Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S6 Part II (TCF 1132 – 1137)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S6 Part II (TCF 1132 – 1137)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các buổi học. Chú thích và tham chiếu từ các Sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt cỡ chữ 14. Lời bình được đặt cỡ chữ 12. Gạch chân, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc Bản Chú giải này đọc kèm với TCF sẵn bên mình, vì mục đích liên tục. Khi phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày súc tích trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy, xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới học phần Chú giải

2. Motion produces periodic manifestation.

2. Chuyển động sinh ra biểu hiện tuần hoàn.

We must here bear in mind, that we are considering synthetic alignment in connection with the second aspect, and are therefore dealing with the activity of those forms of divine manifestation which are nearing their objective.

Chúng ta phải ghi nhớ ở đây rằng chúng ta đang xem xét tổng hợp chỉnh hợp trong liên hệ với Phương diện thứ hai, và vì vậy đang xử lý hoạt động của những hình thức biểu hiện thiêng liêng đang tiến gần tới mục tiêu.

1. The third aspect achieved its objective long ago. The second aspect is in process of achieving its objective within this solar system.

1. Phương diện thứ ba đã đạt mục tiêu của nó từ lâu. Phương diện thứ hai đang trong tiến trình đạt mục tiêu của nó bên trong hệ mặt trời này.

2. Just before the time of achievement comes the period of “synthetic alignment”. This is true of the man approaching the higher initiations and of the Solar Logos approaching the period in which the lesser Planetary Logoi are absorbed into the greater. The final phases of absorption are conditioned by the first ray..

2. Ngay trước thời điểm đạt thành là giai kỳ “chỉnh hợp tổng hợp”. Điều này đúng với con người đang tiếp cận các lần điểm đạo cao hơn và với Thái dương Thượng đế đang tiếp cận giai đoạn mà các Hành Tinh Thượng đế kém hơn được hấp dung vào các Ngài vĩ đại hơn. Những giai đoạn sau chót của sự hấp dung chịu điều kiện bởi Cung một.

3. We must always remember that the second aspect of divinity is the form building aspect.

3. Chúng ta phải luôn nhớ rằng phương diện thứ hai của thiên tính là phương diện kiến tạo hình tướng.

This objective might be defined as ability to vibrate synchronously with the greater unit of which it is a part.

Mục tiêu này có thể được định nghĩa như khả năng dao động đồng bộ với đơn vị lớn hơn mà trong đó nó là một bộ phận.

4. This is an important technical method of describing consummation.

4. Đây là một phương pháp kỹ thuật quan trọng để mô tả sự viên thành.

5. The purpose and will of the inclusive factor then drives all processes within the lesser factors which are absorbed in the greater.

5. Mục đích và ý chí của nhân tố bao gồm khi ấy thúc đẩy mọi tiến trình bên trong các nhân tố nhỏ hơn vốn được hấp dung vào cái lớn hơn.

6. Right relationship must be achieved with the greater unit which includes the lesser.

6. Phải đạt được mối liên hệ đúng với đơn vị lớn hơn bao hàm đơn vị nhỏ hơn.

This must, therefore, be considered by the student in seven ways.

Vì vậy, điều này phải được đạo sinh khảo xét theo bảy phương diện.

7. The number seven is always associated with the second aspect of divinity. The study of the seven rays comes under the second aspect.

7. Con số bảy luôn gắn với phương diện thứ hai của thiên tính. Nghiên cứu bảy cung thuộc về phương diện thứ hai.

8. Below, DK begins His numbering from below.

8. Ở dưới, Chân sư DK bắt đầu đánh số từ bên dưới.

The first three ways concern the relation of the perfected or nearly perfected units in the three kingdoms of nature with their immediate group soul,

Ba cách đầu tiên liên hệ đến mối liên hệ giữa các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện trong ba giới tự nhiên với Hồn nhóm trực tiếp của chúng,

9. We are dealing with the relation of the units of mineral, vegetable and animal units to their immediate group soul.

9. Chúng ta đang bàn về mối liên hệ giữa các đơn vị của giới khoáng, giới thực vật và giới động vật với Hồn nhóm trực tiếp của chúng.

10. The relation of which we are speaking can only occur when the units are perfected or nearly perfected.

10. Mối liên hệ mà chúng ta đang nói tới chỉ có thể xảy ra khi các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện.

11. We are dealing with ‘vibratory consummation’ indicated as synchronization.

11. Chúng ta đang nói về ‘sự viên thành rung động’ được chỉ dấu bằng sự đồng bộ.

and their continued manifestation in any particular kingdom.

và sự tiếp tục biểu hiện của chúng trong bất kỳ giới nào.

12. Perpetuation follows synchronization.

12. Sự duy trì tiếp nối theo sau sự đồng bộ.

13. Changes of kingdom also occur following the achievement of perfection within a given kingdom. For instance, the perfected or nearly perfected member of the animal kingdom is poised to become (when the proper cycle eventuates) a member of the human kingdom.

13. Sự chuyển giới cũng diễn ra sau khi đạt mức hoàn thiện trong một giới nhất định. Chẳng hạn, phần tử hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện của giới động vật sẵn sàng trở thành (khi chu kỳ thích hợp đến) một phần tử của giới nhân loại.

Fourth, the relation of the disciple, or man on the path, to his immediate group, and the laws which govern his reappearance in physical incarnation.

Thứ tư, mối liên hệ của đệ tử, hay con người trên thánh đạo, với nhóm trực tiếp của y, và các định luật chi phối sự tái xuất hiện của y trong lâm phàm hồng trần.

14. The group is that greater unit which contains the human unit who has become a disciple, and is, thus, demonstrating as a perfected or nearly perfected unit.

14. Nhóm là đơn vị lớn hơn bao hàm đơn vị con người đã trở thành đệ tử, và do đó biểu hiện như một đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện.

15. The group under consideration can be the Ashram or the various egoic groups, lesser and, eventually, greater.

15. Nhóm được xét đến có thể là Ashram hoặc các nhóm chân ngã khác nhau, nhỏ hơn và, rốt cuộc, lớn hơn.

16. According to the cycles of the greater group of which man is a part, so will be the rhythm of appearance of the unit by means of physical incarnation.

16. Tùy theo các chu kỳ của nhóm lớn hơn mà con người là một phần, nhịp độ xuất hiện của đơn vị qua lâm phàm hồng trần sẽ như vậy.

17. Connected with every ray group, there must be certain cyclic laws determining the reappearance of its units in physical incarnation.

17. Liên quan với mỗi nhóm cung, hẳn phải có những định luật chu kỳ nhất định quyết định sự tái xuất hiện của các đơn vị của nhóm đó trong lâm phàm hồng trần.

18. Every egoic group is found upon a particular ray, and the cyclic rhythms of that ray determine the times when the units in the egoic group appear and disappear.

18. Mỗi nhóm chân ngã được đặt trên một cung nhất định, và các nhịp điệu chu kỳ của cung đó quyết định thời điểm khi các đơn vị trong nhóm chân ngã xuất hiện và biến mất.

19. There are also groups of egos categorized by their stages of unfoldment and not by the ray which conditions them.

19. Cũng có những nhóm chân ngã được phân loại theo các giai đoạn khai mở của chúng chứ không theo cung đang chi phối chúng.

Fifth, the relation of a planetary Spirit to His group of planets,

Thứ năm, mối liên hệ của một Vị Thần Hành Tinh với nhóm các hành tinh của Ngài,

20. A “planetary Spirit” is, a Planetary Logos.

20. “Vị Thần Hành Tinh” tức là một Hành Tinh Thượng đế.

21. The group which contains Him as a unit, is a group of Planetary Logoi.

21. Nhóm bao hàm Ngài như một đơn vị là một nhóm các Hành Tinh Thượng đế.

22. The section of text above can be read, also, as the relation of a Planetary Logos to the group of sub-Planetary Logoi (Chain Lords, for instance) which are included within His expression. But since we are speaking of the relation of the lesser to the greater, the first reading is probably more accurate.

22. Đoạn văn trên cũng có thể được đọc như là mối liên hệ của một Hành Tinh Thượng đế với nhóm các Thượng đế phụ–Hành Tinh (các Chúa Tể Dãy, chẳng hạn) vốn được bao gồm trong sự biểu hiện của Ngài. Nhưng vì chúng ta đang nói về mối liên hệ của cái nhỏ với cái lớn, cách đọc thứ nhất có lẽ chính xác hơn.

and the processes of man’s obscuration, or withdrawal, from physical plane manifestation.

và các tiến trình “ẩn khuất” của con người, hay sự rút lui khỏi biểu hiện trên cõi hồng trần.

23. As a Planetary Logos containing the unit, man, reaches perfection or nearly so, its human units are withdrawn into obscuration. On our planet, this type of withdrawal of obscuration will not take place until after the “Judgment Day” in the fifth round—whether that round be a chain-round or scheme-round.

23. Khi một Hành Tinh Thượng đế bao hàm đơn vị con người đạt đến hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện, các đơn vị nhân loại của Ngài được thu hồi vào ẩn khuất. Trên quả đất của chúng ta, loại rút lui vào ẩn khuất này sẽ không diễn ra cho đến sau “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm—bất kể đó là cuộc tuần hoàn của Dãy hay của Hệ hành tinh.

24. Any Planetary Logos Who reaches His “Judgment Day” within a certain chain and during a certain round, is certainly beginning His process of obscuration.

24. Bất kỳ Hành Tinh Thượng đế nào đến “Ngày Phán Xét” của Ngài trong một Dãy nhất định và trong một cuộc tuần hoàn nhất định, chắc chắn đang bắt đầu tiến trình ẩn khuất của Ngài.

25. The implication is that the Planetary Logos of Venus (very advanced compared to the Planetary Logos of the Earth) has certainly, long ago, experienced His “Judgment Day”. One wonders whether those Venusian human units who did not pass the Venusian “Judgment Day” were sent to Earth just as the human units who do not pass the “Judgment Day” of our Planetary Logos will be sent, most probably, to Mars.

25. Hàm ý là Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim (rất tiến bộ so với Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất) chắc chắn từ lâu đã kinh qua “Ngày Phán Xét” của Ngài. Người ta tự hỏi liệu những đơn vị nhân loại Kim Tinh nào không vượt qua “Ngày Phán Xét” của Sao Kim đã được gửi đến Trái Đất, cũng như những đơn vị nhân loại không vượt qua “Ngày Phán Xét” của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta sẽ được gửi, rất có thể, đến Sao Hỏa.

Sixth, the relation of the major three planetary Spirits, or the three major aspects of the Logos and their manifestation.

Thứ sáu, mối liên hệ của ba Vị Thần Hành Tinh chính, hay ba phương diện chính của Thượng đế và sự biểu hiện của chúng.

26. There is reason to think of the “three major planetary Spirits” as the Logoi of the synthesizing planets, and yet these Planetary Logoi are usually numbered among the seven synthesizing planets.

26. Có lý do để xem “ba Vị Thần Hành Tinh chính” như các Thượng đế của các hành tinh tổng hợp, và dẫu vậy các Hành Tinh Thượng đế này thường được tính vào bảy hành tinh tổng hợp.

27. There are, as well, certain obscure Beings Who, each of them, require expression through three of our Planetary Logoi. We can think of them as the Three Logoi, included with the system of a Solar Logos and subsidiary to the Solar Logos. They can also be regarded as the Three Persons of the Logoic Trinity.

27. Cũng có những Đấng Tối Linh khó nắm bắt, mỗi Vị cần biểu lộ qua ba Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Chúng ta có thể xem Các Ngài như Ba Thượng đế, bao gồm trong hệ thống của một Thái dương Thượng đế và phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế. Các Ngài cũng có thể được coi là Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế.

28. It can be questioned whether the Logoi of the synthesizing planets embody the three major aspects of the Logos, fully, or whether the “Three Persons of the Logoic Trinity” are a still greater embodiment of these aspects.

28. Có thể đặt câu hỏi liệu các Thượng đế của những hành tinh tổng hợp có hiện thân trọn vẹn ba phương diện chính của Thượng đế hay không, hay “Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế” lại là một hiện thân còn lớn hơn nữa của các phương diện này.

29. If one reads around EP II 99, one learns of these Three Beings. Although normally Uranus is considered related to the first aspect; Neptune to the second aspect; and Saturn to the third aspect, the groupings of three see Uranus included among three planets expression the second aspect and Neptune (it may be inferred) included among three planets through whom the first aspect expresses. This has to be solved.

29. Nếu đọc quanh Tâm Lý Học Nội Môn II 99, người ta sẽ biết về ba Đấng này. Dẫu bình thường Uranus được xem là liên hệ với Phương diện thứ nhất; Neptune với Phương diện thứ hai; và Saturn với Phương diện thứ ba, các nhóm bộ ba lại thấy Uranus được đưa vào giữa ba hành tinh biểu lộ phương diện thứ hai  và Neptune (có thể suy ra) được đưa vào giữa ba hành tinh qua đó phương diện thứ nhất  biểu lộ. Điều này cần được giải quyết.

