Secret Doctrine III – Some Papers On The Bearing Of Occult Philosophy On Life

📘 Sách: Secret Doctrine III – Tác giả: Blavatsky

Some Papers On The Bearing Of Occult Philosophy On Life. — Một Vài Bài Viết Về Mối Liên Hệ Của Triết Học Huyền Bí Với Đời Sống.

Note.

Ghi chú.

Papers I. II. III. of the following were written by H. P. B. and were circulated privately during her lifetime, but they were written with the idea that they would be published after a time. They are papers intended for students rather than for the ordinary reader, and will repay careful study and thought. The “Notes of some Oral Teaching” were written down by some of her pupils and were partially corrected by her, but no attempt has been made to relieve them of their fragmentary character. She had intended to make them the basis for written papers similar to the first three, but her failing health rendered this impossible, and they are published with her consent, the time for restricting them to a limited circle having expired.

Các bài I, II, III sau đây được H. P. B. viết và lưu hành riêng tư trong sinh thời của bà, nhưng chúng được viết với ý định rằng sau một thời gian chúng sẽ được xuất bản. Đây là những bài viết dành cho các đạo sinh hơn là cho độc giả thông thường, và sẽ đền đáp xứng đáng cho việc nghiên cứu và suy ngẫm cẩn thận. “Ghi chú về một vài Giáo huấn Truyền khẩu” được một số học trò của bà ghi lại và được bà sửa chữa một phần, nhưng không có nỗ lực nào nhằm làm mất đi tính rời rạc của chúng. Bà đã có ý định dùng chúng làm nền tảng cho các bài viết tương tự như ba bài đầu, nhưng sức khỏe suy yếu khiến điều này không thể thực hiện, và chúng được xuất bản với sự đồng ý của bà, vì thời hạn hạn chế chúng trong một vòng giới hạn đã hết.

Annie Besant.

Annie Besant.

Paper I. A Warning. — Bài I. Một Lời Cảnh Báo.

There is a strange law in Occultism which has been ascertained and proven by thousands of years of experience; nor has it failed to demonstrate itself, almost in every case, during the years that the Theosophical Society has been in existence. As soon as anyone pledges himself as a “Probationer,” certain Occult effects ensue. Of these the first is the throwing outward of everything latent in the nature of the man; his faults, habits, qualities or subdued desires, whether good, bad or indifferent.

Có một định luật kỳ lạ trong huyền bí học đã được xác định và chứng minh qua kinh nghiệm của hàng ngàn năm; và nó cũng không hề thất bại trong việc tự chứng tỏ, hầu như trong mọi trường hợp, suốt những năm Hội Thông Thiên Học tồn tại. Ngay khi bất cứ ai tự cam kết là một “Người Dự Bị,” một số hiệu quả huyền bí nhất định liền xảy ra. Trong số đó, điều đầu tiên là sự phóng ra bên ngoài của mọi điều tiềm ẩn trong bản chất con người; các lỗi lầm, thói quen, phẩm tính hay những dục vọng bị chế ngự của y, dù tốt, xấu hay trung tính.

For instance, if a man be vain or a sensualist, or ambitious, whether by atavism or by karmic heirloom, those vices are sure to break out, even if he has hitherto successfully concealed and repressed them. They will come to the front irrepressibly, and he will have to fight a hundred times harder than before, until he kills all such tendencies in himself.

Chẳng hạn, nếu một người phù phiếm, hoặc đắm dục, hoặc tham vọng, dù do di truyền tổ tiên hay do di sản nghiệp quả, thì các tật xấu ấy chắc chắn sẽ bùng phát, ngay cả nếu cho đến nay y đã che giấu và kìm nén chúng thành công. Chúng sẽ không thể cưỡng lại mà nổi lên phía trước, và y sẽ phải chiến đấu gian khổ gấp trăm lần trước kia, cho đến khi y giết chết mọi khuynh hướng như thế trong chính mình.

On the other hand, if he be good, generous, chaste and abstemious, or has any virtue hitherto latent and concealed in him, it will work its way out as irrepressibly as the rest. Thus a civilized man who hates to be considered a saint, and therefore assumes a mask, will not be able to conceal his true nature, whether base or noble.

Mặt khác, nếu y tốt lành, rộng lượng, trong sạch và tiết độ, hoặc có bất cứ đức tính nào cho đến nay còn tiềm ẩn và che giấu trong y, thì nó cũng sẽ tự mở đường ra ngoài một cách không thể cưỡng lại như những điều còn lại. Vì vậy, một người văn minh ghét bị xem là một vị thánh, và do đó đeo một chiếc mặt nạ, sẽ không thể che giấu bản chất thật của mình, dù thấp hèn hay cao quý.

This is an immutable law in the domain of the occult.

Đây là một định luật bất biến trong lĩnh vực huyền bí.

Its action is the more marked, the more earnest and sincere the desire of the candidate, and the more deeply he has felt the reality and importance of his pledge.

Tác động của nó càng rõ rệt khi ước muốn của ứng viên càng tha thiết và chân thành, và khi y càng cảm nhận sâu sắc thực tại cùng tầm quan trọng của lời cam kết của mình.

The ancient occult axiom, “Know Thyself,” must be familiar to every student; but few if any have apprehended the real meaning of this wise exhortation of the Delphic Oracle. You all know your earthly pedigree, but who of you has ever traced all the links of heredity, astral, psychic and spiritual, which go to make you what you are? Many have written and expressed their desire to unite themselves with their Higher Ego, yet none seem to know the indissoluble link connecting their “Higher Egos” with the One Universal Self.

Châm ngôn huyền bí cổ xưa, “Hãy Biết Chính Mình,” hẳn quen thuộc với mọi đạo sinh; nhưng rất ít người, nếu có, đã lĩnh hội ý nghĩa thật của lời khuyên minh triết này từ Sấm ngôn Delphi. Tất cả các bạn đều biết dòng dõi trần thế của mình, nhưng ai trong các bạn đã từng lần theo mọi mắt xích của di truyền, cảm dục, thông linh và tinh thần, vốn làm nên con người các bạn hiện nay? Nhiều người đã viết và bày tỏ ước muốn hợp nhất mình với Chân ngã Cao Siêu của họ, nhưng dường như không ai biết mối liên kết bất khả phân giữa các “Chân ngã Cao Siêu” của họ với Bản Ngã Phổ Quát Duy Nhất.

For all purposes of Occultism, whether practical or purely metaphysical, such knowledge is absolutely requisite. It is proposed, therefore, to begin these papers by showing this connection in all directions with the worlds: Absolute, Archetypal, Spiritual, Mânasic, Psychic, Astral, and Elemental. Before, however, we can touch upon the higher worlds—Archetypal, Spiritual and Mânasic—we must master the relations of the seventh, the terrestrial world, the lower Prakriti, or Malkuth as in the Kabalah, to the worlds or planes which immediately follow it.

Đối với mọi mục đích của huyền bí học, dù thực tiễn hay thuần túy siêu hình, tri thức như thế là tuyệt đối cần thiết. Vì vậy, các bài viết này được đề nghị bắt đầu bằng cách chỉ ra mối liên hệ ấy theo mọi hướng với các thế giới: Tuyệt Đối, Nguyên Mẫu, Tinh Thần, Manas, Thông Linh, Cảm Dục và Hành Khí. Tuy nhiên, trước khi chúng ta có thể chạm đến các thế giới cao hơn—Nguyên Mẫu, Tinh Thần và Manas—chúng ta phải làm chủ các quan hệ của thế giới thứ bảy, thế giới trần thế, Prakriti thấp, hay Malkuth như trong Kabalah, với các thế giới hay các cõi ngay sau nó.

OM.

OM.

“Om,” says the Âryan Adept, the son of the Fifth Race, who with this syllable begins and ends his salutation to the human being, his conjuration of, or appeal to, non-human Presences.

“Om,” vị Chân sư Arya, người con của Giống dân thứ Năm, nói như thế; với âm tiết này, ông bắt đầu và kết thúc lời chào của mình với con người, lời chú nguyện hay lời kêu gọi của mình đối với các Sự Hiện Diện không phải con người.

“Om-Mani,” murmurs the Turanian Adept, the descendant of the Fourth Race; and after pausing he adds, “Padme-Hum.”

“Om-Mani,” vị Chân sư Turania, hậu duệ của Giống dân thứ Tư, thì thầm; và sau khi dừng lại, ông thêm, “Padme-Hum.”

This famous invocation is very erroneously translated by the Orientalists as meaning, “Oh the Jewel in the Lotus.” For although, literally, Om is a syllable sacred to the Deity, Padme means “in the Lotus,” and Mani is any precious stone, still neither the words themselves, nor their symbolical meaning, are thus really correctly rendered.

Lời khẩn cầu nổi tiếng này bị các nhà Đông phương học dịch rất sai là có nghĩa “Ôi Viên Ngọc trong Hoa Sen.” Vì mặc dù, theo nghĩa đen, Om là một âm tiết thiêng liêng đối với Thượng đế, Padme có nghĩa là “trong Hoa Sen,” và Mani là bất kỳ viên đá quý nào, tuy vậy cả chính các từ ấy lẫn ý nghĩa biểu tượng của chúng đều không thật sự được diễn đạt đúng như thế.

In this, the most sacred of all Eastern formulas, not only has every syllable a secret potency producing a definite result, but the whole invocation has seven different meanings and can produce seven distinct results, each of which may differ from the others.

Trong công thức thiêng liêng nhất trong mọi công thức phương Đông này, không chỉ mỗi âm tiết có một quyền năng bí mật tạo ra một kết quả xác định, mà toàn bộ lời khẩn cầu có bảy ý nghĩa khác nhau và có thể tạo ra bảy kết quả riêng biệt, mỗi kết quả có thể khác với những kết quả khác.

The seven meanings and the seven results depend upon the intonation which is given to the whole formula and to each of its syllables; and even the numerical value of the letters is added to or diminished according as such or another rhythm is made use of. Let the student remember that number underlies form, and number guides sound. Number lies at the root of the manifested Universe: numbers and harmonious proportions guide the first differentiations of homogeneous substance into heterogeneous elements; and number and numbers set limits to the formative hand of Nature.

Bảy ý nghĩa và bảy kết quả tùy thuộc vào ngữ điệu được đặt vào toàn bộ công thức và từng âm tiết của nó; và ngay cả giá trị số học của các chữ cái cũng được thêm vào hay giảm bớt tùy theo nhịp điệu này hay nhịp điệu khác được sử dụng. Đạo sinh hãy nhớ rằng con số nằm dưới hình tướng, và con số dẫn dắt âm thanh. Con số nằm ở gốc rễ của Vũ trụ biểu hiện: các con số và những tỷ lệ hài hòa dẫn dắt các biến phân đầu tiên của chất liệu đồng nhất thành các nguyên tố dị biệt; và con số cùng các con số đặt giới hạn cho bàn tay tạo hình của Thiên nhiên.

Know the corresponding numbers of the fundamental principle of every element and its sub-elements, learn their interaction and behaviour on the occult side of manifesting Nature, and the law of correspondences will lead you to the discovery of the greatest mysteries of macrocosmical life.

Hãy biết các con số tương ứng của nguyên khí nền tảng của mọi nguyên tố và các tiểu nguyên tố của nó, hãy học sự tương tác và hành vi của chúng ở mặt huyền bí của Thiên nhiên đang biểu hiện, và định luật tương ứng sẽ dẫn các bạn đến việc khám phá những bí nhiệm vĩ đại nhất của đời sống đại thiên địa.

But to arrive at the macrocosmical, you must begin by the microcosmical, i.e., you must study Man, the microcosm—in this case as physical science does—inductively, proceeding from particulars to universals. At the same time, however, since a key-note is required to analyze and comprehend any combination of differentiations of sound, we must never lose sight of the Platonic method, which starts with one general view of all, and descends from the universal to the individual. This is the method adopted in Mathematics—the only exact science that exists in our day.

Nhưng để đạt đến đại thiên địa, các bạn phải bắt đầu bằng tiểu thiên địa, nghĩa là các bạn phải nghiên cứu Con Người, tiểu thiên địa—trong trường hợp này như khoa học hồng trần thực hiện—bằng phương pháp quy nạp, đi từ các chi tiết đến những điều phổ quát. Tuy nhiên, đồng thời, vì cần có một chủ âm để phân tích và thấu hiểu bất cứ tổ hợp nào của các biến phân âm thanh, chúng ta không bao giờ được đánh mất phương pháp Platon, vốn khởi đầu bằng một cái nhìn tổng quát duy nhất về toàn thể, rồi đi xuống từ cái phổ quát đến cái cá biệt. Đây là phương pháp được áp dụng trong Toán học—khoa học chính xác duy nhất tồn tại trong thời đại chúng ta.

Let us study Man, therefore; but if we separate him for one moment from the Universal Whole, or view him in isolation, from a single aspect, apart from the “Heavenly Man”—the Universe symbolized by Adam Kadmon or his equivalents in every Philosophy—we shall either land in Black Magic or fail most ingloriously in our attempt.

Vậy chúng ta hãy nghiên cứu Con Người; nhưng nếu trong một khoảnh khắc nào đó chúng ta tách y khỏi Toàn Thể Phổ Quát, hoặc xem y trong sự cô lập, từ một phương diện duy nhất, tách khỏi “Đấng Thiên Nhân”—Vũ trụ được biểu tượng bằng Adam Kadmon hay các tương đương của ông trong mọi Triết học—thì chúng ta hoặc sẽ rơi vào Hắc thuật, hoặc thất bại một cách nhục nhã nhất trong nỗ lực của mình.

Thus the mystic sentence, “Om Mani Padme Hum,” when rightly understood, instead of being composed of the almost meaningless words, “Oh the Jewel in the Lotus,” contains a reference to this indissoluble union between Man and the Universe, rendered in seven different ways, and having the capability of seven different applications to as many planes of thought and action.

Do đó, câu thần bí “Om Mani Padme Hum,” khi được thấu hiểu đúng, thay vì gồm những từ gần như vô nghĩa “Ôi Viên Ngọc trong Hoa Sen,” chứa đựng một tham chiếu đến sự hợp nhất bất khả phân giữa Con Người và Vũ trụ, được diễn đạt theo bảy cách khác nhau, và có khả năng có bảy ứng dụng khác nhau trên bấy nhiêu cõi tư tưởng và hành động.

From whatever aspect we examine it, it means: “I am that I am”: “I am in thee and thou art in me.” In this conjunction and close union the good and pure man becomes a God. Whether consciously or unconsciously, he will bring about, or innocently cause to happen, unavoidable results. In the first case, if an Initiate (of course an Adept of the Right-hand Path alone is meant), he can guide a beneficent or a protecting current, and thus benefit and protect individuals and even whole nations. In the second case, although quite unaware of what he is doing, the good man becomes a shield to whomsoever he is with.

Dù chúng ta khảo sát nó từ phương diện nào, nó cũng có nghĩa: “Ta là cái Ta là”: “Ta ở trong ngươi và ngươi ở trong ta.” Trong sự kết hợp và hợp nhất mật thiết này, con người thiện lành và tinh khiết trở thành một Thượng đế. Dù hữu thức hay vô thức, y sẽ đem lại, hoặc vô tình gây ra, những kết quả không thể tránh khỏi. Trong trường hợp thứ nhất, nếu là một điểm đạo đồ (dĩ nhiên chỉ nói đến một Chân sư của chánh đạo), y có thể dẫn dắt một dòng năng lực thiện lành hay bảo hộ, và nhờ đó làm lợi ích và che chở cho các cá nhân, thậm chí cả những quốc gia. Trong trường hợp thứ hai, mặc dù hoàn toàn không biết mình đang làm gì, người thiện lành trở thành một tấm khiên cho bất cứ ai ở cùng y.

Such is the fact; but its how and why have to be explained, and this can be done only when the actual presence and potency of numbers in sounds, and hence in words and letters, have been rendered clear. The formula, “Om Mani Padme Hum,” has been chosen as an illustration on account of its almost infinite potency in the mouth of an Adept, and of its potentiality when pronounced by any man. Be careful, all you who read this: do not use these words in vain, or when in anger, lest you become yourself the first sacrificial victim, or, what is worse, endanger those whom you love.

Sự thật là như thế; nhưng cách thức và lý do của nó phải được giải thích, và điều này chỉ có thể thực hiện khi sự hiện diện và quyền năng thực tế của các con số trong âm thanh, và do đó trong lời nói và chữ cái, đã được làm sáng tỏ. Công thức “Om Mani Padme Hum” được chọn làm minh họa vì quyền năng gần như vô hạn của nó trong miệng một Chân sư, và vì tiềm năng của nó khi được bất cứ người nào phát âm. Hãy cẩn trọng, tất cả các bạn đang đọc điều này: đừng dùng những lời ấy một cách vô ích, hoặc khi đang giận dữ, e rằng chính các bạn trở thành nạn nhân hi sinh đầu tiên, hoặc tệ hơn nữa, gây nguy hiểm cho những người các bạn yêu thương.

The profane Orientalist, who all his life skims mere externals, will tell you flippantly, and laughing at the superstition, that in Tibet this sentence is the most powerful six-syllabled incantation and is said to have been delivered to the nations of Central Asia by Padmapâni, the Tibetan Chenresi. 767

Nhà Đông phương học phàm tục, người suốt đời chỉ lướt trên những bề ngoài đơn thuần, sẽ nói với các bạn một cách khinh suất, và cười nhạo sự mê tín, rằng ở Tây Tạng câu này là câu chú sáu âm tiết mạnh nhất và được cho là đã được Padmapani, Chenresi của Tây Tạng, trao cho các dân tộc Trung Á.

But who is Padmapâni, in reality? Each of us must recognize him for himself, whenever he is ready. Each of us has within himself the “Jewel in the Lotus,” call it Padmapâni, Krishna, Buddha, Christ, or whatever name we may give to our Divine Self. The exoteric story runs thus: The supreme Buddha, or Amitâbha, they say, at the hour of the creation of man, caused a rosy ray of light to issue from his right eye. The ray emitted a sound and became Padmapâni Bodhisattva. Then the Deity allowed to stream forth from his left eye a blue ray of light, which, becoming incarnate in the two virgins Dolma, acquired the power to enlighten the minds of living beings. Amitâbha then called the combination, which forthwith took up its abode in man, “Om Mani Padme Hum,” “I am the Jewel in the Lotus and in it I will remain.” Then Padmapâni, “the One in the Lotus” vowed never to cease working until he had made Humanity feel his presence in itself and had thus saved it from the misery of rebirth. He vowed to perform the feat before the end of the Kalpa, adding that, in case of failure, he wished that his head should split into numberless fragments. The Kalpa closed; but Humanity felt him not within its cold, evil heart. Then Padmapâni’s head split and was shattered into a thousand fragments. Moved with compassion, the Deity re-formed the pieces into ten heads, three white, and seven of various colours. And since that day man has become a perfect number, or Ten.

Nhưng thật ra Padmapani là ai? Mỗi người chúng ta phải tự nhận ra Ngài cho chính mình, bất cứ khi nào y sẵn sàng. Mỗi người chúng ta đều có trong chính mình “Viên Ngọc trong Hoa Sen,” hãy gọi đó là Padmapani, Krishna, Phật, Đức Christ, hay bất cứ danh xưng nào chúng ta có thể đặt cho Bản Ngã Thiêng Liêng của mình. Câu chuyện ngoại môn kể như sau: Đức Phật tối cao, hay Amitabha, người ta nói, vào giờ tạo dựng con người, đã khiến một tia sáng hồng phát ra từ mắt phải của Ngài. Tia sáng ấy phát ra một âm thanh và trở thành Padmapani Bồ Tát. Rồi Thượng đế cho một tia sáng xanh lam tuôn ra từ mắt trái của Ngài; tia ấy, khi nhập thể trong hai trinh nữ Dolma, đã đạt được quyền năng soi sáng thể trí của các sinh linh. Amitabha khi ấy gọi sự kết hợp này, vốn lập tức an trú trong con người, là “Om Mani Padme Hum,” “Ta là Viên Ngọc trong Hoa Sen và trong đó Ta sẽ ở lại.” Rồi Padmapani, “Đấng trong Hoa Sen,” phát nguyện không bao giờ ngừng làm việc cho đến khi Ngài khiến Nhân loại cảm nhận sự hiện diện của Ngài trong chính nó và nhờ đó cứu nó khỏi nỗi khổ của tái sinh. Ngài phát nguyện thực hiện kỳ công ấy trước khi kết thúc Kalpa, và thêm rằng, nếu thất bại, Ngài mong đầu mình vỡ ra thành vô số mảnh. Kalpa khép lại; nhưng Nhân loại không cảm nhận Ngài trong trái tim lạnh lẽo, ác độc của nó. Khi ấy đầu của Padmapani nứt ra và tan thành một ngàn mảnh. Động lòng từ bi, Thượng đế tái tạo các mảnh ấy thành mười cái đầu, ba trắng và bảy có nhiều màu khác nhau. Và từ ngày đó, con người trở thành một con số hoàn hảo, hay Mười.

In this allegory the potency of Sound, Colour, and Number is so ingeniously introduced as to veil the real Esoteric meaning. To the outsider it reads like one of the many meaningless fairy-tales of creation; but it is pregnant with spiritual and divine, physical and magical meaning. From Amitâbha—no colour, or the white glory—are born the seven differentiated colours of the prism. These each emit a corresponding sound, forming the seven of the musical scale. As Geometry, among the Mathematical Sciences, is specially related to Architecture, and also (proceeding to Universals) to Cosmogony, so the ten Jods of the Pythagorean Tetrad, or Tetraktys, being made to symbolize the Macrocosm, the Microcosm, or man, its image, had also to be divided into ten points. For this Nature herself has provided, as will be seen.

Trong ẩn dụ này, quyền năng của Âm thanh, Màu sắc và Con số được đưa vào một cách tài tình đến mức che phủ ý nghĩa Bí truyền thật sự. Đối với người ngoài, nó đọc lên như một trong nhiều chuyện thần tiên vô nghĩa về sáng tạo; nhưng nó đầy ắp ý nghĩa tinh thần và thiêng liêng, hồng trần và huyền thuật. Từ Amitabha—không màu, hay vinh quang trắng—sinh ra bảy màu biến phân của lăng kính. Mỗi màu này phát ra một âm thanh tương ứng, tạo thành bảy nốt của thang âm. Cũng như Hình học, trong các Khoa học Toán học, có liên hệ đặc biệt với Kiến trúc, và cũng liên hệ (khi tiến đến các Phổ quát) với Vũ trụ khởi nguyên luận, thì mười Yod của Tứ bộ Pythagoras, hay Tetraktys, khi được dùng để biểu tượng hóa Đại thiên địa, Tiểu thiên địa, hay con người, hình ảnh của nó, cũng phải được chia thành mười điểm. Về điều này, chính Thiên nhiên đã cung cấp, như sẽ thấy.

But before this statement can be proved and the perfect correspondences between the Macrocosm and the Microcosm demonstrated, a few words of explanation are necessary.

Nhưng trước khi lời khẳng định này có thể được chứng minh và các tương ứng hoàn hảo giữa Đại thiên địa và Tiểu thiên địa được minh chứng, cần có một vài lời giải thích.

To the learner who would study the Esoteric Sciences with their double object: (a) of proving Man to be identical in spiritual and physical essence with both the Absolute Principle and with God in Nature; and (b) of demonstrating the presence in him of the same potential powers as exist in the creative forces in Nature—to such a one a perfect knowledge of the correspondences between Colours, Sounds, and Numbers is the first requisite. As already said, the sacred formula of the far East, “Om Mani Padme Hum,” is the one best calculated to make these correspondential qualities and functions clear to the learner.

Đối với người học muốn nghiên cứu các Khoa học Bí truyền với mục tiêu kép của chúng: (a) chứng minh Con Người đồng nhất về bản thể tinh thần và hồng trần với cả Nguyên khí Tuyệt đối lẫn với Thượng đế trong Thiên nhiên; và (b) chứng minh sự hiện diện trong y của những quyền năng tiềm tàng giống như các quyền năng hiện hữu trong các mãnh lực sáng tạo trong Thiên nhiên—đối với người ấy, một tri thức hoàn hảo về các tương ứng giữa Màu sắc, Âm thanh và Con số là điều kiện tiên quyết đầu tiên. Như đã nói, công thức thiêng liêng của Viễn Đông, “Om Mani Padme Hum,” là công thức thích hợp nhất để làm sáng tỏ cho người học các phẩm tính và chức năng tương ứng này.

In the allegory of Padmapâni, the Jewel (or Spiritual Ego) in the Lotus, or the symbol of androgynous man, the numbers 3, 4, 7, 10, as synthesizing the Unit, Man, are prominent, as I have already said. It is on the thorough knowledge and comprehension of the meaning and potency of these numbers, in their various and multiform combinations, and in their mutual correspondence with sounds or words, and colours or rates of motion (represented in physical science by vibrations), that the progress of a student in Occultism depends. Therefore we must begin with the first, initial word, Om, or Aum. Om is a “blind.” The sentence “Om Mani Padme Hum” is not a six- but a seven-syllabled phrase, as the first syllable is double in its right pronunciation, and triple in its essence, A-um. It represents the for ever concealed primeval triune differentiation, not from but in the One Absolute, and is therefore symbolized by the 4, or the Tetraktys, in the metaphysical world. It is the Unit-ray, or Âtman.

Trong ẩn dụ về Padmapani, Viên Ngọc (hay Chân ngã Tinh thần) trong Hoa Sen, hay biểu tượng của con người lưỡng tính, các con số 3, 4, 7, 10, với tư cách tổng hợp Đơn vị, Con Người, là nổi bật, như tôi đã nói. Sự tiến bộ của đạo sinh trong huyền bí học tùy thuộc vào tri thức và sự thấu hiểu thấu đáo về ý nghĩa và quyền năng của các con số này, trong những tổ hợp đa dạng và nhiều hình thức của chúng, và trong sự tương ứng lẫn nhau của chúng với âm thanh hay lời nói, và màu sắc hay tốc độ chuyển động (được khoa học hồng trần biểu thị bằng các rung động). Vì vậy, chúng ta phải bắt đầu với từ đầu tiên, khởi thủy, Om, hay Aum. Om là một “màn che.” Câu “Om Mani Padme Hum” không phải là một cụm sáu âm tiết mà là bảy âm tiết, vì âm tiết đầu tiên là kép trong cách phát âm đúng, và tam phân trong bản thể của nó, A-um. Nó biểu thị sự biến phân nguyên sơ tam vị mãi mãi được che giấu, không phải từ mà là trong Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất, và do đó được biểu tượng bằng số 4, hay Tetraktys, trong thế giới siêu hình. Nó là Tia-Đơn vị, hay Atman.

It is the Âtman, this highest Spirit in man, which, in conjunction with Buddhi and Manas, is called the upper Triad, or Trinity. This Triad with its four lower human principles, is, moreover, enveloped with an auric atmosphere, like the yolk of an egg (the future embryo) by the albumen and shell. This, to the perceptions of higher Beings from other planes, makes of each individuality an oval sphere of more or less radiancy.

Chính Atman, Tinh thần cao nhất này trong con người, khi kết hợp với Bồ đề và Manas, được gọi là Tam nguyên thượng, hay Ba Ngôi. Hơn nữa, Tam nguyên này, cùng với bốn nguyên khí nhân loại thấp hơn, được bao bọc bởi một bầu khí quyển hào quang, như lòng đỏ trứng (phôi tương lai) được bao bởi lòng trắng và vỏ. Đối với nhận thức của các Hữu Thể cao hơn từ các cõi khác, điều này làm cho mỗi cá thể trở thành một khối cầu bầu dục ít nhiều rạng rỡ.

To show the student the perfect correspondence between the birth of Kosmos, a World, a Planetary Being, or a Child of Sin and Earth, a more definite and clear description must be given. Those acquainted with Physiology will understand it better than others.

Để chỉ cho đạo sinh sự tương ứng hoàn hảo giữa sự ra đời của Kosmos, một Thế giới, một Hữu Thể Hành Tinh, hay một Đứa Con của Tội lỗi và Trái Đất, cần phải đưa ra một mô tả xác định và rõ ràng hơn. Những ai quen thuộc với Sinh lý học sẽ thấu hiểu điều đó tốt hơn những người khác.

Who, having read say the Vishnu or other Purâna, is not familiar with the exoteric allegory of the birth of Brahmâ (male-female) in the Egg of the World, Hiranyagarbha, surrounded by its seven zones, or rather planes, which in the world of form and matter become seven and fourteen Lokas; the numbers seven and fourteen reäppearing as occasion requires.

Ai, sau khi đọc chẳng hạn Vishnu hay Purana khác, lại không quen với ẩn dụ ngoại môn về sự ra đời của Brahma (nam-nữ) trong Trứng Thế Giới, Hiranyagarbha, được bao quanh bởi bảy vùng, hay đúng hơn là bảy cõi, vốn trong thế giới của hình tướng và vật chất trở thành bảy và mười bốn Loka; các con số bảy và mười bốn tái xuất hiện khi cần.

Without giving out the secret analysis, the Hindus have from time immemorial compared the matrix of the Universe, and also the solar matrix, to the female uterus. It is written of the former: “Its womb is vast as the Meru,” and

Không tiết lộ sự phân tích bí mật, người Ấn giáo từ thời xa xưa đã so sánh tử cung của Vũ trụ, và cả tử cung thái dương, với tử cung người nữ. Về cái trước, có viết: “Dạ con của nó rộng lớn như Meru,” và

The future mighty oceans lay asleep in the waters that filled its cavities, the continents, seas and mountains, the stars, planets, the gods, demons and mankind.

Các đại dương hùng vĩ tương lai nằm ngủ trong những dòng nước lấp đầy các khoang của nó, các lục địa, biển cả và núi non, các ngôi sao, hành tinh, các thần, quỷ và loài người.

The whole resembled, in its inner and outer coverings, the cocoanut filled interiorly with pulp, and covered externally with husk and rind. “Vast as Meru,” say the texts.

Toàn thể, trong các lớp bao bên trong và bên ngoài của nó, giống như trái dừa bên trong đầy cùi, bên ngoài phủ bằng xơ và vỏ. “Rộng lớn như Meru,” các bản văn nói.

Meru was its Amnion, and the other mountains were its Chorion,

Meru là màng ối của nó, và các núi khác là màng đệm của nó,

adds a verse in Vishnu Purâna. 768

một câu kệ trong Vishnu Purana thêm như vậy.

In the same way is man born in his mother’s womb. As Brahmâ is surrounded, in exoteric traditions, by seven layers within and seven without the Mundane Egg, so is the embryo (the first or the seventh layer, according to the end from which we begin to count). Thus, just as Esotericism in its Cosmogony enumerates seven inner and seven outer layers, so Physiology notes the contents of the uterus as seven also, although it is completely ignorant of this being a copy of what takes place in the Universal Matrix. These contents are: 1. Embryo. 2. Amniotic Fluid, immediately surrounding the Embryo. 3. Amnion, a membrane derived from the Fœtus, which contains the fluid. 4. Umbilical Vesicle, which serves to convey nourishment originally to the Embryo and to nourish it. 5. Allantois, a protrusion from the Embryo in the form of a closed bag, which spreads itself between 3 and 7, in the midst of 6, and which, after being specialized into the Placenta, serves to conduct nourishment to the Embryo. 6. Interspace between 3 and 7 (the Amnion and Chorion), filled with an albuminous fluid. 7. Chorion, or outer layer.

Cũng theo cách ấy, con người được sinh ra trong dạ mẹ. Như Brahma, trong các truyền thống ngoại môn, được bao quanh bởi bảy lớp bên trong và bảy lớp bên ngoài Trứng Thế Giới, thì phôi thai cũng vậy (lớp thứ nhất hay thứ bảy, tùy theo đầu nào chúng ta bắt đầu đếm). Do đó, cũng như huyền bí học trong Vũ trụ khởi nguyên luận của nó liệt kê bảy lớp bên trong và bảy lớp bên ngoài, Sinh lý học cũng ghi nhận các thành phần trong tử cung là bảy, mặc dù nó hoàn toàn không biết rằng đây là một bản sao của những gì diễn ra trong Tử Cung Phổ Quát. Các thành phần ấy là: 1. Phôi thai. 2. Lưu chất ối, bao quanh ngay phôi thai. 3. Màng ối, một màng xuất phát từ bào thai, chứa lưu chất ấy. 4. Túi rốn, ban đầu có chức năng chuyển dinh dưỡng đến phôi thai và nuôi dưỡng nó. 5. Niệu nang, một phần lồi ra từ phôi thai dưới dạng một túi kín, tự trải rộng giữa 3 và 7, ở giữa 6, và sau khi chuyên biệt hóa thành nhau thai, có chức năng dẫn dinh dưỡng đến phôi thai. 6. Khoảng gian giữa 3 và 7 (màng ối và màng đệm), chứa đầy lưu chất albumin. 7. Màng đệm, hay lớp ngoài.

Now, each of these seven contents severally corresponds with, and is formed after, an antetype, one on each of the seven planes of being, with which in their turn correspond the seven states of Matter and all other forces, sensational or functional, in Nature.

Bây giờ, mỗi một trong bảy thành phần này lần lượt tương ứng với, và được tạo hình theo, một nguyên mẫu có trước, mỗi cái trên một trong bảy cõi hiện hữu, mà đến lượt chúng tương ứng với bảy trạng thái của Vật chất và mọi mãnh lực khác, thuộc cảm giác hay chức năng, trong Thiên nhiên.

The following is a bird’s-eye view of the seven correspondential contents of the wombs of Nature and of Woman. We may contrast them thus:

Sau đây là cái nhìn khái quát về bảy thành phần tương ứng của các tử cung của Thiên nhiên và của Người Nữ. Chúng ta có thể đối chiếu chúng như sau:

(1) Cosmic Process: The mathematical Point, called the “Cosmic Seed,” the Monad of Leibnitz; which contains the whole Universe, as the acorn the oak. This is the first bubble on the surface of boundless homogeneous Substance, or Space, the bubble of differentiation in its incipient stage. It is the beginning of the Orphic or Brahmâ’s Egg. It corresponds in Astrology and Astronomy to the Sun.

(1) Tiến trình Vũ trụ: Điểm toán học, được gọi là “Hạt Giống Vũ trụ,” Chân thần của Leibnitz; nó chứa toàn bộ Vũ trụ, như quả sồi chứa cây sồi. Đây là bọt nước đầu tiên trên bề mặt của Chất liệu đồng nhất vô biên, hay Không gian, bọt nước của biến phân trong giai đoạn sơ khởi của nó. Nó là khởi đầu của Trứng Orpheus hay Trứng Brahma. Trong Chiêm tinh học và Thiên văn học, nó tương ứng với Mặt Trời.

Human Process: The terrestrial Embryo, which contains in it the future man with all his potentialities. In the series of principles of the human system it is the Âtman, or the super-spiritual principle, just as in the physical Solar System it is the Sun.

Tiến trình Nhân loại: Phôi thai trần thế, chứa trong nó con người tương lai với mọi tiềm năng của y. Trong loạt nguyên khí của hệ thống con người, nó là Atman, hay nguyên khí siêu tinh thần, cũng như trong Hệ mặt trời hồng trần, nó là Mặt Trời.

(2) Cosmic Process: The vis vitæ of our solar system exudes from the Sun. Human Process: The Amniotic Fluid exudes from the Embryo.

(2) Tiến trình Vũ trụ: Sinh lực của hệ mặt trời chúng ta toát ra từ Mặt Trời. Tiến trình Nhân loại: Lưu chất ối toát ra từ Phôi thai.

(a) Cosmic Process: It is called, when referred to the higher planes, Âkâsha. Human Process: It is called, on the plane of matter, Prâna. 769

(a) Tiến trình Vũ trụ: Khi được quy chiếu đến các cõi cao hơn, nó được gọi là Akasha. Tiến trình Nhân loại: Trên cõi vật chất, nó được gọi là Prana.

(b) Cosmic Process: It proceeds from the ten “divinities,” the ten numbers of the Sun, which is itself the “Perfect Number.” These are called Dis—in reality Space—the forces spread in Space, three of which are contained in the Sun’s Âtman, or seventh principle, and seven are the rays shot out by the Sun.

(b) Tiến trình Vũ trụ: Nó xuất phát từ mười “thiên tính,” mười con số của Mặt Trời, chính Mặt Trời là “Con Số Hoàn Hảo.” Chúng được gọi là Dis—thật ra là Không gian—các mãnh lực trải rộng trong Không gian, ba trong số đó được chứa trong Atman của Mặt Trời, hay nguyên khí thứ bảy, và bảy là các tia do Mặt Trời phóng ra.

Human Process: It proceeds, taking its source in the universal One Life, from the heart of man and Buddhi, over which the Seven Solar Rays (Gods) preside.

Tiến trình Nhân loại: Nó xuất phát, lấy nguồn từ Sự Sống Duy Nhất phổ quát, từ trái tim con người và Bồ đề, mà trên đó Bảy Tia Thái Dương (các Thần) chủ trì.

(3) Cosmic Process: The Ether of Space, which, in its external aspect, is the plastic crust which is supposed to envelope the Sun. On the higher plane it is the whole Universe, as the third differentiation of evolving Substance, Mûlaprakriti becoming Prakriti.

(3) Tiến trình Vũ trụ: Dĩ thái của Không gian, trong phương diện bên ngoài của nó, là lớp vỏ dẻo được cho là bao bọc Mặt Trời. Trên cõi cao hơn, nó là toàn thể Vũ trụ, với tư cách là biến phân thứ ba của Chất liệu đang tiến hoá, Mulaprakriti trở thành Prakriti.

Human Process: The Amnion, the membrane containing the Amniotic Fluid and enveloping the Embryo. After the birth of man it becomes the third layer, so to say, of his magneto-vital aura.

Tiến trình Nhân loại: Màng ối, màng chứa Lưu chất ối và bao bọc Phôi thai. Sau khi con người ra đời, có thể nói nó trở thành lớp thứ ba của hào quang từ-sinh lực của y.

(a) Cosmic Process: It corresponds mystically to the manifested Mahat, or the Intellect or Soul of the World. Human Process: Manas, the third principle (counting from above), or the Human Soul in Man.

(a) Tiến trình Vũ trụ: Về mặt thần bí, nó tương ứng với Mahat biểu hiện, hay Trí năng hoặc Linh hồn của Thế giới. Tiến trình Nhân loại: Manas, nguyên khí thứ ba (đếm từ trên xuống), hay Linh hồn Nhân loại trong Con Người.

(4) Cosmic Process: The sidereal contents of Ether, the substantial parts of it, unknown to Modern Science, represented as follows. Human Process: Umbilical Vesicle, serving, as Science teaches, to nourish the Embryo originally, but, as Occult Science avers, to carry to the Fœtus by osmosis the cosmic influences extraneous to the mother.

(4) Tiến trình Vũ trụ: Các thành phần tinh tú của Dĩ thái, các phần chất thể của nó, chưa được Khoa học Hiện đại biết đến, được biểu thị như sau. Tiến trình Nhân loại: Túi rốn, như Khoa học dạy, ban đầu có chức năng nuôi dưỡng Phôi thai, nhưng như Khoa học Huyền bí khẳng định, có chức năng đưa đến Bào thai, bằng thẩm thấu, các ảnh hưởng vũ trụ ngoại lai đối với người mẹ.

(a) Cosmic Process: In Occult and Kabalistic Mysteries, by Elementals. Human Process: In the grown man these become the feeders of Kâma, over which they preside.

(a) Tiến trình Vũ trụ: Trong các Bí nhiệm Huyền bí và Kabalistic, bằng các hành khí. Tiến trình Nhân loại: Trong người trưởng thành, chúng trở thành những yếu tố nuôi dưỡng Kama, mà chúng chủ trì.

(b) Cosmic Process: In physical Astronomy, by meteors, comets, and all kinds of casual and phenomenal cosmic bodies. Human Process: In the physical man, his passions and emotions, the moral meteors and comets of human nature.

(b) Tiến trình Vũ trụ: Trong Thiên văn học hồng trần, bằng các sao băng, sao chổi, và mọi loại thiên thể vũ trụ ngẫu nhiên và hiện tượng. Tiến trình Nhân loại: Trong con người hồng trần, các đam mê và cảm xúc của y, những sao băng và sao chổi đạo đức của bản chất con người.

(5) Cosmic Process: Life currents in Ether, having their origin in the Sun: the canals through which the vital principle of that Ether (the blood of the Cosmic Body) passes to nourish everything on the Earth and on the other Planets: from the minerals, which are thus made to grow and become specialized, from the plants, which are thus fed, to animal and man, to whom life is thus imparted.

(5) Tiến trình Vũ trụ: Các dòng sinh lực trong Dĩ thái, có nguồn gốc từ Mặt Trời: những kênh qua đó nguyên khí sinh lực của Dĩ thái ấy (máu của Thể Vũ trụ) đi qua để nuôi dưỡng mọi sự trên Trái Đất và trên các Hành tinh khác: từ các khoáng vật, nhờ đó được làm cho tăng trưởng và trở nên chuyên biệt, từ các cây cối, nhờ đó được nuôi dưỡng, đến động vật và con người, những sinh linh nhờ đó được ban sự sống.

Human Process: The Allantois, a protrusion from the Embryo, which spreads itself between the Amnion and Chorion; it is supposed to conduct the nourishment from the mother to the Embryo. It corresponds to the life-principle, Prâna or Jîva.

Tiến trình Nhân loại: Niệu nang, một phần lồi ra từ Phôi thai, tự trải rộng giữa Màng ối và Màng đệm; người ta cho rằng nó dẫn dinh dưỡng từ mẹ đến Phôi thai. Nó tương ứng với nguyên khí sự sống, Prana hay Jiva.

(6) Cosmic Process: The double radiation, psychic and physical, which radiates from the Cosmic Seed and expands around the whole Kosmos, as well as around the Solar System and every Planet. In Occultism it is called the upper divine, and the lower material, Astral Light.

(6) Tiến trình Vũ trụ: Sự bức xạ kép, thông linh và hồng trần, phát xạ từ Hạt Giống Vũ trụ và mở rộng quanh toàn thể Kosmos, cũng như quanh Hệ mặt trời và mọi Hành tinh. Trong huyền bí học, nó được gọi là Ánh sáng Cảm dục thượng thiêng liêng và hạ vật chất.

Human Process: The Allantois is divided into two layers. The interspace between the Amnion and the Chorion contains the Allantois and also an albuminous fluid. 770

Tiến trình Nhân loại: Niệu nang được chia thành hai lớp. Khoảng gian giữa Màng ối và Màng đệm chứa Niệu nang và cả một lưu chất albumin.

(7) Cosmic Process: The outer crust of every sidereal body, the Shell of the Mundane Egg, or the sphere of our Solar System, of our Earth, and of every man and animal. In sidereal space, Ether proper; on the terrestrial plane, Air, which again is built in seven layers.

(7) Tiến trình Vũ trụ: Lớp vỏ ngoài của mọi thiên thể tinh tú, Vỏ của Trứng Thế Giới, hay khối cầu của Hệ mặt trời chúng ta, của Trái Đất chúng ta, và của mọi người cùng mọi động vật. Trong không gian tinh tú, chính Dĩ thái; trên cõi trần thế, Khí, vốn lại được xây dựng thành bảy lớp.

Human Process: The Chorion, or the Zona Pellucida, the globular object called Blastodermic Vesicle, the outer and the inner layers of the membrane of which go to form the physical man. The outer, or ectoderm, forms his epidermis; the inner, or endoderm, his muscles, bones, etc. Man’s skin, again, is composed of seven layers.

Tiến trình Nhân loại: Màng đệm, hay Zona Pellucida, vật thể hình cầu gọi là Túi Phôi, mà các lớp ngoài và trong của màng này góp phần hình thành con người hồng trần. Lớp ngoài, hay ngoại bì, tạo nên biểu bì của y; lớp trong, hay nội bì, tạo nên cơ bắp, xương, v.v. Da của con người, một lần nữa, gồm bảy lớp.

(a) Cosmic Process: The primordial potential world-stuff becomes (for the Manvantaric period) the permanent globe or globes. Human Process: The “primitive” becomes the “permanent” Chorion.

(a) Tiến trình Vũ trụ: Chất liệu thế giới tiềm tàng nguyên thủy trở thành (trong thời kỳ Giai kỳ sinh hóa) bầu hành tinh hay các bầu hành tinh thường tồn. Tiến trình Nhân loại: Màng đệm “nguyên thủy” trở thành Màng đệm “thường tồn.”

Even in the evolution of the Races we see the same order as in Nature and Man. 771 Placental animal-man became such only after the separation of sexes in the Third Root-Race. In the physiological evolution, the placenta is fully formed and functional only after the third month of uterine life.

Ngay trong sự tiến hoá của các Giống dân, chúng ta cũng thấy cùng một trật tự như trong Thiên nhiên và Con Người. Người-thú có nhau thai chỉ trở thành như thế sau khi có sự phân chia giới tính trong Giống dân gốc thứ Ba. Trong sự tiến hoá sinh lý, nhau thai chỉ được hình thành đầy đủ và hoạt động sau tháng thứ ba của đời sống trong tử cung.

Let us put aside such human conceptions as a personal God, and hold to the purely divine, to that which underlies all and everything in boundless Nature. It is called by its Sanskrit Esoteric name in the Vedas, Tat (or That), a term for the unknowable Rootless Root. If we do so, we may answer these seven questions of the Esoteric Catechism thus:

Chúng ta hãy gạt sang một bên những quan niệm nhân loại như một Thượng đế có ngôi vị, và bám giữ vào cái thuần túy thiêng liêng, vào cái nằm dưới tất cả và mọi sự trong Thiên nhiên vô biên. Trong các Veda, nó được gọi bằng danh xưng Bí truyền tiếng Phạn là Tat (hay Cái Đó), một thuật ngữ chỉ Cội Rễ Không Rễ không thể biết được. Nếu làm như vậy, chúng ta có thể trả lời bảy câu hỏi này của Giáo lý Vấn đáp Bí truyền như sau:

(1) Q. —What is the Eternal Absolute?

(1) Hỏi. —Tuyệt Đối Vĩnh Cửu là gì?

A. —That.

Đáp. —Cái Đó.

(2) Q. —How came Kosmos into being?

(2) Hỏi. —Kosmos đi vào hiện hữu như thế nào?

A. —Through That.

Đáp. —Thông qua Cái Đó.

(3) Q. —How, or what will it be when it falls back into Pralaya?

(3) Hỏi. —Nó sẽ như thế nào, hay là gì, khi rơi trở lại vào Giai kỳ qui nguyên?

A. —In That.

Đáp. —Trong Cái Đó.

(4) Q. —Whence all the animate, and suppositionally, the “inanimate”nature?

(4) Hỏi. —Từ đâu mà có tất cả thiên nhiên hữu sinh và, theo giả định, “vô sinh”?

A. —From That.

Đáp. —Từ Cái Đó.

(5) Q. —What is the Substance and Essence of which the Universe is formed?

(5) Hỏi. —Chất liệu và Tinh túy mà Vũ trụ được tạo thành là gì?

A. —That.

Đáp. —Cái Đó.

(6) Q. —Into what has it been and will be again and again resolved?

(6) Hỏi. —Nó đã và sẽ lại nhiều lần được tan rã vào đâu?

A. —Into That.

Đáp. —Vào Cái Đó.

(7) Q. —Is That then both the instrumental and material cause of the Universe?

(7) Hỏi. —Vậy Cái Đó có phải vừa là nguyên nhân công cụ vừa là nguyên nhân vật chất của Vũ trụ không?

A. —What else is it or can it be than That?

Đ. — Nó còn là gì, hay có thể là gì khác ngoài Cái Đó?

As the Universe, the Macrocosm and the Microcosm, 772 are ten, why should we divide Man into seven “principles”? This is the reason why the perfect number ten is divided into two: in their completeness, i.e., super-spiritually and physically, the forces are ten: to wit, three on the subjective and inconceivable, and seven on the objective plane. Bear in mind that I am now giving you the description of the two opposite poles: (a) the primordial Triangle, which, as soon as it has reflected itself in the “Heavenly Man,” the highest of the lower seven—disappears, returning into “Silence and Darkness”; and (b) the astral paradigmatic man, whose Monad (Âtmâ) is also represented by a triangle, as it has to become a ternary in conscious Devachanic interludes. The purely terrestrial man being reflected in the universe of Matter, so to say, upside down, the upper Triangle, wherein the creative ideation and the subjective potentiality of the formative faculty resides, is shifted in the man of clay below the seven. Thus three of the ten, containing in the archetypal world only ideative and paradigmatical potentiality, i.e., existing in possibility, not in action, are in fact one. The potency of formative creation resides in the Logos, the synthesis of the seven Forces or Rays, which becomes forthwith the Quaternary, the sacred Tetraktys. This process is repeated in man, in whom the lower physical triangle becomes, in conjunction with the female One, the male-female creator, or generator. The same on a still lower plane in the animal world. A mystery above, a mystery below, truly.

Vì Vũ Trụ, Đại thiên địa và Tiểu thiên địa, đều là mười, tại sao chúng ta lại chia Con Người thành bảy “nguyên khí”? Đây là lý do tại sao con số hoàn hảo mười được chia làm hai: trong sự viên mãn của chúng, tức là theo nghĩa siêu-tinh thần và hồng trần, các mãnh lực là mười: nghĩa là, ba trên cõi chủ quan và bất khả tư nghị, và bảy trên cõi khách quan. Hãy ghi nhớ rằng giờ đây tôi đang trao cho các bạn sự mô tả về hai cực đối nghịch: (a) Tam giác nguyên sơ, mà ngay khi tự phản chiếu trong “Đấng Thiên Nhân”, vị cao nhất trong bảy vị thấp hơn, liền biến mất, trở về “Im Lặng và Bóng Tối”; và (b) con người cảm dục nguyên mẫu, có chân thần của y cũng được biểu trưng bằng một tam giác, vì nó phải trở thành một bộ ba trong các khoảng nghỉ hữu thức ở Devachan. Vì con người thuần túy trần thế được phản chiếu trong vũ trụ Vật Chất, có thể nói là đảo ngược, nên Tam giác thượng, nơi trú ngụ của ý niệm sáng tạo và tiềm năng chủ quan của năng lực tạo hình, được chuyển xuống dưới bảy trong con người bằng đất sét. Do đó, ba trong mười, vốn trong thế giới nguyên mẫu chỉ chứa tiềm năng ý niệm và nguyên kiểu, tức là tồn tại trong khả thể chứ không trong hành động, thực ra là một. Quyền năng của sự sáng tạo tạo hình trú trong Thượng đế Ngôi Lời, tổng hợp của bảy Mãnh lực hay Cung, vốn tức khắc trở thành Tứ phân, Tetraktys thiêng liêng. Tiến trình này được lặp lại trong con người, nơi tam giác hồng trần thấp hơn, khi kết hợp với Đấng Nữ, trở thành đấng sáng tạo hay sinh thành nam-nữ. Cũng như vậy trên một cõi còn thấp hơn trong giới động vật. Quả thật, một huyền nhiệm ở trên, một huyền nhiệm ở dưới.

This is how the upper and highest, and the lower and most animal, stand in mutual relation.

Đây là cách cái thượng và tối cao, cùng cái hạ và thú tính nhất, đứng trong tương quan hỗ tương.

Diagram I

Biểu đồ I

1st—Macrocosm and Its 3, 7, or 10 Centres of Creative Forces

Thứ nhất—Đại thiên địa và 3, 7, hay 10 Trung tâm Mãnh lực Sáng tạo của Nó

Illustration: Triangle with A B C
 

A. B. C. The Unknowable

A. B. C. Cái Bất Khả Tri

A. Sexless, Unmanifested Logos B. Potential Wisdom C. Universal Ideation

A. Thượng đế Ngôi Lời Vô tính, Không Biểu Hiện B. Minh triết Tiềm tàng C. Ý niệm Vũ Trụ

Illustration: Circle with a through g
 

a. Creative Logos b. Eternal Substance c. Spirit

a. Thượng đế Ngôi Lời Sáng tạo b. Chất liệu Vĩnh cửu c. Tinh thần

a. b. c. This is Pradhâna, undifferentiated matter in Sânkhya philosophy, or Good, Evil and Chaotic Darkness (Sattva, Rajas, and Tamas), neutralizing each other. When differentiated, they become the Seven Creative Potencies: Spirit, Substance and Fire stimulating Matter to form itself.

a. b. c. Đây là Pradhana, vật chất chưa biến phân trong triết học Samkhya, hay Thiện, Ác và Bóng Tối Hỗn Mang, trung hòa lẫn nhau. Khi được biến phân, chúng trở thành Bảy Quyền năng Sáng tạo: Tinh thần, Chất liệu và Lửa kích thích Vật chất tự tạo hình.

D. The Spiritual Forces acting in Matter 2nd. —Microcosm (the Inner Man) and his 3, 7, or 10 Centres of Potential Forces

D. Các Mãnh lực Tinh thần tác động trong Vật chất Thứ hai. —Tiểu thiên địa, tức Con Người Bên Trong, và 3, 7, hay 10 Trung tâm Mãnh lực Tiềm tàng của y

Illustration: Circle with 1 through 6
 

(ÂTMAN, although exoterically reckoned as the seventh principle, is no individual principle at all, and belongs to the Universal Soul; 7 is the AURIC EGG, the Magnetic Sphere round every human and animal being.) 1. Buddhi, the vehicle of Âtmâ.

Atman, tuy theo ngoại môn được kể là nguyên khí thứ bảy, hoàn toàn không phải là một nguyên khí cá nhân, và thuộc về Linh hồn Vũ Trụ; 7 là NOÃN HÀO QUANG, Khối cầu Từ tính quanh mỗi con người và sinh linh động vật. 1. Bồ đề, vận cụ của Atma.

2. Manas, the vehicle of Buddhi.

2. Manas, vận cụ của Bồ đề.

3. Lower Manas (the Upper and Lower Manas are two aspects of one and the same principle) and 4. Kâma Rûpa, its vehicle.

3. Hạ Manas, tức Thượng và Hạ Manas là hai phương diện của cùng một nguyên khí, và 4. Kama Rupa, vận cụ của nó.

5. Prâna, Life, and 6. Linga Sharira, its vehicle I. II. III. are the Three Hypostases of Âtman, its contact with Nature and Man being the Fourth, making it a Quaternary, or Tetraktys, the Higher self.

5. Prana, Sự sống, và 6. Linga Sharira, vận cụ của nó. I. II. III. là Ba Bản vị của Atman; sự tiếp xúc của nó với Thiên nhiên và Con Người là cái Thứ tư, làm cho nó thành Tứ phân, hay Tetraktys, chân ngã.

1. 2. 3. 4. 5. 6. These six principles, acting on four different planes, and having their Auric Envelope on the seventh (vide infra), are those used by the Adepts of the Right-Hand, or White Magicians.

1. 2. 3. 4. 5. 6. Sáu nguyên khí này, hoạt động trên bốn cõi khác nhau, và có Bao Hào quang của chúng trên cõi thứ bảy, xem dưới đây, là những nguyên khí được các Chân sư của chánh đạo, hay các nhà huyền thuật chánh đạo, sử dụng.

3rd. —Microcosm (the Physical Man) and his 10 Orifices, or centres of Action

Thứ ba. —Tiểu thiên địa, tức Con Người Hồng Trần, và 10 Lỗ mở, hay các trung tâm Hành động của y

Illustration: Circle with 1 through 10
 

1. (Buddhi) Right Eye 3. (Lower Manas) Right Ear 5. (Life Principle) Right Nostril 7. The Organ of the Creative Logos, the Mouth 8. 9. 10. As this Lower Ternary has a direct connection with the Higher Âtmic Triad and its three aspects (creative, preservative and destructive, or rather regenerative), the abuse of the corresponding functions is the most terrible of Karmic Sins—the Sin against the Holy Ghost with the Christians.

1. Bồ đề, Mắt Phải 3. Hạ Manas, Tai Phải 5. Nguyên khí Sự sống, Lỗ Mũi Phải 7. Cơ quan của Thượng đế Ngôi Lời Sáng tạo, Miệng 8. 9. 10. Vì Bộ ba Thấp này có liên hệ trực tiếp với Tam nguyên Atma Cao siêu và ba phương diện của nó, sáng tạo, bảo tồn và phá hủy, hay đúng hơn là tái sinh, nên việc lạm dụng các chức năng tương ứng là tội nghiệp quả khủng khiếp nhất, tức Tội chống lại Chúa Thánh Thần nơi người Ki-tô hữu.

2. (Manas) Left Eye 4. (Kâma Rûpa) Left Ear 6. (Life Vehicle) Left Nostril 7. The Paradigm of the 10th (creative) orifice in the Lower Triad.

2. Manas, Mắt Trái 4. Kama Rupa, Tai Trái 6. Vận cụ Sự sống, Lỗ Mũi Trái 7. Nguyên mẫu của lỗ mở thứ 10, tức lỗ sáng tạo, trong Tam nguyên Thấp.

These Physical Organs are used only by Dugpas in Black Magic.

Các Cơ quan Hồng trần này chỉ được các Dugpa sử dụng trong Hắc thuật.

In this diagram, we see that physical man (or his body) does not share in the direct pure waves of the divine Essence which flows from the One in Three, the Unmanifested, through the Manifested Logos (the upper face in the diagram). Purusha, the primeval Spirit, touches the human head and stops there. But the Spiritual Man (the synthesis of the seven principles) is directly connected with it. And here a few words ought to be said about the usual exoteric enumeration of the principles. At first an approximate division only was made and given out. Esoteric Buddhism begins with Âtmâ, the seventh, and ends with the Physical Body, the first. Now neither Âtmâ, which is no individual “principle,” but a radiation from and one with the Unmanifested Logos; nor the Body, which is the material rind, or shell, of the Spiritual Man, can be, in strict truth, referred to as “principles.” Moreover, the chief “principle” of all, one not even mentioned heretofore, is the “Luminous Egg” (Hiranyagarbha), or the invisible magnetic sphere in which every man is enveloped. 773 It is the direct emanation: (a) from the Âtmic Ray in its triple aspect of Creator, Preserver and Destroyer (Regenerator); and (b) from Buddhi-Manas. The seventh aspect of this individual Aura is the faculty of assuming the form of its body and becoming the “Radiant,” the Luminous Augoeides. It is this, strictly speaking, which at times becomes the form called Mâyâvi Rûpa. Therefore, as explained in the second face of the diagram (the astral man), the Spiritual Man consists of only five principles, as taught by the Vedântins, 774 who substitute, tacitly, for the physical this sixth, or Auric, Body, and merge the dual Manas (the dual mind, or consciousness) into one. Thus they speak of five Koshas (sheaths or principles), and call Âtmâ the sixth yet no “principle.” This is the secret of the late Subba Row’s criticism of the division in Esoteric Buddhism. But let the student now learn the true Esoteric enumeration.

Trong biểu đồ này, chúng ta thấy rằng con người hồng trần, hay thể của y, không dự phần vào các làn sóng thuần khiết trực tiếp của Tinh túy thiêng liêng tuôn chảy từ Đấng Một trong Ba, Đấng Không Biểu Hiện, qua Thượng đế Ngôi Lời Biểu Hiện, mặt trên trong biểu đồ. Purusha, Tinh thần nguyên thủy, chạm đến đầu con người rồi dừng lại ở đó. Nhưng Con Người Tinh thần, tổng hợp của bảy nguyên khí, thì được nối kết trực tiếp với Nó. Và ở đây cần nói vài lời về sự liệt kê ngoại môn thông thường các nguyên khí. Ban đầu chỉ có một sự phân chia gần đúng được thực hiện và công bố. Phật giáo Bí truyền bắt đầu với Atma, nguyên khí thứ bảy, và kết thúc với Thể Xác, nguyên khí thứ nhất. Nay, cả Atma, vốn không phải là một “nguyên khí” cá nhân, mà là một bức xạ từmột với Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện; lẫn Thể, vốn là lớp vỏ vật chất, hay cái bao, của Con Người Tinh thần, đều không thể, theo chân lý nghiêm ngặt, được gọi là “nguyên khí”. Hơn nữa, “nguyên khí” chủ yếu nhất trong tất cả, điều trước đây thậm chí chưa được nhắc tới, là “Noãn Sáng” hay khối cầu từ tính vô hình bao quanh mỗi người. Nó là xuất lộ trực tiếp: (a) từ Cung Atma trong phương diện tam phân của Đấng Sáng tạo, Đấng Bảo tồn và Đấng Hủy diệt, tức Đấng Tái sinh; và (b) từ Bồ đề-Manas. Phương diện thứ bảy của Hào quang cá nhân này là năng lực nhận lấy hình tướng của thể mình và trở thành “Đấng Rạng Ngời”, Augoeides Sáng Chói. Nói một cách nghiêm ngặt, chính điều này đôi khi trở thành hình tướng được gọi là Mayavi Rupa. Vì vậy, như được giải thích nơi mặt thứ hai của biểu đồ, con người cảm dục, Con Người Tinh thần chỉ gồm năm nguyên khí, như các Vedantin dạy, những người âm thầm thay thế thể xác bằng thể thứ sáu này, tức Thể Hào quang, và nhập Manas kép, tức thể trí hay tâm thức kép, vào một. Do đó, họ nói đến năm Kosha, tức các lớp bao hay nguyên khí, và gọi Atma là nguyên khí thứ sáu, nhưng không phải là một “nguyên khí”. Đây là bí mật trong lời phê bình của Subba Row quá cố đối với sự phân chia trong Phật giáo Bí truyền. Nhưng giờ đây đạo sinh hãy học sự liệt kê Nội môn chân thật.

The reason why public mention of the Auric Body was not permitted was on account of its being so sacred. It is this Body which, at death, assimilates the essence of Buddhi and Manas and becomes the vehicle of these spiritual principles, which are not objective, and then, with the full radiation of Âtmâ upon it ascends as Manas-Taijasi into the Devachanic state. Therefore is it called by many names. It is the Sûtrâtmâ, the silver “thread” which “incarnates” from the beginning of Manvantara to the end, stringing upon itself the pearls of human existence, in other words, the spiritual aroma of every personality it follows through the pilgrimage of life. 775 It is also the material from which the Adept forms his Astral Bodies, from the Augoeides and the Mâyâvi Rûpa downwards. After the death of man, when its most ethereal particles have drawn into themselves the spiritual principles of Buddhi and the Upper Manas, and are illuminated with the radiance of Âtmâ, the Auric Body remains either in the Devachanic state of consciousness, or, in the case of a full Adept, prefers the state of a Nirmânakâya, that is, one who has so purified his whole system that he is above even the divine illusion of a Devachanî. Such an Adept remains in the astral (invisible) plane connected with our earth, and henceforth moves and lives in the possession of all his principles except the Kâma Rûpa and Physical Body. In the case of the Devachanî, the Linga Sharîra—the alter ego of the body, which during life is within the physical envelope while the radiant aura is without—strengthened by the material particles which this aura leaves behind, remains close to the dead body and outside it, and soon fades away. In the case of the full Adept, the body alone becomes subject to dissolution, while the centre of that force which was the seat of desires and passions, disappears with its cause—the animal body. But during the life of the latter all these centres are more or less active and in constant correspondence with their prototypes, the cosmic centres, and their microcosms, the principles. It is only through these cosmic and spiritual centres that the physical centres (the upper seven orifices and the lower triad) can benefit by their Occult interaction, for these orifices, or openings, are channels conducting into the body the influences that the will of man attracts and uses, viz., the cosmic forces.

