|
[505]
|
[505]
|
|
In considering this intelligently utilised event as it is employed by the soul, functioning consciously in the three worlds, we shall find it helpful to consider it under two main headings:
|
Khi xem xét biến cố được sử dụng một cách thông minh này như nó được linh hồn dùng đến, đang hoạt động một cách hữu thức trong ba cõi giới, chúng ta sẽ thấy hữu ích nếu xét nó dưới hai đề mục chính:
|
|
First: The processes whereby the cycle of incarnation is brought to an end through the complete integration of soul and personality. This we will approach from three points of view:
|
Thứ nhất: Những tiến trình nhờ đó chu kỳ lâm phàm được đưa đến chỗ kết thúc qua sự tích hợp hoàn toàn của linh hồn và phàm ngã. Chúng ta sẽ tiếp cận điều này từ ba quan điểm:
|
|
The significance of integration.
|
Ý nghĩa của sự tích hợp.
|
|
The state of mind of the soul.
|
Trạng thái trí tuệ của linh hồn.
|
|
The elimination of the thoughtform of the personality.
|
Sự loại bỏ hình tư tưởng của phàm ngã.
|
|
Second: The results of this:
|
Thứ hai: Những kết quả của điều này:
|
|
Within the Ashram of the Master, as far as the disciple is concerned.
|
Bên trong ashram của Chân sư, xét theo phương diện của đệ tử.
|
|
In the mode whereby the liberated disciple can now create a body for physical plane contact and for service in the three worlds—this time not under the Law of Necessity but under the Law of Service, as understood by the initiate.
|
Trong phương thức nhờ đó đệ tử được giải thoát giờ đây có thể tạo ra một thể để tiếp xúc trên cõi hồng trần và để phụng sự trong ba cõi giới—lần này không phải dưới Định luật Tất Yếu mà dưới Định luật Phụng sự, như được điểm đạo đồ thấu hiểu.
|
|
You will by now have realised that we have discussed the fact of death as it has affected the physical body (a most [506] familiar happening) and also the astral or mental sheaths—those aggregations of conditioned energy with which we are not so objectively familiar but which even psychology admits exist and which we believe must disintegrate or disappear with the death of the physical body. Has it, however, occurred to you that the major aspect of death with which a human being is ultimately concerned is the death of the personality? I am not here speaking in abstract terms, as do all esotericists when they work at the negation of quality or of the qualities which characterise the personal self. They speak of “killing out” this or that quality, of completely suppressing the “lower self,” and similar phrases. Here I am speaking of the literal destruction, dissolution, dissipation or final dispersal of that beloved and well-known personal self.
|
Đến lúc này hẳn bạn đã nhận ra rằng chúng ta đã bàn đến sự kiện chết như nó tác động lên thể xác (một biến cố hết sức [506] quen thuộc) và cả các lớp vỏ cảm dục hay trí tuệ—những tập hợp năng lượng bị tác động mà chúng ta không quen thuộc một cách khách quan bằng nhưng ngay cả tâm lý học cũng thừa nhận là hiện hữu và mà chúng ta tin rằng phải tan rã hay biến mất cùng với cái chết của thể xác. Tuy nhiên, có bao giờ bạn nghĩ rằng phương diện chủ yếu của cái chết mà một con người rốt cuộc phải quan tâm là cái chết của phàm ngã không? Ở đây tôi không nói theo những thuật ngữ trừu tượng, như mọi nhà bí truyền học vẫn làm khi họ nỗ lực phủ nhận phẩm tính hay các phẩm tính đặc trưng cho bản ngã cá nhân. Họ nói đến việc “giết chết” phẩm tính này hay phẩm tính kia, việc hoàn toàn đè nén “phàm ngã”, và những cụm từ tương tự. Ở đây tôi đang nói đến sự hủy diệt, tan rã, làm tiêu tan hay phân tán cuối cùng theo nghĩa đen của bản ngã cá nhân thân yêu và quen thuộc ấy.
|
|
It must be borne in mind that the life of a personality falls into the following stages:
|
Cần ghi nhớ rằng đời sống của một phàm ngã trải qua các giai đoạn sau:
|
|
1. Its slow and gradual construction over a long period of time. For many cycles of incarnations, a man is not a personality, he is just a. member of the mass.
|
1. Sự xây dựng chậm rãi và dần dần của nó trong một thời kỳ dài. Trong nhiều chu kỳ lâm phàm, con người không phải là một phàm ngã, y chỉ là một thành viên của quần chúng.
|
|
2. The conscious identification of the soul with the personality, this stage is practically nonexistent. The aspect of the soul which is concealed within the sheaths is for a long, long period dominated by the life of those sheaths only making its presence felt through what is called “the voice of conscience.” However, as time goes on, the active intelligent life of the person is gradually enhanced and coordinated by the energy which streams from the knowledge petals of the egoic lotus, or from the intelligent perceptive nature of the soul on its own plane. This produces eventually the integration of the three lower sheaths into one functioning whole. The man is then a personality. [507]
|
2. Sự đồng hoá hữu thức của linh hồn với phàm ngã, giai đoạn này hầu như không hiện hữu. Phương diện linh hồn được che giấu trong các lớp vỏ trong một thời gian rất, rất dài bị đời sống của các lớp vỏ ấy chi phối, chỉ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận qua điều được gọi là “tiếng nói của lương tri”. Tuy nhiên, theo thời gian, đời sống trí tuệ năng động của con người dần dần được tăng cường và phối hợp bởi năng lượng tuôn chảy từ các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, hay từ bản chất tri giác thông minh của linh hồn trên cõi riêng của nó. Điều này cuối cùng tạo ra sự tích hợp của ba lớp vỏ thấp thành một toàn thể hoạt động thống nhất. Khi ấy con người là một phàm ngã. [507]
|
|
3. The personality life of the now coordinated individual persists for a large number of lives, and also falls into three phases:
|
3. Đời sống phàm ngã của cá nhân nay đã được phối hợp kéo dài qua một số lượng lớn kiếp sống, và cũng rơi vào ba giai đoạn:
|
|
a. The phase of a dominant aggressive personality life, basically conditioned by its ray type, selfish in nature and very individualistic.
|
a. Giai đoạn của một đời sống phàm ngã thống trị, xông xáo, về căn bản bị cung loại của nó tác động, ích kỷ về bản chất và rất cá nhân chủ nghĩa.
|
|
b. A transitional phase wherein a conflict rages between personality and soul. The soul begins to seek liberation from form life and yet—in the last analysis—the personality is dependent upon the life principle, conferred by the soul. Wording it otherwise, the conflict between the soul ray and the personality ray starts and the war is on between two focussed aspects of energy. This conflict terminates at the third initiation.
