Cosmic Fire S7A
(Trang 733-853)
|
c. On Incarnation. |
c. Về sự Nhập thể. |
|
(a.) Cosmic, Planetary and Human. We leave now the consideration of self-consciousness, as it is produced through the medium of the particular type of deva substance which the Agnishvattas provided for the body of the Ego, and pass on to the study of incarnation, cosmic, planetary and human. A hint as to the constitution of these solar Pitris and Manasadevas may come to the student who ponders upon the place of the egoic unit in the body of the planetary Logos, and in the particular centre of which it forms a component part. These Manasadevas and Dhyan Chohans who produce self-consciousness in man are indeed the energy and substance of the cosmic Heavenly Man. |
(a.) Vũ trụ, Hành tinh và Nhân loại. Giờ đây chúng ta rời việc xem xét ngã thức, như nó được tạo ra thông qua môi trường của loại chất liệu thiên thần đặc biệt mà các Agnishvatta đã cung cấp cho thể của chân ngã, và chuyển sang nghiên cứu sự nhập thể, vũ trụ, hành tinh và nhân loại. Một gợi ý về cấu tạo của các thái dương tổ phụ và Manasadeva này có thể đến với đạo sinh nào suy ngẫm về vị trí của đơn vị chân ngã trong thể của Hành Tinh Thượng đế, và trong trung tâm đặc biệt mà nó tạo thành một phần cấu thành. Những Manasadeva và Dhyan Chohan tạo ra ngã thức nơi con người này quả thật là năng lượng và chất liệu của Đấng Thiên Nhân vũ trụ. |
|
The word “incarnation” in its root meaning conveys the fundamental truth involved in the taking of a dense physical body, and should technically be applied only to that period of manifestation which concerns the three lower subplanes of the: |
Từ “nhập thể” trong ý nghĩa gốc của nó chuyển tải chân lý căn bản liên quan đến việc mang lấy một thể xác hồng trần đậm đặc, và về mặt kỹ thuật chỉ nên được áp dụng cho thời kỳ biểu hiện liên quan đến ba cõi phụ thấp của: |
|
a. Cosmic physical plane, in relation to a solar Logos and to a planetary Logos. |
a. Cõi hồng trần vũ trụ, trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế và với một Hành Tinh Thượng đế. |
|
b. Systemic physical plane, in relation to man. |
b. Cõi hồng trần hệ thống, trong liên hệ với con người. |
|
This connotation has been preserved where the cosmic entities are concerned, but when man is under consideration the term has been applied to the unification of the etheric double with the dense physical body, or to the appropriation by man of the vehicle composed of the [Page 733] substance of the lowest subplane of the cosmic physical plane in its lowest aspects. This distinction has a certain significance and should be remembered. This appropriation is governed by the same laws which governed the appropriation by the Logos of His physical vehicle. In order to get an idea of what the procedure is, it might be of value if we considered the different kinds of pralaya, and pondered upon those periods which ensue between incarnations. From the point of view of any unit involved, a pralaya is a period of quiescence, of cessation from a particular type of activity, involving objectivity, yet from the point of view of the great whole with which the unit may be involved, a pralaya may be considered merely as a transference of force from one direction into another. Though the unit may be temporarily devitalised as regards its form, yet the greater Entity persists, and is still active. |
Ý nghĩa này đã được giữ lại khi liên quan đến các thực thể vũ trụ, nhưng khi xét đến con người thì thuật ngữ này đã được áp dụng cho sự hợp nhất của bản sao dĩ thái với thể xác hồng trần đậm đặc, hay cho việc con người chiếm dụng vận cụ được cấu thành từ [Page 733] chất liệu của cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ trong các phương diện thấp nhất của nó. Sự phân biệt này có một ý nghĩa nhất định và cần được ghi nhớ. Sự chiếm dụng này được chi phối bởi cùng những định luật đã chi phối việc Thượng đế chiếm dụng vận cụ hồng trần của Ngài. Để có được một ý niệm về tiến trình này là gì, sẽ có ích nếu chúng ta xem xét các loại Giai kỳ qui nguyên khác nhau, và suy ngẫm về những thời kỳ tiếp theo giữa các lần nhập thể. Từ quan điểm của bất kỳ đơn vị nào liên quan, một Giai kỳ qui nguyên là một thời kỳ tĩnh lặng, ngưng dứt một loại hoạt động đặc biệt có liên quan đến tính khách quan, tuy nhiên từ quan điểm của toàn thể lớn lao mà đơn vị ấy có thể liên hệ, một Giai kỳ qui nguyên có thể chỉ được xem như một sự chuyển dịch mãnh lực từ hướng này sang hướng khác. Dù đơn vị có thể tạm thời bị mất sinh lực xét theo hình tướng của nó, song Thực Thể lớn hơn vẫn tồn tại, và vẫn còn hoạt động. |
|
Let us take up the matter first from the human standpoint, and study pralaya as it affects the Monad in incarnation. (244) There are five types of pralaya with which we may legitimately concern ourselves. We should notice first the fact that this condition is primarily one that concerns the relationship between Spirit and matter, in which a condition in substance is brought about through the action of the energising factor, the Spirit. It has, therefore, to do with the relation of the greater devas as They carry out Their work of form-building [Page 734] under the Law of Will of God to the lesser devas who represent living substance. It will be apparent to the student that it concerns the relation of the Holy Spirit to the Mother in the production of the Son, and then the relation of the Son to the Mother. If the ideas formulated in this treatise have been carefully followed, it will be obvious that in studying the question of pralaya, we are studying the relation (in time and space) of the positive energy of the solar Logos, the planetary Logos, and of Man to the substance through which alone manifestation is possible. Through this relation, existence on the objective planes can be brought about. |
Trước hết, chúng ta hãy xét vấn đề từ quan điểm nhân loại, và nghiên cứu Giai kỳ qui nguyên khi nó tác động đến chân thần đang nhập thể. (244) Có năm loại Giai kỳ qui nguyên mà chúng ta có thể chính đáng quan tâm. Trước tiên, chúng ta nên lưu ý sự kiện rằng trạng thái này chủ yếu liên quan đến mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, trong đó một trạng thái trong chất liệu được tạo ra thông qua tác động của yếu tố tiếp năng lượng là tinh thần. Vì vậy, nó liên quan đến mối liên hệ của các thiên thần lớn hơn khi Các Ngài thực hiện công việc kiến tạo hình tướng [Page 734] dưới Định luật Ý Chí của Thượng Đế với các thiên thần nhỏ hơn là những vị tiêu biểu cho chất liệu sống. Đối với đạo sinh, sẽ hiển nhiên rằng điều này liên quan đến mối liên hệ của Chúa Thánh Thần với Mẹ trong việc tạo ra Người Con, rồi đến mối liên hệ của Người Con với Mẹ. Nếu các ý tưởng được hình thành trong bộ luận này đã được theo dõi cẩn thận, thì sẽ rõ ràng rằng khi nghiên cứu vấn đề Giai kỳ qui nguyên, chúng ta đang nghiên cứu mối liên hệ (trong thời gian và không gian) của năng lượng dương của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, và của Con người với chất liệu mà chỉ thông qua đó biểu hiện mới có thể xảy ra. Nhờ mối liên hệ này, sự hiện hữu trên các cõi khách quan có thể được tạo ra. |
|
(244) There are fundamentally three kinds of Pralaya. See S. D., I, 397-398. |
(244) Về căn bản có ba loại Giai kỳ qui nguyên. Xem G. L. B. N., I, 397-398. |
|
1. Solar pralaya. This comes at the end of one hundred years of Brahma. It marks reabsorption into unity. It marks end of manifestation of solar system. Concerns the solar Logos. |
