9. Trị Liệu Huyền môn – PHẦN BA – Các Định luật Căn bản của Sự Chữa Lành

📘 Sách: Trị Liệu Huyền Môn – Tác giả: Alice Bailey

PART THREE – The Fundamental Laws of HealingPHẦN BA – Các Định luật Căn bản của Sự Chữa Lành

[521]

[521]

We have now completed two sections of our consideration of the art of healing. We have dealt somewhat cursorily with the causes of disease and have noted that they emanate as a whole from three main sources: the psychological state of the patient, his karmic liabilities, and those which are incurred through his group relationship, environal, national or planetary. I then dealt with certain basic requirements of conditions and attitudes which must be established between the healer and the patient, and finally I took up the subject of death. I considered it as it affected the three transitory vehicles, emphasising its divine nature and its constructive purpose. We now reach the section in which the Laws of Healing and the Rules which should condition the healing process must be briefly considered.

Giờ đây chúng ta đã hoàn tất hai phần trong việc xem xét nghệ thuật chữa lành. Chúng ta đã bàn khá sơ lược về các nguyên nhân của bệnh tật và đã lưu ý rằng xét như một toàn thể, chúng phát xuất từ ba nguồn chính: trạng thái tâm lý của bệnh nhân, các món nợ nghiệp quả của y, và những món nợ phát sinh qua mối liên hệ nhóm của y, thuộc môi trường, quốc gia hay hành tinh. Sau đó tôi đã bàn đến một số đòi hỏi căn bản về các điều kiện và thái độ phải được thiết lập giữa người chữa lành và bệnh nhân, và cuối cùng tôi đã đề cập đến chủ đề cái chết. Tôi đã xem xét nó khi nó ảnh hưởng đến ba vận cụ tạm thời, nhấn mạnh bản chất thiêng liêng và mục đích xây dựng của nó. Giờ đây chúng ta đi đến phần trong đó các Định luật Chữa lành và các quy luật cần tác động lên tiến trình chữa lành phải được xem xét ngắn gọn.

We have found that there are ten laws and six rules. The tenth law will be found too abstruse for much elucidation; it concerns the life principle, of which we as yet know nothing, and is involved with monadic purpose. All occult teaching, which emanates directly from the Hierarchy, contains within it the living seed of that which will follow later. In The Secret Doctrine, for instance, H.P.B. (under my instruction) made occasional reference, very briefly and obscurely, to the antahkarana; she thus left the seed which, [522] when full grown, will indicate the requirements for those who—having achieved the higher initiations—can enter upon the Way of the Higher Evolution. In this tenth law, therefore, I embody also the seed for a much later approach to the problems of Life and Death.

Chúng ta đã thấy rằng có mười định luật và sáu quy luật. Định luật thứ mười sẽ được thấy là quá thâm áo để có thể được làm sáng tỏ nhiều; nó liên quan đến nguyên khí sự sống, điều mà chúng ta hiện chưa biết gì, và dính líu đến mục đích chân thần. Mọi giáo huấn huyền bí, phát xuất trực tiếp từ Thánh Đoàn, đều chứa trong nó hạt giống sống động của điều sẽ đến sau này. Chẳng hạn, trong Giáo Lý Bí Nhiệm, H.P.B. (dưới sự chỉ dẫn của tôi) đôi khi có nhắc đến, rất ngắn gọn và mơ hồ, antahkarana; do đó bà đã để lại hạt giống mà, [522] khi phát triển đầy đủ, sẽ chỉ ra các đòi hỏi dành cho những ai—sau khi đã đạt được các cuộc điểm đạo cao hơn—có thể bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Vì vậy, trong định luật thứ mười này, tôi cũng hàm chứa hạt giống cho một cách tiếp cận muộn hơn rất nhiều đối với các vấn đề của Sự sống và Cái chết.

I would here remind you that a law is in reality the effect of the life of a greater entity as it encloses a lesser within its living processes. It embodies that formulated purpose or organised will of an enfolding life, against which the expressed purpose or determined will of that which is enfolded is entirely helpless. You might argue, brother of mine, that this statement negates the freewill of the individual unit thus enclosed or enfolded. It assuredly does militate against the form aspect of manifestation—that aspect, for instance, of which a human being is pre-eminently conscious. Therefore, this relationship of the higher or greater and the lower or lesser, will equally and assuredly dominate and eventually render futile the lesser laws of the form nature, those which today are called the laws of nature.

Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng một định luật thực ra là hiệu quả của sự sống của một thực thể lớn hơn khi nó bao bọc một thực thể nhỏ hơn trong các tiến trình sống của nó. Nó hiện thân cho mục đích được định thức hay ý chí được tổ chức của một sự sống bao trùm, mà trước đó mục đích được biểu lộ hay ý chí kiên định của cái được bao bọc hoàn toàn bất lực. Huynh đệ của tôi có thể lập luận rằng phát biểu này phủ nhận ý chí tự do của đơn vị cá thể được bao bọc hay bao trùm như vậy. Chắc chắn nó có tác động chống lại phương diện hình tướng của biểu hiện—chẳng hạn phương diện mà một con người nhận biết nổi bật nhất. Vì vậy, mối liên hệ này giữa cái cao hơn hay lớn hơn và cái thấp hơn hay nhỏ hơn cũng sẽ chi phối một cách chắc chắn và cuối cùng làm cho các định luật nhỏ hơn của bản chất hình tướng trở nên vô hiệu, tức những định luật ngày nay được gọi là các định luật của tự nhiên.

Equally essentially, however, the soul within all forms. is at war with those forms, and in its own integral life is conditioned by the higher laws which are the laws of its own being; these it freely obeys and follows, having no slightest wish to do otherwise. There is, therefore, no essential infringement of the freewill of the subject; there is only resistance from that which we call the “not-self” or the material aspect. This might be called the basic cause of all disease.

Tuy nhiên, cũng thiết yếu không kém là linh hồn bên trong mọi hình tướng đang ở trong tình trạng chiến tranh với các hình tướng ấy, và trong đời sống toàn vẹn riêng của nó, nó bị tác động bởi các định luật cao hơn là những định luật của chính bản thể nó; các định luật này nó tự do tuân theo và đi theo, không hề có chút mong muốn nào làm khác đi. Vì vậy, không có sự xâm phạm cốt yếu nào đối với ý chí tự do của chủ thể; chỉ có sự kháng cự từ điều mà chúng ta gọi là “phi-ngã” hay phương diện vật chất. Điều này có thể được gọi là nguyên nhân căn bản của mọi bệnh tật.

What we call the Laws of Nature were the highest phase of the divine life possible in the first solar system. They are primarily the laws inherent in the life aspect of the form and have in them, therefore, the seeds of death. The Laws of the Soul as they subordinate and render negative the Laws of Nature, are the highest laws to which humanity [523] (the highest kingdom in nature at present) can respond, and these—when fulfilled—will conclude the purpose of the second solar system. The Laws of Life itself will finally supersede the Laws of the Soul and will completely offset and negate the Laws of Nature; these laws will be distinctive of the third solar system—the last personality expression of the solar Logos through the medium of the Seven Planetary Logoi with their varying forms and soul expressions.

Điều chúng ta gọi là các Định luật của Tự nhiên là giai đoạn cao nhất của sự sống thiêng liêng có thể có trong hệ mặt trời thứ nhất. Chúng chủ yếu là các định luật vốn có trong phương diện sự sống của hình tướng và do đó chứa trong chúng các hạt giống của cái chết. Các Định luật của Linh hồn, khi chúng chế ngự và làm cho các Định luật của Tự nhiên trở nên tiêu cực, là những định luật cao nhất mà nhân loại [523] (giới cao nhất trong tự nhiên hiện nay) có thể đáp ứng, và những định luật này—khi được hoàn thành—sẽ kết thúc mục đích của hệ mặt trời thứ hai. Các Định luật của chính Sự sống cuối cùng sẽ thay thế các Định luật của Linh hồn và sẽ hoàn toàn hóa giải và phủ định các Định luật của Tự nhiên; các định luật này sẽ là đặc trưng của hệ mặt trời thứ ba—biểu hiện phàm ngã cuối cùng của Thái dương Thượng đế qua trung gian của Bảy Hành Tinh Thượng đế với các hình tướng và biểu hiện linh hồn khác nhau của Các Ngài.

Three Groups of Laws

Ba Nhóm Định luật

We have, therefore, three groups of laws which govern the expression of the living purpose in this second solar system—one developed and another developing, with the third latent and relatively quiescent.

Vì vậy, chúng ta có ba nhóm định luật chi phối sự biểu hiện của mục đích sống trong hệ mặt trời thứ hai này—một nhóm đã phát triển và một nhóm đang phát triển, còn nhóm thứ ba thì tiềm ẩn và tương đối tĩnh.

1. The Laws of Nature—the separative laws of the form nature.

1. Các Định luật của Tự nhiên—những định luật phân ly của bản chất hình tướng.

2. The Laws of the Soul—the blending laws of group integrity.

2. Các Định luật của Linh hồn—những định luật hòa trộn của tính toàn vẹn nhóm.

3. The Laws of Life—the dynamic laws of Being itself.

3. Các Định luật của Sự sống—những định luật năng động của chính Bản Thể.

It is with certain aspects of the Laws of the Soul that we shall now deal, for they concern the integrity and activity of the soul in form. This must be most carefully borne in mind. Disease is something which attacks the integrity or the harmony of the form nature which the inner spiritual man must order to make his contacts in the three worlds which constitute his environment when in incarnation. The ten laws which we shall consider might, therefore, be regarded as ten subsidiary laws of the fundamental Law of Essential Integrity. They constitute nine elaborations or aspects of that one law, and this you must have most carefully in mind. It is with these laws that the true healer must ever work.

Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến một số phương diện của các Định luật của Linh hồn, vì chúng liên quan đến tính toàn vẹn và hoạt động của linh hồn trong hình tướng. Điều này phải được ghi nhớ hết sức cẩn thận. Bệnh tật là điều tấn công vào tính toàn vẹn hay sự hài hòa của bản chất hình tướng mà con người tinh thần bên trong phải điều hành để thực hiện các tiếp xúc của mình trong ba cõi giới, vốn cấu thành môi trường của y khi đang lâm phàm. Vì vậy, mười định luật mà chúng ta sẽ xem xét có thể được coi là mười định luật phụ thuộc của Định luật Toàn vẹn Cốt yếu căn bản. Chúng cấu thành chín sự khai triển hay phương diện của một định luật ấy, và các bạn phải ghi nhớ điều này hết sức cẩn thận. Chính với các định luật này mà người chữa lành chân chính phải luôn luôn làm việc.

[524]

[524]

The six rules deal only with the application of this realised integrity to the conditions and situation with which the healer is confronted. Integrity involves focus, tension and expression (simultaneously realised, consciously generated and dynamically used).

Sáu quy luật chỉ bàn đến việc áp dụng tính toàn vẹn đã được chứng nghiệm này vào các điều kiện và tình huống mà người chữa lành phải đối diện. Tính toàn vẹn bao hàm sự tập trung, nhất tâm và biểu hiện (được chứng nghiệm đồng thời, được tạo ra một cách có ý thức và được sử dụng một cách năng động).

Qualities Required of the Healer

Những phẩm tính cần có của người chữa lành

In the laws and rules which I have given, certain necessary characteristics of the healer are mentioned and certain needed requirements are indicated. These we should register first of all as they not only present qualities and attitudes which are essential to the successful practice of the healing art, but they indicate also why—up till the present time—there has been practically no successful or systematised healing of any patient under any of the current healing schools. There has been what I might call “accidental healing,” due to the fact that the patient would have been healed anyway, for his hour to pass over had not yet arrived. Deliberate conscious healing, with full understanding, has only occurred when the healer was an initiate of high degree, patterning himself upon the life and the nature of the Christ.

Trong các định luật và quy luật mà tôi đã đưa ra, một số đặc tính cần thiết của người chữa lành được nêu lên và một số đòi hỏi cần có được chỉ rõ. Trước hết chúng ta nên ghi nhận những điều này vì chúng không những trình bày các phẩm tính và thái độ thiết yếu cho việc thực hành thành công nghệ thuật chữa lành, mà còn chỉ ra vì sao—cho đến thời điểm hiện nay—hầu như chưa có sự chữa lành thành công hay có hệ thống nào đối với bất kỳ bệnh nhân nào dưới bất kỳ trường phái chữa lành hiện hành nào. Đã có điều mà tôi có thể gọi là “sự chữa lành ngẫu nhiên”, do sự kiện là bệnh nhân dù sao cũng đã được chữa lành, vì giờ ra đi của y vẫn chưa đến. Sự chữa lành có chủ ý và có ý thức, với sự thấu hiểu đầy đủ, chỉ xảy ra khi người chữa lành là một điểm đạo đồ cấp cao, tự khuôn mình theo đời sống và bản chất của Đức Christ.

Let us now look at the indicated qualities and attitudes. I will briefly enumerate and comment.

Giờ đây chúng ta hãy xem xét các phẩm tính và thái độ đã được chỉ ra. Tôi sẽ liệt kê và bình luận ngắn gọn.

1. The power to contact and work as a soul. “The art of the healer consists in releasing the soul.” Think for a moment what this power involves. The healer is not only in immediate and conscious touch with his own soul, but through that soul contact he can easily contact the soul of his patient.

1. Quyền năng tiếp xúc và hoạt động như một linh hồn. “Nghệ thuật của người chữa lành nằm ở việc giải phóng linh hồn.” Hãy suy nghĩ một lát xem quyền năng này bao hàm điều gì. Người chữa lành không những tiếp xúc trực tiếp và có ý thức với linh hồn riêng của mình, mà qua tiếp xúc linh hồn ấy, y còn có thể dễ dàng tiếp xúc với linh hồn của bệnh nhân.

2. The power to command the spiritual will. The particular law involved in the healing act must be “brought into activity by the spiritual will.” This necessitates the capacity to make contact with the Spiritual Triad. [525] Therefore, the antahkarana must be somewhat in process of construction.

2. Quyền năng điều khiển ý chí tinh thần. Định luật đặc biệt liên quan đến hành động chữa lành phải được “đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần.” Điều này đòi hỏi năng lực tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần. [525] Vì vậy, antahkarana phải phần nào đang trong tiến trình được xây dựng.

3. The power to establish telepathic rapport. The healer must “know the inner stage of thought and of desire” of his patient.

3. Quyền năng thiết lập sự liên hệ viễn cảm. Người chữa lành phải “biết giai đoạn bên trong của tư tưởng và ham muốn” của bệnh nhân.

4. He must have exact knowledge. We read that he must “know the point exact through which relief must come.” This is a most important point and one entirely overlooked by the so-called healers in such movements as Christian Science, Unity and others. Healing does not come through an intense affirmation of divinity, or by simply pouring out love and the expression of a vague mysticism. It comes through mastering an exact science of contact, of impression, of invocation, plus an understanding of the subtle apparatus of the etheric vehicle.

4. Y phải có tri thức chính xác. Chúng ta đọc thấy rằng y phải “biết chính xác điểm mà qua đó sự giải nhẹ phải đến.” Đây là một điểm hết sức quan trọng và hoàn toàn bị bỏ qua bởi những người được gọi là người chữa lành trong các phong trào như Christian Science, Unity và những phong trào khác. Sự chữa lành không đến qua một sự khẳng định mãnh liệt về thiên tính, hay chỉ bằng cách tuôn đổ bác ái và biểu lộ một thứ thần bí học mơ hồ. Nó đến qua việc làm chủ một khoa học chính xác về tiếp xúc, cảm thụ, khẩn cầu, cộng với sự thấu hiểu bộ máy vi tế của vận cụ dĩ thái.

5. The power to reverse, reorient and “exalt” the consciousness of the patient. The healer has to “lift the downward focussed eyes unto the soul.” This refers to the eyes of the patient. This statement implies limitation, because if the patient is not at the stage in evolution where this is possible, and at the point in evolution where he can contact his own soul, the work of the healer is rendered inevitably futile. The sphere of action, therefore, of the spiritual healer is strictly limited to those who have faith. Faith, however, is the “evidence of things not seen”; that evidence is largely lacking in the majority. Faith is not wishful thinking or an engineered hope. It is evidence of a well-grounded conviction.

5. Quyền năng đảo ngược, tái định hướng và “nâng cao” tâm thức của bệnh nhân. Người chữa lành phải “nâng đôi mắt đang tập trung xuống thấp lên linh hồn.” Điều này ám chỉ đôi mắt của bệnh nhân. Phát biểu này hàm ý một giới hạn, vì nếu bệnh nhân chưa ở giai đoạn tiến hoá mà điều này là khả hữu, và chưa ở điểm tiến hoá mà y có thể tiếp xúc với linh hồn riêng của mình, thì công việc của người chữa lành tất yếu trở nên vô hiệu. Vì vậy, phạm vi hoạt động của người chữa lành tinh thần bị giới hạn nghiêm ngặt vào những người có đức tin. Tuy nhiên, đức tin là “bằng chứng của những điều không thấy”; bằng chứng ấy phần lớn còn thiếu nơi đa số. Đức tin không phải là sự mong ước viển vông hay một niềm hy vọng được tạo dựng. Nó là bằng chứng của một xác tín có nền tảng vững chắc.

6. Power to direct soul energy to the necessary area. “The spiritual or the third eye then directs the healing force.” This presupposes a scientific technique on the healer’s part and the right functioning of the mechanism of received and directed force within the head.

6. Quyền năng hướng dẫn năng lượng linh hồn đến khu vực cần thiết. “Khi đó con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba hướng dẫn mãnh lực chữa lành.” Điều này giả định nơi người chữa lành có một kỹ thuật khoa học và sự vận hành đúng đắn của bộ máy tiếp nhận và hướng dẫn mãnh lực bên trong đầu.

[526]

[526]

7. Power to express magnetic purity and the needed radiance. “The healer must achieve magnetic purity…and attain dispelling radiance.” This involves great personal discipline in the daily life, and the habit of pure living. Purity inevitably and automatically results in radiance.

7. Quyền năng biểu lộ sự thanh khiết từ tính và bức xạ cần thiết. “Người chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính… và đạt tới bức xạ làm tiêu tan.” Điều này bao hàm kỷ luật cá nhân lớn lao trong đời sống hằng ngày, và thói quen sống thanh khiết. Sự thanh khiết tất yếu và tự động dẫn đến bức xạ.

8. Power to control the activity of the mechanism of the head. The healer must have “linked the centres in the head.” The true healer has established a magnetic area within his head which presents itself or expresses itself through a definitely recognisable radiation.

8. Quyền năng kiểm soát hoạt động của bộ máy đầu. Người chữa lành phải “đã nối kết các trung tâm trong đầu.” Người chữa lành chân chính đã thiết lập một khu vực từ tính trong đầu mình, khu vực này tự trình hiện hay biểu lộ qua một bức xạ có thể nhận biết rõ ràng.

9. Power over his own centres. The healer has to “concentrate the needed energy within the needed centre.” The centre in the patient’s form which is nearest to the seat of the physical trouble has to be made receptive to the energy discharged into it by the corresponding centre in the healer’s body. It will be obvious to you, therefore, how much knowledge and energy-control is required by the true healer.

9. Quyền năng đối với các trung tâm riêng của mình. Người chữa lành phải “tập trung năng lượng cần thiết trong trung tâm cần thiết.” Trung tâm trong hình tướng của bệnh nhân gần nhất với chỗ ngồi của rối loạn hồng trần phải được làm cho tiếp nhận năng lượng được phóng vào đó bởi trung tâm tương ứng trong thể của người chữa lành. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ người chữa lành chân chính cần đến biết bao tri thức và sự kiểm soát năng lượng.

10. Power to utilise both the exoteric and esoteric methods of healing. The healer will employ “methods of occult healing though the ordinary medical and surgical methods will not be withheld.” I have constantly emphasised the God-given nature of experimental medicine—which is a phrase qualifying medicine today, and qualifying still more metaphysical healing. There is no need to call in a spiritual healer for broken bones or for those difficulties which orthodox medicine has already mastered. However, the patient’s general morale and condition can be justifiably helped whilst wise surgery and ameliorating medical knowledge are applied. This the usual so-called metaphysical healer is apt to ignore. Healers will be divided eventually into two groups: [527]

10. Quyền năng sử dụng cả các phương pháp chữa lành ngoại môn lẫn nội môn. Người chữa lành sẽ sử dụng “các phương pháp chữa lành huyền bí dù các phương pháp y khoa và phẫu thuật thông thường sẽ không bị gạt bỏ.” Tôi đã liên tục nhấn mạnh bản chất do Thượng đế ban cho của y học thực nghiệm—một cụm từ dùng để xác định y học ngày nay, và còn xác định sự chữa lành siêu hình học nhiều hơn nữa. Không cần phải gọi một người chữa lành tinh thần đến cho các xương gãy hay cho những khó khăn mà y học chính thống đã làm chủ rồi. Tuy nhiên, tinh thần chung và tình trạng của bệnh nhân có thể được trợ giúp một cách chính đáng trong khi phẫu thuật khôn ngoan và tri thức y học làm giảm nhẹ được áp dụng. Đây là điều mà người chữa lành được gọi là siêu hình học thông thường có khuynh hướng bỏ qua. Cuối cùng những người chữa lành sẽ được chia thành hai nhóm: [527]

a. Those comprising definitely trained spiritual healers.

a. Những người cấu thành các người chữa lành tinh thần được huấn luyện rõ rệt.

b. Healers with less developed power but with enough radiation and magnetism to aid in the ordinary healing process. These will usually work under the guidance of the spiritual healer.

b. Những người chữa lành có quyền năng kém phát triển hơn nhưng có đủ bức xạ và từ điện để hỗ trợ trong tiến trình chữa lành thông thường. Những người này thường sẽ làm việc dưới sự hướng dẫn của người chữa lành tinh thần.

11. Power to work magnetically. “Thus he can pour the vital healing force upon the patient.” This the healer does through a scientific coordination of his equipment, using the hands as a directing agent. In this way the disease can be healed, ameliorated or worsened, even to the point of death. The responsibility of the healer is therefore great.

11. Quyền năng làm việc một cách từ tính. “Nhờ vậy y có thể tuôn mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân.” Người chữa lành làm điều này qua một sự phối hợp khoa học của trang bị của mình, dùng đôi tay như một tác nhân hướng dẫn. Theo cách này bệnh có thể được chữa lành, làm giảm nhẹ hoặc làm nặng thêm, thậm chí đến mức tử vong. Vì vậy trách nhiệm của người chữa lành là rất lớn.

12. Power to work with radiation. “Thus can his presence feed the soul life of the patient.” This again is brought about through a system of coordination, but the agent of radiation is then the aura and not the hands.

12. Quyền năng làm việc với bức xạ. “Nhờ vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng đời sống linh hồn của bệnh nhân.” Điều này lại được thực hiện qua một hệ thống phối hợp, nhưng tác nhân bức xạ khi đó là hào quang chứ không phải đôi tay.

13. Power to practice at all times complete harmlessness. “The method used by the Perfect One…is harmlessness.” This, we are told, involves a positive expression of poise, an inclusive point of view, and divine understanding. How many healers combine these three qualities and also work through love?

13. Quyền năng thực hành tính vô tổn hại hoàn toàn vào mọi lúc. “Phương pháp được Đấng Toàn Thiện sử dụng… là tính vô tổn hại.” Chúng ta được bảo rằng điều này bao hàm một biểu hiện tích cực của sự quân bình, một quan điểm bao gồm, và sự thấu hiểu thiêng liêng. Có bao nhiêu người chữa lành kết hợp được ba phẩm tính này và còn làm việc qua bác ái?

14. Power to control the will and work through love. “The healer…must keep the will in leash.” This is one of the most difficult qualities to be developed, for the will of the healer is frequently so potent in its determination to bring about a healing that it renders the effort to apply that healing process entirely futile. From the reverse angle, frequently the sentimental and mystical desire to love the patient negates all efforts to hold the will in leash. Remember, brother of mine, the spiritual will must be present as a quiet [528] deep pool of power behind all expression of the energy of love.

14. Quyền năng kiểm soát ý chí và làm việc qua bác ái. “Người chữa lành… phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế.” Đây là một trong những phẩm tính khó phát triển nhất, vì ý chí của người chữa lành thường rất mạnh trong quyết tâm tạo ra sự chữa lành đến mức nó làm cho nỗ lực áp dụng tiến trình chữa lành ấy hoàn toàn vô hiệu. Từ góc độ ngược lại, thường thì ham muốn đầy tình cảm và thần bí muốn yêu thương bệnh nhân lại phủ định mọi nỗ lực giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Hãy nhớ, huynh đệ của tôi, ý chí tinh thần phải hiện diện như một [528] hồ sâu quyền năng tĩnh lặng phía sau mọi biểu hiện của năng lượng bác ái.

15. Power eventually to wield the Law of Life. Of this little can be said, for it can only be wielded by those who have developed or who are rapidly developing the consciousness of the Spiritual Triad—a very rare thing as yet.

15. Quyền năng cuối cùng sử dụng Định luật của Sự sống. Về điều này ít có thể nói ra, vì nó chỉ có thể được sử dụng bởi những ai đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần—một điều cho đến nay vẫn còn rất hiếm.

In the study of these requirements there is no need for discouragement. Such a study will serve to set a needed goal for all healers in the New Age. It will also explain why the various healing systems which are practiced today throughout the world (particularly in the Anglo-American countries) have hitherto notably failed, in spite of their claims. None of them—if they kept properly certified records which would be scientifically accurate (and practically none of them do)—would register more than the tiniest percentage of cures based upon pure spiritual healing. The percentage cured is less than one in a million “cures.” These cures would have recovered in any case in due time, if left to nature or to ordinary medical and surgical science.

Trong việc nghiên cứu các đòi hỏi này, không cần phải nản lòng. Việc nghiên cứu như thế sẽ giúp đặt ra một mục tiêu cần thiết cho mọi nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới. Nó cũng sẽ giải thích vì sao các hệ thống trị liệu khác nhau hiện đang được thực hành trên khắp thế giới (đặc biệt tại các quốc gia Anh-Mỹ) cho đến nay đã thất bại một cách rõ rệt, bất chấp những tuyên bố của họ. Không một hệ thống nào trong số đó—nếu họ lưu giữ hồ sơ được chứng thực đúng cách và chính xác về mặt khoa học (mà trên thực tế hầu như không hệ thống nào làm vậy)—có thể ghi nhận hơn một tỉ lệ cực nhỏ những ca chữa lành dựa trên trị liệu tinh thần thuần túy. Tỉ lệ được chữa lành là chưa đến một trên một triệu “ca chữa lành.” Những trường hợp này trong bất cứ trường hợp nào rồi cũng sẽ hồi phục đúng thời gian, nếu được để cho bản chất tự nhiên hoặc cho y học và phẫu thuật thông thường xử lý.

But today, so great is the spiritual stimulation in the world, and so vast are the numbers responding to it, that the moving forward of a large group out of the ranks of average humanity on to the Path of Discipleship is inevitable. This moving forward will provide—during the next five hundred years—many healers who will fulfill to some degree the requirements which I have listed above.

Nhưng ngày nay, sự kích thích tinh thần trong thế giới lớn lao đến mức, và số người đáp ứng với nó đông đảo đến mức, nên việc một nhóm lớn tiến lên từ hàng ngũ nhân loại trung bình để bước vào Con Đường Đệ Tử là điều không thể tránh khỏi. Sự tiến lên này sẽ cung cấp—trong năm trăm năm tới—nhiều nhà trị liệu, những người sẽ đáp ứng ở một mức độ nào đó các đòi hỏi mà tôi đã liệt kê ở trên.

The philosophies endorsed by the various systems such as Unity and Christian Science are basically sound and state the fundamental platitudes (the essential truths, nevertheless) which underlie all that I have said above. People, however, are not healed by the enunciation of platitudes, by [529] the affirmation of divinity or by the statement of abstract theories. They will be healed when the right time comes because of the ability of the healer in the New Age to express in himself and in his daily life the quality of divinity, to be spiritually capable of invoking the soul of his patient, and also to be magnetically pure, and through the power of a particular type of radiated energy to stimulate the patient to heal himself—through the medium of his own inner mechanism. The healer in the New Age will possess the ability to make the following contacts with both ease and understanding:

Các triết lý được các hệ thống khác nhau như Unity và Christian Science tán thành về căn bản là đúng đắn và nêu ra những chân lý hiển nhiên nền tảng (dẫu vậy vẫn là những chân lý cốt yếu) làm cơ sở cho tất cả những gì tôi đã nói ở trên. Tuy nhiên, con người không được chữa lành bằng việc tuyên bố những chân lý hiển nhiên, bằng [529] sự khẳng định thiên tính hay bằng việc phát biểu các lý thuyết trừu tượng. Họ sẽ được chữa lành khi thời điểm thích hợp đến, nhờ khả năng của nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới biểu lộ nơi chính mình và trong đời sống hằng ngày của mình phẩm tính của thiên tính, có đủ năng lực tinh thần để khẩn cầu linh hồn của bệnh nhân, đồng thời có sự thanh khiết từ tính, và nhờ quyền năng của một loại năng lượng bức xạ đặc thù mà kích thích bệnh nhân tự chữa lành chính mình—thông qua bộ máy bên trong của chính y. Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ có khả năng thực hiện những tiếp xúc sau đây một cách dễ dàng và với sự thấu hiểu:

1. With his own soul.

1. Với linh hồn của chính mình.

2. With the soul of the patient.

2. Với linh hồn của bệnh nhân.

3. With the particular type of energy which is to be found either in the soul or the personality ray of the patient.

3. Với loại năng lượng đặc thù có thể được tìm thấy hoặc trong cung linh hồn hoặc trong cung phàm ngã của bệnh nhân.

4. With any one of his own centres which is needed by him in order to act as a transmitting agency for energy to be sent into an area governed by some centre in the body of the patient.

4. Với bất kỳ trung tâm nào của chính mình mà y cần dùng để hoạt động như một tác nhân truyền dẫn năng lượng được gửi vào một khu vực do một trung tâm nào đó trong thể của bệnh nhân chi phối.

5. With the centre in the patient’s etheric body which controls the area where the disease is located.

5. Với trung tâm trong thể dĩ thái của bệnh nhân kiểm soát khu vực nơi bệnh tật tọa lạc.

This, as you can appreciate, connotes much technical knowledge. Added to this, the healer must also possess that spiritual perception which will enable him to intuit the “karma of the moment,” as it is esoterically called, and therefore to know if a cure is permissible, practicable, or impossible. This is a form of knowledge which no healer in the world at this time possesses, no matter what his claim may be. Again I say, this is no cause for discouragement.

Điều này, như bạn có thể nhận thấy, hàm ý rất nhiều tri thức kỹ thuật. Thêm vào đó, nhà trị liệu còn phải sở hữu linh thị tinh thần giúp y trực nhận được “nghiệp quả của khoảnh khắc,” như cách gọi trong huyền bí học, và do đó biết được liệu việc chữa lành có được phép, có khả thi hay là bất khả. Đây là một dạng tri thức mà hiện nay không một nhà trị liệu nào trên thế giới sở hữu, bất kể tuyên bố của họ là gì. Tôi lại nói rằng, đây không phải là lý do để nản lòng.

What is truly needed, and what will be brought about as the decades elapse, will be that disciples and men and women of spiritual orientation will enter the medical profession [530] and perfect themselves in the techniques of orthodox medicine and in an exoteric knowledge of physical anatomy and of pathological symptoms, plus the orthodox remedies and modes of handling disease. To this technical knowledge and understanding they will add a measure of esoteric learning, and they will then begin to combine, whilst practising their profession, both the exoteric and the esoteric wisdom which is theirs. This will at first be purely experimental, but out of the experience gained in utilising both fields of knowledge a new medical science will emerge, based upon two paramount recognised factors:

Điều thực sự cần thiết, và điều sẽ được mang lại khi các thập niên trôi qua, là các đệ tử và những người nam và nữ có định hướng tinh thần sẽ bước vào ngành y [530] và hoàn thiện mình trong các kỹ thuật của y học chính thống cũng như trong tri thức ngoại môn về giải phẫu học hồng trần và các triệu chứng bệnh lý, cùng với các phương thuốc và phương thức xử lý bệnh tật chính thống. Vào tri thức và sự thấu hiểu kỹ thuật này, họ sẽ thêm vào một mức độ học hỏi huyền bí, và rồi khi hành nghề, họ sẽ bắt đầu kết hợp cả minh triết ngoại môn lẫn nội môn vốn là của họ. Ban đầu điều này sẽ hoàn toàn có tính thực nghiệm, nhưng từ kinh nghiệm thu được trong việc sử dụng cả hai lĩnh vực tri thức, một khoa học y học mới sẽ xuất hiện, dựa trên hai yếu tố tối quan trọng đã được công nhận:

1. A cumulative mass of knowledge and information anent the dense physical vehicle. This has been accumulated by men of science down the ages and is largely proven and true.

1. Một khối lượng tri thức và thông tin tích lũy liên quan đến vận cụ hồng trần đậm đặc. Điều này đã được các nhà khoa học tích lũy qua nhiều thời đại và phần lớn đã được chứng minh là đúng và chân thực.

2. A constantly growing understanding of the nature of the etheric body, of the centres, and of the transmission and circulation of certain controlled energies.

2. Một sự thấu hiểu ngày càng tăng về bản chất của thể dĩ thái, của các trung tâm, và về sự truyền dẫn cùng lưu thông của một số năng lượng được kiểm soát.

This combination of two aspects of truth will be greatly facilitated by the increasing sensitivity and almost clairvoyant perception of developing humanity. One of the outstanding results of the recent world war will be found to be a tremendously increased capacity for nervous reaction. This nervous receptivity is at present abnormal and the results are sad. The reason for this is that the nervous apparatus of the average human being (and by that I mean his nervous system, plus the nadis which underlie it) is not yet adequate to the demands upon it. Time, however, will adjust all this.

Sự kết hợp của hai phương diện chân lý này sẽ được tạo điều kiện rất nhiều nhờ tính nhạy cảm ngày càng tăng và tri giác gần như thông nhãn của nhân loại đang phát triển. Một trong những kết quả nổi bật của cuộc thế chiến gần đây sẽ được thấy là năng lực phản ứng thần kinh tăng lên vô cùng mạnh mẽ. Hiện nay tính tiếp nhận thần kinh này là bất thường và các kết quả thì đáng buồn. Lý do là vì bộ máy thần kinh của con người trung bình (và bởi đó tôi muốn nói đến hệ thần kinh của y, cộng với các nadis làm nền cho nó) vẫn chưa đủ đáp ứng những đòi hỏi đặt lên nó. Tuy nhiên, thời gian sẽ điều chỉnh tất cả điều này.

Both metaphysical healers and orthodox medical men at this time are apt to repudiate each other with much violence. Taking it as a whole, the orthodox physician is less rabid and exclusive than the modern metaphysician. They [531] know too well the limitations of their present medical attainments. But the so-called spiritual healer recognises at present no limitations, and this definitely constitutes a weakness. Both groups, in time, must become collaborators with each other and not opponents. Both have much to learn from each other, and both must recognise that the particular fields of knowledge for which they stand are equally a divine expression and indicate the ability of the human mind to search, to record, to discover and to formulate truth, so that others may benefit thereby.

Hiện nay cả các nhà trị liệu siêu hình lẫn các bác sĩ y học chính thống đều có khuynh hướng bác bỏ nhau một cách rất quyết liệt. Xét tổng thể, vị bác sĩ chính thống ít cuồng tín và độc tôn hơn nhà siêu hình học hiện đại. Họ [531] biết quá rõ những giới hạn của thành tựu y học hiện nay của mình. Nhưng cái gọi là nhà trị liệu tinh thần hiện nay lại không thừa nhận bất kỳ giới hạn nào, và điều này rõ ràng cấu thành một nhược điểm. Theo thời gian, cả hai nhóm phải trở thành những cộng tác viên của nhau chứ không phải đối thủ của nhau. Cả hai đều có nhiều điều để học hỏi từ nhau, và cả hai phải thừa nhận rằng những lĩnh vực tri thức đặc thù mà họ đại diện đều là một biểu hiện thiêng liêng như nhau và cho thấy khả năng của trí tuệ con người trong việc tìm kiếm, ghi nhận, khám phá và hình thành chân lý để những người khác có thể nhờ đó mà được lợi ích.

I would recall to your attention the fact that both groups have much to do—the one in penetrating into the realm of the subtle and the intangible (and this is rapidly being done), and the other in descending from its vague abstractions and impractical generalisations in order to learn to recognise the facts anent the objective and the tangible; this is not as yet being done; metaphysical healing, so-called, is lost amidst a mist of words and high-sounding affirmations.

Tôi muốn nhắc bạn lưu ý đến sự kiện rằng cả hai nhóm đều còn nhiều việc phải làm—một bên là thâm nhập vào lĩnh vực của cái vi tế và vô hình tướng (và điều này đang được thực hiện nhanh chóng), còn bên kia là đi xuống khỏi những trừu tượng mơ hồ và những khái quát hóa thiếu thực tiễn của mình để học cách nhận ra các sự kiện liên quan đến cái khách quan và hữu hình; điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện; cái gọi là trị liệu siêu hình đang lạc lối giữa một màn sương của ngôn từ và những lời khẳng định khoa trương.

The sincerity of the majority of those who belong to these schools of thought is unquestioned; their motives are almost uniformly sincere and good. In both groups charlatans are to be found and also a small—a very small—minority of self-seeking and ignorant exploiters of men. Among them are numbered both physicians and metaphysicians who are commercially oriented; they are, however, a minority. In the sincere investigator and lover of humanity in both groups will be found the future hope of medical science as it seeks to meet the need of humanity—a humanity which is becoming increasingly sensitive and subjectively oriented.

Sự chân thành của đa số những người thuộc các trường phái tư tưởng này là điều không thể nghi ngờ; động cơ của họ hầu như luôn chân thành và tốt đẹp. Trong cả hai nhóm đều có thể tìm thấy những kẻ bịp bợm và cả một thiểu số nhỏ—rất nhỏ—những kẻ vụ lợi và ngu dốt bóc lột con người. Trong số đó có cả các bác sĩ lẫn các nhà siêu hình học có định hướng thương mại; tuy nhiên, họ chỉ là thiểu số. Chính nơi những nhà khảo cứu chân thành và những người yêu thương nhân loại trong cả hai nhóm mà niềm hy vọng tương lai của khoa học y học sẽ được tìm thấy, khi nó tìm cách đáp ứng nhu cầu của nhân loại—một nhân loại đang ngày càng trở nên nhạy cảm hơn và có định hướng chủ quan hơn.

CHAPTER VIII – The Laws and Rules Enumerated and AppliedCHƯƠNG VIII – Các Định luật và Quy luật được Liệt kê và Áp dụng

[532]

[532]

Note: Certain of the Rules are related to certain of the Laws and will be considered by me in their rightful relationship. I have asked A.A.B. to give here a list of the ten laws and—where a rule is related to a particular law—to give it with that law. The rules are renumbered and do not follow in the order earlier given.

Lưu ý: Một số Quy luật có liên hệ với một số Định luật và sẽ được tôi xem xét trong mối tương quan thích đáng của chúng. Tôi đã yêu cầu A.A.B. đưa vào đây một danh sách mười định luật và—ở đâu một quy luật có liên hệ với một định luật cụ thể—thì đưa nó cùng với định luật ấy. Các quy luật được đánh số lại và không theo thứ tự đã nêu trước đó.

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all Kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu nằm ở việc giải phóng linh hồn để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tổng thể các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào.

LAW II

ĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of and subject to three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called the “Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to that new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God has made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man. [533]

Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ; thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc tập thể; thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày kia điều này phải nhường chỗ cho “Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người. [533]

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from whence the trouble comes. Let him relate the cause and the effect and know the point exact through which relief must come.

Nhà trị liệu hãy tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay dục vọng của người tìm kiếm sự trợ giúp của mình. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Y hãy liên hệ nguyên nhân với kết quả và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải trừ phải đến.

LAW III

ĐỊNH LUẬT III

Disease is an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the plane whereon those energies are focussed proceed those determining conditions which produce ill health. These therefore work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là một hiệu quả của sự tập trung hóa căn bản của năng lượng sự sống của một người. Từ cõi mà trên đó các năng lượng ấy được tập trung phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra tình trạng bất an. Vì vậy, những điều này biểu hiện thành bệnh tật hoặc thành sự thoát khỏi bệnh tật.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful, and the true. It is but a distorted rejection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces, within the substance of its sheaths, a point of friction. Upon this Point the eyes of the personality are focussed and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force and all is well.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có gốc rễ trong điều thiện, điều đẹp, và điều chân thật. Nó chỉ là một sự khước từ méo mó đối với các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể bao bọc của nó một điểm ma sát. Trên Điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung và điều này dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà trị liệu liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành chân chính bên trong hình tướng. Khi đó con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba sẽ điều khiển mãnh lực chữa lành và mọi sự đều ổn thỏa.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation then goes forth.

Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính, thông qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt đến bức xạ xua tan, bức xạ tự biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ khi ấy sẽ phát ra.

LAW V

ĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is Life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central Point of contact. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves [534] produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain which seeks release in death. The two, the five and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là Sự Sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng đều có thể tìm thấy một Điểm tiếp xúc trung tâm. Sự xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau [534] tạo ra những bệnh hoạn thể xác của con người. Sự xung đột của thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu và đau đớn thể xác tìm cách giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là Định luật Chữa lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre. Let that centre correspond to the centre which has need. Let the two synchronise and together augment force. Thus shall the waiting form be balanced in its work. Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Nhà trị liệu hãy tập trung năng lượng cần thiết vào trung tâm cần thiết. Trung tâm ấy hãy tương ứng với trung tâm đang cần. Hai trung tâm ấy hãy đồng bộ và cùng nhau tăng cường mãnh lực. Như vậy hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó. Như vậy hai và một, dưới sự chỉ đạo đúng đắn, sẽ chữa lành.

LAW VI

ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower personal self, then you have disease, ill health and death.

Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, khi đó có sức khỏe, có sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp kém, khi đó bạn có bệnh tật, bất an và cái chết.

LAW VII

ĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị cản trở và dưới sự chỉ đạo đúng đắn đến sự ngưng tụ (tuyến liên hệ), khi đó hình tướng đáp ứng và bệnh tật biến mất.

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

A careful diagnosis of disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent—that once the organ involved is known and thus isolated, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary, ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.

Một sự chẩn đoán cẩn trọng về bệnh tật, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hóa đến mức này—rằng một khi cơ quan liên hệ đã được biết và do đó được cô lập, thì trung tâm trong thể dĩ thái có liên hệ gần gũi nhất với nó sẽ được áp dụng các phương pháp trị liệu huyền bí, dù các phương pháp y khoa hay phẫu thuật thông thường, có tính làm dịu, sẽ không bị loại bỏ.

LAW VIII

ĐỊNH LUẬT VIII

Disease and death are the results of two active forces. One is the will of the soul, which says to its instrument: [535] I draw the essence back. The other is the magnetic power of the planetary life, which says to the life within the atomic structure: The hour of reabsorption has arrived. Return to me. Thus, under cyclic law, do all forms act.

Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực hoạt động. Một là ý chí của linh hồn, nói với công cụ của nó: [535] Ta rút tinh chất trở về. Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta. Như vậy, dưới định luật chu kỳ, mọi hình tướng đều hành động.

RULE FIVE

QUY LUẬT NĂM

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, não và đôi tay của mình. Như vậy y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa lành bệnh tật hoặc làm tăng trạng thái xấu ác, tùy theo tri thức của nhà trị liệu.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, não, tim và phát xạ hào quang của mình. Như vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang của y đối với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

LAW IX

ĐỊNH LUẬT IX

Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good is harmlessness. This is not negativity but perfect poise, a completed point of view and divine understanding.

Sự toàn hảo gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Điều thiện đẩy điều ác ra khỏi hình tướng con người trong thời gian và không gian. Phương pháp được Đấng Toàn Hảo sử dụng và phương pháp được Điều Thiện dùng đến là tính vô tổn hại. Đây không phải là tính tiêu cực mà là sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm đã hoàn tất và sự thấu hiểu thiêng liêng.

RULE SIX

QUY LUẬT SÁU

The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used, but love.

Nhà trị liệu hay nhóm trị liệu phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Điều phải được sử dụng không phải là ý chí, mà là tình thương.

LAW X

ĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its Purpose. The principle of mind then organisms itself and then repeats that Word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi phát ra từ Người Con đến Người Mẹ, rồi hãy tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức thành cơ cấu và rồi lặp lại Linh từ ấy. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng đi. Linh hồn đứng tự do.

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord [536] of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi phát ra trong khối cầu của nghĩa vụ; hãy nhận ra tiếng gọi xuất hiện từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi Chúa Tể [536] của Sự Sống đích thân chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống và như vậy cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi đó hình tướng phá vỡ sự nối kết. Sự sống nay được giải phóng, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và hoa trái của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp.

Note: This last law is the enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death, and which has reference only to those upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.

Lưu ý: Định luật cuối cùng này là sự tuyên bố một định luật mới thay thế cho Định luật Chết, và chỉ liên hệ đến những ai ở các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.

Application of the Laws and Rules

Áp dụng các Định luật và Quy luật

In the last few pages I greatly clarified the issue of indicating—even at the risk of somewhat discouraging you—certain of the essential requirements of the healer in the New Age, and also certain of the contacts which he will have to make with facility and promptness when attempting to heal. I likewise defined for you the nature of Law. This was preliminary to a consideration of the Laws to which the healer must conform and the Rules which he will automatically and intuitively obey. We might consider these Laws and Rules in relation to the healer and also in relation to each other, for several of the Rules are closely related to a Law which controls the healer.

Trong vài trang vừa qua, tôi đã làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề khi chỉ ra—dù có nguy cơ phần nào làm bạn nản lòng—một số đòi hỏi cốt yếu của nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới, và cả một số tiếp xúc mà y sẽ phải thực hiện một cách dễ dàng và mau lẹ khi cố gắng chữa lành. Tôi cũng đã định nghĩa cho bạn bản chất của Định luật. Điều này là bước chuẩn bị cho việc xem xét các Định luật mà nhà trị liệu phải tuân theo và các Quy luật mà y sẽ tự động và trực giác vâng theo. Chúng ta có thể xem xét các Định luật và Quy luật này trong mối liên hệ với nhà trị liệu và cũng trong mối liên hệ với nhau, vì một số Quy luật có liên hệ chặt chẽ với một Định luật chi phối nhà trị liệu.

From the definition of law, as given above, it will be apparent to you that in the last analysis disease, death, untruth, falsity and despair are inherent in the planet itself, because our planetary Logos (as I earlier stated when aiding H.P.B. in writing The Secret Doctrine) is an “imperfect God.” After the present great world crisis, incident to our planetary Logos having moved forward upon the cosmic Path, and therefore having taken a cosmic initiation, His imperfections are demonstrably lessened: there will be less distress and disease on earth once the necessary planetary [537] adjustments have been made. This you yourselves will not see take place, for adjustments on such a large scale take centuries to effect. What I have, therefore, to say upon the future healing of disease will not be of practical value for a long time to come, but the theory and the indications of possibility must be considered and discussed. Also, for a long time, medical practice and surgical knowledge will play their useful parts in preventive medicine, alleviative practices and curative processes. To these increasingly will be added many psychological methods of healing, and these will go hand in hand with the two above; to these again the services of the spiritual healers will be added. In this way, a rounded-out approach to the whole man will be steadily developed, and the need for this is today recognised by forward thinking physicians everywhere. Thus, and also through the method of trial and error, much will be learnt.

Từ định nghĩa về định luật như đã nêu ở trên, bạn sẽ thấy rõ rằng xét đến cùng, bệnh tật, cái chết, sự không chân thật, giả dối và tuyệt vọng vốn có sẵn trong chính hành tinh này, bởi vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (như tôi đã nói trước đây khi trợ giúp H.P.B. viết Giáo Lý Bí Nhiệm) là một “Thượng đế bất toàn.” Sau cuộc khủng hoảng thế giới lớn lao hiện nay, gắn liền với việc Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã tiến lên trên Con đường vũ trụ, và do đó đã nhận một cuộc điểm đạo vũ trụ, những bất toàn của Ngài đã được giảm bớt một cách rõ rệt: sẽ có ít đau khổ và bệnh tật hơn trên trái đất một khi những điều chỉnh hành tinh cần thiết [537] đã được thực hiện. Chính các bạn sẽ không thấy điều này xảy ra, vì những điều chỉnh ở quy mô lớn như thế phải mất nhiều thế kỷ mới hoàn thành. Vì vậy, những gì tôi phải nói về việc chữa lành bệnh tật trong tương lai sẽ không có giá trị thực tiễn trong một thời gian dài sắp tới, nhưng lý thuyết và những chỉ dẫn về khả năng phải được xem xét và thảo luận. Đồng thời, trong một thời gian dài, thực hành y khoa và tri thức phẫu thuật sẽ tiếp tục giữ vai trò hữu ích của chúng trong y học phòng ngừa, các thực hành làm dịu và các tiến trình chữa trị. Vào đó sẽ ngày càng được thêm vào nhiều phương pháp trị liệu tâm lý, và chúng sẽ song hành với hai phương pháp trên; rồi vào đó nữa sẽ được thêm vào các dịch vụ của các nhà trị liệu tinh thần. Bằng cách này, một phương pháp tiếp cận toàn diện đối với toàn bộ con người sẽ dần dần được phát triển, và nhu cầu về điều này ngày nay đã được các bác sĩ có tư duy tiến bộ ở khắp nơi công nhận. Như vậy, và cũng thông qua phương pháp thử và sai, nhiều điều sẽ được học hỏi.

The healing processes I outline and indicate through these laws and Rules are basically new. They are not based on affirmations, as in Christian Science and other mental healing cults; they are not posited on affirmed origins and on claiming results which will only be possible when the race has reached a far higher standard of perfection than is at present seen or that is immediately capable of development. As I have several times said in this treatise, there is nothing fundamentally wrong in the claims made by these groups and organisations anent the man who has arrived at soul expression and at realisation of the Christ consciousness. What is wrong is the claim that the ordinary man (obviously not at this advanced point in evolution) can perform these miracles of healing either in himself or for others. Very few people have as yet reached this point, and the healer in these cults and organisations who has done so is a rarity indeed. The healer in the New Age will recognise limitation and conditioning circumstances, plus destiny. This predisposes the [538] development within him of knowledge-giving powers. He is also spiritually aware that the healing of the physical body is not always the highest spiritual good; the overestimation and serious, anxious care of the form life, of the physical vehicle, is not of major importance.

Các tiến trình chữa lành mà tôi phác họa và chỉ ra qua các định luật và quy luật này về căn bản là mới. Chúng không dựa trên các sự khẳng định, như trong Christian Science và các giáo phái trị liệu trí tuệ khác; chúng không được đặt nền trên những nguồn gốc được khẳng định và trên việc đòi hỏi những kết quả chỉ có thể có khi nhân loại đã đạt đến một tiêu chuẩn toàn hảo cao hơn rất nhiều so với hiện nay hoặc có thể phát triển ngay tức thì. Như tôi đã nhiều lần nói trong bộ luận này, không có gì sai lầm về căn bản trong những tuyên bố do các nhóm và tổ chức này đưa ra liên quan đến con người đã đạt đến sự biểu lộ linh hồn và sự chứng nghiệm tâm thức Christ. Điều sai lầm là lời tuyên bố rằng con người bình thường (rõ ràng chưa ở điểm tiến hoá cao này) có thể thực hiện những phép lạ chữa lành ấy nơi chính mình hoặc cho người khác. Cho đến nay rất ít người đã đạt đến điểm này, và nhà trị liệu trong các giáo phái và tổ chức ấy đã làm được điều đó quả thực là hiếm hoi. Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ thừa nhận giới hạn và các hoàn cảnh tác động, cùng với định mệnh. Điều này khiến [538] nơi y phát triển những quyền năng đem lại tri thức. Y cũng nhận biết về mặt tinh thần rằng việc chữa lành thể xác không phải lúc nào cũng là điều thiện tinh thần cao nhất; việc đánh giá quá cao và chăm lo nghiêm trọng, lo âu cho đời sống hình tướng, cho vận cụ hồng trần, không phải là điều quan trọng hàng đầu.

The healer in the New Age does not and will not work directly with the physical body at all; being an occultist, he will regard that body as not a principle. He works practically entirely with the etheric body and with the vital energies, leaving those energies to make their impact on the automaton of the physical body according to directed intent; they will then produce their effect according to the response of that body, conditioned as it will be by many factors. These energies, directed via the etheric body of the patient, or emanating from that body, may bring about a cure If the destiny of the patient permits, or they may so stimulate the area of the disease that the disease will be brought to a crisis and the patient will die. This often happens under the ministrations of cultist healers who are ignorant of the laws of healing and who base their activities on a realisation of a present (though usually unexpressed) divinity.

Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới không làm việc và sẽ không làm việc trực tiếp với thể xác chút nào; là một nhà huyền bí học, y sẽ xem thể ấy không phải là một nguyên khí. Y làm việc hầu như hoàn toàn với thể dĩ thái và với các năng lượng sinh lực, để mặc các năng lượng ấy tạo tác động của chúng lên bộ máy tự động của thể xác theo ý định được chỉ đạo; khi đó chúng sẽ tạo ra hiệu quả tùy theo sự đáp ứng của thể ấy, vốn sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố. Những năng lượng này, được chỉ đạo qua thể dĩ thái của bệnh nhân, hoặc phát ra từ thể ấy, có thể mang lại sự chữa lành nếu định mệnh của bệnh nhân cho phép, hoặc chúng có thể kích thích mạnh đến mức khu vực bệnh tật bị đẩy đến cơn khủng hoảng và bệnh nhân sẽ chết. Điều này thường xảy ra dưới sự chăm sóc của các nhà trị liệu giáo phái, những người không biết các định luật chữa lành và đặt hoạt động của mình trên một sự chứng nghiệm về một thiên tính hiện hữu (dù thường không được biểu lộ).

A much higher measure of spiritual perception and of mental understanding is required before the system I propose becomes elective. All that I give in my writings is largely of a pioneer nature, and this should be remembered.

Cần có một mức độ linh thị tinh thần và thấu hiểu trí tuệ cao hơn nhiều trước khi hệ thống tôi đề xuất trở thành điều được chọn dùng. Tất cả những gì tôi đưa ra trong các trước tác của mình phần lớn đều có tính tiên phong, và điều này cần được ghi nhớ.

Let us now study Law One; it has no Rule attached or related to it, as it is a basic statement, indicating the major underlying theory upon which the healer will work.

Giờ đây chúng ta hãy nghiên cứu Định luật Một; không có Quy luật nào gắn với hay liên hệ với nó, vì nó là một phát biểu căn bản, chỉ ra lý thuyết nền tảng chủ yếu mà nhà trị liệu sẽ làm việc dựa trên đó.

LAW IĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form,

Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu nằm ở việc giải phóng linh hồn để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tổng thể các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào,

[539]

[539]

This law indicates that, owing to the fact that the threefold lower man is not under control of his soul, disease can destroy him. Because the free flow of the energy pouring from the soul is inhibited and limited, disease can find place in the physical body. The physical organism is correctly supplied with the creative regenerating energy of the true man, the soul on its own plane. Where there is complete unobstructed inflow from the soul to the seven vitalising centres, you have the perfect health which the initiate of the fourth degree demonstrates, unless some disciplinary, experimental or initiating karma is being tried out in his case. However, as a general rule apart from these or planetary conditions, an initiate of high degree needs no healer; there is nothing in him requiring healing.

Định luật này chỉ ra rằng, do con người thấp tam phân không nằm dưới sự kiểm soát của linh hồn mình, bệnh tật có thể hủy hoại y. Bởi vì dòng chảy tự do của năng lượng tuôn đổ từ linh hồn bị ngăn trở và giới hạn, bệnh tật có thể tìm được chỗ trong thể xác. Cơ cấu hồng trần được cung ứng đúng đắn bằng năng lượng sáng tạo tái sinh của con người chân thực, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. Nơi nào có dòng tuôn vào hoàn toàn không bị cản trở từ linh hồn đến bảy trung tâm tiếp sinh lực, nơi đó có sức khỏe hoàn hảo mà điểm đạo đồ cấp bốn biểu lộ, trừ phi trong trường hợp của y đang phải trải qua một nghiệp quả có tính kỷ luật, thực nghiệm hay điểm đạo nào đó. Tuy nhiên, như một quy luật chung, ngoài các điều kiện ấy hay các điều kiện hành tinh, một điểm đạo đồ cấp cao không cần nhà trị liệu; không có gì trong y cần được chữa lành.

What must the healer do when, faced with a patient, he realises the inhibited condition which the disease evidences? Does he, under the law, work with the soul of the patient? Does he seek to get that soul (on its own plane) to affect definitely the man, superintending the transfer of energy from the soul to the mind, and from the mind to the astral body, and from thence to the etheric vehicle? By no means. In cases of real and serious illness, the condition of the patient is usually such that it is not possible for him to make the needed response to such attempted ministrations of the healer, either consciously or unconsciously. Any mental exertion is quite beyond his power, and he could not, therefore, cooperate with the effort of his soul to transfer energy; the activity of his astral body is usually concentrated in the formulation of a great desire to live and to get rid of the disease, unless the illness is so acute that the patient has reached the stage where he simply does not care and the will-to-live is rapidly leaving him. To these difficulties must be added the fact that very few people are so completely integrated that they can function as whole personalities, in [540] response to soul stimulation. They are usually polarised in one or another of their three bodies, and this fact again presents a potent limiting condition to the healer. Again, and very frequently, the man is so intensely preoccupied with discomfort and pain present in the dense physical body, that the higher impressions which might come through from mind or soul bodies are quite unable to do so. What then must the trained and instructed healer do?

Nhà trị liệu phải làm gì khi, đối diện với một bệnh nhân, y nhận ra tình trạng bị ngăn trở mà bệnh tật biểu lộ? Theo định luật này, y có làm việc với linh hồn của bệnh nhân không? Y có tìm cách khiến linh hồn ấy (trên cõi riêng của nó) tác động rõ rệt lên con người, giám sát sự chuyển dịch năng lượng từ linh hồn đến trí tuệ, và từ trí tuệ đến thể cảm dục, rồi từ đó đến vận cụ dĩ thái không? Hoàn toàn không phải vậy. Trong những trường hợp bệnh thật sự và nghiêm trọng, tình trạng của bệnh nhân thường là như thế khiến y không thể có được sự đáp ứng cần thiết đối với những nỗ lực phụng sự như vậy của nhà trị liệu, dù là có ý thức hay vô thức. Bất kỳ nỗ lực trí tuệ nào cũng hoàn toàn vượt quá khả năng của y, và vì thế y không thể cộng tác với nỗ lực của linh hồn mình trong việc chuyển dịch năng lượng; hoạt động của thể cảm dục của y thường tập trung vào việc hình thành một dục vọng mạnh mẽ muốn sống và muốn thoát khỏi bệnh tật, trừ phi cơn bệnh quá cấp tính đến nỗi bệnh nhân đã đạt đến giai đoạn mà y đơn giản là không còn quan tâm nữa và ý chí muốn sống đang nhanh chóng rời bỏ y. Vào những khó khăn này còn phải thêm sự kiện rằng rất ít người được tích hợp hoàn toàn đến mức họ có thể hoạt động như những phàm ngã toàn vẹn, trong [540] sự đáp ứng với kích thích của linh hồn. Họ thường phân cực trong một hay một thể nào khác trong ba thể của mình, và sự kiện này lại tạo nên một điều kiện giới hạn mạnh mẽ đối với nhà trị liệu. Hơn nữa, và rất thường xuyên, con người bị bận tâm quá mãnh liệt với sự khó chịu và đau đớn hiện diện trong thể xác đậm đặc đến nỗi các ấn tượng cao hơn có thể đến từ thể trí hay các thể linh hồn hoàn toàn không thể đi qua. Vậy thì nhà trị liệu đã được huấn luyện và chỉ dạy phải làm gì?

He must realise, first of all, that the etheric body is the factor of major importance and the main vehicle with which he must deal. He therefore concentrates upon that body of energy. This involves the necessity of ascertaining certain facts, and then making certain points of contact effectively useful.

Trước hết, y phải nhận ra rằng thể dĩ thái là yếu tố quan trọng chủ yếu và là vận cụ chính mà y phải đề cập đến. Vì vậy y tập trung vào thể năng lượng ấy. Điều này bao hàm sự cần thiết phải xác định một số sự kiện, rồi làm cho một số điểm tiếp xúc trở nên hữu hiệu một cách hiệu quả.

The first fact to be ascertained is the potency with which the soul has gripped and is still gripping its personality. The healer is aware that because the patient is still alive, the soul is definitely present through the medium of the head and heart centres of the etheric body, thus anchoring both the consciousness and the life principles. If the patient is unconscious, the difficulties of the healer are greatly increased in some cases, though lightened in others. If the principle of consciousness is withdrawn from the head centre in the vital body, then the healer knows that death may supervene and his way is this much clearer, particularly if there is a dimming of the light of life in the heart. If consciousness is still powerfully present, he realises that there is still the possibility of cure, and can then, with greater confidence, proceed with the work to be done. In this statement, I am dealing with the average person. In the case of initiates, it is somewhat different, because they frequently remain fully conscious through the death process.

Sự kiện đầu tiên cần được xác định là mức độ mạnh mẽ mà linh hồn đã nắm giữ và vẫn đang nắm giữ phàm ngã của nó. Nhà trị liệu biết rằng vì bệnh nhân vẫn còn sống, linh hồn chắc chắn hiện diện thông qua trung tâm đầu và trung tâm tim của thể dĩ thái, nhờ đó neo giữ cả nguyên khí tâm thức lẫn nguyên khí sự sống. Nếu bệnh nhân bất tỉnh, trong một số trường hợp khó khăn của nhà trị liệu tăng lên rất nhiều, dù trong những trường hợp khác lại được giảm nhẹ. Nếu nguyên khí tâm thức đã rút khỏi trung tâm đầu trong thể sinh lực, khi đó nhà trị liệu biết rằng cái chết có thể xảy đến và con đường của y nhờ vậy rõ ràng hơn nhiều, đặc biệt nếu có sự mờ đi của ánh sáng sự sống trong tim. Nếu tâm thức vẫn còn hiện diện mạnh mẽ, y nhận ra rằng vẫn còn khả năng chữa lành, và khi đó có thể tiến hành công việc cần làm với sự tin tưởng lớn hơn. Trong phát biểu này, tôi đang đề cập đến con người trung bình. Trong trường hợp các điểm đạo đồ thì có phần khác, vì họ thường vẫn hoàn toàn tỉnh thức trong suốt tiến trình chết.

You will, therefore, realise the basic necessity for the healer in the New Age to be either clairvoyant or—far better [541] still—to have true spiritual perception with its quality of infallibility. His first task is to investigate or “occultly see” the etheric body of the patient, and thus arrive at the following knowledge:

Vì vậy, bạn sẽ nhận ra sự cần thiết căn bản đối với nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới là phải hoặc thông nhãn hoặc—tốt hơn nhiều [541] nữa—phải có linh thị tinh thần chân chính với phẩm tính bất khả ngộ của nó. Nhiệm vụ đầu tiên của y là khảo sát hay “thấy một cách huyền bí” thể dĩ thái của bệnh nhân, và nhờ đó đi đến tri thức sau đây:

1. The potency with which the soul influences its etheric body. This is indicated by the point of light in the head centre and the area which it irradiates.

1. Mức độ mạnh mẽ mà linh hồn ảnh hưởng đến thể dĩ thái của nó. Điều này được chỉ ra bởi điểm sáng trong trung tâm đầu và khu vực mà nó chiếu rọi.

2. The condition of the etheric centre which controls or governs the area within which the physical trouble is to be found.

2. Tình trạng của trung tâm dĩ thái kiểm soát hay chi phối khu vực trong đó rắc rối hồng trần được tìm thấy.

3. The relation of the centres above the diaphragm to those below, because this will give him a general indication of the point in evolution of the man to be healed.

3. Mối liên hệ của các trung tâm phía trên cơ hoành với các trung tâm phía dưới, vì điều này sẽ cho y một chỉ dẫn tổng quát về điểm tiến hoá của con người cần được chữa lành.

Having ascertained these points to the best of his ability, he will then, under the law of “inhibited soul life,” seek by the power of his own soul (working on the higher levels of the mental plane and through his head centre) to stimulate the point of soul life in the etheric body of the patient. He will do this with a view of attracting, if possible, a fuller inflow of the soul energy of the patient into the head centre, in order that the life thread may carry a fuller supply of life to the heart. In this manner, the patient’s own “livingness” will bring about the desired cure; he will be healed apparently by nature itself, or by the natural and normal way of adequate vitality, and so enabled to throw off the disease.

Sau khi đã xác định những điểm này tốt nhất trong khả năng của mình, khi đó, dưới định luật về “sự sống linh hồn bị ngăn trở,” y sẽ tìm cách bằng quyền năng của chính linh hồn mình (hoạt động trên các cấp cao của cõi trí và qua trung tâm đầu của mình) kích thích điểm sự sống linh hồn trong thể dĩ thái của bệnh nhân. Y sẽ làm điều này với mục đích, nếu có thể, thu hút một dòng tuôn vào đầy đủ hơn của năng lượng linh hồn của bệnh nhân vào trung tâm đầu, để sinh mệnh tuyến có thể mang một nguồn cung sự sống dồi dào hơn đến tim. Theo cách này, chính “sức sống” của bệnh nhân sẽ mang lại sự chữa lành mong muốn; dường như y sẽ được chữa lành bởi chính bản chất tự nhiên, hay bởi con đường tự nhiên và bình thường của sinh lực đầy đủ, và nhờ đó có thể loại bỏ bệnh tật.

When the healer, therefore, recognises and works with this law, the following points of contact are recognised and used:

Vì vậy, khi nhà trị liệu nhận ra và làm việc với định luật này, các điểm tiếp xúc sau đây được nhận biết và sử dụng:

1. The soul of the patient, anchored within his etheric body. [542]

1. Linh hồn của bệnh nhân, được neo giữ trong thể dĩ thái của y. [542]

2. The soul of the healer, occupied with the stimulation of that point of soul contact, via the following triangle of energy:

2. Linh hồn của nhà trị liệu, bận tâm với việc kích thích điểm tiếp xúc linh hồn ấy, thông qua tam giác năng lượng sau đây:

9.-ph-n-ba-c-c-nh-lu-t-c-n-b-n-c-a-s-ch-a-l-nh-01.png

This relates the vital body of the healer to that of the patient, via both their head centres and the heart of the patient, because there the life principle is focussed and is closely involved and affected by whatever occurs.

Điều này liên hệ thể sinh lực của nhà trị liệu với thể sinh lực của bệnh nhân, thông qua cả hai trung tâm đầu của họ và tim của bệnh nhân, bởi vì tại đó nguyên khí sự sống được tập trung và có liên hệ chặt chẽ với, cũng như bị ảnh hưởng bởi, bất cứ điều gì xảy ra.

3. When this triangle of energy is functioning smoothly and a measure of response is coming from the head centre of the patient, evoking greater soul contact and producing a resultant inflow of soul energy into the head centre and from thence to the heart centre, then—by an act of the will and the use of an invocative mantram—the healer will seek to implement this increased flow of life, via the heart, to the diseased area, using the centre which controls that area of the physical body, whichever this may be. This has to be done with the greatest possible care, so that the flow is not too sudden, and therefore destructive in its effects; particular care has also to be evidenced in the cases of disease of the heart: embolisms, for instance, which prove fatal are frequently due to a violent expression on the part of the patient of the will-to-live, bringing on a flooding inflow of the life principle. This makes its impact too suddenly upon the heart, causing equally sudden movement in the blood stream, and thus of the embolism, producing death. I am putting this into entirely untechnical terms [543] and laying myself open to expert criticism, but I am doing so in order to convey to the lay reader a general idea of the risks involved, and thus produce caution in the enthusiast.

3. Khi tam giác năng lượng này đang hoạt động trơn tru và một mức độ đáp ứng nào đó đang đến từ trung tâm đầu của bệnh nhân, gợi lên sự tiếp xúc linh hồn lớn hơn và tạo ra một dòng tuôn vào kết quả của năng lượng linh hồn vào trung tâm đầu và từ đó đến trung tâm tim, khi ấy—bằng một hành vi của ý chí và việc sử dụng một mantram khẩn cầu—nhà trị liệu sẽ tìm cách thực hiện dòng chảy sự sống gia tăng này, qua tim, đến khu vực bệnh tật, sử dụng trung tâm kiểm soát khu vực ấy của thể xác, bất kể đó là trung tâm nào. Điều này phải được thực hiện với sự cẩn trọng lớn nhất có thể, để dòng chảy không quá đột ngột và do đó gây hủy hoại trong các hiệu quả của nó; sự cẩn trọng đặc biệt cũng phải được biểu lộ trong các trường hợp bệnh tim: chẳng hạn, các chứng tắc mạch gây tử vong thường là do nơi bệnh nhân có một biểu hiện dữ dội của ý chí muốn sống, kéo theo một dòng tuôn vào ngập tràn của nguyên khí sự sống. Điều này tạo tác động quá đột ngột lên tim, gây ra sự chuyển động cũng đột ngột như vậy trong dòng máu, và do đó gây ra tắc mạch, dẫn đến cái chết. Tôi đang trình bày điều này bằng những thuật ngữ hoàn toàn không chuyên môn [543] và tự đặt mình trước sự phê phán của các chuyên gia, nhưng tôi làm như vậy để truyền đạt cho độc giả phổ thông một ý niệm tổng quát về những nguy cơ liên quan, và nhờ đó tạo ra sự thận trọng nơi người nhiệt thành.

This law covers certain fundamental premises, and there is little more than I can profitably say anent its implications. Much will be learnt by accepting the premises and working upon their implications. What I have said is very far from being what I could have said, but I have here given the student a simple and working understanding of certain essential and basic concepts. We will now pass on to a consideration of the second Law and of Rule One.

Định luật này bao trùm một số tiền đề căn bản, và tôi hầu như không thể nói thêm điều gì có ích liên quan đến các hàm ý của nó. Nhiều điều sẽ được học hỏi bằng cách chấp nhận các tiền đề và làm việc trên các hàm ý của chúng. Điều tôi đã nói còn rất xa so với điều tôi có thể đã nói, nhưng ở đây tôi đã trao cho đạo sinh một sự thấu hiểu đơn giản và có thể vận dụng được về một số khái niệm cốt yếu và căn bản. Giờ đây chúng ta sẽ chuyển sang xem xét Định luật thứ hai và Quy luật Một.

LAW IIĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of and subject to three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called the “Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to the new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God has made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.

Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ; thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc tập thể; thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày kia điều này phải nhường chỗ cho “Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.

This Law is most comprehensive in its statements and really constitutes a summation of two laws, one of which is controlling at this time and one which will eventually control. Let us, for the sake of clarity, and because people usually read so carelessly, divide this law up into its various statements, and thus gain a better idea of its implications:

Định luật này có tính bao quát rất lớn trong các phát biểu của nó và thực sự cấu thành một sự tổng kết của hai định luật, một định luật hiện đang chi phối và một định luật cuối cùng sẽ chi phối. Vì mục đích làm sáng tỏ, và bởi vì con người thường đọc quá cẩu thả, chúng ta hãy chia định luật này thành các phát biểu khác nhau của nó, và nhờ đó có được một ý niệm rõ hơn về các hàm ý của nó:

1. Disease is a product of and subject to three influences: [544]

1. Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng: [544]

a. A man’s past, wherein he pays the price of ancient error.

a. Quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ.

b. His inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin.

b. Di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc tập thể.

c. His sharing with all natural forms that which the Lord of Life imposes on His body.

c. Sự chia sẻ của y với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài.

2. These three types of energy are called the “Ancient Law of Evil Sharing.”

2. Ba loại năng lượng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.”

3. The “Law of Ancient Dominating Good” lies behind all that God has made.

3. “Định luật về Điều Thiện Cổ xưa Chi phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra.

4. This law will some day supersede the “Ancient Law of Evil Sharing.”

4. Một ngày kia định luật này sẽ thay thế “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.”

5. It will be brought into activity by the spiritual will of man.

5. Nó sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.

This law throws a man in his thinking back to the basic law of karma which, as you know, there is no avoiding, and which the modern healer in the present healing cults and organisations consistently overlooks. With these influences and predisposing causes we have already dealt, and there is no need further to elaborate them here, beyond remarking that one of the most helpful things for a patient to remember and for the healer to bear in mind is that disease has its roots in the past (a group past or an individual past) and may, in the last analysis, be a beneficent way of paying off ancient debts. This induces in the patient a constructive attitude of acquiescence—not an acquiescence which leads to non-action, but one which produces a sense of responsibility for right action. This right action will lead either to full payment of the penalty through the well-known process of death or to the success of the steps taken to induce health. In the case of the healer, it will lead to a recognition of potent forces working through the patient and a willingness.[545] for the destined fate to take place; in both cases the feverish anxiety so often present will not intervene between the healer’s intention and the patient, preventing sound happenings.

Định luật này đưa con người trong tư duy của mình trở lại định luật căn bản về nghiệp quả mà, như bạn biết, không thể tránh né, và điều mà nhà trị liệu hiện đại trong các giáo phái và tổ chức trị liệu hiện nay luôn luôn bỏ qua. Chúng ta đã đề cập đến các ảnh hưởng và nguyên nhân tiền định này rồi, và không cần phải khai triển thêm ở đây, ngoài việc nhận xét rằng một trong những điều hữu ích nhất để bệnh nhân ghi nhớ và để nhà trị liệu lưu tâm là bệnh tật có gốc rễ trong quá khứ (một quá khứ tập thể hay một quá khứ cá nhân) và xét đến cùng có thể là một cách có lợi để trả những món nợ xưa cũ. Điều này tạo ra nơi bệnh nhân một thái độ chấp nhận có tính xây dựng—không phải một sự chấp nhận dẫn đến bất động, mà là một sự chấp nhận tạo ra ý thức trách nhiệm đối với hành động đúng đắn. Hành động đúng đắn này sẽ dẫn hoặc đến việc trả trọn hình phạt qua tiến trình quen thuộc là cái chết, hoặc đến sự thành công của các bước được thực hiện để tạo ra sức khỏe. Trong trường hợp của nhà trị liệu, nó sẽ dẫn đến sự nhận biết những mãnh lực mạnh mẽ đang hoạt động qua bệnh nhân và một sự sẵn lòng.[545] để số phận đã định xảy ra; trong cả hai trường hợp, sự lo âu sốt sắng thường hiện diện sẽ không xen vào giữa ý định của nhà trị liệu và bệnh nhân, ngăn cản những diễn biến lành mạnh.

