S9S2 Part I (TCF 1087-1092)
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để tăng khả năng đọc khi chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Gợi ý rằng Bản Luận Giải này nên được đọc kèm cuốn TCF trong tay, để bảo đảm tính liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu Bản Luận Giải |
|
1. We have just been through one of the most expansive, far-ranging section of A Treatise on Cosmic Fire. The Tibetan has offered us His most universal perspective thus far. It is not that we are capable of accurately interpreting all that He has said, but our imaginations have been greatly stimulated. We also sense that there the factor of organization is supreme as we ascend to the ‘heights’ of cosmos. |
1. Chúng ta vừa đi qua một trong những phần bao quát và rộng khắp nhất của Luận về Lửa Vũ Trụ. Chân sư Tây Tạng đã ban cho chúng ta viễn kiến hoàn vũ nhất từ trước đến nay. Không phải chúng ta có thể giải thích chính xác tất cả những gì Ngài đã nói, nhưng trí tưởng tượng của chúng ta đã được kích hoạt mạnh mẽ. Chúng ta cũng cảm nhận rằng yếu tố tổ chức là tối thượng khi chúng ta thăng lên “đỉnh cao” của vũ trụ. |
|
In concluding our remarks concerning the diverse wheels of the universe, we will touch with brevity upon the “wheels” which concern the human monad. |
Kết thúc những nhận xét của chúng ta về các bánh xe đa dạng của vũ trụ, chúng ta sẽ chạm đến một cách ngắn gọn những “bánh xe” liên quan đến chân thần con người. |
|
2. This, then, will be the most practical of the expansive (though briefly stated) section on “wheels”. |
2. Vậy thì, đây sẽ là phần thực tiễn nhất của đoạn nói về “các bánh xe” vốn rộng lớn (dù được nêu ngắn gọn). |
|
This is a subject but little dealt with as yet, though a few words have been spoken anent the egoic wheel. |
Đây là một chủ đề đến nay vẫn ít được đề cập, dù đôi lời đã nói về bánh xe chân ngã. |
|
3. Really, the presentation on the “egoic wheel” has been very rich. Master DK has discussed different kinds of lotuses, their origin, their type of expression, etc. The subject of the Monad, however, is deeper and less accessible. |
3. Thực ra, phần trình bày về “bánh xe chân ngã” đã rất phong phú. Chân sư DK đã bàn về các loại hoa sen khác nhau, nguồn gốc của chúng, kiểu biểu lộ của chúng, v.v. Tuy nhiên, chủ đề Chân thần thì sâu hơn và khó tiếp cận hơn. |
|
It must be borne in mind that the evolution of the [1088] Monad is a much more intricate thing than appears in the books as yet given to the public. |
Cần ghi nhớ rằng sự tiến hóa của [1088] Chân thần là một điều phức tạp hơn nhiều so với những gì đã nêu trong các sách công bố cho công chúng. |
|
4. With a little thought, one can surely imagine the verity of what Master DK tells us. The true nature of the Monad is hardly discussed and its origin left to the most far-reaching speculation. We cannot reasonably think that that which we call ‘our Monad’, originated in this solar system.\ |
4. Chỉ cần suy ngẫm đôi chút, người ta hẳn có thể hình dung tính chân thực của điều Chân sư DK nói với chúng ta. Bản chất thật sự của Chân thần hầu như không được bàn tới và nguồn gốc của nó bị bỏ mặc cho những suy đoán xa tít. Chúng ta không thể hợp lý mà nghĩ rằng điều mà chúng ta gọi là “Chân thần của mình” đã khởi nguyên trong hệ mặt trời này.\ |
|
In those books the development of consciousness and its transition through the kingdoms of nature are the points dwelt upon. |
Trong các sách đó, sự phát triển của tâm thức và sự chuyển qua các giới trong thiên nhiên là các điểm được nhấn mạnh. |
|
5. Given the present stage of human understanding this is to be expected. The subject of the development of consciousness (i.e., the development of soul) is sufficiently deep to engage the most profound thought of which we are capable. What further extensions of thought are needed to fathom the nature of the Monad? |
5. Với trình độ hiểu biết hiện nay của nhân loại, điều này là dễ hiểu. Chủ đề phát triển tâm thức (tức, phát triển của linh hồn) tự nó đã đủ sâu để cuốn hút suy tư thâm áo nhất mà chúng ta có thể có. Cần những nỗ lực tư tưởng mở rộng nào nữa để thấu đạt bản chất của Chân thần? |
|
6. You may link to the On The Monad table of contents. http://www.makara.us/04mdr/01writing/04tg/monad_toc.htm |
6. Bạn có thể liên kết tới bảng mục lục Về Chân thần. http://www.makara.us/04mdr/01writing/04tg/monad_toc.htm |
|
Yet there have been earlier cycles which it will be only possible to comprehend as the history and evolution of the planetary Logoi become gradually revealed. |
Tuy vậy đã có những chu kỳ trước đó mà chỉ có thể hiểu được khi lịch sử và tiến hóa của các Hành Tinh Thượng đế dần dần được khai mở. |
|
7. Is the development and fate of the human Monad linked to the earlier development of the Planetary Logoi in which these Monads are now as “cells”? This seems to be what is being said. |
7. Sự phát triển và định mệnh của Chân thần con người có gắn với sự phát triển trước kia của các Hành Tinh Thượng đế mà trong đó các Chân thần ấy nay là những “tế bào” chăng? Có vẻ đó là điều đang được nói. |
|
8. The history and evolution of the Planetary Logoi is only dimly hinted. We have gathered that they have passed through much earlier phases in which they were as man is now. |
8. Lịch sử và tiến hóa của các Hành Tinh Thượng đế chỉ được ám chỉ một cách mờ nhạt. Chúng ta đã góp nhặt rằng Các Ngài đã đi qua những giai đoạn sớm hơn trong đó Các Ngài như con người hiện nay. |
|
Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara. (TCF 272) |
Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần Điểm đạo thứ năm, lần sẽ đem y đến một trình độ tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một Đại giai kỳ sinh hóa rất xa xưa. (TCF 272) |
|
9. DK also hints at the participation of some of them in the previous solar system and probably in solar systems still earlier. |
9. Chân sư DK cũng ám chỉ đến sự tham dự của một số Vị trong hệ mặt trời trước và hẳn cả trong những hệ mặt trời còn sớm hơn nữa. |
|
They [Monads] are parts of His body of manifestation, cells within that greater vehicle, and thus vitalised by His life, qualified by His nature, and distinguished by His characteristics. |
Các Chân thần [Monads] là các phần của thể biểu lộ của Ngài, là các tế bào trong vận cụ vĩ đại ấy, và do vậy được sinh khí bởi Sự sống của Ngài, được phú tính bởi Bản tính của Ngài, và được phân biệt bởi các đặc trưng của Ngài. |
|
10. Monads are as cells within a Planetary Logos. Was there ever a time, or will there ever be a time, when the Monad can have an existence independent from its ‘parent’ Planetary Logos? |
10. Các Chân thần là những tế bào trong một Hành Tinh Thượng đế. Đã bao giờ, hoặc sẽ bao giờ có một thời, Chân thần có một hiện hữu độc lập với Hành Tinh Thượng đế “mẹ” của nó không? |
|
11. This actually, is a most important question. For instance, Monads tread many different Cosmic Paths on the Way of Higher Evolution. The Planetary Logos to which these Monads presently ‘belong’ cannot possibly be involved in all these Paths! |
11. Thực ra, đây là một câu hỏi rất quan trọng. Chẳng hạn, các Chân thần bước theo nhiều Con Đường Vũ trụ khác nhau trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Hành Tinh Thượng đế mà hiện thời các Chân thần này “thuộc về” không thể nào tham dự vào tất cả các Con Đường ấy! |
|
This will take the history, therefore, of a Monad back to the earlier kalpas. |
Vì vậy lịch sử của một Chân thần sẽ được đưa lùi về các đại kiếp trước đó. |
|
12. By this, DK presumably means earlier “mahakalpas”. If so there have been times with the Monad was distinctly free from its pilgrimage through the lower forms of matter—at least, so it would seem. |
12. Qua đó, Chân sư DK có lẽ muốn nói tới các “đại đại kiếp” trước kia. Nếu vậy đã có những thời kỳ khi Chân thần minh nhiên tự do khỏi cuộc hành hương qua các hình tướng thấp—ít ra, dường như là thế. |
|
Such history it is not possible to reveal, and no purpose would be served by such a revelation. |
Lịch sử như thế không thể được tiết lộ, và việc tiết lộ như vậy sẽ không phục vụ một mục đích nào. |
|
13. Does this mean that the history simply cannot be revealed because there are no revealers capable of revealing it? Or does it mean that such history may not be revealed? |
13. Điều này có nghĩa là lịch sử ấy đơn giản không thể được tiết lộ vì không có các vị có thể tiết lộ nó? Hay có nghĩa là lịch sử như vậy không được phép tiết lộ? |
|
14. Why does Master DK tell us that no purpose would be served by such a revelation? Do we not suspect that some gain in perspective concerning monadic life would be accorded? Or would the revelation simply bring confusion? |
14. Tại sao Chân sư DK nói với chúng ta rằng việc tiết lộ như thế sẽ không phục vụ một mục đích nào? Chúng ta chẳng nghi rằng một tầm nhìn rộng hơn về đời sống chân thần sẽ được ban cho đó sao? Hay việc tiết lộ sẽ chỉ mang lại rối rắm? |
|
The fact only can be touched upon as it must be considered along general lines if the true nature of the Self is to be accurately known. |
Chỉ có thể chạm đến sự kiện này vì nó phải được xem xét trên những đường nét tổng quát nếu muốn biết chính xác bản chất chân thật của Tự Ngã. |
|
15. The Monad is the true Self. We may think we may know much about the Self but what was the nature of the Self in former kalpas and mahakalpas? |
15. Chân thần chính là Tự Ngã chân thật. Chúng ta có thể nghĩ rằng mình biết nhiều về Tự Ngã nhưng Tự Ngã đã như thế nào trong những đại kiếp và đại đại kiếp trước? |
|
We might consider that the Monad of the human being passes through cycles analogous to those through which the Heavenly Man travels. |
Chúng ta có thể xem Chân thần của con người trải qua những chu kỳ tương tự như những chu kỳ mà một Đấng Thiên Nhân đi qua. |
|
16. The analogies will have to be closely watched. Much can thereby be learned about the progress of both types of ‘M/men’. |
16. Phải theo dõi các phép loại suy một cách sát sao. Nhờ đó có thể học được nhiều điều về tiến trình của cả hai dạng “Nhân”. |
|
17. But the key point to solve is whether the Monad always travels with a particular Planetary Logos. |
17. Nhưng điểm then chốt cần giải là liệu Chân thần luôn du hành cùng với một Hành Tinh Thượng đế nhất định hay không. |
|
There is, first, the vast cycle of unfoldment through which a “spark” passes. |
Trước hết, có đại chu kỳ khai mở mà một “tia lửa” đi qua. |
|
18. The Monad is the “spark”. |
18. Chân thần là “tia lửa” ấy. |
|
19. DK seems to hint that all of us have undergone some type of unfoldment (as Monads, as “sparks”) within the previous solar system and will also do so within the next solar system. |
19. Chân sư DK dường như ám chỉ rằng tất cả chúng ta đã trải qua một kiểu khai mở nào đó (với tư cách Chân thần, như “tia lửa”) trong hệ mặt trời trước và cũng sẽ làm như vậy trong hệ mặt trời kế tiếp. |
|
This covers the period of three major solar systems—that preceding this one, the present, and the succeeding one. |
Điều này bao trùm thời kỳ của ba hệ mặt trời chính —hệ trước hệ này, hệ hiện tại, và hệ kế tiếp. |
|
20. What of minor solar systems? Were the “sparks” not present during the (perhaps) three minor solar systems which preceded the three major (of which we are presently in the second). (This, at least, is one way of looking at solar systemic evolution.) |
20. Thế còn các hệ mặt trời phụ thì sao? Các “tia lửa” đã không hiện diện trong (có lẽ) ba hệ mặt trời phụ vốn đi trước ba hệ mặt trời chính (mà trong đó hiện nay chúng ta ở hệ thứ hai) ư. (Ít nhất, đó là một cách nhìn về tiến hóa hệ mặt trời.) |
|
21. Some theorists believe there will be seven solar systems altogether and DK seems to support this point. |
21. Một số nhà lý thuyết tin rằng sẽ có bảy hệ mặt trời tất cả và Chân sư DK dường như xác nhận quan điểm này. |
|
There will be seven systems, though we are only concerned with the three major systems, of which our present system is the second major system. (IHS 187) |
Sẽ có bảy hệ, dù chúng ta chỉ quan tâm đến ba hệ chính, mà trong đó hệ hiện tại của chúng ta là hệ chính thứ hai. (IHS 187) |
|
22. Yet at the same time it is said that the third major solar system is the “final” solar system. |
22. Tuy vậy đồng thời cũng nói rằng hệ mặt trời chính thứ ba là hệ “cuối cùng”. |
|
It is the redemption of unprincipled substance, its creative restoration and spiritual integration, which is Their goal; the fruits of Their labour will be seen in the third and final solar system. (ENA 65) |
Mục tiêu của Các Ngài là cứu chuộc chất liệu vô nguyên khí, phục hồi sáng tạo và tích hợp tinh thần của nó; thành quả lao động của Các Ngài sẽ được thấy trong hệ mặt trời chính thứ ba và cuối cùng. (ENA 65) |
|
23. The matter has been seriously and intensively debated by a number of advanced students and no final conclusion (satisfactory to them all) has been reached. |
23. Vấn đề này đã được nhiều đạo sinh thâm tiến tranh luận nghiêm túc và sâu rộng mà vẫn chưa đạt kết luận cuối cùng (thỏa đáng cho tất cả họ). |
|
