7. Trị Liệu Huyền môn – Chương VI – Nghệ Thuật Loại Bỏ

📘 Sách: Trị Liệu Huyền Môn – Tác giả: Alice Bailey

CHAPTER VI – The Art of EliminationCHAPTER VI – Nghệ Thuật Loại Bỏ

[486]

[486]

To take up again the thread of our instruction, we will now consider the activity of the inner spiritual man who has discarded his physical and etheric bodies and now stands within the shell of the subtle body—a body composed of astral or sentient substance and of mental substance. Owing to the strongly emotional and sentient polarisation of the average man, the idea has taken hold that man withdraws, after true death, first of all into his astral body, and then, later, into his mental vehicle. But this is not actually the case. A body constructed predominantly of astral matter is the basis of this idea. Few people are as yet so developed that the vehicle in which they find themselves after death is largely composed of mental substance. Only disciples and initiates who live mostly in their minds find themselves, after death, immediately upon the mental plane. Most people discover themselves upon the astral plane, clothed in a shell of astral matter and committed to a period of elimination within the illusory area of the astral plane.

Để tiếp tục mạch chỉ dẫn của chúng ta, giờ đây chúng ta sẽ xem xét hoạt động của con người tinh thần nội tại, kẻ đã bỏ lại thể xác và thể dĩ thái của mình và hiện đứng trong lớp vỏ của thể vi tế—một thể được cấu tạo bằng chất liệu cảm dục hay cảm nhận và bằng chất liệu trí tuệ. Do sự phân cực cảm xúc và cảm nhận rất mạnh của con người trung bình, ý tưởng đã bám rễ rằng sau cái chết thật sự, trước hết con người rút vào thể cảm dục của mình, rồi sau đó mới vào vận cụ trí tuệ. Nhưng thực ra không phải như vậy. Một thể được cấu tạo chủ yếu bằng vật chất cảm dục là nền tảng của ý tưởng này. Hiện nay còn ít người phát triển đến mức vận cụ mà họ thấy mình ở trong đó sau khi chết phần lớn được cấu tạo bằng chất liệu trí tuệ. Chỉ các đệ tử và điểm đạo đồ, những người sống phần lớn trong trí tuệ của mình, mới thấy mình sau khi chết ở ngay trên cõi trí. Đa số người ta thấy mình ở trên cõi cảm dục, khoác một lớp vỏ bằng vật chất cảm dục và bị buộc vào một thời kỳ loại bỏ trong phạm vi ảo tưởng của cõi cảm dục.

As I have earlier told you, the astral plane has no factual existence, but is an illusory creation of the human family. From now on, however (through the defeat of the forces of evil and the disastrous setback suffered by the Black Lodge), the astral plane will slowly become a dying creation, [487] and in the final period of human history (in the seventh rootrace), it will become nonexistent. Today this is not the case. The sentient substance which constitutes the astral plane is still being gathered into forms of illusion and still forms a barrier in the path of the soul seeking liberation. It still “holds prisoner” the many people who die whilst their major reaction to life is that of desire, of wishful thinking and of emotional sentiency. These are still the vast majority. In Atlantean days the astral plane came into being; the mental state of consciousness was then practically nonexistent, though the “sons of mind” had their place on what is today the higher levels of that plane. The mental permanent atom was also practically quiescent within each human form, and there was consequently no attractive “pull” from the mental plane, as is the case today. Many people are still Atlantean in consciousness, and when they pass out of the physical state of consciousness and discard their dual physical body, they are faced with the problem of elimination of the astral body, but they have little to do to release themselves from any mental prison of the soul. These are the undeveloped and average persons who, after the elimination of the kamic or desire body, have little else to do; there is no mental vehicle to draw them into a mental integration because there is no mentally focussed potency; the soul on the higher mental levels is as yet “in deep meditation” and quite unaware of its shadow in the three worlds.

Như tôi đã nói với bạn trước đây, cõi cảm dục không có sự tồn tại thực tế, mà là một sáng tạo ảo tưởng của gia đình nhân loại. Tuy nhiên, từ nay trở đi (nhờ sự thất bại của các mãnh lực xấu ác và sự thụt lùi tai hại mà Hắc đoàn phải chịu), cõi cảm dục sẽ chậm rãi trở thành một sáng tạo đang chết dần, [487] và trong thời kỳ cuối cùng của lịch sử nhân loại (ở giống dân gốc thứ bảy), nó sẽ trở nên không còn tồn tại. Ngày nay chưa phải vậy. Chất liệu cảm nhận cấu thành cõi cảm dục vẫn đang được gom lại thành những hình tướng ảo tưởng và vẫn tạo thành một rào cản trên con đường của linh hồn đang tìm kiếm sự giải thoát. Nó vẫn “giam giữ” nhiều người chết đi trong khi phản ứng chủ yếu của họ đối với cuộc sống là dục vọng, mơ tưởng ước ao và cảm nhận cảm xúc. Những người này vẫn là đại đa số. Vào thời Atlantis, cõi cảm dục đã xuất hiện; khi ấy trạng thái tâm thức trí tuệ thực tế chưa tồn tại, dù “các Con của Trí Tuệ” đã có vị trí của mình trên những cấp độ ngày nay là cao hơn của cõi ấy. Nguyên tử trường tồn trí tuệ cũng hầu như bất động trong mỗi hình tướng con người, và do đó không có “sức kéo” thu hút nào từ cõi trí như trường hợp ngày nay. Nhiều người vẫn còn là Atlantis trong tâm thức, và khi họ ra khỏi trạng thái tâm thức hồng trần và bỏ lại thể hồng trần kép của mình, họ đối diện với vấn đề loại bỏ thể cảm dục, nhưng họ có rất ít việc phải làm để giải thoát mình khỏi bất kỳ ngục tù trí tuệ nào của linh hồn. Đó là những người chưa phát triển và những người trung bình, sau khi loại bỏ thể kama hay thể dục vọng, thì hầu như không còn gì khác để làm; không có vận cụ trí tuệ nào kéo họ vào một sự tích hợp trí tuệ vì không có năng lực tập trung trí tuệ; linh hồn trên các cấp độ cao của cõi trí vẫn còn “tham thiền sâu” và hoàn toàn không biết đến cái bóng của nó trong ba cõi thấp.

The art of elimination falls, therefore, into three categories:

Vì vậy, nghệ thuật loại bỏ thuộc vào ba loại:

1. As practised by those people who are purely astral in quality and constitution. These we call “kamic” people.

1. Như được thực hành bởi những người thuần túy cảm dục về phẩm tính và cấu tạo. Chúng ta gọi họ là những người “kamic”.

2. As practised by those balanced people who are integrated personalities and who are called “kama-manasic” [488] individuals.

2. Như được thực hành bởi những người quân bình, là các phàm ngã tích hợp và được gọi là những cá nhân “trí-cảm” [488].

3. As practised by advanced people and disciples of all grades who are mainly mental in their “living focus.” These are called “manasic” subjects.

3. Như được thực hành bởi những người tiến bộ và các đệ tử ở mọi cấp, những người chủ yếu là trí tuệ trong “điểm tập trung sống” của họ. Những người này được gọi là các chủ thể “manasic”.

The same basic rules control them all, but the emphasis differs in each case. I would have you bear in mind that where there is no physical brain and where the mind is undeveloped, the inner man finds himself practically smothered in an envelope of astral matter and is for a long time immersed in what we call the astral plane. The kama-manasic person has what is called the “freedom of the dual life,” and finds himself possessed of a dual form which enables him to contact at will the higher levels of the astral plane and the lower levels of the mental plane. I would again remind you that there is no physical brain to register these contacts. Awareness of contact is dependent upon the innate activity of the inner man and his peculiar state of apprehension and of appreciation. The manasic person is possessed of a translucent mental vehicle with a light density which is in proportion to his freedom from desire and emotion.

