AO’s Chiêm Tinh Toàn Tập | PHẦN 2 – VII. Tâm thức mới và bước ngoặt của thời đại

📘 Sách: Alan Oken’s Complete Astrology (Chiêm Tinh Toàn Tập của Alan Oken) – Tác giả: Alan Oken

VII. The New Consciousness and the Cusp of the Ages – Tâm thức mới và bước ngoặt của thời đại

54—54

THE GREAT YEAR—ĐẠI NIÊN

Astrology is the study of cycles. More specifically, astrology focuses upon the relationships which exist between the larger cycles of the Earth and the personal cycles of the individual. Planets as well as people are born, have a span of life, and die. One must see, in order to get a correct perspective on personal evolution and self-development, that one’s growth is conditioned by the epoch in which one comes into this world. The physical body of the Neanderthal Man and the world in which he lived were quite different from the physical body of modern Man and the present geography and climatic conditions of our globe. These physical changes are much more easily measurable than the metaphysical alterations which occur in the structure of human consciousness.

Chiêm tinh học là sự nghiên cứu các chu kỳ. Cụ thể hơn, chiêm tinh học tập trung vào những mối quan hệ tồn tại giữa các chu kỳ lớn hơn của Trái Đất và các chu kỳ cá nhân của từng người. Các hành tinh cũng như con người đều được sinh ra, có một khoảng đời sống, và chết đi. Để có một viễn cảnh đúng về tiến hóa cá nhân và tự phát triển, người ta phải thấy rằng sự tăng trưởng của mình được điều kiện hóa bởi thời đại mà mình đến với thế giới này. Thân thể vật lý của Con Người Neanderthal và thế giới mà y sống khác hẳn thân thể vật lý của Con Người hiện đại và địa lý cùng điều kiện khí hậu hiện nay của địa cầu chúng ta. Những biến đổi vật lý này dễ đo lường hơn nhiều so với những biến đổi siêu hình xảy ra trong cấu trúc tâm thức nhân loại.

These subtle variations can be examined through a study of the larger cosmic periods through which Humankind passes on its long journey toward its evolutionary destiny. Each cycle has its corresponding influences on Man’s consciousness and is revealed in the political and sociological structure of his civilizations, sciences, religions, philosophies, myths, music, and arts.

Những biến thiên vi tế này có thể được khảo sát qua việc nghiên cứu các thời kỳ vũ trụ lớn hơn mà nhân loại đi qua trên hành trình dài hướng đến định mệnh tiến hóa của mình. Mỗi chu kỳ có những ảnh hưởng tương ứng lên tâm thức của Con Người và được bộc lộ trong cấu trúc chính trị và xã hội học của các nền văn minh, khoa học, tôn giáo, triết học, thần thoại, âm nhạc và nghệ thuật của y.

This is not the easiest time for any of us, no matter what our economic, professional, or evolutionary status. These are critical years, hard years, years of profound and unalterable changes for everyone. It is hoped, however, that the tumultuous nature of the present era will give rise to a more conscious humanity.

Đây không phải là thời kỳ dễ dàng nhất đối với bất kỳ ai trong chúng ta, bất kể địa vị kinh tế, nghề nghiệp hay tiến hóa. Đây là những năm then chốt, những năm khắc nghiệt, những năm của các biến đổi sâu sắc và không thể đảo ngược đối với mọi người. Tuy nhiên, người ta hy vọng rằng bản chất hỗn loạn của thời đại hiện tại sẽ làm nảy sinh một nhân loại có ý thức hơn.

If, then, the goal for our labors and sufferings is greater consciousness, what in fact does “consciousness” mean? Literally, the word comes from two Latin roots: con + scius, meaning “with knowledge.” But what type of knowledge are we talking about? The collective work of the natural sciences has widened Man’s understanding of himself and his planet more in the past 50 years than in all recorded history. Science, however, is a function of mind. The mind’s purpose (at least, that of its rational faculties) is to channel thoughts and impressions into prescribed limits. The rational mind is not the sole vehicle for experiencing the world, nor is it the most highly developed or ultimate product of human evolution.

Vậy thì, nếu mục tiêu cho lao nhọc và khổ đau của chúng ta là tâm thức lớn hơn, thì thực ra “tâm thức” nghĩa là gì? Theo nghĩa đen, từ này đến từ hai gốc Latin: con + scius, nghĩa là “cùng với tri thức.” Nhưng chúng ta đang nói về loại tri thức nào? Công trình tập thể của các khoa học tự nhiên đã mở rộng sự hiểu biết của Con Người về chính mình và hành tinh của mình trong 50 năm qua nhiều hơn toàn bộ lịch sử được ghi chép. Tuy nhiên, khoa học là một chức năng của thể trí. Mục đích của thể trí (ít nhất là các năng lực lý tính của nó) là dẫn dòng các tư tưởng và ấn tượng vào những giới hạn đã định. Thể trí lý tính không phải là phương tiện duy nhất để trải nghiệm thế giới, cũng không phải là sản phẩm phát triển cao nhất hay tối hậu của tiến hóa nhân loại.

Philosophy, then? Is an expanded philosophic attitude what we mean by consciousness? The word “philosophy” is of Greek derivation. It is composed of philos (“love”) and sophos (“knowledge”). Thus another element is joined to the mental forces, namely love. Love entails devotion, emotion, rapture, and imagination. As such, the heart becomes another center for experiential learning. A combination of the faculties of the heart and the head gives rise to a more comprehensive perspective of life. The development of “heart sense” in Man produces an instantaneous rapport with others. The head is connected with the forces around and above the Earth. We call this the mental sphere or the realm of ideas. These ideas have to be grounded through earthly experience so that knowledge becomes wisdom, a very important process!

Vậy thì triết học? Một thái độ triết học mở rộng có phải là điều chúng ta muốn nói khi nói đến tâm thức không? Từ “triết học” có nguồn gốc Hy Lạp. Nó gồm philos (“tình yêu”) và sophos (“tri thức”). Vì vậy, một yếu tố khác được kết hợp vào các lực của thể trí, đó là tình yêu. Tình yêu bao hàm sự tận hiến, cảm xúc, hân hoan và tưởng tượng. Do đó, trái tim trở thành một trung tâm khác cho việc học hỏi qua trải nghiệm. Một sự kết hợp các năng lực của trái tim và cái đầu làm nảy sinh một viễn cảnh toàn diện hơn về đời sống. Sự phát triển “cảm quan trái tim” trong Con Người tạo ra một sự hòa điệu tức thời với người khác. Cái đầu được nối với các lực quanh và trên Trái Đất. Chúng ta gọi đây là cõi trí tuệ hay cõi của các ý niệm. Những ý niệm này phải được tiếp đất qua kinh nghiệm trần thế để tri thức trở thành trí tuệ—một tiến trình vô cùng quan trọng!

The head without the heart is a cold, sterile, impractical instrument, no matter how highly developed its intelligence. The heart without the head is a directionless, indiscriminate mass of emotional energy, equally impractical no matter how great the sympathies may be. Thus heart and mind can be seen as tools for the assimilation, comprehension, integration, and direction of life’s experiences and energies, but they are not ends in themselves nor do they comprise what we mean by the term “consciousness.” By this term we refer to a state of focused awareness. The level, extent, and duration of this state is directly related to the scope of one’s attunement to the many simultaneously working processes of life.

Cái đầu không có trái tim là một công cụ lạnh lẽo, vô sinh, thiếu thực tiễn, dù trí thông minh của nó có phát triển cao đến đâu. Trái tim không có cái đầu là một khối năng lượng cảm xúc vô hướng, bừa bãi, cũng thiếu thực tiễn không kém dù lòng trắc ẩn có lớn đến đâu. Vì vậy, trái tim và thể trí có thể được xem là các công cụ để đồng hóa, thấu hiểu, tích hợp và định hướng các trải nghiệm và năng lượng của đời sống, nhưng chúng không phải là cứu cánh tự thân, cũng không cấu thành điều chúng ta muốn nói bằng thuật ngữ “tâm thức.” Bằng thuật ngữ này, chúng ta nói đến một trạng thái nhận biết tập trung. Mức độ, phạm vi và thời lượng của trạng thái này liên hệ trực tiếp đến tầm mức hòa điệu của một người với nhiều tiến trình của đời sống đang vận hành đồng thời.

Mankind today is being forced into progressing beyond the disciplines of science and philosophy, beyond the realms of the mind and heart—beyond its present stage of evolution. Mankind is being thrust toward a different realm of awareness altogether: the conscious, intimate, personal knowledge that each individual is an integral link in the greater collectivity of the Human Race.

Nhân loại ngày nay đang bị buộc phải tiến xa hơn các bộ môn khoa học và triết học, xa hơn các cõi của thể trí và trái tim—xa hơn giai đoạn tiến hóa hiện tại của mình. Nhân loại đang bị đẩy về một cõi nhận biết hoàn toàn khác: tri thức hữu thức, thân mật, cá nhân rằng mỗi cá nhân là một mắt xích không thể tách rời trong tập thể lớn hơn của Nhân loại.

Man is therefore at the threshold of developing a more global or planetary consciousness. This does not mean that all national or racial differences will soon disappear; we are very far from that state, if indeed, such a condition is to exist at all. What we are referring to is that people are coming to the realization that their mutual well-being and that of the planet is their direct and personal responsibility. For example, it is now quite obvious that personal consumption of fuel, food, and other forms of energy is directly related to the life conditions upon this globe. The limitation of these commodities forces our attention to the needs of the world family. Aside from a very small number of New Age people currently alive, this relatively recent concept of planetary responsibility and self-identification with the global community is still lodged, for the most part, in the mind. It has yet to reach the hearts of the masses, and is far from being implemented in daily life. Most people are not even awake, much less aware. The particular energy crisis we have been experiencing serves a definite purpose. It has shocked Man into a greater awareness not only of himself but of himself in relation to others. When the great masses of people (and I’m speaking in terms of hundreds of millions, of billions) begin to integrate these newly developing ideas of social behavior into their inner beings, into their sense of self, and into the very fabric of their daily relationships, we will approach an important facet of the “new” consciousness. This will take time, many generations, for people will not only have to think in these terms (mind) but they will have to make these thoughts an integral aspect of their general reality (heart). In other words, this type of behavior will have to become “natural” to them; as “natural” as their selfishness is today.

Vì vậy, Con Người đang ở ngưỡng cửa phát triển một tâm thức toàn cầu hay tâm thức hành tinh hơn. Điều này không có nghĩa rằng mọi khác biệt quốc gia hay chủng tộc sẽ sớm biến mất; chúng ta còn rất xa trạng thái ấy, nếu quả thật một điều kiện như vậy có tồn tại. Điều chúng ta muốn nói là con người đang đi đến nhận ra rằng phúc lợi tương hỗ của họ và của hành tinh là trách nhiệm trực tiếp và cá nhân của họ. Ví dụ, giờ đây khá hiển nhiên rằng việc tiêu thụ cá nhân về nhiên liệu, thực phẩm và các dạng năng lượng khác liên hệ trực tiếp đến các điều kiện sống trên địa cầu này. Sự hạn chế của các hàng hóa này buộc sự chú ý của chúng ta hướng đến nhu cầu của gia đình thế giới. Ngoại trừ một số rất nhỏ những người Thời đại Mới hiện đang sống, khái niệm tương đối mới này về trách nhiệm hành tinh và sự tự đồng nhất với cộng đồng toàn cầu vẫn, phần lớn, nằm trong thể trí. Nó vẫn chưa chạm đến trái tim của quần chúng, và còn xa mới được thực thi trong đời sống hằng ngày. Đa số người thậm chí còn chưa thức, nói gì đến nhận biết. Cuộc khủng hoảng năng lượng đặc thù mà chúng ta đang trải nghiệm phục vụ một mục đích xác định. Nó đã làm Con Người bừng tỉnh đến một nhận biết lớn hơn không chỉ về chính mình mà còn về chính mình trong tương quan với người khác. Khi những khối quần chúng lớn (và tôi đang nói theo nghĩa hàng trăm triệu, hàng tỷ) bắt đầu tích hợp những ý niệm mới đang phát triển này về hành vi xã hội vào bản thể nội tâm của họ, vào cảm quan bản ngã của họ, và vào chính kết cấu của các mối quan hệ hằng ngày của họ, chúng ta sẽ tiến gần đến một khía cạnh quan trọng của tâm thức “mới.” Điều này sẽ cần thời gian, nhiều thế hệ, vì con người không chỉ phải nghĩ theo những thuật ngữ này (thể trí) mà còn phải làm cho những tư tưởng ấy trở thành một khía cạnh không thể tách rời của thực tại chung của họ (trái tim). Nói cách khác, kiểu hành vi này sẽ phải trở nên “tự nhiên” đối với họ; “tự nhiên” như tính ích kỷ của họ ngày nay.

Mankind is being conditioned to function from a basis of universal concepts and values. Hopefully, science will provide the technology for the humanity of the coming Age and philosophy and the arts will help structure the resultant changes in the moral framework of social behavior. Each discipline, each profession can then eventually adjust to these modifications in human and planetary evolution. Thus it has been throughout Man’s inhabitation of this planet and thus it shall be until Man is no longer. But as we pointed out earlier, the extent and focus of human consciousness is quite different from one era to the next: time is the greatest relative. These eras, these World Ages, have a pattern of development which is synchronous to the state of human evolution and its resultant civilizations.

Nhân loại đang được điều kiện hóa để vận hành từ một nền tảng các khái niệm và giá trị phổ quát. Hy vọng rằng khoa học sẽ cung cấp công nghệ cho nhân loại của Thời đại sắp đến, và triết học cùng nghệ thuật sẽ giúp cấu trúc những biến đổi hệ quả trong khuôn khổ đạo đức của hành vi xã hội. Khi ấy, mỗi bộ môn, mỗi nghề nghiệp cuối cùng có thể điều chỉnh theo những biến đổi này trong tiến hóa nhân loại và hành tinh. Điều này đã luôn như vậy trong suốt thời gian Con Người cư trú trên hành tinh này, và sẽ còn như vậy cho đến khi Con Người không còn nữa. Nhưng như chúng ta đã chỉ ra trước đó, mức độ và tiêu điểm của tâm thức nhân loại rất khác nhau từ thời đại này sang thời đại khác: thời gian là tương đối lớn nhất. Những thời đại này, những Thời đại Thế giới này, có một mô thức phát triển đồng bộ với trạng thái tiến hóa nhân loại và các nền văn minh hệ quả của nó.

Humanity not only has to see life in terms of its historical perspective but in terms of its metaphysical perspective as well. What is needed is a reference point, a structure, through which both the historical, and metaphysical progression of humanity can be examined. In this way, the seemingly confused picture of the world and of our own existence upon it may begin to unravel itself. Astrology provides such a framework both from its esoteric and exoteric aspects. The study of esoteric material helps us gear our understanding to the structure of the larger cycles at work in the Cosmos. The study of exoteric astrology, specifically natal astrology, helps to relate the structure of the individual to these greater periods.

Nhân loại không chỉ phải nhìn đời sống theo viễn cảnh lịch sử của nó mà còn theo viễn cảnh siêu hình của nó nữa. Điều cần thiết là một điểm tham chiếu, một cấu trúc, qua đó cả tiến trình lịch sử lẫn tiến trình siêu hình của nhân loại có thể được khảo sát. Theo cách này, bức tranh tưởng như rối loạn của thế giới và của chính sự hiện hữu của chúng ta trên đó có thể bắt đầu tự tháo gỡ. Chiêm tinh học cung cấp một khuôn khổ như vậy, cả từ khía cạnh nội môn lẫn ngoại môn của nó. Việc nghiên cứu tài liệu nội môn giúp chúng ta điều chỉnh sự hiểu biết của mình theo cấu trúc của các chu kỳ lớn hơn đang vận hành trong Vũ trụ. Việc nghiên cứu chiêm tinh ngoại môn, đặc biệt là chiêm tinh học lá số sinh, giúp liên hệ cấu trúc của cá nhân với những thời kỳ lớn hơn này.

One of the more important evolutionary cycles in which this process of linking the lesser with the greater is carried out is the almost 26,000 year period known as the Great Year. The Great Year is the product of several astronomical factors which we should explore.

Một trong những chu kỳ tiến hóa quan trọng hơn, nơi tiến trình nối kết cái nhỏ với cái lớn này được thực hiện, là chu kỳ gần 26.000 năm được gọi là Đại Niên. Đại Niên là sản phẩm của vài yếu tố thiên văn mà chúng ta nên khảo sát.

The orbit which the Earth travels about the Sun is called the “ecliptic” (also referred to as the Sun’s apparent path around the Earth). The ecliptic lies between a broad band of stars measuring some 8½° on either side of this orbital path. All of the planets of the solar system have their orbits completely within this larger stellar boundary except for Pluto, which, due to the great eccentricity of its ellipse, sometimes exceeds the latitudinal limitations of this starry belt, while at other times Pluto finds itself within the orbit of Neptune.

Quỹ đạo mà Trái Đất đi quanh Mặt Trời được gọi là “hoàng đạo” (cũng được gọi là đường đi biểu kiến của Mặt Trời quanh Trái Đất). Hoàng đạo nằm giữa một dải sao rộng đo khoảng 8½° ở mỗi bên của đường quỹ đạo này. Tất cả các hành tinh của hệ mặt trời đều có quỹ đạo hoàn toàn nằm trong ranh giới sao rộng hơn này, ngoại trừ Diêm Vương Tinh, vốn do độ lệch tâm lớn của quỹ đạo elip của nó, đôi khi vượt quá các giới hạn vĩ độ của vành đai sao này, trong khi vào những lúc khác Diêm Vương Tinh lại thấy mình nằm trong quỹ đạo của Hải Vương Tinh.

The second important factor of the Great Year is the Earth’s equator. If we extend the plane of this circle out into space, we have what is known as the “celestial equator.” The two circles described by the ecliptic and the celestial equator do not coincide. This is due to the 23° tilt of the Earth’s axis but the two circles do cross each other. This line of intersection between the celestial equator and the ecliptic defines two opposite points which are the equinoxes.

Yếu tố quan trọng thứ hai của Đại Niên là đường xích đạo của Trái Đất. Nếu chúng ta kéo dài mặt phẳng của vòng tròn này ra không gian, chúng ta có cái được gọi là “xích đạo thiên cầu.” Hai vòng tròn được mô tả bởi hoàng đạo và xích đạo thiên cầu không trùng nhau. Điều này là do trục Trái Đất nghiêng 23°, nhưng hai vòng tròn vẫn cắt nhau. Đường giao nhau giữa xích đạo thiên cầu và hoàng đạo xác định hai điểm đối nhau, đó là các điểm phân.

The vernal crossing represents 0° Aries while the autumnal equinox is 0° Libra. From 0° Aries the ecliptic is divided into 12 equal parts of 30° each. These are the 12 signs of the Tropical Zodiac.

Điểm giao xuân phân biểu thị 0° Bạch Dương, trong khi thu phân là 0° Thiên Bình. Từ 0° Bạch Dương, hoàng đạo được chia thành 12 phần bằng nhau, mỗi phần 30°. Đây là 12 dấu hiệu của Hoàng đạo Nhiệt đới.

The positions of the two equinoctial points are not fixed but are slowly and constantly shifting in relation to the backdrop of the fixed stars of the Sidereal Zodiac of the constellations. This mutation occurs at the rate of about 50.3″ of arc a year or about 1° of arc each 72 years. The direction of this gradual change in position is retrograde, so that the vernal equinox (0° Aries) begins each year just slightly behind its position of the previous year. The reason for this retrograde movement of the equinoxes is due, in large measure, to the Earth’s movements. As we know, the Earth is not a perfect sphere. It is shaped more like a tangerine: the polar regions are flat and it bulges at the equator.

Vị trí của hai điểm phân không cố định mà chậm rãi và liên tục dịch chuyển so với phông nền của các sao cố định của Hoàng đạo Thiên văn của các chòm sao. Sự biến đổi này xảy ra với tốc độ khoảng 50,3″ cung mỗi năm, hay khoảng 1° cung mỗi 72 năm. Hướng của sự thay đổi vị trí dần dần này là nghịch hành, để xuân phân (0° Bạch Dương) mỗi năm bắt đầu chỉ hơi lùi sau vị trí của năm trước. Lý do của chuyển động nghịch hành của các điểm phân phần lớn là do các chuyển động của Trái Đất. Như chúng ta biết, Trái Đất không phải là một khối cầu hoàn hảo. Nó có hình dạng giống một quả quýt hơn: các vùng cực dẹt và nó phình ra ở xích đạo.

The gravity of the Sun and Moon pull upon this bulge and cause the Earth to wobble somewhat like a spinning top. This slow wobble gradually alters the direction of the polar axis, and as a result there is an alteration of pole stars as well as the shifting of the precessional points of the equinoxes.

Trọng lực của Mặt Trời và Mặt Trăng kéo lên phần phình này và khiến Trái Đất lắc lư phần nào như một con quay. Sự lắc lư chậm này dần dần làm thay đổi hướng của trục cực, và do đó có sự thay đổi các sao cực cũng như sự dịch chuyển các điểm tuế sai của các điểm phân.

It takes approximately 25,920 years for the precession of the equinoxes to make one complete passage within the entire belt of the constellations of the Sidereal Zodiac. This period, the Great Year, when divided by the 12 signs results in 12 precessional Ages of about 2,160 years each. As it is difficult to determine the exact point where one sign ends and another begins, the precise date of the transition from one Age to another is impossible to fix with exactitude. One knows approximately, of course, but each astrologer has his or her opinion about the beginning of the fast approaching Aquarian Age.