1. Giai kỳ qui nguyên thái dương. Điều này đến vào cuối một trăm năm của Brahma. Nó đánh dấu sự tái hấp thu vào hợp nhất. Nó đánh dấu sự chấm dứt biểu hiện của hệ mặt trời. Liên quan đến Thái dương Thượng đế. |
|
2. Incidental pralaya. This succeeds the days of Brahma. It marks periods between manvantaras. Temporary form ceases but duality remains. Concerns a planetary Logos. |
2. Giai kỳ qui nguyên ngẫu phát. Điều này tiếp theo các ngày của Brahma. Nó đánh dấu các thời kỳ giữa các giai kỳ sinh hóa. Hình tướng tạm thời chấm dứt nhưng nhị nguyên tính vẫn còn. Liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế. |
|
3. Individual pralaya. Achieved by a man at the fifth initiation. Marks attainment of perfection. Concerns the monad. |
3. Giai kỳ qui nguyên cá nhân. Được một người đạt tới ở lần điểm đạo thứ năm. Đánh dấu sự đạt đến hoàn hảo. Liên quan đến chân thần. |
|
There is also the pralaya in connection with human evolution which we call devachanic. It concerns the personality. (back) |
Cũng có Giai kỳ qui nguyên liên quan đến tiến hoá nhân loại mà chúng ta gọi là devachan. Nó liên quan đến phàm ngã. (back) |
|
(b.) Bản chất của Giai kỳ qui nguyên. Chúng ta có thể xem Giai kỳ qui nguyên như công việc của “sự rút tách,” và như phương pháp đưa hình tướng vào dưới phương diện Hủy Diệt của tinh thần, luôn hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, mà Định luật Tổng Hợp chỉ là một nhánh. Định luật căn bản của hệ là định luật chi phối mối liên hệ của mọi nguyên tử với tổng thể các nguyên tử, và của Bản Ngã với Phi Ngã. Theo quan điểm huyền bí, đó là sự biểu lộ mãnh lực mạnh mẽ nhất trong hệ, và nếu định luật ấy không thể tưởng tượng nổi mà ngừng hoạt động, thì ngay tức khắc hệ và mọi hình tướng trong đó, hành tinh, nhân loại và các loại khác, sẽ chấm dứt hiện hữu. Bằng một hành vi ý chí, các hệ hành tinh tồn tại; bằng một hành vi ý chí, hệ HIỆN HỮU; bằng một hành vi của ý chí chân ngã, con người xuất hiện. Khi Ý Chí của Thượng đế, của Đấng Thiên Nhân, và của chân ngã thiêng liêng nhân loại hướng đến những cứu cánh khác, thì chất liệu của các vận cụ của Các Ngài bị tác động, và sự tan rã bắt đầu. Năm loại Giai kỳ qui nguyên liên quan đến đơn vị nhân loại như sau: |
|
|
(1) The period of pralaya between two incarnations. This is of a triple nature and affects the substance of the three vehicles, physical, astral and mental, reducing the form to its primitive substance, and dissipating its atomic structure. The energy of the second aspect (that of the form-builder) is withdrawn by the will of the Ego, [Page 735] and the atoms composing the form become dissociated from each other, and are resolved into the reservoir of essence to be re-collected again when the hour strikes. This condition is brought about gradually by stages of which we are aware: |
(1) Thời kỳ Giai kỳ qui nguyên giữa hai lần nhập thể. Điều này có bản chất tam phân và tác động đến chất liệu của ba vận cụ, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, làm giảm hình tướng về chất liệu nguyên sơ của nó, và làm tiêu tan cấu trúc nguyên tử của nó. Năng lượng của phương diện thứ hai (phương diện của đấng kiến tạo hình tướng) được rút lại bởi ý chí của chân ngã, [Page 735] và các nguyên tử cấu thành hình tướng trở nên tách rời nhau, và được phân giải vào kho chứa tinh chất để rồi được thu thập lại khi giờ điểm đến. Trạng thái này được tạo ra dần dần qua các giai đoạn mà chúng ta nhận biết được: |
|
The first stage is the withdrawal of the life force in the etheric vehicle from the threefold (dense, liquid and gaseous) dense physical body and the consequent “falling into corruption,” and becoming “scattered to the elements.” Objective man fades out, and is no more seen by the physical eye, though still in his etheric body. When etheric vision is developed, the thought of death will assume very different proportions. When a man can be seen functioning in his etheric physical body by the majority of the race, the dropping of the dense body will be considered just a “release.” |
Giai đoạn đầu tiên là sự rút mãnh lực sự sống trong vận cụ dĩ thái ra khỏi thể xác hồng trần đậm đặc tam phân (đậm đặc, lỏng và khí) và hậu quả là sự “rơi vào hư hoại,” và trở nên “phân tán vào các nguyên tố.” Con người khách quan mờ dần đi, và không còn được mắt hồng trần nhìn thấy nữa, dù vẫn còn trong thể hồng trần dĩ thái của y. Khi linh thị dĩ thái được phát triển, ý niệm về cái chết sẽ mang những tỷ lệ rất khác. Khi một người có thể được đa số nhân loại nhìn thấy đang hoạt động trong thể hồng trần dĩ thái của mình, thì việc buông bỏ thể đậm đặc sẽ chỉ được xem như một “sự giải thoát.” |
|
The next stage is the withdrawal of the life force from the etheric body or coil, and its devitalisation. The etheric coil is but an extension of one aspect of the sutratma or thread, and this thread is spun by the Ego from within the causal body much as a spider spins a thread. It can be shortened or extended at will, and when the period of pralaya has been decided upon, this thread of light, or of solar fire (note the word “solar”) is withdrawn, and gathered back to the atomic subplane where it will still vitalise the permanent atom and hold it connected within the causal body. The life impulses are then—as far as the physical plane is concerned—centralised within the atomic sphere. |
Giai đoạn kế tiếp là sự rút mãnh lực sự sống ra khỏi thể dĩ thái hay cuộn dây, và sự mất sinh lực của nó. Cuộn dây dĩ thái chỉ là sự kéo dài của một phương diện của sutratma hay sợi dây, và sợi dây này được chân ngã quay ra từ bên trong thể nguyên nhân cũng như con nhện quay tơ. Nó có thể được rút ngắn hay kéo dài theo ý muốn, và khi thời kỳ Giai kỳ qui nguyên đã được quyết định, sợi dây ánh sáng này, hay của lửa thái dương (lưu ý từ “thái dương”) được rút lại, và thu về cõi phụ nguyên tử nơi nó vẫn sẽ tiếp sinh lực cho nguyên tử trường tồn và giữ nó được nối kết bên trong thể nguyên nhân. Khi ấy các xung lực sự sống — xét theo cõi hồng trần — được tập trung trong khối cầu nguyên tử. |
|
The third stage is the withdrawal of the life force from the astral form so that it disintegrates in a similar manner and the life is centralised within the astral permanent atom. It has gained an increase of vitality through physical plane existence, and added colour through astral experience. |
Giai đoạn thứ ba là sự rút mãnh lực sự sống ra khỏi hình tướng cảm dục để nó tan rã theo cách tương tự và sự sống được tập trung trong nguyên tử trường tồn cảm dục. Nó đã đạt được sự gia tăng sinh lực nhờ sự hiện hữu trên cõi hồng trần, và thêm màu sắc nhờ kinh nghiệm cảm dục. |
|
The final stage for the human atom is its withdrawal [Page 736] from the mental vehicle. The life forces after this fourfold abstraction are centralised entirely within the egoic sphere; contact with the three lower planes is still inherently possible by means of the permanent atoms, the force centres of the three personality aspects. |
Giai đoạn cuối cùng đối với nguyên tử nhân loại là sự rút lui của nó [Page 736] ra khỏi vận cụ trí tuệ. Sau sự rút tách tứ phân này, các mãnh lực sự sống được tập trung hoàn toàn trong khối cầu chân ngã; sự tiếp xúc với ba cõi thấp vẫn còn có thể có về bản chất nhờ các nguyên tử trường tồn, là các trung tâm mãnh lực của ba phương diện phàm ngã. |
|
In each incarnation the life forces have gained through the utilisation of the vehicles, |
