Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S4 Part II (TCF 1112-1116)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S4 Part II (TCF 1112-1116)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các Sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần Bình giảng xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc cùng với TCF trong tay, vì sự liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn ấy. Vì vậy, xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới học phần Bình giảng

The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them,

Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các hiện thể được xây chung quanh chúng,

1. From what point in the evolutionary process are such bodies actually built? Do they exist from the outset when the permanent atoms around which they are organized are chosen by the Monad, or are they built only later? Certainly they are “coordinated” only later.

1. Từ điểm nào trong tiến trình tiến hoá mà các hiện thể như vậy thực sự được xây nên? Chúng có hiện hữu ngay từ đầu khi các nguyên tử trường tồn mà quanh đó chúng được tổ chức được Chân Thần chọn lựa, hay chỉ được xây dựng về sau? Chắc chắn chúng chỉ được “phối chỉnh” ở giai đoạn muộn hơn.

bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered.

đem đến những nhóm sự sống thiên thần nhất định mà cho đến nay chưa được xem đến nhiều.

2. One can, therefore, presume that the higher permanent atoms are an important source of energy streams into the egoic lotus.

2. Do đó, có thể suy rằng các nguyên tử trường tồn cao là một nguồn quan trọng của các dòng năng lượng vào trong Hoa Sen Chân Ngã.

3. Of what nature are the deva lives here mentioned and how are they related to the Creative Hierarchies which express upon the buddhic and atmic planes?

3. Bản chất của các sự sống thiên thần được nêu ở đây là gì, và chúng liên hệ thế nào với các Huyền Giai Sáng Tạo biểu lộ trên các cõi Bồ đề và atma?

4. We will continue the exploration we began in the previous commentary.

4. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc thám sát mà chúng ta đã khởi sự trong bình giảng trước.

They are not the lunar pitris, as that term is commonly understood, but have a direct connection with what is called “the cosmic moon” or to that dying solar system which has the same relation to our system as the moon has to the earth chain.

Chúng không phải là các thái âm tổ phụ, như thuật ngữ đó thường được hiểu, nhưng có mối liên hệ trực tiếp với cái được gọi là “mặt trăng vũ trụ” hay với hệ mặt trời đang tàn lụi có cùng mối liên hệ với hệ của chúng ta như mặt trăng có với Dãy Địa Cầu.

5. We are into some fascinating occultism here. The high substantial lives upon triadal levels are not lunar pitris but do carry a vibration analogous to the ‘lunar’ vibration. They are related to a dying solar system or “cosmic moon”. DK draws the analogy to our Moon which is apparently part of the Earth-scheme.

5. Ở đây chúng ta đang đi vào một số huyền bí học thú vị. Các sự sống chất thể cao trên các cấp độ Tam Nguyên không phải là các thái âm tổ phụ nhưng mang một rung động tương tự rung động “âm nguyệt”. Chúng có liên hệ với một hệ mặt trời  đang tàn lụi hay “mặt trăng vũ trụ”. Chân sư DK nêu ra sự tương đồng với Mặt Trăng của chúng ta, vốn rõ ràng là một phần của hệ Địa cầu.

6. From one perspective, we can wonder whether this “cosmic moon” is a type of burnt-out Sun, the vestige of that which served as a Sun in the previous solar system.

6. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể tự hỏi liệu “mặt trăng vũ trụ” này có phải là một kiểu Mặt Trời đã tắt, tàn tích của cái đã từng là một Mặt Trời trong hệ mặt trời trước kia.

7. If the cosmic moon under discussion has the same relation to our present solar system as our Moon has to the Earth-scheme, then it is a deleterious, retrogressive influence.

7. Nếu “mặt trăng vũ trụ” đang thảo luận có cùng mối liên hệ với hệ mặt trời hiện nay của chúng ta như Mặt Trăng có với hệ Địa cầu, thì đó là một ảnh hưởng bất lợi, thoái hóa.

8. We have to determine to what extent this previous solar system is dying. Apparently there are some residual lives still living within it.

8. Chúng ta phải xác định hệ mặt trời trước kia này đang tàn lụi  đến mức nào. Rõ ràng vẫn còn một vài sự sống tàn dư đang sống trong đó.

9. Perhaps the Monad did not play a very important part in the previous solar system. Perhaps the triadal lives represented the heights of attainment.

9. Có lẽ Chân Thần đã không đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ mặt trời trước kia. Có lẽ các sự sống Tam Nguyên đã đại diện cho những đỉnh cao đạt được.

10. In any case, because these deva lives are located on triadal levels, they cannot be considered as primitive as the lunar lives who express within the lower three worlds.

10. Dù thế nào, bởi vì các sự sống thiên thần này tọa lạc trên các cấp độ Tam Nguyên, chúng không thể bị xem là nguyên sơ như các sự sống âm nguyệt vốn biểu lộ trong ba cõi thấp.

This “cosmic [1113] moon” transmits its energy to the manasic atomic subplane, via the planet Saturn.

“‘Mặt trăng [] vũ trụ’ này” truyền dẫn năng lượng của nó tới cõi phụ nguyên tử manasic, qua hành tinh Saturn.

11. This is so incredibly important. The “cosmic moon” still has energy, it seems, and is still active. Our own Moon has no true radiation of its own, we are told, but this does not seem to be the case for the “cosmic moon”.

11. Điều này vô cùng quan trọng. “Mặt trăng vũ trụ” dường như vẫn còn năng lượng, và vẫn hoạt động. Mặt Trăng của chúng ta, chúng ta được cho biết, không có bức xạ đích thực của riêng nó, nhưng điều đó có vẻ không đúng với “mặt trăng vũ trụ”.

“Another point which should here be noted is that the influence of the moon is purely symbolic in nature and in effect and is simply the result of ancient thought and teaching (descended to us from Lemurian times) and is not based upon any true radiation or influence. In those far off times, antedating even Lemuria and constituting in Lemurian days simply an ancient tradition, the moon appeared to be a living vital entity. But I would have you bear definitely in mind that today the moon is nothing more than a dead form. It has no emanation and no radiation of any kind and, therefore, has no effect of any kind. The moon, from the 0.90em of the esoteric knower, is simply an obstruction in space—an undesirable form which must some day disappear. In esoteric astrology, the effect of the moon is noted as a thought effect and as the result of a powerful and most ancient thoughtform; nevertheless, the moon has no quality of her own and can transmit nothing to the Earth. Let me reiterate: The moon is a dead form; it has no emanation at all. That is why the moon is spoken of in the ancient teaching as “veiling either Vulcan or Uranus.” This hint or inference has always been here and astrologers would do well to experiment with this suggestion I have made anent the moon and (instead of working with the moon) let them work with Vulcan when dealing with the undeveloped or average man and with Uranus when considering the highly developed man. They would find some interesting and convincing results eventuate”. (EA 13)

“Một điểm khác cần lưu ý ở đây là ảnh hưởng của Mặt Trăng thuần mang tính tượng trưng cả về bản chất lẫn tác dụng và chỉ đơn giản là kết quả của tư tưởng và giáo huấn cổ xưa (truyền xuống chúng ta từ thời Lemuria) chứ không dựa trên bất kỳ bức xạ hay ảnh hưởng chân thực nào. Ở những thời xa xưa đó, thậm chí trước cả Lemuria và trong những ngày Lemuria chỉ là một truyền thuyết cổ, Mặt Trăng dường như là một thực thể sống đầy sinh lực. Nhưng tôi muốn các bạn ghi nhớ dứt khoát rằng ngày nay Mặt Trăng chẳng là gì khác ngoài một hình tướng chết. Nó không có bất kỳ phóng xạ hay bức xạ nào và, do đó, không có tác dụng nào cả. Từ góc độ của bậc thức giả nội môn, Mặt Trăng chỉ đơn giản là một vật cản trong không gian—một hình tướng không mong muốn mà một ngày nào đó phải biến mất. Trong chiêm tinh học nội môn, hiệu ứng của Mặt Trăng được ghi nhận như một hiệu ứng của tư tưởng và là kết quả của một hình tư tưởng mạnh mẽ và cổ xưa nhất; tuy nhiên, Mặt Trăng không có phẩm tính riêng và không thể truyền tải gì đến Trái Đất. Cho phép tôi nhắc lại: Mặt Trăng là một hình tướng chết; nó hoàn toàn không có phát xạ. Đó là lý do tại sao trong giáo huấn cổ xưa Mặt Trăng được nói là ‘che phủ hoặc Vulcan hoặc Uranus’. Gợi ý hay ám chỉ này luôn hiện diện ở đây và các nhà chiêm tinh sẽ làm tốt nếu thử nghiệm với gợi ý tôi đã đưa ra về Mặt Trăng và (thay vì làm việc với Mặt Trăng) hãy để họ làm việc với Vulcan khi xử lý người kém phát triển hoặc người trung bình và với Uranus khi xem xét người phát triển cao. Họ sẽ thấy xuất hiện những kết quả thú vị và có sức thuyết phục”. (EA 13)

12. The influences under discussion are not negligible in the life of man because the first (higher) anchor of the antahkarana (the manasic permanent atom) is under stimulation from both the “cosmic moon” and Saturn.

12. Những ảnh hưởng đang bàn không hề nhỏ trong đời sống con người, vì mỏ neo (cao) thứ nhất của antahkarana (nguyên tử trường tồn manasic) đang được kích thích bởi cả “mặt trăng vũ trụ” lẫn Saturn.

13. When thinking of the manasic permanent atom we must always think of its connection to the planet Saturn. As well, Saturn has a connection to the atmic plane and to the atmic permanent atom.

13. Khi nghĩ về nguyên tử trường tồn manasic, chúng ta luôn phải nghĩ đến mối liên hệ của nó với hành tinh Saturn. Đồng thời, Saturn có mối liên hệ với cõi atma và với nguyên tử trường tồn atma.

14. When considering Saturn and Uranus, it is always difficult to determine whether Uranus or Saturn should be related to the manasic permanent atom or the atmic permanent atom. It would seem that, to an extent, it is right to relate both planets to each of these permanent atoms.

14. Khi xét Saturn và Uranus, luôn khó xác định nên liên hệ Uranus hay Saturn với nguyên tử trường tồn manasic hay nguyên tử trường tồn atma. Có vẻ, ở một mức độ, việc liên hệ cả hai  hành tinh với mỗi nguyên tử trường tồn là đúng.

