S9S8 Part I (TCF 1146-1152)
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để tăng khả năng dễ đọc khi chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt cỡ chữ 14. Lời Bình xuất hiện với cỡ chữ 12. Gạch chân, In đậm và Tô sáng bởi MDR) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Đề nghị Lời Bình này được đọc cùng với TCF trong tay, vì sự liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy hãy đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu Lời Bình |
|
A third factor differentiating the groups of human units who reached self-consciousness on our planet is hidden in the methods employed by the Lords of the Flame at that time. They, we are told, employed three methods. |
Một yếu tố thứ ba phân biệt các nhóm đơn vị con người đã đạt tự ý thức trên hành tinh của chúng ta được ẩn trong các phương pháp được các Chúa Tể của Lửa sử dụng vào thời đó. Chúng ta được cho biết rằng Các Ngài đã dùng ba phương pháp. |
|
1. We have been looking at the manner in which groups of human units are differentiated. |
1. Chúng ta đã xem xét cách thức các nhóm đơn vị con người được phân biệt. |
|
2. We now begin an important study which differentiates the methods used by the Lords of the Flame at the time when animal-men of this chain were being individualized. |
2. Giờ đây chúng ta bắt đầu một khảo cứu quan trọng phân biệt các phương pháp do các Chúa Tể của Lửa sử dụng vào thời các người-thú của Dãy này đang được biệt ngã hóa. |
|
First, They themselves took bodies and thus energised certain of the higher forms of the animal kingdom, so that they appeared as man, |
Trước hết, Các Ngài tự mình thọ thân và như thế đã tiếp sinh lực cho một số hình thể cao cấp của thú giới, đến độ chúng hiển lộ như con người, |
|
3. The Solar Angels appeared as men but were obviously much higher. This was, we can imagine, a great sacrifice on the part of the Solar Angels who engaged in this process. |
3. Các Thái dương Thiên Thần đã hiển lộ như những con người nhưng hiển nhiên cao hơn rất nhiều. Chúng ta có thể tưởng tượng đây là một sự hy sinh vĩ đại của các Thái dương Thiên Thần tham gia tiến trình này. |
|
4. The Monad involved was the solar angelic Monad; the vehicle was the human vehicle. |
4. Chân thần can dự là chân thần thuộc giới thiên thần Thái dương; vận cụ là vận cụ nhân loại. |
|
and thus initiated a particular group. |
và như thế khai mở một nhóm đặc thù. |
|
5. Probably it was a group consisting of the very highest type of animal-men of the period. Probably certain Solar Angels ‘entered’ in the midst of such a group and their influence moulded the outer vehicular forms of that group. Outwardly they would have appeared rather the same as the human Monads who continued to use the type of vehicle which the Solar Angels entered. Inwardly, they would have been greatly more advanced. They would have been the God-Kings of that early period. In time, the effect of their presence and psyche upon the vehicles they used would be noted. The outer forms of the vehicles would change. |
5. Có lẽ đó là một nhóm gồm những người-thú cao nhất thời bấy giờ. Có lẽ một số Thái dương Thiên Thần ‘nhập vào’ giữa một nhóm như thế và ảnh hưởng của Các Ngài đã uốn nắn các vận cụ bên ngoài của nhóm ấy. Bề ngoài họ có lẽ trông khá giống các Chân thần nhân loại tiếp tục sử dụng loại vận cụ mà Thái dương Thiên Thần đã nhập vào. Nhưng nội tâm, họ vượt trội hơn rất nhiều. Họ hẳn là các Thần Vương của thời kỳ sơ khai đó. Theo thời gian, ảnh hưởng của sự hiện diện và tâm linh của họ lên các vận cụ họ dùng sẽ được ghi nhận. Hình dạng bên ngoài của các vận cụ sẽ thay đổi. |
|
Their descendants can be seen in the highest [1147] specimens of the earth humanity now on earth. |
Hậu duệ của họ có thể thấy trong những mẫu [] vật cao nhất của nhân loại Địa Cầu hiện nay. |
|
6. This is a fascinating thought. Who are these human beings? Can they be distinguished readily from those who individualized on the Moon-chain? DK does not specify. |
6. Đây là một ý niệm cuốn hút. Những con người này là ai? Liệu họ có thể dễ dàng được phân biệt với những kẻ đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng không? Chân sư DK không chỉ rõ. |
|
7. Note DK’s rather objective perspectives, speaking of groups of human beings as “specimens”. |
7. Lưu ý góc nhìn khá khách quan của DK, nói về các nhóm con người như là “mẫu vật”. |
|
They are not even now, however, as far advanced as the groups of units from the moon chain who came in in Atlantean days. |
Tuy nhiên, ngay cả bây giờ họ vẫn chưa phát triển xa bằng các nhóm đơn vị đến từ Dãy Mặt Trăng và đã đến trong những ngày Atlantis. |
|
8. We wish to know how close they are in their development to Moon-chain humanity. |
8. Chúng ta muốn biết họ gần với trình độ của nhân loại Dãy Mặt Trăng đến mức nào. |
|
Their heredity is peculiar. |
Dòng giống của họ là đặc dị. |
|
9. DK says no more about their nature, but one would expect a certain kind of refinement. We must remember that there are some members of Earth-humanity already are part of the Spiritual Hierarchy of our planet—some, perhaps, who are Masters of the Wisdom. The Christ is the foremost among these. |
9. DK không nói thêm về bản chất của họ, nhưng người ta có thể kỳ vọng một thứ tinh luyện nhất định. Chúng ta phải nhớ rằng đã có những thành viên của nhân loại Địa Cầu thuộc về Thánh Đoàn của hành tinh chúng ta—vài vị, có lẽ, là các Chân sư của Minh triết. Đức Christ là vị đứng đầu trong số này. |
|
10. In the particular group under discussion, we might expect a relative absence of the third ray, which was the predominating ray (monadically) of Moon-chain humanity. 25% of Earth-chain humanity had the third ray Monad. |
10. Trong nhóm đặc thù đang bàn, chúng ta có thể mong đợi một sự vắng tương đối của cung ba, vốn là cung trội (về mặt chân thần) của nhân loại Dãy Mặt Trăng. 25% nhân loại Dãy Địa Cầu có chân thần cung ba. |
|
11. We realize that the presence of the Solar Angels within the vehicles of early man must have had a tremendous conditioning effect upon those vehicles. Such ‘conditioned’ vehicles then became available for the members of the human race and, because of the conditioning, provided them with additional evolutionary opportunities. |
11. Chúng ta nhận ra rằng sự hiện diện của các Thái dương Thiên Thần bên trong các vận cụ của người sơ khai hẳn đã có tác dụng điều kiện hóa to lớn đối với các vận cụ ấy. Các vận cụ được ‘điều kiện hóa’ như vậy trở nên khả dụng cho các thành viên của nhân loại và, do sự điều kiện hóa đó, cung cấp cho họ những cơ hội tiến hóa bổ sung. |
|
They implanted a germ of mind in the secondary group of animal-men who were ready for individualisation. |
Các Ngài đã cấy một mầm trí vào nhóm thứ cấp của người-thú sẵn sàng cho biệt ngã hóa. |
|
12. We note that this method involves direct implantation. |
12. Chúng ta lưu ý rằng phương pháp này bao hàm sự cấy ghép trực tiếp. |
|
13. We understand that this could only happen for animal-men who had reached a sufficient degree of development or refinement. |
13. Chúng ta hiểu rằng điều này chỉ có thể xảy ra với những người-thú đã đạt đến một mức phát triển hay tinh luyện đủ. |
|
14. DK does not give the requirements for those who could receive this implantation, but we know that such requirements must have existed. |
14. DK không nêu các điều kiện cho những ai có thể tiếp nhận sự cấy ghép này, nhưng chúng ta biết ắt hẳn có các điều kiện như thế. |
|
This group, for a long time, was unable to express itself, |
Nhóm này, trong một thời gian dài, đã không thể tự biểu lộ, |
|
15. This probably means that the developing causal body was unable to find expression through the vehicle—and largely the physical vehicle, as we are speaking of developments in Lemurian times. |
15. Điều này có lẽ có nghĩa là thể nguyên nhân đang phát triển chưa thể tự biểu lộ qua vận cụ—và chủ yếu là vận cụ hồng trần, vì chúng ta đang nói về các phát triển trong thời Lemuria. |
|
16. DK seems to be telling us that the developing human qualities (inwardly ‘stored’) probably were not easily expressed upon the physical plane. |
16. Dường như DK cho biết rằng các phẩm chất nhân loại đang phát triển (được ‘tàng trữ’ bên trong) có lẽ khó lòng biểu đạt trên cõi hồng trần. |
|
and was most carefully nurtured by the Lords of Flame, |
và đã được các Chúa Tể của Lửa nuôi dưỡng hết sức cẩn thận, |
|
17. We can see that these early stages of development must have demanded close solar angelic supervision. We must compare this thought with the thought that the Solar Angel usually does not interest itself in the developing human being until the fifth petal of the egoic lotus is being organized and beginning to unfold. |
17. Chúng ta thấy rằng các giai đoạn phát triển ban đầu hẳn đòi hỏi sự giám hộ mật thiết của các thiên thần Thái dương. Chúng ta phải so sánh tư tưởng này với tư tưởng rằng Thái dương Thiên Thần thường không quan tâm đến con người đang phát triển cho đến khi cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã được tổ chức và khởi mở. |
|
nearly proving a failure. |
suýt trở thành một thất bại. |
|
18. We see that experiments exist even for beings far in advance of the present-day human being. We understand nothing of the risks and obstacles which may have rendered this great experiment a failure. |
18. Chúng ta thấy rằng ngay cả đối với các sự sống vượt xa con người ngày nay cũng có những cuộc thí nghiệm. Chúng ta không hiểu gì về những rủi ro và chướng ngại có thể khiến cuộc đại thí nghiệm này trở thành thất bại. |
|
19. What would it here again have meant for the group to have become a “failure”? Perhaps that the spark of mind might not have germinated sufficiently to become the directing power of the life? That, therefore, the lower elemental life would have remained completely in control, overwhelming the developing human consciousness? Perhaps that no true recognition of individuality might have developed? |
19. Ở đây, “thất bại” sẽ có nghĩa gì? Có lẽ là tia lửa của trí tuệ không nẩy mầm đủ để trở thành quyền lực chỉ đạo của đời sống? Như vậy, sự sống hành khí thấp sẽ tiếp tục hoàn toàn chi phối, áp đảo tâm thức con người đang phát triển? Có lẽ là không hình thành được sự nhận thức đích thực về tính cá thể? |
|
By the time, however, that the last subrace of the Lemurian root race was at its height |
Tuy nhiên, đến lúc giống dân phụ cuối cùng của giống dân gốc Lemuria đạt tới đỉnh cao |
|
20. The seventh sub-race of the Lemurian root-race… |