|
b. Một giai đoạn chuyển tiếp trong đó một cuộc xung đột diễn ra giữa phàm ngã và linh hồn. Linh hồn bắt đầu tìm cách giải thoát khỏi đời sống hình tướng, nhưng—xét cho cùng—phàm ngã lại lệ thuộc vào nguyên khí sự sống do linh hồn ban cho. Nói cách khác, xung đột giữa cung linh hồn và cung phàm ngã bắt đầu và cuộc chiến diễn ra giữa hai phương diện năng lượng tập trung. Cuộc xung đột này chấm dứt ở lần điểm đạo thứ ba.
|
|
c. The control by the soul is the final phase, leading, to the death and destruction of the personality. This death begins when the personality, the Dweller on the Threshold, stands before the Angel of the Presence. The light of the solar Angel then obliterates the light of matter.
|
c. Sự kiểm soát của linh hồn là giai đoạn cuối cùng, dẫn đến cái chết và sự hủy diệt của phàm ngã. Cái chết này bắt đầu khi phàm ngã, Kẻ Chận Ngõ, đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện. Ánh sáng của Thái dương Thiên Thần khi ấy xóa mờ ánh sáng của vật chất.
|
|
The “control” phase is conditioned by the complete identification of the personality with the soul; this is a reversal of the previous identification of the soul with the personality. This also is what we mean when speaking of the integration of these two; the two are now one. It was of this phase that St. Paul was speaking when he referred (in the Epistle to the Ephesians) to Christ making “out of two, one new man.” It is primarily the phase of the final stages of the Probationary Path (where the work consciously begins) and its carrying forward to completion upon the Path of Discipleship. It is the stage of the practical and successful server; it is that wherein the entire focus [508] and output of the life of the man is dedicated to the fulfillment of hierarchical intent. The man begins to work on and from levels not included in the three worlds of ordinary evolution, but which nevertheless have their effects and their planned objectives within those three worlds.
|
Giai đoạn “kiểm soát” được tác động bởi sự đồng hoá hoàn toàn của phàm ngã với linh hồn; đây là một sự đảo ngược của sự đồng hoá trước đó của linh hồn với phàm ngã. Đây cũng là điều chúng ta muốn nói khi nói về sự tích hợp của hai bên này; giờ đây cả hai là một. Chính về giai đoạn này mà Thánh Paul đã nói khi ông nhắc đến (trong Thư gửi tín hữu Ê-phê-sô) việc Đức Christ tạo nên “từ hai thành một con người mới”. Đây chủ yếu là giai đoạn của các chặng cuối của Con Đường Dự Bị (nơi công việc bắt đầu một cách hữu thức) và việc đưa nó đến hoàn tất trên Con Đường Đệ Tử. Đây là giai đoạn của người phụng sự thực tiễn và thành công; đó là giai đoạn trong đó toàn bộ tiêu điểm [508] và sự tuôn đổ của đời sống con người được hiến dâng cho việc hoàn thành ý định của Thánh đoàn. Con người bắt đầu hoạt động trên và từ những cấp độ không nằm trong ba cõi giới của tiến hoá thông thường, nhưng tuy vậy vẫn có các hiệu quả và các mục tiêu đã hoạch định của chúng bên trong ba cõi giới ấy.
|
|
The emphasis laid by most teachers and aspirants is upon the integration of the personality and its correct orientation towards the world of spiritual values. It should be remembered that this is an earlier stage and rightly so. The integration of the mind, the emotional nature and the brain is the major characteristic of all advanced human beings—the bad, the very bad, the good and the very good. It is, however, no sign of spiritual life, and is frequently quite the reverse. A “Hitler” or an ambitious person with a deeply selfish or cruelly directed life is a personality, with all the powers of his mind dedicated to evil purposes, with the emotional nature so constituted that it presents no obstacle to the furthering of these selfish intentions, and with a high-powered brain receptive to the plans and methods of the two vehicles, carrying out the behests of the personality.
|
Sự nhấn mạnh của đa số huấn sư và người chí nguyện đặt vào sự tích hợp của phàm ngã và sự định hướng đúng đắn của nó về phía thế giới các giá trị tinh thần. Cần nhớ rằng đây là một giai đoạn sớm hơn và đúng là như vậy. Sự tích hợp của trí tuệ, bản chất cảm xúc và bộ não là đặc điểm chủ yếu của mọi con người tiến hóa—kẻ xấu, kẻ rất xấu, người tốt và người rất tốt. Tuy nhiên, đó không phải là dấu hiệu của đời sống tinh thần, và thường lại hoàn toàn ngược lại. Một “Hitler” hay một kẻ đầy tham vọng với đời sống sâu sắc ích kỷ hoặc được hướng dẫn một cách tàn nhẫn là một phàm ngã, với mọi quyền năng của trí tuệ mình được hiến cho các mục đích xấu xa, với bản chất cảm xúc được cấu tạo sao cho không tạo ra chướng ngại nào cho việc thúc đẩy các ý định ích kỷ ấy, và với một bộ não đầy năng lực tiếp nhận các kế hoạch và phương pháp của hai vận cụ, thực hiện các mệnh lệnh của phàm ngã.
|
|
I would point out that the majority of people are not personalities, no matter how glibly they may talk about their personalities. For example, the initial objective before the mass of aspirants and students is, first of all, to integrate the lower threefold man, so that they may become functioning personalities, prior to becoming functioning souls; the work is dedicated to the purpose of producing a conscious personality focus, whilst avoiding that cycle of incarnations wherein the personality is dedicated to lower and selfish ends. Students who are more advanced are dedicated to the purpose of producing a still higher integration of soul and [509] personality, leading to that final integration which brings in the highest aspect of all, that of monadic life.
|
Tôi muốn chỉ ra rằng đa số người ta không phải là các phàm ngã, cho dù họ có nói trôi chảy đến đâu về phàm ngã của mình. Chẳng hạn, mục tiêu ban đầu trước quần chúng người chí nguyện và đạo sinh trước hết là tích hợp con người tam phân thấp, để họ có thể trở thành những phàm ngã hoạt động, trước khi trở thành những linh hồn hoạt động; công việc được hiến cho mục đích tạo ra một tiêu điểm phàm ngã hữu thức, đồng thời tránh chu kỳ lâm phàm trong đó phàm ngã được hiến cho các mục đích thấp hèn và ích kỷ. Những đạo sinh tiến bộ hơn được hiến cho mục đích tạo ra một sự tích hợp còn cao hơn nữa giữa linh hồn và [509] phàm ngã, dẫn đến sự tích hợp cuối cùng mang vào phương diện cao nhất của tất cả, đó là đời sống chân thần.
