6. Trị Liệu Huyền môn – CHƯƠNG V – Tiến Trình Hoàn Nguyên

📘 Sách: Trị Liệu Huyền Môn – Tác giả: Alice Bailey

CHAPTER V – The Process of RestitutionCHƯƠNG V – Tiến Trình Hoàn Nguyên

[424]

[424]

The theme of Death, which we are now considering, must be approached by us with as much of the spirit of normalcy and of scientific investigation as we can manage. The fear complex of humanity finds its point of entrance into man’s consciousness through the act of dying; failure to survive is the basic fear; and yet it is the commonest phenomenon upon the planet. Bear that in mind. The act of dying is the great universal ritual which governs our entire planetary life, but only in the human family and faintly, very faintly, in the animal kingdom is the reaction to fear found. Could you but see the etheric world as Those on the inner side of life experience and see it, you would see (going on ceaselessly and without any pause) the great planetary act of restitution. You would see a great activity proceeding within the etheric world in which the anima mundi, the animal soul and the human soul are constantly restoring the substance of all physical forms to the great reservoir of essential substance. This essential substance is as much a vital, directed unity as the world soul of which one hears so much. This interplay of the principle of death with the principle of life produces the basic activity of creation. The impulsive, directive force is the mind of God, of the planetary Logos, as He pursues His divine purposes, carrying [425] with Him in this process all the media through which He manifests.

Chủ đề về Cái Chết mà hiện nay chúng ta đang xem xét phải được chúng ta tiếp cận với càng nhiều tinh thần bình thường và khảo cứu khoa học càng tốt. Phức cảm sợ hãi của nhân loại tìm được điểm xâm nhập vào tâm thức con người qua hành vi chết; không sống sót được là nỗi sợ căn bản; thế nhưng đó lại là hiện tượng phổ biến nhất trên hành tinh. Hãy ghi nhớ điều đó. Hành vi chết là nghi lễ phổ quát vĩ đại chi phối toàn bộ sự sống hành tinh của chúng ta, nhưng chỉ trong gia đình nhân loại và một cách mờ nhạt, rất mờ nhạt, trong giới động vật thì phản ứng sợ hãi mới được tìm thấy. Nếu các bạn có thể thấy được thế giới dĩ thái như Các Ngài ở mặt nội tại của sự sống kinh nghiệm và nhìn thấy nó, các bạn sẽ thấy (diễn ra không ngừng nghỉ và không hề gián đoạn) hành vi hoàn nguyên vĩ đại của hành tinh. Các bạn sẽ thấy một hoạt động lớn lao đang diễn tiến trong thế giới dĩ thái, trong đó anima mundi, hồn động vật và linh hồn con người không ngừng hoàn trả chất liệu của mọi hình tướng hồng trần về kho chứa lớn của chất liệu căn bản. Chất liệu căn bản này cũng là một hợp nhất sống động có định hướng chẳng kém gì đại hồn mà người ta thường nghe nói đến. Sự tương tác giữa nguyên khí của cái chết với nguyên khí của sự sống tạo ra hoạt động căn bản của sáng tạo. Mãnh lực thúc đẩy và chỉ đạo là Trí của Thượng đế, của Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài theo đuổi các mục đích thiêng liêng của Ngài, mang theo [425] cùng Ngài trong tiến trình này mọi môi trường qua đó Ngài biểu hiện.

The human fear of death is primarily caused because the orientation of the kingdom of souls, the fifth kingdom in nature, has been (until relatively late in the world’s cycle) towards form expression and towards the necessity of seeking experience through matter, in order eventually freely to control it. The percentage of the souls of those who are oriented away from expression in the three worlds is relatively so small, in proportion to the total number of souls demanding experience in the three worlds, that, until the cycle or era which we call the Christian, it might be stated that death reigned triumphant. Today, however, we are on the eve of seeing a complete change in this condition, owing to the fact that humanity—on a much larger scale than ever known before—is achieving a needed reorientation; the higher values and the life of the soul, as entered upon through the insistence of the mind in its higher and lower aspects, is beginning to control. This will perforce bring in a new attitude towards death; it will be regarded as a natural and desirable process, cyclically undergone. Men will eventually understand the significance of Christ’s words when He said, “Render unto Caesar the things that are Caesar’s and unto God the things that are God’s.” In the incident where those words occur He was referring to the great act of restitution which we call death. Ponder that story and see the symbolism of the soul, contained within the universal soul, as the fish within the water, and holding a coin of metal, the symbol of matter.

Nỗi sợ chết của con người chủ yếu phát sinh vì định hướng của giới các linh hồn, giới thứ năm trong bản chất, đã từng (cho đến một thời kỳ tương đối muộn trong chu kỳ thế giới) hướng về sự biểu lộ qua hình tướng và về sự cần thiết phải tìm kiếm kinh nghiệm qua vật chất, để cuối cùng tự do kiểm soát nó. Tỷ lệ các linh hồn quay lưng khỏi sự biểu lộ trong ba cõi giới tương đối quá nhỏ so với tổng số các linh hồn đòi hỏi kinh nghiệm trong ba cõi giới, đến nỗi, cho tới chu kỳ hay kỷ nguyên mà chúng ta gọi là Cơ Đốc giáo, có thể nói rằng cái chết đã ngự trị khải hoàn. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang ở ngưỡng cửa chứng kiến một sự thay đổi hoàn toàn trong tình trạng này, do sự kiện là nhân loại—trên một quy mô lớn hơn nhiều so với bất cứ điều gì từng được biết trước đây—đang đạt tới một sự tái định hướng cần thiết; các giá trị cao hơn và đời sống của linh hồn, được bước vào nhờ sự khẳng định của trí tuệ trong các phương diện cao và thấp của nó, đang bắt đầu kiểm soát. Điều này tất yếu sẽ đem lại một thái độ mới đối với cái chết; nó sẽ được xem như một tiến trình tự nhiên và đáng mong muốn, được trải qua theo chu kỳ. Cuối cùng con người sẽ hiểu được ý nghĩa lời của Đức Christ khi Ngài nói: “Hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar và trả cho Thượng đế những gì thuộc về Thượng đế.” Trong sự việc mà những lời ấy xuất hiện, Ngài đang nói đến hành vi hoàn nguyên vĩ đại mà chúng ta gọi là cái chết. Hãy suy ngẫm câu chuyện ấy và thấy biểu tượng của linh hồn, được chứa trong đại hồn, như con cá trong nước, và giữ một đồng tiền kim loại, biểu tượng của vật chất.

In one of the ancient writings the following symbolic words occur—

Trong một bản văn cổ có những lời biểu tượng sau đây—

Said the Father to the son: Go forth and take unto thyself that which is not thyself, and that which [426] is not thine own, but which is Mine. Regard it as thine own and seek the cause of its appearance. Let it appear to be thyself. Discover thus the world of glamour, the world of deep illusion, the world of falsity. Then learn that thou hast taken that which is not the goal of soul endeavour.

Người Cha nói với người con: Hãy đi ra và nhận lấy cho mình cái không phải là con, và cái mà [426] không phải của con, nhưng là của Ta. Hãy xem nó như của con và tìm nguyên nhân của sự xuất hiện của nó. Hãy để nó dường như là chính con. Nhờ đó hãy khám phá thế giới của ảo cảm, thế giới của ảo tưởng sâu xa, thế giới của giả dối. Rồi hãy học rằng con đã lấy cái không phải là mục tiêu của nỗ lực linh hồn.

And when that moment comes in each cycle and appearance of deception and of theft, a voice will then be heard. Obey that voice. It is the voice of that within thyself which hears My voice—a voice unheard by those who love to thieve. The order will go forth again and yet again: “Make restitution of the stolen goods. Learn they are not for thee.” At greater intervals will come that voice again: “Make restitution of the borrowed goods; pay back thy debt.”

Và khi khoảnh khắc ấy đến trong mỗi chu kỳ và sắc tướng của lừa dối và trộm cắp, khi đó một tiếng nói sẽ được nghe thấy. Hãy tuân theo tiếng nói ấy. Đó là tiếng nói của cái ở bên trong con, cái nghe được tiếng nói của Ta—một tiếng nói không được nghe bởi những kẻ thích trộm cắp. Mệnh lệnh sẽ lại được ban ra, rồi lại nữa: “Hãy hoàn trả những của cải bị đánh cắp. Hãy học rằng chúng không dành cho con.” Với những khoảng cách lớn hơn, tiếng nói ấy sẽ lại đến: “Hãy hoàn trả những của cải vay mượn; hãy trả món nợ của con.”

And then, when all the lessons have been learnt, the voice once more will speak: “Restore with joy that which was Mine, was thine and now again is ours. Thou hast no longer need of form. Stand free.”

Và rồi, khi mọi bài học đã được học xong, tiếng nói ấy một lần nữa sẽ cất lên: “Hãy vui vẻ hoàn trả cái vốn là của Ta, là của con và nay lại là của chúng ta. Con không còn cần hình tướng nữa. Hãy đứng tự do.”

The implication of the above words is clear.

Hàm ý của những lời trên thật rõ ràng.

Two major thoughts will serve to clarify the issue of death with which we are now concerned: First, the great dualism ever present in manifestation. Each of the dualities has its own expression, is governed by its own laws, and seeks its own objectives. But—in time and space—they merge their interests for the benefit of both, and together produce the appearance of a unity. Spirit-matter, life-appearance, energy-force—each have their own emanating aspect; they each have a relation to each other; each have a mutual temporary objective, and thus in unison produce the eternal flux, the cyclic ebb and flow of life in manifestation. [427] In this process of relationship between Father-Spirit and Mother-Matter the son comes into being, and during the child stage carries on his life processes within the aura of the mother, identified with her yet forever seeking to escape from her domination. As maturity is reached, the problem intensifies, and the “pull” of the Father begins slowly to offset the possessive attitude of the mother, until finally the hold of matter, or of the mother, over her son (the soul) is finally broken. The son, the Christ-child, released from the guardianship and clinging hands of the mother, comes to know the Father. I am talking to you in symbols.

Hai tư tưởng lớn sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề về cái chết mà hiện nay chúng ta quan tâm: Thứ nhất, tính nhị nguyên lớn lao luôn hiện diện trong biểu hiện. Mỗi cặp nhị nguyên đều có biểu hiện riêng, được chi phối bởi các định luật riêng, và tìm kiếm các mục tiêu riêng. Nhưng—trong thời gian và không gian—chúng hòa nhập các lợi ích của mình vì lợi ích của cả hai, và cùng nhau tạo ra sắc tướng của một hợp nhất. Tinh thần-vật chất, sự sống-sắc tướng, năng lượng-mãnh lực—mỗi cặp đều có phương diện xuất lộ riêng; mỗi cặp đều có liên hệ với nhau; mỗi cặp đều có một mục tiêu tạm thời chung, và như thế trong sự hợp nhất tạo ra dòng chảy vĩnh cửu, sự lên xuống theo chu kỳ của sự sống trong biểu hiện. [427] Trong tiến trình liên hệ này giữa Cha-Tinh thần và Mẹ-Vật chất, người con đi vào hiện hữu, và trong giai đoạn thơ ấu mang theo các tiến trình sự sống của mình trong hào quang của người mẹ, đồng hoá với bà nhưng mãi mãi tìm cách thoát khỏi sự thống trị của bà. Khi đạt tới trưởng thành, vấn đề trở nên gay gắt hơn, và “sức hút” của người Cha bắt đầu chậm rãi hóa giải thái độ chiếm hữu của người mẹ, cho đến cuối cùng sự nắm giữ của vật chất, hay của người mẹ, đối với con trai bà (linh hồn) rốt cuộc bị phá vỡ. Người con, Hài Nhi Christ, được giải thoát khỏi sự giám hộ và đôi tay bám víu của người mẹ, đi đến chỗ biết người Cha. Tôi đang nói với các bạn bằng biểu tượng.

Second: All the processes of incarnation, of life in form and of restitution (by the activity of the principle of death), of matter to matter, and soul to soul, are carried forward under the great universal Law of Attraction. Can you picture the time when the process of death, clearly recognised and welcomed by the man, could be described by him in the simple phrase, “The time has come when my soul’s attractive force requires that I relinquish and restore my body to the place from whence it came”? Imagine the change in the human consciousness when death comes to be regarded as an act of simple and conscious relinquishing of form, temporarily taken for two specific objectives:

Thứ hai: Mọi tiến trình nhập thể, sự sống trong hình tướng và hoàn nguyên (nhờ hoạt động của nguyên khí cái chết), của vật chất về vật chất, và của linh hồn về linh hồn, đều được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn phổ quát vĩ đại. Các bạn có thể hình dung thời điểm khi tiến trình chết, được con người nhận biết rõ ràng và hoan nghênh, có thể được chính y mô tả bằng cụm từ đơn giản: “Đã đến lúc mãnh lực hấp dẫn của linh hồn tôi đòi hỏi tôi phải từ bỏ và hoàn trả thể xác của tôi về nơi nó đã đến”? Hãy tưởng tượng sự thay đổi trong tâm thức con người khi cái chết được xem như một hành vi đơn giản và có ý thức của việc từ bỏ hình tướng, tạm thời được nhận lấy vì hai mục tiêu cụ thể:

a. To gain control in the three worlds.

a. Để giành quyền kiểm soát trong ba cõi giới.

b. To give opportunity to the substance of the forms thus “stolen or borrowed or rightly appropriated,” according to the stage of evolution, to reach a higher point of perfection through the impact upon it of life, via the soul.

b. Để tạo cơ hội cho chất liệu của các hình tướng như thế, “bị đánh cắp hay vay mượn hay được chiếm hữu một cách chính đáng,” tùy theo giai đoạn tiến hoá, đạt tới một điểm hoàn thiện cao hơn nhờ tác động của sự sống lên nó, qua linh hồn.

These are significant thoughts. They have been expressed before, but have been discarded as symbolic, as comforting or as wishful thinking. I present them to you as factual in nature, as unavoidable in practice, and as familiar a technique [428] and process as those activities, (rhythmic and cyclic in nature) which govern the average man’s life—rising and retiring, eating and drinking, and all the periodic affairs which he is accustomed to pursue.

Đó là những tư tưởng đầy ý nghĩa. Chúng đã từng được trình bày trước đây, nhưng đã bị gạt bỏ như biểu tượng, như sự an ủi hay như lối suy nghĩ cầu mong. Tôi trình bày chúng với các bạn như những sự kiện về bản chất, như điều không thể tránh trong thực hành, và như một kỹ thuật [428] và tiến trình quen thuộc chẳng khác gì những hoạt động (có tính nhịp điệu và chu kỳ) chi phối đời sống của con người trung bình—thức dậy và nghỉ ngơi, ăn và uống, và mọi công việc định kỳ mà y quen theo đuổi.

I dealt with the subject of death in A Treatise on White Magic, focussing therein primarily upon the physical processes of dying and doing so from the point of view of the onlooker or observer. I sought there to indicate what the attitude of the onlooker should be. Here I would like to present a somewhat different picture, indicating what is known by the departing soul. If this involves repetition of what you already know, there are however certain basic repetitions and statements I wish to make. Let me tabulate them with brevity. Will you regard them as foundational and factual.

Tôi đã bàn đến chủ đề cái chết trong Luận về Chánh Thuật, chủ yếu tập trung ở đó vào các tiến trình hồng trần của sự chết và làm như vậy từ quan điểm của người đứng nhìn hay người quan sát. Ở đó tôi đã tìm cách chỉ ra thái độ của người đứng nhìn nên như thế nào. Ở đây tôi muốn trình bày một bức tranh hơi khác, chỉ ra điều mà linh hồn đang ra đi biết được. Nếu điều này bao hàm sự lặp lại những gì các bạn đã biết, thì tuy vậy vẫn có một số sự lặp lại và phát biểu căn bản mà tôi muốn nêu ra. Hãy để tôi liệt kê chúng một cách ngắn gọn. Các bạn hãy xem chúng là nền tảng và là sự kiện.

1. The time for the departure of an incarnating soul has come. The soul has in the past:

1. Đã đến lúc một linh hồn đang nhập thể phải ra đi. Trong quá khứ linh hồn đã:

a. Appropriated a physical body of a certain calibre, adequate to the requirements and age of that soul.

a. Chiếm dụng một thể xác hồng trần có một phẩm cấp nhất định, thích hợp với các nhu cầu và tuổi đời của linh hồn ấy.

b. Energized that physical body through the medium of the etheric body, thus galvanising it into life activity for the duration of the soul’s set term of physical enterprise.

b. Tiếp năng lượng cho thể xác hồng trần ấy qua trung gian của thể dĩ thái, nhờ đó kích hoạt nó vào hoạt động sống trong suốt thời hạn đã định của linh hồn cho công cuộc hoạt động hồng trần.

2. Two major streams of energy enter the physical body and produce its activity, its quality and type of expression, plus the impression it makes upon its environment.

2. Hai dòng năng lượng lớn đi vào thể xác hồng trần và tạo ra hoạt động của nó, phẩm tính và loại biểu lộ của nó, cộng thêm ấn tượng mà nó tạo ra trên môi trường xung quanh.

a. The stream of dynamic life. This is anchored in the heart. This stream of dynamic energy enters the body, via the head, and passes down to the heart, where it is focussed during the life cycle. A smaller stream of the universal energy or prana, distinctive from the individualised life force, enters the physical body, via the spleen. It then rises to the heart to [429] join the larger and more important life stream. The life stream energises and holds in coherency the integrated physical body. The stream of pranic energy vitalises the individual atoms and cells of which that body is composed.

a. Dòng sự sống năng động. Dòng này được neo trong tim. Dòng năng lượng năng động này đi vào thể, qua đầu, rồi đi xuống tim, nơi nó được tập trung trong suốt chu kỳ sống. Một dòng nhỏ hơn của năng lượng phổ quát hay prana, khác biệt với sinh lực biệt ngã hóa, đi vào thể xác hồng trần qua lá lách. Sau đó nó đi lên tim để [429] hợp với dòng sự sống lớn hơn và quan trọng hơn. Dòng sự sống tiếp năng lượng và giữ cho thể xác hồng trần tích hợp được cố kết. Dòng năng lượng prana tiếp sinh lực cho từng nguyên tử và tế bào cấu thành thể ấy.

b. The stream of individual consciousness. This is anchored in the head, is an aspect of the soul, reveals the type of consciousness which is, in its turn, indicative of the point attained in evolution. This stream of energy likewise functions in connection with a stream of personality force; and this force is characterised by desire (emotional or astral sentiency) and enters into the physical body, via the solar plexus centre. This relates the man to the entire astral plane, and therefore to the world of glamour. With undeveloped people and with the average type of man, the solar plexus is the focus of consciousness and the energy is registered by the focal point of consciousness in the head without any recognition whatsoever. It is for this reason that (at the time of death) the soul leaves the body, via the solar plexus and not via the head. In the case of the developed man, the mental type of individual, the aspirant, disciple or initiate, the thread of consciousness will withdraw from the body via the head.

b. Dòng tâm thức cá nhân. Dòng này được neo trong đầu, là một phương diện của linh hồn, và biểu lộ loại tâm thức, đến lượt nó cho thấy điểm đã đạt được trong tiến hoá. Dòng năng lượng này cũng hoạt động liên hệ với một dòng mãnh lực phàm ngã; và mãnh lực này được đặc trưng bởi dục vọng (cảm nhận cảm xúc hay cảm dục) và đi vào thể xác hồng trần qua trung tâm tùng thái dương. Điều này liên hệ con người với toàn bộ cõi cảm dục, và do đó với thế giới của ảo cảm. Với những người chưa phát triển và với kiểu người trung bình, tùng thái dương là tiêu điểm của tâm thức và năng lượng được ghi nhận bởi điểm tập trung của tâm thức trong đầu mà hoàn toàn không có sự nhận biết nào. Chính vì lý do này mà (vào lúc chết) linh hồn rời thể qua tùng thái dương chứ không qua đầu. Trong trường hợp của người đã phát triển, kiểu cá nhân trí tuệ, người chí nguyện, đệ tử hay điểm đạo đồ, sợi dây tâm thức sẽ rút khỏi thể qua đầu.

3. The group soul of all forms in the animal kingdom—under the Law of Attraction—withdraws the life principle from any specific physical form via the solar plexus, which is the brain of the average animal. Highly developed and domesticated animals are beginning to utilise the brain to a greater or to a less degree, but the life principle and the sentient aspect, or animal consciousness, is still withdrawn via the solar plexus. You have, [430] therefore, in all stages of the evolutionary process, certain interesting triangles of energy.

3. Hồn nhóm của mọi hình tướng trong giới động vật—dưới Định luật Hấp Dẫn—rút nguyên khí sự sống khỏi bất kỳ hình tướng hồng trần cụ thể nào qua tùng thái dương, vốn là bộ não của con vật trung bình. Những con vật phát triển cao và đã được thuần hóa đang bắt đầu sử dụng bộ não ở mức độ nhiều hay ít hơn, nhưng nguyên khí sự sống và phương diện cảm nhận, hay tâm thức động vật, vẫn được rút ra qua tùng thái dương. Vì vậy, trong mọi giai đoạn của tiến trình tiến hoá, các bạn có một số tam giác năng lượng thú vị.

a. In the case of the animals and of those human beings who are little more than animals, of imbeciles and certain men who appear to be born with no centralised point of individual consciousness, the following triplicity is of importance:

a. Trong trường hợp các con vật và những con người hầu như không hơn động vật là bao, những kẻ đần độn và một số người dường như sinh ra mà không có điểm tập trung tâm thức cá nhân, thì bộ ba sau đây là quan trọng:

The group soul

Hồn nhóm

The solar plexus

Tùng thái dương

The spleen or pranic centre.

Lá lách hay trung tâm prana.

b. In low grade, but nevertheless individualised human beings and with the average emotional type of person, the following triplicity must be noted:

b. Với những con người phẩm cấp thấp nhưng dù sao cũng đã biệt ngã hóa, và với kiểu người cảm xúc trung bình, cần lưu ý bộ ba sau đây:

The soul

Linh hồn

The head centre

Trung tâm đầu

The solar plexus.

Tùng thái dương.

c. For highly developed people and for those upon the Path of Discipleship you have the following triangle active at the time of death:

c. Với những người phát triển cao và những người trên Con Đường Đệ Tử, các bạn có tam giác sau đây hoạt động vào lúc chết:

The soul

Linh hồn

The head centre

Trung tâm đầu

The ajna centre.

Trung tâm ajna.

In connection with all these triplicities there exists a dual relationship to the life principle:

Liên hệ với tất cả các bộ ba này, có một mối liên hệ nhị phân với nguyên khí sự sống:

a. The heart in which is focussed the life of the soul in form.

a. Tim, nơi sự sống của linh hồn trong hình tướng được tập trung.

b. The spleen through which passes constantly and rhythmically the universal life essence or prana.

b. Lá lách, qua đó tinh chất sự sống phổ quát hay prana đi qua không ngừng và có nhịp điệu.

The whole subject is of course most obscure, and for those on strictly human levels, as yet unverifiable. However, an acceptance of the above three points, hypothetical today, [431] will help to clarify your minds concerning this entire theme of restitution with which we are occupied.

Toàn bộ chủ đề này dĩ nhiên rất mơ hồ, và đối với những người ở các cấp độ thuần túy nhân loại thì hiện vẫn chưa thể kiểm chứng. Tuy nhiên, việc chấp nhận ba điểm trên, hiện nay còn là giả thuyết, [431] sẽ giúp làm sáng tỏ trí tuệ của các bạn về toàn bộ chủ đề hoàn nguyên mà chúng ta đang bận tâm.

4. The next point needs no proving, for it is generally accepted. It is that desire governs the process of death, as it also governs the processes of life experience. We say constantly that when the will-to-live is lacking, death is the inevitable result. This will-to-live, whether it is the tenacity of the physical body, functioning as an elemental being or as the directed intention of the soul, is an aspect of desire, or rather, it is a reaction of the spiritual will upon the physical plane. There is therefore an interlocking relation between:

4. Điểm tiếp theo không cần chứng minh, vì nó được chấp nhận rộng rãi. Đó là dục vọng chi phối tiến trình chết, cũng như nó chi phối các tiến trình kinh nghiệm sống. Chúng ta vẫn thường nói rằng khi thiếu ý chí sống, cái chết là kết quả không thể tránh khỏi. Ý chí sống này, dù là sự bám chặt của thể xác hồng trần, hoạt động như một hữu thể hành khí hay như ý định có định hướng của linh hồn, đều là một phương diện của dục vọng, hay đúng hơn, là một phản ứng của ý chí tinh thần trên cõi hồng trần. Vì vậy có một mối liên hệ móc nối giữa:

a. The soul on its own plane.

a. Linh hồn trên cõi riêng của nó.

b. The astral body.

b. Thể cảm dục.

c. The solar plexus centre.

c. Trung tâm tùng thái dương.

This relationship has hitherto received little attention in connection with the Art of Dying. Nevertheless it warrants careful thought.

Mối liên hệ này cho đến nay ít được chú ý trong liên hệ với Nghệ Thuật Chết. Tuy nhiên, nó đáng được suy nghĩ cẩn trọng.

You will note that I am here dealing with the theme of death as it makes its presence felt through disease or through old age. I am not referring to death as it comes through war or accident, through murder or through suicide. These causes of death, and other causes, come under a totally different directive process: they may not even involve the karma of a man or his individual destiny, as in the case of war. Then vast numbers of people are killed. This has nothing to do with the Law of Cause and Effect as a factor in the soul career of any individual. It is not an act of restitution, planned by a particular soul as it works out its individual destiny. Death, through the destructive processes of war, is under the directive and cyclic intention of the planetary Logos, working through the Council Chamber at Shamballa. The Beings Who there direct world processes [432] know that a time has come when the relation between planetary evil and the Forces of Light or of Good have reached a point of “explosive antagonism” (as it is called). This must be given free rein if the divine purpose is to work out unarrested. The explosion is therefore permitted; nevertheless, all the time a controlling factor is present, even though unrealised by man. Because these Beings (Who work out the will of God) are in no way identified with form life, they have consequently a just appreciation of the relative importance of life in form; the destruction of forms is, to Them, not death in the sense that we understand it, but simply and solely a process of liberation. It is the limited vision of those identified with form which has so consistently nurtured the fear of death. The cycle in which we now live has seen the greatest destruction of human forms in the entire history of our planet. There has been no destruction of human beings. I would have you note this statement. Because of this wholesale destruction, humanity has made a very rapid advance towards a more serene attitude in connection with death. This is not yet apparent but—in a few years’ time—the new attitude will begin to be marked and the fear of death will begin to die out in the world. This will also be largely due to the increased sensitivity of the human response apparatus, leading to a turning inward or to a new orientation of the human mind, with unpredictable results.

