Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S1 Part II (1083—1087)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S1 Part II (TCF – 1083—1087)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc Bản Bình Giải này kèm theo sách TCF trong tay, để bảo đảm tính liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn sẽ được chia nhỏ, và bản trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn. Vì vậy hãy đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu Bản Bình Giải

IV.  THE TURNING OF THE WHEEL 12

IV. SỰ XOAY CỦA BÁNH XE  12

Footnote:

Chú thích:

Man must understand the nature of the wheel in which he is turned, called in Sanskrit the wheel of Samsara.

Con người phải thấu hiểu bản chất của bánh xe trong đó y bị quay, gọi theo tiếng Phạn là bánh xe Samsara.

1. This is the wheel which turns through the World of Illusion, bringing successive rebirths.

1. Đây là bánh xe xoay qua Thế giới Ảo tưởng, mang lại những lần tái sinh kế tiếp nhau.

This latter word derived from the root Sru, to move, indicates a motion wheel or the great wheel of changing life in which the human entities have been called upon to work

Từ sau cùng này, dẫn xuất từ căn “Sru”, nghĩa là chuyển động, chỉ một bánh xe chuyển động hay đại luân của đời sống biến dịch, trong đó các thực thể nhân loại được kêu gọi để làm việc

2. The operative word is “work”. This is the world which functions under the aegis of Saturn, Lord of the lower worlds and especially of the systemic physical plane.

2. Từ khóa là “làm việc”. Đây là thế giới vận hành dưới quyền của Thổ Tinh, Chúa Tể của các cõi thấp và đặc biệt của cõi hồng trần hệ thống.

and which must never be abandoned out of compassion for man and in obedience to the law of oneness which connects the many, in the opinion of all true yogees and Sri Krishna.

và thế giới này không bao giờ được từ bỏ vì lòng bi mẫn đối với con người và vì vâng theo định luật nhất thể vốn kết nối muôn nhiều, theo quan điểm của tất cả những vị chân tu và Sri Krishna.

3. According to the Pledge of the Bodhisattva, one will return to this lower world voluntarily for the sake of the salvation of all sentient beings.

3. Theo Lời Nguyện của Bồ Tát, người ta sẽ tự nguyện trở lại thế giới thấp này vì sự cứu độ của mọi hữu tình.

4. Even though, after a certain point of development, we need not return, we do so because we feel ourselves at one with all those who have not liberated themselves from the wheel.

4. Dẫu rằng, sau một mức phát triển nào đó, chúng ta không cần  trở lại nữa, chúng ta vẫn làm như vậy vì chúng ta cảm mình là một với tất cả những ai chưa giải thoát khỏi bánh xe.

The Teacher gives the nature of the samsaric wheel in a certain peculiar way which deserves to be thought over by you all.  He says “all bhootas spring up from food and food from Parjanya or rain.  Rain comes out of yagna and yagna out of Karma.

Huấn sư trình bày bản chất của bánh xe luân hồi theo một cách đặc biệt đáng để tất cả các bạn suy tư. Ngài nói “mọi bhoota phát sinh từ thực phẩm và thực phẩm từ Parjanya hay mưa. Mưa sinh ra từ yagna và yagna từ Karma.

5. The chain of causation is as follows:

5. Dây chuyền nhân duyên như sau:

a. From food, bhootas

a. Từ thực phẩm, bhootas

b. From Parjanya or rain, food

b. Từ Parjanya hay mưa, thực phẩm

c. From yagna, rain

c. Từ yagna, mưa

d. From Karma, yagna (a ritual of sacrifice)

d. Từ Karma, yagna (một nghi lễ hiến tế)

e. From the Veda, Karma

e. Từ Veda, Karma

f. From the Eternal, Karma

f. Từ Đấng Vĩnh Cửu, Karma

6. The seven involved are: bhootas, food, rain, yagna, Karma, Veda, the Eternal

6. Bảy điều liên hệ là: bhootas, thực phẩm, mưa, yagna, Karma, Veda, Đấng Vĩnh Cửu

Karma is out of the Veda and Veda is of the Eternal.”  Here you see a Septenary gamut is given with the bhoota (or manifested form) at one end and the eternal substance unmanifested to us at the other end.

Karma phát xuất từ Veda và Veda thuộc về Đấng Vĩnh Cửu.” Ở đây các bạn thấy một cung bậc Thất phân được nêu ra với bhoota (hay hình tướng biểu lộ) ở một đầu và bản thể vĩnh cửu vô biểu đối với chúng ta ở đầu kia.

7. Spirit is matter and matter is Spirit.

7. Tinh thần là vật chất và vật chất là Tinh thần.

If we divide this seven according to the theosophical plane of a lower four dominated over by a higher triad, we get form, food, rain and yagna as the lower four and karma, Veda and eternal substance as the higher triad.

Nếu chúng ta phân đôi bảy điều này theo mặt bằng Thông Thiên Học về một bộ bốn thấp được thống ngự bởi một tam nguyên cao, chúng ta có hình tướng, thực phẩm, mưa và yagna là bốn thấp và karma, Veda và bản thể vĩnh cửu là tam nguyên cao.

8. We note that “Veda” finds its place correlated with the second aspect. It is the great “Teaching”

8. Chúng ta ghi nhận rằng “Veda” được tương liên với Phương diện thứ hai. Đó là “Giáo Pháp” vĩ đại

The eternal substance that pervades all space, worked on by the world song and giving rise to all the laws of karma that govern the development of the world, develops a lower four and this four is started by yagna—the spirit of evolution that connects the higher and lower or in Puranic fashion, the spirit that seeks to add to the harmony of the unmanifested by giving it a field of disharmony to work upon and establish its own greatness.

Bản thể vĩnh cửu thấm nhuần khắp không gian, được vận tác bởi khúc ca thế giới và sinh ra mọi định luật của nghiệp quả vốn cai quản sự phát triển của thế giới, triển khai một bộ bốn thấp và bộ bốn này được khởi động bởi yagna— tinh thần của tiến hóa nối kết cao và thấp, hay nói theo Puranas, tinh thần mưu cầu gia tăng hòa điệu của cái vô biểu bằng cách ban cho nó một trường bất hòa để vận dụng và thiết lập sự vĩ đại của chính nó.

9. This philosophical explanation is very interesting. Yagna finds itself in the fourth place and thus correlates with the fourth ray and possesses a linking function. Yagna is defined here as “the spirit of evolution”.

9. Lời giải thích triết học này rất thú vị. Yagna ở vị trí thứ tư và do đó tương ứng với cung bốn và sở hữu chức năng liên kết. Ở đây yagna được định nghĩa là “tinh thần của tiến hóa”.

This spirit of yagna in its way to produce the manifested form gives rise to the Parjanya or rain.  The word Parjanya is applied to rain and often times to a spirit whose function is to produce rain.

Tinh thần của yagna trên lộ trình tạo ra hình tướng biểu hiện đã sinh ra Parjanya hay mưa. Từ Parjanya được dùng chỉ mưa và nhiều khi chỉ một vị thần có chức năng tạo mưa.

10. We can interpret this as signifying that the “spirit of evolution” working upon the inharmoniously related substance results in a precipitation symbolized by “rain”.

10. Chúng ta có thể diễn giải điều này như biểu thị rằng “tinh thần tiến hóa” khi tác động lên bản thể tương quan bất hòa sẽ dẫn đến một sự ngưng kết được biểu trưng bằng “mưa”.

—Some Thoughts on the Gita, p. 127.

—Some Thoughts on the Gita, tr. 127.

We come now to the consideration of another point, and one of very real moment; it emerges out of what we have been saying anent cycles and is the basis of all periodic phenomena.

Giờ đây chúng ta đến với việc khảo xét một điểm khác, và là điểm rất hệ trọng; nó trồi lên từ những gì chúng ta vừa nói về các chu kỳ và là nền tảng của mọi hiện tượng tuần hoàn.

One of the most elementary of scientific truths is that the earth revolves upon its axis, and that it travels around the sun. 

Một trong những chân lý khoa học sơ đẳng nhất là trái đất tự quay quanh trục của nó, và nó chuyển động quanh mặt trời.

11. In the modern world, it took a long time to establish this reality.

11. Trong thế giới hiện đại, phải mất rất lâu để xác lập hiện thực này.

One of the truths less recognised, yet withal of equal importance,

Một trong những chân lý ít được thừa nhận, nhưng vẫn có tầm quan trọng ngang bằng,

12. This, from the Tibetan’s greatly expanded perspective…

12. Điều này, xét từ nhãn quan cực kỳ mở rộng của Chân sư Tây Tạng…

is that the entire solar system equally revolves upon its axis but in a cycle so vast as to be beyond the powers of ordinary man to comprehend, and which necessitates mathematical formulae [1084] of great intricacy. 

là toàn bộ hệ mặt trời cũng tự quay quanh trục của nó nhưng trong một chu kỳ rộng lớn đến mức vượt ngoài khả năng của người thường để lĩnh hội, và điều đó đòi hỏi những công thức toán học [1084] cực kỳ tinh vi.

13. Not just one formula but many…

13. Không chỉ một công thức mà là nhiều công thức…

14. Technically, the phrase should be “rotates upon its axis”. We are not speaking of the rotation of the Sun upon its axis—a motion which takes 25.38 Earth days at the solar equator, and about 27 days if sunspots are used as the reference points.

14. Về mặt kỹ thuật, cụm từ nên là “tự quay quanh trục”. Chúng ta không nói về sự quay của Mặt Trời quanh trục của nó—một chuyển động mất 25,38 ngày Trái Đất tại xích đạo Thái Dương, và khoảng 27 ngày nếu dùng các vết đen Mặt Trời làm mốc tham chiếu.

15. From the Wikipedia we read:

15. Theo Wikipedia, chúng ta đọc thấy:

There is no fixed rate of rotation of the Sun (Solar), on its own axis. However, at the equator, the Sun’s rotation period is 25.38 days. This slows considerably as latitude increases.

Không có tốc độ quay cố định của Mặt Trời trên trục của nó. Tuy nhiên, tại xích đạo, chu kỳ quay của Mặt Trời là 25,38 ngày. Tốc độ này giảm đáng kể khi vĩ độ tăng.

The orbital path of the solar system in the heavens around its cosmic centre is now being sensed,

Quỹ đạo của hệ mặt trời trên thiên không quanh trung tâm vũ trụ của nó hiện đang được cảm nhận,

16. In this case the term “solar system” (probably, but not exclusively) means precisely our one-Sun solar system.

16. Trong trường hợp này thuật ngữ “hệ mặt trời” (có lẽ, nhưng không chỉ) nghĩa là chính hệ mặt trời một Mặt Trời của chúng ta.

17. We have to be careful with the term “solar system” as any system of stars (thus a constellation) can be considered a ‘solar system’. In this manner the term “solar system” can be used for occult blinding.

17. Chúng ta phải cẩn trọng với thuật ngữ “hệ mặt trời” vì bất kỳ hệ thống các sao nào (như vậy, một chòm sao) đều có thể được xem là một ‘hệ mặt trời’. Theo cách này thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể được dùng như một sự che mờ huyền bí.

18. We must also ask “By whom is this orbital path being sensed?”—apparently there are few astronomers who think of this type of revolution as possible.

18. Chúng ta cũng phải hỏi “Bởi ai mà quỹ đạo này đang được cảm nhận?”—rõ ràng có rất ít nhà thiên văn cho rằng kiểu chuyển động cách mạng như vậy là khả hữu.

and the general drift also of our constellation is being taken into consideration as a welcome hypothesis.

và độ trôi tổng quát của chòm sao của chúng ta cũng đang được xem xét như một giả thuyết đáng hoan nghênh.

19. In this case we have no assurance that the term “constellation” means our one-Sun solar system. It may or it may not. The term “our constellation” could also mean the stars of the Constellational Logos of which our one-Sun solar system is hypothetically a part. This Constellational Logos has been hypothesized as the Lord of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”—a cosmic structure which DK mentions with some frequency.

19. Trong trường hợp này chúng ta không có bảo chứng  rằng thuật ngữ “chòm sao” có nghĩa là hệ mặt trời một Mặt Trời của chúng ta. Có thể  đúng hoặc không. Thuật ngữ “chòm sao của chúng ta” cũng có thể chỉ các ngôi sao của một Thượng đế Chòm sao mà hệ mặt trời một Mặt Trời của chúng ta được giả định là một bộ phận. Vị Thượng đế Chòm sao này đã được giả thuyết là Chúa Tể của “Bảy Hệ Mặt Trời Mà Hệ Của Chúng Ta Là Một”—một cấu trúc vũ trụ mà DK thường xuyên đề cập.

20. But if DK means that “our solar system” is identical with “our constellation”, He has named our solar system in two different ways within the confines of one sentence. This should awaken out attention. We should be alert to the thought that we may be in the middle of a process of ‘occult blinding’—the deliberate veiling of certain information which He is conveying “between the lines” as it were.

20. Nhưng nếu DK muốn nói rằng “hệ mặt trời của chúng ta” đồng nhất với “chòm sao của chúng ta”, thì Ngài đã gọi hệ mặt trời của chúng ta theo hai cách khác nhau trong phạm vi một câu. Điều này nên đánh thức sự chú ý của chúng ta. Chúng ta nên cảnh giác với ý nghĩ rằng mình có thể đang ở giữa một tiến trình ‘che mờ huyền bí’—sự che đậy cố ý một số thông tin mà Ngài đang truyền đạt “giữa các dòng” vậy.

21. There is speculation by some deeper students of cosmology that our solar system may not be only a one-Sun solar system, but should be considered a “constellation”, because (as the theory goes—gathered to an extent from The Secret Doctrine), Mars was once a sun. Jupiter, so the theory goes, may one day become a sun—perhaps in the next solar system. As well, all the planets, including our Sun began as comets. This we have from The Secret Doctrine in the discussion of Maritanda (our Sun) and His “Seven Brothers”.

21. Có những suy đoán bởi một số đạo sinh vũ trụ học thâm sâu rằng hệ mặt trời của chúng ta có thể không phải chỉ  là một hệ một Mặt Trời, mà nên được xem là một “chòm sao”, vì (theo thuyết ấy—được tập hợp phần nào từ Giáo Lý Bí Nhiệm ), Sao Hỏa đã từng là một mặt trời. Mộc Tinh, theo thuyết ấy, một ngày nào đó có thể trở thành một mặt trời—có lẽ trong hệ mặt trời kỳ tới. Đồng thời, tất cả các hành tinh, kể cả Mặt Trời của chúng ta, đều khởi đầu là các sao chổi. Điều này chúng ta có được từ Giáo Lý Bí Nhiệm  trong phần bàn về Maritanda (Mặt Trời của chúng ta) và “Bảy Anh Em” của Ngài.

Scientists have not yet admitted into their calcula­tions the fact that our solar system is revolving around a cosmic centre along with six other constellations of even greater magni­tude in the majority of cases than ours, only one being approxi­mately of the same magnitude as our solar system.

Giới khoa học vẫn chưa đưa vào các tính toán của họ thực tế rằng hệ mặt trời của chúng ta đang quay quanh một trung tâm vũ trụ cùng với sáu chòm sao khác có độ lớn, trong đa số trường hợp, còn lớn hơn của chúng ta, chỉ có một là xấp xỉ cùng cỡ với hệ mặt trời của chúng ta.

22. The terms “solar system” and “constellations” are, it seems, deliberately mixed. The implication could be:

22. Các thuật ngữ “hệ mặt trời” và “chòm sao” dường như được cố ý hòa lẫn. Hàm ý có thể  là:

a. That our solar system is really a constellation and is revolving with six other constellations around a cosmic centre.

a. Rằng hệ mặt trời của chúng ta thực ra là một chòm sao và đang quay với sáu chòm sao khác quanh một trung tâm vũ trụ.

b. That our solar system is simply a conventional solar system but is linked with six other constellations which together are revolving around the same cosmic centre.

b. Rằng hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một hệ mặt trời theo nghĩa thông thường nhưng được liên kết với sáu chòm sao khác, những chòm sao này cùng nhau  đang quay quanh cùng một trung tâm vũ trụ.

c. That the our solar system is a one-sun solar system which, along with several other mostly one-sun (or perhaps two-sun) solar systems in the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”, is revolving around a common cosmic centre, taking either the literal or symbolical 250,000 years to do so together.

c. Rằng hệ mặt trời của chúng ta là một hệ một mặt trời, vốn—cùng với một số hệ khác phần lớn cũng một mặt trời (hay có lẽ hai mặt trời) trong “Bảy Hệ Mặt Trời Mà Hệ Của Chúng Ta Là Một”—đang quay quanh một trung tâm vũ trụ chung, mất 250,000 năm theo nghĩa đen hay biểu tượng để làm điều đó cùng nhau.

23. In the matter of magnitude, only Alpha Centauri (A and B) at 1.5 and.5 solar luminosities respectively are of approximately the same magnitude as our Sun. All the other stars hypothesized as grouped with Sol in His “cosmic group” have significantly higher solar luminosities.

23. Xét về độ lớn, chỉ Alpha Centauri (A và B) với độ chói 1,5 và 0,5 Mặt Trời tương ứng là xấp xỉ cùng cỡ với Mặt Trời của chúng ta. Tất cả các sao khác được giả định là nhóm cùng với Mặt Trời (Sol) trong “nhóm vũ trụ” của Ngài đều có độ chói mặt trời cao hơn đáng kể.