|
|
There are in the world today many truly integrated personalities. These, because soul and personality are integrated, can tread the Path of Accepted Discipleship. This is a most hopeful development, if you could but realise its implications and significance, and the question arises as to how the others who are as yet only in the process of reorientation can develop an adequate personality integration. This they will never do if they overestimate themselves or depreciate themselves. Many are apt to regard themselves as personalities because of their natural self-will, or because they are occult students. They forget that an occult student is one who is in search of that which is hidden—in their case of that hidden, integrating thread which will enable them to blend the three bodies and thus truly merit the name of personality. Some of them cannot become personalities during this life, but they can develop the mental concept of its possibility and its nature; they need to remember that “as a man thinketh in his heart, so is he.” It is not waste of time, but a very necessary process and one through which every Member of the Hierarchy has passed.
|
Ngày nay trên thế giới có nhiều phàm ngã tích hợp thực sự. Những người này, vì linh hồn và phàm ngã đã được tích hợp, có thể bước đi trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Đây là một sự phát triển đầy hy vọng, nếu các bạn có thể chứng nghiệm được những hàm ý và thâm nghĩa của nó; và câu hỏi được đặt ra là làm thế nào những người khác, hiện vẫn chỉ đang trong tiến trình tái định hướng, có thể phát triển một sự tích hợp phàm ngã đầy đủ. Họ sẽ không bao giờ làm được điều này nếu họ tự đánh giá mình quá cao hoặc tự hạ thấp mình. Nhiều người có khuynh hướng xem mình là các phàm ngã vì ý chí riêng tự nhiên của họ, hoặc vì họ là đạo sinh huyền bí học. Họ quên rằng một đạo sinh huyền bí học là người đang tìm kiếm điều bị che giấu—trong trường hợp của họ là sợi dây tích hợp ẩn kín ấy, sợi dây sẽ giúp họ hòa trộn ba thể và nhờ đó thực sự xứng đáng với danh xưng phàm ngã. Một số người trong họ không thể trở thành các phàm ngã trong kiếp này, nhưng họ có thể phát triển khái niệm trí tuệ về khả năng ấy và về bản chất của nó; họ cần nhớ rằng “con người nghĩ gì trong tim mình, thì y là như vậy.” Đây không phải là sự phí thời giờ, mà là một tiến trình rất cần thiết và mọi Thành Viên của Thánh Đoàn đều đã đi qua.
|
|
Study and meditation combined are the factors which all aspirants should employ if they seek to produce this needed integration and a consequent life of service. Thus the aspirant can test out both his point of integration and the extent of the serving quality produced by this integration. If aspirants would study their physical plane life with care, they would discover that they are either working automatically in response to physical plane conventional ideas of goodwill or of being kind, or they are working emotionally because they like to help, they like to be liked, they like to relieve suffering (owing to their hatred of the discomfort which suffering brings to them), they believe in following [510] the steps of the Christ Who went about doing good, or because of a natural, deep-seated life tendency. This is a hopeful and finalising unfoldment.
|
Học tập và tham thiền kết hợp là những yếu tố mà mọi người chí nguyện nên sử dụng nếu họ tìm cách tạo ra sự tích hợp cần thiết này và một đời sống phụng sự phát sinh từ đó. Nhờ vậy người chí nguyện có thể kiểm nghiệm cả điểm tích hợp của mình lẫn mức độ phẩm tính phụng sự do sự tích hợp này tạo ra. Nếu những người chí nguyện chịu nghiên cứu đời sống cõi hồng trần của mình một cách cẩn trọng, họ sẽ khám phá rằng hoặc là họ đang hoạt động một cách tự động để đáp ứng các ý niệm quy ước của cõi hồng trần về thiện chí hay lòng tử tế, hoặc là họ đang hoạt động về mặt cảm xúc vì họ thích giúp đỡ, họ thích được yêu mến, họ thích làm vơi bớt đau khổ (do họ ghét sự khó chịu mà đau khổ đem lại cho họ), họ tin vào việc noi theo [510] bước chân của Đức Christ, Đấng đã đi khắp nơi làm điều lành, hoặc vì một khuynh hướng sự sống tự nhiên, ăn sâu. Đây là một sự khai mở đầy hy vọng và có tính hoàn tất.
|
|
Aspirants will eventually find out (when the physical and emotional phases of the integration are over) that there follows a phase of intelligent service, motivated in the first instance by mercy, then by conviction of its essentiality, then by a stage of definitely spiritual ambition, then by a submissive following of the example of the Hierarchy, and finally by the activity of the quality of pure love; this pure love increasingly expresses itself as the higher integration of soul and personality proceeds. All these phases of intention and of techniques are right in their own place, just as long as they have teaching value, and whilst the higher next phases remain vague and nebulous. They become wrong when they are perpetuated and carried on when the next stage is clearly seen but not followed. Ponder on this. It is of value to you to realise the true significance of these varying phases of integration, carried forward—as they are—under evolutionary law.
|
Cuối cùng những người chí nguyện sẽ nhận ra (khi các giai đoạn tích hợp hồng trần và cảm xúc đã qua) rằng tiếp theo là một giai đoạn phụng sự thông minh, lúc đầu được thúc đẩy bởi lòng thương xót, rồi bởi sự xác tín về tính thiết yếu của nó, rồi bởi một giai đoạn tham vọng tinh thần rõ rệt, rồi bởi sự noi theo đầy thuận phục tấm gương của Thánh Đoàn, và cuối cùng bởi hoạt động của phẩm tính bác ái thuần khiết; bác ái thuần khiết này ngày càng biểu lộ khi sự tích hợp cao hơn giữa linh hồn và phàm ngã tiến triển. Tất cả các giai đoạn về ý định và kỹ thuật này đều đúng ở vị trí riêng của chúng, miễn là chúng còn có giá trị giáo huấn, và chừng nào các giai đoạn cao hơn kế tiếp vẫn còn mơ hồ và chưa rõ nét. Chúng trở nên sai khi bị kéo dài và tiếp tục trong khi giai đoạn kế tiếp đã được thấy rõ nhưng không được theo đuổi. Hãy suy ngẫm về điều này. Việc chứng nghiệm thâm nghĩa đích thực của các giai đoạn tích hợp khác nhau này là điều có giá trị đối với các bạn, vì chúng được tiến hành—đúng như vậy—dưới định luật tiến hoá.
|
|
All these steps upon the way of integration lead to that culminating stage wherein the personality—rich in experience, powerful in expression, reoriented and dedicated—becomes simply the mediator of soul life between the Hierarchy and Humanity. Again—ponder on this.
|
Tất cả các bước trên con đường tích hợp này đều dẫn đến giai đoạn tột đỉnh, trong đó phàm ngã—giàu kinh nghiệm, mạnh mẽ trong biểu hiện, đã được tái định hướng và hiến dâng—trở thành đơn thuần là trung gian của sự sống linh hồn giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại. Một lần nữa—hãy suy ngẫm về điều này.
