S9S10 Part II (TCF 1168-1170)
|
I. THE SUBSIDIARY LAWS |
I. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ |
|
The subsidiary aspects, or laws, of the Law of Attraction might be enumerated as follows: |
Các phương diện phụ, hay các định luật phụ, của Định luật Hấp dẫn có thể liệt kê như sau: |
|
1. The Law of Chemical Affinity. |
1. Định luật Ái lực Hoá học. |
|
This law governs the soul aspect in the mineral kingdom. |
Định luật này cai quản phương diện linh hồn trong giới khoáng vật. |
|
1. Here we are dealing with the “anima mundi” or “soul of the world”—the lower worlds especially. |
1. Ở đây chúng ta đang xử lý với “anima mundi” hay “linh hồn của thế giới”—đặc biệt là các cõi thấp. |
|
2. We notice that it is the consciousness or “soul aspect” of the mineral kingdom which is governed by this law more than the matter aspect. |
2. Chúng ta lưu ý rằng chính tâm thức hay “phương diện linh hồn” của giới khoáng vật được định luật này cai quản hơn là phương diện chất liệu. |
|
3. It may seem unusual to think of the mineral kingdom as possessing “soul”, but according to the Hylozoistic Theory there is no aspect of Creation devoid of soul or consciousness of some type. |
3. Có thể thấy lạ khi nghĩ giới khoáng vật có “linh hồn”, nhưng theo Thuyết Vạn Vật Hữu Sinh thì không có phương diện nào của Sự Sống lại thiếu vắng linh hồn hay một loại tâm thức nào đó. |
|
It concerns the marriage of the atoms, and the romance of the elements. |
Nó liên quan đến cuộc “hôn phối” của các nguyên tử, và “mối luyến ái” của các nguyên tố. |
|
4. DK is deliberately using analogical terms which apply more to the human level of existence than to the world of so-called “inanimate matter”. Really, He is telling us that the mineral kingdom is animate. |
4. DK cố ý dùng các thuật ngữ suy tỷ áp dụng nhiều hơn cho tầng nhân loại so với thế giới “vật chất vô tri” được gọi như vậy. Thực ra, Ngài đang nói với chúng ta rằng giới khoáng vật là hữu sinh. |
|
5. He is also telling us that all the issues of affinity, attraction and repulsion exist in this mineral world (governed by its soul) just as they exist in the human kingdom governed by the soul aspect (both the incarnated soul aspect and the aspect of soul which is said to be “on its own plane”). |
5. Ngài cũng đang nói rằng mọi vấn đề về ái lực, hấp dẫn và đẩy lùi tồn tại trong thế giới khoáng vật này (được cai quản bởi linh hồn của nó) cũng như chúng tồn tại trong giới nhân loại được cai quản bởi phương diện linh hồn (cả phương diện linh hồn đang nhập thể và phương diện linh hồn “tại cõi riêng của nó”). |
|
6. He seems to be working against the prevalent thought that the mineral kingdom is lifeless, inert, unconscious. |
6. Ngài dường đang làm việc nghịch lại tư tưởng phổ biến cho rằng giới khoáng vật là vô sinh, bất động, vô thức. |
|
It serves to perpetuate the life of the mineral kingdom and to preserve its integrity. |
Nó duy trì sự sống của giới khoáng vật và bảo tồn tính toàn vẹn của nó. |
|
7. This is an interesting idea. Is DK saying that without the marriage of the atoms and the romance of the elements the life of the mineral kingdom would not be perpetuated? |
7. Đây là một ý niệm thú vị. DK có đang nói rằng nếu không có “hôn phối” của các nguyên tử và “mối luyến ái” của các nguyên tố thì sự sống của giới khoáng vật sẽ không được duy trì chăng? |
|
8. This leads one to consider the question of ‘sex’ within the mineral kingdom and the methods of death and reproduction related to it, if such truly exists. |
8. Điều này dẫn người ta suy tư về “tính dục” trong giới khoáng vật và các phương thức tử vong và tái sinh liên hệ với nó, nếu thực sự có như thế. |
|
9. If reincarnation is a universal law, in what manner does it operate within the mineral kingdom with its group soul and many group soul subdivisions? Are there incarnate and discarnate members of this kingdom? Is it possible that certain ‘units’ in the mineral kingdom are ‘out of incarnation’ while, presumably, a smaller proportion are ‘in incarnation’? These are odd thoughts but it seems that the Tibetan is inclining us to think along such lines. |
9. Nếu luân hồi là một định luật phổ quát, vậy nó vận hành thế nào trong giới khoáng vật với hồn nhóm và nhiều phân hồn nhóm của nó? Có những thành viên “nhập thể” và “phi nhập thể” trong giới này không? Có thể nào một số “đơn vị” trong giới khoáng vật đang “ngoài vòng lâm phàm” trong khi, có lẽ, một tỉ lệ nhỏ hơn đang “lâm phàm”? Những ý nghĩ này quả kỳ lạ nhưng dường như Chân sư Tây Tạng đang hướng chúng ta tư duy theo các đường lối như vậy. |
|
It is the cause of the immetalisation of the Monad. |
Nó là nguyên nhân của sự kim loại hóa của Chân thần. |
|
10. DK is telling us that the Law of Chemical Affinity is the “cause of the immetalisation of the Monad”. Has the ‘soul’ of the mineral kingdom attracted the descending Monad from its high estate? During the Second Outpouring, a Monad on the monadic plane takes to itself an atom of etheric substance which becomes, for it, a permanent atom. In this way that this permanent atom must ‘journey’ through the mineral kingdom in its many subdivisions and that this ‘journey’ is part of the pre-individualization pilgrimage of that which will one day be called the “human Monad”. Speculation on this possibility leads us towards some thoughts seldom thought! |
10. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Định luật Ái Lực Hóa Học là “nguyên nhân của sự khoáng hoá của Chân thần”. “Hồn” của giới khoáng chất có phải đã hấp dẫn Chân thần đang giáng hạ từ địa vị cao của Ngài chăng? Trong lần tuôn đổ thứ hai, một Chân thần trên cõi chân thần thu nạp cho chính mình một nguyên tử của chất liệu dĩ thái, vốn trở thành, đối với Ngài, một Nguyên tử trường tồn. Theo cách ấy, Nguyên tử trường tồn này phải “du hành” qua giới khoáng chất trong nhiều phân hệ của nó, và “chuyến du hành” ấy là một phần của cuộc hành hương tiền-biệt ngã hóa của điều mà một ngày kia sẽ được gọi là “Chân thần nhân loại”. Suy đoán về khả hữu này dẫn chúng ta đến nhiều điều hiếm khi được suy ngẫm! |
|
11. In this process of monadic immetalisation, would Monads of certain types ‘incarnate’ within certain elements resonant to that type? These are questions which we are probably not accustomed to consider but all have to do with the possible relation between spiritual affinity and material affinity. |
11. Trong tiến trình khoáng hoá của chân thần này, liệu các Chân thần thuộc những loại nhất định có “lâm phàm” trong những nguyên tố nào đó cộng hưởng với loại ấy chăng? Đây là những câu hỏi mà có lẽ chúng ta không quen xét đến, nhưng tất cả đều liên hệ đến mối tương quan khả hữu giữa ái lực tinh thần và ái lực vật chất. |
|
2. The Law of Progress. |
2. Quy luật Tiến bộ. |
|
It is called this in the vegetable kingdom owing to the fact that it is in this kingdom that definite objective response to stimulation can be noted. |
Nó được gọi như thế trong giới thực vật do thực tế rằng nó là trong giới này mà sự đáp ứng khách quan đối với sự kích thích có thể được ghi nhận. |
|
12. Because the word “objective response” is used in relation to the vegetable kingdom, does this mean that “subjective response” is possible in the mineral kingdom? |
12. Vì từ “đáp ứng khách quan” được dùng liên hệ đến giới thực vật, điều này có nghĩa là “đáp ứng chủ quan” là khả hữu trong giới khoáng chất chăng? |
|
13. Or is it possible that “objective response” occurs even in relation to the mineral kingdom but cannot be “noted”—at least not by ordinary means and methods of perception? |
13. Hay có thể rằng “đáp ứng khách quan” cũng xảy ra ngay cả liên hệ với giới khoáng chất nhưng không thể “được ghi nhận”—ít nhất là không bằng các phương tiện và phương pháp tri giác thông thường? |
|
14. Since there is a hierarchy in the mineral kingdom it must be possible for the lives ensouling various elements to ‘ascend’ and so, progress or progression of a type must exist. |
14. Vì có một Huyền Giai trong giới khoáng chất nên hẳn là có thể để các sự sống phú linh cho các nguyên tố khác nhau ‘thăng lên’ và như thế, tiến bộ hay sự tiến triển thuộc một loại ắt phải hiện hữu. |
|
15. Yet the type of response to impact possible in the mineral kingdom must be very much less than that possible in the vegetable kingdom. |
15. Tuy vậy, kiểu đáp ứng với va chạm khả hữu trong giới khoáng chất hẳn ít hơn rất nhiều so với khả hữu trong giới thực vật. |
|
16. To us, the vegetable kingdom seems very much ‘alive’ whereas to all but the most knowledgeable occult investigator, the mineral kingdom seems rather ‘dead’. |
16. Với chúng ta, giới thực vật có vẻ rất ‘sống động’ trong khi đối với tất cả, trừ những nhà điều tra huyền bí uyên bác nhất, giới khoáng chất có vẻ khá ‘chết’. |
|
17. There have been experiments by the famous Indian scientist J.C. Bose pointing to the kind of ‘reaction’ in metals which suggest that they are living rather than inanimate. |
17. Đã có những thí nghiệm của nhà khoa học Ấn Độ lừng danh J.C. Bose chỉ ra loại ‘phản ứng’ trong kim loại, gợi ý rằng chúng sống động hơn là vô tri vô giác. |
|
18. Here we learn something of great importance from one of Bose’s most famous lectures: |
18. Ở đây, chúng ta học được một điều rất quan trọng từ một trong những bài thuyết giảng nổi tiếng nhất của Bose: |
|
“I dedicate today this Institute as not merely a laboratory but a temple.” His reverent solemnity stole like an unseen cloak over the crowded auditorium. “In the pursuit of my investigations I was unconsciously led into the border region of physics and physiology. To my amazement, I found boundary lines vanishing, and points of contact emerging, between the realms of the living and the non-living. Inorganic matter was perceived as anything but inert; it was a thrill under the action of multitudinous forces. |
“Hôm nay tôi cung hiến Viện này không chỉ như một phòng thí nghiệm mà còn như một ngôi đền.” Sự trang nghiêm kính cẩn của Ông lan tỏa như một chiếc áo choàng vô hình phủ lên khán phòng chật kín. “Trong quá trình khảo cứu, tôi vô thức bị dẫn dắt vào vùng biên giữa vật lý và sinh lý. Tôi kinh ngạc thấy các ranh giới mờ dần, và những điểm tiếp xúc hiện ra giữa các cõi của cái sống và cái không sống. Vật chất vô cơ hiện bày ra chẳng phải là trơ lì; nó rung lên dưới tác động của muôn vàn lực. |
|
“A universal reaction seemed to bring metal, plant and animal under a common law. They all exhibited essentially the same phenomena of fatigue and depression, with possibilities of recovery and of exaltation, as well as the permanent irresponsiveness associated with death.Filled with awe at this stupendous generalization, it was with great hope that I announced my results before the Royal Society—results demonstrated by experiments. But the physiologists present advised me to confine myself to physical investigations, in which my success had been assured, rather than encroach on their preserves. I had unwittingly strayed into the domain of an unfamiliar caste system and so offended its etiquette.” |
