Section XX. The Eastern Gupta Vidya & the Kabalah. — Tiết XX. Gupta Vidya Đông phương và Kabalah.
|
We now return to the consideration of the essential identity between the Eastern Gupta Vidyâ and the Kabalah as a system, while we must also show the dissimilarity in their philosophical interpretations since the Middle Ages. |
Giờ đây chúng ta trở lại việc xem xét sự đồng nhất cốt yếu giữa Gupta Vidya Đông phương và Kabalah như một hệ thống, đồng thời chúng ta cũng phải chỉ ra sự khác biệt trong các diễn giải triết học của chúng kể từ thời Trung cổ. |
|
It must be confessed that the views of the Kabalists—meaning by the word those students of Occultism who study the Jewish Kabalah and who know little, if anything, of any other Esoteric literature or of its teachings—are as varied in their synthetic conclusions upon the nature of the mysteries taught even in the Zohar alone, and are as wide of the true mark, as are the dicta upon it of exact Science itself. Like the mediæval Rosicrucian and the Alchemist—like the Abbot Trithemius, John Reuchlin, Agrippa, Paracelsus, Robert Fludd, Philalethes, etc. —by whom they swear, the continental Occultists see in the Jewish Kabalah alone the universal well of wisdom; they find in it the secret lore of nearly all the mysteries of Nature—metaphysical and divine—some of them including herein, as did Reuchlin, those of the Christian Bible. For them the Zohar is an Esoteric Thesaurus of all the mysteries of the Christian Gospel; and the Sepher Yetzirah is the light that shines in every darkness, and the container of the keys to open every secret in Nature. Whether many of our modern followers of the mediæval Kabalists have an idea of the real meaning of the symbology of their chosen Masters is another question. Most of them have probably never given even a passing thought to the fact that the Esoteric language used by the Alchemists was their own, and that it was given out as a blind, necessitated by the dangers of the epoch they lived in, and not as the Mystery-language, used by the Pagan Initiates, which the Alchemists had re-translated and re-veiled once more. |
Phải thú nhận rằng quan điểm của các nhà Kabalah, hiểu theo từ này là những đạo sinh huyền bí học nghiên cứu Kabalah Do Thái và biết rất ít, nếu có, về bất kỳ văn học nội môn nào khác hay các giáo huấn của nó, thì cũng đa dạng trong những kết luận tổng hợp của họ về bản chất các bí nhiệm được dạy ngay cả chỉ trong Zohar, và cũng xa rời mục tiêu chân thật chẳng kém gì các phán quyết về nó của chính Khoa học chính xác. Giống như nhà Hoa Hồng Thập Tự thời trung cổ và nhà luyện kim, giống như Tu viện trưởng Trithemius, John Reuchlin, Agrippa, Paracelsus, Robert Fludd, Philalethes, v.v., những người mà họ tôn làm thẩm quyền, các nhà huyền bí học lục địa chỉ thấy trong Kabalah Do Thái nguồn giếng minh triết phổ quát; họ tìm thấy trong đó tri thức bí mật về gần như mọi bí nhiệm của Thiên nhiên, siêu hình và thiêng liêng, một số người trong họ, như Reuchlin, bao gồm cả các bí nhiệm của Kinh Thánh Cơ Đốc. Đối với họ, Zohar là một Kho Tàng Nội Môn của mọi bí nhiệm trong Phúc Âm Cơ Đốc; và Sepher Yetzirah là ánh sáng chiếu rọi trong mọi bóng tối, là nơi chứa các chìa khóa để mở mọi bí mật trong Thiên nhiên. Liệu nhiều người trong số các môn đồ hiện đại của các nhà Kabalah thời trung cổ có ý niệm nào về ý nghĩa thật sự của biểu tượng học nơi các Chân sư mà họ chọn hay không lại là một vấn đề khác. Phần lớn họ có lẽ chưa từng thoáng nghĩ đến sự kiện rằng ngôn ngữ nội môn mà các nhà luyện kim sử dụng là ngôn ngữ riêng của họ, và nó được đưa ra như một màn che, do những nguy hiểm của thời đại họ sống bắt buộc, chứ không phải là Ngôn ngữ Bí nhiệm được các điểm đạo đồ ngoại giáo sử dụng, mà các nhà luyện kim đã dịch lại và lại che phủ một lần nữa. |
|
And now the situation stands thus: as the old Alchemists have not left a key to their writings, the latter have become a mystery within an older mystery. The Kabalah is interpreted and checked only by the light which mediæval Mystics have thrown upon it, and they, in their forced Christology, had to put a theological dogmatic mask on every ancient teaching, the result being that each Mystic among our modern European and American Kabalists interprets the old symbols in his own way, and each refers his opponents to the Rosicrucian and the Alchemist of three and four hundred years ago. Mystic Christian dogma is the central maëlstrom that engulfs every old Pagan symbol, and Christianity—Anti-Gnostic Christianity, the modern retort that has replaced the alembic of the Alchemists—has distilled out of all recognition the Kabalah, i.e., the Hebrew Zohar and other rabbinical mystic works. And now it has come to this: The student interested in the Secret Sciences has to believe that the whole cycle of the symbolical “Ancient of Days,” every hair of the mighty beard of Macroprosopos, refers only to the history of the earthly career of Jesus of Nazareth! And we are told that the Kabalah “was first taught to a select company of angels” by Jehovah himself—who, out of modesty, one must think, made himself only the third Sephiroth in it, and a female one into the bargain. So many Kabalists, so many explanations. Some believe—perchance with more reason than the rest—that the substance of the Kabalah is the basis upon which Masonry is built, since modern Masonry is undeniably the dim and hazy reflection of primeval Occult Masonry, of the teaching of those divine Masons who established the Mysteries of the prehistoric and prediluvian Temples of Initiation, raised by truly superhuman Builders. Others declare that the tenets expounded in the Zohar relate merely to mysteries terrestrial and profane, having no more concern with metaphysical speculations—such as the soul, or the post-mortem life of man—than have the Mosaic books. Others, again—and these are the real, genuine Kabalists, who had their instructions from initiated Jewish Rabbis—affirm that if the two most learned Kabalists of the mediæval period, John Reuchlin and Paracelsus, differed in their religious professions—the former being the Father of the Reformation and the latter a Roman Catholic, at least in appearance—the Zohar cannot contain much of Christian dogma or tenet, one way or the other. In other words, they maintain that the numerical language of the Kabalistic works teaches universal truths—and not any one Religion in particular. Those who make this statement are perfectly right in saying that the Mystery-language used in the Zohar and in other Kabalistic literature was once, in a time of unfathomable antiquity, the universal language of Humanity. But they become entirely wrong if to this fact they add the untenable theory that this language was invented by, or was the original property of, the Hebrews, from whom all the other nations borrowed it. |
Và giờ đây tình hình là như sau: vì các nhà luyện kim xưa không để lại chìa khóa cho các tác phẩm của họ, nên những tác phẩm ấy đã trở thành một bí nhiệm nằm trong một bí nhiệm cổ hơn. Kabalah được diễn giải và kiểm chứng chỉ bằng ánh sáng mà các nhà thần bí thời trung cổ đã rọi lên nó; và trong Kitô học bị cưỡng ép của mình, họ phải đặt lên mọi giáo huấn cổ xưa một chiếc mặt nạ giáo điều thần học, kết quả là mỗi nhà thần bí trong số các nhà Kabalah châu Âu và Mỹ hiện đại của chúng ta diễn giải các biểu tượng xưa theo cách riêng của mình, và mỗi người đều viện dẫn các nhà Hoa Hồng Thập Tự và nhà luyện kim của ba, bốn trăm năm trước để chống lại đối thủ của mình. Giáo điều Cơ Đốc thần bí là xoáy nước trung tâm nuốt chửng mọi biểu tượng ngoại giáo cổ xưa; và Cơ Đốc giáo, tức Cơ Đốc giáo chống Ngộ đạo, thứ bình ngưng hiện đại đã thay thế nồi chưng cất của các nhà luyện kim, đã chưng cất Kabalah, tức Zohar Hebrew và các tác phẩm thần bí khác của các rabbi, đến mức không còn nhận ra được. Và giờ đây sự việc đã đến mức này: đạo sinh quan tâm đến các Khoa học Bí mật phải tin rằng toàn bộ chu kỳ của “Đấng Thái Cổ” biểu tượng, từng sợi râu trong bộ râu hùng vĩ của Macroprosopos, chỉ liên quan đến lịch sử sự nghiệp trần gian của Đức Jesus thành Nazareth! Và người ta bảo chúng ta rằng Kabalah “lần đầu tiên được Jehovah chính mình dạy cho một nhóm thiên thần tuyển chọn”, Đấng, vì khiêm tốn, người ta hẳn phải nghĩ vậy, đã tự đặt mình chỉ là Sephiroth thứ ba trong đó, lại còn là một Sephiroth nữ. Có bao nhiêu nhà Kabalah thì có bấy nhiêu lời giải thích. Một số tin, có lẽ với nhiều lý lẽ hơn phần còn lại, rằng chất liệu của Kabalah là nền tảng trên đó Hội Tam Điểm được xây dựng, bởi Hội Tam Điểm hiện đại không thể phủ nhận là phản chiếu mờ tối và sương khói của Hội Tam Điểm Huyền Bí nguyên sơ, của giáo huấn từ những Mason thiêng liêng đã thiết lập các Bí nhiệm của những Đền Điểm Đạo tiền sử và tiền hồng thủy, do các Đấng Kiến Tạo thật sự siêu nhân dựng nên. Những người khác tuyên bố rằng các giáo điều được trình bày trong Zohar chỉ liên quan đến các bí nhiệm trần gian và phàm tục, không dính dáng đến các suy tưởng siêu hình, như linh hồn hay đời sống sau khi chết của con người, hơn gì các sách của Moses. Lại có những người khác, và đây là các nhà Kabalah thật sự, chân chính, những người đã nhận huấn thị từ các Rabbi Do Thái đã được điểm đạo, xác quyết rằng nếu hai nhà Kabalah uyên bác nhất thời trung cổ, John Reuchlin và Paracelsus, khác nhau trong tín ngưỡng tôn giáo của họ, người trước là Cha của cuộc Cải cách và người sau là một tín đồ Công giáo La Mã, ít nhất bề ngoài là vậy, thì Zohar không thể chứa nhiều giáo điều hay tín điều Cơ Đốc, theo cách này hay cách khác. Nói cách khác, họ chủ trương rằng ngôn ngữ số học của các tác phẩm Kabalah dạy những chân lý phổ quát, chứ không dạy riêng một Tôn giáo nào. Những người đưa ra tuyên bố này hoàn toàn đúng khi nói rằng Ngôn ngữ Bí nhiệm được dùng trong Zohar và trong văn học Kabalah khác, vào một thời cổ đại không thể dò thấu, từng là ngôn ngữ phổ quát của Nhân loại. Nhưng họ hoàn toàn sai nếu thêm vào sự kiện này lý thuyết không thể bảo vệ rằng ngôn ngữ ấy do người Hebrew phát minh, hoặc là sở hữu nguyên thủy của người Hebrew, và mọi quốc gia khác đã vay mượn nó từ họ. |
|
They are wrong, because, although the Zohar (זהר ZHR), The Book of Splendour of Rabbi Simeon Ben Iochai, did indeed originate with him—his son, Rabbi Eleazar, helped by his secretary, Rabbi Abba, compiling the Kabalistic teachings of his deceased father into a work called the Zohar—those teachings were not Rabbi Simeon’s, as the Gupta Vidyâ shows. They are as old as the Jewish nation itself, and far older. In short, the writings which pass at present under the title of the Zohar of Rabbi Simeon are about as original as were the Egyptian synchronistic Tables after being handled by Eusebius, or as St. Paul’s Epistles after their revision and correction by the “Holy Church.” 315 |
Họ sai, bởi vì, mặc dù Zohar (ZHR), Sách Huy Hoàng của Rabbi Simeon Ben Iochai, quả thật bắt nguồn từ ông, con trai ông là Rabbi Eleazar, được thư ký Rabbi Abba trợ giúp, đã biên soạn các giáo huấn Kabalah của người cha quá cố thành một tác phẩm gọi là Zohar; nhưng những giáo huấn ấy không phải của Rabbi Simeon, như Gupta Vidya cho thấy. Chúng cổ xưa như chính quốc gia Do Thái, và còn cổ hơn nhiều. Tóm lại, các văn bản hiện nay mang danh nghĩa Zohar của Rabbi Simeon có mức độ nguyên thủy chẳng khác gì các Bảng Đồng Đại Ai Cập sau khi qua tay Eusebius, hay các Thư của Thánh Paul sau khi đã được “Thánh Giáo hội” duyệt xét và sửa chữa. |
|
Let us throw a rapid retrospective glance at the history and the tribulations of that very same Zohar, as we know of them from trustworthy tradition and documents. We need not stop to discuss whether it was written in the first century b.c. or in the first century a.d. Suffice it for us to know that there was at all times a Kabalistic literature among the Jews; that though historically it can be traced only from the time of the Captivity, yet from the Pentateuch down to the Talmud the documents of that literature were ever written in a kind of Mystery-language, were, in fact, a series of symbolical records which the Jews had copied from the Egyptian and the Chaldæan Sanctuaries, only adapting them to their own national history—if history it can be called. Now that which we claim—and it is not denied even by the most prejudiced Kabalist, is that although Kabalistic lore had passed orally through long ages down to the latest Pre-Christian Tanaim, and although David and Solomon may have been great Adepts in it, as is claimed, yet no one dared to write it down till the days of Simeon Ben Iochai. In short, the lore found in Kabalistic literature was never recorded in writing before the first century of the modern era. |
Chúng ta hãy nhìn lui thật nhanh vào lịch sử và những thăng trầm của chính Zohar ấy, như chúng ta biết qua truyền thống và tài liệu đáng tin cậy. Chúng ta không cần dừng lại để bàn xem nó được viết vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên hay thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Chỉ cần chúng ta biết rằng trong mọi thời kỳ đều có một văn học Kabalah nơi người Do Thái; rằng dù về mặt lịch sử, nó chỉ có thể được truy nguyên từ thời Lưu đày, nhưng từ Ngũ Kinh xuống đến Talmud, các tài liệu của văn học ấy luôn được viết bằng một loại Ngôn ngữ Bí nhiệm, thực ra là một chuỗi ký lục biểu tượng mà người Do Thái đã sao chép từ các Thánh điện Ai Cập và Chaldæa, chỉ thích nghi chúng với lịch sử quốc gia của riêng họ, nếu có thể gọi đó là lịch sử. Giờ đây điều chúng tôi khẳng định, và điều ấy không bị phủ nhận ngay cả bởi nhà Kabalah thiên kiến nhất, là mặc dù tri thức Kabalah đã truyền khẩu qua những thời đại dài xuống đến các Tanaim tiền Cơ Đốc cuối cùng, và mặc dù David và Solomon có thể đã là những Chân sư vĩ đại trong đó, như người ta tuyên bố, nhưng không ai dám ghi chép nó lại cho đến thời Simeon Ben Iochai. Tóm lại, tri thức được tìm thấy trong văn học Kabalah chưa bao giờ được ghi lại bằng văn tự trước thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên hiện đại. |
|
This brings the critic to the following reflection: While in India we find the Vedas and the Brâhmanical literature written down and edited ages before the Christian era—the Orientalists themselves being obliged to concede a couple of millenniums of antiquity to the older manuscripts; while the most important allegories in Genesis are found recorded on Babylonian tiles centuries b.c.; while the Egyptian sarcophagi yearly yield proofs of the origin of the doctrines borrowed and copied by the Jews; yet the Monotheism of the Jews is exalted and thrown into the teeth of all the Pagan nations, and the so-called Christian Revelation is placed above all others, like the sun above a row of street gas-lamps. Yet it is perfectly well known, having been ascertained beyond doubt or cavil, that no manuscript, whether Kabalistic, Talmudistic, or Christian, which has reached our present generation, is of earlier date than the first centuries of our era, whereas this can certainly never be said of the Egyptian papyri or the Chaldæan tiles, or even of some Eastern writings. |
Điều này đưa nhà phê bình đến suy tưởng sau: Trong khi tại Ấn Độ, chúng ta thấy kinh Veda và văn học Brahmana đã được ghi chép và biên tập nhiều thời đại trước kỷ nguyên Cơ Đốc, chính các nhà Đông phương học cũng buộc phải thừa nhận cho các thủ bản cổ hơn một niên đại cổ xưa đến vài thiên niên kỷ; trong khi những ẩn dụ quan trọng nhất trong Sáng Thế Ký được tìm thấy ghi trên các phiến ngói Babylon nhiều thế kỷ trước Công nguyên; trong khi các quan tài đá Ai Cập hằng năm đưa ra bằng chứng về nguồn gốc của các giáo lý mà người Do Thái đã vay mượn và sao chép; vậy mà thuyết Độc thần của người Do Thái lại được tôn cao và ném vào mặt mọi quốc gia ngoại giáo, còn cái gọi là Mặc Khải Cơ Đốc thì được đặt trên tất cả những mặc khải khác, như mặt trời trên một hàng đèn khí ngoài phố. Thế nhưng người ta biết rất rõ, vì đã được xác định không còn nghi ngờ hay tranh cãi, rằng không một thủ bản nào, dù là Kabalah, Talmud hay Cơ Đốc, đã đến được thế hệ hiện nay của chúng ta, có niên đại sớm hơn những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta; trong khi điều này chắc chắn không bao giờ có thể nói về các giấy cói Ai Cập, các phiến ngói Chaldæa, hay thậm chí một số văn bản Đông phương. |
|
But let us limit our present research to the Kabalah, and chiefly to the Zohar—called also the Midrash. This book, whose teachings were edited for the first time between 70 and 110 a.d., is known to have been lost, and its contents to have been scattered throughout a number of minor manuscripts, until the thirteenth century. The idea that it was the composition of Moses de Leon of Valladolid, in Spain who passed it off as a pseudograph of Simeon Ben Iochai, is ridiculous and was well disposed of by Munk—though he does point to more than one modern interpolation in the Zohar. At the same time it is more than certain that the present Book of Zohar was written by Moses de Leon, and, owing to joint editorship, is more Christian in its colouring than is many a genuine Christian volume. Munk gives the reason why, saying that it appears evident that the author made use of ancient documents, and among these of certain Midraschim, or collections of traditions and Biblical expositions, which we do not now possess. |
Nhưng chúng ta hãy giới hạn cuộc nghiên cứu hiện nay vào Kabalah, và chủ yếu vào Zohar, cũng được gọi là Midrash. Sách này, có các giáo huấn được biên tập lần đầu giữa năm 70 và 110 sau Công nguyên, được biết là đã thất lạc, và nội dung của nó đã tản mác trong một số thủ bản nhỏ cho đến thế kỷ mười ba. Ý kiến cho rằng nó là sáng tác của Moses de Leon thành Valladolid, Tây Ban Nha, người đã mạo xưng nó là tác phẩm giả danh Simeon Ben Iochai, là lố bịch và đã được Munk xử lý thỏa đáng, dù ông có chỉ ra hơn một chỗ xen thêm hiện đại trong Zohar. Đồng thời, điều chắc chắn hơn cả là Sách Zohar hiện nay được Moses de Leon viết ra, và do sự đồng biên tập, nó mang màu sắc Cơ Đốc hơn nhiều một tác phẩm Cơ Đốc chân chính. Munk đưa ra lý do, nói rằng dường như hiển nhiên tác giả đã sử dụng các tài liệu cổ, và trong số đó có một số Midrashim, tức các tuyển tập truyền thống và giải thích Kinh Thánh, mà hiện nay chúng ta không còn sở hữu. |
|
As a proof, also, that the knowledge of the Esoteric system taught in the Zohar came to the Jews very late indeed—at any rate, that they had so far forgotten it that the innovations and additions made by de Leon provoked no criticism, but were thankfully received—Munk quotes from Tholuck, a Jewish authority, the following information: Haya Gaon, who died in 1038, is to our knowledge the first author who developed (and perfected) the theory of the Sephiroth, and he gave them names which we find again among the Kabalistic names used by Dr. Jellinek. Moses Ben Schem-Tob de Leon, who held intimate intercourse with the Syrian and Chaldæan Christian learned scribes, was enabled through the latter to acquire a knowledge of some of the Gnostic writings. 316 |
Cũng như một bằng chứng rằng tri thức về hệ thống nội môn được dạy trong Zohar đã đến với người Do Thái rất muộn, hoặc dù sao, rằng họ đã quên nó đến mức các cải biến và bổ sung do de Leon thực hiện không gợi lên sự phê phán nào, mà còn được đón nhận với lòng biết ơn, Munk trích từ Tholuck, một thẩm quyền Do Thái, thông tin sau: Haya Gaon, người mất năm 1038, theo hiểu biết của chúng ta, là tác giả đầu tiên đã phát triển và hoàn thiện lý thuyết về Sephiroth, và ông đặt cho chúng những tên gọi mà chúng ta lại gặp trong số các danh xưng Kabalah được Tiến sĩ Jellinek sử dụng. Moses Ben Schem-Tob de Leon, người có giao tiếp thân mật với các học giả ký lục Cơ Đốc Syria và Chaldæa, nhờ những người sau mà có thể thu nhận tri thức về một số tác phẩm Ngộ đạo. |
|
Again, the Sepher Jetzirah (Book of Creation)—though attributed to Abraham and though very archaic as to its contents—is first mentioned in the eleventh century by Jehuda Ho Levi (Chazari). And these two, the Zohar and Jetzirah, are the storehouse of all the subsequent Kabalistic works. Now let us see how far the Hebrew sacred canon itself is to be trusted. |
Một lần nữa, Sepher Jetzirah, tức Sách Sáng Tạo, dù được gán cho Abraham và dù rất cổ xưa về nội dung, lần đầu được Jehuda Ho Levi, tức Chazari, nhắc đến vào thế kỷ mười một. Và hai tác phẩm này, Zohar và Jetzirah, là kho tàng của mọi tác phẩm Kabalah về sau. Giờ đây chúng ta hãy xem chính kinh điển thiêng liêng Hebrew đáng tin đến mức nào. |
|
The word “Kabalah” comes from the root “to receive,” and has a meaning identical with the Sanskrit “Smriti” (“received by tradition”)—a system of oral teaching, passing from one generation of priests to another, as was the case with the Brâhmanical books before they were embodied in manuscript. The Kabalistic tenets came to the Jews from the Chaldæans; and if Moses knew the primitive and universal language of the Initiates, as did every Egyptian priest, and was thus acquainted with the numerical system on which it was based, he may have—and we say he has—written Genesis and other “scrolls.” The five books that now pass current under his name, the Pentateuch, are not withal the original Mosaic Records. 317 Nor were they written in the old Hebrew square letters, nor even in the Samaritan characters, for both alphabets belong to a date later than that of Moses, and Hebrew—as it is now known—did not exist in the days of the great lawgiver, either as a language or as an alphabet. |
Từ “Kabalah” xuất phát từ căn “tiếp nhận”, và có ý nghĩa đồng nhất với từ Phạn “Smriti”, tức “được tiếp nhận qua truyền thống”, một hệ thống giáo huấn khẩu truyền, truyền từ thế hệ tư tế này sang thế hệ tư tế khác, như trường hợp các sách Brahmana trước khi chúng được thể hiện trong thủ bản. Các giáo điều Kabalah đến với người Do Thái từ người Chaldæa; và nếu Moses biết ngôn ngữ nguyên thủy và phổ quát của các điểm đạo đồ, như mọi tư tế Ai Cập đều biết, và do đó quen thuộc với hệ thống số học làm nền tảng cho nó, thì ông có thể, và chúng tôi nói rằng ông đã, viết Sáng Thế Ký và các “cuộn sách” khác. Năm quyển sách hiện nay lưu hành dưới danh ông, tức Ngũ Kinh, tuy vậy không phải là các Ký Lục Mosaic nguyên thủy. Chúng cũng không được viết bằng các mẫu tự vuông Hebrew cổ, thậm chí cũng không bằng các ký tự Samaritan, vì cả hai bảng chữ cái đều thuộc một niên đại muộn hơn thời Moses; và Hebrew, như hiện nay được biết, không tồn tại vào thời vị lập pháp vĩ đại ấy, dù như một ngôn ngữ hay như một bảng chữ cái. |
|
As no statements contained in the records of the Secret Doctrine of the East are regarded as of any value by the world in general, and since to be understood by and convince the reader one has to quote names familiar to him, and use arguments and proofs out of documents which are accessible to all, the following facts may perhaps demonstrate that our assertions are not merely based on the teachings of Occult Records: (1) The great Orientalist and scholar, Klaproth, denied positively the antiquity of the so-called Hebrew alphabet, on the ground that the square Hebrew characters in which the Biblical manuscripts are written, and which we use in printing, were probably derived from the Palmyrene writing, or some other Semitic alphabet, so that the Hebrew Bible is written merely in the Chaldaic phonographs of Hebrew words. |
Vì không một lời khẳng định nào chứa trong các ký lục của Giáo Lý Bí Nhiệm Đông phương được thế giới nói chung xem là có giá trị, và vì để được độc giả thấu hiểu và thuyết phục, người ta phải trích dẫn những tên tuổi quen thuộc với họ, và dùng các luận cứ cùng bằng chứng từ những tài liệu mọi người đều có thể tiếp cận, nên các sự kiện sau đây có lẽ chứng minh rằng các khẳng định của chúng tôi không chỉ dựa trên các giáo huấn của Ký Lục Huyền Bí: (1) Nhà Đông phương học và học giả vĩ đại Klaproth đã phủ nhận dứt khoát tính cổ xưa của cái gọi là bảng chữ cái Hebrew, trên cơ sở rằng các ký tự vuông Hebrew trong đó các thủ bản Kinh Thánh được viết, và chúng ta dùng để in ấn, có lẽ bắt nguồn từ chữ viết Palmyra, hoặc một bảng chữ cái Semitic nào khác; như vậy Kinh Thánh Hebrew chỉ được viết bằng các ký âm Chaldæa của những từ Hebrew. |
|
The late Dr. Kenealy pertinently remarked that the Jews and Christians rely on |
Tiến sĩ Kenealy quá cố đã nhận xét xác đáng rằng người Do Thái và Cơ Đốc dựa vào |
|
A phonograph of a dead and almost unknown language, as abstruse as the cuneiform letters on the mountains of Assyria. 318 |
Một ký âm của một ngôn ngữ đã chết và hầu như không được biết đến, khó hiểu chẳng khác gì các ký tự hình nêm trên những ngọn núi Assyria. |
|
(2) The attempts made to carry back the square Hebrew character to the time of Esdras (b.c. 458) have all failed. |
(2) Mọi nỗ lực nhằm đẩy lùi niên đại của ký tự vuông Hebrew về thời Esdras, năm 458 trước Công nguyên, đều đã thất bại. |
|
(3) It is asserted that the Jews took their alphabet from the Babylonians during their captivity. But there are scholars who do not carry the now-known Hebrew square letters beyond the late period of the fourth century, a.d. 319 |
(3) Người ta khẳng định rằng người Do Thái lấy bảng chữ cái của họ từ người Babylon trong thời lưu đày. Nhưng có những học giả không đưa các mẫu tự vuông Hebrew hiện được biết vượt quá giai đoạn muộn của thế kỷ thứ tư sau Công nguyên. |
|
The Hebrew Bible is precisely as if Homer were printed, not in Greek, but in English letters; or as if Shakespeare’s works were phonographed in Burmese. 320 |
Kinh Thánh Hebrew chính xác giống như thể Homer được in không bằng chữ Hy Lạp mà bằng chữ Anh; hoặc như thể các tác phẩm của Shakespeare được ghi âm bằng chữ Miến Điện. |
|
(4) Those who maintain that the ancient Hebrew is the same as the Syraic or Chaldaic have to see what is said in Jeremiah, wherein the Lord is made to threaten the house of Israel with bringing against it the mighty and ancient nation of the Chaldæans: |
(4) Những người cho rằng Hebrew cổ giống với Syria hay Chaldæa phải xem điều được nói trong Jeremiah, nơi Chúa được mô tả là đe dọa nhà Israel bằng cách đưa đến chống lại họ quốc gia hùng mạnh và cổ xưa của người Chaldæa: |
|
A nation whose language thou knowest not, neither understandest what they say. 321 |
Một quốc gia mà ngôn ngữ ngươi không biết, cũng không hiểu điều họ nói. |
|
This is quoted by Bishop Walton 322 against the assumption of the identity of Chaldaic and Hebrew, and ought to settle the question. |
Điều này được Giám mục Walton trích dẫn để chống lại giả định về sự đồng nhất của Chaldæa và Hebrew, và hẳn phải giải quyết xong vấn đề. |
|
(5) The real Hebrew of Moses was lost after the seventy years’ captivity, when the Israelites brought back Chaldaic with them and grafted it on their own language, the fusion resulting in a dialectical variety of Chaldaic, the Hebrew tincturing it very slightly and ceasing from that time to be a spoken language. 323 |
(5) Hebrew thật sự của Moses đã mất sau bảy mươi năm lưu đày, khi người Israel mang Chaldæa trở về với họ và ghép nó vào ngôn ngữ riêng của mình; sự dung hợp này tạo ra một biến thể phương ngữ của Chaldæa, trong đó Hebrew chỉ nhuộm màu rất nhẹ và từ đó không còn là một ngôn ngữ nói nữa. |
|
As to our statement that the present Old Testament does not contain the original Books of Moses, this is proven by the facts that: (1) The Samaritans repudiated the Jewish canonical books and their “Law of Moses.” They will have neither the Psalms of David, nor the Prophets, nor the Talmud and Mishna: nothing but the real Books of Moses, and in quite a different edition. 324 The Books of Moses and of Joshua are disfigured out of recognition by the Talmudists, they say. |
Về lời khẳng định của chúng tôi rằng Cựu Ước hiện nay không chứa các Sách nguyên thủy của Moses, điều này được chứng minh bởi các sự kiện sau: (1) Người Samaritan bác bỏ các sách kinh điển Do Thái và “Luật Moses” của họ. Họ không nhận các Thánh vịnh của David, cũng không nhận các Tiên tri, Talmud và Mishna; không gì khác ngoài các Sách thật sự của Moses, và trong một bản hoàn toàn khác. Họ nói rằng các Sách của Moses và Joshua đã bị các nhà Talmud làm biến dạng đến mức không còn nhận ra. |
|
(2) The “black Jews” of Cochin, Southern India—who know nothing of the Babylonian Captivity or of the ten “lost tribes” (the latter a pure invention of the Rabbis), proving that these Jews must have come to India before the year 600 b.c. —have their Books of Moses which they will show to no one. And these Books and Laws differ greatly from the present scrolls. Nor are they written in the square Hebrew characters (semi-Chaldaic and semi-Palmyrean) but in the archaic letters, as we were assured by one of them—letters entirely unknown to all but themselves and a few Samaritans. |
(2) Những “người Do Thái đen” ở Cochin, miền Nam Ấn Độ, những người không biết gì về cuộc Lưu đày Babylon hay về mười “chi tộc thất lạc”, điều sau là một phát minh thuần túy của các Rabbi, chứng tỏ rằng những người Do Thái này hẳn đã đến Ấn Độ trước năm 600 trước Công nguyên, có các Sách của Moses mà họ không cho ai xem. Và các Sách cùng Luật này khác rất nhiều với các cuộn sách hiện nay. Chúng cũng không được viết bằng các ký tự vuông Hebrew, nửa Chaldæa nửa Palmyra, mà bằng các mẫu tự cổ xưa, như một người trong họ đã xác nhận với chúng tôi, những mẫu tự hoàn toàn không ai biết ngoài chính họ và một ít người Samaritan. |
|
(3) The Karaim Jews of the Crimea—who call themselves the descendants of the true children of Israel, i.e., of the Sadducees—reject the Torah and the Pentateuch of the Synagogue, reject the Sabbath of the Jews (keeping Friday), will have neither the Books of the Prophets nor the Psalms—nothing but their own Books of Moses and what they call his one and real Law. |
(3) Người Do Thái Karaim ở Crimea, tự gọi mình là hậu duệ của những người con chân chính của Israel, tức của phái Sadducee, bác bỏ Torah và Ngũ Kinh của Hội đường, bác bỏ Sabbath của người Do Thái, giữ ngày thứ Sáu, không nhận các Sách của Tiên tri cũng như các Thánh vịnh; không gì khác ngoài các Sách Moses của riêng họ và điều họ gọi là Luật duy nhất và thật sự của ông. |
|
This makes it plain that the Kabalah of the Jews is but the distorted echo of the Secret Doctrine of the Chaldæans, and that the real Kabalah is found only in the Chaldæan Book of Numbers now in the possession of some Persian Sufis. Every nation in antiquity had its traditions based on those of the Âryan Secret Doctrine; and each nation points to this day to a Sage of its own race who had received the primordial revelation from, and had recorded it under the orders of, a more or less divine Being. Thus it was with the Jews, as with all others. They had received their Occult Cosmogony and Laws from their Initiate, Moses, and they have now entirely mutilated them. |
Điều này làm rõ rằng Kabalah của người Do Thái chỉ là tiếng vọng méo mó của Giáo Lý Bí Nhiệm của người Chaldæa, và Kabalah thật sự chỉ được tìm thấy trong Sách Số của Chaldæa hiện thuộc quyền sở hữu của một số Sufi Ba Tư. Mọi quốc gia thời cổ đều có các truyền thống dựa trên truyền thống của Giáo Lý Bí Nhiệm Arya; và mỗi quốc gia cho đến ngày nay đều chỉ về một Hiền triết thuộc chính nhân loại của mình, người đã tiếp nhận mặc khải nguyên sơ từ một Hữu Thể ít nhiều thiêng liêng, và đã ghi chép nó theo lệnh của Đấng ấy. Với người Do Thái cũng như với mọi dân tộc khác, sự việc là như vậy. Họ đã nhận Vũ trụ khởi nguyên luận Huyền Bí và các Định luật của mình từ điểm đạo đồ của họ là Moses, và nay họ đã hoàn toàn cắt xén chúng. |
|
Âdi is the generic name in our Doctrine of all the first men, i.e., the first speaking races, in each of the seven zones—hence probably “Ad-am.” And such first men, in every nation, are credited with having been taught the divine mysteries of creation. Thus, the Sabæans (according to a tradition preserved in the Sufi works) say that when the “Third First Man” left the country adjacent to India for Babel, a tree 325 was given to him, then another and a third tree, whose leaves recorded the history of all the races; the “Third First Man” meant one who belonged to the Third Root-Race, and yet the Sabæans call him Adam. The Arabs of Upper Egypt, and the Mohammedans generally, have recorded a tradition that the Angel Azaz-el brings a message from the Wisdom-Word of God to Adam whenever he is reborn; this the Sufis explain by adding that this book is given to every Seli-Allah (“the chosen one of God”) for his wise men. The story narrated by the Kabalists—namely, that the book given to Adam before his Fall (a book full of mysteries and signs and events which either had been, were, or were to be) was taken away by the Angel Raziel after Adam’s Fall, but again restored to him lest men might lose its wisdom and instruction; that this book was delivered by Adam to Seth, who passed it to Enoch, and the latter to Abraham, and so on in succession to the most wise of every generation—relates to all nations, and not to the Jews alone. For Berosus narrates in his turn that Xisuthrus compiled a book, writing it at the command of his deity, which book was buried in Zipara 326 or Sippara, the City of the Sun, in Ba-bel-on-ya, and was dug up long afterwards and deposited in the temple of Belos; it is from this book that Berosus took his history of the antediluvian dynasties of Gods and Heroes. Ælian (in Nimrod) speaks of a Hawk (emblem of the Sun), who in the days of the beginnings brought to the Egyptians a book containing the wisdom of their religion. The Sam-Sam of the Sabæans is also a Kabalah, as is the Arabic Zem-Zem (Well of Wisdom). 327 |
Âdi là danh xưng chung trong Giáo Lý của chúng ta dành cho tất cả những con người đầu tiên, tức các nhân loại biết nói đầu tiên, trong mỗi một trong bảy vùng, do đó có lẽ là “Ad-am”. Và những con người đầu tiên như thế, trong mọi quốc gia, được cho là đã được dạy các bí nhiệm thiêng liêng của sáng tạo. Vì vậy, người Sabæa, theo một truyền thống được bảo tồn trong các tác phẩm Sufi, nói rằng khi “Người Đầu Tiên Thứ Ba” rời vùng đất kề cận Ấn Độ để đến Babel, một cái cây được ban cho ông, rồi một cây khác và một cây thứ ba, mà lá của chúng ghi lại lịch sử của tất cả các nhân loại; “Người Đầu Tiên Thứ Ba” có nghĩa là một người thuộc Giống Dân Gốc thứ ba, nhưng người Sabæa vẫn gọi ông là Adam. Người Ả Rập ở Thượng Ai Cập, và người Mohammed nói chung, đã ghi lại một truyền thống rằng Thiên thần Azaz-el mang một thông điệp từ Minh Triết-Linh từ của Thượng đế đến cho Adam mỗi khi ông tái sinh; các Sufi giải thích điều này bằng cách thêm rằng quyển sách ấy được ban cho mọi Seli-Allah, tức “người được Thượng đế chọn”, vì các hiền giả của người ấy. Câu chuyện do các nhà Kabalah kể, ấy là quyển sách được ban cho Adam trước khi ông Sa Ngã, một quyển sách đầy các bí nhiệm, dấu hiệu và biến cố, những điều hoặc đã từng có, đang có, hoặc sẽ có, đã bị Thiên thần Raziel lấy đi sau sự Sa Ngã của Adam, nhưng lại được trả lại cho ông để loài người khỏi mất minh triết và giáo huấn của nó; rằng quyển sách này được Adam trao cho Seth, Seth truyền cho Enoch, Enoch truyền cho Abraham, và cứ thế nối tiếp đến người minh triết nhất của mỗi thế hệ, câu chuyện ấy liên quan đến mọi quốc gia, chứ không chỉ riêng người Do Thái. Vì đến lượt mình, Berosus kể rằng Xisuthrus đã biên soạn một quyển sách, viết nó theo lệnh của vị thần của mình; quyển sách ấy được chôn tại Zipara hay Sippara, Thành phố của Mặt Trời, ở Ba-bel-on-ya, và rất lâu về sau được đào lên rồi đặt trong đền Belos; chính từ quyển sách này mà Berosus lấy lịch sử của ông về các triều đại tiền hồng thủy của các Thần và Anh hùng. Ælian, trong Nimrod, nói về một Chim Ưng, biểu tượng của Mặt Trời, vào những ngày khởi thủy đã mang đến cho người Ai Cập một quyển sách chứa minh triết của tôn giáo họ. Sam-Sam của người Sabæa cũng là một Kabalah, cũng như Zem-Zem Ả Rập, tức Giếng Minh Triết. |
|
We are told by a very learned Kabalist that Seyffarth asserts that the old Egyptian tongue was only old Hebrew, or a Semitic dialect; and he proves this, our correspondent thinks, by sending him “some 500 words in common” in the two languages. This proves very little to our mind. It only shows that the two nations lived together for centuries, and that before adopting the Chaldæan for their phonetic tongue the Jews had adopted the old Coptic or Egyptian. The Israelitish Scriptures drew their hidden wisdom from the primeval Wisdom-Religion that was the source of other Scriptures, only it was sadly degraded by being applied to things and mysteries of this Earth, instead of to those in the higher and ever-present, though invisible, spheres. Their national history, if they can claim any autonomy before their return from the Babylonian captivity, cannot be carried back one day earlier than the time of Moses. The language of Abraham—if Zeruan (Saturn, the emblem of time—the “Sar,” “Saros,” a “cycle”) can be said to have any language—was not Hebrew, but Chaldaic, perhaps Arabic, and still more likely some old Indian dialect. This is shown by numerous proofs, some of which we give here; and unless, indeed, to please the tenacious and stubborn believers in Bible chronology, we cripple the years of our globe to the Procrustean bed of 7, 000 years, it becomes self-evident that the Hebrew cannot be called an old language, merely because Adam is supposed to have used it in the Garden of Eden. Bunsen says in Egypt’s Place in Universal History that in the |
Một nhà Kabalah rất uyên bác bảo chúng tôi rằng Seyffarth khẳng định tiếng Ai Cập cổ chỉ là Hebrew cổ, hay một phương ngữ Semitic; và theo người trao đổi thư từ với chúng tôi nghĩ, ông chứng minh điều này bằng cách gửi cho ông ấy “khoảng 500 từ chung” trong hai ngôn ngữ. Theo chúng tôi, điều này chứng minh rất ít. Nó chỉ cho thấy hai quốc gia đã sống chung trong nhiều thế kỷ, và trước khi nhận Chaldæa làm ngôn ngữ ngữ âm của mình, người Do Thái đã nhận tiếng Coptic cổ hay Ai Cập. Kinh điển Israel rút minh triết ẩn tàng của chúng từ Tôn Giáo-Minh Triết nguyên sơ vốn là nguồn của các Kinh điển khác, chỉ có điều nó đã bị hạ thấp đáng buồn khi được áp dụng vào các sự vật và bí nhiệm của Trái Đất này, thay vì vào những điều trong các khối cầu cao hơn và luôn hiện diện, dù vô hình. Lịch sử quốc gia của họ, nếu họ có thể tuyên bố bất kỳ quyền tự trị nào trước khi trở về từ cuộc lưu đày Babylon, không thể lùi lại sớm hơn thời Moses một ngày nào. Ngôn ngữ của Abraham, nếu Zeruan, tức Saturn, biểu tượng của thời gian, “Sar”, “Saros”, một “chu kỳ”, có thể được nói là có ngôn ngữ nào, thì không phải Hebrew, mà là Chaldæa, có lẽ Ả Rập, và còn có khả năng hơn nữa là một phương ngữ Ấn Độ cổ nào đó. Điều này được chỉ ra bởi nhiều bằng chứng, một số chúng tôi đưa ra ở đây; và trừ phi, quả thật, để làm vừa lòng những người tin tưởng cố chấp và bướng bỉnh vào niên đại Kinh Thánh, chúng ta cắt xén số năm của địa cầu mình cho vừa chiếc giường Procrustes 7, 000 năm, thì điều tự nó hiển nhiên là Hebrew không thể được gọi là một ngôn ngữ cổ chỉ vì người ta cho rằng Adam đã dùng nó trong Vườn Eden. Bunsen nói trong Vị Trí của Ai Cập trong Lịch Sử Phổ Quát rằng trong |
|
Chaldæan tribe immediately connected with Abraham, we find reminiscences of dates disfigured and misunderstood as genealogies of single men, or figures of epochs. The Abrahamic recollections go back at least three millennia beyond the grandfather of Jacob. 328 |