Seventh, the relation of the informing Life of a solar system to the group of constellations of which He forms part, and His periodic manifestation.

Thứ bảy, mối liên hệ giữa Sự Sống thấm nhuần của một hệ mặt trời với nhóm của các chòm sao mà Ngài là một phần, và sự hiện lộ tuần hoàn của Ngài.

30. We continue discussing the relation of lesser groups (and their units) to greater, more inclusive groups.

30. Chúng ta tiếp tục bàn về mối liên hệ của các nhóm nhỏ hơn (và các đơn vị của chúng) với những nhóm lớn hơn, bao gồm hơn.

31. There are blinds in the section of text above. Does a Solar Logos form a part of a “group of constellations” or a group of Solar Logoi and the stars through which they express? If a Planetary Logos forms a part of a group of Planetary Logoi, then why should not a Solar Logos form a part of a group of solar systems instead of a group of “constellations”?

31. Có những bức màn che trong đoạn văn trên. Một Thái dương Thượng đế cấu thành một phần của một “nhóm các chòm sao” hay một nhóm các Thái dương Thượng đế cùng với những ngôi sao qua đó Các Ngài biểu lộ? Nếu một Hành Tinh Thượng đế là một phần của một nhóm các Hành Tinh Thượng đế, vậy tại sao một Thái dương Thượng đế lại không là một phần của một nhóm các hệ mặt trời thay vì một nhóm “các chòm sao”?

32. Everything depends on how the term “constellations” is used. From one perspective, a solar system is a “constellation” of planets. In other words, within a solar system, planets are constellated (or distributed through space and arranged according to cyclic law) in a certain manner.

32. Mọi thứ tùy thuộc vào cách dùng từ “các chòm sao”. Từ một góc nhìn, một hệ mặt trời là một “chòm sao” của các hành tinh. Nói cách khác, bên trong một hệ mặt trời, các hành tinh được kết chòm (hoặc phân bố trong không gian và được sắp xếp theo định luật chu kỳ) theo một cách nào đó.

33. There are ways in which Master DK seems to consider our solar system a constellation. Elsewhere, He considers it simply a solar system with one Sun. There are a number of contrasting references in the books.

33. Có những cách trong đó Chân sư DK dường như xem hệ mặt trời của chúng ta là một chòm sao. Ở nơi khác, Ngài xem nó đơn giản là một hệ mặt trời có một Mặt Trời. Có nhiều tham chiếu tương phản trong các sách.

34. There are constellations of stars, of course, but we must also allow the possibility that there are constellations of planets called solar systems.

34. Tất nhiên có các chòm sao của những ngôi sao, nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận khả năng rằng có những chòm sao của các hành tinh được gọi là các hệ mặt trời.

These subjects have been touched upon when we studied incarnation and, earlier still, when considering pralaya or obscuration, but we dealt then with them in general terms.

Những chủ đề này đã được chạm đến khi chúng ta học về lâm phàm và, sớm hơn nữa, khi xem xét pralaya hay bóng tối, nhưng chúng ta khi ấy đã đề cập đến chúng bằng những thuật ngữ tổng quát.

35. Now, apparently, the method of our treatment is more specific.

35. Nay, hiển nhiên, phương pháp xử lý của chúng ta mang tính chuyên biệt hơn.

We might now deal more specifically with the final activities, or modes of motion, in these various congeries of lives,

Hiện giờ chúng ta có thể đề cập chuyên biệt hơn đến các hoạt hoạt cuối cùng, hay các phương thức chuyển động, trong những tập hợp các sự sống khác nhau này,

36. Each greater unit is a congery of lives. Each of the lesser units we have been considering is also a congery of lives.

36. Mỗi đơn vị lớn hơn là một tập hợp các sự sống. Mỗi đơn vị nhỏ hơn mà chúng ta đã xem xét cũng  là một tập hợp các sự sống.

37. Activities are “modes of motion”. If we could understand the various modes of motion, we would understand the nature of every unit in which such modes are occurring.

37. Các hoạt động là “các phương thức chuyển động”. Nếu chúng ta có thể thấu hiểu các phương thức chuyển động khác nhau, chúng ta sẽ thấu hiểu bản chất của mọi đơn vị trong đó các phương thức ấy đang diễn ra.

and see what occurs during the final stages of conscious existence, and of limited manifestation.

xem điều gì xảy ra trong những giai đoạn cuối của hữu sinh có tâm thức, và của sự biểu lộ hữu hạn.

38. The perfection or near perfection of a unit occurs for an B/being during its “final stages of conscious existence”.

38. Sự hoàn thiện hay gần hoàn thiện của một đơn vị xảy ra đối với một Hữu thể trong “những giai đoạn cuối của hữu sinh có tâm thức”.

39. We are speaking of moments of consummation for seven different kinds of units.

39. Chúng ta đang nói về các khoảnh khắc thành tựu cho bảy loại đơn vị khác nhau.

40. There are some units in the sequence which, apparently, have been omitted and are not treated.

40. Có vài đơn vị trong chuỗi dường như đã bị lược bỏ và không được đề cập.

41. To review the lives we have been discussing are:

41. Ôn lại, các sự sống mà chúng ta đã nói đến là:

a. The perfected or nearly perfected units of the mineral kingdom

a. Các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện của giới khoáng vật

b. The perfected or nearly perfected units of the vegetable kingdom

b. Các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện của giới thực vật

c. The perfected or nearly perfected units of the animal kingdom

c. Các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện của giới động vật

d. The perfected or nearly perfected units of the human kingdom

d. Các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện của giới nhân loại

e. The group of Planetary Logoi in our solar system

e. Nhóm các Hành Tinh Thượng đế trong hệ mặt trời của chúng ta

f. Either the three higher Planetary Logoi of our solar system (embodying the three major principles), or three still greater Lives corresponding to Brahma, Vishnu and Shiva (each of which functions through three Planetary Logoi and each of which expresses one of the three main aspects of divinity in our solar system).

f. Hoặc ba Hành Tinh Thượng đế cao hơn trong hệ mặt trời của chúng ta (thể hiện ba nguyên khí chính), hoặc ba Sự Sống còn lớn hơn tương ứng với Brahma, Vishnu và Shiva (mỗi Đấng trong số đó hoạt động qua ba Hành Tinh Thượng đế và mỗi Đấng biểu lộ một trong ba Phương diện chính của thần tính trong hệ mặt trời của chúng ta).

g. The group of “constellations” or the group of Solar Logoi to which our Solar Logos belongs.

g. Nhóm “các chòm sao” hoặc nhóm các Thái dương Thượng đế mà Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc về.

The subject [1133] is peculiarly abstruse, particularly where the elemental groups are concerned,

Chủ đề [] này đặc biệt uyên áo, nhất là khi liên quan đến các nhóm hành khí,

42. Elemental groupings must also have their moments of near perfection, perfection and release.

42. Các nhóm hành khí cũng phải có những khoảnh khắc gần hoàn thiện, hoàn thiện và giải thoát.

43. It is in the next two commentaries that we will discuss the three groups of elemental lives which find expression through the three kingdoms.

43. Trong hai chú giải tiếp theo, chúng ta sẽ bàn về ba nhóm các sự sống hành khí vốn tìm thấy biểu lộ qua ba giới.

44. When considering the relation of these three groups to the three kingdoms, yes, a degree of abstruseness enters.

44. Khi xem xét mối liên hệ của ba nhóm này với ba giới, vâng, một mức độ uyên áo sẽ xuất hiện.

but certain interesting points might here be brought out which will bear the closest study.

nhưng ở đây có thể nêu ra vài điểm lý thú đáng được khảo cứu kỹ lưỡng nhất.

45. We prepare ourselves then, for truly detailed study.

45. Vậy chúng ta chuẩn bị cho một sự khảo cứu thực sự chi tiết.

Let us consider the three lower kingdoms first and pass later to the methods and activities of a human being, of a planetary Logos, and of a solar Logos.

Chúng ta hãy xét trước ba giới thấp và sau đó chuyển sang các phương pháp và hoạt động của một con người, của một Hành Tinh Thượng đế, và của một Thái dương Thượng đế.

46. We note that we are omitting to consider the near perfection and perfection of the Lives which inform certain of the higher kingdoms of nature. As well, Globe Lords and Chain Lords are not being considered.

46. Chúng ta ghi nhận rằng chúng ta đang bỏ qua việc xem xét sự gần hoàn thiện và hoàn thiện của các Sự Sống thấm nhuần một số giới cao hơn của thiên nhiên. Đồng thời, các Vị Chúa Tể Bầu Hành Tinh và các Vị Chúa Tể Dãy cũng không được xem xét.

47. We also note that in the section of text above only six categories are mentioned, whereas above DK enumerated seven.

47. Chúng ta cũng ghi nhận rằng trong đoạn văn trên chỉ đề cập sáu  phạm trù, trong khi trước đó Chân sư DK liệt kê bảy.

The appearance, and the final disappearance, of any manifested Life is intimately concerned with the possession, the evolutionary development, and the final disintegration, of the permanent atom.

Sự xuất hiện, và sự biến mất sau cùng, của bất kỳ Sự Sống đã biểu lộ nào đều mật thiết liên quan đến việc sở hữu, sự phát triển tiến hóa, và sự phân rã sau cùng, của Nguyên tử trường tồn.

48. There are three conditions of the permanent atom to be considered in these final phases of the expression in form of any Life:

48. Có ba tình trạng của Nguyên tử trường tồn cần được xét đến trong các giai đoạn cuối của sự biểu lộ trong hình tướng của bất kỳ Sự Sống nào:

a. The simple existence of the permanent atom without which there would be no appearance of the B/being on planes lower than the plane on which the monadic life of the B/being is focused.

a. Sự hiện hữu đơn thuần của Nguyên tử trường tồn mà không có nó thì sẽ không có sự xuất hiện  của Hữu thể trên các cõi thấp hơn cõi mà sự sống chân thần của Hữu thể tập trung.

b. The degree to which the permanent atom has developed

b. Mức độ mà Nguyên tử trường tồn đã phát triển

c. The manner in which the permanent atom is preparing to be disintegrated, and finally, the manner in which it is disintegrated.

c. Cách thức mà Nguyên tử trường tồn đang chuẩn bị để bị phân rã, và sau cùng, cách thức mà nó bị phân rã.

Permanent atoms, as the term is usually understood,

Nguyên tử trường tồn, như cụm từ thường được hiểu,

49. When we have qualifying phrase such as this (“as the term is usually understood”) we must be on the alert. Perhaps some equivalent to permanent atoms are, after all, to be found in relation to entities which are not self-consciousness, are not individualized and do not have relative permanence in time and space.

49. Khi có những cụm từ định tính như thế này (“như cụm từ thường được hiểu”), chúng ta phải cảnh giác. Có lẽ một số tương đương với Nguyên tử trường tồn rốt cuộc cũng  được tìm thấy liên quan đến những thực thể không  tự thức, không được biệt ngã hóa và không  có tính trường tồn tương đối trong thời gian và không gian.

are the property of those lives only who have achieved self-consciousness, or individuality, and therefore relative permanence in time and space.

là tài sản chỉ của những sự sống đã đạt đến tự tâm thức, hay tính cá biệt, và do đó có tính trường tồn tương đối trong thời gian và không gian.

50. This is a fascinating statement and one has to explore it carefully. What shall we say of the atoms appropriated by the Monad before individualization? As the Second Outpouring begins a number of atoms are appropriated by the Monad (EP I 168-169) Are these not “permanent atoms” existing long before individualization becomes possible?

50. Đây là một phát biểu hấp dẫn và cần khảo sát cẩn trọng. Chúng ta sẽ nói gì về các nguyên tử được Chân thần thu nhận trước  khi biệt ngã hóa? Khi Lần Tuôn Đổ thứ hai bắt đầu, một số nguyên tử được Chân thần thu nhận (Tâm Lý Học Nội Môn I 168-169). Lẽ nào chúng không phải là “Nguyên tử trường tồn” đã hiện hữu rất lâu trước khi biệt ngã hóa trở nên khả hữu?

51. Are not group souls based on collections of permanent atoms?

51. Hồn nhóm há chẳng dựa trên những tập hợp Nguyên tử trường tồn sao?

52. The following statement requires examination in this regard:

52. Phát biểu sau đây cần được xét kỹ về phương diện này:

“First.  The anchoring of the permanent atoms within their group soul, or the union of matter and consciousness.” (TCF 450)

“Thứ nhất. Việc neo giữ các Nguyên tử trường tồn trong Hồn nhóm của chúng, hay sự hợp nhất của chất liệu và tâm thức.” (Luận về Lửa Vũ Trụ 450)

“11. The permanent atoms of men are upon the atomic subplane of each plane, with the one exception of the mental unit.  Those of the animal groups are upon the second subplane; those of the vegetable groups are upon the third subplane; those of the mineral groups are upon the fourth subplane.  There is, therefore, a close analogy between these focal points of force of the group—human or otherwise—and a chain, a globe, and a round, and in their due application comes enlightenment. (TCF 532)

“11. Các Nguyên tử trường tồn của con người ở trên cõi nguyên tử của mỗi cõi, ngoại trừ đơn vị hạ trí. Những cái thuộc các nhóm động vật ở trên cõi phụ thứ hai; những cái thuộc các nhóm thực vật ở trên cõi phụ thứ ba; những cái thuộc các nhóm khoáng vật ở trên cõi phụ thứ tư. Do đó, có một sự tương đồng gần gũi giữa những điểm tiêu đỉnh của mãnh lực thuộc nhóm—nhân loại hay khác—và một dãy, một bầu, và một cuộc tuần hoàn, và trong sự áp dụng đúng đắn của chúng sẽ đến sự soi sáng.” (Luận về Lửa Vũ Trụ 532)

53. The Planetary Logos appears to be the correspondence to the man; the Chain-Lord to the animal groups; the Globe-Lord to the vegetable groups; the round to the mineral groups.