20. Giống dân phụ thứ bảy của giống dân gốc Lemuria… |
|
21. Would this have occurred in early Atlantean times as there is always an overlapping of one root-race with the following root-race? I believe there is merit to this thought. |
21. Điều này có diễn ra vào thời kỳ đầu Atlantis không, vì luôn có sự chồng lấn giữa một giống dân gốc với giống dân gốc kế tiếp? Tôi tin ý này có cơ sở. |
|
it suddenly came into the forefront of the then civilisation, and justified hierarchical effort. |
nó đột ngột vươn lên tiền tuyến của nền văn minh khi ấy, và chứng tỏ xứng đáng với nỗ lực của Thánh Đoàn. |
|
22. What types of human beings comprised the “then civilisation”? Did it consist of those who were the descendants of the Solar Angels who actually embodied the forms of early animal-man? Were there also lesser humans for whom the mental unit had been “fanned” but the spark of mind not implanted? |
22. Những kiểu người nào cấu thành “nền văn minh khi ấy”? Nó có gồm các hậu duệ của các Thái dương Thiên Thần vốn đã thật sự nhập thể các hình tướng của người-thú sơ khai không? Liệu cũng có những người thấp hơn mà ở họ đơn vị hạ trí đã được “thổi bùng” nhưng tia lửa trí tuệ chưa được cấy ghép? |
|
23. Were there, possibly, individuals who had come in from the Moon-chain? This latter possibility may be unlikely because we are told that Moon-chain humanity came in during the early fourth root-race, specifically the third sub-race of the fourth root-race. |
23. Liệu có thể có những cá nhân đã đến từ Dãy Mặt Trăng? Khả năng sau có thể không đúng vì chúng ta được cho biết rằng nhân loại Dãy Mặt Trăng đến trong giai đoạn đầu của giống dân gốc thứ tư, cụ thể là giống dân phụ thứ ba của giống dân gốc thứ tư. |
|
24. However, if there was an overlap between the Lemurian and Atlantean civilizations (as very likely there would have been) then the Atlantean group could have begun coming in when the Lemurian root-race reached the fourth sub-race of the third root race. In that case, some Moon-chain humanity could certainly have comprised some of the membership of the seventh sub-race of the third root race. |
24. Tuy nhiên, nếu có sự chồng lấn giữa các nền văn minh Lemuria và Atlantis (và điều này rất có thể) thì nhóm Atlantis có thể bắt đầu đi vào khi giống dân gốc Lemuria đạt tới giống dân phụ thứ tư của giống dân gốc thứ ba. Trong trường hợp đó, một số nhân loại Dãy Mặt Trăng chắc chắn có thể là thành phần của giống dân phụ thứ bảy của giống dân gốc thứ ba. |
|
25. Yet, it is hard to imagine (were the Moon-chainers part of that later Lemurian civilization) how those in whom the spark of mind was implanted might have “come to the fore”. One would presume that they would be still far behind the Moon-chainers. |
25. Tuy vậy, thật khó hình dung (nếu những người Dãy Mặt Trăng là một phần của nền văn minh Lemuria muộn ấy) làm sao những kẻ được cấy tia lửa trí tuệ có thể “vươn lên hàng đầu”. Người ta sẽ đoán rằng họ vẫn còn ở khá phía sau những người Dãy Mặt Trăng. |
|
26. We can see how important it will be to have accurate knowledge of the Science of Cycles. |
26. Chúng ta thấy sẽ quan trọng nhường nào khi có tri thức chuẩn xác về Khoa học Chu kỳ. |
|
Thirdly, They fostered the germ of instinct in certain groups of animal-men until it flowered into mind. |
Thứ ba, Các Ngài đã ươm dưỡng mầm bản năng trong một số nhóm người-thú đến khi nó nở hoa thành trí. |
|
27. The mental unit itself grew out of “instinct”. This process can be understood as “fanning” the germ of mind provided by instinct, but not as direct implantation. |
27. Chính đơn vị hạ trí lớn dậy từ “bản năng”. Tiến trình này có thể được hiểu như việc “thổi bùng” mầm trí do bản năng cung cấp, chứ không phải là cấy ghép trực tiếp. |
|
28. The mental unit would naturally have developed (and unfolded) under the pressure of ‘rising’ instinct, but nowhere nearly as rapidly without the intervention of the Solar Angels. |
28. Đơn vị hạ trí tự nhiên sẽ phát triển (và khai mở) dưới áp lực của bản năng “thăng lên”, nhưng sẽ không thể nhanh như vậy nếu không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. |
|
29. In each case the Solar Angels did what they could, given the caliber of the diverse types of animal-men of the period. |
29. Trong mỗi trường hợp, các Thái dương Thiên Thần đã làm hết những gì Các Ngài có thể, phù hợp với phẩm cấp của các loại người-thú đa dạng thời bấy giờ. |
|
It must never be forgotten that men have within themselves (apart from any extraneous fostering) |
Không bao giờ được quên rằng con người mang trong chính mình ( ngoài mọi sự ươm dưỡng từ bên ngoài) |
|
30. The fostering power of the Solar Angels.. |
|
|
the ability to arrive, and to achieve full self-consciousness. |
khả năng đi tới, và đạt tới tự ý thức trọn vẹn. |
|
31. Yes, these types would have arrived at individualization and self-consciousness even without the Solar Angels, but how many millions of years might it have taken? |
31. Đúng vậy, những hạng này sẽ đạt tới biệt ngã hóa và tự ý thức ngay cả không có các Thái dương Thiên Thần, nhưng sẽ mất bao nhiêu triệu năm? |
|
32. The ability to achieve full self-consciousness (without extraneous intervention) was demonstrated on the Moon-chain. We do not know the manner of individualization as it occurred in the previous solar system, but perhaps the Moon-chain method was a reflection of that far earlier method. |
32. Năng lực đạt tới tự ý thức trọn vẹn (không cần can thiệp từ bên ngoài) đã được chứng nghiệm trên Dãy Mặt Trăng. Chúng ta không biết cách thức biệt ngã hóa xảy ra trong hệ mặt trời trước, nhưng có lẽ phương pháp Dãy Mặt Trăng là một phản chiếu của phương pháp xa xưa ấy. |
|
These three methods bring us to the fourth factor which must be remembered, that of the three modes of motion which powerfully affect the incarnating jivas. |
Ba phương pháp này đưa chúng ta đến yếu tố thứ tư cần được ghi nhớ, đó là ba lối vận động vốn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các jiva đang lâm phàm. |
|
33. Here Master DK will speak of the three Gunas in relation to the individualization process. |
33. Ở đây Chân sư DK sẽ nói về ba Guna liên hệ với tiến trình biệt ngã hóa. |
|
The Sons of Mind are distinguished by the three qualities of matter as has been earlier brought out, and they have been generically called: |
Các Con của Trí Tuệ được phân biệt bởi ba phẩm tính của chất liệu như đã nêu trước, và tổng quát được gọi là: |
|
1. The Sons of sattvic rhythm, |
1. Các Con của nhịp điệu sattvic, |
|
34. These are the most advanced human beings. We could call them initiates. This group can be associated with the Hall of Wisdom. |
34. Đây là những con người tiến bộ nhất. Chúng ta có thể gọi họ là các vị điểm đạo. Nhóm này có thể liên hệ với Phòng Minh triết. |
|
2. The Sons of mobility, |
2. Các Con của linh động, |
|
35. These are intelligent and awakening human beings. |
35. Đây là những con người thông tuệ và đang thức tỉnh. |
|
36. This group can be associated with the Hall of Learning. |
36. Nhóm này có thể liên hệ với Phòng Hiểu Biết. |
|
3. The Sons of inertia. |
3. Các Con của trệ. |
|
37. These are the least awakened human beings. |
37. Đây là những con người kém thức tỉnh nhất. |
|
38. This group can be associated with the Hall of Ignorance. |
38. Nhóm này có thể liên hệ với Phòng Vô Minh. |
|
These qualities are the characteristics of the three major Rays, and of the three Persons of the Godhead; |
Các phẩm tính này là đặc trưng của ba Cung chính, và của Ba Ngôi của Thượng đế; |
|
39. This association is not exactly straightforward. Tamas can represent the inertia of unresponsive matter but also the changelessness of Spirit. Rajas can represent a life of material desire but also the life of ceaseless spiritual aspiration. Sattva generally has the connotation of balance. It can represent the balance between consciousness and activity achieved in states of high soul development. There is also an early state before the balance is preserved and true development in matter begins. |
39. Sự liên hệ này không hoàn toàn thẳng băng. Tamas có thể biểu trưng cho quán tính của chất liệu vô cảm ứng nhưng cũng là tính bất biến của Tinh thần. Rajas có thể biểu trưng cho một đời sống dục vọng vật chất nhưng cũng là đời sống của khát vọng tinh thần không ngừng. Sattva thường mang hàm nghĩa quân bình. Nó có thể biểu trưng sự quân bình giữa tâm thức và hoạt động được đạt tới trong các trạng thái phát triển cao của linh hồn. Cũng có một giai đoạn sớm trước khi sự quân bình được duy trì và sự phát triển chân thực trong chất liệu khởi sự. |
|
they are the qualities of consciousness—material, intelligent, and divine. |
chúng là các phẩm tính của tâm thức—vật chất, trí tuệ và thiêng liêng. |
|
40. If we look at the three words: “material”, “intelligent” and “divine”, they (as usually understood) correlate with tamas, rajas and sattva respectively. |
40. Nếu chúng ta xét ba từ: “vật chất”, “trí tuệ” và “thiêng liêng”, chúng (như thường được hiểu) tương ứng với tamas, rajas và sattva tương ứng. |
|
They are the predominating characteristics of the chains of which our earth is one. |
Chúng là những đặc trưng trội hơn của các Dãy mà địa cầu của chúng ta là một. |
|
41. There is always a question about how to interpret the term “earth”, as it may signify our dense physical globe (not really entirely dense) or, perhaps, the entire Earth-scheme. |
41. Luôn có một vấn đề về cách diễn giải từ “địa cầu/Trái Đất”, vì nó có thể chỉ bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của chúng ta (thực ra không hoàn toàn đậm đặc) hoặc, có lẽ, toàn thể Hệ hành tinh Địa Cầu. |
|
42. How shall we consider the meaning of this statements. Sometimes the Earth-scheme is called, accurately, a “scheme” but in the older theosophical literature, a “chain”. |
42. Chúng ta nên xét nghĩa lời phát biểu này ra sao. Đôi khi Hệ hành tinh Địa Cầu được gọi đúng là “hệ hành tinh” nhưng trong văn liệu Thông Thiên Học cổ hơn, là “Dãy”. |
|
43. I think we can agree that (at their present stages of unfoldment) some of these chains (really schemes) are presently tamasic, some of them are presently rajasic and some are presently sattvic. Whether they are tamasic, rajasic or sattvic (from one perspective) can depend not so much on the inherent spiritual status of the Planetary Logos in question, but on the degree of unfoldment of that Logos through its various vehicles. |