24. Some also think that the minor solar systems are found within the three major solar systems. Such are the variety of perspectives which emerge when thinking seriously of these puzzles. |
24. Một số người cũng nghĩ rằng các hệ mặt trời phụ nằm bên trong ba hệ mặt trời chính. Đó là sự đa dạng của các phối cảnh khởi hiện khi suy tư nghiêm túc về những điều nan giải này. |
|
In these three, the totality of the cosmic Past, Present, and Future, embodying the three aspects of the divine Life of the solar Logos, are carried to the point of perfection in an individualised Monad. |
Trong ba điều này, tổng thể Quá khứ, Hiện tại và Tương lai vũ trụ, bao hàm ba phương diện của Sự sống thiêng liêng nơi Thái dương Thượng đế, được đưa đến điểm hoàn thiện trong một Chân thần được biệt ngã hóa. |
|
25. If the major three solar systems embody the “totality” of the cosmic past, present and future, one wonders how any minor solar systems could have preceded the first major system? |
25. Nếu ba hệ mặt trời chính bao hàm “tổng thể” của quá khứ, hiện tại và tương lai vũ trụ, người ta tự hỏi làm sao các hệ mặt trời phụ nào có thể có trước hệ chính thứ nhất? |
|
26. We also note that the word “cosmic” has been used relating our Solar Logos to the “cosmic” sphere. |
26. Chúng ta cũng lưu ý rằng từ “vũ trụ” đã được dùng để liên hệ Thái dương Thượng đế của chúng ta với bình diện “vũ trụ”. |
|
27. Our Solar Logos is a cosmic Being but not yet a “Cosmic Logos”. |
27. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Hữu thể vũ trụ Vĩ Đại nhưng chưa phải là một “ Thượng đế Vũ Trụ ”. |
|
28. Note the term “individualised Monad”. Were all Monads individualized in the past solar system? This does not seem likely as the individualization was obviously taken by many in this second major solar system. |
28. Lưu ý thuật ngữ “Chân thần được biệt ngã hóa”. Phải chăng mọi Chân thần đều đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước? Điều này có vẻ không đúng vì rõ ràng đã có rất nhiều cuộc biệt ngã hóa diễn ra trong hệ mặt trời chính thứ hai này. |
|
29. Perhaps it is only when the Monad is at last individualized through the creation of its Self-conscious Ego that the Past, Present and Future can be carried to perfection. |
29. Có lẽ chỉ khi Chân thần sau cùng được biệt ngã hóa thông qua việc tạo ra Chân ngã tự thức của chính nó thì Quá khứ, Hiện tại và Tương lai mới có thể được đưa đến hoàn thiện. |
|
30. Yet, in a way, can we consider the Monad, per se, a kind of ‘individualized being’? Certainly it is a distinct point of identity. |
30. Tuy vậy, ở một nghĩa nào đó, chúng ta có thể xem Chân thần, tự thân nó, như một dạng ‘hữu thể đã biệt ngã hóa’ chăng? Chắc chắn nó là một điểm đồng nhất tính riêng biệt. |
|
It must be remembered that in this solar system, for instance, certain developments are only recapitulations of evolutionary processes undergone in an earlier solar system; the clue to this lies in the consideration of the manasic or mind principle. |
Cần nhớ rằng trong hệ mặt trời này, chẳng hạn, một vài triển khai chỉ là sự nhắc lại các tiến trình tiến hoá đã trải qua trong một hệ mặt trời sớm hơn; manh mối nằm ở việc quán xét nguyên khí manas hay nguyên khí thể trí. |
|
31. This is a very interesting thought. Is all monadic development (in this solar system) which leads up to mental expression, merely a recapitulation of that which transpired in an earlier solar system or earlier solar systems? |
31. Đây là một ý tưởng rất đáng chú ý. Phải chăng mọi phát triển thuộc chân thần (trong hệ mặt trời này) dẫn đến biểu hiện trí tuệ, chỉ là sự nhắc lại những gì đã diễn ra trong một hệ mặt trời trước hay các hệ mặt trời trước? |
|
32. From this perspective, all manasic development of man in this solar system is really a recapitulation of the kind of development which was focal in the previous system. |
32. Từ phối cảnh này, toàn bộ phát triển manasic của con người trong hệ mặt trời này thực ra là sự nhắc lại kiểu phát triển vốn là trọng tâm trong hệ trước. |
|
33. Yet, we may assume, that although there were some human Monads of our present solar system who were individualized in the previous, the majority of Monads of those who are expressing as men in this solar system, were individualized in this solar system. |
33. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng, dù có một số Chân thần nhân loại của hệ mặt trời hiện tại đã được biệt ngã hóa trong hệ trước, đa số Chân thần của những ai đang biểu hiện như con người trong hệ mặt trời này lại được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này. |
|
34. Perhaps, however, there were many Monads who expressed as men in the previous solar system, only some of them being transferred to the present solar system as “laggards” or as the “failures” of that system. |
34. Tuy thế, có lẽ đã có nhiều Chân thần biểu hiện thành con người trong hệ mặt trời trước, chỉ một số trong đó được chuyển sang hệ mặt trời hiện tại như “những kẻ chậm tiến” hoặc như “những ‘thất bại’” của hệ ấy. |
|
The solar Angels, the intelligent individualising factor, were (from certain angles of vision) the product of an earlier system, |
Các Thái dương Thiên Thần, yếu tố biệt ngã hóa thông tuệ, (xét từ một vài góc nhìn) là sản phẩm của một hệ trước, |
|
35. These Solar Angels, we have been taught, were “men” in the previous solar system. |
35. Chúng ta đã được dạy rằng các Thái dương Thiên Thần này từng là “con người” trong hệ mặt trời trước. |
|
36. This fact may tell us something about why Sirius (the source of Manas to our Solar Logos) was even more active in the previous solar system than in this one. |
36. Sự kiện này có thể cho chúng ta đôi điều về lý do Sirius (nguồn của Manas cho Thái dương Thượng đế của chúng ta) đã hoạt động còn mạnh mẽ hơn nữa trong hệ mặt trời trước so với hệ này. |
|
37. We must, however, consider which angles of vision Master DK is indicating. From which angles of vision were the “solar Angels” not the product of an earlier system? |
37. Tuy nhiên, chúng ta phải xét xem Chân sư DK đang chỉ ra những góc nhìn nào. Từ góc nhìn nào mà “các Thái dương Thiên Thần” không phải là sản phẩm của một hệ trước? |
|
and only waited for the time in the present system when the forms in the three kingdoms had reached the point of synthetic development which made it possible for them to be impressed and influenced from on high. |
và chỉ chờ đến thời điểm trong hệ hiện tại khi các hình tướng trong ba giới đã đạt tới điểm phát triển tổng hợp khiến cho có thể tác động ấn thị và ảnh hưởng từ trên cao. |
|
38. The “wait” of the Solar Angels must have been very long, as the Second Outpouring needed to complete perhaps two-thirds of its process before the requisite point of synthetic development had been reached. |
38. Sự “chờ đợi” của các Thái dương Thiên Thần hẳn là rất dài, vì Lần Tuôn đổ Thứ Hai cần hoàn tất có lẽ hai phần ba tiến trình của nó trước khi đạt tới điểm phát triển tổng hợp cần thiết. |
|
39. From other angles vision, the Monads became active in relation to the lower kingdoms long before the Solar Angels began to exert their influence. This we learn when studying the “immetalization” of the Monad; its ‘invegetalization’, in this solar system ‘inzoonation’. |
39. Từ những góc nhìn khác, các Chân thần đã trở nên tích cực đối với các giới thấp từ lâu trước khi các Thái dương Thiên Thần bắt đầu tác động ảnh hưởng. Điều này chúng ta học được khi nghiên cứu về sự “kim thạch hoá” của Chân thần; sự “thực vật hoá” của nó, và trong hệ mặt trời này là sự ‘thú hệ hoá’. |
|
We [1089] have in this concept an idea analogous to the entering in of those Monads, during Atlantean days, who, having individualised upon another chain, |
Chúng ta [1089] có trong khái niệm này một ý tưởng tương đồng với sự đi vào của những Chân thần, trong thời Atlantis, những vị đã biệt ngã hóa trên một dãy khác, |
|
40. This was the Moon-chain and the entry is hypothesized to have taken place in the third sub-race of the fourth rootrace. (c.f. The Hidden History of Humanity by Phillip Lindsay.) |
40. Đó là Dãy Mặt Trăng và giả thuyết cho rằng sự hạ giáng này diễn ra trong giống dân phụ thứ ba của Giống dân gốc thứ tư. (x. Lịch Sử Ẩn Giấu của Nhân Loại của Phillip Lindsay.) |
|
41. Technically, those who entered were already “Egos” having been individualized. |
41. Về mặt kỹ thuật, những ai đi vào lúc ấy vốn đã là các “Chân ngã” do đã được biệt ngã hóa. |
|
42. From a deeper perspective, all Egos are essentially Monads. |
42. Ở một phối cảnh sâu hơn, mọi Chân ngã về bản chất đều là Chân thần. |
|
tarried in the inter-planetary spaces until earth conditions were such that the occupation of adequate forms became possible. |
đã nấn ná trong các không gian liên hành tinh cho đến khi các điều kiện địa cầu đủ để việc cư trú những hình tướng tương xứng trở nên khả hữu. |
|
43. This was a condition of pralayic ‘learning’ which was necessary if these Egos were to be sufficiently prepared to enter the Earth-chain. |
43. Đây là một tình trạng ‘học hỏi’ trong pralaya, điều cần thiết nếu các Chân ngã này phải chuẩn bị đủ để đi vào Dãy Địa Cầu. |
|
44. The phrase “inter-planetary spaces” needs examination. Did the tarrying take place within the sphere of the planetary scheme? Or did the pralaya occur outside the planetary ring-pass-not? It would seem more logical that the pralayic period occurred within the confines of the planetary ring-pass-not. |
44. Cụm từ “các không gian liên hành tinh” cần được khảo sát. Sự nấn ná diễn ra trong vòng ảnh hưởng của hệ hành tinh chăng? Hay pralaya diễn ra bên ngoài vòng-giới-hạn của hành tinh? Có vẻ hợp lý hơn khi cho rằng giai đoạn pralayic diễn ra trong phạm vi vòng-giới-hạn của hành tinh. |
|
45. However, a number of individualized human beings from the previous solar system went into a condition of pralaya following that system and in preparation for entry into this second major solar system. In what ‘location’ was their pralaya? Could we say that it occurred in a kind of solar systemic ‘devachan’ on planes higher than the cosmic physical plane? |
45. Tuy nhiên, một số người nhân loại đã được biệt ngã hóa từ hệ mặt trời trước đã đi vào tình trạng pralaya sau hệ ấy và để chuẩn bị cho việc đi vào hệ mặt trời chính thứ hai này. ‘Vị trí’ pralaya của họ ở đâu? Chúng ta có thể nói rằng nó diễn ra trong một dạng ‘thiên giới’ thuộc hệ mặt trời trên các cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ chăng? |
|
46. During the pralaya of an entire solar system, the etheric-physical body, the astral body and the lower mental body of the Solar Logos concerned must eventually dissipate. |
46. Trong pralaya của toàn bộ một hệ mặt trời, thể dĩ thái-thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí của Thái dương Thượng đế liên hệ rốt cuộc phải được làm tiêu tan. |
|
The correspondence is not exact but is indicative of the truth. |
Sự tương ứng không hoàn toàn chính xác nhưng gợi ý về sự thật. |
|
47. Between solar systems, during the solar pralaya, it can be assumed that the individualized Monads of the first solar system also ‘learned’ in such a manner that they would be prepared and equipped to enter the second solar system at in a fitting condition and at an appropriate time. |
47. Giữa các hệ mặt trời, trong thời kỳ solar pralaya, có thể giả định rằng các Chân thần được biệt ngã hóa của hệ mặt trời thứ nhất cũng ‘học hỏi’ theo cách nhờ đó họ sẽ được chuẩn bị và trang bị để đi vào hệ thứ hai trong một tình trạng thích hợp và vào một thời điểm thích đáng. |
|
The vast cycle of unfoldment (which rendered later evolution possible) preceded this solar system, and might be regarded as the monadic correspondence to a cosmic wheel. |
Chu kỳ rộng lớn của sự khai mở (vốn làm cho việc tiến hoá về sau trở nên khả hữu) đã có trước hệ mặt trời này, và có thể được xem như sự tương ứng nơi bình diện chân thần của một bánh xe vũ trụ. |
|
48. This analogy will require deep pondering. It seems certain that DK considers the Monad part of a much bigger structure of which its present expression is simply a fractional part. |
48. Phép loại suy này đòi hỏi sự quán chiếu sâu. Dường như chắc chắn rằng DK xem Chân thần là một phần của một cấu trúc lớn hơn rất nhiều mà biểu hiện hiện thời của nó chỉ là một phần nhỏ. |
|
49. We also gather that “cosmic wheels” can be considered both spatial and temporal perspectives. |
49. Chúng ta cũng hiểu rằng “những bánh xe vũ trụ” có thể được xem như cả các phối cảnh không gian lẫn thời gian. |
|
50. Like a Solar Logos, will a Monad too have ‘seven systems’ or seven great incarnations? Or will it have only six— since the sixth of our solar systems is the “third and final” system? |
50. Tương tự Thái dương Thượng đế, liệu một Chân thần cũng có ‘bảy hệ’ hay bảy đại lâm phàm? Hay nó chỉ có sáu— vì hệ thứ sáu của chúng ta là “hệ thứ ba và cuối cùng”? |
|
51. Is the present incarnation through which so many human Monads are passing to be considered its second “major” incarnation or system? |
51. Lâm phàm hiện tại mà rất nhiều Chân thần nhân loại đang trải qua có được xem là lần “lâm phàm chính” thứ hai hay không? |
|
