General Contrasts Between Ray 2 and Ray 5—
|
Ray2 vs. Cung2 so với |
Ray5 Cung5 |
|
the priest Linh mục/vị tư tế |
1. the scientist nhà khoa học |
|
the lover (2A) chủ thể bác ái (2A) |
2. the thinker chủ thể tư tưởng |
|
the way of the heart cách thức của trái tim |
3. the way of the head cách thức của đầu óc |
|
“soft-hearted” [especially (2A)] “Mềm lòng” [đặc biệt là (2A)] |
4. “hard-headed” “cứng đầu” |
|
love of wisdom [especially (2B)] tình yêu minh triết [đặc biệt (2B)] |
5. love of concrete, factual knowledge tình yêu hiểu biết cụ thể và thực tế |
|
merciful nhân hậu |
6. justice (often without mercy) công lý (thường không có lòng thương xót) |
|
spiritually abstract; attention is focused upon the Observer trừu tượng về mặt tinh thần; sự chú ý được tập trung vào Người Quan sát |
7. spiritually concrete; attention is concretely focused upon the phenomena of the interior worlds cụ thể về mặt tinh thần; sự chú ý được tập trung một cách cụ thể vào các hiện tượng của thế giới nội tâm |
|
religious orientation định hướng tôn giáo |
8. scientific orientation [especially (5A)] định hướng khoa học [đặc biệt là (5A)] |
|
preoccupation with the understanding of consciousness mối bận tâm với sự hiểu biết về tâm thức |
9. focus upon understanding the practical relationship between matter and energy (i.e., how to work with “material energy”) tập trung vào việc hiểu mối quan hệ thực tế giữa vật chất và năng lượng (tức là, làm thế nào để làm việc với “năng lượng vật chất”) |
|
concentration upon nonmaterial states tập trung vào trạng thái phi vật chất |
10. concentration upon matter tập trung vào vật chất |
|
love of pure truth (2B) tình yêu chân lý thuần tuý (2B) |
11. love of applied truth tình yêu chân lý được áp dụng |
|
deeply subjective orientation định hướng chủ quan sâu sắc |
12. pronouncedly objective orientation định hướng khách quan rõ rệt |
|
mechanical aptitudes rare hiếm có năng khiếu về máy móc |
13. good mechanical aptitude [especially (5B)] năng khiếu tốt về máy móc [đặc biệt là (5B)] |
|
love of meaning (2B) yêu thích ý nghĩa (2B) |
14. love of facts yêu thích sự kiện/thực tế |
|
focus upon mathematics as the revealer of meaning tập trung vào toán học như là người tiết lộ ý nghĩa |
15. focus upon mathematics as a tool for calculating the solution to practical problems tập trung vào toán học như một công cụ để tính toán lời giải cho các vấn đề thực tế |
|
magnetic từ tính |
16. nonmagnetic không từ tính |
|
warmth (2A) ấm áp (2A) |
17. coolness lãnh đạm |
|
emotional sensitivity nhạy cảm |
18. emotional unresponsiveness không phản ứng với cảm xúc |
|
attachment [especially (2A)] dính mắc [đặc biệt là (2A)] |
19. detachment tách rời |
|
intimacy with people thân mật với mọi người |
20. detached analysis of people phân tích tách rời về con người |
|
love of people yêu thích con người |
21. love of “things” yêu thích “sự vật” |
|
seeing the best in everyone nhìn thấy điều tốt nhất ở mọi người |
22. commonsensical, pragmatic assessment đánh giá thông thường, thực dụng |
|
personable có tình |
23. impersonal vô tình |
|
needs frequent association with others nhu cầu kết hợp thường xuyên với những người khác |
24. more independent độc lập hơn |
|
needs more personal “fiber” nhu cầu “liên kết” riêng tư hơn |
25. uprightness tính tình bộc trực |
|
teaches through evocation dạy thông qua khơi gợi |
26. teaches through impartialness of facts dạy thông qua tính không thiên vị của các sự kiện |
|
synthetic tổng hợp |
27. analytical phân tích |
|
inclusive interests quan tâm một cách bao gồm |
28. highly focused interests quan tâm một cách tập trung cao độ |
|
29. interdisciplinary đa ngành học thuật |
29. ‘uni-disciplinary’ ‘đơn ngành học thuật’ |
|
30. broadly tolerant bao dung rộng rãi |
30. critical; extremely discriminating phê phán; cực kỳ phân biệt |
|
31. fusing Hoà nhập |
31. separating tách biệt |
|
32. unifying thống nhất |
32. distinguishing phân biệt |
|
33. dissolving boundaries xóa bỏ ranh giới |
33. discerning boundaries phân biệt ranh giới |
