|
[259]
|
[259]
|
|
We have reached now the concluding phase of our approach to the problem of disease. In our next part we shall deal with the attitudes and temperaments of the patient, taking into consideration his ray and also the state of mind of the healer; all these points are of prime importance when one comes to the consideration of the fine art of healing. It is, however, essential that ill health, acute disease, and death itself should find their place in the overall picture. A particular incarnation is not an isolated event in the life of the soul, but is a part and an aspect of a sequence of experiences which are intended to lead to one, clear, definite goal—the goal of free choice and a deliberate return out of matter to spirit and eventual liberation.
|
Giờ đây chúng ta đã đi đến giai đoạn kết thúc trong cách tiếp cận của chúng ta đối với vấn đề bệnh tật. Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ bàn đến các thái độ và khí chất của bệnh nhân, có xét đến cung của y và cả trạng thái trí tuệ của người chữa lành; tất cả những điểm này đều cực kỳ quan trọng khi người ta đi đến việc xem xét nghệ thuật tinh tế của sự chữa lành. Tuy nhiên, điều thiết yếu là sức khỏe kém, bệnh cấp tính, và chính cái chết cũng phải tìm được vị trí của chúng trong bức tranh tổng thể. Một lần lâm phàm cụ thể không phải là một biến cố cô lập trong đời sống của linh hồn, mà là một phần và một phương diện của một chuỗi kinh nghiệm nhằm dẫn đến một mục tiêu duy nhất, rõ ràng, xác định—mục tiêu của sự lựa chọn tự do và một sự trở về có chủ ý từ vật chất đến tinh thần và cuối cùng là giải thoát.
|
|
There has been much talk among esotericists (particularly in the Eastern presentation of the Path to Reality) anent liberation. The goal held before the neophyte is liberation, freedom, emancipation; this, by and large, is the keynote of life itself. The concept is a transitting out of the realm of the purely selfish and of personal liberation into something much wider and more important. This concept of liberation lies behind the modern use of the word “liberty” but is far wiser, better and deeper in its connotation. Liberty, in the minds of many, is freedom from the imposition of any man’s [260] rule, freedom to do as one wishes, to think as one determines and to live as one chooses. This is as it should be, provided that one’s wishes, choices, thoughts and desires are free from selfishness and are dedicated to the good of the whole. This is, as yet, very seldom so.
|
Đã có nhiều lời bàn giữa các nhà bí truyền học (đặc biệt trong cách trình bày phương Đông về Con Đường đến Thực Tại) liên quan đến giải thoát. Mục tiêu được đặt trước người sơ cơ là giải thoát, tự do, giải phóng; nhìn chung, đó là chủ âm của chính sự sống. Khái niệm này là một sự chuyển ra khỏi lĩnh vực thuần túy ích kỷ và của sự giải thoát cá nhân để đi vào một điều gì đó rộng lớn hơn và quan trọng hơn nhiều. Khái niệm giải thoát này nằm phía sau cách dùng hiện đại của từ “tự do” nhưng khôn ngoan hơn, tốt đẹp hơn và sâu sắc hơn nhiều trong hàm ý của nó. Tự do, trong tâm trí của nhiều người, là sự tự do khỏi sự áp đặt của quy luật của bất kỳ ai, tự do làm điều mình muốn, suy nghĩ điều mình quyết định và sống theo cách mình chọn. Điều này là đúng như nó nên thế, miễn là những mong muốn, lựa chọn, suy nghĩ và ham muốn của một người không có tính ích kỷ và được hiến dâng cho lợi ích của toàn thể. Tuy nhiên, cho đến nay điều này rất hiếm khi xảy ra.
|
|
Liberation is much more than all this; it is freedom from the past, freedom to move forward along certain predetermined lines (predetermined by the soul), freedom to express all the divinity of which one is capable as an individual, or which a nation can present to the world.
|
Giải thoát còn hơn tất cả những điều đó; đó là tự do khỏi quá khứ, tự do để tiến bước dọc theo những đường hướng đã được xác định trước (được linh hồn xác định trước), tự do biểu lộ toàn bộ thiên tính mà một cá nhân có khả năng biểu lộ, hoặc mà một quốc gia có thể trình hiện cho thế giới.
|
|
There have been in the history of the past two thousand years, four great symbolic happenings which have sequentially presented (to those who have eyes to see, ears to hear and minds to interpret) the theme of liberation—and not simply of liberty.
|
Trong lịch sử hai ngàn năm qua, đã có bốn biến cố biểu tượng lớn, lần lượt trình bày (cho những ai có mắt để thấy, tai để nghe và trí tuệ để diễn giải) chủ đề giải thoát—chứ không chỉ đơn thuần là tự do.
|
|
1. The life of Christ Himself. He, for the first time, presented the idea of the sacrifice of the unit, consciously and deliberately offered for the service of the whole. There had been other World Saviours, but the issues involved had not so clearly been expressed, because the mind of man had not been ready to grasp the implications. Service is the keynote of liberation. Christ was the ideal Server.
|
1. Cuộc đời của chính Đức Christ. Lần đầu tiên, Ngài đã trình bày ý tưởng về sự hi sinh của đơn vị, được dâng hiến một cách có ý thức và có chủ ý để phụng sự toàn thể. Đã có những Đấng Cứu Thế Gian khác, nhưng những vấn đề liên quan chưa được diễn đạt rõ ràng đến thế, bởi vì trí tuệ con người chưa sẵn sàng để nắm bắt các hàm ý. Phụng sự là chủ âm của giải thoát. Đức Christ là Đấng Phụng Sự lý tưởng.
|
|
2. The signing of the Magna Charta. This document was signed at Runnymede, during the reign of King John on June 15th, 1215, A.D. Here the idea of liberation from authority was presented with the emphasis upon the personal liberty and rights of the individual. The growth and development of this basic idea, mental concept and formulated perception falls into four phases or chapters:
|
2. Việc ký kết Đại Hiến Chương. Văn kiện này được ký tại Runnymede, dưới triều Vua John vào ngày 15 tháng 6 năm 1215 sau Công nguyên. Ở đây ý tưởng giải thoát khỏi quyền lực được trình bày với sự nhấn mạnh vào tự do cá nhân và các quyền của cá nhân. Sự tăng trưởng và phát triển của ý tưởng căn bản này, khái niệm trí tuệ này và nhận thức được hình thành này rơi vào bốn giai đoạn hay chương:
|
|
a. The signing of the Magna Charta, emphasising personal liberty.
|
a. Việc ký kết Đại Hiến Chương, nhấn mạnh tự do cá nhân.
|
|
[261]
|
[261]
|
|
b. The founding of the French Republic with its emphasis upon human liberty.
|
b. Việc thành lập nền Cộng hòa Pháp với sự nhấn mạnh vào tự do của con người.
|
|
c. The Declaration of Independence and the Bill of Rights, determining national policy.
|
c. Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền, xác định chính sách quốc gia.
|
|
d. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, bringing the whole question into the international field, and guaranteeing to men and women everywhere in the world liberty and freedom to develop the divine reality within themselves.
|
d. Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, đưa toàn bộ vấn đề vào lĩnh vực quốc tế, và bảo đảm cho những người nam và nữ ở khắp nơi trên thế giới quyền tự do và sự tự do để phát triển thực tại thiêng liêng bên trong chính họ.
|
|
The ideal has gradually become clarified so that today the mass of men everywhere know what are the basic essentials of happiness.
|
Lý tưởng ấy đã dần dần được làm sáng tỏ để ngày nay quần chúng nhân loại ở khắp nơi đều biết những điều thiết yếu căn bản của hạnh phúc.
|
|
3. The Emancipation of the Slaves. The spiritual idea of human liberty, which had become a recognised ideal, became a demanding desire, and a great symbolic happening took place—the slaves were freed. Like all things which human beings enact, perfection is nonexistent. The Negro is not free in this land of the free, and America will have to clean house in this respect; to put it in clear concise words, the U.S.A. must see to it that the Constitution and the Bill of Rights are facts and not a dream. Only thus can the inevitable working of the Law of Karma (which is our theme today) be offset. The Negroes are Americans, as well as the New Englanders and all other stocks which are not indigenous in this country, and the Constitution is theirs also. As yet the privileges it confers are withheld by those who are the slaves of selfishness and fear.
|
3. Sự Giải Phóng những Người Nô Lệ. Ý tưởng tinh thần về tự do của con người, vốn đã trở thành một lý tưởng được thừa nhận, đã trở thành một khát vọng đòi hỏi, và một biến cố biểu tượng lớn đã diễn ra—những người nô lệ đã được giải phóng. Cũng như mọi điều mà con người thực hiện, sự hoàn hảo không hề hiện hữu. Người da đen không được tự do trên mảnh đất của những người tự do này, và nước Mỹ sẽ phải dọn dẹp nhà cửa về phương diện này; nói một cách rõ ràng và súc tích, Hoa Kỳ phải bảo đảm rằng Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền là những sự kiện chứ không phải một giấc mơ. Chỉ như thế sự vận hành tất yếu của Định luật Nghiệp Quả (là chủ đề của chúng ta hôm nay) mới có thể được hóa giải. Người da đen là người Mỹ, cũng như những người New England và mọi dòng giống khác không phải là bản địa ở đất nước này, và Hiến pháp cũng là của họ. Cho đến nay, những đặc quyền mà nó ban cho vẫn bị giữ lại bởi những kẻ là nô lệ của tính ích kỷ và nỗi sợ hãi.
|
|
4. The Liberation of Humanity by the United Nations. We are participating in a great spectacular and symbolic happening and are watching it in process. The liberation of the individual has moved onward through the symbolic liberation of a section of humanity (the remnants [262] of the first two races, the Lemurian and the Atlantean) to the liberation of millions of human beings, enslaved by the forces of evil, by millions of their fellow men. The ideal has worked through into a practical worldwide effort upon the physical plane and has demanded worldwide sacrifice. It has involved the entire three worlds of human evolution, and for this reason the Christ can now lead His forces and aid human beings to liberate mankind.
|
4. Sự Giải Phóng Nhân Loại bởi Liên Hiệp Quốc. Chúng ta đang tham dự vào một biến cố lớn lao, ngoạn mục và biểu tượng, và đang quan sát nó trong tiến trình diễn ra. Sự giải phóng cá nhân đã tiến lên thông qua sự giải phóng mang tính biểu tượng của một bộ phận nhân loại (những tàn dư [262] của hai nhân loại đầu tiên, Lemuria và Atlantis) đến sự giải phóng hàng triệu con người, bị các mãnh lực của điều ác nô dịch, bởi hàng triệu đồng loại của họ. Lý tưởng ấy đã được thực hiện thành một nỗ lực thực tiễn trên toàn thế giới nơi cõi hồng trần và đã đòi hỏi sự hi sinh trên toàn thế giới. Nó đã bao gồm toàn bộ ba cõi giới của sự tiến hoá nhân loại, và vì lý do này mà Đức Christ giờ đây có thể dẫn dắt các lực lượng của Ngài và trợ giúp con người giải phóng nhân loại.
|
|
What has really been happening, therefore, in the lives of individuals, in the lives of nations and in the life of humanity? A tremendous move to put right most ancient evil, to offset consciously the Law of Cause and Effect by a recognition of the causes in the personal, national and international worlds which have produced the effects under which humanity today suffers.
|
Vậy thì, điều gì thực sự đã xảy ra trong đời sống của các cá nhân, trong đời sống của các quốc gia và trong đời sống của nhân loại? Đó là một chuyển động to lớn nhằm sửa chữa điều ác rất cổ xưa, nhằm một cách hữu thức hóa giải Định luật Nhân Quả bằng sự nhận biết những nguyên nhân trong các thế giới cá nhân, quốc gia và quốc tế đã tạo ra những hậu quả mà dưới đó nhân loại ngày nay đang đau khổ.
|
|
The Law of Karma is today a great and incontrovertible fact in the consciousness of humanity everywhere. They may not call it by that name, but they are well aware that in all today’s events the nations are reaping what they sowed. This great law—at one time a theory—is not a proven fact and a recognised factor in human thinking. The question “Why?” so frequently asked brings in the factor of cause and effect with constant inevitability. The concepts of heredity and of environment are efforts to explain existing human conditions; qualities, racial characteristics, national temperaments and ideals prove the fact of some initiating world of causes. Historical conditions, the relationships between nations, social taboos, religious convictions and tendencies can all be traced to originating causes—some of them most ancient. Everything that is happening in the world today and which is so potently affecting humanity—things of beauty and of horror, modes of living [263] and civilisation and culture, prejudices and likings, scientific attainment and artistic expression and the many ways in which humanity throughout the planet colours existence—are aspects of effects, initiated somewhere, on some level at some time, by human beings, both individually and en masse.
|
Định luật Nghiệp Quả ngày nay là một sự kiện lớn lao và không thể bác bỏ trong tâm thức của nhân loại khắp nơi. Họ có thể không gọi nó bằng tên ấy, nhưng họ hoàn toàn ý thức rằng trong mọi biến cố ngày nay các quốc gia đang gặt hái điều họ đã gieo. Định luật lớn lao này—đã từng có lúc là một lý thuyết—nay là một sự kiện đã được chứng minh và là một yếu tố được thừa nhận trong tư duy của con người. Câu hỏi “Tại sao?” thường xuyên được nêu ra đã đưa yếu tố nhân và quả vào với tính tất yếu không ngừng. Các khái niệm về di truyền và môi trường là những nỗ lực nhằm giải thích các điều kiện hiện hữu của con người; các phẩm tính, các đặc tính chủng tộc, các khí chất và lý tưởng quốc gia chứng minh sự kiện về một thế giới nguyên nhân khởi phát nào đó. Các điều kiện lịch sử, các mối quan hệ giữa các quốc gia, các điều cấm kỵ xã hội, các xác tín và khuynh hướng tôn giáo đều có thể được truy nguyên về những nguyên nhân ban đầu—một số trong đó rất cổ xưa. Mọi điều đang xảy ra trong thế giới ngày nay và đang tác động mạnh mẽ đến nhân loại—những điều đẹp đẽ và kinh hoàng, những lối sống [263] và nền văn minh cùng văn hóa, những thành kiến và sở thích, những thành tựu khoa học và biểu đạt nghệ thuật, cùng nhiều cách thức mà nhân loại trên khắp hành tinh tô màu cho sự tồn tại—đều là những phương diện của các hậu quả, được khởi phát ở đâu đó, trên một cấp độ nào đó, vào một thời điểm nào đó, bởi con người, cả riêng lẻ lẫn tập thể.
|
|
Karma is therefore that which Man—the Heavenly Man in whom we live, humanity as a whole, mankind in groups as nations, and individual man—has instituted, carried forward, endorsed, omitted to do or has done right through the ages until the present moment. Today, the harvest is ripe and mankind is reaping what it has sown, preparatory to a fresh ploughing in the springtime of the New Age, with a fresh sowing of the seed which will (let us pray and hope) produce a better harvest.
|
Vì thế, nghiệp quả là điều mà Con Người—Đấng Thiên Nhân mà trong Ngài chúng ta sống, toàn thể nhân loại, loài người trong các nhóm như các quốc gia, và con người cá nhân—đã thiết lập, tiếp tục, tán thành, đã bỏ sót không làm hoặc đã làm xuyên suốt các thời đại cho đến thời điểm hiện tại. Ngày nay, mùa gặt đã chín và nhân loại đang gặt hái điều mình đã gieo, để chuẩn bị cho một lần cày xới mới vào mùa xuân của Kỷ Nguyên Mới, với một lần gieo hạt mới mà (chúng ta hãy cầu nguyện và hy vọng) sẽ tạo ra một mùa gặt tốt đẹp hơn.
|
|
The outstanding evidence of the Law of Cause and Effect is the Jewish race. All nations prove this Law, but I choose to refer to the Hebrew peoples because their history is so well known and their future and their destiny are subjects of worldwide, universal concern. The Jews have always had a symbolic significance; they sum up in themselves—as a nation, down the ages—the depths of human evil and the heights of human divinity. Their aggressive history as narrated in the Old Testament is on a par with present-day German accomplishment; yet Christ was a Jew and it was the Hebrew race which produced Him. Let this never be forgotten. The Jews were great aggressors; they despoiled the Egyptians and they took the Promised Land at the point of the sword, sparing neither man, woman nor child. Their religious history has been built around a materialistic Jehovah, possessive, greedy and endorsing and encouraging aggression. Their history is symbolic of the history of all aggressors, rationalising themselves into the belief that they are carrying out divine purpose, wresting away from people their property in a spirit of self-defense and finding some [264] reason, adequate to them, to excuse the iniquity of their action. Palestine was taken by the Jews because it was “a land flowing with milk and honey,” and the claim was made that the act was undertaken in obedience to divine command. Later, the symbolism gets most interesting. They divided into two halves: the Israelites with headquarters at Samaria, and the Jews (meaning two or three special tribes out of the twelve) locating around Jerusalem. Dualism ran through their religious beliefs; they were schooled by the Sadducees or the Pharisees, and these two groups were in constant conflict. Christ came as a member of the Jewish race and they renounced Him.
|
Bằng chứng nổi bật của Định luật Nhân Quả là nhân loại Do Thái. Mọi quốc gia đều chứng minh Định luật này, nhưng tôi chọn đề cập đến dân tộc Hebrew vì lịch sử của họ quá nổi tiếng và tương lai cùng định mệnh của họ là những chủ đề được quan tâm trên toàn thế giới, một cách phổ quát. Người Do Thái luôn luôn mang một ý nghĩa biểu tượng; họ tự tổng hợp trong chính mình—với tư cách một dân tộc, xuyên suốt các thời đại—những chiều sâu của điều ác nơi con người và những đỉnh cao của thiên tính nơi con người. Lịch sử hiếu chiến của họ như được thuật lại trong Cựu Ước tương đương với những thành tựu của nước Đức ngày nay; tuy nhiên Đức Christ là một người Do Thái và chính dân tộc Hebrew đã sinh ra Ngài. Điều này đừng bao giờ bị quên lãng. Người Do Thái từng là những kẻ xâm lược lớn; họ đã cướp bóc người Ai Cập và họ đã chiếm Đất Hứa bằng mũi gươm, không tha đàn ông, đàn bà hay trẻ nhỏ. Lịch sử tôn giáo của họ được xây dựng quanh một Jehovah duy vật, chiếm hữu, tham lam, tán thành và khuyến khích sự xâm lược. Lịch sử của họ là biểu tượng cho lịch sử của mọi kẻ xâm lược, tự biện minh để tin rằng họ đang thực hiện thiên ý, giật lấy tài sản của người khác trong tinh thần tự vệ và tìm ra một [264] lý do nào đó, đủ đối với họ, để bào chữa cho sự bất công trong hành động của mình. Palestine đã bị người Do Thái chiếm lấy vì đó là “một vùng đất tràn trề sữa và mật ong,” và người ta tuyên bố rằng hành động ấy được thực hiện để vâng theo mệnh lệnh thiêng liêng. Về sau, tính biểu tượng trở nên hết sức thú vị. Họ chia thành hai nửa: dân Israel với trung tâm tại Samaria, và dân Do Thái (nghĩa là hai hay ba bộ tộc đặc biệt trong số mười hai bộ tộc) định cư quanh Jerusalem. Tính nhị nguyên xuyên suốt các tín ngưỡng tôn giáo của họ; họ được đào luyện bởi phái Sadducees hoặc phái Pharisees, và hai nhóm này thường xuyên xung đột. Đức Christ đến như một thành viên của dân tộc Do Thái và họ đã từ bỏ Ngài.
|
|
Today the law is working, and the Jews are paying the price, factually and symbolically, for all they have done in the past. They are demonstrating the far-reaching effects of the Law. Factually and symbolically, they stand for culture and civilisation; factually and symbolically, they are humanity; factually and symbolically, they stand as they have ever chosen to stand, for separation. They regard themselves as the chosen people and have an innate consciousness of that high destiny, forgetting their symbolic role and that it is Humanity which is the chosen people and not one small and unimportant fraction of the race. Factually and symbolically, they long for unity and cooperation, yet know not how to cooperate; factually and symbolically, they are the “Eternal Pilgrim”; they are mankind, wandering through the mazes of the three worlds of human evolution, and gazing with longing eyes towards a promised land; factually and symbolically, they resemble the mass of men, refusing to comprehend the underlying spiritual purpose of all material phenomena, rejecting the Christ within (as they did centuries ago the Christ within their borders), grasping for material good and steadily rejecting the things of the spirit. They demand the so-called restitution of Palestine, [265] wresting it away from those who have inhabited it for many centuries; and by their continued emphasis upon material possession they lose sight of the true solution, which is that, symbolically and factually again, they must be assimilated into all the nations, and fused with all the races, thus demonstrating recognition of the One Humanity.