Mất khoảng 25.920 năm để tuế sai của các điểm phân hoàn thành một vòng đi trọn trong toàn bộ vành đai các chòm sao của Hoàng đạo Thiên văn. Thời kỳ này—Đại Niên—khi chia cho 12 dấu hiệu sẽ cho ra 12 Thời đại tuế sai, mỗi thời đại khoảng 2.160 năm. Vì khó xác định điểm chính xác nơi một dấu hiệu kết thúc và dấu hiệu khác bắt đầu, nên ngày tháng chính xác của sự chuyển tiếp từ Thời đại này sang Thời đại khác là không thể cố định một cách tuyệt đối. Dĩ nhiên, người ta biết xấp xỉ, nhưng mỗi nhà chiêm tinh có quan điểm riêng về sự khởi đầu của Thời đại Bảo Bình đang đến rất nhanh.

Thus at the present time, we find ourselves at a very fascinating if somewhat disturbing period—the cusp or border line between two world Ages, Pisces and Aquarius. This means that we have not quite extricated ourselves from the vibrations of the former Age, nor have we been completely absorbed into the rays of the latter. This state of being is much like the period between childhood and puberty—a critical time indeed? But one doesn’t go to bed one night a child and wake the next day an adolescent; the process is gradual. So too, the world Ages slowly merge one into the other. Thus today we find that we live in the legacy of Pisces and the promise of Aquarius. What this means in terms of the practical life experience will be explored as we continue our discussion. Let us first examine some of the historical and metaphysical background leading up to the present moment.

Vì vậy, ở thời điểm hiện tại, chúng ta thấy mình đang ở trong một giai đoạn rất hấp dẫn, dù có phần đáng lo—đỉnh giao hay đường biên giữa hai Thời đại thế giới, Song Ngư và Bảo Bình. Điều này có nghĩa rằng chúng ta chưa hoàn toàn thoát khỏi các rung động của Thời đại trước, cũng chưa hoàn toàn được hấp thụ vào các tia của Thời đại sau. Trạng thái hiện hữu này giống như giai đoạn giữa thời thơ ấu và tuổi dậy thì—một thời kỳ then chốt quả thật? Nhưng người ta không đi ngủ một đêm là trẻ con rồi thức dậy ngày hôm sau thành thiếu niên; tiến trình là dần dần. Thì cũng vậy, các Thời đại thế giới chậm rãi hòa vào nhau. Vì vậy, ngày nay chúng ta thấy rằng chúng ta sống trong di sản của Song Ngư và lời hứa của Bảo Bình. Điều này có nghĩa gì trong kinh nghiệm đời sống thực tiễn sẽ được khảo sát khi chúng ta tiếp tục thảo luận. Trước hết, hãy xét một số bối cảnh lịch sử và siêu hình dẫn đến khoảnh khắc hiện tại.

The Polarity of the Ages—Tính Cực của Các Thời đại

If we examine the Zodiac, we will see that it can be broadly divided into two hemispheres. This particular division is based on the natural division of the year by the two equinoxes. Thus one half of the Zodiac and year begins at 0° Aries (the first day of spring and the equality of day and night), passes through 0° Cancer at the summer solstice (the longest day of the year), and ends at 30° Virgo. The second half of the Zodiac and year begins at 0° Libra (the first day of autumn and again the equality of day and night), passes at the winter solstice through 0° Capricorn (the longest night of the year), and ends at 30° Pisces.

Nếu chúng ta khảo sát Hoàng đạo, chúng ta sẽ thấy rằng nó có thể được chia rộng thành hai bán cầu. Sự phân chia đặc thù này dựa trên sự phân chia tự nhiên của năm bởi hai điểm phân. Vì vậy, một nửa của Hoàng đạo và năm bắt đầu tại 0° Bạch Dương (ngày đầu tiên của mùa xuân và sự bằng nhau của ngày và đêm), đi qua 0° Cự Giải tại hạ chí (ngày dài nhất trong năm), và kết thúc tại 30° Xử Nữ. Nửa còn lại của Hoàng đạo và năm bắt đầu tại 0° Thiên Bình (ngày đầu tiên của mùa thu và lại là sự bằng nhau của ngày và đêm), đi qua 0° Ma Kết tại đông chí (đêm dài nhất trong năm), và kết thúc tại 30° Song Ngư.

Astrologers speak of the first six signs, the hemisphere in which the day predominates, as the Personal Sphere of Experience, and the second six signs, the hemisphere in which night predominates, as the Social (or Universal) Sphere of Experience. These two halves of the Zodiac perfectly balance each other (Table 1).

Các nhà chiêm tinh nói về sáu dấu hiệu đầu tiên—bán cầu nơi ban ngày trội hơn—như Cõi Kinh nghiệm Cá nhân, và sáu dấu hiệu sau—bán cầu nơi ban đêm trội hơn—như Cõi Kinh nghiệm Xã hội (hay Phổ quát). Hai nửa này của Hoàng đạo cân bằng nhau một cách hoàn hảo (Bảng 1).

The reader can see from this table the intimate relationships that exist between the six pairs of signs. In general, we can say that the signs of the personal sphere are prone to experience life through a type of self-projection which is often naive in the sense of social awareness. Their objective is to learn social values and thereby integrate themselves with the larger human collective. In the process they tend to provide stimulation and new energy to their environment. The signs of the social sphere, however, tend to experience life through the use of their social consciousness. Their objective is to establish a sense of self within the body of the collective. In the process they tend to provide experience and give a larger perspective to their environment.

Người đọc có thể thấy từ bảng này những mối liên hệ mật thiết tồn tại giữa sáu cặp dấu hiệu. Nói chung, chúng ta có thể nói rằng các dấu hiệu của cõi cá nhân có khuynh hướng trải nghiệm đời sống qua một dạng tự phóng chiếu vốn thường ngây thơ theo nghĩa nhận biết xã hội. Mục tiêu của chúng là học các giá trị xã hội và nhờ đó tích hợp bản thân với tập thể nhân loại lớn hơn. Trong tiến trình ấy, chúng có khuynh hướng cung cấp kích thích và năng lượng mới cho môi trường của mình. Tuy nhiên, các dấu hiệu của cõi xã hội có khuynh hướng trải nghiệm đời sống qua việc sử dụng tâm thức xã hội của mình. Mục tiêu của chúng là thiết lập một cảm quan bản ngã trong thân thể của tập thể. Trong tiến trình ấy, chúng có khuynh hướng cung cấp kinh nghiệm và đem lại một viễn cảnh lớn hơn cho môi trường của mình.

Each sign in a pair seeks and is attracted to the qualities of its opposing, yet complementary opposite. Aries wants to obtain the balanced judgment of Libra; Libra desires to have more of the self-direction of Aries. Taurus needs the rejuvenated aspects of Scorpio, while the latter seeks the inner stability of the Bull. Gemini wishes to develop the breadth of vision embodied by Sagittarius, while Sagittarius searches for the alacrity and methodology of Gemini. Cancer seeks the power and endurance of Capricorn; Capricorn, the softness and understanding of Cancer. Leo needs the social communicativeness of Aquarius, while the Water Bearer searches for the sense of individuality and the strength of purpose embodied by the Lion. Virgo is trying to find the complete selflessness of Pisces; Pisces desires to be able to discriminate in its self-assertions as does Virgo.

Mỗi dấu hiệu trong một cặp tìm kiếm và bị hấp dẫn bởi các phẩm chất của dấu hiệu đối lập nhưng bổ sung của nó. Bạch Dương muốn đạt được sự phán đoán cân bằng của Thiên Bình; Thiên Bình khao khát có nhiều hơn tính tự định hướng của Bạch Dương. Kim Ngưu cần các khía cạnh được làm mới của Hổ Cáp, trong khi Hổ Cáp tìm kiếm sự ổn định nội tâm của Con Bò. Song Tử muốn phát triển bề rộng linh ảnh được hiện thân bởi Nhân Mã, trong khi Nhân Mã tìm kiếm sự nhanh nhạy và phương pháp luận của Song Tử. Cự Giải tìm kiếm quyền năng và sức bền của Ma Kết; Ma Kết tìm kiếm sự mềm mại và thấu hiểu của Cự Giải. Sư Tử cần tính giao tiếp xã hội của Bảo Bình, trong khi Người Mang Nước tìm kiếm cảm quan cá tính và sức mạnh mục đích được hiện thân bởi Sư Tử. Xử Nữ đang cố tìm sự vô ngã trọn vẹn của Song Ngư; Song Ngư khao khát có thể phân biệt trong các khẳng định bản thân như Xử Nữ.

As we briefly survey several of the world Ages preceding the present point in human history, we shall see how both sides of a given pair of signs manifest their characteristics simultaneously. The sign of the Age itself does so in a primary capacity, while the presence of its complementary opposite is felt secondarily.

Khi chúng ta lướt khảo sát ngắn gọn vài Thời đại thế giới trước thời điểm hiện tại trong lịch sử nhân loại, chúng ta sẽ thấy cả hai phía của một cặp dấu hiệu nhất định biểu lộ các đặc trưng của mình đồng thời. Dấu hiệu của chính Thời đại ấy làm vậy theo năng lực chủ yếu, trong khi sự hiện diện của dấu hiệu đối lập bổ sung của nó được cảm nhận theo năng lực thứ yếu.

The two world Ages leading up to our own Piscean Age-Aquarian Age cusp, i.e., the Ages of Taurus and Aries, belong to a previous Great Year. This period began some 28,000 years ago and represents another, completed phase in human evolution. It was a time when vestiges of the Lemurian and the Atlantean civilizations still populated the Earth. What was the consciousness of Humanity like during this epoch? The question is almost impossible for modern historians and archaeologists to answer. What we do know about these ancient peoples can be found in the extensive works of Mme. Blavatsky, Rudolf Steiner, and Vitvan, through whom some of the wisdom and history of the ancients has been revealed.

Hai Thời Đại thế giới dẫn đến đỉnh chuyển tiếp của Thời Đại Song Ngư–Thời Đại Bảo Bình của chúng ta, tức các Thời Đại Kim Ngưu và Bạch Dương, thuộc về một Đại Niên trước đó. Giai đoạn này bắt đầu khoảng 28.000 năm trước và biểu trưng một pha khác, đã hoàn tất, trong tiến hóa nhân loại. Đó là thời kỳ khi những tàn tích của các nền văn minh Lemuria và Atlantis vẫn còn cư trú trên Trái Đất. Tâm thức của Nhân Loại trong kỷ nguyên ấy như thế nào? Câu hỏi này gần như bất khả đối với các sử gia và nhà khảo cổ hiện đại. Điều chúng ta biết về các dân tộc cổ xưa ấy có thể tìm thấy trong các trước tác đồ sộ của Bà Blavatsky, Rudolf Steiner và Vitvan, qua đó một phần minh triết và lịch sử của người xưa đã được hé lộ.

ao-s-chiem-tinh-toan-tap-phan-2-vii-tam-thuc-moi-va-buoc-ngoat-cua-thoi-dai-01.jpg

The Zodiacal Hemispheres

Các Bán Cầu Hoàng Đạo

Table 1. Zodiacal Polarity

Bảng 1. Đối cực Hoàng đạo

Aries: The realm of self-projection through individual impulse

Bạch Dương: Lĩnh vực tự phóng chiếu qua xung lực cá nhân

Libra: The realm of self-projection through social impulse

Thiên Bình: Lĩnh vực tự phóng chiếu qua xung lực xã hội

Taurus: The realm of the collection of personal resources and talents

Kim Ngưu: Lĩnh vực thu gom các nguồn lực và tài năng cá nhân

Scorpio: The realm of the collection of social resources and talents

Hổ Cáp: Lĩnh vực thu gom các nguồn lực và tài năng xã hội

Gemini: The realm of the distribution of individual concepts and ideas

Song Tử: Lĩnh vực phân phối các khái niệm và ý tưởng cá nhân

Sagittarius: The realm of the distribution of social concepts and ideas

Nhân Mã: Lĩnh vực phân phối các khái niệm và ý tưởng xã hội

Cancer: The realm of the establishment of personal security and structure

Cự Giải: Lĩnh vực thiết lập sự an toàn và cấu trúc cá nhân

Capricorn: The realm of the establishment of social security and structure

Ma Kết: Lĩnh vực thiết lập sự an toàn và cấu trúc xã hội

Leo: The realm of the organization and projection of individual ambitions and ideals

Sư Tử: Lĩnh vực tổ chức và phóng chiếu các tham vọng và lý tưởng cá nhân

Aquarius: The realm of the organization and projection of social ambitions and ideals

Bảo Bình: Lĩnh vực tổ chức và phóng chiếu các tham vọng và lý tưởng xã hội

Virgo: The realm of the distribution of personal services

Xử Nữ: Lĩnh vực phân phối các phụng sự cá nhân

Pisces: The realm of the distribution of social services

Song Ngư: Lĩnh vực phân phối các phụng sự xã hội

These sources seem to indicate that Atlantean Man was much more in direct contact with the cosmic forces than is the present race of humanity. Atlantean Man functioned much more in what we now tend to call the clairvoyant and intuitive realms than in the rational mind of present humanity. Thus there was more of a conscious awareness of Man’s relationship both to his own and to the other kingdoms of nature. As a result there was less of a feeling of separateness (or egocentricity) between the individual, the rest of his race, and the Cosmos. This does not mean that the Atlanteans were, as a whole, a race of supermen and wonderwomen. It just indicates that there was a greater fluidity to life, much more of an inner connection with the forces of life and much less of an objective, analytical, and critical approach to life.

Những nguồn này dường như cho thấy Con Người Atlantis tiếp xúc trực tiếp với các lực vũ trụ nhiều hơn chủng tộc nhân loại hiện nay. Con Người Atlantis vận hành nhiều hơn trong những lĩnh vực mà ngày nay chúng ta có xu hướng gọi là linh thị và trực giác, hơn là trong thể trí lý tính của nhân loại hiện thời. Vì vậy, có một sự nhận biết có ý thức lớn hơn về mối quan hệ của Con Người, cả với giới tự nhiên của chính mình lẫn với các giới tự nhiên khác. Kết quả là có ít cảm giác tách biệt (hay tự ngã trung tâm) hơn giữa cá nhân, phần còn lại của chủng tộc y, và Vũ Trụ. Điều này không có nghĩa rằng người Atlantis, xét toàn thể, là một chủng tộc siêu nhân và siêu nữ. Nó chỉ cho thấy đời sống có tính lưu động lớn hơn, có nhiều sự nối kết nội tâm hơn với các lực của sự sống, và ít cách tiếp cận đời sống mang tính khách quan, phân tích và phê phán hơn.

The development of the rational mind and the individualized ego structure caused less of an identification with the whole of life and more of a sense of the differentiations existing between man and man, as well as between Mankind and the Cosmos. We should remember that the differences between Man of the present Great Year and Man of the previous Great Year are no accident. The evolution of the ego and the rational mind is part of the development of Mankind. Our humanity is not the final form for the state of Being called the human kingdom, but a preparation for a future state, just as Man of the past was a preparation for Man of the present.

Sự phát triển của thể trí lý tính và cấu trúc bản ngã cá thể hóa đã khiến sự đồng nhất với toàn thể sự sống giảm đi, và cảm thức về các khác biệt tồn tại giữa người với người, cũng như giữa Nhân Loại và Vũ Trụ, tăng lên. Chúng ta nên nhớ rằng những khác biệt giữa Con Người của Đại Niên hiện tại và Con Người của Đại Niên trước đó không phải là ngẫu nhiên. Sự tiến hóa của bản ngã và thể trí lý tính là một phần trong sự phát triển của Nhân Loại. Nhân loại của chúng ta không phải là hình thức cuối cùng của trạng thái Hiện Hữu được gọi là giới nhân loại, mà là một sự chuẩn bị cho một trạng thái tương lai, cũng như Con Người của quá khứ là một sự chuẩn bị cho Con Người của hiện tại.

We have a great number of concrete records of our ancestors of the immediate past, since about 4000 B.C. This period encompasses two world Ages prior to the birth of the present Great Year. Let’s examine these Ages in the light of astrological perspective. We should keep in mind that we are seeing in these last segments of the previous world cycle the steps leading to (1) the birth of the Christ, (2) the resultant development of the West, and (3) the beginning of the formation of present-day civilizations.

Chúng ta có một số lượng lớn các ghi chép cụ thể về tổ tiên của quá khứ gần, kể từ khoảng 4000 TCN. Giai đoạn này bao trùm hai Thời Đại thế giới trước khi Đại Niên hiện tại ra đời. Hãy khảo sát các Thời Đại này dưới ánh sáng của quan điểm chiêm tinh. Chúng ta nên ghi nhớ rằng trong những phân đoạn cuối của chu kỳ thế giới trước đó, chúng ta đang thấy các bước dẫn đến (1) sự giáng sinh của Đức Christ, (2) sự phát triển của phương Tây phát sinh từ đó, và (3) sự khởi đầu của việc hình thành các nền văn minh ngày nay.

THE AGE OF TAURUS (c. 4220 B.C.– c. 2160 B.C.)—THỜI ĐẠI KIM NGƯU (khoảng 4220 TCN–khoảng 2160 TCN)

Taurus represents the material establishment of a civilization. It is a fixed-earth sign and as such, its vibrations produced the need to settle and identify the tribal consciousness within a given geographical context. In essence, this entailed merging the resources of the people with the resources of the land. Thus we establish the concept of a national home, transcending tribal differences and hence the foundation for the creation of a civilization.

Kim Ngưu biểu trưng sự thiết lập vật chất của một nền văn minh. Đây là một dấu hiệu hành thổ cố định, và vì vậy, các rung động của nó tạo ra nhu cầu định cư và xác lập tâm thức bộ lạc trong một bối cảnh địa lý nhất định. Về bản chất, điều này bao hàm việc hòa nhập các nguồn lực của con người với các nguồn lực của đất đai. Vì vậy, chúng ta thiết lập khái niệm về một quê hương quốc gia, vượt lên trên các khác biệt bộ lạc, và do đó đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn minh.

Taurus is the sign associated with the tilling of the soil, the production of an agricultural society, and a sense of determination in the face of obstacles. It is ruled by Venus, the patroness of the arts, an influence which imparts a great sensuality and creative inspiration to the cultures under its rays. Scorpio is the polar opposite to Taurus. It is associated with death, sex, rebirth, occultism, and great secrecy. These two signs were the primary astrological forces behind the creation of the most fascinating of all “recent” civilizations: Egypt.

Kim Ngưu là dấu hiệu gắn với việc cày xới đất đai, sản sinh một xã hội nông nghiệp, và một cảm thức kiên định trước chướng ngại. Nó do Kim Tinh chủ quản, vị nữ thần bảo trợ nghệ thuật, một ảnh hưởng ban cho các nền văn hóa dưới các tia của nó một tính cảm thụ mạnh và nguồn cảm hứng sáng tạo lớn. Hổ Cáp là cực đối của Kim Ngưu. Nó gắn với cái chết, tình dục, tái sinh, huyền học, và sự bí mật sâu xa. Hai dấu hiệu này là các lực chiêm tinh chủ yếu đứng sau việc tạo dựng nền văn minh hấp dẫn nhất trong tất cả các nền văn minh “gần đây”: Ai Cập.

The great land masses of Egypt are given life by the presence of the river Nile. When we mix earth (Taurus) with water (Scorpio), we find a fertile land which is able to produce a vast amount of material abundance when impregnated with seed (Man). The ancient Greek historian Herodotus wrote the following of the Egyptians and their earth:

Những khối đất rộng lớn của Ai Cập được ban sự sống bởi sự hiện diện của sông Nile. Khi chúng ta trộn đất (Kim Ngưu) với nước (Hổ Cáp), chúng ta có một vùng đất phì nhiêu có thể tạo ra một lượng phong phú vật chất khổng lồ khi được thụ tinh bằng hạt giống (Con Người). Sử gia Hy Lạp cổ Herodotus đã viết như sau về người Ai Cập và đất đai của họ:

They gather in the fruits of the earth with less labor than any other people … for they have not the toil of breaking up the furrow with the plow . . . but when the river comes of its own accord and irrigates their fields, and having irrigated them, subsides, each man sows his own land . . . waits for harvest time, and then gathers it in. [The Histories, chap. 2.]

Họ thu hoạch hoa lợi của đất với ít lao động hơn bất kỳ dân tộc nào khác … vì họ không phải nhọc công cày rãnh bằng lưỡi cày . . . mà khi con sông tự nó dâng lên và tưới ruộng của họ, rồi sau khi tưới xong thì rút xuống, mỗi người gieo trên mảnh đất của mình . . . chờ đến mùa gặt, rồi thu hoạch. [The Histories, .]