24. If we start considering that six other true (i.e., conventional) constellations revolve around a common cosmic centre (constellations such as the Great Bear, Draco, Orion, Antares, etc.—which ever we choose), then the Tibetan has made a huge understatement when speaking of these constellations as being “of even greater magnitude in the majority of cases than ours”. The statement is disproportional, as, if we consider the combined magnitudes of all the stars in those constellations relative to Sol, they are thousands and even hundreds of thousands of times more luminous than Sol. In this case, only Sirius (at approximately 25 solar luminosities and if considered as a “constellation”) would be very loosely ‘approximately’ of the same magnitude as Sol, and that is a great stretch. The phrase “of even greater magnitude” is a modest statement more fitting for the comparison of Procyon (7.73  L ), Altair (10.6 [ L ) Vega (37 ± 3  L ), Sirius (25.4 (A) /

24. Nếu chúng ta bắt đầu xét rằng sáu chòm sao đích thực khác (tức theo nghĩa thông thường) quay quanh một trung tâm vũ trụ chung (các chòm như Đại Hùng, Draco, Orion, Antares, v.v.—tùy ta chọn), thì Chân sư Tây Tạng đã có một lời nói rất khiêm tốn  khi bảo rằng các chòm ấy “trong đa số trường hợp có độ lớn còn lớn hơn của chúng ta”. Lời nói ấy không cân xứng, vì nếu xét tổng độ lớn của tất cả các sao trong những chòm ấy so với Sol, thì chúng lớn hơn hàng ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn lần độ chói của Sol. Trong trường hợp này, chỉ Sirius (với khoảng 25 độ chói mặt trời và nếu được xem như một “chòm sao”) mới rất phỏng phao ‘xấp xỉ’ cùng cỡ với Sol, và đó cũng là một kéo giãn rất mạnh. Cụm từ “có độ lớn còn lớn hơn” là một phát biểu khiêm tốn  phù hợp hơn khi so sánh Procyon (7,73), Altair (10,6 [) Vega (37 ± 3), Sirius (25,4 (A) /

0.026 (B)  L ), etc. with our Sun.”

0,026 (B)), v.v. với Mặt Trời của chúng ta.”

25. I consider it is a perilous assumption to take this statement by the Tibetan (the one concerning revolving constellations accompanied by our revolving solar system) literally until we check out those astronomical facts available to us. I suspect that when we do so, we will have demonstrated to us the literal impossibility of such concurrent constellational revolutions. I suggest that the revolution of seven associated suns (not “constellations”—as that term us conventionally understood) will not be shown to be impossible.

25. Tôi cho rằng đó là một giả định nguy hiểm nếu hiểu phát biểu này của Chân sư Tây Tạng (phát biểu về các chòm sao quay đồng thời với hệ mặt trời của chúng ta đang quay) theo nghĩa đúng chữ  trước khi chúng ta kiểm chứng những dữ kiện thiên văn sẵn có. Tôi ngờ rằng khi làm như vậy, chúng ta sẽ thấy được sự bất khả đúng chữ  của những cuộc “cách mạng chòm sao ” đồng thời như thế. Tôi đề nghị rằng sự cách mạng của bảy thái dương  kết hợp (không phải “các chòm sao”—như thuật ngữ ấy vốn được hiểu thông thường) sẽ không  được chứng minh là bất khả.

26. In occultism, the “cosmic centre” around which our solar system (or “our constellation”) and also the six other constellations, is considered to revolve is the Pleiades and especially Alcyone as the leading star of the Pleiades.

26. Trong huyền bí học, “trung tâm vũ trụ” quanh đó hệ mặt trời của chúng ta (hay “chòm sao của chúng ta”) và cả sáu chòm sao khác được xem là quay quanh chính là Pleiades, và đặc biệt là sao Alcyone với tư cách ngôi sao dẫn đầu của Pleiades.

This cosmic centre in turn forms part of a great wheel

Trung tâm vũ trụ này lại tạo thành một phần của một bánh xe lớn

27. This could be our galaxy, or it could be a much lesser cosmic structure, for we may infer with reason that there are ever-larger wheels on the way to the galactic wheel, (which of course is probably involved in its own type of revolution around a still greater center, etc.)

27. Bánh xe ấy có thể là ngân hà của chúng ta, hoặc có thể là một cấu trúc vũ trụ nhỏ hơn nhiều, vì chúng ta có thể suy luận một cách có lý rằng luôn có những bánh xe lớn hơn trên lộ trình dẫn tới bánh xe của ngân hà (vốn dĩ, tất nhiên, có lẽ cũng cuốn vào kiểu cách mạng riêng quanh một trung tâm còn vĩ đại hơn nữa, v.v.)

28. There are many ever more inclusive “wheels” in our galaxy, until at last the galaxy as a cosmic wheel is considered.

28. Có vô số “bánh xe” ngày càng bao gồm rộng lớn hơn trong phạm vi ngân hà của chúng ta, cho đến khi sau cùng xét đến chính ngân hà như một bánh xe vũ trụ.

29. We are dealing with chakra systems of ever-increasing scope.

29. Chúng ta đang đề cập đến những hệ thống luân xa với tầm vóc ngày càng tăng.

till—to the eye of the illumined seer—the entire vault of Heaven

cho đến khi—trong mắt của vị tiên tri được soi sáng—cả vòm Trời

30. Presumably, this “vault” is not only the externally visible vault, but the ‘subjective vault’ and also the vault as expanded by all our instruments of observations—telescopes and sensing devices of all kinds.

30. Có thể hiểu rằng “vòm” này không chỉ là vòm có thể thấy bên ngoài, mà còn là ‘vòm chủ quan’ và cả vòm được mở rộng nhờ mọi khí cụ quan sát của chúng ta—kính thiên văn và đủ loại thiết bị cảm biến.

is seen to be in motion. 

được thấy là đang vận động.

31. The stars within the “vault of heaven” are certainly not fixed stars.

31. Các vì sao trong “vòm trời” chắc chắn không phải là các sao cố định.

All the constellations, viewing them as a whole, are impelled in one direction.

Mọi chòm sao, khi nhìn chúng như một toàn thể, được thôi thúc theo một hướng.

32. We could possibly be within the galactic frame of reference, speaking of all constellations included within our galaxy, all revolving (whether clockwise or counter-clockwise) in the same direction around the center of the galaxy.

32. Có thể là chúng ta đang ở trong hệ quy chiếu cấp ngân hà, đang nói về tất cả các chòm sao thuộc ngân hà của chúng ta, tất cả đều quay (dù theo chiều thuận hay nghịch kim đồng hồ) cùng một hướng quanh trung tâm của ngân hà.

33. We could also be in a maximally large context, with DK positing that the entire Universe is the ‘Greatest of All Possible Wheels”, and that all constellations revolve together around the ‘common center’ of this Wheel—whatever that might be. I do not think we should resist the analogy.

33. Chúng ta cũng có thể đang ở trong một bối cảnh lớn tối đa, với Chân sư DK giả định rằng toàn Vũ trụ là “Bánh Xe Vĩ Đại nhất trong mọi Bánh Xe khả dĩ”, và rằng mọi chòm sao cùng quay quanh ‘trung tâm chung’ của Bánh Xe đó—dù trung tâm ấy là gì đi nữa. Tôi nghĩ chúng ta không nên kháng cự lại phép đối chiếu tương đồng.

34. In any case, it seems that there is no contrary movement of some constellations when compared to others. All are moving together and probably, we can assume, revolving together around a common center.

34. Dù thế nào, có vẻ như không có chuyển động ngược chiều của một số chòm sao khi so với những chòm khác. Tất cả đang cùng chuyển động và, có lẽ, chúng ta có thể giả định, cùng quay quanh một trung tâm chung.

35. When we look carefully at the word “constellations” and attempt to define it in a general sense, we realize that it means ‘an organized gathering of related items’. Planets can be constellated together: Suns can be constellated; what we normally call constellations of stars can be constellated so that we have constellations of our customary constellations; and on and on, until we have constellations of galaxies and of super-galaxies, etc. The term “constellation” is a generic term suggested systematic, organic relationship. Therefore, this statement about “all the constellations” could refer to all manner of ‘constellations’ in the entire Universe.

35. Khi chúng ta xem xét kỹ từ “chòm sao” và cố gắng định nghĩa nó theo nghĩa khái quát, chúng ta nhận ra rằng nó hàm ý ‘một tập hợp có tổ chức của các đơn vị liên hệ’. Các hành tinh có thể được kết thành một chòm; các Mặt Trời có thể được kết chòm; những gì chúng ta thường gọi là các chòm sao của những ngôi sao có thể được kết chòm sao cho đến mức chúng ta có những “chòm sao của các chòm sao quen thuộc của chúng ta”; và cứ thế nữa, cho đến khi chúng ta có các chòm của những ngân hà và siêu ngân hà, v.v. Thuật ngữ “chòm sao” là một thuật ngữ chung hàm ý một mối quan hệ có hệ thống, hữu cơ. Do đó, phát biểu về “mọi chòm sao” có thể ám chỉ mọi dạng ‘chòm sao’ trong toàn Vũ trụ.

36. Occult blinding occurs through a shifting of the meaning of terms. The reader is blinded because, as the shifting occurs, the reader’s attention is not drawn to the shifting. Thus, confusion will result unless the prepared and perceptive reader knows of deeper structures, relationship and dynamics than are referenced in the blinded text.

36. “Che mù” theo huyền môn xảy ra qua việc chuyển dịch ý nghĩa của các thuật ngữ. Độc giả bị che mù vì khi sự chuyển dịch diễn ra, sự chú ý của độc giả không được hướng tới sự chuyển dịch ấy. Như vậy, nhầm lẫn sẽ nảy sinh trừ khi người đọc đã được chuẩn bị và mẫn tuệ biết đến những cấu trúc, mối quan hệ và động lực sâu xa hơn so với những gì được nhắc tới trong văn bản đã được che mờ.

37. We do not know whether DK has taken the picture that far (i.e., as far as the one and only Ultimate Universal System of all cosmic systems or constellations), but we must be alert to the possibility of ‘level blinds’, by means of which DK speaks of several levels simultaneously or may switch levels suddenly without alerting the reader.

37. Chúng ta không biết liệu Chân sư DK có đưa bức tranh đi xa đến mức đó hay không (tức là, xa đến Hệ Vũ trụ Tối Hậu duy nhất của mọi hệ vũ trụ hay chòm sao), nhưng chúng ta phải cảnh giác trước khả năng có những ‘bức màn theo cấp độ’, nhờ đó Chân sư DK nói đồng thời về vài cấp độ, hoặc có thể chuyển cấp độ đột ngột mà không báo trước cho độc giả.

38. We find this ‘level blinding’ in The Secret Doctrine when discussing our tiny solar system and the entire Universe “in the same breath”. Who, after all, is The Eternal Parent, and yet hints are being given about the birth of our solar system at the same time.

38. Chúng ta thấy ‘bịt mắt theo cấp độ’ này trong Giáo Lý Bí Nhiệm khi thảo luận về hệ mặt trời bé nhỏ của chúng ta và toàn Vũ trụ “trong cùng một hơi thở”. Sau rốt, Đấng Cha Mẹ Vĩnh Cửu là ai, thế nhưng các ám chỉ vẫn được đưa ra về sự khai sinh của hệ mặt trời chúng ta đồng thời với nhau.

The old Commentary expresses this obscure truth as follows:

Bộ Cổ Luận diễn đạt chân lý tối mù này như sau:

“The one wheel turns.  One turn alone is made, and every sphere, and suns of all degrees, follow its course.  The night of time is lost in it, and kalpas measure less than seconds in the little day of man.

“Bánh xe duy nhất quay. Chỉ một vòng quay được thực hiện, và mọi cầu, và các Thái dương ở mọi đẳng cấp, theo sát lộ trình của nó. Đêm của thời gian mất hút trong nó, và các đại kiếp kalpa còn đo kém hơn giây khắc trong ngày nhỏ bé của con người.

39. While we could be speaking of a galaxy, it is not certain that we are, given the time scales below. We have estimates that our Sun orbits our galaxy in a period of from 200 million to 250 million years, but we do not know how long it takes the galaxy to turn on itself. If our solar atom has a rotational period of about 100,000 years according to DK, then the rotation of the galactic atom (if of the same nature as the rotation of the solar atom) could endure for an immense period—much longer of course than the supposed total age of the universe as projected by contemporary science!

39. Dẫu có thể chúng ta đang nói về một ngân hà, điều đó cũng không chắc chắn, xét theo các thang thời gian bên dưới. Chúng ta ước lượng rằng Mặt Trời của chúng ta quay quanh ngân hà trong khoảng từ 200 triệu đến 250 triệu năm, nhưng chúng ta không biết ngân hà tự quay quanh mình mất bao lâu. Nếu “nguyên tử Thái dương” của chúng ta có chu kỳ tự quay khoảng 100.000 năm theo Chân sư DK, thì sự tự quay của “nguyên tử Ngân Hà” (nếu đồng loại với sự tự quay của nguyên tử Thái dương) có thể kéo dài một thời kỳ khổng lồ—dĩ nhiên dài hơn nhiều so với tuổi tổng quát giả định của vũ trụ theo khoa học đương thời!

40. The “one wheel” could, of course, be the ‘One and Only Universal Wheel’. Can it be thought that this ‘Greatest of All Wheels’ turns but once? It is conceivable, but if it must turn faster with the appearance of every ‘new’ universe, then, since every universe has been preceded by an infinitude of universes, the ‘Universal Wheel’ would always be turning at ‘infinite speed’ which is an impossibility.

40. “Bánh xe duy nhất” hẳn, dĩ nhiên, có thể là ‘Bánh Xe Vũ Trụ Duy Nhất’. Có thể nghĩ rằng ‘Bánh Xe Vĩ Đại nhất trong mọi Bánh Xe’ ấy chỉ quay một lần chăng? Điều này có thể quan niệm, nhưng nếu nó buộc phải quay nhanh hơn với sự xuất hiện của mỗi ‘vũ trụ mới’, thì, vì mỗi vũ trụ đã được tiền nhiệm bởi một vô hạn vũ trụ, ‘Bánh Xe Vũ Trụ’ sẽ luôn luôn quay ở ‘tốc độ vô hạn’, điều này là bất khả.

Ten million million kalpas pass, and twice ten million million Brahmic cycles and yet one hour of cosmic time is not completed.

Mười triệu triệu kalpa trôi qua, và hai lần mười triệu triệu chu kỳ Brahma nhưng một giờ thời gian vũ trụ vẫn chưa trọn.

41. A kalpa, according to H.P.B. has the duration of 4,320,000,000 Earth years. If we add the kalpic night we get 8,640,000,000 Earth years.

41. Theo Bà H.P.B., một kalpa có độ dài 4.320.000.000 năm Trái Đất. Nếu cộng thêm đêm kalpa, chúng ta có 8.640.000.000 năm Trái Đất.

42. One “Brahmic cycle” (if by this we mean an “Occult Century”, is 311,040,000,000,000 years. But if a Brahmic cycle is smaller—such as a “Day of Brahma”, then the overall ‘Age of the Universe’ would be much greater.

42. Một “chu kỳ Brahma” (nếu bởi đó chúng ta muốn nói “Thế kỷ Huyền môn”) là 311.040.000.000.000 năm. Nhưng nếu chu kỳ Brahma nhỏ hơn—chẳng hạn “Ngày của Brahma”, thì ‘Tuổi của Vũ trụ’ tổng thể sẽ lớn hơn nhiều.

43. I did a fanciful calculation some years ago for the number of Earth years involved in this somewhat poetic description by DK It was a figure with a great number of zeros—something like—5,501,980,800,000,000,000,000,000,000 –this is something like 5 octillion years. So, if the H.P.B. record on time (TCF 39) is substantial, as some of us think it is, and if the Tibetan’s quotation from the Old Commentary is not simply poetry, we are dealing with a simply huge figure which would far transcend the one turn of a galactic wheel—whatever that really means anyway. We could look at this figure as the Duration of our Universe occultly considered.

43. Tôi đã làm một phép tính giàu óc tưởng tượng vài năm trước cho số năm Trái Đất ẩn chứa trong đoạn mô tả có phần thi vị này của Chân sư DK. Đó là một con số với rất nhiều số 0—đại loại như—5.501.980.800.000.000.000.000.000.000—đại loại như 5 × 10^27 năm. Vậy nên, nếu ghi chép của Bà H.P.B. về thời gian (Luận về Lửa Vũ Trụ 39) là đáng kể, như một số chúng ta nghĩ vậy, và nếu trích dẫn của Chân sư Tây Tạng từ Cổ Luận không chỉ đơn thuần là thi ca, thì chúng ta đang xử lý một con số khổng lồ vượt xa một vòng quay của bánh xe ngân hà—dù điều ấy rốt cuộc có nghĩa là gì đi nữa. Chúng ta có thể nhìn con số này như là Thời Lượng của Vũ trụ chúng ta được xét theo huyền môn.

44. Let us suppose that a Brahmic cycle is but a “Day of Brahma”. Then we would have to multiply the huge figure above by 360 x 100 or by 36,000 and the speculative ‘Age of the Universe’ would be: 1.98071308832. Another three zeros or so would be added to the 5 octillion figure. By USA and “Modern British” figures we would have a figure above 200 nonillion Earth years.

