Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S12 Part I (TCF 1185-1188)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S12 Part I (TCF 1185-1188)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Gợi ý nên đọc kèm với TCF sẵn bên cạnh, để đảm bảo tính liên tục. Khi phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn. Vì vậy, xin vui lòng đọc trọn một đoạn rồi mới học phần Bình giảng

II. THE EFFECTS OF THE LAW OF ATTRACTION [1185]

II. CÁC HIỆU ỨNG CỦA Định luật HẤP DẪN

The Law of Attraction produces certain effects which it might profit us to touch upon here, provided we remember that only a few effects out of many possible are being considered.

Định luật Hấp Dẫn sinh ra một số hiệu ứng mà có thể hữu ích cho chúng ta đề cập đến ở đây, miễn là chúng ta nhớ rằng chỉ một vài hiệu ứng trong số nhiều khả hữu đang được xem xét.

1. Master DK intends to touch lightly on the subject, but that touch will surely give us more than enough to ponder.

1. Chân sư DK định chỉ chạm nhẹ vào đề tài, nhưng cú chạm ấy hẳn sẽ cho chúng ta dư dả điều để suy ngẫm.

2. We must always be wary if we think that DK has said all that might be said on a subject. For instance, on the types of second ray souls—He describes three types but adds, “there are naturally numerous exceptions”.

2. Chúng ta luôn phải thận trọng nếu nghĩ rằng DK đã nói hết những gì có thể nói về một chủ đề. Chẳng hạn, về các loại linh hồn cung hai—Ngài mô tả ba loại nhưng thêm rằng, “tự nhiên có vô số ngoại lệ”.

1. Association.

1. Sự kết liên.

The first effect might be called association.  Under this law the karmic Lords are enabled to bring together those lives (human, subhuman, and superhuman) which have earlier been associated, and have, therefore, somewhat to work out.

Hiệu ứng đầu tiên có thể gọi là sự kết liên. Dưới định luật này, các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả có thể đem lại sự tương hội cho những sự sống (nhân loại, phi nhân loại, và siêu nhân loại) đã từng kết liên trước kia, và do đó, còn điều gì đó để cùng nhau hóa giải.

3. This thought leads us to the conclusion that there are many human beings with whom we have never been personally associated and that the human beings with whom we are now associated are likely to be those with whom we have been associated many times before.

3. Ý nghĩ này dẫn chúng ta đến kết luận rằng có nhiều con người mà chúng ta chưa từng kết liên trực tiếp, và những con người mà hiện nay ta đang kết liên có khả năng là những người mà ta đã từng kết liên nhiều lần trước đây.

The seven Heavenly Men, for instance, are a few out of the great band of associated Lives who have chosen to come into incar­nation in this kalpa for purposes of mutual help and mutual cor­rect­ion.

Bảy Đấng Thiên Nhân, chẳng hạn, là một vài vị trong đại đoàn các Sự sống kết liên đã chọn đi vào lâm phàm trong kiếp kalpa này vì mục đích tương trợ và sửa chữa lẫn nhau.

4. The Planetary Logoi Who comprise this solar system are of long association. This suggests that throughout our galaxy there are many Heavenly Men.

4. Các Hành Tinh Thượng đế cấu thành Thái dương hệ này đã có liên hệ lâu dài. Điều này gợi rằng khắp thiên hà có nhiều Đấng Thiên Nhân.

5. It is interesting to read of their purpose for association: “mutual help and mutual correction”. They all have somewhat to learn from each other and each is helped by the other in his or her next step ahead.

5. Thật thú vị khi đọc về mục đích kết liên của các Ngài: “tương trợ và sửa chữa lẫn nhau”. Các Ngài đều có điều gì đó để học nơi nhau và mỗi vị được vị kia giúp đỡ trong bước tiến kế tiếp của mình.

6. When we think of those individuals with whom we are closely and inevitably associated, do we find the ways in which our mutual interaction is for “mutual help and mutual correction”?

6. Khi nghĩ về những cá nhân mà chúng ta gắn bó mật thiết và tất yếu, liệu chúng ta có tìm ra cách mà sự tương tác đôi bên là để “tương trợ và sửa chữa lẫn nhau” không?

They are really destined to work together, but never­the­less on other cosmic planes have points of contact unknown to us.

Các Ngài thật sự được an bài để cùng làm việc, nhưng tuy vậy trên các cõi vũ trụ khác lại có những điểm tiếp xúc mà chúng ta không hay biết.

7. DK seems to be speaking of the psychological interaction of the Heavenly Men on the cosmic astral and cosmic mental plane.

7. DK dường như đang nói về sự tương giao tâm lý của các Đấng Thiên Nhân trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

Under this attractive pull the informing existences of the various kingdoms of nature are engaged in mutual interaction,

Dưới sức kéo hấp dẫn này, các Sự sống chủ linh của các giới khác nhau trong tự nhiên cùng dấn thân vào sự tương tác lẫn nhau,

8. The same idea seems true of any members within one of Nature’s wholes—kingdoms, Hierarchies, and various other structural groupings.

8. Ý niệm tương tự dường như đúng với bất kỳ thành viên nào trong một toàn thể của Tự nhiên—các giới, các Huyền giai, và nhiều cấu trúc nhóm khác.

and thus swing into lesser but similar activity all the lives of these various bodies of manifestation. 

và bằng thế, làm cho tất cả sự sống trong các thân thể biểu lộ khác nhau này cũng xoay chuyển vào hoạt động tương tự nhưng nhỏ hơn.

9. For instance, it seems that the informing life of the human kingdom and of the animal kingdom are long associated.

9. Chẳng hạn, dường như Sự sống chủ linh của giới nhân loại và của giới động vật đã kết liên từ lâu.

These lines of attraction are veiled in mystery, and all that it is possible to indicate is the karma of the Lord of the second or vegetable kingdom with the Lord of the fifth kingdom, and a close line of linking energy between the Lord of the mineral kingdom and the human. 

Những đường hấp dẫn này vẫn bị che phủ trong huyền bí, và tất cả những gì có thể chỉ ra là nghiệp của Chúa Tể giới hai hay giới thực vật với Chúa Tể giới thứ năm, và một đường liên kết năng lượng mật thiết giữa Chúa Tể giới kim thạch và giới nhân loại.

10. In the relation between the Lords of the second and fifth kingdoms, we can see the influence of Venus.

10. Trong mối liên hệ giữa Chúa Tể giới hai và giới năm, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của Kim Tinh.

11. In the relation between the Lords of the mineral kingdom and the human, the role of Vulcan stands out. The structure we know as the “stone” is prominent in each—in the first, literally, and in the second, metaphysically.

11. Trong mối liên hệ giữa Chúa Tể giới kim thạch và nhân loại, vai trò của Vulcan nổi bật. Cấu trúc mà ta gọi là “đá” hiện diện nổi trội trong cả hai—ở giới thứ nhất thì theo nghĩa đen, còn ở giới thứ hai thì theo nghĩa ẩn dụ.

These points are only for reference to our own planetary scheme.

Những điểm này chỉ để tham chiếu cho riêng hệ hành tinh của chúng ta.

12. The kingdoms of nature as they express on other planetary schemes may be different, and differently related.

12. Các giới của tự nhiên như chúng biểu lộ trên những hệ hành tinh khác có thể khác, và liên hệ khác.

The Lord of the Moon chain and the Lord of our present animal kingdom are “blood brothers”

Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể của giới thú vật hiện tại là “huynh đệ huyết thống”

13. Presumably the Lord of a Chain is of much higher status than the Lord of a Kingdom.

13. Suy ra Chúa Tể của một Dãy có địa vị cao hơn nhiều so với Chúa Tể của một Giới.

14. One wonders about the present ‘location’ and activities of the Lord of the Moon chain. We know that the animal kingdom certainly exists. And notice the word, “are”, is in the present tense, telling us that the Lord of the Moon-chain is still very much with us. Has He been absorbed in some way into the Earth-chain? Is our Earth-chain supervised by two such Lords?

14. Người ta tự hỏi về ‘vị trí’ và hoạt động hiện nay của Chúa Tể Dãy Mặt Trăng. Chúng ta biết rằng giới thú vật chắc chắn hiện hữu. Và lưu ý từ “là” ở thì hiện tại, cho thấy Chúa Tể Dãy Mặt Trăng vẫn còn rất gắn bó với chúng ta. Phải chăng Ngài đã được thâu nhiếp theo cách nào đó vào Dãy Địa Cầu? Dãy Địa Cầu của chúng ta có do hai vị như thế chủ trì chăng?

15. There is a mystery of “blood” in their relationship. Mars is one of the planets which rules the blood and there is a close connection between the Moon and Mars through the lunar lords.

15. Có một huyền bí về “huyết thống” trong mối liên hệ của các Ngài. Hỏa Tinh là một trong những hành tinh cai quản huyết mạch và có mối liên hệ gần giữa Mặt Trăng và Hỏa Tinh qua các nguyệt tinh quân.

and in their relationship and the esoteric interference of the “Man of Men” (the human family personified) is hidden the mystery of present animal karma and the slaughter of animal forms, the terror of wild beasts and the work of vivisectionists.

và trong mối liên hệ của các Ngài cùng với sự can thiệp nội môn của “Con Người của Nhân Loại” (gia đình nhân loại được nhân cách hoá) ẩn tàng bí nhiệm của nghiệp thú vật hiện tại và sự sát hại các hình thể thú vật, nỗi khiếp sợ của thú dữ và công việc của những người mổ xẻ động vật sống.

16. We are being told of the origins of matters which are still deeply troubling upon our planet.

16. Chúng ta đang được nói về nguồn cội của những điều đến nay vẫn còn gây khốn khó sâu xa trên hành tinh chúng ta.

17. The human kingdom has somehow interfered esoterically with the relationship between the Lord of the Moon-chain and the Lord of the animal kingdom and this has led to the great sacrifice of the animal form. The animal forms of human beings (for they are animal forms) were constantly attacked by animals in olden days, we are told, and this has figured into the development of the kind of retributive karma, discussed above.

17. Giới nhân loại đã can dự một cách huyền vi vào mối liên hệ giữa Chúa Tể Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể giới thú vật và điều này dẫn đến sự hy sinh lớn lao của hình thể thú vật. Các hình thể thú của con người (vì chúng là hình thể thú) đã liên tục bị thú vật tấn công trong thời xưa, như chúng ta được cho biết, và điều này góp phần vào sự phát triển của loại nghiệp báo mang tính báo ứng vừa bàn.

18. The phrase “Man of Men” to personify the nature of the human kingdom is interesting and unusual. We are being led into the mystery of two kingdoms sharing forms which are similar in many ways.

18. Cụm từ “Con Người của Nhân Loại” dùng để nhân cách hoá bản chất của giới nhân loại thật thú vị và ít gặp. Chúng ta đang được dẫn dắt vào huyền bí của hai giới sử dụng những hình thể tương tự nhau ở nhiều phương diện.

Under this Law,

Dưới Định luật này,

19. The Law of Association…

19. Định luật Kết Liên…

too, is found “the Path” upon which [Page 1186] men lift themselves out of the human state of consciousness into the divine, but on this there is no need to enlarge.

cũng tìm thấy “Thánh Đạo” mà trên đó [Page 1186] con người nâng mình ra khỏi trạng thái tâm thức nhân loại vào tâm thức thiêng liêng, nhưng về điều này không cần mở rộng thêm.

20. It seems that when and as we fulfill karma with those with whom we have been long associated, we are led into an association with those who are already treading the Path. These individuals, too, are those with whom we have been long associated, but all along (given the normal progression) they have been ‘ahead of us’ in their degree of evolutionary unfoldment.

20. Có vẻ khi và bao lâu chúng ta hoàn tất nghiệp với những người đã kết liên lâu dài, chúng ta sẽ được dẫn vào kết liên với những ai đã đang bước trên Thánh Đạo. Những người này, cũng vậy, là những ai ta đã kết liên từ lâu, nhưng suốt thời gian (theo tiến trình bình thường) họ ‘đi trước chúng ta’ trong mức độ khai mở tiến hoá.

2. Form Building.

2..

21. This is another subsidiary law related to the Law of Attraction.

21. Đây là một định luật phụ khác liên hệ với Định luật Hấp Dẫn.

The second effect is form building.  Upon this we will not enlarge at any length, as all that it is at present possible to impart anent this subject has already been given in this Treatise, and other works of a similar nature.

Hiệu ứng thứ hai là xây hình tướng. Về điều này chúng ta sẽ không triển khai dài, vì tất cả những gì hiện tại có thể truyền đạt liên can đến chủ đề này đã được ban trong Luận này, và các trước tác khác có tính chất tương tự.

22. Much has been given in A Treatise on Cosmic Fire and later was given in A Treatise on White Magic. If we examine the Tibetan’s later writings, we shall see how pervasive this type of information is.

22. Rất nhiều đã được ban trong Luận về Lửa Vũ Trụ và về sau trong Luận về Chánh Thuật. Nếu khảo sát các trước tác muộn hơn của Chân sư Tây Tạng, chúng ta sẽ thấy thông tin loại này phổ biến như thế nào.

It is the middle, or second aspect which is ever responsible for the construction of a form around a central nucleus.

Chính Phương diện giữa, hay Phương diện thứ hai, luôn chịu trách nhiệm kiến tạo một hình tướng quanh một hạch tâm trung ương.

23. The first aspect sustains all with power, but the second aspect builds.

23. Phương diện thứ nhất nâng đỡ mọi sự bằng quyền năng, nhưng Phương diện thứ hai xây dựng.

Students would find it useful to study and meditate upon the appended tabulation of energy streams and their objectivising through mutual interplay.

Các môn sinh sẽ thấy hữu ích khi học và tham thiền về bảng liệt kê kèm theo các dòng năng lượng và sự khách quan hoá của chúng qua tương tác lẫn nhau.

24. This tabulation is on the next several pages.

24. Bảng này nằm ở các trang kế tiếp.

25. The principle to grasp is that energy-streams are objectivized through mutual interplay. We say an example of this in the way that chakras and other types of centers (such as the third eye) were objectivized by the interplay of three energy-streams.

25. Nguyên lý cần nắm là các dòng năng lượng được khách quan hoá qua sự tương tác lẫn nhau. Chúng ta đã thấy một ví dụ về điều này trong cách các luân xa và các loại trung tâm khác (như con mắt thứ ba) được khách quan hoá bởi sự tương tác của ba dòng năng lượng.

As time goes on, science will become aware of the basic nature and fundamental accuracy of the method whereby every form can be divided into its three aspects, and viewed as an Entity ener­gised by three types of force, emanating from various points extraneous to the form under consideration.