It is a triple energy and there is an esoteric connection between this triple energy, and Saturn’s rings.

Đó là một năng lượng tam phân và có một mối liên hệ huyền môn giữa năng lượng tam phân này và các vòng của Saturn.

15. Saturn receives a triple energy from the “cosmic moon”. The rings of Saturn, considered the symbol of limitation, are related to this triple ancient energy. Saturn, too, is a planet always deeply associated with the number three— and its monadic ray (as well perhaps as its soul ray) is the third.

15. Saturn tiếp nhận một năng lượng tam phân từ “mặt trăng vũ trụ”. Các vòng của Saturn, vốn được xem là biểu tượng của sự giới hạn, có liên hệ với năng lượng cổ xưa tam phân này. Saturn cũng là một hành tinh luôn gắn sâu với con số ba—  và cung chân thần của Ngài (có lẽ cả cung linh hồn của Ngài nữa) là cung ba.

16. We might consider the influence of the “cosmic moon” as one of the channels for the third ray into our solar system.

16. Chúng ta có thể xem ảnh hưởng của “mặt trăng vũ trụ” như một trong những kênh mà cung ba đi vào hệ mặt trời của chúng ta.

17. It is interesting that astronomy may be in the process of discovering more than three rings to Saturn.

17. Thật thú vị khi thiên văn học có lẽ đang trong quá trình khám phá nhiều  hơn ba vòng của Saturn.

[hình]

[hình]

Saturn is best known for its elaborate ring system. They’re made of icy particles orbiting the planet. The rings have distinct divisions, and astronomers have separate designations for each of Saturn’s rings. But how many rings does Saturn have?

… nổi tiếng nhất với hệ thống vòng công phu của nó. Chúng được tạo bởi những hạt băng quay quanh … Các vòng có những dải tách biệt rõ, và các nhà thiên văn đặt những tên riêng cho từng vòng của Saturn. Nhưng …?

The question is actually impossible to answer. Saturn has more than a dozen rings and gaps within the rings – and more are being discovered by spacecraft like NASA’s Cassini. But the planet does have several major ring systems and gaps within them.

Câu hỏi này thực ra không thể trả lời dứt khoát. Saturn có hơn cả chục vòng và những khoảng trống giữa các vòng—và còn nhiều vòng nữa đang được các tàu vũ trụ như Cassini của NASA phát hiện. Nhưng hành tinh này có vài hệ vòng chính và những khoảng trống trong đó.

The two densest parts of the rings are the A and B rings, separated by the Cassini Division, and then the C Ring. So, is that 3 rings, or 4? Whatever the case, these comprise Saturn’s main rings.

Hai phần dày đặc nhất của các vòng là vòng A và B, được ngăn cách bởi Khe Cassini, rồi đến Vòng C. Vậy đó là 3 vòng, hay 4? Dù thế nào, những vòng này cấu thành các vòng chính của Saturn.

After the 3 main rings, you have the smaller, dusty rings: the D Ring, G Ring, E Ring, and others beyond that. There’s also the F Ring, which is just outside the A Ring.

Sau 3 vòng chính, bạn có các vòng nhỏ và bụi: Vòng D, Vòng G, Vòng E và những vòng khác nữa ở phía ngoài. Cũng có Vòng F, vốn nằm ngay bên ngoài Vòng A.

That’s 3 main rings and 5 dusty rings for a total of 8 rings, 9 if you count the Cassini Division.

Đó là 3 vòng chính và 5 vòng bụi, tổng cộng 8 vòng, 9 nếu bạn tính cả Khe Cassini.

But there are even more rings around Saturn. There’s the Janus Ring, the Methone Ring Arc, the Anthe Ring Arc and the Pallene Ring, as well as the Roche Division. 4 more rings and another division.

Nhưng còn có nhiều vòng nữa quanh Saturn. Có Vòng Janus, Cung Vòng Methone, Cung Vòng Anthe và Vòng Pallene, cũng như Khe Roche. Thêm 4 vòng nữa và một khe nữa.

That brings us to 12 rings and 2 divisions.

Điều đó đưa chúng ta đến 12 vòng và 2 khe.

But then there are also smaller divisions and gaps within the various rings that would bring the total to more than 30 (the Encke Gap, the Huygens Gap, the Dawes Gap, and many more).

Nhưng rồi cũng có những khe và khoảng trống nhỏ hơn bên trong các vòng khác nhau, khiến tổng số vượt quá 30 (Khe Encke, Khe Huygens, Khe Dawes, và nhiều khe khác).

To answer the question, how many rings does Saturn have, you really need to find out how closely you’re looking. From what you might be able to see, there are 3 rings. With powerful telescopes, you can make out 8 rings. And with spacecraft like Cassini orbiting Saturn, that total rises above 30.

Để trả lời câu hỏi, Saturn có bao nhiêu vòng, bạn thật sự cần biết bạn đang nhìn kỹ đến mức nào. Với những gì bạn có thể thấy, có 3 vòng. Với các … mạnh, bạn có thể thấy 8 vòng. Và với các tàu vũ trụ như Cassini đang bay quanh Saturn, con số đó vượt trên 30.

Written by Fraser Cain

Viết bởi

18. The connection here discussed is, however, “esoteric”. Perhaps we will not be incorrect if we imagine that the principle of limitation which Saturn often represents is related to this ancient energy and its rings.

18. Tuy nhiên, mối liên hệ đang bàn là “huyền môn”. Có lẽ chúng ta sẽ không sai nếu hình dung rằng nguyên lý giới hạn mà Saturn thường biểu thị có liên hệ với năng lượng cổ xưa này và những vòng của nó.

19. We must ask, however, whether the triple energy of this ancient “cosmic moon” is related to the planet Saturn per se, or to the perhaps more ancient material gathered around the planet in the form of rings.

19. Tuy vậy, chúng ta phải hỏi: năng lượng tam phân của “mặt trăng vũ trụ” cổ xưa này liên hệ với bản thân hành tinh Saturn, hay với vật chất có lẽ cổ xưa hơn được tụ tập quanh hành tinh dưới dạng các vòng.

The old Commentary expresses this truth about an interesting group of sons of manas as follows:

Cổ Luận diễn đạt chân lý này về một nhóm Con của Trí Tuệ thú vị như sau:

“These Sons of mind clung to the old and dying form, and refused to leave their Mother.

“Những Con của trí tuệ này bám chặt lấy hình tướng cũ kỹ đang tàn lụi, và từ chối rời bỏ Mẹ của họ.

20. Who are these “Sons of mind”? It is far from entirely clear. If they are “brothers” of Saturn (as we will later see), they could well be Planetary Logoi of a lesser kind. Or they could be lesser forms of life such a human beings.

20. Những “Con của trí tuệ” này  ai? Còn lâu mới hoàn toàn rõ. Nếu họ là “những người anh em” của Saturn (như chúng ta sẽ thấy sau), họ rất có thể là những Hành Tinh Thượng đế bậc thấp hơn. Hoặc họ có thể là những dạng sống thấp hơn như con người.

21. From the Old Commentary, we consider the immediately previous solar system to be a “Mother” system. Through its third ray, Saturn is closely related to the “Mother aspect” but through its first ray, to the “Father aspect”.

21. Từ Cổ Luận, chúng ta coi hệ mặt trời trước ngay liền kề như một hệ “Mẹ”. Qua cung ba, Saturn có liên hệ chặt chẽ với phương diện “Mẹ”, nhưng qua cung một, với phương diện “Cha”.

They chose to pass into dissolution with her

Họ đã chọn tan rã cùng với Mẹ

22. Because they “chose” these “Sons of Mind” or “brothers” of Saturn were certainly self-conscious.

22. Vì họ “đã chọn”, những “Con của Trí Tuệ” hay “những người anh em” của Saturn chắc chắn là những thực thể tự thức.

23. Such a choice would have represented a major solar systemic retrogression.

23. Một sự chọn lựa như vậy hẳn là một thoái hoá lớn trong tầm mức toàn hệ mặt trời.

24. Could such “brothers” be those minor Planetary Logoi that ensoul the minor non-sacred planets (or planetoids) within our solar system? Could these Beings have ensouled those orbs we now call the moons of Saturn, Jupiter and Uranus etc., or those very minor planets associated with Pluto and beyond the orbit of Pluto? Are the asteroids related to these “brothers” who had thought to pass into dissolution with the Mother?

24. Những “người anh em” như vậy có thể là các Hành Tinh Thượng đế phụ đang linh ngự các hành tinh phụ (hay tiểu hành tinh) không thiêng liêng trong hệ mặt trời của chúng ta? Liệu các Đấng này đã từng linh ngự những khối cầu mà nay chúng ta gọi là các vệ tinh của Saturn, Jupiter và Uranus v.v., hay những hành tinh rất nhỏ liên hệ với Pluto và bên ngoài quỹ đạo Pluto? Liệu các tiểu hành tinh có liên hệ với những “người anh em” này—những kẻ đã từng nghĩ sẽ tan rã cùng với Mẹ?

25. Such a retrogressive attitude, we may infer, is as unhealthy for great Beings as it is for the human being.

25. Một thái độ thoái hóa như vậy, chúng ta có thể suy ra, cũng bất lợi cho các Đấng vĩ đại như nó bất lợi đối với con người.

but a younger son (Saturn) sought to rescue his brothers, and to this end he built a triple bridge between the old and new.

nhưng một người con trẻ hơn (Saturn) đã tìm cách cứu các anh em của mình, và vì mục đích này Ngài đã xây một cây cầu tam phân giữa cũ và mới.

26. One wonders whether the three triadal principles of man could have been transferred into this solar system via this bridge. These three principles are still to be found within the realm of solar systemic Brahma. Thus are not found ‘above’ the atmic plane.

26. Người ta tự hỏi liệu ba nguyên lý Tam Nguyên tinh thần của con người có thể đã được chuyển vào hệ mặt trời này thông qua cây cầu đó. Ba nguyên lý này vẫn còn được tìm thấy trong lĩnh vực Brahma của hệ mặt trời. Như thế không được tìm thấy “ở trên” cõi atma.