43. Tôi nghĩ chúng ta có thể đồng ý rằng (ở các giai đoạn khai mở hiện thời của chúng) vài Dãy (thực ra là các hệ hành tinh) hiện tamasic, vài Dãy hiện rajasic và vài Dãy hiện sattvic. Việc chúng là tamasic, rajasic hay sattvic (từ một góc nhìn) có thể không tùy vào địa vị tinh thần vốn có của Hành Tinh Thượng đế liên hệ cho bằng mức độ khai mở của Thượng đế ấy qua các vận cụ khác nhau của Ngài. |
|
44. On the other hand, it is possible that the terms “tamasic”, “rajasic” and “tamasic” could refer to the actual degree of spiritual status, with the non-sacred planets deemed to be “tamasic” and the highest of the planetary Deities (the Logoi of the synthesizing planets for instance) deemed as “sattvic”. |
44. Mặt khác, cũng có thể các thuật ngữ “tamasic”, “rajasic” và “tamasic” có thể chỉ thẳng mức độ địa vị tinh thần, các hành tinh phi thiêng liêng bị coi là “tamasic” và các Vị Thần Hành tinh cao nhất (chẳng hạn các Thượng đế của những hành tinh tổng hợp) được coi là “sattvic”. |
|
45. If we look at this sentence in the context of the chains of the Earth-scheme, then “our earth” is probably considered to be the Earth-chain. Clearly there is an etheric plane, an astral plane, a mental plane etc. associated with “our earth” so I do not think that DK is referring only to the physical crust of our planet. |
45. Nếu chúng ta xét câu này trong bối cảnh các Dãy của Hệ hành tinh Địa Cầu, thì “địa cầu của chúng ta” có lẽ được coi là Dãy Địa Cầu. Rõ ràng có một cõi dĩ thái, một cõi cảm dục, một cõi trí, v.v. liên hệ với “địa cầu của chúng ta” nên tôi không nghĩ Chân sư DK chỉ đề cập đến lớp vỏ hồng trần của hành tinh chúng ta. |
|
46. The chains are really both independent and interdependent spheres of planetary activity. Knowledge of what occurs within them is sketchy at this time. |
46. Các Dãy thực sự vừa là những lĩnh vực hoạt động hành tinh độc lập vừa tương thuộc. Kiến thức về những gì diễn ra trong chúng hiện còn rất phác lược. |
|
47. In the tabulation below we are considering whether the various chains of the Earth-scheme are tamasic, rajasic or sattvic. We can see that one begins with the chain located on the highest planes and ends with a corresponding chain on an equally high level of development. |
47. Trong bảng dưới đây chúng ta đang xét xem các Dãy khác nhau của Hệ hành tinh Địa Cầu là tamasic, rajasic hay sattvic. Ta có thể thấy rằng một Dãy bắt đầu ở các cõi cao nhất và kết thúc với một Dãy tương ứng ở mức phát triển cũng cao như vậy. |
|
Earth Planetary Scheme |
Hệ hành tinh Địa Cầu |
|
First Chain………… Archetypal. |
Dãy Thứ Nhất………… Nguyên mẫu. |
|
Dãy Thứ Hai…………. Nhịp điệu Sattva. |
|
|
Third Chain……….. Mobility. |
Dãy Thứ Ba………….. Linh động. |
|
Fourth Chain……… Inertia. |
Dãy Thứ Tư………….. Quán tính. |
|
Fifth Chain………… Mobility. |
Dãy Thứ Năm…………. Linh động. |
|
Sixth Chain………… Sattvic Rhythm. |
Dãy Thứ Sáu…………. Nhịp điệu Sattva. |
|
Seventh Chain……. Perfection. |
Dãy Thứ Bảy…………. Toàn thiện. |
|
48. By the time the process on the Seventh Chain is fulfilled, that which is archetypal in the first chain has been manifested or realized. The seventh chain sees the embodiment of first chain archetypes. |
48. Khi tiến trình trên Dãy Thứ Bảy được viên mãn, cái vốn là nguyên mẫu trên Dãy Thứ Nhất đã được biểu lộ hay được thực chứng. Dãy thứ bảy chứng kiến sự thể hiện các nguyên mẫu của Dãy thứ nhất. |
|
49. The chains most associated with the third and fifth rays (and thus with mentality) are the third and fifth chains. |
49. Những Dãy gắn liền nhất với cung ba và cung năm (và như vậy với tâm trí) là Dãy thứ ba và Dãy thứ năm. |
|
50. We can expect that a condition of harmony prevails or prevailed upon the second chain, but that if would be a more passive harmony. By the time the sixth chain is reached and many planetary processes undergone, the harmony is amongst the embodied expressions of divinity. That which intelligence has produced is harmonized. |
50. Ta có thể kỳ vọng rằng một tình trạng hài hòa ngự trị hay đã ngự trị trên Dãy thứ hai, nhưng đó sẽ là một hài hòa thụ động hơn. Đến khi đạt tới Dãy thứ sáu và nhiều tiến trình hành tinh đã được trải qua, sự hài hòa là giữa các biểu hiện đã nhập thể của thiên tính. Cái mà trí tuệ đã sản sinh được điều hòa. |
|
51. There would also probably be a method of applying the general structure of the tabulation to the planetary schemes, but their ‘location’ of the various planes does not exactly parallel the method of distribution of the planetary chains within a planetary scheme. In making application to the planetary schemes we would also have to consider Planetary Logoi whose schemes are in process of ‘descent’ and those whose schemes are in process of ‘abstraction’. These are sciences of the future. |
51. Hẳn cũng có một phương pháp áp dụng cấu trúc tổng quát của bảng này cho các hệ hành tinh, nhưng “vị trí” của chúng trên các cõi không hoàn toàn song song với phương pháp phân bổ các Dãy hành tinh trong một hệ hành tinh. Khi áp dụng cho các hệ hành tinh, chúng ta cũng sẽ phải xét đến các Hành Tinh Thượng đế mà hệ hành tinh của Các Ngài đang trong tiến trình “giáng hạ” và những vị mà hệ hành tinh đang trong tiến trình “trừu xuất”. Đây là những khoa học của tương lai. |
|
The factors which we have considered as affecting the different incarnating units have a vital effect on their cyclic evolution, and the ray and the three main types produce varying periodic appearance. |
Các yếu tố mà chúng ta đã xét thấy là ảnh hưởng đến những đơn vị lâm phàm khác nhau có ảnh hưởng sinh động lên chu kỳ tiến hóa của chúng, và các cung và ba loại chính tạo ra khác nhau theo chu kỳ những lần xuất hiện. |
|
52. The cycles of “appearance” and “disappearance” of human units depend upon the rays of those units and also whether they are tamasic, rajasic or sattvic units. Certain units appear when their ray (i.e., soul ray) is in incarnation and may be held in abstraction when that ray is temporarily out of expression. There are also cycles of ‘entry’ and ‘exit’ which depend upon whether the human unit is expressing in terms of inertia, mobility or rhythm. |
52. Chu kỳ “xuất hiện” và “biến mất” của các đơn vị nhân loại tùy thuộc vào các cung của những đơn vị ấy và cũng tùy thuộc việc chúng là đơn vị tamasic, rajasic hay sattvic. Những đơn vị nhất định xuất hiện khi cung của họ (tức cung linh hồn) đang lâm phàm và có thể bị giữ trong trạng thái trừu xuất khi cung ấy tạm thời không biểu lộ. Cũng có những chu kỳ “đi vào” và “đi ra” tùy thuộc vào việc đơn vị nhân loại đang biểu lộ theo quán tính, linh động hay nhịp điệu. |
|
Certain statements have been made in occult books as to the length of time varying between incarnations. Such statements are in the maininaccurate, for they make no allowance for Ray difference, and permit of no calculations as to whether the human unit involved is a unit of inertia, a sattvic point, or a rajasic entity. |
Đã có những phát biểu trong các sách huyền môn về độ dài của thời gian thay đổi giữa các lần lâm phàm. Những phát biểu như vậy nhìn chung không chính xác, vì chúng không tính đến khác biệt về Cung, và không cho phép tính toán liệu đơn vị nhân loại liên hệ là một đơn vị quán tính, một điểm sattvic, hay một thực thể rajasic. |
|
53. The statements made have come mostly from the works of C.W. Leadbeater, whom the Tibetan regards as a disciple of considerable attainment. But the matter is intricate and the many ray distinctions and one or other of the gunas which characterize human units, must be factored in. We can see that only a Master or high initiate would be able to do this, though perhaps some general principles can be laid down. |
53. Những phát biểu ấy chủ yếu đến từ các trước tác của Ông C.W. Leadbeater, người mà Chân sư Tây Tạng coi là một đệ tử có thành tựu đáng kể. Nhưng vấn đề này phức tạp và nhiều dị biệt về cung cùng với một trong ba guna đặc trưng cho các đơn vị nhân loại phải được tính vào. Chúng ta có thể thấy rằng chỉ có một Chân sư hay một vị điểm đạo cao mới có thể làm việc này, dẫu có lẽ vẫn có thể nêu ra vài nguyên tắc tổng quát. |
|
54. For instance, a very primitive human being does not have much upon which to ‘work’ while in the subtle worlds and so will probably return rapidly for the accumulation of earthly experience, which, eventually, will become a developed sentient and mental nature requiring ‘work’ following abstraction from the physical plane. |
54. Thí dụ, một con người rất nguyên thủy không có nhiều thứ để “làm việc” khi ở trong các giới vi tế nên có lẽ sẽ trở lại nhanh chóng để tích lũy kinh nghiệm trần thế, thứ mà rốt cuộc sẽ trở thành một bản chất cảm tính và trí tuệ phát triển, đòi hỏi “công việc” sau khi đã trừu xuất khỏi cõi hồng trần. |
|
No hard and fast rule can be laid down at this time for the general public,though such rules exist, and are governed by seven different formulas for the three main types. |
Không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc nào vào thời điểm này cho công chúng nói chung, dù những quy luật như vậy tồn tại, và được chi phối bởi bảy công thức khác nhau dành cho ba loại chính. |
|
55. We have some really intriguing statements here. |
55. Ở đây chúng ta có những phát biểu thực sự gợi trí. |
|
56. When we know more about ray cycles we will be in a position to better assess the duration of the discarnate states. |
56. Khi biết nhiều hơn về các chu kỳ của cung, chúng ta sẽ có thể đánh giá tốt hơn độ dài của các trạng thái phi nhập thể. |
|
57. It is probable that by “the three main types” DK is referring to whether the unit concerned is tamasic, rajasic or sattvic in nature. |
57. Có khả năng rằng bằng “ba loại chính” Chân sư DK đang ám chỉ việc đơn vị liên hệ có bản chất tamasic, rajasic hay sattvic. |
|
58. In each of the three groups determined by one of three gunas seven ray types are to be found—at least in principle. We must remember, however, that the undeveloped human being is not possessed of a soul on the first, second or third ray and must make transition to one of these three Rays of Aspect at some later point in his long pilgrimage. |
58. Trong mỗi nhóm trong ba nhóm được xác định bởi một trong ba guna, có bảy loại cung—ít nhất là về nguyên tắc. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng con người chưa phát triển thì chưa sở hữu một linh hồn thuộc cung một, hai hay ba, và phải chuyển sang một trong ba Cung Trạng Thái này tại một điểm nào đó muộn hơn trong cuộc lữ hành dài lâu của y. |
|