bộ tộc Chaldæa liên hệ trực tiếp với Abraham, chúng ta thấy những hồi ức về các niên đại bị làm biến dạng và hiểu lầm thành gia phả của những người riêng lẻ, hay thành các con số của các thời kỳ. Những ký ức Abraham lùi lại ít nhất ba thiên niên kỷ trước ông nội của Jacob. |
|
The Bible of the Jews has ever been an Esoteric Book in its hidden meaning, but this meaning has not remained one and the same throughout since the days of Moses. It is useless, considering the limited space we can give to this subject, to attempt anything like the detailed history of the vicissitudes of the so-called Pentateuch, and besides, the history is too well known to need lengthy disquisitions. Whatever was, or was not, the Mosaic Book of Creation—from Genesis down to the Prophets—the Pentateuch of to-day is not the same. It is sufficient to read the criticisms of Erasmus, and even of Sir Isaac Newton, to see clearly that the Hebrew Scriptures had been tampered with and remodelled, had been lost and rewritten, a dozen times before the days of Ezra. This Ezra himself may yet one day turn out to have been Azara, the Chaldæan priest of the Fire and Sun-God, a renegade who, through his desire of becoming a ruler, and in order to create an Ethnarchy, restored the old lost Jewish Books in his own way. It was an easy thing for one versed in the secret system of Esoteric numerals, or Symbology, to put together events from the stray books that had been preserved by various tribes, and make of them an apparently harmonious narrative of creation and of the evolution of the Judæan race. But in its hidden meaning, from Genesis to the last word of Deuteronomy, the Pentateuch is the symbolical narrative of the sexes, and is an apotheosis of Phallicism, under astronomical and physiological personations. 329 Its coördination, however, is only apparent; and the human hand appears at every moment, is found everywhere in the “Book of God.” Hence the Kings of Edom discuss in Genesis before any king had reigned in Israel; Moses records his own death, and Aaron dies twice and is buried in two different places, to say nothing of other trifles. For the Kabalist they are trifles, for he knows that all these events are not history, but are simply the cloak designed to envelope and hide various physiological peculiarities; but for the sincere Christian, who accepts all these “dark sayings” in good faith, it matters a good deal. Solomon may very well be regarded as a myth 330 by the Masons, as they lose nothing by it, for all their secrets are Kabalistic and allegorical—for those few, at any rate, who understand them. For the Christian, however, to give up Solomon, the son of David—from whom Jesus is made to descend—involves a real loss. But how even the Kabalists can claim great antiquity for the Hebrew texts of the old Biblical scrolls now possessed by the scholars is not made at all apparent. For it is certainly a fact of history, based on the confessions of the Jews themselves, and of Christians likewise, that: |
Kinh Thánh của người Do Thái luôn luôn là một Sách Nội Môn trong ý nghĩa ẩn tàng của nó, nhưng ý nghĩa này đã không còn là một và như nhau suốt từ thời Moses. Xét đến khoảng không gian hạn chế chúng tôi có thể dành cho đề tài này, thật vô ích khi cố gắng làm bất cứ điều gì giống như một lịch sử chi tiết về những thăng trầm của cái gọi là Ngũ Kinh; hơn nữa, lịch sử ấy quá nổi tiếng nên không cần những luận giải dài dòng. Dù Sách Sáng Tạo của Moses đã từng là gì hay không là gì, từ Sáng Thế Ký xuống đến các Tiên tri, Ngũ Kinh ngày nay không còn giống như vậy. Chỉ cần đọc các phê bình của Erasmus, và ngay cả của Ngài Isaac Newton, cũng đủ thấy rõ rằng Kinh điển Hebrew đã bị can thiệp và tái tạo, đã bị mất và viết lại, hàng chục lần trước thời Ezra. Chính Ezra này một ngày nào đó có thể còn hóa ra là Azara, tư tế Chaldæa của Lửa và Thần Mặt Trời, một kẻ phản đạo, do ham muốn trở thành người cai trị và nhằm tạo ra một Dân trị, đã phục hồi các Sách Do Thái cổ đã mất theo cách riêng của mình. Đối với một người thông thạo hệ thống bí mật của các con số Nội Môn, hay Biểu tượng học, việc ghép các biến cố từ những sách rời rạc được các bộ tộc khác nhau bảo tồn lại với nhau, và tạo thành từ chúng một tường thuật có vẻ hài hòa về sáng tạo và về sự tiến hoá của nhân loại Judaea, là điều dễ dàng. Nhưng trong ý nghĩa ẩn tàng của nó, từ Sáng Thế Ký đến lời cuối cùng của Deuteronomy, Ngũ Kinh là tường thuật biểu tượng về các giới tính, và là sự thần thánh hóa chủ nghĩa sinh thực khí, dưới các nhân cách hóa thiên văn và sinh lý. Tuy nhiên, sự phối trí của nó chỉ là bề ngoài; và bàn tay con người hiện ra từng lúc, được tìm thấy khắp nơi trong “Sách của Thượng đế”. Do đó, các Vua Edom được bàn đến trong Sáng Thế Ký trước khi bất kỳ vua nào trị vì tại Israel; Moses ghi lại cái chết của chính mình, còn Aaron chết hai lần và được chôn ở hai nơi khác nhau, chưa kể những điều vụn vặt khác. Đối với nhà Kabalah, chúng là những điều vụn vặt, vì y biết rằng mọi biến cố ấy không phải là lịch sử, mà chỉ là chiếc áo choàng được thiết kế để bao bọc và che giấu nhiều đặc điểm sinh lý khác nhau; nhưng đối với người Cơ Đốc chân thành, người tiếp nhận tất cả những “lời tối nghĩa” này bằng đức tin ngay thẳng, điều đó có ý nghĩa rất lớn. Solomon rất có thể được các Mason xem như một huyền thoại mà họ không mất gì vì điều ấy, bởi mọi bí mật của họ đều có tính Kabalah và ẩn dụ, ít nhất là đối với số ít người hiểu chúng. Tuy nhiên, đối với người Cơ Đốc, từ bỏ Solomon, con của David, người mà Đức Jesus được làm cho có dòng dõi từ đó, bao hàm một mất mát thật sự. Nhưng làm thế nào ngay cả các nhà Kabalah có thể tuyên bố tính cổ xưa lớn lao cho các văn bản Hebrew của những cuộn Kinh Thánh cổ mà các học giả hiện sở hữu thì hoàn toàn không rõ. Vì chắc chắn là một sự kiện lịch sử, dựa trên các lời thú nhận của chính người Do Thái, và của cả người Cơ Đốc nữa, rằng: |
|
The Scriptures having perished in the captivity of Nabuchodonozar, Esdras, the Levite, the priest, in the times of Artaxerxes, king of the Persians, having become inspired, in the exercise of prophecy restored again the whole of the ancient Scriptures. 331 |
Kinh sách đã bị thất lạc trong thời lưu đày dưới Nabuchodonozar; Esdras, người Lê-vi, vị tư tế, vào thời Artaxerxes, vua Ba Tư, sau khi được cảm hứng, đã nhờ việc thực hành tiên tri mà phục hồi lại toàn bộ Kinh sách cổ. |
|
One must have a strong belief in “Esdras,” and especially in his good faith, to accept the now-existing copies as genuine Mosaic Books; for: |
Người ta phải có một niềm tin rất mạnh nơi “Esdras”, và nhất là nơi thiện tín của ông, mới có thể chấp nhận các bản sao hiện còn là những Sách Moses chân chính; vì: |
|
Assuming that the copies, or rather phonographs which had been made by Hilkiah and Esdras, and the various anonymous editors, were really true and genuine, they must have been wholly exterminated by Antiochus; and the versions of the Old Testament which now subsist must have been made by Judas, or by some unknown compilers, probably from the Greek of the Seventy, long after the appearance and death of Jesus. 332 |
Giả sử các bản sao, hay đúng hơn là những bản ghi âm đã được Hilkiah và Esdras cùng các biên tập viên vô danh khác thực hiện, thật sự đúng và chân chính, thì chúng hẳn đã bị Antiochus tiêu diệt hoàn toàn; và các bản Cựu Ước hiện còn phải do Judas, hoặc do một số người biên soạn vô danh nào đó thực hiện, có lẽ từ bản Hy Lạp của Bảy Mươi, rất lâu sau khi Đức Jesus xuất hiện và qua đời. |
|
The Bible, therefore, as it is now (the Hebrew texts, that is), depends for its accuracy on the genuineness of the Septuagint; this, we are again told, was written miraculously by the Seventy, in Greek, and the original copy having been lost since that time, our texts are re-translated back into Hebrew from that language. But in this vicious circle of proofs we once more have to rely upon the good faith of two Jews—Josephus and Philo Judæus of Alexandria—these two Historians being the only witnesses that the Septuagint was written under the circumstances narrated. And yet it is just these circumstances that are very little calculated to inspire one with confidence. For what does Josephus tell us? He says that Ptolemy Philadelphus, desiring to read the Hebrew Law in Greek, wrote to Eleazar, the high-priest of the Jews, begging him to send him six men from each of the twelve tribes, who should make a translation for him. Then follows a truly miraculous story, vouchsafed by Aristeas, of these seventy-two men from the twelve tribes of Israel, who, shut up in an island, compiled their translation in exactly seventy-two days, etc. |
Do đó, Kinh Thánh như hiện nay, tức các bản văn Hebrew, về độ chính xác, phải tùy thuộc vào tính chân chính của bản Septuagint; bản này, chúng ta lại được bảo, đã được Bảy Mươi người viết ra một cách kỳ diệu bằng tiếng Hy Lạp, và vì bản gốc đã thất lạc từ thời ấy, các bản văn của chúng ta được dịch ngược trở lại sang Hebrew từ ngôn ngữ đó. Nhưng trong vòng chứng minh luẩn quẩn này, chúng ta một lần nữa phải dựa vào thiện tín của hai người Do Thái—Josephus và Philo Judaeus xứ Alexandria—hai Sử gia này là những nhân chứng duy nhất rằng bản Septuagint đã được viết trong những hoàn cảnh được thuật lại. Thế mà chính những hoàn cảnh ấy lại rất ít có khả năng khơi dậy lòng tin nơi người ta. Vì Josephus nói với chúng ta điều gì? Ông nói rằng Ptolemy Philadelphus, vì muốn đọc Luật Hebrew bằng tiếng Hy Lạp, đã viết thư cho Eleazar, thượng tế của người Do Thái, xin ông gửi cho ông sáu người từ mỗi một trong mười hai chi tộc, để họ thực hiện một bản dịch cho ông. Rồi tiếp theo là một câu chuyện thật sự kỳ diệu, do Aristeas bảo chứng, về bảy mươi hai người này từ mười hai chi tộc Israel, bị giam trong một hòn đảo, đã biên soạn bản dịch của họ đúng trong bảy mươi hai ngày, v.v. |
|
All this is very edifying, and one might have had very little reason to doubt the story, had not the “ten lost tribes” been made to play their part in it. How could these tribes, lost between 700 and 900 b.c., each send six men some centuries later, to satisfy the whim of Ptolemy, and to disappear once more immediately afterwards from the horizon? A miracle, verily. |
Tất cả điều này rất có tính giáo huấn, và người ta có lẽ đã có rất ít lý do để nghi ngờ câu chuyện, nếu “mười chi tộc thất lạc” không bị đưa vào đóng vai trò trong đó. Làm sao các chi tộc này, đã thất lạc vào khoảng 700 và 900 trước Công nguyên, lại có thể mỗi chi tộc gửi sáu người, sau đó mấy thế kỷ, để thỏa mãn ý thích nhất thời của Ptolemy, rồi lập tức biến mất một lần nữa khỏi chân trời? Quả thật là một phép lạ. |
|
We are expected, nevertheless, to regard such documents as the Septuagint as containing direct divine revelation: Documents originally written in a tongue about which nobody now knows anything; written by authors that are practically mythical, and at dates as to which no one is able even to make a defensible surmise; documents of the original copies of which there does not now remain a shred. Yet people will persist in talking of the ancient Hebrew, as if there were any man left in the world who now knows one word of it. So little, indeed, was Hebrew known that both the Septuagint and the New Testament had to be written in a heathen language (the Greek), and no better reasons for it given than what Hutchinson says, namely, that the Holy Ghost chose to write the New Testament in Greek. |
Tuy vậy, người ta vẫn mong chúng ta xem những tài liệu như bản Septuagint là chứa đựng sự mặc khải thiêng liêng trực tiếp: những tài liệu nguyên thủy được viết bằng một ngôn ngữ mà hiện nay không ai biết gì; do những tác giả gần như huyền thoại viết ra, vào những niên đại mà không ai có thể đưa ra nổi dù chỉ một phỏng đoán có thể bênh vực được; những tài liệu mà bản gốc của chúng nay không còn lại một mảnh vụn nào. Thế mà người ta vẫn cứ nói về thứ Hebrew cổ, như thể trên thế gian này còn có người nào hiện biết được một chữ của nó. Thật vậy, Hebrew ít được biết đến đến nỗi cả bản Septuagint lẫn Tân Ước đều phải được viết bằng một ngôn ngữ ngoại giáo, tức tiếng Hy Lạp, và không có lý do nào tốt hơn được đưa ra ngoài điều Hutchinson nói, ấy là Chúa Thánh Thần đã chọn viết Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp. |
|
The Hebrew language is considered to be very old, and yet there exists no trace of it anywhere on the old monuments, not even in Chaldæa. Among the great number of inscriptions of various kinds found in the ruins of that country: |
Ngôn ngữ Hebrew được xem là rất cổ, thế nhưng không có dấu vết nào của nó tồn tại ở bất cứ đâu trên các di tích cổ, ngay cả ở Chaldaea. Trong số rất nhiều minh văn thuộc nhiều loại khác nhau được tìm thấy trong các phế tích của xứ ấy: |
|
One in the Hebrew Chaldee letter and language has never been found; nor has a single authentic medal or gem in this new-fangled character been ever discovered, which could carry it even to the days of Jesus. 333 |
Không một minh văn nào bằng mẫu tự và ngôn ngữ Hebrew Chaldee từng được tìm thấy; cũng chưa từng phát hiện được một huy chương hay bảo thạch xác thực nào bằng lối chữ mới đặt ra này, có thể đưa nó lùi lại dù chỉ đến thời Đức Jesus. |
|
The original Book of Daniel is written in a dialect which is a mixture of Hebrew and Aramaic; it is not even in Chaldaic, with the exception of a few verses interpolated later on. According to Sir W. Jones and other Orientalists, the oldest discoverable languages of Persia are the Chaldaic and Sanskrit, and there is no trace of the “Hebrew” in these. It would be very surprising if there were, since the Hebrew known to the Philologists does not date earlier than 500 b.c., and its characters belong to a far later period still. Thus, while the real Hebrew characters, if not altogether lost are nevertheless so hopelessly transformed— |
Sách Daniel nguyên thủy được viết bằng một phương ngữ pha trộn giữa Hebrew và Aramaic; nó thậm chí không phải bằng tiếng Chaldaic, ngoại trừ một vài câu được thêm vào về sau. Theo Sir W. Jones và các nhà Đông phương học khác, những ngôn ngữ cổ nhất có thể phát hiện được của Ba Tư là Chaldaic và Sanskrit, và trong đó không có dấu vết nào của “Hebrew”. Nếu có thì quả là rất đáng ngạc nhiên, vì Hebrew mà các nhà ngữ văn học biết đến không có niên đại sớm hơn 500 trước Công nguyên, và các ký tự của nó còn thuộc về một thời kỳ muộn hơn nhiều nữa. Vì thế, trong khi các ký tự Hebrew thật sự, nếu chưa hoàn toàn thất lạc, thì cũng đã bị biến đổi đến mức tuyệt vọng— |
|
A mere inspection of the alphabet showing that it has been shaped and made regular, in doing which the characteristic marks of some of the letters have been retrenched in order to make them more square and uniform— 334 |
Chỉ cần nhìn qua bảng chữ cái cũng thấy nó đã được uốn nắn và làm cho đều đặn, trong quá trình ấy các dấu hiệu đặc trưng của một số chữ cái đã bị cắt bớt để khiến chúng vuông vức và đồng dạng hơn— |
|
that no one but an initiated Rabbi of Samaria or a “Jain” could read them, the new system of the masoretic points has made them a sphinx-riddle for all. Punctuation is now to be found everywhere in all the later manuscripts, and by means of it anything can be made of a text; a Hebrew scholar can put on the texts any interpretation he likes. Two instances given by Kenealy will suffice: |
đến nỗi không ai ngoài một Rabbi Samaria đã được điểm đạo hoặc một “Jain” có thể đọc được chúng, thì hệ thống mới của các dấu chấm Masora đã biến chúng thành một câu đố nhân sư đối với tất cả. Dấu câu nay được tìm thấy khắp nơi trong mọi thủ bản về sau, và nhờ nó, người ta có thể biến một bản văn thành bất cứ điều gì; một học giả Hebrew có thể áp đặt lên các bản văn bất cứ cách giải thích nào y thích. Hai ví dụ do Kenealy đưa ra cũng đủ: |
|
In Genesis, xlix. 21, we read: Naphtali is a hind let loose; he giveth goodly words. |
Trong Sáng thế ký, chương bốn mươi chín, câu hai mươi mốt, chúng ta đọc: Naphtali là một con nai cái được thả tự do; y ban những lời tốt đẹp. |
|
By only a slight alteration of the points Bochart changes this into: Naphtali is a spreading tree, shooting forth beautiful branches. |
Chỉ bằng một thay đổi rất nhỏ của các dấu chấm, Bochart biến câu này thành: Naphtali là một cây xòe rộng, vươn ra những cành xinh đẹp. |
|
So again, in Psalms (xxix. 9), instead of: The voice of the Lord maketh the hind to calve, and discovereth the forests; Bishop Lowth gives: The voice of the Lord striketh the oak, and discovereth the forests. |
Cũng vậy, trong Thánh vịnh, chương hai mươi chín, câu chín, thay vì: Tiếng của Chúa khiến nai cái sinh con, và làm lộ ra các khu rừng; Giám mục Lowth đưa ra: Tiếng của Chúa đánh vào cây sồi, và làm lộ ra các khu rừng. |
|
The same word in Hebrew signifies “God” and “nothing,” etc. 335 |
Cùng một từ trong Hebrew có nghĩa là “Thượng đế” và “hư vô”, v.v. |
|
With regard to the claim made by some Kabalists that there was in antiquity one knowledge and one language, this claim is also our own, and it is very just. Only it must be added, to make the thing clear, that this knowledge and language have both been esoteric ever since the submersion of the Atlanteans. The Tower of Babel myth relates to that enforced secrecy. Men falling into sin were regarded as no longer trustworthy for the reception of such knowledge, and, from being universal, it became limited to the few. Thus, the “one-lip”—or the Mystery-language—being gradually denied to subsequent generations, all the nations became severally restricted to their own national tongue; and forgetting the primeval Wisdom-language, they stated that the Lord—one of the chief Lords or Hierophants of the Mysteries of the Java Aleim—had confounded the languages of all the earth, so that the sinners could understand one another’s speech no longer. But Initiates remained in every land and nation, and the Israelites, like all others, had their learned Adepts. One of the keys to this Universal Knowledge is a pure geometrical and numerical system, the alphabet of every great nation having a numerical value for every letter, 336 and, moreover, a system of permutation of syllables and synonyms which is carried to perfection in the Indian Occult methods, and which the Hebrew certainly has not. This one system, containing the elements of Geometry and Numeration, was used by the Jews for the purpose of concealing their Esoteric creed under the mask of a popular and national monotheistic Religion. The last who knew the system to perfection were the learned and “atheistical” Sadducees, the greatest enemies of the pretensions of the Pharisees and of their confused notions brought from Babylon. Yes, the Sadducees, the Illusionists, who maintained that the Soul, the Angels, and all similar Beings, were illusions because they were temporary—thus showing themselves at one with Eastern Esotericism. And since they rejected every book and Scripture, with the exception of the Law of Moses, it seems that the latter must have been very different from what it is now. 337 |
Về tuyên bố của một số nhà Kabbalah rằng thời cổ có một tri thức và một ngôn ngữ duy nhất, tuyên bố ấy cũng là của chúng tôi, và nó rất đúng. Chỉ cần thêm vào, để làm rõ vấn đề, rằng cả tri thức lẫn ngôn ngữ ấy đều đã trở thành huyền bí từ sau khi người Atlantis bị chìm xuống. Huyền thoại Tháp Babel liên quan đến sự giữ bí mật bắt buộc ấy. Con người sa vào tội lỗi được xem là không còn đáng tin cậy để tiếp nhận tri thức như thế nữa, và từ chỗ phổ quát, nó trở nên giới hạn nơi một số ít người. Như vậy, “một môi miệng”—hay Ngôn ngữ Huyền nhiệm—dần dần bị khước từ đối với các thế hệ về sau, mọi dân tộc lần lượt bị giới hạn trong tiếng nói dân tộc riêng của mình; và vì quên mất Ngôn ngữ Minh triết nguyên sơ, họ nói rằng Chúa—một trong các Chúa Tể hay các Hierophant đứng đầu của các Huyền nhiệm Java Aleim—đã làm rối loạn ngôn ngữ của toàn thể Trái Đất, để những kẻ phạm tội không còn hiểu được lời nói của nhau nữa. Nhưng các điểm đạo đồ vẫn còn ở mọi xứ sở và dân tộc, và người Israel, như tất cả các dân khác, cũng có các Chân sư thông thái của họ. Một trong các chìa khóa dẫn vào Tri Thức Phổ Quát này là một hệ thống thuần túy hình học và số học, trong đó bảng chữ cái của mỗi dân tộc lớn đều có một giá trị số cho mỗi chữ cái, và hơn nữa, một hệ thống hoán vị âm tiết và đồng nghĩa được đưa đến mức hoàn hảo trong các phương pháp Huyền bí Ấn Độ, điều mà Hebrew chắc chắn không có. Hệ thống duy nhất này, chứa các yếu tố Hình học và Đếm số, đã được người Do Thái dùng nhằm che giấu tín điều huyền bí của họ dưới mặt nạ của một Tôn giáo độc thần bình dân và dân tộc. Những người cuối cùng biết hệ thống ấy đến mức hoàn hảo là các Sadducee uyên bác và “vô thần”, những kẻ thù lớn nhất của các tham vọng nơi phái Pharisee và những quan niệm lẫn lộn của họ mang về từ Babylon. Vâng, các Sadducee, những nhà Ảo tưởng luận, những người chủ trương rằng Linh hồn, các Thiên Thần và mọi Hữu Thể tương tự đều là ảo tưởng vì chúng chỉ tạm thời—qua đó cho thấy họ đồng nhất với Huyền bí học phương Đông. Và vì họ bác bỏ mọi sách vở và Kinh sách, ngoại trừ Luật Moses, dường như bộ Luật sau hẳn đã rất khác với hình thức hiện nay của nó. |
|
The whole of the foregoing is written with an eye to our Kabalists. Great scholars as some of them undoubtedly are, they are nevertheless wrong to hang the harps of their faith on the willows of Talmudic growth—on the Hebrew scrolls, whether in square or pointed characters, now in our public libraries, museums, or even in the collections of Paleographers. There do not remain half-a-dozen copies from the true Mosaic Hebrew scrolls in the whole world. And those who are in possession of these—as we indicated a few pages back—would not part with them, or even allow them to be examined, on any consideration whatever. How then can any Kabalist claim priority for Hebrew Esotericism, and say, as does one of our correspondents, that “the Hebrew has come down from a far remoter antiquity than any of them [whether Egyptian or even Sanskrit!], and that it was the source, or nearer to the old original source, than any of them”? 338 |
Toàn bộ phần trên được viết với ý hướng nhắm đến các nhà Kabbalah của chúng ta. Dù một số trong họ chắc chắn là các học giả vĩ đại, họ vẫn sai lầm khi treo những cây đàn hạc của đức tin mình trên các cây liễu mọc từ Talmud—trên các cuộn Hebrew, dù bằng ký tự vuông hay có dấu chấm, hiện ở trong các thư viện công cộng, viện bảo tàng, hoặc thậm chí trong các bộ sưu tập của những nhà cổ tự học. Trên toàn thế giới không còn đến nửa tá bản sao từ các cuộn Hebrew Moses chân chính. Và những người đang sở hữu chúng—như chúng tôi đã chỉ ra vài trang trước—sẽ không rời chúng, cũng không cho phép ai khảo sát chúng, dù với bất cứ điều kiện nào. Vậy làm sao bất cứ nhà Kabbalah nào có thể đòi quyền ưu tiên cho Huyền bí học Hebrew, và nói, như một trong các thông tín viên của chúng tôi đã nói, rằng “Hebrew đã truyền xuống từ một thời cổ xa xưa hơn bất kỳ thứ nào trong số chúng, dù là Ai Cập hay thậm chí Sanskrit, và rằng nó là nguồn, hoặc gần với nguồn nguyên thủy xưa hơn bất kỳ thứ nào trong số chúng”? |
|
As our correspondent says: “It becomes more convincing to me every day that in a far past time there was a mighty civilization with enormous learning, which had a common language over the earth, as to which its essence can be recovered from the fragments which now exist.” |
Như thông tín viên của chúng tôi nói: “Mỗi ngày tôi càng thấy thuyết phục hơn rằng trong một thời quá khứ xa xôi đã có một nền văn minh hùng mạnh với tri thức mênh mông, có một ngôn ngữ chung trên khắp Trái Đất, và tinh túy của nó có thể được phục hồi từ những mảnh vụn hiện còn.” |
|
Aye, there existed indeed a mighty civilization, and a still mightier secret learning and knowledge, the entire scope of which can never be discovered by Geometry and the Kabalah alone: for there are seven keys to the large entrance-door, and not one, nor even two, keys can ever open it sufficiently to allow more than glimpses of what lies within. |
Vâng, quả thật đã từng tồn tại một nền văn minh hùng mạnh, và một học thức cùng tri thức bí mật còn hùng mạnh hơn nữa, mà toàn bộ phạm vi của nó không bao giờ có thể được khám phá chỉ bằng Hình học và Kabbalah: vì có bảy chìa khóa cho cánh cửa vào rộng lớn, và không một chìa khóa nào, thậm chí không hai chìa khóa nào, từng có thể mở nó đủ để cho phép thấy nhiều hơn những thoáng nhìn về điều nằm bên trong. |
|
Every scholar must be aware that there are two distinct styles—two schools, so to speak—plainly traceable in the Hebrew Scriptures: the Elohistic and the Jehovistic. The portions belonging to these respectively are so blended together, so completely mixed up by later hands, that often all external characteristics are lost. Yet it is also known that the two schools were antagonistic; that the one taught esoteric, the other exoteric, or theological doctrines; that the one, the Elohists, were Seers (Roch), whereas the other, the Jehovists, were prophets (Nabhi), 339 and that the latter—who later became Rabbis—were generally only nominally prophets by virtue of their official position, as the Pope is called the infallible and inspired vicegerent of God. That, again, the Elohists meant by “Elohim” “forces,” identifying their Deity, as in the Secret Doctrine, with Nature; while the Jehovists made of Jehovah a personal God externally, and used the term simply as a phallic symbol—a number of them secretly disbelieving even in metaphysical, abstract Nature, and synthesizing all on the terrestrial scale. Finally, the Elohists made of man the divine incarnate image of the Elohim, emanated first in all Creation; and the Jehovists show him as the last, the crowning glory of the animal creation, instead of his being the head of all the sensible beings on earth. (This is reversed by some Kabalists, but the reversion is due to the designedly-produced confusion in the texts, especially in the first four chapters of Genesis.) Take the Zohar and find in it the description relating to Ain-Suph, the Western or Semitic Parabrahman. What passages have come so nearly up to the Vedântic ideal as the following: |
Mọi học giả hẳn đều biết rằng có hai phong cách phân biệt—hai trường phái, có thể nói như vậy—được truy nguyên rõ ràng trong Kinh sách Hebrew: trường phái Elohist và trường phái Jehovist. Các phần thuộc về mỗi trường phái ấy đã bị trộn lẫn với nhau, bị các bàn tay về sau pha trộn hoàn toàn, đến nỗi thường khi mọi đặc điểm bên ngoài đều mất đi. Tuy vậy, người ta cũng biết rằng hai trường phái này đối kháng nhau; một bên dạy các giáo lý huyền bí, bên kia dạy các giáo lý ngoại môn hay thần học; một bên, các Elohist, là các nhà thông nhãn, trong khi bên kia, các Jehovist, là các tiên tri, và những người sau—về sau trở thành các Rabbi—nói chung chỉ là tiên tri trên danh nghĩa nhờ địa vị chính thức của họ, như Giáo hoàng được gọi là vị đại diện bất khả ngộ và được cảm hứng của Thượng đế. Lại nữa, các Elohist hiểu “Elohim” là “các mãnh lực”, đồng nhất Thượng đế của họ, như trong Giáo Lý Bí Nhiệm, với Thiên nhiên; trong khi các Jehovist biến Jehovah thành một Thượng đế có ngôi vị ở bên ngoài, và dùng thuật ngữ ấy đơn giản như một biểu tượng dương vật—một số trong họ còn thầm không tin cả vào Thiên nhiên siêu hình, trừu tượng, và tổng hợp mọi sự trên thang bậc trần gian. Cuối cùng, các Elohist biến con người thành hình ảnh nhập thể thiêng liêng của Elohim, được xuất lộ đầu tiên trong toàn thể Sáng tạo; còn các Jehovist trình bày y như kẻ cuối cùng, vinh quang tột đỉnh của sự sáng tạo động vật, thay vì là thủ lĩnh của mọi sinh linh hữu cảm trên Trái Đất. Điều này bị một số nhà Kabbalah đảo ngược, nhưng sự đảo ngược ấy là do sự lẫn lộn cố ý tạo ra trong các bản văn, đặc biệt trong bốn chương đầu của Sáng thế ký. Hãy lấy Zohar và tìm trong đó phần mô tả liên quan đến Ain-Suph, Parabrahman phương Tây hay Semitic. Có đoạn nào đã đến gần lý tưởng Vedanta như đoạn sau đây: |
|
The creation [the evolved Universe] is the garment of that which has no name, the garment woven from the Deity’s own substance. 340 |
Sự sáng tạo, tức Vũ trụ đã tiến hoá, là y phục của cái không có tên, y phục được dệt từ chính chất liệu của Thượng đế. |
|
Between that which is Ain or “nothing,” and the Heavenly Man, there is an Impersonal First Cause, however, of which it is said: |
Tuy nhiên, giữa cái là Ain hay “hư vô” và Đấng Thiên Nhân, có một Nguyên Nhân Đầu Tiên Vô Ngã, mà về Nguyên Nhân ấy người ta nói rằng: |
|
Before It gave any shape to this world, before It produced any form, It was alone, without form or similitude to anything else. Who, then, can comprehend It, how It was before the creation, since It was formless? Hence it is forbidden to represent It by any form, similitude, or even by Its sacred name, by a single letter or a single point. 341 |
Trước khi Nó ban bất cứ hình dạng nào cho thế giới này, trước khi Nó tạo ra bất cứ hình tướng nào, Nó hiện hữu một mình, không hình tướng hay tương tự với bất cứ điều gì khác. Vậy ai có thể lĩnh hội Nó, Nó đã như thế nào trước cuộc sáng tạo, vì Nó vô hình tướng? Do đó, bị cấm không được biểu thị Nó bằng bất cứ hình tướng, sự tương tự nào, hay thậm chí bằng thánh danh của Nó, bằng một chữ cái đơn lẻ hay một điểm đơn lẻ. |
|
The sentence that follows, however, is an evident later interpolation; for it draws attention to a complete contradiction: |
Tuy nhiên, câu tiếp theo là một sự thêm vào về sau rất rõ ràng; vì nó hướng sự chú ý đến một mâu thuẫn hoàn toàn: |
|
And to this the words (Deut. iv. 15), refer— “Ye saw no manner of similitude on the day the Lord spake unto you.” |
Và những lời này trong Đệ Nhị Luật, chương bốn, câu mười lăm, ám chỉ điều ấy— “Các ngươi không thấy một hình dạng tương tự nào vào ngày Chúa phán với các ngươi.” |
|
But this reference to Chapter iv. of Deuteronomy, when in Chapter v. God is mentioned as speaking “face to face” with the people, is very clumsy. |
Nhưng việc viện dẫn chương bốn của Đệ Nhị Luật này, khi trong chương năm Thượng đế được nói là đã phán “mặt đối mặt” với dân chúng, là rất vụng về. |
|
Not one of the names given to Jehovah in the Bible has any reference whatever to either Ain-Suph or the Impersonal First-Cause (which is the Logos) of the Kabalah; but they all refer to the Emanations. |
Không một danh xưng nào dành cho Jehovah trong Kinh Thánh có liên hệ gì với Ain-Suph hay Nguyên Nhân Đầu Tiên Vô Ngã, tức Logos, của Kabbalah; tất cả chúng đều chỉ đến các Xuất lộ. |
|
It says |
Nó nói |
|
For although to reveal itself to us, the concealed of all the concealed sent forth the Ten Emanations [Sephiroth] called the Form of God, Form of the Heavenly Man, yet since even this luminous form was too dazzling for our vision, it had to assume another form, or had to put on another garment, which is the Universe. The Universe, therefore, or the visible world, is a farther expansion of the Divine Substance, and is called in the Kabalah “The Garment of God.” 342 |
Vì dù để tự mặc khải cho chúng ta, Đấng ẩn kín hơn mọi điều ẩn kín đã phóng xuất Mười Xuất lộ, được gọi là Hình Tướng của Thượng đế, Hình Tướng của Đấng Thiên Nhân, nhưng vì ngay cả hình tướng chói sáng này cũng quá rực rỡ đối với tầm nhìn của chúng ta, nó phải khoác lấy một hình tướng khác, hoặc phải mặc một y phục khác, chính là Vũ trụ. Do đó, Vũ trụ, hay thế giới hữu hình, là một sự mở rộng xa hơn của Chất liệu Thiêng liêng, và trong Kabbalah được gọi là “Y phục của Thượng đế.” |
|
This is the doctrine of all the Hindu Purânas, especially that of the Vishnu Purâna. Vishnu pervades the Universe and is that Universe; Brahmâ enters the Mundane Egg, and issues from it as the Universe; Brahmâ even dies with it and there remains only Brahman, the impersonal, the eternal, the unborn, and the unqualifiable. The Ain-Suph of the Chaldæans and later of the Jews is assuredly a copy of the Vaidic Deity; while the “Heavenly Adam,” the Macrocosm which unites in itself the totality of beings and is the Esse of the visible Universe, finds his original in the Purânic Brahmâ. In Sôd, “the Secret of the Law,” one recognizes the expressions used in the oldest fragments of the Gupta Vidyâ, the Secret Knowledge. And it is not venturing too much to say that even a Rabbi quite familiar with his own special Rabbinical Hebrew would only comprehend its secrets thoroughly if he added to his learning a serious knowledge of the Hindu philosophies. Let us turn to Stanza I. of the Book of Dzyan for an example. |
Đây là giáo lý của tất cả các Purana Ấn Độ, đặc biệt là của Vishnu Purana. Vishnu thấm nhuần Vũ trụ và là chính Vũ trụ ấy; Brahma đi vào Trứng Thế Giới, và xuất hiện từ đó như Vũ trụ; Brahma thậm chí chết cùng với nó, và chỉ còn lại Brahman, vô ngã, vĩnh cửu, vô sinh và không thể định phẩm. Ain-Suph của người Chaldaea và về sau của người Do Thái chắc chắn là một bản sao của Thượng đế Veda; trong khi “Adam Thiên Thượng”, Đại thiên địa hợp nhất trong chính mình toàn thể các hữu thể và là Bản Thể của Vũ trụ hữu hình, tìm thấy nguyên mẫu của mình nơi Brahma trong Purana. Trong Sod, “Bí Mật của Luật”, người ta nhận ra các cách diễn đạt được dùng trong những mảnh cổ nhất của Gupta Vidya, Tri Thức Bí Mật. Và không phải quá táo bạo khi nói rằng ngay cả một Rabbi hoàn toàn quen thuộc với Hebrew Rabbinic chuyên biệt của riêng mình cũng chỉ lĩnh hội thấu đáo các bí mật của nó nếu ông thêm vào học thức của mình một hiểu biết nghiêm túc về các triết học Ấn Độ. Chúng ta hãy quay sang Bài kệ I của Sách Dzyan để lấy một ví dụ. |
|
The Zohar premises, as does the Secret Doctrine, a universal, eternal Essence, passive—because absolute—in all that men call attributes. The pregenetic or pre-cosmical Triad is a pure metaphysical abstraction. The notion of a triple hypostasis in one Unknown Divine Essence is as old as speech and thought. Hiranyagarbha, Hari, and Shankara—the Creator, the Preserver, and the Destroyer—are the three manifested attributes of it, appearing and disappearing with Kosmos; the visible Triangle, so to speak, on the plane of the ever-invisible Circle. This is the primeval root-thought of thinking Humanity; the Pythagorean Triangle emanating from the ever-concealed Monad, or the Central Point. |
Zohar tiền giả định, cũng như Giáo Lý Bí Nhiệm, một Tinh Túy phổ quát, vĩnh cửu, thụ động—vì tuyệt đối—trong mọi điều con người gọi là thuộc tính. Tam nguyên tiền phát sinh hay tiền vũ trụ là một trừu tượng siêu hình thuần túy. Quan niệm về một ngôi vị tam phân trong một Tinh Túy Thiêng Liêng Bất Khả Tri cũng cổ xưa như lời nói và tư tưởng. Hiranyagarbha, Hari và Shankara—Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt—là ba thuộc tính biểu hiện của nó, xuất hiện và biến mất cùng với Kosmos; có thể nói là Tam Giác hữu hình trên cõi của Vòng Tròn mãi mãi vô hình. Đây là tư tưởng gốc nguyên sơ của Nhân loại biết suy tư; Tam Giác Pythagoras xuất lộ từ Chân thần mãi mãi ẩn kín, hay Điểm Trung Tâm. |
|
Plato speaks of it and Plotinus calls it an ancient doctrine, on which Cudworth remarks that: |
Plato nói về nó, và Plotinus gọi nó là một giáo lý cổ xưa; về điều này Cudworth nhận xét rằng: |
|
Since Orpheus, Pythagoras, and Plato, who all of them asserted a Trinity of divine hypostases, unquestionably derived their doctrine from the Egyptians, it may be reasonably suspected that the Egyptians did the like before them. 343 |
Vì Orpheus, Pythagoras và Plato, tất cả đều khẳng định một Ba Ngôi gồm các ngôi vị thiêng liêng, chắc chắn đã rút giáo lý của họ từ người Ai Cập, nên có thể hợp lý mà nghi rằng người Ai Cập trước họ cũng đã làm như vậy. |
|
The Egyptians certainly derived their Trinity from the Indians. Wilson justly observes: |
Người Ai Cập chắc chắn đã rút Ba Ngôi của họ từ người Ấn Độ. Wilson nhận xét rất đúng: |
|
As, however, the Grecian accounts and those of the Egyptians are much more perplexed and unsatisfactory than those of the Hindus, it is most probable that we find amongst them the doctrine in its most original, as well as most methodical and significant form. 344 |
Tuy nhiên, vì các tường thuật Hy Lạp và Ai Cập rối rắm và kém thỏa đáng hơn nhiều so với của người Hindu, nên rất có khả năng chúng ta tìm thấy nơi người Hindu giáo lý ấy trong hình thức nguyên thủy nhất, cũng như có phương pháp và thâm nghĩa nhất. |
|
This, then, is the meaning: “Darkness alone filled the Boundless All, for Father, Mother and Son were once more One.” 345 |
Vậy đây là ý nghĩa: “Chỉ Bóng Tối lấp đầy Toàn Thể Vô Biên, vì Cha, Mẹ và Con một lần nữa là Một.” |
|
Space was, and is ever, as it is between the Manvantaras. The Universe in its pre-kosmic state was once more homogeneous and one—outside its aspects. This was a Kabalistic, and is now a Christian teaching. |
Không gian đã hiện hữu, và luôn luôn hiện hữu, như nó vẫn là giữa các Giai kỳ sinh hóa. Vũ trụ trong trạng thái tiền vũ trụ của nó một lần nữa đồng nhất và là một—ở ngoài các phương diện của nó. Đây từng là một giáo lý Kabbalah, và nay là một giáo lý Kitô giáo. |
|
As is constantly shown in the Zohar, the Infinite Unity, or Ain-Suph, is ever placed outside human thought and appreciation; and in Sepher Jetzirah we see the Spirit of God—the Logos, not the Deity itself—called One. |
Như thường xuyên được chỉ ra trong Zohar, Nhất Thể Vô Hạn, hay Ain-Suph, luôn được đặt bên ngoài tư tưởng và sự đánh giá của con người; và trong Sepher Jetzirah, chúng ta thấy Tinh Thần của Thượng đế—Logos, chứ không phải chính Thượng đế—được gọi là Một. |
|
One is the Spirit of the living God,… who liveth for ever. Voice, Spirit, [of the Spirit], and Word: this is the Holy Spirit, 346 |
Một là Tinh Thần của Thượng đế hằng sống,… Đấng sống đời đời. Tiếng Nói, Tinh Thần, của Tinh Thần, và Linh từ: đây là Chúa Thánh Thần, |
|
—and the Quaternary. From this Cube emanates the whole Kosmos. |
—và Tứ phân. Từ Khối Lập Phương này xuất lộ toàn thể Kosmos. |
|
Says the Secret Doctrine: “It is called to life. The mystic Cube in which rests the Creative Idea, the manifesting Mantra [or articulate speech—Vâch] and the holy Purusha [both radiations of prima materia] exist in the Eternity in the Divine Substance in their latent state” |
Giáo Lý Bí Nhiệm nói: “Nó được gọi vào sự sống. Khối Lập Phương thần bí, trong đó an nghỉ Ý Tưởng Sáng Tạo, Mantra biểu hiện, hay lời nói phát âm, và Purusha thiêng liêng, cả hai đều là các bức xạ của chất liệu nguyên sơ, tồn tại trong Vĩnh Cửu nơi Chất liệu Thiêng Liêng trong trạng thái tiềm tàng của chúng” |
|
—during Pralaya. |
—trong Giai kỳ qui nguyên. |
|
And in the Sepher Jetzirah, when the Three-in-One are to be called into being—by the manifestation of Shekinah, the first effulgency or radiation in the manifesting Kosmos—the “Spirit of God,” or Number One, 347 fructifies and awakens the dual Potency, Number Two, Air, and Number Three, Water; in these “are darkness and emptiness, slime and dung”—which is Chaos, the Tohu-Vah-Bohu. The Air and Water emanate Number Four, Ether or Fire, the Son. This is the Kabalistic Quaternary. This Fourth Number, which in the manifested Kosmos is the One, or the Creative God, is with the Hindus the “Ancient,” Sanat, the Prajâpati of the Vedas and the Brahmâ of the Brâhmans—the heavenly Androgyne, as he becomes the male only after separating himself into two bodies, Vâch and Virâj. With the Kabalists, he is at first the Jah-Havah, only later becoming Jehovah, like Virâj, his prototype; after separating himself as Adam-Kadmon into Adam and Eve in the formless, and into Cain-Abel in the semi-objective, world, he became finally the Jah-Havah, or man and woman, in Enoch, the son of Seth. |