44. Giả sử rằng một chu kỳ Brahma chỉ là một “Ngày của Brahma”. Vậy thì chúng ta sẽ phải nhân con số khổng lồ ở trên với 360 x 100, tức 36.000 và ‘Tuổi Vũ trụ’ giả định sẽ là: 1.98071308832. Lại sẽ cộng thêm chừng ba con số 0 nữa vào con số 5 × 10^27 kia. Theo cách đếm của Hoa Kỳ và “Anh hiện đại”, chúng ta sẽ có một con số vượt quá 200 × 10^30 năm Trái Đất.

45. Of course, such calculations are ridiculously fanciful, but they may give a clue concerning the huge number of Earth-years which the universe may endure. This would certainly involve subjective endurance as well. Relatively, the number of years which an entity spends in strictly objective existence is short compared with the total span of spiritual, subjective and objective endurance.

45. Tất nhiên, những phép tính như vậy là kỳ khôi một cách hư cấu, nhưng chúng có thể cho manh mối liên quan đến số năm Trái Đất khổng lồ mà vũ trụ có thể trường tồn. Điều này chắc chắn cũng bao hàm sự trường tồn chủ quan. Tương đối mà nói, số năm một thực thể trải qua trong tồn tại thuần khách quan thì ngắn ngủi khi so với toàn bộ tầm trường tồn tinh thần, chủ quan và khách quan.

Within the wheel,

Bên trong bánh xe,

46. We are speaking either of the ‘Greatest of All Wheels’ or of the ‘Galactic Wheel’.

46. Chúng ta đang nói hoặc về ‘Bánh Xe Vĩ Đại nhất trong mọi Bánh Xe’, hoặc về ‘Bánh xe Ngân Hà’.

forming that wheel, are all the lesser wheels from the first to the tenth dimension. 

cấu thành bánh xe ấy, là tất cả những bánh xe nhỏ hơn từ chiều thứ nhất đến chiều thứ mười.

47. We must bear in mind that the Tibetan and other writers on deep occult matters, frequently switch the scope of their perspective without telling us they have done so. The vastest of all universal perspectives may be considered side-by-side with a much smaller perspective, and no warning given that different contexts which are being discussed.

47. Cần ghi nhớ rằng Chân sư Tây Tạng và các tác giả khác bàn về những vấn đề huyền bí sâu xa thường xuyên chuyển đổi tầm quy chiếu của Nhận thức mà không nói cho chúng ta biết các Ngài đã làm như vậy. Quan điểm vũ trụ bao quát nhất có thể được đặt cạnh một quan điểm nhỏ hơn rất nhiều, mà không có lời cảnh báo rằng các bối cảnh khác nhau đang được bàn tới.

48. The entire Universe may have ten dimensions. This will mean that when we draw representations of systemic planes, cosmic planes, super-cosmic planes, we will have to determine how far to go.

48. Toàn Vũ trụ có thể có mười chiều. Điều này sẽ hàm ý rằng khi chúng ta vẽ các biểu đồ biểu thị các cõi hệ thống, cõi vũ trụ, cõi siêu vũ trụ, chúng ta sẽ phải xác định đi đến đâu là đủ.

49. On this scale of ten dimensions, where would a galaxy fit? If we could determine this, we would have a marker. Is the atom of substance representative the first dimension? Is man representative of the second? Is a Planetary Logos representative of the third? Is a Solar Logos representative of the fourth?

49. Trong thang mười chiều này, một ngân hà sẽ nằm ở đâu? Nếu chúng ta có thể xác định điều này, chúng ta sẽ có một mốc. Nguyên tử của chất liệu có đại diện cho chiều thứ nhất không? Con người có đại diện cho chiều thứ hai không? Một Hành Tinh Thượng đế có đại diện cho chiều thứ ba không? Một Thái dương Thượng đế có đại diện cho chiều thứ tư không?

50. Or should the dimensions be considered strictly in relation to planes? Would we begin with a sub-sub-plane and from that level begin increasing sizes to a subplane, a systemic plane, a cosmic plane, a super-cosmic plane, etc., or would we begin simply with a systemic plane? These are questions which we are in no position to answer at this time.

50. Hay các chiều nên được xét nghiêm ngặt theo liên hệ với các cõi? Chúng ta sẽ khởi đầu với một cõi phụ-phụ và từ cấp đó tăng dần kích cỡ lên một cõi phụ, một cõi hệ thống, một cõi vũ trụ, một cõi siêu vũ trụ, v.v., hay chúng ta đơn giản khởi đầu từ một cõi hệ thống? Đây là những câu hỏi mà lúc này chúng ta chưa có vị thế để trả lời.

51. Of course, within any system (holographically considered) there could also be ten dimensions—representative of the Tree of Life. So there may be concrete applications of this ten-dimension idea as well as the ultimate universal application.

51. Tất nhiên, trong bất kỳ hệ nào (theo nguyên lý ảnh toàn tức) cũng có thể có mười chiều—đại diện cho Cây Sự Sống. Vì thế có thể có những ứng dụng cụ thể của ý tưởng mười chiều này cũng như ứng dụng tối hậu ở cấp vũ trụ.

These in their cyclic turn hold in their spheres of force other and lesser wheels. 

Những bánh xe này, theo chu kỳ của chúng, nắm giữ trong các trường lực của mình những bánh xe khác và nhỏ hơn.

52. It seems that wheels of the major ten dimensions have within themselves lesser wheels which might be called ‘sub-dimensional wheels’.

52. Có vẻ như các bánh xe thuộc mười chiều chủ yếu có trong chính chúng những bánh xe nhỏ hơn, có thể gọi là ‘bánh xe phân-chiều’.

53. Therefore, only certain wheels are considered representative of the ten dimensions of cosmos. Yet there are many other wheels. Who knows how many lesser wheels may be contained in each of the major dimensions of cosmos?

53. Do đó, chỉ một số bánh xe nào đó được xem là đại diện cho mười chiều của vũ trụ. Tuy vậy, còn rất nhiều bánh xe khác. Ai biết trong mỗi chiều chủ yếu của vũ trụ có thể bao hàm bao nhiêu bánh xe thứ yếu?

Yet many suns compose the cosmic One.

Tuy nhiên, nhiều Thái dương cấu thành Nhất Thể vũ trụ.

54. Notice here the use of the term “cosmic One”. This establishes that the term “cosmic” is entirely flexible, for we are far, far beyond anything we might name as the conventional “One About Whom Naught May Be Said”—considering Him (as I think there is a tendency to do mistakenly, as the only Being to which the term “Cosmic Logos” must apply). Of course, as I have stated, philosophically, the “One About Whom Naught May Be Said” could be a Galactic Logos, OR, ultimately, it could be, with greatest philosophical accuracy, the ABSOLUTE, the ABSOLUTE INFINITUDE, the NAMELESS ONE, about WHOM, literally, naught can be said!

54. Hãy lưu ý việc dùng thuật ngữ “Nhất Thể vũ trụ”. Điều này xác lập rằng từ “vũ trụ” là hoàn toàn linh hoạt, vì chúng ta đang ở rất, rất xa bất cứ cái gì chúng ta có thể gọi là “ Đấng Bất Khả Tư Nghị ” theo lối quy ước—khi xem Ngài (như tôi cho rằng có khuynh hướng sai lầm khi làm thế) như Đấng duy nhất mà thuật ngữ “Thượng đế Vũ Trụ” ắt phải áp dụng. Tất nhiên, như tôi đã nói, về phương diện triết học, “Đấng Bất Khả Tư Nghị” có thể là một Ngân Hà Thượng đế, HOẶC, rốt cuộc, có thể, với độ chính xác triết học cao nhất, là TUYỆT ĐỐI, VÔ CÙNG TUYỆT ĐỐI, ĐẤNG VÔ DANH, về ĐẤNG thật sự là không thể nói được!

55. So when we speak of a “Cosmic Logos” it does not seem justified to me to attach that name solely to what we conventionally think of as a “One About Whom Naught May Be Said”—i.e., a Super-Cosmic Logos. The word “cosmic” is utterly flexible. Even our Planetary Logoi are considered cosmic Beings and so is our Solar Logos. I suggest that we do not become too concrete or fixed about the term “cosmic”.

55. Vậy nên khi chúng ta nói về “Thượng đế Vũ Trụ”, theo tôi, không có cơ sở để gắn tên đó duy nhất với điều mà chúng ta quy ước nghĩ như là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”—tức một Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Từ “vũ trụ” là vô cùng linh hoạt. Ngay cả các Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng được xem là những Đấng vũ trụ, và Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng vậy. Tôi đề nghị đừng quá cụ thể hay cố định khi dùng từ “vũ trụ”.

Wheels within wheels, spheres within spheres.  Each pursues his course and attracts or rejects his brother, and yet cannot escape from the encircling arms of the mother.

Bánh xe lồng trong bánh xe, cầu lồng trong cầu. Mỗi vị theo đuổi lộ trình của mình và hút về hay khước từ huynh đệ của mình, nhưng vẫn không thể thoát khỏi vòng tay bao bọc của Mẹ.

56. By the “mother” in this case, for me, the ‘universally diversified Mulaprakriti’ is suggested. We are dealing with the Law of Attraction universally applied.

56. Ở đây, theo tôi,“Mẹ” ám chỉ ‘Mulaprakriti được đa dạng hóa một cách phổ quát’. Chúng ta đang xử lý Định luật Hút Ứng áp dụng một cách phổ quát.

57. The “Mother” embraces all B/beings of any kinds except for the Universal Spirit, Itself.

57. “Mẹ” bao trùm mọi Hữu loại nào, ngoại trừ chính Thần Linh Vũ Trụ.

When the wheels of the fourth dimension, of which our sun is one

Khi những bánh xe của chiều thứ tư, trong đó Mặt Trời của chúng ta là một

58. Now, suddenly, the whole scenario is collapsed down to intra-galactic matters. We have just made a huge level-leap. We can investigate this, but I do not think that only six more types of aggregations exist between our solar wheel, and the ‘Ultimate Universal Wheel’. We need some astronomy here to discuss varieties of Sub-Universal Wheels leading progressively and sequentially to the ‘Ultimate Universal Wheel’—i.e., varieties for which there presently exists evidence.

58. Ngay lập tức, toàn bộ kịch bản được thu hẹp xuống các vấn đề nội-ngân hà. Chúng ta vừa thực hiện một cú “nhảy cấp”. Chúng ta có thể khảo sát điều này, nhưng tôi không nghĩ rằng chỉ có sáu kiểu tập hợp nữa tồn tại giữa bánh xe Thái dương của chúng ta và ‘Bánh xe Vũ trụ Tối Hậu’. Chúng ta cần một ít thiên văn học ở đây để thảo luận những dạng Bánh xe Phân-độ Vũ trụ dẫn dần và tuần tự tới ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’—tức những dạng mà hiện nay có bằng chứng.

59. The addition of Constellational Wheels, Super-Constellational Wheels (of which the “One About Whom Naught May Be Said” could be one)—would take us already to a sixth dimension, and so I think it can be clearly seen, that if we proceed in this manner we will not even go beyond our galaxy before the 10th dimension (calculated in this manner) is reached.

59. Việc bổ sung các Bánh xe Chòm sao, các Bánh xe Siêu-Chòm sao (mà “Đấng Bất Khả Tư Nghị” có thể là một)—sẽ đưa chúng ta đã đến một “chiều thứ sáu”, và vì vậy, tôi nghĩ có thể thấy rõ rằng nếu tiến hành theo lối này, chúng ta sẽ chưa vượt ra ngoài ngân hà của mình trước khi đạt tới chiều thứ mười (tính theo cách này).

60. This being the case, it seems clear that a dimensional model of cosmos relating categories of planes to the ten dimensions is the best model. With this type of model, only a few of the very many types of wheels will be considered representative of the ten major dimensions.

60. Như vậy, có vẻ rõ ràng rằng một mô hình chiều kích của vũ trụ theo đó các loại cõi được liên hệ với mười chiều là mô hình tốt nhất. Với kiểu mô hình này, chỉ một số ít trong rất nhiều kiểu bánh xe sẽ được coi là đại diện cho mười chiều chủ yếu.

61. The major representative of any dimension will always have as a plane of expression the atomic subplane of a series of seven subplanes.

61. Đại diện chủ yếu của bất kỳ chiều nào cũng sẽ có một cõi biểu lộ là cõi nguyên tử trong chuỗi bảy cõi phụ.

62. It behooves us to be humble in the face of these huge aggregations or ‘constellations’ (generically considered). We have to remember that there are Beings (not necessarily the greatest ‘Archetypal Universal Beings’—such as the Universal Twelve, or the Universal Seven) in relation to which our Solar Logos is simply as a “crystal” or a “cell”. We cannot pontificate about the nature of the Universe. If DK tells us that it is “wasted energy” to speculate about the (conventional) “One About Whom Naught May Be Said” (a Being, great to us but tiny on the universal scale), then it would be quite ridiculous to think that we could know anything about Occult Universal Structure of those Great ‘Constellations’ in relation to which our entire galaxy could be considered but a ‘cell’.

62. Chúng ta nên khiêm cung trước những tập hợp hay ‘chòm sao’ khổng lồ này (xét theo nghĩa chung). Hãy nhớ rằng có những Đấng (không nhất thiết là những ‘Đấng Nguyên hình Vũ trụ’ vĩ đại nhất—như nhóm Mười Hai Vũ trụ, hay nhóm Bảy Vũ trụ) so với Các Ngài, Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng chỉ như một “tinh thể” hay một “tế bào”. Chúng ta không thể tự phụ về bản chất của Vũ trụ. Nếu Chân sư DK bảo rằng đó là “phí năng lượng” khi suy đoán về (theo quy ước) “Đấng Bất Khả Tư Nghị” (một Đấng lớn lao đối với chúng ta nhưng nhỏ bé trên thang quy mô vũ trụ), thì thật buồn cười nếu nghĩ rằng chúng ta có thể biết điều gì về Cấu Trúc Vũ Trụ Huyền Môn của những ‘Chòm sao’ Vĩ Đại mà so với Các Ngài, cả ngân hà của chúng ta cũng chỉ như một ‘tế bào’.

63. The danger is that the mind can go anywhere and feel very good about itself, and yet we have not even controlled our astral bodies! Nor filled our minds with love! Nor become soul-infused! So—we are in the midst of a huge joke (albeit an irresistible one) if we really think we can talk about these subjects with occult or scientific accuracy. Yet we persist, as the flea yearns to know something about the purposes of the Solar Logos.

63. Nguy cơ là thể trí có thể đi bất cứ đâu và cảm thấy rất hài lòng với chính nó, vậy mà chúng ta thậm chí còn chưa chế ngự được thể cảm dục của mình! Cũng chưa tràn đầy Tình thương trong trí! Cũng chưa được linh hồn thấm nhuần! Vậy—chúng ta đang ở giữa một trò đùa khổng lồ (dẫu không cưỡng được) nếu thực sự nghĩ rằng có thể bàn về những chủ đề này với độ chính xác huyền môn hay khoa học. Thế mà chúng ta vẫn kiên trì, như một con bọ chét khao khát biết đôi điều về các mục đích của Thái dương Thượng đế.

and all that is of lesser force and higher number, such as the eighth and ninth degrees,

và mọi thứ có lực kém hơn nhưng số bậc cao hơn, như bậc tám và bậc chín,

64. A very interesting hint about numbers used to classify potency. For instance, Betelgeuse is a Solar Logos of the second order and Sol of the fourth.

64. Một gợi ý rất thú vị về các con số dùng để phân loại mức độ năng lực. Chẳng hạn, Betelgeuse là một Thái dương Thượng đế bậc hai, còn Sol là bậc bốn.

65. From this perspective, the higher the order number, the lesser the force of the Being involved.

65. Theo quan điểm này, số thứ tự càng cao thì lực của Đấng liên hệ càng kém.

66. It might be advisable to think that if our Sun is of the fourth order and is to be considered a wheel of the fourth dimension, we have to ask, “Within what type of system of dimensions is our Sun a representative of the fourth dimension?” Is such a system galactic, super-galactic, etc., or is it the ‘Ultimate System?

66. Có lẽ nên nghĩ rằng nếu Mặt Trời của chúng ta thuộc bậc bốn và được coi là một bánh xe của chiều thứ tư, chúng ta phải hỏi: “Trong kiểu hệ-thống-chiều nào Mặt Trời của chúng ta là đại diện cho chiều thứ tư?” Liệu hệ ấy là nội-ngân hà, siêu-ngân hà, v.v., hay là ‘Hệ Tối Hậu’?

67. It may be the case that within every major dimensional wheel, there are ten subsidiary wheels. We are asking then, “Within what type of Wheel is our Sun a representative of the fourth dimension?” This is no small question.

67. Có thể là trong mỗi bánh xe phân-chiều chủ yếu, có mười bánh xe phụ. Khi đó, chúng ta đang hỏi: “Trong kiểu Bánh Xe nào Mặt Trời của chúng ta là đại diện cho chiều thứ tư?” Đây chẳng phải câu hỏi nhỏ.

68. The words “eighth and ninth degrees” are problematic. Usually as the number or the “degree” rises, the power of the Being concerned rises.