“ Một phản ứng phổ quát dường như đưa kim loại, thực vật và động vật vào chung một quy luật. Tất cả đều biểu lộ về bản chất cùng những hiện tượng mệt mỏi và suy giảm, với khả năng phục hồi và thăng hoa, cũng như sự vô đáp ứng vĩnh viễn gắn với cái chết. Tràn ngập kính sợ trước khái quát vĩ đại này, tôi đã công bố kết quả của mình trước Hội Hoàng Gia—những kết quả được chứng minh bằng thí nghiệm. Nhưng các nhà sinh lý có mặt đã khuyên tôi nên giới hạn trong các khảo cứu vật lý, lĩnh vực trong đó tôi đã gặt hái thành công, hơn là xâm phạm vào ‘khu bảo tồn’ của họ. Tôi đã vô tình lạc vào địa hạt của một hệ thống giai cấp xa lạ và vì thế xúc phạm thuần phong mỹ tục của nó.” |
|
It is the basis of the phenomenon of sensation, which is the key to this solar system of love, our system being a “Son of Necessity” or of desire. |
Nó là nền tảng của hiện tượng cảm giác, vốn là chìa khóa cho Thái Dương Hệ này của tình thương, hệ của chúng ta là một “Đứa Con của Tất yếu” hay của ham muốn. |
|
19. We are obliged to relate progression to sensation. We can infer that because of capacity of consciousness to respond sentiently to contacts, progression is possible (through adaptation). This response produces that interactivity (exhibiting the dynamics of attraction and repulsion) which makes possible the gathering of all sentient beings into groups reflective of archetypal patterns. |
19. Chúng ta buộc phải liên hệ sự tiến triển với cảm giác. Ta có thể suy ra rằng, nhờ khả năng của tâm thức trong việc đáp ứng một cách hữu cảm với các tiếp xúc, tiến triển trở thành khả hữu (thông qua thích nghi). Sự đáp ứng này tạo ra tính tương tác (biểu lộ động lực của hấp dẫn và đẩy lui) vốn làm cho việc tập hợp tất cả các hữu tình vào các nhóm phản ảnh các mẫu nguyên archetypal trở nên khả thi. |
|
20. We live in a sentient, astral-buddhic solar system. It was the desire of the Solar Logos which brought our Solar Logos into manifestation on the cosmic physical plane. Once His desire was sufficiently intense, the precipitation of the solar system became inevitable, unavoidable, necessary. Thus He is called a “Son of Necessity”. |
20. Chúng ta sống trong một Thái Dương Hệ hữu cảm, cảm dục–Bồ đề. Chính ước muốn của Thái dương Thượng đế đã đem Thái dương Thượng đế của chúng ta vào ngoại hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. Khi Ước muốn của Ngài đủ mãnh liệt, sự ngưng tụ của Thái Dương Hệ trở nên tất yếu, không thể tránh, bắt buộc. Vì thế Ngài được gọi là một “Đứa Con của Tất yếu”. |
|
This law is the working out into manifestation of the informing consciousness of a part of the deva kingdom, and of certain pranic energies. |
Quy luật này là sự vận dụng ra ngoại hiện của tâm thức thấm nhuần của một phần của giới thiên thần, và của những năng lượng prana nhất định. |
|
21. These are very occult statements which must await full clarification until another time. |
21. Đây là những tuyên bố rất huyền bí, cần đợi dịp khác mới có thể làm sáng tỏ đầy đủ. |
|
22. We may gather that certain devas and certain pranic energies are responsible for progression. These devas are builders which build in such a way that progress according to the desire and will of the Greater Being is instituted. |
22. Chúng ta có thể hiểu rằng một số thiên thần và một số năng lượng prana chịu trách nhiệm cho sự tiến triển. Các thiên thần này là những nhà xây dựng kiến tạo sao cho sự tiến bộ, phù hợp với ước muốn và ý chí của Đấng Vĩ Đại Hơn, được thiết lập. |
|
23. In general, prana is vitality itself, and contributes to the animation which keeps the units in any living system moving towards a more desirable arrangement. |
23. Nói chung, prana chính là sinh lực, và góp phần vào sự sinh động giữ cho các đơn vị trong bất kỳ hệ sống nào vận động tiến về một sắp xếp đáng mong muốn hơn. |
|
24. We may imagine that the “part of the deva kingdom” concerned is not the highest part but rather the consciousness of those unconscious though evolutionary Builders who work specifically with the vegetable kingdom. |
24. Chúng ta có thể hình dung rằng “phần của giới thiên thần” hữu quan không phải là phần cao nhất mà đúng hơn là tâm thức của những Vị Xây Dựng vô thức song tiến hóa, làm việc đặc biệt với giới thực vật. |
|
The student will find much of esoteric interest in the following line of living forces: |
Đạo sinh sẽ thấy nhiều điều đáng quan tâm về mặt nội môn nơi chuỗi sau đây của các lực sống: |
|
a. The second chain, globe and round, |
a. Dãy, bầu hành tinh và cuộc tuần hoàn thứ hai, |
|
25. In relation to the Earth-scheme, we are speaking of the Venus-chain and globe. |
25. Liên hệ đến hệ hành tinh Trái Đất, chúng ta đang nói về Dãy và bầu hành tinh Kim Tinh. |
|
26. The “round” can be the scheme round related to the Planetary Logos as a whole, or a chain round related, for instance, to the fourth chain and to the Chain-Lord of the fourth chain. |
26. “Cuộc tuần hoàn” có thể là cuộc tuần hoàn của hệ liên hệ đến Hành Tinh Thượng đế như một toàn thể, hoặc là cuộc tuần hoàn của dãy, liên hệ, chẳng hạn, đến Dãy thứ tư và đến Chúa Tể của Dãy thứ tư. |
|
b. The vegetable kingdom, |
b. Giới thực vật, |
|
27. The vegetable kingdom is the kingdom ruled by Venus and expressing all the soft line rays: two, four and six. Hence the affinity with the second round, for rays four and six are subsidiaries of the second ray. |