Theo thời gian, khoa học sẽ nhận biết bản tính căn bản và độ chính xác nền tảng của phương pháp theo đó mọi hình tướng có thể được phân thành ba phương diện, và được nhìn như một Thực thể được tiếp năng lực bởi ba loại mãnh lực, phát xuất từ các điểm khác ở bên ngoài hình tướng đang xét.

26. We have just been studying this process in relation to our Solar Logos and solar system, energized by three sources extraneous to our solar system—the Great Bear, the Pleiades and Sirius.

26. Chúng ta vừa nghiên cứu tiến trình này liên hệ với Thái dương Thượng đế và Thái dương hệ, được tiếp năng lực bởi ba nguồn ở ngoài Thái dương hệ—Đại Hùng, Pleiades và Sirius.

27. The threefold nature of all form is naturally assumed by all of us (if we have studied the Tibetan with any degree of persistence) and yet it is not generally recognized by most human beings when they consider the nature of form.

27. Bản tính tam phân của mọi hình tướng dĩ nhiên là điều hiển nhiên đối với tất cả chúng ta (nếu chúng ta đã học Chân sư Tây Tạng với một mức kiên trì nào đó), vậy mà nó không được đa số con người thừa nhận khi họ suy xét bản tính của hình tướng.

28. Man as a personality is mind, emotions and body and, likewise, three sources extraneous to the man himself have provided these three aspects of his lower nature. The same is true of man’s threefold physical body, etc.

28. Con người như một phàm ngã là trí, cảm xúc và thân xác và, tương tự, ba nguồn ở ngoài chính con người đã cung ứng ba phương diện này của bản chất thấp của y. Điều tương tự đúng với thân thể hồng trần tam phân của con người, v.v.

It can be considered also as expressing in some way or another, in its various parts, force or energy originating in the three forces of manifestation, Brahma, Vishnu and Shiva.

Nó cũng có thể được xem là biểu hiện theo cách này hay cách khác, trong các bộ phận của nó, mãnh lực hay năng lượng khởi nguyên từ ba lực của biểu lộ: Brahma, Vishnu và Shiva.

29. This is the great Triplicity (in our solar system) lying behind the threefold division of each form.

29. Đây là Đại Tam vị (trong Thái dương hệ chúng ta) đứng đằng sau sự phân ba của mỗi hình tướng.

30. As we ascend the “Ladder of Evolution” we shall find Entities Who represent Brahma, Vishnu and Shiva on various higher planes and within various higher dimensions.

30. Khi leo lên “Chiếc Thang Tiến Hoá”, chúng ta sẽ gặp những Thực thể đại diện cho Brahma, Vishnu và Shiva trên các cõi cao hơn và trong những chiều kích cao hơn.

Where this is the case and the premise admitted, the entire outlook on life, on nature, medicine and science and on methods of construction or destruction will be changed.

Khi đó là như vậy và tiền đề ấy được chấp nhận, toàn bộ quan niệm về đời sống, về thiên nhiên, y học và khoa học, cũng như về phương pháp kiến tạo hay huỷ hoại sẽ được thay đổi.

31. Such a simple realization will change so much about the way humanity lives its life.

31. Một sự nhận biết giản dị như thế sẽ đổi thay rất nhiều về cách nhân loại sống đời mình.

Things will be viewed as essential triplicities,

Vạn sự sẽ được nhìn như các tam phân bản chất,

32. This is shown in how Tabulation VII below is constructed.

32. Điều này hiển hiện trong cách cấu trúc “Bảng VII” dưới đây.

men will be regarded as a combination of energy units, and work with things and with men from the form aspect will be revolutionised.

con người sẽ được xem như một tổng hợp của các đơn vị năng lượng, và công việc với sự vật và với con người từ phương diện hình tướng sẽ được cách mạng hoá.

33. A great simplification of perception is on its way and with it the possibility of bringing greater balance to human living. The triangle is the symbol of balance.

33. Một sự giản đơn hoá lớn trong tri kiến đang đến và với nó là khả năng đem lại quân bình lớn hơn cho đời sống con người. Tam giác là biểu tượng của quân bình.

34. Five great orders of life are described in the tabulation below. These are the types of lives with which we have been dealing throughout this book.

34. Năm cấp độ sự sống vĩ đại được mô tả trong bảng dưới. Đây là các loại Sự sống mà chúng ta đã xử lý suốt cuốn sách này.

It has been necessary to somewhat alter the spacing of Tabulation VII so that comment may be interleaved.

Do cần chèn lời bình, nên khoảng cách trình bày của “Bảng VII” được điều chỉnh đôi chút.

35. I would recommend that you study what is said below with the original form of Tabulation VII before your eyes so that the comparisons discussed can be easily seen.

35. Tôi khuyến nghị bạn học những điều được nói dưới đây với hình thức nguyên bản của “Bảng VII” ngay trước mắt, để những đối chiếu được bàn có thể dễ dàng thấy rõ.

[Page 1187]                                

[Page 1187]

TABULATION VII  [Reconstituted by VSK]

BẢNG BIỂU VII [Do VSK tái lập]

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-01.jpg

36. We notice that the first three categories correspond to the first three aspects of divinity in the following order: first, third, second.

36. Chúng ta nhận thấy ba hạng mục đầu tiên tương ứng với ba Phương diện đầu của Thần tính theo thứ tự sau: thứ nhất, thứ ba, thứ hai.

37. We notice also that the “Type of Energy” is discriminated from the “Nature of Fire”, though energy and fire are in many ways equivalent.

37. Chúng ta cũng nhận thấy “Loại Năng lượng” được phân biệt với “Bản chất của Lửa”, dẫu năng lượng và lửa theo nhiều phương diện là tương đương.

SOLAR LOGOS

THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ

38. For the purposes of this tabulation the Solar Logos is the macrocosm.

38. Cho mục đích của bảng phân loại này, Thái dương Thượng đế là Đại thiên địa.

39. The next greater Macrocosm about which Master DK says anything extensive is the “One About Whom Naught May Be Said”.

39. Đại thiên địa vĩ đại kế tiếp mà Chân sư DK có nói đến một cách rộng rãi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-02.jpg

40. Like man, the Solar Logos has a causal body. There is something strange about this first listing and it is repeated for the lesser beings: the causal body is listed twice and appears in the row in which the first aspect of divinity is described.

40. Như con người, Thái dương Thượng đế có một thể nguyên nhân. Có điều lạ lùng trong mục liệt kê đầu tiên này và nó được lặp lại đối với các sinh linh thấp hơn: thể nguyên nhân được liệt kê hai lần và xuất hiện ở dòng mô tả Phương diện thứ nhất của Thần tính.

41. One can wonder why the ‘Monadic Body’ or ‘Monadic Vehicle’ is not offered, with its “Jewel”. This corresponds well to the presence of the Central Spiritual Sun.

41. Người ta có thể thắc mắc vì sao “Thể Chân thần” hay “Vận cụ Chân thần” không được nêu, cùng với “Viên ngọc” của nó. Điều này tương ứng khá chuẩn với sự hiện diện của Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

42. Yet just as man cannot yet access his Monad and can somewhat access his causal body so it may be for the Solar Logos at His present stage of development. Thus, it is the first aspect of the causal body which is used to represent the first aspect of divinity. The “Jewel in the Lotus” is the reflection of the Monad and its source is the Central Spiritual Sun, which is the monadic nature of the Solar Logos.

42. Tuy nhiên, cũng như con người chưa thể tiếp cận Chân thần của mình và chỉ có thể phần nào tiếp cận thể nguyên nhân, thì có lẽ đối với Thái dương Thượng đế ở giai đoạn phát triển hiện tại của Ngài cũng như vậy. Do đó, chính phương diện thứ nhất của thể nguyên nhân được dùng để đại diện cho Phương diện thứ nhất của Thần tính. “Viên ngọc trong Hoa Sen” là phản ảnh của Chân thần và nguồn của nó là Mặt trời Tinh thần Trung Ương, vốn là bản tính chân thần của Thái dương Thượng đế.

43. In this second ray solar system this representation will have to do. In the next solar system, the solar logoic Monad and the “Jewel”, which we may presume to be found within it, would probably be listed.

43. Trong hệ mặt trời cung hai này, sự biểu trưng ấy tạm thời phải chấp nhận như vậy. Trong hệ mặt trời kế tiếp, Chân thần của Thái dương Thượng đế và “Viên ngọc”, mà chúng ta có thể giả định là nằm trong đó, có lẽ sẽ được liệt kê.

44. For now, the main source of the first aspect for the Solar Logos, our Planetary Logos and man is the first aspect of divinity as it manifests through the causal body of all these B/beings.

44. Hiện tại, nguồn chủ yếu của Phương diện thứ nhất đối với Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và con người là Phương diện thứ nhất của Thần tính khi biểu lộ qua thể nguyên nhân của tất cả các Đấng và các sinh linh này.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-03.jpg

45. Here the emphasis is upon the second aspect of the Solar Logos. The causal body is the expected source of this type of energy.

45. Ở đây, nhấn mạnh vào Phương diện thứ hai của Thái dương Thượng đế. Thể nguyên nhân là nguồn được chờ đợi của loại năng lượng này.

46. Probably the “Lotus” discussed is the egoic lotus of the Solar Logos. Elsewhere, we are told that this lotus consists of seven tiers of petals and a triple flame. It number is thus, ten. If there are three petals in each of the seven circles the number to be associated with the lotus is twenty-four. Yet here we read that it is a “two-petalled” lotus. The lotus usually considered as two petalled is the ajna lotus—at least this is the case for man. So what can these two petals indicate, especially if they are to be associated with the solar logoic egoic lotus?

46. Có lẽ “Hoa sen” được đề cập là hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế. Ở nơi khác, chúng ta được cho biết rằng hoa sen này gồm bảy tầng cánh và một ngọn lửa tam phân. Con số của nó do đó là mười.  Nếu có ba cánh trong mỗi vòng bảy vòng thì con số gắn với hoa sen là hai mươi bốn. Thế nhưng ở đây chúng ta đọc rằng đó là một hoa sen “hai cánh”. Hoa sen thường được coi là hai cánh là hoa sen ajna—ít nhất điều này đúng với con người. Vậy hai cánh này có thể chỉ điều gì, đặc biệt nếu chúng gắn với hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế?

47. We have something of a mystery here. The only ‘twoness’ in the way the egoic lotus of the Solar Logos is usually described is the relationship between the seven tiers of petals (taken as a whole) and the triple flame—and the flame cannot be counted as petals.

47. Chúng ta có phần nào một điều bí ẩn ở đây. Cái ‘tính đôi’ duy nhất trong cách hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế thường được mô tả là mối liên hệ giữa bảy tầng cánh (xem như một tổng thể) và ngọn lửa tam phân—và ngọn lửa thì không thể được tính như cánh hoa.

48. The Heart of the Sun is predictably aspect of the solar logoic nature which works through is causal body. There are a number of thoughts concerning the nature of the Heart of the Sun, but it should rightly be associated with the soul-demonstration of the Solar Logos on the higher three cosmic subplanes (to be specific, the first subplane) of the cosmic mental plane.

48. Cái gọi là Tim của Mặt Trời một cách tự nhiên là phương diện của bản tính thuộc Thái dương Thượng đế hoạt động qua thể nguyên nhân của Ngài. Có nhiều suy tư liên quan đến bản chất của Tim của Mặt Trời, nhưng đúng ra nó nên được gắn với sự biểu hiện linh hồn của Thái dương Thượng đế trên ba cõi phụ cao (cụ thể là cõi phụ thứ nhất) của cõi trí vũ trụ.

49. Since the energy is “Cosmic Love” we notice a relation to cosmic buddhi, and thus to the Pleiades and the Dragon as sources of cosmic buddhi.

49. Vì năng lượng là “Bác Ái vũ trụ” nên chúng ta nhận thấy liên hệ với Bồ đề vũ trụ, và do đó với Thất Nữ và Con Rồng như các nguồn của Bồ đề vũ trụ.

50. A very high form of solar fire expresses through the solar logoic causal lotus. Since this fire brings harmony and equilibrium, it too must be associated with the buddhic energy—the cosmic buddhic energy.

50. Một dạng rất cao của Lửa Thái dương biểu lộ qua hoa sen nguyên nhân của Thái dương Thượng đế. Vì ngọn lửa này mang lại hòa điệu và quân bình, nó cũng phải được gắn với năng lượng Bồ đề—năng lượng Bồ đề vũ trụ.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-04.jpg

51. The words “Physical Plane Nucleus” are usual and vague. Perhaps DK is speaking of the entirety of the Sun as it manifests on the cosmic physical plane, a plane which has two aspects—the dense physical body of the Solar Logos and the four cosmic etheric planes.

51. Cụm từ “Hạch tâm Cõi Hồng trần” là quen dùng và mơ hồ. Có lẽ Chân sư DK đang nói về toàn thể Mặt Trời như nó biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, một cõi có hai phương diện—thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và bốn cõi dĩ thái vũ trụ.

52. The permanent atom here mentioned is likely to be the solar logoic physical permanent atom, which has been related to the planet Saturn.

52. Nguyên tử trường tồn được nhắc ở đây có khả năng là nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, vốn đã được liên hệ với hành tinh Thổ Tinh.

53. We are dealing with solar energies related to the third aspect of divinity. The “Physical Sun” is the medium of transmission for these energies.

53. Chúng ta đang đề cập đến các năng lượng thái dương liên hệ với Phương diện thứ ba của Thần tính. “Mặt Trời Hồng trần” là trung gian truyền dẫn cho các năng lượng này.

54. Thus far we have had Cosmic Will, Cosmic Love and now Cosmic Activity. Notice how when we speak of the Solar Logos the adjective “cosmic” is used. The Solar Logos is considered not a systemic Being but a cosmic Being.

54. Cho đến đây chúng ta đã có Ý Chí vũ trụ, Bác Ái vũ trụ và giờ là Hoạt động vũ trụ. Hãy lưu ý rằng khi nói về Thái dương Thượng đế, tính từ “vũ trụ” được dùng. Thái dương Thượng đế được xem không phải là một Đấng hệ thống mà là một Đấng vũ trụ.

55. What are the sources of these great Energies. It would be right to say that Cosmic Will, Cosmic Love and Cosmic Activity are sourced from the cosmic planes—the cosmic atmic plane, the cosmic buddhic plane and the cosmic mental plane, respectively.

55. Vậy nguồn của những Năng lượng vĩ đại này là gì. Sẽ đúng khi nói rằng Ý Chí vũ trụ, Bác Ái vũ trụ và Hoạt động vũ trụ được phát xuất từ các cõi vũ trụ—lần lượt là cõi atma vũ trụ, cõi Bồ đề vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

56. Although the systemic atmic plane is closely related to Universal Mind, this plane is certainly not its source, but only its expression on the cosmic physical plane.