Lý do việc công khai nhắc đến Thể Hào quang không được phép là vì nó quá thiêng liêng. Chính Thể này, khi chết, đồng hóa tinh túy của Bồ đề và Manas, và trở thành vận cụ của các nguyên khí tinh thần này, vốn không khách quan, rồi sau đó, với toàn bộ bức xạ của Atma trên nó, thăng lên như Manas-Taijasi vào trạng thái Devachan. Vì vậy nó được gọi bằng nhiều tên. Nó là Sutratma, “sợi dây” bạc “nhập thể” từ đầu Giai kỳ sinh hóa đến cuối, xâu trên chính nó những viên ngọc của cuộc tồn tại nhân loại, nói cách khác, hương thơm tinh thần của mỗi phàm ngã mà nó theo qua cuộc hành hương của đời sống. Nó cũng là chất liệu từ đó Chân sư tạo thành các Thể Cảm dục của mình, từ Augoeides và Mayavi Rupa trở xuống. Sau cái chết của con người, khi các hạt dĩ thái nhất của nó đã thu hút vào chính chúng các nguyên khí tinh thần của Bồ đề và Thượng Manas, và được soi sáng bằng hào quang của Atma, Thể Hào quang hoặc ở lại trong trạng thái tâm thức Devachan, hoặc, trong trường hợp một Chân sư toàn vẹn, chọn trạng thái của một Nirmanakaya, tức là người đã thanh luyện toàn bộ hệ thống của mình đến mức vượt lên trên cả ảo tưởng thiêng liêng của một Devachani. Một Chân sư như thế vẫn ở trên cõi cảm dục, vô hình, liên hệ với Trái Đất của chúng ta, và từ đó về sau vận hành và sống với tất cả các nguyên khí của mình, ngoại trừ Kama Rupa và Thể Xác. Trong trường hợp của Devachani, Linga Sharira, tức bản ngã khác của thể xác, vốn trong đời sống ở trong bao hồng trần trong khi hào quang rạng rỡ ở bên ngoài, được tăng cường bởi các hạt vật chất mà hào quang này để lại, vẫn ở gần xác chết và bên ngoài nó, rồi sớm tan biến. Trong trường hợp của Chân sư toàn vẹn, chỉ thể xác mới chịu sự tan rã, trong khi trung tâm của mãnh lực vốn là chỗ ngự của dục vọng và đam mê biến mất cùng với nguyên nhân của nó, tức thể thú tính. Nhưng trong đời sống của thể sau này, tất cả các trung tâm ấy ít nhiều đều hoạt động và thường xuyên tương ứng với các nguyên mẫu của chúng, các trung tâm vũ trụ, và với các tiểu thiên địa của chúng, tức các nguyên khí. Chỉ qua các trung tâm vũ trụ và tinh thần này mà các trung tâm hồng trần, bảy lỗ mở trên và tam nguyên dưới, mới có thể hưởng lợi từ sự tương tác Huyền bí của chúng, vì các lỗ mở hay cửa ngõ này là những kênh dẫn vào thể các ảnh hưởng mà ý chí của con người thu hút và sử dụng, tức các mãnh lực vũ trụ.

This will has, of course, to act primarily through the spiritual principles. To make this clearer, let us take an example. In order to stop pain, let us say in the right eye, you have to attract to it the potent magnetism from that cosmic principle which corresponds to this eye and also to Buddhi. Create, by a powerful will effort, an imaginary line of communication between the right eye and Buddhi, locating the latter as a centre in the same part of the head. This line, though you may call it “imaginary,” is, once you succeed in seeing it with your mental eye and give it a shape and colour, in truth as good as real. A rope in a dream is not and yet is. Moreover, according to the prismatic colour with which you endow your line, so will the influence act. Now Buddhi and Mercury correspond with each other, and both are yellow, or radiant and golden coloured. In the human system, the right eye corresponds with Buddhi and Mercury; and the left with Manas and Venus or Lucifer. Thus, if your line is golden or silvery, it will stop the pain; if red, it will increase it, for red is the colour of Kâma and corresponds with Mars. Mental or Christian Scientists have stumbled upon the effects without understanding the causes. Having found by chance the secret of producing such results owing to mental abstraction, they attribute them to their union with God (whether a personal or impersonal God they know best), whereas it is simply the effect of one or another principle. However it may be, they are on the path of discovery, although they must remain wandering for a long time to come.

Dĩ nhiên, ý chí này trước hết phải tác động qua các nguyên khí tinh thần. Để làm điều này rõ hơn, chúng ta hãy lấy một ví dụ. Để chặn cơn đau, giả sử ở mắt phải, bạn phải thu hút đến đó từ điện mạnh mẽ từ nguyên khí vũ trụ tương ứng với mắt ấy và cũng tương ứng với Bồ đề. Bằng một nỗ lực ý chí mạnh mẽ, hãy tạo ra một đường giao tiếp tưởng tượng giữa mắt phải và Bồ đề, định vị Bồ đề như một trung tâm trong cùng phần ấy của đầu. Đường này, dù bạn có thể gọi là “tưởng tượng”, nhưng một khi bạn thành công trong việc thấy nó bằng con mắt trí tuệ của mình và ban cho nó hình dạng cùng màu sắc, thì thật ra nó cũng tốt như thật. Một sợi dây trong giấc mơ không là mà vẫn . Hơn nữa, tùy theo màu lăng kính mà bạn trao cho đường của mình, ảnh hưởng sẽ tác động như thế. Nay Bồ đề và Sao Thủy tương ứng với nhau, và cả hai đều màu vàng, hay có màu rạng rỡ và vàng kim. Trong hệ thống con người, mắt phải tương ứng với Bồ đề và Sao Thủy; mắt trái tương ứng với Manas và Sao Kim hay Lucifer. Vì vậy, nếu đường của bạn có màu vàng kim hay bạc, nó sẽ chặn cơn đau; nếu màu đỏ, nó sẽ làm tăng đau, vì đỏ là màu của Kama và tương ứng với Sao Hỏa. Các nhà Khoa học Trí tuệ hay Khoa học Ki-tô giáo đã tình cờ vấp phải các hiệu quả mà không thấu hiểu các nguyên nhân. Vì tình cờ tìm ra bí mật tạo ra những kết quả như thế nhờ sự trừu tượng hóa trí tuệ, họ quy chúng cho sự hợp nhất của họ với Thượng đế, dù là Thượng đế cá vị hay phi cá vị thì họ tự biết rõ nhất, trong khi đó chỉ đơn giản là hiệu quả của nguyên khí này hay nguyên khí khác. Dù thế nào đi nữa, họ đang trên con đường khám phá, mặc dù họ còn phải lang thang trong một thời gian dài sắp tới.

Let not Esoteric students commit the same mistake. It has often been explained that neither the cosmic planes of substance nor even the human principles—with the exception of the lowest material plane or world and the physical body, which, as has been said, are no “principles,”—can be located or thought of as being in Space and Time. As the former are seven in One, so are we seven in One—that same absolute Soul of the World, which is both Matter and non-Matter, Spirit and non-Spirit, Being and non-Being. Impress yourselves well with this idea, all those of you who would study the mysteries of Self.

Các đạo sinh Nội môn chớ phạm cùng sai lầm ấy. Người ta đã thường giải thích rằng cả các cõi vũ trụ của chất liệu lẫn ngay cả các nguyên khí con người, ngoại trừ cõi hay thế giới vật chất thấp nhất và thể xác, vốn như đã nói, không phải là “nguyên khí”, đều không thể được định vị hay được nghĩ đến như ở trong Không gian và Thời gian. Như các cõi trước là bảy trong Một, chúng ta cũng là bảy trong Một, cùng Linh hồn Tuyệt đối ấy của Thế giới, vừa là Vật chất vừa là phi-Vật chất, Tinh thần và phi-Tinh thần, Bản Thể và phi-Bản Thể. Tất cả các bạn, những người muốn nghiên cứu các huyền nhiệm của Bản Ngã, hãy khắc sâu ý tưởng này vào chính mình.

Remember that with our physical senses alone at our command, none of us can hope to reach beyond gross Matter. We can do so only through one or another of our seven spiritual senses, either by training, or if one is a born Seer. Yet even a clairvoyant possessed of such faculties, if not an Adept, no matter how honest and sincere he may be, will, through his ignorance of the truths of Occult Science, be led by the visions he sees in the Astral Light only to mistake for God or Angels the denizens of those spheres of which he may occasionally catch a glimpse, as witness Swedenborg and others.

Hãy nhớ rằng chỉ với các giác quan hồng trần trong tầm sử dụng, không ai trong chúng ta có thể hy vọng vươn vượt khỏi Vật chất thô trược. Chúng ta chỉ có thể làm thế qua một trong bảy giác quan tinh thần của mình, hoặc bằng sự rèn luyện, hoặc nếu một người là nhà thông nhãn bẩm sinh. Tuy nhiên, ngay cả một người thông nhãn có những năng lực như thế, nếu không phải là Chân sư, dù y có thể trung thực và chân thành đến đâu, vẫn sẽ, do không biết các chân lý của Khoa học Huyền bí, bị các linh ảnh mà y thấy trong Ánh sáng Cảm dục dẫn đến chỗ nhầm lẫn cư dân của những khối cầu ấy, mà y đôi khi có thể thoáng thấy, với Thượng đế hay các Thiên thần, như trường hợp Swedenborg và những người khác chứng tỏ.

These seven senses of ours correspond with every other septenate in nature and in ourselves. Physically, though invisibly, the human Auric Envelope (the amnion of the physical man in every age of life) has seven layers, just as Cosmic Space and our physical epidermis have. It is this Aura which, according to our mental and physical state of purity or impurity, either opens for us vistas into other worlds, or shuts us out altogether from anything but this three-dimensional world of Matter.

Bảy giác quan này của chúng ta tương ứng với mọi thất phân khác trong thiên nhiên và trong chính chúng ta. Về mặt hồng trần, tuy vô hình, Bao Hào quang của con người, màng ối của con người hồng trần trong mọi thời kỳ của đời sống, có bảy lớp, cũng như Không gian Vũ trụ và lớp biểu bì hồng trần của chúng ta vậy. Chính Hào quang này, tùy theo trạng thái thanh khiết hay bất tịnh về trí tuệ và hồng trần của chúng ta, hoặc mở ra cho chúng ta những viễn cảnh vào các thế giới khác, hoặc hoàn toàn ngăn chúng ta khỏi mọi thứ ngoài thế giới Vật chất ba chiều này.

Each of our seven physical senses (two of which are still unknown to profane Science), and also of our seven states of consciousness—viz.: (1) waking; (2) waking-dreaming; (3) natural sleeping; (4) induced or trance-sleep; (5) psychic; (6) super-psychic; and (7) purely spiritual—corresponds with one of the seven Cosmic Planes, develops and uses one of the seven super-senses, and is connected directly, in its use on the terrestro-spiritual plane, with the cosmic and divine centre of force that gave it birth, and which is its direct creator. Each is also connected with, and under the direct influence of, one of the seven sacred Planets. 776 These belonged to the Lesser Mysteries, whose followers were called Mystai (the veiled), seeing that they were allowed to perceive things only through a mist, as it were “with the eyes closed”; while the Initiates or “Seers” of the Greater Mysteries were called Epoptai (those who see things unveiled). It was the latter only who were taught the true mysteries of the Zodiac and the relations and correspondences between its twelve signs (two secret) and the ten human orifices. The latter are now of course ten in the female, and only nine in the male; but this is merely an external difference. In the second volume of this work it is stated that till the end of the Third Root-Race (when androgynous man separated into male and female) the ten orifices existed in the hermaphrodite, first potentially, then functionally. The evolution of the human embryo shows this. For instance, the only opening formed at first is the buccal cavity, “a cloaca communicating with the anterior extremity of the intestine.” These become later the mouth and the posterior orifice: the Logos differentiating and emanating gross matter on the lower plane, in Occult parlance. The difficulty which some students will experience in reconciling the correspondences between the Zodiac and the orifices can be easily explained. Magic is coëval with the Third Root-Race, which began by creating through Kriyâshakti and ended by generating its species in the present way. 777 Woman, being left with the full or perfect cosmic number 10 (the divine number of Jehovah), was deemed higher and more spiritual than man. In Egypt, in days of old, the marriage service contained an article that the woman should be the “lady of the lord,” and real lord over him, the husband pledging himself to be “obedient to his wife” for the production of alchemical results such as the Elixir of Life and the Philosopher’s Stone, for the spiritual help of the woman was needed by the male Alchemist. But woe to the Alchemist who should take this in the dead-letter sense of physical union. Such sacrilege would become Black Magic and be followed by certain failure. The true Alchemist of old took aged women to help him, carefully avoiding the young ones; and if any of them happened to be married they treated their wives for months both before and during their operations as sisters.

Mỗi một trong bảy giác quan hồng trần của chúng ta, hai trong số đó vẫn còn chưa được Khoa học phàm tục biết đến, và cũng mỗi một trong bảy trạng thái tâm thức của chúng ta, tức: (1) thức; (2) thức-mơ; (3) ngủ tự nhiên; (4) ngủ do cảm ứng hay xuất thần; (5) thông linh; (6) siêu-thông linh; và (7) thuần tinh thần, tương ứng với một trong bảy Cõi Vũ Trụ, phát triển và sử dụng một trong bảy siêu-giác quan, và trong cách sử dụng của nó trên cõi trần-tinh thần, được nối kết trực tiếp với trung tâm mãnh lực vũ trụ và thiêng liêng đã sinh ra nó và là đấng sáng tạo trực tiếp của nó. Mỗi cái cũng được nối kết với, và ở dưới ảnh hưởng trực tiếp của, một trong bảy Hành tinh thiêng liêng. Những điều này thuộc về Tiểu Huyền Nhiệm, mà các tín đồ của chúng được gọi là Mystai, những người được che phủ, vì họ chỉ được phép tri nhận sự vật qua một lớp sương, như thể “với mắt nhắm”; trong khi các Điểm đạo đồ hay “Nhà thông nhãn” của Đại Huyền Nhiệm được gọi là Epoptai, những người thấy sự vật không che phủ. Chỉ những người sau mới được dạy các huyền nhiệm chân thật của Hoàng đạo và các quan hệ cùng tương ứng giữa mười hai dấu hiệu của nó, hai dấu hiệu bí mật, và mười lỗ mở của con người. Dĩ nhiên hiện nay các lỗ mở sau là mười ở nữ giới, và chỉ chín ở nam giới; nhưng đây chỉ là một khác biệt bên ngoài. Trong quyển thứ hai của tác phẩm này có nói rằng cho đến cuối Giống dân gốc Thứ Ba, khi con người lưỡng tính tách thành nam và nữ, mười lỗ mở đã tồn tại trong thể lưỡng tính, trước hết một cách tiềm tàng, rồi sau đó một cách chức năng. Sự tiến hóa của phôi thai con người cho thấy điều này. Chẳng hạn, lỗ mở duy nhất được hình thành ban đầu là khoang miệng, “một ổ nhớp thông với đầu trước của ruột”. Về sau chúng trở thành miệng và lỗ mở phía sau: Thượng đế Ngôi Lời biến phân và xuất lộ vật chất thô trên cõi thấp, theo cách nói Huyền bí. Khó khăn mà một số đạo sinh sẽ gặp trong việc hòa giải các tương ứng giữa Hoàng đạo và các lỗ mở có thể được giải thích dễ dàng. Huyền thuật đồng thời với Giống dân gốc Thứ Ba, vốn bắt đầu bằng việc sáng tạo qua Kriyashakti và kết thúc bằng việc sinh sản giống loài của mình theo cách hiện nay. Người nữ, vì còn giữ đủ con số vũ trụ đầy đủ hay hoàn hảo là 10, con số thiêng liêng của Jehovah, nên được xem là cao hơn và tinh thần hơn nam giới. Ở Ai Cập, vào thời xưa, nghi lễ hôn phối có một điều khoản rằng người nữ phải là “phu nhân của chúa”, và là chúa thật sự đối với y; người chồng cam kết “vâng lời vợ mình” để tạo ra các kết quả thuật luyện kim như Linh dược Trường sinh và Hòn đá của Triết gia, vì nam Thuật sĩ luyện kim cần sự trợ giúp tinh thần của người nữ. Nhưng khốn thay cho Thuật sĩ luyện kim nào hiểu điều này theo nghĩa chữ chết của sự kết hợp hồng trần. Sự phạm thánh như thế sẽ trở thành Hắc thuật và chắc chắn dẫn đến thất bại. Thuật sĩ luyện kim chân chính thời xưa chọn những phụ nữ cao tuổi để trợ giúp mình, cẩn thận tránh những người trẻ; và nếu ai trong họ đã kết hôn, họ đối xử với vợ mình như chị em trong nhiều tháng cả trước lẫn trong khi tiến hành các thao tác.

The error of crediting the Ancients with knowing only ten of the zodiacal signs is explained in Isis Unveiled. 778 The Ancients did know of twelve, but viewed these signs differently from ourselves. They took neither Virgo nor Scorpio singly into consideration, but regarded them as two in one, since they were made to refer directly and symbolically to the primeval dual man and his separation into sexes. During the reformation of the Zodiac, Libra was added as the twelfth sign, though it is simply an equilibrating sign, at the turning point—the mystery of separated man.

Sai lầm quy cho người Xưa chỉ biết mười dấu hiệu hoàng đạo được giải thích trong Isis Không Che Màn. Người Xưa quả thật biết mười hai, nhưng nhìn các dấu hiệu này khác chúng ta. Họ không xét riêng Xử Nữ hay Hổ Cáp, mà xem chúng là hai trong một, vì chúng được dùng để chỉ trực tiếp và biểu tượng cho con người lưỡng phân nguyên thủy và sự phân chia của y thành hai giới. Trong cuộc cải cách Hoàng đạo, Thiên Bình được thêm vào như dấu hiệu thứ mười hai, tuy nó chỉ là một dấu hiệu quân bình, tại điểm xoay chuyển, huyền nhiệm của con người đã phân tách.

Let the student learn all this well. Meanwhile we have to recapitulate what has been said.

Đạo sinh hãy học kỹ tất cả điều này. Trong khi đó, chúng ta phải tóm lược lại những gì đã nói.

(1) Each human being is an incarnation of his God, in other words, one with his “Father in Heaven,” just as Jesus, an Initiate, is made to say. As many men on earth, so many Gods in Heaven; and yet these Gods are in reality One, for at the end of every period of activity, they are withdrawn, like the rays of the setting sun, into the Parent Luminary, the Non-Manifested Logos, which in its turn is merged into the One Absolute. Shall we call these “Fathers” of ours, whether individually or collectively, and under any circumstances, our personal God? Occultism answers, Never. All that an average man can know of his “Father” is what he knows of himself, through and within himself. The Soul of his “Heavenly Father” is incarnated in him. This Soul is himself, if he be successful in assimilating the Divine Individuality while in his physical, animal shell. As to the Spirit thereof, as well expect to be heard by the Absolute. Our prayers and supplications are vain, unless to potential words we add potent acts, and make the Aura which surrounds each one of us so pure and divine that the God within us may act outwardly, or in other words, become as it were an extraneous Potency. Thus have Initiates, Saints, and very holy and pure men been enabled to help others as well as themselves in the hour of need, and produce what are foolishly called “miracles,” each by the help and with the aid of the God within himself, which he alone has enabled to act on the outward plane.

(1) Mỗi con người là một sự nhập thể của Thượng đế của y, nói cách khác, là một với “Cha trên Trời” của y, đúng như Đức Jesus, một Điểm đạo đồ, được đặt lời nói. Có bao nhiêu người trên Trái Đất thì có bấy nhiêu Thượng đế trên Trời; nhưng các Thượng đế này thực ra là Một, vì vào cuối mỗi chu kỳ hoạt động, Các Ngài được thu hồi, như các tia của mặt trời lặn, vào Nguồn Sáng Cha Mẹ, Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện, Đấng đến lượt mình hòa nhập vào Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất. Dù là từng vị riêng rẽ hay tập thể, và trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có nên gọi các “Cha” này của chúng ta là Thượng đế cá vị của chúng ta không? Huyền bí học trả lời, Không bao giờ. Tất cả những gì một người trung bình có thể biết về “Cha” của y là những gì y biết về chính mình, qua và trong chính mình. Linh hồn của “Cha trên Trời” của y nhập thể trong y. Linh hồn này là chính y, nếu y thành công trong việc đồng hóa Cá thể tính Thiêng liêng khi còn ở trong lớp vỏ hồng trần, thú tính của mình. Còn về Tinh thần của Linh hồn ấy, cũng như mong được Đấng Tuyệt Đối nghe thấy. Những lời cầu nguyện và khẩn nài của chúng ta là vô ích, trừ khi chúng ta thêm vào những lời tiềm năng các hành động mạnh mẽ, và làm cho Hào quang bao quanh mỗi chúng ta trở nên thanh khiết và thiêng liêng đến mức Thượng đế bên trong chúng ta có thể tác động ra ngoài, hay nói cách khác, trở thành như một Quyền năng ngoại tại. Như vậy, các Điểm đạo đồ, các Thánh nhân, và những người rất thánh thiện và thanh khiết đã có thể giúp người khác cũng như chính mình trong giờ cần thiết, và tạo ra những điều bị gọi một cách ngu xuẩn là “phép lạ”, mỗi người nhờ sự trợ giúp và với sự hỗ trợ của Thượng đế bên trong chính mình, Đấng mà chỉ y mới khiến có thể tác động trên cõi bên ngoài.

(2) The word Aum or Om, which corresponds to the upper Triangle, if pronounced by a very holy and pure man, will draw out, or awaken, not only the less exalted Potencies residing in the planetary spaces and elements, but even his Higher Self, or the “Father” within him. Pronounced by an averagely good man, in the correct way, it will help to strengthen him morally, especially if between two “Aums” he meditates intently upon the Aum within him, concentrating all his attention upon the ineffable glory. But woe to the man who pronounces it after the commission of some far-reaching sin: he will only thereby attract to his own impure photosphere invisible Presences and Forces which could not otherwise break through the Divine Envelope.

(2) Từ Aum hay Om, tương ứng với Tam giác thượng, nếu được phát âm bởi một người rất thánh thiện và thanh khiết, sẽ lôi ra hay đánh thức không chỉ các Quyền năng kém cao siêu hơn đang trú trong các không gian và nguyên tố hành tinh, mà ngay cả Bản Ngã Cao Siêu của y, hay “Cha” bên trong y. Nếu được một người trung bình tốt phát âm đúng cách, nó sẽ giúp củng cố y về mặt đạo đức, đặc biệt nếu giữa hai lần xướng “Aum” y tham thiền chăm chú về Aum bên trong mình, tập trung toàn bộ chú ý vào vinh quang khôn tả. Nhưng khốn thay cho người phát âm nó sau khi đã phạm một tội có hậu quả sâu rộng: do đó y sẽ chỉ thu hút vào quang cầu bất tịnh của chính mình những Sự Hiện Diện và Mãnh lực vô hình vốn nếu không thì không thể xuyên qua Bao Thiêng liêng.

Aum is the original of Amen. Now, Amen is not a Hebrew term, but, like the word Halleluiah, was borrowed by the Jews and Greeks from the Chaldees. The latter word is often found repeated in certain magical inscriptions upon cups and urns among the Babylonian and Ninevean relics. Amen does not mean “so be it,” or “verily,” but signified in hoary antiquity almost the same as Aum. The Jewish Tanaïm (Initiates) used it for the same reason as the Âryan Adepts use Aum, and with a like success, the numerical value of AMeN in Hebrew letters being 91, the same as the full value of YHVH, 779 26, and ADoNaY, 65, or 91. Both words mean the affirmation of the being, or existence, of the sexless “Lord” within us.

Aum là nguyên mẫu của Amen. Nay, Amen không phải là một thuật ngữ Hebrew, mà, giống như từ Halleluiah, đã được người Do Thái và Hy Lạp vay mượn từ người Chaldea. Từ sau này thường được thấy lặp lại trong một số minh văn huyền thuật trên chén và bình trong các di vật Babylon và Nineveh. Amen không có nghĩa là “mong được như vậy” hay “quả thật”, mà trong thời cổ xưa xa xăm nó biểu thị gần như điều tương tự Aum. Các Tanaim Do Thái, tức các Điểm đạo đồ, dùng nó vì cùng lý do như các Chân sư Arya dùng Aum, và với thành công tương tự; giá trị số của AMeN trong các chữ cái Hebrew là 91, bằng với tổng giá trị của YHVH, 26, và ADoNaY, 65, hay 91. Cả hai từ đều có nghĩa là sự khẳng định về hiện tồn, hay tồn tại, của “Chúa” vô tính bên trong chúng ta.

(3) Esoteric Science teaches that every sound in the visible world awakens its corresponding sound in the invisible realms, and arouses to action some force or other on the Occult side of Nature. Moreover, every sound corresponds to a colour and a number (a potency spiritual, psychic or physical) and to a sensation on some plane. All these find an echo in every one of the so-far developed elements, and even on the terrestrial plane, in the Lives that swarm in the terrene atmosphere, thus prompting them to action.

(3) Khoa học Nội môn dạy rằng mỗi âm thanh trong thế giới hữu hình đều đánh thức âm thanh tương ứng của nó trong các cõi vô hình, và khơi dậy hành động của mãnh lực này hay mãnh lực khác ở phía Huyền bí của Thiên nhiên. Hơn nữa, mỗi âm thanh tương ứng với một màu sắc và một con số, một quyền năng tinh thần, thông linh hay hồng trần, và với một cảm giác trên cõi nào đó. Tất cả những điều này tìm thấy tiếng vọng trong từng nguyên tố đã phát triển cho đến nay, và ngay cả trên cõi trần, trong các Sự sống chen chúc trong bầu khí quyển địa cầu, nhờ đó thúc đẩy chúng hành động.

Thus a prayer, unless pronounced mentally and addressed to one’s “Father” in the silence and solitude of one’s “closet,” must have more frequently disastrous than beneficial results, seeing that the masses are entirely ignorant of the potent effects which they thus produce. To produce good effects, the prayer must be uttered by “one who knows how to make himself heard in silence,” when it is no longer a prayer, but becomes a command. Why is Jesus shown to have forbidden his hearers to go to the public synagogues? Surely every praying man was not a hypocrite and a liar, nor a Pharisee who loved to be seen praying by people! He had a motive, we must suppose: the same motive which prompts the experienced Occultist to prevent his pupils from going into crowded places now as then, from entering churches, séance rooms, etc., unless they are in sympathy with the crowd.

Vì vậy, một lời cầu nguyện, trừ khi được phát âm trong trí và hướng đến “Cha” của mình trong sự im lặng và cô tịch của “phòng kín” của mình, thường phải đem lại kết quả tai hại hơn là lợi ích, vì quần chúng hoàn toàn không biết các hiệu quả mạnh mẽ mà họ tạo ra như thế. Để tạo ra các hiệu quả tốt, lời cầu nguyện phải được thốt ra bởi “người biết cách làm cho mình được nghe trong im lặng”, khi đó nó không còn là lời cầu nguyện nữa, mà trở thành một mệnh lệnh. Tại sao Đức Jesus được trình bày là đã cấm những người nghe Ngài đi đến các giáo đường công cộng? Chắc chắn không phải mọi người cầu nguyện đều là kẻ giả hình và dối trá, cũng không phải là người Pharisee thích được người ta nhìn thấy khi cầu nguyện! Chúng ta phải giả định rằng Ngài có một động cơ: cũng chính động cơ thúc đẩy nhà huyền bí học giàu kinh nghiệm ngăn học trò của mình đi vào những nơi đông người, xưa cũng như nay, không bước vào nhà thờ, phòng gọi hồn, v.v., trừ khi họ hòa hợp với đám đông.

There is one piece of advice to be given to beginners, who cannot help going into crowds—one which may appear superstitious, but which in the absence of Occult knowledge will be found efficacious. As well known to good Astrologers, the days of the week are not in the order of those planets whose names they bear. The fact is that the ancient Hindus and Egyptians divided the day into four parts, each day being under the protection (as ascertained by practical magic) of a planet; and every day, as correctly asserted by Dion Cassius, received the name of the planet which ruled and protected its first portion. Let the student protect himself from the “Powers of the Air” (Elementals) which throng public places, by wearing either a ring containing some jewel of the colour of the presiding planet, or else of the metal sacred to it. But the best protection is a clear conscience and a firm desire to benefit Humanity.

Có một lời khuyên dành cho người sơ cơ, những người không thể tránh đi vào đám đông, một lời khuyên có thể có vẻ mê tín, nhưng khi thiếu tri thức Huyền bí, sẽ thấy là hữu hiệu. Như các nhà Chiêm tinh giỏi đều biết, các ngày trong tuần không theo thứ tự của các hành tinh mà chúng mang tên. Sự thật là người Ấn Độ và Ai Cập cổ chia một ngày thành bốn phần, mỗi ngày ở dưới sự bảo hộ, như được xác định bằng huyền thuật thực hành, của một hành tinh; và mỗi ngày, như Dion Cassius khẳng định đúng, nhận tên của hành tinh cai quản và bảo hộ phần đầu tiên của nó. Đạo sinh hãy tự bảo vệ mình khỏi “Các Quyền lực của Không Khí”, tức các hành khí, vốn tụ tập ở những nơi công cộng, bằng cách đeo một chiếc nhẫn có viên ngọc mang màu của hành tinh chủ quản, hoặc bằng kim loại thiêng liêng đối với hành tinh ấy. Nhưng sự bảo vệ tốt nhất là một lương tâm trong sáng và một ước muốn vững chắc phụng sự Nhân loại.

The Planets, The Days of the Week and Their Corresponding Colours and Metals. — Các Hành tinh, Các Ngày trong Tuần và Những Màu sắc cùng Kim loại Tương ứng của Chúng.

[Transcriber’s Note: This table was a wide pull-out insert into the book, with more columns than modern readers can display. It has been reformatted into several tables of more manageable width.]

[Ghi chú của người sao chép: Bảng này là một phụ bản gấp rộng đưa vào sách, có nhiều cột hơn mức độc giả hiện đại có thể hiển thị. Nó đã được định dạng lại thành nhiều bảng có chiều rộng dễ xử lý hơn.]

These Correspondences are from the Objective, Terrestrial Plane.

Những Tương ứng này thuộc Cõi Khách quan, Trần thế.

Âtman is no Number, and corresponds to no visible Planet, for it proceeds from the Spiritual Sun; nor does it bear any relation either to Sound, Colour, or the rest, for it includes them all.

Atman không có Con số, và không tương ứng với Hành tinh hữu hình nào, vì nó phát xuất từ Mặt trời Tinh thần; nó cũng không có bất cứ quan hệ nào với Âm thanh, Màu sắc, hay những thứ còn lại, vì nó bao gồm tất cả.

As the Human Principles have no Numbers per se, but only correspond to Numbers, Sounds, Colours, etc., they are not enumerated here in the order used for exoteric purposes.

Vì các Nguyên khí Con người không có Con số chính chúng, mà chỉ tương ứng với Con số, Âm thanh, Màu sắc, v.v., nên chúng không được liệt kê ở đây theo thứ tự dùng cho các mục đích ngoại môn.

NUMBERS

METALS.

PLANETS.

1 and 10. Physical Man’s Key-note.

Iron.

Mars. The Planet of Generation.

2. Life Spiritual and Life Physical.

Gold.

The Sun. The Giver of Life physically. Spiritually and esoterically the substitute for the inter-Mercurial Planet, a sacred and secret planet with the ancients.

3. Because Buddhi is (so to speak) between Âtmâ and Manas, and forms with the seventh, or Auric Envelope, the Devachanic Triad.

Mercury. Mixes with Sulphur, as Buddhi is mixed with the Flame of Spirit (See Alchemical Definitions.)

Mercury. The Messenger and the Interpreter of the Gods.

4. The middle principle—between the purely material and purely spiritual triads. The conscious part of animal man.

Lead.

Saturn.

5.

Tin.

Jupiter.

6.

Copper. When alloyed becomes Bronze (the dual principle).

Venus. The Morning and the Evening Star.

7. Contains in itself the reflection of Septenary Man.

Silver.

The Moon. The Patent of the Earth.

NUMBERS

THE HUMAN PRINCIPLES.

DAYS OF THE WEEK.

1 and 10.

Kâma Rûpa. The vehicle or seat of the Animal Instincts and Passions.

Tuesday. Dies Martis, or Tiw.

2.

Prâna or Jîva. Life.

Sunday. Dies Solss, or Sun.

3.

Buddhi. Spiritual Soul, or Âtmic Ray; vehicle of Âtmâ.

Wednesday. Dies Mercurii, or Woden. Day of Buddha in the South, end of Woden in the North—Gods of Wisdom.

4.

Kâma Manas. The Lower Mind, or Animal Soul.

Saturday. Dies Saturns, or Saturn.

5.

Auric Envelope.

Thursday. Dies Jovis, or Thor.

6.

Manas. The Higher Mind, or Human Soul.

Friday. Dies Veneris, or Friga.

7.

Linga Sharîra. The Astral Double of Man, the Parent of the Physical Man.

NUMBERS

COLOURS.

SOUND. Musical Scale..

1 and 10.

1 Red.

Sa or Do.

2.

2 Orange.

Ri or Re.

3.

3. Yellow.

Ga or Mi.

4.

4. Green.

Ma or Fa.

5.

5. Blue.

Pa or Sol.

6.

6. Indigo or Dark Blue.

Da or La.

7.

7. Violet.

Ni or Si.

In the accompanying diagram the days of the week do not stand in their usual order, though they are placed in their correct sequence as determined by the order of the colours in the solar spectrum and the corresponding colours of their ruling planets. The fault of the confusion in the order of the days revealed by this comparison lies at the door of the early Christians. Adopting from the Jews their lunar months, they tried to blend them with the solar planets, and so made a mess of it; for the order of the days of the week as it now stands does not follow the order of the planets.

Trong biểu đồ kèm theo, các ngày trong tuần không đứng theo thứ tự thông thường, mặc dù chúng được đặt theo trình tự đúng như được xác định bởi thứ tự các màu trong quang phổ mặt trời và các màu tương ứng của các hành tinh cai quản chúng. Lỗi của sự lẫn lộn trong thứ tự các ngày, được sự so sánh này tiết lộ, thuộc về các Ki-tô hữu thời đầu. Tiếp nhận các tháng âm lịch từ người Do Thái, họ cố hòa trộn chúng với các hành tinh thuộc mặt trời, và do đó làm thành một mớ rối; vì thứ tự các ngày trong tuần như hiện nay không theo thứ tự các hành tinh.

Now, the Ancients arranged the planets in the following order: Moon, Mercury, Venus, Sun, Mars, Jupiter, Saturn, counting the Sun as a planet for exoteric purposes. Again, the Egyptians and Indians, the two oldest nations, divided their day into four parts, each of which was under the protection and rule of a planet. In course of time each day came to be called by the name of that planet which ruled its first portion—the morning. Now, when they arranged their week, the Christians proceeded as follows: they wanted to make the day of the Sun, or Sunday, the seventh, so they named the days of the week by taking every fourth planet in turn; e.g., beginning with the Moon (Monday), they counted thus: Moon, Mercury, Venus, Sun, Mars; thus Tuesday, the day whose first portion was ruled by Mars, became the second day of the week; and so on. It should be remembered also that the Moon, like the Sun, is a substitute for a secret planet.

Nay, người Xưa sắp xếp các hành tinh theo thứ tự sau: Mặt Trăng, Sao Thủy, Sao Kim, Mặt Trời, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, kể Mặt Trời như một hành tinh cho các mục đích ngoại môn. Lại nữa, người Ai Cập và Ấn Độ, hai dân tộc cổ xưa nhất, chia ngày của họ thành bốn phần, mỗi phần ở dưới sự bảo hộ và cai quản của một hành tinh. Theo thời gian, mỗi ngày được gọi bằng tên của hành tinh cai quản phần đầu tiên của nó, tức buổi sáng. Nay, khi sắp xếp tuần lễ của mình, các Ki-tô hữu tiến hành như sau: họ muốn biến ngày của Mặt Trời, hay Chủ nhật, thành ngày thứ bảy, nên họ đặt tên các ngày trong tuần bằng cách lần lượt lấy mỗi hành tinh thứ tư; chẳng hạn, bắt đầu với Mặt Trăng, tức Thứ hai, họ đếm như sau: Mặt Trăng, Sao Thủy, Sao Kim, Mặt Trời, Sao Hỏa; như vậy Thứ ba, ngày mà phần đầu tiên do Sao Hỏa cai quản, trở thành ngày thứ hai trong tuần; và cứ thế tiếp tục. Cũng cần nhớ rằng Mặt Trăng, giống như Mặt Trời, là vật thay thế cho một hành tinh bí mật.

The present division of the solar year was made several centuries later than the beginning of our era; and our week is not that of the Ancients and the Occultists. The septenary division of the four parts of the lunar phases is as old as the world, and originated with the people who reckoned time by the lunar months. The Hebrews never used it, for they counted only the seventh day, the Sabbath, though the second chapter of Genesis seems to speak of it. Till the days of the Cæsars there is no trace of a week of seven days among any nation save the Hindus. From India it passed to the Arabs, and reached Europe with Christianity. The Roman week consisted of eight days, and the Athenian of ten. 780 Thus one of the numberless contradictions and fallacies of Christendom is the adoption of the Indian septenary week of the lunar reckoning, and the preservation at the same time of the mythological names of the planets.

Sự phân chia hiện nay của năm mặt trời được thực hiện muộn hơn vài thế kỷ so với khởi đầu kỷ nguyên của chúng ta; và tuần lễ của chúng ta không phải là tuần lễ của người Xưa và các nhà huyền bí học. Sự phân chia thất phân của bốn phần trong các pha Mặt Trăng cổ xưa như thế giới, và bắt nguồn từ dân tộc tính thời gian theo các tháng âm lịch. Người Hebrew chưa bao giờ dùng nó, vì họ chỉ đếm ngày thứ bảy, Sabbath, mặc dù chương thứ hai của Sáng Thế Ký dường như nói đến điều đó. Cho đến thời các Caesar, không có dấu vết nào về một tuần bảy ngày nơi bất cứ dân tộc nào ngoài người Ấn Độ. Từ Ấn Độ nó truyền sang người Ả Rập, và đến châu Âu cùng với Ki-tô giáo. Tuần lễ La Mã gồm tám ngày, còn tuần lễ Athens gồm mười ngày. Như vậy, một trong vô số mâu thuẫn và ngụy lý của thế giới Ki-tô giáo là việc tiếp nhận tuần lễ thất phân Ấn Độ của cách tính âm lịch, đồng thời vẫn giữ các tên gọi thần thoại của các hành tinh.

Nor do modern Astrologers give the correspondences of the days and planets and their colours correctly; and while Occultists can give good reason for every detail of their own tables of colours, etc., it is doubtful whether the Astrologers can do the same.

Các nhà Chiêm tinh hiện đại cũng không đưa ra đúng các tương ứng giữa ngày, hành tinh và màu sắc của chúng; và trong khi các nhà huyền bí học có thể nêu lý do xác đáng cho từng chi tiết trong các bảng màu sắc của riêng họ, v.v., thì còn nghi ngờ liệu các nhà Chiêm tinh có thể làm như vậy hay không.

To close this first Paper, let me say that the readers must in all necessity be separated into two broad divisions: those who have not quite rid themselves of the usual sceptical doubts, but who long to ascertain how much truth there may be in the claims of the Occultists; and those others who, having freed themselves from the trammels of Materialism and Relativity, feel that true and real bliss must be sought only in the knowledge and personal experience of that which the Hindu Philosopher calls the Brahmavidyâ, and the Buddhist Arhat the realization of Âdibuddha, the primeval Wisdom. Let the former pick out and study from these Papers only those explanations of the phenomena of life which profane Science is unable to give them. Even with such limitations, they will find by the end of a year or two that they will have learned more than all their Universities and Colleges can teach them. As to the sincere believers, they will be rewarded by seeing their faith transformed into knowledge. True knowledge is of Spirit and in Spirit alone, and cannot be acquired in any other way except through the region of the higher mind, the only plane from which we can penetrate the depths of the all-pervading Absoluteness. He who carries out only those laws established by human minds, who lives that life which is prescribed by the code of mortals and their fallible legislation, chooses as his guiding star a beacon which shines on the ocean of Mâyâ, or of temporary delusions, and lasts for but one incarnation. These laws are necessary for the life and welfare of physical man alone. He has chosen a pilot who directs him through the shoals of one existence, a master who parts with him, however, on the threshold of death. How much happier that man who, while strictly performing on the temporary objective plane the duties of daily life, carrying out each and every law of his country, and rendering, in short, to Cæsar what is Cæsar’s, leads in reality a spiritual and permanent existence, a life with no breaks of continuity, no gaps, no interludes, not even during those periods which are the halting-places of the long pilgrimage of purely spiritual life. All the phenomena of the lower human mind disappear like the curtain of a proscenium, allowing him to live in the region beyond it, the plane of the noumenal, the one reality. If man by suppressing, if not destroying, his selfishness and personality, only succeeds in knowing himself as he is behind the veil of physical Mâyâ, he will soon stand beyond all pain, all misery, and beyond all the wear and tear of change, which is the chief originator of pain. Such a man will be physically of Matter, he will move surrounded by Matter, and yet he will live beyond and outside it. His body will be subject to change, but he himself will be entirely without it, and will experience everlasting life even while in temporary bodies of short duration. All this may be achieved by the development of unselfish universal love of Humanity, and the suppression of personality, or selfishness, which is the cause of all sin, and consequently of all human sorrow.

Để kết thúc Bài thứ nhất này, cho phép tôi nói rằng độc giả tất yếu phải được chia thành hai nhóm lớn: những người chưa hoàn toàn thoát khỏi các nghi ngờ hoài nghi thông thường, nhưng khao khát xác định xem có bao nhiêu chân lý trong các khẳng định của các nhà huyền bí học; và những người khác, sau khi đã giải phóng mình khỏi xiềng xích của Chủ nghĩa Duy vật và Tính tương đối, cảm thấy rằng chí phúc chân thật và thực sự chỉ phải được tìm trong tri thức và kinh nghiệm cá nhân về điều mà Triết gia Ấn Độ gọi là Brahmavidya, và vị La Hán Phật giáo gọi là sự chứng nghiệm Adibuddha, Minh triết nguyên thủy. Những người thuộc nhóm trước hãy chọn ra và nghiên cứu từ các Bài này chỉ những giải thích về các hiện tượng của đời sống mà Khoa học phàm tục không thể cung cấp cho họ. Ngay cả với những giới hạn như thế, đến cuối một hay hai năm họ sẽ thấy rằng họ đã học được nhiều hơn tất cả những gì các Đại học và Học viện của họ có thể dạy. Còn đối với những người tin tưởng chân thành, họ sẽ được tưởng thưởng bằng việc thấy đức tin của mình chuyển đổi thành tri thức. Tri thức chân thật thuộc về Tinh thần và chỉ ở trong Tinh thần, và không thể đạt được bằng cách nào khác ngoại trừ qua vùng của thượng trí, cõi duy nhất từ đó chúng ta có thể thâm nhập các chiều sâu của Tính Tuyệt đối thấm nhuần khắp cả. Kẻ chỉ thực thi những định luật do các thể trí con người thiết lập, kẻ sống đời sống do bộ luật của người phàm và pháp chế sai lầm của họ quy định, chọn làm ngôi sao dẫn đường cho mình một ngọn hải đăng chiếu sáng trên đại dương của Maya, hay của những ảo tưởng tạm thời, và chỉ kéo dài trong một lần nhập thể. Những định luật này chỉ cần thiết cho đời sống và phúc lợi của con người hồng trần. Y đã chọn một hoa tiêu dẫn y qua các bãi cạn của một kiếp tồn tại, một vị thầy tuy vậy sẽ rời y nơi ngưỡng cửa của cái chết. Hạnh phúc biết bao con người nào, trong khi nghiêm túc thực hiện trên cõi khách quan tạm thời các bổn phận của đời sống hằng ngày, thi hành từng và mọi luật lệ của xứ sở mình, và tóm lại, trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, thì trong thực tế sống một cuộc tồn tại tinh thần và thường hằng, một đời sống không đứt đoạn liên tục, không khoảng trống, không gián đoạn, thậm chí ngay cả trong những thời kỳ vốn là các trạm dừng của cuộc hành hương dài của đời sống thuần tinh thần. Tất cả các hiện tượng của hạ trí con người biến mất như màn sân khấu trước, cho phép y sống trong vùng ở bên kia nó, cõi của thực tại bản thể, thực tại duy nhất. Nếu con người, bằng cách kiềm chế, nếu chưa hủy diệt, tính ích kỷ và phàm ngã của mình, chỉ cần thành công trong việc biết chính mình như y là phía sau màn che của Maya hồng trần, y sẽ sớm đứng ngoài mọi đau đớn, mọi khổ não, và ngoài mọi hao mòn của biến đổi, vốn là nguyên nhân chính sinh ra đau khổ. Một người như thế về mặt hồng trần sẽ thuộc về Vật chất, y sẽ vận hành trong vòng bao quanh bởi Vật chất, nhưng y vẫn sống vượt ngoài và bên ngoài nó. Thể của y sẽ chịu sự biến đổi, nhưng chính y sẽ hoàn toàn không có sự biến đổi ấy, và sẽ kinh nghiệm đời sống vĩnh cửu ngay cả khi ở trong các thể tạm thời có thời hạn ngắn ngủi. Tất cả điều này có thể đạt được bằng sự phát triển tình thương phổ quát vô ngã đối với Nhân loại, và sự chế ngự phàm ngã, hay tính ích kỷ, vốn là nguyên nhân của mọi tội lỗi, và do đó của mọi nỗi buồn nhân loại.

Paper II. An Explanation. — Bài II. Một Sự Giải Thích.

In view of the abstruse nature of the subjects dealt with, the present Paper will begin with an explanation of some points which remained obscure in the preceding one, as well as of some statements in which there was an appearance of contradiction.

Xét đến bản chất sâu kín của các đề tài được bàn đến, Bài hiện tại sẽ bắt đầu bằng một sự giải thích về một số điểm còn mờ tối trong bài trước, cũng như về một số phát biểu có vẻ mâu thuẫn.

Astrologers, of whom there are many among the Esotericists, are likely to be puzzled by some statements distinctly contradicting their teachings; whilst those who know nothing of the subject may perhaps find themselves opposed at the outset by those who have studied the exoteric systems of the Kabalah and Astrology. For let it be distinctly known, nothing of that which is printed broadcast, and available to every student in public libraries or museums, is really Esoteric, but is either mixed with deliberate “blinds,” or cannot be understood and studied with profit without a complete glossary of Occult terms.

Các nhà Chiêm tinh, trong số đó có nhiều người thuộc hàng các nhà bí truyền học, có thể sẽ bối rối trước một số phát biểu rõ ràng mâu thuẫn với giáo huấn của họ; trong khi những người không biết gì về đề tài này có lẽ ngay từ đầu sẽ thấy mình bị những người đã nghiên cứu các hệ thống ngoại môn của Kabalah và Chiêm tinh học chống đối. Vì hãy để điều này được biết rõ: không có gì trong những điều được in ấn phổ biến rộng rãi, và sẵn có cho mọi đạo sinh trong các thư viện hay bảo tàng công cộng, là thật sự Nội môn; hoặc nó bị pha trộn với những “màn che” cố ý, hoặc không thể được thấu hiểu và nghiên cứu hữu ích nếu không có một bảng thuật ngữ Huyền bí đầy đủ.

The following teachings and explanations, therefore, may be useful to the student in assisting him to formulate the teaching given in the preceding Paper.

Do đó, các giáo huấn và giải thích sau đây có thể hữu ích cho đạo sinh trong việc giúp y hình thành giáo huấn đã được trình bày trong Bài trước.

In Diagram I. it will be observed that the 3, 7, and 10 centres are respectively as follows: (a) The 3 pertain to the spiritual world of the Absolute, and therefore to the three higher principles in Man.

Trong Biểu đồ I, cần lưu ý rằng các trung tâm 3, 7 và 10 lần lượt như sau: (a) 3 thuộc về thế giới tinh thần của Đấng Tuyệt Đối, và do đó thuộc về ba nguyên khí cao hơn trong Con Người.

(b) The 7 belong to the spiritual, psychic, and physical worlds and to the body of man. Physics, metaphysics and hyper-physics are the triad that symbolizes man on this plane.

(b) 7 thuộc về các thế giới tinh thần, thông linh và hồng trần, và thuộc về thể của con người. Vật lý, siêu hình học và siêu-vật lý là tam nguyên biểu tượng cho con người trên cõi này.

(c) The 10, or the sum total of these, is the Universe as a whole, in all its aspects, and also its Microcosm—Man, with his ten orifices.

(c) 10, hay tổng số của những điều này, là Vũ Trụ xét như một toàn thể, trong mọi phương diện của nó, và cũng là Tiểu thiên địa của nó, tức Con Người, với mười lỗ mở của y.

Laying aside, for the moment, the Higher Decad (Kosmos) and the Lower Decad (Man), the first three numbers of the separate sevens have a direct reference to the Spirit, Soul and Auric Envelope of the human being, as well as to the higher supersensual world. The lower four, or the four aspects, belong to Man also, as well as to the Universal Kosmos, the whole being synthesized by the Absolute.

Tạm gác sang một bên Thập phân Cao siêu, tức Kosmos, và Thập phân Thấp, tức Con Người, ba con số đầu của các bộ bảy riêng biệt có liên hệ trực tiếp với Tinh thần, Linh hồn và Bao Hào quang của con người, cũng như với thế giới siêu giác quan cao hơn. Bốn con số thấp, hay bốn phương diện, cũng thuộc về Con Người, cũng như thuộc về Kosmos Vũ Trụ, toàn bộ được tổng hợp bởi Đấng Tuyệt Đối.

If these three discrete or distributive degrees of Being be conceived, according to the Symbology of all the Eastern Religions, as contained in one Ovum, or Egg, the name of that Egg will be Svabhâvat, or the All-Being on the manifested plane. This Universe has, in truth, neither centre nor periphery; but in the individual and finite mind of man it has such a definition, the natural consequence of the limitations of human thought.

Nếu ba cấp độ rời rạc hay phân phối này của Bản Thể được quan niệm, theo Biểu tượng học của mọi Tôn giáo Đông phương, như được chứa trong một Noãn, hay Trứng, thì tên của Trứng ấy sẽ là Svabhavat, hay Toàn-Bản-Thể trên cõi biểu hiện. Vũ Trụ này, trong chân lý, không có trung tâm cũng không có chu vi; nhưng trong thể trí cá nhân và hữu hạn của con người nó có một định nghĩa như thế, là hệ quả tự nhiên của các giới hạn của tư tưởng con người.

In Diagram II., as already stated therein, no notice need be taken of the numbers used in the left-hand column, as these refer only to the Hierarchies of the Colours and Sounds on the metaphysical plane, and are not the characteristic numbers of the human principles or of the planets. The human principles elude enumeration, because each man differs from every other, just as no two blades of grass on the whole earth are absolutely alike. Numbering is here a question of spiritual progress and the natural predominance of one principle over another. With one man it may be Buddhi that stands as number one; with another, if he be a bestial sensualist, the Lower Manas. With one the physical body, or perhaps Prâna, the life principle, will be on the first and highest plane, as would be the case in an extremely healthy man, full of vitality; with another it may come as the sixth or even seventh downward. Again, the colours and metals corresponding to the planets and human principles, as will be observed, are not those known exoterically to modern Astrologers and Western Occultists.

Trong Sơ đồ II., như đã được nêu ở đó, không cần chú ý đến các con số dùng trong cột bên trái, vì chúng chỉ liên quan đến các Huyền Giai của Màu sắc và Âm thanh trên cõi siêu hình, chứ không phải là những con số đặc trưng của các nguyên khí con người hay của các hành tinh. Các nguyên khí con người không thể liệt kê bằng số, vì mỗi người khác với mọi người khác, cũng như trên toàn Trái Đất không có hai ngọn cỏ nào hoàn toàn giống nhau. Ở đây, việc đánh số là vấn đề tiến bộ tinh thần và sự vượt trội tự nhiên của một nguyên khí này so với một nguyên khí khác. Với người này, có thể Bồ đề đứng ở vị trí số một; với người khác, nếu y là kẻ duy cảm thú tính, thì đó là Hạ trí. Với người này, thể xác, hoặc có lẽ prana, nguyên khí sự sống, sẽ ở trên cõi thứ nhất và cao nhất, như trường hợp một người cực kỳ khỏe mạnh, đầy sinh lực; với người khác, nó có thể xuống đến vị trí thứ sáu hoặc thậm chí thứ bảy. Lại nữa, như sẽ thấy, các màu sắc và kim loại tương ứng với các hành tinh và các nguyên khí con người không phải là những màu sắc và kim loại được các nhà Chiêm tinh hiện đại và các nhà Huyền bí học Tây phương biết đến theo ngoại môn.

Let us see whence the modern Astrologer got his notions about the correspondence of planets, metals and colours. And here we are reminded of the modern Orientalist, who, judging by appearances credits the ancient Akkadians (and also the Chaldæans, Hindus and Egyptians) with the crude notion that the Universe, and in like manner the earth, was like an inverted, bell-shaped bowl! This he demonstrates by pointing to the symbolical representations of some Akkadian inscriptions and to the Assyrian carvings. It is, however, no place here to explain how mistaken is the Assyriologist, for all such representations are simply symbolical of the Khargakkurra, the World-Mountain, or Meru, and relate only to the North Pole, the Land of the Gods. Now, the Assyrians arranged their exoteric teaching about the planets and their correspondences as follows: Diagram II.

Chúng ta hãy xem nhà Chiêm tinh hiện đại lấy các quan niệm của mình về sự tương ứng giữa các hành tinh, kim loại và màu sắc từ đâu. Và ở đây chúng ta nhớ đến nhà Đông phương học hiện đại, người, xét theo vẻ ngoài, gán cho người Akkad cổ đại và cả người Chaldea, người Hindu và người Ai Cập quan niệm thô sơ rằng Vũ trụ, và tương tự như vậy là Trái Đất, giống như một cái bát úp hình chuông! Y chứng minh điều này bằng cách chỉ vào các biểu tượng trong một số văn khắc Akkad và các phù điêu Assyria. Tuy nhiên, đây không phải là chỗ để giải thích nhà Assyria học đã sai lầm đến mức nào, vì tất cả những biểu tượng như thế chỉ đơn giản là biểu tượng của Khargakkurra, Núi Thế Giới, hay Meru, và chỉ liên quan đến Bắc Cực, Vùng Đất của các Thần. Bấy giờ, người Assyria sắp xếp giáo huấn ngoại môn của họ về các hành tinh và những tương ứng của chúng như sau: Sơ đồ II.

Numbers.

Planets.

Metals.

Colours.

Solar Days of Week.

1.

Saturn.

Lead.

Black.

Saturday. (Whence Sabbath, 781 in honour of Jehovah.)

2.

Jupiter.

Tin.

White, but as often Purple or Orange.

Thursday.

3.

Mars.

Iron.

Red.

Tuesday.

4.

Sun.

Gold.

Yellow-golden.

Sunday.

5.

Venus.

Copper.

Green or Yellow.

Friday.

6.

Mercury.

Quicksilver.

Blue.

Wednesday.

7.

Moon.

Silver.

Silver-white.

Monday.

This is the arrangement now adopted by Christian Astrologers, with the exception of the order of the days of the week, of which, by associating the solar planetary names with the lunar weeks, they have made a sore mess, as has been already shown in Paper I. This is the Ptolemaic geocentric system, which represents the Universe as in the following diagram, showing our Earth in the centre of the Universe, and the Sun a Planet, the fourth in number.

Đây là cách sắp xếp hiện nay được các nhà Chiêm tinh Kitô giáo chấp nhận, ngoại trừ thứ tự các ngày trong tuần; bằng cách gắn các tên hành tinh thuộc mặt trời với các tuần thuộc mặt trăng, họ đã tạo ra một mớ lộn xộn nghiêm trọng, như đã được trình bày trong Tiểu luận I. Đây là hệ thống địa tâm của Ptolemy, biểu thị Vũ trụ như trong sơ đồ sau, cho thấy Trái Đất của chúng ta ở trung tâm Vũ trụ, và Mặt Trời là một Hành tinh, đứng thứ tư về số.

And if the Christian chronology and order of the days of the week are being daily denounced as being based on an entirely wrong astronomical foundation, it is high time to begin a reform also in Astrology built on such lines, and coming to us entirely from the Chaldæan and Assyrian exoteric mob.

Và nếu niên đại Kitô giáo cùng thứ tự các ngày trong tuần hằng ngày đang bị lên án là đặt trên một nền tảng thiên văn học hoàn toàn sai lầm, thì đã đến lúc phải bắt đầu cải cách cả Chiêm tinh học được xây dựng theo những đường lối như thế, và truyền đến chúng ta hoàn toàn từ đám đông ngoại môn Chaldea và Assyria.

But the correspondences given in these Papers are purely Esoteric. For this reason it follows that when the Planets of the Solar System are named or symbolized (as in Diagram II.) it must not be supposed that the planetary bodies themselves are referred to, except as types on a purely physical plane of the septenary nature of the psychic and spiritual worlds. A material planet can correspond only to a material something. Thus when Mercury is said to correspond to the right eye, it does not mean that the objective planet has any influence on the right optic organ, but that both stand rather as corresponding mystically through Buddhi. Man derives his Spiritual Soul (Buddhi) from the essence of the Mânasa Putra, the Sons of Wisdom, who are the Divine Beings (or Angels) ruling and presiding over the planet Mercury.

Nhưng các tương ứng được nêu trong những Tiểu luận này hoàn toàn là Nội môn. Vì lý do đó, khi các Hành tinh của hệ mặt trời được gọi tên hoặc được biểu tượng hóa như trong Sơ đồ II., không nên cho rằng chính các thiên thể hành tinh được nói đến, ngoại trừ như những kiểu mẫu trên một cõi hoàn toàn hồng trần của bản chất thất phân của các thế giới thông linh và tinh thần. Một hành tinh vật chất chỉ có thể tương ứng với một cái gì đó vật chất. Vì vậy, khi nói rằng Sao Thủy tương ứng với mắt phải, điều đó không có nghĩa là hành tinh khách quan ấy có bất kỳ ảnh hưởng nào lên cơ quan thị giác bên phải, mà đúng hơn cả hai đứng trong sự tương ứng huyền bí thông qua Bồ đề. Con người rút lấy Linh hồn Tinh thần của mình, tức Bồ đề, từ tinh chất của các Manasa Putra, các Con của Minh Triết, là những Đấng thiêng liêng hay các Thiên thần cai quản và chủ trì hành tinh Sao Thủy.

In the same way Venus, Manas and the left eye are set down as correspondences. Exoterically, there is, in reality, no such association of physical eyes and physical planets; but Esoterically there is; for the right eye is the “Eye of Wisdom,” i.e., it corresponds magnetically with that Occult centre in the brain which we call the “Third Eye”; 782 while the left corresponds with the intellectual brain, or those cells which are the organ on the physical plane of the thinking faculty. The kabalistic triangle of Kether, Chokmah and Binah shows this. Chokmah and Binah, or Wisdom and Intelligence, the Father and Mother, or, again, the Father and Son, are on the same plane and reäct mutually on one another.

Cũng theo cách ấy, Sao Kim, Manas và mắt trái được ghi nhận như những tương ứng. Theo ngoại môn, trong thực tế, không có sự liên kết nào như vậy giữa đôi mắt hồng trần và các hành tinh hồng trần; nhưng theo Nội môn thì có; vì mắt phải là “Mắt của Minh Triết”, nghĩa là nó tương ứng về mặt từ tính với trung tâm Huyền bí trong bộ não mà chúng ta gọi là “Con Mắt Thứ Ba”; còn mắt trái tương ứng với bộ não trí tuệ, hay những tế bào là cơ quan trên cõi hồng trần của năng lực tư tưởng. Tam giác kabalistic gồm Kether, Chokmah và Binah cho thấy điều này. Chokmah và Binah, hay Minh Triết và Trí Tuệ, Cha và Mẹ, hoặc lại nữa, Cha và Con, ở trên cùng một cõi và tác động qua lại lẫn nhau.

When the individual consciousness is turned inward, a conjunction of Manas and Buddhi takes place. In the spiritually regenerated man this conjunction is permanent, the Higher Manas clinging to Buddhi beyond the threshold of Devachan, and the Soul, or rather the Spirit, which should not be confounded with Âtmâ, the Super-Spirit, is then said to have the “Single Eye.” Esoterically, in other words, the “Third Eye” is active. Now Mercury is called Hermes, and Venus, Aphrodite, and thus their conjunction in man on the psycho-physical plane gives him the name of the Hermaphrodite, or Androgyne. The absolutely Spiritual Man is, however, entirely disconnected from sex. The Spiritual Man corresponds directly with the higher “coloured circles,” the Divine Prism which emanates from the One Infinite White Circle; while physical man emanates from the Sephiroth, which are the Voices or Sounds of Eastern Philosophy. And these “Voices” are lower than the “Colours,” for they are the seven lower Sephiroth, or the objective Sounds, seen, not heard, as the Zohar shows, 783 and even the Old Testament also. For, when properly translated, verse 18 of chapter xx. Exodus would read: “And the people saw the Voices” (or Sounds, not the “thunderings” as now translated); and these Voices, or Sounds, are the Sephiroth. 784

Khi tâm thức cá nhân quay vào bên trong, một sự đồng vị của Manas và Bồ đề diễn ra. Trong con người được tái sinh về tinh thần, sự đồng vị này là thường tồn, Thượng trí bám chặt vào Bồ đề vượt qua ngưỡng Devachan, và khi ấy Linh hồn, hay đúng hơn là Tinh thần, vốn không nên bị lẫn lộn với Atma, Siêu Tinh thần, được nói là có “Con Mắt Duy Nhất”. Nói cách khác, theo nội môn, “Con Mắt Thứ Ba” đang hoạt động. Bấy giờ Sao Thủy được gọi là Hermes, và Sao Kim là Aphrodite, và như vậy sự đồng vị của chúng trong con người trên cõi thông linh-hồng trần đem lại cho y danh xưng Lưỡng tính, hay Androgyne. Tuy nhiên, Con Người Tinh thần tuyệt đối thì hoàn toàn tách khỏi tính dục. Con Người Tinh thần tương ứng trực tiếp với các “vòng tròn có màu” cao hơn, Lăng kính Thiêng liêng xuất lộ từ Vòng Tròn Trắng Vô Biên Duy Nhất; trong khi con người hồng trần xuất lộ từ các Sephiroth, vốn là các Tiếng Nói hay Âm thanh của Triết học Đông phương. Và các “Tiếng Nói” này thấp hơn các “Màu sắc”, vì chúng là bảy Sephiroth thấp, hay các Âm thanh khách quan, được thấy chứ không được nghe, như Zohar cho thấy, và cả Cựu Ước cũng vậy. Vì khi được dịch đúng, câu 18 chương xx. sách Xuất Hành sẽ đọc là: “Và dân chúng đã thấy các Tiếng Nói” hay các Âm thanh, chứ không phải “tiếng sấm” như hiện nay được dịch; và các Tiếng Nói, hay Âm thanh này, là các Sephiroth.