27. We remember that Saturn is associated with the first part of the antahkarana. We understand, from the “triple bridge” it created, Saturn’s relationship to the antahkarana process.

27. Chúng ta nhớ rằng Saturn liên hệ với phần đầu tiên  của antahkarana. Từ “cây cầu tam phân” mà Saturn kiến tạo, chúng ta hiểu mối liên hệ của Saturn với tiến trình antahkarana.

28. It may be useful to realize that three energy “threads” unite in man, connecting the lower man to his highest principles. These threads are the sutratma, the antahkarana and the creative thread.

28. Sẽ hữu ích khi nhận ra rằng ba “sợi dây” năng lượng hợp nhất trong con người, nối phàm nhân với các nguyên lý cao nhất của y. Những sợi này là sinh mệnh tuyến (sutratma), antahkarana và sợi dây sáng tạo.

29. To whom or to what is Saturn as a “son”? Could we say that He is a younger “son” to the Solar Logos? This does seem to be the case.

29. Saturn là “con” của ai hay của cái gì? Chúng ta có thể nói rằng Ngài là “người con” trẻ hơn của Thái dương Thượng đế chăng? Điều này dường như đúng.

30. When we think of the “brothers” of Saturn, must we think of them as His peers, or can we think of them as much younger “brothers”—even as human Monads? It is possible, after all, that without the agency of Saturn, not only minor Planetary Logoi, but human Monads of a certain kind could have been trapped within the confines of the previous solar system.

30. Khi nghĩ về “những người anh em” của Saturn, ta phải xem họ là bạn đồng hàng của Ngài, hay có thể xem họ là những “người em” trẻ hơn rất nhiều —thậm chí là các Chân Thần con người? Rốt cuộc, có thể rằng nếu không có tác năng của Saturn, không chỉ các Hành Tinh Thượng đế phụ mà cả các Chân Thần con người thuộc một loại nào đó cũng đã bị mắc kẹt trong giới hạn của hệ mặt trời trước kia.

This bridge persists, and forms a path whereon escape is possible.

Cây cầu ấy vẫn tồn tại, và hình thành một con đường mà trên đó việc thoát ly là khả hữu.

31. Is DK telling us that even now the “bridge persists? Have not all lives who could make their escape, already made their escape?

31. Có phải Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng thậm chí ngày nay  “cây cầu” ấy vẫn tồn tại? Há chẳng phải mọi sự sống có thể  thoát ly đều đã thoát  rồi sao?

32.  When DK tells us that escape is still possible, it is hard to believe that human Monads are among those who can still make their escape. Whether such Monads are still making their escape can be debated, but it would seem that lesser forms of life still composing the matter/substance of that decaying solar system also have the opportunity to make escape, and may still need to make such an escape, even though such escape may be unconscious. We must remember that in the chronology of Trans-Himalayan Occultism, the previous solar system ended many trillions of years ago.

32. Khi Chân sư DK nói rằng việc thoát ly vẫn còn  khả hữu, thật khó tin rằng trong số đó còn có các Chân Thần con người. Việc các Chân Thần như vậy có vẫn  đang thoát ly hay không còn có thể bàn cãi, nhưng dường như các dạng sống thấp hơn  vẫn còn cấu thành chất liệu/vật chất của hệ mặt trời đang suy tàn ấy cũng có cơ hội thoát ly, và có lẽ vẫn cần thực hiện sự thoát ly ấy, dù sự thoát ly đó có thể vô thức. Chúng ta phải nhớ rằng theo niên đại của Huyền bí học Trans-Himalaya, hệ mặt trời trước kia đã kết thúc cách đây hàng triệu triệu triệu năm.

33. We can see Saturn’s function as a kind of antahkarana between dense physical planes, which cosmically, are not principled, and those levels which (from a cosmic perspective) are. Saturn then serves as a kind of bridge between cosmic density and cosmic ether. From the cosmic planetary perspective (i.e., considering our Planetary Logos as a cosmic Being), the higher mental plane can be considered a kind of fourth ether. Saturn acts as a bridge to the systemic higher mental plane where Venus presides.

33. Chúng ta có thể thấy chức năng của Saturn như một kiểu antahkarana giữa các cõi đậm đặc vật chất, vốn là phi nguyên lý trong tầm vóc vũ trụ, và những tầng (từ góc nhìn vũ trụ) là nguyên lý. Saturn khi ấy phục vụ như một kiểu cầu nối giữa mật độ vũ trụ và dĩ thái vũ trụ. Từ phối cảnh vũ trụ  của hành tinh (tức xem Hành Tinh Thượng đế của chúng ta như một Đấng vũ trụ), cõi thượng trí có thể được coi như một loại tứ đại dĩ thái. Saturn hoạt động như chiếc cầu đến cõi thượng trí hệ thống nơi Venus chủ trì.

34. And certainly the reflection of this bridge persists today within our solar system.

34. Và chắc chắn phản ảnh của cây cầu này vẫn tồn tại ngày nay trong hệ mặt trời của chúng ta.

Some escaped and came to the help of the incarnating Sons of Mind who had left the Mother for the Father.  The greater gulf was bridged.  The lesser gulf persisted, and must be bridged by the living Sons of Mind themselves.”

Một vài đã thoát và đến trợ giúp các Con của Trí Tuệ đang lâm phàm, những vị đã rời Mẹ để tìm đến Cha. Hố thẳm lớn đã được bắc cầu. Hố thẳm nhỏ hơn vẫn tồn tại, và phải được chính những Con của Trí Tuệ sống động bắc cầu.”

(This latter clause, refers to the building of the antaskarana.)

(Mệnh đề sau cùng này ám chỉ việc xây dựng antaskarana.)

35. We must focus carefully on the types of B/beings implicated in this discussion.

35. Chúng ta phải chú tâm cẩn thận vào các loại Chúng sinh có liên can trong cuộc thảo luận này.

36. From one perspective, we could interpret the “incarnating Sons of Mind” as human beings who had individualized in the previous solar system. Those who escaped via the bridge could be the Solar Angels who are presently helping humanity evolve. Perhaps they, especially, help those who had ancient ties to the Mother (the previous solar system).

36. Từ một phối cảnh, chúng ta có thể diễn giải “các Con của Trí Tuệ đang lâm phàm” như những con người đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước kia. Những vị đã thoát qua cây cầu có thể là các Thái dương Thiên Thần hiện đang trợ giúp nhân loại tiến hoá. Có lẽ Các Ngài đặc biệt giúp những ai từng có ràng buộc xưa kia với Mẹ (tức hệ mặt trời trước).

37. We do feel our Solar Angel trying to wean us away from tendencies prominent during the previous solar system and, later, during the Moon-chain.

37. Chúng ta cảm nhận Thái dương Thiên Thần của mình đang cố gắng tập cho chúng ta rời xa những khuynh hướng nổi trội trong hệ mặt trời trước và, về sau, trong Dãy Mặt Trăng.

38. The “great gulf” was that which existed between the previous and present solar system.

38. “Hố thẳm lớn” là hố thẳm tồn tại giữa hệ mặt trời trước và hệ hiện tại.

39. The “lesser” gulf exists between the dense physical body of the Planetary Logos (His cosmically unprincipled subplanes) and the three subplanes of the higher mental plane. Another but higher “lesser” gulf exists between the lower twenty subplanes (including the two lower subplanes of the higher mental plane) and the atomic level of the higher mental plane—the lowest point of the spiritual triad.

39. “Hố thẳm nhỏ hơn” tồn tại giữa thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế (những cõi phụ mang tính vũ trụ phi nguyên lý của Ngài) và ba cõi phụ của cõi thượng trí. Một hố thẳm “nhỏ hơn” khác nhưng ở cao hơn tồn tại giữa 20 cõi phụ thấp ( bao gồm  hai cõi phụ thấp của cõi thượng trí) và cõi nguyên tử của cõi thượng trí—điểm thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.

The energy transmitted from the manasic permanent atom of each incarnating jiva,

Năng lượng được truyền dẫn từ nguyên tử trường tồn manasic của mỗi jiva đang lâm phàm,

40. The incarnating jiva can be considered triple even though, essentially, it is the Monad pure and simple.

40. Jiva đang lâm phàm có thể được xem như tam phân  dù tự bản chất, đó là Chân Thần thuần tuý.

41. From one perspective, it almost seems as if the “incarnating jiva” is the spiritual triad—in extension. Certainly the spiritual triad is part of each incarnating jiva or the jiva could not have a manasic permanent atom.

41. Từ một phối cảnh, dường như “jiva đang lâm phàm” là Tam Nguyên Tinh Thần—trong sự mở rộng. Chắc chắn Tam Nguyên Tinh Thần là một phần của từng jiva đang lâm phàm, nếu không jiva ấy đã không thể có nguyên tử trường tồn manasic.

its union with its reflection, the energy of the mental unit,

sự hợp nhất của nó với phản ảnh của nó, tức năng lượng của đơn vị hạ trí,

42. Are we here saying that the mental unit is the reflection of the manasic permanent atom? It seems reasonable.

42. Chúng ta đang nói rằng đơn vị hạ trí là phản ảnh của nguyên tử trường tồn manasic chăng? Có vẻ hợp lý.

and the triple stream of force thus created on the mental plane,

và dòng tam phân mãnh lực được tạo ra như thế trên cõi trí,

43. It appears that when the manasic permanent atom is united to the mental unit a triple stream of force is created on the mental plane. We can think of this triple stream as consisting of the antahkarana, the sutratma and the creative thread.

43. Dường như khi nguyên tử trường tồn manasic hợp nhất với đơn vị hạ trí, một dòng tam phân mãnh lực được tạo ra trên cõi trí. Chúng ta có thể nghĩ dòng tam phân này gồm antahkarana, sinh mệnh tuyến và sợi dây sáng tạo.

44. We might also consider that the triple stream represents the personality, the soul and the Monad. In one way, the sutratma representatives the Monad; the antahkarana represents the soul; and the creative thread, the personality.

44. Chúng ta cũng có thể xem rằng dòng tam phân ấy đại biểu  cho phàm ngã, linh hồn và Chân Thần. Ở một phương cách, sinh mệnh tuyến đại diện cho Chân Thần; antahkarana đại diện cho linh hồn; và sợi dây sáng tạo, cho phàm ngã.