Trong mỗi lần nhập thể, các mãnh lực sự sống đã thu được nhờ việc sử dụng các vận cụ, |
|
a. An increased activity, which is stored in the physical permanent atom. |
a. Một hoạt động gia tăng, được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
b. An added colouring, which is stored in the astral permanent atom. |
b. Một màu sắc được thêm vào, được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
c. A developed quality of strength, or purpose in action, which is stored in the mental unit. |
c. Một phẩm tính sức mạnh được phát triển, hay mục đích trong hành động, được lưu trữ trong đơn vị hạ trí. |
|
These are wrought into faculty in devachan. |
Những điều này được chuyển thành năng lực trong devachan. |
|
Devacha (245, 246) is a state of consciousness, reflecting, in [Page 737] the life of the Personality, that higher state which we call nirvanic consciousness, and which is brought about by egoic action. It is but a dim reflection in the separated units (and therefore tinged with selfishness and separative pleasure) of the group condition called nirvanic. In this high state of consciousness each separate identity, though self-realising, shares in the group realisation, and therein lies bliss for the unit. Separation is no longer felt, only unity and essential oneness is known. Therefore, as might be naturally deduced, there is no devachan for the savage or little evolved man, as they merit it not, and have not the mentality to realise it; hence, therefore, the rapidity of their incarnations, and the brevity of the pralayic period. There is little in their case for the Ego, on its own plane, to assimilate in the residue of incarnations, and hence the life principle withdraws rapidly from out of the mental form, with the resulting impulse of the Ego to reincarnate almost immediately. |
Devacha (245, 246) là một trạng thái tâm thức, phản ánh, trong [Page 737] đời sống của Phàm ngã, trạng thái cao hơn mà chúng ta gọi là tâm thức Niết Bàn, và được tạo ra bởi hoạt động chân ngã. Nó chỉ là một phản ánh mờ nhạt trong các đơn vị tách biệt (và do đó nhuốm màu ích kỷ và khoái lạc phân ly) của trạng thái nhóm được gọi là Niết Bàn. Trong trạng thái tâm thức cao này, mỗi bản sắc tách biệt, dù tự chứng nghiệm, vẫn chia sẻ trong sự chứng nghiệm của nhóm, và trong đó có chí phúc cho đơn vị. Sự phân ly không còn được cảm thấy nữa, chỉ còn sự hợp nhất và tính nhất thể cốt yếu được biết đến. Vì vậy, như có thể tự nhiên suy ra, không có devachan cho người man dã hay người ít tiến hoá, vì họ không xứng đáng với nó, và không có trí tuệ để chứng nghiệm nó; do đó, các lần nhập thể của họ diễn ra nhanh chóng, và thời kỳ Giai kỳ qui nguyên rất ngắn. Trong trường hợp của họ, chân ngã trên chính cõi của nó có rất ít điều để đồng hoá trong phần cặn dư của các lần nhập thể, và vì thế nguyên khí sự sống rút ra nhanh chóng khỏi hình tướng trí tuệ, với xung lực kết quả từ chân ngã là tái nhập thể gần như ngay lập tức. |
|
(245) Deva-Chan. “(3) ‘Who goes to Deva Chan?’ The personal Ego, of course, but beatified, purified, holy. Every Ego—the combination of the sixth and seventh principles—which, after the period of unconscious gestation is reborn into the Deva-Chan, is of necessity as innocent and pure as a new-born babe. The fact of his being reborn at all shows the preponderance of good over evil in his old personality. And while the Karma (of evil) steps aside for the time being to follow him in his future earth-reincarnation, he brings along with him but the Karma of his good deeds, words, and thoughts into this Deva-Chan. ‘Bad’ is a relative term for us—as you were told more than once before,—and the Law of Retribution is the only law that never errs. Hence all those who have not slipped down into the mire of unredeemable sin and bestiality—go to the Deva-Chan. They will have to pay for their sins, voluntary and involuntary, later on. Meanwhile they are rewarded; receive the effects of the causes produced by them. |
(245) Deva-Chan. “(3) ‘Ai đi vào Deva Chan?’ Dĩ nhiên là chân ngã cá nhân, nhưng đã được ban phúc, thanh lọc, thánh thiện. Mọi chân ngã — sự kết hợp của nguyên khí thứ sáu và thứ bảy — sau thời kỳ thai nghén vô thức được tái sinh vào Deva-Chan, tất yếu đều ngây thơ và thanh khiết như một hài nhi mới sinh. Chính sự kiện y được tái sinh cho thấy điều thiện chiếm ưu thế hơn điều ác trong phàm ngã cũ của y. Và trong khi nghiệp quả (của điều ác) tạm thời lùi sang một bên để theo y trong lần tái nhập thể trên trần thế tương lai, y chỉ mang theo nghiệp quả của những việc làm, lời nói và tư tưởng tốt đẹp của mình vào Deva-Chan này. ‘Xấu’ là một thuật ngữ tương đối đối với chúng ta — như bạn đã được nói với nhiều hơn một lần trước đây, — và Định luật Báo Ứng là định luật duy nhất không bao giờ sai lầm. Vì thế tất cả những ai chưa sa xuống vũng bùn của tội lỗi không thể cứu chuộc và tính thú vật — đều đi vào Deva-Chan. Về sau họ sẽ phải trả cho những tội lỗi của mình, tự nguyện và không tự nguyện. Trong khi đó họ được tưởng thưởng; nhận lấy các hiệu quả của những nguyên nhân do họ tạo ra. |
|
“Of course it is a state, one, so to say, of intense selfishness during which an Ego reaps the reward of his unselfishness on earth. He is completely engrossed in the bliss of all his personal earthly affections, preferences, thoughts, and gathers in the fruit of his meritorious actions. No pain, no grief nor even the shadow of a sorrow comes to darken the bright horizon of his unalloyed happiness; for, it is a state of perpetual ‘Maya.’…Since the conscious perception of one’s personality on earth is but an evanescent dream that sense will be equally that of a dream in the Deva-Chan—only a hundredfold intensified.” |
“Dĩ nhiên đó là một trạng thái, có thể nói là của sự ích kỷ mãnh liệt trong đó một chân ngã gặt hái phần thưởng cho tính vô kỷ của y trên trần thế. Y hoàn toàn đắm chìm trong chí phúc của mọi tình cảm, sở thích, tư tưởng cá nhân trần thế của mình, và thu hoạch quả của những hành động công đức. Không đau đớn, không buồn phiền, thậm chí không cả bóng dáng của một nỗi sầu nào đến làm u ám chân trời sáng ngời của hạnh phúc thuần khiết của y; vì, đó là một trạng thái của ‘Maya’ vĩnh viễn.…Vì sự nhận biết hữu thức về phàm ngã của mình trên trần thế chỉ là một giấc mộng thoáng qua, nên cảm giác ấy trong Deva-Chan cũng sẽ là cảm giác của một giấc mộng — chỉ khác là được tăng cường lên gấp trăm lần.” |
|
……. |
……. |
|
“‘Bardo’ is the period between death and rebirth—and may last from a few years to a kalpa. It is divided into three sub-periods (1) when the Ego delivered of its mortal coil enters into Kama-Loka (the abode of Elementaries); (2) when it enters into ‘Gestation State’; (3) when it is reborn in the Rupa-Loka of Deva-Chan. Sub-period (1) may last from a few minutes to a number of years—the phrase ‘a few years’ becoming puzzling and utterly worthless without a more complete explanation; Sub-period 2nd is ‘very long’; as you say, longer sometimes than you may even imagine, yet proportionate to the Ego’s spiritual stamina; Sub-period 3rd lasts in proportion to the good Karma, after which the monad is again reincarnated.” |