68. Cụm từ “bậc tám và bậc chín” là một vấn đề. Thông thường, khi số bậc tăng, quyền năng của Đấng liên hệ tăng.

69. Perhaps, then, we will have to focus on the meaning of “lesser force”. Can it suggest that Beings of the eighth or ninth degrees have lesser force within the lower worlds but much greater energy within the higher worlds?

69. Có lẽ, rồi chúng ta sẽ phải tập trung vào ý nghĩa của “lực kém hơn”. Liệu nó có ám chỉ rằng các Đấng bậc tám hay bậc chín có lực kém hơn trong các thế giới thấp nhưng có năng lượng lớn hơn rất nhiều trong các thế giới cao?

turn upon themselves, devour each other, and turn and rend their mother, then will the cosmic wheel be ready for a faster revolution.”

quay vào chính mình, ăn nuốt lẫn nhau, rồi quay lại xé rách Mẹ của chúng, thì khi ấy bánh xe vũ trụ sẽ sẵn sàng cho một vòng quay nhanh hơn.”

70. In this case, the Cosmic Wheel could be the galaxy. It is hard to conceive that the ‘Ultimate Universal Wheel’ turns more than once. As we have just been told:

70. Trong trường hợp này, Bánh Xe Vũ Trụ có thể là ngân hà. Thật khó hình dung rằng ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’ quay nhiều hơn một lần. Như chúng ta vừa được nói:

“The one wheel turns.  One turn alone is made…

“Bánh xe duy nhất quay. Chỉ một vòng quay được thực hiện…

71. The process of devouring each other is related to the stages of obscuration, synthesis and absorption.

71. Quá trình ăn nuốt lẫn nhau liên hệ đến các giai đoạn ám muội, tổng hợp và hấp thụ.

72. Each B/being has a “mother” which is but an aspect of the ‘One Universal Mother’. To ‘rend the mother’ signifies the destruction of the form which encapsulates the subtle principles and the volatile essence, and the subsequent escape of those subtle principles and that volatile essence into a greater, synthesizing sphere.

72. Mỗi Hữu/hiện tồn đều có một “Mẹ” vốn chỉ là một phương diện của ‘Một Mẹ Vũ Trụ’. “Xé rách Mẹ” hàm ý hủy diệt hình tướng bao bọc các nguyên lý vi tế và tinh chất linh diệu, và sau đó là sự giải thoát các nguyên lý vi tế cùng tinh chất linh diệu ấy vào một cầu tổng hợp lớn hơn.

73. We must be aware that DK or the writer of the Old Commentary in this case, slides between levels, just as H.P.B. seems to do in The Secret Doctrine. The student must be very alert to see when the level discussed is changed.

73. Chúng ta phải lưu tâm rằng Chân sư DK hay tác giả của Cổ Luận trong trường hợp này, trượt qua lại giữa các cấp độ, y hệt như Bà H.P.B. dường như làm trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Môn sinh phải thật cảnh giác để thấy lúc nào cấp độ đang bàn bị thay đổi.

74. He did this when He began to talk of the “wheel of the fourth dimension”. Suddenly we were out of the context of the ‘Ultimate Universal Wheel’.

74. Ngài đã làm như vậy khi bắt đầu nói về “bánh xe của chiều thứ tư”. Bất thần, chúng ta đã ra khỏi bối cảnh của ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’.

It will, therefore, be apparent that the power of man to conceive of these whirling constellations,

Vì vậy, sẽ hiển hiện rằng năng lực của con người trong việc quan niệm những chòm sao xoáy vần này,

75. DK seems to pointing to the rotational and revolutionary movements of constellations of all kinds.

75. Dường như Chân sư DK đang chỉ vào các chuyển động tự quay và cách mạng của đủ loại chòm sao.

to measure their interaction, and to realise their essential unity is not as yet great enough

đo lường tương tác của chúng, và nhận ra tính hợp nhất cốt yếu của chúng hiện chưa đủ lớn.

76. Again, a magnificent understatement!

76. Lại một lời nói giảm tuyệt đẹp!

77. Perhaps, even in the case of the Masters, the ability to measure such interaction is “not yet great enough”.

77. Có lẽ, ngay cả đối với các Chân sư, năng lực đo lường các tương tác như thế cũng “chưa đủ lớn”.

We are told that even to the [1085] liberated Dhyan Chohan the mystery of that which lies beyond his own solar Ring-Pass-Not is hid.

Chúng ta được cho biết rằng ngay đối với vị [1085] Dhyan Chohan đã giải thoát, huyền bí về điều nằm bên ngoài vòng-giới-hạn thái dương của chính Ngài vẫn bị che khuất.

78. Shall we pause for a moment of humility, or shall we debate strenuously over what is hidden to “liberated Dhyan Chohans”? Who are these “liberated Dhyan Chohans”? Initiates of the sixth degree?; of the seventh?; initiates beyond? We are not They, and so any pontificating about that which lies beyond our “solar Ring Pass-Not” is pure folly, though fascinating to contemplate.

78. Chúng ta nên dừng một chút để khiêm cung, hay chúng ta sẽ tranh luận kịch liệt về điều vẫn còn ẩn đối với “các Dhyan Chohan đã giải thoát”? Các “Dhyan Chohan đã giải thoát” này là ai? Các vị điểm đạo đồ bậc sáu?; bậc bảy?; cao hơn nữa? Chúng ta không là Các Ngài, nên mọi lời tự phụ về điều nằm ngoài “vòng-giới-hạn thái dương” của chúng ta đều là ngu xuẩn thuần túy, dù vẫn hấp dẫn để chiêm ngưỡng.

Certain influences indicate to Him

Những ảnh hưởng nào đó chỉ bày cho Ngài

79. It seems that Master DK is speaking of the perceptions of a liberated Dhyan Chohan.

79. Có vẻ Chân sư DK đang nói về nhận tri của một Dhyan Chohan đã giải thoát.

80. We notice that Master DK is capitalizing the word “Him”, indicating a Being of very great stature, and the limitations of knowledge to which such a Being is subject.

80. Chúng ta thấy Chân sư DK viết hoa từ “Ngài”, chỉ một Đấng có địa vị rất cao, những giới hạn của tri thức mà ngay cả một Đấng như vậy cũng chịu.

and certain lines of force demonstrate to Him the fact that some constellations are knit with His system

và những tuyến lực nào đó cho Ngài thấy thực tế rằng một số chòm sao được kết nối với Hệ của Ngài

81. Remember the generic quality of the word “system”. It is like the word “constellation”—utterly protean, and the sooner we get used to the uncomfortable idea that we are dealing with slippery terms, the less foolishly rigid we will become. Can you imagine how the experts in Hierarchy look at our calculations when DK implored us not to make any calculations at all because too little is known?

81. Hãy nhớ tính chất khái quát của từ “hệ”. Nó giống như từ “chòm sao”—cực kỳ biến hóa, và chúng ta càng sớm quen với ý nghĩ khó chịu rằng chúng ta đang xử lý những thuật ngữ “trơn trượt”, thì chúng ta sẽ càng bớt cứng nhắc một cách khờ dại. Bạn có thể hình dung các vị chuyên gia trong Thánh Đoàn nhìn các phép tính của chúng ta như thế nào, khi Chân sư DK đã nài xin chúng ta đừng làm bất kỳ phép tính nào bởi vì biết quá ít?

I would conjure students here to refrain from attempting (in years to come) to form cyclic computations of any kind, for as yet the many constellations which exist only in physical matter of an etheric nature are unknown and unseen.  Yet they are potent in influence and until etheric vision is developed, all calculations will be full of errorIt suffices for man as yet to master his own dharma, to fulfil group karma, and to dominate what is called “his stars.” (TCF 1058)

Tôi khuyên các đạo sinh ở đây hãy kiêng, (trong những năm tới) đừng cố hình thành bất kỳ tính toán chu kỳ nào, vì hiện nay nhiều chòm sao chỉ tồn tại trong vật chất hồng trần có bản chất dĩ thái là vô tri và vô kiến. Tuy nhiên chúng lại có ảnh hưởng mãnh liệt, và cho đến khi thị kiến dĩ thái được phát triển, mọi phép tính đều đầy sai lầm. Hiện nay, họa là đủ cho con người làm chủ được dharma của riêng mình, hoàn thành nghiệp quả của nhóm, và chế ngự cái gọi là “các sao của mình.” (TCF 1058)

82. Yet, we persist, as we seem fated to do—to calculate and compute. But let us not think we have spoken the last word on the greater universal structures and the dynamics of those structures.

82. Tuy vậy, chúng ta vẫn dai dẳng, như dường như là định mệnh—để tính toán và cộng trừ. Nhưng đừng nghĩ rằng chúng ta đã nói lời sau cùng về các cấu trúc vũ trụ lớn hơn và động lực của các cấu trúc ấy.

in a close and corporate union.  We know that the Great Bear, the Pleiades, Draco or the Dragon are in some way associated with the solar system but as yet He knows not their function nor the nature of the other constellations.

trong một liên hiệp mật thiết và đồng tổ chức. Chúng ta biết rằng chòm Đại Hùng (Ursa Major), Pleiades, Draco hay Thiên Long theo một cách nào đó có liên hệ với hệ mặt trời nhưng cho đến nay Ngài chưa biết chức năng của chúng cũng như bản chất của các chòm sao khác.

83. We are speaking of the limitations of knowledge which characterize a liberated Dhyan Chohan.

83. Chúng ta đang nói về những giới hạn của tri thức vốn đặc trưng cho một Dhyan Chohan đã giải thoát.

84. These are the constellations familiar to us when we think about the ‘Members’ (as chakras and principles) of our local “One About Whom Naught May Be Said”. In this case the term “solar system” can mean exactly that—a one-Sun solar system, or it could include the system of the Cosmic Logos (of the first order—and such exist, TCF 292-293) in which our one-Sun solar system is but a part—a seventh part of its major structure.

84. Đây là các chòm sao quen thuộc với chúng ta khi suy nghĩ về các ‘Thành Viên’ (như các luân xa và nguyên lý) của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta. Trong trường hợp này, thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể có nghĩa đúng đen—một hệ một Mặt Trời, hoặc có thể bao gồm hệ của một Thượng đế Vũ Trụ (bậc thứ nhất—và các Đấng như vậy có hiện hữu, TCF 292–293) trong đó hệ một Mặt Trời của chúng ta chỉ là một phần—một phần bảy của cấu trúc chính của Ngài.

85. DK seems to be telling us that even the liberated Dhyan Chohan does not know the function of the Great Bear, the Pleiades, and Draco. (Do we, then, think we do?)

85. Chân sư DK dường như nói với chúng ta rằng ngay cả Dhyan Chohan đã giải thoát cũng không biết chức năng của chòm Đại Hùng, Pleiades và Draco. (Vậy chúng ta có nghĩ rằng mình biết không?)

86. He is also saying that other constellations are associated with our “solar system”, but that the liberated Dhyan Chohan does not know which constellations. Do we think we do?

86. Ngài cũng nói rằng các chòm sao khác có liên hệ với “hệ mặt trời” của chúng ta, nhưng Dhyan Chohan đã giải thoát không biết là những chòm nào. Chúng ta nghĩ mình biết sao?

It must also be remembered that the turning of our tiny systemic wheel,

Cũng cần nhớ rằng sự quay của bánh xe hệ thống tí hon của chúng ta,

87. The “systemic wheel”, in this instance, is probably the wheel of our one-Sun solar system.

87. “Bánh xe hệ thống”, trong trường hợp này, có lẽ là bánh xe của hệ một Mặt Trời của chúng ta.

and the revolution of a cosmic wheel

và cuộc cách mạng của một bánh xe vũ trụ

88. A “cosmic wheel” in this instance is probably wheel of a Cosmic Logos—a Being which has for its major chakras seven Solar Logoi.

88. “Bánh xe vũ trụ” trong trường hợp này có lẽ là bánh xe của một Thượng đế Vũ Trụ—một Đấng có bảy Thái dương Thượng đế làm các luân xa chính.

can be hastened, or retarded, by influences emanating from unknown or unrealised constellations whose association with a systemic or a cosmic Logos is as mysterious relatively as the effect individuals have upon each other in the human family. 

có thể được gia tốc, hoặc bị trì hoãn, bởi các ảnh hưởng phát xuất từ những chòm sao vô danh hay chưa được nhận tri, có sự liên hệ với một Thượng đế hệ thống hay một Thượng đế vũ trụ vốn cũng bí ẩn một cách tương đối như hiệu ứng các cá nhân tác động lẫn nhau trong gia đình nhân loại.

89. Here we are saying that a systemic wheel can be affected by other known and unknown systemic wheels and by cosmic wheels (or even greater wheels). We are also suggesting that cosmic wheels can be affected by other known and unknown cosmic wheels (and even greater wheels). As well, it is possible that cosmic wheels can be affected by systemic wheels which are lesser in scope than cosmic wheels.

89. Ở đây chúng ta nói rằng một bánh xe hệ thống có thể bị tác động bởi các bánh xe hệ thống khác đã biết hoặc chưa biết và bởi các bánh xe vũ trụ (hoặc thậm chí lớn hơn). Đồng thời, có thể các bánh xe vũ trụ bị tác động bởi các bánh xe vũ trụ khác đã biết hay chưa biết (và thậm chí lớn hơn nữa). Cũng có khả năng các bánh xe vũ trụ bị tác động bởi các bánh xe hệ thống vốn có tầm vóc nhỏ hơn bánh xe vũ trụ.

90. Even the greatest Intelligences on Earth do not know all of these various causal relationships.

90. Ngay cả những Trí tuệ vĩ đại nhất trên Địa cầu cũng không biết tất cả các quan hệ nhân quả khác nhau này.

This effect is hidden in logoic karma and is beyond the ken of man.

Ảnh hưởng ấy ẩn nơi nghiệp quả của Logos và vượt quá tầm hiểu biết của con người.

91. We read the words, “beyond the ken of man”. In this case we are probably not speaking of the influences of the ‘Ultimate Universal Wheel’, but maximally of a galaxy and probably of lesser “cosmic wheels”—yes, all of them cosmic wheels, existing beyond our solar system—“cosmic” in that sense.

91. Chúng ta đọc các từ “vượt quá tầm hiểu biết của con người”. Trong trường hợp này, có lẽ chúng ta không nói về các ảnh hưởng của ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’, mà tối đa là của một ngân hà và rất có thể của những “bánh xe vũ trụ” nhỏ hơn—vâng, tất cả đều là những bánh xe vũ trụ, tồn tại bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta—“vũ trụ” theo nghĩa đó.

92. DK is suggesting that our little systemic wheel (much smaller than the Systemic Wheels listed a little way down the page) can be influenced by Beings much greater than Cosmic Logoi (however we choose to conceive of Cosmic Logoi).

92. Chân sư DK gợi ý rằng bánh xe hệ thống nhỏ bé của chúng ta (nhỏ hơn nhiều so với những Bánh Xe Hệ thống được liệt kê thấp hơn một chút ở trang) có thể bị ảnh hưởng bởi các Đấng lớn hơn nhiều so với các Thượng đế Vũ Trụ (dù chúng ta quan niệm về Các Ngài thế nào).

93. I maintain here that the term “cosmic” applies to multiple kinds of extra-systemic wheels. Our Solar Logos is not a Cosmic Logos, and the chakras of a Cosmic Logos consist of solar systems. I believe we must proceed incrementally with no gaps if possible. Thus my sequential and incremental treatment of the Tabulation on TCF 293 (well prepared by DK’s discussion on TCF 292)

93. Ở đây tôi cho rằng từ “vũ trụ” áp dụng cho nhiều loại bánh xe ngoại-hệ. Thái dương Thượng đế của chúng ta không phải là một Thượng đế Vũ Trụ, và các luân xa của một Thượng đế Vũ Trụ gồm các hệ mặt trời. Tôi tin rằng chúng ta phải tiến hành từng nấc, tuần tự và không bỏ cách nếu có thể. Vì thế mới có cách xử lý tuần tự và tiệm tiến của tôi với Bảng ở TCF 293 (được Chân sư DK chuẩn bị kỹ ở TCF 292).

The wheels in order of their importance might be enumerated as follows:

Các bánh xe theo thứ tự tầm quan trọng có thể liệt kê như sau:

              The wheel of the universe, or the sumtotal of all stars and starry systems.

 Bánh xe của vũ trụ, hay tổng toàn của mọi sao và mọi hệ sao.

94. I call this the ‘Ultimate Universal Wheel. BUT, let us be careful because sometimes the term “universe” or “universal” can apply even to a solar system.

94. Tôi gọi nó là ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’. NHƯNG, hãy cẩn thận vì đôi khi từ “vũ trụ” hay “tính vũ trụ” cũng có thể áp dụng thậm chí cho một hệ mặt trời.