|
34. comprehensiveness (2B) tính toàn diện (2B) |
34. specialization chuyên môn hóa |
|
35. broad understanding hiểu biết rộng |
35. particularization cụ thể hóa |
|
36. more fluidic uyển chuyển hơn |
36. more fixed cố định hơn |
|
37. a fine grasp of synthetic detail nắm bắt tốt các chi tiết tổng hợp |
37. a fine grasp of focalized detail nắm bắt tốt các chi tiết cụ thể |
|
38. intuitive trực giác |
38. analytical, rationalistic phân tích, duy lý |
|
39. easily receives intuitive ideas dễ dàng tiếp nhận những ý tưởng trực giác |
39. facility for manipulating concrete thoughts khéo léo áp dụng những tư tưởng cụ thể |
|
40. the ray of “intuitive love” cung của “tình yêu trực giác” |
40. the ray of “intelligent love” cung của “tình yêu thông tuệ” |
|
41. faith [especially (2A)] đức tin [đặc biệt là (2A)] |
41. skepticism hoài nghi |
|
42. depends upon inner realization phụ thuộc vào nhận thức bên trong |
42. demands externally verifiable proof yêu cầu bằng chứng có thể xác minh bên ngoài |
|
43. reverence [especially (2A)] tôn kính [đặc biệt là (2A)] |
43. frequent irreverence based upon the de-glamorizing power of the rationalizing mind thường bất kính dựa trên năng lực xua tan ảo cảm của thể trí duy lý |
|
44. naturally sympathetic thông cảm tự nhiên |
44. frequently thinks that sympathy interferes with the rational faculties thường nghĩ rằng sự cảm thông can thiệp vào các khía cạnh lý trí |
|
45. relies upon understanding gathered dựa trên sự hiểu biết thu thập được |
45. relies upon knowledge gathered dựa trên kiến thức thu thập được |
|
46. from experience từ kinh nghiệm |
46. from experiment từ thử nghiệm |
|
Major Ray 2 and Ray 5 Differences |
Sự khác biệt chính giữa Cung 2 và Cung 5 |
|
The key differences between ray two and ray five concern the contrast between the paths of love-wisdom and knowledge, as well as the contrast between the means of determining truth preferred by those who follow each path. Those upon the second ray are gifted with abundant intuition. Because of their subjective orientation and sensitivity they can understand the truth without recourse to the processes of proving and verifying through the utilization of the external five senses—processes which are demanded by the “rational,” concrete mind. Those upon the fifth ray require external proof — demonstrable, experimental proof upon the physical plane in order to accept something as true. What many second ray people accept as factual is considered nothing but unsubstantiated fancy by the fifth ray type. And, of course, the fifth ray method of thoroughly examining the form to arrive at that which substantiates the form, is seen as very slow and tedious (and even inadequate and misleading) by the second ray type. |
Sự khác biệt chính giữa cung hai và cung năm liên quan đến sự tương phản giữa các đường lối của bác ái-minh triết và kiến thức, cũng như sự tương phản giữa các phương tiện xác định chân lý được những người đi theo mỗi đường lối ưa thích. Những người cung hai có năng khiếu với trực giác dồi dào. Do định hướng chủ quan và sự nhạy cảm của họ, họ có thể hiểu được chân lý mà không cần nhờ đến các quá trình chứng minh và xác minh thông qua việc sử dụng năm giác quan bên ngoài — các quá trình được yêu cầu bởi trí cụ thể “duy lý”. Những người cung năm yêu cầu bằng chứng bên ngoài — bằng chứng thực nghiệm, có thể chứng minh trên cõi vật lý để chấp nhận điều gì đó là đúng. Những gì nhiều người cung hai chấp nhận là thực tế được kiểu người cung năm coi là không có gì khác ngoài sự ưa thích thiếu căn cứ. Và, tất nhiên, phương pháp cung năm kiểm tra kỹ lưỡng hình thức để đi đến kết quả chứng minh cho hình thức, được kiểu người cung hai xem là rất chậm chạp và tẻ nhạt (thậm chí không đầy đủ và gây hiểu nhầm). |
|