The second important thing is for the patient to remember, if his condition permits, that what he is enduring is the fate and the lot of the majority, and that he is not alone. A right handling of ill health is a major factor in breaking down separateness and a sense of aloneness and isolation; that is why the effects of bad health, when rightly handled, lead to a sweetening of the disposition and a broadening of the sympathies. Sharing and a sense of general participation has usually to be learnt the hard way—such again is the law. In this law we have the clue to that which will ultimately sweep disease from the earth. Let me put it quite simply. When the majority of the inhabitants of the earth are being rapidly oriented towards good, towards righteousness, as the Bible expresses it, and when the bulk of human beings are inclined towards goodwill (the second major expression of soul contact and influence in the individual’s life and in the life of mankind—the first being the sense of responsibility), then ill health will persistently, even if only gradually, disappear and die out and finally be nonexistent. Slowly, very slowly, this is already happening—not yet in the disappearance of disease, but in the bringing about of a more correct orientation. What this really means is that the channel of contact between the individual and his soul and the soul of humanity is becoming more direct and unimpeded. Alignment is being brought about. You can see again, therefore, why the emphasis in the life of the healer must be laid upon contact and alignment, and why so few succeed. There is little if any contact to be found among healers today, and little direct consciousness of the necessity, [546] and no real understanding of the techniques to be followed. It is wise to grasp this important point, for it will negate disappointment. Disease is not going to disappear miraculously and suddenly from a world in the immediate period, heralding the New Age. If it did, the implications would be that the Law of Karma no longer controlled, and this is not the case.

Điều quan trọng thứ hai là để bệnh nhân ghi nhớ, nếu tình trạng của y cho phép, rằng điều y đang chịu đựng là số phận và phần số của đa số, và rằng y không đơn độc. Việc xử lý đúng đắn tình trạng bất an là một yếu tố lớn trong việc phá vỡ tính chia cách và cảm giác cô đơn, cô lập; đó là lý do vì sao các hiệu quả của sức khỏe xấu, khi được xử lý đúng, dẫn đến sự dịu ngọt của tính khí và sự mở rộng của lòng cảm thông. Sự chia sẻ và ý thức tham dự chung thường phải được học bằng con đường khó khăn—đó lại chính là định luật. Trong định luật này, chúng ta có manh mối cho điều cuối cùng sẽ quét sạch bệnh tật khỏi trái đất. Hãy để tôi nói điều đó thật đơn giản. Khi đa số cư dân trên trái đất đang nhanh chóng được định hướng về điều thiện, về sự chính trực như Kinh Thánh diễn tả, và khi phần lớn nhân loại nghiêng về thiện chí (biểu hiện lớn thứ hai của tiếp xúc và ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống cá nhân và trong đời sống nhân loại—biểu hiện thứ nhất là ý thức trách nhiệm), thì tình trạng bất an sẽ liên tục, dù chỉ dần dần, biến mất và tàn lụi, và cuối cùng sẽ không còn tồn tại. Chậm chạp, rất chậm chạp, điều này đã đang xảy ra—chưa phải trong sự biến mất của bệnh tật, mà trong việc tạo ra một định hướng đúng đắn hơn. Điều này thực sự có nghĩa là kênh tiếp xúc giữa cá nhân với linh hồn của y và với linh hồn của nhân loại đang trở nên trực tiếp hơn và ít bị cản trở hơn. Sự chỉnh hợp đang được tạo ra. Vì vậy, bạn lại có thể thấy vì sao sự nhấn mạnh trong đời sống của nhà trị liệu phải được đặt trên tiếp xúc và chỉnh hợp, và vì sao rất ít người thành công. Hiện nay hầu như không có tiếp xúc nào được tìm thấy nơi các nhà trị liệu, và cũng rất ít tâm thức trực tiếp về sự cần thiết ấy, [546] và không có sự thấu hiểu thực sự nào về các kỹ thuật phải được tuân theo. Thật khôn ngoan khi nắm vững điểm quan trọng này, vì nó sẽ loại bỏ sự thất vọng. Bệnh tật sẽ không biến mất một cách kỳ diệu và đột ngột khỏi thế giới trong giai đoạn trước mắt, như một dấu hiệu báo trước Kỷ Nguyên Mới. Nếu điều đó xảy ra, hàm ý sẽ là Định luật Nghiệp quả không còn chi phối nữa, và điều đó không phải vậy.

The final sentence of this second law gives a basic indication of the time period: the Law of Dominating Good will be brought into activity by the spiritual will of man. What does this mean? It means that only when truly large numbers of men are controlled by the Spiritual Triad, have built the antahkarana and can therefore use the spiritual will, can disease be stamped out and only good control. It will of course be a gradual process, and in the early stages almost imperceptible. Again, why is this? Because evil crime and disease are the result of the great heresy of separateness, and because hate and not love controls. Forget not that he who loveth not his brother is a murderer—ever the symbol of hate. As yet, the sense of universality and of identity with all is not to be found, except in advanced disciples and initiates; the mass consciousness and the demonstration of the herd instinct must not be confounded with the sense of Oneness which marks the right oriented person. In the New Age, teaching anent the antahkarana and the constitution of man, principally from the angle of the “three periodical bodies,” and not so much from that of the lower threefold man, will be emphasised, particularly in the higher schools of learning, thereby laying a sound foundation for the esoteric schools which will be slowly emerging. A new perspective upon humanity will be thereby attained. The nature of the spiritual will will be taught in contradistinction to that of the selfish personal will; [547] by its means tremendous new potencies will be released, and safely released, into daily life.

Câu cuối cùng của định luật thứ hai này đưa ra một chỉ dẫn căn bản về thời kỳ: Định luật Thiện Lành Chi Phối sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người. Điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là chỉ khi nào những số lượng thật lớn người nam và nữ được Tam Nguyên Tinh Thần kiểm soát, đã xây dựng antahkarana và do đó có thể sử dụng ý chí tinh thần, thì bệnh tật mới có thể bị quét sạch và chỉ điều thiện mới kiểm soát. Dĩ nhiên, đó sẽ là một tiến trình dần dần, và trong các giai đoạn đầu hầu như không thể nhận thấy. Một lần nữa, tại sao lại như vậy? Bởi vì tội ác, tội phạm và bệnh tật là kết quả của Đại Tà thuyết về sự phân ly, và bởi vì hận thù chứ không phải tình thương đang kiểm soát. Đừng quên rằng kẻ nào không yêu thương huynh đệ mình là một kẻ sát nhân—luôn luôn là biểu tượng của hận thù. Hiện nay, ý thức về tính phổ quát và về sự đồng nhất với tất cả vẫn chưa được tìm thấy, ngoại trừ nơi các đệ tử và các điểm đạo đồ tiến bộ; tâm thức quần chúng và sự biểu lộ của bản năng bầy đàn không được lẫn lộn với ý thức về Nhất Thể vốn đánh dấu con người được định hướng đúng đắn. Trong Kỷ Nguyên Mới, giáo huấn về antahkarana và về cấu tạo của con người, chủ yếu từ góc độ của “ba thể chu kỳ,” chứ không quá nhiều từ góc độ của con người tam phân thấp, sẽ được nhấn mạnh, đặc biệt trong các trường học cao cấp, nhờ đó đặt nền tảng vững chắc cho các trường nội môn sẽ từ từ xuất hiện. Nhờ đó, một viễn tượng mới về nhân loại sẽ đạt được. Bản chất của ý chí tinh thần sẽ được giảng dạy đối lập với ý chí cá nhân ích kỷ; [547] nhờ phương tiện đó, những tiềm lực mới to lớn sẽ được giải phóng, và được giải phóng một cách an toàn, vào đời sống hằng ngày.

Up to the present time, even disciples have little idea of the exceeding power of the triadal will. It might be here affirmed that those healers who have triadal consciousness and can exercise the potency of the monadic life and will, via the Spiritual Triad, will always be successful healers; they will make no mistakes, for they will have accurate spiritual perception; this will give them knowledge as to the possibility of cure, and by the use of the will they can then work safely and with power on the head centre of the patient. They will necessarily confine their healing powers to those who live focussed in the head. They will stimulate the soul, there anchored, into effective activity, thus promoting a true self-healing.

Cho đến hiện nay, ngay cả các đệ tử cũng ít có ý niệm về quyền năng vô cùng lớn lao của ý chí tam nguyên tinh thần. Ở đây có thể khẳng định rằng những nhà chữa lành nào có tâm thức tam nguyên tinh thần và có thể vận dụng tiềm lực của sự sống và ý chí chân thần, thông qua Tam Nguyên Tinh Thần, sẽ luôn luôn là những nhà chữa lành thành công; họ sẽ không phạm sai lầm nào, vì họ sẽ có tri giác tinh thần chính xác; điều này sẽ cho họ tri thức về khả năng chữa khỏi, và bằng việc sử dụng ý chí, khi đó họ có thể làm việc một cách an toàn và đầy quyền năng trên trung tâm đầu của bệnh nhân. Tất yếu, họ sẽ giới hạn quyền năng chữa lành của mình vào những người sống tập trung trong đầu. Họ sẽ kích thích linh hồn, được neo ở đó, vào hoạt động hữu hiệu, nhờ vậy thúc đẩy một sự tự chữa lành chân chính.

You will note from all the above how relatively simple these Laws are when carefully considered, and how beautifully they are related to each other. The mastering and grasping of one facilitates the understanding of the next.

Từ tất cả những điều trên, bạn sẽ nhận thấy các Định luật này tương đối đơn giản biết bao khi được xem xét cẩn thận, và chúng liên hệ với nhau đẹp đẽ biết bao. Việc làm chủ và nắm vững một định luật sẽ tạo thuận lợi cho việc thấu hiểu định luật kế tiếp.

Forget not that the head centre is the one through which the will works, and with this in your mind, relate the information given you anent Law One in the early part of this instruction to that which I have here given you. If these laws are studied deeply by those who seek to learn to heal spiritually, and if the healer endeavours to make his life conform to the rules, a definite pattern of healing and an emerging technique will take shape in his mind and greatly increase his effective service. You will note also that I am not giving rules and laws which deal with specific diseases. This, I fear, will greatly disappoint many earnest workers. They would like me to indicate what should be done, for instance, to cure cancer of the liver, or pneumonia or gastric ulcer or forms of heart disease. This I do not intend to do. My work is far more basic than that. I am concerned [548] with causes, and primarily with the etheric body as the distributor of energies or as the withholder of these energies when transformed into forces; I deal with the state of consciousness of the healer and with the theories which he should embrace, with his understanding of the relationship of the soul to its vehicles of expression (particularly, in the case of healing, to the vital body), and with the controlling fact of the centres found in every area of the body, either freely distributing energy and preserving the body in good health or—through undevelopment and inhibited activity—bringing about those conditions in which disease becomes possible and probable.

Đừng quên rằng trung tâm đầu là trung tâm mà qua đó ý chí hoạt động, và với điều này trong tâm trí, hãy liên hệ thông tin đã được trao cho bạn về Định luật Một trong phần đầu của huấn thị này với điều tôi đã trao cho bạn ở đây. Nếu các định luật này được nghiên cứu sâu sắc bởi những ai tìm cách học chữa lành một cách tinh thần, và nếu nhà chữa lành nỗ lực làm cho đời sống của mình phù hợp với các quy luật, thì một mô hình chữa lành xác định và một kỹ thuật đang xuất hiện sẽ thành hình trong trí tuệ của y và làm gia tăng rất nhiều sự phụng sự hữu hiệu của y. Bạn cũng sẽ nhận thấy rằng tôi không đưa ra các quy luật và định luật bàn đến những bệnh cụ thể. Tôi e rằng điều này sẽ làm nhiều người hoạt động chân thành thất vọng sâu sắc. Họ muốn tôi chỉ ra cần phải làm gì, chẳng hạn, để chữa ung thư gan, hay viêm phổi hoặc loét dạ dày hay các dạng bệnh tim. Điều này tôi không có ý định làm. Công việc của tôi căn bản hơn nhiều so với thế. Tôi quan tâm [548] đến các nguyên nhân, và trước hết là đến thể dĩ thái như là bộ phân phối các năng lượng hoặc như là cái giữ lại các năng lượng này khi chúng được chuyển đổi thành các mãnh lực; tôi bàn đến trạng thái tâm thức của nhà chữa lành và các lý thuyết mà y nên chấp nhận, đến sự thấu hiểu của y về mối liên hệ của linh hồn với các vận cụ biểu đạt của nó (đặc biệt, trong trường hợp chữa lành, là với thể sinh lực/thể dĩ thái), và đến sự kiện chi phối của các trung tâm được tìm thấy trong mọi vùng của cơ thể, hoặc tự do phân phối năng lượng và giữ cho cơ thể được khỏe mạnh, hoặc—do sự kém phát triển và hoạt động bị ức chế—mang lại những điều kiện trong đó bệnh tật trở nên có thể và có xác suất xảy ra.

You can see, therefore, how the healing process is simplified when we recognise causes and realise that they are responsible for the functioning of the body on the outer plane. The healer has always to remember the following sequence of facts:

Do đó, bạn có thể thấy tiến trình chữa lành được đơn giản hóa như thế nào khi chúng ta nhận ra các nguyên nhân và chứng nghiệm rằng chúng chịu trách nhiệm cho sự vận hành của cơ thể trên cõi bên ngoài. Nhà chữa lành luôn luôn phải ghi nhớ chuỗi sự kiện sau đây:

1. The fact of the soul, working through

1. Sự kiện về linh hồn, hoạt động thông qua

2. The mind and the astral body, whose energies condition

2. Thể trí và thể cảm dục, mà các năng lượng của chúng tác động lên

3. The etheric vehicle, a vortex of energies focussed through numerous centres, both major and minor.

3. thể dĩ thái, một xoáy năng lượng được tập trung qua nhiều trung tâm, cả chính lẫn phụ.

4. The seven major centres, controlling definite areas of the body via

4. Bảy trung tâm chính, kiểm soát những vùng xác định của cơ thể thông qua

a. The nadis

a. các nadis

b. The nerves.

b. các dây thần kinh.

c. The endocrine system

c. hệ nội tiết

d. The blood stream.

d. dòng máu.

These four groups of conditioned aspects of the man concern life and consciousness, or the two major aspects of the soul when in manifestation upon the physical plane.

Bốn nhóm phương diện bị tác động này của con người liên quan đến sự sống và tâm thức, hay hai phương diện chính của linh hồn khi biểu hiện trên cõi hồng trần.

[549]

[549]

Orthodox medicine has been to date necessarily confined to the objective symptoms and their immediate apparent cause, and therefore to effects and not to real causes. The healing with which I am concerned is directed towards the reorganising and the revitalising of the etheric body, with the intent of getting behind the outer formal indications of wrong conditions to that vehicle of energies which—if correctly functioning and in right alignment—will preserve the physical body in good condition and keep it free from disease. The knowledge required by the healer in the New Age is therefore more basic and less detailed. He deals with areas and not with organs; he is concerned with energies and their distributing points, and not with the details of the physical body, with the construction of the organs and their malfunctioning. He will deal with the seven etheric centres, with the nadis through which they affect and stimulate (apart from radiation) the nervous system; he will watch with care the nervous system and the blood stream which the centres affect through radiation on to and through the hormones there to be found. But the keynote of all his work will be directed distribution, and the centre of his attention will be the channels of this distribution—the entire system of etheric centres.

Cho đến nay, y học chính thống tất yếu bị giới hạn vào các triệu chứng khách quan và nguyên nhân biểu kiến trực tiếp của chúng, và do đó vào các hậu quả chứ không phải các nguyên nhân thực sự. Sự chữa lành mà tôi quan tâm hướng đến việc tái tổ chức và tiếp sinh lực cho thể dĩ thái, với mục đích đi ra phía sau những dấu hiệu hình tướng bên ngoài của các tình trạng sai lệch để đến với vận cụ năng lượng ấy, vốn—nếu vận hành đúng đắn và được chỉnh hợp đúng—sẽ giữ cho thể xác ở trong tình trạng tốt và không bệnh tật. Vì vậy, tri thức mà nhà chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới cần có thì căn bản hơn và ít chi tiết hơn. Y xử lý các vùng chứ không phải các cơ quan; y quan tâm đến các năng lượng và các điểm phân phối của chúng, chứ không phải các chi tiết của thể xác, cấu tạo của các cơ quan và sự trục trặc của chúng. Y sẽ xử lý bảy trung tâm dĩ thái, các nadis mà qua đó chúng tác động và kích thích (ngoài sự bức xạ) hệ thần kinh; y sẽ quan sát cẩn thận hệ thần kinh và dòng máu mà các trung tâm tác động thông qua sự bức xạ lên và xuyên qua các hormone được tìm thấy ở đó. Nhưng chủ âm của toàn bộ công việc của y sẽ là sự phân phối có định hướng, và trung tâm chú ý của y sẽ là các kênh của sự phân phối này—toàn bộ hệ thống các trung tâm dĩ thái.

I would beg you to reflect upon all this information with studious care. The keynote to good health, esoterically speaking, is sharing or distribution, just as it is the keynote to the general well-being of humanity. The economic ills of mankind closely correspond to disease in the individual. There is lack of a free flow of the necessities of life to the points of distribution; these points of distribution are idle: the direction of the distribution is faulty, and only through a sane and worldwide grasp of the New Age principle of sharing will human ills be cured; only by the right distribution of energy will the ills of the physical body of individual [550] man also be cured. This is a fundamental (I would say the fundamental principle) of all spiritual healing. In the last analysis also this presupposes an eventual and scientific recognition of the etheric body of the planet, and consequently of man.

Tôi muốn cầu xin bạn suy ngẫm về tất cả thông tin này với sự cẩn trọng của một môn sinh. Chủ âm của sức khỏe tốt, nói theo huyền bí học, là sự chia sẻ hay sự phân phối, cũng như đó là chủ âm của phúc lợi chung của nhân loại. Những căn bệnh kinh tế của nhân loại tương ứng chặt chẽ với bệnh tật nơi cá nhân. Có sự thiếu vắng một dòng chảy tự do của các nhu yếu phẩm của sự sống đến các điểm phân phối; các điểm phân phối này thì nhàn rỗi; sự định hướng của việc phân phối thì sai lầm, và chỉ thông qua một sự nắm bắt lành mạnh và toàn cầu về nguyên lý chia sẻ của Kỷ Nguyên Mới thì các tai họa của nhân loại mới được chữa lành; chỉ bằng sự phân phối đúng đắn năng lượng thì các bệnh tật của thể xác của cá nhân [550] con người cũng mới được chữa lành. Đây là một nguyên lý căn bản (tôi muốn nói là nguyên lý căn bản) của mọi sự chữa lành tinh thần. Rốt cuộc, điều này cũng giả định sự công nhận cuối cùng và có tính khoa học về thể dĩ thái của hành tinh, và do đó của con người.

We come now to a consideration of Rule One.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét Quy luật Một.

RULE ONEQUY LUẬT MỘT

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from whence the trouble comes. Let him relate the cause and the effect and know the point exact through which relief must come.

Hãy để nhà chữa lành tự rèn luyện mình để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay của dục vọng của người tìm kiếm sự giúp đỡ của y. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân và hậu quả và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải tỏa phải đến.

It will be apparent to you that the first rule which the healer has to master must necessarily be important. It is basic and essential in its implications if a cure is to be effected or if the healer is not to waste time in attempting the impossible. There are four injunctions in this rule:

Bạn sẽ thấy rõ rằng quy luật đầu tiên mà nhà chữa lành phải làm chủ tất yếu phải quan trọng. Nó căn bản và thiết yếu trong các hàm ý của nó nếu muốn việc chữa khỏi được thực hiện hoặc nếu nhà chữa lành không muốn lãng phí thời gian trong việc cố gắng làm điều bất khả. Có bốn mệnh lệnh trong quy luật này:

1. The healer must train himself to know whether the patient is mentally or astrally (emotionally) focussed.

1. Nhà chữa lành phải tự rèn luyện để biết liệu bệnh nhân được tập trung nơi trí tuệ hay nơi cảm dục (cảm xúc).

2. He can and must, therefore, ascertain the psychological basis of the existent trouble.

2. Do đó, y có thể và phải xác định cơ sở tâm lý của rắc rối hiện hữu.

3. He will be able then to ascertain the location of the effect (the disease) through perception of the underlying cause.

3. Khi đó y sẽ có thể xác định vị trí của hậu quả (bệnh tật) thông qua tri giác về nguyên nhân nền tảng.

4. This will enable him to know

4. Điều này sẽ giúp y biết

a. The area affected.

a. vùng bị ảnh hưởng.

b. The centre in the etheric body controlling that area.

b. trung tâm trong thể dĩ thái kiểm soát vùng đó.

You will also realise why I started my analysis of disease and healing by a presentation of the psychological causes. [551] This first rule is related to that entire section of the teaching and is, as you can see, intensely practical.

Bạn cũng sẽ nhận ra tại sao tôi đã bắt đầu việc phân tích bệnh tật và chữa lành bằng cách trình bày các nguyên nhân tâm lý. [551] Quy luật đầu tiên này liên hệ với toàn bộ phần giáo huấn ấy và, như bạn có thể thấy, cực kỳ thực tiễn.

When the personality polarisation is known, two major facts emerge: the point of approach will be either through the head centre or the heart centre if the patient is highly developed—which presumably the healer can be supposed to know from character indications and the effectiveness of his life. Or the approach can be through the throat centre or the solar plexus centre if the patient is an ordinary and average advanced person; if he is quite undeveloped and relatively a low grade human being, the exact point through which relief will come will be the solar plexus centre or the sacral centre. It is interesting to note that when a man is so low in the evolutionary scale that he must be etherically reached via the sacral centre, he is often quite easily cured and will respond more rapidly to what is oft called “etheric manipulation” than will other types. One reason for this is that his mind and his emotions present no real obstacles, and all available energies can be directed unimpeded to the diseased area.

Khi sự phân cực của phàm ngã được biết, hai sự kiện chính xuất hiện: điểm tiếp cận sẽ hoặc là qua trung tâm đầu hoặc trung tâm tim nếu bệnh nhân phát triển cao—điều mà có thể giả định là nhà chữa lành biết được từ các dấu hiệu tính cách và hiệu quả của đời sống y. Hoặc sự tiếp cận có thể là qua trung tâm cổ họng hoặc trung tâm tùng thái dương nếu bệnh nhân là một người bình thường và trung bình nhưng tiến bộ; nếu y hoàn toàn kém phát triển và tương đối là một con người ở cấp thấp, thì điểm chính xác mà qua đó sự giải tỏa sẽ đến sẽ là trung tâm tùng thái dương hoặc trung tâm xương cùng. Thật thú vị khi lưu ý rằng khi một người ở thấp đến mức trên thang tiến hoá đến nỗi phải được tiếp cận về mặt dĩ thái qua trung tâm xương cùng, thì y thường được chữa khá dễ dàng và sẽ đáp ứng nhanh hơn với điều thường được gọi là “thao tác dĩ thái” so với các loại người khác. Một lý do cho điều này là trí tuệ và cảm xúc của y không tạo ra trở ngại thực sự nào, và mọi năng lượng sẵn có đều có thể được hướng đến vùng bệnh mà không bị cản trở.

If the healer is clairvoyant, he can with facility ascertain the point of entry of the healing forces, because the “entering light” will then be the brightest, the light of the centre itself will convey the needed information. If he is a very advanced healer, he will not use any form of psychic perception but will react immediately upon contact to an impression so powerful, coming from the patient, that it cannot be denied and is probably entirely correct and to be depended upon. It must be remembered, however, that owing to the integrity of the human soul, and to the fact that every soul is in its own nature a Master, there will be always a margin of error where the healer is concerned, even if he is an initiate—healer; there will be evidence to him of a point where the spiritual man (of which the patient is only [552] a reflection) controls, and beyond which—except as a soul on an equal basis with the patient’s soul—he cannot and dare not go. There are conditions, for instance, in which an advanced disciple or a high initiate (for definite purpose of vacating his physical vehicle) may be permitting the forces of disintegration, of limitation and of destruction to be breaking down and destroying his physical outer form. When this is the case, the healer may not be aware of the intention; he will, however, be aware of opposition and will be forced to desist from his efforts to heal.

Nếu nhà chữa lành là người thông nhãn, y có thể dễ dàng xác định điểm đi vào của các mãnh lực chữa lành, bởi vì “ánh sáng đi vào” khi đó sẽ sáng nhất, ánh sáng của chính trung tâm sẽ truyền đạt thông tin cần thiết. Nếu y là một nhà chữa lành rất tiến bộ, y sẽ không sử dụng bất kỳ hình thức tri giác thông linh nào mà sẽ đáp ứng ngay khi tiếp xúc với một ấn tượng mạnh mẽ đến từ bệnh nhân, mạnh đến mức không thể phủ nhận và có lẽ hoàn toàn đúng đắn và có thể tin cậy được. Tuy nhiên, phải nhớ rằng do tính toàn vẹn của linh hồn con người, và do sự kiện rằng mọi linh hồn trong bản chất riêng của nó là một Chân sư, nên luôn luôn sẽ có một biên độ sai số đối với nhà chữa lành, ngay cả khi y là một điểm đạo đồ—nhà chữa lành; đối với y sẽ có bằng chứng về một điểm mà con người tinh thần (mà bệnh nhân chỉ là [552] một phản ánh) kiểm soát, và vượt quá điểm đó—ngoại trừ như một linh hồn trên cơ sở bình đẳng với linh hồn của bệnh nhân—y không thể và không dám đi xa hơn. Chẳng hạn, có những tình trạng trong đó một đệ tử tiến bộ hoặc một điểm đạo đồ cao cấp (với mục đích xác định là rời bỏ vận cụ hồng trần của mình) có thể đang cho phép các mãnh lực phân rã, giới hạn và hủy diệt phá vỡ và hủy hoại hình tướng bên ngoài hồng trần của mình. Khi điều này xảy ra, nhà chữa lành có thể không nhận biết được ý định ấy; tuy nhiên, y sẽ nhận biết được sự chống đối và sẽ buộc phải ngừng các nỗ lực chữa lành của mình.

When the patient is a strictly mental type, and the approach to the healing process must be through a higher centre, the head centre, the healer will be wise to gain the conscious cooperation of the patient so that their two wills will function in unison; this will entail a positive relationship between the two. When the patient is not so highly developed, the healer will have to strive for a spirit of hopeful acquiescence in the man; the emotional nature will be stronger in this case than in the more advanced type and the task of the healer consequently harder. He will have, very frequently, to combat anxiety, emotional reactions of diverse kinds, fear and forebodings. The psychological condition will therefore be fluid, and the healer will have much to do to aid the patient to preserve a constancy of emotional reaction and to become calm and quiescent. This quiet reaction has to be attained if the healing energies are to pass effectively to the right centre and its controlled area. This can be brought about by the establishing of a harmonious rapport between the healer and the patient, prior to any healing process. Healers in the New Age will also establish their own clientele, just as physicians do today, and so learn to know the constitution and the temperament of those they may be called upon to help; they will also educate them in certain healing processes and techniques [553] in preparation for their use later, if needed; this time, however, still lies far ahead.

Khi bệnh nhân là một loại người thuần trí tuệ, và sự tiếp cận đến tiến trình chữa lành phải qua một trung tâm cao hơn, trung tâm đầu, thì nhà chữa lành sẽ khôn ngoan nếu giành được sự hợp tác có ý thức của bệnh nhân để hai ý chí của họ hoạt động đồng nhất; điều này sẽ đòi hỏi một mối liên hệ tích cực giữa hai người. Khi bệnh nhân không phát triển cao như vậy, nhà chữa lành sẽ phải cố gắng tạo ra nơi người ấy một tinh thần chấp thuận đầy hy vọng; trong trường hợp này bản chất cảm xúc sẽ mạnh hơn so với loại người tiến bộ hơn và do đó nhiệm vụ của nhà chữa lành sẽ khó hơn. Rất thường xuyên, y sẽ phải chống lại sự lo âu, các phản ứng cảm xúc đủ loại, nỗi sợ hãi và những linh cảm xấu. Vì vậy, tình trạng tâm lý sẽ linh động, và nhà chữa lành sẽ phải làm nhiều việc để giúp bệnh nhân giữ được sự ổn định trong phản ứng cảm xúc và trở nên bình tĩnh và yên lặng. Phản ứng yên tĩnh này phải đạt được nếu các năng lượng chữa lành muốn đi qua một cách hữu hiệu đến đúng trung tâm và vùng do nó kiểm soát. Điều này có thể được mang lại bằng cách thiết lập một sự tương giao hài hòa giữa nhà chữa lành và bệnh nhân trước bất kỳ tiến trình chữa lành nào. Các nhà chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới cũng sẽ thiết lập nhóm bệnh nhân riêng của mình, giống như các thầy thuốc ngày nay, và nhờ đó học biết cấu tạo và khí chất của những người mà họ có thể được kêu gọi giúp đỡ; họ cũng sẽ giáo dục những người ấy về một số tiến trình và kỹ thuật chữa lành [553] để chuẩn bị cho việc sử dụng chúng về sau, nếu cần; tuy nhiên, thời điểm ấy vẫn còn rất xa phía trước.

When the patient is an undeveloped human being and low down in the evolutionary scale, he will be controlled psychologically by the consecrated personality of the healer and by the imposition of the healers’ will upon the etheric body of the patient. This does not mean the imposition of the energy of the will upon a negative person, thereby impelling the patient to action and imperilling even the very small measure of freewill which he possesses; it means the imposition of the authority of knowledge and of spiritual stabilisation upon the patient, thereby instilling confidence and a willingness to be obedient.

Khi bệnh nhân là một con người kém phát triển và ở thấp trên thang tiến hoá, y sẽ được kiểm soát về mặt tâm lý bởi phàm ngã đã được thánh hiến của nhà chữa lành và bởi sự áp đặt ý chí của nhà chữa lành lên thể dĩ thái của bệnh nhân. Điều này không có nghĩa là áp đặt năng lượng của ý chí lên một người tiêu cực, do đó thúc đẩy bệnh nhân hành động và gây nguy hiểm ngay cả cho mức độ tự do ý chí rất nhỏ mà y sở hữu; nó có nghĩa là áp đặt thẩm quyền của tri thức và của sự ổn định tinh thần lên bệnh nhân, nhờ đó gieo vào lòng tin và sự sẵn lòng vâng phục.

You have here the first steps which the healer must take in dealing with the patient and with the psyche, the lower psyche of the patient. They are three in number:

Ở đây bạn có những bước đầu tiên mà nhà chữa lành phải thực hiện khi xử lý bệnh nhân và với psyche, tức hạ psyche của bệnh nhân. Chúng có ba bước:

1. Gaining the cooperation of the personality of the advanced man; it is only the personality which requires healing.

1. Giành được sự hợp tác của phàm ngã nơi người tiến bộ; chỉ có phàm ngã là cần được chữa lành.

2. Bringing about a condition of hopeful acquiescence on the part of the personality of the average man; he is not as yet capable of intelligent cooperation, but he can so handle himself that he reduces personality hindrances to a minimum.

2. Mang lại một tình trạng chấp thuận đầy hy vọng nơi phàm ngã của người trung bình; y chưa có khả năng hợp tác một cách thông minh, nhưng y có thể tự xử sự sao cho giảm thiểu các cản trở của phàm ngã đến mức thấp nhất.

3. Inducing confident obedience to the suggestions of the healer. This is all that the undeveloped man can do.

3. Gây ra sự vâng phục đầy tin cậy đối với các gợi ý của nhà chữa lành. Đó là tất cả những gì người kém phát triển có thể làm.

It will be obvious to you that broad generalisations such as the above do not cover every type of man and the many intermediate types and stages. The healer will need to be a true lover of his fellowmen and a trained psychologist as well; this means that he will have to practice as a soul and also as a perceptive mind.

Bạn sẽ thấy rõ rằng những khái quát rộng như trên không bao quát mọi loại người và nhiều loại cùng giai đoạn trung gian. Nhà chữa lành sẽ cần phải là một người thực sự yêu thương đồng loại của mình và đồng thời là một nhà tâm lý học được đào luyện; điều này có nghĩa là y sẽ phải thực hành như một linh hồn và cũng như một trí tuệ có tri giác.

[554]

[554]

Another point should here be noted. One problem which the healer will have to face with mental types will be the tendency to preserve all energies coming from the soul either in the head, or at least above the diaphragm; this does not mean that all the areas of the body below the diaphragm are not habitually supplied with the needed energies, but that there the functioning is largely automatic and the man is not in the habit of consciously directing energy to the centre and the area it controls, when below the diaphragm. It may be necessary to instruct him so to do, if he is attempting to collaborate with the healer and seeks to bring about a cure. His mental focus and the activity of the head centre will be a great help, provided he accepts instruction in the art of energy direction. This he can usually do if not too ill or too preoccupied with the preservation of a conscious contact with his body. When he is unable to focus his attention, either through pain or through lack of physical consciousness or profound weakness, the healer will have to work primarily as soul with soul, and trust that the rapport between the patient’s soul and the etheric body will be adequate to promote a cure, if that is the destiny of the man.

Một điểm khác cũng nên được lưu ý ở đây. Một vấn đề mà nhà chữa lành sẽ phải đối diện với các loại người trí tuệ sẽ là khuynh hướng giữ tất cả các năng lượng đến từ linh hồn hoặc trong đầu, hoặc ít nhất là phía trên cơ hoành; điều này không có nghĩa là mọi vùng của cơ thể dưới cơ hoành không thường xuyên được cung cấp các năng lượng cần thiết, mà là ở đó sự vận hành phần lớn là tự động và con người không có thói quen có ý thức hướng năng lượng đến trung tâm và vùng mà nó kiểm soát, khi ở dưới cơ hoành. Có thể cần phải hướng dẫn y làm như vậy, nếu y đang cố gắng cộng tác với nhà chữa lành và tìm cách mang lại sự chữa khỏi. Sự tập trung trí tuệ của y và hoạt động của trung tâm đầu sẽ là một trợ giúp lớn, miễn là y chấp nhận sự hướng dẫn trong nghệ thuật định hướng năng lượng. Điều này y thường có thể làm được nếu không quá bệnh hoặc không quá bận tâm với việc duy trì sự tiếp xúc có ý thức với cơ thể mình. Khi y không thể tập trung sự chú ý, hoặc vì đau đớn hoặc vì thiếu tâm thức hồng trần hay vì quá suy yếu, nhà chữa lành sẽ phải làm việc chủ yếu như linh hồn với linh hồn, và tin tưởng rằng sự tương giao giữa linh hồn của bệnh nhân và thể dĩ thái sẽ đủ để thúc đẩy sự chữa khỏi, nếu đó là số mệnh của người ấy.

Where the source of the trouble lies in the emotional or astral body, the task of the healer is not so easy; he has then to work, focussed as a soul in his head centre, but directing the needed energy and controlling the patient’s emotional nature via his correctly oriented solar plexus centre. I refer here to the healer’s solar plexus centre, which is one which he does not as a general rule employ as a point of focus or attention in his own life. The healer has a gained facility in the use of all his centres at will, regarding them as distributing points of directed energy. This directed energy, I would have you note, is now directed towards healing, but is the soul energy of the healer directed towards [555] bringing some centre in the patient’s body under control, owing to the emotionalism which the patient displays, and towards reorganising it as a centre for reception of the healing energies emanating from the patient’s soul—a very different matter and one which must be most carefully borne in mind.

Khi nguồn gốc của rắc rối nằm trong thể cảm dục hay thể cảm xúc, nhiệm vụ của nhà chữa lành không dễ dàng như vậy; khi đó y phải làm việc, tập trung như một linh hồn trong trung tâm đầu của mình, nhưng định hướng năng lượng cần thiết và kiểm soát bản chất cảm xúc của bệnh nhân thông qua trung tâm tùng thái dương được định hướng đúng đắn của mình. Ở đây tôi nói đến trung tâm tùng thái dương của nhà chữa lành, vốn là một trung tâm mà theo quy luật chung y không dùng như một điểm tập trung hay chú ý trong đời sống riêng của mình. Nhà chữa lành đã đạt được sự thành thạo trong việc sử dụng tất cả các trung tâm của mình theo ý muốn, xem chúng như những điểm phân phối của năng lượng được định hướng. Tôi muốn bạn lưu ý rằng năng lượng được định hướng này hiện nay được định hướng đến việc chữa lành, nhưng đó là năng lượng linh hồn của nhà chữa lành được định hướng đến [555] việc đưa một trung tâm nào đó trong cơ thể bệnh nhân vào vòng kiểm soát, do tính cảm xúc mà bệnh nhân biểu lộ, và đến việc tái tổ chức nó như một trung tâm để tiếp nhận các năng lượng chữa lành phát ra từ linh hồn của bệnh nhân—một vấn đề rất khác và phải được ghi nhớ hết sức cẩn thận.

The healer, therefore, uses two centres, normally speaking: his own head centre and that centre in his own body which corresponds to the area which is diseased and its controlling centre. There has to be in every successful healing the establishing of a sympathetic relationship. As an ancient book in the Masters’ Archives puts it: “Soul to soul, the two are one; point to point, together must they suffer; place to place, they find themselves allied, and thus the dual stream of energy results in cure.”

Vì vậy, nói chung nhà chữa lành sử dụng hai trung tâm: trung tâm đầu của chính mình và trung tâm trong chính cơ thể mình tương ứng với vùng bị bệnh và trung tâm kiểm soát vùng ấy. Trong mọi sự chữa lành thành công phải có sự thiết lập một mối liên hệ cảm thông. Như một cuốn sách cổ trong Văn Khố của các Chân sư đã nói: “Linh hồn với linh hồn, cả hai là một; điểm với điểm, cùng nhau họ phải chịu đau khổ; chỗ với chỗ, họ thấy mình liên kết, và như vậy dòng năng lượng kép mang lại sự chữa lành.”

One of the major difficulties with which the healer is faced, particularly if relatively inexperienced, is the result of this established sympathetic relation. There is apt to occur what we might call “transference.” The healer takes on or takes over the condition of disease or discomfort, not in fact but symptomatically. This can incapacitate him or at least intercept the free activity of the healing process. It is a glamour and an illusion and is based on the healer’s achieved capacity to identify himself with his patient; it also is founded on his anxiety and great desire to bring relief. The healer has become so preoccupied with the patient’s need, and so decentralised from his own identified and positive consciousness, that inadvertently he has become negative and temporarily unprotected. The cure for this, if the healer discovers in himself this tendency, is to work through the heart centre as well as the head centre, and thus keep a steady flow of the positive energy of love pouring out towards the patient. This will insulate him from the disease, but not from the patient. He can do this by working [556] through the heart centre within the brahmarandra (the head centre) and greatly increase the potency of his healing work; however, it presupposes a high degree of development on the healer’s part. The average spiritual healer will have to link up head and heart centres by a definite act of the will. He will then realise that the love pouring from him to the patient will prevent any return of the undesirable emanations from the patient which have been flowing towards him; this because if such a flow existed, it would militate against the patient being healed.

Một trong những khó khăn lớn mà nhà chữa lành phải đối diện, đặc biệt nếu còn tương đối thiếu kinh nghiệm, là kết quả của mối liên hệ cảm thông đã được thiết lập này. Điều mà chúng ta có thể gọi là “sự chuyển giao” rất dễ xảy ra. Nhà chữa lành tiếp nhận hay gánh lấy tình trạng bệnh tật hoặc khó chịu, không phải trên thực tế mà về mặt triệu chứng. Điều này có thể làm y mất khả năng hoạt động hoặc ít nhất ngăn chặn hoạt động tự do của tiến trình chữa lành. Đó là một ảo cảm và một ảo tưởng, và dựa trên năng lực đã đạt được của nhà chữa lành trong việc đồng hoá với bệnh nhân của mình; nó cũng dựa trên sự lo âu và ước muốn lớn lao của y là mang lại sự giải tỏa. Nhà chữa lành đã trở nên quá bận tâm với nhu cầu của bệnh nhân, và quá phi tập trung vào bản thân khỏi tâm thức đồng nhất và tích cực của chính mình, đến nỗi vô tình y đã trở nên tiêu cực và tạm thời không được bảo vệ. Phương thuốc cho điều này, nếu nhà chữa lành phát hiện nơi mình khuynh hướng ấy, là làm việc qua trung tâm tim cũng như trung tâm đầu, và nhờ đó giữ một dòng chảy ổn định của năng lượng tích cực của tình thương tuôn ra hướng về bệnh nhân. Điều này sẽ cách ly y khỏi bệnh tật, nhưng không khỏi bệnh nhân. Y có thể làm điều này bằng cách làm việc [556] qua trung tâm tim bên trong brahmarandra (trung tâm đầu) và gia tăng rất nhiều hiệu lực của công việc chữa lành của mình; tuy nhiên, điều đó giả định một mức độ phát triển cao nơi nhà chữa lành. Nhà chữa lành tinh thần trung bình sẽ phải nối kết trung tâm đầu và trung tâm tim bằng một hành vi xác định của ý chí. Khi đó y sẽ nhận ra rằng tình thương tuôn ra từ y đến bệnh nhân sẽ ngăn chặn bất kỳ sự quay trở lại nào của những phát xạ không mong muốn từ bệnh nhân đã chảy về phía y; điều này là vì nếu có một dòng chảy như vậy, nó sẽ cản trở việc bệnh nhân được chữa lành.

The healer who responds to the inner urge to heal will face, as you can see, a very severe course of training before his own equipment—personality, etheric body and its centres—are brought into such submission to the soul that they offer no obstruction to the healing art. He has therefore to learn in connection with himself:

Như bạn có thể thấy, nhà chữa lành đáp ứng với thôi thúc bên trong để chữa lành sẽ phải đối diện với một khóa huấn luyện rất nghiêm khắc trước khi chính bộ máy của y—phàm ngã, thể dĩ thái và các trung tâm của nó—được đưa vào sự phục tùng đối với linh hồn đến mức chúng không gây cản trở nào cho nghệ thuật chữa lành. Vì vậy, liên quan đến chính mình, y phải học:

1. Rapid alignment between soul, mind, head centre and physical brain.

1. Sự chỉnh hợp nhanh chóng giữa linh hồn, trí tuệ, trung tâm đầu và bộ não hồng trần.

2. The use of the mind, illumined by the soul, in the psychological diagnosis of the causes of the disease which he proposes to handle.

2. Việc sử dụng trí tuệ, được linh hồn soi sáng, trong chẩn đoán tâm lý các nguyên nhân của bệnh mà y dự định xử lý.

3. Methods for establishing a sympathetic rapport with the patient.

3. Các phương pháp thiết lập một sự tương giao cảm thông với bệnh nhân.

4. Modes of protecting himself from any transference brought about through this rapport.

4. Các cách tự bảo vệ mình khỏi bất kỳ sự chuyển giao nào được mang lại qua sự tương giao này.

5. The establishing of a right relation with the patient of either cooperation, acquiescence or spiritual control.

5. Việc thiết lập một mối liên hệ đúng đắn với bệnh nhân theo kiểu hợp tác, chấp thuận hay kiểm soát tinh thần.

6. Physical diagnosis and the locating of the area to which relief must come, via the controlling centre.

6. Chẩn đoán hồng trần và xác định vùng mà sự giải tỏa phải đến, thông qua trung tâm kiểm soát.

7. The art of cooperation with the patient’s soul so that his etheric body focusses all its inflaming energies in order to bring relief to the diseased area. This involves the direct activity of the healer’s etheric body in connection [557] with a renewed activity on the part of the patient’s etheric body.

7. Nghệ thuật hợp tác với linh hồn của bệnh nhân để thể dĩ thái của y tập trung tất cả các năng lượng gây viêm của nó nhằm mang lại sự giải tỏa cho vùng bị bệnh. Điều này bao hàm hoạt động trực tiếp của thể dĩ thái của nhà chữa lành trong mối liên hệ [557] với một hoạt động được đổi mới nơi thể dĩ thái của bệnh nhân.

8. The technique of withdrawing his healing power when that of the patient is adequate to the undertaking.

8. Kỹ thuật rút lại quyền năng chữa lành của mình khi quyền năng của bệnh nhân đã đủ cho công việc ấy.

I feel that I have here given you all that you need for immediate study and reflection. I have shown you that the healing art is not a vague mystical process, or wishful thinking and simple good intentions. I have indicated that it presupposes the mastering of the science of soul contact, first of all: the constant practice of alignment, and the comprehension of the Science of the Centres, or—literally—a modern form of Laya-Yoga. Healers in the future will undergo years of drastic training, and this need cause no surprise, for the ordinary medical profession calls for years of hard study and work. Many healers in the New Age will combine orthodox study and knowledge with the art of spiritual healing.

Tôi cảm thấy rằng ở đây tôi đã trao cho bạn tất cả những gì bạn cần để nghiên cứu và suy ngẫm ngay lúc này. Tôi đã chỉ cho bạn thấy rằng nghệ thuật chữa lành không phải là một tiến trình thần bí mơ hồ, hay sự mong ước viển vông và những thiện ý đơn giản. Tôi đã chỉ ra rằng nó giả định trước hết việc làm chủ khoa học tiếp xúc linh hồn: sự thực hành chỉnh hợp liên tục, và sự thấu hiểu Khoa Học về các Trung Tâm, hay—nói theo nghĩa đen—một hình thức hiện đại của Laya-Yoga. Các nhà chữa lành trong tương lai sẽ trải qua nhiều năm huấn luyện nghiêm khắc, và điều này không cần gây ngạc nhiên, vì ngành y thông thường đòi hỏi nhiều năm học tập và làm việc gian khổ. Nhiều nhà chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới sẽ kết hợp việc học tập và tri thức chính thống với nghệ thuật chữa lành tinh thần.

When trained healers, with perception, with a full working knowledge of the etheric body, with an understanding of the energies which compose it or which it does or can transmit, of the subtle constitution of man and of the methods of directing energies from one point and location to another, can work with full medical knowledge or in full collaboration with the orthodox physician or surgeon, then tremendous changes will be brought about. Great enlightenment will reach the race of man.

Khi những nhà chữa lành được đào luyện, có tri giác, có tri thức thực hành đầy đủ về thể dĩ thái, có sự thấu hiểu các năng lượng cấu thành nó hoặc những năng lượng mà nó đang hay có thể truyền dẫn, về cấu tạo vi tế của con người và về các phương pháp định hướng năng lượng từ điểm và vị trí này sang điểm và vị trí khác, có thể làm việc với đầy đủ tri thức y học hoặc trong sự cộng tác trọn vẹn với thầy thuốc hay phẫu thuật gia chính thống, thì những thay đổi to lớn sẽ được mang lại. Sự soi sáng lớn lao sẽ đến với nhân loại.

It is for this that we must prepare—not primarily for the healing of the physical body, but because of the expansion of the consciousness of the race that this new and esoteric study will bring about.

Chính cho điều này mà chúng ta phải chuẩn bị—không phải chủ yếu cho việc chữa lành thể xác, mà bởi vì sự mở rộng tâm thức của nhân loại mà môn nghiên cứu mới và huyền bí này sẽ mang lại.

We have dealt with a number of fundamental realities which it is essential that all healers—endeavouring to work with the new type of esoteric healing—must master; what [558] I said, therefore, is of major importance. Each point made by me could form the basis of prolonged discussion, but (in this treatise) that is not possible, for I seek only to give indication of future possibilities. I seek also to foment distrust in the present approach of the metaphysical world to this subject of disease and its cure, and to undermine—if I may use so drastic an expression—the confidence of the public in the so-called New Age modes of healing, in the methods of the Christian Scientist, of Mental Science, and of all those schools of thought which deal with healing from the angle of affirmation—affirmation of man’s divinity and the claim that that inherent and innate divinity guarantees his healing. This claim is a glamour and a delusion, as I have oft sought to show.

Chúng ta đã bàn đến một số thực tại căn bản mà điều thiết yếu là mọi nhà chữa lành—đang nỗ lực làm việc với loại chữa lành nội môn mới—phải làm chủ; vì thế, điều [558] tôi đã nói có tầm quan trọng lớn lao. Mỗi điểm tôi nêu ra đều có thể làm cơ sở cho một cuộc thảo luận kéo dài, nhưng (trong bộ luận này) điều đó là không thể, vì tôi chỉ tìm cách đưa ra chỉ dẫn về những khả năng tương lai. Tôi cũng tìm cách khơi dậy sự ngờ vực đối với cách tiếp cận hiện nay của thế giới siêu hình học đối với chủ đề bệnh tật và sự chữa trị của nó, và làm suy yếu—nếu tôi có thể dùng một cách diễn đạt mạnh như vậy—niềm tin của công chúng vào những phương thức chữa lành được gọi là của Kỷ Nguyên Mới, vào các phương pháp của Christian Scientist, của Mental Science, và của tất cả những trường phái tư tưởng xử lý việc chữa lành từ góc độ khẳng định—khẳng định thiên tính của con người và tuyên bố rằng thiên tính cố hữu và bẩm sinh ấy bảo đảm cho sự chữa lành của y. Tuyên bố này là một ảo cảm và một ảo tưởng, như tôi đã thường tìm cách chỉ ra.

Today we deal with a law which (if properly under stood) proves home inadequate is the approach of the modern metaphysician to this subject and—though it puts our instructions on healing on a sound basis—it postpones the era of truly occult healing quite definitely to a more distant time. This third law runs as follows:

Hôm nay chúng ta bàn đến một định luật mà (nếu được thấu hiểu đúng đắn) chứng minh rõ cách tiếp cận của nhà siêu hình học hiện đại đối với chủ đề này là thiếu sót biết bao và—dù nó đặt các huấn thị của chúng ta về chữa lành trên một nền tảng vững chắc—nó lại dời thời đại của sự chữa lành thực sự huyền bí học đến một thời điểm xa hơn một cách rất rõ rệt. Định luật thứ ba này như sau:

LAW IIIĐỊNH LUẬT III

Disease is an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the Plane whereon those energies are focussed proceed those determining conditions which produce ill health. These, therefore, work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là một hậu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của một người. Từ Cõi mà trên đó các năng lượng ấy được tập trung phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra tình trạng sức khỏe xấu. Vì vậy, những điều kiện này biểu hiện thành bệnh tật hoặc thành sự không bệnh tật.

This law indicates that one of the primary determinations at which the healer must arrive is that of the level of consciousness from which the predominating energy in the etheric body emanates. I would remind you here that in The Secret Doctrine, H.P.B. states that a plane and a state of consciousness are synonymous terms, and entirely interchangeable; in all my writing I seek to emphasise not [559] the level of matter or substance (a plane, as it is called), but the consciousness which expresses itself in that environing area of conscious substance.

Định luật này chỉ ra rằng một trong những xác định sơ khởi mà nhà chữa lành phải đạt đến là xác định cấp độ tâm thức mà từ đó năng lượng chi phối trong thể dĩ thái phát ra. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng trong Giáo Lý Bí Nhiệm, H.P.B. phát biểu rằng một cõi và một trạng thái tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa, và hoàn toàn có thể thay thế cho nhau; trong tất cả các trước tác của tôi, tôi tìm cách nhấn mạnh không phải [559] cấp độ của vật chất hay chất liệu (một cõi, như nó được gọi), mà là tâm thức tự biểu lộ trong vùng chất liệu hữu thức bao quanh ấy.

We are assured in this ancient law that disease is an elect of the basic centralisation of a man’s life energy. This life energy is not the same as the energy or force of consciousness, but consciousness is ever the directing factor in every expression of the indwelling life, for there is basically only one major energy—life energy. Where the consciousness of the man is focussed, there the life energy will gather its forces. If the consciousness is focussed on the mental plane or upon the astral plane, the life energy will not be so strongly focussed and anchored in the heart centre (the centre where the life principle is found), but only a part of its vital energy will find its way into the physical body, via the etheric vehicle. The greater part will be retained (to use an inadequate word) upon the plane where the consciousness is predominantly functioning or—to word it otherwise—it will be conditioned in expression by the state of consciousness, corresponding to that level of awareness or place of contact with the divine Whole or the divine Consciousness which the point in evolution of the man makes possible.

Trong định luật cổ xưa này, chúng ta được bảo đảm rằng bệnh tật là một hậu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của một người. Năng lượng sự sống này không giống với năng lượng hay mãnh lực của tâm thức, nhưng tâm thức luôn luôn là yếu tố định hướng trong mọi biểu hiện của sự sống nội tại, vì về căn bản chỉ có một năng lượng chính—năng lượng sự sống. Tâm thức của con người được tập trung ở đâu, ở đó năng lượng sự sống sẽ tập hợp các mãnh lực của nó. Nếu tâm thức được tập trung trên cõi trí hay trên cõi cảm dục, thì năng lượng sự sống sẽ không được tập trung và neo giữ mạnh mẽ như vậy trong trung tâm tim (trung tâm nơi nguyên khí sự sống được tìm thấy), mà chỉ một phần năng lượng sinh lực của nó sẽ tìm đường đi vào thể xác, thông qua vận cụ dĩ thái. Phần lớn hơn sẽ được giữ lại (dùng một từ không đầy đủ) trên cõi mà ở đó tâm thức đang hoạt động chủ yếu hoặc—nói cách khác—sẽ được điều kiện hóa trong biểu hiện bởi trạng thái tâm thức tương ứng với cấp độ nhận biết ấy hay nơi tiếp xúc với Toàn Thể thiêng liêng hoặc Tâm Thức thiêng liêng mà điểm tiến hoá của con người làm cho có thể.

The task of the healer is therefore to find out where this focus of consciousness is to be found; this brings us back to a point I made anent the patient being essentially either a mental or an emotional type, and very, very rarely indeed purely physical in his consciousness. Where the consciousness is stabilised in that of the soul, there will be little disease present and the physical difficulties of the highly developed patient will then be associated with the impact of the soul energy upon an unready physical vehicle; at that stage only certain of the major diseases will affect him. He will not be susceptible to the little complaints and the [560] constant small infections which render the life of the average man or of the undeveloped man so trying and difficult. He may suffer from heart trouble, from nervous diseases, and from complaints affecting the upper part of the body and those areas which are controlled by the centres above the diaphragm; however, the difficulties brought about through the minor etheric centres (of which there are many), or by the centres below the diaphragm, will not usually be present—unless (as can be the case in a very advanced disciple) he is deliberately taking on conditions engendered by his world service for men.

Vì vậy, nhiệm vụ của nhà chữa lành là tìm ra nơi nào có thể tìm thấy tiêu điểm tâm thức này; điều này đưa chúng ta trở lại điểm tôi đã nêu về việc bệnh nhân về bản chất hoặc là loại người trí tuệ hoặc là loại người cảm xúc, và rất, rất hiếm khi thuần túy hồng trần trong tâm thức của mình. Khi tâm thức được ổn định trong tâm thức của linh hồn, sẽ có rất ít bệnh tật hiện diện và những khó khăn hồng trần của bệnh nhân phát triển cao khi đó sẽ gắn liền với tác động của năng lượng linh hồn lên một vận cụ hồng trần chưa sẵn sàng; ở giai đoạn đó chỉ một số bệnh lớn mới ảnh hưởng đến y. Y sẽ không dễ bị những chứng bệnh nhỏ và những nhiễm trùng lặt vặt thường xuyên [560] vốn làm cho đời sống của người trung bình hay của người kém phát triển trở nên quá nhọc nhằn và khó khăn. Y có thể chịu đựng bệnh tim, các bệnh thần kinh, và những chứng bệnh ảnh hưởng đến phần trên của cơ thể và những vùng được kiểm soát bởi các trung tâm phía trên cơ hoành; tuy nhiên, những khó khăn do các trung tâm dĩ thái phụ (mà có rất nhiều) hoặc do các trung tâm dưới cơ hoành gây ra thường sẽ không hiện diện—trừ phi (như có thể xảy ra nơi một đệ tử rất tiến bộ) y đang cố ý gánh lấy những tình trạng được tạo ra bởi sự phụng sự thế gian của mình cho nhân loại.

As the majority of human beings are at this time centralised on the astral plane (or in the astral body), a clue to one of the greatest sources of disease immediately becomes apparent. When the consciousness of the race shifts on to the mental plane—and this is slowly taking place—then the more widely known and prevalent diseases will die out and only the diseases of mental types or the diseases of disciples will remain to disturb the peace of individual man. With these I have dealt in an earlier volume of this treatise. (A Treatise on the Seven Rays, Vol. II, Page 520-625)

Vì đa số nhân loại hiện nay được tập trung trên cõi cảm dục (hay trong thể cảm dục), nên một đầu mối về một trong những nguồn gốc lớn nhất của bệnh tật lập tức trở nên rõ ràng. Khi tâm thức của nhân loại chuyển sang cõi trí—và điều này đang từ từ diễn ra—thì những bệnh tật được biết đến rộng rãi hơn và phổ biến hơn sẽ biến mất và chỉ còn lại những bệnh của các loại người trí tuệ hay những bệnh của các đệ tử làm xáo trộn sự bình an của cá nhân con người. Tôi đã bàn đến những điều này trong một tập trước của bộ luận này. (Luận về Bảy Cung, Tập II, Trang 520-625)

Mental Science is right in its recognition that it is the emotions of men (as expressed in that feeble imitation of reality which they call thought) which are responsible for much disease. They are right in their effort to make the patient change his emotional attitudes and to react to life and circumstances and people along a different line. But they are hopelessly wrong in believing that that is sufficient; in their ignoring of all scientific procedures connected with the etheric body, they have nothing which relates the emotional nature to the physical vehicle, and therefore there is a gap in their reasoning and a consequent fault in their [561] technique. This renders their activities futile, except from the character angle. When they do bring about a healing, it is because in any case the patient was predestined to recover, but they have served a useful purpose in correcting a character condition in which he was in constant danger of disease. They have not brought a cure, and in claiming it both the healer and the patient are deceived. All deception is dangerous and hindering.

Mental Science đúng trong sự công nhận của họ rằng chính các cảm xúc của con người (như được biểu lộ trong sự bắt chước yếu ớt thực tại mà họ gọi là tư tưởng) chịu trách nhiệm cho nhiều bệnh tật. Họ đúng trong nỗ lực làm cho bệnh nhân thay đổi các thái độ cảm xúc của mình và đáp ứng với đời sống, hoàn cảnh và con người theo một đường hướng khác. Nhưng họ sai lầm một cách tuyệt vọng khi tin rằng như thế là đủ; trong việc họ bỏ qua mọi thủ tục khoa học liên quan đến thể dĩ thái, họ không có gì nối kết bản chất cảm xúc với vận cụ hồng trần, và do đó có một khoảng trống trong lý luận của họ và một sai sót kéo theo trong kỹ thuật của họ. Điều này làm cho các hoạt động của họ trở nên vô hiệu, ngoại trừ từ góc độ tính cách. Khi họ thực sự mang lại một sự chữa lành, đó là vì trong bất kỳ trường hợp nào bệnh nhân đã được tiền định là sẽ hồi phục, nhưng họ đã phục vụ một mục đích hữu ích trong việc sửa chữa một tình trạng tính cách mà trong đó y luôn luôn có nguy cơ mắc bệnh. Họ đã không mang lại một sự chữa khỏi, và khi tuyên bố như vậy thì cả nhà chữa lành lẫn bệnh nhân đều bị lừa dối. Mọi sự lừa dối đều nguy hiểm và gây cản trở.

It might be of service here if I indicate along broad and general lines some of the types of disease which a centralisation of the life force upon the astral plane, for instance, could produce. I shall but list them; I will not deal with them in any detail for until the modern healer recognises the fact of the etheric body, and works scientifically and intelligently with it and its controlling centres of force, anything I could say of procedure would be futile. I am endeavouring at this time to promote certain basic acceptances—such as the fact of the existence of the etheric body.

Ở đây có thể hữu ích nếu tôi chỉ ra theo những nét rộng và tổng quát một số loại bệnh mà chẳng hạn sự tập trung của lực sự sống trên cõi cảm dục có thể tạo ra. Tôi sẽ chỉ liệt kê chúng; tôi sẽ không bàn đến chúng chi tiết, vì cho đến khi nhà chữa lành hiện đại công nhận sự kiện về thể dĩ thái, và làm việc một cách khoa học và thông minh với nó cùng các trung tâm mãnh lực kiểm soát của nó, thì bất cứ điều gì tôi có thể nói về thủ tục đều sẽ vô ích. Hiện nay tôi đang cố gắng thúc đẩy một số sự chấp nhận căn bản—chẳng hạn như sự kiện về sự tồn tại của thể dĩ thái.

1. Constant introspection, all forms of morbid suppression and a too drastically enforced silence where fundamental emotions are concerned can lead to serious liver trouble, to constant gastric difficulties and to cancer.

1. Sự tự xét mình liên tục, mọi hình thức dồn nén bệnh hoạn và một sự im lặng bị cưỡng ép quá mức khi các cảm xúc căn bản có liên quan có thể dẫn đến những rắc rối nghiêm trọng về gan, đến những khó khăn dạ dày thường xuyên và đến ung thư.

3. Where hatreds and deep dislike are present in the consciousness, or where the man lives in a constant state of irritation against a person or a group, or again where the sense of being abused is present, there is a real possibility that the blood stream will be affected: the man then will be susceptible to constant infections, to boils, to running sores and to the various blood conditions which are definitely septic in nature.

3. Khi hận thù và ác cảm sâu sắc hiện diện trong tâm thức, hoặc khi con người sống trong một trạng thái kích động thường xuyên chống lại một người hay một nhóm người, hoặc nữa khi có cảm giác bị ngược đãi, thì có một khả năng thực sự là dòng máu sẽ bị ảnh hưởng: khi đó người ấy sẽ dễ bị nhiễm trùng thường xuyên, mụn nhọt, các vết loét chảy mủ và các tình trạng khác nhau của máu vốn rõ ràng có bản chất nhiễm trùng.

3. An irritable nature and one which is always in a state of fussiness, of bad temper, one which reacts furiously when things do not go as desired, may lead to disastrous [562] explosions which can be diagnosed as brain difficulties and temporary insanities; they may lead to constant headaches which undermine the constitution and bring about an inevitably debilitated condition.

3. Một bản chất dễ cáu kỉnh và luôn ở trong trạng thái bực bội, nóng nảy, một bản chất phản ứng dữ dội khi mọi việc không diễn ra như mong muốn, có thể dẫn đến những [562] cơn bùng nổ tai hại có thể được chẩn đoán là các rối loạn não và những cơn điên loạn tạm thời; chúng có thể dẫn đến những cơn đau đầu thường xuyên làm suy yếu thể chất và mang lại một tình trạng suy nhược không thể tránh khỏi.

4. A frustrated sex life or a state wherein an unmarried person has had no normal expression of a natural and universal process, and to whom therefore sex remains a mystery (and at the same time a constant inner unrecorded subject of thought) will lead:

4. Một đời sống tính dục bị ngăn trở hoặc một tình trạng trong đó một người chưa kết hôn không có được sự biểu lộ bình thường của một tiến trình tự nhiên và phổ quát, và do đó đối với người ấy tính dục vẫn là một điều bí ẩn (đồng thời là một chủ đề tư tưởng nội tâm thường xuyên nhưng không được ghi nhận) sẽ dẫn đến:

a. To a condition of great devitalisation with a consequent and unavoidable ill health which attends that type of person—the so-called obvious old maid or bachelor. Needless to remark, there are many such unmarried people who face life wholesomely and do not come under this category.

a. Một tình trạng mất sinh lực lớn với hậu quả là sức khỏe xấu không thể tránh khỏi đi kèm loại người đó—người được gọi là bà cô già hay ông độc thân rõ rệt. Không cần nói thêm, có nhiều người chưa kết hôn như vậy đối diện với đời sống một cách lành mạnh và không thuộc loại này.

b. To a constant effort to attract the attention of the opposite sex until it reaches a point where it becomes a nervous and most unwholesome tendency.

b. Một nỗ lực thường xuyên nhằm thu hút sự chú ý của người khác phái cho đến khi nó đạt đến một mức mà ở đó nó trở thành một khuynh hướng thần kinh và hết sức không lành mạnh.

c. To the development of homosexual habits or to those perversions which warp the life of many intelligent people.

c. Sự phát triển của các thói quen đồng tính luyến ái hoặc những lệch lạc làm méo mó đời sống của nhiều người thông minh.

d. To the tumours—malignant or otherwise—which attack the organs of generation and which frequently make the subject an operative case.

d. Những khối u—ác tính hay không—tấn công các cơ quan sinh sản và thường khiến đối tượng trở thành một ca phẫu thuật.

There are other possible developments but upon them I do not propose to dwell. I have here indicated enough to show the danger of a sense of frustration and a morbid (even if at the time an unrecognised) interest in sex. This can evidence itself also in a dream life which links the brain, the mind and the organs of generation closely together and proves the fact of astral desire evoking the physical appetite; this demonstrates my contention that the physical body automatically responds—[563] even when unconscious in the hours of sleep—to astral control. The cure, as you of course know, is a full creative outer life, particularly one which is of benefit to one’s fellowmen and is not simply a transmutation of the sex urge into some form of creative thinking which simply remains thinking, but takes no shape or form on the outer plane of human life.

Còn có những phát triển khả dĩ khác nhưng tôi không định dừng lại ở chúng. Ở đây tôi đã chỉ ra đủ để cho thấy sự nguy hiểm của cảm giác bị ngăn trở và một sự quan tâm bệnh hoạn (ngay cả khi lúc đó không được nhận biết) đối với tính dục. Điều này cũng có thể biểu lộ trong đời sống mộng mị, vốn nối kết bộ não, trí tuệ và các cơ quan sinh sản một cách chặt chẽ và chứng minh sự kiện rằng dục vọng cảm dục khơi dậy sự thèm muốn hồng trần; điều này chứng minh luận điểm của tôi rằng thể xác tự động đáp ứng—[563] ngay cả khi vô thức trong những giờ ngủ—đối với sự kiểm soát cảm dục. Phương thuốc, dĩ nhiên như bạn biết, là một đời sống bên ngoài sáng tạo trọn vẹn, đặc biệt là một đời sống mang lại lợi ích cho đồng loại của mình và không chỉ đơn thuần là một sự chuyển hoá xung lực tính dục thành một hình thức tư duy sáng tạo nào đó mà chỉ vẫn là tư duy, nhưng không mang lấy hình dạng hay hình tướng nào trên cõi bên ngoài của đời sống con người.

5. Self-pity, so prevalent a trouble, leads to acute indigestion, to intestinal trouble, to catarrh and head colds in the average person, whilst in the more advanced man it leads to chronic bronchial difficulties, gastric ulcers and unhealthy conditions connected with the teeth and the ears.

5. Sự tự thương hại, một rắc rối rất phổ biến, dẫn đến chứng khó tiêu cấp tính, các rối loạn đường ruột, chứng viêm niêm mạc và cảm lạnh ở đầu nơi người trung bình, trong khi nơi người tiến bộ hơn nó dẫn đến các khó khăn phế quản mãn tính, loét dạ dày và các tình trạng không lành mạnh liên quan đến răng và tai.

I could go on enumerating other emotional conditions which produce disease in the person where these conditions are present but this will suffice to give the experimenting healer a clue to certain possibilities which are responsible for the physical difficulties with which he is called upon to deal. We will have also (as I have pointed out elsewhere) to bear in mind conditions which have been inherited from previous incarnations or developed as a result of environing group, national or planetary karma.

Tôi có thể tiếp tục liệt kê những tình trạng cảm xúc khác tạo ra bệnh tật nơi người có những tình trạng ấy, nhưng như thế cũng đủ để cung cấp cho nhà chữa lành đang thử nghiệm một đầu mối về một số khả năng chịu trách nhiệm cho những khó khăn hồng trần mà y được kêu gọi xử lý. Chúng ta cũng sẽ phải ghi nhớ (như tôi đã chỉ ra ở nơi khác) những tình trạng đã được thừa hưởng từ các lần nhập thể trước hoặc phát triển như là kết quả của nghiệp quả nhóm, quốc gia hay hành tinh của môi trường xung quanh.

There is no rule connected with this law because we are still dealing with the definition of causes producing the objective disease; these have to be grasped and accepted as working theories before the healer can efficiently deal with the situation.

Không có quy luật nào gắn với định luật này bởi vì chúng ta vẫn đang xử lý việc định nghĩa các nguyên nhân tạo ra bệnh khách quan; những nguyên nhân này phải được nắm vững và chấp nhận như những giả thuyết làm việc trước khi nhà chữa lành có thể xử lý tình huống một cách hữu hiệu.

We come now to the consideration of a law which is so inclusive in its significance and in its defining power that it might be regarded as stating the reason for all disease of any nature and at any time in the life history of the race or of individual man. It is stated here and is only regarded as Law IV because of the necessity for the main contentions [564] of the three preceding laws being admitted, considered and studied; also because it is the major law conditioning the appearance of disease in the fourth kingdom in nature, the human kingdom. It is essentially a law related to the fourth Creative Hierarchy, and it was definitely imposed and recognised as a law, governing humanity predominantly, by initiates working in the fourth rootrace, the Atlantean. Curiously enough also when humanity can function with its consciousness centred upon the fourth or buddhic plane, disease will die out and the fourth Creative Hierarchy will finally be freed from that great limitation.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một định luật bao quát đến mức trong thâm nghĩa và trong năng lực định nghĩa của nó đến nỗi nó có thể được xem như nêu ra lý do cho mọi bệnh tật thuộc bất kỳ bản chất nào và vào bất kỳ lúc nào trong lịch sử đời sống của nhân loại hay của cá nhân con người. Nó được nêu ra ở đây và chỉ được xem là Định luật IV vì sự cần thiết phải thừa nhận, xem xét và nghiên cứu những khẳng định chính [564] của ba định luật trước; cũng bởi vì đó là định luật chính tác động lên sự xuất hiện của bệnh tật trong giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại. Về bản chất, đó là một định luật liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và nó đã được các điểm đạo đồ hoạt động trong giống dân gốc thứ tư, Atlantis, xác định áp đặt và công nhận như một định luật chi phối nhân loại một cách nổi trội. Thật kỳ lạ, khi nhân loại có thể hoạt động với tâm thức của mình được tập trung trên cõi thứ tư hay cõi Bồ đề, bệnh tật sẽ biến mất và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư cuối cùng sẽ được giải thoát khỏi giới hạn lớn lao ấy.

LAW IVĐỊNH LUẬT IV

Disease, both Physical and Psychological, has its roots in the good, the beautiful, and the true. It is but a distorted reflection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces—within the substance of its sheaths—a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có cội rễ trong điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật. Nó chỉ là sự phản chiếu méo mó của các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, đang tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra—trong chất liệu của các thể vỏ của nó—một điểm ma sát. Trên điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung vào, và điều này dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà chữa lành liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành chân chính bên trong hình tướng. Khi ấy con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần sẽ điều khiển mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều ổn thỏa.

This law starts off with the statement of one of the paradoxes of the occult teaching: that good and evil are one and the same thing, though in reverse, or constituting the opposite sides of the one Reality.

Định luật này mở đầu bằng việc phát biểu một trong những nghịch lý của giáo huấn huyền bí học: rằng thiện và ác là một và cùng một sự vật, chỉ khác ở chiều ngược lại, hay cấu thành hai mặt đối nghịch của một Thực Tại duy nhất.

Because man is a soul, and is spiritually determined to function as a soul, a state of friction is established between soul and personality; this friction is a major cause (if it is not the major cause) of all disease. Here is a clue to the understanding of the phrase, “fire by friction,” the third aspect of the divine “fiery nature” of God, for “our God is a consuming fire’. His nature, we are told also, is expressed [565] through electric fire, through solar fire and through fire by friction. These three fires I dealt with at length in A Treatise on Cosmic Fire and hinted at earlier in The Secret Doctrine.

Bởi vì con người là một linh hồn, và được xác định một cách tinh thần để hoạt động như một linh hồn, nên một trạng thái ma sát được thiết lập giữa linh hồn và phàm ngã; sự ma sát này là một nguyên nhân lớn (nếu không phải là nguyên nhân lớn nhất) của mọi bệnh tật. Ở đây có một đầu mối để hiểu cụm từ “Lửa ma sát”, phương diện thứ ba của “bản chất rực lửa” thiêng liêng của Thượng đế, vì “Thượng đế của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt”. Chúng ta cũng được bảo rằng bản chất của Ngài được biểu lộ [565] qua Lửa Điện, qua Lửa Thái dương và qua Lửa ma sát. Ba ngọn lửa này tôi đã bàn rất dài trong Luận về Lửa Vũ Trụ và đã gợi ý trước đó trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

This law states that because man is divine, the urge to divinity produces resistance in the vehicles of expression; this resistance will localise itself in the area of the physical body and produce a point of friction; this friction, in its turn, produces a condition or an area of inflammation. This eventually leads to disease of some kind or another. It is possible, is it not, that you have here another clue—a clue to a problem which has caused so much concern in the metaphysical world: Why do advanced people, spiritual leaders and those oriented to the spiritual life, suffer so frequently from physical difficulties? It is probably because they are at the stage where the energy of the soul, pouring through the physical body, meets resistance from that body of a correspondingly intense kind. This friction set up is so acute that disease is promptly the result. This is not true of disciples who have taken the second initiation; their problem of ill health is otherwise developed.

Định luật này nói rằng bởi vì con người là thiêng liêng, nên sự thôi thúc hướng tới thiên tính tạo ra sự kháng cự trong các vận cụ biểu lộ; sự kháng cự này sẽ khu trú trong khu vực của thể xác và tạo ra một điểm ma sát; đến lượt nó, sự ma sát này tạo ra một tình trạng hay một vùng viêm nhiễm. Cuối cùng điều này dẫn đến một loại bệnh nào đó. Có thể chăng, ở đây bạn lại có thêm một đầu mối—một đầu mối cho một vấn đề đã gây quá nhiều bận tâm trong thế giới siêu hình học: Tại sao những người tiến bộ, các nhà lãnh đạo tinh thần và những người định hướng về đời sống tinh thần lại thường xuyên chịu đựng những khó khăn thể xác? Có lẽ là vì họ đang ở giai đoạn mà năng lượng của linh hồn, tuôn qua thể xác, gặp phải sự kháng cự từ chính thể xác ấy với cường độ tương ứng. Sự ma sát được thiết lập như thế quá gay gắt đến nỗi bệnh tật lập tức là kết quả. Điều này không đúng với các đệ tử đã trải qua lần điểm đạo thứ hai; vấn đề sức khỏe kém của họ phát triển theo cách khác.

Let us take this fourth law sentence by sentence and attempt somewhat to analyse the meaning:

Chúng ta hãy xét định luật thứ tư này từng câu một và cố gắng phần nào phân tích ý nghĩa của nó:

1. Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. This is but a distorted reflection of divine possibilities.

1. Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có cội rễ trong điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật. Đây chỉ là sự phản chiếu méo mó của các khả năng thiêng liêng.

I have shown that disease is fundamentally psychological in nature. there are, however, diseases which are inherent in the resistance of the dense physical body (and not only the subtler bodies) to the impact of the higher energies, or which are inherent in the planetary substance or matter of the Earth itself. Forget not that the physical body is constructed of such matter. This first clause of the fourth [566] law tells us that three aspects of divinity produce disease. This sounds impossible upon first reading the statement, but a careful study will reveal its essential truthfulness. How can the good, the beautiful and the true, cause disease of any kind? Let us see.