53. Hành Tinh Thượng đế dường như là tương ứng với con người; Vị Chúa Tể Dãy tương ứng với các nhóm động vật; Vị Chúa Tể Bầu Hành Tinh tương ứng với các nhóm thực vật; cuộc tuần hoàn tương ứng với các nhóm khoáng vật.

54. The grouping of the term “round” with the terms “scheme”, “chain” and “globe” is always problematic as the term “round” refers to a cyclic process and not to an Entity, whereas the terms “scheme”, “chain” and “globe” all refer to instruments of expression for Entities of various grades.

54. Việc nhóm thuật ngữ “cuộc tuần hoàn” với “hệ hành tinh”, “dãy” và “bầu” luôn gây vấn đề, vì thuật ngữ “cuộc tuần hoàn” chỉ một tiến trình chu kỳ chứ không chỉ một Thực Thể, trong khi “hệ hành tinh”, “dãy” và “bầu” đều chỉ các vận cụ biểu lộ cho các Thực Thể ở những cấp bậc khác nhau.

55. There seems to be the suggestion that the permanent atoms of schemes (which He does not mention in this context) and those of chains and globes, which He does mention, are found on progressively ‘lower’ planes or subplanes.

55. Có vẻ như có gợi ý rằng các Nguyên tử trường tồn của các hệ hành tinh (mà Ngài không nhắc đến trong văn cảnh này) và của các dãy và các bầu, vốn được Ngài nhắc đến, được tìm thấy trên những cõi hay cõi phụ theo thứ tự ‘thấp’ dần.

The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities, while the sumtotal of the permanent atoms of man in the spiritual kingdom (the three triadal atoms, atma-buddhi-manas) form the spiral streams of force within certain centres.” (TCF 532)

Tổng số các Nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới nào hợp thành những dòng mãnh lực hay các xoắn tuyến trong những nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm, trong khi tổng số các Nguyên tử trường tồn của con người trong giới tinh thần (ba nguyên tử tam nguyên, atma-buddhi-manas) hợp thành các dòng xoắn mãnh lực bên trong một số trung tâm nhất định.” (Luận về Lửa Vũ Trụ 532)

56. Now can these permanent atoms of lesser kingdoms be said to belong to Monads and, thus, to those lives which have achieved self-consciousness? Perhaps. It may be that the members of the four lower kingdoms actually ‘belong’ to the Fourth Creative Hierarchy. This is suggested by what is called the “inmineralization”, the “invegetalization” and “inzoonation” of the Monad.

56. Vậy các Nguyên tử trường tồn của những giới thấp hơn có thể được xem là thuộc về các Chân thần và, vì thế, thuộc về những sự sống đã đạt được tự tâm thức chăng? Có thể. Rằng các thành viên của bốn giới thấp thực ra ‘thuộc’ về Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư. Điều này được gợi ý bởi cái gọi là “sự khoáng hóa”, “sự thực vật hóa” và “sự thú hóa” của Chân thần.

57. From another perspective, can it be that the entities who have permanent atoms are the great Entities who manifest through the three kingdoms? Such great Entities are surely those who have achieved “self-consciousness, individuality and, thus, relative permanence in time and space”.

57. Từ một góc nhìn khác, có thể chăng những thực thể có Nguyên tử trường tồn là những Đại Thực Thể biểu lộ qua ba giới? Những Đại Thực Thể như vậy ắt hẳn là những Đấng đã đạt “tự tâm thức, tính cá biệt và, do đó, tính trường tồn tương đối trong thời gian và không gian”.

58. It does seem clear, however, that permanent atoms are, indeed, involved in the manifestation of the mineral kingdom, the vegetable kingdom and the animal kingdom and not just the human kingdom.

58. Tuy nhiên dường như rõ ràng  rằng các Nguyên tử trường tồn thực sự có liên can  đến sự biểu lộ của giới khoáng vật, giới thực vật và giới động vật chứ không chỉ giới nhân loại.

59. Although the section of text quoted is not part of the material we are now studying, it seems fair to say (remembering that permanent atoms are “streams of force”) that the lower permanent atoms form streams of force in lunar entities whereas the higher permanent atoms associated with a kingdom form streams of force in solar entities. The lunar entities here referenced may be larger in scope than we suspect. From one perspective, “Jehovah” as described in The Secret Doctrine, is a lunar Entity or god—a ‘moon god’.

59. Dẫu đoạn văn trích không nằm trong phần tài liệu chúng ta đang nghiên cứu, xem ra có thể nói (nhớ rằng các Nguyên tử trường tồn là “các dòng mãnh lực”) rằng các Nguyên tử trường tồn thấp hợp thành các dòng mãnh lực trong các thực thể thái âm, trong khi các Nguyên tử trường tồn cao hơn gắn với một giới hợp thành các dòng mãnh lực trong các thực thể thái dương. Các thực thể thái âm được nhắc ở đây có thể có quy mô lớn hơn ta tưởng. Từ một phương diện, “Jehovah” như mô tả trong Giáo Lý Bí Nhiệm, là một Thực Thể hay thần linh thái âm—một ‘thần Mặt Trăng’.

The permanent atom may be viewed as the focal point of manifestation on any particular plane.

Nguyên tử trường tồn có thể được nhìn như điểm tiêu đỉnh của sự biểu lộ trên bất kỳ cõi nào.

60. This is one of the very good definitions of the permanent atom.

60. Đây là một định nghĩa rất hay về Nguyên tử trường tồn.

61. The functions of this focal point are principally, vitalization and magnetic aggregation.

61. Các chức năng của điểm tiêu đỉnh này chủ yếu là, tiếp sinh lực và kết tụ từ tính.

It serves, if I may use so peculiar a term, as the anchor for any particular individual in any particular sphere, and this is true of the three great groups of self-conscious Lives:

Nó đóng vai, nếu tôi được phép dùng một thuật ngữ lạ lùng như vậy, như là mỏ neo cho bất kỳ cá thể nào trong bất kỳ cảnh giới nào, và điều này đúng với ba nhóm lớn các Sự Sống tự tâm thức:

62. This is another useful term—an “anchor”—considering the permanent atom as an anchor for the expression of a particular kind of self-conscious “individual”.

Đây là một thuật ngữ hữu ích khác—một “neo”—xem nguyên tử trường tồn như là một cái neo cho sự biểu lộ của một kiểu “cá thể” tự ý thức đặc thù.

a. The incarnating Jivas, or human beings,

a. Các Jiva đang lâm phàm, tức con người,

b. The planetary Logoi,

b. Các Hành Tinh Thượng đế,

c. The solar Logos.

c. Thái dương Thượng đế.

63. Here we are speaking of range of “individuals’, including the first individual—a man—and also far greater Individuals.

63. Ở đây chúng ta đang nói về một phạm vi “cá thể” rất rộng, bao gồm cá thể thứ nhất—một con người—và cả những Cá Thể lớn lao hơn nhiều.

We must remember here that all the atomic subplanes of the seven planes

Chúng ta phải nhớ ở đây rằng tất cả các cõi phụ nguyên tử của bảy cõi

64. Solar or systemic planes…

64. Các cõi thái dương hay cõi hệ thống…

form the seven spirillae of the logoic permanent atom, for this has a close bearing upon the subject under consideration.

hợp thành bảy xoắn tuyến của Nguyên tử trường tồn của Thái dương Thượng đế, vì điều này có liên hệ mật thiết với chủ đề đang được xét.

65. This is an important statement. The physical permanent atom of the Solar Logos is not found only on the logoic plane. Its ‘spirillac’ constituents are found on all the seven planes, though only on the atomic subplanes of all the planes.

65. Đây là một phát biểu quan trọng. Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế không chỉ nằm trên cõi logoic. Những thành phần ‘xoắn tuyến’ của nó hiện diện trên cả bảy cõi, tuy chỉ ở trên các cõi phụ nguyên tử của mọi cõi.

66. We must, however, explore more deeply the question of whether the seven systemic planes, themselves, can be considered as seven spirillae, or only the seven atomic subplanes of each of these seven systemic planes. The reference immediately below suggests that the planes in their entirety are the correspondence to the seven spirillae of the physical permanent atom of the Solar Logos.

66. Tuy nhiên, chúng ta phải đào sâu hơn câu hỏi liệu chính bảy cõi hệ thống có thể được xem như bảy xoắn tuyến, hay chỉ là bảy cõi phụ nguyên tử của từng cõi hệ thống đó. Tham chiếu ngay bên dưới gợi ý rằng các cõi trong toàn thể của chúng là tương ứng với bảy xoắn tuyến của Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế.

Secondly, that all energy, demonstrating in the solar system, is after all the energy of the logoic physical permanent atom, having its nucleus on the atomic subplane of the cosmic physical.  This physical permanent atom (as is the case with the corresponding atom of the incarnating jiva), has its place within the causal body of the Logos on His own plane; it is, therefore, impressed by the totality of the force of the egoic cosmic lotus, or the attractive quality of cosmic love.  This force is transmitted to the solar system in two ways:  Through the medium of the Sun, which is in an occult sense the physical permanent atom; it, therefore, attracts, and holds attracted, all within its sphere of influence, thus producing the logoic physical body:  through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being.  Thus a dual type of attractive force is found: one, basic and fundamental; the other more differentiated and secondary. (TCF 1180)

Thứ hai, mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời, rốt cuộc, chính là năng lượng của Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, có hạch của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Nguyên tử trường tồn hồng trần này (cũng như trường hợp nguyên tử tương ứng của jiva đang lâm phàm), có vị trí trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài; do đó, nó chịu ấn tượng bởi tổng thể mãnh lực của Hoa Sen Chân Ngã vũ trụ, hay phẩm tính hấp dẫn của tình thương vũ trụ. Mãnh lực này được truyền vào hệ mặt trời theo hai cách: Thông qua trung gian là Mặt Trời, vốn theo nghĩa huyền bí là Nguyên tử trường tồn hồng trần; vì vậy, nó hấp dẫn, và giữ bị hấp dẫn, tất cả những gì trong phạm vi ảnh hưởng của nó, nhờ đó tạo ra thể hồng trần của Thượng đế: thông qua trung gian là các cõi vốn là các tương ứng với bảy xoắn tuyến của Nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người. Như vậy có một loại mãnh lực hấp dẫn lưỡng phân được tìm thấy: một loại, căn bản và nền tảng; loại kia biệt hóa nhiều hơn và thứ yếu. (Luận về Lửa Vũ Trụ 1180)

67. Perhaps the matter of all systemic planes is swept into motion which correlates with the motion of the atomic subplane of each of those systemic planes. Thus, perhaps, both thoughts are correct—that only the subplanes of each systemic plane constitute the seven spirillae of the logoic permanent atom, and, also, that all seven systemic planes themselves, constitute the seven spirillae of the logoic permanent atom.

67. Có lẽ chất liệu của mọi cõi hệ thống được cuốn vào một chuyển động tương ứng với chuyển động của cõi phụ nguyên tử của từng cõi hệ thống ấy. Vậy, có lẽ cả hai ý đều đúng—rằng chỉ các cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi hệ thống hợp thành bảy xoắn tuyến của Nguyên tử trường tồn của Thái dương Thượng đế, và đồng thời, rằng cả bảy cõi hệ thống tự thân cũng hợp thành bảy xoắn tuyến của Nguyên tử trường tồn của Thái dương Thượng đế.

68. How shall we look at Saturn (the correspondence to the physical permanent atom of the Solar Logos) and the central planet of six other planetary schemes (Chart VI) in relation to the seven atomic subplanes of the seven subplanes of the cosmic physical plane?

68. Chúng ta sẽ nhìn Saturn (tương ứng với Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế) và hành tinh trung tâm của sáu hệ hành tinh khác (Biểu đồ VI) như thế nào trong liên hệ với bảy cõi phụ nguyên tử của bảy cõi phụ thuộc cõi hồng trần vũ trụ?

69. DK does not speak specifically of the logoic physical permanent atom, but this is what He seems to mean.

69. DK không nói đích danh về Nguyên tử trường tồn hồng trần  của Thái dương Thượng đế, nhưng đây có vẻ là điều Ngài muốn nói.

The units, therefore, in the three lower kingdoms possess no permanent atoms but contribute to the formation of those atoms in the higher kingdoms.