59. DK is telling us there are, in fact, rules relating to the cycle of incarnation and discarnate cycles, but that they are not for the general public. |
59. Chân sư DK nói với chúng ta rằng quả thật có những quy luật liên quan đến chu kỳ lâm phàm và chu kỳ phi nhập thể, nhưng chúng không dành cho đại chúng. |
|
60. The trends stated by early theosophists opened the door to thought about the matter. The real science of the discarnate state must, however, be slowly and accurately revealed. |
60. Những khuynh hướng do các nhà Thông Thiên Học đầu tiên nêu ra đã mở cánh cửa cho tư duy về vấn đề này. Tuy nhiên, khoa học chân thực về trạng thái phi nhập thể phải được tiết lộ một cách chậm rãi và chuẩn xác. |
|
Within this sevenfold differentiation, exist many lesser, |
Trong sự biệt phân thất phân này, còn có nhiều biệt phân nhỏ hơn, |
|
61. We can see that the matter of determining the duration of ‘dis-carnation’ depends on a number of factors additional to ray type and guna type. |
61. Chúng ta có thể thấy rằng việc xác định độ dài của thời kỳ “phi nhập thể” tùy thuộc vào một số yếu tố bổ sung so với loại cung và loại guna. |
|
62. In which stage do any of us find ourselves? Can we say that we have reached the sattvic stage? |
62. Mỗi người trong chúng ta đang ở giai đoạn nào? Chúng ta có thể nói rằng mình đã đạt tới giai đoạn sattvic chăng? |
|
and the wise student refrains from dogmatic assertion on this most peculiar and difficult subject. |
và đạo sinh khôn ngoan sẽ tránh đưa ra những khẳng định giáo điều về chủ đề vừa kỳ dị vừa khó khăn này. |
|
63. It may be less satisfying to be forced to restrain our curiosity about this very interesting matter, but is only the part of wisdom—the subject being “most peculiar and difficult”. |
63. Có thể kém thỏa mãn khi bị buộc phải ghìm bớt tò mò về vấn đề rất thú vị này, nhưng đó là phần của sự khôn ngoan—vì chủ đề “rất kỳ dị và khó”. |
|
64. All of this is complicated by the fact that the usual interim period between incarnations can be relinquished by the prepared soul-in-incarnation for the sake of service. |
64. Tất cả những điều này càng phức tạp hơn bởi thực tế là khoảng thời gian trung gian thông thường giữa các lần lâm phàm có thể được linh hồn-đang-nhập-thể đã chuẩn bị từ bỏ vì sự phụng sự. |
|
The fringe of the matter has but been touched upon here. It should be remembered that in the earlier stages of incarnation, the unit is governed mainly by group appearance, and comes into incarnation with his group. |
Viền rìa của vấn đề chỉ mới được chạm đến ở đây. Cần ghi nhớ rằng ở những giai đoạn đầu của sự lâm phàm, đơn vị chủ yếu được chi phối bởi sự xuất hiện theo nhóm, và bước vào lâm phàm cùng với nhóm của y. |
|
65. It is likely that there are three stages: group appearance in the early states; individual appearance during the stage of intelligent, individualistic man; again, group appearance for those who are governed by their soul ray and are becoming affiliated with an Ashram over time. The members of the Ashram are, of course, group conscious. |
65. Có khả năng rằng có ba giai đoạn: xuất hiện theo nhóm ở thời kỳ đầu; xuất hiện cá nhân trong giai đoạn con người trí tuệ, cá nhân chủ nghĩa; rồi lại xuất hiện theo nhóm cho những ai bị chi phối bởi cung linh hồn và theo thời gian đang trở nên liên kết với một Ashram. Các thành viên của Ashram, dĩ nhiên, là có ý thức nhóm. |
|
As time progresses and his own will or purpose becomes more distinctive, he will at times force himself into manifestation independently of his group, as will other group units, |
Khi thời gian trôi đi và ý chí hay mục đích riêng của y trở nên đậm nét, y sẽ đôi khi tự ép mình đi vào hiện thân một cách độc lập với nhóm của mình, giống như các đơn vị nhóm khác, |
|
66. Presumably the supervising Solar Angels have something to say about whether this is possible. But, apparently, the choice of ‘man-the-Ego’ is a strong part of the determination. |
66. Có thể suy rằng các Thái dương Thiên Thần giám sát có tiếng nói về việc điều này có khả thi hay không. Nhưng, rõ ràng, chọn lựa của “con người-với-tư-cách chân ngã” là một phần mạnh mẽ trong sự quyết định. |
|
67. We gather that this breaking out of the group rhythm is an act of will. This stage may be correlated with activity in the fifth, correlated with Leo, the sign of the individual. |
67. Chúng ta hiểu rằng việc phá vỡ nhịp nhóm này là một hành vi ý chí. Giai đoạn này có thể được liên hệ với hoạt động của cung năm, tương liên với Hổ Cáp? Không, với Sư Tử, dấu hiệu của cá nhân. |
|
and this leads to an apparent confusion which is detrimental to the surface calculations of the superficial student. |
và điều này dẫn tới một sự hỗn độn bề ngoài gây bất lợi cho những tính toán hời hợt của đạo sinh nông cạn. |
|
68. It would seem necessary both to know the incarnational cycles of various groups and soul groups and to, also, be able to trace the individual motive and program of any particular soul-in-incarnation. |
68. Dường như cần thiết vừa phải biết các chu kỳ lâm phàm của các nhóm và các nhóm linh hồn khác nhau, vừa phải có khả năng lần theo động cơ và chương trình riêng của bất kỳ linh hồn-đang-nhập-thể nào. |
|
69. I cannot see how (at this time) we can think of ourselves as anything but “superficial” students. |
69. Vào lúc này, tôi không thấy chúng ta có thể tự coi mình là gì khác ngoài những đạo sinh “nông cạn”. |
|
When this is the case, the particular unit concerned has his record transferred into another file in the hierarchical archives, and becomes what is occultly termed “a self directed point of fire.“ |
Khi xảy ra như vậy, hồ sơ của đơn vị liên hệ sẽ được chuyển sang một hồ sơ khác trong lưu trữ của Thánh Đoàn, và trở thành điều mà trong huyền môn gọi là “một điểm lửa tự chỉ đạo. ” |
|
70. How fascinating! The inner organization is considerable. All process on the outer planes is supervised inwardly. |
70. Thật lý thú! Tổ chức nội tại là rất đáng kể. Mọi tiến trình trên các cõi bên ngoài đều được giám sát từ nội giới. |
|
71. Later we will learn of the developed unit who is an “aligned point of fire”. |
71. Về sau chúng ta sẽ học về đơn vị phát triển, người là “một điểm lửa được chỉnh hợp”. |
|
72. A individual taking an incarnation out of phase with his group and as a result of free choice is called “a self directed point of fire”. |
72. Một cá nhân lấy một kiếp sống lệch pha với nhóm của mình và do chọn lựa tự do được gọi là “một điểm lửa tự chỉ đạo”. |
|
73. DK spoke of many artists who were ‘asked’ to ‘come in’ early (i.e., during the nineteenth century) to offset the danger of materialism (which, unfortunately, prevailed). |
73. Chân sư DK đã nói về nhiều nghệ sĩ được “mời” “đi vào” sớm (tức trong thế kỷ mười chín) để hóa giải nguy cơ duy vật (rốt cuộc, điều này vẫn lấn át). |
|
He is then strongly individualised, entirely self-engrossed, free of [Page1149] all group sense, except the earthly affiliations to which he adheres from the instinct of self-protection and personal well-being. |
Y khi ấy được cá nhân hóa mạnh mẽ, hoàn toàn chỉ chăm lo bản thân, thoát khỏi [Trang] mọi ý thức nhóm, trừ những liên kết trần thế mà y bám giữ do bản năng tự bảo tồn và vì phúc lợi cá nhân. |
|
74. We are speaking of a very individualistic stage of man’s development during which his essential group affiliations are not recognized. |
74. Chúng ta đang nói về một giai đoạn rất cá nhân chủ nghĩa trong sự phát triển của con người, trong đó các liên hệ nhóm thiết yếu của y không được nhận ra. |
|
In this stage he remains for a vast period of time, and has before him the mastering of a later stage in which he returns to the earlier group recognition on a higher turn of the spiral. |
Ở giai đoạn này y lưu lại trong một thời kỳ rất dài, và phía trước y là việc làm chủ một giai đoạn muộn hơn trong đó y trở về với sự nhận biết nhóm như trước trên một vòng xoáy cao hơn. |
|
75. What is meant by the term “vast”? Millions of years, perhaps? |
75. “Rất dài” ở đây là bao lâu? Có lẽ hàng triệu năm? |
|
76. One would think that during the opening of the middle circle of petals, this period could occur. From the fifth petal onwards, the process of unfoldment turns individualistic. By the time the later stages of unfoldment of the eighth petal and stage of the ninth petal are reached, the group sense again controls. |
76. Người ta có thể nghĩ rằng trong thời kỳ khai mở vòng hoa cánh giữa, giai đoạn này có thể diễn ra. Từ cánh hoa thứ năm trở đi, tiến trình khai mở chuyển sang cá nhân chủ nghĩa. Khi đến các giai đoạn muộn của sự khai mở cánh hoa thứ tám và giai đoạn của cánh hoa thứ chín, cảm thức nhóm lại một lần nữa chi phối. |
|
77. We note that a rhythm of incarnation controlled by group process returns after tine individualistic stage. It is probably a much shorter period. |
77. Chúng ta ghi nhận rằng nhịp lâm phàm do tiến trình nhóm điều khiển trở lại sau giai đoạn cá nhân chủ nghĩa. Có lẽ đó là một khoảng ngắn hơn nhiều. |
|
The rules governing the incarnations of average man have been considered elsewhere, and much information has been given in this treatise and in Letters on Occult Meditation which—if collated—will provide sufficient data for study for a long time. |
Những quy luật chi phối các lần lâm phàm của người thường đã được xét ở nơi khác, và rất nhiều thông tin đã được đưa ra trong khảo luận này và trong Thư về Tham thiền Huyền bí, mà—nếu được đối chiếu—sẽ cung cấp dữ liệu đủ để khảo cứu trong thời gian dài. |
|
78. Do we realize this? |
78. Chúng ta có nhận ra điều này không? |
|
79. Does average man incarnate in groups, or, to some degree individually? |
79. Người thường lâm phàm theo nhóm hay, ở một mức độ nào đó, theo cá nhân? |
|
80. We need to restudy LOM with this idea in mind. |
80. Chúng ta cần học lại LOM với ý niệm này trong đầu. |
|
Not much has been given anent the incarnations of disciples and the methods involved in the later stages of evolution. |
Không có nhiều điều được đưa ra về các lần lâm phàm của các đệ tử và những phương pháp liên hệ trong các giai đoạn muộn của tiến hóa. |
|
81. One would imagine them to be very variable. The disciple is at once self-determining and responsive to the group. Thus, there must be considerable inner tension to resolve during the period of decision predating incarnation. |
81. Có thể hình dung chúng rất biến thiên. Người đệ tử vừa tự quyết vừa đáp ứng với nhóm. Do đó, phải có một sự nội căng đáng kể cần được hóa giải trong giai đoạn quyết định trước khi lâm phàm. |
