Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S12 Part II (TCF 1188-1194)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S12 Part II (TCF 1188-1194)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16 để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và dẫn chiếu từ các sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng Lời bình này nên được đọc kèm với Luận về Lửa Vũ Trụ trong tay, vì lợi ích của tính liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy, hãy đọc trọn một đoạn rồi mới học Lời bình

3. Adaptation of the form to the life.

3. Sự thích ứng của hình tướng với Sự sống.

This is the process of gradually providing forms which are due expressions of the indwelling consciousness which is the great purpose of what we call “Mother Nature”;

Đây là tiến trình tuần tự cung cấp những hình tướng vốn là biểu lộ xứng hợp của tâm thức nội tại, điều này là mục đích lớn của cái mà chúng ta gọi là “Mẹ Thiên Nhiên”;

1. This is an important statement giving the purpose of “Mother Nature”. The intimate link between the inner or indwelling consciousness and form must ever be remembered. Every natural form is an expression of that consciousness.

1. Đây là một phát biểu quan trọng nêu mục đích của “Mẹ Thiên Nhiên”. Mối liên kết mật thiết giữa tâm thức bên trong hay nội tại và hình tướng phải luôn được ghi nhớ. Mọi hình tướng thiên nhiên đều là biểu lộ của tâm thức đó.

this she does, working under the Law of Attraction which we are considering.

bà thực hiện điều này, hoạt động dưới Định luật Hấp dẫn mà chúng ta đang khảo cứu.

2. We now must discover the manner in which the Law of Attraction is responsible for providing the forms which express the indwelling consciousness.

2. Giờ đây chúng ta phải khám phá cách thức mà Định luật Hấp dẫn chịu trách nhiệm về việc cung cấp các hình tướng biểu lộ tâm thức nội tại.

This law, therefore, governs two aspects of unfoldment, that which concerns the soul or consciousness aspect and that relating to the Spirit on its own plane.

Vì thế, quy luật này chi phối hai phương diện của sự khai mở: phương diện liên quan đến linh hồn hay tâm thức, và phương diện liên hệ đến Chân Thần trên chính cõi của Ngài.

3. This is interesting. We would expect the Law of Attraction to cover the soul or consciousness aspect, but we might expect Spirit [on its own plane] to be governed by the Law of Synthesis. We must remember, however, that the Law of Attraction is the preeminent cosmic law governing this second ray solar system.

3. Điều này thú vị. Chúng ta vốn trông đợi Định luật Hấp dẫn bao trùm phương diện linh hồn hay tâm thức, nhưng có thể chờ đợi rằng Chân Thần [trên chính cõi của Ngài] sẽ được chi phối bởi Định luật Tổng hợp. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Định luật Hấp dẫn là định luật vũ trụ trội yếu chi phối hệ mặt trời cung hai này.

It is the cause of that continuous cycle of form taking,

Nó là nguyên nhân của chu kỳ liên tục của việc thọ nhận hình tướng,

4. According to the nature and pattern of the indwelling consciousness, the elements of form are attracted into forms.

4. Tùy theo bản chất và khuôn mẫu của tâm thức nội tại, các yếu tố của hình tướng được hấp dẫn và kết tập thành các hình tướng.

of form utilisation and of form rejection

việc sử dụng hình tướng và việc loại bỏ hình tướng

5. This statement reminds us of the Law of Repulse.

5. Phát biểu này gợi chúng ta nhớ đến Định luật Đẩy Lùi.

6. Three phases are discussed: form creation, form utilisation and form rejection. When the form which has been created is no longer a faithful reflection of the nature and pattern of the indwelling consciousness (which, presumably, has advanced through the process of form utilisation) then the form is rejected so that a new and more adequate form can be created.

6. Có ba giai đoạn được bàn đến: tạo hình tướng, sử dụng hình tướng và loại bỏ hình tướng. Khi hình tướng đã được tạo ra không còn phản chiếu trung thực bản chất và khuôn mẫu của tâm thức nội tại (vốn, suy ra là đã tiến bộ qua quá trình sử dụng hình tướng) thì hình tướng ấy bị loại bỏ để một hình tướng mới và đầy đủ hơn có thể được kiến tạo.

which characterises the incarnations of every kind and type of living being.

vốn đặc trưng cho các lần lâm phàm của mọi loại mọi hạng sinh linh.

7. We are dealing with a universal law which is involved in creating incarnations of the greatest and smallest entities.

7. Chúng ta đang xử lý một định luật phổ quát vốn tham dự vào việc tạo ra các lần lâm phàm của những Hữu thể lớn nhất và nhỏ nhất.

The student should here remember that the Existences who are the attractive force in manifestation, the Dhyan Chohans, are seven in number,

Đạo sinh nên nhớ rằng các Hiện Hữu vốn là lực hấp dẫn trong ngoại hiện—các Dhyan Chohans—là bảy vị,

8. It is evident that the term “Dhyan Chohans”, in this context, has many levels of application: they can be “Monadic Wheels”, Kumaras, Planetary Kumaras (or Planetary Logoi), etc.

8. Hiển nhiên thuật ngữ “Dhyan Chohans” trong ngữ cảnh này có nhiều cấp độ ứng dụng: họ có thể là “Các Bánh xe Chân Thần”, các Kumara, các Kumara Hành tinh (hay các Hành Tinh Thượng đế), v.v.

and that, therefore, the quality of the vehicles which form Their bodies

và vì thế, phẩm tính của các vận cụ cấu thành Thân thể của Các Ngài

9. As all forms display quality according to the consciousness of the being who created them…

9. Như mọi hình tướng đều phô bày phẩm tính tùy theo tâm thức của Hữu thể đã kiến tạo chúng…

will have the sevenfold variation according to the specific nature of the Lords of Life.  [Page 1189]

sẽ có biến phân thất phân tùy theo bản tính đặc thù của các Chúa Tể của Sự sống. [Page 1189]

10. Master DK is speaking in terms of the influence of the universal Septenates of which the Seven Rays are but one example.

10. Chân sư DK đang nói theo các ảnh hưởng của những Bộ Thất nguyên phổ quát mà trong đó Bảy Cung chỉ là một thí dụ.

11. What may be that “specific nature” we do not know. We know of many ways to describe the principle qualities and many attributes of all seven rays, but we do not understand the exact occult pattern which distinguishes one from another.

11. Bản tính “đặc thù” ấy là gì thì chúng ta không biết. Chúng ta biết nhiều cách mô tả các phẩm tính chính và nhiều thuộc tính của cả bảy cung, nhưng chúng ta không hiểu được khuôn mẫu huyền bí chính xác phân biệt cung này với cung khác.

The only way to arrive at a realisation of the basic qualities of these planetary Logoi

Cách duy nhất để đạt tới sự nhận thức các phẩm tính cơ bản của những Hành Tinh Thượng đế này

12. Here DK is specific in telling us that the “Dhyan Chohans” under discussion are, indeed, Planetary Logos. But the Solar Angel are Dhyan Chohans and so are the intra-planetary Kumaras. Many great Beings are names “Dhyan Chohans”. The Masters Who have become Chohans are also, at times, called “Dhyan Chohans”.

12. Ở đây Chân sư DK nói rõ rằng “các Dhyan Chohans” đang được bàn đến quả thật là các Hành Tinh Thượng đế. Nhưng các Thái dương Thiên Thần cũng là Dhyan Chohans, và các Kumara nội hành tinh cũng vậy. Nhiều Đấng vĩ đại được gọi là “Dhyan Chohans”. Các Chân sư đã trở thành Chohans đôi khi cũng được gọi là “Dhyan Chohans”.

is through a consideration of the energy emanating from Them,

là qua việc xét đến năng lượng phát xạ từ Các Ngài,

13. We will know Them by the energy which They emanate. We cannot yet know Them as They are.

13. Chúng ta sẽ biết Các Ngài qua năng lượng mà Các Ngài phát xạ. Chúng ta chưa thể biết Các Ngài như Chính Các Ngài là.

and it is this which the true esoteric astrology will eventually reveal.

và chính điều này sẽ được ngành chiêm tinh học nội môn chân chính rốt cuộc khai mở.

14. The nature of the energy emanating from the Planetary Logos is one of the most important revelations of the “true esoteric astrology”. A Treatise on Cosmic Fire was written well before Esoteric Astrology. We realize that in that latter book, the Tibetan went far in the process of revelation He here mentions.

14. Bản chất của năng lượng phát xạ từ Hành Tinh Thượng đế là một trong các mặc khải quan trọng nhất của “ngành chiêm tinh học nội môn chân chính”. Luận về Lửa Vũ Trụ được biên soạn trước Chiêm Tinh Học Nội Môn khá lâu. Chúng ta nhận ra rằng trong cuốn sau, Chân sư Tây Tạng đã tiến rất xa trong tiến trình mặc khải mà Ngài nói đến ở đây.

The time is not yet

Thời điểm ấy chưa đến

15. In fact, even with all that Master DK has revealed in Esoteric Astrology, He has revealed but little of what could be revealed.

15. Thực vậy, ngay cả với tất cả những gì Chân sư DK đã mặc khải trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, Ngài vẫn mới bộc lộ một phần nhỏ của điều có thể được mặc khải.

it will come when the scientific consideration of human magnetism, of the distinctions between the seven types of men, and the nature of the Ego is more truly followed.

nó sẽ đến khi sự khảo cứu khoa học về từ tính con người, về những khác biệt giữa bảy loại người, và về bản chất của Chân ngã được theo đuổi một cách đúng đắn hơn.

16. Three discoveries are involved before esoteric astrology can reveal more fully the nature of the emanations from the Planetary Logoi:

16. Có ba khám phá cần có trước khi chiêm tinh học nội môn có thể mặc khải đầy đủ hơn bản chất các luồng phát xạ từ các Hành Tinh Thượng đế:

a. A scientific consideration of human magnetism.

a. Một khảo cứu khoa học về từ tính con người.

b. Realization of the distinction between the seven types of men. (We can see the importance of the careful study of the Science of the Seven Rays.)

b. Nhận thức về sự khác biệt giữa bảy loại người. (Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của việc học kỹ Khoa học về Bảy Cung.)

c. Understanding of the true nature of the Ego.

c. Thấu hiểu bản chất đích thực của Chân ngã.

17. It may be that several centuries will be needed to fulfill these requirements.

17. Có lẽ cần đến vài thế kỷ để đáp ứng các yêu cầu này.

Then will be revealed the nature of planetary magnetism and the quality of any specific planetary soul as it is known through the aggregated nature of the men, responsive to and exponents of any particular planetary Ray.

Bấy giờ sẽ được mặc khải bản chất của từ tính hành tinh và phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh cụ thể nào như nó được biết đến thông qua bản chất tổng hợp của nhân loại—những người đáp ứng và diễn đạt bất kỳ Cung hành tinh đặc thù nào.

18. This, then, is the revelation which will come when the three requirements are fulfilled.

18. Đây chính là mặc khải sẽ đến khi ba yêu cầu kia được đáp ứng.

19. DK speaks of the quality of any specific planetary soul, but not of the ‘Planetary Monad’. It does seem correct that the soul ray of a Planetary Logos would be the one to which the souls of men would most respond at this time. The revelation of the nature of the Monad for non-sacred Planetary Logoi such as the Planetary Logos of the Earth-scheme would be premature.

19. DK nói đến phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh cụ thể nào, chứ không phải của “Chân Thần Hành tinh”. Có vẻ đúng rằng cung linh hồn của một Hành Tinh Thượng đế sẽ là cung mà linh hồn con người đáp ứng nhiều nhất vào thời điểm này. Mặc khải về bản chất của Chân thần đối với các Hành Tinh Thượng đế chưa linh thiêng như Hành Tinh Thượng đế của hệ Địa cầu có lẽ còn là quá sớm.

20. Apparently we shall have to study not only individuals, but groups of men— seven large groups and the way they respond to the seven rays as expressed on Earth, even though the sources of these rays are in most instances Planetary Logoi other than our Planetary Logos.

20. Rõ ràng chúng ta sẽ phải khảo cứu không chỉ các cá nhân, mà còn các nhóm người— bảy nhóm lớn—và cách họ đáp ứng với bảy cung như được biểu lộ trên Đất, dù các nguồn của các cung này trong phần lớn trường hợp là những Hành Tinh Thượng đế khác với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

The mystery is increased by the fact that there are not only certain logoic qualities manifesting which are not included by the term “sacred,” but that there are numerous other aspects of what we might term “secondary centres of fire,” generated and making their presence felt.

