CHAPTER IV – Some Questions Answered — CHƯƠNG IV – Giải Đáp Một Số Câu Hỏi
|
[306] |
[306] |
|
Most questions asked by the neophyte would remain unasked if he had more patience and understood better what he was studying. Beginners need to await developments in themselves and expand their consciousness normally under instruction. However, the teacher may invite the asking of questions and for reasons: |
Phần lớn những câu hỏi do người sơ cơ nêu ra hẳn đã không được hỏi nếu y có nhiều kiên nhẫn hơn và hiểu rõ hơn điều mình đang học. Người mới bắt đầu cần chờ đợi những phát triển trong chính mình và mở rộng tâm thức một cách bình thường dưới sự hướng dẫn. Tuy nhiên, huấn sư có thể mời đặt câu hỏi và vì những lý do sau: |
|
1. Because where a group is involved and the members are very intelligent, through their questionings they could make much progress in learning to know and understand each other. Threads of intercourse could be set up which would link them more closely together. |
1. Bởi vì khi một nhóm có liên quan và các thành viên rất thông minh, qua việc chất vấn, họ có thể tiến bộ nhiều trong việc học cách biết và thấu hiểu nhau. Những sợi dây giao tiếp có thể được thiết lập để liên kết họ chặt chẽ hơn với nhau. |
|
2. Because through the questions, the teacher himself can enter into a closer rapport with the students’ viewpoint. For example, myself, and the Western point of view as regards the healing art. |
2. Bởi vì qua các câu hỏi, chính huấn sư cũng có thể đi vào một sự hòa điệu gần gũi hơn với quan điểm của các đạo sinh. Chẳng hạn như bản thân tôi, và quan điểm phương Tây đối với nghệ thuật chữa bệnh. |
|
Forget not that I am an Oriental in the last analysis, and such is my background and training. I may know profoundly more about the healing art than you do and about the energies which constitute the human body, but your point of view, your terminologies, and your attitudes of mind are still somewhat foreign to me. Your questions would help me to understand your background and your limitations, and so enable me to aid you with greater intelligence. |
Đừng quên rằng rốt cuộc tôi là một người Đông phương, và đó là bối cảnh cùng sự đào luyện của tôi. Tôi có thể biết sâu xa hơn các bạn rất nhiều về nghệ thuật chữa bệnh và về những năng lượng cấu thành thể người, nhưng quan điểm, thuật ngữ và thái độ trí tuệ của các bạn vẫn còn phần nào xa lạ đối với tôi. Những câu hỏi của các bạn sẽ giúp tôi hiểu bối cảnh và những giới hạn của các bạn, và nhờ đó giúp tôi có thể trợ giúp các bạn một cách thông tuệ hơn. |
|
[307] |
[307] |
|
3. Because asking of intelligent questions is the occult method of focussing the mind, of synthesising knowledge, and of becoming aware of the field of inquiry, and of possible expansions of consciousness. |
3. Bởi vì việc đặt ra những câu hỏi thông minh là phương pháp huyền bí để tập trung trí tuệ, tổng hợp tri thức, và trở nên nhận biết lĩnh vực khảo cứu cũng như những khả năng mở rộng tâm thức. |
|
On the Nature of Congestion. |
Về Bản Chất của Sự Sung Huyết. |
|
How can I define congestion for you when the understanding of force and energy and their relation to each other in the human body is still as yet an embryonic study? To say that congestion is congealed force is misleading; to say that it is static energy means little; to say that it is irregular or non-rhythmic vibration hardly makes sense. My problem is lack of words and of correct terms in which to carry to you esoteric truth. |
Làm sao tôi có thể định nghĩa sự sung huyết cho các bạn khi sự hiểu biết về mãnh lực và năng lượng cùng mối liên hệ của chúng với nhau trong thể người vẫn còn là một ngành nghiên cứu phôi thai? Nói rằng sung huyết là mãnh lực bị đông đặc thì gây hiểu lầm; nói rằng đó là năng lượng tĩnh tại thì chẳng nói lên được bao nhiêu; nói rằng đó là rung động bất thường hay phi nhịp điệu thì hầu như không có nghĩa. Vấn đề của tôi là thiếu từ ngữ và thuật ngữ chính xác để truyền đạt cho các bạn chân lý huyền bí. |
|
Congestion is perhaps best defined as the arresting of the free flow of the force through the centres or centre and throughout the body. It exists in two forms: |
Có lẽ sự sung huyết được định nghĩa đúng nhất là sự ngăn trở dòng chảy tự do của mãnh lực qua các trung tâm hay trung tâm và khắp cơ thể. Nó tồn tại dưới hai hình thức: |
|
1. That congestion which produces its effect within the centre itself, and therefore and consequently, upon the gland. It is inhibited, either as it pours into the centre (when it does not affect the gland except in a negative sense), or as it leaves it (when its effect will be positive in some way or another). When the difficulty takes place as it pours into the centre, then the energy is thrown back upon its originating source—either the astral or mental bodies—and you have a psychological inhibition. There is no impetus from within to which the allied gland can respond. When the difficulty is in the outlet into the physical body, you will have no free flow of force, the gland related to the centre will be definitely affected, and either be overstimulated by the nonrhythmic flow or undernourished. This in turn affects the glandular secretion and later the blood stream.[308] |
1. Sự sung huyết tạo ra tác động bên trong chính trung tâm, và do đó, hệ quả là lên tuyến. Nó bị ức chế, hoặc khi tuôn vào trung tâm (khi ấy nó không ảnh hưởng đến tuyến ngoại trừ theo nghĩa tiêu cực), hoặc khi rời khỏi trung tâm (khi ấy tác động của nó sẽ mang tính tích cực theo cách này hay cách khác). Khi khó khăn xảy ra lúc nó tuôn vào trung tâm, thì năng lượng bị dội ngược về nguồn phát sinh của nó—hoặc các thể cảm dục hoặc thể trí—và các bạn có một sự ức chế tâm lý. Không có xung lực từ bên trong để tuyến liên hệ có thể đáp ứng. Khi khó khăn nằm ở lối thoát vào thể hồng trần, các bạn sẽ không có dòng chảy tự do của mãnh lực, tuyến liên hệ với trung tâm sẽ bị ảnh hưởng rõ rệt, và hoặc bị kích thích quá mức bởi dòng chảy phi nhịp điệu hoặc bị thiếu nuôi dưỡng. Điều này đến lượt nó ảnh hưởng đến sự bài tiết của tuyến và sau đó đến dòng máu.[308] |
|
2. That congestion which takes place as the energy or the life force flows throughout the physical body, and as it flows finds there certain forms of weakness, various diseased areas and regions where its flow is impeded or too rapidly circulated. The flow of energy can be arrested in certain areas and can nourish also diseased areas in the body, or can also cure and cleanse them. A temporary congestion can be of beneficent value as well as a malefic force. This may surprise you? |
2. Sự sung huyết xảy ra khi năng lượng hay sinh lực chảy khắp thể hồng trần, và trong khi chảy, nó gặp ở đó những dạng yếu kém nhất định, những vùng bệnh khác nhau và những khu vực nơi dòng chảy của nó bị cản trở hoặc lưu chuyển quá nhanh. Dòng năng lượng có thể bị ngăn lại ở một số khu vực và cũng có thể nuôi dưỡng những vùng bệnh trong cơ thể, hoặc cũng có thể chữa lành và thanh tẩy chúng. Một sự sung huyết tạm thời có thể có giá trị hữu ích cũng như là một mãnh lực có hại. Điều này có thể làm các bạn ngạc nhiên chăng? |
|
Again, I have to repeat how vast is the subject with which we are dealing, and all these earlier instructions and the answers which I give to the questions only serve to show how abstruse the matter is. But if you will have patience and will be willing to learn by absorption more than by analysis, you will later discover that you know much—intuitively and discriminately. |
Một lần nữa, tôi phải lặp lại rằng chủ đề chúng ta đang bàn đến rộng lớn biết bao, và tất cả những chỉ dẫn ban đầu này cùng những câu trả lời tôi đưa ra cho các câu hỏi chỉ nhằm cho thấy vấn đề này sâu kín đến mức nào. Nhưng nếu các bạn kiên nhẫn và sẵn lòng học bằng sự hấp thụ hơn là bằng phân tích, về sau các bạn sẽ khám phá rằng mình biết được nhiều điều—một cách trực giác và có phân biện. |
|
On Ascertaining the Location of Congestion. |
Về Việc Xác Định Vị Trí Sung Huyết. |
|
There are three ways whereby the healer can ascertain the presence and the location of congestion and any other form of difficulty-producing objective disease: |
Có ba cách để nhà chữa bệnh có thể xác định sự hiện diện và vị trí của sự sung huyết cũng như bất kỳ dạng bệnh khách quan gây khó khăn nào khác: |
|
1. There is, first of all, clairvoyance which enables the healer to see visually where the difficulty lies. This form of diagnosis is not always accurate and can be “coloured” by conditions present in the healer himself. |
1. Trước hết là thông nhãn, cho phép nhà chữa bệnh thấy bằng thị giác nơi khó khăn nằm ở đâu. Hình thức chẩn đoán này không phải lúc nào cũng chính xác và có thể bị “nhuốm màu” bởi những điều kiện hiện diện trong chính nhà chữa bệnh. |
|
2. There is a form of direct perception, a process of “clear knowing,” which is a soul faculty and infallible, once a person has been rightly trained in its use. It is a blend of mental and spiritual perception and is definite knowledge, or an intuition, if you like, which enables the healer unerringly to put his finger on the place of difficulty and to know its cause, its effect and its end.[309] |
2. Có một hình thức tri giác trực tiếp, một tiến trình “biết rõ ràng,” là một năng lực của linh hồn và không sai lầm, một khi người ta đã được đào luyện đúng đắn trong việc sử dụng nó. Đó là sự hòa trộn giữa tri giác trí tuệ và tri giác tinh thần, và là tri thức xác định, hay trực giác nếu các bạn muốn gọi như vậy, giúp nhà chữa bệnh đặt ngón tay của mình một cách không sai lầm vào chỗ khó khăn và biết được nguyên nhân, tác động và kết cục của nó.[309] |
|
3. There is also a more physical method, which is based on sensitivity in the lower nature, which enables the healer to register in his own body the same difficulty of which the patient is aware. This is called “occult transference” and should only be employed by those who know how to absorb and to dissipate. In this case, the healer can also feel the cause of the disease through the pouring in of energy to the etheric counterpart of the physical plane disease, or as an extreme emotionalism or sensitive response in the astral counterpart. |
3. Cũng có một phương pháp thiên về hồng trần hơn, dựa trên tính nhạy cảm trong bản chất thấp, giúp nhà chữa bệnh ghi nhận trong chính thể mình cùng một khó khăn mà bệnh nhân nhận biết. Điều này được gọi là “chuyển dịch huyền bí” và chỉ nên được dùng bởi những ai biết cách hấp thụ và làm tiêu tan. Trong trường hợp này, nhà chữa bệnh cũng có thể cảm nhận nguyên nhân của bệnh qua sự tuôn vào của năng lượng đến đối phần dĩ thái của bệnh trên cõi hồng trần, hoặc như một cảm xúc cực đoan hay một đáp ứng nhạy cảm trong đối phần cảm dục. |
|
Về Nguyên Nhân Kép của Sự Sung Huyết. |
|
|
Let me make one or two concise statements and then explain. First, subjective condition alone cannot cause an outer congestion. The soul has arranged to express itself through the medium of a body which has certain predispositions. |
Hãy để tôi đưa ra một hay hai phát biểu ngắn gọn rồi giải thích. Thứ nhất, chỉ riêng điều kiện chủ quan không thể gây ra một sự sung huyết bên ngoài. Linh hồn đã sắp đặt để biểu lộ qua trung gian của một thể có những khuynh hướng sẵn có nhất định. |
|
Second, the subjective is a causative factor when in collaboration with the inherited tendencies of the physical body; therefore, all congestion cannot be avoided, for the subjective life determines the condition and the physical body is predisposed to certain diseases. This is the will of the soul. Might I point out that at this stage of human evolution, no subjective conditions are ever right? |
Thứ hai, yếu tố chủ quan là một nhân tố gây ra khi nó cộng tác với những xu hướng di truyền của thể xác; vì vậy, không phải mọi sự sung huyết đều có thể tránh được, bởi vì đời sống chủ quan quyết định tình trạng và thể xác có khuynh hướng sẵn đối với một số bệnh nhất định. Đây là ý chí của linh hồn. Tôi có thể chỉ ra rằng ở giai đoạn tiến hóa hiện nay của nhân loại, không có điều kiện chủ quan nào là hoàn toàn đúng chăng? |
|
Third, an outer condition alone cannot be a causative factor. If I am right in my major premises (and this the new and coming science will prove), then the observations of the medical world will need to be readjusted to the facts. The causative factor exists in the meeting of the inner and the outer existing factors. |
Thứ ba, chỉ riêng một điều kiện bên ngoài không thể là một nhân tố gây ra. Nếu những tiền đề chính của tôi là đúng (và khoa học mới đang đến sẽ chứng minh điều này), thì những quan sát của giới y khoa sẽ cần được điều chỉnh lại cho phù hợp với các sự kiện. Nhân tố gây ra tồn tại trong sự gặp gỡ giữa các yếu tố hiện hữu bên trong và bên ngoài. |
|
Let me make the matter a little clearer, for confusion may be caused by the idea that disease is the result of two causes—an inner cause and an outer cause. The subjective [310] situation is the initiating cause. Some psychological factor, leading to a wrong use of energy, sets in motion those inner tendencies which find their way out, as vital determining factors, on to the physical plane. There they come into contact with the physical body or expression which has certain predispositions, certain inherited weaknesses, certain glandular deficiencies—all of which were part of the needed equipment whereby the soul determined that certain needed lessons should he mastered. The relation established between the outer and the inner forces is the basic cause (expressing itself in two causes) which produces some form of disease. It is again the negative and the positive aspects brought into a relation which produces a third factor: the manifestation of some form of disease. |
Hãy để tôi làm cho vấn đề sáng tỏ hơn một chút, vì có thể nảy sinh sự lẫn lộn từ ý tưởng cho rằng bệnh tật là kết quả của hai nguyên nhân—một nguyên nhân bên trong và một nguyên nhân bên ngoài. Tình huống chủ quan [310] là nguyên nhân khởi phát. Một yếu tố tâm lý nào đó, dẫn đến việc sử dụng sai năng lượng, khởi động những xu hướng bên trong tìm đường thoát ra, như những yếu tố quyết định sinh động, lên cõi hồng trần. Ở đó chúng tiếp xúc với thể xác hay sự biểu lộ có những khuynh hướng sẵn có nhất định, những yếu kém di truyền nhất định, những thiếu hụt tuyến nhất định—tất cả đều là một phần của trang bị cần thiết nhờ đó linh hồn quyết định rằng một số bài học cần thiết phải được lĩnh hội. Mối liên hệ được thiết lập giữa các mãnh lực bên ngoài và bên trong là nguyên nhân căn bản (biểu lộ thành hai nguyên nhân) tạo ra một dạng bệnh nào đó. Một lần nữa, đó là các phương diện tiêu cực và tích cực được đặt vào một mối liên hệ tạo ra yếu tố thứ ba: sự biểu lộ của một dạng bệnh nào đó. |
|
If you speak of perfect physical conditions, I know of no such conditions or of any physical body or physical environment to which such a term could be applied. There must be both the inner psychological situation and cause, which is the subjective reality (on a tiny scale), and the outer physical condition, manifesting as a weakness or as imperfections; these, in their turn, are a tendency from a previous life, a predisposition, an hereditary lesion or a latent difficulty, based on earlier life interests or malpractice. Bring these two major determining factors together and—under the law—you will inevitably have some visible manifestation of physical disease or difficulty; this can be serious or relatively unimportant; it can be dangerous to life or capable of providing only temporary discomfort. No outer condition alone is adequate to produce disease, but the difficulty is that modern medicine does not yet permit the hypothesis of hidden cause except those superficial ones such as, for instance, that worry and intense anxiety can aggravate existing heart trouble. It does not yet permit of those factors which trace back to an earlier life. In the case of contagious [311] diseases, the inner cause is of group origin, and has therefore an outer group effect and is an expression of group karma. The difficulty of the matter is consequently great. |
Nếu các bạn nói về những điều kiện hồng trần hoàn hảo, tôi không biết có điều kiện như thế nào, hay có thể xác hay môi trường hồng trần nào mà thuật ngữ ấy có thể áp dụng được. Phải có cả tình huống và nguyên nhân tâm lý bên trong, vốn là thực tại chủ quan (trên một quy mô nhỏ bé), lẫn điều kiện hồng trần bên ngoài, biểu lộ như một sự yếu kém hay những bất toàn; đến lượt chúng, đây là một xu hướng từ kiếp trước, một khuynh hướng sẵn có, một tổn thương di truyền hay một khó khăn tiềm ẩn, dựa trên những mối quan tâm hay sự lạm dụng trong đời sống trước. Hãy đưa hai yếu tố quyết định chính này lại với nhau và—dưới định luật—các bạn tất yếu sẽ có một biểu hiện hữu hình nào đó của bệnh tật hay khó khăn hồng trần; nó có thể nghiêm trọng hoặc tương đối không quan trọng; có thể nguy hiểm đến tính mạng hoặc chỉ gây ra sự khó chịu tạm thời. Không một điều kiện bên ngoài nào tự nó đủ để gây ra bệnh, nhưng khó khăn là ở chỗ y học hiện đại chưa cho phép giả thuyết về nguyên nhân ẩn kín ngoại trừ những nguyên nhân hời hợt như chẳng hạn lo lắng và âu sầu dữ dội có thể làm trầm trọng thêm chứng bệnh tim sẵn có. Nó chưa chấp nhận những yếu tố truy ngược về một đời sống trước. Trong trường hợp các bệnh truyền nhiễm [311], nguyên nhân bên trong có nguồn gốc nhóm, và do đó có một tác động nhóm bên ngoài và là biểu hiện của nghiệp quả nhóm. Vì vậy, sự khó khăn của vấn đề là rất lớn. |
|
There must be, as you perceive, two existing factors, and these, when related and stimulated, produce the appearance of disease. It should be remembered that the question of the soul’s choosing of a body and the type of vehicle wherein certain types of lessons can be learned and certain educative experiences mastered, is a little-understood theme. In connection with this, I would remind you that disease is often a mode of clearance and ultimately beneficent in its effects. It is the working out into manifestation of an inner undesirable factor, and when the inner and the outer causes are brought out into the clear light of day they can be handled, understood and often dissipated and ended through the tribulation of disease and suffering. But this is a hard saying. |
Như các bạn thấy, phải có hai yếu tố hiện hữu, và những yếu tố này, khi được liên hệ và kích thích, sẽ tạo ra sự xuất hiện của bệnh tật. Cần nhớ rằng vấn đề linh hồn chọn một thể và loại vận cụ trong đó một số loại bài học có thể được học và một số kinh nghiệm giáo dục có thể được lĩnh hội, là một chủ đề ít được hiểu. Liên hệ với điều này, tôi muốn nhắc các bạn rằng bệnh tật thường là một phương thức thanh lọc và rốt cuộc có tác dụng hữu ích. Nó là sự triển khai vào biểu hiện của một yếu tố không mong muốn bên trong, và khi các nguyên nhân bên trong và bên ngoài được đưa ra ánh sáng ban ngày rõ ràng, chúng có thể được xử lý, được thấu hiểu và thường được làm tiêu tan và chấm dứt qua sự thử thách của bệnh tật và đau khổ. Nhưng đây là một lời khó chấp nhận. |
|
On Certain Types of Disease. |
Về Một Số Loại Bệnh. |
|
Arthritis and diabetes are both diseases which have their origin in the astral body, but if I might put it so inadequately, arthritis is primarily more objective than diabetes, being the result of the satisfaction of physical desire as it expresses itself through food, either in this life or the previous one. There would be little or no arthritis if the race ate with correctness and understood the proper food values and effects. Diabetes is more definitely the result of wrong inner desires, and is not so definitely the result of wrong outer desires. These may originate in this life, as I have said above, or be inherited from a previous existence. In this latter case, the incarnating soul chooses a family in which to be born, which will endow it with a body having a tendency or a natural predisposition to this disease. |
Viêm khớp và tiểu đường đều là những bệnh có nguồn gốc trong thể cảm dục, nhưng nếu tôi có thể diễn đạt một cách chưa đầy đủ như vậy, thì viêm khớp chủ yếu khách quan hơn tiểu đường, vì nó là kết quả của sự thỏa mãn ham muốn thể xác khi biểu lộ qua thức ăn, hoặc trong đời này hoặc trong đời trước. Sẽ có rất ít hoặc không có viêm khớp nếu nhân loại ăn uống đúng đắn và hiểu được giá trị cũng như tác động thích hợp của thực phẩm. Tiểu đường rõ ràng hơn là kết quả của những ham muốn bên trong sai lầm, và không rõ rệt bằng là kết quả của những ham muốn bên ngoài sai lầm. Những điều này có thể phát sinh trong đời này, như tôi đã nói ở trên, hoặc được thừa hưởng từ một kiếp sống trước. Trong trường hợp sau, linh hồn nhập thể chọn một gia đình để sinh ra, gia đình ấy sẽ ban cho nó một thể có khuynh hướng hay một thiên hướng tự nhiên đối với căn bệnh này. |
|
[312] |
[312] |
|
There lies here a vast field of investigation; isolation must be made of the types which easily fall a prey to certain group diseases. |
Ở đây có một lĩnh vực khảo cứu rộng lớn; cần phải cô lập những kiểu người dễ trở thành nạn nhân của một số bệnh nhóm nhất định. |
|
Syphilis and arthritis fall into the category of diseases which are largely based upon the satisfaction of physical desire. Cancer and diabetes are more definitely in the class of diseases which are connected with inner emotional desires and the violent suppressed wish-life of many. The infectious diseases, such as measles and scarlet fever, smallpox or cholera are, curiously enough, definitely group diseases and are definitely allied with the mental nature. This will surprise you but so it is. |
Giang mai và viêm khớp thuộc loại bệnh phần lớn dựa trên sự thỏa mãn ham muốn thể xác. Ung thư và tiểu đường rõ ràng hơn thuộc loại bệnh liên hệ với những ham muốn cảm xúc bên trong và đời sống ham muốn bị dồn nén mãnh liệt của nhiều người. Những bệnh truyền nhiễm, như sởi và ban đỏ, đậu mùa hay dịch tả, kỳ lạ thay, rõ ràng là những bệnh nhóm và rõ ràng liên hệ với bản chất trí tuệ. Điều này sẽ làm các bạn ngạc nhiên nhưng đúng là như vậy. |
|
A student with some insight into occult causes might suppose that when people are changing their focus of attention from the physical nature to the emotional, or from the emotional to the mental, that they become liable to acquire the ancient diseases, such as syphilis and cancer, which the Lemurians acquired. This is not so. |
Một đạo sinh có chút thấu suốt về các nguyên nhân huyền bí có thể cho rằng khi con người đang chuyển trọng tâm chú ý của mình từ bản chất hồng trần sang cảm xúc, hoặc từ cảm xúc sang trí tuệ, thì họ trở nên dễ mắc những bệnh cổ xưa như giang mai và ung thư, những bệnh mà người Lemuria đã mắc phải. Điều này không đúng. |
|
I would remind you that people do not incur these diseases because they made a shift in their consciousness, but through misuse of certain God-given powers. The shift in awareness and the disease are not remotely related to each other. I would remind you, as well, that today people are a blend of the three states of energy which we call physical, emotional and mental, which are the Lemurian, the Atlantean and the Aryan states of consciousness. Scarcely anyone today is a pure type, i.e., predominantly one or the other. They are usually a mixture of all three. You will find it difficult to find a person or a patient “changing his focus of attention from physical to emotional.” He will be either emotional or mental, and at brief times, and from a purely physiological standpoint, physical. The clearest lines of demarcation are to be seen in the case of disciples who are definitely and consciously endeavouring to [313] shift their focus of attention on to the mental plane. Nevertheless, they live predominantly in a region which we call kama-manasic, which means both astral and mental. It is an intermediate level of consciousness. Only broad generalisations are therefore possible. Such a generalisation is that syphilitic conditions are more generally physical in their origin than cancer. Clear lines of demarcation are not possible, and you must always remember that certain diseases may work out in a particular incarnation which have their origin in a very distant past; the seeds of the condition have lain dormant in the so-called permanent atom for ages. They may not be rooted in the tenor or quality of the present life at all. Suddenly they spring to life and influence the present incarnation, and incidentally, proffer opportunity for release. |
Tôi muốn nhắc các bạn rằng con người không mắc những bệnh này vì họ đã chuyển dịch tâm thức của mình, mà vì lạm dụng một số quyền năng do Thượng đế ban cho. Sự chuyển dịch trong nhận biết và bệnh tật không hề có liên hệ gần xa nào với nhau. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng ngày nay con người là sự pha trộn của ba trạng thái năng lượng mà chúng ta gọi là hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, tức các trạng thái tâm thức Lemuria, Atlantis và Arya. Hầu như không ai ngày nay là một kiểu thuần túy, nghĩa là chủ yếu chỉ là một trong ba loại ấy. Họ thường là một hỗn hợp của cả ba. Các bạn sẽ thấy khó tìm được một người hay một bệnh nhân “đang chuyển trọng tâm chú ý từ hồng trần sang cảm xúc.” Y sẽ hoặc là cảm xúc hoặc là trí tuệ, và trong những lúc ngắn ngủi, và từ quan điểm thuần túy sinh lý học, là hồng trần. Những ranh giới phân định rõ nhất được thấy trong trường hợp các đệ tử đang rõ ràng và có ý thức nỗ lực [313] chuyển trọng tâm chú ý của mình lên cõi trí. Tuy nhiên, họ sống chủ yếu trong một vùng mà chúng ta gọi là trí-cảm, nghĩa là vừa cảm dục vừa trí tuệ. Đó là một cấp độ tâm thức trung gian. Vì vậy, chỉ có thể đưa ra những khái quát rộng. Một khái quát như vậy là các tình trạng giang mai nói chung có nguồn gốc hồng trần hơn là ung thư. Không thể có những ranh giới phân định rõ ràng, và các bạn phải luôn nhớ rằng một số bệnh có thể biểu lộ trong một lần lâm phàm đặc thù nhưng có nguồn gốc từ một quá khứ rất xa; những hạt giống của tình trạng ấy đã nằm ngủ yên trong cái gọi là Nguyên tử trường tồn qua nhiều thời đại. Chúng có thể hoàn toàn không bắt rễ trong sắc thái hay phẩm tính của đời sống hiện tại. Đột nhiên chúng bừng sống dậy và ảnh hưởng đến lần lâm phàm hiện tại, đồng thời trao ra cơ hội giải thoát. |
|
On Fever. |
Về Cơn Sốt. |
|
Fever is simply indication of trouble and is a basic way of purification and of elimination. It is an indicator and not a disease in itself. Ponder on this, and apply it on all planes, for physical plane fever has its astral and mental counterparts. It is overexcessive energy which burns up and, in burning, relieves and cures (either through the subjugation of the germ or group of energies which caused it or by the releasing power of death). Where possible, and when the physical body is strong enough to stand the strain, it is well to let the fever have its way for a time, for it is nature’s cure of certain undesirable conditions. Fevers not only give warning of the presence of that which causes distress, but have in themselves definite therapeutic value. But careful watching and balancing will be required—balancing against the energies of the body. Whilst the fever is rampant, the body is rendered relatively futile, and its normal activities are affected. As to the cure and the correct [314] treatment of fevers, much is known by the orthodox medical profession, and this knowledge will suffice until such time as the causes of fevers are better understood and physicians can work with the cause and not with the effect. |
Sốt chỉ đơn giản là dấu hiệu của rối loạn và là một phương thức căn bản của sự thanh lọc và đào thải. Nó là một chỉ báo chứ không phải là bệnh tự thân. Hãy suy gẫm điều này, và áp dụng nó trên mọi cõi, vì cơn sốt trên cõi hồng trần có những đối phần cảm dục và trí tuệ của nó. Đó là năng lượng quá mức đang thiêu đốt và, trong khi thiêu đốt, làm nhẹ bớt và chữa lành (hoặc bằng cách khuất phục mầm bệnh hay nhóm năng lượng đã gây ra nó, hoặc bằng quyền năng giải thoát của cái chết). Khi có thể, và khi thể xác đủ mạnh để chịu được sự căng thẳng, thì nên để cơn sốt diễn tiến theo cách của nó trong một thời gian, vì đó là phương thuốc của thiên nhiên đối với một số tình trạng không mong muốn. Sốt không chỉ cảnh báo về sự hiện diện của điều gây đau đớn, mà còn tự thân có giá trị trị liệu rõ rệt. Nhưng sẽ cần sự theo dõi và quân bình cẩn trọng—quân bình với các năng lượng của cơ thể. Trong khi cơn sốt đang hoành hành, cơ thể trở nên tương đối vô dụng, và các hoạt động bình thường của nó bị ảnh hưởng. Về việc chữa trị và điều trị đúng đắn [314] các cơn sốt, giới y khoa chính thống đã biết nhiều, và tri thức này sẽ đủ dùng cho đến khi các nguyên nhân của sốt được hiểu rõ hơn và các y sĩ có thể làm việc với nguyên nhân chứ không phải với hậu quả. |
|
Over-emotionalism is an astral correspondence of physical fever and indicates a rampant germ of desire which must be dealt with before the fever can subside. An overactive mind which is ill-regulated, very busy but futile in accomplishment, is the mental correspondence. |
Sự quá cảm xúc là một tương ứng cảm dục của cơn sốt hồng trần và chỉ ra một mầm bệnh ham muốn đang hoành hành, cần phải được xử lý trước khi cơn sốt có thể lắng xuống. Một trí tuệ quá hoạt động nhưng điều hành kém, rất bận rộn nhưng vô ích trong thành tựu, là tương ứng trí tuệ. |
|
On the Cure of Cancer. |
Về Việc Chữa Trị Ung Thư. |
|
In all disease of malignant nature, there is a vital core or a living spot of energy which is absorbing, slowly or quickly, as the case may be, the life force in the man. In the early stages of such a disease as cancer, the vital core is not found until the malignant condition is established so potently that it is exceedingly difficult to do anything helpful. Yet the cure is only possible in these early developments and then the cure can be effected, but only again if the will of the patient is invoked. Little can be done in cancer cases unless there is the intelligent cooperation of the one to be healed, for the only method (which I may later elaborate) is to blend the directed will of the patient and of the healing group together into one functioning unit of force. When this has been done, then the invoked and concentrated energy will follow thought, under the ancient law, and so stimulate the area surrounding the cancer (that is, the healthy tissue) that the absorption of the weakened, diseased tissue by the stronger tissue can take place. If the energy is directed to the cancer itself, the cancerous condition will be stimulated and the trouble many times increased. The curing of cancer in the early stages falls therefore into two parts: [315] |
Trong mọi bệnh có tính ác tính, có một lõi sinh lực hay một điểm năng lượng sống đang hấp thụ, chậm hay nhanh tùy trường hợp, sinh lực trong con người. Trong các giai đoạn đầu của một bệnh như ung thư, lõi sinh lực không được tìm thấy cho đến khi tình trạng ác tính đã được thiết lập mạnh đến mức cực kỳ khó làm được điều gì hữu ích. Tuy nhiên, sự chữa trị chỉ có thể thực hiện được trong những giai đoạn phát triển đầu này, và khi ấy việc chữa trị có thể được thực hiện, nhưng một lần nữa chỉ khi ý chí của bệnh nhân được khẩn cầu. Không thể làm được nhiều trong các trường hợp ung thư trừ phi có sự hợp tác thông tuệ của người được chữa lành, vì phương pháp duy nhất (mà sau này tôi có thể trình bày thêm) là dung hợp ý chí có định hướng của bệnh nhân và của nhóm chữa bệnh lại với nhau thành một đơn vị mãnh lực đang hoạt động. Khi điều này đã được thực hiện, thì năng lượng được khẩn cầu và tập trung sẽ đi theo tư tưởng, theo định luật cổ xưa, và như vậy kích thích vùng bao quanh khối ung thư (tức mô lành mạnh) đến mức sự hấp thụ mô bệnh yếu kém bởi mô mạnh hơn có thể diễn ra. Nếu năng lượng được hướng vào chính khối ung thư, tình trạng ung thư sẽ bị kích thích và rối loạn sẽ tăng lên gấp nhiều lần. Vì vậy, việc chữa trị ung thư trong các giai đoạn đầu gồm hai phần: [315] |
|
1. The stimulating of the healthy tissue. |
1. Kích thích mô lành mạnh. |
|
2. The building in of new tissue to replace the diseased tissue which is being gradually absorbed and driven out. |
2. Xây dựng mô mới để thay thế mô bệnh đang dần dần bị hấp thụ và bị đẩy ra ngoài. |
|
Cancer always makes its appearance before there is transmutation of the emotional force, for the reason that there are few disciples (and therefore still fewer of the ordinary and majority of people) who have so transmuted emotion. This condition of freedom from emotion is so seldom to be found that—at this stage of the world’s history—it may be said that it does not exist. |
Ung thư luôn xuất hiện trước khi có sự chuyển hoá mãnh lực cảm xúc, vì lý do là có rất ít đệ tử (và do đó còn ít hơn nữa trong số những người bình thường và đa số nhân loại) đã chuyển hoá cảm xúc đến mức ấy. Tình trạng giải thoát khỏi cảm xúc này hiếm đến nỗi—ở giai đoạn hiện nay của lịch sử thế giới—có thể nói rằng nó không tồn tại. |
|