Các bạn sẽ lưu ý rằng ở đây tôi đang đề cập đến chủ đề cái chết khi nó biểu lộ sự hiện diện của mình qua bệnh tật hay tuổi già. Tôi không nói đến cái chết đến qua chiến tranh hay tai nạn, qua giết người hay tự sát. Những nguyên nhân chết này, và các nguyên nhân khác, thuộc về một tiến trình chỉ đạo hoàn toàn khác: chúng thậm chí có thể không liên quan đến nghiệp quả của một người hay số mệnh cá nhân của y, như trong trường hợp chiến tranh. Khi đó số lượng lớn người bị giết. Điều này không liên quan gì đến Định luật Nhân Quả như một yếu tố trong sự nghiệp linh hồn của bất kỳ cá nhân nào. Đó không phải là một hành vi hoàn nguyên do một linh hồn cụ thể hoạch định khi nó triển khai số mệnh cá nhân của mình. Cái chết, qua các tiến trình hủy diệt của chiến tranh, nằm dưới ý định chỉ đạo và chu kỳ của Hành Tinh Thượng đế, hoạt động qua Phòng Hội Đồng tại Shamballa. Các Đấng ở đó chỉ đạo các tiến trình thế giới [432] biết rằng đã đến lúc mối liên hệ giữa điều ác hành tinh và các Mãnh Lực của Ánh Sáng hay của Điều Thiện đã đạt tới một điểm “đối kháng bùng nổ” (như cách gọi). Điều này phải được để mặc cho tự do phát tác nếu mục đích thiêng liêng muốn được triển khai không bị ngăn trở. Vì vậy sự bùng nổ được cho phép; tuy nhiên, suốt mọi lúc vẫn có một yếu tố kiểm soát hiện diện, dù con người không nhận ra. Bởi vì các Đấng này (những Đấng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế) hoàn toàn không đồng hoá với sự sống hình tướng, nên do đó Các Ngài có một sự đánh giá công bằng về tầm quan trọng tương đối của sự sống trong hình tướng; đối với Các Ngài, sự hủy diệt các hình tướng không phải là cái chết theo nghĩa chúng ta hiểu, mà chỉ đơn thuần và duy nhất là một tiến trình giải thoát. Chính tầm nhìn hạn hẹp của những người đồng hoá với hình tướng đã liên tục nuôi dưỡng nỗi sợ chết. Chu kỳ mà hiện nay chúng ta đang sống đã chứng kiến sự hủy diệt lớn nhất các hình tướng con người trong toàn bộ lịch sử hành tinh của chúng ta. Không hề có sự hủy diệt các con người. Tôi muốn các bạn lưu ý phát biểu này. Vì sự hủy diệt trên quy mô lớn này, nhân loại đã tiến rất nhanh tới một thái độ tĩnh lặng hơn liên hệ với cái chết. Điều này chưa rõ rệt, nhưng—trong vài năm nữa—thái độ mới sẽ bắt đầu nổi bật và nỗi sợ chết sẽ bắt đầu tàn lụi trong thế giới. Điều này cũng phần lớn là do sự gia tăng tính nhạy cảm của bộ máy đáp ứng của con người, dẫn tới một sự quay vào bên trong hay một sự tái định hướng mới của trí tuệ con người, với những kết quả không thể tiên đoán.

The basis of all wars is fundamentally the sense of separateness. This fundamental individualism or pleased recognition of isolationism leads to all the secondary causes of war: greed, producing economic disaster; hatred, producing national and international friction; cruelty, producing pain and death. The roots of death are therefore deep-seated; it is the destruction of the cycle of separateness as an individual upon the physical plane which we call death [433] in the usual sense; consequently death is a process of at-one-ment. Could you but see a little further into the matter, you would learn that death releases the individualised life into a less cramped and confined existence, and eventually—when the death process has been applied to all the three vehicles in the three worlds—into the life of universality. This is a point of inexpressible bliss.

Nền tảng của mọi cuộc chiến về căn bản là cảm thức biệt lập. Tính cá nhân chủ nghĩa căn bản này hay sự thỏa mãn khi nhận biết chủ nghĩa cô lập dẫn đến mọi nguyên nhân thứ yếu của chiến tranh: lòng tham, tạo ra thảm họa kinh tế; hận thù, tạo ra xung đột quốc gia và quốc tế; tàn nhẫn, tạo ra đau đớn và cái chết. Vì vậy, gốc rễ của cái chết ăn sâu; chính sự hủy diệt chu kỳ biệt lập như một cá nhân trên cõi hồng trần mà chúng ta gọi là cái chết [433] theo nghĩa thông thường; do đó cái chết là một tiến trình hợp nhất. Nếu các bạn có thể nhìn xa hơn một chút vào vấn đề này, các bạn sẽ học được rằng cái chết giải thoát sự sống biệt ngã hóa vào một sự hiện hữu ít chật hẹp và gò bó hơn, và cuối cùng—khi tiến trình chết đã được áp dụng cho cả ba vận cụ trong ba cõi giới—vào sự sống phổ quát. Đây là một điểm chí phúc không thể diễn tả.

The Law of Attraction governs the process of dying, as it governs all else in manifestation. It is the principle of coherency which, under the balanced integration of the whole body, preserves it intact, stabilises its rhythm and cyclic life processes and relates its varied parts to each other. It is the major coordinating principle within all forms, for it is the primary expression (within the soul) of the first aspect of divinity, the will aspect. This statement may surprise you, accustomed as you are to regard the Law of Attraction as an expression of the second aspect, love-wisdom. This attractive principle is found in all forms, from the tiny form of the atom to that form, the planet Earth, through which our planetary Logos expresses Himself. But if it is the principle of coherency and the cause of integration, it is also the medium through which “restitution” is brought about and by which the human soul is periodically reabsorbed into the overshadowing soul. This aspect of the Law of Attraction has, as yet, received little attention. The reason is that it concerns the highest expression of that Law, and is therefore related to the will aspect of Deity, as also the will aspect of the Monad. Only as the Shamballic force proceeds with its more direct work in the coming cycle, and men begin to discriminate (as they must and will) between self-will and the spiritual will, between determination, intention, plan, purpose, and fixed polarisation, will clarification come. The Law of Attraction has (as all else in manifestation) [434] three phases or aspects, each related to the three divine aspects:

Định luật Hấp Dẫn chi phối tiến trình chết, cũng như nó chi phối mọi thứ khác trong biểu hiện. Đó là nguyên khí cố kết, dưới sự tích hợp quân bình của toàn thể thể, bảo tồn nó nguyên vẹn, ổn định nhịp điệu và các tiến trình sống theo chu kỳ của nó, và liên hệ các phần khác nhau của nó với nhau. Đó là nguyên khí phối hợp chủ yếu bên trong mọi hình tướng, vì nó là biểu hiện sơ khởi (bên trong linh hồn) của phương diện thứ nhất của thiên tính, phương diện ý chí. Phát biểu này có thể làm các bạn ngạc nhiên, vốn đã quen xem Định luật Hấp Dẫn như một biểu hiện của phương diện thứ hai, Bác Ái – Minh Triết. Nguyên khí hấp dẫn này được tìm thấy trong mọi hình tướng, từ hình tướng nhỏ bé của nguyên tử cho đến hình tướng là hành tinh Trái Đất, qua đó Hành Tinh Thượng đế của chúng ta biểu lộ Chính Ngài. Nhưng nếu nó là nguyên khí cố kết và là nguyên nhân của sự tích hợp, thì nó cũng là môi trường qua đó “sự hoàn nguyên” được thực hiện và nhờ đó linh hồn con người được tái hấp thu theo chu kỳ vào linh hồn phủ bóng. Phương diện này của Định luật Hấp Dẫn cho đến nay vẫn ít được chú ý. Lý do là vì nó liên quan đến biểu hiện cao nhất của Định luật ấy, và do đó liên hệ với phương diện ý chí của Thượng đế, cũng như với phương diện ý chí của chân thần. Chỉ khi mãnh lực Shamballa tiến hành công việc trực tiếp hơn của nó trong chu kỳ sắp tới, và con người bắt đầu phân biện (như họ phải và sẽ làm) giữa ý chí vị kỷ và ý chí tinh thần, giữa quyết tâm, ý định, kế hoạch, mục đích và sự phân cực cố định, thì sự sáng tỏ mới đến. Định luật Hấp Dẫn có (như mọi thứ khác trong biểu hiện) [434] ba giai đoạn hay phương diện, mỗi phương diện liên hệ với ba phương diện thiêng liêng:

1. It relates life and form, spirit and matter—the third aspect.

1. Nó liên hệ sự sống và hình tướng, tinh thần và vật chất—phương diện thứ ba.

2. It governs the coherent integrative process which produces forms—the second aspect.

2. Nó chi phối tiến trình tích hợp cố kết tạo ra các hình tướng—phương diện thứ hai.

3. It brings about the imbalance which results in the act of disintegration, thus overcoming form—as far as the human being is concerned—and brings this about in three phases to which we have given the names:

3. Nó tạo ra sự mất quân bình dẫn đến hành vi tan rã, nhờ đó vượt thắng hình tướng—xét theo con người—và thực hiện điều này trong ba giai đoạn mà chúng ta đã đặt tên là:

a. Restitution, resulting in the dissolution of the body and the return of its elements, atoms and cells, to their originating source.

a. Hoàn nguyên, dẫn đến sự tan rã của thể và sự trở về của các nguyên tố, nguyên tử và tế bào của nó về nguồn gốc phát sinh.

b. Elimination, involving the same basic process in relation to the forces which have constituted the astral body and the mental vehicle.

b. Loại bỏ, bao hàm cùng tiến trình căn bản ấy trong liên hệ với các mãnh lực đã cấu thành thể cảm dục và vận cụ trí tuệ.

c. Absorption, the mode whereby the human soul is integrated into its originating source, the overshadowing, universal soul. This is an expression of the first aspect.

c. Hấp thu, là phương thức nhờ đó linh hồn con người được tích hợp vào nguồn gốc phát sinh của nó, linh hồn phổ quát phủ bóng. Đây là một biểu hiện của phương diện thứ nhất.

All these phases, rightly understood, illustrate or demonstrate the unique potency of the Law of Attraction and its relation to the Law of Synthesis, which governs the first divine aspect. Integration eventually produces synthesis. The many cyclic integrations which are carried forward in the great life cycle of an incarnating soul lead to the final synthesis of spirit and soul, which is the goal of the evolutionary process where humanity is concerned. After the third initiation, this results in the complete liberation of the man from the “pull” of substance in the three worlds and in his consequent ability to wield, with full understanding, the Law of Attraction in its various phases, as far as [435] the creative process is involved. Other phases will then be later mastered.

Tất cả các giai đoạn này, nếu được hiểu đúng, đều minh họa hay chứng minh năng lực độc đáo của Định luật Hấp Dẫn và mối liên hệ của nó với Định luật Tổng Hợp, vốn chi phối phương diện thiêng liêng thứ nhất. Sự tích hợp cuối cùng tạo ra tổng hợp. Nhiều sự tích hợp theo chu kỳ được tiến hành trong đại chu kỳ sống của một linh hồn nhập thể dẫn đến sự tổng hợp cuối cùng của tinh thần và linh hồn, là mục tiêu của tiến trình tiến hoá xét theo nhân loại. Sau lần điểm đạo thứ ba, điều này dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn con người khỏi “sức hút” của chất liệu trong ba cõi giới và do đó đem lại cho y khả năng vận dụng, với sự thấu hiểu trọn vẹn, Định luật Hấp Dẫn trong các giai đoạn khác nhau của nó, trong chừng mực [435] tiến trình sáng tạo có liên quan. Những giai đoạn khác rồi sau đó sẽ được làm chủ.

One point must be borne in mind. The words “earth to earth and dust to dust,” so familiar in the burial rituals of the Occident, refer to this act of restitution and connote the return of the physical body elements to the original reservoir of matter, and of the substance of the vital form to the general etheric reservoir; the words “the spirit shall return unto God who gave it” are a distorted reference to the absorption of the soul by the universal soul. The ordinary rituals, however, fail to emphasise that it is that individualised soul, in process of reabsorption, which institutes and orders, by an act of the spiritual will, that restitution. It is forgotten in the West that this “order to restore” has been given with great frequency down the ages by every soul within a physical form; in so doing, steadily and inevitably, the first divine aspect—the Monad on its own plane—is tightening its hold upon its body of manifestation, via its reflection, the soul. Thus the will aspect comes increasingly into play until, upon the Path of Discipleship, spiritual determination is brought to its highest point of development and, upon the Path of Initiation, the will begins to function consciously. It is worth remembering, is it not, that it is in the deliberate issuing of the command by the soul upon its own plane to its shadow in the three worlds that the soul learns to express the first and highest aspect of divinity, and this at first, and for a very long time, solely through the process of death. The difficulty at present is that relatively few people are soul-conscious, and consequently most men remain unaware of the “occult commands” of their own souls. As humanity becomes soul-conscious (and this will be one of the results of the agony of the present war), death will be seen as an “ordered” process, carried out in full consciousness and with understanding of [436] cyclic purpose. This will naturally end the fear at present rampant, and will also arrest the tendency to suicide, evidenced increasingly in these difficult times. The sin of murder is in reality based upon the fact that it interferes with soul-purpose, and not really upon the killing of a particular human physical body. That is also why war is not murder, as many well-meaning fanatics consider it; it is the destruction of forms with the beneficent intent (if one could scrutinise divine purpose) of the planetary Logos. However, it is the motives of the originators of war on the physical plane which make them evil. If war did not take place, the planetary life would, through what we call “acts of God,” call back the souls of men on a large scale in line with His loving intention. When evil men precipitate a war, He brings good out of evil.

Có một điểm phải được ghi nhớ. Những lời “đất trở về đất và bụi trở về bụi,” quá quen thuộc trong các nghi thức an táng của phương Tây, nói đến hành vi hoàn nguyên này và hàm ý sự trở về của các nguyên tố của thể xác hồng trần về kho chứa nguyên thủy của vật chất, và của chất liệu của hình tướng sinh lực về kho chứa dĩ thái chung; những lời “linh hồn sẽ trở về với Thượng đế, Đấng đã ban nó” là một ám chỉ bị bóp méo về sự hấp thu linh hồn bởi linh hồn phổ quát. Tuy nhiên, các nghi thức thông thường không nhấn mạnh rằng chính linh hồn biệt ngã hóa ấy, trong tiến trình được tái hấp thu, là tác nhân khởi xướng và ra lệnh, bằng một hành vi của ý chí tinh thần, cho sự hoàn nguyên đó. Ở phương Tây người ta quên rằng “mệnh lệnh hoàn trả” này đã được ban ra với tần suất rất lớn qua các thời đại bởi mọi linh hồn trong một hình tướng hồng trần; khi làm như vậy, một cách đều đặn và không thể tránh, phương diện thiêng liêng thứ nhất—chân thần trên cõi riêng của nó—đang siết chặt sự nắm giữ của nó trên thể biểu hiện của nó, qua phản chiếu của nó là linh hồn. Như thế phương diện ý chí ngày càng đi vào hoạt động cho đến khi, trên Con Đường Đệ Tử, quyết tâm tinh thần được đưa tới điểm phát triển cao nhất của nó và, trên Con Đường Điểm Đạo, ý chí bắt đầu hoạt động một cách hữu thức. Thật đáng ghi nhớ, phải không, rằng chính trong việc linh hồn trên cõi riêng của nó cố ý ban ra mệnh lệnh cho cái bóng của nó trong ba cõi giới mà linh hồn học cách biểu lộ phương diện thứ nhất và cao nhất của thiên tính, và điều này lúc đầu, và trong một thời gian rất dài, chỉ duy nhất qua tiến trình chết. Khó khăn hiện nay là tương đối ít người có tâm thức linh hồn, và do đó phần lớn con người vẫn không nhận biết các “mệnh lệnh huyền bí” của chính linh hồn mình. Khi nhân loại trở nên có tâm thức linh hồn (và đây sẽ là một trong những kết quả của cơn hấp hối của cuộc chiến hiện tại), cái chết sẽ được xem như một tiến trình “được truyền lệnh”, được thực hiện trong đầy đủ tâm thức và với sự thấu hiểu về [436] mục đích chu kỳ. Điều này tự nhiên sẽ chấm dứt nỗi sợ hiện đang lan tràn, và cũng sẽ ngăn chặn khuynh hướng tự sát đang ngày càng biểu lộ trong những thời kỳ khó khăn này. Tội lỗi của việc giết người thực ra dựa trên sự kiện rằng nó can thiệp vào mục đích của linh hồn, chứ không thực sự dựa trên việc giết một thể xác hồng trần cụ thể của con người. Đó cũng là lý do vì sao chiến tranh không phải là giết người, như nhiều người cuồng tín thiện chí cho là vậy; đó là sự hủy diệt các hình tướng với ý định từ thiện (nếu người ta có thể khảo sát mục đích thiêng liêng) của Hành Tinh Thượng đế. Tuy nhiên, chính động cơ của những kẻ khởi xướng chiến tranh trên cõi hồng trần mới làm cho họ trở nên ác. Nếu chiến tranh không xảy ra, sự sống hành tinh sẽ, qua điều mà chúng ta gọi là “hành vi của Thượng đế,” triệu hồi các linh hồn của con người trên quy mô lớn phù hợp với ý định đầy bác ái của Ngài. Khi những kẻ ác làm ngưng tụ một cuộc chiến, Ngài rút điều thiện ra từ điều ác.

You can see, therefore, why the occult sciences lay the emphasis upon cyclic law, and why there is a growing interest in the Science of Cyclic Manifestation. Death appears frequently to be so purposeless; that is because the intention of the soul is not known; past development, through the process of incarnation, remains a hidden matter; ancient heredities and environments are ignored, and recognition of the voice of the soul is not yet generally developed. These are matters, however, which are on the very verge of recognition; revelation is on its way, and for that I am laying the foundation.

Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao các khoa học huyền bí học nhấn mạnh vào định luật chu kỳ, và tại sao đang có một mối quan tâm ngày càng tăng đối với Khoa Học về Biểu Hiện Theo Chu Kỳ. Cái chết thường dường như quá vô mục đích; đó là vì ý định của linh hồn không được biết đến; sự phát triển quá khứ, qua tiến trình nhập thể, vẫn là một vấn đề ẩn kín; các di truyền và môi trường cổ xưa bị bỏ qua, và sự nhận biết tiếng nói của linh hồn vẫn chưa được phát triển rộng rãi. Tuy nhiên, đây là những vấn đề đang ở ngay ngưỡng cửa được nhận biết; sự mặc khải đang trên đường đến, và vì điều đó tôi đang đặt nền móng.

I am anxious for you to grasp the teaching I have already given before we proceed to that which is explanatory or new. Study it with care so that the theme of death can more surely and more sanely take shape in your mind. Seek to arrive at a new slant upon the subject and see law and purpose and the beauty of intention in what has hitherto been a terror and a major fear.

Tôi mong các bạn nắm vững giáo huấn mà tôi đã đưa ra trước khi chúng ta tiến tới điều mang tính giải thích hay mới mẻ. Hãy nghiên cứu nó cẩn thận để chủ đề cái chết có thể định hình trong trí tuệ các bạn một cách chắc chắn hơn và lành mạnh hơn. Hãy tìm cách đạt tới một góc nhìn mới về chủ đề này và thấy định luật, mục đích và vẻ đẹp của ý định trong điều mà cho đến nay vẫn là một nỗi kinh hoàng và một nỗi sợ lớn.

[437]

[437]

Later I shall endeavour to give you some glimpse of the death process as the soul registers it, when undertaking the act of restitution. To you, what I say may appear as speculative or hypothetical; in any case it will be a statement of which few of you will be in a position to prove the accuracy. But surely, brother of mine, it may be more sane and wholesome, more sound and beautiful, than the present darkness and sick hope, and the unhappy speculation and oft despair which overshadows every death bed at this time.

Sau này tôi sẽ cố gắng cho các bạn một vài thoáng nhìn về tiến trình chết như linh hồn ghi nhận nó, khi thực hiện hành vi hoàn nguyên. Đối với các bạn, điều tôi nói có thể có vẻ suy đoán hay giả thuyết; dù sao đi nữa đó sẽ là một phát biểu mà ít người trong các bạn có vị thế để chứng minh tính chính xác của nó. Nhưng chắc hẳn, huynh đệ của tôi, điều đó có thể lành mạnh và bổ ích hơn, đúng đắn và đẹp đẽ hơn bóng tối hiện tại và niềm hy vọng bệnh hoạn, cùng sự suy đoán bất hạnh và thường là tuyệt vọng đang phủ bóng lên mọi giường hấp hối vào lúc này.

1. THE NATURE OF DEATH1. BẢN CHẤT CỦA CÁI CHẾT

EXCERPTS FROM OTHER WRITINGS

TRÍCH ĐOẠN TỪ CÁC TRƯỚC TÁC KHÁC

The whole must be seen as of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory a process of wishful thinking, a hypothesis or an urge. It is realised as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good.

Toàn thể phải được nhìn như có tầm quan trọng thiết yếu hơn phần, và điều này không phải như một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình suy nghĩ cầu mong, một giả thuyết hay một thôi thúc. Nó được chứng nghiệm như một nhu cầu bẩm sinh và như điều không thể tránh khỏi. Nó hàm ý cái chết, nhưng là cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần trong hành động, như sự viên mãn của mọi điều thiện.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

Death, if we could but realise it, is one of our most practised activities. We have died many times and shall die again and again. Death is essentially a matter of consciousness. We are conscious one moment on the physical plane, and a moment later we have withdrawn into another plane and are actively conscious there. Just as long as our consciousness is identified with the form aspect, death will hold for us its ancient terror. Just as soon as we know ourselves to be souls, and find that we are capable of focussing our consciousness or sense of awareness in any forms or on any plane at will, or in any direction within the form of God, we will no longer know death.

Cái chết, nếu chúng ta có thể nhận ra điều đó, là một trong những hoạt động được chúng ta thực hành nhiều nhất. Chúng ta đã chết nhiều lần và sẽ còn chết đi chết lại. Cái chết về bản chất là một vấn đề của tâm thức. Một khoảnh khắc chúng ta có tâm thức trên cõi hồng trần, và một khoảnh khắc sau chúng ta đã rút vào một cõi khác và có tâm thức hoạt động ở đó. Chừng nào tâm thức của chúng ta còn đồng hoá với phương diện hình tướng, thì cái chết vẫn sẽ giữ đối với chúng ta nỗi kinh hoàng cổ xưa của nó. Ngay khi chúng ta biết mình là các linh hồn, và nhận ra rằng chúng ta có khả năng tập trung tâm thức hay cảm thức nhận biết của mình vào bất kỳ hình tướng nào hay trên bất kỳ cõi nào theo ý muốn, hoặc theo bất kỳ hướng nào trong hình tướng của Thượng đế, thì chúng ta sẽ không còn biết đến cái chết nữa.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 494

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 494

[438]

[438]

Ponder, therefore, upon this doctrine of abstraction. It covers all life processes and will convey to you the eternally lovely secret of Death which is entrance into life.

Vì vậy, hãy suy ngẫm về giáo lý của sự trừu xuất này. Nó bao trùm mọi tiến trình sự sống và sẽ chuyển đạt cho các bạn bí mật muôn đời đẹp đẽ của Cái Chết, vốn là sự đi vào sự sống.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

In this Rule, two main ideas are to be found, both of them connected with the first divine aspect: the thought of DEATH and the nature of the WILL. In the coming century, death and the will most inevitably will be seen to have new meanings to humanity and many of the old ideas will vanish. Death to the average thinking man is a point of catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and abrupt conclusion of all plans and projects. No matter how much true faith in the spiritual values may be present, no matter how clear the rationalising of the mind may be anent immortality, no matter how conclusive the evidence of persistence and eternity, there still remains a questioning, a recognition of the possibility of complete finality and negation, and an end of all activity, of all heart reaction, of all thought, emotion, desire, aspiration and the intentions which focus around the central core of man’s being. The longing and the determination to persist and the sense of continuity still rest, even to the most determined believer, upon probability, upon an unstable foundation and upon the testimony of others—who have never in reality returned to tell the truth. The emphasis of all thought on this subject concerns the central “I” or the integrity of Deity.

Trong quy luật này, có thể tìm thấy hai ý tưởng chính, cả hai đều liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất: tư tưởng về CÁI CHẾT và bản chất của Ý CHÍ. Trong thế kỷ sắp tới, cái chếtý chí chắc chắn nhất sẽ được nhân loại thấy là có những ý nghĩa mới và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. Đối với con người suy tư trung bình, cái chết là một điểm khủng hoảng thảm khốc. Đó là sự chấm dứt và kết thúc của tất cả những gì đã được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng mong muốn; đó là một sự xông vào dữ dội của cái chưa biết, của bất định, và là sự kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch và dự phóng. Dù có bao nhiêu đức tin chân thật vào các giá trị tinh thần hiện diện, dù sự lý giải của trí tuệ về tính bất tử có rõ ràng đến đâu, dù bằng chứng về sự tiếp diễn và tính vĩnh cửu có kết luận đến mức nào, thì vẫn còn đó sự nghi vấn, sự nhận biết về khả năng của tính chung cuộc và phủ định hoàn toàn, và sự chấm dứt của mọi hoạt động, mọi phản ứng của tim, mọi tư tưởng, cảm xúc, dục vọng, khát vọng và những ý định tập trung quanh hạt nhân trung tâm của hữu thể con người. Sự khao khát và quyết tâm tiếp tục tồn tại cùng cảm thức liên tục vẫn đặt nền, ngay cả đối với người tin tưởng kiên quyết nhất, trên xác suất, trên một nền tảng không ổn định và trên lời chứng của những người khác—những người chưa bao giờ thực sự quay lại để nói sự thật. Sự nhấn mạnh của mọi tư tưởng về chủ đề này đều liên quan đến cái “Tôi” trung tâm hay sự toàn vẹn của Thượng đế.

You will note that in this Rule, the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self, and this is a point worth noting. The information given to the disciple is to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general [439] reservoir of living substance. The ocean of Being is nowhere referred to. Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual, identifiable persistence. Note these words. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance or recalling them at will to resume their relation to him.

Các bạn sẽ lưu ý rằng trong quy luật này, sự nhấn mạnh chuyển từ “Tôi” sang các thành phần cấu tạo nên y phục của Bản Ngã, và đây là một điểm đáng lưu ý. Thông tin được trao cho đệ tử là để hoạt động cho sự làm tiêu tan y phục này và cho sự trở về của các sự sống nhỏ hơn vào kho chứa chung [439] của chất liệu sống. Đại dương của Bản Thể không được nhắc đến ở đâu cả. Suy nghĩ cẩn thận ở đây sẽ cho thấy rằng tiến trình tách rời có trật tự này, mà sự sống nhóm làm cho hữu hiệu trong trường hợp cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh nhất cho sự kiện tiếp diễn và cho sự tồn tại dai dẳng có thể nhận diện được của cá nhân. Hãy lưu ý những lời này. Tiêu điểm hoạt động chuyển từ thể hoạt động sang thực thể hoạt động bên trong thể ấy, chủ nhân của hoàn cảnh của y, người chỉ đạo các sở hữu của y và là chính hơi thở, phái các sự sống về kho chứa chất liệu hoặc triệu hồi chúng theo ý muốn để tiếp tục mối liên hệ của chúng với y.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

First of all that the Eternal Pilgrim, of his own free will and accord, chose “occultly” to die and took a body or series of bodies in order to raise or elevate the lives of the form nature which he embodied; in the process of so doing, he himself “died” in the sense that, for a free soul, death and the taking of a form and the consequent immersion of the life in the form, are synonymous terms.

Trước hết là việc Người Lữ Hành Vĩnh Cửu, bằng chính ý chí tự do và sự đồng thuận của mình, đã chọn “một cách huyền bí” để chết và nhận lấy một thể hay một chuỗi các thể nhằm nâng cao hay nâng lên các sự sống của bản chất hình tướng mà y đã nhập vào; trong tiến trình làm như vậy, chính y đã “chết” theo nghĩa rằng, đối với một linh hồn tự do, cái chết và việc nhận lấy một hình tướng cùng sự dìm sự sống vào hình tướng do đó là những thuật ngữ đồng nghĩa.

Secondly, that in so doing, the soul is recapitulating on a small scale what the solar Logos and the planetary Logos have likewise done, and are doing. The great Lives come under the rule of these laws of the soul during the period of manifestation, even though They are not governed or controlled by the laws of the natural world, as we call it. Their consciousness remains unidentified with the world of phenomena, though ours is identified with it until such time that we come under the rule of the higher laws. By the occult “death” of these great Lives, all lesser lives can live and are proffered opportunity.