Sự bí ẩn càng tăng vì có không chỉ những phẩm tính thuộc logoic đang biểu lộ mà không nằm trong thuật ngữ “thiêng liêng”, mà còn có nhiều phương diện khác của cái mà chúng ta có thể gọi là “các trung tâm lửa thứ cấp”, được tạo sinh và khiến sự hiện diện của chúng được cảm nhận.

21. DK let us know that understanding the nature of the quality of any specific planetary soul will not be an entirely straightforward matter as so much must be taken into consideration.

21. DK cho chúng ta biết rằng việc thấu hiểu bản chất của phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh cụ thể nào sẽ không hoàn toàn đơn giản vì có quá nhiều yếu tố phải tính đến.

22. We have also to consider non-sacred qualities (presumably the qualities of the personality and personality vehicles of the Planetary Logos under consideration).

22. Chúng ta cũng phải xét đến các phẩm tính không thiêng liêng (suy ra là các phẩm tính của phàm ngã và các vận cụ phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế đang được xét).

23. As for the “secondary centres of fire” they may be operative but vestigial—in process of being outlived—more active in a previous incarnation of our Planetary Logos but less active now, though still influential.

23. Còn về “các trung tâm lửa thứ cấp” thì chúng có thể đang hoạt động nhưng đã trở nên thoái tích—đang trong quá trình được vượt qua—từng hoạt động mạnh ở một lần lâm phàm trước của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhưng nay kém hoạt động hơn, dẫu vẫn còn ảnh hưởng.

We have a correspondence to this in the fact that there are centres of energy in man which are not purely etheric centres but are the product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind.

Chúng ta có một tương ứng với điều này ở chỗ có các trung tâm năng lượng trong con người không thuần là các trung tâm dĩ thái mà là sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và những dạng năng lượng âm tính thuộc loại thấp nhất.

24. This is most interesting. It could be that Master DK is referring to certain organs of the body and perhaps the endocrine glands. We will see.

24. Điều này rất thú vị. Có thể Chân sư DK đang ám chỉ đến một số cơ quan của thân thể và có lẽ là các tuyến nội tiết. Chúng ta sẽ thấy.

Such, for instance, is the heart.

Chẳng hạn như trái tim.

25. We see that important organs are definitely included.

25. Chúng ta thấy rằng các cơ quan quan trọng chắc chắn được bao gồm.

There is the heart centre, one of the major centers on the etheric planes, but there is also the physical heart which is an energy generator also;

Có trung tâm tim—một trong các đại trung tâm trên các cõi dĩ thái—nhưng đồng thời cũng có trái tim hồng trần, vốn cũng là một bộ phát năng lượng;

26. It is very interesting to think of the heart as a “product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind”. Presumably, the Tibetan means the energy of matter denser than etheric matter.

26. Rất thú vị khi nghĩ trái tim là “sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và những dạng năng lượng âm tính thuộc loại thấp nhất”. Có lẽ ở đây Ngài muốn nói đến năng lượng của chất liệu đậm đặc hơn chất liệu dĩ thái.

there are the lower organs of generation which are equally a reflex product

có các cơ quan sinh sản ở thấp cũng đồng dạng là một sản phẩm phản xạ

27. A reflex product. The reflexive or reflective product of the sacral center?

27. Một sản phẩm phản xạ. Sản phẩm phản xạ của trung tâm xương cùng?

with an energy which is the resultant of the higher vibrations yet which has a quality all its own.

với một năng lượng là kết quả của những rung động cao hơn nhưng lại có một phẩm tính riêng biệt.

28. DK is telling us that the sacral center has a quality which is distinct from that of the physical organs of generation. By calling the sex organs the “organs of generation” He is letting us know their specific function—the function for which they were intended. [Vsk: And this is curious about the “reflex product”, a sum of two or more elements but its own unique quality.

28. DK cho chúng ta biết trung tâm xương cùng có một phẩm tính khác biệt với các cơ quan sinh sản hồng trần. Khi gọi các cơ quan tính dục là “các cơ quan sinh sản”, Ngài cho chúng ta biết chức năng chuyên biệt của chúng—chức năng mà chúng được định nhằm. [Vsk: Và điều này thật lạ về “sản phẩm phản xạ”: một tổng hợp của hai hay nhiều yếu tố nhưng có phẩm tính độc đáo của riêng nó.]

This has its correspondence in the solar system.

Điều này có tương ứng trong Thái dương hệ.

29. Again we have a most interesting statement which accords with the Law of Analogy.

29. Một lần nữa, chúng ta có một phát biểu rất thú vị phù hợp với định luật tương đồng.

Many are the lesser planets

Có nhiều hành tinh thứ cấp

30. Presumably, many of these are beyond the orbit of Pluto, but researchers have identified some lesser planets of an etheric nature within the customary boundaries of our solar system.

30. Nhiều khả năng trong số đó ở ngoài quỹ đạo Sao Diêm Vương, nhưng các nhà nghiên cứu đã nhận diện một số hành tinh thứ cấp có tính dĩ thái bên trong các ranh giới quen thuộc của hệ mặt trời chúng ta.

and numerous are the planetoids which have an energy or attractive quality all their own and which, from the systemic standpoint, must be allowed for in the measuring of the attraction producing the forms of or upon any particular planet.

vô số là các tiểu hành tinh, mỗi cái đều có năng lượng hoặc phẩm tính hấp dẫn riêng của nó, và từ quan điểm hệ thống, phải được tính đến khi đo lường lực hấp dẫn tạo ra các hình tướng của hay trên bất kỳ hành tinh nào.

31. Are these planetoids considered to have a physical function as have the heart and organs of general in comparison to the heart center and sacral center respectively?

31. Các tiểu hành tinh này có được xem là có chức năng hồng trần như tim và các cơ quan sinh sản đối sánh với trung tâm tim và trung tâm xương cùng tương ứng không?

32. Or is DK simply telling us that when we try to gauge the nature of forms upon any planet, largely through astrology, we will have to take the many lesser planets and the planetoids into consideration?

32. Hay DK chỉ đơn thuần cho biết rằng khi chúng ta cố gắng ước định bản chất của các hình tướng trên bất kỳ hành tinh nào—phần lớn là qua chiêm tinh—chúng ta sẽ phải tính đến nhiều hành tinh thứ cấp và các tiểu hành tinh?

As we know from a study of the Secret Doctrine, certain of the planetary Logoi are pure and passionless

Như chúng ta biết từ việc học Giáo Lý Bí Nhiệm, một số Hành Tinh Thượng đế là thanh tịnh và vô dục

33. Among these our Planetary Logos is not yet to be found.

33. Trong số đó, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chưa ở vào hàng ấy.

whilst others are still under the domination of desire and [Page 1190] of passion.28 [S. D. I., 214, 449; II, 223]

trong khi những vị khác vẫn còn bị chi phối bởi dục vọng và [Page 1190] bởi đam mê.28 [S. D. I., 214, 449; II, 223]

34. Among such the Planetary Logos of Earth is to be found along with the other non-sacred Planetary Logoi, and including, it would seem, the lesser Logoi of the many lesser planets and the planetoids.

34. Trong số đó có Hành Tinh Thượng đế của Địa cầu cùng với các Hành Tinh Thượng đế chưa linh thiêng khác, và dường như bao gồm cả các Thượng đế nhỏ hơn của nhiều hành tinh thứ cấp và các tiểu hành tinh.

This quality of Theirs necessarily attracts to Them that which They need for the due expression of Their life in any scheme, and controls the nature of those egoic groups who are (for Them) generating force centres.

Phẩm tính của Các Ngài tất yếu hấp dẫn đến với Các Ngài những gì Các Ngài cần cho sự biểu lộ thích đáng đời sống của Các Ngài trong bất kỳ hệ hành tinh nào, và kiểm soát bản chất của các nhóm chân ngã vốn (đối với Các Ngài) là những trung tâm lực đang tạo sinh.

35. So all these lesser Logoi operate under the power of attraction and build forms within the vehicle of expression which are faithful expressions of the nature and pattern of their consciousnesses.

35. Vậy là tất cả các Thượng đế nhỏ hơn này đều hoạt động dưới quyền năng của hấp dẫn và kiến tạo trong vận cụ biểu lộ những hình tướng là phản chiếu trung thực bản chất và khuôn mẫu của các tâm thức của họ.

36. We remember from Tabulation VII that the causal body of the Planetary Logoi are associated with “Egoic Groups” as “Medium”, within which or through which these Logoi express.

36. Chúng ta nhớ lại từ Bảng Biểu VII rằng thể nguyên nhân của các Hành Tinh Thượng đế được liên hệ với “các Nhóm Chân ngã” như là “Môi thể”, bên trong hay qua đó Các Ngài biểu lộ.

Hence the nature of men upon earth.

Do đó mới có bản tính của con người trên Đất.

37. This probably means that we are all affected not only by the planets with which we are familiar, but the many lesser planets and the planetoids.

37. Điều này có lẽ có nghĩa là tất cả chúng ta đều chịu ảnh hưởng không chỉ bởi các hành tinh quen thuộc, mà còn bởi nhiều hành tinh thứ cấp và các tiểu hành tinh.

All human beings are para­mountly governed by certain planetary attractions, impressions or influences which might be enumerated in the order of their importance.

Tất cả con người trước hết bị chi phối bởi những hấp lực hành tinh nhất định, những ấn tượng hay ảnh hưởng hành tinh có thể được liệt kê theo thứ tự tầm quan trọng của chúng.

38. Here, Master DK is laying out important information for the Science of Esoteric Astrology which He will later develop in the book Esoteric Astrology.

38. Ở đây, Chân sư DK đang đặt ra các thông tin quan trọng cho Khoa Chiêm tinh Nội môn mà Ngài sẽ triển khai sau này trong cuốn Chiêm Tinh Học Nội Môn.

There is, first of all, the attractive pull of the Life of the planetary Logos of this particular planet.  This is necessarily the strongest and is one of the basic factors which have settled the lines the human form has taken upon this planet.

Trước hết là sức kéo hấp dẫn của Sự sống của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh này. Đây tất nhiên là mạnh nhất và là một trong những yếu tố căn bản đã định đoạt các đường nét mà hình thể con người mang lấy trên hành tinh này.

39. And yet, in the ordinary horoscope, the Earth is given small attention. Its effects are so omnipresent that it is overlooked. Even placing it in its heliocentric position is insufficient because, in fact, it is central to the entire astrological chart. Vsk: DK’s implication further is that of the definite construction of the human body being dictated by the attractive pull of Earth.

39. Thế nhưng trong lá số thông thường, Trái Đất lại được chú ý ít. Tác động của nó quá bao trùm đến nỗi bị bỏ qua. Ngay cả việc đặt nó vào vị trí nhật tâm cũng chưa đủ, vì thực ra, nó là trung tâm của toàn bộ lá số chiêm tinh. Vsk: Hàm ý của DK còn là cấu trúc xác phàm con người được quyết định dứt khoát bởi hấp lực của Đất.

There are human beings, or exponents of self-consciousness on other planets, but the forms they utilise are not the same as ours.

Có con người—những biểu đạt của tự thức—trên các hành tinh khác, nhưng các hình thể mà họ sử dụng không giống với hình thể của chúng ta.

40. The mystery of the nature of their forms will slowly be revealed and is presently the focus of much fanciful use of the creative imagination.

40. Bí ẩn về bản chất hình thể của họ sẽ dần được hé mở và hiện đang là trọng tâm của nhiều sự vận dụng giàu tưởng tượng.

41. We note that DK is giving us the order of the influences affecting man and all forms on our planet.

41. Chúng ta lưu ý rằng DK đang đưa cho chúng ta thứ tự các ảnh hưởng tác động lên con người và mọi hình tướng trên hành tinh của chúng ta.

There is next, the attractive pull of the planetary Logos Who is the complementary Life to that of our Logos. 

Kế đó là sức kéo hấp dẫn của Hành Tinh Thượng đế vốn là Sự sống bổ sung cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

42. DK is using the word “complementary” and not “polar opposite”. This must be noted; they are not the same.

42. DK dùng từ “bổ sung” chứ không phải “đối cực”. Cần ghi nhận điều này; chúng không đồng nghĩa.

This involves a planetary Logos responsive to a vibration which harmonises with that of our Logos

Điều này liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế đáp ứng với một rung động hòa điệu với rung động của Hành Tinh Thượng đế chúng ta,

43. Only certain intervals of music will be allowed. The third is harmonious (whether the minor third or the major). The fourth may be considered harmonious. We should not go beyond the perfect fifth.

43. Chỉ những quãng nhất định của âm nhạc mới được phép. Quãng ba là hòa điệu (dù là thứ hay trưởng). Quãng bốn có thể được xem là hòa điệu. Không nên đi xa hơn quãng năm đúng.