When our solar universe came into being, we are told in the allegorical language of the ancient scriptures, there “was war in Heaven”; “the sun and his seven brothers” did not function with true unanimity; hence (and herein lies a hint) our Earth is not one of the seven sacred planets. (EP I 394)

Khi vũ trụ thái dương của chúng ta khởi hiện, chúng ta được kể trong ngôn ngữ ẩn dụ của các thánh thư cổ rằng đã có “chiến tranh trên Trời”; “mặt trời và bảy người anh em của nó” đã không vận hành trong sự nhất trí chân chính; do đó (và đây là một ám chỉ) Địa Cầu của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. (EP I 394)

“This “fall of the angels” was a tremendous event in the history of our planet, but was nevertheless only a passing and interesting phenomenon in the history of the solar system, and a trifling incident in the affairs of the seven constellations, of which our solar system is but one.  Pause and consider this statement for a moment, and so readjust your sense of values.  The standard of happenings varies in importance according to the angle of vision, and what (from the angle of our Earth’s unfoldment in consciousness) may be a factor of prime importance and of determining value may (from the angle of the universe) be of trifling moment. (EP I 395)

“‘Sự sa ngã của các thiên sứ’ là một biến cố vĩ đại trong lịch sử của hành tinh chúng ta, song dầu vậy cũng chỉ là một hiện tượng thú vị thoáng qua trong lịch sử của hệ mặt trời, và là một sự vụ nhỏ nhặt trong công việc của bảy chòm sao, mà hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trong số đó.  Hãy dừng lại và suy xét phát biểu này một lát, và điều chỉnh lại cảm thức về giá trị của bạn. Chuẩn mực của các diễn biến biến thiên về tầm quan trọng tùy theo góc nhìn, và điều mà (từ góc nhìn của tiến triển tâm thức trên Địa Cầu của chúng ta) có thể là một nhân tố tối hệ trọng và có giá trị quyết định thì (từ góc nhìn của vũ trụ) lại có thể là phút giây nhỏ nhặt. (EP I 395)

95. The mutability of the term “solar system” is evident above. In my view, DK can easily call “solar systems” as “constellations” because a constellation is a system of solar stars, and He can easily call “constellations” “solar systems”, because in a solar system, a number of heavenly bodies are ‘constellated’ together.

95. Tính biến đổi của thuật ngữ “hệ mặt trời” thể hiện rõ ở trên. Theo tôi, Chân sư DK có thể dễ dàng gọi “các hệ mặt trời” là “các chòm sao” vì một chòm sao là một hệ những thái dương, và Ngài cũng có thể dễ dàng gọi “các chòm sao” là “các hệ mặt trời”, vì trong một hệ mặt trời, nhiều thiên thể được ‘kết chòm’ với nhau.

96.  This means that the term “our solar system” can mean precisely our one-Sun solar system, or it can also mean the ‘system of seven solar systems which together form the constellation of a Cosmic Logos’. I know this is a disputed point, but anyone who thinks that DK is rigid in His terminology has not carefully compared a sufficient number of references using the same or similar terms.

96. Điều này có nghĩa là thuật ngữ “hệ mặt trời của chúng ta” có thể chính xác nghĩa là hệ một Mặt Trời của chúng ta, hoặc cũng có thể nghĩa là ‘hệ bảy hệ mặt trời hợp thành chòm sao của một Thượng đế Vũ Trụ’. Tôi biết đây là một điểm còn tranh luận, nhưng ai nghĩ rằng Chân sư DK cứng nhắc trong thuật ngữ của Ngài thì hẳn đã không so sánh đủ nhiều dẫn liệu dùng cùng hay tương cận thuật ngữ.

97. It behooves us to contemplate the term, the “Wheel of the Universe”. It is far more than the wheel of a solar system. In fact, it is the largest of all possible wheels.

97. Chúng ta nên chiêm ngưỡng thuật ngữ “Bánh xe của Vũ trụ”. Nó vượt xa bánh xe của một hệ mặt trời. Thực vậy, nó là bánh xe lớn nhất trong mọi bánh xe khả hữu.

98. If by the “Wheel of the Universe” means only our ‘Galactic Wheel’, then a very huge occult blind is in effect.

98. Nếu “Bánh xe của Vũ trụ” chỉ có nghĩa là ‘Bánh Xe Ngân Hà’ của chúng ta, thì một thủ pháp che mờ huyền môn rất lớn đã được áp dụng.

              A cosmic wheel, or a group of seven constellations.  These are grouped according to:

 Một bánh xe vũ trụ, hay một nhóm gồm bảy chòm sao. Chúng được nhóm lại theo:

99. If we are not to jump from the Ultimate Universal Wheel to a relatively tiny wheel of a “One About Whom Naught May Be Said” in our galaxy (skipping the galactic level altogether), then this “cosmic wheel” is minimally a galactic wheel, and I would not be surprised if it is not a still larger structure, because galaxies, themselves are members of “families” and other still greater groups. The Logoi manifesting through these huge galactic aggregations or ‘constellations’ should not be skipped.

99. Nếu chúng ta không nhảy từ Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu sang một bánh xe tương đối nhỏ của một “Đấng Bất Khả Tư Nghị” trong ngân hà của chúng ta (mà bỏ qua cấp ngân hà hoàn toàn), thì “bánh xe vũ trụ” này tối thiểu là một bánh xe ngân hà, và tôi cũng sẽ không ngạc nhiên nếu nó không phải là một cấu trúc còn lớn hơn, vì bản thân các ngân hà là thành viên của “các gia đình” và những nhóm còn lớn hơn nữa. Các Thượng đế biểu hiện qua những tập hợp ngân hà khổng lồ hay ‘chòm sao’ này không nên bị bỏ qua.

100. So we see the ambiguity of the term “cosmic wheel”. In one respect, and most often, it means the wheel of a Cosmic Logos (a Being with either seven suns as its major chakras, or in some instances, seven seven-sunned constellations as its chakras). BUT, the term “cosmic wheel” can also indicate a far greater structure—even a super-galactic structure.

100. Vậy chúng ta thấy sự mơ hồ của thuật ngữ “bánh xe vũ trụ”. Ở một phương diện, và thường nhất, nó nghĩa là bánh xe của một Thượng đế Vũ Trụ (một Đấng có hoặc bảy Thái dương làm các luân xa chính, hoặc trong một số trường hợp, bảy chòm sao—mỗi chòm gồm bảy Thái dương—làm các luân xa). NHƯNG, thuật ngữ “bánh xe vũ trụ” cũng có thể chỉ một cấu trúc lớn hơn nhiều—thậm chí một cấu trúc siêu-ngân hà.

101. Usually a “cosmic wheel” (being the vehicle of a Cosmic Logos) is well within a galaxy. I am suggesting, however, that the term “cosmic wheel” could indicate the wheel of a Galactic Logos or the wheel of a Being even greater.

101. Thường thì “bánh xe vũ trụ” (vốn là vận cụ của một Thượng đế Vũ Trụ) nằm hoàn toàn trong một ngân hà. Tuy nhiên, tôi đề nghị rằng thuật ngữ “bánh xe vũ trụ” có thể chỉ bánh xe của một Ngân Hà Thượng đế hoặc bánh xe của một Đấng còn lớn hơn.

102. This point of view could, I know, be disputed by some, but I think it is logical in this context.

102. Tôi biết quan điểm này có thể bị một số người phản bác, nhưng tôi nghĩ nó hợp lý trong bối cảnh này.

103. The “constellations” in which a “cosmic wheel” is divided, must be immense structures—whether intra-galactic, galactic or super-galactic (‘level’ of these seven constellations will depend upon our determination of the nature of a “cosmic wheel”).

103. Các “chòm sao” cấu thành một “bánh xe vũ trụ” hẳn là những cấu trúc cực lớn—dù là nội-ngân hà, cấp ngân hà hay siêu-ngân hà (‘cấp’ của bảy chòm sao này sẽ tùy thuộc việc chúng ta xác định bản chất của một “bánh xe vũ trụ”).

a. Their magnitude,

a. Quy mô của chúng,

b. Their vibration,

b. Rung điệu của chúng,

c. Their colour,

c. Màu sắc của chúng,

d. Their influence upon each other.

d. Ảnh hưởng của chúng lên nhau.

104. Minimally DK is, in my view, speaking of the magnitude, vibration, color and mutual influence of the systems of Galactic Logoi—and he could be referencing even greater Logoi and Their super-galactic systems. But we cannot know this.

104. Tối thiểu thì, theo tôi, Chân sư DK đang nói về quy mô, rung điệu, màu sắc và ảnh hưởng tương hỗ của các hệ thống của những Ngân Hà Thượng đế—và Ngài cũng có thể đang ám chỉ các Thượng đế còn lớn hơn và các hệ thống siêu-ngân hà của Các Ngài. Nhưng chúng ta không thể biết chắc.

105. Let us pause to consider that these stupendous Logoi can be classified by the descriptors above.

105. Hãy tạm dừng để suy tưởng rằng các Thượng đế siêu việt này có thể được phân loại theo các phẩm tả trên.

106. This means, bring the matter as close to ‘home’ as possible, that the Logos of our Milky Way Galaxy has a certain galactic magnitude, a certain vibration to be compared with the vibrations of other Galactic Logoi, a certain colour and an influence upon other Galactic Logoi just as They influence Him.

106. Điều này có nghĩa là, đem vấn đề lại gần “nhà” nhất có thể, Ngân Hà Thượng đế của Dải Ngân Hà của chúng ta có một quy mô ngân hà nhất định, một rung điệu nhất định để so sánh với rung điệu của các Ngân Hà Thượng đế khác, một màu sắc nhất định và một ảnh hưởng lên các Ngân Hà Thượng đế khác y như Các Ngài ảnh hưởng lên Ngài.

107. In the case of our Milky Way Galaxy and the galaxy called Andromeda, we know they are rapidly approaching each other and can certainly be considered ‘interactive’ on the galactic level.

107. Trong trường hợp Dải Ngân Hà của chúng ta và ngân hà gọi là Andromeda, chúng ta biết rằng chúng đang nhanh chóng tiến lại gần nhau và chắc chắn có thể được xem là ‘tương tác’ ở cấp ngân hà.

These cosmic wheels, according to the esoteric books, are divided into forty-nine groups, each comprising millions of sept­enary constellations. 

Những bánh xe vũ trụ s, theo các sách huyền môn, được chia thành bốn mươi chín nhóm, mỗi nhóm gồm hàng triệu chòm sao thất phân.

108. “Divided into” can mean the following:

108. “Chia thành” có thể hiểu theo các nghĩa sau:

a.  Subdivision: in this case, an original unit is definitely subdivided into lesser units.

a. Phân chia: trong trường hợp này, một đơn vị nguyên thủy được phân chia dứt khoát thành các đơn vị nhỏ hơn.

b.  Classification: Because used the plural “cosmic wheels” instead of the singular, “cosmic wheel”, there is a possibility that the term “divided into” means “classified into”. In other words, instead of one cosmic wheel being subdivided into forty-nine lesser groups, cosmic wheels themselves can be classified as of forty-nine types.

b. Phân loại: Bởi vì dùng số nhiều “những bánh xe vũ trụ” thay vì số ít “bánh xe vũ trụ”, có khả năng rằng từ “chia thành” nghĩa là “được phân loại thành”. Nói cách khác, thay vì một bánh xe vũ trụ bị phân chia thành bốn mươi chín nhóm nhỏ hơn, bản thân các bánh xe vũ trụ có thể được phân loại thành bốn mươi chín loại.

c. The ambiguity arising from these two possibilities makes it difficult for us to pin-point the scope and status of a “cosmic wheel”.

c. Sự mơ hồ nảy sinh từ hai khả năng này khiến chúng ta khó đóng đinh quy mô và địa vị của một “bánh xe vũ trụ”.

109. FIRST a “cosmic wheel” is divided into “seven constellations”—as we just learned above. This seems definitely to be subdivision.

109. TRƯỚC HẾT một “bánh xe vũ trụ” được chia thành “bảy chòm sao”—như ta vừa biết ở trên. Điều này dường như là phân chia chắc chắn.

110. But now something further is said suggesting that whatever we meant by “seven constellations” above, each of these seven must have many, many subsidiary “constellations” within each of them—probably at least a million. (Notice the various scopes which a term like “constellation” can represent.)

110. Nhưng giờ lại có điều nói thêm gợi ý rằng, bất kể “bảy chòm sao” ở trên được hiểu ra sao, thì mỗi trong bảy ấy hẳn phải có rất nhiều “chòm sao” thứ cấp nằm trong mỗi chòm—có lẽ ít nhất là hàng triệu. (Hãy lưu ý những quy mô khác nhau mà một thuật ngữ như “chòm sao” có thể biểu trưng.)

111. It seems most probable that, when speaking of “cosmic wheels”, we are minimally speaking of Galactic Logoi. No other Being could be comprised of “millions of septenary constellations”. This is far, far, far beyond the scope of any “One About Whom Naught May Be Said” of the kind usually mentioned by DK (though such a Being could very legitimately be thought of as manifesting through a “cosmic wheel”—given the more ordinary sense of the term “cosmic wheel”)

111. Có vẻ rất có khả năng rằng, khi nói về “bánh xe vũ trụ”, chúng ta đang nói tối thiểu về các Ngân Hà Thượng đế. Không có Đấng nào khác có thể bao gồm “hàng triệu chòm sao thất phân”. Điều này vượt xa, xa, xa tầm vóc của bất kỳ “Đấng Bất Khả Tư Nghị” nào theo kiểu thường được Chân sư DK nhắc tới (dẫu một Đấng như vậy hoàn toàn có thể được xem là biểu lộ qua một “bánh xe vũ trụ”—nếu hiểu theo nghĩa thông dụng hơn của thuật ngữ “bánh xe vũ trụ”).

112. As the term “divided into” is ambiguous, how we interpret it could have implications for our estimation of the scope of the Entities discussed.

112. Bởi vì cụm từ “chia thành” mơ hồ, cách chúng ta giải thích nó có thể kéo theo những hệ quả cho việc ước định quy mô của các Đấng đang được bàn.

a. One type of Cosmic Wheel could be of such scope that it contained forty-nine galaxies, or even forty-nine groups of galaxies. (We can assume that these “esoteric books” are all about the real Esoteric Astronomy.)

a. Một kiểu Bánh Xe Vũ Trụ có thể có quy mô bao hàm bốn mươi chín ngân hà, hoặc thậm chí bốn mươi chín nhóm ngân hà. (Chúng ta có thể giả định rằng các “sách huyền môn” này bàn về ngành Thiên văn Huyền môn đích thực.)

b. So if the Cosmic Wheels are structures larger than galaxies, the forty-nine groups could, each of them, be a galaxy or even a group of galaxies.

b. Vậy nếu các Bánh Xe Vũ Trụ là những cấu trúc lớn hơn ngân hà, thì bốn mươi chín nhóm có thể, mỗi nhóm là một ngân hà hoặc thậm chí một nhóm ngân hà.

c. From another perspective, however, we could simply be speaking of a Cosmic Wheel as a galaxy, in which case, each of the forty-nine groups would be intra-galactic and would have millions of septenary constellations—a reasonable assumption. In this case the “forty-nine groups” and the “millions of septenary constellations” would all occur within a galaxy.

c. Ở một góc nhìn khác, chúng ta có thể đơn giản đang nói về một Bánh Xe Vũ Trụ như là một ngân hà, khi ấy, mỗi trong bốn mươi chín nhóm sẽ là nội-ngân hà và có hàng triệu chòm sao thất phân—một giả định hợp lý. Trong trường hợp này, “bốn mươi chín nhóm” và “hàng triệu chòm sao thất phân” đều diễn ra bên trong một ngân hà.

d. But these forty-nine groups would be the ‘systems’ (‘solar systems’ in an interesting sense) of huge Entities, in order, each of them to contain millions of septenary constellations.)

d. Nhưng bốn mươi chín nhóm này sẽ là ‘các hệ’ (theo một nghĩa thú vị là “các hệ mặt trời”) của những Đấng vĩ đại, để mỗi nhóm có thể bao gồm hàng triệu chòm sao thất phân.)

e. OR, from still another perspective—there could even be (depending on how we interpret “divided into”) forty-nine groups of Cosmic Wheels in the Universe. Such groups would consist of Cosmic Wheels as chakras.

e. HOẶC, ở một góc nhìn khác nữa—thậm chí có thể (tùy cách ta hiểu “chia thành”) có bốn mươi chín nhóm Bánh Xe Vũ Trụ trong Vũ trụ. Những nhóm như vậy sẽ gồm các Bánh Xe Vũ Trụ như các luân xa.

f. In the last analysis, what I am trying to say is that the smallest structure a Cosmic Wheel could be is a galaxy, but one can make a good case for a Cosmic Wheel (as presented in this context) being a structure much larger than a galaxy.

f. Sau cùng, điều tôi đang cố nói là cấu trúc nhỏ nhất mà một Bánh Xe Vũ Trụ có thể là, chính là một ngân hà, nhưng cũng có thể biện hộ khá thuyết phục rằng một Bánh Xe Vũ Trụ (như được trình bày trong bối cảnh này) là một cấu trúc lớn hơn nhiều một ngân hà.

g. We need a study of all likely “cosmic wheels” (remember the protean nature of the term “cosmic”) contained within a galaxy. After that we can study the manner in which galaxies aggregate, and how many dimensions of aggregation we are likely to encounter– Cosmic Wheels within greater Cosmic Wheels, etc.—on our way to the ‘Ultimate Universal Wheel’.

g. Chúng ta cần một khảo cứu về mọi “bánh xe vũ trụ” có khả năng (hãy nhớ tính biến hóa của từ “vũ trụ”) nằm bên trong một ngân hà. Sau đó chúng ta có thể nghiên cứu cách các ngân hà kết tụ, và có thể gặp bao nhiêu cấp độ kết tụ—Bánh Xe Vũ Trụ trong những Bánh Xe Vũ Trụ lớn hơn, v.v.—trên lộ trình tiến đến ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’.