Thứ hai, khi làm như vậy, linh hồn đang tái diễn ở quy mô nhỏ điều mà Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng đã làm, và đang làm. Các Sự Sống vĩ đại chịu dưới quy luật của các định luật linh hồn này trong thời kỳ biểu hiện, dù Các Ngài không bị chi phối hay kiểm soát bởi các định luật của thế giới tự nhiên, như chúng ta gọi nó. Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hoá với thế giới hiện tượng, trong khi tâm thức của chúng ta đồng hoá với nó cho đến khi chúng ta chịu dưới quy luật của các định luật cao hơn. Nhờ “cái chết” huyền bí của các Sự Sống vĩ đại này, mọi sự sống nhỏ hơn có thể sống và được trao cơ hội.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.

The forces of death are abroad today, but it is the death of liberty, the death of free speech, the death of [440] freedom in human action, the death of truth and of the higher spiritual values. These are the vital factors in the life of humanity. The death of the physical form is a negligible factor in relation to these and is easily righted again through the processes of rebirth and of fresh opportunity….The destruction of the form in battle is of small importance to those who know that reincarnation is a basic law of nature and that there is no death.

Các mãnh lực của cái chết đang lan tràn ngày nay, nhưng đó là cái chết của tự do, cái chết của tự do ngôn luận, cái chết của [440] tự do trong hành động của con người, cái chết của chân lý và của các giá trị tinh thần cao hơn. Đây mới là những yếu tố thiết yếu trong đời sống của nhân loại. Cái chết của hình tướng hồng trần là một yếu tố không đáng kể so với những điều này và dễ dàng được sửa lại qua các tiến trình tái sinh và cơ hội mới….Sự hủy diệt hình tướng trong chiến trận ít quan trọng đối với những ai biết rằng luân hồi là một định luật căn bản của bản chất và rằng không có cái chết.

JUNE MESSAGE, 1940.

JUNE MESSAGE, 1940.

You say there are as yet only beliefs as to immortality, and no sure evidences. In the accumulation of testimony, in the inner assurances of the human heart, in the fact of belief in eternal persistence as an idea in the minds of men, lie sure indication. But indication will give place to conviction and knowledge before another hundred years has elapsed, for an event will take place and a revelation be given the race which will turn hope into certainty and belief into knowledge. In the meantime, let a new attitude to death be cultivated and a new science of death be inaugurated. Let it cease to be the one thing we cannot control and which inevitably defeats us, and let us begin to control our passing over to the other side, and to understand somewhat the technique of transition.

Bạn nói rằng cho đến nay chỉ mới có những niềm tin về tính bất tử, chứ chưa có bằng chứng chắc chắn. Trong sự tích lũy lời chứng, trong những bảo đảm nội tâm của trái tim con người, trong sự kiện niềm tin vào sự tiếp diễn vĩnh cửu như một ý tưởng trong trí tuệ con người, có những chỉ dấu chắc chắn. Nhưng chỉ dấu sẽ nhường chỗ cho xác tín và tri thức trước khi một trăm năm nữa trôi qua, vì một biến cố sẽ xảy ra và một sự mặc khải sẽ được ban cho nhân loại, điều sẽ biến hy vọng thành chắc chắn và niềm tin thành tri thức. Trong lúc này, hãy vun bồi một thái độ mới đối với cái chết và hãy khai mở một khoa học mới về cái chết. Hãy để nó không còn là điều duy nhất mà chúng ta không thể kiểm soát và điều chắc chắn đánh bại chúng ta, và hãy bắt đầu kiểm soát sự vượt qua của chúng ta sang phía bên kia, và phần nào thấu hiểu kỹ thuật của sự chuyển tiếp.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 500.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 500.

All I plead for is a sane approach to death; all I seek to make is a suggestion that when pain has worn itself out and weakness has supervened, the dying person be permitted to prepare himself, even if apparently unconscious, for the great transition. Forget not that it takes strength and a strong hold on the nervous apparatus to produce pain. Is it impossible to conceive of a time when the act of dying will be a triumphant finale to life? Is it impossible [441] to vision the time when the hours spent on the death bed may be but a glorious prelude to a conscious exit? When the fact that the man is to discard the handicap of the physical sheath may be for him and those around him the long-waited-for and joyous consummation? Can you not visualise the time when, instead of tears and fears and the refusal to recognise the inevitable, the dying person and his friends would mutually agree on the hour, and that nothing but happiness would characterise the passing? That in the minds of those left behind the thought of sorrow will not enter and death beds shall be regarded as happier occasions than births and marriages? I tell you that, before so very long, this will be deeply so for the intelligent of the race, and little by little for all.

Điều duy nhất tôi khẩn cầu là một cách tiếp cận lành mạnh đối với cái chết; điều duy nhất tôi tìm cách nêu ra là một gợi ý rằng khi đau đớn đã tự cạn kiệt và sự suy nhược đã xuất hiện, người đang hấp hối nên được phép chuẩn bị cho chính mình, dù bề ngoài có vẻ bất tỉnh, cho cuộc chuyển tiếp lớn lao. Đừng quên rằng cần có sức mạnh và sự nắm giữ mạnh mẽ đối với bộ máy thần kinh mới tạo ra được đau đớn. Có phải là không thể hình dung ra một thời kỳ khi hành vi chết sẽ là đoạn kết khải hoàn của sự sống? Có phải là không thể [441] linh thị về thời điểm khi những giờ phút trên giường chết chỉ là khúc dạo đầu huy hoàng cho một sự ra đi có ý thức? Khi sự kiện rằng con người sắp từ bỏ sự cản trở của vỏ bọc thể xác có thể là đối với y và những người quanh y một sự hoàn tất hoan hỉ và được chờ đợi từ lâu? Bạn không thể hình dung ra thời điểm khi, thay vì nước mắt và sợ hãi cùng sự từ chối nhìn nhận điều tất yếu, người đang hấp hối và bạn hữu của y sẽ cùng nhau đồng thuận về giờ phút ấy, và không gì ngoài hạnh phúc sẽ đặc trưng cho sự ra đi đó sao? Rằng trong tâm trí những người ở lại, ý nghĩ về buồn đau sẽ không chen vào và những giường chết sẽ được xem là những dịp vui hơn cả sinh nở và hôn lễ? Tôi nói với các bạn rằng, chẳng bao lâu nữa, điều này sẽ thực sự như vậy đối với những người thông tuệ trong nhân loại, và dần dần đối với tất cả mọi người.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 499.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 499.

It is interesting here to note that death is governed by the Principle of Liberation and not by that of Limitation. Death is only recognised as a factor to be dealt with by self-conscious lives and is only misunderstood by human beings, who are the most glamoured and deluded of all incarnated lives.

Ở đây, thật thú vị khi lưu ý rằng cái chết được chi phối bởi Nguyên khí Giải Thoát chứ không phải bởi nguyên khí Giới Hạn. Cái chết chỉ được nhận biết như một yếu tố cần được xử lý bởi những sự sống có ngã thức và chỉ bị hiểu sai bởi con người, vốn là những sự sống đang lâm phàm bị ảo cảm và mê lầm nhiều nhất.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 534.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 534.

When the nature of true Service is comprehended, it will be found that it is an aspect of that divine energy which works always under the destroyer aspect, for it destroys the forms in order to release. Service is a manifestation of the Principle of Liberation, and of this principle, death and service constitute two aspects. Service saves, liberates and releases, on various levels, the imprisoned consciousness. The same statements can be made of death. But unless service can be rendered from an intuitive understanding of all the facts in the case, interpreted intelligently, and applied [442] in a spirit of love upon the physical plane, it fails to fulfill its mission adequately.

Khi bản chất của sự Phụng sự chân chính được thấu hiểu, người ta sẽ thấy rằng đó là một phương diện của năng lượng thiêng liêng luôn luôn hoạt động dưới phương diện hủy diệt, vì nó hủy diệt các hình tướng để giải thoát. Phụng sự là một biểu hiện của Nguyên khí Giải Thoát, và trong nguyên khí này, cái chết và sự phụng sự cấu thành hai phương diện. Phụng sự cứu vớt, giải thoát và phóng thích, trên nhiều cấp độ khác nhau, tâm thức bị giam cầm. Những phát biểu tương tự cũng có thể được nói về cái chết. Nhưng trừ phi sự phụng sự có thể được thực hiện từ một sự thấu hiểu trực giác về mọi sự kiện trong trường hợp ấy, được diễn giải một cách thông tuệ, và được áp dụng [442] trong tinh thần bác ái trên cõi hồng trần, nó sẽ không hoàn thành sứ mệnh của mình một cách thích đáng.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 537.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 537.

Fear of Death.

Sự sợ hãi cái chết.

The fear of death is based upon:

Sự sợ hãi cái chết dựa trên:

a. A terror of the final rending processes in the act of death itself.

a. Nỗi kinh hoàng đối với những tiến trình xé rách cuối cùng trong chính hành vi chết.

b. Horror of the unknown and the indefinable.

b. Sự kinh hãi trước điều chưa biết và không thể định nghĩa.

c. Doubt as to final immortality.

c. Sự nghi ngờ về tính bất tử tối hậu.

d. Unhappiness at leaving loved ones behind or of being left behind.

d. Nỗi bất hạnh khi phải bỏ lại những người thân yêu hoặc bị bỏ lại phía sau.

e. Ancient reactions to past violent deaths, lying deep in the consciousness.

e. Những phản ứng cổ xưa đối với các cái chết dữ dội trong quá khứ, nằm sâu trong tâm thức.

f. Clinging to form life, because primarily identified with it in consciousness.

f. Sự bám víu vào đời sống hình tướng, vì về cơ bản đã đồng hoá với nó trong tâm thức.

g. Old erroneous teaching as to Heaven and Hell, both equally unpleasant in prospect to certain types.

g. Những giáo huấn sai lầm cũ về Thiên Đàng và Địa Ngục, cả hai đều triển hiện như những viễn cảnh khó chịu đối với một số kiểu người nhất định.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 300.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 300.

As time progresses and before the close of the next century, death will be finally seen to be nonexistent in the sense in which it is now understood. Continuity of consciousness will be so widely developed, and so many of the highest types of men will function simultaneously in the two worlds, that the old fear will go and the intercourse between the astral plane and the physical plane will be so firmly established and so scientifically controlled that the work of the trance mediums will rightly and mercifully come to an end. The ordinary common trance mediumship and materialisations under controls and Indian guides are just as much perversions of the intercourse between the two planes as are sex perversions and the distortions of the [443] true relationship and intercourse between the sexes. I refer not here to the work of clairvoyants, no matter how poor, nor to the taking possession of the body by entities of high calibre, but of the unpleasant phenomena of the materialisation seance, of ectoplasm and the blind unintelligent work done by the old Atlantean degenerates and earthbound souls, the average Indian chief and guide. There is nothing to be learned from them, and much to be avoided.

Khi thời gian tiến triển và trước khi thế kỷ tới kết thúc, cuối cùng người ta sẽ thấy rằng cái chết không hiện hữu theo nghĩa mà hiện nay nó được hiểu. Sự liên tục của tâm thức sẽ được phát triển rộng rãi đến mức, và rất nhiều kiểu người cao nhất sẽ hoạt động đồng thời trong hai cõi giới, đến nỗi nỗi sợ hãi cũ sẽ biến mất và sự giao tiếp giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần sẽ được thiết lập vững chắc và được kiểm soát một cách khoa học đến mức công việc của các đồng tử xuất thần sẽ đúng đắn và đầy từ bi mà chấm dứt. Loại đồng tử xuất thần thông thường và phổ biến cùng những sự hiện hình dưới sự kiểm soát của các vị hướng dẫn da đỏ cũng là những sự xuyên tạc của sự giao tiếp giữa hai cõi ấy y như những lệch lạc tính dục và những bóp méo của [443] mối liên hệ và sự giao tiếp chân chính giữa hai giới tính. Ở đây tôi không nói đến công việc của các nhà thông nhãn, dù kém cỏi đến đâu, cũng không nói đến việc các thực thể có phẩm cấp cao nhập vào thể xác, mà nói đến những hiện tượng khó chịu của buổi gọi hồn hiện hình, của ngoại chất, và công việc mù quáng thiếu thông tuệ do những kẻ thoái hóa Atlantis xưa và những linh hồn bị trói buộc vào cõi đất, vị tù trưởng da đỏ và người hướng dẫn trung bình thực hiện. Không có gì để học hỏi từ họ, và có nhiều điều cần tránh.

The reign of the fear of death is well-nigh ended and we shall soon enter upon a period of knowledge and of certainty which will cut the ground from under all our fears. In dealing with the fear of death, there is little to be done except to raise the whole subject onto a more scientific level, and—in this scientific sense—teach people to die. There is a technique of dying just as there is of living, but this technique has been lost—very largely in the West, and is almost lost, except in a few centres of Knowers in the East. More of this can perhaps be dealt with later, but the thought of the needed approach to this subject can rest in the minds of students who read this, and perhaps as they study and read and think, material of interest will come their way which could be gradually assembled and published.

Triều đại của nỗi sợ cái chết gần như đã chấm dứt và chúng ta sẽ sớm bước vào một thời kỳ của tri thức và sự xác tín, điều sẽ rút mất nền tảng bên dưới mọi nỗi sợ của chúng ta. Khi đề cập đến nỗi sợ cái chết, có rất ít điều cần làm ngoài việc nâng toàn bộ chủ đề này lên một cấp độ khoa học hơn, và—theo nghĩa khoa học này—dạy con người cách chết. Có một nghệ thuật chết cũng như có nghệ thuật sống, nhưng nghệ thuật này đã bị đánh mất—phần lớn ở phương Tây, và gần như cũng đã mất, ngoại trừ tại một vài trung tâm của các thức giả ở phương Đông. Có lẽ sau này có thể bàn đến điều này nhiều hơn, nhưng ý tưởng về cách tiếp cận cần thiết đối với chủ đề này có thể lưu lại trong tâm trí các đạo sinh đọc những điều này, và có lẽ khi họ học hỏi, đọc và suy nghĩ, những tư liệu đáng quan tâm sẽ đến với họ, có thể dần dần được tập hợp và xuất bản.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 301-302.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 301-302.

Fear of death and depression constitute for man the Dweller on the Threshold in this age and cycle. Both of them indicate sentient reaction to psychological factors and cannot be dealt with by the use of another factor such as courage. They must be met by the omniscience of the soul, working through the mind—not by its omnipotence. In this is to be found an occult hint.

Sự sợ hãi cái chết và sự trầm uất cấu thành đối với con người Kẻ Chận Ngõ trong thời đại và chu kỳ này. Cả hai đều biểu thị phản ứng cảm nhận đối với các yếu tố tâm lý và không thể được xử lý bằng cách sử dụng một yếu tố khác như lòng can đảm. Chúng phải được đối diện bằng toàn tri của linh hồn, hoạt động qua trí tuệ—chứ không phải bằng toàn năng của nó. Chính trong điều này có thể tìm thấy một gợi ý huyền bí.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 309.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 309.

The instinct of self-preservation has its roots in an innate fear of death; through the presence of this fear, the [444] race has fought its way to its present point of longevity and endurance.

Bản năng tự bảo tồn có cội rễ trong một nỗi sợ bẩm sinh đối với cái chết; nhờ sự hiện diện của nỗi sợ này mà [444] nhân loại đã chiến đấu để đạt đến điểm trường thọ và sức chịu đựng hiện nay.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 626.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 626.

Definition of Death.

Định nghĩa về cái chết.

Death itself is a part of the Great Illusion, and only exists because of the veils we have gathered around ourselves.

Chính cái chết là một phần của Đại Ảo Tưởng, và chỉ hiện hữu vì những bức màn mà chúng ta đã gom tụ quanh mình.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

But people are apt to forget that every night in the hours of sleep we die to the physical plane and are alive and functioning elsewhere. They forget that they have already achieved facility in leaving the physical body; because they cannot as yet bring back into the physical brain consciousness the recollection of that passing out, and of the subsequent interval of active living, they fail to relate death and sleep. Death is, after all, only a longer interval in the life of physical plane functioning; one has only “gone abroad” for a longer period. But the process of daily sleep and the process of occasional dying are identical, with the one difference that in sleep the magnetic thread or current of energy along which the life force streams is preserved intact, and constitutes the path of return to the body. In death, this life thread is broken or snapped. When this has happened, the conscious entity cannot return to the dense physical body, and that body, lacking the principle of coherence, then disintegrates.

Nhưng con người thường quên rằng mỗi đêm trong những giờ ngủ, chúng ta chết đối với cõi hồng trần và sống động, hoạt động ở nơi khác. Họ quên rằng họ đã đạt được sự thành thạo trong việc rời khỏi thể xác; bởi vì họ chưa thể mang trở lại vào tâm thức bộ não hồng trần ký ức về sự ra đi ấy, và về khoảng thời gian tiếp theo của đời sống hoạt động, nên họ không liên hệ cái chết với giấc ngủ. Rốt cuộc, cái chết chỉ là một khoảng thời gian dài hơn trong đời sống hoạt động trên cõi hồng trần; người ta chỉ đơn giản là “đi xa” trong một thời gian lâu hơn. Nhưng tiến trình của giấc ngủ hằng ngày và tiến trình của việc chết thỉnh thoảng là giống hệt nhau, chỉ khác một điều là trong giấc ngủ, sợi dây từ tính hay dòng năng lượng dọc theo đó sinh lực tuôn chảy vẫn được giữ nguyên vẹn, và cấu thành con đường trở về thể xác. Trong cái chết, sợi dây sự sống này bị đứt hoặc gãy. Khi điều này xảy ra, thực thể có ý thức không thể trở lại thể xác hồng trần đậm đặc, và thể xác ấy, vì thiếu nguyên khí cố kết, bấy giờ tan rã.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 494.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 494.

The processes of abstraction are (as you may thus see) connected with the life aspect, are set in motion by an act of the spiritual will, and constitute the “resurrection principle which lies hidden in the work of the Destroyer,” as an old esoteric saying expresses it. The lowest manifestation [445] of this principle is to be seen in the process of what we call death—which is in reality a means of abstracting the life principle, informed by consciousness, from the form of the bodies in the three worlds.

Các tiến trình rút ra, như vậy như bạn có thể thấy, có liên hệ với phương diện sự sống, được khởi động bởi một hành vi của ý chí tinh thần, và cấu thành “nguyên khí phục sinh ẩn giấu trong công việc của Đấng Hủy Diệt,” như một câu nói nội môn cổ diễn tả. Biểu hiện thấp nhất [445] của nguyên khí này được thấy trong tiến trình của điều mà chúng ta gọi là cái chết—mà thực ra là một phương tiện để rút nguyên khí sự sống, được tâm thức thấm nhuần, ra khỏi hình tướng của các thể trong ba cõi thấp.

Thus, the great synthesis emerges and destruction, death, and dissolution are, in reality, naught but life processes. Abstraction is indicative of process, progress and development. It is this aspect of the Law of Life for the Law of Synthesis as it is called in certain larger connotations) with which the initiate specifically deals.

Như vậy, sự tổng hợp vĩ đại xuất hiện và sự hủy diệt, cái chết, và sự tan rã, trên thực tế, chẳng là gì khác ngoài các tiến trình của sự sống. Sự rút ra là dấu hiệu của tiến trình, tiến bộ và phát triển. Chính phương diện này của Định luật Sự sống—vì đó là Định luật Tổng Hợp như nó được gọi trong một số hàm nghĩa rộng lớn hơn—mà điểm đạo đồ đặc biệt xử lý.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

Life is approached from the angle of the Observer, and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds (physical-emotional-mental)…if they are initiated disciples they are increasingly unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct; therefore, there is no more awareness of them than a man asleep is conscious of the rhythmic functioning of his sleeping physical vehicle. This is a deep and largely unrealised truth. It is related to the entire process of death, and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words “the reservoir of life.” Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns….

Sự sống được tiếp cận từ góc độ của Người Quan Sát, chứ không phải từ góc độ của một người tham dự vào thí nghiệm và kinh nghiệm thực sự trong ba cõi giới (hồng trần-cảm xúc-trí tuệ)…nếu họ là các đệ tử được điểm đạo thì họ ngày càng không còn nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, bởi vì một số phương diện của bản chất thấp hiện nay đã được kiểm soát và thanh luyện đến mức chúng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và đã đi vào thế giới bản năng; do đó, không còn nhận biết về chúng nữa, cũng như một người đang ngủ không ý thức được sự vận hành nhịp nhàng của vận cụ hồng trần đang ngủ của mình. Đây là một chân lý sâu xa và phần lớn chưa được chứng nghiệm. Nó liên hệ đến toàn bộ tiến trình của cái chết, và có thể được xem như một trong những định nghĩa của cái chết; nó nắm giữ đầu mối cho những lời huyền nhiệm “hồ chứa của sự sống.” Cái chết thực ra là sự vô thức đối với điều có thể đang hoạt động trong hình tướng này hay hình tướng khác, nhưng trong một hình tướng mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Hồ chứa của sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được….

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

Purposes of Death.

Các mục đích của cái chết.

Through death, a great at-one-ing process is carried [446] forward; in the “fall of a leaf” and its consequent identification with the soil on which it falls, we have a tiny illustration of this great and eternal process of at-one-ing, through becoming and dying as a result of becoming.

Thông qua cái chết, một tiến trình hợp nhất lớn lao được [446] xúc tiến; trong “sự rơi của một chiếc lá” và sự đồng hoá tiếp theo của nó với mảnh đất nơi nó rơi xuống, chúng ta có một minh họa nhỏ bé về tiến trình hợp nhất vĩ đại và vĩnh cửu này, thông qua sự trở thành và sự chết như một kết quả của sự trở thành.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. II, PAGE 173.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. II, PAGE 173.

I speak about Death as one who knows the matter from the outer world experience and the inner life expression: There is no death. There is, as you know, entrance into fuller life. There is freedom from the handicaps of the fleshly vehicle. The rending process so much dreaded does not exist, except in the cases of violent and sudden death, and then the only true disagreeables are an instant and overwhelming sense of imminent peril and destruction and something closely approaching an electric shock. No more. For the unevolved, death is literally a sleep and a forgetting, for the mind is not sufficiently awakened to react, and the storehouse of memory is as yet practically empty. For the average good citizen, death is a continuance of the living process in his consciousness and a carrying forward of the interests and tendencies of the life. His consciousness and his sense of awareness are the same and unaltered. He does not sense much difference, is well taken care of, and oft is unaware that he has passed through the episode of death. For the wicked and cruelly selfish, for the criminal and for those few who live for the material side only, there eventuates that condition which we call “earth-bound.” The links they have forged with earth and the earthward bias of all their desires, force them to remain close to the earth and their last setting in the earth environment. They seek desperately and by every possible means to re-contact it and to re-enter. In a few cases, great personal love for those left behind, or the nonfulfillment of a recognised and urgent duty, holds the good and beautiful in a somewhat similar [447] condition. For the aspirant, death is an immediate entrance into a sphere of service and of expression to which he is well accustomed and which he at once recognises as not new. In his sleeping hours he has developed a field of active service and of learning. He now simply functions in it for the entire twenty-four hours (talking in terms of physical plane time) instead of for his usual few hours of earthly sleep.

Tôi nói về Cái Chết như một người biết vấn đề này từ kinh nghiệm của thế giới bên ngoài và sự biểu lộ của đời sống bên trong: Không có cái chết. Như các bạn biết, có sự đi vào một đời sống đầy đủ hơn. Có sự giải thoát khỏi những cản trở của vận cụ xác thịt. Tiến trình xé rách bị sợ hãi quá mức ấy không hiện hữu, ngoại trừ trong các trường hợp chết dữ dội và đột ngột, và ngay cả khi đó những điều thực sự khó chịu duy nhất chỉ là một cảm giác tức thì và áp đảo về hiểm nguy và hủy diệt sắp xảy ra cùng một điều gì đó rất gần với một cú sốc điện. Không hơn. Đối với người chưa tiến hóa, cái chết theo nghĩa đen là một giấc ngủ và một sự quên lãng, vì trí tuệ chưa đủ thức tỉnh để đáp ứng, và kho chứa ký ức hầu như vẫn còn trống rỗng. Đối với công dân tốt lành trung bình, cái chết là sự tiếp tục của tiến trình sống trong tâm thức của ông và là sự tiếp nối các mối quan tâm và khuynh hướng của đời sống. Tâm thức và cảm nhận nhận biết của ông vẫn như cũ và không thay đổi. Ông không cảm thấy khác biệt nhiều, được chăm sóc chu đáo, và thường không biết rằng mình đã đi qua biến cố chết. Đối với kẻ ác và ích kỷ tàn nhẫn, đối với tội phạm và đối với số ít người chỉ sống cho mặt vật chất, sẽ xảy ra tình trạng mà chúng ta gọi là “bị trói buộc vào cõi đất.” Những mối liên kết họ đã rèn tạo với đất và xu hướng hướng xuống đất của mọi ham muốn của họ buộc họ phải ở gần mặt đất và bối cảnh cuối cùng của họ trong môi trường trần thế. Họ tuyệt vọng tìm cách, bằng mọi phương tiện có thể, tái tiếp xúc với nó và tái nhập vào đó. Trong một vài trường hợp, tình thương cá nhân lớn lao đối với những người bị bỏ lại, hoặc việc không hoàn thành một bổn phận được nhận biết là cấp bách, giữ những người tốt và đẹp trong một tình trạng phần nào tương tự [447] như thế. Đối với người chí nguyện, cái chết là một sự đi vào tức thì một lĩnh vực phụng sự và biểu lộ mà y đã rất quen thuộc và lập tức nhận ra là không mới mẻ. Trong những giờ ngủ, y đã phát triển một lĩnh vực phụng sự và học hỏi tích cực. Giờ đây y chỉ đơn giản hoạt động trong đó suốt trọn hai mươi bốn giờ (nói theo thời gian cõi hồng trần) thay vì chỉ trong vài giờ ngủ trần thế thông thường.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 300-301.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 300-301.

True death, under the Law, is brought about by the attainment of the objective, and hence by the cessation of aspiration. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes non-polarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a focal magnetic point. It becomes non-magnetic, and the great Law of Attraction ceases to control it; hence disintegration is the ensuing condition of the form.

Cái chết chân chính, dưới Định luật, được mang lại bởi sự đạt đến mục tiêu, và do đó bởi sự chấm dứt khát vọng. Bản sao dĩ thái của một con người, một Hành Tinh Thượng đế, và một Thái dương Thượng đế, khi bị tan vỡ, trở nên không còn phân cực đối với đấng nội tại của nó, và vì thế cho phép sự thoát ra. Nói cách khác, nó không còn là một nguồn hấp dẫn, cũng không còn là một điểm hội tụ từ tính. Nó trở nên không từ tính, và Định luật Hấp Dẫn vĩ đại không còn kiểm soát nó nữa; do đó sự tan rã là tình trạng tiếp theo của hình tướng.

A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGES 129-130

A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGES 129-130

“The Law demands the entrance of that which can effect a change.”

“Định luật đòi hỏi sự đi vào của điều có thể tạo ra một sự thay đổi.”

Bearing in mind what I have elsewhere given, it is obvious that that which must find entrance is that vital concentrated will which, when set in motion in an individual, in a group, in a nation, in a kingdom of nature (a planetary centre), and in the planet as a whole, i.e., in all the planetary centres simultaneously, will cause a stirring, a changed measure, a new movement and momentum, an uprising and a consequent abstraction. The changes wrought in the centres when the death of the physical body is taking place have never yet been observed or recorded; they are, however, definitely present to the eye of the initiate and prove most interesting and informative. It is the recognition of the condition of the centres which enables the initiate [448] to know—when in process of bestowing healing—whether the physical healing of the body is permissible or not. He can see, by looking, whether the will principle of abstraction, to which I have been referring, is actively present or not. The same process can be seen taking place in organisations and in civilisations in which the form aspect is being destroyed in order that the life may be abstracted and later again rebuild for itself a more adequate form. It is the same under the great processes of initiation, which are not only processes of expanding the consciousness but are rooted in the death or the abstraction process, leading to resurrection and ascension.