44. The vibration may be a greater ray vibration to which that particular Planetary Logos responds and which it expresses. Rays are Entities are of a higher order than the Planetary Logoi.

44. Rung động ấy có thể là một rung động của cung cao hơn mà Hành Tinh Thượng đế ấy đáp ứng và biểu lộ. Các Cung là những Hữu thể ở cấp bậc cao hơn Hành Tinh Thượng đế.

but Who, when in union with Him, forms what might be called “the Third” or His dominant, as the case may be.

nhưng khi hợp nhất với Ngài thì tạo thành cái có thể gọi là “quãng ba” hay “âm át (dominant)”, tùy trường hợp.

45. The “third” is not the same as a “dominant”, so there is much concealed in this sentence. All depends upon the note of music assigned to the Earth.

45. “Quãng ba” không giống “âm át”, vì vậy câu này ẩn chứa nhiều điều. Tất cả tùy thuộc nốt nhạc được gán cho Đất.

46. Usually Mars or Mercury are considered possible “complementary” Planetary Logoi to our Planetary Logos. Mars is usually associated with the note “C” and Mercury with the note “E”, which in the usual C major scale is the major third.

46. Thông thường Sao Hỏa hoặc Sao Thủy được xem là những Hành Tinh Thượng đế “bổ sung” khả dĩ đối với Hành Tinh Thượng đế của Đất. Sao Hỏa thường liên hệ với nốt “Đô” và Sao Thủy với nốt “Mi”, tức quãng ba trưởng trong gam Đô trưởng truyền thống.

47. Much depends upon whether we consider the note of the Planetary Logos of Earth to accord with His personality ray (the third) or His soul ray (the second). The personality ray is the third ray and correlates with the note FA or “F”. The note of Mercury (“E”) would not be in harmony with that “F”, but the note of Mars, “C” would form a fifth or dominant.

47. Còn tùy vào việc chúng ta xét nốt của Hành Tinh Thượng đế của Đất theo cung phàm ngã (cung ba) hay theo cung linh hồn (cung hai). Cung phàm ngã là cung ba và tương ứng với nốt FA. Nốt của Sao Thủy (“Mi”) sẽ không hòa điệu với “Fa” đó, nhưng nốt của Sao Hỏa, “Đô”, sẽ tạo thành quãng năm đúng hay âm át.

48. Hidden in the words “as the case may be” may refer to whether we are beginning with the personality or soul ray of our Planetary Logos.

48. Điều ẩn trong cụm từ “tùy trường hợp” có thể liên hệ đến việc chúng ta khởi từ cung phàm ngã hay cung linh hồn của Hành Tinh Thượng đế của Đất.

49. From another perspective, however, there is no reason why the Logos of Mars, Who is less developed than the Logos of Earth, should exercise the function of “dominant” (the fifth). The fifth of Mars, from one perspective, is also related as a fourth or subtone. From the note “C” (Mars) to “F” (the personality ray of Earth) the interval is the fourth.

49. Từ một góc nhìn khác, tuy nhiên, không có lý do gì để Logos của Sao Hỏa—Đấng kém phát triển hơn Logos của Đất—nắm vai “âm át” (quãng năm). Quãng năm của Hỏa, xét từ một phương diện, cũng liên hệ như một quãng bốn hay âm dưới. Từ nốt “Đô” (Hỏa) đến “Fa” (cung phàm ngã của Đất) là quãng bốn.

50. When dealing with the soul ray of Earth, it is the second ray, and can perhaps be correlated with the second ray note “G” (a note assigned in one reference to the seventh ray and not the second). But this assignment of “G” is based upon a scale starting on the note “A”, from which “G” is the seventh step.

50. Khi xét cung linh hồn của Đất là cung hai, có thể liên hệ với nốt “Son” (một nốt đôi khi được gán cho cung bảy chứ không phải cung hai). Nhưng việc gán “Son” này dựa trên một thang bắt đầu bằng nốt “La”, trong đó “Son” là bậc bảy.

51. The note of Mercury, a sacred planet, remains for the moment a steady “E”, the note correlated with the fourth ray. The “F” of the personality of the Planetary Logos of Earth is only a minor second from “E” and this is an ‘inharmonious’ interval. However, the note “G”, which we can correlate with the second ray soul of the Planetary Logos of Earth is a minor third from Mercury (suggesting a relationship based on the previous solar system) and also Mercury is a major sixth from the soul note from Earth. The minor third and the major sixth are both harmonious intervals.

51. Nốt của Sao Thủy—một hành tinh thiêng liêng—tạm thời vẫn là “Mi”, nốt liên hệ với cung bốn. “Fa” (phàm ngã của Đất) chỉ là nửa cung so với “Mi”, một khoảng cách “bất hòa”. Tuy nhiên, “Son”, mà ta có thể liên hệ với cung linh hồn cung hai của Đất, là quãng ba thứ từ Sao Thủy (gợi quan hệ dựa vào Thái dương hệ trước) và đồng thời Sao Thủy là quãng sáu trưởng so với nốt linh hồn của Đất. Cả quãng ba thứ lẫn quãng sáu trưởng đều là khoảng hòa điệu.

52. This approach suggests that it is possible to consider complementary planets in terms the relationship between personality rays, between the personality ray of the lesser and the soul ray of the greater, or in terms of soul rays.

52. Cách tiếp cận này gợi ra rằng có thể xét các hành tinh bổ sung theo quan hệ giữa các cung phàm ngã, giữa cung phàm ngã của Đấng kém hơn với cung linh hồn của Đấng cao hơn, hay theo quan hệ giữa các cung linh hồn.

53. Perhaps a little tabulation will clarify the possibilities:

53. Có lẽ một bảng đối chiếu nhỏ sẽ làm rõ các khả năng:

Rays

Earth

Mars

Mercury

Personality ray

R3 – F

R6 – C

R3 -F

Soul ray

R2 – G

R1? – C or D

R4 – E

54. We can discern the following possible relationships, though it must be noticed that the R1 soul for Mars is inferred just as is the R3 personality for Mercury. There are good reasons, however, for the inferences.

54. Chúng ta có thể nhận ra những quan hệ khả hữu sau đây, tuy cần lưu ý rằng cung linh hồn C1 của Hỏa là suy luận, cũng như cung phàm ngã C3 của Thủy. Dẫu vậy, các suy luận này có cơ sở tốt.

55. Interval Relationships:

55. Quan hệ quãng:

a. From Earth to Mars according to personality rays – a perfect fifth with Mars as the dominant

a. Từ Đất đến Hỏa theo các cung phàm ngã – một quãng năm đúng với Hỏa là âm át

b. From Mars to Earth according to personality rays – a perfect fourth

b. Từ Hỏa đến Đất theo các cung phàm ngã – một quãng bốn đúng

c. From Earth to Mercury according to personality rays – a unison not producing harmony.

c. Từ Đất đến Thủy theo các cung phàm ngã – đồng âm, không tạo hòa điệu

d. From Mercury to Earth according to personality rays – same

d. Từ Thủy đến Đất theo các cung phàm ngã – như trên

e. From the personality ray note of Earth to the soul ray note of Mars – either a perfect fifth (if the first ray note is considered C; or a major sixth if the first ray note is considered a D).

e. Từ nốt cung phàm ngã của Đất đến nốt cung linh hồn của Hỏa – hoặc quãng năm đúng (nếu nốt cung một được xem là Đô), hoặc quãng sáu trưởng (nếu nốt cung một được xem là Rê)

f. From the soul ray note of Mars to the personality ray note of Earth – either a perfect fourth of the soul ray note of mars is considered a C; or a minor third if the soul ray note of Mars is considered a D.

f. Từ nốt cung linh hồn của Hỏa đến nốt cung phàm ngã của Đất – hoặc quãng bốn đúng nếu nốt cung linh hồn của Hỏa được xem là Đô, hoặc quãng ba thứ nếu nốt cung linh hồn của Hỏa được xem là Rê

g. From the personality ray note of Earth to the soul ray note of Mercury – a major seventh—a highly inharmonious interval

g. Từ nốt cung phàm ngã của Đất đến nốt cung linh hồn của Thủy – quãng bảy trưởng—một khoảng rất bất hòa

h. From the soul ray note of Mercury to the personality ray note of Earth – a minor second, also a highly inharmonious interval.

h. Từ nốt cung linh hồn của Thủy đến nốt cung phàm ngã của Đất – nửa cung, cũng là khoảng rất bất hòa

i. From the soul ray note of Earth to the soul ray note of Mars – either a perfect fourth is the soul ray note of Mars is considered to be C; or a perfect fifth if the soul ray note of Mars is considered to be a D.

i. Từ nốt cung linh hồn của Đất đến nốt cung linh hồn của Hỏa – hoặc quãng bốn đúng nếu nốt cung linh hồn của Hỏa được xem là Đô; hoặc quãng năm đúng nếu nốt cung linh hồn của Hỏa được xem là Rê

j. From the soul ray note of Mars to the soul ray note of Earth – either a perfect fifth of the soul ray note of Mars is considered to be a C; or a perfect fourth if the soul ray note of Mars is considered to be a D. (The problem with choosing a C or D for Mars involves the fact that the note “C” is traditionally the “red note” correlating with the first ray esoterically.

j. Từ nốt cung linh hồn của Hỏa đến nốt cung linh hồn của Đất – hoặc quãng năm đúng nếu nốt cung linh hồn của Hỏa được xem là Đô; hoặc quãng bốn đúng nếu nốt cung linh hồn của Hỏa được xem là Rê. (Vấn đề khi chọn Đô hay Rê cho Hỏa dính líu đến thực tế là nốt “Đô” truyền thống là “nốt đỏ”, tương ứng huyền bí với cung một.)

k. From the soul ray note of Earth to the soul ray note of Mercury – a major sixth, a harmonious interval.

k. Từ nốt cung linh hồn của Đất đến nốt cung linh hồn của Thủy – quãng sáu trưởng, một khoảng hòa điệu.

l. From the soul ray note of Mercury to the soul ray note of Earth, a minor third – also a harmonious interval.

l. Từ nốt cung linh hồn của Thủy đến nốt cung linh hồn của Đất – quãng ba thứ—cũng là khoảng hòa điệu.

56. Within all the above there are many possibilities of relationship, and DK is definitely making a veiled  reference. The musical language of planetary relationships is not being fully revealed, however certain hints are being given and can be elaborated, as has been the attempt above.

56. Trong tất cả những điều trên có nhiều khả năng liên hệ, và DK rõ ràng đang đưa ra một ám chỉ được che kín. Ngôn ngữ âm nhạc của các liên hệ hành tinh chưa được bộc lộ trọn vẹn, tuy nhiên một số gợi ý đang được ban và có thể được triển khai, như đã cố gắng làm ở trên.

It is not possible to reveal whether the blending of the note

Không thể mặc khải liệu sự hòa trộn các nốt

57. Between Earth and its complementary planet…(whichever of the two it might be)…

57. Giữa Đất và hành tinh bổ sung của nó… (dù là hành tinh nào trong số hai hành tinh khả dĩ)…

58. It is not possible to consider Saturn as the planet complementary to Earth, because Saturn is definitely in a higher category. Not only it Saturn a sacred planet but also a synthesizing planet. Yet, Saturn will eventually absorb the Earth at the time of solar systemic synthesis.

58. Không thể xem Thổ tinh như hành tinh bổ sung cho Đất, vì Thổ tinh rõ ràng ở một hạng cao hơn. Không chỉ là một hành tinh thiêng liêng, Thổ tinh còn là một hành tinh tổng hợp. Tuy vậy, Thổ tinh rốt cuộc sẽ hấp thu Đất vào thời kỳ tổng hợp của Thái dương hệ.

will mean that our scheme will absorb that which expresses the note of another scheme, or vice versa.

sẽ có nghĩa là hệ hành tinh của chúng ta sẽ hấp thu cái diễn đạt nốt của một hệ khác, hay ngược lại.

59. The blending of the personality notes of Earth and Mars yields a perfect fifth, which is a soul relationship, in which case, it is possible that one day Earth may become what is called the “alter ego” of Mars.

59. Sự hòa trộn giữa các nốt phàm ngã của Đất và Hỏa tạo nên quãng năm đúng, vốn là một quan hệ linh hồn; trong trường hợp đó, có thể một ngày kia Đất sẽ trở thành cái gọi là “đối phần” của Hỏa.

60. I have speculated earlier that Earth may well absorb Mars just as Venus (the alter ego of Earth) may well absorb Earth.

60. Tôi đã suy đoán trước đây rằng Đất rất có thể sẽ hấp thu Hỏa cũng như Kim tinh (đối phần của Đất) rất có thể sẽ hấp thu Đất.