No one who is an integrated and actively functioning person is ever as prone to such a disease as cancer, or any disease, as is the emotional type; he is far more prone to heart trouble. A full active life prevents such a disease as cancer, but not always. As the forces of life run more slowly, as old age creeps on, cancer often appears, proving the truth of my primary contention. In days such as these, wherein cancer is the second great agent of destruction and mortality (and if I am right that cancer is a planetary disease), then almost anyone is liable to it. Fear is the great predisposing factor. Inertia and emotionalism are, likewise. |
Không ai là một người tích hợp và hoạt động tích cực lại dễ mắc một bệnh như ung thư, hay bất kỳ bệnh nào, bằng kiểu người cảm xúc; y dễ mắc bệnh tim hơn nhiều. Một đời sống đầy đủ và năng động ngăn ngừa một bệnh như ung thư, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Khi các mãnh lực sự sống vận hành chậm hơn, khi tuổi già dần đến, ung thư thường xuất hiện, chứng minh tính đúng đắn của luận điểm căn bản của tôi. Trong những ngày như hiện nay, khi ung thư là tác nhân lớn thứ hai của sự hủy diệt và tử vong (và nếu tôi đúng rằng ung thư là một bệnh hành tinh), thì hầu như bất cứ ai cũng có thể mắc nó. Sợ hãi là yếu tố khuynh hướng sẵn lớn nhất. Tính trì trệ và tính cảm xúc cũng vậy. |
|
On Dementia Praecox. |
Về Chứng Sa Sút Tâm Thần Sớm. |
|
What is dementia praecox? Does the phenomenon evidence a family group tradition? Is there any clue in the fact that it first manifests itself in early adolescence? Is the general practitioner correct in placing it in the category of hopeless cases? These and similar questions are constantly asked by students and practitioners of healing. |
Chứng sa sút tâm thần sớm là gì? Hiện tượng này có biểu lộ một truyền thống nhóm gia đình không? Có đầu mối nào trong sự kiện rằng nó lần đầu biểu lộ vào đầu tuổi thiếu niên không? Vị bác sĩ đa khoa có đúng khi xếp nó vào loại vô phương cứu chữa không? Những câu hỏi này và những câu hỏi tương tự liên tục được các đạo sinh và người hành nghề chữa bệnh nêu ra. |
|
These forms of physical diseases which come under the general head of insanities are far more abstruse than is generally [316] realised. From the standpoint of the esotericist, they fall into the following relatively simple categories: |
Những dạng bệnh hồng trần này, thuộc đầu đề chung là điên loạn, sâu kín hơn nhiều so với điều thường được [316] nhận ra. Từ quan điểm của nhà bí truyền học, chúng thuộc vào các loại tương đối đơn giản sau đây: |
|
1. Those where the difficulty is due to the breaking down of the brain tissue. Far more of these are definitely syphilitic in origin than is generally admitted, and I would remind you that, occultly speaking, that would naturally be the case, for the physical sex organs are a lower correspondence of the negative-positive relation existing in the brain between the two head centres and the pituitary and pineal glands. |
1. Những trường hợp mà khó khăn là do mô não bị suy thoái. Nhiều trường hợp trong số này rõ ràng có nguồn gốc giang mai hơn là điều thường được thừa nhận, và tôi muốn nhắc các bạn rằng, xét theo huyền bí học, điều đó tự nhiên là như vậy, vì các cơ quan sinh dục hồng trần là một tương ứng thấp của mối liên hệ âm-dương tồn tại trong não giữa hai trung tâm đầu và các tuyến yên, tuyến tùng. |
|
2. Those where the difficulty is due to the overstimulation of the brain cells by some forms of energy which overbalance other forms and produce certain serious forms of insanity. |
2. Những trường hợp mà khó khăn là do các tế bào não bị kích thích quá mức bởi một số dạng năng lượng làm mất quân bình các dạng khác và tạo ra một số dạng điên loạn nghiêm trọng. |
|
3. Those where there is no real physical difficulty, no lesions or diseased tissues, but simply a loose connection between the etheric body and the dense physical vehicle. Then obsession or possession can occur. Such cases are frequently (I might say, usually) regarded by the orthodox psychiatrist and medical man as forms of insanity; yet they are not truly so. If the afflicted person can be put again “in possession of himself” by some understanding psychologist, and this is entirely possible, then the trouble is ended. There is a pronounced tendency among the most forward-looking psychologists today, to handle these cases on the hypothesis which I have posited, and that is a definite improvement. |
3. Những trường hợp không có khó khăn hồng trần thực sự, không có tổn thương hay mô bệnh, mà chỉ đơn giản là một mối liên kết lỏng lẻo giữa thể dĩ thái và vận cụ hồng trần đậm đặc. Khi đó có thể xảy ra ám nhập hay bị chiếm hữu. Những trường hợp như vậy thường xuyên (tôi có thể nói là thường là) bị nhà tâm thần học và bác sĩ y khoa chính thống xem là các dạng điên loạn; tuy nhiên, thực ra chúng không phải như vậy. Nếu người bị nạn có thể được một nhà tâm lý học thấu hiểu nào đó giúp đưa trở lại “quyền làm chủ chính mình,” và điều này hoàn toàn có thể, thì rối loạn sẽ chấm dứt. Ngày nay, trong số những nhà tâm lý học có tầm nhìn tiến bộ nhất, có một khuynh hướng rõ rệt là xử lý những trường hợp này theo giả thuyết mà tôi đã nêu ra, và đó là một sự cải thiện rõ ràng. |
|
4. Those wherein certain hereditary forms of mental imbalance occur. These forms of imbalance are caused by happenings in other lives and are in the nature of punishment or retributive karma. To bring this about, the soul deliberately chooses for a physical vehicle that form which will have in it certain inherited taints, driven [317] thereto by the Lords of Karma when the soul is unable to grip its vehicle—as is the case in the unevolved; or with purpose and intent, when the body can be under soul direction because highly evolved. I am not listing these different forms of insanity or imbalance under the various headings, as the theme is too complicated, and often there are several predisposing factors, and often only indications of trouble which may never come to anything serious. I am only giving the categories, leaving to the research scholar the task of eventually listing symptoms and assigning due cause, after much experimental work. That time is only just arriving. |
4. Những trường hợp trong đó xuất hiện một số dạng mất quân bình trí tuệ có tính di truyền. Những dạng mất quân bình này do các biến cố trong những kiếp sống khác gây ra và thuộc bản chất của sự trừng phạt hay nghiệp quả báo ứng. Để tạo ra điều này, linh hồn cố ý chọn làm vận cụ hồng trần hình tướng nào sẽ mang trong nó một số ô nhiễm di truyền nhất định, bị các Đấng Nghiệp Quả thúc đẩy [317] làm như vậy khi linh hồn không thể nắm giữ vận cụ của mình—như trường hợp của những người chưa tiến hoá; hoặc với mục đích và chủ ý, khi thể xác có thể ở dưới sự chỉ đạo của linh hồn vì đã tiến hoá cao. Tôi không liệt kê các dạng điên loạn hay mất quân bình khác nhau này dưới các đề mục khác nhau, vì chủ đề này quá phức tạp, và thường có nhiều yếu tố khuynh hướng phối hợp, và thường chỉ có những dấu hiệu rối loạn có thể không bao giờ dẫn đến điều gì nghiêm trọng. Tôi chỉ nêu ra các loại, để lại cho học giả nghiên cứu nhiệm vụ sau này là liệt kê các triệu chứng và quy định nguyên nhân thích đáng, sau nhiều công trình thực nghiệm. Thời điểm đó chỉ mới vừa đến. |
|
5. Those in which the mind is unduly fixed and static and controls the brain so unreasonably that there seems only one point of view, one attitude to life, and no fluidity and capability of adjustment. Such individuals may suffer, for instance, from what is called idée fixe, or they may be completely the victim of some obsessing mental thought. Such mental obsessions can range all the way from a mild fanaticism to religious mania, with its accompanying characteristics of sadism, ruthlessness and general morbidity. |
5. Những trường hợp trong đó trí tuệ bị cố định và tĩnh tại quá mức, kiểm soát bộ não một cách phi lý đến nỗi dường như chỉ có một quan điểm, một thái độ đối với cuộc sống, và không có sự linh động hay khả năng thích ứng. Chẳng hạn, những cá nhân như thế có thể mắc điều được gọi là idée fixe, hoặc họ có thể hoàn toàn là nạn nhân của một ý nghĩ trí tuệ ám ảnh nào đó. Những ám ảnh trí tuệ như thế có thể trải dài từ một thứ cuồng tín nhẹ cho đến chứng loạn trí tôn giáo, với các đặc tính đi kèm là tính bạo dâm, sự tàn nhẫn và trạng thái bệnh hoạn nói chung. |
|
Dementia praecox comes under the first and the fourth groupings and is a blend, usually, of the factors descriptive of both. It is inherited in every case and, if not apparently physically so, is then based on inherited astral conditions, which in their turn aid in determining the physical condition. It is syphilitic in origin (often carried over from another life) and is, in this particular life, quite incurable. |
Chứng sa sút trí tuệ sớm thuộc vào nhóm thứ nhất và thứ tư, và thường là một sự pha trộn của các yếu tố mô tả cả hai. Trong mọi trường hợp, nó đều có tính di truyền và, nếu bề ngoài không phải là di truyền về mặt thể xác, thì khi đó nó dựa trên các điều kiện cảm dục di truyền, mà đến lượt chúng lại giúp quyết định tình trạng thể xác. Nó có nguồn gốc giang mai (thường được mang qua từ một kiếp sống khác) và, trong kiếp sống đặc biệt này, hoàn toàn không thể chữa khỏi. |
|
Its sexual basis is demonstrated by the fact that it manifests itself in early adolescence. The patient can, however, be greatly helped, in the early stages, if the symptoms are duly recognised and his thought life directed, and the [318] dynamic effectiveness of new interests is employed. A spiritual motivation and like interests can sometimes retard the development of the disease; where this is the case and the matter is handled from early life onwards, the worst climaxes can be obviated. To the extent that the patient intelligently tries to help himself, and is protected also by the intelligent care of the physician, he can offset the trouble a great deal, and particularly as far as its repetition in another life is concerned. |
Cơ sở tính dục của nó được chứng minh bởi sự kiện là nó biểu lộ vào đầu tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể được giúp đỡ rất nhiều trong các giai đoạn đầu, nếu các triệu chứng được nhận ra đúng mức và đời sống tư tưởng của y được hướng dẫn, và nếu hiệu quả năng động [318] của những mối quan tâm mới được sử dụng. Một động cơ tinh thần và những mối quan tâm tương tự đôi khi có thể làm chậm sự phát triển của bệnh; khi đúng như vậy và vấn đề được xử lý từ đầu đời trở đi, những cao trào tệ hại nhất có thể được ngăn tránh. Trong chừng mực bệnh nhân cố gắng một cách thông minh để tự giúp mình, và cũng được bảo vệ bởi sự chăm sóc thông minh của vị y sĩ, y có thể hóa giải rắc rối này rất nhiều, đặc biệt là liên quan đến sự tái diễn của nó trong một kiếp sống khác. |
|
Many of these problems are intrinsically tied up with the past, and until the laws which govern rebirth are given to the world it is difficult for me even to explain the processes governing physical inheritance, karmic results, and also what is called retributive karma. The recognition of the subtler forms of disease, and the aid of the psychologist in collaboration with orthodox medicine (which undoubtedly has its place, as, for instance, in the administration of glandular correctives), plus right hygienic handling from childhood onward, will accomplish much and gradually stamp out the mental and brain diseases which are today so numerous and so distressing. |
Nhiều vấn đề trong số này tự bản chất gắn chặt với quá khứ, và cho đến khi các định luật chi phối sự tái sinh được ban ra cho thế gian thì ngay cả việc giải thích các tiến trình chi phối sự di truyền thể xác, các kết quả nghiệp quả, và cả điều được gọi là nghiệp quả báo ứng, đối với tôi cũng khó khăn. Sự nhận biết các dạng bệnh tinh tế hơn, và sự trợ giúp của nhà tâm lý học trong sự cộng tác với y học chính thống (vốn chắc chắn có chỗ đứng của nó, như chẳng hạn trong việc sử dụng các chất điều chỉnh tuyến nội tiết), cộng với sự chăm sóc vệ sinh đúng đắn từ thời thơ ấu trở đi, sẽ hoàn thành được nhiều điều và dần dần xóa bỏ các bệnh trí tuệ và não bộ hiện nay quá nhiều và quá đau khổ. |
|
On Euthanasia. |
Về việc làm chết êm dịu. |
|
Some students are concerned over the organised effort to legalise euthanasia, and wonder about the placing of power of life and death in the hands of the physician. At the same time, they are aware that there is involved also the humane factor, in cases where no surcease can be given to prolonged suffering. To them I would say: |
Một số đạo sinh quan tâm đến nỗ lực có tổ chức nhằm hợp pháp hóa việc làm chết êm dịu, và băn khoăn về việc đặt quyền sinh tử vào tay vị y sĩ. Đồng thời, họ ý thức rằng cũng có yếu tố nhân đạo liên quan, trong những trường hợp không thể làm giảm bớt sự đau khổ kéo dài. Với họ tôi xin nói: |
|
The problem which a consideration of the proposed practice of euthanasia involves will not exist when continuity of consciousness (which negates death) is achieved. That means that the time will come, in the racial development, when the soul will know that its term of physical [319] life is over and will prepare itself to withdraw, in full consciousness, from the form. It will know that the service of the form is no longer required and that it must be discarded. It will know that its sense of awareness, being focussed in the mind nature, is strong enough and vital enough to carry it through the process and the episode of abstraction. When that consciousness has been developed in man, and the process has come to be recognised by the medical profession and the scientific students of the human mechanism, then the whole attitude to death and its processes, involving as they do pain and suffering, will be altered materially. Then the man whose time has come to die may avail himself of certain methods of release which, from the average point of view, might be regarded as involving euthanasia. Modes of abstraction will be studied and applied when death is near, and the process will be regarded as soul withdrawal, as a process of liberation and release. That time is not so far away as you might think. |
Vấn đề mà việc xem xét thực hành được đề nghị về làm chết êm dịu bao hàm sẽ không còn tồn tại khi sự liên tục của tâm thức (điều phủ nhận cái chết) được đạt đến. Điều đó có nghĩa là sẽ đến lúc, trong sự phát triển của nhân loại, linh hồn sẽ biết rằng thời hạn của đời sống hồng trần [319] của mình đã chấm dứt và sẽ tự chuẩn bị để rút ra, trong đầy đủ tâm thức, khỏi hình tướng. Nó sẽ biết rằng sự phụng sự của hình tướng không còn cần thiết nữa và rằng nó phải bị loại bỏ. Nó sẽ biết rằng cảm thức nhận biết của nó, được tập trung trong bản chất trí tuệ, đủ mạnh và đủ sinh động để đưa nó vượt qua tiến trình và giai đoạn trừu xuất. Khi tâm thức đó đã được phát triển nơi con người, và tiến trình này được giới y khoa cùng các nhà nghiên cứu khoa học về bộ máy con người công nhận, thì toàn bộ thái độ đối với cái chết và các tiến trình của nó, vốn bao hàm đau đớn và khổ sở, sẽ thay đổi đáng kể. Khi đó người mà thời điểm chết đã đến có thể sử dụng một số phương pháp giải thoát mà, theo quan điểm thông thường, có thể bị xem là bao hàm việc làm chết êm dịu. Các phương thức trừu xuất sẽ được nghiên cứu và áp dụng khi cái chết đến gần, và tiến trình này sẽ được xem như sự rút lui của linh hồn, như một tiến trình giải phóng và giải thoát. Thời điểm đó không xa như bạn có thể nghĩ. |
|
Today, grave dangers attend the process of hastening withdrawal, and the legal safeguards will require most careful working out, and even then grave and serious issues might develop. But some hastening of the processes of death is in order and must be worked out. Primarily, however, the will-to-die of the patient is not based at this time on knowledge and on mental polarisation, or upon an achieved continuity of consciousness, but on emotional reactions and a shrinking from pain and from fear. |
Ngày nay, những nguy hiểm nghiêm trọng đi kèm với tiến trình thúc đẩy sự rút lui, và các biện pháp bảo đảm pháp lý sẽ đòi hỏi phải được xây dựng hết sức cẩn trọng, và ngay cả khi đó những vấn đề nghiêm trọng và hệ trọng vẫn có thể phát sinh. Nhưng một sự thúc đẩy nào đó đối với các tiến trình chết là cần thiết và phải được triển khai. Tuy nhiên, trước hết, ý chí muốn chết của bệnh nhân hiện nay không dựa trên tri thức và trên sự phân cực trí tuệ, cũng không dựa trên một sự liên tục của tâm thức đã đạt được, mà dựa trên các phản ứng cảm xúc và sự co rút trước đau đớn và sợ hãi. |
|
Where, however, there is terrible suffering and absolutely no hope of real help or of recovery, and where the patient is willing (or if too ill, the family is willing), then, under proper safeguards, something should be done. But this arranging of the time to go will not be based on emotion and upon compassion, but on the spiritual sciences and [320] upon a right understanding of the spiritual possibilities of death. |
Tuy nhiên, ở đâu có đau khổ khủng khiếp và tuyệt đối không có hy vọng được giúp đỡ thực sự hay hồi phục, và ở đâu bệnh nhân sẵn lòng (hoặc nếu quá bệnh, gia đình sẵn lòng), thì dưới những biện pháp bảo đảm thích hợp, cần phải làm điều gì đó. Nhưng việc sắp xếp thời điểm ra đi này sẽ không dựa trên cảm xúc và lòng trắc ẩn, mà dựa trên các khoa học tinh thần và [320] trên một sự thấu hiểu đúng đắn về những khả năng tinh thần của cái chết. |
|
On Germs. |
Về vi trùng. |
|
How inadequately do words meet the need of truth. We use the word “germ” to indicate the source of some disease or the origin of some form. We talk of a germ or seed of life; we refer to the germ of an idea; we indicate that intangible point of energy which results later in some kind of manifested form. It may be a thoughtform, a human being, or a disease, yet the same word has to suffice for all three. How oft have I told you that all is energy and there is naught else. A germ is a point of energy having within it certain living potentialities, causing certain effects upon the surrounding field of energy, and producing certain forms of expression which are recognisable upon the physical plane. But all that is referred to is, in the last analysis, some form of active energy that forms part of the energy available upon and within and around the planet Earth. |
Ngôn từ đáp ứng nhu cầu của chân lý thật không đầy đủ biết bao. Chúng ta dùng từ “vi trùng” để chỉ nguồn gốc của một bệnh nào đó hay căn nguyên của một hình tướng nào đó. Chúng ta nói đến mầm hay hạt giống của sự sống; chúng ta nhắc đến mầm của một ý tưởng; chúng ta chỉ ra điểm năng lượng vô hình đó mà về sau tạo thành một loại hình tướng biểu hiện nào đó. Nó có thể là một Hình tư tưởng, một con người, hay một căn bệnh, vậy mà cùng một từ phải đủ dùng cho cả ba. Tôi đã nói với các bạn biết bao lần rằng tất cả đều là năng lượng và không có gì khác. Một vi trùng là một điểm năng lượng mang trong nó những tiềm năng sống nhất định, gây ra những hiệu quả nhất định trên trường năng lượng xung quanh, và tạo ra những hình thức biểu lộ nhất định có thể nhận biết trên cõi hồng trần. Nhưng tất cả những gì được nói đến, xét cho cùng, đều là một dạng năng lượng hoạt động nào đó tạo thành một phần của năng lượng sẵn có trên, trong và quanh hành tinh Trái Đất. |
|
In relation to disease, a germ still remains a point of energy, but it might be regarded as energy which is not functioning correctly in relation to the particular form which has become susceptible to its activity or aware of its presence. |
Liên quan đến bệnh tật, một vi trùng vẫn là một điểm năng lượng, nhưng có thể được xem như năng lượng không vận hành đúng đắn trong liên hệ với hình tướng đặc thù đã trở nên nhạy cảm với hoạt động của nó hoặc nhận biết được sự hiện diện của nó. |
|
Germs are the first effect of an original cause. Some few form a part of the planetary evil, which means that they have a deep-seated and mental origin and one of such magnitude that the finite minds of men cannot yet grasp them. Such causes, for instance, may have their effects as a fierce and fiery and hot devotion to an idea or a person, or they may work out as an equally fierce and fiery fever in the physical body, and to this fever, according to its symptoms, a technical name will be given by the medical [321] profession. The originating cause is the same, and the effects in the personality will differ according to the focus of the attention or where the emphasis of the life is laid. Ponder on this for I have given a hint here of real importance. |
Vi trùng là hiệu quả đầu tiên của một nguyên nhân nguyên thủy. Một số ít tạo thành một phần của điều ác hành tinh, điều này có nghĩa là chúng có một nguồn gốc sâu xa và trí tuệ, và có tầm mức lớn đến nỗi các trí tuệ hữu hạn của con người vẫn chưa thể nắm bắt được. Chẳng hạn, những nguyên nhân như thế có thể tạo ra các hiệu quả như một sự sùng tín dữ dội, rực lửa và nóng bỏng đối với một ý tưởng hay một con người, hoặc chúng có thể biểu lộ như một cơn sốt dữ dội, rực lửa tương tự trong thể xác, và cơn sốt này, tùy theo các triệu chứng của nó, sẽ được giới y khoa [321] đặt cho một tên gọi chuyên môn. Nguyên nhân khởi phát là như nhau, và các hiệu quả trong phàm ngã sẽ khác nhau tùy theo tiêu điểm của sự chú ý hay nơi sự nhấn mạnh của đời sống được đặt vào. Hãy suy ngẫm về điều này vì ở đây tôi đã đưa ra một gợi ý thực sự quan trọng. |
|
When I used these words, “the focus of attention,” I did not refer to any mental attitude or to an attentive mind, but to the impact of life force in any given direction, any locality and any aspect of the human body, where the directed life energy goes. Germs are living organisms, great or small. They find their way into the human mechanism through the medium of the life force which, in its turn, uses the heart and the blood stream as its agents of distribution. In the same way, the energy of consciousness uses the nervous system and the brain as its distributing agency. Where there is inherent or inherited weakness, there the life force is not properly focussed, and there will be found some form of congestion, or some form of arrested development, or some form of predisposition to disease. When this is the case, germs can find a fruitful place in which to display their malignant activity. When the vitality is great and the life force has free and unimpeded circulation, then there will not be these predispositions, the germ cannot find a lodging, and there will not be the risk of infection. |
Khi tôi dùng những từ này, “tiêu điểm của sự chú ý”, tôi không nói đến bất kỳ thái độ trí tuệ nào hay một trí tuệ chú tâm, mà nói đến sự tác động của mãnh lực sự sống theo một hướng nhất định, một vị trí nhất định và một phương diện nào đó của thể người, nơi năng lượng sự sống được hướng đến. Vi trùng là những cơ thể sống, lớn hay nhỏ. Chúng đi vào bộ máy con người qua trung gian của mãnh lực sự sống, mà đến lượt nó sử dụng tim và dòng máu làm tác nhân phân phối. Cũng theo cách đó, năng lượng tâm thức sử dụng hệ thần kinh và bộ não làm cơ quan phân phối của nó. Ở đâu có sự yếu kém cố hữu hay di truyền, ở đó mãnh lực sự sống không được tập trung đúng mức, và ở đó sẽ thấy một dạng tắc nghẽn nào đó, hoặc một dạng phát triển bị đình trệ nào đó, hoặc một dạng khuynh hướng mắc bệnh nào đó. Khi đúng như vậy, vi trùng có thể tìm được một nơi màu mỡ để phô bày hoạt động ác hại của chúng. Khi sinh lực dồi dào và mãnh lực sự sống lưu thông tự do, không bị cản trở, thì sẽ không có những khuynh hướng này, vi trùng không thể tìm được chỗ trú ngụ, và sẽ không có nguy cơ lây nhiễm. |
|
For instance, scarlet fever is contagious, but not all those exposed to it succumb. The ability to throw off infection and immunity from contagious diseases is largely a matter of vitality (perhaps vitality in particular areas of the body where the focus of the attention and the emphasis of the life force may be found). It can also be based upon the activity of the blood corpuscles, which serves to keep the blood stream in good condition. |
Chẳng hạn, bệnh ban đỏ có tính lây nhiễm, nhưng không phải tất cả những ai tiếp xúc với nó đều mắc bệnh. Khả năng loại bỏ sự lây nhiễm và sự miễn nhiễm đối với các bệnh truyền nhiễm phần lớn là vấn đề sinh lực (có lẽ là sinh lực tại những vùng đặc biệt của cơ thể nơi có thể tìm thấy tiêu điểm của sự chú ý và sự nhấn mạnh của mãnh lực sự sống). Nó cũng có thể dựa trên hoạt động của các huyết cầu, vốn giúp giữ cho dòng máu ở trong tình trạng tốt. |
|
[322] |
[322] |
|
Tiêu điểm và sự nhấn mạnh này cũng giống như vậy trong liên hệ với loài vật, vì đó không phải là tiêu điểm của trí tuệ mà là của năng lượng sự sống bên trong thể xác. Điều này, khi hiện diện và tích cực, sẽ bảo vệ. Khi nó tiêu cực và yếu, nó để cho thể xác (người và vật) mở ra trước những nguy cơ lây nhiễm. |
|
|
I cannot explain more fully than this, for the problem of origin and method remains an insoluble problem just as long as man remains equipped with his present mental approach and emotional reaction to pain and disease, and just as long as he places the same exaggerated emphasis upon form life. When a better sense of proportion has been developed, and men are beginning to think in terms of the soul and purposes and destiny, then disease, as we know it, will fall into two major categories: |
Tôi không thể giải thích đầy đủ hơn thế này, vì vấn đề nguồn gốc và phương pháp vẫn là một vấn đề không thể giải quyết chừng nào con người còn được trang bị bằng cách tiếp cận trí tuệ hiện nay và phản ứng cảm xúc hiện nay của mình đối với đau đớn và bệnh tật, và chừng nào y còn đặt cùng một sự nhấn mạnh quá mức lên đời sống hình tướng. Khi một Ý thức về tỉ lệ tốt hơn đã được phát triển, và con người bắt đầu suy nghĩ theo các thuật ngữ của linh hồn, của các mục đích và của định mệnh, thì bệnh tật, như chúng ta biết, sẽ rơi vào hai loại chính: |
|
1. Those which produce purification and necessitate a period of retuning and of rest for the body, preparatory to continued life on earth. |
1. Những bệnh tạo ra sự thanh lọc và đòi hỏi một thời kỳ điều chỉnh lại và nghỉ ngơi cho thể xác, để chuẩn bị cho đời sống tiếp tục trên Trái Đất. |
|
2. Those which produce the withdrawal or abstraction of the soul in its two aspects—livingness and consciousness. |
2. Những bệnh tạo ra sự rút lui hay trừu xuất của linh hồn trong hai phương diện của nó—tính sống động và tâm thức. |
|
On Inoculations. |
Về việc chủng ngừa. |
|
“What is the standing or value of inoculation or vaccination from an occult or esoteric standpoint?” This question is often in the minds of healers as they ask the further question which is the real basis of their interest, “Does it affect the subtler bodies? How?” |
“Địa vị hay giá trị của việc chủng ngừa hoặc tiêm phòng theo quan điểm huyền bí học hay nội môn là gì?” Câu hỏi này thường ở trong tâm trí của các nhà trị liệu khi họ đặt thêm câu hỏi vốn là nền tảng thực sự cho mối quan tâm của họ, “Nó có ảnh hưởng đến các thể vi tế hơn không? Ảnh hưởng như thế nào?” |
|
There is no occult standard or value in inoculation, any more than there is an occult standard or value in giving a hypodermic injection. The entire question concerning serums and inoculations has been tremendously overemphasised by the so-called occult students. The human body, at [323] the present time, is the recipient of such a vast amount of substance, extraneously precipitated into the interior of the body, that the whole subject is of vaster import, yet of lesser importance, than men think. Such is the paradox which I present to you. Wrong food of every kind, the inhalation of smoke down the centuries, the breathing in of tainted air, the taking of medicines and pills and tablets of every possible description, the rifling of the vegetable and mineral kingdoms in search of their ingredients, and the injection of mineral substances, of drugs and of serums, till one wonders sometimes at the remarkable assimilative powers of the human frame. |
Không có tiêu chuẩn hay giá trị huyền bí nào trong việc chủng ngừa, cũng như không có tiêu chuẩn hay giá trị huyền bí nào trong việc tiêm dưới da. Toàn bộ vấn đề liên quan đến huyết thanh và chủng ngừa đã bị các đạo sinh được gọi là huyền bí học nhấn mạnh quá mức. Thể người, vào [323] thời điểm hiện nay, tiếp nhận một lượng chất liệu khổng lồ được ngưng tụ từ bên ngoài vào bên trong cơ thể, đến nỗi toàn bộ chủ đề này có tầm quan trọng rộng lớn hơn nhưng lại ít quan trọng hơn con người nghĩ. Đó là nghịch lý mà tôi trình bày với các bạn. Thức ăn sai lầm đủ loại, việc hít khói qua nhiều thế kỷ, việc hít thở không khí ô nhiễm, việc dùng thuốc men, viên thuốc và viên nén đủ mọi mô tả có thể có, việc lục soát giới thực vật và giới kim thạch để tìm các thành phần của chúng, và việc tiêm các chất khoáng, dược chất và huyết thanh, đến mức đôi khi người ta phải kinh ngạc trước khả năng đồng hóa đáng chú ý của cơ thể con người. |
|
In all fairness, however, I would remind you that, as far as the physical well-being of man is concerned, these methods and techniques of the West have resulted in the production of a healthier race than in the East, in a very definite prolongation of human life, and in the elimination of many dire physical scourges which used to take their toll of man. This I, an Oriental, do admit. I have stated the situation thus in order to expand your view from the specific to the whole. |
Tuy nhiên, một cách công bằng, tôi xin nhắc các bạn rằng, xét về phúc lợi hồng trần của con người, các phương pháp và kỹ thuật này của phương Tây đã dẫn đến việc tạo ra một nhân loại khỏe mạnh hơn so với phương Đông, một sự kéo dài rất rõ rệt của đời sống con người, và việc loại bỏ nhiều tai họa hồng trần khủng khiếp từng gây tổn thất cho con người. Điều này tôi, một người phương Đông, thừa nhận. Tôi đã trình bày tình hình như vậy để mở rộng tầm nhìn của các bạn từ cái riêng lẻ đến toàn thể. |
|
In relation to disease and inoculation, I would remind you that there are three groups of diseases which are not peculiar to man, but which are indigenous in the planet itself. These diseases are found in widely differing forms, in all the kingdoms in nature. These three families or groups of diseases are: |
Liên quan đến bệnh tật và việc chủng ngừa, tôi xin nhắc các bạn rằng có ba nhóm bệnh không riêng gì con người mắc phải, mà vốn bản địa trong chính hành tinh này. Những bệnh này được tìm thấy dưới những hình thức rất khác nhau trong mọi giới trong thiên nhiên. Ba họ hay nhóm bệnh này là: |
|
1. The great cancer group of diseases. |
1. Nhóm lớn các bệnh ung thư. |
|
2. The syphilitic group. |
2. Nhóm giang mai. |
|
3. Tuberculosis. |
3. Lao phổi. |
|
Most of the objections made by doctors with occult tendencies are based unconsciously on a feeling that there [324] should be higher methods of controlling diseases in man than by injecting into the human body substance taken from the bodies of animals. That is most surely and definitely correct, and some day it will be demonstrated. Another reaction on their part is one of sensitive disgust, again largely unrecognised. A more vital objection should be based on the suffering entailed on the animals providing the vaccine and other substances. |
Phần lớn những phản đối do các bác sĩ có khuynh hướng huyền bí học đưa ra đều vô thức dựa trên một cảm giác rằng phải có [324] những phương pháp cao hơn để kiểm soát bệnh tật nơi con người hơn là bằng cách tiêm vào thể người chất liệu lấy từ cơ thể loài vật. Điều đó chắc chắn và dứt khoát là đúng, và một ngày nào đó sẽ được chứng minh. Một phản ứng khác từ phía họ là sự ghê sợ nhạy cảm, cũng lại phần lớn không được nhận biết. Một phản đối sinh động hơn nên dựa trên sự đau khổ gây ra cho những con vật cung cấp vắc-xin và các chất liệu khác. |
|
The effect on the inner bodies is practically nil, and far less than the diseases themselves. Herein lies for the future a most interesting question. How far do diseased conditions in the human body carry through and affect the inner bodies from the structural angle? It is a question I do not intend to answer. The controlling of modern disease is being handled by modern medicine primarily in three ways: through the science of sanitation, through preventive medicine, and through inoculation. These are the lower correspondences to methods of activity emanating from the astral plane, from the etheric levels, and from the earth itself. |
Ảnh hưởng lên các thể bên trong thực tế là không đáng kể, và ít hơn nhiều so với chính các bệnh ấy. Chính trong điều này có một câu hỏi rất thú vị cho tương lai. Các trạng thái bệnh trong thể người mang theo và ảnh hưởng đến các thể bên trong đến mức nào từ góc độ cấu trúc? Đó là một câu hỏi mà tôi không định trả lời. Việc kiểm soát bệnh tật hiện đại đang được y học hiện đại xử lý chủ yếu theo ba cách: qua khoa học vệ sinh, qua y học phòng ngừa, và qua chủng ngừa. Đây là những tương ứng thấp của các phương pháp hoạt động phát xuất từ cõi cảm dục, từ các cấp độ dĩ thái, và từ chính trái đất. |
|
The science of sanitation, the use of water, and the growing knowledge of hydrotherapy are the precipitation on earth of certain inner activities on the astral plane of a most definite nature. From the angle of the aspirant, these methods are called purification. |