27. Giới thực vật là giới do Kim Tinh cai quản và biểu lộ tất cả các cung “mềm”: hai, bốn và sáu. Do đó có ái lực với cuộc tuần hoàn thứ hai, vì các cung bốn và sáu là các cung phụ của cung hai. |
|
c. The devas of desire in their second reflected groupings, |
c. Các thiên thần của dục vọng trong nhóm phản chiếu thứ hai, |
|
28. How many groupings are there—perhaps seven? The second grouping links with the second kingdom and the second round(s), the second chain and second globe. |
28. Có bao nhiêu nhóm—có lẽ là bảy? Nhóm thứ hai liên hệ với giới thứ hai và các cuộc tuần hoàn thứ hai, Dãy thứ hai và bầu hành tinh thứ hai. |
|
29. From whence the reflection? Are we speaking of a reflection from the Agnisuryans of the buddhic plane (through which the principle of Love-Wisdom is expressed)? The devas of desire are keyed to the astral plane (which resonates to the buddhic plane), yet are there “devas of desire” to be found upon the buddhic plane expressing, perhaps, the “ heart’s desire” of the Solar Logos? |
29. Sự phản chiếu phát xuất từ đâu? Chúng ta đang nói về một sự phản chiếu từ các Agnisuryan của cõi Bồ đề (nơi nguyên khí Bác Ái – Minh Triết được biểu lộ) chăng? Các thiên thần của dục vọng được điều chỉnh theo cõi cảm dục (vốn tương ứng cộng hưởng với cõi Bồ đề), nhưng liệu có “các thiên thần của dục vọng” hiện hữu trên cõi Bồ đề, biểu lộ, có lẽ, “ ước muốn của trái tim ” của Thái dương Thượng đế? |
|
d. The heart of the Sun, |
d. Tim của Thái Dương, |
|
30. This is a very high link to the soul nature of the Solar Logos. Naturally a second ray quality emanates from this center and this correlates with the various entries on this listing. |
30. Đây là một mối liên kết rất cao với bản tính linh hồn của Thái dương Thượng đế. Tự nhiên phẩm tính cung hai phát xuất từ trung tâm này và điều này tương hợp với các mục khác trong danh mục này. |
|
e. The second Ray force. |
e. Lực cung hai. |
|
31. Finally, the supreme forces (for our solar system, at least) which conditions all the entries on the listing. |
31. Sau cùng, những lực tối thượng (ít nhất đối với Thái Dương Hệ của chúng ta) vốn điều kiện hóa tất cả các mục trong danh sách. |
|
32. The relationship of numerical resonance to alignment is of great importance. |
32. Mối tương quan giữa cộng hưởng theo con số với chỉnh hợp là vô cùng quan trọng. |
|
3. The Law of Sex. |
3. Quy luật Tính giao. |
|
This is the term applied to the force which brings about the physical merging of the two poles in connection with the animal kingdom, and of man, viewing him as responsive to the call of his animal nature. |
Đây là thuật ngữ áp dụng cho lực đem lại sự hòa nhập thể xác của hai cực trong liên hệ với giới động vật, và với con người khi xem y như đáp ứng lời gọi của bản tính thú tính nơi mình. |
|
33. We note that the Law of Sex is the third subsidiary law; both the sacral center and throat center are on the third ray line (with the seventh ray involved in relation to both centers at various points in the evolutionary process). Sex pertains more to the third aspect than to the love aspect, though it is related to the second aspect in various secondary ways. |
33. Chúng ta ghi nhận rằng Quy luật Tính giao là quy luật thứ ba thuộc hệ; cả trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng đều thuộc dòng cung ba (với cung bảy can dự vào cả hai trung tâm ở các thời điểm khác nhau của tiến trình tiến hóa). Tính giao thuộc về Phương diện ba nhiều hơn là phương diện Tình thương, dù nó có liên hệ với Phương diện hai theo nhiều cách thứ yếu. |
|
34. DK is interpreting this law in relation to the human being and that aspect of his nature which is directly related to the animal kingdom, the third kingdom. |
34. Chân sư DK đang giải thích quy luật này trong liên hệ với con người và phương diện bản tính của y vốn trực tiếp liên hệ với giới động vật, tức giới thứ ba. |
|
35. We note that the idea expressed here is not only about “merging” but, specifically, about “physical merging”. So the aspect of sex here emphasized is particularly “physical” in nature. |
35. Chúng ta lưu ý rằng ý niệm nêu ra ở đây không chỉ nói về “sự hòa nhập” mà, minh xác, là “sự hòa nhập thể xác ”. Vì vậy phương diện của tính giao được nhấn mạnh ở đây đặc biệt mang tính “vật chất”. |
|
36. Of course, if sex is more broadly understood, it can be found operative in relation to all kingdoms of nature even the Solar Kingdom. Our Solar Logos is said to have His “polar opposite”—His ‘marriage partner’ and even galactic ‘marriages’ can be inferred. |
36. Tất nhiên, nếu hiểu tính giao một cách rộng hơn, có thể thấy nó vận hành trong liên hệ với mọi giới trong thiên nhiên, thậm chí cả Thiên Giới. Người ta nói rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta có “cực đối” của Ngài—‘bạn phối’ của Ngài, và thậm chí có thể suy ra những ‘cuộc hôn phối’ ở cấp thiên hà. |
|
It concerns itself with the due guarding of the form in this particular cycle and its perpetuation. |
Nó liên quan đến sự gìn giữ đúng mức độ hình tướng trong chu kỳ đặc thù này và sự duy trì nó. |
|
37. If we consider this requirement, we see how far humanity has deviated from the intended approach to sex. The human form is not at all well-guarded at this time and sex is prostituted for personal pleasure rather than used responsibly for the perpetuation of the race. That sex inevitably leads to perpetuation cannot be denied, but is the approach to perpetuation conscious and responsible, that is the question! |