61. We can be sure that Mars, of lesser development than Earth, will not absorb the subtle principles of Earth at the time of systemic synthesis.

61. Chúng ta có thể chắc rằng Hỏa, kém phát triển hơn Đất, sẽ không hấp thu các nguyên lý vi tế của Đất vào thời điểm tổng hợp hệ thống.

62. There are many reasons to consider Mars as the complement of Earth and Venus as its polar opposite, but there is at least one reference which points to Mercury as an equilibrising, complementary force relating Earth and Venus.

62. Có nhiều lý do để xem Hỏa như hành tinh bổ sung của Đất và Kim tinh như đối cực của nó, nhưng cũng có ít nhất một ám chỉ cho thấy Thủy tinh là một lực bổ sung quân bình liên hệ Đất và Kim tinh.

63. Should both Mars and Earth manage to express their soul rays in this solar system (and it will certainly happen for Earth), then again a perfect fifth is possible. The G or Earth can related to either the C or D or Mars as a perfect fifth. If Mars relates to C, then Mars forms the base note of the perfect fifth with Earth’s G. If Mars relates to first ray D, then Earth’s G will be the base note and Mars on D will sound ‘above’ the G to create, again, another, yet perfect fifth.

63. Nếu cả Hỏa lẫn Đất đều thể hiện được cung linh hồn của họ trong Thái dương hệ này (và chắc chắn điều đó sẽ xảy ra đối với Đất), thì một lần nữa quãng năm đúng lại khả hữu. “Son” của Đất có thể liên hệ với “Đô” hoặc “Rê” của Hỏa như một quãng năm đúng. Nếu Hỏa liên hệ với “Đô”, Hỏa sẽ là nốt nền của quãng năm với “Son” của Đất. Nếu Hỏa liên hệ với nốt cung một là “Rê”, “Son” của Đất sẽ là nốt nền và “Rê” của Hỏa ở trên tạo nên một quãng năm đúng khác nữa.

64. The thought that Earth will absorb Mars is already hinted by the presence of so many Martian Egos or Monads within the planetary scheme of Earth.

64. Ý nghĩ rằng Đất sẽ hấp thu Hỏa đã được ám chỉ qua sự hiện diện của rất nhiều Chân ngã hay Chân thần mang tính Hỏa trong hệ hành tinh của Đất.

65. I think we will soon discover how many important hints Master DK is given in relation to musical relations between complementary planets and those which are polar opposites of each other.

65. Tôi nghĩ chúng ta sẽ sớm phát hiện bao nhiêu gợi ý quan trọng mà Chân sư DK đã đưa ra về các quan hệ âm nhạc giữa những hành tinh bổ sung và những hành tinh là đối cực của nhau.

It means that somewhere in the solar system is a planetary scheme of some kind (not necessarily one of the seven or of the ten) which has an interplay with ours and which, therefore, inevitably affects the egoic groups.

Điều này có nghĩa là đâu đó trong Thái dương hệ có một hệ hành tinh ở dạng nào đó (không nhất thiết là một trong bảy hay mười hệ) có sự tương tác với hệ của chúng ta và vì thế tất yếu ảnh hưởng đến các nhóm chân ngã.

66. The first thing we should notice is that all planetary schemes interplay with each other and thus affect each other. DK however is pointing to a specific planetary scheme.

66. Điều đầu tiên cần lưu ý là tất cả các hệ hành tinh tương tác với nhau và do đó ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, DK đang chỉ đến một hệ hành tinh cụ thể.

67. The hint here is tantalizing. Is the planetary scheme of which He is speaking really not yet discovered or not one of the conventional ten including Vulcan. We must remember that at the time this book was written, Pluto had not yet been discovered.

67. Gợi ý này thật gây tò mò. Có phải hệ hành tinh mà Ngài nhắc đến thực sự chưa được khám phá, hay không phải là một trong mười hệ thông dụng (bao gồm cả Vulcan)? Chúng ta phải nhớ rằng vào thời điểm cuốn sách này được viết, Sao Diêm Vương chưa được khám phá.

68. I think He is still speaking of the planet which is complementary to the Earth. It would be hard to conceive of Earth’s complement as not one of the seven or ten. Could He possibly be inserting this thought to throw a veil over the possibility that the complementary planet of the Earth is one very close to Earth and also one of the ten?

68. Tôi nghĩ Ngài vẫn đang nói về hành tinh bổ sung cho Đất. Thật khó hình dung hành tinh bổ sung của Đất lại không nằm trong số bảy hay mười hành tinh. Liệu Ngài có thể chen thêm ý này để che một màn lên khả năng rằng hành tinh bổ sung của Đất là một hành tinh rất gần Đất và cũng thuộc nhóm mười hành tinh hay chăng?

69. Or could a planet veiled by the Moon or Sun fulfill this function. We will have to wait until more discoveries are made before we know whether the planet complementary to Earth could be an etheric planet—like “Rex”, for instance.

69. Hoặc một hành tinh bị Mặt Trăng hay Mặt Trời che phủ có thể đảm nhiệm chức năng này chăng? Chúng ta sẽ phải chờ thêm những khám phá nữa trước khi biết liệu hành tinh bổ sung cho Đất có thể là một hành tinh dĩ thái—như “Rex”—hay không.

70. If I were to make an estimate at this point, I would say that Mars stands a very good chance of being the complementary planet and Mercury a complementary equilibrizing planet in certain relationships between Earth and Venus.

70. Nếu giờ đây tôi phải dự đoán, tôi sẽ nói rằng Hỏa có nhiều khả năng là hành tinh bổ sung, và Thủy là một hành tinh bổ sung quân bình trong các quan hệ nhất định giữa Đất và Kim tinh.

We must note also the fact that—in connection with the expression of a Heavenly Man—. the egoic groups are energy centres and make His dense physical body eventually an accomplished fact

Chúng ta cũng phải lưu ý thực tế rằng—liên hệ với sự biểu lộ của một Đấng Thiên Nhân— các nhóm chân ngã là các trung tâm năng lượng và khiến cho thể xác đậm đặc của Ngài rốt cuộc trở thành một sự kiện hoàn tất

71. This is because the egoic groups are found upon the cosmic ethers which are responsible for precipitating the dense physical form.

71. Điều này là vì các nhóm chân ngã tọa lạc trên các dĩ thái vũ trụ, vốn chịu trách nhiệm kết tụ thể hồng trần đậm đặc.

72. We have seen from Letters on Occult Meditation that egoic groups are not confined to the higher mental plane or to the buddhic plane, but also are found on the atmic and monadic planes. Still all of these planes are within the cosmic ethers which are responsible for gathering the matter of the three purely physical subplanes into forms.

72. Chúng ta đã thấy từ Những Bức Thư về Tham Thiền Huyền Bí rằng các nhóm chân ngã không bị giới hạn ở cõi trí thượng hay cõi Bồ đề, mà còn hiện diện ở cõi atma và cõi chân thần. Tuy nhiên, tất cả các cõi này đều nằm trong các dĩ thái vũ trụ, vốn chịu trách nhiệm quy tụ chất liệu của ba cõi phụ thuần hồng trần thành các hình tướng.

73. If we extend the analogy to the microcosmic, then the egoic groups are to the Planetary Logos as different chakras are to man. The chakras of man are responsibility for the precipitation of the dense physical body of man with all its physical centers such as glands and organs.

73. Nếu mở rộng phép tương đồng sang tiểu vũ trụ, thì các nhóm chân ngã đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như các luân xa đối với con người. Các luân xa con người chịu trách nhiệm cho sự kết tủa thể xác đậm đặc của con người với tất cả các trung tâm hồng trần như tuyến và cơ quan.

Finally, there is the attractive pull of that planetary scheme which is esoterically regarded as our polar opposite.

Sau cùng, có sức kéo hấp dẫn của hệ hành tinh vốn được coi là đối cực huyền môn của hệ chúng ta.

74. This can be none other than Venus.

74. Ở đây không ai khác ngoài Kim tinh.

75. We have been talking about which planets (and later planetoids) are most magnetically influential upon man. The Earth is first; then the complementary planet (which if Mars, speaks to the importance of the dense physical body and of the personality); and then Venus, the representative of the soul.

75. Chúng ta đã nói về những hành tinh (và sau đó là các tiểu hành tinh) có ảnh hưởng từ tính lớn nhất lên con người. Trước hết là Đất; tiếp đến là hành tinh bổ sung (nếu là Hỏa thì điều đó nói lên tầm quan trọng của thể xác đậm đặc và của phàm ngã); sau đó là Kim tinh, đại diện cho linh hồn.

[Page 1191] (What is here said has reference to the other schemes, for the law per­sists throughout the solar system.)

[Page 1191] (Điều được nói ở đây cũng được áp dụng cho các hệ khác, vì định luật ấy tồn tại khắp Thái dương hệ.)

76. This will mean that the lives living on each planet will first of all be responsible to the life of the planet itself; then to the planet’s complementary planet and then to the planet’s polar opposite.

76. Điều này có nghĩa là các sự sống cư trú trên mỗi hành tinh trước hết sẽ đáp ứng với sự sống của chính hành tinh ấy; kế đến là hành tinh bổ sung của hành tinh ấy; rồi đến hành tinh đối cực của nó.

It will be apparent, therefore, that the real and esoteric astrology will deal with four kinds of force, when it seeks to explain the nature of the Energies which influence any human being:

Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng môn chiêm tinh thực sự và nội môn sẽ xử lý bốn loại lực khi tìm cách giải thích bản chất của Các Năng lượng ảnh hưởng đến bất kỳ con người nào:

77. Almost a decade before He dictated Esoteric Astrology Master DK is presenting seeds for that more-specifically astrological work.

77. Gần một thập kỷ trước khi Ngài truyền dạy Chiêm Tinh Học Nội Môn, Chân sư DK đã gieo những hạt giống cho công trình mang tính chiêm tinh ấy.

1. The quality of the solar system.

1. Phẩm tính của Thái dương hệ.

78. In the case of our solar system, that quality is the second ray expressing both Love and Wisdom.

78. Đối với Thái dương hệ của chúng ta, phẩm tính ấy là cung hai, biểu lộ cả Tình thương lẫn Minh triết.

2. The quality of the Logos of the planet as it pours through the chains and globes and rounds in a sevenfold differentiation.

2. Phẩm tính của Logos hành tinh khi nó tuôn chảy xuyên qua các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn theo biến phân thất phân.

79. In the case of our Planetary Logos, the three major rays are given in Esoteric Astrology, page 619. These are the first, second and third—the monadic, soul and personality rays respectively.

79. Với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, ba cung chính được nêu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 619. Đó là cung một, cung hai và cung ba—các cung chân thần, linh hồn và phàm ngã tương ứng.

3. The quality of our earth’s complementary planet.

3. Phẩm tính của hành tinh bổ sung của Đất chúng ta.

80. This planet is likely Mars, though Mercury has sometimes been considered as a complementary equilibrizing planet.

80. Hành tinh này nhiều khả năng là Hỏa, dù đôi khi Thủy được xem như một hành tinh bổ sung quân bình.

81. It is more likely that Mercury is Venus’ complementary planet.

81. Có khả năng hơn là Thủy là hành tinh bổ sung của Kim tinh.

4. The quality of the attraction of our earth’s polar opposites.

4. Phẩm tính của hấp lực đến từ hành tinh đối cực của Đất chúng ta.

82. This planet, as often stated, is Venus. All opposite poles attract each other, but Venus is a planet which is particularly magnetic and attractive.

82. Hành tinh này, như thường được nói, là Kim tinh. Mọi cực đối nhau đều hấp dẫn nhau, nhưng Kim tinh là một hành tinh đặc biệt có từ tính và hấp dẫn.

This involves information as yet veiled in deepest mystery,

Điều này bao hàm những thông tin vốn còn được che kín trong huyền bí sâu thẳm,

83. Much was unveiled when the Tibetan wrote Esoteric Astrology, though, in many ways, the mystery remains.

but which will unfold as the true psychology is studied,

nhưng điều này sẽ khai mở khi tâm lý học chân chính được khảo cứu,

84. Presumably, the “true psychology” is not just the psychology of human beings but the psychology of the major Entities comprising our solar system.

84. Có thể cho rằng “tâm lý học chân chính” không chỉ là tâm lý học của con người mà còn là tâm lý học của các Đại Thực Thể cấu thành hệ mặt trời của chúng ta.

and which will eventually embody itself in a fourth fundamental of the Secret Doctrine so that later students will have the three as they are now found in the Proem to that book, plus the fourth.29 [S. D. I, 42-46]

và rốt cuộc sẽ tự thể hiện trong một mệnh đề căn bản thứ tư của Giáo Lý Bí Nhiệm để rồi các môn sinh về sau sẽ có ba mệnh đề như hiện được tìm thấy trong Lời Mở đầu của cuốn sách đó, cộng thêm mệnh đề thứ tư.29 [S. D. I, 42-46]

85. A number of students have taken this sentence as the hint that they can or should provide this fourth fundamental. It would seem that Master DK, Himself, has come closest to providing this fundamental.