For purposes of study by the Adepts, they are each known by a symbol, and these forty-nine symbols em­body all that can be apprehended anent the size, magnitude, quality, vibratory activity, and objective of those great forms through which an Existence is experiencing.

Phục vụ cho mục đích nghiên cứu của các Chân sư, mỗi nhóm được biết đến bằng một ký hiệu, và bốn mươi chín ký hiệu này bao hàm mọi điều có thể lĩnh hội liên hệ đến kích cỡ, tầm vóc, phẩm tính, hoạt động rung động, và mục đích của những hình tướng vĩ đại qua đó một Hữu Thể đang kinh nghiệm.

113. Let us say that, in all probability, either—

113. Chúng ta hãy nói rằng, rất có khả năng, hoặc—

a. We are speaking of a Cosmic Wheel as the manifestation of a Being which has forty-nine galaxies as centers—really probably a Being who has centers consisting of a fusion of seven galaxies for each center, with each of these seven centers having lesser centers each of which is a galaxy.

a. Chúng ta đang nói về một Bánh Xe Vũ Trụ như là sự biểu lộ của một Đấng có bốn mươi chín ngân hà làm các trung tâm—rất có thể một Đấng có các trung tâm là tổ hợp mỗi trung tâm gồm bảy ngân hà, với mỗi trong bảy trung tâm này lại có các trung tâm nhỏ hơn mỗi trung tâm là một ngân hà.

b. OR—we are simply speaking of a Cosmic Wheel as a system of a Galactic Logos, each of which has forty-nine major subdivisions. Probably the justifiably-reeling-mind would prefer this option.

b. HOẶC—chúng ta đơn giản đang nói về một Bánh Xe Vũ Trụ như là hệ của một Ngân Hà Thượng đế, trong đó có bốn mươi chín phân khu chủ yếu. Có lẽ một cái trí đang quay cuồng sẽ thích chọn phương án này hơn.

c. Thus, either forty-nine galaxies are each known by a symbol, which tells all that can be known a great Super-Existence which embodies them—as in Option 1.

c. Như vậy, hoặc là bốn mươi chín ngân hà, mỗi cái được biết bằng một ký hiệu, ký hiệu ấy nói lên mọi điều có thể biết về một Siêu-Hữu thể vĩ đại đang bao hàm chúng—như ở Phương án 1.

d. OR, we are speaking of one galaxy with forty-nine major subdivisions, each of which has a symbol. When the meanings of these forty-nine symbols are combined, all that can be known of a Galactic Logos is evident.

d. HOẶC, chúng ta đang nói về một ngân hà với bốn mươi chín phân khu chủ yếu, mỗi phân khu có một ký hiệu. Khi kết hợp ý nghĩa của bốn mươi chín ký hiệu này, mọi điều có thể biết về một Ngân Hà Thượng đế trở nên hiển lộ.

e. Maybe some students can think of still other options.

e. Có lẽ một số môn sinh có thể nghĩ ra những phương án khác nữa.

114. I am not happy with the very big jump from the ‘Ultimate Universal Wheel’ down to a tiny galaxy, but will admit it as a possible hypothesis. Who knows what DK is leaving out of the picture, just to provide us with some degree of clarity?

114. Tôi không hài lòng với cú nhảy rất lớn từ “Bánh xe Hoàn Vũ Tối Hậu” xuống một thiên hà bé nhỏ, nhưng sẽ tạm chấp nhận như một giả thuyết khả dĩ. Ai biết Chân sư DK đang lược bỏ điều gì khỏi bức tranh, chỉ để mang lại cho chúng ta một mức độ minh bạch nào đó?

115. The question is—“Just how much do Masters know about the entire Universe—about the ‘Ultimate Universal Wheel’? Probably They know something about our galaxy and local galaxies (like Andromeda) and even about our family of galaxies, but how far do Their minds go, when matters beyond this solar system are obscure to even a liberated Dhyan Chohan?

115. Câu hỏi là—“Rốt cuộc các Chân sư biết bao nhiêu về toàn thể Vũ trụ—về ‘Bánh xe Hoàn Vũ Tối Hậu’? Có lẽ Các Ngài biết điều gì đó về thiên hà của chúng ta và các thiên hà lân cận (như Andromeda) và thậm chí về họ thiên hà của chúng ta, nhưng trí của Các Ngài vươn xa đến đâu, khi những điều vượt ra ngoài hệ mặt trời này còn tối mờ ngay cả đối với một Vị Dhyan Chohan giải thoát?

116. Obviously, all such knowledge would be, even to Them, theoretical.

116. Rõ ràng, tất cả loại tri thức như thế sẽ, ngay cả đối với Các Ngài, mang tính lý thuyết.

117. The scale we are dealing with here is huge— far beyond anything listed on Chart V of TCF. And the word “cosmic” is being applied to these huge structures. Thus, I say, let us not rigidify the word “cosmic”.

117. Tỷ lệ mà chúng ta đang bàn ở đây là khổng lồ— vượt xa bất cứ điều gì liệt kê trong Biểu đồ V của TCF. Và từ “vũ trụ” đang được áp dụng cho những cấu trúc khổng lồ này. Vì vậy, tôi nói, chúng ta đừng làm cứng nhắc từ “vũ trụ”.

The Chohans of high degree [1086] know the forty-nine sounds which give the quality of the consciousness aspect of these great Beings

Các Chohan bậc cao [1086] biết bốn mươi chín âm điệu vốn ban cho phương diện tâm thức của các Đấng Vĩ Đại này phẩm chất riêng biệt

118. Either Galactic Logoi or Sub-Galactic Logoi (i.e., Intra-Galactic Logoi)…probably.

118. Hoặc là các Thượng đế Ngân Hà hoặc các Thượng đế Cấp-dưới-Ngân Hà (tức, các Thượng đế Nội-Ngân Hà)… có lẽ vậy.

119. We surely know that there are not only forty-nine galaxies in cosmos! But there could easily be forty-nine super groups of galaxies—billions of galaxies in each.

119. Chắc chắn chúng ta biết rằng trong vũ trụ không chỉ có bốn mươi chín thiên hà! Nhưng hoàn toàn có thể có bốn mươi chín nhóm siêu thiên hà—mỗi nhóm gồm hàng tỉ thiên hà.

120. To each of these forty nine a particular symbol or sound could apply—but of course, this is a huge stretch.

120. Với mỗi trong số bốn mươi chín này có thể ứng một ký hiệu hay âm thanh riêng—nhưng dĩ nhiên, đó là một suy rộng rất xa.

121. The mind would feel much more comfortable thinking one galaxy with forty-nine subsidiary logoi within it (each with its symbol and sound) or of forty nine galaxies (each with its symbol and sound)—these forty-nine being analogous to globes organized into chains (‘galactic chains’) and the chains organized into schemes (‘galactic schemes’)

121. Trí óc sẽ thấy thoải mái hơn khi nghĩ đến một thiên hà có bốn mươi chín vị thượng đế phụ bên trong nó (mỗi vị có biểu tượng và âm thanh của riêng mình) hoặc nghĩ đến bốn mươi chín thiên hà (mỗi thiên hà có biểu tượng và âm thanh của riêng mình)—bốn mươi chín này tương tự như các bầu hành tinh được tổ chức thành các Dãy (“các dãy kiểu-ngân-hà”) và các Dãy lại tổ chức thành các Hệ (“các hệ kiểu-ngân-hà”)

Who are as far removed from the conscious­ness of our solar Logos as the consciousness of man is removed from that of a crystal.

Các Ngài xa lìa tâm thức của Thái dương Thượng đế chúng ta như tâm thức của con người xa lìa tâm thức của một tinh thể.

122. Here we have another significant hint—and maybe one which will help us establish the ‘level’ on which these forty-nine Beings exist—a matter which is not easy of determination.

122. Ở đây chúng ta có một gợi ý quan trọng khác—và có thể là một gợi ý sẽ giúp chúng ta xác lập “cấp” mà trên đó bốn mươi chín Đấng này tồn tại—một vấn đề không dễ xác định.

123. To any of these forty-nine Beings, our Solar Logos is as a crystal. This gives us reason to think that we are speaking of the forty-nine major Beings within a galaxy (though one would think there had to be a still more major seven and not forty-nine), for compared to a galaxy, our Solar Logos and His system could be considered as a “cell”—of which there are some trillions in the human body (just as there are billions of stars in many galaxies and even trillions in some larger galaxies). Thus, we can use this analogy as reasonable. So if a crystal is greater than a cell (though so much depends on what DK means by “crystal”), then the forty-nine Beings are lesser than Galactic Beings (Galactic Logoi), IF a Solar Logos can be considered a “cell” in relation to a Galactic Logos.

123. Đối với bất cứ vị nào trong bốn mươi chín Đấng này, Thái dương Thượng đế của chúng ta như một tinh thể. Điều này cho chúng ta lý do để nghĩ rằng chúng ta đang nói về bốn mươi chín Đấng lớn nằm trong một thiên hà (dẫu người ta sẽ nghĩ rằng hẳn phải có một bộ bảy còn lớn hơn chứ không phải bốn mươi chín), vì so với một thiên hà, Thái dương Thượng đế của chúng ta và Hệ của Ngài có thể được xem như một “tế bào”—mà trong thân thể con người có hàng nghìn tỉ “tế bào” (cũng như có hàng tỉ ngôi sao trong nhiều thiên hà và thậm chí hàng nghìn tỉ trong một số thiên hà lớn hơn). Do đó, chúng ta có thể dùng phép loại suy này như là hợp lý. Vậy nếu một tinh thể lớn hơn một tế bào (dù rất tùy thuộc Chân sư DK muốn nói gì khi dùng từ “tinh thể”), thì bốn mươi chín Đấng kia thấp hơn các Đấng Ngân Hà (các Thượng đế Ngân Hà), NẾU Thái dương Thượng đế có thể được xem như một “tế bào” đối với một Thượng đế Ngân Hà.

124. If the forty-nine Great Beings are to our Solar Logos as the consciousness of man is removed from that of a crystal, we can assume that the distance between the conscious of a Galactic Logos and a Solar Logos is much greater. (I think it is reasonable to consider a Solar Logos as a cell to a Galactic Logos.) But, to what type of Being would our Solar Logos be as an atom or a subatomic particle?

124. Nếu bốn mươi chín Đấng Vĩ Đại đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta như tâm thức của con người xa lìa tâm thức của một tinh thể, chúng ta có thể giả định rằng khoảng cách giữa tâm thức của một Thượng đế Ngân Hà và một Thái dương Thượng đế còn lớn hơn nhiều. (Tôi nghĩ là hợp lý khi xem một Thái dương Thượng đế như một tế bào đối với một Thượng đế Ngân Hà.) Nhưng đối với kiểu Đấng nào thì Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ như một nguyên tử hay một hạt hạ nguyên tử?

125. What is our Solar Logos to the Ultimate Universal Logos?

125. Thái dương Thượng đế của chúng ta là gì đối với Thượng đế Hoàn Vũ Tối Hậu?

126. But is a crystal greater than a cell? We are mixing inorganic and organic contexts here.

126. Nhưng liệu một tinh thể có lớn hơn một tế bào không? Ở đây chúng ta đang pha trộn bối cảnh vô cơ và hữu cơ.

127. Of course, we do not know exactly what DK means by a “crystal”. Does He mean a unit in the mineral kingdom? Maybe a higher member of the mineral kingdom? Or, does He mean a chemical element? Or even a chemical atom?

127. Dĩ nhiên, chúng ta không biết chính xác Chân sư DK muốn nói gì khi dùng từ “tinh thể”. Ngài có muốn nói đến một đơn vị thuộc giới khoáng hay không? Có lẽ là một thành viên cao hơn của giới khoáng? Hay Ngài muốn nói tới một nguyên tố hóa học? Hoặc thậm chí một nguyên tử hóa học?

128. If by a “crystal” DK means a chemical atom, then a chemical atom is much smaller than a cell, and then the Seven Great Beings would have to be much, much larger than a Galactic Logos.

128. Nếu bằng “tinh thể” Chân sư DK muốn nói một nguyên tử hóa học, thì một nguyên tử hóa học nhỏ hơn rất nhiều so với một tế bào, và như vậy Bảy Đấng Vĩ Đại sẽ phải lớn hơn một Thượng đế Ngân Hà rất, rất nhiều.

129. Of this much we are certain: in speaking of “cosmic wheels” and the seven “constellations” and even millions of “constellations” into which they are subdivided, we surely are not speaking of any conventional “One About Whom Naught May Be Said”, because compared to that (to us) supremely august Being, our Solar Logos is certainly no crystal—when reasonable theorists think that our Solar Logos is even a full heart chakra, and others, a minor chakra. But certainly not a crystal!

129. Điều chắc chắn là thế này: khi nói về “các bánh xe vũ trụ” và bảy “chòm sao” và thậm chí hàng triệu “chòm sao” mà chúng được phân chia, chúng ta chắc chắn không nói về bất kỳ “Đấng Bất Khả Tư Nghị” quy ước nào, bởi vì so với Đấng (với chúng ta) cực kỳ tôn nghiêm đó, Thái dương Thượng đế của chúng ta chắc chắn không phải là một tinh thể—khi các nhà lý thuyết có lý cho rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta thậm chí là một toàn bộ luân xa tim, và những người khác thì cho là một luân xa phụ. Nhưng chắc chắn không phải là một tinh thể!

130. So the Cosmic Wheels have forty-nine divisions each of which compared to our Solar Logos is of very great magnitude and scope. We are far beyond Chart V here.

130. Vậy các Bánh xe Vũ trụ có bốn mươi chín phân bộ, mỗi phân bộ so với Thái dương Thượng đế của chúng ta đều có tầm vóc và tầm mức rất lớn. Ở đây chúng ta vượt xa Biểu đồ V.

131. As we see, also, there are numbers of ways to interpret what DK has said. This great subject is still veiled.

131. Như chúng ta thấy, cũng có nhiều cách để diễn giải điều Chân sư DK đã nói. Chủ đề vĩ đại này vẫn còn được che màn.

The knowledge thus appreciated by the Chohans is naturally but theoretical

Tri thức như vậy do các Chohan lĩnh hội, tự nhiên cũng chỉ là mang tính lý thuyết

132. They, too, speculate. They could not possibly have practical knowledge of such Beings when our Solar Logos relates to them as a crystal relates to a man.

132. Các Ngài cũng suy đoán. Các Ngài không thể có tri thức thực tiễn về những Đấng như thế khi Thái dương Thượng đế của chúng ta đối với các Ngài như một tinh thể đối với một con người.

and conveys only to their relatively limited conscious­ness the general nature of the group of constellations,

và chỉ truyền đạt cho tâm thức tương đối giới hạn của các Ngài bản chất tổng quát của nhóm các chòm sao,

133. Remember how vast a “constellation” can be when there are seven constellations in a “cosmic wheel”.

133. Hãy nhớ một “chòm sao” có thể mênh mông đến mức nào khi có bảy chòm sao trong một “bánh xe vũ trụ”.

134. If we are attentive, we may notice that DK is involved in a ‘level-drop’ at this point. Certainly a conventional “Cosmic Logos” such as the “One About Whom Naught May Be Said”, has within it seven major constellations. Such a Cosmic Logos is, of course, larger than one which has in it seven major solar systems.

134. Nếu chúng ta lưu ý, chúng ta có thể nhận ra rằng Chân sư DK đang thực hiện một “hạ cấp độ” ở đây. Chắc chắn một “Thượng đế Vũ trụ” theo nghĩa quy ước như “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, có bên trong Ngài bảy chòm sao chính. Một Thượng đế Vũ trụ như vậy, dĩ nhiên, lớn hơn vị có trong Ngài bảy hệ mặt trời chính.

and the force occasionally emanating from them which has at times to be taken into calculation.

và về mãnh lực đôi khi từ đó xuất lộ, vốn vào những lúc nào đó phải được tính đến.

135. Where do we (in our little solar system) fit in any one of these forty-nine Great Beings? Where does our “One About Whom Naught May Be Said”, and in fact seven such “Ones About Whom Naught May Be Said” or even forty-nine of Them fit within such a Being in Whom there are “millions of septenary constellations”— millions! DK has taken us “off the map”—at least off of Chart V or off any map which we have so far generated.

135. Vậy chúng ta (trong hệ mặt trời nhỏ bé của mình) nằm ở đâu trong bất kỳ một Đấng Vĩ Đại nào trong số bốn mươi chín Đấng? “Đấng Bất Khả Tư Nghị” của chúng ta, và thực ra bảy “Đấng Bất Khả Tư Nghị” như thế hay thậm chí bốn mươi chín Vị như thế, nằm ở đâu trong một Đấng mà trong Ngài có “hàng triệu chòm sao thất phân”—  hàng triệu!  Chân sư DK đã đưa chúng ta “ra khỏi bản đồ”—ít nhất là ra khỏi Biểu đồ V hay khỏi bất kỳ bản đồ nào mà chúng ta đã tạo ra cho đến nay.

136. Of course, we could take the time to make the wildest speculations possible and generate such a map, but that would not help a whole lot in keeping humanity from entering WWIII.

136. Dĩ nhiên, chúng ta có thể dành thời gian để đưa ra những suy đoán hoang dại nhất và vẽ nên một bản đồ như thế, nhưng điều đó sẽ chẳng giúp ích bao nhiêu trong việc giữ cho nhân loại khỏi bước vào Thế chiến III.