|
Ngày nay định luật đang vận hành, và người Do Thái đang trả giá, trên thực tế và về mặt biểu tượng, cho tất cả những gì họ đã làm trong quá khứ. Họ đang chứng minh những hậu quả sâu rộng của Định luật. Trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ tượng trưng cho văn hóa và văn minh; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ là nhân loại; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ đứng như họ luôn chọn đứng, cho sự phân ly. Họ xem mình là dân tộc được chọn và có một tâm thức bẩm sinh về định mệnh cao cả ấy, quên mất vai trò biểu tượng của mình và quên rằng chính Nhân Loại mới là dân tộc được chọn chứ không phải một phần nhỏ bé và không quan trọng của nhân loại. Trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ khao khát sự hợp nhất và hợp tác, nhưng lại không biết cách hợp tác; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ là “Người Hành Hương Vĩnh Cửu”; họ là loài người, lang thang qua những mê cung của ba cõi giới trong sự tiến hoá nhân loại, và hướng đôi mắt khát khao về một miền đất hứa; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ giống với đại đa số con người, từ chối thấu hiểu mục đích tinh thần nền tảng của mọi hiện tượng vật chất, khước từ Đức Christ bên trong (như họ đã từng làm nhiều thế kỷ trước với Đức Christ trong biên giới của họ), chộp lấy điều thiện vật chất và đều đặn khước từ những điều của tinh thần. Họ đòi hỏi cái gọi là sự hoàn nguyên Palestine, [265] giật lấy nó khỏi những người đã cư ngụ ở đó suốt nhiều thế kỷ; và bằng sự nhấn mạnh liên tục của họ vào sự sở hữu vật chất, họ đánh mất giải pháp chân chính, đó là, một lần nữa cả về biểu tượng lẫn thực tế, họ phải được đồng hóa vào mọi quốc gia, và dung hợp với mọi chủng tộc, nhờ đó chứng minh sự thừa nhận Nhân Loại Duy Nhất.
|
|
It is interesting to note that the Jews who inhabited southern Palestine, and whose chief city was Jerusalem, have succeeded in doing this and have fused with and been assimilated by the British, the Dutch and the French in a way that the Israelites, ruled from Samaria, have never done. I commend this to you for your consideration.
|
Điều đáng chú ý là những người Do Thái cư ngụ ở miền nam Palestine, và có thành phố chính là Jerusalem, đã thành công trong việc làm điều này và đã dung hợp với, được đồng hóa bởi người Anh, người Hà Lan và người Pháp theo cách mà dân Israel, được cai quản từ Samaria, chưa bao giờ làm được. Tôi xin nêu điều này để bạn suy ngẫm.
|
|
If the Jewish race would recall, therefore, their high symbolic destiny, and if the rest of humanity would see themselves in the Jewish people, and if both groups would emphasise the fact of human stock and cease thinking of themselves in terms of national and racial units, the karma of humanity would radically change from the retributive karma of the present to the recompensing good karma of the future.
|
Vì vậy, nếu dân tộc Do Thái nhớ lại định mệnh biểu tượng cao cả của họ, và nếu phần còn lại của nhân loại thấy chính mình trong dân Do Thái, và nếu cả hai nhóm đều nhấn mạnh sự kiện về cùng một dòng giống nhân loại và ngừng suy nghĩ về mình theo các đơn vị quốc gia và chủng tộc, thì nghiệp quả của nhân loại sẽ thay đổi tận gốc từ nghiệp quả báo ứng của hiện tại sang nghiệp quả thiện lành đền bù của tương lai.
|
|
Regarding this question from the long range vision (looking backward historically as well as forward hopefully), the problem is one to which the Jews themselves must make the larger contribution. They have never yet faced candidly and honestly (as a race) the problem of why the many nations, from the time of the Egyptians, have neither liked nor wanted them. It has always been the same down the centuries. Yet there must be some reason, inherent in the people themselves, when the reaction is so general and universal. Their approach to their direful problem has been one of supplication, or of distressed complaint, or of unhappy despair. Their demand has been for the Gentile nations to put the matter right, and many Gentiles have attempted to do so. Until, however, the Jews themselves [266] face up to the situation and admit that there may be for them the working out of the retributive aspect of the Law of Cause and Effect, and until they endeavour to ascertain what it is in them, as a race, which has initiated their ancient and dire fate, this basic world issue will remain as it has been since the very night of time. That within the race there are and have been great, good, just and spiritual men is unalterably true. A generalisation is never a complete expression of the truth. But, viewing the problem of the Jews in time and space, in history and today, the points which I have made will bear careful consideration by the Jews.
|
Xét vấn đề này từ tầm nhìn xa, nhìn lùi về lịch sử cũng như nhìn tới với hy vọng, thì đây là một vấn đề mà chính người Do Thái phải đóng góp phần lớn hơn. Họ chưa bao giờ đối diện một cách thẳng thắn và trung thực (với tư cách một chủng tộc) với vấn đề vì sao nhiều quốc gia, từ thời người Ai Cập, lại không thích và không muốn họ. Suốt bao thế kỷ vẫn luôn như vậy. Tuy nhiên, hẳn phải có một lý do nào đó vốn có trong chính dân tộc ấy, khi phản ứng lại phổ biến và phổ quát đến thế. Cách tiếp cận của họ đối với vấn đề thảm khốc của mình là van xin, hoặc than phiền đau khổ, hoặc tuyệt vọng bất hạnh. Đòi hỏi của họ là các quốc gia ngoại bang phải sửa chữa vấn đề, và nhiều người ngoại bang đã cố làm như vậy. Tuy nhiên, cho đến khi chính người Do Thái [266] đối diện với tình hình và thừa nhận rằng đối với họ có thể đang diễn ra phương diện báo ứng của Định luật Nhân Quả, và cho đến khi họ nỗ lực tìm ra điều gì nơi họ, với tư cách một chủng tộc, đã khởi phát số phận cổ xưa và thảm khốc của họ, thì vấn đề cơ bản của thế giới này sẽ vẫn còn như nó đã từng có từ đêm tối của thời gian. Rằng trong chủng tộc ấy có và đã có những người vĩ đại, tốt lành, công chính và tinh thần là điều hoàn toàn đúng. Một sự khái quát hóa không bao giờ là biểu đạt trọn vẹn của chân lý. Nhưng khi nhìn vấn đề của người Do Thái trong thời gian và không gian, trong lịch sử và ngày nay, thì những điểm tôi đã nêu đáng để chính người Do Thái cân nhắc cẩn trọng.
|
|
What I have said in no way mitigates the guilt of those who have so sorely abused the Jews. You have a proverb, have you not? that “two blacks do not make a white.” The behaviour of the nations towards the Jews, culminating in the atrocities of the second quarter of the twentieth century, have no excuse. The law must inevitably work. Though much that has happened to the Jews originated in their past history and in their pronounced attitude of separativeness and nonassimilability, and in their emphasis upon material good, yet the agents who have brought the evil karma upon them equally incur the retributive aspect of the same law; the situation has now assumed the form of a vicious circle of error and wrong doing, of retribution and revenge, and in view of this the time must come when together the nations will confer upon this problem, and together they will cooperate to bring to an end the wrong attitudes on both sides. All karma of evil nature is solved by the presentation of an accepting will, a cooperative love, a frank acknowledgment of responsibility and a skillful adjustment of united joint activity to bring about the good of humanity as a whole, and not just the good of an individual nation or people or race. The Jewish problem will not be solved [267] by taking possession of Palestine, by plaint and demand and by financial manipulations. That would be but the prolongation of ancient wrong and material possessiveness. The problem will be solved by the willingness of the Jew to conform to the civilisation, the cultural background and the standards of living of the nation to which—by the fact of birth and education—he is related and with which he should assimilate. It will come by the relinquishment of pride of race and of the concept of selectivity; it will come by renouncing dogmas and customs which are intrinsically obsolete and which create points of constant irritation to the matrix within which the Jew finds himself; it will come when selfishness in business relations and the pronounced manipulative tendencies of the Hebrew people are exchanged for more selfless and honest forms of activity.
|
Điều tôi đã nói không hề làm giảm nhẹ tội lỗi của những kẻ đã ngược đãi người Do Thái một cách đau đớn như thế. Các bạn có một câu tục ngữ, phải không? rằng “hai cái đen không làm thành một cái trắng.” Cách hành xử của các quốc gia đối với người Do Thái, lên đến đỉnh điểm là những hành động tàn bạo trong quý hai của thế kỷ hai mươi, không có lời bào chữa nào. Định luật tất yếu phải vận hành. Dù phần lớn những gì đã xảy ra với người Do Thái bắt nguồn từ lịch sử quá khứ của họ và từ thái độ phân ly rõ rệt cùng tính không thể đồng hóa của họ, và từ sự nhấn mạnh của họ vào điều thiện vật chất, tuy nhiên những tác nhân đã mang nghiệp xấu đến cho họ cũng đồng thời gánh chịu phương diện báo ứng của cùng một định luật ấy; tình hình hiện nay đã mang hình thức của một vòng luẩn quẩn của sai lầm và hành động sai trái, của báo ứng và trả thù, và vì thế thời điểm phải đến khi các quốc gia cùng nhau hội nghị về vấn đề này, và cùng nhau hợp tác để chấm dứt những thái độ sai lầm ở cả hai phía. Mọi nghiệp quả có bản chất xấu đều được giải quyết bằng việc biểu lộ một ý chí chấp nhận, một tình thương hợp tác, một sự thừa nhận trách nhiệm thẳng thắn và một sự điều chỉnh khéo léo của hoạt động chung hợp nhất nhằm mang lại điều thiện cho toàn thể nhân loại, chứ không chỉ điều thiện cho một quốc gia, một dân tộc hay một chủng tộc riêng lẻ. Vấn đề Do Thái sẽ không được giải quyết [267] bằng việc chiếm hữu Palestine, bằng than van và đòi hỏi, và bằng những thao túng tài chính. Điều đó chỉ là kéo dài sự sai trái cổ xưa và tính chiếm hữu vật chất. Vấn đề sẽ được giải quyết bằng sự sẵn lòng của người Do Thái trong việc thích ứng với nền văn minh, bối cảnh văn hóa và tiêu chuẩn sống của quốc gia mà—do sự kiện sinh ra và được giáo dục—y có liên hệ và y nên đồng hóa với quốc gia ấy. Nó sẽ đến bằng việc từ bỏ niềm kiêu hãnh chủng tộc và quan niệm được tuyển chọn; nó sẽ đến bằng việc từ bỏ những giáo điều và phong tục vốn tự thân đã lỗi thời và tạo ra những điểm kích thích thường xuyên đối với môi trường mà trong đó người Do Thái thấy mình đang sống; nó sẽ đến khi tính ích kỷ trong các quan hệ kinh doanh và những khuynh hướng thao túng rõ rệt của dân tộc Hebrew được thay thế bằng những hình thức hoạt động vị tha và trung thực hơn.
|
|
The Jew, owing to his rays and point of development, is outstandingly creative and artistic. This he must recognise and not seek as he now does to dominate in all fields, to grasp all opportunities away from other people, and so better himself and his own people at the expense of others. Release from the present situation will come when the Jew forgets that he is a Jew and becomes in his inmost consciousness an Italian, an American, a Britisher, a German or a Pole. This is not so at this time. The Jewish problem will be solved by intermarriage; that of the Negro will not. This will mean concession and compromise on the part of the orthodox Jews—not the concession of expediency but the concession of conviction.
|
Người Do Thái, do các cung của y và điểm tiến hoá của y, nổi bật một cách đặc biệt về tính sáng tạo và nghệ thuật. Điều này y phải nhận ra và đừng tìm cách như hiện nay thống trị trong mọi lĩnh vực, giật lấy mọi cơ hội khỏi những người khác, và nhờ đó cải thiện bản thân cùng dân tộc mình bằng cái giá của người khác. Sự giải thoát khỏi tình trạng hiện nay sẽ đến khi người Do Thái quên rằng mình là người Do Thái và trong tâm thức sâu thẳm nhất trở thành một người Ý, một người Mỹ, một người Anh, một người Đức hay một người Ba Lan. Hiện nay điều này chưa có. Vấn đề Do Thái sẽ được giải quyết bằng hôn nhân hỗn hợp; vấn đề của người da đen thì không. Điều này sẽ có nghĩa là sự nhượng bộ và thỏa hiệp từ phía những người Do Thái chính thống—không phải sự nhượng bộ vì quyền biến mà là sự nhượng bộ do xác tín.
|
|
Let me point out also that just as the Kabbalah and the Talmud are secondary lines of esoteric approach to truth, and materialistic in their technique (embodying much of the magical work of relating one grade of matter to the substance of another grade), so the Old Testament is emphatically a secondary Scripture, and spiritually does not rank [268] with the Bhagavad-Gita, the ancient Scriptures of the East and the New Testament. Its emphasis is material and its effect is to impress a purely materialistic Jehovah upon world consciousness. The general theme of the Old Testament is the recovery of the highest expression of the divine wisdom in the first solar system; that system embodied the creative work of the third aspect of divinity—that of active intelligence, expressing itself through matter. In this solar system, the created world is intended to be the expression of the second aspect, of the love of God. This the Jew has never grasped, for the love expressed in the Old Testament is the separative, possessive love of Jehovah for a distinct unit within the fourth or human kingdom. St. Paul summed up the attitude which humanity should assume in the words: “There is neither Jew nor Gentile.” The evil karma of the Jew today is intended to end his isolation, to bring him to the point of relinquishing material goals, of renouncing a nationality that has a tendency to be somewhat parasitic within the boundaries of other nations, and to express inclusive love, instead of separative unhappiness.
|
Tôi cũng xin chỉ ra rằng cũng như Kabbalah và Talmud là những đường lối thứ yếu để tiếp cận chân lý một cách huyền bí, và mang tính duy vật trong kỹ thuật của chúng (hàm chứa phần lớn công việc huyền thuật liên hệ một cấp độ vật chất với chất liệu của một cấp độ khác), thì Cựu Ước rõ ràng là một Kinh điển thứ yếu, và về mặt tinh thần không thể xếp [268] ngang hàng với Bhagavad-Gita, các Kinh điển cổ xưa của phương Đông và Tân Ước. Trọng tâm của nó là vật chất và tác động của nó là in sâu một Jehovah thuần túy duy vật vào tâm thức thế giới. Chủ đề tổng quát của Cựu Ước là sự phục hồi biểu hiện cao nhất của minh triết thiêng liêng trong hệ mặt trời thứ nhất; hệ ấy thể hiện công trình sáng tạo của phương diện thứ ba của thiên tính—đó là trí tuệ hoạt động, tự biểu lộ qua vật chất. Trong hệ mặt trời này, thế giới được tạo thành được dự định là biểu hiện của phương diện thứ hai, của tình thương của Thượng đế. Điều này người Do Thái chưa bao giờ nắm bắt được, vì tình thương được biểu lộ trong Cựu Ước là tình thương phân ly, chiếm hữu của Jehovah dành cho một đơn vị riêng biệt trong giới thứ tư hay giới nhân loại. Thánh Paul đã tóm lược thái độ mà nhân loại nên có trong những lời: “Không có người Do Thái cũng không có người ngoại bang.” Nghiệp xấu của người Do Thái ngày nay nhằm chấm dứt sự cô lập của họ, đưa họ đến điểm từ bỏ các mục tiêu vật chất, từ bỏ một quốc tịch có khuynh hướng phần nào ký sinh trong ranh giới của các quốc gia khác, và biểu lộ tình thương bao gồm thay vì nỗi bất hạnh phân ly.
|
|
And what of the Gentile attitude? It is absolutely necessary that the nations meet the Jew more than half way when he arrives at altering—slowly and gradually—his nationalistic orthodoxy. It is essential that they cease from fear and persecution, from hatred and from placing barriers to cooperation. The growing anti-Semitic feeling in the world is inexcusable in the sight of God and man. I refer not here to the abominable cruelties of the obsessed German people. Behind that lies a history of Atlantean relationships into which it is needless for me to enter because I could not prove to you the truth of my statements. I refer to the history of the past two thousand years and to the everyday behaviour of Gentile people everywhere. There must be a definite effort upon the part of the nationals of [269] every country to assimilate the Jews, to inter-marry with them, and to refuse to recognise as barriers old habits of thought and ancient bad relations. Men everywhere must regard it as a blot upon their national integrity if there is the appearance within their borders of the old duality—Jew and Gentile. There is neither Jew nor Gentile; there is only Humanity. This war (1914-1945) should be regarded as having brought to a conclusion the ancient enmity between Jew and Gentile, and the two groups have now the opportunity to originate a newer and happier measure of living and a truly cooperative relation on either side. The process of assimilation will be slow, for the situation is of so ancient a date that habits of thought, customary attitudes and separative customs are well established and hard to overcome. But the needed changes can be made if goodwill directs the spoken word, the written presentation and the mode of living together. The Hierarchy sees no distinction. The Head of the Hierarchy, though not in a Jewish body at this time, achieved the highest spiritual goal for humanity whilst in a Jewish vehicle. The Hierarchy is also sending into Jewish bodies certain disciples who will work with full intent at the changing of the situation. There are Jews today, a few in number, who do not think in terms of being Jews; who are not preoccupied with the Jewish problem to the exclusion of all else, and who are endeavouring to fuse all people into one humanity, thus bridging the gap.
|
Và còn thái độ của người ngoại bang thì sao? Tuyệt đối cần thiết là các quốc gia phải gặp người Do Thái hơn nửa quãng đường khi y bắt đầu thay đổi—một cách chậm rãi và dần dần—tính chính thống dân tộc chủ nghĩa của mình. Điều cốt yếu là họ phải chấm dứt sợ hãi và bách hại, chấm dứt hận thù và dựng lên các rào cản đối với sự hợp tác. Tình cảm bài Do Thái đang gia tăng trên thế giới là điều không thể bào chữa trước mắt Thượng đế và con người. Ở đây tôi không nói đến những sự tàn ác ghê tởm của dân tộc Đức bị ám ảnh. Đằng sau điều đó là một lịch sử các mối quan hệ Atlantis mà tôi không cần đi vào vì tôi không thể chứng minh cho các bạn chân lý trong những phát biểu của tôi. Tôi nói đến lịch sử của hai ngàn năm qua và đến cách hành xử hằng ngày của người ngoại bang ở khắp nơi. Phải có một nỗ lực rõ rệt từ phía công dân của [269] mọi quốc gia để đồng hóa người Do Thái, kết hôn với họ, và từ chối thừa nhận như những rào cản các thói quen tư tưởng cũ và những quan hệ xấu cổ xưa. Những người nam và nữ ở khắp nơi phải xem đó là một vết nhơ trên sự toàn vẹn quốc gia của họ nếu trong biên giới của họ xuất hiện nhị nguyên tính cũ—Do Thái và ngoại bang. Không có người Do Thái cũng không có người ngoại bang; chỉ có Nhân Loại. Cuộc chiến này (1914-1945) nên được xem như đã đưa mối thù nghịch cổ xưa giữa người Do Thái và người ngoại bang đến chỗ kết thúc, và hai nhóm hiện nay có cơ hội khởi đầu một mức sống mới mẻ và hạnh phúc hơn cùng một mối quan hệ thật sự hợp tác ở cả hai phía. Tiến trình đồng hóa sẽ chậm, vì tình trạng này quá cổ xưa đến nỗi các thói quen tư tưởng, các thái độ tập quán và các phong tục phân ly đã được thiết lập vững chắc và khó vượt qua. Nhưng những thay đổi cần thiết có thể được thực hiện nếu thiện chí chỉ đạo lời nói, sự trình bày bằng văn bản và cách sống chung. Thánh đoàn không thấy có sự phân biệt nào. Đấng đứng đầu Thánh đoàn, dù hiện nay không ở trong một thể Do Thái, đã đạt mục tiêu tinh thần cao nhất cho nhân loại khi ở trong một hiện thể Do Thái. Thánh đoàn cũng đang gửi vào các thể Do Thái một số đệ tử, những người sẽ làm việc với trọn vẹn chủ đích để thay đổi tình hình. Ngày nay có những người Do Thái, tuy số lượng ít, không suy nghĩ theo kiểu mình là người Do Thái; không bị ám ảnh bởi vấn đề Do Thái đến mức loại trừ mọi điều khác, và đang nỗ lực dung hợp mọi người thành một nhân loại, nhờ đó bắt cầu qua hố ngăn cách.
|
|
Again, I say, that the Masters of the Wisdom see neither Jew nor Gentile, but only souls and sons of God.