“‘Bardo’ là thời kỳ giữa cái chết và sự tái sinh — và có thể kéo dài từ vài năm đến một kalpa. Nó được chia thành ba thời kỳ phụ (1) khi chân ngã, được giải thoát khỏi cuộn dây phàm tử của nó, đi vào Kama-Loka (nơi cư ngụ của các Elementaries); (2) khi nó đi vào ‘Trạng thái Thai nghén’; (3) khi nó được tái sinh trong Rupa-Loka của Deva-Chan. Thời kỳ phụ (1) có thể kéo dài từ vài phút đến một số năm — cụm từ ‘vài năm’ trở nên khó hiểu và hoàn toàn vô giá trị nếu không có một giải thích đầy đủ hơn; Thời kỳ phụ thứ 2 thì ‘rất dài’; như bạn nói, đôi khi dài hơn cả điều bạn có thể tưởng tượng, tuy nhiên vẫn tương xứng với sức bền tinh thần của chân ngã; Thời kỳ phụ thứ 3 kéo dài tương ứng với nghiệp quả tốt, sau đó chân thần lại tái nhập thể.” |
|
……. |
……. |
|
… “Every effect must be proportionate to the cause. And, as man’s terms of incarnate existence bear but a small proportion to his periods of inter-natal existence in the manvantaric cycle, so the good thoughts, words, and deeds of any one of these ‘lives’ on a globe are causative of effects, the working out of which requires far more time than the evolution of the causes occupied.”—From Mahatma Letters to A. P. Sinnett, pp. 100, 105-106. (back) |
… “Mọi hiệu quả đều phải tương xứng với nguyên nhân. Và cũng như các thời kỳ hiện hữu nhập thể của con người chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các thời kỳ tồn tại giữa hai lần sinh của y trong chu kỳ giai kỳ sinh hóa, thì những tư tưởng, lời nói và việc làm tốt đẹp của bất kỳ một trong những ‘đời sống’ nào trên một bầu hành tinh đều là nguyên nhân của những hiệu quả mà sự triển khai của chúng đòi hỏi nhiều thời gian hơn rất nhiều so với thời gian đã dùng để tiến hoá các nguyên nhân ấy.” — Trích từ Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 100, 105-106. (back) |
|
When the life of the personality has been full and rich, yet has not reached the stage wherein the personal self can consciously co-operate with the ego, periods of personality nirvana are undergone, their length depending upon the interest of the life, and the ability of the man to meditate upon experience. Later, when the Ego dominates the personality life, the interest of the man is raised to higher levels, and the nirvana of the soul becomes [Page 738] his goal. He has no interest in devachan. Therefore, those upon the Path (either the probationary Path, or the Path of Initiation) do not, as a rule, go to devachan, but immediate incarnation becomes the rule in the turning of the wheel of life; this time it is brought about by the conscious co-operation of the personal Self with the divine Self or Ego. |
Khi đời sống của phàm ngã đã đầy đủ và phong phú, nhưng chưa đạt đến giai đoạn mà bản ngã cá nhân có thể một cách hữu thức hợp tác với chân ngã, thì các thời kỳ niết bàn của phàm ngã sẽ được trải qua, độ dài của chúng tùy thuộc vào sự phong phú của đời sống, và khả năng của con người trong việc tham thiền về kinh nghiệm. Về sau, khi chân ngã chi phối đời sống phàm ngã, mối quan tâm của con người được nâng lên các cấp độ cao hơn, và niết bàn của linh hồn trở thành [Page 738] mục tiêu của y. Y không còn quan tâm đến devachan. Vì vậy, những ai ở trên Con Đường (hoặc là Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Điểm Đạo) theo quy luật, không đi vào devachan, mà sự nhập thể tức thời trở thành quy luật trong vòng quay của bánh xe sự sống; lần này điều đó được tạo ra bởi sự hợp tác hữu thức của Bản Ngã cá nhân với Bản Ngã thiêng liêng hay chân ngã. |
|
(2) The period between egoic Cycles. Herein is hid the mystery of the 777 incarnations and concerns the relation of the unit to his group on the egoic plane, prior to the unfoldment of the fifth petal. It concerns man in the period between the savage stage and that of the disciple, when he is an average man but still in the two Halls. The mystery of all root races lies here, and the egoic cycles coincide with the building of racial forms, and civilisations. A man will reincarnate again and again in the various subraces of a root race until a certain cycle has been covered; then he may undergo a pralayic condition until in a later (and sometimes much later) root race he will respond to its vibratory call, and the egoic impulse to incarnate will again be felt. In illustration of this, we should bear in mind that the more advanced humanity of today did not incarnate until the fourth root race. These cycles are one of the mysteries of initiation, though one of the earlier mysteries, and are revealed at the second initiation as they enable the initiate to comprehend his position, to see somewhat the nature of the karmic impulse, and to read his own record in the astral light. |
(2) Giai đoạn giữa các Chu kỳ chân ngã. Chính ở đây ẩn giấu huyền nhiệm của 777 lần nhập thể và liên quan đến mối tương quan của đơn vị với nhóm của y trên cõi chân ngã, trước khi cánh hoa thứ năm khai mở. Điều này liên quan đến con người trong giai đoạn giữa tình trạng dã man và giai đoạn đệ tử, khi y là một người trung bình nhưng vẫn còn ở trong hai Phòng. Huyền nhiệm của mọi giống dân gốc nằm ở đây, và các chu kỳ chân ngã trùng hợp với việc xây dựng các hình tướng chủng tộc và các nền văn minh. Một người sẽ tái sinh hết lần này đến lần khác trong các giống dân phụ khác nhau của một giống dân gốc cho đến khi một chu kỳ nhất định đã được hoàn tất; khi đó y có thể trải qua một trạng thái pralaya cho đến khi trong một giống dân gốc về sau (và đôi khi là muộn hơn rất nhiều) y đáp ứng với tiếng gọi rung động của nó, và xung lực nhập thể của chân ngã lại được cảm nhận. Để minh họa điều này, chúng ta nên ghi nhớ rằng nhân loại tiến bộ hơn ngày nay đã không nhập thể cho đến giống dân gốc thứ tư. Các chu kỳ này là một trong những huyền nhiệm của điểm đạo, tuy là một trong những huyền nhiệm sớm hơn, và được tiết lộ ở lần điểm đạo thứ hai vì chúng giúp điểm đạo đồ hiểu được vị trí của mình, thấy phần nào bản chất của xung lực nghiệp quả, và đọc được hồ sơ của chính mình trong ánh sáng cảm dục. |
|
These might be considered the two lesser pralayic periods and concern primarily life in the three worlds. |
Có thể xem đây là hai giai đoạn pralaya nhỏ hơn và chủ yếu liên quan đến sự sống trong ba cõi giới. |
|
(3) Next comes the period wherein the man has attained freedom. A man has at this stage succeeded, under law, in “abstracting” himself, the freed soul, from out of the matter of the three worlds. He has used and worked with deva substance and has gained all the vibratory [Page 739] contact possible, and has secured all the intended “realisations” and “revelations”; he can no longer be held imprisoned by the devas. He is free until, consciously and willingly, and in another round, he can return as a member of a Hierarchy to continue His work of service for the little evolved humanity of that distant time. As this concerns the seven paths of opportunity for a Master we will not deal with it here. (247) This is the great human pralaya. |
(3) Tiếp theo là giai đoạn trong đó con người đã đạt được tự do. Ở giai đoạn này, theo định luật, con người đã thành công trong việc “rút” chính mình, linh hồn được giải thoát, ra khỏi vật chất của ba cõi giới. Y đã sử dụng và làm việc với chất liệu thiên thần và đã đạt được mọi tiếp xúc rung động [Page 739] có thể có, và đã đạt được mọi “chứng nghiệm” và “mặc khải” được dự định; y không còn có thể bị các thiên thần giam giữ nữa. Y được tự do cho đến khi, một cách hữu thức và tự nguyện, và trong một cuộc tuần hoàn khác, y có thể trở lại như một thành viên của một Thánh Đoàn để tiếp tục công việc phụng sự của Ngài cho nhân loại ít tiến hóa của thời kỳ xa xôi ấy. Vì điều này liên quan đến bảy Con đường cơ hội dành cho một Chân sư nên ở đây chúng ta sẽ không bàn đến. (247) Đây là đại pralaya của con người. |
