Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S8 Part II (TCF 1152-1154)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S8 Part II (TCF 1152-1154)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để tăng độ dễ đọc khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các Sách AAB khác và từ những trang khác của TCF được đặt cỡ chữ 14. Lời bình xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch chân, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị đọc Lời Bình này kèm với TCF bên cạnh, vì lợi ích của tính liên tục. Khi tiến hành phân tích văn bản, nhiều đoạn sẽ được chia nhỏ, và lối trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy, xin đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu Lời Bình

3. Triangular Linking.

3. Liên kết Tam giác.

Enough has been indicated in this Treatise to show the general plan underlying and accounting for systemic emergence

Trong Luận thư này đã nêu đủ để cho thấy đề cương tổng quát nằm bên dưới và giải thích sự hiển lộ hệ thống

1. This denotes incarnation as a rhythmic process.

1. Điều này chỉ việc lâm phàm như một tiến trình nhịp điệu.

or incarnation, and it is not my purpose here to enlarge at great length.  Just as it is not possible for man in an early incarnation to conceive of the effects of evolution upon him and to realise the nature of the man upon the Path, so it is not possible for even great [1153] systemic existences to conceive (except in the broadest and most general terms) of the nature of the solar Logos, and of the effect evolution will have on Him.

hay lâm phàm, và ở đây tôi không chủ ý nói dài rộng. Cũng như không thể đối với con người trong một kiếp sớm có thể quan niệm được các hiệu ứng của tiến hóa lên y và thấu hiểu bản tánh của con người trên Thánh Đạo, thì cũng không thể đối với ngay cả những [1153] hiện hữu hệ thống vĩ đại có thể quan niệm (trừ theo những thuật ngữ rất rộng và tổng quát) về bản tánh của Thái dương Thượng đế, và về tác dụng mà tiến hóa sẽ có đối với Ngài.

2. We might consider the Planetary Logoi as “great systemic existences”. We can imagine that there is much about the life and evolution of the Solar Logos which is beyond their understanding.

2. Chúng ta có thể xem các Hành Tinh Thượng đế là “những hiện hữu hệ thống vĩ đại”. Chúng ta có thể hình dung rằng có rất nhiều điều về sự sống và tiến hóa của Thái dương Thượng đế vượt quá sự hiểu biết của Các Ngài.

3. And yet the Tibetan tells us a great deal about the Solar Logos (in general terms). We are far from being “great systemic existences”, but we have been told enough to gather some conception of the life, nature and destiny of this great Being, the Solar Logos, and of our evolution within His ring-pass-not (for as long as we, as Monads, express within that ring-pass-not).

3. Ấy thế mà Chân sư Tây Tạng lại cho chúng ta biết rất nhiều về Thái dương Thượng đế (theo những thuật ngữ tổng quát). Chúng ta còn lâu mới là “những hiện hữu hệ thống vĩ đại”, nhưng chúng ta đã được nói đủ để có thể nắm chút khái niệm về sự sống, bản tánh và định mạng của Đấng vĩ đại này, Thái dương Thượng đế, và về sự tiến hóa của chúng ta trong vòng-giới-hạn của Ngài (bao lâu chúng ta, với tư cách là các Chân thần, còn biểu lộ trong vòng-giới-hạn ấy).

Suffice it to add, anent this matter, that when certain vast cosmic alignments have been made and the energy from the logoic causal ovoid

Chỉ cần nói thêm, liên quan đến vấn đề này, rằng khi những chỉnh hợp vũ trụ mênh mông nào đó đã được thực hiện và năng lượng từ noãn nguyên nhân thuộc Thượng đế

4. Thus, we are told that the causal body of the Solar Logos is an “ovoid” and is not a sphere, as is the case with some human causal bodies.

4. Do đó, chúng ta được cho biết thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế là một “noãn” chứ không phải hình cầu, như trường hợp của một số thể nguyên nhân nhân loại.

5. The “vast cosmic alignments” are probably occurring within the “One About Whom Naught May Be Said” in which our Solar Logos plays a small but significant part.

5. Các “chỉnh hợp vũ trụ mênh mông” có lẽ đang xảy ra trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị” trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta đóng một phần nhỏ nhưng trọng yếu.

on the cosmic mental planes is able to flow unimpeded through to the physical plane atom (our solar system) great eventualities and unconceived of possibilities will then take place.

trên các cõi trí vũ trụ có thể tuôn chảy không bị ngăn trở xuống đến nguyên tử cõi hồng trần (tức Thái dương hệ của chúng ta) thì những biến cố lớn lao và những khả tính chưa từng được hình dung sẽ diễn ra.

6. This alignment is a higher correspondence to the type of alignment which must occur for the human being on the physical plane in relation to his own causal body.

6. Sự chỉnh hợp này là một tương ứng cao hơn với kiểu chỉnh hợp phải xảy ra cho con người trên cõi hồng trần đối với chính thể nguyên nhân của y.

7. Even our higher microcosmic possibilities are not revealed until this type of alignment occurs—for the human being.

7. Ngay cả những khả tính tiểu thiên địa cao hơn của chúng ta cũng không được tiết lộ cho đến khi kiểu chỉnh hợp này xảy ra—đối với con người.

8. From the macrocosmic perspective, we can assume that the logoic astral body and mental body present some form of impediment to this type of unimpeded flow from the logoic causal body. Microcosmically, so it is for a human being. As above, so below.

8. Từ viễn tượng đại thiên địa, chúng ta có thể giả định rằng thể cảm dục và thể trí thuộc Thượng đế trình hiện một kiểu chướng ngại nào đó đối với luồng tuôn chảy không bị ngăn trở như vậy từ thể nguyên nhân thuộc Thượng đế. Ở tiểu thiên địa, con người cũng thế. Trên sao, dưới vậy.

9. We note that our solar system is called a physical plane atom. By analogy, and microcosmically, the etheric-physical nature of a human being could be called a “physical plane atom”.

9. Chúng ta lưu ý Thái dương hệ của chúng ta được gọi là một nguyên tử cõi hồng trần. Theo phép tương đồng, và ở tiểu thiên địa, phần dĩ thái-hồng trần của con người có thể được gọi là một “nguyên tử cõi hồng trần”.

10. We note that DK did not call the solar system the physical permanent atom.

10. Chúng ta lưu ý Chân sư DK đã không gọi Thái dương hệ là nguyên tử trường tồn cõi hồng trần.

11. The cosmic mental plane is intended to be a great source of inspiration for our solar system. So it is for the human being on the physical plane; the higher mental plane is intended to be a great source of inspiration.

11. Cõi trí vũ trụ được định là một nguồn cảm hứng vĩ đại cho Thái dương hệ của chúng ta. Và đối với con người trên cõi hồng trần cũng vậy; cõi thượng trí được định là một nguồn cảm hứng vĩ đại.