The second ray approach is the “way of the heart”; the fifth ray method is the way of the mind, or rather, of a certain aspect of the mind—the exacting concrete mind. Inclusive second ray people, especially those conditioned primarily by the wisdom aspect of the second ray, like to see all the great wealth of detail in synthetic relation. For this kind of [240] perception the Tibetan uses the very apt phrase “meticulous entirety.” Fifth ray people like to perceive with what might be called ‘meticulous particularity.’ The search for the ultimate particle by fifth ray modern science is a living symbol of meticulous ‘ particularity .’ Fifth ray people, as a rule, do not especially care if they can achieve a synthetic understanding of all knowledge, so long as they know all there is to know about their speciality. Second ray people, however, demand the synthesis, for theirs is the ray of “detailed unity” and “comprehensive inclusiveness.” |
Cách tiếp cận cung hai là “đường lối của trái tim”; phương pháp cung năm là đường lối của cái trí, hay đúng hơn, của một khía cạnh nào đó của cái trí — trí cụ thể chính xác. Những người có cung hai bao gồm, đặc biệt là những người được quy định chủ yếu bởi khía cạnh minh triết của cung hai, thích nhìn thấy tất cả sự giàu có to lớn của chi tiết trong mối quan hệ tổng hợp. Đối với loại nhận thức [240] này, Chân sư Tây Tạng sử dụng cụm từ rất phù hợp là “toàn bộ một cách tỉ mỉ”. Những người cung năm thích nhận thức với cái có thể được gọi là ‘tính cụ thể tỉ mỉ.’ Việc tìm kiếm hạt cuối cùng của khoa học hiện đại thuộc cung năm là một biểu tượng sống động của ‘ tính cụ thể ‘ tỉ mỉ. Theo quy luật, những người cung năm không đặc biệt quan tâm đến việc liệu họ có thể đạt được sự hiểu biết tổng hợp về mọi kiến thức hay không, miễn là họ biết tất cả những gì cần biết về chuyên môn của họ. Tuy nhiên, những người cung hai lại yêu cầu sự tổng hợp, vì cung của họ là cung của “sự thống nhất chi tiết” và “tính bao hàm toàn diện”. |
|
There is also the obvious contrast between the energy of love and that of the mind which is so important when comparing the life orientations of those upon these two rays. Second ray people seek to place themselves on intimate terms with all people and all things. They want to understand from the “inside out.” Fifth ray people hold the object of examination at a sufficient distance to remain as objective as possible (even though, as fifth ray science has proven, it is not really possible!). Here we see a demonstration of the attractive magnetism of the second ray and the non-attractive detachment of the fifth ray—a detachment which is maintained so that the acquisition of objective knowledge can be facilitated. Second ray types seek thorough subjective knowledge, which is much closer to wisdom. |
Cũng có sự tương phản rõ ràng giữa năng lượng của tình yêu thương và năng lượng của trí tuệ, điều rất quan trọng khi so sánh định hướng cuộc sống của những người dựa trên hai cung này. Những người cung hai luôn tìm cách đặt mình vào những mối quan hệ mật thiết với tất cả mọi người và mọi vật. Họ muốn hiểu từ “trong ra ngoài”. Người cung năm giữ đối tượng kiểm tra ở một khoảng cách đủ để giữ sự khách quan nhất có thể (mặc dù, như khoa học cung năm đã chứng minh, điều đó không thực sự có thể xảy ra!). Ở đây chúng ta thấy một minh chứng về từ tính thu hút của cung hai và sự tách rời không thu hút của cung năm — một sự tách rời được duy trì để có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức khách quan . Kiểu người cung hai tìm kiếm kiến thức chủ quan thấu đáo, gần với minh triết hơn nhiều. |
|
Major Ray 2 and Ray 5 Similarities |
Sự tương đồng chính giữa Cung 2 và Cung 5 |
|
The love of (and capacity for) illumination is one of the key factors unifying the second and the fifth rays. The second ray is the “ray of light bearing influence”; the fifth ray is also called the “light bearer” ( The Rays and the Initiations , p. 592) and confers the “power to achieve light on many matters.” ( Discipleship in the New Age, Vol. I , p. 437). It is possible that both these rays function through the planet Venus, which, from the vantage point of Earth’s humanity, is the most luminous object in the night sky (with the obvious exception of the Sun and the Moon). Venus, too, is the light bearer (Venus- Lucifer) and the planet of “intelligent love.” |