In the same way the right and left nostrils, into which is breathed the “Breath of Lives” 785 are here said to correspond with Sun and Moon, as Brahmâ-Prajâpati and Vâch, or Osiris and Isis, are the parents of the natural life. This Quaternary, viz.: the two eyes and two nostrils, Mercury and Venus, Sun and Moon, constitutes the Kabalistic Guardian-Angels of the Four Corners of the Earth. It is the same in the Eastern Esoteric Philosophy, which, however, adds that the Sun is not a planet, but the central star of our system, and the Moon a dead planet, from which all the principles are gone, both being substitutes, the one for an invisible inter-Mercurial planet, and the other for a planet which seems to have now altogether disappeared from view. These are the Four Mahârâjahs, 786 the “Four Holy Ones” connected with Karma and Humanity, Kosmos and Man, in all their aspects. They are: the Sun, or its substitute Michael; Moon, or substitute Gabriel; Mercury, Raphael; and Venus, Uriel. It need hardly be said here again that the planetary bodies themselves, being only physical symbols, are not often referred to in the Esoteric System, but, as a rule, their cosmic, psychic, physical and spiritual forces are symbolized under these names. In short, it is the seven physical planets which are the lower Sephiroth of the Kabalah, and our triple physical Sun whose reflection only we see, which is symbolized, or rather personified, by the Upper Triad, or Sephirothal Crown. 787

Cũng theo cách ấy, hai lỗ mũi phải và trái, nơi “Hơi Thở của các Sự Sống” được thở vào, ở đây được nói là tương ứng với Mặt Trời và Mặt Trăng, vì Brahma-Prajapati và Vach, hay Osiris và Isis, là cha mẹ của sự sống tự nhiên. Bộ Tứ này, tức hai mắt và hai lỗ mũi, Sao Thủy và Sao Kim, Mặt Trời và Mặt Trăng, cấu thành các Thiên thần Hộ vệ kabalistic của Bốn Góc Trái Đất. Điều này cũng giống trong Triết học Nội môn Đông phương, tuy nhiên triết học ấy thêm rằng Mặt Trời không phải là một hành tinh, mà là ngôi sao trung tâm của hệ chúng ta, và Mặt Trăng là một hành tinh đã chết, từ đó mọi nguyên khí đã ra đi; cả hai đều là những vật thay thế, một cho một hành tinh vô hình nằm giữa Sao Thủy, và một cho một hành tinh dường như nay đã hoàn toàn biến mất khỏi tầm nhìn. Đây là Bốn Maharaja, “Bốn Đấng Thánh” liên hệ với Nghiệp quả và Nhân loại, Đại vũ trụ và Con người, trong mọi phương diện của các Ngài. Các Ngài là: Mặt Trời, hay vị thay thế của nó là Michael; Mặt Trăng, hay vị thay thế Gabriel; Sao Thủy, Raphael; và Sao Kim, Uriel. Hầu như không cần phải nói lại ở đây rằng chính các thiên thể hành tinh, chỉ là những biểu tượng hồng trần, thường không được nói đến trong Hệ thống Nội môn, mà theo quy luật, các mãnh lực vũ trụ, thông linh, hồng trần và tinh thần của chúng được biểu tượng hóa dưới các danh xưng này. Tóm lại, chính bảy hành tinh hồng trần là các Sephiroth thấp của Kabalah, và Mặt Trời hồng trần tam phân của chúng ta, mà chúng ta chỉ thấy sự phản chiếu của nó, được biểu tượng hóa, hay đúng hơn được nhân cách hóa, bởi Tam nguyên Thượng, hay Vương miện Sephiroth.

Then, again, it will be well to point out that the numbers attached to the psychic principles in Diagram I. appear the reverse of those in exoteric writings. This is because numbers in this connection are purely arbitrary, changing with every school. Some schools count three, some four, some six, and others seven, as do all the Buddhist Esotericists. As said before, 788 the Esoteric School has been divided into two departments since the fourteenth century, one for the inner Lanoos, or higher Chelâs, the other for the outer circle, or lay Chelâs. Mr. Sinnett was distinctly told in the letters he received from one of the Gurus that he could not be taught the real Esoteric Doctrine given out only to the pledged disciples of the Inner Circle. The numbers and principles do not go in regular sequence, like the skins of an onion, but the student must work out for himself the number appropriate to each of his principles, when the time comes for him to enter upon practical study. The above will suggest to the student the necessity of knowing the principles by their names and their appropriate faculties apart from any system of enumeration, or by association with their corresponding centres of actions, colours, sounds, etc., until these become inseparable.

Lại nữa, cũng nên chỉ ra rằng các con số gắn với các nguyên khí thông linh trong Sơ đồ I. dường như ngược với những con số trong các tác phẩm ngoại môn. Điều này là vì các con số trong mối liên hệ này hoàn toàn tùy ý, thay đổi theo từng trường phái. Một số trường phái đếm ba, một số bốn, một số sáu, và những trường phái khác bảy, như tất cả các nhà Nội môn Phật giáo. Như đã nói trước đây, Trường Nội môn đã được chia thành hai phân bộ từ thế kỷ mười bốn, một dành cho các Lanoo nội môn, hay các đệ tử cao cấp, và phân bộ kia dành cho vòng ngoài, hay các đệ tử tại gia. Ông Sinnett đã được nói rõ trong các thư ông nhận từ một trong các Guru rằng ông không thể được dạy Giáo lý Nội môn đích thực, vốn chỉ được truyền cho các đệ tử đã phát nguyện của Vòng Trong. Các con số và nguyên khí không đi theo một chuỗi đều đặn, như các lớp vỏ của củ hành, mà đạo sinh phải tự mình tìm ra con số thích hợp với từng nguyên khí của mình, khi đến lúc y bước vào sự học tập thực hành. Điều trên sẽ gợi cho đạo sinh thấy sự cần thiết phải biết các nguyên khí qua tên gọi và các năng lực thích hợp của chúng, tách khỏi bất kỳ hệ thống liệt kê nào, hoặc qua sự liên kết với các trung tâm hoạt động, màu sắc, âm thanh tương ứng của chúng, v.v., cho đến khi những điều này trở nên không thể tách rời.

The old and familiar mode of reckoning the principles, given in the Theosophist and Esoteric Buddhism, leads to another apparently perplexing contradiction, though it is really none at all. The principles numbered 3 and 2, viz.: Linga Sharîra and Prâna, or Jîva, stand in the reverse order to that given in Diagram I. A moment’s consideration will suffice to explain the apparent discrepancy between the exoteric enumeration, and the Esoteric order given in Diagram I. For in Diagram I. the Linga Sharîra is defined as the vehicle of Prâna, or Jîva, the life principle, and as such must of necessity be inferior to Prâna, not superior as the exoteric enumeration would suggest. The principles do not stand one above the other, and thus cannot be taken in numerical sequence; their order depends upon the superiority and predominance of one or another principle, and therefore differs in every man.

Phương thức quen thuộc và cũ để tính các nguyên khí, được nêu trong Theosophist và Esoteric Buddhism, dẫn đến một mâu thuẫn có vẻ rối rắm khác, dù thật ra hoàn toàn không phải vậy. Các nguyên khí mang số 3 và 2, tức Linga Sharira và Prana, hay Jiva, đứng theo thứ tự ngược lại với thứ tự được nêu trong Sơ đồ I. Chỉ cần suy xét trong chốc lát cũng đủ giải thích sự sai khác bề ngoài giữa cách liệt kê ngoại môn và trật tự Nội môn được nêu trong Sơ đồ I. Vì trong Sơ đồ I., Linga Sharira được định nghĩa là vận cụ của Prana, hay Jiva, nguyên khí sự sống, và với tư cách đó, nó tất yếu phải thấp hơn Prana, chứ không cao hơn như cách liệt kê ngoại môn có thể gợi ra. Các nguyên khí không đứng chồng lên nhau, và vì thế không thể được hiểu theo chuỗi số; trật tự của chúng tùy thuộc vào tính ưu việt và sự vượt trội của nguyên khí này hay nguyên khí khác, và do đó khác nhau nơi mỗi người.

The Linga Sharîra is the double, or protoplasmic antetype of the body, which is its image. It is in this sense that it is called in Diagram II. the parent of the physical body, i.e., the mother by conception of Prâna, the father. This idea is conveyed in the Egyptian mythology by the birth of Horus, the child of Osiris and Isis, although, like all sacred Mythoi, this has both a threefold spiritual, and a sevenfold psycho-physical application. To close the subject, Prâna, the life principle, can, in sober truth, have no number, as it pervades every other principle, or the human total. Each number of the seven would thus be naturally applicable to Prâna-Jîva exoterically as it is to the Auric Body Esoterically. As Pythagoras showed, Kosmos was produced not through or by number, but geometrically, i.e., following the proportions of numbers.

Linga Sharira là bản sao, hay nguyên mẫu nguyên sinh chất của thể xác, vốn là hình ảnh của nó. Chính theo nghĩa này mà trong Sơ đồ II. nó được gọi là cha mẹ của thể xác, tức người mẹ do sự thụ thai của Prana, người cha. Ý tưởng này được truyền đạt trong thần thoại Ai Cập qua sự ra đời của Horus, con của Osiris và Isis, mặc dù, như mọi Thần thoại thiêng liêng, điều này có cả một ứng dụng tinh thần tam phân lẫn một ứng dụng thông linh-hồng trần thất phân. Để khép lại đề tài, Prana, nguyên khí sự sống, trong sự thật nghiêm túc, không thể có con số nào, vì nó thấm nhuần mọi nguyên khí khác, hay toàn thể con người. Như vậy, mỗi con số trong bảy con số đều tự nhiên có thể áp dụng cho Prana-Jiva theo ngoại môn, cũng như cho Thể Hào quang theo Nội môn. Như Pythagoras đã chỉ ra, Đại vũ trụ được tạo ra không phải thông qua hay bởi con số, mà theo hình học, nghĩa là theo các tỷ lệ của các con số.

To those who are unacquainted with the exoteric astrological natures ascribed in practice to the planetary bodies, it may be useful if we set them down here after the manner of Diagram II., in relation to their dominion over the human body, colours, metals, etc., and explain at the same time why genuine Esoteric Philosophy differs from the astrological claims.

Đối với những ai không quen thuộc với các bản chất chiêm tinh ngoại môn được gán trong thực hành cho các thiên thể hành tinh, có thể hữu ích nếu chúng ta ghi chúng ra đây theo cách của Sơ đồ II., trong mối liên hệ với quyền cai trị của chúng trên cơ thể con người, màu sắc, kim loại, v.v., đồng thời giải thích vì sao Triết học Nội môn chân chính khác với các tuyên bố chiêm tinh.

Planets.

Days.

Metals.

Parts of the Body.

Colours.

Saturn.

Saturday.

Lead.

Right Ear, Knees and Bony System.

Black. 789

Jupiter.

Thursday.

Tin.

Left Ear, Thighs, Feet and Arterial System.

Purple. 790

Mars.

Tuesday.

Iron.

Forehead and Nose, the Skull, Sex-function and Muscular System.

Red.

Sun.

Sunday.

Gold.

Right Eye, Heart and Vital Centres.

Orange. 791

Venus.

Friday.

Copper.

Chin and Cheeks, Neck and Reins and the Venous System.

Yellow. 792

Mercury.

Wednesday.

Quicksilver.

Mouth, Hands, Abdominal Viscera and Nervous System.

Dove or Cream. 793

Moon.

Monday.

Silver.

Breasts, Left Eye, the Fluidic System, Saliva, Lymph, etc.

White. 794

Thus it will be seen that the influence of the solar system in the exoteric kabalistic Astrology is by this method distributed over the entire human body, the primary metals, and the gradations of colour from black to white; but that Esotericism recognizes neither black nor white as colours, because it holds religiously to the seven solar or natural colours of the prism. Black and white are artificial tints. They belong to the Earth, and are only perceived by virtue of the special construction of our physical organs. White is the absence of all colours, and therefore no colour; black is simply the absence of light, and therefore the negative aspect of white. The seven prismatic colours are direct emanations from the Seven Hierarchies of Being, each of which has a direct bearing upon and relation to one of the human principles, since each of these Hierarchies is, in fact, the creator and source of the corresponding human principle. Each prismatic colour is called in Occultism the “Father of the Sound” which corresponds to it; Sound being the Word, or the Logos, of its Father-Thought. This is the reason why sensitives connect every colour with a definite sound, a fact well recognized in Modern Science (e.g., Francis Galton’s Human Faculty). But black and white are entirely negative colours, and have no representatives in the world of subjective being.

Như vậy sẽ thấy rằng ảnh hưởng của hệ mặt trời trong Chiêm tinh kabalistic ngoại môn, bằng phương pháp này, được phân bố trên toàn bộ cơ thể con người, các kim loại nguyên thủy, và các cấp độ màu sắc từ đen đến trắng; nhưng Huyền bí học không thừa nhận đen hay trắng là màu sắc, vì nó nghiêm cẩn giữ lấy bảy màu mặt trời hay màu tự nhiên của lăng kính. Đen và trắng là những sắc thái nhân tạo. Chúng thuộc về Trái Đất, và chỉ được nhận thức nhờ cấu tạo đặc biệt của các cơ quan hồng trần của chúng ta. Trắng là sự vắng mặt của mọi màu sắc, và vì thế không phải là màu; đen chỉ đơn giản là sự vắng mặt của ánh sáng, và do đó là phương diện phủ định của trắng. Bảy màu lăng kính là những xuất lộ trực tiếp từ Bảy Huyền Giai của Bản Thể, mỗi Huyền Giai có một liên hệ và quan hệ trực tiếp với một trong các nguyên khí con người, vì mỗi Huyền Giai này, thật ra, là đấng sáng tạo và cội nguồn của nguyên khí con người tương ứng. Mỗi màu lăng kính được gọi trong Huyền bí học là “Cha của Âm thanh” tương ứng với nó; Âm thanh là Linh từ, hay Thượng đế, của Tư tưởng-Cha của nó. Đây là lý do vì sao những người nhạy cảm liên kết mỗi màu sắc với một âm thanh xác định, một sự kiện được Khoa học Hiện đại thừa nhận rõ ràng, chẳng hạn trong Human Faculty của Francis Galton. Nhưng đen và trắng hoàn toàn là những màu phủ định, và không có đại diện nào trong thế giới của hiện tồn chủ quan.

Kabalistic Astrology says that the dominion of the planetary bodies in the human brain also is defined thus: there are seven primary groups of faculties, six of which function through the cerebrum, and the seventh through the cerebellum. This is perfectly correct Esoterically. But when it is further said that: Saturn governs the devotional faculties; Mercury, the intellectual; Jupiter, the sympathetic; the Sun, the governing faculties; Mars, the selfish; Venus, the tenacious; and the Moon, the instincts;—we say that the explanation is incomplete and even misleading. For, in the first place, the physical planets can rule only the physical body and the purely physical functions. All the mental, emotional, psychic and spiritual faculties, are influenced by the Occult properties of the scale of causes which emanate from the Hierarchies of the Spiritual Rulers of the planets, and not by the planets themselves. This scale, as given in Diagram II., leads the student to perceive in the following order: (1) colour; (2) sound; (3) the sound materializes into the spirit of the metals, i.e., the metallic Elementals; (4) these materialize again into the physical metals; (5) then the harmonial and vibratory radiant essence passes into the plants, giving them colour and smell, both of which “properties” depend upon the rate of vibration of this energy per unit of time; (6) from plants it passes into the animals; (7) and finally culminates in the “principles” of man.

Chiêm tinh kabalistic nói rằng quyền cai trị của các thiên thể hành tinh trong bộ não con người cũng được định rõ như sau: có bảy nhóm năng lực nguyên thủy, sáu nhóm hoạt động qua đại não, và nhóm thứ bảy qua tiểu não. Điều này hoàn toàn đúng theo Nội môn. Nhưng khi người ta nói thêm rằng: Thổ Tinh cai quản các năng lực sùng tín; Sao Thủy, các năng lực trí tuệ; Sao Mộc, các năng lực cảm thông; Mặt Trời, các năng lực cai quản; Sao Hỏa, các năng lực ích kỷ; Sao Kim, các năng lực bám giữ; và Mặt Trăng, các bản năng;—chúng tôi nói rằng sự giải thích ấy không đầy đủ và thậm chí gây lầm lạc. Vì trước hết, các hành tinh hồng trần chỉ có thể cai quản thể xác và các chức năng thuần túy hồng trần. Tất cả các năng lực trí tuệ, cảm xúc, thông linh và tinh thần đều chịu ảnh hưởng của những thuộc tính Huyền bí thuộc thang nguyên nhân xuất lộ từ các Huyền Giai của các Đấng Cai quản Tinh thần của các hành tinh, chứ không phải bởi chính các hành tinh. Thang này, như được nêu trong Sơ đồ II., dẫn đạo sinh nhận thức theo thứ tự sau: (1) màu sắc; (2) âm thanh; (3) âm thanh hiện hình thành tinh thần của các kim loại, nghĩa là các Hành khí kim loại; (4) những điều này lại hiện hình thành các kim loại hồng trần; (5) rồi tinh chất hài hòa và bức xạ rung động đi vào các loài cây, đem lại cho chúng màu sắc và mùi hương, cả hai “thuộc tính” này đều tùy thuộc vào tốc độ rung động của năng lượng ấy trong mỗi đơn vị thời gian; (6) từ cây cối nó đi vào các loài thú; (7) và cuối cùng đạt đến đỉnh điểm trong các “nguyên khí” của con người.

Thus we see the Divine Essence of our Progenitors in Heaven circling through seven stages; Spirit becoming Matter, and Matter returning to Spirit. As there is sound in Nature which is inaudible, so there is colour which is invisible, but which can be heard. The creative force, at work in its incessant task of transformation, produces colour, sound and numbers, in the shape of rates of vibration which compound and dissociate the atoms and molecules. Though invisible and inaudible to us in detail, yet the synthesis of the whole becomes audible to us on the material plane. It is that which the Chinese call the “Great Tone,” or Kung. It is, even by scientific confession, the actual tonic of Nature, held by musicians to be the middle Fa on the keyboard of a piano. We hear it distinctly in the voice of Nature, in the roaring of the ocean, in the sound of the foliage of a great forest, in the distant roar of a great city, in the wind, the tempest and the storm; in short, in everything in Nature which has a voice or produces sound. To the hearing of all who hearken, it culminates in a single definite tone, of an unappreciable pitch, which, as said, is the F, or Fa, of the diatonic scale. From these particulars, that wherein lies the difference between the exoteric and the Esoteric nomenclature and symbolism will be evident to the student of Occultism. In short, kabalistic Astrology, as practised in Europe, is the semi-esoteric Secret Science, adapted for the outer and not for the inner circle. It is, furthermore, often left incomplete and not infrequently distorted to conceal the real truth. While it symbolizes and adapts its correspondences on the mere appearances of things, Esoteric Philosophy, which concerns itself pre-eminently with the essence of things, accepts only such symbols as cover the whole ground, i.e., such symbols as yield a spiritual as well as a psychic and physical meaning. Yet even Western Astrology has done excellent work, for it has helped to carry the knowledge of the existence of a Secret Wisdom throughout the dangers of the Mediæval Ages and their dark bigotry up to the present day, when all danger has disappeared.

Như vậy, chúng ta thấy Tinh chất Thiêng liêng của các Tổ phụ chúng ta trên Trời xoay vòng qua bảy giai đoạn; Tinh thần trở thành Vật chất, và Vật chất trở về với Tinh thần. Cũng như trong Thiên nhiên có âm thanh không nghe được, thì cũng có màu sắc vô hình, nhưng có thể được nghe. Mãnh lực sáng tạo, đang hoạt động trong nhiệm vụ chuyển đổi không ngừng của nó, tạo ra màu sắc, âm thanh và các con số, dưới hình thức các tốc độ rung động kết hợp và phân ly các nguyên tử và phân tử. Dù vô hình và không nghe được đối với chúng ta trong từng chi tiết, nhưng sự tổng hợp của toàn thể trở nên nghe được đối với chúng ta trên cõi vật chất. Đó là điều người Trung Hoa gọi là “Âm Điệu Vĩ Đại”, hay Kung. Ngay cả theo sự thừa nhận khoa học, đó là âm chủ thực sự của Thiên nhiên, được các nhạc sĩ xem là nốt Fa giữa trên bàn phím dương cầm. Chúng ta nghe nó rõ ràng trong tiếng nói của Thiên nhiên, trong tiếng gầm của đại dương, trong âm thanh của tán lá một khu rừng lớn, trong tiếng ầm xa của một thành phố lớn, trong gió, bão tố và giông tố; tóm lại, trong mọi sự trong Thiên nhiên có tiếng nói hoặc tạo ra âm thanh. Đối với thính giác của tất cả những ai lắng nghe, nó đạt đến đỉnh điểm trong một âm điệu đơn nhất xác định, có cao độ không thể thẩm định, như đã nói, là F, hay Fa, của thang âm diatonic. Từ những chi tiết này, điều trong đó có sự khác biệt giữa danh pháp và biểu tượng ngoại môn với Nội môn sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh Huyền bí học. Tóm lại, Chiêm tinh kabalistic, như được thực hành ở châu Âu, là Khoa học Bí nhiệm bán nội môn, được thích nghi cho vòng ngoài chứ không cho vòng trong. Hơn nữa, nó thường bị để thiếu sót và không hiếm khi bị bóp méo để che giấu chân lý đích thực. Trong khi nó biểu tượng hóa và thích nghi các tương ứng của mình theo vẻ ngoài thuần túy của sự vật, thì Triết học Nội môn, vốn quan tâm trước hết đến tinh chất của sự vật, chỉ chấp nhận những biểu tượng bao trùm toàn bộ lĩnh vực, nghĩa là những biểu tượng đem lại một ý nghĩa tinh thần cũng như thông linh và hồng trần. Tuy vậy, ngay cả Chiêm tinh học Tây phương cũng đã làm một công việc xuất sắc, vì nó đã giúp mang tri thức về sự hiện hữu của một Minh Triết Bí nhiệm qua những nguy hiểm của Thời Trung Cổ và sự cuồng tín đen tối của thời ấy cho đến ngày nay, khi mọi nguy hiểm đã biến mất.

The order of the planets in exoteric practice is that defined by their geocentric radii, or the distance of their several orbits from the Earth as a centre, viz., Saturn, Jupiter, Mars, Sun, Venus, Mercury and Moon. In the first three of these we find symbolized the celestial Triad of supreme power in the physical, manifested universe, or Brahmâ, Vishnu and Shiva; while in the last four we recognize the symbols of the terrestrial quaternary ruling over all natural and physical revolutions of the seasons, quarters of the day, points of the compass, and elements. Thus:

Trật tự các hành tinh trong thực hành ngoại môn là trật tự được định bởi các bán kính địa tâm của chúng, hay khoảng cách các quỹ đạo riêng của chúng tính từ Trái Đất như trung tâm, tức Thổ Tinh, Sao Mộc, Sao Hỏa, Mặt Trời, Sao Kim, Sao Thủy và Mặt Trăng. Trong ba hành tinh đầu, chúng ta thấy được biểu tượng hóa Tam nguyên thiên giới của quyền năng tối thượng trong vũ trụ hồng trần, biểu hiện, hay Brahma, Vishnu và Shiva; trong khi trong bốn hành tinh cuối, chúng ta nhận ra các biểu tượng của tứ phân địa giới cai quản mọi chu kỳ tự nhiên và hồng trần của các mùa, các phần trong ngày, các phương hướng, và các nguyên tố. Như vậy:

Spring. Summer. Autumn. Winter.

Xuân. Hạ. Thu. Đông.

Morning. Noon. Evening. Night.

Sáng. Trưa. Chiều. Đêm.

Youth. Adolescence. Manhood. Age.

Tuổi trẻ. Tuổi thanh niên. Tuổi trưởng thành. Tuổi già.

Fire. Air. Water. Earth.

Lửa. Khí. Nước. Đất.

East. South. West. North.

Đông. Nam. Tây. Bắc.

But Esoteric Science is not content with analogies on the purely objective plane of the physical senses, and therefore it is absolutely necessary to preface further teachings in this direction with a clear explanation of the real meaning of the word Magic.

Nhưng Khoa học Nội môn không thỏa mãn với các tương đồng trên cõi hoàn toàn khách quan của các giác quan hồng trần, và vì thế tuyệt đối cần phải mở đầu các giáo huấn tiếp theo theo hướng này bằng một sự giải thích rõ ràng về ý nghĩa đích thực của từ Huyền thuật.

What Magic Is, In Reality. — Huyền thuật Thực Sự Là Gì.

Esoteric Science is, above all, the knowledge of our relations with and in Divine Magic, 795 inseparableness from our divine Selves—the latter meaning something else besides our own higher Spirit. Thus, before proceeding to exemplify and explain these relations, it may perhaps be useful to give the student a correct idea of the full meaning of this most misunderstood word “Magic.” Many are those willing and eager to study Occultism, but very few have even an approximate idea of the Science itself. Now, very few of our American and European students can derive benefit from Sanskrit works or even their translations, as these translations are, for the most part, merely blinds to the uninitiated. I therefore propose to offer to their attention demonstrations of the aforesaid drawn from Neo-Platonic works. These are accessible in translation; and in order to throw light on that which has hitherto been full of darkness, it will suffice to point to a certain key in them. Thus the Gnosis, both pre-Christian and post-Christian, will serve our purpose admirably.

Trên hết, Khoa học Nội môn là tri thức về các mối liên hệ của chúng ta với và trong Huyền thuật Thiêng liêng, sự không thể tách rời khỏi các Bản Ngã thiêng liêng của chúng ta—điều sau này còn có nghĩa gì khác ngoài Tinh thần cao hơn của chính chúng ta. Vì vậy, trước khi tiếp tục nêu ví dụ và giải thích các mối liên hệ này, có lẽ sẽ hữu ích khi đem lại cho đạo sinh một ý niệm đúng về đầy đủ ý nghĩa của từ “Huyền thuật” vốn bị hiểu lầm nhiều nhất này. Có nhiều người sẵn lòng và háo hức nghiên cứu Huyền bí học, nhưng rất ít người có ngay cả một ý niệm xấp xỉ về chính Khoa học ấy. Hiện nay, rất ít đạo sinh Mỹ và châu Âu của chúng ta có thể rút được lợi ích từ các tác phẩm Sanskrit hay ngay cả các bản dịch của chúng, vì phần lớn các bản dịch này chỉ là những bức màn che đối với người chưa được điểm đạo. Vì vậy, tôi đề nghị đem đến cho sự chú ý của họ những minh chứng về điều đã nói trên được rút ra từ các tác phẩm Tân-Platon. Những tác phẩm này có thể tiếp cận trong bản dịch; và để soi sáng điều cho đến nay vẫn đầy bóng tối, chỉ cần chỉ ra một chìa khóa nào đó trong chúng. Như vậy, Gnosis, cả trước Kitô giáo lẫn sau Kitô giáo, sẽ phục vụ mục đích của chúng ta một cách tuyệt diệu.

There are millions of Christians who know the name of Simon Magus, and the little that is told about him in the Acts; but very few who have even heard of the many motley, fantastic and contradictory details which tradition records about his life. The story of his claims and his death is to be found only in the prejudiced, half-fantastic records about him in the works of the Church Fathers, such as Irenæus, Epiphanius and St. Justin, and especially in the anonymous Philosophumena. Yet he is a historical character, and the appellation of “Magus” was given to him and was accepted by all his contemporaries, including the heads of the Christian Church, as a qualification indicating the miraculous powers he possessed, and irrespective of whether he was regarded as a white (divine) or a black (infernal) Magician. In this respect, opinion has always been made subservient to the Gentile or Christian proclivities of his chronicler.

Có hàng triệu tín đồ Kitô giáo biết tên Simon Magus, và chút ít điều được kể về ông trong sách Công Vụ; nhưng rất ít người từng nghe đến nhiều chi tiết hỗn tạp, kỳ ảo và mâu thuẫn mà truyền thống ghi lại về đời ông. Câu chuyện về các tuyên bố của ông và cái chết của ông chỉ được tìm thấy trong các ghi chép thiên lệch, nửa kỳ ảo về ông trong các tác phẩm của các Giáo phụ, như Irenaeus, Epiphanius và Thánh Justin, và đặc biệt trong tác phẩm vô danh Philosophumena. Tuy vậy, ông là một nhân vật lịch sử, và danh xưng “Magus” được trao cho ông và được tất cả những người đương thời của ông chấp nhận, kể cả các vị đứng đầu Giáo hội Kitô giáo, như một phẩm định chỉ các quyền năng kỳ diệu mà ông sở hữu, bất kể ông được xem là một nhà huyền thuật chánh đạo thiêng liêng hay một nhà hắc thuật địa ngục. Về phương diện này, ý kiến luôn bị đặt phục tùng khuynh hướng Dân ngoại hay Kitô giáo của người ghi chép về ông.

It is in his system and in that of Menander, his pupil and successor, that we find what the term “Magic” meant for Initiates in those days.

Chính trong hệ thống của ông và trong hệ thống của Menander, học trò và người kế vị ông, chúng ta tìm thấy ý nghĩa của thuật ngữ “Huyền thuật” đối với các điểm đạo đồ thời ấy.

Simon, as all the other Gnostics, taught that our world was created by the lower angels, whom he called Æons. He mentions only three degrees of such, because it was and is useless, as we have before explained, to teach anything about the four higher ones, and he therefore begins at the plane of globes A and G. His system is as near to Occult Truth as any, so that we may examine it, as well as his own and Menander’s claims about “Magic,” to find out what they meant by the term. Now, for Simon, the summit of all manifested creation was Fire. It was, with him as with us, the Universal Principle, the Infinite Potency, born from the concealed Potentiality. This Fire was the primeval cause of the manifested world of being, and was dual, having a manifested and a concealed, or secret, side.

Simon, cũng như tất cả các nhà Gnosis khác, dạy rằng thế giới của chúng ta được tạo ra bởi các thiên thần thấp, mà ông gọi là Aeon. Ông chỉ đề cập đến ba cấp độ của những vị ấy, vì như chúng ta đã giải thích trước đây, việc dạy bất cứ điều gì về bốn cấp cao hơn là vô ích, đã vậy và vẫn vậy, và do đó ông bắt đầu ở cõi của các bầu hành tinh A và G. Hệ thống của ông gần với Chân lý Huyền bí như bất kỳ hệ thống nào, đến nỗi chúng ta có thể khảo sát nó, cũng như những tuyên bố của chính ông và Menander về “Huyền thuật”, để tìm xem họ muốn nói gì bằng thuật ngữ ấy. Bấy giờ, đối với Simon, đỉnh cao của toàn bộ sáng tạo biểu hiện là Lửa. Đối với ông cũng như đối với chúng ta, đó là Nguyên khí Vũ trụ, Quyền năng Vô biên, được sinh ra từ Tiềm năng ẩn tàng. Lửa này là nguyên nhân nguyên thủy của thế giới bản thể biểu hiện, và có tính nhị nguyên, có một mặt biểu hiện và một mặt ẩn tàng, hay bí mật.

The secret side of the Fire is concealed in its evident [or objective] side, and the objective is produced from the secret side, 796

Mặt bí mật của Lửa ẩn trong mặt hiển nhiên hay khách quan của nó, và mặt khách quan được tạo ra từ mặt bí mật,

he writes, which amounts to saying that the visible is ever present in the invisible, and the invisible in the visible. This was but a new form of stating Plato’s idea of the Intelligible (Noêton) and the Sensible (Aisthêton), and Aristotle’s teaching on the Potency (Dunamis) and the Act (Energeia). For Simon, all that can be thought of, all that can be acted upon, was perfect intelligence. Fire contained all. And thus all the parts of that Fire, being endowed with intelligence and reason, were susceptible of development by extension and emanation. This is our teaching of the Manifested Logos, and these parts in their primordial emanation are our Dhyân Chohans, the “Sons of Flame and Fire,” or higher Æons. This “Fire” is the symbol of the active and living side of Divine Nature. Behind it lay “infinite Potentiality in Potentiality,” which Simon named “that which has stood, stands and will stand,” or permanent stability and personified immutability.

ông viết như vậy, điều này tương đương với việc nói rằng cái hữu hình luôn hiện diện trong cái vô hình, và cái vô hình trong cái hữu hình. Đây chỉ là một hình thức mới để trình bày ý tưởng của Plato về cái Khả tri và cái Khả cảm, cùng giáo huấn của Aristotle về Tiềm năng và Hành động. Đối với Simon, tất cả những gì có thể được nghĩ đến, tất cả những gì có thể được tác động lên, đều là trí tuệ hoàn hảo. Lửa chứa đựng tất cả. Và như vậy, mọi phần của Lửa ấy, được phú cho trí tuệ và lý trí, đều có khả năng phát triển bằng sự mở rộng và xuất lộ. Đây là giáo huấn của chúng ta về Thượng đế Biểu hiện, và những phần này trong sự xuất lộ nguyên thủy của chúng là các Dhyani Chohan của chúng ta, “Các Con của Ngọn Lửa và Lửa”, hay các Aeon cao hơn. “Lửa” này là biểu tượng của mặt hoạt động và sống động của Bản chất Thiêng liêng. Đằng sau nó là “Tiềm năng vô biên trong Tiềm năng”, mà Simon gọi là “cái đã đứng, đang đứng và sẽ đứng”, hay sự ổn định thường tồn và tính bất biến được nhân cách hóa.

From the Potency of Thought, Divine Ideation thus passed to Action. Hence the series of primordial emanations through Thought begetting the Act, the objective side of Fire being the Mother, the sacred side of it being the Father. Simon called these emanations Syzygies (a united pair, or couple), for they emanated two-by-two, one as an active, and the other as a passive Æon. Three couples thus emanated (or six in all, the Fire being the seventh), to which Simon gave the following names: “Mind and Thought; Voice and Name; Reason and Reflection,” 797 the first in each pair being male, the last female. From these primordial six emanated the six Æons of the Middle World. Let us see what Simon himself says:

Từ Tiềm năng của Tư tưởng, Tư tưởng Thiêng liêng do đó chuyển sang Hành động. Từ đó có chuỗi các xuất lộ nguyên thủy qua Tư tưởng sinh ra Hành động, mặt khách quan của Lửa là Mẹ, mặt thiêng liêng của nó là Cha. Simon gọi các xuất lộ này là Syzygy, tức một cặp hay đôi hợp nhất, vì chúng xuất lộ từng đôi một, một như Aeon chủ động, và một như Aeon thụ động. Như vậy ba cặp xuất lộ, hay tổng cộng sáu, Lửa là thứ bảy, mà Simon đặt các tên sau: “Trí và Tư tưởng; Tiếng Nói và Danh Xưng; Lý trí và Suy tưởng”, trong mỗi cặp, yếu tố thứ nhất là nam, yếu tố sau là nữ. Từ sáu nguyên thủy này xuất lộ sáu Aeon của Thế Giới Trung Gian. Chúng ta hãy xem chính Simon nói gì:

Each of these six primitive beings contained the entire infinite Potency [of its parent]; but it was there only in Potency, and not in Act. That Potency had to be called forth [or conformed] through an image in order that it should manifest in all its essence, virtue, grandeur and effects; for only then could the emanated Potency become similar to its parent, the eternal and infinite Potency. If, on the contrary, it remained simply potentially in the six Potencies and failed to be conformed through an image, then the Potency would not pass into action, but would get lost, 798

Mỗi trong sáu hữu thể nguyên thủy này chứa toàn bộ Tiềm năng vô biên của cha mẹ mình; nhưng nó chỉ ở đó trong Tiềm năng, chứ không trong Hành động. Tiềm năng ấy phải được gọi ra hay được định hình thông qua một hình ảnh để nó có thể biểu hiện trong toàn bộ tinh chất, đức năng, sự vĩ đại và các hiệu quả của nó; vì chỉ khi đó Tiềm năng xuất lộ mới có thể trở nên giống với cha mẹ của nó, Tiềm năng vĩnh cửu và vô biên. Trái lại, nếu nó chỉ đơn giản vẫn ở dạng tiềm năng trong sáu Tiềm năng và không được định hình thông qua một hình ảnh, thì Tiềm năng sẽ không chuyển vào hành động, mà sẽ bị mất đi,

in clearer terms, it would become atrophied, as the modern expression goes.

nói rõ hơn, nó sẽ bị teo lại, như cách diễn đạt hiện đại.

Now, what do these words mean if not that to be equal in all things to the Infinite Potency the Æons had to imitate it in its action, and become themselves, in their turn, emanative Principles, as was their Parent, giving life to new beings, and becoming Potencies in actu themselves? To produce emanations, or to have acquired the gift of Kriyâ-shakti. 799 is the direct result of that power, an effect which depends on our own action. That power, then, is inherent in man, as it is in the primordial Æons and even in the secondary Emanations, by the very fact of their and our descent from the One Primordial Principle, the Infinite Power, or Potency. Thus we find in the system of Simon Magus that the first six Æons, synthesized by the seventh, the Parent Potency, passed into Act, and emanated, in their turn, six secondary Æons, which were each synthesized by their respective Parents. In the Philosophumena we read that Simon compared the Æons to the “Tree of Life.” Said Simon in the Revelation: 800

Bấy giờ, những lời này có nghĩa gì nếu không phải rằng để bình đẳng trong mọi sự với Tiềm năng Vô biên, các Aeon phải noi theo nó trong hành động của nó, và đến lượt mình trở thành các Nguyên khí xuất lộ, như Cha Mẹ của chúng, đem lại sự sống cho các hữu thể mới, và chính chúng trở thành các Tiềm năng trong hành động? Tạo ra các xuất lộ, hay đã đạt được thiên năng Kriya-shakti là kết quả trực tiếp của quyền năng ấy, một hiệu quả tùy thuộc vào hành động của chính chúng ta. Vậy, quyền năng ấy vốn sẵn có trong con người, cũng như trong các Aeon nguyên thủy và ngay cả trong các Xuất lộ thứ cấp, bởi chính sự kiện họ và chúng ta đều giáng xuất từ Nguyên khí Nguyên thủy Duy Nhất, Quyền năng Vô biên, hay Tiềm năng. Như vậy chúng ta thấy trong hệ thống của Simon Magus rằng sáu Aeon đầu, được tổng hợp bởi Aeon thứ bảy, Tiềm năng Cha Mẹ, đã chuyển vào Hành động, và đến lượt chúng xuất lộ sáu Aeon thứ cấp, mỗi Aeon lại được tổng hợp bởi Cha Mẹ tương ứng của mình. Trong Philosophumena, chúng ta đọc rằng Simon so sánh các Aeon với “Cây Sự Sống”. Simon nói trong Mặc Khải:

It is written that there are two ramifications of the universal Æons, having neither beginning nor end, issued both from the same Root, the invisible and incomprehensible Potentiality, Sigê [Silence]. One of these [series of Æons] appears from above. This is the Great Potency, Universal Mind [or Divine Ideation, the Mahat of the Hindus]; it orders all things and is male. The other is from below, for it is the Great [manifested] Thought, the female Æon, generating all things. These [two kinds of Æons] corresponding 801 with each other, have conjunction and manifest the middle distance [the intermediate sphere, or plane], the incomprehensible Air which has neither beginning nor end. 802

Có chép rằng có hai nhánh của các Aeon vũ trụ, không có khởi đầu cũng không có kết thúc, cả hai đều phát sinh từ cùng một Cội Rễ, Tiềm năng vô hình và bất khả tri, Sige, tức Im Lặng. Một trong hai nhánh ấy xuất hiện từ trên. Đây là Tiềm năng Vĩ Đại, Vũ Trụ Trí, hay Tư tưởng Thiêng liêng, Mahat của người Hindu; nó sắp đặt mọi sự và là nam. Nhánh kia từ dưới, vì đó là Tư tưởng Vĩ Đại biểu hiện, Aeon nữ, sinh thành mọi sự. Hai loại Aeon này, tương ứng với nhau, có sự đồng vị và biểu hiện khoảng giữa, tức khối cầu hay cõi trung gian, Khí bất khả tri không có khởi đầu cũng không có kết thúc.

This female “Air” is our Ether, or the kabalistic Astral Light. It is, then, the Second World of Simon, born of Fire, the principle of everything. We call it the One Life, the Intelligent, Divine Flame, omnipresent and infinite. In Simon’s system this Second World was ruled by a Being, or Potency, both male and female, or active and passive, good and bad. This Parent-Being, like the primordial infinite Potency, is also called “that which has stood, stands and will stand,” so long as the manifested Kosmos shall last. When it emanated in actu and became like unto its own Parent, it was not dual or androgyne. It is the Thought (Sigê) that emanated from it which became as itself (the Parent), having become like unto its image (or antetype); the second had now become in its turn the first (on its own plane or sphere). As Simon has it:

“Khí” nữ này là Dĩ thái của chúng ta, hay Ánh sáng Cảm dục kabalistic. Vì thế, đó là Thế Giới Thứ Hai của Simon, sinh ra từ Lửa, nguyên khí của mọi sự. Chúng ta gọi nó là Sự Sống Duy Nhất, Ngọn Lửa Thiêng liêng, Trí tuệ, hiện diện khắp nơi và vô biên. Trong hệ thống của Simon, Thế Giới Thứ Hai này được cai quản bởi một Hữu Thể, hay Tiềm năng, vừa nam vừa nữ, hay chủ động và thụ động, tốt và xấu. Hữu Thể Cha Mẹ này, giống như Tiềm năng vô biên nguyên thủy, cũng được gọi là “cái đã đứng, đang đứng và sẽ đứng”, chừng nào Đại vũ trụ biểu hiện còn tồn tại. Khi nó xuất lộ trong hành động và trở nên giống với Cha Mẹ của chính nó, nó không còn là nhị nguyên hay lưỡng tính. Chính Tư tưởng, Sige, xuất lộ từ nó đã trở nên như chính nó, tức Cha Mẹ, vì đã trở nên giống với hình ảnh hay nguyên mẫu của nó; cái thứ hai bấy giờ đến lượt mình đã trở thành cái thứ nhất trên cõi hay khối cầu riêng của nó. Như Simon nói:

It [the Parent or Father] was one. For having it [the Thought] in itself, it was alone. It was not, however, first, though it was preëxisting; but manifesting itself to itself from itself, it became the second (or dual). Nor was it called Father before it [the Thought] gave it that name. As, therefore, itself developing itself by itself, manifested to itself its own Thought, so also the Thought being manifested did not act, but seeing the Father hid it in itself, that is, (hid) that Potency (in itself). And the Potency [Dunamis, viz.: Nous] and Thought [Epinoia] are male-female. Whence they correspond with one another—for Potency in no way differs from Thought—being one. So from the things above is found Potency, and from those below, Thought. It comes to pass, therefore, that that which is manifested from them, although being one, yet is found to be twofold, the androgyne having the female in itself. So is Mind in Thought, things inseparable from each other which though being one are yet found dual. 803

Nó, tức Cha Mẹ hay Cha, là một. Vì khi có nó, tức Tư tưởng, trong chính mình, nó đơn độc. Tuy nhiên, nó không phải là thứ nhất, dù nó đã hiện hữu từ trước; nhưng khi biểu hiện chính mình cho chính mình từ chính mình, nó trở thành thứ hai, hay nhị nguyên. Nó cũng chưa được gọi là Cha trước khi nó, tức Tư tưởng, trao cho nó danh xưng ấy. Vì vậy, cũng như chính nó tự phát triển bởi chính mình, biểu hiện cho chính mình Tư tưởng của chính mình, thì Tư tưởng, khi được biểu hiện, cũng không hành động, nhưng khi thấy Cha, đã giấu Cha trong chính mình, nghĩa là giấu Tiềm năng ấy trong chính mình. Và Tiềm năng, tức Dunamis, nghĩa là Nous, và Tư tưởng, tức Epinoia, là nam-nữ. Do đó chúng tương ứng với nhau—vì Tiềm năng không khác Tư tưởng chút nào—là một. Vậy từ những điều ở trên tìm thấy Tiềm năng, và từ những điều ở dưới, Tư tưởng. Do đó, điều biểu hiện từ chúng, tuy là một, vẫn được thấy là nhị phân, androgyne có yếu tố nữ trong chính nó. Như vậy Trí ở trong Tư tưởng, những điều không thể tách rời nhau, tuy là một nhưng vẫn được thấy là kép.

He [Simon] calls the first Syzygy of the six Potencies and of the seventh, which is with it, Nous and Epinoia, Heaven and Earth: the male looks down from on high and takes thought for his Syzygy [or spouse], for the Earth below receives those intellectual fruits which are brought down from Heaven and are cognate to the Earth. 804

Ông, tức Simon, gọi Syzygy đầu tiên của sáu Tiềm năng và của Aeon thứ bảy đi cùng nó là Nous và Epinoia, Trời và Đất: nam nhìn xuống từ trên cao và quan tâm đến Syzygy, hay phối ngẫu của mình, vì Đất bên dưới tiếp nhận những hoa trái trí tuệ được đem xuống từ Trời và đồng bản chất với Đất.

Simon’s Third World with its third series of six Æons and the seventh, the Parent, is emanated in the same way. It is this same note which runs through every Gnostic system—gradual development downward into Matter by similitude; and it is a law which is to be traced down to primordial Occultism, or Magic. With the Gnostics, as with us, this seventh Potency, synthesizing all, is the Spirit brooding over the dark waters of undifferentiated Space, Nârâyana, or Vishnu, in India; the Holy Ghost in Christianity. But while in the latter the conception is conditioned and dwarfed by limitations necessitating faith and grace, Eastern Philosophy shows it pervading every atom, conscious or unconscious. Irenæus supplements the information on the further development of these six Æons. We learn from him that Thought, having separated itself from its Parent, and knowing through its identity of Essence with the latter what it had to know, proceeded on the second or intermediate plane, or rather World (each of such Worlds consisting of two planes, the superior and inferior, male and female, the latter assuming finally both Potencies and becoming androgyne), to create inferior Hierarchies, Angels and Powers, Dominions and Hosts, of every description, which in their turn created, or rather emanated out of their own Essence, our world with its men and beings, over which they watch.

Thế Giới Thứ Ba của Simon, với loạt thứ ba gồm sáu Aeon và Aeon thứ bảy, Cha Mẹ, được xuất lộ theo cùng cách. Chính cùng một âm điệu này chạy xuyên qua mọi hệ thống Gnosis—sự phát triển dần dần đi xuống vào Vật chất bằng sự tương tự; và đó là một định luật có thể truy nguyên đến Huyền bí học nguyên thủy, hay Huyền thuật. Với các nhà Gnosis, cũng như với chúng ta, Tiềm năng thứ bảy này, tổng hợp tất cả, là Tinh thần ấp ủ trên các vùng nước tối của Không gian chưa biến phân, Narayana, hay Vishnu, ở Ấn Độ; Chúa Thánh Thần trong Kitô giáo. Nhưng trong khi ở tôn giáo sau, quan niệm ấy bị tác động và thu nhỏ bởi những giới hạn đòi hỏi đức tin và ân sủng, thì Triết học Đông phương cho thấy nó thấm nhuần mọi nguyên tử, hữu thức hay vô thức. Irenaeus bổ sung thông tin về sự phát triển tiếp theo của sáu Aeon này. Từ ông, chúng ta biết rằng Tư tưởng, sau khi tự tách khỏi Cha Mẹ của mình, và nhờ sự đồng nhất về Tinh chất với Cha Mẹ ấy mà biết được điều nó phải biết, đã tiến hành trên cõi thứ hai hay cõi trung gian, hoặc đúng hơn là Thế Giới trung gian, mỗi Thế Giới như vậy gồm hai cõi, cao và thấp, nam và nữ, cái sau cuối cùng đảm nhận cả hai Tiềm năng và trở thành androgyne, để tạo ra các Huyền Giai thấp hơn, các Thiên thần và Quyền năng, các Quyền trị và Đạo quân thuộc mọi loại, đến lượt họ tạo ra, hay đúng hơn xuất lộ từ Tinh chất của chính mình, thế giới của chúng ta với những con người và sinh linh của nó, mà họ trông nom.

It thus follows that every rational being—called Man on Earth—is of the same essence and possesses potentially all the attributes of the higher Æons, the primordial Seven. It is for him to develope, “with the image before him of the highest,” by imitation in actu, the Potency with which the highest of his Parents, or Fathers, is endowed. Here we may again quote with advantage from the Philosophumena:

Do đó, suy ra rằng mọi hữu thể có lý trí—được gọi là Con người trên Trái Đất—đều cùng một tinh chất và tiềm tàng sở hữu mọi thuộc tính của các Aeon cao hơn, Bảy nguyên thủy. Việc của y là phát triển “với hình ảnh của Đấng cao nhất trước mặt”, bằng sự noi theo trong hành động, Tiềm năng mà Đấng cao nhất trong các Cha Mẹ, hay các Cha của y, được phú cho. Ở đây chúng ta lại có thể trích dẫn một cách hữu ích từ Philosophumena:

So then, according to Simon, this blissful and imperishable [principle] is concealed in everything in potency, not in act. This is “that which has stood, stands and will stand,” viz., that which has stood above in ingenerable Potency; that which stands below in the stream of the waters generated in an image; that which will stand above, beside the blissful infinite Potency, if it makes itself like unto this image. For three, he says, are they that stand, and without these three Æons of stability, there is no adornment of the generable which, according to them [the Simonians], is borne on the water, and being moulded according to the similitude is a perfect and celestial (Æon), in no manner of thinking inferior to the ingenerable Potency. Thus they say: “I and thou [are] one; before me [wast] thou; that which is after thee [is] I.” This, he says, is the one Potency, divided into above and below, generating itself, nourishing itself, seeking itself, finding itself; its own mother, father, brother, spouse, daughter and son, one, for it is the Root of all. 805

Vậy thì, theo Simon, nguyên khí chí phúc và bất hoại này ẩn trong mọi sự trong tiềm năng, chứ không trong hành động. Đây là “cái đã đứng, đang đứng và sẽ đứng”, tức cái đã đứng ở trên trong Tiềm năng bất sinh; cái đang đứng bên dưới trong dòng nước được sinh ra trong một hình ảnh; cái sẽ đứng ở trên, bên cạnh Tiềm năng vô biên chí phúc, nếu nó làm cho chính mình giống với hình ảnh này. Vì, ông nói, có ba cái đứng, và không có ba Aeon của sự ổn định này thì không có sự điểm trang nào của cái khả sinh, vốn theo họ, tức những người theo Simon, được mang trên nước, và khi được nặn theo sự tương tự thì là một Aeon hoàn hảo và thiên giới, không hề thấp hơn Tiềm năng bất sinh trong bất cứ cách tư duy nào. Vì vậy họ nói: “Tôi và ngươi là một; trước tôi đã có ngươi; cái sau ngươi là tôi.” Điều này, ông nói, là một Tiềm năng duy nhất, chia thành trên và dưới, tự sinh ra mình, tự nuôi dưỡng mình, tự tìm kiếm mình, tự tìm thấy mình; là mẹ, cha, anh em, phối ngẫu, con gái và con trai của chính mình, một, vì nó là Cội Rễ của tất cả.

Thus of this triple Æon, we learn the first exists as “that which has stood, stands and will stand,” or the uncreate Power, Âtman; the second is generated in the dark waters of Space (Chaos, or undifferentiated Substance, our Buddhi), from or through the image of the former reflected in those waters, the image of Him, or It, which moves on them; the third World (or, in man, Manas) will be endowed with every power of that eternal and omnipresent Image if it but assimilates it to itself. For,

Như vậy, về Aeon tam phân này, chúng ta biết rằng cái thứ nhất tồn tại như “cái đã đứng, đang đứng và sẽ đứng”, hay Quyền năng vô sinh, Atman; cái thứ hai được sinh ra trong các vùng nước tối của Không gian, tức Hỗn mang, hay Chất liệu chưa biến phân, Bồ đề của chúng ta, từ hoặc thông qua hình ảnh của cái trước phản chiếu trong các vùng nước ấy, hình ảnh của Ngài, hay Nó, đang chuyển động trên chúng; Thế Giới thứ ba, hay trong con người là Manas, sẽ được phú cho mọi quyền năng của Hình Ảnh vĩnh cửu và hiện diện khắp nơi ấy nếu nó chỉ cần đồng hóa hình ảnh ấy với chính mình. Vì,

All that is eternal, pure and incorruptible is concealed in everything that is,

Tất cả những gì vĩnh cửu, tinh khiết và bất hoại đều ẩn trong mọi sự đang hiện hữu,

if only potentially, not actually. And

dù chỉ là tiềm năng, không phải hiện thực. Và

Everything is that image, provided the lower image (man) ascends to that highest Source and Root in Spirit and Thought.

Mọi sự đều là hình ảnh ấy, miễn là hình ảnh thấp hơn, tức con người, thăng lên Cội Nguồn và Cội Rễ cao nhất ấy trong Tinh thần và Tư tưởng.

Matter as Substance is eternal and has never been created. Therefore Simon Magus, with all the great Gnostic Teachers and Eastern Philosophers, never speaks of its beginning. “Eternal Matter” receives its various forms in the lower Æon from the Creative Angels, or Builders, as we call them. Why, then, should not Man, the direct heir of the highest Æon, do the same, by the potency of his thought, which is born from Spirit? This is Kriyâshakti, the power of producing forms on the objective plane through the potency of Ideation and Will, from invisible, indestructible Matter.

Vật chất với tư cách Chất liệu là vĩnh cửu và chưa từng được tạo ra. Vì vậy Simon Magus, cùng tất cả các Huấn sư Gnosis vĩ đại và các Triết gia Đông phương, không bao giờ nói về khởi đầu của nó. “Vật chất Vĩnh cửu” nhận các hình tướng khác nhau của nó trong Aeon thấp hơn từ các Thiên thần Sáng tạo, hay các Đấng Kiến tạo, như chúng ta gọi họ. Vậy thì, tại sao Con người, người thừa kế trực tiếp của Aeon cao nhất, lại không làm như vậy, bằng tiềm năng tư tưởng của mình, vốn sinh ra từ Tinh thần? Đây là Kriyashakti, quyền năng tạo ra các hình tướng trên cõi khách quan thông qua tiềm năng của Tư tưởng và Ý chí, từ Vật chất vô hình, bất hoại.

Truly says Jeremiah, 806 quoting the “Word of the Lord”:

Jeremiah nói thật đúng, khi trích “Linh từ của Chúa”:

Before I formed thee in the belly I knew thee; and before thou camest forth out of the womb I sanctified thee,

Trước khi Ta tạo hình ngươi trong bụng mẹ, Ta đã biết ngươi; và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi,

for Jeremiah stands here for Man when he was yet an Æon, or Divine Man, both with Simon Magus and Eastern Philosophy. The first three chapters of Genesis are as Occult as that which is given in Paper I. For the terrestrial Paradise is the Womb, says Simon, 807 Eden the region surrounding it. The river which went out of Eden to water the garden is the Umbilical Cord; this cord is divided into four Heads, the streams that flowed out of it, the four canals which serve to carry nutrition to the Fœtus, i.e., the two arteries and the two veins which are the channels for the blood and convey the breathing air, the unborn child, according to Simon, being entirely enveloped by the Amnion, fed through the Umbilical Cord and given vital air through the Aorta. 808

vì ở đây Jeremiah đại diện cho Con người khi y vẫn còn là một Aeon, hay Con Người Thiêng liêng, cả trong hệ thống của Simon Magus lẫn trong Triết học Đông phương. Ba chương đầu của Sáng Thế Ký cũng Huyền bí như điều được nêu trong Tiểu luận I. Vì Địa Đàng là Tử cung, Simon nói, Eden là vùng bao quanh nó. Dòng sông chảy ra từ Eden để tưới khu vườn là Dây Rốn; dây này chia thành bốn Đầu, các dòng chảy ra từ đó, bốn ống dẫn dùng để đưa dưỡng chất đến Thai nhi, tức hai động mạch và hai tĩnh mạch là các kênh dẫn máu và chuyển khí thở, đứa trẻ chưa sinh, theo Simon, được bao bọc hoàn toàn bởi Màng ối, được nuôi qua Dây Rốn và được trao khí sinh lực qua Động mạch chủ.

The above is given for the elucidation of that which is to follow. The disciples of Simon Magus were numerous, and were instructed by him in Magic. They made use of so-called “exorcisms” (as in the New Testament), incantations, philtres; believed in dreams and visions, and produced them at will; and finally forced the lower orders of spirits to obey them. Simon Magus was called “the Great Power of God,” literally “the Potency of the Deity which is called Great.” That which was then termed Magic we now call Theosophia, or Divine Wisdom, Power and Knowledge.

Điều trên được nêu ra để làm sáng tỏ những gì sẽ theo sau. Các đệ tử của Simon Magus rất đông, và được ông huấn luyện trong Huyền thuật. Họ sử dụng những cái gọi là “trừ tà”, như trong Tân Ước, chú thuật, bùa yêu; tin vào các giấc mộng và linh ảnh, và tạo ra chúng theo ý muốn; và cuối cùng buộc các cấp thấp hơn của các tinh linh phải vâng phục họ. Simon Magus được gọi là “Quyền năng Vĩ Đại của Thượng đế”, theo nghĩa đen là “Tiềm năng của Thượng đế được gọi là Vĩ Đại”. Điều khi ấy được gọi là Huyền thuật, nay chúng ta gọi là Theosophia, hay Minh Triết, Quyền năng và Tri thức Thiêng liêng.

His direct disciple, Menander, was also a great Magician. Says Irenæus, among other writers:

Đệ tử trực tiếp của ông, Menander, cũng là một nhà Huyền thuật vĩ đại. Irenaeus, cùng những tác giả khác, nói rằng:

The successor of Simon was Menander, a Samaritan by birth, who reached the highest summits in the Science of Magic.

Người kế vị Simon là Menander, một người Samaritan theo dòng dõi, đã đạt đến những đỉnh cao nhất trong Khoa học Huyền thuật.

Thus both master and pupil are shown as having attained the highest powers in the art of enchantments, powers which can be obtained only through “the help of the Devil,” as Christians claim; and yet their “works” were identical with those spoken of in the New Testament, wherein such phenomenal results are called divine miracles, and are, therefore, believed in and accepted as coming from and through God. But the question is, have these so-called “miracles” of the “Christ” and the Apostles ever been explained any more than the magical achievements of so-called Sorcerers and Magicians? I say, never. We Occultists do not believe in supernatural phenomena, and the Masters laugh at the word “miracle.” Let us see, then, what is really the sense of the word Magic.

Như vậy, cả thầy lẫn trò đều được trình bày là đã đạt tới những quyền năng cao nhất trong nghệ thuật mê hoặc, những quyền năng mà người Kitô giáo quả quyết chỉ có thể đạt được nhờ “sự trợ giúp của Quỷ”; thế mà “các công trình” của họ lại đồng nhất với những điều được nói đến trong Tân Ước, nơi các kết quả hiện tượng như thế được gọi là các phép lạ thiêng liêng, và do đó được tin nhận như đến từ và qua Thượng đế. Nhưng vấn đề là: những “phép lạ” được gọi là của “Đức Christ” và các Tông đồ ấy đã bao giờ được giải thích nhiều hơn các thành tựu huyền thuật của những người được gọi là Phù thủy và Nhà huyền thuật chưa? Tôi nói: chưa bao giờ. Chúng tôi, những nhà huyền bí học, không tin vào các hiện tượng siêu nhiên, và các Chân sư cười trước từ “phép lạ”. Vậy chúng ta hãy xem ý nghĩa thật sự của từ Huyền thuật là gì.

The source and basis of it lie in Spirit and Thought, whether on the purely divine or the terrestrial plane. Those who know the history of Simon have the two versions before them, that of White and of Black Magic, at their option, in the much talked of union of Simon with Helena, whom he called his Epinoia (Thought). Those who, like the Christians, had to discredit a dangerous rival, talk of Helena as being a beautiful and actual woman, whom Simon had met in a house of ill-fame at Tyre, and who was, according to those who wrote his life, the reincarnation of Helen of Troy. How, then, was she “Divine Thought”? The lower angels, Simon is made to say in Philosophumena, or the third Æons, being so material, had more badness in them than all the others. Poor man, created or emanated from them, had the vice of his origin. What was it? Only this: when the third Æons possessed themselves, in their turn, of the Divine Thought through the transmission into them of Fire, instead of making of man a complete being, according to the universal plan, they at first detained from him that Divine Spark (Thought, on Earth Manas); and that was the cause and origin of senseless man’s committing the original sin as the angels had committed it æons before by refusing to create. 809 Finally, after detaining Epinoia prisoner amongst them and having subjected the Divine Thought to every kind of insult and desecration, they ended by shutting it into the already defiled body of man. After this, as interpreted by the enemies of Simon, she passed from one female body into another through ages and races, until Simon found and recognized her in the form of Helena, the “prostitute,” the “lost sheep” of the parable. Simon is made to represent himself as the Saviour descended on Earth to rescue this “lamb” and those men in whom Epinoia is still under the dominion of the lower angels. The greatest magical feats are thus attributed to Simon through his sexual union with Helena, hence Black Magic. Indeed, the chief rites of this kind of Magic are based on such disgusting literal interpretation of noble myths, one of the noblest of which was thus invented by Simon as a symbolical mark of his own teaching. Those who understood it correctly knew what was meant by “Helena.” It was the marriage of Nous (Âtmâ-Buddhi) with Manas, the union through which Will and Thought become one and are endowed with divine powers. For Âtman in man, being of an unalloyed essence, the primordial Divine Fire (or the eternal and universal “that which has stood, stands and will stand”), is of all the planes; and Buddhi is its vehicle or Thought, generated by and generating the “Father” in her turn, and also Will. She is “that which has stood, stands and will stand,” thus becoming, in conjunction with Manas, male-female, in this sphere only. Hence, when Simon spoke of himself as the Father and the Son and the Holy Ghost, and of Helena as his Epinoia, Divine Thought, he meant the marriage of his Buddhi with Manas. Helena was the Shakti of the inner man, the female potency.

Nguồn cội và nền tảng của nó nằm trong Tinh thần và Tư tưởng, dù trên cõi thuần túy thiêng liêng hay cõi trần thế. Những ai biết lịch sử của Simon có trước mặt mình hai phiên bản, phiên bản Chánh thuật và phiên bản Hắc thuật, tùy họ chọn, trong sự kết hợp được bàn tán nhiều giữa Simon với Helena, người mà ông gọi là Epinoia của ông, tức Tư tưởng. Những người, như các Kitô hữu, phải làm mất uy tín một đối thủ nguy hiểm, nói về Helena như một phụ nữ đẹp và có thật, người Simon đã gặp trong một nhà chứa ở Tyre, và theo những kẻ viết tiểu sử ông, là sự tái sinh của Helen thành Troy. Vậy làm sao bà lại là “Tư tưởng Thiêng liêng”? Các thiên thần thấp, Simon được cho là đã nói trong Philosophumena, hay các Aeon thứ ba, vì quá vật chất nên có nhiều điều xấu trong họ hơn tất cả những kẻ khác. Con người đáng thương, được tạo ra hay xuất lộ từ họ, mang lấy thói xấu của nguồn gốc mình. Đó là gì? Chỉ là điều này: khi các Aeon thứ ba, đến lượt họ, chiếm hữu Tư tưởng Thiêng liêng nhờ sự truyền Lửa vào họ, thay vì làm cho con người thành một hữu thể hoàn chỉnh theo Thiên Cơ phổ quát, lúc đầu họ đã giữ lại khỏi y Tia lửa Thiêng liêng ấy, tức Tư tưởng, trên Trái Đất là Manas; và đó là nguyên nhân cùng nguồn gốc của việc con người vô minh phạm tội nguyên thủy, như các thiên thần đã phạm tội ấy nhiều aeon trước bằng cách từ chối sáng tạo. Sau cùng, sau khi giam giữ Epinoia làm tù nhân giữa họ và bắt Tư tưởng Thiêng liêng chịu mọi thứ sỉ nhục và xúc phạm, họ kết thúc bằng cách nhốt nó vào thân thể con người vốn đã bị ô uế. Sau đó, theo cách diễn giải của những kẻ thù của Simon, bà chuyển từ thân thể nữ này sang thân thể nữ khác qua các thời đại và các nhân loại, cho đến khi Simon tìm thấy và nhận ra bà trong hình tướng Helena, “kỹ nữ”, “con chiên lạc” của dụ ngôn. Simon được cho là đã tự trình bày mình như Đấng Cứu Thế giáng xuống Trái Đất để giải cứu “con chiên” này và những con người nơi Epinoia vẫn còn dưới quyền thống trị của các thiên thần thấp. Do đó, những kỳ công huyền thuật lớn nhất được quy cho Simon qua sự kết hợp tính dục của ông với Helena, vì thế là Hắc thuật. Thật vậy, các nghi lễ chủ yếu của loại Huyền thuật này được đặt nền trên cách diễn giải theo nghĩa đen ghê tởm như thế đối với những huyền thoại cao quý, một trong những huyền thoại cao quý nhất đã được Simon sáng tạo như một dấu hiệu biểu tượng cho giáo huấn của chính ông. Những ai hiểu đúng điều đó đều biết “Helena” hàm ý gì. Đó là cuộc hôn phối của Nous, tức Atma-Bồ đề, với Manas, sự hợp nhất qua đó Ý Chí và Tư tưởng trở thành một và được ban cho các quyền năng thiêng liêng. Vì Atman trong con người, vốn thuộc một tinh chất thuần nhất, Lửa Thiêng liêng nguyên thủy, hay “cái đã đứng, đang đứng và sẽ đứng” vĩnh cửu và phổ quát, thuộc về mọi cõi; và Bồ đề là vận cụ hay Tư tưởng của nó, được sinh ra bởi “Cha” và đến lượt mình lại sinh ra “Cha”, đồng thời cũng là Ý Chí. Bà là “cái đã đứng, đang đứng và sẽ đứng”, vì thế, trong sự kết hợp với Manas, trở thành nam-nữ chỉ trong khối cầu này. Do đó, khi Simon nói về chính mình như Cha, Con và Chúa Thánh Thần, và về Helena như Epinoia của ông, Tư tưởng Thiêng liêng, ông muốn nói đến cuộc hôn phối của Bồ đề nơi ông với Manas. Helena là Shakti của con người bên trong, quyền năng nữ tính.