Và trong Sepher Jetzirah, khi Ba-trong-Một được gọi vào hiện hữu—nhờ sự biểu hiện của Shekinah, ánh rực rỡ hay bức xạ đầu tiên trong Kosmos đang biểu hiện—“Tinh Thần của Thượng đế”, hay Số Một, làm thụ tinh và đánh thức Tiềm Lực nhị nguyên, Số Hai, Khí, và Số Ba, Nước; trong chúng “có bóng tối và trống rỗng, bùn nhầy và phân”—tức Hỗn Mang, Tohu-Vah-Bohu. Khí và Nước xuất lộ Số Bốn, Dĩ thái hay Lửa, Người Con. Đây là Tứ phân Kabbalah. Số Bốn này, trong Kosmos biểu hiện là Đấng Duy Nhất, hay Thượng đế Sáng Tạo, đối với người Hindu là “Đấng Thái Cổ”, Sanat, Prajapati của Veda và Brahma của các Brahman—Đấng Lưỡng Tính Thiên Thượng, vì Ngài chỉ trở thành nam sau khi tự phân chia mình thành hai thể, Vach và Viraj. Đối với các nhà Kabbalah, ban đầu Ngài là Jah-Havah, chỉ về sau mới trở thành Jehovah, giống như Viraj, nguyên mẫu của Ngài; sau khi tự phân chia mình như Adam-Kadmon thành Adam và Eve trong thế giới vô hình tướng, và thành Cain-Abel trong thế giới bán khách quan, cuối cùng Ngài trở thành Jah-Havah, hay người nam và người nữ, trong Enoch, con của Seth. |
|
For, the true meaning of the compound name of Jehovah—of which, unvoweled, you can make almost anything—is: men and women, or humanity composed of its two sexes. From the first chapter to the end of the fourth chapter of Genesis every name is a permutation of another name, and every personage is at the same time somebody else. A Kabalist traces Jehovah from the Adam of earth to Seth, the third son—or rather race—of Adam. 348 Thus Seth is Jehovah male; and Enos, being a permutation of Cain and Abel, is Jehovah male and female, or our mankind. The Hindu Brahmâ-Virâj, Virâj-Manu, and Manu-Vaivasvata, with his daughter and wife, Vâch, present the greatest analogy with these personages—for anyone who will take the trouble of studying the subject in both the Bible and the Purânas. It is said of Brahmâ that he created himself as Manu, and that he was born of, and was identical with, his original self, while he constituted the female portion “Shata-rûpâ” (hundred-formed). In this Hindu Eve, “the mother of all living beings,” Brahmâ created Virâj, who is himself, but on a lower scale, as Cain is Jehovah on an inferior scale: both are the first males of the Third Race. The same idea is illustrated in the Hebrew name of God (יהוה) Read from right to left “Jod” (י) is the father, “He” (ה) the mother, “Vau” (ו) the son, and “He” (ה), repeated at the end of the word, is generation, the act of birth, materiality. This is surely a sufficient reason why the God of the Jews and Christians should be personal, as much as the male Brahmâ, Vishnu, or Shiva of the orthodox, exoteric Hindu. |
Vì ý nghĩa chân thật của danh xưng ghép Jehovah—một danh xưng nếu không có nguyên âm thì người ta có thể tạo ra gần như bất cứ điều gì—là: những người nam và nữ, hay nhân loại gồm hai giới tính của nó. Từ chương đầu đến hết chương bốn của Sáng thế ký, mỗi danh xưng là một hoán vị của một danh xưng khác, và mỗi nhân vật đồng thời là một người nào khác. Một nhà Kabbalah truy nguyên Jehovah từ Adam của đất đến Seth, người con thứ ba—hay đúng hơn là nhân loại—của Adam. Như vậy Seth là Jehovah nam; và Enos, là một hoán vị của Cain và Abel, là Jehovah nam và nữ, hay nhân loại của chúng ta. Brahma-Viraj, Viraj-Manu và Manu-Vaivasvata của người Hindu, cùng con gái và vợ của ông, Vach, trình bày sự tương đồng lớn nhất với các nhân vật này—đối với bất cứ ai chịu khó nghiên cứu chủ đề trong cả Kinh Thánh lẫn các Purana. Người ta nói về Brahma rằng Ngài đã tự sáng tạo mình như Manu, rằng Ngài được sinh ra từ, và đồng nhất với, bản ngã nguyên thủy của Ngài, trong khi Ngài cấu thành phần nữ “Shata-rupa”, tức trăm hình. Trong Eve Ấn Độ này, “mẹ của mọi sinh linh”, Brahma đã tạo ra Viraj, chính là Ngài, nhưng ở một thang bậc thấp hơn, như Cain là Jehovah ở một thang bậc thấp hơn: cả hai đều là những nam nhân đầu tiên của Giống Dân Thứ Ba. Cùng một ý tưởng được minh họa trong danh xưng Hebrew của Thượng đế, được đọc từ phải sang trái: “Jod” là cha, “He” là mẹ, “Vau” là con, và “He”, được lặp lại ở cuối từ, là sự sinh sản, hành vi sinh nở, tính vật chất. Đây chắc chắn là lý do đủ để Thượng đế của người Do Thái và Kitô hữu phải có ngôi vị, cũng như Brahma, Vishnu hay Shiva nam tính của người Hindu chính thống, ngoại môn. |
|
Thus the term of Jhvh alone—now accepted as the name of “One living [male] God”—will yield, if seriously studied, not only the whole mystery of Being (in the Biblical sense,) but also that of the Occult Theogony, from the highest divine Being, the third in order, down to man. As shown by the best Hebraists: |
Như vậy, chỉ riêng thuật ngữ Jhvh—nay được chấp nhận như danh xưng của “Một Thượng đế hằng sống nam tính”—nếu được nghiên cứu nghiêm túc, sẽ đem lại không chỉ toàn bộ huyền nhiệm của Bản Thể theo nghĩa Kinh Thánh, mà còn cả huyền nhiệm của Thần phả Huyền bí, từ Hữu Thể thiêng liêng cao nhất, thứ ba theo thứ tự, xuống đến con người. Như các học giả Hebrew giỏi nhất đã chỉ ra: |
|
The verbal היה, or Hâyâh, or E-y-e, means to be, to exist, while חיה or Châyâh, or H-y-e, means to live, as motion of existence. 349 |
Gốc động từ Hâyâh, hay E-y-e, có nghĩa là hiện hữu, tồn tại, trong khi Châyâh, hay H-y-e, có nghĩa là sống, như chuyển động của sự tồn tại. |
|
Hence Eve stands as the evolution and the never-ceasing “becoming” of Nature. Now if we take the almost untranslatable Sanskrit word Sat, which means the quintessence of absolute immutable Being, or Be-ness—as it has been rendered by an able Hindu Occultist—we shall find no equivalent for it in any language; but it may be regarded as most closely resembling “Ain,” or “En-Suph,” Boundless Being. Then the term Hâyâh, “to be,” as passive, changeless, yet manifested existence may perhaps be rendered by the Sanskrit Jîvâtmâ, universal life or soul, in its secondary and cosmic meaning; while “Châyâh,” “to live,” as “motion of existence,” is simply Prâna, the ever-changing life in its objective sense. It is at the head of this third category that the Occultist finds Jehovah—the Mother, Binah, and the Father, Arelim. This is made plain in the Zohar, when the emanation and evolution of the Sephiroth are explained: First, Ain-Suph, then Shekinah, the Garment or Veil of Infinite Light, then Sephira or the Kadmon, and, thus making the fourth, the spiritual Substance sent forth from the Infinite Light. This Sephira is called the Crown, Kether, and has besides, six other names—in all seven. These names are: 1. Kether; 2. the Aged; 3. the Primordial Point; 4. the White Head; 5. the Long Face; 6. the Inscrutable Height; and 7. Ehejeh (“I am”.) 350 This septenary Sephira is said to contain in itself the nine Sephiroth. But before showing how she brought them forth, let us read an explanation about the Sephiroth in the Talmud, which gives it as an archaic tradition, or Kabalah. |
Do đó Eve tượng trưng cho sự tiến hoá và “sự trở thành” không ngừng của Thiên nhiên. Nay nếu chúng ta lấy từ Sanskrit gần như không thể dịch được là Sat, nghĩa là tinh túy của Bản Thể tuyệt đối bất biến, hay tính Hiện Hữu—như một nhà Huyền bí học Hindu tài năng đã dịch—chúng ta sẽ không tìm thấy từ tương đương với nó trong bất cứ ngôn ngữ nào; nhưng có thể xem nó gần giống nhất với “Ain”, hay “En-Suph”, Bản Thể Vô Biên. Khi ấy thuật ngữ Hâyâh, “hiện hữu”, với tư cách thụ động, bất biến, nhưng là sự tồn tại biểu hiện, có lẽ có thể được dịch bằng Sanskrit Jivatma, sự sống hay linh hồn phổ quát, theo nghĩa thứ cấp và vũ trụ của nó; trong khi “Châyâh”, “sống”, như “chuyển động của sự tồn tại”, đơn giản là Prana, sự sống luôn biến đổi theo nghĩa khách quan của nó. Chính ở đầu loại thứ ba này mà nhà Huyền bí học tìm thấy Jehovah—Mẹ, Binah, và Cha, Arelim. Điều này được làm rõ trong Zohar, khi sự xuất lộ và tiến hoá của các Sephiroth được giải thích: trước hết là Ain-Suph, rồi Shekinah, Y phục hay Màn che của Ánh Sáng Vô Hạn, rồi Sephira hay Kadmon, và như vậy làm thành cái thứ tư, Chất liệu tinh thần được phóng xuất từ Ánh Sáng Vô Hạn. Sephira này được gọi là Vương Miện, Kether, và ngoài ra còn có sáu danh xưng khác—tất cả là bảy. Các danh xưng này là: một, Kether; hai, Đấng Lão Niên; ba, Điểm Nguyên Sơ; bốn, Đầu Trắng; năm, Gương Mặt Dài; sáu, Chiều Cao Bất Khả Tư Nghị; và bảy, Ehejeh, “Tôi là”. Sephira thất phân này được nói là chứa trong chính mình chín Sephiroth. Nhưng trước khi chỉ ra cách bà sinh ra chúng, chúng ta hãy đọc một lời giải thích về Sephiroth trong Talmud, nơi trình bày điều ấy như một truyền thống cổ xưa, hay Kabbalah. |
|
There are three groups (or orders) of Sephiroth: 1. The Sephiroth called “divine attributes” (the Triad in the Holy Quaternary); 2. the sidereal (personal) Sephiroth; 3. the metaphysical Sephiroth, or a periphrasis of Jehovah, who are the first three Sephiroth (Kether, Chokmah and Binah), the rest of the seven being the personal “Seven Spirits of the Presence” (also of the planets, therefore). Speaking of these, the angels are meant, though not because they are seven, but because they represent the seven Sephiroth which contain in them the universality of the Angels. |
Có ba nhóm, hay ba phẩm trật, Sephiroth: một, các Sephiroth được gọi là “thuộc tính thiêng liêng”, tức Tam nguyên trong Tứ phân Thiêng Liêng; hai, các Sephiroth tinh tú, có ngôi vị; ba, các Sephiroth siêu hình, hay một cách nói quanh về Jehovah, tức ba Sephiroth đầu tiên, Kether, Chokmah và Binah, trong đó phần còn lại của bảy là “Bảy Tinh Thần của Sự Hiện Diện” có ngôi vị, do đó cũng thuộc các hành tinh. Khi nói về những điều này, người ta muốn nói đến các thiên thần, không phải vì họ là bảy, mà vì họ đại diện cho bảy Sephiroth chứa trong mình tính phổ quát của các Thiên Thần. |
|
This shows (a) that, when the first four Sephiroth are separated, as a Triad-Quaternary—Sephira being its synthesis—there remain only seven Sephiroth, as there are seven Rishis; these become ten when the Quaternary, or the first divine Cube, is scattered into units; and (b) that while Jehovah might have been viewed as the Deity, if he be included in the three divine groups or orders of the Sephiroth, the collective Elohim, or the quaternary indivisible Kether, once that he becomes a male God, he is no more than one of the Builders of the lower group—a Jewish Brahmâ. 351 A demonstration is now attempted. |
Điều này cho thấy: một, khi bốn Sephiroth đầu tiên được tách ra như một Tam nguyên-Tứ phân—Sephira là sự tổng hợp của nó—thì chỉ còn lại bảy Sephiroth, cũng như có bảy Rishi; chúng trở thành mười khi Tứ phân, hay Khối Lập Phương thiêng liêng đầu tiên, được phân tán thành các đơn vị; và hai, trong khi Jehovah có thể đã được xem là Thượng đế nếu Ngài được bao gồm trong ba nhóm hay phẩm trật thiêng liêng của Sephiroth, Elohim tập thể, hay Kether tứ phân bất khả phân, thì một khi Ngài trở thành một Thượng đế nam tính, Ngài không còn hơn gì một trong các Đấng Kiến Tạo của nhóm thấp hơn—một Brahma Do Thái. Giờ đây một sự chứng minh được thử tiến hành. |
|
The first Sephira, containing the other nine, brought them forth in this order: (2) Hokmah (Chokmah, or Wisdom), a masculine active potency represented among the divine names as Jah; and, as a permutation or an evolution into lower forms in this instance—becoming the Auphanim (or the Wheels—cosmic rotation of matter) among the army, or the angelic hosts. From this Chokmah emanated a feminine passive potency called (3) Intelligence, Binah, whose divine name is Jehovah, and whose angelic name, among the Builders and Hosts, is Arelim. 352 It is from the union of these two potencies, male and female (or Chokmah and Binah) that emanated all the other Sephiroth, the seven orders of the Builders. Now if we call Jehovah by his divine name, then he becomes at best and forthwith “a female passive” potency in Chaos. And if we view him as a male God, he is no more than one of many, an Angel, Arelim. But straining the analysis to its highest point, and if his male name Jah, that of Wisdom, be allowed to him, still he is not the “Highest and the one Living God;” for he is contained with many others within Sephira, and Sephira herself is a third Potency in Occultism, though regarded as the first in the exoteric Kabalah—and is one, moreover, of lesser importance than the Vaidic Aditi, or the Primordial Water of Space, which becomes after many a permutation the Astral Light of the Kabalist. |
Sephira thứ nhất, chứa chín Sephiroth kia, đã sinh ra chúng theo thứ tự này: hai, Hokmah, Chokmah hay Minh triết, một tiềm lực chủ động nam tính, được biểu thị trong các danh xưng thiêng liêng là Jah; và, như một hoán vị hay một sự tiến hoá thành các hình tướng thấp hơn trong trường hợp này—trở thành Auphanim, hay các Bánh Xe, tức sự quay vũ trụ của vật chất, trong đạo quân hay các thiên binh. Từ Chokmah này xuất lộ một tiềm lực thụ động nữ tính gọi là ba, Trí Tuệ, Binah, có danh xưng thiêng liêng là Jehovah, và danh xưng thiên thần của nó, giữa các Đấng Kiến Tạo và các Đạo Quân, là Arelim. Chính từ sự kết hợp của hai tiềm lực này, nam và nữ, hay Chokmah và Binah, mà tất cả các Sephiroth khác, bảy phẩm trật của các Đấng Kiến Tạo, đã xuất lộ. Nay nếu chúng ta gọi Jehovah bằng danh xưng thiêng liêng của Ngài, thì cùng lắm và tức khắc Ngài trở thành một tiềm lực “thụ động nữ tính” trong Hỗn Mang. Và nếu chúng ta xem Ngài như một Thượng đế nam tính, Ngài không hơn gì một trong nhiều vị, một Thiên Thần, Arelim. Nhưng nếu đẩy sự phân tích đến điểm cao nhất, và nếu danh xưng nam tính Jah của Ngài, danh xưng của Minh triết, được nhường cho Ngài, thì Ngài vẫn không phải là “Đấng Cao Nhất và Một Thượng đế Hằng Sống”; vì Ngài được chứa cùng nhiều vị khác trong Sephira, và chính Sephira là một Tiềm Lực thứ ba trong Huyền bí học, dù được xem là thứ nhất trong Kabbalah ngoại môn—và hơn nữa, là một vị có tầm quan trọng kém hơn Aditi Veda, hay Nước Nguyên Sơ của Không Gian, vốn sau nhiều hoán vị trở thành Ánh Sáng Cảm Dục của nhà Kabbalah. |
|
Thus the Kabalah, as we have it now, is shown to be of the greatest importance in explaining the allegories and “dark sayings” of the Bible. As an Esoteric work upon the mysteries of creation, however, it is almost worthless as it is now disfigured, unless checked by the Chaldæan Book of Numbers or by the tenets of the Eastern Secret Science, or Esoteric Wisdom. The Western nations have neither the original Kabalah, nor yet the Mosaic Bible. |
Như vậy Kabbalah, như chúng ta có hiện nay, được chứng tỏ là có tầm quan trọng lớn nhất trong việc giải thích các ẩn dụ và “lời nói tối nghĩa” của Kinh Thánh. Tuy nhiên, với tư cách một tác phẩm Huyền bí về các huyền nhiệm của sáng tạo, nó hầu như vô giá trị trong tình trạng hiện nay đã bị biến dạng, trừ khi được kiểm chứng bằng Sách Các Con Số của Chaldaea hoặc bằng các giáo thuyết của Khoa Học Bí Mật phương Đông, hay Minh Triết Huyền Bí. Các quốc gia phương Tây không có Kabbalah nguyên thủy, cũng chưa có Kinh Thánh Moses. |
|
Finally, it is demonstrated by internal as well as by external evidence, on the testimony of the best European Hebraists, and the confessions of the learned Jewish Rabbis themselves, that “an ancient document forms the essential basis of the Bible, which received very considerable insertions and supplements;” and that “the Pentateuch arose out of the primitive or older document by means of a supplementary one.” Therefore in the absence of the Book of Numbers, 353 the Kabalists of the West are only entitled to come to definite conclusions, when they have at hand some data at least from that “ancient document”—data now found scattered throughout Egyptian papyri, Assyrian tiles, and the traditions preserved by the descendants of the disciples of the last Nazars. Instead of that, most of them accept as their authorities and infallible guides Sabre d’Olivet—who was a man of immense erudition and of speculative mind, but neither a Kabalist nor an Occultist, either Western or Eastern—and the Mason Ragon, the greatest of the “Widow’s sons,” who was even less of an Orientalist than d’Olivet, for Sanskrit learning was almost unknown in the days of both these eminent scholars. |
Cuối cùng, cả bằng chứng nội tại lẫn ngoại tại, dựa trên lời chứng của các học giả Hebrew châu Âu giỏi nhất và những lời thú nhận của chính các Rabbi Do Thái uyên bác, đều chứng minh rằng “một tài liệu cổ tạo thành nền tảng thiết yếu của Kinh Thánh, vốn đã nhận những phần chèn thêm và bổ sung rất đáng kể”; và rằng “Ngũ Kinh phát sinh từ tài liệu nguyên thủy hay cổ hơn nhờ một tài liệu bổ sung.” Do đó, trong khi thiếu Sách Các Con Số, các nhà Kabbalah phương Tây chỉ có quyền đi đến những kết luận xác định khi họ có trong tay ít nhất một số dữ liệu từ “tài liệu cổ” ấy—những dữ liệu nay được tìm thấy rải rác trong các giấy cói Ai Cập, các bảng đất nung Assyria, và các truyền thống được gìn giữ bởi hậu duệ của các đệ tử của những Nazar cuối cùng. Thay vào đó, đa số họ chấp nhận làm thẩm quyền và người hướng đạo bất khả ngộ của mình Sabre d’Olivet—một người có học vấn mênh mông và trí óc suy đoán, nhưng không phải là nhà Kabbalah hay nhà Huyền bí học, dù phương Tây hay phương Đông—và Hội viên Tam Điểm Ragon, người vĩ đại nhất trong các “con trai của Bà Góa”, còn kém cả d’Olivet về phương diện Đông phương học, vì học thuật Sanskrit hầu như chưa được biết đến vào thời của cả hai học giả lỗi lạc này. |
Section XXI. Hebrew Allegories. — Tiết XXI. Các Ẩn Dụ Hebrew.
|
How can any Kabalist, acquainted with the foregoing, deduce his conclusions with regard to the true Esoteric beliefs of the primitive Jews, from that only which he now finds in the Jewish scrolls? How can any scholar—even though one of the keys to the universal language be now positively discovered, the true key to the numerical reading of a pure geometrical system—give out anything as his final conclusion? Modern Kabalistic speculation is on a par now with modern “speculative Masonry;” for as the latter tries vainly to link itself with the ancient—or rather the archaic—Masonry of the Temples, failing to make the link because all its claims have been shown to be inaccurate from an archæological standpoint, so fares it also with Kabalistic speculation. As no mystery of Nature worth running after can be revealed to humanity by settling whether Hiram Abif was a living Sidonian builder, or a solar myth, so no fresh information will be added to Occult Lore by the details of the exoteric privileges conferred on the Collegia Fabrorum by Numa Pompilius. Rather must the symbols used in it be studied in the Âryan light, since all the Symbolism of the ancient Initiations came to the West with the light of the Eastern Sun. Nevertheless, we find the most learned Masons and Symbologists declaring that all these weird symbols and glyphs, that run back to a common origin of immense antiquity, were nothing more than a display of cunning natural phallicism, or emblems of primitive typology. How much nearer the truth is the author of The Source of Measures, who declares that the elements of human and numerical construction in the Bible do not shut out the spiritual elements in it, albeit so few now understand them. The words we quote are as suggestive as they are true: |
Làm sao bất cứ nhà Kabbalah nào, khi đã biết những điều trên, có thể suy ra các kết luận của mình về những niềm tin Huyền bí chân chính của người Do Thái nguyên thủy chỉ từ những gì y hiện tìm thấy trong các cuộn Do Thái? Làm sao bất cứ học giả nào—ngay cả khi một trong các chìa khóa của ngôn ngữ phổ quát nay đã được phát hiện một cách xác thực, tức chìa khóa chân chính cho cách đọc số học của một hệ thống thuần túy hình học—có thể đưa ra bất cứ điều gì như kết luận cuối cùng của mình? Sự suy đoán Kabbalah hiện đại nay ngang hàng với “Hội Tam Điểm suy đoán” hiện đại; vì cũng như cái sau cố gắng vô ích để liên kết mình với Hội Tam Điểm cổ đại—hay đúng hơn là thái cổ—của các Đền Thờ, nhưng thất bại trong việc tạo ra mối liên kết vì mọi tuyên bố của nó đã được chứng minh là không chính xác theo quan điểm khảo cổ học, thì sự suy đoán Kabbalah cũng như vậy. Cũng như không huyền nhiệm nào của Thiên nhiên đáng để theo đuổi có thể được mặc khải cho nhân loại bằng cách quyết định xem Hiram Abif là một người thợ xây Sidon có thật, hay một huyền thoại mặt trời, thì cũng không có thông tin mới nào được thêm vào Minh Triết Huyền bí nhờ các chi tiết về những đặc quyền ngoại môn được Numa Pompilius ban cho Collegia Fabrorum. Đúng hơn, các biểu tượng được dùng trong đó phải được nghiên cứu dưới ánh sáng Arya, vì toàn bộ Biểu tượng học của các Cuộc Điểm Đạo cổ xưa đã đến phương Tây cùng ánh sáng của Mặt Trời phương Đông. Tuy nhiên, chúng ta thấy các Hội viên Tam Điểm và các nhà Biểu tượng học uyên bác nhất tuyên bố rằng tất cả những biểu tượng và ký tự kỳ dị ấy, vốn quay ngược về một nguồn gốc chung của thời cổ vô cùng xa xăm, chẳng qua chỉ là một sự phô bày của chủ nghĩa dương vật tự nhiên đầy khéo léo, hoặc là các biểu tượng của loại hình học nguyên thủy. Tác giả của The Source of Measures gần với chân lý hơn biết bao khi tuyên bố rằng các yếu tố cấu tạo nhân loại và số học trong Kinh Thánh không loại trừ các yếu tố tinh thần trong đó, mặc dù hiện nay rất ít người thấu hiểu chúng. Những lời chúng tôi trích dẫn vừa gợi ý vừa chân thật: |
|
How desperately blinding becomes a superstitious use, through ignorance, of such emblems, when they are made to possess the power of bloodshed and torture, through orders of propaganda of any species of religious cultus. When one thinks of the horrors of a Moloch, or Baal, or Dagon worship; of the correlated blood-deluges under the Cross baptized in gore by Constantine, at the initiative of the secular Church;… when one thinks of all this and then that the cause of all has been simply ignorance of the real radical reading of the Moloch, and Baal, and Dagon, and the Cross and the T’phillin, all running back to a common origin, and after all being nothing more than a display of pure and natural mathematics,… one is apt to feel like cursing ignorance, and to lose confidence in what are called intuitions of religion; one is apt to wish for a return of the day when all the world was of one lip and of one knowledge…. But while these elements [of the construction of the pyramid] are rational and scientific,… let no man consider that with this discovery comes a cutting-off of the spirituality 354 of the Bibleintention, or of man’s relation to this spiritual foundation. Does one wish to build a house? No house was ever actually built with tangible material until first the architectural design of building had been accomplished, no matter whether the structure was palace or hovel. So with these elements and numbers. They are not of man, nor are they of his invention. They have been revealed to him to the extent of his ability to realize a system, which is the creative system of the eternal God…. But spiritually, to man the value of this matter is that he can actually in contemplation, bridge over all material construction of the cosmos, and pass into the very thought and mind of God, to the extent of recognizing this system of design for cosmic creation—yea, even before the words went forth: “Let there be.” 355 |
Việc sử dụng mê tín các biểu tượng như thế, do vô minh, trở nên mù quáng khủng khiếp biết bao, khi người ta khiến chúng mang quyền năng của đổ máu và tra tấn, qua các mệnh lệnh tuyên truyền của bất cứ loại sùng bái tôn giáo nào. Khi người ta nghĩ đến những nỗi kinh hoàng của việc thờ phụng Moloch, hay Baal, hay Dagon; đến những trận hồng thủy máu tương ứng dưới Thập Giá, được Constantine rửa tội trong máu, theo sáng kiến của Giáo hội thế tục;… khi người ta nghĩ đến tất cả những điều này, rồi nghĩ rằng nguyên nhân của tất cả chỉ đơn giản là sự vô minh về cách đọc căn nguyên đích thực của Moloch, Baal, Dagon, và Thập Giá cùng T’phillin, tất cả đều quy về một nguồn gốc chung, và rốt cuộc chẳng là gì hơn một sự phô bày của toán học thuần túy và tự nhiên,… người ta dễ cảm thấy muốn nguyền rủa vô minh, và mất lòng tin vào những điều được gọi là trực giác của tôn giáo; người ta dễ mong cho ngày trở lại khi toàn thế giới có cùng một môi miệng và cùng một tri thức…. Nhưng trong khi các yếu tố này [của việc xây dựng kim tự tháp] là hợp lý và khoa học,… đừng ai cho rằng cùng với phát hiện này, tinh thần của ý hướng Kinh Thánh, hay mối liên hệ của con người với nền tảng tinh thần này, bị cắt đứt. Người ta muốn xây một ngôi nhà chăng? Chưa từng có ngôi nhà nào thật sự được xây bằng vật liệu hữu hình cho đến khi trước hết bản thiết kế kiến trúc của công trình đã được hoàn tất, bất kể cấu trúc ấy là cung điện hay túp lều. Các yếu tố và con số này cũng vậy. Chúng không thuộc về con người, cũng không do y phát minh. Chúng đã được mặc khải cho y tùy theo khả năng y chứng nghiệm một hệ thống, vốn là hệ thống sáng tạo của Thượng đế vĩnh cửu…. Nhưng về mặt tinh thần, đối với con người, giá trị của vấn đề này là y thật sự có thể, trong chiêm ngưỡng, bắc cầu vượt qua toàn bộ cấu trúc vật chất của vũ trụ, và đi vào chính tư tưởng và Trí của Thượng đế, đến mức nhận ra hệ thống thiết kế này cho cuộc sáng tạo vũ trụ — vâng, ngay cả trước khi những lời này phát ra: “Hãy hiện hữu.” |
|
But true as the above words may be, when coming from one who has re-discovered, more completely than anyone else has done during the past centuries, one of the keys to the universal Mystery Language, it is impossible for an Eastern Occultist to agree with the conclusion of the able author of The Source of Measures. He “has set out to find the truth,” and yet he still believes that: |
Nhưng dù những lời trên có thể đúng, khi phát xuất từ một người đã tái khám phá, trọn vẹn hơn bất cứ ai khác trong các thế kỷ vừa qua, một trong những chìa khóa của Ngôn Ngữ Huyền Nhiệm phổ quát, thì một nhà huyền bí học Đông phương vẫn không thể đồng ý với kết luận của tác giả uyên bác của Nguồn Gốc của Các Thước Đo. Ông “đã khởi sự tìm chân lý”, thế mà ông vẫn tin rằng: |
|
The best and most authentic vehicle of communication from [the creative] God to man… is to be found in the Hebrew Bible. |
Vận cụ truyền đạt tốt nhất và xác thực nhất từ Thượng đế [sáng tạo] đến con người… được tìm thấy trong Kinh Thánh Hebrew. |
|
To this we must and shall demur, giving our reasons for it in a few words. The “Hebrew Bible” exists no more, as has been shown in the foregoing pages, and the garbled accounts, the falsified and pale copies we have of the real Mosaic Bible of the Initiates, warrant the making of no such sweeping assertion and claim. All that the scholar can fairly claim is that the Jewish Bible, as now extant—in its latest and final interpretation, and according to the newly-discovered key—may give a partial presentment of the truths it contained before it was mangled. But how can he tell what the Pentateuch contained before it had been re-composed by Esdras; then corrupted still more by the ambitious Rabbis in later times, and otherwise remodelled and interfered with? Leaving aside the opinion of the declared enemies of the Jewish Scriptures, one may quote simply what their most devoted followers say. |
Về điều này, chúng ta phải và sẽ phản đối, nêu lý do trong vài lời. “Kinh Thánh Hebrew” không còn tồn tại nữa, như đã được trình bày trong các trang trước; và những tường thuật bị bóp méo, những bản sao sai lạc và nhợt nhạt mà chúng ta có về Kinh Thánh Moses đích thực của các Điểm đạo đồ, không cho phép đưa ra một khẳng định và tuyên bố bao quát như thế. Tất cả những gì học giả có thể tuyên bố một cách công bằng là Kinh Thánh Do Thái, như hiện nay còn tồn tại — trong cách diễn giải mới nhất và cuối cùng của nó, và theo chìa khóa mới được khám phá — có thể đưa ra một sự trình bày phần nào về các chân lý mà nó chứa đựng trước khi bị cắt xén. Nhưng làm sao ông có thể biết Ngũ Thư chứa đựng gì trước khi nó được Esdras biên soạn lại; rồi về sau lại bị các Rabbi đầy tham vọng làm hư hoại thêm, và bằng nhiều cách khác bị sửa đổi, can thiệp? Gạt sang một bên ý kiến của những kẻ công khai thù nghịch với Kinh văn Do Thái, người ta chỉ cần trích dẫn điều mà những tín đồ tận tụy nhất của chúng nói. |
|
Two of these are Horne and Prideaux. The avowals of the former will be sufficient to show how much now remains of the original Mosaic books, unless indeed we accept his sublimely blind faith in the inspiration and editorship of the Holy Ghost. He writes that when a Hebrew scribe found a writing of any author he was entitled, if he thought fit, being “conscious of the aid of the Holy Spirit,” to do exactly as he pleased with it—to cut it up, or copy it, or use as much of it as he deemed right, and so to incorporate it with his own manuscript. Dr. Kenealy aptly remarks of Horne, that it is almost impossible to get any admission from him |
Hai người trong số đó là Horne và Prideaux. Những lời thú nhận của người trước đủ để cho thấy hiện nay còn lại bao nhiêu từ các sách Moses nguyên thủy, trừ phi quả thật chúng ta chấp nhận đức tin mù quáng cao siêu của ông vào cảm hứng và vai trò biên tập của Chúa Thánh Thần. Ông viết rằng khi một người chép kinh Hebrew tìm thấy một bản văn của bất cứ tác giả nào, y có quyền, nếu y thấy thích hợp, vì “ý thức về sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần”, làm với nó đúng như y muốn — cắt nó ra, hoặc sao chép nó, hoặc dùng bao nhiêu phần trong đó tùy y cho là đúng, và như thế đưa nó vào bản thảo của riêng mình. Tiến sĩ Kenealy nhận xét rất xác đáng về Horne rằng hầu như không thể khiến ông thừa nhận bất cứ điều gì |
|
That makes against his church, so remarkably guarded is he [Horne] in his phraseology and so wonderfully discreet in the use of words that his language, like a diplomatic letter, perpetually suggests to the mind ideas other than those which he really means; I defy any unlearned person to read his chapter on “Hebrew characters” and to derive any knowledge from it whatever on the subject on which he professes to treat. 356 |
Bất lợi cho giáo hội của ông, vì ông [Horne] thận trọng lạ thường trong cách dùng câu chữ và khôn khéo kỳ diệu trong việc dùng từ, đến nỗi ngôn ngữ của ông, như một bức thư ngoại giao, luôn gợi trong trí những ý tưởng khác với những gì ông thật sự muốn nói; tôi thách bất cứ người không uyên bác nào đọc chương của ông về “các ký tự Hebrew” mà rút ra được bất cứ tri thức nào về đề tài mà ông tự nhận là đang bàn đến. |
|
And yet this same Horne writes: |
Thế mà cũng chính Horne ấy viết: |
|
We are persuaded that the things to which reference is made proceeded from the original writers or compilers of the books [Old Testament]. Sometimes they took other writings, annals, genealogies, and such like, with which they incorporated additional matter, or which they put together with greater or less condensation. The Old Testament authors used the sources they employed (that is, the writing of other people) with freedom and independence. Conscious of the aid of the Divine Spirit, they adapted their own productions, or the productions of others, to the wants of the times. But in these respects they cannot be said to have corrupted the text of Scripture. They made the text. 357 |
Chúng tôi tin chắc rằng những điều được nhắc đến đã phát xuất từ các tác giả hay những người biên soạn nguyên thủy của các sách [Cựu Ước]. Đôi khi họ lấy những bản văn khác, biên niên sử, gia phả, và những thứ tương tự, rồi đưa thêm chất liệu vào, hoặc ghép chúng lại với mức độ cô đọng nhiều hay ít. Các tác giả Cựu Ước đã dùng những nguồn mà họ sử dụng (nghĩa là các bản văn của người khác) với sự tự do và độc lập. Ý thức về sự trợ giúp của Tinh Thần Thiêng Liêng, họ điều chỉnh các tác phẩm của chính họ, hoặc tác phẩm của người khác, cho phù hợp với nhu cầu của thời đại. Nhưng trong các phương diện này, không thể nói rằng họ đã làm hư hoại văn bản Kinh Thánh. Họ đã tạo nên văn bản ấy. |
|
But of what did they make it? Why, of the writings of other persons, justly observes Kenealy: |
Nhưng họ tạo nên nó từ cái gì? Từ các bản văn của những người khác, Kenealy nhận xét đúng như vậy: |
|
And this is Horne’s notion of what the Old Testament is—a cento from the writings of unknown persons collected and put together by those who, he says, were divinely inspired. No infidel that I know of has ever made so damaging a charge as this against the authenticity of the Old Testament. 358 |
Và đây là quan niệm của Horne về Cựu Ước — một tuyển tập chắp vá từ các bản văn của những người vô danh, được thu thập và ghép lại bởi những người mà ông nói là được linh cảm thiêng liêng. Không một kẻ vô tín nào mà tôi biết từng đưa ra một cáo buộc gây tổn hại đến tính xác thực của Cựu Ước như thế. |
|
This is quite sufficient, we think, to show that no key to the universal language-system can ever open the mysteries of Creation in a work in which, whether through design or carelessness, nearly every sentence has been made to apply to the latest outcome of religious views—to Phallicism, and to nothing else. There are a sufficient number of stray bits in the Elohistic portions of the Bible to warrant the inference that the Hebrews who wrote it were Initiates; hence the mathematical coördinations and the perfect harmony between the measures of the Great Pyramid and the numerals of the Biblical glyphs. But surely if one borrowed from the other, it cannot be the architects of the Pyramid who borrowed from Solomon’s Temple, if only because the former exists to this day as a stupendous living monument of Esoteric records, while the famous temple has never existed outside of the far later Hebrew scrolls. 359 Hence there is a great distance between the admission that some Hebrews were Initiates, and the conclusion that because of this the Hebrew Bible must be the best standard, as being the highest representative of the archaic Esoteric System. |
Chúng tôi nghĩ điều này hoàn toàn đủ để cho thấy rằng không chìa khóa nào của hệ thống ngôn ngữ phổ quát có thể mở ra các huyền nhiệm của Sáng tạo trong một tác phẩm mà, dù do chủ ý hay bất cẩn, gần như mỗi câu đều bị khiến áp dụng vào kết quả sau cùng của các quan điểm tôn giáo — vào chủ nghĩa dương vật, và không gì khác. Có đủ số mảnh vụn rời rạc trong các phần Elohim của Kinh Thánh để cho phép suy ra rằng những người Hebrew viết nó là các Điểm đạo đồ; do đó có các tương quan toán học và sự hài hòa hoàn hảo giữa các thước đo của Đại Kim Tự Tháp và các con số của những tự hình Kinh Thánh. Nhưng chắc chắn nếu bên này vay mượn từ bên kia, thì không thể là các kiến trúc sư của Kim Tự Tháp đã vay mượn từ Đền Thờ Solomon, chỉ riêng vì cái trước vẫn còn tồn tại đến ngày nay như một đài kỷ niệm sống vĩ đại của các ký lục huyền bí, trong khi ngôi đền nổi tiếng kia chưa từng tồn tại ngoài các cuộn văn Hebrew muộn hơn rất nhiều. Vì thế, có một khoảng cách rất lớn giữa việc thừa nhận rằng một số người Hebrew là các Điểm đạo đồ, và kết luận rằng vì điều này Kinh Thánh Hebrew phải là chuẩn mực tốt nhất, với tư cách đại diện cao nhất của Hệ Thống Huyền Bí cổ sơ. |
|
Nowhere does the Bible say, moreover, that the Hebrew is the language of God; of this boast, at any rate, the authors are not guilty. Perhaps because in the days when the Bible was last edited the claim would have been too preposterous—hence dangerous. The compilers of the Old Testament, as it exists in the Hebrew canon, knew well that the language of the Initiates in the days of Moses was identical with that of the Egyptian Hierophants; and that none of the dialects that had sprung from the old Syriac and the pure old Arabic of Yarab—the father and progenitor of the primitive Arabians, long before the time of Abraham, in whose days the ancient Arabic had already become vitiated—that none of those languages was the one sacerdotal universal tongue. Nevertheless all of them included a number of words which could be traced to common roots. And to do this is the business of modern Philology, though to this day, with all the respect due to the labours of the eminent Philologists of Oxford and Berlin, that Science seems to be hopelessly floundering in the Cimmerian darkness of mere hypothesis. |
Hơn nữa, không nơi nào Kinh Thánh nói rằng Hebrew là ngôn ngữ của Thượng đế; ít nhất các tác giả không phạm tội khoác lác này. Có lẽ vì vào thời Kinh Thánh được biên tập lần cuối, lời tuyên bố ấy hẳn đã quá phi lý — do đó nguy hiểm. Các người biên soạn Cựu Ước, như nó tồn tại trong quy điển Hebrew, biết rõ rằng ngôn ngữ của các Điểm đạo đồ vào thời Moses đồng nhất với ngôn ngữ của các Đại tư tế Ai Cập; và rằng không một phương ngữ nào nảy sinh từ Syriac cổ và Ả Rập cổ thuần khiết của Yarab — cha và tổ phụ của những người Ả Rập nguyên thủy, rất lâu trước thời Abraham, vào thời ông thì Ả Rập cổ đã bị biến chất — không một ngôn ngữ nào trong số đó là ngôn ngữ tư tế phổ quát duy nhất. Tuy nhiên, tất cả chúng đều bao gồm một số từ có thể truy về các gốc chung. Và làm điều này là công việc của Ngữ văn học hiện đại, mặc dù cho đến ngày nay, với tất cả sự kính trọng dành cho công trình của các nhà Ngữ văn học lỗi lạc ở Oxford và Berlin, Khoa học ấy dường như vẫn đang vùng vẫy vô vọng trong bóng tối Cimmeria của giả thuyết đơn thuần. |
|
Ahrens, when speaking of the letters as arranged in the Hebrew sacred scrolls, and remarking that they were musical notes, had probably never studied Âryan Hindu music. In the Sanskrit language letters are continually arranged in the sacred Ollas so that they may become musical notes. For the whole Sanskrit alphabet and the Vedas, from the first word to the last, are musical notations reduced to writing; the two are inseparable. 360 As Homer distinguished between the “language of Gods” and the “language of men,” 361 so did the Hindus. The Devanâgarî, the Sanskrit characters, are the “speech of the Gods,” and Sanskrit is the divine language. |
Ahrens, khi nói về các chữ cái như được sắp xếp trong các cuộn kinh thiêng Hebrew, và nhận xét rằng chúng là các nốt nhạc, có lẽ chưa từng nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ Arya. Trong tiếng Sanskrit, các chữ cái thường xuyên được sắp xếp trong các Ollas thiêng để chúng có thể trở thành các nốt nhạc. Vì toàn bộ bảng chữ cái Sanskrit và các Veda, từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng, là những ký âm được ghi thành văn; hai điều ấy không thể tách rời. Như Homer đã phân biệt giữa “ngôn ngữ của các Thần” và “ngôn ngữ của con người”, người Ấn Độ cũng vậy. Devanagari, các ký tự Sanskrit, là “lời nói của các Thần”, và Sanskrit là ngôn ngữ thiêng liêng. |
|
It is argued in defence of the present version of the Mosaic Books that the mode of language adopted was an “accommodation” to the ignorance of the Jewish people. But the said “mode of language” drags down the “sacred text” of Esdras and his colleagues to the level of the most unspiritual and gross phallic religions. This plea confirms the suspicions entertained by some Christian Mystics and many philosophical critics, that: (a) Divine Power as an Absolute Unity had never anything more to do with the Biblical Jehovah and the “Lord God” than with any other Sephiroth or Number. The Ain-Suph of the Kabalah of Moses is as independent of any relation with the created Gods as is Parabrahman Itself. |
Để bênh vực phiên bản hiện nay của các Sách Moses, người ta lập luận rằng lối ngôn ngữ được chọn là một sự “thích nghi” với sự vô minh của dân Do Thái. Nhưng “lối ngôn ngữ” nói trên kéo “văn bản thiêng” của Esdras và các đồng sự của ông xuống ngang mức các tôn giáo dương vật thô thiển và phi tinh thần nhất. Lời biện hộ này xác nhận những nghi ngờ của một số nhà thần bí Kitô giáo và nhiều nhà phê bình triết học rằng: (a) Quyền Năng Thiêng Liêng với tư cách là Nhất Thể Tuyệt Đối chưa bao giờ có liên hệ gì nhiều hơn với Jehovah trong Kinh Thánh và “Chúa Thượng Đế” so với bất cứ Sephiroth hay Con Số nào khác. Ain-Suph của Kabalah Moses độc lập với mọi liên hệ cùng các Thần được sáng tạo cũng như chính Parabrahman vậy. |