|
(247) Bảy Con đường mà tất cả đều phải đi qua một trong số đó:— |
|
|
Path 1. The Path of Earth Service. |
Con đường 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu. |
|
Path 2. The Path of Magnetic Work. |
Con đường 2. Con Đường Công Tác Từ Tính. |
|
Path 3. The Path of the Planetary Logoi. |
Con đường 3. Con Đường của các Hành Tinh Thượng đế. |
|
Path 4. The Path to Sirius. |
Con đường 4. Con Đường đến Sirius. |
|
Path 5. The Ray Path. |
Con đường 5. Con Đường Cung. |
|
Path 6. The Path of the Solar Logos. |
Con đường 6. Con Đường của Thái dương Thượng đế. |
|
Path 7. The Path of Absolute Sonship.of consciousness. (back) |
Con đường 7. Con Đường của Tình Trạng Con Tuyệt Đối.of consciousness. (back) |
|
(4) Planetary Pralaya. Man, after these cyclic happenings, is now a conscious part of his group, and a vibrant point in a centre in the body of a Heavenly Man, consciously alive and consciously aware of his place in the great whole. This involves a realisation as to the centre of which he is a point of energy, a knowledge of the type of force he is to transmit, and to manipulate from cosmic levels, and a conscious relation with the six other centres in the planetary Life with which he is associated. |
(4) Pralaya Hành tinh. Sau những biến cố chu kỳ này, con người giờ đây là một phần hữu thức của nhóm mình, và là một điểm rung động trong một trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, sống một cách hữu thức và nhận biết một cách hữu thức vị trí của mình trong đại toàn thể. Điều này bao hàm một sự chứng nghiệm về trung tâm mà y là một điểm năng lượng trong đó, một tri thức về loại mãnh lực mà y phải truyền dẫn và vận dụng từ các cấp độ vũ trụ, và một mối liên hệ hữu thức với sáu trung tâm khác trong Sự sống Hành tinh mà y có liên hệ. |
|
This period of conscious activity in etheric substance (of which the planetary body is formed) persists according to the karma of the planetary Lord, for the unit is now consciously associated with planetary karma, and is a participant in the working out of the will and purpose of the Lord of His Ray. On the higher planes of the system, this stage persists for the length of the life of a scheme; to which a period of pralaya succeeds that has its beginning towards the end of the seventh round in any scheme or of the fifth if the Law of Persistence of a scheme is working out through cycles of five. I am [Page 740] here generalising and speaking in broad terms; the karma of the units differ and a man—according to the path he chooses after the fifth initiation—stays and works within his own scheme, but changes may occur through the following factors: |
Giai đoạn hoạt động hữu thức này trong chất liệu dĩ thái (mà thể hành tinh được tạo thành từ đó) kéo dài tùy theo nghiệp quả của Chúa Tể hành tinh, vì đơn vị giờ đây được liên kết một cách hữu thức với nghiệp quả hành tinh, và là một người tham dự vào việc triển khai ý chí và mục đích của Chúa Tể của Cung của Ngài. Trên các cõi cao hơn của hệ thống, giai đoạn này kéo dài suốt thời gian sống của một hệ hành tinh; tiếp theo đó là một giai đoạn pralaya bắt đầu vào gần cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy trong bất kỳ hệ hành tinh nào hoặc cuộc tuần hoàn thứ năm nếu Định luật về Sự Bền Vững của một hệ hành tinh đang được triển khai qua các chu kỳ năm. Tôi đang [Page 740] khái quát hóa ở đây và nói theo những nét lớn; nghiệp quả của các đơn vị khác nhau và một người—tùy theo con đường y chọn sau lần điểm đạo thứ năm—ở lại và làm việc trong hệ hành tinh riêng của mình, nhưng những thay đổi có thể xảy ra do các yếu tố sau: |
|
a. Planetary karma. |
a. Nghiệp quả hành tinh. |
|
b. The will of the Lord of his Ray. |
b. Ý chí của Chúa Tể của cung của y. |
|
c. Orders emanating from the solar Logos which are conveyed to him after liberation via the planetary Logos and through the medium of the chohan of his Ray. |
c. Các mệnh lệnh phát ra từ Thái dương Thượng đế được chuyển đến y sau khi giải thoát qua Hành Tinh Thượng đế và qua trung gian của vị chohan của cung của y. |
|
Khi đó y được “rút ra” theo một định luật hành tinh huyền nhiệm chỉ hoạt động trên các cấp dĩ thái vũ trụ, và được chuyển đến đích của mình. Nếu chúng ta diễn giải tất cả những điều trên theo thuật ngữ năng lượng và phóng xạ, nhờ đó tránh được những nguy cơ của lối diễn giải duy vật, thì ý nghĩa sẽ trở nên rõ ràng hơn. |
|
|
(5) The Great Pralaya. This interval comes at the close of every one hundred years of Brahma, and sweeps into dissolution forms of every kind—subtle and dense—throughout the entire system. It is a period analogous to that dealt with when we considered the abstraction of man from his etheric vehicle, and his ability then to function on the astral plane, dissociated from his dual physical form. Within the system a process similar to that undergone when man withdraws the etheric body out of the dense physical vehicle, will be seen towards the close of the mahamanvantara. It will cover the period wherein the lesser four Rays merge and blend, seeking duality, and their polar opposites. Eventually the four become two, the two become one, and all are then synthesised into the third major Ray. The time is not yet, but lies countless aeons ahead. It is the first appearance of the destroyer aspect in connection with the planetary schemes, and marks the beginning of the [Page 741] time when the “Heavens will melt with fervent heat,” and the Sun becomes seven suns. (See S. D., II, 746, 747.II, 345.) |
(5) Đại Pralaya. Khoảng gián đoạn này đến vào lúc kết thúc mỗi một trăm năm của Brahma, và cuốn mọi hình tướng—vi tế và đậm đặc—trong toàn bộ hệ thống vào sự tan rã. Đây là một giai đoạn tương tự với giai đoạn đã được bàn đến khi chúng ta xem xét việc rút con người ra khỏi vận cụ dĩ thái của y, và khả năng khi đó của y hoạt động trên cõi cảm dục, tách rời khỏi hình thể hồng trần nhị phân của mình. Trong hệ thống, một tiến trình tương tự như tiến trình diễn ra khi con người rút thể dĩ thái ra khỏi vận cụ hồng trần đậm đặc sẽ được thấy vào gần cuối Đại giai kỳ sinh hóa. Nó sẽ bao trùm giai đoạn trong đó bốn Cung nhỏ hơn hòa nhập và dung hợp, tìm kiếm nhị nguyên tính, và các cực đối nghịch của chúng. Cuối cùng bốn trở thành hai, hai trở thành một, và tất cả khi đó được tổng hợp vào Cung lớn thứ ba. Thời điểm ấy chưa đến, mà còn ở phía trước vô số đại kiếp. Đây là lần xuất hiện đầu tiên của phương diện hủy diệt liên quan đến các hệ hành tinh, và đánh dấu sự khởi đầu của [Page 741] thời kỳ khi “các tầng trời sẽ tan chảy trong sức nóng dữ dội,” và Mặt Trời trở thành bảy mặt trời. (Xem S. D., II, 746, 747.II, 345.) |
|
The microcosmic correspondence can be seen in the following process. The physical permanent atom absorbs the entire life force of the physical body, and its inherent heat and light is thereby increased until at the fourth initiation the seven spirillae are fully vitalised, and vibrant. The internal heat of the atom, plus the external heat of the egoic body wherein it has its place, produces then that which destroys the permanent atom. Temporarily, and just prior to destruction, it becomes a tiny sevenfold sun owing to the radiation and activity of the spirillae. So with the physical sun of the system; it will in a similar manner become seven suns, when it has absorbed the life essence of the fully evolved planes, and of the planetary schemes thereon. The ensuing conflagration is the final work of the Destroyer aspect. It marks the moment of the highest development of deva substance in the system, the consummation of the work of Agni and his fire angels, and the initiation of Brahma. Atomic substance will then individualise (which, as we know, is the goal for the atom) and after the great pralaya the next solar system will start with the threefold Spirit manifesting through substance which is essentially distinguished by active intelligent love. This is necessarily incomprehensible to our fourth round minds. |