56. Dẫu cõi atma hệ thống có liên hệ mật thiết với Vũ Trụ Trí, cõi này chắc chắn không phải là nguồn của nó, mà chỉ là sự biểu hiện của nó trên cõi hồng trần vũ trụ.

57. We see the close relationship between “Mind” and “Activity”. Mind is that factor which arranges and re-arranges all in keeping with the perceived archetype.

57. Chúng ta thấy mối liên hệ gần gũi giữa “Trí” và “Hoạt động”. Thể trí là yếu tố sắp đặt và tái sắp đặt mọi sự phù hợp với khuôn mẫu nguyên hình được tri nhận.

58. Fire by friction is negative fire, just as solar fire was equilibrizing fire producing equilibrium.

58. Lửa ma sát là lửa âm, cũng như Lửa Thái dương là lửa tạo quân bình tạo ra trạng thái quân bình.

59. For the Solar Logos, and cosmically considered, fire by friction is found on the lower eighteen cosmic subplanes.

59. Đối với Thái dương Thượng đế, xét theo bình diện vũ trụ, lửa ma sát được thấy trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp.

60. For the Solar Logos, the lowest form of fire by friction is found on the cosmic physical plane and especially on the three lowest subplanes of the cosmic physical plane.

60. Đối với Thái dương Thượng đế, hình thái thấp nhất của lửa ma sát được thấy trên cõi hồng trần vũ trụ và đặc biệt trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-05.jpg

61. We have the same situation for the Planetary Logos as we had for the Solar Logos. The first aspect is expressed through the causal body—the planetary causal body in this case, found on the third subplane of the cosmic mental plane and not, as in the case for the Solar Logos, upon the first subplane.

61. Chúng ta có cùng một tình huống đối với Hành Tinh Thượng đế như với Thái dương Thượng đế. Phương diện thứ nhất được biểu lộ qua thể nguyên nhân—trong trường hợp này là thể nguyên nhân hành tinh, nằm trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ chứ không, như trường hợp của Thái dương Thượng đế, ở cõi phụ thứ nhất.

62. Again, as for the Solar Logos, the “Focal Point” is the “Jewel” and the “Medium” is not the Central Spiritual Sun but the “Heavenly Man (On his own plane)”. In this case the term “Heavenly Man” is equivalent to “Planetary Logos”, and we may suspect that the monadic nature of the Heavenly Man or Planetary Logos is indicated.

62. Một lần nữa, như đối với Thái dương Thượng đế, “Tiêu điểm” là “Viên ngọc” và “Trung gian” không phải là Mặt trời Tinh thần Trung Ương mà là “Đấng Thiên Nhân (trên chính cõi của Ngài)”. Trong trường hợp này, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” tương đương với “Hành Tinh Thượng đế”, và chúng ta có thể ngờ rằng bản tính chân thần của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế được ám chỉ.

63. If for the Solar Logos the macrocosmic Central Spiritual Sun is found on the cosmic monadic plane, there is no reason why this should not be the case for the Planetary Logos as well. Their causal bodies are found on the same cosmic plane (though not the same cosmic subplane) and we may expect that the monadic nature will also be found on the same cosmic plane (the cosmic monadic plane) though probably not on the same subplane of that cosmic plane.

63. Nếu đối với Thái dương Thượng đế, Mặt trời Tinh thần Trung Ương đại thiên địa được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ, thì không có lý do gì điều này lại không đúng với Hành Tinh Thượng đế. Thể nguyên nhân của Các Ngài được tìm thấy trên cùng một cõi vũ trụ (dẫu không cùng cõi phụ vũ trụ), và chúng ta có thể trông đợi rằng bản tính chân thần cũng sẽ được tìm thấy trên cùng cõi vũ trụ (cõi chân thần vũ trụ), dẫu có lẽ không trên cùng cõi phụ của cõi ấy.

64. The nature of planetary logoic Will is similar to solar logoic Will, but of lesser scope, being systemic rather than cosmic.

64. Bản tính của Ý Chí thuộc hành tinh tương tự Ý Chí thuộc thái dương, nhưng phạm vi nhỏ hơn, vì là hệ thống chứ không phải vũ trụ.

65. The type of fire is the same: “Electric Fire Positive”.

65. Loại lửa là như nhau: “Lửa Điện Dương”.

66. As we study this tabulation, constructed very much under the Law of Analogy, we should notice the slight differences in wording. These can reveal blinds.

66. Khi chúng ta khảo cứu bảng này, vốn được cấu trúc rất nhiều theo định luật tương đồng, chúng ta nên lưu ý những khác biệt nhỏ trong cách diễn đạt. Chúng có thể hé lộ những bức màn che.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-06.jpg

67. As in the case of the Solar Logos, the source of the second aspect is again the causal body—this time of the Planetary Logos. —

67. Như trong trường hợp của Thái dương Thượng đế, nguồn của Phương diện thứ hai lại là thể nguyên nhân—lần này là của Hành Tinh Thượng đế.

68. Again the “Focal Point” is the “Lotus” but there is no designation of it being “two-petalled”. We learned of the tenfold structure of the egoic lotus of the Solar Logos, but not much about the structure of the Planetary Logos’s causal body.

68. Một lần nữa “Tiêu điểm” là “Hoa sen” nhưng không có định chỉ rằng nó “hai cánh”. Chúng ta đã biết cấu trúc thập phân của hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế, nhưng không biết nhiều về cấu trúc của thể nguyên nhân thuộc Hành Tinh Thượng đế.

69. The following may be indicative though not conclusive:

69. Dưới đây có thể là gợi ý dẫu không kết luận:

We have, therefore, a direct stream of energy flowing through:

Vì vậy, chúng ta có một dòng năng lượng trực tiếp tuôn chảy qua:

a. The logoic twelve-petalled egoic lotus, cosmic mental plane.

a. Hoa sen chân ngã mười hai cánh thuộc Thượng đế, cõi trí vũ trụ.

b. The solar twelve-petalled lotus.

b. Hoa sen thái dương mười hai cánh.

c. The planetary logoic heart, also a twelve-petalled lotus.

c. Tâm của Hành Tinh Thượng đế, cũng là một hoa sen mười hai cánh.

d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane.

d. Hoa sen chân ngã mười hai cánh của con người trên cõi trí.

e. The twelve-petalled heart centre in a human being. (EA 47)

e. Trung tâm tim mười hai cánh ở con người. (EA 47)

70. It is interesting that in this reference the egoic lotus of the Solar Logos is referred to as twelve-petalled. In the other significant reference regarding this lotus it is said to have seven tiers. Perhaps it is an assumption that each tier has three petals. Perhaps this is not the case—we don’t know. Perhaps it is possible that the number of petals of the solar egoic lotus actually is twelve but how would they be arranged? We do have a seeming contradiction here and will have to reconcile it.

70. Thật thú vị khi trong tham chiếu này, hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế được gọi là mười hai cánh. Ở tham chiếu quan trọng khác liên quan đến hoa sen này, nó lại được nói là có bảy tầng. Có lẽ người ta giả định rằng mỗi tầng có ba cánh. Cũng có thể không phải thế—chúng ta không biết. Có lẽ số cánh của hoa sen chân ngã thái dương thực sự là mười hai nhưng chúng sẽ được sắp đặt ra sao? Rõ ràng ở đây có một mâu thuẫn bề ngoài và chúng ta sẽ phải dung hòa nó.

71. The “Medium” in this case is interesting: “Egoic Groups”. This term is the equivalent of “Heart of the Sun” for the Solar Logos and “Solar Angel” for man (below). For man, the Solar Angel contributes to the energy of the microcosmic “Heart of the Sun”. One would think that there must be a planetary logoic Solar Angel, just as there is a solar logoic Solar Angel and a Solar Angel for the individual human being. Somehow the various “Egoic Groups” must be the constituents of the planetary logoic Solar Angel or “Heart of the Sun”.

71. “Trung gian” trong trường hợp này thật đáng chú ý: “Các Nhóm Chân Ngã”. Thuật ngữ này tương đương với “Tim của Mặt Trời” đối với Thái dương Thượng đế và “Thái dương Thiên Thần” đối với con người (bên dưới). Đối với con người, Thái dương Thiên Thần góp phần vào năng lượng của “Tim của Mặt Trời” vi mô. Người ta sẽ nghĩ rằng hẳn phải có một Thái dương Thiên Thần thuộc bình diện hành tinh, cũng như có Thái dương Thiên Thần thuộc bình diện thái dương và một Thái dương Thiên Thần cho từng con người cá biệt. Bằng cách nào đó, các “Nhóm Chân Ngã” khác nhau hẳn là những thành tố của Thái dương Thiên Thần thuộc hành tinh hay của “Tim của Mặt Trời”.

72. Now, where will these “Egoic Groups” be found? Shall we look for them only on the mental plane of the cosmic physical plane? To do so would not follow the analogy, for the “Heart of the Sun” for the Solar Logos is found (as usually considered) upon the cosmic mental plane, and the Solar Angel for the human being works upon the higher mental plane. It would seem that the “Egoic Groups” should have some relation to the cosmic mental plane (albeit on a lower subplane than the “Heart of the Sun” of the Solar Logos). I do not think we can solve this at this time.

72. Vậy, các “Nhóm Chân Ngã” này sẽ được tìm ở đâu? Chúng ta có nên chỉ tìm chúng trên cõi trí của cõi hồng trần vũ trụ? Làm thế sẽ không theo phép tương đồng, vì “Tim của Mặt Trời” đối với Thái dương Thượng đế được tìm thấy (như thường được xem) trên cõi trí vũ trụ, và Thái dương Thiên Thần đối với con người hoạt động trên cõi thượng trí. Có vẻ như “Các Nhóm Chân Ngã” phải có liên hệ nào đó với cõi trí vũ trụ (dẫu ở một cõi phụ thấp hơn “Tim của Mặt Trời” của Thái dương Thượng đế). Tôi nghĩ rằng chúng ta chưa thể giải bài toán này vào lúc này.

73. If we confined our search for “Egoic Groups” to the cosmic physical plane, in Letters on Occult Meditation that there are various groups which could be called “Egoic Groups” found on planes higher than the systemic higher mental plane:

73. Nếu chúng ta giới hạn việc tìm kiếm “Các Nhóm Chân Ngã” trong cõi hồng trần vũ trụ, thì trong Những Bức Thư về Tham Thiền Huyền Bí có nêu rằng có nhiều nhóm có thể gọi là “Các Nhóm Chân Ngã” được tìm thấy trên các cõi cao hơn cõi thượng trí hệ thống:

                    ( 1st subplane        35 groups, 7 x 5

( Cõi phụ 1 35 nhóm, 7 x 5

Mental plane ( 2nd subplane            42 groups, 7 x 6

Cõi trí  ( Cõi phụ 2 42 nhóm, 7 x 6

                    ( 3rd subplane       49 groups, 7 x 7

( Cõi phụ 3 49 nhóm, 7 x 7

                    ( 3rd subplane       28 groups, 7 x 4

( Cõi phụ 3 28 nhóm, 7 x 4

Buddhic plane              ( 1st subplane              21 groups, 7 x 3

Cõi Bồ đề  ( Cõi phụ 1 21 nhóm, 7 x 3

Atmic plane       Atomic subplane     14 groups, 7 x 2

Cõi atma  Cõi nguyên tử 14 nhóm, 7 x 2

Monadic plane                      7 great groups (LOM 38-39)

Cõi chân thần  7 nhóm lớn (LOM 38-39)

74. It would seem reasonable that when looking for the ‘heart function’ for the Planetary Logos (on the cosmic physical plane) these groups should not be overlooked.

74. Có vẻ hợp lý rằng khi tìm “chức năng tim” cho Hành Tinh Thượng đế (trên cõi hồng trần vũ trụ), chúng ta không nên bỏ qua các nhóm này.

75. The type of energy for the Planetary Logos in relation to the second aspect of divinity is “Systemic Love”. And, just as we would expect, the type of fire is again solar fire, but this time the words “Harmony” and “Balance” are used as descriptors and not “Harmony” and “Equilibrium”. There is not much difference. The term “Equilibrium” seems richer and more demanding that the term “Balance” but maybe there is little indicated by these two related words.

75. Loại năng lượng đối với Hành Tinh Thượng đế liên hệ Phương diện thứ hai của Thần tính là “Bác Ái hệ thống”. Và, như chúng ta trông đợi, loại lửa lại là Lửa Thái dương, nhưng lần này các từ “Hòa điệu” và “Cân bằng” được dùng làm mô tả chứ không phải “Hòa điệu” và “Quân bình”. Không có khác biệt lớn. Thuật ngữ “Quân bình” dường như phong phú và đòi hỏi hơn “Cân bằng” nhưng có lẽ chỉ ít điều được hàm ý bởi hai từ liên hệ này.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-07.jpg76. Again, as in the case of the Solar Logos we have the same ambiguous term for the “Source”, “Physical Plane Nucleus”. One would think that this nucleus would be the physical permanent atom, but apparently it is not.

76. Một lần nữa, như trong trường hợp của Thái dương Thượng đế, chúng ta có cùng thuật ngữ mơ hồ cho “Nguồn”, “Hạch tâm Cõi Hồng trần”. Người ta sẽ nghĩ rằng hạch này là nguyên tử trường tồn hồng trần, nhưng hiển nhiên không phải vậy.

77. One angle of vision might point to the mental unit (on cosmic planes) and its connection to the collection of mental units found on the systemic lower mental plane). The Solar Logos does seem to have a mental unit according to the following: “…the force flowing through the mental unit of the Logos.” (TCF 623) We will not go far in understanding this type of “mental unit” for the following reasons: “What we understand by the fifth principle is but the expression on the causal plane of that force or energy which emanates from the logoic causal body on the fifth cosmic plane, via the logoic correspondence to the mental unit. (These correspondences involve a concept far in advance of what is possible even to an initiate at this time).” (TCF 691)

77. Một góc nhìn có thể chỉ về đơn vị hạ trí (trên các cõi vũ trụ) và mối liên hệ của nó với tập hợp các đơn vị hạ trí được tìm thấy trên cõi hạ trí hệ thống). Thái dương Thượng đế dường như có một đơn vị hạ trí theo như sau: “…mãnh lực tuôn chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế.” (TCF 623) Chúng ta sẽ không thể tiến xa trong việc hiểu loại “đơn vị hạ trí” này vì những lý do sau: “Điều chúng ta hiểu là nguyên khí thứ năm chỉ là biểu hiện trên cõi nguyên nhân của mãnh lực hay năng lượng phát xuất từ thể nguyên nhân thuộc Thượng đế trên cõi vũ trụ thứ năm, thông qua phần tương ứng của Thượng đế đối với đơn vị hạ trí. (Những tương ứng này bao hàm một khái niệm vượt xa điều khả hữu, ngay cả với một người đã được điểm đạo vào thời điểm này).” (TCF 691)

78. Since for these great Beings the physical plane relates to either all of the twenty-one systemic subplanes (in the case of the Solar Logos), or to the eighteen lower subplanes (in the case of the Planetary Logos), the physical plane nucleus could be found on the mental plane as a collection of lesser mental units connected with the Logos’ mental unit. Through such a concentration of energy, the dense physical plane expression of the Logos could be organized. This is merely a speculation attempting to deal with the vague term “Physical Plane Nucleus”.