|
(b) The teachings veiled in the Old Testament under allegorical expressions are all copied from the Magical Texts of Babylonia, by Esdras and others, while the earlier Mosaic Text had its source in Egypt. |
(b) Các giáo huấn được che phủ trong Cựu Ước dưới những cách diễn đạt ẩn dụ đều được Esdras và những người khác sao chép từ các Văn bản Huyền thuật của Babylonia, trong khi Văn bản Moses sớm hơn có nguồn gốc từ Ai Cập. |
|
A few instances known to almost all Symbologists of note, and especially to the French Egyptologists, may help to prove the statement. Furthermore, no ancient Hebrew Philosopher, Philo no more than the Sadducees, claimed, as do now the ignorant Christians, that the events in the Bible should be taken literally. Philo says most explicitly: |
Một vài ví dụ mà hầu như mọi nhà biểu tượng học danh tiếng đều biết, và đặc biệt là các nhà Ai Cập học Pháp, có thể giúp chứng minh lời phát biểu này. Hơn nữa, không một triết gia Hebrew cổ nào, Philo cũng không hơn gì phái Sadducee, từng tuyên bố như những Kitô hữu vô minh ngày nay rằng các sự kiện trong Kinh Thánh phải được hiểu theo nghĩa đen. Philo nói hết sức rõ ràng: |
|
The verbal statements are fabulous [in the Book of the Law]: it is in the allegory that we shall find the truth. |
Các phát biểu theo nghĩa chữ là hoang đường [trong Sách Luật]: chính trong ẩn dụ mà chúng ta sẽ tìm thấy chân lý. |
|
Let us give a few instances, beginning with the latest narrative, the Hebrew, and thus if possible trace the allegories to their origin. |
Chúng ta hãy đưa ra vài ví dụ, bắt đầu với câu chuyện muộn nhất, câu chuyện Hebrew, và như thế nếu có thể truy các ẩn dụ về nguồn gốc của chúng. |
|
1. Whence the Creation in six days, the seventh day as day of rest, the seven Elohim, 362 and the division of space into heaven and earth, in the first chapter of Genesis? |
1. Từ đâu có sự Sáng tạo trong sáu ngày, ngày thứ bảy là ngày nghỉ, bảy Elohim, và sự phân chia không gian thành trời và đất, trong chương đầu của Sáng Thế Ký? |
|
The division of the vault above from the Abyss, or Chaos, below is one of the first acts of creation or rather of evolution, in every cosmogony. Hermes in Pymander speaks of a heaven seen in seven circles with seven Gods in them. We examine the Assyrian tiles and find the same on them—the seven creative Gods busy each in his own sphere. The cuneiform legends narrate how Bel prepared the seven mansions of the Gods; how heaven was separated from the earth. In the Brâhmanical allegory everything is septenary, from the seven zones, or envelopes, of the Mundane Egg down to the seven continents, islands, seas, etc. The six days of the week and the seventh, the Sabbath, are based primarily on the seven creations of the Hindu Brahmâ, the seventh being that of man; and secondarily on the number of generation. It is preëminently and most conspicuously phallic. In the Babylonian system the seventh day, or period, was that in which man and the animals were created. |
Sự phân chia vòm trời bên trên khỏi Vực Thẳm, hay Hỗn Mang, bên dưới là một trong những hành động đầu tiên của sáng tạo, hay đúng hơn của tiến hóa, trong mọi vũ trụ khởi nguyên luận. Hermes trong Pymander nói về một bầu trời được thấy trong bảy vòng tròn, với bảy Thần trong đó. Chúng ta khảo sát các phiến gạch Assyria và tìm thấy điều tương tự trên chúng — bảy Thần sáng tạo, mỗi vị bận rộn trong khối cầu riêng của mình. Các truyền thuyết chữ hình nêm kể lại cách Bel chuẩn bị bảy dinh thự của các Thần; cách trời được tách khỏi đất. Trong ẩn dụ Brahma giáo, mọi sự đều thất phân, từ bảy vùng, hay lớp bao, của Trứng Thế Giới cho đến bảy lục địa, đảo, biển, v.v. Sáu ngày trong tuần và ngày thứ bảy, Sabbath, trước hết dựa trên bảy cuộc sáng tạo của Brahma Ấn Độ, cuộc thứ bảy là sáng tạo con người; và thứ đến dựa trên con số sinh sản. Nó nổi bật và rõ rệt nhất là dương vật tính. Trong hệ thống Babylon, ngày hay chu kỳ thứ bảy là lúc con người và các loài vật được sáng tạo. |
|
2. The Elohim make a woman out of Adam’s rib. 363 This process is found in the Magical Texts translated by G. Smith. |
2. Các Elohim tạo một phụ nữ từ xương sườn của Adam. Tiến trình này được tìm thấy trong các Văn bản Huyền thuật do G. Smith dịch. |
|
The seven Spirits bring forth the woman from the loins of the man, |
Bảy Tinh Thần đưa người phụ nữ ra từ thắt lưng của người đàn ông, |
|
explains Mr. Sayce in his Hibbert Lectures. 364 |
ông Sayce giải thích trong các Bài giảng Hibbert của mình. |
|
The mystery of the woman who was made from the man is repeated in every national religion, and in Scriptures far antedating the Jewish. You find it in the Avestan fragments, in the Egyptian Book of the Dead, and finally in Brahmâ, the male, separating from himself, as a female self, Vâch, in whom he creates Virâj. |
Huyền nhiệm về người phụ nữ được tạo từ người đàn ông được lặp lại trong mọi tôn giáo dân tộc, và trong các Kinh văn có trước Kinh văn Do Thái rất xa. Các bạn tìm thấy nó trong những mảnh Avestan, trong Sách Người Chết của Ai Cập, và cuối cùng trong Brahma, nam tính, tách khỏi chính mình, như một bản ngã nữ tính, Vach, nơi Ngài sáng tạo Viraj. |
|
3. The two Adams of the first and second chapters in Genesis originated from garbled exoteric accounts coming from the Chaldæans and the Egyptian Gnostics, revised later from the Persian traditions, most of which are old Âryan allegories. As Adam Kadmon is the seventh creation, 365 so the Adam of dust is the eighth; and in the Purânas one finds an eighth, the Anugraha creation, and the Egyptian Gnostics had it. Irenæus, complaining of the heretics, says of the Gnostics: |
3. Hai Adam của chương thứ nhất và thứ hai trong Sáng Thế Ký bắt nguồn từ các tường thuật ngoại môn bị bóp méo đến từ người Chaldea và các nhà Ngộ đạo Ai Cập, về sau được sửa lại theo các truyền thống Ba Tư, phần lớn là những ẩn dụ Arya cổ. Cũng như Adam Kadmon là cuộc sáng tạo thứ bảy, Adam bằng bụi đất là cuộc sáng tạo thứ tám; và trong các Purana người ta tìm thấy một cuộc sáng tạo thứ tám, cuộc sáng tạo Anugraha, và các nhà Ngộ đạo Ai Cập cũng có điều đó. Irenaeus, khi than phiền về các kẻ dị giáo, nói về các nhà Ngộ đạo: |
|
Sometimes they will have him [man] to have been made on the sixth day, and sometimes on the eighth. 366 |
Đôi khi họ muốn rằng y [con người] đã được tạo ra vào ngày thứ sáu, và đôi khi vào ngày thứ tám. |
|
The author of The Hebrew and Other Creations writes: |
Tác giả của Các Sáng Tạo Hebrew và Khác viết: |
|
These two creations of man on the sixth day and on the eighth were those of the Adamic, or fleshly man, and of the spiritual man, who were known to Paul and the Gnostics as the first and second Adam, the man of earth and the man of Heaven. Irenæus also says they insisted that Moses began with the Ogdoad of the Seven Powers and their mother, Sophia (the old Kefa of Egypt, who is the Living Wordat Ombos). 367 |
Hai cuộc sáng tạo con người này vào ngày thứ sáu và ngày thứ tám là cuộc sáng tạo con người Adam, hay con người xác thịt, và con người tinh thần, những người được Paul và các nhà Ngộ đạo biết đến như Adam thứ nhất và thứ hai, con người của đất và con người của Trời. Irenaeus cũng nói rằng họ nhấn mạnh Moses bắt đầu với Ogdoad của Bảy Quyền Năng và mẹ của họ, Sophia (Kefa cổ của Ai Cập, vốn là Ngôi Lời Sống tại Ombos). |
|
Sophia is also Aditi with her seven sons. |
Sophia cũng là Aditi cùng bảy người con trai của bà. |
|
One might go on enumerating and tracing the Jewish “revelations” ad infinitum to their original sources, were it not that the task is superfluous, since so much is already done in that direction by others—and done thoroughly well, as in the case of Gerald Massey, who has sifted the subject to the very bottom. Hundreds of volumes, treatises, and pamphlets are being written yearly in defence of the “divine-inspiration” claim for the Bible; but symbolical and archæological research is coming to the rescue of truth and fact—therefore of the Esoteric Doctrine—upsetting every argument based on faith and breaking it as an idol with feet of clay. A curious and learned book, The Approaching End of the Age, by H. Grattan Guinness, professes to solve the mysteries of the Bible chronology and to prove thereby God’s direct revelation to man. Among other things its author thinks that: |
Người ta có thể tiếp tục liệt kê và truy nguyên các “mặc khải” Do Thái đến vô tận về các nguồn gốc ban đầu của chúng, nếu nhiệm vụ ấy không thừa, vì người khác đã làm rất nhiều theo hướng đó — và làm hết sức thấu đáo, như trường hợp Gerald Massey, người đã sàng lọc đề tài đến tận đáy. Hàng trăm tập sách, khảo luận và tiểu luận được viết hằng năm để bênh vực tuyên bố “linh cảm thiêng liêng” dành cho Kinh Thánh; nhưng nghiên cứu biểu tượng và khảo cổ đang đến trợ giúp chân lý và sự kiện — do đó trợ giúp Giáo Lý Huyền Bí — lật đổ mọi lập luận dựa trên đức tin và phá vỡ nó như một thần tượng có chân bằng đất sét. Một cuốn sách kỳ lạ và uyên bác, Sự Kết Thúc Đang Đến Gần của Thời Đại, của H. Grattan Guinness, tự nhận giải được các huyền nhiệm của niên đại học Kinh Thánh và nhờ đó chứng minh sự mặc khải trực tiếp của Thượng đế cho con người. Trong số nhiều điều khác, tác giả cho rằng: |
|
It is impossible to deny that a septiform chronology was divinely appointed in the elaborate ritual of Judaism. |
Không thể phủ nhận rằng một niên đại học thất phân đã được thiêng liêng an bài trong nghi lễ tinh vi của Do Thái giáo. |
|
This statement is innocently accepted and fervently believed in by thousands and tens of thousands, only because they are ignorant of the Bibles of other nations. Two pages from a small pamphlet, a lecture by Mr. Gerald Massey, 368 so upset the arguments and proofs of the enthusiastic Mr. Grattan Guinness, spread over 760 pages of small print, as to prevent them from ever raising their heads any more. Mr. Massey treats of the Fall, and says: |
Lời tuyên bố này được hàng nghìn và hàng vạn người vô tư chấp nhận và nhiệt thành tin tưởng, chỉ vì họ không biết đến Kinh Thánh của các dân tộc khác. Hai trang từ một tiểu luận nhỏ, một bài giảng của ông Gerald Massey, đã lật đổ các lập luận và chứng cứ của ông Grattan Guinness nhiệt thành, trải dài trên 760 trang chữ nhỏ, đến mức chúng không bao giờ còn có thể ngẩng đầu lên nữa. Ông Massey bàn về Sa Ngã và nói: |
|
Here, as before, the genesis does not begin at the beginning. There was an earlier Fall than that of the Primal Pair. In this the number of those who failed and fell was seven. We meet with those seven in Egypt—eight with the Mother—where they are called the “Children of Inertness,” who were cast out from Am-Smen, the Paradise of the Eight; also in a Babylonian legend of Creation, as the Seven Brethren, who were Seven Kings, like the Seven Kings in the Book of Revelation; and the Seven Non-Sentient Powers, who became the Seven Rebel Angels that made war in heaven. The Seven Kronidæ, described as the Seven Watchers, who in the beginning were formed in the interior of heaven. The heaven, like a vault, they extended or hollowed out; that which was not visible they raised, and that which had no exit they opened; their work of creation being exactly identical with that of the Elohim in the Book of Genesis. These are the Seven elemental Powers of space, who were continued as Seven Timekeepers. It is said of them: “In watching was their office, but among the stars of heaven their watch they kept not,” and their failure was the Fall. In the Book of Enoch the same Seven Watchers in heaven are stars which transgressed the commandment of God before their time arrived, for they came not in their proper season, therefore was he offended with them, and bound them until the period of the consummation of their crimes, at the end of the secret, or great year of the World, i.e., the Period of Precession, when there was to be restoration and rebeginning. The Seven deposed constellations are seen by Enoch, looking like seven great blazing mountains overthrown—the seven mountains in Revelation, on which the Scarlet Lady sits. 369 |
Ở đây, cũng như trước kia, Sáng Thế không bắt đầu từ khởi đầu. Đã có một Cuộc Sa Ngã sớm hơn cuộc sa ngã của Cặp Đầu Tiên. Trong đó, con số những vị thất bại và sa ngã là bảy. Chúng ta gặp bảy vị ấy ở Ai Cập — tám cùng với Mẹ — nơi họ được gọi là “Những Đứa Con của Tính Trì Trệ”, bị ném ra khỏi Am-Smen, Thiên Đường của Tám; cũng có trong một truyền thuyết Babylon về Sáng tạo, như Bảy Huynh Đệ, vốn là Bảy Vua, giống Bảy Vua trong Sách Khải Huyền; và Bảy Quyền Năng Không Cảm Giác, trở thành Bảy Thiên Thần Nổi Loạn gây chiến trên trời. Bảy Kronidae, được mô tả như Bảy Đấng Canh Giữ, thuở ban đầu được hình thành bên trong trời. Bầu trời, như một vòm, họ đã căng rộng hay khoét rỗng; điều chưa thấy được họ nâng lên, và điều không có lối ra họ mở ra; công cuộc sáng tạo của họ hoàn toàn đồng nhất với công cuộc của các Elohim trong Sách Sáng Thế. Đây là Bảy Quyền Năng hành khí của không gian, được tiếp tục như Bảy Đấng Giữ Thời Gian. Người ta nói về họ: “Trong việc canh giữ là chức phận của họ, nhưng giữa các sao trời họ đã không giữ phiên canh của mình”, và sự thất bại của họ là Sa Ngã. Trong Sách Enoch, cùng Bảy Đấng Canh Giữ ấy trên trời là các sao đã vi phạm điều răn của Thượng đế trước khi thời của họ đến, vì họ không đến đúng mùa của mình; do đó Ngài nổi giận với họ và trói buộc họ cho đến kỳ viên mãn tội lỗi của họ, vào cuối bí mật, hay năm lớn của Thế Giới, tức là Chu Kỳ Tuế Sai, khi sẽ có sự phục hồi và khởi đầu lại. Bảy chòm sao bị truất phế được Enoch nhìn thấy, trông như bảy ngọn núi lớn rực cháy bị lật đổ — bảy ngọn núi trong Khải Huyền, trên đó Người Đàn Bà Đỏ Thắm ngồi. |
|
There are seven keys to this, as to every other allegory, whether in the Bible or in pagan religions. While Mr. Massey has hit upon the key in the mysteries of cosmogony, John Bentley in his Hindu Astronomy claims that the Fall of the Angels, or War in Heaven, as given by the Hindus, is but a figure of the calculations of time-periods, and goes on to show that among the Western nations the same war, with like results, took the form of the war of the Titans. |
Có bảy chìa khóa cho điều này, cũng như cho mọi ẩn dụ khác, dù trong Kinh Thánh hay trong các tôn giáo ngoại giáo. Trong khi ông Massey đã chạm đến chìa khóa trong các huyền nhiệm vũ trụ khởi nguyên, John Bentley trong Thiên Văn Học Ấn Độ của ông tuyên bố rằng Sự Sa Ngã của các Thiên Thần, hay Chiến Tranh trên Trời, như người Ấn Độ trình bày, chỉ là một hình ảnh của các phép tính về chu kỳ thời gian, và tiếp tục cho thấy rằng trong các dân tộc phương Tây, cùng cuộc chiến ấy, với những kết quả tương tự, đã mang hình thức cuộc chiến của các Titan. |
|
In short, he makes it astronomical. So does the author of The Source of Measures: |
Tóm lại, ông biến nó thành thiên văn học. Tác giả của Nguồn Gốc của Các Thước Đo cũng vậy: |
|
The celestial sphere with the earth, was divided into twelve compartments [astronomically], and these compartments were esteemed as sexed, the lords or husbands being respectively the planets presiding over them. This being the settled scheme, want of proper correction would bring it to pass, after a time, that error and confusion would ensue by the compartments coming under the lordship of the wrong planets. Instead of lawful wedlock, there would be illegal intercourse, as between the planets, “sons of Elohim” and these compartments, “daughters of H-Adam,” or the earth-man; and in fact the fourth verse of sixth Genesis will bear this interpretation for the usual one, viz., “In the same days, or periods, there were untimely births in the earth; and also behind that, when the sons of Elohim came to the daughters of H-Adam, they begat to them the offspring of harlotry,” etc., astronomically indicating this confusion. 370 |
Thiên cầu cùng với trái đất được chia thành mười hai ngăn [theo thiên văn học], và các ngăn này được xem là có giới tính, các chúa tể hay người chồng tương ứng là các hành tinh chủ trì chúng. Khi hệ đồ này đã được ấn định, sự thiếu hiệu chỉnh thích hợp sau một thời gian sẽ khiến sai lầm và hỗn loạn xảy ra, do các ngăn rơi vào quyền chủ quản của những hành tinh sai. Thay vì hôn phối hợp pháp, sẽ có sự giao hợp bất hợp pháp, như giữa các hành tinh, “các con của Elohim” và các ngăn này, “các con gái của H-Adam”, hay người đất; và thật ra câu thứ tư của chương sáu Sáng Thế Ký sẽ chịu cách diễn giải này thay cho cách thông thường, tức là: “Trong cùng những ngày, hay chu kỳ ấy, đã có những sinh nở trái thời trên đất; và cũng sau đó, khi các con của Elohim đến với các con gái của H-Adam, họ sinh cho họ dòng dõi của sự dâm loạn”, v.v., về mặt thiên văn học chỉ sự hỗn loạn này. |
|
Do any of these learned explanations explain anything except a possible ingenious allegory, and a personification of the celestial bodies, by the ancient Mythologists and Priests? Carried to their last word they would undeniably explain much, and would thus furnish one of the right seven keys, fitting a great many of the Biblical puzzles yet opening none naturally and entirely, instead of being scientific and cunning master-keys. But they yet prove one thing—that neither the septiform chronology nor the septiform theogony and evolution of all things is of divine origin in the Bible. For let us see the sources at which the Bible sipped its divine inspiration with regard to the sacred number seven. Says Mr. Massey in the same lecture: |
Có lời giải thích uyên bác nào trong số này giải thích được điều gì ngoài một ẩn dụ có thể là khéo léo, và một sự nhân cách hóa các thiên thể bởi các nhà Thần thoại học và Tư tế cổ đại chăng? Nếu được đẩy đến lời cuối cùng, chắc chắn chúng sẽ giải thích nhiều điều, và như thế cung cấp một trong bảy chìa khóa đúng, khớp với rất nhiều câu đố Kinh Thánh, nhưng vẫn không mở được câu nào một cách tự nhiên và trọn vẹn, thay vì là các chìa khóa vạn năng khoa học và tinh xảo. Nhưng chúng vẫn chứng minh một điều — rằng cả niên đại học thất phân lẫn thần hệ học thất phân và sự tiến hóa thất phân của vạn vật đều không có nguồn gốc thiêng liêng trong Kinh Thánh. Vì chúng ta hãy xem các nguồn mà từ đó Kinh Thánh đã nhấm nháp cảm hứng thiêng liêng của mình liên quan đến con số thiêng bảy. Ông Massey nói trong cùng bài giảng: |
|
The Book of Genesis tells us nothing about the nature of these Elohim, erroneously rendered “God,” who are creators of the Hebrew beginning, and who are themselves preëxtant and seated when the theatre opens and the curtain ascends. It says that in the beginning the Elohim created the heaven and the earth. In thousands of books the Elohim have been discussed, but… with no conclusive result…. The Elohim are Seven in number, whether as nature-powers, gods of constellations, or planetary gods,… as the Pitris and Patriarchs, Manus and Fathers of earlier times. The Gnostics, however, and the Jewish Kabalah preserve an account of the Elohim of Genesis by which we are able to identify them with other forms of the seven primordial powers…. Their names are Ildabaoth, Jehovah (or Jao), Sabaoth, Adonai, Eloeus, Oreus, and Astanphæus. Ildabaoth signifies the Lord God of the fathers, that is the fathers who preceded the Father; and thus the seven are identical with the seven Pitris or Fathers of India (Irenæus, B. I., xxx., 5). Moreover, the Hebrew Elohim were preëxtant by name and nature as Phœnician divinities or powers. Sanchoniathon mentions them by name, and describes them as Auxiliaries of Kronos or Time. In this phase, then, the Elohim are time-keepers in heaven! In the Phœnician mythology the Elohim are the Seven sons of Sydik [Melchizedek], identical with the Seven Kabiri, who in Egypt are the Seven sons of Ptah, and the Seven Spirits of Ra in The Book of the Dead;… in America with the seven Hohgates,… in Assyria with the seven Lumazi…. They are always seven in number… who Kab—that is, turn round, together, whence the “Kab-iri.”… They are also the Ili or Gods, in Assyrian, who were seven in number!… They were first born of the Mother in Space, 371 and then the Seven Companions passed into the sphere of time as auxiliaries of Kronus, or Sons of the Male Parent. As Damascius says in his Primitive Principles, the Magi consider that space and time were the source of all; and from being powers of the air the gods were promoted to become time-keepers for men. Seven constellations were assigned to them…. As the seven turned round in the ark of the sphere they were designated the Seven Sailors’ Companions, Rishis, or Elohim. The first “Seven Stars” are not planetary. They are the leading stars of seven constellations which turned round with the Great Bear in describing the circle of the year. 372 These the Assyrians called the seven Lumazi, or leaders of the flocks of stars, designated sheep. On the Hebrew line of descent or development, these Elohim are identified for us by the Kabalists and Gnostics, who retained the hidden wisdom or gnosis, the clue of which is absolutely essential to any proper understanding of mythology or theology…. There were two constellations with seven stars each. We call them the Two Bears. But the seven stars of the Lesser Bear were once considered to be the seven heads of the Polar Dragon, which we meet with—as the beast with seven heads—in the Akkadian Hymns and in Revelation. The mythical dragon originated in the crocodile, which is the dragon of Egypt…. Now in one particular cult, the Sut-Typhonian, the first god was Sevekh [the seven-fold], who wears the crocodile’s head, as well as the Serpent, and who is the Dragon, or whose constellation was the Dragon…. In Egypt the Great Bear was the constellation of Typhon, or Kepha, the old genetrix, called the Mother of the Revolutions; and the Dragon with seven heads was assigned to her son, Sevekh-Kronus, or Saturn, called the Dragon of Life. That is, the typical dragon or serpent with seven heads was female at first, and then the type was continued, as male in her son Sevekh, the Sevenfold Serpent, in Ea the Sevenfold,… Iao Chnubis, and others. We find these two in The Book of Revelation. One is the Scarlet Lady, the mother of mystery, the great harlot, who sat on a scarlet-coloured beast with seven heads, which is the Red Dragon of the Pole. She held in her hand the unclean things of her fornication. That means the emblems of the male and female, imaged by the Egyptians at the Polar Centre, the very uterus of creation, as was indicated by the Thigh constellation, called the Khepsh of Typhon, the old Dragon, in the northern birthplace of Time in heaven. The two revolved about the pole of heaven, or the Tree, as it was called, which was figured at the centre of the starry motion. In The Book of Enoch these two constellations are identified as Leviathan and Behemoth-Bekhmut, or the Dragon and Hippopotamus = Great Bear, and they are the primal pair that were first created in the Garden of Eden. So that the Egyptian first mother, Kefa [or Kepha] whose name signifies “mystery,” was the original of the Hebrew Chavah, our Eve; and therefore Adam is one with Sevekh the sevenfold one, the solar dragon in whom the powers of light and darkness were combined, and the sevenfold nature was shown in the seven rays worn by the Gnostic Iao-Chnubis, god of the number seven, who is Sevekh by name and a form of the first father as head of the Seven. 373 |
Sách Sáng Thế không cho chúng ta biết gì về bản chất của các Elohim này, bị dịch sai là “Thượng đế”, những đấng sáng tạo của khởi đầu Hebrew, và chính các vị ấy đã hiện hữu trước, đã an tọa khi sân khấu mở màn và bức màn được kéo lên. Sách nói rằng ban đầu các Elohim tạo dựng trời và đất. Trong hàng nghìn cuốn sách, các Elohim đã được bàn luận, nhưng… không có kết quả quyết định nào…. Các Elohim có số lượng là Bảy, dù với tư cách các quyền năng thiên nhiên, các thần của chòm sao, hay các thần hành tinh,… như các Pitris và Tổ phụ, các Manu và Cha của những thời trước. Tuy nhiên, các nhà Ngộ đạo và Kabalah Do Thái bảo tồn một tường thuật về các Elohim của Sáng Thế, nhờ đó chúng ta có thể đồng nhất họ với những hình thức khác của bảy quyền năng nguyên sơ…. Tên của họ là Ildabaoth, Jehovah (hay Jao), Sabaoth, Adonai, Eloeus, Oreus và Astanphaeus. Ildabaoth có nghĩa là Chúa Thượng Đế của các tổ phụ, tức là những tổ phụ có trước Cha; và như thế bảy vị ấy đồng nhất với bảy Pitris hay Cha của Ấn Độ (Irenaeus, quyển một, chương ba mươi, mục năm). Hơn nữa, các Elohim Hebrew đã hiện hữu trước về tên gọi và bản chất như các thiên tính hay quyền năng Phoenicia. Sanchoniathon nêu tên họ và mô tả họ như các Phụ Tá của Kronos hay Thời Gian. Vậy trong giai đoạn này, các Elohim là những vị giữ thời gian trên trời! Trong thần thoại Phoenicia, các Elohim là Bảy con trai của Sydik [Melchizedek], đồng nhất với Bảy Kabiri, những vị ở Ai Cập là Bảy con trai của Ptah, và Bảy Tinh Thần của Ra trong Sách Người Chết;… ở châu Mỹ là bảy Hohgates,… ở Assyria là bảy Lumazi…. Họ luôn luôn có số lượng là bảy… những vị Kab — nghĩa là cùng nhau quay vòng, từ đó có “Kab-iri”…. Họ cũng là Ili hay các Thần, trong tiếng Assyria, vốn có số lượng là bảy!… Trước hết họ được sinh ra từ Mẹ trong Không Gian, rồi Bảy Đồng Bạn đi vào khối cầu thời gian như các phụ tá của Kronus, hay các Con của Cha Nam Tính. Như Damascius nói trong Các Nguyên Lý Nguyên Thủy của ông, các Magi xem không gian và thời gian là nguồn gốc của tất cả; và từ chỗ là các quyền năng của không khí, các thần được nâng lên thành những vị giữ thời gian cho con người. Bảy chòm sao được giao cho họ…. Khi bảy vị quay vòng trong con thuyền của khối cầu, họ được gọi là Bảy Bạn Đồng Hành của Thủy Thủ, Rishis, hay Elohim. “Bảy Sao” đầu tiên không phải là hành tinh. Chúng là các sao chủ đạo của bảy chòm sao quay vòng cùng Đại Hùng Tinh khi vạch nên vòng tròn của năm. Người Assyria gọi chúng là bảy Lumazi, hay những vị dẫn đầu các đàn sao, được gọi là chiên. Trên dòng truyền thừa hay phát triển Hebrew, các Elohim này được các nhà Kabalah và Ngộ đạo đồng nhất cho chúng ta, những người đã giữ lại minh triết ẩn tàng hay gnosis, manh mối của nó tuyệt đối thiết yếu cho mọi sự thấu hiểu đúng đắn về thần thoại học hay thần học…. Có hai chòm sao, mỗi chòm có bảy sao. Chúng ta gọi chúng là Hai Gấu. Nhưng bảy sao của Tiểu Hùng Tinh từng được xem là bảy đầu của Rồng Cực, mà chúng ta gặp — như con thú có bảy đầu — trong các Thánh Ca Akkad và trong Khải Huyền. Con rồng thần thoại bắt nguồn từ cá sấu, vốn là rồng của Ai Cập…. Nay trong một giáo phái đặc thù, giáo phái Sut-Typhon, vị thần đầu tiên là Sevekh [đấng thất phân], mang đầu cá sấu, cũng như Rắn, và là Rồng, hay chòm sao của y là Rồng…. Ở Ai Cập, Đại Hùng Tinh là chòm sao của Typhon, hay Kepha, bà mẹ sinh thành cổ, được gọi là Mẹ của các Vòng Quay; và Rồng bảy đầu được gán cho con trai bà, Sevekh-Kronus, hay Saturn, được gọi là Rồng của Sự Sống. Nghĩa là, rồng hay rắn điển hình có bảy đầu ban đầu là nữ, rồi kiểu mẫu ấy được tiếp tục như nam trong con trai bà, Sevekh, Rắn Thất Phân, trong Ea Thất Phân,… Iao Chnubis, và những vị khác. Chúng ta tìm thấy hai vị này trong Sách Khải Huyền. Một là Người Đàn Bà Đỏ Thắm, mẹ của huyền nhiệm, đại kỹ nữ, ngồi trên một con thú màu đỏ thắm có bảy đầu, vốn là Rồng Đỏ của Cực. Bà cầm trong tay những vật ô uế của sự gian dâm của bà. Điều đó có nghĩa là các biểu tượng của nam và nữ, được người Ai Cập hình tượng hóa tại Trung Tâm Cực, chính tử cung của sáng tạo, như đã được chỉ ra bởi chòm sao Đùi, gọi là Khepsh của Typhon, Rồng cổ, tại nơi sinh phương bắc của Thời Gian trên trời. Cả hai xoay quanh cực trời, hay Cây, như nó được gọi, được hình dung ở trung tâm của chuyển động tinh tú. Trong Sách Enoch, hai chòm sao này được đồng nhất là Leviathan và Behemoth-Bekhmut, hay Rồng và Hà Mã bằng Đại Hùng Tinh, và chúng là cặp nguyên sơ được sáng tạo đầu tiên trong Vườn Eden. Vì vậy, bà mẹ đầu tiên của Ai Cập, Kefa [hay Kepha], tên bà có nghĩa là “huyền nhiệm”, là nguyên mẫu của Chavah Hebrew, Eve của chúng ta; và do đó Adam là một với Sevekh, đấng thất phân, rồng thái dương nơi các quyền năng của ánh sáng và bóng tối được kết hợp, và bản chất thất phân được biểu hiện trong bảy tia sáng do Iao-Chnubis Ngộ đạo mang, thần của con số bảy, là Sevekh theo tên gọi và là một hình thức của người cha đầu tiên với tư cách đứng đầu Bảy Vị. |
|
All this gives the key to the astronomical prototype of the allegory in Genesis, but it furnishes no other key to the mystery involved in the sevenfold glyph. The able Egyptologist shows also that Adam himself according to Rabbinical and Gnostic tradition, was the chief of the Seven who fell from Heaven, and he connects these with the Patriarchs, thus agreeing with the Esoteric Teaching. For by mystic permutation and the mystery of primeval rebirths and adjustment, the Seven Rishis are in reality identical with the seven Prajâpatis, the fathers and creators of mankind, and also with the Kumâras, the first sons of Brahmâ, who refused to procreate and multiply. This apparent contradiction is explained by the seven-fold nature—make it four-fold on metaphysical principles and it will come to the same thing—of the celestial men, the Dhyân Chohans. This nature is made to divide and separate; and while the higher principles (Âtmâ-Buddhi) of the “Creators of Men” are said to be the Spirits of the seven constellations, their middle and lower principles are connected with the earth and are shown |
Tất cả điều này trao chìa khóa cho nguyên mẫu thiên văn học của ẩn dụ trong Sáng Thế, nhưng nó không cung cấp chìa khóa nào khác cho huyền nhiệm hàm chứa trong tự hình thất phân. Nhà Ai Cập học uyên bác cũng cho thấy rằng chính Adam, theo truyền thống Rabbi và Ngộ đạo, là thủ lĩnh của Bảy Vị đã sa khỏi Trời, và ông liên kết các vị này với các Tổ phụ, như thế đồng thuận với Giáo Huấn Huyền Bí. Vì bằng hoán vị thần bí và huyền nhiệm của những tái sinh và điều chỉnh nguyên sơ, Bảy Rishis thật ra đồng nhất với bảy Prajapatis, các cha và đấng sáng tạo của nhân loại, và cũng với các Kumara, những người con đầu tiên của Brahma, đã từ chối sinh sản và tăng bội. Mâu thuẫn bề ngoài này được giải thích bằng bản chất thất phân — hãy biến nó thành tứ phân trên các nguyên lý siêu hình, kết quả vẫn như nhau — của các thiên nhân, các Dhyani Chohan. Bản chất này bị khiến phân chia và tách rời; và trong khi các nguyên khí cao hơn (Atma-Bồ đề) của “Những Đấng Sáng Tạo Con Người” được nói là các Tinh Thần của bảy chòm sao, thì các nguyên khí trung và hạ của các Ngài liên hệ với trái đất và được trình bày là |
|
Without desire or passion, inspired with holy wisdom, estranged from the Universe and undesirous of progeny, 374 |
Không có dục vọng hay đam mê, được linh cảm bởi minh triết thiêng liêng, xa lạ với Vũ Trụ và không mong muốn hậu duệ, |
|
remaining Kaumâric (virgin and undefiled); therefore it is said they refused to create. For this they are cursed and sentenced to be born and reborn “Adams,” as the Semites would say. |
vẫn còn tính Kaumara (đồng trinh và không vấy bẩn); vì vậy người ta nói các Ngài đã từ chối sáng tạo. Vì điều này, các Ngài bị nguyền rủa và bị kết án sinh ra rồi tái sinh như những “Adam”, như người Semite sẽ nói. |
|
Meanwhile let me quote a few lines more from Mr. G. Massey’s lecture, the fruit of his long researches in Egyptology and other ancient lore, as it shows that the septenary division was at one time a universal doctrine: |
Trong khi đó, hãy để tôi trích thêm vài dòng từ bài giảng của ông G. Massey, thành quả của những nghiên cứu lâu dài của ông trong Ai Cập học và các tri thức cổ khác, vì nó cho thấy rằng sự phân chia thất phân từng có thời là một giáo lý phổ quát: |
|
Adam as the father among the Seven is identical with the Egyptian Atum,… whose other name of Adon is identical with the Hebrew Adonai. In this way the second Creation in Genesis reflects and continues the later creation in the mythos which explains it. The Fall of Adam to the lower world led to his being humanised on earth, by which process the celestial was turned into the mortal, and this, which belongs to the astronomical allegory, got literalised as the Fall of Man, or descent of the soul into matter, and the conversion of the angelic into an earthly being…. It is found in the [Babylonian] texts, when Ea, the first father, is said to “grant forgiveness to the conspiring gods,” for whose “redemption did he create mankind.”(Sayce; Hib. Lec., p. 140)… The Elohim, then, are the Egyptian, Akkadian, Hebrew, and Phœnician form of the Universal Seven Powers, who are Seven in Egypt, Seven in Akkad, Babylon, Persia, India, Britain, and Seven among the Gnostics and Kabalists. They were the Seven fathers who preceded the Father in Heaven, because they were earlier than the individualised fatherhood on earth…. When the Elohim said: “Let us make man in our image, after our likeness,”there were seven of them who represented the seven elements, powers, or souls that went to the making of the human being who came into existence before the Creator was represented anthropomorphically, or could have conferred the human likeness on the Adamic man. It was in the sevenfold image of the Elohim that man was first created, with his seven elements, principles or souls, 375 and therefore he could not have been formed in the image of the one God. The seven Gnostic Elohim tried to make a man in their own image, but could not for lack of virile power. 376 Thus their creation in earth and heaven was a failure… because they themselves were lacking in the soul of the fatherhood! When the Gnostic Ildabaoth, 377 chief of the Seven, cried: “I am the father and God,” his mother Sophia [Achamoth] replied: “Do not tell lies, Ildabaoth, for the first man (Anthropos, son of Anthropos) 378 is above thee.” That is, man who had now been created in the image of the fatherhood was superior to the gods who were derived from the Mother-Parent alone! 379 For, as it had been first on earth, so was it afterwards in heaven [the Secret Doctrine teaches the reverse]; and thus the primary gods were held to be soulless like the earliest races of men…. The Gnostics taught that the Spirits of Wickedness, the inferior Seven, derived their origin from the great Mother alone, who produced without the fatherhood! It was in the image, then, of the sevenfold Elohim that the seven races were formed which we sometimes hear of as the Pre-Adamite races of men, because they were earlier than the fatherhood, which was individualised only in the second Hebrew Creation. 380 |
Adam, với tư cách người cha trong Bảy Vị, đồng nhất với Atum của Ai Cập,… mà tên khác là Adon đồng nhất với Adonai Hebrew. Theo cách này, cuộc Sáng tạo thứ hai trong Sáng Thế phản ánh và tiếp tục cuộc sáng tạo muộn hơn trong thần thoại giải thích nó. Sự Sa Ngã của Adam xuống thế giới thấp dẫn đến việc y được nhân hóa trên đất; qua tiến trình ấy, cái thiên giới được chuyển thành cái hữu tử, và điều này, vốn thuộc về ẩn dụ thiên văn học, đã bị hiểu theo nghĩa đen thành Sự Sa Ngã của Con Người, hay sự giáng xuống của linh hồn vào vật chất, và sự chuyển đổi thiên thần thành một hữu thể trần thế…. Điều đó được tìm thấy trong các văn bản [Babylon], khi Ea, người cha đầu tiên, được nói là “ban tha thứ cho các thần mưu phản”, vì “để cứu chuộc họ, Ngài đã tạo ra nhân loại.” (Sayce; Bài giảng Hibbert, trang 140)… Vậy, các Elohim là hình thức Ai Cập, Akkad, Hebrew và Phoenicia của Bảy Quyền Năng Phổ Quát, vốn là Bảy ở Ai Cập, Bảy ở Akkad, Babylon, Ba Tư, Ấn Độ, Anh quốc, và Bảy trong số các nhà Ngộ đạo và Kabalah. Họ là Bảy người cha có trước Cha trên Trời, vì họ sớm hơn phụ tính được biệt ngã hóa trên đất…. Khi các Elohim nói: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh của chúng ta, giống như chúng ta”, có bảy vị trong số họ đại diện cho bảy nguyên tố, quyền năng hay linh hồn đã góp phần tạo nên con người, người đi vào hiện hữu trước khi Đấng Sáng Tạo được biểu hiện theo nhân hình, hay có thể trao hình dạng con người cho người Adam. Chính theo hình ảnh thất phân của các Elohim mà con người trước hết được sáng tạo, với bảy nguyên tố, nguyên khí hay linh hồn của y, và do đó y không thể đã được tạo thành theo hình ảnh của một Thượng đế duy nhất. Bảy Elohim Ngộ đạo cố gắng tạo ra một con người theo hình ảnh của chính họ, nhưng không thể vì thiếu quyền năng nam tính. Do đó, cuộc sáng tạo của họ trên đất và trời là một thất bại… bởi vì chính họ thiếu linh hồn của phụ tính! Khi Ildabaoth Ngộ đạo, thủ lĩnh của Bảy Vị, kêu lên: “Ta là cha và Thượng đế”, mẹ của y là Sophia [Achamoth] đáp: “Đừng nói dối, Ildabaoth, vì con người đầu tiên (Anthropos, con của Anthropos) ở trên ngươi.” Nghĩa là, con người nay đã được sáng tạo theo hình ảnh của phụ tính thì cao hơn các thần xuất phát chỉ từ Mẹ-Cha! Vì, như điều đó trước hết đã diễn ra trên đất, về sau nó cũng như vậy trên trời [Giáo Lý Bí Nhiệm dạy điều ngược lại]; và do đó các thần sơ thủy được xem là không có linh hồn, giống như những giống dân đầu tiên của loài người…. Các nhà Ngộ đạo dạy rằng các Tinh Thần Gian Ác, Bảy Vị thấp kém, có nguồn gốc từ Đại Mẫu mà thôi, bà sinh ra mà không có phụ tính! Vậy chính theo hình ảnh của các Elohim thất phân mà bảy giống dân được tạo thành, những giống dân mà đôi khi chúng ta nghe gọi là các giống người Tiền-Adam, vì họ có trước phụ tính, vốn chỉ được biệt ngã hóa trong cuộc Sáng tạo Hebrew thứ hai. |
|
This shows sufficiently how the echo of the Secret Doctrine—of the Third and Fourth Races of men, made complete by the incarnation in humanity of the Mânasa Putra, Sons of Intelligence or Wisdom—reached every corner of the globe. The Jews, however, although they borrowed of the older nations the groundwork on which to build their revelation, never had more than three keys out of the seven in their mind, while composing their national allegories—the astronomical, the numerical (metrology), and above all the purely anthropological, or rather physiological key. This resulted in the most phallic religion of all, and has now passed, part and parcel, into Christian theology, as is proved by the lengthy quotations made from a lecture of an able Egyptologist, who can make naught of it save astronomical myths and phallicism, as is implied by his explanations of “fatherhood” in the allegories. |
Điều này cho thấy đầy đủ cách tiếng vọng của Giáo Lý Bí Nhiệm — về Giống dân thứ Ba và thứ Tư của loài người, được hoàn tất nhờ sự lâm phàm trong nhân loại của các Manasa Putra, các Con của Trí Tuệ hay Minh Triết — đã đến mọi góc của địa cầu. Tuy nhiên, người Do Thái, mặc dù họ vay mượn từ các dân tộc xưa hơn nền tảng để xây dựng mặc khải của mình, không bao giờ có trong trí hơn ba chìa khóa trong số bảy chìa khóa khi soạn các ẩn dụ dân tộc của họ — chìa khóa thiên văn học, chìa khóa số học (đo lường học), và trên hết là chìa khóa thuần nhân học, hay đúng hơn là sinh lý học. Điều này dẫn đến tôn giáo mang tính dương vật nhất trong tất cả, và nay đã đi vào thần học Kitô giáo như một phần không thể tách rời, như được chứng minh bởi những đoạn trích dài từ một bài giảng của một nhà Ai Cập học uyên bác, người không thể thấy gì trong đó ngoài các thần thoại thiên văn và chủ nghĩa dương vật, như được hàm ý trong các giải thích của ông về “phụ tính” trong các ẩn dụ. |
Section XXII. The “Zohar” on Creation and the Elohim. — Phần XXII. “Zohar” về Sáng tạo và các Elohim.