Certain phenomena likewise of a secondary nature to this major happening will also take place as the cycles slip away which may be generally summarised as follows:

Những hiện tượng nào đó, xét là thứ yếu so với biến cố chính này, cũng sẽ xảy ra khi các chu kỳ trôi đi và có thể được tóm lược nói chung như sau:

12. We are being informed of a very big picture, the acquisition of which serves to stabilize our consciousness and inspire us. The details which are given to us are not immediately practicable, but they serve as points of motivation towards the “Great Beyond” and thus heighten our aspiration—always useful.

12. Chúng ta đang được thông tin về một bức tranh rất lớn, sự lĩnh hội bức tranh này giúp ổn định tâm thức và truyền cảm hứng cho chúng ta. Những chi tiết được trao cho chúng ta không thể áp dụng ngay, nhưng chúng phục vụ như những điểm gợi động lực hướng tới “Đại Bên Kia” và nhờ đó nâng cao chí nguyện của chúng ta—luôn hữu ích.

FirstCertain systemic triangles will be formed which will permit of the interplay of energy between the different planetary schemes, and thus bring to more rapid maturity the plans and purposes of the Lives concerned.

Thứ nhất. Một số tam giác mang tính hệ thống sẽ được hình thành, điều này sẽ cho phép có sự tương giao năng lượng giữa các hệ hành tinh khác nhau, và như thế đưa các kế hoạch và mục đích của những Sự Sống có liên hệ đến chỗ trưởng thành nhanh hơn.

13. We can apply this idea microcosmically. When certain of the chakric triangles in the human energy system are formed, the chakras themselves will undergo more rapid evolution.

13. Chúng ta có thể áp dụng ý này ở tiểu thiên địa. Khi một số tam giác luân xa nhất định trong hệ năng lượng con người được hình thành, chính các luân xa sẽ tiến hóa nhanh hơn.

14. We could think of a number of important triangles within the solar system and how a better flow of energy within these triangles could advance the development of the Planetary Logoi involved. I will list a few important triangles involving the Earth.

14. Chúng ta có thể nghĩ đến một số tam giác quan trọng trong Thái dương hệ và cách mà sự lưu thông năng lượng tốt hơn trong các tam giác này có thể thúc đẩy sự phát triển của các Hành Tinh Thượng đế liên đới. Tôi sẽ liệt kê vài tam giác quan trọng có liên quan đến Trái Đất.

a. Earth—Venus—Mercury

a. Trái Đất—Kim Tinh—Thủy Tinh

b. Earth—Mars—Venus

b. Trái Đất—Hỏa Tinh—Kim Tinh

c. Earth—Jupiter—Saturn

c. Trái Đất—Mộc Tinh—Thổ Tinh

d. Earth—Vulcan—Pluto

d. Trái Đất—Vulcan—Diêm Vương Tinh

15. I have undertaken an analysis of many systemic triangles long ago, and must bring this forward in coherent form.

15. Tôi đã tiến hành một phân tích từ lâu về nhiều tam giác hệ thống, và phải trình bày nó thành hình thức mạch lạc.

It should be noted here that when we are considering the transmission of energy through alignment and through the forming of certain triangles, it is always in connection with the energy of the first aspect.

Cần lưu ý rằng khi chúng ta đang xem xét sự truyền dẫn năng lượng qua chỉnh hợp và qua việc hình thành những tam giác nhất định, điều đó luôn liên hệ đến năng lượng của Phương diện thứ nhất.

16. The three and the one are united as is the case in esotericism. The third aspect of divinity and the first are closely aligned.

16. Ba và một được hợp nhất như trong huyền bí học. Phương diện ba của Thần tính và Phương diện một gắn bó mật thiết.

It deals with the transmission of electric fire.

Nó liên quan đến sự truyền dẫn Lửa điện.

17. This reminds us that in esoteric astrology when dealing with triangular relationships between signs or planets as opposed to stars or crosses, it is the Spirit that is indicated.

17. Điều này nhắc chúng ta rằng trong chiêm tinh học nội môn, khi xử lý các mối liên hệ tam giác giữa các dấu hiệu hay hành tinh đối lập với các vì sao hay thập giá, thì điều được chỉ thị là Thần Linh.

“The squares or quaternaries relate to material appearance or form expression; the stars concern the states of consciousness, and the trianglesare related to spirit and to synthesis. In the archives of the esoteric astrologers connected with the Hierarchy, charts are kept of those members of the human family who have achieved adeptship and upwards. They are composed of superimposed squares, stars and triangles, contained within the zodiacal wheel and mounted upon the symbol of the Cardinal Cross. The squares, having each of their four angles and points in one or other of four zodiacal constellations, are depicted in black; the five-pointed star is depicted yellow or golden colour and its five points are in contact with five of the constellations on the great wheel; the triangles are in blue and have, above each point of the triangle, an esoteric symbol, standing for the constellations of the Great Bear, Sirius and the Pleiades. These symbols may not here be revealed but indicate the point of spiritual consciousness achieved and the responsiveness of the initiate to these major cosmic influences. A glance at these geometrical charts will indicate in a moment the status of the initiate, and also the point towards which he is striving. These charts are fourth dimensional in nature and not flat surfaces as are our charts. This is an interesting piece of information but of no value, except in so far that it indicates synthesis, the fusion of spirit, soul and body, and the point of development. It [306] proves also the fact that “God geometrises” where the soul is concerned. These charts are most interesting.” (EA 305-306)

“Các hình vuông hay bộ tứ liên quan đến biểu kiến vật chất hay sự biểu lộ hình tướng; các ngôi sao liên quan đến các trạng thái tâm thức, và các tam giác liên hệ đến Thần Linh và đến tính tổng hợp. Trong kho lưu trữ của các nhà chiêm tinh học nội môn liên kết với Thánh đoàn, có lưu các biểu đồ của những thành viên thuộc gia đình nhân loại đã đạt đến địa vị chân sư và cao hơn nữa. Chúng được cấu thành bởi các hình vuông, ngôi sao và tam giác chồng lên nhau, nằm trong bánh xe hoàng đạo và đặt trên biểu tượng của Thập Giá Chủ yếu. Các hình vuông, với bốn góc và điểm của mỗi hình nằm trong một trong bốn chòm sao hoàng đạo, được vẽ màu đen; ngôi sao năm cánh được vẽ màu vàng hoặc vàng kim và năm điểm của nó tiếp xúc với năm trong số các chòm sao trên bánh xe lớn; các tam giác có màu xanh lam và phía trên mỗi điểm của tam giác có một biểu tượng nội môn, đại diện cho các chòm sao của Đại Hùng Tinh, Sirius và Pleiades. Các biểu tượng này không thể tiết lộ ở đây nhưng chỉ thị điểm tâm thức tinh thần đã đạt và mức độ đáp ứng của vị điểm đạo đồ với các ảnh hưởng vũ trụ chủ yếu này. Liếc qua những biểu đồ hình học này sẽ cho thấy ngay địa vị của vị điểm đạo đồ, và cả mục tiêu mà y đang vươn tới. Những biểu đồ này có bản chất bốn chiều chứ không phải những mặt phẳng như biểu đồ của chúng ta. Đây là một mẩu thông tin thú vị nhưng không có giá trị, trừ phi ở chừng mực nó chỉ thị tính tổng hợp, sự dung hợp của thần linh, linh hồn và thể xác, và điểm phát triển. Nó [306] cũng chứng minh sự thật rằng “Thượng đế hành hình học” khi liên quan đến linh hồn. Những biểu đồ này rất thú vị.” (EA 305-306)