|
Một lần nữa, tôi nói rằng các Chân sư của Minh triết không thấy người Do Thái hay người ngoại bang, mà chỉ thấy các linh hồn và những người con của Thượng đế.
|
|
In dealing with the subject of karma as a factor—decisive and lasting in both disease and health—one of the criticisms to which my approach is subjected is that I deal too much with generalities and that I give no specific and detailed analysis of particular diseases, particularly of the great [270] basic diseases which today take such a toll of humanity and which are not fundamentally being curbed. I do not deal with their symptoms or their cure, and I indicate not techniques whereby they may be handled. This I feel is a criticism with which I should deal, so that you may proceed with your study under no misapprehension. This is an appropriate point at which to stop and meet this contention. Karma is necessarily a topic which is general and not specific; it is not yet accepted in the occult sense by the general public. It must be considered along broad lines until such time that the Law of Cause and Effect is accepted as a major conditioning factor in the human consciousness, not only on a large scale but in relation to individual lives. Of this Law, the public is yet, as a whole, ignorant.
|
Khi đề cập đến chủ đề nghiệp quả như một yếu tố—có tính quyết định và lâu dài trong cả bệnh tật lẫn sức khỏe—một trong những phê bình mà cách tiếp cận của tôi phải chịu là tôi đề cập quá nhiều đến những khái quát và không đưa ra sự phân tích cụ thể, chi tiết về các bệnh riêng biệt, đặc biệt là những [270] bệnh căn bản lớn ngày nay đang cướp đi sinh mạng của nhân loại nhiều đến thế và về căn bản vẫn chưa được kiềm chế. Tôi không đề cập đến các triệu chứng hay cách chữa trị của chúng, và cũng không chỉ ra những kỹ thuật nhờ đó chúng có thể được xử lý. Tôi cảm thấy đây là một phê bình mà tôi nên bàn đến, để các bạn có thể tiếp tục việc học của mình mà không có sự hiểu lầm nào. Đây là một điểm thích hợp để dừng lại và đáp lại lập luận này. Nghiệp quả tất yếu là một chủ đề mang tính tổng quát chứ không cụ thể; công chúng nói chung vẫn chưa chấp nhận nó theo nghĩa huyền bí học. Nó phải được xem xét theo những đường nét rộng cho đến khi Định luật Nhân Quả được chấp nhận như một yếu tố tác động chủ yếu trong tâm thức con người, không chỉ trên quy mô lớn mà còn liên hệ đến các đời sống cá nhân. Về Định luật này, công chúng nói chung vẫn còn vô minh.
|
|
It will be obvious to you that it is entirely needless for me to deal with the symptomatic aspect of diseases and with the facts that have been so ably ascertained by orthodox medical science. We have been for some time considering the causes of such diseases, and I propose to deal with occult methods of producing cures—where such cures are permissible under the Law of Karma and where the healer is willing to work in an occult manner. I have attempted to make clear to you that the fundamental cause is related to energy, to its presence in excess as it pours through the centres, or to its deficiency. Here lie the two main factors in the production of disease. It is essential that those of you who are interested in the study of disease and its healing should admit this and permit it to form the basis of your approach. I have indicated that medicine and medical treatments of the future will start with this fact as their prime determination. The factual nature of medical discovery is not disowned by me. I seek to carry the matter forward from that point, and it is no part of my programme to ignore the wise discoveries of modern medical science, nor am I [271] on the side of those groups of people who run down and refuse to admit the findings of modern medicine. This I have earlier emphasised. I want to indicate the trend of future medical research, which will be to seek for the seat of the trouble in the realm of vitality (as it may be called by orthodox investigators), and which we would regard as in the realm of the etheric body. Let me here make a practical statement which might be regarded as the next Rule in this treatise:
|
Các bạn sẽ thấy rõ rằng tôi hoàn toàn không cần phải đề cập đến phương diện triệu chứng của bệnh tật và đến những sự kiện đã được khoa học y học chính thống xác định một cách tài tình như thế. Từ lâu chúng ta đã xem xét các nguyên nhân của những bệnh ấy, và tôi dự định đề cập đến các phương pháp huyền bí để tạo ra sự chữa lành—ở những nơi mà sự chữa lành như thế được phép theo Định luật Nghiệp Quả và ở những nơi mà người chữa bệnh sẵn lòng làm việc theo cách huyền bí. Tôi đã cố gắng làm rõ với các bạn rằng nguyên nhân căn bản có liên hệ đến năng lượng, đến sự hiện diện dư thừa của nó khi tuôn qua các trung tâm, hoặc đến sự thiếu hụt của nó. Chính trong đó có hai yếu tố chính trong việc tạo ra bệnh tật. Điều cốt yếu là những ai trong các bạn quan tâm đến việc nghiên cứu bệnh tật và sự chữa lành phải thừa nhận điều này và cho phép nó hình thành nền tảng cho cách tiếp cận của mình. Tôi đã chỉ ra rằng y học và các phương pháp điều trị y khoa trong tương lai sẽ bắt đầu từ sự kiện này như yếu tố quyết định hàng đầu của chúng. Bản chất sự kiện của khám phá y học không bị tôi phủ nhận. Tôi tìm cách đưa vấn đề tiến xa hơn từ điểm đó, và không phải là một phần trong chương trình của tôi khi phớt lờ những khám phá khôn ngoan của khoa học y học hiện đại, tôi cũng không [271] đứng về phía những nhóm người hạ thấp và từ chối thừa nhận các phát hiện của y học hiện đại. Điều này tôi đã nhấn mạnh trước đây. Tôi muốn chỉ ra xu hướng của nghiên cứu y học tương lai, đó sẽ là tìm kiếm chỗ ngồi của rối loạn trong lĩnh vực sinh lực (như các nhà nghiên cứu chính thống có thể gọi), và điều mà chúng tôi xem là trong lĩnh vực của thể dĩ thái. Ở đây tôi xin đưa ra một phát biểu thực tiễn có thể được xem như quy luật kế tiếp trong bộ luận này:
|
|
RULE SIX
|
QUY LUẬT SÁU
|
|
A careful diagnosis of the disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent that, once the organ involved is known and thus isolated, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary, ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.
|
Một sự chẩn đoán cẩn trọng về bệnh, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hóa đến mức này: một khi cơ quan liên hệ đã được biết và do đó được cô lập, thì trung tâm trong thể dĩ thái có liên hệ gần nhất với nó sẽ được áp dụng các phương pháp chữa lành huyền bí, dù các phương pháp y khoa hay phẫu thuật thông thường, có tính cải thiện, sẽ không bị giữ lại.
|
|
It is here that the fanatical cultist or healer of today so often goes astray. The old approach to medicine, with its physical investigation and its successful or unsuccessful diagnosis, will still be required until such time that physicians and surgeons have clairvoyant faculty, intuitive perception and spiritual insight, and also until they have worked out a technique for handling energy in relation to the patient. To this will some day be added correct astrological interpretation, immediate recognition of ray types, and then the application of the right healing techniques, as required by the ray which conditions the patient’s life expression, plus his point in evolution.
|
Chính tại đây mà người cuồng tín hay người chữa bệnh ngày nay thường lạc lối. Cách tiếp cận cũ đối với y học, với sự khảo sát hồng trần của nó và sự chẩn đoán thành công hay thất bại của nó, vẫn sẽ còn cần thiết cho đến khi các y sĩ và phẫu thuật gia có được năng lực thông nhãn, tri giác trực giác và linh thị tinh thần, và cũng cho đến khi họ xây dựng được một kỹ thuật xử lý năng lượng trong liên hệ với bệnh nhân. Một ngày nào đó, vào điều này sẽ được thêm vào sự giải thích chiêm tinh chính xác, sự nhận biết tức thời các loại cung, và rồi việc áp dụng các kỹ thuật chữa lành đúng đắn, như được đòi hỏi bởi cung tác động lên biểu hiện sự sống của bệnh nhân, cộng với điểm tiến hoá của y.
|
|
I am handicapped greatly as a I seek to lay the foundation for this new approach to medicine. I am handicapped by the idealistic pronouncements of the pioneers in the new fields of nature healing, by the naturopaths, and by the [272] premises of Christian Science and the Unity Schools. All that I can do (if you are to profit by my presentation) is to lay down certain broad and general assumptions which will govern the medical men of the future. But in the interim period between the old and the new eras, men will wander in a fog of speculation; a great conflict will be engineered between the fundamentalist schools and the speculators and the investigators of the new ideas, and temporarily the “noble middle path” of the Buddha will be forgotten.
|
Tôi bị hạn chế rất nhiều khi tìm cách đặt nền móng cho cách tiếp cận mới này đối với y học. Tôi bị hạn chế bởi những tuyên bố duy tâm của những người tiên phong trong các lĩnh vực mới của chữa bệnh tự nhiên, bởi các nhà liệu pháp tự nhiên, và bởi các [272] tiền đề của Christian Science và các Trường Unity. Tất cả những gì tôi có thể làm (nếu các bạn muốn hưởng lợi từ phần trình bày của tôi) là đặt ra một số giả định rộng và tổng quát sẽ chi phối các y sĩ tương lai. Nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp giữa kỷ nguyên cũ và mới, con người sẽ lang thang trong màn sương suy đoán; một cuộc xung đột lớn sẽ được tạo ra giữa các trường phái chính thống bảo thủ với những người suy đoán và những nhà nghiên cứu các ý tưởng mới, và tạm thời “con đường trung đạo cao quý” của Đức Phật sẽ bị quên lãng.
|
|
There is present today, in the science of medicine, a situation paralleling that to be found in the realm of religion. The old approach suffices for the masses and is frequently successful both in its ameliorative and preventive aspects, and in its process of diagnosis. This is all that is possible at this time. In the same manner, the old religious presentation suffices to guide the unthinking masses along certain broad lines of controlled living, and to keep clearly in the consciousness of the average man certain uncontrovertible, spiritual facts. Both in the guidance and protection of the masses in their spiritual natures and in the guidance and protection of their physical vehicles, doctors and priests can be divided into various groups—some adhering to old proved techniques, some so fundamentalist in position that they refuse to investigate that which is new and unproven, and some so idealistic, speculative and fanatical that they rush ahead and enter into a world of speculative experiment which may or may not give them the key to the medicine of the future but which certainly puts their patients into the category of what you call “guinea pigs.”
|
Ngày nay, trong khoa học y học, có một tình trạng song song với điều được tìm thấy trong lĩnh vực tôn giáo. Cách tiếp cận cũ là đủ cho quần chúng và thường thành công trong cả các phương diện cải thiện lẫn phòng ngừa, cũng như trong tiến trình chẩn đoán của nó. Đó là tất cả những gì có thể vào lúc này. Cũng theo cách ấy, cách trình bày tôn giáo cũ là đủ để hướng dẫn quần chúng không suy tư theo một số đường nét rộng của đời sống được kiểm soát, và giữ rõ ràng trong tâm thức của người bình thường một số sự kiện tinh thần không thể bác bỏ. Cả trong việc hướng dẫn và bảo vệ quần chúng trong bản chất tinh thần của họ lẫn trong việc hướng dẫn và bảo vệ các vận cụ hồng trần của họ, các bác sĩ và giáo sĩ có thể được chia thành nhiều nhóm—một số bám vào các kỹ thuật cũ đã được chứng minh, một số bảo thủ đến mức từ chối khảo sát điều gì mới và chưa được chứng minh, và một số duy tâm, suy đoán và cuồng tín đến mức lao tới và bước vào một thế giới của thử nghiệm suy đoán, điều có thể hoặc không thể trao cho họ chiếc chìa khóa của nền y học tương lai nhưng chắc chắn đặt bệnh nhân của họ vào loại mà các bạn gọi là “chuột bạch.”
|
|
The surest and least speculative field in medical practice is that which is concerned with the surgical relief of the patient; it is founded on a sure knowledge of anatomy, its diagnosis of requirements can be intelligently controlled, and [273] its practice (when in the hands of a sound and reputable surgeon) can and frequently does produce a cure or a real prolongation of life. However, even in that field little is known about the results of an operation as it may affect the etheric body and (consequently) the nervous system through the intermediate system of the “nadis” or the etheric counterpart of the nerves. I would instance the removal of some organ. Definite results must necessarily be present and a period of difficult adjustment must inevitably take place within the subtle mechanism of the patient. The area of the body which has received surgical treatment, and particularly the centre in closest relation to it, must be affected, for the circulatory flow of energy, emanating from the centre, will find itself “short circuited,” if I could use such a phrase. This flow, which has hitherto passed through the area of surgical attention, must work its way to all parts of the body, via the “nadis”; these, as you know, underlie and feed the needed energy to the nervous system. Old channels for the flow of energy will have been removed, as the result of operative measures, major or minor. New channels or lines of force, bridging the “mutilated” area, will have to be established and a basic adjustment will have to be made within the vital mechanism of the patient. Along this line there is practically nothing as yet known. It is not even yet in the field of advanced research.
|
Lĩnh vực chắc chắn nhất và ít suy đoán nhất trong thực hành y khoa là lĩnh vực liên quan đến sự can thiệp phẫu thuật cho bệnh nhân; nó được đặt nền trên một tri thức chắc chắn về giải phẫu học, sự chẩn đoán các nhu cầu của nó có thể được kiểm soát một cách thông minh, và [273] việc thực hành của nó (khi ở trong tay một phẫu thuật gia lành nghề và đáng tin cậy) có thể và thường thật sự tạo ra sự chữa lành hoặc kéo dài đời sống một cách thực sự. Tuy nhiên, ngay cả trong lĩnh vực đó người ta cũng biết rất ít về các kết quả của một cuộc phẫu thuật khi nó có thể ảnh hưởng đến thể dĩ thái và (do đó) đến hệ thần kinh qua hệ thống trung gian của các “nadis” hay đối phần dĩ thái của các dây thần kinh. Tôi xin nêu ví dụ việc cắt bỏ một cơ quan nào đó. Những kết quả rõ rệt tất yếu phải hiện diện và một giai đoạn điều chỉnh khó khăn tất yếu phải diễn ra trong bộ máy vi tế của bệnh nhân. Vùng cơ thể đã nhận điều trị phẫu thuật, và đặc biệt là trung tâm có liên hệ gần nhất với nó, phải bị ảnh hưởng, vì dòng tuần hoàn năng lượng, phát ra từ trung tâm ấy, sẽ thấy mình bị “ngắn mạch,” nếu tôi có thể dùng một cụm từ như vậy. Dòng chảy này, vốn từ trước đến nay đi qua vùng được phẫu thuật chú ý, phải tìm đường đến mọi phần của cơ thể qua các “nadis”; như các bạn biết, các nadis này nằm bên dưới và cung cấp năng lượng cần thiết cho hệ thần kinh. Những kênh cũ cho dòng năng lượng sẽ bị loại bỏ do kết quả của các biện pháp phẫu thuật, lớn hay nhỏ. Những kênh mới hay những đường mãnh lực mới, bắt cầu qua vùng “bị cắt xén,” sẽ phải được thiết lập và một sự điều chỉnh căn bản sẽ phải được thực hiện trong bộ máy sinh lực của bệnh nhân. Theo đường hướng này, thực tế là hiện nay hầu như chưa biết gì cả. Nó thậm chí còn chưa nằm trong lĩnh vực nghiên cứu tiên tiến.
|
|
The new medicine cannot be scientifically formulated or intelligently presented until such time as the fact of the etheric body is accepted and its existence, as a mechanism of energy supply and as the vital aspect of the outer form, is generally recognised. The shift of the attention of the medical profession will then be away from the outer, tangible, physical effects and to the inner causes, as they are to be found in the centres and their related fields of activity.
|
Nền y học mới không thể được hình thành một cách khoa học hay được trình bày một cách thông minh cho đến khi sự kiện về thể dĩ thái được chấp nhận và sự hiện hữu của nó, như một bộ máy cung ứng năng lượng và như phương diện sinh lực của hình tướng bên ngoài, được thừa nhận một cách phổ biến. Khi đó sự chuyển dịch chú ý của giới y khoa sẽ rời khỏi các hiệu quả hồng trần bên ngoài, hữu hình, để hướng đến các nguyên nhân bên trong, như chúng được tìm thấy trong các trung tâm và các lĩnh vực hoạt động liên hệ của chúng.
|
|
[274]
|
[274]
|
|
Within the areas where a disease is manifested, certain esoteric facts anent the general subject have already been posited by me:
|
Trong các lĩnh vực nơi bệnh tật biểu lộ, một số sự kiện huyền bí liên quan đến chủ đề tổng quát này đã được tôi nêu ra:
|
|
1. That disease, in its immediate cause, can be traced to the individual etheric body when the difficulty is purely local, or to the planetary etheric body (in particular the etheric body of the fourth kingdom in nature) where epidemics are involved, or to such a condition as war, affecting large masses of men.
|
1. Rằng bệnh tật, trong nguyên nhân trực tiếp của nó, có thể được truy nguyên về thể dĩ thái cá nhân khi khó khăn hoàn toàn có tính cục bộ, hoặc về thể dĩ thái hành tinh (đặc biệt là thể dĩ thái của giới thứ tư trong thiên nhiên) khi có dịch bệnh, hoặc về một tình trạng như chiến tranh, ảnh hưởng đến những khối đông người.
|
|
2. That the etheric body has not hitherto been considered as an existent fact, from the angle of orthodox medicine, though there is a modern drift towards emphasis upon vitality, upon the vital qualities in food, and the giving of vitamin products in order to build up a vital response. This is the first indication of an unrealised need to increase the potency of the vital body.
|
2. Rằng thể dĩ thái cho đến nay chưa được xem là một sự kiện hiện hữu, từ góc độ của y học chính thống, dù có một xu hướng hiện đại hướng đến việc nhấn mạnh vào sinh lực, vào các phẩm tính sinh lực trong thực phẩm, và việc cung cấp các sản phẩm vitamin để xây dựng một đáp ứng sinh lực. Đây là dấu hiệu đầu tiên của một nhu cầu chưa được nhận ra nhằm gia tăng hiệu lực của thể sinh lực.
|
|
3. That the condition of the etheric body predisposes the subject to disease or protects it from disease, making man resistant to the impact of deteriorating or epidemic factors, or failing to do so because of inherent etheric weakness.
|
3. Rằng tình trạng của thể dĩ thái khiến chủ thể dễ mắc bệnh hoặc bảo vệ nó khỏi bệnh, làm cho con người kháng cự được tác động của các yếu tố suy thoái hay dịch bệnh, hoặc không làm được như vậy vì sự yếu kém dĩ thái vốn có.
|
|
4. That the etheric body is the mechanism of vital, pranic life, and “sub-stands” or underlies the outer, familiar equipment of the nervous system, which feeds and actuates all parts of the physical organism. The relationship existing between the centres, the nadis and the entire nervous system comprises the field of the new medicine and indicates the new major field of research.
|
4. Rằng thể dĩ thái là bộ máy của sự sống sinh lực, prana, và “nằm dưới” hay làm nền cho bộ trang bị bên ngoài quen thuộc của hệ thần kinh, vốn nuôi dưỡng và làm hoạt động mọi phần của cơ thể hồng trần. Mối liên hệ hiện hữu giữa các trung tâm, các nadis và toàn bộ hệ thần kinh tạo thành lĩnh vực của nền y học mới và chỉ ra lĩnh vực nghiên cứu lớn mới.
|
|
5. That the main causes of all disease are two in nature:
|
5. Rằng các nguyên nhân chính của mọi bệnh tật có hai bản chất:
|
|
a. They are to be found, first of all, in the stimulation or the nonstimulation of the centres. This simply implies the overactivity or the underactivity of [275] any centre in any part of the body. Where the flow of energy is commensurate to the demands of the physical body at any particular stage of development, then there will be relative freedom from disease.
|
a. Trước hết, chúng được tìm thấy trong sự kích thích hoặc không kích thích các trung tâm. Điều này đơn giản hàm ý sự hoạt động quá mức hoặc hoạt động thiếu mức của [275] bất kỳ trung tâm nào trong bất kỳ phần nào của cơ thể. Nơi nào dòng năng lượng tương xứng với các đòi hỏi của thể xác ở bất kỳ giai đoạn phát triển đặc thù nào, thì ở đó sẽ có sự tương đối tự do khỏi bệnh tật.
|
|
b. They are to be found, secondly, in the karmic effect of the three planetary diseases: Cancer, Tuberculosis, Syphilitic diseases. Some day medicine will realise that behind every single disease (irrespective of the results of accident or war) lie these three main tendencies in the human body. This is a basic and important statement.