45. The mental unit, then, is to be considered the “reflection” of the manasic permanent atom. The manasic permanent atom has three spirillae and the mental unit has four. We have, however, to determine in exactly what manner the mental unit is considered the reflection of the manasic permanent atom.

45. Vậy, đơn vị hạ trí được xem là “phản ảnh” của Nguyên tử trường tồn manas. Nguyên tử trường tồn manas có ba xoắn tuyến và đơn vị hạ trí có bốn. Tuy nhiên, chúng ta phải xác định chính xác theo cách thức nào  đơn vị hạ trí được xem là phản ảnh của Nguyên tử trường tồn manas.

46. Another triple stream of force can be considered the manasic permanent atom, the mental unit and the “Son of Mind”.

46. Một dòng mãnh lực tam phân khác có thể được xem gồm Nguyên tử trường tồn manas, đơn vị hạ trí và “Con của Trí Tuệ”.

47. If from a larger perspective, Venus represents the manasic permanent atom and Earth the mental unit, we have to determine in what manner Earth is or is intended to be the reflection of Venus.

47. Nếu từ phối cảnh rộng hơn, Sao Kim biểu trưng cho Nguyên tử trường tồn manas và Trái Đất cho đơn vị hạ trí, chúng ta phải xác định theo cách nào Trái Đất là – hoặc được định nhằm trở thành – phản ảnh của Sao Kim.

has its planetary reflection in the relation of Saturn to another planetary scheme, and the three rings which are energy rings, and symbols of an inner verity.

có phản ảnh hành tinh của nó trong mối liên hệ của Thổ Tinh với một hệ hành tinh khác, và ba vành, vốn là các vành năng lượng, và là những biểu tượng của một chân lý nội tại.

48. From a certain perspective, Saturn can be considered the symbol of the manasic permanent atom; Venus the symbol of the Ego manifesting through the egoic lotus; and the Earth as the symbol of the mental unit.

48. Từ một phối cảnh nào đó, Thổ Tinh có thể được xem là biểu tượng của Nguyên tử trường tồn manas; Sao Kim là biểu tượng của Chân ngã biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã; và Trái Đất là biểu tượng của đơn vị hạ trí.

49. The other planetary scheme here mentioned could be none other than the Earth as the symbol of the mental unit. (We know of the close relation between Saturn and the Earth—Saturn as the mental body and Earth, the physical body of a great Third Ray Entity.) Sometimes Venus is said to represent the manasic permanent atom and Earth the mental unit.

49. Hệ hành tinh khác được nói đến ở đây có thể  không gì khác hơn Trái Đất như là biểu tượng của đơn vị hạ trí. (Chúng ta biết mối liên hệ mật thiết giữa Thổ Tinh và Trái Đất—Thổ Tinh như thể trí và Trái Đất như thể xác của một Thực Thể Cung ba vĩ đại.) Đôi khi nói rằng Sao Kim biểu trưng cho Nguyên tử trường tồn manas và Trái Đất cho đơn vị hạ trí.

50. The “inner verity” is an inner structural truth. The antahkarana is a inner structural truth, and it is threefold.

50. “Chân lý nội tại” là một chân lý cấu trúc nội tại. Antahkarana là một chân lý cấu trúc nội tại, và nó mang tính tam phân.

51. DK seems to be likening the rings of Saturn to the threefold nature of the antahkarana. He specifies most potently that the rings are “energy rings”, just as the antahkarana is to be considered a bridge of energy —a threefold bridge.

51. Có vẻ Chân sư DK đang so sánh các vành của Thổ Tinh với bản chất tam phân của antahkarana. Ngài nhấn mạnh thật mạnh mẽ rằng các vành là “các vành năng lượng”, cũng như antahkarana được xem là một cây cầu của năng lượng  —một cây cầu tam phân.

52. We could make a comparison as follows:

52. Chúng ta có thể so sánh như sau:

Saturn

Manasic permanent atom

Rings of Saturn

Antahkarana

Earth

Mental unit

53. We are now discussing a number of energy-streams which impact the knowledge petals of the egoic lotus.

53. Hiện chúng ta đang bàn về một số dòng năng lượng tác động lên các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã.

a.  Energy also pours in upon the knowledge petals from the egoic group,

a. Năng lượng cũng tuôn đổ lên các cánh hoa tri thức từ nhóm chân ngã,

54. We have earlier read of how energy from the three lower worlds influences the knowledge petals. Now we read of a much higher form of influence upon them—the influence arising from the members of any Ego’s egoic group.

54. Trước đây chúng ta đã đọc về việc năng lượng từ ba cõi thấp ảnh hưởng đến các cánh hoa tri thức. Nay chúng ta đọc về một hình thức ảnh hưởng cao hơn nhiều lên chúng—ảnh hưởng phát sinh từ các thành viên của bất kỳ nhóm chân ngã nào của một Chân ngã/Thái dương Thiên Thần.

or from the aggregated knowledge petals of all the other lotuses in the group affiliated with any particular solar Angel.

hoặc từ các cánh hoa tri thức tổng hợp của tất cả những hoa sen khác trong nhóm liên kết với bất kỳ Thái dương Thiên Thần nào cụ thể.

55. It would seem that that knowledge content of one egoic group influences the knowledge content of any particular Ego or Solar Angel within that group.

55. Có vẻ như nội dung tri thức của một nhóm chân ngã ảnh hưởng đến nội dung tri thức của bất kỳ Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần nào trong nhóm đó.

These groups have been earlier dealt with.

Các nhóm này đã được đề cập trước đây.

56. Increasingly, and on the physical plane, it becomes possible to meet and interact with those who are part of the content of one’s egoic group.

56. Ngày càng nhiều, và trên cõi hồng trần, việc gặp gỡ và tương tác với những ai là một phần của nội dung nhóm chân ngã của mỗi người trở nên khả dĩ.

b.  Energy is transmitted also to the petals [the knowledge petals] via the groups and emanations from those planetary schemes and streams of force which form the outer petals of that great centre which is our solar system, and which we are told is seen from the higher planes as a twelve-petalled lotus.

b. Năng lượng cũng được truyền đạt đến các cánh hoa [các cánh hoa tri thức] thông qua các nhóm và các xuất lộ từ những hệ hành tinh và những dòng mãnh lực vốn hợp thành những cánh hoa ngoài cùng của cái đại trung tâm vốn là hệ mặt trời của chúng ta, và chúng ta được cho biết rằng từ các cõi cao hơn nó được thấy như một hoa sen mười hai cánh.

57. We are speaking of the energy transmitted from various sources to the knowledge petals of the egoic lotus.

57. Chúng ta đang nói về năng lượng được truyền đạt từ nhiều nguồn khác nhau đến các cánh hoa tri thức  của Hoa Sen Chân Ngã.

58. We have read of transmission to these petals from the personality level and also from the knowledge petals of other Egos in an egoic group related to the soul/Solar Angel/egoic lotus in question. Now we read of transmission from certain “planetary schemes” which form the outer petals of the great lotus of our solar system. Some planetary schemes are more closely allied with the knowledge nature of the Solar Logos than with His love or will nature, and it is of these planetary schemes we are speaking.

58. Chúng ta đã đọc về sự truyền đạt đến các cánh hoa này từ cấp độ phàm ngã và cả từ các cánh hoa tri thức của những Chân ngã khác trong một nhóm chân ngã có liên hệ với linh hồn/Thái dương Thiên Thần/Hoa Sen Chân Ngã đang được bàn tới. Nay chúng ta đọc về sự truyền đạt từ những “hệ hành tinh” nào đó vốn hợp thành các cánh hoa ngoài của đại hoa sen là hệ mặt trời của chúng ta. Một số hệ hành tinh liên kết gần gũi hơn với bản tính tri thức của Thái dương Thượng đế hơn là với bản tính Tình thương hay Ý chí của Ngài, và chính các hệ hành tinh ấy đang được nói đến.

59. We can imagine, that Mars and Pluto are numbered among such schemes. Probably the schemes which we are discussing are not sacred schemes.

59. Chúng ta có thể hình dung rằng Hỏa Tinh và Diêm Vương Tinh nằm trong số các hệ như thế. Nhiều khả năng các hệ mà chúng ta đang bàn không phải là các hệ thiêng liêng.

60. It is important to note that our solar system is perceived from higher planes as a “twelve-petalled lotus”. This confirms the nature of our solar system as a heart center.

60. Điều quan trọng là lưu ý rằng hệ mặt trời của chúng ta được tri kiến từ các cõi cao như một “hoa sen mười hai cánh”. Điều này xác nhận bản chất của hệ mặt trời chúng ta như một trung tâm tim.

61. We may ask, “In which greater Being is our Solar Logos a heart center.” The Teaching tells us it is the “One About Whom Naught May Be Said”, but again, we must ask which “One About Whom Naught May Be Said” and what is the scope of such a Being—a ‘Constellational Logos’ or a ‘Super-Constellational Logos’?

61. Chúng ta có thể hỏi, “Trong Đấng Vĩ Đại nào Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim.” Giáo huấn cho biết Đấng ấy là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, nhưng một lần nữa, chúng ta phải hỏi đó là  “Đấng Bất Khả Tư Nghị” nào và quy mô của một Đấng như vậy là gì—một ‘Thượng đế của Chòm Sao’ hay một ‘Siêu Thượng đế của Chòm Sao’?

These streams [1114] do not emanate from the seven sacred planets but from other planetary bodies within the solar Ring-Pass-Not.

Những dòng này [] không xuất lộ từ bảy hành tinh thiêng liêng mà từ các thiên thể khác trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời.

62. The idea suggested above is confirmed. The rays of the sacred planets do not focally stimulate the knowledge petals of the human egoic lotus.

62. Ý tưởng gợi ra ở trên được xác nhận. Các tia của các hành tinh thiêng liêng không kích thích trọng điểm các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã nhân loại.

63. We must remember that there are many planetary bodies within our solar ring-pass-not and through only a relatively few is a sacred Planetary Logos in process of expressing.

63. Chúng ta phải nhớ rằng có rất nhiều  thiên thể trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời chúng ta và chỉ qua tương đối ít thiên thể trong số đó mà một Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng  đang biểu lộ.