52. As we have learned by studying earlier sections of text, the term “cosmic wheel” is not exactly straightforward. It could be a structure so vast that, within it, galaxies are as chakras; or it could be a galaxy itself; or it could be, relatively a much smaller intra-galactic structure—the wheel, for instance, of a Cosmic Logos composed of seven major solar systems. |
52. Như chúng ta đã học khi khảo cứu các phần trước, thuật ngữ “bánh xe vũ trụ” không hoàn toàn trực diện. Nó có thể là một cấu trúc bao la đến mức trong đó các thiên hà là như các luân xa; hoặc bản thân nó có thể là một thiên hà; hoặc tương đối nhỏ hơn nhiều—một cấu trúc nội thiên hà—chẳng hạn bánh xe của một Thượng đế Vũ Trụ cấu thành bởi bảy hệ mặt trời chính. |
|
53. When we use terms like “cosmic wheel” we are immediately confronted with DK’s tendency to use ‘level blinds’. |
53. Khi chúng ta dùng các thuật ngữ như “bánh xe vũ trụ”, lập tức chúng ta đối diện với khuynh hướng của DK dùng các ‘mức độ che mờ’. |
|
In the old Commentary this point of development is hinted at in the words: |
Trong Cổ Luận điểm tiến triển này được ám chỉ bằng những lời: |
|
“The fifth did not appear as the product of the present. |
“Cái thứ năm đã không xuất hiện như sản phẩm của hiện tại. |
|
54. Here is could almost seem that we were discussing the fifth solar system (our second major solar system). |
54. Ở đây gần như có thể tưởng như chúng ta đang bàn về hệ mặt trời thứ năm (hệ mặt trời chính thứ hai của chúng ta). |
|
55. On the other hand, we could well be dealing with the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels. |
55. Mặt khác, chúng ta cũng có thể đang đề cập đến Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm của các Thái dương Thiên Thần. |
|
56. Further, and on topic, we could be speaking of the fifth solar systemic ‘appearance’ of the human Monad. |
56. Hơn nữa, và đúng chủ đề, chúng ta có thể đang nói về lần ‘xuất hiện’ thứ năm trong Thái dương hệ của Chân thần nhân loại. |
|
The five spokes of that wheel had each a cycle of development, |
Năm nan của bánh xe ấy mỗi cái có một chu kỳ phát triển, |
|
57. Are we, then, presently in the fifth monadic phase? |
57. Vậy thì, hiện nay chúng ta đang ở trong pha thứ năm của chân thần chăng? |
|
and one in which they were welded at the centre.” |
và một trong số đó là chu kỳ trong đó chúng được hàn tại trung tâm.” |
|
58. Is the cycle of development in which “they were welded at the centre” speaking of a very early primitive phase, or of a phase which is to come? A stage in which all were not yet differentiated might not qualify as a “spoke” in the monadic wheel but there could be a developmental phase in which welding at the center occurred. |
58. Chu kỳ phát triển trong đó “chúng được hàn tại trung tâm” đang nói đến một giai đoạn cực kỳ sơ khai, hay đến một giai đoạn sẽ đến? Một giai đoạn mà tất cả vẫn chưa biến phân thì có lẽ không đủ điều kiện để được xem là một “nan” trong bánh xe chân thần, nhưng có thể đã có một giai đoạn phát triển trong đó việc hàn gắn tại trung tâm đã diễn ra. |
|
59. If we use the solar systemic analogy, such a ‘welded’ system might not qualify as a solar system either. |
59. Nếu dùng phép loại suy cấp thái dương hệ, một hệ ‘được hàn’ như vậy có lẽ cũng chưa đủ điều kiện để được xem như một hệ mặt trời. |
|
60. There are analogies to be drawn between solar systemic cycles and monadic cycles—obviously. |
60. Có những phép loại suy cần rút ra giữa các chu kỳ cấp thái dương hệ và các chu kỳ cấp chân thần—điều này hiển nhiên. |
|
61. It would seem that our monadic wheel has had at least five spokes and maybe a deeply primeval sixth. The next would be the seventh from this perspective, and again, there would be a welding at the center, but in fully expansive power and consciousness—a final synthesis. |
61. Có vẻ như bánh xe chân thần của chúng ta đã có ít nhất năm nan và có lẽ một nan thứ sáu rất nguyên sơ. Cái kế tiếp sẽ là nan thứ bảy theo phối cảnh này, và một lần nữa, sẽ có sự hàn gắn tại trung tâm, nhưng trong quyền năng và tâm thức bành trướng trọn vẹn—một tổng hợp sau cùng. |
|
The Monad has cycles analogous, though on a miniature scale, to those of the one Life Who permeates and animates all lesser lives.13 [Bible. I Peter 2:4] |
Chân thần có các chu kỳ tương tự—dù ở quy mô vi mô—với các chu kỳ của Sự sống Duy Nhất Đấng thấm nhuần và sinh động hoá mọi sự sống thấp hơn.13 [Kinh Thánh. I Phi-e-rơ 2:4] |
|
62. This Life can reasonably be considered the Solar Logos, though the idea is capable of vast extension including many varieties of Cosmic Logoi and Super-Cosmic Logoi, etc. |
62. Sự sống này có thể được xem hợp lý là Thái dương Thượng đế, dù ý tưởng ấy có thể mở rộng bao la bao gồm nhiều loại Thượng đế Vũ Trụ và các Thượng đế Siêu Vũ Trụ, v.v. |
|
Certain of these cycles cover periods of time so vast, and so long past, that their history can only be conveyed to the investigating Adepts through the medium of sound and symbol. |
Một vài chu kỳ như thế bao trùm những giai đoạn thời gian bao la, và xa xưa đến độ lịch sử của chúng chỉ có thể được truyền đạt cho các Chân sư khám cứu thông qua phương tiện âm thanh và biểu tượng. |
|
63. We are now into some of the deepest mysteries, obscure even to the Adepts. Yet in our constant search for the Self (the Essence) this extremely ancient history will one day have to be considered. |
63. Giờ đây chúng ta đang đi vào vài bí ẩn thâm sâu nhất, đến mức tối mờ ngay cả đối với các Chân sư. Tuy vậy, trong cuộc tìm kiếm không ngừng hướng về Tự Ngã (Bản Thể), lịch sử cực kỳ cổ xưa này một ngày kia sẽ phải được xét đến. |
|
64. Perhaps the thing to be extracted is that the present monadic cycle is far from the Monad’s only cycle, even though many of us have become accustomed to think in such limited terms. The Monad is not a thing with only a lengthy future and no lengthy past. |
64. Có lẽ điều cần rút ra là: chu kỳ chân thần hiện tại còn lâu mới là chu kỳ duy nhất của Chân thần, dù nhiều người trong chúng ta đã quen nghĩ theo những giới hạn hẹp hòi như thế. Chân thần không phải là một thực tại chỉ có tương lai dài lâu mà không có quá khứ dài lâu. |
|
The details of that development are lost in the night of other kalpas, |
Các chi tiết của tiến trình phát triển ấy đã bị mất trong đêm tối của những kalpa khác, |
|
65. Again, while the Tibetan probably does mean “kalpas” with regard to some details of development, it seems certain from much of the foregoing text that He is also speaking of mahakalpas. |
65. Một lần nữa, dù Chân sư Tây Tạng hẳn có ý nói “kalpa” đối với vài chi tiết phát triển, dường như chắc chắn qua nhiều văn bản vừa qua rằng Ngài cũng đang nói về các mahakalpa. |
|
and all that can be seen are the results,—the cause must be accepted as existing, though for us remaining inexplicable until the higher initiations are taken. |
và tất cả những gì có thể thấy được chỉ là các kết quả,—nguyên nhân phải được chấp nhận là tồn tại, dù đối với chúng ta còn bất khả giải cho đến khi những cuộc điểm đạo cao hơn được thành tựu. |
|
66. Which initiations are these? Those beyond which the Tibetan has taken? |
66. Đó là những cuộc điểm đạo nào? Những cuộc điểm đạo vượt quá mức mà Chân sư Tây Tạng đã đạt chăng? |
|
67. Probably the Planetary Logoi are aware of the history of the Monads associated with Them. |
67. Có lẽ các Hành Tinh Thượng đế biết rõ lịch sử của các Chân thần liên hệ với Các Ngài. |
|
68. Certainly the perspective under discussion give new emphasis to the sense of immortality which should pervade our consciousness. |
68. Chắc chắn phối cảnh đang bàn đến đem lại nhấn mạnh mới cho cảm thức bất tử vốn nên thấm nhuần tâm thức của chúng ta. |
|
In the fact of the turning of the monadic Wheel covering the period of three solar systems, |
Trong sự kiện bánh xe chân thần xoay chuyển bao trùm giai đoạn của ba hệ mặt trời, |
|
69. Three solar systems and more…it would seem. If not, then the earlier solar systems could be subsumed within the greater three. |
69. Ba hệ mặt trời và hơn thế nữa… có vẻ như vậy. Nếu không, các hệ mặt trời sớm hơn có thể được gộp trong ba hệ lớn. |
|
70. We do recall that DK has just told us that there are at least five spokes in the monadic wheel and also a cycle of development in which these “spokes” were “welded at the centre”. |
70. Chúng ta nhớ DK vừa nói rằng bánh xe chân thần có ít nhất năm nan và cũng có một chu kỳ phát triển trong đó các “nan” này “được hàn tại trung tâm”. |
|
lies hid the mystery of monadic self-will, and the secret as to why some of the Monads refused to incarnate, |
ẩn giấu huyền bí của tự ý chí chân thần, và bí mật về lý do vì sao một số Chân thần đã từ chối lâm phàm, |
|
71. Monads are essentially pure being but their foremost instrument is the will. |
71. Chân thần về bản chất là thuần hữu-thể nhưng khí cụ hàng đầu của nó là ý chí. |
|
72. Can a B/being who is not individualized have “self-will”? |
72. Liệu một Hữu thể chưa được biệt ngã hóa có thể có “tự ý chí” chăng? |
|
73. Do the Monads as Monads refuse to incarnate, or is it the individualized Monads (Egos) who refuse to incarnate? |
73. Các Chân thần với tư cách Chân thần từ chối lâm phàm, hay là các Chân thần đã biệt ngã hóa (các Chân ngã) từ chối lâm phàm? |
|
74. For a Monad, incarnation would mean the generating of a causal body. |
74. Đối với một Chân thần, lâm phàm sẽ có nghĩa là tạo ra một thể nguyên nhân. |
|
whilst others “fell,” and thus proceeded along the present lines of evolution. |
trong khi những vị khác “sa xuống”, và nhờ thế tiếp tục theo các đường lối tiến hoá hiện nay. |
|
75. This is a ‘story’ on the monadic level similar to the apparent ‘refusal’ of some of the Agnishvattas to incarnate in early man. |
75. Đây là một ‘câu chuyện’ ở cấp chân thần tương tự với sự ‘từ chối’ bề ngoài của một số Agnishvattas khi lâm phàm vào con người sơ khai. |
|
76. When did this refusal occur? Can we say that this refusal occurred in this solar system? Can we say that the refusal to incarnate (of at least some of the Monads) occurred at a time simultaneous to the refusal of the Solar Angels to assume a Self-extension within a human causal body? |
76. Sự từ chối này xảy ra lúc nào? Chúng ta có thể nói rằng nó xảy ra trong hệ mặt trời này chăng? Chúng ta có thể nói rằng sự từ chối lâm phàm (ít nhất của một số Chân thần) diễn ra đồng thời với việc các Thái dương Thiên Thần từ chối đảm nhận một Sự mở rộng Tự Ngã trong một thể nguyên nhân nhân loại chăng? |
|
77. We understand that there are still Monads who are “in manifestation” but not “in incarnation”. This is true of many first ray Monads. |
77. Chúng ta hiểu rằng vẫn còn có những Chân thần đang “biểu hiện” nhưng không “lâm phàm”. Điều này đúng với nhiều Chân thần cung một. |
|
They refused to incarnate because of internal group conditions |
Họ đã từ chối lâm phàm vì các điều kiện nhóm ở nội giới |
|
78. Note—we are here speaking of monadic group conditions. |
78. Lưu ý—ở đây chúng ta đang nói về các điều kiện nhóm cấp chân thần. |
|
79. We may remember from Letters on Occult Meditation that there are seven “great groups” of “Egos” on the monadic plane. (LOM 38-39) |
79. Chúng ta có thể nhớ trong Letters on Occult Meditation rằng có bảy “đại nhóm” “Chân ngã” trên cõi chân thần. (LOM 38-39) |
|
brought about through the evolutionary processes of the past kalpas. |
được đưa đến thông qua các tiến trình tiến hoá của những kalpa trước. |
|
80. At least one “refusal” involving Solar Angels occurred in Lemurian times. Did the monadic refusal occur simultaneously? |
80. Ít nhất một “sự từ chối” liên hệ đến các Thái dương Thiên Thần đã xảy ra vào thời Lemuria. Sự từ chối ở cấp chân thần có diễn ra đồng thời chăng? |
|
81. Did the refusal to incarnate involve a number of third ray Monads from the previous solar system? Did this refusal also involve a large number of third ray Monads from the Moon-chain? |
81. Sự từ chối lâm phàm có liên hệ đến một số Chân thần cung ba từ hệ mặt trời trước chăng? Việc từ chối này có liên quan đến một số đông Chân thần cung ba từ Dãy Mặt Trăng chăng? |
|
It will, therefore, be apparent that the question of what constitutes sin and evil is far more intricate than even appears upon the surface. |
Vì vậy, hiển nhiên vấn đề cái gì cấu thành tội và ác phức tạp hơn nhiều so với những gì bề ngoài cho thấy. |
|
82. DK is encouraging us to take a deep occult perspective in relation to some of our most problematic moral dilemmas. |
82. DK đang khuyến khích chúng ta nắm một phối cảnh huyền bí sâu xa khi đối diện với vài nan đề luân lý rắc rối nhất. |
|
83. He is referencing the “sin” involved in refusing to incarnate. |
83. Ngài đang ám chỉ tới “tội” liên quan đến việc từ chối lâm phàm. |
|
From our [1090] limited vision, it appears to be “sin” to fall into incarnation, and equally sin or self-will, self-satisfaction, to remain unevolved upon the higher planes. |
Từ nhãn quan hạn hẹp của chúng ta [1090], có vẻ như là “tội” khi sa vào lâm phàm, và cũng đồng thời là tội hay tự ý chí, tự mãn, khi vẫn không tiến hoá trên các cõi cao. |
|
84. We have a double-bind here. Perhaps only in the “middle way” is sin to be avoided. |