It is important to bear this in mind, as it preserves the analogy between the macrocosm and the microcosm with accuracy.

Điều này quan trọng cần ghi nhớ, vì nó duy trì phép tương ứng giữa đại thiên địa và tiểu thiên địa một cách chính xác.

18. Within our own microcosmic energy system, the spiritual triad is a triangle and represents the Spirit. The Monad or Spirit is also a triangle consisting of Will, Wisdom and Activity.

18. Trong chính hệ năng lượng tiểu thiên địa của chúng ta, Tam nguyên tinh thần là một tam giác và đại diện cho Thần Linh. Chân thần hay Thần Linh cũng là một tam giác bao gồm Ý chí, Minh triết và Hoạt động.

19. The one and the three are everywhere connected.

19. Ở mọi nơi, một và ba đều liên kết.

Second.  A final systemic triangle will be formed which will be one of supreme force,

Thứ hai. Một tam giác hệ thống cuối cùng sẽ được hình thành, mang một uy lực tối thượng,

20. Because this triangle is a “systemic triangle” we can see that it must occur within the solar system.

20. Vì tam giác này là một “tam giác hệ thống” nên chúng ta thấy rằng nó phải xảy ra trong Thái dương hệ.

21. This triangle “of supreme force” might well be the triangle of synthesizing planets—Saturn, Neptune and Uranus.

21. Tam giác “uy lực tối thượng” này có thể chính là tam giác của các hành tinh tổng hợp—Thổ Tinh, Hải Vương Tinh và Thiên Vương Tinh.

22. The triangle between the Three Persons of the Logoic Trinity could be considered super-systemic. Such a triangle might or might not have planetary expression.

22. Tam giác giữa Ba Ngôi của Tam Vị Thuộc Thượng đế có thể được xem là siêu-hệ thống. Một tam giác như vậy có thể có, hoặc không có, sự biểu lộ hành tinh.

for it will be utilised by the abstracted essence and energies of the septenate of schemes

nó sẽ được các tinh chất tinh luyện và các năng lượng đã trừu xuất của bộ thất các hệ hành tinh

23. Does Master DK mean the seven schemes appearing in Chart VI, in TCF? Or is does the septenate consist only of the sacred planetary schemes?

23. Chân sư DK có ý nói đến bảy hệ hành tinh xuất hiện trong Biểu đồ VI của TCF chăng? Hay bộ thất ấy chỉ gồm các hệ hành tinh thiêng liêng?

as the negative basis for the reception of positive electric energy.

làm nền âm cho việc tiếp nhận năng lượng điện dương.

24. This is a deeply occult statement and there is no certainty that we will be able to interpret it accurately.

24. Đây là một mệnh đề thâm áo và không có gì chắc chắn rằng chúng ta sẽ có thể diễn giải nó một cách chính xác.

25. We must question whether this triangle will exist between planetary schemes as they exist now (i.e., materially), or between the abstracted essences of planetary schemes.

25. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu tam giác này sẽ tồn tại giữa các hệ hành tinh như chúng hiện tồn (tức ở phương diện vật chất), hay giữa những tinh chất trừu xuất của các hệ hành tinh.

26. On the other hand, this triangle may not consist of the three synthesizing planets at all, but may be a lower type of triangle which acts as the “negative basis” for higher planetary energies already abstracted which may have merged with the higher two synthesizing schemes.

26. Mặt khác, tam giác này có thể không phải gồm ba hành tinh tổng hợp chút nào, mà có thể là một loại tam giác thấp hơn đóng vai trò “nền âm” cho những năng lượng hành tinh cao hơn đã được trừu xuất vốn có thể đã hòa nhập với hai hệ tổng hợp cao hơn.

27. In this case we could have:

27. Trong trường hợp này chúng ta có thể có:

a. The source of the positive electrical energy—perhaps the energies of Uranus and Neptune

a. Nguồn của năng lượng điện dương—có lẽ là các năng lượng của Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh

b. The abstracted essence of the seven planetary schemes (including Saturn), together acting as intermediaries between positive and negative

b. Tinh chất trừu xuất của bảy hệ hành tinh (kể cả Thổ Tinh), cùng nhau làm trung giới giữa cực dương và cực âm

c. The triangle in question acting as a negative basis or pole for the positive energies.

c. Tam giác đang bàn đóng vai trò nền âm hay cực âm cho các năng lượng dương.

28.  Or, Uranus could be the point of positive electrical energy; Neptune a planet of meditation; and Saturn and six surrounding planets (once in a state of abstracted essence) serving as “the negative basis for the reception of positive electric energy”. All triangles must have three points and so, in this case, an intermediary point would be needed—Neptune perhaps serving as that point.

28.  Hoặc, Uranus có thể là điểm của năng lượng điện dương; Neptune là một hành tinh của sự tham thiền; và Saturn cùng sáu hành tinh bao quanh (một khi ở trong trạng thái tinh chất được trừu xuất) phụng sự như “cơ sở âm để tiếp thu năng lượng điện dương”. Mọi tam giác đều phải có ba  điểm, do đó, trong trường hợp này, cần một điểm trung gian—có lẽ Neptune đảm nhiệm điểm ấy.

29. If the triangle in question is a “negative basis” it is hard to conceive of it as the triangle of the three synthesizing planets.

29. Nếu tam giác đang bàn là một “cơ sở âm” thì thật khó hình dung nó như tam giác của ba hành tinh tổng hợp.

30. Of importance to realize is that many events and relations occurring in the later days of our solar system will occur between the abstracted essences and energies of the formerly fully embodied planetary schemes.