Khoa học vệ sinh, việc sử dụng nước, và tri thức ngày càng tăng về thủy liệu pháp là sự ngưng tụ trên trái đất của một số hoạt động bên trong trên cõi cảm dục có bản chất rất xác định. Từ góc độ của người chí nguyện, những phương pháp này được gọi là sự thanh lọc. |
|
The science of prevention (both of diseases and of death) is the precipitation on earth of certain modes of procedure on the etheric plane whereby forces are correctly used and certain destructive agencies are controlled and prevented from going the destructive way. |
Khoa học phòng ngừa (cả bệnh tật lẫn cái chết) là sự ngưng tụ trên trái đất của một số phương thức tiến hành trên cõi dĩ thái nhờ đó các mãnh lực được sử dụng đúng đắn và một số tác nhân hủy diệt được kiểm soát và ngăn không cho đi theo con đường hủy diệt. |
|
The science of inoculation is purely physical in origin and concerns only the animal body. This latter science will shortly be superseded by a higher technique, but the time is not yet.[325] |
Khoa học chủng ngừa thuần túy có nguồn gốc hồng trần và chỉ liên quan đến thể động vật. Khoa học sau cùng này chẳng bao lâu nữa sẽ được thay thế bằng một kỹ thuật cao hơn, nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến.[325] |
|
Về các tuyến. |
|
|
“Is it possible by certain types of meditation to stimulate either one of the post or ante lobes of the pituitary body, when there is a minus functioning? Will a meditation designed to integrate the personality automatically adjust the trouble and bring about proper pituitary activity? Will this also adjust and balance the activity of the other important glands?” |
“Có thể nào bằng một số loại tham thiền nhất định kích thích một trong hai thùy sau hay trước của tuyến yên, khi có sự hoạt động thiếu hụt không? Một phép tham thiền được thiết kế để tích hợp phàm ngã có tự động điều chỉnh rối loạn này và mang lại hoạt động thích đáng của tuyến yên không? Điều này có đồng thời điều chỉnh và quân bình hoạt động của các tuyến quan trọng khác không?” |
|
You have here several questions; the whole matter is too vast for proper handling within the available time and limits. |
Ở đây bạn nêu ra nhiều câu hỏi; toàn bộ vấn đề này quá rộng lớn để có thể xử lý thích đáng trong thời gian và giới hạn hiện có. |
|
I would say, however, very briefly, that the stimulation of either lobe of the pituitary body, and equally the stimulation of any of the glands by meditation, undertaken by neophytes, is a most dangerous undertaking. It can be done, but it is not an advisable proceeding except under the expert supervision of some of those who know more than you know and who can see more than you can see. The glands are the result of the activity or the inactivity of the centres or chakras in the body, and parallel their development. This development is dependent upon the ray and the point in evolution. The subject is vast and difficult, and I would have you all remember that constant dwelling upon the physical factors to be found in the personality equipment is not the way of the disciple. He must aim, as you suggest, at personality integration and at the goal of being a pure channel for the soul. Such an integration is the result, normally achieved, of |
Tuy nhiên, tôi xin nói rất vắn tắt rằng việc kích thích một trong hai thùy của tuyến yên, và tương tự việc kích thích bất kỳ tuyến nào bằng tham thiền, nếu được người sơ cơ thực hiện, là một việc làm cực kỳ nguy hiểm. Điều đó có thể làm được, nhưng không phải là một tiến trình nên làm trừ phi dưới sự giám sát chuyên môn của một số người biết nhiều hơn bạn biết và thấy nhiều hơn bạn có thể thấy. Các tuyến là kết quả của hoạt động hay không hoạt động của các trung tâm hay luân xa trong thể, và song hành với sự phát triển của chúng. Sự phát triển này tùy thuộc vào cung và điểm tiến hoá. Chủ đề này rộng lớn và khó khăn, và tôi muốn tất cả các bạn nhớ rằng việc liên tục chú tâm vào các yếu tố hồng trần được tìm thấy trong bộ máy phàm ngã không phải là con đường của đệ tử. Như bạn gợi ý, y phải nhắm đến sự tích hợp phàm ngã và mục tiêu trở thành một kênh thanh khiết cho linh hồn. Sự tích hợp như thế là kết quả, thường được đạt đến, của |
|
1. Character-building. |
1. lập hạnh. |
|
2. Soul contact through meditation. |
2. tiếp xúc linh hồn qua tham thiền. |
|
3. Life expression through service. |
3. biểu lộ đời sống qua phụng sự. |
|
[326] |
[326] |
|
The practice of these three, over a long period of years, will inevitably produce the desired results as far as the glandular equipment is concerned, and as far as the total mechanism can stand the pressure of the soul requirements, as they must be met in each specific life. |
Việc thực hành ba điều này, trong một thời gian dài nhiều năm, chắc chắn sẽ tạo ra các kết quả mong muốn liên quan đến bộ máy tuyến nội tiết, và liên quan đến toàn bộ bộ máy trong chừng mực nó có thể chịu đựng được áp lực của các đòi hỏi từ linh hồn, như chúng phải được đáp ứng trong mỗi kiếp sống cụ thể. |
|
On the Vital Body. |
Về thể sinh lực. |
|
“What are the principal factors that can be complied with in order to build a strong healthy vital body? Is it possible for a person with a rather weak vital body to strengthen it? May not a so-called weak vital body be a healthy one at the same time, the weakness manifesting in non-staying power and a slowness in recovery from fatigue?” |
“Những yếu tố chính nào có thể được tuân theo để xây dựng một thể sinh lực mạnh khỏe? Một người có thể sinh lực khá yếu có thể làm cho nó mạnh lên không? Chẳng phải một thể sinh lực được gọi là yếu vẫn có thể đồng thời là một thể khỏe mạnh, sự yếu kém biểu lộ ở sức bền kém và sự hồi phục chậm sau mệt mỏi sao?” |
|
This question is concise and can be briefly answered. In fact it must be, or otherwise a long discussion will be necessary upon the subject of the vital body, and that is too vast a one with which to deal here, and the implications are too many. I have given you much in the various books I have written. |
Câu hỏi này súc tích và có thể được trả lời ngắn gọn. Thật ra nó phải được trả lời như vậy, nếu không sẽ cần một cuộc thảo luận dài về chủ đề thể sinh lực, mà đó là một chủ đề quá rộng lớn để bàn đến ở đây, và các hàm ý thì quá nhiều. Tôi đã cung cấp cho các bạn nhiều điều trong các sách khác nhau mà tôi đã viết. |
|
When you say a weak vital body I presume you mean one which is loosely coordinated with the physical vehicle and loosely connected, and which has therefore a weak hold upon the outer form, for it is the close integration of the etheric body with the physical form which is the cause of all its staying power. You are right in your belief that one can be perfectly healthy but have little resistance to fatigue. |
Khi bạn nói một thể sinh lực yếu, tôi giả định bạn muốn nói một thể được phối hợp lỏng lẻo với vận cụ hồng trần và liên kết lỏng lẻo, và do đó có sự nắm giữ yếu đối với hình tướng bên ngoài, vì chính sự tích hợp chặt chẽ của thể dĩ thái với hình tướng hồng trần là nguyên nhân của toàn bộ sức bền của nó. Bạn đúng trong niềm tin rằng một người có thể hoàn toàn khỏe mạnh nhưng lại có ít sức đề kháng đối với sự mệt mỏi. |
|
The principal factors in re-establishing or making a better etheric control are: |
Những yếu tố chính trong việc tái lập hay tạo ra một sự kiểm soát dĩ thái tốt hơn là: |
|
1. Sunshine. |
1. Ánh nắng mặt trời. |
|
2. Careful diet, with the emphasis upon the proteins and vitamins. |
2. Chế độ ăn cẩn thận, nhấn mạnh vào protein và vitamin. |
|
3. The avoidance of fatigue and worry. |
3. Tránh mệt mỏi và lo âu. |
|
[327] |
[327] |
|
Against all the above, at this time, climate, world conditions, environment and our civilisation militate, and the individual has therefore to resign himself to a state of affairs which lies outside his individual control. |
Chống lại tất cả những điều trên, vào thời điểm này, khí hậu, các điều kiện thế giới, môi trường và nền văn minh của chúng ta đều tác động bất lợi, và vì thế cá nhân phải cam chịu một tình trạng nằm ngoài sự kiểm soát riêng của mình. |
|
A normal, sane, regulated life is the best means for establishing a better measure of vitality. This is, I presume, what you mean. You need to remember, however, that where there is a devitalised etheric body, and conditions are such that a re-establishment of a vital control seems difficult or impossible, there must be recognition of karmic limitations and a willingness to submit to them and leave affairs to work themselves out. This particular life is not the only one there is. Frequently, therefore, in any particular incarnation, conditions cannot be changed, and are prolonged by inner rebellion and revolt. A disciple has to learn the lesson of going on, as the expression is, in spite of and not because of circumstances. |
Một đời sống bình thường, lành mạnh, điều độ là phương tiện tốt nhất để thiết lập một mức sinh lực tốt hơn. Tôi giả định đó là điều bạn muốn nói. Tuy nhiên, bạn cần nhớ rằng ở đâu có một thể dĩ thái bị mất sinh lực, và các điều kiện khiến cho việc tái lập một sự kiểm soát sinh lực dường như khó khăn hay không thể, thì phải có sự nhìn nhận các giới hạn nghiệp quả và sự sẵn lòng quy phục chúng và để cho sự việc tự diễn tiến. Kiếp sống đặc biệt này không phải là kiếp sống duy nhất hiện hữu. Vì vậy, thường thì trong một lần lâm phàm cụ thể nào đó, các điều kiện không thể thay đổi, và bị kéo dài bởi sự phản kháng và nổi loạn bên trong. Một đệ tử phải học bài học tiếp tục tiến lên, như cách nói thông thường, bất chấp hoàn cảnh chứ không phải vì hoàn cảnh. |
|
On Prana. |
Về prana. |
|
You can discover much on the nature of prana if you use the books which you possess and should possess. In my book A Treatise on Cosmic Fire and in A.A.B.’s book The Light of the Soul,* the whole subject is considered. |
Bạn có thể khám phá nhiều điều về bản chất của prana nếu bạn sử dụng những cuốn sách mà bạn đang có và nên có. Trong sách của tôi Luận về Lửa Vũ Trụ và trong sách của A.A.B. The Light of the Soul,* toàn bộ chủ đề này được xem xét. |
|
* A Treatise on cosmic Fire. Pages 77-116… The Light of the Soul. Pages 77,217-225, 280-282, 328-330, 332 |
* A Treatise on cosmic Fire. Pages 77-116… The Light of the Soul. Pages 77,217-225, 280-282, 328-330, 332 |
|
Suffice it to say that: |
Chỉ cần nói rằng: |
|
1. There is nothing in manifestation except energy, taking form, using and actuating forms and dissipating forms. |
1. Không có gì trong biểu hiện ngoài năng lượng, mang lấy hình tướng, sử dụng và làm cho các hình tướng hoạt động, rồi làm tiêu tan các hình tướng. |
|
2. This energy is divided into three types of so-called electrical phenomena, called in The Secret Doctrine and in A Treatise on Cosmic Fire, fire by friction, solar fire, and electrical fire. |
2. Năng lượng này được chia thành ba loại hiện tượng được gọi là điện, được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ là lửa ma sát, Lửa Thái dương, và Lửa Điện. |
|
[328] |
[328] |
|
3. Prana is the name given to the energy which is drawn upon the physical plane from the etheric aspect of all phenomenal life. That etheric aspect of the divine energy is a synthesis of energies. If the energy in which an individual primarily lives and moves and has the focus of his being is, for instance, predominantly astral, then the major expression of energy in his equipment will be astral or emotional feeling energy. He will react all the time to physical energy or prana and to astral energy or the many sentient emotional forces. These work out pre-eminently through the spleen, the solar plexus and the throat, and affect in different ways the physical spleen, the stomach and the thyroid gland. |
3. Prana là tên gọi dành cho năng lượng được rút ra trên cõi hồng trần từ phương diện dĩ thái của mọi sự sống hiện tượng. Phương diện dĩ thái đó của năng lượng thiêng liêng là một tổng hợp các năng lượng. Chẳng hạn, nếu năng lượng mà một cá nhân chủ yếu sống, vận động và có tiêu điểm hiện hữu của mình trong đó là năng lượng cảm dục, thì biểu hiện năng lượng chủ yếu trong bộ máy của y sẽ là năng lượng cảm dục hay năng lượng cảm xúc. Y sẽ luôn luôn đáp ứng với năng lượng hồng trần hay prana và với năng lượng cảm dục hay nhiều mãnh lực cảm xúc hữu cảm. Những năng lượng này biểu lộ nổi bật qua lá lách, tùng thái dương và trung tâm cổ họng, và ảnh hưởng theo những cách khác nhau đến lá lách hồng trần, dạ dày và tuyến giáp. |
|
4. Interest in these two types of energy, when evidenced by an individual, is based on the fact that they are the two in which he himself is habitually immersed and to which he most easily and normally responds. |
4. Sự quan tâm đến hai loại năng lượng này, khi được một cá nhân biểu lộ, dựa trên sự kiện rằng đó là hai loại mà chính y thường xuyên đắm mình trong đó và y đáp ứng với chúng một cách dễ dàng và tự nhiên nhất. |
|
5. The current of energy used in healing will be a synthesis of the energies with which the healer normally works, with that type of energy predominating which is, for him, the paramount energy of his life. The average unintelligent healer is usually simply a transmitter of prana itself, which is the energy of the planet. This combines with the etheric physical energies of the patient, passing through the healer’s body. These stimulate the patient sufficiently so that he is enabled to throw off the enfeebling disease. Some healers can work with that type of force and with emotional energy blended, and produce activity, therefore, not only in the patient’s physical body but also in his astral body. This brings about serious difficulties at times and often hinders true physical healing, on account of the astral turmoil produced. On this matter, I cannot here enlarge, and there is no time for a longer elucidation at this time. [329] Mental healers (true mental healers who are rare indeed) blend soul energy with the two above mentioned forces and this produces a synthesis of the personality forces. Carried forward intelligently, this synthesis brings about the healing of the person through the production of definite organisation and alignment. |
5. Dòng năng lượng được dùng trong trị liệu sẽ là một tổng hợp của các năng lượng mà nhà trị liệu thường làm việc với, trong đó loại năng lượng chiếm ưu thế sẽ là loại, đối với ông, là năng lượng tối thượng của đời sống ông. Nhà trị liệu trung bình không thông minh thường chỉ đơn giản là một kẻ truyền dẫn chính prana, tức năng lượng của hành tinh. Năng lượng này kết hợp với các năng lượng hồng trần dĩ thái của bệnh nhân, đi qua thể của nhà trị liệu. Chúng kích thích bệnh nhân đủ để y có thể loại bỏ căn bệnh làm suy nhược. Một số nhà trị liệu có thể làm việc với loại mãnh lực đó và với năng lượng cảm xúc được pha trộn, và do đó tạo ra hoạt động không chỉ trong thể xác của bệnh nhân mà còn trong thể cảm dục của y. Điều này đôi khi gây ra những khó khăn nghiêm trọng và thường cản trở sự trị liệu hồng trần chân chính, do sự xáo trộn cảm dục được tạo ra. Về vấn đề này, ở đây tôi không thể nói rộng hơn, và hiện giờ không có thời gian cho một sự giải thích dài hơn. [329] Các nhà trị liệu trí tuệ (những nhà trị liệu trí tuệ chân chính, vốn thật hiếm hoi) hòa trộn năng lượng linh hồn với hai mãnh lực vừa nêu trên và điều này tạo ra một sự tổng hợp các mãnh lực phàm ngã. Khi được tiến hành một cách thông minh, sự tổng hợp này mang lại sự trị liệu con người thông qua việc tạo ra sự tổ chức và chỉnh hợp rõ rệt. |
|
Soul healing supersedes the three above mentioned methods, and produces the pouring into and through the mechanism of the patient of pure soul energy. It was in this way that Christ worked, and there are few today to work this way. It must be held before you, however, as an objective. |
Sự trị liệu bằng linh hồn vượt trên ba phương pháp vừa nêu, và tạo ra sự tuôn đổ vào và xuyên qua bộ máy của bệnh nhân năng lượng linh hồn thuần khiết. Đức Christ đã làm việc theo cách này, và ngày nay có rất ít người làm việc theo cách đó. Tuy nhiên, điều này phải được giữ trước mắt các bạn như một mục tiêu. |
|
Physical healing by prana is very common. It is often temporarily effective, but it concerns and deals only with effects and never touches causes. The disease can therefore be abated, but never cured. The power to heal mentally is on the increase and produces relatively permanent effects. But astral healing is rare and very seldom successful. The potency of the astral nature of the healer and also of the patient, and its usually unregulated condition, is too great for effective work, owing to the polarisation of humanity at this time and to the lack of correct emotional poise and control. |
Sự trị liệu hồng trần bằng prana là rất phổ biến. Nó thường có hiệu quả tạm thời, nhưng chỉ liên quan đến và đề cập đến các hiệu quả chứ không bao giờ chạm đến các nguyên nhân. Vì vậy bệnh có thể được làm giảm, nhưng không bao giờ được chữa khỏi. Năng lực trị liệu bằng trí tuệ đang gia tăng và tạo ra các hiệu quả tương đối bền vững. Nhưng trị liệu cảm dục thì hiếm và rất ít khi thành công. Hiệu lực của bản chất cảm dục của nhà trị liệu và cả của bệnh nhân, cùng với tình trạng thường không được điều hòa của nó, là quá lớn đối với công việc hữu hiệu, do sự phân cực cảm xúc của nhân loại hiện nay và do thiếu sự quân bình và kiểm soát cảm xúc đúng đắn. |
|
On Oriental and Occidental Bodies. |
Về các thể phương Đông và phương Tây. |
|
The question is also often in the minds of some healers whether there is a difference in the causes of disease and the effects as experienced in oriental or occidental bodies. To them I would say: |
Câu hỏi cũng thường ở trong tâm trí của một số nhà trị liệu là liệu có sự khác biệt nào trong các nguyên nhân của bệnh tật và các hiệu quả như được trải nghiệm trong các thể phương Đông hay phương Tây hay không. Với họ tôi xin nói: |
|
Humanity is one and the same all over the world, and both eastern and western bodies are prone to the same diseases and manifest the same symptoms; all suffer from tuberculosis, from cancer and the sexual taints; all die frequently [330] from pneumonia and influenza. Through sanitation and other curative methods, carried out on a large scale, ancient diseases (inherited from old Atlantis) such as bubonic plague and cholera, are being slowly stamped out. They still crop out in the East owing to the strength of the ancient civilisations, the lack of food, of sanitation, and the dense crowding. They are also climatic diseases and perish in the colder air of the north. Certain diseases are the result of wrong diet, used over unnumbered centuries. |
Nhân loại là một và như nhau trên khắp thế giới, và cả thể phương Đông lẫn phương Tây đều dễ mắc cùng những bệnh như nhau và biểu lộ cùng những triệu chứng như nhau; tất cả đều chịu khổ vì lao phổi, ung thư và các ô nhiễm tính dục; tất cả thường chết [330] vì viêm phổi và cúm. Nhờ vệ sinh và các phương pháp chữa trị khác, được thực hiện trên quy mô lớn, các bệnh cổ xưa (thừa hưởng từ Atlantis xưa) như dịch hạch và bệnh tả đang dần dần bị xóa bỏ. Chúng vẫn còn bùng phát ở phương Đông do sức mạnh của các nền văn minh cổ, sự thiếu lương thực, thiếu vệ sinh, và tình trạng chen chúc dày đặc. Chúng cũng là những bệnh do khí hậu và bị tiêu diệt trong không khí lạnh hơn của phương bắc. Một số bệnh là kết quả của chế độ ăn sai lầm được sử dụng qua vô số thế kỷ. |
|
One of the main reasons for the apparent difference (if there is any) may lie also in the greater age of the oriental races. The diseases of old age, and those of youth or middle age, have their variations, and Asia and its peoples are very, very old. The body stock is wearing out fast. Yet the Japanese show no sign of that old age. India is far older than Europe, but the Chinese and Japanese stock is older still, yet they demonstrate no such sign of effete old age. The reason for this lies in the very different type of emotional body as found in the Aryan or Atlantean. The whole question is incalculably difficult. |
Một trong những lý do chính cho sự khác biệt bề ngoài (nếu có) cũng có thể nằm ở tuổi đời lớn hơn của các nhân loại phương Đông. Các bệnh của tuổi già, và các bệnh của tuổi trẻ hay trung niên, có những biến thể của chúng, và châu Á cùng các dân tộc của nó thì rất, rất già. Dòng giống thể xác đang nhanh chóng suy kiệt. Tuy nhiên, người Nhật không cho thấy dấu hiệu nào của tuổi già đó. Ấn Độ cổ xưa hơn châu Âu rất nhiều, nhưng dòng giống Trung Hoa và Nhật Bản còn cổ hơn nữa, vậy mà họ không biểu lộ dấu hiệu già nua suy tàn như thế. Lý do của điều này nằm ở loại thể cảm dục rất khác nhau như được thấy nơi người Arya hay Atlantis. Toàn bộ vấn đề này khó khăn đến mức không thể tính lường. |
|
I might answer your question, however, very briefly, by saying that there is no difference whatever in the basic causes of disease in the East and the West. They are the same for the whole human family. |
Tuy nhiên, tôi có thể trả lời câu hỏi của bạn rất ngắn gọn bằng cách nói rằng không hề có sự khác biệt nào trong các nguyên nhân căn bản của bệnh tật ở phương Đông và phương Tây. Chúng là như nhau đối với toàn thể gia đình nhân loại. |
|
On the Nervous System. |
Về hệ thần kinh. |
|
In the right understanding of the relationship of the etheric or vital body (with its major and minor centres and its network of nadis) to the nervous system of the human body, two great aspects of soul activity can be grasped. |
Trong sự thấu hiểu đúng đắn về mối liên hệ của thể dĩ thái hay thể sinh lực (với các trung tâm chính và phụ cùng mạng lưới nadis của nó) với hệ thần kinh của thể người, có thể nắm bắt được hai phương diện lớn của hoạt động linh hồn. |
|
First, that aspect of soul life which enables the soul to motivate and force into incarnation and activity the physical [331] mechanism, the body, through the galvanising activity of what we call Life. |
Thứ nhất, phương diện đó của đời sống linh hồn giúp linh hồn thúc đẩy và cưỡng bách bộ máy hồng trần, thể xác, đi vào lâm phàm và hoạt động [331] qua hoạt động làm sinh động của điều chúng ta gọi là Sự sống. |
|
Thứ hai, phương diện đó của đời sống linh hồn bảo tồn vận cụ hồng trần trong tình trạng khỏe mạnh qua sự vận hành tự do của các dòng prana. Điều trên là một cố gắng diễn đạt một chân lý lớn theo cách đơn giản nhất có thể. Ý nghĩa thực sự của phát biểu trên bao hàm bước tiến lớn kế tiếp trong lĩnh vực tâm lý học chân chính và trị liệu. Toàn bộ chủ đề này vô cùng lý thú. Một phần của nó tôi đã bàn đến trong các trang của Luận về Chánh Thuật (trang 18-50) và các bạn sẽ thấy có giá trị nếu nghiên cứu vấn đề được phác họa ở đó. |
|
|
The general situation in this connection might be outlined very briefly as follows: |
Tình hình tổng quát trong mối liên hệ này có thể được phác họa rất ngắn gọn như sau: |
|
A human being is a combination of various types of force. There is the force or energy of matter itself which might be regarded as the energy aspect, in its totality, of the cells or atoms of the body. The word “cell” itself suggests, in its usual connotation, an imprisoned life, and life and energy are, for the esotericist, synonymous terms. This is the third aspect of divinity, expressing itself in humanity. There is also the dual energy which the soul embodies or transmits; this might be likened to two streams of energy, which merge and blend to form one stream when detached from the body, and which divide into two when they enter into matter and form. They bring to matter, or to the aggregated cell lives, the contribution of quality—consciousness and pure life. It might be stated also that: |
Một con người là sự kết hợp của nhiều loại mãnh lực khác nhau. Có mãnh lực hay năng lượng của chính vật chất, có thể được xem như phương diện năng lượng, trong tính toàn thể của nó, của các tế bào hay nguyên tử của thể. Chính từ “tế bào”, trong hàm nghĩa thông thường của nó, gợi ý một sự sống bị giam hãm, và sự sống cùng năng lượng, đối với nhà bí truyền học, là những thuật ngữ đồng nghĩa. Đây là phương diện thứ ba của thiên tính, biểu lộ trong nhân loại. Cũng có năng lượng kép mà linh hồn thể hiện hay truyền dẫn; điều này có thể được ví như hai dòng năng lượng, hòa nhập và hòa trộn để tạo thành một dòng khi tách khỏi thể, và phân thành hai khi chúng đi vào vật chất và hình tướng. Chúng mang đến cho vật chất, hay cho các sự sống tế bào được tập hợp, sự đóng góp của phẩm tính—tâm thức và sự sống thuần túy. Cũng có thể nói rằng: |
|
a. The stream of life-energy finds its way to the heart, the physical heart, and there (via the physical permanent atom) it energises coherently the entire physical body, using the blood stream as its major agency and channel of contact and communication between this central powerhouse [332] of life and the periphery. As we well know, the blood is the life. This life activity is the factor which gathers together and holds in form all the living atoms and cells of the body. When that life thread is withdrawn by the soul at death, the living atoms separate, the body falls apart and disintegration ensues, with the atomic lives returning to the reservoir of power, to the bosom of living matter from whence they came. |
a. Dòng năng lượng sự sống tìm đường đến tim, trái tim hồng trần, và ở đó (qua nguyên tử trường tồn hồng trần) nó tiếp sinh lực một cách cố kết cho toàn bộ thể xác, sử dụng dòng máu làm tác nhân chính và kênh tiếp xúc và truyền thông giữa trạm năng lượng trung tâm này [332] của sự sống và chu vi. Như chúng ta đều biết rõ, máu là sự sống. Hoạt động sự sống này là yếu tố tập hợp lại và giữ trong hình tướng tất cả các nguyên tử và tế bào sống của thể. Khi sợi dây sự sống đó được linh hồn rút đi lúc chết, các nguyên tử sống tách rời, thể xác tan rã và sự phân giải xảy ra, với các sự sống nguyên tử quay trở về kho chứa năng lực, về lòng của vật chất sống từ đó chúng đã đến. |
|
b. The stream of energy which conveys the soul quality of intelligence, plus love-wisdom, and which constitutes what we understand as the consciousness, with its powers to contact, to sense and to rationalise, only penetrates as far as the physical brain. There this second aspect concentrates itself or anchors itself in the region of the pineal gland. From there in ever increasing potency, as the processes of incarnation and experience are pursued, the soul begins to control, galvanise into purposeful activity, and to use the physical body. Remember that, to the soul, the body is only its response apparatus on the physical plane and a medium of expression. |
b. Dòng năng lượng chuyển tải phẩm tính của linh hồn là trí tuệ, cộng với Bác Ái – Minh Triết, và tạo thành điều chúng ta hiểu là tâm thức, với các năng lực tiếp xúc, cảm nhận và lý giải, chỉ thâm nhập xa đến bộ não hồng trần. Ở đó phương diện thứ hai này tập trung hay neo chính nó trong vùng tuyến tùng. Từ đó, với hiệu lực ngày càng tăng, khi các tiến trình lâm phàm và kinh nghiệm được theo đuổi, linh hồn bắt đầu kiểm soát, làm sinh động thành hoạt động có mục đích, và sử dụng thể xác. Hãy nhớ rằng, đối với linh hồn, thể xác chỉ là bộ máy đáp ứng của nó trên cõi hồng trần và là một trung gian biểu lộ. |
|
It might also be pointed out, as a third necessary statement, that the soul pours its consciously directed energy into the dense physical body through the medium of the etheric or vital body. This instrument is composed of: |
Cũng có thể chỉ ra, như một phát biểu cần thiết thứ ba, rằng linh hồn tuôn đổ năng lượng được hướng dẫn một cách hữu thức của nó vào thể xác đậm đặc qua trung gian của thể dĩ thái hay thể sinh lực. Dụng cụ này được cấu tạo bởi: |
|
1. Seven major centres of force and forty-nine minor centres. The major centres are found in the head and up the spinal column. The minor centres are to be found scattered all over the body. |
1. Bảy trung tâm mãnh lực chính và bốn mươi chín trung tâm phụ. Các trung tâm chính được tìm thấy trong đầu và dọc theo cột sống. Các trung tâm phụ được tìm thấy rải rác khắp cơ thể. |
|
2. The etheric network which is composed of streams of energy, connects all the centres into two systems—one major and one minor—and radiates out from these centres all over the entire body. |
2. Mạng lưới dĩ thái được cấu tạo bởi các dòng năng lượng, nối kết tất cả các trung tâm thành hai hệ thống—một chính và một phụ—và từ các trung tâm này tỏa ra khắp toàn bộ cơ thể. |
|
[333] |
[333] |
|
3. The nadis are infinitesimally small threads of energy or force fibres which radiate out from every part of the network and underlie every part of the triple nervous system. They are found in their millions, and produce the sensitive response apparatus through which we work and of which the mechanism of the five senses is one of the externalisations. |
3. Các nadis là những sợi năng lượng hay thớ mãnh lực cực kỳ nhỏ bé tỏa ra từ mọi phần của mạng lưới và nằm bên dưới mọi phần của hệ thần kinh tam phân. Chúng hiện diện với số lượng hàng triệu, và tạo ra bộ máy đáp ứng nhạy cảm mà qua đó chúng ta hoạt động và trong đó cơ chế của năm giác quan là một trong những sự ngoại hiện. |
|
The controlling power station will be found to vary according to the point in evolution reached: |
Trạm năng lượng kiểm soát sẽ được thấy là thay đổi tùy theo điểm tiến hoá đã đạt đến: |
|
1. Low-grade humanity uses the solar plexus as the point where the basic energy is localised temporarily. There will also be found a slight activity in the ajna centre. |
1. Nhân loại cấp thấp sử dụng tùng thái dương như điểm mà năng lượng căn bản được định vị tạm thời. Cũng sẽ thấy có một hoạt động nhẹ trong trung tâm ajna. |
|
2. Average humanity works partly through the solar plexus centre but largely through the ajna centre and the throat centre. |
2. Nhân loại trung bình hoạt động một phần qua trung tâm tùng thái dương nhưng phần lớn qua trung tâm ajna và trung tâm cổ họng. |
|
3. High-grade human beings, the intelligentsia and world aspirants use the head centre, plus the ajna centre, the throat, heart, and solar plexus. |
3. Những con người cấp cao, giới trí thức và những người chí nguyện thế gian sử dụng trung tâm đầu, cộng với ajna, cổ họng, tim và tùng thái dương. |
|
Finally it might be said that the physical apparatus which is the direct result of the inner activity of the centres, network and nadis, is the heart, the endocrine system and the brain. Into this general plan, very sketchily outlined above, all ancient medicine (particularly the Tibetan, the Chinese, and the Hindu), with our modern western science, fits. The correlation of the western and eastern techniques still remains to be made, and much will be gained thereby. Further than this I cannot here enlarge, but the above will suffice to show that the methods which you may discover in your reading (and their name is Legion) can all be brought into relation to this general scheme of energy processes in the human body.[334] |
Sau cùng có thể nói rằng bộ máy hồng trần là kết quả trực tiếp của hoạt động bên trong của các trung tâm, mạng lưới và nadis, chính là tim, hệ nội tiết và bộ não. Vào trong kế hoạch tổng quát này, được phác họa rất sơ lược ở trên, toàn bộ y học cổ truyền (đặc biệt là Tây Tạng, Trung Hoa và Ấn Độ), cùng với khoa học phương Tây hiện đại của chúng ta, đều phù hợp. Sự tương quan giữa các kỹ thuật phương Tây và phương Đông vẫn còn phải được thực hiện, và nhờ đó sẽ đạt được nhiều điều. Ngoài điều này tôi không thể nói rộng hơn ở đây, nhưng những điều trên đủ để cho thấy rằng các phương pháp mà bạn có thể khám phá trong việc đọc của mình (và tên của chúng thì vô số) đều có thể được đặt vào mối liên hệ với sơ đồ tổng quát này của các tiến trình năng lượng trong thể người.[334] |
|
On Diet. |
Về chế độ ăn. |
|
No set diet could be entirely correct for a group of people on differing rays, of different temperaments and equipment and at various ages. Individuals are every one of them unlike on some points; they require to find out what it is that they, as individuals, need, in what manner their bodily requirements can best be met, and what type of substances can enable them best to serve. Each person must find this out for himself. There is no group diet. No enforced elimination of meat is required or strict vegetarian diet compulsory. There are phases of life and sometimes entire incarnations wherein an aspirant subjects himself to a discipline of food, just as there may be other phases or an entire life wherein a strict celibacy is temporarily enforced. But there are other life cycles and incarnations wherein the disciple’s interest and his service lie in other directions. There are later incarnations where there is no constant thought about the physical body, and a man works free of the diet complex and lives without concentration upon the form life, eating that food which is available and upon which he can best sustain his life efficiency. In preparation for certain initiations, a vegetable diet has in the past been deemed essential. But this may not always be the case, and many disciples prematurely regard themselves as in preparation for initiation. |