Các đơn vị trong ba giới thấp không hề có Nguyên tử trường tồn nhưng đóng góp vào việc hình thành các Nguyên tử đó trong các giới cao hơn.

70. This is another very important statement. Is it an apparent contradiction? We have read above of permanent atoms in animal groups, vegetable groups and mineral groups, and the planar location of the permanent atoms gathered into these groups has been given. Could these permanent atoms really belong to the Monads of the Fourth Creative Hierarchy? Are all minerals, vegetables and animals but incipient men?

70. Đây là một phát biểu rất quan trọng khác. Nó có là một mâu thuẫn bề ngoài chăng? Trên kia chúng ta đã đọc về các Nguyên tử trường tồn trong các nhóm động vật, các nhóm thực vật và các nhóm khoáng vật, và vị trí cõi/cõi phụ của các Nguyên tử trường tồn được tập hợp vào các nhóm này đã được nêu. Phải chăng các Nguyên tử trường tồn đó thực ra  thuộc về các Chân thần của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư? Phải chăng mọi khoáng vật, thực vật và động vật chỉ là những con người  tiềm tàng?

71. Exactly what do the units in the three lower kingdoms contribute to the formation of permanent atoms in the higher kingdoms, or how do they do so. This is a very technical matter for which we have no immediate, complete answer.

71. Chính xác là các đơn vị trong ba giới thấp đóng góp  điều gì vào việc hình thành các Nguyên tử trường tồn trong các giới cao, hoặc bằng cách nào  chúng làm như vậy? Đây là vấn đề rất kỹ thuật mà hiện chúng ta chưa có câu trả lời đầy đủ, ngay lập tức.

72. It seems that what DK says below will be at least a partial answer.

72. Có vẻ những gì DK nói dưới đây sẽ là ít nhất một câu trả lời phần nào.

Certain wide generalisations might here be made, though too literal or too identified an interpretation should not be put upon them.

Ở đây có thể đưa ra vài tổng quát hóa rộng, dù không nên gán cho chúng một cách hiểu quá sát chữ hay quá đồng nhất.

First, it might be said that the lowest or mineral kingdom provides that vital something which is the essence of the physical permanent atom of the human being.

Thứ nhất, có thể nói rằng giới khoáng vật cung ứng một cái gì sinh động là tinh túy của Nguyên tử trường tồn thể xác của con người.

73. So the mineral kingdom contributes a type of energy which goes to the formation of the physical permanent atom of the human being.

73. Vậy giới khoáng vật đóng góp một loại năng lượng đi vào việc hình thành Nguyên tử trường tồn thể xác của con người.

74. The physical permanent atom of the human being is on the atomic subplane of the etheric plane. Above we read that the mineral permanent atom (or, perhaps, the physical permanent atom of the Entity expressing through the mineral kingdom) is on the fourth ether.

74. Nguyên tử trường tồn thể xác của con người nằm trên cõi phụ nguyên tử của cõi dĩ thái. Trên kia chúng ta đọc rằng Nguyên tử trường tồn khoáng vật (hoặc, có lẽ, Nguyên tử trường tồn thể xác của Thực Thể biểu lộ qua giới khoáng vật) ở trên cõi dĩ thái thứ tư.

75. We are suggesting that the following question needs to be answered: “Could the permanent atoms involved in these groupings in the mineral, vegetable and animal kingdom belong in some way to the Lords Who inform these various kingdoms?

75. Chúng ta đang gợi mở rằng cần trả lời câu hỏi sau: “Phải chăng các Nguyên tử trường tồn tham dự vào những tập hợp trong giới khoáng, giới thực và giới động thuộc về một cách nào đó các Vị Chúa Tể thấm nhuần các giới này?

76. The term “vital something” is certainly not very specific, but at least we have a statement concerning the relationship between the mineral kingdom and the physical permanent atom of man.

76. Cụm từ “cái gì sinh động” hẳn nhiên không mấy xác định, nhưng tối thiểu chúng ta có một phát biểu về mối liên hệ giữa giới khoáng vật và Nguyên tử trường tồn thể xác của con người.

77. It must be clear that in such considerations we have entered the domain of the fifth ray. At least it will require the occult application of the fifth ray to achieve clarity about the specifics of the processes described.

77. Hẳn là rõ rằng trong các khảo sát như vậy chúng ta đã bước vào lĩnh vực của cung năm. Ít nhất sẽ cần sự ứng dụng huyền môn của cung năm để đạt minh bạch về các đặc thù của những tiến trình được mô tả.

It provides that energy which is the negative basis for the [1134]positive inflow which can be seen pouring in through the upper depression of the physical permanent atom.

Nó cung ứng năng lượng âm làm nền tảng cho dòng chảy dương có thể thấy đổ vào qua chỗ lõm phía trên của Nguyên tử trường tồn thể xác.

78. This is technical language and an incentive to the scientists of the future for deeper understanding.

78. Đây là ngôn ngữ kỹ thuật và là một khích lệ cho các nhà khoa học tương lai hướng tới sự thấu hiểu sâu xa hơn.

79. Is this energetic something provided by the mineral kingdom ‘located’ at the lower depression of the permanent atom, corresponding to the atomic south pole?

79. Liệu cái năng lượng sinh động này do giới khoáng vật cung cấp có ‘nằm’ ở chỗ lõm phía dưới của Nguyên tử trường tồn, tương ứng với cực nam nguyên tử?

80. Are we to imagine that this energy which is the “negative basis” attracts the energy which is called “the positive inflow pouring through the upper depression of the physical permanent atom?” This seems possible.

80. Có phải chúng ta nên hình dung rằng năng lượng “nền tảng âm” này hấp dẫn  năng lượng được gọi là “dòng dương chảy qua chỗ lõm phía trên của Nguyên tử trường tồn thể xác”? Có vẻ khả dĩ.

Secondly, the vegetable kingdom similarly provides the negative energy for the astral permanent atom of a man, and …

Thứ hai, giới thực vật tương tự cung ứng năng lượng âm cho Nguyên tử trường tồn thể cảm dục của một con người, và …

81. The correspondence between the vegetable kingdom and the astral permanent atom is frequently repeated.

81. Sự tương ứng giữa giới thực vật và Nguyên tử trường tồn cảm dục được lặp lại nhiều lần.

82. Just what role this negative energy may play in the economy of the astral permanent atom has to be established. We may be advised to hold in mind that, as above, the astral permanent atom (somewhat heart-shaped we are told) may also have a north and south pole.

82. Vai trò chính xác mà năng lượng âm này có thể đóng trong cơ cấu của Nguyên tử trường tồn cảm dục cần được xác lập. Chúng ta có thể được khuyên hãy ghi nhớ rằng, như trên kia, Nguyên tử trường tồn cảm dục (được cho là hơi có dáng trái tim) cũng có thể có cực bắc và cực nam.

83. It seems that the contributions of the lower kingdoms to the lower two permanent atoms of man and to the mental unit, induces an electrical flow which animates these members of man’s atomic triangle.

83. Có vẻ rằng sự đóng góp của các giới thấp vào hai Nguyên tử trường tồn thấp của con người và vào đơn vị hạ trí, tạo nên một dòng điện lực làm linh hoạt những thành phần thuộc tam giác nguyên tử của con người.

… thirdly, the animal kingdom provides the negative force which when energised by the positive is seen as the mental unit.

… thứ ba, giới động vật cung ứng lực âm mà khi được năng động bởi dương lực thì được thấy như đơn vị hạ trí.

84. This is predictable, given the sequence established. Notice that we are not speaking of the manasic permanent atom but of the “mental unit”.

84. Điều này có thể dự đoán được, theo chuỗi đã thiết lập. Lưu ý rằng chúng ta không nói về Nguyên tử trường tồn manas mà là về “đơn vị hạ trí”.

85. When positive force meets negative force a focal point is established. DK, having given us a technical hint about how the mental unit is established, may also be giving us a hint about the manner in which the physical permanent atom and the astral permanent atom are established.

85. Khi dương lực gặp âm lực, một điểm tiêu đỉnh được thiết lập. DK, sau khi cho chúng ta một gợi ý kỹ thuật về cách đơn vị hạ trí được thiết lập, có lẽ cũng đang gợi cho chúng ta về cách Nguyên tử trường tồn thể xác và Nguyên tử trường tồn cảm dục được thiết lập.

86. Interestingly, with regard to the physical permanent atom and the astral permanent atom, He speaks as if the atom already exists when the flow of energy passes from the upper depression to the lower. However, when speaking of the mental unit, He seems to be telling us about the flow which creates the mental unit.

86. Điều thú vị là, đối với Nguyên tử trường tồn thể xác và Nguyên tử trường tồn cảm dục, Ngài nói như thể nguyên tử đã tồn tại khi dòng năng lượng đi từ chỗ lõm trên xuống chỗ lõm dưới. Tuy nhiên, khi nói về đơn vị hạ trí, Ngài dường như đang nói cho chúng ta về dòng chảy tạo nên  đơn vị hạ trí.

87. If we pause and consider, we are being given some very occultly technical information.

87. Nếu chúng ta dừng lại suy nghĩ, chúng ta đang được ban cho vài thông tin huyền bí hết sức kỹ thuật.

This energy which is contributed by the three lower kingdoms is formed of the very highest vibration of which that kingdom is capable,

Năng lượng này do ba giới thấp đóng góp được cấu thành bởi những rung động cao nhất mà giới đó có khả năng,

88. That which the lower kingdoms give to man is of their very best and highest.

88. Điều mà các giới thấp dâng hiến cho con người là phần tinh hoa tối cao của chúng.

89. Can we say that the diamond is the very best that the mineral kingdom has to offer. Is the diamond, then, related to the physical permanent atom of man?

89. Chúng ta có thể nói rằng kim cương là phần tinh túy nhất mà giới khoáng vật dâng hiến chăng. Vậy kim cương có liên hệ với Nguyên tử trường tồn thể xác của con người chăng?

90. It is certainly related to every jewel found at the heart of every chakra and also, one would presume, to the “Jewel in the Lotus”.

90. Chắc chắn nó liên quan đến mọi viên bảo châu ở trung tâm mỗi luân xa và, người ta có thể suy đoán, đến cả “Viên Bảo Châu trong Hoa Sen”.

and serves as a link between man and his various sheaths, all of which are allied to one or other of the lower kingdoms.

và nó làm chiếc mối nối giữa con người và các vỏ bọc khác nhau của y, tất cả đều liên đới với một trong hai giới thấp kia.

a. The mental body…  mental unit……………. animal kingdom.

a. Thể trí… đơn vị hạ trí……………. giới động vật.

b. The astral body…  astral permanent atom…  vegetable kingdom.

b. Thể cảm dục… Nguyên tử trường tồn cảm dục… giới thực vật.

c. The physical body… physical permanent atom.. mineral kingdom.

c. Thể xác… Nguyên tử trường tồn thể xác.. giới khoáng vật.

91. These are clear correspondences. We would expect the principle of crystallization to be found with the physical body; the qualities of vegetative life to be found within the astral body; the quality of mobility (characteristic of the animal kingdom) to be found within the mental body.

91. Đây là những tương ứng rõ ràng. Chúng ta sẽ kỳ vọng nguyên tắc kết tinh được tìm thấy nơi thể xác; các phẩm tính của sự sống thảo mộc được thấy trong thể cảm dục; phẩm tính linh động (đặc trưng của giới động vật) được thấy trong thể trí.

92. We must remember that when speaking of permanent atoms and of the mental unit, we are speaking of points of focus which are exceedingly small. We are also speaking of energy flows.

92. Chúng ta phải nhớ rằng khi nói đến các Nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí, chúng ta đang nói đến những điểm tập trung cực kỳ nhỏ. Chúng ta cũng đang nói về các dòng năng lượng.

93. The energy contributed by the three lower kingdoms is a linking energy, and allows Man (the Monad or ‘point of being/consciousness’) to relate to his various sheaths.

93. Năng lượng do ba giới thấp đóng góp là năng lượng liên kết, và cho phép Con Người (Chân thần hay ‘điểm của hiện hữu/tâm thức’) liên hệ với các vỏ bọc của y.

94. We are being told (at least in the case of the physical permanent atom and astral permanent atom, that the energy contributed by the two lower kingdoms, allows man the Monad to link to his sheaths via these two permanent atoms. The establishment of this “negative basis” induces the flow of attenuated monadic energy through the permanent atoms involved.

94. Chúng ta đang được cho biết (ít nhất trong trường hợp Nguyên tử trường tồn thể xác và Nguyên tử trường tồn cảm dục) rằng năng lượng được hai giới thấp đóng góp cho phép Con Người là Chân thần nối kết với các vỏ bọc của y thông qua  hai Nguyên tử trường tồn này. Sự thiết lập “nền tảng âm” đó dẫn cảm dòng năng lượng vi tế của Chân thần chảy qua những Nguyên tử trường tồn liên hệ.

95. The manner in which this flow is induced through the mental unit appears different, but a “negative basis” and positive flow are also involved.