78. Vì đối với các Đấng vĩ đại này, cõi hồng trần liên hệ hoặc với toàn bộ hai mươi mốt cõi phụ hệ thống (trong trường hợp Thái dương Thượng đế), hoặc với mười tám cõi phụ thấp (trong trường hợp Hành Tinh Thượng đế), nên hạch tâm cõi hồng trần có thể được tìm thấy trên cõi trí như một tập hợp các đơn vị hạ trí nhỏ hơn liên kết với đơn vị hạ trí của Thượng đế. Thông qua một sự tập trung năng lượng như vậy, biểu hiện cõi hồng trần đậm đặc của Thượng đế có thể được tổ chức. Đây chỉ là một suy đoán nhằm đối phó với thuật ngữ mơ hồ “Hạch tâm Cõi Hồng trần”.

79. The focal point should be the physical permanent atom of the Planetary Logos. While we are told that Saturn is a correspondence to the physical permanent atom for the Solar Logos, we are not given any recognizable center which corresponds to the physical permanent atom of the Planetary Logos. If to the Solar Logos, planetary schemes are as chakra-chains, could the correspondence to the physical permanent atom of the Planetary Logos be one of its chains? This may seem a little far-fetched.

79. Tiêu điểm hẳn phải là nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng đế. Trong khi chúng ta được cho biết rằng Thổ Tinh là một tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, thì chúng ta không được chỉ cho một trung tâm có thể nhận biết nào tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng đế. Nếu đối với Thái dương Thượng đế, các hệ hành tinh tương ứng như các dây xích luân xa, thì liệu tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng đế có thể là một trong các dãy của Ngài chăng? Điều này có vẻ hơi khiên cưỡng.

80. Whereas for the Solar Logos the physical permanent atom is found on the logoic plane (probably on the first subplane), would the physical permanent atom for the Planetary Logos also be found on the logoic plane, though on a lower subplane?

80. Trong khi đối với Thái dương Thượng đế, nguyên tử trường tồn hồng trần được tìm trên cõi thượng đế (có lẽ ở cõi phụ thứ nhất), thì liệu nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng đế cũng sẽ được tìm trên cõi thượng đế, dẫu ở một cõi phụ thấp hơn?

81. The terms “Systemic Activity” and “Fire by Friction Negative” have an exact correspondence to the terms used to describe the energy and type of fire of the Solar Logos.

81. Các thuật ngữ “Hoạt động hệ thống” và “Lửa ma sát Âm” có một tương ứng chính xác với các thuật ngữ được dùng để mô tả năng lượng và loại lửa của Thái dương Thượng đế.

82. If “Universal Mind” is associated with “Cosmic Activity” of the Solar Logos, what kind of activity should be associated with the Planetary Logos? Perhaps a lower stratum of the Universal Mind? The Planetary Logos and the Solar Logos are, after all, “Brothers”. Perhaps we still should look towards the higher mental plane for the stratum of Universal Mind related to the Planetary Logos. At the same time, the atmic plane (an expression of Universal Mind) should be indicated.

82. Nếu “Vũ Trụ Trí” được gắn với “Hoạt động vũ trụ” của Thái dương Thượng đế, thì loại hoạt động nào nên được gắn với Hành Tinh Thượng đế? Có lẽ là một tầng thấp hơn của Vũ Trụ Trí? Suy cho cùng, Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế là “Huynh đệ”. Có lẽ chúng ta vẫn nên nhìn về cõi thượng trí để tìm tầng của Vũ Trụ Trí liên quan đến Hành Tinh Thượng đế. Đồng thời, cõi atma (một biểu hiện của Vũ Trụ Trí) cũng nên được chỉ ra.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-08.jpg

83. We now enter more familiar territory with a consideration of man.

83. Bây giờ chúng ta bước vào lãnh vực quen thuộc hơn khi xét đến con người.

84. The “Source” is the “Human Causal Body”. Again the “Jewel” is found as the “Focal Point”. The “Medium” is the “Monad Spirit” (in this case, equivalent terms). The use of this term for man points to the justifiability of thinking that the “Heavenly Man (On his own plane)” refers to the monadic nature of the Planetary Logos. This is interesting because it has sometimes been stated that the term “Heavenly Man” refers only to the egoic nature of the Planetary Logos where as the term, “Planetary Logos” refers to the monadic nature of that great Entity. We would see, however, that this distinction should be considered false. It appears that “Heavenly Man” refers to the entirety of that great Entity we, in different terms, call the “Planetary Logos”.

84. “Nguồn” là “Thể nguyên nhân của con người”. Một lần nữa “Viên ngọc” được thấy là “Tiêu điểm”. “Trung gian” là “Chân thần – Tinh thần” (trong trường hợp này, các thuật ngữ tương đương). Việc dùng thuật ngữ này cho con người chỉ ra tính chính đáng khi nghĩ rằng “Đấng Thiên Nhân (trên chính cõi của Ngài)” ám chỉ bản tính chân thần của Hành Tinh Thượng đế. Điều này thú vị vì đôi khi người ta đã nói rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” chỉ đề cập đến bản tính chân ngã của Hành Tinh Thượng đế, trong khi thuật ngữ “Hành Tinh Thượng đế” đề cập đến bản tính chân thần của Vị Đại Ngã ấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy rằng sự phân biệt này nên được xem là sai. Có vẻ như “Đấng Thiên Nhân” đề cập đến toàn thể Vị Đại Ngã mà chúng ta, bằng thuật ngữ khác, gọi là “Hành Tinh Thượng đế”.

85. Atma-Buddhi is the correspondence to Cosmic Will and Systemic Will. What is unusual here is that buddhic is included in the type of energy which corresponds to will when the usual correspondence of buddhi is with love. We see that in the correspondences we are studying there is not always an exact equivalences—at least seemingly so. We learn then, that as far as man is concerned, buddhi is considered a directing force, akin to will.

85. Atma–Bồ đề là tương ứng với Ý Chí vũ trụ và Ý Chí hệ thống. Điều khác thường ở đây là Bồ đề được bao gồm trong loại năng lượng tương ứng với ý chí, trong khi tương ứng thông thường của Bồ đề là với bác ái. Chúng ta thấy rằng trong các tương ứng đang khảo cứu, không phải lúc nào cũng có sự tương đương hoàn toàn—ít nhất là bề ngoài. Vậy chúng ta học được rằng, đối với con người, Bồ đề được xem là một lực chỉ đạo, tương cận với ý chí.

86. When we compare Cosmic Will and Systemic Will to the Atma-Buddhi of man, we might come to the conclusion that Cosmic Will and Systemic Will are monadic in origin (as cosmic atma and buddhi and systemic atma and buddhi are not mentioned), but that the will which man must apply is not purely monadic in origin, but originates from the atmic-buddhic expression of the human Monad.

86. Khi chúng ta so sánh Ý Chí vũ trụ và Ý Chí hệ thống với Atma–Bồ đề của con người, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng Ý Chí vũ trụ và Ý Chí hệ thống có nguồn gốc chân thần (vì cõi atma và Bồ đề vũ trụ, cũng như atma và Bồ đề hệ thống, không được nêu), nhưng ý chí mà con người phải áp dụng thì không thuần túy có nguồn gốc chân thần, mà khởi xuất từ biểu hiện atma–Bồ đề của Chân thần con người.

87. The Nature of Fire for man is exactly the same as the Nature of Fire for the Planetary Logos, but there is subtle difference distinguishing both from the Nature of Fire for the Solar Logos: the word “Force” is not used, but “Positive”.

87. Bản chất của Lửa đối với con người hoàn toàn giống với Bản chất của Lửa đối với Hành Tinh Thượng đế, nhưng có một khác biệt vi tế phân biệt cả hai với Bản chất của Lửa đối với Thái dương Thượng đế: từ “Lực” không được dùng, mà là “Dương”.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-09.jpg

88. The Human Causal Body is the exact parallel of the solar logoic causal body and the planetary logoic causal body. Similarly, this category remains the same for category one and two of the human group.

88. Thể nguyên nhân của con người là đối phần chính xác của thể nguyên nhân thuộc Thái dương Thượng đế và thể nguyên nhân thuộc Hành Tinh Thượng đế. Tương tự, hạng mục này vẫn như nhau cho hạng mục một và hai của nhóm nhân loại.

89. Similarly, the “lotus” corresponds to the planetary logoic lotus and the solar logoic lotus (“two-petalled”).

89. Tương tự, “hoa sen” tương ứng với hoa sen thuộc hành tinh và hoa sen thuộc thái dương (“hai cánh”).

90. It is interesting to consider the Solar Angel as a “Medium” in this context and not a “Source”, as one would normally think of the Solar Angel as superior to the causal body which it informs and sustains and participated in creating. But there are various ways of thinking about the Solar Angel. One is as a superior Being Who was responsible for creating the causal body. The other is as the part of that Being (not the whole of it) which has informed the causal body and ‘takes up residence’ within it. So we would be dealing with the Solar Angel, itself, and that emanation of the Solar Angel which “having pervaded the entire universe [of the causal body] with a fragment of itself, remains”.

90. Thật thú vị khi xem Thái dương Thiên Thần như “Trung gian” trong bối cảnh này chứ không phải “Nguồn”, vì bình thường người ta sẽ nghĩ Thái dương Thiên Thần là tối thượng hơn thể nguyên nhân mà Ngài thấm nhuần, duy trì và đã tham dự tạo lập. Nhưng có nhiều cách suy tưởng về Thái dương Thiên Thần. Một cách là như một Đấng siêu việt chịu trách nhiệm tạo ra thể nguyên nhân. Cách khác là như phần của Đấng ấy (không phải toàn thể Ngài) đã thấm nhuần thể nguyên nhân và “an trú” trong đó. Vậy là chúng ta đang xử lý cả chính Thái dương Thiên Thần, lẫn xuất lộ của Thái dương Thiên Thần, Đấng “sau khi đã thấm nhuần toàn thể vũ trụ [của thể nguyên nhân] bằng một mảnh của chính Ngài, vẫn thường tại”.

91. We must notice that for man, under the category “Type of Energy” a vehicle is listed and not an energy at all, though presumably the vehicle listed is the repository of the love energy for man. The “Manasic Ego” is clearly a vehicle, but Cosmic Love and Systemic Love are not.

91. Chúng ta cần lưu ý rằng đối với con người, dưới hạng mục “Loại Năng lượng” lại liệt kê một vận cụ chứ không phải một năng lượng, dẫu suy ra rằng vận cụ được liệt kê là nơi chứa đựng năng lượng bác ái đối với con người. “Chân ngã manas” rõ ràng là một vận cụ, còn Bác Ái vũ trụ và Bác Ái hệ thống thì không.

92. Perhaps there is an analogy between the “Son” (for the Solar Logos) and the “Manasic Ego” for the man. The “Son” is sometimes considered the solar system on the cosmic physical plane, but it might also be considered as the logoic egoic lotus which has parallels with the human Ego on the higher mental plane.

92. Có lẽ có một sự tương đồng giữa “Con” (đối với Thái dương Thượng đế) và “Chân ngã manas” đối với con người. “Con” đôi khi được xem như hệ mặt trời trên cõi hồng trần vũ trụ, nhưng cũng có thể được xem là hoa sen chân ngã của Thượng đế (logoic), vốn có các tương ứng với Chân ngã của con người trên cõi thượng trí.

93. The point is, however, that the term “Manasic Ego” emphasizes an energy encapsulated in the humanity causal body, or a state of consciousness which is typical of consciousness within that causal body, whereas “Cosmic Love” and “Systemic Love” are definitely energies rather than an energy within a vehicle.

93. Tuy nhiên, điểm cốt yếu là thuật ngữ “Chân ngã manas” nhấn mạnh một năng lượng được bao chứa trong thể nguyên nhân của nhân loại, hoặc một trạng thái tâm thức điển hình của tâm thức bên trong thể nguyên nhân ấy, trong khi “Tình thương Vũ trụ” và “Tình thương Hệ thống” chắc chắn là các năng lượng chứ không phải là một năng lượng bên trong một vận cụ.

94. For man, the type of fire is “Solar Fire. Equilibrising Force”. This is slightly different from the parallels on the solar logoic and planetary logoic levels where we have “Solar Fire. Harmony. Equilibrium” for the Solar Logos, and “Solar Fire. Harmony. Balance” for the Planetary Logos.

94. Đối với con người, loại lửa là “Lửa Thái dương. Lực quân bình hóa”. Điều này hơi khác với các tương ứng ở cấp Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế, nơi chúng ta có “Lửa Thái dương. Hòa điệu. Quân bình” cho Thái dương Thượng đế, và “Lửa Thái dương. Hòa điệu. Cân bằng” cho Hành Tinh Thượng đế.

95. I have spoken of the contrast between equilibrium and balance. All three groups have “Solar Fire”, but the word “Force” is mentioned only for man. While there are definite parallels for all three, the word “Force” usually signifies a process which derived from an “Energy”. What we can gather is that “Equilibrising Force” derives from the “Manasic Ego”.

95. Tôi đã nói về sự tương phản giữa “quân bình” và “cân bằng”. Cả ba nhóm đều có “Lửa Thái dương”, nhưng từ “Lực” chỉ được nêu ra đối với con người. Dẫu có những tương ứng xác định cho cả ba, từ “Lực” thường biểu thị một tiến trình phát sinh từ một “Năng lượng”. Điều chúng ta có thể rút ra là “Lực quân bình hóa” bắt nguồn từ “Chân ngã manas”.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-10.jpg

96. When it comes to the “Source” for the third category under “MAN”, the qualifier “Physical” is missing. We have only “Plane Nucleus”. It would seem then, that the nuclei on all three planes is indicated and the associated permanent atoms.

96. Khi xét đến “Nguồn” cho hạng mục thứ ba dưới “NGƯỜI”, từ bổ định “Hồng trần” vắng mặt. Chúng ta chỉ có “Hạch của cõi”. Vậy dường như các hạch trên cả ba cõi được chỉ ra, cùng với các Nguyên tử trường tồn liên hệ.

97. We have still to solve the question of whether the term “Nucleus” represents a energetic structure of a higher order than “Permanent Atom”.

97. Chúng ta vẫn còn phải giải quyết câu hỏi liệu thuật ngữ “Hạch” biểu trưng cho một cấu trúc năng lượng bậc cao hơn “Nguyên tử trường tồn” hay không.