37. Nếu chúng ta xét đến yêu cầu này, sẽ thấy nhân loại đã lệch xa đến mức nào so với cách tiếp cận dự định đối với tính giao. Hình thể con người hiện không được gìn giữ tốt đẹp chút nào, và tính giao bị lạm dụng vì khoái lạc cá nhân hơn là được dùng một cách có trách nhiệm cho sự duy trì nòi giống. Rằng tính giao tất yếu dẫn đến duy trì nòi giống thì không thể phủ nhận, nhưng cách tiếp cận việc duy trì ấy có ý thức và có trách nhiệm hay không—đó mới là vấn đề! |
|
It is only powerful during the period of the duality of the sexes and their separation and, in the case of man, will be offset by a higher expression of the law when man is again androgynous. |
Nó chỉ mạnh mẽ trong thời kỳ lưỡng tính của hai phái và sự phân ly của họ và, trong trường hợp con người, sẽ được hóa giải bởi một biểu hiện cao hơn của quy luật khi con người lại trở nên lưỡng tính. |
|
38. We see that humanity is definitely heading towards androgyny. There are many human beings who (in their present state of consciousness) would not welcome this eventuality and certainly disbelieve in the possibility. |
38. Chúng ta thấy rằng nhân loại đang chắc chắn tiến tới trạng thái lưỡng tính. Có nhiều người mà (trong trạng thái tâm thức hiện tại) sẽ không hoan nghênh khả hữu này và dĩ nhiên không tin vào điều đó. |
|
39. It would seem that androgyny will begin to appear in the sixth root-race with its emphasis upon the buddhic plane and perhaps be consummated in the seventh when Uranus rules. The fifth rootrace operates under the Law of Cleavages and, so it would seem, the separation of the sexes will persist during its period of expression. Yet, even now, tendencies towards at least psychological androgyny can be detected. |
39. Có vẻ như lưỡng tính sẽ bắt đầu xuất hiện trong Giống dân gốc thứ sáu với điểm nhấn trên cõi Bồ đề và có lẽ được viên mãn trong Giống dân gốc thứ bảy khi Thiên Vương tinh cai quản. Giống dân gốc thứ năm vận hành dưới Quy luật Phân li và, xem ra, sự phân ly của hai giới tính sẽ còn tiếp diễn trong kỳ biểu lộ của nó. Tuy nhiên, ngay lúc này, đã có thể phát hiện khuynh hướng hướng tới ít nhất là lưỡng tính tâm lý. |
|
40. The Law of Sex has been operative, then, since approximately the middle of the Lemurian root race and will probably persist until well into the succeeding root-races, as it cannot be expected that all men (some of whom will not even achieve entry on the Path until the next round) are to achieve androgyny at the same time. Some may, we may anticipate, during the final root-races of this round—the fourth. |
40. Vậy Quy luật Tính giao đã vận hành, kể từ vào khoảng giữa Giống dân gốc Lemuria và có lẽ sẽ còn tồn tại sâu vào các Giống dân gốc kế tiếp, vì không thể mong rằng tất cả mọi người (một số thậm chí sẽ chưa bước vào Thánh Đạo cho đến cuộc tuần hoàn kế) đạt tới lưỡng tính cùng một thời điểm. Có thể dự liệu rằng một số sẽ đạt được trong những Giống dân gốc cuối của cuộc tuần hoàn này—cuộc tuần hoàn thứ tư. |
|
41. Truly, the Divine Plan holds in store many changes of form and consciousness which cannot easily be understood at this point in our development. |
41. Quả thật, Thiên Cơ chứa đựng nhiều biến đổi về hình tướng và tâm thức mà vào thời điểm này trong tiến trình phát triển của chúng ta khó có thể hiểu dễ dàng. |
|
Đó [] là quy luật của hôn phối, |
|
|
42. Here DK will lift the understanding of the Law of Sex onto various higher turns of the spiral. Just above he has told us that when man is again androgynous the Law of Sex will not be entirely suspended but a higher expression of the law will be operative. |
42. Ở đây Chân sư DK sẽ nâng tầm hiểu biết về Quy luật Tính giao lên các vòng xoắn cao hơn. Ngay trên đây Ngài đã nói với chúng ta rằng khi con người lại lưỡng tính, Quy luật Tính giao sẽ không hoàn toàn bị đình chỉ mà một biểu hiện cao hơn của quy luật sẽ vận hành. |
|
and finds some aspects of its manifestation not only in marriage of men and animals in the physical sense, but in the “occult marriage” of |
và thấy một số phương diện biểu lộ của nó không chỉ trong hôn phối của người và thú theo nghĩa thể xác, mà còn trong “hôn phối huyền môn” giữa |
|
43. Here DK discriminates between physical marriage and “occult marriage”. This is an important discrimination for all who study the occult sciences, as there is a type of marriage possible for the soul under the Law of Magnetic Impulse when physical marriage, per se, is not. The Law of Magnetic Impulse is ruled by Libra just as is the process of physical-plane marriage. |
43. Ở đây Chân sư DK phân biệt giữa hôn phối thể xác và “hôn phối huyền môn”. Đây là một phân biệt quan trọng cho tất cả những ai nghiên cứu các khoa học huyền bí, vì có một dạng hôn phối khả hữu cho linh hồn theo Định luật Xung Động Từ Tính khi hôn phối thể xác, tự thân, thì không. Định luật Xung Động Từ Tính do Thiên Bình cai quản, cũng như tiến trình hôn phối ở cõi hồng trần vậy. |
|
44. As students of occultism we must be alert to an understanding of the higher implications of apparently ‘lower’ laws. The Law of Analogy will assist us. |
44. Là các đạo sinh của huyền bí học, chúng ta phải cảnh giác để hiểu những hàm ý cao hơn của các quy luật xem ra ‘thấp’ hơn. Định luật tương đồng sẽ hỗ trợ chúng ta. |
|
a. The Soul and the Spirit. |
a. Linh hồn và Chân thần. |
|