Không có một chế độ ăn cố định nào có thể hoàn toàn đúng cho một nhóm người thuộc các cung khác nhau, có khí chất và bộ máy khác nhau và ở các lứa tuổi khác nhau. Mỗi cá nhân đều khác với người khác ở một số điểm; họ cần phải tự tìm ra điều mà họ, với tư cách cá nhân, cần, theo cách nào các nhu cầu thể xác của họ có thể được đáp ứng tốt nhất, và loại chất liệu nào có thể giúp họ phụng sự tốt nhất. Mỗi người phải tự mình tìm ra điều này. Không có chế độ ăn nhóm. Không cần phải cưỡng bách loại bỏ thịt hay bắt buộc một chế độ ăn chay nghiêm ngặt. Có những giai đoạn của đời sống và đôi khi là cả những lần lâm phàm trọn vẹn trong đó một người chí nguyện tự đặt mình dưới một kỷ luật về ăn uống, cũng như có thể có những giai đoạn khác hay cả một đời sống trong đó sự độc thân nghiêm ngặt được áp đặt tạm thời. Nhưng có những chu kỳ đời sống và những lần lâm phàm khác trong đó mối quan tâm của đệ tử và sự phụng sự của y nằm ở những hướng khác. Có những lần lâm phàm về sau trong đó không còn sự suy nghĩ thường xuyên về thể xác nữa, và một người làm việc tự do khỏi mặc cảm về chế độ ăn và sống mà không tập trung vào đời sống hình tướng, ăn loại thức ăn sẵn có và nhờ đó y có thể duy trì hiệu quả sống của mình tốt nhất. Trong sự chuẩn bị cho một số điểm đạo nào đó, chế độ ăn thực vật trước đây đã được xem là thiết yếu. Nhưng điều này có thể không phải lúc nào cũng đúng, và nhiều đệ tử quá sớm xem mình như đang chuẩn bị cho điểm đạo. |
|
On the Spleen. |
Về lá lách. |
|
The spleen is the most important agent of the life force, but it is the life force inherent in matter itself, independently of form. It is therefore closely related to the planetary physical body. It is the externalisation of a very important centre. |
Lá lách là tác nhân quan trọng nhất của mãnh lực sự sống, nhưng đó là mãnh lực sự sống vốn có trong chính vật chất, độc lập với hình tướng. Vì vậy nó liên hệ chặt chẽ với thể hồng trần hành tinh. Nó là sự ngoại hiện của một trung tâm rất quan trọng. |
|
[335] |
[335] |
|
There are three centres in the body (with allied externalisations) which are basically essential to life. |
Có ba trung tâm trong thể (cùng với các ngoại hiện liên hệ) về căn bản là thiết yếu cho sự sống. |
|
1. The heart centre and the physical heart itself. In these the life principle (the Spirit aspect) is located. Life and Spirit are one. |
1. Trung tâm tim và chính trái tim hồng trần. Trong đó nguyên khí sự sống (phương diện Tinh thần) được định vị. Sự sống và Tinh thần là một. |
|
2. The head centre and the brain in which the consciousness principle (the Soul aspect) is located. |
2. Trung tâm đầu và bộ não trong đó nguyên khí tâm thức (phương diện Linh hồn) được định vị. |
|
3. The pranic centre and the spleen, in which the life of matter itself (the Matter aspect) is located. |
3. Trung tâm prana và lá lách, trong đó sự sống của chính vật chất (phương diện Vật chất) được định vị. |
|
You must bear in mind that, as H.P.B. points out, the dense physical body is not a principle. It is atomic matter which is held in form by etheric substance, under the control of the soul. It is automatic in its response, and reacts to the outer world of impacts and inner impulses, but has no initiatory life of its own. It is composed of units of energy, as is all else in nature, and has its own individual life; its focus for the distribution of energy for this life is the spleen. |
Bạn phải ghi nhớ rằng, như H.P.B. đã chỉ ra, thể xác đậm đặc không phải là một nguyên khí. Nó là vật chất nguyên tử được giữ trong hình tướng bởi chất liệu dĩ thái, dưới sự kiểm soát của linh hồn. Nó tự động trong sự đáp ứng của nó, và phản ứng với thế giới bên ngoài của các tác động và các xung lực bên trong, nhưng không có sự sống khởi xướng nào của riêng nó. Nó được cấu thành bởi các đơn vị năng lượng, cũng như mọi thứ khác trong bản chất, và có sự sống cá biệt riêng của nó; tiêu điểm của nó cho sự phân phối năng lượng cho sự sống này là lá lách. |
|
In the spleen, the negative life of matter and the living energy of the positive etheric body, are brought together, and then a “spark,” as it is called, is made between the inner living bodies of man (through the medium of the etheric body) and the physical plane. It is a reflection on the lowest rung of the evolutionary ladder, as far as man is concerned, and corresponds to the relation of soul and body or—on a higher turn of the spiral—of spirit and matter. |
Trong lá lách, sự sống âm của vật chất và năng lượng sống của thể dĩ thái dương được đưa lại với nhau, và rồi một “tia lửa”, như cách gọi của nó, được tạo ra giữa các thể sống bên trong của con người (thông qua trung gian của thể dĩ thái) và cõi hồng trần. Đó là một phản ánh ở nấc thấp nhất của chiếc thang tiến hoá, xét theo phương diện con người, và tương ứng với mối liên hệ giữa linh hồn và thể xác hoặc—ở một vòng xoắn cao hơn—giữa tinh thần và vật chất. |
|
On the Vagus Nerve. |
Về Dây Thần Kinh Vagus. |
|
There are two powerful centres connected with the vagus nerve: the heart centre and the centre at the base of the spine. These two, when brought under the control of the soul, functioning through the head centre (the [336] brahmarandra), produce the raising of the kundalini fire. This, when taking place, swings the entire nervous system into a special form of rhythmic activity and responsiveness, and it is through the stimulation and the control of the vagus nerve that this is accomplished. It is not the vagus nerve which is instrumental in raising the kundalini fire, but the reverse situation. When the head, the heart and the centre at the base of the spine are in magnetic and dynamic rapport, producing a radiatory effect, then they affect the vagus nerve and the fires of the body are unified and raised, producing purification and the “opening of all doors.” |
Có hai trung tâm mãnh lực mạnh mẽ liên kết với dây thần kinh vagus: trung tâm tim và trung tâm ở đáy cột sống. Hai trung tâm này, khi được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, hoạt động qua trung tâm đầu (brahmarandra [336]), tạo ra sự nâng lên của lửa kundalini. Khi điều này diễn ra, nó đưa toàn bộ hệ thần kinh vào một hình thức hoạt động nhịp điệu và đáp ứng đặc biệt, và chính qua sự kích thích và kiểm soát dây thần kinh vagus mà điều này được hoàn tất. Không phải dây thần kinh vagus là công cụ nâng lửa kundalini lên, mà tình huống ngược lại mới đúng. Khi đầu, tim và trung tâm ở đáy cột sống ở trong sự tương giao từ tính và năng động, tạo ra một hiệu quả bức xạ, thì chúng tác động đến dây thần kinh vagus và các ngọn lửa của thể được hợp nhất và nâng lên, tạo ra sự thanh lọc và “sự mở ra của mọi cánh cửa”. |
|
On the Eye. |
Về Con Mắt. |
|
There is a certain school of scientific theorists who are working on the theory that the eye is the declarative factor in the human body and the rule or the key to its right understanding. They have already demonstrated much in connection with its declarative powers, where disease is concerned. They are on right lines. Nevertheless, the science with which they are working is so embryonic as yet that their conclusions are not fully demonstrated nor entirely reliable. |
Có một trường phái nhất định gồm các nhà lý thuyết khoa học đang nghiên cứu giả thuyết rằng con mắt là yếu tố tuyên lộ trong thể người và là quy luật hay chìa khóa để hiểu đúng thể ấy. Họ đã chứng minh được nhiều điều liên quan đến các năng lực tuyên lộ của nó, trong phạm vi bệnh tật. Họ đang đi đúng hướng. Tuy nhiên, khoa học mà họ đang làm việc cùng vẫn còn phôi thai đến mức các kết luận của họ chưa được chứng minh đầy đủ cũng chưa hoàn toàn đáng tin cậy. |
|
In the immediate future, when our planetary life is somewhat calmer, the whole subject of Vision and the registration by the eye of the inner worlds will receive an enormous impetus, and conditions—hitherto undreamed of—will be revealed. Man will enter into a new life and a higher era of understanding. The teaching concerning the iris of the eye is an indication of this. |
Trong tương lai gần, khi sự sống hành tinh của chúng ta phần nào yên ổn hơn, toàn bộ chủ đề về linh thị và sự ghi nhận của con mắt đối với các thế giới bên trong sẽ nhận được một xung lực to lớn, và những điều kiện—cho đến nay chưa từng được mơ tới—sẽ được mặc khải. Con người sẽ bước vào một đời sống mới và một kỷ nguyên cao hơn của sự thấu hiểu. Giáo huấn liên quan đến mống mắt là một dấu hiệu của điều này. |
|
Why not read up on the eye a little and note its occult correspondences to the created world, and to the whole problem of light? The eyes and the soul are closely related and—speaking in the language of occultism—the right [337] eye is the representative of the soul, and therefore the agent of buddhi, whilst the left eye is the representative of the personality, and the agent of the lower concrete mind. You will find it interesting to read what can be found in The Secret Doctrine and other books (including mine) on this subject; it will compel the conclusion that here is a field of investigation hitherto unopened and a teaching which will warrant careful study for the sake of the group, if for no other reason. |
Tại sao bạn không đọc thêm đôi chút về con mắt và lưu ý các tương ứng huyền bí của nó với thế giới được tạo thành, và với toàn bộ vấn đề ánh sáng? Đôi mắt và linh hồn có liên hệ mật thiết và—nói theo ngôn ngữ của huyền bí học—mắt phải [337] là đại diện của linh hồn, và vì thế là tác nhân của Bồ đề, trong khi mắt trái là đại diện của phàm ngã, và là tác nhân của hạ trí cụ thể. Bạn sẽ thấy thú vị khi đọc những gì có thể tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm và các sách khác (kể cả sách của tôi) về chủ đề này; điều đó sẽ buộc người ta đi đến kết luận rằng ở đây có một lĩnh vực khảo cứu cho đến nay chưa được khai mở và một giáo huấn xứng đáng được nghiên cứu cẩn trọng vì lợi ích của nhóm, nếu không vì lý do nào khác. |
|
Về Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật. |
|
|
Do “psychological causes of disease” register in brain symptoms before reflexing to other parts of the body? A sentence in The Light of the Soul has a bearing here: |
Liệu “các nguyên nhân tâm lý của bệnh tật” có ghi nhận trong các triệu chứng của não trước khi phản chiếu sang các phần khác của thể không? Một câu trong Ánh sáng của Linh Hồn có liên quan ở đây: |
|
“The brain, for instance, is the ‘shadow’ or the external organ of the mind, and it will be found by the investigator that the contents of the brain cavity have a correspondence to the aspects of the human mechanism found upon the mental plane.” |
“Chẳng hạn, bộ não là ‘cái bóng’ hay cơ quan bên ngoài của trí tuệ, và nhà khảo cứu sẽ thấy rằng nội dung của khoang não có một sự tương ứng với các phương diện của bộ máy con người được tìm thấy trên cõi trí.” |
|
Bear in mind that the life force works through the heart, utilising the blood stream, whilst the consciousness aspect works through the brain, using the nervous system. This is the first and most important point to grasp. |
Hãy ghi nhớ rằng sinh lực hoạt động qua tim, sử dụng dòng máu, trong khi phương diện tâm thức hoạt động qua não, dùng hệ thần kinh. Đây là điểm đầu tiên và quan trọng nhất cần nắm bắt. |
|
Psychological causes of disease register in the brain or (if of a very low order) in the solar plexus. They do not, however, make their presence felt as symptoms of disease in these places where they thus register. They are energies or forces which—when brought into contact with the energies of the body—produce, as a result (and not before this point) those conditions to which we give the name of disease. The psychological causes are forms of energy, working out through the appropriate centres in the body, and these, in their turn, condition the glandular system. [338] The secretion or hormone, generated under this esoteric stimulation, finds its way into the blood stream, and the result of all this interaction can be either good health, as it expresses sound psychological causes, or poor health, as it expresses the reverse. |
Các nguyên nhân tâm lý của bệnh tật ghi nhận trong não hoặc (nếu thuộc loại rất thấp) trong tùng thái dương. Tuy nhiên, chúng không làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận như các triệu chứng bệnh tật tại những nơi mà chúng ghi nhận như thế. Chúng là các năng lượng hay mãnh lực mà—khi được đưa vào tiếp xúc với các năng lượng của thể—sẽ tạo ra, như một kết quả (và không phải trước điểm này), những điều kiện mà chúng ta gọi là bệnh tật. Các nguyên nhân tâm lý là những hình thức năng lượng, biểu lộ qua các trung tâm thích hợp trong thể, và đến lượt chúng, các trung tâm này tác động lên hệ tuyến nội tiết. [338] Sự tiết xuất hay hormone, được tạo ra dưới sự kích thích huyền bí này, đi vào dòng máu, và kết quả của toàn bộ sự tương tác này có thể là sức khỏe tốt, vì nó biểu lộ các nguyên nhân tâm lý lành mạnh, hoặc sức khỏe kém, vì nó biểu lộ điều ngược lại. |
|
It is the internal relation between the subtler energies, working through certain centres, plus the related endocrine system, with its relation to the blood stream, that constitutes both the possibility of disease and its cure. But this recognition is still academically lacking. Much of the inherent psychology is grasped, but a gap still exists between the physical and the etheric bodies, and little recognition of the etheric body is yet academically accorded. There is yet no real understanding of the relation between the inner psyche and the outer form, via the etheric body. The study of the glands has somewhat helped, but medical science must go a step further and relate the glandular system to the inner centres. |
Chính mối liên hệ nội tại giữa các năng lượng vi tế hơn, hoạt động qua một số trung tâm nhất định, cộng với hệ nội tiết liên hệ, cùng mối liên hệ của nó với dòng máu, tạo thành cả khả năng bệnh tật lẫn sự chữa lành của nó. Nhưng sự nhìn nhận này vẫn còn thiếu trong giới học thuật. Phần lớn tâm lý học cố hữu đã được nắm bắt, nhưng vẫn còn một khoảng trống giữa thể xác và thể dĩ thái, và cho đến nay thể dĩ thái vẫn ít được giới học thuật công nhận. Vẫn chưa có sự thấu hiểu thực sự nào về mối liên hệ giữa tâm lý bên trong và hình tướng bên ngoài, thông qua thể dĩ thái. Việc nghiên cứu các tuyến đã phần nào giúp ích, nhưng khoa học y học phải tiến thêm một bước nữa và liên hệ hệ tuyến với các trung tâm bên trong. |
|
On Problems of Melancholia. |
Về Các Vấn Đề U Sầu. |
|
These problems of melancholia are difficult to place and are due to a wide variety of causes. I will list them here, and the list may at some time serve you. |
Những vấn đề u sầu này khó xác định và là do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Tôi sẽ liệt kê chúng ở đây, và danh sách này có thể vào một lúc nào đó sẽ hữu ích cho bạn. |
|
1. A sense of frustration, a thwarted wish-life, or a recognition of a basic life failure. |
1. Một cảm giác thất vọng, một đời sống ham muốn bị ngăn trở, hoặc một sự nhận ra về một thất bại căn bản trong đời sống. |
|
2. A sense of dramatics, and a desire to figure importantly on the little stage of a person’s life. This can often be quite unrealised and have a truly subconscious origin, or it can be a carefully cultivated habit or attitude. |
2. Một cảm giác kịch tính, và một ham muốn được đóng vai trò quan trọng trên sân khấu nhỏ bé của đời sống một người. Điều này thường có thể hoàn toàn không được nhận ra và có một nguồn gốc thật sự tiềm thức, hoặc có thể là một thói quen hay thái độ được nuôi dưỡng cẩn thận. |
|
3. A devitalised condition, largely of an etheric nature, which robs life of all joy and desire and presents always a sense of futility. Many women passing through the menopause experience this.[339] |
3. Một tình trạng mất sinh lực, phần lớn có bản chất dĩ thái, cướp đi khỏi đời sống mọi sự hoan hỉ và ham muốn và luôn luôn tạo ra một cảm giác vô ích. Nhiều phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh kinh nghiệm điều này.[339] |
|
4. A certain form of breakdown in the cells found in a particular area of the brain. |
4. Một dạng suy sụp nhất định trong các tế bào được tìm thấy ở một vùng đặc biệt của não. |
|
5. Based on fear of insanity and of death—a baseless fear which has never materialised but which does constitute an idée fixe, so that the person is the victim of a well developed thoughtform. |
5. Dựa trên nỗi sợ điên loạn và cái chết—một nỗi sợ vô căn cứ chưa bao giờ hiện thực hóa nhưng lại thực sự cấu thành một idée fixe, đến nỗi người ấy là nạn nhân của một hình tư tưởng phát triển mạnh. |
|
6. A tuning-in, through oversensitivity, on the suffering and massed pain of the world. Disciples can be temporarily overcome by this. |
6. Một sự bắt nhịp, do quá nhạy cảm, với đau khổ và nỗi đau tích tụ của thế giới. Các đệ tử có thể tạm thời bị điều này chế ngự. |
|
7. This condition is very seldom brought about by any form of obsession such as “an earthbound entity or a living vampire-like person.” A very few such cases have been known, but they are too rare to be considered a factor. |
7. Tình trạng này rất hiếm khi do bất kỳ hình thức ám nhập nào gây ra như “một thực thể bị trói buộc vào cõi đất hay một người sống kiểu ma cà rồng.” Một vài rất ít trường hợp như thế đã được biết đến, nhưng chúng quá hiếm để được xem là một yếu tố. |
|
8. Sometimes a person tunes in on a state of massed melancholia, such as can be found in our sanitariums or asylums. The condition has then nothing really to do with him, but being sensitive, he identifies himself with those who are suffering from acute melancholia. |
8. Đôi khi một người bắt nhịp với một trạng thái u sầu tích tụ, như có thể thấy trong các viện điều dưỡng hay nhà thương điên của chúng ta. Khi đó tình trạng này thực ra không liên quan gì đến y, nhưng vì nhạy cảm, y đồng hoá mình với những người đang chịu chứng u sầu cấp tính. |
|
9. Melancholia, as a symptom of disease (not of brain disease) is also fairly frequent and will disappear when the disease is under proper treatment. |
9. U sầu, như một triệu chứng của bệnh tật (không phải bệnh của não), cũng khá thường gặp và sẽ biến mất khi bệnh được điều trị đúng cách. |
|
A person may be suffering from a combination of such causes, as for instance a combination, let us say of the causes in 1, 2, 6. |
Một người có thể đang chịu đựng một sự kết hợp của những nguyên nhân như thế, chẳng hạn, chúng ta hãy nói rằng một sự kết hợp của các nguyên nhân ở 1, 2, 6. |
|
On Full Moon and Psychoses. |
Về Trăng Tròn và Các Chứng Loạn Thần. |
|
One of the departments of esoteric medicine in the future will concern itself with the law of cycles, lunar and solar. It will then be demonstrated as a fact, what has always been suspected and is now generally recognised, that the period of the full moon has a definite effect upon unbalanced people, upon the dreaming state and frequently conditions quite [340] drastically, the neurotic and erotic conditions so prevalent at this time. |
Một trong những bộ môn của y học huyền bí trong tương lai sẽ quan tâm đến định luật chu kỳ, chu kỳ mặt trăng và mặt trời. Khi đó, điều vốn luôn bị nghi ngờ và hiện nay được nhìn nhận rộng rãi sẽ được chứng minh như một sự kiện, rằng thời kỳ trăng tròn có một tác động rõ rệt lên những người mất quân bình, lên trạng thái mộng mị và thường tác động khá [340] mạnh mẽ đến các tình trạng thần kinh và nhục dục rất phổ biến vào lúc này. |
|
The tremendous increase in insanity and imbalance today is due to three major causes: |
Sự gia tăng ghê gớm của tình trạng điên loạn và mất quân bình ngày nay là do ba nguyên nhân chính: |
|
1. The transitional period of today producing a clash between the Aquarian and the Piscean forces, has led to a condition which makes it very difficult for sensitive people to live normally at all. To express the idea in symbol: It is almost as if the race, after habituating itself to live on the earth, had now to accustom itself to live in water. I am talking from the standpoint of the form. |
1. Thời kỳ chuyển tiếp ngày nay tạo ra một sự xung đột giữa các mãnh lực Bảo Bình và Song Ngư, đã dẫn đến một tình trạng khiến cho những người nhạy cảm rất khó sống bình thường. Để diễn đạt ý tưởng này bằng biểu tượng: gần như thể nhân loại, sau khi đã quen sống trên đất, giờ đây phải tập sống trong nước. Tôi đang nói từ quan điểm của hình tướng. |
|
2. The intense spiritual and mental stimulation which is being applied today to the masses by the planetary Hierarchy. The intent is to bring to an end old forms of living, to create new forms through the process of adjustment, and thus bring in a new civilisation based on a more subjective culture. I would ask you to ponder on this last sentence. |
2. Sự kích thích tinh thần và trí tuệ mãnh liệt đang được Thánh đoàn hành tinh áp dụng ngày nay lên quần chúng. Mục đích là chấm dứt các hình thức sống cũ, tạo ra các hình thức mới qua tiến trình điều chỉnh, và như thế đưa vào một nền văn minh mới dựa trên một văn hóa chủ quan hơn. Tôi muốn yêu cầu bạn suy ngẫm về câu cuối này. |
|
3. The pouring in of more light from the astral plane (at present unrecognised) and also the tremendous increase of ordinary physical plane illumination. This produces oversensitivity. The work done by the prevailing use of electric light and the general glare in which humanity now lives, will exact its toll from the race until the human mechanism has adjusted itself to light. Remember that this general use of light is less than one hundred years old and is an occult effect with far reaching results. |
3. Sự tuôn đổ của nhiều ánh sáng hơn từ cõi cảm dục (hiện nay chưa được nhận ra) và cả sự gia tăng ghê gớm của ánh sáng thông thường trên cõi hồng trần. Điều này tạo ra sự quá nhạy cảm. Công việc được thực hiện bởi việc sử dụng phổ biến ánh sáng điện và sự chói lòa chung mà nhân loại hiện đang sống trong đó, sẽ đòi món nợ của nó từ nhân loại cho đến khi bộ máy con người tự điều chỉnh với ánh sáng. Hãy nhớ rằng việc sử dụng ánh sáng phổ biến này chưa đầy một trăm năm tuổi và là một hiệu quả huyền bí với những kết quả sâu rộng. |
|
I mention these three things because they are responsible for much of the predisposition to sensitivity of an abnormal kind. Occult students well know that at the time of the full moon certain high contacts are easier than at other [341] times, but it is right here, my brother, that the difficulty lies. |
Tôi đề cập đến ba điều này vì chúng chịu trách nhiệm cho phần lớn khuynh hướng dễ bị nhạy cảm theo một kiểu bất thường. Các đạo sinh huyền bí học đều biết rõ rằng vào thời điểm trăng tròn, một số tiếp xúc cao siêu nào đó dễ dàng hơn những [341] thời điểm khác, nhưng chính ở đây, Huynh đệ của Tôi, là nơi khó khăn nằm ở đó. |
|
At the time of the full moon (over a period of five days) the moon and the planet are the recipients of more reflected light from the sun than at any other time. For this there is a subjective cause. I can only explain it to you by a symbol which may convey truth to you or which may act as a blind. Symbolically speaking, the period of intensest meditation of our planetary Logos comes around at the full moon period each month; just as you have your daily meditation so He in His high place, has His cyclic point of contact. This produces the pouring in of radiance and the entering in of energy both subjective and objective. For all true students, therefore, their work on the mental plane is facilitated; they are enabled then to meditate more successfully and to attain realisation with greater ease. They definitely share in the achievement of the Lord of Shamballa. |
Vào thời điểm trăng tròn (trong một giai đoạn năm ngày), mặt trăng và hành tinh là những bên tiếp nhận nhiều ánh sáng phản chiếu từ mặt trời hơn bất kỳ lúc nào khác. Có một nguyên nhân chủ quan cho điều này. Tôi chỉ có thể giải thích cho em bằng một biểu tượng có thể chuyển tải chân lý cho em hoặc có thể hoạt động như một bức màn che. Nói một cách biểu tượng, thời kỳ tham thiền mãnh liệt nhất của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta diễn ra vào kỳ trăng tròn mỗi tháng; cũng như em có bài tham thiền hằng ngày của em, thì Ngài, ở vị trí cao cả của Ngài, có điểm tiếp xúc theo chu kỳ của Ngài. Điều này tạo ra sự tuôn đổ của bức xạ và sự đi vào của năng lượng cả chủ quan lẫn khách quan. Vì vậy, đối với mọi đạo sinh chân chính, công việc của họ trên cõi trí được tạo điều kiện thuận lợi; khi đó họ có thể tham thiền thành công hơn và đạt được chứng nghiệm dễ dàng hơn. Họ thực sự chia sẻ trong thành tựu của Đức Chúa Tể Shamballa. |
|
The moon, as you know, is a shell, an ancient form through which the planetary Logos at one time sought expression. It is slowly disintegrating physically but not astrally as yet, and is therefore still closely linked with the astral body of the planetary Logos and therefore with the astral bodies of all people. Its influence is consequently more potent at the time of the full moon upon all who are unbalanced. This lack of equilibrium, which it really is, will eventually be found to exist between the astral body, the etheric body and the physical mechanism. |
Mặt trăng, như em biết, là một cái vỏ, một hình tướng cổ xưa mà qua đó Hành Tinh Thượng đế đã từng tìm cách biểu lộ. Nó đang từ từ tan rã về mặt hồng trần nhưng chưa tan rã về mặt cảm dục, và vì thế vẫn còn liên kết chặt chẽ với thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế và do đó với các thể cảm dục của mọi người. Vì vậy, ảnh hưởng của nó mạnh hơn vào thời điểm trăng tròn đối với tất cả những ai mất quân bình. Sự thiếu quân bình này, đúng như bản chất của nó, cuối cùng sẽ được phát hiện là tồn tại giữa thể cảm dục, thể dĩ thái và bộ máy hồng trần. |
|
People who are definitely aspirants and people who are definitely mental, can profit by these full moon cycles; those who are definitely unbalanced, positively astral, and emotional, and frequently swept by uncontrolled desire, are hindered, overstimulated, and psychically upset by these same cycles. The veil of illusion is lit up at that time with a consequent result of hallucination, astral visions, [342] psychic urges, and those misinterpretations of life, of overemphasis upon aspects of life which we call phobias, lunacy, etc. |
Những người rõ ràng là người chí nguyện và những người rõ ràng thuộc loại trí tuệ có thể thu lợi từ các chu kỳ trăng tròn này; những người rõ ràng mất quân bình, tích cực cảm dục, và cảm xúc, và thường bị cuốn đi bởi ham muốn không kiểm soát, thì bị cản trở, bị kích thích quá mức, và bị xáo trộn thông linh bởi chính các chu kỳ ấy. Bức màn ảo tưởng được thắp sáng vào lúc đó với hậu quả là ảo giác, linh ảnh cảm dục, [342] các thúc đẩy thông linh, và những sự diễn giải sai lầm về đời sống, sự nhấn mạnh quá mức lên các phương diện của đời sống mà chúng ta gọi là ám sợ, điên loạn, v.v. |
|
I would like to make a suggestion here, which is not possible for me to prove to you, but which the future will substantiate. The major diseases called mental, seldom have anything to do with the mind itself. They are: |
Tôi muốn đưa ra ở đây một gợi ý, điều mà tôi không thể chứng minh cho em, nhưng tương lai sẽ xác nhận. Các bệnh lớn được gọi là bệnh tâm thần hiếm khi có liên quan gì đến chính trí tuệ. Chúng là: |
|
1. Diseases of the brain. |
1. Các bệnh của não. |
|
2. Disorders of the solar plexus. |
2. Các rối loạn của tùng thái dương. |
|
3. Astral domination. |
3. Sự thống trị của cảm dục. |
|
4. Premature clairvoyance and clairaudience. |
4. Thông nhãn và thông nhĩ quá sớm. |
|
5. Obsession. |
5. Ám nhập. |
|
6. Absence of mind. |
6. Sự vắng mặt của trí tuệ. |
|
7. Soullessness. |
7. Tình trạng vô hồn. |
|
This is, of course, a wide generalisation and has no reference to that category of diseases in which both mind and brain are involved. The diseases of mystics are also in a different category. These latter diseases involve the brain of course, indicate mental imbalance, produce various types of heart disease and the diverse neurotic tendencies with which the saints of the world were so often afflicted. |
Dĩ nhiên, đây là một sự khái quát hóa rộng và không liên quan đến loại bệnh trong đó cả trí tuệ lẫn não đều bị dính líu. Các bệnh của các nhà thần bí cũng thuộc một loại khác. Những bệnh sau này dĩ nhiên liên quan đến não, cho thấy sự mất quân bình trí tuệ, tạo ra nhiều loại bệnh tim khác nhau và những khuynh hướng thần kinh đa dạng mà các vị thánh của thế giới thường hay mắc phải. |
|
One thing I will add, however, for your encouragement. As the race, as a whole, becomes governed by the solar Lord, the sun god, the Soul, then the cycles of the moon will steadily lose their baleful effect and there will be a dying out of the various neurotic complaints and mental diseases today so prevalent. The time is not yet. It is not easy for me to give more information concerning the moon and its phases, as it constitutes one of the major mysteries to be revealed at the third initiation. |
Tuy nhiên, tôi sẽ thêm một điều để khích lệ em. Khi nhân loại, xét như một toàn thể, ngày càng được nhật tinh quân, vị thần mặt trời, tức Linh hồn, cai quản, thì các chu kỳ của mặt trăng sẽ dần dần mất đi ảnh hưởng tai hại của chúng và sẽ có sự tàn lụi của các chứng rối loạn thần kinh khác nhau và các bệnh tâm thần hiện nay quá phổ biến. Thời điểm ấy chưa đến. Tôi không dễ gì cung cấp thêm thông tin về mặt trăng và các pha của nó, vì điều đó cấu thành một trong những huyền nhiệm lớn sẽ được mặc khải ở lần điểm đạo thứ ba. |
|
[343] |
[343] |
|
On Distribution of Force; Blood Transfusion. |
Về Sự Phân Phối Mãnh Lực; Truyền Máu. |
|
Instead of two questions, you have several. Let me list them for you so that you will see what I mean, and for clarity in replying. Several of these questions are inferred and not definitely posited, but if I am to deal with them they must be put in the form of questions and even then the subject is so vast that there will not be time. |
Thay vì hai câu hỏi, bạn có vài câu hỏi. Hãy để tôi liệt kê chúng cho bạn để bạn thấy điều tôi muốn nói, và để rõ ràng trong khi trả lời. Một số câu hỏi này được hàm ý chứ không được nêu ra rõ ràng, nhưng nếu tôi muốn bàn đến chúng thì chúng phải được đặt thành hình thức câu hỏi, và ngay cả như thế chủ đề vẫn quá rộng đến nỗi sẽ không có đủ thời gian. |
|
1. How can a more harmonious distribution of force be accomplished for the benefit of all? |
1. Làm thế nào có thể thực hiện được một sự phân phối mãnh lực hài hòa hơn vì lợi ích của tất cả? |
|
2. Can you give us some more specific instructions and indicate to us some esoteric methods, suitable to our stage of development in connection with this problem of distribution? |
2. Bạn có thể cho chúng tôi một số chỉ dẫn cụ thể hơn và chỉ ra cho chúng tôi một số phương pháp huyền bí, thích hợp với giai đoạn phát triển của chúng tôi liên quan đến vấn đề phân phối này không? |
|
3. Has the fact of blood transfusion…any correspondence in some process of the transfusion of subtle energies on the inner planes? |
3. Sự kiện truyền máu… có bất kỳ sự tương ứng nào với một tiến trình truyền các năng lượng vi tế trên các cõi bên trong không? |
|
4. Có phương tiện đặc biệt nào, ngoài điều chúng ta đã cố gắng làm, nhờ đó những người trong chúng ta thuộc cung hai có thể truyền phẩm tính bác ái của mình vào các huynh đệ thuộc cung một một cách hữu hiệu hơn, và ngược lại không? |
|
|
5. What is the interrelation and the cooperation among the ray lives and particularly between the first and second ray entities? |
5. Mối tương quan và sự hợp tác giữa các sự sống cung là gì, và đặc biệt là giữa các thực thể cung một và cung hai? |
|
6. How can the example of the close cooperation and friendship between the Master M. and the Master K. H. be of practical help and inspiration to us? |
6. Tấm gương về sự hợp tác mật thiết và tình bạn giữa Chân sư M. và Chân sư K. H. có thể giúp ích và truyền cảm hứng thực tiễn cho chúng ta như thế nào? |
|
You will see from the above how impossible it will be to deal with this wide range of subjects. I will, however, give you the briefest answers to some of them, or indicate the line along which your ideas may flow. |
Bạn sẽ thấy từ những điều trên rằng việc bàn đến phạm vi rộng lớn các chủ đề này là điều bất khả. Tuy nhiên, tôi sẽ đưa ra những câu trả lời ngắn gọn nhất cho một số câu hỏi, hoặc chỉ ra đường hướng mà theo đó các ý tưởng của bạn có thể tuôn chảy. |
|
1. A harmonious distribution of forces varies in its arrangement and consequently in its outer effect not only [344] according to ray types but according to the age of the soul, and the individual status upon the Path. There is a difference in this arrangement in the subtle bodies of the probationary disciple and of the accepting disciple, and of the accepted disciple and for each grade upon the path of initiation. This arrangement is brought about in three ways or is subject to three forms of developing influences. |