Tôi đã chỉ ra rằng bệnh tật về căn bản có bản chất tâm lý. Tuy nhiên, có những bệnh vốn nằm sẵn trong sự kháng cự của thể xác đậm đặc (chứ không chỉ các thể vi tế hơn) đối với tác động của các năng lượng cao hơn, hoặc vốn nằm sẵn trong chất liệu hay vật chất hành tinh của chính Trái Đất. Đừng quên rằng thể xác được cấu tạo từ chính loại vật chất ấy. Mệnh đề đầu tiên này của định luật thứ tư [566] cho chúng ta biết rằng ba phương diện của thiên tính tạo ra bệnh tật. Điều này nghe có vẻ bất khả khi mới đọc phát biểu ấy, nhưng một sự nghiên cứu cẩn thận sẽ bộc lộ tính chân thực cốt yếu của nó. Làm sao điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật lại có thể gây ra bất kỳ loại bệnh nào? Hãy xem.

a. The Good. What is the good? Is it not the expression of the will-to-good? Does not and should not this will-to-good work out on the physical plane in what we call goodwill among men? Is it not possible that the soul, seeking constantly (on its own plane) to conform to the Plan which implements the divine will-to-good, endeavours to impel its threefold expression, the personality, to express goodwill-doing this at the right stage of evolutionary unfoldment and when it is active and functioning? Yet, because of the resistance of the form nature, as yet inadequate to the desired divine expression, friction immediately set up and disease eventuates. I think that even a brief consideration of the above questions will demonstrate to you how probable it is that the soul’s inclination to “the good” can bring about resistance upon the physical plane so that the turmoil thus engendered in the consciousness of man can and does produce disease. This type of disease is responsible for many of the difficulties of advanced people, aspirants and disciples. This “friction” produces then a secondary reaction and leads to those psychological conditions to which we give the name “depression, an inferiority complex, and the sense of failure.” This particular source of disease, “the Good,” is one that primarily affects the mental types.

a. Điều Thiện. Điều thiện là gì? Chẳng phải đó là sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện sao? Và chẳng phải ý chí hướng thiện này có thể và nên được triển khai trên cõi hồng trần thành điều mà chúng ta gọi là thiện chí giữa những người nam và nữ sao? Có thể chăng linh hồn, luôn luôn tìm cách (trên cõi riêng của nó) phù hợp với Thiên Cơ vốn thực thi Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng, cố gắng thúc đẩy biểu lộ tam phân của nó là phàm ngã biểu lộ thiện chí—làm điều này ở đúng giai đoạn khai mở tiến hoá và khi nó đang hoạt động và vận hành? Tuy nhiên, vì sự kháng cự của bản chất hình tướng, vốn còn chưa đủ để đáp ứng sự biểu lộ thiêng liêng mong muốn, nên ma sát lập tức được thiết lập và bệnh tật phát sinh. Tôi nghĩ rằng chỉ cần suy xét ngắn gọn các câu hỏi trên cũng sẽ cho bạn thấy điều rất có thể là khuynh hướng của linh hồn hướng về “điều thiện” có thể gây ra sự kháng cự trên cõi hồng trần, đến nỗi sự xáo trộn do đó phát sinh trong tâm thức con người có thể và thực sự tạo ra bệnh tật. Loại bệnh này chịu trách nhiệm cho nhiều khó khăn của những người tiến bộ, những người chí nguyện và các đệ tử. “Sự ma sát” này khi đó tạo ra một phản ứng thứ cấp và dẫn đến những trạng thái tâm lý mà chúng ta gọi là “trầm cảm, mặc cảm tự ti, và cảm giác thất bại.” Nguồn bệnh đặc biệt này, “Điều Thiện,” chủ yếu ảnh hưởng đến các kiểu người trí tuệ.

b. The Beautiful. Here you have a word qualifying the desire of all men for what they consider a desirable objective for their life pattern and that for which they [567] choose to struggle. The beautiful, from the angle of a divine aspect, concerns the quality of life. 1 would refer you here to our initial definition in the first volume of this treatise of the words spirit-soul-body; we defined them as life-quality-appearance. Life is the energy in expression of the divine will-to-good; quality is the energy in expression of the soul, and this energy works at this time predominantly through the desire life and the determination of all men at every stage in evolution to possess, own and enjoy that which they regard as the beautiful. A definition of “the beautiful” and the range of man’s desires are widely different and dependent upon the point in evolution; it is all dependent however, upon the outlook on life of the one who is desiring and the place where he stands upon the ladder of evolution. The inability of man to achieve at any time what he considers “the beautiful” determines his predisposition to disease, based upon the internal friction thus produced. At the present point in racial development, the majority of people are swept into diseased conditions as a result of the friction brought about by their striving after “the beautiful”—a striving enforced as an evolutionary urge because they are souls and under the influence of the quality of the second divine aspect.

b. Điều Mỹ Lệ. Ở đây bạn có một từ mô tả khát vọng của mọi người đối với điều mà họ xem là một mục tiêu đáng mong muốn cho mô hình đời sống của mình và là điều mà vì nó họ [567] chọn để đấu tranh. Điều mỹ lệ, xét từ góc độ của một phương diện thiêng liêng, liên quan đến phẩm tính của sự sống. Ở đây tôi muốn nhắc bạn nhớ đến định nghĩa ban đầu của chúng ta trong quyển đầu của bộ luận này về các từ tinh thần-linh hồn-thể; chúng ta đã định nghĩa chúng là sự sống-phẩm tính-sắc tướng. Sự sống là năng lượng biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng; phẩm tính là năng lượng biểu lộ của linh hồn, và năng lượng này hiện nay hoạt động chủ yếu qua đời sống ham muốn và qua quyết tâm của mọi người ở mọi giai đoạn tiến hoá muốn chiếm hữu, sở hữu và hưởng thụ điều mà họ xem là mỹ lệ. Định nghĩa về “điều mỹ lệ” và phạm vi ham muốn của con người rất khác nhau và tùy thuộc vào điểm tiến hoá; tuy nhiên tất cả đều tùy thuộc vào quan điểm sống của người đang ham muốn và vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá. Việc con người không thể đạt được vào bất cứ lúc nào điều mà y xem là “mỹ lệ” quyết định khuynh hướng dễ mắc bệnh của y, dựa trên sự ma sát nội tại được tạo ra như thế. Ở điểm phát triển nhân loại hiện nay, đa số người ta bị cuốn vào các trạng thái bệnh hoạn do sự ma sát phát sinh từ nỗ lực của họ nhằm đạt tới “điều mỹ lệ”—một nỗ lực được áp đặt như một thôi thúc tiến hoá bởi vì họ các linh hồn và đang ở dưới ảnh hưởng của phẩm tính của phương diện thiêng liêng thứ hai.

c. The True. It has been said that the true or the truth is that much of the divine expression as any man can demonstrate at his particular point in evolution and at any given stage in his incarnated history. This expression of the truth presupposes that behind what he does manage to express there is much that he is unable to manifest; of this his soul remains persistently aware. This inability to live up to the highest ideal of which the man—at his particular level—is aware and can conceive, in his clearest and best moments, produces inevitably [568] a point of friction, even if the man remains unaware of it. One of the major manifestations of this particular friction and the diseased condition which it brings about is rheumatism; this is widespread today and has been for centuries; from the medical standpoint, there is no ascertained or attributable cause for it, though there are many speculations and conclusions among the orthodox. It affects primarily the bony structure and is in reality the result or the inability of the soul to produce an expression of “the true” within the man, the instrument of the soul in the three worlds. The man, in his turn, no matter how low his position on the ladder of evolution, is conscious ever of the unattainable; he is constantly aware of an urge to betterment. These urges are not related to the expression of the will-to-good or to “the beautiful” (though he may be conscious of them also to a greater or less degree), but they are definitely related to the expression of something closer to the man’s ideal as he sees it, and upon the physical plane. Friction, therefore, takes place and disease of some kind follows.

c. Điều Chân Thật. Người ta đã nói rằng điều chân thật hay chân lý là chừng ấy biểu lộ thiêng liêng mà bất kỳ ai cũng có thể chứng tỏ ở điểm tiến hoá riêng của mình và ở bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử nhập thể của mình. Sự biểu lộ chân lý này giả định rằng đằng sau điều mà y thực sự biểu lộ được còn có rất nhiều điều mà y không thể biểu hiện; linh hồn của y vẫn luôn kiên trì nhận biết điều đó. Sự bất lực này trong việc sống đúng với lý tưởng cao nhất mà con người—ở cấp độ riêng của mình—nhận biết được và có thể hình dung trong những khoảnh khắc sáng suốt và tốt đẹp nhất của mình, tất yếu tạo ra [568] một điểm ma sát, ngay cả khi con người không nhận biết điều đó. Một trong những biểu hiện chính của loại ma sát đặc biệt này và tình trạng bệnh hoạn mà nó gây ra là bệnh thấp khớp; ngày nay bệnh này rất phổ biến và đã như vậy suốt nhiều thế kỷ; theo quan điểm y học, không có nguyên nhân nào được xác định hay quy cho nó, dù trong giới chính thống có nhiều suy đoán và kết luận. Nó chủ yếu ảnh hưởng đến cấu trúc xương và thực ra là kết quả của sự bất lực của linh hồn trong việc tạo ra một biểu lộ của “điều chân thật” bên trong con người, công cụ của linh hồn trong ba cõi giới. Đến lượt mình, con người, dù vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá có thấp đến đâu, vẫn luôn ý thức về điều không thể đạt tới; y luôn luôn nhận biết một thôi thúc hướng tới sự cải thiện. Những thôi thúc này không liên hệ đến sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện hay đến “điều mỹ lệ” (dù y cũng có thể ý thức về chúng ở mức độ nhiều hay ít), nhưng chúng chắc chắn liên hệ đến sự biểu lộ của một điều gì đó gần với lý tưởng của con người hơn như y thấy nó, và trên cõi hồng trần. Vì vậy, ma sát xảy ra và một loại bệnh nào đó tiếp theo.

It is interesting to note that this inability to express “the true” or to “be the Truth” is the real cause of death among men who are below the stage of discipleship and who have not yet taken the first initiation. The soul tires of the frictional response of its instrument and determines to end the experiment of that particular incarnation. Death, therefore, supervenes as a result of the friction engendered.

Điều đáng chú ý là sự bất lực này trong việc biểu lộ “điều chân thật” hay “là Chân Lý” chính là nguyên nhân thực sự của cái chết nơi những người còn dưới giai đoạn địa vị đệ tử và chưa trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Linh hồn mệt mỏi vì phản ứng ma sát của công cụ của nó và quyết định chấm dứt cuộc thử nghiệm của kiếp lâm phàm đặc biệt ấy. Vì vậy, cái chết xảy đến như một kết quả của sự ma sát được tạo ra.

In studying these ideas, it should be remembered that:

Khi nghiên cứu các ý tưởng này, cần nhớ rằng:

a. The good controls the man, via the head centre, and the friction engendered is due to the inactivity of the centre at the base of the spine. This centre controls the expression [569] of the first divine aspect in a man by its interplay with the head centre. This interplay only takes place when the man has reached the stage of disciple or initiate.

a. Điều thiện kiểm soát con người qua trung tâm đầu, và sự ma sát được tạo ra là do sự bất hoạt của trung tâm ở đáy cột sống. Trung tâm này kiểm soát sự biểu lộ [569] của phương diện thiêng liêng thứ nhất trong con người bằng sự tương tác của nó với trung tâm đầu. Sự tương tác này chỉ diễn ra khi con người đã đạt đến giai đoạn đệ tử hay điểm đạo đồ.

b. The beautiful controls, via the heart centre, and friction is brought about by the failure of the solar plexus centre to respond. A condition of friction is therefore set up. The ending of this condition and the evocation of the right response from the solar plexus come when the forces of the solar plexus centre are raised and blended with the energy of the heart centre.

b. Điều mỹ lệ kiểm soát qua trung tâm tim, và ma sát được tạo ra bởi sự thất bại của trung tâm tùng thái dương trong việc đáp ứng. Vì vậy một tình trạng ma sát được thiết lập. Sự chấm dứt tình trạng này và việc gợi lên đáp ứng đúng từ tùng thái dương đến khi các lực của trung tâm tùng thái dương được nâng lên và hòa trộn với năng lượng của trung tâm tim.

c. The true, as an expression of the divine, finds its point of centralisation in the throat centre; the failure of the personality to respond, and its inability to express the true, is to be seen in the relation of the sacral centre to the throat centre. This relation, when lacking, produces friction. There will be no real expression of “the true” until the forces of the creative centre below the diaphragm are raised to the creative centre of the throat. Then “the Word,” which is man essentially, “will be made flesh” and a true expression of the soul upon the physical plane will be seen.

c. Điều chân thật, như một biểu lộ của thiêng liêng, tìm thấy điểm tập trung của nó trong trung tâm cổ họng; sự thất bại của phàm ngã trong việc đáp ứng, và sự bất lực của nó trong việc biểu lộ điều chân thật, được thấy trong mối liên hệ của trung tâm xương cùng với trung tâm cổ họng. Mối liên hệ này, khi thiếu vắng, tạo ra ma sát. Sẽ không có sự biểu lộ thực sự nào của “điều chân thật” cho đến khi các lực của trung tâm sáng tạo bên dưới cơ hoành được nâng lên trung tâm sáng tạo ở cổ họng. Khi đó “Linh từ”, vốn là con người trong bản chất, “sẽ thành nhục thể” và một biểu lộ chân chính của linh hồn trên cõi hồng trần sẽ được thấy.

2. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction.

2. Linh hồn bị ngăn trở, đang tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể vỏ của nó một điểm ma sát.

Much of this statement I have covered above. I would, however, call your attention to the fact that in this sentence the emphasis is laid upon the fact that it is the soul which is responsible for producing the friction. In the analysis of the previous sentence, the emphasis was laid upon the personality, because its failure to respond produced the friction and consequent disease. Is it not possible that in this sentence [570] we have the clue to the entire purpose of pain, of distress, and even of war? I would commend this to your careful and, if possible, illumined thinking.

Phần lớn phát biểu này tôi đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý bạn đến sự kiện là trong câu này trọng tâm được đặt vào việc chính linh hồn chịu trách nhiệm tạo ra ma sát. Trong sự phân tích câu trước, trọng tâm được đặt vào phàm ngã, bởi vì sự thất bại của nó trong việc đáp ứng đã tạo ra ma sát và bệnh tật tiếp theo. Có thể chăng trong câu này [570] chúng ta có đầu mối cho toàn bộ mục đích của đau đớn, khổ sở, và ngay cả chiến tranh? Tôi xin giao điều này cho sự suy nghĩ cẩn trọng và, nếu có thể, được soi sáng của bạn.

3. Upon this point, the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease.

3. Trên điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung vào, và điều này dẫn đến bệnh tật.

We have here a most interesting hint as to the medium of force direction. The occult significance of the eye and the nature of its symbolism are little understood. The reference here has nothing to do in reality with eyes in the physical body. Here the words, “the eyes of the personality,” refer to the focussed attention of the personality, emanating from the mental and astral bodies which are essentially the two eyes of the soul in incarnation. The use of these two windows or eyes of the soul leads to a concentration of energy (in this case strictly personality energy) in the etheric vehicle. This energy is then directed to the area of discomfort, and therefore to the point of friction. This friction is sustained and increased by the forces which are focussed upon it. People have little idea how much—objectively speaking—they increase the potency of the disease by the constantly directed thought which they expend upon it and by the attention they pay to that area wherein the trouble is located. Energies, mental and emotional, are brought to bear upon the diseased area, and the “eyes of the personality” are a potent factor in sustaining the disease.

Ở đây chúng ta có một gợi ý rất thú vị về môi giới định hướng mãnh lực. Ý nghĩa huyền bí của con mắt và bản chất của biểu tượng học của nó ít được thấu hiểu. Sự quy chiếu ở đây thực ra không liên quan gì đến đôi mắt trong thể xác. Ở đây, các từ “mắt của phàm ngã” chỉ sự chú ý tập trung của phàm ngã, phát ra từ thể trí và thể cảm dục, vốn về bản chất là hai con mắt của linh hồn trong khi nhập thể. Việc sử dụng hai cửa sổ hay hai con mắt này của linh hồn dẫn đến sự tập trung năng lượng (trong trường hợp này hoàn toàn là năng lượng phàm ngã) trong vận cụ dĩ thái. Năng lượng này sau đó được hướng đến vùng khó chịu, và do đó đến điểm ma sát. Sự ma sát này được duy trì và gia tăng bởi các lực được tập trung vào nó. Người ta ít hình dung được rằng—xét một cách khách quan—họ làm tăng sức mạnh của bệnh tật đến mức nào bằng tư tưởng liên tục hướng vào nó mà họ tiêu phí và bằng sự chú ý họ dành cho khu vực nơi rắc rối tọa lạc. Các năng lượng trí tuệ và cảm xúc được đưa tác động lên vùng bệnh, và “mắt của phàm ngã” là một yếu tố mạnh mẽ trong việc duy trì bệnh tật.

In this sentence you have, moreover, a clear and unequivocal expression of the fact that mental and emotional conditions lead to disease. The activity of the soul and the impact of soul energy have to penetrate into the physical body, via the subtler bodies, and the point of friction (the outcome of resistance) is found first of all in the mental body, then is repeated even more potently in the astral body, and is reflected into the physical body; these (and this is [571] the a b c of occultism but is sometimes forgotten) constitute the personality, and the friction is necessarily to be found throughout.

Hơn nữa, trong câu này bạn có một phát biểu rõ ràng và dứt khoát về sự kiện rằng các trạng thái trí tuệ và cảm xúc dẫn đến bệnh tật. Hoạt động của linh hồn và tác động của năng lượng linh hồn phải xuyên vào thể xác qua các thể vi tế hơn, và điểm ma sát (kết quả của sự kháng cự) trước hết được tìm thấy trong thể trí, rồi được lặp lại còn mạnh hơn trong thể cảm dục, và được phản chiếu vào thể xác; những thể này (và đây là [571] a b c của huyền bí học nhưng đôi khi bị quên mất) cấu thành phàm ngã, và vì thế ma sát tất yếu phải được tìm thấy xuyên suốt.

It might be of interest to you to correlate what I have said in my other writing anent the eyes with the point made above. As you well know, and as stated in The Secret Doctrine, the right eye is the “eye of buddhi” and the left eye is the “eye of manas”—this (when in relation to buddhi) referring to the higher mind and to man as he finally will appear. In the average human being, and before reaching perfection, the right eye transmits the energy of the astral body when directed consciously towards an object of attention, and the left eye directs the energy of the lower mind. In between these two directing eyes is to be found the ajna centre, which is like a third eye or directing agent for the blended and fused energies of the personality; related to this third eye as it awakens and comes into functioning activity is what we call “the eye of the soul”; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. This esoteric relationship is only set up when the soul is dominating its instrument, the personality, and is bringing all the lower activities upon the physical plane under soul direction.

Có lẽ bạn sẽ thấy thú vị nếu liên hệ điều tôi đã nói trong các trước tác khác của tôi về đôi mắt với điểm vừa nêu trên. Như bạn đã biết rõ, và như đã được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm, mắt phải là “con mắt của Bồ đề” và mắt trái là “con mắt của manas”—điều này (khi liên hệ với Bồ đề) ám chỉ thượng trí và con người như cuối cùng y sẽ xuất hiện. Ở con người trung bình, và trước khi đạt đến hoàn thiện, mắt phải truyền dẫn năng lượng của thể cảm dục khi được hướng một cách hữu thức đến một đối tượng chú ý, và mắt trái định hướng năng lượng của hạ trí. Ở giữa hai con mắt định hướng này là trung tâm ajna, giống như một con mắt thứ ba hay tác nhân định hướng cho các năng lượng hòa trộn và dung hợp của phàm ngã; liên hệ với con mắt thứ ba này khi nó thức tỉnh và đi vào hoạt động chức năng là điều mà chúng ta gọi là “con mắt của linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Con mắt của linh hồn này có thể và thực sự truyền năng lượng đến trung tâm ajna và chính nó là tác nhân (trước lần điểm đạo thứ tư) của năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần. Mối liên hệ huyền bí này chỉ được thiết lập khi linh hồn đang chi phối công cụ của nó là phàm ngã, và đang đưa mọi hoạt động thấp hơn trên cõi hồng trần vào dưới sự định hướng của linh hồn.

In the perfected man, there is to be found, therefore, the following distributors or distributing agents of energy:

Vì vậy, trong con người hoàn thiện, có thể tìm thấy các bộ phân phối hay các tác nhân phân phối năng lượng sau đây:

1. The eye of the soul.. agent of the Spiritual Triad.. Will.

1. Con mắt của linh hồn.. tác nhân của Tam Nguyên Tinh Thần.. Ý chí.

2. The third eye.. agent of the soul.. Love.

2. Con mắt thứ ba.. tác nhân của linh hồn.. Bác ái.

3. The right eye.. distributor of buddhic energy.

3. Mắt phải.. bộ phân phối năng lượng Bồ đề.

4. The left eye.. conveyor of pure manasic energy.

4. Mắt trái.. kênh chuyển tải năng lượng manas thuần túy.

5. The ajna centre.. focussing and directing point for all these energies.

5. Trung tâm ajna.. điểm tập trung và định hướng cho tất cả các năng lượng này.

[572]

[572]

In the disciple and the man who is beginning to function as a soul, you will have:

Trong đệ tử và con người đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn, bạn sẽ có:

1. The third eye…distributor of soul energy.

1. Con mắt thứ ba…bộ phân phối năng lượng linh hồn.

2. The right eye…agent for astral energy.

2. Mắt phải…tác nhân cho năng lượng cảm dục.

3. The left eye…agent for lower mental energy.

3. Mắt trái…tác nhân cho năng lượng hạ trí.

4. The ajna centre…focussing point of these three energies.

4. Trung tâm ajna…điểm tập trung của ba năng lượng này.

In the average man, the situation will be as follows:

Trong con người trung bình, tình hình sẽ như sau:

1. The right eye…agent for astral energy.

1. Mắt phải…tác nhân cho năng lượng cảm dục.

2. The left eye…agent for mental energy.

2. Mắt trái…tác nhân cho năng lượng trí tuệ.

3. The ajna centre…distributing station.

3. Trung tâm ajna…trạm phân phối.

As occult knowledge increases a whole science of energy distribution will be built up around the eyes and their symbolic function, and their esoteric use will be understood. The time has not yet arrived for this, though already the power of the human eye when focussed on a person, for instance, is known to attract attention. One hint I can give you: the optic nerve is a symbol of the antahkarana, and the entire structure of the eye ball is one of the most beautiful symbols of the threefold deity and the threefold man.

Khi tri thức huyền bí học gia tăng, cả một khoa học về phân phối năng lượng sẽ được xây dựng quanh đôi mắt và chức năng biểu tượng của chúng, và công dụng huyền bí của chúng sẽ được thấu hiểu. Thời điểm cho điều này vẫn chưa đến, dù ngay từ bây giờ quyền năng của mắt người khi tập trung vào một người chẳng hạn, đã được biết là có thể thu hút sự chú ý. Tôi có thể cho bạn một gợi ý: dây thần kinh thị giác là một biểu tượng của antahkarana, và toàn bộ cấu trúc của nhãn cầu là một trong những biểu tượng đẹp nhất của Thượng đế tam phân và con người tam phân.

4. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true healer within the form.

4. Nghệ thuật của nhà chữa lành liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng chữa lành chân chính bên trong hình tướng.

In its most obvious and lowest connotation this phrase simply says that the healer must help the patient to look away from himself, that he must aid him to raise and reorient the directed energy so that the “point of friction” is no longer the object of attention and a new preoccupation is presented. This has long been the attempted practice of all healers but it has a far more esoteric meaning than [573] they have realised and one which I find it somewhat difficult to explain.

Theo nghĩa hiển nhiên nhất và thấp nhất của nó, cụm từ này chỉ đơn giản nói rằng nhà chữa lành phải giúp bệnh nhân nhìn ra khỏi chính mình, rằng y phải giúp người ấy nâng lên và tái định hướng năng lượng đang được hướng đi để “điểm ma sát” không còn là đối tượng chú ý nữa và một mối bận tâm mới được đưa ra. Đây từ lâu đã là thực hành được cố gắng áp dụng của mọi nhà chữa lành, nhưng nó có một ý nghĩa huyền bí hơn nhiều [573] so với điều họ đã nhận ra, và là điều mà tôi thấy hơi khó giải thích.

We have seen that the point of friction (responsible for the disease) has been caused by the good, the beautiful and the true in conflict with the forces of the lower man. This, we have also seen, is a fundamental law and one which he knows he must accept and with which he must intelligently work. How, therefore, can he apply this law and produce the results for which he is striving?

Chúng ta đã thấy rằng điểm ma sát (chịu trách nhiệm về bệnh tật) đã được gây ra bởi điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật trong xung đột với các lực của phàm nhân thấp hơn. Chúng ta cũng đã thấy rằng đây là một định luật căn bản và là điều mà y biết mình phải chấp nhận và phải làm việc với nó một cách thông minh. Vậy thì, làm sao y có thể áp dụng định luật này và tạo ra những kết quả mà y đang phấn đấu đạt tới?

These downpouring energies of the soul enter the physical body, via the etheric vehicle, and are responsible for the frictional trouble and its consequence, disease; they have “descended into contact” via the sutratma and are anchored in three main centres, major centres, as you well know. From these, according to a man’s nature, ray, development and weaknesses and limitations, they are distributed to the various areas of the physical body and either cause points of friction or manifest themselves as divine qualities. Where friction and resultant disease are present, and the patient is fortunate to have a trained occult healer available (either an initiate or an advanced disciple), these energies will be sent back—either with or without the cooperation of the patient—to their distributing points, the three higher centres, and this according to the type of energy which is producing the trouble. They cannot be sent out of the body altogether, via the head centre, for in that case the man would die; but they can be esoterically “driven to their point of emanation, from the point of friction, but not to their Source,” as an ancient book on healing states.

Các năng lượng tuôn đổ này của linh hồn đi vào thể xác qua vận cụ dĩ thái, và chịu trách nhiệm cho rắc rối do ma sát và hậu quả của nó là bệnh tật; chúng đã “giáng xuống để tiếp xúc” qua sutratma và được neo giữ trong ba trung tâm chính, các trung tâm lớn, như bạn đã biết rõ. Từ đó, tùy theo bản chất, cung, sự phát triển, các nhược điểm và giới hạn của một người, chúng được phân phối đến các khu vực khác nhau của thể xác và hoặc gây ra các điểm ma sát hoặc biểu lộ như các phẩm tính thiêng liêng. Nơi nào có ma sát và bệnh tật phát sinh hiện diện, và bệnh nhân may mắn có được một nhà chữa lành huyền bí học được huấn luyện sẵn có (hoặc là một điểm đạo đồ hoặc một đệ tử tiến bộ), thì các năng lượng này sẽ được gửi trở lại—có hoặc không có sự hợp tác của bệnh nhân—về các điểm phân phối của chúng, là ba trung tâm cao hơn, và điều này tùy theo loại năng lượng đang gây ra rắc rối. Chúng không thể bị đưa ra khỏi thể hoàn toàn qua trung tâm đầu, vì trong trường hợp đó con người sẽ chết; nhưng chúng có thể được “đẩy về điểm xuất lộ của chúng, từ điểm ma sát, nhưng không về Nguồn của chúng” theo cách huyền bí, như một sách cổ về chữa lành đã nói.

The energy is sent from the infected area (to use an unsuitable word but we lack the correct words for these new sciences) into the point of friction and from thence to the centre which controls that area and by means of which soul energy entered the dense physical body. The [574] healer is therefore working with the two aspects of the physical body simultaneously—the dense and the etheric. From that centre, the energy involved is gathered up and returned to one or other of the three major centres, or (if one of these higher centres is itself involved) the energy is gathered up and driven into the head centre and there retained. It must therefore be borne in mind that this phase of the healer’s work falls into two parts:

Năng lượng được gửi từ vùng bị nhiễm bệnh (dùng một từ không thích hợp nhưng chúng ta thiếu những từ đúng cho các khoa học mới này) vào điểm ma sát và từ đó đến trung tâm kiểm soát vùng ấy và là phương tiện qua đó năng lượng linh hồn đi vào thể xác đậm đặc. Vì thế [574] nhà chữa lành đang làm việc đồng thời với hai phương diện của thể xác—thể đậm đặc và thể dĩ thái. Từ trung tâm đó, năng lượng liên quan được thu gom lại và trả về một trong ba trung tâm lớn, hoặc (nếu chính một trong các trung tâm cao hơn này có liên quan) năng lượng được thu gom lại và đẩy vào trung tâm đầu rồi được giữ ở đó. Vì vậy cần ghi nhớ rằng giai đoạn công việc này của nhà chữa lành chia thành hai phần:

1. The stage of esoteric “lifting up” or “driving forth.” This itself falls into two phases:

1. Giai đoạn huyền bí của việc “nâng lên” hay “đẩy ra”. Bản thân nó lại chia thành hai pha:

a. The phase of gathering the energy.

a. Pha thu gom năng lượng.

b. The phase of refocussing it in its distributing centre.

b. Pha tái tập trung nó vào trung tâm phân phối của nó.

2. The stage after the healer’s work has been accomplished and the patient is either better or the work has not been successful. In this stage, the energy which has been “driven forth” is returned to the centre and the locality where the point of friction had been.

2. Giai đoạn sau khi công việc của nhà chữa lành đã hoàn tất và bệnh nhân hoặc khá hơn hoặc công việc đã không thành công. Trong giai đoạn này, năng lượng đã được “đẩy ra” được trả về trung tâm và địa điểm nơi điểm ma sát đã từng hiện diện.

It will be obvious to you that this form of healing work is possible only to the highly trained person, and it is therefore needless for me to elaborate further on this technique. It is useful nevertheless to see at times the distant goals.

Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng hình thức công việc chữa lành này chỉ có thể thực hiện được đối với người được huấn luyện rất cao, và vì vậy tôi không cần thiết phải khai triển thêm về kỹ thuật này. Tuy nhiên, đôi khi việc thấy được những mục tiêu xa xôi vẫn hữu ích.

All that is at present possible in reference to this statement is to turn the patient’s attention (if he is capable of responding to suggestions) towards the soul, and help him, with simplicity to hold his consciousness as close to the soul as he can. This will aid in clearing the channels down which energy can flow, and also along which energy can be automatically withdrawn. because energy follows thought.

Hiện nay, tất cả những gì có thể làm liên quan đến phát biểu này là hướng sự chú ý của bệnh nhân (nếu người ấy có khả năng đáp ứng với các gợi ý) về phía linh hồn, và giúp người ấy, một cách đơn giản, giữ tâm thức của mình gần với linh hồn nhất có thể. Điều này sẽ giúp khai thông các kênh mà qua đó năng lượng có thể tuôn xuống, và cũng là các kênh mà dọc theo đó năng lượng có thể tự động được rút lui, bởi vì năng lượng đi theo tư tưởng.

In the last analysis, true esoteric healing is a simple matter in comparison with the intricate and complex detail [575] anent the human mechanism and its diseases with which the modern physician has to cope. The spiritual healer concerns himself with the area in which the disease is to be found, with its controlling etheric centre and its higher correspondence, and with the three energies coming from the soul which are responsible for producing the point or points of friction. The remainder of his work involves the use the creative imagination, the power to visualise and a knowledge of scientific thinking, based upon the fundamental and universal law that “energy follows thought.” This visualisation and this scientific thinking do not (where healing is concerned) involve the construction of thoughtforms. It involves the ability to move and direct energy currents.

Xét cho cùng, chữa lành huyền bí học chân chính là một vấn đề đơn giản so với chi tiết phức tạp và rắc rối [575] liên quan đến bộ máy con người và các bệnh tật của nó mà vị y sĩ hiện đại phải đối phó. Nhà chữa lành tinh thần quan tâm đến khu vực nơi bệnh tật được tìm thấy, đến trung tâm dĩ thái kiểm soát nó và đối ứng cao hơn của trung tâm ấy, và đến ba năng lượng đến từ linh hồn chịu trách nhiệm tạo ra điểm hay các điểm ma sát. Phần còn lại trong công việc của y liên quan đến việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, năng lực hình dung và tri thức về tư duy khoa học, dựa trên định luật căn bản và phổ quát rằng “năng lượng đi theo tư tưởng.” Sự hình dung này và tư duy khoa học này không liên quan (trong trường hợp chữa lành) đến việc xây dựng các Hình tư tưởng. Nó liên quan đến khả năng di chuyển và định hướng các dòng năng lượng.

5. The third eye then directs the healing force, and all is well.

5. Khi ấy con mắt thứ ba điều khiển mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều ổn thỏa.

The third eye referred to here is that of the healer and not that of the average patient; this the healer uses in conjunction with the eye of the soul. In the case of the healing of a very advanced person who is consciously able to cooperate, the third eye of the patient can also be active, and by this means two very potent streams of directed energy can penetrate into the area where the point of friction is located. In ordinary cases, however, and where no occult knowledge is present on the part of the patient, the healer does all the work, and this is desirable. The cooperation of the unskilled and those emotionally involved in their trouble is of no true assistance.

Con mắt thứ ba được nói đến ở đây là của nhà chữa lành chứ không phải của bệnh nhân trung bình; nhà chữa lành sử dụng nó kết hợp với con mắt của linh hồn. Trong trường hợp chữa lành cho một người rất tiến bộ, có khả năng hợp tác một cách hữu thức, con mắt thứ ba của bệnh nhân cũng có thể hoạt động, và bằng phương tiện này hai dòng năng lượng được định hướng rất mạnh có thể xuyên vào khu vực nơi điểm ma sát tọa lạc. Tuy nhiên, trong các trường hợp thông thường, và nơi bệnh nhân không có tri thức huyền bí học, nhà chữa lành làm toàn bộ công việc, và điều này là đáng mong muốn. Sự hợp tác của người không được huấn luyện và của những người bị cuốn cảm xúc vào rắc rối của mình không phải là sự trợ giúp thực sự.

The few hints given in the analysis of the sentences composing Law IV will provide much food for thought, and we will now proceed to consider the rule connected with this law.

Vài gợi ý được đưa ra trong sự phân tích các câu cấu thành Định luật IV sẽ cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm, và giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục xem xét quy luật liên hệ với định luật này.

It should be remembered, as we study these laws and rules, that the laws are imposed upon the healer and provide [576] the unalterable conditions under which he must work; he may not and cannot evade them. The rules, however, he imposes upon himself, and they constitute the conditions which he is advised to follow if he seeks success. Much depends upon his understanding of the rules and on his ability to interpret them correctly. They are a translation or an adaptation of the ancient rules which have, since time began, conditioned all occult healers, working under hierarchical impression. In the early days of their use they were submitted to and accepted by members of the Hierarchy at that time—the time or age of ancient Lemuria—and had then to be interpreted differently to the modern interpretation; the modern meaning is only now in process of emerging. It might be said that:

Khi nghiên cứu các định luật và quy luật này, cần nhớ rằng các định luật được áp đặt lên nhà chữa lành và cung cấp [576] những điều kiện bất biến mà dưới đó y phải làm việc; y không được và không thể né tránh chúng. Tuy nhiên, các quy luật thì do chính y áp đặt lên mình, và chúng cấu thành những điều kiện mà y được khuyên nên tuân theo nếu muốn thành công. Rất nhiều điều tùy thuộc vào sự thấu hiểu của y về các quy luật và vào khả năng diễn giải chúng một cách đúng đắn. Chúng là bản dịch hay sự thích ứng của các quy luật cổ xưa vốn, từ thuở ban đầu, đã tác động lên mọi nhà chữa lành huyền bí học làm việc dưới sự cảm ứng của Thánh đoàn. Trong những ngày đầu được sử dụng, chúng đã được trình lên và được chấp nhận bởi các thành viên của Thánh đoàn vào thời đó—thời đại Lemuria cổ xưa—và khi ấy phải được diễn giải khác với cách diễn giải hiện đại; ý nghĩa hiện đại chỉ mới đang trong tiến trình xuất hiện. Có thể nói rằng:

1. In Lemurian times these rules were accepted by members of the Hierarchy. Unless you were a member you could not ascertain them or work with them.

1. Trong thời Lemuria các quy luật này được các thành viên của Thánh đoàn chấp nhận. Trừ phi bạn là một thành viên, bạn không thể biết được chúng hay làm việc với chúng.

2. In Atlantean times they were externalised to the extent that disciples who were not yet initiates or who had taken only the first initiation were given them and permitted to use them. It is their Atlantean interpretation which largely colours the modern approach to their comprehension, but it is not adequate to the opportunity and the more mental type of human being.

2. Trong thời Atlantis chúng đã được ngoại hiện đến mức các đệ tử chưa phải là điểm đạo đồ hoặc mới chỉ trải qua lần điểm đạo thứ nhất đã được trao cho và được phép sử dụng chúng. Chính cách diễn giải Atlantis của chúng phần lớn nhuốm màu cách tiếp cận hiện đại đối với việc hiểu chúng, nhưng nó không thích hợp với cơ hội hiện nay và với kiểu người trí tuệ hơn.

3. Today, in our Aryan race, a new significance is emerging, and it is that significance and the new interpretation which I shall endeavour to impart.

3. Ngày nay, trong nhân loại Arya của chúng ta, một ý nghĩa mới đang xuất hiện, và chính ý nghĩa ấy cùng cách diễn giải mới ấy mà tôi sẽ cố gắng truyền đạt.

Rule I was not subjected to the new interpretation because it was so obviously modern in its implications. In fact, the first rule was not part of the original ancient text from which these important rules have been taken, but is relatively very modern, being formulated early in the Christian [577] era. It is a clear and concise rule and implies what should be the nature of the healer’s thinking.

Quy luật I đã không được đặt dưới cách diễn giải mới vì nó quá hiển nhiên là hiện đại trong các hàm ý của nó. Thực ra, quy luật thứ nhất không phải là một phần của bản văn cổ nguyên thủy mà từ đó các quy luật quan trọng này đã được rút ra, mà tương đối rất hiện đại, được hình thành vào đầu [577] kỷ nguyên Cơ Đốc. Đó là một quy luật rõ ràng và súc tích và hàm ý điều nên là bản chất của tư duy của nhà chữa lành.

1. He must know the type of thought which conditions the patient.

1. Y phải biết loại tư tưởng nào tác động lên bệnh nhân.

2. He must be able to penetrate to the source of the difficulty, or to its psychological background; therefore, he must use thought power.

2. Y phải có khả năng xuyên thấu đến nguồn gốc của khó khăn, hay đến bối cảnh tâm lý của nó; vì vậy, y phải sử dụng quyền năng tư tưởng.

3. He must be able to relate cause and effect; the relating agent is ever the mind.

3. Y phải có khả năng liên hệ nguyên nhân và kết quả; tác nhân liên hệ luôn luôn là trí tuệ.

In old Lemuria and Atlantis the mind was practically entirely quiescent and not really functioning at all; it is only in this present race that the mental nature of man is becoming dominant, and therefore the new and modern interpretation of these rules (based on the mind principle) is now in order, and with this we shall proceed to deal.

Trong Lemuria và Atlantis cổ xưa, trí tuệ hầu như hoàn toàn tĩnh lặng và thực sự không hoạt động chút nào; chỉ trong nhân loại hiện nay này mà bản chất trí tuệ của con người mới đang trở nên trội vượt, và vì vậy cách diễn giải mới và hiện đại của các quy luật này (dựa trên nguyên khí trí tuệ) nay là thích hợp, và với điều này chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến.

RULE TWOQUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established the radiation then goes forth.

Nhà chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính, qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt tới bức xạ làm tiêu tan, bức xạ tự biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi từ trường này được thiết lập thì bức xạ khi ấy phát ra.

The East has ever emphasised magnetic purity but has totally ignored physical purity as the Occident understands it; the West has emphasised external physical purity but knows nothing about magnetic purity; this latter is largely based (somewhat erroneously though not entirely so) on the effect

Phương Đông luôn nhấn mạnh sự thanh khiết từ tính nhưng hoàn toàn bỏ qua sự thanh khiết thể xác như phương Tây hiểu; phương Tây đã nhấn mạnh sự thanh khiết thể xác bên ngoài nhưng không biết gì về sự thanh khiết từ tính; điều sau này phần lớn dựa (hơi sai lầm dù không hoàn toàn như vậy) trên hiệu quả

of the auric emanation and its purity or non-purity. The healer, in this rule, is advised to:

của phát xạ hào quang và sự thanh khiết hay không thanh khiết của nó. Trong quy luật này, nhà chữa lành được khuyên:

1. Achieve magnetic purity through purity of life.

1. Đạt được sự thanh khiết từ tính qua sự thanh khiết của đời sống.

2. Attain a dispelling radiance through linking the centres in the head.

2. Đạt tới bức xạ làm tiêu tan qua việc nối kết các trung tâm trong đầu.

[578]

[578]

3. Establish a magnetic field through the utilisation of this magnetic field.

3. Thiết lập một từ trường qua việc sử dụng từ trường này.

Result: RADIATION.

Kết quả: BỨC XẠ.

The interesting part of this rule is its linking the two possible forms of spiritual healing—radiatory and magnetic—into one activity. The true healer automatically blends both modes of healing and uses both methods simultaneously and automatically because he works through the magnetic area, contained within the radius of influence of the three head centres, or within the triangle which is formed by so linking them.

Phần thú vị của quy luật này là nó nối kết hai hình thức chữa lành tinh thần khả dĩ—bằng bức xạ và bằng từ tính—thành một hoạt động. Nhà chữa lành chân chính tự động hòa trộn cả hai phương thức chữa lành và sử dụng đồng thời và tự động cả hai phương pháp bởi vì y làm việc qua khu vực từ tính, được chứa trong bán kính ảnh hưởng của ba trung tâm đầu, hay trong tam giác được hình thành bằng cách nối kết chúng như thế.

In Lemurian days, the healer achieved his ends by the use of drastic physical disciplines, thus gaining the needed purity. The goal, as you know, of hierarchical effort in those days was to teach primitive man the uses and purpose of the physical body and its intelligent control; the man who mastered the body and was in control of it as a machine, was then in was then regarded as an initiate. Today, it is mastering the personality which makes a man an initiate. Celibacy, careful modes of eating, and bodily cleanliness, plus the rudiments of Hatha Yoga (embryonic physical, athletic control—muscular control primarily) were strictly emphasised. This achieved, so-called purity permitted the free flow of the pranic currents from the healer to the patient, via the sacral centre and the throat centre—the spiritual healer working through the throat centre, and the point of reception in the patient being the sacral centre; neither the heart nor the head centres were used. Prana, to define it for your purposes, is the vitality of the planet, its vital emanation; it is this prana which is distributed or transferred by a natural healer (one without any training, without much essential knowledge or with little, if any, spiritual [579] orientation). He heals but does not know how or why; prana simply flows through him in the form of a strong current of animal vitality, usually from the splenic centre and not from any of the seven centres.

Trong thời Lemuria, nhà chữa lành đạt mục đích của mình bằng cách sử dụng các kỷ luật thể xác nghiêm khắc, nhờ đó đạt được sự thanh khiết cần thiết. Như bạn biết, mục tiêu của nỗ lực của Thánh đoàn trong những ngày ấy là dạy con người nguyên thủy về công dụng và mục đích của thể xác và sự kiểm soát thông minh đối với nó; người nào làm chủ được thể và kiểm soát nó như một cỗ máy thì khi ấy được xem là một điểm đạo đồ. Ngày nay, chính việc làm chủ phàm ngã mới khiến một người trở thành điểm đạo đồ. Độc thân, cách ăn uống cẩn trọng, và sự sạch sẽ thân thể, cộng với những sơ đẳng của Hatha Yoga (sự kiểm soát thể chất phôi thai, mang tính vận động—chủ yếu là kiểm soát cơ bắp) đã được nhấn mạnh nghiêm ngặt. Khi đạt được điều này, cái gọi là sự thanh khiết cho phép các dòng prana tự do chảy từ nhà chữa lành sang bệnh nhân, qua trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng—nhà chữa lành tinh thần làm việc qua trung tâm cổ họng, và điểm tiếp nhận nơi bệnh nhân là trung tâm xương cùng; cả trung tâm tim lẫn trung tâm đầu đều không được dùng. Để định nghĩa prana cho mục đích của bạn, đó là sinh lực của hành tinh, phát xạ sinh lực của nó; chính prana này được phân phối hay chuyển dịch bởi một nhà chữa lành tự nhiên (người không có bất kỳ huấn luyện nào, không có nhiều tri thức cốt yếu hoặc có rất ít, nếu có, định hướng tinh thần [579]). Y chữa lành nhưng không biết bằng cách nào hay tại sao; prana đơn giản chảy qua y dưới hình thức một dòng mạnh của sinh lực động vật, thường từ trung tâm lá lách chứ không từ bất kỳ trung tâm nào trong bảy trung tâm.

These drastic physical disciplines are often attempted today by well-intentioned aspirants; they practice celibacy, strict vegetarianism, relaxation exercises and many kinds of physical exercises, in the hope of bringing the body under control. These forms of discipline would be very good for the undeveloped and the lowest type of human being, but they are not the methods which should be employed by the average man or the practising aspirant. Concentration upon the physical body only serves to enhance its potency and to feed its appetites and bring to the surface of consciousness that which should be securely secluded below the threshold of consciousness. The true aspirant should be occupied with emotional, not physical, control and ‘with the effort to focus himself upon the mental plane prior to achieving a stabilised contact with the soul.

Những kỷ luật thể xác nghiêm khắc này ngày nay thường được các người chí nguyện thiện chí thử áp dụng; họ thực hành độc thân, ăn chay nghiêm ngặt, các bài tập thư giãn và nhiều loại bài tập thể chất, với hy vọng đưa thể xác vào dưới sự kiểm soát. Những hình thức kỷ luật này sẽ rất tốt cho người chưa phát triển và kiểu người thấp nhất, nhưng chúng không phải là những phương pháp nên được dùng bởi người trung bình hay người chí nguyện đang thực hành. Sự tập trung chỉ vào thể xác chỉ phục vụ cho việc tăng cường sức mạnh của nó và nuôi dưỡng các ham muốn của nó, đồng thời đưa lên bề mặt tâm thức điều lẽ ra phải được giữ kín an toàn bên dưới ngưỡng tâm thức. Người chí nguyện chân chính nên bận tâm đến sự kiểm soát cảm xúc, chứ không phải thể xác, và với nỗ lực tập trung mình trên cõi trí trước khi đạt được sự tiếp xúc ổn định với linh hồn.

In Atlantean times, the shift of the attention from the dense physical body to the emotional vehicle began slowly to be made. The initiate of that time began to teach his disciples that the physical body was in reality only an automaton, and that it was the desire body, and the nature and quality of their habitual desires which should be considered if purity was to be attained. It was in this race, therefore, that personal magnetism first began slowly to show itself. The early and the primitive Lemurian was not in the least magnetic as we understand the word, but in Atlantean days a certain measure of magnetic radiation showed itself, though not to the extent which is now frequent and possible. The first dim outline of the halo could be seen around the heads of advanced Atlanteans. Magnetic purity became a possibility and a goal, but was dependent upon emotional [580] control and the purification of the desire nature; this produced automatically a much greater measure of purity in the dense physical vehicle than the Lemurian initiate ever achieved. Diseases of the body became both subtle and complex, and the first psychological diseases appeared and the various ills which are definitely based upon the emotions. With this type of difficulty we have dealt in an earlier part of this treatise. The healer in those days worked through the solar plexus centre and (if an initiate) through the heart. There was still no magnetic area or field of energy in the head.

Trong thời Atlantis, sự chuyển dịch chú ý từ thể xác đậm đặc sang vận cụ cảm xúc bắt đầu được thực hiện một cách chậm chạp. Điểm đạo đồ thời ấy bắt đầu dạy các đệ tử của mình rằng thể xác thực ra chỉ là một tự động cơ, và rằng chính thể ham muốn, cùng bản chất và phẩm tính của những ham muốn thường xuyên của họ, mới là điều cần được xem xét nếu muốn đạt được sự thanh khiết. Vì vậy, chính trong nhân loại này mà từ lực cá nhân lần đầu tiên bắt đầu chậm rãi biểu lộ. Người Lemuria sơ khai và nguyên thủy hoàn toàn không có từ tính như chúng ta hiểu từ này, nhưng trong thời Atlantis một mức độ bức xạ từ tính nào đó đã biểu lộ, dù không đến mức hiện nay là thường thấy và có thể có. Nét phác mờ đầu tiên của hào quang có thể được thấy quanh đầu những người Atlantis tiến bộ. Sự thanh khiết từ tính trở thành một khả năng và một mục tiêu, nhưng phụ thuộc vào [580] sự kiểm soát cảm xúc và sự thanh lọc bản chất ham muốn; điều này tự động tạo ra một mức độ thanh khiết lớn hơn nhiều trong vận cụ hồng trần đậm đặc so với điều mà điểm đạo đồ Lemuria từng đạt được. Các bệnh của thể xác trở nên vừa vi tế vừa phức tạp, và những bệnh tâm lý đầu tiên xuất hiện cùng các chứng bệnh khác nhau chắc chắn dựa trên cảm xúc. Với loại khó khăn này chúng ta đã bàn đến trong phần trước của bộ luận này. Nhà chữa lành trong những ngày ấy làm việc qua trung tâm tùng thái dương và (nếu là điểm đạo đồ) qua tim. Vẫn chưa có khu vực từ tính hay trường năng lượng nào trong đầu.

Today, in our Aryan race, magnetic purity is not dependent upon the physical disciplines; it is still—for the mass of the people—dependent upon emotional disciplines, but in the case of the true healer in the New Age it is dependent upon the “lighted magnetic area in the head.” This provides a field of activity for the soul, working through the head centres and focussing itself in the magnetic field which they enclose. When all the powers of the body and the directed attention of the healer are centered in the head, and when the astral body is quiescent and the mind is active as a transmitter of soul energy to the three head centres, you then have an established radiance, or energy emanation which is a potent force in healing. The radiation is intense, not so much from the familiar aspect of light, but from the extent of its emanating rays of active energy which can reach the patient and energise the needed centre. All the centres in the body of the patient can be receptive to this energy, and not just one, as in the previous two types of healing.

Ngày nay, trong nhân loại Arya của chúng ta, sự thanh khiết từ tính không phụ thuộc vào các kỷ luật thể xác; nó vẫn còn—đối với quần chúng—phụ thuộc vào các kỷ luật cảm xúc, nhưng trong trường hợp của nhà chữa lành chân chính trong Kỷ Nguyên Mới, nó phụ thuộc vào “khu vực từ tính được soi sáng trong đầu.” Điều này cung cấp một trường hoạt động cho linh hồn, hoạt động qua các trung tâm đầu và tự tập trung trong từ trường mà chúng bao bọc. Khi mọi quyền năng của thể và sự chú ý được định hướng của nhà chữa lành đều tập trung trong đầu, và khi thể cảm dục tĩnh lặng còn trí tuệ hoạt động như một tác nhân truyền dẫn năng lượng linh hồn đến ba trung tâm đầu, thì khi ấy bạn có một bức xạ được thiết lập, hay một phát xạ năng lượng là một mãnh lực mạnh mẽ trong việc chữa lành. Bức xạ này mãnh liệt, không hẳn từ phương diện quen thuộc của ánh sáng, mà từ mức độ các tia năng lượng hoạt động phát ra của nó có thể vươn tới bệnh nhân và tiếp sinh lực cho trung tâm cần thiết. Tất cả các trung tâm trong thể của bệnh nhân đều có thể tiếp nhận năng lượng này, chứ không chỉ một trung tâm như trong hai loại chữa lành trước.

When the karma or life-pattern of the patient permits, these energy rays (emanating from the magnetic field in the healer’s head) become what is called a “dispelling radiance”; they can drive away the forces which create or [581] aggravate the disease. When this dispelling radiance is unable (because of the destiny of the patient) to bring about a physical cure, it can nevertheless be turned to the dispelling of subtler difficulties, such as fear in some form or other, emotional imbalance and certain psychological difficulties which greatly enhance the problem with which the patient is faced.

Khi nghiệp quả hay mô hình đời sống của bệnh nhân cho phép, các tia năng lượng này (phát ra từ từ trường trong đầu nhà chữa lành) trở thành điều được gọi là “bức xạ làm tiêu tan”; chúng có thể xua tan các lực tạo ra hay [581] làm trầm trọng thêm bệnh tật. Khi bức xạ làm tiêu tan này không thể (do số mệnh của bệnh nhân) mang lại sự chữa lành thể xác, nó vẫn có thể được chuyển sang việc làm tiêu tan những khó khăn vi tế hơn, như sợ hãi dưới hình thức này hay hình thức khác, mất quân bình cảm xúc và một số khó khăn tâm lý làm tăng mạnh vấn đề mà bệnh nhân đang đối diện.

Healers would do well to remember that when the three centres in the head are linked up and the magnetic field is therefore set up and the radiance is present, the healer can then use the ajna centre as the directing agent for this “dispelling radiance.” It is interesting to note that the two major centres in the head (corresponding to atma-buddhi, or the soul) are the head centre and the alta major centre, and that these correspond esoterically to the distributing agents of the right and the left eyes, as do the two glands in the head: the pineal gland and the pituitary body. You have, therefore, in the head

Các nhà chữa lành nên nhớ rằng khi ba trung tâm trong đầu được nối kết và từ trường do đó được thiết lập và bức xạ hiện diện, thì nhà chữa lành khi ấy có thể sử dụng trung tâm ajna như tác nhân định hướng cho “bức xạ làm tiêu tan” này. Điều đáng chú ý là hai trung tâm lớn trong đầu (tương ứng với atma-buddhi, hay linh hồn) là trung tâm đầu và trung tâm alta major, và rằng chúng tương ứng một cách huyền bí với các tác nhân phân phối của mắt phải và mắt trái, cũng như hai tuyến trong đầu: tuyến tùng và tuyến yên. Vì vậy, trong đầu bạn có

three triangles, of which two are distributors of energy and the third is a distributor of force.

ba tam giác, trong đó hai tam giác là các bộ phân phối năng lượng và tam giác thứ ba là một bộ phân phối mãnh lực.

9.-ph-n-ba-c-c-nh-lu-t-c-n-b-n-c-a-s-ch-a-l-nh-02.png

[582]

[582]

It is with these triangles that the trained healer eventually works and which he consciously employs. The time when this will be possible still lies very far ahead. At present the healer must work through visualisation and the power of the creative imagination. As he imagines, through visualisation, the relationship of these interlaced triangles, superimposing them the one upon the others, beginning with the first, he is doing a definite work of creative placing, then of creative vitalising and finally of creative directing. In these three words: placing, vitalising, directing, you have the results indicated as to what obedience to this rule will enable the healer to accomplish. The attention is placed; the magnetic field is spiritually vitalised; the generated vital radiance is then distributed and directed correctly through the medium of the third triangle. This sounds a somewhat complicated procedure but after a little practice this healing exercise of placing, vitalising and directing becomes an almost instantaneous and automatic accomplishment.

Chính với các tam giác này mà nhà chữa lành được huấn luyện cuối cùng sẽ làm việc và sử dụng một cách hữu thức. Thời điểm khi điều này có thể thực hiện vẫn còn ở rất xa phía trước. Hiện nay nhà chữa lành phải làm việc qua sự hình dung và quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo. Khi y hình dung, qua sự hình dung, mối liên hệ của các tam giác đan xen này, chồng chúng lên nhau, bắt đầu với tam giác thứ nhất, thì y đang làm một công việc xác định vị trí một cách sáng tạo, rồi tiếp sinh lực một cách sáng tạo và cuối cùng là định hướng một cách sáng tạo. Trong ba từ này: xác định vị trí, tiếp sinh lực, định hướng, bạn có các kết quả được chỉ ra về điều mà sự tuân thủ quy luật này sẽ cho phép nhà chữa lành hoàn thành. Sự chú ý được đặt vào; từ trường được tiếp sinh lực một cách tinh thần; bức xạ sinh lực được tạo ra sau đó được phân phối và định hướng đúng đắn qua môi giới của tam giác thứ ba. Điều này nghe có vẻ là một thủ tục hơi phức tạp nhưng sau một ít thực hành, bài tập chữa lành gồm xác định vị trí, tiếp sinh lực và định hướng này trở thành một thành tựu gần như tức thời và tự động.

We come now to the consideration of a long and somewhat complicated law and one which attempts to cover so much ground that at first reading it is apt to be confusing.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một định luật dài và phần nào phức tạp, một định luật cố gắng bao quát quá nhiều lãnh vực đến nỗi khi đọc lần đầu rất dễ gây lẫn lộn.

LAW VĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is Life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central point of contact. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountaintop is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain which seek release in death. The two, the five and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth law of healing within the world of form.

Chẳng có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là Sự sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, đều có thể tìm thấy một điểm tiếp xúc trung tâm. Sự xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau tạo ra các bệnh tật thân thể của con người. Sự xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu và đau đớn thân thể vốn tìm sự giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là định luật chữa lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

[583]

[583]

It has been impossible hitherto to give the subject-matter of this rule because it is only today that teaching anent LIFE (and life as energy) has been possible. Also the teaching anent the five and the two energies which meet in man have only lately been given out by me, for the first time in any detail, although they were hinted at in The Secret Doctrine. I wonder sometimes if any of you realise the epoch-making importance of the teaching which I have given out anent the seven rays as manifesting energies. Speculations as to the nature of the divine Trinity have ever been present in the discussions and thinking of advanced men—and that since time began and the Hierarchy started its agelong task of influencing and stimulating the human consciousness but information anent the seven Spirits before the Throne of the Trinity has not been so usual and only a few writers, ancient or modern, have touched upon the nature of these Beings. Now, with all that I have given you concerning the seven rays and the seven Ray Lords, much more can be discovered; these seven great Lives can be seen and known as the informing essences and the active energies in all that is manifested and tangible upon the physical plane as well as on all the planes of divine expression; in saying this, I include not only the cosmic physical plane (composed of our seven systemic planes) but the cosmic astral and the cosmic mental planes also.

Cho đến nay, không thể trình bày nội dung của quy luật này vì chỉ đến ngày nay giáo huấn về SỰ SỐNG (và sự sống như năng lượng) mới có thể được truyền dạy. Ngoài ra, giáo huấn về năm và hai năng lượng gặp nhau trong con người cũng chỉ mới gần đây được tôi công bố, lần đầu tiên với một mức độ chi tiết nào đó, dù chúng đã được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Đôi khi tôi tự hỏi liệu có ai trong các bạn nhận ra tầm quan trọng mang tính mở kỷ nguyên của giáo huấn mà tôi đã truyền ra về bảy cung như những năng lượng biểu hiện hay không. Những suy đoán về bản chất của Tam Vị thiêng liêng luôn hiện diện trong các cuộc thảo luận và tư duy của những người tiến bộ—và điều đó đã có từ thuở ban đầu khi Thánh đoàn khởi sự công việc lâu đời của mình là ảnh hưởng và kích thích tâm thức nhân loại; nhưng thông tin về Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Tam Vị thì không phổ biến như vậy, và chỉ có một số ít tác giả, cổ hay kim, chạm đến bản chất của các Đấng này. Giờ đây, với tất cả những gì tôi đã trao cho các bạn về bảy cung và bảy Đấng Chúa Tể Cung, còn nhiều điều hơn nữa có thể được khám phá; bảy Sự Sống vĩ đại này có thể được nhìn thấy và biết đến như những tinh chất thấm nhuần và những năng lượng hoạt động trong mọi điều được biểu hiện và hữu hình trên cõi hồng trần cũng như trên mọi cõi của sự biểu lộ thiêng liêng; khi nói điều này, tôi không chỉ bao gồm cõi hồng trần vũ trụ (gồm bảy cõi hệ thống của chúng ta) mà cả cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ nữa.

In this rule the healer is expected to accept certain basic ideas which will serve to develop his understanding; certain broad and general axioms are laid down which will form a sound foundation for all future work. The main point to bear in mind is that this rule relates entirely to the physical plane (dense and etheric) and to the effects which the conflict between the energies and the forces produces within the physical body. The forces are those energies which are limited and imprisoned within a form of any kind—a body, [584] a plane, an organ, a centre; the energies are those streams of directed energy which make impact upon these imprisoned forces (if I may so call them) from within a greater or more inclusive form, from a subtler plane, thus making contact with a grosser vibratory force. An energy is subtler and more potent than the force upon which it makes impact or establishes contact; the force is less potent but it is anchored. In these last two words you have the key to the problem of the relationship of energies. Free energy, from the angle of the anchored point of contact, is in some ways less effective (within a limited sphere) than the energy already anchored there. It is essentially more potent but not effective. Ponder on this and let me illustrate my point. In the life of the aspirant, the energy of the solar plexus centre (from long use, centralisation and habit) is more potent in its effect upon the life of the aspirant than is the energy of the heart centre, which is only slowly, very slowly, coming into effective action. To illustrate further: the energies of the personality are far more potent in conditioning the life of the average man than is the energy of the soul, which for aeons has tried to grasp effectively its point of manifestation, the personality, but has failed until very late in the cycle of incarnations. Yet, in the last analysis, heart energy and soul energy are infinitely more potent than those of the solar plexus centre or the personality. For aeons, however, the energy of the heart centre and the energy of the soul have lacked responsive vehicles in the three worlds.

Trong quy luật này, người chữa lành được mong đợi chấp nhận một số ý tưởng căn bản sẽ giúp phát triển sự thấu hiểu của mình; một số tiên đề rộng lớn và tổng quát được nêu ra, tạo thành nền tảng vững chắc cho mọi công việc tương lai. Điểm chính cần ghi nhớ là quy luật này hoàn toàn liên hệ đến cõi hồng trần (đậm đặc và dĩ thái) và đến những hiệu quả mà sự xung đột giữa các năng lượng và các mãnh lực tạo ra trong thể xác. Các mãnh lực là những năng lượng bị giới hạn và bị giam giữ trong một hình tướng thuộc bất kỳ loại nào—một thể, [584] một cõi, một cơ quan, một trung tâm; còn các năng lượng là những dòng năng lượng được định hướng tác động lên các mãnh lực bị giam giữ này (nếu tôi có thể gọi chúng như vậy) từ bên trong một hình tướng lớn hơn hay bao gồm hơn, từ một cõi vi tế hơn, nhờ đó tiếp xúc với một mãnh lực rung động thô nặng hơn. Một năng lượng vi tế hơn và mạnh hơn mãnh lực mà nó tác động hay thiết lập tiếp xúc; mãnh lực thì kém mạnh hơn nhưng nó lại được neo giữ. Trong hai từ cuối này, các bạn có chìa khóa cho vấn đề về mối liên hệ của các năng lượng. Năng lượng tự do, xét từ góc độ của điểm tiếp xúc đã được neo giữ, theo một số phương diện lại kém hiệu quả hơn (trong một phạm vi giới hạn) so với năng lượng đã được neo giữ tại đó. Về bản chất, nó mạnh hơn nhiều nhưng không hiệu quả. Hãy suy ngẫm điều này và để tôi minh họa ý của mình. Trong đời sống của người chí nguyện, năng lượng của trung tâm tùng thái dương (do được sử dụng lâu dài, tập trung hóa và thói quen) có hiệu lực đối với đời sống của người chí nguyện mạnh hơn năng lượng của trung tâm tim, vốn chỉ đang từ từ, rất từ từ, đi vào hoạt động hữu hiệu. Để minh họa thêm: các năng lượng của phàm ngã có sức mạnh tác động lên đời sống của con người trung bình lớn hơn nhiều so với năng lượng của linh hồn, vốn qua nhiều đại kiếp đã cố gắng nắm lấy một cách hữu hiệu điểm biểu hiện của nó là phàm ngã, nhưng đã thất bại cho đến rất muộn trong chu kỳ các lần nhập thể. Tuy nhiên, xét đến cùng, năng lượng tim và năng lượng linh hồn mạnh hơn vô hạn so với năng lượng của trung tâm tùng thái dương hay của phàm ngã. Nhưng qua nhiều đại kiếp, năng lượng của trung tâm tim và năng lượng của linh hồn đã thiếu những vận cụ đáp ứng trong ba cõi giới.

In a way, this simplifies the problem of the healer, because the first thing he has to decide is whether soul energy or personality energy is in control; that is a matter very simply discovered. The life trend of the patient, his mode of living or of service, the character he displays, are all indicative of the potencies which control his manifested expression. If the man is a true aspirant and is aiming [585] consciously to tread the Path of Discipleship, he will aid the discovery by frank admission; however, if there is no response from the personality forces to the soul impact of the healer, the personality will remain unaware of the opportunity and quite unconscious of the impact. These conditions the healer can therefore easily ascertain.

Theo một nghĩa nào đó, điều này đơn giản hóa vấn đề của người chữa lành, vì điều đầu tiên y phải quyết định là năng lượng linh hồn hay năng lượng phàm ngã đang kiểm soát; đó là điều có thể được khám phá rất đơn giản. Khuynh hướng đời sống của bệnh nhân, cách sống hay cách phụng sự của y, tính cách mà y biểu lộ, tất cả đều cho thấy những tiềm lực nào đang kiểm soát sự biểu hiện của y. Nếu người ấy là một người chí nguyện chân chính và đang [585] có ý thức nhắm đến việc bước đi trên Con Đường Đệ Tử, y sẽ giúp cho việc khám phá ấy bằng sự thừa nhận thẳng thắn; tuy nhiên, nếu không có sự đáp ứng nào từ các mãnh lực phàm ngã đối với tác động của linh hồn từ người chữa lành, thì phàm ngã sẽ vẫn không nhận biết cơ hội ấy và hoàn toàn vô thức trước tác động đó. Vì vậy, người chữa lành có thể dễ dàng xác định các điều kiện này.

This rule is a long one and contains statements of major importance. It would be profitable for us, in the interests of our subject, to study them with the utmost care and so become aware of their significance and true meaning; this understanding must be from the standpoint of the initiate-consciousness, and not from the angle of vision of the average or unillumined man. We will, therefore, take each sentence by itself and seek its meaning. There are seven statements contained in this rule, and much of their import is exoterically familiar to you, but can be restated in relation to the healing art.

Quy luật này dài và chứa đựng những phát biểu có tầm quan trọng lớn. Vì lợi ích của đề tài chúng ta, sẽ hữu ích nếu nghiên cứu chúng với sự cẩn trọng tối đa để nhờ đó nhận biết thâm nghĩa và ý nghĩa chân thực của chúng; sự thấu hiểu này phải xuất phát từ lập trường của tâm thức điểm đạo đồ, chứ không phải từ góc nhìn của con người trung bình hay chưa được soi sáng. Vì vậy, chúng ta sẽ xét từng câu riêng biệt và tìm kiếm ý nghĩa của nó. Có bảy phát biểu trong quy luật này, và phần lớn nội dung của chúng đã quen thuộc với các bạn trên phương diện ngoại môn, nhưng có thể được trình bày lại trong liên hệ với nghệ thuật chữa lành.

1. There is naught but energy, for God is Life.

1. Chẳng có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là Sự sống.

This is a broad generalisation which may convey much to the initiate but assuredly conveys very little to the average thinker, to whom life means essentially and simply that which calls into manifestation a form, which sustains it in being and constantly demonstrates its presence by activity of some kind or another—an activity which demonstrates its livingness. We, however, erroneously apply the term living to the ability of a form to manifest and express its quality and nature. Yet livingness and quality exist apart from form and often come into major expression and usefulness through the application of the Law of Death.

Đây là một khái quát rộng lớn có thể truyền đạt nhiều điều cho điểm đạo đồ nhưng chắc chắn truyền đạt rất ít cho nhà tư tưởng trung bình, đối với người ấy sự sống về căn bản và đơn giản chỉ có nghĩa là điều gọi một hình tướng vào biểu hiện, duy trì nó trong hiện hữu và liên tục chứng tỏ sự hiện diện của nó bằng một loại hoạt động nào đó—một hoạt động chứng minh tính sống động của nó. Tuy nhiên, chúng ta lại sai lầm khi áp dụng từ sống cho khả năng của một hình tướng trong việc biểu lộ và diễn đạt phẩm tính và bản chất của nó. Thế nhưng tính sống động và phẩm tính tồn tại tách biệt khỏi hình tướng và thường đi vào biểu hiện lớn lao cùng sự hữu dụng thông qua việc áp dụng Định luật Chết.

The fact of divinity and of divine origin is proved by the fact of life. This is oft overlooked, and the emphasis is put upon the concept that life evokes and supports a form [586] which anchors the life-essence and proves the reality of its existence.

Sự kiện về thiên tính và nguồn gốc thiêng liêng được chứng minh bởi sự kiện của sự sống. Điều này thường bị bỏ qua, và sự nhấn mạnh được đặt vào quan niệm rằng sự sống khơi gọi và nâng đỡ một hình tướng [586] vốn neo giữ tinh chất sự sống và chứng minh thực tại của sự hiện hữu của nó.

It is the life of the One Source of all manifesting forms which creates relationships and essential qualities, and though this has been affirmed ceaselessly it still remains a meaningless platitude. As men, however, begin to recognise God as energy and themselves as aspects of that energy, as they begin consciously to work with energies and recognise the distinction in time and space between energies and forces, and then as the soul comes into greater functioning activity, the fact of life will be recognised in a new and almost formidable manner. It should be remembered that the soul is a secondary energy, which proves the existence of the primary energy and is responsible for the appearance of the third form of energy—the tangible and the objective. Life will eventually be known as capable of being invoked by the soul in the interests of the form. Here lies a clue to our general theme.

Chính sự sống của Nguồn Cội Duy Nhất của mọi hình tướng biểu hiện tạo ra các mối liên hệ và các phẩm tính cốt yếu, và dù điều này đã được khẳng định không ngừng, nó vẫn còn là một sáo ngữ vô nghĩa. Tuy nhiên, khi con người bắt đầu nhận ra Thượng đế là năng lượng và chính mình là các phương diện của năng lượng đó, khi họ bắt đầu làm việc một cách có ý thức với các năng lượng và nhận ra sự khác biệt trong thời gian và không gian giữa năng lượng và mãnh lực, rồi khi linh hồn đi vào hoạt động chức năng lớn hơn, thì sự kiện của sự sống sẽ được nhận biết theo một cách mới mẻ và gần như đáng kinh ngạc. Cần nhớ rằng linh hồn là một năng lượng thứ cấp, chứng minh sự hiện hữu của năng lượng sơ cấp và chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của hình thức năng lượng thứ ba—cái hữu hình và khách quan. Cuối cùng, sự sống sẽ được biết là có thể được linh hồn khẩn cầu vì lợi ích của hình tướng. Chính trong điều này có một đầu mối cho chủ đề tổng quát của chúng ta.

Up till now the mechanism of approach to the life aspect—the antahkarana and the agent, the spiritual will—has not been understood in any useful sense. Today, the first faint hints as to the use of the antahkarana, and its purpose in relation to the personality and the Spiritual Triad, are being studied by a few students in the world, and their numbers will steadily increase as both personality and soul establish contact and fusion and more people take initiation. The purpose, consequently, for the very existence of the fourth kingdom in nature (as a transmitting agent for the higher spiritual energies to the three lower kingdoms) will begin to appear, and men, in group formation, will consciously begin this work of “saving”—in the esoteric sense, needless to say—these other grouped lives. The Macrocosm with its purpose and incentives will for the first time begin to reflect itself into the human kingdom in a new-[587] and more potent manner, and this in its turn will become the macrocosm of the three lesser states of conscious lives—the animal, the vegetable and the mineral kingdoms.

Cho đến nay, cơ chế tiếp cận phương diện sự sống—antahkarana và tác nhân của nó là ý chí tinh thần—vẫn chưa được hiểu theo bất kỳ ý nghĩa hữu dụng nào. Ngày nay, những gợi ý mờ nhạt đầu tiên về việc sử dụng antahkarana, và mục đích của nó trong liên hệ với phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần, đang được một số ít đạo sinh trên thế giới nghiên cứu, và số lượng của họ sẽ tăng đều khi cả phàm ngã lẫn linh hồn thiết lập tiếp xúc và sự dung hợp, và ngày càng nhiều người đạt điểm đạo. Do đó, mục đích của chính sự hiện hữu của giới thứ tư trong thiên nhiên (như một tác nhân truyền dẫn các năng lượng tinh thần cao hơn đến ba giới thấp) sẽ bắt đầu xuất hiện, và con người, trong sự hình thành nhóm, sẽ bắt đầu một cách có ý thức công việc “cứu rỗi” này—dĩ nhiên theo nghĩa huyền bí—đối với các sự sống nhóm khác này. Đại thiên địa với mục đích và các động lực của nó lần đầu tiên sẽ bắt đầu phản chiếu chính nó vào giới nhân loại theo một cách mới[587] và mạnh mẽ hơn, và đến lượt nó, điều này sẽ trở thành đại thiên địa của ba trạng thái nhỏ hơn của các sự sống có tâm thức—giới động vật, giới thực vật và giới kim thạch.

All this is a deep mystery, but has remained so only on account of the lack of development of the fourth kingdom. There had been a deviation from the original intent. Its function and field of service could, however, be realised and expressed only when this highest aspect, the will aspect, had been brought into conscious expression in mankind through the building and the utilisation of the antahkarana. Along the rainbow bridge the life aspect can flow, and it is to this that the Christ referred when He states that He had come so that there might be present upon the Earth, “life more abundantly.” Always there has been life, but when the Christ consciousness is radiantly present (as is the case today, though on a small scale) and the numbers of those expressing it are vast indeed, the inference is that the antahkarana is firmly established; the rainbow bridge can then be traversed and crossed, and life in abundance and in a new and impelling sense, and a fresh impulsing sense can also flow through humanity into the subhuman kingdoms in nature. This is evidence of divinity, and outstanding testimony of man’s divine origin, and the hope, the saving hope, of the world.

Tất cả điều này là một huyền nhiệm sâu xa, nhưng nó chỉ còn như vậy vì sự thiếu phát triển của giới thứ tư. Đã có một sự lệch khỏi ý định ban đầu. Tuy nhiên, chức năng và lĩnh vực phụng sự của nó chỉ có thể được nhận ra và biểu lộ khi phương diện cao nhất này, phương diện ý chí, được đưa vào biểu hiện có ý thức trong nhân loại thông qua việc xây dựng và sử dụng antahkarana. Dọc theo Cây cầu vồng, phương diện sự sống có thể tuôn chảy, và chính điều này mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài tuyên bố rằng Ngài đến để trên Trái Đất có thể hiện diện “sự sống dồi dào hơn.” Sự sống luôn luôn hiện hữu, nhưng khi tâm thức Christ hiện diện một cách rạng ngời (như trường hợp ngày nay, dù trên quy mô nhỏ) và số người biểu lộ nó thật sự rất lớn, thì suy luận là antahkarana đã được thiết lập vững chắc; khi ấy Cây cầu vồng có thể được đi qua và vượt qua, và sự sống dồi dào theo một ý nghĩa mới mẻ và thúc đẩy, cùng một cảm thức thúc đẩy mới mẻ, cũng có thể tuôn qua nhân loại vào các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên. Đây là bằng chứng của thiên tính, và là chứng từ nổi bật về nguồn gốc thiêng liêng của con người, và là niềm hy vọng, niềm hy vọng cứu rỗi, của thế giới.