84. Ở đây là một thế lưỡng nan. Có lẽ chỉ trong “trung đạo” mới tránh được tội. |
|
85. This second type of “sin” seems to involve an act of self-will which refuses compliance with a required planetary rhythm to which the self-willing unit is meant to conform. |
85. Dạng “tội” thứ hai này dường như liên quan đến một hành vi tự ý chí từ chối thuận ứng với một nhịp điệu hành tinh bắt buộc mà đơn vị tự ý chí ấy đáng lẽ phải hòa nhập. |
|
86. The first type of “sin” arises from the thought that that which is subject to matter is sinful and that which is free of matter or ‘above’ matter is pure and sinless. |
86. Dạng “tội” thứ nhất phát sinh từ quan niệm cho rằng cái gì lệ thuộc vật chất là tội lỗi, và cái gì không lệ thuộc hay ‘trên’ vật chất thì thanh sạch và vô tội. |
|
87. If “sin” is really a term describing the energies of the lower eighteen subplanes, one can understand this perspective. |
87. Nếu “tội” thực ra là thuật ngữ mô tả các năng lượng của mười tám cõi phụ thấp, chúng ta có thể hiểu phối cảnh này. |
|
Yet both groups followed the law of their being, |
Tuy nhiên cả hai nhóm đều theo định luật của bản thể các vị, |
|
88. Something about the ray nature or the developmental nature of the Monads who either “fell” or “refused to incarnate” determined their actions. DK is saying that they must not be blamed for “sin”. |
88. Có điều gì đó thuộc về cung tính hay trình độ phát triển của các Chân thần—dù “sa xuống” hay “từ chối lâm phàm”—đã quyết định các hành động của các vị. DK nói rằng chúng ta không nên quy trách “tội” cho các vị. |
|
89. Was it the second ray Monads who came in, in this second solar system? Was it the third ray Monads (already somewhat developed) who held back, refusing to incarnate until presented with appropriate vehicles? |
89. Phải chăng là các Chân thần cung hai đã đi vào trong hệ mặt trời thứ hai này? Phải chăng các Chân thần cung ba (đã có phần phát triển) thì trì hoãn, từ chối lâm phàm cho đến khi có các vận cụ thích hợp? |
|
90. In this latter case, however, they would already have had egoic lotuses, either from the previous solar system or from the previous chain, the Moon-chain. |
90. Tuy nhiên, trong trường hợp sau, họ lẽ ra đã có Hoa Sen Chân Ngã, hoặc từ hệ mặt trời trước, hoặc từ dãy trước, tức Dãy Mặt Trăng. |
|
and the solution of the mystery lies in that which is to come. |
và lời giải của huyền bí nằm trong điều sẽ đến. |
|
91. That which is to come is the sixth and final solar system (perhaps numbered the seventh in certain systems). DK may be speaking of first ray Monads who are the nucleus of “that which is to come”. They “day” will occur in the next solar system though some few may achieve in this solar system. |
91. Điều sẽ đến là hệ mặt trời thứ sáu và cuối cùng (có lẽ được đánh số là thứ bảy trong vài hệ). DK có thể đang nói về các Chân thần cung một là hạch nhân của “điều sẽ đến”. “Ngày” của các vị sẽ đến trong hệ mặt trời tiếp theo, dù một vài vị có thể thành tựu trong hệ này. |
|
If the student will with care meditate upon the fact that the three lower planes—the mental, the astral, and the physical—form the dense physical body of the planetary Logos and are, therefore, no principle, it will become apparent to him that through necessity certain units or cells in the body are more active in space and time than others. |
Nếu môn sinh cẩn thận tham thiền về thực tế rằng ba cõi thấp—trí, cảm dục và hồng trần—cấu thành thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và vì vậy không phải là nguyên khí, thì y sẽ thấy hiển nhiên rằng do tất yếu một vài đơn vị hay tế bào trong thân thể hoạt động mạnh hơn trong không gian và thời gian so với những đơn vị khác. |
|
92. This could be a hint indicating, most likely, third ray Monads—the “Monads of Activity”. It is they who would be most likely to be “more active in space and time” than others who had less affinity with the lower three levels of the cosmic physical plane. |
92. Điều này có thể là một gợi ý, rất có thể, về các Chân thần cung ba—“các Chân thần của Hoạt động”. Chính họ có khả năng “hoạt động mạnh hơn trong không gian và thời gian” so với những vị ít tương ứng hơn với ba tầng thấp của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
93. Of course, this would represent a perspective which would be the reverse of that just proposed above. |
93. Dĩ nhiên, đây là một phối cảnh đảo ngược so với điều vừa đề xuất ở trên. |
|
94. We might think, however, that the third ray Monads who had not individualized in the previous solar system, were the first to engage in a “pilgrimage” within this particular solar system. Meanwhile, the third ray Monads who had individualize in the previous solar system, would be ‘waiting’ for their proper time to enter. |
94. Tuy vậy, chúng ta có thể nghĩ rằng các Chân thần cung ba chưa được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước là những vị đầu tiên dấn thân vào “cuộc hành hương” trong hệ mặt trời đặc thù này. Trong khi đó, các Chân thần cung ba đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước sẽ ‘chờ’ đến thời điểm thích hợp để đi vào. |
|
95. The second ray Monads would enter after the third ray Monads who individualized in this solar system, but before the second ray Monads who belong to this system. Those second ray Monads would have to develop vehicles making egoic individualization possible, whereas the third ray Monads of the previous system would already have such vehicles. |
95. Các Chân thần cung hai sẽ đi vào sau các Chân thần cung ba biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này, nhưng trước các Chân thần cung hai thuộc về hệ này. Những Chân thần cung hai ấy sẽ phải phát triển các vận cụ khiến cho biệt ngã hóa chân ngã trở nên khả hữu, trong khi các Chân thần cung ba của hệ trước đã có sẵn các vận cụ như vậy. |
|
96. Relative few second ray Monads individualized on the Moon-chain where as many third ray Monads did so. |
96. Tương đối ít Chân thần cung hai biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, trong khi rất nhiều Chân thần cung ba đã làm như thế. |
|
97. Probably involvement in the Moon-chain was the first ‘descent’ (in this solar system) of those Monads who individualized in the previous solar system, yet it is likely that the majority of those third ray Monads from the previous system did not incarnate on the Moon-chain, but only in early Lemurian days before individualization had occurred. |
97. Có lẽ sự tham dự vào Dãy Mặt Trăng là ‘cuộc hạ giáng’ đầu tiên (trong hệ mặt trời này) của những Chân thần đã biệt ngã hóa trong hệ trước, tuy vậy có khả năng đa số các Chân thần cung ba từ hệ trước không lâm phàm trên Dãy Mặt Trăng, mà chỉ lâm phàm vào thời Lemuria sơ kỳ trước khi biệt ngã hóa xảy ra. |
|
He must also bear in mind that groups of Monads come into incarnation according to which centre in a Heavenly Man of a particular planetary scheme, |
Y cũng phải ghi nhớ rằng các nhóm Chân thần đi vào lâm phàm tùy theo trung tâm nào trong một Đấng Thiên Nhân của một hệ hành tinh cụ thể, |
|
98. We can judge that human Monads are found in at least three centers of a Planetary Logos—the head, heart and throat centers. Perhaps they are found in all seven. This has not yet been established but references do exist which seem to indicate that all seven centers may be ‘home’ to human Monads. |
98. Chúng ta có thể phán đoán rằng các Chân thần nhân loại được đặt trong ít nhất ba trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế—các trung tâm đầu, tim và họng. Có lẽ họ hiện diện trong cả bảy. Điều này chưa được xác lập nhưng có những ám chỉ dường như cho thấy cả bảy trung tâm đều có thể là ‘nhà’ của các Chân thần nhân loại. |
|
99. If the center in which the Monad is a part is undergoing vivification, the appearance of the Monad in incarnation is more likely during that period of vivification. |
99. Nếu trung tâm mà Chân thần thuộc về đang được sinh động hóa, thì sự xuất hiện của Chân thần trong lâm phàm dễ xảy ra hơn trong giai đoạn sinh động hóa ấy. |
|
100. We can see that the cycles of chakric stimulation in a particular Planetary Logos will have much to do with the appearance of certain Monads in incarnation. |
100. Chúng ta thấy rằng các chu kỳ kích hoạt luân xa nơi một Hành Tinh Thượng đế cụ thể có liên hệ mật thiết với sự xuất hiện của những Chân thần nhất định vào lâm phàm. |
|
101. Of course, it should be remember that the centers in which Monads (as Monads and not as individualized Egos) are found are upon the monadic plane. |
101. Dĩ nhiên, cần nhớ rằng các trung tâm mà trong đó các Chân thần (với tư cách Chân thần, không phải các Chân ngã đã biệt ngã hóa) cư ngụ là ở trên cõi chân thần. |
|
102. By the way, in the above, we could note that the term “Heavenly Man” seems to be differentiated from “planetary scheme”. The “planetary scheme”, in this case, seems to be the vehicle of the Heavenly Man. |
102. Nhân đây, ở trên, chúng ta có thể lưu ý thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” dường như được phân biệt với “hệ hành tinh”. “Hệ hành tinh”, trong trường hợp này, có vẻ là vận cụ của Đấng Thiên Nhân. |
|
or which centre of the solar Logos, is in process of vivification or cyclic activity, |
hoặc trung tâm nào của Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình sinh động hóa hay hoạt động theo chu kỳ, |
|
103. Planetary schemes are “centres” in a Solar Logos. |
103. Các hệ hành tinh là “các trung tâm” trong một Thái dương Thượng đế. |
|
104. Certain planetary schemes are, as a whole, undergoing vivification or cyclic emphasis. During such periods, the Monads involved in the entire planetary scheme will be in some more active form of manifestation or demonstration. |
104. Một vài hệ hành tinh, xét như một toàn thể, đang trải qua sinh động hóa hay nhấn mạnh theo chu kỳ. Trong những giai đoạn như vậy, các Chân thần liên hệ với toàn bộ hệ hành tinh ấy sẽ ở trong một hình thức biểu hiện hay trình hiện tích cực hơn. |
|
105. If, for instance, the Earth-scheme and the Venus-scheme are presently undergoing vivification by the Solar Logos, then the Monads found within the Earth-scheme and the Venus-scheme will be more active and more likely to be in incarnation than, for instance, the Monads found within a planetary scheme which is not undergoing solar logoic vivification. |
105. Nếu, chẳng hạn, Địa Cầu và Kim Tinh hiện đang được Thái dương Thượng đế sinh động hóa, thì các Chân thần thuộc về Hệ Địa Cầu và Hệ Kim Tinh sẽ tích cực hơn và có nhiều khả năng lâm phàm hơn so với, chẳng hạn, các Chân thần thuộc về một hệ hành tinh không đang chịu sự sinh động hóa bởi Thái dương Thượng đế. |
|
106. We see, then, that monadic cycles are intimately related to the cycles of the Planetary Logoi and Solar Logoi. |
106. Như vậy, chúng ta thấy các chu kỳ chân thần có liên hệ mật thiết với các chu kỳ của các Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế. |
|
107. It should be said that the Earth, Venus, Saturn and perhaps Uranus are in process of kundalinic activation. Are Monads from these particular planets in incarnation more than the Monads from other planets? Yet Venus is entering a state of absorption so one would anticipate that Venusian Monads, too, would be entering a state of abstraction from incarnation (at least in the lower three worlds). |
107. Nên nói rằng Địa Cầu, Kim Tinh, Thổ Tinh và có lẽ Thiên Vương Tinh đang trong tiến trình kích hoạt kundalini. Liệu các Chân thần từ những hành tinh đặc thù này đang lâm phàm nhiều hơn các Chân thần từ những hành tinh khác chăng? Tuy nhiên, Kim Tinh đang đi vào trạng thái hấp thu nên ta cũng có thể dự đoán rằng các Chân thần Kim Tinh đang đi vào trạng thái trừu xuất khỏi lâm phàm (ít nhất khỏi ba cõi thấp). |
|
108. The solar systemic ‘rounds’ will have to be considered. There may be seven such or perhaps nine. When the solar systemic ‘round’ reaches a particular planetary scheme it enters a stage of activation. Its chakras are activated and presumably, its monadic chakras as well, leading to the activation of a chakra’s constituent Monads. |
108. Các ‘cuộc tuần hoàn’ cấp Thái dương hệ cũng cần được xét. Có thể có bảy hoặc chín. Khi ‘cuộc tuần hoàn’ cấp Thái dương hệ đến một hệ hành tinh cụ thể, hệ ấy đi vào một giai đoạn kích hoạt. Các luân xa của nó được kích hoạt và suy ra, các luân xa chân thần cũng thế, dẫn đến việc kích hoạt các Chân thần cấu thành một luân xa. |
|
109. Thus, there may be at least two forms of activation with regard to a planetary scheme: round activation and kundalinic activation. |
109. Như vậy, có thể có ít nhất hai dạng kích hoạt đối với một hệ hành tinh: kích hoạt theo cuộc tuần hoàn và kích hoạt kundalini. |
|
110. The activation of a planetary scheme also has much to do with the particular initiation or sub-initiation through which the Solar Logos is passing. |
110. Sự kích hoạt một hệ hành tinh cũng liên hệ nhiều với cuộc điểm đạo hay tiểu điểm đạo mà Thái dương Thượng đế đang trải qua. |
|
and that certain of the centres of a solar Logos and this particular solar system are in a condition of partial pralaya through the process of the absorption of the lower solar life forces by the centres of higher vitality. |