|
b. Thứ hai, chúng được tìm thấy trong hiệu quả nghiệp quả của ba bệnh hành tinh: Ung thư, Lao, các bệnh giang mai. Một ngày nào đó y học sẽ nhận ra rằng đằng sau mọi bệnh riêng lẻ (không kể các kết quả của tai nạn hay chiến tranh) đều có ba khuynh hướng chính này trong cơ thể con người. Đây là một phát biểu căn bản và quan trọng.
|
|
6. That the etheric body is a focussing point for all the interior energies of the body, and therefore the energy transmitted will not be pure vital energy or simple planetary prana but will be qualified by forces coming from the astral or the emotional apparatus, from the mind or from the soul body. These “qualifications of force,” indicating as they do the karma of the individual, are in the last analysis the major conditioning forces. They indicate the point of development of the individual and the areas of control in his personality. They therefore indicate the state of his karma. This lifts the whole subject of medicine into the psychological field and posits the entire problem of karmic effects and of ray types.
|
6. Rằng thể dĩ thái là một điểm tập trung cho mọi năng lượng nội tại của cơ thể, và vì thế năng lượng được truyền đi sẽ không phải là năng lượng sinh lực thuần túy hay prana hành tinh đơn giản mà sẽ được định tính bởi các mãnh lực đến từ bộ máy cảm dục hay cảm xúc, từ trí tuệ hoặc từ thể linh hồn. Những “định tính của mãnh lực” này, vì chúng chỉ ra nghiệp quả của cá nhân, xét đến cùng là những mãnh lực tác động chủ yếu. Chúng chỉ ra điểm phát triển của cá nhân và các lĩnh vực kiểm soát trong phàm ngã của y. Vì vậy chúng chỉ ra tình trạng nghiệp quả của y. Điều này nâng toàn bộ chủ đề y học vào lĩnh vực tâm lý học và đặt ra toàn bộ vấn đề về các hiệu quả nghiệp quả và các loại cung.
|
|
7. That these conditioning factors make the etheric body what it is in any one incarnation; these factors are, in their turn, the result of activities initiated and carried through in previous incarnations, and thus constitute the patient’s karmic liabilities or his karmic freedoms.
|
7. Rằng những yếu tố tác động này làm cho thể dĩ thái trở thành như nó là trong bất kỳ một lần lâm phàm nào; đến lượt mình, những yếu tố này là kết quả của các hoạt động đã được khởi phát và thực hiện trong các lần lâm phàm trước, và do đó cấu thành các món nợ nghiệp quả của bệnh nhân hoặc các sự tự do nghiệp quả của y.
|
|
8. That the basic energies pouring into the etheric body and conditioning the physical body will be of two major [276] types: the ray energy of the soul and the ray energy of the personality, qualified by the three minor forces or the rays of the mental nature, the astral body and the physical vehicle. This therefore involves five energies which are present in the etheric body which the physician of the future will have to consider.
|
8. Rằng các năng lượng căn bản tuôn vào thể dĩ thái và tác động lên thể xác sẽ thuộc hai loại chính: năng lượng cung của linh hồn và năng lượng cung của phàm ngã, được định tính bởi ba mãnh lực phụ hay các cung của bản chất trí tuệ, thể cảm dục và hiện thể hồng trần. Vì thế điều này bao gồm năm năng lượng hiện diện trong thể dĩ thái mà vị y sĩ tương lai sẽ phải xem xét.
|
|
9. That diagnoses, based upon the recognition of these subjective factors, are not in reality the involved and complicated matter they appear to be today to the student of the advanced occult theories. Medical men in the New Age will eventually know enough to relate these various ray forces to their appropriate centres; hence they will know which type of force is responsible for conditions—good or bad—in any particular area of the body. Some day, when more research and investigation have been carried forward, the science of medicine will be built upon the fact of the vital body and its constituent energies. It will then be discovered that this science will be far simpler and less complicated than present medical science. Today, medicine has reached such a point of complexity that specialists have perforce been needed who can deal with one area of the body and with its effect upon the entire physical vehicle. The average general practitioner cannot cope with the mass of detailed knowledge now gathered re the physical body, its various systems, their interrelation and their effect upon the many organisms which constitute the whole man. Surgery will remain occupied with the anatomical necessities of the human frame; medicine will shift its focus of attention, before long, to the etheric body and its incident circulatory systems of energy, its interlocking relationships and the flow between the seven centres, between the centres themselves and the areas which they control. [277] This will mark a tremendous advance in wise and useful approach; it will produce a basic simplification; it will lead to more correct methods of healing, particularly as clairvoyant vision is developed and becomes recognised by science, and known to be an extension of a normal sense.
|
9. Rằng những chẩn đoán, dựa trên sự nhận biết các yếu tố chủ quan này, thực ra không phải là vấn đề rắc rối và phức tạp như ngày nay chúng có vẻ đối với đạo sinh của các lý thuyết huyền bí học cao cấp. Các y sĩ trong Kỷ Nguyên Mới cuối cùng sẽ biết đủ để liên hệ các mãnh lực cung khác nhau này với các trung tâm thích hợp của chúng; do đó họ sẽ biết loại mãnh lực nào chịu trách nhiệm cho các tình trạng—tốt hay xấu—trong bất kỳ vùng đặc thù nào của cơ thể. Một ngày nào đó, khi nhiều nghiên cứu và khảo sát hơn đã được tiến hành, khoa học y học sẽ được xây dựng trên sự kiện về thể sinh lực và các năng lượng cấu thành của nó. Khi ấy sẽ được khám phá rằng khoa học này sẽ đơn giản hơn nhiều và ít phức tạp hơn khoa học y học hiện nay. Ngày nay, y học đã đạt đến một mức độ phức tạp đến nỗi tất yếu cần đến các chuyên gia có thể xử lý một vùng của cơ thể và ảnh hưởng của nó lên toàn bộ hiện thể hồng trần. Người thầy thuốc đa khoa trung bình không thể đối phó với khối lượng tri thức chi tiết hiện nay đã được thu thập liên quan đến thể xác, các hệ thống khác nhau của nó, sự tương liên của chúng và ảnh hưởng của chúng lên nhiều cơ quan cấu thành toàn thể con người. Phẫu thuật sẽ vẫn bận tâm với những nhu cầu giải phẫu của khung thân con người; y học chẳng bao lâu nữa sẽ chuyển trọng tâm chú ý sang thể dĩ thái và các hệ tuần hoàn năng lượng đi kèm của nó, các mối liên hệ đan xen của nó và dòng chảy giữa bảy trung tâm, giữa chính các trung tâm và các vùng mà chúng kiểm soát. [277] Điều này sẽ đánh dấu một bước tiến khổng lồ trong cách tiếp cận khôn ngoan và hữu ích; nó sẽ tạo ra một sự đơn giản hóa căn bản; nó sẽ dẫn đến những phương pháp chữa lành đúng đắn hơn, đặc biệt khi thông nhãn được phát triển và được khoa học thừa nhận, và được biết là một sự mở rộng của một giác quan bình thường.
|
|
10. As the true astrology comes into its own and is developed into a reputable science, the charts of the soul and of the personality can be related to each other; then the etheric body will be checked by correct astrological conclusions, and the physician will be on far surer ground than he now is. The astrology of the past concerned the life of the personality; the astrology of the future will indicate the purpose of the soul, and will completely revolutionise medicine (among other things). It must, however, be lifted out of the hands of those interested in predictional astrology, out of the hands of the thousands who at this time spend much time “casting” horoscopes (seeking to interpret their usually erroneous conclusions), and placed in the hands of trained mathematical scientists and in the hands of those who have given as much time to scientific training along astrological lines as is now given to training a reputable physician, a chemist or a biologist.
|
10. Khi chiêm tinh học chân chính giành lại vị trí của mình và được phát triển thành một khoa học đáng kính trọng, các lá số của linh hồn và của phàm ngã có thể được liên hệ với nhau; khi đó thể dĩ thái sẽ được kiểm tra bằng những kết luận chiêm tinh chính xác, và vị y sĩ sẽ đứng trên nền tảng chắc chắn hơn nhiều so với hiện nay. Chiêm tinh học của quá khứ liên quan đến đời sống của phàm ngã; chiêm tinh học của tương lai sẽ chỉ ra mục đích của linh hồn, và sẽ hoàn toàn cách mạng hóa y học (cùng nhiều điều khác). Tuy nhiên, nó phải được đưa ra khỏi tay những người quan tâm đến chiêm tinh dự đoán, khỏi tay hàng ngàn người hiện nay dành nhiều thời gian để “lập” lá số chiêm tinh (cố gắng giải thích những kết luận thường sai lầm của họ), và được đặt vào tay các nhà khoa học toán học được đào luyện và vào tay những người đã dành nhiều thời gian cho sự đào luyện khoa học theo đường hướng chiêm tinh như hiện nay người ta dành để đào luyện một y sĩ đáng kính, một nhà hóa học hay một nhà sinh học.
|
|
11. These astrological findings will not only be related to the personality and the soul charts, but will also enter the field of medicine, particularly in relation to the etheric body. Today, any astrological investigation done in the field of medicine has relation to physical disease within the physical body; in the future, it will concentrate upon the condition of the etheric vehicle. This is a new and imminent development in astrological research.
|
11. Những phát hiện chiêm tinh này sẽ không chỉ liên hệ đến các lá số của phàm ngã và linh hồn, mà còn sẽ đi vào lĩnh vực y học, đặc biệt trong liên hệ với thể dĩ thái. Ngày nay, bất kỳ khảo sát chiêm tinh nào được thực hiện trong lĩnh vực y học đều liên hệ đến bệnh hồng trần trong thể xác; trong tương lai, nó sẽ tập trung vào tình trạng của hiện thể dĩ thái. Đây là một sự phát triển mới và sắp xảy ra trong nghiên cứu chiêm tinh.
|
|
[278]
|
[278]
|
|
Another difficulty which I have to face (as I seek to present to you the medicine of the future) is that I think in terms of cycles and you think in terms of a few brief years. What I am in reality attempting to do is to indicate the lines along which medical research will trend during the next two hundred years. The effort of the present day approach is how to cure a person here and now; this is a natural reaction, and advanced thinkers seek to be able to do this at this time through the medium of so-called esoteric and mental modes of healing. Yet little is known of the make-up of the vital body and practically no background of research in this field exists. Modern medicine is of very ancient origin. Over the centuries it has grown and developed until modern skill, modern research, modern techniques and modern methods of healing and of cure are amazingly successful. This is oft forgotten in the emphasis laid by the adherents of new and untried schools upon the failures to cure, which they attribute to wrong methods and fail to allow for karmic limitations. The success of modern medicine is today so great that millions of people are kept alive—if not cured—who in earlier days and with less scientific aptitude would normally have died. In this developed skill and knowledge, and in this aptitude in the care of the physical mechanism, is today to be found a major world problem—the problem of the overpopulation of the planet, leading to the herd life of humanity and the consequent economic problem—to mention only one of the incidental difficulties of this success. This “unnatural” preservation of life is the cause of much suffering and is a fruitful source of war, being contrary to the karmic intent of the planetary Logos.
|
Một khó khăn khác mà tôi phải đối diện (khi tìm cách trình bày với các bạn nền y học của tương lai) là tôi suy nghĩ theo chu kỳ còn các bạn suy nghĩ theo vài năm ngắn ngủi. Điều mà tôi thực sự đang cố gắng làm là chỉ ra những đường hướng mà theo đó nghiên cứu y học sẽ tiến triển trong hai trăm năm tới. Nỗ lực của cách tiếp cận ngày nay là làm sao chữa lành một người ở đây và ngay bây giờ; đó là một phản ứng tự nhiên, và những nhà tư tưởng tiến bộ tìm cách có thể làm điều này vào lúc này qua trung gian của những phương thức chữa lành được gọi là huyền bí và trí tuệ. Tuy nhiên, người ta biết rất ít về cấu tạo của thể sinh lực và thực tế là không có nền tảng nghiên cứu nào trong lĩnh vực này. Y học hiện đại có nguồn gốc rất cổ xưa. Qua nhiều thế kỷ nó đã tăng trưởng và phát triển cho đến khi kỹ năng hiện đại, nghiên cứu hiện đại, kỹ thuật hiện đại và các phương pháp chữa lành và trị liệu hiện đại đạt thành công đáng kinh ngạc. Điều này thường bị quên lãng trong sự nhấn mạnh mà những người theo các trường phái mới và chưa được thử nghiệm đặt vào các thất bại trong chữa trị, những điều mà họ quy cho các phương pháp sai lầm và không chịu tính đến các giới hạn nghiệp quả. Thành công của y học hiện đại ngày nay lớn đến mức hàng triệu người được giữ cho sống—nếu không được chữa khỏi—mà trong những ngày trước và với năng lực khoa học kém hơn hẳn lẽ ra đã chết. Trong kỹ năng và tri thức phát triển này, và trong năng lực chăm sóc bộ máy hồng trần này, ngày nay có thể tìm thấy một vấn đề lớn của thế giới—vấn đề dân số quá đông của hành tinh, dẫn đến đời sống bầy đàn của nhân loại và hệ quả là vấn đề kinh tế—chỉ mới nêu một trong những khó khăn ngẫu phát của thành công này. Sự bảo tồn sự sống “không tự nhiên” này là nguyên nhân của nhiều đau khổ và là một nguồn phong phú của chiến tranh, vì nó trái với ý định nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế.
|
|
With this vast problem, I cannot here deal. I can only indicate it. It will be solved when the fear of death disappears and when humanity learns the significance of time and [279] the meaning of cycles. It will be simplified when true astrological findings become possible, when man knows the hour of his departure from this outer plane, and masters the technique of “withdrawal” and the methods of abstracting himself consciously from the prison of the body. But much research has to take place first. The fact, however, that the problem is recognised and that speculation and investigation are rife, indicate that the time has come—karmically and from the angle of human evolutionary development—for a study of the etheric body, of the conditioning rays which govern its manifestation in space, and of astrology, which governs its manifestation in time.
|
Với vấn đề to lớn này, ở đây tôi không thể bàn đến. Tôi chỉ có thể chỉ ra nó. Nó sẽ được giải quyết khi nỗi sợ chết biến mất và khi nhân loại học được ý nghĩa của thời gian và [279] ý nghĩa của các chu kỳ. Nó sẽ được đơn giản hóa khi những phát hiện chiêm tinh chân chính trở nên khả hữu, khi con người biết giờ phút rời khỏi cõi bên ngoài này của mình, và làm chủ kỹ thuật “rút lui” cùng các phương pháp tự tách mình ra một cách hữu thức khỏi nhà tù của thể xác. Nhưng trước hết còn phải có nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, sự kiện rằng vấn đề này được nhận biết và rằng suy đoán cùng khảo sát đang lan tràn cho thấy thời điểm đã đến—về mặt nghiệp quả và từ góc độ phát triển tiến hoá của con người—cho một sự nghiên cứu về thể dĩ thái, về các cung tác động chi phối sự biểu lộ của nó trong không gian, và về chiêm tinh học, vốn chi phối sự biểu lộ của nó trong thời gian.
|
|
It is for this reason that the world today is full of groups in revolt against orthodox medicine—wrongly in revolt, because in their fanatical enthusiasm for their particular approach to the problem of healing, they ignore the beneficent aspects of developed medical science. They thus attempt to throw overboard the contribution of the ages to man’s knowledge of the human organism, its interrelations and its care, cure and preservation; they fail to profit from past wisdom, but prefer to set sail upon the sea of research in a spirit of revolt, full of prejudice and totally unequipped for the task in hand.
|
Chính vì lý do này mà thế giới ngày nay đầy những nhóm nổi dậy chống lại y học chính thống—nổi dậy một cách sai lầm, bởi vì trong sự nhiệt thành cuồng tín đối với cách tiếp cận riêng của họ đối với vấn đề chữa lành, họ phớt lờ những phương diện từ thiện của khoa học y học đã phát triển. Vì thế họ cố gắng quẳng xuống biển sự đóng góp của các thời đại vào tri thức của con người về cơ thể con người, các mối tương liên của nó và việc chăm sóc, chữa trị và bảo tồn nó; họ không chịu hưởng lợi từ minh triết quá khứ, mà thích ra khơi trên biển nghiên cứu trong tinh thần nổi loạn, đầy thành kiến và hoàn toàn không được trang bị cho nhiệm vụ trước mắt.
|
|
Naturopaths of many kinds, professors of methods of healing by electricity or light and colour, food dietitians with infallible cures for all diseases, the many who practice systems founded on the Abrams mode of diagnosis, and many advocates of the chiropractic methods, as well as the various healing systems which are completely divorced from medicine but which undertake to bring about cures, are all indicative of new and hopeful trends; they are nevertheless extremely experimental in nature, and are so fanatically endorsed, so exclusive of all recognised methods of healing aid (except their own), so violently opposed to all the findings [280] of the past, and so unwilling to cooperate with orthodox medicine that, in many cases, they constitute a definite and real danger to the public. It is largely their own faulty approach which is responsible for this; their undoubted ignorance of the nature of the human body, their attack on existent medical practices (even of proven value), and their biassed belief in the infallibility of their experimental techniques, have brought them under the attack of the rigidly orthodox medical practitioners and of the fundamentalists within the ring-pass-not of academic medicine. Yet within the ranks of medicine are many enlightened men who would gladly cooperate if the small and vociferous cults would relinquish their exclusiveness and be willing to cooperate and accept that which the divine instinct in man down the ages has taught in connection with the healing of the human body. It will be through the collaboration of the new experimental schools and the older and proven methods that the medicine of the future will be developed. The value of all the many groups—good and indifferent—lies in the fact that they point the way towards new trends and indicate the lines along which the medicine of the future can enrich itself and become better adapted to man’s need. They are too experimental as yet to be trustworthy, and are not yet scientifically proved. They are pioneering groups, and have a real contribution to make, but this will only be possible if they refuse to divorce themselves from the past and are willing to compromise in the present. Academic medicine is the result of the God-given gifts of the human mind; it is a proven divine expression and a most beneficent force in the world, in spite of human weakness, commercial exploitation and many mistakes. It is the same with religion. Both of these great sciences must eliminate the reactionary and fundamentalist positions, and then proceed with an [281] open mind into the new ways of approach to divinity and of approach to physical well-being.
|
Các nhà chữa bệnh bằng phương pháp tự nhiên thuộc nhiều loại, các giáo sư về những phương pháp chữa trị bằng điện hoặc ánh sáng và màu sắc, các chuyên gia dinh dưỡng với những cách chữa được cho là không sai lầm đối với mọi bệnh tật, nhiều người thực hành các hệ thống đặt nền trên phương pháp chẩn đoán của Abrams, và nhiều người chủ trương các phương pháp nắn chỉnh cột sống, cũng như các hệ thống chữa trị khác nhau hoàn toàn tách rời y học nhưng vẫn đảm nhận việc chữa lành, tất cả đều là những dấu hiệu của các khuynh hướng mới và đầy hy vọng; tuy nhiên, chúng lại có bản chất cực kỳ thử nghiệm, và được tán thành một cách cuồng tín, loại trừ mọi phương pháp chữa trị được công nhận (ngoại trừ phương pháp của chính họ), chống đối dữ dội mọi phát hiện [280] của quá khứ, và không sẵn lòng hợp tác với y học chính thống đến mức, trong nhiều trường hợp, chúng tạo thành một mối nguy hiểm rõ rệt và thực sự cho công chúng. Phần lớn điều này là do chính cách tiếp cận sai lầm của họ; sự thiếu hiểu biết không thể phủ nhận của họ về bản chất của thể xác con người, sự công kích của họ đối với các thực hành y khoa hiện có (ngay cả những thực hành đã được chứng minh là có giá trị), và niềm tin thiên lệch của họ vào tính không sai lầm của các kỹ thuật thử nghiệm của mình, đã khiến họ bị các nhà hành nghề y khoa chính thống cứng nhắc và những người theo chủ nghĩa nền tảng trong vòng-giới-hạn của y học hàn lâm công kích. Tuy nhiên, trong hàng ngũ y học có nhiều người sáng suốt sẵn lòng hợp tác nếu các giáo phái nhỏ nhưng ồn ào ấy từ bỏ tính độc quyền của mình và sẵn lòng hợp tác cũng như chấp nhận điều mà bản năng thiêng liêng trong con người qua bao thời đại đã dạy liên quan đến việc chữa lành thể xác con người. Chính nhờ sự cộng tác giữa các trường phái thử nghiệm mới và các phương pháp cũ đã được chứng minh mà nền y học tương lai sẽ được phát triển. Giá trị của tất cả nhiều nhóm ấy—tốt và tầm thường—nằm ở chỗ họ chỉ ra con đường hướng tới các khuynh hướng mới và cho thấy những đường lối mà theo đó nền y học tương lai có thể tự làm phong phú thêm và trở nên thích hợp hơn với nhu cầu của con người. Hiện nay họ còn quá thử nghiệm để có thể đáng tin cậy, và chưa được chứng minh một cách khoa học. Họ là những nhóm tiên phong, và có một đóng góp thực sự để thực hiện, nhưng điều này chỉ có thể xảy ra nếu họ từ chối tách mình khỏi quá khứ và sẵn lòng thỏa hiệp trong hiện tại. Y học hàn lâm là kết quả của những tặng phẩm do Thượng đế ban cho nơi trí tuệ con người; đó là một biểu hiện thiêng liêng đã được chứng minh và là một mãnh lực vô cùng từ thiện trong thế giới, bất chấp sự yếu kém của con người, sự khai thác thương mại và nhiều sai lầm. Tôn giáo cũng vậy. Cả hai ngành khoa học lớn lao này phải loại bỏ các lập trường phản động và nền tảng, rồi sau đó tiến bước với một [281] tâm trí cởi mở vào những phương cách tiếp cận mới đối với thiên tính và đối với sự an lành hồng trần.