Now, what says Menander? The lower angels, he taught, were the emanations of Ennoia (Designing Thought). It was Ennoia who taught the Science of Magic and imparted it to him, together with the art of conquering the creative angels of the lower world. The latter stand for the passions of our lower nature. His pupils, after receiving baptism from him (i.e., after Initiation), were said to “resurrect from the dead” and, “growing no older,” became “immortal.” 810 This “resurrection” promised by Menander meant, of course, simply the passage from the darkness of ignorance into the light of truth, the awakening of man’s immortal Spirit to inner and eternal life. This is the Science of the Râja Yogîs—Magic.

Bây giờ, Menander nói gì? Ông dạy rằng các thiên thần thấp là những xuất lộ của Ennoia, tức Tư tưởng Hoạch định. Chính Ennoia đã dạy Khoa học Huyền thuật và truyền nó cho ông, cùng với nghệ thuật chinh phục các thiên thần sáng tạo của thế giới thấp. Những vị sau tượng trưng cho các dục vọng của bản chất thấp nơi chúng ta. Các học trò của ông, sau khi nhận phép rửa từ ông, tức sau điểm đạo, được cho là “sống lại từ cõi chết” và, “không già đi”, trở thành “bất tử”. Sự “phục sinh” mà Menander hứa hẹn dĩ nhiên chỉ có nghĩa là sự chuyển từ bóng tối vô minh sang ánh sáng chân lý, sự thức tỉnh của Tinh thần bất tử nơi con người vào đời sống bên trong và vĩnh cửu. Đây là Khoa học của các Raja Yogi — Huyền thuật.

Every person who has read Neo-Platonic Philosophy knows how its chief Adepts, such as Plotinus, and especially Porphyry, fought against phenomenal Theurgy. But, beyond all of them, Jamblichus, the author of the De Mysteriis, lifts high the veil from the real term Theurgy, and shows us therein the true Divine Science of Râja Yoga.

Bất cứ ai đã đọc Triết học Tân-Platon đều biết các chân sư chủ chốt của nó, như Plotinus, và đặc biệt Porphyry, đã chống lại Thần thuật hiện tượng như thế nào. Nhưng vượt trên tất cả các vị ấy, Jamblichus, tác giả của De Mysteriis, đã vén cao bức màn khỏi thuật ngữ thật sự Thần thuật, và trong đó chỉ cho chúng ta Khoa học Thiêng liêng chân thật của Raja Yoga.

Magic, he says, is a lofty and sublime Science, Divine, and exalted above all others.

Ông nói, Huyền thuật là một Khoa học cao cả và siêu việt, thiêng liêng, và được nâng cao hơn mọi khoa học khác.

It is the great remedy for all…. It neither takes its source in, nor is it limited to, the body or its passions, to the human compound or its constitution; but all is derived by it from our upper Gods,

Nó là phương thuốc lớn lao cho tất cả…. Nó không lấy nguồn gốc từ, cũng không bị giới hạn nơi, thể xác hay các dục vọng của thể xác, nơi tổ hợp nhân loại hay cấu tạo của nó; nhưng nhờ nó, tất cả đều được dẫn xuất từ các Thượng đế cao hơn của chúng ta,

our divine Egos, which run like a silver thread from the Spark in us up to the primeval divine Fire. 811

các Chân ngã thiêng liêng của chúng ta, vốn chạy như một sợi chỉ bạc từ Tia lửa trong chúng ta lên đến Lửa Thiêng liêng nguyên sơ.

Jamblichus execrates physical phenomena, produced, as he says, by the bad demons who deceive men (the spooks of the séance room), as vehemently as he exalts Divine Theurgy. But to exercise the latter, he teaches, the Theurgist must imperatively be “a man of high morality and a chaste Soul.” The other kind of Magic is used only by impure, selfish men, and has nothing of the Divine in it. No real Vates would ever consent to find in its communications anything coming from our higher Gods. Thus one (Theurgy) is the knowledge of our Father (the Higher Self); the other, subjection to our lower nature. One requires holiness of the Soul, a holiness which rejects and excludes everything corporeal; the other, the desecration of it (the Soul). One is the union with the Gods (with one’s God), the source of all Good; the other intercourse with demons (Elementals), which, unless we subject them, will subject us, and lead us step by step to moral ruin (mediumship). In short:

Jamblichus nguyền rủa các hiện tượng hồng trần, do những quỷ xấu lừa dối con người tạo ra, như ông nói, tức các bóng ma trong phòng gọi hồn, cũng mãnh liệt như ông tôn vinh Thần thuật Thiêng liêng. Nhưng để thực hành loại sau, ông dạy rằng nhà Thần thuật bắt buộc phải là “một con người có đạo đức cao và một Linh hồn thanh khiết”. Loại Huyền thuật kia chỉ được những người bất tịnh, ích kỷ sử dụng, và không có gì thiêng liêng trong đó. Không một Vates chân chính nào lại chịu tìm thấy trong các thông điệp của nó bất cứ điều gì đến từ các Thượng đế cao hơn của chúng ta. Như vậy, một bên, tức Thần thuật, là tri thức về Cha của chúng ta, tức Bản Ngã Cao Siêu; bên kia là sự lệ thuộc vào bản chất thấp của chúng ta. Một bên đòi hỏi sự thánh thiện của Linh hồn, một sự thánh thiện bác bỏ và loại trừ mọi điều thuộc thân xác; bên kia là sự xúc phạm nó, tức Linh hồn. Một bên là sự hợp nhất với các Thượng đế, với Thượng đế của mình, nguồn của mọi Điều Thiện; bên kia là sự giao tiếp với quỷ, tức các hành khí, những thực thể, nếu chúng ta không chế ngự chúng, sẽ chế ngự chúng ta và dẫn chúng ta từng bước đến sự suy đồi đạo đức, tức đồng tử thuật. Tóm lại:

Theurgy unites us most strongly to divine nature. This nature begets itself through itself, moves through its own powers, supports all, and is intelligent. Being the ornament of the Universe, it invites us to intelligible truth, to perfection and imparting perfection to others. It unites us so intimately to all the creative actions of the Gods, according to the capacity of each of us, that the soul having accomplished the sacred rites is consolidated in their [the Gods’] actions and intelligences, until it launches itself into and is absorbed by the primordial divine essence. This is the object of the sacred Initiations of the Egyptians. 812

Thần thuật hợp nhất chúng ta một cách mạnh mẽ nhất với bản chất thiêng liêng. Bản chất này tự sinh ra qua chính nó, chuyển động bằng các quyền năng của chính nó, nâng đỡ tất cả, và có trí tuệ. Là sự trang nghiêm của Vũ trụ, nó mời gọi chúng ta đến chân lý khả tri, đến sự hoàn thiện và việc truyền sự hoàn thiện cho người khác. Nó hợp nhất chúng ta mật thiết đến thế với mọi hành động sáng tạo của các Thượng đế, tùy theo năng lực của mỗi người trong chúng ta, đến nỗi linh hồn, sau khi hoàn thành các nghi lễ thiêng liêng, được củng cố trong các hành động và trí tuệ của các Ngài, cho đến khi nó phóng mình vào và được hấp thu bởi tinh chất thiêng liêng nguyên thủy. Đây là mục đích của các cuộc Điểm đạo thiêng liêng của người Ai Cập.

Now, Jamblichus shows us how this union of our Higher Soul with the Universal Soul, with the Gods, is to be effected. He speaks of Manteia, which is Samâdhi, the highest trance. 813 He speaks also of dream which is divine vision, when man re-becomes again a God. By Theurgy, or Râja Yoga, a man arrives at: (1) Prophetic Discernment through our God (the respective Higher Ego of each of us) revealing to us the truths of the plane on which we happen to be acting; (2) Ecstacy and Illumination; (3) Action in Spirit (in Astral Body or through Will); (4) and Domination over the minor, senseless demons (Elementals) by the very nature of our purified Egos. But this demands the complete purification of the latter. And this is called by him Magic, through initiation into Theurgy.

Bây giờ, Jamblichus chỉ cho chúng ta cách thực hiện sự hợp nhất này của Linh hồn Cao Siêu của chúng ta với Linh hồn Phổ quát, với các Thượng đế. Ông nói về Manteia, tức Samadhi, trạng thái xuất thần cao nhất. Ông cũng nói về giấc mộng vốn là linh ảnh thiêng liêng, khi con người lại trở thành một Thượng đế. Bằng Thần thuật, hay Raja Yoga, con người đạt tới: (1) Phân biện Tiên tri qua Thượng đế của chúng ta, tức Chân ngã tương ứng của mỗi người, mặc khải cho chúng ta các chân lý của cõi mà chúng ta tình cờ đang hoạt động; (2) Xuất thần và soi sáng; (3) Hành động trong Tinh thần, trong thể tinh tú hay qua Ý Chí; (4) và Quyền thống trị đối với các quỷ nhỏ, vô thức, tức các hành khí, nhờ chính bản chất của các Chân ngã đã được thanh luyện của chúng ta. Nhưng điều này đòi hỏi sự thanh luyện hoàn toàn các Chân ngã ấy. Và điều này được ông gọi là Huyền thuật, qua điểm đạo vào Thần thuật.

But Theurgy has to be preceded by a training of our senses and the knowledge of the human Self in relation to the Divine Self. So long as man has not thoroughly mastered this preliminary study, it is idle to anthropomorphize the formless. By “formless” I mean the higher and the lower Gods, the supermundane as well as mundane Spirits, or Beings, which to beginners can be revealed only in Colours and Sounds. For none but a high Adept can perceive a “God” in its true transcendental form, which to the untrained intellect, to the Chelâ, will be visible only by its Aura. The visions of full figures casually perceived by sensitives and mediums belong to one or another of the only three categories they can see: (a) Astrals of living men; (b) Nirmânakâyas (Adepts, good or bad, whose bodies are dead, but who have learned to live in the invisible space in their ethereal personalities); and (c) Spooks, Elementaries and Elementals masquerading in shapes borrowed from the Astral Light in general, or from figures in the “mind’s eye” of the audience, or of the medium, which are immediately reflected in their respective Auras.

Nhưng Thần thuật phải được đi trước bởi sự rèn luyện các giác quan của chúng ta và tri thức về Bản Ngã con người trong tương quan với Bản Ngã Thiêng liêng. Bao lâu con người chưa hoàn toàn làm chủ môn học sơ bộ này, bấy lâu thật vô ích khi nhân hình hóa cái vô tướng. Bằng “vô tướng”, tôi muốn nói đến các Thượng đế cao và thấp, các Tinh thần hay Hữu Thể siêu thế cũng như thế gian, vốn đối với người sơ cơ chỉ có thể được mặc khải bằng Màu sắc và Âm thanh. Vì không ai ngoài một Chân sư cao cấp có thể nhận thức một “Thượng đế” trong hình tướng siêu việt đích thực của nó, điều mà đối với trí tuệ chưa được rèn luyện, đối với đệ tử, chỉ có thể thấy được qua Hào quang của nó. Các linh ảnh về những hình thể trọn vẹn mà những người nhạy cảm và đồng tử tình cờ nhận thấy thuộc về một trong ba phạm trù duy nhất họ có thể thấy: (a) các thể cảm dục của người sống; (b) các Nirmanakaya, tức các Chân sư, tốt hoặc xấu, có thể xác đã chết, nhưng đã học cách sống trong không gian vô hình trong các phàm ngã dĩ thái của mình; và (c) các bóng ma, các Elementaries và hành khí giả dạng trong những hình thể vay mượn từ Ánh sáng Cảm dục nói chung, hoặc từ các hình ảnh trong “con mắt của thể trí” của thính chúng, hay của đồng tử, vốn lập tức được phản chiếu trong các Hào quang tương ứng của họ.

Having read the foregoing, students will now better comprehend the necessity of first studying the correspondences between our “principles”—which are but the various aspects of the triune (spiritual and physical) man—and our Paradigm, the direct roots of these in the Universe. In view of this, we must resume our teaching about the Hierarchies directly connected and for ever linked with man.

Sau khi đọc phần trên, các đạo sinh giờ đây sẽ hiểu rõ hơn sự cần thiết trước hết phải nghiên cứu các tương ứng giữa những “nguyên khí” của chúng ta — vốn chỉ là các phương diện khác nhau của con người tam phân, tinh thần và hồng trần — và Nguyên mẫu của chúng ta, tức các cội rễ trực tiếp của những nguyên khí này trong Vũ trụ. Xét như thế, chúng ta phải tiếp tục giáo huấn của mình về các Huyền Giai trực tiếp liên hệ và mãi mãi gắn liền với con người.

Enough has been said to show that while for the Orientalists and profane masses the sentence, “Om Mani Padme Hum,” means simply “Oh the Jewel in the Lotus,” Esoterically it signifies “Oh my God within me.” Yes; there is a God in each human being, for man was, and will re-become, God. The sentence points to the indissoluble union between Man and the Universe. For the Lotus is the universal symbol of Kosmos as the absolute totality, and the Jewel is Spiritual Man, or God.

Đã nói đủ để cho thấy rằng trong khi đối với các nhà Đông phương học và quần chúng phàm tục, câu “Om Mani Padme Hum” chỉ có nghĩa là “Ôi Viên Ngọc trong Hoa Sen”, thì một cách huyền bí nó có nghĩa là “Ôi Thượng đế của tôi ở trong tôi”. Đúng vậy; có một Thượng đế trong mỗi con người, vì con người đã từng là, và sẽ lại trở thành, Thượng đế. Câu ấy chỉ đến sự hợp nhất không thể phân ly giữa Con người và Vũ trụ. Vì Hoa Sen là biểu tượng phổ quát của Kosmos như một tổng thể tuyệt đối, và Viên Ngọc là Con Người Tinh Thần, hay Thượng đế.

In the preceding Paper, the correspondences between Colours, Sounds, and “Principles” were given; and those who have read our second volume will remember that these seven principles are derived from the seven great Hierarchies of Angels, or Dhyân Chohans, which are, in their turn, associated with Colours and Sounds, and form collectively the Manifested Logos.

Trong Luận văn trước, các tương ứng giữa Màu sắc, Âm thanh và “Nguyên khí” đã được nêu ra; và những ai đã đọc tập hai của chúng tôi sẽ nhớ rằng bảy nguyên khí này phát xuất từ bảy Huyền Giai lớn của các Thiên thần, hay các Dhyani Chohan, những vị đến lượt mình liên kết với Màu sắc và Âm thanh, và hợp lại tạo thành Thượng đế Ngôi Lời Biểu Hiện.

In the eternal music of the spheres we find the perfect scale corresponding to the colours, and in the number, determined by the vibrations of colour and sound, which “underlies every form and guides every sound,” we find the summing-up of the Manifested Universe.

Trong âm nhạc vĩnh cửu của các khối cầu, chúng ta tìm thấy thang âm hoàn hảo tương ứng với các màu sắc; và trong con số, được xác định bởi các rung động của màu sắc và âm thanh, vốn “nằm dưới mọi hình tướng và hướng dẫn mọi âm thanh”, chúng ta tìm thấy sự tổng kết của Vũ trụ Biểu Hiện.

We may illustrate these correspondences by showing the relation of colour and sound to the geometrical figures which 814 express the progressive stages in the manifestation of Kosmos.

Chúng ta có thể minh họa các tương ứng này bằng cách chỉ ra mối liên hệ của màu sắc và âm thanh với các hình hình học vốn biểu lộ các giai đoạn tiến triển trong sự biểu hiện của Kosmos.

But the student will certainly be liable to confusion if, in studying the Diagrams, he does not remember two things: (1) That, our plane being a plane of reflection, and therefore illusionary, the various notations are reversed and must be counted from below upwards. The musical scale begins from below upwards, commencing with the deep Do and ending with the far more acute Si. (2) That Kâma Rûpa (corresponding to Do in the musical scale), containing as it does all potentialities of Matter, is necessarily the starting-point on our plane. Further, it commences the notation on every plane, as corresponding to the “matter” of that plane. Again, the student must also remember that these notes have to be arranged in a circle, thus showing how Fa is the middle note of Nature. In short, musical notes, or Sounds, Colours and Numbers proceed from one to seven, and not from seven to one as erroneously shown in the spectrum of the prismatic colours, in which Red is counted first: a fact which necessitated my putting the principles and the days of the week at random in Diagram II. The musical scale and colours, according to the number of vibrations, proceed from the world of gross Matter to that of Spirit thus:

Nhưng đạo sinh chắc chắn sẽ dễ bị lẫn lộn nếu, khi nghiên cứu các Sơ đồ, y không nhớ hai điều: (1) Rằng, vì cõi của chúng ta là một cõi phản chiếu, và do đó có tính ảo tưởng, các ký hiệu khác nhau bị đảo ngược và phải được đếm từ dưới lên trên. Thang âm bắt đầu từ dưới lên trên, khởi đầu bằng Đô trầm và kết thúc bằng Si cao hơn nhiều. (2) Rằng Kama Rupa, tương ứng với Đô trong thang âm, vì chứa đựng mọi tiềm năng của Vật chất, tất yếu là điểm khởi đầu trên cõi của chúng ta. Hơn nữa, nó bắt đầu ký hiệu trên mỗi cõi, vì tương ứng với “vật chất” của cõi ấy. Lại nữa, đạo sinh cũng phải nhớ rằng các nốt này phải được sắp xếp trong một vòng tròn, qua đó cho thấy Fa là nốt giữa của Thiên nhiên như thế nào. Tóm lại, các nốt nhạc, hay Âm thanh, Màu sắc và Con số tiến từ một đến bảy, chứ không phải từ bảy đến một như được trình bày sai lầm trong quang phổ của các màu lăng kính, trong đó Đỏ được tính trước: một sự kiện khiến tôi phải đặt các nguyên khí và các ngày trong tuần một cách không theo thứ tự trong Sơ đồ II. Thang âm và các màu sắc, theo số lượng rung động, tiến từ thế giới Vật chất thô trược đến thế giới Tinh thần như sau:

Principles.

Colours.

Notes.

Numbers.

States of Matter.

Chhâyâ, Shadow or Double.

Violet.

Si.

7.

Ether.

Higher Manas, Spiritual Intelligence.

Indigo.

La.

6.

Critical State, called Air in Occultism.

Auric Envelope.

Blue.

Sol.

5.

Steam or Vapour.

Lower Manas, or Animal Soul.

Green.

Fa.

4.

Critical State.

Buddhi, or Spiritual Soul.

Yellow.

Mi.

3.

Water.

Prâna, or Life Principle.

Orange.

Re.

2.

Critical State.

Kâma Rûpa, the Seat of Animal Life.

Red.

Do.

1.

Ice.

Here again the student is asked to dismiss from his mind any correspondence between “principles” and numbers, for reasons already given. The Esoteric enumeration cannot be made to correspond with the conventional exoteric. The one is the reality, the other is classified according to illusive appearances. The human principles, as given in Esoteric Buddhism, were tabulated for beginners, so as not to confuse their minds. It was half a blind.

Ở đây một lần nữa, đạo sinh được yêu cầu gạt khỏi thể trí mình mọi tương ứng giữa “nguyên khí” và con số, vì những lý do đã nêu. Cách liệt kê huyền bí không thể làm cho tương ứng với cách liệt kê ngoại môn thông thường. Một bên là thực tại, bên kia được phân loại theo các sắc tướng ảo tưởng. Các nguyên khí con người, như được nêu trong Phật giáo Nội môn, đã được lập bảng cho người sơ cơ, để không làm rối trí họ. Đó là một nửa màn che.

Colours, Sounds and Forms. — Màu Sắc, Âm Thanh và Hình Tướng.

To proceed:

Tiếp tục:

Illustration: Square
 

The Point in the Circle is the Unmanifested Logos, corresponding to Absolute Life and Absolute Sound.

Điểm trong Vòng tròn là Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện, tương ứng với Sự Sống Tuyệt Đối và Âm Thanh Tuyệt Đối.

The first geometrical figure after the Circle or the Spheroid is the Triangle. It corresponds to Motion, Colour and Sound. Thus the Point in the Triangle represents the Second Logos, “Father-Mother,” or the White Ray which is no colour, since it contains potentially all colours. It is shown radiating from the Unmanifested Logos, or the Unspoken Word. Around the first Triangle is formed on the plane of Primordial Substance in this order (reversed as to our plane):

Hình hình học đầu tiên sau Vòng tròn hay Khối cầu là Tam giác. Nó tương ứng với Chuyển động, Màu sắc và Âm thanh. Như vậy, Điểm trong Tam giác biểu thị Thượng đế Ngôi Lời Thứ Hai, “Cha-Mẹ”, hay Cung Trắng vốn không phải là màu, vì nó chứa đựng tiềm tàng mọi màu sắc. Nó được trình bày như tỏa chiếu từ Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện, hay Linh từ Chưa Thốt Ra. Chung quanh Tam giác thứ nhất được hình thành trên cõi Chất liệu Nguyên thủy theo thứ tự này (bị đảo ngược đối với cõi của chúng ta):

Illustration: Square
 

Illustration: Triangle and Square
 

Illustration: Triangle and Square
 

A.

A.

(a) The Astral Double of Nature, or the Paradigm of all Forms.

(a) Bản sao Cảm dục của Thiên nhiên, hay Nguyên mẫu của mọi Hình tướng.

(b) Divine Ideation, or Universal Mind.

(b) Tư niệm Thiêng liêng, hay Vũ Trụ Trí.

(c) The Synthesis of Occult Nature, the Egg of Brahmâ, containing all and radiating all.

(c) Tổng hợp của Thiên nhiên Huyền bí, Trứng của Brahma, chứa đựng tất cả và tỏa chiếu tất cả.

(d) Animal or Material Soul of Nature, source of animal and vegetable intelligence and instinct.

(d) Linh hồn Động vật hay Vật chất của Thiên nhiên, nguồn của trí thông minh và bản năng động vật và thực vật.

(e) The aggregate of Dhyân Chohanic Intelligences, Fohat.

(e) Tập hợp các Trí tuệ Dhyani Chohan, Fohat.

(f) Life Principle in Nature.

(f) Nguyên khí Sự sống trong Thiên nhiên.

(g) The Life Procreating Principle in Nature. That which, on the spiritual plane, corresponds to sexual affinity on the lower.

(g) Nguyên khí Sự sống Sinh sản trong Thiên nhiên. Cái mà, trên cõi tinh thần, tương ứng với ái lực tính dục trên cõi thấp.

Mirrored on the plane of Gross Nature, the World of Reality is reversed, and becomes on Earth and our plane: B.

Được phản chiếu trên cõi Thiên nhiên Thô trược, Thế giới Thực tại bị đảo ngược, và trên Trái Đất cùng cõi của chúng ta trở thành: B.

(a) Red is the colour of manifested dual, or male and female. In man it is shown in its lowest animal form.

(a) Đỏ là màu của nhị nguyên biểu hiện, hay nam và nữ. Trong con người, nó được biểu hiện trong hình thức động vật thấp nhất của nó.

(b) Orange is the colour of the robes of the Yogîs and Buddhist Priests, the colour of the Sun and Spiritual Vitality, also of the Vital Principle.

(b) Cam là màu áo của các Yogi và Tu sĩ Phật giáo, màu của Mặt Trời và Sức sống Tinh thần, cũng là màu của Nguyên khí Sinh lực.

(c) Yellow or radiant Golden is the colour of the Spiritual, Divine Ray in every atom; in man of Buddhi.

(c) Vàng hay Vàng kim tỏa sáng là màu của Cung Tinh thần, Thiêng liêng trong mỗi nguyên tử; trong con người là màu của Bồ đề.

(d) Green and Red are, so to speak, interchangeable colours, for Green absorbs the Red, as being threefold stronger in its vibrations than the latter; and Green is the complementary colour of extreme Red. This is why the Lower Manas and Kâma Rûpa are respectively shown as Green and Red.

(d) Xanh lá và Đỏ, có thể nói, là các màu có thể thay thế cho nhau, vì Xanh lá hấp thu Đỏ, do rung động của nó mạnh gấp ba lần màu sau; và Xanh lá là màu bổ túc của Đỏ cực độ. Đây là lý do Hạ Manas và Kama Rupa lần lượt được trình bày là Xanh lá và Đỏ.

(e) The Astral Plane, or Auric Envelope in Nature and Man.

(e) Cõi cảm dục, hay Bao hào quang trong Thiên nhiên và Con người.

(f) The Mind or rational element in Man and Nature.

(f) Thể trí hay yếu tố lý trí trong Con người và Thiên nhiên.

(g) The most ethereal counterpart of the Body of man, the opposite pole, standing in point of vibration and sensitiveness as the Violet stands to the Red.

(g) Đối phần dĩ thái nhất của Thể con người, cực đối nghịch, đứng về phương diện rung động và độ nhạy cảm như Tím đứng đối với Đỏ.

The above is on the manifested plane; after which we get the seven and the Manifested Prism, or Man on Earth. With the latter, the Black Magician alone is concerned.

Điều trên thuộc về cõi biểu hiện; sau đó chúng ta có số bảy và Lăng kính Biểu Hiện, hay Con người trên Trái Đất. Chỉ riêng nhà hắc thuật mới liên quan đến điều sau.

In Kosmos, the gradations and correlations of Colours and Sounds, and therefore of Numbers are infinite. This is suspected even in Physics, for it is ascertained that there exist slower vibrations than those of the Red, the slowest perceptible to us, and far more rapid vibrations than those of the Violet, the most rapid that our senses can perceive. But on Earth, in our physical world, the range of perceptible vibrations is limited. Our physical senses cannot take cognizance of vibrations above and below the septenary and limited gradations of the prismatic colours, for such vibrations are incapable of causing in us the sensation of colour or sound. It will always be the graduated septenary and no more, unless we learn to paralyze our Quaternary and discern both the superior and inferior vibrations with our spiritual senses seated in the upper Triangle.

Trong Kosmos, các cấp độ và tương quan của Màu sắc và Âm thanh, và do đó của Con số, là vô hạn. Ngay cả trong Vật lý học, người ta cũng nghi ngờ điều này, vì đã xác định rằng có những rung động chậm hơn rung động của màu Đỏ, là rung động chậm nhất chúng ta có thể nhận biết, và những rung động nhanh hơn rất nhiều so với màu Tím, là rung động nhanh nhất mà các giác quan của chúng ta có thể nhận biết. Nhưng trên Trái Đất, trong thế giới hồng trần của chúng ta, phạm vi các rung động có thể nhận biết bị giới hạn. Các giác quan hồng trần của chúng ta không thể nhận thức các rung động ở trên và dưới các cấp độ thất phân và giới hạn của các màu lăng kính, vì những rung động như thế không thể gây nơi chúng ta cảm giác về màu sắc hay âm thanh. Nó sẽ luôn luôn là thất phân có cấp độ và không hơn, trừ phi chúng ta học cách làm tê liệt Tứ phân của mình và phân biện cả các rung động cao hơn lẫn thấp hơn bằng các giác quan tinh thần đặt trong Tam giác trên.

Now, on this plane of illusion, there are three fundamental colours, as demonstrated by Physical Science, Red, Blue and Yellow (or rather Orange-Yellow). Expressed in terms of the human principles they are: (1) Kâma Rûpa, the seat of the animal sensations, welded to, and serving as a vehicle for the Animal Soul or Lower Manas (Red and Green, as said, being interchangeable); (2) Auric Envelope, or the essence of man; and (3) Prâna, or Life Principle. But if from the realm of illusion, or the living man as he is on our Earth, subject to his sensuous perceptions only, we pass to that of semi-illusion, and observe the natural colours themselves, or those of the principles, that is, if we try to find out which are those that in the perfect man absorb all others, we shall find that the colours correspond and become complementary in the following way:

Bây giờ, trên cõi ảo tưởng này, có ba màu căn bản, như Khoa học Hồng trần đã chứng minh: Đỏ, Xanh lam và Vàng, hay đúng hơn là Cam-Vàng. Diễn đạt theo các nguyên khí con người, chúng là: (1) Kama Rupa, nơi trú của các cảm giác động vật, được hàn gắn với và phụng sự như một vận cụ cho Linh hồn Động vật hay Hạ Manas, vì Đỏ và Xanh lá, như đã nói, có thể thay thế cho nhau; (2) Bao hào quang, hay tinh chất của con người; và (3) Prana, hay Nguyên khí Sự sống. Nhưng nếu từ cõi giới ảo tưởng, hay con người sống như y hiện hữu trên Trái Đất của chúng ta, chỉ lệ thuộc vào các nhận thức giác quan của mình, chúng ta chuyển sang cõi bán ảo tưởng, và quan sát chính các màu tự nhiên, hay các màu của các nguyên khí, nghĩa là nếu chúng ta cố tìm xem những màu nào trong con người hoàn thiện hấp thu tất cả các màu khác, chúng ta sẽ thấy rằng các màu tương ứng và trở thành bổ túc theo cách sau:

Violet.

Tím.

(1) Red Green.

(1) Đỏ Xanh lá.

(2) Orange Blue.

(2) Cam Xanh lam.

(3) Yellow Indigo.

(3) Vàng Chàm.

Violet.

Tím.

A faint violet, mist-like form represents the Astral Man within an oviform bluish circle, over which radiate in ceaseless vibrations the prismatic colours. That colour is predominant, of which the corresponding principle is the most active generally, or at the particular moment when the clairvoyant perceives it. Such man appears during his waking states; and it is by the predominance of this or that colour, and by the intensity of its vibrations, that a clairvoyant, if he be acquainted with correspondences, can judge of the inner state or character of a person, for the latter is an open book to every practical Occultist.

Một hình tướng tím nhạt, như sương mù, tượng trưng cho Con người Cảm dục bên trong một vòng tròn hình trứng xanh lam nhạt, trên đó các màu lăng kính tỏa chiếu trong những rung động không ngừng. Màu nào có nguyên khí tương ứng hoạt động mạnh nhất nói chung, hoặc vào thời điểm cụ thể khi nhà thông nhãn nhận thấy nó, thì màu ấy chiếm ưu thế. Một con người như thế xuất hiện trong các trạng thái thức của y; và chính nhờ sự chiếm ưu thế của màu này hay màu kia, cùng cường độ rung động của nó, mà một nhà thông nhãn, nếu y quen thuộc với các tương ứng, có thể phán đoán trạng thái bên trong hay Tính cách của một người, vì người ấy là một quyển sách mở đối với mọi nhà huyền bí học thực hành.

In the trance state the Aura changes entirely, the seven prismatic colours being no longer discernible. In sleep also they are not all “at home.” For those which belong to the spiritual elements in the man, viz., Yellow, Buddhi; Indigo, Higher Manas; and the Blue of the Auric Envelope will be either hardly discernible, or altogether missing. The Spiritual Man is free during sleep, and though his physical memory may not become aware of it, lives, robed in his highest essence, in realms on other planes, in realms which are the land of reality, called dreams on our plane of illusion.

Trong trạng thái xuất thần, Hào quang thay đổi hoàn toàn, bảy màu lăng kính không còn phân biệt được nữa. Trong giấc ngủ cũng vậy, không phải tất cả chúng đều “ở nhà”. Vì những màu thuộc về các yếu tố tinh thần trong con người, tức Vàng, Bồ đề; Chàm, Thượng Manas; và Xanh lam của Bao hào quang, hoặc khó mà phân biệt được, hoặc hoàn toàn vắng mặt. Con Người Tinh Thần được tự do trong giấc ngủ, và dù ký ức hồng trần của y có thể không nhận biết điều đó, y sống, khoác lấy tinh chất cao nhất của mình, trong các cõi giới trên những cõi khác, trong các cõi là miền đất của thực tại, được gọi là những giấc mơ trên cõi ảo tưởng của chúng ta.

A good clairvoyant, moreover, if he had an opportunity of seeing a Yogî in the trance state and a mesmerized subject, side by side, would learn an important lesson in Occultism. He would learn to know the difference between self-induced trance and a hypnotic state resulting from extraneous influence. In the Yogî, the “principles” of the lower Quaternary disappear entirely. Neither Red, Green, Red-Violet nor the Auric Blue of the Body are to be seen; nothing but hardly perceptible vibrations of the golden-hued Prâna principle and a violet flame streaked with gold rushing upwards from the head, in the region where the Third Eye rests, and culminating in a point. If the student remembers that the true Violet, or the extreme end of the spectrum, is no compound colour of Red and Blue, but a homogeneous colour with vibrations seven times more rapid than those of the Red, 815 and that the golden hue is the essence of the three yellow hues from Orange Red to Yellow-Orange and Yellow, he will understand the reason why: he lives in his own Auric Body, now become the vehicle of Buddhi-Manas. On the other hand, in a subject in an artificially produced hypnotic or mesmeric trance, an effect of unconscious when not of conscious Black Magic, unless produced by a high Adept, the whole set of the principles will be present, with the Higher Manas paralyzed, Buddhi severed from it through that paralysis, and the red-violet Astral Body entirely subjected to the Lower Manas and Kâma Rûpa (the green and red animal monsters in us).

Hơn nữa, một nhà thông nhãn giỏi, nếu y có cơ hội nhìn thấy một Yogi trong trạng thái xuất thần và một đối tượng bị thôi miên đứng cạnh nhau, sẽ học được một bài học quan trọng trong Huyền bí học. Y sẽ học để biết sự khác biệt giữa trạng thái xuất thần tự tạo và trạng thái thôi miên phát sinh từ ảnh hưởng bên ngoài. Nơi Yogi, các “nguyên khí” của Tứ phân thấp biến mất hoàn toàn. Không thấy Đỏ, Xanh lá, Đỏ-Tím hay Xanh lam Hào quang của Thể; không có gì ngoài các rung động hầu như khó nhận thấy của nguyên khí Prana sắc vàng kim và một ngọn lửa tím có vệt vàng kim lao vút lên từ đầu, trong vùng nơi Con Mắt Thứ Ba an trụ, và kết thúc ở một điểm. Nếu đạo sinh nhớ rằng màu Tím thật, hay đầu cực của quang phổ, không phải là màu hỗn hợp của Đỏ và Xanh lam, mà là một màu đồng nhất có rung động nhanh gấp bảy lần rung động của Đỏ, và rằng sắc vàng kim là tinh chất của ba sắc vàng từ Cam Đỏ đến Vàng-Cam và Vàng, y sẽ hiểu lý do vì sao: y sống trong chính Thể Hào quang của mình, giờ đây đã trở thành vận cụ của Bồ đề-Manas. Trái lại, nơi một đối tượng trong trạng thái thôi miên hay mê miên được tạo ra nhân tạo, một hiệu quả của Hắc thuật vô thức nếu không phải hữu thức, trừ phi do một Chân sư cao cấp tạo ra, toàn bộ tập hợp các nguyên khí sẽ hiện diện, với Thượng Manas bị tê liệt, Bồ đề bị tách khỏi nó do sự tê liệt ấy, và Thể Cảm dục đỏ-tím hoàn toàn lệ thuộc vào Hạ Manas và Kama Rupa, tức những quái vật động vật xanh lá và đỏ trong chúng ta.

One who comprehends well the above explanations will readily see how important it is for every student, whether he is striving for practical Occult powers or only for the purely psychic and spiritual gifts of clairvoyance and metaphysical knowledge, to master thoroughly the right correspondences between the human, or nature principles, and those of Kosmos. It is ignorance which leads materialistic Science to deny the inner man and his Divine powers; knowledge and personal experience that allow the Occultist to affirm that such powers are as natural to man as swimming to fishes. It is like a Laplander, in all sincerity, denying the possibility of the catgut, strung loosely on the sounding-board of a violin producing comprehensive sounds or melody. Our principles are the Seven-Stringed Lyre of Apollo, truly. In this our age, when oblivion has shrouded ancient knowledge, men’s faculties are no better than the loose strings of the violin to the Laplander. But the Occultist who knows how to tighten them and tune his violin in harmony with the vibrations of colour and sound, will extract divine harmony from them. The combination of these powers and the attuning of the Microcosm and the Macrocosm will give the geometrical equivalent of the invocation “Om Mani Padme Hum.”

Người nào thấu hiểu rõ các giải thích trên sẽ dễ dàng thấy tầm quan trọng đối với mọi đạo sinh, dù y đang nỗ lực đạt các quyền năng Huyền bí thực hành hay chỉ các ân huệ thuần thông linh và tinh thần của thông nhãn và tri thức siêu hình, trong việc làm chủ trọn vẹn các tương ứng đúng đắn giữa các nguyên khí con người, hay các nguyên khí thiên nhiên, và các nguyên khí của Kosmos. Chính vô minh khiến Khoa học duy vật phủ nhận con người bên trong và các quyền năng Thiêng liêng của y; chính tri thức và kinh nghiệm cá nhân cho phép nhà huyền bí học khẳng định rằng những quyền năng như thế tự nhiên đối với con người như việc bơi lội đối với cá. Điều này giống như một người Lapland, với tất cả sự chân thành, phủ nhận khả năng dây ruột mèo, được căng lỏng trên thùng cộng hưởng của đàn vĩ cầm, có thể tạo ra âm thanh hay giai điệu dễ hiểu. Các nguyên khí của chúng ta thật sự là Cây đàn Lyre Bảy Dây của Apollo. Trong thời đại chúng ta, khi sự lãng quên đã che phủ tri thức cổ xưa, các năng lực của con người chẳng khá hơn những dây đàn vĩ cầm lỏng lẻo đối với người Lapland. Nhưng nhà huyền bí học, người biết cách siết chặt chúng và lên dây cây vĩ cầm của mình hài hòa với các rung động của màu sắc và âm thanh, sẽ rút ra từ chúng hòa âm thiêng liêng. Sự kết hợp các quyền năng này và sự chỉnh âm Tiểu thiên địa với Đại thiên địa sẽ đem lại tương đương hình học của lời khẩn cầu “Om Mani Padme Hum”.

This was why the previous knowledge of music and geometry was obligatory in the School of Pythagoras.

Đó là lý do vì sao tri thức trước đó về âm nhạc và hình học là bắt buộc trong Trường phái Pythagoras.

The Roots Of Colour And Sound. — Cội Rễ Của Màu Sắc Và Âm Thanh.

Further, each of the Primordial Seven, the first Seven Rays forming the Manifested Logos, is again sevenfold. Thus, as the seven colours of the solar spectrum correspond to the seven Rays, or Hierarchies, so each of these latter has again its seven divisions corresponding to the same series of colours. But in this case one colour, viz., that which characterizes the particular Hierarchy as a whole, is predominant and more intense than the others.

Hơn nữa, mỗi một trong Bảy Nguyên Thủy, bảy Cung đầu tiên tạo thành Thượng đế Ngôi Lời Biểu Hiện, lại là thất phân. Như vậy, cũng như bảy màu của quang phổ mặt trời tương ứng với bảy Cung, hay Huyền Giai, thì mỗi Huyền Giai sau này lại có bảy phân bộ tương ứng với cùng chuỗi màu ấy. Nhưng trong trường hợp này, một màu, tức màu đặc trưng cho Huyền Giai riêng biệt như một tổng thể, chiếm ưu thế và mạnh hơn các màu khác.

These Hierarchies can only be symbolized as concentric circles of prismatic colours; each Hierarchy being represented by a series of seven concentric circles, each circle representing one of the prismatic colours in their natural order. But in each of these “wheels” one circle will be brighter and more vivid in colour than the rest, and the wheel will have a surrounding Aura (a fringe, as the physicists call it) of that colour. This colour will be the characteristic colour of that Hierarchy as a whole. Each of these Hierarchies furnishes the essence (the Soul) and is the “Builder” of one of the seven kingdoms of Nature which are the three elemental kingdoms, the mineral, the vegetable, the animal, and the kingdom of spiritual man. 816 Moreover, each Hierarchy furnishes the Aura of one of the seven principles in man with its specific colour. Further, as each of these Hierarchies is the Ruler of one of the Sacred Planets, it will easily be understood how Astrology came into existence, and that real Astrology has a strictly scientific basis.

Các Huyền Giai này chỉ có thể được tượng trưng như các vòng tròn đồng tâm của màu lăng kính; mỗi Huyền Giai được biểu thị bằng một chuỗi bảy vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn biểu thị một trong các màu lăng kính theo trật tự tự nhiên của chúng. Nhưng trong mỗi “bánh xe” ấy, một vòng tròn sẽ sáng hơn và có màu sống động hơn phần còn lại, và bánh xe sẽ có một Hào quang bao quanh, một viền, như các nhà vật lý gọi, thuộc màu ấy. Màu này sẽ là màu đặc trưng của Huyền Giai ấy như một tổng thể. Mỗi Huyền Giai cung cấp tinh chất, tức Linh hồn, và là “Đấng Kiến Tạo” của một trong bảy giới của Thiên nhiên, vốn là ba giới hành khí, giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật, và giới của con người tinh thần. Hơn nữa, mỗi Huyền Giai cung cấp cho Hào quang của một trong bảy nguyên khí nơi con người màu sắc riêng biệt của nó. Thêm nữa, vì mỗi Huyền Giai này là Đấng Cai Quản một trong các Hành tinh Thiêng liêng, nên người ta sẽ dễ dàng hiểu Chiêm tinh học đã phát sinh như thế nào, và rằng Chiêm tinh học chân chính có một nền tảng hoàn toàn khoa học.

The symbol adopted in the Eastern School to represent the Seven Hierarchies of creative Powers is a wheel of seven concentric circles, each circle being coloured with one of the seven colours; call them Angels, if you will, or Planetary Spirits, or, again, the Seven Rulers of the Seven Sacred Planets of our system, as in our present case. At all events, the concentric circles stand as symbols for Ezekiel’s Wheels with some Western Occultists and Kabalists, and for the “Builders” or Prajâpati with us.

Biểu tượng được chấp nhận trong Trường phái Đông phương để biểu thị Bảy Huyền Giai của các Quyền năng sáng tạo là một bánh xe gồm bảy vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn được tô bằng một trong bảy màu; hãy gọi các vị ấy là Thiên thần, nếu bạn muốn, hay Chân Linh Hành Tinh, hay lại nữa là Bảy Đấng Cai Quản của Bảy Hành tinh Thiêng liêng trong hệ của chúng ta, như trong trường hợp hiện tại. Dù sao, các vòng tròn đồng tâm cũng là biểu tượng cho các Bánh xe của Ezekiel đối với một số nhà huyền bí học và Kabalist phương Tây, và cho các “Đấng Kiến Tạo” hay Prajapati đối với chúng tôi.

DIAGRAM III.

SƠ ĐỒ III.

The student should carefully examine the following Diagram.

Đạo sinh nên xem xét cẩn thận Sơ đồ sau.

Diagram III
 

Thus the Linga Sharîra is derived from the Violet sub-ray of the Violet Hierarchy; the Higher Manas is similarly derived from the Indigo sub-ray of the Indigo Hierarchy, and so on. Every man being born under a certain planet, there will always be a predominance of that planet’s colour in him, because that “principle” wall rule in him which has its origin in the Hierarchy in question. There will also be a certain amount of the colour derived from the other planets present in his Aura, but that of the ruling planet will be strongest. Now a person in whom, say, the Mercury principle is predominant, will, by acting upon the Mercury principle in another person born under a different planet, be able to get him entirely under his control. For the stronger Mercury principle in him will overpower the weaker Mercurial element in the other. But he will have little power over persons born under the same planet as himself. This is the key to the Occult Sciences of Magnetism and Hypnotism.

Như vậy, Linga Sharira phát xuất từ cung phụ Tím của Huyền Giai Tím; Thượng Manas cũng phát xuất tương tự từ cung phụ Chàm của Huyền Giai Chàm, và cứ thế. Vì mỗi người sinh ra dưới một hành tinh nào đó, nên trong y sẽ luôn luôn có sự chiếm ưu thế của màu hành tinh ấy, bởi “nguyên khí” có nguồn gốc trong Huyền Giai đang xét sẽ cai quản nơi y. Cũng sẽ có một lượng màu nhất định phát xuất từ các hành tinh khác hiện diện trong Hào quang của y, nhưng màu của hành tinh cai quản sẽ mạnh nhất. Bấy giờ, một người mà trong đó, chẳng hạn, nguyên khí Sao Thủy chiếm ưu thế, bằng cách tác động lên nguyên khí Sao Thủy trong một người khác sinh ra dưới một hành tinh khác, sẽ có thể đặt người ấy hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của mình. Vì nguyên khí Sao Thủy mạnh hơn trong y sẽ áp đảo yếu tố Sao Thủy yếu hơn nơi người kia. Nhưng y sẽ có ít quyền năng đối với những người sinh ra dưới cùng hành tinh với mình. Đây là chìa khóa của các Khoa học Huyền bí về Từ điện và Thôi miên.

The student will understand that the Orders and Hierarchies are here named after their corresponding colours, so as to avoid using numerals, which would be confusing in connection with the human principles, as the latter have no proper numbers of their own. The real Occult names of these Hierarchies cannot now be given.

Đạo sinh sẽ hiểu rằng các Đẳng cấp và Huyền Giai ở đây được gọi theo các màu tương ứng của chúng, để tránh dùng số, điều sẽ gây lẫn lộn khi liên hệ với các nguyên khí con người, vì các nguyên khí sau không có những con số riêng thích đáng. Hiện nay không thể nêu ra các danh xưng Huyền bí thật sự của những Huyền Giai này.

The student must, however remember that the colours which we see with our physical eyes are not the true colours of Occult Nature, but are merely the effects produced on the mechanism of our physical organs by certain rates of vibration. For instance, Clerk Maxwell has demonstrated that the retinal effects of any colour may be imitated by properly combining three other colours. It follows, therefore, that our retina has only three distinct colour sensations, and we therefore do not perceive the seven colours which really exist, but only their “imitations,” so to speak, in our physical organism.

Tuy nhiên, đạo sinh phải nhớ rằng các màu sắc mà chúng ta thấy bằng mắt hồng trần không phải là các màu sắc chân thật của Thiên nhiên Huyền bí, mà chỉ là các hiệu quả được tạo ra trên bộ máy của các cơ quan hồng trần của chúng ta bởi những tốc độ rung động nhất định. Chẳng hạn, Clerk Maxwell đã chứng minh rằng các hiệu quả trên võng mạc của bất kỳ màu nào cũng có thể được bắt chước bằng cách kết hợp đúng ba màu khác. Do đó, suy ra rằng võng mạc của chúng ta chỉ có ba cảm giác màu sắc riêng biệt, và vì thế chúng ta không nhận thức bảy màu thực sự hiện hữu, mà chỉ nhận thức “các mô phỏng” của chúng, có thể nói như vậy, trong cơ thể hồng trần của chúng ta.

Thus, for instance, the Orange-Red of the first “Triangle” is not a combination of Orange and Red, but the true “spiritual” Red, if the term may be allowed, while the Red (blood-red) of the spectrum is the colour of Kâma, animal desire, and is inseparable from the material plane.

Như vậy, chẳng hạn, màu Cam-Đỏ của “Tam giác” thứ nhất không phải là sự kết hợp của Cam và Đỏ, mà là màu Đỏ “tinh thần” chân thật, nếu có thể dùng thuật ngữ này; trong khi màu Đỏ, màu đỏ máu, của quang phổ là màu của Kama, dục vọng động vật, và không thể tách rời khỏi cõi vật chất.

The Unity Of Deity. — Sự Hợp Nhất Của Thượng Đế.

Esotericism, pure and simple, speaks of no personal God; therefore are we considered as Atheists. But, in reality, Occult Philosophy, as a whole, is based absolutely on the ubiquitous presence of God, the Absolute Deity; and if It Itself is not speculated upon, as being too sacred and yet incomprehensible as a Unit to the finite intellect, yet the entire Philosophy is based upon Its Divine Powers as being the Source of all that breathes and lives and has existence. In every ancient Religion the One was demonstrated by the many. In Egypt and India, in Chaldæa and Phœnicia, and finally in Greece, the ideas about Deity were expressed by multiples of three, five and seven; and also by eight, nine and twelve great Gods, which symbolized the powers and properties of the One and Only Deity. This was related to that infinite subdivision by irregular and odd numbers to which the metaphysics of these nations subjected their One Divinity. Thus constituted, the cycle of the Gods had all the qualities and attributes of the One Supreme and Unknowable; for in this collection of divine Personalities, or rather of Symbols personified, dwells the One God, the God One, that God which, in India, is said to have no Second.

Huyền bí học, thuần túy và đơn giản, không nói đến một Thượng đế ngôi vị; vì thế chúng tôi bị xem là những người vô thần. Nhưng thật ra, Triết học Huyền bí, xét như một toàn thể, đặt nền tảng tuyệt đối trên sự hiện diện khắp nơi của Thượng đế, Thượng đế Tuyệt đối; và nếu chính Ngài không được suy luận, vì quá thiêng liêng nhưng lại không thể hiểu thấu như một Đơn vị đối với trí tuệ hữu hạn, thì toàn bộ Triết học vẫn đặt nền trên các Quyền năng Thiêng liêng của Ngài như Nguồn cội của tất cả những gì thở, sống và hiện hữu. Trong mọi Tôn giáo cổ đại, Đấng Duy Nhất được chứng minh qua số nhiều. Ở Ai Cập và Ấn Độ, ở Chaldea và Phoenicia, và cuối cùng ở Hy Lạp, các ý niệm về Thượng đế được biểu đạt bằng các bội số của ba, năm và bảy; và cũng bằng tám, chín và mười hai Thượng đế lớn, tượng trưng cho các quyền năng và thuộc tính của Thượng đế Duy Nhất và Độc Nhất. Điều này liên hệ đến sự phân chia vô hạn bằng các số bất quy tắc và lẻ mà siêu hình học của các dân tộc này đã áp dụng cho Thần tính Duy Nhất của họ. Được cấu thành như vậy, chu kỳ của các Thượng đế có mọi phẩm tính và thuộc tính của Đấng Duy Nhất Tối Cao và Bất Khả Tri; vì trong tập hợp các Ngôi vị thiêng liêng này, hay đúng hơn là các Biểu tượng được nhân cách hóa, cư ngụ Thượng đế Duy Nhất, Thượng đế Một, Thượng đế mà ở Ấn Độ được nói là không có Đấng Thứ Hai.

O God Ani [the Spiritual Sun], thou residest in the agglomeration of thy divine personages. 817

Ôi Thượng đế Ani [Mặt Trời Tinh thần], Ngài cư ngụ trong tập hợp các ngôi vị thiêng liêng của Ngài.

These words show the belief of the ancients that all manifestation proceeds from one and the same Source, all emanating from the one identical Principle which can never be completely developed except in and through the collective and entire aggregate of Its emanations.

Những lời này cho thấy niềm tin của người xưa rằng mọi biểu hiện đều phát xuất từ một và cùng một Nguồn, tất cả đều xuất lộ từ một Nguyên khí đồng nhất duy nhất, vốn không bao giờ có thể được khai mở hoàn toàn ngoại trừ trong và qua toàn bộ tập hợp trọn vẹn các xuất lộ của Ngài.

The Pleroma of Valentinus is absolutely the Space of Occult Philosophy; for Pleroma means the “Fullness,” the superior regions. It is the sum total of all the Divine manifestations and emanations expressing the plenum or totality of the rays proceeding from the One, differentiating on all the planes, and transforming themselves into Divine Powers, called Angels and Planetary Spirits in the Philosophy of every nation. The Gnostic Æons and Powers of the Pleroma are made to speak as the Devas and Siddhas of the Purânas. The Epinoia, the first female manifestation of God, the “Principle” of Simon Magus and Saturninus, holds the same language as the Logos of Basilides; and each of these is traced to the purely esoteric Alêtheia, the Truth of the Mysteries. All of them, we are taught, repeat at different times and in different languages the magnificent hymn of the Egyptian papyrus, thousands of years old:

Pleroma của Valentinus chính là Không gian của Triết học Huyền bí; vì Pleroma có nghĩa là “Sự Tròn Đầy”, các vùng cao hơn. Nó là tổng thể của mọi biểu hiện và xuất lộ Thiêng liêng, diễn đạt sự sung mãn hay toàn thể các tia phát xuất từ Đấng Duy Nhất, biến phân trên mọi cõi, và chuyển đổi chính mình thành các Quyền năng Thiêng liêng, được gọi là Thiên thần và Chân Linh Hành Tinh trong Triết học của mọi dân tộc. Các Aeon và Quyền năng Gnostic của Pleroma được làm cho nói như các Deva và Siddha trong Purana. Epinoia, biểu hiện nữ đầu tiên của Thượng đế, “Nguyên khí” của Simon Magus và Saturninus, nói cùng một ngôn ngữ như Thượng đế Ngôi Lời của Basilides; và mỗi vị trong số này đều được truy về Aletheia thuần huyền bí, Chân lý của các Bí nhiệm. Tất cả các vị ấy, như chúng ta được dạy, lặp lại vào những thời điểm khác nhau và bằng những ngôn ngữ khác nhau bài thánh ca tráng lệ của bản giấy cói Ai Cập, đã hàng nghìn năm tuổi:

The Gods adore thee, they greet thee, O the One Dark Truth.

Các Thượng đế tôn thờ Ngài, các Ngài chào mừng Ngài, ô Chân lý Tối Tăm Duy Nhất.

And addressing Ra, they add:

Và khi thưa với Ra, các Ngài thêm:

The Gods bow before thy Majesty, by exalting the Souls of that which produces them… and say to thee, Peace to all emanations from the Unconscious Father of the Conscious Fathers of the Gods…. Thou producer of beings, we adore the souls which emanate from thee. Thou begettest us, O thou Unknown, and we greet thee in worshipping each God-Soul which descendeth from thee and liveth in us.

Các Thượng đế cúi mình trước Uy nghi của Ngài, bằng cách tôn vinh các Linh hồn của cái sản sinh ra các Ngài… và nói với Ngài: Bình an cho mọi xuất lộ từ Cha Vô Thức của các Cha Hữu Thức của các Thượng đế…. Ngài là Đấng sản sinh các hữu thể, chúng con tôn thờ các linh hồn xuất lộ từ Ngài. Ngài sinh ra chúng con, ô Đấng Bất Khả Tri, và chúng con chào mừng Ngài trong khi tôn thờ mỗi Linh hồn-Thượng đế giáng xuống từ Ngài và sống trong chúng con.

This is the source of the assertion:

Đây là nguồn của lời khẳng định:

Know ye not that ye are Gods and the temple of God.

Các ngươi há chẳng biết rằng các ngươi là các Thượng đế và là đền thờ của Thượng đế sao.

This is shown in the “Roots of Ritualism in Church and Masonry,” in Lucifer for March, 1889. Truly then, as said seventeen centuries ago, “Man cannot possess Truth (Alêtheia) except he participate in the Gnosis.” So we may say now: No man can know the Truth unless he studies the secrets of the Pleroma of Occultism; and these secrets are all in the Theogony of the ancient Wisdom-Religion, which is the Alêtheia of Occult Science.

Điều này được trình bày trong “Cội Rễ của Nghi lễ trong Giáo hội và Hội Tam Điểm”, trong Lucifer số tháng Ba, 1889. Thật vậy, như đã nói mười bảy thế kỷ trước, “Con người không thể sở hữu Chân lý, Aletheia, trừ phi y tham dự vào Gnosis.” Vì thế giờ đây chúng ta có thể nói: Không ai có thể biết Chân lý trừ phi y nghiên cứu các bí mật của Pleroma trong Huyền bí học; và các bí mật này đều nằm trong Thần phổ của Minh Triết-Tôn giáo cổ xưa, vốn là Aletheia của Khoa học Huyền bí.

Paper III. A Word Concerning the Earlier Papers. — Luận Văn III. Một Lời Về Các Luận Văn Trước.

As many have written and almost complained to me that they could find no practical clear application of certain diagrams appended to the first two Papers, and others have spoken of their abstruseness, a short explanation is necessary.

Vì nhiều người đã viết thư và hầu như phàn nàn với tôi rằng họ không thể tìm thấy ứng dụng thực tiễn rõ ràng nào của một số sơ đồ đính kèm hai Luận văn đầu, và những người khác đã nói về tính khó hiểu của chúng, nên cần có một giải thích ngắn.

The reason of this difficulty in most cases has been that the point of view taken was erroneous; the purely abstract and metaphysical was mistaken for, and confused with, the concrete and the physical. Let us take for example the diagrams on page 477 (Paper II.,) and say that these are entirely macrocosmic and ideal. It must be remembered that the study of Occultism proceeds from Universals to Particulars and not the reverse way, as accepted by Science. As Plato was an Initiate, he very naturally used the former method, while Aristotle, never having been initiated, scoffed at his master, and, elaborating a system of his own, left it as an heirloom to be adopted and improved by Bacon. Of a truth the aphorism of Hermetic Wisdom, “As above, so below,” applies to all Esoteric instruction; but we must begin with the above; we must learn the formula before we can sum the series.

Lý do của khó khăn này trong hầu hết các trường hợp là vì quan điểm được chọn đã sai; cái thuần trừu tượng và siêu hình đã bị nhầm lẫn với, và lẫn lộn cùng, cái cụ thể và hồng trần. Chúng ta hãy lấy ví dụ các sơ đồ ở trang 477 trong Luận văn II, và nói rằng chúng hoàn toàn thuộc về Đại thiên địa và lý tưởng. Cần nhớ rằng việc nghiên cứu Huyền bí học tiến từ Phổ quát đến Đặc thù, chứ không theo chiều ngược lại như Khoa học chấp nhận. Vì Plato là một điểm đạo đồ, ông rất tự nhiên dùng phương pháp trước, trong khi Aristotle, chưa từng được điểm đạo, đã chế giễu thầy mình, và khi xây dựng một hệ thống của riêng mình, đã để lại nó như một di sản để Bacon tiếp nhận và cải tiến. Quả thật, châm ngôn của Minh triết Hermetic, “trên sao, dưới vậy”, áp dụng cho mọi giáo huấn Nội môn; nhưng chúng ta phải bắt đầu với cái ở trên; chúng ta phải học công thức trước khi có thể tổng kết chuỗi.

The two figures, therefore, are not meant to represent any two particular planes, but are the abstraction of a pair of planes, explanatory of the law of reflection, just as the Lower Manas is a reflection of the Higher. They must therefore be taken in the highest metaphysical sense.

Do đó, hai hình không nhằm biểu thị bất kỳ hai cõi riêng biệt nào, mà là sự trừu tượng của một cặp cõi, giải thích định luật phản chiếu, cũng như Hạ Manas là phản chiếu của Thượng Manas. Vì vậy, chúng phải được hiểu theo nghĩa siêu hình cao nhất.

The diagrams are only intended to familiarize students with the leading ideas of Occult correspondences, the very genius of metaphysical, or macrocosmic and spiritual Occultism forbidding the use of figures or even symbols further than as temporary aids. Once define an idea in words, and it loses its reality; once figure a metaphysical idea, and you materialize its spirit. Figures must be used only as ladders to scale the battlements, ladders to be disregarded when once the foot is set upon the rampart.

Các sơ đồ chỉ nhằm làm cho các đạo sinh quen thuộc với những ý tưởng chủ đạo của các tương ứng Huyền bí, vì chính thiên tài của Huyền bí học siêu hình, hay thuộc Đại thiên địa và tinh thần, cấm việc dùng hình vẽ hay thậm chí biểu tượng xa hơn mức là những trợ cụ tạm thời. Một khi định nghĩa một ý tưởng bằng lời, nó mất đi thực tại của mình; một khi minh họa một ý tưởng siêu hình bằng hình vẽ, bạn vật chất hóa tinh thần của nó. Các hình vẽ chỉ phải được dùng như những chiếc thang để leo lên tường thành, những chiếc thang cần được bỏ qua một khi bàn chân đã đặt lên lũy thành.

Let students, therefore, be very careful to spiritualize the Papers and avoid materializing them; let them always try to find the highest meaning possible, confident that in proportion as they approach the material and visible in their speculations on the Papers, so far are they from the right understanding of them. This is especially the case with these first Papers and Diagrams, for as in all true arts, so in Occultism, we must first learn the theory before we are taught the practice.

Vì vậy, các đạo sinh hãy hết sức cẩn trọng tinh thần hóa các Luận văn và tránh vật chất hóa chúng; hãy luôn cố gắng tìm ra ý nghĩa cao nhất có thể, tin chắc rằng họ càng tiến gần đến điều vật chất và hữu hình trong những suy đoán của mình về các Luận văn, thì họ càng xa sự thấu hiểu đúng đắn về chúng. Điều này đặc biệt đúng với các Luận văn và Biểu đồ đầu tiên này, vì cũng như trong mọi nghệ thuật chân chính, trong Huyền bí học cũng vậy, trước hết chúng ta phải học lý thuyết trước khi được dạy thực hành.

Concerning Secrecy. — Về Sự Bí Mật.

Students ask: Why such secrecy about the details of a doctrine the body of which has been publicly revealed, as in Esoteric Buddhism and the Secret Doctrine?

Các đạo sinh hỏi: Vì sao lại có sự bí mật như thế về các chi tiết của một giáo lý mà phần thân chính của nó đã được công khai mặc khải, như trong Phật Giáo Nội Môn và Giáo Lý Bí Nhiệm?

To this Occultism would reply: for two reasons:— (a) The whole truth is too sacred to be given out promiscuously.

Huyền bí học sẽ đáp lại điều này: vì hai lý do:— (a) Toàn bộ chân lý quá thiêng liêng để có thể được trao ra một cách bừa bãi.

(b) The knowledge of all the details and missing links in the exoteric teachings is too dangerous in profane hands.

(b) Tri thức về mọi chi tiết và các mắt xích còn thiếu trong những giáo huấn công truyền quá nguy hiểm nếu rơi vào tay phàm tục.

The truths revealed to man by the “Planetary Spirits”—the highest Kumâras, those who incarnate no longer in the Universe during this Mahâmanvantara—who will appear on earth as Avatâras only at the beginning of every new human Race, and at the junctions or close of the two ends of the small and great cycles—in time, as man became more animalized, were made to fade away from his memory. Yet, though these Teachers remain with man no longer than the time required to impress upon the plastic minds of child-humanity the eternal verities they teach, Their Spirit remains vivid though latent in mankind. And the full knowledge of the primitive revelation has remained always with a few elect, and has been transmitted from that time up to the present, from one generation of Adepts to another. As the Teachers say in the Occult Primer: This is done so as to ensure them [the eternal truths] from being utterly lost or forgotten in ages hereafter by the forthcoming generations.