Cùng những quy luật căn bản chi phối tất cả họ, nhưng điểm nhấn khác nhau trong từng trường hợp. Tôi muốn bạn ghi nhớ rằng ở nơi không có bộ não hồng trần và nơi trí tuệ chưa phát triển, con người nội tại thấy mình hầu như bị nghẹt thở trong một bao bọc bằng vật chất cảm dục và trong một thời gian dài bị chìm ngập trong điều chúng ta gọi là cõi cảm dục. Người trí-cảm có cái được gọi là “tự do của đời sống kép,” và thấy mình sở hữu một hình tướng kép cho phép y tiếp xúc tùy ý với các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục và các cấp độ thấp hơn của cõi trí. Tôi lại nhắc bạn rằng không có bộ não hồng trần nào để ghi nhận những tiếp xúc này. Sự nhận biết tiếp xúc tùy thuộc vào hoạt động bẩm sinh của con người nội tại và trạng thái lĩnh hội và đánh giá đặc thù của y. Người manasic sở hữu một vận cụ trí tuệ trong suốt với mật độ nhẹ tương ứng với mức độ giải thoát của y khỏi dục vọng và cảm xúc.

These three types of people all use an eliminative process of a similar nature, but employ a different technique within the process. For the sake of clarity, it might be stated that:

Ba loại người này đều sử dụng một tiến trình loại bỏ có bản chất tương tự, nhưng dùng một kỹ thuật khác nhau trong tiến trình ấy. Để cho rõ ràng, có thể nói rằng:

1. The kamic person eliminates his astral body by means of attrition, and vacates it via the astral correspondence to the solar plexus centre. This attrition is brought about because all the innate desire and inherent emotion are, at this stage, related to the animal nature and the physical body—both of which are now nonexistent.

1. Người kamic loại bỏ thể cảm dục của mình bằng phương tiện bào mòn, và rời bỏ nó qua đối phần cảm dục của trung tâm tùng thái dương. Sự bào mòn này được tạo ra vì mọi dục vọng bẩm sinh và cảm xúc cố hữu, ở giai đoạn này, đều liên hệ với bản chất thú tính và thể xác—cả hai hiện nay đều không còn tồn tại.

2. The kama-manasic individual uses two techniques. This would naturally be so because he eliminates, first of all, his astral body, and then his mental vehicle. [489]

2. Cá nhân trí-cảm sử dụng hai kỹ thuật. Điều này dĩ nhiên là như vậy vì trước hết y loại bỏ thể cảm dục của mình, rồi sau đó loại bỏ vận cụ trí tuệ. [489]

a. He eliminates the astral body by means of his growing desire for mental life. He withdraws gradually and steadily into the mind body, and the astral body esoterically “drops away” and finally disappears. This takes place usually unconsciously and may require quite a long time. Where, however, the man is above the average, and on the verge of becoming a manasic person, the disappearance is brought about suddenly and dynamically, and the man stands free in his mental body. This takes place consciously and rapidly.

a. Y loại bỏ thể cảm dục bằng phương tiện dục vọng ngày càng tăng đối với đời sống trí tuệ. Y dần dần và đều đặn rút vào thể trí, và thể cảm dục một cách huyền bí học “rơi rụng đi” rồi cuối cùng biến mất. Điều này thường diễn ra vô thức và có thể đòi hỏi một thời gian khá dài. Tuy nhiên, khi con người ấy vượt trên mức trung bình và đang ở ngưỡng trở thành một người manasic, sự biến mất được tạo ra một cách đột ngột và năng động, và con người ấy đứng tự do trong thể trí của mình. Điều này diễn ra một cách hữu thức và nhanh chóng.

b. He shatters the mental body by an act of the human will, and also because the soul is beginning to be slowly aware of its shadow. The inner man is therefore attracted towards the soul, though still only in a somewhat feeble manner. This process is relatively quick and is dependent upon the extent of the manasic influence.

b. Y phá vỡ thể trí bằng một hành động của ý chí con người, và cũng vì linh hồn đang bắt đầu chậm rãi nhận biết cái bóng của nó. Vì vậy, con người nội tại bị thu hút về phía linh hồn, dù hiện vẫn chỉ theo một cách khá yếu ớt. Tiến trình này tương đối nhanh và tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng manasic.

3. The manasic man, focussed now in his mental body, has also two things to accomplish:

3. Con người manasic, hiện tập trung trong thể trí của mình, cũng có hai việc phải hoàn thành:

a. To dissolve and rid himself of any astral sediment which may be discolouring his translucent mental body. The so-called astral body is now practically nonexistent as a factor of expression. This he does by calling in increased light from the soul. It is soul light which, at this stage, dissolves the astral substance, just as it will be the combined light of the soul of humanity (as a whole) which will dissolve finally the astral plane—again so-called.

a. Làm tan biến và loại bỏ bất kỳ cặn lắng cảm dục nào có thể đang làm đổi màu thể trí trong suốt của mình. Cái gọi là thể cảm dục giờ đây thực tế hầu như không còn tồn tại như một yếu tố biểu hiện. Điều này y làm bằng cách gọi vào ánh sáng gia tăng từ linh hồn. Chính ánh sáng linh hồn, ở giai đoạn này, làm tan biến chất liệu cảm dục, cũng như sẽ là ánh sáng kết hợp của linh hồn nhân loại (xét như một toàn thể) sẽ cuối cùng làm tan biến cõi cảm dục—một lần nữa, cái gọi là như vậy.

b. To destroy the mental body through the use of certain Words of Power. These Words are communicated to the disciple via the Ashram of his Master. They bring in soul power to a greatly enhanced extent, and produce consequently such an [490] expansion of consciousness within the mental body that is broken up and no longer constitutes a barrier to the inner man. He can now stand, a free son of mind, within the Ashram of his Master and “shall no more go out”.

b. Hủy diệt thể trí bằng cách sử dụng một số Quyền năng từ. Những Quyền năng từ này được truyền cho đệ tử thông qua ashram của Chân sư của y. Chúng đưa quyền năng linh hồn vào ở mức độ tăng cường rất lớn, và do đó tạo ra một sự [490] mở rộng tâm thức trong thể trí đến mức thể này bị phá vỡ và không còn cấu thành một rào cản đối với con người nội tại nữa. Giờ đây y có thể đứng, như một con tự do của trí tuệ, trong ashram của Chân sư của y và “sẽ không còn đi ra nữa”.

Activities Immediately After DeathNhững Hoạt Động Ngay Sau Khi Chết

Immediately after death, and particularly if cremation has taken place, the man, in his kama-manasic body, is as much aware and alert to his environment as he was upon the physical plane when alive. This phrasing permits latitude as to the extent of the awareness and of observation, for a similar latitude must be allowed for those on the physical plane. People are not all equally awake or equally conscious of circumstances or immediate experience. However, as most people are more conscious emotionally than they are physically, and live to a great extent focussed in their astral vehicles, the man is quite familiar with the state of consciousness in which he finds himself. Forget not that a plane is essentially a state of consciousness and not a locality, as so many esotericists seem to think. It is recognised by the focussed reaction of the self-conscious person who—constantly and distinctly aware of himself—is sentient to the theme of his environment and of his outgoing desires, or where advanced people are concerned, functioning upon the more advanced levels of the astral plane) sentient of outgoing love and aspiration; the man is engrossed with what engrossed his attention and involved the kamic principle during his incarnated experience. May I again remind you that there is now no physical brain to respond to impacts generated by the inner man, and also that sex, as it is physically understood, is nonexistent. Spiritualists would do well to remember this and so grasp the foolishness as well as the impossibility of those spiritual [491] marriages which certain schools of thought in the movement teach and practice. The man, in his astral body, is now free from the strictly animal impulses which, upon the physical plane, are both normal and right, but which now have no meaning to him in his kamic body.