1. Một sự phân phối mãnh lực hài hòa thay đổi trong sự sắp xếp của nó và do đó trong hiệu quả bên ngoài của nó không chỉ [344] tùy theo các loại cung mà còn tùy theo tuổi của linh hồn, và địa vị cá nhân trên Đường Đạo. Có một sự khác biệt trong sự sắp xếp này trong các thể vi tế của đệ tử dự bị và đệ tử chấp nhận, và của đệ tử được chấp nhận, cũng như đối với mỗi cấp bậc trên con đường điểm đạo. Sự sắp xếp này được tạo ra theo ba cách hoặc chịu ba hình thức ảnh hưởng phát triển. |
|
a. Through the life of aspiration, as registered in the physical brain consciousness. |
a. Qua đời sống khát vọng, như được ghi nhận trong tâm thức bộ não hồng trần. |
|
b. Through the spontaneous awakening of the centres and in their right geometrical progression. This I have referred to in some of my books, but more cannot be given as it is one of the secrets of the first initiation. The rearranging and the readjustment proceeds during the whole period of the Path, technically understood. |
b. Qua sự thức tỉnh tự phát của các trung tâm và trong sự tiến triển hình học đúng đắn của chúng. Tôi đã đề cập đến điều này trong một số sách của tôi, nhưng không thể cho thêm vì đó là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất. Sự tái sắp xếp và tái điều chỉnh diễn ra trong suốt toàn bộ thời kỳ của Con Đường, theo nghĩa kỹ thuật. |
|
c. Through the decentralisation of the whole inner conscious life. The server becomes: |
c. Qua sự phi tập trung vào bản thân của toàn bộ đời sống hữu thức bên trong. Người phụng sự trở thành: |
|
1. The mystical extrovert. |
1. Nhà thần bí hướng ngoại. |
|
2. The “one who steps aside from the centre.” |
2. “Người bước sang một bên khỏi trung tâm.” |
|
3. The “one who lives upon the periphery of the heart.” |
3. “Người sống trên chu vi của tim.” |
|
4. The “one who hovers over the central lotus.” |
4. “Người lơ lửng trên hoa sen trung tâm.” |
|
5. The “distant one who sees from far away, yet lives within the form of all that is.” |
5. “Người ở xa nhìn từ nơi xa, nhưng vẫn sống trong hình tướng của mọi điều đang hiện hữu.” |
|
A study of these descriptive phrases may give you the clue to the right distribution of energy. |
Một sự nghiên cứu các cụm từ mô tả này có thể cho bạn đầu mối về sự phân phối năng lượng đúng đắn. |
|
2. The second question is somewhat answered in the above brief statement. I am doing what I can in my personal instructions (Discipleship in the New Age Vol. I & II) to all of you to bring about two things: |
2. Câu hỏi thứ hai phần nào đã được trả lời trong phát biểu ngắn gọn ở trên. Tôi đang làm điều tôi có thể trong các chỉ dẫn cá nhân của tôi (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I & II) cho tất cả các bạn để mang lại hai điều: |
|
a. Clear the field of the personality life so that the higher energies can have freer play.[345] |
a. Dọn sạch cánh đồng của đời sống phàm ngã để các năng lượng cao hơn có thể hoạt động tự do hơn.[345] |
|
b. Bring about those conditions and orientations which will produce harmony within, and consequently and equally, harmonious relations without. I would remind you, however, that the inner harmony of one brother in a group may not be adequate to produce harmony in another brother or in the group. |
b. Tạo ra những điều kiện và những định hướng sẽ sản sinh sự hài hòa bên trong, và do đó, đồng thời, các mối liên hệ hài hòa bên ngoài. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc bạn rằng sự hài hòa bên trong của một huynh đệ trong nhóm có thể không đủ để tạo ra sự hài hòa trong một huynh đệ khác hay trong nhóm. |
|
3. Blood transfusion is symbolic of two things: First, that the blood is the life, and secondly, that there is but one Life permeating all forms, and therefore transferable under right conditions. It is also a synthetic act of service. Ponder on this. |
3. Truyền máu là biểu tượng của hai điều: thứ nhất, máu là sự sống, và thứ hai, chỉ có một Sự Sống thấm nhuần mọi hình tướng, và vì thế có thể được chuyển truyền dưới những điều kiện đúng đắn. Nó cũng là một hành vi phụng sự tổng hợp. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
4. Your question gives me an opportunity to point out that even an understanding of, and interest in, the ray types (as represented for instance in a group) may itself lead to a subtle separative attitude. There is no necessity for any Son of God in incarnation upon the physical plane or in the three worlds to “transfuse” his ray quality into his brother. These ray qualities are shared by all alike, and a brother’s own soul—differing in no way from another soul—will effect the needed transmutation or transfusion into the personality life. One may facilitate the process by providing those conditions of harmony and peace wherein a brother is faced with as few contrary attitudes as possible, and where the interplay of love may produce an effective stimulation. But this is not transfusion. What exists in you exists in all, and the love quality (above all other qualities) is the dominant characteristic of all rays. |
4. Câu hỏi của bạn cho tôi cơ hội chỉ ra rằng ngay cả một sự thấu hiểu và quan tâm đến các loại cung (chẳng hạn như được biểu hiện trong một nhóm) tự nó cũng có thể dẫn đến một thái độ chia rẽ vi tế. Không cần thiết để bất kỳ Con của Thượng đế nào đang lâm phàm trên cõi hồng trần hay trong ba cõi thấp phải “truyền” phẩm tính cung của mình vào huynh đệ của mình. Những phẩm tính cung này được mọi người cùng chia sẻ như nhau, và chính linh hồn của một huynh đệ—không khác gì linh hồn khác—sẽ thực hiện sự chuyển hoá hay truyền chuyển cần thiết vào đời sống phàm ngã. Người ta có thể tạo thuận lợi cho tiến trình ấy bằng cách cung cấp những điều kiện hài hòa và bình an trong đó một huynh đệ phải đối diện với ít thái độ đối nghịch nhất có thể, và nơi sự tương tác của bác ái có thể tạo ra một sự kích thích hữu hiệu. Nhưng đó không phải là sự truyền chuyển. Điều hiện hữu trong bạn hiện hữu trong tất cả, và phẩm tính bác ái (trên hết mọi phẩm tính khác) là đặc tính chi phối của mọi cung. |
|
5. This question is not only one of the mysteries of the occult sciences, but it is of far too vast a nature in its implications and too complicated a problem for me to deal with in this place. |
5. Câu hỏi này không chỉ là một trong những huyền nhiệm của các khoa học huyền bí học, mà còn quá bao la trong các hàm ý của nó và quá phức tạp như một vấn đề để tôi có thể bàn đến ở đây. |
|
6. The relationship of the two Masters you mention can be studied in two ways:[346] |
6. Mối liên hệ của hai Chân sư mà bạn đề cập có thể được nghiên cứu theo hai cách:[346] |
|
a. Through a consideration of the effective working relation which exists between the groups of disciples working under Them. |
a. Qua việc xem xét mối liên hệ công việc hữu hiệu đang tồn tại giữa các nhóm đệ tử hoạt động dưới Các Ngài. |
|
b. Through a study of those people (and they are many) who have a first ray personality and a second ray ego, or vice versa. |
b. Qua việc nghiên cứu những người (và họ rất nhiều) có phàm ngã cung một và chân ngã cung hai, hoặc ngược lại. |
|
In the last analysis, my brother, we bring about the correct distribution of force, leading to harmonious relations, when we seek to live selflessly. For the probationer, this means an imposed selfless activity upon the physical plane. For the accepted disciple, it involves a life free from all selfish, self-centered emotion, and of these self-pity and self-dramatisation are outstanding examples; for the initiate it means a mental attitude which is devoid of selfish thought, and free from the dramatisations in thought of the ego. |
Rốt cuộc, Huynh đệ của Tôi, chúng ta mang lại sự phân phối mãnh lực đúng đắn, dẫn đến các mối liên hệ hài hòa, khi chúng ta tìm cách sống vô ngã. Đối với người dự bị, điều này có nghĩa là một hoạt động vô ngã áp đặt trên cõi hồng trần. Đối với đệ tử được chấp nhận, nó bao hàm một đời sống không còn mọi cảm xúc ích kỷ, tập trung vào bản thân, mà trong đó tự thương hại và tự kịch hóa là những ví dụ nổi bật; đối với điểm đạo đồ, nó có nghĩa là một thái độ trí tuệ không có tư tưởng ích kỷ, và không còn những sự kịch hóa trong tư tưởng của chân ngã. |
|
On Suffering. |
Về Đau Khổ. |
|
Rốt cuộc, đau khổ chỉ có thể xảy ra khi linh hồn đồng hoá với thể xác, hay đúng hơn, khi phương diện tinh thần của linh hồn (trong thể xác) đồng hoá với hồn thú, vốn phú linh và tiếp sinh lực cho hình tướng và cấu thành sự sống tạm thời của nó. Trong lúc vô thức, hồn thú nhận biết đau đớn và đau khổ, và những người chăm sóc và theo dõi đều biết rõ điều này, nhưng không có đau đớn thực sự hay khổ sở chân thật nào bởi vì con người thực, linh hồn tinh thần, đã bị đẩy ra xa hoặc bởi đau đớn quá mức (như trong tình trạng vô thức thật sự) hoặc bởi thuốc mê. |
|
|
The suffering of the soul, when the personality goes astray, is only a symbolic form of words. There is no pain or true suffering, and frequently no knowledge of the happening, for the vibration is not high enough to penetrate into that high plane where dwells the soul. Where, however, [347] there is such knowledge, the soul experiences, if I might so express it, a sense of lost opportunity, and therefore a sense of frustration, but it is not more than that, for the patience of the soul, as of the Hierarchy, is illimitable. Just because we speak symbolically and say the soul suffers, you must not interpret it in ordinary terms. |
Sự đau khổ của linh hồn, khi phàm ngã đi lạc đường, chỉ là một hình thức ngôn từ biểu tượng. Không có đau đớn hay đau khổ thực sự, và thường cũng không có tri thức nào về sự việc xảy ra, vì rung động không đủ cao để xuyên thấu vào cõi cao nơi linh hồn cư ngụ. Tuy nhiên, ở nơi nào [347] có tri thức như thế, linh hồn kinh nghiệm, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, một cảm giác mất cơ hội, và do đó một cảm giác thất vọng, nhưng không hơn thế, vì sự kiên nhẫn của linh hồn, cũng như của Thánh đoàn, là vô hạn. Chỉ vì chúng ta nói theo biểu tượng và nói rằng linh hồn đau khổ, bạn không được diễn giải điều đó theo những thuật ngữ thông thường. |
|
The suffering of Christ or of the planetary Logos or of God Himself, is not comprehensible in terms of personality reaction. We use the words, but they really mean “detached and isolated identification.” Does that convey aught to you, my brother? |
Sự đau khổ của Đức Christ hay của Hành Tinh Thượng đế hay của chính Thượng đế, không thể được hiểu theo các thuật ngữ của phản ứng phàm ngã. Chúng ta dùng những từ ấy, nhưng chúng thực sự có nghĩa là “sự đồng hoá tách rời và cô lập.” Điều đó có chuyển tải được gì đến bạn không, Huynh đệ của Tôi? |
|
Wrong identification is the cause of pain and leads to suffering, distress and various effects. Right identification leads to understanding and comprehension of the psychological attitudes of the sufferer, but to no true pain or distress as we normally understand it. |
Sự đồng hoá sai lầm là nguyên nhân của đau đớn và dẫn đến đau khổ, khổ sở và nhiều hiệu quả khác nhau. Sự đồng hoá đúng đắn dẫn đến sự thấu hiểu và sự lĩnh hội các thái độ tâm lý của người đau khổ, nhưng không dẫn đến đau đớn hay khổ sở thực sự như chúng ta thường hiểu. |
|
On Planetary Energy. |
Về Năng Lượng Hành Tinh. |
|
The sumtotal of energy remains the same for as long as a planet persists, with its forms and life expression. It is part of the great storehouse of energy. It is the use and the effect of this energy, as it is appropriated by a form or forms of some kind, which we note as it is attracted from its own place to a place where normally it would not be functioning. There it creates situations and produces difficulties which are closely connected with a man’s karma and destiny. There is a great abstracting energy which we call Death, whose influence at a given time proves more potent than the united influences of the body atoms and cells. It produces the tendency to withdraw and finally to abstract the soul energy which avails itself of these potencies in the process of discarding a vehicle on some plane or another. It might be said that the seeds of death (the germ of death) are latent in the planet and in the forms. [348] When powerful enough to be recognised, we call them germs, but this connotes a definite stage of almost tangible proof. When unduly potent, they produce acute disease and consequent death; when more feeble in effect, we call them illness and note their purificatory effect. These contaminations (as they can be called, though it is by no means a good name) are only such when that aggregate of energies which we call a man is brought in contact with these contaminating influences or types of ancient energies, and the reaction or the response is, from the angle of the comfort of the physical body, bad. |
Tổng số năng lượng vẫn giữ nguyên chừng nào một hành tinh còn tồn tại, cùng với các hình tướng và biểu lộ sự sống của nó. Nó là một phần của kho năng lượng vĩ đại. Chính việc sử dụng và hiệu quả của năng lượng này, khi nó được một hình tướng hay các hình tướng nào đó chiếm dụng, là điều chúng ta lưu ý khi nó bị hút từ chỗ riêng của nó đến một nơi mà bình thường nó sẽ không hoạt động. Tại đó nó tạo ra các tình huống và sản sinh những khó khăn gắn chặt với nghiệp quả và định mệnh của một người. Có một năng lượng rút ra vĩ đại mà chúng ta gọi là Cái Chết, mà ảnh hưởng của nó vào một thời điểm nhất định tỏ ra mạnh hơn các ảnh hưởng hợp nhất của các nguyên tử và tế bào của thể. Nó tạo ra khuynh hướng rút lui và cuối cùng rút năng lượng linh hồn, vốn sử dụng các tiềm lực này trong tiến trình loại bỏ một vận cụ trên cõi này hay cõi khác. Có thể nói rằng các hạt giống của cái chết (mầm mống của cái chết) tiềm ẩn trong hành tinh và trong các hình tướng. [348] Khi đủ mạnh để được nhận biết, chúng ta gọi chúng là vi trùng, nhưng điều này hàm ý một giai đoạn xác chứng gần như hữu hình nhất định. Khi quá mạnh, chúng tạo ra bệnh cấp tính và hậu quả là cái chết; khi yếu hơn trong hiệu quả, chúng ta gọi chúng là bệnh tật và lưu ý hiệu quả thanh lọc của chúng. Những sự nhiễm bẩn này (có thể gọi như thế, dù đó hoàn toàn không phải là một tên gọi hay) chỉ là như vậy khi tổng thể các năng lượng mà chúng ta gọi là một con người được đưa vào tiếp xúc với những ảnh hưởng gây nhiễm bẩn hay những loại năng lượng cổ xưa này, và phản ứng hay sự đáp ứng, xét từ góc độ sự dễ chịu của thể xác, là xấu. |
|
On Transmutation of Desire. |
Về Sự Chuyển Hoá Ham Muốn. |
|
The point to be borne in mind is that desire dominates and controls action when the life force is focussed in the desire nature, as it predominantly is with the majority of people. But planned mental control is only possible when the life is focussed on the mental plane. When this is the case, desire will not require suppression, because the power of the focussed attention will be elsewhere and there will consequently be no furious desire to suppress. Suppression is an effort by the man focussed in the astral body to bring in the will aspect of the mind. But this he seldom does. The desire may pass off through the intense effort the man is making to achieve some mental consciousness, but no suppression takes place really, nor is the will evoked. When a man’s life is run and controlled by the mind from mental levels, then transmutation does take place; transmutation (whereby the astral nature is changed and altered) may be of a spiritual nature or simply of an expedient nature. Desire may be transmuted into spiritual aspiration or into an attitude which is in conformity to the will of the mind which is expressing it. Hence the necessity for careful analysis of motive and of objectives.[349] |
Điểm cần ghi nhớ là ham muốn chi phối và kiểm soát hành động khi sinh lực được tập trung trong bản chất ham muốn, như phần lớn là như thế nơi đa số mọi người. Nhưng sự kiểm soát trí tuệ có kế hoạch chỉ có thể có khi đời sống được tập trung trên cõi trí. Khi điều này là như thế, ham muốn sẽ không cần bị đè nén, bởi vì quyền năng của sự chú ý tập trung sẽ ở nơi khác và do đó sẽ không có ham muốn dữ dội cần phải đè nén. Sự đè nén là một nỗ lực của con người tập trung trong thể cảm dục nhằm đưa vào phương diện ý chí của trí tuệ. Nhưng điều này y hiếm khi làm được. Ham muốn có thể qua đi nhờ nỗ lực mãnh liệt mà con người đang thực hiện để đạt được một tâm thức trí tuệ nào đó, nhưng thực sự không có sự đè nén nào diễn ra, và ý chí cũng không được gợi lên. Khi đời sống của một người được điều hành và kiểm soát bởi trí tuệ từ các cấp độ trí tuệ, thì sự chuyển hoá thực sự diễn ra; sự chuyển hoá (nhờ đó bản chất cảm dục được thay đổi và biến đổi) có thể có bản chất tinh thần hoặc chỉ đơn giản có bản chất phương tiện. Ham muốn có thể được chuyển hoá thành khát vọng tinh thần hoặc thành một thái độ phù hợp với ý chí của trí tuệ đang biểu lộ nó. Do đó cần phải phân tích cẩn trọng động cơ và các mục tiêu.[349] |
|
On Karma. |
Về Nghiệp Quả. |
|
I have already suggested to you that the entire question of karma is as yet imperfectly comprehended. A great Law of Cause and Effect exists, but one particular aspect of it has never been emphasised, and the knowledge of humanity on the subject of karma is very elementary. Karma has always been interpreted in terms of disaster, and consequences that are painful, of error, of penalty, and of evil happenings, both for the individual and for the group. Yet, such is the beauty of human nature, and much that is done is of such a fine quality and so selfless and so happily oriented, that the evil is frequently offset by the good. There is everywhere, little as it may be realised, an abundance of good karma of a potency (under the same Law) equal to that which is regarded as bad. Of this, small mention is ever made. This good karma brings into activity forces which may work out as healing energies in any specific case. Upon these energies for good, which have been earned and are operating, the healer can always count. This is my first point. Ponder upon it. |
Tôi đã gợi ý với bạn rằng toàn bộ vấn đề nghiệp quả cho đến nay vẫn được hiểu một cách chưa hoàn hảo. Có một Định luật lớn về Nhân và Quả tồn tại, nhưng một phương diện đặc biệt của nó chưa bao giờ được nhấn mạnh, và tri thức của nhân loại về chủ đề nghiệp quả là rất sơ đẳng. Nghiệp quả luôn luôn được diễn giải theo các thuật ngữ của tai họa, và những hậu quả đau đớn, của lỗi lầm, của hình phạt, và của những biến cố xấu, cho cả cá nhân lẫn nhóm. Tuy nhiên, bản chất con người đẹp đẽ đến thế, và nhiều điều được làm có phẩm chất cao đẹp đến thế, vô ngã đến thế và được định hướng hạnh phúc đến thế, đến nỗi cái xấu thường được hóa giải bởi cái tốt. Ở khắp nơi, dù ít được nhận ra, có một sự phong phú của thiện nghiệp với một tiềm lực (dưới cùng Định luật ấy) ngang bằng với điều được xem là ác nghiệp. Điều này hiếm khi được nhắc đến. Thiện nghiệp này đưa vào hoạt động những mãnh lực có thể biểu lộ thành các năng lượng chữa lành trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Nhà chữa lành luôn có thể trông cậy vào những năng lượng thiện lành này, vốn đã được tạo ra và đang hoạt động. Đây là điểm thứ nhất của tôi. Hãy suy ngẫm về nó. |
|
Karma is a determining factor, but unless a healer is an advanced initiate and so able to work effectively and intelligently on the causal levels whereon souls dwell, it is impossible for him to decide whether any specific case will yield to healing treatment or not. Therefore, the healer or practising disciple assumes in his mind the possibility of cure (which may be possible or not) and of the patient’s good karma, and proceeds to apply all possible aid. This is my second point. |
Nghiệp quả là một yếu tố quyết định, nhưng trừ phi một nhà chữa lành là một điểm đạo đồ cao cấp và do đó có thể hoạt động hữu hiệu và thông minh trên các cấp độ nguyên nhân nơi các linh hồn cư ngụ, thì y không thể quyết định liệu một trường hợp cụ thể nào đó có đáp ứng với sự chữa trị hay không. Vì vậy, nhà chữa lành hay đệ tử hành đạo giả định trong trí mình khả năng chữa khỏi (điều này có thể có hoặc không) và thiện nghiệp của bệnh nhân, rồi tiến hành áp dụng mọi sự trợ giúp có thể. Đây là điểm thứ hai của tôi. |
|
My third point is to suggest to you and to all engaged in the healing art that much of the so-called disaster, involved in disease and in death (particularly the latter) is to be found in a wrong attitude toward death, and to an [350] overestimation of the beneficence of form life. The release of a soul through disease and death is not necessarily an unhappy occurrence. A new and better attitude to the phenomenon of death is essential, is possible and near. Upon this I need not here enlarge. But I do seek to give you a new slant on the subject of sickness and of death. |
Điểm thứ ba của tôi là gợi ý với bạn và với tất cả những ai dấn thân vào nghệ thuật chữa lành rằng phần lớn cái gọi là tai họa, liên quan đến bệnh tật và cái chết (đặc biệt là cái chết) nằm ở một thái độ sai lầm đối với cái chết, và ở một [350] sự đánh giá quá cao tính phúc lành của đời sống hình tướng. Sự giải thoát một linh hồn qua bệnh tật và cái chết không nhất thiết là một biến cố bất hạnh. Một thái độ mới và tốt đẹp hơn đối với hiện tượng cái chết là điều thiết yếu, là điều có thể có và đang đến gần. Về điều này tôi không cần nói rộng thêm ở đây. Nhưng tôi thực sự tìm cách đem đến cho bạn một góc nhìn mới về chủ đề bệnh tật và cái chết. |
|
Will you be astonished also if I state that under the Law it is quite possible to “interfere with karma”? The great Laws can be transcended and frequently have been in the past, and increasingly will be in the future. The Law of Gravitation is frequently offset and daily transcended when an aeroplane is in flight. The energy of faith can set in motion superior energies which can negate or retard disease. The whole subject of faith, and its vital significance and potency, is as little understood as is the Law of Karma. This is a tremendous subject, and I cannot further enlarge upon it. But I have said enough to offer you food for thought. |
Bạn có ngạc nhiên không nếu tôi nói rằng dưới Định luật, hoàn toàn có thể “can thiệp vào nghiệp quả”? Các Định luật lớn có thể được vượt qua và thường đã từng được vượt qua trong quá khứ, và ngày càng sẽ như thế trong tương lai. Định luật Hấp Dẫn thường được hóa giải và hằng ngày được vượt qua khi một chiếc máy bay đang bay. Năng lượng của đức tin có thể khởi động các năng lượng cao hơn có thể phủ nhận hoặc trì hoãn bệnh tật. Toàn bộ chủ đề về đức tin, và ý nghĩa thiết yếu cùng tiềm lực của nó, cũng ít được hiểu như Định luật Nghiệp Quả. Đây là một chủ đề mênh mông, và tôi không thể nói rộng thêm về nó. Nhưng tôi đã nói đủ để đem đến cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm. |
|
As regards the lengthening of the span of life during the past century of scientific attainment, I would point out that true techniques and the possibilities of organised soul action are always parodied and falsely demonstrated on the physical plane by the earlier scientific activities which are right in motive but which are only a symbol, on the outer sphere of life, of coming and usually future soul action. The life span will eventually be shortened or lengthened at will by souls who consciously serve, and use the mechanism of the body as the instrument whereby the Plan is served. Frequently, today, lives are preserved in form—both in old age and in infancy—that could be well permitted liberation. They serve no useful purpose and cause much pain and suffering to forms which nature (left to herself) would not long use, and would extinguish. Note that word. Through our overemphasis on the value of form [351] life, and through the universal fear of death—that great transition which we must all face—and through our uncertainty as to the fact of immortality, and also through our deep attachment to form, we arrest the natural processes and hold the life, which is struggling to be free, confined to bodies quite unfitted to the purposes of the soul. Misunderstand me not. I desire to say naught that could place a premium on suicide. But I do say, and I say with emphasis, that the Law of Karma is oft set aside when forms are preserved in coherent expression which should be discarded, for they serve no useful purpose. This preservation is, in the majority of cases, enforced by the subject’s group and not by the subject himself—frequently an unconscious invalid, an old person whose response apparatus of contact and response is imperfect, or a baby who is not normal. These cases constitute definite instances of an offsetting of the Law of Karma. |
Liên quan đến việc kéo dài tuổi thọ trong thế kỷ vừa qua của thành tựu khoa học, tôi muốn chỉ ra rằng các kỹ thuật chân chính và các khả năng của hành động linh hồn có tổ chức luôn luôn bị nhại lại và được biểu hiện sai lạc trên cõi hồng trần bởi các hoạt động khoa học ban đầu, vốn đúng về động cơ nhưng chỉ là một biểu tượng, trên khối cầu bên ngoài của đời sống, của hành động linh hồn đang đến và thường là trong tương lai. Tuổi thọ cuối cùng sẽ được rút ngắn hay kéo dài theo ý muốn bởi các linh hồn phụng sự một cách hữu thức, và sử dụng bộ máy của thể như công cụ nhờ đó Thiên Cơ được phụng sự. Ngày nay, đời sống thường được duy trì trong hình tướng—cả ở tuổi già lẫn thời thơ ấu—mà đáng lẽ có thể được cho phép giải thoát. Chúng không phục vụ mục đích hữu ích nào và gây nhiều đau đớn và đau khổ cho những hình tướng mà bản chất, nếu để tự nó, sẽ không dùng lâu, và sẽ dập tắt. Hãy lưu ý từ đó. Do chúng ta nhấn mạnh quá mức giá trị của đời sống hình tướng [351], và do nỗi sợ phổ quát đối với cái chết—sự chuyển tiếp lớn lao mà tất cả chúng ta đều phải đối diện—và do sự bất định của chúng ta về sự kiện bất tử, và cũng do sự gắn bó sâu đậm của chúng ta với hình tướng, chúng ta ngăn cản các tiến trình tự nhiên và giữ sự sống, vốn đang vật lộn để được tự do, bị giam hãm trong những thể hoàn toàn không thích hợp với các mục đích của linh hồn. Xin đừng hiểu sai tôi. Tôi không muốn nói điều gì có thể khuyến khích tự sát. Nhưng tôi quả thực nói, và tôi nói với sự nhấn mạnh, rằng Định luật Nghiệp Quả thường bị gạt sang một bên khi các hình tướng được duy trì trong biểu lộ kết hợp mà đáng lẽ phải bị loại bỏ, vì chúng không phục vụ mục đích hữu ích nào. Sự duy trì này, trong đa số trường hợp, bị áp đặt bởi nhóm của đương sự chứ không phải bởi chính đương sự—thường là một bệnh nhân vô thức, một người già mà bộ máy đáp ứng tiếp xúc và đáp ứng của họ không hoàn chỉnh, hoặc một em bé không bình thường. Những trường hợp này cấu thành những ví dụ rõ rệt về sự hóa giải Định luật Nghiệp Quả. |
|
The soul, through alignment, enters into a right use of time; or rather the brain, which is the only time-conscious factor in man, is no longer the dominant attribute; the mind, as the agent of the soul (whose consciousness is inclusive of the past, present, and the future), sees life and experience as it truly is. Death, therefore, is referred to as an episode, and as a transitional point in a vast series of transitions. When this attitude of the soul is grasped, our entire technique of living, and incidentally of dying, is utterly altered. |
Linh hồn, qua sự chỉnh hợp, đi vào việc sử dụng thời gian đúng đắn; hay đúng hơn, bộ não, vốn là yếu tố duy nhất có ý thức về thời gian trong con người, không còn là thuộc tính chi phối nữa; trí tuệ, như tác nhân của linh hồn (mà tâm thức của linh hồn bao gồm quá khứ, hiện tại và tương lai), nhìn thấy đời sống và kinh nghiệm như chúng thực sự là. Vì vậy, cái chết được nói đến như một giai đoạn, và như một điểm chuyển tiếp trong một chuỗi chuyển tiếp rộng lớn. Khi thái độ này của linh hồn được nắm bắt, toàn bộ kỹ thuật sống của chúng ta, và ngẫu nhiên là cả kỹ thuật chết, sẽ hoàn toàn thay đổi. |
|
In conclusion, however, and in apparent but no real negation of all that I have said above, let me repeat that the healer will give of his best to the one he seeks to heal. Having no clairvoyant power in the majority of cases, and being time-conscious and under the influence of karma, he will do his utmost along the lines of his own training and in accordance with the instructions given in this treatise [352] on healing. I suggest that you grasp that the objective before any healer at this time and at this given point in the evolutionary unfoldment of the race is the need, when so asked, to aid in the bringing about of health to the body and its sustained experience in life. You need also to realise that much that is believed, accepted and taught by the metaphysicians today is based on wrong premises, such as the nature of matter, the time equation, the value of form existence, and the fear of death. Seek to eliminate these attitudes from your consciousness, and you will arrive at a truer perspective as to the healing art. |
Tuy nhiên, để kết luận, và dường như nhưng không thực sự phủ định tất cả những gì tôi đã nói ở trên, hãy để tôi nhắc lại rằng nhà chữa lành sẽ dâng hiến điều tốt nhất của mình cho người mà y tìm cách chữa lành. Không có năng lực thông nhãn trong đa số trường hợp, và có ý thức về thời gian và ở dưới ảnh hưởng của nghiệp quả, y sẽ làm hết sức mình theo đường lối huấn luyện riêng của y và phù hợp với các chỉ dẫn được đưa ra trong luận thuyết này [352] về chữa lành. Tôi gợi ý rằng bạn hãy nắm lấy điều này: mục tiêu trước mắt của bất kỳ nhà chữa lành nào vào lúc này và tại điểm này trong sự khai mở tiến hoá của nhân loại là nhu cầu, khi được yêu cầu như thế, phải giúp mang lại sức khỏe cho thể xác và sự tiếp tục kinh nghiệm của nó trong đời sống. Bạn cũng cần nhận ra rằng nhiều điều hiện nay được các nhà siêu hình học tin tưởng, chấp nhận và giảng dạy đều dựa trên những tiền đề sai lầm, như bản chất của vật chất, phương trình thời gian, giá trị của sự tồn tại trong hình tướng, và nỗi sợ cái chết. Hãy tìm cách loại bỏ những thái độ này khỏi tâm thức của bạn, và bạn sẽ đạt đến một viễn cảnh chân thực hơn về nghệ thuật chữa lành. |
|
Later, in a few years’ time, we can probably begin to deal with specific cases. I seek, however, at this time to hold you to wide generalisations, and to basic laws and propositions, and not to cloud the issues with purely physical plane occurrences, temporary or chronic, or with death and destiny. |
Về sau, trong vài năm nữa, có lẽ chúng ta có thể bắt đầu bàn đến các trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, vào lúc này tôi tìm cách giữ bạn ở những khái quát rộng lớn, và ở các định luật và mệnh đề căn bản, chứ không làm mờ vấn đề bằng những sự việc thuần túy trên cõi hồng trần, tạm thời hay kinh niên, hoặc bằng cái chết và định mệnh. |
|
No request for real aid must ever be refused, however. A deaf ear must not be turned to trouble, either physical, mental or psychological. But I would call to your attention the fact that success in healing may not always mean release from disease and the so-called physical cure of the patient. It might simply involve, if physically successful, the postponement of the plan of the soul for the person. Success might mean the correction of wrong inner attitudes, of erroneous lines of thought, and at the same time leave the physical body as it was. It might mean the placing of the patient (through wise teaching and patience) en rapport with his soul and the consequent reorienting of the life to the eternal verities. It might consist in the proper preparation of the person for the tremendous purpose which we call Death, and thus bring about the relief of pain in this way.[353] |
Tuy nhiên, không bao giờ được từ chối một yêu cầu trợ giúp thực sự nào. Không được ngoảnh tai điếc trước khổ đau, dù là hồng trần, trí tuệ hay tâm lý. Nhưng tôi muốn lưu ý bạn đến sự kiện rằng thành công trong chữa lành có thể không phải lúc nào cũng có nghĩa là giải thoát khỏi bệnh tật và cái gọi là chữa khỏi về mặt thể xác cho bệnh nhân. Nó có thể đơn giản bao hàm, nếu thành công về mặt thể xác, sự trì hoãn kế hoạch của linh hồn đối với người ấy. Thành công có thể có nghĩa là sửa chữa những thái độ bên trong sai lầm, những đường lối tư tưởng sai lạc, và đồng thời vẫn để thể xác như cũ. Nó có thể có nghĩa là đặt bệnh nhân (qua giáo huấn khôn ngoan và sự kiên nhẫn) vào sự tương giao với linh hồn của y và kết quả là tái định hướng đời sống theo các chân lý vĩnh cửu. Nó có thể bao gồm việc chuẩn bị đúng đắn cho người ấy đối với mục đích lớn lao mà chúng ta gọi là Cái Chết, và như thế mang lại sự giảm nhẹ đau đớn theo cách này.[353] |
|
The whole science of healing will shift eventually and increasingly into the realm of preventive medicine and the psychological adjustment of the individual within his group, and the providing of right living conditions, correct dieting and housing for the peoples. That, however, takes much time, and whilst the race is on its way to the newer modes of living, with their resultant effects of better health and a more correct comprehension of the laws of health, all who stand in the world as magnetic centres must proceed, according to the light that is in them, to work with people, in order to help them, to heal them, and to aid them in making needed adjustments. Nothing should stop your service along this line, not even the realisation of limitation and of ignorance. Do all you can to encourage and to sympathise, to point out undesirable attitudes, to end wrong ways of living, and change poor modes of psychological expression as far as you see them and to the best of your ability. Remember, nevertheless, that your best way may be far short of your future capacities, and remain ready ever to change your point of view when a higher and a better way is presented to you. Above everything else in life, give to all who seek your aid the fullest measure of love, for love releases, love adjusts and interprets, and love heals, on all three planes. |