Sự tương ứng vi mô có thể được thấy trong tiến trình sau đây. Nguyên tử trường tồn hồng trần hấp thu toàn bộ sinh lực của thể xác, và nhiệt cùng ánh sáng cố hữu của nó nhờ đó gia tăng cho đến khi ở lần điểm đạo thứ tư, bảy loa tuyến được tiếp sinh lực đầy đủ và rung động. Khi đó, nhiệt nội tại của nguyên tử cộng với nhiệt bên ngoài của thể chân ngã nơi nó có vị trí của mình tạo ra điều hủy diệt nguyên tử trường tồn. Tạm thời, và ngay trước khi bị hủy diệt, nó trở thành một mặt trời thất phân tí hon do sự bức xạ và hoạt động của các loa tuyến. Với mặt trời hồng trần của hệ thống cũng vậy; theo cách tương tự, nó sẽ trở thành bảy mặt trời khi nó đã hấp thu tinh túy sự sống của các cõi đã tiến hóa đầy đủ và của các hệ hành tinh trên đó. Sự bùng cháy tiếp theo là công việc cuối cùng của phương diện Hủy Diệt. Nó đánh dấu khoảnh khắc phát triển cao nhất của chất liệu thiên thần trong hệ thống, sự hoàn tất công việc của Agni và các thiên thần lửa của ngài, và sự điểm đạo của Brahma. Khi đó chất liệu nguyên tử sẽ biệt ngã hóa (điều mà, như chúng ta biết, là mục tiêu của nguyên tử) và sau đại pralaya, hệ mặt trời kế tiếp sẽ bắt đầu với Tinh thần tam phân biểu lộ qua chất liệu vốn được phân biệt chủ yếu bởi tình thương trí tuệ năng động. Điều này tất yếu là không thể hiểu nổi đối với trí tuệ cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta. |
|
We have thus considered the various types of pralaya, in so far as they affect the human unit; each unit finds its ways eventually into one of the cosmic astral centres of the particular cosmic Entity Who is the Lord of his Ray, and therefore at the great pralaya those human units who have achieved, and who have not passed to other distant cosmic centres, will find their place there. |
Như vậy, chúng ta đã xem xét các loại pralaya khác nhau trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến đơn vị con người; cuối cùng mỗi đơn vị đều tìm được đường đi vào một trong các trung tâm cảm dục vũ trụ của Thực Thể vũ trụ đặc thù là Chúa Tể của cung của y, và vì vậy vào đại pralaya, những đơn vị con người đã thành tựu, và chưa đi đến các trung tâm vũ trụ xa xôi khác, sẽ tìm được vị trí của mình ở đó. |
|
Before we take up planetary and cosmic pralaya, we might here consider the relationship of the Agnishvattas [Page 742] (who caused the individualisation of animal man on this planet), to other and previous cycles of evolution, and why we have only dealt with them from the point of view of a mahamanvantara, and of a kalpa. The reason we have not considered specifically the group of Agnishvattas, Kumaras and Rudras connected with the Earth has been because we have handled the entire subject from the planetary standpoint, and not from that of the human family. The student who seeks detailed information as to the Agnishvattas of the Earth chain has but to study the Secret Doctrine. We have attempted to carry the thought of the student beyond his own tiny sphere to the consideration of the work of the Manasadevas in the solar system. In every scheme They have Their place, but in some—as in the Jupiter scheme—They are just beginning Their work, and in others—as in the Vulcan and Venus schemes—Their work is nearly completed. Venus is in her last round, and has nearly developed her fourth kingdom to perfection, or as much as it is possible in the system. In the Earth scheme, They are in full tide of work, and only in the next round will They demonstrate the height of Their activity. They pass cyclically through the schemes and under Law—the Law of Karma for the planetary Logos, for They are essentially concerned with His Life as it actuates His centres. They come into a scheme on a wave of manasic energy from the head centre of the Logos, and in the process of passing through his Heart centre three things occur: |
Trước khi bàn đến pralaya hành tinh và vũ trụ, ở đây chúng ta có thể xem xét mối liên hệ của các Agnishvatta [Page 742] (những Đấng đã gây ra sự biệt ngã hóa của người thú trên hành tinh này), với các chu kỳ tiến hóa khác và trước đó, và lý do tại sao chúng ta chỉ bàn về Các Ngài từ quan điểm của một Đại giai kỳ sinh hóa và của một kalpa. Lý do chúng ta không xem xét riêng nhóm Agnishvatta, các Kumara và các Rudra liên hệ với Trái Đất là vì chúng ta đã xử lý toàn bộ chủ đề từ quan điểm hành tinh, chứ không phải từ quan điểm của gia đình nhân loại. Đạo sinh tìm kiếm thông tin chi tiết về các Agnishvatta của Dãy Địa Cầu chỉ cần nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng ta đã cố gắng đưa tư tưởng của đạo sinh vượt ra ngoài khối cầu nhỏ bé của chính y để xem xét công việc của các Manasadeva trong hệ mặt trời. Trong mọi hệ hành tinh, Các Ngài đều có vị trí của mình, nhưng trong một số hệ—như hệ Sao Mộc—Các Ngài chỉ mới bắt đầu công việc của mình, còn trong những hệ khác—như các hệ Vulcan và Sao Kim—công việc của Các Ngài gần như đã hoàn tất. Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn cuối cùng của nó, và gần như đã phát triển giới thứ tư của nó đến mức hoàn hảo, hay đến mức có thể trong hệ thống. Trong hệ Địa Cầu, Các Ngài đang ở giữa làn sóng công việc trọn vẹn, và chỉ trong cuộc tuần hoàn kế tiếp Các Ngài mới biểu lộ đỉnh cao hoạt động của mình. Các Ngài đi qua các hệ hành tinh theo chu kỳ và dưới Định luật—Định luật Nghiệp quả đối với Hành Tinh Thượng đế, vì Các Ngài chủ yếu liên quan đến Sự sống của Ngài khi nó làm sinh động các trung tâm của Ngài. Các Ngài đi vào một hệ hành tinh trên một làn sóng năng lượng manas từ trung tâm đầu của Thượng đế, và trong tiến trình đi qua trung tâm Tim của ngài, ba điều xảy ra: |
|
1. They become differentiated into seven groups. |
1. Các Ngài trở nên được biến phân thành bảy nhóm. |
|
2. They direct Themselves as streams of energy to some particular scheme. |
2. Các Ngài tự hướng mình như những dòng năng lượng đến một hệ hành tinh đặc thù nào đó. |
|
3. Their contact with a scheme is that which produces the manifestation of the fourth Creative Hierarchy, and leads to the Monads taking form in the three worlds. |
3. Sự tiếp xúc của Các Ngài với một hệ hành tinh là điều tạo ra sự biểu lộ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và dẫn đến việc các Chân thần mang hình tướng trong ba cõi giới. |
|
[Page 743] These entities who sacrifice Themselves for the human Hierarchy (and we must note here the accuracy of the fact that They emanate from the logoic head centre, or from the will aspect), are the true Saviours who give Their lives for the good of the race. They stand in relation to the totality of the schemes as the Occult Hierarchy of any particular planet stands to men upon that planet. During pralaya They are withdrawn (as all else), from manifestation, and return to a cosmic centre of which the logoic head centre is but a dim reflection; they return the richer for experience. |