The energy and the forces constitute the sumtotal of all that is. This is another basic truism or platitude upon which the science of occultism is built and which the healing art must recognise. There is, in manifestation, nothing else of any kind whatsoever. Disease itself is a form of active energy, demonstrating in forces which destroy or produce death. Therefore, if our basic premise is correct, disease is also a form of divine expression, for what we know to be evil is also the reverse side of that which we call good. Shall we belittle the subject or cause a false impression [588] if we regard evil (at least as far as disease is concerned) as misplaced or maladjusted good? Will you misunderstand if I say that disease is energy which is not functioning as desired or according to plan? Inpouring energies are brought into relation with forces, and good health, strong and adequate forms and vital activity result; the same inpouring energies can, however, be brought into relation with the same forces and a point of friction be set up, producing a diseased area, pain, suffering and perhaps death. The energies and the forces remain of the same essentially divine nature, but the relationship established has produced the problem. If this sentence is studied it will be obvious that a definition such as that can be used to cover all forms of difficulty, and that the ultimate producer of the situation (either good or evil) is the relationship aspect. This statement is of major importance in all your thinking.

Năng lượng và các mãnh lực cấu thành tổng thể của mọi cái đang hiện hữu. Đây là một chân lý căn bản khác hay một sáo ngữ khác mà trên đó khoa học huyền bí học được xây dựng và mà nghệ thuật chữa lành phải thừa nhận. Trong biểu hiện, không có gì khác thuộc bất kỳ loại nào. Chính bệnh tật cũng là một hình thức năng lượng hoạt động, biểu lộ trong các mãnh lực hủy diệt hoặc tạo ra cái chết. Vì vậy, nếu tiền đề căn bản của chúng ta là đúng, thì bệnh tật cũng là một hình thức biểu lộ thiêng liêng, vì điều mà chúng ta biết là ác cũng là mặt trái của điều mà chúng ta gọi là thiện. Liệu chúng ta có làm giảm giá trị của đề tài hay gây ra một ấn tượng sai lầm [588] nếu xem điều ác (ít nhất là trong chừng mực liên quan đến bệnh tật) như điều thiện bị đặt sai chỗ hay điều chỉnh sai lệch chăng? Các bạn có hiểu lầm không nếu tôi nói rằng bệnh tật là năng lượng không vận hành như mong muốn hay theo Thiên Cơ? Các năng lượng tuôn vào được đưa vào liên hệ với các mãnh lực, và kết quả là sức khỏe tốt, các hình tướng mạnh mẽ và thích đáng, cùng hoạt động sinh động; tuy nhiên, cũng chính các năng lượng tuôn vào ấy có thể được đưa vào liên hệ với cùng các mãnh lực đó và một điểm ma sát được thiết lập, tạo ra một vùng bệnh hoạn, đau đớn, khổ sở và có lẽ là cái chết. Các năng lượng và các mãnh lực vẫn giữ nguyên cùng một bản chất thiêng liêng cốt yếu, nhưng mối liên hệ được thiết lập đã tạo ra vấn đề. Nếu câu này được nghiên cứu, sẽ hiển nhiên rằng một định nghĩa như thế có thể được dùng để bao quát mọi hình thức khó khăn, và rằng tác nhân tối hậu tạo ra tình huống (dù thiện hay ác) là phương diện liên hệ. Phát biểu này có tầm quan trọng lớn trong toàn bộ tư duy của các bạn.

2. Two energies meet in man but other five are present. For each is to be found a central point of contact.

2. Hai năng lượng gặp nhau trong con người nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, đều có thể tìm thấy một điểm tiếp xúc trung tâm.

The two energies which meet in man are the two aspects of the monad, of the One in manifestation; the monad manifests essentially as a duality: it expresses itself as will and love, as atma-buddhi and these two energies when brought into relation with the point of mind, with the third aspect of divinity, produce the soul and then the tangible manifested world: then there is demonstrated in the planet will, love, and mind or intelligence: or atma-buddhi-manas.

Hai năng lượng gặp nhau trong con người là hai phương diện của chân thần, của Đấng Duy Nhất trong biểu hiện; chân thần biểu lộ về bản chất như một nhị nguyên tính: nó diễn đạt chính mình như ý chí và bác ái, như atma-buddhi, và hai năng lượng này khi được đưa vào liên hệ với điểm trí tuệ, với phương diện thứ ba của thiên tính, sẽ tạo ra linh hồn và rồi thế giới biểu hiện hữu hình; khi ấy trên hành tinh sẽ biểu lộ ý chí, bác ái và trí tuệ hay thông tuệ: tức atma-buddhi-manas.

As the soul anchors itself as consciousness and life within the human being, that human being contributes the third something which is latent or karmically present in all substance, manas or mind; this is inherited or held in solution in substance from a previous solar system. In that system intelligence was unfolded and was retained within substance [589] in order to form the basis of the evolutionary development of this, the second solar system. Forget not that the seven planes of our solar system constitute the seven subplanes of the cosmic physical plane and that, therefore, spirit is matter at its highest point of expression, and matter is spirit at its lowest. Life differentiates itself into will and love, into great impulsing energies which underlie the entire evolutionary process and motivate its inevitable consummation.

Khi linh hồn neo chính nó như tâm thức và sự sống trong con người, thì con người ấy đóng góp yếu tố thứ ba vốn tiềm ẩn hay hiện diện theo nghiệp quả trong mọi chất liệu, đó là manas hay trí tuệ; điều này được thừa hưởng hay được giữ trong trạng thái hòa tan trong chất liệu từ một hệ mặt trời trước đây. Trong hệ ấy, trí tuệ đã được khai mở và được giữ lại trong chất liệu [589] để hình thành nền tảng cho sự phát triển tiến hoá của hệ này, tức hệ mặt trời thứ hai. Đừng quên rằng bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta cấu thành bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ và do đó, tinh thần là vật chất ở điểm biểu lộ cao nhất của nó, còn vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó. Sự sống tự biến phân thành ý chí và bác ái, thành những năng lượng thúc đẩy lớn lao làm nền cho toàn bộ tiến trình tiến hoá và thúc đẩy sự hoàn tất tất yếu của nó.

Atma-buddhi, as energies, anchor themselves in the soul vehicle, in the egoic lotus, and their fused activity evokes a response from the substance of the mental plane which then makes its own contribution. Its reaction produces what we call the higher mind, which is of so subtle a nature and so tenuous an emanation that it must perforce relate itself to the two higher aspects and become part of the Spiritual Triad. The vortex of forces established under the impact of the divine will, expressing divine purpose and unified with Being (as identity and not as a quality), produces the egoic lotus, the vehicle of that “identified soul” which has been swept into expression by the third result of the atmic-buddhic impact on the three worlds; the concrete mind and the human intellect come into expression. There is, therefore, a curious resemblance between the three divine aspects in manifestation and the spiritual man upon the mental plane. The correspondence is as follows:

Atma-buddhi, như những năng lượng, neo chính chúng trong vận cụ linh hồn, trong Hoa Sen Chân Ngã, và hoạt động dung hợp của chúng khơi dậy một đáp ứng từ chất liệu của cõi trí, rồi chất liệu này đóng góp phần riêng của nó. Phản ứng của nó tạo ra điều mà chúng ta gọi là thượng trí, vốn có bản chất vi tế đến mức và là một phát xạ mỏng nhẹ đến mức nó tất yếu phải liên hệ với hai phương diện cao hơn và trở thành một phần của Tam Nguyên Tinh Thần. Vòng xoáy các mãnh lực được thiết lập dưới tác động của ý chí thiêng liêng, biểu lộ Thiên Ý và hợp nhất với Bản Thể (như bản sắc chứ không phải như một phẩm tính), tạo ra Hoa Sen Chân Ngã, vận cụ của “linh hồn đã đồng nhất” ấy, vốn đã bị cuốn vào biểu hiện bởi kết quả thứ ba của tác động atmic-buddhic lên ba cõi giới; trí cụ thể và trí năng con người đi vào biểu hiện. Vì vậy, có một sự tương tự kỳ lạ giữa ba phương diện thiêng liêng trong biểu hiện và con người tinh thần trên cõi trí. Sự tương ứng như sau:

The monad…….Abstract mind.

Chân thần…….Trí trừu tượng.

The soul……… Egoic lotus.

Linh hồn……… Hoa Sen Chân Ngã.

The personality… Lower or concrete mind.

Phàm ngã… Hạ trí hay trí cụ thể.

That vague abstraction, the monad, for aeons of time seems unrelated in any way to the soul and the personality; these two have been and are occupied with the task of establishing, in due time and under the evolutionary urge, a close fusion [590] or at-one-ment. The abstract mind remains also for aeons of time something inconceivable and outside the modes of expression and of thinking of the man who is kama-manasic for emotion and lower mind) and then finally soul and concrete mind (or the illuminator and the transmitter of illumination). These correspondences can be found most enlightening if due consideration is given to them.

Sự trừu tượng mơ hồ đó, chân thần, trong nhiều đại kiếp dường như không có liên hệ nào với linh hồn và phàm ngã; hai phương diện này đã và đang bận rộn với nhiệm vụ thiết lập, vào thời điểm thích hợp và dưới thúc đẩy tiến hoá, một sự dung hợp chặt chẽ [590] hay sự hợp nhất. Trí trừu tượng cũng trong nhiều đại kiếp vẫn là điều không thể quan niệm được và nằm ngoài các phương thức biểu đạt cũng như tư duy của con người vốn là trí-cảm (tức cảm xúc và hạ trí), và rồi cuối cùng là linh hồn và trí cụ thể (hay là đấng soi sáng và là kẻ truyền đạt sự soi sáng). Những sự tương ứng này có thể mang lại nhiều điều soi sáng nếu được suy xét đúng mức.

In the human being you have, therefore, two major energies anchored; one unrealised, to which we give the name of the PRESENCE, the other realised, to which we give the name of the Angel of the PRESENCE. These are the soul (the solar angel) and the monad. One embodies the monadic ray and the other the soul ray, and both of these energies actively or subtly condition the personality.

Trong con người, vì vậy, các bạn có hai năng lượng chính được neo giữ; một năng lượng chưa được nhận ra, mà chúng ta gọi là HIỆN DIỆN, năng lượng kia đã được nhận ra, mà chúng ta gọi là Thiên Thần của HIỆN DIỆN. Đó là linh hồn (Thái dương Thiên Thần) và chân thần. Một năng lượng thể hiện cung chân thần và năng lượng kia thể hiện cung linh hồn, và cả hai năng lượng này đều tích cực hay vi tế tác động lên phàm ngã.

The other five energies Which are present are the ray of the mind or the conditioning force of the mental body; the ray of the emotional nature, and the ray of the physical body, plus a fourth ray which is that of the personality. The ray of the physical body esoterically “ascends upward towards juncture, whereas the others all move down,” to quote an ancient writing. The ray of the personality is a consequence or result of the vast cycle of incarnations. You have therefore:

Năm năng lượng khác hiện diện là cung của trí tuệ hay mãnh lực điều kiện hóa của thể trí; cung của bản chất cảm xúc, và cung của thể xác, cộng với cung thứ tư là cung của phàm ngã. Cung của thể xác một cách huyền bí “đi lên trên hướng tới chỗ nối kết, trong khi tất cả các cung khác đều đi xuống,” để trích một trước tác cổ. Cung của phàm ngã là hệ quả hay kết quả của chu kỳ nhập thể rộng lớn. Vì vậy, các bạn có:

1. The monadic ray.

1. Cung chân thần.

2. The soul ray.

2. Cung linh hồn.

3. Ray of the mind.

3. Cung của trí tuệ.

4. Ray of the emotions.

4. Cung của cảm xúc.

5. Ray of the physical body.

5. Cung của thể xác.

6. Ray of the personality.

6. Cung của phàm ngã.

7. The planetary ray.

7. Cung hành tinh.

The planetary ray is always the third Ray of Active Intelligence because it conditions our Earth and is of great potency, enabling the human being to “transact his business in the [591] world of planetary physical life.”

Cung hành tinh luôn luôn là cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động vì nó điều kiện hóa Trái Đất của chúng ta và có mãnh lực rất lớn, giúp con người “xử lý công việc của mình trong [591] thế giới của đời sống hồng trần hành tinh.”

I have made only casual reference to these rays elsewhere and have said little anent the planetary ray; I have laid the emphasis upon another analysis of the conditioning rays, and in this analysis recognised only five rays for practical usefulness to the man. These are:

Ở nơi khác, tôi chỉ tình cờ nhắc đến các cung này và nói rất ít về cung hành tinh; tôi đã nhấn mạnh vào một cách phân tích khác về các cung điều kiện hóa, và trong cách phân tích ấy chỉ công nhận năm cung là hữu dụng thực tiễn cho con người. Đó là:

1. The soul ray.

1. Cung linh hồn.

2. The personality ray.

2. Cung phàm ngã.

3. The mental ray.

3. Cung thể trí.

4. The astral ray.

4. Cung thể cảm dục.

5. The ray of the physical body.

5. Cung của thể xác.

However, with the creation and development of the antahkarana, the ray of the monad must also be brought into line, and then that which is its polar opposite, the planetary “livingness,” the third ray, will have to be recognised. I have here imparted a point of much importance to you. All these energies play an active part in the life cycle of every man and cannot be totally ignored by the healer, even though the information may be relatively useless at this time.

Tuy nhiên, với việc tạo dựng và phát triển antahkarana, cung của chân thần cũng phải được đưa vào hàng ngũ, và khi đó điều là đối cực phân cực của nó, “tính sống” hành tinh, tức cung ba, sẽ phải được thừa nhận. Ở đây tôi đã truyền đạt cho các bạn một điểm rất quan trọng. Tất cả các năng lượng này đều đóng một vai trò tích cực trong chu kỳ đời sống của mỗi người và không thể bị người chữa lành hoàn toàn bỏ qua, dù thông tin này hiện nay có thể tương đối vô dụng.

3. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves produce the bodily ills of man.

3. Sự xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau tạo ra các bệnh tật thân thể của con người.

You will note here that diseases are produced, according to this law, in two ways:

Ở đây các bạn sẽ lưu ý rằng bệnh tật được tạo ra, theo định luật này, theo hai cách:

1. By the conflict of energies with forces.

1. Bởi sự xung đột của các năng lượng với các mãnh lực.

2. By the conflict of the forces twixt themselves.

2. Bởi sự xung đột của các mãnh lực với nhau.

It will be apparent on the surface that this dual warfare is to be expected. Under the first category there is the warfare which takes place in the personality life when the soul definitely turns its attention to its vehicles and attempts to take [592] control. The more determined the person is to submit his personality to soul control, the more intense will be the conflict, with consequent physical conditions of a serious kind as a result. Under this category would come the majority of the diseases of disciples and mystics, largely of a nervous nature and often affecting the heart or the blood stream. They will, in the majority of cases, be confined to the area above the diaphragm, and therefore to those areas conditioned by the head, the throat and the heart centres. A number of what we might call “borderline” cases come under this heading also, but these are confined to the transfer of energies (under soul impact) from the solar plexus centre to the heart, and the “line” involved is simply the diaphragm.

Thoạt nhìn, hiển nhiên là cuộc chiến kép này phải được trông đợi. Dưới loại thứ nhất là cuộc chiến diễn ra trong đời sống phàm ngã khi linh hồn dứt khoát hướng sự chú ý của nó đến các vận cụ của nó và cố gắng nắm quyền [592] kiểm soát. Người ấy càng quyết tâm quy phục phàm ngã của mình dưới sự kiểm soát của linh hồn, thì sự xung đột sẽ càng mãnh liệt, và kết quả là các tình trạng hồng trần nghiêm trọng. Dưới loại này sẽ thuộc về phần lớn các bệnh của các đệ tử và các nhà thần bí, phần nhiều có tính chất thần kinh và thường ảnh hưởng đến tim hay dòng máu. Trong đa số trường hợp, chúng sẽ bị giới hạn ở vùng phía trên cơ hoành, và do đó ở những vùng được điều kiện hóa bởi các trung tâm đầu, cổ họng và tim. Một số trường hợp mà chúng ta có thể gọi là “ranh giới” cũng thuộc đề mục này, nhưng chúng chỉ giới hạn trong việc chuyển dịch các năng lượng (dưới tác động của linh hồn) từ trung tâm tùng thái dương lên tim, và “ranh giới” liên quan đơn giản là cơ hoành.

Under this first category also would come those difficulties which are brought about, for instance, when the energy of the astral body makes its impact upon the forces of the etheric vehicle, setting up an emotional turmoil, and thus producing serious solar plexus difficulty with resultant gastric, intestinal and liver disturbances. These are all the result of the conflict between energy and forces. All I can do at this point is to give indication of the type of problem which is related to one or other of these two categories; the subject is unsuitable for the brief handling which I purpose here to give.

Dưới loại thứ nhất này cũng sẽ thuộc về những khó khăn được gây ra, chẳng hạn, khi năng lượng của thể cảm dục tác động lên các mãnh lực của vận cụ dĩ thái, tạo nên một cơn xáo trộn cảm xúc, và do đó gây ra khó khăn nghiêm trọng ở tùng thái dương với hậu quả là các rối loạn dạ dày, ruột và gan. Tất cả những điều này đều là kết quả của sự xung đột giữa năng lượng và các mãnh lực. Tại điểm này, tất cả những gì tôi có thể làm là chỉ ra loại vấn đề liên hệ đến một hay loại kia trong hai loại này; đề tài này không thích hợp cho cách xử lý ngắn gọn mà tôi dự định trình bày ở đây.

Under the second category, which concerns the conflict between forces and forces, you have the etheric body involved, and the forces concerned are those to be found in the major and the minor centres, involving their relation to each other and their internal reaction to the impact of energies coming from without the etheric body. These forces and their interplay produce the common ills of man and control the disturbances in the physical organs and the areas of the physical body which are found around these centres. [593] These in reality constitute the major conditioning factors for the mass of human beings for long aeons or until such time as the soul “pays attention” to the appropriation in full control of its mechanism in the three worlds. These secondary difficulties, due to the interplay between the centres, fall into three categories, and these should be carefully noted:

Dưới loại thứ hai, liên quan đến sự xung đột giữa mãnh lực với mãnh lực, các bạn có thể dĩ thái bị liên can, và các mãnh lực liên hệ là những mãnh lực được tìm thấy trong các trung tâm chính và phụ, bao gồm mối liên hệ của chúng với nhau và phản ứng nội tại của chúng đối với tác động của các năng lượng đến từ bên ngoài thể dĩ thái. Các mãnh lực này và sự tương tác của chúng tạo ra những đau yếu thông thường của con người và kiểm soát các rối loạn trong các cơ quan hồng trần và các vùng của thể xác được tìm thấy quanh các trung tâm này. [593] Thực ra, đây là những yếu tố điều kiện hóa chính đối với đại đa số nhân loại trong nhiều đại kiếp hoặc cho đến khi linh hồn “chú ý” đến việc chiếm hữu trọn vẹn bộ máy của nó trong ba cõi giới dưới sự kiểm soát hoàn toàn. Những khó khăn thứ yếu này, do sự tương tác giữa các trung tâm, rơi vào ba loại, và cần được ghi nhận cẩn thận:

1. The interplay between:

1. Sự tương tác giữa:

a. The centres above the diaphragm, i.e., the head, the throat and the heart, and very occasionally the ajna centre.

a. Các trung tâm phía trên cơ hoành, tức là đầu, cổ họng và tim, và rất hiếm khi là trung tâm ajna.

b. The centres below the diaphragm and their relation to each other.

b. Các trung tâm phía dưới cơ hoành và mối liên hệ của chúng với nhau.

2. The relation of certain centres to each other, such as takes place under the Law of Transmutation, or the process of lifting up of the forces from one centre to another:

2. Mối liên hệ của một số trung tâm với nhau, như diễn ra dưới Định luật Chuyển Hoá, hay tiến trình nâng các mãnh lực từ trung tâm này lên trung tâm khác:

a. From the sacral centre to the throat centre.

a. Từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng.

b. From the solar plexus centre to the heart centre.

b. Từ trung tâm tùng thái dương lên trung tâm tim.

c. From the centre at the base of the spine to the head centre.

c. Từ trung tâm ở đáy cột sống lên trung tâm đầu.

3. The impact of the “energy” (note the technical accuracy of my phrasing) of the centres above the diaphragm on those below the diaphragm.

3. Tác động của “năng lượng” (hãy lưu ý tính chính xác kỹ thuật trong cách diễn đạt của tôi) của các trung tâm phía trên cơ hoành lên các trung tâm phía dưới cơ hoành.

This is a reverse process to that which takes place when the forces below the diaphragm are raised to the centres above the diaphragm. In this third type of relation you have the exercise of the potency of magnetism, and in the other you have the expression of radiation. These two are closely allied at a certain stage of unfoldment.

Đây là một tiến trình ngược lại với tiến trình diễn ra khi các mãnh lực phía dưới cơ hoành được nâng lên các trung tâm phía trên cơ hoành. Trong loại liên hệ thứ ba này, các bạn có sự vận dụng tiềm lực của từ điện, còn trong loại kia các bạn có sự biểu lộ của bức xạ. Hai điều này liên hệ rất mật thiết với nhau ở một giai đoạn khai mở nhất định.

[594]

[594]

Under all these relationships there are possibilities of difficulties, resulting in an undesirable effect upon the physical organs found within the area involved. In the early stages of the relation of the centres above the diaphragm to those below, the man is usually quite unaware of what is going on and is then simply the victim of the stimulation applied by the centre emanating energy to the centre which receives its impact; or he is the victim of devitalisation (producing consequently many forms of physical ills) as the centres respond to the stimulation. It is all a question of balance or of equilibrium, and it is for this that the intelligent man and the aspirant must strive.

Dưới tất cả các mối liên hệ này đều có những khả năng gây khó khăn, dẫn đến một hiệu quả không mong muốn trên các cơ quan hồng trần nằm trong vùng liên hệ. Trong các giai đoạn đầu của mối liên hệ giữa các trung tâm phía trên cơ hoành với các trung tâm phía dưới, con người thường hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra và khi ấy chỉ đơn giản là nạn nhân của sự kích thích do trung tâm phát ra năng lượng áp dụng lên trung tâm tiếp nhận tác động của nó; hoặc y là nạn nhân của sự mất sinh lực (do đó tạo ra nhiều hình thức đau yếu hồng trần) khi các trung tâm đáp ứng với sự kích thích. Tất cả đều là vấn đề cân bằng hay quân bình, và chính vì điều này mà con người thông minh và người chí nguyện phải phấn đấu.

We come now to a very ambiguous statement and one that is purposely meant to be so:

Giờ đây chúng ta đến với một phát biểu rất mơ hồ và cố ý được làm cho như vậy:

4. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top.

4. Sự xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên.

This refers vaguely (and again purposely so) to the conflict between the energies above the diaphragm—which normally come from the soul on its own plane—and the forces below the diaphragm. This is a major and persistent conflict; it begins when the solar plexus centre becomes dominant and powerful, producing crises as in Atlantean days. As the mass of men are still Atlantean in consciousness, being swayed mainly by their emotional natures, these crises arise today. Eventually, and metaphysically speaking, the solar plexus centre begins to have a radiatory effect in response to the magnetic “call” of the heart centre. When the first initiation is taken the first great interplay is set up between the two and the first coordinated activity is established. “That which is above is now related to that which is below, but that which is below loses its identity in that which is above,” as the Old Commentary expresses it. The [595] mother is lost to sight because the Christ-Child assumed the place of interest. The soul is taking control and leading the aspirant from mountain top to mountain top. At the first initiation, and increasingly at all initiations, energy is brought into a major conflict with the forces; soul energy sweeps into the etheric body and all the centres become “fighting areas,” with one centre being emphasised more than the others. The nature of the battle is no longer that “twixt the forces and each other,” but is now between the energies and the forces, and it is this which creates the acuteness of the tests for initiation; it is this which produces so many physical ills among those who have taken or are preparing to take the first and second initiations. And it accounts for the diseases of the saints!

Điều này ám chỉ một cách mơ hồ (và lại cố ý như vậy) đến sự xung đột giữa các năng lượng phía trên cơ hoành—vốn thông thường đến từ linh hồn trên cõi riêng của nó—và các mãnh lực phía dưới cơ hoành. Đây là một xung đột lớn và dai dẳng; nó bắt đầu khi trung tâm tùng thái dương trở nên chi phối và mạnh mẽ, tạo ra các khủng hoảng như trong thời Atlantis. Vì đại đa số con người vẫn còn là Atlantis trong tâm thức, chủ yếu bị bản chất cảm xúc của mình chi phối, nên các khủng hoảng này phát sinh ngày nay. Cuối cùng, nói theo siêu hình học, trung tâm tùng thái dương bắt đầu có hiệu quả bức xạ để đáp ứng với “tiếng gọi” từ tính của trung tâm tim. Khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận thì sự tương tác lớn đầu tiên được thiết lập giữa hai trung tâm này và hoạt động phối hợp đầu tiên được xác lập. “Điều ở trên nay đã liên hệ với điều ở dưới, nhưng điều ở dưới mất bản sắc của nó trong điều ở trên,” như Cổ Luận diễn tả. Người mẹ mất khỏi tầm mắt vì Hài Nhi Christ đã chiếm lấy vị trí được quan tâm. Linh hồn đang nắm quyền kiểm soát và dẫn dắt người chí nguyện từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Ở lần điểm đạo thứ nhất, và ngày càng nhiều hơn ở mọi lần điểm đạo, năng lượng được đưa vào một cuộc xung đột lớn với các mãnh lực; năng lượng linh hồn tràn vào thể dĩ thái và mọi trung tâm trở thành “những vùng chiến đấu,” với một trung tâm được nhấn mạnh hơn các trung tâm khác. Bản chất của cuộc chiến không còn là cuộc chiến “giữa các mãnh lực với nhau,” mà nay là giữa các năng lượng và các mãnh lực, và chính điều này tạo ra tính gay gắt của các thử thách điểm đạo; chính điều này tạo ra quá nhiều bệnh tật hồng trần nơi những người đã tiếp nhận hay đang chuẩn bị tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Và điều đó giải thích các bệnh tật của các vị thánh!

A great science of the centres will some day emerge, and this will clarify the entire complex problem; the time, however, is not yet. At present, if this science were taught openly, the result would be that the thoughts of men would be turned to the fact of the centres and to the areas which they control, and not to the energies which pour through them. There would be an unwholesome and undesirable stimulation or devitalisation of the substance of the centres, with consequent acute disease. The law forever holds good that “energy follows thought,” and that energy can be either radiatory or magnetic, but must not be statically contained within a centre. The true science of the centres will only be permitted free circulation when—and only when—men know the rudiments at least of thought direction and the control of energy impacts.

Một khoa học lớn về các trung tâm rồi đây sẽ xuất hiện, và điều này sẽ làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề phức tạp; tuy nhiên, thời điểm ấy vẫn chưa đến. Hiện nay, nếu khoa học này được dạy công khai, kết quả sẽ là tư tưởng của con người bị hướng đến sự kiện về các trung tâm và đến các vùng mà chúng kiểm soát, chứ không phải đến các năng lượng tuôn qua chúng. Sẽ có một sự kích thích hay mất sinh lực không lành mạnh và không mong muốn đối với chất liệu của các trung tâm, với hậu quả là bệnh tật cấp tính. Quy luật “năng lượng đi theo tư tưởng” luôn luôn đúng, và năng lượng có thể là bức xạ hoặc từ tính, nhưng không được bị giữ tĩnh tại trong một trung tâm. Khoa học chân chính về các trung tâm sẽ chỉ được phép lưu hành tự do khi—và chỉ khi—con người biết ít nhất những điều sơ đẳng về sự định hướng tư tưởng và sự kiểm soát các tác động năng lượng.

5. The fight between the forces produces all disease, all ills, and bodily pains which seek release through death.

5. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu, và đau đớn thân thể vốn tìm sự giải thoát qua cái chết.

[596]

[596]

There is here an interesting distinction which should be noted. Death, when it comes, is the result of two things:

Ở đây có một sự phân biệt thú vị cần được lưu ý. Cái chết, khi đến, là kết quả của hai điều:

1. The fight between the forces, and not between energy and the forces. The area of conflict is the etheric body and the physical body, and no energies are coming in from without because the man is too ill.

1. Cuộc chiến giữa các mãnh lực, chứ không phải giữa năng lượng và các mãnh lực. Vùng xung đột là thể dĩ thái và thể xác, và không có năng lượng nào từ bên ngoài đi vào vì người ấy quá bệnh.

2. The loss of the will-to-live. The patient has given in; the internal fight is too much for him; he can bring in no outside energy to combat the warring forces, and he has reached the point where he does not want to do so.

2. Sự mất đi Ý Chí-hướng Sống. Bệnh nhân đã đầu hàng; cuộc chiến nội tại là quá sức đối với y; y không thể đưa vào bất kỳ năng lượng bên ngoài nào để chống lại các mãnh lực đang giao chiến, và y đã đạt đến điểm mà y không còn muốn làm như vậy nữa.

These two phases of the process of dying are indicative of the destiny of the patient, and should be immediately noted by the healer who (when he finds them present) will then apply his skill in aiding the man to die and will not attempt to effect a cure. The door of entry for the life-giving energies is sealed; nothing can enter to aid the healer in his work, and the conflict between the forces-of a general nature or confined to a bitter fight in a particular area-produces so much friction that there is no hope anywhere, except in death. In this sentence, it might be pointed out that disease refers to the point of friction or of acute trouble; all ills has reference to the general reaction of the man to the area of difficulty and to the general disability produced by the disease, whilst bodily pain refers to the discomfort of the area where the disease is located and which is indicative of its nature. All words in these rules are most carefully chosen, and even if inadequate from the translator’s point of view, are not redundant but express different meanings.

Hai giai đoạn này của tiến trình chết cho thấy số phận của bệnh nhân, và cần được người chữa lành ghi nhận ngay; khi thấy chúng hiện diện, y sẽ vận dụng kỹ năng của mình để giúp người ấy chết và sẽ không cố gắng chữa khỏi. Cánh cửa đi vào của các năng lượng ban sự sống đã bị niêm phong; không gì có thể đi vào để hỗ trợ người chữa lành trong công việc của y, và sự xung đột giữa các mãnh lực—mang tính tổng quát hoặc giới hạn trong một cuộc chiến dữ dội ở một vùng cụ thể—tạo ra quá nhiều ma sát đến nỗi không còn hy vọng nào ở đâu cả, ngoại trừ trong cái chết. Trong câu này, có thể chỉ ra rằng bệnh tật nói đến điểm ma sát hay điểm rối loạn cấp tính; mọi đau yếu nói đến phản ứng tổng quát của con người đối với vùng khó khăn và đến tình trạng suy nhược chung do bệnh tật tạo ra, trong khi đau đớn thân thể nói đến sự khó chịu của vùng nơi bệnh khu trú và là dấu hiệu cho thấy bản chất của nó. Mọi từ trong các quy luật này đều được chọn lựa hết sức cẩn thận, và dù có thể không đầy đủ theo quan điểm của người dịch, chúng không thừa mà diễn đạt những ý nghĩa khác nhau.

6. The two, the five and then the seven, plus that which they produce, possess the secret.

6. Hai, năm, rồi bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật.

[597]

[597]

The enumeration is in the nature of a summation of what has been previously given, and its most superficial meaning and the one of the most use to the healer could be simply expressed as follows:

Sự liệt kê này có tính chất tổng kết những gì đã được trình bày trước đó, và ý nghĩa bề mặt nhất của nó, cũng là ý nghĩa hữu ích nhất cho người chữa lành, có thể được diễn đạt đơn giản như sau:

The healer must bear in mind the fact of the two major energies which are present in every personality; the soul and the personality rays. He must then bear in mind that to these two he must add three conditioning rays, making the five above mentioned: the mind ray, the ray of the astral body and the ray of the physical body.

Người chữa lành phải ghi nhớ sự kiện về hai năng lượng chính hiện diện trong mọi phàm ngã; cung linh hồn và cung phàm ngã. Sau đó y phải ghi nhớ rằng vào hai cung này y phải cộng thêm ba cung điều kiện hóa, tạo thành năm cung vừa nêu: cung thể trí, cung của thể cảm dục và cung của thể xác.

This enumeration will usually prove adequate for all ordinary or average people. If, however, the patient is a very advanced person, another form of enumeration will be in order; it will be necessary to add two more energies which will then be present in real potency: the ray of the monad and the ray of the planet, which is the third ray. This planetary ray when very active (as is the case with very advanced persons and those who have attained a high point of general integration) has a potent effect; planetary prana comes in powerfully on the planetary ray, and this can be used to bring about a cure. One reason why the general health of all very advanced people is usually good is that pranic energy from the planet has a free flow through the mechanism. It is this energy which the Master, working through a relatively perfect body, depends upon to keep it in good health. This is a somewhat new piece of information and one which—when recognised—will appear both simple and reasonable. “That which they produce” in this case, and to the healer, means the outer tangible form; there are other significances, but with these we need not here deal.

Sự liệt kê này thường sẽ tỏ ra đầy đủ đối với mọi người bình thường hay trung bình. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân là một người rất tiến bộ, thì một hình thức liệt kê khác sẽ thích hợp; cần phải cộng thêm hai năng lượng nữa, khi ấy sẽ hiện diện với tiềm lực thực sự: cung của chân thần và cung của hành tinh, tức cung ba. Cung hành tinh này khi rất hoạt động (như trường hợp nơi những người rất tiến bộ và những người đã đạt đến một điểm cao của sự tích hợp tổng quát) có một hiệu quả mạnh mẽ; prana hành tinh đi vào mạnh mẽ trên cung hành tinh, và điều này có thể được dùng để tạo ra sự chữa lành. Một lý do khiến sức khỏe tổng quát của mọi người rất tiến bộ thường tốt là vì năng lượng prana từ hành tinh có một dòng chảy tự do qua bộ máy. Chính năng lượng này mà Chân sư, làm việc qua một thể tương đối hoàn hảo, nương vào để giữ cho nó được khỏe mạnh. Đây là một mẩu thông tin phần nào mới mẻ và khi được nhận ra, sẽ có vẻ vừa đơn giản vừa hợp lý. “Điều mà chúng tạo ra” trong trường hợp này, và đối với người chữa lành, có nghĩa là hình tướng hữu hình bên ngoài; còn có những thâm nghĩa khác, nhưng ở đây chúng ta không cần bàn đến.

The “secret” referred to is the revelation of the manner in which good health may be preserved. It is not the secret [598] of how to cure the physical vehicle when “bodily ills” are present. But there is a secret of good health which is known to all initiates above the third initiation; and this they can simply employ, if they so choose. However, they may not so choose always unless they are working with other parts of the Plan which have nothing to do with humanity. If them are among those who are occupied with the unfolding consciousness in man and who are workers for and in the human kingdom, they may know the secret but may, at the same time, choose not to profit by it because of the need they feel to be completely identified with mankind; they therefore choose to share consciously all human experience and to die along lines which are common to the rest of men. The entire question of identification lies behind all manifestation; it is identification with or of spirit and matter which is the secret of divine appearance; one of the main causes of disease, as well you know, is the facility with which men identify themselves with the form aspect (with the many localised forces—localised within the personality ring-pass-not). Man neglects to identify himself with the producer of the form, the true spiritual man, and with the energies which he seeks to direct, and which—later in the evolutionary cycle—he is insistent upon directing.

“Bí mật” được nói đến là sự mặc khải về cách thức mà sức khỏe tốt có thể được duy trì. Đó không phải là bí mật [598] về cách chữa lành vận cụ hồng trần khi “các đau yếu thân thể” hiện diện. Nhưng có một bí mật của sức khỏe tốt mà mọi điểm đạo đồ trên lần điểm đạo thứ ba đều biết; và các vị có thể đơn giản sử dụng nó, nếu các vị chọn như vậy. Tuy nhiên, các vị có thể không phải lúc nào cũng chọn như vậy trừ phi các vị đang làm việc với những phần khác của Thiên Cơ vốn không liên quan gì đến nhân loại. Nếu các vị thuộc số những người đang bận tâm đến sự khai mở tâm thức trong con người và là những người hoạt động cho và trong giới nhân loại, các vị có thể biết bí mật ấy nhưng đồng thời có thể chọn không hưởng lợi từ nó vì nhu cầu mà các vị cảm thấy là phải hoàn toàn đồng nhất với nhân loại; do đó các vị chọn chia sẻ một cách có ý thức mọi kinh nghiệm của con người và chết theo những đường lối vốn phổ biến đối với phần còn lại của nhân loại. Toàn bộ vấn đề đồng nhất nằm phía sau mọi biểu hiện; chính sự đồng nhất của hay với tinh thần và vật chất là bí mật của sắc tướng thiêng liêng; như các bạn biết rõ, một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật là sự dễ dàng mà con người đồng nhất chính mình với phương diện hình tướng (với nhiều mãnh lực khu trú—được khu trú trong vòng-giới-hạn của phàm ngã). Con người sao lãng việc đồng nhất chính mình với tác nhân tạo ra hình tướng, con người tinh thần chân thực, và với các năng lượng mà y tìm cách định hướng, và về sau trong chu kỳ tiến hoá, y kiên quyết định hướng.

There is also a secret meaning here which relates to the seven rays as they express themselves in the human kingdom; the knowledge of this secret enables a Master to control epidemics and widespread diseases; with this you are not at this time concerned. Incidentally, the relative freedom from the plagues and epidemics which usually follow in the wake of war has been partly due to the use of this sevenfold knowledge by the Hierarchy, plus the scientific knowledge of humanity itself.

Ở đây cũng có một ý nghĩa bí mật liên hệ đến bảy cung khi chúng biểu lộ trong giới nhân loại; tri thức về bí mật này giúp một Chân sư kiểm soát các dịch bệnh và các bệnh lan rộng; hiện nay các bạn chưa cần quan tâm đến điều đó. Nhân tiện, sự tương đối vắng mặt của các bệnh dịch và dịch hạch thường theo sau chiến tranh một phần là nhờ việc Thánh đoàn sử dụng tri thức thất phân này, cộng với tri thức khoa học của chính nhân loại.

In this connection also (and I mention it simply from the angle of its interest) there are two hierarchical officials—[599] the Mahachohan and His Representative upon the seventh ray—Who are today in possession of this secret in its entirety, and They are aided by five other Masters in applying the gained knowledge. These five Masters are working primarily with the deva evolution, and this is, as you know, connected with form, and in this particular case with the healing devas. These seven Members of the Hierarchy are aided in Their turn by one of the Buddhas of Activity, and also by the representative of the Spirit of the Earth. This again makes the two, the five, and then the seven—a different enumeration, and one which when brought together equals nine, which is the number of initiation. This numerical relationship brings man to the point where he is “initiated into the realm of perfection and knows no further aches or pains, and his mind is thus deflected from that which is below to that which is above.”

Trong mối liên hệ này cũng vậy (và tôi chỉ nêu ra từ góc độ thú vị của nó), có hai vị chức sắc của Thánh đoàn—[599] Đức Mahachohan và Đại diện của Ngài trên cung bảy—là những Đấng ngày nay nắm giữ trọn vẹn bí mật này, và Các Ngài được năm Chân sư khác trợ giúp trong việc áp dụng tri thức đã đạt được. Năm Chân sư này chủ yếu làm việc với tiến hoá thiên thần, và điều này, như các bạn biết, có liên hệ với hình tướng, và trong trường hợp đặc biệt này là với các thiên thần chữa lành. Bảy Thành Viên này của Thánh đoàn đến lượt mình được một trong các Đức Phật Hoạt Động trợ giúp, và cũng bởi đại diện của Tinh Linh Địa Cầu. Điều này lại tạo thành hai, năm, rồi bảy—một cách liệt kê khác, và khi cộng lại thành chín, là con số của điểm đạo. Mối liên hệ số học này đưa con người đến điểm mà y “được điểm đạo vào cõi giới của sự hoàn hảo và không còn biết thêm đau nhức hay đau đớn nào nữa, và do đó trí tuệ của y được chuyển khỏi điều ở dưới sang điều ở trên.”

I have mentioned this phase of mankind’s relation to the subject of health so as to show you how subtle and esoteric are the matters with which we are dealing, and so give to the individual patient a sense of proportion, where his bodily ills or even his death are concerned.

Tôi đã đề cập đến phương diện này của mối liên hệ của nhân loại với đề tài sức khỏe để cho các bạn thấy những vấn đề mà chúng ta đang bàn đến tinh tế và huyền bí đến mức nào, và nhờ đó đem lại cho bệnh nhân cá nhân một Ý thức về tỉ lệ, khi liên quan đến các đau yếu thân thể hay ngay cả cái chết của y.

7. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

7. Đây là định luật chữa lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

This fifth law is primarily concerned with the fifth principle of mind or manas; it is this principle which makes a human being what he is; it is this principle which makes him a prisoner within the form and upon the planet, and thus makes him vulnerable and open to attacks upon the form aspect; these constitute part of the agelong action of evil versus good. It is this fifth principle, when controlled and used by the Son of Mind, Who is a Son of God, which will enable the spiritual man to free himself from form of every kind, and therefore from disease and death.

Định luật thứ năm này chủ yếu liên hệ đến nguyên khí thứ năm là trí tuệ hay manas; chính nguyên khí này làm cho con người là điều mà y là; chính nguyên khí này làm cho y thành một tù nhân trong hình tướng và trên hành tinh, và do đó làm cho y dễ bị tổn thương và dễ bị tấn công vào phương diện hình tướng; những điều này cấu thành một phần của hoạt động lâu đời của ác đối kháng với thiện. Chính nguyên khí thứ năm này, khi được Con của Trí Tuệ, Đấng là Con của Thượng đế, kiểm soát và sử dụng, sẽ giúp con người tinh thần giải thoát chính mình khỏi mọi loại hình tướng, và do đó khỏi bệnh tật và cái chết.

[600]

[600]

It will be obvious that the healer, as he trains himself in the healing art, has to grasp clearly and candidly certain exceedingly simple yet esoteric facts:

Hiển nhiên là người chữa lành, khi tự huấn luyện mình trong nghệ thuật chữa lành, phải nắm bắt rõ ràng và thẳng thắn một số sự kiện cực kỳ đơn giản nhưng huyền bí:

1. That healing is simply and essentially the manipulation of energies.

1. Rằng chữa lành đơn giản và cốt yếu là sự vận dụng các năng lượng.

2. That he must carefully differentiate between energies and forces.

2. Rằng y phải cẩn thận phân biệt giữa năng lượng và mãnh lực.

3. That if he seeks real success, he must learn to place the patient as accurately as possible upon the correct rung of the ladder of evolution.

3. Rằng nếu tìm kiếm thành công thực sự, y phải học cách đặt bệnh nhân càng chính xác càng tốt trên nấc thang đúng của chiếc thang tiến hoá.

4. That knowledge of the centres is imperative.

4. Rằng tri thức về các trung tâm là điều bắt buộc.

5. That he himself must work as a soul through his personality.

5. Rằng chính y phải làm việc như một linh hồn thông qua phàm ngã của mình.

6. That his relation to the patient (unless the latter is highly evolved) is a personality one.

6. Rằng mối liên hệ của y với bệnh nhân (trừ phi người sau là một người rất tiến hoá) là một mối liên hệ phàm ngã.

7. That he must locate the centre controlling the area which involves the point of friction.

7. Rằng y phải xác định trung tâm kiểm soát vùng liên quan đến điểm ma sát.

8. That, as with all else in the occult sciences, disease and healing are both of them aspects of the great “relationship” system which governs all manifestation.

8. Rằng, cũng như với mọi điều khác trong các khoa học huyền bí, bệnh tật và chữa lành cả hai đều là những phương diện của hệ thống lớn về “liên hệ” vốn chi phối mọi biểu hiện.

If the healer will take these eight points and reflect and brood upon them, he will lay a sound foundation for all work to be done; their relative simplicity is such that it will be obvious that anyone can be a healer if he so chooses and is willing to conform to the requirements. The current idea that a person is a “born” healer, and therefore unique, in reality indicates only that it is one of his main directed interests. Therefore, because of this interest, his attention has been turned towards the healing art and consequently towards contact with patients; owing to the inevitable working of the law which governs thought, he discovers that energy follows his thought and flows through him to the [601] patient. When he does this with deliberation, a healing will often follow. Any man or woman—given real interest and prompted by the incentive to serve—who thinks and loves, can be a healer, and it is time that people grasped that fact. The entire process of healing is thought-directed; it concerns the direction of energy currents or their abstraction, and this is another way of speaking about radiation and magnetism. Every initiate is a healer, and the more advanced the initiate the less is he occupied with the intricacies of centres and forces, energies and their direction. He heals automatically, as was the case with the initiate, Peter; of him we read that “the shadow of Peter passing by healed everyone of them.”

Nếu nhà chữa lành tiếp nhận tám điểm này và suy tư, chiêm ngưỡng về chúng, y sẽ đặt được một nền tảng vững chắc cho mọi công việc cần làm; tính tương đối đơn giản của chúng khiến hiển nhiên rằng bất cứ ai cũng có thể là một nhà chữa lành nếu y chọn như vậy và sẵn lòng tuân theo các đòi hỏi. Quan niệm hiện nay cho rằng một người là nhà chữa lành “bẩm sinh”, và vì thế là độc nhất, trên thực tế chỉ cho thấy rằng đó là một trong những mối quan tâm có định hướng chính của y. Vì vậy, do mối quan tâm này, sự chú ý của y đã được hướng về nghệ thuật chữa lành và do đó hướng về sự tiếp xúc với các bệnh nhân; do sự vận hành tất yếu của định luật chi phối tư tưởng, y khám phá ra rằng năng lượng đi theo tư tưởng của y và tuôn qua y đến bệnh nhân [601]. Khi y làm điều này một cách có chủ ý, sự chữa lành thường sẽ theo sau. Bất kỳ người nam hay người nữ nào—nếu có mối quan tâm chân thật và được thúc đẩy bởi động cơ phụng sự—biết suy nghĩ và biết yêu thương, đều có thể là một nhà chữa lành, và đã đến lúc người ta phải nắm được sự kiện đó. Toàn bộ tiến trình chữa lành được tư tưởng định hướng; nó liên quan đến việc định hướng các dòng năng lượng hoặc sự rút chúng đi, và đây là một cách khác để nói về bức xạ và từ điện. Mọi điểm đạo đồ đều là một nhà chữa lành, và điểm đạo đồ càng tiến bộ thì Ngài càng ít bận tâm đến những phức tạp của các trung tâm và các mãnh lực, các năng lượng và sự định hướng của chúng. Ngài chữa lành một cách tự động, như trường hợp của điểm đạo đồ Peter; về ông, chúng ta đọc rằng “cái bóng của Peter đi ngang qua đã chữa lành tất cả họ.”

The major difference to be seen in the interim (an interim of many, many thousands of years) between the type of healing mentioned above and the work of a less advanced healer, will be that those healers who are trained physicians and accredited medical men as well as spiritual healers will have a great advantage over the untrained healer, because their diagnosis of the disease will be more apt to be correct and their powers of visualisation will be greater, owing to their trained familiarity with the structure of the body and their knowledge of morbid pathology. It will be wise, for a very long time to come, for the spiritual healer to work always in collaboration with a trained physician. The healer will provide the required occult knowledge. The time when any nice, kindly and spiritually minded person sets up as a healer should be well-nigh over; any healing practice should be preceded by years of careful study anent the nature of energy, of the ray types, of the centres; a minimum of at least three years should be given to this; when to this is added the science of the trained medical man, graduating from our best medical colleges, you will then have a new and much better treatment of the human vehicle than is now [602] the case. Then the healer’s orthodox and occult knowledge, his visualising capacity and his power of thought direction will be real and practically effective.

Sự khác biệt chính có thể thấy trong giai đoạn chuyển tiếp này (một giai đoạn chuyển tiếp kéo dài rất, rất nhiều ngàn năm) giữa loại chữa lành được nhắc đến ở trên và công việc của một nhà chữa lành kém tiến bộ hơn, sẽ là ở chỗ những nhà chữa lành nào vừa là bác sĩ được đào tạo và là y sĩ được công nhận, đồng thời cũng là nhà chữa lành tinh thần, sẽ có một lợi thế lớn hơn nhà chữa lành không được đào tạo, bởi vì chẩn đoán bệnh của họ có nhiều khả năng đúng hơn và năng lực hình dung của họ sẽ lớn hơn, nhờ sự quen thuộc được huấn luyện của họ với cấu trúc của thể xác và kiến thức của họ về bệnh lý học. Trong một thời gian rất dài sắp tới, sẽ là khôn ngoan nếu nhà chữa lành tinh thần luôn làm việc trong sự cộng tác với một bác sĩ được đào tạo. Nhà chữa lành sẽ cung cấp tri thức huyền bí học cần thiết. Thời kỳ mà bất kỳ người tử tế, tốt bụng và có khuynh hướng tinh thần nào cũng tự đứng ra làm nhà chữa lành hẳn phải gần như chấm dứt; bất kỳ việc hành nghề chữa lành nào cũng nên được đi trước bởi nhiều năm nghiên cứu cẩn trọng về bản chất của năng lượng, các loại cung, các trung tâm; tối thiểu ít nhất ba năm nên được dành cho việc này; khi cộng thêm vào đó khoa học của người thầy thuốc được đào tạo, tốt nghiệp từ các trường y khoa tốt nhất của chúng ta, khi ấy các bạn sẽ có một phương pháp điều trị mới và tốt hơn nhiều đối với vận cụ con người so với hiện nay [602]. Khi đó tri thức chính thống và huyền bí học của nhà chữa lành, năng lực hình dung và quyền năng định hướng tư tưởng của y sẽ là thực sự và có hiệu quả thực tiễn.

The rule connected with Law V makes clear the need for this occult knowledge, for it states very definitely certain fundamental injunctions.

Quy luật liên kết với Định luật V làm rõ nhu cầu về tri thức huyền bí học này, vì nó nêu ra rất dứt khoát một số huấn lệnh căn bản.

RULE THREEQUY LUẬT BA

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre. Let the centre correspond to the centre which has need. Let the two synchronise and together augment force. Thus shall the waiting form he balanced in its work. Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Hãy để nhà chữa lành tập trung năng lượng cần thiết trong trung tâm cần thiết. Hãy để trung tâm ấy tương ứng với trung tâm đang cần. Hãy để hai trung tâm đồng bộ và cùng nhau tăng cường mãnh lực. Như thế hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó. Như thế hai và một, dưới sự định hướng đúng đắn, sẽ chữa lành.

This rule presupposes a knowledge of the centres, and this knowledge is, as you well know, still embryonic; all that is known in most cases is the location of a centre. This, however, especially with untrained healers, is sufficient. Too detailed a knowledge of the formation, condition and responsiveness of a centre would handicap the healer, for his thought would be deflected to the detail of the form and away from the energy and its movements.

Quy luật này giả định có tri thức về các trung tâm, và như các bạn biết rõ, tri thức này vẫn còn ở giai đoạn phôi thai; trong đa số trường hợp, tất cả những gì được biết chỉ là vị trí của một trung tâm. Tuy nhiên, điều này, đặc biệt với các nhà chữa lành không được đào tạo, là đủ. Một tri thức quá chi tiết về sự hình thành, tình trạng và tính đáp ứng của một trung tâm sẽ làm trở ngại nhà chữa lành, vì tư tưởng của y sẽ bị lệch sang chi tiết của hình tướng và rời xa năng lượng cùng các chuyển động của nó.

The rule here requires that the healer, having aligned himself with the soul and “tapped” soul energy (thereby making himself a channel for spiritual force), directs this energy into that one of his own centres which corresponds to the centre conditioning the area of the point of friction. If the disease or physical trouble is stomachic, for instance, or related to the liver, the healer will direct his soul energy into the solar plexus centre, situated in the etheric spinal column. If the patient should be suffering from difficulty in the heart or the lungs the healer will use the heart centre, employing the throat centre for diseases of the bronchial tract, the throat, the mouth or the ears.

Quy luật ở đây đòi hỏi rằng nhà chữa lành, sau khi đã chỉnh hợp chính mình với linh hồn và “khai thác” năng lượng linh hồn (nhờ đó làm cho mình thành một kênh dẫn cho mãnh lực tinh thần), phải định hướng năng lượng này vào một trong các trung tâm của chính y, trung tâm tương ứng với trung tâm đang tác động lên khu vực của điểm ma sát. Chẳng hạn, nếu bệnh hay rối loạn hồng trần là ở dạ dày, hoặc liên quan đến gan, nhà chữa lành sẽ định hướng năng lượng linh hồn của y vào trung tâm tùng thái dương, nằm trong cột sống dĩ thái. Nếu bệnh nhân đang chịu đau khổ vì khó khăn ở tim hay phổi, nhà chữa lành sẽ dùng trung tâm tim, dùng trung tâm cổ họng cho các bệnh của đường phế quản, cổ họng, miệng hay tai.

[603]

[603]

Two things, therefore, become of importance in connection with the healer himself:

Vì vậy, có hai điều trở nên quan trọng liên quan đến chính nhà chữa lành:

1. He must know as accurately as possible his own point of development, for that will indicate to him capacity or non-capacity to work with any or with all the centres. In order to use any of his centres in the healing work, the healer must have awakened them in some measure and be able, consciously and by the power of thought, under the agency of the will, to focus energy in whichever centre he chooses. This does not mean that all the centres are awakened and truly functioning. It should, however, mean (if he is to heal at all) that he is not confined to the sole use of the centres below the diaphragm but that, by an effort of the spiritual will, thought can be channelled into the higher centres. Many aspirants can do this with greater facility than they believe.

1. Y phải biết càng chính xác càng tốt điểm phát triển của chính mình, vì điều đó sẽ chỉ cho y biết năng lực hay vô năng lực để làm việc với bất kỳ hay với tất cả các trung tâm. Để sử dụng bất kỳ trung tâm nào của mình trong công việc chữa lành, nhà chữa lành phải đã đánh thức chúng ở một mức độ nào đó và có thể, một cách hữu thức và bằng quyền năng của tư tưởng, dưới tác động của ý chí, tập trung năng lượng vào bất cứ trung tâm nào y chọn. Điều này không có nghĩa là tất cả các trung tâm đều đã được đánh thức và thực sự hoạt động. Tuy nhiên, điều đó nên có nghĩa (nếu y thật sự chữa lành) rằng y không bị giới hạn vào việc chỉ sử dụng các trung tâm dưới cơ hoành mà, bằng một nỗ lực của ý chí tinh thần, tư tưởng có thể được dẫn vào các trung tâm cao hơn. Nhiều người chí nguyện có thể làm điều này dễ dàng hơn họ tưởng.

2. The healer, as he channels energy into some centre, prior to directing it to a centre in the patient’s body, must run no risk of his personal overstimulation. This is a very important point. So much disease and physical difficulty among ordinary people is abdominal, necessitating the constant use of the solar plexus centre by the healer; this could bring about a grave condition of overemotionalism and even acute astralism on the part of the healer. He would then be the victim of his good intentions and of his spiritual service, for the consequences would all the same be bad; energy is an impersonal force and a purely impersonal agency. Purity of intention, selfless service and goodwill are no true protection, in spite of the platitudes of the sentimental occultist. In fact, the presence of these desirable conditions only increases the difficulty, for soul energy will pour in with [604] great force. An understanding of the risks involved, a sane appraisal of possibility and a scientific and technical understanding of protective measures will be given to the healer towards the latter end of his training. For the present, and because the danger is not at this time so great (owing to lack of potency in people’s thinking and their inability to direct thought) the major protective measure consists in the ability of the healer to hold his consciousness steady in the head centre with the “eye of direction” turned to the needed centre. This involves a dual focus, and for the ability to do this the healer must strive.

2. Nhà chữa lành, khi dẫn năng lượng vào một trung tâm nào đó, trước khi định hướng nó đến một trung tâm trong thể của bệnh nhân, không được để xảy ra bất kỳ nguy cơ nào về sự kích thích quá mức nơi cá nhân y. Đây là một điểm rất quan trọng. Quá nhiều bệnh tật và khó khăn hồng trần nơi người thường là ở vùng bụng, đòi hỏi nhà chữa lành phải liên tục sử dụng trung tâm tùng thái dương; điều này có thể gây ra một tình trạng nghiêm trọng của sự quá cảm xúc và thậm chí cảm dục tính cấp tính nơi nhà chữa lành. Khi đó y sẽ là nạn nhân của những ý định tốt đẹp và sự phụng sự tinh thần của chính mình, vì các hậu quả vẫn sẽ là xấu; năng lượng là một mãnh lực vô ngã và là một tác nhân thuần túy vô ngã. Sự thanh khiết của ý định, sự phụng sự vô ngã và thiện chí không phải là sự bảo vệ đích thực, bất chấp những lời sáo rỗng của nhà huyền bí học đa cảm. Thật ra, sự hiện diện của những điều kiện đáng mong muốn này chỉ làm tăng thêm khó khăn, vì năng lượng linh hồn sẽ tuôn vào với [604] mãnh lực lớn. Sự thấu hiểu các nguy cơ liên quan, một sự lượng định lành mạnh về khả năng, và một sự hiểu biết khoa học và kỹ thuật về các biện pháp bảo vệ sẽ được trao cho nhà chữa lành vào giai đoạn cuối của quá trình huấn luyện của y. Hiện nay, và bởi vì nguy hiểm lúc này chưa lớn đến thế (do sự thiếu mãnh lực trong tư tưởng của con người và sự bất lực của họ trong việc định hướng tư tưởng), biện pháp bảo vệ chính yếu nằm ở khả năng của nhà chữa lành giữ tâm thức của mình ổn định trong trung tâm đầu với “con mắt định hướng” quay về trung tâm cần thiết. Điều này bao hàm một sự tập trung kép, và để có khả năng làm được điều này nhà chữa lành phải nỗ lực.

It is here that the healer distinguishes between the processes of radiation and magnetisation. Having concentrated soul energy in the appropriate centre, through the power of direction from the head (the seat of soul energy) and by the potency of thought, the process of radiation ends. This radiation has passed through two stages:

Chính ở đây nhà chữa lành phân biệt giữa các tiến trình bức xạ và từ hóa. Sau khi đã tập trung năng lượng linh hồn trong trung tâm thích hợp, nhờ quyền năng định hướng từ đầu (nơi ngự của năng lượng linh hồn) và bởi mãnh lực của tư tưởng, tiến trình bức xạ chấm dứt. Sự bức xạ này đã đi qua hai giai đoạn:

1. The stage wherein the soul radiated energy into the head centre.

1. Giai đoạn trong đó linh hồn bức xạ năng lượng vào trung tâm đầu.

2. The stage wherein the healer directs a ray of that energy from the head centre into the “needed centre”; it is there focussed and held steady.

2. Giai đoạn trong đó nhà chữa lành định hướng một tia của năng lượng ấy từ trung tâm đầu vào “trung tâm cần thiết”; tại đó nó được tập trung và giữ ổn định.

From that appropriate centre the stage of synchronisation with the corresponding centre in the patient’s body is established; this is done, not by the healer sending a ray into that centre, but because the potency of the healer’s centre evokes response from that of the patient; it acts like a magnet, drawing forth a definite radiation from the patient. This radiation, esoterically, “lights up” the point of friction in the surrounding area and—were the healer clairvoyant would thus enable him to see more clearly the seat of the [605] trouble and, therefore, to arrive at a more accurate diagnosis. Ordinarily, the spiritual healer is depending upon the diagnosis of the medical man in attendance, if he is not one himself.

Từ trung tâm thích hợp đó, giai đoạn đồng bộ với trung tâm tương ứng trong thể bệnh nhân được thiết lập; điều này được thực hiện không phải bằng việc nhà chữa lành gửi một tia vào trung tâm ấy, mà bởi vì mãnh lực của trung tâm nơi nhà chữa lành gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm của bệnh nhân; nó hoạt động như một nam châm, kéo ra một bức xạ xác định từ bệnh nhân. Về mặt huyền bí học, bức xạ này “thắp sáng” điểm ma sát trong khu vực chung quanh và—nếu nhà chữa lành là nhà thông nhãn—nhờ đó sẽ cho phép y thấy rõ hơn chỗ ngồi của [605] rối loạn và vì thế đi đến một chẩn đoán chính xác hơn. Thông thường, nhà chữa lành tinh thần dựa vào chẩn đoán của người thầy thuốc đang điều trị, nếu chính y không phải là thầy thuốc.

The interplay is now established between the healer and the patient and upon etheric levels. The energy of their two synchronised centres is now en rapport, and the healer has at this point to determine whether the treatment requires an expulsive technique or a stimulating one. He has therefore to ascertain whether the patient’s centre is overstimulated and if some of the surplus energy should consequently be driven out or abstracted, or whether there is a condition of devitalisation and the energy of the centre involved requires a deliberate augmenting.

Sự tương tác nay đã được thiết lập giữa nhà chữa lành và bệnh nhân trên các cấp độ dĩ thái. Năng lượng của hai trung tâm đã đồng bộ của họ nay đã tương thông, và tại điểm này nhà chữa lành phải xác định liệu việc điều trị đòi hỏi một kỹ thuật tống xuất hay một kỹ thuật kích thích. Vì vậy y phải xác định xem trung tâm của bệnh nhân có bị kích thích quá mức hay không và do đó có nên đẩy ra hay rút đi một phần năng lượng dư thừa, hoặc liệu có một tình trạng mất sinh lực và năng lượng của trung tâm liên quan cần được tăng cường một cách có chủ ý hay không.

There is, however, a third possibility mentioned here which is slower, but in practically every case is more desirable; it is the attainment of that balance of energies (between the healer and the patient) which will hold the energy in the area of the point of friction and permit nature itself to bring about an unassisted cure. This is possible only when the rapport between the patient and the healer is complete. Then the sole task of the healer is to hold the situation steady, give the patient confidence in the powers inherent within him, and encourage a period of patient waiting. The cure then is more lasting, and there is no sense or period of psychic shock, which can be the case if sudden stimulation or drastic expulsion is employed.

Tuy nhiên, ở đây còn có một khả năng thứ ba được nhắc đến, chậm hơn, nhưng trên thực tế trong hầu như mọi trường hợp lại đáng mong muốn hơn; đó là đạt được sự quân bình năng lượng ấy (giữa nhà chữa lành và bệnh nhân), sự quân bình sẽ giữ năng lượng trong khu vực của điểm ma sát và cho phép chính bản chất tự mang lại một sự chữa lành không cần trợ giúp. Điều này chỉ có thể khi sự tương thông giữa bệnh nhân và nhà chữa lành là trọn vẹn. Khi đó nhiệm vụ duy nhất của nhà chữa lành là giữ tình huống ổn định, đem lại cho bệnh nhân sự tin tưởng vào các quyền năng vốn có bên trong y, và khuyến khích một thời kỳ chờ đợi kiên nhẫn. Khi ấy sự chữa lành sẽ bền vững hơn, và không có cảm giác hay giai đoạn chấn động thông linh, điều có thể xảy ra nếu dùng sự kích thích đột ngột hoặc sự tống xuất mạnh bạo.

We have noted here, as you see, three modes whereby the healer employs the force focussed, by direction, in his centres:

Như các bạn thấy, ở đây chúng ta đã ghi nhận ba phương thức mà qua đó nhà chữa lành sử dụng mãnh lực được tập trung, bằng sự định hướng, trong các trung tâm của y:

1. For the expulsion of surplus energy in an overstimulated centre. [606]

1. Để tống xuất năng lượng dư thừa trong một trung tâm bị kích thích quá mức. [606]

2. For definite processes of stimulation of the patient’s centres.

2. Để thực hiện các tiến trình kích thích xác định đối với các trung tâm của bệnh nhân.

3. To preserve a state of equilibrium wherein natural healing can take place.

3. Để duy trì một trạng thái quân bình trong đó sự chữa lành tự nhiên có thể diễn ra.

In the first case, the healer deliberately increases the potency of the energy stored in his centre, so that it becomes exceedingly magnetic and abstracts the oversupply of energy in the patient’s centre; in the second case, the healer sends a powerful ray of his own energy into the corresponding centre in the patient’s body. This is an act of radiation and is very effective; in the third case, an interplay is set up which preserves balance, and furthers steady and normal activity in the centre controlling the area of trouble.

Trong trường hợp thứ nhất, nhà chữa lành cố ý gia tăng mãnh lực của năng lượng được tích trữ trong trung tâm của y, đến mức nó trở nên cực kỳ từ tính và rút đi lượng năng lượng dư thừa trong trung tâm của bệnh nhân; trong trường hợp thứ hai, nhà chữa lành gửi một tia năng lượng mạnh mẽ của chính y vào trung tâm tương ứng trong thể bệnh nhân. Đây là một hành động bức xạ và rất hiệu quả; trong trường hợp thứ ba, một sự tương tác được thiết lập để duy trì quân bình, và thúc đẩy hoạt động ổn định và bình thường trong trung tâm kiểm soát khu vực rối loạn.

You will note also how all these processes (and they are relatively simple when grasped) are dependent upon the decision of the healer. It is here that mistakes can be made, and the man who is seeking to work along the lines I indicate would be well-advised to move slowly and with due caution even at the expense of being ineffectual and unsuccessful. It is better to have no effect upon the patient and his condition than by the potency of one’s unwise decision, the power of one’s thought and the focus of one’s direction, to hasten the patient’s death by the sudden abstraction of needed energy or by the stimulation of a centre already overstimulated and overactive.

Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng mọi tiến trình này (và chúng tương đối đơn giản khi đã được nắm bắt) đều tùy thuộc vào quyết định của nhà chữa lành. Chính ở đây các sai lầm có thể xảy ra, và người đang tìm cách làm việc theo những đường lối tôi chỉ ra nên được khuyên là hãy tiến chậm và hết sức thận trọng, ngay cả với cái giá là không hiệu quả và không thành công. Tốt hơn là không gây tác động nào lên bệnh nhân và tình trạng của y còn hơn là, bằng mãnh lực của quyết định thiếu khôn ngoan của mình, quyền năng của tư tưởng mình và tiêu điểm định hướng của mình, đẩy nhanh cái chết của bệnh nhân bằng sự rút đi đột ngột năng lượng cần thiết hoặc bằng sự kích thích một trung tâm vốn đã bị kích thích quá mức và hoạt động quá mạnh.

In the last analysis the aim in the three modes of aiding the patient by direct work with the centres involved, is to bring about a balanced and wholesome activity. This is more easily achieved in the case of an advanced person than in the case of the individual in whom the centre is normally inactive and unawakened and where the difficulty is more apt to be due to the action of some of the twenty-one minor centres situated in the body than to that of the seven major [607] centres. In these cases, the patient can far more easily be helped by orthodox medicine and surgery than by any processes of spiritual healing. It is for this reason that the spiritual header is only now becoming important and his work in any way possible. This is owing to the rapid spiritual development of humanity, which enables men, for the first time and on any substantial scale, to take advantage of these laws and rules.

Xét đến cùng, mục tiêu trong ba phương thức trợ giúp bệnh nhân bằng công việc trực tiếp với các trung tâm liên quan là mang lại một hoạt động quân bình và lành mạnh. Điều này đạt được dễ hơn trong trường hợp một người tiến bộ hơn là trong trường hợp cá nhân mà trung tâm thường bất hoạt và chưa được đánh thức, và nơi khó khăn có nhiều khả năng là do tác động của một trong hai mươi mốt trung tâm phụ nằm trong thể hơn là do bảy trung tâm chính [607]. Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể được giúp dễ dàng hơn nhiều bằng y học và phẫu thuật chính thống hơn là bằng bất kỳ tiến trình chữa lành tinh thần nào. Chính vì lý do này mà nhà chữa lành tinh thần chỉ mới nay trở nên quan trọng và công việc của y mới có thể thực hiện được theo bất kỳ cách nào. Điều này là do sự phát triển tinh thần nhanh chóng của nhân loại, điều cho phép những người nam và nữ, lần đầu tiên và trên một quy mô đáng kể, tận dụng các định luật và quy luật này.

In the last sentence in Rule Three, the meaning of the two and the one is that the combined energy within the healer—soul energy focussed in the head centre and the energy of the “needed centre,” plus the energy of the centre which controls the point of friction in the patient’s body is responsible for the healing, providing it is the destiny of the patient to be healed.

Trong câu cuối của Quy luật Ba, ý nghĩa của hai và một là năng lượng kết hợp bên trong nhà chữa lành—năng lượng linh hồn được tập trung trong trung tâm đầu và năng lượng của “trung tâm cần thiết,” cộng với năng lượng của trung tâm kiểm soát điểm ma sát trong thể bệnh nhân—chịu trách nhiệm cho sự chữa lành, miễn là số mệnh của bệnh nhân là được chữa lành.

LAW VIĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower. Personal self, then you have disease and ill health and death.

Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, khi ấy có sức khỏe, sự tương tác thanh sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những kẻ làm việc dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, khi ấy các bạn có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết.

This is a most interesting law, because it deals basically with causes, primarily with causes over which the average person has no conscious control, and because it occultly gives a picture in miniature or microcosmically of the universal or macrocosmic situation. It deals with the entire problem of evil, or pain and suffering (the great mysteries of our little planet) in a few sentences, but they are sentences conveying vast implications. The very simplicity of this great natural law veils the far-reaching significances of its normal working. It says the following things quite simply, and I enumerate them because the breaking down of a paragraph [608] into its clear and simple statements is a sound way to arrive at understanding:

Đây là một định luật rất thú vị, vì về căn bản nó bàn đến các nguyên nhân, chủ yếu là các nguyên nhân mà người trung bình không có sự kiểm soát hữu thức, và vì về mặt huyền bí học nó đưa ra một bức tranh thu nhỏ hay vi mô về tình huống phổ quát hay vĩ mô. Nó bàn đến toàn bộ vấn đề của điều ác, hay đau đớn và đau khổ (những huyền nhiệm lớn của hành tinh nhỏ bé của chúng ta) chỉ trong vài câu, nhưng đó là những câu chuyển tải những hàm ý bao la. Chính sự đơn giản của định luật tự nhiên lớn lao này che phủ những thâm nghĩa sâu rộng của sự vận hành bình thường của nó. Nó nói những điều sau đây một cách rất đơn giản, và tôi liệt kê chúng vì việc phân tách một đoạn văn [608] thành những phát biểu rõ ràng và đơn giản của nó là một cách đúng đắn để đi đến thấu hiểu:

1. When the soul controls the form involved, there is health.

1. Khi linh hồn kiểm soát hình tướng liên quan, có sức khỏe.

2. The soul is the builder of the form, the constructive force in manifestation.

2. Linh hồn là đấng kiến tạo của hình tướng, là mãnh lực kiến tạo trong biểu hiện.

3. This is true of both the microcosm and the macrocosm.

3. Điều này đúng cho cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.

4. The results are wholeness, right relation and correct activity.

4. Kết quả là sự toàn vẹn, tương quan đúng đắn và hoạt động chính xác.

5. When the soul is not in control, and the forces of the form nature are therefore the controlling factors, there will be ill health.

5. Khi linh hồn không kiểm soát, và do đó các mãnh lực của bản chất hình tướng là các yếu tố kiểm soát, sẽ có sức khỏe kém.

6. The builders of the form are the “lunar lords,” the physical, astral and mental elementals.

6. Các đấng kiến tạo của hình tướng là các “nguyệt tinh quân,” các hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ.

7. These, in their triple totality, compose the personality.

7. Ba loại này, trong tổng thể tam phân của chúng, hợp thành phàm ngã.

8. They are occultly under the direction of the moon, the symbol of form, called often the “mother of the form.”

8. Về mặt huyền bí học, chúng ở dưới sự chỉ đạo của mặt trăng, biểu tượng của hình tướng, thường được gọi là “mẹ của hình tướng.”

9. The emanation coming from the moon has in it the seeds of death and disease, because the moon is a “dead planet.”

9. Xuất lộ đến từ mặt trăng mang trong nó các hạt giống của cái chết và bệnh tật, bởi vì mặt trăng là một “hành tinh chết.”

It all comes back again, as you will note, to the source of the major energy controlling the body. Though the soul is the source of all life and consciousness, for aeons all the soul does is to preserve the form in life and in consciousness, until such time that it has reached the stage in evolution where it is a useful and suitable instrument i and will become increasingly so) for the soul to employ as a medium of expression and service. Karma determines then the quality and nature of the physical body. It can be healthy because it has not been misused in the particular life or lives conditioning a particular incarnation, or unhealthy because it is paying the price of error. Good health is not necessarily dependent upon conscious soul contact. [609] That can and does produce good health, but it is also dependent, in the majority of average cases, upon the life and intentions of the personality—in this life and in previous lives; it is not until the will of the personality is towards spiritual betterment and a cleaner, purer life that the soul can be of real assistance.

Như các bạn sẽ lưu ý, mọi điều lại quay trở về nguồn của năng lượng chính kiểm soát thể. Dù linh hồn là nguồn của mọi sự sống và tâm thức, trong nhiều đại kiếp tất cả những gì linh hồn làm chỉ là giữ cho hình tướng sống và có tâm thức, cho đến khi nó đạt đến giai đoạn trong tiến hoá mà ở đó nó là một công cụ hữu ích và thích hợp (và sẽ ngày càng trở nên như vậy) để linh hồn sử dụng như một trung gian biểu lộ và phụng sự. Khi đó nghiệp quả quyết định phẩm tính và bản chất của thể xác. Nó có thể khỏe mạnh vì đã không bị lạm dụng trong đời sống đặc thù hay các đời sống tác động lên một lần nhập thể đặc thù, hoặc không khỏe mạnh vì nó đang trả giá cho sai lầm. Sức khỏe tốt không nhất thiết tùy thuộc vào sự tiếp xúc hữu thức với linh hồn. [609] Điều đó có thể và thực sự tạo ra sức khỏe tốt, nhưng trong đa số trường hợp trung bình, nó cũng tùy thuộc vào đời sống và các ý định của phàm ngã—trong đời này và trong các đời trước; mãi cho đến khi ý chí của phàm ngã hướng về sự cải thiện tinh thần và một đời sống sạch hơn, thanh khiết hơn, linh hồn mới có thể thực sự trợ giúp.

This law carries also the implications of that basic relation which makes the threefold form of the man an integral part of the macrocosmic whole. All forms in all kingdoms are built by the lunar lords under an impulse emanating from the planetary Logos, working in cooperation with the Spirit of the Earth—the sumtotal of all the lunar lords and of the three types of energised substance which go to the creation of the physical, astral and mental bodies. The relation of the planetary Logos to this Spirit of the Earth (the relation of an evolutionary Being to an involutionary entity) is a reflection (distorted and under the influence of glamour) in the three worlds of the relation of the soul to the personality elemental. It is most useful for the healer to realise that in handling disease he is in reality handling involutionary lives and attempting to work with elementals. The natural trend of these elemental lives, all of them upon the involutionary arc, is to block and to frustrate his efforts and the efforts of the soul, and this—for them—is their way of evolution; it is that which will eventually bring them on to the evolutionary are.