Ngay sau khi chết, và đặc biệt nếu việc hỏa táng đã diễn ra, con người, trong thể trí cảm của y, ý thức và tỉnh táo đối với môi trường quanh mình cũng nhiều như khi còn sống trên cõi hồng trần. Cách diễn đạt này cho phép một độ rộng nhất định về mức độ ý thức và quan sát, vì cũng phải cho phép một độ rộng tương tự đối với những người trên cõi hồng trần. Không phải mọi người đều tỉnh thức như nhau hay đều ý thức như nhau về hoàn cảnh hoặc kinh nghiệm trực tiếp. Tuy nhiên, vì đa số người ta ý thức về cảm xúc nhiều hơn là về thể xác, và sống phần lớn tập trung trong các vận cụ cảm dục của mình, nên con người khá quen thuộc với trạng thái tâm thức mà y thấy mình đang ở trong đó. Đừng quên rằng một cõi về bản chất là một trạng thái tâm thức chứ không phải là một địa điểm, như rất nhiều nhà bí truyền học dường như nghĩ vậy. Nó được nhận biết bởi phản ứng tập trung của con người có ngã thức, kẻ—luôn luôn và rõ rệt ý thức về chính mình—cảm nhận được chủ đề của môi trường mình và những ham muốn hướng ngoại của mình, hoặc, khi nói đến những người tiến hóa hơn, đang hoạt động trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục, cảm nhận được tình thương và khát vọng hướng ngoại; con người bị cuốn hút vào điều đã cuốn hút sự chú ý của y và đã lôi cuốn nguyên khí kama trong kinh nghiệm lâm phàm của y. Tôi xin lại nhắc bạn rằng giờ đây không còn bộ não thể xác để đáp ứng với các tác động do con người bên trong tạo ra, và cũng rằng tính dục, như được hiểu về mặt thể xác, là không hiện hữu. Các nhà thần linh học nên nhớ điều này để nắm được sự ngu xuẩn cũng như tính bất khả của những cuộc hôn nhân thần linh [491] mà một số trường phái tư tưởng trong phong trào ấy giảng dạy và thực hành. Con người, trong thể cảm dục của mình, giờ đây được giải thoát khỏi những xung lực thuần túy thú tính mà trên cõi hồng trần vừa là bình thường vừa là đúng đắn, nhưng giờ đây không còn ý nghĩa gì đối với y trong thể kama của mình.

Therefore, taking the average man, what are his first reactions and activities after the restitution of the physical body to the universal reservoir of substance? Let me enumerate some of these reactions:

Vì vậy, lấy con người trung bình làm ví dụ, những phản ứng và hoạt động đầu tiên của y là gì sau khi thể xác được hoàn nguyên vào kho chứa chất liệu phổ quát? Hãy để tôi liệt kê một vài phản ứng ấy:

1. He becomes consciously aware of himself. This involves a clarity of perception unknown to the average man whilst in physical incarnation.

1. Y trở nên ý thức một cách hữu thức về chính mình. Điều này bao hàm một sự sáng tỏ trong tri giác mà con người trung bình không biết đến khi còn đang lâm phàm trên cõi hồng trần.

2. Time (being the succession of events as registered by the physical brain) is now nonexistent as we understand the term, and—as the man turns his attention to his more clearly defined emotional self—there ensues invariably a moment of direct soul contact. This is due to the fact that even in the case of the most ignorant and undeveloped man, the moment of complete restitution does not pass unnoticed by the soul. It has a definite soul effect, something like a long and strong pull at a bell rope, if I might use so simple a simile. For a brief second the soul responds, and the nature of the response is such that the man, standing in his astral body, or rather in his kama-manasic vehicle, sees the experience of the past incarnation spread before him like a map. He records a sense of timelessness.

2. Thời gian (là sự tiếp nối của các biến cố như được bộ não thể xác ghi nhận) giờ đây không còn hiện hữu như chúng ta hiểu thuật ngữ ấy, và—khi con người hướng sự chú ý của mình vào bản ngã cảm xúc được xác định rõ ràng hơn—thì luôn luôn xảy ra một khoảnh khắc tiếp xúc trực tiếp với linh hồn. Điều này là do ngay cả trong trường hợp của người ngu dốt và kém phát triển nhất, khoảnh khắc hoàn nguyên trọn vẹn cũng không trôi qua mà linh hồn không hay biết. Nó tạo ra một hiệu quả linh hồn xác định, giống như một cú giật dài và mạnh vào dây chuông, nếu tôi có thể dùng một ẩn dụ đơn giản như vậy. Trong một giây ngắn ngủi, linh hồn đáp ứng, và bản chất của sự đáp ứng ấy khiến con người, đang đứng trong thể cảm dục của mình, hay đúng hơn trong vận cụ trí cảm của mình, thấy kinh nghiệm của kiếp lâm phàm vừa qua trải ra trước mắt như một tấm bản đồ. Y ghi nhận một cảm giác phi thời gian.

3. As a result of the recognition of these experiences, the man isolates those three which were the three major conditioning factors in the life which has gone and which also hold the keys to his future incarnation which he will next initiate. All else is forgotten, and all the lesser experiences fade out of his memory, leaving nothing in [492] his consciousness but what are esoterically called “the three seeds or germs of the future”. These three seeds are in a peculiar manner related to the permanent physical and astral atoms, and thus produce the fivefold force which will create the forms later to appear. It might be said that:

3. Do kết quả của việc nhận ra các kinh nghiệm ấy, con người tách ra ba kinh nghiệm là ba yếu tố tác động chủ yếu trong đời sống vừa qua và cũng nắm giữ các chìa khóa cho kiếp lâm phàm tương lai mà y sẽ khởi sự tiếp theo. Mọi điều khác đều bị quên đi, và mọi kinh nghiệm nhỏ hơn đều mờ dần khỏi ký ức của y, không để lại gì trong [492] tâm thức của y ngoài điều mà một cách huyền bí được gọi là “ba hạt giống hay mầm mống của tương lai”. Ba hạt giống này theo một cách đặc biệt liên hệ với nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục, và do đó tạo ra mãnh lực ngũ phân sẽ tạo nên các hình tướng sẽ xuất hiện về sau. Có thể nói rằng:

a. Seed One determines later the nature of the physical environment in which the returning man will find his place. It is related to the quality of that future environment and thus conditions the needed field or area of contact.

a. Hạt giống thứ nhất về sau quyết định bản chất của môi trường thể xác mà con người trở lại sẽ tìm thấy chỗ đứng của mình trong đó. Nó liên hệ với phẩm tính của môi trường tương lai ấy và do đó tác động lên lĩnh vực hay khu vực tiếp xúc cần thiết.

b. Seed Two determines the quality of the etheric body as a vehicle through which the ray forces can make contact with the dense physical body. It delimits the etheric structure or vital web along which the incoming energies will circulate and is related in particular to the special one of the seven centres which will be the most active and alive during the coming incarnation.

b. Hạt giống thứ hai quyết định phẩm tính của thể dĩ thái như một vận cụ qua đó các mãnh lực cung có thể tiếp xúc với thể xác đậm đặc. Nó giới hạn cấu trúc dĩ thái hay mạng sinh lực mà dọc theo đó các năng lượng đi vào sẽ lưu chuyển, và đặc biệt liên hệ với một trong bảy trung tâm sẽ hoạt động mạnh nhất và sống động nhất trong kiếp lâm phàm sắp tới.

c. Seed Three gives the key to the astral vehicle in which the man will be polarised in the next incarnation. Forget not, I am dealing here with the average man and not with the advanced human being, disciple or initiate. It is this seed which—through the forces it attracts—brings the man again into relation with those he previously loved or with whom he had close contact. It can be accepted as a fact that the group idea governs subjectively all incarnations, and that reincarnated man is brought into incarnation not only through his own desire for physical plane experience, but also under group impulse and in line with the group karma as well as with his own. This is a point which should receive more emphasis. Once this is truly grasped and understood, a great deal of the [493] fear engendered by the thought of death would disappear. The familiar and the loved will still remain the familiar and the loved, because the relation has been closely established over many incarnations and—as the Old Commentary expresses it:

c. Hạt giống thứ ba trao chìa khóa cho vận cụ cảm dục mà trong đó con người sẽ phân cực trong kiếp lâm phàm kế tiếp. Đừng quên, ở đây tôi đang bàn đến con người trung bình chứ không phải con người tiến hóa, đệ tử hay điểm đạo đồ. Chính hạt giống này—thông qua các mãnh lực mà nó thu hút—đưa con người trở lại liên hệ với những người mà trước đây y đã yêu thương hoặc đã có tiếp xúc mật thiết. Có thể chấp nhận như một sự kiện rằng ý niệm nhóm chi phối một cách chủ quan mọi kiếp lâm phàm, và rằng con người tái sinh được đưa vào lâm phàm không chỉ bởi ham muốn riêng của y đối với kinh nghiệm cõi hồng trần, mà còn dưới xung lực nhóm và phù hợp với nghiệp quả nhóm cũng như nghiệp quả riêng của y. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh nhiều hơn. Một khi điều này được nắm bắt và thấu hiểu thật sự, rất nhiều [493] nỗi sợ do ý nghĩ về cái chết gây ra sẽ biến mất. Điều quen thuộc và được yêu thương vẫn sẽ còn là điều quen thuộc và được yêu thương, bởi vì mối liên hệ ấy đã được thiết lập chặt chẽ qua nhiều kiếp lâm phàm và—như Cổ Luận diễn tả:

“These seeds of determining recognition are not unique to me and you, but also for the group; within the group they relate one to the other in time and space. Only in the lower three shall those related find their true existence. When soul knows soul and in the meeting-place within the Master’s call, these seeds shall disappear.”