85. Một số môn sinh đã xem câu này như ám chỉ rằng họ có thể hoặc nên cung cấp mệnh đề căn bản thứ tư này. Có vẻ như chính Chân sư DK đã đến gần nhất trong việc cung cấp mệnh đề căn bản ấy.

86. There is a hint suggesting that the Fourth Fundamental of the Secret Doctrine will be psychological in nature. Interestingly, this very book, A Treatise on Cosmic Fire, is considered to be the “psychological key to the Secret Doctrine”. It would seem that through this book Master DK, Himself, has offered at least the seed to the fourth fundamental.

86. Có một ám chỉ cho thấy Mệnh đề Căn bản Thứ Tư của Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ có bản chất tâm lý học. Thú vị thay, chính bộ sách này, Luận về Lửa Vũ Trụ, được xem là “chìa khóa tâm lý học cho Giáo Lý Bí Nhiệm ”. Có vẻ như qua cuốn sách này, chính Chân sư DK đã hiến tặng chí ít là hạt giống cho mệnh đề căn bản thứ tư.

This might be expected in this fourth round.

Điều này có thể được kỳ vọng trong vòng tuần hoàn thứ tư.

87. The conditional word “might” is offered. Apparently, it is not a complete certainty that this fourth fundamental will be formulated in this fourth round, but likely. In this little sentence there is the ‘feeling’ of a later date.

87. Từ điều kiện “có thể” được đưa ra. Rõ ràng, chưa hoàn toàn chắc chắn rằng mệnh đề căn bản thứ tư sẽ được hình thành trong vòng tuần hoàn thứ tư, nhưng khả năng là có. Trong câu ngắn này có “cảm giác” của một thời điểm muộn hơn.

The true astrology

Chiêm tinh học chân chính

88. At the time of this writing the “true astrology” was not in the possession of any non-hierarchical astrologer. We can wonder whether, even with Master DK’s great work, Esoteric Astrology, it yet is.

88. Vào thời điểm viết những dòng này, “chiêm tinh học chân chính” chưa nằm trong tay bất kỳ nhà chiêm tinh nào ngoài Thánh Đoàn. Chúng ta có thể tự hỏi rằng, ngay cả với đại trước tác của Chân sư DK, Chiêm Tinh Học Nội Môn, liệu đến nay đã là như vậy chưa.

will reveal the nature of this fourth proposition at some later date.

sẽ tiết lộ bản chất của mệnh đề thứ tư này vào một thời điểm muộn hơn.

89. Though there have been at least two attempts (of which I am aware) to reveal the nature of this fourth proposition, the phrase “some later date” does not sound immediate. More, it seems, would have to be revealed to make it possible.

89. Dù đã có ít nhất hai nỗ lực (mà tôi biết) nhằm tiết lộ bản chất của mệnh đề thứ tư này, cụm từ “một thời điểm muộn hơn” nghe không có vẻ tức thời. Có lẽ cần phải được mặc khải thêm nữa để điều đó trở nên khả hữu.

90. We can wonder whether the first four fundamentals of the Secret Doctrine were formulated by disciples, or whether such a formulation arose in the minds of great sages and seers (the Masters of the past). I think this is probable.

90. Chúng ta có thể tự hỏi liệu bốn mệnh đề căn bản đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm được hình thành bởi các đệ tử, hay hình thành trong tâm trí của các bậc hiền triết và tiên tri vĩ đại (các Chân sư của quá khứ). Tôi cho rằng điều này là khả dĩ.

91. Since the proposition is the fourth, the presence of a powerful fourth ray in incarnation in this fourth round might be required. The fourth ray, we know, is deeply connected with the development of the Science of Psychology as is the fifth (which has yet to reach its apotheosis in this present world period).

91. Vì mệnh đề là thứ tư, có thể cần sự hiện lâm của một mãnh lực cung bốn hùng mạnh trong vòng tuần hoàn thứ tư này. Chúng ta biết rằng cung bốn có liên hệ sâu xa với sự phát triển của Khoa học Tâm Lý như cung năm (vốn vẫn chưa đạt tới đỉnh điểm tối hậu trong thời kỳ thế gian hiện tại này).

More attention will eventually be paid to the planetary influences, and not so much to the signs of the zodiac where the nature of an Ego is concerned.

Rồi đây, sự chú ý sẽ được dành nhiều hơn cho các ảnh hưởng hành tinh, và không quá nhiều cho các dấu hiệu hoàng đạo khi xét đến bản tính của một Chân ngã.

92. This sentence seems something of a contradiction when compared with statements in Esoteric Astrology which speak of the influence of the planets being superseded by the influence of the signs of the zodiac.

92. Câu này dường như có phần mâu thuẫn khi so với những phát biểu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn vốn nói rằng ảnh hưởng của các hành tinh bị ảnh hưởng của các dấu hiệu hoàng đạo vượt trội và thay thế.

93. Yet, when we read of the higher nature of the planetary influences we do see that they are connected with the development of the Ego on the higher mental plane.

93. Tuy vậy, khi đọc về phương diện cao của các ảnh hưởng hành tinh, chúng ta thấy chúng liên hệ với sự phát triển của Chân ngã trên cõi thượng trí.

94. Here is one of the apparently contradictory sections from EA.

94. Dưới đây là một trong những đoạn có vẻ mâu thuẫn trích từ Chiêm Tinh Học Nội Môn.

First of all, I would point out that the twelve planets, governing the twelve houses, concern primarily the physical plane expression of the man; they affect potently the personality aspect; their influence, plus inherited karmic conditions, produces those environing states and those circumstances which give opportunity for the development and eventually the control of the form side of life.

Trước hết, tôi muốn chỉ ra rằng mười hai hành tinh, cai quản mười hai nhà, chủ yếu liên quan đến sự biểu lộ trên cõi hồng trần của con người; chúng ảnh hưởng mạnh mẽ lên phương diện phàm ngã; ảnh hưởng của chúng, cộng với những điều kiện nghiệp quả di truyền, tạo nên các trạng thái môi trường và các hoàn cảnh mang lại cơ hội cho sự phát triển và rốt cuộc là sự chế ngự phương diện hình tướng của sự sống.

Secondly, the twelve constellations are concerned primarily with the stimulation of the soul within the form, producing subjective activity which, in its turn, causes changes in the outer expression, through the fusion of the energy of the constellation with the energy of the planets. (EA 51)

Thứ đến, mười hai chòm sao chủ yếu liên quan đến sự kích thích linh hồn trong hình tướng, tạo nên hoạt động chủ quan và đến lượt mình lại gây ra những thay đổi trong biểu lộ bên ngoài, thông qua sự dung hợp năng lượng của chòm sao với năng lượng của các hành tinh. (EA 51)

95. We would be in error, however, if we disregarded the planets as they condition the expression of the soul. The planets are not involved only with the outer activity of the man (i.e., with the personality).

95. Tuy nhiên, chúng ta sẽ mắc sai lầm nếu bỏ qua các hành tinh khi chúng điều kiện hóa sự biểu lộ của linh hồn. Các hành tinh không chỉ liên quan đến hoạt động bên ngoài của con người (tức là của phàm ngã).

The great signs of the zodiac concern the Heavenly Man,

Các dấu hiệu hoàng đạo vĩ đại liên quan đến Đấng Thiên Nhân,

96. One wonder, then, if there are “lesser” signs of the zodiac which concern the human being.

96. Người ta tự hỏi, vậy có phải còn có những dấu hiệu “nhỏ” hơn của hoàng đạo liên quan đến con người chăng.

and necessarily, therefore, the Monads of every human being.

và do đó, tất yếu là các chân thần của mọi con người.

97. Since the Monads constitute the centers of the Heavenly Man, when the Heavenly Man is affected the signs of the zodiac, the Monads are affected.

97. Vì các chân thần cấu thành các trung tâm của Đấng Thiên Nhân, nên khi Đấng Thiên Nhân chịu ảnh hưởng bởi các dấu hiệu hoàng đạo, các chân thần cũng bị ảnh hưởng.

98. There is much ambiguity around such statements. In A Treatise on White Magic  DK tells us that the signs have a lower influence than the rays. Note the following:

98. Có nhiều điều mơ hồ quanh những phát biểu như vậy. Trong Luận về Chánh Thuật Chân sư DK bảo chúng ta rằng các dấu hiệu có ảnh hưởng thấp hơn so với các cung. Lưu ý điều sau:

The signs which fall therefore into the four categories of earth, water, fire and air, concern primarily the man who lives below the diaphragm, and who utilises the lower four centres:—the centre at the base of the spine, the sacral centre, the solar plexus and the spleen.  The inner group of seven major or systemic energies produce their effect upon the man who is living above the diaphragm, and work through the seven representative centres in the head. (TWM 438)

Những dấu hiệu vốn do đó rơi vào bốn loại đất, nước, lửa và khí, chủ yếu liên quan đến người sống bên dưới hoành cách mô, và người sử dụng bốn trung tâm thấp:—trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm xương cùng, tùng thái dương và lá lách. Nhóm nội tại gồm bảy năng lượng chủ yếu hay hệ thống tạo tác động lên người sống bên trên hoành cách mô, và làm việc thông qua bảy trung tâm đại diện trong đầu. (TWM 438)

99. There may, indeed, be a difference between “great” signs of the zodiac and the signs as ordinarily considered.

99. Quả thực, có thể có sự khác biệt giữa các “dấu hiệu vĩ đại” của hoàng đạo và các dấu hiệu như thường được xét đến.

The planetary influences must be studied to find out the quality of a man’s Ray,

Các ảnh hưởng hành tinh phải được khảo cứu để tìm ra phẩm tính của cung nơi một người,

100. Here we have another ‘apparent’ contradiction when compared with advice given in Esoteric Astrology. I always use the word “apparent” when noticing what seems to be a contradiction as the contradiction is almost certainly found in the mind of the human interpreter and not in the presentation of the Master.

100. Ở đây chúng ta có một “mâu thuẫn” khác có vẻ như vậy khi so sánh với lời khuyên trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Tôi luôn dùng từ “có vẻ” khi nhận ra điều dường như là mâu thuẫn, vì gần như chắc chắn rằng mâu thuẫn nằm trong tâm của người diễn giải nhân loại chứ không phải trong sự trình bày của Chân sư.

101. Note the following, in which it is evident that the rays have to be known before undertaking the interpretation of the chart:

101. Lưu ý điều sau, trong đó hiển nhiên rằng các cung phải được biết trước khi tiến hành giải đoán lá số:

This brings me to two points about which I would like to speak a word. In dealing with the horoscope of the personality and with the average non-aspiring man, the astrologer should endeavour to discover the personality ray from a study of character, of the physical indications, of the emotional qualities, of the type of mind and the nature of the environment. He will then be able to lay out a far more useful chart with the orthodox planets ruling the life. In the case of the horoscope of a disciple, he should do the same, endeavouring to discover the ray of the soul. The soul ray only sets its mark and emphasises its quality and nature in the case of advanced people, and when that emerges clearly, the man is obviously a disciple and the esoteric planets will then govern his chart. Having determined the ray of the man undergoing tests in Scorpio, the astrologer can then place the other rays in relation to him and his probable experience. (EA 222-223)

Điều này đưa tôi tới hai điểm mà tôi muốn nói đôi điều. Khi xử lý lá số của phàm ngã và của người trung bình không chí nguyện, người chiêm tinh nên nỗ lực phát hiện cung phàm ngã từ việc khảo sát Tính cách, các chỉ dấu thể chất, các phẩm chất cảm xúc, kiểu thể trí và bản chất của môi trường sống. Khi đó, ông sẽ có thể lập một lá số hữu ích hơn nhiều với các hành tinh chính tông cai quản đời sống. Trong trường hợp lá số của một đệ tử, người chiêm tinh cũng nên làm như vậy, nỗ lực phát hiện cung của linh hồn. Cung linh hồn chỉ đặt dấu ấn và nhấn mạnh phẩm chất cũng như bản tính của nó trong trường hợp những người tiến xa, và khi điều đó nổi lên rõ ràng, người ấy hiển nhiên là một đệ tử và các hành tinh nội môn lúc đó sẽ cai quản lá số của y. Sau khi xác định cung của người đang trải qua thử thách trong Hổ Cáp, người chiêm tinh có thể đặt các cung khác vào tương quan với y và với kinh nghiệm có khả năng xảy ra của y. (EA 222-223)

102. This does not mean that the study of the planets may not be useful in helping to determine a man’s rays, but that the method of determination above given does not, at first, involve the planets.

