logos. |
194. Điều này tương ứng với bảy hệ hành tinh chính, vốn làm bảy luân xa chính trong hệ năng lượng của Thái dương Thượng đế. |
|
and again within the chain are the seven globes which are the chain centres, |
và rồi trong mỗi Dãy có bảy bầu hành tinh, vốn là các trung tâm của Dãy, |
|
195. The septenates continue to descend (and ascend). |
195. Các bộ bảy tiếp tục hạ giáng (và thăng thượng). |
|
but students would do well not to study the globes from the point of view of centres until their knowledge of the mystery underlying dense physical substance is greater, or they will be led into error. |
nhưng các môn sinh sẽ làm tốt nếu chưa vội nghiên cứu các bầu hành tinh từ quan điểm trung tâm cho đến khi hiểu biết của họ về huyền nhiệm nằm dưới chất đậm đặc hồng trần được nhiều hơn, nếu không họ sẽ bị dẫn đến sai lầm. |
|
196. Master DK did not say not to study the chains from the point of view of centres. |
196. Chân sư DK không hề nói không nên nghiên cứu các Dãy từ quan điểm trung tâm. |
|
197. The study of globes must include a solution to the question of whether globes are mono-dimensional or multidimensional. Chains are obviously multidimensional. I also think that the best solution to discover the true nature of a globe is to consider it multi-dimensional as well. |
197. Nghiên cứu các bầu hành tinh phải bao gồm việc giải quyết câu hỏi liệu các bầu là đơn chiều hay đa chiều. Các Dãy hiển nhiên là đa chiều. Tôi cũng nghĩ rằng giải pháp tốt nhất để khám phá bản tính chân thật của một bầu là cũng xem nó là đa chiều. |
|
198. This will mean, in very practical terms, that the Earth-globe of the Earth-chain of the Earth-scheme is not made simply of dense physical matter as some theosophical books may seem to suggest. |
198. Điều này có nghĩa, theo nghĩa rất thực tiễn, rằng bầu Địa Cầu của Dãy Địa Cầu thuộc Hệ hành tinh Địa Cầu không được cấu thành đơn thuần bởi chất đậm đặc hồng trần như một số sách Thông Thiên Học có vẻ gợi ý. |
|
The lower down one seeks to carry the correspondence, the more the likelihood of error. The correspondence must lie in quality and in principle expressed, but not in form. [1166] |
Càng cố hạ thấp sự tương ứng xuống dưới, khả năng sai lầm càng lớn. Sự tương ứng phải nằm ở phẩm tính và ở nguyên khí được biểu lộ, chứ không phải ở hình tướng. [1166] |
|
199. This is a general principle concerning the way to pursue an understanding of correspondences. It would be well for us not to force analogies or correspondences in detail. Similarity lies in general structure and quality, but the uniqueness of each E/entity demands diversification and, thus, deviation from the hypothesized correspondence. |
199. Đây là một nguyên tắc chung về cách theo đuổi sự thấu hiểu các tương ứng. Sẽ tốt nếu chúng ta không gượng ép các tương đồng hay tương ứng chi li. Sự giống nhau nằm ở cấu trúc tổng quát và phẩm tính, nhưng tính độc nhất của mỗi Hiện hữu đòi hỏi sự đa dạng và, vì vậy, có chỗ lệch khỏi sự tương ứng giả định. |