For instance, the interest awakened in the public mind lately by the giant star Betelgeuse in the constellation of Orion is due to the fact that at this particular time there has been an interplay of force between our tiny system and this giant one, and communication between the two informing Existences.

Chẳng hạn, mối quan tâm mới đây được khơi dậy trong tâm trí công chúng về ngôi sao khổng lồ Betelgeuse trong chòm sao Orion là do thực tế rằng vào đúng thời điểm này đã có một sự tương tác lực giữa hệ thống nhỏ bé của chúng ta và hệ thống khổng lồ kia, và có sự giao tiếp giữa hai Đấng Thông Linh thấm nhuần chúng.

137. Note the huge level jump or ‘level-drop’. DK is now down in our local “One About Whom Naught May Be Said”. (Remember too, the R2 nature of Betelgeuse, and think what this could mean when DK uses it as a blind for Orion. But that is another subject).

137. Lưu ý cú nhảy cấp độ khổng lồ hay “hạ cấp độ”. Chân sư DK hiện đang hạ xuống trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta. (Cũng hãy nhớ bản chất cung hai của Betelgeuse, và nghĩ xem điều này có thể hàm ý gì khi Chân sư DK dùng nó như một sự che mắt cho Orion. Nhưng đó là một chủ đề khác).

Systemic wheels or the atomic life of individual constellations.

Các bánh xe hệ thống hay sự sống nguyên tử của các chòm sao riêng lẻ.

138. In this case, each chakra is ‘atomic’ in nature.

138. Trong trường hợp này, mỗi luân xa là “nguyên tử” về bản chất.

139. From a very conventional perspective, solar systems are as ‘atoms’ within a Constellational Wheel—but let us remember, “atoms” are not necessarily tiny: man is an atom; a Planetary Logos is an atom; a Solar Logos is an atom:, etc.

139. Từ một viễn kiến rất quy ước, các hệ mặt trời như là “nguyên tử” trong một Bánh xe Chòm sao—nhưng hãy nhớ, “nguyên tử” không nhất thiết nhỏ bé: con người là một nguyên tử; một Hành Tinh Thượng đế là một nguyên tử; một Thái dương Thượng đế là một nguyên tử; v.v.

These again are divided into 343 groups,

Những bánh xe này lại được phân chia thành 343 nhóm,

140. So, again, are we speaking of subdivision or of classification?

140. Vậy, một lần nữa, chúng ta đang nói về sự phân chia hay về phân loại?

141. A “group” in this context could be a Solar Logos with His group of planets.

141. Một “nhóm” trong ngữ cảnh này có thể là một Thái dương Thượng đế cùng với nhóm các hành tinh của Ngài.

known to the Adept again through a series of characters forming a word which—through its ideographic nature—conveys essential information to the Adept.

được một vị Chân sư biết đến qua một loạt ký tự tạo thành một từ—mà nhờ tính tượng hình của nó—truyền đạt thông tin cốt yếu cho vị Chân sư.

142. Are there 343 “words”, one for each “systemic wheel”? Or are the “systemic wheels” divided into 343 parts?

142. Có 343 “từ”, mỗi từ dành cho một “bánh xe hệ thống” chăng? Hay “các bánh xe hệ thống” được chia thành 343 phần?

The ideograph for our solar system may in part be disclosed—not the characters themselves but a digest of that for which the char­acters stand. 

Chữ tượng hình cho hệ mặt trời của chúng ta có thể được tiết lộ một phần—không phải các ký tự tự thân mà là một bản toát yếu về điều mà các ký tự đó biểu trưng.

143. It seems that for our little “systemic wheel” there is an ideograph, but our systemic wheel could be 1/343 of a greater systemic wheel.

143. Có vẻ như đối với “bánh xe hệ thống” nhỏ bé của chúng ta có một chữ tượng hình, nhưng bánh xe hệ thống của chúng ta có thể là 1/343 của một bánh xe hệ thống lớn hơn.

144. Our little systemic wheel could be a seventh part of a Cosmic Logos, which was as seventh part of a “One About Whom Naught May Be Said” which was a seventh part of a ‘Sub-Parabrahmic Logos”. In this case, a “systemic wheel” which had 343 groups within it, would be of the stature of a ‘Sub-Parabrahmic Logos’—one of the large circles in TCF Chart V, 344.

144. Bánh xe hệ thống nhỏ bé của chúng ta có thể là một phần bảy của một Thượng đế Vũ trụ, mà lại là một phần bảy của một “Đấng Bất Khả Tư Nghị” vốn là một phần bảy của một “Thượng đế Cận-Parabrahm”. Trong trường hợp này, một “bánh xe hệ thống” có 343 nhóm bên trong nó sẽ có tầm vóc của một ‘Thượng đế Cận-Parabrahm’—một trong các vòng tròn lớn trong Biểu đồ V của TCF, 344.

145. As we descend to a consideration of “Systemic Wheels”, let us not delude ourselves into thinking that the word “systemic” is anything but protean.

145. Khi chúng ta đi xuống để xét “Các Bánh xe Hệ thống”, đừng tự dối mình mà nghĩ rằng từ “hệ thống” là gì khác ngoài tính đa biến.

146. When speaking of “systemic wheels” which are subdivided, we may be talking about tiny solar systems, but much more likely we are taking about Systemic Beings each of which contains 343 Solar Logoi. This would be a case of subdivision.

146. Khi nói về “các bánh xe hệ thống” vốn được phân chia, chúng ta có thể đang nói về các hệ mặt trời nhỏ, nhưng có khả năng hơn nhiều là chúng ta đang nói về các Đấng Hệ thống, mỗi vị bao gồm 343 Thái dương Thượng đế. Đây sẽ là một trường hợp của phân chia.

147. Again we have the question of the use of the term “divided into”.

147. Lại nữa, chúng ta có vấn đề về cách dùng cụm từ “được chia thành”.

a. Is each “Systemic Wheel” divided into 343 parts, each of these parts being a solar system?

a. Mỗi “Bánh xe Hệ thống” có được chia thành 343 phần, mỗi phần là một hệ mặt trời chăng?

b. Or are there 343 categories of Systemic Wheels—i.e., 343 classifications of Systemic Wheels.

b. Hay có 343 hạng loại của các Bánh xe Hệ thống—tức, 343 phân loại các Bánh xe Hệ thống?

c. I prefer the first option, which does not specify how may “systemic wheels” there are in a “cosmic wheel”.

c. Tôi nghiêng về phương án thứ nhất, vốn không xác định có bao nhiêu “bánh xe hệ thống” trong một “bánh xe vũ trụ”.

d. To think that there were only 343 “systemic wheels” in a “cosmic wheel” would be far too few (at least if we consider the minimum size of a “cosmic wheel” to be a ‘Galactic Wheel’.

d. Nghĩ rằng chỉ có 343 “bánh xe hệ thống” trong một “bánh xe vũ trụ” thì là quá ít (ít nhất nếu chúng ta xem kích cỡ tối thiểu của một “bánh xe vũ trụ” là một “Bánh xe Ngân Hà”).

e. There might be 343 groupings of “systemic wheels” in a galaxy, but then the “systemic” wheels could each contain millions of stars!

e. Có thể có 343 sự nhóm họp của “các bánh xe hệ thống” trong một thiên hà, nhưng khi đó mỗi “bánh xe hệ thống” có thể bao gồm hàng triệu ngôi sao!

f. I am assuming, in general, that there are forty-nine major Solar Logoi in a “One About Whom Naught May Be Said” and not 343, so the minimum ‘Enfolding Entity’ to be classified as a “systemic wheel” would be a ‘Sub-Parabrahmic Logos’ (one level higher than the conventional “One About Whom Naught May Be Said”).

f. Nói chung, tôi giả định rằng có bốn mươi chín Thái dương Thượng đế chính trong một “Đấng Bất Khả Tư Nghị” chứ không phải 343, nên ‘Thực Thể Bao Hàm’ tối thiểu để được xếp vào loại “bánh xe hệ thống” sẽ là một ‘Thượng đế Cận-Parabrahm’ (một cấp cao hơn “Đấng Bất Khả Tư Nghị” theo nghĩa quy ước).

g. In any case, when discussing “systemic wheels”, we are, in my view, discussing Beings far greater than our Solar Logos, because the number 343 suggests certain fundamental combinations of units—a Being with 343 Solar Logoi, and lesser Beings consisting of 49 Solar Logoi and still lesser Beings consisting of 7 Solar Logoi—but all of them far greater than the Being expressing through one solar system.

g. Dù thế nào, khi bàn về “các bánh xe hệ thống”, theo quan điểm của tôi, chúng ta đang bàn về những Đấng lớn hơn Thái dương Thượng đế của chúng ta rất nhiều, bởi vì con số 343 gợi ra những phối hợp cơ bản của các đơn vị—một Đấng có 343 Thái dương Thượng đế, và những Đấng nhỏ hơn gồm 49 Thái dương Thượng đế và những Đấng còn nhỏ hơn nữa gồm 7 Thái dương Thượng đế—nhưng tất cả đều lớn hơn rất nhiều so với Đấng biểu lộ qua một hệ mặt trời.

i. Through one solar system a Solar Logos expresses.

i. Qua một hệ mặt trời một Thái dương Thượng đế biểu lộ.

ii. Through seven solar systems—a Constellational Logos (i.e., Cosmic Logos of the kind given on TCF 293) expresses.

ii. Qua bảy hệ mặt trời—một Thượng đế Chòm sao (tức, một Thượng đế Vũ trụ kiểu như đã nêu ở TCF 293) biểu lộ.

iii. Through forty-nine solar systems—a Super-Constellational Logos—A “One About Whom Naught May Be Said” or an “Unknown” expresses.

iii. Qua bốn mươi chín hệ mặt trời—một Thượng đế Siêu Chòm sao—một “Đấng Bất Khả Tư Nghị” hay một “Đấng Vô Danh” biểu lộ.

iv. Through 343 solar systems—a ‘Super-Duper—Constellational Logos’ (forgive me J) expresses. (This Being s seven times greater than a “One About Whom Naught May Be Said”.) Is this a Cosmic Parabrahm or one level lower? Debate is needed and has been attempted, yielding no consensus.

iv. Qua 343 hệ mặt trời—một ‘Thượng đế Siêu-Siêu Chòm sao’ (xin thứ lỗi cho tôi) biểu lộ. (Đấng này lớn hơn một “Đấng Bất Khả Tư Nghị” bảy lần.) Đây có phải là một Parabrahm Vũ trụ hay thấp hơn một cấp? Cần tranh luận và đã được thử, nhưng chưa đạt đồng thuận.

v. I consider a Cosmic Parabrahm to contain 2401 major Solar Logoi.

v. Tôi cho rằng một Parabrahm Vũ trụ bao hàm 2401 Thái dương Thượng đế chính.

h. I think it is obvious that the Logos manifesting through a “Systemic Wheel” is much greater than our Solar Logos. Again, “divided into” has to be analyzed, but in either case, if our Solar Logos is one of 343, then several greater, ascending Septenary Beings are implied.

h. Tôi nghĩ là hiển nhiên rằng Thượng đế biểu lộ qua một “Bánh xe Hệ thống” lớn hơn Thái dương Thượng đế của chúng ta rất nhiều. Một lần nữa, “được chia thành” cần được phân tích, nhưng trong cả hai trường hợp, nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trong 343, thì hàm ý có một số Đấng lớn hơn theo tuyến bậc thất phân đi lên.

i. Thus, caution is advised when dealing with the meaning of the word “systemic” just as “cosmic”.

i. Do đó, cần thận trọng khi xử lý ý nghĩa của từ “hệ thống” cũng như từ “vũ trụ”.

Our solar system is disclosed as being:

Hệ mặt trời của chúng ta được tiết lộ là:

a. A system of the fourth order, having its force centres upon the fourth cosmic plane,

a. Một hệ thống thuộc cấp bốn, có các trung tâm lực của nó trên cõi vũ trụ thứ tư,

148. Notice this—this is not about cosmic ethers. This is about the fourth ‘ super-cosmic ether’. To analogize, what type of force centers does man have upon the buddhic plane? Eventually, He surely has seven—but they can be on different subplanes of the buddhic plane, and I infer that the cosmic buddhic centers of our Solar Logos can also be on different subplanes of the fourth cosmic plane.

148. Lưu ý điều này—điều này không nói về các dĩ thái vũ trụ. Điều này nói về “ siêu -dĩ thái” thứ tư. Theo loại suy, con người có loại trung tâm lực nào trên cõi Bồ đề? Rốt cuộc, Hẳn là có bảy—nhưng chúng có thể nằm trên các cõi phụ khác nhau của cõi Bồ đề, và tôi suy ra rằng các trung tâm Bồ đề vũ trụ của Thái dương Thượng đế chúng ta cũng có thể ở trên các cõi phụ khác nhau của cõi vũ trụ thứ tư.

149. We have to compare the statement here with the one which shows our Solar Logos having His centers upon the fourth cosmic ether. Obviously, different orders of centers are involved.

149. Chúng ta phải so sánh mệnh đề này với mệnh đề cho thấy Thái dương Thượng đế của chúng ta có các trung tâm của Ngài trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư. Rõ ràng, liên quan đến các cấp độ trung tâm khác nhau.

150. We can also ask: “Is our Solar Logos at such a developmental level that his cosmic buddhic centers are organized? Perhaps, to some extent, they would have to be.

150. Chúng ta cũng có thể hỏi: “Thái dương Thượng đế của chúng ta ở mức phát triển nào để các trung tâm Bồ đề vũ trụ của Ngài đã được tổ chức?” Có lẽ, ở một mức độ nào đó, điều đó phải là như vậy.

151. We can also ask if man, as presently developed, has force centers on the buddhic plane? Perhaps, to some extent, this would have to be the case, though such centers would have to be simply ‘place holders’—latent, undeveloped centers in the vast majority of cases.

151. Chúng ta cũng có thể hỏi liệu con người, như hiện đang phát triển, có các trung tâm lực trên cõi Bồ đề không? Có lẽ, ở một mức độ nào đó, điều này cũng phải đúng, dẫu các trung tâm như thế chỉ là những “vị trí giữ chỗ”—các trung tâm tiềm ẩn, bất khai trong đại đa số trường hợp.

              and making its objective manifestation from the fourth systemic plane,

và tạo nên sự biểu lộ khách quan từ cõi hệ thống thứ tư,

152. The fourth cosmic ether…

152. Cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư…

via the fourth subplane of the systemic physical plane.

qua cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần hệ thống.

153. Nothing surprising here. The real task is to match our various Planetary Logoi with positions on the fourth cosmic plane. A whole new field of inquiry…

153. Không có gì đáng ngạc nhiên ở đây. Nhiệm vụ thực sự là phối định các Hành Tinh Thượng đế khác nhau của chúng ta với các vị trí trên cõi vũ trụ thứ tư. Cả một lĩnh vực nghiên cứu mới…

b. Blue in colour, esoteric orange and green.

b. Màu xanh lam, nội môn là cam và lục.

154. VSK offers: “This is one of the most curious colour phrases, and puzzles me endlessly. Esoteric orange and green in this case seems to relate to the “first” (third-aspect or previous) solar system. So why would our current (exoterically?) blue system be esoterically orange and green? I could rather understand it is exoterically orange and green, and esoterically blue.

154. VSK nêu: “Đây là một trong những cụm từ về màu sắc lạ lùng nhất, khiến tôi bối rối không dứt. “Cam và lục nội môn” trong trường hợp này dường như liên hệ với hệ mặt trời “thứ nhất” (phương diện thứ ba hay hệ trước). Vậy tại sao hệ hiện tại của chúng ta (ngoại môn?) xanh lam lại nội môn là cam và lục? Tôi có thể hiểu hơn nếu nó là ngoại môn cam và lục, và nội môn xanh lam.

155. The term “esoteric” in this case may simply indicate an implicate condition derived from the previous solar system.

155. Thuật ngữ “nội môn” ở đây có thể đơn giản chỉ ra một trạng thái tiềm ẩn phát sinh từ hệ mặt trời trước.

c. A system which is occultly known to the Adept as “in an airy sign in which the Bird can fly.”

c. Một hệ thống được các Chân sư biết theo huyền thuật là “ở trong một dấu hiệu hành khí nơi Chim có thể bay.”

156. VSK offers: “The bird, we recall, is key to the symbol of the five liberated Hierarchies, or Kumaras. The one Kumara with the bird symbol however is associated with Taurus; not airy. However, the solar system is of a higher magnitude than five kumaras of this world period. Would it even relate to any of the twelve signs of our zodiac, or refer rather to the (cosmic) buddhic plane, which is fourth order?  And airy.”

156. VSK nêu: “Con chim, chúng ta nhớ, là chìa khóa của biểu tượng năm Huyền Giai được giải thoát, hay các Kumara. Tuy nhiên, vị Kumara có biểu tượng con chim lại liên hệ với Kim Ngưu; không phải hành khí. Tuy nhiên, hệ mặt trời là một cấp bậc cao hơn năm Kumara của chu kỳ thế giới này. Liệu nó có liên hệ với bất kỳ dấu hiệu nào trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo của chúng ta, hay đúng hơn là chỉ về cõi Bồ đề (vũ trụ), vốn thuộc trật tự thứ tư? Và là hành khí.”

157. Cosmologist Niklas Nihlen has pointed out that the section of space in which our solar system and, in my view, “our constellation” can be found is associated with “Birds”.