Sự yêu thích (và khả năng) giác ngộ là một trong những yếu tố quan trọng hợp nhất cung hai và cung năm. Cung hai là “cung của ánh sáng mang lại ảnh hưởng”; cung năm còn được gọi là “đấng mang ánh sáng” ( Cung và Điểm đạo , trang 592) và ban cho “sức mạnh để đạt được ánh sáng về nhiều vấn đề.” ( Đường đạo trong kỷ nguyên mới , tập I, trang 437). Có thể cả hai cung này đều hoạt động xuyên qua Sao Kim, là vật thể phát sáng nhất trên bầu trời đêm (ngoại trừ Mặt trời và Mặt trăng), từ vị trí của con người trên Trái đất. Sao Kim cũng vậy, là người mang ánh sáng (Lucifer-Sao Kim) và là hành tinh của “tình thương thông tuệ”. |
|
As might be expected, those upon the fifth ray are frequently involved in modern education with its light bearing, informing function. The fifth ray (as presently utilized by humanity) conveys light upon specialized subjects. The second (or “teaching ray”) helps each individual draw forth the light of the soul and express it. Even when considering the nature of the soul and its “location” upon the cosmic physical plane, the second and fifth rays are seen to be related, because the soul, which embodies the second aspect of divinity, is found upon the higher three subplanes of the fifth plane (i.e., the mental plane). It was also the action of the fifth ray which was instrumental in transforming the human being into a potential member of the fifth kingdom of nature, the kingdom of souls—a kingdom expressive of the second divine aspect, love. |
Như có thể được mong đợi, những người nằm trên cung năm thường tham gia vào nền giáo dục hiện đại với chức năng thông tin và mang ánh sáng của nó. Cung năm (hiện đang được nhân loại sử dụng) truyền ánh sáng đến các đối tượng chuyên biệt. Cung hai (hay “cung giảng dạy”) giúp mỗi cá nhân thu hút ánh sáng linh hồn ra và thể hiện nó. Ngay cả khi xem xét bản chất của linh hồn và “vị trí” của nó trên cõi hồng trần vũ trụ, cung hai và cung năm được xem là có liên quan với nhau, bởi vì linh hồn, hiện thân của trạng thái thiêng liêng thứ hai, được tìm thấy trên ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm (tức cõi trí). Đó cũng là hành động của cung năm, công cụ biến con người thành một thành viên tiềm năng của giới thứ năm trong tự nhiên, giới linh hồn — giới thể hiện trạng thái thiêng liêng thứ hai, tình yêu thương. |
|
Interestingly, it is the fifth ray which will be of great importance in the development of the new science of esoteric psychology—the science of the soul. Thus the cultivation of the fifth ray will reveal the nature and potentials of the second aspect of divinity—the [241] consciousness aspect. This coming revelation was prefigured in ancient times by the important position of both the fifth and second rays in the discipline of Raja Yoga—“the Kingly Science of the Soul,” the origin of which occurred in the beginning of the fifth or Aryan race. Raja Yoga is a particularly second ray discipline designed to make the “light of the soul” a living reality in the life of the meditator, but many of its methodologies for achieving mental illumination are decidedly qualified by the fifth ray. [ 242] |
Điều thú vị là, cung năm sẽ có tầm quan trọng lớn lao trong sự phát triển của khoa học mới về tâm lý học nội môn — khoa học về linh hồn. Do đó, việc nuôi dưỡng cung năm sẽ tiết lộ bản chất và tiềm năng của trạng thái thiêng liêng thứ hai — trạng thái [241] tâm thức. Sự tiết lộ sắp tới này đã được định hình trước vào thời cổ đại bởi vị trí quan trọng của cả cung năm và cung hai trong sự rèn luyện Raja Yoga — “Vua của Khoa học về linh hồn”, khởi nguồn của nó là vào đầu căn chủng thứ năm hoặc Aryan. Raja Yoga là sự rèn luyện cung hai đặc biệt được thiết kế để biến “ánh sáng của linh hồn” trở thành hiện thực sống động trong cuộc sống của người hành thiền, nhưng nhiều phương pháp của nó để đạt được sự soi sáng trí tuệ được quyết định bởi cung năm. [ 242] |