Những chân lý được các “Chân Linh Hành Tinh” mặc khải cho con người—các Kumara cao nhất, những Đấng không còn lâm phàm trong Vũ trụ này trong suốt Đại giai kỳ sinh hóa này—những Đấng sẽ xuất hiện trên Trái Đất như các Đấng Hoá Thân chỉ vào lúc khởi đầu của mỗi nhân loại mới, và tại những điểm giao hội hoặc kết thúc của hai đầu các chu kỳ nhỏ và lớn—theo thời gian, khi con người trở nên thú tính hơn, đã bị làm phai mờ khỏi ký ức của y. Tuy nhiên, dù các Huấn sư này không ở lại với con người lâu hơn thời gian cần thiết để khắc ghi vào những thể trí mềm dẻo của nhân loại ấu thơ các chân lý vĩnh cửu mà Các Ngài giảng dạy, Tinh thần của Các Ngài vẫn sống động, dù tiềm ẩn, trong nhân loại. Và tri thức đầy đủ về mặc khải nguyên thủy luôn được giữ lại nơi một số ít người được chọn, và đã được truyền từ thời ấy cho đến hiện nay, từ thế hệ Chân sư này sang thế hệ Chân sư khác. Như các Huấn sư nói trong Sách Vỡ Lòng Huyền Bí: Điều này được thực hiện để bảo đảm rằng chúng [các chân lý vĩnh cửu] sẽ không bị hoàn toàn mất đi hoặc bị quên lãng trong những thời đại về sau bởi các thế hệ sắp đến.

The mission of the Planetary Spirit is but to strike the key-note of Truth. When once He has directed the vibration of the latter to run its course uninterruptedly along the concatenation of the race to the end of the cycle, He disappears from our earth until the following Planetary Manvantara. The mission of any teacher of Esoteric truths, whether he stands at the top or the foot of the ladder of knowledge, is precisely the same; as above, so below. I have only orders to strike the key-note of the various Esoteric truths among the learners as a body. Those units among you who will have raised themselves on the “Path” over their fellow-students, in their Esoteric sphere, will, as the “Elect” spoken of did and do in the Parent Brotherhoods, receive the last explanatory details and the ultimate key to what they learn. No one, however, can hope to gain this privilege before the Masters—not my humble self—find him or her worthy.

Sứ mệnh của Chân Linh Hành Tinh chỉ là xướng lên chủ âm của Chân Lý. Một khi Ngài đã định hướng rung động của chân lý ấy để nó vận hành liên tục theo chuỗi nối tiếp của nhân loại cho đến cuối chu kỳ, Ngài biến mất khỏi Trái Đất của chúng ta cho đến Giai kỳ sinh hóa Hành Tinh kế tiếp. Sứ mệnh của bất cứ huấn sư nào về các chân lý Nội môn, dù y đứng ở đỉnh hay ở chân chiếc thang tri thức, cũng chính xác như vậy; trên sao, dưới vậy. Tôi chỉ có huấn lệnh xướng lên chủ âm của các chân lý Nội môn khác nhau giữa những người học xét như một tập thể. Những đơn vị trong các bạn, những người sẽ tự nâng mình trên “Đường Đạo” vượt lên trên các môn sinh đồng học, trong phạm vi Nội môn của mình, sẽ, như những “Người Được Chọn” đã và đang làm trong các Huynh đệ Đoàn Mẹ, tiếp nhận những chi tiết giải thích cuối cùng và chìa khóa tối hậu cho điều họ học. Tuy nhiên, không ai có thể hy vọng đạt được đặc ân này trước khi các Chân sư—chứ không phải bản thân khiêm tốn của tôi—nhận thấy y xứng đáng.

If you wish to know the real raison d’être for this policy, I now give it to you. No use my repeating and explaining what all of you know as well as myself; at the very beginning, events have shown that no caution can be dispensed with. Of our body of several hundred men and women, many did not seem to realize either the awful sacredness of the pledge (which some took at the end of their pen), or the fact that their personality has to be entirely disregarded, when brought face to face with their Higher Self; or that all their words and professions went for naught unless corroborated by actions. This was human nature, and no more; therefore it was passed leniently by, and a new lease accorded by the Master. But apart from this there is a danger lurking in the nature of the present cycle itself. Civilized humanity, however carefully guarded by its invisible Watchers, the Nirmânakâyas, who watch over our respective races and nations, is yet, owing to its collective Karma, terribly under the sway of the traditional opposers of the Nirmânakâyas—the “Brothers of the Shadow,” embodied and disembodied; and this, as has already been told you, will last to the end of the first Kali Yuga cycle ( 1897), and a few years beyond, as the smaller dark cycle happens to overlap the great one. Thus, notwithstanding all precautions, terrible secrets are often revealed to entirely unworthy persons by the efforts of the “Dark Brothers” and their working on human brains. This is entirely owing to the simple fact that in certain privileged organisms, vibrations of the primitive truth put in motion by the Planetary Beings are set up, in what Western philosophy would term innate ideas, and Occultism “flashes of genius.” 818 Some such idea based on eternal truth is awakened, and all that the watchful Powers can do is to prevent its entire revelation.

Nếu các bạn muốn biết lý do tồn tại thật sự của chính sách này, giờ đây tôi trao nó cho các bạn. Tôi không cần lặp lại và giải thích điều tất cả các bạn đều biết rõ như chính tôi; ngay từ lúc khởi đầu, các biến cố đã cho thấy rằng không thể bỏ qua bất cứ sự thận trọng nào. Trong tập thể vài trăm người nam và nữ của chúng ta, nhiều người dường như không nhận ra tính thiêng liêng đáng sợ của lời thệ nguyện mà một số đã ký một cách hời hợt, cũng như không nhận ra sự kiện rằng phàm ngã của họ phải bị hoàn toàn bỏ qua khi được đặt đối diện với Bản Ngã Cao Siêu của họ; hoặc rằng mọi lời nói và tuyên bố của họ đều chẳng có giá trị gì nếu không được hành động xác chứng. Đó chỉ là bản chất con người, không hơn; vì vậy điều ấy đã được khoan dung bỏ qua, và Chân sư đã ban cho một cơ hội mới. Nhưng ngoài điều này, còn có một nguy cơ ẩn tàng trong chính bản chất của chu kỳ hiện tại. Nhân loại văn minh, dù được các Đấng Canh Giữ vô hình của mình, các Nirmanakaya, bảo vệ cẩn trọng đến đâu—Các Ngài trông nom các nhân loại và quốc gia tương ứng của chúng ta—vẫn, do nghiệp quả tập thể của mình, đang ở dưới sự chi phối khủng khiếp của những kẻ chống đối truyền thống của các Nirmanakaya—các “Huynh Đệ Bóng Tối”, cả đã nhập thể lẫn không nhập thể; và điều này, như đã nói với các bạn, sẽ kéo dài đến cuối chu kỳ Kali Yuga thứ nhất ( 1897), và thêm vài năm nữa, vì chu kỳ tối nhỏ hơn tình cờ chồng lấn lên chu kỳ lớn. Do đó, bất chấp mọi phòng ngừa, những bí mật khủng khiếp thường được tiết lộ cho những người hoàn toàn không xứng đáng do nỗ lực của các “Huynh Đệ Bóng Tối” và tác động của họ lên bộ não con người. Điều này hoàn toàn do sự kiện đơn giản rằng trong một số cơ cấu hữu cơ đặc ân nào đó, những rung động của chân lý nguyên thủy do các Hữu Thể Hành Tinh khởi động được thiết lập, trong điều mà triết học Tây phương gọi là các ý tưởng bẩm sinh, còn Huyền bí học gọi là “những tia lóe thiên tài”. Một ý tưởng nào đó dựa trên chân lý vĩnh cửu được đánh thức, và tất cả những gì các Quyền Năng cảnh giác có thể làm là ngăn chặn sự mặc khải trọn vẹn của nó.

Everything in this Universe of differentiated matter has its two aspects, the light and the dark side, and these two attributes applied practically, lead the one to use, the other to abuse. Every man may become a Botanist without apparent danger to his fellow-creatures; and many a Chemist who has mastered the science of essences knows that every one of them can both heal and kill. Not an ingredient, not a poison, but can be used for both purposes—aye, from harmless wax to deadly prussic acid, from the saliva of an infant to that of the cobra di capella. This every tyro in medicine knows—theoretically, at any rate. But where is the learned Chemist in our day who has been permitted to discover the “night side” of an attribute of any substance in the three kingdoms of Science, let alone in the seven of the Occultists? Who of them has penetrated into its Arcana, into the innermost Essence of things and its primary correlations? Yet it is this knowledge alone which makes of an Occultist a genuine practical Initiate, whether he turn out a Brother of Light or a Brother of Darkness. The essence of that subtle, traceless poison, the most potent in nature, which entered into the composition of the so-called Medici and Borgia poisons, if used with discrimination by one well versed in the septenary degrees of its potentiality on each of the planes accessible to man on earth—could heal or kill every man in the world; the result depending, of course, on whether the operator was a Brother of the Light or a Brother of the Shadow. The former is prevented from doing the good he might, by racial, national, and individual Karma; the second is impeded in his fiendish work by the joint efforts of the human “Stones” of the “Guardian Wall.” 819

Mọi sự trong Vũ trụ vật chất đã biến phân này đều có hai phương diện, mặt sáng và mặt tối, và hai thuộc tính này, khi được áp dụng thực tế, dẫn một bên đến việc sử dụng, bên kia đến việc lạm dụng. Mỗi người đều có thể trở thành một nhà thực vật học mà dường như không gây nguy hiểm cho đồng loại; và nhiều nhà hóa học đã tinh thông khoa học về các tinh chất đều biết rằng mỗi tinh chất ấy vừa có thể chữa lành vừa có thể giết chết. Không có một thành phần nào, không có một chất độc nào, mà lại không thể được dùng cho cả hai mục đích—đúng vậy, từ sáp vô hại đến acid prussic chết người, từ nước bọt của một trẻ thơ đến nước bọt của rắn hổ mang. Điều này mọi người sơ cơ trong y học đều biết—ít nhất là về lý thuyết. Nhưng trong thời đại chúng ta, đâu là nhà hóa học uyên bác đã được phép khám phá “mặt đêm” của một thuộc tính nơi bất cứ chất liệu nào trong ba giới của Khoa học, chưa nói đến trong bảy giới của các nhà huyền bí học? Ai trong số họ đã thâm nhập vào các bí mật của nó, vào Tinh chất sâu kín nhất của sự vật và các tương quan nguyên thủy của nó? Tuy nhiên, chính tri thức này thôi mới làm cho một nhà huyền bí học trở thành một điểm đạo đồ thực hành chân chính, dù y hóa ra là một Huynh Đệ Ánh Sáng hay một Huynh Đệ Bóng Tối. Tinh chất của chất độc vi tế, không dấu vết ấy, chất mạnh nhất trong thiên nhiên, vốn đi vào thành phần của những chất độc gọi là của Medici và Borgia, nếu được một người thông thạo các cấp độ thất phân của tiềm năng nó trên mỗi cõi có thể tiếp cận đối với con người trên Trái Đất sử dụng với sự phân biện, có thể chữa lành hoặc giết chết mọi người trên thế gian; dĩ nhiên kết quả tùy thuộc vào việc người vận dụng là một Huynh Đệ Ánh Sáng hay một Huynh Đệ Bóng Tối. Người thứ nhất bị ngăn cản không làm được điều thiện mà y có thể làm, bởi nghiệp quả chủng tộc, quốc gia và cá nhân; người thứ hai bị cản trở trong công việc ma quỷ của y bởi nỗ lực chung của các “Viên Đá” nhân loại thuộc “Bức Tường Hộ Vệ”.

It is incorrect to think that there exists any special “powder of projection” or “philosopher’s stone,” or “elixir of life.” The latter lurks in every flower, in every stone and mineral throughout the globe. It is the ultimate essence of everything on its way to higher and higher evolution. As there is no good or evil per se, so there is neither “elixir of life” nor “elixir of death,” nor poison, per se, but all this is contained in one and the same universal Essence, this or the other effect, or result, depending on the degree of its differentiation and its various correlations. The light side of it produces life, health, bliss, divine peace, etc.; the dark side brings death, disease, sorrow and strife. This is proven by the knowledge of the nature of the most violent poisons; of some of them even a large quantity will produce no evil effect on the organism, whereas a grain of the same poison kills with the rapidity of lightning; while the same grain, again, altered by a certain combination, though its quantity remains almost identical, will heal. The number of the degrees of its differentiation is septenary, as are the planes of its action, each degree being either beneficent or maleficent in its effects, according to the system into which it is introduced. He who is skilled in these degrees is on the high road to practical Adeptship; he who acts at hap-hazard—as do the enormous majority of the “Mind Curers,” whether “Mental” or “Christian Scientists”—is likely to rue the effects on himself as well as on others. Put on the track by the example of the Indian Yogîs, and of their broadly but incorrectly outlined practices, which they have only read about, but have had no opportunity to study—these new sects have rushed headlong and guideless into the practice of denying and affirming. Thus they have done more harm than good. Those who are successful owe it to their innate magnetic and healing powers, which very often counteract that which would otherwise be conducive to much evil. Beware, I say; Satan and the Archangel are more than twins; they are one body and one mind—Deus est Demon inversus.

Thật sai lầm khi nghĩ rằng có tồn tại một “bột phóng chiếu”, hay “đá hiền triết”, hay “tiên dược trường sinh” đặc biệt nào đó. Cái sau ẩn tàng trong mỗi bông hoa, trong mỗi hòn đá và khoáng vật trên khắp địa cầu. Nó là tinh chất tối hậu của mọi sự đang trên đường tiến tới một tiến hoá ngày càng cao hơn. Cũng như không có thiện hay ác tự nó, thì cũng không có “tiên dược trường sinh” hay “tiên dược tử vong”, cũng không có chất độc, tự nó; nhưng tất cả điều này được chứa trong một và cùng một Tinh chất phổ quát, hiệu quả này hay hiệu quả khác, hoặc kết quả, tùy thuộc vào mức độ biến phân của nó và các tương quan khác nhau của nó. Mặt sáng của nó tạo ra sự sống, sức khỏe, chí phúc, an bình thiêng liêng, v.v.; mặt tối mang đến cái chết, bệnh tật, sầu khổ và xung đột. Điều này được chứng minh bằng tri thức về bản chất của những chất độc dữ dội nhất; đối với một số chất, ngay cả một lượng lớn cũng không gây hiệu quả xấu trên cơ cấu hữu cơ, trong khi một hạt của cùng chất độc ấy lại giết chết nhanh như chớp; còn chính hạt ấy, khi được biến đổi bằng một sự phối hợp nào đó, dù lượng gần như vẫn y nguyên, lại có thể chữa lành. Số cấp độ biến phân của nó là thất phân, cũng như các cõi tác động của nó; mỗi cấp độ hoặc có lợi hoặc có hại trong các hiệu quả của nó, tùy theo hệ thống mà nó được đưa vào. Kẻ thành thạo các cấp độ này đang trên con đường lớn dẫn đến Chân sư thực hành; kẻ hành động may rủi—như đại đa số những “Người Chữa Bệnh Bằng Trí”, dù là “Trí Tuệ” hay “Khoa Học Cơ Đốc”—có khả năng sẽ hối tiếc về các hiệu quả trên chính mình cũng như trên người khác. Được đưa vào lối mòn bởi gương của các Yogi Ấn Độ, và bởi những thực hành của họ được phác họa rộng rãi nhưng sai lạc, mà những giáo phái mới này chỉ đọc qua chứ không có cơ hội nghiên cứu, họ đã lao đầu, không người hướng dẫn, vào thực hành phủ địnhkhẳng định. Do đó họ đã gây hại nhiều hơn làm lợi. Những người thành công thì có được điều ấy nhờ các quyền năng từ tính và chữa lành bẩm sinh của họ, vốn rất thường chống lại điều nếu không sẽ dẫn đến nhiều điều ác. Tôi nói: hãy coi chừng; Satan và Tổng Thiên Thần còn hơn cả anh em sinh đôi; họ là một thân thể và một thể trí—Thượng đế là Ác quỷ đảo ngược.

Is The Practice Of Concentration Beneficent? — Việc Thực Hành Tập Trung Có Lợi Ích Không?

Such is another question often asked. I answer: Genuine concentration and meditation, conscious and cautious, upon one’s lower self in the light of the inner divine man and the Pâramitâs, is an excellent thing. But to “sit for Yoga,” with only a superficial and often distorted knowledge of the real practice, is almost invariably fatal; for ten to one the student will either develop mediumistic powers in himself or lose time and get disgusted both with practice and theory. Before one rushes into such a dangerous experiment and seeks to go beyond a minute examination of one’s lower self and its walk in life, or that which is called in our phraseology, “The Chelâ’s Daily Life Ledger,” he would do well to learn at least the difference between the two aspects of “Magic,” the White or Divine, and the Black or Devilish, and assure himself that by “sitting for Yoga,” with no experience, as well as with no guide to show him the dangers, he does not daily and hourly cross the boundaries of the Divine to fall into the Satanic. Nevertheless, the way to learn the difference is very easy; one has only to remember that no Esoteric truths entirely unveiled will ever be given in public print, in book or magazine.

Đó là một câu hỏi khác thường được nêu ra. Tôi trả lời: Sự tập trung và tham thiền chân chính, có ý thức và thận trọng, trên phàm ngã của mình trong ánh sáng của con người thiêng liêng bên trong và các Paramita, là một điều tuyệt hảo. Nhưng “ngồi Yoga”, chỉ với một tri thức hời hợt và thường bị bóp méo về thực hành đích thực, thì hầu như bao giờ cũng tai hại; vì mười phần thì chín phần đạo sinh hoặc sẽ phát triển trong mình các quyền năng đồng cốt, hoặc lãng phí thời gian và chán ghét cả thực hành lẫn lý thuyết. Trước khi một người lao vào một thí nghiệm nguy hiểm như thế và tìm cách vượt khỏi sự khảo sát tỉ mỉ phàm ngã của mình và lối đi của nó trong đời sống, hay điều được gọi trong thuật ngữ của chúng ta là “Sổ Ghi Hằng Ngày của Đệ Tử”, y nên học ít nhất sự khác biệt giữa hai phương diện của “Huyền thuật”, Chánh hay Thiêng liêng, và Hắc hay Ma quỷ, và bảo đảm với chính mình rằng bằng cách “ngồi Yoga”, không kinh nghiệm cũng như không có người hướng dẫn để chỉ cho y các nguy hiểm, y không hằng ngày và hằng giờ vượt qua ranh giới của Điều Thiêng Liêng để rơi vào điều Satan. Tuy nhiên, cách học sự khác biệt ấy rất dễ; người ta chỉ cần nhớ rằng không có chân lý Nội môn nào được vén mở hoàn toàn sẽ từng được trao ra trong ấn phẩm công khai, trong sách hay tạp chí.

I ask students to turn to the Theosophist of November, 1887. On page 98 they will find the beginning of an excellent article by Mr. Râma Prasâd on “Nature’s Finer Forces.” 820 The value of this work is not so much in its literary merit, though it gained its author the gold medal of the Theosophist, as in its exposition of tenets hitherto concealed in a rare and ancient Sanskrit work on Occultism. But Mr. Râma Prasâd is not an Occultist, only an excellent Sanskrit scholar, a university graduate and a man of remarkable intelligence. His essays are almost entirely based on Tântra works, which, if read indiscriminately by a tyro in Occultism, will lead to the practice of most unmitigated Black Magic. Now, since the difference of primary importance between Black and White Magic is the object with which it is practised, and that of secondary importance the nature of the agents used for the production of phenomenal results, the line of demarcation between the two is very—very thin. The danger is lessened only by the fact that every Occult book, so-called, is Occult only in a certain sense: that is, the text is Occult merely by reason of its blinds. The symbolism has to be thoroughly understood before the reader can get at the correct sense of the teaching. Moreover, it is never complete, its several portions each being under a different title, and each containing a portion of some other work; so that without a key to these no such work divulges the whole truth. Even the famous Shivâgama, on which Natures Finer Forces is based, “is nowhere to be found in complete form,” as the author tells us. Thus, like all others, it treats of only five Tattvas instead of the seven as in Esoteric teachings.

Tôi yêu cầu các đạo sinh hãy xem lại tờ Theosophist tháng Mười Một, 1887. Ở trang 98, họ sẽ thấy phần mở đầu của một bài viết xuất sắc của ông Rama Prasad về “Những Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên”. Giá trị của tác phẩm này không nằm nhiều ở văn tài của nó, dù tác giả đã được tờ Theosophist trao huy chương vàng, cho bằng ở sự trình bày các giáo lý cho đến nay vẫn được che giấu trong một tác phẩm Sanskrit hiếm và cổ về Huyền bí học. Nhưng ông Rama Prasad không phải là một nhà huyền bí học, mà chỉ là một học giả Sanskrit xuất sắc, một người tốt nghiệp đại học và một người có trí tuệ đáng kể. Các bài luận của ông hầu như hoàn toàn dựa trên các tác phẩm Tantra, mà nếu một người sơ cơ trong Huyền bí học đọc một cách bừa bãi, sẽ dẫn đến thực hành Hắc thuật không gì giảm nhẹ được. Nay, vì sự khác biệt có tầm quan trọng hàng đầu giữa Hắc thuật và Chánh Thuật là mục đích mà vì đó nó được thực hành, còn điều có tầm quan trọng thứ yếu là bản chất của các tác nhân được dùng để tạo ra các kết quả hiện tượng, nên đường ranh giới giữa hai bên rất—rất mỏng. Nguy hiểm chỉ được giảm bớt bởi sự kiện rằng mọi sách được gọi là Huyền bí đều chỉ huyền bí theo một ý nghĩa nào đó: nghĩa là, văn bản chỉ huyền bí vì các màn che của nó. Biểu tượng học phải được thấu hiểu trọn vẹn trước khi độc giả có thể đạt đến ý nghĩa đúng của giáo huấn. Hơn nữa, nó không bao giờ trọn vẹn; nhiều phần của nó, mỗi phần nằm dưới một nhan đề khác nhau, và mỗi phần chứa một phần của một tác phẩm khác; vì vậy nếu không có chìa khóa cho những phần ấy, không tác phẩm nào như thế tiết lộ toàn bộ chân lý. Ngay cả Shivagama nổi tiếng, mà Những Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên dựa vào, “không nơi nào có thể tìm thấy dưới hình thức trọn vẹn”, như tác giả nói với chúng ta. Do đó, như tất cả các tác phẩm khác, nó chỉ bàn đến năm Tattva thay vì bảy như trong giáo huấn Nội môn.

Now, the Tattvas being simply the substratum of the seven forces of Nature, how can this be? There are seven forms of Prakriti, as Kapila’s Sânkhya, the Vishnu Purâna, and other works teach. Prakriti is Nature, Matter (primordial and elemental); therefore logic demands that the Tattvas also should be seven. For whether Tattvas mean, as Occultism teaches, “forces of Nature,” or, as the learned Râma Prâsad explains, “the substance out of which the universe is formed” and “the power by which it is sustained,” it is all one; they are Force, Purusha, and Matter, Prakriti. And if the forms, or rather planes, of the latter are seven, then its forces must be seven also. In other words, the degrees of the solidity of matter and the degrees of the power that ensouls it must go hand in hand.

Vậy, vì các Tattva chỉ đơn giản là nền tảng của bảy mãnh lực của Thiên nhiên, làm sao điều này có thể như thế? Có bảy hình thức của Prakriti, như Sankhya của Kapila, Vishnu Purana và các tác phẩm khác giảng dạy. Prakriti là Thiên nhiên, Vật chất nguyên thủy và hành khí; vì vậy lô-gích đòi hỏi rằng các Tattva cũng phải là bảy. Vì dù Tattva có nghĩa là “các mãnh lực của Thiên nhiên”, như Huyền bí học giảng dạy, hay là “chất liệu từ đó vũ trụ được hình thành” và “quyền năng nhờ đó nó được duy trì”, như học giả Rama Prasad giải thích, thì cũng là một; chúng là Mãnh lực, Purusha, và Vật chất, Prakriti. Và nếu các hình thức, hay đúng hơn là các cõi, của cái sau là bảy, thì các mãnh lực của nó cũng phải là bảy. Nói cách khác, các cấp độ đông đặc của vật chất và các cấp độ của quyền năng phú linh cho nó phải đi song hành.

The Universe is made out of the Tattva, it is sustained by the Tattva, and it disappears into the Tattva,

Vũ trụ được tạo nên từ Tattva, được duy trì bởi Tattva, và tan biến vào Tattva,

says Shiva, as quoted from the Shivâgama in Nature’s Finer Forces. This settles the question; if Prakriti is septenary, then the Tattvas must be seven, for, as said, they are both Substance and Force, or atomic Matter and the Spirit that ensoule it.

Shiva nói như vậy, theo trích dẫn từ Shivagama trong Những Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên. Điều này giải quyết vấn đề; nếu Prakriti là thất phân, thì các Tattva phải là bảy, vì, như đã nói, chúng vừa là Chất liệu vừa là Mãnh lực, hay Vật chất nguyên tử và Tinh thần phú linh cho nó.

This is explained here to enable the student to read between the lines of the so-called Occult articles on Sanskrit Philosophy, by which they must not be misled. The doctrine of the seven Tattvas (the principles of the Universe and also of man) was held in great sacredness and therefore secrecy, in days of old, by the Brâhmans, who have now almost forgotten the teaching. Yet it is taught to this day in the Schools beyond the Himâlayan Range, though now hardly remembered or heard of in India except through rare Initiates. The policy has, however, been changed gradually; Chelâs began to be taught the broad outlines of it, and at the advent of the T. S. in India in 1879, I was ordered to teach it in its exoteric form to one or two. I now give it out Esoterically.

Điều này được giải thích ở đây để giúp đạo sinh đọc giữa các dòng của những bài viết được gọi là Huyền bí về Triết học Sanskrit, mà họ không được để mình bị lừa dối bởi chúng. Giáo lý về bảy Tattva, tức các nguyên khí của Vũ trụ và cũng của con người, đã được các Brahman giữ trong sự thiêng liêng lớn lao và do đó trong bí mật, vào thời xa xưa, nhưng nay họ hầu như đã quên giáo huấn ấy. Tuy nhiên, nó vẫn được giảng dạy cho đến ngày nay trong các Trường bên kia Dãy Himalaya, dù hiện nay ở Ấn Độ hầu như không còn được nhớ đến hoặc nghe nói tới, ngoại trừ qua những điểm đạo đồ hiếm hoi. Tuy vậy, chính sách đã dần dần thay đổi; các đệ tử bắt đầu được dạy các nét đại cương của nó, và vào lúc Hội Thông Thiên Học đến Ấn Độ năm 1879, tôi được lệnh dạy nó dưới hình thức công truyền cho một hoặc hai người. Nay tôi trao nó ra một cách Nội môn.

Knowing that some students try to follow a system of Yoga in their own fashion, guided only by the rare hints they find in Theosophical books and magazines, which must naturally be incomplete, I chose one of the best expositions upon ancient Occult works, Nature’s Finer Forces, in order to point out how very easily one can be misled by their blinds.

Biết rằng một số đạo sinh cố gắng theo đuổi một hệ thống Yoga theo cách riêng của họ, chỉ được hướng dẫn bởi những gợi ý hiếm hoi mà họ tìm thấy trong các sách và tạp chí Thông Thiên Học, vốn tất nhiên phải không trọn vẹn, tôi đã chọn một trong những phần trình bày tốt nhất về các tác phẩm Huyền bí cổ, Những Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên, để chỉ ra người ta có thể bị các màn che của chúng dẫn lạc dễ dàng đến mức nào.

The author seems to have been himself deceived. The Tantras read Esoterically are as full of wisdom as the noblest Occult works. Studied without a guide and applied to practice, they may lead to the production of various phenomenal results, on the moral and physiological planes. But let anyone accept their dead-letter rules and practices, let him try with some selfish motive in view to carry out the rites prescribed therein, and—he is lost. Followed with pure heart and unselfish devotion merely for the sake of experiment, either no results will follow, or such as can only throw back the performer. But woe to the selfish man who seeks to develop Occult powers only to attain earthly benefits or revenge, or to satisfy his ambition; the separation of the Higher from the Lower Principles and the severing of Buddhi-Manas from the Tântrist’s personality will speedily follow, the terrible Karmic results to the dabbler in Magic.

Chính tác giả dường như đã bị lừa dối. Các Tantra, khi được đọc một cách Nội môn, đầy minh triết như những tác phẩm Huyền bí cao quý nhất. Nếu được nghiên cứu không có người hướng dẫn và đem áp dụng vào thực hành, chúng có thể dẫn đến việc tạo ra nhiều kết quả hiện tượng khác nhau trên các cõi đạo đức và sinh lý. Nhưng hãy để bất cứ ai chấp nhận các quy luật và thực hành theo chữ chết của chúng, hãy để y cố gắng thực hiện các nghi lễ được quy định trong đó với một động cơ ích kỷ nào đó trước mắt, và—y đã mất. Nếu được theo với trái tim trong sạch và lòng sùng tín vô kỷ chỉ vì mục đích thí nghiệm, hoặc sẽ không có kết quả nào xảy ra, hoặc chỉ có những kết quả có thể đẩy lùi người thực hiện. Nhưng khốn thay cho kẻ ích kỷ tìm cách phát triển các quyền năng Huyền bí chỉ để đạt lợi ích trần thế hay báo thù, hoặc để thỏa mãn tham vọng của mình; sự tách rời các Nguyên khí Cao khỏi các Nguyên khí Thấp và sự cắt lìa Buddhi-Manas khỏi phàm ngã của người theo Tantra sẽ nhanh chóng xảy ra, cùng với những kết quả nghiệp quả khủng khiếp cho kẻ tập tành trong Huyền thuật.

In the East, in India and China, soulless men and women are as frequently met with as in the West, though vice is, in truth, far less developed there than it is here.

Ở phương Đông, tại Ấn Độ và Trung Hoa, những người nam và nữ không linh hồn được gặp thường xuyên như ở phương Tây, dù thật ra tội lỗi ở đó kém phát triển hơn nhiều so với nơi đây.

It is Black Magic and oblivion of their ancestral wisdom that lead them thereunto. But of this I will speak later, now merely adding: you have to be warned and know the danger.

Chính Hắc thuật và sự quên lãng minh triết tổ tiên của họ đã dẫn họ đến tình trạng ấy. Nhưng về điều này tôi sẽ nói sau, giờ đây chỉ thêm rằng: các bạn phải được cảnh báo và phải biết nguy hiểm.

Meanwhile, in view of what follows, the real Occult division of the Principles in their correspondences with the Tattvas and other minor forces has to be well studied.

Trong khi đó, xét đến điều sẽ theo sau, sự phân chia Huyền bí đích thực các Nguyên khí trong những tương ứng của chúng với các Tattva và những mãnh lực phụ khác phải được nghiên cứu kỹ.

About “Principles” And “Aspects.” — Về “Các Nguyên Khí” Và “Các Phương Diện”.

Speaking metaphysically and philosophically, on strict Esoteric lines, man as a complete unit is composed of Four basic Principles and their Three Aspects on this earth. In the semi-esoteric teachings, these Four and Three have been called Seven Principles, to facilitate the comprehension of the masses.

Nói theo siêu hình học và triết học, trên các đường lối Nội môn nghiêm ngặt, con người với tư cách một đơn vị hoàn chỉnh được cấu thành bởi Bốn Nguyên khí căn bản và Ba Phương diện của chúng trên Trái Đất này. Trong các giáo huấn bán nội môn, Bốn và Ba này đã được gọi là Bảy Nguyên khí, để tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội của quần chúng.

The Eternal Basic Principles.

Các Nguyên Khí Căn Bản Vĩnh Cửu.

1. Âtmâ, or Jîva, “the One Life,” which permeates the Monadic Trio. (One in three and three in One.) 2. Auric Envelope; because the substratum of the Aura around man is the universally diffused primordial and pure Akâsha, the first film on the boundless and shoreless expanse of Jîva, the immutable Root of all.

1. Atma, hay Jiva, “Sự Sống Duy Nhất”, thấm nhuần Bộ Ba Chân Thần. Một trong ba và ba trong Một. 2. Lớp Bao Hào Quang; bởi vì nền tảng của Hào quang quanh con người là Akasha nguyên thủy và tinh khiết được khuếch tán phổ quát, lớp màng đầu tiên trên khoảng bao la vô biên và không bờ bến của Jiva, Cội Rễ bất biến của tất cả.

3. Buddhi; for Buddhi is a ray of the Universal Spiritual Soul (Alaya).

3. Buddhi; vì Buddhi là một tia của Linh Hồn Tinh Thần Phổ Quát, Alaya.

4. Manas (the Higher Ego); for it proceeds from Mahat, the first product or emanation of Pradhâna which contains potentially all the Gunas (attributes). Mahat is Cosmic Intelligence, called the “Great Principle.” 821

4. Manas, tức Chân ngã Cao; vì nó phát xuất từ Mahat, sản phẩm hay xuất lộ đầu tiên của Pradhana, vốn chứa một cách tiềm năng tất cả các Guna, tức các thuộc tính. Mahat là Trí Tuệ Vũ Trụ, được gọi là “Nguyên khí Vĩ Đại”.

Transitory Aspects Produced by the Principles.

Các Phương Diện Tạm Thời Do Các Nguyên Khí Tạo Ra.

1. Prâna, the Breath of Life, the same as Nephesh. At the death of a living being, Prâna re-becomes Jîva. 822

1. Prana, Hơi Thở của Sự Sống, giống như Nephesh. Khi một sinh linh chết, Prana lại trở thành Jiva.

2. Linga Sharîra, the Astral Form, the transitory emanation of the Auric Egg. This form precedes the formation of the living Body, and after death clings to it, dissipating only with the disappearance of its last atom (the skeleton excepted).

2. Linga Sharira, Hình Tướng Cảm Dục, xuất lộ tạm thời của noãn hào quang. Hình tướng này đi trước sự hình thành của Thể sống, và sau khi chết bám vào nó, chỉ làm tiêu tan khi nguyên tử cuối cùng của nó biến mất, trừ bộ xương.

3. Lower Manas, the Animal Soul, the reflection or shadow of the Buddhi-Manas, having the potentialitie of both, but conquered generally by its association with the Kâma elements.

3. Hạ Manas, Linh Hồn Thú Tính, phản chiếu hay bóng của Buddhi-Manas, có các tiềm năng của cả hai, nhưng thường bị chinh phục bởi sự liên kết của nó với các yếu tố Kama.

As the lower man is the combined product of two aspects—physically, of his Astral Form, and psycho-physiologically of Kâma-Manas—he is not looked upon even as an aspect, but as an illusion.

Vì phàm nhân là sản phẩm kết hợp của hai phương diện—về mặt hồng trần, của Hình Tướng Cảm Dục của y, và về mặt tâm-sinh lý, của Kama-Manas—nên y thậm chí không được xem như một phương diện, mà như một ảo tưởng.

The Auric Egg, on account of its nature and manifold functions, has to be well studied. As Hiranyagarbha, the Golden Womb or Egg, contains Brahmâ, the collective symbol of the Seven Universal Forces, so the Auric Egg contains, and is directly related to, both the divine and the physical man. In its essence, as said, it is eternal; in its constant correlations and transformations, during the reincarnating progress of the Ego on this earth, it is a kind of perpetual motion machine.

Noãn hào quang, do bản chất và các chức năng đa dạng của nó, phải được nghiên cứu kỹ. Như Hiranyagarbha, Tử Cung hay Trứng Vàng, chứa Brahma, biểu tượng tập thể của Bảy Mãnh Lực Phổ Quát, thì noãn hào quang cũng chứa và liên hệ trực tiếp với cả con người thiêng liêng lẫn con người hồng trần. Trong tinh chất của nó, như đã nói, nó là vĩnh cửu; trong các tương quan và chuyển đổi liên tục của nó, trong suốt tiến trình tái sinh của chân ngã trên Trái Đất này, nó là một loại bộ máy chuyển động vĩnh cửu.

As given out in our second volume, the Egos or Kumâras, incarnating in man, at the end of the Third Root-Race, are not human Egos of this earth or plane, but become such only from the moment they ensoul the Animal Man, thus endowing him with his Higher Mind. Each is a “Breath” or Principle, called the Human Soul, or Manas, the Mind. As the teachings say: “Each is a pillar of light. Having chosen its vehicle, it expanded, surrounding with an Âkâshic Aura the human animal, while the Divine (Mânasic) Principle settled within that human form.”

Như đã được trao ra trong quyển thứ hai của chúng ta, các Chân ngã hay Kumara, lâm phàm trong con người vào cuối Giống dân gốc thứ ba, không phải là các Chân ngã nhân loại của Trái Đất hay cõi này, mà chỉ trở thành như thế từ khoảnh khắc các Ngài phú linh cho Người Thú, qua đó ban cho y Thượng trí của y. Mỗi vị là một “Hơi Thở” hay Nguyên khí, được gọi là Linh Hồn Nhân Loại, hay Manas, tức thể trí. Như các giáo huấn nói: “Mỗi vị là một cột ánh sáng. Sau khi chọn vận cụ của mình, vị ấy mở rộng, bao quanh con thú người bằng một Hào quang Akasha, trong khi Nguyên khí Thiêng liêng, Manas, an trú bên trong hình tướng con người ấy.”

Ancient Wisdom teaches us, moreover, that from this first incarnation, the Lunar Pitris, who had made men out of their Chhâyâs or Shadows, are absorbed by this Auric Essence, and a distinct Astral Form is now produced for each forthcoming personality of the reincarnating series of each Ego.

Minh triết cổ xưa còn dạy chúng ta rằng, từ lần lâm phàm đầu tiên này, các thái âm tổ phụ, những vị đã tạo nên con người từ các Chhaya hay Bóng của họ, được hấp thụ bởi Tinh chất Hào quang này, và một Hình Tướng Cảm Dục riêng biệt nay được tạo ra cho mỗi phàm ngã sắp đến trong chuỗi tái sinh của mỗi Chân ngã.

Thus the Auric Egg, reflecting all the thoughts, words and deeds of man, is: (a) The preserver of every Karmic record.

Như vậy, noãn hào quang, phản chiếu mọi tư tưởng, lời nói và hành vi của con người, là: (a) Đấng bảo tồn mọi hồ sơ nghiệp quả.

(b) The storehouse of all the good and evil powers of man, receiving and giving out at his will—nay, at his very thought—every potentiality, which becomes, then and there, an acting potency: this Aura is the mirror in which sensitives and clairvoyants sense and perceive the real man, and see him as he is, not as he appears.

(b) Kho chứa mọi quyền năng thiện và ác của con người, tiếp nhận và phát ra theo ý chí của y—đúng hơn, theo chính tư tưởng của y—mọi tiềm năng, vốn ngay tại đó và khi ấy trở thành một sức mạnh đang hoạt động: hào quang này là tấm gương trong đó những người nhạy cảm và các nhà thông nhãn cảm nhận và tri nhận con người thật, và thấy y như chính y là, chứ không như y có vẻ hiện ra.

(c) As it furnishes man with his Astral Form, around which the physical entity models itself, first as a fœtus, then as a child and man, the astral growing apace with the human being, so it furnishes him during life, if an Adept, with his Mâyâvi Rûpa, or Illusion Body, which is not his Vital-Astral Body; and after death, with his Devachanic Entity and Kâma Rûpa, or Body of Desire (the Spook). 823

(c) Vì nó cung cấp cho con người Hình Tướng Cảm Dục của y, quanh đó thực thể hồng trần tự tạo mô hình, trước hết như một bào thai, rồi như một trẻ thơ và con người, còn thể cảm dục lớn lên cùng nhịp với con người; cũng vậy, nó cung cấp cho y trong đời sống, nếu y là một Chân sư, Mayavi Rupa hay Thể Ảo Ảnh của y, vốn không phải là Thể Sinh Lực-Cảm Dục của y; và sau khi chết, cung cấp cho y Thực Thể Devachan và Kama Rupa, hay Thể Dục Vọng, tức bóng ma.

In the case of the Devachanic Entity, the Ego, in order to be able to go into a state of bliss, as the “I” of its immediately preceding incarnation, has to be clothed (metaphorically speaking) with the spiritual elements of the ideas, aspirations and thoughts of the now disembodied personality; otherwise what is it that enjoys bliss and reward? Surely not the impersonal Ego, the Divine Individuality. Therefore it must be the good Karmic records of the deceased, impressed upon the Auric Substance, which furnish the Human Soul with just enough of the spiritual elements of the ex-personality, to enable it to still believe itself that body from which it has just been severed, and to receive its fruition, during a more or less prolonged period of “spiritual gestation.” For Devachan is a “spiritual gestation” within an ideal matrix state, a birth of the Ego into the world of effects, which ideal, subjective birth precedes its next terrestrial birth, the latter being determined by its bad Karma, into the world of causes. 824

Trong trường hợp Thực Thể Devachan, Chân ngã, để có thể đi vào một trạng thái chí phúc như cái “Tôi” của lần lâm phàm ngay trước đó của nó, phải được mặc lấy, nói theo ẩn dụ, các yếu tố tinh thần của những ý tưởng, khát vọng và tư tưởng của phàm ngã nay đã lìa xác; nếu không thì cái gì hưởng chí phúc và phần thưởng? Chắc chắn không phải Chân ngã phi cá nhân, Cá Thể Thiêng Liêng. Vì vậy, phải chính các hồ sơ nghiệp quả tốt lành của người đã khuất, được khắc ghi trên Chất liệu Hào quang, cung cấp cho Linh Hồn Nhân Loại vừa đủ các yếu tố tinh thần của cựu phàm ngã để giúp nó vẫn tin rằng mình là thể mà nó vừa bị tách khỏi, và nhận lấy quả hưởng của nó trong một thời kỳ “thai nghén tinh thần” dài ngắn khác nhau. Vì Devachan là một “thai nghén tinh thần” bên trong một trạng thái khuôn mẫu lý tưởng, là sự sinh ra của Chân ngã vào thế giới của các hiệu quả; sự sinh ra lý tưởng, chủ quan này đi trước lần sinh trần thế kế tiếp của nó, lần sau được quyết định bởi nghiệp quả xấu của nó, vào thế giới của các nguyên nhân.

In the case of the Spook, the Kâma Rûpa is furnished from the animal dregs of the Auric Envelope, with its daily Karmic record of animal life, so full of animal desires and selfish aspirations. 825

Trong trường hợp bóng ma, Kama Rupa được cung cấp từ cặn bã thú tính của Lớp Bao Hào Quang, với hồ sơ nghiệp quả hằng ngày về đời sống thú tính, đầy các dục vọng thú tính và khát vọng ích kỷ.

Now the Linga Sharîra remains with the Physical Body, and fades out along with it. An astral entity then has to be created, a new Linga Sharîra provided, to become the bearer of all the past Tanhas and future Karma. How is this accomplished? The mediumistic Spook, the “departed angel,” fades out and vanishes also in its turn 826 as an entity or full image of the personality that was, and leaves in the Kâmalokic world of effects only the record of its misdeeds and sinful thoughts and acts, known in the phraseology of Occultists as Tânhic or human Elementals. Entering into the composition of the Astral Form of the new body, into which the Ego, upon its quitting the Devachanic state, is to enter according to Karmic decree, the Elementals form that new astral entity which is born within the Auric Envelope, and of which it is often said:

Nay Linga Sharira vẫn ở lại với thể xác, và phai tàn cùng với nó. Khi ấy một thực thể cảm dục phải được tạo ra, một Linga Sharira mới được cung cấp, để trở thành kẻ mang mọi Tanha quá khứ và nghiệp quả tương lai. Điều này được thực hiện như thế nào? Bóng ma đồng cốt, “thiên thần đã ra đi”, cũng phai tàn và biến mất đến lượt nó như một thực thể hay hình ảnh đầy đủ của phàm ngã đã từng hiện hữu, và chỉ để lại trong thế giới Kama-loka của các hiệu quả hồ sơ về các hành vi sai trái và tư tưởng, hành động tội lỗi của nó, được biết trong thuật ngữ của các nhà huyền bí học như các Hành khí Tanha hay nhân loại. Khi đi vào thành phần của Hình Tướng Cảm Dục của thể mới, mà Chân ngã, khi rời khỏi trạng thái Devachan, sẽ đi vào theo sắc lệnh nghiệp quả, các Hành khí tạo thành thực thể cảm dục mới ấy, được sinh ra bên trong Lớp Bao Hào Quang, và về nó người ta thường nói:

Bad Karma waits at the threshold of Devachan, with its army of Skandhas. 827

Nghiệp quả xấu chờ ở ngưỡng cửa Devachan, cùng đạo quân Skandha của nó.

For no sooner is the Devachanic state of reward ended, than the Ego is indissolubly united with (or rather follows in the track of) the new Astral Form. Both are Karmically propelled towards the family or woman from whom is to be born the animal child chosen by Karma to become the vehicle of the Ego which has just awakened from the Devachanic state. Then the new Astral Form, composed partly of the pure Akâshic Essence of the Auric Egg, and partly of the terrestrial elements of the punishable sins and misdeeds of the last personality, is drawn into the woman. Once there, Nature models the fœtus of flesh around the Astral, out of the growing materials of the male seed in the female soil. Thus grows out of the essence of a decayed seed the fruit or eidolon of the dead seed, the physical fruit producing in its turn within itself another, and other seeds for future plants.

Vì ngay khi trạng thái phần thưởng Devachan chấm dứt, Chân ngã được hợp nhất không thể tách rời với, hay đúng hơn là đi theo vết của, Hình Tướng Cảm Dục mới. Cả hai bị nghiệp quả thúc đẩy hướng về gia đình hay người phụ nữ mà từ đó đứa trẻ thú tính được nghiệp quả chọn để trở thành vận cụ của Chân ngã vừa thức tỉnh khỏi trạng thái Devachan sẽ được sinh ra. Khi ấy Hình Tướng Cảm Dục mới, gồm một phần Tinh chất Akasha tinh khiết của noãn hào quang, và một phần các yếu tố trần thế của những tội lỗi và hành vi sai trái đáng bị trừng phạt của phàm ngã cuối cùng, được hút vào người phụ nữ. Một khi ở đó, Thiên nhiên tạo mô hình bào thai bằng thịt quanh thể cảm dục, từ những vật liệu đang tăng trưởng của hạt giống nam trong mảnh đất nữ. Như vậy, từ tinh chất của một hạt giống đã mục nát, trái hay hình tượng của hạt giống đã chết mọc lên, trái hồng trần đến lượt nó lại tạo ra trong chính mình một hạt khác, và những hạt khác cho các cây tương lai.

And now we may return to the Tattvas, and see what they mean in nature and man, showing thereby the great danger of indulging in fancy, amateur Yoga, without knowing what we are about.

Và nay chúng ta có thể trở lại với các Tattva, và xem chúng có nghĩa gì trong thiên nhiên và con người, qua đó chỉ ra mối nguy lớn lao của việc buông mình theo tưởng tượng, Yoga tài tử, mà không biết mình đang làm gì.

The Tâttvic Correlations and Meaning. — Các Tương Quan Và Ý Nghĩa Tattva.

In Nature, then, we find seven Forces, or seven Centres of Force, and everything seems to respond to that number, as for instance, the septenary scale in music, or Sounds, and the septenary spectrum in Colours. I have not exhausted its nomenclature and proofs in the earlier volumes, yet enough is given to show every thinker that the facts adduced are no coincidences, but very weighty testimony.

Vậy, trong Thiên nhiên, chúng ta tìm thấy bảy Mãnh lực, hay bảy Trung tâm Mãnh lực, và mọi sự dường như đáp ứng với con số ấy, chẳng hạn thang thất phân trong âm nhạc, hay Âm thanh, và quang phổ thất phân trong Màu sắc. Tôi chưa trình bày hết danh pháp và các bằng chứng của nó trong những quyển trước, nhưng đã đưa ra đủ để cho mọi người suy tư thấy rằng các sự kiện được nêu không phải là ngẫu nhiên, mà là chứng cứ rất có trọng lượng.

There are several reasons why only five Tattvas are given in the Hindu systems. One of these I have already mentioned; another is that owing to our having reached only the Fifth Race, and being (so far as Science is able to ascertain) endowed with only five senses, the two remaining senses that are still latent in man can have their existence proven only on phenomenal evidence which to the Materialist is no evidence at all. The five physical senses are made to correspond with the five lower Tattvas, the two yet undeveloped senses in man; and the two forces, or Tattvas, forgotten by Brâhmans and still unrecognized by Science, being so subjective and the highest of them so sacred, that they can only be recognized by, and known through, the highest Occult Sciences. It is easy to see that these two Tattvas and the two senses (the sixth and the seventh) correspond to the two highest human principles, Buddhi and the Auric Envelope, impregnated with the light of Âtmâ. Unless we open in ourselves, by Occult training, the sixth and seventh senses, we can never comprehend correctly their corresponding types. Thus the statement in Nature’s Finer Forces that, in the Tâttvic scale, the highest Tattva of all is Âkâsha 828 (followed by [only] four, each of which becomes grosser than its predecessor), if made from the Esoteric standpoint, is erroneous. For once Âkâsha, an almost homogeneous and certainly universal Principle, is translated Ether, then Âkâsha is dwarfed and limited to our visible Universe, for assuredly it is not the Ether of Space. Ether, whatever Modern Science makes of it, is differentiated Substance; Âkâsha, having no attributes save one—Sound, of which it is the substratum—is no substance even exoterically and in the minds of some Orientalists, 829 but rather Chaos, or the Great Spatial Void. 830

Có nhiều lý do vì sao trong các hệ thống Ấn Độ giáo chỉ nêu ra năm Tattva. Một trong số đó tôi đã nhắc đến; một lý do khác là vì chúng ta chỉ mới đạt đến Giống dân thứ năm, và, theo mức Khoa học có thể xác định, chỉ được phú cho năm giác quan, nên hai giác quan còn lại, vẫn tiềm ẩn trong con người, chỉ có thể được chứng minh là tồn tại bằng bằng chứng hiện tượng, mà đối với người Duy vật thì hoàn toàn không phải bằng chứng. Năm giác quan hồng trần được làm cho tương ứng với năm Tattva thấp, còn hai giác quan chưa phát triển trong con người; và hai mãnh lực, hay Tattva, bị các Brahman quên lãng và vẫn chưa được Khoa học công nhận, lại chủ quan đến mức, và cái cao nhất trong hai cái ấy thiêng liêng đến mức, chúng chỉ có thể được nhận biết bởi, và được biết qua, các Khoa học Huyền bí cao nhất. Dễ thấy rằng hai Tattva này và hai giác quan, giác quan thứ sáu và thứ bảy, tương ứng với hai nguyên khí cao nhất của con người, Buddhi và Lớp Bao Hào Quang, được thấm nhuần ánh sáng của Atma. Trừ phi chúng ta mở trong chính mình, bằng huấn luyện Huyền bí, giác quan thứ sáu và thứ bảy, chúng ta không bao giờ có thể lĩnh hội đúng các kiểu mẫu tương ứng của chúng. Vì vậy, lời phát biểu trong Những Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên rằng, trong thang Tattva, Tattva cao nhất của tất cả là Akasha, theo sau bởi chỉ bốn Tattva, mỗi cái trở nên thô hơn cái trước, nếu được đưa ra từ quan điểm Nội môn, là sai lầm. Vì một khi Akasha, một Nguyên khí gần như đồng nhất và chắc chắn phổ quát, được dịch là Dĩ thái, thì Akasha bị thu nhỏ và giới hạn vào Vũ trụ hữu hình của chúng ta, vì chắc chắn nó không phải là Dĩ thái của Không gian. Dĩ thái, bất kể Khoa học Hiện đại xem nó là gì, là Chất liệu đã biến phân; Akasha, không có thuộc tính nào ngoài một thuộc tính—Âm thanh, mà nó là nền tảng—không phải là chất liệu ngay cả theo công truyền và trong thể trí của một số nhà Đông phương học, mà đúng hơn là Hỗn mang, hay Đại Không Gian Rỗng.

Esoterically, Âkâsha alone is Divine Space, and becomes Ether only on the lowest and last plane, or our visible Universe and Earth. In this case the blind is in the word “attribute,” which is said to be Sound. But Sound is no attribute of Âkâsha, but its primary correlation, its primordial manifestation, the Logos, or Divine Ideation made Word, and that “Word” made “Flesh.” Sound may be considered an “attribute” of Âkâsha only on the condition of anthropomorphizing the latter. It is not a characteristic of it, though it is certainly as innate in it as the idea “I am I” is innate in our thoughts.

Theo Nội môn, chỉ Akasha là Không Gian Thiêng Liêng, và chỉ trở thành Dĩ thái trên cõi thấp nhất và cuối cùng, tức Vũ trụ hữu hình và Trái Đất của chúng ta. Trong trường hợp này, màn che nằm ở từ “thuộc tính”, được nói là Âm thanh. Nhưng Âm thanh không phải là thuộc tính của Akasha, mà là tương quan nguyên thủy của nó, biểu hiện nguyên sơ của nó, Logos, hay Ý Tưởng Thiêng Liêng được làm thành Linh từ, và “Linh từ” ấy nhập thể. Âm thanh có thể được xem là một “thuộc tính” của Akasha chỉ với điều kiện nhân hình hóa cái sau. Nó không phải là một đặc tính của Akasha, dù chắc chắn nó bẩm sinh trong Akasha như ý niệm “Tôi là Tôi” bẩm sinh trong tư tưởng của chúng ta.

Occultism teaches that Âkâsha contains and includes the seven Centres of Force, therefore the six Tattvas, of which it is the seventh, or rather their synthesis. But if Âkâsha be taken, as we believe it is in this case, to represent only the exoteric idea, then the author is right; because, seeing that Âkâsha is universally omnipresent, following the Paurânic limitation, for the better comprehension of our finite intellects, he places its commencement only beyond the four planes of our Earth Chain, 831 the two higher Tattvas being as concealed to the average mortal as the sixth and seventh senses are to the materialistic mind.

Huyền bí học dạy rằng Akasha chứa và bao gồm bảy Trung tâm Mãnh lực, do đó sáu Tattva, mà nó là cái thứ bảy, hay đúng hơn là tổng hợp của chúng. Nhưng nếu Akasha được hiểu, như chúng tôi tin là trong trường hợp này, chỉ đại diện cho ý niệm công truyền, thì tác giả đúng; bởi vì, khi thấy Akasha hiện diện khắp nơi một cách phổ quát, theo giới hạn Puranic, để trí năng hữu hạn của chúng ta dễ lĩnh hội hơn, ông đặt khởi điểm của nó chỉ ở bên ngoài bốn cõi của Dãy Địa Cầu của chúng ta, còn hai Tattva cao hơn thì bị che giấu đối với người phàm trung bình cũng như giác quan thứ sáu và thứ bảy bị che giấu đối với thể trí duy vật.

Therefore, while Sanskrit and Hindu Philosophy generally speak of five Tattvas only, Occultists name seven, thus making them correspond with every septenary in Nature. The Tattvas stand in the same order as the seven macro- and micro-cosmic Forces: and as taught in Esotericism, are as follows: (1) Âdi Tattva, the primordial universal Force, issuing at the beginning of manifestation, or of the “creative” period, from the eternal immutable Sat, the substratum of All. It corresponds with the Auric Envelope or Brahmâ’s Egg, which surrounds every globe, as well as every man, animal and thing. It is the vehicle containing potentially everything—Spirit and Substance, Force and Matter. Âdi Tattva, in Esoteric Cosmogony, is the Force which we refer to as proceeding from the First or Unmanifested Logos.

Vì vậy, trong khi Sanskrit và Triết học Ấn Độ giáo nói chung chỉ nói đến năm Tattva, các nhà huyền bí học nêu tên bảy, qua đó làm cho chúng tương ứng với mọi thất phân trong Thiên nhiên. Các Tattva đứng theo cùng trật tự như bảy Mãnh lực đại thiên địa và tiểu thiên địa: và như được giảng dạy trong huyền bí học, chúng như sau: (1) Adi Tattva, Mãnh lực phổ quát nguyên thủy, phát xuất lúc khởi đầu của biểu hiện, hay của thời kỳ “sáng tạo”, từ Sat vĩnh cửu bất biến, nền tảng của Tất Cả. Nó tương ứng với Lớp Bao Hào Quang hay Trứng của Brahma, bao quanh mọi bầu hành tinh, cũng như mọi con người, động vật và sự vật. Nó là vận cụ chứa một cách tiềm năng mọi sự—Tinh thần và Chất liệu, Mãnh lực và Vật chất. Adi Tattva, trong Vũ trụ khởi nguyên luận Nội môn, là Mãnh lực mà chúng tôi nói đến như phát xuất từ Logos Thứ Nhất hay Không Biểu Hiện.

(2) Anupâdaka Tattva, 832 the first differentiation on the plane of being—the first being an ideal one—or that which is born by transformation from something higher than itself. With the Occultists, this Force proceeds from the Second Logos.

(2) Anupadaka Tattva, sự biến phân đầu tiên trên cõi Bản Thể—cái đầu tiên là một cõi lý tưởng—hay cái được sinh ra bằng chuyển đổi từ một điều cao hơn chính nó. Đối với các nhà huyền bí học, Mãnh lực này phát xuất từ Logos Thứ Hai.

(3) Âkâsha Tattva, this is the point from which all exoteric Philosophies and Religions start. Âkâsha Tattva is explained in them as Etheric Force, Ether. Hence Jupiter, the “highest” God, was named after Pater Æther; Indra, once the highest God in India, is the etheric or heavenly expanse, and so with Uranus, etc. The Christian biblical God, also, is spoken of as the Holy Ghost, Pneuma, rarefied wind or air. This the Occultists call the Force of the Third Logos, the Creative Force in the already Manifested Universe.

(3) Akasha Tattva, đây là điểm từ đó mọi Triết học và Tôn giáo công truyền khởi đầu. Akasha Tattva được giải thích trong đó như Mãnh lực Dĩ thái, Dĩ thái. Do đó Sao Mộc, vị Thượng đế “cao nhất”, được gọi theo tên Pater Aether; Indra, từng là vị Thượng đế cao nhất ở Ấn Độ, là khoảng bao la dĩ thái hay thiên thượng, và Uranus cũng vậy, v.v. Thượng đế trong Kinh Thánh Cơ Đốc cũng được nói đến như Chúa Thánh Thần, Pneuma, gió hay không khí tinh vi. Các nhà huyền bí học gọi đây là Mãnh lực của Logos Thứ Ba, Mãnh lực Sáng tạo trong Vũ trụ đã Biểu Hiện.

(4) Vâyu Tattva, the aërial plane where substance is gaseous.

(4) Vayu Tattva, cõi thuộc khí, nơi chất liệu ở thể khí.

(5) Taijas Tattva, the plane of our atmosphere, from tejas, luminous.

(5) Taijas Tattva, cõi của bầu khí quyển chúng ta, từ tejas, sáng chói.

(6) Âpas Tattva, watery or liquid substance or force.

(6) Apas Tattva, chất liệu hay mãnh lực nước hoặc lỏng.

(7) Prithivî Tattva, solid earthly substance, the terrestrial spirit or force, the lowest of all.

(7) Prithivi Tattva, chất liệu đất rắn, tinh thần hay mãnh lực trần thế, thấp nhất trong tất cả.

All these correspond to our Principles, and to the seven senses and forces in man. According to the Tattva or Force generated or induced in us, so will our bodies act.

Tất cả những điều này tương ứng với các Nguyên khí của chúng ta, và với bảy giác quan cùng mãnh lực trong con người. Tùy theo Tattva hay Mãnh lực được tạo ra hoặc được khơi dậy trong chúng ta, các thể của chúng ta sẽ hành động như vậy.

Now, what I have to say here is addressed especially to those members who are anxious to develop powers by “sitting for Yoga.” You have seen, from what has been already said, that in the development of Râja Yoga, no extant works made public are of the least good; they can at best give inklings of Hatha Yoga, something that may develop mediumship at best, and in the worst case—consumption. If those who practice “meditation,” and try to learn “the Science of Breath,” will read attentively Nature’s Finer Forces, they will find that it is by utilizing the five Tattvas only that this dangerous science is acquired. For in the exoteric Yoga Philosophy, and the Hatha Yoga practice, Âkâsha Tattva is placed in the head (or physical brain) of man; Tejas Tattva in the shoulders; Vâyu Tattva in the navel (the seat of all the phallic Gods, “creators” of the universe and man); Âpas Tattva in the knees; and Prithivî Tattva in the feet. Hence the two higher Tattvas and their correspondences are ignored and excluded; and, as these are the chief factors in Râja Yoga, no spiritual or intellectual phenomena of a high nature can take place. The best results obtainable will be physical phenomena and no more. As the “Five Breaths,” or rather the five states of the human breath, in Hatha Yoga correspond to the above terrestrial planes and colours, what spiritual results can be obtained? On the contrary, they are the very reverse of the plane of Spirit, or the higher macrocosmic plane, reflected as they are upside down, in the Astral Light. This is proven in the Tântra work, Shivâgama, itself. Let us compare.

Bây giờ, những gì tôi phải nói ở đây đặc biệt gửi đến những hội viên đang nóng lòng phát triển các quyền năng bằng cách “ngồi tập Yoga.” Các bạn đã thấy, từ những gì đã nói, rằng trong việc phát triển Raja Yoga, không một tác phẩm hiện còn nào đã được công bố lại có chút ích lợi nào; tốt nhất chúng chỉ có thể đưa ra vài gợi ý về Hatha Yoga, một điều may lắm thì có thể phát triển đồng tử thuật, còn tệ nhất thì dẫn đến bệnh lao. Nếu những ai thực hành “tham thiền” và cố học “Khoa học về Hơi Thở” chịu đọc kỹ Các Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên, họ sẽ thấy rằng chỉ bằng cách sử dụng năm Tattva mà khoa học nguy hiểm này mới được thủ đắc. Vì trong Triết học Yoga công truyền và trong thực hành Hatha Yoga, Akasha Tattva được đặt trong đầu, hay bộ não hồng trần, của con người; Tejas Tattva ở vai; Vayu Tattva ở rốn, nơi trú của tất cả các vị thần sinh thực khí, “những đấng sáng tạo” vũ trụ và con người; Apas Tattva ở đầu gối; và Prithivi Tattva ở bàn chân. Do đó, hai Tattva cao hơn và các tương ứng của chúng bị bỏ qua và loại trừ; và vì chúng là các yếu tố chính trong Raja Yoga, nên không một hiện tượng tinh thần hay trí tuệ nào thuộc bản chất cao có thể xảy ra. Những kết quả tốt nhất có thể đạt được chỉ là các hiện tượng hồng trần, không hơn. Vì “Năm Hơi Thở,” hay đúng hơn là năm trạng thái của hơi thở con người, trong Hatha Yoga tương ứng với các cõi và màu sắc trần thế nói trên, thì có thể đạt được những kết quả tinh thần nào? Trái lại, chúng chính là điều đảo ngược của cõi Tinh thần, hay cõi đại thiên địa cao hơn, vì chúng được phản chiếu lộn ngược trong Ánh Sáng Cảm Dục. Điều này được chứng minh ngay trong tác phẩm Tantra, Shivagama. Chúng ta hãy so sánh.

First of all, remember that the Septenary of visible and also invisible Nature is said in Occultism to consist of the three (and four) Fires, which grow into the forty-nine Fires. This shows that as the Macrocosm is divided into seven great planes of various differentiations of Substance—from the spiritual or subjective, to the fully objective or material, from Akâsha down to the sin-laden atmosphere of our earth—so, in its turn, each of these great planes has three aspects, based on four Principles, as already shown above. This seems to be quite natural, as even modern Science has her three states of matter and what are generally called the “critical” or intermediate states between the solid, the fluidic, and the gaseous.