95. Cách thức dòng chảy này được dẫn qua đơn vị hạ trí có vẻ khác, nhưng một “nền tảng âm” và dòng chảy dương cũng có mặt.

In man these three types of energy are brought together, and synthesised, and when perfection of the personality is reached, and the vehicles aligned, we have:

Ở con người ba loại năng lượng này được quy tụ lại, và được tổng hợp, và khi sự hoàn thiện của phàm ngã được đạt đến, và các vận cụ được chỉnh hợp, chúng ta có:

a. The energy of the mental unit………………. positive.

a. Năng lượng của đơn vị hạ trí………………. dương.

b. The energy of the astral permanent atom… equilibrised.

b. Năng lượng của Nguyên tử trường tồn cảm dục… được quân bình.

c. The energy of the physical permanent atom negative.

c. Năng lượng của Nguyên tử trường tồn thể xác… âm.

96. When is the perfection of the personality reached? In some ways it is not until the fourth initiation. The number most associated with the personal elemental is four.

96. Khi nào sự hoàn thiện của phàm ngã được đạt đến? Ở một số phương diện thì không trước lần điểm đạo thứ tư. Con số liên hệ nhiều nhất với hành khí phàm ngã là bốn.

97. This set of correspondences is repeated on a higher turn of the spiral within the egoic lotus and also within the spiritual triad.

97. Bộ tương ứng này được lặp lại trên một vòng xoắn cao hơn bên trong Hoa Sen Chân Ngã và cũng trong Tam Nguyên Tinh Thần.

98. Within the egoic lotus, the three tiers of petals uphold the trinity of electrical relations. From a still larger perspective, the “Jewel” and the synthesis petals represent the positive pole; the nine normal petals of the ego represent the area of equilibrization; and the members of the atomic triangle the negative energy.

98. Bên trong Hoa Sen Chân Ngã, ba tầng cánh đỡ lấy bộ ba liên hệ điện học. Từ một phối cảnh rộng hơn, “Bảo Châu” và các cánh tổng hợp biểu trưng cho cực dương; chín cánh bình thường của hoa sen biểu trưng vùng quân bình; và các thành phần của tam giác nguyên tử biểu trưng năng lượng âm.

99. If we discount the permanent atoms, then the “Jewel in the Lotus”, itself, is the positive pole; the three synthesis petals the equilibrised area; the nine normal petals the negative field.

99. Nếu chúng ta tạm không tính các Nguyên tử trường tồn, thì chính “Viên Bảo Châu trong Hoa Sen” là cực dương; ba cánh tổng hợp là vùng được quân bình; chín cánh bình thường là trường âm.

100.  The bringing together of these three types of energy and their synthesis is outpictured as the fiery vivification of the members of the atomic triangle and their fiery interaction which contributes significantly to the destruction of the causal body. This happens at the fourth initiation and signifies the true perfection of the personality.

100. Việc quy tụ ba loại năng lượng này và sự tổng hợp của chúng được phô bày như sự hoạt hóa rực lửa các thành phần của tam giác nguyên tử và sự tương tác rực lửa của chúng, góp phần đáng kể vào việc phá hủy thể nhân quả. Điều này xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư và biểu thị sự hoàn thiện thực sự của phàm ngã.

Man is then closely linked with the three lower kingdoms by the best that they can provide,

Con người khi ấy được nối kết mật thiết với ba giới thấp bằng phần tinh hoa nhất mà chúng có thể hiến dâng,

101.  Could we say that the Solar Angel is closely liked with the human kingdom by the best which man (i.e., the human kingdom) can provide?

101. Chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thiên Thần được nối kết mật thiết với giới nhân loại bằng phần tinh hoa nhất mà con người (tức giới nhân loại) có thể hiến dâng chăng?

and they have literally given him his permanent atoms, and enabled him to manifest through their activity.

và chúng thực sự đã trao cho y các Nguyên tử trường tồn, và cho phép y biểu lộ nhờ hoạt động của chúng.

102.  Of the Monad appropriating its permanent atoms, we had not been told that they have been taken from the three lower kingdoms, but we have been told of the planes and subplanes from which they have been taken. (EP I 168-169) Here, however, the flat statement is made: that the lower kingdoms have “literally given to him his permanent atoms…”

102. Về việc Chân thần thu nhận các Nguyên tử trường tồn của mình, trước đây chúng ta chưa được nói rằng chúng đã được lấy  từ ba giới  thấp, nhưng chúng ta đã được nói về các cõi và cõi phụ từ đó chúng được lấy (Tâm Lý Học Nội Môn I 168-169). Ở đây, tuy nhiên, có một khẳng định thẳng thắn: các giới thấp “thực sự đã trao cho y các Nguyên tử trường tồn…”

103.  It does appear, therefore, that the lower kingdoms pre-existed the taking by the human Monad of its lower permanent atoms (i.e., the physical permanent atom and the astral permanent atom, especially). Does this mean that the atoms taken by the Monad are literally atoms which have been participating in the mineral kingdom, the animal kingdom, and even the animal kingdom? (Probably the mental unit was not ‘taken’ in the same way, though we might suppose that the manasic permanent atom was so ‘taken’ or appropriated, as were the buddhic permanent atom and the atmic permanent atom.

103. Vậy có vẻ rằng các giới thấp đã hiện hữu trước khi Chân thần nhân loại tiếp thu các Nguyên tử trường tồn thấp của y (tức Nguyên tử trường tồn thể xác và Nguyên tử trường tồn cảm dục, đặc biệt là vậy). Điều này có nghĩa rằng các nguyên tử được Chân thần thu nhận thực sự là những nguyên tử đã tham dự vào giới khoáng vật, giới thực vật, và thậm chí giới động vật? (Có lẽ đơn vị hạ trí không được ‘lấy’ theo cùng cách, dù chúng ta có thể cho rằng Nguyên tử trường tồn manas được ‘lấy’ hay được thu nhận như vậy, cũng như Nguyên tử trường tồn Bồ đề và Nguyên tử trường tồn atma.)

104.  At the very least we can say that two of the three lower kingdoms have offered that type of energy which enters into the constitution of the physical permanent atom and astral permanent atom, and that one of these kingdoms, the animal kingdom, has contributed that energy which appears to have made the formation of the mental unit possible.

104. Tối thiểu chúng ta có thể nói rằng hai trong ba giới thấp đã dâng hiến kiểu năng lượng đi vào cấu trúc của Nguyên tử trường tồn thể xác và Nguyên tử trường tồn cảm dục, và rằng một trong những giới này, giới động vật, đã đóng góp loại năng lượng dường như đã làm cho sự hình thành đơn vị hạ trí trở nên khả hữu.

105.  Let us link what is said of the arising of the mental unit to the information on the contribution of the lower kingdoms to the atomic triangle of man:

105. Chúng ta hãy nối những gì được nói về sự khởi xuất của đơn vị hạ trí với thông tin về sự đóng góp của các giới thấp vào tam giác nguyên tử của con người:

There appears a triangle on the mental plane, produced by manasic activity, and this triangle of fire begins slowly to circulate between the manasic permanent atom, and a point at the centre of the egoic lotus, and thence to the mental unit, which has appeared upon the fourth subplane through innate instinct approximating mentality. (TCF  709)

Một tam giác xuất hiện trên cõi trí, được tạo bởi hoạt tính manasic, và tam giác lửa này bắt đầu chậm rãi luân lưu giữa Nguyên tử trường tồn manasic, và một điểm tại trung tâm Hoa Sen Chân Ngã, và từ đó đến đơn vị hạ trí, cái đã xuất hiện trên cõi phụ thứ tư nhờ bản năng bẩm sinh xấp xỉ tính trí. (Luận về Lửa Vũ Trụ 709)

106.  The position of the mental unit on the fourth subplane of the mental plane correlates it with the position of the mineral permanent atom (or the permanent atom of the Entity manifesting through the mineral kingdom) since that permanent atom is on the fourth etheric subplane.

106. Vị trí của đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí tương ứng với vị trí của nguyên tử trường tồn khoáng vật (hoặc nguyên tử trường tồn của Thực Thể biểu hiện xuyên qua giới kim thạch) vì nguyên tử trường tồn ấy ở trên cõi phụ dĩ thái thứ tư.

The above three groups

Ba nhóm nêu trên

107.  I.e., the three lower kingdoms…

107. Tức là, ba giới thấp…

might be studied also from the standpoint of the three Gunas:21 [1135]

cũng có thể được khảo cứu từ quan điểm của ba guna:21 []

1. Tamas….inertia….mineral kingdom…….physical permanent atom.

1. Tamas….trì trệ….giới kim thạch…….nguyên tử trường tồn hồng trần.

2. Rajas…..activity…vegetable kingdom…astral permanent atom.

2. Rajas…..hoạt động…giới thực vật…nguyên tử trường tồn cảm dục.

3. Sattva….rhythm…animal kingdom……..mental unit.

3. Sattva….nhịp điệu…giới động vật……..đơn vị hạ trí.

108.  This is a very interesting set of correspondences. We realize that for man to reach the Sattvic state, he must be mentally polarized.

108. Đây là một tập hợp tương ứng rất đáng chú ý. Chúng ta nhận ra rằng để con người đạt đến trạng thái Sattvic, y phải phân cực trí tuệ.

109.  The Libran relation to the mental unit makes a great deal of sense because Libra rules the mental unit (EA 302) and Libra is also the principle sign correlating with Sattva.

109. Mối liên hệ Thiên Bình với đơn vị hạ trí hoàn toàn hợp lý, vì Thiên Bình cai quản đơn vị hạ trí (EA 302) và Thiên Bình cũng là dấu hiệu chủ yếu tương ứng với Sattva.

Footnote 21:

Chú thích 21:

 “Hence every manifested God is spoken of as a Trinity.  The joining of these three Aspects, or phases of manifestation, at their outer points of contact with the circle, gives the basic Triangle of contact with Matter,

“Do đó, mỗi Thượng đế biểu hiện đều được nói như một Tam vị. Sự phối kết của ba Phương diện này, hay các pha của biểu hiện, tại những điểm tiếp xúc bên ngoài của chúng với vòng tròn, tạo nên Tam giác nền tảng của tiếp xúc với Chất liệu,

110.  We seem to be speaking of the triangle inscribed within the circle.

110. Có vẻ chúng ta đang nói về tam giác được khắc bên trong vòng tròn.

111.  The circle, in this case, seems to be the circle of matter through which the three points or aspects work.

111. Vòng tròn, trong trường hợp này, dường như là vòng tròn của vật chất, xuyên qua đó ba điểm hay ba phương diện hoạt động.

which, with the three Triangles made with the lines traced by the Point, thus yields the divine Tetractys,

vốn, cùng với ba Tam giác được tạo nên bởi các đường do Điểm vạch ra, sinh ra Tetraktys thiêng liêng,

112.  When we look at the three triangles, one may have two points at the base line; another base line having three points; and still another base line, four points.

112. Khi chúng ta nhìn vào ba tam giác, có thể thấy một tam giác có hai điểm trên đường đáy; một đường đáy khác có ba điểm; và lại một đường đáy khác có bốn điểm.

sometimes called the Kosmic Quaternary, the three divine Aspects in contact with Matter, ready to create.  These, in their totality, are the Oversoul of the kosmos that is to be.

đôi khi được gọi là Bộ Tứ Vũ Trụ, ba Phương diện thiêng liêng trong tiếp xúc với Chất liệu, sẵn sàng sáng tạo. Tổng thể của chúng là Đại Hồn của vũ trụ sẽ thành.

113.  This Oversoul is based upon the numbers three, four and ten.

113. Đại Hồn này đặt trên các con số ba, bốn và mười.

114.  A Tetraktys is a “Kosmic Quaternary” because there are four rows of points. As it represents the Kosmic Quaternary is the Tetraktys to begin with the first point on the logoic plane, and the second on the monadic plane, etc., or to be inverted?

114. Tetraktys là một “Bộ Tứ Vũ Trụ” vì có bốn  dãy điểm. Vì nó biểu trưng Bộ Tứ Vũ Trụ nên Tetraktys khởi đầu với điểm thứ nhất trên cõi thượng đế, và điểm thứ hai trên cõi chân thần, v.v., hay bị đảo ngược?

“Under Form we may first glance at the effects of these Aspects as responded to from the side of Matter.

“Dưới đề mục Hình tướng, chúng ta trước hết có thể lược nhìn các hiệu ứng của những Phương diện này như được đáp ứng từ phía Chất liệu.

115.  Form is the response of matter to the formative power of the archetypes.

115. Hình tướng là sự đáp ứng của vật chất trước quyền năng tạo dạng của các nguyên mẫu.

These are not, of course, due to the Logos of a system, but are the correspondences in universal Matter with the Aspects of the universal Self.

Những điều này dĩ nhiên không do Thượng đế của một hệ thống, mà là các tương ứng trong Chất liệu phổ quát với các Phương diện của Tự Ngã phổ quát.