“Những hạt giống của sự nhận biết có tính quyết định này không chỉ riêng cho tôi và bạn, mà còn cho cả nhóm; bên trong nhóm, chúng liên hệ người này với người kia trong thời gian và không gian. Chỉ trong ba cõi thấp những kẻ có liên hệ mới tìm thấy sự hiện hữu đích thực của mình. Khi linh hồn biết linh hồn và trong nơi gặp gỡ bên trong tiếng gọi của Chân sư, những hạt giống này sẽ biến mất.”

It will be apparent, therefore, how necessary it is to train children to recognise and profit by experience, for this, once learnt, will greatly facilitate this third activity upon the astral plane after death.

Do đó, sẽ thấy rõ việc huấn luyện trẻ em nhận biết và thu lợi từ kinh nghiệm là cần thiết biết bao, vì điều này, một khi đã học được, sẽ làm cho hoạt động thứ ba này trên cõi cảm dục sau khi chết được dễ dàng hơn rất nhiều.

4. Having completed this “isolating of experience,” the man will then seek and automatically find those whom the third seed influence indicates as possessing a constant part in the group experience of which he is an element, consciously or unconsciously. The relation once again established (if those sought have not yet eliminated the physical body), the man acts as he would on earth in the company of his intimates and according to his temperament and point in evolution. If those who are closest to him and whom he deeply loves or hates are still in physical incarnation, he will also seek them out and—just again as he did on earth—he will remain in their neighbourhood, aware of their activities, though (unless highly evolved) they will not be aware of his. I can give no detail as to reciprocal give and take or to the modes and methods of contact. Each person differs; each temperament is largely unique. I only seek to make [494] clear certain basic lines of behaviour pursued by man prior to the act or acts of elimination.

4. Sau khi hoàn tất việc “tách lọc kinh nghiệm” này, con người khi ấy sẽ tìm kiếm và tự động tìm thấy những người mà ảnh hưởng của hạt giống thứ ba chỉ ra là có một phần thường hằng trong kinh nghiệm nhóm mà y là một thành phần, dù hữu thức hay vô thức. Khi mối liên hệ được thiết lập lại một lần nữa (nếu những người được tìm kiếm ấy chưa loại bỏ thể xác), con người hành động như y đã hành động trên trần gian trong sự đồng hành của những người thân cận và tùy theo khí chất cùng điểm tiến hoá của mình. Nếu những người gần gũi nhất với y và những người mà y yêu sâu đậm hoặc ghét sâu đậm vẫn còn đang lâm phàm, y cũng sẽ tìm đến họ và—cũng như khi còn trên trần gian—y sẽ ở lại trong vùng lân cận của họ, ý thức được các hoạt động của họ, dù họ (trừ phi rất tiến hóa) sẽ không ý thức được y. Tôi không thể đưa ra chi tiết nào về sự trao đổi qua lại hay về các cách thức và phương pháp tiếp xúc. Mỗi người đều khác nhau; mỗi khí chất phần lớn là độc nhất. Tôi chỉ tìm cách làm [494] sáng tỏ một số đường lối ứng xử căn bản mà con người theo đuổi trước hành vi hay các hành vi loại bỏ.

These four activities cover varying periods of time—from the angle of “those who live below,” though there is no time recognised on the part of the man on the astral plane. Gradually the lure and glamour (of a low or high order) wears off, and the man enters into the stage where he knows—because the mind is now more incisive and dominating—that he is ready for the second death and for the entire elimination of the kamic body or of the kama-manasic vehicle.

Bốn hoạt động này bao trùm những khoảng thời gian khác nhau—xét từ góc độ của “những người sống bên dưới”, mặc dù về phía con người trên cõi cảm dục không có thời gian nào được nhận biết. Dần dần, sự quyến rũ và ảo cảm (thuộc loại thấp hay cao) phai nhạt đi, và con người bước vào giai đoạn mà y biết—vì trí tuệ giờ đây sắc bén và chi phối hơn—rằng y đã sẵn sàng cho cái chết thứ hai và cho sự loại bỏ hoàn toàn thể kama hay vận cụ trí cảm.

One of the things to remember here is that once restitution of the physical in its two aspects has taken place, the inner man is, as I have earlier said, fully conscious. The physical brain and the swirl of etheric forces (mostly somewhat disorganized in the case of the majority of men) are no longer present. These are the two factors which have led students to believe that the experiences of the man on the inner planes of the three worlds are those of a vague drifting, of a semi-conscious experience, or indicate a repetitive life, except in the case of very advanced people or disciples and initiates. But this is not the case. A man on the inner planes is not only as conscious of himself as an individual—with his own plans, life and affairs—as he was on the physical plane, but he is also conscious in the same manner of the surrounding states of consciousness. He may be glamoured by astral existence or subject to the telepathic impression of the varying thought currents emanating from the mental plane, but he is also conscious of himself and of his mind for of the measure of manasic life developed) in a far more potent manner than when he had to work through the medium of the physical brain, when the focus of his consciousness was that of the aspirant, but anchored in the [495] brain. His experience is far richer and fuller than he ever knew when in incarnation. If you will think this out for a little, you will realise that this necessarily would be so.

Một trong những điều cần ghi nhớ ở đây là một khi sự hoàn nguyên của thể xác trong hai phương diện của nó đã diễn ra, con người bên trong, như tôi đã nói trước đây, hoàn toàn hữu thức. Bộ não thể xác và vòng xoáy các mãnh lực dĩ thái (phần lớn khá vô tổ chức trong trường hợp đa số người ta) không còn hiện diện nữa. Đây là hai yếu tố đã khiến các đạo sinh tin rằng những kinh nghiệm của con người trên các cõi bên trong của ba cõi giới là những kinh nghiệm mơ hồ trôi nổi, nửa hữu thức, hoặc cho thấy một đời sống lặp đi lặp lại, ngoại trừ trong trường hợp những người rất tiến hóa hoặc các đệ tử và điểm đạo đồ. Nhưng không phải vậy. Một người trên các cõi bên trong không những hữu thức về chính mình như một cá nhân—với những kế hoạch, đời sống và công việc riêng của mình—cũng như khi còn trên cõi hồng trần, mà còn hữu thức theo cùng cách ấy về các trạng thái tâm thức chung quanh. Y có thể bị ảo cảm của sự tồn tại cảm dục che phủ hoặc chịu sự ấn tượng viễn cảm của các dòng tư tưởng khác nhau phát ra từ cõi trí, nhưng y cũng hữu thức về chính mình và về trí tuệ của mình (theo mức độ đời sống manas đã được phát triển) theo một cách mạnh mẽ hơn nhiều so với khi phải hoạt động qua trung gian của bộ não thể xác, khi tiêu điểm tâm thức của y là của người chí nguyện nhưng lại được neo trong [495] bộ não. Kinh nghiệm của y phong phú và đầy đủ hơn nhiều so với bất cứ điều gì y từng biết khi còn lâm phàm. Nếu bạn suy nghĩ điều này một chút, bạn sẽ nhận ra rằng tất yếu phải như vậy.

It may therefore be assumed that the Art of Elimination is practised more definitely and more effectively than was the restitution of the physical vehicle. Another point must also be considered. On the inner side, men know that the Law of Rebirth governs the experience-process of physical plane living, and they realise then that, prior to the elimination of the kamic, kama-manasic or manasic bodies, they are only passing through an interlude between incarnations and that they consequently face two great experiences:

Do đó có thể giả định rằng Nghệ Thuật Loại Bỏ được thực hành xác định hơn và hiệu quả hơn so với sự hoàn nguyên của vận cụ thể xác. Cũng phải xét đến một điểm khác. Ở mặt bên trong, con người biết rằng Định luật Tái Sinh chi phối tiến trình kinh nghiệm của đời sống cõi hồng trần, và khi ấy họ nhận ra rằng, trước khi loại bỏ các thể kama, trí cảm hay manas, họ chỉ đang đi qua một quãng xen giữa các kiếp lâm phàm và vì vậy họ đối diện với hai kinh nghiệm lớn:

1. A moment (long or short, according to the attained point in evolution) wherein contact will be made with the soul or with the solar angel.