Toàn bộ khoa học chữa lành rốt cuộc và ngày càng nhiều sẽ chuyển vào lĩnh vực y học phòng ngừa và sự điều chỉnh tâm lý của cá nhân trong nhóm của y, cùng việc cung cấp những điều kiện sống đúng đắn, chế độ ăn uống đúng đắn và nhà ở thích hợp cho các dân tộc. Tuy nhiên, điều đó cần rất nhiều thời gian, và trong khi nhân loại đang trên đường tiến tới những phương thức sống mới hơn, với các kết quả kéo theo là sức khỏe tốt hơn và sự thấu hiểu đúng đắn hơn về các định luật của sức khỏe, thì tất cả những ai đứng trong thế giới như những trung tâm từ tính phải tiếp tục, tùy theo ánh sáng ở trong họ, làm việc với con người để giúp họ, chữa lành họ, và hỗ trợ họ thực hiện những điều chỉnh cần thiết. Không điều gì nên ngăn cản sự phụng sự của bạn theo đường lối này, ngay cả sự chứng nghiệm về giới hạn và sự vô minh. Hãy làm tất cả những gì bạn có thể để khích lệ và cảm thông, chỉ ra những thái độ không đáng mong muốn, chấm dứt những lối sống sai lầm, và thay đổi những phương thức biểu lộ tâm lý kém cỏi trong chừng mực bạn thấy được và theo khả năng tốt nhất của mình. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cách tốt nhất của bạn có thể còn kém rất xa những năng lực tương lai của bạn, và hãy luôn sẵn sàng thay đổi quan điểm của mình khi một cách cao hơn và tốt hơn được trình bày cho bạn. Trên hết mọi điều khác trong đời sống, hãy trao cho tất cả những ai tìm kiếm sự trợ giúp của bạn mức độ tình thương trọn vẹn nhất, vì tình thương giải thoát, tình thương điều chỉnh và diễn giải, và tình thương chữa lành, trên cả ba cõi. |
|
On Group Illnesses. |
Về các bệnh tật của nhóm. |
|
In the last analysis, most of the ills of the body are rooted in some response to group activity. It will be necessary for us to grasp the fact that the phrase “group life and activity” must include not only past heredity, or inherited group tendencies, but also may indicate present world contacts, which weaken or increase resistance far more than is generally believed possible. One of the causes of cancer, which was not so prevalent in the earlier and more leisured [354] days of the racial life—for then the HERD instinct was not so powerful as it is today—is due to the increased stimulation of the body. This stimulation is caused by our close contact in our daily lives with each other through our massed group existence, particularly in our urban centres. If cells are living organisms (which they are), they respond to group life, to massed cell emanation and radiation. This constant stream of energy pouring from the aggregate of bodily cells in massed humanity may produce in certain types of people an overstimulation in some part of bodily cell structure. This usually occurs where there is a weakness in the etheric or vital body, which means that cell defenses are impaired and the result is frequently a cancer or a general cancerous condition. This is the fundamental cause, though modern investigation is occupied with secondary causes and effects of this etheric weakness. I shall consider this later in more detail. It will be obvious to you that when we begin to deal with the vital body and to consider it with greater understanding and knowledge, we shall be able to handle such diseases as cancer far more effectively. |
Xét đến cùng, phần lớn các bệnh tật của thể xác đều bắt nguồn từ một sự đáp ứng nào đó đối với hoạt động nhóm. Chúng ta cần nắm được sự kiện rằng cụm từ “đời sống và hoạt động nhóm” không chỉ bao gồm di truyền quá khứ, hay những khuynh hướng nhóm được thừa hưởng, mà còn có thể chỉ những tiếp xúc hiện tại của thế giới, vốn làm suy yếu hoặc gia tăng sức đề kháng nhiều hơn người ta thường tin là có thể. Một trong những nguyên nhân của bệnh ung thư, vốn không phổ biến đến thế trong những ngày xưa [354] thong thả hơn của đời sống nhân loại—vì khi ấy bản năng BẦY ĐÀN chưa mạnh như ngày nay—là do sự kích thích gia tăng của thể xác. Sự kích thích này do sự tiếp xúc gần gũi của chúng ta với nhau trong đời sống hằng ngày qua sự tồn tại nhóm tập thể của chúng ta, đặc biệt tại các trung tâm đô thị. Nếu các tế bào là những sinh vật sống (và đúng là như vậy), chúng đáp ứng với đời sống nhóm, với sự phát xạ và bức xạ tập thể của các tế bào. Dòng năng lượng liên tục tuôn đổ từ tổng thể các tế bào thân thể trong khối nhân loại tập trung này có thể tạo ra nơi một số loại người sự kích thích quá mức tại một phần nào đó của cấu trúc tế bào thân thể. Điều này thường xảy ra ở nơi có một sự yếu kém trong thể dĩ thái hay thể sinh lực, điều đó có nghĩa là các phòng vệ của tế bào bị suy giảm và kết quả thường là ung thư hoặc một tình trạng ung thư tổng quát. Đây là nguyên nhân căn bản, dù sự khảo cứu hiện đại đang bận tâm với các nguyên nhân và hậu quả thứ yếu của sự yếu kém dĩ thái này. Tôi sẽ xét điều này chi tiết hơn sau. Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng khi chúng ta bắt đầu đề cập đến thể sinh lực và xem xét nó với sự thấu hiểu và tri thức lớn hơn, chúng ta sẽ có thể xử lý những bệnh như ung thư hữu hiệu hơn rất nhiều. |
|
On Using the Mind and the Imagination to Develop Group Consciousness. |
Về việc sử dụng trí tuệ và Sự tưởng tượng để phát triển tâm thức nhóm. |
|
When a member of a group, such as a group for healing, speaks of developing group consciousness, he refers to his particular group of brothers, and to his group as a unit of several souls. Forget not that such a unit is in itself a separative concept from the angle of the greater whole, but it serves a useful purpose in training the group members to think in those wider terms. It serves as a stepping stone away from the consciousness of the isolated personality. |
Khi một thành viên của một nhóm, chẳng hạn một nhóm chữa lành, nói đến việc phát triển tâm thức nhóm, y đang nói đến nhóm huynh đệ riêng của mình, và đến nhóm của y như một đơn vị gồm nhiều linh hồn. Đừng quên rằng một đơn vị như thế tự nó là một khái niệm phân ly xét từ góc độ của toàn thể lớn hơn, nhưng nó phục vụ một mục đích hữu ích trong việc huấn luyện các thành viên nhóm suy nghĩ theo những thuật ngữ rộng lớn hơn ấy. Nó đóng vai trò như một bậc thang để rời xa tâm thức của phàm ngã cô lập. |
|
If you can indeed feel, think and function as one complete unit—several personalities and one soul—it will then be relatively easy to extend the concept to a broader inclusiveness, [355] to broaden your horizon and thus become inclusive in a much wider sense. |
Nếu quả thật bạn có thể cảm nhận, suy nghĩ và hoạt động như một đơn vị hoàn chỉnh—nhiều phàm ngã và một linh hồn—thì khi ấy sẽ tương đối dễ dàng để mở rộng khái niệm ấy đến một tính bao gồm rộng hơn, [355] mở rộng chân trời của bạn và nhờ đó trở nên bao gồm theo một ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. |
|
The using of the mind to this end involves an aptitude to learn the distinction between analysis and criticism. This is a hard and well-nigh impossible thing for many to learn. Traces of illumination of this subject will show themselves if the group persists in all earnestness. The members have to learn to respond, as a group, to the same spiritual, mental and human ideas, and thus swing—as a “telepathic unit”—into one united train of thought. They have, as a group, to be preoccupied with the same things which are indicated by the soul of the group, and not by one person in the group, as is apt to be the case. They have to learn, as a group, to hold the mind steady in the light—the group mind, and not their individual minds. |
Việc sử dụng trí tuệ cho mục đích này bao hàm một năng lực học cách phân biệt giữa phân tích và chỉ trích. Đây là một điều khó và gần như bất khả đối với nhiều người. Những dấu vết soi sáng về chủ đề này sẽ tự biểu lộ nếu nhóm kiên trì với tất cả sự chân thành. Các thành viên phải học cách đáp ứng, như một nhóm, với cùng những ý tưởng tinh thần, trí tuệ và nhân bản, và nhờ đó chuyển động—như một “đơn vị viễn cảm”—vào cùng một dòng tư tưởng hợp nhất. Họ phải, như một nhóm, chuyên chú vào cùng những điều được linh hồn của nhóm chỉ ra, chứ không phải bởi một người trong nhóm, như thường dễ xảy ra. Họ phải học, như một nhóm, giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng—trí tuệ của nhóm, chứ không phải các trí tuệ cá nhân của họ. |
|
In using the imagination to this end, you have to cultivate the power to ignore the outer forms and to concentrate on the inner lines of light which unite brother to brother, group to group, and kingdom to kingdom in the expression of the Life of God Himself. It is the creative use of the imagination which produces an integrated group etheric body and which enables you to see this group body of force and light as one complete form and as one expression of the group intelligence, will and purpose—but not the will or purpose of the dominant mind or minds in the group. Thus these can work out on the physical plane in right expression. However, when the group members are primarily occupied with their own ideas, their plans, their problems, and how they can use whatever light and knowledge may be received, they negate any possibility of such creative use of the united imagination. To become entirely free from this will take much careful cultivation and self-surrender to the soul.[356] |
Trong việc sử dụng Sự tưởng tượng cho mục đích này, bạn phải vun bồi năng lực phớt lờ các hình tướng bên ngoài và tập trung vào những đường ánh sáng bên trong nối kết huynh đệ với huynh đệ, nhóm với nhóm, và giới với giới trong sự biểu lộ của chính Sự sống của Thượng đế. Chính việc sử dụng sáng tạo Sự tưởng tượng tạo ra một thể dĩ thái nhóm tích hợp và giúp bạn thấy thể nhóm của mãnh lực và ánh sáng này như một hình tướng hoàn chỉnh và như một biểu lộ của trí tuệ, ý chí và mục đích của nhóm—nhưng không phải ý chí hay mục đích của trí tuệ hay các trí tuệ chi phối trong nhóm. Nhờ đó, những điều này có thể được triển khai trên cõi hồng trần trong sự biểu lộ đúng đắn. Tuy nhiên, khi các thành viên nhóm chủ yếu bận tâm với các ý tưởng riêng của họ, các kế hoạch của họ, các vấn đề của họ, và cách họ có thể sử dụng bất kỳ ánh sáng và tri thức nào có thể nhận được, họ phủ nhận mọi khả năng của việc sử dụng sáng tạo như thế đối với Sự tưởng tượng hợp nhất. Để trở nên hoàn toàn tự do khỏi điều này sẽ cần rất nhiều sự vun bồi cẩn trọng và sự hiến dâng bản thân cho linh hồn.[356] |
|
On Healing Energy. |
Về năng lượng chữa lành. |
|
The question is sometimes asked by beginners: “Can we clearly distinguish between the healing energy, as expressed by the soul and by the personality? Can we have some understanding of the part that love has to play in the art of healing?” I can answer with brevity. |
Những người mới bắt đầu đôi khi đặt câu hỏi: “Chúng ta có thể phân biệt rõ ràng giữa năng lượng chữa lành, như được biểu lộ bởi linh hồn và bởi phàm ngã, không? Chúng ta có thể có chút thấu hiểu nào về vai trò mà tình thương phải đảm nhiệm trong nghệ thuật chữa lành không?” Tôi có thể trả lời ngắn gọn. |
|
When we come to work as a group with individuals whom we shall seek to aid, we shall then learn to use the various types of energy according to the need of the individual to be healed. It would serve a real group purpose if all of you would study what is said by Rama Prasad in his book, Nature’s Finer Forces, and by Patanjali in The Light of the Soul on the subject of the pranas with which and within which we work; you should be somewhat familiar with the matter. |
Khi chúng ta bắt đầu làm việc như một nhóm với những cá nhân mà chúng ta tìm cách trợ giúp, khi ấy chúng ta sẽ học cách sử dụng các loại năng lượng khác nhau tùy theo nhu cầu của cá nhân cần được chữa lành. Sẽ phục vụ một mục đích nhóm thực sự nếu tất cả các bạn nghiên cứu điều Rama Prasad nói trong quyển sách của ông, Nature’s Finer Forces, và điều Patanjali nói trong The Light of the Soul về chủ đề các prana mà chúng ta làm việc với chúng và trong chúng; các bạn nên phần nào quen thuộc với vấn đề này. |
|
To answer the question specifically: An initiate or even a low-grade clairvoyant can easily distinguish between soul and personality healing energies, but the average intelligent aspirant as yet cannot. The initiate knows the source from which any type of healing energy may come. He senses its vibration and can follow it to its emanating source by an effort of the will, directed by the intuition. The clairvoyant can see the centre from which the healing energy can flow, and the centre then indicates the type and quality of the projected force. All energy is from the soul in the secondary instance, but in the primary sense all energy is simply life, functioning under direction of some kind. |
Để trả lời câu hỏi một cách cụ thể: một điểm đạo đồ hay ngay cả một nhà thông nhãn cấp thấp cũng có thể dễ dàng phân biệt giữa các năng lượng chữa lành của linh hồn và của phàm ngã, nhưng người chí nguyện thông minh trung bình thì hiện nay chưa thể. Điểm đạo đồ biết nguồn mà từ đó bất kỳ loại năng lượng chữa lành nào có thể phát ra. Ngài cảm nhận rung động của nó và có thể lần theo nó đến nguồn phát xạ của nó bằng một nỗ lực của ý chí, được trực giác hướng dẫn. Nhà thông nhãn có thể thấy trung tâm mà từ đó năng lượng chữa lành có thể tuôn chảy, và trung tâm ấy khi đó chỉ ra loại và phẩm tính của mãnh lực được phóng chiếu. Mọi năng lượng đều từ linh hồn trong ý nghĩa thứ yếu, nhưng trong ý nghĩa sơ khởi mọi năng lượng chỉ đơn giản là sự sống, hoạt động dưới một loại định hướng nào đó. |
|
As to the part love has to play in the healing process: Love is the life expression of God Himself; love is the coherent force which makes all things whole (I would have you ponder upon this phrase), and love is all that is. The main characteristic of the distinction between soul energy and personality force, as applied to healing, lies in [357] the region of the application and the expression of love. Personality force is emotional, full of feeling, and—when in use—the personality is either conscious of itself as the healer, and is the dramatic centre of the stage upon which are two players, the healer and the one to be healed. Soul energy functions unconsciously and is wielded by those who are in contact with their souls and who are consequently decentralised; they are “off the stage” themselves, if I might use that expression, and they are completely occupied with group love, group activity and group purpose. |
Về phần vai trò mà tình thương phải đảm nhiệm trong tiến trình chữa lành: Tình thương là biểu lộ sự sống của chính Thượng đế; tình thương là mãnh lực cố kết làm cho mọi sự trở nên toàn vẹn (Tôi muốn các bạn suy ngẫm về cụm từ này), và tình thương là tất cả những gì hiện hữu. Đặc điểm chính của sự phân biệt giữa năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã, khi áp dụng vào chữa lành, nằm ở [357] lĩnh vực áp dụng và biểu lộ của tình thương. Mãnh lực phàm ngã thì cảm xúc, đầy cảm giác, và—khi được sử dụng—phàm ngã hoặc là ý thức về chính nó như người chữa lành, và là trung tâm kịch tính của sân khấu trên đó có hai diễn viên, người chữa lành và người được chữa lành. Năng lượng linh hồn hoạt động một cách vô thức và được vận dụng bởi những ai tiếp xúc với linh hồn mình và do đó đã phi tập trung vào bản thân; chính họ “ở ngoài sân khấu”, nếu tôi có thể dùng cách nói ấy, và họ hoàn toàn bận tâm với tình thương nhóm, hoạt động nhóm và mục đích nhóm. |
|
Why then is it so extremely difficult, if not altogether impossible, for earnest would-be healers to work together, as a group, with the sacred science of healing? Because as individuals and as a group they are predominantly personal in their individual and inter-group relations. This may show itself in intense criticism of each other, or of oneself; in a vivid sureness of personal rectitude and sound judgment which does not permit those who hold it to see that there is perhaps a chance that they are not as correct in their ideas as they deem themselves to be; it may show itself in a deep satisfaction over personal subjective contacts. Any or all the above hindrances may be present and make the group demonstration a personality demonstration which negates constructive work, and any attempt only intensifies personality reactions and would greatly (and adversely) affect the personalities of those they might seek to help. |
Vậy tại sao lại cực kỳ khó khăn, nếu không muốn nói là hoàn toàn bất khả, để những người chữa lành đầy nhiệt thành muốn làm việc cùng nhau, như một nhóm, với khoa học thiêng liêng của chữa lành? Bởi vì với tư cách cá nhân và như một nhóm, họ chủ yếu vẫn mang tính cá nhân trong các liên hệ cá nhân và liên nhóm của mình. Điều này có thể biểu lộ thành sự chỉ trích mãnh liệt lẫn nhau, hoặc tự chỉ trích; thành một sự chắc chắn sống động về tính đúng đắn cá nhân và phán đoán lành mạnh của riêng mình, điều không cho phép những ai giữ quan điểm ấy thấy rằng có lẽ vẫn có khả năng họ không đúng trong các ý tưởng của mình như họ tự cho là vậy; nó có thể biểu lộ thành một sự thỏa mãn sâu xa đối với các tiếp xúc chủ quan cá nhân. Bất kỳ hay tất cả những chướng ngại trên đều có thể hiện diện và biến sự biểu hiện của nhóm thành một biểu hiện của phàm ngã, điều phủ nhận công việc xây dựng, và bất kỳ nỗ lực nào cũng chỉ làm tăng cường các phản ứng của phàm ngã và sẽ ảnh hưởng rất lớn (và bất lợi) đến các phàm ngã của những người mà họ có thể tìm cách giúp đỡ. |
|
How, then, should they proceed? I would point out that any group member who, as an individual, is free from the above frailties of the personality and from these attitudes, nevertheless knows (and rightly rejoices) that he participates, as a group member, in the group quality. That is one of the incidental difficulties of group work. To participate and yet stand free from weakness; to recognise that [358] the achievements or failures of the individual group members are entirely their own affair; to share and yet not be dominated by the powerful thoughts and ideas of the more potent members in the group is ever a problem. I point this out because, in this coming Age wherein group work will he greatly developed, it will be of value to understand group situations and problems, and then to go forward to the group work together with those who are yours to work with. You will then be the better and wiser for past experiences, and fused as a group through shared suffering and limitations and the gained ability of failure rightly met. |
Vậy thì họ nên tiến hành thế nào? Tôi muốn chỉ ra rằng bất kỳ thành viên nhóm nào, với tư cách cá nhân, nếu được tự do khỏi những yếu đuối và thái độ kể trên của phàm ngã, vẫn biết (và vui mừng một cách đúng đắn) rằng y tham dự, với tư cách thành viên nhóm, vào phẩm tính của nhóm. Đó là một trong những khó khăn ngẫu nhiên của công việc nhóm. Tham dự mà vẫn đứng ngoài sự yếu kém; nhận ra rằng [358] những thành tựu hay thất bại của các thành viên cá nhân trong nhóm hoàn toàn là việc riêng của họ; chia sẻ mà không bị chi phối bởi những tư tưởng và ý tưởng mạnh mẽ của các thành viên có uy lực hơn trong nhóm luôn luôn là một vấn đề. Tôi nêu điều này ra bởi vì, trong Kỷ Nguyên đang đến này, nơi công việc nhóm sẽ được phát triển rất nhiều, việc thấu hiểu các tình huống và vấn đề của nhóm sẽ có giá trị, rồi sau đó tiến lên công việc nhóm cùng với những người vốn là những người bạn phải làm việc cùng. Khi ấy bạn sẽ tốt hơn và khôn ngoan hơn nhờ những kinh nghiệm quá khứ, và được dung hợp như một nhóm qua đau khổ và giới hạn được chia sẻ cùng khả năng đạt được từ thất bại được đối diện một cách đúng đắn. |
|
So let true love, silent, uncomplaining, non-critical and steadfast, be your goal and the quality of your group life. Then, when there is some definite work to do, you will work as a unit with hearts and minds as one. |
Vì vậy, hãy để tình thương chân thật, thầm lặng, không than phiền, không chỉ trích và kiên định, là mục tiêu của bạn và là phẩm tính của đời sống nhóm của bạn. Khi ấy, khi có một công việc xác định nào đó cần làm, bạn sẽ làm việc như một đơn vị với tâm và trí là một. |
|
On Instantaneous Healing. |
Về sự chữa lành tức thời. |
|
Instantaneous healing may be of various kinds. We might cite the following from among several possibilities which account for the happening: |
Sự chữa lành tức thời có thể thuộc nhiều loại khác nhau. Chúng ta có thể nêu ra những điều sau đây trong số một số khả năng giải thích cho sự việc xảy ra: |
|
1. The healing which is the result of a definite practice, conscious or unconscious, of Hatha Yoga. This is brought about by a projection of purely physical magnetism, which, added to the quota of available physical magnetism at the patient’s disposal within his own physical body, suffices to effect an immediate cure. The magnetism in the body of the patient, instead of being outgoing and radiating, becomes inverted and turns inward to make its contribution to the reservoir of physical force held in a static condition within the body. The more low grade human types produce this kind of healing with facility. This is equally so in relation to the patient and the healer. The case cited is a case in point. The healing was more easily brought about [359] by the “sheik” concerned because the wound (a bite in the arm—A.A.B.) was self-inflicted and before inflicting it, the patient (if I may so call him) held the outgoing force in abeyance by an act of the will, thus creating a reservoir of energy which was available to supplement that of the sheik which was, in its turn, released by a mantram. This is definitely not spiritual healing. |
1. Sự chữa lành là kết quả của một thực hành xác định, có ý thức hay vô thức, của Hatha Yoga. Điều này được tạo ra bởi một sự phóng chiếu từ điện thuần hồng trần, mà khi được cộng thêm vào lượng từ điện hồng trần sẵn có trong tầm sử dụng của bệnh nhân bên trong chính thể xác của y, thì đủ để tạo nên một sự chữa lành tức thời. Từ điện trong thể của bệnh nhân, thay vì hướng ra ngoài và bức xạ, lại bị đảo ngược và quay vào trong để đóng góp phần của nó vào kho chứa mãnh lực hồng trần được giữ trong một trạng thái tĩnh bên trong thể. Những loại người cấp thấp hơn tạo ra kiểu chữa lành này một cách dễ dàng. Điều này cũng đúng như nhau đối với cả bệnh nhân lẫn người chữa lành. Trường hợp được nêu là một ví dụ điển hình. Sự chữa lành được thực hiện dễ dàng hơn [359] bởi vị “sheik” liên hệ vì vết thương (một vết cắn ở cánh tay—A.A.B.) là do tự gây ra và trước khi gây ra nó, bệnh nhân (nếu tôi có thể gọi y như vậy) đã giữ mãnh lực hướng ngoại ở trạng thái đình chỉ bằng một hành động của ý chí, nhờ đó tạo ra một kho năng lượng sẵn có để bổ sung cho năng lượng của vị sheik, năng lượng này đến lượt nó được giải phóng bằng một mantram. Đây rõ ràng không phải là chữa lành tinh thần. |
|
2. There is also that form of healing which can be instantaneous because the disease is largely psychological and hallucinatory. The healer is then in the position to enable the patient to throw off illusion and so stand free. The will of the healer when added to that of the patient, aids in the breaking of the illusion and of the glamorous thoughtform and the patient then stands free. This is a psychological healing and only one illustration of it. |
2. Cũng có loại chữa lành có thể tức thời vì bệnh phần lớn mang tính tâm lý và ảo giác. Khi ấy người chữa lành ở vào vị thế giúp bệnh nhân gạt bỏ ảo tưởng và nhờ đó đứng tự do. Ý chí của người chữa lành khi được cộng thêm vào ý chí của bệnh nhân sẽ hỗ trợ trong việc phá vỡ ảo tưởng và hình tư tưởng ảo cảm, và khi đó bệnh nhân đứng tự do. Đây là một sự chữa lành tâm lý và chỉ là một minh họa của nó. |
|
3. Then there is a type of healing which is brought about in two ways, and this is the true spiritual healing: |
3. Rồi còn có một loại chữa lành được thực hiện theo hai cách, và đây là chữa lành tinh thần chân chính: |
|
a. When the patient makes a sudden and frequently unexpected contact with his soul, and in which the soul energy is so great and so potent that it sweeps through the vehicles and definitely produces effects. Thus cures are brought about in some vehicle or another and frequently in the physical vehicle. The physical condition or disease retains, so oft, the undivided attention of the consciousness of the human being involved, and the soul pours through to the point of concentrated attention. In this thought lies, for many of you, a clear hint. |
a. Khi bệnh nhân tạo được một tiếp xúc đột ngột và thường là bất ngờ với linh hồn mình, và trong đó năng lượng linh hồn lớn lao và mạnh mẽ đến mức quét qua các vận cụ và rõ rệt tạo ra các hiệu quả. Nhờ đó, sự chữa lành được thực hiện trong một vận cụ nào đó và thường là trong vận cụ hồng trần. Tình trạng hay bệnh tật hồng trần thường giữ sự chú ý không chia sẻ của tâm thức con người liên hệ, và linh hồn tuôn qua đến điểm chú ý tập trung ấy. Trong tư tưởng này, đối với nhiều bạn, có một gợi ý rõ ràng. |
|
b. When the patient’s evil physical karma is exhausted, and physical plane illness is not, at this particular time, his destiny. Then the healer can begin to bear upon the situation, if he is spiritual and full of wisdom, enough spiritual energy to ensure a cure. |
b. Khi nghiệp quả hồng trần xấu của bệnh nhân đã cạn, và bệnh tật trên cõi hồng trần không phải, vào thời điểm đặc biệt này, là số phận của y. Khi ấy người chữa lành có thể bắt đầu tác động lên tình huống, nếu y có tinh thần và đầy minh triết, một lượng năng lượng tinh thần đủ để bảo đảm sự chữa lành. |
|
[360] |
[360] |
|
I trust you will find these answers suggestive. Ponder deeply upon the implications. |
Tôi tin rằng các bạn sẽ thấy những câu trả lời này gợi mở. Hãy suy ngẫm sâu xa về các hàm ý của chúng. |
|
On the Use of the Lord’s Image. |
Về việc sử dụng hình ảnh của Chúa. |
|
Here we touch upon a point of real interest. The use of the Lord’s image is frequently of vital importance, but—and it is here that I seek to lay the emphasis—it must be the image arrived at by oneself through the medium of the expansion of the Christ consciousness in one’s own life, and by arriving at the stage of conscious discipleship. At that particular stage when a man is definitely linked with a Master and His group, he is then, automatically and as an individual, linked with the Master of all Masters. He can then, via his own soul and the soul of his particular group, draw on the force of Maitreya Buddha. Why, think you, is there no good and true picture of the Blessed One, There are only a few speculations by the devotees of the early church and none by those who knew Him. The reason is a definite one. There is no true image of Him because it must be upon our hearts and not upon our canvases. We arrive at knowledge of Him because He is ours, as we are His. Do you understand that whereof I speak? He is the world Healer and Saviour. He works because He is the embodied soul of all Reality. He works today, as He worked in Palestine two thousand years ago, through groups. There He worked through the three beloved disciples, through the twelve apostles, through the chosen seventy, and the interested five hundred. Ponder on this fact, little emphasised. Now He works through His Masters and Their groups, and thereby greatly intensifies His efforts. He can and will work through all groups just in so far as they fit themselves for planned service, for the distribution of love, and come into conscious alignment with the greater potency of the inner groups. |
Ở đây chúng ta chạm đến một điểm thật sự đáng quan tâm. Việc sử dụng hình ảnh của Chúa thường có tầm quan trọng thiết yếu, nhưng—và chính ở đây tôi muốn nhấn mạnh—đó phải là hình ảnh do chính mình đạt được qua trung gian của sự mở rộng tâm thức Christ trong đời sống riêng của mình, và bằng cách đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử hữu thức. Ở giai đoạn đặc biệt ấy, khi một người được nối kết rõ rệt với một Chân sư và nhóm của Ngài, thì khi ấy y tự động và với tư cách cá nhân được nối kết với Chân sư của mọi Chân sư. Khi đó y có thể, qua linh hồn riêng của mình và linh hồn của nhóm riêng của mình, rút lấy mãnh lực của Đức Phật Maitreya. Theo bạn, tại sao lại không có bức chân dung tốt và chân thực nào của Đấng Chân Phúc? Chỉ có một vài suy đoán của các tín đồ của giáo hội sơ khai và không có gì từ những người đã biết Ngài. Lý do là một lý do xác định. Không có hình ảnh chân thực nào của Ngài vì hình ảnh ấy phải ở trên trái tim chúng ta chứ không phải trên tranh vẽ của chúng ta. Chúng ta đạt đến tri thức về Ngài vì Ngài là của chúng ta, như chúng ta là của Ngài. Bạn có hiểu điều tôi đang nói đến không? Ngài là Đấng Chữa Lành và Đấng Cứu Rỗi của thế giới. Ngài hoạt động vì Ngài là linh hồn nhập thể của mọi Thực Tại. Ngài hoạt động ngày nay, như Ngài đã hoạt động tại Palestine hai ngàn năm trước, qua các nhóm. Ở đó Ngài đã hoạt động qua ba đệ tử yêu dấu, qua mười hai tông đồ, qua bảy mươi người được chọn, và năm trăm người quan tâm. Hãy suy ngẫm về sự kiện này, vốn ít được nhấn mạnh. Hiện nay Ngài hoạt động qua các Chân sư của Ngài và các nhóm của Các Ngài, và nhờ đó tăng cường rất nhiều các nỗ lực của Ngài. Ngài có thể và sẽ hoạt động qua mọi nhóm trong chừng mực họ tự làm cho mình thích hợp với sự phụng sự có kế hoạch, với việc phân phối tình thương, và đi vào sự chỉnh hợp hữu thức với mãnh lực lớn hơn của các nhóm bên trong. |
|
[361] |
[361] |
|
You will find (fairly soon perhaps) that healing groups will employ mantrams of a definite kind, and that in those mantrams the name of the Blessed One will appear. But the mantram for His coming age is not yet for use. The world is not yet ready for the potency which it would release. Today, is there a more potent mantram than the oft spoken word: “For Christ’s sake and for the glory of His Name”? But these works must be spoken with love and will behind them or else they are but an empty symbol and a sounding cymbal. Forget this not. |
Bạn sẽ thấy (có lẽ khá sớm) rằng các nhóm chữa lành sẽ sử dụng những mantram thuộc một loại xác định, và trong những mantram ấy danh xưng của Đấng Chân Phúc sẽ xuất hiện. Nhưng mantram cho kỷ nguyên đang đến của Ngài thì chưa thể dùng được. Thế giới chưa sẵn sàng cho mãnh lực mà nó sẽ giải phóng. Ngày nay, có mantram nào mạnh hơn lời thường được nói: “Vì Đức Christ và vì vinh quang Danh Ngài” chăng? Nhưng những lời này phải được nói ra với tình thương và ý chí ở phía sau chúng, nếu không chúng chỉ là một biểu tượng rỗng không và một thanh la vang rền. Đừng quên điều này. |
|
On the Christ. |
Về Đức Christ. |
|
Some aspirants and disciples may experience an almost constant recollection of the Christ; that is due to their increasing sensitivity to the inner planes and particularly to the fact that so much of the matter in the astral body of the advanced aspirant is taken from (and is therefore sensitive to) the highest subplane of the astral plane. It is also due to the fact that the Lord Maitreya with His workers is approaching nearer all the time to the physical plane. The focus of His attention in the year 1936 was, for the first time, predominantly on the first subplane of the astral plane. Hence the sensitives’ correct and immediate response to His energy there expressed. He is coming nearer in His thought and activity. Should the peoples of the world respond to the presented opportunity, His forces and attention could penetrate more deeply and be predominantly on etheric levels with all that is implied in such a situation. |
Một số người chí nguyện và đệ tử có thể trải nghiệm một sự tưởng nhớ gần như liên tục về Đức Christ; điều đó là do tính nhạy cảm ngày càng tăng của họ đối với các cõi bên trong và đặc biệt là do quá nhiều chất liệu trong thể cảm dục của người chí nguyện tiến bộ được lấy từ (và vì thế nhạy cảm với) cõi phụ cao nhất của cõi cảm dục. Điều đó cũng là do sự kiện rằng Chúa Maitreya cùng các cộng sự của Ngài đang tiến lại gần cõi hồng trần hơn mọi lúc. Tiêu điểm chú ý của Ngài trong năm 1936 lần đầu tiên chủ yếu đặt trên cõi phụ thứ nhất của cõi cảm dục. Do đó có sự đáp ứng đúng đắn và tức thời của những người nhạy cảm đối với năng lượng của Ngài được biểu lộ ở đó. Ngài đang đến gần hơn trong tư tưởng và hoạt động của Ngài. Nếu các dân tộc trên thế giới đáp ứng với cơ hội được đưa ra, các mãnh lực và sự chú ý của Ngài có thể thâm nhập sâu hơn và chủ yếu ở trên các cấp độ dĩ thái với tất cả những gì được hàm ý trong một tình huống như thế. |
|
This, many sense subjectively and know; and great, therefore, is their opportunity and yours to constitute increasingly a channel for this force. |