116.  The forms found within “universal Matter” reflect the “Aspects of the universal Self”.

116. Các hình tướng tìm thấy trong “Chất liệu phổ quát” phản chiếu “Các Phương diện của Tự Ngã phổ quát”.

117.  One would assume that the “universal Self” is a Being of immensely vaster scope than the “Logos of a system”.

117. Ta có thể cho rằng “Tự Ngã phổ quát” là một Hữu Thể có tầm vực vô cùng rộng lớn hơn “Thượng đế của một hệ thống”.

118.  Form took its birth far outside the province of the Logos of our system, for instance.

118. Tỷ dụ, Hình tướng đã khai sinh rất xa ngoài phạm vi của Thượng đế hệ thống của chúng ta.

The Aspect of Bliss, or Will, imposes on Matter the quality of Inertia-Tamas, the power of resistance, stability, quietude.

Phương diện Cực Lạc, hay là Ý Chí, áp đặt lên Chất liệu phẩm tính Trì Trệ—Tamas, quyền năng kháng cự, ổn định, tĩnh lặng.

119.  This is a much higher correspondence to Tamas as Tamas is usually interpreted. There is ‘inertia’ in pure Spirit as well as in the unregenerate, unresponsive matter found within lower forms.

119. Đây là một tương ứng rất cao với Tamas như người ta vẫn thường hiểu. Có “tính ì” trong Tinh thần thuần khiết cũng như trong vật chất chưa được cải hóa, vô cảm ứng nơi các hình tướng thấp.

120.  The statement in the section of text above suggests a relationship between the logoic plane and the systemic etheric-physical plane.

120. Lời tuyên bố ở đoạn văn trên gợi một mối liên hệ giữa cõi thượng đế và cõi dĩ thái–hồng trần hệ thống.

The Aspect of Activity gives to Matter its responsiveness to action—Rajas, mobility.

Phương diện Hoạt Động ban cho Chất liệu khả năng đáp ứng hành động—Rajas, tính linh động.

121.  This is a higher interpretation than that usually given to Rajas. This type of responsiveness seems aligned with sensitivity.

121. Đây là một diễn giải cao hơn thường lệ về Rajas. Kiểu đáp ứng này có vẻ liên hệ với tính nhạy cảm.

122.  In the world of super-human evolution (and confining ourselves to the cosmic physical plane), the plane of atma is the plane of activity. It reflects itself on both the mental plane and on the etheric-physical plane.

122. Trong thế giới của tiến hóa siêu nhân (và nếu chỉ giới hạn trong cõi thể chất vũ trụ), cõi atma là cõi của hoạt động. Nó phản chiếu xuống cả cõi trí lẫn cõi dĩ thái–hồng trần.

The Aspect of Wisdom gives it Rhythm—Sattva, vibration, harmony.

Phương diện Minh Triết ban cho nó Nhịp Điệu—Sattva, rung động, hòa điệu.

123.  Sattva is more than rhythm. It contains the factor of harmony which indicates an intelligence which correlates the vibrations of those factors which come into relationship.

123. Sattva nhiều hơn là nhịp điệu. Nó bao hàm yếu tố hòa điệu, vốn biểu lộ một trí tuệ phối hợp các rung động của những yếu tố đi vào liên hệ.

124.  The “Aspect of Wisdom” can be correlated with both the monadic plane and the buddhic plane. “Buddhi” is often translated as “wisdom”.

124. “Phương diện Minh Triết” có thể tương ứng với cả cõi chân thần và cõi Bồ đề. “Bồ đề” thường được dịch là “minh triết”.

It is by the aid of Matter thus prepared that the Aspects of Logoic Consciousness can manifest themselves as Beings.”

Chính nhờ Vật chất được chuẩn bị như thế mà các Phương diện của Tâm thức thuộc Thượng đế có thể tự biểu hiện như những Hữu Thể.”

125.  Matter is prepared by Fohat for this type of manifestation. Without prepared matter, the manifestation of the Logoic Aspects of Consciousness as Beings is not possible.

125. Vật chất được Fohat chuẩn bị cho loại biểu hiện này. Không có vật chất đã chuẩn bị, sự biểu hiện các Phương diện Tâm thức của Thượng đế như những Hữu Thể  là điều không thể.

126.  In other words, the First Outpouring must precede the Second Outpouring and makes its work possible.

126. Nói cách khác, Lần Tuôn Đổ thứ nhất phải có trước Lần Tuôn Đổ thứ hai và khiến cho công việc của lần sau trở nên khả hữu.

—A Study in Consciousness, by Annie Besant, p. 9.

—Một Nghiên cứu về Tâm thức, tác giả Annie Besant, tr. 9.

All these must be regarded only from the point of view of the personality, the lower self, or not-self.

Tất cả những điều này phải được coi xét chỉ từ quan điểm của phàm ngã, cái ngã thấp, hay phi-ngã.

127.  The Three Gunas are being considered from the point of view of the personality. However, they also apply to the higher aspects of man. In such a case, the personality upholds the position of Tamas; the soul expresses Rajas; the Spirit expresses Sattva.

127. Ba guna đang được xét từ quan điểm của phàm ngã. Tuy nhiên, chúng cũng áp dụng cho các phương diện cao hơn của con người. Trong trường hợp đó, phàm ngã giữ vị trí của Tamas; linh hồn biểu lộ Rajas; Tinh thần biểu lộ Sattva.

128.  From another perspective, the personality can be sees as rajasic, the soul as sattvic and the Spirit as tamasic—resisting every attempt to change it—“unknown and unafraid, untouched, for aye unchanged.” (DINA II 285)

128. Từ một góc nhìn khác, phàm ngã có thể được xem là rajasic, linh hồn là sattvic, còn Tinh thần là tamasic—kháng cự mọi nỗ lực biến đổi—“khôn dò mà không úy, bất nhiễm, và mãi mãi bất biến.” (DINA II 285)

In illustration of this idea, it might be pointed out that when the animal body of prehuman man was rhythmically adjusted, and had attained its highest or sattvic vibration,

Để minh họa ý này, có thể chỉ ra rằng khi thân thú của con người trước nhân loại được chỉnh nhịp một cách hài hòa, và đã đạt đến rung động tối cao hay rung động sattvic của nó,

129.  The highest type of vibration possible for this type of body….

129. Kiểu rung động cao nhất khả dĩ đối với loại thân này….

130.  We do not know how such a vibration would have manifested. Obviously a type of equilibrium was created, waiting to be disturbed by the entry of a higher factor.

130. Chúng ta không biết rung động như thế sẽ biểu lộ ra sao. Rõ ràng một loại quân bình đã được kiến tạo, chờ được khuấy động bởi sự thâm nhập của một yếu tố cao hơn.

then individualisation became possible, and a true human being

thì biệt ngã hóa trở nên khả hữu, và một con người đích thực

131.  The “true human being” was obviously not un-individualized, “prehuman man”.

131. “Con người đích thực” hiển nhiên không phải là “con người trước nhân loại” chưa được biệt ngã hóa.

appeared in manifestation.

hiện ra trong biểu hiện.

132.  Thus we see Libra involved with setting the stage of individualization. Libra saw to the ‘marriage’ of the Angel and the animal, and, interestingly, rules the mental unit which is strongly stimulated by the individualization process.

132. Như vậy, chúng ta thấy Thiên Bình có dính líu đến việc dàn cảnh cho biệt ngã hóa. Thiên Bình đảm trách ‘cuộc hôn phối’ của Thiên Thần và con thú, và, điều thú vị là, cai quản đơn vị hạ trí vốn được kích thích mạnh bởi tiến trình biệt ngã hóa.

Each kingdom is positive to the one next below it, and between them is found that period of manifestation which bridges the two, and connects the positive and the negative.

Mỗi giới là dương đối với giới ngay bên dưới nó, và giữa chúng có mặt cái giai đoạn biểu hiện vốn bắc cầu hai bên, và kết nối bên dương và bên âm.

133.  For the human kingdom the implications are clear: the members of the fifth kingdom are “positive” to the members of the human kingdom. The greater influences the lesser.

133. Đối với giới nhân loại, các hàm ý rất rõ: các thành viên của giới thứ năm là “dương” đối với các thành viên của giới nhân loại. Cái lớn hơn ảnh hưởng cái nhỏ hơn.

134.  Notice that Master DK is not speaking of forms of manifestation but of “periods of manifestation”.

134. Lưu ý rằng Chân sư DK không nói về các hình tướng  biểu hiện mà nói về “các giai đoạn biểu hiện”.

135.  In some ways it seems we are speaking of “missing links”—states of form and consciousness which are bridges between the kingdoms.

135. Ở một số khía cạnh, dường như chúng ta đang nói về những “mắt xích còn thiếu”—các trạng thái của hình tướng và tâm thức làm nhịp cầu giữa các giới.

The types of most intense rajas or activity in the mineral kingdom are found in those forms of life which are neither mineral nor vegetable but which bridge the two.

Những dạng của rajas mãnh liệt nhất hay hoạt động trong giới khoáng vật được tìm thấy nơi những hình tướng của sự sống vốn không phải khoáng vật cũng không phải thực vật mà bắc cầu giữa hai giới.

136.  Here, intermediate forms are cited, and not just a “period of manifestation”.

136. Ở đây, các hình tướng trung gian được nêu ra, chứ không chỉ là một “giai đoạn biểu hiện”.

137.  I presume we are to think that when bridging forms are identified they will be characterised by “intense rajas”.

137. Tôi cho rằng khi các hình tướng bắc cầu được nhận diện, chúng sẽ được đặc trưng bởi “rajas mãnh liệt”.

138.  But, what precisely, are these forms?

138. Nhưng, chính xác thì, những hình tướng này là gì?

139.  It is possible that a relatively sattvic period is reached in a kingdom, before transition, and then, to impulse the transition to the next kingdom, a period of rajas is inaugurated. Information below, seems to contradict this possibility.

139. Có thể có một giai đoạn tương đối sattvic đạt được trong một giới trước khi chuyển tiếp, rồi để thúc đẩy sự chuyển tiếp sang giới kế cận, một thời kỳ rajas được khởi xướng. Thông tin bên dưới dường như mâu thuẫn khả năng này.

140.  We seem to have rajas associated with the bridging process between kingdoms and sattva with the actual merging into the next kingdom.

140. Có vẻ như rajas liên hệ với tiến trình bắc cầu giữa các giới, còn sattva liên quan đến sự hòa nhập thực sự vào giới kế cận.

Similarly in the vegetable kingdom, the rajas period is seen in fullest expression just before the activity becomes rhythmic and the vegetable merges in the animal.

Tương tự, trong giới thực vật, thời kỳ rajas được biểu hiện đầy đủ nhất ngay trước khi hoạt động trở nên nhịp nhàng và giới thực vật hòa nhập vào giới động vật.

141.  It appears that the merging of a lower kingdom into a higher is characterized by sattva.

141. Có vẻ sự hòa nhập của một giới thấp vào một giới cao hơn được đặc trưng bởi sattva.

142.  We are being told that without this rhythmic activity there is no merging of the lower kingdom into the higher.

142. Chúng ta được cho biết rằng nếu không có hoạt động có nhịp này thì không có sự hòa nhập của giới thấp vào giới cao hơn.

143.  Probably the sequence is: a long tamasic period; the period of rajas climaxed by intense rajas as transition is undertaken between kingdoms; a brief period of sattva following upon intense rajas and signaling the concluding moments of the kingdom just before entrance into a new kingdom.

143. Có lẽ thứ tự là: một thời kỳ tamasic kéo dài; thời kỳ rajas đạt đỉnh bằng rajas mãnh liệt khi tiến hành chuyển tiếp giữa các giới; một thời kỳ ngắn sattva theo sau rajas mãnh liệt và báo hiệu những khoảnh khắc kết thúc của giới ngay trước khi bước vào giới mới.

144.  Such a moment of sattva is probably found in the human kingdom just before the fourth initiation when the full development of the causal body is achieved.

144. Một thời khắc sattva như vậy có lẽ được tìm thấy trong giới nhân loại ngay trước lần điểm đạo thứ tư khi sự phát triển trọn vẹn của thể nguyên nhân được hoàn tất.

145.  Could we say that the entire period of initiation before the fourth initiation is one of intense rajas and really signals a transition between kingdoms—the human kingdom and the Kingdom of Souls?

145. Chúng ta có thể nói rằng toàn bộ giai đoạn điểm đạo trước lần điểm đạo thứ tư là một thời kỳ rajas mãnh liệt và thực sự báo hiệu một sự chuyển tiếp giữa các giới—giới nhân loại và Thiên Giới (Giới Linh Hồn) chăng?

In the animal kingdom the same is seen in the animals which individualise, passing out of the group soul into separated identity.

Trong giới động vật cũng thấy điều tương tự nơi những con vật biệt ngã hóa, vượt ra khỏi Hồn nhóm để đi vào căn cước riêng biệt.

146.  Is there, then, a bridging form of life between the animal and the human? Is this what is sometimes meant by “animal man”?

146. Vậy, có chăng một hình thức sống bắc cầu giữa giới động vật và giới nhân loại? Có phải đây là điều đôi khi được gọi là “người thú”?