1. Một khoảnh khắc (dài hay ngắn, tùy theo điểm tiến hoá đã đạt được) trong đó sự tiếp xúc sẽ được thiết lập với linh hồn hay với Thái dương Thiên Thần.

2. After that a contact, a relatively violent reorientation to earth life takes place, leading to what is called “the process of descent and calling,” wherein the man:

2. Sau đó, một sự tiếp xúc, một sự tái định hướng tương đối mãnh liệt đối với đời sống trần gian diễn ra, dẫn đến điều được gọi là “tiến trình đi xuống và kêu gọi”, trong đó con người:

a. Prepares for physical incarnation again.

a. Chuẩn bị để lại lâm phàm trên cõi hồng trần.

b. Sounds his own true note into the substance of the three worlds.

b. Xướng âm điệu chân thực của riêng mình vào trong chất liệu của ba cõi giới.

c. Revitalises the permanent atoms, which form a triangle of force within the causal body.

c. Tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn, vốn tạo thành một tam giác lực bên trong thể nguyên nhân.

d. Gathers together the needed substance to form his future bodies of manifestation.

d. Tập hợp chất liệu cần thiết để hình thành các thể biểu hiện tương lai của mình.

e. Colours them with the qualities and characteristics he has already achieved through life-experience.

e. Nhuộm màu chúng bằng các phẩm tính và đặc tính mà y đã đạt được qua kinh nghiệm sống.

f. On the etheric plane arranges the substance of his vital body so that the seven centres take shape and can become the recipients of the inner forces.

f. Trên cõi dĩ thái, sắp xếp chất liệu của thể sinh lực của mình để bảy trung tâm thành hình và có thể trở thành những cơ quan tiếp nhận các mãnh lực bên trong.

g. Makes a deliberate choice of those who will provide him with the needed dense physical covering, and then awaits the moment of incarnation. Esoteric [496] students would do well to remember that parents only donate the dense physical body. They contribute naught else save a body of a particular quality and nature which will provide the needed vehicle of contact with the environment demanded by the incarnating soul. They may also provide a measure of group relationship, where the soul experience is long and a true group relation has been established.

g. Cố ý chọn những người sẽ cung cấp cho y lớp bao bọc thể xác đậm đặc cần thiết, rồi chờ đợi khoảnh khắc lâm phàm. Các đạo sinh huyền bí [496] nên nhớ rằng cha mẹ chỉ hiến tặng thể xác đậm đặc. Họ không đóng góp gì khác ngoài một thể có phẩm tính và bản chất nhất định, sẽ cung cấp vận cụ tiếp xúc cần thiết với môi trường mà linh hồn nhập thể đòi hỏi. Họ cũng có thể cung cấp một mức độ liên hệ nhóm, nơi kinh nghiệm linh hồn đã lâu dài và một mối liên hệ nhóm chân thực đã được thiết lập.

These two critical moments are consciously faced by the discarnate man and he knows what he is doing within the limits set by his point in evolution.

Hai khoảnh khắc trọng yếu này được con người không còn thể xác đối diện một cách hữu thức và y biết mình đang làm gì trong những giới hạn do điểm tiến hoá của mình đặt ra.

The Devachan ExperienceKinh Nghiệm Devachan

I would also point out that this conscious undertaking of the art of elimination, and this awareness of process and purpose, in reality constitute the state of consciousness which has been called devachan by the orthodox theosophist. There has been a great deal of misunderstanding of this experience. The general idea has been that, after the process of ridding himself of the astral and mental bodies, the man enters into a sort of dream state wherein he reexperiences and reconsiders past events in the light of the future and undergoes a sort of rest period, a kind of digestive process, in preparation for the undertaking of renewed birth. This somewhat erroneous idea has arisen because the concept of time still governs theosophical presentations of truth. If, however, it is realised that time is not known apart from physical plane experience, the entire concept of devachan clarifies. From the moment of complete separation from the dense physical and etheric bodies, and as the eliminative process is undertaken, the man is aware of past and present; when elimination is complete and the hour of [497] soul contact eventuates and the manasic vehicle is in process of destruction, he becomes immediately aware of the future, for prediction is an asset of the soul consciousness and in this the man temporarily shares. Therefore, past, present and future are seen as one; the recognition of the Eternal Now is gradually developed from incarnation to incarnation and during the continuous process of rebirth. This constitutes a state of consciousness (characteristic of the normal state of the advanced man) which can be called devachanic.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng việc thực hiện một cách hữu thức nghệ thuật loại bỏ này, và sự ý thức về tiến trình và mục đích này, trên thực tế cấu thành trạng thái tâm thức mà nhà Thông Thiên Học chính thống gọi là devachan. Đã có rất nhiều sự hiểu lầm về kinh nghiệm này. Ý niệm chung là sau tiến trình tự giải thoát khỏi thể cảm dục và thể trí, con người đi vào một loại trạng thái mộng tưởng, trong đó y sống lại và xem xét lại các biến cố quá khứ dưới ánh sáng của tương lai và trải qua một loại thời kỳ nghỉ ngơi, một loại tiến trình tiêu hóa, để chuẩn bị đảm nhận một lần tái sinh mới. Ý niệm phần nào sai lầm này đã nảy sinh vì khái niệm thời gian vẫn còn chi phối các cách trình bày chân lý của Thông Thiên Học. Tuy nhiên, nếu nhận ra rằng thời gian không được biết đến ngoài kinh nghiệm cõi hồng trần, thì toàn bộ khái niệm về devachan sẽ trở nên sáng tỏ. Từ khoảnh khắc hoàn toàn tách khỏi thể xác đậm đặc và thể dĩ thái, và khi tiến trình loại bỏ được tiến hành, con người ý thức về quá khứ và hiện tại; khi sự loại bỏ hoàn tất và giờ phút [497] tiếp xúc linh hồn xảy đến và vận cụ manas đang trong tiến trình bị hủy diệt, y lập tức ý thức về tương lai, vì tiên tri là một tài sản của tâm thức linh hồn và trong đó con người tạm thời được chia sẻ. Do đó, quá khứ, hiện tại và tương lai được thấy như một; sự nhận biết Hiện Tại Vĩnh Cửu dần dần được phát triển từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác và trong suốt tiến trình tái sinh liên tục. Điều này cấu thành một trạng thái tâm thức (đặc trưng cho trạng thái bình thường của con người tiến hóa) có thể được gọi là devachanic.

It is not my intention to elaborate the technique of the eliminative process. Humanity is at so many different stages—intermediate between the three already outlined—that it would be impossible to be definite or concise. Attrition is relatively easy to understand; the kamic body dies out because, there being no call from physical substance, evoking desire, there is nothing with which to feed this vehicle. The astral body comes into being through the reciprocal interplay between the physical plane, which is not a principle, and the principle of desire; in the process of taking rebirth, this principle is utilised with dynamic intent by the soul in the mental vehicle to reverse the call, and matter then responds to the call of the reincarnating man. Kamic man, after a long process of attrition, is left standing free within an embryonic mental vehicle, and this period of semi-mental life is exceedingly brief and is brought to an end by the soul who suddenly “directs his eye to the waiting one,” and of the power of that directed potency instantaneously reorients the individual kamic man to the downward path of rebirth. The kama-manasic man practises a process of withdrawal and responds to the “pull” of a rapidly developing mental body. This withdrawal becomes increasingly rapid and dynamic until it reaches the state where the probationary disciple—under steadily growing soul contact—shatters the kama-manasic body, as a unit, by an act of the mental will, [498] implemented by the soul. You will note that the “devachanic” experience will necessarily be briefer in connection with this majority than with the kamic minority, because the devachanic technique of review and recognition of the implications of experience is slowly controlling the man on the physical plane so that he brings the significance of meaning and learns constantly through experience whilst incarnating. Thus you will realise also that continuity of consciousness is also being slowly developed, and the awarenesses of the inner man begin to demonstrate on the physical plane, through the medium of the physical brain at first, and then independently of that material structure. I have here conveyed a definite hint on a subject which will receive wide attention during the next two hundred years.