98. It becomes clear that the “Physical Plane Nucleus” indicated for the Solar Logos and the Planetary Logos refers to a nucleus on the cosmic physical plane, probably as a whole. Nothing much is said about the expression of the Solar Logos and Planetary Logos on the cosmic lower mental and astral planes.

98. Trở nên rõ ràng rằng “Hạch của cõi Hồng trần” được nêu cho Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế ám chỉ một hạch trên cõi hồng trần vũ trụ, có lẽ như một toàn thể. Hầu như không có gì được nói về biểu lộ của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế trên các cõi hạ trí và cảm dục vũ trụ.

99. In the world of man, the planes involved are the three planes of the lower three worlds which are part of the dense physical body of the Solar Logos and Planetary Logos.

99. Trong thế giới của con người, các cõi liên quan là ba cõi của ba cõi giới thấp, vốn là một phần của thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế.

100. The term “Nucleus”, however, remains vague and is hard to discriminate from “Focal Point”, which position the “Permanent Atom” holds, and reasonably so.

100. Tuy nhiên, thuật ngữ “Hạch” vẫn mơ hồ và khó phân biện khỏi “Điểm tiêu điểm”, vị trí mà “Nguyên tử trường tồn” nắm giữ, và điều đó cũng hợp lý.

101. When comparing the “Lunar Angels” to the “Physical Sun” and the “Physical Planet”, one wonders about large physical elementals or entities of which the “Physical Sun” and “Physical Planet” could be considered the expression.

101. Khi so sánh “Các Thiên Thần Thái âm” với “Mặt Trời Hồng Trần” và “Hành Tinh Hồng Trần”, người ta tự hỏi về những hành khí thể chất lớn hoặc các thực thể mà “Mặt Trời Hồng Trần” và “Hành Tinh Hồng Trần” có thể được xem là biểu lộ của chúng.

102. If there are Solar Angels on a solar and planetary scale, there, likewise must be lunar angels and elementals also on that scale.

102. Nếu có các Thái dương Thiên Thần ở quy mô thái dương hệ và hành tinh, thì ắt hẳn cũng có các thiên thần thái âm và các hành khí ở quy mô ấy.

103. When we deal with the category “Lower Threefold Man” we see a vehicle rather than an energy. For man, this is true in two of three instances, as “Atma-Buddhi” is a principle and not a vehicle. There is an atmic vehicle and a buddhic vehicle (both eventually organized) but not until a high level of evolution is reached.

103. Khi chúng ta đề cập đến hạng mục “Phàm ngã tam phân thấp”, chúng ta thấy một vận cụ hơn là một năng lượng. Đối với con người, điều này đúng trong hai trong ba trường hợp, vì “Atma-Bồ đề” là một nguyên khí chứ không phải một vận cụ. Có một vận cụ atma và một vận cụ Bồ đề (cả hai sau cùng đều được tổ chức), nhưng chỉ khi đạt tới một trình độ tiến hóa cao.

104. The type of lower fire for man is identical to the type of lower fire for both the Planetary Logos and the Solar Logos. We have to be alert for three things when comparing the way the five types of E/entities are described: identicality, similarity and definite contrast. Attention to these three categories of comparison hold important clues regarding the nature of the E/entities under discussion.

104. Loại hạ hỏa đối với con người đồng nhất với loại hạ hỏa đối với cả Hành Tinh Thượng đế lẫn Thái dương Thượng đế. Khi so sánh cách năm loại Thực thể được mô tả, chúng ta phải cảnh giác ba điều: tính đồng nhất, tính tương tự và sự tương phản xác định. Chú ý đến ba hạng mục so sánh này sẽ chứa đựng những manh mối quan trọng liên hệ đến bản chất của các Thực thể đang bàn.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-11.jpg

105. When we begin to discuss “PLANES” and “ATOMS” we enter the world of the third aspect of divinity. Important contrasts will appear.

105. Khi chúng ta bắt đầu bàn về “CÁC CÕI” và “CÁC NGUYÊN TỬ”, chúng ta bước vào thế giới của phương diện thứ ba của thiêng liêng. Những tương phản quan trọng sẽ hiện ra.

106. The Entity in this case is the “Plane Raja Lord”, as each of the systemic planes has one.

106. Thực thể trong trường hợp này là “Chúa Tể Raja của Cõi”, vì mỗi cõi hệ thống có một vị như thế.

107. It is curious however that with regard to the three previous E/entities (the Solar Logos, the Planetary Logos and Man) the true B/being is listed under the category of “Medium” and not under the category, “Source”. What is curious is that the solar logoic Central Spiritual Sun should be considered a “Source” and not the solar logoic causal body which derives from the solar logoic Central Spiritual Sun.

107. Tuy nhiên, điều lạ là với ba Thực thể trước (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và Con người), thực thể đích thực lại được liệt kê dưới hạng mục “Trung gian” chứ không phải dưới hạng mục “Nguồn”. Điều gây tò mò là Mặt trời Tinh thần Trung Ương thuộc Thái dương Thượng đế lại được xem là một “Nguồn” chứ không phải hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế, vốn phát sinh từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương của Thái dương Thượng đế.

108. The same is true for the Planetary Logos, for the “Heavenly Man on His own Plane” is one of the principle causes of the planetary logoic causal body.

108. Điều tương tự đúng với Hành Tinh Thượng đế, vì “Đấng Thiên Nhân trên Cõi riêng của Ngài” là một trong những nguyên nhân chính yếu của hoa sen chân ngã hành tinh.

109. The same for man—his “Monad Spirit” is the cause of the causal body.

109. Điều này cũng đúng với con người—“Tinh thần Chân thần” của y là nguyên nhân của thể nguyên nhân.

110. The only way that the term “Medium” would make sense in these contexts is if the very highest part of these three E/entities (the Spirit Aspect) was the “Medium” for a still higher force. But there seems to be some logic missing as the term “Source” represents a point highest on the pyramid of causation, andit is listed first in the fivefold row of categories under discussion. And yet the terms listed under “Source” seem derivative from the categories listed under “Medium”, at least with regard to the first three E/entities (the Solar Logos, Planetary Logos, and Man). There is much, therefore, to be worked on in relation to Tabulation VII.

110. Cách duy nhất để thuật ngữ “Trung gian” có ý nghĩa trong các bối cảnh này là nếu phần tối cao nhất của ba Thực thể này (Phương diện Tinh thần) là “Trung gian” cho một mãnh lực còn cao hơn nữa. Nhưng dường như có điều gì đó thiếu logic, vì thuật ngữ “Nguồn” biểu thị một điểm cao nhất trên kim tự tháp nhân quả, và nó được liệt kê đầu tiên trong hàng ngũ phân các hạng mục đang bàn. Ấy vậy mà các thuật ngữ liệt kê dưới “Nguồn” dường như lại phát sinh từ các hạng mục liệt kê dưới “Trung gian”, ít nhất là liên quan đến ba Thực thể đầu (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và Con người). Do đó, còn rất nhiều điều phải khai triển liên quan đến Bảng VII.

111. In the second position in the row, it is fascinating to realize “A Deva Hierarchy” holds the same position as the term “Jewel” for the three higher E/entities.

111. Ở vị trí thứ hai trong hàng, thật thú vị khi nhận ra “Một Huyền Giai Thiên Thần” giữ cùng vị trí với thuật ngữ “Ngọc” đối với ba Thực thể cao hơn.

112. As an aside, one wonders why the term “PLANES” follows that of “MAN”, as the Raja Deva Lord of a plane is a far greater Entity than man. Probably it is because the Tabulation is divided in two parts—the first part, threefold, relates generically to all that we call “Man” (cosmically, systemically and planetarily). The second part relates to the deva kingdom and the third aspect of divinity.

112. Ngoài lề mà nói, người ta tự hỏi vì sao thuật ngữ “CÁC CÕI” lại theo sau “NGƯỜI”, trong khi Chúa Tể Raja của một cõi là một Thực thể lớn lao hơn con người rất nhiều. Có lẽ là vì Bảng được chia làm hai phần—phần thứ nhất, tam phân, liên hệ một cách khái quát đến tất cả những gì chúng ta gọi là “Người” (ở cấp vũ trụ, hệ thống và hành tinh). Phần thứ hai liên hệ đến giới thiên thần và phương diện thứ ba của thiêng liêng.

113. What is the analogy between “A Deva Hierarchy” and the term “Jewel”? Could the “Jewel” be composed of a number of deva entities?

113. Sự tương đồng giữa “Một Huyền Giai Thiên Thần” và thuật ngữ “Ngọc” là gì? Liệu “Ngọc” có thể được cấu thành bởi một số thực thể thiên thần chăng?

114. The tabulation seems to be saying that a “Plane Raja Lord” works through a particular “Deva Hierarchy”. We may that for the particular “Plane Raja Lord” of each plane, there is a particular “Deva Hierarchy” which serves as its focal point.

114. Bảng dường như nói rằng một “Chúa Tể Raja của Cõi” làm việc thông qua một “Huyền Giai Thiên Thần” cụ thể. Chúng ta có thể cho rằng, đối với “Chúa Tể Raja của Cõi” cụ thể của mỗi cõi, có một “Huyền Giai Thiên Thần” cụ thể làm tiêu điểm cho Ngài.

115. For the Raja Deva Lord of the atmic plane, would the Deva Hierarchy called the “Triple Flowers” serve as its focal point? For the Raja Deva Lord called “Kshiti” would the Deva Hierarchy known as the “Baskets of Nourishment” serve as its focal point? One can see the trend of this line of thought. One of the most important things to determine is what a focal point does.

115. Đối với Chúa Tể Raja của cõi atma, liệu Huyền Giai Thiên Thần gọi là “Ba Đóa Hoa” sẽ làm tiêu điểm cho Ngài? Đối với Chúa Tể Raja mang tên “Kshiti”, liệu Huyền Giai Thiên Thần được biết như “Những Chiếc Giỏ Nuôi Dưỡng” sẽ làm tiêu điểm cho Ngài? Người ta có thể thấy hướng đi của mạch tư duy này. Một trong những điều quan trọng nhất cần xác định là một điểm tiêu điểm làm gì.

116. We know somewhat what a “Jewel in the Lotus” does; it is the seat of the will of the Monad for three types of B/beings (Solar Logos, Planetary Logos and Man). Could the Deva Hierarchy serving as the focal point for the “Plane Raja Lord” also be a transmitter of a certain kind of will, and likewise the “Nucleus” of the atom which hold the same position?

116. Chúng ta phần nào biết “Ngọc trong Hoa Sen” làm gì; đó là toạ vị của ý chí của Chân thần đối với ba loại Hữu thể (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và Con người). Liệu Huyền Giai Thiên Thần đóng vai trò tiêu điểm cho “Chúa Tể Raja của Cõi” cũng là một kênh truyền một loại ý chí nào đó, và tương tự như vậy, “Hạch” của nguyên tử vốn giữ cùng vị trí ấy?

117. The category “Medium” holds the term “Atomic Subplanes”. We see that we are dealing with perhaps seven different “Planet Raja Lords” each of which has for a focal point a “Deva Hierarchy” and each of which uses as a medium of transmis­sion a particular “Atomic Subplane”. We can presume that the atomic subplane of any particular plane is the subplane of major focus for the “Plane Raja Lord”. Just as the highest point of power and expression for Sanat Kumara within Shamballa is the logoic plane, which is the highest cosmic etheric subplane, so the highest point of power and expression for the “Plane Raja Lord” is the atomic subplane of the plane which that Lord rules. We can infer that the highest specimens of the “Deva Hierarchy” which serves as the focal point for the Raja Deva Lord are also ‘located’ on the atomic subplane of the particular plane in question.

117. Hạng mục “Trung gian” bao gồm thuật ngữ “Các Cõi phụ Nguyên tử”. Chúng ta thấy rằng mình đang làm việc với có lẽ bảy “Chúa Tể Raja của Cõi” khác nhau, mỗi vị có một “Huyền Giai Thiên Thần” làm điểm tiêu điểm, và mỗi vị dùng một “Cõi phụ Nguyên tử” nhất định làm môi trường truyền dẫn. Ta có thể suy rằng cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi nào là cõi phụ trọng tâm chủ yếu cho “Chúa Tể Raja của Cõi” ấy. Cũng như điểm cao nhất của quyền năng và biểu lộ đối với Sanat Kumara trong Shamballa là cõi logoic, vốn là cõi phụ dĩ thái vũ trụ cao nhất, thì điểm cao nhất của quyền năng và biểu lộ đối với “Chúa Tể Raja của Cõi” là cõi phụ nguyên tử của chính cõi mà Vị ấy cai quản. Ta có thể suy ra rằng những “mẫu mực” cao nhất của “Huyền Giai Thiên Thần” làm tiêu điểm cho Chúa Tể Raja cũng ‘tọa lạc’ trên cõi phụ nguyên tử của cõi đang được xét.

118. The “Type of Energy” involved in the expression of the “Plane Raja Lord” is “Fohatic”. We immediately can see the first ray nature of Fohat even though it is much associated with the third aspect of divinity. Fohat is essentially “cosmic electricity”.

118. “Loại Năng lượng” liên hệ đến biểu lộ của “Chúa Tể Raja của Cõi” là “Fohatic”. Chúng ta lập tức có thể thấy bản chất cung một của Fohat dẫu Ngài được gắn nhiều với phương diện thứ ba của thiêng liêng. Về cốt tủy, Fohat là “điện lực vũ trụ”.

119. The nature of the fire involved with the “Plane Raja Lord” is “Central Fire. Initiatory”. This is the correspondence to “Electric Fire” in the three previous categories of E/entities. The centrality of the fire indicates its connection to the first ray. When we read the term “Initiatory” one wonders whether this type of fire is utilized by the Hierophant in the process of initiation. It is likely the atomic subplane energy is applied in the initiatory process.

119. “Bản chất của Lửa” liên quan đến “Chúa Tể Raja của Cõi” là “Lửa Trung tâm. Khai mở”. Đây là tương ứng với “Lửa Điện” trong ba hạng mục Thực thể trước. Tính trung tâm của lửa này cho thấy mối liên hệ của nó với cung một. Khi đọc thuật ngữ “Khai mở”, người ta tự hỏi liệu loại lửa này có được Vị Tế Sư sử dụng trong tiến trình điểm đạo hay không. Có khả năng là năng lượng của cõi phụ nguyên tử được áp dụng trong tiến trình điểm đạo.

120. From another perspective, the term “Initiatory” may indicate that that which occurs on the lower subplanes is initiated on the atomic subplane.

120. Từ góc nhìn khác, thuật ngữ “Khai mở” có thể chỉ rằng những gì xảy ra trên các cõi phụ thấp được khởi phát tại cõi phụ nguyên tử.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-12.jpg

121. The next category of entity (and lower than the Plane Raja Lord) consists of “Plane Devas”. This is potentially a huge category. The greatest of these Plane Devas may be the ones who rule each subplane of a particular plane. Of these there are seven.