102. Điều này không có nghĩa là việc khảo cứu các hành tinh không hữu ích trong việc giúp xác định các cung của một người, mà là phương pháp xác định được nêu ở trên lúc đầu không dính líu tới các hành tinh.

and this in the above indicated threefold manner.

và điều này theo phương thức tam phân đã chỉ ra ở trên.

103. DK seems to hint that the planetary influences can be applied to the determination of the three major rays of the individual.

103. Chân sư DK dường như ám chỉ rằng các ảnh hưởng hành tinh có thể được áp dụng để xác định ba cung chủ yếu của một cá nhân.

Man is the Monad, therefore, he expresses a small part of his enfolding life.

Con người là Chân thần, do đó y chỉ biểu lộ một phần nhỏ sự sống bao trùm của mình.

104. Because this is not yet the solar system in which the Solar Logos will fully express His monadic ray, the monadic ray of the creature man is also not fully expressed. Only a small part of the enfolding life of the Monad is expressed, and yet the Master can determine the nature of the monadic ray.

104. Bởi vì đây vẫn chưa phải là hệ mặt trời trong đó Thái dương Thượng đế sẽ biểu lộ trọn vẹn cung chân thần của Ngài, nên cung chân thần của con người cũng chưa được biểu lộ trọn vẹn. Chỉ một phần nhỏ sự sống bao trùm của Chân thần được biểu lộ, tuy thế Chân sư vẫn có thể xác định bản chất của cung chân thần.

In this solar system he is essentially the Ego.

Trong hệ mặt trời này, về bản chất y là Chân ngã.

105. This, then, is true of all of us in general. It may also be true of the Heavenly Men. The ray which is most expressive in this solar system, even for these great Beings, is the egoic ray.

105. Vậy thì, điều này đúng cho tất cả chúng ta nói chung. Điều này cũng có thể đúng với các Đấng Thiên Nhân. Cung được biểu lộ nhất trong hệ mặt trời này, ngay cả đối với các Đấng vĩ đại ấy, là cung chân ngã.

106. This is true as well of the Solar Logos.

106. Điều này cũng đúng với Thái dương Thượng đế.

Astrologers should study the planetary schemes in the light of the Heavenly Man,

Các nhà chiêm tinh nên khảo cứu các hệ hành tinh dưới ánh sáng của Đấng Thiên Nhân,

107. Astrologers should study the Life which is expressing itself through a planetary scheme. These great Lives are qualified by rays and perhaps by zodiacal constellations just as a human being is.

107. Các nhà chiêm tinh nên khảo cứu Sự sống đang tự biểu lộ qua một hệ hành tinh. Những Sự sống vĩ đại này được định tính bởi các cung và có lẽ bởi các chòm sao hoàng đạo như con người vậy.

viewing them as an incarnation [Page 1192] of a planetary Logos,

xem chúng như một lần lâm phàm [Page 1192] của một Hành Tinh Thượng đế,

108. Truly, a more occult way of understanding the nature of a planet…

108. Thực vậy, đó là một cách huyền bí hơn để hiểu bản chất của một hành tinh…

and thus strive to cast the horoscope of the planetary Logos.

và do đó nỗ lực lập lá số cho Hành Tinh Thượng đế.

109. DK means, I think, that we should try to cast the horoscope of our Planetary Logos. We cannot even hope to do this with accuracy and so it would be utterly impossible for us, at this time, to attempt to do this for the other Planetary Logoi in our solar system.

109. Chân sư DK, theo tôi hiểu, muốn nói rằng chúng ta nên cố gắng lập lá số cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Chúng ta thậm chí không thể hy vọng làm việc này một cách chính xác, nên hiện thời việc cố gắng làm như vậy cho các Hành Tinh Thượng đế khác trong hệ mặt trời chúng ta lại càng hoàn toàn bất khả.

They cannot succeed in doing so, but in the attempt may learn much and achieve new light upon a most difficult subject.

Họ không thể thành công trong việc này, nhưng trong nỗ lực họ có thể học được nhiều và đạt được ánh sáng mới về một chủ đề vô cùng khó khăn.

110. Where would one begin? Perhaps with the precipitation of our physical plane which science tells us began some four billion or so years ago. The time of physical appearance, however, is very much in doubt if we study the occult chronologies. Further, this event must hierarchy have been preceded by much internal preparation and appropriation of subtler vehicles all of which are significant in the life of the Planetary Logos.

110. Bắt đầu từ đâu? Có lẽ từ sự ngưng tụ của cõi hồng trần của chúng ta mà khoa học cho biết bắt đầu chừng bốn tỷ năm trước. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thể chất còn rất đáng ngờ nếu chúng ta khảo sát các niên biểu huyền linh. Hơn nữa, sự kiện này hẳn đã được tiền bị bởi nhiều chuẩn bị nội tại và sự tiếp nhận các hiện thể tinh tế hơn, tất cả đều có ý nghĩa trong đời sống của Hành Tinh Thượng đế.

111. The time scales between occultism and modern science are totally at variance and cannot yet be rectified with respect to each other.

111. Các thang thời gian giữa huyền bí học và khoa học hiện đại hoàn toàn bất tương hợp và chưa thể điều hòa với nhau.

In considering this question of the adaptation of the form to vibration,

Khi xét vấn đề này về sự thích ứng của hình tướng với rung động,

112. DK reminds us that this is the subject under discussion.

112. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng đây là chủ đề đang được bàn.

or the construction of a vehicle which will be a fitting instrument for spirit,

hoặc việc kiến tạo một vận cụ sẽ là khí cụ xứng hợp cho tinh thần,

113. This construction accomplished under the influence of the Law of Attraction…

113. Việc kiến tạo này được hoàn tất dưới ảnh hưởng của Định luật Thu Hút…

the following factors must be borne in mind:

cần ghi nhớ các yếu tố sau:

1. That it is the quality of the indwelling life which decides the type of form.

1. Rằng chính phẩm chất của sự sống nội tại quyết định kiểu dạng của hình tướng.

114. When we look at human beings, for instance, this is something we should remember: the outer form expresses (for those with eyes to see) the inner quality.

114. Khi nhìn vào con người chẳng hạn, đây là điều chúng ta nên nhớ: hình tướng bên ngoài biểu lộ (cho những ai có mắt để thấy) phẩm chất bên trong.

115. We are speaking of the cooperation between the second and third aspects of divinity in the matter of creating form.

115. Chúng ta đang nói về sự hợp tác giữa phương diện hai và ba của thiên tính trong vấn đề tạo nên hình tướng.

2. That these qualities are the sumtotal of the attributes of divinity which the indwelling life has succeeded in unfolding.

2. Rằng các phẩm chất này là tổng số các thuộc tính của thiên tính mà sự sống nội tại đã khai mở được.

116. Quality is cumulative just as it is for man. The ray of the soul may endure for a great period of time but the qualities generated or accumulated under that major quality depend upon the lengthy process of unfoldment. Think for instance of the qualities which are stored within the egoic lotus of the individual human being.

116. Phẩm chất có tính tích lũy, như nơi con người vậy. Cung của linh hồn có thể tồn tại trong một thời kỳ rất dài nhưng các phẩm chất được tạo ra hay tích chứa dưới ảnh hưởng của phẩm chất chủ đạo đó lại tùy thuộc vào tiến trình khai mở lâu dài. Hãy nghĩ chẳng hạn đến các phẩm chất được tàng trữ trong Hoa Sen Chân Ngã của một con người cá thể.

3. That these qualities—as may well be surmised—fall into the usual septenate.

3. Rằng các phẩm chất này—như người ta dễ suy đoán—quy tụ vào mô hình thất phân quen thuộc.

117. DK seems to be saying that the natures of the accumulated qualities can be discriminated along the lines of the seven rays.

117. Chân sư DK dường như nói rằng bản tính của các phẩm chất tích lũy có thể được phân biện dọc theo các đường bảy cung.

118. As well, the qualities may relate to the seven principles.

118. Đồng thời, các phẩm chất đó cũng có thể liên hệ với bảy nguyên khí.

4. That they fall also into two groups, those which concern the lower principles, and are, therefore, four in number, and those which concern the higher and middle and are, therefore, three.

4. Rằng chúng cũng rơi vào hai nhóm: nhóm liên hệ với các nguyên khí thấp, do đó là bốn; và nhóm liên hệ với nguyên khí cao và trung, do đó là ba.

119. Here we have a definite statement that the qualities are correlated with the seven principles—both higher and lower.

119. Ở đây chúng ta có một khẳng định dứt khoát rằng các phẩm chất được tương liên với bảy nguyên khí—cả cao lẫn thấp.

120. Presumably, the middle principle relates to higher manas, the causal body and eventually the lowest aspect of the spiritual triad.

120. Có thể, nguyên khí trung gian liên hệ đến thượng trí, thể nguyên nhân và rốt cuộc là khía cạnh thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.

This is true of all men, of the Heavenly Men and of the solar Logos likewise,

Điều này đúng cho mọi người, cho các Đấng Thiên Nhân và cho cả Thái dương Thượng đế,

121. We are dealing with broad principles applicable to a wide range of beings and Beings. As we study forms (microcosmic and macrocosmic) we will have to attend to the ways in which inner quality and qualities express through forms.

121. Chúng ta đang xử lý các nguyên lý rộng, ứng dụng cho một dải rộng các hữu thể và các Đấng. Khi nghiên cứu các hình tướng (tiểu thiên địa và đại thiên địa) chúng ta sẽ phải để tâm tới những cách thức mà phẩm chất bên trong và các phẩm chất biểu lộ qua hình tướng.

and there is a mysterious analogy concerned in the manifestation of the three higher principles in man (which may be considered as demonstrating through the perfected Adept, the Bodhisattva) and the three higher principles of the solar Logos as they demonstrate through the major three aspects.  They form but one principle showing forth in three ways.

và có một tương đồng huyền diệu liên quan đến sự biểu lộ của ba nguyên khí cao nơi con người (có thể được xem là trình hiện qua bậc Chân sư đã hoàn thiện, vị Bồ Tát) và ba nguyên khí cao của Thái dương Thượng đế khi chúng trình hiện qua ba Phương diện chủ yếu. Chúng chỉ là một nguyên khí duy nhất phô diễn qua ba cách.

122. We seem to be dealing with the “point within the triangle”, and the mystery that the Trinity is three and yet one. The three Logoi are a threefold expression of the one Solar Logos. The spiritual triad of man is the threefold expression of the one Monad.

122. Dường như chúng ta đang xử lý “điểm trong tam giác”, và huyền nhiệm rằng Tam Vị vừa là ba mà lại là một. Ba Thượng đế là biểu lộ ba phương diện của một Thái dương Thượng đế. Tam Nguyên Tinh Thần của con người là biểu lộ ba phương diện của một Chân thần.

So it is with the unmanifested Monad (unmanifested from the standpoint of the lower man).

Và cũng như vậy đối với Chân thần chưa biểu lộ (chưa biểu lộ xét từ lập trường của phàm nhân).

123. And manifested, in part, once the third initiation is taken…

123. Và được biểu lộ, phần nào, khi đã trải qua lần điểm đạo thứ ba…

That Monad can—at a certain very advanced stage in evolution, and one far beyond that of the Adept—have its triple simultaneous manifestation, and show forth as a Master in the three worlds, as a Bodhisattva on His own plane and as the emancipated Dhyani Buddha;

Chân thần đó có thể—ở một giai đoạn tiến hóa rất cao, vượt xa bậc Chân sư—có sự hiện lộ tam phân đồng thời, và hiển lộ như một bậc Thầy trong ba cõi, như một vị Bồ Tát trên cõi riêng của Ngài và như một vị Phật Dhyani đã giải thoát;

124. We are really dealing here with esoteric Buddhism, and in these words may find the explanation of some of the more arcane Buddhist Doctrines.

124. Ở đây chúng ta thực sự đang bàn về Phật giáo huyền bí, và trong những lời này có thể tìm thấy giải minh cho vài giáo lý uyên áo hơn của Phật học.

125. An Adept is a Master and the words, “far beyond” are used. Thus we may be speaking of those who have taken the seventh or later initiations.

125. “Một bậc Chân sư” là một bậc Thầy, và câu “vượt xa” đã được dùng. Do đó, có lẽ chúng ta đang nói tới những vị đã trải qua lần điểm đạo thứ bảy hoặc cao hơn.