và rằng một vài trung tâm của một Thái dương Thượng đế và chính hệ mặt trời này đang ở trong trạng thái pralaya một phần thông qua tiến trình các sinh lực thái dương thấp được hấp thu bởi các trung tâm có sinh lực cao hơn. |
|
111. We have a very interesting statement here. Venus and Mercury have entered stages of obscuration we are told. Even the Earth is headed in that direction. Does DK mean these particular planets? |
111. Ở đây có một phát biểu rất đáng chú ý. Chúng ta được cho biết Kim Tinh và Thủy Tinh đã đi vào những giai đoạn mờ ám. Ngay cả Địa Cầu cũng đang hướng theo chiều hướng ấy. DK có ý những hành tinh đặc thù này chăng? |
|
112. There are also planets which do not yet seem to have entered a stage of full activation. Though highly advanced planetary Entities express through these planets, the degree of planetary unfoldment seems to be delayed when compared with planets through which lesser planetary Entities express. For instance, it appears the Uranus and Neptune (and even Saturn and Jupiter) have not entered their fullest stages of activation. |
112. Cũng có những hành tinh dường như chưa đi vào giai đoạn kích hoạt trọn vẹn. Dù các Thực Thể Hành Tinh rất cao cả biểu hiện qua các hành tinh ấy, mức độ khai mở hành tinh dường như chậm lại khi so với những hành tinh vốn do các Thực Thể hành tinh kém hơn biểu hiện. Chẳng hạn, có vẻ như Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh (và thậm chí Thổ Tinh và Mộc Tinh) chưa đi vào các giai đoạn kích hoạt đầy đủ nhất. |
|
113. There is also a most interesting hint—that our present solar system is in a state of “partial pralaya”. Does this have something to do with the cycles of ‘systemic rounds’ which are moving from planetary scheme to planetary scheme? |
113. Lại còn một ám chỉ rất lý thú—rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta đang ở trong một trạng thái “pralaya một phần”. Điều này có liên quan đến các chu kỳ ‘tuần hoàn hệ thống’ đang di chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác chăng? |
|
114. A type of absorption of lower into higher is now occurring and this, it seems, signals a type of systemic pralaya during the period of absorption. |
114. Hiện có một dạng hấp thu cái thấp vào cái cao, và điều này, dường như, báo hiệu một dạng pralaya cấp hệ thống trong giai đoạn hấp thu ấy. |
|
Again, he must remember that the entire aspect of the Divine Life is not intended to reach its full unfoldment at any time in this solar system but must wait for the vitalising impulses of a later. |
Một lần nữa, y phải nhớ rằng toàn bộ phương diện của Sự sống Thiêng liêng không có ý định đạt đến sự khai mở trọn vẹn vào bất kỳ lúc nào trong hệ mặt trời này mà phải chờ những xung lực sinh động hóa của một (hệ) về sau. |
|
115. Some Monads will remain in a relatively abstracted state in this solar system, as they are intended to reach full expression in the next solar system. This is especially true of first ray Monads. Third ray Monads should have much of their final expression in this solar system. Will such Monads even be carried over into the next solar system? |
115. Một vài Chân thần sẽ vẫn ở trong trạng thái tương đối trừu xuất trong hệ mặt trời này, vì các vị được định ý đạt biểu hiện trọn vẹn trong hệ mặt trời kế tiếp. Điều này đặc biệt đúng với các Chân thần cung một. Các Chân thần cung ba nên có phần nhiều biểu hiện chung cuộc của mình trong hệ mặt trời này. Liệu những Chân thần như thế thậm chí có được chuyển sang hệ mặt trời sau hay không? |
|
116. DK is being purposefully vague, it seems, when speaking of “a later”. In some references, it seems that the next solar system will be the last, and supposedly the next is the sixth! In one other reference, the thought that there will be seven solar systems is explicitly stated. There may be a resolution in the idea that, as for the Monad, there may be a primary, primitive solar system in which all the “spokes” of the solar systemic Wheel are gathered to the center and undifferentiated. |
116. DK có vẻ chủ ý mơ hồ khi nói “một (hệ) về sau”. Ở vài chỗ, dường như hệ mặt trời kế tiếp sẽ là hệ sau cùng, và giả như hệ kế là hệ thứ sáu! Ở một chỗ khác, ý tưởng rằng sẽ có bảy hệ mặt trời được tuyên bố minh nhiên. Có thể dung hòa điều này bằng ý niệm rằng, như đối với Chân thần, có thể có một hệ mặt trời sơ khai sơ thủy trong đó mọi “nan” của Bánh xe cấp Thái dương hệ được gom về trung tâm và chưa biến phân. |
|
This is due to the fact that there exist in this solar system effects of causes originating in earlier kalpas or—to word it otherwise—the karmic seeds of earlier logoic activities. |
Điều này là do trong hệ mặt trời này tồn tại các hiệu quả của những nguyên nhân khởi từ những kalpa trước—hoặc—nói cách khác—do các chủng nhân nghiệp quả của những hoạt động logoic trước kia. |
|
117. Apparently, some causes from a previous solar system act as retardants in this solar system. We cannot assume that the Solar Logos was ever meant to achieve His full development in this solar system, but probably some aspects of His development in this solar system are delayed by the coming to fruition of “the karmic seeks of earlier logoic activities”. |
117. Rõ ràng, một vài nguyên nhân từ một hệ mặt trời trước tác động như những lực trì hoãn trong hệ hiện tại. Chúng ta không thể giả định rằng Thái dương Thượng đế lẽ ra đã phải đạt thành toàn triệt trong hệ này, nhưng có lẽ một vài phương diện phát triển của Ngài trong hệ này bị trì hoãn bởi sự trổ quả của “các chủng nhân nghiệp quả của những hoạt động logoic trước kia”. |
|
118. One can infer that it is the third ray influence (that of the “Primordial Ray”) which acts as a retardant in this solar system. In the next solar system, we have reason to believe that the second ray influence will act as a retardant. |
118. Có thể suy ra rằng ảnh hưởng cung ba (của “Cung Nguyên Sơ”) tác động như một lực trì hoãn trong hệ này. Trong hệ sau, chúng ta có lý do tin rằng ảnh hưởng cung hai sẽ là lực trì hoãn. |
|
Our solar Logos has not yet attained true rhythm, but for millenia of cycles the equilibrising process must go on. |
Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa đạt nhịp điệu chân chính, nhưng trong vô số chu kỳ quá trình quân bình hoá phải tiếp diễn. |
|
119. Our Solar Logos is not yet a fully soul-infused Solar Logos. His cosmic soul is not yet in full expression just as the soul of a human being who has taken the second initiation, but not the third, is not fully soul-infused. |
119. Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phải là một Thái dương Thượng đế được linh hồn thấm nhuần trọn vẹn. Linh hồn vũ trụ của Ngài chưa biểu hiện trọn như linh hồn của một con người đã thọ lần điểm đạo thứ hai nhưng chưa thọ lần thứ ba—chưa được linh hồn thấm nhuần hoàn toàn. |
|
120. When DK speaks of “the equilibrising process”, is He speaking of the applied energy of Libra? |
120. Khi DK nói “quá trình quân bình hoá”, Ngài có đang nói đến năng lượng của Thiên Bình chăng? |
|
121. We remember that the second type of electricity has a particular equilibrizing function. Our Solar Logos is dealing, especially, with that type of electricity in this solar system—solar fire. |
121. Chúng ta nhớ rằng dạng điện năng thứ hai có một chức năng quân bình đặc thù. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang đặc biệt xử lý dạng điện năng ấy trong hệ này—lửa Thái dương. |
|
122. Libra has a close relation to solar fire, even though the third ray is said to be the ray manifesting through it at this time. |
122. Thiên Bình có liên hệ mật thiết với lửa Thái dương, dù hiện nay cung ba được cho là đang biểu hiện qua nó. |
|
123. The achievement of equilibrium may be another way of speaking of having taken the fourth initiation. We must remember that one of thirteen types of Monads was called “The Equilibrised Atoms”. (TCF 1081) When interpreting the meaning of that name for the Monads of a certain type, we suggested that it could indicate those human beings who had taken the fourth initiation. |
123. Thành tựu quân bình có thể là một cách khác để nói về việc đã thọ lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta nhớ rằng một trong mười ba loại Chân thần được gọi là “Những Nguyên Tử Đã Quân Bình”. (TCF 1081) Khi diễn giải ý nghĩa tên gọi đó cho một loại Chân thần nhất định, chúng ta đã gợi ý rằng nó có thể chỉ những con người đã thọ lần điểm đạo thứ tư. |
|
Nor has our planetary Logos achieved equilibrium, |
Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng chưa đạt quân bình, |
|
124. Just as our Solar Logos has not yet taken the fourth cosmic initiation (but is expected to in this solar system), our Planetary Logos has not taken His cosmic fourth. The two types of ‘cosmic fourths’ are, one would suspect, of a different order. |
124. Cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa thọ lần điểm đạo thứ tư ở cấp vũ trụ (nhưng được kỳ vọng trong hệ này), Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chưa thọ lần thứ tư ở cấp vũ trụ. Hai loại ‘lần thứ tư cấp vũ trụ’ này, có thể dự cảm, là khác bậc nhau. |
|
125. Our Planetary Logos is, however, taking a minor fourth initiation and thus some degree of equilibrization is imminent—perhaps this equilibrization of our particular planetary chain. |
125. Tuy nhiên, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang thọ một lần điểm đạo thứ tư vĩ mô và do đó một mức quân bình nào đó là điều sắp xảy ra—có lẽ là sự quân bình của Dãy hành tinh đặc thù của chúng ta. |
|
and the even balancing of forces, |
và sự cân phân đều đặn của các lực, |
|
126. We may remember that the constellation Libra is particularly influential in our planetary scheme at this time. |
126. Chúng ta có thể nhớ rằng chòm Thiên Bình đặc biệt ảnh hưởng đến hệ hành tinh của chúng ta vào thời điểm này. |
|
therefore until His point in evolution and His objective vision is known |
vì vậy cho đến khi điểm tiến hoá của Ngài và tầm nhìn khách quan của Ngài được biết |
|
127. Our Planetary Logos has yet to fully develop cosmic vision. |
127. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta vẫn chưa phát triển trọn vẹn thị giác cấp vũ trụ. |
|
128. It seems that a Logos or a man can be graded according to the quality of his vision. |
128. Có vẻ như một Thượng đế hay một con người có thể được phân cấp theo phẩm chất tầm nhìn của mình. |
|
and it is known also which centre in the solar body is vitalised by His life, |
và cũng biết được trung tâm nào trong thể thái dương đang được sinh động hóa bởi sinh mệnh của Ngài, |
|
129. In some respects, this center is now known—the base of the spine center. |
129. Ở một nghĩa nào đó, trung tâm này nay đã được biết—trung tâm đáy cột sống. |
|
130. In Esoteric Astrology the following is said, clearly indicating, it would seem, the center in the solar body which is vitalized by the life of our Planetary Logos: |
130. Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn có nói như sau, dường như chỉ rõ, theo chúng ta thấy, trung tâm trong thể thái dương đang được sinh động hóa bởi sinh mệnh của Hành Tinh Thượng đế chúng ta: |
|
It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. (EA 25) |
“Nó rốt cuộc nối trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, trung tâm đầu. Đây là một tương ứng với mối liên hệ giữa Địa Cầu và Mặt Trời. Hãy suy ngẫm điều này.” (EA 25) |
|
131. Esoteric Astrology however was written almost a decade after A Treatise on Cosmic Fire was published, and so it is clear that the Tibetan had not yet revealed the chakric function of the Earth-scheme in that earlier and larger book. |
131. Tuy nhiên, Chiêm Tinh Học Nội Môn được viết gần một thập kỷ sau khi Luận về Lửa Vũ Trụ được xuất bản, nên rõ ràng Chân sư Tây Tạng chưa tiết lộ chức năng luân xa của Hệ Địa Cầu trong cuốn sách trước đó và lớn hơn. |
|
it will be the part of wisdom to refrain from dogmatic assertion, and a too free utterance in connection with incarnating, and non-incarnating, Monads. |
sẽ là khôn ngoan nếu tránh những khẳng quyết giáo điều, và những phát biểu quá tự do liên hệ đến các Chân thần lâm phàm và không lâm phàm. |
|
132. We are told that some sixty billion Monads are to be found in this solar system. It is presumably the case that among these are to be found both incarnating Monads and those presently out of incarnation. Many first ray Monads are presently out of incarnation, though in manifestation. |
132. Chúng ta được cho biết có khoảng sáu mươi tỷ Chân thần trong hệ mặt trời này. Nhiều khả năng, trong số đó có cả các Chân thần đang lâm phàm và các Chân thần hiện nay ở ngoài lâm phàm. Nhiều Chân thần cung một hiện ở ngoài lâm phàm, dù vẫn đang trong biểu hiện. |
|
133. DK is asking us to show some restraint when speaking of these matters. |
133. DK yêu cầu chúng ta thể hiện sự dè dặt khi nói về các vấn đề này. |
|
134. The truth is, that although Master DK has presented us with so much, we really know so little. |
134. Sự thật là, dẫu Chân sư DK đã trình bày cho chúng ta rất nhiều, chúng ta thật sự biết rất ít. |
|