121. Hạng mục Thực thể kế tiếp (và thấp hơn Chúa Tể Raja của Cõi) gồm “Các deva của Cõi”. Đây tiềm tàng là một hạng mục rất lớn. Những vị vĩ đại nhất trong các deva của cõi này có thể là những vị cai quản mỗi cõi phụ của một cõi nhất định. Có bảy vị như vậy.

122. In a way a Plane Raja Lord of a systemic plane is a Plane Deva if we consider the systemic planes as subplanes of the cosmic physical plane.

122. Ở một nghĩa nào đó, một Chúa Tể Raja của một cõi hệ thống là một deva của cõi nếu chúng ta xem các cõi hệ thống như những cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

123. In addition there are many lesser types of devas, each type associated mostly with one of the subplanes of any particular plane. These, too, could be called “Plane Devas”.

123. Ngoài ra còn có nhiều loại deva nhỏ hơn, mỗi loại gắn chủ yếu với một trong các cõi phụ của bất kỳ cõi nào. Những vị này cũng có thể được gọi là “Các deva của Cõi”.

124. Each subplane of a systemic plane, has certain etheric centres usually associated with it. The head center is usually associated with the atomic subplane and the heart center with the sub-atomic subplane. The throat center is usually associated with the super-etheric subplane and the other etheric centers with the etheric subplane (the fourth and lowest subplane).

124. Mỗi cõi phụ của một cõi hệ thống thường có những luân xa dĩ thái nhất định liên hệ với nó. Luân xa đầu thường tương ứng với cõi phụ nguyên tử và luân xa tim với cõi phụ phụ-nguyên tử. Luân xa cổ họng thường tương ứng với cõi phụ thượng dĩ thái, và các luân xa dĩ thái khác tương ứng với cõi phụ dĩ thái (cõi phụ thứ tư và thấp nhất).

125. The “Centres” have, within the constitution, lesser “Plane Devas”.

125. Các “Trung tâm” có, trong cấu trúc của mình, những “deva của cõi” nhỏ hơn.

126. In this enumeration the strictly physical centers such as glands (and their correspondences on subplanes other than the lowest three physical subplanes) may also be considered. The first four subplanes of any systemic plane can be considered the ‘etheric’ subplanes of that systemic plane; the lowest three subplanes can be considered correspondences to the dense subplanes of the systemic physical plane.

126. Trong sự liệt kê này, các trung tâm hồng trần thuần tuý như các tuyến nội tiết (và các tương ứng của chúng trên những cõi phụ khác ngoài ba cõi phụ hồng trần thấp nhất) cũng có thể được xét đến. Bốn cõi phụ đầu của bất kỳ cõi hệ thống nào có thể được xem như các cõi phụ ‘dĩ thái’ của cõi hệ thống đó; ba cõi phụ thấp nhất có thể được xem như các tương ứng với ba cõi phụ đậm đặc của cõi hồng trần hệ thống.

127. One would presume that a “Deva Hierarchy” would have its centers of force just as has a man, a Planetary Logos, or a Solar Logos. Perhaps these centers are distributed on the various subplanes.

127. Người ta có thể suy rằng một “Huyền Giai Thiên Thần” sẽ có những trung tâm lực cũng như một con người, một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế. Có lẽ các trung tâm này được phân bố trên các cõi phụ khác nhau.

128. DK has not revealed much about the internal structure of devas. We do know they have centers as has a man, because He has spoken about the heart center of the Solar Angel. If there is one center, there are others.

128. Chân sư DK chưa tiết lộ nhiều về cấu trúc nội tại của các deva. Chúng ta biết rằng các Ngài có trung tâm như con người có, vì Ngài đã nói về luân xa tim của Thái dương Thiên Thần. Nếu có một trung tâm, ắt có những trung tâm khác.

129. We know that the egoic lotus is considered a “centre”, in fact the heart center of the Monad which expresses through it. The “centres” of Plane Devas are the correspondences to the lotus appearing in the first three categories.

129. Chúng ta biết rằng hoa sen chân ngã được xem là một “trung tâm”, thực ra là luân xa tim của Chân thần biểu lộ qua nó. Các “trung tâm” của deva của cõi là những tương ứng với hoa sen xuất hiện trong ba hạng mục đầu.

130. The medium of expression for the Plane Devas is “Prana”. Usually prana is considered as existing on all the four etheric subplanes of the systemic physical plane and also, we may infer, on the four ‘etheric’ subplanes of any systemic plane. We may question, however, whether the energy of the atomic subplane is to be excluded from that which is designated as “Prana”.

130. Môi trường biểu lộ cho các deva của cõi là “Prana”. Thông thường, prana được xem như hiện hữu trên bốn cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống và cũng, ta có thể suy, trên bốn cõi phụ ‘dĩ thái’ của bất kỳ cõi hệ thống nào. Tuy nhiên, chúng ta có thể đặt vấn đề liệu năng lượng của cõi phụ nguyên tử có bị loại trừ khỏi phạm vi được gọi là “Prana” hay không.

131. The higher correspondences of “Prana” are the “Heart of the Sun”, “Egoic Groups” and “Solar Angel”—a mixed assortment. We can see by this grouping that “Prana” is definitely considered a solar force and possesses on its own level the same factor of coherence as it found in the higher three categories.

131. Các tương ứng cao hơn của “Prana” là “Tim của Mặt Trời”, “Các Nhóm chân ngã” và “Thái dương Thiên Thần”—một nhóm có vẻ pha tạp. Qua nhóm này chúng ta có thể thấy rằng “Prana” chắc chắn được xem là một lực thái dương và tự nó sở hữu cùng một yếu tố cố kết như được thấy ở ba hạng mục cao hơn.

132. We remember that the Solar Angels are emanated from the Heart of the Sun. From a higher perspective can they be considered a type of cosmic prana?

132. Chúng ta nhớ rằng các Thái dương Thiên Thần được xuất lộ từ Tim của Mặt Trời. Từ một viễn tượng cao hơn, liệu các Ngài có thể được xem như một loại prana vũ trụ?

133. The “Type of Energy” is “Solar Energy” which is predictable and which contrasts with “Fohatic”. “Solar Energy” in this context expresses the second ray just as “Fohatic” Energy expresses the first.

133. “Loại Năng lượng” là “Năng lượng Thái dương”, điều có thể dự báo được và đối lập với “Fohatic”. Trong bối cảnh này, “Năng lượng Thái dương” biểu lộ cung hai, cũng như Năng lượng “Fohatic” biểu lộ cung một.

134. The “Nature of Fire” is predictably “Form Building Fire” which is a lower correspondence to solar fire. We may infer that “Prana” is a form-building and form-sustaining expression of “Solar Fire”. We may also infer that the “Plane Devas” are primarily ‘Form Builders’.

134. “Bản chất của Lửa” có thể dự báo là “Lửa kiến tạo hình tướng”, vốn là tương ứng thấp hơn của Lửa Thái dương. Ta có thể suy rằng “Prana” là một biểu lộ kiến tạo và duy trì hình tướng của “Lửa Thái dương”. Ta cũng có thể suy rằng “Các deva của Cõi” trước hết là ‘Những Nhà Kiến Tạo Hình tướng’.

s9s12-part-i-tcf-1185-1188-13.jpg

135. The third category of “Source” under division, “PLANES” are the “Elementals”. The use of this term in the third position suggests what a wide range of E/entities must have been included amongst “Plane Devas”, because “Elementals” are lower than the lowest unconscious devas.

135. Hạng mục thứ ba của “Nguồn” dưới phân mục “CÁC CÕI” là “Các Hành khí”. Việc dùng thuật ngữ này ở vị trí thứ ba gợi ý rằng một phạm vi rất rộng các Thực thể hẳn đã được bao gồm trong “Các deva của Cõi”, bởi vì “Các Hành khí” thấp hơn cả những deva vô thức thấp nhất.

136. We must consider these “Elementals” as higher than the living atoms and tiny living particles or lesser atoms which constitute “Elemental Essence”. Sometimes these tiny lives have also been called “Elementals”, and yet, if this name is appropriate, they are “Elementals” of a much lower order than the “Elementals” here discussed.

136. Chúng ta phải xem những “Hành khí” này là cao hơn các nguyên tử sống và những hạt sống nhỏ bé hay những nguyên tử phụ, vốn cấu thành “Tinh chất Hành khí”. Đôi khi những sinh linh nhỏ bé này cũng được gọi là “Hành khí”, nhưng nếu tên gọi này thích đáng, thì chúng là “Hành khí” bậc thấp hơn nhiều so với “Hành khí” đang được bàn ở đây.

137. The “Elementals” have “Elemental Essence” as their focal point, just as the “Plane Devas” have “Centers” as their focal points, and a “Plane Raja Lord” has a “Deva Hierarchy” as its focal point. A focal point is a specific concentration of energy through which an E/entity can work and express.

137. “Các Hành khí” có “Tinh chất Hành khí” làm điểm tiêu điểm, cũng như “Các deva của Cõi” có “Các Trung tâm” làm điểm tiêu điểm, và một “Chúa Tể Raja của Cõi” có một “Huyền Giai Thiên Thần” làm điểm tiêu điểm. Một điểm tiêu điểm là một sự tập trung năng lượng đặc thù qua đó một Thực thể có thể làm việc và biểu lộ.

138. The terms used are somewhat vague, or at least lacking is structural specifics. This is understandable until man comes into closer relation with the deva kingdom.

138. Các thuật ngữ được dùng ở đây phần nào mơ hồ, hoặc ít nhất thiếu các đặc tính cấu trúc cụ thể. Điều này là dễ hiểu cho đến khi con người bước vào mối liên hệ gần gũi hơn với giới thiên thần.

139. The medium of expression in this third category under the major category “PLANES” is “Molecular Substance”. We much watch the terms used closely. “Elemental Essence” is a lower expression of “Monadic Essence” and “Molecular Substance” is a lower and more aggregated expression of “Atomic Substance”.

139. Môi trường biểu lộ trong hạng mục thứ ba dưới hạng mục chính “CÁC CÕI” là “Chất liệu Phân tử”. Chúng ta phải theo sát các thuật ngữ được dùng. “Tinh chất Hành khí” là một biểu lộ thấp hơn của “Tinh chất Chân thần” và “Chất liệu Phân tử” là một biểu lộ thấp hơn và kết tụ hơn của “Chất liệu Nguyên tử”.

140. The divisions suggested are 1—3—3. It would appear that “Prana” applies on three subplanes and “Molecular Substance” on the lowest three subplanes. Technically, however, any substance less than atomic substance (which is confined to the first subplane) can be considered molecular substance.

140. Các phân chia được gợi ý là 1—3—3. Có vẻ “Prana” áp dụng trên ba cõi phụ và “Chất liệu Phân tử” trên ba cõi phụ thấp nhất. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, bất kỳ chất liệu nào thấp hơn chất liệu nguyên tử (vốn bị giới hạn ở cõi phụ thứ nhất) đều có thể được xem là chất liệu phân tử.

141. The term “molecular” suggests “aggregation”.

141. Thuật ngữ “phân tử” gợi ý “sự kết tụ”.

142. Putting together the first three factors of the third row under “PLANES”, we find that “Elementals” use for their focal point “Elemental Essence” which uses as its medium of expression “Molecular Substance”.

142. Khi ghép ba yếu tố đầu của hàng thứ ba dưới “CÁC CÕI” lại, chúng ta thấy rằng “Các Hành khí” dùng “Tinh chất Hành khí” làm điểm tiêu điểm, còn “Tinh chất Hành khí” thì dùng “Chất liệu Phân tử” làm môi trường biểu lộ.

143. It is important to read not only in rows but in columns as well to understand the hierarchical order of the items found in the columns. Obviously “Prana” is of a higher order than “Molecular Substance”. It seems suggested that “Molecular Substance” is to be found on the three lower subplanes of each of the three lower systemic planes. Perhaps the three lower subplanes of all the systemic planes can be considered “molecular”, as each systemic plane is divided in two parts—four subplanes correspondentially ‘etheric’ and three subplanes correspondentially ‘physical’.

143. Điều quan trọng là không chỉ đọc theo hàng mà còn theo cột để hiểu trật tự thứ bậc của các mục trong các cột. Hiển nhiên “Prana” thuộc trật tự cao hơn “Chất liệu Phân tử”. Có vẻ được gợi ý rằng “Chất liệu Phân tử” được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp của mỗi trong ba cõi hệ thống thấp. Có lẽ ba cõi phụ thấp của tất cả các cõi hệ thống có thể được xem là “phân tử”, vì mỗi cõi hệ thống được chia làm hai phần—bốn cõi phụ ‘dĩ thái’ theo tương ứng và ba cõi phụ ‘hồng trần’ theo tương ứng.

144. Again “molecular” means “aggregated” and that which is aggregated is denser than that which is not.

144. Một lần nữa, “phân tử” nghĩa là “kết tụ”, và cái gì kết tụ thì đậm đặc hơn cái không kết tụ.

145. What emerges is that the “Elementals” express through both “Elemental Essence” (focally) and “Molecular Substance” (distributively).

145. Điều nổi lên là “Các Hành khí” biểu lộ vừa qua “Tinh chất Hành khí” (về phương diện tiêu điểm) vừa qua “Chất liệu Phân tử” (về phương diện phân phối).

146. “Lunar Force” follows naturally after “Solar Energy” in the column related to the “Type of Energy”. We consistently see that force is considered a lower and more concrete expression of energy.

146. “Lực Thái âm” theo sau một cách tự nhiên sau “Năng lượng Thái dương” trong cột liên hệ đến “Loại Năng lượng”. Chúng ta nhất quán thấy rằng lực được xem như một biểu lộ thấp hơn và cụ thể hơn của năng lượng.

147. The “Nature of Fire” is “The Mother’s Heat” which sustains the constituents of the form. “Heat” is almost always associated with fire by friction and the third aspect of divinity (which is the “Activity Aspect”). We know that the degree of heat corresponds to the degree of activity of the constituents of any field.

147. “Bản chất của Lửa” là “Nhiệt của Mẹ”, vốn duy trì các thành tố của hình tướng. “Nhiệt” hầu như luôn gắn với lửa do ma sát và phương diện thứ ba của thiêng liêng (vốn là “Phương diện Hoạt động”). Chúng ta biết rằng độ nhiệt tương ứng với mức độ hoạt động của các thành phần trong bất kỳ trường nào.