One of the best-known traditions of the Egyptians, one which tied together the two signs of the Age, was their preoccupation with the building of gigantic tombs to house the body after death. It was the building of a tomb which motivated much of the life activity of their great kings. Cults of the Bull and of the Dead were the most popular form of religious participation during this 2000-year period. True to the (fixed) Taurean nature of the time, the dead were wrapped in cloth and embalmed and decorated with great care and artistry. Thus the body would not only be beautiful for eternal life but would be prevented from physical decay. Once again we cite Herodotus:

Một trong những truyền thống nổi tiếng nhất của người Ai Cập—một truyền thống kết nối hai dấu hiệu của Thời Đại—là sự ám ảnh của họ với việc xây những lăng mộ khổng lồ để chứa thân xác sau khi chết. Chính việc xây mộ đã thúc đẩy phần lớn hoạt động sống của các vị vua vĩ đại của họ. Các giáo phái thờ Bò Đực và thờ Người Chết là hình thức tham dự tôn giáo phổ biến nhất trong giai đoạn 2000 năm này. Đúng với bản tính Kim Ngưu (cố định) của thời kỳ ấy, người chết được quấn vải, ướp xác và trang trí với sự chăm chút và nghệ thuật lớn. Nhờ vậy, thân thể không chỉ đẹp cho đời sống vĩnh cửu mà còn được ngăn khỏi sự phân rã vật lý. Một lần nữa chúng ta trích Herodotus:

They cleanse the body of the bowels . . . and fill the belly with pure myrrh, cassia and other perfumes, and sew it up again. When they have done this, they steep it in natron [a silicate of sodium and aluminum], leaving it steep for seventy days. Then they wash the corpse, smearing it with gum. Then a wooden case is made for it in the shape of the man, in which the body is placed. This is then put into a sepulchral chamber … In this manner they prepare the bodies that are embalmed in the most expensive way. [Ibid.]

Họ làm sạch thân thể khỏi ruột . . . rồi nhồi bụng bằng mộc dược tinh khiết, quế cassia và các hương liệu khác, rồi khâu lại. Khi làm xong, họ ngâm nó trong natron [một silicat của natri và nhôm], để ngâm bảy mươi ngày. Rồi họ rửa thi thể, xoa nó bằng nhựa cây. Sau đó người ta làm một quan tài gỗ theo hình người, đặt thân thể vào trong. Rồi đặt nó vào một phòng mộ … Theo cách này họ chuẩn bị các thi thể được ướp theo cách đắt đỏ nhất. [Ibid.]

X-ray photographs show that many of these mummies are still intact within their sarcophagi. Anyone who has studied Egyptian history will recall that the bodies were fitted with many of the possessions which the person owned in life, including his slaves and pet animals. Who says you can’t take it with you? Certainly not a race of people ruled by Taurus!

Ảnh chụp X-quang cho thấy nhiều xác ướp này vẫn còn nguyên vẹn trong các quách đá của chúng. Bất cứ ai từng học lịch sử Ai Cập đều nhớ rằng các thi thể được đặt kèm nhiều tài sản mà người ấy sở hữu khi còn sống, kể cả nô lệ và thú cưng. Ai nói rằng bạn không thể mang theo? Chắc chắn không phải một chủng tộc do Kim Ngưu chủ quản!

Taurus is, of course, the sign of the Bull, and the veneration of this animal was of extreme significance. A living bull was selected by the priests to represent the god Apis, who presided over the underworld, the domain of Scorpio. So that the right bull would be chosen for the ceremonies, the candidate had to have the distinctive markings of the other three fixed signs of the Zodiac: a white triangle on his forehead (Aquarius); the mark of an eagle on his back (Scorpio); and in his mouth, a beetle (the scarab), a creature associated with Leo.

Kim Ngưu, dĩ nhiên, là dấu hiệu của Con Bò Đực, và sự tôn thờ loài vật này có ý nghĩa vô cùng lớn. Một con bò đực sống được các tư tế chọn để đại diện cho thần Apis, vị thần cai quản cõi âm, lãnh địa của Hổ Cáp. Để bảo đảm chọn đúng con bò cho các nghi lễ, ứng viên phải có những dấu hiệu đặc trưng của ba dấu hiệu cố định khác của Hoàng đạo: một tam giác trắng trên trán (Bảo Bình); dấu của một con đại bàng trên lưng (Hổ Cáp); và trong miệng, một con bọ cánh cứng (bọ hung), một sinh vật gắn với Sư Tử.

While the Bull god incarnate lived, he was carefully attended and worshiped at certain religious occasions. The Egyptians did not regard the animal itself as the real god Apis, but only as his physical representative. When the Bull god incarnate died, the entire country went into mourning and the body was embalmed with the greatest of ceremonies and then entombed. The Bulls of Egypt are usually depicted in drawings with the disk of the Sun between their horns. This is symbolic of the One permeating Life-Force which was manifesting itself through the form of the Taurean Age: the Bull.

Khi vị thần Bò Đực nhập thể còn sống, nó được chăm sóc cẩn trọng và được thờ phụng trong những dịp tôn giáo nhất định. Người Ai Cập không xem chính con vật là thần Apis thật sự, mà chỉ là đại diện vật chất của Ngài. Khi vị thần Bò Đực nhập thể chết, cả đất nước để tang, và thân thể được ướp xác với những nghi lễ long trọng nhất rồi được an táng. Những con bò đực của Ai Cập thường được vẽ với đĩa Mặt Trời giữa hai sừng. Điều này tượng trưng cho Thần Lực Sự Sống duy nhất thấm nhuần, vốn đang biểu lộ qua hình thức của Thời Đại Kim Ngưu: Con Bò Đực.

Bulls and their worship were also prevalent in other cultures of the Egyptian and subsequent periods; for example, the Bull of Minos, the Minotaur of the Cretan Labyrinth. At certain times of the year, young boys and girls were sacrificed to the Bull god. During these religious festivals, young people danced upon and jumped through the horns of the bulls in the arenas. From this we derive the modern sport of bullfighting. The winged bulls of the Chaldeans also testify to the prevalent Taurean influence. A vestige of these ancient Taurean times is evident even today, for cows are still sacred in India. And Krishna, the Christ of this epoch, is depicted as a cowherd, just as later on Jesus was called “the lamb of God” (Aries) and “the Fisherman” (Pisces).

Bò đực và việc thờ bò đực cũng phổ biến trong các nền văn hóa khác của thời kỳ Ai Cập và các thời kỳ tiếp theo; chẳng hạn, Con Bò của Minos, Minotaur của Mê Cung Crete. Vào những thời điểm nhất định trong năm, các thiếu niên nam và nữ bị hiến tế cho vị thần Bò Đực. Trong các lễ hội tôn giáo này, người trẻ nhảy múa trên và nhảy qua cặp sừng của bò đực trong các đấu trường. Từ đó, chúng ta có môn thể thao đấu bò hiện đại. Những con bò có cánh của người Chaldea cũng chứng thực ảnh hưởng Kim Ngưu phổ biến. Một tàn tích của thời Kim Ngưu cổ xưa vẫn còn thấy rõ ngay hôm nay, vì bò vẫn là linh thiêng ở Ấn Độ. Và Krishna, Đức Christ của kỷ nguyên này, được mô tả như một người chăn bò, cũng như về sau Jesus được gọi là “chiên con của Thượng Đế” (Bạch Dương) và “Người Đánh Cá” (Song Ngư).

The student of the occult will come across the ancient mysteries of Egypt in the course of his or her studies. Cults of the dead and the traditions left behind in the Egyptian Book of the Dead remain a legacy of Egyptian religious beliefs. The national deity was Osiris, god of the Dead and the Underworld (Apis was one of the many names for the deity). During the Age of Taurus, Osiris was often depicted as a man with a bull’s head. Later on, as we will shortly see, this was changed to the head of the Ram when the Age changed into that of Aries. Osiris was also depicted by a large, open eye. This symbol is brought solidly down to earth on the green (a Taurus color) currency of the United States. Look on the back of a dollar bill and you will see an eye above a pyramid, indicating the stability of the currency and of the country. In ancient times, the open eye stood for the renewal of life, the regenerating principle of the sign Scorpio.

Học viên huyền học sẽ gặp các huyền nhiệm cổ của Ai Cập trong quá trình học tập của mình. Các giáo phái thờ người chết và các truyền thống được lưu lại trong Book of the Dead của Ai Cập vẫn là một di sản của các niềm tin tôn giáo Ai Cập. Thần hộ quốc là Osiris, thần của Người Chết và Cõi Âm (Apis là một trong nhiều danh xưng của vị thần). Trong Thời Đại Kim Ngưu, Osiris thường được mô tả như một người đàn ông với đầu bò. Về sau, như chúng ta sẽ sớm thấy, điều này được đổi thành đầu Cừu Đực khi Thời Đại chuyển sang Bạch Dương. Osiris cũng được mô tả bằng một con mắt lớn, mở. Biểu tượng này được kéo hẳn xuống mặt đất trên đồng tiền màu xanh (màu của Kim Ngưu) của Hoa Kỳ. Hãy nhìn mặt sau tờ một đô-la, bạn sẽ thấy một con mắt phía trên một kim tự tháp, biểu thị sự ổn định của đồng tiền và của đất nước. Trong thời cổ, con mắt mở tượng trưng cho sự tái sinh của sự sống, nguyên lý tái sinh của dấu hiệu Hổ Cáp.

The esotericism of the Egyptians was not the popular religion of the masses. Only a very few were permitted to enter the priesthood and become initiates of the Mysteries. It is little wonder that the power contained in the Ancient Wisdom made the priests of Egypt the real rulers of the country. The Pharaoh was the figurehead of the nation. His position was much like that held by the emperor of Japan prior to World War II1_851 or the Inca of ancient Peru. The Pharaoh represented the Spirit of Egypt—the incarnation of the Divinity in the body of a man. Pharaoh was the personification of the collective Mind of Egypt, the unifying force of the country (which, by the way, had been divided into Upper and Lower Egypt, a leftover from the duality of the previous Age of Gemini). Pharaoh was called the “Child [or Son] of the Sun,” a title illustrating not only his divine origins but the divinity of the Egyptian race as a whole. It should be understood that the pyramid which represents so much of what was ancient Egypt was not only the sacred form used to house the body of Pharaoh but also, in the case of the Great Pyramid of Cheops, was the location of the sacred Temple of the Mysteries. In addition, the pyramid is symbolic of the structure of Egyptian society. Pharaoh was the capstone of this social edifice, while the people were stratified according to rank—the base of the pyramid being, of course, the agricultural masses.

Tính nội môn của người Ai Cập không phải là tôn giáo phổ biến của quần chúng. Chỉ rất ít người được phép bước vào hàng tư tế và trở thành các điểm đạo đồ của các Huyền Nhiệm. Không có gì lạ khi quyền năng chứa trong Minh Triết Ngàn Đời đã khiến các tư tế Ai Cập trở thành những người cai trị thực sự của đất nước. Pharaoh là biểu tượng bù nhìn của quốc gia. Vị trí của ông giống như vị trí của hoàng đế Nhật Bản trước Thế Chiến II hoặc Inca của Peru cổ. Pharaoh đại diện cho Tinh thần của Ai Cập—sự nhập thể của Thần Tính trong thân xác một con người. Pharaoh là sự nhân cách hóa của Thể trí tập thể của Ai Cập, lực hợp nhất của đất nước (mà, nhân tiện, từng bị chia thành Thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập, một tàn dư của tính nhị nguyên từ Thời Đại Song Tử trước đó). Pharaoh được gọi là “Đứa Trẻ [hay Con Trai] của Mặt Trời,” một tước hiệu không chỉ minh họa nguồn gốc thần thánh của ông mà còn minh họa tính thần thánh của toàn thể chủng tộc Ai Cập. Cần hiểu rằng kim tự tháp—biểu trưng cho rất nhiều điều của Ai Cập cổ—không chỉ là hình thức thiêng dùng để chứa thân xác Pharaoh mà còn, trong trường hợp Đại Kim Tự Tháp của Cheops, là nơi tọa lạc của Đền Thờ thiêng của các Huyền Nhiệm. Ngoài ra, kim tự tháp còn tượng trưng cho cấu trúc xã hội Ai Cập. Pharaoh là đỉnh chóp của kiến trúc xã hội này, còn dân chúng được phân tầng theo cấp bậc—đáy kim tự tháp, dĩ nhiên, là quần chúng nông nghiệp.

Pharaoh, then, was not only the person in whom all temporal power rested but the man who, like the capstone, was the most exalted figure, his consciousness pointing to and communicating with the heavens. This concept of a Man-God is very important to the peoples of each of the world Ages we are studying. As we continue our discussion, we shall see how this idea was modified in the Age of Aries (Caesar), the Age of Pisces (Jesus the Christ), and the Age of Aquarius (Man Enlightened).

Vì vậy, Pharaoh không chỉ là người nắm mọi quyền lực thế tục, mà còn là người, như viên đá đỉnh, là nhân vật được tôn cao nhất, với tâm thức hướng lên và giao tiếp với các tầng trời. Khái niệm Con Người–Thần này rất quan trọng đối với các dân tộc của mỗi Thời Đại thế giới mà chúng ta đang khảo sát. Khi tiếp tục thảo luận, chúng ta sẽ thấy ý niệm này được biến đổi như thế nào trong Thời Đại Bạch Dương (Caesar), Thời Đại Song Ngư (Jesus the Christ), và Thời Đại Bảo Bình (Con Người Giác Ngộ).

Pharaoh could not assume office until he was educated by the priests. Only after passing through the various rites and levels of initiation could he be invested with his full rank and titles. The symbol of his office was twofold. On his crown, Pharaoh wore the serpent, symbol of the wisdom and transcendental states of Scorpio (e.g., the snake periodically shedding its skin in order to grow a new and longer body). In his hand he held the Ansata, the symbol of life (and also that of the planet Venus). The Ansata (Ankh) is composed of a circle upon a cross. This symbolizes the dominance of the divine (circle) over the material (cross). If we invert this symbol, if we place the cross over the circle, we have the glyph of the planet Mars, the ruler of Scorpio. The symbol of the Red Planet comes down to us over the aeons of time in the form of the orb which is held in the hands of kings and queens during the rites of coronation, for it illustrates the temporal power of the monarch.

Pharaoh không thể lên ngôi cho đến khi được các tư tế giáo dục. Chỉ sau khi đi qua các nghi lễ và các cấp bậc điểm đạo khác nhau, ông mới có thể được trao trọn cấp bậc và tước hiệu. Biểu tượng chức vị của ông có hai mặt. Trên vương miện, Pharaoh đội con rắn, biểu tượng của minh triết và các trạng thái siêu nghiệm của Hổ Cáp (ví dụ, con rắn định kỳ lột da để mọc một thân thể mới và dài hơn). Trong tay ông cầm Ansata, biểu tượng của sự sống (và cũng là biểu tượng của hành tinh Kim Tinh). Ansata (Ankh) gồm một vòng tròn đặt trên một Thập giá. Điều này tượng trưng sự thống trị của thần tính (vòng tròn) đối với vật chất (Thập giá). Nếu chúng ta đảo ngược biểu tượng này, nếu đặt Thập giá lên trên vòng tròn, chúng ta có phù hiệu của hành tinh Hỏa Tinh, chủ tinh của Hổ Cáp. Biểu tượng của Hành Tinh Đỏ truyền xuống chúng ta qua các kỷ nguyên thời gian dưới hình thức quả cầu được các vua chúa cầm trong tay trong nghi lễ đăng quang, vì nó minh họa quyền lực thế tục của quân vương.

The power of Taurus held the people to the earth. The Egyptians built their vast agricultural empire through an economy based on slavery. The many peoples the Egyptians kept in servitude included Jews, who would develop a very important concept in the evolution of religious thought—monotheism. It is in the history of this ancient race that we find the transition period between two other world Ages. It was the Great Initiate, Moses, who led the Jews (Mankind) out of the bondage to the land (Taurus) through the wanderings in the desert of Sinai (the cusp of the Ages) to pioneer in the land of Israel (Aries). It was there that Jesus of Nazareth was born some 2000 years later (Pisces).

Quyền lực của Kim Ngưu giữ con người bám vào đất. Người Ai Cập xây dựng đế chế nông nghiệp rộng lớn của mình qua một nền kinh tế dựa trên nô lệ. Nhiều dân tộc bị người Ai Cập bắt làm tôi dịch gồm có người Do Thái, những người sẽ phát triển một khái niệm rất quan trọng trong tiến hóa của tư tưởng tôn giáo—nhất thần giáo. Chính trong lịch sử của chủng tộc cổ xưa này, chúng ta thấy giai đoạn chuyển tiếp giữa hai Thời Đại thế giới khác. Chính Điểm Đạo Đồ vĩ đại Moses đã dẫn người Do Thái (Nhân Loại) ra khỏi sự nô lệ đối với đất đai (Kim Ngưu), qua những cuộc lang thang trong sa mạc Sinai (đỉnh chuyển tiếp của các Thời Đại), để khai phá vùng đất Israel (Bạch Dương). Chính tại đó, Jesus thành Nazareth đã ra đời khoảng 2000 năm sau (Song Ngư).

THE AGE OF ARIES (c. 2160 B.C.–c. 1 A.D.)—THỜI ĐẠI BẠCH DƯƠNG (khoảng 2160 TCN–khoảng 1 CN)

The coming of the Age of Aries was signified by the predominance of Mars over Venus: in other words, an economy and civilization which was based on war and the conquest of enemies as opposed to a more peaceful existence based on soil cultivation.

Sự đến của Thời Đại Bạch Dương được báo hiệu bởi sự trội lên của Hỏa Tinh so với Kim Tinh: nói cách khác, một nền kinh tế và nền văn minh dựa trên chiến tranh và chinh phục kẻ thù, thay vì một đời sống hòa bình hơn dựa trên canh tác đất đai.

The energy which was stored in the fixed sign of Taurus was ready to be activated through the cardinal male sign, Aries (by definition, a sign of immediate and direct self-expression), which is symbolized by the Ram. The basic characteristics which were to be expressed during its dominance were a pioneering spirit, courage, distinct individuality, and an inner sense of truth and self-righteousness. As the sign ruling the head, Aries is also noted for its keen intuition. In the more highly developed Arian individual, this produces a form of prophetic vision.

Năng lượng được tích trữ trong dấu hiệu cố định Kim Ngưu đã sẵn sàng được kích hoạt qua dấu hiệu nam chính yếu Bạch Dương (theo định nghĩa, một dấu hiệu của tự biểu đạt tức thời và trực tiếp), được tượng trưng bởi Con Cừu Đực. Những đặc tính căn bản sẽ được biểu lộ trong thời kỳ nó chi phối là tinh thần khai phá, dũng khí, tính cá thể rõ rệt, và một cảm thức nội tâm về chân lý cùng sự tự cho mình là đúng. Là dấu hiệu chủ quản phần đầu, Bạch Dương cũng nổi tiếng về trực giác sắc bén. Ở cá nhân Bạch Dương phát triển cao hơn, điều này tạo ra một dạng linh thị tiên tri.

Aries’s polarity is Libra, the Scales. Libra brings to this period in history a feeling for justice and the need to codify social behavior into distinct sets of laws and mores. Libra represents the Law and the prevailing moral structure in any culture.

Đối cực của Bạch Dương là Thiên Bình, Cái Cân. Thiên Bình mang vào giai đoạn lịch sử này một cảm thức về công lý và nhu cầu pháp điển hóa hành vi xã hội thành những bộ luật và chuẩn tắc riêng biệt. Thiên Bình tượng trưng Luật Pháp và cấu trúc đạo đức chi phối trong bất kỳ nền văn hóa nào.

In order for either a person or a nation to acquire a sense of individuality, the differences between oneself and one’s neighbors must be clearly marked. Therefore, the Age of Aries indicated the emergence of various tribes of people and the already existing civilizations into an era of great aggressiveness and violence. It was during this period that the empires of the Persians, Greeks, Romans, and Egyptians held tremendous power. Egypt had made the transition from a relatively peaceful people to a very bellicose race bent on incorporating all of the known world into its pyramidal structure. As we have said, much of Egypt’s wealth came from the enslavement of conquered and subjugated peoples, a large number of whom were Jews.

Để một cá nhân hay một quốc gia có được cảm thức cá thể, các khác biệt giữa bản thân và láng giềng phải được đánh dấu rõ ràng. Vì vậy, Thời Đại Bạch Dương chỉ ra sự trỗi dậy của các bộ tộc khác nhau và các nền văn minh vốn đã tồn tại vào một kỷ nguyên đầy hiếu chiến và bạo lực. Chính trong giai đoạn này, các đế chế Ba Tư, Hy Lạp, La Mã và Ai Cập nắm giữ quyền lực khổng lồ. Ai Cập đã chuyển từ một dân tộc tương đối hòa bình thành một chủng tộc hiếu chiến, quyết tâm sáp nhập toàn bộ thế giới đã biết vào cấu trúc kim tự tháp của mình. Như chúng ta đã nói, phần lớn của cải Ai Cập đến từ việc bắt các dân tộc bị chinh phục và bị khuất phục làm nô lệ, trong đó có một số lượng lớn người Do Thái.

Now there arose up a new king over Egypt, which knew not Joseph.

Bấy giờ có một vua mới lên ngôi ở Ai Cập, người không biết Joseph.

And he said unto his people, Behold, the people of the children of Israel are more and mightier than we:

Và vua nói với dân mình: Này, dân của con cái Israel đông hơn và mạnh hơn chúng ta:

Come on, let us deal wisely with them; lest they multiply, and it come to pass, that, when there falleth out any war, they join also unto our enemies, and fight against us, and so get them up out of the land.

Nào, chúng ta hãy đối xử khôn ngoan với họ; kẻo họ sinh sôi, và nếu có chiến tranh xảy ra, họ cũng sẽ liên kết với kẻ thù của chúng ta, đánh chúng ta, rồi ra khỏi xứ.

Therefore they did set over them taskmasters to afflict them with their burdens. And they built for Pharaoh treasure cities, Pithom and Raamses.

Vì vậy, người ta đặt các cai dịch trên họ để hành hạ họ bằng gánh nặng. Và họ xây cho Pharaoh các thành kho, Pithom và Raamses.