|
82. Fortunately the Solar Angel is wise beyond human reckoning and can successfully balance individual demands (dharmic and karmic) and group demands. |
82. May thay Thái dương Thiên Thần khôn ngoan vượt khỏi sự cân đo của con người và có thể cân bằng thành công các yêu sách cá nhân (dharma và nghiệp quả) và các yêu sách của nhóm. |
|
It should here be borne in mind that (for a disciple) direct alignment with the Ego via the centres and the physical brain is the goal of his life of meditation and of discipline. |
Cần ghi nhớ ở đây rằng (đối với một đệ tử) sự chỉnh hợp trực tiếp với chân ngã thông qua các trung tâm (luân xa) và bộ não hồng trần là mục tiêu của đời sống tham thiền và kỷ luật của y. |
|
83. It may be presumed that the achieving of this alignment has much to do with the duration of the interval between lives and whether or not the astral body and mental body must be dissolved and reconstituted before incarnation is again sought. |
83. Có thể suy rằng việc đạt được sự chỉnh hợp này liên hệ nhiều đến độ dài của khoảng giữa các đời và việc liệu thể cảm dục cùng thể trí có cần được phân giải và tái tạo trước khi lại tìm kiếm lâm phàm hay không. |
|
84. This type of alignment is necessary to produce the white magician. |
84. Dạng chỉnh hợp này cần thiết để tạo ra nhà huyền thuật chánh đạo. |
|
This is in order that the Inner God may function in full consciousness and wield full control on the physical plane. Thus will humanity be helped and group concerns furthered. |
Điều này là để cho Đấng Thượng đế Nội tại có thể hoạt động trong đầy đủ tâm thức và nắm quyền kiểm soát trọn vẹn trên cõi hồng trần. Như thế nhân loại sẽ được trợ giúp và những mối quan tâm nhóm được xúc tiến. |
|
85. As it becomes possible for the “Inner God” thus to function, the need for intervals between incarnations is drastically reduced. With the full functioning of the “Inner God” at the fourth initiation, there is no longer a need to take incarnation at all except for deliberate service purposes. |
|
|
Again it must be remembered that the basic Ray laws and the disciple’s particular type will paramountly dictate his appearances, but certain other forces begin to hold sway which might here be touched upon. |
Một lần nữa cần nhớ rằng các Định luật cơ bản về Cung và loại đặc thù của người đệ tử sẽ chi phối tối thắng các lần xuất hiện của y, nhưng một vài mãnh lực khác bắt đầu nắm quyền chi phối, có thể điểm qua ở đây. |
|
86. The “basic Ray laws” will probably correlated with the disciple’s soul ray. |
86. Các “Định luật cơ bản về Cung” hẳn sẽ tương liên với cung linh hồn của người đệ tử. |
|
87. As for the “disciple’s particular type” many things could be meant, but the degree of unfoldment will count. In A Treatise on Cosmic Fire DK discusses perhaps seven or eight distinct kinds of egoic lotuses (depending upon the degree of unfoldment): |
87. Còn “loại đặc thù của người đệ tử” có thể hàm nhiều điều, nhưng mức độ khai mở sẽ có trọng lượng. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ Chân sư DK bàn đến chừng bảy hay tám loại Hoa Sen Chân Ngã khác biệt (tùy theo mức khai mở): |
|
a. Brahmic Lotuses |
a. Những Hoa Sen Brahmic |
|
b. Lotuses of Brahman |
b. Những Hoa Sen của Brahman |
|
c. Primary Lotuses |
c. Những Hoa Sen Sơ nguyên |
|
d. Lotuses of Passion and Desire |
d. Những Hoa Sen của Dục vọng và Ham muốn |
|
e. Radiant Lotuses |
e. Những Hoa Sen Rực rỡ |
|
f. Lotuses with Perfume |
f. Những Hoa Sen có Hương thơm |
|
g. Lotuses of Revelation |
g. Những Hoa Sen của Mặc khải |
|
h. Etc. |
h. V.v. |
|
88. Now DK touches upon additional factors which will affect a man’s cycles of incarnation. |
88. Giờ đây Chân sư DK điểm qua các yếu tố bổ sung sẽ ảnh hưởng đến các chu kỳ lâm phàm của một người. |
|
The factors governing the appearance in incarnation of a disciple are as follows: |
Những yếu tố chi phối sự xuất hiện trong lâm phàm của một đệ tử như sau: |
|
First, his desire to work off karma rapidly and so liberate himself for service. |
Thứ nhất, ước muốn của y là nhanh chóng giải trừ nghiệp quả và để giải thoát bản thân y cho sự phụng sự. |
|
89. Some, caught in the midst of difficult situations, may not realize that they have ‘contracted’ before rebirth to encounter or participate in these situations. |
89. Một số người, bị cuốn vào giữa những cảnh huống khó khăn, có thể không nhận ra rằng họ đã “ký kết” trước khi tái sinh để gặp gỡ hay tham dự vào những cảnh huống ấy. |
|
90. In such cases, undue relief of the pre-designed ‘encounter’ is tantamount to delayed liberation. |
90. Trong những trường hợp như vậy, giải tỏa không đúng mức “sự đối diện” đã thiết kế sẵn tương đương với việc trì hoãn giải thoát. |
|
The Ego impresses this desire upon the disciple during incarnation, and thus obviates any counter desire on his part for the bliss of devachan, or even for work on the astral plane. |
Chân ngã ấn tượng ước muốn này lên người đệ tử trong khi lâm phàm, và như vậy loại trừ mọi phản ước muốn về phía y đối với phúc lạc của devachan, hay thậm chí đối với công tác trên cõi cảm dục. |
|
91. This is the ‘downward’ Vulcanian pressure from the Ego. It works contrary to the wish-life of the disciple ruled by Neptune. |
91. Đây là áp lực “Vulcan” hướng xuống từ Chân ngã. Nó vận hành trái với đời sống dục vọng của người đệ tử do Sao Hải Vương quản chiếu. |
|
92. The responsive disciple wills to accomplish a number of tasks on the physical plane and desires only to return with great rapidity so that the a number of pending tasks can be completed. |
92. Người đệ tử biết đáp ứng thì ý chí hoàn tất một số công tác trên cõi hồng trần và chỉ mong chóng vánh trở lại để có thể hoàn tất một số nhiệm vụ còn tồn đọng. |
|
93. After the death of the physical body, work on the astral plane is possible, but in the case of some who are urgently pressing forward, not desirable. |
93. Sau khi chết thể xác, công tác trên cõi cảm dục là khả hữu, nhưng với một số người đang cấp tốc tiến bước thì điều đó không đáng mong cầu. |
|
94. It is interesting to see that the impression of the Ego in a way ‘negates’ any counter desire on the part of the disciple. |
94. Thật thú vị khi thấy ấn tượng của Chân ngã theo một nghĩa nào đó “hóa giải” mọi phản ước muốn từ phía người đệ tử. |
|
The whole objective, therefore, of the disciple after death is to get rid of his subtler bodies, and acquire new ones. |
Mục tiêu toàn diện, vì thế, của người đệ tử sau khi chết là loại bỏ các hiện thể vi tế của mình, và thụ đắc những hiện thể mới. |
|
95. This is certainly one way of proceeding. It involves the rapid discarding of identification with various desires and mental formulations. |
95. Đây chắc chắn là một cách tiến hành. Nó bao hàm sự vất bỏ nhanh chóng mọi đồng nhất hóa với các dục vọng và các cấu trúc tư tưởng. |
|
96. It is also possible for some, we are told, to remain upon the astral plane for a relatively short time and take incarnation from that point, with the astral body and mental body preserved. DK tells us that for this possibility to become an actuality continuity of consciousness must be somewhat established. |
96. Chúng ta cũng được cho biết rằng đối với một số người, có thể lưu lại trên cõi cảm dục trong một thời gian tương đối ngắn và lấy lâm phàm từ điểm đó, với thể cảm dục và thể trí được bảo tồn. Chân sư DK cho biết để khả năng này trở thành hiện thực thì sự liên tục của tâm thức phải được phần nào thiết lập. |
|
The three Masters so closely allied with the theosophical movement are already making Their preparations, and will also move among men, recognised by Their Own and by those who have eyes to see. To those of Their chelas on earth who undergo the necessary discipline, opportunity will be offered to work on the astral plane and, should they so choose, an immediate incarnation, provided they have achieved continuity of consciousness. (TCF 759) |
Ba Vị Chân sư gắn bó mật thiết với phong trào Thông Thiên Học đã và đang chuẩn bị, và cũng sẽ đi lại giữa loài người, được Những Người của Các Ngài và bởi những ai có mắt để thấy nhận ra. Với những đệ tử của Các Ngài trên địa cầu những ai chịu trải kỷ luật cần thiết, sẽ có cơ hội được làm việc trên cõi cảm dịch và, nếu họ chọn như vậy, sẽ có lâm phàm tức thời, với điều kiện họ đã đạt được sự liên tục của tâm thức. (TCF 759) |
|
There is no desire for a period of rest, and as desire is the governing factor in this system of desire, and particularly in this planetary scheme, |
Không có dục vọng đối với một giai đoạn nghỉ ngơi, và bởi vì dục vọng là yếu tố chi phối trong hệ thống dục vọng này, và đặc biệt trong hệ hành tinh này, |
|
97. A scheme in which the Planetary Logos is not in entire control of His astral vehicle and is still battling on the cosmic astral plane to achieve that control… |
97. Một hệ hành tinh trong đó Hành Tinh Thượng đế chưa hoàn toàn làm chủ được thể cảm dục của Ngài và còn đang chiến đấu trên cõi cảm dục vũ trụ để đạt được quyền làm chủ ấy… |
|
if it exists not, there is no incentive to fulfilment. |
nếu dục vọng ấy không hiện hữu, sẽ không có động lực hướng tới viên thành. |
|
98. Thus, we must watch our desires as they will determine whether we are destined for the heaven worlds or for service possibilities presented through rapid reincarnation. |
98. Do đó, chúng ta phải quan sát các dục vọng của mình vì chúng sẽ quyết định liệu ta được định hướng về các cõi thiên giới hay hướng về những khả tính phụng sự mở ra nhờ tái lâm nhanh chóng. |
|
99. Even now, we can tell whether we are motivated by a desire for “rest” or are animated by the desire-to-return reinforced by the will-to-return. |
99. Ngay lúc này, chúng ta cũng có thể tự biết mình đang được thôi thúc bởi dục vọng “nghỉ ngơi” hay đang được sinh khí bởi dục vọng-trở-lại, được gia cường bởi ý chí-trở-lại. |
|
[1150] The man, therefore, absents himself from the physical plane for a very brief time, and is driven by his Ego into a physical body with great rapidity. |
[] Vì vậy, người ấy vắng mặt khỏi cõi hồng trần trong một thời gian rất ngắn, và bị Chân ngã thúc đẩy vào một thể xác với tốc độ rất lớn. |
|
100. DK does not say how rapidly this return is made. It is probably a relative matter |
100. Chân sư DK không nói nhanh đến mức nào việc trở lại này diễn ra. Có lẽ đó là một vấn đề tương đối. |
|
101. We sense the power of the first ray being asserted by the Ego who drives his reflection back into incarnation. |