ATOMS

CÁC NGUYÊN TỬ

1… Atom… Nucleus… Plane Deva… Positive… Electric

1… Nguyên tử… Hạch… Thiên thần của Cõi… Dương tính… Điện

148. We now deal with the lowest of the five E/entities which have been selected for comparison.

148. Giờ đây chúng ta bàn đến Thực thể thấp nhất trong năm Thực thể đã được chọn để so sánh.

149. The “Atom” is the correspondence to the Solar Logos, Planetary Logos, Man and the Plane Raja Lord.

149. “Nguyên tử” là tương ứng với Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, Con người và Chúa Tể Raja của Cõi.

150. The “Nucleus” of the “Atom” corresponds to the “Jewels” (in the lotus) of the first three E/entities and to the “Deva Hierarchy” through which the Plane Raja Lord expresses itself focally.

150. “Hạch” của “Nguyên tử” tương ứng với “Những Ngọc” (trong hoa sen) của ba Thực thể đầu, và tương ứng với “Huyền Giai Thiên Thần” mà qua đó Chúa Tể Raja của Cõi biểu lộ theo lối tiêu điểm.

151. It is reasonable to think that the “Atom” works through its “Nucleus” as a focal point.

151. Có lý khi nghĩ rằng “Nguyên tử” vận hành qua “Hạch” của nó như một điểm tiêu điểm.

152. But now we come to the same kind of ambiguity (heretofore encountered) related to the term “Medium”. Is the “Medium” a medium of expression for the “Source”, or is the “Medium” actually higher than the “Source” and a “Medium of Expression” for an E/entity still higher than itself? As I pointed out, the “Monad Spirit” considered as a “Medium” is much higher than the “Causal Body” considered as a “Source” in the first row under “MAN”. And, likewise, the “Central Spiritual Sun” of the Solar Logos is much higher than the “Causal Body” of the Solar Logos considered as a “Source”, and so for the Planetary Logos as well.

152. Nhưng giờ đây chúng ta gặp lại cùng kiểu mơ hồ (đã gặp trước đây) liên hệ đến thuật ngữ “Trung gian”. “Trung gian” là một môi trường biểu lộ cho “Nguồn”, hay “Trung gian” thực ra cao hơn “Nguồn” và là một “Môi trường Biểu lộ” cho một Thực thể còn cao hơn nữa? Như tôi đã chỉ ra, “Tinh thần của Chân thần” khi được xem là một “Trung gian” thì cao hơn nhiều so với “Thể Nguyên nhân” khi được xem là một “Nguồn” trong hàng đầu tiên dưới “NGƯỜI”. Và tương tự, “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” của Thái dương Thượng đế cao hơn nhiều so với “Thể Nguyên nhân” của Thái dương Thượng đế khi được xem là một “Nguồn”, và điều đó cũng đúng với Hành Tinh Thượng đế.

153. Similarly, a “Plane Deva” is, it would seem, depending on its scope, a greater entity than an “Atom”, unless we are thinking of a “Plane Deva” as extremely minute and as a constituent of an “Atom”. Yet such constituents, or particles of an “Atom” should be called “Elementals” and not “Plane Devas”.

153. Tương tự, một “Deva của Cõi” dường như, tuỳ theo tầm mức, là một thực thể lớn lao hơn một “Nguyên tử”, trừ khi chúng ta đang nghĩ về một “Deva của Cõi” cực kỳ vi tế như một thành phần cấu tạo của một “Nguyên tử”. Tuy nhiên, những thành phần như vậy, hay các hạt của một “Nguyên tử”, nên được gọi là “Hành khí” chứ không phải “Deva của Cõi”.

154. Perhaps it begins to dawn upon us how very occult Tabulation VII really is and how much is concealed under the naming the ordering of the terms. Through comparison much can be discovered, but the possible illumination is not always easy to evoke.

154. Có lẽ bắt đầu le lói trong chúng ta nhận thức về mức độ huyền bí của Bảng VII thực sự sâu đến đâu và biết bao điều ẩn tàng dưới cách gọi tên và sắp đặt các thuật ngữ. Qua so sánh, nhiều điều có thể được khám phá, nhưng ánh sáng khả dĩ không phải lúc nào cũng dễ gợi lên.

155. It is no surprise to see that the “Nucleus” is considered to possess a “Type of Energy” which is “Positive” and a representative of a fire called “Electric”.

155. Không ngạc nhiên khi thấy rằng “Hạch” được xem là sở hữu một “Loại Năng lượng” mang tính “Dương tính” và là đại diện của một loại lửa gọi là “Điện”.

156. The mystery is the term “Plane Deva” as representing the “Medium”. Much will depend upon how we consider the term “Medium”. Perhaps we can consider it as the “Medium” in which the “Source” is immersed. This would be different from considering the “Medium” as a medium of expression.

156. Điều bí ẩn nằm ở thuật ngữ “Thiên thần Cõi” như biểu trưng cho “Môi trường”. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào cách chúng ta xét đến thuật ngữ “Môi trường”. Có lẽ chúng ta có thể xem nó như “Môi trường” trong đó “Nguồn” được nhúng chìm.  Điều này sẽ khác với việc coi “Môi trường” như một môi trường biểu hiện.

157. But there seems to be no true consistency in the relationship between “Source” and “Medium” that would allow us to do this. Whereas we might say that the three types of causal bodies are immersed in the greater scope of the “Central Spiritual Sun” for the “Causal Body” of the Solar Logos, “Heavenly Man On His own Plane” for the “Causal Body” of the Planetary Logos, and “Monad Spirit” for the “Causal Body” of the “Man”, it is surely difficult to say that the “Plane Raja Lord” (considered as a “Source”) is immersed in an “Atomic Subplane”.

157. Nhưng dường như không có sự nhất quán thực sự nào trong mối liên hệ giữa “Nguồn” và “Môi trường” cho phép chúng ta làm như thế. Trong khi chúng ta có thể nói rằng ba loại “thể nguyên nhân” được nhúng chìm  trong phạm vi lớn hơn của “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” đối với “Thể Nguyên Nhân” của Thái dương Thượng đế, “Đấng Thiên Nhân trên Chính Cõi của Ngài” đối với “Thể Nguyên Nhân” của Hành Tinh Thượng đế, và “Tinh thần Chân thần” đối với “Thể Nguyên Nhân” của “con người”, thì hẳn là khó nói rằng “Đấng Chúa Tể Raja của Cõi” (được xét như một “Nguồn”) được nhúng chìm  trong một “cõi phụ nguyên tử”.

158. Of course there are at least two types of Plane Raja Lords—one which rules a plane within the constitution of a Planetary Logos. Such a one would be Varuna in relation to our planetary logoic astral plane. The other rules an entire systemic plane (throughout the solar system) and would be, in this case, the higher correspondence to Varuna.

158. Dĩ nhiên có ít nhất hai loại Đấng Chúa Tể Raja của Cõi—một vị cai quản một cõi trong cấu trúc của một Hành Tinh Thượng đế. Vị như vậy sẽ là Varuna liên hệ với cõi cảm dục thuộc Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Vị kia cai quản trọn một cõi hệ thống  (trong khắp hệ mặt trời) và trong trường hợp này sẽ là sự tương ứng cao hơn của Varuna.

159. Let us say that although the relationship between a “Plane Raja Lord” and an “Atomic Subplane” does not seem to correspond with the other relationships between “Source” and “Medium”, for four of the E/entities, it is possible to consider the “Source” as immersed in the “Medium” given.

159. Chúng ta hãy nói rằng tuy mối liên hệ giữa một “Đấng Chúa Tể Raja của Cõi” và một “cõi phụ nguyên tử” dường như không tương ứng với các mối liên hệ khác giữa “Nguồn” và “Môi trường”, thì đối với bốn Thực-thể, vẫn  thể xem “Nguồn” như được chìm trong “Môi trường” đã nêu.

160. An “Atom” can certainly be considered immersed in a “Plane Deva”, yet, there is a degree of ambiguity concerning the scope of the “Plane Deva”. Is it meant to be the same kind of “Plane Deva” mentioned in the second row under the large division called “PLANES”? If so, quite large Entities are indicated (i.e., they are rulers of systemic subplanes) and so it would be natural for an “Atom” to be immersed in such a “Medium” within which the “Atom” can express.

160. Một “Nguyên tử” chắc chắn có thể được coi là chìm trong một “Thiên thần Cõi”, tuy vậy vẫn có mức độ mơ hồ liên quan đến phạm vi của “Thiên thần Cõi”. Nó có được hiểu là cùng loại “Thiên thần Cõi” đã nêu ở hàng thứ hai dưới phân đoạn lớn gọi là “CÁC CÕI” không? Nếu vậy, thì những Thực-thể khá lớn được chỉ ra (tức là Các Ngài là những vị cai quản các cõi phụ hệ thống), và vì thế tự nhiên một “Nguyên tử” sẽ được chìm trong một “Môi trường” như vậy, bên trong  đó “Nguyên tử” có thể biểu hiện.

2… Atomic Unit of Form… Sphere… Plane Devas… Balancing… Solar Fire

2… Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng… Hình cầu… Các Thiên thần Cõi… Cân bằng… Lửa Thái dương

161. In the first column of the second row under “ATOMS” we have an unusual term—“Atomic Unit of Form”. Form relates to the second aspect of divinity, so it is fitting to be discussing it in the second row. But how does the “Atom” per se, differ from the “Atomic Unit of Form”?

161. Ở cột thứ nhất của hàng thứ hai dưới “CÁC NGUYÊN TỬ” chúng ta gặp một thuật ngữ khác thường—“Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng”. Hình tướng liên hệ với Phương diện thứ hai của thiên tính, nên bàn về nó ở hàng thứ hai là thích hợp. Nhưng “Nguyên tử” tự thân khác với “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” thế nào?

162. Since, under “PLANES” the “Plane Devas” are subordinate to the “Plane Raja Lord” we would expect the “Atomic Unit of Form” to be subordinate to the “Atom”.

162. Vì, dưới “CÁC CÕI”, “Các Thiên thần Cõi” lệ thuộc “Đấng Chúa Tể Raja của Cõi”, chúng ta sẽ kỳ vọng “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” sẽ lệ thuộc “Nguyên tử”.

163. Perhaps the term “Atom” signifies the atom as a life where as the term “Atomic Unit of Form” signifies the atom as a form.

163. Có lẽ thuật ngữ “Nguyên tử” biểu thị nguyên tử như một sự sống  còn thuật ngữ “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” biểu thị nguyên tử như một hình tướng.

164. We may be speaking of the formal relationship and unity of all constituents within an atom.

164. Chúng ta có thể đang nói về mối liên hệ hình thức và sự hợp nhất của mọi thành phần trong một nguyên tử.

165. We may also wonder whether that constituent within the “Atom” called the “neutron” is not implicated. It has neither a positive nor a negative charge but is related to the factor of balance and equilibrium.

165. Chúng ta cũng có thể tự hỏi liệu thành phần trong “Nguyên tử” gọi là “nơtron” có được hàm ý hay không. Nó không mang điện tích dương hay âm mà liên hệ với yếu tố cân bằng và quân bình.

166. There are simply a number of terms which are conspicuously unusual, and so the correspondences are not entirely straightforward.

166. Có một số thuật ngữ rõ ràng là khác thường, do đó các tương ứng không hoàn toàn đơn giản.

167. In the second row and second column under “ATOMS” we have the term “Sphere”, which indicates that the wholeness of the atomic form may be referenced. In this case the sphere has an inclusive, second ray connotation.

167. Ở hàng thứ hai và cột thứ hai dưới “CÁC NGUYÊN TỬ” chúng ta có thuật ngữ “Hình cầu”, cho thấy có thể đang ám chỉ tính toàn thể của hình tướng nguyên tử. Trong trường hợp này, hình cầu mang sắc thái bao gồm, thuộc cung hai.

168. Noting the correspondences we see that the “Sphere” corresponds to the “Centres” under PLANES, and to the term “Lotus” under each of the three types of “Man” (Solar Logos, Planetary Logos and Man).

168. Ghi nhận các tương ứng, chúng ta thấy “Hình cầu” tương ứng với “Các Trung tâm” dưới “CÁC CÕI”, và với thuật ngữ “Hoa sen” dưới mỗi loại trong ba loại “Con người” (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và con người).

169. The correspondence between a “Sphere” and the terms “Lotus” and “Centre” can easily be seen.

169. Sự tương ứng giữa “Hình cầu” với các thuật ngữ “Hoa sen” và “Trung tâm” có thể dễ dàng được thấy.

170. Instead of the term “Plane Deva” related as a “Medium” to “Atom”, we have “Plane Devas” as the “Medium” to the “Atomic Unit of Form”. Using the idea of the “Medium” as indicating ‘immersion in a medium within which expression occurs’, we can understand “Atomic Unit(s) of Form” immerse in the “Plane Devas” of various kinds.

170. Thay vì thuật ngữ “Thiên thần Cõi” liên hệ như một “Môi trường” với “Nguyên tử”, chúng ta có “Các Thiên thần Cõi” như “Môi trường” đối với “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng”. Dùng ý niệm “Môi trường” như chỉ dấu ‘sự chìm trong một môi trường mà trong đó việc biểu hiện diễn ra’, chúng ta có thể hiểu “(Các) Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” chìm trong “Các Thiên thần Cõi” thuộc các loại khác nhau.

171. “Plane Devas” are included within the larger “Plane Deva”. The “Atom” considered as a life finds its place within the greater “Plane Deva”. The “Atomic Unit of Form” finds its expression within the medium of various kinds of “Plane Devas”. Admittedly, there is ambiguity in this comparison. We must assume that the “Plane Devas” are lesser than the “Plane Deva”.

171. “Các Thiên thần Cõi” nằm trong phạm vi của “Thiên thần Cõi” lớn hơn. “Nguyên tử” được xét như một sự sống  tìm được chỗ đứng của nó trong “Thiên thần Cõi” lớn hơn. “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” tìm sự biểu hiện của nó trong môi trường của các loại “Thiên thần Cõi” khác nhau. Phải thừa nhận rằng có sự mơ hồ trong so sánh này. Chúng ta phải giả định rằng “Các Thiên thần Cõi” thấp hơn vị  “Thiên thần Cõi”.

172. The term “Balancing” fits well with the second aspect and is predictably placed between “Positive” and “Negative”. Again one things of that type of electricity which is called neutral or equilibrizing. The atomic constituent called the “neutron” again comes to mind.

172. Thuật ngữ “Cân bằng” rất phù hợp với Phương diện thứ hai và được đặt một cách có thể dự đoán giữa “Tích cực” và “Tiêu cực”. Một lần nữa người ta nghĩ đến loại điện lực được gọi là trung hòa hay quân bình hóa. Thành phần nguyên tử gọi là “nơtron” lại hiện lên trong tâm trí.

173. The “Nature of Fire” is predictably “Solar Fire”.

173. “Bản tính của Lửa” một cách có thể dự đoán là “Lửa Thái dương”.