Trước hết, hãy nhớ rằng trong Huyền bí học, thất nguyên của Thiên nhiên hữu hình cũng như vô hình được nói là gồm ba và bốn Lửa, vốn phát triển thành bốn mươi chín Lửa. Điều này cho thấy rằng, cũng như Đại thiên địa được chia thành bảy cõi lớn với những biến phân khác nhau của Chất liệu — từ cõi tinh thần hay chủ quan, đến cõi hoàn toàn khách quan hay vật chất, từ Akasha xuống đến bầu khí quyển đầy tội lỗi của Trái Đất chúng ta — thì đến lượt mỗi cõi lớn ấy có ba phương diện, đặt nền trên bốn Nguyên khí, như đã trình bày ở trên. Điều này dường như hoàn toàn tự nhiên, vì ngay cả Khoa học hiện đại cũng có ba trạng thái vật chất của nó và những gì thường được gọi là các trạng thái “tới hạn” hay trung gian giữa thể rắn, thể linh động và thể khí.

Now, the Astral Light is not a universally diffused stuff, but pertains only to our earth and all other bodies of the system on the same plane of matter with it. Our Astral Light is, so to speak, the Linga Sharîra of our earth; only instead of being its primordial prototype, as in the case of our Chhâyâ, or Double, it is the reverse. Human and animal bodies grow and develop on the model of their antetypal Doubles; whereas the Astral Light is born from the terrene emanations, grows and develops after its prototypal parent, and in its treacherous waves everything from the upper planes and from the lower solid plane, the earth, both ways, is reflected reversed. Hence the confusion of its colours and sounds in the clairvoyance and clairaudience of the sensitive who trusts to its records, be that sensitive a Hatha Yogî or a medium.

Bây giờ, Ánh Sáng Cảm Dục không phải là một chất liệu lan tỏa khắp vũ trụ, mà chỉ thuộc về Trái Đất chúng ta và tất cả các thiên thể khác trong hệ thống ở cùng cõi vật chất với nó. Có thể nói, Ánh Sáng Cảm Dục của chúng ta là Linga Sharira của Trái Đất chúng ta; chỉ khác là thay vì là nguyên mẫu sơ thủy của nó, như trong trường hợp Chhaya, hay Đối phần của chúng ta, nó lại là điều đảo ngược. Thể của con người và loài vật tăng trưởng và phát triển theo mô hình của các Đối phần nguyên mẫu của chúng; trong khi Ánh Sáng Cảm Dục được sinh ra từ các xuất lộ của đất, tăng trưởng và phát triển theo cha mẹ nguyên mẫu của nó, và trong những làn sóng phản trắc của nó, mọi sự từ các cõi trên và từ cõi đặc thấp hơn, tức Trái Đất, theo cả hai chiều, đều được phản chiếu đảo ngược. Do đó có sự lẫn lộn về màu sắc và âm thanh trong thông nhãn và thông nhĩ của người nhạy cảm tin vào các ghi nhận của nó, dù người nhạy cảm ấy là một Hatha Yogi hay một đồng tử.

Such, then, is the Occult Science on which the modern Ascetics and Yogîs of India base their Soul development and powers. They are known as the Hatha Yogîs. Now, the science of Hatha Yoga rests upon the “suppression of breath,” or Prânâyâma, to which exercise our Masters are unanimously opposed. For what is Prânâyâma? Literally translated, it means the “death of (vital) breath.” Prâna, as said, is not Jîva, the eternal fount of life immortal; nor is it connected in any way with Pranava, as some think, for Pranava is a synonym of Aum in a mystic sense. As much as has ever been taught publicly and clearly about it is to be found in Nature’s Finer Forces. If such directions, however, are followed, they can only lead to Black Magic and mediumship. Several impatient Chelâs, whom we knew personally in India, went in for the practice of Hatha Yoga, notwithstanding our warnings. Of these, two developed consumption, of which one died; others became almost idiotic; another committed suicide; and one developed into a regular Tântrika, a Black Magician, but his career, fortunately for himself, was cut short by death.

Vậy đó là Khoa học Huyền bí mà các nhà khổ hạnh và Yogi hiện đại của Ấn Độ đặt nền tảng cho sự phát triển linh hồn và các quyền năng của họ. Họ được biết đến như các Hatha Yogi. Bây giờ, khoa học Hatha Yoga đặt nền trên sự “ức chế hơi thở,” hay Pranayama, một bài tập mà các Chân sư của chúng ta đều nhất trí phản đối. Vì Pranayama là gì? Dịch sát nghĩa, nó có nghĩa là “cái chết của hơi thở sinh lực.” Như đã nói, Prana không phải là Jiva, nguồn mạch vĩnh cửu của sự sống bất tử; nó cũng không liên hệ theo bất cứ cách nào với Pranava, như một số người nghĩ, vì Pranava là một đồng nghĩa của Aum theo nghĩa thần bí. Tất cả những gì từng được giảng dạy công khai và rõ ràng về nó đều có thể tìm thấy trong Các Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên. Tuy nhiên, nếu người ta làm theo những chỉ dẫn ấy, chúng chỉ có thể dẫn đến Hắc thuật và đồng tử thuật. Một số đệ tử nóng vội mà chúng tôi từng quen biết riêng tại Ấn Độ đã lao vào thực hành Hatha Yoga, bất chấp những lời cảnh báo của chúng tôi. Trong số này, hai người mắc bệnh lao, một người đã chết; những người khác gần như trở nên đần độn; một người khác tự sát; và một người phát triển thành một Tantrika chính hiệu, một nhà hắc thuật, nhưng may thay cho chính y, sự nghiệp của y đã bị cái chết cắt ngắn.

The science of the Five Breaths, the moist, the fiery, the airy, etc., has a twofold significance and two applications. The Tântrikas take it literally, as relating to the regulation of the vital, lung breath, whereas the ancient Râja Yogîs understood it as referring to the mental or “will” breath, which alone leads to the highest clairvoyant powers, to the function of the Third Eye, and the acquisition of the true Râja Yoga Occult powers. The difference between the two is enormous. The former, as shown, use the five lower Tattvas; the latter begin by using the three higher alone, for mental and will development, and the rest only when they have completely mastered the three; hence, they use only one (Âkâsha Tattva) out of the Tântric five. As well said in the above stated work, “Tattvas are the modifications of Svara.” Now, the Svara is the root of all sound, the substratum of the Pythagorean music of the spheres, Svara being that which is beyond Spirit, in the modern acceptation of the word, the Spirit within Spirit, or as very properly translated, the “current of the life-wave,” the emanation of the One Life. The Great Breath spoken of in our first volume is Âtmâ, the etymology of which is “eternal motion.” Now while the ascetic Chelâ of our school, for his mental development, follows carefully the process of the evolution of the Universe, that is, proceeds from universals to particulars, the Hatha Yogî reverses the conditions and begins by sitting for the suppression of his (vital) breath. And if, as Hindu philosophy teaches, at the beginning of kosmic evolution, “Svara threw itself into the form of Âkâsha,” and thence successively into the forms of Vâyu (air), Agni (fire), Âpas (water), and Prithivî (solid matter), 833 then it stands to reason that we have to begin by the higher supersensuous Tattvas. The Râja Yogî does not descend on the planes of substance beyond Sûkshma (subtle matter), while the Hatha Yogî develops and uses his powers only on the material plane. Some Tântrikas locate the three Nadîs, Sushumnâ, Îdâ and Pingalâ, in the medulla oblongata, the central line of which they call Sushumnâ, and the right and left divisions, Pingalâ and Îdâ, and also in the heart, to the divisions of which they apply the same names. The Trans-Himâlayan school of the ancient Indian Râja Yogîs, with which the modern Yogîs of India have little to do, locates Sushumnâ, the chief seat of these three Nadîs, in the central tube of the spinal cord, and Îdâ and Pingalâ on its left and right sides. Sushumnâ is the Brahmadanda. It is that canal (of the spinal cord), of the use of which Physiology knows no more than it does of the spleen and the pineal gland. Îâ and Pingalâ are simply the sharps and flats of that Fa of human nature, the keynote and the middle key in the scale of the septenary harmony of the Principles, which, when struck in a proper way, awakens the sentries on either side, the spiritual Manas and the physical Kâma, and subdues the lower through the higher. But this effect has to be produced by the exercise of will-power, not through the scientific or trained suppression of the breath. Take a transverse section of the spinal region, and you will find sections across three columns, one of which columns transmits the volitional orders, and a second a life current of Jîva—not of Prâna, which animates the body of man—during what is called Samâdhi and like states.

Khoa học về Năm Hơi Thở — ẩm, lửa, khí, v.v. — có một thâm nghĩa nhị phân và hai cách ứng dụng. Các Tantrika hiểu nó theo nghĩa đen, như liên quan đến việc điều hòa hơi thở sinh lực của phổi, trong khi các Raja Yogi cổ xưa hiểu nó là nói đến hơi thở trí tuệ hay “ý chí,” vốn một mình dẫn đến các quyền năng thông nhãn cao nhất, đến chức năng của Con Mắt Thứ Ba, và đến việc thủ đắc các quyền năng Huyền bí chân chính của Raja Yoga. Sự khác biệt giữa hai bên là vô cùng lớn. Như đã trình bày, bên trước dùng năm Tattva thấp; bên sau bắt đầu bằng cách chỉ dùng ba Tattva cao hơn, để phát triển trí tuệ và ý chí, và chỉ dùng phần còn lại khi họ đã hoàn toàn làm chủ ba Tattva ấy; do đó, trong năm Tattva của Tantra, họ chỉ dùng một, tức Akasha Tattva. Như đã nói rất đúng trong tác phẩm nêu trên, “Tattva là những biến thái của Svara.” Bây giờ, Svara là căn nguyên của mọi âm thanh, nền tảng của âm nhạc các khối cầu theo Pythagoras; Svara là cái ở bên kia Tinh thần, theo cách hiểu hiện đại của từ này, là Tinh thần trong Tinh thần, hay như được dịch rất đúng, “dòng chảy của làn sóng sự sống,” sự xuất lộ của Sự Sống Duy Nhất. Hơi Thở Vĩ Đại được nói đến trong quyển đầu của chúng tôi là Atma, mà từ nguyên của nó là “chuyển động vĩnh cửu.” Bây giờ, trong khi đệ tử khổ hạnh của trường phái chúng tôi, để phát triển trí tuệ của mình, cẩn thận theo tiến trình tiến hoá của Vũ trụ, nghĩa là đi từ cái phổ quát đến cái đặc thù, thì Hatha Yogi đảo ngược các điều kiện và bắt đầu bằng cách ngồi để ức chế hơi thở sinh lực của y. Và nếu, như triết học Ấn Độ dạy, vào lúc khởi đầu của cuộc tiến hoá vũ trụ, “Svara tự ném mình vào hình tướng Akasha,” rồi từ đó lần lượt vào các hình tướng Vayu, tức khí, Agni, tức lửa, Apas, tức nước, và Prithivi, tức vật chất đặc, thì hiển nhiên chúng ta phải bắt đầu bằng các Tattva siêu giác quan cao hơn. Raja Yogi không đi xuống các cõi chất liệu vượt quá Sukshma, tức vật chất tinh tế, trong khi Hatha Yogi chỉ phát triển và sử dụng các quyền năng của y trên cõi vật chất. Một số Tantrika định vị ba Nadi, Sushumna, Ida và Pingala, trong hành tủy; đường trung tâm của nó họ gọi là Sushumna, còn các phần chia bên phải và bên trái là Pingala và Ida; họ cũng định vị chúng trong tim, và áp cùng các tên ấy cho các phần chia của tim. Trường phái Xuyên Hy Mã Lạp Sơn của các Raja Yogi Ấn Độ cổ xưa, mà các Yogi hiện đại của Ấn Độ ít liên hệ, định vị Sushumna, nơi trú chính của ba Nadi này, trong ống trung tâm của tủy sống, còn Ida và Pingala ở bên trái và bên phải của nó. Sushumna là Brahmadanda. Nó là ống ấy của tủy sống, mà Sinh lý học biết về công dụng của nó cũng chẳng nhiều hơn những gì ngành ấy biết về lá lách và tuyến tùng. Ida và Pingala chỉ là các nốt thăng và giáng của nốt Fa trong bản chất con người, là chủ âm và phím giữa trong thang âm của sự hòa điệu thất phân của các Nguyên khí; khi được đánh đúng cách, nó đánh thức các lính canh ở hai bên, tức Manas tinh thần và Kama hồng trần, và chế ngự cái thấp bằng cái cao. Nhưng hiệu quả này phải được tạo ra bằng việc vận dụng ý chí lực, chứ không phải bằng sự ức chế hơi thở theo lối khoa học hay được huấn luyện. Hãy lấy một mặt cắt ngang vùng cột sống, và các bạn sẽ thấy các tiết diện của ba cột, một cột truyền các mệnh lệnh ý chí, và cột thứ hai truyền dòng sự sống của Jiva — không phải Prana, vốn làm linh hoạt thể của con người — trong trạng thái được gọi là Samadhi và các trạng thái tương tự.

He who has studied both systems, the Hatha and the Râja Yoga, finds an enormous difference between the two: one is purely psycho-physiological, the other purely psycho-spiritual. The Tântrists do not seem to go higher than the six visible and known plexuses, with each of which they connect the Tattvas; and the great stress they lay on the chief of these, the Mûladhâra Chakra (the sacral plexus), shows the material and selfish bent of their efforts towards the acquisition of powers. Their five Breaths and five Tattvas are chiefly concerned with the prostatic, epigastric, cardiac, and laryngeal plexuses. Almost ignoring the Âjñâ, they are positively ignorant of the synthesizing laryngeal plexus. But with the followers of the old school it is different. We begin with the mastery of that organ which is situated at the base of the brain, in the pharynx, and called by Western Anatomists the Pituitary Body. In the series of the objective cranial organs, corresponding to the subjective Tâttvic principles, it stands to the Third Eye (Pineal Gland) as Manas stands to Buddhi; the arousing and awakening of the Third Eye must be performed by that vascular organ, that insignificant little body, of which, once again, Physiology knows nothing at all. The one is the Energizer of Will, the other that of Clairvoyant Perception.

Ai đã nghiên cứu cả hai hệ thống, Hatha và Raja Yoga, đều thấy sự khác biệt vô cùng lớn giữa hai hệ thống: một bên thuần túy tâm-sinh lý, bên kia thuần túy tâm-tinh thần. Các Tantrist dường như không vượt cao hơn sáu đám rối hữu hình và được biết, mỗi đám rối họ liên kết với các Tattva; và sự nhấn mạnh lớn lao mà họ đặt vào đám rối chính trong số này, Muladhara Chakra, tức đám rối xương cùng, cho thấy khuynh hướng vật chất và ích kỷ trong các nỗ lực của họ nhằm thủ đắc quyền năng. Năm Hơi Thở và năm Tattva của họ chủ yếu liên quan đến các đám rối tiền liệt tuyến, thượng vị, tim và thanh quản. Gần như bỏ qua Ajna, họ thực sự không biết gì về đám rối thanh quản có tính tổng hợp. Nhưng đối với những người theo trường phái xưa thì khác. Chúng tôi bắt đầu bằng việc làm chủ cơ quan nằm ở đáy bộ não, trong yết hầu, và được các nhà Giải phẫu học phương Tây gọi là Tuyến Yên. Trong chuỗi các cơ quan sọ não khách quan tương ứng với các nguyên khí Tattva chủ quan, nó đứng đối với Con Mắt Thứ Ba, tức Tuyến Tùng, như Manas đứng đối với Buddhi; việc khơi động và đánh thức Con Mắt Thứ Ba phải được thực hiện bởi cơ quan mạch máu ấy, cái thể nhỏ bé tầm thường ấy, mà một lần nữa, Sinh lý học hoàn toàn không biết gì. Một bên là Tác nhân tiếp sinh lực cho Ý chí, bên kia là tác nhân cho Tri giác Thông nhãn.

Those who are Physicians, Physiologists, Anatomists, etc., will understand me better than the rest in the following explanation.

Những ai là Y sĩ, Nhà Sinh lý học, Nhà Giải phẫu học, v.v., sẽ hiểu tôi rõ hơn những người còn lại trong phần giải thích sau đây.

Now, as to the functions of the Pineal Gland, or Conarium, and of the Pituitary Body, we find no explanations vouchsafed by the standard authorities. Indeed, on looking through the works of the greatest specialists, it is curious to observe how much confused ignorance on the human vital economy, physiological as well as psychological, is openly confessed. The following is all that can be gleaned from the authorities upon these two important organs.

Bây giờ, về các chức năng của Tuyến Tùng, hay Conarium, và của Tuyến Yên, chúng ta không thấy các thẩm quyền tiêu chuẩn ban cho lời giải thích nào. Thật vậy, khi xem qua các tác phẩm của các chuyên gia lớn nhất, thật lạ khi nhận thấy có biết bao sự ngu dốt lẫn lộn về cơ cấu sinh lực của con người, cả sinh lý lẫn tâm lý, được thú nhận công khai. Sau đây là tất cả những gì có thể lượm lặt từ các thẩm quyền về hai cơ quan quan trọng này.

(1) The Pineal Gland, or Conarium, is a rounded, oblong body, from three to four lines long, of a deep reddish grey, connected with the posterior part of the third ventricle of the brain. It is attached at its base by two thin medullary cords, which diverge forward to the Optic Thalami. Remember that the latter are found by the best Physiologists to be the organs of reception and condensation of the most sensitive and sensorial incitations from the periphery of the body (according to Occultism, from the periphery of the Auric Egg, which is our point of communication with the higher, universal planes). We are further told that the two bands of the Optic Thalami, which are inflected to meet each other, unite on the median line, where they become the two peduncles of the Pineal Gland.

(1) Tuyến Tùng, hay Conarium, là một thể tròn, thuôn dài, dài từ ba đến bốn vạch, có màu xám đỏ sẫm, nối với phần sau của não thất thứ ba. Nó được gắn ở đáy bằng hai dây tủy mảnh, tỏa ra phía trước đến các đồi thị giác. Hãy nhớ rằng các nhà Sinh lý học giỏi nhất cho rằng các đồi thị giác là những cơ quan tiếp nhận và cô đọng các kích thích nhạy cảm và giác quan tinh tế nhất từ ngoại vi của thể, theo Huyền bí học là từ ngoại vi của noãn hào quang, vốn là điểm liên lạc của chúng ta với các cõi cao hơn, phổ quát. Chúng ta còn được cho biết rằng hai dải của các đồi thị giác, uốn cong để gặp nhau, hợp nhất trên đường giữa, nơi chúng trở thành hai cuống của Tuyến Tùng.

(2) The Pituitary Body, or Hypophysis Cerebri, is a small and hard organ, about six lines broad, three long and three high. It is formed of an anterior bean-shaped, and of a posterior and more rounded lobe, which are uniformly united. Its component parts, we are told, are almost identical with those of the Pineal Gland; yet not the slightest connection can be traced between the two centres. To this, however, Occultists take exception; they know that there is a connection, and this even anatomically and physically. Dissectors, on the other hand, have to deal with corpses; and, as they themselves admit, brain-matter, of all tissues and organs, collapses and changes form the soonest—in fact, a few minutes after death. When, then, the pulsating life which expanded the mass of the brain, filled all its cavities and energized all its organs, vanishes, the cerebral mass shrinks into a sort of pasty condition, and once open passages become closed. But the contraction and even interblending of parts in this process of shrinking, and the subsequent pasty state of the brain, do not imply that there is no connection between these two organs before death. In point of fact, as Professor Owen has shown, a connection as objective as a groove and tube exists in the crania of the human fœtus and of certain fishes. When a man is in his normal condition, an Adept can see the golden Aura pulsating in both the centres, like the pulsation of the heart, which never ceases throughout life. This motion, however, under the abnormal condition of effort to develop clairvoyant faculties, becomes intensified, and the Aura takes on a stronger vibratory or swinging action. The arc of the pulsation of the Pituitary Body mounts upward, more and more, until, just as when the electric current strikes some solid object, the current finally strikes the Pineal Gland, and the dormant organ is awakened and set all glowing with the pure Âkâshic Fire. This is the psycho-physiological illustration of two organs on the physical plane, which are, respectively, the concrete symbols of the metaphysical concepts called Manas and Buddhi. The latter, in order to become conscious on this plane, needs the more differentiated fire of Manas; but once the sixth sense has awakened the seventh, the light which radiates from this seventh sense illumines the fields of infinitude. For a brief space of time man becomes omniscient; the Past and the Future, Space and Time, disappear and become for him the Present. If an Adept, he will store the knowledge he thus gains in his physical memory, and nothing, save the crime of indulging in Black Magic, can obliterate the remembrance of it. If only a Chelâ, portions alone of the whole truth will impress themselves on his memory, and he will have to repeat the process for years, never allowing one speck of impurity to stain him mentally or physically, before he becomes a fully initiated Adept.

(2) Tuyến Yên, hay Hypophysis Cerebri, là một cơ quan nhỏ và cứng, rộng khoảng sáu vạch, dài ba và cao ba. Nó được tạo thành từ một thùy trước hình hạt đậu và một thùy sau tròn hơn, hai thùy này hợp nhất đều đặn. Chúng ta được cho biết rằng các thành phần cấu tạo của nó gần như đồng nhất với các thành phần của Tuyến Tùng; tuy nhiên, không thể truy tìm được chút liên hệ nào giữa hai trung tâm ấy. Tuy vậy, các nhà Huyền bí học phản đối điều này; họ biết rằng có một liên hệ, và điều này đúng cả về mặt giải phẫu lẫn hồng trần. Mặt khác, các nhà giải phẫu tử thi phải xử lý xác chết; và như chính họ thừa nhận, chất não, trong tất cả các mô và cơ quan, xẹp xuống và biến dạng nhanh nhất — thật ra chỉ vài phút sau khi chết. Khi sự sống đang đập nhịp, vốn làm khối não giãn nở, lấp đầy mọi khoang của nó và tiếp sinh lực cho mọi cơ quan của nó, biến mất, khối não co lại thành một thứ trạng thái nhão, và các lối thông từng mở trở nên đóng kín. Nhưng sự co rút và ngay cả sự hòa lẫn các phần trong tiến trình co lại này, cùng trạng thái nhão sau đó của bộ não, không hàm ý rằng không có liên hệ giữa hai cơ quan này trước khi chết. Thật vậy, như Giáo sư Owen đã chỉ ra, một liên hệ khách quan như một rãnh và ống tồn tại trong sọ của bào thai người và của một số loài cá. Khi một người ở trong tình trạng bình thường, một Chân sư có thể thấy hào quang vàng đập nhịp trong cả hai trung tâm, giống như nhịp đập của tim, vốn không bao giờ ngừng trong suốt đời sống. Tuy nhiên, chuyển động này, dưới tình trạng bất thường của nỗ lực phát triển các năng lực thông nhãn, trở nên mạnh hơn, và hào quang nhận lấy một tác động rung động hay đong đưa mạnh hơn. Cung nhịp đập của Tuyến Yên dâng lên, mỗi lúc một cao hơn, cho đến khi, giống như lúc dòng điện đập vào một vật rắn nào đó, dòng điện cuối cùng đập vào Tuyến Tùng, và cơ quan ngủ yên được đánh thức, bừng sáng toàn thể bằng Lửa Akasha tinh khiết. Đây là minh họa tâm-sinh lý về hai cơ quan trên cõi hồng trần, vốn lần lượt là các biểu tượng cụ thể của những quan niệm siêu hình gọi là Manas và Buddhi. Cái sau, để trở nên có ý thức trên cõi này, cần ngọn lửa Manas đã biến phân hơn; nhưng một khi giác quan thứ sáu đã đánh thức giác quan thứ bảy, ánh sáng phát ra từ giác quan thứ bảy này soi sáng các cánh đồng của vô tận. Trong một khoảng thời gian ngắn, con người trở nên toàn tri; Quá khứ và Tương lai, Không gian và Thời gian biến mất và trở thành Hiện tại đối với y. Nếu là một Chân sư, y sẽ lưu giữ tri thức mà y đạt được như thế trong ký ức hồng trần của mình, và không gì, ngoại trừ tội lỗi chìm đắm trong Hắc thuật, có thể xóa bỏ ký ức ấy. Nếu chỉ là một đệ tử, chỉ những phần của toàn bộ chân lý mới in dấu vào ký ức của y, và y sẽ phải lặp lại tiến trình ấy trong nhiều năm, không bao giờ để một hạt bụi ô nhiễm nào làm vấy bẩn y về trí tuệ hay hồng trần, trước khi y trở thành một Chân sư được điểm đạo trọn vẹn.

It may seem strange, almost incomprehensible, that the chief success of Gupta Vidyâ, or Occult Knowledge, should depend upon such flashes of clairvoyance, and that the latter should depend in man on two such insignificant excrescences in his cranial cavity, “two horny warts covered with grey sand (acervulus cerebri),” as expressed by Bichat in his Anatomie Descriptive; yet so it is. But this sand is not to be despised; nay, in truth, it is only this landmark of the internal, independent activity of the Conarium that prevents Physiologists from classifying it with the absolutely useless atrophied organs, the relics of a previous and now utterly changed anatomy of man during some period of his unknown evolution. This “sand” is very mysterious, and baffles the inquiry of every Materialist. In the cavity on the anterior surface of this gland, in young persons, and in its substance, in people of advanced years, is found

Có thể có vẻ lạ lùng, gần như không thể hiểu nổi, rằng thành công chính của Gupta Vidya, hay Tri thức Huyền bí, lại tùy thuộc vào những tia chớp thông nhãn như thế, và những tia chớp ấy nơi con người lại tùy thuộc vào hai khối lồi quá tầm thường trong khoang sọ của y, “hai mụn cóc sừng phủ cát xám, acervulus cerebri,” như Bichat diễn tả trong Giải phẫu học Mô tả của ông; tuy nhiên sự thật là như vậy. Nhưng cát này không được khinh thường; đúng hơn, thật ra, chỉ có dấu mốc này của hoạt động nội tại, độc lập của Conarium mới ngăn các nhà Sinh lý học xếp nó vào loại các cơ quan teo đi hoàn toàn vô dụng, những di tích của một cấu trúc giải phẫu trước kia và nay đã hoàn toàn biến đổi của con người trong một thời kỳ nào đó thuộc cuộc tiến hoá chưa được biết của y. “Cát” này rất huyền bí và làm bối rối cuộc khảo sát của mọi nhà Duy vật. Trong khoang trên mặt trước của tuyến này, ở người trẻ, và trong chất của nó, ở người cao tuổi, người ta tìm thấy

A yellowish substance, semi-transparent, brilliant and hard, the diameter of which does not exceed half a line. 834

Một chất màu vàng nhạt, bán trong suốt, sáng bóng và cứng, đường kính không vượt quá nửa vạch.

Such is the acervulus cerebri.

Đó là acervulus cerebri.

This brilliant “sand” is the concretion of the gland itself, so say the Physiologists. Perhaps not, we answer. The Pineal Gland is that which the Eastern Occultist calls Devâksha, the “Divine Eye.” To this day, it is the chief organ of spirituality in the human brain, the seat of genius, the magical Sesame uttered by the purified will of the Mystic, which opens all the avenues of truth for him who knows how to use it. The Esoteric Science teaches that Manas, the Mind Ego, does not accomplish its full union with the child before he is six or seven years of age, before which period, even according to the canon of the Church and Law, no child is deemed responsible. 835 Manas becomes a prisoner, one with the body, only at that age. Now a strange thing was observed in several thousand cases by the famous German anatomist, Wengel. With a few extremely rare exceptions, this “sand,” or golden-coloured concretion, is found only in subjects after the completion of their seventh year. In the case of fools these calculi are very few; in congenital idiots they are completely absent. Morgagni, 836 Grading, 837 and Gum 838 were wise men in their generation, and are wise men to-day, since they are the only Physiologists, so far, who connect the calculi with mind. For, sum up the facts, that they are absent in young children, in very old people, and in idiots, and the unavoidable conclusion will be that they must be connected with mind.

Các nhà Sinh lý học nói rằng “cát” sáng bóng này là sự kết tụ của chính tuyến ấy. Có lẽ không phải, chúng tôi đáp. Tuyến Tùng là cái mà nhà Huyền bí học phương Đông gọi là Devaksha, “Con Mắt Thiêng Liêng.” Cho đến ngày nay, nó là cơ quan chính của tinh thần trong bộ não con người, là nơi trú của thiên tài, là câu thần chú Sesame huyền thuật được thốt ra bởi ý chí đã được thanh luyện của nhà thần bí, mở ra mọi nẻo đường của chân lý cho ai biết cách sử dụng nó. Khoa học Nội môn dạy rằng Manas, Chân ngã Trí tuệ, không hoàn tất sự hợp nhất đầy đủ với đứa trẻ trước khi nó lên sáu hay bảy tuổi; trước thời kỳ ấy, ngay cả theo giáo luật của Giáo hội và Luật pháp, không đứa trẻ nào bị xem là có trách nhiệm. Manas chỉ trở thành tù nhân, đồng nhất với thể, ở tuổi ấy. Bây giờ, một điều lạ lùng đã được nhà giải phẫu học Đức nổi tiếng Wengel quan sát trong vài nghìn trường hợp. Với vài ngoại lệ cực kỳ hiếm, “cát” này, hay sự kết tụ màu vàng kim, chỉ được tìm thấy nơi các đối tượng sau khi họ hoàn tất năm thứ bảy. Trong trường hợp người ngu đần, các sỏi nhỏ này rất ít; ở những người đần bẩm sinh, chúng hoàn toàn vắng mặt. Morgagni, Grading, và Gum là những người minh triết trong thế hệ của họ, và ngày nay vẫn là những người minh triết, vì cho đến nay họ là những nhà Sinh lý học duy nhất liên kết các sỏi nhỏ ấy với trí tuệ. Vì, hãy tổng kết các sự kiện: chúng vắng mặt nơi trẻ nhỏ, nơi người rất già, và nơi kẻ đần độn; kết luận không thể tránh khỏi là chúng phải liên hệ với trí tuệ.

Now since every mineral, vegetable and other atom is only a concretion of crystallized Spirit, or Âkâsha, the Universal Soul, why, asks Occultism, should the fact that these concretions of the Pineal Gland, are, upon analysis, found to be composed of animal matter, phosphate of lime and carbonate, serve as an objection to the statement that they are the result of the work of mental electricity upon surrounding matter?

Bây giờ, vì mỗi nguyên tử khoáng vật, thực vật và các nguyên tử khác chỉ là một kết tụ của Tinh thần đã kết tinh, hay Akasha, Linh hồn Vũ trụ, tại sao, Huyền bí học hỏi, sự kiện rằng các kết tụ này của Tuyến Tùng, khi phân tích, được thấy là gồm chất động vật, phosphate vôi và carbonate, lại được dùng làm phản bác đối với khẳng định rằng chúng là kết quả của công trình của điện lực trí tuệ tác động lên vật chất chung quanh?

Our seven Chakras are all situated in the head, and it is these Master Chakras which govern and rule the seven (for there are seven) principal plexuses in the body, besides the forty-two minor ones to which Physiology refuses that name. The fact that no microscope can detect such centres on the objective plane goes for nothing; no microscope has ever yet detected, nor ever will, the difference between the motor and sensory nerve-tubes, the conductors of all our bodily and psychic sensations; and yet logic alone would show that such difference exists. And if the term plexus, in this application, does not represent to the Western mind the idea conveyed by the term of the Anatomist, then call them Chakras or Padmas, or the Wheels, the Lotus Heart and Petals. Remember that Physiology, imperfect as it is, shows septenary groups all over the exterior and interior of the body; the seven head orifices, the seven “organs” at the base of the brain, the seven plexuses, the pharyngeal, laryngeal, cavernous, cardiac, epigastric, prostatic, and sacral, etc.

Bảy Chakra của chúng ta đều nằm trong đầu, và chính các Chakra Chủ này cai quản và điều khiển bảy đám rối chính trong thể, vì có bảy, ngoài bốn mươi hai đám rối nhỏ mà Sinh lý học từ chối gọi bằng tên ấy. Sự kiện không kính hiển vi nào có thể phát hiện các trung tâm như thế trên cõi khách quan chẳng có giá trị gì; chưa từng có kính hiển vi nào phát hiện, và cũng sẽ không bao giờ phát hiện, sự khác biệt giữa các ống thần kinh vận động và cảm giác, những dẫn thể của mọi cảm giác thân thể và thông linh của chúng ta; tuy nhiên chỉ riêng lý trí cũng cho thấy sự khác biệt như thế tồn tại. Và nếu thuật ngữ đám rối, trong cách áp dụng này, không biểu thị cho trí tuệ phương Tây ý tưởng được thuật ngữ của nhà Giải phẫu học truyền đạt, thì hãy gọi chúng là Chakra hay Padma, hay các Bánh Xe, Trái Tim Hoa Sen và Cánh Hoa. Hãy nhớ rằng Sinh lý học, dù bất toàn, vẫn cho thấy các nhóm thất phân khắp bên ngoài và bên trong thể; bảy lỗ ở đầu, bảy “cơ quan” ở đáy bộ não, bảy đám rối: yết hầu, thanh quản, thể hang, tim, thượng vị, tiền liệt tuyến và xương cùng, v.v.

When the time comes, advanced students will be given the minute details about the Master Chakras and taught the use of them; till then, less difficult subjects have to be learned. If asked whether the seven plexuses, or Tâttvic centres of action, are the centres where the seven Rays of the Logos vibrate, I answer in the affirmative, simply remarking that the rays of the Logos vibrate in every atom, for the matter of that.

Khi thời điểm đến, các đạo sinh tiến bộ sẽ được trao những chi tiết tỉ mỉ về các Chakra Chủ và được dạy cách sử dụng chúng; cho đến lúc ấy, những đề tài ít khó hơn phải được học. Nếu được hỏi liệu bảy đám rối, hay các trung tâm hoạt động Tattva, có phải là các trung tâm nơi bảy Cung của Thượng đế rung động hay không, tôi trả lời khẳng định, chỉ nhận xét rằng các cung của Thượng đế rung động trong mọi nguyên tử, nếu xét đến điều đó.

In these volumes it is almost revealed that the “Sons of Fohat” are the personified Forces known in a general way as Motion, Sound, Heat, Light, Cohesion, Electricity or Electric Fluid, and Nerve-Force or Magnetism. This truth, however, cannot teach the student to attune and moderate the Kundalinî of the cosmic plane with the vital Kundalinî, the Electric Fluid with the Nerve-Force, and unless he does so, he is sure to kill himself; for the one travels at the rate of about 90 feet, and the other at the rate of 115, 000 leagues a second. The seven Shaktis respectively called Para Shakti, Jñâna Shakti, etc., are synonymous with the “Sons of Fohat,” for they are their female aspects. At the present stage, however, as their names would only be confusing to the Western student, it is better to remember the English equivalents as translated above. As each Force is septenary, their sum is, of course, forty-nine.

Trong các quyển này, gần như đã được mặc khải rằng “Các Con của Fohat” là các Mãnh lực được nhân cách hóa, được biết một cách tổng quát là Chuyển động, Âm thanh, Nhiệt, Ánh sáng, Cố kết, Điện lực hay Lưu chất Điện, và Thần kinh lực hay Từ điện. Tuy nhiên, chân lý này không thể dạy đạo sinh điều chỉnh và tiết chế Kundalini của cõi vũ trụ với Kundalini sinh lực, Lưu chất Điện với Thần kinh lực; và nếu y không làm được như vậy, chắc chắn y sẽ tự giết mình; vì một bên di chuyển với tốc độ khoảng chín mươi bộ, còn bên kia với tốc độ 115, 000 dặm một giây. Bảy Shakti lần lượt được gọi là Para Shakti, Jnana Shakti, v.v., đồng nghĩa với “Các Con của Fohat,” vì chúng là các phương diện nữ của các Ngài. Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay, vì tên gọi của chúng chỉ làm đạo sinh phương Tây bối rối, tốt hơn là nhớ các tương đương tiếng Anh như đã dịch ở trên. Vì mỗi Mãnh lực đều thất phân, nên tổng số của chúng, dĩ nhiên, là bốn mươi chín.

The question now mooted in Science, whether a sound is capable of calling forth impressions of light and colour in addition to its natural sound impressions, has been answered by Occult Science ages ago. Every impulse or vibration of a physical object producing a certain vibration of the air, that is, causing the collision of physical particles, the sound of which is capable of affecting the ear, produces at the same time a corresponding flash of light, which will assume some particular colour. For, in the realm of hidden Forces, an audible sound is but a subjective colour; and a perceptible colour, but an inaudible sound; both proceed from the same potential substance, which Physicists used to call ether, and now refer to under various other names; but which we call plastic, through invisible Space. This may appear a paradoxical hypothesis, but facts are there to prove it. Complete deafness, for instance, does not preclude the possibility of discerning sounds; medical science has several cases on record which prove that these sounds are received by, and conveyed to, the patient’s organ of sight, through the mind, under the form of chromatic impressions. The very fact that the intermediate tones of the chromatic musical scale were formerly written in colours shows an unconscious reminiscence of the ancient Occult teaching that colour and sound are two out of the seven correlative aspects, on our plane, of one and the same thing, viz., Nature’s first differentiated Substance.

Câu hỏi hiện đang được nêu trong Khoa học, liệu một âm thanh có khả năng gợi lên các ấn tượng ánh sáng và màu sắc ngoài những ấn tượng âm thanh tự nhiên của nó hay không, đã được Khoa học Huyền bí trả lời từ nhiều thời đại trước. Mọi xung lực hay rung động của một vật thể hồng trần tạo ra một rung động nào đó của không khí, nghĩa là gây ra sự va chạm của các hạt hồng trần, mà âm thanh của nó có khả năng tác động đến tai, đồng thời tạo ra một tia sáng tương ứng, sẽ mang một màu sắc đặc thù nào đó. Vì trong lãnh vực các Mãnh lực ẩn tàng, một âm thanh nghe được chỉ là một màu sắc chủ quan; và một màu sắc có thể nhận biết chỉ là một âm thanh không nghe được; cả hai đều phát xuất từ cùng một chất liệu tiềm năng, mà các nhà Vật lý học từng gọi là dĩ thái, và nay gọi bằng nhiều tên khác nhau; nhưng chúng tôi gọi là chất dẻo, xuyên qua Không gian vô hình. Điều này có thể có vẻ là một giả thuyết nghịch lý, nhưng các sự kiện ở đó để chứng minh. Chẳng hạn, điếc hoàn toàn không loại trừ khả năng phân biệt âm thanh; khoa học y học đã ghi nhận vài trường hợp chứng minh rằng các âm thanh này được cơ quan thị giác của bệnh nhân tiếp nhận và truyền đạt, qua thể trí, dưới hình thức các ấn tượng màu sắc. Chính sự kiện rằng những bán âm trong thang âm nhạc màu sắc trước kia được viết bằng màu sắc cho thấy một hồi tưởng vô thức về giáo huấn Huyền bí cổ xưa rằng màu sắc và âm thanh là hai trong bảy phương diện tương quan, trên cõi của chúng ta, của một và cùng một sự vật, tức Chất liệu biến phân đầu tiên của Thiên nhiên.

Here is an example of the relation of colour to vibration well worthy of the attention of Occultists. Not only Adepts and advanced Chelâs, but also the lower order of Psychics, such as clairvoyants and psychometrists, can perceive a psychic Aura of various colours around every individual, corresponding to the temperament of the person within it. In other words, the mysterious records within the Auric Egg are not the heirloom of trained Adepts alone, but sometimes also of natural Psychics. Every human passion, every thought and quality, is indicated in this Aura by corresponding colours and shades of colour, and certain of these are sensed and felt rather than perceived. The best of such Psychics, as shown by Galton, can also perceive colours produced by the vibrations of musical instruments, every note suggesting a different colour. As a string vibrates and gives forth an audible note, so the nerves of the human body vibrate and thrill in correspondence with various emotions under the general impulse of the circulating vitality of Prâna, thus producing undulations in the psychic Aura of the person which result in chromatic effects.

Đây là một ví dụ về mối liên hệ của màu sắc với rung động, rất đáng được các nhà huyền bí học chú ý. Không chỉ các Chân sư và các đệ tử tiến bộ, mà cả những hạng thông linh thấp hơn, như các nhà thông nhãn và những người thực hành Thuật trắc tâm, cũng có thể nhận biết một hào quang thông linh với nhiều màu sắc khác nhau quanh mỗi cá nhân, tương ứng với khí chất của người ở trong đó. Nói cách khác, những ghi nhận huyền bí bên trong noãn hào quang không phải là gia sản riêng của các Chân sư đã được huấn luyện, mà đôi khi cũng thuộc về các nhà thông linh tự nhiên. Mọi đam mê của con người, mọi tư tưởng và phẩm tính, đều được biểu thị trong hào quang này bằng các màu sắc và sắc thái màu tương ứng, và một số trong đó được cảm nhận và cảm thấy hơn là được tri giác. Những nhà thông linh giỏi nhất như thế, như Galton đã chỉ ra, cũng có thể nhận biết các màu sắc do rung động của các nhạc cụ tạo ra, mỗi âm điệu gợi lên một màu sắc khác nhau. Cũng như một dây đàn rung động và phát ra một âm điệu nghe được, thì các dây thần kinh của thể con người rung động và rộn lên tương ứng với các cảm xúc khác nhau dưới xung lực chung của sinh lực Prana đang lưu chuyển, nhờ đó tạo ra những làn sóng trong hào quang thông linh của người ấy, dẫn đến các hiệu ứng màu sắc.

The human nervous system as a whole, then, may be regarded as an Æolian Harp, responding to the impact of the vital force, which is no abstraction, but a dynamic reality, and manifests the subtlest shades of the individual character in colour phenomena. If these nerve vibrations are made intense enough and brought into vibratory relation with an astral element, the result is—sound. How, then, can anyone doubt the relation between the microcosmic and macrocosmic forces?

Vậy, toàn bộ hệ thần kinh con người có thể được xem như một Đàn Hạc Gió, đáp ứng với tác động của mãnh lực sinh lực, vốn không phải là một trừu tượng, mà là một thực tại năng động, và biểu hiện những sắc thái tinh tế nhất của Tính cách cá nhân trong các hiện tượng màu sắc. Nếu các rung động thần kinh này được làm cho đủ mạnh và được đưa vào quan hệ rung động với một nguyên tố cảm dục, kết quả là âm thanh. Vậy thì làm sao ai có thể nghi ngờ mối liên hệ giữa các mãnh lực tiểu thiên địa và đại thiên địa?

And now that I have shown that the Tântric works as explained by Râma Prâsad, and other Yoga treatises of the same character which have appeared from time to time in Theosophical journals—for note well that those of true Râja Yoga are never published—tend to Black Magic and are most dangerous to take for guides in self-training, I hope that students will be on their guard.

Và bây giờ, khi tôi đã chỉ ra rằng các tác phẩm Tantra như Râma Prâsad giải thích, và các khảo luận Yoga khác cùng tính chất thỉnh thoảng xuất hiện trong các tạp chí Thông Thiên Học — vì hãy lưu ý kỹ rằng các khảo luận về Raja Yoga chân chính không bao giờ được xuất bản — có khuynh hướng dẫn đến Hắc thuật và cực kỳ nguy hiểm nếu được lấy làm sách hướng dẫn trong việc tự huấn luyện, tôi hy vọng các đạo sinh sẽ cảnh giác.

For, considering that no two authorities up to the present day agree as to the real location of the Chakras and Padmas in the body, and, seeing that the colours of the Tattvas as given are reversed, e.g.: (a) Âkâsha is made black or colourless, whereas corresponding to Manas, it is indigo; (b) Vâyu is made blue, whereas, corresponding to the Lower Manas, it is green; (c) Âpas is made white, whereas, corresponding to the Astral Body, it is violet, with a silver, moonlike white substratum; Tejas, red, is the only colour given correctly—from such considerations, I say, it is easy to see that these disagreements are dangerous blinds.

Vì, xét rằng cho đến ngày nay không có hai thẩm quyền nào đồng ý với nhau về vị trí thực sự của các Chakra và Padma trong thể, và thấy rằng các màu sắc của các Tattva như được nêu ra đều bị đảo ngược, chẳng hạn: (a) Akasha bị cho là đen hay không màu, trong khi tương ứng với Manas, nó là màu chàm; (b) Vayu bị cho là xanh lam, trong khi tương ứng với Hạ Manas, nó là xanh lục; (c) Apas bị cho là trắng, trong khi tương ứng với thể tinh tú, nó là tím, với một nền trắng bạc như mặt trăng; Tejas, màu đỏ, là màu duy nhất được nêu đúng — từ những xét đoán như thế, tôi nói, dễ thấy rằng các bất đồng này là những màn che nguy hiểm.

Further, the practice of the Five Breaths results in deadly injury, both physiologically and psychically, as already shown. It is indeed that which it is called, Prânâyâma, or the death of the breath, for it results, for the practiser, in death—in moral death always, and in physical death very frequently.

Hơn nữa, việc thực hành Năm Hơi Thở gây tổn hại chết người, cả về sinh lý lẫn thông linh, như đã trình bày. Thật vậy, nó đúng như tên gọi của nó, Pranayama, hay cái chết của hơi thở, vì đối với người thực hành, nó dẫn đến cái chết — luôn luôn là cái chết đạo đức, và rất thường là cái chết hồng trần.

On Exoteric “Blinds” and “the Death of the Soul.” — Về các “Màn che” Công truyền và “Cái Chết của Linh hồn.”

As a corollary to this, and before going into still more abstruse teachings, I must redeem the promise already given. I have to illustrate by tenets you already know, the awful doctrine of personal annihilation. Banish from your minds all that you have hitherto read in such works as Esoteric Buddhism, and thought you understood, of such hypotheses as the eighth sphere and the moon, and that man shares a common ancestor with the ape. Even the details occasionally given out by myself in the Theosophist and Lucifer were nothing like the whole truth, but only broad general ideas, hardly touched upon in their details. Certain passages, however, give out hints, especially my foot-notes on articles translated from Éliphas Lévi’s Letters on Magic. 839

Như một hệ luận của điều này, và trước khi đi vào những giáo huấn còn thâm áo hơn nữa, tôi phải chuộc lời hứa đã đưa ra. Tôi phải minh họa bằng những giáo lý các bạn đã biết, giáo lý khủng khiếp về sự hủy diệt cá nhân. Hãy xua khỏi trí các bạn tất cả những gì cho đến nay các bạn đã đọc trong các tác phẩm như Phật giáo Nội môn, và tưởng mình đã hiểu, về những giả thuyết như cõi thứ tám và mặt trăng, cũng như rằng con người có chung một tổ tiên với loài vượn. Ngay cả những chi tiết thỉnh thoảng do chính tôi đưa ra trong Theosophist và Lucifer cũng không hề giống toàn bộ chân lý, mà chỉ là những ý tưởng tổng quát rộng, hầu như chưa được chạm đến trong các chi tiết của chúng. Tuy nhiên, một số đoạn đưa ra các gợi ý, đặc biệt là các chú thích của tôi về những bài dịch từ Thư về Huyền thuật của Éliphas Lévi.

Nevertheless, personal immortality is conditional, for there are such things as “soulless men,” a teaching barely mentioned, although it is spoken of even in Isis Unveiled; 840 and there is an Avîtchi, rightly called Hell, though it has no connection with, or similitude to, the good Christian’s Hell, either geographically or psychically. The truth known to Occultists and Adepts in every age could not be given out to a promiscuous public; hence, though almost every mystery of Occult Philosophy lies half concealed in Isis and the two earlier volumes of the present work, I had no right to amplify or correct the details of others. Readers may now compare those four volumes and such books as Esoteric Buddhism with the diagrams and explanations in these Papers, and see for themselves.

Tuy nhiên, sự bất tử cá nhân có điều kiện, vì có những điều như “người không linh hồn,” một giáo huấn chỉ được nhắc qua, dù nó cũng được nói đến trong Isis Vén Màn; và có một Avitchi, được gọi đúng là Địa ngục, dù nó không có liên hệ hay tương đồng nào với Địa ngục của người Kitô hữu tốt lành, dù về địa lý hay thông linh. Chân lý mà các nhà Huyền bí học và các Chân sư trong mọi thời đại biết đến không thể được trao cho một công chúng hỗn tạp; do đó, dù hầu như mọi bí nhiệm của Triết học Huyền bí đều nằm nửa ẩn trong Isis và hai quyển trước của tác phẩm hiện tại, tôi không có quyền mở rộng hay sửa chữa các chi tiết của người khác. Giờ đây, độc giả có thể so sánh bốn quyển ấy và những sách như Phật giáo Nội môn với các sơ đồ và giải thích trong các Bài này, và tự mình thấy.

Paramâtmâ, the Spiritual Sun, may be thought of as outside the human Auric Egg, as it is also outside the Macrocosmic or Brahmâ’s Egg. Why? Because, though every particle and atom are, so to speak, cemented with and soaked through by this Paramâtmic essence, yet it is wrong to call it a “human” or even a “universal” Principle, for the term is very likely to give rise to naught but an erroneous idea of the philosophical and purely metaphysical concept; it is not a Principle, but the cause of every Principle, the latter term being applied by Occultists only to its shadow—the Universal Spirit that ensouls the boundless Kosmos whether within or beyond Space and Time.

Paramatma, Mặt Trời Tinh thần, có thể được nghĩ đến như ở ngoài noãn hào quang của con người, cũng như nó ở ngoài Trứng Đại thiên địa hay Trứng Brahma. Tại sao? Vì, dù mỗi hạt và nguyên tử, có thể nói, đều được gắn kết và thấm đẫm bởi tinh chất Paramatma này, tuy nhiên thật sai lầm khi gọi nó là một Nguyên khí “con người” hay thậm chí “phổ quát,” vì thuật ngữ ấy rất dễ làm nảy sinh không gì ngoài một ý tưởng sai lầm về quan niệm triết học và thuần siêu hình; nó không phải là một Nguyên khí, mà là nguyên nhân của mọi Nguyên khí, thuật ngữ sau được các nhà Huyền bí học chỉ áp dụng cho bóng của nó — Tinh thần Vũ trụ phú linh cho Vũ trụ vô biên, dù ở trong hay bên ngoài Không gian và Thời gian.

Buddhi serves as a vehicle for that Paramâtmic shadow. This Buddhi is universal, and so also is the human Âtmâ. Within the Auric Egg is the macracosmic pentacle of Life, Prâna, containing within itself the pentagram which represents man. The universal pentacle must be pictured with its point soaring upwards, the sign of White Magic—in the human pentacle it is the lower limbs which are upward, forming the “Horns of Satan,” as the Christian Kabbalists call them. This is the symbol of Matter, that of the personal man, and the recognized pentacle of the Black Magician. For this reversed pentacle does not stand only for Kâma, the fourth Principle exoterically, but it also represents physical man, the animal of flesh with its desires and passions.

Buddhi phụng sự như một vận cụ cho bóng Paramatma ấy. Buddhi này là phổ quát, và Atma của con người cũng vậy. Bên trong noãn hào quang là ngôi sao năm cánh đại thiên địa của Sự Sống, Prana, chứa trong chính nó ngôi sao năm cánh tượng trưng cho con người. Ngôi sao năm cánh phổ quát phải được hình dung với đỉnh của nó vươn lên trên, dấu hiệu của Chánh Thuật — trong ngôi sao năm cánh của con người, chính các chi dưới hướng lên trên, tạo thành “Sừng của Satan,” như các nhà Kabbala Kitô giáo gọi. Đây là biểu tượng của Vật chất, biểu tượng của con người cá nhân, và là ngôi sao năm cánh được công nhận của nhà hắc thuật. Vì ngôi sao năm cánh đảo ngược này không chỉ tượng trưng cho Kama, Nguyên khí thứ tư theo công truyền, mà còn đại diện cho con người hồng trần, con vật bằng xác thịt với các dục vọng và đam mê của nó.

Now, mark well, in order to understand that which follows, that Manas may be pictured as an upper triangle connected with the lower Manas by a thin line which binds the two together. This is the Antah-karana, that path or bridge of communication which serves as a link between the personal being whose physical brain is under the sway of the lower animal mind, and the reincarnating Individuality, the spiritual Ego, Manas, Manu, the “Divine Man.” This thinking Manu alone is that which reincarnates. In truth and in nature, the two Minds, the spiritual and the physical or animal, are one, but separate into two at reincarnation. For while that portion of the Divine which goes to animate the personality, consciously separating itself, like a dense but pure shadow, from the Divine Ego, 841 wedges itself into the brain and senses 842 of the fœtus, at the completion of its seventh month, the Higher Manas does not unite itself with the child before the completion of the first seven years of its life. This detached essence, or rather the reflection or shadow of the Higher Manas, becomes, as the child grows, a distinct thinking Principle in man, its chief agent being the physical brain. No wonder the Materialists, who perceive only this “rational soul,” or mind, will not disconnect it with the brain and matter. But Occult Philosophy has ages ago solved the problem of mind, and discovered the duality of Manas. The Divine Ego tends with its point upwards towards Buddhi, and the human Ego gravitates downwards, immersed in Matter, connected with its higher, subjective half only by the Antahkarana. As its derivation suggests, this is the only connecting link during life between the two minds—the higher consciousness of the Ego and the human intelligence of the lower mind.

Bây giờ, hãy ghi nhớ kỹ, để thấu hiểu điều theo sau, rằng Manas có thể được hình dung như một tam giác trên nối với Hạ Manas bằng một đường mảnh buộc hai bên lại với nhau. Đây là Antahkarana, con đường hay cây cầu giao tiếp phụng sự như một mắt xích giữa hữu thể cá nhân, mà bộ não hồng trần của y nằm dưới quyền lực của thể trí thú tính thấp, và Cá Thể tái sinh, Chân ngã tinh thần, Manas, Manu, “Con Người Thiêng Liêng.” Chỉ có Manu tư tưởng này là cái tái sinh. Trong chân lý và trong tự nhiên, hai Thể trí, tinh thần và hồng trần hay thú tính, là một, nhưng tách thành hai khi tái sinh. Vì trong khi phần của Thiêng liêng đi vào làm linh hoạt phàm ngã, tự tách rời một cách hữu thức, như một bóng đậm đặc nhưng tinh khiết, khỏi Chân ngã Thiêng liêng, chen mình vào bộ não và các giác quan của bào thai, khi bào thai hoàn tất tháng thứ bảy, thì Thượng Manas không tự hợp nhất với đứa trẻ trước khi nó hoàn tất bảy năm đầu đời. Tinh chất tách rời này, hay đúng hơn là phản chiếu hay bóng của Thượng Manas, khi đứa trẻ lớn lên, trở thành một Nguyên khí tư tưởng riêng biệt trong con người, tác nhân chính của nó là bộ não hồng trần. Không lạ gì các nhà Duy vật, những người chỉ tri giác linh hồn lý trí này, hay thể trí này, sẽ không tách rời nó khỏi bộ não và vật chất. Nhưng Triết học Huyền bí đã giải quyết vấn đề thể trí từ nhiều thời đại trước, và đã khám phá tính nhị nguyên của Manas. Chân ngã Thiêng liêng hướng đỉnh của nó lên trên về phía Buddhi, còn chân ngã con người thì bị hút xuống dưới, đắm chìm trong Vật chất, chỉ được nối với nửa cao hơn, chủ quan của nó bằng Antahkarana. Như nguồn gốc từ ngữ của nó gợi ý, đây là mắt xích liên kết duy nhất trong đời sống giữa hai thể trí — tâm thức cao hơn của Chân ngã và trí năng con người của hạ trí.

To understand this abstruse metaphysical doctrine fully and correctly, one has to be thoroughly impressed with an idea, which I have in vain endeavoured to impart to Theosophists at large, namely, the great axiomatic truth that the only eternal and living Reality is that which the Hindus call Paramâtmâ and Parabrahman. This is the one ever-existing Root Essence, immutable and unknowable to our physical senses, but manifest and clearly perceptible to our spiritual natures. Once imbued with that basic idea and the further conception that if It is omnipresent, universal and eternal, like abstract Space itself, we must have emanated from It and we must, some day, return into It, and all the rest becomes easy.

Để thấu hiểu trọn vẹn và đúng đắn giáo lý siêu hình thâm áo này, người ta phải được thấm nhuần sâu sắc một ý tưởng mà tôi đã cố gắng vô ích để truyền đạt cho giới Thông Thiên Học nói chung, đó là chân lý tiên đề vĩ đại rằng Thực tại vĩnh cửu và sống động duy nhất là cái mà người Ấn Độ gọi là Paramatma và Parabrahman. Đây là Tinh chất Căn nguyên duy nhất hằng hữu, bất biến và bất khả tri đối với các giác quan hồng trần của chúng ta, nhưng biểu hiện và có thể tri giác rõ ràng đối với các bản chất tinh thần của chúng ta. Một khi đã thấm nhuần ý tưởng căn bản ấy và quan niệm thêm rằng nếu Nó hiện diện khắp nơi, phổ quát và vĩnh cửu, giống như chính Không gian trừu tượng, thì chúng ta hẳn đã xuất lộ từ Nó và một ngày nào đó phải trở về trong Nó, thì mọi điều còn lại trở nên dễ dàng.

If so, then it stands to reason that life and death, good and evil, past and future, are all empty words, or at best, figures of speech. If the objective Universe itself is but a passing illusion on account of its beginning and finitude, then both life and death must also be aspects and illusions. They are changes of state, in fact, and no more. Real life is in the spiritual consciousness of that life, in a conscious existence in Spirit, not Matter; and real death is the limited perception of life, the impossibility of sensing conscious or even individual existence outside of form, or at least, of some form of Matter. Those who sincerely reject the possibility of conscious life divorced from Matter and brain-substance, are dead units. The words of Paul, an Initiate, become comprehensible. “Ye are dead, and your life is hid with Christ in God;” which is to say: Ye are personally dead matter, unconscious of its own spiritual essence, and your real life is hid with your Divine Ego (Christos) in, or merged with, God (Âtmâ); now has it departed from you, ye soulless people. Speaking on Esoteric lines, every irrevocably materialistic person is a dead Man, a living automaton, in spite of his being endowed with great brain power. Listen to what Aryasangha says, stating the same fact:

Nếu vậy, thì hiển nhiên sự sống và cái chết, thiện và ác, quá khứ và tương lai, tất cả đều là những lời rỗng, hay cùng lắm là những cách nói bóng. Nếu chính Vũ trụ khách quan chỉ là một ảo tưởng thoáng qua do có khởi đầu và tính hữu hạn của nó, thì cả sự sống lẫn cái chết cũng phải là các phương diện và ảo tưởng. Thật ra, chúng là những thay đổi trạng thái, không hơn. Sự sống thật nằm trong tâm thức tinh thần về sự sống ấy, trong một hiện tồn hữu thức trong Tinh thần, không phải trong Vật chất; và cái chết thật là sự tri giác giới hạn về sự sống, là sự bất khả trong việc cảm nhận sự hiện tồn hữu thức hay thậm chí cá nhân bên ngoài hình tướng, hay ít nhất bên ngoài một hình tướng nào đó của Vật chất. Những ai chân thành bác bỏ khả năng có sự sống hữu thức tách khỏi Vật chất và chất não, là những đơn vị đã chết. Lời của Paul, một điểm đạo đồ, trở nên có thể hiểu được. “Các ngươi đã chết, và sự sống của các ngươi được ẩn với Christ trong Thượng đế”; nghĩa là: Các ngươi về mặt cá nhân là vật chất đã chết, vô thức về tinh chất tinh thần của chính mình, và sự sống thật của các ngươi được ẩn với Chân ngã Thiêng liêng của các ngươi, Christos, trong, hay hòa nhập với, Thượng đế, Atma; nay nó đã rời khỏi các ngươi, hỡi những người không linh hồn. Nói theo đường lối Nội môn, mọi người duy vật không thể đảo ngược đều là một Con Người đã chết, một người máy sống, bất chấp y được phú cho quyền năng bộ não lớn lao. Hãy nghe Aryasangha nói gì khi nêu cùng sự kiện ấy:

That which is neither Spirit nor Matter, neither Light nor Darkness, but is verily the container and root of these, that thou art. The Root projects at every Dawn its shadow on Itself, and that shadow thou callest Light and Life, O poor dead Form. (This) Life-Light streameth downward through the stairway of the seven worlds, the stairs of which each step become denser and darker. It is of this seven-times-seven scale that thou art the faithful climber and mirror, O little man! Thou art this, but thou knowest it not.

Cái không phải là Tinh thần cũng không phải là Vật chất, không phải là Ánh sáng cũng không phải là Bóng tối, mà thật sự là vật chứa và căn nguyên của những điều ấy, chính là ngươi. Ở mỗi Bình minh, Căn nguyên phóng chiếu bóng của nó lên Chính Nó, và bóng ấy ngươi gọi là Ánh sáng và Sự sống, hỡi Hình tướng đã chết đáng thương. Ánh sáng-Sự sống này tuôn xuống qua cầu thang của bảy thế giới, mà mỗi bậc thang trở nên đậm đặc và tối tăm hơn. Chính trên thang bảy lần bảy này mà ngươi là kẻ leo trèo và tấm gương trung thành, hỡi con người bé nhỏ! Ngươi là điều này, nhưng ngươi không biết.

This is the first lesson to learn. The second is to study well the Principles of both the Kosmos and ourselves, dividing the group into the permanent and the impermanent, the higher and immortal and the lower and mortal, for thus only can we master and guide, first the lower cosmic and personal, then the higher cosmic and impersonal.

Đây là bài học đầu tiên phải học. Bài học thứ hai là nghiên cứu kỹ các Nguyên khí của cả Vũ trụ lẫn chính chúng ta, chia nhóm ấy thành cái trường tồn và cái vô thường, cái cao hơn và bất tử, cùng cái thấp hơn và hữu tử; vì chỉ như thế chúng ta mới có thể làm chủ và hướng dẫn, trước hết là cái thấp thuộc vũ trụ và cá nhân, rồi đến cái cao thuộc vũ trụ và phi cá nhân.

Once we can do that we have secured our immortality. But some may say: “How few are those who can do so. All such are great Adepts, and none can reach such Adeptship in one short life.” Agreed; but there is an alternative. “If the Sun thou canst not be, then be the humble Planet,” says the Book of the Golden Precepts. And if even that is beyond our reach, then let us at least endeavour to keep within the ray of some lesser star, so that its silvery light may penetrate the murky darkness, through which the stony path of life trends onward; for without this divine radiance we risk losing more than we imagine.

Một khi chúng ta có thể làm được điều đó, chúng ta đã bảo đảm sự bất tử của mình. Nhưng một số người có thể nói: “Ít thay những người có thể làm được như vậy. Tất cả những người như thế đều là các Chân sư vĩ đại, và không ai có thể đạt đến địa vị Chân sư như thế trong một đời ngắn ngủi.” Đồng ý; nhưng có một chọn lựa khác. “Nếu ngươi không thể là Mặt Trời, thì hãy là Hành Tinh khiêm nhường,” Sách Giới Luật Vàng nói. Và nếu ngay cả điều đó cũng nằm ngoài tầm với của chúng ta, thì ít nhất chúng ta hãy cố gắng ở trong cung của một ngôi sao nhỏ hơn nào đó, để ánh sáng bạc của nó có thể xuyên thấu bóng tối âm u, qua đó con đường đá sỏi của đời sống tiến tới; vì nếu không có ánh huy hoàng thiêng liêng này, chúng ta có nguy cơ mất nhiều hơn điều mình tưởng.

With regard, then, to “soulless” men, and the “second death” of the “Soul,” mentioned in the second volume of Isis Unveiled, you will there find that I have spoken of such soulless people, and even of Avîtchi, though I leave the latter unnamed. Read from the last paragraph on page 367 to the end of the first paragraph on page 370, and then collate what is there said with what I have now to say.

Vậy, liên quan đến những người “không linh hồn,” và “cái chết thứ hai” của “Linh hồn,” được nhắc đến trong quyển hai của Isis Vén Màn, các bạn sẽ thấy ở đó rằng tôi đã nói về những người không linh hồn như thế, và thậm chí về Avitchi, dù tôi để điều sau không nêu tên. Hãy đọc từ đoạn cuối trên trang 367 đến hết đoạn đầu trên trang 370, rồi đối chiếu những gì được nói ở đó với những gì giờ đây tôi phải nói.