30. Điều quan trọng cần nhận ra là nhiều sự kiện và liên hệ xảy ra trong những ngày sau cùng của hệ mặt trời chúng ta sẽ xảy ra giữa các tinh chất được trừu xuất và các năng lượng  của các hệ hành tinh trước kia vốn đã biểu hiện trọn vẹn bằng hình tướng.

This electric energy is able to circulate through the schemes owing to the bringing about of a cosmic alignment.

Năng lượng điện này có thể lưu thông xuyên qua các hệ hành tinh là nhờ tạo lập nên một sự chỉnh hợp vũ trụ.

31. We need to gather that circulation is always dependent upon the quality of alignment.

31. Chúng ta cần hiểu rằng sự lưu thông luôn lệ thuộc vào phẩm tính của sự chỉnh hợp.

32. The source or positive energy of which we are speaking seems to be cosmic in nature rather than systemic.

32. Nguồn hay năng lượng dương mà chúng ta đang đề cập dường như thuộc bản chất vũ trụ hơn là thuộc hệ thống.

It is the bringing in of this terrific spiritual force during the final stages of manifestation which results in the blazing forth of the seven suns.23

Chính là việc đưa vào của mãnh lực tinh thần trong các giai đoạn của biểu hiện vốn dẫn đến sự bùng chiếu của bảy mặt trời.23

33. What analogy can we draw from what we know about the conflagration of the human causal body at the fourth initiation? The “Jewel in the Lotus” is sevenfold and may display as seven jewels in the blazing forth of the causal body.

33. Ta có thể rút ra tương đồng nào từ điều chúng ta biết về sự bừng cháy của thể nguyên nhân con người ở lần điểm đạo thứ tư? “Báu Ngọc trong Hoa Sen” là thất phân và có thể hiển lộ như bảy báu ngọc trong sự bừng rực của thể nguyên nhân.

34. The “seven suns” however, are probably cosmic etheric in nature rather than demonstrations upon the higher levels of the cosmic mental plane where the solar “Jewel in the Lotus” is found.

34. Tuy nhiên, “bảy mặt trời” có lẽ thuộc bản chất dĩ thái vũ trụ hơn là những biểu hiện trên các cấp cao của cõi trí vũ trụ, nơi “Báu Ngọc trong Hoa Sen” của Thái dương tồn tại.

35. We must question whether there is an etheric reflection of the causal blazing forth at the time of the fourth initiation.

35. Chúng ta phải tự hỏi liệu có một phản chiếu dĩ thái của sự bừng rực của thể nguyên nhân vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư hay không.

36. The destruction of the logoic causal body will, we suspect, occur towards the end of this present solar system, even though another solar system is to follow, for our Solar Logos is to take His fourth or fifth cosmic initiation in this solar system!

36. Chúng ta nghi rằng sự hủy hoại thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế sẽ xảy ra về cuối hệ mặt trời hiện tại này, dù sẽ có một hệ mặt trời khác tiếp theo, vì Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ thọ lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trong hệ mặt trời này!

37. This means that our next solar system might be more in the nature of a mayavirupa—a will-created body, just as is the case for the manifesting human being following the fourth initiation.

37. Điều này có nghĩa là hệ mặt trời kế tiếp của chúng ta có thể mang bản chất của một mayavirupa—một hiện thể do ý chí tạo, cũng như trường hợp của con người đang biểu hiện sau lần điểm đạo thứ tư.

38. Will the cosmic source of the energy which will cause the disintegration of the solar system have an analogy to the human Monad, for some of the force which destroys the human causal body is drawn from the human Monad.

38. Liệu nguồn vũ trụ của năng lượng sẽ gây ra sự phân rã của hệ mặt trời có tương đồng với Chân Thần con người không, vì một phần mãnh lực phá hủy thể nguyên nhân con người được rút từ Chân Thần con người.

39. Some idea of the process may be gathered from the following, though it refers Planetary Logoi rather than to the Solar Logos:

39. Có thể nắm được phần nào ý niệm về tiến trình từ đoạn sau, tuy nó đề cập các Hành Tinh Thượng đế hơn là Thái dương Thượng đế:

Again the Kumaras are embodied principles, but in this connection we must remember that this means that the force and energy of one of the principles of the Logos are pouring through Them via that which—to Them—corresponds to the Monad.  Through Them, during Their period of incarnation and voluntary sacrifice, the great Prototype of the planetary Logos begins to make His Presence felt, and force from the constellation of the Great Bear faintly vibrates on earth. (TCF 752)

Một lần nữa các Kumara là những nguyên khí được kết thể, nhưng trong mối liên hệ này chúng ta phải nhớ rằng điều đó có nghĩa là mãnh lực và năng lượng của một trong các nguyên khí của Thượng đế đang tuôn qua Các Ngài thông qua cái mà—đối với Các Ngài—tương ứng với Chân Thần. Qua Các Ngài, trong thời kỳ lâm phàm và hiến tế tự nguyện, Đại Khuôn Mẫu của Hành Tinh Thượng đế bắt đầu làm cho Hiện Diện Ngài được cảm biết, và mãnh lực từ chòm sao Đại Hùng nhẹ nhàng rung động trên địa cầu. (TCF 752)

Footnote 23:

Chú thích 23:

The rising and setting of the Sun symbolises manifestation and obscuration.—S. D., II, 72.

Sự mọc và lặn của Mặt Trời biểu trưng cho biểu hiện và sự che tối.—Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 72.

40. This is one of the great symbols of the universal process.

40. Đây là một trong những biểu tượng lớn của tiến trình phổ quát.

Pralaya is of different kinds:—

Pralaya có nhiều loại:—

1. Cosmic pralaya….The obscuration of the three suns, or of three solar systems.

1. Giai kỳ qui nguyên vũ trụ….Sự che tối của ba mặt trời, hoặc của ba hệ mặt trời.

41. We assume there is a very lengthy period which occurs after the major three solar systems have run their course.

41. Chúng ta giả định có một thời kỳ rất dài xảy ra sau khi ba hệ mặt trời chính đã hoàn tất chu trình của chúng.

42. Generally, in the old chronologies, periods of pralaya are equivalent to periods of manifestation. Thus, the pralaya would last as long as the duration of the three solar systems, IF those solar systems are sequential as seems to be the case.

42. Nói chung, trong các niên biểu cổ, các giai đoạn qui nguyên có thời lượng tương đương các giai đoạn biểu hiện. Do đó, giai kỳ qui nguyên sẽ kéo dài bằng thời lượng của ba  hệ mặt trời, NẾU các hệ mặt trời ấy diễn tiến nối tiếp nhau như có vẻ  là trường hợp.

43. Additionally, such a Cosmic Pralaya might include a period as long as three solar systems and the pralayas of those solar systems!

43. Thêm nữa, một Giai kỳ Qui nguyên Vũ trụ như thế có thể bao gồm một thời kỳ dài bằng ba hệ mặt trời  cả các giai kỳ qui nguyên của những hệ mặt trời ấy!