Streams of force from the Sacred Planets play upon the central tier of petals.

Các dòng mãnh lực từ các Hành tinh thiêng liêng tác động lên tầng trung tâm của các cánh hoa.

64. Sacred planets have achieved a developed soul consciousness and thus, correspondingly, they affect the petals of the egoic lotus which most fully represent the nature and quality of the Ego/soul manifesting through egoic lotus.

64. Các hành tinh thiêng liêng đã đạt được tâm thức linh hồn phát triển và do đó, tương ứng, chúng ảnh hưởng đến các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã vốn biểu trưng đầy đủ nhất cho bản tính và phẩm tính của Chân ngã/linh hồn biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã.

65. It would seem impossible that at least some influence of sacred planets would not play upon the knowledge petals, as well, because some influence of such planets is necessarily involved in the types of experiences through which all human beings must pass when, for millions of years, they are involved in the unfoldment of the knowledge petals. Also, all human beings are born in or under all signs of the zodiac during that very length period and are thus influenced by such sacred Logoi as those manifesting through the planets Vulcan, Jupiter, Saturn, Mercury, Venus, Neptune and Uranus.

65. Có vẻ như không thể nào mà ít nhất một vài ảnh hưởng của các hành tinh thiêng liêng lại không tác động lên các cánh hoa tri thức, bởi vì một vài  ảnh hưởng của những hành tinh như vậy tất yếu  liên quan đến các loại kinh nghiệm mà mọi con người phải trải qua khi, suốt hàng triệu năm, họ tham gia vào sự khai triển các cánh hoa tri thức. Hơn nữa, mọi con người đều được sinh ra trong  hoặc dưới  mọi dấu hiệu hoàng đạo trong khoảng thời gian rất dài ấy và như vậy chịu ảnh hưởng của các Thượng đế thiêng liêng đang biểu lộ qua các hành tinh Vulcan, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thuỷ Tinh, Kim Tinh, Hải Vương Tinh và Thiên Vương Tinh.

66. What I am trying to say is that human beings pass through perhaps twenty million years of experience that relates to the development of their three personality vehicles and, eventually, to the development of the personality itself. It is inconceivable that the seven sacred planets would not be influential during such a lengthy process, even though the human being’s response to such sacred planets would, for the vast majority of that time, be a non-sacred response.

66. Điều tôi đang cố nói là con người trải qua có lẽ hai mươi triệu năm kinh nghiệm liên quan đến sự phát triển ba vận cụ phàm ngã của họ và, rốt cuộc, đến sự phát triển chính phàm ngã. Thật khó có thể hình dung rằng bảy hành tinh thiêng liêng lại không có ảnh hưởng trong một tiến trình dài như vậy, dù rằng sự đáp ứng của con người đối với các hành tinh thiêng liêng—trong phần lớn thời gian ấy—sẽ là một đáp ứng không thiêng liêng.

67. Probably the unfoldment of the central tier, however, is especially dependent upon streams of force directed from the sacred planets.

67. Có lẽ sự khai triển của tầng trung tâm, tuy vậy, đặc biệt tùy thuộc vào các dòng mãnh lực được hướng đến từ các hành tinh thiêng liêng.

68. In general, we must agree that even sacred planets can have non-sacred effects. Vulcan, for instance, rules so many of the force patterns associated with the instinctual nature; Venus can indicate primitive magnetism between forms; Mercury can indicate the growth of early mentality; Jupiter may represent simply the urge to incorporate and to grow thereby; and certainly the hard effects of Saturn are present in the very hard karmic experiences through which primitive man must pass.

68. Nói chung, chúng ta phải thừa nhận rằng ngay cả các hành tinh thiêng liêng cũng có thể tạo ra các hiệu ứng không thiêng liêng. Vulcan, chẳng hạn, cai quản rất nhiều mô thức lực gắn với bản năng; Kim Tinh có thể chỉ ra sự hút từ sơ khai giữa các hình tướng; Thuỷ Tinh có thể biểu thị sự tăng trưởng của trí tuệ sơ kỳ; Mộc Tinh có thể chỉ đơn thuần đại diện cho xung lực hòa nhập và nhờ đó mà tăng trưởng; và chắc chắn những hiệu ứng khắc nghiệt của Thổ Tinh hiện diện trong các kinh nghiệm nghiệp quả rất khắc nghiệt mà người nguyên thủy phải đi qua.

69. The first twenty million years, of so, are, on the average, concerned with the development of the outer tier—the knowledge petals.

69. Khoảng hai mươi triệu năm đầu tiên, hoặc cỡ đó, trung bình liên quan đến sự phát triển của tầng ngoài—các cánh hoa tri thức.

Herein lies a hint to the wise student, and a clue to the nature of the lower aspect of the solar Angel.

Ở đây có một gợi ý cho đạo sinh khôn ngoan, và một manh mối về bản chất của phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần.

70. In this text, the Solar Angel is closely associated with the petals of the egoic lotus. We must remember, however, that the Solar Angel remains even after its vehicle of manifestation on the higher mental plane is destroyed.

70. Trong văn bản này, Thái dương Thiên Thần gắn chặt với các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần vẫn còn  tồn tại ngay cả sau khi vận cụ biểu lộ của Ngài trên cõi thượng trí bị phá hủy.

71. If we look at the egoic lotus as the embodiment of the Solar Angel, then the knowledge petals represent the “lower aspect of the solar Angel”.

71. Nếu chúng ta xem Hoa Sen Chân Ngã như hiện thân của Thái dương Thiên Thần, thì các cánh hoa tri thức đại diện cho “phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần”.

72. It becomes clear that the lower nature of the Solar Angel (manifesting through the egoic lotus) is to be associated primarily with non-sacred planets. Another way of saying this is that the knowledge petals are particularly stimulated by the non-sacred planets.

72. Rõ ràng phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần (biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã) cần được gắn chủ yếu với các hành tinh không thiêng liêng. Nói cách khác, các cánh hoa tri thức đặc biệt được kích thích bởi các hành tinh không thiêng liêng.

73. We could take Earth, Mars and Pluto and trace their role in the development of the knowledge petals. There are other non-sacred planets which are also involved—for instance, the ones veiled by the Sun and the Moon.

73. Chúng ta có thể lấy Trái Đất, Hỏa Tinh và Diêm Vương Tinh và lần theo vai trò của chúng trong sự phát triển các cánh hoa tri thức. Có những hành tinh không thiêng liêng khác cũng liên hệ—ví dụ các hành tinh được Mặt Trời và Mặt Trăng che phủ.

74. It is difficult to give a one-to-one assignment of these three non-sacred planets to the first three petals and all of them are involved in the processes of all petals.

74. Thật khó để gán một-một ba hành tinh không thiêng liêng này cho ba cánh hoa đầu tiên và tất cả chúng đều dính dự vào các tiến trình của mọi  cánh hoa.

75. Two possible sequences could be: Mars, Earth, Pluto or Earth, Mars, Pluto.

75. Hai trình tự khả dĩ có thể là: Hỏa Tinh, Trái Đất, Diêm Vương Tinh hoặc Trái Đất, Hỏa Tinh, Diêm Vương Tinh.

The Love Wisdom Petals.

Các Cánh Hoa Bác Ái – Minh Triết.

76. We note that what are usually called the “Love Petals” are here called the“Love Wisdom Petals”. This is significant.

76. Chúng ta lưu ý rằng điều thường được gọi là “Các Cánh Hoa Tình thương” ở đây được gọi là “Các Cánh Hoa Bác Ái – Minh Triết ”. Điều này có ý nghĩa.

The streams of energy playing upon and through this second tier of petals closely resemble those already dealt with, but originate in differing groups of lives (lunar and solar).

Các dòng năng lượng tác động lên và xuyên qua tầng thứ hai của các cánh hoa rất gần giống với những dòng đã bàn, nhưng khởi nguyên từ những nhóm sự sống khác nhau (nguyệt tính và thái dương).

77. We are searching for the original of certain energy streams playing through the three tiers of the egoic lotus.

77. Chúng ta đang tìm nguồn gốc của những dòng năng lượng nhất định đang chạy qua ba tầng của Hoa Sen Chân Ngã.

78. We have an interesting statement above: the origin of some of these streams affecting the central tier of petals are lunar as well as solar. May we say that the astral body of the personality is connected to the love-wisdom petals? Sometimes these petals are called the “Petals of Love for the Astral Plane”.

78. Chúng ta có một phát biểu thú vị ở trên: nguồn gốc của một số dòng này ảnh hưởng đến tầng trung tâm của các cánh hoa là cả nguyệt tính  lẫn thái dương.  Chúng ta có thể nói rằng thể cảm dục của phàm ngã được nối kết với các cánh hoa bác ái–minh triết chăng? Đôi khi các cánh hoa này được gọi là “Các Cánh Hoa Tình thương cho cõi Cảm dục”.

a.  The lowest form of energy, reaching this circle, emanates from the lower self, via the astral permanent atom, and the second petal of the outer tier.

a. Hình thức năng lượng thấp nhất, đạt đến vòng này, xuất lộ từ phàm ngã, qua Nguyên tử trường tồn cảm dục, và cánh hoa thứ hai của tầng ngoài.

79. Here we are given an important energy stream of influence, ascending, as it were, from ‘below’:

79. Ở đây chúng ta được cho một dòng năng lượng ảnh hưởng quan trọng, đi lên  từ ‘bên dưới’:

a. From the astral permanent atom

a. Từ Nguyên tử trường tồn cảm dục

b. To the love petal in the knowledge tier

b. Tới cánh hoa tình thương trong tầng tri thức

c. To the second tier of petals as a whole

c. Tới toàn bộ tầng thứ hai của các cánh hoa

It is transmuted astral energy;

Đó là năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá;

80. We have the energy of the second tier of petals—the love-wisdom petals—called “transmuted astral energy”.

80. Năng lượng của tầng thứ hai—các cánh hoa bác ái–minh triết—được gọi là “năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá”.

81. Only transmuted astral energy can find its way into the egoic lotus.

81. Chỉ năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá mới có thể đi vào Hoa Sen Chân Ngã.

82. We can infer that along the stream of energy connecting the astral plane with the buddhic plane, the energies of the second tier are to be found in an intermediate position.