Tôi không có ý định khai triển kỹ thuật của tiến trình loại bỏ. Nhân loại đang ở quá nhiều giai đoạn khác nhau—trung gian giữa ba giai đoạn đã được phác họa—đến nỗi không thể nói một cách xác định hay ngắn gọn. Sự bào mòn tương đối dễ hiểu; thể kama tàn lụi vì, do không có tiếng gọi từ chất liệu thể xác khơi dậy ham muốn, nên không có gì để nuôi dưỡng vận cụ này. Thể cảm dục xuất hiện nhờ sự tương tác hỗ tương giữa cõi hồng trần, vốn không phải là một nguyên khí, và nguyên khí ham muốn; trong tiến trình tái sinh, nguyên khí này được linh hồn trong vận cụ trí sử dụng với chủ ý năng động để đảo ngược tiếng gọi, và khi ấy vật chất đáp ứng tiếng gọi của con người tái sinh. Con người kama, sau một tiến trình bào mòn lâu dài, được để lại đứng tự do trong một vận cụ trí phôi thai, và giai đoạn đời sống bán trí tuệ này cực kỳ ngắn ngủi và được chấm dứt bởi linh hồn, Đấng đột ngột “hướng mắt mình về kẻ đang chờ đợi”, và bằng quyền năng của tiềm lực được hướng ấy lập tức tái định hướng con người kama cá biệt vào con đường đi xuống của tái sinh. Con người trí cảm thực hành một tiến trình rút lui và đáp ứng với “sức kéo” của một thể trí đang phát triển nhanh chóng. Sự rút lui này ngày càng trở nên nhanh hơn và năng động hơn cho đến khi đạt tới trạng thái mà đệ tử dự bị—dưới sự tiếp xúc linh hồn ngày càng tăng—phá vỡ thể trí cảm, như một đơn vị, bằng một hành vi của ý chí trí tuệ, [498] được linh hồn thực hiện. Bạn sẽ lưu ý rằng kinh nghiệm “devachanic” tất yếu sẽ ngắn hơn nơi đa số này so với thiểu số kama, bởi vì kỹ thuật devachanic của việc duyệt xét và nhận ra các hàm ý của kinh nghiệm đang dần dần kiểm soát con người trên cõi hồng trần để y mang đến thâm nghĩa của ý nghĩa và học hỏi liên tục qua kinh nghiệm trong khi lâm phàm. Như vậy bạn cũng sẽ nhận ra rằng sự liên tục của tâm thức cũng đang được phát triển chậm rãi, và các nhận biết của con người bên trong bắt đầu biểu lộ trên cõi hồng trần, lúc đầu qua trung gian của bộ não thể xác, rồi sau đó độc lập với cấu trúc vật chất ấy. Ở đây tôi đã truyền đạt một gợi ý xác định về một chủ đề sẽ nhận được sự chú ý rộng rãi trong hai trăm năm tới.

The manasic person, the integrated personality, works, as we have seen, in two ways which are necessarily dependent upon the integration achieved. This integration will be of two kinds:

Con người manas, phàm ngã tích hợp, hoạt động, như chúng ta đã thấy, theo hai cách tất yếu tùy thuộc vào sự tích hợp đã đạt được. Sự tích hợp này sẽ thuộc hai loại:

1. That of the integrated personality focussed in the mind and achieving a constantly growing rapport with the soul.

1. Sự tích hợp của phàm ngã tích hợp tập trung trong trí tuệ và đạt được sự tương giao ngày càng tăng với linh hồn.

2. The disciple, whose integrated personality is now being rapidly integrated into and absorbed by the soul.

2. Đệ tử, mà phàm ngã tích hợp của y hiện đang nhanh chóng được tích hợp vào và được linh hồn hấp thu.

In this stage of mind development and of constant mental control (based on the fact that the man’s consciousness is now definitely focussed and permanently centered in the mental vehicle), the earlier processes of the destruction of the astral body through attrition and by “dynamic negation” are carried on whilst in physical incarnation. The incarnated man refuses to be ruled by desire; what is left of the illusory astral body is dominated now by the mind, and the urges towards the satisfaction of desire are refused with full and [499] conscious deliberation, either because of the selfish ambitions and mental intentions of the integrated personality, or under the inspiration of soul intention which subordinates the mind to its purposes. When this point in evolution is attained, the man can then dissolve the last remaining vestiges of all desire by means of illumination. In the early stages of purely manasic or mental life, this is done through the illumination which knowledge brings and involves mainly the innate light of mental substance. Later, when soul and mind are establishing a close rapport, the light of the soul hastens and supplements the process. The disciple now uses more occult methods, but upon these I may not here enlarge. The destruction of the mental body is no longer brought about by the destructive power of light itself, but is hastened by means of certain sounds, emanating from the plane of the spiritual will; these are recognised by the disciple, and permission to use them in their proper word-forms is given to him by some senior initiate within the Ashram or by the Master Himself, towards the close of the cycle of incarnation.

Trong giai đoạn phát triển trí tuệ này và của sự kiểm soát trí tuệ liên tục (dựa trên sự kiện rằng tâm thức của con người giờ đây đã được tập trung rõ rệt và thường xuyên đặt tại vận cụ trí), các tiến trình trước đó của việc hủy diệt thể cảm dục bằng sự bào mòn và bằng “sự phủ nhận năng động” được tiến hành trong khi còn lâm phàm trên cõi hồng trần. Con người nhập thể từ chối để cho ham muốn cai quản mình; những gì còn lại của thể cảm dục ảo tưởng giờ đây bị trí tuệ chi phối, và các thôi thúc hướng tới sự thỏa mãn ham muốn bị từ chối với sự cân nhắc hoàn toàn và [499] hữu thức, hoặc vì các tham vọng ích kỷ và các ý định trí tuệ của phàm ngã tích hợp, hoặc dưới cảm hứng của ý định linh hồn vốn đặt trí tuệ dưới các mục đích của nó. Khi điểm tiến hoá này đạt được, con người khi ấy có thể làm tan rã những tàn tích cuối cùng còn sót lại của mọi ham muốn bằng phương tiện sự soi sáng. Trong các giai đoạn đầu của đời sống thuần manas hay trí tuệ, điều này được thực hiện qua sự soi sáng mà tri thức mang lại và chủ yếu liên quan đến ánh sáng bẩm sinh của chất liệu trí tuệ. Về sau, khi linh hồn và trí tuệ đang thiết lập một sự tương giao mật thiết, ánh sáng của linh hồn thúc đẩy và bổ sung tiến trình ấy. Đệ tử giờ đây sử dụng những phương pháp huyền bí học hơn, nhưng về những điều này tôi không thể nói rộng ra ở đây. Sự hủy diệt thể trí không còn được tạo ra bởi quyền năng hủy diệt của chính ánh sáng nữa, mà được thúc đẩy bằng một số âm thanh nhất định, phát ra từ cõi của ý chí tinh thần; những âm thanh này được đệ tử nhận biết, và sự cho phép sử dụng chúng trong các dạng Quyền năng từ thích hợp được trao cho y bởi một điểm đạo đồ cao cấp nào đó trong ashram hoặc bởi chính Chân sư, vào lúc gần cuối chu kỳ lâm phàm.

Tenth Law of HealingĐịnh Luật Trị Liệu Thứ Mười

I would like now to lay down certain postulates which we shall need to consider in our study of Part Three where we take up the Fundamental Laws of Healing. These Laws and Rules, I have already given you, but I seek now to elaborate.

Giờ đây tôi muốn nêu ra một số định đề mà chúng ta sẽ cần xem xét trong khi nghiên cứu Phần Ba, nơi chúng ta bàn đến các Định Luật Căn Bản của Trị Liệu. Những Định luật và Quy luật này, tôi đã trao cho bạn rồi, nhưng giờ đây tôi tìm cách khai triển thêm.

We have studied at some length the immediate processes which take place when the principle of life withdraws or is withdrawn from the body. There is a distinction, based on evolutionary development, in these two processes. We have traced the withdrawal of the life principle, plus the consciousness, from the subtle bodies in the three worlds, and have now reached the point where we are no longer dealing [500] with average man or with undeveloped man. We shall be concerned with the conscious activity of the soul in relation to its form aspect.