All are turning upon the monadic cosmic wheel; |
Tất cả đang xoay trên bánh xe vũ trụ chân thần; |
|
135. DK seems to be telling us that each Monad is part not only of a systemic wheel but is even more essentially a part of a “monadic cosmic wheel”. |
135. DK dường như đang nói rằng mỗi Chân thần không chỉ là một phần của một bánh xe cấp hệ thống mà còn căn bản hơn nữa là một phần của một “bánh xe vũ trụ chân thần”. |
|
136. We may say that the Monad is “that which finds its place within the sun” but if this is the case, it even more essentially finds its place within that ‘Sun’ which is a Cosmic Logos. |
136. Chúng ta có thể nói Chân thần là “cái tìm được vị trí của nó trong mặt trời” nhưng nếu vậy, nó còn căn bản hơn nữa, tìm được vị trí của nó trong ‘Mặt Trời’ là một Thượng đế Vũ Trụ. |
|
137. The lowest of the many types of cosmic wheels is that wheel for which seven suns are as chakras. |
137. Bánh xe thấp nhất trong vô số loại bánh xe vũ trụ là bánh xe mà trong đó bảy thái dương là như các luân xa. |
|
each is being [1091] swept into some form of activity upon the lesser revolution of this particular systemic wheel, but not all in any particular cycle are to be found revolving upon a specific planetary wheel. |
mỗi vị đang được [1091] cuốn vào một hình thức hoạt động nào đó trên vòng quay nhỏ hơn của bánh xe hệ thống đặc thù này, nhưng không phải tất cả trong bất kỳ chu kỳ nào đều được thấy đang quay trên một bánh xe hành tinh cụ thể. |
|
138. Above the level of a planetary scheme—at least above the aspects of a planetary scheme which are in incarnation within the dense physical body of a Planetary Logos—are Monads which are refraining from taking incarnation. |
138. Trên cấp độ cao hơn phương diện của một hệ hành tinh—ít nhất là trên các phương diện của hệ hành tinh đang lâm phàm trong thể xác đậm đặc của một Hành Tinh Thượng đế—có những Chân thần đang tiết chế việc lâm phàm. |
|
139. DK seems to be saying that although Monads are definitely associated with a particular systemic wheel, they are not necessarily, in all systemic cycles, associated with a particular planetary wheel. In what ‘location’, then, are such Monads to be found? |
139. DK dường như nói rằng dù các Chân thần chắc chắn gắn với một bánh xe hệ thống cụ thể, họ không nhất thiết, trong mọi chu kỳ hệ thống, gắn với một bánh xe hành tinh cụ thể. Vậy, ‘vị trí’ của những Chân thần như thế ở đâu? |
|
Many wait for development and for more appropriate seasons in interplanetary spaces, |
Nhiều vị chờ đợi sự phát triển và chờ những mùa thích hợp hơn trong các không gian liên hành tinh, |
|
140. The term “interplanetary” has been appearing with some frequency and makes us wonder whether between the spheres of various planetary schemes there might not occur developmental opportunities for Monads. |
140. Thuật ngữ “liên hành tinh” đã xuất hiện với tần suất đáng kể và khiến chúng ta tự hỏi liệu giữa các khối cầu của các hệ hành tinh khác nhau có tồn tại các cơ hội phát triển cho các Chân thần hay không. |
|
141. A Logos, like our Solar Logos, is the ‘home’ for a Monad. Can Master DK be saying that a Planetary Logos is not necessarily a ‘home’ for a Monad but, rather, simply an arena of expression? |
141. Một Thượng đế, như Thái dương Thượng đế của chúng ta, là ‘nhà’ cho một Chân thần. Liệu Chân sư DK có đang nói rằng một Hành Tinh Thượng đế không nhất thiết là ‘nhà’ cho một Chân thần mà đúng hơn, chỉ là một đấu trường biểu hiện? |
|
142. To “wait to development” is to be in a kind of pralaya. |
142. “Chờ đến khi phát triển” là đang ở trong một dạng pralaya. |
|
143. The word “seasons” is not chosen randomly, but for the sake of its cyclic implications. |
143. Từ “mùa” không được chọn ngẫu nhiên mà vì hàm ý chu kỳ của nó. |
|
and some must wait until the entering in of a new mahamanvantara. |
và một số phải chờ cho đến khi một Đại giai kỳ sinh hóa mới bắt đầu. |
|
144. DK is telling us that some Monads will not incarnate until the next mahamanvantara. Yet, it seems that presently they are in our solar system—though probably, on its very highest levels and far from those levels of precipitation which we call areas of monadic “incarnation”. |
144. DK nói rằng một vài Chân thần sẽ không lâm phàm cho đến Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp. Tuy vậy, dường như hiện tại họ đang ở trong hệ mặt trời của chúng ta—dù có lẽ ở những cấp rất cao nhất của hệ này và rất xa khỏi những tầng ngưng tụ mà chúng ta gọi là các khu vực “lâm phàm” của chân thần. |
|
Students should bear carefully in mind the words of H. P. B. where he |
Môn sinh nên ghi nhớ cẩn thận những lời của H. P. B. nơi ông ấy |
|
145. Again, H.P.B. is referred to as “he”. Again, this is not merely a typo or an oversight. |
145. Một lần nữa, H.P.B. được gọi là “ông”. Một lần nữa, điều này không đơn thuần là lỗi đánh máy hay sơ suất. |
|
146. DK is always dropping subtle hints which, if detected, can reveal a number of levels of the Teaching beneath the more obvious Teaching. |
146. DK luôn thả những ám chỉ tinh tế mà nếu phát hiện sẽ có thể hé mở nhiều tầng bậc của Giáo Huấn bên dưới Giáo Huấn hiển nhiên. |
|
tells students of the Secret Doctrine that the stanzas and their Commentary deal primarily with our particular planetary Logos. This is oft forgotten. |
nói với các môn sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm rằng các bài kệ và phần Luận Giải của chúng chủ yếu đề cập đến Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Điều này thường bị quên lãng. |
|
147. Perhaps primarily, but there are surely initial stanzas which are far more cosmic in their scope. One can very reasonably interpret these stanzas as universal while always being ready to see their planetary-logoic application. |
147. Có lẽ là chủ yếu, nhưng chắc chắn có những bài kệ khởi đầu có tầm vũ trụ hơn nhiều. Ta có thể rất hợp lý khi diễn giải các bài kệ ấy như mang tính phổ quát trong khi vẫn luôn sẵn sàng thấy được ứng dụng ở bình diện Hành Tinh Thượng đế. |
|
It may interest students to know that there are certain colours, veiling these groups of non-incarnating Monads, |
Có thể điều này làm môn sinh hứng thú: có những màu sắc nhất định, che kín những nhóm Chân thần không lâm phàm này, |
|
148. From what we have been able to gather, there are “non-incarnating Monads” both within planetary schemes and also in “interplanetary spaces”. |
148. Từ những gì chúng ta có thể tập hợp, có những “Chân thần không lâm phàm” cả ở trong các hệ hành tinh lẫn trong “các không gian liên hành tinh”. |
|
149. Simply because a Monad is within a planetary scheme does not necessarily mean that it is an “incarnating Monad”. |
149. Chỉ vì một Chân thần ở trong một hệ hành tinh không nhất thiết có nghĩa là đó là một “Chân thần đang lâm phàm”. |
|
150. It seems more likely that these “true” colours veil Monads which are “non-incarnating”. |
150. Có vẻ như những màu “chân thật” này che kín các Chân thần đang “không lâm phàm”. |
|
at present totally unknown to humanity. |
hiện nay hoàn toàn chưa được nhân loại biết đến. |
|
151. “Colour” we have often been told is a “veil”. Could red be one such color? Occultly, it seems that the colour red is, to a degree, repulsed by our second ray solar system. |
151. “Màu sắc” nhiều lần được nói là “tấm màn”. Màu đỏ có thể là một màu như thế chăng? Về mặt huyền bí, dường như màu đỏ, ở một mức nào đó, bị hệ mặt trời cung hai của chúng ta xua đẩy. |
|
These will sweep into the consciousness of the human being in another solar system, |
Những màu ấy sẽ tràn vào tâm thức con người trong một hệ mặt trời khác, |
|
152. Presumably, the next and final solar system. |
152. Nhiều khả năng là hệ mặt trời kế tiếp và tối hậu. |
|
or after the taking of the sixth Initiation. |
hoặc sau khi thọ lần điểm đạo thứ sáu. |
|
153. At which time the Monad is a fully liberated Entity—an Entity fully liberated from any of the five lower worlds. |
153. Khi ấy Chân thần là một Hữu thể hoàn toàn giải thoát—một Hữu thể giải thoát trọn vẹn khỏi bất kỳ trong năm cõi thấp. |
|
154. Are we being told that these Monads, veiled by certain colours, can take the sixth initiation without incarnating? Or that only the human being who has taken the sixth initiation can become aware of them? |
154. Có phải chúng ta đang được nói rằng những Chân thần này, vốn được che kín bởi những màu sắc nhất định, có thể thọ lần điểm đạo thứ sáu mà không cần lâm phàm? Hay rằng chỉ người nào đã thọ lần điểm đạo thứ sáu mới có thể ý thức về họ? |
|
155. While many Monads may take the sixth initiation in this solar system (and thus register these deeply recessed, “true colours”), far more will take this initiation in the next system—a system in which our Solar Logos is to take the sixth initiation. |
155. Trong khi nhiều Chân thần có thể thọ lần điểm đạo thứ sáu trong hệ mặt trời này (và do đó ghi nhận những “màu chân thật” rất sâu kín này), thì nhiều hơn nữa sẽ thọ lần điểm đạo này trong hệ kế—một hệ trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ thọ lần điểm đạo thứ sáu. |
|
All that we have on earth are reflections of the true colours, |
Tất cả những gì chúng ta có trên Trái Đất chỉ là các phản ảnh của các màu chân thực, |
|
156. The occult colors of which we usually speak are simply reflections of deeply esoteric “true colours”. |
156. Những màu huyền môn mà chúng ta thường nói đến chỉ là các phản ảnh của những “màu chân thực” thâm áo bậc nội môn. |
|
and likewise the reflection of the lowest aspect. |
và đồng thời là phản ảnh của phương diện thấp nhất. |
|
157. Is DK speaking of the reflection of the “lowest aspect” of these “true colours”—the Brahmic aspect of such colours? |
157. Có phải Chân sư DK đang nói về phản ảnh của “phương diện thấp nhất” của những “màu chân thực” này—tức phương diện Brahma của các màu ấy? |
|
158. It would seem that there are three types of colours to be correlated with one of the divine aspects—Spirit, soul or body (i.e., personality). |
158. Dường như có ba loại màu cần được tương liên với một trong các Phương diện thiêng liêng—Tinh thần, linh hồn hay thân thể (tức phàm ngã). |
|
Every colour in the cosmos exists in three forms: |
Mọi màu trong vũ trụ hiện hữu trong ba dạng: |
|
1. The true colour. |
1. Màu chân thực. |
|
2. The illusory appearance of the colour. |
2. Vẻ xuất hiện hư ảo của màu. |
|
3. Its reflection. [Presumably, the reflection of the “true colour”] |
3. Phản ảnh của nó. [Có lẽ là phản ảnh của “màu chân thực”] |
|
159. The three aspects of divinity are here implied. The “true color” corresponds to the first aspect of divinity; the “illusory appearance of the colour”, to the second aspect; the “reflection” of the colour to the third aspect. |
159. Ở đây hàm ý ba Phương diện của Thượng đế. “Màu chân thực” tương ứng với phương diện thứ nhất; “vẻ xuất hiện hư ảo của màu” với phương diện thứ hai; “phản ảnh” của màu với phương diện thứ ba. |
|
160. VSK Suggests: “This is a key suggestion as to why there are three colours, not just two (exoteric and esoteric), but three, perhaps similar to the manner in which astrological signs have three rulers: hierarchical (true), esoteric (illusory appearance) and exoteric (reflection). Does this mean that there is a true colour, and the esoteric would be illusory, and exoteric the reflection? I’m not sure. We have the earlier reference in regard to rays: the same ray, the complementary ray, and the antagonistic one. If we can overlay this trinity, then I’d say true is ‘the same’; complementary is the illusion, and antagonistic is the reflection. This is very obscure, and knowing exoteric colour optics does not help (especially in this case, as the illusion and the reflection would be the same things), and there is no colour ‘in the cosmos’ (as it is a physiological event and not something that has existence independent of perceiver). |
160. VSK đề nghị: “Đây là một gợi ý then chốt về lý do vì sao có ba màu, không chỉ hai (hiển môn và nội môn) mà là ba, có lẽ tương tự cách các dấu hiệu chiêm tinh có ba chủ tinh: hệ cấp (chân thực), nội môn (vẻ xuất hiện hư ảo) và hiển môn (phản ảnh). Điều này có nghĩa là có một màu chân thực, và cái nội môn sẽ là hư ảo, còn cái hiển môn là phản ảnh? Tôi chưa chắc. Chúng ta có tham chiếu trước đó liên quan đến các cung: cùng một cung, cung bổ túc, và cung đối nghịch. Nếu chúng ta có thể chồng lên bộ ba này, thì tôi sẽ nói ‘chân thực’ là ‘đồng nhất’; ‘bổ túc’ là ảo ảnh, và ‘đối nghịch’ là phản ảnh. Điều này rất tối nghĩa, và hiểu biết về quang học màu hiển môn không giúp ích (đặc biệt trong trường hợp này, vì ảo ảnh và phản ảnh sẽ là cùng một thứ), và không có ‘màu’ ‘trong vũ trụ’ (vì đó là một hiện tượng sinh lý chứ không phải cái gì có tồn tại độc lập với kẻ tri nhận). |
|
161. When attempting to overlay the trinity of a planet, its polar-opposite and its complementary, there may not be an exact fit with the trinity of “true”, “illusory” and “reflection”. In the planetary trinity, the planet which is the polar opposite may be higher in the scale of development than the complementary planet, as Venus, the polar opposite of the Earth is higher in the scale of development than Mar, the inferred complementary planet of Earth. |