82. Chúng ta có thể suy ra rằng dọc theo dòng năng lượng nối cõi cảm dục với cõi Bồ đề, các năng lượng của tầng thứ hai được tìm thấy ở vị trí trung gian.

it is more powerful than its correspondence in the first tier,

nó mạnh hơn đối phần của nó ở tầng thứ nhất,

83. Since the astral plane is the most coherent and powerful plane in our astral-buddhic solar system, the tier of petals fed by the astral plane is correspondingly the most powerful in the egoic lotus. We are being told here that it is more powerful than the knowledge tier.

83. Vì cõi cảm dục là cõi nhất quán và mạnh mẽ nhất trong hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề của chúng ta, tầng cánh hoa được nuôi dưỡng bởi cõi cảm dục tương ứng là mạnh mẽ nhất trong Hoa Sen Chân Ngã. Ở đây chúng ta được cho biết rằng nó mạnh hơn tầng tri thức.

owing to the inherent nature of the astral body, and the fact that it is augmented by the energy of the outer tier itself.

bởi bản chất cố hữu của thể cảm dục, và vì nó được gia cường bởi năng lượng của tầng ngoài tự thân.

84. Not only does the astral body feed the love tier, but the knowledge tier does so as well (especially one petal of the knowledge tier)—thus greatly augmenting the strength of the love tier.

84. Không chỉ thể cảm dục nuôi dưỡng tầng bác ái mà tầng tri thức cũng làm như vậy (đặc biệt là một cánh hoa của tầng tri thức)—do đó gia tăng rất nhiều sức mạnh của tầng bác ái.

This is one of the factors which brings about the more rapid progress made towards the close of the evolutionary period.

Đây là một trong những yếu tố mang lại tiến bộ nhanh hơn vào cuối thời kỳ tiến hoá.

85. We are being told that knowledge feeds love-wisdom. This type of dynamic can be associated with the planet Venus.

85. Chúng ta được cho biết rằng tri thức nuôi dưỡng bác ái–minh triết. Dạng động lực này có thể gắn với hành tinh Kim Tinh.

86. Towards the close of the evolutionary period, aspiration must be very keen and propulsive of the evolutionary process.

86. Vào cuối thời kỳ tiến hoá, khát vọng phải rất mãnh liệt và thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình tiến hoá.

There are certain streams of force in the evolution of the Monad which might be regarded as embodying for it the line of least resistance and they are specifically beginning at the lowest:

Có những dòng mãnh lực nhất định trong tiến hoá của Chân Thần có thể được xem là hiện thân cho Ngài “con đường ít trở ngại nhất” và chúng đặc biệt bắt đầu từ chỗ thấp nhất:

87. In the following we are looking for the line of least resistance for monadic influence—regardless of the ray of the Monad.

87. Ở phần sau đây chúng ta đang tìm con đường ít trở ngại nhất cho ảnh hưởng của Chân Thần—bất kể Chân Thần thuộc cung nào.

a. Emanations from the vegetable kingdom.

a. Các xuất lộ từ giới thực vật.

88. The Monad is ‘located’ on the second subplane (from ‘above’) of the cosmic physical plane and the vegetable kingdom is the second kingdom—hence the resonance and the communicating lines of influence.

88. Chân Thần ‘định vị’ trên cõi phụ thứ hai  (tính từ ‘trên xuống’) của cõi hồng trần vũ trụ và giới thực vật là giới thứ hai —do đó có cộng hưởng và các đường thông giao ảnh hưởng.

b. Astral energy.

b. Năng lượng cảm dục.

89. Astral energy is focussed on the second subplane of the cosmic physical plane (counting from ‘below’). The Monad is focused on the second subplane of the cosmic physical plane counting from ‘above’.

89. Năng lượng cảm dục được tập trung trên cõi phụ thứ hai  của cõi hồng trần vũ trụ (tính từ ‘dưới lên’). Chân Thần được tập trung trên cõi phụ thứ hai  của cõi hồng trần vũ trụ tính từ ‘trên xuống’.

c. The energy of the second circle of petals.

c. Năng lượng của vòng cánh hoa thứ hai.

90. Again, the resonance occurs through the number two.

90. Lại nữa, cộng hưởng xảy ra qua con số hai.

d. Buddhic force.

d. Mãnh lực Bồ đề.

91. Buddhi is the sixth principle and the Monad is focused on the sixth subplane of the cosmic physical plane counting from ‘below’.

91. Bồ đề là nguyên khí thứ sáu  và Chân Thần được tập trung trên cõi phụ thứ sáu  của cõi hồng trần vũ trụ tính từ ‘dưới lên’.

92. Jupiter, a planet expressing the second ray through its soul nature, is one of the rules of the buddhic plane. It is also the principal ruler of the monadic plane—hence a line of communication is established.

92. Mộc Tinh, một hành tinh biểu lộ cung hai qua bản chất linh hồn, là một trong những chủ tinh của cõi Bồ đề. Nó cũng là chủ tinh chính của cõi chân thần—do đó một đường thông giao được thiết lập.

e. The activity of the second Logos, planetary or solar.

e. Hoạt động của Đệ Nhị Logos, hành tinh hay thái dương.

93. The “second Logos” of our solar system is Vishnu, the expression of the second aspect of solar logoic Divinity. The second Planetary Logos may well be considered Venus, the monadic ray of which is both the sixth (the sub-monadic ray) and the second.

93. “Đệ Nhị Logos” của hệ mặt trời chúng ta là Vishnu, biểu lộ Phương diện thứ hai của Thiên tính của Thái dương Thượng đế. Đệ Nhị Hành Tinh Thượng đế rất có thể được xem là Kim Tinh, cung chân thần của Ngài vừa là cung sáu (cung chân thần phụ) vừa là cung hai.

This is, of course, only true of this solar system, being the system of regenerative love.

Điều này, dĩ nhiên, chỉ đúng cho hệ mặt trời này, hệ thống của tình thương tái sinh.

94. We are given an important name for our solar system—the “system of regenerative love”. We can imagine that Pluto plays its role in this regeneration through its relationship with Venus. The second ray soul of the Planetary Logos of Earth is also deeply involved.

94. Chúng ta được cho một danh xưng quan trọng của hệ mặt trời chúng ta—“hệ thống của tình thương tái sinh”. Chúng ta có thể hình dung rằng Diêm Vương Tinh đóng vai trò trong sự tái sinh này qua mối liên hệ của nó với Kim Tinh. Linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế Trái Đất cũng tham dự sâu sắc.

95. Note that both Earth and Pluto (which are related in various other ways) are planets of regeneration.

95. Lưu ý rằng cả Trái Đất và Diêm Vương Tinh (vốn liên hệ nhau theo nhiều cách khác) đều là các hành tinh của sự tái sinh.

b.  Another form of influencing energy originates in the inner circle of petals, which is the focal point [1115] of force for the Monad, considered as atma.

b. Một dạng năng lượng ảnh hưởng khác khởi nguyên từ vòng cánh hoa nội tâm, vốn là điểm hội tụ [] của mãnh lực đối với Chân Thần, được xem như atma.

96. We continue to speak of the influences which impact the central tier of petals—the love-wisdom petals.

96. Chúng ta tiếp tục nói về các ảnh hưởng tác động lên tầng trung tâm  của các cánh hoa—các cánh hoa bác ái–minh triết.

97. Influences from the sacrifice petals, thus, influence the second tier.

97. Ảnh hưởng từ các cánh hoa hi sinh, vì vậy, ảnh hưởng đến tầng thứ hai.

98. The sacrifice petals focalize monadic influence as that influence is represented by atma. The force of the Monad can, we see, be considered as “atma”—spiritual will.

98. Các cánh hoa hi sinh tiêu điểm hoá ảnh hưởng của Chân Thần như ảnh hưởng đó được biểu thị qua atma. Mãnh lực của Chân Thần, như ta thấy, có thể được xem như “atma”—ý chí tinh thần.

It must be pointed out that the streams of force which form the “petals of will” have a dynamic activity and (when in action) produce very rapid unfoldment.

Cần chỉ ra rằng các dòng mãnh lực tạo thành “các cánh hoa ý chí” có tính năng động và (khi hoạt hoá) tạo ra sự khai triển rất nhanh.

99. Not only does the human being influenced by the will petals evolve rapidly, but the petals themselves unfold far more rapidly than any of the other petals in the two lower tiers.

99. Không chỉ con người chịu ảnh hưởng bởi các cánh hoa ý chí tiến hoá nhanh, mà chính các cánh hoa ấy cũng khai mở nhanh hơn nhiều so với bất kỳ cánh hoa nào khác trong hai tầng thấp hơn.

100.  The first aspect of divinity is dynamic. We are dealing here with the type of energy which is released during the period when the human being is undergoing initiation. We realize that there is much first ray in the process of initiation.

100. Phương diện thứ nhất của thiêng liêng là động.  Chúng ta đang xử lý loại năng lượng được giải phóng trong giai đoạn con người đang trải qua điểm đạo. Chúng ta nhận ra rằng có rất nhiều cung một trong tiến trình điểm đạo.

101.  The streams of energy which influence the petals of will might be considered particularly atmic and are thus related to the Monad. Atma is the principle of man most closely related to the Monad.

101. Các dòng năng lượng ảnh hưởng đến các cánh hoa ý chí có thể được xem là đặc biệt atma  và như vậy liên hệ với Chân Thần. Atma là nguyên khí nơi con người liên hệ gần gũi nhất với Chân Thần.

It is the inner of the two types of force;

Đó là loại bên trong trong hai loại mãnh lực;

102.  DK seems to be speaking of the force of the love-wisdom petals and the force of the sacrifice petals. In this case the sacrifice petals are the inner of two types of forces.

102. Chân sư DK dường như đang nói về mãnh lực của các cánh hoa bác ái–minh triết và mãnh lực của các cánh hoa hi sinh. Trong trường hợp này, các cánh hoa hi sinh là loại bên trong  trong hai loại mãnh lực.

their mutual interplay provides the necessary stimulus, and results in the opening of the bud and the revelation of the Jewel.

sự tương hỗ qua lại của chúng cung cấp kích thích cần thiết, và đưa đến sự mở của nụ và sự hiển lộ của Viên Ngọc.