But the more they afflicted them, the more they multiplied and grew. And they were grieved because of the children of Israel.

Nhưng họ càng bị hành hạ, họ càng sinh sôi và càng lớn mạnh. Và người Ai Cập buồn phiền vì con cái Israel.

And the Egyptians made the children of Israel to serve with rigour:

Và người Ai Cập bắt con cái Israel phục dịch cách nghiệt ngã:

And they made their lives bitter with hard bondage, in mortar, and in brick, and in all manner of service in the field; all their service, wherein they made them serve, was with rigour. [Exodus 1:8–14.]

Và họ làm cho đời sống họ cay đắng vì ách nô lệ nặng nề, với vữa, với gạch, và mọi thứ lao dịch ngoài đồng; mọi việc họ bắt họ làm đều là nghiệt ngã. [Xuất Hành 1:8–14.]

It was during this period of oppression that Moses emerged from the house of Pharaoh to lead the Jews out of bondage and into the Promised Land. Moses embodied all the qualities of the sign Aries and combined them with the practical influence of Taurus. He not only expressed his desire for his people’s freedom in an idealistic manner, but he also codified his principles into what is now known as Mosaic Law. Through this Great Initiate the Ten Commandments were revealed. Thus we can see the influence of Libra at work as a system of social behavior. Justice was created so that the newly liberated pioneers of the desert would have a structure upon which to base their society.

Chính trong thời kỳ áp bức này, Moses xuất hiện từ nhà Pharaoh để dẫn người Do Thái ra khỏi nô lệ và vào Đất Hứa. Moses thể hiện mọi phẩm tính của dấu hiệu Bạch Dương và kết hợp chúng với ảnh hưởng thực tiễn của Kim Ngưu. Ông không chỉ bày tỏ khát vọng tự do của dân mình theo cách lý tưởng, mà còn pháp điển hóa các nguyên tắc của mình thành điều ngày nay được gọi là Luật Môi-se. Qua Điểm Đạo Đồ vĩ đại này, Mười Điều Răn được mặc khải. Vì vậy, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của Thiên Bình đang vận hành như một hệ thống hành vi xã hội. Công lý được tạo ra để những người tiên phong vừa được giải phóng của sa mạc có một cấu trúc làm nền cho xã hội của họ.

The story of the Exodus as it is related in the Old Testament clearly illustrates the transition from the Age of the Bull to that of the Ram. When Moses went up to Mount Sinai to pray, Jehovah appeared to him in the form of a burning bush. This is symbolic of Aries, a fiery sign. Jehovah, when identifying Himself to Moses, said “I AM THAT I AM,” a clearly Arian statement of being. Moses received the Ten Commandments—numerologically 10 = 1 (1 + 0 = 1) = Aries—and brought them down the mountain to the people, where he found the Israelites worshipping the golden calf (a symbol of the previous Age). Moses forbade the veneration of this idol: all social and religious expressions of Taurus were prohibited. He replaced the golden calf with the Commandments (Libra) and blew the shofar or Ram’s horn to signify this transition in his people’s evolution. The Jews were selected to lead the nations of the world with inspirational thoughts and prophetic visions. They were to live according to the laws of the Creator and were not to engage in the materialism of the previous Age. The reverence for the golden calf over the essence of God and His Laws was seen as a backward step in the spiritual evolution of not only the Jews but of Mankind. In the Age of Aries it was the Jews and not the Egyptians who were the “chosen people.”

Câu chuyện Xuất Hành như được thuật trong Cựu Ước minh họa rõ sự chuyển tiếp từ Thời Đại Con Bò sang Thời Đại Con Cừu Đực. Khi Moses lên núi Sinai cầu nguyện, Jehovah hiện ra với ông dưới hình thức một bụi cây cháy. Điều này tượng trưng cho Bạch Dương, một dấu hiệu hành hỏa. Jehovah, khi tự xưng với Moses, nói: “TA LÀ ĐẤNG TA LÀ,” một tuyên ngôn hiện hữu rõ rệt kiểu Bạch Dương. Moses nhận Mười Điều Răn—về mặt số học 10 = 1 (1 + 0 = 1) = Bạch Dương—và mang chúng xuống núi cho dân chúng, nơi ông thấy người Israel đang thờ con bê vàng (biểu tượng của Thời Đại trước). Moses cấm việc tôn thờ thần tượng này: mọi biểu đạt xã hội và tôn giáo của Kim Ngưu đều bị cấm. Ông thay con bê vàng bằng các Điều Răn (Thiên Bình) và thổi shofar hay sừng Cừu Đực để biểu thị sự chuyển tiếp này trong tiến hóa của dân mình. Người Do Thái được chọn để dẫn dắt các dân tộc thế giới bằng tư tưởng truyền cảm hứng và linh thị tiên tri. Họ phải sống theo các luật của Đấng Sáng Tạo và không được dấn vào chủ nghĩa vật chất của Thời Đại trước. Việc tôn kính con bê vàng hơn là bản chất của Thượng Đế và các Luật của Ngài bị xem là một bước lùi trong tiến hóa tinh thần không chỉ của người Do Thái mà của Nhân Loại. Trong Thời Đại Bạch Dương, chính người Do Thái chứ không phải người Ai Cập là “dân được chọn.”

The monotheistic faith of the Hebrews was characteristic of the Age, since it embodied the principles of prophecy and an ever-present sense of justice. Since the fall of Israel in Roman times, the Jews have had to carry with them a courageous and pioneering spirit, which has helped them to survive in spite of relentless persecution, bondage, and enslavement. This tragic aspect of the Hebrew race is due, in part, to the conflict of vibrations between the Great Year and Age (Aries), in which ancient Israel reached its zenith as an independent country, and the following (and vastly different) Great Year and Age (the Christian Age of Pisces), in which they had to live.

Đức tin nhất thần của người Hebrew là đặc trưng của Thời Đại, vì nó hàm chứa các nguyên lý của lời tiên tri và một cảm thức công lý luôn hiện diện. Kể từ khi Israel sụp đổ trong thời La Mã, người Do Thái đã phải mang theo một tinh thần dũng cảm và khai phá, điều đã giúp họ sống sót bất chấp bách hại, nô lệ và áp bức không ngừng. Khía cạnh bi thảm này của chủng tộc Hebrew phần nào là do xung đột rung động giữa Đại Niên và Thời Đại (Bạch Dương), nơi Israel cổ đạt đến đỉnh cao như một quốc gia độc lập, và Đại Niên cùng Thời Đại kế tiếp (và rất khác biệt) (Thời Đại Kitô giáo của Song Ngư), nơi họ buộc phải sống.

The God of the Hebrews, called Jehovah, is a fiery deity. We have already illustrated this by giving the example of His appearance through the burning bush. We should also mention that burnt offerings were very important to ancient Jewish rituals, often taking the form of the sacrificial lamb. Moses inaugurated the festival of Passover before the Exodus from Egypt, thus:

Thượng Đế của người Hebrew, được gọi là Jehovah, là một thần linh hành hỏa. Chúng ta đã minh họa điều này bằng ví dụ Ngài hiện ra qua bụi cây cháy. Chúng ta cũng nên nhắc rằng các lễ vật thiêu rất quan trọng trong nghi lễ Do Thái cổ, thường mang hình thức chiên con hiến tế. Moses đã thiết lập lễ Vượt Qua trước cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập, như sau:

[Ye shall take a] lamb . . . without blemish, a male of the first year . . .

[Các ngươi hãy lấy] một con chiên . . . không tì vết, con đực một năm tuổi . . .

Eat not of it raw, nor sodden at all with water, but roast with fire; his head with his legs, and with the purtenance thereof. [Exodus 12:5, 9.]

Chớ ăn sống, cũng chớ luộc với nước, nhưng phải nướng bằng lửa; đầu nó với chân nó, và cả lòng ruột nó. [Xuất Hành 12:5, 9.]

The initiation of males into the collective Soul of the Jews is through the rite of circumcision. Both the practice of surgery and the sexual organs are ruled by Mars, planetary ruler of Aries. The vibrations of the Ram are strongly a part of the Jewish people and their history. Like Aries, they have been constantly used as the sacrificial lamb and yet have always managed to begin life again and again.

Sự nhập môn của nam giới vào linh hồn tập thể của người Do Thái là qua nghi thức cắt bì. Cả thực hành phẫu thuật lẫn các cơ quan sinh dục đều do Hỏa Tinh, hành tinh chủ tinh của Bạch Dương, chủ quản. Rung động của Con Cừu Đực là một phần mạnh mẽ trong dân tộc Do Thái và lịch sử của họ. Giống như Bạch Dương, họ liên tục bị dùng làm chiên con hiến tế, nhưng vẫn luôn xoay xở để bắt đầu đời sống hết lần này đến lần khác.

The approach of the Age of Aries had a great effect on the forms by which the Egyptian gods were represented. The cult of the Bull, Apis, diminished and Amon-Re became Ram-headed, his strength growing in popularity with the now more bellicose population. The cult of the Ram spread to all parts of the civilized world. The names of many of the major deities were changed to illustrate the power of the cosmic forces at work in the new Age. Mithra, the Sun god of Persia, who used to be called “The Sacred Bull,” now became “The Slayer of the Bull.” Ashur, Sun god of the Assyrians and known as “The Great Bull,” was transformed into a Marslike god of war.

Sự tiến gần của Thời Đại Bạch Dương có tác động lớn lên các hình thức mà các vị thần Ai Cập được biểu trưng. Giáo phái thờ Bò Đực Apis suy giảm, và Amon-Re trở thành đầu Cừu Đực, sức mạnh của Ngài ngày càng được ưa chuộng trong dân cư nay hiếu chiến hơn. Giáo phái thờ Cừu Đực lan ra mọi phần của thế giới văn minh. Tên của nhiều vị thần lớn được đổi để minh họa quyền lực của các lực vũ trụ đang vận hành trong Thời Đại mới. Mithra, thần Mặt Trời của Ba Tư, vốn từng được gọi là “Con Bò Đực Thiêng,” nay trở thành “Kẻ Giết Bò Đực.” Ashur, thần Mặt Trời của người Assyria và được gọi là “Con Bò Đực Vĩ Đại,” được biến đổi thành một thần chiến tranh kiểu Hỏa Tinh.

It was in the warring city-states of Greece and later Rome that the cultures of Aries were to flourish, although it was the Jews who were chosen to carry forth the concept of monotheism. Among the Greeks, there were several popular gods and god-families. Apollo was the Sun god, but during this period he also became the patron of shepherds and flocks. Pallas Athene, another great favorite, was dressed in the armor of a soldier with ram’s horns on her helmet. Roman soldiers were later to wear this emblem on their uniforms. The legions were always accompanied by live rams when upon their campaigns; both the Greeks and Romans used battering rams on besieged cities. It was said that if such a city were to open its gates to the approaching army before the head of the ram (the head, of course, is specifically ruled by Aries, the first sign) could touch its walls, mercy would be shown its inhabitants.

Chính trong các thành bang hiếu chiến của Hy Lạp và về sau La Mã mà các nền văn hóa của Bạch Dương sẽ hưng thịnh, dù người Do Thái mới là dân tộc được chọn để mang khái niệm nhất thần giáo đi xa. Trong người Hy Lạp, có nhiều vị thần và gia đình thần được thờ phụng. Apollo là thần Mặt Trời, nhưng trong giai đoạn này Ngài cũng trở thành vị bảo trợ của người chăn cừu và đàn gia súc. Pallas Athene, một vị thần được ưa chuộng khác, mặc áo giáp chiến binh với sừng cừu trên mũ. Về sau, binh lính La Mã sẽ mang biểu tượng này trên quân phục. Các quân đoàn luôn được hộ tống bởi những con cừu đực sống khi ra chiến dịch; cả Hy Lạp lẫn La Mã đều dùng máy phá thành (battering ram) khi vây hãm thành phố. Người ta nói rằng nếu một thành phố như vậy mở cổng cho đạo quân đang tiến đến trước khi đầu cừu (phần đầu, dĩ nhiên, đặc biệt do Bạch Dương, dấu hiệu thứ nhất, chủ quản) có thể chạm vào tường thành, thì dân cư sẽ được khoan dung.

The name Aries comes from Greek, Ares, which in Latin, became Mars. The sign of the Ram signified the desire to express oneself as a distinct individual and as a separate ego, to dominate one’s environment. The culture of Greece was based on the ability of a person to represent himself individually, and thus gave rise to the first democratic state (here Libra is also at work in terms of the systems of social justice and equality). As every state of the Greek isles wished to be recognized as separate and supreme, Greece fell into a series of wars between these city-states, resulting in her downfall. We can see the tremendous influence of the Ram even in the architecture of the times. The capitals of a great many Greek columns were fashioned after the curling lines of the ram’s horns. Rome adopted much that was Grecian in the way of the arts and this mode of design was used throughout the Roman Empire. The literature of the Age bore witness to the emphasis on the martial arts, especially feats of courage by individual combatants. It was an age of warriors and thinkers; an age in which the male forces predominated; an age in which men even thought to merge physically with their gods, fashioning themselves in the images of the Olympians and the Olympians in the images of themselves.

Tên Bạch Dương bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, Ares, và trong tiếng Latin trở thành Mars. Dấu hiệu Con Cừu Đực biểu thị khát vọng tự biểu đạt như một cá nhân riêng biệt và như một bản ngã tách rời, để thống trị môi trường của mình. Văn hóa Hy Lạp dựa trên khả năng một người có thể đại diện cho chính mình một cách cá nhân, và vì vậy đã khai sinh nhà nước dân chủ đầu tiên (ở đây Thiên Bình cũng đang vận hành qua các hệ thống công lý xã hội và bình đẳng). Vì mỗi thành bang của các đảo Hy Lạp đều muốn được công nhận là tách biệt và tối thượng, Hy Lạp rơi vào một chuỗi chiến tranh giữa các thành bang này, dẫn đến sự suy vong của mình. Chúng ta có thể thấy ảnh hưởng khổng lồ của Con Cừu Đực ngay cả trong kiến trúc thời ấy. Đầu cột của rất nhiều cột Hy Lạp được tạo hình theo những đường cong cuộn của sừng cừu. La Mã tiếp nhận nhiều yếu tố Hy Lạp trong nghệ thuật, và lối thiết kế này được dùng khắp Đế chế La Mã. Văn chương của Thời Đại làm chứng cho sự nhấn mạnh vào võ nghệ, đặc biệt là những chiến công dũng cảm của các đấu sĩ cá nhân. Đó là một Thời Đại của chiến binh và tư tưởng gia; một Thời Đại trong đó các lực nam trội lên; một Thời Đại trong đó con người thậm chí nghĩ đến việc hợp nhất thân xác với các vị thần của mình, tạo hình bản thân theo hình ảnh các thần Olympus và tạo hình các thần Olympus theo hình ảnh của chính mình.

Aries is also a sign of travel, adventure, and the exploration—and often, conquest—of new lands. This was reflected in the work and life of the Greek traveler and commentator Herodotus, author of The Histories. We can also point to The Iliad and The Odyssey of Homer, The History of the Peloponnesian Wars of Thucydides, and the Aeneid of Vergil, to cite a few of the more famous classics of the Age.

Bạch Dương cũng là một dấu hiệu của du hành, phiêu lưu, và thám hiểm—và thường là chinh phục—những vùng đất mới. Điều này được phản ánh trong công việc và đời sống của nhà du hành và bình luận gia Hy Lạp Herodotus, tác giả The Histories. Chúng ta cũng có thể nêu The IliadThe Odyssey của Homer, The History of the Peloponnesian Wars của Thucydides, và Aeneid của Vergil, để kể một vài tác phẩm kinh điển nổi tiếng hơn của Thời Đại.

Of course Libra is at work in any form of artistic project—literature, architecture, or painting. But Libra and its ruler, Venus, also influenced the Age of Aries through the many judicial codes which were adopted during these two millennia, and which still have relevance today. We have already mentioned the Mosaic Code and the democracy of Greece. Rome also invented its own legal system, the Pax Romana (literally, “Roman Peace”), which is still the basis for much of the world’s legislation.

Dĩ nhiên Thiên Bình vận hành trong mọi hình thức dự án nghệ thuật—văn chương, kiến trúc, hay hội họa. Nhưng Thiên Bình và chủ tinh của nó, Kim Tinh, cũng ảnh hưởng Thời Đại Bạch Dương qua nhiều bộ luật tư pháp được tiếp nhận trong hai thiên niên kỷ này, và đến nay vẫn còn giá trị. Chúng ta đã nhắc đến Luật Môi-se và nền dân chủ Hy Lạp. La Mã cũng sáng tạo hệ thống pháp luật riêng của mình, Pax Romana (nghĩa đen là “Hòa Bình La Mã”), vốn vẫn là nền tảng cho phần lớn luật pháp thế giới.

What of Man’s concept of God toward the end of the Age of Aries? The Egyptians had their Ram-headed Amon of old; the Greeks believed themselves to be the image of their gods; the Jews made no images to worship but lived by the codes and ethics of Jehovah as revealed to the Prophets. The Romans, however, developed a very interesting phenomenon: Caesar. Caesar was the incarnation of God; Caesar was a divinity; Caesar was the spirit of Rome the Conquering. There is quite a difference between the Pharaoh of the Age of Taurus and the Caesar (or Pharaoh) of the Age of Aries. The former’s primary function was to communicate with the spiritual hierarchy in order to bring prosperity to his land and people: the Taurean Pharaoh was symbolically Egypt’s Chief Initiate of the Temple. Caesar, however, was a great temporal ruler, chief of the armies and symbol of the wealth and power of the empire. This is further explained by the difference between the glyph for Venus ao-s-chiem-tinh-toan-tap-phan-2-vii-tam-thuc-moi-va-buoc-ngoat-cua-thoi-dai-02.jpg (circle over cross = spiritual over material) and the emblem of Mars ao-s-chiem-tinh-toan-tap-phan-2-vii-tam-thuc-moi-va-buoc-ngoat-cua-thoi-dai-03.jpg (cross over circle = material over spiritual).

Vậy quan niệm của Con Người về Thượng Đế vào cuối Thời Đại Bạch Dương là gì? Người Ai Cập có Amon đầu Cừu Đực từ xưa; người Hy Lạp tin mình là hình ảnh của các vị thần; người Do Thái không tạo hình tượng để thờ, mà sống theo các bộ luật và đạo đức của Jehovah như được mặc khải cho các Tiên Tri. Tuy nhiên, người La Mã phát triển một hiện tượng rất thú vị: Caesar. Caesar là sự nhập thể của Thượng Đế; Caesar là thần tính; Caesar là tinh thần của La Mã Chinh Phục. Có một khác biệt khá lớn giữa Pharaoh của Thời Đại Kim Ngưu và Caesar (hay Pharaoh) của Thời Đại Bạch Dương. Chức năng chính của người trước là giao tiếp với huyền giai tinh thần để đem thịnh vượng cho đất và dân: Pharaoh Kim Ngưu, về mặt biểu tượng, là Điểm Đạo Đồ tối cao của Đền Thờ Ai Cập. Tuy nhiên, Caesar là một nhà cai trị thế tục vĩ đại, tổng chỉ huy quân đội và biểu tượng của sự giàu có cùng quyền lực của đế chế. Điều này còn được giải thích thêm bởi khác biệt giữa phù hiệu của Kim Tinh(vòng tròn trên Thập giá = tinh thần trên vật chất) và biểu tượng của Hỏa Tinh(Thập giá trên vòng tròn = vật chất trên tinh thần).

The transition to the first Age of a new Great Year was personified by the birth of Jesus. As we shall see, Jesus (coming from the Greek icthys, meaning “fish” and the Hebrew yeshua, meaning “savior”) was the Savior of the Piscean Age but came to Earth through the Jews, chosen people of the Age of Aries.

Sự chuyển tiếp sang Thời Đại đầu tiên của một Đại Niên mới được nhân cách hóa bởi sự giáng sinh của Jesus. Như chúng ta sẽ thấy, Jesus (bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp icthys, nghĩa là “cá,” và tiếng Hebrew yeshua, nghĩa là “đấng cứu rỗi”) là Đấng Cứu Rỗi của Thời Đại Song Ngư, nhưng đã đến Trái Đất qua người Do Thái, dân được chọn của Thời Đại Bạch Dương.

THE NEW GREAT YEAR BEGINS: THE AGE OF PISCES (c. 1–2160 A.D.)—ĐẠI NIÊN MỚI BẮT ĐẦU: THỜI ĐẠI SONG NGƯ (khoảng 1–2160 CN)

For several centuries before the birth of Jesus, Mankind had been laying the foundation for His arrival and His teachings, which would eventually shape not only the consciousness of His Age but of the entire Great Year. This is why Master Jesus is such an important Teacher. His ministry not only laid the foundation for the 2000-year period now reaching its end but for a 26,000-year epoch.

Trong vài thế kỷ trước khi Jesus ra đời, Nhân Loại đã đặt nền móng cho sự đến của Ngài và các giáo huấn của Ngài, những điều rốt cuộc sẽ định hình không chỉ tâm thức của Thời Đại của Ngài mà còn của toàn bộ Đại Niên. Vì vậy Chân sư Jesus là một Đấng Thầy vô cùng quan trọng. Sứ vụ của Ngài không chỉ đặt nền móng cho giai đoạn 2000 năm nay đang đi đến hồi kết, mà còn cho một kỷ nguyên 26.000 năm.