3… Electrons… Nuclei… Elementals… Negative… Fire by Friction

3… Điện tử… Hạt nhân… Các hành khí… Tiêu cực… Lửa do ma sát

174. “Electrons” are the correspondence within the atom to the third or substantial aspect. They are a part of the atomic whole.

174. “Điện tử” là sự tương ứng trong nguyên tử với Phương diện thứ ba hay phương diện chất liệu. Chúng là một bộ phận  của toàn thể nguyên tử.

175. Considered as a “Source” the “Electrons” work through “Nuclei”—their own presumably, and not through the “Nucleus” of the “Atom” itself. “Electrons” are still mega-structures compared to still lesser particles which comprise them. So even the tiny electron has its nucleus and those lives which are to it as “Electrons” are to “Atoms”.

175. Khi được xét như một “Nguồn”, “Điện tử” vận hành qua “Hạt nhân”— của chính chúng  có lẽ vậy, chứ không phải qua “Hạt nhân” của chính “Nguyên tử”. “Điện tử” vẫn là những cấu trúc tương đối lớn so với những hạt nhỏ hơn còn cấu thành chúng. Vậy nên ngay cả điện tử nhỏ bé cũng có hạt nhân của nó và những sự sống đối với nó cũng như “Điện tử” đối với “Nguyên tử”.

176. The electron is an elemental life, so when we reach the third column of the third row and read the word “Elementals” we have to wonder about the scope and size of the “Elementals” concerned.

176. Điện tử là một sự sống hành khí, vì thế khi chúng ta đến cột thứ ba của hàng thứ ba và đọc từ “các hành khí” chúng ta phải tự hỏi về phạm vi và tầm cỡ của “các hành khí” liên hệ.

177. Are the “Elementals” listed here (presumably smaller than the “Elementals” listed under “PLANES”) a “Medium” within which “Electrons” express themselves, or are these “Elementals” lives of even lesser scope than the “Electrons” through which the “Electrons” express themselves. Perhaps both are possible.

177. Liệu “các hành khí” được liệt kê ở đây (có lẽ nhỏ hơn “các hành khí” được liệt kê dưới “CÁC CÕI”) là một “Môi trường” bên trong  đó “Điện tử” tự biểu hiện, hay những “các hành khí” này là các sự sống có phạm vi còn nhỏ hơn “Điện tử” thông qua  đó “Điện tử” tự biểu hiện? Có lẽ cả hai đều có thể.

178. The “Type of Energy” of the “Electrons” is, of course, “Negative” and the “Nature of Fire” is, predictably, “Fire by Friction”.

178. “Loại Năng lượng” của “Điện tử” dĩ nhiên là “Tiêu cực” và “Bản tính của Lửa” thì, như có thể dự liệu, là “Lửa do ma sát”.

179. Analyzing Tabulation VII has been an exacting process and far more is left unanswered than answered. The Tibetan has veiled, or perhaps disclosed to some, certain very subtle relationships. He has shows that analogies presented in this tabulation are not exact though naturally there are striking similarities. When He has presented a term which is at variance with one which we might expect, He has revealed, perhaps, some ways in which the five types of E/entities and the forms through which they express are at variance with one another.

179. Phân tích Bảng Biểu VII là một quá trình đòi hỏi khắt khe và còn nhiều điều chưa được giải đáp hơn là đã được trả lời. Chân sư Tây Tạng đã che giấu, hoặc có lẽ đã hiển lộ cho một số người, những mối liên hệ hết sức vi tế. Ngài cho thấy rằng các phép tương đồng được trình bày trong bảng này không chính xác, dù tự nhiên vẫn có những điểm tương tự nổi bật. Khi Ngài nêu một thuật ngữ sai khác với điều chúng ta có thể trông đợi, có lẽ Ngài đã hé lộ vài phương cách mà theo đó năm loại Hữu thể và các hình tướng qua đó họ biểu lộ lại sai khác nhau.

180. Perhaps we have often wondered why analogies and correspondences may not be exact. What is it about the structure of things which correspond which make analogies possible but exact correspondences impossible? I think DK has hinted at structural attributes which make exact correspondences amongst these E/entities impossible.

180. Có lẽ chúng ta đã thường băn khoăn vì sao các phép tương đồng và các tương ứng lại không thể hoàn toàn chính xác. Trong cấu trúc của những gì tương ứng có điều gì làm cho các phép so sánh là khả hữu nhưng các tương ứng chính xác thì bất khả? Tôi nghĩ Chân sư DK đã ám chỉ đến những thuộc tính cấu trúc khiến cho các tương ứng chính xác giữa các Hữu thể này trở nên bất khả.

181. Obviously, in this analysis we have only scratched the surface of illuminating the nature of these E/entities and their relationship with one another.

181. Rõ ràng, trong phân tích này chúng ta mới chỉ khơi trên bề mặt của việc soi sáng bản tính của các Hữu thể này và mối liên hệ của họ với nhau.

[Page 1188] In the tabulation much information is given anent the form building aspects of energy and the Law of Attraction

[Page 1188] Trong bảng biểu, rất nhiều thông tin được đưa ra liên quan đến các phương diện kiến tạo hình tướng của năng lượng và Định luật Hấp dẫn

182. We remember that in this section of the book we are still dealing with the Law of Attraction.

182. Chúng ta nhớ rằng trong phần này của sách, chúng ta vẫn đang đề cập đến Định luật Hấp dẫn.

as it shows itself in the working of the various groups of the Army of the Voice.

như nó tự biểu lộ trong công cuộc của các nhóm khác nhau thuộc Đạo quân của Tiếng Nói.

183. Did we realize as we were studying Tabulation VII that the Army of the Voice was under discussion? I think that it is the information given regarding the last two types of E/entities “PLANES” and “ATOMS” that the greatest amount of information is given on the Army of the Voice.

183. Khi học Bảng Biểu VII, liệu chúng ta có nhận ra rằng Đạo quân của Tiếng Nói đang được bàn luận không? Tôi cho rằng chính các thông tin được nêu về hai loại Hữu thể sau cùng “CÁC CÕI” và “CÁC NGUYÊN TỬ” là phần cung cấp nhiều dữ kiện nhất về Đạo quân của Tiếng Nói.

184. The Tibetan is amazing with regard to the amount of information He can compress in a small space.

184. Khả năng của Chân sư Tây Tạng thật đáng kinh ngạc ở chỗ Ngài có thể nén rất nhiều thông tin vào một khoảng không gian nhỏ.

185. The term “Army of the Voice” is, of course, relative. There are Beings in relation to whom the human being can be considered a member of the Army of the Voice. There are still greater Beings in relation to whom even Planetary Logos and Solar Logos may be viewed as tiny devas and, thus, members of a far vaster Army of the Voice.

185. Thuật ngữ “Đạo quân của Tiếng Nói” dĩ nhiên là mang tính tương đối. Có những Đấng mà so với Các Ngài thì con người có thể được xem là một thành viên của Đạo quân của Tiếng Nói. Lại có những Đấng còn vĩ đại hơn nữa mà so với Các Ngài thì ngay cả Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế cũng có thể được nhìn như những thiên thần nhỏ bé và vì thế là thành viên của một Đạo quân của Tiếng Nói rộng lớn hơn nhiều.

186. Tabulation VII will be very useful to the occult scientists of the future.

186. Bảng Biểu VII sẽ rất hữu ích cho các nhà khoa học huyền môn của tương lai.

It is this Army which is responsible for the attraction which is the medium of bringing together the material required by the free Spirits in order to construct their bodies of manifestation.

Chính Đạo quân này chịu trách nhiệm cho sự hấp dẫn vốn là môi thể quy tụ các chất liệu được các Chân Thần tự do yêu cầu để cấu tạo các thể biểu lộ của họ.

187. This is an excellent description of the function of the Army of the Voice and its relation to the Law of Attraction.

187. Đây là một mô tả tuyệt hảo về chức năng của Đạo quân của Tiếng Nói và mối liên hệ của nó với Định luật Hấp dẫn.

188. The term “free Spirits” suggests the Monad as the ultimate Creator, commanding the Army of the Voice.

188. Thuật ngữ “các Chân Thần tự do” gợi ý đến Chân thần như là Đấng Sáng tạo tối hậu, chỉ huy Đạo quân của Tiếng Nói.

189. It is clear that the “bodies of manifestation” are constructed through the use of sound. It would seem that the vehicles of the spiritual triad and the causal vehicle are both constructed by monadic sound (the latter with the assistance of the Solar Angel).

189. Rõ ràng “các thể biểu lộ” được kiến tạo bằng việc sử dụng âm thanh. Có vẻ như các vận cụ của Tam Nguyên Tinh Thần và vận cụ nguyên nhân đều được cấu tạo bởi âm thanh của Chân thần (vận cụ sau với sự trợ giúp của Thái dương Thiên Thần).

190. Sound and the Voice are factors inducing coherence. (Of course, they can also be destructive, but we are speaking of their magnetic qualities.) We are dealing with the second ray nature of Sound and Voice.

190. Âm thanh và Tiếng Nói là các yếu tố gây nên tính kết hợp. (Dĩ nhiên, chúng cũng có thể mang tính hủy diệt, nhưng ở đây chúng ta đang nói về các phẩm tính từ tính của chúng.) Chúng ta đang đề cập đến bản chất cung hai của Âm thanh và Tiếng Nói.

The vibration initiated by the Sound, which is the expression of the Law of Synthesis, is succeeded by the Voice or Word,

Rung động được khởi phát bởi Âm thanh, vốn là sự biểu hiện của Định luật Tổng hợp, được tiếp nối bởi Tiếng Nói hay Linh từ,

191. The “Sound” (sometimes called the “O”) always precedes the “Word” enunciated by the “Voice” (that Word being the “OM”). We might consider the “O” as a blend of the first and second rays, just as synthesis represents the second aspect of the first ray.

191. “Âm thanh” (đôi khi được gọi là “O”) luôn đi trước “Linh từ” được phát ra bởi “Tiếng Nói” (Linh từ ấy là “OM”). Chúng ta có thể coi “O” như là hòa trộn của cung một và cung hai, cũng như tổng hợp biểu trưng cho phương diện thứ hai của cung một.

192. The “Sound” expresses on the monadic plane (though not necessarily exclusively so). On the monadic plane the “Law of Synthesis” prevails as the rounded “O” suggests. The “A” is reserved of the logoic plane.

192. “Âm thanh” biểu lộ trên cõi chân thần (dù không nhất thiết duy trên cõi ấy). Trên cõi chân thần, “Định luật Tổng hợp” ngự trị như chữ “O” tròn gợi ra. “A” được dành cho cõi logoic.

193. Each of the seven great monadic groupings is expressive of unique sound. That “Sound” is carried into the lower five planes and expresses the will of that monadic grouping which is but an aspect of the Will of the One.

193. Mỗi trong bảy đại nhóm chân thần đều biểu lộ một âm thanh độc đáo. “Âm thanh” đó được mang xuống năm cõi thấp và biểu lộ ý chí của nhóm chân thần ấy, vốn chỉ là một phương diện của Ý Chí của Đấng Duy Nhất.

and that Word as it progresses outward from the centre to the peri­phery (for, occultly understood, the Word is “spoken from the Heart”) becomes

và Linh từ đó, khi tiến ra ngoài từ trung tâm đến chu vi (vì, hiểu theo huyền môn, Linh từ được “xướng từ Trái Tim”) trở thành

194. The heart is the centre.

194. Trái tim chính là trung tâm.

a. A phrase.

a. Một cụm từ.

b. Phrases.

b. Những cụm từ.

c. Sentences.

c. Câu.

d. Speech.

d. Lời nói.

e. The myriad sounds of nature.

e. Muôn âm thanh của thiên nhiên.

195. This is the progression from simplicity to complexity. Sentences are composed of phrases and speech of sentences. The myriad sounds of nature are composed of the ‘speech’ of all entities.

195. Đây là tiến trình từ đơn giản đến phức tạp. Câu được cấu thành bởi các cụm từ, và lời nói bởi các câu. Muôn âm thanh của thiên nhiên được cấu thành bởi “lời nói” của mọi hữu thể.

196. Another section in A Treatise on Cosmic Fire  which deals with these matters specifically can be found in TCF 926-929. A necessary amplification of these ideas exists there.

196. Một phần khác trong Luận về Lửa Vũ Trụ đề cập chuyên biệt đến các vấn đề này có thể thấy ở TCF 926-929. Ở đó có sự triển khai cần thiết cho những ý tưởng này.

Each of these terms

Mỗi thuật ngữ trong số này

197. A phrase, phrases, sentence, speech, the myriad sounds of nature…

197. Một cụm từ, những cụm từ, câu, lời nói, muôn âm thanh của thiên nhiên…

can be explained in terms of attractive energy,

đều có thể được giải thích theo năng lượng hấp dẫn,

198. Because they depend upon the coherence of their constituents…

198. Vì chúng tùy thuộc vào tính cố kết của các thành phần…

and this attractive energy is likewise the demonstration of the life of an Existence of some grade or other.

và năng lượng hấp dẫn này cũng là sự biểu lộ của đời sống của một Hiện Hữu nào đó, ở một cấp độ nào đó.

199. Various lives demonstrate through the expression of attractive energy. The capitalization of the term “Existence” tells us that we are dealing with an Entities of great scope—“Gods”.

199. Nhiều sự sống khác nhau biểu lộ qua biểu hiện của năng lượng hấp dẫn. Việc viết hoa thuật ngữ “Hiện Hữu” cho biết rằng chúng ta đang đề cập đến những Hữu thể có tầm vóc lớn lao—“các Thần”.

“God speaks and the forms are made.”

“Thượng đế cất tiếng và các hình tướng được tạo thành.”

200. Through speech the forms of nature arise. God’s Speech produces the coherence of the constituents of which forms are made.

200. Qua ngôn thuyết, các hình tướng của thiên nhiên khởi sinh. Lời Nói của Thượng đế tạo nên tính kết hợp của các thành phần làm nên hình tướng.

This tabulation should form the basis of a complete phase of study along this line and is one of the most basic given in this Treatise.

Bảng biểu này nên làm nền tảng cho một giai đoạn học tập hoàn chỉnh theo đường hướng này và là một trong những bảng căn bản nhất được ban ra trong Bộ Luận này.

201. The tabulation gives us information regarding a wide span of E/entities—from a Solar Logos to an atom.

201. Bảng biểu cho chúng ta thông tin về một dải rộng các Hữu thể—từ một Thái dương Thượng đế đến một nguyên tử.

202. We offered many thoughts regarding the tabulation, but this effort only represents the beginning of much more exhaustive study.

202. Chúng tôi đã đưa ra nhiều điều đáng suy ngẫm liên quan đến bảng biểu, nhưng nỗ lực này mới chỉ là khởi đầu cho một sự khảo cứu sâu rộng hơn nhiều.

Scroll to Top