101. Chúng ta cảm được sức mạnh của cung một đang được khẳng định bởi Chân ngã, Đấng thúc đẩy phản ảnh của mình trở lại lâm phàm. |
|
102. It is apparent that the Ego has a plan and exerts pressure upon the man in order to see this plan into expression. |
102. Rõ ràng Chân ngã có một Thiên Cơ và gây áp lực lên con người để đưa Thiên Cơ ấy vào biểu lộ. |
|
103. Probably by “Ego” DK means the Solar Angel, but there is a sense in which the jiva in the causal body can be considered an aspect of the consciousness of the Ego. |
103. Có lẽ khi nói “Chân ngã” Chân sư DK muốn nói đến Thái dương Thiên Thần, nhưng cũng có một nghĩa trong đó jiva trong thể nguyên nhân có thể được coi như một phương diện của tâm thức của Chân ngã. |
|
Second, to work out some piece of service under direction of his Master. |
Thứ hai, để thực hiện một công việc phụng sự nào đó dưới sự hướng dẫn của Chân sư của y. |
|
104. In this case the disciple is definitely a part of plans far greater than his own individual plans. |
104. Trong trường hợp này, người đệ tử chắc chắn là một phần của những kế hoạch lớn hơn nhiều so với kế hoạch riêng của y. |
|
105. One would think that the most recent incarnation of A.A.B. was just such an incarnation under the direction of Master KH. |
105. Người ta có thể nghĩ rằng kiếp sống gần đây nhất của Bà A.A.B. chính là một lâm phàm như thế dưới sự chỉ đạo của Chân sư KH. |
|
This will involve some adjustments, and occasionally the temporary arresting of his karma. |
Điều này sẽ liên quan đến một số điều chỉnh, và đôi khi sự đình chỉ tạm thời đối với nghiệp quả của y. |
|
106. The staving off of karmic forces which otherwise might overwhelm the disciple is called for. |
106. Việc gạt bớt các lực nghiệp quả vốn có thể áp đảo người đệ tử được kêu gọi. |
|
107. We see that the arresting of karma does not always occur and that it is always “temporary”. The Master has the right to temporarily adjust the karma of his disciple so that a greater purpose and, thus, a greater good can be served. |
107. Chúng ta thấy rằng việc đình chỉ nghiệp quả không phải luôn luôn xảy ra và rằng nó luôn “tạm thời”. Chân sư có quyền điều chỉnh tạm thời nghiệp quả của đệ tử để một mục đích lớn hơn, và vì vậy một thiện ích lớn hơn, được phụng sự. |
|
These adjustments are made by the Master with the concurrence of the disciple, |
Những điều chỉnh này do Chân sư thực hiện với sự đồng thuận của đệ tử, |
|
108. The disciple must agree and understand the consequences. |
108. Người đệ tử phải đồng ý và hiểu các hệ quả. |
|
109. One presumes that the disciple (fully aware in the egoic state between incarnations) concurs with the Master. |
109. Có thể giả định rằng người đệ tử (hoàn toàn tỉnh thức trong trạng thái chân ngã giữa các lâm phàm) đồng thuận với Chân sư. |
|
and are only possible in the case of an accepted disciple of some standing. |
và chỉ khả hữu trong trường hợp một đệ tử thụ nhận có thâm niên. |
|
110. This means that a newly accepted disciple is not qualified to participate in this type of process. One must be well-tested before it becomes possible. |
110. Điều này có nghĩa là một đệ tử vừa mới được thụ nhận thì chưa đủ điều kiện tham dự vào tiến trình kiểu này. Cần phải được thử thách kỹ càng trước khi điều đó trở nên khả hữu. |
|
It does not mean that karma is set aside, but only that certain forces are kept in abeyance until a designated group work has been accomplished. |
Điều này không có nghĩa là nghiệp quả bị gạt bỏ, mà chỉ có những lực nhất định được giữ ở trạng thái bàng lưu cho đến khi một công việc nhóm được chỉ định đã được hoàn tất. |
|
111. It is interesting to realize that the Master can indeed keep certain forces in abeyance. How He manages this must be mysterious to those with our limited experience. We might call this process ‘delayed karmic impact’. |
111. Thật thú vị khi nhận ra rằng Chân sư thực sự có thể giữ một số lực ở trạng thái bàng lưu. Ngài quản lý điều đó ra sao hẳn là điều bí nhiệm đối với những ai có kinh nghiệm hạn hẹp như chúng ta. Chúng ta có thể gọi tiến trình này là “trì hoãn tác động nghiệp quả”. |
|
Third, a disciple will return into incarnation occasionally so as to fit into the plan of a greater than himself. |
Thứ ba, đôi khi một đệ tử sẽ trở lại lâm phàm để phù hợp vào Thiên Cơ của một Đấng vĩ đại hơn chính y. |
|
112. This is intimate work and requires, minimally, that the disciple have the sixth petal of his egoic lotus fully open. In short the disciple must be, minimally, an initiate of the second degree. |
112. Đây là công tác mật thiết và đòi hỏi tối thiểu là đệ tử đã khai mở đầy đủ cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen Chân Ngã. Nói gọn, đệ tử tối thiểu phải là một điểm đạo đồ bậc hai. |
|
When a messenger of the Great Lodge needs a vehicle through which to express Himself, and cannot use a physical body Himself, owing to the rarity of its substance, He will utilise the body of a disciple. |
Khi một sứ giả của Thánh đoàn cần một vận cụ qua đó Ngài biểu lộ Chính Mình, và không thể tự dùng một thể xác, do sự tinh tế của chất liệu của nó, Ngài sẽ sử dụng thân xác của một đệ tử. |
|
113. The best known incident of this in the West is the use by the Lord Maitreya of the body of the initiate Jesus. |
113. Biến cố được biết đến nhất ở Tây phương là việc Đức Maitreya dùng thân xác của vị điểm đạo Jesus. |
|
114. It may well be that the high initiate Jesus used the body of His disciple, Apollonius of Tyana, to do the same. |
114. Cũng có thể vị đại điểm đạo Jesus đã dùng thân xác của đệ tử Ngài, Apollonius xứ Tyana, để làm điều tương tự. |
|
115. One can wonder about Gautama. Were he and the one we call the Buddha identical? This demands some investigation. The question is: “Was the individual Gautama, born in the usual manner, a fifth degree initiate?” The Buddha had been head of the Spiritual Hierarchy for some two thousand years when Gautama was born. Then, must the Head of the Hierarchy be a fifth degree initiate? It would seem so, |
115. Người ta có thể tự hỏi về Gautama. Liệu Ngài và Đấng mà chúng ta gọi là Đức Phật có đồng nhất không? Điều này đòi hỏi khảo sát. Câu hỏi là: “Liệu cá nhân Gautama, sinh ra theo cách thông thường, là một điểm đạo đồ bậc năm chăng?” Đức Phật đã là Đấng đứng đầu Huyền Giai Tinh Thần khoảng hai ngàn năm khi Gautama chào đời. Vậy, Đấng đứng đầu Huyền Giai có phải là một điểm đạo đồ bậc năm không? Có vẻ như vậy, |
|
We have an instance of this in the manner the Christ used the body of the initiate Jesus, taking possession of it at the time of the Baptism. |
Chúng ta có một ví dụ về điều này trong cách Đức Christ đã dùng thân xác của vị điểm đạo Jesus, tiếp quyền chiếm hữu thân xác ấy vào lúc cử hành Phép Rửa. |
|
116. There is much symbolism here as the one who passes through the “Baptism” is an initiate of the second degree. John the Baptist, we are told, was an initiate of the second degree. Was it the initiate Jesus who was baptized or what is the Lord Maitreya, Himself (having taken possession of Jesus’ body)? |
116. Có rất nhiều biểu tượng ở đây, vì người đi qua “Phép Rửa” là một điểm đạo đồ bậc hai. Chúng ta được cho hay rằng Gioan Tẩy Giả là một điểm đạo đồ bậc hai. Vậy người chịu Phép Rửa là vị điểm đạo Jesus hay là chính Đức Maitreya (sau khi tiếp quyền thân xác của Jesus)? |
|
117. In either case, the Baptism has to be symbolic in nature, for in a former life the initiate Jesus had already passed through the third degree, and as Joshua, Son of Nun, was a second degree initiate. |
117. Dù thế nào, Phép Rửa phải là biểu tượng về bản chất, vì trong một đời trước vị điểm đạo Jesus đã đi qua bậc ba, và khi là Joshua, Con của Nun, Ngài là một điểm đạo đồ bậc hai. |
|
118. As for the Lord Maitreya, the Christ, His status at that time was already an initiate of the fifth degree, tending rapidly towards the sixth degree. |
118. Còn về Đức Maitreya, Đức Christ, địa vị khi ấy của Ngài đã là một điểm đạo đồ bậc năm, và đang nhanh chóng hướng tới bậc sáu. |
|
119. The initiate Jesus has no need of the Baptism nor had the Christ. But the Christ may have considered the symbolic undertaking of the Baptism as part of His Teaching, and so, indeed, it may have been Him who passed through the process administered by John the Baptist. |
119. Vị điểm đạo Jesus không cần Phép Rửa, Đức Christ cũng vậy. Nhưng Đức Christ có thể đã coi việc đảm nhận mang tính biểu tượng của Phép Rửa như một phần của Giáo huấn của Ngài, và vì thế, đúng là có thể chính Ngài đã đi qua tiến trình do Gioan Tẩy Giả cử hành. |
|
Again when a message has to be given out to the world during some recurring cycle, a disciple of high position in a Master’s group will appear in physical incarnation, and be “overshadowed” or “inspired” (in the technically occult sense) by some teacher greater than he. |
Một lần nữa, khi một sứ điệp cần được truyền ra thế giới trong một chu kỳ tái diễn nào đó, một đệ tử có địa vị cao trong một nhóm của Chân sư sẽ xuất hiện trong hồng trần lâm phàm, và được “phủ bóng” hoặc “cảm hứng” (theo nghĩa huyền bí kỹ thuật) bởi một vị huấn sư lớn hơn y. |
|
120. This is not the same method as surrendering the body, but does require the closest contact between the Master and the one to be overshadowed. It would seem that such an “overshadowed” disciple would have to be, minimally, a “Chela within the Master’s Aura”. |
120. Đây không phải là cùng một phương pháp với việc cúng dâng xác phàm, nhưng đòi hỏi mối tiếp xúc gần gũi nhất giữa Chân sư và người sẽ được phủ bóng. Có vẻ như một đệ tử “được phủ bóng” như vậy tối thiểu phải là một “Đệ tử trong Hào Quang của Thầy”. |
|
121. DK uses the word “appear”. What shall we judge? That the appearance is through natural birth? This would be the most likely. Or that the appearance is, itself, a Mayavirupa? That would be a very unusual case. |
121. Chân sư DK dùng từ “xuất hiện”. Chúng ta sẽ phán đoán thế nào? Rằng sự xuất hiện là qua sinh nở tự nhiên? Đó sẽ là khả dĩ nhất. Hay sự xuất hiện tự nó là một Mayavirupa? Đó sẽ là một trường hợp rất khác thường. |
|
Fourth, a disciple may, through lack of rounded development, be very far advanced along certain lines but lack what is called the full intensification of a particular principle. He may, therefore, decide (with the full concurrence of his Ego and of his Master) to take a series of rapidly recurring incarnations with the intention of working specifically at bringing a certain quality, or series of qualities, to a point of higher vibratory content, thus completing the rounding of his sphere of manifestation. |