Ghi nhớ điều tôi đã nêu ở nơi khác, hiển nhiên là điều phải đi vào chính là ý chí thiết yếu tập trung ấy, mà khi được khởi động trong một cá nhân, trong một nhóm, trong một quốc gia, trong một giới của thiên nhiên (một trung tâm hành tinh), và trong toàn thể hành tinh, tức là trong mọi trung tâm hành tinh đồng thời, sẽ gây ra một sự khuấy động, một mức độ thay đổi, một chuyển động và động lượng mới, một sự trỗi dậy và một sự rút ra tiếp theo. Những thay đổi được tạo ra trong các trung tâm khi cái chết của thể xác đang diễn ra chưa bao giờ được quan sát hay ghi chép; tuy nhiên, chúng chắc chắn hiện rõ trước mắt điểm đạo đồ và tỏ ra hết sức thú vị và giàu thông tin. Chính sự nhận biết tình trạng của các trung tâm cho phép điểm đạo đồ [448] biết—khi đang tiến hành ban bố trị liệu—liệu việc trị liệu thể xác có được phép hay không. Y có thể thấy, bằng cách quan sát, liệu nguyên khí ý chí rút ra mà tôi đã đề cập có hiện diện một cách tích cực hay không. Cũng có thể thấy cùng tiến trình ấy diễn ra trong các tổ chức và trong các nền văn minh, nơi phương diện hình tướng đang bị hủy diệt để sự sống có thể được rút ra và về sau lại tự tái kiến tạo cho mình một hình tướng thích đáng hơn. Điều này cũng đúng trong các tiến trình điểm đạo lớn lao, vốn không chỉ là những tiến trình mở rộng tâm thức mà còn bén rễ trong tiến trình chết hay rút ra, dẫn đến phục sinh và thăng thiên.

That which effects a change is a discharge (to use a totally inadequate phrase) of directed and focussed will-energy. This is so magnetic in quality that it draws to itself the life of the centres, bringing about the dissolution of the form but the release of the life. Death comes to the individual man in the ordinary sense of the term when the will-to-live in a physical body goes and the will-to-abstract takes its place. This we call death. In cases of death in war, for instance, it is not then a case of the individual will-to-withdraw, but an enforced participation in a great group abstraction. From its own place, the soul of the individual man recognises the end of a cycle of incarnation, and recalls its life. This it does through a discharge of the will-energy that is strong enough to bring about the change….Christ referred to this work of abstraction as regards the third great planetary centre, Humanity, when He said (and He was speaking as the Representative of the Hierarchy, the second planetary centre, into which all human beings achieving initiation are “withdrawn” esoterically), “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” A different word to this word of His will be spoken at the end of the age when the Lord of the World will speak from Shamballa [449] (the first planetary centre), will abstract the life principle from the Hierarchy, and all life and consciousness will then be focussed in the planetary head centre—the Great Council Chamber at Shamballa.

Điều tạo ra một sự thay đổi là một sự phóng thích (dùng một cụm từ hoàn toàn không thỏa đáng) của năng lượng ý chí có định hướng và được hội tụ. Nó có phẩm tính từ tính đến mức hút về mình sự sống của các trung tâm, mang lại sự tan rã của hình tướng nhưng giải phóng sự sống. Cái chết đến với con người cá nhân theo nghĩa thông thường của từ này khi ý chí sống trong một thể xác hồng trần ra đi và ý chí rút ra thay thế nó. Điều này chúng ta gọi là cái chết. Chẳng hạn, trong các trường hợp chết trong chiến tranh, khi ấy đó không phải là trường hợp của ý chí rút lui cá nhân, mà là một sự tham dự bị cưỡng bách vào một sự rút ra tập thể lớn lao. Từ vị trí riêng của mình, linh hồn của con người cá nhân nhận biết sự kết thúc của một chu kỳ nhập thể và triệu hồi sự sống của mình. Linh hồn làm điều này thông qua một sự phóng thích năng lượng ý chí đủ mạnh để tạo ra sự thay đổi….Đức Christ đã nói đến công việc rút ra này liên quan đến trung tâm hành tinh lớn thứ ba, Nhân loại, khi Ngài nói (và Ngài đang nói với tư cách là Đấng Đại Diện của Thánh đoàn, trung tâm hành tinh thứ hai, mà vào đó tất cả những con người đạt điểm đạo đều được “rút vào” theo nghĩa huyền bí), “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.” Một lời khác với lời này của Ngài sẽ được nói ra vào cuối thời đại khi Đức Chúa Tể Thế Giới sẽ nói từ Shamballa [449] (trung tâm hành tinh thứ nhất), sẽ rút nguyên khí sự sống ra khỏi Thánh đoàn, và khi ấy mọi sự sống và tâm thức sẽ được hội tụ trong trung tâm đầu hành tinh—Đại Nghị Trường tại Shamballa.

“The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light, and lay the emphasis upon life.”

“Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo ra như thế phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng, và đặt trọng tâm vào sự sống.”

Here the three great aspects—form, quality, and life—are brought into relation, and the point of the evolutionary objective is seen in its true light—LIFE. Note this phrasing. Form or appearance, having served its purpose, disappears. Death of the form takes place. Quality, the major divine attribute being developed in this planet, becomes dominant, is “conscious of itself”—as the ancient writings put it. It is identified and individual, but has no implementing form, except that of the greater whole in which it finds its place. Neither form nor quality (body nor consciousness) are paramount in the new state of being, only the life aspect, the spirit on its own plane becomes the dominating factor. Some faint dim light on the significance of this may come if you bear in mind that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane. The process of developing sensitivity in this sevenfold evolution has been undergone in order to enable the initiate to function upon the cosmic astral plane, when withdrawn or abstracted after the higher initiations. He is abstracted from our planetary life altogether. Only one factor could prevent this, and that might be his pledge to serve temporarily within the planetary ring-pass-not. Such members of the Hierarchy Who pledge Themselves to this work are stated to have Buddhic consciousness, and the line of Their descent (occultly understood) is from the Eternal Pilgrim, the Lord of the World, then the Buddha, and then the Christ. They remain identified through free choice with the “quality seen [450] within the light” and, for the term of Their freely rendered service, work with the consciousness aspect in order to lay the emphasis later upon the life aspect….

Ở đây ba phương diện lớn—hình tướng, phẩm tính, và sự sống—được đặt vào tương quan, và điểm của mục tiêu tiến hoá được thấy trong ánh sáng chân thực của nó—SỰ SỐNG. Hãy lưu ý cách diễn đạt này. Hình tướng hay sắc tướng, sau khi đã phục vụ mục đích của nó, sẽ biến mất. Cái chết của hình tướng diễn ra. Phẩm tính, thuộc tính thiêng liêng chủ yếu đang được phát triển trên hành tinh này, trở nên trội vượt, “có ý thức về chính nó”—như các trước tác cổ đã nói. Nó được nhận diện và mang tính cá biệt, nhưng không có hình tướng để thực thi, ngoại trừ hình tướng của toàn thể lớn hơn trong đó nó tìm thấy vị trí của mình. Trong trạng thái hiện hữu mới, cả hình tướng lẫn phẩm tính (thể hay tâm thức) đều không phải là tối thượng; chỉ có phương diện sự sống, tinh thần trên cõi riêng của nó, mới trở thành yếu tố chi phối. Một chút ánh sáng mờ nhạt về ý nghĩa của điều này có thể đến nếu bạn ghi nhớ rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Tiến trình phát triển tính nhạy cảm trong cuộc tiến hoá thất phân này đã được trải qua để giúp điểm đạo đồ có thể hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ, khi được rút ra hay trừu xuất sau các lần điểm đạo cao hơn. Y được rút ra khỏi đời sống hành tinh của chúng ta hoàn toàn. Chỉ có một yếu tố có thể ngăn điều này, và đó có thể là lời thệ nguyện của y phụng sự tạm thời bên trong vòng-giới-hạn hành tinh. Những thành viên của Thánh đoàn, Các Ngài tự nguyện cam kết với công việc này, được nói là có tâm thức Bồ đề, và dòng giáng hạ của Các Ngài (được hiểu theo nghĩa huyền bí) là từ Đấng Lữ Khách Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi đến Đức Phật, và sau đó là Đức Christ. Các Ngài vẫn đồng nhất, do sự lựa chọn tự do, với “phẩm tính được thấy [450] trong ánh sáng” và, trong thời hạn phụng sự được tự nguyện hiến dâng của Các Ngài, hoạt động với phương diện tâm thức để về sau đặt trọng tâm vào phương diện sự sống….

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

The eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sumtotal of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath.

Mười tám ngọn lửa phải lụi tàn; các sự sống nhỏ hơn (thể hiện nguyên khí của hình tướng, của dục vọng và của tư tưởng, tổng số của tính sáng tạo, dựa trên tình thương từ tính) phải trở về hồ chứa của sự sống và không còn gì sót lại ngoài điều đã khiến chúng hiện hữu, ý chí trung tâm được biết đến qua các hiệu quả của sự phát xạ hay hơi thở của nó.

This dispersal, death or dissolution, is in reality a great effect produced by the central Cause, and the injunction is consequently: “This they must bring about by the evocation of the Will.”…The disciple finds his group in the Master’s Ashram and consciously and with full understanding masters death—the long-feared enemy of existence. He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focussed in the highest aspect and knows himself to be the WILL, the Life, the Father, the Monad, the One.

Sự phân tán, cái chết hay sự tan rã này, trên thực tế, là một hiệu quả lớn được tạo ra bởi Nguyên Nhân trung tâm, và do đó mệnh lệnh là: “Điều này họ phải mang lại bằng sự gợi lên Ý Chí.”…Đệ tử tìm thấy nhóm của mình trong ashram của Chân sư và một cách có ý thức, với sự thấu hiểu trọn vẹn, làm chủ cái chết—kẻ thù của sự hiện hữu đã bị sợ hãi từ lâu. Y khám phá rằng cái chết chỉ đơn giản là một hiệu quả do sự sống và ý chí có ý thức của y tạo ra, và là một phương thức nhờ đó y định hướng chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên có thể một cách có ý thức bởi vì, sau khi đã phát triển sự nhận biết về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và bác ái—giờ đây y được hội tụ trong phương diện cao nhất và biết mình là Ý CHÍ, là Sự Sống, là Cha, là chân thần, là Đấng Duy Nhất.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A great upheaval in all the kingdoms in nature has characterised this day and generation; a stupendous destruction of all forms of divine life and in every kingdom has been the outstanding note of this upheaval. Our modern civilisation has received a death blow from which it will never recover, but which will be recognised some day as the “blow of release” and as the signal for that which is better, new and more suitable for the evolving spirit, to make its appearance. Great and penetrating energies and their [451] evoked forces have met in conflict which has, figuratively speaking, elevated the mineral kingdom into the skies and which has brought down fire from heaven. I am talking to you factually and not just symbolically. The bodies of men, women and children, as well as animals, have been destroyed; the forms of the vegetable kingdom and the potencies of the mineral kingdom have been disintegrated, distributed and devastated. The coherent life of all the planetary forms has been temporarily rendered incoherent. As an ancient prophecy has put it: “No true united Sound goes out from form to form, from life to life. Only a cry of pain, a demand for restitution and an invocation for relief from agony, despair and fruitless effort goes out from here to There.”

Một biến động lớn trong mọi giới của thiên nhiên đã đặc trưng cho thời đại và thế hệ này; một sự hủy diệt khổng lồ của mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng trong mọi giới đã là âm điệu nổi bật của biến động này. Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã nhận một đòn chí tử mà từ đó nó sẽ không bao giờ hồi phục, nhưng một ngày kia sẽ được nhận ra là “đòn giải thoát” và là tín hiệu cho điều tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn và thích hợp hơn với tinh thần đang tiến hoá, xuất hiện. Những năng lượng lớn lao và thâm nhập cùng các mãnh lực được chúng gợi lên [451] đã gặp nhau trong một cuộc xung đột mà, nói theo nghĩa hình tượng, đã nâng giới kim thạch lên bầu trời và đã kéo lửa từ thiên thượng xuống. Tôi đang nói với các bạn theo nghĩa sự kiện chứ không chỉ theo biểu tượng. Thể xác của những người nam và nữ cùng trẻ em, cũng như của các loài vật, đã bị hủy diệt; các hình tướng của giới thực vật và các tiềm lực của giới kim thạch đã bị tan rã, phân tán và tàn phá. Sự sống cố kết của mọi hình tướng hành tinh đã tạm thời bị làm cho mất cố kết. Như một lời tiên tri cổ đã nói: “Không có Âm Thanh hợp nhất chân chính nào phát ra từ hình tướng đến hình tướng, từ sự sống đến sự sống. Chỉ có một tiếng kêu đau đớn, một lời đòi hỏi hoàn nguyên và một khẩn cầu được giải thoát khỏi thống khổ, tuyệt vọng và nỗ lực vô ích phát ra từ đây đến Kia.”

All this upheaval of the “soil” of the world—spiritual, psychological and physical—all this disruption of the forms and of the familiar contours of our planetary life, had to take place before there could come the emergence of the Hierarchy into the public consciousness; all this had to do its work upon the souls of men before the New Age could come in, bringing with it the Restoration of the Mysteries and the rehabilitation of the peoples of the Earth. The two go together. This is one of the major points which I am seeking to make. The disruption, disintegration and the completely chaotic conditions existing for the past five hundred years within all the kingdoms of nature have at last worked their way out into paralleling physical conditions. This is good and desirable; it marks the prelude to a better building of a better world, and the construction of more adequate forms of life and of more correct human attitudes, plus a sounder orientation to reality. The best is yet to be.

Tất cả biến động này của “mảnh đất” thế giới—về tinh thần, tâm lý và hồng trần—tất cả sự đổ vỡ này của các hình tướng và những đường nét quen thuộc của đời sống hành tinh của chúng ta, đã phải xảy ra trước khi có thể có sự xuất hiện của Thánh đoàn trong tâm thức công chúng; tất cả điều này đã phải thực hiện công việc của nó trên các linh hồn của con người trước khi Kỷ Nguyên Mới có thể đến, mang theo nó sự Phục Hồi các Mầu Nhiệm và sự phục hưng các dân tộc trên Trái Đất. Hai điều này đi cùng nhau. Đây là một trong những điểm chính yếu mà tôi đang tìm cách nêu ra. Sự đổ vỡ, tan rã và những điều kiện hoàn toàn hỗn loạn đã tồn tại trong năm trăm năm qua bên trong mọi giới của thiên nhiên cuối cùng đã bộc lộ ra thành những điều kiện hồng trần song hành. Điều này là tốt và đáng mong muốn; nó đánh dấu khúc dạo đầu cho việc xây dựng tốt đẹp hơn một thế giới tốt đẹp hơn, và việc kiến tạo những hình tướng sự sống thích đáng hơn cùng những thái độ nhân loại đúng đắn hơn, cộng thêm một sự định hướng lành mạnh hơn đối với thực tại. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.

Everything is being rapidly brought to the surface—the good and the bad, the desirable and the undesirable, the [452] past and the future (for the two are one); the plough of God has nearly accomplished its work; the sword of the spirit has severed an evil past from the radiant future, and both are seen as contributory in the Eye of God; our material civilisation will be seen as giving place rapidly to a more spiritual culture; our church organisations, with their limiting and confusing theologies, will soon give place to the Hierarchy with its emerging teaching—clear, factual, intuitive and nondogmatic.

Mọi thứ đang nhanh chóng được đưa lên bề mặt—điều tốt và điều xấu, điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, [452] quá khứ và tương lai (vì hai điều ấy là một); lưỡi cày của Thượng đế gần như đã hoàn tất công việc của nó; thanh gươm của tinh thần đã cắt lìa một quá khứ xấu ác khỏi tương lai rạng ngời, và cả hai đều được thấy là góp phần trong Con Mắt của Thượng đế; nền văn minh vật chất của chúng ta sẽ được thấy là đang nhanh chóng nhường chỗ cho một nền văn hóa tinh thần hơn; các tổ chức giáo hội của chúng ta, với những thần học giới hạn và gây rối trí của chúng, sẽ sớm nhường chỗ cho Thánh đoàn với giáo huấn đang xuất hiện của nó—rõ ràng, thực tế, trực giác và không giáo điều.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.

Intense desire for sentient existence or attachment. This is inherent in every form, is self-perpetuating and known even to the very wise.

Ham muốn mãnh liệt đối với sự hiện hữu có cảm nhận hay sự bám chấp. Điều này vốn có trong mọi hình tướng, tự duy trì và được biết đến ngay cả với những người rất minh triết.

When the life or Spirit withdraws itself, the form dies, occultly. When the thought of the ego or higher self is occupied with its own plane, there is no energy outgoing towards the matter of the three worlds, and so no form-building and form-attachment is there possible. This is in line with the occult truism that “energy follows thought,” and is in line, too, with the teaching that the body of the Christ principle (the Buddhic vehicle) only begins to coordinate as the lower impulses fade out….Attachment to form or the attraction of form for Spirit is the great involutionary impulse. Repulsion of form and consequent form disintegration is the great evolutionary urge.

Khi sự sống hay tinh thần tự rút lui, hình tướng chết đi, theo nghĩa huyền bí. Khi tư tưởng của chân ngã hay chân ngã bậc cao bận tâm với cõi riêng của nó, sẽ không có năng lượng nào tuôn ra hướng về vật chất của ba cõi thấp, và do đó không thể có việc xây dựng hình tướng và bám chấp vào hình tướng. Điều này phù hợp với chân lý huyền bí rằng “năng lượng đi theo tư tưởng,” và cũng phù hợp với giáo huấn rằng thể của nguyên khí Christ (vận cụ Bồ đề) chỉ bắt đầu phối hợp khi các xung lực thấp phai tắt….Sự bám chấp vào hình tướng hay sức hấp dẫn của hình tướng đối với tinh thần là xung lực giáng hạ tiến hoá lớn lao. Sự đẩy lùi hình tướng và sự tan rã hình tướng tiếp theo là thúc đẩy tiến hoá lớn lao.

THE LIGHT OF THE SOUL, PAGES 137-8.

THE LIGHT OF THE SOUL, PAGES 137-8.

When the cause, desire, has produced its effect, the personality or form aspect of man, then as long as the will to live exists, so long will the form persist. It is kept in manifestation through mental vitality. This has been demonstrated time and again in the annals of medicine, for it has been proven that as long as the determination to live persists, so will be the probable duration of the physical plane [453] life; but that the moment that will is withdrawn, or the interest of the dweller in the body is no longer centered upon personality manifestation, death ensues and the disintegration of that mind-image, the body, takes place.

Khi nguyên nhân, tức dục vọng, đã tạo ra hiệu quả của nó, tức phàm ngã hay phương diện hình tướng của con người, thì chừng nào ý chí sống còn hiện hữu, chừng đó hình tướng còn tồn tại. Nó được giữ trong biểu hiện nhờ sinh lực trí tuệ. Điều này đã được chứng minh hết lần này đến lần khác trong biên niên sử y học, vì đã được chứng tỏ rằng chừng nào quyết tâm sống còn tồn tại, thì thời lượng có thể có của đời sống cõi hồng trần [453] cũng sẽ còn; nhưng ngay khoảnh khắc ý chí ấy bị rút lại, hoặc sự quan tâm của kẻ cư ngụ trong thể không còn tập trung vào biểu hiện phàm ngã nữa, thì cái chết xảy đến và sự tan rã của hình ảnh trí tuệ ấy, tức thể xác, diễn ra.

THE LIGHT OF THE SOUL, PAGE 397.

THE LIGHT OF THE SOUL, PAGE 397.

There are two main lines of evolution, that which concerns matter and form, and that which concerns the soul, the consciousness aspect, the thinker in manifestation. For each of these the path of progress differs, and each pursues its course. As has been noted, for a long period of time the soul identifies itself with the form aspect and endeavours to follow the “Path of Death,” for that is what the dark path is in fact to the thinker. Later, through strenuous effort, this identification ceases; the soul becomes aware of itself, and of its own path, or dharma, and follows then the way of light and of life. It should ever be borne in mind, however, that for the two aspects their own path is the right path, and that the impulses which lie hidden in the physical vehicle or in the astral body are not in themselves wrong. They become wrong from certain angles when twisted from their right use, and it was this realisation that led the disciple in the Book of Job to cry out and say, “I have perverted that which was right.” The two lines of development are separate and distinct, and this every aspirant has to learn.

Có hai đường tiến hoá chính, một đường liên quan đến vật chất và hình tướng, và một đường liên quan đến linh hồn, phương diện tâm thức, thức giả trong biểu hiện. Đối với mỗi đường này, con đường tiến bộ là khác nhau, và mỗi đường theo đuổi lộ trình riêng của nó. Như đã lưu ý, trong một thời gian dài linh hồn đồng hoá với phương diện hình tướng và cố gắng đi theo “Con Đường của Cái Chết,” vì đó thực sự là con đường tối đối với thức giả. Về sau, nhờ nỗ lực mãnh liệt, sự đồng hoá này chấm dứt; linh hồn trở nên nhận biết chính mình, và con đường riêng của nó, hay dharma, rồi sau đó đi theo con đường của ánh sáng và của sự sống. Tuy nhiên, cần luôn ghi nhớ rằng đối với hai phương diện này, con đường riêng của chúng là con đường đúng đắn, và những xung lực ẩn giấu trong vận cụ hồng trần hay trong thể cảm dục tự chúng không sai. Chúng trở nên sai từ một số góc độ nhất định khi bị bẻ cong khỏi cách sử dụng đúng đắn của chúng, và chính sự chứng nghiệm này đã khiến đệ tử trong Sách Job kêu lên rằng, “Tôi đã làm sai lệch điều vốn đúng.” Hai đường phát triển này tách biệt và khác nhau, và đây là điều mọi người chí nguyện đều phải học.

THE LIGHT OF THE SOUL, PAGES 402-403.

THE LIGHT OF THE SOUL, PAGES 402-403.

The Art of Dying.

Nghệ thuật chết.

The soul, seated in the heart, is the life principle, the principle of self-determination, the central nucleus of positive energy by means of which all the atoms of the body are held in their right place and subordinated to the “will-to-be” of the soul. This principle of life utilises the blood stream [454] as its mode of expression and as its controlling agency, and through the close relation of the endocrine system to the blood stream, we have the two aspects of soul activity brought together in order to make man a living, conscious, functioning entity, governed by the soul, and expressing the purpose of the soul in all the activities of daily living.

Linh hồn, ngự trong tim, là nguyên khí sự sống, nguyên khí tự quyết định, hạt nhân trung tâm của năng lượng dương, nhờ đó mọi nguyên tử của thể được giữ đúng vị trí của chúng và được đặt dưới “ý chí-hiện-hữu” của linh hồn. Nguyên khí sự sống này sử dụng dòng máu [454] như phương thức biểu lộ và như tác nhân kiểm soát của nó, và thông qua mối liên hệ chặt chẽ của hệ nội tiết với dòng máu, chúng ta có hai phương diện của hoạt động linh hồn được đưa lại với nhau để làm cho con người trở thành một thực thể sống, có tâm thức, đang hoạt động, được linh hồn chi phối, và biểu lộ mục đích của linh hồn trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày.

Death, therefore, is literally the withdrawal from the heart and from the head of these two streams of energy, producing consequently complete loss of consciousness and disintegration of the body. Death differs from sleep in that both streams of energy are withdrawn. In sleep, only the thread of energy which is anchored in the brain is withdrawn, and when this happens the man becomes unconscious. By this we mean that his consciousness or sense of awareness is focussed elsewhere. His attention is no longer directed towards things tangible and physical, but is turned upon another world of being and becomes centered in another apparatus or mechanism. In death, both the threads are withdrawn or unified in the life thread. Vitality ceases to penetrate through the medium of the blood stream and the heart fails to function, just as the brain fails to record, and thus silence settles down. The house is empty. Activity ceases, except that amazing and immediate activity which is the prerogative of matter itself and which expresses itself in the process of decomposition. From certain aspects, therefore, that process indicates man’s unity with everything that is material; it demonstrates that he is apart of nature itself, and by nature we mean the body of the one Life in whom “we live and move and have our being.” In those three words—living, moving and being—we have the entire story. Being is awareness, self-consciousness and self-expression, and of this man’s head and brain are the exoteric symbols. Living is energy, desire in form, coherence and adhesion to an idea, and of this the heart and the blood are the exoteric [455] symbols. Moving indicates the integration and response of the existing, aware, living entity into the universal activity, and of this the stomach, pancreas and liver are the symbols.

Vì vậy, cái chết theo nghĩa đen là sự rút ra khỏi tim và khỏi đầu của hai dòng năng lượng này, do đó tạo ra sự mất tâm thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. Cái chết khác với giấc ngủ ở chỗ cả hai dòng năng lượng đều được rút đi. Trong giấc ngủ, chỉ có sợi dây năng lượng được neo trong bộ não là được rút đi, và khi điều này xảy ra thì con người trở nên vô thức. Bởi điều này chúng tôi muốn nói rằng tâm thức hay cảm nhận nhận biết của y được tập trung ở nơi khác. Sự chú ý của y không còn hướng về những sự vật hữu hình và hồng trần nữa, mà quay về một thế giới bản thể khác và trở nên tập trung trong một bộ máy hay cơ cấu khác. Trong cái chết, cả hai sợi dây đều được rút đi hoặc được hợp nhất vào sinh mệnh tuyến. Sinh lực không còn thâm nhập qua trung gian của dòng máu nữa và tim ngừng hoạt động, cũng như bộ não không còn ghi nhận nữa, và như thế sự im lặng buông xuống. Ngôi nhà trống rỗng. Hoạt động chấm dứt, ngoại trừ hoạt động kỳ diệu và tức thời ấy là đặc quyền của chính vật chất và tự biểu lộ trong tiến trình phân hủy. Vì vậy, xét từ một số phương diện, tiến trình ấy cho thấy sự hợp nhất của con người với mọi thứ thuộc vật chất; nó chứng minh rằng y là một phần của chính bản chất, và bởi bản chất chúng tôi muốn nói đến thể của Sự sống duy nhất mà trong đó “chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Trong ba từ ấy—sống, chuyển động và hiện hữu—chúng ta có toàn bộ câu chuyện. Hiện hữu là sự nhận biết, ngã thức và sự tự biểu lộ, và đầu cùng bộ não của con người là những biểu tượng ngoại môn của điều này. Sống là năng lượng, dục vọng trong hình tướng, sự cố kết và sự bám dính vào một ý tưởng, và tim cùng máu là những biểu tượng ngoại môn [455] của điều này. Chuyển động chỉ sự tích hợp và đáp ứng của thực thể hiện hữu, nhận biết, đang sống vào hoạt động phổ quát, và dạ dày, tụy tạng và gan là những biểu tượng của điều này.

It must be noted also that death is, therefore, undertaken at the direction of the Ego, no matter how unaware a human being may be of that direction. The process works automatically with the majority, for (when the soul withdraws its attention) the inevitable reaction on the physical plane is either death, by the abstraction of the dual threads of life and reason energy, or by the abstraction of the thread of energy which is qualified by mentality, leaving the life stream still functioning through the heart, but no intelligent awareness. The soul is engaged elsewhere and occupied on its own plane with its own affairs.

Cũng cần lưu ý rằng vì vậy, cái chết được thực hiện theo sự chỉ đạo của chân ngã, cho dù một con người có thể không nhận biết gì về sự chỉ đạo ấy. Tiến trình này vận hành một cách tự động nơi đa số, vì (khi linh hồn rút sự chú ý của nó lại) phản ứng tất yếu trên cõi hồng trần hoặc là cái chết, do sự rút ra của hai sợi dây kép của năng lượng sự sống và năng lượng lý trí, hoặc là do sự rút ra của sợi dây năng lượng được phẩm định bởi trí tuệ, để lại dòng sự sống vẫn còn hoạt động qua tim, nhưng không có nhận biết thông minh nào. Linh hồn đang bận rộn ở nơi khác và chuyên chú trên cõi riêng của nó với những công việc riêng của nó.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 496-497.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 496-497.