157. Nhà vũ trụ học Niklas Nihlen đã chỉ ra rằng phần không gian chứa hệ mặt trời của chúng ta và, theo quan điểm của tôi, “chòm sao của chúng ta” gắn với “Chim”.

158. More research is needed here. The buddhic nature of our solar system is apparent, for the flying bird is an Egyptian Symbol of the liberation of “Ba” (the human Jiva) and Horus (the Solar Angel) at the fourth initiation.

158. Cần thêm nghiên cứu ở đây. Tính Bồ đề của hệ mặt trời chúng ta là hiển nhiên, vì chim bay là Biểu tượng Ai Cập về sự giải phóng của “Ba” (Jiva nhân loại) và Horus (Thái dương Thiên Thần) ở lần điểm đạo thứ tư.

159. In much of the foregoing it has been my objective to place our Solar Logos and even our local “One About Whom Naught May Be Said” in a more cosmic context, and show how tiny They really are. I wish to demonstrate that we have to proceed cautiously and with utmost humility as we investigate these subjects. Terms are fluid; contexts are far more vast than we can imagine; and there are many rungs on the ladder connecting one dimension or stage of being with a higher—rungs of which we have absolutely no clear idea.

159. Trong phần trên, mục tiêu của tôi là đặt Thái dương Thượng đế của chúng ta và thậm chí “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta vào một bối cảnh vũ trụ hơn, và cho thấy Các Ngài thật sự nhỏ bé như thế nào. Tôi mong chứng minh rằng chúng ta phải tiến hành thận trọng và với lòng khiêm cung tột bậc khi khảo cứu những đề tài này. Thuật ngữ là linh động; các bối cảnh rộng lớn hơn nhiều so với khả năng hình dung của chúng ta; và có nhiều nấc trên chiếc thang nối một chiều kích hay một giai đoạn hiện hữu với một giai đoạn cao hơn—những nấc mà chúng ta hoàn toàn chưa có ý niệm rõ ràng nào.

d. A system formed of “three fires which form a fourth.”

d. Một hệ thống được hình thành bởi “ba lửa hợp thành một lửa thứ tư.”

160. The three fires may relate to thee three elements which combine, eventually, to produce liberation into the buddhic element of “air”.

160. Ba lửa có thể liên hệ với ba yếu tố vốn cuối cùng kết hợp để đem lại giải thoát vào yếu tố Bồ đề của “khí”.

161. On the other hand, the three fires which we are used to discussing—fire by friction, solar fire and electric fire—may be considered three aspects of an inclusive fourth fire.

161. Mặt khác, ba lửa mà chúng ta vốn quen bàn—lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa điện—có thể được xem như ba phương diện của một lửa bao gồm thứ tư.

e. A system in which the Bird has “four tail feathers” [1087] and hence can occultly “mount to a higher plane and find its fifth.”

e. Một hệ thống trong đó Chim có “bốn lông đuôi” [1087] và do vậy có thể theo huyền thuật “bay lên một cõi cao hơn và tìm thấy chiếc thứ năm.”

162. Our Solar Logos is to achieve, minimally, the fourth cosmic initiation through this particular solar system.

162. Thái dương Thượng đế của chúng ta tối thiểu sẽ đạt lần điểm đạo vũ trụ thứ tư qua hệ mặt trời đặc thù này.

163. To find the fifth “tail feather” may be considered equivalent to taking the fifth cosmic initiation—which may also be possible in this second major solar system.

163. Tìm chiếc “lông đuôi” thứ năm có thể được xem như tương đương với việc thọ lần điểm đạo vũ trụ thứ năm—điều này cũng có thể khả hữu trong hệ mặt trời chính thứ hai này.

164. VSK offers: “This does relate to the symbols of the Five Kumaras—a symbol which has a bird with five tail feathers.  (And, for illustration, has been the drawing for FCF Yahoogroups homepage.)  Does the fifth then relate to atmic plane?”

164. VSK nêu: “Điều này liên hệ với các biểu tượng của Năm Kumara—một biểu tượng có hình chim với năm lông đuôi. (Và, để minh họa, đã từng là hình vẽ cho trang chủ FCF Yahoogroups.) Vậy cái thứ năm có liên hệ với cõi atma không?”

165. The following s of our solar system are extremely occult in nature.

165. Những điều sau đây về hệ mặt trời của chúng ta là vô cùng huyền bí về bản chất.

f. A system which has four major cycles, and minor periods of manifestation which are multiples of that figure.

f. Một hệ thống có bốn chu kỳ chính, và những thời kỳ biểu lộ phụ là những bội số của con số ấy.

166. Does this mean that of seven cycles, four of them are major?

166. Điều này có nghĩa là trong bảy chu kỳ, có bốn chu kỳ là chính chăng?

167. Because our solar system is one of the fourth order, will only four rays work through it (majorly) at any one time?

167. Bởi vì hệ mặt trời của chúng ta thuộc cấp bốn, liệu chỉ có bốn cung hoạt động qua nó (một cách chủ đạo) tại bất kỳ thời điểm nào?

168. To this, we may relate the thought that our Solar Logos is in his fourth ‘solar systemic round’.

168. Liên đới với điều này, chúng ta có thể liên hệ ý tưởng rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta đang ở trong “vòng quay hệ mặt trời” thứ tư của Ngài.

g. A system which in the alchemical phraseology of the Masters is viewed as being “a product of the fourth;

g. Một hệ thống mà theo thuật ngữ giả kim của các Chân sư, được xem là “một sản phẩm của cái thứ tư;

169. The fourth in a series of six or seven solar systems is the antedating solar system of our present fifth solar system (second major solar system).

169. Cái thứ tư trong chuỗi sáu hay bảy hệ mặt trời là hệ mặt trời đi trước hệ thứ năm hiện tại của chúng ta (hệ mặt trời chính thứ hai).

the fourth itself in process of transmutation;

bản thân cái thứ tư đang trong tiến trình chuyển hoá;

170. The personality nature of our Solar Logos is in process of transmutation.

170. Bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trong tiến trình chuyển hoá.

171. As well, we could say that the fourth systemic plane in the dense physical body of our Solar Logos is in process of transmutation.

171. Đồng thời, chúng ta có thể nói rằng cõi hệ thống thứ tư trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trong tiến trình chuyển hoá.

and the living stone with four shells.”

và là hòn đá sống có bốn lớp vỏ.”

172. Graduates of ‘Earth-School’ are to become “Living Stones”

172. Những người tốt nghiệp “Trường Địa Cầu” sẽ trở thành “Những Hòn Đá Sống”.

173. Our Solar Logos is not yet a cosmic Initiate of the third or fourth degree. At the fourth degree He would become a “Living Stone”.

173. Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phải là một bậc Điểm đạo đồ vũ trụ của cấp ba hay bốn. Ở cấp bốn Ngài sẽ trở thành một “Hòn Đá Sống”.

174. The “shells” can be considered as coverings of the “stone” or cosmic “Jewel in the Lotus”.

174. “Các vỏ” có thể được xem như những lớp che của “hòn đá” hay “Viên Ngọc trong Hoa Sen” cấp vũ trụ.

175. The shells could also be considered the mental, emotional, etheric and dense physical nature of our Solar Logos.

175. Các “lớp vỏ” cũng có thể được xem như bản chất trí tuệ, cảm xúc, dĩ thái và hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

All this can be seen at one glance by the Master who has the ideographic word before Him.

Tất cả điều này có thể được thấy trong một cái nhìn của vị Chân sư khi Ngài có từ tượng hình trước mắt.

176. The ideographic word definitely refers to our tiny one-Sun solar system. The words apparently do not refer to the greater “systemic wheels”.

176. “Từ tượng hình” chắc chắn ám chỉ hệ mặt trời một Mặt Trời bé nhỏ của chúng ta. Những từ ấy dường như không chỉ về các “bánh xe hệ thống” lớn hơn.

Other ideograms are available for His use which give Him the immediate information as He studies the influences contacting our solar system.

Các chữ tượng hình khác sẵn sàng cho Ngài sử dụng nhằm cho Ngài thông tin tức thì khi Ngài khảo cứu những ảnh hưởng đang tiếp xúc hệ mặt trời của chúng ta.

177. The information available to the Masters is very great and conveyed in the most economical terms.

177. Thông tin sẵn có cho các Chân sư là rất lớn và được truyền đạt bằng những thuật ngữ tiết kiệm nhất.

178. Other solar systems influence our solar system; other constellations as well and aggregations of constellations (which are also, in a way, constellations). For each of these, we presume, there is an ideogram.

178. Các hệ mặt trời khác ảnh hưởng đến hệ mặt trời của chúng ta; các chòm sao khác cũng vậy và cả những tập hợp chòm sao (vốn, theo một nghĩa nào đó, cũng là các chòm sao). Chúng ta suy đoán rằng đối với mỗi thứ trong số đó đều có một chữ tượng hình.

Planetary wheels.  For these there are ten modes of expression.

Các bánh xe hành tinh. Đối với những bánh xe này có mười phương thức biểu lộ.

179. DK not telling us how many planetary wheels there are in our solar system.

179. Chân sư DK không nói cho chúng ta biết có bao nhiêu bánh xe hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta.

180. There are over 115 planets (visible and ‘invisible’) in our solar system, but perhaps only ten can be considered major, and of these ten, perhaps only seven.

180. Có trên 115 hành tinh (hữu hình và “vô hình”) trong hệ mặt trời của chúng ta, nhưng có lẽ chỉ mười được xem là chính, và trong mười đó, có lẽ chỉ bảy.

181. Yet each has a tenfold mode of expression—three major modes and, relatively, seven minor.

181. Tuy vậy, mỗi hành tinh có một phương thức biểu lộ mười bậc—ba bậc chính và, tương đối mà nói, bảy bậc phụ.

Chain wheels, called in some of the books rounds.

Các bánh xe Dãy, trong một số sách được gọi là các cuộc tuần hoàn.

182. Thus far, a “wheel” has been a vehicle of expression for some type of Being or Logos.

182. Cho đến giờ, “bánh xe” là một vận cụ biểu lộ cho một kiểu Đấng hay một vị Thượng đế nào đó.

183. A “round” does not fit this criterion. A round is a kind of ‘circular evolutionary motion’ within a “chain wheel”.

183. Một “cuộc tuần hoàn” không phù hợp với tiêu chí này. Một cuộc tuần hoàn là một dạng “vận động tuần hoàn tiến hóa” trong một “bánh xe Dãy”.

184. A chakra is a wheel. A wheel turns and a chakra, also, turns.

184. Một luân xa là một bánh xe. Một bánh xe quay, và một luân xa cũng thế.

185. There are a number of rounds in any “chain wheel”.

185. Có một số cuộc tuần hoàn trong bất kỳ “bánh xe Dãy” nào.

The revolution of any one globe.

Sự quay của bất kỳ một bầu hành tinh nào.

186. A “globe” too must be considered to rotate and also, in its own way, revolve.

186. Một “bầu” cũng phải được xem như tự quay và cũng, theo cách riêng của nó, tự vận hành theo quỹ đạo.

187. All spheres rotate and revolve, but the cycles involved in such rotation and revolution for chains and globes are not given to us.

187. Mọi hình cầu đều tự quay và tự vận hành, nhưng các chu kỳ liên quan đến sự quay và sự vận hành như vậy đối với các Dãy và các Bầu thì không được ban cho chúng ta.

The cycle of the three worlds.

Chu kỳ của ba cõi.

188. Perhaps each of these is to be considered a developmental cycle.

188. Có lẽ mỗi cõi nên được xem như một chu kỳ phát triển.

189. The reincarnating Ego pursued certain cycles through the three worlds.

189. Chân ngã tái sinh đã theo đuổi những chu kỳ nhất định qua ba cõi thấp.

190. Probably each of the three worlds has its duration. The duration of the dense physical plane must be the shortest and the cycle of the mental plane the longest.

190. Có lẽ mỗi cõi trong ba cõi có thời hạn của nó. Thời hạn của cõi hồng trần đậm đặc hẳn là ngắn nhất và chu kỳ của cõi trí là dài nhất.

The wheel of a plane.

Bánh xe của một cõi.

191. Planes are spherical, we are told, and rotate.

191. Người ta nói các cõi là hình cầu, và tự quay.

192. There is probably a planar rotation for each Planetary Logos and for the planes of the Solar Logos—a larger cycle.

192. Có lẽ có sự tự quay ở cấp cõi đối với mỗi Hành Tinh Thượng đế và đối với các cõi của Thái dương Thượng đế—một chu kỳ lớn hơn.

193. Again, this is a very occult cycle.

193. Một lần nữa, đây là một chu kỳ rất huyền bí.

The revolution or cyclic appearance of a kingdom in nature.

Sự tự quay hay sự xuất hiện theo chu kỳ của một giới trong thiên nhiên.

194. Kingdoms of nature are systemic expressions rather than strictly planetary expressions.

194. Các giới trong thiên nhiên là những biểu lộ hệ thống hơn là những biểu lộ nghiêm ngặt thuộc hành tinh.

195. Relatively, and within the three lower worlds, the mineral kingdom has the longest cycle and the human kingdom the shortest.

195. Tương đối mà nói, và trong ba cõi thấp, giới khoáng có chu kỳ dài nhất và giới nhân loại ngắn nhất.

196. Every kingdom is life-unit in revolution. A kingdom of nature, too, is an atom in revolution and rotation.

196. Mỗi giới là một đơn vị sự sống-đang-tự-quay. Một giới trong thiên nhiên cũng là một nguyên tử đang tự quay và tự vận hành.

This applies within a scheme but only to the four kingdoms in objective appearance.

Điều này áp dụng trong một Hệ hành tinh nhưng chỉ đối với bốn giới biểu lộ khách quan.

197. There are three subjective kingdoms: the Kingdom of Souls, the Kingdom of Planetary Lives, the Kingdom of Solar Lives.

197. Có ba giới chủ quan: Giới Linh hồn, Giới Sự sống Hành tinh, Giới Sự sống Thái dương.

198. The four kingdoms in objective appearance are the mineral kingdom, the vegetable kingdom, the animal kingdom and the human kingdom.

198. Bốn giới biểu lộ khách quan là giới khoáng, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại.

199. The cycles of appearance and disappearance are strictly determined, but among the units within any kingdom, there is room for some variability of cycles.

199. Các chu kỳ xuất hiện và biến mất được ấn định chặt chẽ, nhưng giữa các đơn vị trong bất kỳ giới nào, vẫn có khoảng dao động cho một mức độ biến thiên của các chu kỳ.

The revolution of a planetary centre producing monadic appearance.

Sự tự quay của một trung tâm hành tinh tạo nên sự xuất hiện của các Chân thần.

200. Every Monad is a constituent member of a planetary center—probably any one of the seven major planetary centers, but perhaps only the three highest—head, heart and throat. The first option is more likely.

200. Mỗi Chân thần là một thành viên cấu thành của một trung tâm hành tinh—có lẽ là bất kỳ một trong bảy trung tâm hành tinh chính, nhưng cũng có thể chỉ là ba trung tâm cao nhất—đầu, tim và họng. Phương án thứ nhất có vẻ khả hữu hơn.

201. As the planetary center revolves, its constituent Monads undertake their pilgrimage and pass through different phases upon that pilgrimage.

201. Khi trung tâm hành tinh tự quay, các Chân thần cấu thành của nó khởi hành cuộc lữ hành và đi qua các giai đoạn khác nhau trên lộ trình ấy.

The monadic wheel, or the periodic appearance of units of the fourth Creative Hierarchy. 

Bánh xe chân thần, hay sự xuất hiện theo chu kỳ của các đơn vị thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

202. This occurs, it appears, somewhat independently of the turning of the wheel of a planetary center.

202. Điều này dường như diễn ra phần nào độc lập với sự quay của bánh xe một trung tâm hành tinh.

203. The “monadic wheel” has its cycles of ones and threes.

203. “Bánh xe chân thần” có các chu kỳ theo đơn vị một và ba.

204. Not all Monads from the same center come forth towards individualization at the same time. Once in incarnation, Monads also progress at different rates and at different times.

204. Không phải tất cả các Chân thần từ cùng một trung tâm đều xuất lộ hướng về biệt ngã hóa vào cùng một thời điểm. Một khi đã lâm phàm, các Chân thần cũng tiến triển với những nhịp độ khác nhau và vào các thời điểm khác nhau.

Thus we pass down the scale through all the kingdoms and forms till we arrive at the tiny revolution of an atom of substance.

Như vậy chúng ta đi xuống theo thang bậc qua mọi giới và mọi hình tướng cho đến khi đi đến sự tự quay nhỏ nhoi của một nguyên tử của chất liệu.

205. The ‘rounds’ through such an atom involve activation of and emphasis upon different spirillae.

205. Các “cuộc tuần hoàn” qua một nguyên tử như vậy bao hàm sự hoạt hóa của và sự nhấn mạnh lên các tiểu xoắn ốc khác nhau.

206. It would seem that all such spheres both rotate and revolve.

206. Có vẻ như tất cả những hình cầu như vậy vừa tự quay vừa tự vận hành.

207. In this section of text we have travelled from the ultimately universal down to the sub-microscopic.

207. Trong phần văn này, chúng ta đã đi từ tối hậu hoàn vũ xuống đến cận vi mô.

Scroll to Top