103.  When love-wisdom and sacrifice interplay, an energy is produced which leads to the opening of the inner bud of three synthesis petals and to the revelation of the “Jewel in the Lotus”.

103. Khi bác ái–minh triết và hi sinh tương hỗ, một năng lượng được tạo sinh dẫn đến sự mở của nụ bên trong gồm ba cánh hoa tổng hợp và sự hiển lộ của “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

104.  We have been told that each of the synthesis petals opens to a degree at one of the first three initiations. We are learning that love-wisdom and will open the synthesis petals. The synthesis petals, themselves, are also to be considered energy centers. Their radiation becomes most effective in the life of the man who has taken the third initiation.

104. Chúng ta đã được cho biết rằng mỗi cánh hoa tổng hợp mở ra ở một mức độ tại một trong ba lần điểm đạo đầu. Chúng ta đang học rằng bác ái–minh triết và ý chí mở các cánh hoa tổng hợp. Bản thân các cánh hoa tổng hợp cũng cần được xem như các trung tâm năng lượng. Bức xạ của chúng trở nên hiệu quả nhất trong đời sống của người đã thọ lần điểm đạo thứ ba.

The other types of energy [inclusive of triadal energies] find their correspondence with those already enumerated

Các loại năng lượng khác [bao gồm cả các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần] tìm thấy tương ứng của chúng với những gì đã liệt kê

105.  One of the interpretations of this sentence is that in each tier of petals there is a correspondence to one of the three complete tiers.

105. Một cách hiểu câu này là trong mỗi tầng cánh hoa đều có một tương ứng với một trong ba tầng trọn vẹn.

106.  From another perspective, each of the three major energies of the spiritual triad finds its particular correspondence in one of the three tiers of petals of the egoic lotus and in one of the petals of each tier.

106. Từ một góc nhìn khác, mỗi trong ba năng lượng chủ của Tam Nguyên Tinh Thần tìm thấy tương ứng riêng của nó trong một trong ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã và trong một cánh hoa thuộc mỗi tầng.

but I seek only to mention one of them,—that one [type of energy] which reaches the second tier of love petals, via the buddhic permanent atom.

nhưng tôi chỉ tìm nêu một loại,— loại năng [loại năng lượng] lượng ấy vốn đi tới tầng thứ hai của các cánh hoa bác ái, qua Nguyên tử trường tồn Bồ đề.

107.  This is a very important connection. Love from ‘above’ (buddhic) and love from ‘below’ (astral), and both contribute to the unfoldment of these central petals.

107. Đây là một nối kết rất quan trọng. Bác ái từ ‘trên’ (Bồ đề) và bác ái từ ‘dưới’ (cảm dục), và cả hai  đều góp phần vào sự khai triển của các cánh hoa trung tâm này.

The energy thus originating is of a peculiarly interesting kind being the basic energy of all manifestation, and the sum total of the forces which form the sevenfold heart of the physical sun, and which are located within its sheltering luminosity.

Năng lượng khởi nguyên như vậy là một dạng đặc biệt thú vị vì đó là năng lượng căn bản của mọi hiện lộ, và là tổng hợp trọn vẹn của các mãnh lực tạo thành trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần, và vốn định vị trong quầng sáng che chở của nó.

108.  Again, a profoundly occult statement.

108. Lại nữa, một khẳng định hết sức huyền bí.

109.  Since buddhic energy emanates from the fourth cosmic ether it is responsible for all that manifests in the three lower worlds. This is because a number of chakras of the Solar Logos and Planetary Logos (lower chakras, and vortices which represent higher chakras) are found on this fourth cosmic physical subplane. We have the analogy in the manner in which the chakras found upon the fourth systemic ether are responsible for manifestation as it occurs within the three densest of the systemic subplanes.

109. Vì năng lượng Bồ đề tuôn đến từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, nó chịu trách nhiệm cho mọi thứ biểu lộ trong ba cõi thấp. Điều này là vì một số luân xa của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế (các luân xa thấp, và các xoáy lực đại diện cho các luân xa cao) được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta có phép loại suy ở cách mà các luân xa nằm trên cõi dĩ thái hệ thống  thứ tư chịu trách nhiệm cho sự biểu lộ như nó diễn ra trong ba cõi phụ đậm đặc nhất của cõi hệ thống.

110.  Note, however, that we are not dealing here with the Heart of the Sun per se, but with the sevenfold heart of the physical sun.

110. Tuy nhiên, lưu ý rằng ở đây chúng ta không xử lý trực tiếp với Trái Tim của Thái Dương, mà là với trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần.

111.  Where is the etheric heart center of the Solar Logos to be found? Is it on the buddhic plane or on the monadic plane (which seems analogically necessary if one studies the positioning of the chakras of man on TCF Chart VIII)?

111. Luân xa tim dĩ thái  của Thái dương Thượng đế ở đâu? Nó ở trên cõi Bồ đề hay trên cõi chân thần (điều dường như là cần thiết theo phép loại suy nếu người ta nghiên cứu vị trí các luân xa của con người trên Sơ Đồ VIII của TCF)?

112.  Where is the heart center of the physical sun? It would have to be a physical location would it not—at least from the solar logoic point of view? If physical, it would have to be located within the physical body of the Solar Logos which is comprised of the three lowest subplanes of the cosmic physical plane, including the higher mental plane on which all tiers of petals are located.

112. Trái tim của Mặt Trời hồng trần  ở đâu? Về phía Thái dương Thượng đế thì đó hẳn phải là một vị trí hồng trần, phải vậy không? Nếu là hồng trần, nó phải định vị trong thân thể hồng trần  của Thái dương Thượng đế, vốn bao gồm ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ, gồm cả cõi thượng trí trên đó tất cả các tầng cánh hoa đều tọa lạc.

113.  So we must ask whether DK in this section of text is discussing only the energies of the fourth cosmic ether or whether the energies of the higher mental plane (those energies resonantly related to the buddhic plane) are also and pointedly being discussed.

113. Vậy chúng ta phải hỏi liệu trong đoạn văn này Chân sư DK chỉ đang bàn về các năng lượng của cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư hay liệu các năng lượng của cõi thượng trí (những năng lượng tương ứng cộng hưởng với cõi Bồ đề) cũng  và một cách nhấn mạnh  đang được đề cập.

114.  We also seek to know the degree to which the planet Vulcan is related to the “sevenfold heart of the physical sun”. It would seem that Vulcan is very much located within its (the physical sun’s) sheltering luminosity.

114. Chúng ta cũng muốn biết mức độ mà hành tinh Vulcan có liên hệ với “trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần”. Có vẻ Vulcan thực sự định vị trong quầng sáng che chở của nó (của Mặt Trời hồng trần).

They [probably energies from the love petals and the energy from the buddhic permanent atom] in their turn are transmitters of the life-impulses from the heart of the central Spiritual Sun,

Chúng [có lẽ là các năng lượng từ các cánh hoa bác ái và năng lượng từ Nguyên tử trường tồn Bồ đề] đến lượt mình là các bộ truyền dẫn những xung lực sự sống đến từ trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương,

115.  If the Central Spiritual Sun is the Monad of the Solar Logos, then the “heart of the central Spiritual Sun” is the Heart of the Sun on the cosmic mental plane—the soul nature of the Solar Logos.

115. Nếu Mặt trời Tinh thần Trung Ương là Chân Thần của Thái dương Thượng đế, thì “trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương” là Trái Tim của Thái Dương  trên cõi trí vũ trụ—bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế.

116.  If, however, the Central Spiritual Sun is considered the point in the heavens around which our solar system revolves, then we are dealing with a Source far more remote, and the heart of such a Central Spiritual Sun would be far greater than the Heart of the Sun as usually considered.

116. Tuy nhiên, nếu Mặt trời Tinh thần Trung Ương được xem là điểm trên bầu trời quanh đó hệ mặt trời chúng ta quay, thì chúng ta đang xử lý với một Nguồn xa hơn nhiều, và trái tim của một Mặt trời Tinh thần Trung Ương như vậy sẽ vượt xa Trái Tim của Thái Dương như vẫn thường được xét.

117.  The greater probability is the first option, with the energy of the Heart of the Sun transmitting to the buddhic plane and thence of the love-wisdom tier of the egoic lotus.

117. Khả năng lớn hơn là phương án thứ nhất, với năng lượng của Trái Tim của Thái Dương truyền xuống cõi Bồ đề và từ đó đến tầng bác ái–minh triết của Hoa Sen Chân Ngã.

so that we have a direct graded chain of transmitting energies.

đến nỗi chúng ta có một chuỗi phân cấp trực tiếp của các năng lượng truyền dẫn.

a. The Heart of the central Spiritual Sun.

a. Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

118.  Although the heart of the true Central Spiritual Sun (either the Pleiades or Alcyone as the representative of the Pleiades) is probably involved in this chain of transmission—ultimately—it is probable that the “Heart of the central Spiritual Sun” (here referenced) is the Heart of the Sun on the cosmic mental plane and not a still more remote or higher Source.

118. Dù trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương chân chính  (hoặc là chòm Pleiades hoặc là ngôi sao Alcyone như đại diện của Pleiades) có lẽ rốt ráo có liên hệ trong chuỗi truyền dẫn này, nhưng rất có khả năng “Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương” (được nói tới ở đây) là Trái Tim của Thái Dương trên cõi trí vũ trụ chứ không phải một Nguồn còn xa hơn hay cao hơn.

b. The sevenfold heart of the physical Sun.

b. Trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần.

119.  Much depends on whether the term “physical” includes the cosmic ethers. If the term means simply densely physical, the “sevenfold heart of the physical Sun” must be located within the lowest twenty-one systemic subplanes.

119. Nhiều điều tùy thuộc vào việc thuật ngữ “hồng trần” có bao hàm dĩ thái vũ trụ hay không. Nếu thuật ngữ ấy chỉ có nghĩa là đậm đặc hồng trần, thì “trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần” phải định vị trong hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp nhất.

c. The buddhic devas

c. Các thiên thần Bồ đề

120.  Notice that DK refers here to the “buddhic devas” (the Agnisuryans) and not to the buddhic permanent atom.

120. Lưu ý rằng ở đây Chân sư DK nhắc đến “các thiên thần Bồ đề” (các Agnisuryan) chứ không phải Nguyên tử trường tồn Bồ đề.