Chúng ta đã nghiên cứu khá dài về các tiến trình tức thời diễn ra khi nguyên khí sự sống rút khỏi hoặc được rút khỏi thể. Có một sự phân biệt, dựa trên sự phát triển tiến hoá, trong hai tiến trình này. Chúng ta đã lần theo sự rút lui của nguyên khí sự sống, cộng với tâm thức, khỏi các thể vi tế trong ba cõi giới, và giờ đây đã đạt đến điểm mà chúng ta không còn bàn [500] đến con người trung bình hay con người kém phát triển nữa. Chúng ta sẽ quan tâm đến hoạt động hữu thức của linh hồn trong mối liên hệ với phương diện hình tướng của nó.

With the undeveloped or the average man, the soul plays a very small part in the death process, beyond the contribution of a simple soul determination to end the cycle of incarnated life, prior to another return to the physical plane. The “seeds of death” are inherent in the form nature and demonstrate as disease or as senility (using that word in its technical and not in its colloquial sense), and the soul pursues its own interests on its own plane until such time as the evolutionary process has brought about a situation wherein the integration or close relation between soul and form is so real that the soul is deeply and profoundly identified with its manifesting expression. It might be said that when this stage is reached, the soul is, for the first time, truly incarnated; it is truly “descending into manifestation” and the entire soul nature is thereby involved. This is a point little emphasised or realised.

Với người kém phát triển hay người trung bình, linh hồn đóng một vai trò rất nhỏ trong tiến trình chết, ngoài việc đóng góp một quyết định đơn giản của linh hồn nhằm chấm dứt chu kỳ đời sống lâm phàm, trước một lần trở lại khác với cõi hồng trần. “Những hạt giống của cái chết” vốn tiềm ẩn trong bản chất hình tướng và biểu lộ thành bệnh tật hoặc thành sự lão suy (dùng từ này theo nghĩa kỹ thuật chứ không theo nghĩa thông tục), và linh hồn theo đuổi những mối quan tâm riêng của nó trên cõi riêng của nó cho đến khi tiến trình tiến hoá tạo ra một tình huống trong đó sự tích hợp hay mối liên hệ mật thiết giữa linh hồn và hình tướng trở nên chân thực đến mức linh hồn được đồng hoá sâu sắc và thâm sâu với biểu hiện của nó. Có thể nói rằng khi giai đoạn này đạt tới, linh hồn lần đầu tiên thật sự nhập thể; nó thật sự “đi xuống biểu hiện” và toàn bộ bản chất linh hồn do đó bị cuốn vào. Đây là một điểm ít được nhấn mạnh hay nhận ra.

In the earlier lives of the incarnating soul and for the majority of the cycles of life experience, the soul is very slightly concerned in what is going on. The redemption of the substance of which all forms are made goes forward under natural process and the “karma of matter” is the initial governing force; this is succeeded in time by the karma generated by the fusion of soul and form, though (in the earlier stages) very little responsibility is engendered by the soul. That which occurs within the threefold soul-sheath is necessarily the result of the innate tendencies of substance itself. However, as time goes on and incarnation follows upon incarnation, the effect of the indwelling soul quality gradually evokes conscience, and—through the medium of conscience, which is the exercise of the discriminative sense, developed as the mind assumes increasing control—an [501] awakening and finally an awakened consciousness is evoked. This demonstrates in the first instance as the sense of responsibility; it is this which gradually establishes a growing identification of the soul with its vehicle, the lower triple man. The bodies become then steadily more refined; the seeds of death and of disease are not so potent; sensitivity to inner soul realisation grows until the time is reached when the initiate-disciple dies by an act of his spiritual will or in response to group karma or to national or planetary karma.

Trong các kiếp đầu của linh hồn nhập thể và trong phần lớn các chu kỳ kinh nghiệm sống, linh hồn rất ít quan tâm đến những gì đang diễn ra. Sự cứu chuộc chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành tiến triển theo tiến trình tự nhiên và “nghiệp quả của vật chất” là mãnh lực chi phối ban đầu; theo thời gian, điều này được kế tiếp bởi nghiệp quả do sự dung hợp của linh hồn và hình tướng tạo ra, mặc dù (trong các giai đoạn đầu) rất ít trách nhiệm được linh hồn tạo ra. Điều xảy ra bên trong lớp vỏ tam phân của linh hồn tất yếu là kết quả của các khuynh hướng bẩm sinh của chính chất liệu. Tuy nhiên, theo thời gian và khi kiếp lâm phàm nối tiếp kiếp lâm phàm, hiệu quả của phẩm tính linh hồn ngự bên trong dần dần khơi dậy lương tri, và—qua trung gian của lương tri, vốn là sự vận dụng cảm quan phân biện, được phát triển khi trí tuệ ngày càng nắm quyền kiểm soát—một [501] sự thức tỉnh và cuối cùng là một tâm thức đã thức tỉnh được khơi dậy. Điều này trước hết biểu lộ như ý thức trách nhiệm; chính điều này dần dần thiết lập một sự đồng hoá ngày càng tăng của linh hồn với vận cụ của nó, con người tam phân thấp. Khi ấy các thể trở nên ngày càng tinh luyện hơn; những hạt giống của cái chết và bệnh tật không còn mạnh mẽ như trước; sự nhạy cảm đối với chứng nghiệm linh hồn bên trong tăng lên cho đến khi đạt tới lúc mà đệ tử-điểm đạo đồ chết bằng một hành vi của ý chí tinh thần của mình hoặc để đáp ứng với nghiệp quả nhóm hay với nghiệp quả quốc gia hoặc hành tinh.

Disease and death are essentially conditions inherent in substance; just as long as a man identifies himself with the form aspect, so will he be conditioned by the Law of Dissolution. This law is a fundamental and natural law governing the life of the form in all the kingdoms of nature. When the disciple or the initiate is identifying himself with the soul, and when the antahkarana is built by means of the life principle, then the disciple passes out of the control of this universal, natural law and uses or discards the body at will—at the demand of the spiritual will or through recognition of the necessities of the Hierarchy or the purposes of Shamballa.

Bệnh tật và cái chết về bản chất là những trạng thái vốn có trong chất liệu; chừng nào con người còn đồng hoá mình với phương diện hình tướng, chừng đó y còn bị Định luật Tan Rã chi phối. Định luật này là một định luật căn bản và tự nhiên chi phối đời sống của hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên. Khi đệ tử hay điểm đạo đồ đang đồng hoá mình với linh hồn, và khi antahkarana được xây dựng bằng nguyên khí sự sống, khi ấy đệ tử vượt ra khỏi sự kiểm soát của định luật phổ quát, tự nhiên này và sử dụng hoặc loại bỏ thể xác theo ý muốn—theo đòi hỏi của ý chí tinh thần hoặc qua sự nhận biết các nhu cầu của Thánh đoàn hay các mục đích của Shamballa.

We come now to the enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death and which has reference only to those upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.

Giờ đây chúng ta đi đến sự tuyên bố một định luật mới được thay thế cho Định luật Chết và chỉ liên hệ đến những người ở các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.

LAW X

ĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Chela, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind (the fifth principle. A.A.B.) then organises itself, and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free.[502]

Hãy lắng nghe, hỡi đệ tử, tiếng gọi đến từ Người Con gửi tới Người Mẹ, rồi hãy tuân theo. Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng rằng hình tướng đã phụng sự xong mục đích của nó. Nguyên khí trí tuệ (nguyên khí thứ năm. A.A.B.) khi ấy tự tổ chức, rồi lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi đi. Linh hồn đứng tự do.[502]

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognize the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the Principle of life and thus Permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, với tiếng gọi đến trong khối cầu của nghĩa vụ; hãy nhận ra tiếng gọi phát ra từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ Nguyên khí sự sống và như thế cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết. Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đó là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp.

I have wished to make clear in your minds the distinction between disease and death as experienced by the average man, and certain corresponding processes of conscious dissolution as practised by the advanced disciple or initiate. These later processes involve a slowly developing technique in which (in the earlier stages) the disciple is still the victim of disease-producing tendencies of the form, as of all forms in nature. This tendency produces subsequent death, through the stages of modified disease and peaceful, consequent death, on to the other stages where death is brought about by an act of the will—the time and the mode being determined by the soul and consciously recorded and registered in the brain. Pain is demonstrated in both cases, but upon the Path of Initiation pain is largely negated, not because the initiate endeavours to avoid pain, but because the sensitivity of the form to undesirable contacts disappears, and with it pain also disappears; pain is the guardian of the form and the protector of substance; it warns of danger; it indicates certain definite stages in the evolutionary process; it is related to the principle whereby the soul identifies itself with substance. When the identification ceases, pain and disease and also death lose their hold upon the disciple; the soul is no longer subject to their requirements, and the man is free because disease and death are qualities inherent in form, and subject to the vicissitudes of form life.