During the 500 years before Jesus’s birth, many of the founders of the present-day religions were born. Buddha, Zoroaster, Lao-tse, and Confucius all came to Earth within a short time of each other. These Masters gave the world those teachings, which would unite the various tribal and ethnic groups of the East into larger and more unified wholes. Man had to be so joined so that he could realize the universality of Mankind (a realization which, for the masses, is yet to take place). Jesus would perform this task for the Western world. The work of Master Jesus had its inception in the first Age (Pisces) of the new Great Year. The idea of a universal brotherhood is in keeping with the earlier monotheistic elements of the Age of Aries, i.e., since the Universe (God) is One, Mankind is also One within the larger structure of the cosmos: “as above, so below.” The purpose of Jesus’s ministry was to open the door of this universality to everyone; a universality which we hope to see realized in the Aquarian Age.

Trong 500 năm trước khi Jesus ra đời, nhiều vị khai sáng của các tôn giáo ngày nay đã giáng sinh. Đức Phật, Zoroaster, Lão Tử và Khổng Tử đều đến Trái Đất trong một khoảng thời gian ngắn gần nhau. Các Chân sư này đã trao cho thế giới những giáo huấn sẽ hợp nhất các nhóm bộ lạc và sắc tộc khác nhau của phương Đông thành những tổng thể lớn hơn và thống nhất hơn. Con Người phải được kết hợp như vậy để có thể nhận ra tính phổ quát của Nhân Loại (một sự nhận ra mà, đối với quần chúng, vẫn còn chưa xảy ra). Jesus sẽ thực hiện nhiệm vụ này cho thế giới phương Tây. Công trình của Chân sư Jesus khởi phát trong Thời Đại đầu tiên (Song Ngư) của Đại Niên mới. Ý niệm về một tình huynh đệ phổ quát phù hợp với các yếu tố nhất thần giáo sớm hơn của Thời Đại Bạch Dương, tức vì Vũ Trụ (Thượng Đế) là Một, Nhân Loại cũng là Một trong cấu trúc lớn hơn của vũ trụ: “như trên, thì dưới.” Mục đích của sứ vụ Jesus là mở cánh cửa của tính phổ quát này cho mọi người; một tính phổ quát mà chúng ta hy vọng sẽ thấy được hiện thực hóa trong Thời Đại Bảo Bình.

As the transition from the Age of Aries to that of the Fish was completed, we can see that the individualizing forces of the evolutionary processes were in a state of transformation. Previously it was believed that God was made in the image of Man and that Caesar represented the perfection of this state of being. In the Age of Pisces the concept of the conscious merger of Man with God in a spiritual union using love, compassion, and service as the vehicle for Mankind’s unification, rather than the physical conquests of Mars in Aries, was approached. In the Age of the Ram, Man had learned how to come in contact with his own individual ego structure. In the Age of Pisces, this focus was changed into the desire to blend the Self with a greater spiritual reality through an inner, mystical experience. The results of this process often proved disastrous as Man worked to unite the logical processes of his individualized mind with the spiritual quest for marriage in the “Heart of God”—great paradoxes and dichotomies existed between the Teachings and Essence of Jesus on the one hand, and the practices of the Christian churches and the vestigial “Caesar complexes” of many of the Piscean Age popes on the other.

Khi sự chuyển tiếp từ Thời Đại Bạch Dương sang Thời Đại Con Cá hoàn tất, chúng ta có thể thấy các lực cá thể hóa của các tiến trình tiến hóa đang ở trong trạng thái biến đổi. Trước đó, người ta tin rằng Thượng Đế được tạo theo hình ảnh Con Người và Caesar đại diện cho sự hoàn hảo của trạng thái hiện hữu ấy. Trong Thời Đại Song Ngư, quan niệm về sự hợp nhất có ý thức của Con Người với Thượng Đế trong một kết hợp tinh thần, dùng tình yêu, lòng trắc ẩn và phụng sự làm phương tiện cho sự hợp nhất của Nhân Loại—thay vì các cuộc chinh phục vật lý của Hỏa Tinh trong Bạch Dương—được tiếp cận. Trong Thời Đại Con Cừu Đực, Con Người đã học cách tiếp xúc với cấu trúc bản ngã cá nhân của mình. Trong Thời Đại Song Ngư, trọng tâm này được chuyển thành khát vọng hòa trộn Ngã với một thực tại tinh thần lớn hơn qua một trải nghiệm nội tâm, huyền nhiệm. Kết quả của tiến trình này thường tỏ ra tai hại khi Con Người cố gắng hợp nhất các tiến trình logic của thể trí cá thể hóa với cuộc truy cầu tinh thần về hôn phối trong “Trái Tim của Thượng Đế”—những nghịch lý và lưỡng phân lớn tồn tại giữa các Giáo Huấn và Bản Chất của Jesus một mặt, và các thực hành của các giáo hội Kitô giáo cùng các “phức cảm Caesar” còn sót lại của nhiều giáo hoàng Thời Đại Song Ngư mặt khác.

Thus the intellectuality of the Age of the Ram had given Man new insights into himself. Aries makes people aware of awareness. Mankind wished to escape the many wars and disagreements which were so prevalent during the previous 2000-year cycle, seeking instead peace and an inner spiritual understanding. Jesus the Man was the personification of the most exalted form of Piscean Age consciousness; while Jesus as God in Man represented the most exalted form of Human consciousness.

Vì vậy, tính trí tuệ của Thời Đại Con Cừu Đực đã đem đến cho Con Người những tuệ giác mới về chính mình. Bạch Dương khiến con người ý thức về sự ý thức. Nhân Loại muốn thoát khỏi nhiều cuộc chiến và bất đồng vốn rất phổ biến trong chu kỳ 2000 năm trước đó, thay vào đó tìm kiếm hòa bình và một sự thấu hiểu tinh thần nội tâm. Jesus, với tư cách Con Người, là sự nhân cách hóa của hình thức cao nhất của tâm thức Thời Đại Song Ngư; còn Jesus như Thượng Đế trong Con Người biểu trưng hình thức cao nhất của tâm thức nhân loại.

The symbolism inherent in the circumstances surrounding the birth of Jesus is very important for us to discuss, for it illustrates the relationship between the sign of the Fish and that of its polarity, Virgo. The name Jesus, as we have pointed out, means “fish.” Mary, His mother, was a virgin (Virgo). The name Mary comes from the Sanskrit word maya, meaning “the sea.” The Hebrew word for water, mayam, also reveals the common origin of his name (and perhaps the human race?). From the sea comes the fish; from Mary came Jesus.

Biểu tượng học vốn có trong các hoàn cảnh quanh sự giáng sinh của Jesus rất quan trọng để chúng ta thảo luận, vì nó minh họa mối quan hệ giữa dấu hiệu Con Cá và dấu hiệu đối cực của nó, Xử Nữ. Tên Jesus, như chúng ta đã chỉ ra, nghĩa là “cá.” Mary, mẹ của Ngài, là một trinh nữ (Xử Nữ). Tên Mary bắt nguồn từ từ Sanskrit maya, nghĩa là “biển.” Từ Hebrew chỉ nước, mayam, cũng hé lộ nguồn gốc chung của tên bà (và có lẽ của chủng tộc nhân loại?). Từ biển sinh ra cá; từ Mary sinh ra Jesus.

The Catholic religion is replete with the symbology of Pisces. The bishop’s miter is a representation of a fish head. The custom of eating fish on Friday (the day of the week ruled by Venus, the planet exalted when in the sign Pisces) is also a manifestation of the deeper symbolism of the Age. The New Testament cites Jesus as having taken His disciples from the ranks of fishermen after saying to them, “Follow me, and I will make you fishers of men.” We can also see recorded in the Holy Scriptures the story of Jesus feeding the multitude with two fishes (Pisces) and five loaves of bread (Virgo, viz. the Virgin holding the shafts of wheat as the emblem of this sign). One of the sacraments of the Catholic faith is baptism. The immersion of the body in water (the universal solvent) is supposed to wash away the sins of Man. Pisces is of course the most watery of the signs. At its essence, Pisces represents the principle of the dissolution of all created structures. Thus after purification, the energy contained within a previous form may be released and reshaped into a more perfect creation.

Tôn giáo Công giáo đầy ắp biểu tượng học Song Ngư. Mũ mitre của giám mục là một biểu trưng của đầu cá. Tập tục ăn cá vào Thứ Sáu (ngày trong tuần do Kim Tinh chủ quản, hành tinh ở vị trí “tướng” khi ở Song Ngư) cũng là một biểu hiện của biểu tượng học sâu xa của Thời Đại. Tân Ước ghi rằng Jesus đã chọn các môn đồ của Ngài từ hàng ngũ ngư phủ sau khi nói với họ: “Hãy theo Ta, Ta sẽ khiến các ngươi trở thành kẻ đánh cá người.” Chúng ta cũng thấy trong Thánh Kinh câu chuyện Jesus cho đám đông ăn no bằng hai con cá (Song Ngư) và năm ổ bánh (Xử Nữ, tức Trinh Nữ cầm những bó lúa mì làm biểu tượng của dấu hiệu này). Một trong các bí tích của đức tin Công giáo là rửa tội. Việc dìm thân thể trong nước (dung môi phổ quát) được cho là rửa sạch tội lỗi của Con Người. Song Ngư dĩ nhiên là dấu hiệu “ướt” nhất trong các dấu hiệu. Ở bản chất, Song Ngư biểu trưng nguyên lý tan rã của mọi cấu trúc đã được tạo dựng. Vì vậy, sau khi được thanh tẩy, năng lượng chứa trong một hình thức trước đó có thể được giải phóng và tái định hình thành một tạo tác hoàn hảo hơn.

In this respect, Pisces can be seen as the sign of purgation. This is accomplished by means of the waters of human suffering and spiritual revelation. The symbology of Christ’s Passion makes this very clear. The cross is a symbol of great antiquity. It stands both for the Earth (the four directions of the compass) and for Man (standing erect with arms outstretched). It signifies material existence and the attachments and limitations of the physical body. The crucifixion (a very ancient form of punishment) indicates the suffering of Man when the focus of his consciousness and all his efforts are completely geared to the amassing of temporal power and possessions. Jesus showed, however, that through the power of faith and inner attunement to the God-Force, Man could not only be released from this cross but achieve resurrection and immortality.

Theo nghĩa này, Song Ngư có thể được xem là dấu hiệu của sự tẩy rửa. Điều này được thực hiện qua những dòng nước của khổ đau nhân loại và mặc khải tinh thần. Biểu tượng học của Cuộc Khổ Nạn của Đức Christ làm điều này rất rõ. Thập giá là một biểu tượng có nguồn gốc rất cổ. Nó vừa tượng trưng cho Trái Đất (bốn hướng của la bàn) vừa tượng trưng cho Con Người (đứng thẳng với hai tay dang ra). Nó biểu thị hiện hữu vật chất và các ràng buộc cùng giới hạn của thân thể vật lý. Sự đóng đinh (một hình thức trừng phạt rất cổ) chỉ ra khổ đau của Con Người khi trọng tâm tâm thức của y và mọi nỗ lực của y hoàn toàn hướng vào việc tích lũy quyền lực và sở hữu thế tục. Tuy nhiên, Jesus đã cho thấy rằng qua quyền năng của đức tin và sự hòa điệu nội tâm với Thần Lực, Con Người không chỉ có thể được giải thoát khỏi Thập giá này mà còn đạt sự phục sinh và bất tử.

The impact of Jesus’s ability to control the natural forces of life through His highly developed consciousness (often called “miracles”) had a tremendous impact on the people of his time. One could make the analogy that a similar reaction, one which would change the course of human consciousness, would happen today if a fleet of extraterrestrial spaceships were to land on Earth and the crews of these vessels were to be interviewed through the international media. If this were to take place, one would not be surprised to find that the masses of people, especially those in power, would seek the “crucifixion” of these cosmic visitors in order to preserve the structures and ideas of the status quo. Yet there are many of us today, just as there were in Jesus’s time, who are waiting for the Messiah to come (no matter in what form) so that human consciousness may be raised from the state of chaos and spiritual immaturity in which it presently finds itself. The message of the Age of Aquarius is, however, that humanity as a whole IS the Messiah and the properties of the Savior within Man are released and revealed as human consciousness and evolution develops. Each individual can therefore find this Light within and bring it forth to illuminate others until the entire race of Man becomes enlightened.

Tác động từ khả năng kiểm soát các lực tự nhiên của sự sống của Jesus qua tâm thức phát triển cao của Ngài (thường được gọi là “phép lạ”) đã gây ảnh hưởng khổng lồ lên người đương thời. Người ta có thể ví rằng một phản ứng tương tự—một phản ứng sẽ đổi hướng tiến trình tâm thức nhân loại—sẽ xảy ra hôm nay nếu một hạm đội phi thuyền ngoài Trái Đất hạ cánh xuống Trái Đất và thủy thủ đoàn của các phi thuyền ấy được phỏng vấn qua truyền thông quốc tế. Nếu điều đó xảy ra, sẽ không có gì ngạc nhiên nếu quần chúng, đặc biệt là những người đang nắm quyền, tìm cách “đóng đinh” các vị khách vũ trụ ấy để bảo toàn các cấu trúc và ý tưởng của hiện trạng. Tuy vậy, ngày nay có nhiều người trong chúng ta, cũng như đã từng có trong thời Jesus, đang chờ Đấng Messiah đến (dù dưới bất kỳ hình thức nào) để tâm thức nhân loại được nâng lên khỏi trạng thái hỗn loạn và non nớt tinh thần mà nó hiện đang ở. Tuy nhiên, thông điệp của Thời Đại Bảo Bình là nhân loại, xét toàn thể, CHÍNH LÀ Đấng Messiah, và các phẩm tính của Đấng Cứu Rỗi trong Con Người được giải phóng và bộc lộ khi tâm thức và tiến hóa nhân loại phát triển. Vì vậy, mỗi cá nhân có thể tìm thấy Ánh Sáng này bên trong và đem nó ra để soi sáng người khác cho đến khi toàn thể chủng tộc Con Người trở nên giác ngộ.

In the early years of Christianity, when the Roman emperors forbade the worship of the Christ, Christians would identify each other by drawing a picture of a fish in the sand or have a fish painted on the palm of their hand. In the Catacombs, the early meeting and burial place of the Christians, the fish was inscribed on tombstones and on the walls of the caves. There is also an inscription in the Catacombs which reads:

Trong những năm đầu của Kitô giáo, khi các hoàng đế La Mã cấm thờ Đức Christ, các Kitô hữu nhận ra nhau bằng cách vẽ hình một con cá trên cát hoặc vẽ một con cá trên lòng bàn tay. Trong các hầm mộ, nơi gặp gỡ và chôn cất sớm của các Kitô hữu, hình con cá được khắc trên bia mộ và trên vách hang. Cũng có một dòng khắc trong các hầm mộ như sau:

O Divine offspring of the heavenly Icthys, receive, with a heart full of reverence, life of immortality in the midst of mortals. Rejuvenate my soul, O my friend, in the divine waters, with the eternal streams of wisdom which grant true wealth. Receive the bodily food of the Redeemed of Saints; eat, drink, and hold the Fish in thy hands.

Hỡi dòng dõi thần linh của Icthys thiên thượng, hãy đón nhận, với trái tim đầy kính sợ, sự sống bất tử giữa những kẻ hữu tử. Hãy làm trẻ lại linh hồn tôi, hỡi bạn tôi, trong những dòng nước thần linh, với những dòng suối vĩnh cửu của minh triết ban của cải chân thật. Hãy đón nhận lương thực thân thể của những người được cứu chuộc của các Thánh; hãy ăn, hãy uống, và hãy cầm Con Cá trong tay ngươi.

As we have said, Pisces is the sign of Self-Undoing. In this respect, it is little wonder that the early Christians were eager to suffer martyrdom in the arena. The Catholic Church recognizes martyrdom as a way to enter the kingdom of heaven. St. Ignatius, who died in the arena, wrote the following: “Of my own free will, I die for God. Let me be given to the lions for through them I can attain to God. I know what is expedient for me.”

Như chúng ta đã nói, Song Ngư là dấu hiệu của sự tự hủy Ngã. Theo nghĩa này, không có gì lạ khi các Kitô hữu thời kỳ đầu khao khát chịu tử vì đạo trong đấu trường. Giáo hội Công giáo công nhận tử vì đạo như một con đường để vào nước trời. Thánh Ignatius, người chết trong đấu trường, đã viết như sau: “Theo ý chí tự do của tôi, tôi chết vì Thượng Đế. Hãy nộp tôi cho sư tử, vì nhờ chúng tôi có thể đạt đến Thượng Đế. Tôi biết điều gì là thích đáng cho tôi.”

The change from the Age of Aries to that of Pisces is also revealed by the fact that the seat of the Roman Empire became, in the early centuries of the Age, the center of the Catholic Church, the Vatican. Through Charlemagne in the ninth century, the basic geographical framework of present-day Europe was formed. The Roman Empire became the Holy Roman Empire and the power struggle between the various heads of state in Europe and the Pope in Rome was firmly established.

Sự chuyển đổi từ Thời Đại Bạch Dương sang Thời Đại Song Ngư cũng được bộc lộ qua việc trung tâm của Đế chế La Mã trở thành, trong những thế kỷ đầu của Thời Đại, trung tâm của Giáo hội Công giáo, Vatican. Qua Charlemagne vào thế kỷ thứ chín, khung địa lý căn bản của châu Âu ngày nay được hình thành. Đế chế La Mã trở thành Đế chế La Mã Thần Thánh, và cuộc tranh giành quyền lực giữa các nguyên thủ quốc gia khác nhau ở châu Âu với Giáo hoàng ở Rome được thiết lập vững chắc.

The Church reached the height of its influence during the Middle or Dark Ages. The desire to retreat from the world, so much a characteristic of the sign of the Fish, developed into the monastic as well as political life of the period. Huge religious orders such as the monks of Cluny, the Jesuits, the Benedictines, Dominicans, and Franciscans, controlled vast tracts of land and were the source of much of the power and wealth of the Western world. This phenomenon also demonstrates the influence of Jupiter, coruler of Pisces. Jupiter rules men and women of religious calling, although Neptune is specifically associated with the cloistered life. Its rays invoke thoughts of philosophy, theology, and canon law. Jupiter expands power but is also known as the preserver and is closely connected to the maintenance of dogma. By the 16th century the Piscean Church had extended its influence and doctrines (and Inquisition) to the New World and its inhabitants. In the name of Christ and in the darkness of absolutism, thousands were put to death. The lust for power and wealth and the expansion and crystallization of orthodox doctrine were the causes for much of the negative manifestations of this Age.

Giáo hội đạt đỉnh ảnh hưởng trong thời Trung Cổ hay Hắc Ám. Khát vọng rút lui khỏi thế gian, vốn rất đặc trưng của dấu hiệu Con Cá, đã phát triển thành đời sống tu viện cũng như đời sống chính trị của thời kỳ ấy. Những dòng tu khổng lồ như các tu sĩ Cluny, Dòng Tên, Dòng Biển Đức, Dòng Đa Minh và Dòng Phanxicô kiểm soát những vùng đất rộng lớn và là nguồn gốc của phần lớn quyền lực và của cải của thế giới phương Tây. Hiện tượng này cũng cho thấy ảnh hưởng của Mộc Tinh, đồng chủ tinh của Song Ngư. Mộc Tinh chủ quản những người nam và nữ có ơn gọi tôn giáo, dù Hải Vương Tinh gắn đặc biệt với đời sống ẩn tu. Các tia của nó khơi gợi tư tưởng về triết học, thần học và giáo luật. Mộc Tinh mở rộng quyền lực nhưng cũng được biết như đấng bảo tồn và gắn chặt với việc duy trì giáo điều. Đến thế kỷ 16, Giáo hội Song Ngư đã mở rộng ảnh hưởng và giáo lý (và Tòa Án Dị Giáo) sang Tân Thế Giới và cư dân của nó. Nhân danh Đức Christ và trong bóng tối của chủ nghĩa tuyệt đối, hàng nghìn người bị xử tử. Lòng tham quyền lực và của cải, cùng sự bành trướng và kết tinh của giáo điều chính thống, là nguyên nhân của phần lớn các biểu hiện tiêu cực của Thời Đại này.

So we can understand the conflict symbolized by the polarity of Virgo and Pisces. The former represents the desire to serve as a vehicle for the expression of the personal ego structure. The essence of Pisces, however, is service for its own sake and the eventual merger of personal desire into the Will of God. Pisces is a vehicle for total surrender to a greater spiritual force, whereas Virgo attempts to structure its services according to a personal concept of right and wrong.

Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xung đột được biểu trưng bởi đối cực Xử Nữ và Song Ngư. Dấu hiệu trước biểu trưng khát vọng phụng sự như một phương tiện cho sự biểu đạt của cấu trúc bản ngã cá nhân. Tuy nhiên, bản chất của Song Ngư là phụng sự vì chính nó và sự hòa nhập rốt ráo của dục vọng cá nhân vào Ý Chí của Thượng Đế. Song Ngư là một phương tiện cho sự quy phục hoàn toàn trước một lực tinh thần lớn hơn, trong khi Xử Nữ cố gắng cấu trúc sự phụng sự của mình theo một quan niệm cá nhân về đúng và sai.

Constant self-examination in order to achieve purity in mind and body and the atonement of “sin” through confession, penance, and absolution are clearly projections of the energy contained within the Pisces-Virgo polarity. The priest functions as a medium, standing as he does between the Holy Spirit and Man, administering his duties according to the doctrines of Mother Church. Suffering for one’s sins and repentance through established rituals and thought forms become designations for the road to salvation. This took its ultimate form as the final acceptance of the Church by a penitent before he or she was burned at the stake for heresy. The thought behind this logical madness was that the mortification of the body would give rise to the purity of the immortal soul. We shall see in the next section that although much of the basis of this doctrine has not changed, the forms and structure of confession and penance are being profoundly modified by the Catholic Church.