|
|
And whilst all these phases, stages and realisations are taking place in the life of the personality, what is the attitude of the soul upon its own plane? A consideration of this involves, first of all, a recognition of the three aspects of mind which are to be found upon what we call the mental plane: [511]
|
Trong khi tất cả các giai đoạn, chặng đường và sự chứng nghiệm này đang diễn ra trong đời sống của phàm ngã, thì thái độ của linh hồn trên cõi riêng của nó là gì? Việc xem xét điều này trước hết bao hàm sự nhìn nhận ba phương diện của trí tuệ được tìm thấy trên cái mà chúng ta gọi là cõi trí: [511]
|
|
1. The lower concrete mind, which is the attitude of thought held by the tiny aspect of the soul which was initially “put down” into manifestation at the time of individualisation. This—during the long cycle of incarnations—has become increasingly sensitive to its overshadowing Self. This overshadowing Self says to its incarnated aspect: “Having pervaded this entire universe with a fragment of myself, I remain.” The pull of that overshadowing “remaining Self” is what draws the little fragment back to its originating source.
|
1. Hạ trí cụ thể, là thái độ tư tưởng được nắm giữ bởi phương diện nhỏ bé của linh hồn đã được “đặt xuống” vào biểu hiện lúc biệt ngã hóa. Trong chu kỳ dài của các lần nhập thể, phương diện này ngày càng trở nên nhạy cảm với Bản Ngã phủ bóng của nó. Bản Ngã phủ bóng ấy nói với phương diện nhập thể của mình: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của chính ta, ta vẫn còn đó.” Sức hút của “Bản Ngã còn đó” phủ bóng ấy chính là điều kéo mảnh nhỏ trở về nguồn gốc phát sinh của nó.
|
|
2. The Son of Mind, the soul, the product of the thought of the Universal Mind, the thinking, perceiving, discriminating, analysing Identity or spiritual Entity. This aspect of the One Life is characterised by pure mind, pure reason, pure love, and pure will. A “Lord of Sacrifice” Who, through incarnating experience, integration and expression, has undertaken the task of redeeming matter, and of raising substance into Heaven! These are familiar truths and ancient platitudes, but they still remain largely theory to you. You can test their theoretical nature by asking yourself: What am I doing, as a soul (if I function as a soul at all), to raise my matter aspect, my three vehicles and the substance out of which they are made, on to higher planes of expression?
|
2. Con của Trí Tuệ, linh hồn, sản phẩm của tư tưởng của Vũ Trụ Trí, Bản Sắc hay Thực Thể tinh thần biết suy tư, tri giác, phân biện và phân tích. Phương diện này của Sự sống Duy Nhất được đặc trưng bởi trí tuệ thuần khiết, lý trí thuần khiết, bác ái thuần khiết và ý chí thuần khiết. Một “Chúa Tể của Hi sinh”, Đấng qua kinh nghiệm nhập thể, sự tích hợp và biểu hiện, đã đảm nhận nhiệm vụ cứu chuộc vật chất và nâng chất liệu lên Thiên giới! Đây là những chân lý quen thuộc và những lời sáo cũ xưa, nhưng đối với các bạn chúng vẫn phần lớn chỉ là lý thuyết. Các bạn có thể kiểm nghiệm tính lý thuyết của chúng bằng cách tự hỏi: Tôi đang làm gì, với tư cách là một linh hồn (nếu quả thật tôi hoạt động như một linh hồn), để nâng phương diện vật chất của tôi, ba vận cụ của tôi và chất liệu mà từ đó chúng được tạo nên, lên các cõi biểu hiện cao hơn?
|
|
3. The higher abstract mind which is to the soul what the lowest aspect of the soul, embodied in the knowledge petals, is to the concrete mind. This abstract mind is the lowest aspect of the Spiritual Triad.
|
3. Thượng trí trừu tượng đối với linh hồn cũng giống như phương diện thấp nhất của linh hồn, được thể hiện trong các cánh hoa tri thức, đối với trí cụ thể. Trí trừu tượng này là phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
Once integration has taken place between the personality and the soul, then the soul—in its own body and nature and on its own plane—can begin to attend to a higher integration or linking relation which it must eventually bring about between itself and the Spiritual Triad. Accomplishment [512] upon a lower level ever makes possible accomplishment upon a higher. There is no true higher accomplishment until, step by step, the lower reflected aspect is mastered, used and recognised as an instrument for bringing about still higher activities.
|
Một khi sự tích hợp giữa phàm ngã và linh hồn đã diễn ra, thì linh hồn—trong thể riêng, bản chất riêng và trên cõi riêng của nó—có thể bắt đầu lưu tâm đến một sự tích hợp cao hơn hay một mối liên hệ nối kết mà cuối cùng nó phải tạo ra giữa chính nó và Tam Nguyên Tinh Thần. Thành tựu [512] ở một cấp độ thấp hơn luôn làm cho thành tựu ở một cấp độ cao hơn trở nên khả hữu. Không có thành tựu cao hơn đích thực nào cho đến khi, từng bước một, phương diện phản chiếu thấp hơn được làm chủ, được sử dụng và được nhìn nhận như một công cụ để tạo ra những hoạt động còn cao hơn nữa.
|
|
The state of mind of the soul during the processes of lower integration can be briefly summarised as follows:
|
Trạng thái trí tuệ của linh hồn trong các tiến trình tích hợp thấp hơn có thể được tóm tắt ngắn gọn như sau:
|
|
1. That of a complete disinterest during the earlier stages of the cycle of incarnation. Its “embedded aspect” (as it has been called) is quite adequate to the slow and tedious task of evolving the bodies, developing their characteristics and buying the bitter experience of blindness and ignorance. This period is by far the longest, and whilst it is proceeding the soul goes forward with its own life interest upon its own level of experience, upon its own ray and under the influence of the Master Who will eventually guide the thinking (through gladly accepted impression) of the developing personality. Forget not that this kingdom or this aggregate of souls is what the Christian calls the Kingdom of God and the occultist calls the spiritual Hierarchy of our planet. Remember also that the purpose of its aggregated life is to induce realisation in consciousness of the spiritual polarisation of the planetary LIFE.
|
1. Đó là trạng thái hoàn toàn không quan tâm trong các giai đoạn đầu của chu kỳ nhập thể. “Phương diện được cắm vào” của nó (như đã được gọi) hoàn toàn đủ sức cho nhiệm vụ chậm chạp và gian nan là tiến hóa các thể, phát triển các đặc tính của chúng và mua lấy kinh nghiệm cay đắng của sự mù quáng và vô minh. Giai đoạn này dài hơn hẳn mọi giai đoạn khác, và trong khi nó đang diễn ra, linh hồn vẫn tiến bước với mối quan tâm sự sống riêng của nó trên cấp độ kinh nghiệm riêng, trên cung riêng của nó và dưới ảnh hưởng của Chân sư, Đấng cuối cùng sẽ hướng dẫn tư duy (qua sự cảm thụ được vui lòng chấp nhận) của phàm ngã đang phát triển. Đừng quên rằng giới này hay tập hợp các linh hồn này chính là điều mà người Ki-tô giáo gọi là Thiên Giới và nhà huyền bí học gọi là Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta. Cũng hãy nhớ rằng mục đích của đời sống tập hợp của nó là khơi dậy sự chứng nghiệm trong tâm thức về sự phân cực tinh thần của SỰ SỐNG hành tinh.