121.  It would seem very probable that the Christ would have in His retinue many buddhic devas.

121. Rất có khả năng Đức Christ có trong đoàn tùy tùng của Ngài nhiều thiên thần Bồ đề.

122.  The three sources just mentioned are all ‘above’ the dense physical vehicle of the Solar Logos.

122. Ba nguồn vừa nêu đều ở ‘bên trên’ vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

to

đến

d. The central circle of petals.

d. Vòng cánh hoa trung tâm.

e. The astral permanent atom.

e. Nguyên tử trường tồn cảm dục.

f. The heart centre within the Head.

f. Luân xa tim trong Đầu.

123.  By this center we probably mean the major heart center within the head center.

123. Bởi trung tâm này có lẽ chúng ta muốn nói đến luân xa tim chính yếu bên trong luân xa đầu.

124.  These three sources are all within the dense physical vehicle of the Solar Logos.

124. Ba nguồn này đều nằm trong  vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

g. The heart centre.

g. Luân xa tim.

125.  We have been given a sevenfold transmission of great value and should commit it to memory. There may be some points missing from the transmission. One such point might be that one of the seven lesser head centers which corresponds to the heart center between the shoulder blades.

125. Chúng ta đã được cho một chuỗi truyền đạt thất phân rất giá trị và nên ghi nhớ. Có thể có một vài mắt xích còn thiếu trong chuỗi truyền đạt. Một mắt xích như vậy có thể là một trong bảy luân xa đầu nhỏ tương ứng với luân xa tim giữa hai bả vai.

126.  Learning the resonant lines of energy transmission will be of great value for inducing the energy-flows concerned through the use of the creative imagination.

126. Học các đường truyền dẫn năng lượng cộng hưởng sẽ rất hữu ích cho việc khơi dậy các dòng chảy năng lượng liên hệ thông qua việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo.

This buddhic energy is the sumtotal of the life force of Vishnu or the Son, Who is the transmitter and representative of a still greater cosmic Deity.

Năng lượng Bồ đề này là tổng hợp trọn vẹn của sinh lực của Vishnu hay Ngôi Con, Đấng là vị truyền dẫn và đại diện cho một Đấng Thần Linh vũ trụ còn cao cả hơn.

127.  There is a way in which our entire Solar Logos can be considered as Vishnu, and not just the Second Person of the logoic Trinity.

127. Có một cách trong đó toàn bộ Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể được xem như Vishnu, chứ không chỉ là Ngôi Hai của Tam Vị logoic.

128.  This “still greater cosmic Deity” is probably along the Sirian line—either the Logos Who expresses through the star Sirius, or through the threefold constellation Sirius (Sirius A, Sirius B and Sirius C), or through the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” which may, from a certain perspective, be considered the ‘ Sirian System’.

128. “Đấng Thần Linh vũ trụ còn cao cả hơn” này có lẽ nằm trên tuyến Sirius—hoặc là Thượng đế biểu lộ qua ngôi sao Sirius, hoặc qua chòm sao ba ngôi Sirius (Sirius A, Sirius B và Sirius C), hoặc qua “Bảy Hệ Mặt Trời mà trong đó Hệ của chúng ta là một”, vốn, từ một phối cảnh nào đó, có thể được xem như ‘Hệ thống Sirian ’.

129.  It is clear that we are speaking of a second ray transmission.

129. Rõ ràng chúng ta đang nói về một sự truyền đạt cung hai.

All the above serves to demonstrate the oneness of the tiniest unit with the one great informing Life, and shows the integral beauty of the scheme.

Tất cả những điều trên giúp chứng minh tính nhất thể của đơn vị nhỏ bé nhất với Một Sự Sống vĩ đại đang thấm nhuần, và cho thấy vẻ đẹp toàn thể của cơ cấu.

130.  No unit can be permanently excommunicated from the Whole.

130. Không một đơn vị nào có thể bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Toàn Thể.

The life of the greatest cosmic Lord of Love

Sự sống của Đấng Chúa Tể vũ trụ của Tình thương cao cả nhất

131.  And Who is that Lord? Is it the Logos of Orion, or the Lord of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”? The word “greatest” has been used and one might infer that this use could justifiably raise our speculation to the galactic level as we search for the identity of the “greatest cosmic Lord of Love”.

131. Và Đấng ấy là ai? Đó có phải là Thượng đế của Orion, hay là Đấng Chúa Tể của “Bảy Hệ Mặt Trời mà trong đó Hệ của chúng ta là một”? Từ “vĩ đại nhất” đã được dùng và người ta có thể suy rằng việc dùng này có thể chính đáng nâng sự suy tư của chúng ta lên tới cấp độ ngân hà khi chúng ta tìm kiếm căn tính của “Đấng Chúa Tể vũ trụ của Tình thương cao cả nhất”.

pulsates in infinitesimal degree [1116] in the heart of His tiniest reflection,

rung nhịp ở mức vi tế vô cùng [] trong trái tim của phản ảnh nhỏ bé nhất của Ngài,

132.  A holographic universe is suggest. We are dealing principally with the buddhic energy—and its still higher Source. We are told that buddhi lies at the heart of the tiniest atom of substance.

132. Một vũ trụ toàn ảnh được gợi mở. Chúng ta chủ yếu đang xử lý với năng lượng Bồ đề—và Nguồn cao hơn nữa của nó. Chúng ta được cho biết rằng Bồ đề nằm ở trái tim của nguyên tử chất nhỏ bé nhất.

“They are, therefore, one and all an expression of His love nature, and it is for this reason that buddhi is found at the heart of the tiniest atom, or what we call in this system, electric fire.  For the positive central life of every form is but an expression of cosmic buddhi, and the downpouring of a love which has its source in the Heart of the Solar Logos; this is itself an emanating principle from the ONE ABOVE OUR LOGOS, HE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID”. (TCF 1225-1226)

“Bởi đó, tất cả đều là sự biểu lộ bản tính Tình thương của Ngài, và chính vì lý do này mà Bồ đề được thấy ở trái tim của nguyên tử nhỏ bé nhất, hay điều mà chúng ta gọi trong hệ thống này, Lửa điện. Vì sự sống trung tâm dương của mọi hình tướng chỉ là một biểu lộ của Bồ đề vũ trụ, và là sự tuôn đổ của một Tình thương có nguồn nơi Trái Tim của Thái dương Thượng đế; bản thân điều này là một nguyên lý xuất lộ từ ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA, ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ”. (TCF 1225-1226)

133.  We note above the identicality of buddhi and electric fire—at least in this second ray solar system. Is there then no pure electric fire within our system? Probably not.

133. Chúng ta lưu ý ở trên sự đồng nhất của Bồ đề và Lửa điện—ít nhất trong hệ mặt trời cung hai này. Vậy trong hệ của chúng ta không có Lửa điện tinh khiết  ư? Có lẽ là không.

134.  The tiniest particle may be the tiniest reflection of the greatest Lord of Love. The galaxy may be reflected in the tiniest particle.

134. Hạt nhỏ bé nhất có thể là phản ảnh nhỏ bé nhất của Đấng Chúa Tể của Tình Thương vĩ đại nhất. Ngân hà có thể được phản chiếu trong hạt nhỏ bé nhất.

and for this reason the atom man can likewise say “I too am God; His Life is mine.”

và vì lý do này nguyên tử con người cũng có thể nói: “Ta cũng là Thượng đế; Sự Sống của Ngài là của ta.”

135.  It becomes clear that one of our prime objectives is attainment of buddhic awareness so that we may know our identicality with the Great Logoi in Whom we live and move and have our being.

135. Rõ ràng một trong những mục đích chính của chúng ta là đạt được nhận thức Bồ đề để nhờ đó chúng ta có thể biết  sự đồng nhất của mình với các Đại Thượng đế trong Các Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.

0.90em,Góc Ascendant,Dấu hiệu mọc Astrological chart,Lá số chiêm tinh Aspect,Góc hợp Aspecting,Tạo góc hợp Birth chart,Lá số sinh Cardinal sign,Dấu hiệu chính yếu Fixed sign,Dấu hiệu cố định Mutable sign,Dấu hiệu biến đổi Conjunction,Đồng vị Cusp,Đỉnh House cusp,Đỉnh nhà Decanate,Thập độ Descendant,Điểm lặn Detriment,Tù Electional Astrology,Chiêm tinh học chọn ngày Esoteric Ruler,Chủ tinh nội môn Exalted,Vượng Exoteric Ruler,Chủ tinh ngoại môn exoteric, công truyền (phổ truyền), ngoại môn Fall,Tử Hierarchical Ruler,Chủ tinh Huyền Giai House,Nhà Horoscope,Lá số chiêm tinh Keynote,Chủ âm Luminary,Nguồn sáng Lunar nodes,Các Nút Mặt trăng Lunation,Tuần Trăng Lunar Return,Mặt trăng hồi vị MidHeaven,Thiên Đỉnh Moon sign,Dấu hiệu mặt trời Natal chart,Lá số chiêm tinh Nadir,Thiên Đế North Node,Nút Bắc Opposition,Đối vị Orb,Độ lệch Planet,Hành tinh Pluto,Sao Diêm Vương Neptune,Sao Hải Vương Jupiter,Sao Mộc Mars,Sao Hỏa Mercury,Sao Thủy Venus,Sao Kim Vulcan,Vulcan Uranus,Sao Thiên Vương Saturn,Sao Thổ Progress,Tiến trình Progressed Mars,Sao Hoả tiến trình Progressed moon,Mặt trăng tiến trình Quadrant,Góc phần tư Secondary progression,Tiến trình thứ cấp Quincunx,Góc 150° Retrograde,Nghịch hành Return,Hồi vị Rising sign,Dấu hiệu mọc Ruler,Chủ tinh Semisextile,Bán lục hợp Semisquare,bán vuông sesquiquadrate,Góc rưỡi vuông Secondary Progress,Tiến trình thứ cấp Sign,Dấu hiệu Solar arc,Nhật cung tiến trình Solar return,Mặt trời hồi vị South Node,Nút Nam Stellium,Chùm sao Sun sign,Dấu hiệu mặt trời Transit,Quá cảnh

Scroll to Top