161. Khi cố gắng chồng bộ ba của một hành tinh, hành tinh đối cực của nó và hành tinh bổ túc của nó, có thể sẽ không khớp chính xác với bộ ba “chân thực”, “hư ảo” và “phản ảnh”. Trong bộ ba hành tinh, hành tinh đối cực có thể ở cao hơn trên thang tiến hóa so với hành tinh bổ túc, như Sao Kim, đối cực của Trái Đất, cao hơn trên thang tiến hóa so với Sao Hỏa, hành tinh bổ túc được suy ra của Trái Đất. |
|
162. Of course, if we begin with Venus, then Earth may be correlated with the “illusory appearance” and Mars with the reflection. Yet, Earth is definitely the polar-opposite of Venus. Is Mars, then, to be considered the complementary planet of Venus just as it is of Earth? |
162. Tất nhiên, nếu chúng ta khởi đi từ Sao Kim, thì Trái Đất có thể được liên hệ với “vẻ xuất hiện hư ảo” và Sao Hỏa với phản ảnh. Tuy nhiên, Trái Đất chắc chắn là đối cực của Sao Kim. Vậy thì, Sao Hỏa có được xem là hành tinh bổ túc của Sao Kim giống như nó là của Trái Đất không? |
|
163. Thus, the three trinities, while offering interesting comparisons, may not offer exact analogies. |
163. Do đó, ba bộ ba này, dù đưa ra những so sánh thú vị, có thể không cung cấp các tương đồng chính xác. |
|
164. I would also suggest that we consider the three fundamental musical relationships: the tonic, the dominant and the sub-dominant notes. The opposites are found in the tonic and dominant. The sub-dominant is reasonably to be correlated with the function called “complementary”. |
164. Tôi cũng đề nghị rằng chúng ta xét đến ba tương giao âm nhạc căn bản: âm chủ, âm át (dominant) và âm hạ át (sub-dominant). Đối nghịch nằm ở âm chủ và âm át. Âm hạ át có thể hợp lý tương liên với chức năng gọi là “bổ túc”. |
|
165. Thus we have four trinities which, when compared, may provide illumination: |
165. Vậy nên chúng ta có bốn bộ ba, khi đem so sánh, có thể đem lại soi sáng: |
|
a. True, illusory and reflected colours |
a. Màu chân thực, màu hư ảo và màu phản chiếu |
|
b. Hierarchical, esoteric and exoteric planetary rulers |
b. Chủ tinh hệ cấp, nội môn và hiển môn trong chiêm tinh hành tinh |
|
c. A planet, its polar opposite and its complement |
c. Một hành tinh, đối cực của nó và hành tinh bổ túc của nó |
|
d. The musical tonic, dominant and sub-dominant |
d. Âm nhạc gồm âm chủ, âm át và âm hạ át |
|
166. Other trinities could no doubt be added and provide additional illumination. |
166. Hẳn có thể bổ sung những bộ ba khác và cung cấp thêm soi sáng. |
|
The reflection is that with which we are familiar; |
Phản ảnh là điều mà chúng ta quen thuộc; |
|
167. This is color as perceived by the personality consciousness. |
167. Đây là màu như được nhận thức bởi tâm thức phàm ngã. |
|
168. The reflection definitely correlates with the Brahmic aspect of divinity. |
168. Phản ảnh chắc chắn tương liên với phương diện Brahma của Thượng đế. |
|
the appearance, or that which veils the reality, is contacted and known when we see with the eye of the soul, the Eye of Shiva, |
vẻ xuất hiện, hay thứ che phủ thực tại, được tiếp xúc và được biết đến khi chúng ta nhìn bằng Con Mắt của Linh hồn, Con Mắt của Shiva, |
|
169. Here the “Eye of the Soul” is presented as the same as the “Eye of Shiva”. In other contexts, these two are differentiated. |
169. Ở đây “Con Mắt của Linh hồn” được trình bày như đồng nhất với “Con Mắt của Shiva”. Trong các ngữ cảnh khác, hai điều này được phân biệt. |
|
170. Usually the third aspect of divinity is considered the “veil”, but in this case, the second aspects serves this function, just as the soul or egoic lotus veils the Monad. |
170. Thông thường phương diện thứ ba của Thượng đế được xem là “bức màn”, nhưng trong trường hợp này, phương diện thứ hai đảm nhiệm chức năng ấy, giống như linh hồn hay Hoa Sen Chân Ngã che màn Chân thần. |
|
and the true colour14 is contacted after the fifth kingdom has been passed through, |
và màu chân thực 14 được tiếp xúc sau khi đã vượt qua giới thứ năm, |
|
171. The sixth kingdom is being entered—the Kingdom of Planetary Lives. |
171. Giới thứ sáu đang được bước vào—Giới các Sự sống Hành tinh. |
|
172. This means that the “true colour” is only registered when a man has become more than a Master. |
172. Điều này có nghĩa “màu chân thực” chỉ được ghi nhận khi con người đã trở thành hơn cả một Chân sư. |
|
and group consciousness is merging in that of the divine. |
và tâm thức tập thể đang hòa nhập vào tâm thức thiêng liêng. |
|
173. This is movement from the “spiritual” to the “divine”, from the soul to the Monad. |
173. Đây là sự chuyển dịch từ “tinh thần” sang “thiêng liêng”, từ linh hồn sang Chân thần. |
|
174. The three colors must have a mathematical relationship, and as VSK suggests, there must be a relationship of complementarity to the true color and also a relationship of opposition. Whether we should use the term “antagonistic” in relation to that which is the polar opposite should be pondered. |
174. Ba màu hẳn phải có một liên hệ toán học, và như VSK gợi ý, phải có một liên hệ bổ túc với màu chân thực và cũng có một liên hệ đối nghịch. Việc chúng ta có nên dùng thuật ngữ “đối kháng” liên quan đến điều là đối cực hay không cần được suy ngẫm. |
|
175. As stated above, when considering the colour trinity, we are inclined to consider the following planetary trinity: the Earth, the planet which is its polar opposite and the planet which is it complement. |
175. Như đã nói ở trên, khi xét bộ ba màu, chúng ta có xu hướng xem xét bộ ba hành tinh sau: Trái Đất, hành tinh đối cực của nó và hành tinh bổ túc của nó. |
|
176. However, Venus is almost certainly to be considered the polar opposite of Earth, and Mars is lower in its vibration than both of them, so in this case the “opposite” could not easily be considered the “reflection” (which is the lowest member of the colour trinity). |
176. Tuy nhiên, Sao Kim hầu như chắc chắn được xem là đối cực của Trái Đất, và Sao Hỏa có rung động thấp hơn cả hai, nên trong trường hợp này “đối cực” khó có thể được xem là “phản ảnh” (vốn là thành viên thấp nhất của bộ ba màu). |
|
177. So perhaps there is not a complete parallel between the model for the true color, its reflection and its illusory appearance, and Venus (let us say as the analogue to the true color) Earth and Mars.. |
177. Vậy có lẽ không có một sự song song trọn vẹn giữa mô hình của màu chân thực, phản ảnh của nó và vẻ xuất hiện hư ảo của nó, với Sao Kim (giả sử như là tương tự với màu chân thực), Trái Đất và Sao Hỏa. |
|
178. There may be another useful parallel: the Monad; the soul as its reflection; and the personality as its “shadow”. In this case the term “reflection” is equivalent to “illusory appearance”. |
178. Có thể có một tương ứng hữu ích khác: Chân thần; linh hồn như phản ảnh của Ngài; và phàm ngã như “cái bóng” của Ngài. Trong trường hợp này, thuật ngữ “phản ảnh” tương đương với “vẻ xuất hiện hư ảo”. |
|
179. If there are so many trinities in occult relationship, it seems logical that there should be a trinity in the realm of color. |
179. Nếu có quá nhiều bộ ba trong các liên hệ huyền môn, dường như hợp lý rằng cũng phải có một bộ ba trong lĩnh vực màu sắc. |
|
180. Looking again at the three notes of the chord—fundamental, subdominant and dominant—the subdominant (or the fourth) would be analogous to the “reflection” in terms of color, and the dominant would be the “illusory appearance”. In other words, the dominant would ‘veil’ the tonic, just as the illusory appearance veils the true color. The subdominant or fourth is associated with green, with matter and, thus, with Brahma and is, consequently, a suitable correspondence to the “reflection” of the “true colour” whereas the dominant or fifth always corresponds to the soul and thus to the “illusory appearance”, remembering that the soul veils the Monad. |
180. Nhìn lại ba âm của hợp âm—âm nền (fundamental), âm hạ át và âm át—thì âm hạ át (hay bậc bốn) sẽ tương tự với “phản ảnh” theo phương diện màu sắc, còn âm át sẽ là “vẻ xuất hiện hư ảo”. Nói cách khác, âm át sẽ ‘che màn’ âm nền, cũng như vẻ xuất hiện hư ảo che màn màu chân thực. Âm hạ át hay bậc bốn được liên kết với màu xanh lục, với vật chất và, do đó, với Brahma, và vì vậy, là một tương ứng thích hợp với “phản ảnh” của “màu chân thực”, trong khi âm át hay bậc năm luôn tương ứng với linh hồn và như vậy với “vẻ xuất hiện hư ảo”, nhớ rằng linh hồn che màn Chân thần. |
|
181. We should remember that the tonic can be positioned (vibratorily) ‘above’ the dominant and not only below it. |
181. Chúng ta nên nhớ rằng âm nền có thể được đặt (về mặt rung động) ‘ở trên’ âm át chứ không chỉ ở dưới nó. |
|
182. Musicians will recognize that in the chord progression from subdominant to dominant to tonic, there is a gradual ‘unveiling’ and a sense of having reached the true and fundamental tone when the tonic is reached. |
182. Các nhạc sĩ sẽ nhận ra rằng trong chuỗi hợp âm từ hạ át đến át đến chủ, có một sự ‘vén màn’ dần dần và một cảm thức đã đạt tới âm điệu chân và nền tảng khi chạm tới âm chủ. |
|
183. Until the mathematical relationship between the three colours is solved, the true relationship will not be understood. |
183. Cho đến khi giải được liên hệ toán học giữa ba màu, mối liên hệ chân thực sẽ không được thấu hiểu. |
|
184. DK’s statements concerning “true colour” alert us to how little we know about the nature of colour and why we must be cautious in creating tables of correspondences concerning colour. |
184. Những phát biểu của Chân sư DK liên quan đến “màu chân thực” cảnh tỉnh chúng ta về việc chúng ta biết ít đến thế nào về bản tính của màu sắc và vì sao chúng ta phải thận trọng khi lập các bảng tương ứng liên quan đến màu. |
|
Footnote 14: |
Chú thích 14: |
|
Colour.—Originally meant a “covering.” From root “celare” to cover or hide. Also Occultare, to hide. |
Màu.—Nguyên thủy có nghĩa là “tấm phủ”. Từ gốc “celare” nghĩa là che phủ hay ẩn giấu. Cũng như Occultare, nghĩa là ẩn giấu. |
|
185. We are to understand that colour both conceals that which stands behind it and reveals something of its hidden nature as well. |
185. Chúng ta cần hiểu rằng màu vừa che giấu cái đứng đằng sau nó vừa tiết lộ phần nào bản tính ẩn tàng của điều ấy. |
|
Symbology of colours. The language of the prism, of which “the seven mother colours have each seven sons,” that is to say, forty-nine shades or “sons” between the seven, which graduated tints are so many letters or alphabetical characters. |
Biểu tượng học của màu sắc. Ngôn ngữ của lăng kính, trong đó “bảy màu mẹ mỗi màu có bảy người con,” nghĩa là bốn mươi chín sắc độ hay “những người con” nằm giữa bảy màu, những sắc độ chuyển bậc ấy là bao nhiêu chữ cái hay ký tự mẫu tự. |
|
186. If the language were Sanskrit with its forty-nine letters there could be an important correlation. Every letter in Sanskrit is a mantram, thus every shade of color could be correlated with one of these forty-nine mantrams or Words of Power. There are also some who divide the musical octave according to ratios using the number forty-nine. All these “spiritual numerals” can be correlated—colours, notes, syllables. |
186. Nếu ngôn ngữ là Sanskrit với bốn mươi chín chữ cái thì có thể có một tương liên quan trọng. Mỗi chữ cái trong Sanskrit là một mantram, như vậy mỗi sắc độ của màu có thể được liên hệ với một trong bốn mươi chín mantram hay các Quyền năng từ này. Cũng có người phân chia quãng tám âm nhạc theo các tỷ lệ dùng con số bốn mươi chín. Tất cả những “con số tinh thần” này có thể được tương liên—màu sắc, nốt nhạc, âm tiết. |
|
187. With regard to Sanskrit, are there seven letters/sounds which are to be considered fundamental? |
187. Liên quan đến Sanskrit, có phải có bảy chữ cái/âm được xem là căn bản? |
|
The language of colours has, therefore, fifty-six letters for the initiate. |
Vậy nên ngôn ngữ của màu có năm mươi sáu chữ cái đối với điểm đạo đồ. |
|
188. The seven “mother colours” and the forty-nine “sons” or graduated shades of each colour. |
188. Bảy “màu mẹ” và bốn mươi chín “người con” hay các sắc độ chuyển bậc của mỗi màu. |
|
189. We must wonder whether one of the subsidiary, “son” colours, is not the same as the original ‘Mother colour’, just as one of the seven subsidiary Ashrams is identical in quality with the quality of the major Ashram of which it is a part. |
189. Chúng ta phải tự hỏi liệu một trong những màu phụ, “màu con”, có không phải chính là ‘màu Mẹ’ nguyên thủy, giống như một trong bảy ashram phụ đồng nhất về phẩm tính với phẩm tính của Đại Ashram mà nó là một bộ phận. |
|
Of these letters each septenary is absorbed by the mother colour as each of the seven mother colours is absorbed finally in the white ray, Divine Unity symbolised by these colours. |
Trong số những chữ cái này, mỗi bộ bảy được màu mẹ hấp thụ cũng như mỗi trong bảy màu mẹ rốt cuộc được hấp thụ vào tia trắng, là Hợp Nhất Thiêng Liêng được biểu trưng bằng những màu này. |
|
190. The “Divine Unity” is symbolized by the “white ray”. The model here presented is useful when considering the absorption of the planets into still higher planets and these into synthesizing planets. |