Thứ tư, một đệ tử có thể, do thiếu phát triển toàn diện, tiến rất xa dọc theo một số tuyến nhất định nhưng lại thiếu điều được gọi là sự tăng cường đầy đủ của một nguyên khí cụ thể. Do đó, y có thể quyết định (với sự hoàn toàn chấp thuận của Chân ngã và của Chân sư) nhận một chuỗi các kiếp nhập thế tái diễn nhanh với chủ ý đặc thù làm cho một phẩm chất nào đó, hoặc một chuỗi phẩm chất, được đưa đến một điểm có hàm lượng rung động cao hơn, nhờ vậy hoàn tất việc làm tròn viên mãn quả cầu biểu hiện của mình. |
|
122. To the superficial eye, the manner in which such a disciple works might be considered fanaticism. In fact, its objective is just the opposite of the fanatical response—completion of a balanced, rounding-out process. |
122. Với con mắt hời hợt, cách thức một đệ tử như vậy làm việc có thể bị xem là cuồng tín. Thực ra, mục tiêu của nó lại trái ngược với phản ứng cuồng tín—hoàn tất một tiến trình cân đối, làm-tròn-đủ. |
|
123. Would a sixth ray personality be valuable in such a process? It is, after all, the “ray…of undue emphasis”. (DINA I 322-323) |
123. Một phàm ngã cung sáu có hữu ích trong tiến trình như vậy chăng? Rốt cuộc, đó là “cung…của sự nhấn mạnh quá đáng”. (DINA I 322-323) |
|
124. We see that it is the disciple who is deciding to undertake this series of rapid incarnation, for he has the agreement of his Ego and his Master. |
124. Chúng ta thấy chính đệ tử là người quyết định đảm nhận chuỗi nhập thể nhanh chóng này, vì y có sự đồng thuận của Chân ngã và của Chân sư. |
|
125. Again, only a highly advanced individual can do this. |
125. Nhắc lại, chỉ một cá nhân rất cao mới có thể làm điều này. |
|
126. In this case the “Ego” is definitely the Solar Angel, but let us not forget the senses in which the disciple within his consciousness on the higher mental plane is also to be considered the “Ego”. |
126. Trong trường hợp này “Chân ngã” chắc chắn là Thái dương Thiên Thần, nhưng chúng ta đừng quên những nghĩa trong đó đệ tử, trong tâm thức của y trên cõi thượng trí, cũng được xem là “Chân ngã”. |
|
This accounts for the peculiar, yet powerful, people who are [1151] met at times; they are so one-pointed and apparently so unbalanced that their sole attention is given to one line of development only, so much so that the other lines are hardly apparent. |
Điều này lý giải về những con người khác lạ mà hùng mạnh, [] đôi khi được gặp; họ đến mức nhất tâm và có vẻ như mất cân bằng đến độ mọi sự chú tâm duy nhất của họ được dành cho một tuyến phát triển duy nhất, đến mức các tuyến khác hầu như không thấy rõ. |
|
127. Yes, it would seem that a sixth ray personality would be of value for these types of incarnation. |
127. Vâng, có vẻ như một phàm ngã cung sáu sẽ hữu ích cho những loại kiếp nhập thể như thế. |
|
Yet their influence seems great, and out of all proportion to their superficialworth. A realisation of these factors will deter the wise student from hasty judgments, and from rapid conclusions concerning his fellow men. |
Tuy vậy ảnh hưởng của họ dường như lớn lao, và vượt quá xa giá trị bề ngoài. Một sự nhận thức về những yếu tố này sẽ khiến đạo sinh khôn ngoan tránh những phán đoán vội vàng, và tránh những kết luận nhanh chóng về đồng loại của mình. |
|
128. We have very important advice here given. We cannot yet see the causal whole. Until we have a very full causal consciousness we are in no position to judge the reason for this one-pointed dedication. |
128. Ở đây chúng ta nhận được lời khuyên rất quan trọng. Chúng ta chưa thể thấy được toàn bộ nguyên nhân. Cho đến khi có một tâm thức nhân thể thật đầy đủ, chúng ta chưa đủ tư cách để phán đoán lý do của sự dâng hiến nhất tâm này. |
|
129. The degree of balance cannot be determined by referencing the personality alone. This is a very important point. Understanding of the development of the soul is indispensable for correct interpretation of what appears to be expressed through the personality. |
129. Mức độ quân bình không thể được xác định chỉ bằng cách quy chiếu nơi phàm ngã. Đây là một điểm rất quan trọng. Thấu hiểu sự phát triển của linh hồn là điều không thể thiếu để diễn giải đúng những gì dường như được biểu lộ qua phàm ngã. |
|
Occasionally a variation of this reason for rapid and immediate incarnation is seen when an initiate (who has nearly completed his cycle) |
Đôi khi một biến thể của lý do này cho việc nhập thể nhanh và tức thời được thấy khi một điểm đạo đồ (người đã gần hoàn tất chu kỳ của y) |
|
130. Presumably we are speaking of the moment of completion as the fourth initiation. |
130. Có lẽ chúng ta đang nói đến thời điểm hoàn tất như là lần điểm đạo thứ tư. |
|
appears in incarnation to express almost entirely one perfected principle. |
xuất hiện trong nhập thể để biểu lộ gần như hoàn toàn một nguyên khí đã được viên mãn. |
|
131. We can think of the Christ in this regard as expressing the Principle of Love and the Buddha as expressing the Principle of Wisdom. This discussion should be linked with the information in EP II on “Presented Attributes”. |
131. Chúng ta có thể nghĩ về Đức Christ theo phương diện này như đang biểu lộ Phương diện Bác Ái và Đức Phật như đang biểu lộ Phương diện Minh Triết. Sự bàn luận này nên được liên kết với thông tin trong EP II về “Các Thuộc Tính Được Trình Bày”. |
|
This he does for the good of a particular group which—though engaged in work for humanity—is failing somewhat in its objective through the lack of a particular quality, or stream of force. |
Y làm điều này vì lợi ích của một nhóm đặc thù—dù nhóm ấy đang dấn thân vào công việc vì nhân loại—nhưng đang phần nào thất bại về mục tiêu do thiếu một phẩm chất cụ thể, hoặc một dòng mãnh lực. |
|
132. So the ‘intervention’, if we can call it that, is for the purpose of supplementation. |
132. Vậy “sự can thiệp”, nếu chúng ta có thể gọi như thế, là nhằm mục đích bổ sung. |
|
133. Can we link this information with the reformation of Buddhism undertaken by Tsongkhapa in the fourteenth century? |
133. Chúng ta có thể liên kết thông tin này với cuộc cải chánh Phật giáo do Tsongkhapa thực hiện vào thế kỷ XIV chăng? |
|
134. We see and understand how the Hierarchy seeks to maintain the balance. |
134. Chúng ta thấy và hiểu cách Thánh đoàn tìm cách duy trì thế cân bằng. |
|
When this becomes apparent on the inner side, some advanced discipleputs the energy of that particular quality at the disposal of the Hierarchy, |
Khi điều này trở nên hiển lộ ở nội giới, một đệ tử tiến cao đặt năng lượng của phẩm chất đặc thù ấy vào sự sử dụng của Thánh đoàn, |
|
135. We may understand this as a sacrificial act. |
135. Chúng ta có thể hiểu đây là một hành vi hy hiến. |
|
and is sent forth to balance that group, and frequently to do so for a period of rapidly succeeding lives. |
và được phái đi để cân bằng nhóm đó, và thường xuyên làm như vậy trong một giai đoạn với những kiếp sống kế tiếp nhanh chóng. |
|
136. One wonders if the efforts of the present Dalai Lama can be understood in this way. |
136. Người ta tự hỏi liệu những nỗ lực của Đức Đạt Lai Lạt Ma đương nhiệm có thể được hiểu theo cách này hay không. |
|
These are a few of the causes governing the periodic manifestation of those who are grouped in the Hierarchical records as “the aligned points of fire.” |
Đây là vài nguyên nhân chi phối sự biểu lộ định kỳ của những người được ghi nhóm trong hồ sơ của Thánh đoàn như ” những điểm lửa được chỉnh hợp.” |
|
137. All of us are points of fire and light, but are we truly “aligned”? If so, there are reincarnational implications. The incarnations of “aligned points of fire” have a special character and may be unusual in the ways related in the foregoing section of text. |
137. Tất cả chúng ta đều là những điểm của lửa và ánh sáng, nhưng liệu chúng ta có thực sự “được chỉnh hợp” chăng? Nếu vậy, có những hàm ý về luân hồi. Những lần lâm phàm của “các điểm lửa được chỉnh hợp” mang một sắc thái đặc thù và có thể bất thường theo những cách thức được nêu trong phần văn bản trên. |
|
They are distinguished by the energy flowing through them, by the magnetic quality of their work, by their powerful group effects, and by their physical plane realisation of the plan. |
Họ được phân biệt bởi năng lượng tuôn qua họ, bởi phẩm tính từ tính của công việc họ làm, bởi các hiệu ứng nhóm đầy uy lực của họ, và bởi sự thể hiện Thiên Cơ trên cõi hồng trần của họ. |
|
138. For us these are points of aspiration. Let us tabulate these qualities of “the aligned points of fire” for the sake of emphasis. The aligned points of fire are distinguished by: |
138. Đối với chúng ta, đây là những điểm để hướng nguyện. Chúng ta hãy liệt kê những phẩm tính của “các điểm lửa được chỉnh hợp” nhằm mục đích nhấn mạnh. Các điểm lửa được chỉnh hợp được phân biệt bởi: |
|
a. The energy flowing through them. This factor correlates with the first ray. |
a. Năng lượng tuôn qua họ. Yếu tố này tương ứng với cung một. |
|
b. The magnetic quality of their work. This factor correlates with the second ray. |
b. Phẩm tính từ tính của công việc của họ. Yếu tố này tương ứng với cung hai. |
|
c. Their powerful group effects. Again, a correlated with the second ray, and other rays. |
c. Các hiệu ứng nhóm đầy uy lực của họ. Lại tương ứng với cung hai, và cả các cung khác. |
|
d. Their physical plane realization of the Plan. Here we have a correlation with the third ray. |
d. Sự thể hiện Thiên Cơ trên cõi hồng trần của họ. Ở đây chúng ta có một tương ứng với cung ba. |
|
The coming into manifestation of the superhuman lives (such as greater liberated Existences, or the raja-devas of a plane), |
Việc các sự sống siêu nhân (chẳng hạn như các Đấng Giải Thoát vĩ đại, hoặc các raja-deva của một cõi) đi vào biểu lộ, |
|
139. Is DK distinguishing the Raja Deva Lords from the “greater liberated Existences”? Perhaps He is speaking in quite general terms. |
139. Chân sư DK có đang phân biệt các Chúa Tể Raja Deva với “các Đấng Giải Thoát vĩ đại” chăng? Có lẽ Ngài đang nói theo những thuật ngữ khá tổng quát. |
|
the appearing of the planetary Logoi and the solar Logoi in physical incarnation |
sự xuất hiện của các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế trong nhập thể hồng trần |
|
140. We hear of the appearing of the Planetary Logos in physical incarnation as Sanat Kumara, but what of the Solar Logos and Solar Logoi? We are presented with an intriguing idea. |