|
|
2. As evolution proceeds, the three vehicles—now created and developed—become potent, and their vibration becomes strong enough to attract a measure of attention from the preoccupied soul. The first reaction is irritation. Occult irritation is not crossness, as human beings express it, but response to contact—a response which does not please. In other words, it is friction. You will, therefore, better understand the meaning of the statement that the last fetter which the Master casts off is [513] irritation. The personality no longer attracts attention; friction therefore ceases, and there is nothing left but a pure channel through which spiritual energy can pour. Irritation, as you understand it, takes place when your personal, self-will, self-esteem, ideas and plans are infringed upon by those of another person. It is not this form of irritation which the Master casts off.
|
2. Khi tiến hoá tiếp diễn, ba vận cụ—nay đã được tạo ra và phát triển—trở nên mạnh mẽ, và rung động của chúng đủ mạnh để thu hút một mức độ chú ý nào đó từ linh hồn vốn đang bận tâm. Phản ứng đầu tiên là sự bực ứng. Sự bực ứng huyền bí không phải là sự cáu kỉnh như con người biểu lộ, mà là sự đáp ứng với tiếp xúc—một sự đáp ứng không làm hài lòng. Nói cách khác, đó là ma sát. Vì vậy, các bạn sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa của phát biểu rằng xiềng xích cuối cùng mà Chân sư vứt bỏ là [513] sự bực ứng. Phàm ngã không còn thu hút sự chú ý nữa; do đó ma sát chấm dứt, và không còn gì ngoài một kênh thuần khiết qua đó năng lượng tinh thần có thể tuôn đổ. Sự bực ứng, theo cách các bạn hiểu, xảy ra khi ý chí riêng, lòng tự trọng, ý tưởng và kế hoạch cá nhân của các bạn bị xâm phạm bởi những điều tương tự của một người khác. Không phải hình thức bực ứng này là điều mà Chân sư vứt bỏ.
|
|
The second reaction is that of a meditation process or the generation of power, later to be used in the three worlds to enhance soul energy within the form and to create the field of knowledge, peopled by the thoughtforms into which the personality will later venture. The soul is therefore preparing for its own reorientation towards Life and its expression in the three worlds, and not to the gaining of life experience.
|
Phản ứng thứ hai là một tiến trình tham thiền hay sự phát sinh quyền năng, về sau sẽ được sử dụng trong ba cõi giới để tăng cường năng lượng linh hồn trong hình tướng và tạo ra trường tri thức, được cư ngụ bởi các hình tư tưởng mà về sau phàm ngã sẽ bước vào. Vì vậy linh hồn đang chuẩn bị cho sự tái định hướng của chính nó hướng về Sự sống và sự biểu hiện của Sự sống trong ba cõi giới, chứ không phải hướng tới việc thu nhận kinh nghiệm sống.
|
|
3. When the personality becomes dominant, the soul introduces a new factor into the life of its reflection, the incarnating soul. It mobilises and focusses the energy of the soul ray, and by an act of the will brings it into direct contact with the ray of the personality. This has a reflex action on the rays of the threefold lower man, stimulating them, awakening them, and conditioning the etheric body so that the centres, through which the personality rays are pouring, and the head centre which is responsive to the soul ray, can become more active. The ajna centre, through which the personality works, intensifies its activity, and two things occur:
|
3. Khi phàm ngã trở nên chi phối, linh hồn đưa vào đời sống của phản chiếu của nó, tức linh hồn nhập thể, một yếu tố mới. Nó huy động và tập trung năng lượng của cung linh hồn, và bằng một hành động của ý chí đưa năng lượng ấy vào tiếp xúc trực tiếp với cung của phàm ngã. Điều này tạo ra một tác động phản xạ lên các cung của phàm nhân tam phân, kích thích chúng, đánh thức chúng, và tác động lên thể dĩ thái để các trung tâm, qua đó các cung phàm ngã đang tuôn đổ, cùng trung tâm đầu vốn đáp ứng với cung linh hồn, có thể trở nên hoạt động hơn. Trung tâm ajna, qua đó phàm ngã hoạt động, tăng cường hoạt động của nó, và hai điều xảy ra:
|
|
a. The personality life becomes increasingly potent and the man develops into an intense individual.
|
a. Đời sống phàm ngã ngày càng mạnh mẽ và con người phát triển thành một cá nhân mãnh liệt.
|
|
b. The head centre begins to exert an influence upon the ajna centre, and slowly and gradually upon the centre at the base of the spine. Self-will grows as do all the qualities. [514]
|
b. Trung tâm đầu bắt đầu gây ảnh hưởng lên trung tâm ajna, và chậm rãi dần dần lên trung tâm ở đáy cột sống. Ý chí riêng tăng trưởng cũng như mọi phẩm tính khác. [514]
|
|
4. The soul is now in what esotericists call “a process of reversal.” This produces a great interest in its reflection in the three worlds, and three things then happen:
|
4. Giờ đây linh hồn ở trong điều mà các nhà bí truyền học gọi là “một tiến trình đảo ngược.” Điều này tạo ra một mối quan tâm lớn đối với phản chiếu của nó trong ba cõi giới, và rồi ba điều xảy ra:
|
|
a. The lower concrete mind becomes subject to illumination from the soul.
|
a. Hạ trí cụ thể trở nên chịu sự soi sáng từ linh hồn.
|
|
b. The energy of the soul ray increasingly pours into the personality, intensifying its conflict.
|
b. Năng lượng của cung linh hồn ngày càng tuôn vào phàm ngã, làm tăng cường xung đột của nó.
|
|
c. The path of the man around the zodiac from Aries via Pisces to Taurus is reversed and he then proceeds anti-clockwise.
|
c. Con đường của con người quanh vòng hoàng đạo từ Bạch Dương qua Song Ngư đến Kim Ngưu bị đảo ngược và khi đó y tiến hành theo chiều ngược kim đồng hồ.
|
|
All these factors produce violent conflict upon the Probationary Path, which increases as the man steps upon the Path of Discipleship. The potency of the personality, dominant and being dominated, is that which induces an intense karmic activity. Events and circumstances pile fast and furiously into the experience of the disciple. His environment is of the highest quality available in the three worlds; his experience fluctuates between the extremes; he works off his karmic obligations and pays the penalty of past mistakes with great rapidity.