147.  Is the sattvic moment that actual moment of merging wherein the animal in process of transition from the animal kingdom to the human kingdom, actually enters the human kingdom?

147. Thời khắc sattvic có phải là chính khoảnh khắc hòa nhập, khi con vật đang trong tiến trình chuyển tiếp từ giới động vật sang giới nhân loại thực sự bước vào  giới nhân loại?

These types of activity must be regarded as constituting for the mineral, physical activity, for the vegetable, sentient activity, and for the animal, rudimentary mental activity.

Các loại hoạt động này phải được coi là cấu thành: đối với khoáng vật, hoạt động thể chất; đối với thực vật, hoạt động cảm thụ; và đối với động vật, hoạt động trí tuệ sơ khởi.

148.  We see three kinds of activity which are added to the lower kingdom as it makes its transition into the higher. The immobile mineral becomes physically active. The relatively insentient vegetable becomes sentiently responsive. (Recent experiments have proven some degree of sentient response in the vegetable kingdom.) To the unthinking animal is added rudimentary mental activity. Each transition adds to the scope of the units rising into a higher kingdom.

148. Chúng ta thấy ba loại hoạt động được gia thêm cho giới thấp khi nó chuyển tiếp vào giới cao hơn. Khoáng vật bất động trở nên hoạt động thể chất. Thực vật tương đối vô cảm trở nên đáp ứng cảm thụ. (Những thí nghiệm gần đây đã chứng minh một mức độ đáp ứng cảm thụ nào đó nơi giới thực vật.) Với loài vật chưa biết suy nghĩ, có thêm hoạt động trí tuệ sơ khởi. Mỗi lần chuyển tiếp đều mở rộng phạm vi cho các đơn vị đang thăng nhập một giới cao hơn.

When this triple activity is achieved it might be noted that the dense physical body of the solar or planetary Logos is fully developed, and conscious contact can then [1136] be made with the etheric or vital body.  It is this contact which produces man, for Spirit (as man understands the term) is after all but the energy, vitality, or essential life of the solar, or planetary Logos.  Its correspondence in man is prana.

Khi ba loại hoạt động này được thành tựu người ta có thể lưu ý rằng thể xác đậm đặc của Thái dương hay Hành Tinh Thượng đế đã phát triển đầy đủ, và lúc ấy có thể [] thiết lập tiếp xúc có ý thức với thể dĩ thái hay thể sinh lực. Chính tiếp xúc này sinh ra con người, vì Tinh thần (như con người hiểu thuật ngữ ấy) suy cho cùng chỉ là năng lượng, sinh lực, hay sự sống thiết yếu của Thái dương Thượng đế, hoặc Hành Tinh Thượng đế. Sự tương ứng của nó nơi con người là prana.

149.  Is Master DK saying that all three kinds of transitions must be in process if the human kingdom is to come into existence? Does the upreaching of the animal consciousness into the human require support from lower transitions of the mineral into the vegetable and the vegetable into the animal?

149. Chân sư DK có đang nói rằng cả ba loại chuyển tiếp này phải đồng thời diễn tiến thì giới nhân loại mới có thể xuất hiện không? Liệu sự vươn lên của tâm thức động vật vào nhân loại có đòi hỏi sự hỗ trợ từ các chuyển tiếp thấp hơn—từ khoáng sang thực vật và từ thực vật sang động vật—hay không?

150.  The Spirit/Monad of man (and not only the Solar Angel) is involved in the creation of the individualized animal we call the human being. We are reminded that the Spirit/Monad is an aspect of cosmic vitality and has it ‘location’ within the cosmic ethers.

150. Tinh thần/Chân thần của con người (và không chỉ Thái dương Thiên Thần) tham dự vào việc tạo tác hữu thể biệt ngã hóa mà ta gọi là con người. Chúng ta được nhắc rằng Tinh thần/Chân thần là một phương diện của sinh lực vũ trụ  và có “vị trí” trong các cõi dĩ thái vũ trụ.

151.  We find that the cosmic ethers are involved in the individualization process. The “Jewel in the Lotus” is conducted through the cosmic ethers as an expression of the Monad on its own plane, and the three synthesis petals are a results of buddhic downflow. The impulse which produces the ordinary nine petals seems to emanate from the higher mental plane, and probably from the manasic permanent atom of the higher mental plane. (Again, see EP I 168-169)

151. Chúng ta thấy rằng các cõi dĩ thái vũ trụ có dính dự vào tiến trình biệt ngã hóa. “Viên Ngọc trong Đài Sen” được dẫn truyền qua các cõi dĩ thái vũ trụ như một biểu lộ của Chân Thần trên chính cõi của Ngài, và ba cánh tổng hợp là kết quả của dòng tuôn Bồ đề. Xung lực tạo nên chín cánh thông thường dường như phát xuất từ cõi thượng trí, và có lẽ từ nguyên tử trường tồn manasic của cõi thượng trí. (Xem thêm EP I 168-169)

152.  We are learning that the appearance of man, the self-conscious human being, results from a process of bridging into the cosmic ethers. Man is the vehicle for the sustainment of this bridge between the two aspects of the physical body of the Solar Logos or Planetary Logos—the etheric portion and the dense physical portion.

152. Chúng ta đang học rằng sự xuất hiện của con người, hữu thể tự thức, là kết quả của một tiến trình bắc cầu vào các cõi dĩ thái vũ trụ. Con người là vận cụ để duy trì cây cầu này giữa hai phương diện của thể xác của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế—phần dĩ thái và phần hồng trần đậm đặc.

153.  It is interesting that only when that part of the Solar Logos which exists in the three lower worlds is prepared, can man be ‘created’.

153. Điều đáng chú ý là chỉ khi phần thuộc ba cõi thấp của Thái dương Thượng đế được chuẩn bị thì con người mới có thể được ‘tạo ra’.

154.  How interesting that man’s Spirit/Monad is to the Solar Logos as prana is to man.

154. Thật thú vị khi thấy rằng Tinh thần/Chân thần của con người đối với Thái dương Thượng đế cũng như prana đối với con người.

A comprehension of this will be brought about if man realises that all the planes of our solar system are but the seven subplanes of the cosmic physical plane.

Sự thấu hiểu điều này sẽ được mang lại nếu con người nhận ra rằng tất cả các cõi của hệ mặt trời chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi thể chất vũ trụ.

155.  We are ever reminded of this point for good purpose.

155. Chúng ta luôn được nhắc lại điểm này vì một mục đích tốt đẹp.

It is the realisation of this which will eventually unite science and religion, for what the scientist calls energy, the religious man calls God,

Chính sự nhận ra điều này rốt cuộc sẽ thống nhất khoa học và tôn giáo, vì điều mà nhà khoa học gọi là năng lượng, thì người tôn giáo gọi là Thượng đế,

156.  Here is an utterly simple statement with profound implications If this conceptual gap (the gap separating the understanding of “God” and “energy”) can be bridged we shall witness entirely new possibilities of cooperation between religion and science.

156. Đây là một mệnh đề hết sức giản dị nhưng hàm chứa nhiều điều thâm sâu. Nếu hố cách biệt khái niệm này (ngăn chia sự hiểu biết về “Thượng đế” và “năng lượng”) được bắc cầu, chúng ta sẽ chứng kiến những khả năng hoàn toàn mới của sự hợp tác giữa tôn giáo và khoa học.

and yet the two are one, being but the manifested purpose, in physical matter, of a great extra-systemic Identity.

và dù hai bên là một, chúng chỉ là mục đích được biểu lộ, trong vật chất hồng trần, của Một Đồng Nhất Thể vĩ đại ngoài hệ thống.

157.  This “extra-systemic Identity”, who is both “God” and “Energy” is probably the “One About Whom Naught May Be Said”. Of course “God” and “Energy” extend far beyond this unfathomable Being—unfathomable to us. Ultimately, “God” and “Energy” are the One Universal Logos.

157. “Đồng Nhất Thể ngoài hệ thống” này, vốn vừa là “Thượng đế” vừa là “Năng lượng”, có lẽ là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. Tất nhiên “Thượng đế” và “Năng lượng” vượt xa Hữu Thể khôn dò này—khôn dò đối với chúng ta. Rốt cuộc, “Thượng đế” và “Năng lượng” là Thượng đế Vũ Trụ Duy Nhất.

Nature is the appearance of the physical body of the Logos, and the laws of nature are the laws governing the natural processes of that body.

Thiên Nhiên là sự xuất hiện của thể xác của Thượng đế, và các định luật tự nhiên là các định luật chi phối các tiến trình tự nhiên của thể xác đó.

158.  The physical body of the Solar Logos includes both its etheric and dense physical aspects.

158. Thể xác của Thái dương Thượng đế bao gồm cả phương diện dĩ thái và phương diện hồng trần đậm đặc.

159.  Can it be said that the “laws of nature” extend into the cosmic etheric body of the Solar Logos? We seem to be told this by the text above, yet in other parts of the Teaching, the cosmic etheric body of the Solar Logos seem to belong to the realm of ‘super-nature’.

159. Có thể nói rằng “các định luật tự nhiên” mở rộng vào tận thể dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế chăng? Chúng ta dường như được đoạn văn trên cho biết như vậy, thế nhưng ở những phần khác của Giáo huấn, thể dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế có vẻ thuộc về cõi ‘siêu-tự-nhiên’.

160.  We must be alert to those occasions in which discussion of the physical body of the Solar Logos indicate both His etheric body and His dense physical body, and those occasions when it means only the dense physical body.

160. Chúng ta phải cảnh giác với những trường hợp bàn về thể xác của Thái dương Thượng đế—lúc thì chỉ thị cả  thể dĩ thái và thể hồng trần của Ngài, lúc thì chỉ có riêng  thể hồng trần đậm đặc.

161.  Also, while the physical body of the Logos might be both His etheric body and dense physical body, the “appearance” of that physical body might be confined only to His dense physical body.

161. Cũng vậy, trong khi thể xác của Thượng đế có thể là cả  thể dĩ thái lẫn thể hồng trần, thì “sự xuất hiện” của thể xác ấy có thể chỉ giới hạn nơi phần thể hồng trần đậm đặc.

The Life of God, His energy, and vitality, are found in every manifested atom; His essence indwells all forms.

Sự Sống của Thượng đế, Năng lượng và sinh lực của Ngài, được tìm thấy trong mọi nguyên tử biểu lộ; Bản thể của Ngài nội tại trong mọi hình tướng.

162.  In this context, the “Life of God” are the energies of His cosmic etheric nature.

162. Trong bối cảnh này, “Sự Sống của Thượng đế” là các năng lượng thuộc bản tính dĩ thái vũ trụ của Ngài.

163.  Is a “manifested atom” only the kind which appears within the lowest part of the very densest subplane of the cosmic physical plane, or are all atoms found upon/within the cosmic physical plane to be considered “manifested” atoms?

163. “Nguyên tử biểu lộ” có phải chỉ là loại xuất hiện trong phần thấp nhất của cõi phụ đậm đặc nhất của cõi thể chất vũ trụ, hay mọi  nguyên tử tìm thấy trên/thuộc cõi thể chất vũ trụ đều phải được xem là “nguyên tử biểu lộ”?

164.  We have learned that all subplanes of the cosmic physical plane (and all sub-subplanes as well) are atomic in nature.

164. Chúng ta đã biết rằng mọi cõi phụ của cõi thể chất vũ trụ (và mọi cõi phụ–con) đều mang bản tính nguyên tử.

This we call Spirit,

Điều này, chúng ta gọi là Tinh thần,

165.  “Spirit” is the Life of God, His Energy and vitality.

165. “Tinh thần” là Sự Sống của Thượng đế, là Năng lượng và sinh lực của Ngài.

yet He Himself is other than those forms, just as man knows himself to be other than his bodies.

thế nhưng Tự Ngài lại khác với những hình tướng đó, cũng như con người biết mình khác với các thể của mình.

166.  DK is speaking of the inner and higher principles of the Planetary Logos or Solar Logos found outside Their dense physical body.

166. DK đang nói về các nguyên khí nội tại và cao hơn của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế, vốn ở ngoài phần thể xác đậm đặc của Các Ngài.

He knows himself to be a will, and a purpose,

Con người biết mình là một ý chí, và một mục đích,

167.  Here we are speaking of the monadic nature of both the Solar Logos and Planetary Logos. The center of energy from which this will and purpose arise is found on the cosmic monadic plane.

167. Ở đây chúng ta đang nói về bản tính chân thần của cả Thái dương Thượng đế lẫn Hành Tinh Thượng đế. Trung tâm năng lượng từ đó ý chí và mục đích này phát sinh được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ.

and as he progresses in evolution that purpose and will become to him ever more consciously defined.

và khi y tiến hóa, mục đích và ý chí ấy trở nên ngày càng được y ý thức rõ ràng hơn.

168.  As we come to understand our interior nature more fully, we discover that its expression is our purpose and that the degree of power with which it expresses itself is the strength of our higher will.

168. Khi chúng ta đến gần hơn sự hiểu biết trọn vẹn về bản tính nội tại, chúng ta khám phá rằng sự biểu lộ của nó chính là mục đích của chúng ta, và mức uy lực mà nó tự biểu lộ chính là sức mạnh của ý chí cao hơn của chúng ta.