Before I take up this subject in greater detail I would like to make some reference to the “web in the brain,” which is intact for the majority but is non-existent for the illumined seer.

Trước khi tôi bàn đến chủ đề này chi tiết hơn, tôi muốn đề cập đôi chút đến “mạng lưới trong não,” vốn còn nguyên vẹn nơi đa số nhưng không hiện hữu nơi nhà thông nhãn được soi sáng.

In the human body, as you know, we have an underlying, extensive vital body which is the counterpart of the physical, which is larger than the physical and which we call the etheric body or double. It is an energy body and is composed of force centres and nadis or force threads. These underlie or are the counterparts of the nervous apparatus—the nerves and the nerve ganglia. In two places in the human body there are orifices of exit, if I may use so cumbersome a phrase. One opening is in the solar plexus and the other is in the brain at the top of the head. Protecting both is a closely woven web of etheric matter, composed of interlacing strands of life energy.

Trong thể người, như bạn biết, chúng ta có một thể sinh lực nền tảng và rộng khắp, là đối phần của thể xác, lớn hơn thể xác và chúng ta gọi nó là thể dĩ thái hay bản sao. Nó là một thể năng lượng và được cấu thành bởi các trung tâm lực và các nadi hay các sợi chỉ lực. Chúng nằm bên dưới hoặc là các đối phần của bộ máy thần kinh—các dây thần kinh và các hạch thần kinh. Trong thể người có hai nơi là những lỗ thoát ra, nếu tôi có thể dùng một cụm từ nặng nề như thế. Một lỗ mở ở tùng thái dương và lỗ kia ở trong não tại đỉnh đầu. Bảo vệ cả hai là một mạng lưới vật chất dĩ thái được dệt chặt, cấu thành bởi những sợi đan xen của năng lượng sự sống.

During the process of death the pressure of the life energy beating against the web produces eventually a puncturing [456] or opening. Out of this the life force pours as the potency of the abstracting influence of the soul increases. In the case of animals, of infants and of men and women who are polarised entirely in the physical and astral bodies, the door of exit is the solar plexus, and it is that web which is punctured, thus permitting the passing out. In the case of mental types, of the more highly evolved human units, it is the web at the top of the head in the region of the fontenelle which is ruptured, thus again permitting the exit of the thinking rational being.

Trong tiến trình chết, áp lực của năng lượng sự sống đập vào mạng lưới cuối cùng tạo ra một sự đâm thủng [456] hay một lỗ mở. Từ đó sinh lực tuôn ra khi tiềm lực của ảnh hưởng rút ra từ linh hồn gia tăng. Trong trường hợp thú vật, trẻ sơ sinh và những người nam và nữ phân cực hoàn toàn trong thể xác và thể cảm dục, cửa thoát ra là tùng thái dương, và chính mạng lưới ấy bị đâm thủng, nhờ đó cho phép sự ra đi. Trong trường hợp các loại người trí tuệ, các đơn vị nhân loại tiến hóa hơn, thì mạng lưới ở đỉnh đầu trong vùng thóp bị vỡ ra, nhờ đó lại cho phép sự ra đi của hữu thể suy tư có lý trí.

In the process of death these are, therefore, the two main exits: the solar plexus for the astrally polarised, physically biased human being, and therefore of the vast majority, and the head centre for the mentally polarised and spiritually oriented human being. This is the first and most important factor to remember, and it will easily be seen how the trend of a life tendency and the focus of the life attention determine the mode of exit at death. It can be seen also that an effort to control the astral life and the emotional nature, and to orient one’s self to the mental world and to spiritual things, has a momentous effect upon the phenomenal aspects of the death process.

Vì vậy, trong tiến trình chết, đây là hai lối thoát chính: tùng thái dương dành cho con người phân cực cảm dục, thiên về hồng trần, và do đó là của đại đa số; và trung tâm đầu dành cho con người phân cực trí tuệ và định hướng tinh thần. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất cần ghi nhớ, và sẽ dễ dàng thấy được xu hướng của khuynh hướng đời sống và tiêu điểm của sự chú ý trong đời sống quyết định cách thức thoát ra khi chết như thế nào. Cũng có thể thấy rằng nỗ lực kiểm soát đời sống cảm dục và bản chất cảm xúc, và định hướng bản thân về thế giới trí tuệ và những điều tinh thần, có một tác động trọng đại lên các phương diện hiện tượng của tiến trình chết.

If the student is thinking clearly, it will be apparent to him that one exit concerns the spiritual and highly evolved man, whilst the other concerns the low grade human being who has scarcely advanced beyond the animal stage. What then of the average man? A third exit is now in temporary use; just below the apex of the heart another etheric web is found covering an orifice of exit. We have, therefore, the following situation:

Nếu đạo sinh suy nghĩ rõ ràng, thì đối với y sẽ hiển nhiên rằng một lối thoát liên quan đến con người tinh thần và tiến hóa cao, trong khi lối kia liên quan đến con người cấp thấp hầu như chưa vượt quá giai đoạn thú vật. Vậy còn con người trung bình thì sao? Hiện nay có một lối thoát thứ ba đang được dùng tạm thời; ngay dưới đỉnh tim có một mạng lưới dĩ thái khác che phủ một lỗ thoát ra. Vì vậy, chúng ta có tình hình như sau:

1. The exit in the head, used by the intellectual type, by the disciples and initiates of the world. [457]

1. Lối thoát ở đầu, được dùng bởi loại người trí thức, bởi các đệ tử và các điểm đạo đồ của thế giới. [457]

2. The exit in the heart, used by the kindly, well-meaning man or woman who is a good citizen, an intelligent friend and a philanthropic worker.

2. Lối thoát ở tim, được dùng bởi người nam hay người nữ tử tế, thiện chí, là một công dân tốt, một người bạn thông minh và một người hoạt động từ thiện.

3. The exit in the region of the solar plexus, used by those whose animal nature is strong.

3. Lối thoát ở vùng tùng thái dương, được dùng bởi những người có bản chất thú vật mạnh.

This is the first point in the new information which will slowly become common knowledge in the West during the next century. Much of it is already known by thinkers in the East and is in the nature of a first step towards a rational understanding of the death process.

Đây là điểm đầu tiên trong thông tin mới, điều sẽ chậm rãi trở thành tri thức phổ biến ở phương Tây trong thế kỷ tới. Phần lớn điều này đã được các nhà tư tưởng ở phương Đông biết đến và có tính chất là bước đầu hướng tới sự thấu hiểu hợp lý về tiến trình chết.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 500.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 500.

In relation to the technique of dying, it is only possible for me at this time to make one or two suggestions. I deal not here with the attitude of the attendant watchers, I deal only with those points which will make for an easier passing over of the transient soul. First, let there be silence in the chamber. This is, of course, frequently the case. It must be remembered that the dying person may usually be unconscious. This unconsciousness is apparent but not real. In nine hundred cases out of a thousand the brain awareness is there, with a full consciousness of happenings, but there is a complete paralysis of the will to express and complete inability to generate the energy which will indicate aliveness. When silence and understanding rule the sick room, the departing soul can hold possession of its instrument with clarity until the last minute, and can make due preparation.

Liên quan đến kỹ thuật chết, hiện nay tôi chỉ có thể đưa ra một hay hai gợi ý. Ở đây tôi không bàn đến thái độ của những người canh chừng bên cạnh, tôi chỉ bàn đến những điểm sẽ giúp cho sự vượt qua dễ dàng hơn của linh hồn tạm thời. Trước hết, hãy để có sự im lặng trong phòng. Dĩ nhiên, điều này thường là như vậy. Phải nhớ rằng người đang hấp hối thường có vẻ vô thức. Sự vô thức này là bề ngoài chứ không thật. Trong chín trăm trường hợp trên một ngàn, sự nhận biết của não vẫn còn đó, với tâm thức đầy đủ về những gì đang xảy ra, nhưng có sự tê liệt hoàn toàn của ý chí biểu lộ và hoàn toàn không thể tạo ra năng lượng để chỉ ra sự sống. Khi sự im lặng và thấu hiểu ngự trị trong phòng bệnh, linh hồn đang ra đi có thể giữ quyền sở hữu công cụ của nó một cách minh bạch cho đến phút cuối cùng, và có thể chuẩn bị thích đáng.

Later, when more anent colour is known, only orange lights will be permitted in the sick room of a dying person, and these will only be installed with due ceremony when there is assuredly no possibility of recovery. Orange aids the focussing in the head, just as red stimulates the solar [458] plexus and green has a definite effect upon the heart and life streams.

Về sau, khi người ta biết nhiều hơn về màu sắc, chỉ những ánh đèn màu cam mới được phép trong phòng bệnh của người hấp hối, và chúng chỉ được lắp đặt với nghi thức thích đáng khi chắc chắn không còn khả năng hồi phục. Màu cam giúp cho sự tập trung ở đầu, cũng như màu đỏ kích thích tùng thái dương [458] và màu xanh lục có ảnh hưởng rõ rệt lên tim và các dòng sự sống.

Certain types of music will be used when more in connection with sound is understood, but there is no music as yet which will facilitate the work of the soul in abstracting itself from the body, though certain notes on the organ will be found effective. At the exact moment of death, if a person’s own note is sounded, it will coordinate the two streams of energy and eventually rupture the life thread, but the knowledge of this is too dangerous to transmit as yet and can only later be given. I would indicate the future and the lines along which future occult study will run.

Một số loại âm nhạc sẽ được dùng khi người ta hiểu nhiều hơn về âm thanh, nhưng hiện chưa có loại nhạc nào sẽ tạo thuận lợi cho công việc của linh hồn trong việc rút chính nó ra khỏi thể, mặc dù một số âm điệu nhất định trên đàn phong cầm sẽ được thấy là hữu hiệu. Vào đúng khoảnh khắc chết, nếu âm điệu riêng của một người được xướng lên, nó sẽ phối hợp hai dòng năng lượng và cuối cùng làm đứt sinh mệnh tuyến, nhưng tri thức này hiện còn quá nguy hiểm để truyền đạt và chỉ có thể được ban ra về sau. Tôi muốn chỉ ra tương lai và những đường hướng mà việc nghiên cứu huyền bí học trong tương lai sẽ tiến hành.

It will be found also that pressure on certain nerve centres and on certain arteries will facilitate the work, and this science of dying is held in custody, as many students know, in Tibet. Pressure on the jugular vein and on certain big nerves in the region of the head and on a particular spot in the medulla oblongata will be found helpful and effective. A definite science of death will inevitably later be elaborated, but only when the fact of the soul is recognised and its relation to the body has been scientifically demonstrated.

Người ta cũng sẽ thấy rằng áp lực lên một số trung tâm thần kinh và lên một số động mạch sẽ tạo thuận lợi cho công việc này, và khoa học về sự chết này, như nhiều đạo sinh biết, đang được lưu giữ tại Tây Tạng. Áp lực lên tĩnh mạch cảnh và lên một số dây thần kinh lớn trong vùng đầu và lên một điểm đặc biệt trong hành tủy sẽ được thấy là hữu ích và hiệu quả. Về sau chắc chắn sẽ có một khoa học xác định về cái chết được khai triển, nhưng chỉ khi sự kiện về linh hồn được công nhận và mối liên hệ của nó với thể xác đã được chứng minh một cách khoa học.

Mantric phrases will also be employed and definitely built into the consciousness of the dying person by those around him, or employed deliberately and mentally by himself. The Christ demonstrated their use when He cried aloud, “Father, into thy hands, I commend my spirit.” And we have another instance in the words, “Lord, now lettest Thou Thy servant depart in peace.” The steady use of the Sacred Word, chanted in an undertone or on a particular key (to which the dying man will be found to respond), may later constitute also a part of the ritual of transition, accompanied by the anointing with oil, as preserved in the Catholic Church. Extreme Unction has an occult, scientific basis. The top of the head of the dying [459] man should also symbolically point towards the East, and the feet and hands should be crossed. Sandalwood only should be burned in the room, and no incense of any other kind permitted, for sandalwood is the incense of the First or Destroyer Ray, and the soul is in process of destroying its habitation.

Các cụm từ mantram cũng sẽ được dùng và được xây dựng rõ rệt vào tâm thức của người hấp hối bởi những người quanh y, hoặc được chính y dùng một cách có chủ ý và bằng trí tuệ. Đức Christ đã chứng minh việc sử dụng chúng khi Ngài kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác tinh thần con trong tay Cha.” Và chúng ta có một trường hợp khác trong những lời: “Lạy Chúa, giờ đây xin cho tôi tớ Ngài ra đi bình an.” Việc sử dụng đều đặn Linh từ Thiêng Liêng, được tụng bằng giọng trầm hoặc trên một cao độ đặc biệt (mà người hấp hối sẽ được thấy là đáp ứng), về sau cũng có thể cấu thành một phần của nghi thức chuyển tiếp, đi kèm với việc xức dầu như được bảo tồn trong Giáo hội Công giáo. Phép Xức Dầu Cuối Cùng có một nền tảng huyền bí và khoa học. Đỉnh đầu của người hấp hối [459] cũng nên được hướng một cách tượng trưng về phía Đông, và bàn chân cùng bàn tay nên được bắt chéo. Chỉ nên đốt gỗ đàn hương trong phòng, và không được phép dùng bất kỳ loại hương nào khác, vì đàn hương là hương của Cung một hay Cung Hủy Diệt, và linh hồn đang trong tiến trình hủy bỏ nơi cư ngụ của nó.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 505.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 505.

If there is one factor aspirants recognise, it is the need of freeing themselves from the Great Illusion. Arjuna knew this, yet succumbed to despair. Yet in his hour of need, Krishna failed him not, but laid down in the Gita the simple rules whereby depression and doubt can be overcome. They may be briefly summarised as follows:

Nếu có một yếu tố mà những người chí nguyện nhận ra, thì đó là nhu cầu giải thoát chính mình khỏi Đại Ảo Tưởng. Arjuna biết điều này, nhưng vẫn khuất phục trước tuyệt vọng. Tuy nhiên, trong giờ phút cần thiết của ông, Krishna đã không bỏ rơi ông, mà đã đặt ra trong Gita những quy luật đơn giản nhờ đó sự trầm uất và nghi ngờ có thể được vượt qua. Chúng có thể được tóm lược ngắn gọn như sau:

a. Know thyself to be the undoing One.

a. Hãy biết mình là Đấng không thể bị hủy diệt.

b. Control thy mind, for through that mind the undying One can be known.

b. Hãy kiểm soát trí tuệ của mình, vì qua trí tuệ ấy Đấng bất tử có thể được biết đến.

c. Learn that the form is but the veil which hides the splendour of Divinity.

c. Hãy học rằng hình tướng chỉ là bức màn che giấu vẻ huy hoàng của thiên tính.

d. Realise that the One Life pervades all forms, so there is no death, no distress, no separation.

d. Hãy chứng nghiệm rằng Sự sống duy nhất thấm nhuần mọi hình tướng, vì thế không có cái chết, không có khổ đau, không có chia lìa.

e. Detach thyself therefore from the form side and come to me, so dwelling in the place where Light and Life are found. Thus illusion ends.

e. Vì vậy, hãy tách rời mình khỏi phương diện hình tướng và đến với ta, nhờ đó cư ngụ trong nơi mà Ánh sáng và Sự sống được tìm thấy. Như thế ảo tưởng chấm dứt.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 308.

A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 308.

A Master learns the meaning of each confining form; then He assumes control and wields the law upon the plane consistent with the form. He has then outgrown the form and discards it for other and higher forms. Thus, He has progressed always by means of the sacrifice and death of the form. Always, it is recognised as imprisoning, always it must be sacrificed and die so that the life within may speed ever on and up. The path of resurrection presupposes [460] crucifixion and death, and then leads to the mount whence Ascension may be made.

Một Chân sư học ý nghĩa của mỗi hình tướng giam hãm; rồi Ngài nắm quyền kiểm soát và vận dụng định luật trên cõi phù hợp với hình tướng ấy. Khi đó Ngài đã vượt khỏi hình tướng và loại bỏ nó để nhận lấy những hình tướng khác và cao hơn. Như vậy, Ngài luôn luôn tiến bộ bằng phương tiện của sự hi sinh và cái chết của hình tướng. Luôn luôn, nó được nhận ra là đang giam cầm; luôn luôn nó phải được hi sinh và chết đi để sự sống bên trong có thể luôn luôn tiến nhanh lên trên. con đường phục sinh giả định trước [460] sự đóng đinh và cái chết, rồi sau đó dẫn đến ngọn núi từ đó sự Thăng Thiên có thể được thực hiện.

LETTERS ON OCCULT MEDITATION, PAGE 261.

LETTERS ON OCCULT MEDITATION, PAGE 261.

2. THE ACT OF RESTITUTION2. HÀNH ĐỘNG HOÀN NGUYÊN

In considering the consciousness of the departing soul (note that phrase) as it undertakes the act of restitution, I would again point out that I am dealing with a subject of which there is no tangible physical proof. Occasionally men are brought back again into physical plane existence when at the exact point of complete physical restitution. This can only be done as long as the conscious entity is still occupying the etheric vehicle, though the discarding of the dense physical body has to all intents and purposes been completed. Though the etheric body interpenetrates the entire physical body, it is much larger than that body, and the astral body and the mental nature can still remain etherically polarised even if the death of the physical body—the cessation of all heart activity and the concentration of the basic etheric focus in the region of the head, or the heart, or the solar plexus—has been effective and the withdrawal is already well under way.

Khi xem xét tâm thức của linh hồn đang ra đi (hãy lưu ý cụm từ ấy) khi nó thực hiện hành động hoàn nguyên, tôi lại muốn chỉ ra rằng tôi đang bàn đến một chủ đề không có bằng chứng hồng trần hữu hình nào. Thỉnh thoảng người ta được đưa trở lại hiện hữu trên cõi hồng trần khi đang ở đúng điểm hoàn nguyên hồng trần hoàn toàn. Điều này chỉ có thể được thực hiện chừng nào thực thể có ý thức vẫn còn chiếm giữ vận cụ dĩ thái, mặc dù việc loại bỏ thể xác đậm đặc về mọi ý nghĩa thực tiễn đã hoàn tất. Mặc dù thể dĩ thái thâm nhập toàn bộ thể xác, nó lớn hơn thể xác ấy rất nhiều, và thể cảm dục cùng bản chất trí tuệ vẫn có thể còn phân cực dĩ thái ngay cả khi cái chết của thể xác—sự chấm dứt mọi hoạt động của tim và sự tập trung của tiêu điểm dĩ thái căn bản trong vùng đầu, hoặc tim, hoặc tùng thái dương—đã có hiệu lực và sự rút lui đã đang tiến hành khá xa.

The etheric forces are first of all withdrawn into the surrounding extension of the etheric ring-pass-not, prior to that final dissipation which leaves the man free to stand as a human soul within the ring-pass-not of his astral vehicle. You have here a somewhat new aspect of the death process. The withdrawal of the etheric body from occupation of the dense physical body has oft been posited and presented. But even when that has been accomplished, death is not yet complete; it still awaits a secondary activity of the will of the soul. This secondary activity will result in all the etheric forces dissolving into an emanating source which is the [461] general reservoir of forces. Forget not that the etheric body has no distinctive life of its own. It is only an amalgamation of all the forces and energies which animated the physical body and which galvanised it into activity during the outer life cycle. Remember also that the five centres up the spine are not within the physical body, but are found at certain distinctive points in the paralleling etheric substance; they are (even in the case of the undeveloped man, and still more in the case of the average man) at least two inches away from the physical spine. The three head centres are also outside the dense physical body. The recollection of this will facilitate your understanding of the statement that the physical body is, per se, vacated when death is assumed by the watching authorities, but that, nevertheless, the man may not be truly dead. I would remind you also that this is equally true of the many minor centres as well as of the major centres, with which we are so familiar.

Trước hết, các mãnh lực dĩ thái được rút vào phần mở rộng bao quanh của vòng-giới-hạn dĩ thái, trước khi có sự làm tiêu tan cuối cùng khiến con người được tự do đứng như một linh hồn nhân loại trong vòng-giới-hạn của vận cụ cảm dục của mình. Ở đây bạn có một phương diện phần nào mới của tiến trình chết. Việc rút thể dĩ thái ra khỏi sự chiếm giữ thể xác đậm đặc thường đã được giả định và trình bày. Nhưng ngay cả khi điều đó đã được hoàn thành, cái chết vẫn chưa hoàn tất; nó vẫn còn chờ một hoạt động thứ yếu của ý chí linh hồn. Hoạt động thứ yếu này sẽ dẫn đến việc mọi mãnh lực dĩ thái tan hòa vào một nguồn phát xạ, là [461] hồ chứa chung của các mãnh lực. Đừng quên rằng thể dĩ thái không có sự sống riêng biệt của chính nó. Nó chỉ là một sự hòa trộn của tất cả các mãnh lực và năng lượng đã làm sinh động thể xác và đã kích hoạt nó vào hoạt động trong chu kỳ đời sống bên ngoài. Cũng hãy nhớ rằng năm trung tâm dọc theo cột sống không ở trong thể xác, mà được tìm thấy tại những điểm đặc thù nào đó trong chất liệu dĩ thái song hành; chúng (ngay cả trong trường hợp con người chưa phát triển, và càng đúng hơn trong trường hợp con người trung bình) cách cột sống hồng trần ít nhất hai inch. Ba trung tâm đầu cũng ở ngoài thể xác đậm đặc. Việc ghi nhớ điều này sẽ giúp bạn dễ hiểu phát biểu rằng thể xác, chính nó, bị bỏ trống khi cái chết được các đấng giám sát xác nhận, nhưng tuy vậy con người có thể chưa thật sự chết. Tôi cũng muốn nhắc bạn rằng điều này cũng đúng như thế đối với nhiều trung tâm phụ cũng như đối với các trung tâm chính mà chúng ta rất quen thuộc.

The last of the minor centres to “fade out into nothingness,” in order to be resolved into the totality of etheric substance, are two which are closely related to and in the region of the lungs. It is on these two centres that the soul works if recalled into the dense physical body for some reason. It is when they swing into a returning or a fresh in-going activity that the breath of life returns to the vacated physical form. It is an unconscious realisation of this which constitutes the prompting cause of the process which is normally carried out in all cases of drowning or of asphyxiation. When a man has succumbed to disease and the physical body is consequently weakened, such restorative exercises are not possible and should not be employed. In cases of sudden death through accident, suicide, murder, unexpected heart attacks or through the processes of war, the shock is such that the somewhat leisurely process of soul withdrawal is entirely offset, and the vacating of the physical [462] body and the complete dissolution of the etheric body are practically simultaneous. In normal cases of death from disease, the withdrawal is slow, and (where the malignancy of the disease has not caused too great deterioration of the physical organism involved) there is the possibility of a return for a shorter or a longer period of time. This frequently happens, especially when the will to live is strong or the life task remains as yet unaccomplished and is not correctly concluded.

Những trung tâm phụ cuối cùng “mờ dần vào hư vô,” để được phân giải vào tổng thể chất liệu dĩ thái, là hai trung tâm có liên hệ chặt chẽ với và ở trong vùng phổi. Chính trên hai trung tâm này mà linh hồn tác động nếu được gọi trở lại thể xác đậm đặc vì một lý do nào đó. Khi chúng chuyển sang một hoạt động quay trở lại hay một hoạt động đi vào mới, thì hơi thở sự sống trở lại hình tướng hồng trần đã bị bỏ trống. Chính sự chứng nghiệm vô thức về điều này tạo thành nguyên nhân thúc đẩy của tiến trình vốn thường được thực hiện trong mọi trường hợp chết đuối hay ngạt thở. Khi một người đã khuất phục trước bệnh tật và do đó thể xác bị suy yếu, thì những bài tập phục hồi như vậy là không thể và không nên được dùng. Trong các trường hợp chết đột ngột do tai nạn, tự sát, bị giết, cơn đau tim bất ngờ hoặc do các tiến trình chiến tranh, cú sốc quá lớn đến nỗi tiến trình rút lui phần nào thong thả của linh hồn bị hóa giải hoàn toàn, và việc bỏ trống thể xác [462] cùng sự tan rã hoàn toàn của thể dĩ thái hầu như đồng thời xảy ra. Trong các trường hợp chết bình thường do bệnh tật, sự rút lui diễn ra chậm, và (khi tính ác tính của bệnh chưa gây ra sự suy thoái quá lớn cho cơ thể hồng trần liên hệ) có khả năng quay trở lại trong một khoảng thời gian ngắn hơn hay dài hơn. Điều này thường xảy ra, đặc biệt khi ý chí sống mạnh hoặc nhiệm vụ đời sống vẫn chưa được hoàn thành và chưa được kết thúc đúng đắn.

There is another point upon which I wish to touch and which has relation to the eternal conflict being waged between the dualities of the dense physical body and the etheric vehicle. The physical elemental (which is the name given to the integrated life of the physical body) and the soul, as it seeks to withdraw and dissolve the sumtotal of the combined energies of the etheric body, are in violent conflict and the process is often fierce and long; it is this battle which is being waged during the long or short period of coma which characterises so many death beds. Coma, esoterically speaking, is of two kinds: there is the “coma of battle” which precedes true death; there is also the “coma of restoration” which takes place when the soul has withdrawn the consciousness thread or aspect, but not the life thread, in an effort to give the physical elemental time to regain its grip upon the organism and thus to restore health. As yet, modern science does not recognise the distinction between these two aspects of coma. Later, when etheric or clairvoyant vision is more common, the quality of the coma prevailing will be known, and the elements of hope or of despair will no longer control. The friends and relations of the unconscious person will know exactly whether they are watching a great and final withdrawal from present incarnation or simply looking on at a restorative process. In the latter case, the soul is still retaining its hold upon [463] the physical body, via the centres, but is withstanding temporarily all energising processes. The exceptions to this restraint are the heart centre, the spleen, and two minor centres connected with the breathing apparatus. These will remain normally energised, even if somewhat weakened in their activity; and through them control is retained. When true death is the soul’s intention, then control over the spleen first of all takes place; then control over the two minor centres follows, and finally control over the heart centre supervenes and the man dies.

Có một điểm khác mà tôi muốn chạm đến và có liên hệ với cuộc xung đột vĩnh cửu đang diễn ra giữa hai cực đối đãi của thể xác đậm đặc và vận cụ dĩ thái. Tinh linh thể xác (là tên gọi dành cho sự sống tích hợp của thể xác) và linh hồn, khi nó tìm cách rút lui và phân giải tổng số các năng lượng kết hợp của thể dĩ thái, ở trong một cuộc xung đột dữ dội và tiến trình này thường khốc liệt và kéo dài; chính trận chiến này đang diễn ra trong thời kỳ hôn mê dài hay ngắn vốn đặc trưng cho rất nhiều giường bệnh hấp hối. Hôn mê, nói theo huyền bí học, có hai loại: có “hôn mê của chiến đấu” đi trước cái chết thật sự; cũng có “hôn mê của phục hồi” xảy ra khi linh hồn đã rút sợi dây tâm thức hay phương diện ấy, nhưng chưa rút sinh mệnh tuyến, trong một nỗ lực cho tinh linh thể xác thời gian để lấy lại sự nắm giữ của nó trên cơ thể và nhờ đó phục hồi sức khỏe. Cho đến nay, khoa học hiện đại chưa nhận ra sự phân biệt giữa hai phương diện hôn mê này. Về sau, khi linh thị dĩ thái hay thông nhãn trở nên phổ biến hơn, phẩm tính của trạng thái hôn mê đang chiếm ưu thế sẽ được biết đến, và các yếu tố hy vọng hay tuyệt vọng sẽ không còn chi phối nữa. Bạn bè và thân quyến của người bất tỉnh sẽ biết chính xác liệu họ đang chứng kiến một sự rút lui lớn lao và cuối cùng khỏi lần lâm phàm hiện tại hay chỉ đơn giản đang nhìn vào một tiến trình phục hồi. Trong trường hợp sau, linh hồn vẫn còn giữ sự nắm giữ của nó trên [463] thể xác, qua các trung tâm, nhưng đang tạm thời chống lại mọi tiến trình tiếp sinh lực. Những ngoại lệ đối với sự kiềm chế này là trung tâm tim, luân xa lá lách, và hai trung tâm phụ nối kết với bộ máy hô hấp. Những trung tâm này thường vẫn được tiếp năng lượng, dù hoạt động có phần suy yếu; và qua chúng sự kiểm soát được duy trì. Khi cái chết thật sự là ý định của linh hồn, thì trước hết sự kiểm soát đối với lá lách diễn ra; rồi tiếp theo là sự kiểm soát đối với hai trung tâm phụ, và cuối cùng sự kiểm soát đối với trung tâm tim xảy đến và con người chết.