[Page 743] Những thực thể này, những Đấng hy sinh chính mình cho Thánh Đoàn nhân loại (và ở đây chúng ta phải lưu ý tính chính xác của sự kiện rằng Các Ngài phát xuất từ trung tâm đầu logoic, hay từ phương diện ý chí), là những Đấng Cứu Rỗi chân chính hiến dâng sự sống của mình vì lợi ích của nhân loại. Các Ngài đứng trong mối liên hệ với toàn thể các hệ hành tinh như Thánh Đoàn Huyền bí của bất kỳ hành tinh đặc thù nào đứng trong mối liên hệ với con người trên hành tinh ấy. Trong pralaya, Các Ngài được rút khỏi biểu lộ (như mọi thứ khác), và trở về một trung tâm vũ trụ mà trung tâm đầu logoic chỉ là một phản ánh mờ nhạt; Các Ngài trở về phong phú hơn nhờ kinh nghiệm. |
|
The old Commentary says: |
Cổ Luận nói: |
|
“Thiên thần tỏa sáng với ánh sáng gia tăng khi đức tính của ý chí đã đi vào. Y thu hoạch màu sắc như người gặt thu hoạch lúa mì, và tích trữ nó để nuôi dưỡng số đông. Trên toàn bộ đạo binh thiên thần này, Con Dê thần bí ngự trị. Makara là, và không là, tuy nhiên mối liên kết vẫn tồn tại.” |
|
|
Rounds come and go but (except from the standpoint of a particular planet), the Manasadevas are forever present, but their influence is not forever felt. |
Các cuộc tuần hoàn đến rồi đi nhưng (ngoại trừ theo quan điểm của một hành tinh đặc thù), các Manasadeva luôn luôn hiện diện, nhưng ảnh hưởng của Các Ngài không phải lúc nào cũng được cảm nhận. |
|
In considering planetary pralaya we might briefly enumerate the following periods of quiescence: |
Khi xem xét pralaya hành tinh, chúng ta có thể ngắn gọn liệt kê các giai đoạn tĩnh lặng sau đây: |
|
Between Two Globes in a Chain. This covers the period of abstraction of the seeds of all life, and its transference from one sphere to another. The seed manu of a globe gathers all the life forces into Himself, as does the Logos at the close of a system, and as also transpires at the close of a chain, and holds them quiescent in His aura. This covers a period of a manvantara, or of one day of Brahma. |
Giữa Hai Bầu hành tinh trong một Dãy. Điều này bao trùm giai đoạn rút các hạt giống của mọi sự sống, và chuyển chúng từ khối cầu này sang khối cầu khác. Đức Manu hạt giống của một bầu hành tinh tập hợp mọi sinh lực vào trong chính Ngài, như Thượng đế làm vào lúc kết thúc một hệ thống, và cũng như điều xảy ra vào lúc kết thúc một dãy, và giữ chúng trong trạng thái tĩnh lặng trong hào quang của Ngài. Điều này bao trùm một giai đoạn của một giai kỳ sinh hóa, hay một ngày của Brahma. |
|
Between Two Chains. This covers the period of a mahamanvantara, or of one year of Brahma. |
Giữa Hai Dãy. Điều này bao trùm giai đoạn của một Đại giai kỳ sinh hóa, hay một năm của Brahma. |
|
There are many ways of arriving at the greater cycles, but there is no need to confuse with the intricacies of figures. The ten Prajapatis or Rishis, or [Page 744] the ten planetary Logoi, manifest through Their ten schemes in time and space, the hour of Their appearing differing. Each likewise manifests as does the Logos through a septenate and a triad, making again a ten of perfection. |
Có nhiều cách để đạt đến các chu kỳ lớn hơn, nhưng không cần làm rối trí bằng những phức tạp của các con số. Mười Prajapati hay Rishi, hay [Page 744] mười Hành Tinh Thượng đế, biểu lộ qua mười hệ hành tinh của Các Ngài trong thời gian và không gian, giờ xuất hiện của Các Ngài khác nhau. Mỗi Đấng cũng biểu lộ như Thượng đế qua một bộ bảy và một tam nguyên, lại tạo thành một số mười của sự hoàn hảo. |
|
Between Two Solar Systems. This covers the period of one hundred years of Brahma, and through the study of the planetary cycles comprehension of these greater cycles may come. Complication comes to the student nevertheless in the fact that two of the schemes cover their cyclic periods in five rounds, while others have seven; one scheme has but three rounds, but a mystery is hidden here: on the inner round one planet has nine cycles to run before the purpose of its Lord is completed. |
Giữa Hai Hệ Mặt Trời. Điều này bao trùm giai đoạn một trăm năm của Brahma, và qua việc nghiên cứu các chu kỳ hành tinh, sự thấu hiểu về các chu kỳ lớn hơn này có thể đến. Tuy nhiên, sự phức tạp đến với đạo sinh ở chỗ hai trong các hệ hành tinh hoàn tất các giai đoạn chu kỳ của chúng trong năm cuộc tuần hoàn, trong khi những hệ khác có bảy; một hệ hành tinh chỉ có ba cuộc tuần hoàn, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu: trên cuộc tuần hoàn bên trong, một hành tinh có chín chu kỳ phải trải qua trước khi mục đích của Chúa Tể của nó được hoàn tất. |
|
Certain lesser periods of pralaya do not concern man at all, but concern the atom of matter as it is released from form of any kind in the subhuman kingdoms. Pralaya is the result of radioactivity carried to a conclusion. |
Một số giai đoạn pralaya nhỏ hơn hoàn toàn không liên quan đến con người, mà liên quan đến tnguyên tử vật chất khi nó được giải thoát khỏi hình tướng thuộc bất kỳ loại nào trong các giới dưới nhân loại. Pralaya là kết quả của phóng xạ được đưa đến chỗ hoàn tất. |
|
(c.) Types of Human Rebirth. In our study of the building of thought-forms and the agencies for their construction, we have considered: |
(c.) Các Loại Tái Sinh của Con Người. Trong nghiên cứu của chúng ta về việc xây dựng các Hình tư tưởng và các tác nhân cho sự kiến tạo của chúng, chúng ta đã xem xét: |
|
1. The deva substance out of which they are constructed. |
1. Chất liệu thiên thần mà từ đó chúng được kiến tạo. |
|
2. The energy which animates them and its source. |
2. Năng lượng làm sinh động chúng và nguồn gốc của nó. |
|
3. Their appearance in time and space, or their incarnation. |
3. Sắc tướng của chúng trong thời gian và không gian, hay sự nhập thể của chúng. |
|
4. Their disappearance or pralaya. |
4. Sự biến mất của chúng hay pralaya. |
|
5. The constructing entities who in a threefold manner produce these forms, utilising the process of: |
5. Các thực thể kiến tạo, những Đấng theo cách tam phân tạo ra các hình tướng này, sử dụng tiến trình: |
|
a. Meditation, which is ever the preliminary to construction. |
a. Tham thiền, vốn luôn là bước sơ khởi của sự kiến tạo. |
|
b. Dynamic force, or the positive energy which seizes upon its polar opposite (negative substance), and utilises it. [Page 745] |
b. Mãnh lực năng động, hay năng lượng dương tính nắm lấy cực đối nghịch của nó (chất liệu âm tính), và sử dụng nó. [Page 745] |
|
c. The impartation of colour or quality, which moulds that which has been prepared. |
c. Sự truyền đạt màu sắc hay phẩm tính, điều nắn khuôn cái đã được chuẩn bị. |
|
d. A secondary vitalisation, which sets in separate motion the thought-form thus created. |
d. Một sự tiếp sinh lực thứ cấp, điều làm cho Hình tư tưởng được tạo ra như thế bắt đầu vận động riêng biệt. |
|
We will now consider the mystery of rebirth, or the incarnation of those lives which exist in subtler matter, and yet which seek form according to law, and touch upon their specific intent on dense physical levels. We can consider this in connection with the cosmic entities who seek existence on the physical plane of the cosmos, our solar systemic planes, or the reincarnating jivas who are driven by the Law towards earthly manifestation in order to become fully conscious, and acquire (by means of sentient existence), added faculty and power. |