126. The Master represents the energy of humanly perfected manas; the Bodhisattva, the energy of humanly perfected buddhi; the Dhyani Buddha (presumably of the seventh degree or beyond) represents the energy of atma.

126. Bậc Thầy đại diện cho năng lượng của manas nhân loại đã được hoàn thiện; vị Bồ Tát, năng lượng của Bồ đề nhân loại đã được hoàn thiện; vị Phật Dhyani (có lẽ bậc bảy hoặc cao hơn) đại diện cho năng lượng của atma.

yet these Three will be but One, will be [Page 1193] the result of a great spiritual vibration and will perform the triple work which may (from the standpoint of the three worlds) appear as the work of three separate great Existences.

tuy vậy Ba Vị này vẫn chỉ là Một, là [Page 1193] kết quả của một rung động tinh thần vĩ đại và sẽ thi hành công cuộc tam phân mà (xét từ lập trường của ba cõi) có thể xuất hiện như công cuộc của ba Hiện Hữu vĩ đại riêng biệt.

127. What an extraordinary idea—three great Existences, apparently independent and of independent origin, but really all emanations of a One. One of the mysteries of the Trinity is here expressed.

127. Thật là một ý niệm phi thường—ba Hiện Hữu vĩ đại, dường như độc lập và có nguồn gốc độc lập, nhưng thực ra đều là phát lộ của Một. Một trong những huyền nhiệm của Tam Vị được biểu đạt ở đây.

128. Apparently, if we were to raise our consciousness out of the three lower worlds, the three would not appear as “separate great Existences” but their Oneness would be perceived.

128. Rõ ràng, nếu chúng ta nâng tâm thức ra khỏi ba cõi thấp, thì ba vị ấy sẽ không còn xuất hiện như “những Hiện Hữu vĩ đại riêng biệt” nữa, mà tính Nhất thể của Các Ngài sẽ được tri nhận.

129. There is, perhaps, a hint relating to the mystery concerning the relationship between Gautama and the Buddha. If it is true that as Christ was the initiate Jesus, the Buddha was to the initiate Gautama, we have much of an obscure nature demanding solution.

129. Có lẽ, ở đây có một ám chỉ liên quan đến huyền nhiệm về mối tương quan giữa Gautama và Đức Phật. Nếu đúng là như Đức Christ đối với vị điểm đạo đồ Jesus, thì Đức Phật đối với vị điểm đạo đồ Gautama như vậy, thì chúng ta có rất nhiều điều tối nghĩa cần được giải quyết.

They are forms of three monadic “vestures,” worn by the one Monad as a man wears his three bodies simultaneously, and functions in them separately.30

Đó là những dạng của ba “y thân” thuộc chân thần, được một Chân thần khoác vào như con người khoác ba thể của mình đồng thời, và vận hành trong từng thể một cách riêng biệt.30

130. The mystery of the “vestures of the Buddha” which the Christ has assumed, comes to mind.

130. Huyền nhiệm về “tam thân của Đức Phật” mà Đức Christ đã thụ nhận, chợt hiện ra trong tâm.

131. The analogy lies in our ordinary functioning within the three lower worlds. We may function in these vehicles separately, as the Tibetan suggests, or simultaneously in an integrated manner. That type of integrated functioning must also be possible for the great One Who expresses Himself as an apparently independent three.

131. Tương đồng nằm ở sự vận hành thông thường của chúng ta trong ba cõi thấp. Chúng ta có thể vận hành trong các hiện thể này cách riêng rẽ, như Chân sư gợi ý, hoặc đồng thời theo kiểu đã tích hợp. Kiểu vận hành tích hợp đó hẳn cũng khả hữu đối với Đấng Vĩ Đại, Đấng tự biểu lộ như một tam phân dường như độc lập.

Footnote 30:

Chú thích 30:

The Three Vestures.—”The stream is crossed.  ‘Tis true thou hast a right to Dharmakaya vesture; but Sambhogakaya is greater than a Nirvani, and greater still is a Nirmanakaya—the Buddha of Compassion.”  —Voice of the Silence, p. 97.

Ba Y Thân.—“Dòng suối đã vượt qua. Đúng là ngươi có quyền đối với y thân Dharmakaya; nhưng Sambhogakaya cao hơn một bậc A-la-hán, và cao hơn nữa là một Nirmanakaya—Đức Phật của Từ Bi.” — Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 97.

132. Here we have the discussion of the three vestures from the perspective of an ancient book.

132. Ở đây chúng ta có cuộc bàn luận về ba y thân từ quan điểm của một cổ thư.

“The three Buddhic bodies or forms are styled:  Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

“Ba thân hay hình thái thuộc Phật tính được gọi là: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

133. There is a discrepancy between the first listing of three and this listing. Here Nirmanakaya is listed first, and in the first reference, Nirmanakaya is the final vesture.

133. Có một sai khác giữa sự liệt kê thứ nhất và sự liệt kê này. Ở đây Nirmanakaya được nêu trước, còn trong dẫn chiếu đầu tiên, Nirmanakaya là y thân sau cùng.

134. Again, in the first listing, Dharmakaya is listed as the least of the three vestures, but here, above, it is presented as the greatest of them.

134. Một lần nữa, trong liệt kê đầu tiên, Dharmakaya được nêu là thấp nhất trong ba y thân, nhưng ở đây, bên trên, lại được trình bày như y thân cao nhất.

The first is that ethereal form which one would assume when leaving his physical he would appear in his astral body—having in addition all the knowledge of an Adept.

Y thân thứ nhất là hình thái linh diệu mà một người sẽ thọ khi rời thể xác, người ấy sẽ hiện ra nơi thể cảm dục của mình—và ngoài ra còn có toàn bộ tri thức của một bậc Chân sư.

135. By “astral body”, we may well mean the etheric vehicle. Sanat Kumara apparently has such a vehicle.

135. Bởi “thể cảm dục”, ta cũng có thể hiểu là hiện thể dĩ thái. Sanat Kumara dường như có một hiện thể như vậy.

The Bodhisattva develops it in himself as he proceeds on the path.  Having reached the goal and refused its fruition, he remains on earth, as an Adept;

Vị Bồ Tát phát triển y thân ấy nơi chính mình khi Ngài tiến bước trên đạo lộ. Đã đạt tới đích và từ khước quả vị của đích ấy, Ngài lưu lại trần gian, như một bậc Chân sư;

136. From this perspective, the one who accepts the fruition of His Path is no longer an Adept, technically considered.

136. Từ góc nhìn này, vị chấp nhận quả vị của Đạo lộ không còn, về mặt thuật ngữ, là một bậc Chân sư nữa.

and when he dies, instead of going into Nirvana, he remains in that glorious body he has woven for himself, invisible to uninitiated mankind, to watch over and protect it.

và khi Ngài viên tịch, thay vì vào Niết-bàn, Ngài lưu lại trong thân vinh diệu mà Ngài đã tự dệt cho mình, vô hình đối với nhân loại chưa điểm đạo, để canh giữ và che chở.

137. This is very likely a “body of fire” which is, essentially, an etheric body, as discussed in A Treatise on Cosmic Fire:

137. Rất có thể đây là một “thân lửa”, vốn là một thể dĩ thái, như đã bàn trong Luận về Lửa Vũ Trụ:

The centres, therefore, when functioning properly, form the “body of fire” which eventually is all that is left, first to man in the three worlds, and later to the Monad.  This body of fire is “the body incorruptible”72 or indestructible, spoken of by St. Paul, and is the product of evolution, of the perfect blending of the three fires, which ultimately destroy the form.  When the form is destroyed there is left this intangible spiritual body of fire, one pure flame, distinguished by seven brilliant centres of intenser burning.  This electric fire is the result of the bringing together of the two poles and demonstrates at the moment of complete at-one-ment, the occult truth of the words “Our God is a consuming Fire.”73 (TCF 166-167)

Vì vậy, các trung tâm, khi vận hành đúng đắn, hình thành “thân lửa” mà rốt cuộc chính là tất cả những gì còn lại, trước hết đối với con người trong ba cõi, và sau đó đối với Chân thần. Thân lửa này là “thân bất hoại” hoặc bất khả hủy, được Thánh Phao-lô nhắc đến, và là sản phẩm của tiến hóa, của sự hòa trộn hoàn hảo của ba loại lửa, rốt cuộc tiêu hủy hình tướng. Khi hình tướng bị tiêu hủy thì còn lại thân linh diệu vô hình này của lửa, một ngọn lửa thuần nhất, nổi bật bởi bảy trung tâm rực rỡ của sự bừng cháy mạnh hơn. Lửa điện này là kết quả của việc đem hai cực lại với nhau và biểu lộ vào khoảnh khắc hợp nhất trọn vẹn chân lý huyền môn của lời: “Thiên Chúa của chúng ta là một Lửa thiêu đốt.” (TCF 166-167)

138. From another perspective the Nirmanakaya may be a vehicle expressing as the spiritual triad, and capable of generating at will, any of the vehicles in the three lower worlds.

138. Từ một góc nhìn khác, Nirmanakaya có thể là một vận cụ biểu lộ như Tam Nguyên Tinh Thần, và có khả năng tạo hiện tùy ý bất kỳ hiện thể nào trong ba cõi thấp.

139. The term “astral body”, however, does not suggest a vehicles beyond the causal vehicle, unless the term is being used much differently than usual.

139. Tuy nhiên, thuật ngữ “thể cảm dục” không gợi một hiện thể vượt lên trên thể nguyên nhân, trừ khi thuật ngữ đó được dùng cách rất khác thường.

Sambhogakaya is the same, but with the additional lustre of three perfections, one of which is entire obliteration of all earthly concerns.

Sambhogakaya cũng thế, nhưng có thêm ánh quang của ba sự viên mãn, trong đó một điều là sự xóa sạch hoàn toàn mọi bận tâm trần thế.

140. Such an individual has certainly passed the fourth initiation. Perhaps we might call the Sambhogakaya a special and advanced condition of the triadal vehicles belonging to the Adept who can also function etheric in the “body of fire”.

140. Một vị như vậy hẳn đã vượt qua lần điểm đạo thứ tư. Có lẽ ta có thể gọi Sambhogakaya là một trạng thái đặc biệt và cao vời của các hiện thể trong Tam Nguyên Tinh Thần thuộc về bậc Chân sư, vị cũng có thể vận hành dĩ thái trong “thân lửa”.

The Dharmakaya body is that of complete Buddha, i.e., no body at all, but an ideal breath; consciousness merged in the universal consciousness, or soul devoid of every attribute.

Thân Dharmakaya là thân của một vị Phật viên mãn, tức là, chẳng còn thân thể nào cả, mà chỉ như một hơi thở lý tưởng; tâm thức hòa tan trong tâm thức vũ trụ, hay linh hồn đã dép bỏ mọi thuộc tính.

141. We can wonder if the Dharmakaya body is actually the monadic sheath. From the perspective of the lower three worlds, it would seem like “no body at all”. One pauses to reflect, however, when one realizes that greater Beings than man are certainly conditioned by qualities and are not “devoid of every attribute”.

141. Ta có thể tự hỏi liệu thân Dharmakaya thực ra có phải là bao thể chân thần không. Xét từ lập trường của ba cõi thấp, nó có vẻ như “không có thân nào cả”. Tuy vậy, ta phải dừng lại suy ngẫm khi nhận ra rằng các Đấng lớn lao hơn con người chắc chắn vẫn được định tính bởi các phẩm chất và không “trút sạch mọi thuộc tính”.

Once a Dharmakaya, an Adept or Buddha leaves behind every possible relation with, or thought for, this earth.  Thus to be enabled to help humanity, an Adept who has won the right to Nirvana, ‘renounces the Dharmakaya body’ in mystic parlance; keeps, of the Sambhogakaya, only the great and complete knowledge, and remains in his Nirmanakaya.

Khi đã là một Dharmakaya, một bậc Chân sư hay một vị Phật bỏ lại đằng sau mọi liên hệ hay tư tưởng có thể có với trần gian này. Bởi thế, để có thể giúp nhân loại, một bậc Chân sư đã đạt quyền vào Niết-bàn, “từ bỏ thân Dharmakaya” theo ngôn ngữ huyền môn; giữ lại, từ Sambhogakaya, chỉ có tri thức lớn lao và trọn vẹn, và lưu lại trong Nirmanakaya của Ngài.

142. This is the summary of the interaction of the three vestures. What is “this earth”? Is the dense physical planet meant? The three lower worlds? Or the entire cosmic physical plane as it applies to the Earth-scheme?

142. Đây là lời tổng kết tương giao giữa ba y thân. “Trần gian này” là gì? Có phải chỉ hành tinh vật chất đậm đặc? Ba cõi thấp? Hay toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ như áp dụng cho Hệ Địa Cầu?