2. Solar pralaya….The obscuration of a system at the end of one hundred years of Brahma.  Period between solar systems.

2. Giai kỳ qui nguyên thái dương….Sự che tối của một hệ thống vào cuối một trăm năm của Brahma. Khoảng thời giữa các hệ mặt trời.

44. This, of course, is a period of immense duration. We can read the numbers but they cannot mean much to us because (if the Hindu Chronology is correct) we are speaking of trillions of Earth-years.

44. Dĩ nhiên, đây là một thời kỳ có độ dài khôn lường. Chúng ta có thể đọc các con số nhưng chúng khó mang nhiều ý nghĩa đối với chúng ta vì (nếu Niên biểu Ấn giáo là đúng) chúng ta đang nói đến hàng nghìn tỷ năm Trái Đất.

45. We should bear in mind that pralayas of far greater duration than the ones here listed are also part of the entirety of the Great Cosmos, the Universe in its totality. Pondering on these durations should put our little incarnations into perspective.

45. Chúng ta nên ghi nhớ rằng các giai kỳ qui nguyên có thời lượng lớn lao hơn nhiều so với những gì liệt kê ở đây cũng là một phần của toàn thể Đại Vũ Trụ, Vũ trụ trong toàn thể. Ngẫm nghĩ về các thời lượng này sẽ đặt những lần lâm phàm nhỏ bé của chúng ta vào đúng viễn tượng.

3. Incidental pralaya….The obscuration of a scheme.  Period between manvantaras.

3. Giai kỳ qui nguyên ngẫu phát….Sự che tối của một hệ hành tinh. Khoảng thời giữa các giai kỳ sinh hóa.

46. The term “manvantara” is deeply blinded. We do not know whether we are speaking of the duration of a planetary scheme, a planetary chain or the duration of planetary globes. The term “manvantaras” can also indicate a chain round.

46. Thuật ngữ “manvantara” bị che mờ sâu sắc. Chúng ta không biết mình đang nói về thời lượng của một hệ hành tinh, một dãy hành tinh hay thời lượng của các bầu hành tinh. Thuật ngữ “manvantaras” cũng có thể chỉ một cuộc tuần hoàn dãy.

47. There are also what we might call ‘systemic rounds’ during which the solar life-impulse moves from planetary scheme to planetary scheme. Such great rounds would account for periods of planetary activity and relative latency.

47. Cũng có những gì chúng ta có thể gọi là ‘các cuộc tuần hoàn toàn hệ’, trong đó xung lực sự sống thái dương di chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Những cuộc tuần hoàn lớn như vậy sẽ giải thích các thời kỳ hoạt động và bán tiềm ẩn của hành tinh.

48. We can judge that there are many kinds of manvantaras.

48. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng có nhiều loại giai kỳ sinh hóa.

49. How many incarnations does a Planetary Logos undergo in a single solar system. There is sound reason to think—only one, for the Planetary Logoi are as chakras to the Solar Logos Who has but one incarnation, and chakras cannot ‘come and go’ in any coherent energy system though they can go through periods of activity and latency.

49. Một Hành Tinh Thượng đế trải qua bao nhiêu lần lâm phàm trong một hệ mặt trời? Có cơ sở vững chắc để cho rằng—chỉ một, vì các Hành Tinh Thượng đế là các luân xa đối với Thái dương Thượng đế, Đấng chỉ có một lần lâm phàm, và các luân xa không thể ‘đến rồi đi’ trong bất kỳ hệ thống năng lượng nhất quán nào dù chúng có thể trải qua các thời kỳ hoạt động và tiềm phục.

50. But the different parts of a planetary scheme may undergo obscurations and pralayas. Still there will be laws to be followed for they, too, are chakras and a certain number of chakras are necessary if the life of any system is to be sustained.

50. Nhưng các phần  khác nhau của một hệ hành tinh có thể trải qua các thời kỳ che tối và qui nguyên. Tuy vậy vẫn sẽ có những định luật cần được tuân theo vì chúng, cũng vậy, là các luân xa và một số lượng nhất định các luân xa là cần thiết nếu sự sống của bất kỳ hệ thống nào được duy trì.

51. If “manvantaras” mean “rounds” then we are taking about periods of activation within a planetary scheme and periods of quiescence or pralaya. This is understandable.

51. Nếu “manvantaras” có nghĩa là “các cuộc tuần hoàn” thì chúng ta đang nói về những thời kỳ kích hoạt trong một hệ hành tinh và những thời kỳ yên lặng hay qui nguyên. Điều này có thể hiểu được.

Man repeats this at seventh, fifth initiations and at each rebirth in three worlds.

Con người lặp lại điều này ở lần điểm đạo thứ bảy, thứ năm và ở mỗi lần tái sinh trong ba cõi.

52. This is a fascinating piece of occult information. We are told of a long interval (a kind of pralaya) which may follow the fifth initiation. Of course we may wonder whether the changes which have occurred in hierarchical procedure have not affected this process. Much that was once undertaken at the fifth initiation has been deferred until the sixth initiation. Choosing one of the Seven Paths used to occur after the fifth initiation; now it occurs at the sixth.

52. Đây là một mẩu thông tin huyền bí đầy hấp dẫn. Chúng ta được biết về một khoảng gián đoạn dài (một dạng qui nguyên) có thể theo sau lần điểm đạo thứ năm. Tất nhiên chúng ta có thể tự hỏi liệu những thay đổi xảy ra trong thủ tục của Huyền Giai có không ảnh hưởng đến tiến trình này. Nhiều điều từng được thực hiện ở lần điểm đạo thứ năm nay đã được hoãn đến lần điểm đạo thứ sáu. Việc chọn một trong Bảy Con Đường trước kia diễn ra sau lần điểm đạo thứ năm; nay diễn ra ở lần thứ sáu.

53. We are to expect, probably, an even longer pralaya after the seventh initiation. What could be the duration of such a pralaya? Would it last as long as the time taken to reach the seventh initiation from the time a human being passed through individualization? Are the Buddha and the Christ (now in process of completing the seventh initiation) due to experience such a pralaya?

53. Có lẽ chúng ta còn nên trông đợi một giai kỳ qui nguyên dài hơn nữa sau lần điểm đạo thứ bảy. Thời lượng của một giai kỳ như vậy có thể là bao lâu? Liệu nó có kéo dài bằng quãng thời gian dẫn đến lần điểm đạo thứ bảy tính từ khi một con người vượt qua sự biệt ngã hóa? Đức Phật và Đức Christ (hiện đang trong quá trình hoàn tất lần điểm đạo thứ bảy) có sẽ trải nghiệm một giai kỳ qui nguyên như vậy chăng?