|
The opening sentence in Genesis, as every Hebrew scholar knows, is: בראשית ברא אלהים את השמים ואת הארץ |
Câu mở đầu trong Sáng Thế Ký, như mọi học giả Hebrew đều biết, là: Bản văn Hebrew của câu mở đầu Sáng Thế Ký |
|
Now there are two well-known ways of rendering this line, as any other Hebrew writing: one exoteric, as read by the orthodox Bible interpreters (Christian), and the other Kabalistic, the latter, moreover, being divided into the Rabbinical and the purely Kabalistic or Occult method. As in Sanskrit writing, the words are not separated in the Hebrew, but are made to run together—especially in the old systems. For instance, the above, divided, would read: “B’rashith bara Elohim eth hashamayim v’eth h’areths;” and it can be made to read thus: “B’rash ithbara Elohim ethhashamayim v’eth’arets,” thus changing the meaning entirely. The latter means, “In the beginning God made the heavens and the earth,” whereas the former, precluding the idea of any beginning, would simply read that “out of the ever-existing Essence [divine] [or out of the womb—also head—thereof] the dual [or androgyne] Force [Gods] shaped the double heaven;” the upper and the lower heaven being generally explained as heaven and earth. The latter word means Esoterically the “Vehicle,” as it gives the idea of an empty globe, within which the manifestation of the world takes place. Now, according to the rules of Occult symbolical reading as established in the old Sepher Jetzirah (in the Chaldæan Book of Numbers 381) the initial fourteen letters (or “B’rasitb’ raalaim”) are in themselves quite sufficient to explain the theory of “creation” without any further explanation or qualification. Every letter of them is a sentence; and, placed side by side with the hieroglyphic or pictorial initial version of “creation” in the Book of Dzyan, the origin of the Phœnician and Jewish letters would soon be found out. A whole volume of explanations would give no more to the student of primitive Occult Symbology than this: the head of a bull within a circle, a straight horizontal line, a circle or sphere, then another one with three dots in it, a triangle, then the Svastika (or Jaina cross); after these come an equilateral triangle within a circle, seven small bulls’ heads standing in three rows, one over the other; a black round dot (an opening), and then seven lines, meaning Chaos or Water (feminine). |
Hiện nay có hai cách quen thuộc để diễn dịch dòng này, cũng như bất kỳ bản văn Hebrew nào khác: một cách ngoại môn, theo cách đọc của các nhà chú giải Kinh Thánh chính thống (Cơ Đốc giáo), và cách kia là Kabbalah; hơn nữa, cách sau lại chia thành phương pháp Rabbinic và phương pháp Kabbalah thuần túy hay Huyền bí. Cũng như trong văn tự Sanskrit, các từ trong Hebrew không được tách rời, mà được viết liền nhau—đặc biệt trong các hệ thống cổ. Chẳng hạn, câu trên, nếu được tách ra, sẽ đọc là: “B’rashith bara Elohim eth hashamayim v’eth h’areths;” và nó có thể được đọc như sau: “B’rash ithbara Elohim ethhashamayim v’eth’arets,” như thế làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa. Cách sau có nghĩa: “Lúc khởi đầu Thượng đế tạo nên các tầng trời và đất,” trong khi cách trước, loại trừ ý niệm về bất kỳ khởi đầu nào, chỉ đơn giản đọc rằng “từ Tinh chất hằng hữu [thiêng liêng] [hay từ tử cung—cũng là đầu—của nó] Mãnh lực kép [hay lưỡng tính] [Các Thượng đế] đã tạo hình bầu trời kép”; trời trên và trời dưới thường được giải thích là trời và đất. Từ sau, theo nghĩa nội môn, có nghĩa là “Vận cụ,” vì nó gợi ý niệm về một bầu hành tinh rỗng, bên trong đó sự biểu hiện của thế giới diễn ra. Nay, theo các quy luật đọc biểu tượng huyền bí như đã được xác lập trong cổ thư Sepher Jetzirah (trong Sách Số của người Chaldea ), mười bốn chữ cái đầu tiên (hay “B’rasitb’ raalaim”) tự chúng đã hoàn toàn đủ để giải thích lý thuyết về “sáng tạo” mà không cần bất kỳ giải thích hay bổ sung nào khác. Mỗi chữ cái trong số đó là một câu; và khi đặt cạnh phiên bản khởi đầu bằng tượng hình hay hình ảnh về “sáng tạo” trong Sách Dzyan, nguồn gốc của các chữ cái Phoenicia và Do Thái sẽ sớm được nhận ra. Cả một tập giải thích cũng không đem lại cho đạo sinh về Biểu tượng học Huyền bí nguyên thủy nhiều hơn điều này: đầu bò trong một vòng tròn, một đường thẳng nằm ngang, một vòng tròn hay khối cầu, rồi một hình khác có ba chấm trong đó, một tam giác, rồi Svastika (hay thập giá Jaina); sau những hình này là một tam giác đều trong một vòng tròn, bảy đầu bò nhỏ xếp thành ba hàng, hàng này trên hàng kia; một chấm tròn đen (một lỗ mở), rồi bảy đường, mang nghĩa Hỗn mang hay Nước (nữ tính). |
|
Anyone acquainted with the symbolical and numerical value of the Hebrew letters will see at a glance that this glyph and the letters of “B’rasith’ raalaim” are identical in meaning. “Beth” is “abode” or “region;” “Resh,” a “circle” or “head;” “Aleph,” “bull” (the symbol of generative or creative power 382); “Shin,” a “tooth” ( 300 exoterically—a trident or three in one in its Occult meaning); “Jodh,” the perfect unity or “one” 383; “Tau,” the “root” or “foundation” (the same as the cross with the Egyptians and Âryans): again, “Beth,” “Resh,” and “Aleph.” Then “Aleph,” or seven bulls for the seven Alaim; an ox-goad, “Lamedh,” active procreation; “He,” the “opening” or “matrix;” “Yodh,” the organ of procreation; and “Mem,” “water” or “chaos,” the female Power near the male that precedes it. |
Bất kỳ ai quen thuộc với giá trị biểu tượng và số học của các chữ cái Hebrew sẽ thấy ngay rằng biểu tự này và các chữ cái của “B’rasith’ raalaim” đồng nhất về ý nghĩa. “Beth” là “nơi cư trú” hay “vùng”; “Resh” là “vòng tròn” hay “đầu”; “Aleph” là “bò” (biểu tượng của quyền năng sinh sản hay sáng tạo ); “Shin” là “răng” ( 300 theo ngoại môn—một đinh ba hay ba trong một theo ý nghĩa Huyền bí của nó); “Jodh” là nhất tính hoàn hảo hay “một” ; “Tau” là “gốc rễ” hay “nền tảng” (giống như thập giá đối với người Ai Cập và Arya): lại nữa, “Beth,” “Resh,” và “Aleph.” Rồi “Aleph,” hay bảy con bò dành cho bảy Alaim; một cây thúc bò, “Lamedh,” sự sinh sản chủ động; “He,” “lỗ mở” hay “khuôn mẹ”; “Yodh,” cơ quan sinh sản; và “Mem,” “nước” hay “hỗn mang,” Quyền năng nữ tính ở gần quyền năng nam tính đi trước nó. |
|
The most satisfactory and scientific exoteric rendering of the opening sentence of Genesis—on which was hung in blind faith the whole Christian religion, synthesized by its fundamental dogmas—is undeniably the one given in the Appendix to The Source of Measures by Mr. Ralston Skinner. He gives, and we must admit in the ablest, clearest, and most scientific way, the numerical reading of this first sentence and chapter in Genesis. By the means of number 31, or the word “El” (1 for “Aleph” and 30 for “Lamedh”), and other numerical Bible symbols, compared with the measures used in the great pyramid of Egypt, he shows the perfect identity between its measurements—inches, cubits, and plan—and the numerical values of the Garden of Eden, Adam and Eve, and the Patriarchs. In short, the author shows that the pyramid contains in itself architecturally the whole of Genesis, and discloses the astronomical, and even the physiological, secrets in its symbols and glyphs; yet he will not admit, it would seem, the psycho-cosmical and spiritual mysteries involved in these. Nor does the author apparently see that the root of all this has to be sought in the archaic legends and the Pantheon of India. 384 Failing this, whither does his great and admirable labour lead him? Not further than to find out that Adam, the earth, and Moses or Jehovah “are the same”—or to the a-b-c of comparative Occult Symbology—and that the days in Genesis being “circles” “displayed by the Hebrews as squares,” the result of the sixth-day’s labour culminates in the fructifying principle. Thus the Bible is made to yield Phallicism, and that alone. |
Cách diễn dịch ngoại môn thỏa đáng nhất và khoa học nhất đối với câu mở đầu của Sáng Thế Ký—trên đó toàn bộ tôn giáo Cơ Đốc, được tổng hợp bằng các tín điều căn bản của nó, đã được treo bằng đức tin mù quáng—không thể phủ nhận là cách được ông Ralston Skinner đưa ra trong Phụ lục của The Source of Measures. Ông đưa ra, và chúng ta phải thừa nhận là theo cách tài tình nhất, sáng rõ nhất và khoa học nhất, cách đọc bằng số của câu và chương đầu tiên này trong Sáng Thế Ký. Bằng số 31, hay từ “El” (1 cho “Aleph” và 30 cho “Lamedh”), cùng những biểu tượng số học khác trong Kinh Thánh, khi so sánh với các thước đo được dùng trong đại kim tự tháp Ai Cập, ông chỉ ra sự đồng nhất hoàn hảo giữa các kích thước của nó—inch, cubit và đồ án—với các giá trị số học của Vườn Eden, Adam và Eve, cùng các Tổ phụ. Tóm lại, tác giả cho thấy rằng kim tự tháp, trong kiến trúc của chính nó, chứa toàn bộ Sáng Thế Ký, và tiết lộ các bí mật thiên văn, thậm chí cả sinh lý, trong các biểu tượng và biểu tự của nó; tuy vậy, dường như ông không thừa nhận các huyền nhiệm tâm-vũ trụ và tinh thần hàm chứa trong đó. Tác giả cũng dường như không thấy rằng gốc rễ của tất cả điều này phải được tìm trong các truyền thuyết cổ xưa và hệ thần linh của Ấn Độ. Thiếu điều này, công trình vĩ đại và đáng khâm phục của ông dẫn ông đến đâu? Không xa hơn việc khám phá rằng Adam, đất, và Moses hay Jehovah “là một”—hay đến phần nhập môn sơ đẳng của Biểu tượng học Huyền bí so sánh—và rằng các ngày trong Sáng Thế Ký, vốn là “các vòng tròn,” “được người Hebrew trình bày như các hình vuông,” kết quả của công trình ngày thứ sáu đạt tới đỉnh điểm nơi nguyên lý thụ tinh. Như vậy, Kinh Thánh bị khiến chỉ sản sinh ra chủ nghĩa dương vật, và chỉ có thế. |
|
Nor—read in this light, and as its Hebrew texts are interpreted by Western scholars—can it ever yield anything higher or more sublime than such phallic elements, the root and the corner-stone of its dead-letter meaning. Anthropomorphism and Revelation dig the impassable chasm between the material world and the ultimate spiritual truths. That creation is not thus described in the Esoteric Doctrine is easily shown. The Roman Catholics give a reading far more approaching the true Esoteric meaning than that of the Protestant. For several of their saints and doctors admit that the formation of heaven and earth, of the celestial bodies, etc., belongs to the work of the “Seven Angels of the Presence.” St. Denys calls the “Builders” “the coöperators of God,” and St. Augustine goes even farther, and credits the Angels with the possession of the divine thought, the prototype, as he says, of everything created. 385 And, finally, St. Thomas Aquinas has a long dissertation upon this topic, calling God the primary, and the Angels the secondary, cause of all visible effects. In this, with some dogmatic differences of form, the “Angelic Doctor” approaches very nearly the Gnostic ideas. Basilides speaks of the lowest order of Angels as the Builders of our material world, and Saturnilus held, as did the Sabæans, that the Seven Angels who preside over the planets are the real creators of the world; the Kabalist-monk, Trithemius, in his De Secundis Deis, taught the same. |
Cũng không—khi được đọc dưới ánh sáng này, và như các bản văn Hebrew của nó được các học giả phương Tây diễn giải—nó có thể sản sinh ra điều gì cao hơn hay siêu việt hơn các yếu tố dương vật ấy, vốn là gốc rễ và đá tảng của ý nghĩa văn tự chết của nó. Thuyết nhân hình hóa và Mặc Khải đào nên vực thẳm không thể vượt qua giữa thế giới vật chất và các chân lý tinh thần tối hậu. Có thể dễ dàng chứng minh rằng sự sáng tạo không được mô tả như thế trong Giáo Lý Nội Môn. Người Công giáo La Mã đưa ra một cách đọc gần với ý nghĩa Nội môn chân thực hơn nhiều so với người Tin Lành. Vì nhiều vị thánh và giáo phụ của họ thừa nhận rằng việc hình thành trời và đất, các thiên thể, v.v., thuộc về công trình của “Bảy Thiên Thần của Hiện Diện.” Thánh Denys gọi các “Đấng Kiến Tạo” là “những cộng sự viên của Thượng đế,” và Thánh Augustine còn đi xa hơn, gán cho các Thiên Thần quyền sở hữu tư tưởng thiêng liêng, nguyên mẫu, như ông nói, của mọi vật được tạo thành. Và cuối cùng, Thánh Thomas Aquinas có một luận văn dài về đề tài này, gọi Thượng đế là nguyên nhân sơ cấp, còn các Thiên Thần là nguyên nhân thứ cấp của mọi hiệu quả hữu hình. Trong điều này, với một vài khác biệt giáo điều về hình thức, “Tiến sĩ Thiên Thần” tiến rất gần đến các ý tưởng Ngộ đạo. Basilides nói về cấp thấp nhất của các Thiên Thần như những Đấng Kiến Tạo thế giới vật chất của chúng ta, và Saturnilus, cũng như người Sabaean, cho rằng Bảy Thiên Thần chủ trì các hành tinh là những đấng sáng tạo thật sự của thế giới; vị tu sĩ Kabbalah Trithemius, trong De Secundis Deis, cũng dạy điều tương tự. |
|
The eternal Kosmos, the Macrocosm, is divided in the Secret Doctrine, like man, the Microcosm, into three Principles and four Vehicles, 386 which in their collectivity are the seven Principles. In the Chaldæan or Jewish Kabalah, the Kosmos is divided into seven worlds: the Original, the Intelligible, the Celestial, the Elementary, the Lesser (Astral), the Infernal (Kâma-loka or Hades), and the Temporal (of man). In the Chaldæan system it is in the Intelligible World, the second, that appear the “Seven Angels of the Presence,” or the Sephiroth (the three higher ones being, in fact, one, and also the sum total of all). They are also the “Builders” of the Eastern Doctrine: and it is only in the third, the celestial world, that the seven planets and our solar system are built by the seven Planetary Angels, the planets becoming their visible bodies. Hence—as correctly stated—if the universe as a whole is formed out of the Eternal One Substance or Essence, it is not that everlasting Essence, the Absolute Deity, that builds it into shape; this is done by the first Rays, the Angels or Dhyân Chohans, that emanate from the One Element, which becoming periodically Light and Darkness, remains eternally, in its Root-Principle, the one unknown yet existing Reality. |
Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Vũ trụ vĩnh cửu, Đại thiên địa, cũng như con người, Tiểu thiên địa, được chia thành ba Nguyên khí và bốn Vận cụ, mà trong toàn thể hợp nhất của chúng là bảy Nguyên khí. Trong Kabbalah Chaldea hay Do Thái, Vũ trụ được chia thành bảy thế giới: Nguyên thủy, Khả tri, Thiên giới, Hành tố, Nhỏ hơn (Cảm dục), Hạ giới (Kama-loka hay Hades), và Thời gian (của con người). Trong hệ thống Chaldea, chính trong Thế giới Khả tri, thế giới thứ hai, mà “Bảy Thiên Thần của Hiện Diện,” hay Sephiroth, xuất hiện (ba vị cao hơn, thật ra, là một, và cũng là tổng thể của tất cả). Các Ngài cũng là những “Đấng Kiến Tạo” của Giáo Lý phương Đông: và chỉ trong thế giới thứ ba, thế giới thiên giới, bảy hành tinh và hệ mặt trời của chúng ta mới được bảy Thiên Thần Hành Tinh kiến tạo, các hành tinh trở thành các thể hữu hình của các Ngài. Vì thế—như đã được nói đúng—nếu vũ trụ xét như một toàn thể được hình thành từ Chất liệu hay Tinh chất Duy Nhất Vĩnh Cửu, thì không phải chính Tinh chất vĩnh hằng đó, Thượng đế Tuyệt Đối, xây dựng nó thành hình; điều này do các Cung đầu tiên, các Thiên Thần hay Dhyân Chohans, thực hiện, vốn xuất lộ từ Nguyên tố Duy Nhất, Nguyên tố ấy theo chu kỳ trở thành Ánh sáng và Bóng tối, nhưng trong Nguyên khí-Gốc của nó vẫn vĩnh viễn là Thực Tại duy nhất chưa được biết nhưng hiện hữu. |
|
A learned Western Kabalist, Mr. S. L. MacGregor Mathers, whose reasoning and conclusions will be the more above suspicion since he is untrained in Eastern Philosophy and unacquainted with its Secret Teachings, writes on the first verse of Genesis in an unpublished essay: |
Một nhà Kabbalah phương Tây uyên bác, ông S. L. MacGregor Mathers, mà lý luận và kết luận của ông càng đáng tin cậy hơn vì ông không được đào luyện trong Triết học phương Đông và không quen thuộc với các Giáo Huấn Bí Nhiệm của nó, viết về câu đầu tiên của Sáng Thế Ký trong một tiểu luận chưa xuất bản: |
|
Berashith Bara Elohim— “In the beginning the Elohim created!” Who are these Elohim of Genesis? |
Berashith Bara Elohim— “Lúc khởi đầu, Elohim đã sáng tạo!” Những Elohim này của Sáng Thế Ký là ai? |
|
Va-Yivra Elohim Ath Ha-Adam Be-Tzalmo, Be-Tzelem Elohim Bara Otho, Zakhar Vingebah Bara Otham— “And the Elohim created the Adam in Their own Image, in the Image of the Elohim created They them, Male and Female created They them!” Who are they, the Elohim? The ordinary English translation of the Bible renders the word Elohim by “God:” it translates a plural noun by a singularone. The only excuse brought forward for this is the somewhat lame one that the word is certainly plural, but is not to be used in a plural sense: that it is “a plural denoting excellence.” But this is only an assumption whose value may be justly gauged by Genesis i. 26, translated in the orthodox Biblical version thus: “And God [Elohim] said, ‘Let us make man in our own image, after our likeness.’ ”Here is a distinct admission of the fact that “Elohim” is not a “plural of excellence,”but a plural noun denoting more than one being. 387 |
Va-Yivra Elohim Ath Ha-Adam Be-Tzalmo, Be-Tzelem Elohim Bara Otho, Zakhar Vingebah Bara Otham— “Và Elohim đã tạo Adam theo Hình Ảnh của Chính Họ, theo Hình Ảnh của Elohim, Họ đã tạo họ, Nam và Nữ, Họ đã tạo họ!” Họ là ai, những Elohim? Bản dịch tiếng Anh thông thường của Kinh Thánh dịch từ Elohim là “Thượng đế”: nó dịch một danh từ số nhiều bằng một từ số ít. Lý do duy nhất được đưa ra để biện minh cho điều này là lý do khá yếu ớt rằng từ ấy chắc chắn là số nhiều, nhưng không được dùng theo nghĩa số nhiều: rằng đó là “số nhiều chỉ sự ưu việt.” Nhưng đây chỉ là một giả định, mà giá trị của nó có thể được đánh giá đúng qua Sáng Thế Ký i. 26, được dịch trong bản Kinh Thánh chính thống như sau: “Và Thượng đế [Elohim] phán: ‘Chúng ta hãy làm nên con người theo hình ảnh của chúng ta, giống như chúng ta.’ ”Ở đây có một sự thừa nhận rõ ràng rằng “Elohim” không phải là “số nhiều chỉ sự ưu việt,” mà là một danh từ số nhiều chỉ hơn một hữu thể. |
|
What, then, is the proper translation of “Elohim,” and to whom is it referable? “Elohim” is not only a plural, but a feminine plural! And yet the translators of the Bible have rendered it by a masculine singular! Elohim is the plural of the feminine noun El-h, for the final letter, -h, marks the gender. It, however, instead of forming the plural in -oth, takes the usual termination of the masculine plural, which is -im. |
Vậy, bản dịch đúng của “Elohim” là gì, và nó quy chiếu đến ai? “Elohim” không chỉ là số nhiều, mà còn là số nhiều giống cái! Thế mà các dịch giả Kinh Thánh đã dịch nó bằng một từ số ít giống đực! Elohim là số nhiều của danh từ giống cái El-h, vì chữ cái cuối, -h, đánh dấu giống. Tuy nhiên, thay vì tạo số nhiều bằng -oth, nó lại nhận hậu tố thông thường của số nhiều giống đực, tức -im. |
|
Although in the great majority of cases the nouns of both genders take the terminations appropriated to them respectively, there are yet many masculines which form the plural in -oth, as well as feminine which form it in -im while some nouns of each gender take alternately both. It must be observed, however, that the termination of the plural does not affect its gender, which remains the same as in the singular…. |
Mặc dù trong đại đa số trường hợp, các danh từ của cả hai giống đều nhận các hậu tố tương ứng dành riêng cho chúng, vẫn có nhiều danh từ giống đực tạo số nhiều bằng -oth, cũng như các danh từ giống cái tạo số nhiều bằng -im, trong khi một số danh từ thuộc mỗi giống lại luân phiên nhận cả hai. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hậu tố số nhiều không ảnh hưởng đến giống của nó, vốn vẫn giữ nguyên như ở số ít…. |
|
To find the real meaning of the symbolism involved in this word Elohim we must go to that key of Jewish Esoteric Doctrine, the little-known and less-understood Kabalah. There we shall find that this word represents two united masculine and feminine Potencies, co-equal and co-eternal, conjoined in everlasting union for the maintenance of the Universe—the great Father and Mother of Nature, into whom the Eternal One conforms himself before the Universe can subsist. For the teaching of the Kabalah is that before the Deity conformed himself thus—i.e. as male and female—the Worlds of the Universe could not subsist; or in the words of Genesis, that “the earth was formless and void.” Thus, then, is the conformation of the Elohim, the end of the Formless and the Void and the Darkness, for only after that conformation can the Ruach Elohim—the “Spirit of the Elohim”—vibrate upon the countenance of the Waters. But this is a very small part of the information which the Initiate can derive from the Kabalah concerning this word Elohim. |
Để tìm ý nghĩa thật sự của biểu tượng hàm chứa trong từ Elohim này, chúng ta phải đi đến chiếc chìa khóa của Giáo Lý Nội Môn Do Thái, Kabbalah ít được biết và còn ít được thấu hiểu hơn. Ở đó, chúng ta sẽ thấy rằng từ này biểu thị hai Quyền năng nam tính và nữ tính hợp nhất, đồng đẳng và đồng vĩnh cửu, kết hợp trong sự hợp nhất vĩnh hằng để duy trì Vũ trụ—Cha và Mẹ vĩ đại của Thiên nhiên, trong đó Đấng Vĩnh Cửu tự định hình trước khi Vũ trụ có thể tồn tại. Vì giáo huấn của Kabbalah là trước khi Thượng đế tự định hình như thế—tức là như nam và nữ—các Thế giới của Vũ trụ không thể tồn tại; hay theo lời Sáng Thế Ký, “đất là vô hình và trống không.” Như vậy, sự định hình của Elohim là sự chấm dứt của Vô hình, Trống không và Bóng tối, vì chỉ sau sự định hình ấy, Ruach Elohim—“Tinh thần của Elohim”—mới có thể rung động trên mặt Nước. Nhưng đây chỉ là một phần rất nhỏ trong thông tin mà điểm đạo đồ có thể rút ra từ Kabbalah liên quan đến từ Elohim này. |
|
Attention must here be called to the confusion—if not worse—which reigns in the Western interpretations of the Kabalah. The Eternal One is said to conform himself into two: the Great Father and Mother of Nature. To begin with, it is a horribly anthropomorphic conception to apply terms implying sexual distinction to the earliest and first differentiations of the One. And it is even more erroneous to identify these first differentiations—the Purusha and Prakriti of Indian Philosophy—with the Elohim, the creative powers here spoken of; and to ascribe to these (to our intellects) unimaginable abstractions, the formation and construction of this visible world, full of pain, sin, and sorrow. In truth, the “creation by the Elohim” spoken of here is but a much later “creation,” and the Elohim far from being supreme, or even exalted powers in Nature, are only lower Angels. This was the teaching of the Gnostics, the most philosophical of all the early Christian Churches. They taught that the imperfections of the world were due to the imperfection of its Architects or Builders—the imperfect, and therefore inferior, Angels. The Hebrew Elohim correspond to the Prajâpati of the Hindus, and it is shown elsewhere from the Esoteric interpretation of the Purânas that the Prajâpati were the fashioners of man’s material and astral form only: that they could not give him intelligence or reason, and therefore in symbolical language they “failed to create man.” But, not to repeat what the reader can find elsewhere in this work, his attention needs only to be called to the fact that “creation” in this passage is not the Primary Creation, and that the Elohim are not “God,” nor even the higher Planetary Spirits, but the Architects of this visible physical planet and of man’s material body, or encasement. |
Ở đây cần lưu ý đến sự lẫn lộn—nếu không muốn nói là tệ hơn—đang ngự trị trong các diễn giải phương Tây về Kabbalah. Đấng Duy Nhất Vĩnh Cửu được nói là tự định hình thành hai: Cha và Mẹ vĩ đại của Thiên nhiên. Trước hết, việc áp dụng các thuật ngữ hàm ý phân biệt giới tính cho những biến phân sớm nhất và đầu tiên của Đấng Duy Nhất là một quan niệm nhân hình hóa khủng khiếp. Và còn sai lầm hơn nữa khi đồng nhất những biến phân đầu tiên này—Purusha và Prakriti của Triết học Ấn Độ—với Elohim, các quyền năng sáng tạo đang được nói đến ở đây; và gán cho những trừu tượng không thể tưởng tượng nổi này (đối với trí tuệ của chúng ta) việc hình thành và xây dựng thế giới hữu hình đầy đau khổ, tội lỗi và buồn phiền này. Thật ra, “sự sáng tạo bởi Elohim” được nói đến ở đây chỉ là một “sự sáng tạo” muộn hơn rất nhiều, và Elohim, hoàn toàn không phải là các quyền năng tối thượng hay thậm chí cao cả trong Thiên nhiên, mà chỉ là các Thiên Thần thấp hơn. Đây là giáo huấn của các nhà Ngộ đạo, triết học nhất trong mọi Giáo hội Cơ Đốc sơ kỳ. Họ dạy rằng những bất toàn của thế giới là do sự bất toàn của các Kiến trúc sư hay Đấng Kiến Tạo của nó—các Thiên Thần bất toàn, và do đó thấp kém hơn. Elohim của Hebrew tương ứng với Prajapati của người Ấn Độ, và ở nơi khác, từ cách diễn giải Nội môn về các Purana, đã chỉ ra rằng Prajapati chỉ là những đấng tạo khuôn cho hình tướng vật chất và cảm dục của con người mà thôi: rằng họ không thể ban cho y trí thông minh hay lý trí, và do đó, trong ngôn ngữ biểu tượng, họ “đã thất bại trong việc sáng tạo con người.” Nhưng, để không lặp lại những gì độc giả có thể tìm thấy ở nơi khác trong tác phẩm này, chỉ cần lưu ý rằng “sáng tạo” trong đoạn này không phải là Sáng tạo Nguyên thủy, và Elohim không phải là “Thượng đế,” cũng không phải là các Chân Linh Hành Tinh cao hơn, mà là các Kiến trúc sư của hành tinh hồng trần hữu hình này và của thể vật chất, hay lớp vỏ bọc, của con người. |
|
A fundamental doctrine of the Kabalah is that the gradual development of the Deity from negative to positive Existence is symbolized by the gradual development of the Ten Numbers of the denary scale of numeration, from the Zero, through the Unity, into the Plurality. This is the doctrine of the Sephiroth, or Emanations. |
Một giáo lý căn bản của Kabbalah là sự phát triển dần dần của Thượng đế từ Hiện hữu phủ định đến Hiện hữu khẳng định được biểu tượng hóa bằng sự phát triển dần dần của Mười Số trong thang số thập phân, từ Số Không, qua Nhất tính, đến Đa tính. Đây là giáo lý về Sephiroth, hay các Xuất lộ. |
|
For the inward and concealed Negative Form concentrates a centre which is the primal Unity. But the Unity is one and indivisible: it can neither be increased by multiplication nor decreased by division, for 1 × 1 = 1, and no more; and 1 ÷ 1 = 1, and no less. And it is this changelessness of the Unity, or Monad, which makes it a fitting type of the One and Changeless Deity. It answers thus to the Christian idea of God the Father, for as the Unity is the parent of the other numbers, so is the Deity the Father of All. |
Vì Hình Thức Phủ Định bên trong và ẩn kín tập trung một trung tâm vốn là Nhất tính nguyên sơ. Nhưng Nhất tính là một và bất khả phân: nó không thể tăng lên bằng phép nhân cũng không thể giảm đi bằng phép chia, vì 1 × 1 = 1, không hơn; và 1 ÷ 1 = 1, không kém. Và chính sự bất biến này của Nhất tính, hay chân thần, khiến nó trở thành một kiểu mẫu thích hợp của Thượng đế Duy Nhất và Bất Biến. Như vậy, nó tương ứng với ý niệm Cơ Đốc về Thượng đế Cha, vì cũng như Nhất tính là cha mẹ của các số khác, Thượng đế là Cha của Tất Cả. |
|
The philosophical Eastern mind would never fall into the error which the connotation of these words implies. With them the “One and Changeless”—Parabrahman—the Absolute All and One, cannot be conceived as standing in any relation to things finite and conditioned, and hence they would never use such terms as these, which in their very essence imply such a relation. Do they, then, absolutely sever man from God? On the contrary. They feel a closer union than the Western mind has done in calling God the “Father of All,” for they know that in his immortal essence man is himself the Changeless, Secondless One. |
Trí tuệ triết học phương Đông sẽ không bao giờ rơi vào sai lầm mà hàm nghĩa của những từ này ngụ ý. Đối với họ, “Đấng Duy Nhất và Bất Biến”—Parabrahman—Tất Cả và Một Tuyệt Đối, không thể được quan niệm là đứng trong bất kỳ quan hệ nào với những sự vật hữu hạn và bị điều kiện hóa; vì thế họ sẽ không bao giờ dùng những thuật ngữ như vậy, vốn trong chính yếu tính của chúng hàm ý một quan hệ như thế. Vậy thì, họ có tuyệt đối tách rời con người khỏi Thượng đế không? Trái lại. Họ cảm nhận một sự hợp nhất gần gũi hơn tâm trí phương Tây từng cảm nhận khi gọi Thượng đế là “Cha của Tất Cả,” vì họ biết rằng trong tinh chất bất tử của mình, con người chính là Đấng Duy Nhất Bất Biến, không có Đấng thứ hai. |
|
But we have just said that the Unity is one and changeless by either multiplication or division; how then is two, the Duad, formed? By reflection. For, unlike Zero, the Unity is partly definable—that is, in its positive aspect; and the definition creates an Eikon or Eidolon of itself which, together with itself, forms a Duad; and thus the number two is to a certain extent analogous to the Christian idea of the Son as the Second Person. And as the Monad vibrates, and recoils into the Darkness of the Primary Thought, so is the Duad left as its vice-gerent and representative, and thus co-equal with the Positive Duad is the Triune Idea, the number three, co-equal and co-eternal with the Duad in the bosom of the Unity, yet, as it were, proceeding therefrom in the numerical conception of its sequence. |
Nhưng chúng ta vừa nói rằng Nhất tính là một và bất biến dù bằng nhân hay chia; vậy làm sao hai, Nhị nguyên, được hình thành? Bằng phản chiếu. Vì, khác với Số Không, Nhất tính phần nào có thể được định nghĩa—nghĩa là, trong phương diện khẳng định của nó; và định nghĩa tạo ra một Hình ảnh hay Bóng tượng của chính nó, mà cùng với chính nó tạo thành Nhị nguyên; và như vậy số hai, ở một mức độ nào đó, tương tự với ý niệm Cơ Đốc về Con như Ngôi Thứ Hai. Và khi chân thần rung động, rồi rút lui vào Bóng tối của Tư Tưởng Nguyên thủy, thì Nhị nguyên được để lại như vị đại diện và nhiếp chính của nó; và như vậy, đồng đẳng với Nhị nguyên Khẳng định là Ý niệm Tam Nhất, số ba, đồng đẳng và đồng vĩnh cửu với Nhị nguyên trong lòng Nhất tính, tuy vậy, dường như phát xuất từ đó trong quan niệm số học về trình tự của nó. |
|
This explanation would seem to imply that Mr. Mathers is aware that this “creation” is not the truly divine or primary one, since the Monad—the first manifestation on our plane of objectivity— “recoils into the Darkness of the Primal Thought,” i.e., into the subjectivity of the first divine Creation. |
Lời giải thích này dường như hàm ý rằng ông Mathers biết rằng “sự sáng tạo” này không phải là sự sáng tạo thật sự thiêng liêng hay nguyên thủy, vì chân thần—biểu hiện đầu tiên trên cõi khách quan của chúng ta—“rút lui vào Bóng tối của Tư Tưởng Nguyên sơ,” tức là vào tính chủ quan của Sáng Tạo thiêng liêng đầu tiên. |
|
And this, again, also partly answers to the Christian idea of the Holy Ghost, and of the whole three forming a Trinity in unity. This also explains the fact in geometry of the three right lines being the smallest number which will make a plane rectilineal figure, while two can never enclose a space, being powerless and without effect till completed by the number Three. These three first numbers of the decimal scale the Qabalists call by the names of Kether, the Crown, Chokmah, Wisdom, and Binah, Understanding; and they furthermore associate with them these divine names: with the Unity, Eheich, “I exist;” with the Duad, Yah; and with the Triad, Elohim; they especially also call the Duad, Abba—the Father, and the Triad, Aima—the Mother, whose eternal conjunction is symbolized in the word Elohim. |
Và điều này, một lần nữa, cũng phần nào tương ứng với ý niệm Cơ Đốc về Chúa Thánh Thần, và về toàn bộ ba ngôi hình thành một Tam Vị trong nhất tính. Điều này cũng giải thích sự kiện trong hình học rằng ba đường thẳng là số lượng nhỏ nhất có thể tạo nên một hình phẳng trực tuyến, trong khi hai đường không bao giờ có thể bao kín một không gian, vì bất lực và vô hiệu cho đến khi được hoàn tất bởi số Ba. Ba số đầu tiên này của thang thập phân được các nhà Kabbalah gọi bằng các tên Kether, Vương miện, Chokmah, Minh triết, và Binah, Thấu hiểu; hơn nữa, họ liên kết với chúng các danh xưng thiêng liêng này: với Nhất tính, Eheich, “Tôi hiện hữu”; với Nhị nguyên, Yah; và với Tam nguyên, Elohim; họ cũng đặc biệt gọi Nhị nguyên là Abba—Cha, và Tam nguyên là Aima—Mẹ, mà sự kết hợp vĩnh cửu của hai vị được biểu tượng hóa trong từ Elohim. |
|
But what especially strikes the student of the Kabalah is the malicious persistency with which the translators of the Bible have jealously crowded out of sight and suppressed every reference to the feminine form of the Deity. They have, as we have just seen, translated the feminine plural “Elohim,” by the masculine singular, “God.” But they have done more than this: they have carefully hidden the fact that the word Ruach—the “Spirit”—is feminine, and that consequently the Holy Ghost of the New Testament is a feminine Potency. How many Christians are cognizant of the fact that in the account of the Incarnation in Luke (i. 35) twodivine Potencies are mentioned? |
Nhưng điều đặc biệt gây ấn tượng cho đạo sinh Kabbalah là sự cố chấp ác ý mà các dịch giả Kinh Thánh đã ghen tuông đẩy khuất và áp chế mọi tham chiếu đến hình thức nữ tính của Thượng đế. Như chúng ta vừa thấy, họ đã dịch số nhiều giống cái “Elohim” bằng số ít giống đực “Thượng đế.” Nhưng họ còn làm hơn thế nữa: họ đã cẩn thận che giấu sự kiện rằng từ Ruach—“Tinh thần”—là giống cái, và do đó Chúa Thánh Thần của Tân Ước là một Quyền năng nữ tính. Có bao nhiêu người Cơ Đốc biết rằng trong thuật sự về Sự Nhập Thể nơi Luca (i. 35), hai Quyền năng thiêng liêng được nhắc đến? |
|
“The Holy Ghost shall come upon thee, and the Power of the Highest shall overshadow thee.” The Holy Ghost (the feminine Potency) descends, and the Power of the Highest (the masculine Potency) is united therewith. “Therefore also that holy thing which shall be born of thee shall be called the Son of God”—of the Elohim namely, seeing that these two Potencies descend. |
“Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên ngươi, và Quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ phủ bóng trên ngươi.” Chúa Thánh Thần (Quyền năng nữ tính) giáng xuống, và Quyền năng của Đấng Tối Cao (Quyền năng nam tính) hợp nhất với quyền năng ấy. “Vì vậy, Đấng thánh sẽ được sinh ra bởi ngươi cũng sẽ được gọi là Con của Thượng đế”—tức là của Elohim, vì hai Quyền năng này giáng xuống. |
|
In the Sepher Yetzirah, or Book of Formation, we read: “One is She the Ruach Elohim Chüm—(Spirit of the Living Elohim)…. Voice, Spirit, and Word; and this is She, the Spirit of the Holy One.” Here again we see the intimate connection which exists between the Holy Spirit and the Elohim. Furthermore, farther on in this same Book of Formation—which, is, be it remembered, one of the oldest of the Kabalistical Books, and whose authorship is ascribed to Abraham the Patriarch—we shall find the idea of a Feminine Trinity in the first place, from whom a masculine Trinity proceeds; or, as it is said in the text: “Three Mothers whence proceed three Fathers.” And yet this double Triad forms, as it were, but one complete Trinity. Again it is worthy of note that the Second and Third Sephiroth (Wisdom and Understanding) are both distinguished by feminine names, Chokmah and Binah, notwithstanding that to the former more particularly the masculine idea, and to the latter the feminine, are attributed, under the titles of Abba and Aima (or Father and Mother). This Aima (the Great Mother) is magnificently symbolized in the twelfth chapter of the Apocalypse, which is undoubtedly one of the most Kabalistical books in the Bible. In fact, without the Kabalistical keys its meaning is utterly unintelligible. |
Trong Sepher Yetzirah, hay Sách Hình Thành, chúng ta đọc: “Một là Nàng, Ruach Elohim Chüm—(Tinh thần của Elohim Hằng Sống)…. Tiếng nói, Tinh thần, và Linh từ; và đây là Nàng, Tinh thần của Đấng Thánh.” Ở đây, một lần nữa, chúng ta thấy mối liên hệ mật thiết tồn tại giữa Chúa Thánh Thần và Elohim. Hơn nữa, xa hơn trong chính Sách Hình Thành này—cần nhớ rằng đây là một trong những Sách Kabbalah cổ nhất, và tác quyền của nó được gán cho Tổ phụ Abraham—chúng ta sẽ tìm thấy ý niệm về một Tam Vị Nữ tính ở vị trí đầu tiên, từ đó một Tam Vị nam tính phát xuất; hay, như trong bản văn nói: “Ba Mẹ, từ đó phát xuất Ba Cha.” Tuy vậy, Tam nguyên kép này, có thể nói, chỉ tạo thành một Tam Vị hoàn chỉnh. Một lần nữa, điều đáng chú ý là Sephiroth thứ Hai và thứ Ba (Minh triết và Thấu hiểu) đều được phân biệt bằng các tên nữ tính, Chokmah và Binah, mặc dù ý niệm nam tính được quy cho vị trước một cách đặc biệt hơn, còn ý niệm nữ tính được quy cho vị sau, dưới các danh hiệu Abba và Aima (hay Cha và Mẹ). Aima này (Đại Mẫu) được biểu tượng hóa một cách tráng lệ trong chương mười hai của Khải Huyền, vốn chắc chắn là một trong những sách đậm tính Kabbalah nhất trong Kinh Thánh. Thật vậy, nếu không có các chìa khóa Kabbalah thì ý nghĩa của nó hoàn toàn không thể hiểu được. |
|
Now, in the Hebrew, as in the Greek, alphabet, there are no distinct numeral characters, and consequently each letter has a certain numerical value attached to it. From this circumstance results the important fact that every Hebrew word constitutes a number, and every number a word. This is referred to in the Revelations(xiii. 18) in mentioning the “number of the beast”! In the Kabalah words of equal numerical values are supposed to have a certain explanatory connection with each other. This forms the science of Gematria, which is the first division of the Literal Kabalah. Furthermore, each letter of the Hebrew alphabet had for the Initiates of the Kabalah a certain hieroglyphical value and meaning which, rightly applied, gave to each word the value of a mystical sentence; and this again was variable according to the relative positions of the letters with regard to each other. From these various Kabalistical points of view let us now examine this word Elohim. |