Sự tự xét mình liên tục để đạt sự thanh khiết trong thể trí và thân thể, và sự chuộc “tội” qua xưng tội, sám hối và xá giải, rõ ràng là các phóng chiếu của năng lượng chứa trong đối cực Song Ngư–Xử Nữ. Linh mục vận hành như một đồng cốt, đứng giữa Thánh Linh và Con Người, thi hành bổn phận theo các giáo lý của Mẹ Giáo Hội. Chịu khổ vì tội lỗi và sám hối qua các nghi lễ và hình tư tưởng đã thiết lập trở thành các chỉ dấu cho con đường cứu rỗi. Điều này đạt đến hình thức cực đoan nhất như việc một kẻ sám hối chấp nhận Giáo hội lần cuối trước khi bị thiêu sống vì dị giáo. Ý nghĩ đằng sau sự điên rồ “hợp lý” này là sự hành xác thân thể sẽ làm phát sinh sự thanh khiết của linh hồn bất tử. Chúng ta sẽ thấy trong phần kế tiếp rằng mặc dù phần lớn nền tảng của giáo lý này không đổi, các hình thức và cấu trúc của xưng tội và sám hối đang được Giáo hội Công giáo biến đổi sâu sắc.

It is hoped that the Second World War was the last great period of global suffering and religious persecution during the Age of Pisces. Jesus the Christ, born of the Jews, ushered in that Age. Adolf Hitler, the anti-christ, murderer of the Jews, ended it. The next century or two is the great transitional point (the cusp of the Ages). Through Man’s ignorance and perversion of Truth, the Age of the Fish is ending with the recent memory of the greatest tragedy yet to befall Mankind. Yet Man has still not learned, as Vietnam surely testifies. The humanity of the Aquarian Age must learn something from all this suffering. It must realize and practice the brotherhood of all humanity. This does not have to be through the dogma or rituals of any particular church or ideology. It is universal love and understanding and a respect for Life which is so important.

Người ta hy vọng Thế Chiến II là giai đoạn cuối cùng của khổ đau toàn cầu và bách hại tôn giáo trong Thời Đại Song Ngư. Jesus the Christ, sinh từ người Do Thái, đã mở đầu Thời Đại ấy. Adolf Hitler, kẻ phản Christ, kẻ sát hại người Do Thái, đã kết thúc nó. Một hoặc hai thế kỷ tới là điểm chuyển tiếp lớn (đỉnh chuyển tiếp của các Thời Đại). Qua sự vô minh và xuyên tạc Chân Lý của Con Người, Thời Đại Con Cá đang kết thúc với ký ức gần đây về bi kịch lớn nhất từng giáng xuống Nhân Loại. Tuy vậy, Con Người vẫn chưa học được bài học, như Việt Nam chắc chắn làm chứng. Nhân loại của Thời Đại Bảo Bình phải học được điều gì đó từ tất cả khổ đau này. Nó phải nhận ra và thực hành tình huynh đệ của toàn thể nhân loại. Điều này không nhất thiết phải qua giáo điều hay nghi lễ của bất kỳ giáo hội hay hệ tư tưởng cụ thể nào. Chính tình yêu và sự thấu hiểu phổ quát, cùng sự tôn trọng Sự Sống, mới là điều quan trọng.

THE CUSP OF THE AGES (NOW)—ĐỈNH CHUYỂN TIẾP CỦA CÁC THỜI ĐẠI (HIỆN NAY)

When the Earth progresses into a new World Age, there is a precipitation of incoming energies which causes significant variations in terrestrial occurrences. At the moment (1975), we are undergoing a vast repolarization of cosmic forces which has come to be called the energy crisis. This is a very important phenomenon in terms of our discussion, as the Ages are changing right before our eyes. But before we proceed to a more detailed analysis of the implications and probable manifestations of this crisis, let’s refer to a point in history which signified the very beginnings of the cusp of the Aquarian Age.

Khi Trái Đất tiến vào một Thời Đại thế giới mới, có một sự kết tủa của các năng lượng đang đi vào, gây ra những biến thiên đáng kể trong các diễn biến trên Trái Đất. Hiện nay (1975), chúng ta đang trải qua một sự tái phân cực rộng lớn của các lực vũ trụ, điều đã được gọi là khủng hoảng năng lượng. Đây là một hiện tượng rất quan trọng đối với cuộc thảo luận của chúng ta, vì các Thời Đại đang đổi thay ngay trước mắt. Nhưng trước khi đi vào phân tích chi tiết hơn về các hàm ý và các biểu hiện có khả năng xảy ra của cuộc khủng hoảng này, hãy nhắc đến một điểm trong lịch sử đã báo hiệu những khởi đầu rất sớm của đỉnh chuyển tiếp Thời Đại Bảo Bình.

The year was 1781 and the event was the discovery of the planet Uranus. This discovery was extremely significant, for Uranus, ruler of Aquarius, is to be the primary planetary influence for the next 2000 years. What do the vibrations of this planet and its sign indicate?

Năm đó là 1781, và sự kiện là việc phát hiện hành tinh Thiên Vương Tinh. Khám phá này cực kỳ quan trọng, vì Thiên Vương Tinh, chủ tinh của Bảo Bình, sẽ là ảnh hưởng hành tinh chủ yếu trong 2000 năm tới. Những rung động của hành tinh này và dấu hiệu của nó chỉ ra điều gì?

If we turn back to Table 1 (page 516), we will see that Aquarius is designated as the sign of “the realm of the organization and projection of social ambitions and ideals.” Leo, its polarity, is involved with the same sphere of influence but carries out its role in a highly personalized manner. One could say that Leo represents the heart of Man, the heart being the center to which all human energy (blood) comes to be integrated into the whole organism (Humanity), after which it is once again pumped out so that the body (of Man) is revitalized. Aquarius is the circulatory system. Here the diffusion of the energy (blood) released by the heart is channeled into all possible avenues of human experience (the cells of the body) through a vast communications network (the arteries, veins, and capillaries). Leo is concerned with the preservation of the one, while Aquarius is preoccupied with the needs and interrelationships of the many. In terms of personalized, natal astrology, we can say that Leo sees the entire world in terms of his position and creative forms of self-expression. Hence Leo wields his authority so that everyone may keep his or her own place in relation to the centrifugal structure of Leo’s miniuniverse. Aquarius, however, sees himself in terms of his social interactions and the idealogy of the group with which he identifies himself.

Nếu chúng ta quay lại Bảng 1 (trang 516), chúng ta sẽ thấy Bảo Bình được chỉ định là dấu hiệu của “lĩnh vực tổ chức và phóng chiếu các tham vọng và lý tưởng xã hội.” Sư Tử, dấu hiệu đối cực của nó, liên quan đến cùng một phạm vi ảnh hưởng, nhưng thực hiện vai trò của mình theo một cách hết sức cá nhân hóa. Có thể nói Sư Tử biểu trưng cho trái tim của Con Người; trái tim là trung tâm mà mọi năng lượng nhân loại (máu) đổ về để được hội nhập vào toàn bộ cơ thể (Nhân loại), rồi sau đó lại được bơm ra lần nữa để thân thể (của Con Người) được hồi sinh sinh lực. Bảo Bình là hệ tuần hoàn. Ở đây, sự khuếch tán năng lượng (máu) do trái tim phóng thích được dẫn truyền vào mọi ngả đường có thể có của trải nghiệm nhân loại (các tế bào của cơ thể) thông qua một mạng lưới truyền thông rộng lớn (động mạch, tĩnh mạch và mao mạch). Sư Tử quan tâm đến việc bảo tồn cái một, trong khi Bảo Bình bận tâm đến nhu cầu và các mối tương liên của cái nhiều. Xét theo chiêm tinh học lá số cá nhân, chúng ta có thể nói Sư Tử nhìn toàn bộ thế giới theo vị thế của mình và các hình thức tự biểu đạt sáng tạo của mình. Vì vậy, Sư Tử vận dụng quyền uy của mình để mọi người có thể giữ đúng vị trí của mình trong tương quan với cấu trúc ly tâm của tiểu vũ trụ Sư Tử. Tuy nhiên, Bảo Bình nhìn chính mình theo các tương tác xã hội và hệ tư tưởng của nhóm mà y đồng nhất mình với.

Aquarius is an airy sign and hence pertains to the mental realms. It formulates ideas from the watery inspirations of Pisces and then proceeds to organize the concepts upon which a civilization is to be based. It also provides much of the technology and foresight which enable humanity to plan ahead for the future. Capricorn consolidates the ideas of Aquarius and relates them from the realm of ideas to the exigencies of the given moment. Capricorn’s element is earth and as such, the Age of Capricorn (c. 4000–c. 6000 A.D.) should be more concerned with the actual forms and purposes which energy takes rather than with the more idealistic and theoretical elements of the Aquarian Age. Although Aquarius and Capricorn are quite different in this respect, they are related in a very important way—they are both concerned with structure.

Bảo Bình là một dấu hiệu hành khí và vì vậy thuộc về các cõi thể trí. Nó hình thành các ý tưởng từ những linh hứng hành thủy của Song Ngư, rồi tiến tới tổ chức các khái niệm mà trên đó một nền văn minh sẽ được xây dựng. Nó cũng cung cấp phần lớn công nghệ và tầm nhìn xa giúp nhân loại có thể hoạch định trước cho tương lai. Ma Kết củng cố các ý tưởng của Bảo Bình và liên hệ chúng từ cõi ý niệm đến những đòi hỏi cấp bách của khoảnh khắc hiện tại. Hành của Ma Kết là hành thổ, và vì vậy, Thời đại Ma Kết (khoảng năm 4000–khoảng năm 6000 sau Công nguyên) hẳn sẽ quan tâm nhiều hơn đến các hình thức và mục đích thực tế mà năng lượng mang lấy, hơn là các yếu tố lý tưởng và lý thuyết hơn của Thời đại Bảo Bình. Mặc dù Bảo Bình và Ma Kết khá khác nhau ở phương diện này, chúng lại liên hệ với nhau theo một cách rất quan trọng—cả hai đều quan tâm đến cấu trúc.

We mentioned that Aquarius is ruled by Uranus, but it is also highly influenced by Saturn (the ruler of Capricorn). Saturn is the planet of limitations and represents the grounding force, the need for form, and the channeling of energies into prescribed paths for specific purposes. Thus Saturn acting through Aquarius signifies the structuring of ideas, the making of plans, the formulation of social frameworks from a theoretical point of view (the drafting of the Bill of Rights or the Constitution). Saturn acting through Capricorn, however, provides the physical form which brings these ideas down to earth (the bureaucracies of the government and the people who administer them). It should be remembered that a planet denotes a specific type of energy, while a sign is the modifying force field through which the planetary energies are manifested. Our example of Saturn as it works through Capricorn and Aquarius illustrates this point.

Chúng ta đã nhắc rằng Bảo Bình do Thiên Vương Tinh cai quản, nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của Thổ Tinh (chủ tinh của Ma Kết). Thổ Tinh là hành tinh của các giới hạn và biểu trưng cho lực neo đất, nhu cầu về hình tướng, và việc dẫn truyền các năng lượng vào những lộ trình đã được quy định cho những mục đích cụ thể. Vì vậy, Thổ Tinh tác động qua Bảo Bình biểu thị việc cấu trúc hóa các ý tưởng, việc lập kế hoạch, việc hình thành các khuôn khổ xã hội từ một quan điểm lý thuyết (soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền hay Hiến pháp). Tuy nhiên, Thổ Tinh tác động qua Ma Kết lại cung cấp hình tướng vật chất đưa các ý tưởng ấy “xuống đất” (các bộ máy quan liêu của chính phủ và những người điều hành chúng). Cần nhớ rằng một hành tinh biểu thị một loại năng lượng cụ thể, còn một dấu hiệu là trường lực điều chỉnh qua đó các năng lượng hành tinh được biểu hiện. Ví dụ của chúng ta về Thổ Tinh khi nó vận hành qua Ma Kết và Bảo Bình minh họa điểm này.

Air is the element of the New Age and this makes communications and inventiveness two of the most outstanding characteristics of the period into which we are rapidly moving. The need to communicate is common to all the airy signs and their planetary rulers. In Gemini this process occurs through the mercurial aspects of the written or spoken word: letters, notes, books, lectures, etc. In Libra, ideas are expressed with a more personal approach through the vibrations of Venus: social intercourse, dating, the arts, etc. Aquarius, however, prefers the impersonal approach of Uranus, who inspires communication through long distances and far-reaching methods of sharing the air waves.2_712

Hành khí là hành của Thời đại Mới, và điều này khiến truyền thông và tính sáng chế trở thành hai đặc trưng nổi bật nhất của giai đoạn mà chúng ta đang nhanh chóng tiến vào. Nhu cầu giao tiếp là điểm chung của mọi dấu hiệu hành khí và các chủ tinh của chúng. Trong Song Tử, tiến trình này diễn ra qua các khía cạnh Thủy Tinh của lời nói viết hay nói: thư từ, ghi chú, sách vở, bài giảng, v.v. Trong Thiên Bình, các ý tưởng được biểu đạt theo một cách tiếp cận cá nhân hơn qua các rung động của Kim Tinh: giao tiếp xã hội, hẹn hò, nghệ thuật, v.v. Tuy nhiên, Bảo Bình lại ưa cách tiếp cận phi cá nhân của Thiên Vương Tinh, vốn truyền cảm hứng cho giao tiếp qua những khoảng cách xa và những phương thức chia sẻ sóng phát thanh có tầm vươn rộng.

Aquarius is often depicted as a man with an urn of water placed upon his shoulders. This symbology often confuses people into thinking that Aquarius is a watery sign, but water, in this representation, is symbolic of an even deeper concept. The Water Bearer signifies that Man has been created from the “waters” of life. As this matrix, in its vastness, contains all the potential resources necessary for life, Man through his creative and rational faculties is able to channel this bounty to all of humanity. In this respect the water is seen as the stream of universal consciousness, inspiration, and intuition. Aquarius, therefore, distributes the riches of life through an understanding of the nature of humanity, at the same time, giving the knowledge and inspiration for the proper use of this abundance.

Bảo Bình thường được mô tả như một người đàn ông mang một vò nước đặt trên vai. Biểu tượng này thường khiến người ta lầm tưởng Bảo Bình là một dấu hiệu hành thủy, nhưng nước, trong cách biểu đạt này, là biểu tượng của một khái niệm còn sâu hơn. Người Mang Nước biểu thị rằng Con Người đã được tạo ra từ “nước” của sự sống. Vì mẫu thể này, trong sự bao la của nó, chứa mọi nguồn lực tiềm tàng cần thiết cho sự sống, Con Người, qua các năng lực sáng tạo và lý trí của mình, có thể dẫn truyền sự phong phú ấy đến toàn thể nhân loại. Theo nghĩa này, nước được xem như dòng chảy của tâm thức phổ quát, linh hứng và trực giác. Vì vậy, Bảo Bình phân phối sự giàu có của đời sống qua sự thấu hiểu bản chất của nhân loại, đồng thời trao tri thức và linh hứng cho việc sử dụng đúng đắn sự sung túc này.

The symbol for the sign Aquarius ao-s-chiem-tinh-toan-tap-phan-2-vii-tam-thuc-moi-va-buoc-ngoat-cua-thoi-dai-04.jpg ostensibly represents the waves of the ocean. But the glyph also depicts the motion of the ankles when walking, as well as the transmission of thought waves from one person or group to another. The concept symbolized by this glyph is communication. The only methods available for the dissemination of information prior to the discovery of Uranus were by foot (human or animal), ship, mouth, or pen (writing can also be symbolized by wavy lines).

Biểu tượng của dấu hiệu Bảo Bình bề ngoài dường như biểu thị những con sóng của đại dương. Nhưng ký hiệu này cũng mô tả chuyển động của mắt cá chân khi bước đi, cũng như sự truyền dẫn các làn sóng tư tưởng từ người này hay nhóm này sang người khác hay nhóm khác. Khái niệm được biểu trưng bởi ký hiệu này là truyền thông. Những phương thức khả dụng để phổ biến thông tin trước khi Thiên Vương Tinh được phát hiện chỉ là đi bộ (người hay thú), tàu thuyền, miệng nói, hoặc bút (chữ viết cũng có thể được biểu trưng bằng các đường lượn sóng).

As we approach the New Age, additional uses for the air waves have been invented and many more are to come! Thus in addition to radio, TV, telephone, and the like, we also have the various forms of computer and satellite communication. This technology reveals the evolutionary development of the mind in order to meet the needs of the times. But the higher faculties of the mind are also being expanded in other ways through the vibrations of Uranus and Aquarius. Many people are realizing that they have certain extrasensory gifts. Uri Geller, a young Israeli, has achieved a certain amount of notoriety from his ability to bend metal forks, keys, nails, and other objects purely through concentration and the projection of his will. It has also been verified that he can stop clocks, make objects appear, and perform any number of so-called psychic (a word meaning “mind”) phenomena such as mind reading, thought projection, and personal forecasting. Actually psychic phenomena are really the ability to control various frequencies of energy waves through certain mental centers which are not normally developed in the average person. In fact, Geller has stated that he is a living example of one aspect of Man’s potential and that he is neither performing “miracles” nor “tricks.”

Khi chúng ta tiến gần Thời đại Mới, những cách sử dụng bổ sung cho sóng phát thanh đã được phát minh và sẽ còn nhiều nữa! Vì vậy, ngoài radio, TV, điện thoại và những thứ tương tự, chúng ta còn có các hình thức truyền thông bằng máy tính và vệ tinh. Công nghệ này bộc lộ sự phát triển tiến hóa của trí tuệ nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại. Nhưng các năng lực cao hơn của trí tuệ cũng đang được mở rộng theo những cách khác qua các rung động của Thiên Vương Tinh và Bảo Bình. Nhiều người đang nhận ra rằng họ có một số năng lực ngoại cảm. Uri Geller, một người Israel trẻ tuổi, đã đạt được một mức độ tai tiếng nhất định nhờ khả năng uốn cong nĩa kim loại, chìa khóa, đinh và các vật khác hoàn toàn bằng sự tập trung và sự phóng chiếu ý chí của mình. Người ta cũng đã xác minh rằng y có thể làm đồng hồ ngừng chạy, làm vật thể xuất hiện, và thực hiện nhiều hiện tượng được gọi là ngoại cảm (một từ có nghĩa là “thể trí”) như đọc tâm, phóng chiếu tư tưởng, và dự báo cá nhân. Thực ra, các hiện tượng ngoại cảm chính là khả năng kiểm soát các tần số khác nhau của các làn sóng năng lượng thông qua một số trung tâm thể trí vốn không thường được phát triển ở người bình thường. Thực ra, Geller đã nói rằng y là một ví dụ sống về một khía cạnh của tiềm năng Con Người và rằng y không hề thực hiện “phép lạ” hay “trò ảo thuật.”

The potential faculties available to Man and the course of his evolution have a great deal to do with Uranus as well as the two other “outer” bodies, Neptune and Pluto. The significance of Uranus is contained within its glyph ao-s-chiem-tinh-toan-tap-phan-2-vii-tam-thuc-moi-va-buoc-ngoat-cua-thoi-dai-05.jpg. It is composed of the three primary elements of astrological symbology: the cross, the semicircle, and the circle. The circle stands for the sum total of all manifested life. When divided into two semicircles, it represents the juxtaposition of the higher energy forces of the Cosmos (sometimes called “the Spiritual Hierarchy”) and the human level of consciousness (“the Kingdom of Man”). The cross represents matter, or the Earth.

Các năng lực tiềm tàng sẵn có cho Con Người và tiến trình tiến hóa của y có liên hệ rất lớn với Thiên Vương Tinh cũng như hai thiên thể “ngoại biên” khác, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh. Ý nghĩa của Thiên Vương Tinh được hàm chứa trong ký hiệu của nó . Nó được cấu thành từ ba yếu tố sơ cấp của biểu tượng học chiêm tinh: Thập giá, nửa vòng tròn, và vòng tròn. Vòng tròn tượng trưng cho tổng thể mọi sự sống đã biểu hiện. Khi được chia thành hai nửa vòng tròn, nó biểu thị sự đặt cạnh nhau của các lực năng lượng cao hơn của Vũ trụ (đôi khi được gọi là “Đẳng cấp Thiêng liêng”) và mức độ tâm thức của con người (“Vương quốc Con Người”). Thập giá tượng trưng cho vật chất, hay Trái Đất.

Thus Uranus extends the ability for Mankind to tap the energy of the more highly developed forces at work in the solar system and the insight to use this power in order to raise the general level of con-ciousness of the Earth and its inhabitants. The forces of which we are speaking are not readily available to present-day humanity. In order to properly handle this “increased voltage,” the proper physical, mental, and spiritual vehicles have to be developed through the long evolutionary process. You cannot send 500 volts through a conductor capable of handling only 100. The results would destroy the conductor and release “wild energy.” This is what has happened to many people already. The energy of life comes in faster than most people can manage to handle or ground it, and though it may sound odd, it is nonetheless true; too many people have blown their fuses and the damage is irreparable. Perhaps the present energy crises will provide a way for people to slow down, focus their energy, and where possible, repair their circuits for the next phase of life. Like an individual or a nation, the Earth, too, must have time to cool off before it quakes.