|
|
It might therefore be said that the main contribution which I am making at this time is to indicate the causes of disease and ill health which are not recognised by orthodox medicine, which deals with the effects of these subtle causes as they work out in the physical body and the nervous system. I am not dealing (as I have earlier warned you) with the symptoms of disease, with medical diagnosis or with systems of applied physical means to bring about cures or to ameliorate conditions. These have kept pace with man’s growing capacity to discover and to know.
|
Do đó có thể nói rằng đóng góp chính mà tôi đang thực hiện vào lúc này là chỉ ra những nguyên nhân của bệnh tật và tình trạng sức khỏe kém mà y học chính thống không công nhận, trong khi y học chính thống xử lý các hiệu quả của những nguyên nhân vi tế ấy khi chúng biểu hiện trong thể xác và hệ thần kinh. Tôi không đề cập đến (như tôi đã cảnh báo các bạn trước đây) các triệu chứng của bệnh, việc chẩn đoán y khoa hay các hệ thống áp dụng những phương tiện hồng trần để đem lại sự chữa lành hoặc cải thiện tình trạng. Những điều này đã theo kịp năng lực ngày càng tăng của con người trong việc khám phá và hiểu biết.
|
|
Let me reiterate that I am laying the foundation for an approach to the subject of the physical body in health and disease which will deal primarily with the etheric body. This should eventually lead to an accumulation of knowledge anent energy, its focal points and distribution in the etheric body, which will equal that already gained in the field of exact physical knowledge, and that exact knowledge is a fact.
|
Hãy để tôi nhắc lại rằng tôi đang đặt nền móng cho một cách tiếp cận đối với đề tài thể xác trong sức khỏe và bệnh tật, cách tiếp cận này sẽ chủ yếu bàn đến thể dĩ thái. Cuối cùng điều này sẽ dẫn đến sự tích lũy tri thức liên quan đến năng lượng, các điểm hội tụ của nó và sự phân phối của nó trong thể dĩ thái, tương đương với tri thức đã đạt được trong lĩnh vực tri thức hồng trần chính xác, và tri thức chính xác ấy là một sự kiện.
|
|
The study of inherited disease indicates a faint recognition of man’s karmic liabilities and karmic tendencies. A mistake lies however in the belief that these tendencies are to be found in the germs of life and of substance, brought together at the moment of conception, and therefore that the father or the mother is responsible for the transmission. Such is not the case. The subject in incarnation has—from the angle of the soul—definitely and consciously chosen his parents for what they can contribute to his physical make-up whilst in incarnation. The vital body is therefore of such a nature that the man is predisposed to a particular type of infection or of disease; the physical body is of such a nature that its line of least resistance permits of the appearance and control of that which the [282] vital body makes possible; the incarnating soul produces, in its creative work and in its vital vehicle, a particular constitution to which the parents chosen contribute a definite tendency. The man is therefore nonresistant to certain types of disease. This is determined by the karma of the man.
|
Việc nghiên cứu bệnh di truyền cho thấy một sự nhận biết mờ nhạt về các trách nhiệm nghiệp quả và các khuynh hướng nghiệp quả của con người. Tuy nhiên, sai lầm nằm ở niềm tin rằng các khuynh hướng này được tìm thấy trong các mầm sống và chất liệu, được tập hợp lại vào lúc thụ thai, và vì vậy người cha hoặc người mẹ chịu trách nhiệm về sự truyền đạt ấy. Không phải như vậy. Chủ thể đang lâm phàm—xét từ góc độ linh hồn—đã dứt khoát và có ý thức chọn cha mẹ của y vì những gì họ có thể đóng góp cho cấu tạo hồng trần của y trong khi lâm phàm. Do đó thể sinh lực/thể dĩ thái có bản chất sao cho con người bị thiên về một loại nhiễm bệnh hoặc bệnh tật nào đó; thể xác có bản chất sao cho con đường ít trở ngại nhất của nó cho phép sự xuất hiện và chi phối của điều mà [282] thể sinh lực/thể dĩ thái làm cho trở nên khả hữu; linh hồn nhập thể tạo ra, trong công việc sáng tạo của nó và trong vận cụ sinh lực của nó, một thể chất đặc thù mà cha mẹ được chọn góp phần tạo nên một khuynh hướng xác định. Vì vậy con người không có sức đề kháng đối với một số loại bệnh nhất định. Điều này được quyết định bởi nghiệp quả của con người.
|
|
It is well known to students of the esoteric sciences that the physical body is simply an automaton, responsive to and actuated by a subtler body of energies which are a true expression of the point in evolution. This point in evolution may be that of personality control, through one or other of its bodies, or of soul control. These are facts which the medical profession must grasp, and when it does a great step forward will have been made. Esoteric students are willing to recognise that the physical body is automatic in its response to emotional, mental or soul impression; so closely, however, is the etheric body interwoven with the physical vehicle that it is well nigh impossible to separate the two in consciousness; this will not be proven or possible until the science of etheric energy and the development of clairvoyant perception demonstrate the truth of what I say. This is again a needed repetition.
|
Các đạo sinh của các khoa học huyền bí đều biết rõ rằng thể xác chỉ đơn thuần là một bộ máy tự động, đáp ứng và được thúc đẩy bởi một thể năng lượng vi tế hơn, vốn là biểu hiện chân thực của điểm tiến hoá. Điểm tiến hoá này có thể là điểm của sự kiểm soát của phàm ngã, thông qua một hay một thể nào khác của nó, hoặc của sự kiểm soát của linh hồn. Đây là những sự kiện mà giới y khoa phải nắm bắt, và khi họ làm được điều đó thì một bước tiến lớn sẽ được thực hiện. Các đạo sinh huyền bí sẵn lòng công nhận rằng thể xác là tự động trong sự đáp ứng của nó đối với ấn tượng cảm xúc, trí tuệ hoặc linh hồn; tuy nhiên, thể dĩ thái lại đan xen chặt chẽ với vận cụ hồng trần đến mức gần như không thể tách rời hai thể ấy trong tâm thức; điều này sẽ không được chứng minh hoặc trở nên khả hữu cho đến khi khoa học về năng lượng dĩ thái và sự phát triển của tri giác thông nhãn chứng minh chân lý của điều tôi nói. Đây lại là một sự nhắc lại cần thiết.
|
|
Medical science, through its study of the nervous system and its recognition of the power of thought over the physical body, is moving rapidly in a right direction. When it admits, in relation to the physical body, that “energy follows thought,” and then begins to experiment with the concept of thought currents (as they are erroneously called) which are directed to certain areas of the etheric body—where the esotericists posit the existence of energy points or centres—much will then be discovered. Christian Science had a sound conception in its original basic concept of the mind as a permanently existent factor; its overemphasis upon the mind, its idealistic presentation of human nature, [283] its expectancy of man’s capacity to demonstrate today and immediately as a fully manifested son of God (with no intermediate or necessary unfoldments), and its contradictory position of using the energy of the mind for mainly physical requirements have soundly negated its basic tenets. Otherwise Man might have been permanently deluded. Had Christian Science fulfilled the original intention of the group of initiates who sought to influence humanity through its agency, and had it developed the idea correctly that energy follows thought, medical science would have greatly benefited.
|
Khoa học y học, thông qua việc nghiên cứu hệ thần kinh và sự công nhận quyền năng của tư tưởng đối với thể xác, đang nhanh chóng tiến theo một hướng đúng đắn. Khi nó thừa nhận, trong mối liên hệ với thể xác, rằng “năng lượng đi theo tư tưởng,” rồi bắt đầu thử nghiệm với khái niệm các dòng tư tưởng (như chúng bị gọi sai) được hướng đến những khu vực nhất định của thể dĩ thái—nơi các nhà bí truyền học xác định sự hiện hữu của các điểm năng lượng hay các trung tâm—thì khi đó nhiều điều sẽ được khám phá. Christian Science đã có một quan niệm đúng đắn trong khái niệm nền tảng ban đầu của nó về trí tuệ như một yếu tố tồn tại thường hằng; sự nhấn mạnh quá mức của nó vào trí tuệ, cách trình bày duy tâm của nó về bản chất con người, [283] sự mong đợi của nó về năng lực của con người có thể biểu hiện ngay hôm nay và tức khắc như một con của Thượng đế được biểu lộ trọn vẹn (không có các giai đoạn trung gian hay sự khai mở cần thiết), và lập trường mâu thuẫn của nó khi sử dụng năng lượng của trí tuệ chủ yếu cho các nhu cầu hồng trần, đã phủ nhận một cách triệt để các giáo điều nền tảng của nó. Nếu không, con người có thể đã bị mê lầm vĩnh viễn. Nếu Christian Science đã hoàn thành ý định ban đầu của nhóm các điểm đạo đồ tìm cách tác động lên nhân loại thông qua cơ quan này, và nếu nó đã phát triển đúng đắn ý tưởng rằng năng lượng đi theo tư tưởng, thì khoa học y học đã được hưởng lợi rất nhiều.
|
|
Its presentation was both too high and too low, and a great opportunity was lost. Christian Science has failed from the angle of the Hierarchy, and its usefulness has been largely negated.
|
Cách trình bày của nó vừa quá cao vừa quá thấp, và một cơ hội lớn đã bị bỏ lỡ. Christian Science đã thất bại xét từ góc độ của Thánh đoàn, và tính hữu dụng của nó phần lớn đã bị vô hiệu hóa.
|
|
Healers and healing groups work as yet at a great disadvantage; but they can begin now to work, and their work is of a twofold nature:
|
Các nhà chữa lành và các nhóm chữa lành hiện vẫn làm việc trong một tình thế rất bất lợi; nhưng ngay bây giờ họ có thể bắt đầu làm việc, và công việc của họ có tính nhị phân:
|
|
1. They can, through the power of directed thought, pour energy into the centre which is the determining factor in that area of the physical body where the trouble lies. If, for instance, the patient is suffering from such a difficulty as gastric ulcer, the stimulation of the solar plexus centre may produce a cure, provided that the work done is purely mental and that the results expected are purely physical. Otherwise the emotional nature will share in the stimulation and real difficulty will arise.
|
1. Họ có thể, thông qua quyền năng của tư tưởng được định hướng, tuôn năng lượng vào trung tâm là yếu tố quyết định trong khu vực của thể xác nơi có rối loạn. Chẳng hạn, nếu bệnh nhân đang chịu một khó khăn như loét dạ dày, sự kích thích trung tâm tùng thái dương có thể tạo ra sự chữa lành, miễn là công việc được thực hiện thuần túy bằng trí tuệ và các kết quả được mong đợi là thuần túy hồng trần. Nếu không, bản chất cảm xúc sẽ cùng chia sẻ sự kích thích và khó khăn thực sự sẽ phát sinh.
|
|
2. They can stimulate a centre higher than the one controlling a particular area and thus—by the intensification of the higher centre—reduce the vitality of the lower. If, for instance, there is disease or trouble in connection with the organs of generation [284] (as for instance disease of the prostate gland), then the throat centre should receive attention. It is that centre which must eventually be the recipient of the energy of the lower creative aspect or correspondence. This is called “the technique of the withdrawal of the fire”; by its means what you call overstimulation in certain cases, or inflammation in others, can be stopped.
|
2. Họ có thể kích thích một trung tâm cao hơn trung tâm kiểm soát một khu vực nhất định và như thế—bằng sự tăng cường của trung tâm cao hơn—làm giảm sinh lực của trung tâm thấp hơn. Chẳng hạn, nếu có bệnh hoặc rối loạn liên quan đến các cơ quan sinh sản [284] (ví dụ như bệnh của tuyến tiền liệt), thì trung tâm cổ họng cần được chú ý. Chính trung tâm ấy cuối cùng phải là nơi tiếp nhận năng lượng của phương diện sáng tạo thấp hơn hay đối phần của nó. Điều này được gọi là “kỹ thuật rút lửa”; nhờ đó điều mà các bạn gọi là sự kích thích quá mức trong một số trường hợp, hoặc viêm nhiễm trong những trường hợp khác, có thể được chặn lại.
|
|
These two ways of using energy and thought control form the occult basis for the two fundamental methods used in directing energy in diseased areas. They produce, in the one case, an intensification of the life of the associated centre, with a consequent definite effect upon the diseased area; or they lessen the inflow of force in the other case, and thus weaken the quality of the disease. It will be apparent, therefore, that much must be known of the effects of these two basic and different techniques before a healer dare work. Otherwise he might greatly increase the trouble in the diseased area and even succeed (which frequently happens) in killing the patient.
|
Hai cách sử dụng năng lượng và sự kiểm soát bằng tư tưởng này tạo thành nền tảng huyền bí cho hai phương pháp căn bản được dùng trong việc định hướng năng lượng vào các khu vực bệnh hoạn. Trong trường hợp thứ nhất, chúng tạo ra sự tăng cường sự sống của trung tâm liên hệ, với một hiệu quả rõ rệt tiếp theo trên khu vực bệnh; hoặc trong trường hợp kia, chúng làm giảm dòng mãnh lực tuôn vào, và như vậy làm suy yếu phẩm tính của bệnh. Do đó, hiển nhiên là cần phải biết rất nhiều về các hiệu quả của hai kỹ thuật căn bản và khác biệt này trước khi một nhà chữa lành dám làm việc. Nếu không, y có thể làm tăng mạnh rối loạn trong khu vực bệnh và thậm chí còn thành công (điều này thường xảy ra) trong việc giết chết bệnh nhân.
|
|
There is another point which I would seek to emphasise. In all healing methods of an esoteric nature, it is essential that sound medical practices of an orthodox kind accompany the subtler modes of help. It is in the wise combination of the two approaches, and in the cooperative work of the orthodox physician and of the occult healer or healing group, that the soundest results will be produced.
|
Có một điểm khác mà tôi muốn nhấn mạnh. Trong mọi phương pháp chữa lành có bản chất huyền bí, điều thiết yếu là các thực hành y khoa lành mạnh thuộc loại chính thống phải đi kèm với các phương thức trợ giúp vi tế hơn. Chính trong sự kết hợp khôn ngoan của hai cách tiếp cận ấy, và trong công việc hợp tác của bác sĩ chính thống với nhà chữa lành huyền bí hoặc nhóm chữa lành, mà các kết quả vững chắc nhất sẽ được tạo ra.
|
|
Students who attempt to heal will therefore need to realise two things: the nature of the disease, as diagnosed by a good physician, and the centre which controls the area of the disease. The safest plan for the average student of healing or for a healing group is to work in cooperation with some reputable doctor and in relation to the centre [285] which controls the diseased area. Initiates, in their healing work, deal with the higher correspondence of the controlling centre, working always through the analogous emotional and mental centres. This is neither possible nor permissible to the ordinary healing group. The higher the centres considered, involved and dealt with, the more potent the results, and therefore the greater care required.
|
Vì vậy, các đạo sinh cố gắng chữa lành sẽ cần nhận ra hai điều: bản chất của bệnh, như được chẩn đoán bởi một bác sĩ giỏi, và trung tâm kiểm soát khu vực bệnh. Kế hoạch an toàn nhất cho đạo sinh chữa lành trung bình hoặc cho một nhóm chữa lành là làm việc hợp tác với một bác sĩ có uy tín nào đó và liên hệ với trung tâm [285] kiểm soát khu vực bệnh. Các điểm đạo đồ, trong công việc chữa lành của mình, xử lý đối phần cao hơn của trung tâm kiểm soát, luôn luôn làm việc thông qua các trung tâm cảm xúc và trí tuệ tương đồng. Điều này không thể cũng không được phép đối với nhóm chữa lành thông thường. Các trung tâm được xem xét, liên hệ và xử lý càng cao thì kết quả càng mạnh, và vì vậy sự cẩn trọng cần thiết càng lớn.
|
|
The whole process is one of either stimulating activity or of withdrawing energy, of making more active an allied centre and thus abstracting attention from the centre governing the diseased area or organ, or of balancing the energies flowing between two centres and thus producing an equable and even interplay. The more the neophyte studies this subject of healing the more complex it will appear, until the time comes when he can work in collaboration with some physician who has the inner vision and can see the centres, or with patients who know within themselves their own destiny and can collaborate with some group which has sound occult knowledge, which can ascertain the patient’s rays and which knows at least the nature of his disposition or his “indisposition,” through consulting his natal chart.
|
Toàn bộ tiến trình là một tiến trình hoặc kích thích hoạt động hoặc rút năng lượng, hoặc làm cho một trung tâm liên hệ trở nên hoạt động hơn và như vậy rút sự chú ý khỏi trung tâm chi phối khu vực hay cơ quan bệnh, hoặc cân bằng các năng lượng tuôn chảy giữa hai trung tâm và như vậy tạo ra một sự tương tác điều hòa và đồng đều. Người sơ cơ càng nghiên cứu đề tài chữa lành này thì nó sẽ càng có vẻ phức tạp, cho đến khi đến lúc y có thể làm việc cộng tác với một bác sĩ có linh thị bên trong và có thể thấy các trung tâm, hoặc với những bệnh nhân tự biết trong chính mình định mệnh của họ và có thể cộng tác với một nhóm có tri thức huyền bí vững chắc, có thể xác định các cung của bệnh nhân và ít nhất biết được bản chất khí chất hay “sự bất ổn” của y, thông qua việc tham khảo lá số chiêm tinh bản mệnh của y.
|
|
You might ask, therefore, in view of all this, if it is possible for you to do definite healing work that will be effective, sound, right and permissible. The risks of over- or understimulation seem too great; the knowledge of the healer seems too small to permit experiment, and the karma of the patient is necessarily (for the average healer) not yet ascertainable.
|
Do đó, xét theo tất cả điều này, các bạn có thể hỏi liệu các bạn có thể thực hiện công việc chữa lành xác định nào có hiệu quả, vững chắc, đúng đắn và được phép hay không. Những rủi ro của sự kích thích quá mức hoặc không đủ dường như quá lớn; tri thức của nhà chữa lành dường như quá ít để cho phép thử nghiệm, và nghiệp quả của bệnh nhân tất yếu (đối với nhà chữa lành trung bình) vẫn chưa thể xác định được.
|
|
To this I would reply that all work of a pioneering and experimental nature has always its own special risks. Many have been the casualties of science, and particularly of medical science, in the early days of modern medicine and surgery. But this never deterred the sincere investigator or slackened the growth of knowledge; in these days of pioneering [286] in the field of occult healing, the same courage must be shown and the same risks assumed. The safeguard from the strictly legal and human angle will be that the patient will be in the hands of a reputable physician for diagnosis and medical care during the time that the occult healer is endeavouring to be of vital helpfulness.
|
Tôi xin trả lời rằng mọi công việc có tính tiên phong và thử nghiệm đều luôn có những rủi ro đặc biệt riêng của nó. Đã có biết bao tổn thất của khoa học, và đặc biệt của khoa học y học, trong những ngày đầu của y học và phẫu thuật hiện đại. Nhưng điều đó chưa bao giờ ngăn cản nhà nghiên cứu chân thành hay làm chậm sự tăng trưởng của tri thức; trong những ngày tiên phong [286] này trong lĩnh vực chữa lành huyền bí, cũng phải biểu lộ cùng một lòng can đảm và chấp nhận cùng những rủi ro ấy. Sự bảo đảm xét từ góc độ pháp lý và nhân loại nghiêm ngặt sẽ là bệnh nhân được đặt trong tay một bác sĩ có uy tín để chẩn đoán và chăm sóc y khoa trong suốt thời gian mà nhà chữa lành huyền bí đang cố gắng trợ giúp một cách thiết yếu.