Nay, trong bảng chữ cái Hebrew cũng như Hy Lạp, không có ký tự số riêng biệt, và do đó mỗi chữ cái có một giá trị số học nhất định gắn với nó. Từ hoàn cảnh này phát sinh sự kiện quan trọng rằng mỗi từ Hebrew cấu thành một con số, và mỗi con số là một từ. Điều này được nhắc đến trong Khải Huyền (xiii. 18) khi nói đến “số của con thú”! Trong Kabbalah, những từ có giá trị số học bằng nhau được giả định là có một mối liên hệ giải thích nào đó với nhau. Điều này tạo thành khoa học Gematria, là phân ngành đầu tiên của Kabbalah Văn Tự. Hơn nữa, mỗi chữ cái của bảng chữ cái Hebrew, đối với các điểm đạo đồ của Kabbalah, có một giá trị và ý nghĩa tượng hình nhất định, mà khi được áp dụng đúng, đem lại cho mỗi từ giá trị của một câu thần bí; và điều này lại thay đổi tùy theo vị trí tương đối của các chữ cái đối với nhau. Từ những quan điểm Kabbalah khác nhau này, giờ đây chúng ta hãy khảo xét từ Elohim. |
|
First then we can divide the word into the two words, which signify “The Feminine Divinity of the Waters;” compare with the Greek Aphrodite. “sprung from the foam of the sea.” Again it is divisible into the “Mighty One, Star of the Sea,” or “the Mighty One breathing forth the Spirit upon the Waters.” Also by combination of the letters we get “the Silent Power of Iah.” And again, “My God, the Former of the Universe,” for Mah is a secret Kabalistical name applied to the idea of Formation. Also we obtain “Who is my God.” Furthermore “the Mother in Iah.” |
Trước hết, chúng ta có thể chia từ này thành hai từ, có nghĩa là “Thiên tính Nữ của Nước”; so sánh với Aphrodite của Hy Lạp, “sinh ra từ bọt biển.” Lại nữa, nó có thể được chia thành “Đấng Đại Hùng, Ngôi Sao của Biển,” hay “Đấng Đại Hùng thở ra Tinh thần trên Nước.” Cũng bằng sự kết hợp các chữ cái, chúng ta có “Quyền năng Im lặng của Iah.” Và lại nữa, “Thượng đế của tôi, Đấng Hình Thành Vũ trụ,” vì Mah là một danh xưng Kabbalah bí mật được áp dụng cho ý niệm Hình Thành. Chúng ta cũng có “Ai là Thượng đế của tôi.” Hơn nữa, “Người Mẹ trong Iah.” |
|
The total number is 1 + 30 + 5 + 10 + 40 = 86 = “Violent heat,” or “the Power of Fire.” If we add together the three middle letters we obtain 45, and the first and last letters yield 41, making thus “the Mother of Formation.” Lastly, we shall find the two divine names “El” and “Yah,” together with the letter m, which signifies “Water,” for Mem, the name of this letter, means “water.” |
Tổng số là 1 + 30 + 5 + 10 + 40 = 86 = “Sức nóng dữ dội,” hay “Quyền năng của Lửa.” Nếu cộng ba chữ cái ở giữa, chúng ta được 45, và chữ cái đầu cùng chữ cái cuối cho 41, như vậy tạo thành “Người Mẹ của Sự Hình Thành.” Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm thấy hai danh xưng thiêng liêng “El” và “Yah,” cùng với chữ m, vốn có nghĩa là “Nước,” vì Mem, tên của chữ cái này, có nghĩa là “nước.” |
|
If we divide it into its component letters and take them as hieroglyphical signs we shall have: “Will perfected through Sacrifice progressing through successive Transformation by Inspiration.” |
Nếu chúng ta chia nó thành các chữ cái cấu thành và xem chúng như các dấu hiệu tượng hình, chúng ta sẽ có: “Ý Chí được hoàn thiện qua Hi Sinh, tiến triển qua sự Chuyển đổi kế tiếp nhau nhờ Cảm hứng.” |
|
The last few paragraphs of the above, in which the word “Elohim” is Kabalistically analyzed, show conclusively enough that the Elohim are not one, nor two, nor even a trinity, but a Host—the army of the creative powers. |
Vài đoạn cuối ở trên, trong đó từ “Elohim” được phân tích theo Kabbalah, cho thấy đủ rõ ràng rằng Elohim không phải là một, cũng không phải hai, thậm chí cũng không phải một tam vị, mà là một Đoàn—đạo quân của các quyền năng sáng tạo. |
|
The Christian Church, in making of Jehovah—one of these very Elohim—the one Supreme God, has introduced hopeless confusion into the celestial hierarchy, in spite of the volumes written by Thomas Aquinas and his school on the subject. The only explanation to be found in all their treatises on the nature and essence of the numberless classes of celestial beings mentioned in the Bible—Archangels, Thrones, Seraphim, Cherubim, Messengers, etc. —is that “The angelic host is God’s militia.” They are “Gods the creatures,” while he is “God the Creator;” but of their true functions—of their actual place in the economy of Nature—not one word is said. They are |
Giáo hội Cơ Đốc, khi biến Jehovah—một trong chính những Elohim này—thành Thượng đế Tối Cao duy nhất, đã đưa sự lẫn lộn vô phương cứu chữa vào huyền giai thiên giới, bất chấp những bộ sách do Thomas Aquinas và trường phái của ông viết về đề tài này. Lời giải thích duy nhất có thể tìm thấy trong tất cả các khảo luận của họ về bản chất và tinh chất của vô số lớp hữu thể thiên giới được nhắc đến trong Kinh Thánh—Tổng lãnh Thiên Thần, Ngai Tòa, Seraphim, Cherubim, Sứ giả, v.v.—là “đoàn thiên thần là lực lượng dân quân của Thượng đế.” Họ là “Các Thượng đế thụ tạo,” trong khi Ngài là “Thượng đế Đấng Sáng Tạo”; nhưng về các chức năng thật sự của họ—về vị trí thực tế của họ trong cơ cấu vận hành của Thiên nhiên—không một lời nào được nói. Họ là |
|
More brilliant than the flames, more rapid than the wind, and they live in love and harmony, mutually enlightening each other, feeding on bread and a mystic beverage—the communion wine and water?—surrounding as with a river of fire the throne of the Lamb, and veiling their faces with their wings. This throne of love and glory they leave only to carry to the stars, the earth, the kingdoms and all the sons of God, their brothers and pupils, in short, to all creatures like themselves the divine influence…. As to their number, it is that of the great army of Heaven (Sabaoth), more numerous than the stars…. Theology shows us these rational luminaries, each constituting a species, and containing in their natures such or another position of Nature: covering immense space, though of a determined area; residing—incorporeal though they are—within circumscribed limits;… more rapid than light or thunderbolt, disposing of all the elements of Nature, providing at will inexplicable mirages [illusions?], objective and subjective in turn, speaking to men a language at one time articulate, at another purely spiritual. 388 |
Rực rỡ hơn ngọn lửa, nhanh hơn gió, và họ sống trong tình thương cùng hòa điệu, soi sáng lẫn nhau, nuôi mình bằng bánh và một thức uống thần bí—rượu và nước của lễ hiệp thông chăng?—bao quanh ngai của Chiên Con như một dòng sông lửa, và che mặt bằng đôi cánh của mình. Ngai tòa của tình thương và vinh quang này, họ chỉ rời khỏi để đem đến các vì sao, trái đất, các giới và tất cả các Con của Thượng đế, các huynh đệ và môn sinh của họ, tóm lại, đến mọi thụ tạo giống như chính họ ảnh hưởng thiêng liêng…. Về số lượng của họ, đó là số của đạo quân vĩ đại trên Trời, đông hơn các vì sao…. Thần học cho chúng ta thấy những ánh sáng có lý trí này, mỗi vị cấu thành một loài, và chứa trong bản chất của họ vị trí này hay vị trí khác của Thiên nhiên: bao phủ không gian mênh mông, dù thuộc một phạm vi xác định; cư ngụ—dù họ vô thân xác—trong các giới hạn được khoanh định;… nhanh hơn ánh sáng hay sấm sét, điều động mọi nguyên tố của Thiên nhiên, tùy ý tạo ra những ảo ảnh không thể giải thích [ảo tưởng chăng?], khi thì khách quan, khi thì chủ quan, nói với con người một ngôn ngữ lúc thì rõ thành lời, lúc thì thuần tinh thần. |
|
We learn farther on in the same work that it is these Angels and their hosts who are referred to in the sentence of verse I, chapter ii, of Genesis: “Igitur perfecti sunt cœli et terra et omnis ornatus eorum:” and that the Vulgate has peremptorily substituted for the Hebrew word “tsaba” (“host”) that of “ornament;” Munck shows the mistake of substitution and the derivation of the compound title, “Tsabaoth-Elohim,” from “tsaba.” Moreover, Cornelius à Lapide, “the master of all Biblical commentators,” says de Mirville, shows us that such was the real meaning. Those Angels are stars. |
Xa hơn trong cùng tác phẩm, chúng ta biết rằng chính các Thiên Thần này và các đoàn của họ được nói đến trong câu của câu 1, chương ii, Sáng Thế Ký: “Igitur perfecti sunt cœli et terra et omnis ornatus eorum”: và bản Vulgate đã dứt khoát thay thế từ Hebrew “tsaba” (“đoàn”) bằng từ “trang sức”; Munck chỉ ra sai lầm của sự thay thế này và sự phái sinh của danh hiệu ghép “Tsabaoth-Elohim” từ “tsaba.” Hơn nữa, Cornelius à Lapide, “bậc thầy của mọi nhà chú giải Kinh Thánh,” theo de Mirville, cho chúng ta thấy rằng đó là ý nghĩa thật sự. Các Thiên Thần ấy là các vì sao. |
|
All this, however, teaches us very little as to the true functions of this celestial army, and nothing at all as to its place in evolution and its relation to the earth we live on. For an answer to the question, “Who are the true Creators?” we must go to the Esoteric Doctrine, since there only can the key be found which will render intelligible the Theogonies of the various world-religions. |
Tuy nhiên, tất cả điều này dạy chúng ta rất ít về các chức năng thật sự của đạo quân thiên giới này, và hoàn toàn không dạy gì về vị trí của nó trong tiến hoá cũng như mối quan hệ của nó với trái đất nơi chúng ta sống. Để trả lời câu hỏi, “Ai là những Đấng Sáng Tạo thật sự?” chúng ta phải đi đến Giáo Lý Nội Môn, vì chỉ ở đó mới có thể tìm thấy chiếc chìa khóa khiến các Thần phả học của nhiều tôn giáo thế giới trở nên dễ hiểu. |
|
There we find that the real creator of the Kosmos, as of all visible Nature—if not of all the invisible hosts of Spirits not yet drawn into the “Cycle of Necessity,” or evolution—is “the Lord—the Gods,” or the “Working Host,” the “Army” collectively taken, the “One in many.” |
Ở đó, chúng ta thấy rằng đấng sáng tạo thật sự của Vũ trụ, cũng như của toàn bộ Thiên nhiên hữu hình—nếu không phải của tất cả các đoàn Chân Linh vô hình chưa bị cuốn vào “Chu Kỳ Tất Yếu,” hay tiến hoá—là “Chúa Tể—Các Thượng đế,” hay “Đoàn Hoạt Động,” “Đạo Quân” xét như một tập thể, “Đấng Duy Nhất trong nhiều.” |
|
The One is infinite and unconditioned. It cannot create, for It can have no relation to the finite and conditioned. If everything we see, from the glorious suns and planets down to the blades of grass and the specks of dust, had been created by the Absolute Perfection and were the direct work of even the First Energy that proceeded from It, 389 then every such thing would have been perfect, eternal, and unconditioned, like its author. The millions upon millions of imperfect works found in Nature testify loudly that they are the products of finite, conditioned beings—though the latter were and are Dhyân Chohans, Archangels, or what ever else they may be named. In short, these imperfect works are the unfinished production of evolution, under the guidance of the imperfect Gods. The Zohar gives us this assurance as well as the Secret Doctrine. It speaks of the auxiliaries of the “Ancient of Days,” the “Sacred Aged,” and calls them Auphanim, or the living Wheels of the celestial orbs, who participate in the work of the creation of the Universe. |
Đấng Duy Nhất là vô hạn và không bị điều kiện hóa. Đấng ấy không thể sáng tạo, vì Đấng ấy không thể có quan hệ nào với cái hữu hạn và bị điều kiện hóa. Nếu mọi vật chúng ta thấy, từ các mặt trời và hành tinh huy hoàng cho đến những ngọn cỏ và hạt bụi, đã được tạo ra bởi Sự Hoàn Hảo Tuyệt Đối và là công trình trực tiếp của ngay cả Năng Lượng Đầu Tiên phát xuất từ Đấng ấy, thì mọi vật như thế hẳn đã hoàn hảo, vĩnh cửu và không bị điều kiện hóa, giống như tác giả của nó. Hàng triệu triệu công trình bất toàn được thấy trong Thiên nhiên lớn tiếng làm chứng rằng chúng là sản phẩm của các hữu thể hữu hạn, bị điều kiện hóa—dù những hữu thể sau này đã và đang là Dhyân Chohans, Tổng lãnh Thiên Thần, hay bất cứ danh xưng nào khác có thể được đặt cho họ. Tóm lại, những công trình bất toàn này là sản phẩm chưa hoàn tất của tiến hoá, dưới sự hướng dẫn của các Thượng đế bất toàn. Zohar đem lại cho chúng ta sự xác nhận này cũng như Giáo Lý Bí Nhiệm. Nó nói về những phụ tá của “Đấng Thái Cổ,” “Đấng Lão Thành Thiêng Liêng,” và gọi họ là Auphanim, hay các Bánh Xe sống của những thiên cầu, những vị tham gia vào công trình sáng tạo Vũ trụ. |
|
Thus it is not the “Principle,” One and Unconditioned, nor even Its reflection, that creates, but only the “Seven Gods” who fashion the Universe out of the eternal Matter, vivified into objective life by the reflection into it of the One Reality. |
Như vậy, không phải “Nguyên khí,” Duy Nhất và Không Bị Điều Kiện Hóa, cũng không phải ngay cả phản chiếu của Nó, sáng tạo; mà chỉ có “Bảy Thượng đế” tạo hình Vũ trụ từ Vật Chất vĩnh cửu, được tiếp sinh lực thành sự sống khách quan nhờ phản chiếu vào đó của Thực Tại Duy Nhất. |
|
The Creator is they— “God the Host”—called in the Secret Doctrine the Dhyân Chohans; with the Hindus the Prajâpatis; with the Western Kabalists the Sephiroth; and with the Buddhist the Devas—impersonal because blind forces. They are the Amshaspends with the Zoroastrians, and while with the Christian Mystic the “Creator” is the “Gods of the God,” with the dogmatic Churchman he is the “God of the Gods,” the “Lord of lords,” etc. |
Đấng Sáng Tạo là họ—“Thượng đế Đoàn”—được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là Dhyân Chohans; với người Ấn Độ là Prajapatis; với các nhà Kabbalah phương Tây là Sephiroth; và với Phật tử là các Deva—vô ngã vì là những mãnh lực mù quáng. Họ là Amshaspends đối với người Zoroastrian, và trong khi đối với nhà thần bí Cơ Đốc, “Đấng Sáng Tạo” là “Các Thượng đế của Thượng đế,” thì đối với giáo sĩ giáo điều, Ngài là “Thượng đế của các Thượng đế,” “Chúa Tể của các chúa tể,” v.v. |
|
“Jehovah” is only the God who is greater than all Gods in the eyes of Israel. |
“Jehovah” chỉ là Thượng đế lớn hơn mọi Thượng đế trong mắt Israel. |
|
I know, that the Lord [of Israel] is great and that our Lord is above all gods. 390 |
Tôi biết rằng Chúa Tể [của Israel] là vĩ đại và Chúa Tể của chúng ta ở trên mọi thần. |
|
And again: |
Và lại nữa: |
|
For all the gods of the nations are idols, but the Lord made the heavens. 391 |
Vì mọi thần của các dân tộc đều là ngẫu tượng, nhưng Chúa Tể đã tạo nên các tầng trời. |
|
The Egyptian Neteroo, translated by Champollion “the other Gods” are the Elohim of the Biblical writers, behind which stands concealed the One God, considered in the diversity of his powers. 392 This One is not Parabrahman, but the Unmanifested Logos, the Demiurgos, the real Creator or Fashioner, that follows him, standing for the Demiurgi collectively taken. Further on the great Egyptologist adds: |
Các Neteroo của Ai Cập, được Champollion dịch là “các Thượng đế khác,” là Elohim của các tác giả Kinh Thánh, đằng sau họ ẩn giấu Đấng Thượng đế Duy Nhất, được xét trong tính đa dạng của các quyền năng của Ngài. Đấng Duy Nhất này không phải là Parabrahman, mà là Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện, Demiurgos, Đấng Sáng Tạo hay Đấng Tạo Hình thật sự, theo sau Ngài, đại diện cho các Demiurgi xét như một tập thể. Xa hơn, nhà Ai Cập học vĩ đại này nói thêm: |
|
We see Egypt concealing and hiding, so to say, the God of Gods behind the agentsshe surrounds him with; she gives the precedence to her great gods before the one and sole Deity, so that the attributes of that God become their property. Those great Gods proclaim themselves uncreate…. Neith is “that which is,” as Jehovah; 393 Thoth is self-created 394 without having been begotten, etc. Judaism annihilating these potencies before the grandeur of its God, they cease to be simply Powers, like Philo’s Archangels, like the Sephiroth of the Kabalah, like the Ogdoades of the Gnostics—they merge together and become transformed into God himself. 395 |
Chúng ta thấy Ai Cập che giấu và ẩn kín, có thể nói, vị Thượng đế của các Thượng đế đằng sau các tác nhân mà nàng bao quanh Ngài; nàng dành quyền ưu tiên cho các vị thần vĩ đại của mình trước vị Thượng đế duy nhất và độc nhất, đến nỗi các thuộc tính của Thượng đế ấy trở thành sở hữu của họ. Những vị Thượng đế vĩ đại ấy tuyên bố mình vô sinh…. Neith là “cái đang hiện hữu,” như Jehovah; Thoth là tự sinh mà không được sinh ra, v.v. Do Do Thái giáo hủy diệt các quyền năng này trước sự uy nghi của Thượng đế của mình, họ không còn đơn thuần là các Quyền năng, như các Tổng lãnh Thiên Thần của Philo, như Sephiroth của Kabbalah, như Ogdoades của các nhà Ngộ đạo—họ hòa nhập vào nhau và được chuyển đổi thành chính Thượng đế. |
|
Jehovah is thus, as the Kabalah teaches, at best but the “Heavenly Man,” Adam Kadmon, used by the self-created Spirit, the Logos, as a chariot, a vehicle in His descent towards manifestation in the phenomenal world. |
Như vậy, Jehovah, như Kabbalah dạy, nhiều nhất chỉ là “Đấng Thiên Nhân,” Adam Kadmon, được Chân Linh tự sinh, Thượng đế Ngôi Lời, dùng như một cỗ xe, một vận cụ trong sự giáng xuống của Ngài hướng tới biểu hiện trong thế giới hiện tượng. |
|
Such are the teachings of the Archaic Wisdom, nor can they be repudiated even by the orthodox Christian, if he be sincere and open-minded in the study of his own Scripture. For if he reads St. Paul’s Epistles carefully he will find that the Secret Doctrine and the Kabalah are fully admitted by the “Apostle of the Gentiles.” The Gnosis which he appears to condemn is no less for him than for Plato “the supreme knowledge of the truth and of the One Being;” 396 for what St. Paul condemns is not the true, but only the false, Gnosis and its abuses: otherwise how could he use the language of a Platonist pur sang? The Ideas, types (Archai), of the Greek Philosopher; the Intelligences of Pythagoras; the Æons or Emanations of the Pantheist; the Logos or Word, Chief of these Intelligences; the Sophia or Wisdom; the Demiurgos, the Builder of the world under the direction of the Father, the Unmanifested Logos, from which He emanates; Ain-Suph, the Unknown of the Infinite; the angelic Periods; the Seven Spirits who are the representatives of the Seven of all the older cosmogonies—are all to be found in his writings, recognized by the Church as canonical and divinely inspired. Therein, too, may be recognized the Depths of Ahriman, Rector of this our World, the “God of this World;” the Pleroma of the Intelligences; the Archontes of the air; the Principalities, the Kabalistic Metatron; and they can easily be identified again in the Roman Catholic writers when read in the original Greek and Latin texts, English translations giving but a very poor idea of the real contents of these. |
Đó là các giáo huấn của Minh Triết Cổ Xưa, và ngay cả người Cơ Đốc chính thống cũng không thể phủ nhận chúng, nếu y chân thành và cởi mở trong việc nghiên cứu chính Thánh Kinh của mình. Vì nếu y đọc kỹ các Thư của Thánh Paul, y sẽ thấy rằng Giáo Lý Bí Nhiệm và Kabbalah được “Sứ đồ của Dân Ngoại” hoàn toàn thừa nhận. Gnosis mà ông dường như lên án, đối với ông cũng như đối với Plato, không gì khác hơn là “tri thức tối thượng về chân lý và về Đấng Duy Nhất”; vì điều Thánh Paul lên án không phải là Gnosis chân thật, mà chỉ là Gnosis giả và các lạm dụng của nó: nếu không, làm sao ông có thể dùng ngôn ngữ của một nhà Plato thuần túy? Các Ý niệm, các kiểu mẫu (Archai), của Triết gia Hy Lạp; các Trí tuệ của Pythagoras; các Aeon hay Xuất lộ của nhà phiếm thần; Thượng đế Ngôi Lời hay Linh từ, Thủ lĩnh của các Trí tuệ này; Sophia hay Minh triết; Demiurgos, Đấng Kiến Tạo thế giới dưới sự chỉ đạo của Cha, Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện, từ đó Ngài xuất lộ; Ain-Suph, Đấng Chưa Biết của Vô Hạn; các Chu Kỳ thiên thần; Bảy Chân Linh vốn là những đại diện của Bảy trong mọi vũ trụ khởi nguyên luận cổ hơn—tất cả đều được tìm thấy trong các trước tác của ông, được Giáo hội công nhận là kinh điển và được linh hứng thiêng liêng. Trong đó, cũng có thể nhận ra các Vực Sâu của Ahriman, Đấng Cai Quản Thế Giới này của chúng ta, “Thượng đế của Thế Giới này”; Pleroma của các Trí tuệ; các Archontes của không khí; các Quyền Chức, Metatron của Kabbalah; và chúng có thể dễ dàng được nhận diện lại trong các tác giả Công giáo La Mã khi được đọc trong các bản văn Hy Lạp và Latin nguyên thủy, vì các bản dịch tiếng Anh chỉ đem lại một ý niệm rất nghèo nàn về nội dung thật sự của chúng. |
Section XXIII. What the Occultists and Kabalists have to say. — Phần XXIII. Những điều các nhà huyền bí học và Kabbalah nói.
|
The Zohar, an unfathomable store of hidden wisdom and mystery, is very often appealed to by Roman Catholic writers. A very learned Rabbi, now the Chevalier Drach, having been converted to Roman Catholicism, and being a great Hebraist, thought fit to step into the shoes of Picus de Mirandola and John Reuchlin, and to assure his new co-religionists that the Zohar contained in it pretty nearly all the dogmas of Catholicism. It is not our province to show here how far he has succeeded or failed; only to bring one instance of his explanations and preface it with the following: The Zohar, as already shown, is not a genuine production of the Hebrew mind. It is the repository and compendium of the oldest doctrines of the East, transmitted orally at first, and then written down in independent treatises during the Captivity at Babylon, and finally brought together by Rabbi Simeon Ben Iochai, toward the beginning of the Christian era. As Mosaic cosmogony was born under a new form in Mesopotamian countries, so the Zohar was a vehicle in which were focussed rays from the light of Universal Wisdom. Whatever likenesses are found between it and the Christian teachings, the compilers of the Zohar never had Christ in their minds. Were it otherwise there would not be one single Jew of the Mosaic law left in the world by this time. Again, if one is to accept literally what the Zohar says, then any religion under the sun may find corroboration in its symbols and allegorical sayings; and this, simply because this work is the echo of the primitive truths, and every creed is founded on some of these; the Zohar being but a veil of the Secret Doctrine. This is so evident that we have only to point to the said ex-Rabbi, the Chevalier Drach, to prove the fact. |
Zohar, một kho tàng khôn dò của minh triết ẩn tàng và huyền nhiệm, rất thường được các tác giả Công giáo La Mã viện dẫn. Một Rabbi rất uyên bác, nay là Hiệp sĩ Drach, sau khi cải sang Công giáo La Mã, và vốn là một học giả Hebrew lỗi lạc, đã thấy thích hợp để tiếp bước Picus de Mirandola và John Reuchlin, và bảo đảm với các đồng đạo mới của mình rằng Zohar chứa đựng trong đó gần như tất cả các tín điều của Công giáo. Không phải phận sự của chúng tôi ở đây là chỉ ra ông đã thành công hay thất bại đến mức nào; mà chỉ nêu một trường hợp trong các lời giải thích của ông, và mở đầu bằng điều sau đây: Zohar, như đã được trình bày, không phải là một sản phẩm đích thực của trí tuệ Hebrew. Nó là kho lưu giữ và bản tóm lược các giáo lý cổ xưa nhất của phương Đông, trước hết được truyền khẩu, rồi được ghi chép thành các luận thuyết độc lập trong thời kỳ Lưu đày tại Babylon, và cuối cùng được Rabbi Simeon Ben Iochai tập hợp lại vào khoảng đầu kỷ nguyên Kitô giáo. Cũng như vũ trụ khởi nguyên luận của Moses đã được sinh ra dưới một hình thức mới tại các xứ Mesopotamia, Zohar là một vận cụ trong đó các tia sáng từ ánh sáng của Minh Triết Vũ Trụ được quy tụ. Bất cứ những điểm tương đồng nào được tìm thấy giữa nó và các giáo huấn Kitô giáo, những người biên soạn Zohar chưa bao giờ nghĩ đến Đức Christ. Nếu không phải vậy, thì đến nay hẳn đã không còn một người Do Thái nào theo luật Moses trên thế gian. Lại nữa, nếu người ta phải chấp nhận theo nghĩa đen những gì Zohar nói, thì bất kỳ tôn giáo nào dưới mặt trời cũng có thể tìm thấy sự xác nhận trong các biểu tượng và những lời nói ngụ ngôn của nó; và điều này đơn giản là vì tác phẩm ấy là tiếng vọng của những chân lý nguyên thủy, và mọi tín ngưỡng đều được đặt nền trên một vài chân lý trong số đó; Zohar chỉ là một bức màn che của Giáo Lý Bí Nhiệm. Điều này hiển nhiên đến nỗi chúng ta chỉ cần chỉ đến vị cựu Rabbi đã nói, Hiệp sĩ Drach, để chứng minh sự kiện ấy. |
|
In Part III, fol. 87 (col. 346th) the Zohar treats of the Spirit guiding the Sun, its Rector, explaining that it is not the Sun itself that is meant thereby, but the Spirit “on, or under” the Sun. Drach is anxious to show that it was Christ who was meant by that “Sun,” or the Solar Spirit therein. In his comment upon that passage which refers to the Solar Spirit as “that stone which the builders rejected,” he asserts most positively that this |
Trong Phần III, fol. 87 (cột 346), Zohar bàn về Tinh thần dẫn dắt Mặt Trời, Đấng Cai Quản của nó, giải thích rằng điều được nói đến không phải chính Mặt Trời, mà là Tinh thần “trên, hoặc dưới” Mặt Trời. Drach nóng lòng muốn chứng tỏ rằng chính Đức Christ được ám chỉ bởi “Mặt Trời” ấy, hay bởi Tinh thần Thái Dương ở trong đó. Trong lời bình của ông về đoạn văn nói đến Tinh thần Thái Dương như “viên đá mà những người thợ xây đã loại bỏ,” ông quả quyết một cách hết sức dứt khoát rằng |
|
Sun-stone (pierre soleil) is identical with Christ, who was that stone, |
Viên đá Mặt Trời này đồng nhất với Đức Christ, Đấng vốn là viên đá ấy, |
|
and that therefore |
và do đó |
|
The sun is undeniably (sans contredit) the second hypostasis of the Deity, 397 or Christ. |
Mặt Trời không thể chối cãi là ngôi vị thứ hai của Thượng đế, hay Đức Christ. |
|
If this be true, then the Vaidic or pre-Vaidic Âryans, Chaldæans and Egyptians, like all Occultists past, present, and future, Jews included, have been Christians from all eternity. If this be not so, then modern Church Christianity is Paganism pure and simple exoterically, and transcendental and practical Magic, or Occultism, Esoterically. |
Nếu điều này đúng, thì các dân Arya thời Veda hoặc tiền Veda, người Chaldea và Ai Cập, cũng như tất cả các nhà huyền bí học trong quá khứ, hiện tại và tương lai, kể cả người Do Thái, đều đã là Kitô hữu từ muôn thuở. Nếu không phải vậy, thì Kitô giáo Giáo hội hiện đại, xét về mặt ngoại môn, thuần túy chỉ là ngoại giáo; còn xét về mặt nội môn, là huyền thuật siêu việt và thực hành, hay huyền bí học. |
|
For this “stone” has a manifold significance, a dual existence, with gradations, a regular progression and retrogression. It is a “mystery” indeed. |
Vì “viên đá” này có thâm nghĩa đa diện, một hiện hữu nhị phân với các cấp độ, một tiến trình tiến triển và thoái triển đều đặn. Quả thật nó là một “huyền nhiệm”. |
|
The Occultists are quite ready to agree with St. Chrysostom, that the infidels—the profane, rather— |
Các nhà huyền bí học hoàn toàn sẵn sàng đồng ý với Thánh Chrysostom rằng những kẻ vô tín—đúng hơn là những kẻ phàm tục— |
|
Being blinded by sun-light, thus lose sight of the true Sun in the contemplation of the false one. |
Bị ánh sáng mặt trời làm mù lòa, nên trong khi chiêm ngưỡng mặt trời giả, họ mất dấu Mặt Trời chân thật. |
|
But if that Saint, and along with him now the Hebraist Drach, chose to see in the Zohar and the Kabalistic Sun “the second hypostasis,” this is no reason why all others should be blinded by them. The mystery of the Sun is the grandest perhaps, of all the innumerable mysteries of Occultism. A Gordian knot, truly, but one that cannot be severed with the double-edged sword of scholastic casuistry. It is a true deo dignus vindice nodus, and can be untied only by the Gods. The meaning of this is plain, and every Kabalist will understand it. |
Nhưng nếu vị Thánh ấy, và cùng với ông hiện nay là học giả Hebrew Drach, chọn thấy trong Zohar và Mặt Trời Kabbalah “ngôi vị thứ hai,” thì đó không phải là lý do để tất cả những người khác phải bị họ làm cho mù lòa. Huyền nhiệm của Mặt Trời có lẽ là huyền nhiệm vĩ đại nhất trong vô số huyền nhiệm của huyền bí học. Quả thật là một nút thắt Gordian, nhưng là nút thắt không thể bị chặt đứt bằng thanh gươm hai lưỡi của lối biện luận kinh viện. Đó là một nút thắt đích thực xứng đáng với một đấng giải cứu thiêng liêng, và chỉ các deo dignus vindice nodusThần linh mới có thể tháo gỡ. Ý nghĩa của điều này rất rõ ràng, và mọi nhà Kabbalah đều sẽ thấu hiểu. |
|
Contra solem ne loquaris was not said by Pythagoras with regard to the visible Sun. It was the “Sun of Initiation” that was meant, in its triple form—two of which are the “Day-Sun” and the “Night-Sun.” |
Contra solem ne loquaris không được Pythagoras nói về Mặt Trời hữu hình. Điều được ám chỉ là “Mặt Trời của Điểm đạo”, trong hình thức tam phân của nó—hai trong số đó là “Mặt Trời Ban Ngày” và “Mặt Trời Ban Đêm”. |
|
If behind the physical luminary there were no mystery that people sensed instinctively, why should every nation, from the primitive peoples down to the Parsîs of to-day, have turned towards the Sun during prayers? The Solar Trinity is not Mazdean, but is universal, and is as old as man. All the temples in Antiquity were invariably made to face the Sun, their portals to open to the East. See the old temples of Memphis and Baalbec, the Pyramids of the Old and of the New (?) Worlds, the Round Towers of Ireland, and the Serapeum of Egypt. The Initiates alone could give a philosophical explanation of this, and a reason for it—its mysticism notwithstanding—were only the world ready to receive it, which alas! it is not. The last of the Solar Priests in Europe was the Imperial Initiate, Julian, now called the Apostate. 398 He tried to benefit the world by revealing at least a portion of the great mystery of the τρεπλασιος and—he died. “There are three in one,” he said of the Sun—the central Sun 399 being a precaution of Nature: the first is the universal cause of all, Sovereign Good and perfection; the Second Power is paramount Intelligence, having dominion over all reasonable beings, νοεροῖς; the third is the visible Sun. The pure energy of solar intelligence proceeds from the luminous seat occupied by our Sun in the centre of heaven, that pure energy being the Logos of our system; the “Mysterious Word Spirit produces all through the Sun, and never operates through any other medium,” says Hermes Trismegistus. For it is in the Sun, more than in any other heavenly body that the [unknown] Power placed the seat of its habitation. Only neither Hermes Trismegistus nor Julian (an initiated Occultist), nor any other, meant by this Unknown Cause Jehovah, or Jupiter. They referred to the cause that produced all the manifested “great Gods” or Demiurgi (the Hebrew God included) of our system. Nor was our visible, material Sun meant, for the latter was only the manifested symbol. Philolaus the Pythagorean, explains and completes Trismegistus by saying: |
Nếu đằng sau vầng sáng hồng trần không có huyền nhiệm nào mà con người cảm nhận bằng bản năng, thì tại sao mọi dân tộc, từ các dân nguyên thủy cho đến người Parsi ngày nay, đều quay về phía Mặt Trời trong khi cầu nguyện? Tam Vị Thái Dương không phải là của Mazdea, mà là phổ quát, và cổ xưa như chính con người. Tất cả các đền thờ thời Cổ đại đều luôn được xây để hướng về Mặt Trời, với cổng mở về phương Đông. Hãy xem các đền cổ Memphis và Baalbec, các Kim tự tháp của Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới, các Tháp Tròn của Ireland, và Serapeum của Ai Cập. Chỉ các điểm đạo đồ mới có thể đưa ra lời giải thích triết học cho điều này, và lý do của nó—dù tính thần bí của nó là vậy—nếu thế gian sẵn sàng tiếp nhận, mà than ôi, thế gian lại không sẵn sàng. Vị Tư tế Thái Dương cuối cùng ở châu Âu là vị Điểm đạo đồ Hoàng đế Julian, nay bị gọi là Kẻ Bội Giáo. Ông đã cố gắng làm lợi ích cho thế gian bằng cách mặc khải ít nhất một phần của huyền nhiệm vĩ đại về tam phân và—ông đã chết. “Có ba trong một,” ông nói về Mặt Trời—Mặt Trời trung tâm là một biện pháp phòng hộ của Thiên nhiên: thứ nhất là nguyên nhân phổ quát của tất cả, Thiện Tối Thượng và sự hoàn thiện; Quyền năng thứ hai là Trí Tuệ tối thượng, có quyền thống trị trên mọi hữu thể có lý trí; thứ ba là Mặt Trời hữu hình. Năng lượng thuần khiết của trí tuệ thái dương xuất phát từ chỗ ngồi rực sáng mà Mặt Trời của chúng ta chiếm giữ ở trung tâm bầu trời, năng lượng thuần khiết ấy là Thượng đế Ngôi Lời của hệ chúng ta; Hermes Trismegistus nói: “Tinh thần Linh Từ Huyền Nhiệm tạo ra tất cả qua Mặt Trời, và không bao giờ hoạt động qua bất kỳ trung gian nào khác.” Vì chính trong Mặt Trời, hơn bất kỳ thiên thể nào khác, Quyền năng chưa biết đã đặt chỗ cư ngụ của mình. Chỉ có điều, cả Hermes Trismegistus lẫn Julian, một nhà huyền bí học được điểm đạo, hay bất kỳ ai khác, đều không ám chỉ Jehovah hay Jupiter bằng Nguyên Nhân Vô Danh này. Họ nói đến nguyên nhân đã sinh ra tất cả các “Đại Thần” hay Demiurge biểu hiện của hệ chúng ta, kể cả Thượng đế Hebrew. Và điều được nói đến cũng không phải Mặt Trời hữu hình, vật chất của chúng ta, vì cái sau chỉ là biểu tượng biểu hiện. Philolaus, môn đồ Pythagoras, giải thích và bổ sung cho Trismegistus khi nói rằng: |
|
The Sun is a mirror of fire, the splendour of whose flames by their reflection in that mirror [the Sun] is poured upon us, and that splendour we call image. |
Mặt Trời là một tấm gương lửa; vẻ huy hoàng của các ngọn lửa ấy, qua sự phản chiếu của chúng trong tấm gương đó, tức Mặt Trời, được tuôn đổ lên chúng ta, và vẻ huy hoàng ấy chúng ta gọi là hình ảnh. |
|
It is evident that Philolaus referred to the central spiritual Sun, whose beams and effulgence are only mirrored by our central Star, the Sun. This is as clear to the Occultists as it was to the Pythagoreans. As for the profane of pagan antiquity, it was, of course, the physical Sun that was the “highest God” for them, as it seems—if Chevalier Drach’s view be accepted—to have now virtually become for the modern Roman Catholics. If words mean anything, the statement made by the Chevalier Drach that “this sun is, undeniably, the second hypostasis of the Deity,” imply what we say; as “this Sun” refers to the Kabalistic Sun, and “hypostasis” means substance or subsistence of the Godhead or Trinity—distinctly personal. As the author, being an ex-Rabbi, thoroughly versed in Hebrew, and in the mysteries of the Zohar, ought to know the value of words; and as, moreover, in writing this, he was bent upon reconciling “the seeming contradictions,” as he puts it, between Judaism and Christianity—the fact becomes quite evident. |
Rõ ràng Philolaus nói đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mà các tia và ánh rực rỡ của nó chỉ được phản chiếu bởi Ngôi Sao trung tâm của chúng ta, Mặt Trời. Điều này đối với các nhà huyền bí học cũng rõ ràng như đối với các môn đồ Pythagoras. Còn đối với kẻ phàm tục của thời cổ ngoại giáo, tất nhiên Mặt Trời hồng trần là “Thượng đế tối cao” đối với họ, cũng như dường như—nếu quan điểm của Hiệp sĩ Drach được chấp nhận—giờ đây về thực chất nó đã trở thành như vậy đối với người Công giáo La Mã hiện đại. Nếu lời nói có ý nghĩa gì, thì tuyên bố của Hiệp sĩ Drach rằng “mặt trời này, không thể chối cãi, là ngôi vị thứ hai của Thượng đế,” hàm ý điều chúng tôi nói; vì “Mặt Trời này” chỉ Mặt Trời Kabbalah, và “ngôi vị” nghĩa là chất liệu hay sự tồn tại của Thần tính hoặc Ba Ngôi—một cách rõ ràng có tính ngôi vị. Vì tác giả, vốn là một cựu Rabbi, thông thạo Hebrew và các huyền nhiệm của Zohar, đáng lẽ phải biết giá trị của lời nói; và hơn nữa, khi viết điều này, ông chủ ý hòa giải “những mâu thuẫn có vẻ như vậy,” như ông nói, giữa Do Thái giáo và Kitô giáo—sự kiện trở nên hết sức hiển nhiên. |
|
But all this pertains to questions and problems which will be solved naturally and in the course of the development of the doctrine. The Roman Catholic Church stands accused, not of worshipping under other names the Divine Beings worshipped by all nations in antiquity, but of declaring idolatrous, not only the Pagans ancient and modern, but every Christian nation that has freed itself from the Roman yoke. The accusation brought against herself by more than one man of Science, of worshipping the stars like true Sabæans of old, stands to this day uncontradicted, yet no star-worshipper has ever addressed his adoration to the material stars and planets, as will be shown before the last page of this work is written; none the less is it true that those Philosophers alone who studied Astrology and Magic knew that the last word of those sciences was to be sought in, and expected from, the Occult forces emanating from those constellations. |
Nhưng tất cả những điều này thuộc về các câu hỏi và vấn đề sẽ được giải quyết một cách tự nhiên trong tiến trình phát triển của giáo lý. Giáo hội Công giáo La Mã bị cáo buộc không phải vì tôn thờ dưới những danh xưng khác các Hữu Thể Thiêng Liêng đã được mọi dân tộc thời cổ tôn thờ, mà vì tuyên bố là thờ ngẫu tượng không chỉ các dân ngoại giáo xưa và nay, mà cả mọi quốc gia Kitô giáo đã tự giải phóng khỏi ách La Mã. Lời buộc tội do hơn một nhà khoa học đưa ra chống lại chính Giáo hội ấy, rằng họ tôn thờ các vì sao như những người Sabaean chân chính thuở xưa, cho đến nay vẫn chưa bị bác bỏ; tuy nhiên, chưa từng có người thờ sao nào hướng sự sùng bái của mình đến các sao và hành tinh vật chất, như sẽ được trình bày trước khi trang cuối cùng của tác phẩm này được viết; dầu vậy, vẫn đúng rằng chỉ những Triết gia đã nghiên cứu Chiêm tinh học và Huyền thuật mới biết lời cuối cùng của các khoa học ấy phải được tìm kiếm trong, và được mong đợi từ, các mãnh lực huyền bí phát xạ từ những chòm sao ấy. |
Section XXIV. Modern Kabalists in Science and Occult Astronomy. — Phần XXIV. Các nhà Kabbalah hiện đại trong Khoa học và Thiên văn học huyền bí.