45. This is an advanced form of marriage, lying quite far ahead of the average probationer or disciple. The function of Jupiter in relation to Gemini contributes to the consummation of this kind of marriage. One cannot begin to think of its possibility until the third initiation has been taken. The Masters have achieved this type of “marriage”. The Chohans have, in a way, transcended it. |
45. Đây là một hình thái hôn phối cao, nằm khá xa phía trước đối với người dự bị hay đệ tử trung bình. Vai trò của Sao Mộc trong liên hệ với Song Tử góp phần vào sự viên mãn của loại hôn phối này. Không thể khởi sự nghĩ đến khả hữu ấy cho đến khi đã đạt lần điểm đạo thứ ba. Các Chân sư đã thành tựu kiểu “hôn phối” này. Các Chohan thì, theo một nghĩa nào đó, đã siêu vượt nó. |
|
b. The Son with his Mother (or the Soul with the physical substance). |
b. Người Con với Mẹ mình (hoặc Linh hồn với chất liệu thể xác). |
|
46. To those who do not approach philosophically, this type of “marriage” cannot help but seem incestuous, but we understand that we are speaking of the merging of the second and third aspects of divinity. |
46. Với những người không tiếp cận theo hướng triết lý, kiểu “hôn phối” này khó tránh khỏi có vẻ loạn luân, nhưng chúng ta hiểu rằng đang nói về sự hòa nhập của Phương diện hai và Phương diện ba của Thiêng liêng. |
|
47. The curriculum of the modern disciple is precisely this and his meditations are primarily aimed at soul-infusion. |
47. Chương trình học của người đệ tử hiện đại chính là điều này và các phép tham thiền của y chủ yếu nhắm vào sự thấm nhuần của linh hồn. |
|
c. The negative planetary lives with the positive ones earlier pointed out. |
c. Các sự sống hành tinh âm với các sự sống dương được nêu trước đó. |
|
48. In one sense we are speaking of the marriage of the evolutionary devas with the elemental lives. But questions of positive and negative are relative and so there are many ‘marriages’ which involve lives which are relatively positive with those which are relatively negative. |
48. Xét theo một nghĩa, chúng ta đang nói về hôn phối của các thiên thần tiến hóa với các sự sống hành khí. Nhưng các vấn đề dương–âm là tương đối, nên có nhiều ‘hôn phối’ liên hệ những sự sống tương đối dương với những sự sống tương đối âm. |
|
49. Here we are largely speaking of the relationship between the members of the Army of the Voice with the elemental building essences of the various planes and subplanes. |
49. Ở đây chúng ta chủ yếu đang nói về mối liên hệ giữa các thành viên của Đạo quân của Âm Thanh với các tinh chất xây dựng hành khí của các cõi và cõi phụ khác nhau. |
|
d. The systemic marriage, or the merging of the two final planetary schemes after their absorption of the other forces. |
d. Hôn phối hệ thống, hay sự hòa nhập của hai hệ hành tinh sau cùng sau khi chúng đã hấp thu các lực khác. |
|
50. This is a very interesting kind of marriage and will take us to an examination of Chart VI, TCF 373. We note that over and above the large Saturn-scheme (may it be the scheme of “esoteric Saturn”?) stand Uranus and Neptune—very likely the final two schemes which, having etherically absorbed all the planets in the Saturn-scheme, subsequently merge with each other. |
50. Đây là một kiểu hôn phối rất đáng chú ý và sẽ dẫn chúng ta khảo sát Biểu đồ VI, TCF 373. Chúng ta lưu ý rằng phía trên hệ Thổ Tinh lớn (phải chăng đó là hệ của “Thổ Tinh nội môn”?) là Thiên Vương và Hải Vương tinh—rất có thể là hai hệ sau cùng, vốn sau khi hấp thu về mặt dĩ thái tất cả các hành tinh trong hệ Thổ Tinh, sẽ tiếp đó hòa nhập với nhau. |
|
51. We remember that these final mergings do not involve the dense physical planets at all, but only their subtle principles, beginning, probably, with their etheric natures. |
51. Chúng ta nhớ rằng các sự hòa nhập sau cùng này không hề liên quan đến các hành tinh hồng trần đậm đặc, mà chỉ liên quan đến các nguyên khí vi tế của chúng, có lẽ khởi đầu bằng bản tính dĩ thái của chúng. |
|
e. The cosmic marriage, or the merging of our solar system with its opposite cosmic pole, another constellation |
e. Hôn phối vũ trụ, hay sự hòa nhập của Thái Dương Hệ chúng ta với cực vũ trụ đối nghịch của nó, một chòm sao khác |
|
52. Here is an interesting, possibly blinded, statement. Is our solar system a “constellation” (and our planets really “stars”) as some theorists have speculated? Is the “opposite cosmic pole” of our Solar Logos and His system really another “constellation” or is it a solar system? |
52. Đây là một phát biểu thú vị, có lẽ đã được “che mờ”. Thái Dương Hệ của chúng ta có phải là một “chòm sao” (và các hành tinh của chúng ta thực sự là “các sao”) như một số nhà lý thuyết đã suy đoán? “Cực vũ trụ đối nghịch” của Thái dương Thượng đế và Hệ của Ngài có thực là một “chòm sao” khác hay là một Thái Dương Hệ? |
|
53. If the opposite pole should happen to be Sirius, would we define Sirius as a solar system or constellation? Sirius A does have at least one other star associated with it, Sirius B, and perhaps Sirius C? Is this association enough to give it the status of the “constellation”? |
53. Nếu cực đối nghịch tình cờ là Sirius, chúng ta sẽ định nghĩa Sirius như một Thái Dương Hệ hay một chòm sao? Sirius A có ít nhất một ngôi sao khác đi cùng, Sirius B, và có lẽ Sirius C? Sự liên hệ này có đủ để ban cho nó địa vị “chòm sao” chăng? |
|
54. The word “another” seems to suggest that our solar system is really a “constellation”—a thought of some interest since The Secret Doctrine seems to imply that Mars was once a Sun! |