54. We know, on a smaller scale, that each human incarnation is followed by a kind of pralaya on the subtle planes and later within the causal body before renewing approach to incarnation.

54. Chúng ta biết, ở quy mô nhỏ hơn, rằng mỗi lần lâm phàm của con người đều được theo sau bởi một dạng qui nguyên trên các cõi vi tế và về sau là trong thể nguyên nhân trước khi tiếp tục tiến gần đến việc nhập thể.

55. Clearly, there is so much about the Science of Cycles which is unknown to us and without which no true interpretation of the timing in the development of man can be determined. The Masters know the “times and seasons” and thus their judgment of time is far wiser than ours. They know the periods in which tasks must be completed. Additional opportunities to complete may be a long time in coming.

55. Rõ ràng là có quá nhiều điều về Khoa học Chu kỳ mà chúng ta chưa biết, và nếu thiếu chúng, không thể có diễn giải đúng về thời điểm trong sự phát triển của con người. Các Chân sư biết “những thời điểm và mùa vụ” nên phán đoán của Các Ngài về thời gian khôn ngoan hơn chúng ta rất nhiều. Các Ngài biết những thời kỳ trong đó các nhiệm vụ phải được hoàn tất. Cơ hội bổ sung để hoàn thành có thể còn lâu mới đến.

The Pleiades are the centre around which our solar system revolves.—S. D., II, 251, 581, 582.

Chòm Thất Nữ là trung tâm quanh đó hệ mặt trời chúng ta quay.—Giáo Lý, II, 251, 581, 582.

56. This is one of those amazing statement with which present day astronomers will take great exception. They do not think it is possible, based upon the laws of physics as presently understood.

56. Đây là một trong những tuyên bố kinh ngạc mà các nhà thiên văn thời nay sẽ kịch liệt phản đối. Dựa trên các định luật vật lý hiện được hiểu, họ không cho rằng điều đó khả hữu.

57. Yet, this assertion is frequently repeated in our literature and, if true, represents a stupendous statement. Of course it is true— but there still remain important questions about whether the statement is to be interpreted literally on the dense physical plane, or whether it represents a deeper, inner truth—or whether both are true.

57. Tuy vậy, khẳng định này thường xuyên được lặp lại trong trước tác của chúng ta và, nếu đúng, là một tuyên bố vĩ đại tuyệt luân. Dĩ nhiên nó là đúng—  nhưng vẫn còn những câu hỏi quan trọng về việc liệu phát biểu này có nên được hiểu theo nghĩa đen trên cõi hồng trần đậm đặc, hay nó biểu thị một chân lý nội tâm sâu xa—hoặc cả hai đều đúng.

58. We do know that the Pleiades are hugely important to our solar system, our zodiacal constellations and to the various constellations in our local cosmosystem. In fact, the Pleiades may be the “Hub of the Wheel” as far as that cosmic system is concerned.

58. Chúng ta biết rằng Thất Nữ vô cùng quan trọng đối với hệ mặt trời chúng ta, các chòm hoàng đạo của chúng ta và các chòm sao khác trong vũ trụ cận kề của chúng ta. Thực vậy, xét về hệ vũ trụ ấy, Thất Nữ có thể là “Trục của Bánh Xe”.

The Sun is the kernel and matrix of all in the solar system.—S. D., I, 309, 310, 590, 591.

Mặt Trời là nhân và mẫu thể của mọi sự trong hệ mặt trời.—Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 309, 310, 590, 591.

59. These words are not used arbitrarily. We are speaking of centrality and etheric extension. The solar system is underlay by the etheric body of the Solar Logos.

59. Những từ này không dùng tùy tiện. Chúng ta đang nói về tính trung tâm và sự mở rộng dĩ thái. Hệ mặt trời được nâng đỡ bởi thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế.

Kernel comes from the same word as corn.

Kernel bắt nguồn từ cùng gốc với corn.

Compare the words in Bible:—

Hãy so sánh lời trong Kinh Thánh:—

“Except a corn of wheat fall into the ground and die it abideth alone, but if it die it bringeth forth much fruit.”

“Nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt.”

60. Through this Biblical saying, we are being taught something about the Solar Logos’ relation to sacrifice. The will of the Solar Logos is to sacrifice for all B/beings contained within His ring-pass-not.

60. Qua lời Kinh Thánh này, chúng ta được dạy về mối liên hệ của Thái dương Thượng đế với sự hy sinh. Ý chí của Thái dương Thượng đế là hy sinh vì tất cả các Sự Sống chứa trong vòng-giới-hạn của Ngài.

61. We have a similar though far lesser destiny which we will discover when we identify with the nature of solar energies within our energy system.

61. Chúng ta cũng có một định mệnh tương tự, dù nhỏ hơn rất nhiều, điều mà chúng ta sẽ khám phá khi đồng hoá với bản chất của các năng lượng thái dương trong hệ năng lượng của chính mình.

The Sun is governed by the same laws as all other atoms.—S. D., I, 168, 667.

Mặt Trời chịu sự chi phối bởi những định luật giống như mọi nguyên tử khác.—Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 168, 667.

62. The Sun is an atom. Through the Law of Analogy, if we know the laws according to which the Sun expresses its nature, we will know the same for the tiny atom of substance. Likewise, knowledge of the nature of the atom of substance will throw light upon the nature of the Sun.

62. Mặt Trời là một nguyên tử. Theo Định luật Tương đồng, nếu chúng ta biết những định luật theo đó Mặt Trời biểu hiện bản chất của mình, chúng ta sẽ biết điều tương tự đối với nguyên tử nhỏ bé của chất liệu. Tương tự, hiểu biết về bản chất của nguyên tử chất liệu sẽ chiếu sáng bản chất của Mặt Trời.

Though the seven have become the three, this is only in [1154]connection with the dense physical planets.

Mặc dù bảy đã trở thành ba, điều này chỉ là trong [] liên hệ với các hành tinh hồng trần đậm đặc.

63. We have much to learn about the nature of synthesis, obscuration, absorption and pralaya at the end of a solar system. The processes described such as the blazing forth of the “Seven Suns” are etheric in nature.

63. Chúng ta còn phải học nhiều về bản chất của sự tổng hợp, che tối, hấp thu và qui nguyên vào cuối một hệ mặt trời. Các tiến trình được mô tả như sự bùng rực của “Bảy Mặt Trời” mang bản chất dĩ thái.

64. It can be expected that as the solar system moves towards its pralaya, fewer and fewer dense physical planets will exist, but what of the planets which have dropped their dense physical shell? They may exist in their etheric bodies. Later those etheric bodies may be absorbed into the etheric bodies of greater planets.