190. “Hợp Nhất Thiêng Liêng” được biểu trưng bởi “tia trắng”. Mô hình được trình bày ở đây hữu dụng khi xét sự hấp thụ của các hành tinh vào những hành tinh còn cao hơn nữa và những hành tinh ấy vào các hành tinh tổng hợp. |
|
Students will, therefore, note that the monadic cosmic wheel can be [1092] visioned in terms of “true colour,” |
Vậy nên các môn sinh sẽ lưu ý rằng bánh xe vũ trụ của Chân thần có thể được [1092] thị kiến dưới dạng “màu chân thực,” |
|
191. The “monadic cosmic wheel” is seven times greater (whether understood in terms of time or space) than the monadic solar systemic wheel. |
191. “Bánh xe vũ trụ của Chân thần” lớn gấp bảy lần (dù hiểu theo thời gian hay không gian) so với bánh xe chân thần thuộc hệ mặt trời. |
|
192. Seven cycles of the humanity Monad are analogous to the “monadic cosmic wheel” and one cycle of the human Monad is analogous to a solar systemic wheel. |
192. Bảy chu kỳ của Chân thần nhân loại tương tự “bánh xe vũ trụ của Chân thần” và một chu kỳ của Chân thần nhân loại tương tự một bánh xe thuộc hệ mặt trời. |
|
193. This “true colour” is really the “ primary colour” in the sense that the monadic ray is the “ primary ray”. |
193. “Màu chân thực” này thực sự là màu “ chính yếu ” theo nghĩa cung chân thần là “ cung chính yếu ”. |
|
and is seen by the illumined seer as the combined blending of the primary colours of the three solar systems. |
và được nhà tiên tri minh triết nhìn thấy như sự pha trộn kết hợp của các màu chính yếu của ba hệ mặt trời. |
|
194. Will this “blending of the primary colours” yield the ‘colour’ white? |
194. Liệu “sự pha trộn các màu chính yếu” này sẽ cho ra ‘màu’ trắng? |
|
195. It seems that we will find seven demonstrations within the greater three and all subsidiary colours within the three primaries. |
195. Có vẻ chúng ta sẽ tìm thấy bảy biểu hiện trong ba biểu hiện lớn hơn và mọi màu phụ trong ba màu chính. |
|
196. VSK relates: “Primaries of pigment are yellow, blue, and red and the primaries of light are green, blue, and red. (Primaries of photo-sensitive material are magenta, cyan, and yellow.)” |
196. VSK liên hệ: “Các màu chính của chất màu là vàng, xanh lam và đỏ; còn các màu chính của ánh sáng là xanh lục, xanh lam và đỏ. (Các màu chính của vật liệu nhạy quang là đỏ tươi, lục lam và vàng.)” |
|
197. We have definitely been told that the colour of the previous solar system (a major solar system) was green. As well we are informed that our present solar system is the blue system. It can be inferred that the next solar system will be the red system. |
197. Chúng ta đã được nói rõ rằng màu của hệ mặt trời trước (một hệ mặt trời chính) là xanh lục. Đồng thời chúng ta được cho biết rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ xanh lam. Có thể suy ra rằng hệ mặt trời kế tiếp sẽ là hệ đỏ. |
|
Yet—at some distant time—red will be the basis of a solar system, and in the perfect merging of red, green and blue will come eventually the completed [221] work of the Logos and the consummation of the pure white light. |
Tuy vậy—vào một thời điểm xa xôi—đỏ sẽ là nền tảng của một hệ mặt trời, và trong sự hợp nhất hoàn mãn của đỏ, xanh lục và xanh lam rốt cuộc sẽ đến sự viên thành [221] công trình của Logos và sự thành tựu của quang minh thuần bạch. |
|
The activity system was green. |
Hệ hoạt động là xanh lục. |
|
The love system is blue. |
Hệ Bác ái là xanh lam. |
|
The power system will be red. (LOM 220-221) |
Hệ quyền lực sẽ là đỏ. (LOM 220-221) |
|
198. It is clear that a ‘consummation in white’ will exist for our Solar Logos. Does this imply the existence of a seventh solar system or a consummation to occur above the solar systemic level? |
198. Rõ ràng sẽ có một ‘sự viên thành trong màu trắng’ đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Điều này có ngụ ý sự tồn tại của một hệ mặt trời thứ bảy hay một sự viên thành sẽ xảy ra ở thượng tầng trên mức hệ mặt trời? |
|
199. With respect to the solar systems, the primaries of light are used. |
199. Liên quan đến các hệ mặt trời, các màu chính của ánh sáng được dùng. |
|
200. We may infer that ‘consummation in white’ also awaits the human Monad. |
200. Chúng ta có thể suy rằng ‘sự viên thành trong màu trắng’ cũng đang chờ đợi Chân thần nhân loại. |
|
The monadic systemic wheel, which concerns this solar system alone, |
Bánh xe chân thần hệ thống, vốn liên quan chỉ riêng đến hệ mặt trời này, |
|
201. Yet one human monadic cycle occurs in one solar system. |
201. Tuy nhiên, một chu kỳ của Chân thần nhân loại diễn ra trong một hệ mặt trời. |
|
is distinguished by being the totality of the seven colours of the seven Heavenly Men, |
được phân biệt bởi việc là toàn bộ của bảy màu của bảy Đấng Thiên Nhân, |
|
202. Compared to colour as demonstrated on the monadic plane, these seven colours could be “illusory appearances” rather than “true colours”. |
202. So với màu biểu hiện trên cõi chân thần, bảy màu này có thể là “những vẻ xuất hiện hư ảo” hơn là “màu chân thực”. |
|
203. We note that the “monadic cosmic wheel” is represented by three primary colours and the monadic systemic wheel by seven other colours (perhaps illusory appearances). |
203. Chúng ta lưu ý rằng “bánh xe vũ trụ của Chân thần” được biểu trưng bằng ba màu chính và bánh xe chân thần hệ thống bằng bảy màu khác (có lẽ là các vẻ xuất hiện hư ảo). |
|
204. Thus we have the important number ten when combining the monadic cosmic wheel and one monadic systemic wheel. |
204. Như thế, khi kết hợp bánh xe vũ trụ của Chân thần và một bánh xe chân thần hệ thống, chúng ta có con số quan trọng mười. |
|
205. If we consider the three solar systems, we will have the number twenty-one. Adding the three of the monadic cosmic wheel, we will have a significant number of completion—twenty-four (the number of Shamballa, and perhaps the number of the prototype of Shamballa). |
205. Nếu xét ba hệ mặt trời, chúng ta sẽ có con số hai mươi mốt. Cộng thêm ba của bánh xe vũ trụ của Chân thần, chúng ta sẽ có một con số viên mãn đáng kể—hai mươi bốn (con số của Shamballa, và có lẽ là con số của nguyên mẫu Shamballa). |
|
and from the vision of the adept of the fifth Initiation |
và theo thị kiến của vị Chân sư của lần Điểm đạo thứ năm |
|
206. Who, let us remember, cannot yet see “true colours”… |
206. Người mà, chúng ta hãy nhớ, vẫn chưa thể thấy “màu chân thực”… |
|
is the sumtotal of the primary colours of the egoic groups of the differing planetary schemes. |
là tổng số các màu sơ cấp của các nhóm chân ngã thuộc những hệ hành tinh khác nhau. |
|
207. Whatever the context we may be considering, there are only three primary colours. |
207. Dù trong bất cứ ngữ cảnh nào chúng ta đang xét, chỉ có ba màu chính. |
|
208. The egoic groups (though one can estimate that there are seven such in each planetary scheme) are designated in terms of three primary colors. Presumably, these colours are “appearances” rather than “true” colours. |
208. Các nhóm chân ngã (dù có thể ước đoán rằng có bảy nhóm như thế trong mỗi hệ hành tinh) được chỉ định theo ba màu chính. Rất có thể, các màu này là “những vẻ xuất hiện” hơn là “màu chân thực”. |
|
The monadic planetary wheel, |
Bánh xe chân thần cấp hành tinh, |
|
209. We see that DK is simply extending the analogy which He used when dealing with macrocosmic matters in the material covered in the previous commentary. |
209. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK chỉ đơn giản mở rộng phép loại suy mà Ngài đã dùng khi xử lý các vấn đề đại vũ trụ trong phần tài liệu được khảo cứu ở bình giảng trước. |
|
210. We are still however, dealing with the Monad within large contexts—cosmic, systemic and planetary. |
210. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang xử lý Chân thần trong các bối cảnh lớn—vũ trụ, hệ thống và hành tinh. |
|
211. The individual Monad, per se, is not yet the primary focus, but rather the placement of the Monad within the greater wheels. |
211. Chân thần cá thể, tự thân, vẫn chưa phải trọng tâm chính, mà là vị trí của Chân thần trong các bánh xe lớn hơn. |
|
which concerns the particular group of Monads incarnating in a particular scheme, |
vốn liên quan đến nhóm Chân thần đặc thù đang lâm phàm trong một hệ hành tinh nhất định, |
|
212. We have traced the Monad from its cosmic context in foregoing solar systems; we have examined the Monad within our present solar system; now we examine the Monad within the context of a particular planetary scheme. |
212. Chúng ta đã lần theo Chân thần từ bối cảnh vũ trụ của Ngài trong những hệ mặt trời trước; chúng ta đã khảo sát Chân thần trong hệ mặt trời hiện tại; giờ chúng ta xét Chân thần trong bối cảnh của một hệ hành tinh cụ thể. |
|
213. Though the sumtotal of Monads incarnating in any one planetary scheme can be differentiated into three great types and twenty-one lesser types, they, as a whole, share a unifying factor—that factor which directed them into incarnation in the same planetary scheme. |
213. Dẫu tổng số các Chân thần lâm phàm trong bất kỳ một hệ hành tinh nào có thể được biến phân thành ba loại lớn và hai mươi mốt loại nhỏ, thì, như một toàn thể, họ chia sẻ một yếu tố thống nhất—yếu tố đã dẫn dắt họ bước vào lâm phàm trong cùng một hệ hành tinh. |
|
is seen by the seer as the blending of egoic groups, but with the difference that the colour is a dual one, and the colouring of the personality ray of the incarnating Ego is also seen. |
được nhà tiên tri thấy như là sự pha trộn của các nhóm chân ngã, nhưng với khác biệt là màu sắc là lưỡng phân, và cũng thấy được sắc màu của cung phàm ngã của Chân ngã đang lâm phàm. |
|
214. When the planetary scheme is brought into the picture the dimension of personality enters. A single solar system reflects the egoic expression of the Monad, and three major solar systems taken together suggest the dynamics of the Monad on its own plane and throughout its seven (or major three) incarnations. |
214. Khi hệ hành tinh được đưa vào bức tranh, chiều kích phàm ngã xuất hiện. Một hệ mặt trời đơn lẻ phản chiếu biểu lộ chân ngã của Chân thần, và ba hệ mặt trời lớn xét chung gợi ra các động thái của Chân thần trên chính cõi của Ngài và xuyên suốt bảy (hay ba lớn) lần lâm phàm. |
|
215. The “cosmic monadic wheel” is purely monadic. |
215. “Bánh xe chân thần vũ trụ” là thuần chân thần. |
|
216. The “systemic monadic wheel” is both monadic and egoic. |
216. “Bánh xe chân thần hệ thống” vừa chân thần vừa chân ngã. |
|
217. The “planetary monadic wheel” is monadic, egoic and includes the personality dimension. |
217. “Bánh xe chân thần hành tinh” là chân thần, chân ngã và bao gồm chiều kích phàm ngã. |
|
218. Thus far we have the following: |
218. Cho đến nay chúng ta có những điều sau: |
|
a. The cosmic wheel of the Monad consisting, presumably, of seven demonstrations including three major demonstrations. (The relationship between seven possible demonstrations and six such demonstrations remains to be worked out.) |
a. Bánh xe vũ trụ của Chân thần gồm, có lẽ, bảy biểu hiện bao gồm ba biểu hiện lớn. (Mối liên hệ giữa bảy biểu hiện khả hữu và sáu biểu hiện như thế vẫn còn phải được khai triển.) |
|
b. That systemic wheel of the Monad dealing with a single demonstration in a single solar system. |
b. Bánh xe hệ thống của Chân thần xử lý một biểu hiện đơn lẻ trong một hệ mặt trời đơn lẻ. |
|
c. The planetary wheel of the Monad focusing on its expression in one solar system and through a particular planetary scheme. |
c. Bánh xe hành tinh của Chân thần tập trung vào sự biểu lộ của Ngài trong một hệ mặt trời và qua một hệ hành tinh cụ thể. |
|
219. The human Monad turns on three great wheels. Turning on the greatest wheel, the “cosmic monadic wheel” it need not have an egoic expression. Turning on the “systemic monadic wheel” some Monads waiting in “interplanetary spaces” and “not in incarnation” also need not have an egoic expression. And certainly they need not have a personality expression. Turning on a “monadic planetary wheel” they are in a cycle in which they will have (during various egoic cycles) a personality expression. |
219. Chân thần nhân loại quay trên ba bánh xe lớn. Quay trên bánh xe lớn nhất, “bánh xe chân thần vũ trụ”, Ngài không nhất thiết phải có biểu lộ chân ngã. Quay trên “bánh xe chân thần hệ thống” thì một số Chân thần đang chờ trong “không gian gian hành tinh” và “không lâm phàm” cũng không nhất thiết phải có biểu lộ chân ngã. Và chắc chắn họ cũng không nhất thiết phải có biểu lộ phàm ngã. Quay trên “bánh xe chân thần hành tinh” họ đang ở trong một chu kỳ mà trong đó họ sẽ có (trong các chu kỳ chân ngã khác nhau) một biểu lộ phàm ngã. |
|
220. The threefold colour of the Monad is the combination of its “true colour”, its egoic expression (which is an “illusory appearance”) and its personality expression (which is a “reflection” of the “true colour”). |
220. Ba sắc màu của Chân thần là sự phối hợp của “màu chân thực” của Ngài, biểu lộ chân ngã của Ngài (vốn là một “vẻ xuất hiện hư ảo”) và biểu lộ phàm ngã của Ngài (vốn là một “phản ảnh” của “màu chân thực”). |