Định luật này cũng mang theo những hàm ý của mối liên hệ căn bản khiến hình tướng tam phân của con người là một phần toàn vẹn của tổng thể vĩ mô. Mọi hình tướng trong mọi giới đều được các nguyệt tinh quân xây dựng dưới một xung lực phát ra từ Hành Tinh Thượng đế, hoạt động trong sự hợp tác với Tinh Linh Địa Cầu—tổng số của mọi nguyệt tinh quân và của ba loại chất liệu được tiếp sinh lực đi vào việc tạo nên các thể hồng trần, cảm dục và trí tuệ. Mối liên hệ của Hành Tinh Thượng đế với Tinh Linh Địa Cầu này (mối liên hệ của một Hữu thể thăng thượng tiến hoá với một thực thể giáng hạ tiến hoá) là một phản ánh (bị bóp méo và dưới ảnh hưởng của ảo cảm) trong ba cõi thấp của mối liên hệ giữa linh hồn và hành khí phàm ngã. Điều rất hữu ích cho nhà chữa lành là nhận ra rằng khi xử lý bệnh tật, trên thực tế y đang xử lý các sự sống giáng hạ tiến hoá và đang cố gắng làm việc với các hành khí. Khuynh hướng tự nhiên của các sự sống hành khí này, tất cả đều ở trên cung giáng hạ tiến hoá, là ngăn chặn và làm thất bại các nỗ lực của y và các nỗ lực của linh hồn, và điều này—đối với chúng—là con đường tiến hoá của chúng; chính điều đó cuối cùng sẽ đưa chúng lên cung thăng thượng tiến hoá.

When the time comes that the soul can assume conscious control within and over the form, and can eventually create a form which is adequate to its spiritual needs, it will be because the elementals which are the sumtotal of the personality elemental have reached a point in their development where they are ready to move on to the path of return. The work of the soul is never the purely selfish one of having a medium of expression in the three worlds, as might sometimes [610] appear to the casual and superficial thinker. That is entirely incidental from the angle of the soul; it is a needed activity, but it involves also the sacrificial work of salvaging substance and forwarding the evolution of matter. As the Old Commentary expresses it: “The Mother (substance-matter) is saved by the birth of her Son (the Christ within, the spiritual consciousness).” This is true of the macrocosm as well as of the microcosm.

Khi thời điểm đến mà linh hồn có thể đảm nhận sự kiểm soát hữu thức bên trong và trên hình tướng, và cuối cùng có thể tạo ra một hình tướng thích hợp với các nhu cầu tinh thần của nó, thì đó sẽ là vì các hành khí là tổng số của hành khí phàm ngã đã đạt đến một điểm trong sự phát triển của chúng mà ở đó chúng sẵn sàng tiến lên Con Đường Trở Về. Công việc của linh hồn không bao giờ chỉ là công việc ích kỷ thuần túy nhằm có một trung gian biểu lộ trong ba cõi giới, như đôi khi [610] có thể có vẻ như vậy đối với người suy nghĩ hời hợt và nông cạn. Từ góc độ của linh hồn, điều đó hoàn toàn chỉ là thứ yếu; đó là một hoạt động cần thiết, nhưng nó cũng bao hàm công việc hi sinh là cứu vớt chất liệu và thúc đẩy sự tiến hoá của vật chất. Như Cổ Luận diễn tả: “Người Mẹ (chất liệu-vật chất) được cứu bởi sự ra đời của Con của bà (Đức Christ bên trong, tâm thức tinh thần).” Điều này đúng cho đại thiên địa cũng như cho tiểu thiên địa.

Here lies the secret of planetary suffering and of death. Our planetary Logos (viewing the truth from the angle of the macrocosm) is, as you know, one of the “imperfect Gods” of The Secret Doctrine, although perfect past our human comprehension—the comprehension of a unit in one of the kingdoms which constitute His body of manifestation. There is still no true balance between spirit and matter, though the point of balance has almost been achieved; the involutionary forces are still potent and the spiritual energies are still frustrated, though far less so than earlier in human history; the next great human race, following on our present one, will see a point of balance reached which will usher in the so-called golden age. Points of friction will then be far fewer upon the planet and therefore in individual man; areas of frustration and of futile activity will die out. This can be seen working out in the body of an advanced person or an initiate to a great extent and for long periods in their incarnations; paralleling correspondences are as a general rule accurate.

Chính trong đây có bí mật của đau khổ hành tinh và của cái chết. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (xét chân lý từ góc độ đại thiên địa) như các bạn biết, là một trong những “Thượng đế bất toàn” của Giáo Lý Bí Nhiệm, dù hoàn hảo vượt quá sự hiểu biết của con người chúng ta—sự hiểu biết của một đơn vị trong một trong các giới cấu thành thể biểu hiện của Ngài. Vẫn chưa có sự quân bình đích thực giữa tinh thần và vật chất, dù điểm quân bình gần như đã đạt được; các mãnh lực giáng hạ tiến hoá vẫn còn mạnh và các năng lượng tinh thần vẫn còn bị cản trở, dù ít hơn rất nhiều so với trước đây trong lịch sử nhân loại; nhân loại lớn tiếp theo sau nhân loại hiện nay của chúng ta sẽ chứng kiến một điểm quân bình đạt được, điểm này sẽ mở ra cái gọi là thời đại hoàng kim. Khi đó các điểm ma sát sẽ ít hơn rất nhiều trên hành tinh và do đó trong từng con người; các khu vực bị cản trở và hoạt động vô ích sẽ biến mất. Điều này có thể được thấy đang diễn ra trong thể của một người tiến bộ hay một điểm đạo đồ ở mức độ lớn và trong những thời kỳ dài trong các lần lâm phàm của họ; các tương ứng song hành, như một quy luật chung, là chính xác.

This law gives an amazing picture, and one too which is full of hope, particularly if one considers certain facts which are present in the world today and compares them with conditions hundreds of years ago. The consciousness of humanity is awakened everywhere; the most undeveloped races are in process of achieving education, involving necessarily the discovery of the mind; goodwill is being recognised [611] as necessary to world unfoldment, and men are finding that “no man liveth unto himself”—or any nation either; they are registering the fact that it is simply commonsense and the part of wisdom to better conditions for all men everywhere. This is a new attitude and a fresh and most hopeful approach. Men are learning to know and understand each other; nations are arriving at a closer contact with one another; statesmen of all nations are wrestling together and in joint conclave with the problem of bettering human living conditions; everywhere there is thought, there is appraisal, and there is the struggle for freedom and for the truer values. What is all this but the effort of the soul of humanity to kill out disease, restore unhealthy areas to health and eliminate points of friction? Is not this what the spiritual man who is ill is seeking to bring about in his own body, and what the healer is attempting to aid him to do?

Định luật này đưa ra một bức tranh đáng kinh ngạc, và cũng là một bức tranh đầy hy vọng, đặc biệt nếu người ta xét đến một số sự kiện hiện diện trong thế giới ngày nay và so sánh chúng với các điều kiện của hàng trăm năm trước. Tâm thức của nhân loại đang được đánh thức ở khắp nơi; các nhân loại kém phát triển nhất đang trong tiến trình đạt được giáo dục, điều tất yếu bao hàm sự khám phá trí tuệ; thiện chí đang được nhìn nhận [611] là cần thiết cho sự khai mở của thế giới, và những người nam và nữ đang nhận ra rằng “không ai sống cho riêng mình”—và không quốc gia nào cũng vậy; họ đang ghi nhận sự kiện rằng cải thiện điều kiện cho mọi người ở khắp nơi đơn giản là lẽ thường và là phần việc của minh triết. Đây là một thái độ mới và một cách tiếp cận mới mẻ, đầy hy vọng. Những người nam và nữ đang học cách biết và thấu hiểu nhau; các quốc gia đang đi đến một sự tiếp xúc gần gũi hơn với nhau; các chính khách của mọi quốc gia đang cùng nhau vật lộn và trong đại mật nghị chung với vấn đề cải thiện điều kiện sống của con người; ở khắp nơi đều có tư tưởng, có sự lượng định, và có cuộc đấu tranh cho tự do và cho các giá trị chân thực hơn. Tất cả điều này là gì nếu không phải là nỗ lực của linh hồn nhân loại nhằm tiêu diệt bệnh tật, phục hồi các khu vực không lành mạnh về trạng thái khỏe mạnh và loại bỏ các điểm ma sát? Chẳng phải đây là điều mà con người tinh thần đang đau yếu tìm cách mang lại trong chính thể của mình, và là điều mà nhà chữa lành đang cố gắng trợ giúp y thực hiện sao?

In so doing, the “lunar lords” and the forces of substance must eventually yield to the energy of the soul, and are benefited, whether they are microcosmic forces or macrocosmic.

Khi làm như vậy, các “nguyệt tinh quân” và các mãnh lực của chất liệu cuối cùng phải nhường bước trước năng lượng của linh hồn, và được lợi ích, dù chúng là các mãnh lực vi mô hay vĩ mô.

One of the things which frequently puzzle students is the statement that the dense physical body is not a principle. H.P.B. states this fact with emphasis; people are apt to think (unless they are theosophical fanatics) that he was incorrect or was intentionally misleading students. One of the points, little understood, is the nature of a principle. Yet only by understanding what a principle is can the beauty and accuracy of his statement be grasped. What, in the last analysis, is a principle? A principle is that which, macrocosmically speaking, is being developed upon each plane of our seven planes—the seven subplanes of the cosmic physical plane. It is the germ or the seed on each subplane which embodies some aspect of the divine unfolding consciousness; [612] it is that which is fundamentally related to some form of sensitivity; it is that to which the bodies, as they evolve, find that they can respond. A principle is a germ of awareness, carrying all the potentiality of full consciousness on some particular level of divine activity. It is that which makes knowledge and conscious response to environment possible; it is that which connotes a sequential and “unrolling” sensitive activity, resulting in divine understanding, possible and inevitable.

Một trong những điều thường làm các đạo sinh bối rối là phát biểu cho rằng thể xác đậm đặc không phải là một nguyên khí. H.P.B. đã nhấn mạnh sự kiện này; người ta có khuynh hướng nghĩ (trừ khi họ là những người cuồng tín Thông Thiên Học) rằng bà đã sai hoặc cố ý đánh lạc hướng các đạo sinh. Một trong những điểm ít được hiểu là bản chất của một nguyên khí. Tuy nhiên, chỉ bằng cách hiểu nguyên khí là gì thì vẻ đẹp và tính chính xác trong phát biểu của bà mới có thể được nắm bắt. Xét đến cùng, nguyên khí là gì? Một nguyên khí là cái mà, nói theo nghĩa đại thiên địa, đang được phát triển trên mỗi cõi của bảy cõi của chúng ta—bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Nó là mầm hay hạt giống trên mỗi cõi phụ, hiện thân cho một phương diện nào đó của tâm thức thiêng liêng đang khai mở; [612] nó là cái có liên hệ căn bản với một hình thức nhạy cảm nào đó; nó là cái mà các thể, khi tiến hoá, nhận ra rằng chúng có thể đáp ứng. Một nguyên khí là một mầm của sự nhận biết, mang trong nó toàn bộ tiềm năng của tâm thức trọn vẹn trên một cấp độ đặc thù nào đó của hoạt động thiêng liêng. Nó là cái làm cho tri thức và sự đáp ứng hữu thức với môi trường trở nên khả hữu; nó là cái hàm ý một hoạt động nhạy cảm tuần tự và “mở cuộn,” dẫn đến sự thấu hiểu thiêng liêng, vừa khả hữu vừa tất yếu.

The physical body, and to a far less extent the astral and mental bodies, are automatic in their activity as aspects of a divine response apparatus, of a mechanism which enables the Heavenly Man, the planetary Logos and the spiritual man to register conscious response to that which is to be contacted under the divine plan and through the medium of a mechanism. At present, the physical body is the only one which is as yet so fully developed that it has in this planetary scheme of ours no further evolutionary development, except in so far as the spiritual man can affect stand most of the effect is produced in the etheric body and not in the dense physical. This is a point little grasped but of major importance.

Thể xác, và ở mức độ thấp hơn rất nhiều là thể cảm dục và thể trí, hoạt động một cách tự động như các phương diện của một bộ máy đáp ứng thiêng liêng, của một cơ chế cho phép Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế và con người tinh thần ghi nhận sự đáp ứng hữu thức đối với điều phải được tiếp xúc theo Thiên Cơ và qua trung gian của một cơ chế. Hiện nay, thể xác là thể duy nhất đã phát triển đầy đủ đến mức trong hệ hành tinh này của chúng ta nó không còn sự phát triển tiến hoá nào nữa, ngoại trừ trong chừng mực con người tinh thần có thể tác động đến nó—và phần lớn tác động được tạo ra trong thể dĩ thái chứ không phải trong thể xác đậm đặc. Đây là một điểm ít được nắm bắt nhưng có tầm quan trọng lớn lao.

The dense physical body reached its high point of development and of interest (from the angle of mental attention and of hierarchical action) in the previous solar system. It was then the divine goal of the entire evolutionary process. This is not an easy point for humanity today to grasp. It is not possible or advisable for me to indicate the evolutionary stages through which this divine mechanism passed in preparation for the task to be undertaken in the present solar system. In this divine incarnation of our planetary Logos through the medium of this little planet, the Earth, the physical body is not a goal, but simply something which exists and must be accepted, and which must be adapted and [613] incorporated into the general evolutionary plan. That plan has to do entirely with consciousness. The physical body is simply (no more and no less) the vehicle of consciousness upon the physical plane, but the emphasis of attention is the etheric body as an expression of the subtler vehicles and their state of embodied consciousness. The physical body is important because it has to house and respond to every type of conscious response, from that of the lowest type of human being up to and inclusive of the consciousness of an initiate of the third degree. The bodies and forms of the indwelling conscious life in the three subhuman kingdoms have an analogous but less difficult problem; I am here, however, considering only the physical body of a human being, which is not a principle because it is not in any way a goal; it is not the seed or germ of anything. Any changes wrought in the physical body are secondary to the goal of conscious response to the revelation of an emerging divinity. I have felt it necessary to emphasise this because of the confusion in men’s minds anent the subject. To sum up: the physical body is not a principle; it is not a main object of attention of the aspirant; it automatically responds to the slowly unfolding consciousness in all the kingdoms of nature: it constantly remains that which is worked upon and not that which has an innate influence of its own; it is not important in the active process, for it is a recipient and not that which initiates activity. That which is important is the unfolding consciousness, the response of the indwelling spiritual man to life, circumstances, events and environment. The physical body responds. When the physical body becomes, in error, the object of attention, retrogression is indicated; and this is why all profound attention to the physical disciplines, to vegetarianism, to diet and to fasting, and to the present modes of (so-called) mental and divine healing, are undesirable [614] and not in line with the projected plan. Therefore undue consideration and excessive emphasis upon the physical body is reactionary and is like the worship of the golden calf by the children of Israel; it is reversion to that which at one time was of importance but today should be relegated to a minor position and below the threshold of consciousness.

Thể xác đậm đặc đã đạt đến đỉnh cao phát triển và tầm quan trọng của nó (xét từ góc độ chú ý trí tuệ và hoạt động của Thánh đoàn) trong hệ mặt trời trước. Khi ấy nó là mục tiêu thiêng liêng của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Đây không phải là một điểm dễ để nhân loại ngày nay nắm bắt. Tôi không thể và cũng không nên chỉ ra các giai đoạn tiến hoá mà qua đó cơ chế thiêng liêng này đã đi qua để chuẩn bị cho nhiệm vụ sẽ được đảm nhận trong hệ mặt trời hiện nay. Trong lần lâm phàm thiêng liêng này của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta qua trung gian của hành tinh nhỏ bé này, Trái Đất, thể xác không phải là một mục tiêu, mà chỉ đơn giản là một cái gì đó hiện hữu và phải được chấp nhận, và phải được thích nghi và [613] kết hợp vào kế hoạch tiến hoá chung. Kế hoạch đó hoàn toàn liên quan đến tâm thức. Thể xác chỉ đơn giản (không hơn không kém) là vận cụ của tâm thức trên cõi hồng trần, nhưng trọng tâm của sự chú ý là thể dĩ thái như một biểu hiện của các vận cụ vi tế hơn và trạng thái tâm thức nhập thể của chúng. Thể xác quan trọng vì nó phải chứa đựng và đáp ứng với mọi loại đáp ứng hữu thức, từ loại thấp nhất của con người cho đến và bao gồm cả tâm thức của một điểm đạo đồ cấp ba. Các thể và hình tướng của sự sống hữu thức nội tại trong ba giới dưới nhân loại có một vấn đề tương tự nhưng ít khó khăn hơn; tuy nhiên ở đây tôi chỉ xét đến thể xác của một con người, thể này không phải là một nguyên khí vì nó không phải là một mục tiêu theo bất kỳ cách nào; nó không phải là hạt giống hay mầm mống của bất cứ điều gì. Mọi thay đổi được tạo ra trong thể xác đều là thứ yếu so với mục tiêu là sự đáp ứng hữu thức đối với sự mặc khải của một thiên tính đang xuất hiện. Tôi thấy cần phải nhấn mạnh điều này vì sự lẫn lộn trong tâm trí con người về chủ đề này. Tóm lại: thể xác không phải là một nguyên khí; nó không phải là đối tượng chú ý chính của người chí nguyện; nó tự động đáp ứng với tâm thức đang từ từ khai mở trong mọi giới của bản chất: nó luôn luôn vẫn là cái bị tác động lên chứ không phải cái có ảnh hưởng nội tại của riêng nó; nó không quan trọng trong tiến trình hoạt động, vì nó là kẻ tiếp nhận chứ không phải cái khởi xướng hoạt động. Điều quan trọng là tâm thức đang khai mở, là sự đáp ứng của con người tinh thần nội tại đối với sự sống, hoàn cảnh, biến cố và môi trường. Thể xác đáp ứng. Khi thể xác, do sai lầm, trở thành đối tượng của sự chú ý, thì sự thoái bộ được chỉ ra; và đây là lý do vì sao mọi sự chú ý sâu xa đến các kỷ luật hồng trần, đến việc ăn chay, chế độ ăn uống và nhịn ăn, và đến các phương thức hiện nay của sự chữa lành (được gọi là) trí tuệ và thiêng liêng, đều là không đáng mong muốn [614] và không phù hợp với kế hoạch được phóng chiếu. Vì vậy, sự quan tâm quá mức và nhấn mạnh thái quá vào thể xác là phản động và giống như sự thờ phụng con bê vàng của con cái Israel; đó là sự quay trở lại với cái đã từng quan trọng vào một thời điểm nào đó nhưng ngày nay nên được đẩy xuống một vị trí thứ yếu và dưới ngưỡng của tâm thức.

I have dealt with this here because in Law VII the fact of the endocrine glands is brought to our attention, and it is necessary that we approach this subject from the right point of view. The endocrine glands are a tangible part of the physical body; they are therefore a part of that created manifestation which is not regarded as a principle. They are, however, effective and potent and may not be ignored. It is essential that students regard these glands as effects and not causes of events and happenings and conditions in the body. The physical body—no matter what its victims may believe and declare—is always conditioned by inner causes; it is never, intrinsically, itself a cause. It is, in this solar system and on our planet, automatic and affected by causes generated on the inner planes or by the action of the soul. Please note the importance of this statement. The physical body has no true life of its own, but is simply—in this cycle—responsive to impulses emanating from elsewhere. Its achievement and its triumph is that it is an automaton. If you can grasp this adequately, we can safely proceed to the consideration of Law VII and Rule Four.

Tôi đã bàn đến điều này ở đây vì trong Định luật VII, sự kiện về các tuyến nội tiết được đưa ra trước sự chú ý của chúng ta, và cần thiết là chúng ta phải tiếp cận chủ đề này từ quan điểm đúng đắn. Các tuyến nội tiết là một phần hữu hình của thể xác; vì vậy chúng là một phần của biểu hiện được tạo ra mà không được xem là một nguyên khí. Tuy nhiên, chúng hữu hiệu và mạnh mẽ và không thể bị bỏ qua. Điều cốt yếu là các đạo sinh phải xem các tuyến này như các kết quả chứ không phải nguyên nhân của các biến cố, diễn tiến và tình trạng trong thể. Thể xác—bất kể các nạn nhân của nó có thể tin và tuyên bố điều gì—luôn luôn bị tác động bởi các nguyên nhân bên trong; tự bản chất, nó không bao giờ là một nguyên nhân. Trong hệ mặt trời này và trên hành tinh của chúng ta, nó là tự động và bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân được tạo ra trên các cõi bên trong hoặc bởi hoạt động của linh hồn. Xin lưu ý tầm quan trọng của phát biểu này. Thể xác không có sự sống đích thực của riêng nó, mà chỉ đơn giản—trong chu kỳ này—đáp ứng với các xung lực phát ra từ nơi khác. Thành tựu và chiến thắng của nó là ở chỗ nó là một cỗ máy tự động. Nếu các bạn có thể nắm được điều này một cách đầy đủ, chúng ta có thể an toàn tiến tới việc xem xét Định luật VII và Quy luật Bốn.

LAW VIIĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị cản trở và dưới sự định hướng đúng đắn đến sự ngưng tụ của nó (tuyến liên hệ), khi ấy hình tướng đáp ứng và sức khỏe kém biến mất.

One of the interesting factors which students should note is the doctrine of intermediaries which is to be found [615] in such rich abundance and is regarded as of such vital importance in all occult teaching. It has been emphasised (though erroneously interpreted) in the Christian teaching anent the Christ; Christianity has presented Him as acting as the intermediary between an angry God and a pitiful and ignorant humanity. Such was by no means the intent of His coming or of His work, but into the real meaning I need not enter here. I have dealt with this theme elsewhere in connection with the New world Religion. (The Problems of Humanity, Chapter VI. & The Reappearance of the Christ, Chapter V.)

Một trong những yếu tố thú vị mà các đạo sinh nên lưu ý là giáo lý về các trung gian, được tìm thấy [615] phong phú đến như vậy và được xem là có tầm quan trọng sống còn trong mọi giáo huấn huyền bí học. Nó cũng đã được nhấn mạnh (dù bị diễn giải sai) trong giáo huấn Cơ Đốc giáo liên quan đến Đức Christ; Cơ Đốc giáo đã trình bày Ngài như hành động như một trung gian giữa một Thượng đế giận dữ và một nhân loại đáng thương, vô minh. Tuyệt nhiên đó không phải là mục đích của sự giáng lâm của Ngài hay của công việc của Ngài, nhưng tôi không cần đi vào ý nghĩa thực sự ở đây. Tôi đã bàn đến chủ đề này ở nơi khác liên quan đến Tôn giáo Thế giới Mới. (The Problems of Humanity, Chapter VI. & The Reappearance of the Christ, Chapter V.)

It has been taught also in the esoteric presentation (and this is closely allied with the Christian doctrines) that the soul is the intermediary between the monad and the personality; the same idea is also found in many other religious presentations, i.e., the Buddha is shown as the intermediary between Shamballa and the Hierarchy, acting in this capacity once a year; the Hierarchy itself is the intermediary between Shamballa and Humanity; the etheric plane (and by this I mean the cosmic, planetary and individual etheric vehicles) is the intermediary between the higher planes and the dense physical body. The whole system of occult or esoteric revelation is based on this wonderful doctrine of interdependence, of a planned and arranged conscious linking, and of the transmission of energy from one aspect of divine manifestation to another; everywhere and through everything is circulation, transmission, and modes of passing energy from one form to another form, and always through an appropriate mechanism. This is true in the involutionary sense, in the evolutionary sense, and in a spiritual sense also; this latter is slightly different to the other two, as all initiates of the higher degrees know well. An entire thesis upon transmitting agencies could be written, and it would include, finally, the doctrine of Avatars. An Avatar is one [616] who has a peculiar facility or capacity (besides a self -initiated task and a preordained destiny) to work with energies, transmitted via the etheric body of a planet or of the solar system; this, however, is a deep mystery. It was demonstrated in a peculiar manner, and in relation to cosmic energy, by the Christ Who, for the first time in planetary history, transmitted the cosmic energy of love directly to the physical plane of our planet, and also in a peculiar manner to the fourth kingdom in nature, the human. This should indicate to you that though the love energy is the second aspect of divinity, the Christ embodied and transmitted four qualities of this aspect to humanity, and consequently to the other kingdoms in nature—the only four which humanity could absorb. Only one of these four is as yet beginning to express itself —the quality of goodwill. The other three will later be revealed, and one is related in a peculiar sense to the healing quality of love. According to The New Testament, this quality was called by the Christ “virtue” (a somewhat inaccurate translation of the word originally used); Christ employed it when healing force had been taken from Him and He said “virtue has gone out of me.”

Nó cũng đã được dạy trong cách trình bày bí truyền (và điều này liên hệ chặt chẽ với các giáo lý Cơ Đốc giáo) rằng linh hồn là trung gian giữa chân thần và phàm ngã; cùng một ý tưởng cũng được tìm thấy trong nhiều cách trình bày tôn giáo khác, tức là Đức Phật được cho thấy như trung gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn, hành động trong tư cách này mỗi năm một lần; chính Thánh Đoàn là trung gian giữa Shamballa và Nhân loại; cõi dĩ thái (và bởi điều này tôi muốn nói đến các vận cụ dĩ thái vũ trụ, hành tinh và cá nhân) là trung gian giữa các cõi cao hơn và thể xác đậm đặc. Toàn bộ hệ thống mặc khải huyền bí học hay bí truyền học được đặt nền trên giáo lý kỳ diệu này về sự phụ thuộc lẫn nhau, về một sự liên kết hữu thức được hoạch định và sắp xếp, và về sự truyền dẫn năng lượng từ một phương diện của biểu hiện thiêng liêng sang một phương diện khác; ở khắp nơi và xuyên qua mọi sự đều có sự tuần hoàn, sự truyền dẫn, và các phương thức chuyển năng lượng từ hình tướng này sang hình tướng khác, và luôn luôn qua một cơ chế thích hợp. Điều này đúng theo nghĩa giáng hạ tiến hoá, theo nghĩa thăng thượng tiến hoá, và cả theo nghĩa tinh thần nữa; nghĩa sau này hơi khác với hai nghĩa kia, như mọi điểm đạo đồ ở các cấp cao đều biết rõ. Có thể viết cả một luận văn về các tác nhân truyền dẫn, và cuối cùng nó sẽ bao gồm giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Một Đấng Hoá Thân là Đấng [616] có một khả năng hay năng lực đặc biệt (ngoài một nhiệm vụ do chính mình khởi xướng và một số mệnh đã được tiền định) để làm việc với các năng lượng, được truyền qua thể dĩ thái của một hành tinh hay của hệ mặt trời; tuy nhiên, đây là một huyền nhiệm sâu xa. Điều này đã được biểu lộ theo một cách đặc biệt, và liên quan đến năng lượng vũ trụ, bởi Đức Christ, Đấng lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh đã truyền năng lượng vũ trụ của tình thương trực tiếp đến cõi hồng trần của hành tinh chúng ta, và cũng theo một cách đặc biệt đến giới thứ tư trong bản chất, giới nhân loại. Điều này nên chỉ cho các bạn thấy rằng dù năng lượng tình thương là phương diện thứ hai của thiên tính, Đức Christ đã hiện thân và truyền bốn phẩm tính của phương diện này đến nhân loại, và do đó đến các giới khác trong bản chất—chỉ bốn phẩm tính mà nhân loại có thể hấp thụ. Chỉ một trong bốn phẩm tính này hiện mới bắt đầu biểu lộ—phẩm tính thiện chí. Ba phẩm tính kia sẽ được mặc khải về sau, và một trong số đó liên hệ theo một ý nghĩa đặc biệt với phẩm tính chữa lành của tình thương. Theo Tân Ước, phẩm tính này đã được Đức Christ gọi là “đức hạnh” (một bản dịch hơi không chính xác của từ được dùng nguyên thủy); Đức Christ đã dùng nó khi mãnh lực chữa lành đã được rút ra khỏi Ngài và Ngài nói “đức hạnh đã ra khỏi ta.”

I have called this to your attention because this truth is directly related to this seventh law. We have seen, in connection with all the healing processes, that the dense physical body is regarded esoterically as simply an automaton; it is only a recipient of transmitted energies. We have seen that the etheric body in or “substanding” every form is itself a structure for the transmission of energies coming from some source or another—the source being primarily the point where the life within the form lays its basic emphasis. For the average human being, this is usually the astral body, from which astral or emotional energy emanates and finds anchorage, prior to transmission into the [617] etheric body. There will be, however, in the majority of cases, a greater or less admixture of mental energy. Later, soul energy, reinforced (if I may use such a word) by the purified mind and transmitted through the personality, will condition the etheric body and control, consequently, the activities of the physical vehicle.

Tôi đã lưu ý các bạn đến điều này vì chân lý này liên hệ trực tiếp với định luật thứ bảy này. Chúng ta đã thấy, liên quan đến mọi tiến trình chữa lành, rằng thể xác đậm đặc được xem về mặt huyền bí học chỉ như một cỗ máy tự động; nó chỉ là kẻ tiếp nhận các năng lượng được truyền dẫn. Chúng ta đã thấy rằng thể dĩ thái ở trong hay “nâng đỡ” mọi hình tướng tự nó là một cấu trúc để truyền dẫn các năng lượng đến từ một nguồn này hay nguồn khác—nguồn ấy chủ yếu là điểm mà sự sống bên trong hình tướng đặt trọng tâm căn bản của nó. Đối với con người trung bình, điều này thường là thể cảm dục, từ đó năng lượng cảm dục hay cảm xúc phát ra và tìm được điểm neo giữ, trước khi truyền vào [617] thể dĩ thái. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp sẽ có một sự pha trộn nhiều hay ít của năng lượng trí tuệ. Về sau, năng lượng linh hồn, được tăng cường (nếu tôi có thể dùng một từ như vậy) bởi trí tuệ đã được thanh lọc và được truyền qua phàm ngã, sẽ tác động lên thể dĩ thái và do đó kiểm soát các hoạt động của vận cụ hồng trần.

This law brings to our attention the fact that the dense physical body, under the impact of subjective energies, in its turn produces a “structure for transmission” and automatically repeats the activity of the etheric body. It creates (in response to the inflow of energies from the etheric body, via the seven major centres) a dense physical interlocking structure, to which we have given the name “the endocrine glandular system.” These glands—in their turn and in response to the inflaming energy from the etheric body—produce a secretion which is called a secretion of hormones, and this the glands transmit directly into the blood stream.

Định luật này đưa ra trước sự chú ý của chúng ta sự kiện rằng thể xác đậm đặc, dưới tác động của các năng lượng chủ quan, đến lượt nó tạo ra một “cấu trúc để truyền dẫn” và tự động lặp lại hoạt động của thể dĩ thái. Nó tạo ra (để đáp ứng với dòng năng lượng chảy vào từ thể dĩ thái, qua bảy trung tâm chính) một cấu trúc đậm đặc hồng trần đan kết với nhau, mà chúng ta đã đặt tên là “hệ thống tuyến nội tiết.” Đến lượt mình, các tuyến này, để đáp ứng với năng lượng bốc cháy từ thể dĩ thái, tạo ra một sự tiết ra được gọi là sự tiết hormone, và các tuyến truyền trực tiếp chất tiết này vào dòng máu.

It is not my intention to be overtechnical in my consideration of this subject; I write for the lay reader, and not for the medical profession, who are frank to admit how little they know, as yet, anent this subject. The medical research worker knows little anent the relation of the endocrine glands to the blood and to the total physiology of the human being; he knows little anent the relation of the various glands to each other; these constitute an interlocking directorate of vital importance, linked and united, animated and directed by the seven etheric centres. This is a factor naturally overlooked by the orthodox scientist in this field, and until he recognises that which produces the endocrine glands he will remain totally at sea as to cause and true results. The glands are direct precipitations of the seven types of energy flowing through the seven etheric centres. They control all the areas of the body. In their creation [618] you have a definite expression of the radiatory and the magnetic activity of all energies, for they are produced by radiation from the seven centres, but their effect—individual and combined—is magnetic. The radiation abstracts dense physical atoms and focusses them in the correct area in the physical body, so that they can act as distributors into the blood stream, and therefore into the dense physical body, of one aspect of the inflaming energy. I would have you note that only one aspect of the energy is thus distributed—that which corresponds to the third aspect of active intelligent substance; the other two latent aspects are distributed as pure energy, affecting areas but not affecting any localised focal point. A gland is such a localised focal point. I am anxious for this subject of the glands and their relation to the centres to be correctly understood. The entire subject is closely related to the art of healing; one of the effects of the application of the healing energy (through the medium of any centre conditioning the area wherein the point of friction is located) is the stimulation of the related gland and its increased activity. The glands are intermediaries, in the last analysis, between the healer and the patient, between the centre and the dense physical body, and between the etheric body and its automaton, the receiving dense physical vehicle.

Tôi không có ý định trở nên quá kỹ thuật trong việc xem xét chủ đề này; tôi viết cho độc giả phổ thông, chứ không phải cho giới y khoa, những người thành thật thừa nhận rằng cho đến nay họ biết rất ít về chủ đề này. Nhà nghiên cứu y học biết rất ít về mối liên hệ của các tuyến nội tiết với máu và với toàn bộ sinh lý học của con người; ông biết rất ít về mối liên hệ của các tuyến khác nhau với nhau; các tuyến này tạo thành một ban điều hành đan kết có tầm quan trọng sống còn, được liên kết và hợp nhất, được tiếp sinh lực và được định hướng bởi bảy trung tâm dĩ thái. Đây dĩ nhiên là một yếu tố bị nhà khoa học chính thống trong lĩnh vực này bỏ qua, và cho đến khi ông nhận ra cái tạo ra các tuyến nội tiết, ông sẽ vẫn hoàn toàn lạc lối về nguyên nhân và các kết quả chân thực. Các tuyến là những sự ngưng tụ trực tiếp của bảy loại năng lượng tuôn qua bảy trung tâm dĩ thái. Chúng kiểm soát mọi khu vực của thể. Trong sự tạo thành của chúng [618] các bạn có một biểu hiện xác định của hoạt động bức xạ và từ tính của mọi năng lượng, vì chúng được tạo ra bởi bức xạ từ bảy trung tâm, nhưng tác động của chúng—cá biệt và kết hợp—là từ tính. Bức xạ rút các nguyên tử hồng trần đậm đặc ra và tập trung chúng vào đúng khu vực trong thể hồng trần, để chúng có thể hoạt động như những bộ phân phối vào dòng máu, và do đó vào thể xác đậm đặc, của một phương diện của năng lượng bốc cháy. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng chỉ một phương diện của năng lượng được phân phối theo cách này—phương diện tương ứng với phương diện thứ ba của chất liệu thông tuệ hoạt động; hai phương diện tiềm ẩn kia được phân phối như năng lượng thuần túy, tác động lên các khu vực nhưng không tác động lên bất kỳ tiêu điểm khu trú nào. Một tuyến là một tiêu điểm khu trú như vậy. Tôi tha thiết mong chủ đề về các tuyến và mối liên hệ của chúng với các trung tâm được hiểu một cách đúng đắn. Toàn bộ chủ đề này liên hệ chặt chẽ với nghệ thuật chữa lành; một trong những tác động của việc áp dụng năng lượng chữa lành (qua trung gian của bất kỳ trung tâm nào tác động lên khu vực nơi điểm ma sát tọa lạc) là sự kích thích tuyến liên hệ và sự gia tăng hoạt động của nó. Xét đến cùng, các tuyến là những trung gian giữa nhà chữa lành và bệnh nhân, giữa trung tâm và thể xác đậm đặc, và giữa thể dĩ thái với cỗ máy tự động của nó, vận cụ hồng trần đậm đặc tiếp nhận.

In continuing our consideration of the immediate transmitting agency of the centres into the blood stream (the endocrine glands) I would like to point out that the centres work through this endocrine system through direct impact, through a ray or stream of energy, emanating from the central point within the centre. Through this medium they condition and control entire areas of the body and they do this through those aspects of the centres which we symbolically call the “petals of the lotus.” In a point at the very centre of the lotus the life force is focussed, and as [619] it passes outward into the related gland, it takes on the quality of the energy for which the centre is responsible, because life force is essentially unqualified. The ray of life, if one may call it so, which is found at the heart of each centre, is identified monadically with its source, and possesses (when brought in contact with its petals) one major innate quality of attractive energy; all energy emanating from the one source in this solar system, is related to the energy which we call Love, and this energy is magnetic attraction. The petals of the lotus, and the area of surrounding energy which constitutes the form of the lotus, are qualified by one of the seven subsidiary types of energy; these emanate from the seven Rays which emerge out of the one Source, as Representatives of the manifold Creator.

Khi tiếp tục xem xét tác nhân truyền dẫn trực tiếp tức thời của các trung tâm vào dòng máu (các tuyến nội tiết), tôi muốn chỉ ra rằng các trung tâm hoạt động qua hệ nội tiết này bằng tác động trực tiếp, qua một tia hay dòng năng lượng, phát ra từ điểm trung tâm bên trong trung tâm. Qua trung gian này, chúng tác động và kiểm soát toàn bộ các vùng của thể xác, và chúng làm điều đó qua những phương diện của các trung tâm mà chúng ta gọi một cách biểu tượng là “các cánh hoa sen.” Tại một điểm ở chính trung tâm của hoa sen, lực sự sống được tập trung, và khi [619] nó đi ra ngoài vào tuyến liên hệ, nó mang lấy phẩm tính của năng lượng mà trung tâm chịu trách nhiệm, bởi vì lực sự sống về bản chất là không có phẩm tính. Tia sự sống, nếu có thể gọi như vậy, được tìm thấy nơi tim của mỗi trung tâm, được đồng hoá về mặt chân thần với cội nguồn của nó, và sở hữu (khi được đưa vào tiếp xúc với các cánh hoa của nó) một phẩm tính bẩm sinh chủ yếu của năng lượng hấp dẫn; mọi năng lượng phát ra từ nguồn duy nhất trong hệ mặt trời này đều liên hệ với năng lượng mà chúng ta gọi là Tình thương/Bác ái, và năng lượng này là sự hấp dẫn từ tính. Các cánh hoa sen, và vùng năng lượng bao quanh cấu thành hình tướng của hoa sen, được quy định bởi một trong bảy loại năng lượng phụ; các loại này phát ra từ bảy cung xuất hiện từ Nguồn duy nhất, như những Đấng Đại Diện của Đấng Sáng Tạo đa diện.

Within the solar system, as you know, are to be found the seven sacred planets, which are the custodians or the expression of these seven rays, of these seven qualities of divinity. within our planet, the Earth (which is not a sacred planet), there are likewise seven centres which become, as evolution proceeds, the recipients of the seven ray qualities from the seven sacred planets, thus providing

Trong hệ mặt trời, như bạn biết, có bảy hành tinh thiêng liêng, là những vị gìn giữ hay biểu hiện của bảy cung này, của bảy phẩm tính thiên tính này. Trong hành tinh của chúng ta, Trái Đất (vốn không phải là một hành tinh thiêng liêng), cũng có bảy trung tâm, và khi tiến hoá diễn ra, chúng trở thành những nơi tiếp nhận bảy phẩm tính cung từ bảy hành tinh thiêng liêng, nhờ đó cung cấp

(within the solar ring-pass-not) a vast interlocking system of energies. Three of these centres, representing the three major rays, are well known to you:

(trong vòng-giới-hạn mặt trời) một hệ thống năng lượng khổng lồ đan xen nhau. Ba trong số các trung tâm này, tượng trưng cho ba cung chính, các bạn đã biết rõ:

1.

Shamballa

The ray of power or purpose. The first aspect. The energy of will.

2.

The Hierarchy

The ray of love-wisdom. The second aspect. The energy of love.

3.

Humanity

The ray of active intelligence. The third aspect. The energy of mind or thought.

[620] There are four other centres, and these, with the above three, constitute the seven centres, or the seven planetary focal points of energy, which condition the bodily manifestation of our planetary Logos. Through them the Lord of the World, working from His Own level on a cosmic plane and through His divine Personality, Sanat Kumara, carries out His purposes upon our planet.

[620] Có bốn trung tâm khác, và chúng, cùng với ba trung tâm trên, cấu thành bảy trung tâm, hay bảy tiêu điểm năng lượng hành tinh, vốn tác động lên biểu hiện thể xác của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Qua chúng, Đức Chúa Tể Thế Giới, hoạt động từ cấp độ riêng của Ngài trên một cõi vũ trụ và qua phàm ngã thiêng liêng của Ngài, Đức Sanat Kumara, thực hiện các mục đích của Ngài trên hành tinh chúng ta.

Similarly, within the microcosm, man, the correspondences to these seven centres are to be found. Therein likewise are seven major centres, and they are the recipients of the energy emanating from the seven planetary centres, the custodians of the seven aspects of ray force; these seven energies—at various stages of potency—condition the man’s expression in the three worlds, make him what he is at any given moment whilst in incarnation, and indicate (by their effect or lack of effect upon the centres) his point in evolution.

Tương tự như vậy, trong tiểu thiên địa, con người, cũng có thể tìm thấy các đối ứng với bảy trung tâm này. Ở đó cũng có bảy trung tâm chính, và chúng là những nơi tiếp nhận năng lượng phát ra từ bảy trung tâm hành tinh, những vị gìn giữ bảy phương diện của lực cung; bảy năng lượng này—ở những giai đoạn mãnh lực khác nhau—tác động lên sự biểu lộ của con người trong ba cõi giới, làm cho y là chính y ở bất kỳ thời điểm nào khi đang lâm phàm, và cho biết (qua tác động hay sự thiếu tác động của chúng lên các trung tâm) điểm tiến hoá của y.

Two of these centres in the human being are to be found in the head, and the other five are to be found up the spinal column. This spinal column is the physical symbol of that essential alignment which is the immediate goal of directed relationships, carried forward in consciousness by the spiritual man and brought about as a result of right meditation.

Hai trong số các trung tâm này nơi con người nằm trong đầu, và năm trung tâm kia nằm dọc theo cột sống. Cột sống này là biểu tượng hồng trần của sự chỉnh hợp thiết yếu mà đó là mục tiêu tức thời của các mối liên hệ có định hướng, được con người tinh thần thực hiện trong tâm thức và được mang lại như kết quả của sự tham thiền đúng đắn.

Meditation is a technique of the mind which eventually produces correct, unimpeded relationship; this is another name for alignment. It is therefore the establishment of a direct channel, not only between the one source, the monad, and its expression, the purified and controlled personality, but also between the seven centres in the human etheric vehicle. This is—perhaps astonishingly to you-putting the results of meditation on the basis of physical, or rather of etheric, effects, and may be regarded by you as indicating the very lowest phase of such results. This is due to the [621] fact that you lay the emphasis upon your mental reaction to the produced alignment, on the satisfaction you acquire from such an alignment, in which you register a new world or worlds of phenomena, and on the new concepts and ideas which consequently impinge upon your mind. But the true results (as divine and as esoterically desirable) are correct alignment, right relationship, and clear channels for the seven energies in the microcosmic system, thereby bringing about eventually a full expression of divinity. All the seven centres in the etheric vehicle of the Christ were rightly adjusted, correctly aligned, truly awakened and functioning, and properly receptive of all the seven streams of energy coming from the seven planetary centres; these put Him en rapport, therefore, and in full realised contact, with the One in Whom He lived and moved and had His being. The physiological result of this complete “esoteric surrender of the seven” (as it is sometimes called) to the incoming spiritual energies, in their right order and rhythm, was the appearance in the Christ of a perfect endocrine system. All His glands (both major and minor) were functioning correctly; this produced a “perfect man”—physically perfect, emotionally stable and mentally controlled. In modern terms, the “pattern of the behaviour” of the Christ—due to the perfection of His glandular system, as an effect of correctly awakened and energised centres—made Him an expression of divine perfection to the entire world; He was the first of our humanity to arrive at this point in evolution, and “the Eldest in a great family of brothers,” as St. Paul expresses it. The current pictures of the Christ testify to their own complete inaccuracy, for they bear no witness to any glandular perfection; they are full of weakness and sweetness, but show little strength, alert power and aliveness. And the promise has gone forth that as He is, so may we be in this world.

Tham thiền là một kỹ thuật của trí tuệ, cuối cùng tạo ra mối liên hệ đúng đắn, không bị ngăn trở; đó là một tên gọi khác của sự chỉnh hợp. Vì vậy, đó là việc thiết lập một kênh trực tiếp, không chỉ giữa nguồn duy nhất là chân thần và biểu hiện của nó là phàm ngã đã được thanh luyện và kiểm soát, mà còn giữa bảy trung tâm trong hiện thể dĩ thái của con người. Điều này—có lẽ làm các bạn ngạc nhiên—đặt các kết quả của tham thiền trên cơ sở các hiệu quả hồng trần, hay đúng hơn là dĩ thái, và các bạn có thể xem đó là chỉ ra giai đoạn thấp nhất của các kết quả ấy. Điều này là do sự [621] kiện rằng các bạn nhấn mạnh vào phản ứng trí tuệ của mình đối với sự chỉnh hợp đã được tạo ra, vào sự thoả mãn mà các bạn đạt được từ sự chỉnh hợp như thế, trong đó các bạn ghi nhận một thế giới hay những thế giới hiện tượng mới, và vào các khái niệm và ý tưởng mới do đó tác động lên trí tuệ các bạn. Nhưng các kết quả chân thực (vừa thiêng liêng vừa đáng mong muốn một cách huyền bí) là sự chỉnh hợp đúng đắn, mối liên hệ đúng đắn, và các kênh thông suốt cho bảy năng lượng trong hệ thống tiểu thiên địa, nhờ đó cuối cùng mang lại sự biểu lộ trọn vẹn của thiên tính. Tất cả bảy trung tâm trong hiện thể dĩ thái của Đức Christ đều được điều chỉnh đúng đắn, chỉnh hợp chính xác, thực sự thức tỉnh và hoạt động, và tiếp nhận thích đáng mọi bảy dòng năng lượng đến từ bảy trung tâm hành tinh; vì vậy, những điều này đặt Ngài vào sự tương thông và tiếp xúc hoàn toàn được chứng nghiệm với Đấng mà trong Ngài, Ngài sống, vận động và hiện hữu. Kết quả sinh lý của sự “quy phục huyền bí của bảy” hoàn toàn này (như đôi khi được gọi vậy) đối với các năng lượng tinh thần đi vào, theo đúng trật tự và nhịp điệu của chúng, là sự xuất hiện nơi Đức Christ của một hệ nội tiết hoàn hảo. Mọi tuyến của Ngài (cả chính lẫn phụ) đều hoạt động đúng đắn; điều này tạo ra một “con người hoàn hảo”—hoàn hảo về thể chất, ổn định về cảm xúc và được kiểm soát về trí tuệ. Theo thuật ngữ hiện đại, “mô hình hành vi” của Đức Christ—do sự hoàn hảo của hệ tuyến của Ngài, như một hiệu quả của các trung tâm được thức tỉnh và tiếp sinh lực đúng đắn—đã làm cho Ngài trở thành một biểu hiện của sự hoàn hảo thiêng liêng đối với toàn thế giới; Ngài là người đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt đến điểm này trong tiến hoá, và là “Người Anh Cả trong một đại gia đình huynh đệ,” như Thánh Paul diễn tả. Những hình ảnh hiện nay về Đức Christ tự chứng tỏ sự thiếu chính xác hoàn toàn của chúng, vì chúng không làm chứng cho bất kỳ sự hoàn hảo tuyến nội tiết nào; chúng đầy vẻ yếu đuối và ngọt ngào, nhưng cho thấy rất ít sức mạnh, quyền năng tỉnh thức và sinh động. Và lời hứa đã được ban ra rằng Ngài thế nào, chúng ta cũng có thể thế ấy trong thế gian này.

[622]

[622]

This is a promise which lies behind the right understanding of the science of the centres; the factual reality of the centres will be proven to all men when the centres are gradually brought under control of the soul, are correctly and scientifically energised and brought to a condition of true “livingness,” and begin to condition the entire area of the body in which a centre is found, and—between them—bringing every part of the human body under their radiatory and magnetic influence.

Đây là một lời hứa nằm sau sự thấu hiểu đúng đắn về khoa học các trung tâm; thực tại sự kiện của các trung tâm sẽ được chứng minh cho mọi người nam và nữ khi các trung tâm dần dần được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, được tiếp sinh lực một cách đúng đắn và khoa học, được đưa đến trạng thái “sống động” chân thực, và bắt đầu tác động lên toàn bộ vùng của thể xác nơi một trung tâm được tìm thấy, và—giữa chúng với nhau—đưa mọi phần của thể xác con người vào dưới ảnh hưởng bức xạ và từ tính của chúng.

It is the centres which hold the body together and make it a coherent, energised and active whole. As you know, when death takes place, the consciousness thread withdraws from the head centre and the life thread withdraws from the heart centre. What has not been emphasised is that this dual withdrawal has an effect upon every centre in the body. The consciousness thread, anchored in the head centre, qualifies the petals of the lotus called in the oriental literature the “thousand-petalled lotus,” and the petals of that lotus have a relationship and a definitely qualifying effect (both radiatory and magnetic) upon the petals in every one of the other major centres within the etheric body; the head centre preserves them in qualifying activity, and when this quality of conscious response is withdrawn from the head centre an immediate effect is felt in all the petals of all the centres; the qualifying energy is withdrawn, leaving the body via the head centre. The same general technique is true of the life thread which is anchored in the heart, after passing (in alliance with the consciousness thread) into and through the head centre. As long as the life thread is anchored in the heart it energises and preserves in livingness all the centres in the body, sending out its threads of life into a point which is found at the exact centre of the lotus, or at the heart of the centre. This is sometimes called “the jewel in the lotus,” though the phrase [623] is more frequently applied to the monadic point at the heart of the egoic lotus on its own plane. When death takes place and the life thread is gathered up by the soul and withdrawn from the heart into the head and from thence back into the soul body, it carries with it the life of each centre in the body; therefore, the body dies and disintegrates, and no longer forms a coherent, conscious, living whole.

Chính các trung tâm giữ cho thể xác gắn kết lại với nhau và làm cho nó thành một toàn thể cố kết, được tiếp sinh lực và hoạt động. Như bạn biết, khi cái chết xảy ra, Sợi dây Tâm thức rút khỏi trung tâm đầu và Sợi dây Sự Sống/sinh mệnh tuyến rút khỏi trung tâm tim. Điều chưa được nhấn mạnh là sự rút lui kép này có ảnh hưởng lên mọi trung tâm trong thể xác. Sợi dây Tâm thức, được neo trong trung tâm đầu, quy định các cánh hoa của hoa sen được gọi trong văn liệu phương Đông là “hoa sen ngàn cánh,” và các cánh hoa của hoa sen ấy có một mối liên hệ và một tác động quy định rõ rệt (cả bức xạ lẫn từ tính) lên các cánh hoa trong từng trung tâm chính khác trong thể dĩ thái; trung tâm đầu duy trì chúng trong hoạt động có phẩm tính, và khi phẩm tính đáp ứng có ý thức này bị rút khỏi trung tâm đầu thì một tác động tức thời được cảm nhận trong mọi cánh hoa của mọi trung tâm; năng lượng quy định bị rút đi, rời khỏi thể xác qua trung tâm đầu. Kỹ thuật tổng quát tương tự cũng đúng với Sinh Mệnh Tuyến được neo trong tim, sau khi đi vào và đi qua trung tâm đầu (liên kết với Sợi dây Tâm thức). Chừng nào Sinh Mệnh Tuyến còn được neo trong tim, nó tiếp sinh lực và duy trì tính sống động trong mọi trung tâm của thể xác, gửi ra các sợi sự sống của nó vào một điểm nằm đúng nơi trung tâm của hoa sen, hay nơi tim của trung tâm. Điều này đôi khi được gọi là “ngọc trong hoa sen,” mặc dù cụm từ [623] này thường được áp dụng hơn cho điểm chân thần nơi tim của Hoa Sen Chân Ngã trên cõi riêng của nó. Khi cái chết xảy ra và Sinh Mệnh Tuyến được linh hồn thu lại, rút từ tim lên đầu và từ đó trở về thể linh hồn, nó mang theo sự sống của từng trung tâm trong thể xác; vì vậy, thể xác chết và tan rã, không còn tạo thành một toàn thể cố kết, có tâm thức và sống động nữa.

Related to these centres, and reacting in strict unison with them, is the endocrine or glandular system, through which system—during incarnation—life or energy flows unimpeded and under right direction in the case of the highly developed man, or impeded and imperfectly directed in the case of the average or undeveloped human being; through this system of glandular control, the human form responds or does not respond to the surrounding world energies. In connection with our present theme of healing, a man can be sick and ill or well and strong, according to the state of the centres and their precipitation, the glands. It must ever be remembered that the centres are the major agency upon the physical plane through which the soul works, expresses life and quality, according to the point reached under the evolutionary process, and that the glandular system is simply an effect—inevitable and unavoidable of the centres through which the soul is working. The glands therefore express fully the point in evolution of the man, and according to that point are responsible for defects and limitations or for assets and achieved perfections. The man’s conduct and behaviour upon the physical plane is conditioned, controlled and determined by the nature of his glands, and these are conditioned, controlled and determined by the nature, the quality and the livingness of the centres; these, in their turn are conditioned, controlled and determined by the soul, in increasing effectiveness as evolution proceeds. Prior to soul control, they are conditioned, qualified [624] and controlled by the astral body, and later by the mind. The goal of the evolutionary cycle is to bring about this control, this conditioning, and this determining process by the soul; human beings are today at every imaginable stage of development within this process.

Liên hệ với các trung tâm này, và phản ứng trong sự nhất trí nghiêm ngặt với chúng, là hệ nội tiết hay hệ tuyến, qua hệ này—trong khi lâm phàm—sự sống hay năng lượng chảy không bị ngăn trở và dưới sự định hướng đúng đắn trong trường hợp con người phát triển cao, hoặc bị ngăn trở và được định hướng không hoàn hảo trong trường hợp con người trung bình hay chưa phát triển; qua hệ thống kiểm soát tuyến này, hình tướng con người đáp ứng hay không đáp ứng với các năng lượng thế giới xung quanh. Liên quan đến chủ đề trị liệu hiện nay của chúng ta, một người có thể bệnh tật và đau yếu hoặc khoẻ mạnh và cường tráng, tuỳ theo trạng thái của các trung tâm và sự ngưng tụ của chúng là các tuyến. Phải luôn ghi nhớ rằng các trung tâm là tác nhân chính trên cõi hồng trần qua đó linh hồn hoạt động, biểu lộ sự sống và phẩm tính, tuỳ theo điểm đạt được trong tiến trình tiến hoá, và rằng hệ tuyến chỉ đơn giản là một hiệu quả—tất yếu và không thể tránh—của các trung tâm qua đó linh hồn đang hoạt động. Vì vậy, các tuyến biểu lộ đầy đủ điểm tiến hoá của con người, và theo điểm đó mà chịu trách nhiệm về các khiếm khuyết và giới hạn hoặc về các ưu điểm và những sự hoàn thiện đã đạt được. Hành vi và cách ứng xử của con người trên cõi hồng trần được tác động, kiểm soát và quyết định bởi bản chất các tuyến của y, và các tuyến này được tác động, kiểm soát và quyết định bởi bản chất, phẩm tính và tính sống động của các trung tâm; đến lượt chúng, các trung tâm được tác động, kiểm soát và quyết định bởi linh hồn, với hiệu quả ngày càng tăng khi tiến hoá diễn ra. Trước khi có sự kiểm soát của linh hồn, chúng được tác động, quy định [624] và kiểm soát bởi thể cảm dục, và về sau bởi trí tuệ. Mục tiêu của chu kỳ tiến hoá là mang lại sự kiểm soát này, sự tác động này, và tiến trình quyết định này bởi linh hồn; ngày nay con người đang ở mọi giai đoạn phát triển có thể hình dung được trong tiến trình này.

I realise that much of the above is well known and in the nature of repetition. But I have felt it essential to repeat the story so that there may be a fresh clarity in your thinking.

Tôi nhận ra rằng phần lớn điều trên đây đã được biết rõ và có tính chất lặp lại. Nhưng tôi cảm thấy việc lặp lại câu chuyện này là thiết yếu để có thể có một sự sáng tỏ mới mẻ trong tư tưởng của các bạn.

It will be apparent to you also that the karmic process in any individual life must therefore work out through the medium of the glands, which condition the reaction of the person to circumstance and events. The results of all previous lives and of all activities carried on during those lives have been registered by the Lords of Karma; karmic law works in close cooperation with the lunar Lords, who build and construct the bodies which constitute the personality; later, the law works in an even closer cooperation with the soul purpose. The whole problem is necessarily most intricate and difficult. All I can do is to give certain indications.

Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng tiến trình nghiệp quả trong bất kỳ đời sống cá nhân nào vì thế phải vận hành qua trung gian các tuyến, vốn tác động lên phản ứng của con người đối với hoàn cảnh và biến cố. Kết quả của mọi kiếp sống trước và của mọi hoạt động được tiến hành trong các kiếp ấy đã được các Đấng Nghiệp Quả ghi nhận; luật nghiệp quả hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với các nguyệt tinh quân, những vị xây dựng và cấu tạo các thể tạo thành phàm ngã; về sau, luật này hoạt động trong một sự hợp tác còn chặt chẽ hơn với mục đích của linh hồn. Toàn bộ vấn đề này tất yếu là cực kỳ phức tạp và khó khăn. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra một số chỉ dẫn.

It is with this system of centres and their externalised effects, the glands, that the healer has to work and which he has to take into most careful consideration; all stimulation which he may be able, for instance, to convey to a centre in the patient’s body, or all abstraction of energy from a centre, will have a most definite effect upon the allied or related gland, and therefore upon the secretion which that gland is in the habit of pouring into the blood stream.

Chính với hệ thống các trung tâm này và các hiệu quả ngoại hiện của chúng là các tuyến mà nhà trị liệu phải làm việc và phải hết sức cẩn trọng xem xét; chẳng hạn, mọi sự kích thích mà y có thể truyền đến một trung tâm trong thể xác bệnh nhân, hoặc mọi sự rút bớt năng lượng khỏi một trung tâm, sẽ có một tác động rất xác định lên tuyến đồng minh hay liên hệ, và do đó lên sự bài tiết mà tuyến ấy thường đổ vào dòng máu.

As again you know, the seven major centres and their allied glands are as follows:

Như các bạn lại biết, bảy trung tâm chính và các tuyến liên hệ của chúng như sau:

1.

The head centre

The pineal gland.

2.

The ajna centre

The pituitary gland.

3.

The throat centre

The thyroid gland.

4.

The heart centre

The thymus gland.

5.

The solar plexus centre

The pancreas.

6.

The sacral centre

The gonads.

7.

The centre at base of spine

The adrenal glands.

[625]There are also other centres and many other glands in the body, but these are the seven with which the healer works; the minor or subsidiary glands are conditioned by the centre controlling the area in which they are located. The healer, however, refuses to complicate his thinking with the multiplicity and detail of the other lesser glandular system and with the intricacies of lesser interior relationships. The above list gives also the centres and glands which basically determine the state of health-good, indifferent or bad-and the psychological equipment of a man. Students should bear in mind that the primary effect of the activity of the glands and of their secretions is psychological. A man is, upon the physical plane, emotionally and mentally what his glandular system makes him, and incidentally what they makes him physically, because that is frequently determined by his psychological state of mind and emotions. The emphasis of the self-centred ordinary man is largely upon the physical vehicle, and he pays little or no attention to the balance or the imbalance of his endocrine system or setup (if I may use that word) from the angle of its determining his psychological effect upon his fellow men. It is not my intention to analyse the various glands, noting how they respond to the awakened or the unawakened condition of the centres, or how they limit or implement the responsiveness of the man to his environment or determine his interpretation of life and the passivity or the activity of his daily reactions to events and circumstance. A man, it may emphatically be stated, is what his glands make him, but they, in their turn, are only the effects of certain inner potent [626] sources of energy. Again, as you see, I repeat this vital truth.

[625] Cũng còn có các trung tâm khác và nhiều tuyến khác trong thể xác, nhưng đây là bảy trung tâm mà nhà trị liệu làm việc; các tuyến nhỏ hay phụ được tác động bởi trung tâm kiểm soát vùng nơi chúng tọa lạc. Tuy nhiên, nhà trị liệu từ chối làm phức tạp tư tưởng của mình bằng tính đa tạp và chi tiết của hệ tuyến nhỏ khác và bằng những phức tạp của các mối liên hệ nội tại nhỏ hơn. Danh sách trên cũng đưa ra các trung tâm và các tuyến vốn về căn bản quyết định tình trạng sức khoẻ—tốt, trung bình hay xấu—và trang bị tâm lý của một người. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng hiệu quả chủ yếu của hoạt động các tuyến và các chất bài tiết của chúng là về mặt tâm lý. Một người, trên cõi hồng trần, về mặt cảm xúc và trí tuệ là như hệ tuyến của y làm cho y như thế, và ngẫu nhiên cũng là như chúng làm cho y về mặt thể chất, bởi vì điều đó thường được quyết định bởi trạng thái tâm lý của trí tuệ và cảm xúc của y. Sự nhấn mạnh của con người bình thường tập trung vào bản thân phần lớn đặt trên hiện thể vật chất, và y ít hoặc không chú ý gì đến sự quân bình hay mất quân bình của hệ nội tiết hay cơ cấu nội tiết của mình (nếu tôi có thể dùng từ đó) từ góc độ nó quyết định hiệu quả tâm lý của y lên những người đồng loại. Ý định của tôi không phải là phân tích các tuyến khác nhau, ghi nhận cách chúng đáp ứng với tình trạng thức tỉnh hay chưa thức tỉnh của các trung tâm, hoặc cách chúng giới hạn hay tăng cường khả năng đáp ứng của con người đối với môi trường của y, hay quyết định sự diễn giải của y về đời sống và tính thụ động hay tính hoạt động của các phản ứng hằng ngày của y đối với biến cố và hoàn cảnh. Có thể nhấn mạnh rằng một người là như các tuyến của y làm cho y như thế, nhưng đến lượt chúng, chúng chỉ là các hiệu quả của những nguồn năng lượng nội tại mãnh liệt nào đó. Một lần nữa, như các bạn thấy, tôi lặp lại chân lý thiết yếu này.

It is for this reason that medical science will eventually find the truth (and already they are sensing it) that it is impossible to fundamentally change the personality and the physical equipment of a man through treating the glands themselves; little real progress has been made along this line during the thirty or forty years during which the endocrinologists have considered and investigated this subject. Certain things have been found out; certain results of the activity or the inactivity of the glands have been noted; certain types of people have been recognised as illustrative of glandular activity or passivity; ameliorative measures have been applied and the action of a gland has been stimulated or retarded (with good or bad effects) through various methods and types of medication. Beyond this little is known, and the best minds in this particular field are conscious of the fact that they are face to face with a terra incognita. This situation will remain as it is until modern medical science recognises that the world of causes (as far as the endocrine glands are concerned) is the etheric body with its seven centres; they will then register the fact that all work in relation to the glands must be shifted away from the seven effects or precipitations of the centres on to the centres themselves.

Chính vì lý do này mà khoa học y học cuối cùng sẽ tìm ra chân lý (và họ đã đang cảm nhận điều đó) rằng không thể thay đổi một cách căn bản phàm ngã và trang bị thể chất của một người bằng cách điều trị chính các tuyến; rất ít tiến bộ thực sự đã được thực hiện theo đường hướng này trong ba mươi hay bốn mươi năm mà các nhà nội tiết học đã xem xét và nghiên cứu đề tài này. Một số điều đã được phát hiện; một số kết quả của hoạt động hay sự bất hoạt của các tuyến đã được ghi nhận; một số loại người đã được nhận ra như minh hoạ cho hoạt động hay tính thụ động của tuyến; các biện pháp cải thiện đã được áp dụng và hoạt động của một tuyến đã được kích thích hay làm chậm lại (với hiệu quả tốt hay xấu) bằng nhiều phương pháp và loại thuốc khác nhau. Ngoài ra, người ta biết rất ít, và những trí tuệ ưu tú nhất trong lĩnh vực đặc biệt này ý thức được sự kiện rằng họ đang đối diện với một miền đất chưa biết. Tình trạng này sẽ vẫn như vậy cho đến khi khoa học y học hiện đại nhận ra rằng thế giới nguyên nhân (xét về các tuyến nội tiết) là thể dĩ thái với bảy trung tâm của nó; khi đó họ sẽ ghi nhận sự kiện rằng mọi công việc liên quan đến các tuyến phải được chuyển khỏi bảy hiệu quả hay sự ngưng tụ của các trung tâm sang chính các trung tâm.

The healer, therefore, ignores the gland involved and deals directly with the centre which conditions the “point of friction” and controls the area under its influence; this necessarily includes the gland which the centre has created, formed or precipitated and energised.

Vì vậy, nhà trị liệu bỏ qua tuyến liên quan và trực tiếp đề cập đến trung tâm tác động lên “điểm ma sát” và kiểm soát vùng nằm dưới ảnh hưởng của nó; điều này tất yếu bao gồm tuyến mà trung tâm đã tạo ra, hình thành hay ngưng tụ và tiếp sinh lực.

The concept in the mind of the healer should be, as this law indicates, that an unimpeded channel or a clear passage must be formed along which health-giving life may flow from the “needed centre” in the healer’s etheric body [627] to the allied centre in the body of the patient and from thence into the blood stream, via the related gland. Forget not, the truth remains eternally right that the “blood is the life”‘—even if as yet inexplicable in its implications from the angle of the esotericist as well as from the angle of medical science.

Khái niệm trong trí tuệ của nhà trị liệu nên là, như quy luật này chỉ ra, rằng phải hình thành một kênh không bị ngăn trở hay một lối thông suốt dọc theo đó sự sống ban sức khoẻ có thể chảy từ “trung tâm cần thiết” trong thể dĩ thái của nhà trị liệu [627] đến trung tâm liên hệ trong thể của bệnh nhân và từ đó vào dòng máu, qua tuyến tương ứng. Đừng quên, chân lý vẫn mãi mãi đúng rằng “máu là sự sống”—dù cho các hàm ý của nó từ góc độ của nhà bí truyền học cũng như từ góc độ của khoa học y học vẫn chưa thể giải thích được.

Healers have to learn to work with the life principle, and not with some vague energy which is set in motion by the power of thought or by the potency of love, as is the case presented today by the various healing systems of the world which mankind has evolved. This life principle is contacted and set in motion by the mode of clearing certain etheric channels within the etheric structure which underlies every part of the patient’s body. This clearance is not brought about by thinking health or by affirming divinity or by eliminating “error” in the mental approach, but by the much more prosaic method of directing streams of energy via certain centres, and thus affecting certain glands in the area of the physical body which is diseased and the seat of trouble, pain and distress.

Các nhà trị liệu phải học cách làm việc với nguyên khí sự sống, chứ không phải với một năng lượng mơ hồ nào đó được khởi động bởi quyền năng của tư tưởng hay bởi mãnh lực của tình thương, như trường hợp được trình bày ngày nay bởi các hệ thống trị liệu khác nhau của thế giới mà nhân loại đã phát triển. Nguyên khí sự sống này được tiếp xúc và được khởi động bằng phương thức khai thông một số kênh dĩ thái nhất định trong cấu trúc dĩ thái nằm bên dưới mọi phần của thể xác bệnh nhân. Sự khai thông này không được mang lại bằng cách nghĩ đến sức khoẻ hay khẳng định thiên tính hay loại bỏ “sai lầm” trong cách tiếp cận trí tuệ, mà bằng phương pháp thực tế hơn nhiều là định hướng các dòng năng lượng qua một số trung tâm nhất định, và như vậy tác động đến một số tuyến nhất định trong vùng thể xác đang bệnh và là nơi của rối loạn, đau đớn và khổ sở.

That thought or correct thinking is involved is necessarily true; the healer has to think clearly before he can bring about the desired results, but the energy poured into the patient’s vehicle is not mental energy, but one of the seven forms of pranic or life energy. This travels along the line of force or the channel which relates and links all the centres and connects those centres with the glands. Forget not that this constitutes an interlinking and interlocking directorate of the following systems, and that-from the point of view of the esotericist—these systems are symbols of great cosmic processes:

Rằng tư tưởng hay tư duy đúng đắn có liên quan là điều tất nhiên đúng; nhà trị liệu phải suy nghĩ rõ ràng trước khi y có thể mang lại các kết quả mong muốn, nhưng năng lượng được tuôn vào hiện thể của bệnh nhân không phải là năng lượng trí tuệ, mà là một trong bảy dạng năng lượng prana hay năng lượng sự sống. Năng lượng này di chuyển dọc theo đường lực hay kênh liên hệ và nối kết tất cả các trung tâm và nối các trung tâm ấy với các tuyến. Đừng quên rằng điều này cấu thành một ban điều hành liên kết và đan xen của các hệ thống sau đây, và rằng—từ quan điểm của nhà bí truyền học—các hệ thống này là những biểu tượng của các tiến trình vũ trụ vĩ đại:

1. The etheric body, as a whole, with its channels and communicating lines of energy which underlie every part [628] of the human body.

1. Thể dĩ thái như một toàn thể, với các kênh và các đường truyền thông năng lượng của nó nằm bên dưới mọi phần [628] của thể xác con người.

2. The seven related centres, each specifically qualified and each in touch, via the etheric fibres or threads of force, with each and every centre.

2. Bảy trung tâm liên hệ, mỗi trung tâm được quy định một cách đặc thù và mỗi trung tâm tiếp xúc, qua các sợi dĩ thái hay các sợi lực, với từng và mọi trung tâm.

3. The nadis, that system of slightly denser etheric channels or tiny threads of force which underlie the entire nervous system; they underlie every type of nerve and every type of nerve plexus.

3. Các nadi, hệ thống những kênh dĩ thái hơi đậm đặc hơn hay những sợi lực nhỏ bé nằm bên dưới toàn bộ hệ thần kinh; chúng nằm bên dưới mọi loại dây thần kinh và mọi loại đám rối thần kinh.

4. The nervous system itself, which is found extending its radius of influence throughout the entire body of a man.

4. Chính hệ thần kinh, được thấy đang mở rộng bán kính ảnh hưởng của nó khắp toàn thể cơ thể con người.

5. The endocrine or glandular system.

5. Hệ nội tiết hay hệ tuyến.

6. The blood stream, the recipient of streams of living energy from the endocrine system, via what are called the hormones.

6. Dòng máu, nơi tiếp nhận các dòng năng lượng sống từ hệ nội tiết, qua cái được gọi là các hormone.

7. The interrelated sumtotal, which is the divine manifestation of the spiritual man in any incarnation and at any point in evolution.

7. Tổng thể liên hệ lẫn nhau, là biểu hiện thiêng liêng của con người tinh thần trong bất kỳ lần lâm phàm nào và ở bất kỳ điểm tiến hoá nào.

Therefore, two great streams of energy permeate and animate this entire aggregation of systems: the life stream and the consciousness stream. One works through the nervous system (the consciousness stream) and the other through the blood stream. Both are in fact so closely related and allied that, in action, it is not easy for the ordinary man to differentiate between them.

Vì vậy, hai dòng năng lượng lớn thấm nhập và làm sinh động toàn bộ tập hợp các hệ thống này: dòng sự sống và dòng tâm thức. Một dòng hoạt động qua hệ thần kinh (dòng tâm thức) và dòng kia qua dòng máu. Thực ra cả hai liên hệ và gắn bó chặt chẽ đến mức, trong hoạt động, con người bình thường không dễ phân biệt giữa chúng.

The healer, however, does not work with the consciousness aspect; he works entirely with the life aspect; the perfect healer (something at present nonexistent) works through the closed and sealed point within the centre (the very heart of the centre). There the point of life is to be found. From this point within the centre, life rays out into the petals of the lotus, and the combination of the life at the centre and the consciousness, inherent in the petals, is the source of the living, breathing, sensitive human [629] being-from the physical angle-and this the healer must recognise.

Tuy nhiên, nhà trị liệu không làm việc với phương diện tâm thức; y hoàn toàn làm việc với phương diện sự sống; nhà trị liệu hoàn hảo (điều hiện nay chưa tồn tại) làm việc qua điểm khép kín và niêm phong bên trong trung tâm (chính tim của trung tâm). Ở đó có thể tìm thấy điểm sự sống. Từ điểm này bên trong trung tâm, sự sống toả ra vào các cánh hoa sen, và sự kết hợp của sự sống ở trung tâm với tâm thức vốn có trong các cánh hoa là nguồn gốc của con người sống động, hô hấp, nhạy cảm [629]—xét từ góc độ thể chất—và điều này nhà trị liệu phải nhận ra.

Behind this livingness and this consciousness is the Being, the spiritual man, the actor, the one who feels (in varying degrees), and the thinker. The simplicity of the above statement is somewhat misleading, as there are other factors and relationships and other energies which must be considered, but it is nevertheless basically true, and upon this truth the healer can act.

Đằng sau tính sống động này và tâm thức này là Bản Thể, con người tinh thần, tác nhân, kẻ cảm nhận (ở những mức độ khác nhau), và người suy tư. Tính đơn giản của phát biểu trên phần nào gây hiểu lầm, vì còn có những yếu tố và mối liên hệ khác cùng những năng lượng khác phải được xem xét, nhưng tuy vậy về căn bản nó vẫn đúng, và trên chân lý này nhà trị liệu có thể hành động.

It is interesting to point out that the Great Invocation now being distributed in the world is based upon this same fundamental concept of great systems, conditioning humanity as a whole, which can be energised by the inflow of streams of energy, bringing new life and health to the entire body of humanity via the planetary centres of divine livingness and consciousness.

Điều thú vị là Đại Khấn Nguyện hiện đang được phân phối trên thế giới được đặt nền trên cùng khái niệm căn bản này về các hệ thống lớn tác động lên toàn thể nhân loại, những hệ thống có thể được tiếp sinh lực bởi sự tuôn vào của các dòng năng lượng, mang lại sự sống và sức khoẻ mới cho toàn bộ thể nhân loại qua các trung tâm hành tinh của tính sống động và tâm thức thiêng liêng.

Rule Four which accompanies Law VII is of major importance. This is because of its extreme simplicity, and because, if comprehended and followed, it forms a bridging rule between the subjective and the objective methods of handling disease. The law which we have just considered was also exceedingly simple and direct, and in its implications related to the subjective nature and the objective form. Students should not be deceived by simplicity and by plain, direct statements. There is a tendency to regard esoteric teaching as necessarily abstruse and indirect, requiring always the use of the “esoteric sense” (whatever is meant by that) in order to arrive at understanding. Yet the more advanced the teaching, very frequently the more simply is it expressed. Abstruseness is related to the ignorance of the student-not to the mode of presentation of the teacher. This rule runs as follows: [630]

Quy luật Bốn đi kèm với Định luật VII có tầm quan trọng lớn. Điều này là vì tính đơn giản cực độ của nó, và vì nếu được thấu hiểu và tuân theo, nó tạo thành một quy luật bắt cầu giữa các phương pháp chủ quan và khách quan trong việc xử lý bệnh tật. Định luật mà chúng ta vừa xem xét cũng cực kỳ đơn giản và trực tiếp, và trong các hàm ý của nó có liên hệ với bản chất chủ quan và hình tướng khách quan. Các đạo sinh không nên bị đánh lừa bởi tính đơn giản và bởi những phát biểu rõ ràng, trực tiếp. Có một khuynh hướng xem giáo huấn huyền bí học là tất yếu tối nghĩa và gián tiếp, luôn luôn đòi hỏi phải sử dụng “giác quan huyền bí” (dù điều đó có nghĩa là gì) để đi đến thấu hiểu. Tuy nhiên, giáo huấn càng cao siêu thì rất thường khi lại càng được diễn đạt đơn giản hơn. Sự tối nghĩa liên hệ với sự vô minh của đạo sinh—không phải với cách trình bày của huấn sư. Quy luật này như sau: [630]

RULE FOURQUY LUẬT BỐN

A careful diagnosis of disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent-that once the organ involved is known, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.