64. Có thể dự đoán rằng khi hệ mặt trời tiến về giai kỳ qui nguyên, càng ngày sẽ càng ít hành tinh hồng trần đậm đặc tồn tại, nhưng còn những hành tinh đã bỏ vỏ hồng trần đậm đặc thì sao? Chúng có thể tồn tại trong các thể dĩ thái của chúng. Về sau, những thể dĩ thái ấy có thể được hấp thu vào các thể dĩ thái của những hành tinh lớn hơn.

The blazing forth spoken of in the occult books and in the Secret Doctrine is in etheric matter;

Sự bùng rực được nói đến trong các sách huyền bí và trong Giáo Lý Bí Nhiệm là trong chất liệu dĩ thái;

65. This is the statement on which to focus. We are not speaking of a final dense physical conflagration.

65. Đây là tuyên bố cần tập trung vào. Chúng ta không nói về một trận bừng cháy hồng trần đậm đặc sau cùng.

it is this etheric fiery energy which brings to a consummation (and so destroys) the remaining three major schemes.

chính năng lượng lửa dĩ thái này đưa mọi sự đến sự viên mãn (và do đó phá hủy) ba hệ lớn còn lại.

66. This destruction, we may suspect, is not simultaneous but sequential.

66. Có thể suy đoán rằng sự hủy diệt này không đồng thời mà tuần tự.

67. Is DK telling us that the blazing forth of the “Seven Suns” is instrumental in destroying the remaining planetary schemes

67. Phải chăng Chân sư DK đang cho biết rằng sự bùng rực của “Bảy Mặt Trời” đóng vai trò trong việc hủy diệt các hệ hành tinh còn lại?

68. As is said in Esoteric Healing when describing the processes of the fourth initiation, “the form then severs the connection”

68. Như đã nói trong Trị Liệu Huyền Môn  khi mô tả các tiến trình của lần điểm đạo thứ tư,  “hình tướng khi ấy cắt đứt mối nối”

69. DK’s statement above leads us to wonder how the earlier schemes (no longer existent physically) were destroyed. Is the destruction of the final three a special type of destruction compared to the destruction of the other planetary schemes?

69. Tuyên bố trên của DK dẫn chúng ta tự hỏi những hệ trước đó (không còn tồn tại về mặt thể chất) đã bị hủy diệt như thế nào. Phải chăng sự hủy diệt của ba hệ sau cùng là một kiểu hủy diệt đặc biệt so với sự hủy diệt của các hệ hành tinh khác?

70. We note the phrase “the remaining three major schemes”. Could there also be minor schemes remaining (three perhaps) providing the negative basis for positive electrical energy as discussed above?

70. Chúng ta lưu ý cụm từ “ba hệ lớn còn lại”. Liệu cũng có thể có những hệ nhỏ  còn lại (có lẽ là ba) cung cấp cơ sở âm cho năng lượng điện dương như đã bàn ở trên?

71. To know these things is not of immediate practical value except to suggest the beauty of the Divine Plan. We also must learn something of value concerning our own chakra system during the final days of necessary expression through the human kingdom.

71. Biết những điều này không có giá trị thực tiễn ngay trước mắt ngoài việc gợi ra vẻ đẹp của Thiên Cơ. Chúng ta cũng phải học được điều gì đó có giá trị liên quan đến hệ thống luân xa của chính mình trong những ngày sau cùng của sự biểu hiện cần thiết qua giới nhân loại.

In this we have a correspondence to the burning of the causal body at the fourth Initiation through the merging of the three fires.  It is only a correspondence, and the details must not be pushed too far.

Trong điều này, chúng ta có một sự tương ứng với sự thiêu đốt thể nguyên nhân ở lần Điểm đạo thứ tư qua sự hợp nhất của ba lửa. Đó chỉ là một sự tương ứng, và không nên đẩy các chi tiết đi quá xa.

72. We can see that Master DK is sounding a cautionary note.

72. Chúng ta thấy Chân sư DK đang gióng lên một nốt cảnh giác.

73. The analogy to the three major schemes (as found in humanity) can be understood in various ways. Perhaps this is one way: Saturn represents the three atomic units in the atomic triangle; Neptune represents the nine petals in the egoic lotus or perhaps even twelve petals; Uranus could represent the “Jewel in the Lotus” or the “Jewel in the Lotus” and the synthesis petals.

73. Sự tương đồng với ba hệ lớn (như thấy nơi nhân loại) có thể được hiểu theo nhiều cách. Có lẽ một cách là: Saturn tiêu biểu cho ba đơn vị nguyên tử trong tam giác nguyên tử; Neptune tiêu biểu cho chín cánh của hoa sen chân ngã hay thậm chí mười hai cánh; Uranus có thể tiêu biểu cho “Báu Ngọc trong Hoa Sen” hoặc “Báu Ngọc trong Hoa Sen”  và  các cánh tổng hợp.

74. There are many possible correspondences. For man at the fourth initiation, we can also expect an etheric “blazing forth”. Additionally, for man, we find a blazing forth upon the plane of higher mind whereon the causal body is focused.

74. Có nhiều tương ứng khả hữu. Đối với con người ở lần điểm đạo thứ tư, chúng ta cũng có thể kỳ vọng một sự “bừng rực” dĩ thái. Thêm nữa, đối với con người, chúng ta thấy một sự bừng rực trên cõi thượng trí, nơi thể nguyên nhân được tập trung.

The Saturn scheme is esoterically regarded as having absorbed the “frictional fires of systemic space”; Neptune is looked upon as the repository of the “solar flames,” and Uranus as the home of “fire electric.”

Hệ Saturn được xét theo nội môn là đã hấp thu “các lửa ma sát của không gian toàn hệ”; Neptune được xem như là nơi lưu giữ “các ngọn lửa thái dương,” và Uranus là ngôi nhà của “lửa điện.”

75. Here we have another occult statement of profound value. The “frictional fires of systemic space” concern the personality natures of perhaps all planets, but certainly the non-sacred planets and lesser sacred planets.

75. Ở đây chúng ta có một tuyên bố huyền bí khác có giá trị sâu xa. “Các lửa ma sát của không gian toàn hệ” liên quan đến các bản chất phàm ngã của có lẽ mọi hành tinh, nhưng chắc chắn là của các hành tinh không thiêng và các hành tinh thiêng bậc thấp hơn.

76. Neptune has a correlation with the Heart of the Sun and no doubt expresses the energy of that “Heart” within the solar system. It is in the Heart of the Sun (upon the higher cosmic mental plane) that the “solar flames” reside.

76. Neptune có tương ứng với Tim của Mặt Trời và chắc chắn biểu lộ năng lượng của “Tim” ấy trong hệ mặt trời. Chính trong Tim của Mặt Trời (trên các cấp cao của cõi trí vũ trụ) mà “các ngọn lửa thái dương” ngự trị.