54. Từ “khác” dường như gợi ý rằng Thái Dương Hệ của chúng ta thực sự là một “chòm sao”—một ý tưởng đáng quan tâm vì Giáo Lý Bí Nhiệm dường như ám chỉ rằng Hỏa Tinh từng là một Mặt Trời! |
|
55. There is some discussion whether Sirius should be included within the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” or whether it should stand on its own (associated with two companion stars) as a “constellation”? (cf. EA 50) |
55. Có tranh luận về việc liệu Sirius nên được bao gồm trong “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một” hay nên đứng riêng (liên hệ với hai sao bạn) như một “chòm sao”? (x. EA 50) |
|
56. Of course we do not know whether Sirius B and Sirius C (inferred) are really ensouled bodies or whether they were ensouled by the Logos which now ensouls Sirius A. The question of the livingness of Sirius B and Sirius C will have to be closely examined when such examination is possible. |
56. Dĩ nhiên, chúng ta không biết liệu Sirius B và Sirius C (được suy đoán) có thực sự là các thể được phú linh hay có được phú linh bởi Thượng đế đang phú linh cho Sirius A hay không. Câu hỏi về tính sinh động của Sirius B và Sirius C sẽ phải được khảo cứu kỹ khi điều đó trở nên khả thi. |
|
57. In the Egyptian Mysteries however, a place is given to Sirius B as ruling the fourth initiation, in which case it would seem to be something more than an unensouled remnant. |
57. Tuy nhiên, trong các Huyền Môn Ai Cập, người ta dành một vị trí cho Sirius B như cai quản lần điểm đạo thứ tư, trong trường hợp ấy thì xem ra nó là điều gì đó nhiều hơn một tàn tích vô linh. |
|
The cosmic marriage of stars and Systems |
Hôn phối vũ trụ của các vì sao và các Hệ |
|
58. By “Systems” does DK mean solar systems or systems of stars? The distinction could be important. |
58. Khi nói “các Hệ”, Chân sư DK muốn nói các Thái Dương Hệ hay các hệ các sao? Sự phân biệt này có thể quan trọng. |
|
59. There is much to relate the star Sirius (A) with the star Sol (our Sun). |
59. Có rất nhiều điều liên hệ ngôi sao Sirius (A) với ngôi sao Sol (Mặt Trời của chúng ta). |
|
is the cause of the occasional irregular flaring-up or intensification of suns and their increased luminosity which is sometimes seen, and which has frequently been the subject of discussion. |
là nguyên nhân của những lúc bùng phát bất thường hay tăng cường độ sáng của các mặt trời và sự gia tăng quang độ đôi khi được thấy, và điều đó thường là chủ đề tranh luận. |
|
60. Do we find Master DK speaking here of supernovae? If so, these spectacular events have usually not been seen as related to two stars but only to one. |
60. Chúng ta có đang thấy Chân sư DK nói về các siêu tân tinh chăng? Nếu vậy, những hiện tượng ngoạn mục này thường không được xem là liên hệ đến hai ngôi sao mà chỉ một. |
|
61. Where we see the intensification of one sun, then, are we supposed to search for another which, as the ‘marriage partner’ of the former, may be involved in the process of “flaring up”? |
61. Khi chúng ta thấy một mặt trời tăng cường độ sáng, vậy chúng ta có nên tìm một ngôi sao khác—‘bạn phối’ của nó—có thể tham dự vào tiến trình “bùng phát” chăng? |
|
4. The Law of Magnetism. |
4. Quy luật Từ tính. |
|
This is the law which produces the unifying of a personality, and though it is an expression of lunar force, is, nevertheless, of a much higher order than the law of physical sex. |
Đây là quy luật sinh ra sự hợp nhất của một phàm ngã, và dẫu nó là một biểu hiện của lực thái âm, thì vẫn thuộc cấp cao hơn rất nhiều so với quy luật tính giao thể chất. |
|
62. Here Master DK seems to be discriminating between the “Law of Physical Sex” and the “Law of Sex” which is capable of being interpreted on a number of different turns of the spiral. |
62. Ở đây Chân sư DK dường như phân biệt giữa “Quy luật Tính giao thể chất” và “Quy luật Tính giao” vốn có khả năng được diễn giải trên nhiều vòng xoắn khác nhau của xoáy ốc. |
|
63. We can see that DK has in mind some very specific levels of application when He discusses these laws. The concept of “magnetism” in general is so much greater than the application here discussed, but it is certainly an interesting application. |
63. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK lưu tâm những cấp độ áp dụng rất đặc thù khi Ngài bàn về các quy luật này. Khái niệm “từ tính” nói chung lớn lao hơn nhiều so với ứng dụng đang được bàn ở đây, nhưng đó chắc chắn là một ứng dụng thú vị. |
|
64. In essence we see that the Law of Magnetism is responsible for the integration of the personality in various stages—the unification of the lunar lords (and their tiny elemental lives) which compose and constitute the personality vehicles. |
64. Về cốt lõi, chúng ta thấy rằng Quy luật Từ tính chịu trách nhiệm cho sự tích hợp của phàm ngã qua các giai đoạn khác nhau—sự hợp nhất của các nguyệt tinh quân (và các sự sống hành khí tí hon của chúng) cấu thành và tạo lập các hiện thể phàm ngã. |
|
65. We are speaking here of magnetism as it operates in the lunar realm. Obviously it has applications (if broadly understand) in much higher realms. If the Law of Sex has higher applications, we can expect that this will be true of the Law of Magnetism. |
65. Ở đây chúng ta đang nói về từ tính như nó vận hành trong lĩnh vực thái âm. Rõ ràng nó có các ứng dụng (nếu hiểu rộng) ở những cõi rất cao hơn. Nếu Quy luật Tính giao có các ứng dụng cao hơn, chúng ta có thể mong điều này cũng đúng với Quy luật Từ tính. |
|
It is the expression of the law as it is demonstrated by the three major groups of lunar pitris. |