Một sự chẩn đoán cẩn trọng về bệnh tật, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hoá đến mức này—rằng một khi cơ quan bị liên hệ đã được biết, thì trung tâm trong thể dĩ thái có liên hệ gần nhất với nó sẽ được áp dụng các phương pháp trị liệu huyền bí, mặc dù các phương pháp cải thiện thông thường, y khoa hay phẫu thuật sẽ không bị loại bỏ.

This rule requires little elucidation, for it is composed of clear, concise instructions. Let us list these instructions:

Quy luật này đòi hỏi rất ít sự làm sáng tỏ, vì nó gồm những chỉ dẫn rõ ràng, súc tích. Chúng ta hãy liệt kê các chỉ dẫn này:

1. There must be careful diagnosis, based on the ascertained outer symptoms.

1. Phải có sự chẩn đoán cẩn trọng, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định.

2. The organ which is the seat of the trouble must be located. Both these activities concern the dense physical body.

2. Phải xác định cơ quan là nơi phát sinh rối loạn. Cả hai hoạt động này đều liên quan đến thể xác đậm đặc.

3. The centre in the etheric body closest to the area of the trouble will next receive attention.

3. Kế đó, trung tâm trong thể dĩ thái gần nhất với vùng rối loạn sẽ được chú ý.

4. Methods of occult healing are then employed, directed to the stimulation, or the reverse, of the centre involved.

4. Khi ấy, các phương pháp trị liệu huyền bí được sử dụng, hướng đến việc kích thích, hoặc ngược lại, trung tâm liên hệ.

5. Simultaneously, all outer orthodox methods are employed.

5. Đồng thời, mọi phương pháp chính thống bên ngoài đều được sử dụng.

It is on this question of careful diagnosis that most modern so-called healers go astray. They do not know enough about the physical body, about the pathology of disease, about the primary or secondary symptoms, to determine the nature of the difficulty. this is because the usual healer has not had medical training, and at the same time he is not psychically equipped to arrive at a true diagnosis in an occult manner. He therefore falls back on the general assumption that the patient is sick, that the seat of the trouble appears to be in such or such an area of the physical body, that the patient complains of certain pains and aches, and that if the patient can be rendered acquiescent enough, [631] if he can grasp (along with the healer) the fact of his divinity-and who can, my brother?—then if he has faith in the healer, he can assuredly be healed.

Chính ở vấn đề chẩn đoán cẩn trọng này mà phần lớn những người được gọi là nhà trị liệu hiện đại đi sai đường. Họ không biết đủ về thể xác, về bệnh lý học của bệnh tật, về các triệu chứng nguyên phát hay thứ phát, để xác định bản chất của khó khăn. Điều này là vì nhà trị liệu thông thường chưa được đào tạo y khoa, đồng thời y cũng không được trang bị thông linh để đi đến một chẩn đoán chân thực theo cách huyền bí. Vì vậy, y quay về với giả định chung rằng bệnh nhân đang bệnh, rằng chỗ rối loạn dường như nằm ở vùng này hay vùng kia của thể xác, rằng bệnh nhân than phiền về một số cơn đau nhức, và rằng nếu bệnh nhân có thể được làm cho đủ mức thuận phục, [631] nếu y có thể nắm bắt (cùng với nhà trị liệu) sự kiện về thiên tính của mình—và ai có thể làm được điều đó, Huynh đệ của Tôi?—thì nếu y có đức tin nơi nhà trị liệu, chắc chắn y có thể được chữa lành.

The outstanding thing usually to note is the ignorance of both the patient and the healer; the thing to be deplored is the assumption of the healer that, if a healing does follow, it is due entirely to the healing methods followed, whereas the patient would, in all probability, have recovered in any case. The healing may have been hastened by the factor of faith, and faith is simply the focussing of the patient’s energy in line with the injunction of the healer, and a consequent “display” of that energy in the diseased area in obedience to the law that “energy follows thought.” The “explosion” (if I may use so forcible a word) of the energy of faith on the part of the two people involved-the healer and the patient-occultly and occasionally produces sufficient energy stimulation to bring about a cure where a cure in any case was inevitable. It has simply been a hastening process. This is not, however, a true occult healing and no true occult healing methods were employed or involved. Psychologically, the same thing can be seen taking place in the case of a “conversion,” as the Fundamentalist School of Christianity calls it. The faith of the person and the faith of the evangelist, plus the faith of the audience (where there is one) bring about a psychological healing along the line of resolving cleavages, or produce an at-one-ment, even if only of a temporary nature.

Điều nổi bật thường cần ghi nhận là sự vô minh của cả bệnh nhân lẫn nhà trị liệu; điều đáng tiếc là giả định của nhà trị liệu rằng, nếu việc chữa lành thực sự xảy ra, thì hoàn toàn là do các phương pháp trị liệu đã được áp dụng, trong khi rất có thể bệnh nhân dù sao cũng đã hồi phục. Việc chữa lành có thể đã được thúc đẩy bởi yếu tố đức tin, và đức tin chỉ đơn giản là sự tập trung năng lượng của bệnh nhân phù hợp với chỉ dẫn của nhà trị liệu, và là sự “biểu lộ” tiếp theo của năng lượng ấy trong vùng bệnh theo sự tuân phục định luật rằng “năng lượng đi theo tư tưởng.” “Sự bùng nổ” (nếu tôi có thể dùng một từ mạnh như vậy) của năng lượng đức tin nơi hai người liên hệ—nhà trị liệu và bệnh nhân—về mặt huyền bí và đôi khi tạo ra đủ sự kích thích năng lượng để mang lại một sự chữa lành trong trường hợp mà dù sao sự chữa lành cũng là điều tất yếu. Điều đó chỉ đơn giản là một tiến trình thúc đẩy nhanh hơn. Tuy nhiên, đây không phải là trị liệu huyền bí chân chính và không có phương pháp trị liệu huyền bí chân chính nào được sử dụng hay liên quan. Về mặt tâm lý, có thể thấy cùng một điều xảy ra trong trường hợp một “sự cải đạo,” như Trường phái Cơ Đốc giáo Căn Bản gọi vậy. Đức tin của người ấy và đức tin của nhà truyền giáo, cộng với đức tin của thính giả (nếu có), mang lại một sự chữa lành tâm lý theo đường hướng giải quyết các chia cắt, hay tạo ra một sự hợp nhất, dù chỉ có tính tạm thời.

It must be increasingly borne in mind that there is nothing in the created world but energy in motion, and that every thought directs some aspects of that energy, though always within the sphere of influence of some greater thinking, directing energy. The healer’s faith and the patient’s faith are both examples of energy in motion, and at present usually the only energies employed in every case [632] of healing. Orthodox medicine also works with the same energies, supplementing its orthodox methods with the patient’s faith in the physician and in his scientific knowledge.

Phải ngày càng ghi nhớ rằng trong thế giới được tạo thành không có gì ngoài năng lượng đang vận động, và rằng mọi tư tưởng đều định hướng một số phương diện của năng lượng ấy, dù luôn luôn ở trong phạm vi ảnh hưởng của một năng lượng tư tưởng chỉ đạo lớn hơn nào đó. Đức tin của nhà trị liệu và đức tin của bệnh nhân đều là những ví dụ về năng lượng đang vận động, và hiện nay thường là những năng lượng duy nhất được sử dụng trong mọi trường hợp [632] trị liệu. Y học chính thống cũng làm việc với cùng những năng lượng ấy, bổ sung các phương pháp chính thống của mình bằng đức tin của bệnh nhân nơi vị thầy thuốc và nơi tri thức khoa học của ông.

I am not here going to enlarge further on the injunction to use medical and surgical methods whenever possible. I have touched upon this subject several times in the course of this teaching upon healing. It is essential that people should realise that the ascertained knowledges of medicine and surgery are just as much an expression of divine experience and understanding as the hopeful, assertive, yet fumbling methods of so-called divine healing-if not more so at present. Though much of the orthodox methods remain experimental, they are less so than the methods of the modern healers, and much of their scientific knowledge is proven and real. It should be used, and confidence can be expressed in it. The perfect healing combination is that of the medical man and the spiritual healer, each working in his own field, and both having faith in each other; this is not now the case. There is no need to call in divine aid to set bones which the surgeon is well equipped to do, or to clear up infection which the physician knows well how to handle. The healer can help and can hasten the healing process, but the orthodox physician can also hasten the work of the healer. Both groups need each other.

Ở đây tôi sẽ không nói thêm về chỉ dẫn phải sử dụng các phương pháp y khoa và phẫu thuật bất cứ khi nào có thể. Tôi đã đề cập đến chủ đề này nhiều lần trong tiến trình giáo huấn này về trị liệu. Điều thiết yếu là mọi người phải nhận ra rằng các tri thức đã được xác lập của y học và phẫu thuật cũng là một biểu hiện của kinh nghiệm và sự thấu hiểu thiêng liêng chẳng kém gì những phương pháp đầy hy vọng, quả quyết nhưng còn vụng về của cái gọi là trị liệu thiêng liêng—nếu không muốn nói là hiện nay còn hơn thế. Dù phần lớn các phương pháp chính thống vẫn còn mang tính thực nghiệm, chúng ít mang tính thực nghiệm hơn các phương pháp của các nhà trị liệu hiện đại, và phần lớn tri thức khoa học của họ là đã được chứng minh và có thật. Nó nên được sử dụng, và có thể đặt niềm tin nơi đó. Sự kết hợp trị liệu hoàn hảo là sự kết hợp giữa vị y sĩ và nhà trị liệu tinh thần, mỗi người làm việc trong lĩnh vực riêng của mình, và cả hai đều có đức tin nơi nhau; hiện nay điều này chưa phải vậy. Không cần phải kêu gọi sự trợ giúp thiêng liêng để nắn xương mà bác sĩ phẫu thuật hoàn toàn có đủ khả năng làm, hoặc để làm sạch nhiễm trùng mà vị thầy thuốc biết rõ cách xử lý. Nhà trị liệu có thể giúp đỡ và có thể thúc đẩy tiến trình chữa lành, nhưng vị thầy thuốc chính thống cũng có thể thúc đẩy công việc của nhà trị liệu. Cả hai nhóm đều cần nhau.

I realise that what I have said here will please neither the spiritual healer nor the orthodox medical man. It is time, however, that they learn to appreciate each other and to work in cooperation. In the last analysis, the spiritual healer and the new modes of mental healing have relatively little to contribute in comparison with the work and the knowledge of the member of the orthodox profession. The debt of the world to its doctors and surgeons is very great. The debt to healers is decidedly not so great; they oft also poison the channel by bitterness and constant [633] criticism of the physician and of orthodox medicine. Surety of knowledge and experience prevents a similar attitude in the orthodox group, plus the realisation that even the spiritual healer will call in the doctor in times of emergency.

Tôi nhận ra rằng điều tôi nói ở đây sẽ không làm hài lòng cả nhà trị liệu tinh thần lẫn vị y sĩ chính thống. Tuy nhiên, đã đến lúc họ phải học cách trân trọng nhau và làm việc trong hợp tác. Xét cho cùng, nhà trị liệu tinh thần và các phương thức trị liệu trí tuệ mới có tương đối ít điều để đóng góp so với công việc và tri thức của thành viên ngành chính thống. Món nợ của thế giới đối với các bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật là rất lớn. Món nợ đối với các nhà trị liệu thì rõ ràng không lớn đến thế; họ cũng thường đầu độc kênh dẫn bằng sự cay đắng và sự [633] chỉ trích liên tục đối với vị thầy thuốc và đối với y học chính thống. Sự chắc chắn của tri thức và kinh nghiệm ngăn cản một thái độ tương tự trong nhóm chính thống, cộng với sự nhận thức rằng ngay cả nhà trị liệu tinh thần cũng sẽ gọi bác sĩ đến trong những lúc khẩn cấp.

The law and the rule now to be considered will carry us into realms of real abstraction; it will not be easy for you to understand much of what I may say. This Law VIII takes us back to the very source of all phenomena as far as the human being is concerned-the will of the immortal soul to incarnate on earth or to withdraw from incarnation. It involves also the consideration of the factor of the Will in producing disease as the direct means of bringing about that withdrawal. So little is as yet understood anent the Will that it is particularly hard to explain.

Định luật và quy luật giờ đây sẽ được xem xét sẽ đưa chúng ta vào những lĩnh vực của sự trừu tượng thực sự; các bạn sẽ không dễ hiểu được nhiều điều tôi có thể nói. Định luật VIII này đưa chúng ta trở lại chính nguồn gốc của mọi hiện tượng xét theo con người—ý chí của linh hồn bất tử muốn lâm phàm trên trần gian hay rút khỏi lâm phàm. Nó cũng bao hàm việc xem xét yếu tố Ý Chí trong việc tạo ra bệnh tật như phương tiện trực tiếp để mang lại sự rút lui đó. Hiện nay người ta còn hiểu quá ít về Ý Chí nên đặc biệt khó giải thích.

LAW VIIIĐỊNH LUẬT VIII

Disease and death are the result of two active forces. One is the will of the soul, which says to its instrument: “I draw the essence back.” The other is the magnetic power of the planetary life, which says to the life within the atomic structure: “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.” Thus, under cyclic law, do all forms act.

Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực hoạt động. Một là ý chí của linh hồn, nói với khí cụ của nó: “Ta rút tinh chất trở lại.” Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.” Như vậy, dưới định luật chu kỳ, mọi hình tướng đều hành động.

Two aspects in the nature of the divine Will are called into play where disease and death are concerned: one is the will of the soul to being an incarnation to an end; another is the will of the spirit of the earth (the basic elemental force) to draw back into itself the released and temporarily isolated substance of which the soul had availed itself during the cycle of incarnation.

Hai phương diện trong bản chất của Ý Chí thiêng liêng được đưa vào hoạt động khi liên quan đến bệnh tật và cái chết: một là ý chí của linh hồn muốn chấm dứt một lần lâm phàm; phương diện kia là ý chí của tinh linh địa cầu (mãnh lực hành khí căn bản) muốn rút trở lại vào chính nó chất liệu đã được giải phóng và tạm thời cô lập mà linh hồn đã sử dụng trong chu kỳ lâm phàm.

The factor of time, the factor of the interplay between the point of will which is that of the soul, and the diffused ever present will of the elemental spirit of substance are involved, plus their cyclic relation. These we shall attempt to consider.

Yếu tố thời gian, yếu tố tương tác giữa điểm ý chí là của linh hồn, và ý chí khuếch tán luôn hiện diện của tinh linh hành khí của chất liệu đều có liên quan, cùng với mối liên hệ chu kỳ của chúng. Chúng ta sẽ cố gắng xem xét những điều này.

[634]

[634]

What I have here to say is of major importance and will throw a new and strange light upon the entire subject of disease. I will deal, first of all, with the second half of the law, which refers to the “magnetic power of the planetary life,” which says to the life within the atomic structure: “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.”

Điều tôi phải nói ở đây có tầm quan trọng lớn và sẽ rọi một ánh sáng mới lạ và kỳ lạ lên toàn bộ chủ đề bệnh tật. Trước hết, tôi sẽ bàn đến nửa sau của định luật, phần nói đến “quyền năng từ tính của sự sống hành tinh,” vốn nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.”

To understand the reference, I would remind you that a human being is a spiritual entity, occupying or informing (which is the occult word I prefer) a dense physical vehicle. This dense physical body is part of the general structure of the entire planet, composed of living atoms which are under the control of, and are part of the life of the planetary entity. This dense physical vehicle is released into a temporary and directed freedom by the will of the informing soul, but remains at the same time an intrinsic part of the sumtotal of all atomic substance. This physical vehicle-having its own life and having a measure of intelligence which we call its instinctual nature-is called by esotericists the physical elemental. During incarnated life, it is the coherent force or agency by means of which the physical body preserves its particular form, under the impact of etheric livingness; this affects all the living atoms and brings them into relation with each other. The physical body is the great symbol (within the one Life) of the many of which it is constituted; it is the demonstrated fact of innate coherency, of unity, of synthesis and of relationship. Physical or planetary prana (the lowest form of pranic energy) is the life of the sumtotal of the atoms (of which all outer forms are composed) as they are brought into relation to the separated atomic structure of the dense physical body of an individual informing soul in any kingdom of nature-particularly, from our point of study, the human kingdom. What is true in this connection of the individual or of [635] man, the microcosm, is true also of the planet, which—like man—is a coherent whole. This wholeness is due to the relation of two aspects of life: the life of the planetary Logos and the life of the spirit of the earth, which is the life of the sumtotal of all the atoms which compose all forms. To this sumtotal of living substance, of elemental life, man’s dense physical body conforms and is therefore the symbol. These two lives, functioning microcosmically and also macrocosmically, create that living pranic energy which circulates throughout the etheric bodies of all forms, which produces coherency or a synthetic holding-together and which can be discerned when the densest aspect of the etheric body is seen, creating thus the health aura in plants, trees, sea life, animals and man. Other energies and potencies circulate through and condition the etheric vehicle, but I refer here only to the lowest physical aspect. This is indicative of the life of the elemental of our planet, the spirit of the earth—a divine life, making its own progress upon the involutionary are of manifestation.

Để hiểu lời ám chỉ này, tôi xin nhắc các bạn rằng một con người là một thực thể tinh thần, đang chiếm giữ hay phú linh (đó là từ huyền bí mà tôi thích dùng hơn) một hiện thể hồng trần đậm đặc. Thể xác đậm đặc này là một phần của cấu trúc chung của toàn bộ hành tinh, được cấu thành bởi các nguyên tử sống nằm dưới sự kiểm soát của, và là một phần của sự sống của, Thực Thể Hành Tinh. Hiện thể hồng trần đậm đặc này được giải phóng vào một sự tự do tạm thời và có định hướng bởi ý chí của linh hồn phú linh, nhưng đồng thời vẫn là một phần nội tại của tổng thể toàn bộ chất liệu nguyên tử. Hiện thể hồng trần này—có sự sống riêng của nó và có một mức độ trí tuệ mà chúng ta gọi là bản chất bản năng của nó—được các nhà bí truyền học gọi là tinh linh thể xác. Trong đời sống lâm phàm, nó là mãnh lực hay tác nhân cố kết nhờ đó thể xác duy trì hình tướng riêng biệt của nó dưới tác động của tính sống động dĩ thái; điều này ảnh hưởng đến mọi nguyên tử sống và đưa chúng vào mối liên hệ với nhau. Thể xác là biểu tượng lớn (trong Sự sống duy nhất) của cái nhiều mà nó được cấu thành; nó là sự kiện được biểu lộ của tính cố kết bẩm sinh, của hợp nhất, của tổng hợp và của liên hệ. Prana hồng trần hay hành tinh (dạng thấp nhất của năng lượng prana) là sự sống của tổng thể các nguyên tử (mà mọi hình tướng bên ngoài đều được cấu thành từ đó) khi chúng được đưa vào liên hệ với cấu trúc nguyên tử biệt lập của thể xác đậm đặc của một linh hồn phú linh cá biệt trong bất kỳ giới nào của bản chất—đặc biệt, từ điểm nghiên cứu của chúng ta, là giới nhân loại. Điều đúng trong mối liên hệ này đối với cá nhân hay đối với [635] con người, tiểu thiên địa, cũng đúng đối với hành tinh, vốn—giống như con người—là một toàn thể cố kết. Tính toàn thể này là do mối liên hệ của hai phương diện sự sống: sự sống của Hành Tinh Thượng đế và sự sống của tinh linh địa cầu, vốn là sự sống của tổng thể mọi nguyên tử cấu thành mọi hình tướng. Với tổng thể chất liệu sống này, của sự sống hành khí này, thể xác đậm đặc của con người phù hợp và vì thế là biểu tượng. Hai sự sống này, hoạt động ở cấp tiểu thiên địa và cả đại thiên địa, tạo ra năng lượng prana sống động lưu chuyển khắp các thể dĩ thái của mọi hình tướng, tạo ra sự cố kết hay sự gắn kết tổng hợp, và có thể được phân biện khi phương diện đậm đặc nhất của thể dĩ thái được nhìn thấy, nhờ đó tạo ra hào quang sức khoẻ nơi cây cỏ, cây lớn, sinh vật biển, động vật và con người. Những năng lượng và mãnh lực khác lưu chuyển qua và tác động lên hiện thể dĩ thái, nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến phương diện hồng trần thấp nhất. Điều này biểu thị sự sống của hành khí của hành tinh chúng ta, tinh linh địa cầu—một sự sống thiêng liêng, đang tự mình tiến bước trên cung giáng hạ tiến hoá của biểu hiện.

This spirit of the earth preserves its hold upon the atomic structures of which all forms are made, including the physical body of man; it gathers them together again eventually and reabsorbs those elements of its life which were temporarily isolated from it during any incarnated experience of any soul in any of the kingdoms in nature. These atoms, it must be noted, are imbued or conditioned by two factors for which the spirit of the earth is solely responsible:

Tinh linh địa cầu này duy trì sự nắm giữ của nó trên các cấu trúc nguyên tử mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành, kể cả thể xác của con người; cuối cùng nó lại tập hợp chúng và tái hấp thu những yếu tố sự sống của nó vốn đã tạm thời bị tách khỏi nó trong bất kỳ kinh nghiệm lâm phàm nào của bất kỳ linh hồn nào trong bất kỳ giới nào của bản chất. Cần lưu ý rằng các nguyên tử này được thấm nhuần hay được tác động bởi hai yếu tố mà tinh linh địa cầu hoàn toàn chịu trách nhiệm:

1. The factor of the Karma of the life of the elemental of the planet. This is an involutionary, precipitating karma, entirely different to that of the planetary Logos, Who is a spiritual Life upon the evolutionary arc. This involutionary karma, therefore, conditions the life experience [636] from the purely physical angle of all forms composed of atomic substance.

1. Yếu tố nghiệp quả của sự sống của hành khí của hành tinh. Đây là một nghiệp quả giáng hạ tiến hoá, ngưng tụ, hoàn toàn khác với nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế, Đấng là một Sự sống tinh thần trên cung tiến hoá. Vì vậy, nghiệp quả giáng hạ tiến hoá này tác động lên kinh nghiệm sống [636] từ góc độ thuần hồng trần của mọi hình tướng được cấu thành từ tinh chất hành khí nguyên tử này.

2. The factor of limitation. Apart from the karma, resulting in physical events, affecting all physical forms composed of this elemental essence, the physical vehicles of all lives in all the kingdoms of nature are also conditioned by the point in time of the cyclic influence of the planetary spirit and by its point in evolution. This involutionary spirit has not yet attained a point of perfection, but is progressing towards a specific goal which will be attained when the evolutionary arc of experience is reached. This lies very far ahead. Our planetary Logos, that great divine Life in Whom we live and move and have our being, is one of the “imperfect Gods” as yet, from the point of view of the goal set before all planetary Logoi. His body of expression, our planet, the Earth, is not yet a sacred planet. The spirit of the earth is yet very far from even the relative perfection of which a conscious human being is aware.

2. Yếu tố giới hạn. Ngoài nghiệp quả, vốn dẫn đến các biến cố hồng trần ảnh hưởng đến mọi hình tướng hồng trần được cấu thành từ tinh chất hành khí này, các hiện thể hồng trần của mọi sự sống trong mọi giới của bản chất cũng còn bị tác động bởi điểm thời gian của ảnh hưởng chu kỳ của tinh linh hành tinh và bởi điểm tiến hoá của nó. Tinh linh giáng hạ tiến hoá này chưa đạt đến một điểm hoàn hảo, nhưng đang tiến tới một mục tiêu xác định sẽ đạt được khi cung tiến hoá của kinh nghiệm được chạm đến. Điều này còn ở rất xa phía trước. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Sự sống thiêng liêng vĩ đại mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, vẫn là một trong những “các Thượng đế bất toàn,” xét từ quan điểm của mục tiêu được đặt ra trước mọi Hành Tinh Thượng đế. Thể biểu lộ của Ngài, hành tinh chúng ta là Trái Đất, vẫn chưa phải là một hành tinh thiêng liêng. Tinh linh địa cầu còn rất xa mới đạt đến ngay cả sự hoàn hảo tương đối mà một con người có ý thức nhận biết được.

The point in evolution of the spirit of the earth affects every atom in his body—the body of an involutionary entity. The result of this imperfection, which is not that of the planetary Logos but that of the spirit of the earth, shows itself in the presence of disease in all forms in all the kingdoms of nature. Minerals are subject to disease and decay; even the “fatigue” of metals is a registered scientific fact; plants and animals all react to disease within the structure of their forms, and disease and death are inherent in the atom of which all organisms are composed. Man is not exempt. Disease, therefore, is not brought about by wrong thinking, as oft I have told you, or by any failure to affirm divinity. It is inherent in the form nature itself, being indicative of the imperfections from which the spirit of the earth suffers; [637] it is the mode par excellence whereby this elemental life retains integrity and the capacity to reabsorb that which is his but which has been brought under other direction by the attractive potency of the life of that which informs every other kingdom in nature during a cycle of incarnation. This will give you surely a new idea anent disease. Man creates, under soul impulsion and the will to incarnate, a form which is composed of substance already subjected to conditioning; it is already impregnated with the life impulses of the spirit of the earth. Man, in so doing, assumes responsibility for that elemental form but—at the same time—limits himself definitely by the nature of the atoms of which that form is composed. The atomic substance through which the spirit of the earth expresses itself has in it ever the “seeds of return,” permitting a reabsorption. This substance is also composed of all grades and qualities of matter, from the very coarsest up to the very finest, as for instance the quality of the substance which makes the appearance of the Buddha or of the Christ possible. The Lord of the Earth, the planetary Logos, cannot find substance animated by the spirit of the earth of a quality and nature pure enough; He cannot, therefore, materialise or make an appearance, as can the Buddha or the Christ. Few of Those who form the Council Chamber at Shamballa can find the needed or adequate substance by means of which to appear; They cannot take a dense physical body, and have to be content with an etheric vehicle. There are therefore three types of life, affecting the dense appearance of a human being during his restricted manifestation or incarnation:

Điểm tiến hoá của tinh linh địa cầu ảnh hưởng đến mọi nguyên tử trong thể của y—thể của một thực thể giáng hạ tiến hoá. Kết quả của sự bất toàn này, vốn không phải là của Hành Tinh Thượng đế mà là của tinh linh địa cầu, biểu lộ trong sự hiện diện của bệnh tật nơi mọi hình tướng trong mọi giới của bản chất. Khoáng vật chịu bệnh tật và phân rã; ngay cả “sự mỏi mệt” của kim loại cũng là một sự kiện đã được khoa học ghi nhận; thực vật và động vật đều phản ứng với bệnh tật trong cấu trúc hình tướng của chúng, và bệnh tật cùng cái chết vốn cố hữu trong nguyên tử mà từ đó mọi cơ thể được cấu thành. Con người cũng không được miễn trừ. Vì vậy, bệnh tật không do tư tưởng sai lầm gây ra, như tôi thường nói với các bạn, cũng không do bất kỳ sự thất bại nào trong việc khẳng định thiên tính. Nó vốn cố hữu trong chính bản chất hình tướng, là dấu hiệu cho những bất toàn mà tinh linh địa cầu đang chịu đựng; [637] đó là phương thức ưu việt nhất nhờ đó sự sống hành khí này duy trì tính toàn vẹn và khả năng tái hấp thu điều vốn là của y nhưng đã bị đặt dưới sự điều hướng khác bởi tiềm lực hấp dẫn của sự sống của cái đang thấm nhuần mọi giới khác trong bản chất trong một chu kỳ lâm phàm. Điều này chắc chắn sẽ đem lại cho các bạn một ý niệm mới liên quan đến bệnh tật. Con người tạo ra, dưới sự thúc đẩy của linh hồn và ý chí lâm phàm, một hình tướng được cấu thành từ chất liệu đã chịu sự tác động định hình; nó đã được thấm đẫm những xung lực sự sống của tinh linh địa cầu. Khi làm như vậy, con người nhận lấy trách nhiệm đối với hình tướng hành khí đó nhưng—đồng thời—cũng tự giới hạn mình một cách rõ rệt bởi bản chất của các nguyên tử mà từ đó hình tướng ấy được cấu thành. Chất liệu nguyên tử mà qua đó tinh linh địa cầu biểu lộ chính mình luôn chứa trong nó “những hạt giống của sự trở về,” cho phép một sự tái hấp thu. Chất liệu này cũng được cấu thành từ mọi cấp độ và phẩm tính của vật chất, từ thô nhất đến tinh tế nhất, như chẳng hạn phẩm tính của chất liệu làm cho sắc tướng của Đức Phật hay của Đức Christ trở nên khả hữu. Đức Chúa Tể của Địa Cầu, Hành Tinh Thượng đế, không thể tìm được chất liệu được tinh linh địa cầu linh hoạt hóa có phẩm tính và bản chất đủ thuần khiết; vì vậy, Ngài không thể hiện hình hay xuất hiện như Đức Phật hoặc Đức Christ có thể làm. Chỉ ít vị trong số Những Đấng tạo thành Phòng Hội Đồng tại Shamballa có thể tìm được chất liệu cần thiết hay thích đáng để xuất hiện; Các Ngài không thể mang một thể xác hồng trần đậm đặc, và phải bằng lòng với một vận cụ dĩ thái. Vì vậy có ba loại sự sống ảnh hưởng đến sắc tướng đậm đặc của một con người trong sự biểu hiện hạn định hay sự lâm phàm của y:

1. The life of the spiritual man himself, transmitted from the Monad, via the soul for the greater part of manifested existence. [638]

1. Sự sống của chính con người tinh thần, được truyền từ chân thần, qua linh hồn trong phần lớn thời kỳ tồn tại biểu hiện. [638]

2. The life of that sumtotal which is the elemental life of the fourth kingdom in nature, the human; this life is still an aspect (under the Law of Isolation or Limitation) of the life of the spirit of the earth.

2. Sự sống của tổng thể vốn là sự sống hành khí của giới thứ tư trong bản chất, tức giới nhân loại; sự sống này vẫn còn là một phương diện (dưới Định luật Cô Lập hay Giới Hạn) của sự sống của tinh linh địa cầu.

3. The sumtotal of the life which is innate in atomic substance itself-the substance out of which all forms are made. This is the life of the spirit of the earth.

3. Tổng thể sự sống vốn bẩm sinh trong chính chất liệu nguyên tử—chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo nên. Đây là sự sống của tinh linh địa cầu.

We are not here referring to the soul in an atom or the soul of any form, great or small; we are referring exclusively to the life or first aspect. This expresses itself as the will-to-be; it is only active, though ever present, during form life or the phase of created manifestation. It is here that the Will factor makes its appearance and the relation between will, form and incarnation is to be found.

Ở đây chúng ta không nói đến linh hồn trong một nguyên tử hay linh hồn của bất kỳ hình tướng nào, lớn hay nhỏ; chúng ta chỉ nói riêng đến sự sống hay phương diện thứ nhất. Nó biểu lộ như ý chí-tồn tại; nó chỉ hoạt động, dù luôn hiện diện, trong đời sống hình tướng hay giai đoạn biểu hiện được tạo ra. Chính ở đây yếu tố Ý chí xuất hiện và mối liên hệ giữa ý chí, hình tướng và lâm phàm được tìm thấy.

One of the factors governing incarnation is the presence of what is called the will-to-live; when that is to be found, and when it is powerful in man, he is strongly anchored upon the physical plane: when that is not strongly present or is withdrawn, the man dies. Life in the physical body is preserved, technically and occultly, under the impulse of the powerful will-to-be of the incarnated spiritual man upon the magnetic power of the planetary life, inherent in every atom of the form nature; by means of these atoms-isolated and held by the Law of Attraction in form-he has come into being upon the physical plane. This magnetic power is the expression of the will (if such a word can be applied to the sense of coherency which distinguishes the spirit of the earth) of the planetary entity. It is a projection of his peculiar state of consciousness into an isolated form, created, occupied and indwelt by a soul, by a living man.

Một trong những yếu tố chi phối sự lâm phàm là sự hiện diện của cái được gọi là ý chí-sống; khi điều đó hiện diện, và khi nó mạnh nơi con người, y được neo rất chặt trên cõi hồng trần: khi nó không hiện diện mạnh mẽ hoặc bị rút đi, con người chết. Sự sống trong thể xác được duy trì, về mặt kỹ thuật và huyền bí học, dưới xung lực của ý chí-tồn tại mạnh mẽ của con người tinh thần đang lâm phàm tác động lên quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, vốn cố hữu trong mọi nguyên tử của bản chất hình tướng; nhờ các nguyên tử này—được cô lập và được giữ trong hình tướng bởi Định luật Hấp Dẫn—y đã hiện hữu trên cõi hồng trần. Quyền năng từ tính này là biểu hiện của ý chí (nếu có thể dùng từ như vậy cho cảm thức cố kết vốn phân biệt tinh linh địa cầu) của thực thể hành tinh. Nó là một sự phóng chiếu trạng thái tâm thức đặc thù của y vào một hình tướng cô lập, được tạo ra, được chiếm giữ và được một linh hồn, một con người sống, cư ngụ.

[639]

[639]

I have several times used the expression “isolated form,” for it is this peculiar aspect of isolation which conditions the physical body of a man (or of any living form, for that matter), rendering it detached, coherent and temporarily living its own life in response to the imposition of the livingness of the incarnating soul. Temporarily, the united power of the segregated and isolated atoms—particularly the planetary structure of the spirit of the earth—is in abeyance as regards individual reaction to the planetary life. Only the coherent, magnetic qualities persist in any form of activity and in conjunction with the will-to-live of the spiritual man or of any ensouling entity. This creates a coherent form, held together by two aspects of livingness: that of the spirit of the earth and that of the spiritual man. Therefore-to use words in an effort to arrive at understanding—two aspects of life and two forms of will or purpose are brought together. The higher is evolutionary; the lower is involutionary in nature. It is this which creates the conflict. One type of energy is evolutionary and the other is involutionary. It is these conflicting forces which present the problem of dualism—a dualism of the higher and the lower at many differing and varying stages. The final phase of the conflict is fought out, or rather wrought out, when the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence face each other. It is in that consummating event that the pull or conflict between the involutionary life and the evolutionary life, between the inchoate, magnetic will of the elemental forces (inherent in the atoms of which all three bodies of the personality are made) and the will of the spiritual man, on the verge of liberation from the magnetic control of substance, is brought to the issue. The spirit of the earth has its correspondence in the created expression of the spiritual man; it is to be found in the existence of the personality elemental; this personality [640] elemental can be and frequently is an inchoate force, swayed entirely by desire, and no true personality integration is present; it can, however, be a highly organised and potent factor, producing what is called a high grade personality and an effective instrument for the spiritual man in the three worlds of his evolution. This is followed later by the conflicts upon the Path of Discipleship and the Path of Initiation. Then the livingness of the spiritual man, and his will to manifest divinely, dominate to such an extent that the death of the personality is brought about; this culminates at the time of the third initiation. At that experience the monadic will comes in with such dynamic potency that the will of the elemental lives of the threefold personality is completely negated.

Tôi đã nhiều lần dùng cụm từ “hình tướng cô lập,” vì chính phương diện cô lập đặc thù này tác động định hình thể xác của một con người (hay của bất kỳ hình tướng sống nào, nếu nói cho đúng), khiến nó tách rời, cố kết và tạm thời sống đời sống riêng của nó để đáp ứng với sự áp đặt của sinh động lực của linh hồn đang nhập thể. Tạm thời, quyền năng hợp nhất của các nguyên tử bị phân tách và cô lập—đặc biệt là cấu trúc hành tinh của tinh linh địa cầu—ở trong trạng thái đình chỉ xét về phản ứng cá nhân đối với sự sống hành tinh. Chỉ các phẩm tính cố kết, từ tính còn tồn tại trong bất kỳ hình thức hoạt động nào và kết hợp với ý chí-sống của con người tinh thần hay của bất kỳ thực thể phú linh nào. Điều này tạo ra một hình tướng cố kết, được giữ lại với nhau bởi hai phương diện của sinh động lực: của tinh linh địa cầu và của con người tinh thần. Vì vậy—dùng ngôn từ để cố đạt đến sự thấu hiểu—hai phương diện của sự sống và hai hình thức của ý chí hay mục đích được đưa lại với nhau. Cái cao hơn thì thăng thượng tiến hoá; cái thấp hơn thì có bản chất giáng hạ tiến hoá. Chính điều này tạo ra xung đột. Một loại năng lượng là thăng thượng tiến hoá và loại kia là giáng hạ tiến hoá. Chính các mãnh lực xung đột này tạo ra vấn đề nhị nguyên tính—một nhị nguyên tính của cái cao và cái thấp ở nhiều giai đoạn khác nhau và biến đổi. Giai đoạn cuối cùng của cuộc xung đột được chiến đấu, hay đúng hơn được giải quyết, khi Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện đối diện nhau. Chính trong biến cố hoàn tất đó mà lực kéo hay xung đột giữa sự sống giáng hạ tiến hoá và sự sống thăng thượng tiến hoá, giữa ý chí từ tính sơ khai của các mãnh lực hành khí (cố hữu trong các nguyên tử mà từ đó cả ba thể của phàm ngã được tạo nên) và ý chí của con người tinh thần, đang ở ngưỡng giải thoát khỏi sự kiểm soát từ tính của chất liệu, được đưa đến chỗ quyết định. Tinh linh địa cầu có sự tương ứng của nó trong biểu hiện được tạo ra của con người tinh thần; nó được tìm thấy trong sự hiện hữu của hành khí phàm ngã; hành khí phàm ngã này [640] có thể là, và thường là, một mãnh lực sơ khai, hoàn toàn bị dục vọng chi phối, và không có sự tích hợp phàm ngã chân chính nào hiện diện; tuy nhiên, nó cũng có thể là một yếu tố được tổ chức cao và đầy tiềm lực, tạo ra cái được gọi là một phàm ngã cao cấp và một công cụ hữu hiệu cho con người tinh thần trong ba cõi thấp của sự tiến hoá của y. Tiếp theo đó về sau là các xung đột trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo. Khi ấy sinh động lực của con người tinh thần, và ý chí của y muốn biểu hiện một cách thiêng liêng, chi phối đến mức cái chết của phàm ngã được mang lại; điều này đạt cực điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. Trong kinh nghiệm đó, ý chí chân thần đi vào với tiềm lực năng động đến nỗi ý chí của các sự sống hành khí của phàm ngã tam phân bị phủ định hoàn toàn.

But (to return to our theme) the atomic substance, impregnated with the life of the spirit of the earth and with the driving force of its inchoate will, demonstrates as magnetic power and is constantly in conflict, within the body of manifestation of the informing soul, with the life of the soul. This conflict or friction is the main cause of what you call disease.

Nhưng (để trở lại chủ đề của chúng ta), chất liệu nguyên tử, được thấm đẫm sự sống của tinh linh địa cầu và mãnh lực thúc đẩy của ý chí sơ khai của nó, biểu lộ thành quyền năng từ tính và luôn luôn xung đột, bên trong thể biểu hiện của linh hồn đang thấm nhuần, với sự sống của linh hồn. Xung đột hay ma sát này là nguyên nhân chính của điều các bạn gọi là bệnh tật.

Disease is inharmony; it is the fault of fire by friction; diseased areas are areas of friction wherein the atomic substance is temporarily asserting its own type of livingness and responding (sometimes to the point of death) to the magnetic pull of the will of the spirit of the earth. If that pull proves adequately strong, the friction within the atomic structure, localised in the area of some etheric centre, will be of such a nature that the quality of the disease increases, the life of the spiritual man is slowly or rapidly withdrawn; the desire for existence, the spiritual will-to-he is not then as strong as the will to be reabsorbed—the will of the atoms constituting the physical body; the man, therefore, dies, in the usual sense of the term.

Bệnh tật là sự bất hoà; đó là lỗi của lửa ma sát; những vùng bệnh là những vùng ma sát trong đó chất liệu nguyên tử tạm thời đang khẳng định loại sinh động lực riêng của nó và đáp ứng (đôi khi đến mức chết) với lực kéo từ tính của ý chí của tinh linh địa cầu. Nếu lực kéo đó tỏ ra đủ mạnh, ma sát trong cấu trúc nguyên tử, được định vị trong khu vực của một trung tâm dĩ thái nào đó, sẽ có bản chất đến mức phẩm tính của bệnh gia tăng, sự sống của con người tinh thần bị rút đi chậm hay nhanh; dục vọng hiện hữu, ý chí-tồn tại tinh thần khi ấy không mạnh bằng ý chí được tái hấp thu—ý chí của các nguyên tử cấu thành thể xác; vì vậy, con người chết, theo nghĩa thông thường của từ này.

[641]

[641]

The planetary life says, “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.” The urge to return is at present the dominant note in the substance of the bodies of humanity; it is responsible for the universal ill health which distinguishes the mass of human beings; this tendency has been dominant for centuries; the attitude is, however, slowly changing, and the time will eventually come when the atoms of the bodies, or the elemental forces, will be sent back along the path of reabsorption only at the will of the spiritual man and in response to his express command, and not in response to the magnetic power of the spirit of the earth.

Sự sống hành tinh nói: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.” Hiện nay, xung lực trở về là âm điệu chủ đạo trong chất liệu của các thể của nhân loại; nó chịu trách nhiệm cho tình trạng sức khỏe kém phổ quát vốn phân biệt quần chúng nhân loại; khuynh hướng này đã chiếm ưu thế trong nhiều thế kỷ; tuy nhiên, thái độ ấy đang chậm rãi thay đổi, và rồi sẽ đến lúc các nguyên tử của các thể, hay các mãnh lực hành khí, sẽ chỉ được gửi trở lại theo con đường tái hấp thu theo ý chí của con người tinh thần và để đáp ứng mệnh lệnh minh nhiên của y, chứ không phải để đáp ứng quyền năng từ tính của tinh linh địa cầu.

We have seen—as we considered the Laws and Rules to date—that fundamentally, disease and death are due to the withdrawal of solar life (the energy of the soul, sometimes called solar fire) either from some particular area of the physical body or from the entire body. This fact should remind students of the need to distinguish between the force or life of the “lunar lords,” inherent in every atom of which all organs and forms are made, and the energy of the soul which permeates the entire body as an integrating factor. Speaking symbolically, therefore, there are times in which the life of these lunar lords are so dominant that the life of the soul is overpowered in some particular area, and the consequent withdrawal of the solar life produces disease; or-putting it another way-the friction which ensues when the lunar lords are not compliant produces disease. Yet death is not indicative of a full victory of the lunar lords, but rather that under the plan of the soul, and because the life cycle is complete, the energy of the soul is entirely withdrawn, leaving the lunar lords alone. At times (because it is also in the planning of the soul) the lunar lords temporarily are the victors, though death does not follow; convalescence is significant of the gradual re-entry of soul energy and its subsequent control [642] of the lunar lords. This aspect of soul energy is not that of those energies which represent and lead to the expression of soul quality. It is life energy, coming from the Monad which passes through the soul as a channel and medium of contact; its direct channel is, needless to say, the sutratma. It is not the antahkarana, or the creative thread or the thread of consciousness. These are frequently rendered inactive when acute disease is present, and the life aspect is weakening or rapidly or slowly withdrawing itself.

Như chúng ta đã thấy—khi xem xét các Định luật và quy luật cho đến nay—về căn bản, bệnh tật và cái chết là do sự rút lui của sự sống thái dương (năng lượng của linh hồn, đôi khi được gọi là lửa thái dương) hoặc khỏi một khu vực đặc thù nào đó của thể xác hoặc khỏi toàn thể. Sự kiện này nên nhắc các đạo sinh về nhu cầu phải phân biệt giữa mãnh lực hay sự sống của các nguyệt tinh quân, vốn cố hữu trong mọi nguyên tử mà từ đó mọi cơ quan và hình tướng được tạo nên, và năng lượng của linh hồn vốn thấm nhuần toàn thể như một yếu tố tích hợp. Nói một cách biểu tượng, vì vậy, có những lúc sự sống của các nguyệt tinh quân này chiếm ưu thế đến nỗi sự sống của linh hồn bị áp đảo trong một khu vực đặc thù nào đó, và sự rút lui tiếp theo của sự sống thái dương tạo ra bệnh tật; hoặc—nói cách khác—ma sát phát sinh khi các nguyệt tinh quân không thuận phục tạo ra bệnh tật. Tuy nhiên, cái chết không cho thấy một chiến thắng trọn vẹn của các nguyệt tinh quân, mà đúng hơn là dưới Thiên Cơ của linh hồn, và vì chu kỳ sự sống đã hoàn tất, năng lượng của linh hồn được rút đi hoàn toàn, để lại các nguyệt tinh quân một mình. Đôi khi (vì điều đó cũng nằm trong sự hoạch định của linh hồn) các nguyệt tinh quân tạm thời là kẻ chiến thắng, dù cái chết không theo sau; sự hồi phục là dấu hiệu của sự tái nhập dần dần của năng lượng linh hồn và sự kiểm soát tiếp theo [642] của nó đối với các nguyệt tinh quân. Phương diện này của năng lượng linh hồn không phải là phương diện của những năng lượng biểu thị và dẫn đến sự biểu lộ phẩm tính linh hồn. Đó là năng lượng sự sống, đến từ chân thần, đi qua linh hồn như một kênh và trung gian tiếp xúc; kênh trực tiếp của nó, không cần phải nói, là sutratma. Nó không phải là antahkarana, hay sợi dây sáng tạo hoặc Sợi dây Tâm thức/thức tuyến. Những sợi dây này thường trở nên bất hoạt khi có bệnh cấp tính, và phương diện sự sống đang suy yếu hoặc đang rút lui nhanh hay chậm.

You can see, therefore, why it is that those who have succeeded in building the antahkarana, the rainbow bridge between the Monad and the personality, have established a contact (nonexistent in the average man) between the Monad, the Source of Life, and the personality—the expression of that Life in objectivity. The Monad then, and not the soul, controls the cycles of outward expression, and the initiate then dies at will and according to plan or the necessities of the work. This, of course, refers only to initiates of high degree. I felt these points to be interesting and also useful for you to know. Another point, growing out of all the above, indicates the all-inclusiveness of the divine Life, for the lunar lords are aspects of that Life as much as is the energy of the soul.

Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao những ai đã thành công trong việc xây dựng antahkarana, Cây cầu vồng giữa chân thần và phàm ngã, đã thiết lập một tiếp xúc (không hiện hữu nơi con người trung bình) giữa chân thần, Nguồn Sự Sống, và phàm ngã—biểu hiện của Sự sống đó trong tính khách quan. Khi ấy chân thần, chứ không phải linh hồn, kiểm soát các chu kỳ biểu hiện ra bên ngoài, và điểm đạo đồ khi ấy chết theo ý muốn và theo kế hoạch hoặc theo các nhu cầu của công việc. Dĩ nhiên, điều này chỉ nói đến các điểm đạo đồ cấp cao. Tôi cảm thấy những điểm này vừa lý thú vừa hữu ích để các bạn biết. Một điểm khác, phát sinh từ tất cả những điều trên, cho thấy tính bao gồm tất cả của Sự sống thiêng liêng, vì các nguyệt tinh quân cũng là những phương diện của Sự sống đó không kém gì năng lượng của linh hồn.

It is therefore of prime importance that cremation should be encouraged, and not the present method of burial. Cremation returns the life of the lunar lords more rapidly to the central reservoir of life than any other method, for “our God is a consuming Fire” and all fires have affinity with the central Fire.

Vì vậy, điều tối quan trọng là nên khuyến khích hỏa táng, chứ không phải phương pháp chôn cất hiện nay. Hỏa táng đưa sự sống của các nguyệt tinh quân trở về kho chứa sự sống trung tâm nhanh hơn bất kỳ phương pháp nào khác, vì “Thượng đế của chúng ta là một Lửa thiêu đốt” và mọi ngọn lửa đều có sự tương hợp với Lửa trung tâm.

Let us now study the rule which goes with Law VIII.

Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu quy luật đi kèm với Định luật VIII.

RULE FIVEQUY LUẬT NĂM

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures [643] disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ đó y có thể tuôn mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa [643] bệnh hoặc làm tăng tình trạng xấu, tùy theo tri thức của nhà chữa lành.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến hai bàn tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng qua sự đáp ứng của hào quang của y đối với bức xạ của hào quang nhà chữa lành, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

From just casually reading this Rule it will be obvious that its significance is vital to all successful healing work. It sums up the two modes of healing, based on two capacities of the healer, founded on two groups of related aspects in the healer’s personality, and indicating two different points in evolution on the part of the healer. An analysis of this Rule will convey a still greater idea of its importance, for it indicates not only the lines along which the healer must train himself, but also certain interior relationships must be present, and these are dependent upon the point in evolution of the healer. Again, in one case the patient’s physical body is the objective of the healing art, whilst in the other it is the patient’s soul which feels the effect of the healing energy. In the first case the healer works with the prana or vital planetary fluid, and in the other with soul energy.

Chỉ cần đọc lướt qua Quy luật này, sẽ hiển nhiên rằng thâm nghĩa của nó có tính sống còn đối với mọi công việc chữa lành thành công. Nó tóm lược hai phương thức chữa lành, dựa trên hai năng lực của nhà chữa lành, đặt nền trên hai nhóm phương diện liên hệ trong phàm ngã của nhà chữa lành, và chỉ ra hai điểm tiến hoá khác nhau nơi nhà chữa lành. Một sự phân tích Quy luật này sẽ truyền đạt một ý niệm còn lớn hơn về tầm quan trọng của nó, vì nó không những chỉ ra các đường hướng mà nhà chữa lành phải tự huấn luyện, mà còn cho thấy một số tương quan nội tại phải hiện diện, và những tương quan này tùy thuộc vào điểm tiến hoá của nhà chữa lành. Lại nữa, trong một trường hợp, thể xác của bệnh nhân là mục tiêu của nghệ thuật chữa lành, trong khi ở trường hợp kia chính linh hồn của bệnh nhân cảm nhận hiệu quả của năng lượng chữa lành. Trong trường hợp thứ nhất, nhà chữa lành làm việc với prana hay lưu chất sinh lực hành tinh, còn trong trường hợp kia với năng lượng linh hồn.

We can therefore, on the basis of this Rule, divide healers into two groups: one group wielding the vital etheric fluid which we call prana, and the second group working on a much higher level and employing an ability to draw down soul energy into the body (or rather, the personality) of the healer and—from the required centre—to send it forth again into the appropriate centre in the patient’s body, but this time through the stimulation of the patient’s aura controlled by the patient’s soul. The two types of energy are of a widely different quality, for one is purely of the personality and is sometimes called animal magnetism, [644] and the other is of the soul, involving a type of work called radiation.

Vì vậy, trên cơ sở của Quy luật này, chúng ta có thể chia các nhà chữa lành thành hai nhóm: một nhóm vận dụng lưu chất dĩ thái sinh lực mà chúng ta gọi là prana, và nhóm thứ hai làm việc ở một cấp độ cao hơn nhiều và sử dụng khả năng kéo năng lượng linh hồn xuống thể (hay đúng hơn là phàm ngã) của nhà chữa lành và—từ trung tâm cần thiết—gửi nó ra lần nữa vào trung tâm thích hợp trong thể bệnh nhân, nhưng lần này thông qua sự kích thích hào quang của bệnh nhân do linh hồn bệnh nhân kiểm soát. Hai loại năng lượng này có phẩm tính rất khác nhau, vì một loại hoàn toàn thuộc về phàm ngã và đôi khi được gọi là từ điện động vật, [644] còn loại kia thuộc về linh hồn, bao hàm một loại công việc được gọi là bức xạ.

It should be noted here that in reality we have three types of healers:

Ở đây cần lưu ý rằng trên thực tế chúng ta có ba loại nhà chữa lành:

1. The healer who works purely through magnetism and brings to bear the healing vital life of the planetary etheric body as it uses his individual etheric body as a channel whereby prana can pour into the vital body of the patient.

1. Nhà chữa lành làm việc hoàn toàn qua từ điện và vận dụng sự sống sinh lực chữa lành của thể dĩ thái hành tinh khi nó dùng thể dĩ thái cá nhân của y như một kênh để prana có thể tuôn vào thể sinh lực của bệnh nhân.

2. The healer who works on a higher level, and necessarily therefore with a higher type of patient; he uses the energy of his own overshadowing soul in conjunction with the energy of his individualised soul, and thereby radiates it forth into the soul of the patient, via both of the auras.

2. Nhà chữa lành làm việc ở cấp độ cao hơn, và do đó tất yếu với một loại bệnh nhân cao hơn; y sử dụng năng lượng của linh hồn phủ bóng của chính mình kết hợp với năng lượng của linh hồn biệt ngã hóa của mình, và nhờ đó bức xạ nó vào linh hồn của bệnh nhân, qua cả hai hào quang.

3. The healer who can employ both techniques and whose range of contacts and possibilities of usefulness are far greater than the other two. He can employ with equal facility the energy of the soul or the vital pranic force, and has therefore mastered the two techniques which govern the two sets of related faculties. This class of healer is much rarer than the other two.

3. Nhà chữa lành có thể sử dụng cả hai kỹ thuật và có phạm vi tiếp xúc cùng khả năng hữu dụng lớn hơn nhiều so với hai loại kia. Y có thể sử dụng với sự dễ dàng ngang nhau năng lượng linh hồn hoặc mãnh lực prana sinh lực, và vì vậy đã làm chủ hai kỹ thuật chi phối hai bộ năng lực liên hệ. Loại nhà chữa lành này hiếm hơn nhiều so với hai loại kia.

At present, in the modern world, there is no true system of spiritual healing taught to would-be healers. There is instead an effort to base the whole procedure, plus the techniques employed, on purely mental levels, on systems of affirmation, modes of prayer, stimulation of the patient’s will-to-live, and occasionally the use of magnetic or hypnotic passes in relation to the etheric body: various forms of applied subjective thinking are taught, but no true formula for an intelligent and expected cure, only the vague faith of the healer and of the patient and a blind autosuggestion [645] as to what the recognition and affirmation of divinity ought to produce.

Hiện nay, trong thế giới hiện đại, không có hệ thống chữa lành tinh thần chân chính nào được dạy cho những người muốn trở thành nhà chữa lành. Thay vào đó là một nỗ lực đặt toàn bộ tiến trình, cùng các kỹ thuật được sử dụng, trên các cấp độ thuần trí tuệ, trên các hệ thống khẳng định, các phương thức cầu nguyện, sự kích thích ý chí-sống của bệnh nhân, và đôi khi là việc dùng các động tác từ tính hay thôi miên liên quan đến thể dĩ thái: nhiều hình thức tư tưởng chủ quan được áp dụng được giảng dạy, nhưng không có công thức chân chính nào cho một sự chữa lành thông minh và có thể trông đợi, mà chỉ có niềm tin mơ hồ của nhà chữa lành và của bệnh nhân cùng một sự tự ám thị mù quáng [645] về điều mà sự nhận biết và khẳng định thiên tính lẽ ra phải tạo ra.

True healing, however, is based on certain broad principles which require definite mental acceptance; the methods, nevertheless, which are employed are as definitely physical, using the etheric currents and the centres in the etheric body, as the laying on of hands and the establishing of relations which affect the physical body, and which are not at all of a mental nature and do not require to be appropriated and held by the mind of the patient. The etheric body is physical in nature, and this must not be forgotten and needs frequent reiteration. As we have earlier seen, there are three basic principles, affirmed and believed by the healer who is greatly aided if the patient accepts them also:

Tuy nhiên, sự chữa lành chân chính dựa trên một số nguyên lý rộng lớn đòi hỏi sự chấp nhận trí tuệ rõ rệt; tuy vậy, các phương pháp được sử dụng lại rõ rệt là hồng trần, dùng các dòng dĩ thái và các trung tâm trong thể dĩ thái, cũng như việc đặt tay và thiết lập các mối liên hệ ảnh hưởng đến thể xác, và hoàn toàn không có bản chất trí tuệ cũng không đòi hỏi phải được thể trí của bệnh nhân tiếp nhận và giữ lấy. Thể dĩ thái có bản chất hồng trần, và điều này không được quên và cần được nhắc lại thường xuyên. Như chúng ta đã thấy trước đây, có ba nguyên lý căn bản, được nhà chữa lành khẳng định và tin tưởng, và y được trợ giúp rất nhiều nếu bệnh nhân cũng chấp nhận chúng:

1. There is no reality in separation. The planetary etheric body is a whole, unbroken and continuous; of this etheric body, those of the healer and the patient are integral, intrinsic parts.

1. Không có thực tại nào trong sự phân ly. Thể dĩ thái hành tinh là một toàn thể, không đứt đoạn và liên tục; trong thể dĩ thái này, thể của nhà chữa lành và của bệnh nhân là những phần toàn vẹn, nội tại.

2. There is an unbreakable (though probably unrealised) relationship between the healer’s etheric body and that of the patient, which can be used when once contact has been induced, for a definite circulation of energies.

2. Có một mối liên hệ không thể phá vỡ (dù có lẽ không được nhận biết) giữa thể dĩ thái của nhà chữa lành và của bệnh nhân, có thể được sử dụng một khi tiếp xúc đã được tạo ra, cho một sự lưu chuyển năng lượng xác định.

3. The channels of relationship can be conductors of many different types of energy, transmitted by the healer to the patient. In this fact lies both hope and danger.

3. Các kênh liên hệ có thể là những vật dẫn của nhiều loại năng lượng khác nhau, được nhà chữa lành truyền cho bệnh nhân. Chính trong sự kiện này có cả hy vọng lẫn nguy hiểm.

There are other principles, but in connection with this Rule these three are essential and explanatory. Much consequently depends upon the knowledge, the understanding and the perceptiveness of the healer. The danger in both radiatory healing and magnetic healing consists in the fact that [646] where there is no trained healer, the amount of prana brought in or of soul energy distributed may produce death, as well as life. A healer may charge his etheric body with so much prana and project it so violently into the etheric body of the patient that he may do far more harm than good. Only long practice can teach the healer the right amount of energy to emit, and to learn this he would do well to use as little energy as possible, gradually increasing the quantity as he attains skill in action. Speaking in a broad and general way, and with the reminder that there are many exceptions to all rules, the magnetic healer will work with less developed people than will the spiritual healer using soul radiation, and he will deal primarily with those diseases which are found below the diaphragm. Spiritual healers work primarily with the upper part of the body, through the centres above the diaphragm and with the head centre, thereby controlling all centres in the entire body. Their work is most delicate and subtle and involves far greater risks. The true healer who is an initiate employs both methods with equal facility.

Còn có những nguyên lý khác, nhưng liên quan đến Quy luật này thì ba nguyên lý này là thiết yếu và có tính giải thích. Do đó, nhiều điều tùy thuộc vào tri thức, sự thấu hiểu và khả năng cảm nhận tinh tế của nhà chữa lành. Mối nguy trong cả chữa lành bằng bức xạ lẫn chữa lành bằng từ tính nằm ở chỗ [646] khi không có nhà chữa lành được huấn luyện, lượng prana được đưa vào hay năng lượng linh hồn được phân phối có thể gây ra cái chết cũng như sự sống. Một nhà chữa lành có thể nạp vào thể dĩ thái của mình quá nhiều prana và phóng chiếu nó quá mãnh liệt vào thể dĩ thái của bệnh nhân đến nỗi y có thể gây hại nhiều hơn lợi. Chỉ có thực hành lâu dài mới có thể dạy nhà chữa lành lượng năng lượng đúng cần phát ra, và để học điều này, y nên dùng càng ít năng lượng càng tốt, rồi dần dần tăng số lượng khi đạt được kỹ năng trong hành động. Nói một cách rộng và tổng quát, và xin nhắc rằng có nhiều ngoại lệ đối với mọi quy luật, nhà chữa lành từ tính sẽ làm việc với những người kém phát triển hơn so với nhà chữa lành tinh thần dùng bức xạ linh hồn, và y sẽ chủ yếu đề cập đến những bệnh được tìm thấy bên dưới cơ hoành. Các nhà chữa lành tinh thần chủ yếu làm việc với phần trên của thể, qua các trung tâm phía trên cơ hoành và với trung tâm đầu, nhờ đó kiểm soát mọi trung tâm trong toàn thể. Công việc của họ tinh tế và vi tế hơn nhiều và bao hàm những rủi ro lớn hơn nhiều. Nhà chữa lành chân chính là một điểm đạo đồ sử dụng cả hai phương pháp với sự dễ dàng ngang nhau.

It is interesting, though not particularly useful to you, to point out that there are two other classes of healers who are sometimes found. They work quite differently to either of the methods mentioned above. They are:

Thật lý thú, dù không đặc biệt hữu ích cho các bạn, khi chỉ ra rằng còn có hai loại nhà chữa lành khác đôi khi được tìm thấy. Họ làm việc hoàn toàn khác với cả hai phương pháp đã nêu trên. Họ là:

1. Certain healers—few and far between—who have set up a relation with the spirit of the earth, the Ruler of all the lunar lords. Under certain formulas and given a certain amount of practice, these healers can invoke his aid and—in fact—command it. I do not advise any interested student to ponder overmuch along this line or to endeavour to set up a contact or to invoke his aid. Only initiates of high degree can deal safely with this powerful involutionary Elemental; they do so [647] only in connection with epidemics and international catastrophes such as the world war, in which thousands and thousands of bodies were involved. An individual not highly developed who endeavoured to establish rapport would probably only succeed in stimulating the lunar lords of his own little system to such an extent that his lower nature would be unduly energised—sometimes even to the point of death.

1. Một số nhà chữa lành—rất hiếm—đã thiết lập được một mối liên hệ với tinh linh địa cầu, Đấng cai quản mọi nguyệt tinh quân. Dưới những công thức nhất định và với một mức độ thực hành nào đó, các nhà chữa lành này có thể khẩn cầu sự trợ giúp của y và—thực ra—ra lệnh cho nó. Tôi không khuyên bất kỳ đạo sinh quan tâm nào suy ngẫm quá nhiều theo đường hướng này hay cố gắng thiết lập tiếp xúc hoặc khẩn cầu sự trợ giúp của y. Chỉ các điểm đạo đồ cấp cao mới có thể xử lý an toàn Hành khí giáng hạ tiến hoá đầy quyền năng này; Các Ngài làm như vậy [647] chỉ liên quan đến các dịch bệnh và các thảm họa quốc tế như chiến tranh thế giới, trong đó hàng ngàn và hàng ngàn thể xác có liên quan. Một cá nhân không phát triển cao mà cố gắng thiết lập sự giao cảm có lẽ chỉ thành công trong việc kích thích các nguyệt tinh quân của hệ nhỏ bé riêng của mình đến mức bản chất thấp của y bị tiếp sinh lực quá mức—đôi khi thậm chí đến mức chết.

2. Other healers, not as few as in the above group but relatively few, work in cooperation with a healing deva. Such devas exist and have the power of bestowing life. They are to the involutionary lunar lords what the great Lives at Shamballa are to us. They are not a menace to humanity but are not readily reached, except at a certain stage upon the Path where, symbolically speaking, a door or point of contact exists between the two evolutions, for the devas are not upon the involutionary arc. Relations are established through affinity, but this can be brought about only by the deva and not by the healer. If the healer is very advanced, his Master may instruct one of the serving devas to aid him. Only healers of great purity and of completely selfless motive can attract these angels, and when they do, the potency of their healing is much greater; they make fewer mistakes. They do not, for instance, attempt to heal patients for whom there is no healing possibility. The Angel of Death (and this time I am not speaking symbolically but am referring to an existing deva) will not permit a healing deva to collaborate: they are only permitted to approach where healing is indicated.

2. Những nhà chữa lành khác, không hiếm như nhóm trên nhưng tương đối ít, làm việc trong sự hợp tác với một thiên thần chữa lành. Những thiên thần như vậy có tồn tại và có quyền năng ban phát sự sống. Đối với các nguyệt tinh quân giáng hạ tiến hoá, họ cũng như các Sự sống vĩ đại tại Shamballa đối với chúng ta. Họ không phải là mối đe dọa cho nhân loại nhưng không dễ tiếp cận, ngoại trừ ở một giai đoạn nào đó trên Con Đường, nơi—nói một cách biểu tượng—có một cánh cửa hay điểm tiếp xúc tồn tại giữa hai cuộc tiến hoá, vì các thiên thần không ở trên cung giáng hạ tiến hoá. Các mối liên hệ được thiết lập qua sự tương hợp, nhưng điều này chỉ có thể được mang lại bởi thiên thần chứ không phải bởi nhà chữa lành. Nếu nhà chữa lành rất tiến bộ, Chân sư của y có thể chỉ thị cho một trong các thiên thần phụng sự trợ giúp y. Chỉ những nhà chữa lành có sự thanh khiết lớn lao và động cơ hoàn toàn vô ngã mới có thể thu hút các thiên thần này, và khi họ làm được như vậy, tiềm lực chữa lành của họ lớn hơn nhiều; họ phạm ít sai lầm hơn. Chẳng hạn, họ không cố chữa cho những bệnh nhân mà đối với họ không có khả năng chữa lành. Thiên Thần của Cái Chết (và lần này tôi không nói theo biểu tượng mà đang nói đến một thiên thần hiện hữu) sẽ không cho phép một thiên thần chữa lành cộng tác: họ chỉ được phép đến gần nơi nào việc chữa lành được chỉ định.

We might now take the sentences in this Rule and study their meaning, as there are more significances in them than appear upon the surface. The first sentence in each [648] paragraph of this Rule starts with an important injunction to the healer:

Bây giờ chúng ta có thể lấy các câu trong Quy luật này và nghiên cứu ý nghĩa của chúng, vì trong đó có nhiều thâm nghĩa hơn là vẻ ngoài biểu lộ. Câu đầu tiên trong mỗi [648] đoạn của Quy luật này bắt đầu bằng một huấn lệnh quan trọng dành cho nhà chữa lành:

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient.

Nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ đó y có thể tuôn mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân.

This is the technique of the lowest type of true spiritual healer, and for this reason two of the aspects of the dense physical body are included: the brain and the hands. The healer works, therefore, through a triangle and two lines of energy. The situation can be depicted in the following diagram:

Đây là kỹ thuật của loại nhà chữa lành tinh thần chân chính thấp nhất, và vì lý do này mà hai phương diện của thể xác đậm đặc được bao gồm: bộ não và hai bàn tay. Vì vậy, nhà chữa lành làm việc qua một tam giác và hai đường năng lượng. Tình huống này có thể được mô tả trong sơ đồ sau:

9.-ph-n-ba-c-c-nh-lu-t-c-n-b-n-c-a-s-ch-a-l-nh-03.png

The triangle is completed when the healing work is done and the energy is withdrawn from the hands to the brain again and from thence returned by an act of the will to the soul. When the healer (through practiced alignment) has linked up with his soul, he then draws the soul energy down into his heart centre, from whence he transfers it to the brain, where it is definitely focussed using the ajna centre as a distributing centre, he then uses his hands as the agency through which the directed energy can reach that area in the patient’s body where the seat of the trouble is to be found. He passes the energy into the patient’s approximate centre which governs the distressed area, from which it [649] permeates the surrounding part of the body, penetrating both to the centre of the trouble and to the limits of the distressed area.

Tam giác được hoàn tất khi công việc chữa lành được thực hiện và năng lượng được rút từ hai bàn tay trở lại bộ não và từ đó được trả về linh hồn bằng một hành vi của ý chí. Khi nhà chữa lành (qua sự chỉnh hợp đã được thực hành) đã liên kết với linh hồn của mình, y kéo năng lượng linh hồn xuống trung tâm tim, từ đó y chuyển nó đến bộ não, nơi nó được tập trung rõ rệt bằng cách dùng trung tâm ajna như một trung tâm phân phối; rồi y dùng hai bàn tay như tác nhân mà qua đó năng lượng được định hướng có thể đến khu vực trong thể bệnh nhân nơi chỗ ngồi của sự rối loạn được tìm thấy. Y truyền năng lượng vào trung tâm gần đúng của bệnh nhân đang chi phối khu vực đau yếu, từ đó nó [649] thấm khắp phần chung quanh của thể, xuyên vào cả trung tâm của sự rối loạn lẫn các giới hạn của khu vực đau yếu.

There are two ways in which he uses his hands, and two methods which he employs:

Có hai cách y dùng hai bàn tay, và hai phương pháp y sử dụng:

1. The laying on of hands. This method is employed when the diseased area is strictly localised. The hands are laid on the centre in spine or head which may govern that area—the right hand being laid upon the spinal centre and the left hand on the part of the body immediately in front of the special area and over the part of the abdomen, chest or head in which the patient complains of distress. They are held in this position as long as the healer can hold the triangle of soul, heart and brain clearly in consciousness.

1. Đặt tay lên. Phương pháp này được dùng khi khu vực bệnh được định vị chặt chẽ. Hai bàn tay được đặt lên trung tâm ở cột sống hay đầu có thể chi phối khu vực đó—bàn tay phải đặt lên trung tâm cột sống và bàn tay trái đặt lên phần của thể ngay phía trước khu vực đặc thù ấy và trên phần bụng, ngực hay đầu nơi bệnh nhân than phiền đau đớn. Chúng được giữ ở vị trí này chừng nào nhà chữa lành còn có thể giữ tam giác linh hồn, tim và bộ não rõ ràng trong tâm thức.

2. The use of the hands in action. Here the healer, having ascertained the difficulty and then located the needed centre up the spine or in the head, creates a circulation of energy (through the action of his hands) through the centre in the patient’s body controlling the distressed area, and thence outwards through that area towards himself. He uses the right hand first, holding it momentarily over the diseased organ or area and slowly withdraws it towards himself; he follows this rapidly with the left hand which works in the same manner. Both hands, you will note, are now being used positively. No part or aspect of the healer’s body or bodies is ever permitted to be negative, and the fiction that the right hand is positive and the left hand is negative will have to be discarded. If one hand was negative, the healer would be liable to absorb into himself those diseased atoms which, when successful, he draws out of the area of distress. These do not respond to the action of his [650] hands through the medium of the centre in the patient’s body nearest to the seat of trouble, but are drawn out through the area which has responded to the disease.

2. Dùng hai bàn tay trong hành động. Ở đây nhà chữa lành, sau khi đã xác định khó khăn và rồi định vị trung tâm cần thiết dọc cột sống hay trong đầu, tạo ra một sự lưu chuyển năng lượng (qua hành động của hai bàn tay) xuyên qua trung tâm trong thể bệnh nhân đang kiểm soát khu vực đau yếu, và từ đó đi ra ngoài qua khu vực ấy hướng về phía mình. Trước hết y dùng bàn tay phải, giữ nó trong chốc lát trên cơ quan hay khu vực bị bệnh rồi chậm rãi rút nó về phía mình; tiếp đó y nhanh chóng dùng bàn tay trái, bàn tay này làm việc theo cùng một cách. Các bạn sẽ lưu ý rằng giờ đây cả hai bàn tay đều được dùng một cách tích cực. Không phần nào hay phương diện nào của thể hay các thể của nhà chữa lành bao giờ được phép là tiêu cực, và điều hư cấu rằng bàn tay phải là tích cực còn bàn tay trái là tiêu cực sẽ phải bị loại bỏ. Nếu một bàn tay là tiêu cực, nhà chữa lành sẽ có nguy cơ hấp thu vào mình những nguyên tử bệnh hoạn mà, khi thành công, y kéo ra khỏi khu vực đau yếu. Những nguyên tử này không đáp ứng với hành động của [650] hai bàn tay của y qua trung tâm trong thể bệnh nhân gần nhất với chỗ ngồi của sự rối loạn, mà bị kéo ra qua khu vực đã đáp ứng với bệnh.

In the first case, through the laying on of hands, of silent hands, of quiet hands, the energy flow is between the two hands, back and forth within the diseased area; the spinal centre is used all the time, and the activity set up, when successful, burns up and absorbs the forces causing the trouble without penetrating the body of the healer. In the second case, the forces are withdrawn by the action of the energy passing through the hands, applied one after the other in a regular time rhythm. They pass through the hands, but are unable to focus themselves there, owing to the concentration of the healing energies within the hands.

Trong trường hợp thứ nhất, qua việc đặt tay lên, của những bàn tay im lặng, của những bàn tay tĩnh tại, dòng năng lượng đi giữa hai bàn tay, qua lại trong khu vực bệnh; trung tâm cột sống được dùng suốt thời gian, và hoạt động được thiết lập, khi thành công, sẽ thiêu hủy và hấp thu các mãnh lực gây ra sự rối loạn mà không xuyên vào thể của nhà chữa lành. Trong trường hợp thứ hai, các mãnh lực được rút ra bởi tác động của năng lượng đi qua hai bàn tay, được áp dụng lần lượt theo một nhịp điệu thời gian đều đặn. Chúng đi qua hai bàn tay, nhưng không thể tự tập trung ở đó, do sự tập trung của các năng lượng chữa lành bên trong hai bàn tay.

Healers on the second, third and fifth rays use more generally the mode of laying on of hands or magnetic healing. This term applies to the direct act of laying on of hands upon the patient’s physical body, and not to the action of the hands in the second method, when the hands are immersed in the etheric body of the patient and are definitely working in etheric matter. Healers on the first, fourth and seventh rays use the mode of “hand immersion,” as it is sometimes called. The sixth ray healer is rare and is successful only when highly developed; he will then use both methods interchangeably. All spiritually advanced healers use both hands. Healers are, however, advised first of all to ascertain their ray, and then to perfect themselves in the type or mode of healing best suited to that ray; then, when adequately efficient and able to use facility and skill, they can add the mode of healing which is not so adaptable to their ray type. People on the sixth ray are advised to abstain from the healing art until they have arrived (consciously) at the [651] initiate stage. When both modes of magnetic healing have been mastered, the healer may employ both alternately in the act of healing, or he may use the mode of magnetic passes first so as to set up a changed activity in the diseased area, and then finally use a definite laying on of hands.

Các nhà chữa lành thuộc cung hai, cung ba và cung năm thường dùng phương thức đặt tay lên hay chữa lành từ tính. Thuật ngữ này áp dụng cho hành động trực tiếp đặt tay lên thể xác của bệnh nhân, chứ không phải cho hành động của hai bàn tay trong phương pháp thứ hai, khi hai bàn tay được nhúng vào thể dĩ thái của bệnh nhân và rõ rệt đang làm việc trong vật chất dĩ thái. Các nhà chữa lành thuộc cung một, cung bốn và cung bảy dùng phương thức “nhúng tay,” như đôi khi nó được gọi. Nhà chữa lành cung sáu thì hiếm và chỉ thành công khi phát triển cao; khi ấy y sẽ dùng cả hai phương pháp thay thế cho nhau. Mọi nhà chữa lành tiến bộ về tinh thần đều dùng cả hai bàn tay. Tuy nhiên, trước hết các nhà chữa lành được khuyên nên xác định cung của mình, rồi hoàn thiện bản thân trong loại hay phương thức chữa lành thích hợp nhất với cung đó; sau đó, khi đã đủ hiệu quả và có thể sử dụng sự dễ dàng cùng kỹ năng, họ có thể thêm phương thức chữa lành không thích hợp bằng với loại cung của mình. Những người thuộc cung sáu được khuyên nên tránh nghệ thuật chữa lành cho đến khi họ đã đạt tới (một cách hữu thức) giai đoạn [651] điểm đạo đồ. Khi cả hai phương thức chữa lành từ tính đã được làm chủ, nhà chữa lành có thể dùng cả hai luân phiên trong hành động chữa lành, hoặc y có thể dùng phương thức các động tác từ tính trước để thiết lập một hoạt động đã thay đổi trong khu vực bệnh, rồi cuối cùng dùng một sự đặt tay rõ rệt.