|
There is a physical, an astral, and a super-astral Universe in the three chief divisions of the Kabalah; as there are terrestrial, super-terrestrial, and spiritual Beings. The “Seven Planetary Spirits” may be ridiculed by Scientists to their hearts’ content, yet the need of intelligent ruling and guiding Forces is so much felt to this day that scientific men and specialists, who will not hear of Occultism or of ancient systems, find themselves obliged to generate in their inner consciousness some kind of semi-mystical system. Metcalf’s “sun-force” theory, and that of Zaliwsky, a learned Pole, which made Electricity the Universal Force and placed its storehouse in the Sun, 400 were revivals of the Kabalistic teachings. Zaliwsky tried to prove that Electricity, producing “the most powerful, attractive, calorific, and luminous effects,” was present in the physical constitution of the Sun and explained its peculiarities. This is very near the Occult teaching. It is only by admitting the gaseous nature of the Sun-reflector, and the powerful Magnetism and Electricity of the solar attraction and repulsion, that one can explain (a) the evident absence of any waste of power and luminosity in the Sun—inexplicable by the ordinary laws of combustion; and (b) the behaviour of the planets, so often contradicting every accepted rule of weight and gravity. And Zaliwsky makes this “solar electricity” “differ from anything known on earth.” |
Có một Vũ trụ hồng trần, một Vũ trụ cảm dục, và một Vũ trụ siêu cảm dục trong ba phân bộ chính của Kabbalah; cũng như có các Hữu Thể địa cầu, siêu địa cầu, và tinh thần. “Bảy Tinh thần Hành tinh” có thể bị các nhà khoa học chế giễu tùy thích, nhưng nhu cầu về các Mãnh lực cai quản và dẫn dắt có trí tuệ vẫn còn được cảm thấy mạnh mẽ đến ngày nay, đến nỗi những nhà khoa học và chuyên gia, vốn không muốn nghe đến huyền bí học hay các hệ thống cổ xưa, thấy mình buộc phải tạo ra trong tâm thức bên trong một loại hệ thống bán thần bí nào đó. Thuyết “mãnh lực mặt trời” của Metcalf, và thuyết của Zaliwsky, một học giả người Ba Lan, vốn biến Điện thành Mãnh lực Vũ Trụ và đặt kho chứa của nó trong Mặt Trời, là những sự phục hồi các giáo huấn Kabbalah. Zaliwsky cố gắng chứng minh rằng Điện, khi tạo ra “những hiệu quả mạnh mẽ nhất, hấp dẫn, phát nhiệt và phát quang,” hiện diện trong cấu tạo hồng trần của Mặt Trời và giải thích các đặc tính của nó. Điều này rất gần với giáo huấn huyền bí. Chỉ bằng cách thừa nhận bản chất khí của tấm phản chiếu Mặt Trời, cùng Từ điện và Điện mạnh mẽ của sự hút và đẩy thái dương, người ta mới có thể giải thích được: một là sự vắng mặt hiển nhiên của bất kỳ sự hao phí quyền năng và độ sáng nào trong Mặt Trời—điều không thể giải thích bằng các định luật thông thường của sự cháy; và hai là hành vi của các hành tinh, vốn thường xuyên mâu thuẫn với mọi quy luật được chấp nhận về trọng lượng và trọng lực. Và Zaliwsky cho rằng “điện thái dương” này “khác với bất cứ điều gì được biết trên Trái Đất.” |
|
Father Secchi may be suspected of having sought to introduce |
Cha Secchi có thể bị nghi ngờ là đã tìm cách đưa vào |
|
Forces of quite a new order and quite foreign to gravitation, which he had discovered in Space, 401 |
Những Mãnh lực thuộc một trật tự hoàn toàn mới và hoàn toàn xa lạ với trọng lực, mà ông đã khám phá trong Không gian, |
|
in order to reconcile Astronomy with theological Astronomy. But Nagy, a member of the Hungarian Academy of Sciences, was no clerical, and yet he develops a theory on the necessity of intelligent Forces whose complacency “would lend itself to all the whims of the comets.” He suspects that: |
nhằm hòa giải Thiên văn học với Thiên văn học thần học. Nhưng Nagy, một thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary, không phải là giáo sĩ, vậy mà ông vẫn phát triển một thuyết về sự cần thiết của các Mãnh lực có trí tuệ, mà sự dễ dãi của chúng “sẽ chiều theo mọi thất thường của các sao chổi.” Ông nghi ngờ rằng: |
|
Notwithstanding all the actual researches on the rapidity of light—that dazzling product of an unknown force… which we see too frequently to understand—that light is motionless in reality. 402 |
Bất chấp mọi nghiên cứu thực tế về tốc độ của ánh sáng—sản phẩm chói lòa của một mãnh lực vô danh… mà chúng ta thấy quá thường xuyên nên không thấu hiểu—ánh sáng thực ra là bất động. |
|
C. E. Love, the well-known railway builder and engineer in France, tired of blind forces, made all the (then) “imponderable agents”—now called “forces”—subordinates of Electricity, and declares the latter to be an |
C. E. Love, nhà xây dựng đường sắt và kỹ sư nổi tiếng ở Pháp, mệt mỏi với các mãnh lực mù quáng, đã khiến tất cả các “tác nhân không thể cân đo” khi ấy—nay gọi là “mãnh lực”—trở thành phụ thuộc của Điện, và tuyên bố Điện là một |
|
Intelligence—albeit molecular in nature and material. 403 |
Trí Tuệ—dù có bản chất phân tử và vật chất. |
|
In the author’s opinion these Forces are atomistic agents, endowed with intelligence, spontaneous will, and motion, 404 and he thus, like the Kabalists, makes the causal Forces substantial, while the Forces that act on this plane are only the effects of the former, as with him matter is eternal, and the Gods also; 405 so is the Soul likewise, though it has inherent in itself a still higher Soul [Spirit], preëxistent, endowed with memory, and superior to Electric Force; the latter is subservient to the higher Souls, those superior Souls forcing it to act according to the eternal laws. The concept is rather hazy, but is evidently on the Occult lines. Moreover, the system proposed is entirely pantheistic, and is worked out in a purely scientific volume. Monotheists and Roman Catholics fall foul of it, of course; but one who believes in the Planetary Spirits and who endows Nature with living Intelligences, must always expect this. |
Theo ý kiến của tác giả, các Mãnh lực này là những tác nhân nguyên tử, được phú cho trí tuệ, ý chí tự phát, và chuyển động, và như vậy, giống như các nhà Kabbalah, ông làm cho các Mãnh lực nhân quả trở thành có chất thể, trong khi các Mãnh lực tác động trên cõi này chỉ là hiệu quả của những mãnh lực trước; vì đối với ông, vật chất là vĩnh cửu, và các Thần cũng vậy; linh hồn cũng vậy, dù trong chính nó vốn có một Linh hồn còn cao hơn nữa, tức Tinh thần, tiền hiện hữu, được phú cho ký ức, và cao hơn Mãnh lực Điện; mãnh lực sau phục tùng các Linh hồn cao hơn, và những Linh hồn cao hơn ấy buộc nó hành động theo các định luật vĩnh cửu. Quan niệm này khá mơ hồ, nhưng rõ ràng nằm trên các đường hướng huyền bí. Hơn nữa, hệ thống được đề xuất hoàn toàn phiếm thần, và được triển khai trong một tập sách thuần túy khoa học. Dĩ nhiên những người độc thần và Công giáo La Mã chống đối nó; nhưng người nào tin vào các Tinh thần Hành tinh và phú cho Thiên nhiên những Trí Tuệ sống động, thì luôn phải trông đợi điều này. |
|
In this connection, however, it is curious that after the moderns have so laughed at the ignorance of the ancients, |
Tuy nhiên, trong mối liên hệ này, thật lạ là sau khi người hiện đại đã cười nhạo quá nhiều sự ngu dốt của người xưa, |
|
Who, knowing only of seven planets [yet having an ogdoad which did notinclude the earth!], invented therefore seven Spirits to fit in with the number, |
Những người, chỉ biết có bảy hành tinh, nhưng lại có một bát nguyên vốn không bao gồm Trái Đất, nên đã phát minh ra bảy Tinh thần để phù hợp với con số ấy, |
|
Babinet should have vindicated the “superstition” unconsciously to himself. In the Revue des Deux Mondes this eminent French Astronomer writes: |
Babinet lại vô thức biện minh cho “mê tín” ấy đối với chính mình. Trong Revue des Deux Mondes, nhà Thiên văn học Pháp lỗi lạc này viết: |
|
The ogdoad of the Ancients included the earth [which is an error], i.e., eight or seven according to whether or not the earth was comprised in the number. 406 |
Bát nguyên của người Xưa bao gồm Trái Đất, điều này là sai lầm, tức là tám hay bảy tùy theo Trái Đất có được tính vào con số ấy hay không. |
|
De Mirville assures his readers that: |
De Mirville bảo đảm với độc giả của mình rằng: |
|
M. Babinet was telling me but a few days ago that we had in reality only eight big planets, including the earth, and so many small ones between Mars and Jupiter…. Herschel offering to call all those beyond the seven primary planets asteroids! 407 |
Ông Babinet mới chỉ vài ngày trước đã nói với tôi rằng thực ra chúng ta chỉ có tám hành tinh lớn, kể cả Trái Đất, và rất nhiều hành tinh nhỏ giữa Sao Hỏa và Sao Mộc…. Herschel đề nghị gọi tất cả những thiên thể ngoài bảy hành tinh chính là tiểu hành tinh! |
|
There is a problem to be solved in this connection. How do Astronomers know that Neptune is a planet, or even that it is a body belonging to our system? Being found on the very confines of our Planetary World, so called, the latter was arbitrarily expanded to receive it; but what really mathematical and infallible proof have Astronomers that it is (a) a planet, and (b) one of our planets? None at all! It is at such an immeasurable distance from us, the |
Có một vấn đề cần được giải quyết trong mối liên hệ này. Làm sao các nhà Thiên văn biết rằng Sao Hải Vương là một hành tinh, hoặc thậm chí là một thiên thể thuộc về hệ của chúng ta? Vì được tìm thấy ở ngay ranh giới của Thế Giới Hành Tinh của chúng ta, như người ta gọi, nên thế giới ấy đã bị mở rộng một cách tùy tiện để tiếp nhận nó; nhưng các nhà Thiên văn có bằng chứng thật sự toán học và không thể sai lầm nào rằng nó là: một là một hành tinh, và hai là một trong các hành tinh của chúng ta? Hoàn toàn không! Nó ở cách chúng ta một khoảng cách khôn lường đến nỗi |
|
Apparent diameter of the sun being to Neptune but one-fortieth of the sun’s apparent diameter to us, |
Đường kính biểu kiến của Mặt Trời đối với Sao Hải Vương chỉ bằng một phần bốn mươi đường kính biểu kiến của Mặt Trời đối với chúng ta, |
|
and it is so dim and hazy when seen through the best telescope that it looks like an astronomical romance to call it one of our planets. Neptune’s heat and light are reduced to 1/ 900 part of the heat and light received by the earth. His motion and that of his satellites have always looked suspicious. They do not agree—in appearance, at least—with those of the other planets. His system is retrograde, etc. But even the latter abnormal fact resulted only in the creation of new hypotheses by our Astronomers, who forthwith suggested a probable overturn of Neptune, his collision with another body, etc. Was Adams’ and Leverrier’s discovery so welcomed because Neptune was as necessary as was Ether to throw a new glory upon astronomical prevision, upon the certitude of modern scientific data, and principally upon the power of mathematical analysis? It would so appear. A new planet that widens our planetary domain by more than four hundred million leagues is worthy of annexation. Yet, as in the case of terrestrial annexation, scientific authority may be proved “right” only because it has “might.” Neptune’s motion happens to be dimly perceived: Eureka! it is a planet! A mere motion, however, proves very little. It is now an ascertained fact in Astronomy that there are no absolutely fixed stars in Nature, 408 even though such stars should continue to exist in astronomical parlance, while they have passed from the scientific imagination. Occultism, however, has a strange theory of its own with regard to Neptune. |
và nó mờ tối, lờ mờ đến mức khi nhìn qua kính thiên văn tốt nhất, việc gọi nó là một trong các hành tinh của chúng ta trông giống như một chuyện tiểu thuyết thiên văn. Nhiệt và ánh sáng của Sao Hải Vương bị giảm xuống còn 1/ 900 phần nhiệt và ánh sáng mà Trái Đất nhận được. Chuyển động của nó và của các vệ tinh của nó luôn có vẻ đáng ngờ. Ít nhất về vẻ ngoài, chúng không phù hợp với chuyển động của các hành tinh khác. Hệ của nó nghịch hành, vân vân. Nhưng ngay cả sự kiện bất thường sau cùng ấy cũng chỉ dẫn đến việc các nhà Thiên văn của chúng ta tạo ra những giả thuyết mới, những người ngay lập tức đề xuất một sự lật ngược có thể có của Sao Hải Vương, sự va chạm của nó với một thiên thể khác, vân vân. Phải chăng khám phá của Adams và Leverrier được đón nhận như vậy vì Sao Hải Vương cũng cần thiết như Dĩ Thái để phủ một vinh quang mới lên năng lực tiên đoán thiên văn, lên sự chắc chắn của các dữ liệu khoa học hiện đại, và nhất là lên quyền năng của phân tích toán học? Dường như là vậy. Một hành tinh mới mở rộng lãnh vực hành tinh của chúng ta thêm hơn bốn trăm triệu dặm Pháp thì đáng được sáp nhập. Tuy nhiên, cũng như trong trường hợp sáp nhập trên địa cầu, thẩm quyền khoa học có thể được chứng minh là “đúng” chỉ vì nó có “quyền lực”. Chuyển động của Sao Hải Vương tình cờ được nhận ra lờ mờ: Eureka! Nó là một hành tinh! Tuy nhiên, chỉ một chuyển động đơn thuần chứng minh được rất ít. Nay trong Thiên văn học, đó là một sự kiện đã được xác định rằng trong Thiên nhiên không có ngôi sao nào tuyệt đối cố định, dù những ngôi sao như vậy vẫn còn tồn tại trong ngôn ngữ thiên văn, trong khi chúng đã rời khỏi sự tưởng tượng khoa học. Tuy nhiên, huyền bí học có một thuyết riêng kỳ lạ về Sao Hải Vương. |
|
Occultism says that if several hypotheses resting on mere assumption—which have been accepted only because they have been taught by eminent men of learning—are taken away from the Science of Modern Astronomy, to which they serve as props, then even the presumably universal law of gravitation will be found to be contrary to the most ordinary truths of mechanics. And really one can hardly blame Christians—foremost of all the Roman Catholics—however scientific some of these may themselves be, for refusing to quarrel with their Church for the sake of scientific beliefs. Nor can we even blame them for accepting in the secresy of their hearts—as some of them do—the theological “Virtues” and “Archons” of Darkness, instead of all the blind forces offered them by Science. |
Huyền bí học nói rằng nếu một số giả thuyết dựa trên sự giả định đơn thuần—đã được chấp nhận chỉ vì chúng được các bậc học giả lỗi lạc giảng dạy—bị lấy đi khỏi Khoa học Thiên văn hiện đại, nơi chúng đóng vai trò những cột chống, thì ngay cả định luật trọng lực được cho là phổ quát cũng sẽ bị thấy là trái với những chân lý cơ học thông thường nhất. Và thật sự người ta khó có thể trách các Kitô hữu—trước hết là người Công giáo La Mã—dù một số trong họ có thể tự mình rất khoa học, vì đã từ chối cãi nhau với Giáo hội của họ vì các niềm tin khoa học. Chúng ta cũng không thể trách họ vì trong bí mật của lòng mình—như một số người vẫn làm—chấp nhận các “Đức hạnh” thần học và các “Chấp chính” của Bóng tối, thay vì tất cả các mãnh lực mù quáng mà Khoa học đưa ra cho họ. |
|
Never can there be intervention of any sort in the marshalling and the regular precession of the celestial bodies! The law of gravitation is the law of laws; who ever witnessed a stone rising in the air against gravitation? The permanence of the universal law is shown in the behaviour of the sidereal worlds and globes eternally faithful to their primitive orbits; never wandering beyond their respective paths. Nor is there any intervention needed, as it could only be disastrous. Whether the first sidereal incipient rotation took place owing to an intercosmic chance, or to the spontaneous development of latent primordial forces; or again, whether that impulse was given once for all by God or Gods—it does not make the slightest difference. At this stage of cosmic evolution no intervention, superior or inferior, is admissible. Were any to take place, the universal clock-work would stop, and Kosmos would fall into pieces. |
Không bao giờ có thể có bất kỳ sự can thiệp nào trong việc dàn xếp và tiến động đều đặn của các thiên thể! Định luật trọng lực là định luật của các định luật; ai từng chứng kiến một hòn đá bay lên không trung chống lại trọng lực? Tính thường tồn của định luật phổ quát được chứng tỏ trong hành vi của các thế giới tinh tú và các bầu hành tinh, vốn vĩnh viễn trung thành với các quỹ đạo nguyên thủy của chúng; không bao giờ lang thang vượt khỏi những con đường tương ứng. Cũng không cần bất kỳ sự can thiệp nào, vì nó chỉ có thể là tai hại. Dù sự quay sơ khởi đầu tiên của các tinh tú đã diễn ra do một ngẫu nhiên liên vũ trụ, hay do sự phát triển tự phát của các mãnh lực nguyên thủy tiềm ẩn; hoặc nữa, dù xung động ấy được Thượng đế hay các Thần ban ra một lần cho tất cả—điều đó chẳng tạo ra khác biệt nhỏ nhất nào. Ở giai đoạn tiến hoá vũ trụ này, không thể chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào, cao hay thấp. Nếu bất kỳ sự can thiệp nào xảy ra, bộ máy đồng hồ vũ trụ sẽ dừng lại, và Kosmos sẽ tan thành từng mảnh. |
|
Such are stray sentences, pearls of wisdom, fallen from time to time from scientific lips, and now chosen at random to illustrate a query. We lift our diminished heads and look heavenward. Such seems to be the fact: worlds, suns, and stars, the shining myriads of the heavenly hosts, remind the Poet of an infinite, shoreless ocean, whereon move swiftly numberless squadrons of ships, millions upon millions of cruisers, large and small, crossing each other, whirling and gyrating in every direction; and Science teaches us, that though they be without rudder or compass or any beacon to guide them, they are nevertheless secure from collision—almost secure, at any rate, save in chance accidents—as the whole celestial machine is built upon and guided by an immutable, albeit blind, law, and by constant and accelerating force or forces. “Built upon” by whom? “By self-evolution,” is the answer. Moreover, as dynamics teach that |
Đó là những câu rời rạc, những hạt ngọc minh triết, thỉnh thoảng rơi xuống từ môi miệng khoa học, và nay được chọn ngẫu nhiên để minh họa một câu hỏi. Chúng ta ngẩng những cái đầu đã bị làm nhỏ bé của mình lên và nhìn về trời. Sự kiện dường như là vậy: các thế giới, các mặt trời, và các vì sao, những đạo binh thiên thượng sáng rực với vô số không kể xiết, gợi cho Nhà thơ nhớ đến một đại dương vô biên, không bờ bến, trên đó di chuyển nhanh chóng vô số hạm đội tàu thuyền, hàng triệu trên hàng triệu chiến hạm lớn nhỏ, băng qua nhau, xoay tròn và quay cuồng theo mọi hướng; và Khoa học dạy chúng ta rằng, dù chúng không có bánh lái hay la bàn hay bất kỳ hải đăng nào để dẫn đường, chúng vẫn an toàn khỏi va chạm—gần như an toàn, dù sao đi nữa, trừ những tai nạn tình cờ—vì toàn bộ cỗ máy thiên thể được xây dựng trên và được dẫn dắt bởi một định luật bất biến, dù mù quáng, và bởi mãnh lực hay các mãnh lực thường hằng và gia tốc. “Được xây dựng trên” bởi ai? “Bởi sự tự tiến hoá,” là câu trả lời. Hơn nữa, vì động lực học dạy rằng |
|
A body in motion tends to continue in the same state of relative rest or motion unless acted upon by some external force, |
Một vật thể đang chuyển động có khuynh hướng tiếp tục trong cùng trạng thái nghỉ tương đối hay chuyển động, trừ khi chịu tác động của một mãnh lực bên ngoài, |
|
this force has to be regarded as self-generated—even if not eternal, since this would amount to the recognition of perpetual motion—and so well self-calculated and self-adjusted as to last from the beginning to the end of Kosmos. But “self-generation” has still to generate from something, generation ex-nihilo being as contrary to reason as it is to Science. Thus we are placed once more between the horns of a dilemma: are we to believe in perpetual motion or in self-generation ex-nihilo? And if in neither, who or what is that something, which first produced that force or those forces? |
mãnh lực này phải được xem là tự sinh ra—ngay cả nếu không phải vĩnh cửu, vì điều này sẽ đồng nghĩa với sự thừa nhận chuyển động vĩnh viễn—và tự tính toán, tự điều chỉnh tốt đến mức kéo dài từ khởi đầu đến kết thúc của Kosmos. Nhưng “tự sinh” vẫn phải sinh ra từ một điều gì đó, vì sự sinh thành từ hư vô trái với lý trí cũng như với Khoa học. Như vậy chúng ta lại một lần nữa bị đặt giữa hai sừng của một tình trạng tiến thoái lưỡng nan: chúng ta phải tin vào chuyển động vĩnh viễn hay vào sự tự sinh từ hư vô? Và nếu không tin vào cả hai, thì ai hay cái gì là điều gì đó đã đầu tiên sinh ra mãnh lực ấy hay các mãnh lực ấy? |
|
There are such things in mechanics as superior levers, which give the impulse and act upon secondary or inferior levers. The former, however, need an impulse and occasional renovation, otherwise they would themselves very soon stop and fall back into their original status. What is the external force which puts and retains them in motion? Another dilemma! |
Trong cơ học có những thứ như các đòn bẩy cao cấp, vốn truyền xung động và tác động lên các đòn bẩy thứ cấp hay thấp hơn. Tuy nhiên, những đòn bẩy trước cần một xung động và sự đổi mới thỉnh thoảng; nếu không, chính chúng sẽ rất nhanh chóng dừng lại và rơi trở về trạng thái ban đầu. Mãnh lực bên ngoài nào đặt chúng vào chuyển động và giữ chúng trong chuyển động? Lại một tình trạng tiến thoái lưỡng nan khác! |
|
As to the law of cosmical non-intervention, it could be justified only in one case, namely, if the celestial mechanism were perfect; but it is not. The so-called unalterable motions of celestial bodies alter and change incessantly; they are very often disturbed, and the wheels of even the sidereal locomotive itself occasionally jump off their invisible rails, as may be easily proved. Otherwise why should Laplace speak of the probable occurrence at some future time of an out-and-out reform in the arrangement of the planets; 409 or Lagrange maintain the gradual narrowing of the orbits; or our modern Astronomers, again, declare that the fuel in the sun is slowly disappearing? If the laws and forces which govern the behaviour of the celestial bodies are immutable, such modifications and wearing-out of substance or fuel, of force and fluids, would be impossible; yet they are not denied. Therefore one has to suppose that such modifications will have to rely upon the laws of forces, which will have to self-regenerate themselves once more on such occasions, thus producing an astral antinomy, and a kind of physical palinomy, since, as Laplace says, one would then see fluids disobeying themselves and reäcting in a way contrary to all their attributes and properties. |
Còn về định luật không can thiệp vũ trụ, nó chỉ có thể được biện minh trong một trường hợp, đó là nếu cơ chế thiên thể hoàn hảo; nhưng nó không hoàn hảo. Những chuyển động được gọi là bất biến của các thiên thể luôn luôn biến đổi và thay đổi; chúng rất thường bị xáo trộn, và ngay cả các bánh xe của chính đầu máy tinh tú đôi khi cũng nhảy khỏi những đường ray vô hình của chúng, như có thể dễ dàng chứng minh. Nếu không, tại sao Laplace lại nói về khả năng xảy ra trong một thời tương lai nào đó một cuộc cải tổ toàn diện trong sự sắp xếp các hành tinh; hoặc Lagrange lại khẳng định sự thu hẹp dần dần của các quỹ đạo; hoặc các nhà Thiên văn hiện đại của chúng ta lại tuyên bố rằng nhiên liệu trong Mặt Trời đang chậm rãi biến mất? Nếu các định luật và mãnh lực chi phối hành vi của các thiên thể là bất biến, thì những biến đổi và sự hao mòn như vậy của chất liệu hay nhiên liệu, của mãnh lực và các lưu chất, sẽ là điều không thể; thế nhưng chúng không bị phủ nhận. Vì vậy người ta phải giả định rằng những biến đổi như vậy sẽ phải dựa vào các định luật của các mãnh lực, mà vào những dịp ấy lại phải tự tái sinh một lần nữa, do đó tạo ra một nghịch lý cảm dục, và một loại hồi quy hồng trần, vì như Laplace nói, khi ấy người ta sẽ thấy các lưu chất bất tuân chính mình và phản ứng theo cách trái với mọi thuộc tính và đặc tính của chúng. |
|
Newton felt very uncomfortable about the moon. Her behaviour in progressively narrowing the circumference of her orbit around the earth made him nervous, lest it should end one day in our satellite falling upon the earth. The world, he confessed, needed repairing, and that very often. 410 In this he was corroborated by Herschel. 411 He speaks of real and quite considerable deviations, besides those which are only apparent, but gets some consolation from his conviction that somebody or something will probably see to things. |
Newton cảm thấy rất bất an về Mặt Trăng. Hành vi của nó trong việc dần dần thu hẹp chu vi quỹ đạo quanh Trái Đất khiến ông lo lắng, sợ rằng một ngày kia vệ tinh của chúng ta sẽ rơi xuống Trái Đất. Ông thú nhận rằng thế giới cần được sửa chữa, và rất thường xuyên. Trong điều này, ông được Herschel xác nhận. Herschel nói về những sai lệch thật sự và khá đáng kể, ngoài những sai lệch chỉ là biểu kiến, nhưng ông có được đôi chút an ủi từ niềm tin chắc rằng có ai đó hay điều gì đó có lẽ sẽ chăm lo mọi việc. |
|
We may be answered that the personal beliefs of some pious Astronomers, however great they may be as scientific characters, are no proofs of the actual existence and presence in space of intelligent supramundane Beings, of either Gods or Angels. It is the behaviour of the stars and planets themselves that has to be analysed and inferences must be drawn therefrom. Renan asserts that nothing that we know of the sidereal bodies warrants the idea of the presence of any Intelligence, whether internal or external to them. |
Chúng ta có thể được trả lời rằng các niềm tin cá nhân của một số nhà Thiên văn ngoan đạo, dù họ có thể là những nhân vật khoa học vĩ đại đến đâu, không phải là bằng chứng về sự hiện hữu và hiện diện thực sự trong không gian của các Hữu Thể siêu thế có trí tuệ, dù là các Thần hay các Thiên thần. Chính hành vi của các vì sao và hành tinh tự chúng phải được phân tích, và những suy luận phải được rút ra từ đó. Renan khẳng định rằng không điều gì chúng ta biết về các thiên thể biện minh cho ý tưởng về sự hiện diện của bất kỳ Trí Tuệ nào, dù là bên trong hay bên ngoài chúng. |
|
Let us see, says Reynaud, if this is a fact, or only one more empty scientific assumption. |
Reynaud nói, chúng ta hãy xem đây là một sự kiện, hay chỉ là thêm một giả định khoa học trống rỗng. |
|
The orbits traversed by the planets are far from being immutable. They are, on the contrary, subject to perpetual mutation in position, as in form. Elongations, contractions, and orbital widenings, oscillations from right to left, slackening and quickening of speed… and all this on a plane which seems to vacillate. 412 |
Các quỹ đạo mà các hành tinh đi qua còn xa mới là bất biến. Trái lại, chúng chịu sự biến đổi thường xuyên về vị trí cũng như về hình dạng. Sự kéo dài, co rút, và mở rộng quỹ đạo, sự dao động từ phải sang trái, sự chậm lại và nhanh lên của tốc độ… và tất cả điều này trên một mặt phẳng dường như đang chao đảo. |
|
As is very pertinently observed by des Mousseux: |
Như des Mousseux nhận xét rất xác đáng: |
|
Here is a path having little of the mathematical and mechanical precision claimed for it; for we know of no clock which, having gone slow for several minutes should catch up the right time of itself and without a turn of the key. |
Đây là một con đường có rất ít sự chính xác toán học và cơ học mà người ta gán cho nó; vì chúng ta không biết có chiếc đồng hồ nào, sau khi chạy chậm nhiều phút, lại tự nó và không cần lên dây bắt kịp giờ đúng. |
|
So much for blind law and force. As for the physical impossibility—a miracle indeed in the sight of Science—of a stone raised in the air against the law of gravitation, this is what Babinet—the deadliest enemy and opponent of the phenomena of levitation—(cited by Arago) says: |
Bấy nhiêu là đủ về định luật và mãnh lực mù quáng. Còn về sự bất khả hồng trần—quả thật là một phép lạ dưới mắt Khoa học—của một hòn đá được nâng lên không trung chống lại định luật trọng lực, thì đây là điều Babinet—kẻ thù và người chống đối nguy hiểm nhất của các hiện tượng khinh thân—được Arago trích dẫn, nói: |
|
Everyone knows the theory of bolides [meteors] and aerolithes…. In Connecticut an immense aerolith was seen [a mass of eighteen hundred feet in diameter], bombarding a whole American zone and returning to the spot [in mid-air] from which it had started. 413 |
Mọi người đều biết thuyết về bolide, tức sao băng, và thiên thạch…. Tại Connecticut, người ta đã thấy một thiên thạch khổng lồ, một khối có đường kính một ngàn tám trăm bộ, oanh kích cả một vùng Mỹ và quay trở lại điểm, ở giữa không trung, từ đó nó đã xuất phát. |
|
Thus we find in both of the cases above cited—that of self-correcting planets and of meteors of gigantic size flying back into the air—a “blind force” regulating and resisting the natural tendencies of “blind matter,” and even occasionally repairing its mistakes and correcting its failures. This is far more miraculous and even “extravagant,” one would say, than any “Angel-guided” Element. |
Như vậy, trong cả hai trường hợp được dẫn trên—các hành tinh tự hiệu chỉnh và các thiên thạch khổng lồ bay trở lại không trung—chúng ta thấy một “mãnh lực mù quáng” điều chỉnh và chống lại các khuynh hướng tự nhiên của “vật chất mù quáng,” và thậm chí đôi khi sửa chữa những sai lầm và hiệu chỉnh những thất bại của nó. Điều này còn kỳ diệu hơn nhiều, và có thể nói còn “quá đáng” hơn, bất kỳ Nguyên tố nào “được Thiên thần dẫn dắt”. |
|
Bold is he who laughs at the idea of Von Haller, who declares that: |
Táo bạo thay kẻ nào cười nhạo ý tưởng của Von Haller, người tuyên bố rằng: |
|
The stars are perhaps an abode of glorious Spirits; as here Vice reigns, there is Virtue master. 414 |
Các vì sao có lẽ là nơi cư ngụ của những Tinh thần vinh quang; cũng như nơi đây Tật xấu trị vì, thì nơi đó Đức hạnh làm chủ. |
Footnotes 4
|
315. |
315. |
|
This is proved if we take but a single recorded instance. J. Picus de Mirandola, finding that there was more Christianity than Judaism in the Kabalah, and discovering in it the doctrines of the Trinity, the Incarnation, the Divinity of Jesus, etc., wound up his proofs of this with a challenge to the world at large from Rome. As Ginsburg shows: “In 1486, when only twenty-four years old, he [Picus] published nine hundred [Kabalistic] theses, which were placarded in Rome, and undertook to defend them in the presence of all European scholars whom he invited to the Eternal City, promising to defray their travelling expenses.” |
Điều này được chứng minh nếu chúng ta chỉ lấy một trường hợp duy nhất đã được ghi lại. J. Picus de Mirandola, khi thấy trong Kabalah có nhiều Cơ Đốc giáo hơn Do Thái giáo, và phát hiện trong đó các giáo lý về Ba Ngôi, Sự Nhập Thể, Thiên tính của Đức Jesus, v.v., đã kết thúc các chứng cứ của mình bằng một lời thách thức gửi đến toàn thế giới từ Rome. Như Ginsburg cho thấy: “Năm 1486, khi mới hai mươi bốn tuổi, ông [Picus] đã công bố chín trăm luận đề [Kabalistic], được niêm yết tại Rome, và cam kết bảo vệ chúng trước sự hiện diện của tất cả các học giả châu Âu mà ông mời đến Thành phố Vĩnh cửu, đồng thời hứa chịu chi phí đi lại cho họ.” |
|
316. |
316. |
|
This account is summarised from Isaac Myer’s Qabbalah, p. 10, et seq. |
Tường thuật này được tóm lược từ Qabbalah của Isaac Myer, tr. 10, và tiếp theo |
|
317. |
317. |
|
There is not in the decalogue one idea that is not the counterpart, or the paraphrase, of the dogmas and ethics current among the Egyptians long before the time of Moses and Aaron. (The Mosaic Law a transcript from Egyptian Sources; vide Geometry in Religion, 1890.) |
Trong thập giới không có một ý tưởng nào không phải là đối phần, hoặc bản diễn giải, của các tín điều và luân lý đã lưu hành nơi người Ai Cập từ rất lâu trước thời Moses và Aaron. (Luật Moses là một bản sao chép từ các nguồn Ai Cập; xem Hình học trong Tôn giáo, 1890.) |
|
318. |
318. |
|
Book of God. Kenealy, p. 383. The reference to Klaproth is also from this page. |
Sách của Thượng đế. Kenealy, tr. 383. Dẫn chiếu đến Klaproth cũng lấy từ trang này. |
|
319. |
319. |
|
See Asiat. Jour., N.S. vii., p. 275, quoted by Kenealy. |
Xem Tạp chí Á châu, loạt mới, vii., tr. 275, do Kenealy trích dẫn. |
|
320. |
|
|
Book of God, loc. cit. |
Sách của Thượng đế, nơi đã dẫn |
|
321. |
321. |
|
Op. cit., v. 15. |
Tác phẩm đã dẫn, v. 15. |
|
322. |
322. |
|
Prolegomena, iii. 13, quoted by Kenealy, p. 385. |
Dẫn nhập, iii. 13, do Kenealy trích dẫn, tr. 385. |
|
323. |
323. |
|
See Book of God, p. 385. “Care should be taken,” says Butler (quoted by Kenealy, p. 489), “to distinguish between the Pentateuch in the Hebrew language but in the letters of the Samaritan alphabet, and the version of the Pentateuch in the Samaritan language. One of the most important differences between the Samaritan and the Hebrew text respects the duration of the period between the deluge and the birth of Abraham. The Samaritan text makes it longer by some centuries than the Hebrew text; and the Septuagint makes it longer by some centuries than the Samaritan.” It is observable that in the authentic translation of the Latin Vulgate, the Roman Church follows the computation expressed in the Hebrew text; and in her Martyrology follows that of the Seventy, both texts being inspired, as she claims. |
Xem Sách của Thượng đế, tr. 385. “Cần thận trọng,” Butler nói (do Kenealy trích dẫn, tr. 489), “để phân biệt giữa Ngũ thư bằng tiếng Hebrew nhưng viết bằng mẫu tự Samaritan, và bản dịch Ngũ thư bằng tiếng Samaritan. Một trong những khác biệt quan trọng nhất giữa văn bản Samaritan và văn bản Hebrew liên quan đến thời lượng của giai đoạn giữa trận đại hồng thủy và sự ra đời của Abraham. Văn bản Samaritan làm cho giai đoạn ấy dài hơn văn bản Hebrew vài thế kỷ; và bản Bảy Mươi làm cho nó dài hơn văn bản Samaritan vài thế kỷ.” Có thể nhận thấy rằng trong bản dịch xác thực của Vulgate Latin, Giáo hội Rome theo cách tính được biểu thị trong văn bản Hebrew; còn trong Sổ Tử Đạo của mình thì theo cách tính của bản Bảy Mươi, vì theo lời tuyên bố của Giáo hội, cả hai văn bản đều được linh hứng. |
|
324. |
324. |
|
See Rev. Joseph Wolff’s Journal, p. 200. |
Xem Nhật ký của Mục sư Joseph Wolff, tr. 200. |
|
325. |
325. |
|
A tree is symbolically a book—as “pillar” is another synonym of the same. |
Một cái cây, về mặt biểu tượng, là một quyển sách—cũng như “cột trụ” là một từ đồng nghĩa khác của cùng điều ấy. |
|
326. |
326. |
|
The wife of Moses, one of the seven daughters of a Midian priest, is called Zipora. It was Jethro, the priest of Midian, who initiated Moses, Zipora, one of the seven daughters, being simply one of the seven Occult powers that the Hierophant was and is supposed to pass to the initiated novice. |
Vợ của Moses, một trong bảy con gái của một tư tế Midian, được gọi là Zipora. Chính Jethro, tư tế Midian, đã điểm đạo cho Moses; Zipora, một trong bảy người con gái, chỉ đơn giản là một trong bảy quyền năng Huyền bí mà Giáo chủ Bí pháp đã và được cho là truyền cho người sơ cơ đã được điểm đạo. |
|
327. |
327. |
|
See for these details the Book of God, pp. 244, 250. |
Về các chi tiết này, xem Sách của Thượng đế, tr. 244, 250. |
|
328. |
328. |
|
Op. cit. v. 85. |
Tác phẩm đã dẫn v. 85. |
|
329. |
329. |
|
As is fully shown in the Source of Measures and other works. |
Như đã được trình bày đầy đủ trong Nguồn gốc của các Thước đo và các tác phẩm khác. |
|
330. |
330. |
|
Surely even Masons would never claim the actual existence of Solomon? As Kenealy shows, he is not noticed by Herodotus, nor by Plato, nor by any writer of standing. It is most extraordinary, he says, “that the Jewish nation, over whom but a few years before the mighty Solomon had reigned in all his glory, with a magnificence scarcely equalled by the greatest monarchs, spending nearly eight thousand millions of gold on a temple, was overlooked by the historian Herodotus, writing of Egypt on the one hand, and of Babylon on the other—visiting both places, and of course passing almost necessarily within a few miles of the splendid capital of the national Jerusalem? How can this be accounted for?” he asks (p. 457). Nay, not only are there no proofs of the twelve tribes of Israel having ever existed, but Herodotus, the most accurate of historians, who was in Assyria when Ezra flourished, never mentions the Israelites at all; and Herodotus was born in 484 b.c. How is this? |
Chắc chắn ngay cả các Hội viên Tam Điểm cũng sẽ không bao giờ khẳng định sự tồn tại thực sự của Solomon chứ? Như Kenealy cho thấy, Herodotus không hề nhắc đến ông, Plato cũng không, và cũng không có bất cứ tác giả có uy tín nào. Ông nói, thật hết sức lạ lùng “rằng dân tộc Do Thái, chỉ vài năm trước đó còn được Solomon hùng mạnh trị vì trong tất cả vinh quang của ông, với một vẻ tráng lệ hầu như không vị quân vương vĩ đại nhất nào sánh được, đã chi gần tám nghìn triệu vàng cho một ngôi đền, lại bị sử gia Herodotus bỏ qua, trong khi ông viết về Ai Cập ở một phía và Babylon ở phía kia—đã đến thăm cả hai nơi, và dĩ nhiên gần như tất yếu phải đi qua trong phạm vi chỉ vài dặm của kinh đô huy hoàng của quốc gia Jerusalem? Làm sao giải thích điều này?” ông hỏi (tr. 457). Không, không những không có bằng chứng nào về việc mười hai chi tộc Israel từng tồn tại, mà Herodotus, sử gia chính xác nhất, người ở Assyria khi Ezra đang thời hưng thịnh, lại chẳng hề nhắc đến người Israel; và Herodotus sinh năm 484 trước Công nguyên. Điều này là thế nào? |
|
331. |
331. |
|
Clement, Stromateis, xxii. |
Clement, Stromateis, xxii. |
|
332. |
332. |
|
Book of God, p. 408. |
Sách của Thượng đế, tr. 408. |
|
333. |
333. |
|
Book of God, p. 453. |
Sách của Thượng đế, tr. 453. |
|
334. |
334. |
|
Asiatic Journal, vii., p. 275, quoted by Kenealy. |
Tạp chí Á châu, vii., tr. 275, do Kenealy trích dẫn. |
|
335. |
335. |
|
Book of God, p. 385. |
Sách của Thượng đế, tr. 385. |
|
336. |
336. |
|
Speaking of the hidden meaning of the Sanskrit words, Mr. T. Subba Row, in his able article on “The Twelve Signs of the Zodiac,” gives some advice as to the way in which one should proceed to find out “the deep significance of ancient Sanskrit nomenclature in the old Âryan myths. 1. Find out the synonyms of the word used which have other meanings. 2. Find out the numerical value of the letters composing the word according to the methods of the ancient Tântrik works [Tântrika Shâstra—works on Incantation and Magic]. 3. Examine the ancient myths or allegories, if there are any, which have any special connection with the word in question. 4. Permute the different syllables composing the word and examine the new combinations that will thus be formed and their meanings,” etc. But he does not give the principal rule. And no doubt he is quite right. The Tântrika Shâstras are as old as Magic itself. Have they also borrowed their Esotericism from the Hebrews? |
Khi nói về ý nghĩa ẩn tàng của các từ Sanskrit, ông T. Subba Row, trong bài viết tài tình của mình về “Mười hai Dấu hiệu Hoàng đạo,” đưa ra một vài lời khuyên về cách người ta nên tiến hành để tìm ra “thâm nghĩa sâu xa của danh pháp Sanskrit cổ trong các thần thoại Arya xưa. 1. Tìm các từ đồng nghĩa của từ được dùng mà có những ý nghĩa khác. 2. Tìm giá trị số học của các chữ cái cấu thành từ ấy theo các phương pháp của những tác phẩm Tantrik cổ [Tantrika Shastra—các tác phẩm về Thần chú và Huyền thuật]. 3. Khảo sát các thần thoại hay ẩn dụ cổ, nếu có, có bất kỳ liên hệ đặc biệt nào với từ đang xét. 4. Hoán vị các âm tiết khác nhau cấu thành từ ấy và khảo sát những tổ hợp mới sẽ được hình thành như vậy cùng ý nghĩa của chúng,” v.v. Nhưng ông không đưa ra quy luật chính yếu. Và chắc chắn ông hoàn toàn đúng. Các Tantrika Shastra cổ xưa như chính Huyền thuật. Phải chăng chúng cũng vay mượn Huyền bí học của mình từ người Hebrew? |
|
337. |
337. |
|
Their founder, Sadoc, was the pupil, through Antigonus Saccho, of Simon the Just. They had their own secret Book of the Law ever since the foundation of their sect (about 400 b.c.) and this volume was unknown to the masses. At the time of the Separation the Samaritans recognised only the Book of the Law of Moses and the Book of Joshua, and their Pentateuch is far older, and is different from the Septuagint. In 168 b.c. Jerusalem had its temple plundered, and its Sacred Books—namely, the Bible made up by Ezra and finished by Judas Maccabeus—were lost (see Burder’s Josephus, vol. ii. pp. 331-335); after which the Massorah completed the work of destruction (even of Ezra’s once-more adjusted Bible) begun by the change into square from horned letters. Therefore the later Pentateuch accepted by the Pharisees was rejected and laughed at by the Sadducees. They are generally called atheists; yet, since those learned men, who made no secret of their freethought, furnished from among their number the most eminent of the Jewish high-priests, this seems impossible. How could the Pharisees and the other two believing and pious sects allow notorious atheists to be selected for such posts? The answer is difficult to find for bigotry and for believers in a personal, anthropomorphic God, but very easy for those who accept facts. The Sadducees were called atheists because they believed as the initiated Moses believed, thus differing very widely from the latter made-up Jewish legislator and hero of Mount Sinai. |