The higher triad, Âtmâ-Buddhi-Manas, may be recognized from the first lines of the quotation from the Egyptian papyrus. In the Ritual, now the Book of the Dead, the purified Soul, the dual Manas, appears as “the victim of the dark influence of the Dragon Apophis,” the physical personality of Kâmarûpic man, with his passions. “If it has attained the final knowledge of the heavenly and infernal Mysteries, the Gnosis”—the divine and the terrestrial Mysteries, of White and Black Magic—then the defunct personality “will triumph over its enemy”—death. This alludes to the case of a complete re-union, at the end of earth life, of the lower Manas, full of “the harvest of life,” with its Ego. But if Apophis conquers the Soul, then it “cannot escape a second death.”

Tam nguyên tinh thần cao hơn, Atma-Buddhi-Manas, có thể được nhận ra từ những dòng đầu của đoạn trích trong giấy cói Ai Cập. Trong Nghi lễ, nay là Tử Thư, Linh hồn đã được thanh luyện, Manas nhị phân, xuất hiện như “nạn nhân của ảnh hưởng hắc ám từ Rồng Apophis”, tức phàm ngã hồng trần của con người Kama-rupa, với các dục vọng của y. “Nếu nó đã đạt đến tri thức tối hậu về các Bí nhiệm thiên thượng và địa ngục, Gnosis” — các Bí nhiệm thiêng liêng và trần thế, của Chánh Thuật và Hắc thuật — thì phàm ngã đã khuất “sẽ chiến thắng kẻ thù của nó” — tức cái chết. Điều này ám chỉ trường hợp có sự tái hợp trọn vẹn, vào cuối đời sống trần gian, giữa Manas thấp, đầy “vụ mùa của đời sống”, với Chân ngã của nó. Nhưng nếu Apophis chinh phục Linh hồn, thì nó “không thể thoát khỏi một cái chết thứ hai.”

These few lines from a papyrus, many thousands of years old, contain a whole revelation, known, in those days, only to the Hierophants and the Initiates. The “harvest of life” consists of the finest spiritual thoughts, of the memory of the noblest and most unselfish deeds of the personality, and the constant presence during its bliss after death of all those it loved with divine, spiritual devotion. 843 Remember the teaching: The Human Soul, lower Manas, is the only and direct mediator between the personality and the Divine Ego. That which goes to make up on this earth the personality miscalled individuality by the majority, is the sum of all its mental, physical, and spiritual characteristics, which, being impressed on the Human Soul, produces the man. Now, of all these characteristics it is the purified thoughts alone which can be impressed on the higher, immortal Ego. This is done by the Human Soul merging again, in its essence, into its parent source, commingling with its Divine Ego during life, and re-uniting itself entirely with it after the death of the physical man. Therefore, unless Kâma-Manas transmits to Buddhi-Manas such personal ideations, and such consciousness of its “I” as can be assimilated by the Divine Ego, nothing of that “I” or personality can survive in the Eternal. Only that which is worthy of the immortal God within us, and identical in its nature with the divine quintessence, can survive; for in this case it is its own, the Divine Ego’s, “shadows” or emanations which ascend to it and are indrawn by it into itself again, to become once more part of its own Essence. No noble thought, no grand aspiration, desire, or divine immortal love, can come into the brain of the man of clay and settle there, except as a direct emanation from the Higher to, and through, the lower Ego; all the rest, intellectual as it may seem, proceeds from the “shadow,” the lower mind, in its association and commingling with Kâma, and passes away and disappears for ever. But the mental and spiritual ideations of the personal “I” return to it, as parts of the Ego’s Essence, and can never fade out. Thus of the personality that was, only its spiritual experiences, the memory of all that is good and noble, with the consciousness of its “I” blended with that of all the other personal “I’s” that preceded it, survive and become immortal. There is no distinct or separate immortality for the men of earth outside of the Ego which informed them. That Higher Ego is the sole bearer of all its alter egos on earth and their sole representative in the mental state called Devachan. As the last embodied personality, however, has a right to its own special state of bliss, unalloyed and free from the memories of all others, it is the last life only which is fully and realistically vivid. Devachan is often compared to the happiest day in a series of many thousands of other “days” in the life of a person. The intensity of its happiness makes the man entirely forget all others, his past becoming obliterated.

Ít dòng này từ một bản giấy cói nhiều ngàn năm tuổi chứa đựng cả một sự mặc khải, vào thời đó chỉ các Đại tư tế và các điểm đạo đồ mới biết. “Vụ mùa của đời sống” gồm những tư tưởng tinh thần tinh tế nhất, ký ức về các hành vi cao quý nhất và vô ngã nhất của phàm ngã, cùng sự hiện diện thường hằng, trong chí phúc sau khi chết của nó, của tất cả những ai nó đã yêu thương bằng lòng sùng kính thiêng liêng và tinh thần. Hãy nhớ giáo huấn này: Linh hồn Con người, tức Manas thấp, là trung gian duy nhất và trực tiếp giữa phàm ngã và Chân ngã Thiêng liêng. Điều hợp thành trên cõi đất này cái phàm ngã mà đa số gọi sai là cá tính, là tổng số mọi đặc tính trí tuệ, hồng trần và tinh thần của nó; khi được in dấu lên Linh hồn Con người, tổng số ấy tạo nên con người. Nay, trong tất cả những đặc tính này, chỉ các tư tưởng đã được thanh luyện mới có thể được in dấu lên Chân ngã cao hơn, bất tử. Điều này được thực hiện bằng cách Linh hồn Con người lại hòa nhập, trong tinh chất của nó, vào nguồn gốc mẹ của nó, hòa trộn với Chân ngã Thiêng liêng của nó trong đời sống, và hoàn toàn tái hợp với Chân ngã ấy sau cái chết của con người hồng trần. Vì vậy, trừ phi Kama-Manas truyền sang Buddhi-Manas những ý niệm cá nhân như thế, và tâm thức về cái “Tôi” của nó như thế, vốn có thể được Chân ngã Thiêng liêng đồng hóa, thì không gì của cái “Tôi” hay phàm ngã ấy có thể sống còn trong Vĩnh cửu. Chỉ điều gì xứng đáng với Thượng đế bất tử bên trong chúng ta, và đồng nhất trong bản chất với tinh hoa thiêng liêng, mới có thể sống còn; vì trong trường hợp này, chính những “bóng” hay xuất lộ của Chân ngã Thiêng liêng thăng lên với nó và được nó thu hút trở lại vào chính mình, để một lần nữa trở thành một phần trong Tinh chất của chính nó. Không tư tưởng cao quý nào, không khát vọng lớn lao nào, không dục vọng hay tình thương thiêng liêng bất tử nào có thể đi vào bộ não của con người bằng đất sét và an trú ở đó, ngoại trừ như một xuất lộ trực tiếp từ Chân ngã Cao hơn đến, và xuyên qua, chân ngã thấp; tất cả phần còn lại, dù có vẻ trí thức đến đâu, đều phát xuất từ “bóng”, tức hạ trí, trong sự liên kết và hòa trộn của nó với Kama, rồi trôi qua và biến mất vĩnh viễn. Nhưng các ý niệm trí tuệ và tinh thần của cái “Tôi” cá nhân trở về với Chân ngã ấy như những phần của Tinh chất Chân ngã, và không bao giờ có thể phai tàn. Như vậy, trong phàm ngã đã từng hiện hữu, chỉ các kinh nghiệm tinh thần của nó, ký ức về tất cả những gì tốt lành và cao quý, cùng với tâm thức về cái “Tôi” của nó hòa lẫn với tâm thức của tất cả những cái “Tôi” cá nhân khác đã đi trước nó, là sống còn và trở nên bất tử. Không có sự bất tử riêng biệt hay tách rời nào cho những con người của cõi đất ngoài Chân ngã đã thấm nhuần họ. Chân ngã Cao hơn ấy là người duy nhất mang tất cả các chân ngã khác của nó trên cõi đất, và là đại diện duy nhất của họ trong trạng thái trí tuệ gọi là Devachan. Tuy nhiên, vì phàm ngã nhập thể cuối cùng có quyền hưởng trạng thái chí phúc riêng biệt của nó, không pha tạp và thoát khỏi ký ức về tất cả những phàm ngã khác, nên chỉ đời sống cuối cùng là hoàn toàn và hiện thực sống động. Devachan thường được so sánh với ngày hạnh phúc nhất trong một chuỗi nhiều ngàn “ngày” khác của đời sống một người. Cường độ hạnh phúc của nó khiến con người hoàn toàn quên hết mọi ngày khác, quá khứ của y bị xóa nhòa.

This is what we call the Devachanic state, the reward of the personality, and it is on this old teaching that the hazy Christian notion of Paradise was built, borrowed with many other things from the Egyptian Mysteries, wherein the doctrine was enacted. And this is the meaning of the passage quoted in Isis. The Soul has triumphed over Apophis, the Dragon of Flesh. Henceforth, the personality will live in eternity, in its highest and noblest elements, the memory of its past deeds, while the “characteristics” of the “Dragon” will be fading out in Kâma Loka. If the question be asked, “How live in eternity, when Devachan lasts but from 1, 000 to 2, 000 years,” the answer is: “In the same way as the recollection of each day which is worth remembering lives in the memory of each one of us.” For the sake of an example, the days passed in one personal life may be taken as an illustration of each personal life, and this or that person may stand for the Divine Ego.

Đây là điều chúng ta gọi là trạng thái Devachan, phần thưởng của phàm ngã; và chính trên giáo huấn cổ xưa này mà quan niệm mơ hồ của Kitô giáo về Thiên đường đã được xây dựng, vay mượn cùng nhiều điều khác từ các Bí nhiệm Ai Cập, nơi giáo lý ấy được diễn thành nghi lễ. Và đây là ý nghĩa của đoạn được trích trong Isis. Linh hồn đã chiến thắng Apophis, Rồng của Xác thịt. Từ nay, phàm ngã sẽ sống trong vĩnh cửu, trong các yếu tố cao nhất và cao quý nhất của nó, tức ký ức về các hành vi quá khứ của nó, trong khi các “đặc tính” của “Rồng” sẽ phai tàn trong Kama Loka. Nếu câu hỏi được đặt ra: “Làm sao sống trong vĩnh cửu, khi Devachan chỉ kéo dài từ 1, 000 đến 2, 000 năm?”, thì câu trả lời là: “Cũng như ký ức về mỗi ngày đáng nhớ sống trong trí nhớ của mỗi chúng ta.” Để làm ví dụ, có thể xem những ngày đã qua trong một đời sống cá nhân như minh họa cho từng đời sống cá nhân, và người này hay người kia có thể tượng trưng cho Chân ngã Thiêng liêng.

To obtain the key which will open the door of many a psychological mystery it is sufficient to understand and remember that which precedes and that which follows. Many a Spiritualist has felt terribly indignant on being told that personal immortality was conditional; and yet such is the philosophical and logical fact. Much has been said already on the subject, but no one to this day seems to have fully understood the doctrine. Moreover, it is not enough to know that such a fact is said to exist. All Occultist, or he who would become one, must know why it is so; for having learned and comprehended the raison d’étre, it becomes easier to set others right in their erroneous speculations, and, most important of all, it affords one an opportunity, without saying too much, to teach other people to avoid a calamity which, sad to say, occurs in our age almost daily. This calamity will now be explained at length.

Để có được chìa khóa mở cánh cửa của nhiều bí nhiệm tâm lý, chỉ cần thấu hiểu và ghi nhớ điều đi trước và điều theo sau. Nhiều nhà thần linh học đã cảm thấy vô cùng phẫn nộ khi được bảo rằng sự bất tử cá nhân là có điều kiện; thế nhưng đó là sự thật triết học và hợp lý. Đã nói nhiều về đề tài này, nhưng cho đến ngày nay dường như chưa ai thấu hiểu đầy đủ giáo lý ấy. Hơn nữa, biết rằng người ta nói có một sự thật như thế là chưa đủ. Mọi nhà huyền bí học, hoặc người muốn trở thành như vậy, phải biết vì sao nó là như thế; vì khi đã học và lĩnh hội căn nguyên tồn tại của nó, việc sửa lại những suy đoán sai lầm của người khác trở nên dễ hơn, và quan trọng hơn hết, nó đem lại cho người ta một cơ hội, mà không cần nói quá nhiều, để dạy người khác tránh một tai họa, đáng buồn thay, gần như hằng ngày vẫn xảy ra trong thời đại chúng ta. Tai họa này nay sẽ được giải thích đầy đủ.

One must know little indeed of the Eastern modes of expression to fail to see in the passage quoted from the Book of the Dead, and the pages of Isis, (a) an allegory for the uninitiated, containing our Esoteric teaching; and (b) that the two terms “second death” and “Soul” are, in one sense, blinds. “Soul” refers indifferently to Buddhi-Manas and Kâma-Manas. As to the term “second death,” the qualification “second” applies to several deaths which have to be undergone by the “Principles” during their incarnation, Occultists alone understanding fully the sense in which such a statement is made. For we have (1) the death of the Body; (2) the death of the Animal Soul in Kâma Loka; (3) the death of the Astral Linga Sharîra, following that of the Body; (4) the metaphysical death of the Higher Ego, the immortal, every time it “falls into matter,” or incarnates in a new personality. The Animal Soul, or lower Manas, that shadow of the Divine Ego which separates from it to inform the personality, cannot by any possible means escape death in Kâma Loka, at any rate that portion of this reflection which remains as a terrestrial residue and cannot be impressed on the Ego. Thus the chief and most important secret with regard to that “second death,” in the Esoteric teaching, was and is to this day the terrible possibility of the death of the Soul, that is, its severance from the Ego on earth during a person’s lifetime. This is a real death (though with chances of resurrection), which shows no traces in a person and yet leaves him morally a living corpse. It is difficult to see why this teaching should have been preserved until now with such secrecy, when, by spreading it among people, at any rate among those who believe in reincarnation, so much good might be done. But so it was, and I had no right to question the wisdom of the prohibition, but have given it hitherto, as it was given to myself, under pledge not to reveal it to the world at large. But now I have permission to give it to all, revealing its tenets first to the Esotericists, and then when they have assimilated them thoroughly it will be their duty to teach others this special tenet of the “second death,” and warn all the Theosophists of its dangers.

Người ta quả thật phải biết rất ít về các lối diễn đạt Đông phương mới không thấy trong đoạn trích từ Tử Thư và các trang của Isis: (a) một ẩn dụ dành cho người chưa được điểm đạo, chứa đựng giáo huấn Nội môn của chúng ta; và (b) rằng hai thuật ngữ “cái chết thứ hai” và “Linh hồn”, theo một nghĩa nào đó, là những màn che. “Linh hồn” chỉ một cách không phân biệt đến Buddhi-Manas và Kama-Manas. Còn thuật ngữ “cái chết thứ hai”, tính chất “thứ hai” áp dụng cho nhiều cái chết mà các “Nguyên khí” phải trải qua trong thời kỳ nhập thể của chúng; chỉ các nhà huyền bí học mới thấu hiểu đầy đủ ý nghĩa của lời tuyên bố ấy. Vì chúng ta có: (1) cái chết của Thể xác; (2) cái chết của Linh hồn Động vật trong Kama Loka; (3) cái chết của Linga Sharira cảm dục, theo sau cái chết của Thể xác; (4) cái chết siêu hình của Chân ngã Cao hơn, Đấng bất tử, mỗi khi nó “rơi vào vật chất”, hay nhập thể trong một phàm ngã mới. Linh hồn Động vật, hay Manas thấp, cái bóng của Chân ngã Thiêng liêng tách ra khỏi Chân ngã ấy để thấm nhuần phàm ngã, bằng bất cứ phương tiện nào cũng không thể thoát khỏi cái chết trong Kama Loka, ít nhất là phần phản chiếu này còn lại như cặn bã trần thế và không thể được in dấu lên Chân ngã. Như vậy, bí mật chính yếu và quan trọng nhất liên quan đến “cái chết thứ hai” ấy, trong giáo huấn Nội môn, đã và cho đến nay vẫn là khả năng khủng khiếp về cái chết của Linh hồn, tức sự tách lìa của nó khỏi Chân ngã trên cõi đất trong suốt đời sống của một người. Đây là một cái chết thực sự, dù vẫn có khả năng phục sinh, không để lại dấu vết nào nơi một người, song lại khiến y, về mặt đạo đức, trở thành một xác sống. Thật khó hiểu vì sao giáo huấn này lại được giữ kín cho đến nay, khi nếu phổ biến nó trong nhân loại, ít nhất là giữa những người tin vào luân hồi, thì có thể làm được nhiều điều tốt đẹp. Nhưng sự việc đã là như thế, và tôi không có quyền chất vấn minh triết của lệnh cấm; từ trước đến nay tôi chỉ trao truyền nó như nó đã được trao cho chính tôi, dưới lời cam kết không tiết lộ cho thế giới nói chung. Nhưng nay tôi được phép trao nó cho tất cả, trước hết mặc khải các giáo nghĩa của nó cho các nhà bí truyền học, và rồi khi họ đã đồng hóa chúng triệt để, bổn phận của họ sẽ là dạy người khác giáo nghĩa đặc biệt này về “cái chết thứ hai”, và cảnh báo mọi nhà Thông Thiên Học về các hiểm nguy của nó.

To make the teaching clearer, I shall seemingly have to go over old ground; in reality, however, it is given out with new light and new details. I have tried to hint at it in the Theosophist as I have done in Isis, but have failed to make myself understood. I will now explain it, point by point.

Để làm giáo huấn rõ hơn, dường như tôi sẽ phải đi lại trên nền đất cũ; tuy nhiên, trên thực tế, giáo huấn ấy được đưa ra với ánh sáng mới và các chi tiết mới. Tôi đã cố gắng ám chỉ nó trong Theosophist cũng như trong Isis, nhưng đã không làm cho mình được thấu hiểu. Nay tôi sẽ giải thích từng điểm một.

The Philosophical Rationale of the Tenet. — Cơ sở triết học của giáo nghĩa.

(1) Imagine, for illustration’s sake, the one homogeneous, absolute and omnipresent Essence, above the upper step of the “stair of the seven planes of worlds,” ready to start on its evolutionary journey. As its correlating reflection gradually descends, it differentiates and transforms into subjective, and finally into objective matter. Let us call it at its north pole Absolute Light; at its south pole, which to us would be the fourth or middle step, or plane, counting either way, we know it Esoterically as the One and Universal Life. Now mark the difference. Above, Light; below, Life. The former is ever immutable, the latter manifests under the aspects of countless differentiations. According to the Occult law, all potentialities included in the higher become differentiated reflections in the lower; and according to the same law, nothing which is differentiated can be blended with the homogeneous.

(1) Để minh họa, hãy hình dung một Tinh chất đồng nhất, tuyệt đối và toàn hiện, ở trên bậc cao nhất của “chiếc thang bảy cõi của các thế giới”, sẵn sàng khởi đầu cuộc hành trình tiến hoá của nó. Khi phản chiếu tương ứng của nó dần dần giáng xuống, nó biến phân và chuyển đổi thành vật chất chủ quan, rồi cuối cùng thành vật chất khách quan. Ở cực bắc của nó, ta hãy gọi nó là Ánh sáng Tuyệt đối; ở cực nam của nó, đối với chúng ta là bậc thứ tư hay bậc giữa, hoặc cõi, dù đếm theo chiều nào, chúng ta biết nó một cách huyền bí là Sự Sống Duy Nhất và Phổ Quát. Nay hãy lưu ý sự khác biệt. Ở trên là Ánh sáng; ở dưới là Sự sống. Cái trước mãi bất biến, cái sau biểu hiện dưới các phương diện của vô số biến phân. Theo định luật huyền bí, mọi tiềm năng bao hàm trong cái cao hơn trở thành các phản chiếu biến phân trong cái thấp hơn; và theo cùng định luật ấy, không gì đã biến phân có thể hòa lẫn với cái đồng nhất.

Again, nothing can endure of that which lives and breathes and has its being in the seething waves of the world, or plane of differentiation. Thus Buddhi and Manas being both primordial rays of the One Flame, the former the vehicle, the upâdhi or vâhana, of the one eternal Essence, the latter the vehicle of Mahat or Divine Ideation (Mahâ-Buddhi in the Purânas), the Universal Intelligent Soul—neither of them, as such, can become extinct or be annihilated, either in essence or consciousness. But the physical personality with its Linga Sharîra, and the animal soul, with its Kâma, 844 can and do become so. They are born in the realm of illusion, and must vanish like a fleecy cloud from the blue and eternal sky.

Lại nữa, không gì có thể trường tồn trong những gì sống, thở và hiện tồn giữa các làn sóng sôi sục của thế giới, hay cõi biến phân. Như vậy, Buddhi và Manas đều là các tia nguyên thủy của Ngọn Lửa Duy Nhất; cái trước là vận cụ, upadhi hay vahana, của Tinh chất vĩnh cửu duy nhất; cái sau là vận cụ của Mahat hay Ý niệm Thiêng liêng, Mahabuddhi trong các Purana, Linh hồn Thông tuệ Phổ quát — cả hai, với tư cách như thế, đều không thể tắt lịm hay bị hủy diệt, dù trong tinh chất hay tâm thức. Nhưng phàm ngã hồng trần với Linga Sharira của nó, và linh hồn động vật với Kama của nó, thì có thể và thật sự trở nên như vậy. Chúng sinh ra trong cõi ảo tưởng, và phải tan biến như một đám mây nhẹ khỏi bầu trời xanh vĩnh cửu.

He who has read these volumes with any degree of attention, must know the origin of the human Egos, called Monads, generically, and what they were before they were forced to incarnate in the human animal. The divine beings whom Karma led to act in the drama of Manvantaric life, are entities from higher and earlier worlds and planets, whose Karma had not been exhausted when their world went into Pralaya. Such is the teaching; but whether it is so or not, the Higher Egos are—as compared to such forms of transitory, terrestrial mud as ourselves—Divine Beings, Gods, immortal throughout the Mahâmanvantara, or the 311, 040, 000, 000, 000 years during which the Age of Brahmâ lasts. And as the Divine Egos, in order to re-become the One Essence, or be indrawn again into the Aum, have to purify themselves in the fire of suffering and individual experience, so also have the terrestrial Egos, the personalities, to do likewise, if they would partake of the immortality of the Higher Egos. This they can achieve by crushing in themselves all that benefits only the lower personal nature of their “selves” and by aspiring to transfuse their thinking Kâmic Principle into that of the Higher Ego. We (i.e., our personalities) become immortal by the mere fact of our thinking moral nature being grafted on our Divine Triune Monad, Âtmâ-Buddhi-Manas, the three in one and one in three (aspects). For the Monad manifested on earth by the incarnating Ego is that which is called the Tree of Life Eternal, that can only be approached by eating the fruit of knowledge, the Knowledge of Good and Evil, or of Gnosis, Divine Wisdom.

Ai đã đọc các quyển này với một mức độ chú tâm nào đó hẳn phải biết nguồn gốc của các Chân ngã nhân loại, gọi chung là các chân thần, và biết chúng là gì trước khi bị buộc phải nhập thể trong con thú người. Các hữu thể thiêng liêng mà nghiệp quả dẫn đến hành động trong vở kịch của đời sống thuộc Giai kỳ sinh hóa là những thực thể từ các thế giới và hành tinh cao hơn, trước hơn, mà nghiệp quả của họ chưa cạn khi thế giới của họ đi vào Giai kỳ qui nguyên. Giáo huấn là như vậy; nhưng dù sự thật có đúng như thế hay không, các Chân ngã Cao hơn — khi so với những hình tướng bùn đất trần thế, tạm bợ như chúng ta — là các Hữu Thể Thiêng Liêng, các Thượng đế, bất tử suốt Đại giai kỳ sinh hóa, hay 311, 040, 000, 000, 000 năm trong đó Thời đại của Brahma kéo dài. Và như các Chân ngã Thiêng liêng, để trở lại thành Tinh chất Duy Nhất, hay lại được thu hút vào Aum, phải tự thanh luyện trong lửa khổ đau và kinh nghiệm cá nhân, thì các chân ngã trần thế, tức các phàm ngã, cũng phải làm như vậy nếu muốn dự phần vào sự bất tử của các Chân ngã Cao hơn. Họ có thể đạt điều này bằng cách nghiền nát trong chính mình mọi điều chỉ có lợi cho bản chất cá nhân thấp của “bản ngã” họ, và bằng cách khát vọng chuyển thấm Nguyên khí Kama biết suy nghĩ của họ vào nguyên khí của Chân ngã Cao hơn. Chúng ta, tức các phàm ngã của chúng ta, trở nên bất tử chỉ nhờ sự kiện rằng bản chất đạo đức biết suy nghĩ của chúng ta được ghép vào Chân thần Tam phân Thiêng liêng của chúng ta, Atma-Buddhi-Manas, ba trong một và một trong ba phương diện. Vì Chân thần biểu hiện trên cõi đất qua Chân ngã nhập thể chính là điều được gọi là Cây Sự Sống Vĩnh Cửu, chỉ có thể được tiếp cận bằng cách ăn trái tri thức, Tri thức về Thiện và Ác, hay Gnosis, Minh triết Thiêng liêng.

In the Esoteric teachings, this Ego is the fifth Principle in man. But the student who has read and understood the first two Papers, knows something more. He is aware that the seventh is not a human, but a universal Principle in which man participates; but so does equally every physical and subjective atom, and also every blade of grass and everything that lives or is in Space, whether it be sensible of it or not. He knows, moreover, that if man is more closely connected with it, and assimilates it with a hundredfold more power, it is simply because he is endowed with the highest consciousness on this earth; that man, in short, may become a Spirit, a Deva, or a God, in his next transformation, whereas neither a stone nor a vegetable, nor an animal, can do so before they become men in their proper turn.

Trong các giáo huấn Nội môn, Chân ngã này là Nguyên khí thứ năm trong con người. Nhưng đạo sinh đã đọc và thấu hiểu hai Luận văn đầu tiên còn biết thêm điều gì đó. Y biết rằng nguyên khí thứ bảy không phải là một Nguyên khí nhân loại, mà là một Nguyên khí phổ quát trong đó con người dự phần; nhưng mọi nguyên tử hồng trần và chủ quan, cũng như mỗi ngọn cỏ và mọi vật sống hay hiện hữu trong Không gian, dù có cảm biết điều đó hay không, cũng đều dự phần như vậy. Hơn nữa, y biết rằng nếu con người liên hệ mật thiết hơn với Nguyên khí ấy, và đồng hóa nó với sức mạnh gấp trăm lần, thì đơn giản là vì y được phú cho tâm thức cao nhất trên cõi đất này; nói tóm lại, con người có thể trở thành một Tinh thần, một deva, hay một Thượng đế trong lần chuyển đổi kế tiếp của y, trong khi cả đá, thực vật lẫn động vật đều không thể làm như thế trước khi đến lượt chúng trở thành người.

(2) Now what are the functions of Buddhi? On this plane it has none, unless it is united with Manas, the conscious Ego. Buddhi stands to the divine Root Essence in the same relation as Mûlaprakriti to Parabrahman, in the Vedânta School; or as Alaya the Universal Soul to the One Eternal Spirit, or that which is beyond Spirit. It is its human vehicle, one remove from that Absolute, which can have no relation whatever to the finite and the conditioned.

(2) Nay các chức năng của Buddhi là gì? Trên cõi này nó không có chức năng nào, trừ phi được hợp nhất với Manas, Chân ngã có ý thức. Buddhi có quan hệ với Tinh chất Gốc thiêng liêng giống như Mulaprakriti với Parabrahman trong trường phái Vedanta; hay như Alaya, Linh hồn Phổ quát, với Tinh thần Vĩnh cửu Duy Nhất, hoặc với cái ở bên kia Tinh thần. Nó là vận cụ nhân loại của Tinh chất ấy, chỉ cách Tuyệt đối ấy một bậc, còn Tuyệt đối thì không thể có bất cứ quan hệ nào với cái hữu hạn và bị điều kiện hóa.

(3) What, again, is Manas and its functions? In its purely metaphysical aspect, Manas, though one remove on the downward plane from Buddhi, is still so immeasurably higher than the physical man, that it cannot enter into direct relation with the personality, except through its reflection, the lower mind. Manas is Spiritual Self-Consciousness in itself, and Divine Consciousness when united with Buddhi, which is the true “producer” of that “production” (vikâra), or Self-Consciousness, through Mahat. Buddhi-Manas, therefore, is entirety unfit to manifest during its periodical incarnations, except through the human mind or lower Manas. Both are linked together and are inseparable, and can have as little to do with the lower Tanmâtras, 845 or rudimentary atoms, as the homogeneous with the heterogeneous. It is, therefore, the task of the lower Manas, or thinking personality, if it would blend itself with its God, the Divine Ego, to dissipate and paralyze the Tanmâtras, or properties of the material form. Therefore, Manas is shown double, as the Ego and Mind of Man. It is Kâma-Manas, or the lower Ego, which, deluded into a notion of independent existence, as the “producer” in its turn and the sovereign of the five Tanmâtras, becomes Ego-ism, the selfish Self, in which case it has to be considered as Mahâbhûtic and finite, in the sense of its being connected with Ahankâra, the personal “I-creating” faculty. Hence

(3) Lại nữa, Manas là gì và các chức năng của nó là gì? Trong phương diện thuần siêu hình, Manas, dù cách Buddhi một bậc trên cõi giáng hạ, vẫn cao hơn con người hồng trần đến mức vô lượng, nên nó không thể đi vào quan hệ trực tiếp với phàm ngã, ngoại trừ qua phản chiếu của nó là hạ trí. Tự thân Manas là Ngã thức Tinh thần, và là Tâm thức Thiêng liêng khi hợp nhất với Buddhi, vốn là “đấng sản sinh” đích thực của “sản phẩm” ấy, tức Ngã thức, thông qua Mahat. Vì vậy Buddhi-Manas hoàn toàn không thích hợp để biểu hiện trong các lần nhập thể định kỳ của nó, ngoại trừ qua thể trí con người hay Manas thấp. Cả hai được liên kết với nhau và bất khả phân, và cũng ít có thể liên hệ với các Tanmatra thấp, hay các nguyên tử sơ khai, như cái đồng nhất không thể liên hệ với cái dị biệt. Do đó, nhiệm vụ của Manas thấp, hay phàm ngã biết suy nghĩ, nếu nó muốn hòa lẫn với Thượng đế của mình, tức Chân ngã Thiêng liêng, là làm tiêu tan và làm tê liệt các Tanmatra, hay các thuộc tính của hình tướng vật chất. Vì vậy Manas được trình bày là kép, như Chân ngã và Thể trí của Con người. Chính Kama-Manas, hay chân ngã thấp, khi bị mê lầm vào quan niệm về sự tồn tại độc lập, đến lượt nó như “đấng sản sinh” và chủ tể của năm Tanmatra, trở thành chủ nghĩa duy ngã, cái bản ngã ích kỷ; trong trường hợp ấy, nó phải được xem là thuộc Mahabhuta và hữu hạn, theo nghĩa nó liên hệ với Ahankara, khả năng tạo ra cái “Tôi” cá nhân. Vì thế

Manas has to be regarded as eternal and non-eternal; eternal in its atomic nature (paramanu rûpa), as eternal substance (dravya), finite (kârya rûpa) when linked as a duad with Kâma (animal desire or human egoistic volition), a lower production, in short. 846

Manas phải được xem là vĩnh cửu và phi vĩnh cửu; vĩnh cửu trong bản chất nguyên tử của nó, paramanu rupa, như chất liệu vĩnh cửu, dravya; hữu hạn, karya rupa, khi được liên kết như một nhị nguyên với Kama, tức dục vọng động vật hay ý chí vị ngã của con người; nói tóm lại là một sản phẩm thấp hơn.

While, therefore, the Individual Ego, owing to its essence and nature, is immortal throughout eternity, with a form (rûpa), which prevails during the whole life cycles of the Fourth Round, its Sosie, or resemblance, the personal Ego, has to win its immortality.

Do đó, trong khi Chân ngã Cá nhân, nhờ tinh chất và bản chất của nó, là bất tử suốt vĩnh cửu, với một hình tướng, rupa, tồn tại trong toàn bộ các chu kỳ sống của Cuộc tuần hoàn thứ tư, thì bản sao hay hình ảnh tương tự của nó, chân ngã cá nhân, phải tự giành lấy sự bất tử của mình.

(4) Antahkarana is the name of that imaginary bridge, the path which lies between the Divine and the human Egos, for they are Egos, during human life, to re-become one Ego in Devachan or Nirvâna. This may seem difficult to understand, but in reality, with the help of a familiar, though fanciful illustration, it becomes quite simple. Let us figure to ourselves a bright lamp in the middle of a room, casting its light upon the wall. Let the lamp represent the Divine Ego, and the light thrown on the wall the lower Manas, and let the wall stand for the body. That portion of the atmosphere which transmits the ray from the lamp to the wall, will then represent the Antahkarana. We must further suppose that the light thus cast is endowed with reason and intelligence, and possesses, moreover, the faculty of dissipating all the evil shadows which pass across the wall, and of attracting all brightnesses to itself, receiving their indelible impressions. Now, it is in the power of the human Ego to chase away the shadows, or sins, and multiply the brightnesses, or good deeds, which make these impressions, and thus through Antahkarana, ensure its own permanent connection, and its final re-union, with the Divine Ego. Remember that the latter cannot take place while there remains a single taint of the terrestrial, or of matter, in the purity of that light. On the other hand, the connection cannot be entirely ruptured, and final re-union prevented, so long as there remains one spiritual deed, or potentiality to serve as a thread of union; but the moment this last spark is extinguished, and the last potentiality exhausted, then comes the severance. In an Eastern parable, the Divine Ego is likened to the Master who sends out his labourers to till the ground and to gather in the harvest, and who is content to keep the field so long as it can yield even the smallest return. But when the ground becomes absolutely sterile, not only is it abandoned, but the labourer also (the lower Manas) perishes.

(4) Antahkarana là tên gọi của cây cầu tưởng tượng ấy, con đường nằm giữa các Chân ngã Thiêng liêng và nhân loại; vì chúng là các Chân ngã trong đời sống con người, để lại trở thành một Chân ngã trong Devachan hay Nirvana. Điều này có thể có vẻ khó hiểu, nhưng trong thực tế, nhờ một minh họa quen thuộc, dù có phần tưởng tượng, nó trở nên khá đơn giản. Hãy hình dung một ngọn đèn sáng ở giữa phòng, chiếu ánh sáng của nó lên tường. Hãy để ngọn đèn tượng trưng cho Chân ngã Thiêng liêng, ánh sáng chiếu lên tường là Manas thấp, và bức tường là thể xác. Khi ấy, phần không khí truyền tia sáng từ ngọn đèn đến bức tường sẽ tượng trưng cho Antahkarana. Chúng ta còn phải giả định rằng ánh sáng được chiếu như thế được phú cho lý trí và trí thông minh, và hơn nữa có khả năng làm tiêu tan mọi bóng tối xấu ác đi ngang qua bức tường, cũng như thu hút mọi ánh sáng về phía mình, tiếp nhận các ấn tượng không thể xóa nhòa của chúng. Nay, quyền năng của chân ngã con người là xua đuổi các bóng tối, hay tội lỗi, và nhân lên các ánh sáng, hay thiện hạnh, vốn tạo nên những ấn tượng ấy; và như vậy, thông qua Antahkarana, bảo đảm mối liên hệ thường tồn của chính nó, và sự tái hợp cuối cùng của nó, với Chân ngã Thiêng liêng. Hãy nhớ rằng điều sau không thể diễn ra chừng nào còn lại một vết nhơ trần thế hay vật chất trong sự tinh khiết của ánh sáng ấy. Mặt khác, mối liên hệ không thể bị cắt đứt hoàn toàn, và sự tái hợp cuối cùng không thể bị ngăn cản, chừng nào còn lại một hành vi tinh thần, hay một tiềm năng, để làm sợi dây hợp nhất; nhưng ngay khi tia lửa cuối cùng này tắt, và tiềm năng cuối cùng cạn kiệt, thì sự tách lìa xảy đến. Trong một dụ ngôn Đông phương, Chân ngã Thiêng liêng được ví như Chân sư sai các người lao động của mình ra cày cấy đất đai và thu hoạch mùa màng, và bằng lòng giữ lại cánh đồng chừng nào nó còn có thể đem lại dù chỉ lợi tức nhỏ nhất. Nhưng khi đất trở nên tuyệt đối cằn cỗi, không những nó bị bỏ hoang, mà người lao động, tức Manas thấp, cũng diệt vong.

On the other hand, however, still using our simile, when the light thrown on the wall, or the rational human Ego, reaches the point of actual spiritual exhaustion, the Antahkarana disappears, no more light is transmitted, and the lamp becomes non-existent to the ray. The light which has been absorbed gradually disappears and “Soul eclipse” occurs; the being lives on earth and then passes into Kâma Loka as a mere surviving congeries of material qualities; it can never pass onwards towards Devachan, but is reborn immediately, a human animal and scourge.

Tuy nhiên, mặt khác, vẫn dùng ví dụ của chúng ta, khi ánh sáng chiếu lên tường, hay chân ngã nhân loại hữu lý, đạt đến điểm kiệt quệ tinh thần thật sự, Antahkarana biến mất, không còn ánh sáng nào được truyền đi, và ngọn đèn trở thành không hiện hữu đối với tia sáng. Ánh sáng đã bị hấp thu dần dần biến mất, và “nhật thực của Linh hồn” xảy ra; sinh linh ấy sống trên cõi đất rồi đi vào Kama Loka như một tập hợp sống sót đơn thuần của các phẩm tính vật chất; nó không bao giờ có thể tiến tới Devachan, mà tái sinh tức khắc như một con thú người và một tai họa.

This simile, however fantastic, will help us to seize the correct idea. Save through the blending of the moral nature with the Divine Ego, there is no immortality for the personal Ego. It is only the most spiritual emanations of the personal Human Soul which survive. Having, during a lifetime, been imbued with the notion and feeling of the “I am I” of its personality, the Human Soul, the bearer of the very essence of the Karmic deeds of the physical man, becomes, after the death of the latter, part and parcel of the Divine Flame, the Ego. It becomes immortal through the mere fact that it is now strongly grafted on the Monad, which is the “Tree of Life Eternal.”

Ví dụ này, dù kỳ ảo, sẽ giúp chúng ta nắm bắt ý tưởng đúng. Ngoại trừ qua sự hòa lẫn bản chất đạo đức với Chân ngã Thiêng liêng, không có sự bất tử nào cho chân ngã cá nhân. Chỉ những xuất lộ tinh thần nhất của Linh hồn Con người cá nhân là sống còn. Trong suốt một đời sống, khi đã được thấm nhuần quan niệm và cảm thức “Tôi là Tôi” của phàm ngã mình, Linh hồn Con người, kẻ mang chính tinh chất của các hành vi nghiệp quả của con người hồng trần, sau cái chết của con người ấy, trở thành một phần không tách rời của Ngọn Lửa Thiêng liêng, tức Chân ngã. Nó trở nên bất tử chỉ nhờ sự kiện rằng nay nó đã được ghép chặt vào Chân thần, vốn là “Cây Sự Sống Vĩnh Cửu.”

And now we must speak of the tenet of the “second death.” What happens to the Kâmic Human Soul, which is always that of a debased and wicked man or of a soulless person? This mystery will now be explained.

Và nay chúng ta phải nói về giáo nghĩa “cái chết thứ hai”. Điều gì xảy ra cho Linh hồn Con người thuộc Kama, vốn luôn là linh hồn của một người sa đọa và xấu ác, hay của một kẻ vô hồn? Bí nhiệm này nay sẽ được giải thích.

The personal Soul in this case, viz., in that of one who has never had a thought not concerned with the animal self, having nothing to transmit to the Higher, or to add to the sum of the experiences gleaned from past incarnations which its memory is to preserve throughout eternity—this personal Soul becomes separated from the Ego. It can graft nothing of self on that eternal trunk whose sap throws out millions of personalities, like leaves from its branches, leaves which wither, die and fall at the end of their season. These personalities bud, blossom forth and expire, some without leaving a trace behind, others after commingling their own life with that of the parent stem. It is the Souls of the former class that are doomed to annihilation, or Avîtchi, a state so badly understood, and still worse described by some Theosophical writers, but which is not only located on our earth, but is in fact this very earth itself.

Trong trường hợp này, tức trường hợp của người chưa bao giờ có một tư tưởng nào không liên quan đến bản ngã động vật, không có gì để truyền lên Chân ngã Cao hơn, hay thêm vào tổng số những kinh nghiệm thu lượm từ các lần nhập thể quá khứ mà ký ức của nó phải giữ gìn suốt vĩnh cửu — Linh hồn cá nhân này trở nên tách lìa khỏi Chân ngã. Nó không thể ghép bất cứ điều gì của bản ngã vào thân cây vĩnh cửu ấy, mà nhựa sống của nó phóng ra hàng triệu phàm ngã như lá từ các cành cây, những chiếc lá héo tàn, chết và rơi xuống vào cuối mùa của chúng. Các phàm ngã này nảy chồi, nở hoa và tàn lụi; một số không để lại dấu vết nào, số khác thì sau khi hòa trộn đời sống riêng của mình với đời sống của thân cây mẹ. Chính các Linh hồn thuộc loại trước bị định đoạt phải đi đến hủy diệt, hay Avitchi, một trạng thái bị một số tác giả Thông Thiên Học hiểu rất kém và mô tả còn tệ hơn, nhưng không những nằm trên cõi đất chúng ta, mà thật ra chính là cõi đất này.

Thus we see that Antahkarana has been destroyed before the lower man has had an opportunity of assimilating the Higher and becoming at one with it; and therefore the Kâmic “Soul” becomes a separate entity, to live henceforth, for a short or long period according to its Karma, as a “soulless” creature.

Như vậy, chúng ta thấy rằng Antahkarana đã bị phá hủy trước khi con người thấp có cơ hội đồng hóa cái Cao hơn và trở nên hợp nhất với nó; và vì vậy “Linh hồn” thuộc Kama trở thành một thực thể riêng biệt, từ nay sống trong một thời gian ngắn hay dài tùy theo nghiệp quả của nó, như một sinh vật “vô hồn”.

But before I elaborate this question, I must explain more clearly the meaning and functions of the Antahkarana. As already said, it may be represented as a narrow bridge connecting the Higher and the lower Manas. If you look at the Glossary of the Voice of the Silence, pp. 88 and 89, you will find that it is a projection of the lower Manas, or, rather, the link between the latter and the Higher Ego, or, between the Human and the Divine or Spiritual Soul. 847

Nhưng trước khi tôi khai triển vấn đề này, tôi phải giải thích rõ hơn ý nghĩa và các chức năng của Antahkarana. Như đã nói, nó có thể được trình bày như một cây cầu hẹp nối Manas Cao hơn và Manas thấp. Nếu bạn xem phần Chú giải của Tiếng Nói của Im Lặng, trang 88 và 89, bạn sẽ thấy rằng nó là một sự phóng chiếu của Manas thấp, hay đúng hơn, là mối liên kết giữa Manas thấp ấy và Chân ngã Cao hơn, hoặc giữa Linh hồn Con người và Linh hồn Thiêng liêng hay Tinh thần.

At death it is destroyed as a path, or medium of communication, and its remains survive as Kâma Rûpa,

Khi chết, nó bị phá hủy như một con đường hay trung gian giao tiếp, và phần còn lại của nó sống sót như Kama Rupa,

the “shell.” It is this which the Spiritualists see sometimes appearing in the séance rooms as materialized “forms,” which they foolishly mistake for the “Spirits of the Departed.” 848 So far is this from being the case, that in dreams, though Antahkarana is there, the personality is only half awake; therefore, Antahkarana is said to be drunk or insane during our normal sleeping state. If such is the case during the periodical death, or sleep, of the living body, one may judge what the consciousness of Antahkarana is like when it has been transformed after the “eternal sleep” into Kâma Rûpa.

“cái vỏ”. Chính cái này đôi khi các nhà thần linh học thấy xuất hiện trong các phòng Buổi gọi hồn như những “hình tướng” hiện hình, mà họ ngu dại lầm tưởng là “Tinh thần của những người đã khuất”. Điều này không hề đúng đến mức, trong các giấc mơ, dù Antahkarana vẫn có đó, phàm ngã chỉ nửa tỉnh thức; vì vậy người ta nói Antahkarana say hay điên trong trạng thái ngủ bình thường của chúng ta. Nếu sự việc là như vậy trong cái chết định kỳ, hay giấc ngủ, của thể xác đang sống, thì người ta có thể suy đoán tâm thức của Antahkarana ra sao khi nó đã được chuyển đổi sau “giấc ngủ vĩnh cửu” thành Kama Rupa.

But to return. In order not to confuse the mind of the Western student with the abstruse difficulties of Indian metaphysics, let him view the lower Manas, or Mind, as the personal Ego during the waking state, and as Antahkarana only during those moments when it aspires towards its Higher Ego, and thus becomes the medium of communication between the two. It is for this reason that it is called the “Path.” Now, when a limb or organ belonging to the physical organism is left in disuse, it becomes weak and finally atrophies. So also is it with mental faculties; and hence the atrophy of the lower mind-function, called Antahkarana, becomes comprehensible in both completely materialistic and depraved natures.

Nhưng trở lại vấn đề. Để không làm trí tuệ của đạo sinh Tây phương rối trí với các khó khăn thâm áo của siêu hình học Ấn Độ, hãy để y xem Manas thấp, hay Thể trí, như chân ngã cá nhân trong trạng thái thức, và như Antahkarana chỉ trong những khoảnh khắc khi nó khát vọng hướng về Chân ngã Cao hơn của mình, và nhờ vậy trở thành trung gian giao tiếp giữa hai bên. Chính vì lý do này mà nó được gọi là “Con Đường”. Nay, khi một chi hay cơ quan thuộc cơ thể hồng trần bị bỏ không dùng, nó trở nên yếu và cuối cùng teo lại. Các năng lực trí tuệ cũng vậy; và do đó sự teo liệt của chức năng hạ trí, gọi là Antahkarana, trở nên có thể thấu hiểu nơi những bản chất hoàn toàn duy vật và suy đồi.

According to Esoteric Philosophy, however, the teaching is as follows: Seeing that the faculty and function of Antahkarana is as necessary as the medium of the ear for hearing, or that of the eye for seeing; then so long as the feeling of Ahankâra, that is, of the personal “I” or selfishness, is not entirely crushed out in a man, and the lower mind not entirely merged into and become one with the Higher Buddhi-Manas, it stands to reason that to destroy Antahkarana is like destroying a bridge over an impassable chasm; the traveller can never reach the goal on the other shore. And here lies the difference between the exoteric and Esoteric teaching. The former makes the Vedânta state that so long as Mind (the lower) clings through Antahkarana to Spirit (Buddhi-Manas) it is impossible for it to acquire true Spiritual Wisdom, Gnyâna, and that this can only be attained by seeking to come en rapport with the Universal Soul (Âtmâ); that, in fact, it is by ignoring the Higher Mind altogether that one reaches Râja Yoga. We say it is not so. No single rung of the ladder leading to knowledge can be skipped. No personality can ever reach or bring itself into communication with Âtmâ, except through Buddhi-Manas; to try and become a Jîvanmukta or a Mahâtmâ, before one has become an Adept or even a Narjol (a sinless man) is like trying to reach Ceylon from India without crossing the sea. Therefore we are told that if we destroy Antahkarana before the personal is absolutely under the control of the impersonal Ego, we risk to lose the latter and be severed for ever from it, unless indeed we hasten to re-establish the communication by a supreme and final effort.

Tuy nhiên, theo Triết học Nội môn, giáo huấn là như sau: vì năng lực và chức năng của Antahkarana cần thiết như môi giới của tai để nghe, hay của mắt để thấy; nên chừng nào cảm thức Ahankara, tức cái “Tôi” cá nhân hay sự ích kỷ, chưa hoàn toàn bị nghiền nát trong con người, và hạ trí chưa hoàn toàn hòa nhập vào và trở nên một với Buddhi-Manas Cao hơn, thì hiển nhiên việc phá hủy Antahkarana giống như phá hủy cây cầu bắc qua một vực sâu không thể vượt qua; người lữ hành không bao giờ có thể đến mục tiêu ở bờ bên kia. Và chính ở đây có sự khác biệt giữa giáo huấn công truyền và Nội môn. Giáo huấn trước khiến Vedanta nói rằng chừng nào Thể trí, tức hạ trí, còn bám qua Antahkarana vào Tinh thần, tức Buddhi-Manas, thì nó không thể đạt Minh triết Tinh thần chân thật, Jnana, và điều này chỉ có thể đạt được bằng cách tìm cách đi vào tương quan với Linh hồn Phổ quát, Atma; rằng thật ra, chính bằng cách hoàn toàn phớt lờ Thượng trí mà người ta đạt tới Raja Yoga. Chúng tôi nói rằng không phải vậy. Không thể bỏ qua một nấc thang nào dẫn đến tri thức. Không phàm ngã nào có thể đạt tới hay đưa mình vào giao tiếp với Atma, ngoại trừ qua Buddhi-Manas; cố trở thành một Jivanmukta hay một Mahatma trước khi trở thành một Chân sư, hoặc thậm chí một Narjol, tức một người vô tội, cũng giống như cố đi từ Ấn Độ đến Ceylon mà không băng qua biển. Vì vậy chúng ta được bảo rằng nếu chúng ta phá hủy Antahkarana trước khi cái cá nhân hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát của Chân ngã phi cá nhân, chúng ta có nguy cơ mất Chân ngã ấy và bị tách lìa vĩnh viễn khỏi nó, trừ phi quả thật chúng ta vội vã tái lập sự giao tiếp bằng một nỗ lực tối thượng và cuối cùng.

It is only when we are indissolubly linked with the essence of the Divine Mind, that we have to destroy Antahkarana.

Chỉ khi chúng ta được liên kết bất khả phân với tinh chất của Trí Thiêng liêng, chúng ta mới phải phá hủy Antahkarana.

Like as a solitary warrior pursued by an army, seeks refuge in a stronghold; to cut himself off from the enemy, he first destroys the drawbridge, and then only commences to destroy the pursuer; so must the Srotâpatti act before he slays Antahkarana.

Như một chiến sĩ đơn độc bị một đạo quân truy đuổi tìm nơi nương náu trong thành lũy; để tự cắt lìa khỏi kẻ thù, trước hết y phá hủy cầu kéo, rồi chỉ sau đó mới bắt đầu tiêu diệt kẻ truy đuổi; Srotapatti cũng phải hành động như vậy trước khi y giết chết Antahkarana.

Or as an Occult axiom has it:

Hoặc như một châm ngôn huyền bí nói:

The Unit becomes Three, and Three generate Four. It is for the latter [the Quaternary] to rebecome Three, and for the Divine Three to expand into the Absolute One.

Đơn vị trở thành Ba, và Ba sinh ra Bốn. Bốn, tức Bộ bốn, phải trở lại thành Ba, và Ba Thiêng liêng phải mở rộng vào Một Tuyệt đối.

Monads, which become Duads on the differentiated plane, to develop into Triads during the cycle of incarnations, even when incarnated know neither space nor time, but are diffused through the lower Principles of the Quaternary, being omnipresent and omniscient in their nature. But this omniscience is innate, and can manifest its reflected light only through that which is at least semi-terrestrial or material; even as the physical brain which, in its turn, is the vehicle of the lower Manas enthroned in Kâma Rûpa. And it is this which is gradually annihilated in cases of “second death.”

Các chân thần, vốn trở thành Nhị nguyên trên cõi biến phân để phát triển thành Tam nguyên trong chu kỳ nhập thể, ngay cả khi nhập thể, vẫn không biết không gian hay thời gian, mà lan tỏa qua các Nguyên khí thấp của Bộ bốn, vì trong bản chất chúng toàn hiện và toàn tri. Nhưng sự toàn tri này là bẩm sinh, và chỉ có thể biểu hiện ánh sáng phản chiếu của nó qua cái ít nhất cũng bán trần thế hay vật chất; cũng như bộ não hồng trần, đến lượt nó, là vận cụ của Manas thấp ngự trị trong Kama Rupa. Và chính cái này dần dần bị hủy diệt trong các trường hợp “cái chết thứ hai”.

But such annihilation—which is in reality the absence of the slightest trace of the doomed Soul from the eternal memory, and therefore signifies annihilation in eternity—does not mean simply discontinuation of human life on earth, for earth is Avîtchi, and the worst Avîtchi possible. Expelled for ever from the consciousness of the Individuality, the reincarnating Ego, the physical atoms and psychic vibrations of the now separate personality are immediately reincarnated on the same earth, only in a lower and still more abject creature, a human being only in form, doomed to Karmic torments during the whole of its new life. Moreover, if it persists in its criminal or debauched course, it will suffer a long series of immediate reincarnations.

Nhưng sự hủy diệt như thế — thực ra là sự vắng mặt của dấu vết nhỏ nhất của Linh hồn bị định đoạt trong ký ức vĩnh cửu, và do đó hàm nghĩa hủy diệt trong vĩnh cửu — không chỉ có nghĩa là sự chấm dứt đời sống con người trên cõi đất, vì cõi đất là Avitchi, và là Avitchi tệ hại nhất có thể có. Bị trục xuất vĩnh viễn khỏi tâm thức của Cá tính, tức Chân ngã luân hồi, các nguyên tử hồng trần và các rung động thông linh của phàm ngã nay đã tách lìa lập tức tái sinh trên cùng cõi đất này, chỉ trong một sinh vật thấp hơn và còn đê tiện hơn, một con người chỉ về hình tướng, bị định đoạt chịu các thống khổ nghiệp quả trong suốt đời sống mới của nó. Hơn nữa, nếu nó cứ kiên trì trong đường lối tội lỗi hay trụy lạc của mình, nó sẽ chịu một chuỗi dài các lần tái sinh tức khắc.

Here two questions present themselves: (1) What becomes of the Higher Ego in such cases? (2) What kind of an animal is a human creature born soulless?

Ở đây có hai câu hỏi tự đặt ra: (1) Điều gì xảy ra cho Chân ngã Cao hơn trong các trường hợp như thế? (2) Loại thú nào là một sinh vật người sinh ra vô hồn?

Before answering these two very natural queries, I have to draw the attention of all of you who are born in Christian countries to the fact that the romance of the vicarious atonement and the mission of Jesus, as it now stands, was drawn or borrowed by some too liberal Initiates from the mysterious and weird tenet of the earthly experience of the reincarnating Ego. The latter is indeed the sacrificial victim of, and through, its own Karma in previous Manvantaras, which takes upon itself voluntarily the duty of saving what would be otherwise soulless men or personalities. Eastern truth is thus more philosophical and logical than Western fiction. The Christos, or Buddhi-Manas of each man is not quite an innocent and sinless God, though in one sense it is the “Father,” being of the same essence with the Universal Spirit, and at the same time the “Son,” for Manas is the second remove from the “Father.” By incarnation the Divine Son makes itself responsible for the sins of all the personalities which it will inform. This it can do only through its proxy or reflection, the lower Manas. The only case in which the Divine Ego can escape individual penalty and responsibility as a guiding Principle, is when it has to break off from the personality, because matter, with its psychic and astral vibrations, is then, by the very intensity of its combinations, placed beyond the control of the Ego. Apophis, the Dragon, having become the conqueror, the reincarnating Manas, separating itself gradually from its tabernacle, breaks finally asunder from the psycho-animal Soul.

Trước khi trả lời hai câu hỏi rất tự nhiên này, tôi phải lưu ý tất cả các bạn sinh ra trong các quốc gia Kitô giáo rằng câu chuyện lãng mạn về sự chuộc tội thay và sứ mệnh của Đức Jesus, như hiện nay, đã được một số điểm đạo đồ quá phóng khoáng rút ra hoặc vay mượn từ giáo nghĩa bí nhiệm và kỳ dị về kinh nghiệm trần thế của Chân ngã luân hồi. Chân ngã ấy thật sự là nạn nhân hiến tế của, và thông qua, nghiệp quả riêng của nó trong các Giai kỳ sinh hóa trước, tự nguyện nhận lấy bổn phận cứu vớt những con người hay phàm ngã nếu không sẽ vô hồn. Như vậy, chân lý Đông phương có tính triết học và hợp lý hơn hư cấu Tây phương. Christos, hay Buddhi-Manas của mỗi người, không hẳn là một Thượng đế vô tội và không tội lỗi, dù theo một nghĩa nó là “Cha”, vì cùng một tinh chất với Tinh thần Phổ quát, và đồng thời là “Con”, vì Manas cách “Cha” hai bậc. Bằng sự nhập thể, Con Thiêng liêng tự khiến mình chịu trách nhiệm về tội lỗi của tất cả các phàm ngã mà nó sẽ thấm nhuần. Nó chỉ có thể làm điều này qua đại diện hay phản chiếu của mình, tức Manas thấp. Trường hợp duy nhất trong đó Chân ngã Thiêng liêng có thể thoát khỏi hình phạt và trách nhiệm cá nhân với tư cách Nguyên khí hướng dẫn là khi nó phải cắt đứt khỏi phàm ngã, vì khi ấy vật chất, với các rung động thông linh và cảm dục của nó, do chính cường độ kết hợp của chúng, được đặt ngoài sự kiểm soát của Chân ngã. Apophis, Rồng, đã trở thành kẻ chiến thắng; Manas luân hồi, dần dần tách mình khỏi đền tạm của nó, cuối cùng bứt lìa khỏi Linh hồn thông linh-động vật.

Thus, in answer to the first question, I say: (1) The Divine Ego does one of two things: either (a) it recommences immediately under its own Karmic impulses a fresh series of incarnations; or (b) it seeks and finds refuge in the bosom of the Mother, Alaya, the Universal Soul, of which the Manvantaric aspect is Mahat. Freed from the life-impressions of the personality, it merges into a kind of Nirvânic interlude, wherein there can be nothing but the eternal Present, which absorbs the Past and Future. Bereft of the “labourer,” both field and harvest now being lost, the Master, in the infinitude of his thought, naturally preserves no recollection of the finite and evanescent illusion which had been his last personality. And then, indeed, is the latter annihilated.

Như vậy, để trả lời câu hỏi thứ nhất, tôi nói: (1) Chân ngã Thiêng liêng làm một trong hai điều: hoặc (a) nó lập tức, dưới các xung động nghiệp quả của chính mình, bắt đầu lại một chuỗi nhập thể mới; hoặc (b) nó tìm kiếm và tìm thấy nơi nương náu trong lòng Mẹ, Alaya, Linh hồn Phổ quát, mà phương diện thuộc Giai kỳ sinh hóa là Mahat. Được giải thoát khỏi các ấn tượng đời sống của phàm ngã, nó hòa nhập vào một loại khoảng lặng Niết Bàn, nơi không thể có gì ngoài Hiện Tại vĩnh cửu, vốn hấp thu Quá khứ và Tương lai. Bị mất “người lao động”, cả cánh đồng lẫn vụ mùa nay đều mất, Chân sư, trong sự vô biên của tư tưởng mình, tự nhiên không giữ ký ức nào về ảo ảnh hữu hạn và thoáng qua vốn đã là phàm ngã cuối cùng của Ngài. Và khi ấy, thật vậy, phàm ngã ấy bị hủy diệt.

(2) The future of the lower Manas is more terrible, and still more terrible to humanity than to the now animal man. It sometimes happens that after the separation the exhausted Soul, now become supremely animal, fades out in Kâma Loka, as do all other animal souls. But seeing that the more material is the human mind, the longer it lasts, even in the intermediate stage, it frequently happens that after the present life of the soulless man is ended, he is again and again reincarnated into new personalities, each one more abject than the other. The impulse of animal life is too strong; it cannot wear itself out in one or two lives only. In rarer cases, however, when the lower Manas is doomed to exhaust itself by starvation; when there is no longer hope that even a remnant of a lower light will, owing to favourable conditions—say, even a short period of spiritual aspiration and repentance—attract back to itself its Parent Ego, and Karma leads the Higher Ego back to new incarnations, then something far more dreadful may happen. The Kâma-Mânasic spook may become that which is called in Occultism the “Dweller on the Threshold.” This Dweller is not like that which is described so graphically in Zanoni, but an actual fact in Nature and not a fiction in romance, however beautiful the latter may be. Bulwer, however, must have got the idea from some Eastern Initiate. This Dweller, led by affinity and attraction, forces itself into the astral current, and through the Auric Envelope, of the new tabernacle inhabited by the Parent Ego, and declares war to the lower light which has replaced it. This, of course, can only happen in the case of the moral weakness of the personality so obsessed. No one strong in virtue, and righteous in his walk of life, can risk or dread any such thing; but only those depraved in heart. Robert Louis Stevenson had a glimpse of a true vision indeed when he wrote his Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde. His story is a true allegory. Every Chelâ will recognise in it a substratum of truth, and in Mr. Hyde a Dweller, an obsessor of the personality, the tabernacle of the Parent Spirit.

(2) Tương lai của Manas thấp khủng khiếp hơn, và còn khủng khiếp đối với nhân loại hơn là đối với con người nay đã thành thú. Đôi khi xảy ra rằng sau sự tách lìa, Linh hồn kiệt quệ, nay trở nên cực kỳ động vật, phai tàn trong Kama Loka, như mọi linh hồn động vật khác. Nhưng vì thể trí con người càng vật chất thì nó càng tồn tại lâu, ngay cả trong trạng thái trung gian, nên thường xảy ra rằng sau khi đời sống hiện tại của kẻ vô hồn kết thúc, y lại tái sinh hết lần này đến lần khác vào các phàm ngã mới, mỗi cái càng đê tiện hơn cái trước. Xung động của đời sống động vật quá mạnh; nó không thể tự tiêu hao chỉ trong một hay hai đời sống. Tuy nhiên, trong các trường hợp hiếm hơn, khi Manas thấp bị định đoạt phải tự tiêu hao bằng sự đói khát; khi không còn hy vọng rằng dù chỉ một tàn dư của ánh sáng thấp, nhờ các điều kiện thuận lợi — chẳng hạn một thời kỳ ngắn của khát vọng tinh thần và ăn năn — sẽ thu hút Chân ngã Mẹ trở lại với nó, và nghiệp quả dẫn Chân ngã Cao hơn trở lại các lần nhập thể mới, thì một điều còn đáng sợ hơn nhiều có thể xảy ra. Bóng ma Kama-Manas có thể trở thành điều trong huyền bí học gọi là “Kẻ Chận Ngõ”. Kẻ Chận Ngõ này không giống điều được mô tả rất sinh động trong Zanoni, mà là một sự thật thực tế trong Thiên nhiên chứ không phải hư cấu trong tiểu thuyết, dù tiểu thuyết ấy đẹp đến đâu. Tuy nhiên, Bulwer hẳn đã nhận ý tưởng từ một điểm đạo đồ Đông phương nào đó. Kẻ Chận Ngõ này, do ái lực và hấp dẫn dẫn dắt, cưỡng ép mình đi vào dòng cảm dục, và xuyên qua Vỏ Hào quang, của đền tạm mới được Chân ngã Mẹ cư ngụ, rồi tuyên chiến với ánh sáng thấp đã thay thế nó. Dĩ nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra trong trường hợp phàm ngã bị ám có sự yếu đuối đạo đức. Không ai mạnh mẽ trong đức hạnh, và chính trực trong đường lối sống của mình, có thể gặp nguy cơ hay khiếp sợ điều như thế; mà chỉ những kẻ suy đồi trong tâm. Robert Louis Stevenson quả thật đã thoáng thấy một linh ảnh chân thật khi viết Trường hợp kỳ lạ của Tiến sĩ Jekyll và Ông Hyde. Câu chuyện của ông là một ẩn dụ chân thật. Mỗi đệ tử đều sẽ nhận ra trong đó một nền tảng chân lý, và trong Ông Hyde một Kẻ Chận Ngõ, một kẻ ám ảnh phàm ngã, đền tạm của Tinh thần Mẹ.