140. Chúng ta đã nghe về sự xuất hiện của Hành Tinh Thượng đế trong nhập thể hồng trần như Sanat Kumara, nhưng còn Thái dương Thượng đế và các Thái dương Thượng đế thì sao? Chúng ta được nêu ra một ý tưởng đầy hấp dẫn. |
|
is governed by laws similar in nature to those governing the human unit, but of a cosmic scope. |
được chi phối bởi các định luật có bản chất tương tự như những định luật chi phối đơn vị nhân loại, nhưng ở tầm vóc vũ trụ. |
|
141. We can question the nature of the Solar Logos appearing in physical incarnation. Can we analogize? If our Planetary Logos appears as Sanat Kumara, in what manner would an incarnation/emanation of the Solar Logos appear? |
141. Chúng ta có thể đặt câu hỏi về bản chất việc Thái dương Thượng đế xuất hiện trong nhập thể hồng trần. Chúng ta có thể dùng phép tương ứng chăng? Nếu Hành Tinh Thượng đế của chúng ta xuất hiện như Sanat Kumara, thì một sự nhập thể/xuất lộ của Thái dương Thượng đế sẽ xuất hiện theo cách nào? |
|
It will be apparent to the most superficial student that the gradual emergence of a plane out of the darkness which exists between systems |
Điều này sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh hời hợt nhất rằng sự trỗi dậy dần dần của một cõi ra khỏi bóng tối tồn tại giữa các hệ |
|
142. DK is speaking of the condition which exists between physical incarnations of a Solar Logos. |
142. Chân sư DK đang nói về tình trạng tồn tại giữa các lần nhập thể hồng trần của một Thái dương Thượng đế. |
|
is produced not only as the result of vibratory response to the enunciated Word, but as the working out of the karma of a [1152] cosmic Life |
không chỉ được tạo ra như là kết quả của sự đáp ứng rung động đối với Linh từ đã được xướng lên, mà còn là sự khai triển của nghiệp của một [] Sự Sống vũ trụ |
|
143. A plane continues very much as it had been in the previous system. The condition in which that plane existed before inter-systemic pralaya determines the karma of that plane in the present solar system. |
143. Một cõi tiếp tục rất giống như nó vốn có trong hệ trước. Tình trạng trong đó cõi ấy tồn tại trước Giai kỳ qui nguyên giữa các hệ quyết định nghiệp của cõi ấy trong Thái dương hệ hiện tại. |
|
and the relationship existing between that particular Life and the cosmic Existence Whom we call Brahma or the third Person of the Trinity. |
và mối liên hệ tồn tại giữa Sự Sống đặc thù đó và Vị Hiện hữu vũ trụ mà chúng ta gọi là Brahma hay Ngôi Ba của Tam Vị. |
|
144. The Solar Logos is a “cosmic Existence”. We may conceive of Brahma as the “Third Person of the Logoic Trinity”. There are also ways in which the term “Brahma” can indicate a far greater Entity. |
144. Thái dương Thượng đế là một “Vị Hiện hữu vũ trụ”. Chúng ta có thể quan niệm Brahma như là “Ngôi Ba của Tam Vị Thuộc Thượng đế”. Cũng có những cách hiểu trong đó thuật ngữ “Brahma” có thể chỉ một Thực Thể còn vĩ đại hơn nhiều. |
|
145. When dealing with the emergence of planes into manifestation, we are dealing not only the with reflection of the archetype but with the continuation or perpetuation of previous conditions— for instance planar conditions as they existed in a previous solar system. |
145. Khi đề cập đến sự xuất lộ của các cõi vào biểu lộ, chúng ta không chỉ đang xử lý phản ảnh của nguyên mẫu mà còn là sự tiếp nối hay duy trì các tình trạng trước đó—thí dụ như các tình trạng cõi trong cách chúng đã tồn tại nơi một Thái dương hệ trước. |
|
The deva Ruler of a plane is a superhuman Entity Who comes in under a great cosmic impulse to provide the vibratory form which will make possible the appearing of other and lesser forms. |
Vị Chúa Tể thiên thần của một cõi là một Thực thể siêu nhân loại Đấng đến theo một xung lực vũ trụ vĩ đại để cung ứng hình thức rung động khiến cho sự xuất hiện của các hình tướng khác và thấp hơn trở nên khả hữu. |
|
146. We are discussing the appearance of lesser forms within a greater form. |
146. Chúng ta đang bàn về sự xuất hiện của các hình tướng nhỏ hơn bên trong một hình tướng lớn hơn. |
|
147. We must ask about the Entities to Whom the name “superhuman Entity” are applicable. Is the Solar Angel the first? Or can we say that a Chohan is also a superhuman Entity “They are no longer men as are the Masters…” (Rule VII) |
147. Chúng ta phải hỏi về những Đấng mà danh xưng “Thực thể siêu nhân loại” có thể áp dụng. Thái dương Thiên Thần có phải là Đấng đầu tiên? Hay chúng ta có thể nói một Chohan cũng là một Thực thể siêu nhân loại? “Các Ngài không còn là con người như các Chân sư…” (Quy luật VII) |
|
The Lords of the Rays, or the planetary Logoi, are similarly and karmically linked with the second aspect logoic, or with that manifesting Life we call Vishnu. |
Các Chúa Tể của các Cung, hay các Hành Tinh Thượng đế, cũng liên hệ tương tự và theo nghiệp với Phương diện thứ hai thuộc Thượng đế, hay với Sự Sống đang biểu lộ mà chúng ta gọi là Vishnu. |
|
148. DK is contrasting the cosmic Life associated with the Raja Deva Lords with the cosmic Life associated with the Planetary Logoi or “Lords of the Rays”. |
148. Chân sư DK đang đối chiếu Vị Hiện hữu vũ trụ liên đới với các Chúa Tể Raja Deva với Vị Hiện hữu vũ trụ liên đới với các Hành Tinh Thượng đế hay “các Chúa Tể của các Cung”. |
|
149. Notice that, from one perspective, the “Ray Lords” are definitely Planetary Logoi. |
149. Lưu ý rằng, theo một quan điểm, “các Chúa Tể Cung” chắc chắn là các Hành Tinh Thượng đế. |
|
150. Vishnu may be understood as the “Second Person of the Logoic Trinity”. |
150. Vishnu có thể được hiểu là “Ngôi Hai của Tam Vị Thuộc Thượng đế”. |
|
It will thus be seen that three main impulses, each emanating from the will, plan, or conscious purpose of a cosmic Entity |
Như vậy có thể thấy ba xung lực chính, mỗi xung lực đều xuất lộ từ ý chí, Thiên Cơ, hay mục đích tự thức của một Vị Hiện hữu vũ trụ |
|
151. We may presume that the major “cosmic Entity” involved is our Solar Logos. |
151. Chúng ta có thể suy rằng “Vị Hiện hữu vũ trụ” chủ yếu ở đây là Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
152. Brahma, Vishnu and Shiva, however, are also to be considered as cosmic Entities, but within the expression of our Solar Logos. |
152. Tuy nhiên, Brahma, Vishnu và Shiva cũng cần được xem như là những Vị Hiện hữu vũ trụ, nhưng trong sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế chúng ta. |
|
are responsible for all that is seen and known in our solar system. |
chịu trách nhiệm cho tất cả những gì được thấy và được biết trong Thái dương hệ của chúng ta. |
|
This, of course, has been oft emphasised in different occult books but the following tabulation may be of service: |
Điều này, dĩ nhiên, đã được nhấn mạnh nhiều lần trong các sách huyền bí khác nhau nhưng bảng kê sau đây có thể hữu ích: |
|
Cosmic Entity Systemic Entities Number of Impulses Quality |
Vị Hiện hữu vũ trụ Các Hiện hữu Hệ thống Số xung lực Phẩm chất |
|
1. Brahma…… The Raja Lords 7…Activity…………..Inertia. |
1. Brahma…… Các Chúa Tể Raja 7…Hoạt động…………..Trì trệ. |
|
2. Vishnu…….. The Planetary Logoi 7…Wisdom…………Mobility. |
2. Vishnu…….. Các Hành Tinh Thượng đế 7…Minh triết…………Linh động. |
|
3 Shiva………. The Solar Logos 1….Will………………Rhythm. |
3 Shiva………. Thái dương Thượng đế 1….Ý chí………………Nhịp điệu. |
|
153. In one way this tabulation is very interesting as it is also possible to consider the Solar Logos as the systemic “point within the triangle”. In such a case, Shiva would also have seven impulses, and the “Seven Spirits of Darkness” would be connected with these impulses. The total number of impulses would then be 21 + 1 or 22. |
153. Theo một cách nhìn, bảng kê này rất thú vị vì cũng có thể xem Thái dương Thượng đế là “điểm nằm trong tam giác” mang tính hệ thống. Trong trường hợp đó, Shiva cũng sẽ có bảy xung lực, và “Bảy Thần Linh của Bóng Tối” sẽ liên hệ với các xung lực ấy. Tổng số xung lực khi ấy sẽ là 21 + 1 tức 22. |
|
Sevenfold electric fire. The seven types of spiritual existences, or the seven Spirits before the Throne in Their essential essence; the dynamic force or will lying back of all manifestation. They form on their own plane in a peculiar sense the logoic “Jewel in the Lotus,” and hence are inconceivable to our intelligence in this solar system, as They are not revealed until the “Son be made perfect,” or the logoic consciousness is fully awakened. They are esoterically the “Spirits of Darkness.” (TCF 628-629) |
Lửa điện thất phân. Bảy kiểu hiện hữu tinh thần, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong bản thể cốt yếu của Các Ngài; mãnh lực năng động hay ý chí nằm sau mọi biểu lộ. Trên cõi của riêng mình, theo một ý nghĩa đặc thù, Các Ngài tạo thành “Viên Ngọc trong Hoa Sen” thuộc Thượng đế, và do đó vượt ngoài năng lực trí tuệ của chúng ta trong Thái dương hệ này, vì Các Ngài không được tiết lộ cho đến khi “Ngôi Con được làm nên trọn vẹn”, hay tâm thức thuộc Thượng đế được đánh thức trọn vẹn. Về mặt nội môn, Các Ngài là “Những Vị của Bóng Tối”. (TCF 628-629) |
|
154. Perhaps it is because we live in a second ray solar system that the Solar Logos (a very largely second ray Being) is considered the representative of Shiva (a first ray Deity). |
154. Có lẽ bởi vì chúng ta đang sống trong một Thái dương hệ cung hai nên Thái dương Thượng đế (một Đấng phần lớn mang cung hai) được xem là đại diện của Shiva (một Vị Thần cung một). |
|
155. Given the nature of this tabulation, the number 15 takes on a new significance. It turns into a climactic number when considered in relation to the three aspects of divinity. |
155. Với bản chất của bảng kê này, con số 15 mang lấy một ý nghĩa mới. Nó trở thành một con số lên đỉnh khi xét trong liên hệ với ba Phương diện của Thần tính. |
|
It should be noted here that the above tabulation will apply to the microcosm as well as the macrocosm, and students will find it interesting to work it out. |
Cần lưu ý rằng bảng kê trên sẽ áp dụng cho tiểu thiên địa cũng như đại thiên địa, và các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi tự triển khai. |
|
156. If we try to work out this tabulation in relation to the microcosm, we may find ourselves considering the seven vehicles, the seven principles and the Spirit aspect as the fifteenth point. |
156. Nếu chúng ta thử triển khai bảng kê này trong liên hệ với tiểu thiên địa, chúng ta có thể thấy mình đang xét đến bảy vận cụ, bảy nguyên khí và Phương diện Thần Linh như điểm thứ mười lăm. |