77. A connection of Neptune with the petals of the solar Egoic Lotus can certainly be reasoned, for Neptune is ultimately the planet of love and the petals of any type of egoic lotus express love.

77. Có thể lý luận một mối liên kết của Neptune với các cánh của Hoa Sen Chân Ngã thái dương, vì Neptune rốt ráo là hành tinh của tình thương và các cánh của bất kỳ loại hoa sen chân ngã nào đều biểu hiện tình thương.

78. The Monad of Uranus is on the first ray (EP I 420) and so its association with the electric fire of the “Jewel in the Lotus” is not farfetched.

78. Chân Thần của Uranus ở cung một (EP I 420) nên sự liên hệ của nó với lửa điện của “Báu Ngọc trong Hoa Sen” không phải là điều khiên cưỡng.

79. We can be quite sure that Saturn, Neptune and Uranus are the last three dense physical planets to remain in our solar system. By that time all the other planets will have lost their dense physical bodies and will be in an etheric state—a state perhaps initially independent of the synthesizing planets or later absorbed into the etheric nature of those synthesizing planets.

79. Chúng ta có thể khá chắc chắn rằng Saturn, Neptune và Uranus là ba hành tinh hồng trần đậm đặc sau cùng còn lại trong hệ mặt trời chúng ta. Đến lúc đó, tất cả các hành tinh khác sẽ mất thể hồng trần đậm đặc và ở trong trạng thái dĩ thái—một trạng thái có lẽ ban đầu độc lập với các hành tinh tổng hợp, hoặc về sau được hấp thu vào bản chất dĩ thái của những hành tinh tổng hợp ấy.

When, through extra-systemic activity based upon three causes:

Khi, qua hoạt động ngoại hệ dựa trên ba nguyên nhân:

1.  Logoic alignment,

1. Sự chỉnh hợp của Thượng đế,

80. Presumably between the systemic body and the causal body of the Solar Logos.

80. Nhiều khả năng là giữa thể toàn hệ và thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế.

2.  The taking of a logoic Initiation,

2. Việc thọ một lần Điểm đạo của Thái dương Thượng đế,

81. Presumably the fourth initiation of the Solar Logos.

81. Có lẽ là lần điểm đạo thứ tư của Thái dương Thượng đế.

3.  The action of the “ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID,”

3. Hành động của “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ,”

82. This is cosmic stimulation and is analogous to the manner in which the human Monad participates in the destruction of the human causal body and dense physical body (and personality) at the time of the fourth initiation.

82. Đây là sự kích thích vũ trụ và tương tự với cách mà Chân Thần con người tham dự vào sự hủy diệt thể nguyên nhân và thể hồng trần (và phàm ngã) của con người vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư.

these three schemes are simultaneously stimulated and the fires pass from one to another in a triangular manner, they then too pass into obscuration.

ba hệ này được kích thích đồng thời và các lửa chuyển từ hệ này sang hệ kia theo cách tam giác, thì chúng cũng đi vào sự che tối.

83. The obscuration of the dense physical planets is, we see, based upon three grand requirements: alignment, initiation and superior, extraneous action.

83. Chúng ta thấy sự che tối của các hành tinh hồng trần đậm đặc dựa trên ba điều kiện vĩ đại: chỉnh hợp, điểm đạo và hành động siêu vượt, từ bên ngoài.

84. Might we not say that the activation of the various triangles within our own energy system would be based upon the same three factors? We align; we take initiation; the Solar Angel or our Monad takes action.

84. Chẳng phải chúng ta có thể nói rằng việc hoạt hóa các tam giác khác nhau trong hệ năng lượng riêng của chúng ta cũng dựa trên cùng ba yếu tố sao? Chúng ta chỉnh hợp; chúng ta thọ điểm đạo; Thái dương Thiên Thần hay Chân Thần của chúng ta hành động.

Naught is left save the blazing etheric suns and these—through very intensity of burning—dissipate with great rapidity. [1155]

Không còn gì ngoài những mặt trời dĩ thái rực lửa và các mặt trời này—do cường độ bốc cháy—làm tiêu tan rất nhanh chóng. [1155]

85. DK presents a vision of fiery consummation—etheric consummation. The destiny of incarnational life (whether human, planetary, systemic or cosmic) is cessation through fire.

85. DK trình bày một viễn cảnh viên mãn bằng lửa—một sự viên mãn dĩ thái. Định mệnh của sự sống trong hình tướng (dù là nhân loại, hành tinh, hệ thống hay vũ trụ) là chấm dứt qua lửa.

86. We are on our way to this fiery consummation, and once it is completed, countless such consummations lie before us.

86. Chúng ta đang trên đường tới sự viên mãn bằng lửa này, và khi nó hoàn tất, vô số sự viên mãn như thế nữa lại mở ra phía trước chúng ta.

87. The following from A Treatise on Cosmic Fire may shed light upon the process from the microcosmic angle:

87. Đoạn sau từ Luận về Lửa Vũ Trụ có thể soi sáng tiến trình từ góc độ tiểu vũ trụ:

“The centres, therefore, when functioning properly, form the “body of fire” which eventually is all that is left, first to man in the three worlds, and later to the Monad. This body of fire is “the body incorruptible”72 or indestructible, spoken of by St. Paul, and is the product of evolution, of the perfect blending of the three fires, which ultimately destroy the form. When the form is destroyed there is left this intangible spiritual body of fire, one pure flame, distinguished by seven brilliant centres of intenser burning. This electric fire is the result of the bringing together of the two poles and demonstrates at the moment of complete at-one-ment, the occult truth of the words “Our God is a consuming Fire.”73 (TCF 166-167)

“Vì vậy, các trung tâm, khi vận hành đúng, hình thành ‘thân lửa’ mà rốt cuộc là tất cả những gì còn lại, trước hết cho con người trong ba cõi, và về sau cho Chân Thần. Thân lửa này là ‘thân bất hoại’72 hay bất khả hoại, được Thánh Phao-lô nói đến, và là sản phẩm của tiến hoá, của sự dung hợp hoàn hảo của ba lửa, rốt cuộc hủy diệt hình tướng. Khi hình tướng bị hủy diệt, còn lại thân lửa tinh thần hư vô này, một ngọn lửa tinh khiết, được phân biệt bởi bảy trung tâm rực rỡ của sự bốc cháy mạnh mẽ hơn. Lửa điện này là kết quả của việc đưa hai cực lại với nhau và biểu hiện tại khoảnh khắc hợp nhất hoàn toàn, chân lý huyền nhiệm của lời: ‘Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu đốt.’73 (TCF 166-167)

Scroll to Top