|
|
The work of the healer and of the healing groups will therefore be supplementary to the orthodox care; results will have to be carefully watched and noted on both sides. Any group which is formed for healing should work under certain determined policies, and here are a few which I would suggest as essential to success in this transitional period:
|
Vì vậy, công việc của nhà chữa lành và của các nhóm chữa lành sẽ có tính bổ sung cho sự chăm sóc chính thống; các kết quả sẽ phải được theo dõi và ghi nhận cẩn thận từ cả hai phía. Bất kỳ nhóm nào được thành lập để chữa lành đều nên làm việc theo những chính sách xác định nào đó, và đây là một vài điều mà tôi gợi ý là thiết yếu cho thành công trong giai đoạn chuyển tiếp này:
|
|
1. The patient to be healed (or helped, if healing is not possible) should always be in the hands of a good and reputable doctor, and if not, should be encouraged to consult one.
|
1. Bệnh nhân cần được chữa lành (hoặc được giúp đỡ, nếu chữa lành là không thể) phải luôn ở trong tay một bác sĩ giỏi và có uy tín, và nếu không, cần được khuyến khích đi khám một người như vậy.
|
|
2. The nature of the disease should be known to the group, and should be determined by careful, orthodox medical diagnosis.
|
2. Bản chất của bệnh cần được nhóm biết rõ, và phải được xác định bằng chẩn đoán y khoa chính thống cẩn thận.
|
|
3. The age of the patient, his birth date and some information anent his circumstances should also be known, so as to provide a focal point of interest, and a magnetic area should be constructed around the patient which will attract the thought-directed energy of the group.
|
3. Tuổi của bệnh nhân, ngày sinh của y và một số thông tin liên quan đến hoàn cảnh của y cũng cần được biết, để cung cấp một điểm hội tụ của sự quan tâm, và một khu vực từ tính cần được kiến tạo quanh bệnh nhân để thu hút năng lượng do tư tưởng định hướng của nhóm.
|
|
4. The healer or the healing group should have a general grasp of the nature and the anatomy of the body, the placement of the various organs in the body and the position and nature of the centres governing the diseased area or areas. Charts giving this information should be studied.
|
4. Nhà chữa lành hoặc nhóm chữa lành cần có một sự nắm bắt tổng quát về bản chất và giải phẫu của thể, vị trí của các cơ quan khác nhau trong thể và vị trí cũng như bản chất của các trung tâm chi phối khu vực hay các khu vực bệnh. Cần nghiên cứu các biểu đồ cung cấp thông tin này.
|
|
5. The faculty of imagination and the power of visualisation should be emphasised in a healing group, and the [287] ability should be developed to send streams of energy to the patient and to the area in the patient’s body where the trouble lies.
|
5. Khả năng tưởng tượng và quyền năng hình dung cần được nhấn mạnh trong một nhóm chữa lành, và [287] cần phát triển khả năng gửi các dòng năng lượng đến bệnh nhân và đến khu vực trong thể của bệnh nhân nơi có rối loạn.
|
|
6. The healer or the healing group must remember that it is not mental energy only with which he works. He, for himself,
|
6. Nhà chữa lành hoặc nhóm chữa lành phải nhớ rằng không phải chỉ có năng lượng trí tuệ mà y làm việc cùng. Chính y, vì bản thân y,
|
|
a. Creates a thought of healing power.
|
a. Tạo ra một hình tư tưởng về quyền năng chữa lành.
|
|
b. That created focal point of concentrated attention becomes the directing agent for the healing force or prana.
|
b. Điểm hội tụ chú ý tập trung được tạo ra ấy trở thành tác nhân định hướng cho mãnh lực chữa lành hay prana.
|
|
c. This prana is neither mental nor astral in nature. It is pure planetary substance or living essence, and is that substance of which the vital body of the planet is made.
|
c. Prana này không có bản chất trí tuệ cũng không có bản chất cảm dục. Nó là chất liệu hành tinh thuần túy hay tinh chất sống, và là chất liệu mà thể sinh lực của hành tinh được tạo thành.
|
|
d. The healer or the healing group appropriates as much of this substance as is possible, and by the power of their united thought they direct it to and through the centre involved. Healing work is circulatory, and this must not be forgotten. The pranic energy (thought-directed) is not sent to the centre and there permitted to accumulate. It is passed through the centre, first of all to the organ involved or the area where difficulty is to be found, and then is sent out to the body as a totality. It might be regarded as a system of flushing, with a purificatory and stimulating effect.
|
d. Nhà chữa lành hoặc nhóm chữa lành chiếm dụng càng nhiều chất liệu này càng tốt, và bằng quyền năng của tư tưởng hợp nhất của họ, họ định hướng nó đến và xuyên qua trung tâm liên hệ. Công việc chữa lành có tính tuần hoàn, và điều này không được quên. Năng lượng prana (được tư tưởng định hướng) không được gửi đến trung tâm rồi để cho tích tụ ở đó. Nó được chuyển qua trung tâm, trước hết đến cơ quan liên hệ hoặc khu vực nơi có khó khăn, rồi sau đó được gửi ra toàn thể cơ thể. Điều này có thể được xem như một hệ thống tẩy rửa, với hiệu quả thanh lọc và kích thích.
|
|
It is only possible in these early days of experiment and work along these lines to give certain simple rules. Out of the results achieved experience will come, and the healing group will learn gradually how to work, when to change its methods, and what to notice.
|
Trong những ngày đầu của sự thử nghiệm và công việc theo các đường lối này, chỉ có thể đưa ra một số quy luật đơn giản. Từ các kết quả đạt được, kinh nghiệm sẽ đến, và nhóm chữa lành sẽ dần dần học được cách làm việc, khi nào thay đổi phương pháp của mình, và điều gì cần lưu ý.
|
|
[288]
|
[288]
|
|
From the start of work along these lines, records should be kept. In this aspect of the work the patient will frequently cooperate. Dates, incidental phenomena, changes for the better or the worse should be noted, along with information as is possible anent the patient’s general condition. For this reason, I recommend that in the early stages of this work healing be attempted only in connection with those who are well known to the members or who are put in the hands of the healing group by physicians or by those willing to give full information.
|
Ngay từ khi bắt đầu công việc theo các đường lối này, cần phải lưu giữ hồ sơ. Trong phương diện này của công việc, bệnh nhân thường sẽ hợp tác. Cần ghi lại ngày tháng, các hiện tượng ngẫu nhiên, những thay đổi tốt hơn hoặc xấu đi, cùng với càng nhiều thông tin càng tốt liên quan đến tình trạng chung của bệnh nhân. Vì lý do này, tôi khuyến nghị rằng trong các giai đoạn đầu của công việc này, chỉ nên thử chữa lành đối với những người mà các thành viên biết rõ hoặc được các bác sĩ hay những người sẵn lòng cung cấp đầy đủ thông tin giao cho nhóm chữa lành.
|
|
People who are so ill that they are not expected to live, or who are suffering from diseases which preclude ultimate recovery, should not be taken into the healing group for treatment, except with ameliorative results in mind. No neophyte knows enough of karma to work with confidence either at the task of health or of release by death. If, however, a patient gets worse whilst the group is working upon his case, he should not be dropped, but a definite and different technique can then be used to ease the path of death. In the next section I intend to touch upon the karma of death.
|
Những người bệnh nặng đến mức không được mong đợi sẽ sống, hoặc đang mắc những bệnh loại trừ khả năng hồi phục cuối cùng, không nên được đưa vào nhóm chữa lành để điều trị, ngoại trừ với mục đích làm giảm nhẹ. Không người sơ cơ nào biết đủ về nghiệp quả để làm việc một cách tự tin trong nhiệm vụ đem lại sức khỏe hay giải thoát bằng cái chết. Tuy nhiên, nếu một bệnh nhân trở nên xấu hơn trong khi nhóm đang làm việc trên trường hợp của y, thì không nên bỏ y, mà khi đó có thể dùng một kỹ thuật xác định và khác biệt để làm nhẹ con đường đi vào cái chết. Trong phần kế tiếp tôi dự định sẽ đề cập đến nghiệp quả của cái chết.
|
|
If you will bear in mind that work in connection with the etheric body (as an instrument of vitality) is today as little known as the science of modern medicine was known in the year 1200 A.D., you will be enabled to work without discouragement and without that undue expectation which today handicaps the neophyte. Assume consciously the position that nothing is as yet really known anent the centres, the areas of energy in the body, and thought direction; realise also that you are engaging upon a great research project. Nothing, literally nothing, has been done in relation to medicine and the science of the centres in any practical way, though certain books upon the relation of the centres to psychological research and equipment and the glandular [289] or endocrine system have played tentatively with the subject. The field of research which I propose to you is an entirely new one. Those among you who enter it may not see the results of what you are attempting to do. Your impatience and your eagerness to help may handicap you; your ignorance may cause you to make mistakes. But, go on; persevere; keep careful records and preserve all correspondence. Then the results will be sure.
|
Nếu các bạn ghi nhớ rằng công việc liên quan đến thể dĩ thái (như một công cụ của sinh lực) ngày nay ít được biết đến chẳng khác nào khoa học y học hiện đại được biết đến vào năm 1200 sau Công nguyên, thì các bạn sẽ có thể làm việc mà không nản lòng và không có sự mong đợi quá mức hiện đang cản trở người sơ cơ. Hãy có ý thức đảm nhận lập trường rằng cho đến nay thực sự chưa biết gì về các trung tâm, các khu vực năng lượng trong thể, và sự định hướng tư tưởng; cũng hãy nhận ra rằng các bạn đang dấn thân vào một dự án nghiên cứu lớn. Chưa có gì, theo nghĩa đen là chưa có gì, được thực hiện trong mối liên hệ với y học và khoa học về các trung tâm theo bất kỳ cách thực tiễn nào, mặc dù một số sách về mối liên hệ của các trung tâm với nghiên cứu và cơ cấu tâm lý học cùng hệ tuyến [289] hay hệ nội tiết đã thử đụng chạm đến đề tài này. Lĩnh vực nghiên cứu mà tôi đề nghị với các bạn là một lĩnh vực hoàn toàn mới. Những ai trong các bạn bước vào đó có thể sẽ không thấy được kết quả của điều mình đang cố gắng thực hiện. Sự thiếu kiên nhẫn và lòng sốt sắng muốn giúp đỡ của các bạn có thể cản trở các bạn; sự thiếu hiểu biết của các bạn có thể khiến các bạn phạm sai lầm. Nhưng hãy tiếp tục; hãy kiên trì; hãy giữ hồ sơ cẩn thận và bảo tồn mọi thư từ. Khi đó kết quả chắc chắn sẽ đến.
|
|
These carry the cause of all human difficulties, including ill health and disease—individual, national and racial—still further back to the very origin of creation itself. Karma demonstrates in those streams of energy and of primordial substance which pour into and through the created world, including the lower three worlds where work the lunar pitris and the elemental essences of all forms. This primordial karma (if I may so call it) is contributory to the existence of disease. We are told in the ancient books, to which the Masters have access, that the world is constructed of substance which is already tainted with the karma of a previous solar system.
|
Những nguyên nhân này đưa nguyên nhân của mọi khó khăn của con người, kể cả sức khỏe kém và bệnh tật—cá nhân, quốc gia và chủng tộc—lùi xa hơn nữa đến chính nguồn gốc của sự sáng tạo. Nghiệp quả biểu lộ trong những dòng năng lượng và chất liệu nguyên sơ tuôn vào và xuyên qua thế giới được sáng tạo, kể cả ba cõi thấp nơi các thái âm tổ phụ và các tinh chất hành khí của mọi hình tướng hoạt động. Nghiệp quả nguyên sơ này (nếu tôi có thể gọi như vậy) góp phần vào sự tồn tại của bệnh tật. Trong các sách cổ mà các Chân sư có thể tiếp cận, chúng ta được cho biết rằng thế giới được cấu tạo bằng chất liệu vốn đã bị nhiễm nghiệp quả của một hệ mặt trời trước.
|
|
It will be apparent to you that these streams of force, emanating from the Lords of the Seven Rays, are coloured, therefore, and “tainted”—if I may use such a word—by the limitations of these same great Beings; They are Gods, from our point of view, but in reality, Gods in the making, even though much nearer solar divinity than the most advanced human being is near to planetary divinity. They are the “imperfect Gods” spoken of in The Secret Doctrine [293] and are the planetary Logoi of the sacred and non-sacred planets. If the great informing Lives of the planets within our solar system are imperfect, the effect of this imperfection must inevitably affect Their planetary creations, Their bodies of manifestation, and thus introduce a karmic condition over which the individual human being has absolutely no control, but within which he moves and which he shares. It is obviously impossible for me to elucidate this theme. All I can do or am permitted to do is to give you seven stanzas from one of the most ancient volumes in the world; it deals with the seven ray causes of imperfections in our planetary manifestations. To these should be added (if it were only possible) the stanzas which convey the significance of the defects emerging from astrological conditions and producing effects of a planetary nature and involving, therefore, the horoscope of our particular planetary Logos. But these are far too abstruse, elaborate and far-reaching in their theme, and can be studied and considered only when humanity has reached such a stage of intuitive development that men can “appreciate causes and effects as whole processes and can see both the beginning and the end in one flash of time in space.” In these words the Master Serapis once summed up the matter when endeavouring to train a group of initiated disciples in this mode of approaching vast subjects.
|
Các bạn sẽ thấy rõ rằng những dòng mãnh lực này, phát ra từ các Đấng Chúa Tể của Bảy Cung, vì vậy đã được nhuốm màu và “bị nhiễm”—nếu tôi có thể dùng một từ như thế—bởi những giới hạn của chính các Đại Hữu Thể này; Các Ngài là các Thượng đế, theo quan điểm của chúng ta, nhưng trên thực tế là những Thượng đế đang thành hình, dù Các Ngài gần với thiên tính thái dương hơn rất nhiều so với con người tiến hóa nhất gần với thiên tính hành tinh. Các Ngài là những “Thượng đế bất toàn” được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm [293] và là các Hành Tinh Thượng đế của các hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng. Nếu các Sự Sống vĩ đại phú linh cho các hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta là bất toàn, thì hiệu quả của sự bất toàn này tất yếu phải ảnh hưởng đến các sáng tạo hành tinh của Các Ngài, các thể biểu hiện của Các Ngài, và như vậy đưa vào một điều kiện nghiệp quả mà cá nhân con người hoàn toàn không kiểm soát được, nhưng trong đó y vận động và cùng chia sẻ. Hiển nhiên là tôi không thể làm sáng tỏ chủ đề này. Tất cả những gì tôi có thể làm hoặc được phép làm là trao cho các bạn bảy bài kệ từ một trong những bộ sách cổ xưa nhất trên thế giới; nó bàn đến bảy nguyên nhân cung của các bất toàn trong các biểu hiện hành tinh của chúng ta. Vào đó còn phải cộng thêm (nếu điều đó có thể) những bài kệ truyền đạt ý nghĩa của các khiếm khuyết phát sinh từ các điều kiện chiêm tinh và tạo ra các hiệu quả có bản chất hành tinh, do đó liên quan đến lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Nhưng những điều này quá trừu tượng, quá công phu và quá sâu rộng trong chủ đề của chúng, và chỉ có thể được nghiên cứu và xem xét khi nhân loại đã đạt đến một giai đoạn phát triển trực giác mà những người nam và nữ có thể “đánh giá các nguyên nhân và hiệu quả như những tiến trình toàn thể và có thể thấy cả khởi đầu lẫn kết thúc trong một chớp thời gian trong không gian.” Bằng những lời này, Chân sư Serapis đã từng tóm lược vấn đề khi cố gắng huấn luyện một nhóm đệ tử được điểm đạo trong phương thức tiếp cận các chủ đề bao la này.
|
|
The “Book of Karma” has in it the following stanzas, and these can serve as an introduction to those dealing with the Seven Ray causes of inharmony and disease. To the intuitive aspirant some meaning will emerge, but he must ever bear in mind that all that I am attempting to do is to put into words—unsatisfactory and quite inadequate—stanzas concerning the conditioning factors in the equipment of those great Beings Whose life force (which we call energy) creates all that is, colours and shapes all [294] manifestations within the worlds, and adds its quota of force to the equipment of every single human being. Every man appropriates this energy to the measure of his need, and his need is the sign of his development. The stanzas I have selected are from The Book of Imperfections. Part Fourteen:
|
“Quyển Sách về Nghiệp Quả” có những bài kệ sau đây, và chúng có thể dùng như một lời dẫn nhập cho những bài kệ bàn về các nguyên nhân Cung bảy của sự bất hòa và bệnh tật. Đối với người chí nguyện trực giác, một số ý nghĩa sẽ xuất hiện, nhưng y phải luôn ghi nhớ rằng tất cả những gì tôi đang cố gắng làm là diễn đạt thành lời—không thỏa đáng và hoàn toàn bất cập—những bài kệ liên quan đến các yếu tố tác động trong cơ cấu của những Đại Hữu Thể mà sinh lực của Các Ngài (điều mà chúng ta gọi là năng lượng) tạo ra mọi cái đang hiện hữu, nhuốm màu và định hình mọi [294] biểu hiện trong các thế giới, và thêm phần mãnh lực của nó vào cơ cấu của từng con người một. Mỗi người chiếm dụng năng lượng này theo mức độ nhu cầu của mình, và nhu cầu của y là dấu hiệu của sự phát triển của y. Những bài kệ tôi đã chọn là từ Quyển Sách về Các Bất Toàn. Phần Mười Bốn:
|
|
“The seven imperfections issued forth and tainted substance from the highest sphere unto the lowest. The seven perfections followed next, and the two—that which is whole and sound and that which is known as detail and unwholesome in an awful sense—met upon the plane of physical life. (The etheric plane.—A.A.B.)
|
“Bảy sự bất toàn phát ra và làm nhiễm chất liệu từ khối cầu cao nhất xuống tận khối cầu thấp nhất. Bảy sự toàn hảo tiếp theo sau, và hai bên—điều toàn vẹn và lành mạnh cùng điều được biết như chi tiết và không lành mạnh theo một ý nghĩa khủng khiếp—gặp nhau trên cõi sự sống hồng trần. (Cõi dĩ thái.—A.A.B.)
|
|
And there they fought, swinging into the conflict all that they were and had, all that was seen and all that was unseen within the triple ring. (The three lower worlds.—A.A.B.)
|
Và tại đó chúng chiến đấu, lôi vào cuộc xung đột tất cả những gì chúng là và có, tất cả những gì được thấy và tất cả những gì không được thấy trong vòng tam phân. (Ba cõi thấp.—A.A.B.)
|
|
The seven imperfections entered the seven races of men, each in their own place; they coloured the seven points within each race. (The seven planetary centres, transmitting imperfect energy.—A.A.B.)
|
Bảy sự bất toàn đi vào bảy nhân loại của loài người, mỗi sự ở đúng chỗ của mình; chúng nhuốm màu bảy điểm trong mỗi nhân loại. (Bảy trung tâm hành tinh, truyền dẫn năng lượng bất toàn.—A.A.B.)
|
|
The seven perfections hovered o’er each race, over each man within each race and over each point within each man.
|
Bảy sự toàn hảo lơ lửng trên mỗi nhân loại, trên mỗi người trong mỗi nhân loại và trên mỗi điểm trong mỗi người.
|
|
And thus the conflict grew from the outermost to the innermost, from the greatest One to the littlest ones. Seven the imperfections. Seven the perfect wholes; seven the ways to oust the dark of imperfection and demonstrate the clear cold light, the white electric light of perfect wholeness.”
|
Và như thế cuộc xung đột lớn dần từ ngoài cùng vào trong cùng, từ Đấng vĩ đại nhất đến những kẻ nhỏ bé nhất. Bảy là các bất toàn. Bảy là các toàn thể toàn hảo; bảy là những con đường để xua tan bóng tối của sự bất toàn và biểu lộ ánh sáng lạnh trong sáng, ánh sáng điện trắng của sự toàn hảo trọn vẹn.”
|
|
All that you can gain from the above, my brother, is a concept of agelong conflict, of seven great energies which manifest as dualities and which produce when anchored within one body (whether that of a planet, a man or an [295] atom) an area or cycle of distress, as it is called; this distress produces the evolutionary urge and is itself the cause of manifestation, whilst its effect (which is karma) is the liberation ultimately of the perfect and the good. These things are not easy to comprehend. It must be remembered that the seven imperfections are related to the sevenfold nature of the One in Whom we live and move and have our being, and that these seven imperfect energies hold within themselves the perfect will-to-good, more potent in the long run than the will-to-harm.