143. What, too, is “Nirvana” as here discussed? Are these degrees of Nirvana? Is it entry into atmic life, monadic life, or logoic life? The Buddha achieved Nirvana, but as a partial seventh degree initiate, is focused on the logoic plane (as is the Christ). So perhaps, the type of “Nirvana” here mentioned does not take the Adept beyond the cosmic physical plane as would be the case at the ninth degree.

143. Và “Niết-bàn” ở đây được hiểu là gì? Liệu có những cấp độ Niết-bàn? Đó có phải là nhập vào đời sống atma, đời sống chân thần, hay đời sống logoic? Đức Phật đã chứng Niết-bàn, nhưng như một vị điểm đạo đồ bậc bảy chưa viên mãn, Ngài chú trọng vào cõi logoic (cũng như Đức Christ). Vậy có lẽ, kiểu “Niết-bàn” được nhắc tới ở đây không đưa bậc Chân sư vượt khỏi cõi hồng trần vũ trụ như sẽ là trường hợp ở bậc chín.

144. The terms are not exactly those which we have found in the Western version of Trans-Himalayan Occultism presented by the Tibetan.

144. Các thuật ngữ này không hoàn toàn trùng với những gì chúng ta gặp trong phiên bản Tây phương của Huyền học Siêu Hy Mã Lạp Sơn do Chân sư Tây Tạng trình bày.

145. The summation can be thought of in this way: the Dharmakaya does not enter the monadic state, but remains focussed in the spiritual triad (Sambhogakaya)  can precipitate at will a mayavirupa built upon the “body of fire”. I suspect that there are other valid lines of interpretation.

145. Có thể tóm lược như sau: vị Dharmakaya không nhập vào trạng thái chân thần, nhưng lưu trú trong Tam Nguyên Tinh Thần (Sambhogakaya), có thể ngưng kết tùy ý một mayavirupa được kiến tạo trên “thân lửa”. Tôi ngờ rằng còn có những hướng diễn giải khác cũng khả tín.

The esoteric school teaches that Gautama Buddha, with several of his Arhats, is such a Nirmanakaya, higher than whom, on account of his great renunciation and sacrifice for mankind, there is none known.”—Voice of the Silence, p. 98

Trường phái nội môn dạy rằng Đức Phật Gautama, cùng với vài vị A-la-hán của Ngài, là những vị Nirmanakaya như thế, cao hơn Các Ngài, do đại hạnh từ bỏ và hy sinh vì nhân loại, không ai được biết đến.” — Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 98

146. And yet, the Buddha, in Shamballa, is necessarily focussed on the logoic plane as is the Christ—both of them partial seventh degree initiates.

146. Tuy vậy, Đức Phật, tại Shamballa, tất yếu chú trọng vào cõi logoic như Đức Christ—cả hai đều là những vị điểm đạo đồ bậc bảy chưa viên mãn.

147. It would seem that while the Buddha functions as a Nirmanakaya, He also has the Sambhogakaya vehicle and is, essentially, a Dharmakaya Who has refused ultimate Nirvana, which would detach Him from all human concerns.

147. Có vẻ như trong khi Đức Phật vận hành như một Nirmanakaya, Ngài cũng có y thân Sambhogakaya và về bản chất là một Dharmakaya đã từ khước Niết-bàn tối hậu, vốn sẽ khiến Ngài ly tuyệt mọi mối bận tâm nhân loại.

One or other of these three

Một trong ba vị này

148. “Separate Existences”…

148. “Các Hiện Hữu riêng biệt”…

can, if so He will, occupy a body on the physical plane which will not be simply a created mayavirupa.

có thể, nếu Ngài muốn vậy, chiếm dụng một thân xác trên cõi hồng trần, vốn không chỉ đơn thuần là một mayavirupa được tạo tác.

149. It seems that we are coming very close to unveiling certain aspects of the Mystery of the Buddha.

149. Có vẻ như chúng ta đang đến rất gần việc khai mở vài khía cạnh của Huyền nhiệm về Đức Phật.

This is done in one of two ways: either through the occupancy of a willingly vacated body, as was the case when the Christ occu­pied the body of Jesus,

Điều này được thực hiện theo một trong hai cách: hoặc bằng việc chiếm dụng một thân thể được tự nguyện nhường lại, như trường hợp Đức Christ chiếm dụng xác thân của Đức Jesus,

150. Did Gautama do the same?

150. Liệu Gautama có làm điều tương tự chăng?

or by a divine overshadowing of a disci­ple, as has been and will be the case.

hoặc bằng sự phủ bóng thiêng liêng đối với một đệ tử, như đã từng và sẽ còn xảy ra.

151. Or was this the way the relationship between the Head of the Spiritual Hierarchy at that time (the Buddha) functioned with the one who appears to be a seeking initiate—Gautama?

151. Hay đây chính là cách mối liên hệ giữa vị Đầu của Huyền Giai Tinh Thần thời bấy giờ (Đức Phật) vận hành với người có vẻ là một vị điểm đạo đồ đi tìm—Gautama?

The quality of the form occupied or used, and the nature of its work depends upon which of the three higher aspects of the initiating impulse, is manifesting.

Phẩm tính của hình tướng được chiếm dụng hay sử dụng, và bản chất công cuộc của nó tùy thuộc vào việc phương diện cao nào trong ba phương diện của xung lực khởi phát đang biểu lộ.

152. The whole matter is very intricate and of a most arcane nature.

152. Toàn bộ vấn đề này hết sức tinh vi và có bản chất cực kỳ huyền áo.

153. The form occupied may be a dense physical form, or, apparently, it may be a higher form.

153. Hình tướng được chiếm dụng có thể là một thân thể vật chất đậm đặc, hoặc, dường như, có thể là một hình tướng cao hơn.

Very rarely a more mysterious phenomenon occurs and the overshadowing Buddha, Bodhisat­tva, or Adept

Hiếm hoi lắm mới xảy ra một hiện tượng bí nhiệm hơn nữa: vị Phật, Bồ Tát, hay Chân sư làm công việc phủ bóng

154. These three are three distinct presentations of one Being.

each makes His “appearance” [Page 1194] upon earth thus demonstrating the three aspects of knowledge, love and will and all taking form.

đều “hiện thân” [Page 1194] nơi trần gian, như vậy biểu lộ ba phương diện tri thức, tình thương và ý chí, và tất cả đều thọ hình.

155. We have here, apparently, three distinct dense physical appearances of one threefold Being.

155. Ở đây, dường như chúng ta có ba sự xuất hiện thể chất phân biệt của một Hiện Hữu tam phân.

This may seem to be a great complexity, but it is not so much stranger after all than the phenomenon of the Monad (in time and space and during evolution) demonstrating forth as the Triad, the Ego and the Personality.

Điều này có vẻ là một phức tạp lớn, nhưng rốt cuộc nó cũng không lạ lùng hơn là hiện tượng Chân thần (trong thời gian và không gian và trong tiến hóa) biểu lộ như Tam Nguyên, Chân ngã và Phàm ngã.

156. In case we had any doubts, it should be reaffirmed that:

156. Trong trường hợp chúng ta còn nghi ngờ, cần xác quyết lại rằng:

a. The Monad is the Monad

a. Chân thần Chân thần

b. The Monad is the Triad

b. Chân thần Tam Nguyên

c. The Monad is the soul or Ego

c. Chân thần linh hồn hay Chân ngã

d. The Monad is the personality

d. Chân thần phàm ngã

157. The only difference is that each of the three physical appearances would appear to have a personality,. The Ego within the causal body would have been long ago destroyed. The spiritual triad would be the same for each as would the Monad.

157. Điều khác biệt duy nhất là mỗi trong ba sự xuất hiện thể chất sẽ dường như có một phàm ngã. Chân ngã trong thể nguyên nhân hẳn đã bị tiêu hủy từ lâu. Tam Nguyên Tinh Thần sẽ là một cho cả ba, cũng như Chân thần.

This type of triple Avatar

Kiểu Đấng Hoá Thân tam phân này

158. This is a great hint as only a very high Being descending into the lower worlds with no thought of gain for Himself, could accomplish what the Tibetan is discussing.

158. Đây là một ám chỉ lớn, vì chỉ một Đấng rất cao giáng lâm vào các cõi thấp mà không hề mưu cầu điều gì cho riêng Ngài mới có thể hoàn thành điều Chân sư đang bàn đến.

only makes its appearance under a peculiar series of cycles concerned with a group of Monads who were the most progressed and advanced at the opening of the mahamanvantara.

chỉ xuất hiện dưới một chuỗi chu kỳ đặc thù liên hệ đến một nhóm các chân thần vốn là những vị tiến bộ và phát triển nhất ngay khi mở màn của Đại giai kỳ sinh hóa.

159. This means that the Buddha and the others came from the previous solar system. The only way the could have been progressed and advanced at the opening of the mahamanvantara is to have come into this mahamanvantara with experience from the previous mahamanvantara!

159. Điều này có nghĩa rằng Đức Phật và các vị khác đến từ hệ mặt trời trước. Cách duy nhất để Các Ngài đã “tiến bộ và phát triển” ngay khi mở màn Đại giai kỳ sinh hóa là Các Ngài đã bước vào Đại giai kỳ này cùng với kinh nghiệm từ Đại giai kỳ sinh hóa trước đó!

As yet, there are not many progressed enough to do this triple work; the Buddha and nine others being the only Ones as yet remaining in touch with our particular planet in this particular manner.

Cho đến nay, không có nhiều vị đủ tiến hóa để làm công việc tam phân này; Đức Phật và chín vị khác là những Đấng duy nhất còn tiếp xúc với hành tinh riêng của chúng ta theo cách đặc biệt này.

160. It becomes obvious that the Buddha is a Being far greater than the Prince, Gautama.

160. Rõ ràng Đức Phật là một Đấng lớn lao hơn nhiều so với vị Hoàng tử Gautama.

161. We have ten in all, associated with our planet and able to do this triple work. These ten, presumably, are from the first solar system. The seeds of the first solar system, we are told, ripened within the Buddha. And yet He also progressed upon the Moon-chain which demonstrates that some of those from the first major solar system could also have had extensive experience upon the Moon-chain instead of skipping development upon that sphere and entering only within Lemuria within our Earth-chain.

161. Chúng ta có mười vị tất cả, liên hệ với hành tinh của chúng ta và có khả năng làm công việc tam phân này. Mười vị này, có lẽ, đến từ hệ mặt trời thứ nhất. Người ta bảo rằng các hạt giống của hệ mặt trời thứ nhất đã chín muồi nơi Đức Phật. Và tuy vậy, Ngài cũng tiến bộ trên Dãy Mặt Trăng, điều cho thấy rằng một số vị đến từ hệ mặt trời lớn lao thứ nhất cũng có thể đã có kinh nghiệm rộng lớn trên Dãy Mặt Trăng thay vì bỏ qua phát triển trên quả cầu ấy và chỉ đi vào trong thời Lemuria thuộc Dãy Địa Cầu của chúng ta.

A few are as Christ is,

Một vài vị như Đức Christ,

162. And one would wonder how many and Who They are…

162. Và người ta sẽ tự hỏi có bao nhiêu vị và Các NgàiAi

163. In this section of text we have learned that the Buddha is a third ray Monad and also originated from the previous solar system.

163. Trong đoạn này chúng ta đã biết rằng Đức Phật là một chân thần cung ba và cũng khởi nguyên từ hệ mặt trời trước.

and have the power to make a dual appearance.

và có quyền năng thực hiện một sự xuất hiện nhị phân.

164. But the Christ-Jesus phenomenon was not this. How interesting it would be to know which such appearances had been made in the course of human history.

164. Nhưng hiện tượng Christ–Jesus không phải là điều này. Thật thú vị biết bao nếu biết những lần xuất hiện như thế đã diễn ra khi nào trong lịch sử nhân loại.

This type of monad is only found on Rays two, four, six.

Kiểu chân thần này chỉ gặp nơi các cung hai, bốn, sáu.

165. All is controlled by number. If the third ray Monad can present itself as three distinct yet simultaneous Existences, and the Monad on the second, fourth and sixth ray is capable of a dual ‘Presentation of Self’, then is the first ray Monad (and perhaps the fifth) capable of only one Self-Presentation?

165. Mọi sự đều được con số chi phối. Nếu chân thần cung ba có thể tự trình hiện như ba Hiện Hữu phân biệt nhưng đồng thời, và chân thần cung hai, bốn, sáu có khả năng “tự trình hiện” nhị phân, thì liệu chân thần cung một (và có lẽ cung năm) chỉ có khả năng một lần “Tự Hiển lộ” mà thôi?

Scroll to Top