Vì vậy, Thiên Vương Tinh mở rộng khả năng để Nhân loại khai thác năng lượng của các lực phát triển cao hơn đang vận hành trong hệ Mặt Trời, và mở rộng sự thấu suốt để dùng quyền năng này nhằm nâng cao mức độ tâm thức chung của Trái Đất và cư dân của nó. Những lực mà chúng ta đang nói đến không dễ dàng sẵn có cho nhân loại hiện nay. Để có thể xử lý đúng “điện áp tăng cường” này, các thể khí cụ thể chất, thể trí và tinh thần thích hợp phải được phát triển qua tiến trình tiến hóa lâu dài. Bạn không thể đưa 500 volt qua một vật dẫn chỉ chịu được 100. Kết quả sẽ phá hủy vật dẫn và phóng thích “năng lượng hoang dã.” Điều này đã xảy ra với nhiều người. Năng lượng sự sống đến nhanh hơn mức đa số người có thể xoay xở để xử lý hay neo đất nó, và dù nghe có vẻ lạ, điều đó vẫn đúng; quá nhiều người đã “cháy cầu chì” và tổn hại là không thể phục hồi. Có lẽ các cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay sẽ mở ra một cách để con người chậm lại, tập trung năng lượng, và khi có thể, sửa chữa các mạch của mình cho giai đoạn kế tiếp của đời sống. Cũng như một cá nhân hay một quốc gia, Trái Đất cũng phải có thời gian để nguội đi trước khi nó rung chuyển.

Uranus acts suddenly. It is unconventional, forceful, and often violent in its manner of expression. Instead of the slower processes of reason (Mercury), Uranus acts through bolts of lightning, illuminating one’s mental horizon with great power. Uranus is called the planet of invention and revolution. Invention, because it gives great flashes of light which give birth to creative innovations. Revolution, because it tends to overthrow preconceived or conventional notions with its directness, originality, and intuitive perspective. One of its primary effects is to create a feeling of independence and individuality. The discovery of Uranus in 1781 took place during an era of social reform and political upheaval. History had prepared the world for the Uranian energies and Aquarian principles which would follow.

Thiên Vương Tinh tác động đột ngột. Nó phi quy ước, mạnh bạo, và thường bạo liệt trong cách biểu đạt. Thay vì các tiến trình lý trí chậm hơn (Thuỷ Tinh), Thiên Vương Tinh hành động qua những tia chớp, soi sáng chân trời thể trí của một người bằng một quyền năng lớn. Thiên Vương Tinh được gọi là hành tinh của phát minh và cách mạng. Phát minh, vì nó đem lại những tia lóe sáng lớn sinh ra các đổi mới sáng tạo. Cách mạng, vì nó có khuynh hướng lật đổ các quan niệm định sẵn hay quy ước bằng tính trực diện, tính nguyên bản và góc nhìn trực giác của nó. Một trong những tác động chủ yếu của nó là tạo ra cảm giác độc lập và tính cá biệt. Việc phát hiện Thiên Vương Tinh vào năm 1781 diễn ra trong một thời kỳ cải cách xã hội và biến động chính trị. Lịch sử đã chuẩn bị thế giới cho các năng lượng Thiên Vương Tinh và các nguyên lý Bảo Bình sẽ theo sau.

The voyages to the New World in the late 15th and the 16th centuries brought about a spherical consciousness into the two-dimensional plane of the medieval world conception. This was the jolt which gave birth to the so-called Age of Enlightenment and the Renaissance. In addition, new trade routes were created in order to bring about a change from feudalism to international capitalism. Due to the resultant economic and religious persecutions and consequent possibilities, many people fled Europe and began to settle in the Americas and Australia. These continents are to become the centers of New Age thought and civilization.

Những chuyến hải hành đến Tân Thế Giới vào cuối thế kỷ 15 và thế kỷ 16 đã đem một tâm thức hình cầu vào bình diện hai chiều của quan niệm thế giới thời trung cổ. Đó là cú giật đã sinh ra cái gọi là Thời đại Khai sáng và thời Phục Hưng. Hơn nữa, các tuyến thương mại mới được tạo ra để đưa đến một sự chuyển đổi từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản quốc tế. Do các cuộc bách hại kinh tế và tôn giáo phát sinh và các khả năng hệ quả, nhiều người đã rời châu Âu và bắt đầu định cư ở châu Mỹ và Úc. Những lục địa này sẽ trở thành các trung tâm của tư tưởng và văn minh Thời đại Mới.

By 1750, the Industrial Revolution had begun in England and inventions using steam power were being developed. Industrialization led to the urbanization of increasingly larger numbers of people, involving a greater proportion of the population in the economic changes which were taking place. The vibrations of the Age of Pisces were still very much in evidence. The working and living conditions of the masses were miserable and oppressive. Forced labor, child labor, bonded servitude, and slavery (all Piscean in nature) were extensively practiced. In the Americas, whole civilizations of Indians were first converted and then either consumed or crucified. In Australia, convicts (Pisces rules prisons and inmates) were sent to populate that vast territory, whose indigenous population was also systematically reduced in numbers. In the United States, slavery was the backbone of a great deal of the newly formed economy.

Đến năm 1750, Cách mạng Công nghiệp đã bắt đầu ở Anh và các phát minh sử dụng năng lượng hơi nước đang được phát triển. Công nghiệp hóa dẫn đến đô thị hóa ngày càng nhiều người hơn, lôi cuốn một tỷ lệ dân số lớn hơn vào những biến đổi kinh tế đang diễn ra. Các rung động của Thời đại Song Ngư vẫn rất rõ rệt. Điều kiện làm việc và sinh sống của quần chúng khốn khổ và áp bức. Lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, nô dịch khế ước, và chế độ nô lệ (tất cả đều mang tính Song Ngư) được thực hành rộng rãi. Ở châu Mỹ, toàn bộ các nền văn minh của người Da đỏ trước hết bị cải đạo rồi sau đó hoặc bị nuốt chửng hoặc bị đóng đinh. Ở Úc, tù nhân (Song Ngư cai quản nhà tù và tù nhân) được đưa đến để khai khẩn vùng lãnh thổ rộng lớn ấy, và dân bản địa của nó cũng bị giảm số lượng một cách có hệ thống. Ở Hoa Kỳ, chế độ nô lệ là xương sống của một phần lớn nền kinh tế mới hình thành.

These conditions fostered the urge for freedom and independence. The influence of Uranus through its revolutionary rays was felt in the United States in 1776, in France in 1789, in Japan in 1868, in Russia in 1917, and in China in 1948 (and consistently in Africa and Latin America). When there was no great revolution of the masses, there was the Aquarian desire for unity and brotherhood (“Liberté, Fraternité, Egalité”). Unification of smaller duchies and principalities began to take place, resulting in the unification of Italy in 1861–70 and Germany in 1871. Uranus’s urge for freedom is always seen coupled with the desire for unification to take place within a given structure (Saturn). Such a situation was also present in the 1860s in the American Civil War. Aquarius (Lincoln was born under this sign) wants Mankind to be united in freedom, not in the servitude of Pisces.

Những điều kiện này nuôi dưỡng thôi thúc tự do và độc lập. Ảnh hưởng của Thiên Vương Tinh qua các tia cách mạng của nó được cảm nhận ở Hoa Kỳ năm 1776, ở Pháp năm 1789, ở Nhật năm 1868, ở Nga năm 1917, và ở Trung Quốc năm 1948 (và liên tục ở Phi châu và Mỹ La-tinh). Khi không có một cuộc cách mạng lớn của quần chúng, thì có khát vọng Bảo Bình về hợp nhất và tình huynh đệ (“Liberté, Fraternité, Egalité”). Sự hợp nhất các công quốc và tiểu quốc nhỏ bắt đầu diễn ra, dẫn đến sự thống nhất Ý vào 1861–70 và Đức vào 1871. Thôi thúc tự do của Thiên Vương Tinh luôn đi kèm với khát vọng hợp nhất diễn ra trong một cấu trúc nhất định (Thổ Tinh). Một tình thế như vậy cũng hiện diện trong thập niên 1860 trong Nội chiến Hoa Kỳ. Bảo Bình (Lincoln sinh dưới dấu hiệu này) muốn Nhân loại được hợp nhất trong tự do, chứ không phải trong sự nô dịch của Song Ngư.

When Neptune was discovered in 1846, another major factor was added to the influences conditioning the transfer of energy from the Age of Pisces and its institutions to the Age of Aquarius. Neptune, along with Jupiter, is the ruler of the Fish, but when Neptune was discovered it was posited in late Aquarius. This was highly significant, considering the transition taking place at the time, for the combined effects of Uranus and Neptune were very important to the present period of history.

Khi Hải Vương Tinh được phát hiện vào năm 1846, một yếu tố lớn khác được thêm vào các ảnh hưởng đang điều kiện hóa sự chuyển giao năng lượng từ Thời đại Song Ngư và các định chế của nó sang Thời đại Bảo Bình. Hải Vương Tinh, cùng với Mộc Tinh, là chủ tinh của Con Cá, nhưng khi Hải Vương Tinh được phát hiện, nó được đặt ở cuối Bảo Bình. Điều này hết sức có ý nghĩa, xét đến sự chuyển tiếp đang diễn ra lúc bấy giờ, vì các tác động kết hợp của Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh rất quan trọng đối với giai đoạn lịch sử hiện tại.

The middle of the 19th century saw a great popular and economic expansion westward in the United States as well as the publication of the works of Karl Marx in Europe. This was clearly the moment of the meeting of the two political-social systems whose contrasting ideologies would prove to be the polarizing forces of world government for many centuries to come. Marx was born with both the Sun and Moon in Taurus and with Aquarius rising. This indicates that he was a man who was searching for an economic system which would encompass the masses. In addition, he also had the conjunction of Uranus and Neptune culminating in his chart. The combination of these forces makes for a visionary having the ability to project his philosophy over tremendous distances (the conjunction occurs in Sagittarius).

Giữa thế kỷ 19 chứng kiến một sự bành trướng phổ biến và kinh tế lớn lao về phía tây ở Hoa Kỳ, cũng như việc xuất bản các tác phẩm của Karl Marx ở châu Âu. Đây rõ ràng là khoảnh khắc gặp gỡ của hai hệ thống chính trị–xã hội mà các hệ tư tưởng đối cực của chúng sẽ chứng tỏ là các lực phân cực của chính quyền thế giới trong nhiều thế kỷ tới. Marx sinh với cả Mặt Trời lẫn Mặt Trăng ở Kim Ngưu và với Bảo Bình mọc. Điều này cho thấy ông là một người đang tìm kiếm một hệ thống kinh tế có thể bao trùm quần chúng. Hơn nữa, ông còn có trùng tụ của Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh đạt thiên đỉnh trong lá số của mình. Sự kết hợp các lực này tạo nên một nhà linh thị có khả năng phóng chiếu triết lý của mình qua những khoảng cách mênh mông (trùng tụ này xảy ra trong Nhân Mã).

The general migrations of this historical period and the exodus to the West Coast of this country necessitated a vast communications network. Uranus rules rail as well as air transport, the labor unions, civic organizations, and strikes and riots which accompanied such growth. Electricity (also Uranus-ruled) would soon join with and then replace steam as a major energy source. It is interesting to note that Edison, Ampère, and Watt were all Aquarians (as was Galileo, a prime developer of the telescope).

Những cuộc di cư rộng khắp của giai đoạn lịch sử này và cuộc xuất hành đến Bờ Tây của đất nước này đòi hỏi một mạng lưới truyền thông rộng lớn. Thiên Vương Tinh cai quản đường sắt cũng như vận tải hàng không, các công đoàn lao động, các tổ chức dân sự, và các cuộc đình công và bạo loạn đi kèm với sự tăng trưởng như vậy. Điện lực (cũng do Thiên Vương Tinh cai quản) chẳng bao lâu sẽ kết hợp với rồi thay thế hơi nước như một nguồn năng lượng chủ yếu. Thật thú vị khi lưu ý rằng Edison, Ampère và Watt đều là người Bảo Bình (cũng như Galileo, một người phát triển kính thiên văn hàng đầu).

One of the major sources of electric power is water (which is Neptune-ruled). Hydroelectric power plants can be readily symbolized by the joining of Uranus and Neptune. The expansion westward was also accompanied by the discovery of huge oil fields and the development of the petroleum industry (all related products as well as natural gas are ruled by Neptune). This is especially significant, as the automobile is a Uranian invention.

Một trong những nguồn điện lực chủ yếu là nước (do Hải Vương Tinh cai quản). Các nhà máy thủy điện có thể dễ dàng được biểu trưng bằng sự kết hợp của Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh. Sự bành trướng về phía tây cũng đi kèm với việc phát hiện các mỏ dầu khổng lồ và sự phát triển của ngành công nghiệp dầu mỏ (mọi sản phẩm liên quan cũng như khí tự nhiên đều do Hải Vương Tinh cai quản). Điều này đặc biệt có ý nghĩa, vì ô tô là một phát minh của Thiên Vương Tinh.

The discovery of Pluto in 1930 signifies another alteration in the development of Man’s consciousness and adds another type of fuel to his ever-expanding needs—atomic energy.

Việc phát hiện Diêm Vương Tinh vào năm 1930 biểu thị một sự biến đổi khác trong sự phát triển tâm thức của Con Người và thêm một loại nhiên liệu khác vào những nhu cầu ngày càng mở rộng của y—năng lượng nguyên tử.

At least three-quarters of all the people born between May 1936 and June 1959 have a major connection in their natal charts between Uranus and Neptune. This is especially significant, for such individuals represent the first generations of people whose consciousness is a manifestation of the “Age change.” The early group (1936–42) had a trine (120° angle) between these two planets in earthy signs (Neptune in Virgo and Uranus in Taurus), which are not particularly favorable placements despite the harmonious nature of the angle between them. This generation would express itself most vocally during the 1950s. The middle group (1942–47) had the trine in much more propitious signs (Neptune in Libra and Uranus in Gemini) and had its primary impact on world consciousness during the middle 1960s. The last group (1951–mid-1959) had the square of these planets (Neptune in Libra, Uranus in Cancer until 1955; then Neptune in Scorpio, Uranus in Leo until 1959 when they went out of orb of this rather tension-producing geometric and zodiacal relationship). The effects of the first part of this group were quite prominent in the late sixties and early seventies, while the second half is very active at present (mid-1970s).

Ít nhất ba phần tư số người sinh từ tháng 5 năm 1936 đến tháng 6 năm 1959 có một liên hệ quan trọng trong lá số sinh giữa Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa, vì những cá nhân như vậy đại diện cho các thế hệ đầu tiên mà tâm thức của họ là một biểu hiện của “sự đổi Thời đại.” Nhóm sớm (1936–42) có tam hợp (góc 120°) giữa hai hành tinh này trong các dấu hiệu hành thổ (Hải Vương Tinh ở Xử Nữ và Thiên Vương Tinh ở Kim Ngưu), vốn không phải là những vị trí đặc biệt thuận lợi dù góc hợp giữa chúng mang tính hài hòa. Thế hệ này sẽ biểu đạt mình mạnh mẽ nhất trong thập niên 1950. Nhóm giữa (1942–47) có tam hợp trong những dấu hiệu thuận lợi hơn nhiều (Hải Vương Tinh ở Thiên Bình và Thiên Vương Tinh ở Song Tử) và tạo tác động chủ yếu lên tâm thức thế giới vào giữa thập niên 1960. Nhóm cuối (1951–giữa 1959) có góc vuông của các hành tinh này (Hải Vương Tinh ở Thiên Bình, Thiên Vương Tinh ở Cự Giải cho đến 1955; rồi Hải Vương Tinh ở Hổ Cáp, Thiên Vương Tinh ở Sư Tử cho đến 1959 khi chúng ra khỏi độ lệch của mối liên hệ hình học và hoàng đạo khá gây căng thẳng này). Tác động của phần đầu nhóm này khá nổi bật vào cuối thập niên sáu mươi và đầu thập niên bảy mươi, trong khi nửa sau đang rất hoạt động ở hiện tại (giữa thập niên 1970).

There are a great many differences among these subgroups as far as the forms which their energy takes, but there are several factors in addition to the Uranus-Neptune aspects which unite them. From an astrological standpoint, Pluto was in the same sign (Leo) in practically all births from late 1937 until the middle of 1958. In addition to this placement, it was also in aspect with Uranus in virtually all births from May 1942 to July 1945 and from December 1945 to March 1946. Pluto was configured (by sextile—a 60° angle) with Neptune in all births beginning from January 1944 to February 1945 and from November 1945 through 1959. (It stays in this sextile relationship until 1986.) Now from a sociological standpoint there are several themes which seem to be constant among the aforementioned generations: hair; music; getting “high”; rebellion against existent sexual and religious mores and beliefs; decreasing national isolationism and increased global-political consciousness; liberation of oppressed groups through social revolutions; desire for freedom of movement and its increased availability; and the attempt at the creation of alternative life-styles.

Có rất nhiều khác biệt giữa các phân nhóm này về các hình thức mà năng lượng của họ mang lấy, nhưng có một số yếu tố, ngoài các góc hợp Thiên Vương Tinh–Hải Vương Tinh, liên kết họ lại. Xét theo chiêm tinh, Diêm Vương Tinh ở cùng một dấu hiệu (Sư Tử) trong hầu như mọi ca sinh từ cuối 1937 đến giữa 1958. Ngoài vị trí này, nó còn tạo góc hợp với Thiên Vương Tinh trong hầu như mọi ca sinh từ tháng 5 năm 1942 đến tháng 7 năm 1945 và từ tháng 12 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946. Diêm Vương Tinh được cấu hình (bằng lục hợp—góc 60°) với Hải Vương Tinh trong mọi ca sinh từ tháng 1 năm 1944 đến tháng 2 năm 1945 và từ tháng 11 năm 1945 cho đến 1959. (Nó duy trì mối liên hệ lục hợp này cho đến 1986.) Nay xét theo xã hội học, có một số chủ đề dường như hằng định giữa các thế hệ vừa nêu: tóc; âm nhạc; “phê”; nổi loạn chống lại các chuẩn mực và niềm tin tình dục và tôn giáo hiện hữu; giảm chủ nghĩa biệt lập quốc gia và tăng tâm thức chính trị toàn cầu; giải phóng các nhóm bị áp bức qua các cuộc cách mạng xã hội; khát vọng tự do di chuyển và sự gia tăng khả năng đáp ứng nó; và nỗ lực tạo ra các lối sống thay thế.

Now let’s synthesize the above-mentioned information so that we may be in a position to relate these communal themes to the positions of Uranus, Neptune, and Pluto. We will then see how the past 20 years have progressed Man very rapidly out of the Piscean Age and into a much more Aquarian Age-oriented consciousness. Finally we shall come to the energy crises of the mid-1970s—a period which will reorient the world in preparation for the greater changes yet to come.

Giờ đây hãy tổng hợp các thông tin vừa nêu để chúng ta có thể liên hệ các chủ đề cộng đồng này với các vị trí của Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh. Khi đó chúng ta sẽ thấy 20 năm qua đã đẩy Con Người rất nhanh ra khỏi Thời đại Song Ngư và vào một tâm thức định hướng Thời đại Bảo Bình nhiều hơn như thế nào. Cuối cùng, chúng ta sẽ đi đến các cuộc khủng hoảng năng lượng giữa thập niên 1970—một giai đoạn sẽ tái định hướng thế giới để chuẩn bị cho những biến đổi lớn hơn nữa sẽ đến.

Youth is always the source of new energies which rejuvenate an entire society. Thus the fads, ideas, and innovations of each new generation reaching legal maturity make a loud BANG (metabolism notwithstanding) before being gradually absorbed into the mainstream of life and modifying society accordingly.

Tuổi trẻ luôn là nguồn năng lượng mới làm trẻ hóa toàn bộ một xã hội. Vì vậy, các mốt, ý tưởng và đổi mới của mỗi thế hệ mới đạt tuổi trưởng thành pháp lý tạo ra một tiếng BÙM lớn (bất chấp chuyển hóa) trước khi dần dần được hấp thụ vào dòng chính của đời sống và điều chỉnh xã hội theo đó.

Uranus is called the bohemian of the solar system because its vibrations demand freedom of behavior on the personal level and the liberation of thought and movement from authoritarian control. In addition, as we have seen, it is also very concerned with electricity and the mass media. Neptune is a planet whose rays evoke creativity as a result of emotional impulse. While Uranus helps to unite people through shared ideas and “causes,” Neptune joins people together through shared feelings. Music and drugs (including alcohol) fall under Neptune’s rays and the communal sharing of these experiences has brought thousands of individuals together in a common bond of experience. The act of taking drugs is, in part, a feature of Uranian daring and rebelliousness. It also signifies the need of the Uranus-Neptune generation, as we shall call it, to communicate with the otherworldly in order to reach beyond the limits of Saturn’s rings and to probe the inner space of consciousness.