So with the planetary Logos and solar Logos.  They dwell within, yet are found without, the planetary scheme or solar system.

Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế cũng như vậy. Các Ngài cư ngụ bên trong, thế nhưng lại hiện hữu bên ngoài hệ hành tinh hay hệ mặt trời.

169.  The analogy to man is exact. The Planetary Logos expresses through a planetary scheme and yet has His higher principles and their vehicles “without” (thus dimensionally beyond) the planetary scheme. The Solar Logos expresses through a solar system and yet has His higher principles and their vehicles “without” (thus dimensionally beyond) the solar system.

169. Phép loại suy đối với con người là chính xác. Hành Tinh Thượng đế biểu hiện qua một hệ hành tinh nhưng có các nguyên khí cao hơn và các vận cụ của chúng “ở bên ngoài” (vượt kích chiều) hệ hành tinh. Thái dương Thượng đế biểu hiện qua một hệ mặt trời nhưng có các nguyên khí cao hơn và các vận cụ của chúng “ở bên ngoài” (vượt kích chiều) hệ mặt trời.

170.  As Master DK usually considers the solar system, it consists of the etheric-physical body of the Solar Logos. His cosmic astral body and cosmic mental body are not included nor is His cosmic egoic lotus.

170. Như Chân sư DK thường xét, hệ mặt trời gồm thể dĩ thái–hồng trần của Thái dương Thượng đế. Thể cảm dục vũ trụ và thể trí vũ trụ của Ngài không được bao gồm, cũng như Hoa Sen Chân Ngã vũ trụ của Ngài.

It is useful to remember that in the three lower kingdoms, manifestation, or appearance on the physical plane, is ever group manifestation and not the appearance of separated units.

Điều hữu ích nên nhớ là trong ba giới thấp, sự biểu hiện, hay sự xuất hiện trên cõi hồng trần, là luôn biểu hiện theo nhóm và không phải sự xuất hiện của các đơn vị riêng lẻ.

171.  The appearance of separated units appears only with individualization.

171. Sự xuất hiện của các đơn vị riêng lẻ chỉ xảy ra với biệt ngã hóa.

172.  However separated the apparent units of the lower kingdoms may appear to be, each one of them is part of a group appearance. The question remains: “What is the size of these groupings?” Also, “what higher beings do these groups express?”

172. Dù các đơn vị của những giới thấp có vẻ biệt lập đến đâu, mỗi đơn vị đều là một phần của một sự xuất hiện theo nhóm. Câu hỏi còn lại: “Kích cỡ của những nhóm này là bao nhiêu?” Và nữa, “những Hữu Thể cao hơn nào được các nhóm ấy biểu lộ?”

Each group soul, as it is called, is divided into seven parts whichappear in each of the seven races of a world period, and there is an interesting distinction between them and the units of the human kingdom.

Mỗi Hồn nhóm, như người ta gọi, được chia thành bảy phần, vốn xuất hiện trong mỗi giống người của bảy giống dân của một chu kỳ thế giới, và có một sự phân biệt thú vị giữa chúng với các đơn vị của giới nhân loại.

173.  We are being told that group souls connected with the mineral kingdom, the vegetable kingdom and animal kingdom are all divided into seven parts.

173. Chúng ta được cho biết rằng các hồn nhóm liên quan đến giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật đều được chia thành bảy phần.

174.  Apparently the seven parts of a group soul correspond to the “seven races of a world period”. Presumably, these “seven races” are forms assumed by the entities which soon will be human (proto-humans) or are human.

174. Hiển nhiên bảy phần của một hồn nhóm tương ứng với “bảy giống dân của một chu kỳ thế giới”. Có lẽ, những “bảy giống dân” này là các hình tướng do những thực thể sắp thành người (tiền nhân loại) khoác lấy, hoặc là nhân loại.

175.  Are we being told that each of the seven races of the human kingdom (including the proto-human types) has its own flora and fauna? Given the long duration of the root-races, this would be a distinct possibility.

175. Có phải chúng ta đang được nói rằng mỗi một trong bảy giống dân của giới nhân loại (kể cả các loại tiền nhân loại) đều có hệ thực vật và động vật riêng của mình? Xét đến thời lượng rất dài của các giống dân gốc, điều này là một khả thể rõ ràng.

176.  We also appear to be told that all seven parts of a group soul appear in each of the seven human root-races of a world period. Though the seven parts may be the same from root-race to root-race, the appearance of each part in a root-race may be in contrast with such an appearance in the next root-race.

176. Chúng ta dường như còn được cho biết rằng cả bảy phần của một hồn nhóm xuất hiện trong mỗi  giống dân gốc của một chu kỳ thế giới. Tuy bảy phần ấy có thể là như nhau từ giống này sang giống khác, song sự xuất hiện của mỗi phần trong một giống dân có thể tương phản với sự xuất hiện của chính phần đó trong giống dân kế tiếp.

When portions of the group soul in one of its seven parts are out of incarnation they are to be found on the astral plane, even though the Mothergroup soul is found on the mental plane.

Khi những phần của Hồn nhóm trong một trong bảy phần của nó ra ngoài lâm phàm, chúng sẽ được tìm thấy trên cõi cảm dục, mặc dù Hồn nhóm Mẹ được thấy trên cõi trí.

177.  Here we have some very important information speaking of the distribution of the parts of the group soul as found on one or other of the three lower planes.

177. Ở đây chúng ta có một thông tin rất quan trọng nói về sự phân bố các phần của hồn nhóm như được tìm thấy trên một trong ba cõi thấp.

178.  If the “Mother group soul” is found upon the mental plane, is it the lower mental plane? Perhaps since the “Mother group soul” is a group soul for units in the lower kingdoms, this is likely to be the case.

178. Nếu “Hồn nhóm Mẹ” được thấy trên cõi trí, thì đó có phải là cõi hạ trí  chăng? Có lẽ, vì “Hồn nhóm Mẹ” là hồn nhóm của các đơn vị trong những giới thấp, khả năng này có vẻ đúng.

179.  DK is almost certainly saying that parts of a group soul are not simultaneously in incarnation or that the appearance in incarnation of the various parts are all controlled by certain cyclic laws.

179. DK gần như chắc chắn đang nói rằng các phần của một hồn nhóm không đồng thời cùng lâm phàm, hoặc là sự xuất hiện trong lâm phàm của các phần khác nhau đều được điều tiết bởi những định luật chu kỳ nào đó.

Human units of the fourth kingdom when out of incarnation pass through the astral to the mental and descend again to incarnation from mental levels.[1137]

Các đơn vị nhân loại của giới thứ tư khi ở ngoài lâm phàm đi qua cõi cảm dục lên cõi trí và rồi lại giáng xuống lâm phàm từ các tầng trí.[]

180.  Mental levels, as discussed in relation to units of the fourth kingdom, are higher mental levels. Man takes incarnation from the higher mental plane.

180. “Các tầng trí”, như được bàn liên quan đến các đơn vị của giới thứ tư, là các tầng thượng trí. Con người thọ sinh từ cõi thượng trí.

181.  We are presuming this is not the case for the parts of the group souls within the lower kingdoms.

181. Chúng ta cho rằng điều này không áp dụng cho các phần của hồn nhóm trong những giới thấp.

Each group soul,

Mỗi hồn nhóm,

182.  Presumably, one for each of the three lower kingdoms…

182. Có lẽ, một hồn nhóm cho mỗi trong ba giới thấp…

therefore, subjectively forms a triangle of force with one point (the highest) to be found on the mental plane, the lowest on the etheric levels of the physical plane, and another on the astral plane. 

do đó, chủ quan tạo thành một tam giác lực với một điểm (điểm cao nhất) đặt trên cõi trí, điểm thấp nhất ở các tầng dĩ thái của cõi hồng trần, và một điểm nữa trên cõi cảm dục.

183.  It must be the lower mental plane that is referenced when the lower three kingdoms are discussed.

183. Ắt hẳn là cõi hạ trí  được nói đến khi thảo luận về ba giới thấp.

184.  DK is giving us important information on the planar focus of different kinds of group souls. I have not seen this information given elsewhere.

184. DK đang cho chúng ta một thông tin quan trọng về tiêu điểm cõi của các loại hồn nhóm khác nhau. Tôi chưa thấy thông tin này được nêu ở nơi khác.

The third point for the mineral group-soul is found on the second subplane of the astral, the vegetable on the third, and the animal on the fourth.

Điểm thứ ba đối với hồn nhóm khoáng vật được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục, đối với thực vật là trên cõi phụ thứ ba, và đối với động vật là trên cõi phụ thứ tư.

185.  Fascinating information, showing that even the mineral kingdom has a point of subjective astral focus!

185. Một thông tin lý thú, cho thấy ngay cả giới kim thạch cũng có một điểm tiêu điểm chủ quan trên cõi cảm dục!

186.  Presumably, DK is counting from below upwards.

186. Có lẽ, DK đang đếm từ dưới lên trên.

187.  We have been told that no unit in the lower kingdoms (since none of them is yet self-conscious) can have permanent atoms—at least this is what we are told in one reference. Now we read of “points” of force within a group soul focussed on various subplanes. Elsewhere we have been told of permanent atoms associated with the three lower kingdoms (but we are not sure whether these permanent atoms should be associated with the higher lives manifested through the kingdoms and group souls, or with the unself-conscious units within those kingdoms. The former is probably correct.

187. Chúng ta đã được cho biết rằng không một đơn vị nào trong các giới thấp (vì không đơn vị nào tự thức) có thể có nguyên tử trường tồn—ít nhất đây là điều được nói trong một tham chiếu. Nay chúng ta lại đọc về các “điểm” lực trong một hồn nhóm tập trung trên các cõi phụ khác nhau. Ở nơi khác, chúng ta được nói về các nguyên tử trường tồn liên quan đến ba giới thấp (nhưng chúng ta không chắc liệu những nguyên tử trường tồn này nên được liên hệ với các sự sống cao hơn biểu hiện xuyên qua  các giới và hồn nhóm, hay với các đơn vị chưa tự thức bên trong  các giới ấy. Khả năng đầu có lẽ đúng hơn).

It is owing to the fact that a centre of force for the animal group soul is found on the fourth subplane of the astral plane that it is possible for transference eventually to be made out of that kingdom into the fourth.

Chính do thực tế rằng một trung tâm lực của hồn nhóm động vật được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục mà sự chuyển dịch cuối cùng có thể được thực hiện ra khỏi giới đó để bước vào giới thứ tư.

188.  Numerology (indicating numerical resonance) is involved in this transference. The animal group has a center of focus on the fourth subplane of the astral plane and can therefore participate in producing the fourth kingdom.

188. Số học (chỉ sự cộng hưởng số học) can dự vào sự chuyển dịch này. Nhóm động vật có một tiêu điểm trên cõi phụ thứ tư  của cõi cảm dục và do đó có thể tham dự vào việc sản sinh giới thứ tư.

189.  Are there analogies here? The vegetable kingdom having a point of focus on the third subplane of the astral plane and therefore able to make a transition into the third kingdom? The mineral kingdom having a focus on the second subplane of the astral plane and, therefore, able to make a transition into the second or vegetable kingdom?

189. Có tương tự nào ở đây không? Giới thực vật có một điểm tiêu điểm trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục và do đó có thể chuyển vào giới thứ ba? Giới kim thạch có tiêu điểm trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục và do đó có thể chuyển vào giới thứ hai hay giới thực vật?

190.  Also, we must consider that the mental unit is focused on the fourth subplane of the mental plane suggesting an imminent shift into the causal body.

190. Đồng thời, chúng ta phải xét rằng đơn vị hạ trí tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, gợi ý một dịch chuyển cận kề vào thể nguyên nhân.

191.  What of man and his transition into the fifth kingdom? From what type of fifth subplane is this transition made—from a fifth (from below) subplane on the astral plane or on the mental plane? May we say that, for man, a focus on the fifth (from below) subplane of the astral corresponds with the causal body’s lowest focus on the fifth (from below) subplane of the mental plane? The appearance of that causal body on that causal body signals the appearance of man.

191. Còn con người và sự chuyển vào giới thứ năm thì sao? Sự chuyển này được thực hiện từ loại cõi phụ thứ năm nào—từ một cõi phụ thứ năm (tính từ dưới) trên cõi cảm dục hay trên cõi trí? Ta có thể nói rằng, đối với con người, một tiêu điểm trên cõi phụ thứ năm (tính từ dưới) của cõi cảm dục tương ứng với tiêu điểm thấp nhất của thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ năm (tính từ dưới) của cõi trí chăng? Sự xuất hiện của thể nguyên nhân trên cõi ấy báo hiệu sự xuất hiện của con người.

192.  In any case, we learn to pay close attention to numerical links because they indicate lines of relationship and progression.

192. Dù sao, chúng ta học được rằng phải chú ý kỹ các liên kết số học, vì chúng chỉ ra các tuyến liên hệ và tiến triển.

Scroll to Top