Nó là biểu lộ của quy luật như nó được trình hiện bởi ba nhóm chính của các thái âm tổ phụ. |
|
66. These three major groups are, of course, associated with the physical-etheric, astral and lower mental planes. |
66. Ba nhóm chính này, dĩ nhiên, liên hệ với cõi thể xác–dĩ thái, cảm dục và hạ trí. |
|
These three groups are not concerned with the building of the forms of the animal kingdom, |
Ba nhóm này không bận tâm đến việc kiến tạo các thể của giới động vật, |
|
67. Because they are major groups… |
67. Vì chúng là các nhóm chính … |
|
for they are the builders of the body of man in the final three stages of the path of evolution: |
vì họ là những nhà kiến tạo thân xác con người trong ba giai đoạn sau cùng của Thánh Đạo tiến hóa: |
|
68. There is an implication that there are other lunar pitris who are builders of the body of man in the earlier stages of the Path of Evolution. |
68. Điều này hàm ý rằng có những thái âm tổ phụ khác là những nhà kiến tạo thân người trong các giai đoạn đầu của Thánh Đạo Tiến hóa. |
|
69. The lunar pitris as builders are clearly on the Path of Evolution and are not, strictly speaking, elementals or elemental lives. |
69. Các thái âm tổ phụ với tư cách là những nhà kiến tạo rõ ràng ở trên Thánh Đạo Tiến hóa và, nói cho đúng, không phải là các hành khí hay sự sống hành khí. |
|
70. We would have, then, for each level (physical-etheric, astral and mental) three categories of lives: |
70. Như vậy, ở mỗi cấp (thể xác–dĩ thái, cảm dục và trí tuệ) có ba hạng sự sống: |
|
a. The inert building essence of each level |
a. Tinh chất xây dựng trơ của từng cấp |
|
b. The elemental unities (sometimes called the “lunar lords” or “lunar elementals” comprised of the aggregated building essence once they have been gathered and shaped by the building forces. |
b. Các đơn vị hành khí (đôi khi gọi là “nguyệt tinh quân” hay “nguyệt hành khí”) gồm tinh chất xây dựng đã được tập hợp và uốn nắn bởi các lực xây dựng. |
|
c. The lunar pitris as evolutionary though unconscious “builders” which build the forms of the lunar elementals. |
c. Các thái âm tổ phụ như những “nhà kiến tạo” vô thức song tiến hóa, kiến tạo các thể của các nguyệt hành khí. |
|
a. The stage of high intellectuality, or of artistic attainment, |
a. Giai đoạn trí tuệ cao, hay thành tựu nghệ thuật, |
|
71. This is the stage, technically considered, of “advanced man”. |
71. Đây là giai đoạn, nếu xét theo thuật ngữ kỹ thuật, của “người tiến bộ”. |
|
b. The stage of discipleship, |
b. Giai đoạn địa vị đệ tử, |
|
72. In this case, the stage of discipleship seems to precede that stage of treading the Path. |
72. Trong trường hợp này, giai đoạn địa vị đệ tử dường như đi trước giai đoạn bước đi trên Thánh Đạo. |
|
c. The stage of treading the Path. |
c. Giai đoạn bước đi trên Thánh Đạo. |
|
73. Perhaps we can consider this stage as beginning at the first initiation, though the idea of various Paths, such as the Path of Aspiration, and the Path of Probationary Discipleship, precede the first initiation. |
73. Có thể chúng ta xem giai đoạn này như khởi đầu từ lần điểm đạo thứ nhất, dẫu ý niệm về các Con Đường khác nhau, như Con Đường Khao Khát, và Con Đường Đệ Tử Dự Bị, đi trước lần điểm đạo thứ nhất. |
|
74. It seems clear that DK in speaking of the “major groups of lunar pitris”, is speaking of those who only build during the final stages of the Path! |
74. Có vẻ rõ ràng rằng khi nói về “các nhóm chính của thái âm tổ phụ”, Chân sư DK đang nói về những vị chỉ kiến tạo trong các giai đoạn sau cùng của Thánh Đạo! |
|
75. Clearly some form of building was necessary long before these advanced stages are reached. Were the earlier stages of building performed by lunar pitris who were not among the “major groups”? This seems to be the implication. |
75. Rõ ràng có một hình thức kiến tạo nào đó là cần thiết rất lâu trước khi đạt đến các giai đoạn cao này. Phải chăng các giai đoạn kiến tạo trước đó do những thái âm tổ phụ không thuộc “các nhóm chính” đảm trách? Có vẻ như vậy. |
|
The lower four groups concern themselves with the earlier stages, and with the animal aspects of attraction in both the kingdoms. [1170] |
Bốn nhóm hạ cấp hơn bận tâm với các giai đoạn sớm hơn, và với các phương diện động vật của sự hấp dẫn trong cả hai giới. [] |
|
76. Here the clarification comes—there are four lower groups of lunar pitris associated with the human kingdom and also with the animal kingdom. |
76. Ở đây có sự minh giải—có bốn nhóm thấp hơn của thái âm tổ phụ liên kết với giới nhân loại và cũng với giới động vật. |
|
77. We might think, then, that the four elemental vehicles of man—the physical elemental, the astral elemental, the mental elemental and the personality elemental are built by the members of these lower four groups, and that the higher three groups build only once there has been a great deal of evolutionary experience. |
77. Khi đó, chúng ta có thể nghĩ rằng bốn hiện thể hành khí của con người—tinh linh thể xác, tinh linh cảm dục, tinh linh trí tuệ và tinh linh phàm ngã—được kiến tạo bởi các thành viên của bốn nhóm thấp hơn này, và rằng ba nhóm cao hơn chỉ kiến tạo khi đã có một bề dày kinh nghiệm tiến hóa lớn. |
|
78. Where are the three major group and what are they ‘doing’ as the four lower groups are doing their work preparing the way? |
78. Vậy ba nhóm chính ở đâu và họ ‘làm gì’ trong khi bốn nhóm thấp hơn thực hiện công việc chuẩn bị con đường? |