|
Tất cả những gì các bạn có thể thu nhận từ đoạn trên, Huynh đệ của Tôi, là một khái niệm về cuộc xung đột lâu đời, về bảy năng lượng vĩ đại biểu lộ như các nhị nguyên tính và tạo ra, khi được neo giữ trong một thể duy nhất (dù là thể của một hành tinh, một con người hay một [295] nguyên tử), một khu vực hay chu kỳ đau khổ, như nó được gọi; sự đau khổ này tạo ra xung lực tiến hoá và chính nó là nguyên nhân của biểu hiện, trong khi hiệu quả của nó (là nghiệp quả) rốt cuộc là sự giải thoát của điều toàn hảo và điều thiện. Những điều này không dễ thấu hiểu. Cần nhớ rằng bảy sự bất toàn liên hệ với bản chất thất phân của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, và rằng bảy năng lượng bất toàn này chứa trong chính chúng ý chí-hướng thiện toàn hảo, về lâu dài mạnh hơn ý chí-hướng hại.
|
|
These energies pour through the seven centres of the planetary body and are—as far as we are concerned—the seven ray energies. In relation to the will-to-harm which can and does demonstrate as disease in all the four kingdoms in nature, you have the reason why I instituted, among the esoteric students for whom I have made myself responsible, the development of harmlessness. It is the major agent for the offsetting of karma. I will here give you Law IX. and thus complete a group of laws which, when followed, will be found essential to the curing of disease and the maintenance of health.
|
Những năng lượng này tuôn qua bảy trung tâm của thể hành tinh và—xét theo mối liên hệ với chúng ta—là các năng lượng cung bảy. Liên quan đến ý chí-hướng hại có thể và thực sự biểu lộ như bệnh tật trong cả bốn giới trong thiên nhiên, các bạn có lý do vì sao tôi đã thiết lập, trong số các đạo sinh huyền bí mà tôi đã nhận trách nhiệm, sự phát triển của tính vô tổn hại. Đó là tác nhân chủ yếu để hóa giải nghiệp quả. Ở đây tôi sẽ trao cho các bạn Định luật IX, và như vậy hoàn tất một nhóm các định luật mà khi được tuân theo, sẽ được thấy là thiết yếu cho việc chữa bệnh và duy trì sức khỏe.
|
|
LAW IX
|
ĐỊNH LUẬT IX
|
|
Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil always from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good is harmlessness. This is not negative but perfect poise, a completed point of view and divine understanding.
|
Sự toàn hảo gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Điều thiện luôn luôn xua đuổi điều ác ra khỏi hình tướng của con người trong thời gian và không gian. Phương pháp được Đấng Toàn Hảo sử dụng và phương pháp được Điều Thiện dùng đến là tính vô tổn hại. Đây không phải là tiêu cực mà là sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm đã hoàn tất và sự thấu hiểu thiêng liêng.
|
|
You will have noticed that what I have said in this connection removes the whole subject of disease into a distant world of origins—a world into which man is as yet unable to penetrate. It is for this reason that I have devoted so much time to the consideration of the causes of disease; more than half of what I have to say is to be [296] found in this first part of our discussion. We have nearly concluded this, and face what many will regard as the more useful and practical part of the teaching anent this subject. It has never been my intention to deal with the pathology of disease or the symptoms of the many forms of ill health which ravage mankind. I seek mainly to lay the stress upon the subjective reasons for the majority of ills which attack the human frame. My purpose is, however, sound. The overemphasis which people put upon disease is bewildering to the soul, for it places the transient, constantly changing form-nature in a position of undue prominence, whereas—from the angle of the soul—the vicissitudes of the body are only of importance just in so far as they contribute to the enrichment of soul experience.
|
Các bạn hẳn đã nhận thấy rằng điều tôi nói trong mối liên hệ này đưa toàn bộ đề tài bệnh tật vào một thế giới nguồn gốc xa xăm—một thế giới mà con người hiện chưa thể thâm nhập. Chính vì lý do này mà tôi đã dành quá nhiều thời gian để xem xét các nguyên nhân của bệnh; hơn một nửa điều tôi phải nói sẽ được [296] tìm thấy trong phần đầu tiên này của cuộc thảo luận của chúng ta. Chúng ta gần kết thúc phần này, và đang đối diện với phần mà nhiều người sẽ xem là hữu ích và thực tiễn hơn của giáo huấn liên quan đến đề tài này. Ý định của tôi chưa bao giờ là bàn đến bệnh lý học của bệnh hay các triệu chứng của nhiều hình thức sức khỏe kém đang tàn phá nhân loại. Tôi chủ yếu tìm cách nhấn mạnh các lý do chủ quan của phần lớn các bệnh tật tấn công khung thể con người. Tuy nhiên, mục đích của tôi là đúng đắn. Sự nhấn mạnh quá mức mà con người đặt vào bệnh tật làm linh hồn bối rối, vì nó đặt bản chất hình tướng nhất thời, luôn luôn thay đổi vào một vị trí nổi bật quá mức, trong khi—xét từ góc độ linh hồn—những thăng trầm của thể chỉ quan trọng chừng nào chúng góp phần làm phong phú kinh nghiệm của linh hồn.
|
|
The factor that is of importance is the causes, initiated by man from life to life; these work out in the appearance of disease, in the emergence of some disastrous consequence in circumstance and in event, and in the general conditioning of some particular incarnation. It is with these causes that man must learn to deal, to recognise them, and to trace the conditioning energy to the appropriate effect, dealing primarily then with the task of negating the cause by the opposition of a trained will. Karma is not an inevitable, inescapable and dire happening. It can be offset; but this offsetting, particularly where disease is concerned, will include four lines of activity:
|
Yếu tố quan trọng là các nguyên nhân do con người khởi xướng từ đời này sang đời khác; các nguyên nhân này biểu hiện thành bệnh tật, thành sự xuất hiện của một hậu quả tai hại nào đó trong hoàn cảnh và biến cố, và trong sự tác động tổng quát của một lần nhập thể đặc thù nào đó. Chính với các nguyên nhân này mà con người phải học cách xử lý, nhận ra chúng, và truy nguyên năng lượng tác động đến hiệu quả thích hợp, rồi chủ yếu xử lý nhiệm vụ vô hiệu hóa nguyên nhân bằng sự đối kháng của một ý chí đã được rèn luyện. Nghiệp quả không phải là một biến cố tất yếu, không thể tránh khỏi và khủng khiếp. Nó có thể được hóa giải; nhưng sự hóa giải này, đặc biệt khi liên quan đến bệnh tật, sẽ bao gồm bốn đường lối hoạt động:
|
|
1. Determining the nature of the cause and the area in consciousness where it originated.
|
1. Xác định bản chất của nguyên nhân và khu vực trong tâm thức nơi nó phát sinh.
|
|
2. Developing those qualities which are the polar opposite of the effective cause.
|
2. Phát triển những phẩm tính là cực đối nghịch với nguyên nhân đang tác động.
|
|
3. Practising harmlessness so as to arrest the expression of the cause and to prevent any further implementing of the unfortunate condition.[297]
|
3. Thực hành tính vô tổn hại để chặn đứng sự biểu lộ của nguyên nhân và ngăn ngừa bất kỳ sự tiếp tục nào của điều kiện bất hạnh ấy.[297]
|
|
4. Taking the necessary physical steps which will produce the conditions which the soul desires. These steps will include:
|
4. Thực hiện những bước hồng trần cần thiết sẽ tạo ra các điều kiện mà linh hồn mong muốn. Những bước này sẽ bao gồm:
|
|
a. A mental acquiescence and an acceptance of the fact of the effect—in the case which we are considering in relation to karma—disease.
|
a. Một sự chấp nhận bằng trí tuệ và một sự thừa nhận sự kiện của hiệu quả—trong trường hợp mà chúng ta đang xem xét liên quan đến nghiệp quả—là bệnh tật.
|
|
b. Wise action along the lines of orthodox medical procedure.
|
b. Hành động khôn ngoan theo các đường lối của thủ tục y khoa chính thống.
|
|
c. The assistance of a healing group or a healer for aid in inner spiritual healing.
|
c. Sự trợ giúp của một nhóm chữa lành hoặc một nhà chữa lành để hỗ trợ trong việc chữa lành tinh thần bên trong.
|
|
d. Clear vision as to the outcome. This may lead to preparation for a more useful physical plane life or preparation for the great transition called death.
|
d. Linh thị rõ ràng về kết quả. Điều này có thể dẫn đến sự chuẩn bị cho một đời sống cõi hồng trần hữu ích hơn hoặc sự chuẩn bị cho cuộc chuyển tiếp lớn được gọi là cái chết.
|
|
But behind all wise thinking and wise activity must be the acceptance of the existence of certain general conditions which work out as physical ill health during this world cycle, and not only for the human kingdom but also for the three sub-human kingdoms. The Law of Imperfection exists because the Great Realities (to be found in all the phenomenal world) are likewise in process of development and of evolutionary unfoldment. Therefore, until They, as spiritual Beings, have developed “sublime control”—as it is called—over the substance of Their phenomenal forms, those forms will fall short of divine perfection. Disease is only a form of transient imperfection, and death is just a method for refocussing energy, prior to a forward moving activity, leading steadily and always towards betterment.
|
Nhưng đằng sau mọi tư duy khôn ngoan và mọi hoạt động khôn ngoan phải là sự chấp nhận sự hiện hữu của một số điều kiện tổng quát nào đó đang biểu hiện thành sức khỏe hồng trần kém trong chu kỳ thế giới này, và không chỉ đối với giới nhân loại mà còn đối với ba giới dưới nhân loại. Định luật Bất Toàn tồn tại bởi vì các Thực Tại Vĩ Đại (được tìm thấy trong toàn bộ thế giới hiện tượng) cũng đang trong tiến trình phát triển và khai mở tiến hoá. Vì vậy, cho đến khi Các Ngài, với tư cách là các Hữu Thể tinh thần, phát triển được “sự kiểm soát siêu việt”—như nó được gọi—đối với chất liệu của các hình tướng hiện tượng của Các Ngài, thì những hình tướng ấy sẽ còn thiếu sự toàn hảo thiêng liêng. Bệnh tật chỉ là một hình thức bất toàn nhất thời, và cái chết chỉ là một phương pháp để tái hội tụ năng lượng, trước một hoạt động tiến lên phía trước, dẫn dắt đều đặn và luôn luôn hướng tới sự cải thiện.
|
|
The comprehension of the seven stanzas which I now propose to give you will lead eventually to the isolation of the seven psychological causes of disease, inherent in the substance of all forms in this world cycle, because all forms are infused with the life energy of the “imperfect Gods.” [298] The seven Spirits, we are told in the Scriptures of the world, are “before the Throne of God”; this signifies that They are not yet in a position to mount the Throne, symbolically speaking, owing to the fact that They have not yet achieved complete divine expression. These Lords of the Seven Rays are greater and more advanced in the spiritual scale than are those great Lives who form the Council of the Lord of the World in Shamballa. They are the Representatives of the seven ray Energies Who inform the seven sacred planets but are not yet as divinely developed as They are. The problem of humanity in respect to imperfection is complicated, not only by the fact that the seven informing vitalising Energies are “tainted with imperfection,” but also by the fact that the Lord of the World is Himself, from the angle of a Solar Logos for instance, far from perfect; this is the reason why our planet, the Earth, is not a sacred planet. We are told that Sanat Kumara is the divine prisoner of this planet, held here until the “last weary pilgrim has found his way home.” This is His heavy karma even whilst it is an expression of His desire and of His joy; the “weary pilgrims” are the atoms (human or otherwise) in His body, and they are tainted with imperfection because of His imperfections; their complete “healing” will set the term for His release.
|
Sự thấu hiểu bảy bài kệ mà nay tôi dự định trao cho các bạn rốt cuộc sẽ dẫn đến việc cô lập bảy nguyên nhân tâm lý của bệnh tật, vốn tiềm ẩn trong chất liệu của mọi hình tướng trong chu kỳ thế giới này, bởi vì mọi hình tướng đều được thấm nhuần bởi năng lượng sự sống của các “Thượng đế bất toàn.” [298] Bảy Thánh Linh, như chúng ta được biết trong các Kinh điển của thế giới, ở “trước Thánh Ngai của Thượng đế”; điều này có nghĩa là Các Ngài chưa ở vào vị thế để bước lên Thánh Ngai, nói theo biểu tượng, vì Các Ngài chưa đạt được sự biểu lộ thiêng liêng trọn vẹn. Các Chúa Tể của Bảy cung này vĩ đại hơn và tiến hóa hơn trên thang tinh thần so với những Sự Sống vĩ đại tạo thành Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa. Các Ngài là những Đấng Đại Diện của bảy Năng Lượng cung đang thấm nhuần bảy hành tinh thiêng liêng nhưng bản thân Các Ngài vẫn chưa phát triển thiêng liêng bằng các hành tinh ấy. Vấn đề bất toàn của nhân loại trở nên phức tạp không chỉ vì bảy Năng Lượng tiếp sinh lực và thấm nhuần ấy “bị nhuốm sự bất toàn,” mà còn vì chính Đức Chúa Tể Thế Giới, xét chẳng hạn từ góc độ của một Thái dương Thượng đế, cũng còn xa mới hoàn hảo; đó là lý do vì sao hành tinh của chúng ta, Trái Đất, không phải là một hành tinh thiêng liêng. Chúng ta được biết rằng Đức Sanat Kumara là tù nhân thiêng liêng của hành tinh này, bị giữ lại đây cho đến khi “người lữ khách mệt mỏi cuối cùng đã tìm được đường về nhà.” Đây là nghiệp quả nặng nề của Ngài, dù đồng thời cũng là biểu hiện của khát vọng và sự hoan hỉ của Ngài; những “người lữ khách mệt mỏi” là các nguyên tử (nhân loại hay loại khác) trong thể của Ngài, và chúng bị nhuốm sự bất toàn vì những bất toàn của Ngài; sự “chữa lành” hoàn toàn của chúng sẽ định ra thời điểm giải thoát cho Ngài.
|
|
Bear in mind, therefore, that the stanzas—seven in number—now to be given, indicate the quality of the descending energies and the taints which these energies carry and convey to all forms which are vitalised by the life of our planetary Logos.
|
Vì vậy, hãy ghi nhớ rằng bảy bài kệ sắp được trao ra đây biểu thị phẩm tính của các năng lượng giáng hạ và những vết nhiễm mà các năng lượng này mang theo và truyền vào mọi hình tướng được tiếp sinh lực bởi sự sống của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
|
|
The Seven Ray Causes of Inharmony and Disease
|
Bảy Nguyên Nhân Cung của Bất Hòa và Bệnh Tật
|
|
I. “The Great One set Himself to follow by Himself alone His chosen path. He brooked no interference. He hardened in His courses. From plane [299] to plane, this hardening proceeded; it grew and stiffened. His will was set, and crystal-like, brilliant, brittle and hard. The power to crystallise was His. He brought not will-to-live but will-to-die. Death was His gift to life. Infusion and diffusion pleased Him not. He loved and sought abstraction.”
|
I. “Đấng Vĩ Đại tự mình quyết theo con đường đã chọn, một mình mà thôi. Ngài không dung thứ sự can thiệp nào. Ngài trở nên cứng rắn trong các lộ trình của mình. Từ cõi này [299] sang cõi khác, sự cứng rắn ấy tiếp diễn; nó tăng trưởng và đông cứng lại. Ý chí của Ngài đã định, và như pha lê—rực rỡ, giòn và cứng. Quyền năng kết tinh là của Ngài. Ngài không mang đến ý chí-sống mà là ý chí-chết. Cái chết là quà tặng của Ngài cho sự sống. Sự truyền nhập và khuếch tán không làm Ngài hài lòng. Ngài yêu thích và tìm kiếm sự trừu xuất.”
|
|
As far as we can understand the significance of this stanza in relation to our theme of disease, the imperfection of this divine energy produces a peculiar attitude which expresses itself in the power to crystallise, to harden, to bring about attrition and cause the great abstracting process which we call death. Other results are the many crystallising processes going on in the physical form, all atrophying processes, and old age.
|
Trong chừng mực chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của bài kệ này liên hệ với chủ đề bệnh tật của chúng ta, sự bất toàn của năng lượng thiêng liêng này tạo ra một thái độ đặc thù, biểu lộ thành quyền năng kết tinh, làm cứng lại, gây ra sự bào mòn và tạo nên tiến trình trừu xuất vĩ đại mà chúng ta gọi là cái chết. Những kết quả khác là nhiều tiến trình kết tinh diễn ra trong hình thể hồng trần, mọi tiến trình teo hóa, và tuổi già.
|
|
II. “The Great One poured His life throughout all parts and every aspect of manifestation. From the centre to the periphery and from the periphery to the centre He rushed, carrying abundance of life, energising all forms of Himself, producing excess of movement, endless extension, abundant growth and undue haste. He knew not what He wanted because He wanted all, desired all, attracted all and gave to all too much.”
|
II. “Đấng Vĩ Đại tuôn đổ sự sống của Ngài khắp mọi phần và mọi phương diện của biểu hiện. Từ trung tâm ra chu vi và từ chu vi vào trung tâm, Ngài lao đi, mang theo sự sống dồi dào, tiếp sinh lực cho mọi hình tướng của chính Ngài, tạo ra sự vận động quá mức, sự mở rộng vô tận, sự tăng trưởng phong phú và sự hấp tấp quá độ. Ngài không biết mình muốn gì vì Ngài muốn tất cả, ham muốn tất cả, thu hút tất cả và ban cho tất cả quá nhiều.”
|
|
The imperfection of this great energy with its building, vitalising and cohering potency, was and is the power to overstimulate, to produce accretion, to pile together, to build too many forms, to attract too many atoms and to bring about those conditions which lead to what has been called (esoterically) “the suffocation of the life”—another form of dying, but dying this time as a result of excessive vitality, affecting the blood stream, producing building within the forms already built, and frequently creating an [300] etheric vehicle which is too potent for the outer exoteric physical form. Other results are, for instance, the appearance of tumors, of cancers, of growths, and the overdevelopment of bodily aspects, overlarge organs and supernumerary bodily parts.
|
Sự bất toàn của năng lượng vĩ đại này, với tiềm lực kiến tạo, tiếp sinh lực và cố kết của nó, đã và đang là quyền năng kích thích quá mức, tạo ra sự bồi đắp, chất chồng, xây dựng quá nhiều hình tướng, thu hút quá nhiều nguyên tử và gây nên những tình trạng dẫn đến điều mà (một cách huyền bí) đã được gọi là “sự ngạt thở của sự sống”—một hình thức chết khác, nhưng lần này là cái chết do sinh lực quá mức, tác động lên dòng máu, tạo ra sự kiến tạo bên trong những hình tướng đã được xây dựng, và thường tạo nên một [300] vận cụ dĩ thái quá mạnh đối với hình thể hồng trần ngoại môn bên ngoài. Những kết quả khác là, chẳng hạn, sự xuất hiện của các khối u, ung thư, các chỗ tăng sinh, và sự phát triển quá mức của các phương diện cơ thể, các cơ quan quá lớn và các bộ phận cơ thể thừa ra.
|
|
III. “The Great One gathered here and there. He chose and He rejected. This power He refused and this power He accepted. He had no purpose linked to the six purposes of His six Brothers. He acquired a form and liked it not; threw it away and chose another. He had no settled point or plan but lived in glamour and liked it well. He smothered both the good and the bad, though using both. Excess in one direction could be seen and starvation in another. Both these extremes governed His choice of living substance, He threw together those that suited not each other, then saw the end was sorrow and deceit. Patterns He made, but purpose suited not. He gave up in despair.”
|
III. “Đấng Vĩ Đại gom góp chỗ này chỗ kia. Ngài chọn và Ngài loại bỏ. Quyền năng này Ngài từ chối và quyền năng kia Ngài chấp nhận. Ngài không có mục đích nào liên kết với sáu mục đích của sáu Huynh Đệ của Ngài. Ngài có được một hình tướng và không thích nó; liền vứt bỏ và chọn một hình tướng khác. Ngài không có điểm tựa hay kế hoạch ổn định nào mà sống trong ảo cảm và rất thích điều đó. Ngài làm ngạt cả điều tốt lẫn điều xấu, dù sử dụng cả hai. Có thể thấy sự thái quá theo một hướng và sự thiếu hụt theo hướng khác. Cả hai cực đoan này chi phối sự lựa chọn chất liệu sống của Ngài. Ngài gom lại với nhau những gì không thích hợp với nhau, rồi thấy kết cục là buồn khổ và dối trá. Ngài tạo ra các mô hình, nhưng mục đích lại không phù hợp. Ngài bỏ cuộc trong tuyệt vọng.”