The above will give you some idea of the many points connected with dying that still remain to be discovered by orthodox medicine, and which will be revealed as the race of men reaches an increasing sensitivity.

Những điều trên sẽ cho bạn một ý niệm nào đó về nhiều điểm liên quan đến sự chết mà y học chính thống vẫn còn phải khám phá, và sẽ được mặc khải khi nhân loại đạt đến một sự nhạy cảm ngày càng tăng.

I would ask you to remember that in all our present considerations we are dealing with the reactions and activities of the soul which is deliberately recalling its incarnated aspect because a life cycle has been concluded. The term of that life cycle may be long or short, according to the purposes involved; it may cover only a very few short years, or a century. Prior to the seventh year, the vitality of the physical elemental is largely the determining factor. The soul is then focussed in the etheric body, but is not fully utilising all the centres; it has simply a gently pulsating control and a gentle impulsive activity—sufficient to preserve consciousness, to vitalise the various physical processes, and to initiate the demonstration of character and of disposition. These become increasingly marked until the twenty-first year, when they stabilise into what we call the personality. In the case of disciples, the grip of the soul upon the etheric centres will be more powerful from the very start of the physical existence. By the time the fourteenth year is reached, the quality and the nature of the incarnated soul and its approximate age or experience are determined, the [464] physical, astral and mental elementals are under control, and the soul, the indwelling spiritual man, already determines the life tendencies and choices.

Tôi muốn yêu cầu bạn nhớ rằng trong mọi xem xét hiện nay của chúng ta, chúng ta đang bàn đến các phản ứng và hoạt động của linh hồn đang cố ý gọi lại phương diện lâm phàm của nó vì một chu kỳ đời sống đã kết thúc. Thời hạn của chu kỳ đời sống ấy có thể dài hay ngắn, tùy theo các mục đích liên quan; nó có thể chỉ bao trùm vài năm ngắn ngủi, hoặc một thế kỷ. Trước năm thứ bảy, sinh lực của tinh linh thể xác phần lớn là yếu tố quyết định. Khi ấy linh hồn được tập trung trong thể dĩ thái, nhưng chưa sử dụng đầy đủ mọi trung tâm; nó chỉ có một sự kiểm soát rung động nhẹ nhàng và một hoạt động thúc đẩy nhẹ nhàng—đủ để duy trì tâm thức, tiếp sinh lực cho các tiến trình hồng trần khác nhau, và khởi đầu sự biểu lộ của tính cách và khí chất. Những điều này ngày càng rõ nét cho đến năm hai mươi mốt tuổi, khi chúng ổn định thành điều mà chúng ta gọi là phàm ngã. Trong trường hợp các đệ tử, sự nắm giữ của linh hồn trên các trung tâm dĩ thái sẽ mạnh mẽ hơn ngay từ lúc khởi đầu của sự hiện hữu hồng trần. Đến năm mười bốn tuổi, phẩm tính và bản chất của linh hồn lâm phàm cùng tuổi tác hay kinh nghiệm gần đúng của nó được xác định, các [464] hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ đều ở dưới sự kiểm soát, và linh hồn, con người tinh thần nội tại, đã quyết định các xu hướng đời sống và các chọn lựa.

In the case of the ordinary man, where death is intended, the battle between the physical elemental and the soul is a distinctive factor; it is occultly called a “Lemurian departure”; in the case of the average citizen, where the focus of the life is in the desire nature, the conflict is between the astral elemental and the soul, and this is given the name “the death of an Atlantean”; where disciples are concerned, the conflict will be more purely mental and is oft focussed around the will-to-serve and the determination to fulfill a particular aspect of the Plan and the will-to-return in full force to the ashramic centre. Where initiates are concerned, there is no conflict, but simply a conscious and deliberate withdrawal. Curiously enough, if there appears to be a conflict, it will be between the two elemental forces then remaining in the personality: the physical elemental and the mental life. There is no astral elemental to be found in the equipment of an initiate of high standing. Desire has been completely transcended as far as the individual’s own nature is involved.

Trong trường hợp con người bình thường, khi cái chết được dự định, trận chiến giữa tinh linh thể xác và linh hồn là một yếu tố rõ rệt; theo huyền bí học nó được gọi là một “sự ra đi kiểu Lemuria”; trong trường hợp công dân trung bình, khi tiêu điểm của đời sống ở trong bản chất dục vọng, xung đột là giữa hành khí cảm dục và linh hồn, và điều này được gọi là “cái chết của một người Atlantis”; khi liên quan đến các đệ tử, xung đột sẽ thuần túy trí tuệ hơn và thường tập trung quanh ý chí-phụng sự và quyết tâm hoàn thành một phương diện đặc biệt nào đó của Thiên Cơ cùng ý chí trở về với đầy đủ mãnh lực đến trung tâm ashram. Khi liên quan đến các điểm đạo đồ, không có xung đột, mà chỉ có một sự rút lui có ý thức và có chủ ý. Điều khá lạ là, nếu có vẻ như có xung đột, thì đó sẽ là giữa hai mãnh lực hành khí còn lại trong phàm ngã: tinh linh thể xác và sự sống trí tuệ. Không có hành khí cảm dục nào được tìm thấy trong bộ trang bị của một điểm đạo đồ có địa vị cao. Dục vọng đã được vượt qua hoàn toàn xét theo mức độ liên quan đến bản chất riêng của cá nhân.

Factors Confronting the Withdrawing Soul

Những Yếu Tố Đối Diện Với Linh Hồn Đang Rút Lui

In physical death, therefore, and in the act of restitution, the withdrawing soul has to deal with the following factors:

Vì vậy, trong cái chết hồng trần và trong hành động hoàn nguyên, linh hồn đang rút lui phải đề cập đến những yếu tố sau đây:

1. The physical elemental, the integrated and coordinated life of the physical body, which is forever seeking to hold together under the attractive forces of all its component parts and their mutual interaction. This force works through a number of minor centres.

1. Tinh linh thể xác, sự sống tích hợp và phối hợp của thể xác, vốn luôn luôn tìm cách giữ cho gắn kết dưới các mãnh lực hấp dẫn của mọi thành phần cấu tạo của nó và sự tương tác lẫn nhau của chúng. Mãnh lực này hoạt động qua một số trung tâm phụ.

2. The etheric vehicle, which has a powerful coordinated life of its own, expressed through the seven [465] major centres which react under astral, mental and soul impulsive energy. It works also through certain of the minor centres which are not dedicated to a response to that aspect of the man’s equipment which H.P.B. states is not a principle—the dense physical mechanism.

2. Vận cụ dĩ thái, vốn có một sự sống phối hợp mạnh mẽ của riêng nó, được biểu lộ qua bảy [465] trung tâm chính phản ứng dưới năng lượng thúc đẩy cảm dục, trí tuệ và linh hồn. Nó cũng hoạt động qua một số trung tâm phụ không được dành riêng cho sự đáp ứng đối với phương diện trong bộ trang bị của con người mà H.P.B. nói là không phải một nguyên khí—bộ máy hồng trần đậm đặc.

The minor centres are therefore to be found existing in two groups: Those responsive to the life of dense matter, to the mother aspect, and which are definitely upon the involutionary arc; these are an inheritance from the previous solar system wherein the entire man was controlled via these minor centres, with only a very few of the major centres dimly indicated in the case of initiates and advanced disciples of that time; secondly, those centres which are responsive to energies reaching them via the major centres; these then come under the control of the astral body and the mental apparatus. You will see consequently why, earlier in this treatise, I made the following reference to the minor centres. It might be of interest to you, nevertheless, to be told where the twenty-one minor centres are to be found. They can be located at the following points:

Vì vậy, các trung tâm phụ được thấy hiện hữu trong hai nhóm: những trung tâm đáp ứng với sự sống của vật chất đậm đặc, với phương diện mẫu thân, và rõ rệt ở trên cung giáng hạ tiến hoá; đây là di sản từ hệ mặt trời trước, trong đó toàn bộ con người được kiểm soát qua các trung tâm phụ này, chỉ với rất ít trung tâm chính được chỉ ra mờ nhạt trong trường hợp các điểm đạo đồ và các đệ tử tiến bộ của thời ấy; thứ hai, những trung tâm đáp ứng với các năng lượng đến với chúng qua các trung tâm chính; khi ấy chúng nằm dưới sự kiểm soát của thể cảm dục và bộ máy trí tuệ. Do đó bạn sẽ thấy vì sao, trước đây trong luận thuyết này, tôi đã đưa ra lời đề cập sau đây đến các trung tâm phụ. Tuy vậy, có lẽ bạn sẽ quan tâm nếu được cho biết hai mươi mốt trung tâm phụ được tìm thấy ở đâu. Chúng có thể được định vị tại các điểm sau:

1. There are two in front of the ears, close to where the jaw bones are connected.

1. Có hai trung tâm ở phía trước tai, gần nơi các xương hàm nối với nhau.

2. There are two just above the two breasts.

2. Có hai trung tâm ngay phía trên hai bầu ngực.

3. There is one where the breast bone connects, close to the thyroid gland. This, with the two breast centres, makes a triangle of force.

3. Có một trung tâm ở nơi xương ức nối vào, gần tuyến giáp. Trung tâm này cùng với hai trung tâm ngực tạo thành một tam giác lực.

4. There are two, one each in the palms of the hands.

4. Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn tay một trung tâm.

5. There are two, one each in the soles of the feet.

5. Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn chân một trung tâm.

6. There are two, just behind the eyes.

6. Có hai trung tâm, ngay phía sau mắt.

7. There are two, also, connected with the gonads.

7. Cũng có hai trung tâm nối kết với các tuyến sinh dục.

8. There is one close to the liver. [466]

8. Có một trung tâm gần gan. [466]

9. There is one connected with the stomach; it is related, therefore, to the solar plexus, but is not identical with it.

9. Có một trung tâm nối kết với dạ dày; vì vậy nó có liên hệ với tùng thái dương, nhưng không đồng nhất với trung tâm ấy.

10. There are two connected with the spleen. These form one centre in reality, but such a centre is formed by the two being superimposed one on the other.

10. Có hai trung tâm nối kết với lá lách. Thực ra chúng tạo thành một trung tâm, nhưng một trung tâm như vậy được hình thành bởi việc hai trung tâm chồng lên nhau.

11. There are two—one at the back of each knee.

11. Có hai trung tâm—mỗi phía sau đầu gối một trung tâm.

12. There is one powerful centre which is closely connected with the vagus nerve. This is most potent and is regarded by some schools of occultism as a major centre; it is not in the spine, but is no great distance from the thymus gland.

12. Có một trung tâm mạnh mẽ nối kết chặt chẽ với dây thần kinh phế vị. Trung tâm này rất mạnh và được một số trường phái huyền bí học xem là một trung tâm chính; nó không ở trong cột sống, nhưng cũng không cách tuyến ức bao xa.

13. There is one which is close to the solar plexus, and relates it to the centre at the base of the spine, thus making a triangle of the sacral centre, the solar plexus, and the centre at the base of the spine.

13. Có một trung tâm ở gần tùng thái dương, và liên hệ nó với trung tâm ở đáy cột sống, nhờ đó tạo thành một tam giác gồm trung tâm xương cùng, tùng thái dương, và trung tâm ở đáy cột sống.

The two triangles referred to in this tabulation are of real importance. One is above and the other below the diaphragm.

Hai tam giác được nhắc đến trong bảng liệt kê này thật sự quan trọng. Một ở phía trên và một ở phía dưới cơ hoành.

Again, the death process can be seen as a dual activity and one which primarily concerns the etheric body. There is first of all the collecting and the withdrawing of the etheric substance, so that it no longer interpenetrates the dense physical organism, and its subsequent densification (a word I deliberately choose) in that area of the etheric body which has always surrounded, but not penetrated, the dense vehicle. This has been sometimes erroneously called the health aura, and it can be photographed more easily and successfully during the process of dying than at any other time, owing to the accumulation of the withdrawn forces for several inches external to the tangible body. It is at this point in the experience of the withdrawing soul that the “word of death” is spoken, and it is prior to this enunciation [467] of this word that a return to physical living can be possible and the withdrawn etheric forces can again interpenetrate the body. Relationship with all the withdrawn forces is, up to this point, retained via the head or the heart or the solar plexus, as well as via the two minor chest centres.

Một lần nữa, tiến trình chết có thể được thấy như một hoạt động kép và là hoạt động chủ yếu liên quan đến thể dĩ thái. Trước hết là sự thu gom và rút chất liệu dĩ thái lại, để nó không còn thâm nhập cơ thể hồng trần đậm đặc nữa, và sau đó là sự đậm đặc hóa của nó (một từ tôi cố ý chọn) trong vùng của thể dĩ thái vốn luôn luôn bao quanh, nhưng không thâm nhập, vận cụ đậm đặc. Điều này đôi khi đã bị gọi sai là hào quang sức khỏe, và nó có thể được chụp ảnh dễ dàng và thành công hơn trong tiến trình chết hơn bất kỳ lúc nào khác, do sự tích tụ của các mãnh lực đã rút ra ở cách thể hữu hình vài inch về phía ngoài. Chính tại điểm này trong kinh nghiệm của linh hồn đang rút lui mà “linh từ của cái chết” được thốt ra, và trước khi có sự xướng lên [467] linh từ này thì việc trở lại sự sống hồng trần vẫn có thể xảy ra và các mãnh lực dĩ thái đã rút ra có thể lại thâm nhập thể xác. Mối liên hệ với tất cả các mãnh lực đã rút ra, cho đến điểm này, vẫn được duy trì qua đầu hoặc tim hoặc tùng thái dương, cũng như qua hai trung tâm phụ ở ngực.

All this time the consciousness of the dying man is focussed in either the emotional (or astral) body or the mental vehicle, according to the point in evolution. He is not unconscious as the onlooker might infer, but is fully aware within himself of what is occurring. If he is strongly focussed on physical plane life, and if that is the dominating desire of which he is the most aware, he may then intensify the conflict; you will then have the physical elemental battling furiously for existence, the desire nature fighting to retard the processes of death, and the soul, intent upon the work of abstraction and of restitution. This can and frequently does occasion a struggle which is quite apparent to the onlookers. As the race of men progresses and develops, this triple struggle will become much rarer; desire for physical plane existence will not appear so attractive, and the activity of the astral body will die out.

Suốt thời gian này, tâm thức của người đang chết được tập trung trong hoặc thể cảm xúc (hay thể cảm dục) hoặc vận cụ trí tuệ, tùy theo điểm tiến hoá. Y không vô thức như người quan sát có thể suy ra, mà hoàn toàn nhận biết bên trong chính mình về điều đang xảy ra. Nếu y tập trung mạnh vào đời sống cõi hồng trần, và nếu đó là dục vọng chi phối mà y nhận biết rõ nhất, thì khi ấy y có thể làm tăng cường xung đột; lúc đó bạn sẽ có tinh linh thể xác chiến đấu dữ dội để tồn tại, bản chất dục vọng chiến đấu để làm chậm các tiến trình chết, và linh hồn chuyên chú vào công việc rút ra và hoàn nguyên. Điều này có thể và thường gây nên một cuộc đấu tranh khá rõ ràng đối với những người quan sát. Khi nhân loại tiến bộ và phát triển, cuộc đấu tranh tam phân này sẽ trở nên hiếm hơn nhiều; dục vọng đối với sự hiện hữu trên cõi hồng trần sẽ không còn có vẻ hấp dẫn đến thế, và hoạt động của thể cảm dục sẽ tắt dần.

I wish you could get a picture (symbolically considered) of a man who is in full incarnation and rooted in his phase of experience, and of a man who is withdrawing from that experience. It connotes a repetition on a tiny scale of the great planetary processes of involution and evolution; it concerns those activities which produce a focussing or a polarisation in one of two directions; it resembles what might be regarded as a process of pouring in life and light into a vessel upon the physical plane, or an intensification of the radiation of that life and light of so potent a nature that under the evocative power of the soul they are both withdrawn and gathered up into the centre of life and light from whence they originally came. I have here given you [468] (could you but recognise it) a definition of initiation, but one of a somewhat unusual phrasing. Perhaps some lines from the Manual of Death which is to be found in the hierarchical archives would prove explanatory to you, and might aid you in gaining a new perspective upon death. This manual has in it what are called the “Formulas preceding Pralaya.” These deal with all the death or abstraction processes, covering the death of all forms, whether it be the death of an ant, a man or a planet. The formulas concern only the two aspects of life and light—the first conditioned by Sound and the second by the Word. The writing which I have in mind concerns the light, and the Word which abstracts it from the form or focusses it within the form.

Tôi ước gì bạn có thể có được một bức tranh (xét theo biểu tượng) về một con người đang hoàn toàn lâm phàm và bám rễ trong giai đoạn kinh nghiệm của mình, và về một con người đang rút lui khỏi kinh nghiệm ấy. Điều đó hàm ý một sự lặp lại ở quy mô nhỏ của các tiến trình hành tinh lớn lao của giáng hạ tiến hoá và tiến hoá; nó liên quan đến những hoạt động tạo ra một sự tập trung hay một sự phân cực theo một trong hai hướng; nó giống như điều có thể được xem là một tiến trình đổ sự sống và ánh sáng vào một bình chứa trên cõi hồng trần, hoặc một sự tăng cường bức xạ của sự sống và ánh sáng ấy có bản chất mạnh mẽ đến mức dưới quyền năng gợi lên của linh hồn, cả hai đều được rút ra và thu gom vào trung tâm của sự sống và ánh sáng từ đó chúng nguyên thủy đã đến. Ở đây tôi đã trao cho bạn [468] (nếu bạn có thể nhận ra điều đó) một định nghĩa về điểm đạo, nhưng được diễn đạt theo một cách phần nào khác thường. Có lẽ vài dòng từ Cẩm Nang về Cái Chết được tìm thấy trong văn khố của Thánh đoàn sẽ giúp giải thích cho bạn, và có thể giúp bạn đạt được một viễn cảnh mới về cái chết. Cẩm nang này chứa đựng điều được gọi là “Các Công Thức đi trước Giai kỳ qui nguyên.” Chúng bàn đến mọi tiến trình chết hay rút ra, bao trùm cái chết của mọi hình tướng, dù đó là cái chết của một con kiến, một con người hay một hành tinh. Các công thức chỉ liên quan đến hai phương diện của sự sống và ánh sáng—phương diện thứ nhất được điều kiện hóa bởi Âm Thanh và phương diện thứ hai bởi Linh từ. Bản văn mà tôi nghĩ đến liên quan đến ánh sáng, và Linh từ rút nó ra khỏi hình tướng hoặc tập trung nó trong hình tướng.

“Bear in mind, O Chela, that within the known spheres naught is but light responsive to the WORD. Know that that light descends and concentrates itself; know that from its point of chosen focus, it lightens its own sphere; know too that light ascends and leaves in darkness that which it—in time and space—illumined. This descending and ascension men call life, existence and decease; this We Who tread the Lighted Way call death, experience and life.

“Hãy ghi nhớ, hỡi đệ tử, rằng trong các khối cầu đã biết không gì là gì khác ngoài ánh sáng đáp ứng với LINH TỪ. Hãy biết rằng ánh sáng ấy giáng xuống và tự tập trung; hãy biết rằng từ điểm tiêu cự được chọn của nó, nó làm sáng khối cầu riêng của nó; cũng hãy biết rằng ánh sáng thăng lên và để lại trong bóng tối điều mà nó—trong thời gian và không gian—đã soi sáng. Sự giáng xuống và thăng lên này loài người gọi là sự sống, sự hiện hữu và sự chết; còn Chúng Ta, những Đấng bước trên Con Đường được Soi Sáng, gọi đó là cái chết, kinh nghiệm và sự sống.

Light which descends anchors itself upon the plane of temporary appearance. Seven threads it outward puts, and seven rays of light pulsate along these threads. Twenty one lesser threads are radiated thence, causing the forty-nine fires to glow and burn. Upon the plane of manifested life, the word goes forth: Behold! A man is born.

Ánh sáng giáng xuống tự neo mình trên cõi sắc tướng tạm thời. Nó đưa ra ngoài bảy sợi dây, và bảy tia sáng rung động dọc theo các sợi dây ấy. Từ đó hai mươi mốt sợi dây nhỏ hơn được phát ra, làm cho bốn mươi chín ngọn lửa bừng sáng và cháy lên. Trên cõi của sự sống biểu hiện, linh từ vang lên: Hãy nhìn xem! Một con người được sinh ra.

As life proceeds, the quality of light appears; dim and murky it may be, or radiant, bright and shining. Thus do the points of light within the [469] Flame pass and repass; they come and go. This men call life; they call it true existence. They thus delude themselves yet serve the purpose of their souls and fit into the greater Plan.

Khi sự sống tiếp diễn, phẩm tính của ánh sáng xuất hiện; nó có thể mờ tối và đục ngầu, hoặc rạng rỡ, sáng chói và huy hoàng. Như thế các điểm sáng bên trong [469] Ngọn Lửa qua lại không ngừng; chúng đến rồi đi. Loài người gọi đó là sự sống; họ gọi đó là sự hiện hữu chân thật. Như vậy họ tự đánh lừa mình nhưng vẫn phụng sự mục đích của linh hồn mình và hòa nhập vào Thiên Cơ lớn lao hơn.

And then a Word sounds forth. The descended, radiating point of light ascends, responsive to the dimly heard recalling note, attracted to its emanating source. This man calls death and this the soul calls life.

Rồi một Linh từ vang lên. Điểm sáng đã giáng xuống và đang tỏa chiếu thăng lên, đáp ứng với âm điệu gọi về được nghe mơ hồ, bị hút về nguồn phát xạ của nó. Con người gọi điều này là cái chết và linh hồn gọi điều này là sự sống.

The Word retains the light in life; the Word abstracts the light, and only That is left which is the Word Itself. That Word is Light. That Light is Life, and Life is God.

Linh từ giữ ánh sáng trong sự sống; Linh từ rút ánh sáng đi, và chỉ còn lại ĐIỀU ẤY là chính Linh từ. Linh từ ấy là Ánh sáng. Ánh sáng ấy là Sự sống, và Sự sống là Thượng đế.

The manifestation of the etheric body in time and space has in it what has been esoterically called “two moments of brilliance.” These are, first, the moment prior to physical incarnation, when the descending light (carrying life) is focussed in all its intensity around the physical body and sets up a rapport with the innate light of matter itself, to be found in every atom of substance. This focussing light will be found to concentrate itself in seven areas of its ring-pass-not, thus creating seven major centres which will control its expression and its existence upon the outer plane, esoterically speaking. This is a moment of great radiance; it is almost as if a point of pulsating light burst into flame, and as if within that flame seven points of intensified light took shape. This is a high point in the experience of taking incarnation, and precedes physical birth by a very short period of time. It is that which brings on the birth hour. The next phase of the process, as seen by the clairvoyant, is the stage of interpenetration, during which “the seven become the twenty-one and then the many”; the light substance, the energy aspect of the soul, begins to permeate [470] the physical body, and the creative work of the etheric or vital body is completed. The first recognition of this upon the physical plane is the “sound” uttered by the newborn infant. It climaxes the process. The act of creation by the soul is now complete; a new light shines forth in a dark place.

Sự biểu hiện của thể dĩ thái trong thời gian và không gian có trong nó điều đã được gọi một cách huyền bí là “hai khoảnh khắc rực sáng.” Thứ nhất là khoảnh khắc trước khi lâm phàm hồng trần, khi ánh sáng giáng xuống (mang theo sự sống) được tập trung với toàn bộ cường độ của nó quanh thể xác và thiết lập một sự tương giao với ánh sáng bẩm sinh của chính vật chất, được tìm thấy trong mỗi nguyên tử của chất liệu. Ánh sáng đang tập trung này sẽ được thấy là tự tập trung trong bảy khu vực của vòng-giới-hạn của nó, nhờ đó tạo ra bảy trung tâm chính sẽ kiểm soát sự biểu lộ và sự hiện hữu của nó trên cõi bên ngoài, nói theo huyền bí học. Đây là một khoảnh khắc rực rỡ lớn lao; gần như thể một điểm sáng rung động bùng thành ngọn lửa, và như thể trong ngọn lửa ấy bảy điểm sáng tăng cường thành hình. Đây là một đỉnh cao trong kinh nghiệm nhập thể, và đi trước sự sinh ra hồng trần chỉ trong một thời gian rất ngắn. Chính điều này mang đến giờ sinh. Giai đoạn kế tiếp của tiến trình, như được nhà thông nhãn thấy, là giai đoạn thâm nhập, trong đó “bảy trở thành hai mươi mốt rồi thành nhiều”; chất liệu ánh sáng, phương diện năng lượng của linh hồn, bắt đầu thấm vào [470] thể xác, và công việc sáng tạo của thể dĩ thái hay thể sinh lực được hoàn tất. Sự nhận biết đầu tiên về điều này trên cõi hồng trần là “âm thanh” do đứa trẻ sơ sinh phát ra. Nó làm cực điểm cho tiến trình. Hành động sáng tạo của linh hồn giờ đây đã hoàn tất; một ánh sáng mới chiếu rọi trong một nơi tối tăm.

The second moment of brilliance comes in reverse of this process and heralds the period of restitution and the final abstraction of its own intrinsic energy by the soul. The prison house of the flesh is dissolved by the withdrawing of the light and life. The forty-nine fires within the physical organism die down; their heat and light are absorbed into the twenty-one minor points of light; these, in their turn, are absorbed by the major seven centres of energy. Then the “Word of Return” is uttered, and the consciousness aspect, the quality nature, the light and energy of the incarnating man, are withdrawn into the etheric body. The life principle withdraws, likewise, from the heart. There follows a brilliant flaring-up of pure electric light, and the “body of light” finally breaks all contact with the dense physical vehicle, focusses for a short period in the vital body, and then disappears. The act of restitution is accomplished. This entire process of the focussing of the spiritual elements in the etheric body, with the subsequent abstraction and consequent dissipation of the etheric body, would be greatly hastened by the substitution of cremation for burial.

Khoảnh khắc rực sáng thứ hai đến theo chiều ngược lại của tiến trình này và báo hiệu thời kỳ hoàn nguyên cùng sự rút ra cuối cùng của chính năng lượng nội tại của nó bởi linh hồn. Nhà tù của xác thịt bị phân giải bởi sự rút đi của ánh sáng và sự sống. Bốn mươi chín ngọn lửa trong cơ thể hồng trần lụi dần; nhiệt và ánh sáng của chúng được hấp thụ vào hai mươi mốt điểm sáng phụ; đến lượt chúng, những điểm này được hấp thụ bởi bảy trung tâm năng lượng chính. Rồi “Linh từ Trở Về” được thốt ra, và phương diện tâm thức, bản chất phẩm tính, ánh sáng và năng lượng của con người lâm phàm được rút vào thể dĩ thái. Nguyên khí sự sống cũng rút khỏi tim. Tiếp theo là một sự bùng sáng rực rỡ của ánh sáng điện thuần túy, và “thể ánh sáng” cuối cùng cắt đứt mọi tiếp xúc với vận cụ hồng trần đậm đặc, tập trung trong một thời gian ngắn trong thể sinh lực, rồi biến mất. Hành động hoàn nguyên được hoàn tất. Toàn bộ tiến trình tập trung các yếu tố tinh thần trong thể dĩ thái, cùng với sự rút ra tiếp theo và do đó sự làm tiêu tan của thể dĩ thái, sẽ được đẩy nhanh rất nhiều nếu thay thế việc chôn cất bằng hỏa táng.