Thiên Vương Tinh được gọi là kẻ bohemian của hệ Mặt Trời vì các rung động của nó đòi hỏi tự do hành vi ở cấp độ cá nhân và sự giải phóng tư tưởng và chuyển động khỏi sự kiểm soát độc đoán. Hơn nữa, như chúng ta đã thấy, nó cũng rất liên quan đến điện lực và truyền thông đại chúng. Hải Vương Tinh là một hành tinh mà các tia của nó khơi dậy tính sáng tạo như một kết quả của xung lực cảm xúc. Trong khi Thiên Vương Tinh giúp hợp nhất con người qua các ý tưởng và “lý tưởng chung,” Hải Vương Tinh gắn kết con người qua các cảm xúc chung. Âm nhạc và ma túy (kể cả rượu) thuộc các tia của Hải Vương Tinh, và việc cùng nhau chia sẻ các trải nghiệm này đã đưa hàng nghìn cá nhân lại với nhau trong một mối dây chung của trải nghiệm. Hành vi dùng ma túy, một phần, là một đặc trưng của sự liều lĩnh và tính nổi loạn kiểu Thiên Vương Tinh. Nó cũng biểu thị nhu cầu của thế hệ Thiên Vương Tinh–Hải Vương Tinh, như chúng ta sẽ gọi, muốn giao tiếp với cõi khác để vươn vượt các giới hạn của các vành Thổ Tinh và thăm dò không gian nội tâm của tâm thức.

Neptune also inspires the creation of hair styles, becoming a very important symbol for the Age change since this planet rules both mineral and skin oils as well as all forms of cosmetics and “image” enhancers. As the distinguishing mark of the fifties, it was the greasy “rocker”; in the sixties, the beclouded “head”; and in the seventies, the myriads of electric “freaks.”

Hải Vương Tinh cũng truyền cảm hứng cho việc tạo ra các kiểu tóc, trở thành một biểu tượng rất quan trọng cho sự đổi Thời đại vì hành tinh này cai quản cả dầu khoáng và dầu da cũng như mọi hình thức mỹ phẩm và các chất “tăng cường hình ảnh.” Là dấu ấn phân biệt của thập niên năm mươi, đó là “rocker” bóng nhẫy; trong thập niên sáu mươi, là cái đầu “mù mịt”; và trong thập niên bảy mươi, là vô số “quái nhân” điện khí.

Uranus provides the need to be different from the previous order yet there is an equally strong need to identify with a particular group which shares these differences—one can’t have a revolution without revolutionaries. But the taste in music, drugs, and hair has changed with the various groups of these Uranus-Neptune generations. Beer and alcohol were the vehicles of the “outer limits” for the vast majority of McCar-thy-Eisenhower youths. Their music, style, and scene was “rock” and the look was “tough.” Most of these kids had been born when Uranus and Neptune were still in the earthy signs and, therefore, they stayed pretty down to earth in their thoughts and actions. The “beats” of the fifties were certainly the precursors of the “flower people” a decade later, but in numbers the beret-wearing, pot-smoking, poetry-writing, jazz-playing “unwashed” of 1955 were completely overwhelmed by the sheer size (and energy) of the “Woodstock Nation.” As for the political consciousness of the fifties (and we are speaking about mass trends, not individuals), gays were still in the closet, women in the kitchen, blacks in the ghettos, and students in the schools (except when they were drafted for the Korean War).

Thiên Vương Tinh tạo ra nhu cầu phải khác với trật tự trước đó, nhưng đồng thời cũng có một nhu cầu mạnh mẽ không kém là đồng nhất với một nhóm cụ thể cùng chia sẻ những khác biệt ấy—không thể có cách mạng nếu không có những người cách mạng. Nhưng gu âm nhạc, ma túy và tóc đã thay đổi theo các nhóm khác nhau của các thế hệ Thiên Vương Tinh–Hải Vương Tinh này. Bia và rượu là phương tiện của “vượt giới hạn” đối với đại đa số thanh niên thời McCarthy–Eisenhower. Âm nhạc, phong cách và “khung cảnh” của họ là “rock,” và diện mạo là “ngầu.” Phần lớn những đứa trẻ này sinh ra khi Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh vẫn còn ở các dấu hiệu hành thổ, và vì vậy, họ vẫn khá thực tế trong suy nghĩ và hành động. Những “beats” của thập niên năm mươi chắc chắn là những người mở đường cho “flower people” một thập niên sau, nhưng về số lượng, những kẻ đội mũ nồi, hút cần, viết thơ, chơi jazz, “không tắm” của năm 1955 hoàn toàn bị áp đảo bởi quy mô khổng lồ (và năng lượng) của “Woodstock Nation.” Còn về tâm thức chính trị của thập niên năm mươi (và chúng ta đang nói về các xu hướng đại chúng, không phải cá nhân), người đồng tính vẫn còn trong tủ, phụ nữ trong bếp, người da đen trong khu ổ chuột, và sinh viên trong trường (trừ khi họ bị gọi nhập ngũ cho Chiến tranh Triều Tiên).

By the time we reached 1964, the middle group of the Uranus-Nep-tune generation (1942–47) had come into prominence. The reader will recall that this segment of the population was born when these two planets were in airy signs. The change from the practical focus of earth to the ideology and communicativeness of air is of the utmost importance. During the sixties the need to break out of existing social forms and structures was truly pronounced. There was not only a need for exploration of alternatives to the form of earthly life, but the sixties would also see the rise of an interest in astrology and the occult, yoga and meditation, mysticism and religion. 1964 saw the rise of the Beatles and the many musical groups which followed, as well as the major influence of Timothy Leary and the psychedelic revolution. The culmination of this movement toward “flower power” exploded in San Francisco during the summers of 1966 and 1967, in New York with the many Be-ins of 1968, and finally, in 1969, in Woodstock.

Đến năm 1964, nhóm giữa của thế hệ Thiên Vương Tinh–Hải Vương Tinh (1942–47) đã trở nên nổi bật. Bạn đọc sẽ nhớ rằng phân đoạn dân số này sinh ra khi hai hành tinh ấy ở các dấu hiệu hành khí. Sự chuyển từ trọng tâm thực dụng của hành thổ sang hệ tư tưởng và tính giao tiếp của hành khí là điều cực kỳ quan trọng. Trong thập niên sáu mươi, nhu cầu phá vỡ các hình thức và cấu trúc xã hội hiện hữu thật sự rõ rệt. Không chỉ có nhu cầu thăm dò các lựa chọn thay thế cho hình thức đời sống trần thế, mà thập niên sáu mươi còn chứng kiến sự trỗi dậy của mối quan tâm đến chiêm tinh học và huyền môn, yoga và tham thiền, huyền nhiệm và tôn giáo. Năm 1964 chứng kiến sự nổi lên của Beatles và nhiều nhóm nhạc tiếp theo, cũng như ảnh hưởng lớn của Timothy Leary và cuộc cách mạng ảo giác. Đỉnh điểm của phong trào hướng đến “flower power” bùng nổ ở San Francisco trong các mùa hè 1966 và 1967, ở New York với nhiều Be-ins của 1968, và cuối cùng, năm 1969, ở Woodstock.

The music was now called, naturally, psychedelic rock and everyone rushed out into the streets. Hair was everywhere. The middle sixties saw the rise of the communes and the attempt to radically alter lifestyles.

Âm nhạc giờ đây được gọi, một cách tự nhiên, là psychedelic rock và mọi người đổ ra đường. Tóc ở khắp nơi. Giữa thập niên sáu mươi chứng kiến sự trỗi dậy của các cộng đồng và nỗ lực thay đổi lối sống một cách triệt để.

The word “radical” brings us to the late sixties and early seventies. This was the period when the most active voices were those of the people born in the first part of the third group (1951–55), when Uranus and Neptune changed their relationship from a trine to a square (90° of arc). The trine signifies flowing motion and ease, while the square brings about tension and the need to act. The period 1968–1972, then, saw the Democratic Convention in Chicago, Kent State, Watts, student violence and strikes, bombings, intense antiwar confrontations, etc. LSD and flowers faded out, while political activists and women’s, gay, black, and in general people’s lib came in. The “in” drugs became heroin and “downers.”

Từ “triệt để” đưa chúng ta đến cuối thập niên sáu mươi và đầu thập niên bảy mươi. Đây là giai đoạn mà những tiếng nói hoạt động nhất là của những người sinh trong phần đầu của nhóm thứ ba (1951–55), khi Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh đổi mối liên hệ từ tam hợp sang vuông (90°). Tam hợp biểu thị chuyển động trôi chảy và dễ dàng, còn vuông tạo ra căng thẳng và nhu cầu hành động. Vì vậy, giai đoạn 1968–1972 chứng kiến Đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago, Kent State, Watts, bạo lực và đình công của sinh viên, đánh bom, đối đầu chống chiến tranh dữ dội, v.v. LSD và hoa tàn lụi, trong khi các nhà hoạt động chính trị và phong trào giải phóng phụ nữ, đồng tính, người da đen, và nói chung là giải phóng con người trỗi dậy. Ma túy “thịnh hành” trở thành heroin và các chất “downers.”

When we reached 1972, the second half of the third group (those born between 1955 and 1959) began to exert their influence. In this period Uranus and Neptune were still in square but had changed signs from Cancer and Libra to Leo and Scorpio. This combination of influences transformed the hippie to the freak. Both Leo and Scorpio are very involved with costumes and sex, and both signs have an inner sense of the dramatic and are quite eager to control those in their environment. When we add this to what we already know about Uranus and Neptune, we can readily see how the “look” has become increasingly unisexual, “trashy-elegant,” and much more fashionconscious than any self-respecting hippie, yippie, beat, or rocker could ever conceive of in their Nehru jacket, denim jacket, corduroy jacket, or leather jacket, respectively! The “glitter freak’s” jacket might consist of a combination of fur and judiciously placed body tatoos! The popular drugs: the fashionably expensive cocaine and the aphrodisiac Quaaludes.

Khi chúng ta đến năm 1972, nửa sau của nhóm thứ ba (những người sinh từ 1955 đến 1959) bắt đầu tạo ảnh hưởng. Trong giai đoạn này, Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh vẫn còn vuông, nhưng đã đổi dấu hiệu từ Cự Giải và Thiên Bình sang Sư Tử và Hổ Cáp. Sự kết hợp các ảnh hưởng này biến hippie thành freak. Cả Sư Tử lẫn Hổ Cáp đều rất liên quan đến trang phục và tình dục, và cả hai dấu hiệu đều có một cảm quan nội tâm về tính kịch tính và khá háo hức kiểm soát những người trong môi trường của mình. Khi cộng điều này với những gì chúng ta đã biết về Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh, chúng ta có thể dễ dàng thấy “diện mạo” đã trở nên ngày càng phi giới tính, “trashy-elegant,” và ý thức thời trang hơn nhiều so với bất kỳ hippie, yippie, beat, hay rocker nào còn tự trọng có thể từng hình dung trong áo khoác Nehru, áo khoác denim, áo khoác corduroy, hay áo khoác da của họ, tương ứng! Áo khoác của “glitter freak” có thể là một sự kết hợp giữa lông thú và những hình xăm cơ thể được đặt đúng chỗ! Ma túy phổ biến: cocaine đắt đỏ hợp mốt và Quaaludes kích dục.

The vibrations of Uranus, Neptune, and Pluto have taken us so far out, have uncovered so much of what has been suppressed, have used up so much of what was thought to be an unlimited supply of both natural and human energy that it’s now time for a slowing down and a synthesis. Thus, those necessary alterations in the structure of our civilizations may be made for the coming new Age.

Các rung động của Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh đã đưa chúng ta đi xa đến thế, đã phơi mở quá nhiều điều bị dồn nén, đã tiêu hao quá nhiều thứ từng được nghĩ là nguồn cung vô hạn của cả năng lượng tự nhiên lẫn năng lượng con người, đến mức giờ đây đã đến lúc phải chậm lại và tổng hợp. Vì vậy, những biến đổi cần thiết trong cấu trúc các nền văn minh của chúng ta có thể được thực hiện cho Thời đại Mới sắp đến.

THE AQUARIUS-LEO AGE—THỜI ĐẠI BẢO BÌNH–SƯ TỬ

As the supply of Piscean Age oil is depleted or made economically unfeasible, a tremendous search for new energy sources will be undertaken. The polarity of Aquarius is Leo, and the sign of the Lion is ruled by the Sun. Solar energy will therefore be extensively utilized during the next 2000 years. Aquarian Age technology will develop the machines which will be able to channel the solar force into viable outlets. The nature and scope of atomic energy were just touched upon when Pluto was in Leo. Research into the further uses of atomic energy will certainly take place as Uranus passes through Pluto’s sign, Scorpio (1975–82); and a most decisive turn of events in terms of atomic physics should eventuate from Pluto’s passage through this, its own sign (1984–95).

Khi nguồn dầu của Thời đại Song Ngư cạn kiệt hoặc trở nên không khả thi về mặt kinh tế, một cuộc truy tìm khổng lồ cho các nguồn năng lượng mới sẽ được tiến hành. Dấu hiệu đối cực của Bảo Bình là Sư Tử, và dấu hiệu Sư Tử do Mặt Trời cai quản. Vì vậy, năng lượng mặt trời sẽ được sử dụng rộng rãi trong 2000 năm tới. Công nghệ Thời đại Bảo Bình sẽ phát triển các cỗ máy có thể dẫn truyền lực mặt trời vào những đầu ra khả thi. Bản chất và phạm vi của năng lượng nguyên tử chỉ mới được chạm đến khi Diêm Vương Tinh ở Sư Tử. Việc nghiên cứu các ứng dụng sâu hơn của năng lượng nguyên tử chắc chắn sẽ diễn ra khi Thiên Vương Tinh đi qua dấu hiệu của Diêm Vương Tinh, Hổ Cáp (1975–82); và một bước ngoặt hết sức quyết định xét theo vật lý nguyên tử hẳn sẽ phát sinh từ việc Diêm Vương Tinh đi qua dấu hiệu của chính nó (1984–95).

In a television interview given in February 1974, former Interior Secretary Stewart Udall referred to the energy crisis as “humanitarian.” The astrology student will, of course, note that Mr. Udall’s description utilizes the key word for Aquarius, and although the writer doesn’t feel that Mr. Udall used this term from the astrological point of view, it is a very apt phrase nevertheless. The need to learn how to share and distribute the Earth’s available resources more equitably among the masses of people is a definite feature of the coming Age. In addition, we should begin to see a change in the architecture of buildings, which will tend to be smaller and more human in scale. With the increase in population, more efficient systems of mass transportation will be developed, featuring an increase in the use of passenger trains and buses. We are already seeing the rapid phasing out of large, gas-eating automobiles, replaced by more compact cars.

Trong một cuộc phỏng vấn truyền hình vào tháng 2 năm 1974, cựu Bộ trưởng Nội vụ Stewart Udall đã gọi cuộc khủng hoảng năng lượng là “nhân đạo.” Học viên chiêm tinh, dĩ nhiên, sẽ lưu ý rằng mô tả của ông Udall sử dụng từ khóa của Bảo Bình, và mặc dù người viết không nghĩ rằng ông Udall dùng thuật ngữ này theo quan điểm chiêm tinh, đó vẫn là một cụm từ rất đắc địa. Nhu cầu học cách chia sẻ và phân phối các nguồn lực sẵn có của Trái Đất một cách công bằng hơn giữa quần chúng là một đặc trưng rõ rệt của Thời đại sắp đến. Hơn nữa, chúng ta nên bắt đầu thấy một sự thay đổi trong kiến trúc các tòa nhà, vốn sẽ có xu hướng nhỏ hơn và mang tỷ lệ nhân bản hơn. Với sự gia tăng dân số, các hệ thống vận tải công cộng hiệu quả hơn sẽ được phát triển, nổi bật là sự gia tăng sử dụng tàu hỏa chở khách và xe buýt. Chúng ta đã đang thấy việc loại bỏ nhanh chóng các xe hơi lớn ngốn xăng, được thay thế bằng các xe nhỏ gọn hơn.

The Aquarian Age promises to be one of great scientific progress and the focus of much of this work will be based on a reorientation of physics as new types of energy are discovered.

Thời đại Bảo Bình hứa hẹn sẽ là một thời kỳ tiến bộ khoa học lớn lao, và trọng tâm của phần lớn công trình này sẽ dựa trên một sự tái định hướng của vật lý học khi các loại năng lượng mới được phát hiện.

In spite of the utopian visions which this writer shared with millions of his peers in the 1960s, the Age of Aquarius will not be dominated by a suddenly transcended, spiritually oriented, love-sharing world population. Mankind has yet to work out the natural animal aggression which is so much a part of its nature. In the Age of Aries, person-to-person, ego-to-ego combat was popularized. The Age of Pisces featured the emotionally charged religious wars. The Age of Aquarius can expect to be dominated by ideological conflicts. One doesn’t have to be a student of astrology or the occult to see this process at work.

Bất chấp những linh ảnh không tưởng mà người viết đã chia sẻ với hàng triệu bạn đồng trang lứa trong thập niên 1960, Thời đại Bảo Bình sẽ không bị chi phối bởi một dân số thế giới đột nhiên siêu việt, định hướng tinh thần, và chia sẻ tình yêu. Nhân loại vẫn còn phải giải quyết tính hung hăng tự nhiên của loài vật vốn là một phần rất lớn trong bản tính của nó. Trong Thời đại Bạch Dương, chiến đấu người–với–người, cái tôi–với–cái tôi được phổ biến. Thời đại Song Ngư nổi bật với các cuộc chiến tôn giáo đầy xung lực cảm xúc. Thời đại Bảo Bình có thể dự kiến sẽ bị chi phối bởi các xung đột hệ tư tưởng. Người ta không cần là học viên chiêm tinh hay huyền môn để thấy tiến trình này đang vận hành.

The road to peace is a long one. Before a universal tranquillity or anything approaching this state can be projected onto the outward reality, it must first be found inwardly. This peace-finding mission can take at least a lifetime to accomplish within oneself. For all humanity to reach the inner understanding which leads to perfect cooperation, many lifetimes, many Ages, many Great Years, will still have to pass. But we are entering a turning point in the evolution of human consciousness. At least we are quickly realizing the interdependence of one nation upon the other, of one individual upon the next. This is very important.

Con đường đến hòa bình là một con đường dài. Trước khi một sự an tĩnh phổ quát, hay bất cứ điều gì gần với trạng thái ấy, có thể được phóng chiếu lên thực tại bên ngoài, nó trước hết phải được tìm thấy ở bên trong. Sứ mệnh tìm hòa bình này có thể mất ít nhất một đời người để hoàn thành trong chính mình. Để toàn thể nhân loại đạt đến sự thấu hiểu nội tâm dẫn đến hợp tác hoàn hảo, vẫn còn phải trôi qua nhiều kiếp sống, nhiều Thời đại, nhiều Đại Niên, nữa. Nhưng chúng ta đang bước vào một điểm ngoặt trong tiến hóa của tâm thức nhân loại. Ít nhất, chúng ta đang nhanh chóng nhận ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa quốc gia này với quốc gia kia, giữa cá nhân này với cá nhân kế tiếp. Điều này rất quan trọng.

Self-consciousness is a priority for the Aquarian Age man and woman. The greater the awareness of self, the greater the consciousness of the potential energies available to a human being, the greater the possibility for evolutionary advancement. Those in power both in governmental and scientific spheres will have to undergo the most profound changes in their individual orientations so that they may be able to deal with the increasingly complex situations which are to arise. The power which is soon to be released in the form of new energy sources must be properly channeled and grounded if it is to be beneficial to humanity. The reorientation in the use and concept of energy currently taking place is conditioning Man and the developing consciousness of the Aquarian Age global community, which gradually will come to inhabit our planet.

Tự ý thức là ưu tiên của người nam và người nữ Thời đại Bảo Bình. Ý thức về bản thân càng lớn, tâm thức về các năng lượng tiềm tàng sẵn có cho một con người càng lớn, thì khả năng tiến bộ tiến hóa càng lớn. Những người nắm quyền, cả trong lĩnh vực chính quyền lẫn khoa học, sẽ phải trải qua những biến đổi sâu sắc nhất trong định hướng cá nhân của họ để có thể xử lý những tình huống ngày càng phức tạp sẽ phát sinh. Quyền năng sắp được phóng thích dưới dạng các nguồn năng lượng mới phải được dẫn truyền và neo đất đúng đắn nếu nó muốn mang lợi ích cho nhân loại. Sự tái định hướng trong việc sử dụng và khái niệm về năng lượng đang diễn ra hiện nay đang điều kiện hóa Con Người và tâm thức đang phát triển của cộng đồng toàn cầu Thời đại Bảo Bình, cộng đồng sẽ dần dần đến cư trú trên hành tinh của chúng ta.

1_841Emperor Hirohito was made to publicly renounce his divinity as part of the terms of surrender when Japan lost the war. This factor has had tremendous repercussions upon the collective consciousness of the Japanese people and represents a great turning point in the evolution of that nation.

Hoàng đế Hirohito đã bị buộc phải công khai từ bỏ tính thần thánh của mình như một phần của các điều khoản đầu hàng khi Nhật Bản thua trận. Yếu tố này đã tạo ra những hệ quả to lớn lên tâm thức tập thể của người Nhật và biểu thị một điểm ngoặt lớn trong tiến hóa của quốc gia đó.

2_702All types of communications prefixed by the syllable “tele” are ruled by Uranus. “Tele” comes from the Greek telos, meaning “from a distance, afar.” Thus telescope = seeing from afar; telegraph = writing from afar; telephone = hearing from a distance; telepathy = feeling (pathos) from afar; television = seeing (from the Latin root videre) from afar.

Mọi loại truyền thông có tiền tố “tele” đều do Thiên Vương Tinh cai quản. “Tele” đến từ tiếng Hy Lạp telos, nghĩa là “từ xa, ở xa.” Vì vậy telescope = nhìn từ xa; telegraph = viết từ xa; telephone = nghe từ xa; telepathy = cảm (pathos) từ xa; television = nhìn (từ gốc Latin videre) từ xa.

Leave a Comment

Scroll to Top