Người sáng lập của họ, Sadoc, là học trò, qua Antigonus Saccho, của Simon Người Công Chính. Họ đã có Sách Luật bí mật riêng từ khi giáo phái của họ được thành lập (khoảng 400 trước Công nguyên), và quyển sách này không được quần chúng biết đến. Vào thời kỳ Ly khai, người Samaritan chỉ công nhận Sách Luật của Moses và Sách Joshua, và Ngũ thư của họ cổ hơn rất nhiều, đồng thời khác với bản Bảy Mươi. Năm 168 trước Công nguyên, đền thờ Jerusalem bị cướp phá, và các Sách Thiêng của nó—tức Kinh Thánh do Ezra soạn lập và Judas Maccabeus hoàn tất—đã bị mất (xem Josephus của Burder, tập ii. tr. 331-335); sau đó Massorah hoàn tất công cuộc hủy hoại (ngay cả đối với Kinh Thánh đã được Ezra chỉnh lý lại một lần nữa) vốn bắt đầu bằng việc đổi từ mẫu tự có sừng sang mẫu tự vuông. Vì vậy, Ngũ thư về sau được người Pharisee chấp nhận đã bị người Sadducee bác bỏ và chế giễu. Họ thường bị gọi là những kẻ vô thần; tuy nhiên, vì những người uyên bác ấy, vốn không hề che giấu tư tưởng tự do của mình, lại cung cấp từ hàng ngũ của họ những thượng tế Do Thái lỗi lạc nhất, điều này dường như không thể có. Làm sao người Pharisee và hai giáo phái tin đạo, sùng tín khác lại cho phép những kẻ vô thần khét tiếng được chọn vào các chức vụ như vậy? Câu trả lời khó tìm đối với thói cuồng tín và đối với những người tin vào một Thượng đế cá nhân, hình người, nhưng rất dễ đối với những ai chấp nhận sự kiện. Người Sadducee bị gọi là vô thần vì họ tin như Moses đã được điểm đạo tin tưởng, do đó khác biệt rất xa với nhà lập pháp Do Thái và vị anh hùng núi Sinai được dựng nên về sau. |
|
338. |
338. |
|
The measurements of the Great Pyramid being those of the temple of Solomon, of the Ark of the Covenant, etc., according to Piazzi Smythe and the author of the Source of Measures, and the Pyramid of Gizeh being shown on astronomical calculations to have been built 4950 b.c., and Moses having written his books—for the sake of argument—not even half that time before our era, how can this be? Surely if any one borrowed from the other, it is not the Pharaohs from Moses. Even philology shows not only the Egyptian, but even the Mongolian, older than the Hebrew. |
Vì các số đo của Đại Kim Tự Tháp là các số đo của đền thờ Solomon, của Hòm Giao Ước, v.v., theo Piazzi Smythe và tác giả của Nguồn gốc của các Thước đo, và vì Kim Tự Tháp Gizeh, theo các tính toán thiên văn, được chứng minh là đã xây vào năm 4950 trước Công nguyên, còn Moses đã viết các sách của mình—giả sử như vậy để tranh luận—thậm chí chưa đến một nửa khoảng thời gian ấy trước kỷ nguyên của chúng ta, thì điều này có thể như thế nào? Chắc chắn nếu bên nào vay mượn bên nào, thì không phải các Pharaoh vay mượn từ Moses. Ngay cả ngữ văn học cũng cho thấy không chỉ tiếng Ai Cập, mà thậm chí tiếng Mongol, còn cổ hơn tiếng Hebrew. |
|
339. |
339. |
|
This alone shows how the Books of Moses were tampered with. In Samuel (ix. 9), it is said: “He that is now a prophet [Nabhi] was beforetime called a Seer [Roch].” Now since before Samuel, the word “Roch” is met nowhere in the Pentateuch, but its place is always taken by that of “Nabhi,” this proves clearly that the Mosaic text has been replaced by that of the later Levites. (See for fuller details Jewish Antiquities, by the Rev. D. Jennings, D.D.) |
Chỉ riêng điều này cũng cho thấy các Sách của Moses đã bị sửa đổi như thế nào. Trong Samuel (ix. 9), có nói: “Người nay là một tiên tri [Nabhi] trước kia được gọi là một Nhà thông nhãn [Roch].” Bấy giờ, vì trước Samuel, từ “Roch” không gặp ở đâu trong Ngũ thư, mà vị trí của nó luôn luôn do “Nabhi” thay thế, điều này chứng minh rõ ràng rằng văn bản Moses đã bị thay bằng văn bản của những người Levite về sau. (Xem chi tiết đầy đủ hơn trong Cổ vật Do Thái, của Mục sư D. Jennings, Tiến sĩ Thần học.) |
|
340. |
340. |
|
Zohar, i, 2a. |
Zohar, i, 2a. |
|
341. |
341. |
|
Zohar, 42b. |
Zohar, 42b. |
|
342. |
342. |
|
Zohar, i, 2a. See Dr. Ch. Ginsburg’s essay on The Cabbalah, its Doctrines, Developments and Literature. |
Zohar, i, 2a. Xem tiểu luận của Tiến sĩ Ch. Ginsburg về Cabbalah, Giáo lý, Sự phát triển và Văn học của nó. |
|
343. |
343. |
|
Cudworth, I. iii, quoted by Wilson, Vishnu Purâna, i. 14, note. |
Cudworth, I. iii, do Wilson trích dẫn, Vishnu Purana, i. 14, chú thích. |
|
344. |
344. |
|
Vishnu Purâna, i. 14. |
Vishnu Purana, i. 14. |
|
345. |
345. |
|
Stanza i, 4. |
Bài kệ i, 4. |
|
346. |
346. |
|
Mishna, i. 9. |
Mishna, i. 9. |
|
347. |
347. |
|
In its manifested state it becomes Ten, the Universe. In the Chaldæan Kabalah it is sexless. In the Jewish, Shekinah is female, and the early Christians and Gnostics regarded the Holy Ghost as a female potency. In the Book of Numbers “Shekina” is made to drop the final “h” that makes it a feminine name. Nârâyana, the Mover on the Waters, is also sexless; but it is our firm belief that Shekinah and Daiviprakriti, the “Light of the Logos,” are one and the same thing philosophically. |
Trong trạng thái biểu hiện của nó, nó trở thành Mười, tức Vũ trụ. Trong Kabalah Chaldea, nó vô tính. Trong truyền thống Do Thái, Shekinah là nữ, và các tín đồ Cơ Đốc sơ kỳ cùng các nhà Ngộ đạo xem Chúa Thánh Thần là một quyền năng nữ. Trong Sách Dân số, “Shekina” bị làm cho mất chữ “h” cuối vốn khiến nó thành một tên giống cái. Narayana, Đấng Chuyển Động trên Nước, cũng vô tính; nhưng chúng tôi tin chắc rằng Shekinah và Daiviprakriti, “Ánh sáng của Thượng đế,” về mặt triết học là một và cùng một điều. |
|
348. |
348. |
|
The Elohim create the Adam of dust, and in him Jehovah-Binah separates himself into Eve, after which the male portion of God becomes the Serpent, tempts himself in Eve, then creates himself in her as Cain, passes into Seth, and scatters from Enoch, the Son of Man, or Humanity, as Jodheva. |
Các Elohim tạo ra Adam bằng bụi đất, và trong y Jehovah-Binah tự phân tách thành Eve, sau đó phần nam của Thượng đế trở thành Con Rắn, tự cám dỗ mình trong Eve, rồi tự tạo nên mình trong bà thành Cain, chuyển sang Seth, và phân tán từ Enoch, Con của Nhân Loại, hay Nhân loại, với tư cách Jodheva. |
|
349. |
349. |
|
The Source of Measures, p. 8. |
Nguồn gốc của các Thước đo, tr. 8. |
|
350. |
350. |
|
This identifies Sephira, the third potency, with Jehovah the Lord, who says to Moses out of the burning bush: “(Here) I am.” (Exodus, iii, 4.) At this time the “Lord” had not yet become Jehovah. It was not the one Male God who spoke, but the Elohim manifested, or the Sephiroth in their manifested collectivity of seven, contained in the triple Sephira. |
Điều này đồng nhất Sephira, quyền năng thứ ba, với Jehovah Đức Chúa, Đấng nói với Moses từ bụi gai đang cháy: “(Ở đây) Ta hiện hữu.” (Xuất Hành, iii, 4.) Vào lúc này, “Đức Chúa” vẫn chưa trở thành Jehovah. Không phải một Thượng đế Nam duy nhất đã nói, mà là Elohim biểu hiện, hay Sephiroth trong tập thể biểu hiện gồm bảy của các ngài, được chứa trong Sephira tam phân. |
|
351. |
351. |
|
The Brâhmans were wise in their generation when they gradually, for no other reason than this, abandoned Brahmâ, and paid less attention to him individually than to any other deity. As an abstract synthesis they worshipped him collectively and in every God, each of which represents him. As Brahmâ, the male, he is far lower than Shiva, the Lingam, who personates universal generation, or Vishnu, the preserver—both Shiva and Vishnu being the regenerators of life after destruction. The Christians might do worse than follow their example, and worship God in Spirit, and not in the male Creator. |
Các Bà-la-môn đã khôn ngoan trong thế hệ của họ khi dần dần, không vì lý do nào khác ngoài điều này, họ từ bỏ Brahma, và dành cho ngài với tư cách cá thể ít sự chú ý hơn bất kỳ vị thần nào khác. Như một tổng hợp trừu tượng, họ thờ phụng ngài một cách tập thể và trong mọi Vị Thần, mỗi vị đều đại diện cho ngài. Với tư cách Brahma, nam tính, ngài thấp hơn nhiều so với Shiva, Lingam, vị nhân cách hóa sự sinh thành phổ quát, hoặc Vishnu, đấng bảo tồn—cả Shiva và Vishnu đều là những đấng tái sinh sự sống sau hủy diệt. Các tín đồ Cơ Đốc hẳn sẽ không tệ hơn nếu noi theo gương họ, và thờ phụng Thượng đế trong Tinh thần, chứ không trong Đấng Sáng tạo nam giới. |
|
352. |
352. |
|
A plural word, signifying a collective host generically; literally, the “strong lion.” |
Một từ số nhiều, chỉ một đoàn thể tập hợp theo nghĩa chung; theo nghĩa đen là “sư tử mạnh mẽ.” |
|
353. |
353. |
|
The writer possesses only a few extracts, some dozen pages in all, verbatim quotations from that priceless work, of which but two or three copies, perhaps, are still extant. |
Người viết chỉ sở hữu vài đoạn trích, tổng cộng chừng mười mấy trang, là những trích dẫn nguyên văn từ tác phẩm vô giá ấy, mà có lẽ hiện nay chỉ còn tồn tại hai hoặc ba bản. |
|
354. |
354. |
|
Aye; but that spirituality can never be discovered, far less proved, unless we turn to the Âryan Scriptures and Symbology. For the Jews it was lost, save for the Sadducees, from the day that the “chosen people” reached the Promised Land, the national Karma preventing Moses from reaching it. |
Đúng vậy; nhưng tinh thần ấy không bao giờ có thể được phát hiện, càng không thể được chứng minh, nếu chúng ta không quay về với Thánh điển và Biểu tượng học Arya. Đối với người Do Thái, nó đã mất, ngoại trừ nơi người Sadducee, kể từ ngày “dân được chọn” đến Đất Hứa, vì nghiệp quả quốc gia đã ngăn Moses đặt chân đến đó. |
|
355. |
355. |
|
Op. cit., pp. 317-319. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 317-319. |
|
356. |
356. |
|
The Book of God, pp. 388, 389. |
Sách của Thượng đế, tr. 388, 389. |
|
357. |
357. |
|
See Horne’s Introduction (10th edition), vol. ii, p. 33, as quoted by Dr. Kenealy, p. 389. |
Xem Dẫn nhập của Horne (ấn bản thứ 10), tập ii, tr. 33, như Tiến sĩ Kenealy trích dẫn, tr. 389. |
|
358. |
358. |
|
See Horne’s Introduction (10th edition), vol. ii, p. 33, as quoted by Dr. Kenealy, p. 389. |
Xem Dẫn nhập của Horne (ấn bản thứ 10), tập ii, tr. 33, như Tiến sĩ Kenealy trích dẫn, tr. 389. |
|
359. |
359. |
|
The author says that Parker’s quadrature is “that identical measure which was used anciently as the perfect measure, by the Egyptians, in the construction of the Great Pyramid, which was built to monument it and its uses,” and that “from it the sacred cubit-value was derived, which was the cubit-value used in the construction of the Temple of Solomon, the Ark of Noah, and the Ark of the Covenant” (p. 22). This is a grand discovery, no doubt, but it only shows that the Jews profited well by their captivity in Egypt, and that Moses was a great Initiate. |
Tác giả nói rằng phép cầu phương của Parker là “chính thước đo đồng nhất đã được người Ai Cập thời cổ sử dụng như thước đo hoàn hảo trong việc xây dựng Đại Kim Tự Tháp, vốn được xây để làm đài kỷ niệm cho nó và các công dụng của nó,” và rằng “từ đó giá trị cubit thiêng liêng đã được suy ra, là giá trị cubit được dùng trong việc xây dựng Đền Solomon, Hòm Noah và Hòm Giao Ước” (tr. 22). Không nghi ngờ gì, đây là một khám phá lớn, nhưng nó chỉ cho thấy người Do Thái đã tận dụng tốt thời kỳ bị giam giữ ở Ai Cập, và Moses là một Điểm đạo đồ vĩ đại. |
|
360. |
360. |
|
See Theosophist, November, 1879, art. “Hindu Music,” p. 47. |
Xem Theosophist, tháng Mười một, 1879, bài “Âm nhạc Hindu,” tr. 47. |
|
361. |
361. |
|
The Sanskrit letters are far more numerous than the poor twenty-two letters of the Hebrew alphabet. They are all musical, and they are read—or rather chanted—according to a system given in very old Tântrika works, and are called Devanâgarî, the speech, or language, of the Gods. And since each letter answers to a numeral, the Sanskrit affords a far larger scope for expression, and it must necessarily be far more perfect than the Hebrew, which followed the same system but could apply it only in a very limited way. If either of these two languages, were taught to humanity by the Gods, surely it would more likely be the Sanskrit, the perfect form of the most perfect language on earth, than the Hebrew, the roughest and the poorest. For once anyone believes in a language of divine origin, he can hardly believe at the same time that Angels or Gods or any divine Messengers have had to develop it from a rough monosyllabic form into a perfect one, as we see in terrestrial linguistic evolution. |
Các chữ cái Sanskrit nhiều hơn rất xa hai mươi hai chữ nghèo nàn của mẫu tự Hebrew. Tất cả đều có tính nhạc, và chúng được đọc—hay đúng hơn là được xướng—theo một hệ thống được đưa ra trong những tác phẩm Tantrika rất cổ, và được gọi là Devanagari, lời nói, hay ngôn ngữ, của các Vị Thần. Và vì mỗi chữ cái tương ứng với một con số, tiếng Sanskrit đem lại một phạm vi biểu đạt rộng lớn hơn rất nhiều, và tất yếu phải hoàn hảo hơn nhiều so với tiếng Hebrew, vốn theo cùng hệ thống nhưng chỉ có thể áp dụng nó theo một cách rất hạn chế. Nếu một trong hai ngôn ngữ này từng được các Vị Thần dạy cho nhân loại, thì chắc chắn nhiều khả năng đó là Sanskrit, hình thức hoàn hảo của ngôn ngữ hoàn hảo nhất trên trái đất, hơn là Hebrew, thứ thô sơ nhất và nghèo nàn nhất. Vì một khi bất kỳ ai tin vào một ngôn ngữ có nguồn gốc thiêng liêng, y khó có thể đồng thời tin rằng các Thiên thần, các Vị Thần hay bất kỳ Sứ giả thiêng liêng nào đã phải phát triển nó từ một hình thức đơn âm thô sơ thành một hình thức hoàn hảo, như chúng ta thấy trong tiến hóa ngôn ngữ trên địa cầu. |
|
362. |
362. |
|
In the first chapter of Genesis the word “God” represents the Elohim—Gods in the plural, not one God. This is a cunning and dishonest translation. For the whole Kabalah explains sufficiently that the Alhim (Elohim) are seven; each creates one of the seven things enumerated in the first chapter, and these answer allegorically to the seven creations. To make this clear, count the verses in which it is said “And God saw that it was good,” and you will find that this is said seven times—in verses 4, 10, 12, 18, 21, 25, and 31. And though the compilers cunningly represent the creation of man as occurring on the sixth day, yet, having made man “male and female in the image of God,” the Seven Elohim repeat the sacramental sentence, “It was good,” for the seventh time, thus making of man the seventh creation, and showing the origin of this bit of cosmogony to be in the Hindu creations. The Elohim are, of course, the seven Egyptian Khnûmû, the “assistant-architects”; the seven Amshaspends of the Zoroastrians; the Seven Spirits subordinate to Ildabaoth of the Nazareans; the seven Prajâpati of the Hindus, etc. |
Trong chương đầu của Sáng Thế, từ “Thượng đế” đại diện cho Elohim—các Vị Thần ở số nhiều, chứ không phải một Thượng đế duy nhất. Đây là một bản dịch xảo trá và bất lương. Vì toàn bộ Kabalah giải thích đủ rõ rằng Alhim (Elohim) là bảy; mỗi vị tạo ra một trong bảy sự vật được liệt kê trong chương đầu, và những điều này tương ứng một cách ẩn dụ với bảy cuộc sáng tạo. Để làm rõ điều này, hãy đếm các câu trong đó có nói “Và Thượng đế thấy điều đó là tốt lành,” bạn sẽ thấy câu ấy được nói bảy lần—trong các câu 4, 10, 12, 18, 21, 25 và 31. Và tuy những người biên soạn đã khôn khéo trình bày sự sáng tạo con người như xảy ra vào ngày thứ sáu, nhưng sau khi làm cho con người “nam và nữ theo hình ảnh của Thượng đế,” Bảy Elohim lặp lại câu bí tích, “Điều đó là tốt lành,” lần thứ bảy, như vậy biến con người thành cuộc sáng tạo thứ bảy, và cho thấy nguồn gốc của mảnh vũ trụ khởi nguyên luận này nằm trong các cuộc sáng tạo Hindu. Dĩ nhiên, Elohim là bảy Khnûmû của Ai Cập, các “kiến trúc sư phụ tá”; bảy Amshaspends của người Zoroastrian; Bảy Thánh Linh thuộc cấp của Ildabaoth nơi người Nazarean; bảy Prajapati của người Hindu, v.v. |
|
363. |
363. |
|
Gen., ii. 21, 22. |
Sáng Thế, ii. 21, 22. |
|
364. |
364. |
|
Op. cit., p. 395, note. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 395, chú thích. |
|
365. |
365. |
|
The seventh esoterically, exoterically the sixth. |
Thứ bảy theo huyền bí học, thứ sáu theo ngoại môn. |
|
366. |
366. |
|
Contra Hereses, I, xviii, 2. |
Chống các Dị giáo, I, xviii, 2. |
|
367. |
367. |
|
Op. cit. by Gerald Massey, p. 19. |
Tác phẩm đã dẫn của Gerald Massey, tr. 19. |
|
368. |
368. |
|
Op cit., p. 278. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 278. |
|
369. |
369. |
|
The Hebrew and other Creations: with a reply to Professor A. H. Sayce, p. 19. |
Các cuộc Sáng tạo Hebrew và những cuộc Sáng tạo khác: cùng một lời đáp gửi Giáo sư A. H. Sayce, tr. 19. |
|
370. |
370. |
|
Op. cit., p. 243. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 243. |
|
371. |
371. |
|
When they are the Anupâdakas (Parentless) of the Secret Doctrine. See Stanzas, i, 9, Vol. i, 56. |
Khi họ là các Anupadaka (Không Cha Mẹ) của Giáo Lý Bí Nhiệm. Xem các Bài kệ, i, 9, Tập i, 56. |
|
372. |
372. |
|
These originated with the Âryans, who placed therein their “bright-crested” (Chitra-Shikhandan) Seven Rishis. But all this is far more Occult than appears on the surface. |
Những điều này phát sinh từ người Arya, những người đặt vào đó Bảy Rishi “có mào sáng” (Chitra-Shikhandan) của họ. Nhưng tất cả điều này Huyền bí hơn rất nhiều so với vẻ ngoài trên bề mặt. |
|
373. |
373. |
|
Op. cit., pp. 19-22. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 19-22. |
|
374. |
374. |
|
Vishnu Purâna, Wilson’s Trans., i, 101. The period of these Kumâras is Pre-Adamic, i.e., before the separation of sexes, and before humanity had received the creative, or sacred, fire of Prometheus. |
Vishnu Purana, bản dịch của Wilson, i, 101. Thời kỳ của các Kumara này là tiền Adam, tức là, trước sự phân ly giới tính, và trước khi nhân loại nhận được lửa sáng tạo, hay thiêng liêng, của Prometheus. |
|
375. |
375. |
|
The Secret Doctrine says that this was the second creation, not the first, and that it took place during the Third Race, when men separated, i.e., began to be born as distinct men and women. See Vol. ii. of this work, Stanzas and Commentaries. |
Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng đây là cuộc sáng tạo thứ hai, không phải thứ nhất, và nó diễn ra trong Giống dân Thứ Ba, khi con người phân tách, tức là, bắt đầu được sinh ra như những người nam và nữ riêng biệt. Xem Tập ii của tác phẩm này, các Bài kệ và Bình luận. |
|
376. |
376. |
|
This is a Western mangling of the Indian doctrine of the Kumâras. |
Đây là sự bóp méo của phương Tây đối với giáo lý Ấn Độ về các Kumara. |
|
377. |
377. |
|
He was regarded by several Gnostic sects as one with Jehovah. See Isis Unveiled, vol. ii. p. 184. |
Một số giáo phái Ngộ đạo xem ông là một với Jehovah. Xem Isis Vén Màn, tập ii. tr. 184. |
|
378. |
378. |
|
Or “man, son of man.” The Church found in this a prophecy and a confession of Christ, the “Son of Man!” |
Hoặc “người, con của người.” Giáo hội đã tìm thấy trong đó một lời tiên tri và một lời tuyên xưng về Đức Christ, “Con của Người!” |
|
379. |
379. |
|
See Stanza ii. 5, Secret Doctrine, ii. 16. |
Xem Bài kệ ii. 5, Giáo Lý Bí Nhiệm, ii. 16. |
|
380. |
380. |
|
Op. cit., pp. 23, 24. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 23, 24. |
|
381. |
381. |
|
The Sepher Jetzirah now known is but a portion of the original one incorporated in the Chaldæan Book of Numbers. The fragment now in possession of the Western Kabalists is one greatly tampered with by the Rabbis of the Middle Ages, as its masoretic points show. The “Masorah” scheme is a modern blind, dating after our era and perfected in Tiberias. (See Isis Unveiled, vol. ii, pp. 430-431.) |
Bản Sách Tạo Thành hiện được biết chỉ là một phần của nguyên bản đã được đưa vào Sách các Con Số của người Canđê. Mảnh văn hiện nằm trong tay các nhà Kabala phương Tây là một bản đã bị các Giáo sĩ Do Thái thời Trung cổ sửa đổi rất nhiều, như các dấu nguyên âm Masora của nó cho thấy. Hệ thống “Masora” là một màn che hiện đại, có niên đại sau kỷ nguyên của chúng ta và được hoàn thiện tại Tiberias. (Xem Nữ Thần Isis Không Che Màn, quyển ii, tr. 430-431.) |
|
382. |
382. |
|
In the oldest symbolism—that used in the Egyptian hieroglyphics—when the bull’s head only is found it means the Deity, the Perfect Circle, with the procreative power latent in it. When the whole bull is represented, a solar God, a personal deity is meant, for it is then the symbol of the acting generative power. |
Trong biểu tượng học cổ nhất—loại được dùng trong chữ tượng hình Ai Cập—khi chỉ thấy đầu bò, điều đó có nghĩa là Thượng đế, Vòng Tròn Hoàn Hảo, với quyền năng sinh sản tiềm tàng trong đó. Khi toàn bộ con bò được trình bày, điều được nói đến là một Thượng đế Thái dương, một Thượng đế cá nhân, vì khi ấy nó là biểu tượng của quyền năng sinh sản đang hoạt động. |
|
383. |
383. |
|
It took three Root-Races to degrade the symbol of the One Abstract Unity manifested in Nature as a Ray emanating from infinity (the Circle) into a phallic symbol of generation, as it was even in the Kabalah. This degradation began with the Fourth Race, and had its raison d’etre, in Polytheism, as the latter was invented to screen the One Universal Deity from profanation. The Christians may plead ignorance of its meaning as an excuse for its acceptance. But why sing never-ceasing laudations to the Mosaic Jews who repudiated all the other Gods, preserved the most phallic, and then most impudently proclaimed themselves Monotheists? Jesus ever steadily ignored Jehovah. He went against the Mosaic commandments. He recognized his Heavenly Father alone, and prohibited public worship. |
Phải trải qua ba Giống dân Gốc, biểu tượng của Nhất Thể Trừu Tượng Duy Nhất, biểu lộ trong Thiên nhiên như một Cung phát xạ từ vô cực (Vòng Tròn), mới bị hạ thấp thành biểu tượng sinh dục của sự sinh sản, như nó đã từng là ngay cả trong Kabala. Sự suy thoái này bắt đầu với Giống dân thứ tư, và có lý do tồn tại của nó trong Đa thần giáo, vì hệ thống sau này được phát minh để che chở Thượng đế Phổ Quát Duy Nhất khỏi sự xúc phạm phàm tục. Những người Kitô giáo có thể viện cớ không biết ý nghĩa của nó để biện minh cho việc chấp nhận nó. Nhưng tại sao lại không ngừng ca tụng những người Do Thái theo Môi-se, những kẻ đã bác bỏ tất cả các Thượng đế khác, giữ lại biểu tượng có tính sinh dục nhất, rồi lại trơ trẽn nhất tuyên bố mình là những người Độc thần? Đức Jesus luôn luôn nhất quán phớt lờ Jehovah. Ngài đi ngược lại các điều răn của Môi-se. Ngài chỉ thừa nhận Cha trên Trời của mình, và cấm sự thờ phượng công khai. |
|
384. |
|
|
Is it everything to have found out that the celestial circle of 360° is determined by “the full word-form of Elohim,” and that this yields, when the word is placed in a circle, “3.1415, or the relation of circumference to a diameter of one.” This is only its astronomical or mathematical aspect. To know the full septenary significance of the “Primordial Circle,” the pyramid and the Kabalistic Bible must be read in the light of the figure on which the temples of India are built. The mathematical squaring of the circle is only the terrestrial résumé of the problem. The Jews were content with the six days of activity and the seventh of rest. The progenitors of mankind solved the greatest problems of the Universe with their seven Rays or Rishis. |
Liệu việc phát hiện rằng vòng tròn thiên thể 360° được xác định bởi “dạng-linh từ đầy đủ của Elohim”, và rằng điều này, khi linh từ được đặt trong một vòng tròn, cho ra “3,1415, hay tỉ lệ của chu vi với đường kính bằng một”, có phải là tất cả không? Đây chỉ là phương diện thiên văn hay toán học của nó. Để biết trọn thâm nghĩa thất phân của “Vòng Tròn Nguyên Thủy”, kim tự tháp và Kinh Thánh Kabala phải được đọc dưới ánh sáng của hình thể mà theo đó các đền thờ Ấn Độ được xây dựng. Việc bình phương vòng tròn về mặt toán học chỉ là bản tóm lược trên bình diện trần thế của vấn đề. Người Do Thái hài lòng với sáu ngày hoạt động và ngày thứ bảy nghỉ ngơi. Các tổ tiên của nhân loại đã giải những vấn đề lớn nhất của Vũ trụ bằng bảy Cung hay bảy Rishi của họ. |
|
385. |
385. |
|
Genesis begins with the third stage of “creation,” skipping the preliminary two. |
Sáng Thế Ký bắt đầu với giai đoạn thứ ba của “sáng tạo”, bỏ qua hai giai đoạn sơ khởi. |
|
386. |
386. |
|
The three root-principles are, exoterically: Man, Soul, and Spirit (meaning by “man” the intelligent personality), and esoterically: Life, Soul, and Spirit; the four vehicles are Body, Astral double, Animal (or human) Soul, and Divine Soul (Sthûla-Sharîra, Linga-Sharîra, Kâma-rûpa, and Buddhi, the vehicle of Âtma or Spirit). Or, to make it still clearer: (1) the Seventh Principle has for its vehicle the Sixth (Buddhi); (2) the vehicle of Manas is Kâma-rûpa; (3) that of Jîva or Prâna (life) is the Linga-Sharîra (the “double” of man; the Linga-Sharîra proper can never leave the body till death; that which appears is an astral body, reflecting the physical body and serving as a vehicle for the human soul, or intelligence); and (4) the Body, the physical vehicle of all the above collectively. The Occultist recognizes the same order as existing for the cosmical totality, the psycho-cosmical Universe. |
Ba nguyên khí gốc, theo ngoại môn, là: Con người, Linh hồn và Tinh thần (với “con người” được hiểu là phàm ngã thông minh), và theo nội môn là: Sự Sống, Linh hồn và Tinh thần; bốn vận cụ là Thể, bản sao cảm dục, Linh hồn Động vật (hay nhân loại), và Linh hồn Thiêng liêng. Hoặc, để làm cho rõ hơn nữa: (1) Nguyên khí thứ Bảy có vận cụ của nó là nguyên khí thứ Sáu (Bồ đề); (2) vận cụ của Manas là Kama-rupa; (3) vận cụ của Jiva hay Prana (sự sống) là Linga-sharira (“bản sao” của con người; Linga-sharira đúng nghĩa không bao giờ có thể rời thể xác cho đến khi chết; cái xuất hiện là một thể tinh tú, phản chiếu thể xác và dùng làm vận cụ cho linh hồn nhân loại, hay trí thông minh); và (4) Thể, vận cụ hồng trần của tất cả những điều trên xét chung. Nhà huyền bí học nhận ra cùng một trật tự như đang hiện hữu đối với toàn thể vũ trụ, tức Vũ trụ tâm-vũ trụ. |
|
387. |
387. |
|
St. Denys, the Areopagite, the supposed contemporary of St. Paul, his co-disciple, and first Bishop of St. Denis, near Paris, teaches that the bulk of the “work of creation” was performed by the “Seven Spirits of the Presence”—God’s co-operators, owing to a participation of the divinity in them. (Hierarch., p. 196.) And Saint Augustine also thinks that “things were rather created in the angelic minds than in Nature, that is to say, that the angels perceived and knew them (all things) in their thoughts before they could spring forth into actual existence.” (Vid. De Genesis ad Litteram p. II.) (Summarized from De Mirville, Vol. II., pp. 337-338.) Thus the early Christian Fathers, even a non-initiate like St. Augustine, ascribed the creation of the visible world to Angels, or Secondary Powers, while St. Denys not only specifies these as the “Seven Spirits of the Presence,” but shows them owing their power to the informing divine energy—Fohat in the Secret Doctrine. But the egotistical darkness which caused the Western races to cling so desperately to the Geo-centric System, made them also neglect and despise all those fragments of the true Religion which would have deprived them and the little globe they took for the centre of the Universe of the signal honour of having been expressly “created” by the One, Secondless, Infinite God! |
Thánh Denys người Areopagus, được cho là người đồng thời với Thánh Paul, đệ tử đồng môn của ông và Giám mục đầu tiên của Saint-Denis gần Paris, dạy rằng phần lớn “công cuộc sáng tạo” do “Bảy Tinh thần của Hiện Diện”—những cộng tác viên của Thượng đế—thực hiện, nhờ có sự tham dự của thiên tính trong các vị ấy. (Thánh Đoàn, tr. 196.) Và Thánh Augustine cũng cho rằng “sự vật được tạo ra trong các trí tuệ thiên thần hơn là trong Thiên nhiên, nghĩa là, các thiên thần đã nhận biết và biết chúng (mọi sự vật) trong tư tưởng của mình trước khi chúng có thể vọt ra thành hiện hữu thực sự.” (Xem Về Sáng Thế Ký Theo Nghĩa Đen tr. II.) (Tóm lược từ De Mirville, Quyển II., tr. 337-338.) Như vậy, các Giáo phụ Kitô giáo sơ kỳ, ngay cả một người chưa điểm đạo như Thánh Augustine, đã quy sự sáng tạo thế giới hữu hình cho các Thiên thần, hay các Quyền năng Thứ cấp, trong khi Thánh Denys không chỉ nêu rõ các vị ấy là “Bảy Tinh thần của Hiện Diện”, mà còn cho thấy các vị ấy có quyền năng nhờ năng lượng thiêng liêng thấm nhuần—Fohat trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Nhưng bóng tối vị kỷ đã khiến các nhân loại phương Tây bám chặt tuyệt vọng vào Hệ thống Địa tâm, cũng khiến họ xao lãng và khinh miệt tất cả những mảnh vụn của Tôn giáo chân chính, vốn sẽ tước khỏi họ và quả cầu nhỏ bé mà họ xem là trung tâm Vũ trụ niềm vinh dự đặc biệt là đã được Thượng đế Duy Nhất, Không Thứ Hai, Vô Hạn “sáng tạo” một cách minh nhiên! |
|
388. |
388. |
|
De Mirville, ii. 295. |
De Mirville, ii. 295. |
|
389. |
389. |
|
To the Occultist and Chelâ the difference made between Energy and Emanation need not be explained. The Sanskrit word “Sakti” is untranslatable. It may be Energy, but it is one that proceeds through itself, not being due to the active or conscious will of the one that produces it. The “First-Born,” or Logos, is not an Emanation, but an Energy inherent in and co-eternal with Parabrahman, the One. The Zohar speaks of emanations, but reserves the word for the seven Sephiroth emanated from the first three—which form one triad—Kether, Chokmah, and Binah. As for these three, it explains the difference by calling them “immanations,” something inherent to and coëval with the subject postulated, or in other words, “Energies.” |
Đối với nhà huyền bí học và đệ tử, không cần giải thích sự khác biệt được nêu giữa Năng lượng và Xuất lộ. Từ Sanskrit “Sakti” không thể dịch được. Nó có thể là Năng lượng, nhưng đó là năng lượng tự xuất phát qua chính nó, không do ý chí hoạt động hay có ý thức của đấng sản sinh ra nó. “Đấng Đầu Sinh”, hay Logos, không phải là một Xuất lộ, mà là một Năng lượng vốn có trong Parabrahman, Đấng Duy Nhất, và đồng vĩnh cửu với Ngài. Zohar nói về các xuất lộ, nhưng dành từ ấy cho bảy Sephiroth được xuất lộ từ ba Sephiroth đầu—vốn tạo thành một tam nguyên—Kether, Chokmah và Binah. Còn về ba vị này, sách giải thích sự khác biệt bằng cách gọi họ là “nội xuất”, một điều vốn có trong và đồng thời với chủ thể được giả định, hay nói cách khác, là “Các Năng lượng”. |
|
It is these “Auxiliaries,” the Auphanim, the half-human Prajâpatis, the Angels, the Architects under the leadership of the “Angel of the Great Council,” with the rest of the Kosmos-Builders of other nations, that can alone explain the imperfection of the Universe. This imperfection is one of the arguments of the Secret Science in favour of the existence and activity of these “Powers.” And who know better than the few philosophers of our civilised lands how near the truth Philo was in ascribing the origin of evil to the admixture of inferior potencies in the arrangement of matter, and even in the formation of man—a task entrusted to the divine Logos. |
Chính các “Phụ tá” này, các Auphanim, các Prajapati nửa người, các Thiên thần, các Kiến trúc sư dưới sự lãnh đạo của “Thiên thần của Đại Hội Đồng”, cùng với phần còn lại của các Đấng Kiến Tạo Vũ trụ thuộc những dân tộc khác, mới là những vị duy nhất có thể giải thích sự bất toàn của Vũ trụ. Sự bất toàn này là một trong những luận cứ của Khoa học Bí mật nhằm ủng hộ sự hiện hữu và hoạt động của các “Quyền năng” ấy. Và ngoài một số ít triết gia của các xứ sở văn minh của chúng ta, ai biết rõ hơn Philo đã gần với chân lý đến mức nào khi quy nguồn gốc của tà ác cho sự pha trộn các tiềm lực thấp kém trong việc sắp đặt vật chất, và ngay cả trong sự hình thành con người—một nhiệm vụ được giao phó cho Logos thiêng liêng. |
|
390. |
390. |
|
Psalms cxxxv. 5. |
Thánh Vịnh cxxxv. 5. |
|
391. |
391. |
|
Psalms xcvi. 5. |
Thánh Vịnh xcvi. 5. |
|
392. |
392. |
|
Rather as Ormazd or Ahura-Mazda, Vit-nam-Ahmi, and all the unmanifested Logoi. Jehovah is the manifested Virâj, corresponding to Binah, the third Sephira in the Kabalah, a female Power which would find its prototype rather in the Prajâpati, than in Brahmâ, the Creator. |
Đúng hơn là Ormazd hay Ahura-Mazda, Vit-nam-Ahmi, và tất cả các Logoi không biểu lộ. Jehovah là Viraj đã biểu lộ, tương ứng với Binah, Sephira thứ ba trong Kabala, một Quyền năng nữ tính mà nguyên mẫu của nó nên được tìm thấy trong Prajapati hơn là trong Brahma, Đấng Sáng tạo. |
|
393. |
393. |
|
Neith is Aditi, evidently. |
Neith hiển nhiên là Aditi. |
|
394. |
394. |
|
The Self-created Logos, Nârâyana, Purushottama, and others. |
Logos Tự Sinh, Narayana, Purushottama và những danh xưng khác. |
|
395. |
395. |
|
Mère d’Apis, pp. 32-35. Quoted by De Mirville. |
Mẹ của Apis, tr. 32-35. Do De Mirville trích dẫn. |
|
396. |
396. |
|
See Republic, I. vi. |
Xem Cộng Hòa, I. vi. |
|
397. |
397. |
|
Harmonie entre l’Église et la Synagogue, t. II., p. 427, by the Chevalier Drach. See De Mirville iv. 38, 39. |
Sự Hài Hòa giữa Giáo Hội và Hội Đường Do Thái, t. II., tr. 427, của Hiệp sĩ Drach. Xem De Mirville iv. 38, 39. |
|
398. |
398. |
|
Julian died for the same crime as Socrates. Both divulged a portion of the solar mystery, the heliocentric system being only a part of what was given during Initiation—one consciously, the other unconsciously, the Greek Sage never having been initiated. It was not the real solar system that was preserved in such secrecy, but the mysteries connected with the Sun’s constitution. Socrates was sentenced to death by earthly and worldly judges; Julian died a violent death because the hitherto protecting hand was withdrawn from him, and, no longer shielded by it, he was simply left to his destiny or Karma. For the student of Occultism there is a suggestive difference between the two kinds of death. Another memorable instance of the unconscious divulging of secrets pertaining to mysteries is that of the poet, P. Ovidius Naso, who, like Socrates, had not been initiated. In his case, the Emperor Augustus, who was an Initiate, mercifully changed the penalty of death into banishment to Tomos on the Euxine. This sudden change from unbounded royal favour to banishment has been a fruitful scheme of speculation to classical scholars not initiated into the Mysteries. They have quoted Ovid’s own lines to show that it was some great and heinous immorality of the Emperor of which Ovid had become unwillingly cognizant. The inexorable law of the death penalty, always following upon the revelation of any portion of the Mysteries to the profane, was unknown to them. Instead of seeing the amiable and merciful act of the Emperor in its true light, they have made it an occasion for traducing his moral character. The poet’s own words can be no evidence, because as he was not an Initiate, it could not be explained to him in what his offence consisted. There have been comparatively modern instances of poets unconsciously revealing in their verses so much of the hidden knowledge as to make even Initiates suppose them to be fellow-Initiates, and come to talk to them on the subject. This only shows that the sensitive poetic temperament is sometimes so far transported beyond the bounds of ordinary sense as to get glimpses into what has been impressed on the Astral Light. In the Light of Asia there are two passages that might make an Initiate of the first degree think that Mr. Edwin Arnold had been initiated himself in the Himâlyan âshrams, but this is not so. |
Julian đã chết vì cùng một tội như Socrates. Cả hai đều tiết lộ một phần của bí nhiệm thái dương, hệ thống nhật tâm chỉ là một phần của điều được trao trong khi Điểm Đạo—một người hữu thức, người kia vô thức, vì hiền triết Hy Lạp ấy chưa bao giờ được điểm đạo. Điều được giữ kín như thế không phải là hệ mặt trời thực sự, mà là các bí nhiệm liên quan đến cấu tạo của Mặt Trời. Socrates bị các thẩm phán trần thế và thế tục kết án tử; Julian chết một cách dữ dội vì bàn tay che chở cho đến lúc ấy đã rút khỏi ông, và khi không còn được nó bảo vệ, ông chỉ đơn giản bị phó mặc cho định mệnh hay nghiệp quả của mình. Đối với đạo sinh huyền bí học, có một sự khác biệt gợi ý giữa hai loại chết này. Một trường hợp đáng nhớ khác về việc vô thức tiết lộ các bí mật thuộc về những Bí nhiệm là trường hợp của thi sĩ P. Ovidius Naso, người, giống như Socrates, chưa được điểm đạo. Trong trường hợp của ông, Hoàng đế Augustus, vốn là một Điểm đạo đồ, đã nhân từ đổi án tử hình thành lưu đày đến Tomos trên biển Euxine. Sự chuyển đổi đột ngột này từ ân sủng hoàng gia vô hạn sang lưu đày đã trở thành một đề tài suy đoán phong phú cho các học giả cổ điển không được điểm đạo vào các Bí nhiệm. Họ đã trích dẫn chính những dòng thơ của Ovid để cho thấy đó là một sự vô luân lớn lao và ghê tởm nào đó của Hoàng đế mà Ovid đã vô tình biết được. Họ không biết đến định luật không khoan nhượng về án tử hình, luôn luôn tiếp theo việc mặc khải bất kỳ phần nào của các Bí nhiệm cho kẻ phàm tục. Thay vì nhìn hành động hiền hòa và nhân từ của Hoàng đế dưới ánh sáng chân thực của nó, họ đã biến nó thành dịp để phỉ báng tính cách đạo đức của ông. Chính lời của nhà thơ không thể là bằng chứng, bởi vì vì ông không phải là một Điểm đạo đồ, nên không thể giải thích cho ông biết lỗi phạm của ông nằm ở đâu. Đã có những trường hợp tương đối hiện đại về các nhà thơ vô thức mặc khải trong thi ca của họ nhiều tri thức ẩn tàng đến mức khiến ngay cả các Điểm đạo đồ cũng tưởng họ là những Điểm đạo đồ đồng môn, và đến nói chuyện với họ về đề tài ấy. Điều này chỉ cho thấy rằng khí chất thi ca nhạy cảm đôi khi được đưa xa vượt khỏi giới hạn của giác quan thông thường đến mức thoáng thấy những gì đã được ghi khắc trên Ánh sáng Cảm dục. Trong Ánh Sáng Á Châu có hai đoạn có thể khiến một Điểm đạo đồ bậc một nghĩ rằng ông Edwin Arnold chính mình đã được điểm đạo trong các ashram Hy Mã Lạp Sơn, nhưng không phải như vậy. |
|
399. |
399. |
|
A proof that Julian was acquainted with the heliocentric system. |
Một bằng chứng rằng Julian đã quen thuộc với hệ thống nhật tâm. |
|
400. |
400. |
|
La Gravitation par l’Electricité, p. 7, quoted by De Mirville; iv. 156. |
Trọng Lực do Điện, tr. 7, do De Mirville trích dẫn; iv. 156. |
|
401. |
401. |
|
De Mirville, iv. 157. |
De Mirville, iv. 157. |
|
402. |
402. |
|
Memoir on the Solar System, p. 7, De Mirville, iv. 157. |
Hồi Ký về Hệ Mặt Trời, tr. 7, De Mirville, iv. 157. |
|
403. |
403. |
|
Essai sur l’ Identité des Agents Producteurs du Son, de la Lumière, etc., p. 15, Ibid. |
Khảo Luận về Sự Đồng Nhất của các Tác Nhân Sản Sinh Âm Thanh, Ánh Sáng, v.v., tr. 15, cùng sách |
|
404. |
404. |
|
Ibid., p. 218. |
Cùng sách, tr. 218. |
|
405. |
405. |
|
Summarised from Ibid., p. 213. De Mirville, iv. 158. |
Tóm lược từ cùng sách, tr. 213. De Mirville, iv. 158. |
|
406. |
406. |
|
May, 1855. Ibid., p. 139. |
Tháng Năm, 1855. Cùng sách, tr. 139. |
|
407. |
407. |
|
La Terre et notre Système solaire. De Mirville, iv. 139. |
Trái Đất và Hệ Mặt Trời của Chúng Ta. De Mirville, iv. 139. |
|
408. |
408. |
|
If, as Sir W. Herschel thought, the so-called fixed stars have resulted from, and owe their origin to nebular combustion, they cannot be fixed any more than is our sun, which was believed to be motionless and is now found to rotate around its axis every twenty-five days. As the fixed star nearest to the sun, however, is eight-thousand times farther away from him than is Neptune, the illusions furnished by the telescopes must be also eight-thousand times as great. We will therefore leave the question at rest, repeating only what A. Maury said in his work (La Terre et l’Homme, published in 1858): “It is utterly impossible, so far, to decide anything concerning Neptune’s constitution, analogy alone authorising us to ascribe to him a rotary motion like that of other planets” (De Mirville, iv. 140). |
Nếu, như Sir W. Herschel nghĩ, các sao gọi là cố định đã phát sinh từ, và có nguồn gốc từ, sự cháy của tinh vân, thì chúng không thể cố định hơn mặt trời của chúng ta, vốn từng được tin là bất động và nay được thấy là quay quanh trục của nó mỗi hai mươi lăm ngày. Tuy nhiên, vì ngôi sao cố định gần mặt trời nhất lại xa hơn Sao Hải Vương tám nghìn lần so với khoảng cách của Sao Hải Vương đến mặt trời, nên các ảo ảnh do kính thiên văn cung cấp cũng phải lớn gấp tám nghìn lần. Vì vậy, chúng ta sẽ để vấn đề yên đó, chỉ lặp lại điều A. Maury đã nói trong tác phẩm của ông (Trái Đất và Con Người, xuất bản năm 1858): “Cho đến nay, hoàn toàn không thể quyết định bất cứ điều gì liên quan đến cấu tạo của Sao Hải Vương; chỉ có phép tương đồng mới cho phép chúng ta gán cho nó một chuyển động quay giống như các hành tinh khác” (De Mirville, iv. 140). |
|
409. |
409. |
|
Exposition du vrai Système du Monde, p. 282. |
Trình Bày về Hệ Thống Chân Thực của Thế Giới, tr. 282. |
|
410. |
410. |
|
See the passage quoted by Herschel in Natural Philosophy, p. 165. De Mirville, iv. 105. |
Xem đoạn được Herschel trích dẫn trong Triết Học Tự Nhiên, tr. 165. De Mirville, iv. 105. |
|
411. |
411. |
|
Loc. cit. |
Nơi đã dẫn. |
|
412. |
412. |
|
Terre et Ciel, p. 28. Ibid. |
Đất và Trời, tr. 28. Cùng sách |
|
413. |
413. |
|
Œuvres d’Arago, vol. i., p. 219; quoted by De Mirville, iii. 462. |
Tác Phẩm của Arago, quyển i., tr. 219; do De Mirville trích dẫn, iii. 462. |
|
414. |
414. |
|
“Die Sterne sind vielleicht ein Sitz verklarter Geister; |
“Các vì sao có lẽ là nơi ngự của những tinh thần đã được hiển vinh; |
|
Wie hier das Laster herrscht, ist dort die Tugend Meister.” |
Như nơi đây thói xấu thống trị, nơi kia đức hạnh làm chủ.” |