“This is a nightmare tale!” I was often told by one, now no more in our ranks, who had a most pronounced “Dweller,” a “Mr. Hyde,” as an almost constant companion. “How can such a process take place without one’s knowledge?” It can and does so happen, and I have almost described it once before in the Theosophist.

“Đây là một câu chuyện ác mộng!” Tôi thường được một người, nay không còn trong hàng ngũ chúng ta, nói như vậy; người ấy có một “Kẻ Chận Ngõ”, một “Ông Hyde”, rất rõ rệt, như một bạn đồng hành gần như thường xuyên. “Làm sao một tiến trình như thế có thể diễn ra mà người ta không biết?” Nó có thể và thật sự xảy ra như vậy, và tôi gần như đã mô tả nó một lần trước đây trong Theosophist.

The Soul, the lower Mind, becomes as a half animal principle almost paralyzed with daily vice, and grows gradually unconscious of its subjective half, the Lord, one of the mighty Host; [and] in proportion to the rapid sensuous development of the brain and nerves, sooner or later, it (the personal Soul) finally loses sight of its divine mission on earth.

Linh hồn, tức hạ trí, trở thành một nguyên khí nửa động vật gần như tê liệt vì thói xấu hằng ngày, và dần dần trở nên vô thức đối với nửa chủ quan của nó, là Chúa Tể, một trong Đạo quân hùng mạnh; và tùy theo sự phát triển cảm giác nhanh chóng của bộ não và thần kinh, sớm hay muộn, nó, tức Linh hồn cá nhân, cuối cùng đánh mất tầm nhìn về sứ mệnh thiêng liêng của mình trên cõi đất.

Truly,

Quả thật,

Like the vampire, the brain feeds and lives and grows in strength at the expense of its spiritual parent… and the personal half-unconscious Soul becomes senseless, beyond hope of redemption. It is powerless to discern the voice of its God. It aims but at the development and fuller comprehension of natural, earthly life; and thus can discover but the mysteries of physical nature…. It begins by becoming virtually dead, during the life of the body; and ends by dying completely—that is, by being annihilated as a complete immortal Soul. Such a catastrophe may often happen long years before one’s physical death: “We elbow soulless men and women at every step in life.” And when death arrives… there is no more a Soul (the reincarnating Spiritual Ego) to liberate… for it has fled years before.

Như ma cà rồng, bộ não nuôi dưỡng, sống và lớn mạnh nhờ làm hao tổn cha mẹ tinh thần của nó… và Linh hồn cá nhân nửa vô thức trở nên vô cảm, vượt ngoài hy vọng cứu chuộc. Nó bất lực trong việc phân biện tiếng nói của Thượng đế mình. Nó chỉ nhắm tới sự phát triển và thấu hiểu đầy đủ hơn đời sống tự nhiên, trần thế; và như vậy chỉ có thể khám phá các bí nhiệm của thiên nhiên hồng trần…. Nó bắt đầu bằng cách trở nên hầu như đã chết trong suốt đời sống của thể xác; và kết thúc bằng việc chết hoàn toàn — tức là bị hủy diệt như một Linh hồn bất tử trọn vẹn. Tai họa như thế thường có thể xảy ra nhiều năm trước cái chết hồng trần của một người: “Ở mỗi bước trong đời, chúng ta chen vai với những người nam và nữ vô hồn.” Và khi cái chết đến… không còn Linh hồn nào, tức Chân ngã Tinh thần luân hồi, để được giải thoát… vì nó đã trốn đi nhiều năm trước.

Result: Bereft of its guiding Principles, but strengthened by the material elements, Kâma-Manas, from being a “derived light” now becomes an independent Entity. After thus suffering itself to sink lower and lower on the animal plane, when the hour strikes for its earthly body to die, one of two things happens: either Kâma-Manas is immediately reborn in Myalba, the state of Avîtchi on earth, 849 or, if it become too strong in evil— “immortal in Satan” is the Occult expression—it is sometimes allowed, for Karmic purposes, to remain in an active state of Avîtchi in the terrestrial Aura. Then through despair and loss of all hope it becomes like the mythical “devil” in its endless wickedness; it continues in its elements, which are imbued through and through with the essence of Matter; for evil is coeval with Matter rent asunder from Spirit. And when its Higher Ego has once more reincarnated, evolving a new reflection, or Kâma-Manas, the doomed lower Ego, like a Frankenstein’s monster, will ever feel attracted to its Father, who repudiates his son, and will become a regular “Dweller on the Threshold” of terrestrial life. I gave the outlines of the Occult doctrine in the Theosophist of October, 1881, and November, 1882, but could not go into details, and therefore got very much embarrassed when called upon to explain. Yet I have written there plainly enough about “useless drones,” those who refuse to become co-workers with Nature and who perish by millions during the Manvantaric life-cycle; those, as in the case in hand, who prefer to be ever suffering in Avîtchi under Karmic law rather than give up their lives “in evil,” and finally, those who are co-workers with Nature for destruction. These are thoroughly wicked and depraved men, but yet as highly intellectual and acutely spiritual for evil, as those who are spiritual for good.

Kết quả: Bị tước mất các Nguyên khí hướng dẫn, nhưng được tăng cường bởi các yếu tố vật chất, Kama-Manas, từ chỗ là một “ánh sáng phái sinh”, nay trở thành một Thực Thể độc lập. Sau khi để cho mình chìm xuống càng lúc càng thấp trên cõi động vật, khi giờ điểm để thể xác trần gian của nó chết đi, một trong hai điều xảy ra: hoặc Kama-Manas lập tức tái sinh trong Myalba, trạng thái Avichi trên trần gian, hoặc, nếu nó trở nên quá mạnh trong điều ác — “bất tử trong Satan” là cách diễn đạt huyền bí — đôi khi nó được phép, vì các mục đích nghiệp quả, ở lại trong một trạng thái Avichi hoạt động trong Hào quang địa cầu. Khi đó, qua tuyệt vọng và mất hết mọi hy vọng, nó trở nên giống như “ác quỷ” huyền thoại trong sự gian ác vô tận; nó tiếp tục tồn tại trong các yếu tố của nó, vốn thấm đẫm từ đầu đến cuối tinh chất của Vật Chất; vì điều ác đồng thời với Vật Chất bị xé lìa khỏi Tinh Thần. Và khi Chân ngã Cao Siêu của nó một lần nữa tái lâm phàm, phát triển một phản ảnh mới, hay Kama-Manas, thì phàm ngã bị kết án, giống như quái vật của Frankenstein, sẽ luôn cảm thấy bị hút về với Cha của nó, Đấng chối bỏ người con của mình, và sẽ trở thành một “Kẻ Chận Ngõ” thường trực của sự sống trần gian. Tôi đã đưa ra những nét phác thảo của giáo lý huyền bí trong tờ Theosophist tháng Mười, 1881, và tháng Mười Một, 1882, nhưng không thể đi vào chi tiết, và vì thế đã rất lúng túng khi được yêu cầu giải thích. Tuy nhiên, ở đó tôi đã viết đủ rõ về những “con ong đực vô dụng”, tức những kẻ từ chối trở thành người cộng tác với Thiên Nhiên và bị tiêu diệt từng triệu trong chu kỳ sự sống Manvantara; những kẻ, như trong trường hợp đang bàn, thích mãi chịu đau khổ trong Avichi dưới định luật nghiệp quả hơn là từ bỏ đời sống của mình “trong điều ác”; và sau cùng, những kẻ là người cộng tác với Thiên Nhiên để phá hoại. Đây là những người hoàn toàn gian ác và suy đồi, nhưng lại có trí năng cao và sắc bén tinh thần cho điều ác, chẳng khác nào những người tinh thần hướng về điều thiện.

The (lower) Egos of these may escape the law of final destruction or annihilation for ages to come.

Các Chân ngã thấp của những người này có thể thoát khỏi định luật hủy diệt hay tiêu vong cuối cùng trong nhiều thời đại sắp tới.

Thus we find two kinds of soulless beings on earth: those who have lost their Higher Ego in the present incarnation, and those who are born soulless, having been severed from their Spiritual Soul in the preceding birth. The former are candidates for Avîtchi; the latter are “Mr. Hydes,” whether in or out of human bodies, whether incarnated or hanging about as invisible though potent ghouls. In such men, cunning develops to an enormous degree, and no one except those who are familiar with the doctrine would suspect them of being soulless, for neither Religion nor Science has the least suspicion that such facts actually exist in Nature.

Như vậy, chúng ta thấy có hai loại sinh linh vô hồn trên Trái Đất: những kẻ đã mất Chân ngã Cao Siêu trong kiếp lâm phàm hiện tại, và những kẻ sinh ra đã vô hồn, vì đã bị cắt lìa khỏi Linh hồn Tinh thần của mình trong kiếp trước. Loại trước là những ứng viên của Avichi; loại sau là những “ông Hyde”, dù ở trong hay ở ngoài thể người, dù đã nhập thể hay lảng vảng như những ma cà rồng vô hình nhưng đầy quyền năng. Trong những người như thế, sự xảo quyệt phát triển đến mức khổng lồ, và không ai ngoài những người quen thuộc với giáo lý này lại nghi ngờ họ là vô hồn, vì cả Tôn giáo lẫn Khoa học đều không hề ngờ rằng những sự kiện như thế thực sự tồn tại trong Thiên Nhiên.

There is, however, still hope for a person who has lost his Higher Soul through his vices, while he is yet in the body. He may be still redeemed and made to turn on his material nature. For either an intense feeling of repentance, or one single earnest appeal to the Ego that has fled, or best of all, an active effort to amend one’s ways, may bring the Higher Ego back again. The thread of connection is not altogether broken, though the Ego is now beyond forcible reach, for “Antahkarana is destroyed,” and the personal Entity has one foot already in Myalba; 850 yet it is not entirely beyond hearing a strong spiritual appeal. There is another statement made in Isis Unveiled 851 on this subject. It is said that this terrible death may be sometimes avoided by the knowledge of the mysterious Name, the “Word.” 852 What this “Word,” which is not a “Word” but a Sound, is, you all know. Its potency lies in the rhythm or the accent. This means simply that even a bad person may, by the study of the Sacred Science, be redeemed and stopped on the path of destruction. But unless he is in thorough union with his Higher Ego, he may repeat it, parrot-like, ten thousand times a day, and the “Word” will not help him. On the contrary, if not entirely at one with his Higher Triad, it may produce quite the reverse of a beneficent effect, the Brothers of the Shadow using it very often for malicious objects; in which case it awakens and stirs up naught but the evil, material elements of Nature. But if one’s nature is good, and sincerely strives towards the Higher Self, which is that Aum, through one’s Higher Ego, which is its third letter, and Buddhi the second, there is no attack of the Dragon Apophis which it will not repel. From those to whom much is given much is expected. He who knocks at the door of the Sanctuary in full knowledge of its sacredness, and after obtaining admission, departs from the threshold, or turns round and says, “Oh, there’s nothing in it!” and thus loses his chance of learning the whole truth—can but await his Karma.

Tuy nhiên, vẫn còn hy vọng cho một người đã mất Linh hồn Cao Siêu của mình do các thói xấu, khi y còn ở trong thể xác. Y vẫn có thể được cứu chuộc và được khiến quay lại chống với bản chất vật chất của mình. Vì hoặc một cảm xúc hối cải mãnh liệt, hoặc một lời kêu gọi chân thành duy nhất hướng đến Chân ngã đã lìa đi, hoặc tốt nhất là một nỗ lực tích cực để sửa đổi đường lối của mình, có thể đưa Chân ngã Cao Siêu trở lại. Sợi dây liên kết chưa hoàn toàn đứt đoạn, dù Chân ngã nay đã ở ngoài tầm cưỡng bức, vì “Antahkarana đã bị phá hủy”, và Thực Thể cá nhân đã đặt một chân trong Myalba; tuy thế, nó vẫn chưa hoàn toàn vượt ngoài khả năng nghe được một lời kêu gọi tinh thần mạnh mẽ. Có một phát biểu khác trong Isis Unveiled về đề tài này. Người ta nói rằng cái chết khủng khiếp này đôi khi có thể tránh được nhờ tri thức về Danh huyền nhiệm, tức “Linh từ”. “Linh từ” này là gì, vốn không phải là một “Linh từ” mà là một Âm Thanh, tất cả các bạn đều biết. Quyền năng của nó nằm trong nhịp điệu hay trọng âm. Điều này đơn giản có nghĩa là ngay cả một người xấu cũng có thể, nhờ nghiên cứu Khoa Học Thiêng Liêng, được cứu chuộc và được chặn lại trên con đường hủy diệt. Nhưng nếu y không hoàn toàn hợp nhất với Chân ngã Cao Siêu của mình, y có thể lặp lại nó như con vẹt mười ngàn lần mỗi ngày, và “Linh từ” sẽ không giúp y. Trái lại, nếu không hoàn toàn là một với Tam nguyên tinh thần Cao Siêu của mình, nó có thể tạo ra một hiệu quả hoàn toàn ngược lại với điều thiện ích, vì các Huynh đệ của Bóng Tối rất thường dùng nó cho các mục tiêu ác ý; trong trường hợp ấy, nó không đánh thức và khuấy động gì ngoài các yếu tố tà ác, vật chất của Thiên Nhiên. Nhưng nếu bản chất của một người là tốt, và chân thành nỗ lực hướng về Bản Ngã Cao Siêu, vốn là Aum ấy, thông qua Chân ngã Cao Siêu của mình, vốn là mẫu tự thứ ba của nó, và Bồ đề là mẫu tự thứ hai, thì không có cuộc tấn công nào của Rồng Apophis mà nó không đẩy lui được. Ai được ban cho nhiều thì bị đòi hỏi nhiều. Kẻ gõ cửa Thánh Điện với sự hiểu biết đầy đủ về tính thiêng liêng của nó, và sau khi được nhận vào, lại rời khỏi ngưỡng cửa, hoặc quay lại và nói: “Ồ, trong đó chẳng có gì cả!” và như thế đánh mất cơ hội học biết toàn thể chân lý — thì chỉ còn có thể chờ đợi nghiệp quả của mình.

Such are then the Esoteric explanations of that which has perplexed so many who have found what they thought contradictions in various Theosophical writings, including “Fragments of Occult Truth,” in vols. iii. and iv. of The Theosophist, etc. Before finally dismissing the subject, I must add a caution, which pray keep well in mind. It will be very natural for those of you who are Esotericists to hope that none of you belong so far to the soulless portion of mankind, and that you can feel quite easy about Avîtchi, even as the good citizen is about the penal laws. Though not, perhaps, exactly on the Path as yet, you are skirting its border, and many of you in the right direction. Between such venal faults as are inevitable under our social environment, and the blasting wickedness described in the Editor’s note on Éliphas Lévi’s “Satan,” 853 there is an abyss. If not become “immortal in good by identification with (our) God,” or Aum, Âtmâ-Buddhi-Manas, we have surely not made ourselves “immortal in evil” by coalescing with Satan, the lower Self. You forget, however, that everything must have a beginning; that the first step on a slippery mountain slope is the necessary antecedent to one’s falling precipitately to the bottom and into the arms of death. Be it far from me the suspicion that any of the Esoteric students have reached to any considerable point down the plane of spiritual descent. All the same I warn you to avoid taking the first step. You may not reach the bottom in this life or the next, but you may now generate causes which will insure your spiritual destruction in your third, fourth, fifth, or even some subsequent birth. In the great Indian epic you may read how a mother whose whole family of warrior sons were slaughtered in battle, complained to Krishna that though she had the spiritual vision to enable her to look back fifty incarnations, yet she could see no sin of hers that could have begotten so dreadful a Karma; and Krishna answered her: “If thou could’st look back to thy fifty-first anterior birth, as I can, thou would’st see thyself killing in wanton cruelty the same number of ants as that of the sons thou hast now lost.” This, of course, is only a poetical exaggeration; yet it is a striking image to show how great results come from apparently trifling causes.

Như vậy, đó là những giải thích nội môn về điều đã làm bối rối rất nhiều người, những người đã tìm thấy điều họ tưởng là các mâu thuẫn trong nhiều tác phẩm Thông Thiên Học khác nhau, kể cả “Những Mảnh Vụn của Chân Lý Huyền Bí”, trong các tập iii và iv của The Theosophist, vân vân. Trước khi dứt khoát khép lại đề tài này, tôi phải thêm một lời cảnh báo, xin hãy ghi nhớ kỹ. Sẽ rất tự nhiên khi những người trong các bạn là nhà bí truyền học hy vọng rằng không ai trong các bạn cho đến nay thuộc về phần vô hồn của nhân loại, và rằng các bạn có thể hoàn toàn yên tâm về Avichi, cũng như người công dân lương thiện yên tâm về các luật hình sự. Dù có lẽ các bạn chưa thật sự ở trên Đường Đạo, nhưng các bạn đang men theo bờ của nó, và nhiều người trong các bạn đi đúng hướng. Giữa những lỗi lầm có thể mua chuộc được, vốn không tránh khỏi trong môi trường xã hội của chúng ta, và sự gian ác tàn phá được mô tả trong ghi chú của Biên tập viên về “Satan” của Eliphas Levi, có một vực thẳm. Nếu chúng ta chưa trở nên “bất tử trong điều thiện bằng sự đồng hoá với Thượng đế của mình”, hay Aum, Atma-Buddhi-Manas, thì chắc chắn chúng ta cũng chưa làm cho mình “bất tử trong điều ác” bằng cách hợp nhất với Satan, phàm ngã. Tuy nhiên, các bạn quên rằng mọi sự đều phải có một khởi đầu; rằng bước đầu tiên trên sườn núi trơn trượt là tiền đề tất yếu cho việc một người rơi thẳng xuống đáy và vào vòng tay của cái chết. Tôi không hề nghi ngờ rằng bất cứ đạo sinh nội môn nào đã đạt đến một điểm đáng kể nào đó xuống cõi suy thoái tinh thần. Dẫu vậy, tôi cảnh báo các bạn hãy tránh bước đi bước đầu tiên. Các bạn có thể không chạm đáy trong kiếp này hay kiếp sau, nhưng nay các bạn có thể tạo ra những nguyên nhân sẽ bảo đảm sự hủy diệt tinh thần của các bạn trong lần sinh thứ ba, thứ tư, thứ năm, hoặc thậm chí một lần sinh sau đó nữa. Trong đại sử thi Ấn Độ, các bạn có thể đọc thấy chuyện một người mẹ, toàn bộ gia đình gồm những người con trai chiến binh của bà đều bị giết trong trận chiến, đã than phiền với Krishna rằng dù bà có linh thị tinh thần cho phép bà nhìn lui năm mươi kiếp lâm phàm, bà vẫn không thấy tội lỗi nào của mình có thể sinh ra một nghiệp quả khủng khiếp như thế; và Krishna đáp với bà: “Nếu ngươi có thể nhìn lui đến kiếp trước thứ năm mươi mốt của ngươi, như ta có thể, ngươi sẽ thấy chính ngươi đã giết với sự tàn nhẫn vô cớ đúng số kiến bằng với số con trai mà nay ngươi đã mất.” Dĩ nhiên, đây chỉ là một sự phóng đại thi ca; tuy thế, đó là một hình ảnh nổi bật để cho thấy những kết quả lớn lao phát sinh từ những nguyên nhân dường như nhỏ nhặt.

Good and evil are relative, and are intensified or lessened according to the conditions by which man is surrounded. One who belongs to that which we call the “useless portion of mankind,” that is to say, the lay majority, is in many cases irresponsible. Crimes committed in Avidyâ, or ignorance, involve physical but not moral responsibilities or Karma. Take, for example, the case of idiots, children, savages, and people who know no better. But the case of each who is pledged to the Higher Self is quite another matter. You cannot invoke this Divine Witness with impunity, and once that you have put yourselves under its tutelage, you have asked the Radiant Light to shine and search through all the dark corners of your being; consciously you have invoked the Divine Justice of Karma to take note of your motive, to scrutinize your actions, and to enter up all in your account. The step is irrevocable as that of the infant taking birth. Never again can you force yourselves back into the matrix of Avidyâ and irresponsibility. Though you flee to the uttermost parts of the earth, and hide yourselves from the sight of men, or seek oblivion in the tumult of the social whirl, that Light will find you out and lighten your every thought, word and deed. All H. P. B. can do is to send to each earnest one among you a most sincerely fraternal sympathy and hope for a good outcome to your endeavours. Nevertheless, be not discouraged, but try, ever keep trying; 854 twenty failures are not irremediable if followed by as many undaunted struggles upward. Is it not so that mountains are climbed? And know further, that if Karma relentlessly records in the Esotericist’s account, bad deeds that in the ignorant would be overlooked, yet, equally true is it that each of his good deeds is, by reason of his association with the Higher Self, a hundredfold intensified as a potentiality for good.

Thiện và ác là tương đối, và được tăng cường hay giảm bớt tùy theo các điều kiện bao quanh con người. Một người thuộc về điều chúng ta gọi là “phần vô dụng của nhân loại”, nghĩa là đa số cư sĩ, trong nhiều trường hợp là vô trách nhiệm. Những tội lỗi phạm trong Avidya, hay vô minh, kéo theo trách nhiệm hồng trần nhưng không kéo theo trách nhiệm đạo đức hay nghiệp quả. Hãy lấy, chẳng hạn, trường hợp của những người ngu đần, trẻ em, người man dã, và những người không biết gì hơn. Nhưng trường hợp của mỗi người đã nguyện hiến mình cho Bản Ngã Cao Siêu lại là vấn đề hoàn toàn khác. Các bạn không thể khẩn cầu Nhân Chứng Thiêng Liêng này mà không chịu hậu quả, và một khi các bạn đã đặt mình dưới sự dìu dắt của nó, các bạn đã xin Ánh Sáng Rạng Ngời chiếu soi và thấu xét mọi góc tối trong hiện tồn của mình; một cách hữu thức, các bạn đã khẩn cầu Công Lý Thiêng Liêng của nghiệp quả ghi nhận động cơ của các bạn, xem xét kỹ các hành động của các bạn, và ghi tất cả vào sổ sách của các bạn. Bước đi ấy không thể đảo ngược, cũng như đứa trẻ đã chào đời. Các bạn không bao giờ còn có thể cưỡng ép mình trở lại vào khuôn mẫu của Avidya và sự vô trách nhiệm. Dù các bạn trốn đến tận cùng Trái Đất, và ẩn mình khỏi tầm mắt loài người, hoặc tìm sự quên lãng trong cơn náo động của vòng xoáy xã hội, Ánh Sáng ấy sẽ tìm ra các bạn và soi sáng mọi tư tưởng, lời nói và hành động của các bạn. Tất cả những gì H. P. B. có thể làm là gửi đến mỗi người chân thành trong các bạn một niềm cảm thông huynh đệ hết sức chân thật và hy vọng về một kết quả tốt đẹp cho những nỗ lực của các bạn. Tuy nhiên, đừng nản lòng, mà hãy cố gắng, luôn tiếp tục cố gắng; hai mươi lần thất bại không phải là không thể cứu vãn nếu tiếp theo là bấy nhiêu cuộc phấn đấu không nao núng hướng lên. Chẳng phải người ta leo núi như thế sao? Và hãy biết thêm rằng, nếu nghiệp quả ghi chép không khoan nhượng vào sổ sách của nhà bí truyền học những hành vi xấu mà ở người vô minh sẽ bị bỏ qua, thì cũng đúng như vậy, mỗi hành vi tốt của y, do sự liên hệ của y với Bản Ngã Cao Siêu, được tăng cường gấp trăm lần như một tiềm năng cho điều thiện.

Finally, keep ever in mind the consciousness that though you see no Master by your bedside, nor hear one audible whisper in the silence of the still night, yet the Holy Power is about you, the Holy Light is shining into your hour of spiritual need and aspirations, and it will be no fault of the Masters, or of their humble mouthpiece and servant, if through perversity or moral feebleness some of you cut yourselves off from these higher potencies, and step upon the declivity that leads to Avîtchi.

Sau cùng, hãy luôn giữ trong tâm thức ý thức rằng dù các bạn không thấy Chân sư nào bên giường mình, cũng không nghe một lời thì thầm khả thính nào trong sự im lặng của đêm tĩnh mịch, thì Quyền Năng Thiêng Liêng vẫn ở quanh các bạn, Ánh Sáng Thiêng Liêng vẫn chiếu vào giờ phút nhu cầu và khát vọng tinh thần của các bạn; và sẽ không phải là lỗi của các Chân sư, hay của phát ngôn viên và người phụng sự khiêm tốn của các Ngài, nếu vì sự ngoan cố hay yếu đuối đạo đức mà một số các bạn tự cắt lìa mình khỏi những quyền năng cao siêu này, và bước lên triền dốc dẫn đến Avichi.

Footnotes 8

767.

767.

See supra, ii. 188, 189.

Xem ở trên, ii. 188, 189.

768.

768.

Wilson’s translation, as amended by Fitzedward Hall, i. 40.

Bản dịch của Wilson, do Fitzedward Hall hiệu đính, i. 40.

769.

769.

Prâna is in reality the universal Life Principle.

Prâna thật ra là Nguyên khí Sự sống vũ trụ.

770.

770.

All the uterine contents, having a direct spiritual connection with their cosmic antetypes, are, on the physical plane, potent objects in Black Magic, and are therefore considered unclean.

Toàn bộ các thành phần trong tử cung, vì có liên hệ tinh thần trực tiếp với các nguyên mẫu vũ trụ của chúng, nên trên cõi hồng trần là những đối tượng đầy quyền năng trong Hắc thuật, và vì thế bị xem là ô uế.

771.

771.

See supra, ii. Part I.

Xem ở trên, ii. Phần I.

772.

772.

The Solar System or the Earth, as the case may be.

Hệ mặt trời hay Trái Đất, tùy trường hợp.

773.

773.

So are the animals, the plants, and even the minerals. Reichenbach never understood what he learned through his sensitives and clairvoyants. It is the odic, or rather the auric or magnetic fluid which emanates from man, but it is also something more.

Các loài vật, cây cối, và ngay cả khoáng vật cũng như vậy. Reichenbach chưa bao giờ thấu hiểu điều ông học được qua các người nhạy cảm và thông nhãn của mình. Đó chính là lưu chất odic, hay đúng hơn là lưu chất hào quang hoặc từ tính, phát xạ từ con người, nhưng nó cũng còn là một điều gì hơn thế nữa.

774.

774.

See supra, i. 181, for the Vedântic exoteric enumeration.

Xem ở trên, i. 181, về bảng liệt kê ngoại môn Vedânta.

775.

775.

See Lucifer, January, 1889, “Dialogue upon the Mysteries of After-Life.”

Xem Lucifer, tháng Giêng, 1889, “Đối thoại về các Bí nhiệm của Đời sống Sau Khi Chết.”

776.

776.

See supra, i, 626-629.

Xem ở trên, i, 626-629.

777.

777.

See supra, i, 228, et seq., and ii. passim.

Xem ở trên, i, 228, và tiếp theo, và ii. nhiều chỗ.

778.

778.

Op. cit., ii, 456, 461, 465 et seq.

Tác phẩm đã dẫn., ii, 456, 461, 465 và tiếp theo

779.

779.

Jod-Hevah, or male-female on the terrestrial plane, as invented by the Jews, and now made out to mean Jehovah; but signifying in reality and literally, “giving being” and “receiving life.”

Jod-Hevah, hay nam-nữ trên cõi trần gian, như người Do Thái đã đặt ra, và nay bị giải thành Jehovah; nhưng thật ra và theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “ban cho hiện hữu” và “tiếp nhận sự sống.”

780.

780.

See Notice sur le Calendrier, J. H. Ragon.

Xem Notice sur le Calendrier, J. H. Ragon.

781.

781.

See supra, ii. 373; and 152, et seq.

Xem ở trên, ii. 373; và 152, và tiếp theo

782.

782.

See supra, ii. 302, et seq.

Xem ở trên, ii. 302, và tiếp theo

783.

783.

Op. cit., ii. 81, 6.

Tác phẩm đã dẫn., ii. 81, 6.

784.

784.

See Frank’s Die Kabbala, p. 314, et seq.

Xem Die Kabbala của Frank, tr. 314, và tiếp theo

785.

785.

Genesis, ii. 7.

Genesis, ii. 7.

786.

786.

Supra, i. 147.

Ở trên, i. 147.

787.

787.

We may refer for confirmation to Origen’s works, who says that “the seven ruling daimons” (genii or planetary rulers) are Michael, the Sun (the lion-like); the second in order, the Bull, Jupiter or Suriel, etc.; and all these, the “Seven of the Presence,” are the Sephiroth. The Sephirothal Tree is the Tree of the Divine Planets as given by Porphyry, or Porphyry’s Tree, as it is usually called.

Để xác nhận, chúng ta có thể viện dẫn các tác phẩm của Origen, người nói rằng “bảy daimon cai quản” (các thiên tài hay các chủ tinh hành tinh) là Michael, Mặt Trời (giống sư tử); vị thứ hai theo thứ tự, Bò Mộng, Sao Mộc hay Suriel, v.v.; và tất cả những vị này, “Bảy của Hiện Diện,” là Sephiroth. Cây Sephiroth là Cây của các Hành Tinh Thiêng Liêng như Porphyry đã đưa ra, hay Cây của Porphyry, như thường được gọi.

788.

788.

Supra, i, 147.

Ở trên, i, 147.

789.

789.

Esoterically, green, there being no black in the prismatic ray.

Một cách huyền bí, là màu xanh lá cây, vì không có màu đen trong cung lăng kính.

790.

790.

Esoterically, light blue. As a pigment, purple is a compound of red and blue, and in Eastern Occultism blue is the spiritual essence of the colour purple, while red is its material basis. In reality, Occultism makes Jupiter blue because he is the son of Saturn, which is green, and light blue as a prismatic colour contains a great deal of green. Again, the Auric Body will contain much of the colour of the Lower Manas if the man is a material sensualist, just as it will contain much of the darker hue if the Higher Manas has preponderance over the Lower.

Một cách huyền bí, là màu xanh lam nhạt. Với tư cách sắc tố, màu tím là hợp chất của đỏ và xanh lam, và trong Huyền bí học phương Đông, xanh lam là tinh chất tinh thần của màu tím, trong khi đỏ là nền tảng vật chất của nó. Thật ra, Huyền bí học khiến Sao Mộc có màu xanh lam vì nó là con của Sao Thổ, vốn có màu xanh lá cây, và xanh lam nhạt với tư cách màu lăng kính chứa rất nhiều xanh lá cây. Lại nữa, Thể Hào Quang sẽ chứa nhiều màu sắc của Hạ Manas nếu con người là kẻ duy vật nhục dục, cũng như nó sẽ chứa nhiều sắc tối hơn nếu Thượng Manas chiếm ưu thế trên Hạ Manas.

791.

791.

Esoterically, the Sun cannot correspond with the eye, nose, or any other organ, since, as explained, it is no planet, but a central star. It was adopted as a planet by the post-Christian Astrologers, who had never been initiated. Moreover, the true colour of the Sun is blue, and it appears yellow only owing to the effect of the absorption of vapours (chiefly metallic) by its atmosphere. All is Mâyâ on our Earth.

Một cách huyền bí, Mặt Trời không thể tương ứng với mắt, mũi, hay bất kỳ cơ quan nào khác, vì như đã giải thích, nó không phải là một hành tinh, mà là một ngôi sao trung tâm. Nó đã được các nhà Chiêm tinh sau thời Ki-tô giáo chấp nhận như một hành tinh, vì họ chưa bao giờ được điểm đạo. Hơn nữa, màu thật của Mặt Trời là xanh lam, và nó chỉ hiện ra màu vàng do tác động hấp thụ hơi nước (chủ yếu là kim loại) bởi khí quyển của nó. Tất cả đều là Mâyâ trên Trái Đất của chúng ta.

792.

792.

Esoterically, indigo, or dark blue, which is the complement of yellow in the prism. Yellow is a simple or primitive colour. Manas being dual in its nature—as is its sidereal symbol, the planet Venus, which is both the morning and evening star—the difference between the higher and the lower principles of Manas, whose essence is derived from the Hierarchy ruling Venus, is denoted by the dark blue and green. Green, the Lower Manas, resembles the colour of the solar spectrum which appears between the yellow and the dark blue, the Higher Spiritual Manas. Indigo is the intensified colour of the heaven or sky, to denote the upward tendency of Manas toward Buddhi, or the heavenly Spiritual Soul. This colour is obtained from the indigofera tinctoria, a plant of the highest occult properties in India, much used in White Magic, and occultly connected with copper. This is shown by the indigo assuming a copper lustre, especially when rubbed on any hard substance. Another property of the dye is that it is insoluble in water and even in ether, being lighter in weight than any known liquid. No symbol has ever been adopted in the East without being based upon a logical and demonstrable reason. Therefore Eastern Symbologists, from the earliest ages, have connected the spiritual and the animal minds of man, the one with dark blue (Newton’s indigo), or true blue, free from green; and the other with pure green.

Một cách huyền bí, là màu chàm, hay xanh lam đậm, vốn là phần bổ sung của màu vàng trong lăng kính. Màu vàng là một màu đơn giản hay nguyên thủy. Vì Manas có bản chất nhị nguyên—cũng như biểu tượng tinh tú của nó, hành tinh Sao Kim, vừa là sao mai vừa là sao hôm—sự khác biệt giữa các nguyên khí cao và thấp của Manas, mà tinh chất được rút ra từ Thánh Đoàn cai quản Sao Kim, được biểu thị bằng xanh lam đậm và xanh lá cây. Xanh lá cây, Hạ Manas, giống màu của quang phổ mặt trời xuất hiện giữa màu vàng và xanh lam đậm, tức Thượng Manas Tinh Thần. Màu chàm là màu được tăng cường của thiên đường hay bầu trời, để biểu thị khuynh hướng đi lên của Manas hướng về Bồ đề, hay Linh hồn Tinh thần thiên thượng. Màu này thu được từ indigofera tinctoria, một loài cây có các đặc tính huyền bí cao nhất ở Ấn Độ, được dùng nhiều trong Chánh Thuật, và có liên hệ huyền bí với đồng. Điều này được chứng tỏ qua việc màu chàm mang ánh đồng, đặc biệt khi được chà xát trên bất kỳ chất cứng nào. Một đặc tính khác của thuốc nhuộm này là nó không tan trong nước và ngay cả trong dĩ thái, vì có trọng lượng nhẹ hơn bất kỳ chất lỏng nào đã biết. Chưa từng có biểu tượng nào được chấp nhận ở phương Đông mà không dựa trên một lý do hợp lý và có thể chứng minh. Do đó, từ những thời đại xa xưa nhất, các nhà biểu tượng học phương Đông đã liên kết trí tuệ tinh thần và trí tuệ động vật của con người, một bên với xanh lam đậm (màu chàm của Newton), hay xanh lam chân thực, không pha xanh lá; và bên kia với xanh lá thuần khiết.

793.

793.

Esoterically, yellow, because the colour of the Sun is orange, and Mercury now stands next to the Sun in distance, as it does in colour. The planet for which the Sun is a substitute was still nearer the Sun than Mercury now is, and was one of the most secret and highest planets. It is said to have become invisible at the close of the Third Race.

Một cách huyền bí, là màu vàng, vì màu của Mặt Trời là cam, và Sao Thủy hiện đứng kế Mặt Trời về khoảng cách, cũng như về màu sắc. Hành tinh mà Mặt Trời thay thế trước kia còn gần Mặt Trời hơn cả Sao Thủy hiện nay, và là một trong những hành tinh bí mật nhất và cao nhất. Người ta nói nó đã trở nên vô hình vào cuối Giống dân thứ Ba.

794.

794.

Esoterically, violet, because, perhaps, violet is the colour assumed by a ray of sunlight when transmitted through a very thin plate of silver, and also because the Moon shines upon the Earth with light borrowed from the Sun, as the human body shines with qualifications borrowed from its double—the aërial man. As the astral shadow starts the series of principles in man, on the terrestrial plane, up to the lower, animal Manas, so the violet ray starts the series of prismatic colours from its end up to green, both being, the one as a principle and the other as a colour, the most refrangible of all the principles and colours. Besides which, there is the same great Occult mystery attached to all these correspondences, both celestial and terrestrial bodies, colours and sounds. In clearer words, there exists the same law of relation between the Moon and the Earth, the astral and the living body of man, as between the violet end of the prismatic spectrum and the indigo and the blue. But of this more anon.

Một cách huyền bí, là màu tím, có lẽ vì màu tím là màu mà một tia sáng mặt trời nhận lấy khi truyền qua một tấm bạc rất mỏng, và cũng vì Mặt Trăng chiếu sáng Trái Đất bằng ánh sáng vay mượn từ Mặt Trời, cũng như thể xác con người chiếu sáng bằng các phẩm chất vay mượn từ đối phần của nó—con người khí chất. Như bóng cảm dục khởi đầu chuỗi các nguyên khí trong con người, trên cõi trần gian, lên đến Manas thấp, thuộc động vật, thì cung tím cũng khởi đầu chuỗi các màu lăng kính từ đầu mút của nó lên đến xanh lá cây, cả hai—một với tư cách nguyên khí và một với tư cách màu sắc—đều là những thứ có độ khúc xạ lớn nhất trong tất cả các nguyên khí và màu sắc. Ngoài ra, cùng một huyền nhiệm Huyền bí lớn lao gắn liền với tất cả các tương ứng này, cả các thiên thể và thân thể trần gian, màu sắc và âm thanh. Nói rõ hơn, có cùng một định luật về tương quan giữa Mặt Trăng và Trái Đất, giữa thể cảm dục và thể sống của con người, như giữa đầu tím của quang phổ lăng kính với màu chàm và xanh lam. Nhưng về điều này sẽ nói thêm sau.

795.

795.

Magic, Magia, means, in its spiritual, secret sense, the “Great Life,” or divine life in spirit. The root is magh, as seen in the Sanskrit mahat, Zend maz, Greek megas, and Latin magnus, all signifying “great.”

Huyền thuật, Magia, trong ý nghĩa tinh thần và bí mật của nó, có nghĩa là “Sự Sống Vĩ Đại,” hay sự sống thiêng liêng trong tinh thần. Gốc từ là magh, như thấy trong tiếng Sanskrit mahat, Zend maz, Hy Lạp megas, và Latin magnus, tất cả đều có nghĩa là “vĩ đại.”

796.

796.

Philosophumena, vi. 9.

Philosophumena, vi. 9.

797.

797.

Nous, Epinoia; Phône, Onoma; Logismos, Enthumêsis.

Nous, Epinoia; Phône, Onoma; Logismos, Enthumêsis.

798.

798.

Philosophumena, vi. 12.

Philosophumena, vi. 12.

799.

799.

See supra, sub voce.

Xem ở trên, dưới mục từ.

800.

800.

The Great Revelation (Hê Megalê Apophasis), of which Simon himself is supposed to have been the author.

The Great Revelation (Hê Megalê Apophasis), mà người ta cho rằng chính Simon là tác giả.

801.

801.

Literally, standing opposite each other in rows or pairs.

Theo nghĩa đen, đứng đối diện nhau thành hàng hay thành cặp.

802.

802.

Philosophumena, vi. 18.

Philosophumena, vi. 18.

803.

803.

Op. cit., vi. 18.

Tác phẩm đã dẫn., vi. 18.

804.

804.

Op. cit., i. 13.

Tác phẩm đã dẫn., i. 13.

805.

805.

Op. cit., vi. 17.

Tác phẩm đã dẫn., vi. 17.

806.

806.

Op. cit., i. 5.

Tác phẩm đã dẫn., i. 5.

807.

807.

Philosophumena, vi. 14.

Philosophumena, vi. 14.

808.

808.

At first there are the omphalo-mesenteric vessels, two arteries and two veins, but these afterwards totally disappear, as does the “vascular area” on the Umbilical Vesicle, from which they proceed. As regards the “Umbilical Vessels” proper, the Umbilical Cord ultimately has entwined around it from right to left the one Umbilical Vein which takes the oxygenated blood from the mother to the Fœtus, and two Hypogastric or Umbilical Arteries which take the used-up blood from the Fœtus to the Placenta, the contents of the vessels being the reverse of that which prevails after birth. Thus Science corroborates the wisdom and knowledge of ancient Occultism, for in the days of Simon Magus no man, unless an Initiate, knew anything about the circulation of the blood or about Physiology. While this Paper was being printed, I received two small pamphlets from Dr. Jerome A. Anderson, which were printed in 1884 and 1888, and in which is to be found the scientific demonstration of the fœtal nutrition as advanced in Paper I. Briefly, the Fœtus is nourished by osmosis from the Amniotic Fluid and respires by means of the Placenta. Science knows little or nothing about the Amniotic Fluid and its uses. If any one cares to follow up this question, I would recommend Dr. Anderson’s Remarks on the Nutrition of the Fœtus. (Wood & Co., New York.)

Lúc đầu có các mạch rốn-ruột, hai động mạch và hai tĩnh mạch, nhưng về sau chúng hoàn toàn biến mất, cũng như “vùng mạch máu” trên túi rốn, từ đó chúng phát xuất. Đối với các “mạch rốn” đúng nghĩa, cuối cùng dây rốn có quấn quanh nó, từ phải sang trái, một tĩnh mạch rốn đưa máu đã được dưỡng khí hóa từ mẹ sang thai nhi, và hai động mạch hạ vị hay động mạch rốn đưa máu đã dùng hết từ thai nhi đến nhau thai; nội dung của các mạch này trái ngược với tình trạng diễn ra sau khi sinh. Như vậy, khoa học xác nhận minh triết và tri thức của huyền bí học cổ xưa, vì vào thời Simon Magus, không ai, trừ một điểm đạo đồ, biết gì về sự tuần hoàn của máu hay về sinh lý học. Trong khi bài khảo luận này đang được in, tôi nhận được hai tập sách nhỏ của bác sĩ Jerome A. Anderson, được in vào các năm 1884 và 1888, trong đó có phần chứng minh khoa học về sự dinh dưỡng của thai nhi như đã trình bày trong Bài Khảo Luận I. Tóm lại, thai nhi được nuôi dưỡng bằng thẩm thấu từ dịch ối và hô hấp nhờ nhau thai. Khoa học biết rất ít, hoặc hầu như không biết gì, về dịch ối và các công dụng của nó. Nếu ai muốn theo đuổi vấn đề này, tôi xin giới thiệu tác phẩm của bác sĩ Anderson Những Nhận Xét về Sự Dinh Dưỡng của Thai Nhi. Wood & Co., New York.

809.

809.

Supra, vol. ii.

Xem trên, quyển ii.

810.

810.

See Eusebius, Hist. Eccles., lib. iii. cap. 26.

Xem Eusebius, Lịch sử Giáo hội, quyển iii, chương 26.

811.

811.

De Mysteriis, p. 100, lines 10 to 19; p. 109, fol. 1.

Về các Huyền Nhiệm, tr. 100, dòng 10 đến 19; tr. 109, tờ 1.

812.

812.

De Mysteriis, p. 290, lines 15 to 18, et seq., caps. v. and vii.

Về các Huyền Nhiệm, tr. 290, dòng 15 đến 18, và tiếp theo, các chương v và vii.

813.

813.

Ibid., p. 100, sec. iii, cap. iii.

Cùng tác phẩm, tr. 100, mục iii, chương iii.

814.

814.

See supra, i. 34; i. 4, et seq.; ii. 39, et seq., and 625, et seq.

Xem ở trên, i. 34; i. 4, và tiếp theo; ii. 39, và tiếp theo, và 625, và tiếp theo

815.

815.

The following table lists the wave-lengths in Millimetres, and the number of vibrations in Trillions, of the various colours.

Bảng sau liệt kê bước sóng tính bằng milimét và số rung động tính bằng nghìn tỷ của các màu khác nhau.

Violet extreme: 406, 759

Tím cực biên: 406, 759

Violet: 423, 709

Tím: 423, 709

Violet-Indigo: 439, 683

Tím-Chàm: 439, 683

Indigo: 449, 668

Chàm: 449, 668

Indigo-Blue: 459, 654

Chàm-Lam: 459, 654

Blue: 479, 631

Lam: 479, 631

Blue-Green: 492, 610

Lam-Lục: 492, 610

Green: 512, 586

Lục: 512, 586

Green-Yellow: 532, 564

Lục-Vàng: 532, 564

Yellow: 551, 544

Vàng: 551, 544

Yellow-Orange: 571, 525

Vàng-Cam: 571, 525

Orange: 583, 514

Cam: 583, 514

Orange-Red: 596, 503

Cam-Đỏ: 596, 503

Red: 620, 484

Đỏ: 620, 484

Red-extreme: 645, 465

Đỏ cực biên: 645, 465

816.

816.

See Five Years of Theosophy, pp. 273 to 278.

Xem Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 273 đến 278.

817.

817.

Apud Grêbaut Papyrus Orbiney, p. 101.

Trong Papyrus Orbiney của Grêbaut, tr. 101.

818.

818.

See “Genius,” Lucifer, Nov., 1889, p. 227.

Xem “Thiên tài,” Lucifer, tháng Mười Một, 1889, tr. 227.

819.

819.

See Voice of the Silence, pp. 68 and 94, art. 28, Glossary.

Xem Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 68 và 94, mục 28, Bảng thuật ngữ.

820.

820.

The references to “Nature’s Finer Forces” which follow, have respect to the eight articles which appeared in the pages of the Theosophist and not to the fifteen essays and the translation of a chapter of the Shivâgama which are contained in the book called Nature’s Finer Forces. The Shivâgama in its details is purely Tântric, and nothing but harm can result from any practical following of its precepts. I would most strongly dissuade any student from attempting any of these Hatha Yoga practices, for he will either ruin himself entirely, or throw himself so far back that it will be almost impossible to regain the lost ground in this incarnation. The translation referred to has been considerably expurgated, and even now is hardly fit for publication. It recommends Black Magic of the worst kind, and is the very antipodes of spiritual Râja Yoga. Beware, I say.

Những tham chiếu đến “Các Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên” sau đây liên quan đến tám bài viết xuất hiện trên các trang của Theosophist, chứ không phải đến mười lăm tiểu luận và bản dịch một chương của Shivâgama có trong cuốn sách mang tên Các Mãnh Lực Tinh Tế Hơn của Thiên Nhiên. Shivâgama, trong các chi tiết của nó, thuần túy thuộc Tantra, và mọi sự thực hành theo các giáo huấn của nó chỉ có thể đưa đến tai hại. Tôi mạnh mẽ khuyên mọi đạo sinh không nên thử bất cứ thực hành Hatha Yoga nào trong số này, vì y hoặc sẽ tự hủy hoại hoàn toàn, hoặc sẽ tự đẩy mình lùi lại xa đến mức gần như không thể lấy lại phần đất đã mất trong kiếp này. Bản dịch được nói đến đã bị lược bỏ đáng kể, và ngay cả hiện nay cũng hầu như không thích hợp để xuất bản. Nó khuyến nghị Hắc thuật thuộc loại tệ hại nhất, và hoàn toàn đối nghịch với Raja Yoga tinh thần. Tôi nói: hãy coi chừng.

821.

821.

Prâna, on earth at any rate, is thus but a mode of life, a constant cyclic motion from within outwardly and back again, an out-breathing and in-breathing of the One Life, or Jîva, the synonym of the Absolute and Unknowable Deity. Prâna is not absolute life, or Jîva, but its aspect in a world of delusion. In the Theosophist, May, 1888, p. 478, Prâna is said to be “one stage finer than the gross matter of the earth.”

Prâna, ít nhất trên Trái Đất, như vậy chỉ là một phương thức của sự sống, một chuyển động chu kỳ liên tục từ bên trong ra ngoài rồi trở lại, một hơi thở ra và hít vào của Sự Sống Duy Nhất, hay Jîva, đồng nghĩa với Thượng đế Tuyệt đối và Bất khả tri. Prâna không phải là sự sống tuyệt đối, hay Jîva, mà là phương diện của nó trong một thế giới ảo vọng. Trong Theosophist, tháng Năm, 1888, tr. 478, Prâna được nói là “tinh tế hơn vật chất thô của Trái Đất một cấp.”

822.

822.

Remember that our re-incarnating Egos are called the Mânasaputras, “Sons of Manas” (or Mahat), Intelligence, Wisdom.

Hãy nhớ rằng các Chân ngã tái lâm phàm của chúng ta được gọi là Mânasaputras, “Các Con của Manas” hay Mahat, Trí thông minh, Minh triết.

823.

823.

It is erroneous to call the fourth human principle “Kâma Rûpa.” It is no Rûpa or form at all until after death, but stands for the Kâmic elements in man, his animal desires and passions, such as anger, lust, envy, revenge, etc., the progeny of selfishness and matter.

Gọi nguyên khí thứ tư của con người là “Kâma Rûpa” là sai lầm. Nó hoàn toàn không phải là Rûpa hay hình tướng cho đến sau khi chết, mà chỉ biểu thị các yếu tố Kâma trong con người, những dục vọng và đam mê thú tính của y, như giận dữ, dục tình, ganh tị, trả thù, v.v., là sản phẩm của ích kỷ và vật chất.

824.

824.

Here the world of effects is the Devachanic state, and the world of causes, earth life.

Ở đây, thế giới của các quả là trạng thái Devachan, còn thế giới của các nhân là đời sống trần gian.

825.

825.

It is this Kâma Rûpa alone that can materialize in mediumistic séances, which occasionally happens when it is not the Astral Double or Linga Sharîra, of the medium himself which appears. How, then, can this vile bundle of passions and terrestrial lusts, resurrected by, and gaining consciousness only through the organism of the medium, be accepted as a “departed angel” or the Spirit of a once human body? As well say of the microbic pest which fastens on a person, that it is a sweet departed angel.

Chỉ riêng Kâma Rûpa này mới có thể hiện hình trong các buổi gọi hồn đồng cốt, điều đôi khi xảy ra khi không phải chính bản sao cảm dục hay Linga Sharîra của đồng tử xuất hiện. Vậy làm sao khối ghê tởm gồm những đam mê và dục vọng trần tục này, được làm sống lại nhờ cơ thể của đồng tử và chỉ nhờ đó mới có được tâm thức, lại có thể được chấp nhận như một “thiên thần đã khuất” hay tinh thần của một thể xác từng là con người? Cũng chẳng khác nào nói rằng mầm bệnh vi sinh bám vào một người là một thiên thần đã khuất dịu hiền.

826.

826.

This is accomplished in more or less time, according to the degree in which the personality (whose dregs it now is) was spiritual or material. If spirituality prevailed, then the Larva, or Spook, will fade out very soon; but if the personality was very materialistic, the Kâma Rûpa may last for centuries and—in some, though very exceptional cases—even survive with the help of some of its scattered Skandhas, which are all transformed in time into Elementals. See the Key to Theosophy, pp. 141 et seq., in which work it was impossible to go into details, but where the Skandhas are spoken of as the germs of Karmic effect.

Điều này hoàn tất trong thời gian nhiều hay ít tùy theo mức độ mà phàm ngã, nay nó chỉ còn là phần cặn bã của phàm ngã ấy, đã từng tinh thần hay vật chất. Nếu tinh thần chiếm ưu thế, thì ấu trùng, hay bóng ma, sẽ tan biến rất nhanh; nhưng nếu phàm ngã rất duy vật, Kâma Rûpa có thể tồn tại hàng thế kỷ và, trong một vài trường hợp tuy rất ngoại lệ, thậm chí còn sống sót nhờ một số Skandha rải rác của nó, tất cả cuối cùng đều được chuyển đổi thành các hành khí. Xem Chìa Khóa Thông Thiên Học, tr. 141 và tiếp theo, trong tác phẩm ấy không thể đi vào chi tiết, nhưng các Skandha được nói đến như những mầm của hiệu quả nghiệp quả.

827.

827.

Key to Theosophy, p. 141

Chìa Khóa Thông Thiên Học, tr. 141

828.

828.

Following Shivâgama, the said author enumerates the correspondences in this wise; Âkâsha, Ether, is followed by Vâyu, Gas; Tejas, Heat; Âpas, Liquid; and Prithivî, Solid.

Theo Shivâgama, tác giả nói trên liệt kê các tương ứng như sau: Âkâsha, dĩ thái, được tiếp theo bởi Vâyu, khí; Tejas, nhiệt; Âpas, chất lỏng; và Prithivî, chất rắn.

829.

829.

See Fitz-Edward Hall’s notes on the Vishnu Purâna.

Xem các ghi chú của Fitz-Edward Hall về Vishnu Purâna.

830.

830.

The pair which we refer to as the One Life, the Root of All, and Âkâsha in its pre-differentiating period answers to the Brahma (neuter) and Aditi of some Hindus, and stands in the same relation as the Parabrahman and Mûlaprakriti of the Vedântins.

Cặp mà chúng ta gọi là Sự Sống Duy Nhất, Căn Nguyên của Tất Cả, và Âkâsha trong giai đoạn tiền biến phân của nó, tương ứng với Brahma trung tính và Aditi của một số người Ấn giáo, và đứng trong cùng mối tương quan như Parabrahman và Mûlaprakriti của phái Vedanta.

831.

831.

See above, i. diagram, p. 221.

Xem ở trên, i. sơ đồ, tr. 221.

832.

832.

Anupâdaka, Opapatika in Pâli, means the “parentless,” born without father or mother, from itself, as a transformation, e.g., the God Brahmâ sprung from the Lotus (the symbol of the Universe) that grows from Vishnu’s navel, Vishnu typifiying eternal and limitless Space, and Brahmâ the Universe and Logos; the mythical Buddha is also born from a Lotus.

Anupâdaka, Opapatika trong tiếng Pâli, có nghĩa là “không cha mẹ,” sinh ra không có cha hoặc mẹ, từ chính nó, như một sự chuyển đổi, chẳng hạn, Thượng đế Brahmâ phát sinh từ Hoa sen, biểu tượng của Vũ trụ, mọc từ rốn của Vishnu; Vishnu biểu trưng cho Không gian vĩnh cửu và vô hạn, còn Brahmâ biểu trưng cho Vũ trụ và Thượng đế; Đức Phật huyền thoại cũng sinh ra từ một Hoa sen.

833.

833.

See Theosophist, February, 1888, p. 276.

Xem Theosophist, tháng Hai, 1888, tr. 276.

834.

834.

Sœmmerring, De Acervulo Cerebri, vol. ii. p. 322.

Sœmmerring, De Acervulo Cerebri, quyển ii, tr. 322.

835.

835.

In the Greek Eastern Church no child is allowed to go to confession before the age of seven, after which he is considered to have reached the age of reason.

Trong Giáo hội Hy Lạp Đông phương, không trẻ nào được phép xưng tội trước bảy tuổi; sau tuổi ấy, y được xem là đã đạt đến tuổi biết suy xét.

836.

836.

De Caus. Ep., vol xii.

De Caus. Ep., quyển xii.

837.

837.

Advers. Med., ii. 322.

Advers. Med., ii. 322.

838.

838.

De Lapillis Glandulæ Pinealis in Quinque Ment Alien, 1753.

De Lapillis Glandulæ Pinealis in Quinque Ment Alien, 1753.

839.

839.

See “Stray Thoughts on Death and Satan” in the Theosophist, vol. iii. No. 1; also “Fragments of Occult Truth,” vols. iii. and iv.

Xem “Những Ý Nghĩ Rời về Cái Chết và Satan” trong Theosophist, quyển iii, số 1; cũng xem “Những Mảnh Rời của Chân Lý Huyền Bí,” các quyển iii và iv.

840.

840.

Op. cit., ii. 368, et seq.

Tác phẩm đã dẫn., ii. 368, và tiếp theo

841.

841.

The essence of the Divine Ego is “pure flame,” an entity to which nothing can be added and from which nothing can be taken; it cannot, therefore, be diminished even by countless numbers of lower minds, detached from it like flames from a flame. This is in answer to an objection by an Esotericist who asked whence was that inexhaustible essence of one and the same Individuality which was called upon to furnish a human intellect for every new personality in which it is incarnated.

Tinh chất của Chân ngã Thiêng liêng là “ngọn lửa thuần khiết,” một thực thể mà không gì có thể được thêm vào và không gì có thể bị lấy đi; vì vậy nó không thể bị suy giảm, ngay cả bởi vô số hạ trí được tách ra khỏi nó như những ngọn lửa từ một ngọn lửa. Đây là câu trả lời cho một phản bác của một nhà bí truyền học đã hỏi từ đâu có tinh chất bất tận của một và cùng một Cá Thể ấy, vốn được kêu gọi để cung cấp một trí năng con người cho mỗi phàm ngã mới mà nó lâm phàm trong đó.

842.

842.

The brain, or thinking machinery, is not only in the head, but, as every physiologist who is not quite a materialist will tell you, every organ in man, heart, liver, lungs, etc., down to every nerve and muscle, has, so to speak, its own distinct brain or thinking apparatus. As our brain has naught to do in the guidance of the collective and individual work of every organ in us, what is that which guides each so unerringly in its incessant functions; that make these struggle, and that too with disease, throws it off and acts, each of them, even to the smallest, not in a clock-work manner, as alleged by some materialists (for, at the slightest disturbance or breakage the clock stops), but as an entity endowed with instinct? To say it is Nature is to say nothing, if it is not the enunciation of a fallacy; for Nature after all is but a name for these very same functions, the sum of the qualities and attributes, physical, mental, etc., in the universe and man, the total of agencies and forces guided by intelligent laws.

Bộ não, hay bộ máy tư duy, không chỉ ở trong đầu; mà như mọi nhà sinh lý học không hoàn toàn duy vật sẽ nói với các bạn, mỗi cơ quan trong con người, tim, gan, phổi, v.v., cho đến từng dây thần kinh và cơ bắp, có thể nói, đều có bộ não hay bộ máy tư duy riêng biệt của nó. Vì bộ não của chúng ta không liên quan gì đến việc hướng dẫn công việc tập thể và cá biệt của từng cơ quan trong chúng ta, vậy cái gì hướng dẫn mỗi cơ quan một cách không sai lạc trong các chức năng không ngừng của nó; cái gì khiến chúng đấu tranh, và còn đấu tranh với bệnh tật, loại bỏ nó và hành động, từng cơ quan một, ngay cả cơ quan nhỏ nhất, không theo cách máy móc như một đồng hồ, như một số nhà duy vật chủ trương, vì chỉ cần xáo trộn hay hư hỏng nhẹ nhất là đồng hồ dừng lại, mà như một thực thể được phú cho bản năng? Nói rằng đó là Thiên nhiên thì chẳng nói gì cả, nếu đó không phải là sự phát biểu một ngụy luận; bởi rốt cuộc Thiên nhiên chỉ là một tên gọi cho chính những chức năng ấy, tổng số các phẩm tính và thuộc tính, hồng trần, trí tuệ, v.v., trong vũ trụ và con người, toàn bộ các tác nhân và mãnh lực được hướng dẫn bởi những định luật thông tuệ.

843.

843.

See Key to Theosophy, pp. 147, 148, et seq.

Xem Chìa Khóa Thông Thiên Học, tr. 147, 148, và tiếp theo

844.

844.

Kâma Rûpa, the vehicle of the Lower Manas, is said to dwell in the physical brain, in the five physical senses and in all the sense-organs of the physical body.

Kâma Rûpa, vận cụ của Hạ Manas, được nói là cư trú trong bộ não hồng trần, trong năm giác quan hồng trần và trong tất cả các cơ quan giác quan của thể xác.

845.

845.

Tanmâtra means subtle and rudimentary form, the gross type of the finer elements. The five Tanmâtras are really the characteristic properties or qualities of matter and of all the elements; the real spirit of the word is “something” or “merely transcendental,” in the sense of properties or qualities.

Tanmâtra có nghĩa là hình tướng vi tế và sơ khai, kiểu mẫu thô của các nguyên tố tinh tế hơn. Năm Tanmâtra thật ra là các đặc tính hay phẩm tính đặc trưng của vật chất và của tất cả các nguyên tố; tinh thần thật sự của từ này là “một cái gì đó” hay “chỉ thuần siêu việt,” theo nghĩa các đặc tính hay phẩm tính.

846.

846.

See Theosophist, August, 1883, “The Real and the Unreal.”

Xem Theosophist, tháng Tám, 1883, “Cái Thực và Cái Không Thực.”

847.

847.

As the author of Esoteric Buddhism and the Occult World called Manas the Human Soul, and Buddhi the Spiritual Soul, I have left these terms unchanged in the Voice, seeing that it was a book intended for the public.

Vì tác giả của Phật giáo Bí truyềnThế Giới Huyền Bí gọi Manas là Linh hồn Con người, và Buddhi là Linh hồn Tinh thần, tôi đã giữ nguyên các thuật ngữ ấy trong Tiếng Nói, vì đó là một cuốn sách dành cho công chúng.

848.

848.

In the exoteric teachings of Râja Yoga, Antahkarana is called the inner organ of perception and is divided into four parts: the (lower) Manas, Buddhi (reason), Ahankâra (personality), and Chitta (thinking faculty). It also, together with several other organs, forms a part of Jîva, Soul called also Lingadeh. Esotericists, however, must not be misled by this popular version.

Trong các giáo huấn ngoại môn của Raja Yoga, Antahkarana được gọi là cơ quan tri giác bên trong và được chia thành bốn phần: Manas hạ, Buddhi, tức lý trí, Ahankâra, tức phàm ngã, và Chitta, tức năng lực tư duy. Cùng với một số cơ quan khác, nó cũng tạo thành một phần của Jîva, Linh hồn, cũng được gọi là Lingadeh. Tuy nhiên, các nhà bí truyền học không được để phiên bản phổ thông này làm lầm lạc.

849.

849.

The Earth, or earth-life rather, is the only Avîtchi (Hell) that exists for the men of our humanity on this globe. Avîtchi is a state, not a locality, a counterpart of Devachan. Such a state follows the Soul wherever it goes, whether into Kâma Loka, as a semi-conscious Spook, or into a human body, when reborn to suffer Avîtchi. Our Philosophy recognizes no other Hell.

Trái Đất, hay đúng hơn là đời sống trần gian, là Avîtchi, tức Địa ngục, duy nhất hiện hữu đối với những người thuộc nhân loại chúng ta trên bầu hành tinh này. Avîtchi là một trạng thái, không phải một nơi chốn, là đối phần của Devachan. Một trạng thái như thế theo Linh hồn đến bất cứ nơi nào nó đi, dù vào Kâma Loka như một bóng ma bán hữu thức, hay vào một thể xác con người khi tái sinh để chịu Avîtchi. Triết học của chúng ta không thừa nhận Địa ngục nào khác.

850.

850.

See Voice of the Silence, p. 97.

Xem Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 97.

851.

851.

Loc. cit.

Chỗ đã dẫn.

852.

852.

Read the last footnote on p. 368, vol. ii. of Isis Unveiled, and you will see that even profane Egyptologists and men who, like Bunsen, were ignorant of Initiation, were struck by their own discoveries when they found the “Word” mentioned in old papyri.

Hãy đọc chú thích cuối cùng ở tr. 368, quyển ii của Isis Bị Vén Màn, và các bạn sẽ thấy rằng ngay cả những nhà Ai Cập học phàm tục và những người như Bunsen, vốn không biết gì về điểm đạo, cũng đã kinh ngạc trước chính các khám phá của họ khi họ thấy “Linh từ” được nhắc đến trong các bản giấy cói cổ.

853.

853.

See Theosophist, vol. iii., October, 1882, p. 13.

Xem Theosophist, quyển iii, tháng Mười, 1882, tr. 13.

854.

854.

Read pp. 40 and 63 in the Voice of the Silence.

Đọc tr. 40 và 63 trong Tiếng Nói của Im Lặng.

Leave a Comment

Scroll to Top