Điều này, nhiều người cảm nhận một cách chủ quan và biết; vì vậy cơ hội của họ và của bạn thật lớn lao để ngày càng cấu thành một kênh dẫn cho mãnh lực này. |
|
Remember that the work for which He comes and to which the attendant Hierarchy is pledged is to help Him in the “healing of the nations” as it is expressed in [362] the Bible. This is a true statement of an imminent fact. This healing will be brought about if men of goodwill everywhere measure up to their opportunity; if the work of the Christ and of His helpers is brought more definitely to the attention of the general public, and if there is an inner relaxation in the world of men which will permit the devas to work. It is their readiness and their response to the near approach to the Christ which many consecrated servers are subjectively sensing, and which has somewhat perplexed them. The devas can only be sensed and felt: they cannot be approached by humanity as yet through the medium of the thought world and the use of the mechanism of thought in man. There is no danger involved for the server if he becomes aware of these deva forces and their activities, via the Christ and through their responsiveness to His work and imminent appearance. |
Hãy nhớ rằng công việc mà Ngài đến để thực hiện và mà Thánh đoàn đi kèm đã cam kết giúp Ngài trong việc “chữa lành các quốc gia” như được diễn tả trong [362] Kinh Thánh. Đây là một phát biểu chân thực về một sự kiện sắp xảy ra. Sự chữa lành này sẽ được thực hiện nếu những người thiện chí ở khắp nơi đáp ứng xứng đáng với cơ hội của họ; nếu công việc của Đức Christ và các trợ thủ của Ngài được đưa ra rõ rệt hơn trước sự chú ý của công chúng nói chung, và nếu có một sự thư giãn bên trong trong thế giới loài người cho phép các thiên thần hoạt động. Chính sự sẵn sàng của họ và sự đáp ứng của họ đối với sự đến gần của Đức Christ mà nhiều người phụng sự thánh hiến đang cảm nhận một cách chủ quan, và điều này đã phần nào làm họ bối rối. Các thiên thần chỉ có thể được cảm nhận và được cảm thấy: nhân loại chưa thể tiếp cận họ qua trung gian của thế giới tư tưởng và việc sử dụng bộ máy tư tưởng nơi con người. Không có nguy hiểm nào liên quan đối với người phụng sự nếu y trở nên nhận biết các mãnh lực thiên thần này và các hoạt động của chúng, qua Đức Christ và qua sự đáp ứng của chúng đối với công việc và sự xuất hiện sắp đến của Ngài. |
|
On the Phrase “Mother of the World.” |
Về cụm từ “Mẹ của Thế Gian.” |
|
The various ways in which the phrase can be used can mean quite a number of differing things. It can mean: |
Những cách khác nhau mà cụm từ này có thể được dùng có thể mang khá nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó có thể có nghĩa là: |
|
1. The feminine aspect in manifestation, symbolised for us in many of the world religions as a virgin mother and in the Christian religion as the Virgin Mary. It is that substance which enables Deity to manifest. |
1. Phương diện nữ tính trong biểu hiện, được tượng trưng cho chúng ta trong nhiều tôn giáo thế giới như một người mẹ đồng trinh và trong tôn giáo Cơ Đốc như Đức Mẹ Đồng Trinh Mary. Đó là chất liệu giúp Thượng đế biểu hiện. |
|
2. Nature itself, the mother of all forms. |
2. Chính thiên nhiên, mẹ của mọi hình tướng. |
|
3. The moon also, who is the symbol of the generative, creative life which gives birth to forms and is therefore the symbol of the form nature. |
3. Mặt trăng nữa, vốn là biểu tượng của sự sống sinh sản, sáng tạo, sinh ra các hình tướng và vì thế là biểu tượng của bản chất hình tướng. |
|
4. The concentration of the feminine force in nature in some individual in female form who is then called the “World Mother.” Such an individual has never existed in our particular planetary life, though the avatars of a previous solar system, expressing itself through [363] planetary life, always took this form. But not in this solar system. The tradition of such appearances is purely symbolic, inherited from the previous solar system from which we inherited the matter of which all manifested forms are made. This symbolism has come down from the far-off period of the Matriarchate, which had a religion that recalled the ancient ways of the earlier system and in which period of time Lilith symbolised the World Mother, until Eve took her place. |
4. Sự tập trung của mãnh lực nữ tính trong thiên nhiên nơi một cá nhân nào đó dưới hình thức nữ giới, khi ấy được gọi là “Mẹ Thế Gian.” Một cá nhân như thế chưa từng tồn tại trong đời sống hành tinh đặc thù của chúng ta, dù các Đấng Hoá Thân của một hệ mặt trời trước, tự biểu lộ qua [363] đời sống hành tinh, luôn luôn mang hình thức này. Nhưng không phải trong hệ mặt trời này. Truyền thống về những sự xuất hiện như thế hoàn toàn có tính biểu tượng, được thừa hưởng từ hệ mặt trời trước mà từ đó chúng ta thừa hưởng vật chất cấu thành mọi hình tướng biểu hiện. Biểu tượng này đã được truyền xuống từ thời kỳ xa xưa của chế độ mẫu hệ, vốn có một tôn giáo gợi nhớ những phương thức cổ xưa của hệ thống trước đó và trong thời kỳ ấy Lilith tượng trưng cho Mẹ Thế Gian, cho đến khi Eve thay thế vị trí của bà. |
|
On the Sense of Futility. |
Về cảm giác vô ích. |
|
In connection with the work of the healer with patients at the gate of death, he may experience a sense of futility. Is it possible to know just what he can do? Should he continue his effort to help the newly freed soul to go forward into the light? In the face of all his knowledge (and he may have much), and in spite of his yearning desire to aid the departing one, there seems naught to do but to step aside, with a sense of utter futility, whilst the loved one passes through the gate which leads to what, my brother? We can go up to the gates, but it seems as yet that we can go no further. Even the deep-seated belief in the persistence of the immortal soul proves inadequate, and only serves to comfort the serving healer personally, but suffices not to reveal to him what help he can give. |
Liên quan đến công việc của người chữa lành với những bệnh nhân ở ngưỡng cửa tử vong, y có thể trải nghiệm một cảm giác vô ích. Có thể biết chính xác y có thể làm gì không? Y có nên tiếp tục nỗ lực của mình để giúp linh hồn vừa được giải thoát tiến vào ánh sáng không? Trước mọi tri thức của y (và y có thể có nhiều), và bất chấp khát vọng tha thiết muốn trợ giúp người sắp ra đi, dường như không còn gì để làm ngoài việc bước sang một bên, với cảm giác hoàn toàn vô ích, trong khi người thân yêu đi qua cánh cổng dẫn đến điều gì, Huynh đệ của Tôi? Chúng ta có thể đi đến tận cổng, nhưng dường như hiện nay chúng ta không thể đi xa hơn. Ngay cả niềm tin ăn sâu vào sự tồn tại liên tục của linh hồn bất tử cũng tỏ ra không đầy đủ, và chỉ đủ để an ủi cá nhân người chữa lành đang phụng sự, nhưng không đủ để mặc khải cho y biết y có thể trao sự trợ giúp nào. |
|
There is little I can say as we wait, at this significant time, for the coming revelation. That revelation is inevitable and sure, and such questions will not be raised two hundred years hence. To this emerging fact, the growing sensitivity of the race to the subtler angles of life, and the vast amount of investigation carried forward on every side, is the physical plane guarantee. This great truth and its guarantee is held steadily before us in the history of the “glorious resurrection of the Christ” and His after-death [364] appearance, and in the powerful but little understood ritual of the sublime degree in Masonry, wherein the Master is raised. |
Tôi có rất ít điều để nói khi chúng ta chờ đợi, vào thời điểm đầy thâm nghĩa này, sự mặc khải đang đến. Sự mặc khải ấy là điều không thể tránh khỏi và chắc chắn, và những câu hỏi như thế sẽ không còn được nêu lên hai trăm năm nữa. Đối với sự kiện đang xuất hiện này, tính nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại đối với những phương diện vi tế hơn của đời sống, và khối lượng khảo cứu to lớn đang được tiến hành khắp nơi, là sự bảo đảm trên cõi hồng trần. Chân lý vĩ đại này và sự bảo đảm của nó được giữ vững trước mắt chúng ta trong lịch sử về “sự phục sinh vinh quang của Đức Christ” và sự xuất hiện sau khi chết [364] của Ngài, và trong nghi lễ đầy quyền năng nhưng ít được thấu hiểu của cấp bậc cao siêu trong Hội Tam Điểm, nơi vị Chân sư được nâng dậy. |
|
Aid at the time of the “passing into the light” depends largely upon two things: First, the amount of close contact between the dying person and the one who watches, and the level upon which that contact is strongest. Secondly, upon the capacity of the watcher to detach and dissociate himself from his own feelings and to identify himself, through an act of pure unselfish will, with the dying person. None of this is really possible when the bond between the two is purely emotional or based upon a physical plane relation. The contact must be deeper and stronger than that. It must be a personal contact upon all planes. Where there is true soul and personality contact, there is then little problem. But this is rare to find. Nevertheless I have here given you a hint. |
Sự trợ giúp vào lúc “đi vào ánh sáng” phần lớn tùy thuộc vào hai điều: Thứ nhất, mức độ tiếp xúc gần gũi giữa người đang chết và người canh giữ, và cấp độ mà trên đó sự tiếp xúc ấy mạnh nhất. Thứ hai, tùy thuộc vào năng lực của người canh giữ trong việc tách rời và phân ly chính mình khỏi các cảm xúc riêng của mình và đồng hoá mình, qua một hành động của ý chí thuần vị tha, với người đang chết. Không điều nào trong số này thực sự có thể khi mối dây liên kết giữa hai người chỉ thuần cảm xúc hoặc dựa trên một liên hệ cõi hồng trần. Sự tiếp xúc phải sâu hơn và mạnh hơn thế. Nó phải là một tiếp xúc cá nhân trên mọi cõi. Nơi nào có tiếp xúc chân thật giữa linh hồn và phàm ngã, khi ấy sẽ có rất ít vấn đề. Nhưng điều này hiếm thấy. Tuy nhiên, ở đây tôi đã cho bạn một gợi ý. |
|
There should also be as little definite thought process as possible on the part of the watcher. All that is required and possible at present is simply to carry the dying person forward on an ever-deepening stream of love. Through the power of the creative imagination, and not through intellectual concepts (no matter how high), must the dying man be aided to discard the outer garment in which he has been encased and in which he has laboured during life. This involves an act of pure self-forgetfulness, of which few as yet are capable. Most people are swept by fear, or by a strong desire to hold the beloved person back, or are sidetracked in their aim by the activities involved in assuaging pain and deadening agony; they are dismayed also by the depths of their ignorance of the “technique of death” when faced with the emergency. They find themselves unable to see what lies beyond the doors of death, and are swept by the mental uncertainty which is part of the great [365] illusion. There is as we know no sure touch in this process of dying. All is uncertainty and bewilderment. But this will end before long, and man will know and also see. |
Cũng nên có càng ít tiến trình tư tưởng xác định càng tốt nơi người canh giữ. Tất cả những gì hiện nay được đòi hỏi và có thể làm chỉ đơn giản là đưa người đang chết tiến lên trên một dòng tình thương ngày càng sâu đậm. Qua quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo, chứ không phải qua các khái niệm trí tuệ (dù cao đến đâu), người sắp chết phải được trợ giúp để bỏ đi chiếc áo ngoài mà y đã bị bao bọc trong đó và đã lao động trong đó suốt cuộc đời. Điều này bao hàm một hành động quên mình thuần túy mà hiện nay ít người có khả năng. Phần lớn mọi người bị cuốn theo sợ hãi, hoặc bởi một ham muốn mạnh mẽ muốn giữ người thân yêu lại, hoặc bị chệch hướng khỏi mục tiêu của họ bởi các hoạt động liên quan đến việc làm dịu đau đớn và làm tê liệt cơn hấp hối; họ cũng hoảng hốt trước chiều sâu của sự vô minh của mình về “kỹ thuật của cái chết” khi đối diện với tình huống khẩn cấp. Họ thấy mình không thể nhìn thấy điều gì nằm bên kia những cánh cửa của cái chết, và bị cuốn theo sự bất định trí tuệ vốn là một phần của đại [365] ảo tưởng. Như chúng ta biết, không có sự chạm tay chắc chắn nào trong tiến trình chết này. Tất cả đều là bất định và hoang mang. Nhưng điều này sẽ sớm chấm dứt, và con người sẽ biết và cũng sẽ thấy. |
|
As regards those who have passed into the light, whom you want to help, follow them with your love, remembering that they are still the same people, minus the outer limiting shroud of body. Serve them, but seek not that they should serve your need of them. Go to them, but seek not to bring them back to you. |
Đối với những người đã đi vào ánh sáng mà bạn muốn giúp, hãy theo họ bằng tình thương của bạn, nhớ rằng họ vẫn là chính những con người ấy, chỉ thiếu đi tấm màn giới hạn bên ngoài của thể xác. Hãy phụng sự họ, nhưng đừng tìm cách để họ phụng sự nhu cầu của bạn đối với họ. Hãy đến với họ, nhưng đừng tìm cách kéo họ trở lại với bạn. |
|
It is physical plane life that is the purgatory, and life experience that is the school of drastic discipline. Let us not fear death, or that which lies beyond it. The wise disciple labours in the field of service but looks forward steadily to the dawn of the “clear, cold light” into which he will some day enter, and so close the chapter for a while upon the fever and the friction and the pain of earth existence. But there are other phases of life experience wherein the sense of futility and frustration meets the server in the world today. |
Chính đời sống trên cõi hồng trần là luyện ngục, và kinh nghiệm sống là trường học của kỷ luật nghiêm khắc. Chúng ta đừng sợ cái chết, hay điều gì nằm bên kia nó. Người đệ tử minh triết lao động trong cánh đồng phụng sự nhưng vẫn kiên định hướng tới bình minh của “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo” mà một ngày nào đó y sẽ đi vào, và nhờ đó khép lại chương sách, trong một thời gian, về cơn sốt, sự ma sát và nỗi đau của sự tồn tại trên địa cầu. Nhưng còn có những phương diện khác của kinh nghiệm sống, trong đó cảm giác vô ích và thất vọng gặp người phụng sự trong thế giới ngày nay. |
|
From the angle of vision of a disciple, we might divide intelligent human beings into three groups, at the same time eliminating in our thought the dead weight of the unthinking masses who register desire but who as yet experience no sense of futility or frustration. They desire and are satisfied; or they desire and are thwarted or jealous or angry at those who appear to have that which they want and demand, and which appeals to the life of the senses. The three groups are: |
Từ góc độ tầm nhìn của một đệ tử, chúng ta có thể chia những con người thông minh thành ba nhóm, đồng thời loại khỏi tư tưởng của chúng ta sức nặng chết chóc của những quần chúng không suy nghĩ, những người ghi nhận ham muốn nhưng chưa trải nghiệm cảm giác vô ích hay thất vọng. Họ ham muốn và được thỏa mãn; hoặc họ ham muốn và bị ngăn trở hay ganh tị hay giận dữ với những người dường như có được điều họ muốn và đòi hỏi, và điều hấp dẫn đời sống của các giác quan. Ba nhóm ấy là: |
|
1. Those personalities, integrated and intelligent, who are ambitious and pushing consciously forward, yet who meet with frustration. This frustration is due either to world conditions which are too strong for them, or to the imposition upon them of their own watchful souls [366] which throws obstructions in their way in order to lead them into the light. |
1. Những phàm ngã tích hợp và thông minh, đầy tham vọng và đang có ý thức thúc đẩy tiến lên, nhưng lại gặp thất vọng. Sự thất vọng này hoặc do các điều kiện thế giới quá mạnh đối với họ, hoặc do sự áp đặt của chính các linh hồn tỉnh thức của họ [366] vốn đặt chướng ngại trên đường họ để dẫn họ vào ánh sáng. |
|
2. Those mystically inclined people and those rightly oriented visionaries who have not yet built in that mental scaffolding which will enable them properly to materialise their vision, through right thought processes. They are many in number today, and their case is not an easy one. |
2. Những người nghiêng về thần bí và những nhà có linh ảnh được định hướng đúng đắn nhưng chưa xây dựng được bộ giàn giáo trí tuệ giúp họ hiện hình linh ảnh của mình một cách đúng đắn, qua các tiến trình tư tưởng đúng đắn. Ngày nay họ rất đông, và trường hợp của họ không phải là dễ. |
|
3. Those disciples and aspirants who are attempting to work in the field of the world, yet who through karmic limitation, misapplication of the law, or some basic personality weakness, never achieve in this life their goal, and so are swept by an overwhelming sense of futility. |
3. Những đệ tử và người chí nguyện đang cố gắng làm việc trong lĩnh vực thế giới, nhưng do giới hạn nghiệp quả, sự áp dụng sai định luật, hoặc một yếu kém căn bản nào đó của phàm ngã, không bao giờ đạt được mục tiêu của mình trong kiếp này, và vì thế bị cuốn theo một cảm giác vô ích áp đảo. |
|
Beyond these three classes, acting as the opposite pole to the struggling masses, are the integrated functioning disciples of the world, who are achieving, and who are too occupied and too one-pointed to waste much time over feeling inferior or over mistakes and failures. |
Bên ngoài ba hạng người này, hoạt động như cực đối nghịch với quần chúng đang vật lộn, là những đệ tử đang hoạt động tích hợp của thế giới, những người đang thành tựu, và quá bận rộn và quá nhất tâm để lãng phí nhiều thời gian vào cảm giác tự ti hay vào những sai lầm và thất bại. |
|
Therefore, by wisely placing the people who come to you for help in one or other of these three categories (allowing in your mind for the possibility of their passing into another and higher one) you will be able to help them more intelligently. |
Do đó, bằng cách đặt một cách khôn ngoan những người đến với bạn để được giúp đỡ vào một trong ba loại này (đồng thời chừa chỗ trong trí bạn cho khả năng họ chuyển sang một loại khác cao hơn), bạn sẽ có thể giúp họ một cách thông minh hơn. |
|
A large measure of the inferiority complex which affects so many people today is due most definitely to their reaction to the inflaming spiritual influences. They know themselves to be greater than their achievements; they realise unconsciously and wordlessly their divinity, but the limitation of circumstance and the hindrances of the body nature are as yet too great for right response to opportunity and to reality. Look for these souls and aid them by true understanding and by appreciation and cooperation, [367] and thus dispel the illusion of non-accomplishment which haunts their footsteps. |
Một phần lớn mặc cảm tự ti đang ảnh hưởng đến rất nhiều người ngày nay rõ ràng là do phản ứng của họ đối với các ảnh hưởng tinh thần đang bốc cháy. Họ biết mình lớn lao hơn những thành tựu của mình; họ chứng nghiệm một cách vô thức và không lời thiên tính của mình, nhưng giới hạn của hoàn cảnh và những cản trở của bản chất thể xác hiện vẫn còn quá lớn để đáp ứng đúng đắn với cơ hội và với thực tại. Hãy tìm những linh hồn này và trợ giúp họ bằng sự thấu hiểu chân thật, bằng sự trân trọng và hợp tác, [367] và nhờ đó làm tiêu tan ảo tưởng về sự không thành tựu đang ám ảnh bước chân họ. |
|
But exhibitionism and neurasthenic hallucinations have to be cured primarily through individual self-effort, through decentralisation, transference of interest, and unselfishness. Neurasthenic tendencies are likely to increase instead of decrease for some time yet, such is the strain under which man labours today. The present world condition forces him to find avenues of escape, and to revert to the curative power of his own creative imagination. Release comes through acceptance of the drama of the whole and not of the part, and through steady occupation in creative work on the physical plane. |
Nhưng tính phô trương bản thân và những ảo giác suy nhược thần kinh trước hết phải được chữa trị qua nỗ lực tự thân của cá nhân, qua sự phi tập trung vào bản thân, sự chuyển dịch mối quan tâm, và tính vị tha. Những khuynh hướng suy nhược thần kinh có lẽ sẽ gia tăng thay vì giảm bớt trong một thời gian nữa, vì áp lực mà con người đang chịu đựng ngày nay là như thế. Tình trạng thế giới hiện nay buộc y phải tìm những lối thoát, và quay về với quyền năng chữa trị của chính Sự tưởng tượng sáng tạo của mình. Sự giải thoát đến qua việc chấp nhận vở kịch của toàn thể chứ không phải của bộ phận, và qua sự bận rộn kiên định trong công việc sáng tạo trên cõi hồng trần. |
|
Methods of training will later be used and are already coming into their elementary stages through the work of the psychologists of the world. |
Những phương pháp huấn luyện về sau sẽ được sử dụng và hiện đã bước vào các giai đoạn sơ đẳng qua công việc của các nhà tâm lý học trên thế giới. |
|
On Scientific Parallels. |
Về những tương đồng khoa học. |
|
Students seem to think that we, the teachers on the inner side, have read every book that may be written, particularly those embodying the new and advanced truths, and that we are also in touch with the personalities of those who are the dispensers of the growing body of new knowledge in the world. Such is not the case. How can I explain to you the true state of affairs? Only symbolically, I think. |
Các đạo sinh dường như nghĩ rằng chúng tôi, các huấn sư ở phía bên trong, đã đọc mọi quyển sách có thể được viết ra, đặc biệt là những sách chứa đựng các chân lý mới và tiến bộ, và rằng chúng tôi cũng tiếp xúc với các phàm ngã của những người đang phân phối khối tri thức mới ngày càng tăng trong thế giới. Không phải như vậy. Làm sao tôi có thể giải thích cho bạn tình trạng sự việc thực sự? Tôi nghĩ chỉ có thể bằng biểu tượng. |
|
As we look out over the world of the intellect and carry our thoughts from the points of living knowledge there to be found, we may become aware of areas of light (as we understand it) shining forth upon the physical plane. Such areas indicate the shining light of some worker in the field, of some disciple, or of some member of the New Group of World Servers. I know, for instance, that such areas are to be found (as regards the United States) in Baltimore, Chicago, Cleveland and Rochester. By a peculiar [368] mode of shining this indicates to me that there is to be found a centre where the newer knowledges anent man’s body are to be found. I know that there are other areas of light existing all over the world. My work and the work of all the teachers in this transition period is to stimulate them and fertilise their minds with ideas. Every theory they form in their search for truth, every book they write, and every conclusion they reach is not known to us. They must carry their own responsibility and fail or succeed in arriving at the truth through their own self-initiated effort. |
Khi chúng tôi nhìn ra thế giới của trí tuệ và chuyển tư tưởng của mình từ những điểm tri thức sống động có thể tìm thấy ở đó, chúng tôi có thể nhận biết những vùng ánh sáng (theo cách chúng tôi hiểu) đang chiếu rọi trên cõi hồng trần. Những vùng như thế chỉ ra ánh sáng đang tỏa ra của một người hoạt động nào đó trong lĩnh vực này, của một đệ tử nào đó, hay của một thành viên nào đó của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chẳng hạn, tôi biết rằng những vùng như thế có thể được tìm thấy (xét về Hoa Kỳ) tại Baltimore, Chicago, Cleveland và Rochester. Bằng một phương thức chiếu sáng đặc biệt [368] điều này chỉ cho tôi biết rằng ở đó có thể tìm thấy một trung tâm nơi các tri thức mới hơn liên quan đến thể xác con người hiện diện. Tôi biết rằng còn có những vùng ánh sáng khác tồn tại khắp thế giới. Công việc của tôi và công việc của tất cả các huấn sư trong giai đoạn chuyển tiếp này là kích thích họ và làm cho trí tuệ họ màu mỡ bằng các ý tưởng. Mọi lý thuyết họ hình thành trong cuộc tìm kiếm chân lý, mọi quyển sách họ viết, và mọi kết luận họ đạt tới đều không được chúng tôi biết đến. Họ phải tự gánh lấy trách nhiệm của mình và thất bại hay thành công trong việc đạt đến chân lý bằng nỗ lực do chính họ khởi xướng. |
|
H.P.B. prophesied the work now being done many years ago when she spoke of the recognition ultimately to be accorded by science to an universally diffused omnipresent Deity (the ether of space is an entity, she also tells us) and that the mystery of electricity, when solved, holds for us the solution of most of our problems. Many of the theories of modern science are laid down in A Treatise on Cosmic Fire, though scientists have not gone far enough yet to recognise this fact; there the electrical nature of man is posited. You would find it interesting and helpful to search out such passages. Science, however, gives no place to the electrical force of the soul, which is steadily growing in potency. A few of the scientists among the most advanced are beginning to do this. The next step ahead for science is the discovery of the soul, a discovery which will revolutionise, though not negate, the majority of their theories. |
H.P.B. đã tiên tri về công việc hiện đang được thực hiện này từ nhiều năm trước khi bà nói về sự công nhận rốt cuộc mà khoa học sẽ dành cho một Thượng đế phổ biến khắp nơi và hiện diện khắp nơi (bà cũng nói với chúng ta rằng dĩ thái của không gian là một thực thể), và rằng bí ẩn của điện lực, khi được giải quyết, sẽ nắm giữ cho chúng ta lời giải của phần lớn các vấn đề của chúng ta. Nhiều lý thuyết của khoa học hiện đại được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ, dù các nhà khoa học vẫn chưa đi đủ xa để nhận ra sự kiện này; ở đó bản chất điện lực của con người được xác lập. Bạn sẽ thấy thú vị và hữu ích nếu tìm ra những đoạn như thế. Tuy nhiên, khoa học không dành chỗ nào cho mãnh lực điện lực của linh hồn, vốn đang đều đặn tăng trưởng về uy lực. Một vài nhà khoa học trong số những người tiến bộ nhất đang bắt đầu làm điều này. Bước kế tiếp phía trước của khoa học là sự khám phá linh hồn, một khám phá sẽ cách mạng hóa, dù không phủ nhận, phần lớn các lý thuyết của họ. |
|
Individual students might aid in this if they took some of the basic postulates of a scientist whose researches appealed to them, and endeavoured to discover in my books, for. instance, or in The Secret Doctrine, those paragraphs which will throw occult light upon what he says, or which may negate his hypothesis. Then they would be growing [369] and using the analytical mind as a bridging factor between the world of human science and the occult sciences. |
Các đạo sinh cá nhân có thể trợ giúp trong việc này nếu họ lấy một số định đề căn bản của một nhà khoa học nào đó mà công trình nghiên cứu của ông hấp dẫn họ, và cố gắng khám phá trong các sách của tôi chẳng hạn, hoặc trong Giáo Lý Bí Nhiệm, những đoạn văn sẽ soi ánh sáng huyền bí lên điều ông nói, hoặc có thể phủ nhận giả thuyết của ông. Khi ấy họ sẽ tăng trưởng [369] và sử dụng trí tuệ phân tích như một yếu tố bắt cầu giữa thế giới khoa học nhân loại và các khoa học huyền bí. |
|
On Ions and Radiation. |
Về các ion và bức xạ. |
|
Scientists have made statements to the elect that the air we breathe contains electrified particles positively or negatively charged, and they are able to produce artificially electrified air; that even an open flame in a fireplace ionises the air; that with suitable apparatus one may extract either the negative or the positive ions, and that patients exposed to the positively electrified ions developed feelings of fatigue, dizziness and headache, while if exposed to negatively charged ions a feeling of exhilaration was experienced; that positive ions increased the blood pressure and produced general discomfort, and negative ions lowered the pressure and brought a feeling of comfort and relaxation. |
Các nhà khoa học đã tuyên bố với giới được chọn rằng không khí chúng ta hít thở chứa những hạt bị điện hóa mang điện tích dương hoặc âm, và họ có thể tạo ra không khí bị điện hóa một cách nhân tạo; rằng ngay cả một ngọn lửa trần trong lò sưởi cũng ion hóa không khí; rằng với dụng cụ thích hợp người ta có thể tách ra hoặc các ion âm hoặc các ion dương, và rằng những bệnh nhân tiếp xúc với các ion mang điện dương phát triển cảm giác mệt mỏi, chóng mặt và nhức đầu, trong khi nếu tiếp xúc với các ion mang điện âm thì lại trải nghiệm cảm giác phấn chấn; rằng các ion dương làm tăng huyết áp và gây khó chịu toàn thân, còn các ion âm làm hạ áp lực và mang lại cảm giác dễ chịu và thư giãn. |
|
The question arises whether the healer’s radiation has the effect of ionising the atmosphere surrounding the patient. I must point out that to answer such a question accurately would necessitate two things: the revelation of one of the mysteries for which mankind is not yet ready, and at the same time the giving of an answer which would be quite inexplicable to you, for there is no terminology adequate to the latent truth. In this truth is embodied the whole story of duality—which is the story of the relation of the negative and positive aspects of the living process. Certain things, however, I can point out: |
Câu hỏi được đặt ra là liệu bức xạ của người chữa lành có tác dụng ion hóa bầu khí quyển quanh bệnh nhân hay không. Tôi phải chỉ ra rằng để trả lời chính xác một câu hỏi như thế sẽ cần đến hai điều: sự mặc khải một trong những huyền nhiệm mà nhân loại chưa sẵn sàng đón nhận, và đồng thời đưa ra một câu trả lời hoàn toàn không thể giải thích được đối với bạn, vì không có thuật ngữ nào thích hợp với chân lý còn tiềm ẩn ấy. Trong chân lý này hàm chứa toàn bộ câu chuyện về nhị nguyên tính—là câu chuyện về mối liên hệ giữa các phương diện âm và dương của tiến trình sống. Tuy nhiên, có một số điều tôi có thể chỉ ra: |
|
1. The negative and positive ions with which the scientist deals are etheric in nature and, therefore, of the physical plane. These unseen particles of substance which can only be traced through their elects and through interference with their activities, are rapidly moving particles in relation to each other and, at the same time, [370] are themselves affected by a greater controlling factor which keeps them so moving. |
1. Các ion âm và dương mà nhà khoa học đề cập đến có bản chất dĩ thái và do đó thuộc cõi hồng trần. Những hạt chất liệu vô hình này, chỉ có thể được truy ra qua các hiệu quả của chúng và qua sự can thiệp vào các hoạt động của chúng, là những hạt chuyển động nhanh trong mối liên hệ với nhau và đồng thời, [370] chính chúng cũng bị ảnh hưởng bởi một yếu tố kiểm soát lớn hơn giữ cho chúng chuyển động như thế. |
|
2. In healing with disease, the patient can only truly be helped when the positive radiation of the healer overcomes the negative condition of the patient. |
2. Trong việc chữa lành bệnh tật, bệnh nhân chỉ thực sự có thể được giúp khi bức xạ dương của người chữa lành vượt thắng tình trạng âm của bệnh nhân. |
|
3. The radiation of the healer has to permeate and overcome the resistance of the patient’s disease—not of the patient, who may be mentally and emotionally negative to the healer, and therefore in a position to be helped. This is done through the more powerful radiation of the healer. The magnetism of the healer is then brought into play and, consciously and with intent, he can draw out and disperse those atoms of substance which are the seat and source of the patient’s discomfort. A hint is here given of one of the future physical plane modes of dispersing a disease. The power of directing definitely the magnetic currents radiating from a source outside the physical body is not yet realised, but it will embody one of the new modes of healing. |
3. Bức xạ của người chữa lành phải thấm qua và vượt thắng sự kháng cự của bệnh tật nơi bệnh nhân—không phải của chính bệnh nhân, người có thể âm về mặt trí tuệ và cảm xúc đối với người chữa lành, và do đó ở vào vị thế có thể được giúp đỡ. Điều này được thực hiện qua bức xạ mạnh hơn của người chữa lành. Khi ấy từ điện của người chữa lành được đưa vào hoạt động và, một cách hữu thức và có chủ ý, y có thể rút ra và làm tiêu tan những nguyên tử chất liệu vốn là chỗ ngồi và nguồn gốc của sự khó chịu nơi bệnh nhân. Ở đây có một gợi ý về một trong những phương thức tương lai trên cõi hồng trần để làm tiêu tan bệnh tật. Quyền năng định hướng một cách xác định các dòng từ tính bức xạ từ một nguồn bên ngoài thể xác hiện chưa được nhận ra, nhưng nó sẽ bao hàm một trong những phương thức chữa lành mới. |
|
The healing radiation, therefore, naturally affects the atmosphere around the patient. As yet, however, that radiation is uneven and not rightly directed. Some people radiate physical or animal magnetism; others astral or mental magnetism; still others radiate the energy of a fully integrated personality. A few radiate the magnetism of the soul, the major attractive energy in all forms. In the future the true healer must work through the radiation of the entire personality or of the soul. I say “or” advisedly, for there are few as yet who can work with soul energy, but many who would work as integrated personalities if they so desired. And when a man has achieved this power to radiate, what about the patient? How is he to be brought into a condition wherein he will respond accurately to magnetic [371] radiation? If he is an astral type, as are so many, will he be able to respond to the magnetism of a mental healer? Can he be helped by the radiation of such a healer if he is himself a fully integrated human being? If you say to me that Christ healed all types, I would here suggest that I am not considering in this short treatise the laws of healing as they are wielded by a Master of the Wisdom or by an initiate. My book would otherwise be a futile effort. I am writing for interested aspirants and for those who can heal on some level below that of the soul, but who as yet know not how to do it. Later all this will be more fully elucidated. |