Tôi đã muốn làm sáng tỏ trong tâm trí bạn sự phân biệt giữa bệnh tật và cái chết như được con người trung bình trải nghiệm, với một số tiến trình tương ứng của sự tan rã hữu thức như được đệ tử hay điểm đạo đồ tiến hóa thực hành. Những tiến trình sau này bao hàm một kỹ thuật phát triển chậm rãi, trong đó (ở các giai đoạn đầu) đệ tử vẫn còn là nạn nhân của các khuynh hướng gây bệnh của hình tướng, như mọi hình tướng trong thiên nhiên. Khuynh hướng này tạo ra cái chết tiếp theo, qua các giai đoạn bệnh tật đã được biến đổi và cái chết bình an kéo theo, cho đến các giai đoạn khác nơi cái chết được tạo ra bởi một hành vi của ý chí—thời điểm và cách thức do linh hồn quyết định và được ghi nhận, đăng ký một cách hữu thức trong bộ não. Đau đớn biểu lộ trong cả hai trường hợp, nhưng trên Con Đường Điểm Đạo đau đớn phần lớn bị phủ nhận, không phải vì điểm đạo đồ cố tránh đau đớn, mà vì sự nhạy cảm của hình tướng đối với những tiếp xúc không mong muốn biến mất, và cùng với nó đau đớn cũng biến mất; đau đớn là người canh giữ của hình tướng và là kẻ bảo vệ chất liệu; nó cảnh báo về nguy hiểm; nó chỉ ra những giai đoạn xác định trong tiến trình tiến hoá; nó liên hệ với nguyên khí nhờ đó linh hồn đồng hoá mình với chất liệu. Khi sự đồng hoá chấm dứt, đau đớn, bệnh tật và cả cái chết mất quyền chi phối đối với đệ tử; linh hồn không còn lệ thuộc vào các đòi hỏi của chúng nữa, và con người được tự do vì bệnh tật và cái chết là những phẩm tính vốn có trong hình tướng, và lệ thuộc vào những thăng trầm của đời sống hình tướng.

[503]

[503]

Death is to man exactly what the release of the atom appears to be; this the great scientific discovery of the release of atomic energy has demonstrated. The nucleus of the atom is split in two. (This wording is scientifically incorrect.) This event in the life experience of the atom releases a great light and a great potency; upon the astral plane, the phenomenon of death has a somewhat similar effect and has a close parallel in the phenomena brought about by the release of atomic energy. Every death, in all the kingdoms of nature, has to some extent this effect; it shatters and destroys substantial form and thus serves a constructive purpose; this result is largely astral or psychic and serves to dissipate some of the enveloping glamour. The wholesale destruction of forms which has been going on during the past few years of war has produced phenomenal changes upon the astral plane and has shattered an immense amount of the existing world glamour, and this is very, very good. These happenings should result in less opposition to the inflow of the new type of energy; it should facilitate the appearance of the ideas embodying the needed recognitions; the new concepts will now be seen, and their emergence into the realm of human thinking will be dependent upon the formulation of the new “lanes or channels of impression” whereby the minds of men can become sensitive to hierarchical plans and to the purposes of Shamballa.

Đối với con người, cái chết chính là điều mà sự giải phóng nguyên tử dường như là; khám phá khoa học vĩ đại về sự giải phóng năng lượng nguyên tử đã chứng minh điều này. Hạt nhân của nguyên tử bị tách làm hai. (Cách nói này không chính xác về mặt khoa học.) Biến cố này trong kinh nghiệm sống của nguyên tử giải phóng một ánh sáng lớn và một tiềm lực lớn; trên cõi cảm dục, hiện tượng chết có một hiệu quả phần nào tương tự và có một sự song hành gần gũi với các hiện tượng do sự giải phóng năng lượng nguyên tử tạo ra. Mọi cái chết, trong mọi giới của thiên nhiên, ở một mức độ nào đó đều có hiệu quả này; nó phá vỡ và hủy diệt hình tướng chất liệu và do đó phụng sự một mục đích xây dựng; kết quả này phần lớn là cảm dục hay thông linh và phụng sự để làm tiêu tan một phần ảo cảm bao phủ. Sự hủy diệt hàng loạt các hình tướng đã diễn ra trong vài năm chiến tranh vừa qua đã tạo ra những thay đổi phi thường trên cõi cảm dục và đã phá vỡ một khối lượng khổng lồ ảo cảm thế giới hiện có, và điều này rất, rất tốt. Những biến cố này sẽ dẫn đến sự chống đối ít hơn đối với dòng chảy vào của loại năng lượng mới; nó sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những ý tưởng hàm chứa các nhận biết cần thiết; các khái niệm mới giờ đây sẽ được nhìn thấy, và sự xuất hiện của chúng vào lĩnh vực tư duy của nhân loại sẽ tùy thuộc vào việc hình thành những “lối đi hay kênh ấn tượng” mới nhờ đó trí tuệ của con người có thể trở nên nhạy cảm với các kế hoạch của Thánh đoàn và với các mục đích của Shamballa.

This, however, is by the way. My proposition will serve to show you some of the relationships between death and constructive activity, and the wide usefulness of death as a process in reconstruction. It will convey to you the idea that this great Law of Death—as it governs substance in the three worlds—is a beneficent and corrective event. Without enlarging upon it, I would remind you that this Law of Death, which governs in such potency in the three worlds of human evolution, is a reflection of a cosmic purpose which [504] governs the cosmic etheric planes of our solar system, the cosmic astral plane and the cosmic mental plane. The death-dealing energy emanates as an expression of the life principle of that greater LIFE which enfolds all the seven planetary systems which in Themselves express the Life of our solar system. When, in our thinking and in our effort to understand, we enter this realm of pure abstraction, it is time to call a halt and draw our minds back to the more practical ways of planetary living and to the laws governing the fourth kingdom in nature, the human.

Tuy nhiên, đó chỉ là nói ngoài đề. Luận điểm của tôi sẽ giúp bạn thấy một số mối liên hệ giữa cái chết và hoạt động xây dựng, cũng như tính hữu dụng rộng lớn của cái chết như một tiến trình trong sự tái thiết. Nó sẽ truyền đạt cho bạn ý niệm rằng Định luật Chết vĩ đại này—khi nó chi phối chất liệu trong ba cõi giới—là một biến cố từ thiện và điều chỉnh. Không cần nói rộng thêm, tôi xin nhắc bạn rằng Định luật Chết này, vốn chi phối với quyền năng mạnh mẽ như vậy trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, là một phản ánh của một mục đích vũ trụ đang [504] chi phối các cõi dĩ thái vũ trụ của hệ mặt trời chúng ta, cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ. Năng lượng mang lại cái chết phát ra như một biểu hiện của nguyên khí sự sống của SỰ SỐNG lớn lao hơn ấy, Đấng bao trùm tất cả bảy hệ hành tinh, mà tự thân chúng biểu hiện Sự Sống của hệ mặt trời chúng ta. Khi, trong tư duy và trong nỗ lực thấu hiểu, chúng ta bước vào lĩnh vực của sự trừu tượng thuần túy này, thì đã đến lúc phải dừng lại và kéo trí tuệ mình trở về với những phương cách thực tiễn hơn của đời sống hành tinh và với các định luật chi phối giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại.

We are now in a position (after this attempt to argue from the universal to the particular, which is ever the occult way), to take up, in Part Three, the last point which deals with the Basic Requirements, and must now consider the use of the death principle by the disciple or the initiate. I would have you note my way of expressing this concept. This is dealt with under the title of The Processes of Integration.

Giờ đây chúng ta ở vào vị thế (sau nỗ lực lập luận từ cái phổ quát đến cái cá biệt này, vốn luôn là phương cách huyền bí học), để bàn đến, trong Phần Ba, điểm cuối cùng liên quan đến các Yêu Cầu Căn Bản, và giờ đây phải xem xét việc sử dụng nguyên khí chết bởi đệ tử hay điểm đạo đồ. Tôi muốn bạn lưu ý cách tôi diễn đạt khái niệm này. Điều này được bàn đến dưới nhan đề Các Tiến Trình Tích Hợp.

Leave a Comment

Scroll to Top