Two Main Reasons for Cremation

Hai Lý Do Chính cho Hỏa Táng

Occultly speaking, cremation is needed for two main reasons. It hastens the release of the subtle vehicles (still enshrouding the soul) from the etheric body, thus bringing about the release in a few hours instead of a few days; it also is a much needed means for bringing about the purification [471] of the astral plane and for arresting the “downward moving” tendency of desire which so greatly handicaps the incarnating soul. It can find no point of focus, because essentially fire repels the form-making aspect of desire and is a major expression of divinity with which the astral plane has no true relation, being created entirely by the human soul and not the divine soul. “Our God is a consuming fire” is the statement in the Bible which refers to the first divine aspect, the aspect of the destroyer, releasing the life. “God is love” connotes the second aspect and portrays God as incarnated existence. “God is a jealous God” is an expression indicating God as form, circumscribed and limited, self-centered and not outgoing. The destroying Sound; the attracting Word; the individualised Speech!

Nói một cách huyền bí học, hỏa táng là cần thiết vì hai lý do chính. Nó đẩy nhanh sự giải thoát các vận cụ vi tế (vẫn còn bao bọc linh hồn) ra khỏi thể dĩ thái, nhờ đó đem lại sự giải thoát chỉ trong vài giờ thay vì vài ngày; nó cũng là một phương tiện rất cần thiết để đem lại sự thanh lọc [471] cõi cảm dục và để ngăn chặn khuynh hướng “đi xuống” của dục vọng, vốn gây cản trở rất lớn cho linh hồn đang nhập thể. Dục vọng không thể tìm được điểm tập trung nào, bởi vì về bản chất, lửa đẩy lùi phương diện tạo hình của dục vọng và là một biểu hiện chủ yếu của thiên tính mà cõi cảm dục không có liên hệ chân thực nào, vì cõi ấy hoàn toàn do linh hồn con người tạo ra chứ không phải do linh hồn thiêng liêng. “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt” là lời tuyên bố trong Kinh Thánh nói đến phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện của đấng hủy diệt, giải thoát sự sống. “Thượng đế là tình thương” hàm ý phương diện thứ hai và mô tả Thượng đế như sự tồn tại nhập thể. “Thượng đế là một Thượng đế ghen tuông” là một cách diễn đạt chỉ Thượng đế như hình tướng, bị giới hạn và khoanh vùng, tập trung vào bản thân và không hướng ngoại. Âm Thanh hủy diệt; Linh từ thu hút; Ngôn ngữ biệt ngã hóa!

At the time of death, speech fades out as the Word sounds forth and restitution is enforced; later, the Word is no longer heard as the Sound obliterates or absorbs it, and there is then complete elimination of all that interferes with Sound. Silence then supervenes and the Sound itself is no longer heard; complete peace follows the act of final integration. Here, in esoteric phraseology, the entire process of death is described.

Vào lúc chết, lời nói mờ dần khi Linh từ vang lên và sự hoàn nguyên được áp đặt; sau đó, Linh từ không còn được nghe nữa khi Âm Thanh xóa bỏ hoặc hấp thu nó, và khi ấy có sự loại trừ hoàn toàn mọi điều cản trở Âm Thanh. Rồi sự im lặng tiếp nối và chính Âm Thanh cũng không còn được nghe nữa; sự bình an trọn vẹn theo sau hành động tích hợp cuối cùng. Ở đây, bằng thuật ngữ huyền bí học, toàn bộ tiến trình chết được mô tả.

It is important to note that it is under the basic and fundamental Law of Attraction that the Art of Dying is carried forward, and that it is the love aspect, the second aspect of divinity, which does the attracting. I exclude cases of sudden death. There the activity is the result of the destroyer, or the first divine aspect. There the condition is different; individual karmic necessity may not be involved at all, and reasons of group conditioning and of great obscurity may lie behind such a happening. So obscure is the subject at this time that I shall not attempt to elucidate. You do not know enough about the Law of [472] Karma, about karmic group involvement, or about relationships and obligations established in past lives. When I say, for instance, that on occasion the “soul may leave the door of protection open so that the forces of death itself may enter anew, having no focal point behind the door” in order “more rapidly to obliterate past penalties due,” you can see how obscure this whole matter can be.

Điều quan trọng cần lưu ý là chính dưới Định luật Hấp Dẫn căn bản và nền tảng mà Nghệ Thuật Chết được tiến hành, và chính phương diện bác ái, phương diện thứ hai của thiên tính, thực hiện sự thu hút. Tôi loại trừ các trường hợp chết đột ngột. Ở đó, hoạt động là kết quả của đấng hủy diệt, hay phương diện thiêng liêng thứ nhất. Ở đó, điều kiện là khác; nhu cầu nghiệp quả cá nhân có thể hoàn toàn không dính líu gì, và những lý do thuộc sự tác động của nhóm cùng những nguyên nhân hết sức mờ tối có thể nằm sau một biến cố như thế. Hiện nay đề tài này mờ tối đến mức tôi sẽ không cố gắng làm sáng tỏ. Bạn chưa biết đủ về Định luật [472] Nghiệp quả, về sự dính líu nghiệp quả của nhóm, hay về những tương quan và nghĩa vụ được thiết lập trong các kiếp quá khứ. Chẳng hạn, khi tôi nói rằng đôi khi “linh hồn có thể để cánh cửa bảo vệ mở ra để các mãnh lực của chính cái chết có thể lại đi vào, không có điểm tập trung nào phía sau cánh cửa” nhằm “xóa bỏ nhanh hơn những hình phạt quá khứ còn phải trả,” bạn có thể thấy toàn bộ vấn đề này mờ tối đến mức nào.

In all that I am here writing, I am dealing simply with normal death processes—death which comes as the result of disease, old age, or the imposed will of the soul which has completed a designed cycle of experience and is using normal channels to attain projected ends. Death in these cases is normal, and this humanity needs to grasp with greater patience, understanding and hope.

Trong tất cả những gì tôi đang viết ở đây, tôi chỉ đề cập đến các tiến trình chết bình thường—cái chết đến như kết quả của bệnh tật, tuổi già, hoặc ý chí áp đặt của linh hồn đã hoàn tất một chu kỳ kinh nghiệm được hoạch định và đang sử dụng những kênh bình thường để đạt các mục đích đã phóng chiếu. Trong những trường hợp này, cái chết là bình thường, và nhân loại này cần nắm bắt điều đó với nhiều kiên nhẫn, thấu hiểu và hy vọng hơn.

Under the Law of Attraction, the soul, at the close of a life cycle, and with full intention, exerts its attractive power in such a manner that it offsets the attractive power inherent in matter itself. This is a clear definition of the basic cause of death. Where no soul contact has been consciously established, as in the case of the majority of people at this time, death comes as an unexpected or sadly anticipated event. Yet—it is a true soul activity. This is the first great spiritual concept to be proclaimed as the fear of death is combatted. Death is carried forward under this Law of Attraction, and consists in the steady and scientific abstraction of the vital body out of the dense physical body, leading eventually to an elimination of all soul contact in the three worlds.

Dưới Định luật Hấp Dẫn, linh hồn, vào lúc kết thúc một chu kỳ sống, và với chủ ý trọn vẹn, vận dụng quyền năng thu hút của mình theo cách hóa giải quyền năng thu hút vốn có trong chính vật chất. Đây là một định nghĩa rõ ràng về nguyên nhân căn bản của cái chết. Ở nơi nào chưa có sự tiếp xúc với linh hồn được thiết lập một cách hữu thức, như trong trường hợp đa số người hiện nay, cái chết đến như một biến cố bất ngờ hoặc được dự cảm buồn bã. Tuy nhiên—đó là một hoạt động chân thực của linh hồn. Đây là khái niệm tinh thần lớn đầu tiên cần được công bố khi nỗi sợ chết được chống lại. Cái chết được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn này, và bao gồm sự rút ra đều đặn và có tính khoa học của thể sinh lực ra khỏi thể xác đậm đặc, cuối cùng dẫn đến việc loại bỏ mọi tiếp xúc của linh hồn trong ba cõi thấp.

Sequence of Events at Death

Trình tự các biến cố lúc chết

I feel that the best that I can do, in order to clarify this subject more completely, is to describe the sequence of events which happens at a death bed, reminding you that the points of final abstraction are three in number: [473] the head for disciples and initiates and also for advanced mental types; the heart for aspirants, for men of goodwill, and for all those who have achieved a measure of personality integrity and are attempting to fulfill, as far as in them lies, the law of love; and the solar plexus for the undeveloped and emotionally polarised persons. All I can do is to tabulate the stages of the process, leaving you to accept them as an interesting and possible hypothesis awaiting verification; to believe them unquestioningly because you have confidence in my knowledge, or to reject them as fantastic, unverifiable and of no moment anyway. I recommend the first of the three, for it will enable you to preserve your mental integrity, it will indicate an open mind, and at the same time it will protect you from gullibility and from narrow-mindedness. These stages, therefore, are:

Tôi cảm thấy điều tốt nhất tôi có thể làm, để làm sáng tỏ đề tài này đầy đủ hơn, là mô tả trình tự các biến cố xảy ra bên giường người hấp hối, đồng thời nhắc bạn rằng các điểm rút ra cuối cùng có ba điểm: [473] đầu đối với các đệ tử và điểm đạo đồ, và cả đối với những người thuộc loại trí tuệ tiến bộ; tim đối với người chí nguyện, những người thiện chí, và tất cả những ai đã đạt được một mức độ toàn vẹn của phàm ngã và đang cố gắng hoàn thành, trong khả năng của mình, định luật bác ái; và tùng thái dương đối với những người chưa phát triển và những người phân cực cảm xúc. Tất cả những gì tôi có thể làm là liệt kê các giai đoạn của tiến trình, để bạn tự chấp nhận chúng như một giả thuyết thú vị và khả hữu đang chờ được kiểm chứng; hoặc tin chúng không nghi ngờ vì bạn tin vào tri thức của tôi; hoặc bác bỏ chúng như điều kỳ quái, không thể kiểm chứng và dù sao cũng không quan trọng. Tôi khuyên chọn cách thứ nhất trong ba cách ấy, vì nó sẽ giúp bạn giữ được sự toàn vẹn trí tuệ, cho thấy một tâm trí cởi mở, đồng thời bảo vệ bạn khỏi tính cả tin và sự hẹp hòi. Vì vậy, các giai đoạn ấy là:

1. The soul sounds forth a “word of withdrawal” from its own plane, and immediately an interior process and reaction is evoked within the man upon the physical plane.

1. Linh hồn phát ra một “linh từ rút lui” từ cõi riêng của nó, và ngay lập tức một tiến trình cùng phản ứng nội tại được gợi lên bên trong con người trên cõi hồng trần.

a. Certain physiological events take place at the seat of the disease, in connection with the heart, and affecting also the three great systems which so potently condition the physical man: the blood stream, the nervous system in its various expressions, and the endocrine system. With these effects I shall not deal. The pathology of death is well known and has received much study exoterically; much still remains to be discovered and will later be discovered. I am concerned, first of all, with the subjective reactions which (in the last analysis) bring about the pathological predisposition to death.

a. Một số biến cố sinh lý nhất định diễn ra tại chỗ của bệnh, liên hệ với tim, và cũng ảnh hưởng đến ba hệ thống lớn vốn tác động mạnh mẽ lên con người hồng trần: dòng máu, hệ thần kinh trong các biểu hiện khác nhau của nó, và hệ nội tiết. Tôi sẽ không bàn đến các tác động này. Bệnh lý học của cái chết đã được biết rõ và đã được nghiên cứu nhiều theo ngoại môn; vẫn còn nhiều điều phải được khám phá và sau này sẽ được khám phá. Trước hết, tôi quan tâm đến các phản ứng chủ quan mà xét đến cùng sẽ đem lại khuynh hướng bệnh lý dẫn đến cái chết.

b. A vibration runs along the nadis. The nadis are, as you well know, the etheric counterpart of the [474] entire nervous system, and they underlie every single nerve in the entire physical body. They are the agents par excellence of the directing impulses of the soul, reacting to the vibratory activity which emanates from the etheric counterpart of the brain. They respond to the directing Word, react to the “pull” of the soul, and then organise themselves for abstraction.

b. Một rung động chạy dọc theo các nadis. Như bạn đã biết rõ, các nadis là đối phần dĩ thái của [474] toàn bộ hệ thần kinh, và chúng nằm bên dưới từng dây thần kinh trong toàn thể xác. Chúng là những tác nhân ưu việt của các xung lực chỉ đạo của linh hồn, đáp ứng với hoạt động rung động phát ra từ đối phần dĩ thái của bộ não. Chúng đáp ứng với Linh từ chỉ đạo, phản ứng với “sức kéo” của linh hồn, rồi tự tổ chức để rút ra.

c. The blood stream becomes affected in a peculiarly occult manner. The “blood is the life,” we are told; it is interiorly changed as a result of the two previous stages, but primarily as the result of an activity hitherto undiscovered by modern science, for which the glandular system is responsible. The glands, in response to the call of death, inject into the blood stream a substance which in turn affects the heart. There the life thread is anchored, and the substance in the blood is regarded as “death dealing” and is one of the basic causes of coma and of loss of consciousness. It evokes a reflex action in the brain. This substance and its effect will be questioned as yet by orthodox medicine, but its presence will later be recognised.

c. Dòng máu bị ảnh hưởng theo một cách đặc biệt huyền bí. Người ta bảo rằng “máu là sự sống”; nó được biến đổi bên trong như kết quả của hai giai đoạn trước, nhưng chủ yếu là do một hoạt động mà khoa học hiện đại cho đến nay chưa khám phá ra, và hệ tuyến chịu trách nhiệm về hoạt động ấy. Các tuyến, đáp ứng với tiếng gọi của cái chết, tiêm vào dòng máu một chất, và chất này đến lượt nó ảnh hưởng đến tim. Tại đó, sinh mệnh tuyến được neo giữ, và chất trong máu ấy được xem là “mang cái chết đến” và là một trong những nguyên nhân căn bản của hôn mê và mất tâm thức. Nó gợi lên một phản xạ trong bộ não. Hiện nay y học chính thống sẽ còn nghi ngờ chất này và tác động của nó, nhưng sau này sự hiện diện của nó sẽ được công nhận.

d. A psychic tremor is established which has the effect of loosening or breaking the connection between the nadis and the nervous system; the etheric body is thereby detached from its dense sheath, though still interpenetrating every part of it.

d. Một chấn động thông linh được thiết lập có tác dụng làm lỏng hoặc cắt đứt sự nối kết giữa các nadis và hệ thần kinh; nhờ đó thể dĩ thái được tách ra khỏi lớp vỏ đậm đặc của nó, dù vẫn còn xuyên thấm mọi phần của lớp vỏ ấy.

2. There is frequently a pause at this point of a shorter or longer period of time. This is allowed in order to carry forward the loosening process as smoothly and as painlessly as possible. This loosening of the nadis starts in the eyes. This process of detachment often shows itself in the relaxation and lack of fear which [475] dying persons so often show; they evidence a condition of peace, and a willingness to go, plus an inability to make a mental effort. It is as if the dying person, still preserving his consciousness, gathers his resources together for the final abstraction. This is the stage in which—the fear of death once and for all removed from the racial mind—the friends and relatives of the departing person will “make a festival” for him and will rejoice with him because he is relinquishing the body. At present this is not possible. Distress rules, and the stage passes unrecognised and is not utilised, as it will some day be.

2. Thường có một khoảng ngừng tại điểm này, ngắn hoặc dài. Điều này được cho phép để tiến trình nới lỏng được diễn ra êm dịu và ít đau đớn nhất có thể. Sự nới lỏng các nadis này bắt đầu ở mắt. Tiến trình tách rời này thường biểu lộ qua sự thư giãn và không sợ hãi mà [475] người hấp hối thường cho thấy; họ biểu lộ một trạng thái bình an, một sự sẵn lòng ra đi, cộng với sự bất lực trong việc cố gắng trí tuệ. Dường như người hấp hối, vẫn còn giữ được tâm thức, đang gom góp các nguồn lực của mình cho sự rút ra cuối cùng. Đây là giai đoạn mà—một khi nỗi sợ chết đã vĩnh viễn bị loại khỏi tâm trí nhân loại—bạn bè và thân quyến của người sắp ra đi sẽ “mở hội” cho y và sẽ vui mừng cùng y vì y đang từ bỏ thể xác. Hiện nay điều này chưa thể có. Sự đau khổ ngự trị, và giai đoạn ấy trôi qua không được nhận ra và không được sử dụng như một ngày nào đó nó sẽ được.

3. Next, the organised etheric body, loosened from all nervous relationship through the action of the nadis, begins to gather itself together for the final departure. It withdraws from the extremities towards the required “door of exit” and focusses itself in the area around that door for the final “pull” of the directing soul. All has been proceeding under the Law of Attraction up to this point—the magnetic, attractive will of the soul. Now another “pull” or attractive impulse makes itself felt. The dense physical body, the sumtotal of organs, cells and atoms, is steadily being released from the integrating potency of the vital body by the action of the nadis; it begins to respond to the attractive pull of matter itself. This has been called the “earth” pull and is exerted by that mysterious entity whom we call the “spirit of the earth”; this entity is on the involutionary arc, and is to our planet what the physical elemental is to the physical body of man. This physical plane life force is essentially the life and light of atomic substance—the matter of which all forms are made. It is to this reservoir of involutionary and material life that the substance of all forms is restored. Restitution of [476] the commandeered matter of the form occupied by the soul during a life cycle consists in returning to this “Caesar” the involutionary world what is his, whilst the soul returns to the God Who sent it forth.

3. Tiếp theo, thể dĩ thái đã được tổ chức, được nới lỏng khỏi mọi liên hệ thần kinh nhờ tác động của các nadis, bắt đầu tự thu gom lại để chuẩn bị cho sự ra đi cuối cùng. Nó rút khỏi các đầu chi về phía “cửa thoát” cần thiết và tập trung vào vùng quanh cánh cửa ấy cho “sức kéo” cuối cùng của linh hồn chỉ đạo. Cho đến điểm này, mọi sự đều diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn—ý chí từ tính, thu hút của linh hồn. Giờ đây một “sức kéo” hay xung lực thu hút khác bắt đầu được cảm nhận. Thể xác đậm đặc, tổng thể các cơ quan, tế bào và nguyên tử, đang dần dần được giải thoát khỏi năng lực tích hợp của thể sinh lực nhờ tác động của các nadis; nó bắt đầu đáp ứng với sức kéo thu hút của chính vật chất. Điều này đã được gọi là sức kéo của “đất” và được tác động bởi thực thể huyền bí mà chúng ta gọi là “tinh linh địa cầu”; thực thể này ở trên cung giáng hạ tiến hoá, và đối với hành tinh chúng ta, nó cũng như tinh linh thể xác đối với thể xác của con người. Mãnh lực sự sống cõi hồng trần này về bản chất là sự sống và ánh sáng của chất liệu nguyên tử—vật chất mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành. Chính vào kho dự trữ của sự sống giáng hạ tiến hoá và vật chất này mà chất liệu của mọi hình tướng được hoàn trả. Sự hoàn nguyên [476] chất liệu bị trưng dụng của hình tướng mà linh hồn đã chiếm dụng trong một chu kỳ sống bao gồm việc trả lại cho “Caesar” của thế giới giáng hạ tiến hoá điều thuộc về nó, trong khi linh hồn trở về với Thượng đế Đấng đã phát nó ra.

It will therefore be apparent that a dual attractive process is at this stage going on:

Vì vậy, hiển nhiên là ở giai đoạn này đang diễn ra một tiến trình thu hút kép:

a. The vital body is being prepared for exit.

a. Thể sinh lực đang được chuẩn bị để thoát ra.

b. The physical body is responding to dissolution.

b. Thể xác đang đáp ứng với sự tan rã.

It might be added that a third activity is also present. It is that of the conscious man, withdrawing his consciousness, steadily and gradually, into the astral and mental vehicles, preparatory to the complete abstraction of the etheric body when the right time comes. The man is becoming less and less attached to the physical plane and more withdrawn within himself. In the case of an advanced person, this process is consciously undertaken, and the man retains his vital interests and his awareness of relationship to others even whilst losing his grip on physical existence. In old age this detachment can be more easily noted than in death through disease, and frequently the soul or the living, interested, inner man can be seen losing his grip on physical and, therefore, illusory reality.

Có thể nói thêm rằng một hoạt động thứ ba cũng hiện diện. Đó là hoạt động của con người hữu thức, đang rút tâm thức của mình, đều đặn và dần dần, vào các vận cụ cảm dục và trí tuệ, để chuẩn bị cho sự rút ra hoàn toàn của thể dĩ thái khi thời điểm thích hợp đến. Con người ngày càng ít gắn bó với cõi hồng trần hơn và ngày càng rút vào bên trong mình hơn. Trong trường hợp một người tiến bộ, tiến trình này được thực hiện một cách hữu thức, và người ấy vẫn giữ được những mối quan tâm sống động cùng ý thức về tương quan với người khác ngay cả khi đang mất dần sự bám giữ vào sự tồn tại hồng trần. Ở tuổi già, sự tách rời này có thể được nhận thấy dễ hơn là trong cái chết do bệnh tật, và thường có thể thấy linh hồn hay con người nội tại sống động, đầy quan tâm đang mất dần sự bám giữ vào thực tại hồng trần và do đó là ảo tưởng.

4. Again a pause ensues. This is the point where the physical elemental can at times regain its hold upon the etheric body, if that is deemed desirable by the soul, if death is not part of the inner plan, or if the physical elemental is so powerful that it can prolong the process of dying. This elemental life will sometimes fight a battle lasting for days and weeks. When, however, death is inevitable, the pause at this point will be exceedingly brief, sometimes only for a matter of seconds. The physical elemental has lost its hold, and the etheric [477] body awaits the final “tug” from the soul, acting under the Law of Attraction.

4. Một khoảng ngừng nữa lại tiếp theo. Đây là điểm mà tinh linh thể xác đôi khi có thể giành lại sự nắm giữ đối với thể dĩ thái, nếu linh hồn thấy điều đó là đáng mong muốn, nếu cái chết không phải là một phần của kế hoạch nội tại, hoặc nếu tinh linh thể xác mạnh đến mức có thể kéo dài tiến trình hấp hối. Sự sống hành khí này đôi khi sẽ chiến đấu một trận kéo dài nhiều ngày và nhiều tuần. Tuy nhiên, khi cái chết là không thể tránh khỏi, khoảng ngừng ở điểm này sẽ cực kỳ ngắn, đôi khi chỉ trong vài giây. Tinh linh thể xác đã mất sự nắm giữ, và thể dĩ thái [477] chờ đợi “cú giật” cuối cùng từ linh hồn, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn.

5. The etheric body emerges from the dense physical body in gradual stages and at the chosen point of exit. When this emergence is complete, the vital body then assumes the vague outline of the form that it energised, and this under the influence of the thoughtform of himself which the man has built up over the years. This thoughtform exists in the case of every human being, and must be destroyed before the second stage of elimination is finally complete. We will touch upon this later. Though freed from the prison of the physical body, the etheric body is not yet freed from its influence. There is still a slight rapport between the two, and this keeps the spiritual man still close to the body just vacated. That is why clairvoyants often claim to see the etheric body hovering around the death bed or the coffin. Still interpenetrating the etheric body are the integrated energies which we call the astral body and the mental vehicle, and at the centre there is a point of light which indicates the presence of the soul.

5. Thể dĩ thái xuất ra khỏi thể xác đậm đặc theo từng giai đoạn dần dần và tại điểm thoát đã được chọn. Khi sự xuất ra này hoàn tất, thể sinh lực lúc ấy mang lấy đường nét mơ hồ của hình tướng mà nó đã tiếp sinh lực, và điều này dưới ảnh hưởng của hình tư tưởng về chính mình mà con người đã xây dựng qua nhiều năm. Hình tư tưởng này tồn tại trong trường hợp của mọi con người, và phải bị hủy diệt trước khi giai đoạn loại bỏ thứ hai được hoàn tất rốt ráo. Chúng ta sẽ đề cập đến điều này sau. Dù đã được giải thoát khỏi ngục tù của thể xác, thể dĩ thái vẫn chưa được giải thoát khỏi ảnh hưởng của nó. Vẫn còn một sự liên hệ nhẹ giữa hai thể, và điều này giữ con người tinh thần vẫn ở gần thể xác vừa mới bỏ lại. Đó là lý do tại sao các nhà thông nhãn thường nói rằng họ thấy thể dĩ thái lơ lửng quanh giường chết hay quan tài. Vẫn còn xuyên thấm thể dĩ thái là các năng lượng tích hợp mà chúng ta gọi là thể cảm dục và vận cụ trí tuệ, và ở trung tâm có một điểm sáng chỉ sự hiện diện của linh hồn.

6. The etheric body is gradually dispersed as the energies of which it is composed are reorganised and withdrawn, leaving only the pranic substance which is identified with the etheric vehicle of the planet itself. This process of dispersal is, as I have earlier said, greatly aided by cremation. In the case of the undeveloped person, the etheric body can linger for a long time in the neighbourhood of its outer disintegrating shell because the pull of the soul is not potent and the material aspect is. Where the person is advanced, and therefore detached in his thinking from the physical plane, the dissolution of the vital body can be exceedingly rapid. Once it is accomplished, the process of restitution is over; the man [478] is freed, temporarily at least, from all reaction to the attractive pull of physical matter; he stands in his subtle bodies, ready for the great act to which I have given the name “The Art of Elimination.”

6. Thể dĩ thái dần dần bị phân tán khi các năng lượng cấu thành nó được tái tổ chức và rút đi, chỉ để lại chất liệu prana vốn được đồng nhất với vận cụ dĩ thái của chính hành tinh. Như tôi đã nói trước đây, tiến trình phân tán này được hỏa táng hỗ trợ rất nhiều. Trong trường hợp người chưa phát triển, thể dĩ thái có thể lưu lại rất lâu trong vùng lân cận lớp vỏ bên ngoài đang tan rã của nó vì sức kéo của linh hồn không mạnh còn phương diện vật chất thì mạnh. Khi người ấy tiến bộ, và do đó trong tư tưởng đã tách rời khỏi cõi hồng trần, sự tan rã của thể sinh lực có thể cực kỳ nhanh chóng. Một khi điều đó hoàn tất, tiến trình hoàn nguyên chấm dứt; con người [478] được giải thoát, ít nhất là tạm thời, khỏi mọi phản ứng đối với sức kéo thu hút của vật chất hồng trần; y đứng trong các thể vi tế của mình, sẵn sàng cho hành động lớn mà tôi đã gọi là “Nghệ Thuật Loại Bỏ.”

One thought emerges as we conclude this inadequate consideration of the death of the physical body in its two aspects: that thought is the integrity of the inner man. He remains himself. He is untouched and untrammelled: he is a free agent as far as the physical plane is concerned, and is responsive now to only three predisposing factors:

Một tư tưởng nổi lên khi chúng ta kết thúc sự khảo xét chưa đầy đủ này về cái chết của thể xác trong hai phương diện của nó: tư tưởng ấy là sự toàn vẹn của con người nội tại. Y vẫn là chính mình. Y không bị đụng chạm và không bị trói buộc: y là một tác nhân tự do xét về cõi hồng trần, và giờ đây chỉ đáp ứng với ba yếu tố định đoạt:

1. The quality of his astral-emotional equipment.

1. Phẩm tính của bộ máy cảm xúc-cảm dục của y.

2. The mental condition in which he habitually lives.

2. Tình trạng trí tuệ mà y thường sống trong đó.

3. The voice of the soul, often unfamiliar but sometimes well known and loved.

3. tiếng nói của linh hồn, thường xa lạ nhưng đôi khi được biết rõ và yêu mến.