At the close of the healing period the “sealing of the triangle” takes place. The energy, hitherto passing into the hands through the ajna centre from the brain, is withdrawn into the ajna centre, and from thence directed—by an act of the will—to the soul. The healing force is literally “turned off” and redirected; it is no longer available.

Vào cuối thời kỳ chữa lành, việc “niêm phong tam giác” diễn ra. Năng lượng, cho đến lúc đó đi vào hai bàn tay qua trung tâm ajna từ bộ não, được rút vào trung tâm ajna, và từ đó được định hướng—bằng một hành vi của ý chí—đến linh hồn. Mãnh lực chữa lành theo nghĩa đen được “tắt đi” và tái định hướng; nó không còn sẵn dùng nữa.

During the entire period of healing the healer says nothing. He is making no affirmation and uses no healing mantram. The process outlined here is that of the effect of energy or soul potency playing upon force. This is a point to be emphasised. The task of the healer is to preserve an attitude of intense concentration upon the triangle “existing in living lines of energy” (as it has been called) within his own fourfold aura-health aura, etheric body, astral body and mental body. This he must preserve intact and stable for the entire period of healing. Soul-heart-brain must be linked in such a “lighted” manner that a true clairvoyant would see a brilliant triangle in the healer’s aura; the highest point of the triangle (that of the soul) he might fail to see unless he were himself highly developed, but he could not fail to see the signs of it in the inflaming energy to the heart and from the heart to the brain. The work done is silent work. There is therefore no loss of power at any time, as there always is through the spoken word or affirmation. It is not possible to hold the triangle geometrically correct and magnetically polarised if there is any sound made by the healer. This presupposes an advanced stage of alignment and of concentration and will [652] indicate to you some of the lines along which the healer’s training should go.

Trong suốt toàn bộ thời kỳ chữa lành, nhà chữa lành không nói gì. Y không đưa ra sự khẳng định nào và không dùng mantram chữa lành nào. Tiến trình được phác họa ở đây là tiến trình của hiệu quả của năng lượng hay tiềm lực linh hồn tác động lên mãnh lực. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh. Nhiệm vụ của nhà chữa lành là duy trì một thái độ tập trung mãnh liệt vào tam giác “hiện hữu trong những đường năng lượng sống động” (như nó đã được gọi) bên trong hào quang tứ phân của chính y—hào quang sức khỏe, thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí. Y phải giữ điều này nguyên vẹn và ổn định trong suốt toàn bộ thời kỳ chữa lành. Linh hồn-tim-bộ não phải được liên kết theo một cách “được soi sáng” đến nỗi một nhà thông nhãn chân chính sẽ thấy một tam giác rực sáng trong hào quang của nhà chữa lành; điểm cao nhất của tam giác (điểm của linh hồn) có thể ông không thấy được trừ khi chính ông phát triển cao, nhưng ông không thể không thấy các dấu hiệu của nó trong năng lượng bốc cháy đến tim và từ tim đến bộ não. Công việc được thực hiện là công việc im lặng. Vì vậy, không có sự mất mát quyền năng vào bất kỳ lúc nào, như luôn luôn có qua lời nói hay sự khẳng định được phát ra. Không thể giữ tam giác đúng về mặt hình học và được phân cực từ tính nếu nhà chữa lành phát ra bất kỳ âm thanh nào. Điều này giả định một giai đoạn chỉnh hợp, tập trung và ý chí tiến bộ, và sẽ [652] chỉ cho các bạn một số đường hướng mà sự huấn luyện của nhà chữa lành nên đi theo.

This mode of healing “cures disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.” In some respects (though this is a stage of healing which is not the highest) it is nevertheless the one most responsible because, in the case of radiatory healing, the soul of the patient is working in cooperation with the healer and it is the soul then which has the major responsibility. In magnetic healing, the healer needs to cooperate closely with the patient’s physician or surgeon dealing with the case; he will supply the technical knowledge, and thus prevent the healer from making mistakes.

Phương thức chữa lành này “chữa bệnh hoặc làm tăng tình trạng xấu, tùy theo tri thức của nhà chữa lành.” Ở một số phương diện (dù đây là một giai đoạn chữa lành không phải là cao nhất), tuy nhiên nó lại là giai đoạn chịu trách nhiệm nhiều nhất bởi vì, trong trường hợp chữa lành bằng bức xạ, linh hồn của bệnh nhân đang làm việc hợp tác với nhà chữa lành và khi ấy chính linh hồn giữ trách nhiệm chủ yếu. Trong chữa lành từ tính, nhà chữa lành cần hợp tác chặt chẽ với bác sĩ hay phẫu thuật viên của bệnh nhân đang xử lý ca bệnh; người này sẽ cung cấp tri thức kỹ thuật, và nhờ đó ngăn nhà chữa lành phạm sai lầm.

Where death is definitely indicated and the “signs of death” are noted by both the doctor and the healer, the healer has not need to stop his work. By continuing it, he may increase the evil condition, but will nevertheless be aiding the patient by hastening normally the act of dying. The old proverb is basically not true in all cases, that “where there is life there is hope.” Life can and often is prolonged alter the will of the soul is towards the withdrawal of the soul life; the life of the atoms of the lunar lords can be fostered for a long time, and this greatly distresses the spiritual man who is aware of the process and the intent of his soul. What is kept alive is the physical body, but the interest of the true man is no longer focussed there.

Khi cái chết được chỉ định rõ rệt và “các dấu hiệu của cái chết” được cả bác sĩ lẫn nhà chữa lành ghi nhận, nhà chữa lành không cần phải ngừng công việc của mình. Bằng cách tiếp tục nó, y có thể làm tăng tình trạng xấu, nhưng dù vậy vẫn sẽ trợ giúp bệnh nhân bằng cách đẩy nhanh một cách bình thường hành động chết đi. Câu tục ngữ xưa về căn bản không đúng trong mọi trường hợp rằng “còn sống là còn hy vọng.” Sự sống có thể và thường được kéo dài sau khi ý chí của linh hồn hướng về việc rút lui sự sống linh hồn; sự sống của các nguyên tử của các nguyệt tinh quân có thể được nuôi dưỡng trong một thời gian dài, và điều này gây đau khổ lớn cho con người tinh thần, là người ý thức được tiến trình và ý định của linh hồn mình. Điều được giữ sống là thể xác, nhưng mối quan tâm của con người chân chính không còn tập trung ở đó nữa.

There inevitably comes a point, for instance in the case of malignant disease, where the physician knows that it simply is a question of time, and the spiritual healer can learn to recognise the same signs. Then, instead of the present silence on the part of both healer and doctor, where the patient is concerned, this remaining time will be employed (if the patient’s faculties permit) with due preparation or the “beneficent and happy withdrawal” of the soul; the patient’s [653] family and friends will share in the preparation. In the early stages of the new world religion, this attitude towards death will be inculcated. An entirely new concept of death, with the emphasis upon conscious withdrawal, will be taught, and funeral services, or rather the crematory services, will be joyous events because their emphasis will be upon release and return.

Chẳng hạn, tất yếu sẽ đến một điểm, trong trường hợp bệnh ác tính, khi bác sĩ biết rằng đơn giản chỉ còn là vấn đề thời gian, và nhà chữa lành tinh thần có thể học cách nhận ra cùng những dấu hiệu ấy. Khi đó, thay vì sự im lặng hiện nay của cả nhà chữa lành lẫn bác sĩ đối với bệnh nhân, khoảng thời gian còn lại này sẽ được dùng (nếu các năng lực của bệnh nhân cho phép) để chuẩn bị thích đáng cho “sự rút lui đầy ân phúc và hạnh phúc” của linh hồn; gia đình và bạn bè của bệnh nhân sẽ cùng tham gia sự chuẩn bị. Trong các giai đoạn đầu của tôn giáo thế giới mới, thái độ này đối với cái chết sẽ được truyền dạy. Một quan niệm hoàn toàn mới về cái chết, nhấn mạnh vào sự rút lui hữu thức, sẽ được giảng dạy, và các lễ tang, hay đúng hơn là các nghi lễ hỏa táng, sẽ là những sự kiện vui tươi vì trọng tâm của chúng sẽ đặt vào sự giải thoát và trở về.

The magnetic work, however, will cure if the patient’s destiny indicates it, if the soul intends to prolong the life cycle unexpectedly in order to fulfill some duty, or if the patient is very far advanced spiritually and the Hierarchy requires his services for a longer term.

Tuy nhiên, công việc từ tính sẽ chữa lành nếu số mệnh của bệnh nhân chỉ ra điều đó, nếu linh hồn có ý định kéo dài chu kỳ sự sống một cách bất ngờ để hoàn thành một bổn phận nào đó, hoặc nếu bệnh nhân đã tiến bộ rất xa về tinh thần và Thánh Đoàn cần sự phụng sự của y trong một thời gian lâu hơn.

Let us now consider radiatory healing.

Bây giờ chúng ta hãy xét đến chữa lành bằng bức xạ.

We shall now be dealing with a very different situation than that of the one we have just been considering. In radiatory healing, the patient (either consciously or unconsciously) is working with the healer and is cooperating with him. The basic premise in radiatory healing is that the patient is a person who has, at least to some degree, established rapport with his soul. This having been brought about, the healer knows that a channel of contact can be counted upon and that the soul interest can be evoked in its representative, the man upon the physical plane. He knows also that success in radiatory healing is dependent, to a great extent, upon the ability of his own soul to establish a firm relation with the soul of the patient. When the patient is conscious and able to cooperate, the work is greatly helped; according to the healer’s capacity to avail himself of alignment and recognised contact will be the quality of the aid he will be able to give to the one who needs his assistance. When the patient is unconscious, even that provides no real hindrance, provided the healer can bring his soul and the patient’s soul into relationship; in [654] fact in some cases the unconsciousness of the patient can be a help, for too earnest, emphatic and impatient help can offset the work—quiet, silent and controlled-by the healer.

Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến một tình huống rất khác với tình huống mà chúng ta vừa xem xét. Trong chữa lành bằng bức xạ, bệnh nhân (dù hữu thức hay vô thức) đang làm việc với nhà chữa lành và đang hợp tác với y. Tiền đề căn bản trong chữa lành bằng bức xạ là bệnh nhân là một người đã, ít nhất ở một mức độ nào đó, thiết lập được sự giao cảm với linh hồn của mình. Khi điều này đã được mang lại, nhà chữa lành biết rằng có thể trông cậy vào một kênh tiếp xúc và rằng mối quan tâm của linh hồn có thể được gợi lên nơi đại diện của nó, tức con người trên cõi hồng trần. Y cũng biết rằng thành công trong chữa lành bằng bức xạ tùy thuộc, ở mức độ lớn, vào khả năng của chính linh hồn y trong việc thiết lập một mối liên hệ vững chắc với linh hồn của bệnh nhân. Khi bệnh nhân hữu thức và có thể hợp tác, công việc được trợ giúp rất nhiều; tùy theo năng lực của nhà chữa lành trong việc tận dụng sự chỉnh hợp và tiếp xúc đã được nhận biết mà phẩm tính của sự trợ giúp y có thể đem lại cho người cần sự hỗ trợ của y sẽ như thế nào. Khi bệnh nhân vô thức, ngay cả điều đó cũng không tạo ra trở ngại thực sự nào, miễn là nhà chữa lành có thể đưa linh hồn mình và linh hồn bệnh nhân vào mối liên hệ; thật ra, trong một số trường hợp, sự vô thức của bệnh nhân có thể là một trợ giúp, vì sự trợ giúp quá sốt sắng, quá nhấn mạnh và thiếu kiên nhẫn có thể hóa giải công việc—tĩnh lặng, im lặng và được kiểm soát—do nhà chữa lành thực hiện.

Once, however, the rapport is established, the work of the healer simply consists in holding the relationship steady; no interference must be permitted in the work being done by the patient’s soul, set in motion by the aid of the healer. The Master Jesus on the Cross could not respond to any saving process (even had He desired to do so) because the soul body—as is always the case at the fourth initiation-was destroyed; there was nothing to respond to the evocative power of an outside person, interested or loving. As an adept and as one in whom monadic consciousness was firmly established, the powers then available to Jesus could not be used in the saving of His physical body. At the same time, it must be remembered that He would have no desire to save it, because He now possessed the power (demonstrated later in the Gospel story) to create a body at will in order to meet His needs. The subtle and subjective sin of the apostles was that they were not interested in evoking the living activity of the Master on His Own behalf (even though He would never do so; this they did not know), but were entirely preoccupied with their own grief. The evocation, had they attempted it, would have been useless, but the good that might have come to them and the revelation they might have received as to the deathlessness of the soul would have greatly illuminated them and might have produced a Christianity built around a living Christ and not around a dead Christ.

Tuy nhiên, một khi sự giao cảm đã được thiết lập, công việc của nhà chữa lành chỉ đơn giản là giữ mối liên hệ ấy vững vàng; không được cho phép có sự can thiệp nào vào công việc đang được linh hồn của bệnh nhân thực hiện, vốn đã được khởi động nhờ sự trợ giúp của nhà chữa lành. Đức Jesus Chân sư trên Thập Giá không thể đáp ứng với bất kỳ tiến trình cứu rỗi nào (ngay cả nếu Ngài muốn làm vậy) bởi vì thể linh hồn—như luôn luôn xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư—đã bị hủy diệt; không còn gì để đáp ứng với quyền năng gợi lên của một người bên ngoài, dù quan tâm hay yêu thương. Là một chân sư và là một Đấng mà tâm thức chân thần đã được thiết lập vững chắc, các quyền năng khi ấy sẵn có cho Đức Jesus không thể được dùng để cứu thể xác của Ngài. Đồng thời, cần nhớ rằng Ngài sẽ không có mong muốn cứu nó, bởi vì giờ đây Ngài sở hữu quyền năng (được chứng minh về sau trong câu chuyện Phúc Âm) để tạo ra một thể theo ý muốn nhằm đáp ứng nhu cầu của Ngài. Tội lỗi vi tế và chủ quan của các tông đồ là ở chỗ họ không quan tâm đến việc gợi lên hoạt động sống động của Chân sư vì lợi ích của Chính Ngài (dù Ngài sẽ không bao giờ làm như vậy; điều này họ không biết), mà hoàn toàn bận tâm với nỗi đau buồn của chính họ. Sự gợi lên, nếu họ đã cố thực hiện, sẽ vô ích, nhưng điều tốt lành có thể đến với họ và sự mặc khải họ có thể nhận được về tính bất tử của linh hồn hẳn đã soi sáng họ rất nhiều và có thể đã tạo ra một Cơ Đốc giáo được xây dựng quanh một Đức Christ sống chứ không phải quanh một Đức Christ đã chết.

In radiatory healing, we are told that “the healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation.” You will note two points connected with this particular instruction which differ from that given in the case of magnetic healing: [655]

Trong chữa lành bằng bức xạ, chúng ta được bảo rằng “nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình.” Các bạn sẽ lưu ý hai điểm liên quan đến chỉ dẫn đặc thù này khác với chỉ dẫn được đưa ra trong trường hợp chữa lành từ tính: [655]

1. The order of the triangle of energies created is different.

1. Trật tự của tam giác năng lượng được tạo ra là khác.

2. The means of contact are subtle and not tangible.

2. Phương tiện tiếp xúc thì vi tế chứ không hữu hình.

The energy released follows a direct line of contact with the brain, and the healer starts with a closed triangle and not with an open one, as in the case of magnetic healing. The triangle created is a simple one, and there is no physical contact and outlet as in magnetic healing:

Năng lượng được giải phóng đi theo một đường tiếp xúc trực tiếp với bộ não, và nhà trị liệu bắt đầu với một tam giác khép kín chứ không phải với một tam giác mở, như trong trường hợp trị liệu từ tính. Tam giác được tạo ra là một tam giác đơn giản, và không có sự tiếp xúc hồng trần hay lối thoát nào như trong trị liệu từ tính:

9.-ph-n-ba-c-c-nh-lu-t-c-n-b-n-c-a-s-ch-a-l-nh-04.png

The brain of the healer is involved, but there is no physical contact of any kind with the patient. The result is a constant circulation of force from the soul back again to the soul. This causes necessarily an augmenting and an energising of the threefold personality of the healer, and therefore of his auric emanation. His aura would be seen by a clairvoyant as greatly extended, in rapid motion, and energised by light from his own soul, but with all its radiation turned in the direction of the patient. By this means the healing force of the healer stimulates all the three personality vehicles of the patient; the patient’s soul is aided in the work it has to do. The healer will consequently find it necessary to stand at that side of the patient in which the trouble is located, so that the radiation of his aura can more easily penetrate. This is the easiest way, but not the most effective. Where the patient’s vitality is strong, he [656] should lie on the side, and the healer should stand behind the patient so that the energy pouring through, which the healer may be using and which is potently energising his aura with soul energy, may affect the patient’s aura and thus facilitate the entry of the healing radiation, which the healer is contributing, to the centre or centres needed. Where the patient is very highly developed, the healer should stand at the patient’s head. His personal effect is not then so great, but that does not matter because it is not needed; the soul of the patient will be adequate to the task. All that is needed is that the aura of the healer, blending with that of the patient, creates a tone of quiet rhythmic activity around the head centre. No physical contact by the hands is now required, and the healer must on no account touch the patient.

Bộ não của nhà trị liệu có tham dự, nhưng không có bất kỳ sự tiếp xúc hồng trần nào với bệnh nhân. Kết quả là một sự tuần hoàn mãnh lực liên tục từ linh hồn rồi trở lại linh hồn. Điều này tất yếu gây nên sự gia tăng và tiếp sinh lực cho phàm ngã tam phân của nhà trị liệu, và do đó cho sự phát xạ hào quang của y. Hào quang của y sẽ được một nhà thông nhãn nhìn thấy là mở rộng rất lớn, chuyển động nhanh, và được tiếp năng lượng bởi ánh sáng từ chính linh hồn của y, nhưng toàn bộ bức xạ của nó đều hướng về phía bệnh nhân. Bằng phương tiện này, mãnh lực trị liệu của nhà trị liệu kích thích cả ba vận cụ phàm ngã của bệnh nhân; linh hồn của bệnh nhân được trợ giúp trong công việc mà nó phải làm. Do đó, nhà trị liệu sẽ thấy cần phải đứng ở phía bệnh nhân nơi có chỗ rối loạn, để bức xạ của hào quang y có thể xuyên thấu dễ dàng hơn. Đây là cách dễ nhất, nhưng không phải là cách hữu hiệu nhất. Khi sinh lực của bệnh nhân mạnh, y [656] nên nằm nghiêng, và nhà trị liệu nên đứng phía sau bệnh nhân để năng lượng tuôn qua, mà nhà trị liệu có thể đang sử dụng và đang tiếp năng lượng mạnh mẽ cho hào quang của y bằng năng lượng linh hồn, có thể tác động đến hào quang của bệnh nhân và nhờ đó tạo thuận lợi cho sự đi vào của bức xạ trị liệu mà nhà trị liệu đang đóng góp, đến trung tâm hay các trung tâm cần thiết. Khi bệnh nhân phát triển rất cao, nhà trị liệu nên đứng ở đầu bệnh nhân. Khi ấy tác động cá nhân của y không lớn lắm, nhưng điều đó không quan trọng vì không cần đến nó; linh hồn của bệnh nhân sẽ đủ sức đảm đương nhiệm vụ. Tất cả những gì cần thiết là hào quang của nhà trị liệu, hòa lẫn với hào quang của bệnh nhân, tạo ra một âm điệu hoạt động nhịp nhàng yên tĩnh quanh trung tâm đầu. Lúc này không cần sự tiếp xúc hồng trần bằng tay, và nhà trị liệu tuyệt đối không được chạm vào bệnh nhân.

The situation is summed up for us in the words: “Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not.”

Tình huống này được tóm lược cho chúng ta trong những lời sau: “Như thế sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc của bức xạ. Không cần đến đôi tay.”

Speaking symbolically, it is almost as if a great vortex of power were set up by the contact between the two auras and by their high vibration: by its means the soul of the patient can work more easily. An initiate, if present, would see a golden stream of energy pouring straight down through the energised bodies of the patient’s personality into the centre nearest to the area of trouble. Approach is made via the head centre directly to the point of difficulty, and towards this point the aura of the healer is also directed. The mental attitude of the patient is strengthened and clarified by the mental emanation of the healer’s aura; his emotional reaction, often very powerful, is equally aided to attain dispassion and quiet, and the etheric and health auras have a definite effect upon the corresponding aspects of the patient’s aura.

Nói theo biểu tượng, gần như thể một xoáy lực lớn được thiết lập bởi sự tiếp xúc giữa hai hào quang và bởi rung động cao của chúng: nhờ đó linh hồn của bệnh nhân có thể hoạt động dễ dàng hơn. Một điểm đạo đồ, nếu có mặt, sẽ thấy một dòng năng lượng màu vàng kim tuôn thẳng xuống qua các thể được tiếp năng lượng của phàm ngã bệnh nhân vào trung tâm gần nhất với vùng rối loạn. Sự tiếp cận được thực hiện qua trung tâm đầu trực tiếp đến điểm khó khăn, và về phía điểm này hào quang của nhà trị liệu cũng được hướng tới. Thái độ trí tuệ của bệnh nhân được tăng cường và làm sáng tỏ bởi sự phát xạ trí tuệ từ hào quang của nhà trị liệu; phản ứng cảm xúc của y, thường rất mạnh, cũng được trợ giúp tương tự để đạt tới sự vô tư và yên tĩnh, và các hào quang dĩ thái và sức khỏe có một tác động rõ rệt lên các phương diện tương ứng trong hào quang của bệnh nhân.

[657]

[657]

Radiatory healing is brought about by the mingling of the two auras, both of them responsive to soul contact; the soul aspect of both persons (under control of the soul) is then directed towards some area of the patient’s physical body. This produces a tremendous effect upon the diseased area, and the centre in that same locality becomes exceedingly energised. The work of the healer during this process is one of intense quiescence. Having made his contact, he simply waits and has nothing more to do but to hold his soul alignment steady and permit nothing to disturb his personality vehicles. His task was accomplished when he made his own soul contact and then reached out and contacted the patient’s soul. This he could do because he knows all souls are one: eventually the art of healing will be one of the demonstrating factors in proving the unity of all souls.

Trị liệu bằng bức xạ được thực hiện nhờ sự hòa trộn của hai hào quang, cả hai đều đáp ứng với tiếp xúc linh hồn; khi ấy phương diện linh hồn của cả hai người (dưới sự kiểm soát của linh hồn) được hướng về một vùng nào đó trong thể xác của bệnh nhân. Điều này tạo ra một tác động to lớn lên vùng bị bệnh, và trung tâm ở cùng khu vực đó trở nên được tiếp năng lượng cực kỳ mạnh. Công việc của nhà trị liệu trong tiến trình này là một trạng thái tĩnh lặng mãnh liệt. Sau khi đã tạo được tiếp xúc, y chỉ đơn giản chờ đợi và không còn gì phải làm ngoài việc giữ vững sự chỉnh hợp linh hồn của mình và không cho phép bất cứ điều gì làm xáo trộn các vận cụ phàm ngã của y. Nhiệm vụ của y đã hoàn tất khi y tạo được tiếp xúc với chính linh hồn mình rồi vươn ra và tiếp xúc với linh hồn của bệnh nhân. Y có thể làm điều này vì y biết mọi linh hồn là một: cuối cùng nghệ thuật trị liệu sẽ là một trong những yếu tố chứng minh sự hợp nhất của mọi linh hồn.

This rule, therefore, concludes with the words: “The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, Flooded with soul energy.” It is consequently a question of the soul energy of both parties meeting on all three levels of human awareness. The expression “the soul” is here in the singular because unity (if only for a moment) has been reached. The soul of the patient recognises this unity by the “occult quickening” of his own aura and by its responsiveness to the entering radiations from the healer’s aura. This flooding with soul energy through the medium of related auras is, all of it, directed as one unified effort towards the area of disease in the patient’s body. You can see, therefore, that-consciously or unconsciously-the work can go forward and produce either healing or that “quickening of atoms which leads by soul direction unto release,” as the Old commentary calls the act of dying.

Vì vậy, quy luật này kết thúc bằng những lời: “Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang y đối với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập năng lượng linh hồn.” Do đó, đây là vấn đề năng lượng linh hồn của cả hai bên gặp nhau trên cả ba cấp độ nhận biết của con người. Cụm từ “linh hồn” ở đây ở số ít vì sự hợp nhất (dù chỉ trong chốc lát) đã đạt được. Linh hồn của bệnh nhân nhận ra sự hợp nhất này nhờ “sự làm sinh động huyền bí” của chính hào quang y và nhờ sự đáp ứng của nó đối với các bức xạ đi vào từ hào quang của nhà trị liệu. Sự tràn ngập năng lượng linh hồn này qua trung gian của các hào quang có liên hệ, toàn bộ đều được hướng như một nỗ lực hợp nhất duy nhất về phía vùng bệnh trong thể của bệnh nhân. Vì vậy, bạn có thể thấy rằng—một cách hữu thức hay vô thức—công việc có thể tiến hành và tạo ra hoặc sự chữa lành hoặc “sự làm sinh động các nguyên tử dẫn, dưới sự chỉ đạo của linh hồn, đến giải thoát,” như Cổ Luận gọi hành động chết.

When it becomes evident that it is the patient’s destiny to die, the technique of the healer alters somewhat. He [658] then takes his place at the patient’s head, and from that point deflects all his own radiations to the seat of the disease, causing necessarily a great acceleration of vibratory activity. The patient, in the meantime, consciously through brain recognition or unconsciously under soul direction, begins the process of withdrawing all consciousness from the body. This is why so many people are in a coma prior to death. When this act of the withdrawal of consciousness has been started, the work of the healer ends. He “shuts off” his soul contact and reassumes control of his aura as a medium of his own spiritual expression; it becomes no longer an instrument for healing by radiatory activity, and leaves the patient alone automatically to complete the withdrawal of the consciousness thread and the life thread, from the head and heart centres.

Khi trở nên hiển nhiên rằng số mệnh của bệnh nhân là phải chết, kỹ thuật của nhà trị liệu thay đổi đôi chút. Khi ấy y [658] đứng vào vị trí ở đầu bệnh nhân, và từ điểm đó làm lệch tất cả các bức xạ của chính mình về chỗ ngồi của bệnh, tất yếu gây nên một sự gia tốc lớn của hoạt động rung động. Trong khi đó, bệnh nhân, một cách hữu thức qua sự nhận biết của bộ não hoặc vô thức dưới sự chỉ đạo của linh hồn, bắt đầu tiến trình rút toàn bộ tâm thức ra khỏi thể. Đây là lý do tại sao rất nhiều người ở trong trạng thái hôn mê trước khi chết. Khi hành động rút tâm thức này đã bắt đầu, công việc của nhà trị liệu chấm dứt. Y “ngắt” tiếp xúc linh hồn của mình và lấy lại quyền kiểm soát hào quang của mình như một trung gian cho sự biểu lộ tinh thần riêng của y; nó không còn là một công cụ để trị liệu bằng hoạt động bức xạ nữa, và tự động để bệnh nhân một mình hoàn tất việc rút sợi dây tâm thức và sợi dây sự sống ra khỏi các trung tâm đầu và tim.

This is a broad and general outline of the processes followed in magnetic and radiatory healing. I have here given you the skeleton structure of the idea, but not the details; more can be inferred and given when we study the seven methods of healing with their ray implications.

Đây là một phác thảo rộng và tổng quát về các tiến trình được theo trong trị liệu từ tính và trị liệu bằng bức xạ. Ở đây tôi đã trao cho các bạn bộ khung của ý tưởng, chứ không phải các chi tiết; có thể suy ra và trình bày thêm khi chúng ta nghiên cứu bảy phương pháp trị liệu cùng với các hàm ý về cung của chúng.

This teaching has been given in such a manner that the student will have to hunt through its pages and gather together the facts needed, and thus formulate the first stage of the procedure of spiritual healing; unless he is himself a spiritual healer and ready to read between the lines and to distinguish between symbolism and fact, he will be misled and his work rendered useless. This is intended; for the healing art—when perfectly applied under correct formulas—can be dangerous. It must be remembered that although energy is thought, it is also, from a higher point of view, fire. The entire technique, procedure, and formulas will have to be discovered, subjected to experiment and the results noted before the true spiritual healing can take place; [659] by the time this investigation has been completed, it will be a safer matter than it is today. In the meantime, much good can be accomplished and a great deal learnt if those interested read, study, meditate, carefully experiment, and thus gradually build up this much needed science as a co-partner in the medical science of modern times.

Giáo huấn này đã được trao theo cách mà đạo sinh sẽ phải tìm kiếm trong các trang của nó và gom lại những dữ kiện cần thiết, rồi nhờ đó hình thành giai đoạn đầu của thủ tục trị liệu tinh thần; trừ phi chính y là một nhà trị liệu tinh thần và sẵn sàng đọc giữa các dòng cũng như phân biệt giữa biểu tượng và sự kiện, y sẽ bị dẫn lạc và công việc của y trở nên vô dụng. Điều này là có chủ ý; vì nghệ thuật trị liệu—khi được áp dụng hoàn hảo dưới các công thức đúng—có thể nguy hiểm. Cần nhớ rằng tuy năng lượng là tư tưởng, nhưng từ một quan điểm cao hơn, nó cũng là lửa. Toàn bộ kỹ thuật, thủ tục và các công thức sẽ phải được khám phá, đem ra thử nghiệm và ghi nhận kết quả trước khi sự trị liệu tinh thần chân chính có thể diễn ra; [659] đến khi cuộc khảo cứu này hoàn tất, việc ấy sẽ an toàn hơn hiện nay. Trong khi đó, có thể đạt được nhiều điều tốt đẹp và học được rất nhiều nếu những ai quan tâm đọc, nghiên cứu, tham thiền, thử nghiệm cẩn trọng, và nhờ đó dần dần xây dựng khoa học rất cần thiết này như một đối tác đồng hành với y học của thời hiện đại.

Let us now consider Law IX.

Bây giờ chúng ta hãy xét đến Định luật IX.

In Law IX and Rule Six we shall be dealing with such basic fundamentals that our problem will be to formulate the teaching in such a concise manner that vast themes may be briefly handled, and at the same time appear clear and simple. This law is in reality a definition of the Law of Evolution, but given from the spiritual angle. The Law of Evolution—as commonly understood—concerns the evolution of the form aspect as it is gradually fitted to be an exponent or an expression of soul energy, and later of monadic energy.

Trong Định luật IX và Quy luật Sáu, chúng ta sẽ bàn đến những nền tảng căn bản đến mức vấn đề của chúng ta sẽ là trình bày giáo huấn theo cách thật súc tích để những chủ đề bao la có thể được xử lý ngắn gọn, đồng thời vẫn hiện ra rõ ràng và đơn giản. Định luật này thực ra là một định nghĩa của Định luật Tiến hoá, nhưng được đưa ra từ góc độ tinh thần. Định luật Tiến hoá—như thường được hiểu—liên quan đến sự tiến hoá của phương diện hình tướng khi nó dần dần được thích nghi để trở thành một tác nhân biểu lộ hay một biểu hiện của năng lượng linh hồn, và về sau là của năng lượng chân thần.

This law, which might be termed the Law of Perfection, deals with the interior energies which are responsible for the working of the Law of Evolution. It is the higher aspect or the determining cause of the lower; the laws subsidiary to the Law of Perfection are loosely called (by the neophyte the spiritual laws, but of these he knows little and unifies them all in his mind under the general idea that they are an expression of the love aspect of Deity. That is essentially true, from the quality angle, if it is recognised at the same time that the love aspect is essentially pure reason and not an emotional sentiment expressing itself through kind actions.

Định luật này, có thể được gọi là Định luật Toàn Thiện, bàn đến các năng lượng nội tại chịu trách nhiệm cho sự vận hành của Định luật Tiến hoá. Nó là phương diện cao hơn hay nguyên nhân quyết định của phương diện thấp hơn; các định luật phụ thuộc vào Định luật Toàn Thiện được người sơ cơ gọi một cách lỏng lẻo là các định luật tinh thần, nhưng về chúng y biết rất ít và hợp nhất tất cả trong trí y dưới ý niệm chung rằng chúng là một biểu hiện của phương diện bác ái của Thượng đế. Điều đó về căn bản là đúng, xét từ góc độ phẩm tính, nếu đồng thời nhận ra rằng phương diện bác ái về bản chất là lý trí thuần túy chứ không phải một tình cảm cảm xúc biểu lộ qua những hành động tử tế.

The rule which accompanies this law deals with the relation of love and will, and is consequently of high importance to the initiate. I would remind you here that the [660] only true healer is the initiate, and therefore the last two laws (Law IX and Law X) can only be truly understood by the initiated disciple. They are, however, profoundly interesting intellectually to the beginner, the enquirer and the aspirant, because (theoretically at least) he can grasp some of their meaning, though he is as yet quite incapable of “keeping the law”—spiritually understood.

Quy luật đi kèm với định luật này bàn đến mối liên hệ giữa bác ái và ý chí, và do đó có tầm quan trọng cao đối với điểm đạo đồ. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng [660] nhà trị liệu chân chính duy nhất là điểm đạo đồ, và vì vậy hai định luật cuối cùng (Định luật IX và Định luật X) chỉ có thể được đệ tử được điểm đạo thực sự thấu hiểu. Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chúng cực kỳ lý thú đối với người mới bắt đầu, người tìm hiểu và người chí nguyện, vì (ít nhất về mặt lý thuyết) y có thể nắm được phần nào ý nghĩa của chúng, dù hiện giờ y hoàn toàn chưa có khả năng “giữ quy luật”—theo nghĩa tinh thần.

LAW IXĐỊNH LUẬT IX

Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good, is “perfect harmlessness”. This is not negativity, but Perfect Poise, a completed point of view, and divine understanding.

Toàn thiện gọi bất toàn lên bề mặt. Điều thiện đẩy điều ác ra khỏi hình tướng của con người trong thời gian và không gian. Phương pháp được Đấng Toàn Thiện sử dụng và phương pháp mà Điều Thiện dùng là “tính vô tổn hại hoàn hảo”. Đây không phải là tính tiêu cực, mà là Sự Quân Bình Hoàn Hảo, một quan điểm đã hoàn tất, và sự thấu hiểu thiêng liêng.

This law is profoundly simple and means exactly what it says. It can be interpreted in two ways:

Định luật này sâu sắc mà đơn giản, và có nghĩa đúng như những gì nó nói. Nó có thể được diễn giải theo hai cách:

1. It concerns the spiritual development of man through the medium of form, and the mode or law whereby the latent hold of matter—impregnated by selfishness and by all that is recognised as evil—is removed, and man stands free.

1. Nó liên quan đến sự phát triển tinh thần của con người qua trung gian hình tướng, và phương thức hay định luật nhờ đó sự bám giữ tiềm ẩn của vật chất—được thấm nhiễm bởi tính ích kỷ và bởi mọi điều được nhận biết là ác—được loại bỏ, và con người đứng tự do.

2. It can also be interpreted in terms of healer and patient. Oft the effect of the activity and knowledge of the true healer is to bring to the surface (in an acute form) the evil (disease) within the form. The result of this can either be the elimination of the disease and the securing of health, or the form will succumb to the increase of the difficulty and the probability is that the patient will die. It is therefore fortunate that the average healer is so futile that such a dire possibility is not present!

2. Nó cũng có thể được diễn giải theo nghĩa nhà trị liệu và bệnh nhân. Thường thì tác động của hoạt động và tri thức của nhà trị liệu chân chính là đưa lên bề mặt (dưới một hình thức cấp tính) điều ác (bệnh tật) ở bên trong hình tướng. Kết quả của điều này hoặc là sự loại bỏ bệnh tật và đạt được sức khỏe, hoặc hình tướng sẽ khuất phục trước sự gia tăng của khó khăn và rất có thể bệnh nhân sẽ chết. Vì vậy thật may là nhà trị liệu trung bình lại bất lực đến mức khả năng nghiêm trọng như thế không hiện diện!

The method employed under the Law of Perfection is called “perfect harmlessness,” and that was ever the method used [661] by the Christ, the Perfect One. It is not the harmlessness enjoined so often by me as I speak to aspirants, but a harmlessness imposed by the spiritual man and by his natural destiny. It is an ignoring of the effect or the result upon the form nature. Frequently I have told you that the Hierarchy works only with the spiritual nature or with the soul of humanity, and that—to the Master—the form is regarded as relatively of no importance. Release from the threefold form is ever regarded by the spiritual man as the greatest possible good, provided it comes to him under law, as the result of his spiritual destiny and of karmic decision: it must not come as an arbitrary act, or as an escape from life and its consequences upon the physical plane, or as self-imposed. Of this strange working of the Law of Perfection (strange to man’s limited point of view), the war (1914-1945) was a striking instance. Millions died; more millions suffered cruelly in their form nature, and many more millions underwent (and are still undergoing) the mental agony of insecurity, suspense and poverty. Nevertheless, two major results of a spiritual nature, working under the Law of Perfection, resulted:

Phương pháp được dùng dưới Định luật Toàn Thiện được gọi là “tính vô tổn hại hoàn hảo,” và đó luôn luôn là phương pháp được [661] Đức Christ, Đấng Toàn Thiện, sử dụng. Đó không phải là tính vô tổn hại mà tôi thường khuyên nhủ khi nói với những người chí nguyện, mà là một tính vô tổn hại do con người tinh thần áp đặt và do số mệnh tự nhiên của y. Đó là sự không lưu tâm đến tác động hay kết quả trên bản chất hình tướng. Tôi đã thường nói với các bạn rằng Thánh đoàn chỉ hoạt động với bản chất tinh thần hay với linh hồn của nhân loại, và rằng—đối với Chân sư—hình tướng được xem là tương đối không quan trọng. Sự giải thoát khỏi hình tướng tam phân luôn luôn được con người tinh thần xem là điều thiện lớn lao nhất có thể có, miễn là nó đến với y theo định luật, như kết quả của số mệnh tinh thần của y và của quyết định nghiệp quả: nó không được đến như một hành động tùy tiện, hay như một sự trốn chạy khỏi cuộc sống và các hậu quả của nó trên cõi hồng trần, hoặc do chính mình áp đặt. Về sự vận hành kỳ lạ này của Định luật Toàn Thiện (kỳ lạ đối với quan điểm hạn hẹp của con người), chiến tranh (1914-1945) là một ví dụ nổi bật. Hàng triệu người đã chết; nhiều triệu người khác đau khổ tàn nhẫn trong bản chất hình tướng của họ, và còn nhiều triệu người nữa đã trải qua (và vẫn đang trải qua) nỗi thống khổ trí tuệ của sự bất an, căng thẳng và nghèo đói. Tuy nhiên, hai kết quả lớn có bản chất tinh thần, vận hành dưới Định luật Toàn Thiện, đã xuất hiện:

1. Souls were released from a backward and decaying civilisation—for such is your vaunted civilisation from the angle of the Hierarchy—and will return in better bodies to a civilisation and a culture more in conformity with the needs of the spiritual man. The main reason why there has been such a complete destruction of the old forms (physical, emotional and mental) is that they constituted a complete imprisonment of the soul and negated all true growth for the masses of men.

1. Các linh hồn đã được giải thoát khỏi một nền văn minh lạc hậu và suy tàn—vì đó chính là nền văn minh mà các bạn vẫn tự hào, xét từ góc độ của Thánh đoàn—và sẽ trở lại trong những thể tốt hơn vào một nền văn minh và một nền văn hóa phù hợp hơn với nhu cầu của con người tinh thần. Lý do chính khiến có sự hủy diệt hoàn toàn như vậy đối với các hình tướng cũ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) là vì chúng tạo thành một sự giam cầm hoàn toàn đối với linh hồn và phủ nhận mọi sự tăng trưởng chân chính của quần chúng nhân loại.

2. From the rich to the poor, from the intelligent to the ignorant, one thing is now clearly grasped and will increasingly colour human thinking: happiness and [662] success are not dependent upon the possession of things or upon material good. That idea is the mistake of organised labour as it fights and strikes for more money in order to live more richly; it is also the mistake of the general public as it reacts to the action of labour, for it rebels against the curtailment of the steady inflow of material goods. Humanity has made this mistake for untold ages, and has erred grievously in its emphasis upon that which benefits the form. This is the good in the Russian position as it wars on capitalism and lays an emphasis upon education. However, its ruthlessness and cruelty and (above all else) its suppression of the rights of the individual citizen to certain of the essential freedoms may eventually negate the beauty and the hope of the initial idealism. Russia is right in her idealism, but terribly and basically wrong in her techniques. The United States and Great Britain are at a midway point. They have a vision but know not how to materialise it and make it true, for they favour not (and rightly) a totalitarian regime. The capitalistic spirit and the latent fascism of the United States are at this time a definite menace to world peace, and the capitalists are blocking the efforts of the men of goodwill. Great Britain is at present impotent, financially ruined, her old imperialistic policies entirely in the discard, and her people discouraged: she is therefore so preoccupied with the struggle to live (and she will live) that there is little time, interest or energy left to make the vision true.

2. Từ người giàu đến người nghèo, từ người thông minh đến người ngu dốt, hiện nay có một điều được nắm bắt rõ ràng và sẽ ngày càng nhuộm màu tư tưởng nhân loại: hạnh phúc và [662] thành công không tùy thuộc vào việc sở hữu đồ vật hay của cải vật chất. Ý tưởng đó là sai lầm của lao động có tổ chức khi nó đấu tranh và đình công để có nhiều tiền hơn nhằm sống sung túc hơn; đó cũng là sai lầm của công chúng nói chung khi họ phản ứng với hành động của giới lao động, vì họ nổi loạn chống lại sự cắt giảm dòng chảy đều đặn của hàng hóa vật chất. Nhân loại đã phạm sai lầm này từ những thời đại không thể đếm được, và đã lầm lạc nghiêm trọng trong việc nhấn mạnh vào điều có lợi cho hình tướng. Đây là điều tốt trong lập trường của nước Nga khi nước này chống lại chủ nghĩa tư bản và nhấn mạnh vào giáo dục. Tuy nhiên, sự tàn nhẫn và độc ác của nó và (trên hết) việc đàn áp quyền của công dân cá nhân đối với một số tự do thiết yếu có thể cuối cùng phủ nhận vẻ đẹp và hy vọng của chủ nghĩa lý tưởng ban đầu. Nước Nga đúng trong chủ nghĩa lý tưởng của mình, nhưng sai lầm khủng khiếp và căn bản trong các kỹ thuật của mình. Hoa Kỳ và Anh Quốc đang ở một điểm ở giữa. Họ có một tầm nhìn nhưng không biết làm thế nào để hiện hình nó và làm cho nó thành sự thật, vì họ không ủng hộ (và đúng như vậy) một chế độ toàn trị. Tinh thần tư bản và chủ nghĩa phát xít tiềm ẩn của Hoa Kỳ hiện nay là một mối đe dọa rõ rệt đối với hòa bình thế giới, và các nhà tư bản đang ngăn cản những nỗ lực của những người thiện chí. Hiện nay Anh Quốc bất lực, kiệt quệ về tài chính, các chính sách đế quốc cũ của mình hoàn toàn bị loại bỏ, và dân chúng của nước này chán nản: vì vậy họ quá bận tâm với cuộc đấu tranh để sống còn (và họ sẽ sống) đến nỗi còn rất ít thời gian, quan tâm hay năng lượng để biến tầm nhìn thành hiện thực.

There is, as you know, always a correspondence between the individual man and the world of men as a whole. Just as today practically every human being has something wrong with him physically—eyes, ears, teeth or bodily ills of some [663] nature—so humanity is sick and awaiting healing. The healing will be brought about through the medium of the New Group of World Servers and by the men of goodwill, aided by the Hierarchy, from which planetary centre the healing energies will be drawn. Imperfection has been drawn to the surface; the evils to be eliminated are known to everybody, and this has all taken place under the influence of the Law of Perfection. I am dealing here with the general situation rather than with the individual relation between the healer and a patient. I do so for the simple reason that only an initiate of experience and of understanding can keep this law or obey this rule, and of such there are only a very few on earth today. The sickness of humanity as a race, and as a result of aeons of wrong living, of selfish purpose and of greed, has produced a mass of physical ills; today millions of children are born either openly diseased or with the seed of disease in them. When the evil which has made its presence felt, and when the imperfections which have been drawn to the surface have been cured or driven back to their own place, then—and only then—will physical disease come to an end or yield easily to treatment.

Như các bạn biết, luôn luôn có một sự tương ứng giữa con người cá nhân và thế giới loài người nói chung. Cũng như ngày nay thực tế mọi con người đều có điều gì đó không ổn về mặt hồng trần—mắt, tai, răng hay những bệnh tật thân thể nào đó—thì nhân loại cũng đang bệnh hoạn và chờ được chữa lành. Sự chữa lành sẽ được mang lại qua trung gian của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và bởi những người thiện chí, được Thánh đoàn trợ giúp, từ trung tâm hành tinh đó các năng lượng chữa lành sẽ được rút ra. Bất toàn đã được kéo lên bề mặt; những điều ác cần được loại bỏ ai cũng biết, và tất cả điều này đã diễn ra dưới ảnh hưởng của Định luật Toàn Thiện. Ở đây tôi đang bàn đến tình hình chung hơn là mối liên hệ cá nhân giữa nhà trị liệu và một bệnh nhân. Tôi làm vậy vì lý do đơn giản là chỉ một điểm đạo đồ có kinh nghiệm và thấu hiểu mới có thể giữ định luật này hay tuân theo quy luật này, và hiện nay trên Trái Đất chỉ có rất ít người như thế. Bệnh tật của nhân loại như một nhân loại, và như kết quả của những đại kiếp sống sai lầm, mục đích ích kỷ và lòng tham, đã tạo ra một khối lượng bệnh tật hồng trần; ngày nay hàng triệu trẻ em sinh ra hoặc công khai mang bệnh hoặc mang trong mình mầm bệnh. Khi điều ác đã làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và khi những bất toàn đã được kéo lên bề mặt được chữa lành hoặc bị đẩy lui về đúng chỗ của chúng, thì—và chỉ khi ấy—bệnh tật hồng trần mới chấm dứt hoặc dễ dàng khuất phục trước sự điều trị.

In considering the general subject of imperfection and of evil, we are dealing here with causes (and this the initiate must ever do); when these causes are themselves removed, then the effects will also disappear. Christian Science and Unity are therefore right in their general theory and premises, but totally wrong in their emphases and methods. In the long run, all the work they do today is relatively futile, except in so far that they preserve and enunciate the Law of Perfection, even though they do so in a muddled manner and their teaching is tainted with the universal selfishness.

Khi xét đến chủ đề chung về bất toàn và điều ác, ở đây chúng ta đang bàn đến các nguyên nhân (và điểm đạo đồ luôn luôn phải làm điều này); khi chính các nguyên nhân ấy được loại bỏ, thì các kết quả cũng sẽ biến mất. Vì vậy, Christian Science và Unity đúng trong lý thuyết và tiền đề chung của họ, nhưng hoàn toàn sai trong các điểm nhấn và phương pháp của họ. Về lâu dài, toàn bộ công việc họ làm ngày nay tương đối vô ích, ngoại trừ ở chỗ họ duy trì và công bố Định luật Toàn Thiện, dù họ làm điều đó một cách rối rắm và giáo huấn của họ bị nhuốm màu tính ích kỷ phổ quát.

[664]

[664]

You have oft been told that there are two modes of achievement; the long hard way of evolution, in which aeons are taken to arrive at relatively small results, or the short, still harder but much more rapid way of initiation. For ages it remained a question (a moot point, do you not call it?) whether the world of men would choose (and had better choose) the slow but safe method. It is a method in which imperfection is only very gradually eliminated, without much strain and with small effort on the part of man. It is a mode whereby good is only slowly realised and evil only slowly, very slowly, driven out. The will-to-good of Shamballa is, under the usual evolutionary system, only faintly present, and many, many aeons would still lie. ahead of humanity before even the present point of human development could have been attained.

Các bạn đã thường được bảo rằng có hai phương thức thành tựu; con đường dài khó nhọc của tiến hoá, trong đó phải mất những đại kiếp mới đạt được những kết quả tương đối nhỏ, hoặc con đường ngắn hơn, vẫn khó hơn nhưng nhanh hơn nhiều, của điểm đạo. Trong nhiều thời đại, vẫn còn là một câu hỏi (một điểm còn tranh luận, chẳng phải các bạn gọi thế sao?) liệu thế giới loài người có chọn (và tốt hơn là nên chọn) phương pháp chậm nhưng an toàn hay không. Đó là một phương pháp trong đó bất toàn chỉ được loại bỏ rất dần dần, không có nhiều căng thẳng và với ít nỗ lực từ phía con người. Đó là một phương thức nhờ đó điều thiện chỉ được chứng nghiệm chậm chạp và điều ác chỉ bị đẩy ra chậm chạp, rất chậm chạp. Ý Chí-hướng Thiện của Shamballa, dưới hệ thống tiến hoá thông thường, chỉ hiện diện mờ nhạt, và còn rất, rất nhiều đại kiếp nữa sẽ vẫn còn ở phía trước nhân loại trước khi ngay cả điểm phát triển hiện nay của con người có thể đạt được.

But something happened which had not been foreseen even by the Hierarchy. During the past two hundred years the entire picture has been altered. Individual men, in adequate numbers, achieved initiation and entered the Ashrams of the Masters, and through the decision of these successful aspirants, and subject to their continued activity, it was decided by them but for humanity that the rapid hard way was to be tried. Since that time three factors have been present:

Nhưng đã xảy ra một điều mà ngay cả Thánh đoàn cũng không tiên liệu. Trong hai trăm năm qua, toàn bộ bức tranh đã thay đổi. Những con người cá nhân, với số lượng đủ lớn, đã đạt điểm đạo và đi vào các ashram của các Chân sư, và qua quyết định của những người chí nguyện thành công này, và tùy thuộc vào hoạt động tiếp tục của họ, họ đã quyết định thay cho nhân loại rằng con đường nhanh và khó sẽ được thử nghiệm. Kể từ đó, ba yếu tố đã hiện diện:

1. The factor of tremendous progress in raising the consciousness of mankind, en masse, to much higher intellectual levels. To this the growth of education, the discoveries of science and the control of the material plane and of the air bear testimony.

1. Yếu tố của sự tiến bộ to lớn trong việc nâng tâm thức của nhân loại, xét như một khối, lên những cấp độ trí tuệ cao hơn nhiều. Sự phát triển của giáo dục, những khám phá của khoa học và sự kiểm soát cõi hồng trần và không khí là bằng chứng cho điều này.

2. The factor of worldwide distress, of economic disaster, of world wars, of natural cataclysms and of the myriad occurrences and difficulties which make individual life, national life and planetary life so hard these days. No one is exempt and there is no distinction shown. [665]

2. Yếu tố của khổ đau toàn cầu, của thảm họa kinh tế, của các cuộc chiến tranh thế giới, của các tai biến thiên nhiên và của vô số biến cố và khó khăn khiến đời sống cá nhân, đời sống quốc gia và đời sống hành tinh trở nên quá khó khăn trong những ngày này. Không ai được miễn trừ và không có sự phân biệt nào được thể hiện. [665]

3. The factor of the growth of knowledge anent the Hierarchy and, above all else, of the spiritual Plan. This has necessitated the presentation of a goal to man by the working aspirants and disciples, plus the outlining of the techniques of the Path whereby that goal can be reached. This has not been accomplished by the religious church groups throughout the world, but by members of the Ashrams. All that the churches have done is to preserve in the public mind the fact of God Transcendent, whilst ignoring the fact of God Immanent, to testify to the existence of the Christ whilst travestying His teaching, and to teach the fact of immortality, whilst ignoring the Law of Rebirth.

3. Yếu tố của sự tăng trưởng tri thức liên quan đến Thánh đoàn và, trên hết, liên quan đến Thiên Cơ tinh thần. Điều này đã đòi hỏi phải trình bày cho con người một mục tiêu bởi những người chí nguyện và đệ tử đang hoạt động, cộng với việc phác họa các kỹ thuật của Con Đường nhờ đó mục tiêu ấy có thể đạt tới. Điều này không được thực hiện bởi các nhóm giáo hội tôn giáo trên khắp thế giới, mà bởi các thành viên của các ashram. Tất cả những gì các giáo hội đã làm là duy trì trong tâm trí công chúng sự kiện về Thượng đế Siêu Việt, trong khi bỏ qua sự kiện về Thượng đế Nội Tại, làm chứng cho sự hiện hữu của Đức Christ trong khi xuyên tạc giáo huấn của Ngài, và dạy về sự kiện bất tử trong khi bỏ qua Định luật Tái Sinh.

Humanity is, therefore, progressing rapidly upon the Upward Way, and two things can be looked for as a consequence: first, that the imperfections and evil (one latent and the other active though retreating) will become increasingly apparent to intelligent man, and secondly, that the mode of their elimination will also become known.

Vì vậy, nhân loại đang tiến nhanh trên Con Đường Đi Lên, và có thể trông đợi hai điều như một hệ quả: thứ nhất, rằng những bất toàn và điều ác (một cái tiềm ẩn và cái kia đang hoạt động dù đang rút lui) sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên đối với con người thông minh, và thứ hai, rằng phương thức loại bỏ chúng cũng sẽ được biết đến.

I deal not here with the nature of imperfection or the purpose of evil. Do I need to point out to any of my readers how inescapably both are present? I might point out that imperfection is inherent in the nature of matter itself and constitutes an inheritance from a previous solar system. I might indicate that evil emanates from that hierarchy of evil Forces which are the material correspondence to the spiritual Hierarchy; this is related to the fact that all our planes are composed of substance of the cosmic physical plane. It might also be stated that when the imperfection of matter is realised and corrected, and when the interest and emphasis of humanity is turned away from material conditions, then the Forces of Evil will have nothing in the three worlds (the three lower levels of the cosmic physical plane) [666] upon which to work; there will be nothing they can influence, and no mode of influencing man will then exist as far as evil is concerned. I cannot expect you at this time to comprehend the meaning of my words. They are, however, related to the words in the Great Invocation which say, “and seal the door where evil dwells.” There is a door into an evil realm and into blackness, just as there is a door into a world of goodness and light; the devil is to man who is dedicated and consecrated to evil what the Dweller on the Threshold is to the spiritual aspirant.

Ở đây tôi không bàn đến bản chất của bất toàn hay mục đích của điều ác. Tôi có cần chỉ ra cho bất kỳ độc giả nào của tôi thấy rằng cả hai hiện diện không thể tránh khỏi như thế nào không? Tôi có thể chỉ ra rằng bất toàn vốn có trong chính bản chất của vật chất và tạo thành một di sản từ một hệ mặt trời trước. Tôi có thể nêu rằng điều ác phát xuất từ huyền giai các Mãnh Lực ác, là đối ứng vật chất của Huyền Giai Tinh Thần; điều này liên hệ đến sự kiện rằng tất cả các cõi của chúng ta đều được cấu tạo bằng chất liệu của cõi hồng trần vũ trụ. Cũng có thể nói rằng khi sự bất toàn của vật chất được nhận ra và sửa chữa, và khi mối quan tâm và sự nhấn mạnh của nhân loại được chuyển khỏi các điều kiện vật chất, thì các Mãnh Lực Ác sẽ không còn gì trong ba cõi giới (ba cấp độ thấp của cõi hồng trần vũ trụ) [666] để hoạt động; sẽ không còn gì mà chúng có thể ảnh hưởng, và sẽ không còn phương thức nào để ảnh hưởng đến con người trong chừng mực điều ác có liên quan. Tôi không thể mong các bạn vào lúc này hiểu được ý nghĩa lời tôi nói. Tuy nhiên, chúng liên hệ đến những lời trong Đại Khấn Nguyện nói rằng, “và niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị.” Có một cánh cửa đi vào một cõi ác và vào bóng tối, cũng như có một cánh cửa đi vào một thế giới của điều thiện và ánh sáng; quỷ dữ đối với con người tận hiến và thánh hiến cho điều ác cũng như Kẻ Chận Ngõ đối với người chí nguyện tinh thần.

The main task of the spiritual Hierarchy has ever been to stand between the Forces of Evil and humanity, to bring imperfection into the light so that evil can “find no place” for action, and to keep the door open into the spiritual realm. This the Hierarchy has done, with small help from humanity; this situation is now changed and the world war was the symbol and the guarantee of that change; in it the Forces of Light, the massed United Nations, fought the Forces of Evil upon the physical plane and routed them. There has been a far greater spiritual significance to the war than has yet been realised. It marked a world turning point; it reoriented humanity towards the good; it drove back the Forces of Evil and made definitely clear (and this was new and needed) the true distinction between good and evil, and this not in a theological sense-as stated by the church commentators—but practically and obviously. It is evidenced by the disastrous economic situation and by the greed of prominent men in every country. The world of men (through the obviousness of the distinction between good and evil) has awakened to the fact of materialistic exploitation, to the lack of real freedom and to the rights, as yet unclaimed, of the individual. Man’s ability to resist slavery has become apparent everywhere. That the strugglers towards freedom are employing wrong methods and are endeavouring [667] oft to fight evil with evil is entirely true, but this indicates only transitional techniques and a temporary phase; it is temporary from the point of view of the Hierarchy (though possibly long from the angle of men in the three worlds), but it need not necessarily be long today.

Nhiệm vụ chính của Huyền Giai Tinh Thần luôn luôn là đứng giữa các Mãnh Lực Ác và nhân loại, đưa sự bất toàn ra ánh sáng để điều ác có thể “không tìm thấy chỗ” cho hành động, và giữ cánh cửa mở vào cõi tinh thần. Điều này Thánh đoàn đã làm, với rất ít sự trợ giúp từ nhân loại; tình hình này nay đã thay đổi và chiến tranh thế giới là biểu tượng và sự bảo đảm của sự thay đổi đó; trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng, tức khối Liên Hiệp Quốc, đã chiến đấu với các Mãnh Lực Ác trên cõi hồng trần và đánh tan chúng. Chiến tranh có một ý nghĩa tinh thần lớn lao hơn nhiều so với điều đã được nhận ra cho đến nay. Nó đánh dấu một bước ngoặt thế giới; nó tái định hướng nhân loại về phía điều thiện; nó đẩy lùi các Mãnh Lực Ác và làm sáng tỏ dứt khoát (và điều này là mới mẻ và cần thiết) sự phân biệt chân thực giữa thiện và ác, và điều này không theo nghĩa thần học—như các nhà bình luận giáo hội đã phát biểu—mà theo cách thực tiễn và hiển nhiên. Điều đó được chứng minh bởi tình hình kinh tế tai hại và bởi lòng tham của những người nổi bật ở mọi quốc gia. Thế giới loài người (nhờ tính hiển nhiên của sự phân biệt giữa thiện và ác) đã thức tỉnh trước sự kiện bóc lột vật chất, trước sự thiếu vắng tự do chân chính và trước những quyền của cá nhân mà cho đến nay vẫn chưa được đòi hỏi. Khả năng chống lại chế độ nô lệ của con người đã trở nên hiển nhiên ở khắp nơi. Việc những người đấu tranh hướng tới tự do đang dùng những phương pháp sai lầm và thường [667] cố gắng chiến đấu với điều ác bằng điều ác là hoàn toàn đúng, nhưng điều này chỉ cho thấy các kỹ thuật chuyển tiếp và một giai đoạn tạm thời; nó là tạm thời theo quan điểm của Thánh đoàn (dù có thể dài theo góc nhìn của con người trong ba cõi giới), nhưng ngày nay nó không nhất thiết phải kéo dài.

So great has been the progress of man during the past two hundred years that the Council Chamber at Shamballa was forced to take notice. As a result of this attention by the Great Lives around Sanat Kumara and Their interest in the affairs of men, two things happened:

Sự tiến bộ của con người trong hai trăm năm qua đã lớn đến mức Phòng Hội Đồng tại Shamballa buộc phải chú ý. Kết quả của sự chú ý này từ các Đấng Sự Sống Vĩ Đại quanh Đức Sanat Kumara và sự quan tâm của Các Ngài đến công việc của loài người là hai điều đã xảy ra:

1. The will aspect of divinity made its first definite and direct contact with the human mind. The impact was direct and not deflected-as had hitherto been the case-to the Hierarchy and from thence to humanity. According to the type of man or group who responded or reacted to this contact, so were the results; they were very good or exceedingly bad. Great and good men appeared and enunciated the truths needed for the New Age, and of these Lincoln, Roosevelt, Browning, Briand and a host of lesser men could be cited. Evil and pernicious men also emerged, such as Hitler and the group he gathered around him, bringing much evil upon the Earth.

1. Phương diện ý chí của thiên tính đã tạo ra tiếp xúc đầu tiên rõ rệt và trực tiếp với trí tuệ con người. Tác động là trực tiếp chứ không bị chuyển hướng—như trước đây vẫn thế—đến Thánh đoàn rồi từ đó đến nhân loại. Tùy theo loại người hay nhóm nào đáp ứng hoặc phản ứng với tiếp xúc này mà kết quả xuất hiện; chúng rất tốt hoặc cực kỳ xấu. Những con người vĩ đại và tốt lành đã xuất hiện và công bố những chân lý cần thiết cho Kỷ Nguyên Mới, và trong số đó có thể kể Lincoln, Roosevelt, Browning, Briand và vô số người kém nổi bật hơn. Những con người ác độc và tai hại cũng nổi lên, như Hitler và nhóm mà hắn tập hợp quanh mình, mang lại nhiều điều ác cho Trái Đất.

2. At the same time, the will-to-good from Shamballa evoked the latent goodwill in man, so that today and increasingly over the past one hundred years, goodness of heart, kindness in action, consideration for others and mass action to promote human welfare have spread over the Earth.

2. Đồng thời, Ý Chí-hướng Thiện từ Shamballa đã gợi lên thiện chí tiềm ẩn trong con người, đến nỗi ngày nay và ngày càng tăng trong suốt một trăm năm qua, lòng tốt, sự tử tế trong hành động, sự quan tâm đến người khác và hành động tập thể nhằm thúc đẩy phúc lợi nhân loại đã lan rộng khắp Trái Đất.

The emergence of imperfection and the planned effort of evil have been paralleled by the appearance of the New Group of World Servers and by the preparation which the Hierarchy is making towards its externalisation upon the [668] physical plane. The Hierarchy is at this time exceedingly powerful; its Ashrams are full of initiates and disciples, and its periphery or magnetic field is drawing countless thousands of aspirants towards it. The war struck a mortal blow to material evil, and its hold on humanity is greatly weakened.

Sự xuất hiện của bất toàn và nỗ lực có kế hoạch của điều ác đã song hành với sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và với sự chuẩn bị mà Thánh đoàn đang thực hiện hướng tới sự ngoại hiện của mình trên [668] cõi hồng trần. Hiện nay Thánh đoàn cực kỳ hùng mạnh; các ashram của nó đầy những điểm đạo đồ và đệ tử, và chu vi hay từ trường của nó đang thu hút vô số hàng ngàn người chí nguyện về phía nó. Chiến tranh đã giáng một đòn chí tử vào điều ác vật chất, và sự bám giữ của nó đối với nhân loại đã suy yếu rất nhiều.

Confound not evil with the activities of the gangster or the criminal. Criminals and gangsters are the result of the emerging massed imperfections: they are the victims of ignorance, mishandling when children and misunderstanding down the ages of right human relations; the Law of Rebirth will eventually lead them on the way to good. Those men are truly evil who seek to enforce a return to the bad old ways, who endeavour to keep their fellowmen in slavery of some kind or another, who block the expression of one or all of the Four Freedoms, who gain material riches at the expense of the exploited, or who seek to hold for themselves and for gain the produce of the earth, and thus make the cost of life’s necessities prohibitive to those not richly endowed. Those who thus work, think and plan are to be found in every nation, and are usually of prominence because of their riches and influence; however, they sin against light and not through ignorance; their goals are material and not spiritual. They are relatively few compared to the countless millions of men, but are exceedingly powerful; they are highly intelligent but unscrupulous, and it is through them that the Forces of Evil work, holding back progress, promoting poverty, breeding hatred and class distinctions, fostering racial differences for their own ends, and keeping ignorance in power. Their sin is great and it is hard for them to change, because power and the will-to-power (as it militates against the will-to-good) is a dominant all-controlling factor in their lives; these men are today working against the unity of the United Nations, [669] through their greed, their determination to own the resources of the earth (such as oil, mineral wealth and food) and thus keep the people weak and with inadequate food. These men, who are found in every nation, thoroughly understand each other and are working together in great combines to exploit the riches of the earth at the expense of humanity.

Đừng nhầm lẫn điều ác với các hoạt động của bọn du đãng hay tội phạm. Tội phạm và du đãng là kết quả của những bất toàn tập thể đang nổi lên: họ là nạn nhân của vô minh, của sự xử lý sai lầm khi còn nhỏ và của sự hiểu sai về những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người qua nhiều thời đại; Định luật Tái Sinh cuối cùng sẽ dẫn họ đi trên con đường hướng thiện. Những người thực sự ác là những kẻ tìm cách áp đặt sự quay trở lại những lối cũ xấu xa, cố giữ đồng loại của mình trong một loại nô lệ nào đó, ngăn chặn sự biểu lộ của một hay tất cả Bốn Tự Do, thu lợi vật chất bằng cái giá của những người bị bóc lột, hoặc tìm cách giữ cho riêng mình và vì lợi lộc sản vật của trái đất, và do đó làm cho chi phí của những nhu yếu phẩm cuộc sống trở nên quá đắt đối với những người không được ưu đãi giàu có. Những kẻ làm việc, suy nghĩ và hoạch định như thế có mặt ở mọi quốc gia, và thường nổi bật vì sự giàu có và ảnh hưởng của họ; tuy nhiên, họ phạm tội chống lại ánh sáng chứ không phải vì vô minh; mục tiêu của họ là vật chất chứ không phải tinh thần. Họ tương đối ít so với vô số hàng triệu con người, nhưng cực kỳ quyền lực; họ rất thông minh nhưng vô lương tâm, và chính qua họ mà các Mãnh Lực Ác hoạt động, kìm hãm tiến bộ, thúc đẩy nghèo đói, gây sinh hận thù và phân biệt giai cấp, nuôi dưỡng khác biệt chủng tộc vì mục đích riêng của họ, và giữ cho vô minh nắm quyền. Tội lỗi của họ rất lớn và họ khó thay đổi, vì quyền lực và ý chí-quyền lực (khi nó chống lại Ý Chí-hướng Thiện) là một yếu tố thống trị, kiểm soát toàn bộ trong đời sống của họ; ngày nay những người này đang hoạt động chống lại sự hợp nhất của Liên Hiệp Quốc, [669] qua lòng tham của họ, qua quyết tâm sở hữu các tài nguyên của trái đất (như dầu mỏ, khoáng sản và lương thực) và do đó giữ cho dân chúng yếu đuối và thiếu ăn. Những người này, có mặt ở mọi quốc gia, hiểu nhau rất rõ và đang cùng nhau hoạt động trong những tổ hợp lớn để khai thác sự giàu có của trái đất với cái giá phải trả của nhân loại.

Russia is today singularly free of such men, so I refer not here to that vast country, as many of her enemies might surmise. Russia is making great mistakes, but they are the mistakes of a fanatical ideologist or of a gangster who sins because of ignorance, through immaturity or in fury at the evil things with which he is surrounded. This is something totally different to the evil with which I have been dealing, and it will not last, because Russia will learn; these others do not learn.

Ngày nay nước Nga đặc biệt không có những người như thế, vì vậy ở đây tôi không nói đến quốc gia rộng lớn ấy, như nhiều kẻ thù của nước này có thể suy đoán. Nước Nga đang phạm những sai lầm lớn, nhưng đó là những sai lầm của một nhà ý thức hệ cuồng tín hoặc của một tên du đãng phạm tội vì vô minh, do non nớt hoặc trong cơn giận dữ trước những điều ác bao quanh hắn. Điều này hoàn toàn khác với điều ác mà tôi đang bàn đến, và nó sẽ không kéo dài, vì nước Nga sẽ học hỏi; còn những kẻ kia thì không học.

I have used the above illustration so as to make my theme somewhat clearer. The whole problem of evil is, however, too vast to contemplate here, nor is it advisable or wise to discuss the source of evil (not of imperfection), the Black Lodge. Energy follows thought, and the spoken word can be potently evocative: therefore, until one is a member of the Great White Lodge, it is the part of wisdom to avoid consideration of forces potent enough intelligently to use the latent imperfection in humanity and to impose the vast evil of war, with all its results and far-reaching effects, upon humanity. The Black Lodge is the problem of the White Lodge, and not the problem of humanity. For aeons the Hierarchy has handled this problem, and is now in process of solving it. It is essentially, however, the main consideration and problem of Shamballa, for it is connected with the will aspect, and only the will-to-good will suffice to blot out and annihilate the will-to-evil. Goodwill will not suffice, though the united and invocative appeal of the [670] men of goodwill throughout the world-increasingly voiced through the Great Invocation-will serve “to seal the door where evil dwells.”

Tôi đã dùng minh họa trên để làm cho chủ đề của tôi phần nào rõ hơn. Tuy nhiên, toàn bộ vấn đề điều ác quá rộng lớn để chiêm ngưỡng ở đây, và cũng không thích hợp hay khôn ngoan khi bàn đến nguồn gốc của điều ác (không phải của bất toàn), tức Hắc đoàn. Năng lượng đi theo tư tưởng, và lời nói ra có thể gợi lên một cách mạnh mẽ: vì vậy, cho đến khi một người là thành viên của Thánh đoàn, thì phần minh triết là tránh xét đến những mãnh lực đủ mạnh để sử dụng một cách thông minh sự bất toàn tiềm ẩn trong nhân loại và áp đặt điều ác to lớn của chiến tranh, cùng với mọi kết quả và ảnh hưởng sâu rộng của nó, lên nhân loại. Hắc đoàn là vấn đề của Thánh đoàn, chứ không phải vấn đề của nhân loại. Trong nhiều đại kiếp, Thánh đoàn đã xử lý vấn đề này, và hiện nay đang trong tiến trình giải quyết nó. Tuy nhiên, về bản chất, đó là mối quan tâm và vấn đề chính của Shamballa, vì nó liên hệ đến phương diện ý chí, và chỉ Ý Chí-hướng Thiện mới đủ để xóa bỏ và hủy diệt ý chí-hướng ác. Thiện chí sẽ không đủ, dù lời kêu gọi hợp nhất và khẩn cầu của [670] những người thiện chí trên khắp thế giới—ngày càng được cất lên qua Đại Khấn Nguyện—sẽ giúp “niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị.”

It is behind that door and in dealing with the forces there concealed (and mobilised) that the Hierarchy is effective; the methods and modes whereby They protect humanity from mobilised evil, and are gradually driving the evil back, would not be understood by you who have not yet passed through the door which leads to the Way of the Higher Evolution.

Chính ở phía sau cánh cửa đó và trong việc đối phó với các mãnh lực bị che giấu (và được huy động) ở đó mà Thánh đoàn tỏ ra hữu hiệu; các phương pháp và cách thức nhờ đó Các Ngài bảo vệ nhân loại khỏi điều ác đã được huy động, và đang dần dần đẩy lùi điều ác, sẽ không được các bạn hiểu, những người chưa đi qua cánh cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

What shall I say concerning harmlessness? It is not easy for me to show or prove to you the effectiveness of the higher aspect, spiral or phase of harmlessness as employed by the Hierarchy, under the direction of the Perfect One, the Christ. The harmlessness with which I have earlier dealt has relation to the imperfections with which humanity is wrestling, and is difficult for you to apply in and under all circumstances, as well you know. The harmlessness to which I refer in connection with you is not negative, or sweet or kindly activity, as so many believe; it is a state of mind and one which in no way negates firm or even drastic action; it concerns motive and involves the determination that the motive behind all activity is goodwill. That motive might lead to positive and sometimes disagreeable action or speech, but as harmlessness and goodwill condition the mental approach, nothing can eventuate but good.

Tôi sẽ nói gì về tính vô tổn hại? Đối với tôi không dễ để chỉ ra hay chứng minh cho các bạn hiệu quả của phương diện cao hơn, vòng xoắn hay giai đoạn của tính vô tổn hại như được Thánh đoàn sử dụng, dưới sự chỉ đạo của Đấng Toàn Thiện, Đức Christ. Tính vô tổn hại mà tôi đã bàn đến trước đây có liên hệ với những bất toàn mà nhân loại đang vật lộn, và như các bạn biết rõ, thật khó để các bạn áp dụng nó trong và dưới mọi hoàn cảnh. Tính vô tổn hại mà tôi nói đến liên hệ với các bạn không phải là tính tiêu cực, hay hoạt động ngọt ngào hoặc tử tế, như nhiều người tin; đó là một trạng thái trí tuệ và không hề phủ nhận hành động cứng rắn hay thậm chí quyết liệt; nó liên quan đến động cơ và bao hàm quyết tâm rằng động cơ đằng sau mọi hoạt động là thiện chí. Động cơ ấy có thể dẫn đến hành động hay lời nói tích cực và đôi khi khó chịu, nhưng vì tính vô tổn hại và thiện chí tác động lên cách tiếp cận trí tuệ, nên không gì có thể xảy ra ngoài điều thiện.

On a higher turn of the spiral, the Hierarchy also employs harmlessness, but it is related to the will-to-good and involves the use of dynamic, electric energy under intuitive direction; this type of energy is never brought into activity by man; it is energy which he cannot yet handle. This type of harmlessness is based on complete self-sacrifice, wherein the will-to-sacrifice, the will-to-good and the will-to-power (three phases of the will aspect, as expressed through the [671] Spiritual Triad) are all fused into one dynamic energy of a deeply spiritual nature. This energy is the epitome of complete or perfect harmlessness, where humanity and the subsidiary kingdoms in nature are concerned, but it is expulsive in its effect and dynamic in its annihilating impact, where the Forces of Evil are concerned.