|
Tất cả các yếu tố này tạo ra xung đột dữ dội trên Con Đường Dự Bị, và xung đột ấy gia tăng khi con người bước lên Con Đường Đệ Tử. Chính sức mạnh của phàm ngã, vừa chi phối vừa bị chi phối, là điều gây ra một hoạt động nghiệp quả mãnh liệt. Các biến cố và hoàn cảnh dồn dập, dữ dội tràn vào kinh nghiệm của đệ tử. Môi trường của y là loại cao nhất có thể có trong ba cõi giới; kinh nghiệm của y dao động giữa các cực điểm; y giải quyết các nghĩa vụ nghiệp quả của mình và trả giá cho những sai lầm quá khứ với tốc độ rất nhanh.
|
|
All this time, incarnation succeeds incarnation and the familiar process of death, intervening between cycles of experience, goes on. However, all the three deaths—physical, astral and mental—are carried out with a steadily awakening state of awareness, as the lower mind develops; the man no longer drifts—asleep and unknowing—out of the etheric, astral and mental vehicles, but each of them becomes as much an event as is physical death.
|
Trong suốt thời gian này, lần nhập thể nối tiếp lần nhập thể và tiến trình quen thuộc của cái chết, xen giữa các chu kỳ kinh nghiệm, vẫn tiếp diễn. Tuy nhiên, cả ba cái chết—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—đều được thực hiện với một trạng thái nhận biết ngày càng thức tỉnh, khi hạ trí phát triển; con người không còn trôi đi—trong giấc ngủ và không hay biết—ra khỏi các vận cụ dĩ thái, cảm dục và trí tuệ nữa, mà mỗi cái chết trong số đó trở thành một biến cố cũng quan trọng như cái chết hồng trần.
|
|
Finally the time comes when the disciple dies with deliberation and in full consciousness, and with real knowledge relinquishes his various vehicles. Steadily the soul takes control, and then the disciple brings about death through an act of the soul-will and knows exactly what he is doing.
|
Cuối cùng thời điểm đến khi đệ tử chết một cách có chủ ý và trong đầy đủ tâm thức, và với tri thức thực sự, từ bỏ các vận cụ khác nhau của mình. Dần dần linh hồn nắm quyền kiểm soát, và rồi đệ tử tạo ra cái chết bằng một hành động của ý chí linh hồn và biết chính xác mình đang làm gì.
|
|
[515]
|
[515]
|
|
In dealing with this subject (and it can only be done very briefly) two things must be borne in mind:
|
Khi bàn đến chủ đề này (và điều đó chỉ có thể được thực hiện rất ngắn gọn), cần ghi nhớ hai điều:
|
|
1. That we are considering solely an idea in the mind of the soul and dealing with the basic fact of the illusion which has controlled the entire cycle of incarnation and so held the soul a prisoner to form. To the soul, the personality connotes two things.
|
1. Rằng chúng ta chỉ đang xem xét một ý tưởng trong trí tuệ của linh hồn và đang đề cập đến sự kiện căn bản của ảo tưởng đã kiểm soát toàn bộ chu kỳ nhập thể và do đó giam giữ linh hồn làm tù nhân của hình tướng. Đối với linh hồn, phàm ngã hàm ý hai điều.
|
|
a. The soul’s capacity for identification with form; this is first of all realised by the soul when the personality is beginning to react to a measure of real integration.
|
a. Năng lực của linh hồn trong việc đồng hoá với hình tướng; điều này trước hết được linh hồn nhận ra khi phàm ngã bắt đầu đáp ứng với một mức độ tích hợp thực sự.
|
|
b. An opportunity for initiation.
|
b. Một cơ hội để điểm đạo.
|
|
2. That the elimination of the thoughtform of the personality, which is consummated at the third initiation, is a great initiation for the soul on its own plane. For this reason, the third initiation is regarded as the first major initiation, since the two previous initiations have very little effect upon the soul and only affect the incarnated soul, the “fragment” of the whole.
|
2. Rằng sự loại bỏ hình tư tưởng của phàm ngã, được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ ba, là một cuộc điểm đạo lớn đối với linh hồn trên cõi riêng của nó. Vì lý do này, lần điểm đạo thứ ba được xem là cuộc điểm đạo lớn đầu tiên, vì hai lần điểm đạo trước đó có rất ít tác động lên linh hồn và chỉ ảnh hưởng đến linh hồn nhập thể, “mảnh” của toàn thể.
|
|
These are facts which are little realised and seldom emphasised in any of the literature hitherto published. The emphasis up till now has been upon the initiations as they affect the disciple in the three worlds. But I am specifically dealing with the initiations as they affect or do not affect the soul, overshadowing its reflection, the personality, in the three worlds. What I have said, therefore, will have little meaning for the average reader.
|
Đây là những sự kiện ít được chứng nghiệm và hiếm khi được nhấn mạnh trong bất kỳ tài liệu nào đã được xuất bản cho đến nay. Sự nhấn mạnh từ trước đến nay là vào các cuộc điểm đạo khi chúng ảnh hưởng đến đệ tử trong ba cõi giới. Nhưng tôi đang đặc biệt bàn đến các cuộc điểm đạo khi chúng ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến linh hồn, vốn phủ bóng phản chiếu của nó là phàm ngã trong ba cõi giới. Vì vậy, điều tôi đã nói sẽ có rất ít ý nghĩa đối với độc giả trung bình.
|
|
From the angle of the personal self, regarding itself as the Dweller on the Threshold, the attitude or state of mind has been inadequately portrayed as one of complete obliteration in the light of the soul; the glory of the Presence, transmuted [516] by the Angel, is such that the personality completely disappears, with its demands and its aspirations. Naught is left but the shell, the sheath and the instrument through which the solar light can pour for the helping of humanity. This is true to a certain degree, but is only—in the last analysis—man’s attempt to put into words the transmuting and the transfiguring effect of the third initiation, which cannot be done.
|
Từ góc độ của bản ngã cá nhân, tự xem mình là Kẻ Chận Ngõ, thái độ hay trạng thái trí tuệ đã được mô tả chưa đầy đủ như là một sự xóa sạch hoàn toàn trong ánh sáng của linh hồn; vinh quang của Hiện Diện, được chuyển hoá [516] bởi Thiên Thần, lớn đến mức phàm ngã hoàn toàn biến mất, cùng với các đòi hỏi và khát vọng của nó. Không còn gì ngoài cái vỏ, cái bao và công cụ qua đó ánh sáng thái dương có thể tuôn đổ để trợ giúp nhân loại. Điều này đúng ở một mức độ nào đó, nhưng rốt cuộc chỉ là nỗ lực của con người nhằm diễn đạt bằng lời hiệu quả chuyển hoá và Biến hình của lần điểm đạo thứ ba, điều không thể làm được.
|
|
Infinitely more difficult is the attempt I am here making to depict the attitude and the reactions of the soul, the one self, the Master in the heart, as it recognises the stupendous fact of its own essential liberation and realises once and for all, that it is now incapable of responding in any way to lower vibrations of the three worlds, as transmitted to the soul by its instrument of contact, the personality form. That form is now incapable of transmission.