Individuality is not lost; the same person is still present upon the planet. Only that has disappeared which was an integral part of the tangible appearance of our planet. That which has been loved or hated, which has been useful to humanity or a liability, which has served the race or been an ineffectual member of it, still persists, is still in touch with the qualitative and mental processes of existence, and will forever remain—individual, qualified by ray type, part of the kingdom of souls, and a high initiate in his own right.

Cá tính không bị mất đi; cùng một con người ấy vẫn hiện diện trên hành tinh. Chỉ có điều đã biến mất là phần từng là một bộ phận toàn vẹn của sắc tướng hữu hình của hành tinh chúng ta. Điều đã được yêu hay ghét, đã hữu ích cho nhân loại hay là một gánh nặng, đã phụng sự nhân loại hay là một thành viên vô hiệu, vẫn còn tồn tại, vẫn còn tiếp xúc với các tiến trình phẩm tính và trí tuệ của sự tồn tại, và sẽ mãi mãi còn là—một cá thể, được định tính bởi loại cung, là một phần của giới các linh hồn, và là một điểm đạo đồ cao cấp theo quyền riêng của mình.

3. TWO QUESTIONS OF IMPORTANCE.3. HAI CÂU HỎI QUAN TRỌNG.

I have sought, in the preceding pages, to give an insight into the true nature of that which we call death. Death is the withdrawal, consciously or unconsciously, of the inner living entity from its outer shell, its inner vital correspondence, and finally it is the relinquishing of the subtle body or bodies, according to the point in evolution of the person. I have also sought to show the normality of this familiar [479] process. The horror which attends death upon the battlefield or by accident consists in the shock which it precipitates within the area of the etheric body, necessitating a rapid rearrangement of its constituent forces and a sudden and unexpected reintegration of its component parts in response to definite action which has perforce to be taken by the man in his kama-manasic body. This action does not involve the replacing of the inner man again within the etheric vehicle, but requires a coming together of the dissipated aspects of that body under the Law of Attraction, in order that its final and complete dissolution can take place.

Trong những trang trước, tôi đã cố gắng đem lại một cái nhìn sâu vào bản chất chân thực của điều mà chúng ta gọi là cái chết. Cái chết là sự rút lui, hữu thức hay vô thức, của thực thể sống nội tại ra khỏi lớp vỏ bên ngoài của nó, khỏi đối phần sinh lực bên trong của nó, và cuối cùng là sự từ bỏ thể hay các thể vi tế, tùy theo điểm tiến hoá của con người. Tôi cũng đã cố gắng cho thấy tính bình thường của tiến trình quen thuộc [479] này. Sự kinh hoàng đi kèm cái chết trên chiến trường hay do tai nạn nằm ở cú sốc mà nó gây ra trong phạm vi thể dĩ thái, đòi hỏi một sự tái sắp xếp nhanh chóng các mãnh lực cấu thành nó và một sự tái tích hợp đột ngột, bất ngờ của các thành phần của nó để đáp ứng với hành động nhất định mà con người trong thể trí-cảm của mình buộc phải thực hiện. Hành động này không bao hàm việc đặt con người nội tại trở lại trong vận cụ dĩ thái, mà đòi hỏi sự tập hợp lại của các phương diện đã bị phân tán của thể ấy dưới Định luật Hấp Dẫn, để sự tan rã cuối cùng và hoàn toàn của nó có thể diễn ra.

Before taking up our theme (which is the Art of Elimination), I want to answer two questions which seem to me of importance; they are frequently asked by earnest and intelligent students.

Trước khi đi vào chủ đề của chúng ta (là Nghệ Thuật Loại Bỏ), tôi muốn trả lời hai câu hỏi mà theo tôi là quan trọng; chúng thường được các đạo sinh nghiêm túc và thông minh nêu ra.

The first question is, in reality, the expression of disappointment in this series of instructions. It can be framed as follows: Why does not the Tibetan Teacher take up definite or basic diseases, and deal with their pathology, give their cures or suggested treatment, indicate their direct causes and give, in detail, the processes of recovery? Because, my brothers, there is little that I can add technically to what has already been ascertained by medical science anent the symptoms, the localities and the general trends in which diseased conditions are found. Observation, experimentation, trial and error, success and failure have given to modern man a wide and definitely accurate knowledge of the outer aspects and effects of disease. Time, and constant trained observation, have equally definitely indicated cures or ameliorative processes or preventive measures (such as vaccination for smallpox), and these have proved after many years to be helpful. Investigation and experiment and the steadily growing facilities which science provides are adding to man’s capacity to help, to cure at times, to ameliorate frequently, [480] and to lessen the reactions of pain. Medical science and surgical skill have advanced by leaps and bounds—so much so that what is today known and somewhat grasped is of so vast a nature and so intricate in its scientific and therapeutic aspects that they have given rise to specialists—to those who concentrate upon a particular field, and who therefore deal only with certain conditions of ill health and disease, thereby attaining much skill, knowledge and frequent success. All this is good, in spite of what cranks and people with a pet method of cure may say, or even those who have no use for the medical profession and prefer some cult or some of the newer approaches to the problem of health.

Câu hỏi thứ nhất, thực ra, là sự biểu lộ của nỗi thất vọng đối với loạt chỉ dẫn này. Nó có thể được nêu như sau: Tại sao vị Huấn sư Tây Tạng không đề cập đến những bệnh xác định hay căn bản, và bàn đến bệnh lý học của chúng, đưa ra cách chữa trị hay phương pháp điều trị được gợi ý, chỉ ra nguyên nhân trực tiếp của chúng và trình bày chi tiết các tiến trình hồi phục? Bởi vì, Các huynh đệ của tôi, về mặt kỹ thuật tôi có rất ít điều có thể thêm vào những gì khoa học y khoa đã xác định liên quan đến các triệu chứng, các vị trí và các xu hướng chung nơi những tình trạng bệnh tật được tìm thấy. Quan sát, thực nghiệm, thử và sai, thành công và thất bại đã đem lại cho con người hiện đại một tri thức rộng lớn và rõ ràng chính xác về các phương diện và tác động bên ngoài của bệnh tật. Thời gian, cùng với sự quan sát lão luyện không ngừng, cũng đã chỉ ra khá rõ các phương pháp chữa trị hoặc làm giảm nhẹ hay các biện pháp phòng ngừa (như tiêm chủng đậu mùa), và sau nhiều năm chúng đã chứng tỏ là hữu ích. Nghiên cứu, thực nghiệm và những phương tiện ngày càng gia tăng mà khoa học cung cấp đang bổ sung cho khả năng của con người trong việc giúp đỡ, đôi khi chữa lành, thường xuyên làm giảm nhẹ, [480] và làm giảm các phản ứng đau đớn. Khoa học y khoa và kỹ năng phẫu thuật đã tiến bộ vượt bậc—đến mức những gì ngày nay được biết và phần nào được nắm bắt có bản chất quá rộng lớn và quá phức tạp trong các phương diện khoa học và trị liệu của chúng đến nỗi đã làm phát sinh các chuyên gia—những người tập trung vào một lĩnh vực riêng biệt, và vì vậy chỉ xử lý những tình trạng sức khỏe kém và bệnh tật nhất định, nhờ đó đạt được nhiều kỹ năng, tri thức và thường xuyên thành công. Tất cả điều này đều tốt, bất chấp những gì những kẻ lập dị và những người có một phương pháp chữa trị ưa thích có thể nói, hay ngay cả những người không coi trọng ngành y và thích một giáo phái nào đó hoặc một số cách tiếp cận mới hơn đối với vấn đề sức khỏe.

The reason that these newer approaches exist is that medical science has made such progress that it has now reached the limits of its purely physical area or field and is now on the verge of advancing into the realm of the intangible and is thus drawing nearer to the world of causes. It is for this reason that I have wasted no time with the details of disease, with enumerating or considering specific diseases, their symptoms or their treatment because that is fully covered in the textbooks available; they can likewise be seen in their many and various stages in our great hospitals.

Lý do những cách tiếp cận mới hơn này tồn tại là vì khoa học y khoa đã tiến bộ đến mức hiện nay nó đã chạm tới giới hạn của lĩnh vực hay phạm vi thuần hồng trần của mình và giờ đang ở ngưỡng tiến vào cõi giới của cái vô hình, nhờ đó tiến gần hơn đến thế giới của các nguyên nhân. Chính vì lý do này mà tôi không lãng phí thời gian vào các chi tiết của bệnh tật, vào việc liệt kê hay xem xét các bệnh cụ thể, các triệu chứng hay cách điều trị của chúng, bởi vì điều đó đã được trình bày đầy đủ trong các giáo trình hiện có; chúng cũng có thể được thấy trong nhiều giai đoạn khác nhau của chúng tại các bệnh viện lớn của chúng ta.

I have, however, dealt with the latent causes of disease—such as tuberculosis, syphilis and cancer—inherent in the individual man, in humanity as a whole, and also in our planet. I have traced the psychological basis of disease and have indicated a practically new field wherein disease—particularly in its earlier stages—can be studied.

Tuy nhiên, tôi đã bàn đến các nguyên nhân tiềm ẩn của bệnh tật—như lao, giang mai và ung thư—vốn cố hữu trong từng cá nhân, trong toàn thể nhân loại, và cả trong hành tinh của chúng ta. Tôi đã truy nguyên nền tảng tâm lý của bệnh tật và đã chỉ ra một lĩnh vực thực tế mới, trong đó bệnh tật—đặc biệt ở các giai đoạn đầu—có thể được nghiên cứu.

When the psychological basis of disease can be realised and its factual nature is admitted by the orthodox physician, the surgeon, the psychologist and the priest, then all will work together in this developing area of understanding, and what is today vaguely called “preventive medicine” will come into its own. I prefer to define this phase of medical [481] application as the organisation of those methods whereby disease will be avoided, and the development of those techniques whereby correct psychological training will be given—from youth up—and by right emphasis upon the inner spiritual man, those conditions will be negated and those habits avoided which today lead inevitably to ill health, definitely symptomatic disease and eventual death.

Khi nền tảng tâm lý của bệnh tật có thể được chứng nghiệm và bản chất thực tế của nó được thừa nhận bởi bác sĩ chính thống, nhà phẫu thuật, nhà tâm lý học và vị giáo sĩ, thì tất cả sẽ cùng làm việc trong lĩnh vực thấu hiểu đang phát triển này, và điều ngày nay được gọi một cách mơ hồ là “y học phòng ngừa” sẽ thực sự phát huy vai trò của nó. Tôi thích định nghĩa giai đoạn ứng dụng y học [481] này là sự tổ chức những phương pháp nhờ đó bệnh tật sẽ được tránh khỏi, và sự phát triển những kỹ thuật nhờ đó sự huấn luyện tâm lý đúng đắn sẽ được trao truyền—ngay từ tuổi trẻ—và bằng sự nhấn mạnh đúng mức vào con người tinh thần nội tại, những điều kiện ấy sẽ bị phủ định và những thói quen ấy sẽ được tránh đi, những điều ngày nay tất yếu dẫn đến sức khỏe kém, bệnh tật có triệu chứng rõ rệt và cuối cùng là cái chết.

In the above statement, I refer to no affirmative or speculative science such as Christian Science or those schools of thought which trace all disease to the power of thought. I am concerned with the immediate necessity of right psychological training, based upon a knowledge of the constitution of man, upon the science of the seven rays (the forces which condition man and make him what he is), and upon esoteric astrology; I am concerned with the application of the knowledges, hitherto regarded as peculiar and esoteric, which are slowly coming under general consideration, and which have made great progress during the past twenty-five years. I am not concerned with the abolition of medical treatment, nor am I concerned with endorsing the newer modes of treatment—all of which are still in the experimental stage and all of which have somewhat to contribute to medical science as a whole; out of the united contribution should come a richer and more fluid medical approach to the patient.

Trong lời phát biểu trên, tôi không nói đến một khoa học khẳng định hay suy đoán nào như Christian Science hoặc những trường phái tư tưởng quy mọi bệnh tật về quyền năng của tư tưởng. Tôi quan tâm đến nhu cầu cấp bách trước mắt là sự huấn luyện tâm lý đúng đắn, dựa trên tri thức về cấu tạo của con người, trên khoa học bảy cung (những mãnh lực tác động lên con người và làm cho y là chính y), và trên Chiêm Tinh Học Nội Môn; tôi quan tâm đến việc áp dụng những tri thức từ trước đến nay vẫn được xem là đặc thù và huyền bí, nhưng đang dần dần được xem xét rộng rãi, và đã tiến bộ lớn trong hai mươi lăm năm qua. Tôi không quan tâm đến việc bãi bỏ điều trị y khoa, cũng không quan tâm đến việc tán thành các phương thức điều trị mới hơn—tất cả chúng vẫn còn ở giai đoạn thực nghiệm và tất cả đều có phần đóng góp nào đó cho khoa học y khoa nói chung; từ sự đóng góp hợp nhất ấy sẽ xuất hiện một cách tiếp cận y khoa phong phú hơn và linh động hơn đối với bệnh nhân.

The picture I have outlined of the psychological background of all diseases will be long in painting; in the meantime, the contribution of medicine is indispensable. In spite of mistakes, faulty diagnosis and much error, humanity cannot do without its doctors, its surgeons and its hospitals. They are urgently needed, and will be for centuries to come. In this statement is no cause for discouragement. Humanity cannot be brought into a condition of perfect physical health immediately, though correct psychological training from infancy will do much in the course of a few decades. Wrong [482] conditions have been long developing. Modern medicine must become far more open-minded, more ready to endorse (after due professional proof) that which is new, which is in the nature of innovation and which is unusual. The barriers erected by specialised medicine must come down, and the new schools must be sought, instructed and investigated, and finally be included in the orthodox ranks. The new schools, such as those concerned with electro-therapy, the chiropractic schools, the dieticians who claim to cure all diseases through right foods, and the rather eccentric naturopaths, plus many other cults and schools, must not be so arrogantly sure that they have the whole story, that their approach is the only one or that they have a universal cure-all which is unique and definitely sure. These groups, particularly the chiropractors, have definitely damaged their cause and crippled their effort by their loudly shouted surety (in a field which is yet experimental), and by their constant attack upon orthodox medicine. The latter, in its turn, has limited itself by its failure to recognise what is good and right in the newer schools; it has been antagonised by their clamour for recognition, and by their lack of scientific methods. The desire of orthodox medicine is to protect the general public. This they needs must do in order to avoid the disasters which fanatics and untried methods would bring about, but they have gone too far in this respect. The school of thought which I have sponsored in these instructions will also be challenged, and this for a long time. However, the mental and psychological effects of the world war will greatly hasten the recognition of the psychological basis for disease and other troubles; modern medicine, therefore, faces its major opportunity.

Bức tranh tôi đã phác họa về bối cảnh tâm lý của mọi bệnh tật sẽ còn lâu mới hoàn thành; trong khi đó, sự đóng góp của y học là không thể thiếu. Bất chấp sai lầm, chẩn đoán thiếu chính xác và nhiều lỗi lầm, nhân loại không thể thiếu các bác sĩ, các nhà phẫu thuật và các bệnh viện của mình. Họ đang rất cần thiết, và sẽ còn như vậy trong nhiều thế kỷ nữa. Trong lời phát biểu này không có lý do gì để nản lòng. Nhân loại không thể ngay lập tức được đưa vào một tình trạng sức khỏe hồng trần hoàn hảo, dù sự huấn luyện tâm lý đúng đắn từ thời thơ ấu sẽ làm được nhiều điều trong vòng vài thập niên. Những điều kiện sai lầm [482] đã phát triển từ lâu. Y học hiện đại phải trở nên cởi mở hơn nhiều, sẵn sàng hơn trong việc tán thành (sau khi có bằng chứng chuyên môn thích đáng) điều gì là mới, có tính đổi mới và khác thường. Những rào cản do y học chuyên khoa dựng lên phải được dỡ bỏ, và những trường phái mới phải được tìm hiểu, hướng dẫn và khảo sát, rồi cuối cùng được đưa vào hàng ngũ chính thống. Những trường phái mới, như những trường phái quan tâm đến điện trị liệu, các trường chiropractic, các nhà dinh dưỡng học cho rằng có thể chữa mọi bệnh bằng thực phẩm đúng đắn, và những nhà trị liệu tự nhiên khá lập dị, cùng nhiều giáo phái và trường phái khác, không được quá kiêu ngạo chắc chắn rằng họ nắm toàn bộ câu chuyện, rằng cách tiếp cận của họ là duy nhất hoặc rằng họ có một phương thuốc chữa bách bệnh phổ quát, độc nhất và chắc chắn. Những nhóm này, đặc biệt là các nhà chiropractic, rõ ràng đã làm tổn hại chính nghĩa của mình và làm què quặt nỗ lực của mình bằng sự quả quyết ồn ào của họ (trong một lĩnh vực vẫn còn đang thực nghiệm), và bằng sự công kích liên tục đối với y học chính thống. Đến lượt mình, y học chính thống đã tự giới hạn mình vì không nhận ra điều gì là tốt và đúng trong các trường phái mới hơn; nó đã bị đối kháng bởi tiếng kêu đòi được công nhận của họ, và bởi sự thiếu phương pháp khoa học của họ. Mong muốn của y học chính thống là bảo vệ công chúng nói chung. Họ buộc phải làm điều này để tránh những tai họa mà những kẻ cuồng tín và những phương pháp chưa được thử nghiệm sẽ gây ra, nhưng họ đã đi quá xa về phương diện này. Trường phái tư tưởng mà tôi đã bảo trợ trong những chỉ dẫn này cũng sẽ bị thách thức, và điều này sẽ còn kéo dài. Tuy nhiên, các tác động trí tuệ và tâm lý của cuộc thế chiến sẽ đẩy nhanh rất nhiều sự công nhận nền tảng tâm lý của bệnh tật và những rắc rối khác; vì vậy, y học hiện đại đang đối diện với cơ hội lớn lao nhất của mình.

A combination of true medical science (as produced by man down the ages under the inspiration of his divine nature), of the newer aspects of treatment as formulated by [483] the many emerging schools of thought, of practice and experiment, the recognition of the energies which condition man, working through the seven centres in his vital body, and of the astrological influences which equally condition him, via the inner man, will eventually produce the new medical approach which will keep man in good health, which will arrest disease in its earliest stages, and which will finally inaugurate that cycle in human affairs wherein disease and ill health will be exceptions and not the rule, as is the case today, and wherein death will be regarded as a happy and destined release and not, as is the case today, a dreaded enemy.

Sự kết hợp giữa khoa học y khoa chân chính (do con người tạo ra qua các thời đại dưới sự cảm hứng của bản chất thiêng liêng của y), các phương diện điều trị mới hơn như được hình thành bởi [483] nhiều trường phái tư tưởng, thực hành và thực nghiệm đang xuất hiện, sự công nhận các năng lượng tác động lên con người, hoạt động qua bảy trung tâm trong thể sinh lực của y, và các ảnh hưởng chiêm tinh cũng tác động lên y, thông qua con người nội tại, cuối cùng sẽ tạo ra cách tiếp cận y khoa mới, cách tiếp cận sẽ giữ cho con người được khỏe mạnh, sẽ ngăn chặn bệnh tật ở những giai đoạn sớm nhất của nó, và cuối cùng sẽ khai mở chu kỳ trong các công việc của nhân loại, trong đó bệnh tật và sức khỏe kém sẽ là ngoại lệ chứ không phải quy luật như hiện nay, và trong đó cái chết sẽ được xem như một sự giải thoát hạnh phúc và đã được định sẵn chứ không phải, như hiện nay, một kẻ thù đáng sợ.

The second question is definitely concerned with the processes of death. It has been asked: What is the Tibetan’s attitude towards cremation, and under what conditions should cremation be followed? It is a fortunate and happy thing that cremation is becoming increasingly the rule. Before so very long, burial in the ground will be against the law and cremation will be enforced, and this as a health and sanitation measure. Those unhealthy, psychic spots, called cemeteries, will eventually disappear, just as ancestor worship is passing out, both in the Orient—with its ancestor cults—and in the Occident—with its equally foolish cult of hereditary position.

Câu hỏi thứ hai rõ ràng liên quan đến các tiến trình chết. Người ta đã hỏi: Thái độ của Chân sư Tây Tạng đối với hỏa táng là gì, và trong những điều kiện nào thì nên thực hiện hỏa táng? Thật là một điều may mắn và đáng mừng khi hỏa táng ngày càng trở thành quy luật. Chẳng bao lâu nữa, việc chôn cất dưới đất sẽ trái pháp luật và hỏa táng sẽ được thi hành bắt buộc, như một biện pháp sức khỏe và vệ sinh. Những nơi không lành mạnh, đầy thông linh ấy, gọi là nghĩa trang, cuối cùng sẽ biến mất, cũng như việc thờ cúng tổ tiên đang dần mất đi, cả ở phương Đông—với các tín ngưỡng thờ tổ tiên—lẫn ở phương Tây—với sự sùng bái cũng ngu xuẩn không kém đối với địa vị cha truyền con nối.

By the use of fire, all forms are dissolved; the quicker the human physical vehicle is destroyed, the quicker is its hold upon the withdrawing soul broken. A great deal of nonsense has been told in current theosophical literature about the time equation in relation to the sequential destruction of the subtle bodies. It should be stated, however, that the moment that true death is scientifically established (by the orthodox doctor in charge of the case), and it has been ascertained that no spark of life remains in the physical body, cremation is then possible. This complete or true [484] death eventuates when the thread of consciousness and the thread of life are completely withdrawn from the head and the heart. At the same time, reverence and an unhurried attitude have their rightful place in the process. The family of the dead person need a few hours in which to adjust themselves to the fact of the imminent disappearance of the outer and usually loved form; due care must also be given to the formalities required by the state or the municipality. This time element has reference mainly to those who are left behind, to the living and not to the dead. The claim that the etheric body must not be rushed into the cremating flames, and the belief that it must be left to drift around for a stated period of several days, have also no true basis at all. There is no etheric need for delay. When the inner man withdraws from his physical vehicle he withdraws simultaneously from the etheric body. It is true that the etheric body is apt to linger for a long time on the “field of emanation” when the physical body is interred, and it will frequently persist until complete disintegration of the dense body has taken place. The process of mummifying, as practised in Egypt, and of embalming, as practised in the West, have been responsible for the perpetuation of the etheric body, sometimes for centuries. This is particularly the case when the mummy or embalmed person was of an evil character during life; the hovering etheric body is then often “possessed” by an evil entity or evil force. This is the cause of the attacks and the disasters which often dog the steps of those who discover ancient tombs and their inhabitants, ancient mummies, and bring them and their possessions to light. Where cremation is the rule, there is not only the immediate destruction of the physical body and its restitution to the fount of substance, but the vital body is also promptly dissolved and its forces swept away by the current of flame into the reservoir of vital energies. Of that reservoir [485] it has ever been an inherent part, either in form or in a formless condition. After death and cremation these forces still exist but are absorbed into the analogous whole. Ponder on this statement, for it will give you the clue to the creative work of the human spirit. If delay is necessary from family feeling or municipal requirements, cremation should follow death within thirty-six hours; where no reason for delay exists, cremation can be rightly permitted in twelve hours. It is wise, however, to wait twelve hours in order to ensure true death.

Bằng việc sử dụng lửa, mọi hình tướng đều bị phân giải; vận cụ hồng trần của con người càng bị hủy diệt nhanh, sự bám giữ của nó đối với linh hồn đang rút lui càng bị phá vỡ nhanh. Rất nhiều điều vô nghĩa đã được kể trong văn liệu Thông Thiên Học đương thời về yếu tố thời gian liên quan đến sự hủy diệt tuần tự của các thể vi tế. Tuy nhiên, cần phải nói rằng ngay khi cái chết thật sự được xác lập một cách khoa học (bởi bác sĩ chính thống phụ trách ca bệnh), và đã xác định rằng không còn tia lửa sự sống nào trong thể xác, thì khi ấy có thể hỏa táng. Cái chết hoàn toàn hay thật sự [484] này xảy ra khi sợi dây tâm thức và sợi dây sự sống đã được rút hoàn toàn khỏi đầu và tim. Đồng thời, sự kính cẩn và một thái độ không vội vã có vị trí chính đáng của chúng trong tiến trình này. Gia đình của người chết cần vài giờ để tự điều chỉnh mình trước sự kiện hình tướng bên ngoài, thường là hình tướng được yêu thương, sắp biến mất; cũng phải dành sự quan tâm thích đáng cho các thủ tục do nhà nước hay chính quyền đô thị yêu cầu. Yếu tố thời gian này chủ yếu liên quan đến những người bị bỏ lại phía sau, đến người sống chứ không phải người chết. Lời khẳng định rằng thể dĩ thái không được vội vàng đưa vào ngọn lửa hỏa táng, và niềm tin rằng nó phải được để trôi dạt quanh đó trong một khoảng thời gian vài ngày nhất định, cũng hoàn toàn không có cơ sở chân thực. Không có nhu cầu dĩ thái nào đòi hỏi sự trì hoãn. Khi con người nội tại rút khỏi vận cụ hồng trần của mình, y đồng thời rút khỏi thể dĩ thái. Đúng là thể dĩ thái có khuynh hướng lưu lại rất lâu trên “trường phát xạ” khi thể xác được chôn cất, và nó thường tồn tại cho đến khi sự tan rã hoàn toàn của thể xác đậm đặc diễn ra. Tiến trình ướp xác, như được thực hành ở Ai Cập, và việc tẩm liệm, như được thực hành ở phương Tây, đã chịu trách nhiệm cho sự kéo dài tồn tại của thể dĩ thái, đôi khi trong nhiều thế kỷ. Điều này đặc biệt đúng khi xác ướp hay người được tẩm liệm là kẻ có tính cách xấu ác khi còn sống; khi ấy thể dĩ thái lơ lửng thường bị một thực thể xấu ác hay một mãnh lực xấu ác “chiếm hữu”. Đây là nguyên nhân của những cuộc tấn công và tai họa thường bám theo bước chân của những người khám phá các ngôi mộ cổ và những cư dân của chúng, các xác ướp cổ, rồi đưa chúng cùng tài sản của chúng ra ánh sáng. Ở nơi nào hỏa táng là quy luật, không những thể xác bị hủy diệt ngay lập tức và được hoàn nguyên về nguồn chất liệu, mà thể sinh lực cũng nhanh chóng bị phân giải và các mãnh lực của nó bị dòng lửa cuốn đi vào kho dự trữ các năng lượng sinh lực. Từ kho dự trữ ấy [485] nó vốn luôn là một phần cố hữu, hoặc trong hình tướng hoặc trong tình trạng vô tướng. Sau cái chết và hỏa táng, các mãnh lực này vẫn tồn tại nhưng được hấp thu vào toàn thể tương đồng. Hãy suy ngẫm về lời phát biểu này, vì nó sẽ cho bạn đầu mối về công việc sáng tạo của tinh thần con người. Nếu sự trì hoãn là cần thiết vì tình cảm gia đình hay yêu cầu của chính quyền đô thị, thì việc hỏa táng nên theo sau cái chết trong vòng ba mươi sáu giờ; nơi nào không có lý do trì hoãn, việc hỏa táng có thể được cho phép đúng đắn trong vòng mười hai giờ. Tuy nhiên, khôn ngoan là nên chờ mười hai giờ để bảo đảm cái chết thật sự.

Leave a Comment

Scroll to Top