|
|
The main effect of this imperfect “maneuvering” and manipulation, as it has been called, is largely astral in nature, producing consequent physical ill health and the undesirable effects which we have already studied in this treatise. It is because this third ray energy is the energy of substance itself that its imperfections demonstrate profusely in the human tendency to disease. Glamour results from the excessive use of this third ray energy for selfish and personal ends and manifests primarily upon the sixth or astral plane. As a result of this manipulation of desire, and the wild maneuvering for its satisfaction along material lines, you have such diseases as the gastric and intestinal disorders and the various stomach troubles which devastate [301] civilised humanity—far more than the savage races. Certain brain disorders also are effects, and low vitality.
|
Tác động chính của sự “điều động” và thao túng bất toàn này, như nó đã được gọi như vậy, phần lớn có bản chất cảm dục, tạo ra hậu quả là sức khỏe hồng trần suy kém và những ảnh hưởng không mong muốn mà chúng ta đã nghiên cứu trong bộ luận này. Chính vì năng lượng cung ba này là năng lượng của bản thân chất liệu nên những bất toàn của nó biểu lộ rất nhiều trong khuynh hướng bệnh tật của con người. Ảo cảm là kết quả của việc sử dụng quá mức năng lượng cung ba này cho những mục đích ích kỷ và cá nhân, và biểu lộ chủ yếu trên cõi thứ sáu hay cõi cảm dục. Kết quả của sự thao túng ham muốn này, và của những sự điều động cuồng loạn để thỏa mãn nó theo các đường lối vật chất, là những bệnh như rối loạn dạ dày và đường ruột cùng nhiều chứng bệnh bao tử khác đang tàn phá [301] nhân loại văn minh—nhiều hơn hẳn các chủng tộc man dã. Một số rối loạn não bộ cũng là hậu quả, cùng với sinh lực thấp.
|
|
IV. “The Great One fought and entered into combat. All that He met appeared to Him a subject for display of power. Within the fourth He found a field of battle and settled down to fight. He saw the right and knew the wrong and vibrated between the two, fighting first one and then the other, but missing all the time that midway point where battle is not known. There harmony, ease, rest and peaceful silence will be found. He weakened all the forms which used His strength and power. Yet all the time He sought for beauty; searched for loveliness; and yearned for peace. Despair overtook Him in His courses, and with despair the will-to-live could not survive. Yet all the time the loveliness was there.”
|
IV. “Đấng Vĩ Đại chiến đấu và bước vào giao tranh. Mọi điều Ngài gặp đều hiện ra trước Ngài như một đối tượng để phô bày quyền năng. Trong cung bốn, Ngài tìm thấy một chiến trường và định cư ở đó để chiến đấu. Ngài thấy điều đúng và biết điều sai, và rung động giữa hai điều ấy, lúc chiến đấu cho bên này, lúc cho bên kia, nhưng luôn luôn bỏ lỡ điểm ở giữa nơi chiến đấu không được biết đến. Ở đó sẽ tìm thấy hài hòa, an nhàn, nghỉ ngơi và sự im lặng bình an. Ngài làm suy yếu mọi hình tướng sử dụng sức mạnh và quyền năng của Ngài. Tuy nhiên, suốt mọi lúc Ngài vẫn tìm kiếm cái đẹp; truy cầu vẻ mỹ lệ; và khát khao hòa bình. Sự tuyệt vọng ập đến với Ngài trên các lộ trình của mình, và cùng với tuyệt vọng, ý chí-sống không thể tồn tại. Tuy nhiên, suốt mọi lúc vẻ mỹ lệ vẫn ở đó.”
|
|
Here we have a strong indication as to the reason why humanity (the fourth kingdom in nature) succumbs with such rapidity and such ease to disease. The conflicts to which humanity is so constantly summoned, both in group form and as individuals, lead—until understood and used as a means to triumph and progress—to a condition of constant devitalisation. Where this is present, resistance to disease fades out and practically all forms of ill health and bodily ills become possible. Diffusion of energy leads to a constant lessening of this resistance. As a result you have debility, quick and bad reaction to the disease indigenous in the planet itself, and a rapid taking on of infections and of contagious diseases. It is this energy which lies behind what we call epidemics, and influenza is one of its main expressions.[302]
|
Ở đây chúng ta có một chỉ dẫn mạnh mẽ về lý do vì sao nhân loại (giới thứ tư trong thiên nhiên) lại khuất phục trước bệnh tật nhanh chóng và dễ dàng đến thế. Những xung đột mà nhân loại liên tục bị triệu gọi vào, cả dưới hình thức nhóm lẫn với tư cách cá nhân, dẫn đến—cho đến khi được hiểu và được sử dụng như một phương tiện để chiến thắng và tiến bộ—một tình trạng mất sinh lực thường xuyên. Khi điều này hiện diện, sức đề kháng đối với bệnh tật suy giảm và hầu như mọi hình thức đau yếu và bệnh hoạn của cơ thể đều trở nên khả hữu. Sự khuếch tán năng lượng dẫn đến sự suy giảm liên tục của sức đề kháng này. Kết quả là các bạn có sự suy nhược, phản ứng nhanh và xấu đối với bệnh tật vốn có sẵn trong chính hành tinh này, và sự dễ dàng nhiễm các bệnh lây lan và truyền nhiễm. Chính năng lượng này nằm sau điều mà chúng ta gọi là các dịch bệnh, và cúm là một trong những biểu hiện chính của nó.[302]
|
|
V. “The Great One arose in His wrath and separated Himself. He swept aside the great dualities and saw primarily the field of multiplicity. He produced cleavage on every hand. He wrought with potent thought for separative action. He established barriers with joy. He brooked no understanding; He knew no unity, for He was cold, austere, ascetic and forever cruel. He stood between the tender, loving centre of all lives and the outer court of writhing, living men. Yet He stood not at the midway point, and naught He did sufficed to heal the breach. He widened all cleavages, erected barriers, and sought to make still wider gaps.”
|
V. “Đấng Vĩ Đại đứng lên trong cơn thịnh nộ của Ngài và tách mình ra. Ngài quét sang một bên những nhị nguyên tính lớn lao và chủ yếu chỉ thấy cánh đồng của tính đa tạp. Ngài tạo ra sự chia cắt khắp nơi. Ngài hành động bằng tư tưởng mãnh liệt cho hành động phân ly. Ngài vui thích dựng nên các rào cản. Ngài không dung thứ sự thấu hiểu; Ngài không biết đến hợp nhất, vì Ngài lạnh lùng, khắc khổ, khổ hạnh và mãi mãi tàn nhẫn. Ngài đứng giữa trung tâm dịu dàng, yêu thương của mọi sự sống và sân ngoài của những con người sống đang quằn quại. Tuy nhiên, Ngài không đứng tại điểm ở giữa, và không điều gì Ngài làm đủ để hàn gắn sự chia rẽ. Ngài mở rộng mọi chia cắt, dựng lên các rào cản, và tìm cách tạo nên những khoảng cách còn rộng hơn nữa.”
|
|
It has been most difficult to describe the nature of the imperfection of the energy of the Lord of the fifth ray. In the activity of this energy which demonstrates primarily upon the fifth or mental plane will be found eventually the source of many psychological disorders and mental trouble. Cleavage is the outstanding characteristic—cleavage within the individual or between the individual and his group, rendering him anti-social. I have dealt with this in an earlier part of this treatise and need not further enlarge upon the difficulties here (In Esoteric Psychology, Vol. II of A Treatise on the Seven Rays). Other results are certain forms of insanities, brain lesions and those gaps in the relation of the physical body to the subtle bodies which show as imbecilities and psychological troubles. Another form of disease, emerging as a result of this fifth ray force is migraine, which is caused by a lack of relationship between the energy around the pineal gland and that around the pituitary body.
|
Việc mô tả bản chất của sự bất toàn trong năng lượng của Đấng Chúa Tể cung năm là điều hết sức khó khăn. Trong hoạt động của năng lượng này, vốn biểu lộ chủ yếu trên cõi thứ năm hay cõi trí, cuối cùng sẽ tìm thấy nguồn gốc của nhiều rối loạn tâm lý và các vấn đề trí tuệ. Sự chia cắt là đặc tính nổi bật—sự chia cắt bên trong cá nhân hoặc giữa cá nhân với nhóm của y, khiến y trở nên phản xã hội. Tôi đã bàn đến điều này trong phần trước của bộ luận này và không cần nói thêm ở đây (trong Tâm Lý Học Nội Môn, Tập II của Luận về Bảy Cung). Những kết quả khác là một số dạng điên loạn, tổn thương não bộ và những khoảng hở trong mối liên hệ giữa thể xác với các thể vi tế, biểu hiện thành sự đần độn và các rối loạn tâm lý. Một dạng bệnh khác xuất hiện do mãnh lực cung năm này là chứng đau nửa đầu, gây ra bởi sự thiếu liên hệ giữa năng lượng quanh tuyến tùng và năng lượng quanh tuyến yên.
|
|
VI. “The Great One loved Himself in others and in all forms. On every hand, He saw objects of His [303] devotion and ever they proved to be Himself. Into these others He ever poured Himself, asking response and never getting it. Surely and with certainty the outlines of the forms so loved were lost, grew dim and disappeared. The objects of His love slowly faded out. Only a world of shadows, of mist and fog remain. And as He looked upon Himself, He said: Lord of Glamour, that am I, and the Angel of Bewilderment. Naught is clear to me. I love yet all seems wrong! I know that love is right and the spirit of the universe. What then is wrong?”
|
VI. “Đấng Vĩ Đại yêu chính mình trong những kẻ khác và trong mọi hình tướng. Khắp mọi nơi, Ngài thấy những đối tượng của [303] lòng sùng mộ của Ngài và chúng luôn luôn hóa ra là chính Ngài. Vào những kẻ khác ấy, Ngài luôn luôn tuôn đổ chính mình, đòi hỏi sự đáp ứng mà không bao giờ nhận được. Chắc chắn và không sai, những đường nét của các hình tướng được yêu thương như thế dần mất đi, mờ nhạt và biến mất. Các đối tượng của tình yêu Ngài từ từ phai tàn. Chỉ còn lại một thế giới của bóng mờ, của sương mù và khói mờ. Và khi nhìn vào chính mình, Ngài nói: Ta là Chúa Tể của Ảo Cảm, và là Thiên Thần của Sự Hoang Mang. Không điều gì rõ ràng đối với ta. Ta yêu mà mọi sự dường như đều sai! Ta biết rằng tình yêu là đúng và là tinh thần của vũ trụ. Vậy thì điều gì là sai?”
|
|
Curiously enough, it is the potency of this sixth ray force (as it feeds desire) which is responsible for much of the ills and diseases of humanity which are based upon the misuse of the mission and function of sex. Desire, bewilderment, weakness, perversions and the one-pointed development of sexual and other satisfactions grow out of the misuse of this energy. The bewilderment growing out of desire leads to a violently demanded satisfaction and the taking of those steps—some right and some wrong—which lead to satisfaction. The results cover a wide field, all the way from sadistic cruelty and lust to those marriages which are based on physical desire and to those conditions which lead to the many forms of sexual disease. A clue to this whole world-wide problem lies in the words of an ancient writing which says that “the imperfection of the Lord of the Sixth Ray opened the door to an erroneous marriage between the poles.”
|
Thật kỳ lạ, chính tiềm lực của mãnh lực cung sáu này (khi nó nuôi dưỡng ham muốn) lại chịu trách nhiệm cho phần lớn những đau yếu và bệnh tật của nhân loại vốn dựa trên sự lạm dụng sứ mệnh và chức năng của tính dục. Ham muốn, hoang mang, yếu đuối, lệch lạc và sự phát triển nhất tâm của những thỏa mãn tính dục và các thỏa mãn khác phát sinh từ việc lạm dụng năng lượng này. Sự hoang mang phát sinh từ ham muốn dẫn đến một sự thỏa mãn bị đòi hỏi mãnh liệt và việc thực hiện những bước đi—một số đúng và một số sai—để đạt được sự thỏa mãn. Kết quả bao trùm một phạm vi rộng lớn, từ sự tàn nhẫn dâm bạo và dục vọng cho đến những cuộc hôn nhân dựa trên ham muốn thể xác và những tình trạng dẫn đến nhiều dạng bệnh tình dục. Một đầu mối cho toàn bộ vấn đề toàn cầu này nằm trong lời của một cổ thư nói rằng “sự bất toàn của Đấng Chúa Tể Cung sáu đã mở cánh cửa cho một cuộc hôn phối sai lầm giữa hai cực.”
|
|
VII. “The Great One gathered to Himself His forces and affirmed His intention to create. He created that which is outer and can be seen. He saw His creations and liked them not and so withdrew His attention; then the creations He had made died [304] and disappeared. He had no lasting success and saw naught but failure as He travelled on the outer path of life. He comprehended not the need of forms. To some He gave an over-plus of life, to some too little; and so both kinds died and failed to show the beauty of the Lord who gave them life but failed to give them understanding. He knew not then that love sustains.”
|
VII. “Đấng Vĩ Đại tập hợp các mãnh lực của Ngài về với mình và khẳng định ý định sáng tạo. Ngài sáng tạo cái gì đó bên ngoài và có thể được nhìn thấy. Ngài nhìn các sáng tạo của mình và không thích chúng nên rút sự chú ý của mình lại; rồi những sáng tạo Ngài đã làm ra chết đi [304] và biến mất. Ngài không có thành công bền lâu nào và chỉ thấy thất bại khi bước đi trên con đường bên ngoài của sự sống. Ngài không hiểu nhu cầu của các hình tướng. Với một số, Ngài ban quá nhiều sự sống; với một số khác, quá ít; và vì thế cả hai loại đều chết và không biểu lộ được vẻ đẹp của Chúa Tể đã ban cho chúng sự sống nhưng không ban cho chúng sự thấu hiểu. Khi ấy Ngài chưa biết rằng tình yêu duy trì.”
|
|
The effects of this ray force are most peculiar and will be a great deal more prevalent than heretofore, as this ray is now coming into power. It is this energy which is largely responsible for infections and contagious diseases. The keynote of the work of the seventh ray is to bring together life and matter upon the physical plane. This, however, when viewed from the angle of imperfection, is a bringing together (if you can understand the implications) of Life, the lives and the general livingness of the creative process. This is symbolised by the promiscuity and the endless moving interplay of all life within all lives. The result is therefore the activity of all germs and bacteria within the medium which will best nurture them.
|
Những tác động của mãnh lực cung này rất đặc biệt và sẽ phổ biến hơn nhiều so với trước đây, vì cung này hiện đang đi vào quyền lực. Chính năng lượng này chịu trách nhiệm phần lớn cho các bệnh nhiễm trùng và truyền nhiễm. Chủ âm của công việc cung bảy là đưa sự sống và vật chất lại với nhau trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi được nhìn từ góc độ bất toàn, đây là sự đưa lại với nhau (nếu các bạn có thể hiểu được các hàm ý) của Sự sống, các sự sống và tính sống nói chung của tiến trình sáng tạo. Điều này được biểu tượng hóa bằng sự pha tạp bừa bãi và sự tương tác vận động vô tận của mọi sự sống trong mọi sự sống. Vì vậy, kết quả là hoạt động của mọi mầm bệnh và vi khuẩn trong môi trường nuôi dưỡng chúng tốt nhất.
|
|
These are abstruse and difficult concepts, but they should be pondered upon, and deep reflection will lead to understanding. All disease and ill health are the result of the activity or the inactivity of one or other of the seven types of energy as they play upon the human body. All physical ills emerge out of the impact of these imperfect energies as they make their impact upon, enter into and pass through the centres in the body. All depends upon the condition of the seven centres in the human body; through these the impersonal energies play, carrying life, disease or death, stimulating the imperfections in the body or bringing healing to the body. All depends, as far as the human being is [305] concerned, upon the condition of the physical body, the age of the soul and the karmic possibilities.
|
Đây là những khái niệm sâu kín và khó hiểu, nhưng cần được suy gẫm, và sự phản tỉnh sâu xa sẽ dẫn đến thấu hiểu. Mọi bệnh tật và đau yếu đều là kết quả của hoạt động hoặc bất hoạt động của một hay một loại nào khác trong bảy loại năng lượng khi chúng tác động lên thể người. Mọi bệnh hoạn hồng trần đều xuất hiện từ tác động của các năng lượng bất toàn này khi chúng tác động lên, đi vào và đi xuyên qua các trung tâm trong thể. Mọi sự đều tùy thuộc vào tình trạng của bảy trung tâm trong thể người; qua các trung tâm này, các năng lượng vô ngã vận hành, mang theo sự sống, bệnh tật hay cái chết, kích thích những bất toàn trong thể hoặc mang lại sự chữa lành cho thể. Đối với con người, mọi sự [305] tùy thuộc vào tình trạng của thể xác, tuổi của linh hồn và những khả năng nghiệp quả.
|
|
I would ask you not to misinterpret the significance of the word “imperfection” which I have used so constantly in relation to the great Beings Who express a divinity unattainable by humanity at any time upon this particular planet. You must bear in mind that this solar system is the second, and that in the first solar system the emphasis was laid upon intelligent materiality; the goal of the highest initiate was to attain complete control over matter, to unfold the mind principle and to evidence a definite materialism. In these so distant aeons that marked attainment, whereas in this solar system it marks defeat for humanity. This system, including all the planets along with our Earth, has a different goal, and the second divine aspect, that of love, has to be manifested, and manifested through the medium of matter impregnated with the qualities developed in system one. What was perfection at that time is not so now. Therefore, the Great Beings which are the sumtotal of all that is, are working through and in substance, which is already tinged or tainted with that which must be left behind and subjected to no further unfoldment.
|
Tôi muốn yêu cầu các bạn đừng hiểu sai ý nghĩa của từ “bất toàn” mà tôi đã dùng rất thường xuyên liên hệ đến những Đấng Vĩ Đại biểu lộ một thiên tính mà nhân loại không thể đạt tới vào bất kỳ thời điểm nào trên hành tinh đặc thù này. Các bạn phải ghi nhớ rằng hệ mặt trời này là hệ thứ hai, và trong hệ mặt trời thứ nhất, trọng tâm được đặt vào tính vật chất thông tuệ; mục tiêu của điểm đạo đồ cao nhất là đạt được sự kiểm soát hoàn toàn đối với vật chất, khai mở nguyên khí trí tuệ và biểu lộ một chủ nghĩa vật chất rõ rệt. Trong những đại kiếp xa xăm ấy, điều đó đánh dấu thành tựu, trong khi ở hệ mặt trời này nó lại đánh dấu sự thất bại đối với nhân loại. Hệ này, gồm tất cả các hành tinh cùng với Trái Đất của chúng ta, có một mục tiêu khác, và phương diện thiêng liêng thứ hai, tức phương diện bác ái, phải được biểu lộ, và được biểu lộ qua trung gian của vật chất đã được thấm nhuần những phẩm tính phát triển trong hệ thứ nhất. Điều từng là hoàn hảo vào thời đó thì nay không còn như vậy nữa. Vì thế, những Đấng Vĩ Đại là tổng thể của tất cả những gì hiện hữu đang hoạt động xuyên qua và trong chất liệu, vốn đã bị nhuốm hay vấy bẩn bởi điều phải bị bỏ lại phía sau và không còn phải chịu bất kỳ sự khai mở nào thêm nữa.
|
|
These are the imperfections which we are considering—the seven aspects of intelligent materiality; it is here that disease has its seat and expression. We are told that the physical body is not a principle; in the last solar system it was. In this, the principles are different and it is in the clash between what is and what will be (what wills-to-be) that we have, upon the physical plane, the causes of disease and death. Ponder on these matters and bear in mind that you must see the picture upon a large scale, as large a scale as possible, if there is to be a true understanding of some of the causes of physical ills and disease.
|
Đó là những bất toàn mà chúng ta đang xem xét—bảy phương diện của tính vật chất thông tuệ; chính ở đây bệnh tật có chỗ ngự và sự biểu lộ của nó. Chúng ta được bảo rằng thể xác không phải là một nguyên khí; trong hệ mặt trời trước, nó là như vậy. Trong hệ này, các nguyên khí khác đi, và chính trong sự xung đột giữa cái đang là và cái sẽ là (cái muốn-hiện-hữu) mà chúng ta có, trên cõi hồng trần, các nguyên nhân của bệnh tật và cái chết. Hãy suy gẫm về những điều này và ghi nhớ rằng các bạn phải nhìn bức tranh trên một quy mô lớn, lớn nhất có thể, nếu muốn có sự thấu hiểu chân thực về một số nguyên nhân của đau yếu và bệnh tật hồng trần.
|