Ở một vòng xoắn cao hơn, Thánh đoàn cũng sử dụng tính vô tổn hại, nhưng nó liên hệ với Ý Chí-hướng Thiện và bao hàm việc sử dụng năng lượng điện động dưới sự chỉ đạo trực giác; loại năng lượng này không bao giờ được con người đưa vào hoạt động; đó là năng lượng mà y chưa thể xử lý. Loại tính vô tổn hại này dựa trên sự hy sinh bản thân hoàn toàn, trong đó ý chí-hi sinh, Ý Chí-hướng Thiện và ý chí-quyền lực (ba giai đoạn của phương diện ý chí, như được biểu lộ qua [671] Tam Nguyên Tinh Thần) đều được dung hợp thành một năng lượng động duy nhất có bản chất tinh thần sâu xa. Năng lượng này là tinh hoa của tính vô tổn hại trọn vẹn hay hoàn hảo, xét về nhân loại và các giới phụ thuộc trong thiên nhiên, nhưng nó có tác dụng trục xuất và có tác động hủy diệt đầy năng động đối với các Mãnh Lực Ác.

A close but esoteric study of the three temptations of the Christ will reveal three major occasions when the Perfect One, expressing this higher harmlessness, forced the exponent of evil to retreat. This triple episode is symbolically related, but is factual in nature. Little thought has ever been given to what would have been the worldwide effect down the centuries if the Christ had not reacted as He did; speculation is of little use, but it might be stated that the entire course of history and of the evolutionary progress of humanity would have been altered, and in a dire and awful manner. But the dynamic harmlessness, the expression of the will-to-good and the demonstration of the will-to-power (forcing evil to leave Him) marked a most important crisis in the life of the Christ. The Gospel story (with its resume of the five initiations) concerns the progress and triumph of the Master Jesus; the story of the three temptations indicated the taking of a still higher initiation, the sixth, by the Christ; this conferred on Him complete mastery over evil, and not mastery over imperfection; it was because He was the “Perfect One” that He could take this initiation.

Một nghiên cứu gần gũi nhưng huyền bí về ba cám dỗ của Đức Christ sẽ cho thấy ba dịp lớn khi Đấng Toàn Thiện, biểu lộ tính vô tổn hại cao hơn này, đã buộc kẻ đại diện cho điều ác phải rút lui. Giai đoạn tam phân này có liên hệ biểu tượng, nhưng có bản chất sự kiện. Ít ai từng suy nghĩ về ảnh hưởng toàn cầu qua nhiều thế kỷ sẽ ra sao nếu Đức Christ đã không phản ứng như Ngài đã làm; suy đoán ít có ích, nhưng có thể nói rằng toàn bộ tiến trình lịch sử và sự tiến bộ tiến hoá của nhân loại đã bị thay đổi, và theo một cách khủng khiếp, tai hại. Nhưng tính vô tổn hại năng động, sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện và sự chứng minh của ý chí-quyền lực (buộc điều ác rời khỏi Ngài) đã đánh dấu một cuộc khủng hoảng cực kỳ quan trọng trong đời sống của Đức Christ. Câu chuyện Phúc Âm (với phần tóm lược năm lần điểm đạo) liên quan đến sự tiến bộ và chiến thắng của Chân sư Jesus; câu chuyện về ba cám dỗ cho thấy việc Đức Christ tiếp nhận một điểm đạo còn cao hơn nữa, lần thứ sáu; điều này ban cho Ngài quyền làm chủ hoàn toàn đối với điều ác, chứ không phải quyền làm chủ đối với bất toàn; chính vì Ngài là “Đấng Toàn Thiện” mà Ngài có thể tiếp nhận điểm đạo này.

I have given you much for mature consideration and thrown some light upon an initiation of which little, naturally, can be known. I would call your attention also to the three fundamental requirements for a successful approach to this initiation: perfect poise, a completed point of view and divine understanding. You would find it of interest to see how these three qualities work out in relation to the [672] three temptations; in so doing much light would be thrown on the life, nature and character of the Christ.

Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều để suy xét chín chắn và đã soi sáng phần nào về một điểm đạo mà dĩ nhiên ít điều có thể được biết đến. Tôi cũng muốn lưu ý các bạn đến ba yêu cầu căn bản để tiếp cận thành công điểm đạo này: sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm đã hoàn tất và sự thấu hiểu thiêng liêng. Các bạn sẽ thấy thú vị khi xem ba phẩm tính này vận hành như thế nào trong liên hệ với [672] ba cám dỗ; khi làm như vậy, nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào đời sống, bản chất và tính cách của Đức Christ.

Under the Law of Perfection we are given the key to the civilisation and cycle of evolution which He inaugurated—the ideal of which is not lost, though the application of the teaching He gave has been neglected by the churches and by mankind. You will note also that one temptation takes place on the summit of a high mountain; from that elevation both time and space are totally negated, for the vision of Christ ranged from the past, through the present and on into the future. This state of awareness (I cannot call it consciousness, and awareness is almost as inaccurate a word) is only possible after the fifth initiation, reaching a high point of expression at the sixth initiation.

Dưới Định luật Toàn Thiện, chúng ta được trao chiếc chìa khóa cho nền văn minh và chu kỳ tiến hoá mà Ngài đã khai mở—lý tưởng của nó không bị mất đi, dù việc áp dụng giáo huấn mà Ngài đã trao đã bị các giáo hội và nhân loại bỏ bê. Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng một cám dỗ diễn ra trên đỉnh một ngọn núi cao; từ độ cao đó cả thời gian lẫn không gian đều hoàn toàn bị phủ nhận, vì linh thị của Đức Christ trải dài từ quá khứ, xuyên qua hiện tại và đi vào tương lai. Trạng thái nhận biết này (tôi không thể gọi nó là tâm thức, và nhận biết cũng gần như là một từ không chính xác) chỉ có thể có sau lần điểm đạo thứ năm, đạt đến một điểm biểu lộ cao ở lần điểm đạo thứ sáu.

I would like to consider with you the nature of the three requirements presented as essential for a certain initiation, because they provide the link between Law IX and Rule Six. The rule is so clear and concise that it needs but little explanation, emphasising, as it does, energy which must be used and that which must not. It says:

Tôi muốn cùng các bạn xét đến bản chất của ba yêu cầu được trình bày là thiết yếu cho một điểm đạo nhất định, vì chúng cung cấp mối liên kết giữa Định luật IX và Quy luật Sáu. Quy luật này rõ ràng và súc tích đến mức chỉ cần rất ít giải thích, vì nó nhấn mạnh năng lượng nào phải được sử dụng và năng lượng nào không được sử dụng. Nó nói:

RULE SIXQUY LUẬT SÁU

The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will which must be used, but love.

Nhà trị liệu hay nhóm trị liệu phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Không phải ý chí phải được sử dụng, mà là bác ái.

These three basic requirements concern attainment on various planes of the universe; though I dealt with them in connection with the approach to the sixth initiation, they have— on a lower turn of the spiral—their correspondences, and are therefore of practical application by the initiated disciple, particularly one who has taken the third initiation. Let us take them, one by one, into our thinking:

Ba yêu cầu căn bản này liên quan đến thành tựu trên nhiều cõi khác nhau của vũ trụ; dù tôi đã bàn đến chúng trong liên hệ với việc tiếp cận lần điểm đạo thứ sáu, chúng vẫn có—ở một vòng xoắn thấp hơn—những đối ứng của chúng, và do đó có thể được đệ tử được điểm đạo áp dụng một cách thực tiễn, đặc biệt là người đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba. Chúng ta hãy lần lượt đưa chúng vào tư tưởng của mình:

Perfect Poise indicates complete control of the astral body, so that emotional upheavals are overcome, or at [673] least are greatly minimised in the life of the disciple. It indicates also, on the higher turn of the spiral, an ability to function freely on buddhic levels, owing to complete liberation (and consequent poise) from all the influences and impulses which are motived from the three worlds. This type or quality of poise connotes-if you will think deeply-an abstract state of mind; nothing which is regarded as nonperfection can create disturbance. You can realise surely that, if you were entirely free from all emotional reactions, your clarity of mind and your ability to think clearly would be enormously increased, with all that that involves

Sự Quân Bình Hoàn Hảo biểu thị sự kiểm soát hoàn toàn thể cảm dục, để những xáo trộn cảm xúc được vượt qua, hoặc ít [673] nhất được giảm thiểu rất nhiều trong đời sống của đệ tử. Nó cũng biểu thị, ở vòng xoắn cao hơn, một khả năng hoạt động tự do trên các cấp độ Bồ đề, nhờ sự giải thoát hoàn toàn (và do đó là sự quân bình) khỏi mọi ảnh hưởng và xung lực được thúc đẩy từ ba cõi giới. Loại hay phẩm tính quân bình này hàm ý—nếu các bạn suy nghĩ sâu sắc—một trạng thái trí tuệ trừu tượng; không điều gì được xem là bất toàn có thể tạo ra xáo trộn. Chắc hẳn các bạn có thể nhận ra rằng, nếu các bạn hoàn toàn thoát khỏi mọi phản ứng cảm xúc, thì sự sáng suốt của trí tuệ và khả năng suy nghĩ rõ ràng của các bạn sẽ tăng lên vô cùng, cùng với tất cả những gì điều đó bao hàm.

Naturally, the perfect poise of an initiated disciple and that of the initiated Master are different, for one concerns the effect of the three worlds or their non-effect, and the other concerns adaptability to the rhythm of the Spiritual Triad; nevertheless, the earlier type of poise must precede the later achievement, hence my consideration of the subject. This perfect poise (which is a possible achievement for you who read) is arrived at by ruling out the pulls, the urges, impulses and attractions of the astral or emotional nature, and also by the practice of what I have earlier mentioned: Divine Indifference.

Dĩ nhiên, sự quân bình hoàn hảo của một đệ tử được điểm đạo và của một Chân sư được điểm đạo là khác nhau, vì một bên liên quan đến tác động của ba cõi giới hay sự không tác động của chúng, còn bên kia liên quan đến khả năng thích ứng với nhịp điệu của Tam Nguyên Tinh Thần; tuy nhiên, loại quân bình trước phải đi trước thành tựu sau, do đó tôi mới xét đến chủ đề này. Sự quân bình hoàn hảo này (là một thành tựu có thể có đối với các bạn đang đọc) đạt được bằng cách loại trừ những sức kéo, những thôi thúc, xung lực và hấp lực của bản chất cảm dục hay cảm xúc, và cũng bằng việc thực hành điều mà trước đây tôi đã đề cập: Điềm nhiên thiêng liêng.

A Completed Point of View. This necessarily and primarily refers to the universal outlook of the Monad, and therefore to an initiate of the higher degrees. It can, however, be interpreted on a lower rung of the ladder of evolution and refers to the function of the soul as an Observer in the three worlds and the completed all-round picture such an observer gradually attains. This is brought about by the development of the two qualities of detachment and discrimination. These two qualities, [674] when expressed on the Way to the Higher Evolution, become Abstraction and the Will-to-good.

Một Quan Điểm Hoàn Chỉnh. Điều này tất yếu và trước hết ám chỉ quan điểm phổ quát của chân thần, và vì thế ám chỉ một điểm đạo đồ ở các cấp cao. Tuy nhiên, nó có thể được diễn giải ở một nấc thấp hơn trên chiếc thang tiến hoá và ám chỉ chức năng của linh hồn như một Đấng Quan Sát trong ba cõi giới và bức tranh toàn diện hoàn chỉnh mà một đấng quan sát như thế dần dần đạt được. Điều này được mang lại nhờ sự phát triển của hai phẩm tính là tách rời và phân biện. Hai phẩm tính này, [674] khi được biểu lộ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, trở thành Sự Trừu Xuất và Ý Chí-hướng Thiện.

A completed point of view-as experienced on soul levels—indicates the removal of all barriers and the freedom of the disciple from the great heresy of separateness; he has therefore created an unclogged channel for the inflow of pure love. Perfect poise, viewed from the same level, has removed all impediments and those emotional factors which have hitherto blocked the channel, thus preparing the way for the Observer to see truly; the disciple then functions as a clear channel for love.

Một quan điểm hoàn chỉnh—như được kinh nghiệm trên các cấp độ linh hồn—cho thấy sự loại bỏ mọi rào cản và sự giải thoát của đệ tử khỏi Đại Tà thuyết về tính tách biệt; vì thế y đã tạo ra một kênh thông suốt cho dòng bác ái thuần khiết tuôn vào. Sự quân bình hoàn hảo, khi được nhìn từ cùng cấp độ ấy, đã loại bỏ mọi chướng ngại và những yếu tố cảm xúc từ trước đến nay đã ngăn chặn kênh này, nhờ đó chuẩn bị con đường để Đấng Quan Sát thấy đúng thật; khi ấy đệ tử hoạt động như một kênh trong sáng cho bác ái.

Divine Understanding must also be studied from two points of view. As a soul quality, it indicates a mind which can be held steady in the light, and can therefore reflect the pure reason (pure love) which qualifies the reflections of the Son of Mind, the soul on its own plane. On the higher Way of the Master, it relates to that identification which supersedes the individualistic consciousness; all barriers have gone, and the initiate sees things as they are; he knows the causes of which all phenomena are the ephemeral effects. This, consequently, enables Him to understand the Purpose, as it emanates from Shamballa, just as the lesser initiate understands the Plan as it is formulated by the Hierarchy.

Sự Thấu Hiểu thiêng liêng cũng phải được nghiên cứu từ hai quan điểm. Với tư cách là một phẩm tính của linh hồn, nó cho thấy một trí tuệ có thể được giữ vững trong ánh sáng, và vì thế có thể phản chiếu lý trí thuần khiết (bác ái thuần khiết), vốn tạo phẩm tính cho những phản chiếu của Con của Trí Tuệ, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. Trên Con đường cao hơn của Chân sư, nó liên hệ đến sự đồng hoá vượt lên trên tâm thức cá nhân chủ nghĩa; mọi rào cản đều đã biến mất, và điểm đạo đồ thấy sự vật đúng như chúng là; y biết các nguyên nhân mà mọi hiện tượng chỉ là những hiệu quả phù du của chúng. Do đó, điều này giúp Ngài thấu hiểu Thiên Ý, như nó xuất lộ từ Shamballa, cũng như điểm đạo đồ thấp hơn thấu hiểu Thiên Cơ như nó được Thánh Đoàn hoạch định.

All three of these divine attributes are, in some measure, essential in the development of the initiate-healer; he must work at their unfoldment as part of his necessary equipment; he must know that all reactions of an emotional nature create a wall or barrier between the free flow of healing force and the patient, and that the barrier is created by him and not by the patient. The emotions of the [675] patient should have no effect upon the healer and should fail to deviate him from the intense concentration needed for his work; these emotions of the patient cannot in themselves create a barrier strong enough to deflect the healing force.

Cả ba thuộc tính thiêng liêng này, ở một mức độ nào đó, đều thiết yếu cho sự phát triển của điểm đạo đồ chữa lành; y phải nỗ lực khai mở chúng như một phần trong trang bị cần thiết của mình; y phải biết rằng mọi phản ứng có bản chất cảm xúc đều tạo ra một bức tường hay rào cản giữa dòng chảy tự do của mãnh lực chữa lành và bệnh nhân, và rằng rào cản ấy do chính y tạo ra chứ không phải do bệnh nhân. Những cảm xúc của [675] bệnh nhân không nên có ảnh hưởng nào lên người chữa lành và không được làm y lệch khỏi sự tập trung mãnh liệt cần thiết cho công việc của mình; tự bản thân những cảm xúc ấy của bệnh nhân không thể tạo ra một rào cản đủ mạnh để làm chệch hướng mãnh lực chữa lành.

A completed point of view involves at least the attempt by the disciple to penetrate into the world of causes, and thus learn (if possible) what it is that is responsible for the disease of the patient. This need not involve penetration into previous incarnations, nor is that essential, in spite of what some modern and generally fraudulent healers may claim. There is usually enough psychological evidence, or indications of inherited tendencies, to give the healer his clue and to enable him to get a somewhat complete picture of the situation. It is obvious that this “penetration” into the causes of the trouble will only be possible if the healer loves enough; because he loves, he has achieved a poise which brings negation to the world of illusion and of glamour. Divine understanding is simply the application of the principle of pure love (pure reason) to all men and to all circumstances, plus right interpretation of the existing difficulties of the patient, or of those which may exist between patient and healer.

Một quan điểm hoàn chỉnh ít nhất bao hàm nỗ lực của đệ tử nhằm thâm nhập vào thế giới của các nguyên nhân, và nhờ đó học biết (nếu có thể) điều gì chịu trách nhiệm về bệnh tật của bệnh nhân. Điều này không nhất thiết bao hàm việc thâm nhập vào các kiếp trước, và điều đó cũng không thiết yếu, bất chấp điều mà một số người chữa lành hiện đại và nói chung là giả trá có thể tuyên bố. Thường thường có đủ bằng chứng tâm lý học, hoặc những dấu hiệu về các khuynh hướng di truyền, để cho người chữa lành đầu mối của mình và giúp y có được một bức tranh phần nào hoàn chỉnh về tình huống. Hiển nhiên là sự “thâm nhập” vào các nguyên nhân của rắc rối này sẽ chỉ có thể nếu người chữa lành yêu thương đủ nhiều; bởi vì y yêu thương, y đã đạt được một sự quân bình mang lại sự phủ định cho thế giới của ảo tưởng và ảo cảm. Sự thấu hiểu thiêng liêng đơn giản là việc áp dụng nguyên khí của bác ái thuần khiết (lý trí thuần khiết) cho mọi người và mọi hoàn cảnh, cộng với sự diễn giải đúng đắn những khó khăn hiện có của bệnh nhân, hoặc của những khó khăn có thể tồn tại giữa bệnh nhân và người chữa lành.

To these requirements I would like to add another factor: that of the doctor, physician or surgeon who is physically responsible for the patient. In the coming new era, the healer will work always with the scientific aid of the trained medical man; this is a factor which causes bewilderment, at present, to the average modern healer belonging to some cult or expressing some unorthodox phase of healing.

Vào những đòi hỏi này, tôi muốn thêm một yếu tố khác: đó là bác sĩ, y sĩ hay phẫu thuật viên chịu trách nhiệm về mặt thể xác đối với bệnh nhân. Trong kỷ nguyên mới đang đến, người chữa lành sẽ luôn luôn làm việc với sự trợ giúp khoa học của nhà y khoa được đào tạo; hiện nay, đây là một yếu tố gây bối rối cho người chữa lành hiện đại trung bình thuộc một giáo phái nào đó hoặc biểu lộ một phương diện chữa lành không chính thống nào đó.

It will therefore be apparent how these three divine requirements (when stepped down for the use of the disciple in the modern world) indicate a line of training or of self-discipline [676] to which all should apply themselves. When they have mastered even some of the earliest phases of this triple achievement, they will find that they can apply Rule Six with ease.

Do đó, sẽ thấy rõ ba đòi hỏi thiêng liêng này (khi được hạ xuống để đệ tử trong thế giới hiện đại sử dụng) cho thấy một đường lối huấn luyện hay tự kỷ luật [676] mà tất cả nên áp dụng cho chính mình. Khi họ đã làm chủ được dù chỉ một vài giai đoạn sớm nhất của thành tựu tam phân này, họ sẽ thấy rằng họ có thể áp dụng quy luật Sáu một cách dễ dàng.

What is meant by the words “to keep the will in leash”? The will aspect here considered is not that of the will-to-good and its lower expression goodwill. The will-to-good signifies the stable, immovable orientation of the initiated disciple, whilst goodwill can be regarded as its expression in daily service. The will-to-good, as expressed by a higher initiate, is a dynamic energy having predominantly a group effect; for this reason, the higher initiates seldom concern themselves with the healing of an individual. Their work is too potent and too important to permit them to do so, and the will energy, embodying as it does divine Purpose, might prove destructive in its effects upon an individual. The patient would not be able to receive or absorb it. It is, however, assumed that goodwill colours the entire attitude and thinking of the healing disciple.

Những lời “giữ ý chí trong vòng kiềm chế” có nghĩa là gì? Phương diện ý chí được xét ở đây không phải là phương diện của Ý Chí-hướng Thiện và biểu hiện thấp hơn của nó là thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện biểu thị sự định hướng ổn định, bất lay chuyển của đệ tử được điểm đạo, trong khi thiện chí có thể được xem như biểu hiện của nó trong phụng sự hằng ngày. Ý Chí-hướng Thiện, như được biểu lộ bởi một điểm đạo đồ cao hơn, là một năng lượng năng động có tác động chủ yếu lên nhóm; vì lý do này, các điểm đạo đồ cao hiếm khi bận tâm đến việc chữa lành cho một cá nhân. Công việc của Các Ngài quá mạnh mẽ và quá quan trọng để cho phép Các Ngài làm như vậy, và năng lượng ý chí, vì nó hiện thân cho Thiên Ý, có thể tỏ ra có tác động hủy diệt đối với một cá nhân. Bệnh nhân sẽ không thể tiếp nhận hay hấp thụ nó. Tuy nhiên, giả định rằng thiện chí nhuốm màu toàn bộ thái độ và tư tưởng của đệ tử chữa lành.

The will which must be kept in leash is the will of the personality which, in the case of the initiated disciple, is of a very high order. It also relates to the will of the soul, emanating from the petals of sacrifice in the egoic lotus. All true healers have to create a healing thoughtform, and through this they consciously or unconsciously work. It is this thoughtform which must be kept free from a too powerful use of the will, for it can (unless held in leash, stepped down, modified or, if needed, eliminated altogether) destroy not only the thoughtform created by the healer, but it can also build a barrier between healer and patient; the initial rapport is thus broken. Only a Christ can heal by the use of the will, and He seldom in reality healed at all; in the cases where He is reported to have done so, His reason was to prove the possibility of healing; but-as you will [677] note if you are familiar with the Gospel story—He gave no instructions to His disciples upon the art of healing. This is significant.

Ý chí phải được giữ trong vòng kiềm chế là ý chí của phàm ngã, mà trong trường hợp của đệ tử được điểm đạo, thuộc một trật tự rất cao. Nó cũng liên hệ đến ý chí của linh hồn, phát ra từ các cánh hoa hi sinh trong Hoa Sen Chân Ngã. Mọi người chữa lành chân chính đều phải tạo ra một Hình tư tưởng chữa lành, và thông qua đó họ làm việc một cách hữu thức hay vô thức. Chính Hình tư tưởng này phải được giữ cho khỏi bị sử dụng ý chí quá mạnh, vì nó có thể (trừ phi được kiềm chế, hạ xuống, điều chỉnh hoặc, nếu cần, loại bỏ hoàn toàn) hủy diệt không chỉ Hình tư tưởng do người chữa lành tạo ra, mà còn có thể dựng nên một rào cản giữa người chữa lành và bệnh nhân; do đó sự giao cảm ban đầu bị phá vỡ. Chỉ một Đức Christ mới có thể chữa lành bằng việc sử dụng ý chí, và trên thực tế Ngài hiếm khi chữa lành chút nào; trong những trường hợp có ghi lại rằng Ngài đã làm như vậy, lý do của Ngài là để chứng minh khả năng chữa lành; nhưng—như bạn sẽ [677] lưu ý nếu bạn quen thuộc với câu chuyện Phúc Âm—Ngài không đưa ra chỉ dẫn nào cho các đệ tử của Ngài về nghệ thuật chữa lành. Điều này đầy ý nghĩa.

The self-will (no matter of how high a quality) of the healer, and his determined effort to heal the patient, create a tension in the healer which can seriously deflect the healing current of energy. When this type of will is present, as it frequently is in the inexperienced healer or the non-initiated healer, the healer is apt to absorb the patient’s difficulty and will experience symptoms of the trouble and the pain. His willful determination to be of help acts like a boomerang and he suffers, whilst the patient is not really helped.

Ý chí cá nhân (dù có phẩm tính cao đến đâu) của người chữa lành, và nỗ lực cương quyết của y nhằm chữa lành bệnh nhân, tạo ra một sự căng thẳng nơi người chữa lành có thể làm chệch hướng nghiêm trọng dòng năng lượng chữa lành. Khi loại ý chí này hiện diện, như thường xảy ra nơi người chữa lành thiếu kinh nghiệm hoặc người chữa lành chưa được điểm đạo, người chữa lành dễ hấp thụ khó khăn của bệnh nhân và sẽ kinh nghiệm các triệu chứng của bệnh và cơn đau. Sự quyết tâm đầy ý chí của y muốn giúp đỡ hoạt động như một chiếc boomerang và y phải chịu đau khổ, trong khi bệnh nhân thực sự không được giúp đỡ.

So the instruction is to use love, and here a major difficulty emerges. How can the healer use love, freed from its emotional or lower quality, and bring it through in its pure state for the healing of the patient? Only as the healer has cultivated the three requirements, and has therefore developed himself as a pure channel. He is apt to be so preoccupied with himself, with the definition of love, and with the determination to heal the patient that the three requirements are neglected. Then both he and the patient are wasting each other’s time. He need not brood or worry about the nature of pure love, or endeavour too ardently to understand how pure reason and pure love are synonymous terms, or whether he can show sufficient love to effect a healing. Let him ponder on the three requirements, particularly the first, and let him fulfill within himself these three requirements as far as in him lies and his point in evolution permits. He will then become a pure channel and the hindrances to the inflow of pure love will be automatically removed for “as a man thinketh in his heart so is he”; then, without obstruction or difficulty pure love will pour through him and the patient will be healed—if such is the law for him.

Vì vậy, chỉ dẫn là hãy dùng bác ái, và ở đây một khó khăn lớn xuất hiện. Làm sao người chữa lành có thể dùng bác ái, được giải thoát khỏi phẩm tính cảm xúc hay thấp của nó, và chuyển nó qua trong trạng thái thuần khiết để chữa lành bệnh nhân? Chỉ khi người chữa lành đã vun bồi ba đòi hỏi ấy, và vì thế đã phát triển chính mình thành một kênh thuần khiết. Y dễ bị bận tâm quá mức về chính mình, về định nghĩa của bác ái, và về quyết tâm chữa lành bệnh nhân đến nỗi ba đòi hỏi ấy bị sao lãng. Khi đó cả y lẫn bệnh nhân đều đang lãng phí thời gian của nhau. Y không cần phải trầm tư hay lo lắng về bản chất của bác ái thuần khiết, hoặc cố gắng quá mức để hiểu cách nào lý trí thuần khiết và bác ái thuần khiết là những thuật ngữ đồng nghĩa, hay liệu y có thể biểu lộ đủ bác ái để tạo ra một sự chữa lành hay không. Hãy để y suy ngẫm về ba đòi hỏi ấy, đặc biệt là đòi hỏi thứ nhất, và hãy để y hoàn thành trong chính mình ba đòi hỏi này xa đến mức khả năng của y và điểm tiến hoá của y cho phép. Khi ấy y sẽ trở thành một kênh thuần khiết và những chướng ngại đối với dòng bác ái thuần khiết tuôn vào sẽ tự động được loại bỏ vì “con người nghĩ trong tim mình thế nào thì y là thế ấy”; khi đó, không có cản trở hay khó khăn, bác ái thuần khiết sẽ tuôn qua y và bệnh nhân sẽ được chữa lành—nếu đó là định luật đối với y.

[678]

[678]

We come now to the final and the most mysterious law of all that I have given you. I called your attention to it earlier, and there pointed out that this “last law is an enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death, and which has reference only to those found upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.” By these later stages I refer to the period after the second initiation and prior to taking the third. This law does not apply in any way as long as the emotional nature can disturb the clear rhythm of the personality as it responds to the impact of soul energy, and later to monadic. There is not, therefore, a great deal that I can make clear to you as regards the full working of this law, but I can indicate certain most interesting ideas and correspondences; these will foster in you constructive speculative thinking, yet at the same time they embody proven facts for those of us who are initiated disciples of the Christ or of Sanat Kumara.

Giờ đây chúng ta đi đến định luật cuối cùng và huyền nhiệm nhất trong tất cả những định luật mà tôi đã trao cho các bạn. Tôi đã lưu ý các bạn đến nó từ trước, và ở đó đã chỉ ra rằng “định luật cuối cùng này là sự phát biểu của một định luật mới được thay thế cho Định luật Tử Vong, và chỉ liên quan đến những ai ở trên các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.” Bởi các giai đoạn sau này, tôi muốn nói đến thời kỳ sau lần điểm đạo thứ hai và trước khi nhận lần điểm đạo thứ ba. Định luật này hoàn toàn không áp dụng chừng nào bản chất cảm xúc còn có thể làm xáo trộn nhịp điệu rõ ràng của phàm ngã khi nó đáp ứng với tác động của năng lượng linh hồn, và về sau là năng lượng chân thần. Vì vậy, không có nhiều điều tôi có thể làm sáng tỏ cho các bạn liên quan đến sự vận hành đầy đủ của định luật này, nhưng tôi có thể chỉ ra một số ý tưởng và tương ứng rất lý thú; những điều này sẽ nuôi dưỡng trong các bạn tư duy suy đoán có tính xây dựng, đồng thời chúng hiện thân cho những sự kiện đã được chứng minh đối với những người như chúng tôi là các đệ tử được điểm đạo của Đức Christ hay của Đức Sanat Kumara.

LAW XĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind then organises itself and then repeats the Word: The waiting form responds and drops away. The soul stands free.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi đến từ Người Con gửi đến Người Mẹ, rồi hãy tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự xong mục đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ: Hình tướng đang chờ đáp ứng và rơi rụng đi. Linh hồn đứng tự do.

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi đến trong khối cầu của nghĩa vụ; hãy nhận biết tiếng gọi, xuất hiện từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống, và nhờ đó cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết. Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và hoa trái của mọi kinh nghiệm. Đó là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp lại.

[679]

[679]

This Law X is the forerunner of many new laws concerning the relation of soul to form or of spirit to matter; this one is given first for two reasons:

Định luật X này là tiền thân của nhiều định luật mới liên quan đến mối quan hệ giữa linh hồn và hình tướng hay giữa tinh thần và vật chất; định luật này được đưa ra trước tiên vì hai lý do:

1. It can be applied by disciples and thus proven to be true to the mass of men, and above all, to the scientific world.

1. Nó có thể được các đệ tử áp dụng và nhờ đó được chứng minh là chân thật đối với quần chúng, và trên hết là đối với thế giới khoa học.

2. In the mass of testimony and in the type of death (called at this stage “transference”) the fact of the Hierarchy and of Shamballa can be established.

2. Trong khối lượng chứng cứ và trong loại tử vong (ở giai đoạn này được gọi là “chuyển dịch”), sự kiện về Thánh Đoàn và về Shamballa có thể được xác lập.

There are three sources of the abstraction which we call “death” if we exclude accident (which may be incident to other people’s karma), war (which involves planetary karma) and natural catastrophes (which are connected entirely with the body of manifestation of the One in Whom we live and move and have our being).

Có ba nguồn của sự trừ xuất mà chúng ta gọi là “cái chết” nếu loại trừ tai nạn (có thể là do nghiệp quả của người khác), chiến tranh (liên quan đến nghiệp quả hành tinh) và các thảm họa thiên nhiên (hoàn toàn gắn với thể biểu hiện của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu).

I might pause here at this thought and make somewhat clearer to you the distinction between this “unknown God,” who expresses himself through the planet as a whole, and Sanat Kumara in His high place at Shamballa. Sanat Kumara is in Himself the essential Identity, responsible for the manifested worlds, but so great is His command of energies and forces—owing to His cosmic unfoldment that He requires the entire planet through which to express all that He is. Having the full consciousness of the cosmic astral plane and of the cosmic mental plane, He can apply energies and forces-under cosmic law—which create, sustain and utilise, for the ends of His divine Purpose, the entire planet. He animates the planet with His life; He sustains the planet and all that is in or on it through His soul quality, which He imparts in varying measure to every form; He creates continuously the new forms needed to express the “life more abundantly” and the “increasing purpose of His will” which the progress of the ages makes [680] cyclically possible. We live at this time in a cycle wherein His intense activity is utilising the technique of divine destruction for the release of the spiritual life, and He is simultaneously creating the new structure of civilisation which will express more fully the evolutionary attainment of the planet and the kingdoms in nature, leading eventually to the perfect expression of His divine life and purpose.

Tôi có thể dừng lại ở đây nơi tư tưởng này và làm cho các bạn hiểu rõ hơn phần nào sự phân biệt giữa “Thượng đế vô danh” này, Đấng biểu lộ chính mình qua toàn thể hành tinh, và Đức Sanat Kumara ở địa vị cao cả của Ngài tại Shamballa. Đức Sanat Kumara tự thân là Bản Sắc cốt yếu, chịu trách nhiệm về các thế giới biểu hiện, nhưng quyền năng của Ngài đối với các năng lượng và mãnh lực lớn lao đến mức—do sự khai mở vũ trụ của Ngài—Ngài cần đến toàn thể hành tinh để biểu lộ tất cả những gì Ngài là. Với tâm thức trọn vẹn của cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ, Ngài có thể vận dụng các năng lượng và mãnh lực—dưới định luật vũ trụ—những thứ tạo ra, duy trì và sử dụng, cho các mục đích của Thiên Ý của Ngài, toàn thể hành tinh. Ngài làm sinh động hành tinh bằng sự sống của Ngài; Ngài duy trì hành tinh và mọi sự trong hay trên đó qua phẩm tính linh hồn của Ngài, điều mà Ngài truyền đạt với mức độ khác nhau cho mọi hình tướng; Ngài liên tục tạo ra những hình tướng mới cần thiết để biểu lộ “sự sống dồi dào hơn” và “mục đích ngày càng tăng của ý chí Ngài” mà sự tiến bộ của các thời đại làm cho [680] có thể theo chu kỳ. Hiện nay chúng ta đang sống trong một chu kỳ mà hoạt động mãnh liệt của Ngài đang sử dụng kỹ thuật hủy diệt thiêng liêng để giải phóng sự sống tinh thần, đồng thời Ngài đang tạo ra cấu trúc mới của nền văn minh sẽ biểu lộ đầy đủ hơn thành tựu tiến hoá của hành tinh và các giới trong thiên nhiên, cuối cùng dẫn đến sự biểu lộ hoàn hảo của sự sống và mục đích thiêng liêng của Ngài.

It would perhaps be wise if we took this tenth Law somewhat in detail, where possible, so as to arrive at the synthesis which it is intended to convey: we will thus gain some realisation that death itself is a part of the creative process of synthesising. It is essential that new ideas and a new approach to the entire problem of dying are inaugurated.

Có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta xét định luật thứ mười này phần nào chi tiết, ở nơi nào có thể, để đi đến sự tổng hợp mà nó được dự định truyền đạt: nhờ đó chúng ta sẽ đạt được một sự chứng nghiệm nào đó rằng chính cái chết là một phần của tiến trình sáng tạo mang tính tổng hợp. Điều thiết yếu là những ý tưởng mới và một cách tiếp cận mới đối với toàn bộ vấn đề chết phải được khởi xướng.

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi đến từ Người Con gửi đến Người Mẹ, rồi hãy tuân theo.

Even whilst we realise from the context that this refers to the discarding of the physical body, it is useful to remember that this form of wording can signify much more than that. It can be interpreted to mean the entire relation of soul and personality, and to involve the prompt obedience of the Mother (the personality) to the Son (the soul). Without his prompt obedience, involving as it does the recognition of the informing Voice, the personality will remain deaf to the call of the soul to relinquish the body. No habitual response has been developed. I would ask you to ponder on the implications.

Ngay cả khi chúng ta nhận ra từ văn cảnh rằng điều này ám chỉ việc bỏ đi thể xác, vẫn hữu ích khi nhớ rằng cách diễn đạt này có thể hàm ý nhiều hơn thế. Nó có thể được diễn giải là toàn bộ mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, và bao hàm sự tuân phục mau lẹ của Người Mẹ (phàm ngã) đối với Người Con (linh hồn). Nếu không có sự tuân phục mau lẹ ấy, vốn bao hàm sự nhận biết Tiếng Nói đang thấm nhuần, phàm ngã sẽ vẫn điếc trước tiếng gọi của linh hồn yêu cầu từ bỏ thể xác. Chưa có sự đáp ứng theo thói quen nào được phát triển. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về những hàm ý này.

I am, I know, recapitulating when I point out that the Mother aspect is the material aspect and the soul—on its own plane—is the Son. This injunction, therefore, concerns the relation of matter and soul, and thus lays the foundation for all the relationships which the disciple has to learn to recognise. Obedience is not here enforced; [681] it is contingent upon hearing; then obedience follows as the next development. This is an easier process, little as you may think it. This distinction, relative to the process of obedience, is interesting because the process of learning by hearing is always slow and is one of the qualities or aspects of the stage of orientation. Learning by sight is definitely connected with the Path of Discipleship, and any who wish to become wise and true workers must learn to distinguish between the hearers and those who see. A realisation of the difference would lead to basic changes in technique. In the one case, you are working with those who are definitely under the influence and control of the Mother, and who need to be trained to see. In the other, you are dealing with those who have heard and who are developing the spiritual correspondence of sight. They are therefore susceptible to the vision.

Tôi biết rằng tôi đang nhắc lại khi chỉ ra rằng phương diện Mẹ là phương diện vật chất và linh hồn—trên cõi riêng của nó—là Người Con. Vì vậy, mệnh lệnh này liên quan đến mối quan hệ giữa vật chất và linh hồn, và nhờ đó đặt nền tảng cho mọi mối quan hệ mà đệ tử phải học để nhận biết. Sự tuân phục ở đây không bị cưỡng bách; [681] nó tùy thuộc vào việc nghe thấy; rồi sự tuân phục theo sau như bước phát triển kế tiếp. Đây là một tiến trình dễ hơn, dù bạn có thể nghĩ ít như thế nào đi nữa. Sự phân biệt này, liên quan đến tiến trình tuân phục, thật lý thú vì tiến trình học bằng nghe luôn luôn chậm và là một trong những phẩm tính hay phương diện của giai đoạn định hướng. Học bằng thấy rõ ràng gắn với Con Đường Đệ Tử, và bất kỳ ai muốn trở thành người hoạt động khôn ngoan và chân chính đều phải học cách phân biệt giữa những người nghe và những người thấy. Sự nhận ra khác biệt ấy sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản trong kỹ thuật. Trong trường hợp thứ nhất, bạn đang làm việc với những người rõ ràng còn ở dưới ảnh hưởng và sự kiểm soát của Người Mẹ, và cần được huấn luyện để thấy. Trong trường hợp thứ hai, bạn đang xử lý những người đã nghe và đang phát triển sự tương ứng tinh thần của thị giác. Vì thế họ dễ tiếp nhận linh ảnh.

The Word goes forth that form has served its purpose.

Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự xong mục đích của nó.

This word, or this “spiritual proclamation” of the soul, may have a twofold purpose: it may produce death, or it may simply result in a withdrawal of the soul from its instrument, the threefold personality. This might consequently result in leaving the form uninformed and without any dweller in the body. When this happens the personality (and by this I mean the physical, astral and mental man) will continue to function. If it is of a high grade quality, very few people will realise that the soul is absent. This frequently happens in old age or serious illness, and it may persist for years. It sometimes happens where infants are concerned, and you then have either death or imbecility, as there has been no time to train the lower personality vehicles. A little thinking along the lines of this “forthgoing Word” will throw much light on circumstances which are [682] regarded as baffling, and on states of consciousness which have hitherto constituted almost insoluble problems.

Linh từ này, hay “sự tuyên cáo tinh thần” này của linh hồn, có thể có mục đích nhị phân: nó có thể tạo ra cái chết, hoặc chỉ đơn giản dẫn đến sự rút lui của linh hồn khỏi công cụ của nó, tức phàm ngã tam phân. Do đó, điều này có thể dẫn đến việc để lại hình tướng không được thấm nhuần và không có người cư ngụ trong thể. Khi điều này xảy ra, phàm ngã (và bởi điều này tôi muốn nói con người hồng trần, cảm dục và trí tuệ) sẽ tiếp tục hoạt động. Nếu nó có phẩm tính cao, rất ít người sẽ nhận ra rằng linh hồn vắng mặt. Điều này thường xảy ra trong tuổi già hoặc bệnh nặng, và có thể kéo dài nhiều năm. Đôi khi điều này xảy ra nơi trẻ sơ sinh, và khi ấy bạn có hoặc cái chết hoặc sự đần độn, vì chưa có thời gian để huấn luyện các vận cụ phàm ngã thấp. Một chút suy nghĩ theo đường hướng của “Linh từ phát ra” này sẽ soi sáng nhiều hoàn cảnh vốn [682] được xem là khó hiểu, và những trạng thái tâm thức từ trước đến nay gần như tạo thành những vấn đề không thể giải quyết.

The principle of mind then organises itself and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away.

Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đáp ứng và rơi rụng đi.

In the aspect of death here dealt with it is the mind which acts as the agent of authority, transmitting to the brain (where the thread of consciousness is located) the instructions to vacate. This is then passed on by the man in the body to the heart (where the life thread is anchored), and then—as you well know—the process of withdrawal begins. What transpires in those timeless moments prior to death no one as yet knows, for no one has returned to tell us. If they had done so, the question is: Would they have been believed? The probability is that they would not.

Trong phương diện của cái chết được bàn đến ở đây, chính trí tuệ hoạt động như tác nhân của thẩm quyền, truyền đến bộ não (nơi sợi dây tâm thức tọa lạc) chỉ thị phải rời bỏ. Điều này sau đó được con người trong thể chuyển đến tim (nơi Sinh Mệnh Tuyến được neo giữ), và rồi—như các bạn đều biết rõ—tiến trình rút lui bắt đầu. Điều gì xảy ra trong những khoảnh khắc phi thời gian trước cái chết thì cho đến nay chưa ai biết, vì chưa ai quay lại để kể cho chúng ta. Nếu họ đã làm như vậy, câu hỏi là: liệu họ có được tin không? Khả năng là không.

The first paragraph of this Law X deals with the passing out from the body (meaning the form aspect of the threefold lower man) of the average intelligent aspirant, looking at this law from one of its lowest correspondences; however, under the same Law of Correspondences, the death of all men, from the lowest type of man up to and inclusive of the aspirant, is basically distinguished by the same identical process; the difference exists in the degree of consciousness evidenced—consciousness of process and intention. The result is the same in all cases:

Đoạn đầu tiên của Định luật X này bàn về việc ra khỏi thể (nghĩa là phương diện hình tướng của phàm nhân tam phân thấp) của người chí nguyện thông minh trung bình, khi nhìn định luật này từ một trong những tương ứng thấp nhất của nó; tuy nhiên, theo cùng định luật tương ứng, cái chết của mọi người, từ loại người thấp nhất cho đến và bao gồm cả người chí nguyện, về căn bản được phân biệt bởi cùng một tiến trình y hệt; sự khác biệt nằm ở mức độ tâm thức được biểu lộ—tâm thức về tiến trình và ý định. Kết quả là như nhau trong mọi trường hợp:

The soul stands free.

Linh hồn đứng tự do.

This moment of true freedom can be brief and fleeting as in the case of the undeveloped man, or it can be of long duration, according to the usefulness of the aspirant upon the inner planes; with this I have earlier dealt and have no need to repeat myself here. Progressively, as the urges and influences of the three lower levels of consciousness [683] weaken their hold, the period of dissociation becomes longer and longer, and is characterised by a developing clarity of thought and by a recognition of essential being, and this in progressive stages. This clarity and progress may not be brought through into full realisation or expression when rebirth again takes place, for the limitations imposed by the dense physical body are excessive; nevertheless, each life sees a steady growth in sensitivity, and also the storing up of esoteric information, using the word “esoteric” to signify all that does not concern normal form life or the average consciousness of man in the three worlds.

Khoảnh khắc tự do đích thực này có thể ngắn ngủi và thoáng qua như trong trường hợp của người chưa phát triển, hoặc có thể kéo dài lâu, tùy theo mức độ hữu dụng của người chí nguyện trên các cõi bên trong; điều này tôi đã bàn đến trước đây và không cần lặp lại ở đây. Dần dần, khi các thúc đẩy và ảnh hưởng của ba cấp độ tâm thức thấp [683] suy yếu sự nắm giữ của chúng, thời kỳ phân ly trở nên ngày càng dài hơn, và được đặc trưng bởi sự sáng tỏ tư tưởng ngày càng phát triển cùng với sự nhận biết bản thể cốt yếu, và điều này theo các giai đoạn tiến triển. Sự sáng tỏ và tiến bộ này có thể không được mang vào sự chứng nghiệm hay biểu lộ đầy đủ khi tái sinh lại diễn ra, vì những giới hạn do thể xác đậm đặc áp đặt là quá lớn; tuy nhiên, mỗi kiếp sống đều chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn về tính nhạy cảm, và cả sự tích lũy thông tin huyền bí, dùng từ “huyền bí” để chỉ tất cả những gì không liên quan đến đời sống hình tướng bình thường hay tâm thức trung bình của con người trong ba cõi giới.

Esoteric living (as it develops) falls into three stages, broadly speaking; these are carried forward within the consciousness of the man and parallel the recognition and ordinary aspects of form life on the three levels of experience:

Đời sống huyền bí (khi nó phát triển) rơi vào ba giai đoạn, nói một cách khái quát; những giai đoạn này được tiến hành trong tâm thức của con người và song hành với sự nhận biết và các phương diện thông thường của đời sống hình tướng trên ba cấp độ kinh nghiệm:

1. The stage of reception of concepts, of ideas and of principles, thus gradually asserting the existence of the abstract mind.

1. Giai đoạn tiếp nhận các khái niệm, các ý tưởng và các nguyên khí, nhờ đó dần dần khẳng định sự hiện hữu của trí trừu tượng.

2. The stage of “light reception,” or that period when spiritual insight is developed, when the vision is seen and accepted as true, and when the intuition or “buddhic perception” is unfolded. This carries with it the assertion as to the existence of the Hierarchy.

2. Giai đoạn “tiếp nhận ánh sáng,” hay thời kỳ khi linh thị tinh thần được phát triển, khi linh ảnh được thấy và được chấp nhận là chân thật, và khi trực giác hay “tri giác Bồ đề” được khai mở. Điều này kéo theo sự khẳng định về sự hiện hữu của Thánh Đoàn.

3. The stage of abstraction, or the period wherein complete orientation is brought about, the way into the Ashram is made clear, and the disciple begins to build the antahkarana between the personality and the Spiritual Triad. It is in this stage that the nature of the will is dimly seen, carrying with its recognition the implication that there is a “centre where the will of God is known.”

3. Giai đoạn trừ xuất, hay thời kỳ trong đó sự định hướng hoàn chỉnh được mang lại, con đường vào ashram được làm cho rõ ràng, và đệ tử bắt đầu xây dựng antahkarana giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần. Chính trong giai đoạn này mà bản chất của ý chí được thấy mờ nhạt, và cùng với sự nhận biết ấy là hàm ý rằng có một “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến.”

[684]

[684]

Students are apt to think that death ends things, whereas from the angle of termination we are dealing with values which are persistent, with which there is no interference, nor can there be any, and which hold within themselves the seeds of immortality. I would have you ponder on this and know that everything that is of true spiritual value is persistent, ageless, immortal and eternal. Only that dies which is valueless, and—from the standpoint of humanity—that means those factors which emphasise and assume importance where the form is concerned. But those values which are based on principle and not upon the detail of appearance have in them that undying principle which leads a man from the “gates of nativity, through the gates of perception, to the gates of purpose”—as the Old Commentary expresses it.

Đạo sinh dễ nghĩ rằng cái chết chấm dứt mọi sự, trong khi từ góc độ của sự chấm dứt chúng ta đang bàn đến những giá trị bền vững, không bị can thiệp, cũng không thể bị can thiệp, và tự chúng chứa đựng những hạt giống của sự bất tử. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này và biết rằng mọi thứ có giá trị tinh thần chân thật đều bền vững, không tuổi, bất tử và vĩnh cửu. Chỉ cái gì vô giá trị mới chết, và—từ quan điểm của nhân loại—điều đó có nghĩa là những yếu tố nhấn mạnh và mang tầm quan trọng khi hình tướng được xét đến. Nhưng những giá trị dựa trên nguyên khí chứ không dựa trên chi tiết của sắc tướng thì có trong chúng nguyên khí bất tử dẫn dắt con người từ “các cổng sinh ra, qua các cổng tri giác, đến các cổng mục đích”—như Cổ Luận diễn tả.

I have endeavoured to show you how the first part of this Law X has a simple application to mankind, as well as an abstract and abstruse meaning for esotericists.

Tôi đã cố gắng chỉ cho các bạn thấy phần đầu của Định luật X này có một ứng dụng đơn giản đối với nhân loại, cũng như một ý nghĩa trừu tượng và khó hiểu đối với các nhà bí truyền học.

The last paragraph in this Law X cannot be interpreted in this same manner nor applied in this way. it concerns only the “passing over” or the “discarding of hindrances” by very advanced disciples and initiates. This is made clear by the use of the words, “O Rising One”—a term applied only to those who have taken the fourth initiation and who are therefore held by no aspect whatsoever of the form nature, even so high or transcendental a form as the soul in its own vehicle, the causal body or the egoic lotus. Yet again, facility in response to this law must be and is developed in the earlier stages of discipleship, where listening, responsiveness and occult obedience are developed and have their extensions in the higher levels of spiritual experience.

Đoạn cuối trong Định luật X này không thể được diễn giải theo cùng cách ấy cũng không thể được áp dụng theo cách ấy. Nó chỉ liên quan đến việc “vượt qua” hay “vứt bỏ các chướng ngại” của những đệ tử và điểm đạo đồ rất cao cấp. Điều này được làm rõ bởi việc dùng những lời “hỡi Đấng Đang Vươn Lên”—một thuật ngữ chỉ áp dụng cho những ai đã nhận lần điểm đạo thứ tư và vì thế không còn bị bất kỳ phương diện nào của bản chất hình tướng giữ lại, ngay cả một hình tướng cao hay siêu việt như linh hồn trong vận cụ riêng của nó, thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng dễ dàng với định luật này phải được và thực sự được phát triển trong các giai đoạn sớm hơn của địa vị đệ tử, nơi sự lắng nghe, tính đáp ứng và sự tuân phục huyền bí được phát triển và có những mở rộng của chúng trên các cấp độ cao hơn của kinh nghiệm tinh thần.

Here we must again consider words and phrases if we are to understand their true meaning. [685]

Ở đây chúng ta lại phải xét đến các từ ngữ và cụm từ nếu muốn hiểu ý nghĩa chân thật của chúng. [685]

Respond, O Rising One, to the call which comes forth from the sphere of obligation.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi phát ra từ khối cầu của nghĩa vụ.

What is this sphere of obligation to which the initiate of high standing must pay attention? The whole of life experience, from the sphere of nativity up to the highest limits of spiritual possibility, are covered by four words, applicable at various stages of evolution. They are: Instinct, Duty, Dharma, Obligation; an understanding of the differences serves to bring illumination, and consequently, right action.

Khối cầu của nghĩa vụ này là gì mà điểm đạo đồ cao cấp phải chú ý đến? Toàn bộ kinh nghiệm sống, từ khối cầu sinh ra cho đến những giới hạn cao nhất của khả năng tinh thần, được bao trùm bởi bốn từ, áp dụng ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau. Đó là: Bản năng, Bổn phận, Dharma, Nghĩa vụ; sự thấu hiểu các khác biệt này giúp mang lại soi sáng, và do đó, hành động đúng đắn.

1. The sphere of instinct. This refers to the fulfillment, under the influence of simple animal instinct, of the obligations which any assumed responsibility brings, even when assumed with no true understanding. An illustration of this is the instinctual care of a mother for her offspring or the relation of male and female. With this we need not deal in any detail, as it is well recognised and understood, at least by those who have passed out of the sphere of elementary instinctual obligations. To them no particular calls come, but this instinctual world of give and take is superseded by a higher sphere of responsibility eventually.

1. Khối cầu của bản năng. Điều này ám chỉ việc hoàn thành, dưới ảnh hưởng của bản năng động vật đơn giản, những nghĩa vụ mà bất kỳ trách nhiệm nào đã nhận lấy đều mang theo, ngay cả khi được nhận lấy mà không có sự hiểu biết chân thật. Một minh họa cho điều này là sự chăm sóc theo bản năng của người mẹ đối với con cái mình hay mối quan hệ giữa nam và nữ. Chúng ta không cần bàn chi tiết về điều này, vì nó đã được nhận biết và thấu hiểu rõ, ít nhất là bởi những ai đã vượt ra khỏi khối cầu của các nghĩa vụ bản năng sơ đẳng. Đối với họ không có những tiếng gọi đặc biệt nào đến, nhưng thế giới bản năng của cho và nhận này cuối cùng được thay thế bởi một khối cầu trách nhiệm cao hơn.

2. The sphere of duty. The call that comes from this sphere comes from a realm of consciousness which is more strictly human and not so predominantly animal as is the instinctual realm. It sweeps into its field of activity all classes of human beings and demands from them—life after life—the strict fulfillment of duty. The “doing of one’s duty,” for which one gets small praise and little appreciation, is the first step towards the unfoldment of that divine principle which we call the sense of responsibility, and which—when unfolded—indicates a steadily growing soul control. The fulfillment [686] of duty, the sense of responsibility, and the desire to serve are three aspects of one and the same thing: discipleship in its embryonic stage. This is a hard saying for those who are caught in the seemingly hopeless toils of duty fulfillment; it is hard for them to realise that this duty which seems to keep them chained to the humdrum, apparently meaningless and thankless duties of daily life, is a scientific process leading them to higher phases of experience, and eventually into the Master’s Ashram.

2. Khối cầu của bổn phận. Tiếng gọi đến từ khối cầu này phát ra từ một lĩnh vực tâm thức nghiêm ngặt là nhân loại hơn và không quá thiên về động vật như lĩnh vực bản năng. Nó cuốn vào trường hoạt động của mình mọi tầng lớp người và đòi hỏi nơi họ—kiếp này qua kiếp khác—sự hoàn thành nghiêm ngặt bổn phận. “Làm tròn bổn phận của mình,” điều mà người ta nhận được rất ít lời khen và ít sự trân trọng, là bước đầu tiên hướng tới sự khai mở nguyên khí thiêng liêng mà chúng ta gọi là ý thức về trách nhiệm, và nguyên khí này—khi được khai mở—cho thấy sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Việc hoàn thành [686] bổn phận, ý thức về trách nhiệm, và ước muốn phụng sự là ba phương diện của cùng một điều: địa vị đệ tử trong giai đoạn phôi thai của nó. Đây là một lời khó nghe đối với những ai bị mắc kẹt trong những lưới bổn phận dường như vô vọng; đối với họ thật khó nhận ra rằng chính bổn phận dường như trói buộc họ vào những công việc thường nhật đơn điệu, bề ngoài vô nghĩa và vô ơn ấy, lại là một tiến trình khoa học dẫn họ đến những giai đoạn kinh nghiệm cao hơn, và cuối cùng vào ashram của Chân sư.

3. The Sphere of Dharma. This is the outcome of the two previous stages; it is that in which the disciple recognises, for the first time with clarity, his part in the whole process of world events and his inescapable share in world development. Dharma is that aspect of karma which dignifies any particular world cycle and the lives of those implicated in its working out. The disciple begins to see that if he shoulders his phase or part in this cyclic dharma and works understandingly at its right fulfillment, he is beginning to comprehend group work (as the Masters comprehend it) and to do his just share in lifting the world karma, working out in cyclic dharma. Instinctual service, the fulfillment of all duty, and a sharing in group dharma are all blended in his consciousness and become one great act of living faithful service; he is then at the point of moving forward upon the Path of Discipleship, in which the Path of Probation is completely lost to sight.

3. Khối Cầu của Dharma. Đây là kết quả của hai giai đoạn trước; đó là giai đoạn trong đó đệ tử lần đầu tiên nhận ra một cách rõ ràng phần của mình trong toàn bộ tiến trình của các biến cố thế giới và phần chia không thể tránh khỏi của mình trong sự phát triển của thế giới. Dharma là phương diện của nghiệp quả làm cho bất kỳ chu kỳ thế giới đặc thù nào và đời sống của những ai liên can đến sự triển khai của nó trở nên cao quý. Đệ tử bắt đầu thấy rằng nếu y gánh vác giai đoạn hay phần việc của mình trong dharma theo chu kỳ này và làm việc một cách thấu hiểu để hoàn thành đúng đắn nó, thì y đang bắt đầu hiểu công việc nhóm (như các Chân sư hiểu) và làm phần chia chính đáng của mình trong việc nâng đỡ nghiệp quả thế giới, đang được triển khai trong dharma theo chu kỳ. Phụng sự theo bản năng, việc hoàn thành mọi bổn phận, và sự chia sẻ trong dharma nhóm đều được hòa trộn trong tâm thức của y và trở thành một hành vi lớn lao duy nhất của đời sống phụng sự trung tín; khi ấy y ở vào điểm tiến lên trên Con Đường Đệ Tử, trong đó Con Đường Dự Bị hoàn toàn khuất khỏi tầm nhìn.

These three aspects of living activity are the embryonic expression in the life of the disciple of the three divine aspects:

Ba phương diện của hoạt động sống này là biểu hiện phôi thai trong đời sống của đệ tử của ba phương diện thiêng liêng:

a. Instinctual living…. intelligent application.

a. Sống theo bản năng…. sự áp dụng thông minh.

b. Duty…………..responsible love. [687]

b. Bổn phận………….. bác ái có trách nhiệm. [687]

c. Dharma……….. will, expressed through the Plan.

c. Dharma……….. ý chí, được biểu lộ qua Thiên Cơ.

4. The sphere of obligation. The initiate, having learnt the nature of the three other spheres of right action, and-through the activity of those spheres—having unfolded the divine aspects, passes now into the sphere of obligation. This sphere, which can be entered only after a large measure of liberation has been achieved, directs the reactions of the initiate in two phases of his life:

4. Khối cầu của nghĩa vụ. Điểm đạo đồ, sau khi đã học được bản chất của ba khối cầu hành động đúng đắn kia, và—qua hoạt động của những khối cầu ấy—đã khai mở các phương diện thiêng liêng, giờ đây đi vào khối cầu của nghĩa vụ. Khối cầu này, chỉ có thể được bước vào sau khi đã đạt được một mức độ giải thoát lớn, định hướng các phản ứng của điểm đạo đồ trong hai giai đoạn của đời sống y:

a. In the Ashram, where he is governed by the Plan; this Plan is recognised by him as expressing his major obligation to life. I use the word “life” in its deepest esoteric sense.

a. Trong ashram, nơi y được Thiên Cơ chi phối; Thiên Cơ này được y nhận ra là biểu lộ nghĩa vụ lớn lao của y đối với sự sống. Tôi dùng từ “sự sống” theo nghĩa huyền bí sâu xa nhất của nó.

b. In Shamballa, where the emerging Purpose of Sanat Kumara (of which the Plan is an interpretation in time and space) begins to have meaning and significance according to his point in evolution and his approach to the Way of the Higher Evolution.

b. Trong Shamballa, nơi Mục Đích đang xuất hiện của Đức Sanat Kumara (mà Thiên Cơ là một sự diễn giải trong thời gian và không gian) bắt đầu có ý nghĩa và thâm nghĩa tùy theo điểm tiến hoá của y và sự tiếp cận của y đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

In the Ashram, the life of the Spiritual Triad gradually supersedes the life of the soul-controlled personality. In the Council Chamber at Shamballa, the life of the Monad supersedes all other expressions of the essential Reality. More I may not say.

Trong ashram, sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần dần dần thay thế sự sống của phàm ngã do linh hồn kiểm soát. Trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, sự sống của chân thần thay thế mọi biểu hiện khác của Thực Tại cốt yếu. Tôi không thể nói thêm.

Recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself.

Hãy nhận biết tiếng gọi, xuất hiện từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi.

Here again we come up against the whole underlying, evolutionary theme of Invocation and Evocation. Here, it is the two higher centres of the divine Existence which are invoking ceaselessly the lower centre; one of the factors governing the whole creative process is dependent upon the [688] skill of the Great Lives in evoking response from the human and subhuman kingdoms or grouped lives within the three worlds of form life. Men are so pre-occupied with their own problems that they are apt to think that-in the long run—what happens is entirely due to their behaviour, conduct, and invocative powers. There is, however, another side to the picture; this involves the skill in action, the understanding hearts and the clear unimpeded will of both the Hierarchy and Shamballa.

Ở đây một lần nữa chúng ta chạm đến toàn bộ chủ đề nền tảng, mang tính tiến hoá của Khẩn Cầu và Gợi Lên. Ở đây, chính hai trung tâm cao hơn của Sự Tồn Tại thiêng liêng đang không ngừng khẩn cầu trung tâm thấp hơn; một trong những yếu tố chi phối toàn bộ tiến trình sáng tạo phụ thuộc vào [688] kỹ năng của các Sự Sống Vĩ Đại trong việc gợi lên sự đáp ứng từ các giới nhân loại và dưới nhân loại hay các sự sống được nhóm lại trong ba cõi giới của đời sống hình tướng. Con người quá bận tâm với những vấn đề của riêng mình đến nỗi họ dễ nghĩ rằng—xét cho cùng—điều gì xảy ra hoàn toàn là do hành vi, cách cư xử và năng lực khẩn cầu của họ. Tuy nhiên, còn có một mặt khác của bức tranh; điều này bao hàm kỹ năng trong hành động, những trái tim thấu hiểu và ý chí sáng tỏ không bị cản trở của cả Thánh Đoàn lẫn Shamballa.

It will be apparent to you, therefore, how essential it is that all disciples and initiates should know exactly where they stand on the Path, the final aspect of the ladder of evolution; otherwise, they will misinterpret the call and fail to recognise the source of the outgoing sound. How easily this can happen becomes apparent to every advanced teacher of occultism and esotericism when he perceives bow easily unimportant people and beginners interpret calls and messages they hear or receive as coming to them from some high and elevated source, Whereas they are in all probability hearing that which emanates from their own subconscious, from their own souls, or from some teacher (not a Master) who is attempting to help them.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ việc mọi đệ tử và điểm đạo đồ phải biết chính xác mình đang đứng ở đâu trên Con Đường, phương diện cuối cùng của chiếc thang tiến hoá, là điều thiết yếu biết bao; nếu không, họ sẽ diễn giải sai tiếng gọi và không nhận ra nguồn của âm thanh phát ra. Điều này có thể xảy ra dễ dàng đến mức nào trở nên hiển nhiên đối với mọi huấn sư cao cấp của huyền bí học và bí truyền học khi ông nhận thấy những người không quan trọng và những người mới bắt đầu dễ dàng diễn giải các tiếng gọi và thông điệp mà họ nghe hay nhận được như đến với họ từ một nguồn cao cả và siêu việt nào đó, trong khi rất có thể họ đang nghe điều phát ra từ chính tiềm thức của mình, từ chính linh hồn của mình, hoặc từ một huấn sư nào đó (không phải một Chân sư) đang cố gắng giúp họ.

The call referred to here, however, comes from the highest possible sources and must not be confused with the little voices of little men.

Tuy nhiên, tiếng gọi được nói đến ở đây đến từ những nguồn cao nhất có thể có và không được nhầm lẫn với những tiếng nói nhỏ bé của những con người nhỏ bé.

The SOUND goes forth.

ÂM THANH phát ra.

It is not my intention here to deal with the creative sound, beyond calling to your attention the fact that it is creative. The Sound which was the first indication of the activity of the planetary Logos is not a word, but a full reverberating sound, holding within itself all other sounds, all chords and certain musical tones (which have been given the name of the “music of the spheres”) and dissonances, [689] unknown as yet to the modern ear. It is this Sound which the “Rising One” must learn to recognise, and to which he must respond not only by means of the sense of hearing and its higher correspondences, but through a response from every part and aspect of the form nature in the three worlds. I would remind you also that from the angle of the fourth initiation even the egoic vehicle, the soul body, is regarded and treated as a part of the form nature.

Ở đây tôi không có ý định bàn về âm thanh sáng tạo, ngoài việc lưu ý các bạn đến sự kiện rằng nó có tính sáng tạo. Âm Thanh là dấu hiệu đầu tiên của hoạt động của Hành Tinh Thượng đế không phải là một lời, mà là một âm thanh vang dội trọn vẹn, tự nó chứa đựng mọi âm thanh khác, mọi hợp âm và một số âm điệu âm nhạc (đã được gọi là “âm nhạc của các khối cầu”) cùng những nghịch âm, [689] cho đến nay tai hiện đại vẫn chưa biết. Chính Âm Thanh này mà “Đấng Đang Vươn Lên” phải học để nhận ra, và y phải đáp ứng với nó không chỉ bằng giác quan nghe và các tương ứng cao hơn của nó, mà còn bằng sự đáp ứng từ mọi phần và mọi phương diện của bản chất hình tướng trong ba cõi giới. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng từ góc độ của lần điểm đạo thứ tư, ngay cả vận cụ chân ngã, thể linh hồn, cũng được xem và được xử lý như một phần của bản chất hình tướng.

Though the “shattering of the Temple of Solomon” takes place at the time of the fourth initiation, those qualities of which it was composed have been absorbed into the vehicles which the initiate is using for all His contacts in the three worlds. He is now essentially the essence of all His bodies, and—from His point of view and technical understanding—it must be borne in mind that the entire mental plane is one of the three planes which constitute the cosmic dense physical plane; this is a point oft forgotten by students, who almost invariably place the soul body and the mental permanent atom outside the form limits and what they call the three worlds. Technically and from higher angles, this is not so, and this fact definitely changes and conditions the thinking and work of the initiate of the fourth and higher degrees. It accounts also for the need for the egoic body to disappear.

Mặc dù “sự phá vỡ Đền thờ Solomon” diễn ra vào lúc lần điểm đạo thứ tư, những phẩm tính mà nó được cấu thành đã được hấp thụ vào các vận cụ mà điểm đạo đồ đang sử dụng cho mọi tiếp xúc của Ngài trong ba cõi giới. Giờ đây Ngài về bản chất là tinh túy của mọi thể của Ngài, và—từ quan điểm cùng sự thấu hiểu kỹ thuật của Ngài—cần phải ghi nhớ rằng toàn bộ cõi trí là một trong ba cõi cấu thành cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ; đây là một điểm mà đạo sinh thường quên, vì họ hầu như luôn đặt thể linh hồn và nguyên tử trường tồn trí tuệ ra ngoài các giới hạn của hình tướng và cái mà họ gọi là ba cõi giới. Về mặt kỹ thuật và từ các góc nhìn cao hơn, điều này không đúng, và sự kiện này rõ ràng làm thay đổi và tác động lên tư tưởng cùng công việc của điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ tư và cao hơn. Nó cũng giải thích nhu cầu thể chân ngã phải biến mất.

The Sound reverberates throughout the four higher subplanes of the cosmic physical plane; these are the higher correspondence of the four etheric levels of the physical plane in the three worlds—the three dense physical and the four etheric planes. It must be remembered, therefore, that our planes, with which we are so familiar, are the cosmic physical, and that the one we know the best is the densest of the seven—hence so much of our struggle and difficulty.

Âm Thanh vang dội khắp bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ; đó là tương ứng cao hơn của bốn cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần trong ba cõi giới—ba cõi hồng trần đậm đặc và bốn cõi dĩ thái. Vì vậy, cần nhớ rằng các cõi của chúng ta, vốn quá quen thuộc với chúng ta, là cõi hồng trần vũ trụ, và cõi mà chúng ta biết rõ nhất là cõi đậm đặc nhất trong bảy cõi—do đó mới có quá nhiều đấu tranh và khó khăn của chúng ta.

[690]

[690]

From “the silence which is sound, the reverberating note of Shamballa,” the sound focusses itself either in the Spiritual Triad or in the Ashram, according to the status of the initiate and whether he is high in the ashramic circles, or still higher, in the circles through which radiates the light from the Council Chamber. In the first case, it will be the heart centre which responds to the sound, and from thence the whole body; in the second case, consciousness has been superseded by a still higher type of spiritual recognition, to which we have given the inadequate name of identification. Where the sound has been registered in the heart of the initiate, he has unfolded all possible types of knowledge which the form nature—soul and body—can make possible; when the registration is in the head, identification has produced such complete unity with all spiritual expressions of life, the word “more” (meaning increased) must perforce give way to the word “deep,” in the sense of penetration. Having said this, brother of mine, how much have you comprehended?

Từ “sự im lặng vốn là âm thanh, âm điệu vang dội của Shamballa,” âm thanh tự tập trung hoặc trong Tam Nguyên Tinh Thần hoặc trong ashram, tùy theo địa vị của điểm đạo đồ và liệu y ở cao trong các vòng tròn ashram, hay còn cao hơn nữa, trong các vòng tròn mà qua đó ánh sáng từ Phòng Hội Đồng tỏa chiếu. Trong trường hợp thứ nhất, chính trung tâm tim sẽ đáp ứng với âm thanh, và từ đó toàn thể thể; trong trường hợp thứ hai, tâm thức đã được thay thế bởi một loại nhận biết tinh thần còn cao hơn nữa, mà chúng ta đã đặt cho cái tên không đầy đủ là sự đồng hoá. Nơi âm thanh đã được ghi nhận trong tim của điểm đạo đồ, y đã khai mở mọi loại tri thức khả hữu mà bản chất hình tướng—linh hồn và thể—có thể làm cho có thể; khi sự ghi nhận ở trong đầu, sự đồng hoá đã tạo ra sự hợp nhất trọn vẹn đến mức với mọi biểu hiện tinh thần của sự sống, từ “nhiều hơn” (nghĩa là gia tăng) buộc phải nhường chỗ cho từ “sâu,” theo nghĩa thâm nhập. Sau khi nói điều này, huynh đệ của tôi, bạn đã thấu hiểu được bao nhiêu?

It is at this point that the initiate is confronted for the first time with the Seven Paths, because each Path constitutes a mode of penetrating into realms of realisation beyond our planet altogether.

Chính tại điểm này mà điểm đạo đồ lần đầu tiên đối diện với Bảy Con Đường, bởi vì mỗi Con Đường cấu thành một phương thức thâm nhập vào những lĩnh vực chứng nghiệm vượt hẳn ngoài hành tinh của chúng ta.

In order to do this, the initiate has to demonstrate his mastery of the Law of Differentiation and arrive at a knowledge of the Seven Paths through differentiating the seven sounds which make up the one Sound, but which are not related to the seven sounds which compose the threefold AUM.

Để làm được điều này, điểm đạo đồ phải chứng tỏ sự làm chủ của mình đối với Định luật Biến Phân và đi đến tri thức về Bảy Con Đường bằng cách phân biệt bảy âm thanh hợp thành một Âm Thanh duy nhất, nhưng không liên hệ với bảy âm thanh cấu thành AUM tam phân.

Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection.

Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống, và nhờ đó cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết.

[691]

[691]

You can see here why I emphasised the fact that the initiate is the recipient of the essential quality or qualities which form has revealed and developed, and which the soul has absorbed. At this particular crisis, the initiate within the Ashram or “on His way of glory to the Place where dwells the Lord” (Shamballa) summarises or contains within himself all the essential good which was stored in the soul prior to its destruction at the fourth initiation. He epitomises in himself the knowledge and the wisdom of aeons of struggle and of patient endurance. Nothing further is to be gained by adhering either to the soul or to the form. He has taken all they had to give which throws light on the spiritual Law of Sacrifice. It is interesting to note how the soul becomes at this point simply the intermediary between the personality and the initiate of high degree. But now there is nothing more to relate, to report or to transmit, and—as the Sound reverberates—the soul disappears, as testimony of response. It is now but an empty shell, but its substance is of so high an order that it becomes an integral part of the buddhic level, and its function there is etheric. The principle of life is renounced and returns to the reservoir of universal life.

Ở đây các bạn có thể thấy vì sao tôi nhấn mạnh sự kiện rằng điểm đạo đồ là người tiếp nhận phẩm tính hay các phẩm tính cốt yếu mà hình tướng đã bộc lộ và phát triển, và linh hồn đã hấp thụ. Trong cuộc khủng hoảng đặc biệt này, điểm đạo đồ trong ashram hay “trên con đường vinh quang của Ngài đến Nơi Chúa Tể ngự trị” (Shamballa) tóm kết hay chứa đựng trong chính mình mọi điều thiện cốt yếu đã được tích trữ trong linh hồn trước khi nó bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư. Ngài là hiện thân thu gọn trong chính mình của tri thức và minh triết của các đại kiếp đấu tranh và nhẫn nại chịu đựng. Không còn gì để đạt được thêm bằng cách bám vào linh hồn hay hình tướng. Ngài đã nhận lấy tất cả những gì chúng có thể trao, điều này soi sáng Định luật Hi Sinh tinh thần. Thật lý thú khi lưu ý cách linh hồn ở điểm này đơn giản trở thành trung gian giữa phàm ngã và điểm đạo đồ cao cấp. Nhưng giờ đây không còn gì để liên hệ, để báo cáo hay để truyền đạt nữa, và—khi Âm Thanh vang dội—linh hồn biến mất, như bằng chứng của sự đáp ứng. Giờ đây nó chỉ còn là một vỏ rỗng, nhưng chất liệu của nó thuộc một trật tự cao đến mức nó trở thành một phần không thể tách rời của cấp độ Bồ đề, và chức năng của nó ở đó là dĩ thái. Nguyên khí sự sống được từ bỏ và trở về hồ chứa của sự sống phổ quát.

I would have you take notice of the importance of form activity. It is the Form which shatters the connection (the usually despised, belittled, frustrated form is that which performs the final act), bringing complete liberation. The “Lunar Lord” of the personality has achieved his goal, and those elements which have composed his three vehicles (physical, astral, mental), together with the life principle, will constitute the atomic substance of the first body of manifestation of some soul seeking incarnation for the first time. This is closely related to the abstruse subject of the permanent atoms. It marks a moment of high initiation for this Lunar Lord when he shatters the connection [692] and severs all relation with the hitherto informing soul. He is no longer just a shadow, but has now those qualities which make him “substantial” (in the esoteric sense) and a new factor in time and space.

Tôi muốn bạn lưu ý đến tầm quan trọng của hoạt động của hình tướng. Chính Hình tướng làm tan vỡ sự nối kết (hình tướng thường bị khinh miệt, xem nhẹ, làm cho thất vọng ấy chính là cái thực hiện hành vi cuối cùng), đem lại sự giải thoát hoàn toàn. “Nguyệt tinh quân” của phàm ngã đã đạt được mục tiêu của y, và những yếu tố đã cấu thành ba vận cụ của y (hồng trần, cảm dục, trí tuệ), cùng với nguyên khí sự sống, sẽ tạo thành chất liệu nguyên tử của thể biểu hiện đầu tiên của một linh hồn đang tìm cách nhập thể lần đầu tiên. Điều này liên hệ chặt chẽ với chủ đề huyền nhiệm về các nguyên tử trường tồn. Nó đánh dấu một khoảnh khắc điểm đạo cao đối với nguyệt tinh quân này khi y làm tan vỡ sự nối kết [692] và cắt đứt mọi liên hệ với linh hồn vốn từ trước đến nay đã thấm nhuần y. Y không còn chỉ là một cái bóng nữa, mà giờ đây có được những phẩm tính khiến y trở nên “thực chất” (theo nghĩa huyền bí) và là một yếu tố mới trong thời gian và không gian.

The remaining words of this law need no explanation and mark a fitting finish for this section of our studies:

Những lời còn lại của định luật này không cần giải thích và đánh dấu một kết thúc thích hợp cho phần nghiên cứu này của chúng ta:

Life is now liberated, owning the qualities of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu những phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp.

Leave a Comment

Scroll to Top