|
Khó khăn hơn vô cùng là nỗ lực mà tôi đang thực hiện ở đây để mô tả thái độ và các phản ứng của linh hồn, bản ngã duy nhất, vị Chân sư trong tim, khi nó nhận ra sự kiện phi thường về sự giải thoát cốt yếu của chính mình và chứng nghiệm một lần là mãi mãi rằng giờ đây nó không còn khả năng đáp ứng theo bất kỳ cách nào đối với các rung động thấp hơn của ba cõi giới, như được truyền đến linh hồn bởi công cụ tiếp xúc của nó là hình tướng phàm ngã. Hình tướng ấy giờ đây không còn khả năng truyền dẫn.
|
|
The second reaction of the soul, once this realisation has been focussed and admitted, is that—having achieved freedom—that freedom now conveys its own demands:
|
Phản ứng thứ hai của linh hồn, một khi sự chứng nghiệm này đã được tập trung và thừa nhận, là—sau khi đã đạt được tự do—sự tự do ấy giờ đây mang theo những đòi hỏi riêng của nó:
|
|
1. For a life of service in the three worlds, so familiar and now so completely transcended.
|
1. Một đời sống phụng sự trong ba cõi giới, vốn rất quen thuộc và nay đã được siêu vượt hoàn toàn.
|
|
2. An overshadowing sense of outgoing love towards those who are, as yet, seeking liberation.
|
2. Một cảm thức bác ái tuôn ra bao trùm đối với những người vẫn còn đang tìm kiếm sự giải thoát.
|
|
3. A recognition of the essential triangle which has now become the centre of the conceptual life of the soul:
|
3. Một sự nhận biết về tam giác cốt yếu, giờ đây đã trở thành trung tâm của đời sống khái niệm của linh hồn:
|
|
[517]
|
[517]
|
|
The soul now vibrates between the two points or pairs of opposites and acts as an invocative and evocative centre.
|
Giờ đây linh hồn rung động giữa hai điểm hay hai cặp đối cực và hoạt động như một trung tâm khẩn cầu và gợi lên.
|
|
None of the above realisations may be registered in the brain consciousness or in the mind of the illumined personality. Theoretically, some dim vision of the inherent possibilities may be sensed, but the consciousness is no longer that of the serving disciple in the three worlds, using mind, emotions and physical body to carry out behest and hierarchical intent, as far as may be. That has disappeared with the death of the personality consciousness. The consciousness is now that of the soul itself, aware of no separation, instinctively active, spiritually obsessed by the plans of the Kingdom of God, and completely free from the lure or the faintest control of matter-form; the soul is, however, still responsive to and immersed in substance-energy, and its higher correspondence is still functioning on the levels of the cosmic physical plane—the buddhic, atmic, monadic and logoic planes.
|
Không một chứng nghiệm nào ở trên có thể được ghi nhận trong tâm thức não bộ hay trong trí tuệ của phàm ngã được soi sáng. Về mặt lý thuyết, có thể cảm nhận được một linh ảnh mờ nhạt nào đó về các khả năng vốn có, nhưng tâm thức không còn là tâm thức của người đệ tử phụng sự trong ba cõi giới, sử dụng trí tuệ, cảm xúc và thể xác để thực hiện mệnh lệnh và ý định của Thánh Đoàn trong mức có thể. Điều đó đã biến mất cùng với cái chết của tâm thức phàm ngã. Giờ đây tâm thức là tâm thức của chính linh hồn, không nhận biết sự phân ly nào, hoạt động theo bản năng, bị ám ảnh một cách tinh thần bởi các kế hoạch của Thiên Giới, và hoàn toàn tự do khỏi sự quyến rũ hay sự kiểm soát dù mờ nhạt nhất của vật chất-hình tướng; tuy nhiên, linh hồn vẫn còn đáp ứng với và đắm mình trong năng lượng-chất liệu, và đối phần cao hơn của nó vẫn còn hoạt động trên các cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ—các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoi.
|
|
What then must take place if the life of the soul is to be full and complete and so thoroughly inclusive that the three worlds form part of its area of awareness and its field of service? The only way in which I can make clear to you what the soul must do after the third initiation is to sum it up in two ways:
|
Vậy thì điều gì phải diễn ra nếu đời sống của linh hồn phải viên mãn và trọn vẹn, và bao gồm đến mức ba cõi giới tạo thành một phần trong phạm vi nhận biết và lĩnh vực phụng sự của nó? Cách duy nhất để tôi có thể làm rõ cho các bạn điều linh hồn phải làm sau lần điểm đạo thứ ba là tóm lược theo hai cách:
|
|
First: The soul now becomes a conscious creator because the third aspect—developed and mastered through experience in the three worlds during the long cycle of incarnations—has reached a point of perfected activity. Putting it technically: the energy of the knowledge petals and the energy of the love petals are now so actively fused and blended that two of the inner petals, surrounding the jewel in the lotus, are no longer acting [518] as veils to that jewel. I am here speaking symbolically. Because of this happening, the death or the elimination of the personality is the first activity in the drama of conscious creation, and the first form created by the soul is a substitute for the personality. Thus an instrument for service in the three worlds is created. This time, however, it is an instrument with no life, no desire, no ambition and no power of thought of its own. It is only a sheath of substance, animated by soul life but—at the same time—responsive to and suited to the period, race and the environing conditions wherein the creating soul chooses to work. Think this statement out and emphasise the words “suited to.”
|
Thứ nhất: Giờ đây linh hồn trở thành một đấng sáng tạo có ý thức vì phương diện thứ ba—được phát triển và làm chủ qua kinh nghiệm trong ba cõi giới suốt chu kỳ dài của các lần nhập thể—đã đạt đến một điểm hoạt động hoàn hảo. Nói theo thuật ngữ kỹ thuật: năng lượng của các cánh hoa tri thức và năng lượng của các cánh hoa bác ái giờ đây được dung hợp và hòa trộn tích cực đến mức hai cánh hoa bên trong, bao quanh ngọc châu trong hoa sen, không còn hoạt động [518] như những tấm màn che ngọc châu ấy nữa. Ở đây tôi đang nói một cách biểu tượng. Do biến cố này, cái chết hay sự loại bỏ phàm ngã là hoạt động đầu tiên trong vở kịch của sự sáng tạo có ý thức, và hình tướng đầu tiên do linh hồn tạo ra là một vật thay thế cho phàm ngã. Như vậy một công cụ để phụng sự trong ba cõi giới được tạo ra. Tuy nhiên lần này, đó là một công cụ không có sự sống, không có ham muốn, không có tham vọng và không có năng lực tư tưởng riêng. Nó chỉ là một cái bao bằng chất liệu, được sự sống linh hồn làm sinh động nhưng—đồng thời—đáp ứng với và thích hợp với thời kỳ, nhân loại và các điều kiện môi trường mà linh hồn sáng tạo chọn để hoạt động. Hãy suy nghĩ kỹ về phát biểu này và nhấn mạnh các từ “thích hợp với.”