Do đó, bức xạ chữa lành tự nhiên ảnh hưởng đến bầu khí quyển quanh bệnh nhân. Tuy nhiên, hiện nay bức xạ ấy còn không đồng đều và không được định hướng đúng đắn. Một số người bức xạ từ điện hồng trần hay động vật; những người khác bức xạ từ điện cảm dục hay trí tuệ; còn những người khác nữa bức xạ năng lượng của một phàm ngã tích hợp hoàn toàn. Một số ít bức xạ từ điện của linh hồn, năng lượng hấp dẫn chủ yếu trong mọi hình tướng. Trong tương lai, người chữa lành chân chính phải làm việc qua bức xạ của toàn bộ phàm ngã hoặc của linh hồn. Tôi nói “hoặc” một cách có chủ ý, vì hiện nay còn ít người có thể làm việc với năng lượng linh hồn, nhưng có nhiều người sẽ làm việc như những phàm ngã tích hợp nếu họ muốn. Và khi một người đã đạt được quyền năng bức xạ này, còn bệnh nhân thì sao? Làm sao y được đưa vào một tình trạng trong đó y sẽ đáp ứng chính xác với bức xạ [371] từ tính? Nếu y là loại cảm dục, như rất nhiều người, liệu y có thể đáp ứng với từ điện của một người chữa lành trí tuệ không? Liệu y có thể được giúp bởi bức xạ của một người chữa lành như thế nếu chính y là một con người tích hợp hoàn toàn không? Nếu bạn nói với tôi rằng Đức Christ đã chữa lành mọi loại người, thì ở đây tôi xin gợi ý rằng trong chuyên luận ngắn này tôi không xét đến các định luật chữa lành như chúng được vận dụng bởi một Chân sư Minh Triết hay bởi một điểm đạo đồ. Nếu không, quyển sách của tôi sẽ là một nỗ lực vô ích. Tôi đang viết cho những người chí nguyện quan tâm và cho những ai có thể chữa lành ở một cấp độ nào đó dưới cấp độ của linh hồn, nhưng hiện nay chưa biết cách làm điều đó. Về sau tất cả điều này sẽ được làm sáng tỏ đầy đủ hơn. |
|
On Vibration. |
Về rung động. |
|
Some students make demand that I define what is the meaning of the word “vibration” and state exactly what a vibration is. If I tell you that vibration is an illusion, as sensory perception is known by the soul to be, do you comprehend (limited as all human beings are by the reactions of a series of vehicles, all of them instruments of perception)? If I tell you that vibratory reaction is due to our possessing a mechanism which is responsive to impact, I am answering your question in part, but if this is true, what does it mean to you and from whence comes the impact? If I give you the scientific definition (which you can discover in any good textbook on light, colour or sound), I am doing work that you can do yourself, and for that I have no time. In my books are several definitions of vibration, either by inference or defined, and these you might search for, and upon them you might meditate. If I elucidated for you here the relation between the Self and the not-Self, between awareness, that which is aware, and that of which it is aware, I am covering ground which a careful study of the Gita would aid you in comprehending. |
Một số đạo sinh đòi hỏi tôi phải định nghĩa ý nghĩa của từ “rung động” và nói chính xác rung động là gì. Nếu tôi bảo bạn rằng rung động là một ảo tưởng, cũng như tri giác giác quan được linh hồn biết là như vậy, liệu bạn có thấu hiểu không (vốn tất cả nhân loại đều bị giới hạn bởi các phản ứng của một chuỗi các hiện thể, tất cả đều là những công cụ tri giác)? Nếu tôi bảo bạn rằng phản ứng rung động là do chúng ta sở hữu một bộ máy đáp ứng với sự va chạm, thì tôi đang trả lời câu hỏi của bạn một phần; nhưng nếu điều này là đúng, thì nó có nghĩa gì đối với bạn, và sự va chạm ấy đến từ đâu? Nếu tôi đưa cho bạn định nghĩa khoa học (mà bạn có thể tìm thấy trong bất kỳ giáo trình tốt nào về ánh sáng, màu sắc hay âm thanh), thì tôi đang làm công việc mà chính bạn có thể tự làm, và tôi không có thời gian cho việc đó. Trong các sách của tôi có một số định nghĩa về rung động, hoặc bằng hàm ý hoặc được định nghĩa rõ, và bạn có thể tìm chúng, rồi tham thiền về chúng. Nếu ở đây tôi làm sáng tỏ cho bạn mối liên hệ giữa Chân ngã và phi-ngã, giữa sự nhận biết, cái đang nhận biết, và cái được nhận biết, thì tôi đang đề cập đến một lĩnh vực mà việc nghiên cứu cẩn trọng quyển Gita sẽ giúp bạn thấu hiểu. |
|
[372] |
[372] |
|
Let simplicity be your guide and one-pointed love your major objective. Choose a field of service which has its definite limits (for all disciples are limited and cannot cover a planetary range in their thoughts), and work—mentally and physically—within those limits. The completion of some self-appointed task within the field of karmic limitation and of environment where your destiny has cast you is all that is required of you. What are you accomplishing really at this time? Let your service lie within the field of contact where you find yourself, and reach not out over the entire planet. Is there any greater or more important task than to fulfill your task and carry it to completion in the place where you are and with your chosen comrades? |
Hãy để sự đơn giản làm người dẫn đường cho bạn và tình thương nhất tâm làm mục tiêu chính yếu của bạn. Hãy chọn một lĩnh vực phụng sự có những giới hạn xác định của nó (vì mọi đệ tử đều bị giới hạn và không thể bao quát một tầm mức hành tinh trong tư tưởng của mình), và hoạt động—về mặt trí tuệ lẫn hồng trần—trong những giới hạn ấy. Việc hoàn tất một nhiệm vụ nào đó do chính bạn tự chọn trong phạm vi giới hạn nghiệp quả và môi trường nơi định mệnh đã đặt bạn vào, đó là tất cả những gì được đòi hỏi nơi bạn. Thực sự vào lúc này bạn đang hoàn thành điều gì? Hãy để sự phụng sự của bạn nằm trong lĩnh vực tiếp xúc nơi bạn đang hiện diện, và đừng vươn ra khắp toàn thể hành tinh. Có nhiệm vụ nào lớn hơn hay quan trọng hơn việc hoàn thành nhiệm vụ của bạn và đưa nó đến chỗ viên mãn tại nơi bạn đang ở và cùng với những đồng bạn bạn đã chọn chăng? |
|
Believe me when I assure you that I am not seeking to evade answering any questions, but if I can awaken you to the realisation of the necessity for “spiritual limitation” (as it is esoterically called when defining the career of a disciple within the limits of his task) and bring to your attention the need for achieving the goal you set yourself when you started to work, I shall have aided you far more than if I had defined vibration or pointed out to you just how much progress, through what process, you or others had made. |
Hãy tin tôi khi tôi bảo đảm với bạn rằng tôi không tìm cách né tránh việc trả lời bất kỳ câu hỏi nào, nhưng nếu tôi có thể đánh thức nơi bạn sự chứng nghiệm về tính cần thiết của “sự giới hạn tinh thần” (như nó được gọi một cách huyền bí khi xác định sự nghiệp của một đệ tử trong giới hạn của nhiệm vụ của y) và đưa đến sự chú ý của bạn nhu cầu phải đạt được mục tiêu bạn đã tự đặt ra khi bắt đầu hoạt động, thì tôi sẽ giúp bạn nhiều hơn rất xa so với việc tôi định nghĩa rung động hay chỉ cho bạn biết chính xác bạn hay người khác đã đạt được bao nhiêu tiến bộ, qua tiến trình nào. |
|
On the Future School of Healing. |
Về Trường Chữa Lành Tương Lai. |
|
These schools of healing are not to be developed in the near future, not before the close of this century. Only the preparatory work is now being done, and the stage set for future unfoldments. Things do not move so rapidly. There has to be a growing synthesis of the techniques of such schools, which embody: |
Những trường chữa lành này sẽ không được phát triển trong tương lai gần, không trước khi thế kỷ này kết thúc. Hiện nay chỉ có công việc chuẩn bị đang được thực hiện, và sân khấu đang được dàn dựng cho những sự khai mở trong tương lai. Mọi việc không tiến triển nhanh đến thế. Phải có một sự tổng hợp ngày càng tăng của các kỹ thuật thuộc những trường như thế, bao gồm: |
|
1. Psychological adjustments and healing, |
1. Sự điều chỉnh và chữa lành tâm lý, |
|
2. Magnetic healing,[373] |
2. Chữa lành từ tính,[373] |
|
3. The best of the allopathic and homeopathic techniques, with which we must not dispense, |
3. Những gì tốt nhất của các kỹ thuật đối chứng và đồng căn, mà chúng ta không được loại bỏ, |
|
4. Surgical healing in its modern forms, |
4. Chữa lành bằng phẫu thuật trong các hình thức hiện đại của nó, |
|
5. Electro-therapeutics, |
5. Điện trị liệu, |
|
6. Water-therapy, |
6. Thủy trị liệu, |
|
7. Chữa lành bằng màu sắc và âm thanh, cùng bức xạ, |
|
|
8. Preventive medicine, |
8. Y học phòng ngừa, |
|
9. The essential practices of osteopathy and chiropractic, |
9. Những thực hành cốt yếu của nắn xương và chỉnh cột sống, |
|
10. Scientific neurology and psychiatry, |
10. Thần kinh học và tâm thần học khoa học, |
|
11. The cure of obsessions and mental diseases, |
11. Việc chữa trị sự ám nhập và các bệnh trí tuệ, |
|
12. The care of the eyes and ears, |
12. Việc chăm sóc mắt và tai, |
|
13. Voice culture, which is a definitely healing agency, |
13. Luyện giọng, vốn là một tác nhân chữa lành rõ rệt, |
|
14. Mental and faith healing, |
14. Chữa lành bằng trí tuệ và đức tin, |
|
15. Soul alignment and contact, |
15. Sự chỉnh hợp và tiếp xúc với linh hồn, |
|
and many other processes and procedures which belong to the healing art. Some of the more ancient schools, such as the allopathic, call for a process of elimination in order to arrive at the vital and true contribution which they have to give. Others of a modern and tentative experimental kind must be lifted out of the hands of the fanatics; for until fanaticism with its blindness and lack of intelligent synthesis dies out (as it inevitably will as the sixth ray recedes and the Piscean Age passes out), the new schools cannot exist as they should; there must be a keener understanding of the underlying and fundamental good in all the schools and a better grasp of the principles which underlie the true healing art, before the schools, referred to in Letters on Occult Meditation, can come into being. When, as is the case today, some healer or school lays the entire emphasis upon some patent cure-all and despises all other systems of diet or method, it will not be possible to establish the true schools. |
và nhiều tiến trình cùng phương pháp khác thuộc nghệ thuật chữa lành. Một số trường phái cổ xưa hơn, như trường phái đối chứng, đòi hỏi một tiến trình loại bỏ để đi đến đóng góp sinh động và chân thực mà chúng phải cống hiến. Những trường khác thuộc loại hiện đại và thử nghiệm tạm thời phải được đưa ra khỏi tay những kẻ cuồng tín; vì chừng nào sự cuồng tín với tính mù quáng và sự thiếu tổng hợp thông minh của nó chưa tiêu tan (điều chắc chắn sẽ xảy ra khi cung sáu rút lui và Kỷ Nguyên Song Ngư qua đi), thì các trường mới không thể tồn tại như chúng nên có; phải có một sự thấu hiểu sắc bén hơn về điều thiện căn bản và nền tảng nằm dưới mọi trường phái, và một sự nắm bắt tốt hơn các nguyên lý làm nền cho nghệ thuật chữa lành chân chính, trước khi những trường được nói đến trong Letters on Occult Meditation, có thể ra đời. Khi, như trường hợp ngày nay, một nhà chữa lành hay một trường phái đặt toàn bộ sự nhấn mạnh vào một phương thuốc vạn năng nào đó và khinh miệt mọi hệ thống ăn uống hay phương pháp khác, thì sẽ không thể thiết lập các trường chân chính. |
|
[374] |
[374] |
|
The period is coming in which we will pass through a cycle in which we will garner the fruit of the ages; in which we will skim (if I may so express it) the cream of the milk of human experience; and then with the best that the past can confer upon us, we will inaugurate those new enterprises which will speed humanity upon its way. Among these new enterprises the healing art will be the foremost, because the most necessary. |
Thời kỳ đang đến khi chúng ta sẽ đi qua một chu kỳ trong đó chúng ta sẽ gặt hái thành quả của các thời đại; trong đó chúng ta sẽ hớt lấy (nếu tôi có thể nói như vậy) lớp kem của sữa kinh nghiệm nhân loại; và rồi với điều tốt nhất mà quá khứ có thể ban cho chúng ta, chúng ta sẽ khai mở những công cuộc mới sẽ thúc đẩy nhân loại trên đường tiến bước. Trong số những công cuộc mới này, nghệ thuật chữa lành sẽ là hàng đầu, vì nó cần thiết nhất. |
|
We shall find that the work which is engaging our attention will fall into three categories: these will work out sequentially and not simultaneously. |
Chúng ta sẽ thấy rằng công việc đang thu hút sự chú ý của chúng ta sẽ rơi vào ba loại; chúng sẽ được triển khai tuần tự chứ không đồng thời. |
|
1. The training in the principles of the healing art, as we |
1. Sự huấn luyện về các nguyên lý của nghệ thuật chữa lành, khi chúng ta |
|
a. Lay the foundation for later expansion in the New Age. |
a. Đặt nền móng cho sự mở rộng về sau trong Kỷ Nguyên Mới. |
|
b. Seek to preserve that which is good and useful in the shift of the emphasis from the outer external man to the more subtle etheric and vital body. |
b. Tìm cách bảo tồn điều gì là tốt và hữu ích trong sự chuyển đổi trọng tâm từ con người bên ngoài ngoại hiện sang thể dĩ thái và thể sinh lực tinh tế hơn. |
|
c. Nghiên cứu bộ Luận này về sự chữa lành mới, bộ sách sẽ gặp được một mức độ đáp ứng nào đó, nhưng chỉ về sau mới đi vào tính hữu dụng và sứ mệnh đích thực của nó. |
|
|
2. Later, when a group can function together with impersonality as a unit and with true interplay of love, such a group can then begin to do some definite healing work, taking some case, for instance of known physical illness, of obsession, or of mental difficulty and—working under soul direction or some initiated chela and in conformity with the teaching outlined in this Treatise—seek to cure and aid. The study of the art of dying is also to attract your intention and later that of the world at large. |
2. Về sau, khi một nhóm có thể cùng hoạt động với tính vô ngã như một đơn vị và với sự tương tác chân thực của tình thương, thì một nhóm như thế có thể bắt đầu thực hiện một số công việc chữa lành xác định, chẳng hạn tiếp nhận một trường hợp bệnh hồng trần đã biết, sự ám nhập, hay khó khăn trí tuệ và—hoạt động dưới sự chỉ đạo của linh hồn hoặc của một đệ tử được điểm đạo và phù hợp với giáo huấn được phác họa trong bộ Luận này—tìm cách chữa trị và trợ giúp. Việc nghiên cứu nghệ thuật chết cũng cần thu hút sự chú ý của bạn và về sau là của thế giới nói chung. |
|
3. Finally, there will come the forming of subsidiary groups to be taught and developed by the members of the pioneer healing groups, under soul instruction, or under [375] that of some initiated chela. These subsidiary groups will work under group direction for the healing of people. This will not be for some years yet, and not until the initiating group (or groups) can work with a measure of success and the group members have an intelligent grasp of the technique and principles involved in healing. The exoteric developments of the New Age healing will grow out of the above. |
3. Cuối cùng, sẽ đến việc hình thành các nhóm phụ thuộc để được giảng dạy và phát triển bởi các thành viên của những nhóm chữa lành tiên phong, dưới sự chỉ dạy của linh hồn, hoặc dưới [375] sự chỉ dạy của một đệ tử được điểm đạo nào đó. Những nhóm phụ thuộc này sẽ hoạt động dưới sự chỉ đạo của nhóm để chữa lành cho con người. Điều này sẽ chưa xảy ra trong một số năm nữa, và không cho đến khi nhóm khởi xướng (hay các nhóm khởi xướng) có thể hoạt động với một mức độ thành công nào đó và các thành viên nhóm có được sự nắm bắt thông minh về kỹ thuật và các nguyên lý liên quan đến chữa lành. Những phát triển ngoại môn của sự chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới sẽ phát sinh từ những điều trên. |
|
There is no school in existence today which should be retained. All of them embody some useful truth, principle or idea. I would point out that a synthetic group would still be a separative and separated entity, and no such group is our goal. It is the synthesis of the life and of the knowledge which is desirable, and not a synthesis of people. There will be eventually, let us hope, hundreds and thousands of groups all over the world who will express this new attitude to healing, who will be bound together by their common knowledge and aims, but who will all express this to the best of their ability in their own peculiar field, in their own peculiar way and with their own peculiar terminology. It is the subjective life unity that is of interest to the teachers on the inner side of life, and the production of a network of true healers all over the world. |
Ngày nay không có trường nào đang tồn tại mà nên được giữ lại nguyên vẹn. Tất cả chúng đều bao hàm một chân lý, nguyên lý hay ý tưởng hữu ích nào đó. Tôi muốn chỉ ra rằng một nhóm tổng hợp vẫn sẽ là một thực thể phân ly và tách biệt, và không nhóm nào như thế là mục tiêu của chúng ta. Điều đáng mong muốn là sự tổng hợp của sự sống và của tri thức, chứ không phải sự tổng hợp của con người. Cuối cùng sẽ có, chúng ta hãy hy vọng, hàng trăm và hàng ngàn nhóm trên khắp thế giới sẽ biểu lộ thái độ mới này đối với sự chữa lành, những nhóm sẽ được liên kết với nhau bởi tri thức và mục tiêu chung của họ, nhưng tất cả sẽ biểu lộ điều này theo khả năng tốt nhất của mình trong lĩnh vực riêng biệt của họ, theo cách riêng biệt của họ và với thuật ngữ riêng biệt của họ. Chính sự hợp nhất chủ quan của sự sống mới là điều các huấn sư ở mặt bên trong của sự sống quan tâm đến, và là việc tạo ra một mạng lưới những nhà chữa lành chân chính trên khắp thế giới. |
|
A fresh start is now being made. We shall and do inherit the wonder of the past acquired knowledges and the use of much of it will persist; all that is needed is the elimination of the undesirable and the misunderstood interpretations of known facts, and the misapplied information, also the cessation of selfish interest, financial exploitation and greed. Modern surgery, modern sanitary methods, and modern medical science are full of wonder and usefulness.[376] |
Hiện nay một sự khởi đầu mới đang được thực hiện. Chúng ta sẽ và đang thừa hưởng điều kỳ diệu của các tri thức đã đạt được trong quá khứ và việc sử dụng phần lớn trong số đó sẽ tiếp tục; tất cả những gì cần thiết là loại bỏ những điều không mong muốn và những cách diễn giải sai lầm về các sự kiện đã biết, cũng như thông tin bị áp dụng sai, đồng thời chấm dứt lợi ích ích kỷ, sự khai thác tài chính và lòng tham. Phẫu thuật hiện đại, các phương pháp vệ sinh hiện đại, và y học hiện đại đầy kỳ diệu và hữu ích.[376] |
|
Letter to a Scientist |
Thư gửi một Nhà Khoa Học |
|
My brother: |
Huynh đệ của Tôi: |
|
I have a few minutes to spare this morning after dictating to A.A.B. and will attempt to throw some forward light upon the questions which you have posited. I do not, as you will note, say that I will answer the questions. |
Sáng nay sau khi đọc cho A.A.B. chép, tôi có vài phút rảnh và sẽ cố gắng soi rọi thêm đôi chút về phía trước lên những câu hỏi mà em đã nêu ra. Như em sẽ lưu ý, tôi không nói rằng tôi sẽ trả lời các câu hỏi. |
|
The discoveries of science are as yet inadequate for the fulfillment of the prophecies I made in A Treatise on the Seven Rays. Towards the close of this century and when the world situation has clarified and the period of reconstruction is drawing to a close, discoveries will be made which will reveal some hitherto unrealised electrical potencies. I know not what other word to use for these electrical rays which will make their presence felt and lead to possibilities beyond the dreams of investigators today. The coming science of electricity will be as different next century as the modern usages of electricity differ from the understanding of the Victorian scientist. |
Những khám phá của khoa học hiện nay vẫn chưa đầy đủ để hoàn thành những lời tiên tri tôi đã đưa ra trong A Treatise on the Seven Rays. Vào gần cuối thế kỷ này, khi tình hình thế giới đã sáng tỏ và thời kỳ tái thiết đang đi đến chỗ kết thúc, những khám phá sẽ được thực hiện, tiết lộ một số tiềm năng điện lực từ trước đến nay chưa được nhận ra. Tôi không biết dùng từ nào khác cho những tia điện này, những tia sẽ làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận và dẫn đến những khả năng vượt ngoài giấc mơ của các nhà nghiên cứu ngày nay. Khoa học điện lực sắp đến sẽ khác biệt trong thế kỷ tới cũng như những cách sử dụng điện hiện đại khác với sự hiểu biết của nhà khoa học thời Victoria. |
|
In connection with your query anent the photography which concerns itself with departed souls, I would advise you that understanding of process will come from a study of the—photographing of thoughtforms. A beginning was made in this connection by the great French scientist, d’Arsonval, of Paris. A.A.B. can tell you something of this if you do not already know. Light on the subject will come through this, through the perfecting of the plates of reception and their greatly increased sensitivity, and through the relating of electricity to photography. You may deem it well-nigh impossible to make plates of much greater sensitivity than those in use in the best equipped laboratories. But this is not so. Along this line of thought-photography and electrical equipment, will come the solution. It is the thought of those on the other side, and their ability to project [377] thoughtforms of themselves, plus the providing of adequately sensitive plates or their equivalent, which will mark a new era in so-called “spirit photography”. People frequently are so preoccupied with the tangible instrument on this side of the veil that they neglect the factor of what must be contributed from the other side by those who have passed over. |
Liên quan đến câu hỏi của em về nhiếp ảnh liên quan đến các linh hồn đã qua đời, tôi khuyên em rằng sự thấu hiểu về tiến trình sẽ đến từ việc nghiên cứu sự chụp ảnh các Hình tư tưởng. Một khởi đầu đã được thực hiện trong mối liên hệ này bởi nhà khoa học Pháp vĩ đại d’Arsonval ở Paris. A.A.B. có thể nói cho em đôi điều về việc này nếu em chưa biết. Ánh sáng về chủ đề này sẽ đến qua hướng đó, qua việc hoàn thiện các bản tiếp nhận và tăng mạnh độ nhạy của chúng, và qua việc liên hệ điện lực với nhiếp ảnh. Em có thể cho rằng gần như không thể tạo ra các bản có độ nhạy lớn hơn nhiều so với những bản đang được dùng trong các phòng thí nghiệm được trang bị tốt nhất. Nhưng không phải vậy. Chính theo đường hướng chụp ảnh tư tưởng và thiết bị điện lực này mà giải pháp sẽ đến. Chính tư tưởng của những người ở phía bên kia, và khả năng của họ trong việc phóng chiếu [377] các Hình tư tưởng về chính họ, cộng với việc cung cấp những bản đủ nhạy hay tương đương của chúng, sẽ đánh dấu một kỷ nguyên mới trong cái gọi là “nhiếp ảnh linh hồn”. Con người thường quá bận tâm với công cụ hữu hình ở phía bên này bức màn đến nỗi họ bỏ quên yếu tố về điều phải được đóng góp từ phía bên kia bởi những người đã qua đời. |
|
The work will be done from there, with the material aid which as yet has not been provided in the outer scientific field. |
Công việc sẽ được thực hiện từ phía đó, với sự trợ giúp vật chất mà cho đến nay vẫn chưa được cung cấp trong lĩnh vực khoa học bên ngoài. |
|
To bring this about, collaboration of a conscious medium (not a trance medium, but someone who is consciously clairvoyant and clairaudient) will be required. There are many such growing up among the children of today, and the next generation after them will provide still more. The separating veil will disappear through the testimony of the thousands of those who can see phenomena and hear sounds which lie outside the range of the tangible. |
Để thực hiện điều này, sẽ cần có sự cộng tác của một đồng tử hữu thức (không phải một đồng tử xuất thần, mà là một người thông nhãn và thông nhĩ một cách hữu thức). Có nhiều người như thế đang lớn lên trong số trẻ em ngày nay, và thế hệ kế tiếp sau họ sẽ cung cấp còn nhiều hơn nữa. Bức màn ngăn cách sẽ biến mất nhờ chứng ngôn của hàng ngàn người có thể thấy những hiện tượng và nghe những âm thanh nằm ngoài phạm vi của cái hữu hình. |
|
You say that the spirits state that they cannot stand electricity. What is meant is that they cannot stand electricity as it is at present applied. This is an instance of the inaccurate statements passed on by ignorant mediums or by those who on the other side have no more understanding of the laws of electricity than they probably had in the. physical body. There is nothing but electricity in manifestation, the “mystery of electricity” to which H.P.B. referred in to in The Secret Doctrine. Everything in Nature is electrical in nature; life itself is electricity, but all that we have contacted and used today is that which is only physical and related to and inherent in the physical and etheric matter of all forms. |
Em nói rằng các linh hồn bảo rằng họ không thể chịu được điện. Điều được hàm ý là họ không thể chịu được điện như hiện nay đang được áp dụng. Đây là một ví dụ về những phát biểu thiếu chính xác được truyền lại bởi các đồng tử ngu dốt hoặc bởi những người ở phía bên kia vốn cũng không hiểu các định luật điện lực hơn là có lẽ họ đã hiểu khi còn ở trong thể xác. Không có gì trong biểu hiện ngoài điện lực, “huyền nhiệm của điện lực” mà H.P.B. đã nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Mọi sự trong Thiên nhiên đều có bản chất điện; chính sự sống là điện lực, nhưng tất cả những gì ngày nay chúng ta đã tiếp xúc và sử dụng chỉ là cái thuộc hồng trần và liên hệ với, cũng như cố hữu trong, vật chất hồng trần và dĩ thái của mọi hình tướng. |
|
It must be remembered that the so-called “spirits” are functioning in the illusory astral body, while advanced “spirits” are only functioning as minds, and can therefore [378] be reached solely by minds and in no other way. It will never be possible to photograph the mental vehicle; only the astral body will be susceptible of photographing. The grosser the person in the body, desire and appetite, the more easily will he be photographed after passing over (if anyone wants to photograph him!), and the more advanced the person, the more difficult it will be to get a photograph. |
Phải nhớ rằng những “linh hồn” được gọi như thế đang hoạt động trong thể cảm dục ảo tưởng, trong khi những “linh hồn” tiến hóa thì chỉ hoạt động như những trí tuệ, và do đó [378] chỉ có thể được tiếp cận bằng trí tuệ chứ không bằng cách nào khác. Sẽ không bao giờ có thể chụp ảnh hiện thể trí; chỉ thể cảm dục mới có thể được chụp ảnh. Người trong thể xác càng thô nặng về dục vọng và thèm muốn bao nhiêu thì sau khi qua đời y càng dễ được chụp ảnh bấy nhiêu (nếu có ai muốn chụp ảnh y!), và người càng tiến hóa bao nhiêu thì càng khó có được ảnh của y bấy nhiêu. |
|
As regards the use of radio as a means of communication with the “spirit world,” the present electrical instruments are too slow in vibratory activity (if I may use such an unscientific term) to do the work; if astrally clothed “spirits” approach them they are apt to have a shattering effect. Yet the first demonstration of existence after death, in such a way that it can be registered upon the physical plane, will come via the radio, because sound always precedes vision. Think on this. However, no radio now exists which is sufficiently sensitive to carry sound waves from the astral plane. |
Về việc sử dụng radio như một phương tiện liên lạc với “thế giới linh hồn”, các dụng cụ điện hiện nay quá chậm trong hoạt động rung động (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ thiếu tính khoa học như thế) để thực hiện công việc; nếu những “linh hồn” mang áo thể cảm dục đến gần chúng, họ có thể gây ra một tác động phá vỡ. Tuy nhiên, sự chứng minh đầu tiên về sự tồn tại sau cái chết, theo cách có thể được ghi nhận trên cõi hồng trần, sẽ đến qua radio, vì âm thanh luôn đi trước linh ảnh. Hãy suy ngẫm về điều này. Tuy nhiên, hiện nay chưa có radio nào đủ nhạy để truyền các làn sóng âm thanh từ cõi cảm dục. |
|
Future scientific discoveries, therefore, hold the secret. This is no evasion on my part, but a simple statement of fact. Electrical discovery is only in the initial stage and all that we have is simply a prelude to the real discovery. The magic of the radio would be completely unbelievable to the man of the eighteenth century. The discoveries and developments lying ahead in the twenty-first century will be equally unbelievable to the man of this century. A great discovery in relation to the use of light by the power and the directive agency of thought will come at the end of this century or the beginning of the next. Two small children—one living in this country (U.S.A.) and one in India—will work out a formula along scientific lines which will fill in some of the existing gaps in the scale of light vibration, carrying on from the high frequency rays and [379] waves as you now have them. This will necessitate instruments hitherto undreamt of but really quite possible. They will be so sensitive that they will be set in motion by the power of the human eye under the focussed direction of thought. From then on tangible rapport with the spirit world will be possible. I cannot do more than give you the clue. |
Vì vậy, những khám phá khoa học trong tương lai nắm giữ bí mật. Đây không phải là sự né tránh từ phía tôi, mà là một phát biểu đơn giản về sự kiện. Khám phá điện lực mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu và tất cả những gì chúng ta có chỉ đơn thuần là khúc dạo đầu cho khám phá thực sự. Phép màu của radio hẳn sẽ hoàn toàn không thể tin nổi đối với con người thế kỷ mười tám. Những khám phá và phát triển đang ở phía trước trong thế kỷ hai mươi mốt cũng sẽ không thể tin nổi đối với con người của thế kỷ này. Một khám phá lớn liên quan đến việc sử dụng ánh sáng bằng quyền năng và tác nhân chỉ đạo của tư tưởng sẽ đến vào cuối thế kỷ này hoặc đầu thế kỷ sau. Hai đứa trẻ nhỏ—một sống ở nước này (Hoa Kỳ) và một ở Ấn Độ—sẽ xây dựng một công thức theo đường hướng khoa học, công thức sẽ lấp đầy một số khoảng trống hiện có trong thang rung động của ánh sáng, tiếp tục từ các tia và [379] làn sóng tần số cao như hiện nay bạn đang có. Điều này sẽ đòi hỏi những dụng cụ từ trước đến nay chưa từng được mơ tới nhưng thực ra hoàn toàn có thể có. Chúng sẽ nhạy đến mức được khởi động bởi quyền năng của mắt người dưới sự chỉ đạo tập trung của tư tưởng. Từ đó trở đi, sự giao cảm hữu hình với thế giới linh hồn sẽ trở nên khả hữu. Tôi không thể làm gì hơn là trao cho em đầu mối. |
|
I am also handicapped by the complete ignorance of A.A.B. on these matters which involve electrical knowledge and terms. There is no seed thought in her mind on which I can work or from which I can expand the idea. She can explain what I mean if you ask her to do so. But even if she had a training such as you have, I could not explain clearly, as the discovery must first be made, and this will revolutionise all present ideas, even whilst growing out of them. An ordinary treatise on electricity such as is studied by electrical engineers would have been completely incomprehensible to even the most highly educated man two hundred years ago, or even one hundred, and so it is now. In the meantime, work with thought photography as a prelude to the coming science, for out of that and the gradual development of more sensitive modes of registering and recording subtle phenomena will come the new idea and possibilities. Does it mean anything to you when I say that electricity and photography are closely related because the human being is electrical in origin and nature? This must be demonstrated on the physical plane by the aid of the needed sensitive apparatus. |
Tôi cũng bị hạn chế bởi sự thiếu hiểu biết hoàn toàn của A.A.B. về những vấn đề này, vốn liên quan đến tri thức và thuật ngữ điện lực. Trong trí của bà không có tư tưởng hạt giống nào để tôi có thể làm việc trên đó hay từ đó tôi có thể triển khai ý tưởng. Bà có thể giải thích điều tôi muốn nói nếu em yêu cầu bà làm như vậy. Nhưng ngay cả nếu bà có sự đào luyện như em, tôi cũng không thể giải thích rõ ràng, vì khám phá ấy trước hết phải được thực hiện, và điều này sẽ cách mạng hóa mọi ý tưởng hiện tại, dù vẫn phát sinh từ chúng. Một luận văn thông thường về điện lực như các kỹ sư điện nghiên cứu hẳn sẽ hoàn toàn không thể hiểu nổi đối với ngay cả người có học thức cao nhất cách đây hai trăm năm, hay thậm chí một trăm năm, và hiện nay cũng vậy. Trong lúc này, hãy làm việc với việc chụp ảnh tư tưởng như một khúc dạo đầu cho khoa học sắp đến, vì từ đó và từ sự phát triển dần dần của những phương thức nhạy hơn để ghi nhận và ghi lại các hiện tượng tinh tế, ý tưởng và những khả năng mới sẽ xuất hiện. Điều đó có ý nghĩa gì với em không khi tôi nói rằng điện lực và nhiếp ảnh có liên hệ mật thiết vì con người có nguồn gốc và bản chất điện? Điều này phải được chứng minh trên cõi hồng trần với sự trợ giúp của bộ máy nhạy cần thiết. |
|
FEBRUARY, 1944 |
FEBRUARY, 1944 |