|
|
Second. The soul then prepares itself for the coming fourth initiation. This is basically a monadic experience and results—as you know—in the disappearance or destruction of the soul vehicle or causal body, and the establishment, therefore, of a direct relation between the monad on its own plane and the newly created personality, via the antahkarana.
|
Thứ hai. Khi đó linh hồn chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư sắp đến. Về căn bản đây là một kinh nghiệm chân thần và dẫn đến—như các bạn biết—sự biến mất hay hủy diệt của vận cụ linh hồn hay thể nguyên nhân, và do đó thiết lập một mối liên hệ trực tiếp giữa chân thần trên cõi riêng của nó và phàm ngã mới được tạo ra, qua antahkarana.
|
|
These two points are given to you for the first time in the sequential giving out of the occult teaching; hints have, however, prepared the way for these two facts. Information has also been given anent the mayavirupa through which the Master works and contacts the three worlds and which He deliberately creates in order to serve His purposes and plans. It is a definite substitute for the personality and can only be created when the old personality (built and developed during the cycle of incarnation) has been eliminated. I prefer the word “eliminated” to the word “destroyed.” The structure—at the time of elimination—persists, but its separative life has gone.
|
Hai điểm này được trao cho các bạn lần đầu tiên trong trình tự truyền ra giáo huấn huyền bí; tuy nhiên, các ám chỉ đã chuẩn bị đường cho hai sự kiện này. Thông tin cũng đã được đưa ra liên quan đến mayavirupa mà qua đó Chân sư hoạt động và tiếp xúc với ba cõi giới, và Ngài cố ý tạo ra nó để phụng sự các mục đích và kế hoạch của Ngài. Nó là một vật thay thế xác định cho phàm ngã và chỉ có thể được tạo ra khi phàm ngã cũ (được xây dựng và phát triển trong chu kỳ nhập thể) đã bị loại bỏ. Tôi thích từ “loại bỏ” hơn từ “hủy diệt.” Cấu trúc—vào lúc bị loại bỏ—vẫn tồn tại, nhưng sự sống phân ly của nó đã mất đi.
|
|
[519]
|
[519]
|
|
If you will think clearly about this statement, you will see that a very complete integration is now possible. The personality life has been absorbed; the personality form is still left, but it persists without any real life of its own; this means that it can now be the recipient of energies and forces needed by the working initiate or Master in order to carry on the work or salvaging humanity. Students would find it of value to study the three “appearances of the Christ” as recorded in the Gospel story:
|
Nếu các bạn suy nghĩ rõ ràng về phát biểu này, các bạn sẽ thấy rằng giờ đây một sự tích hợp rất hoàn chỉnh là điều khả hữu. Đời sống phàm ngã đã được hấp thu; hình tướng phàm ngã vẫn còn đó, nhưng nó tồn tại mà không có sự sống thực sự nào của riêng nó; điều này có nghĩa là giờ đây nó có thể là kẻ tiếp nhận các năng lượng và mãnh lực mà điểm đạo đồ hay Chân sư đang hoạt động cần đến để tiếp tục công việc cứu vớt nhân loại. Đạo sinh sẽ thấy có ích nếu nghiên cứu ba “sự xuất hiện của Đức Christ” như được ghi lại trong câu chuyện Phúc Âm:
|
|
1. His transfigured appearance upon the Mount of Transfiguration. That episode depicts symbolically the radiant soul, and also the three vacated bodies of the personality, and hints also at a future building of a vehicle of manifestation. St. Peter says, “Lord, let us here build three huts” or tabernacles.
|
1. Sắc tướng Biến hình của Ngài trên Núi Biến Hình. Biến cố đó mô tả một cách biểu tượng linh hồn rạng ngời, và cũng mô tả ba thể bị bỏ trống của phàm ngã, đồng thời cũng ám chỉ đến việc xây dựng trong tương lai một vận cụ biểu hiện. Thánh Peter nói: “Lạy Chúa, xin cho chúng con dựng ở đây ba lều” hay ba nhà tạm.
|
|
2. His appearance as truth itself (silent yet present) before the bar or judgment seat of Pilate—repudiated by the world of men but recognised by the Hierarchy.
|
2. Sự xuất hiện của Ngài như chính chân lý (im lặng nhưng hiện diện) trước pháp đình hay tòa xét xử của Pilate—bị thế giới loài người chối bỏ nhưng được Thánh Đoàn công nhận.
|
|
3. His radiant appearances after the resurrection initiation:
|
3. Những lần xuất hiện rạng ngời của Ngài sau cuộc điểm đạo phục sinh:
|
|
a. To the woman at the sepulchre—symbolising His contact with Humanity.
|
a. Với người phụ nữ bên mộ—biểu tượng cho sự tiếp xúc của Ngài với Nhân Loại.
|
|
b. To the two disciples on the way to Emmaus—symbolising His contact with the Hierarchy.
|
b. Với hai đệ tử trên đường đến Emmaus—biểu tượng cho sự tiếp xúc của Ngài với Thánh Đoàn.
|
|
c. To the twelve disciples in the upper chamber—symbolising His contact with the Council Chamber of the Lord of the World at Shamballa.
|
c. Với mười hai đệ tử trong phòng trên lầu—biểu tượng cho sự tiếp xúc của Ngài với Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa.
|
|
You can thus see the factual nature of the results to which I earlier referred in this instruction. The disciple who has eliminated (in the technical sense as well as in the mystical sense) the hold of the personality has now the “freedom of the Ashram,” as it is called; he can move at will among his fellow disciples and initiates. There will be nothing in his [520] vibratory life or his quality which can disturb the rhythm of the Ashram; there will be nothing to call forth the “calming intervention” of the Master, as is frequently the case during the earlier stages of discipleship; nothing can now interfere with those higher contacts and spheres of influence which have hitherto been sealed to the disciple because of the intrusion of his own personality.
|
Như vậy các bạn có thể thấy bản chất thực tế của các kết quả mà trước đây tôi đã đề cập trong huấn thị này. Đệ tử đã loại bỏ (theo nghĩa kỹ thuật cũng như theo nghĩa thần bí) sự kềm giữ của phàm ngã giờ đây có “tự do của Ashram”, như cách gọi; y có thể di chuyển tùy ý giữa các đệ tử đồng môn và các điểm đạo đồ của mình. Sẽ không có gì trong đời sống rung động [520] hay phẩm tính của y có thể làm xáo trộn nhịp điệu của ashram; sẽ không có gì gọi ra “sự can thiệp làm dịu” của Chân sư, như thường xảy ra trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử; giờ đây không gì có thể cản trở những tiếp xúc cao hơn và những phạm vi ảnh hưởng vốn trước đây đã bị niêm phong đối với đệ tử vì sự xâm nhập của chính phàm ngã của y.
|