Giờ đây chúng ta sẽ xem xét huyền nhiệm của tái sinh, hay sự nhập thể của những sự sống tồn tại trong vật chất vi tế hơn, nhưng vẫn tìm kiếm hình tướng theo định luật, và chạm đến ý định đặc thù của chúng trên các cấp hồng trần đậm đặc. Chúng ta có thể xem xét điều này liên hệ với các thực thể vũ trụ tìm kiếm sự tồn tại trên cõi hồng trần của vũ trụ, các cõi của hệ mặt trời chúng ta, hay các jiva tái sinh bị Định luật thúc đẩy hướng đến biểu lộ trần thế để trở nên hoàn toàn hữu thức, và đạt được (bằng phương tiện tồn tại có tri giác) năng lực và quyền năng gia tăng. |
|
H. P. B. has said that rebirths may be divided into three classes: (S.D., III, 364, 365, 367.45.) |
H. P. B. đã nói rằng các lần tái sinh có thể được chia thành ba loại: (S.D., III, 364, 365, 367.45.) |
|
a. Those of Avatars. |
a. Những lần tái sinh của các Đấng Hoá Thân. |
|
b. Those of Adepts. |
b. Những lần tái sinh của các chân sư. |
|
c. Those of jivas seeking development. |
c. Những lần tái sinh của các jiva tìm kiếm sự phát triển. |
|
To those who are endeavouring to grasp somewhat the mystery of rebirth and its laws and purpose, and who are confused when considering the mystery of the Buddha, and the secret purpose of that mysterious Entity, the Silent Watcher; to those who find the problem of understanding the position of the Kumaras and Their relation to the planetary Logos almost an insuperable one, it might be wise to say: Study and meditate upon the difference existing between the lower principles and the higher three; study and meditate upon the place and position of these lower principles in the body of the planetary Logos and ponder upon the correspondence between: |
Đối với những ai đang cố gắng nắm bắt phần nào huyền nhiệm của tái sinh cùng các định luật và mục đích của nó, và đang bối rối khi xem xét huyền nhiệm của Đức Phật, và mục đích bí mật của Thực Thể huyền nhiệm ấy, Đấng Quan Sát Thầm Lặng; đối với những ai thấy vấn đề thấu hiểu vị trí của các Kumara và mối liên hệ của Các Ngài với Hành Tinh Thượng đế gần như không thể vượt qua, có lẽ nên nói rằng: Hãy nghiên cứu và tham thiền về sự khác biệt hiện hữu giữa các nguyên khí thấp và ba nguyên khí cao; hãy nghiên cứu và tham thiền về chỗ đứng và vị trí của các nguyên khí thấp này trong thể của Hành Tinh Thượng đế và suy ngẫm về sự tương ứng giữa: |
|
a. The devachan of the reincarnating jiva. |
a. Devachan của jiva tái sinh. |
|
b. The nirvana of the Adept. [Page 746] |
b. Niết Bàn của chân sư. [Page 746] |
|
c. The pralaya of a cosmic Entity, such as the Lord of a chain, the Lord of a scheme, and the Lord of a Ray. |
c. Pralaya của một Thực Thể vũ trụ, như Chúa Tể của một dãy, Chúa Tể của một hệ hành tinh, và Chúa Tể của một cung. |
|
I say correspondence in its esoteric significance, and do not seek to infer analogy in detail, but only in purpose and in experience. It may be said of all three states that they are periods of development, long cycles of meditation, and interludes between stages of activity. Hence the emphasis laid in the East and in all occult schools of development upon meditation, for it is the means of bringing to the unit under development the capacity which will produce: |
Tôi nói sự tương ứng theo thâm nghĩa huyền bí của nó, và không tìm cách suy ra sự tương đồng trong chi tiết, mà chỉ trong mục đích và trong kinh nghiệm. Có thể nói về cả ba trạng thái này rằng chúng là những giai đoạn phát triển, những chu kỳ dài của tham thiền, và những khoảng xen giữa các giai đoạn hoạt động. Vì thế mà ở phương Đông và trong mọi trường phái huyền bí học phát triển, tham thiền được nhấn mạnh, vì đó là phương tiện đem đến cho đơn vị đang phát triển năng lực sẽ tạo ra: |
|
a. Abstraction, or liberation from form. |
a. Sự rút ra, hay giải thoát khỏi hình tướng. |
|
b. Quyền năng sáng tạo. |
|
|
c. Direction of energy, through an act of the will. |
c. Sự định hướng năng lượng, qua một hành vi của ý chí. |
|
d. Future constructive activity. |
d. Hoạt động kiến tạo trong tương lai. |
|
By means of meditation, a man finds freedom from the delusion of the senses, and their vibratory lure; he finds his own positive centre of energy and becomes consciously able to use it; he becomes, therefore, aware of his real Self, functioning freely and consciously beyond the planes of sense; he enters into the plans of the greater Entity within Whose radiatory capacity he has a place; he can then consciously proceed to carry out those plans as he can grasp them at varying stages of realisation; and he becomes aware of essential unity. But when a man has thus freed himself from the objects of sense in the three worlds he again becomes aware of the need of further meditation, and it is this (to man in the three worlds), inconceivable form of meditation that engrosses the attention of the Adept, and which is undertaken by Him in two great stages, each preceding the two final Initiations, the sixth and the seventh. I refer not here only to Adepts who “make the sacrifice,” and choose rebirth for service on the planet, but to all adepts. Freedom to work on any Path must be gained by occult [Page 747] meditation; freedom to escape beyond the ring-pass-not is also thus attained, and likewise the curious state of quiescence which is achieved by Those Who have offered for service as the occult Hierarchy in the next round. In Them have to be stored the psychic seeds of knowledge which will be available in the fifth round; this necessitates for Them an attitude of receptivity to occurrences at the close of each root-race, when there is, on subtler levels, a gathering in of psychic force, and its storing with Those prepared for its reception. Their work is analogous to that of the Seed-Manu, Who Himself works through a septenate as do these storers of the psychic life-forces. |
Nhờ tham thiền, con người tìm được tự do khỏi ảo tưởng của các giác quan và sức quyến rũ rung động của chúng; y tìm được trung tâm năng lượng dương tính của riêng mình và trở nên có khả năng hữu thức sử dụng nó; vì vậy y nhận biết được Bản Ngã thực sự của mình, hoạt động tự do và hữu thức vượt ngoài các cõi của giác quan; y đi vào các kế hoạch của Thực Thể lớn hơn mà trong năng lực bức xạ của Đấng ấy y có một vị trí; khi đó y có thể hữu thức tiến hành thực hiện các kế hoạch ấy theo mức độ y có thể nắm bắt ở những giai đoạn chứng nghiệm khác nhau; và y nhận biết được sự hợp nhất cốt yếu. Nhưng khi con người đã tự giải thoát như thế khỏi các đối tượng của giác quan trong ba cõi giới, y lại nhận biết nhu cầu phải tham thiền thêm nữa, và chính hình thức tham thiền không thể nghĩ bàn này (đối với con người trong ba cõi giới) chiếm trọn sự chú ý của Chân sư, và được Ngài thực hiện trong hai giai đoạn lớn, mỗi giai đoạn đi trước hai Cuộc Điểm Đạo cuối cùng, thứ sáu và thứ bảy. Ở đây tôi không chỉ nói đến các chân sư “thực hiện sự hy sinh,” và chọn tái sinh để phụng sự trên hành tinh, mà nói đến mọi chân sư. Tự do để hoạt động trên bất kỳ Con đường nào phải được đạt tới bằng tham thiền huyền bí; [Page 747] tự do để thoát ra ngoài vòng-giới-hạn cũng được đạt tới như vậy, và cũng thế đối với trạng thái tĩnh lặng kỳ lạ mà Những Đấng đã hiến mình phụng sự như Thánh Đoàn huyền bí trong cuộc tuần hoàn kế tiếp đạt được. Trong Các Ngài phải được lưu giữ các hạt giống thông linh của tri thức sẽ sẵn có trong cuộc tuần hoàn thứ năm; điều này đòi hỏi nơi Các Ngài một thái độ tiếp nhận đối với các biến cố vào lúc kết thúc mỗi giống dân gốc, khi ở các cấp vi tế hơn có sự thu gom mãnh lực thông linh, và sự lưu trữ nó nơi Những Đấng đã chuẩn bị để tiếp nhận. Công việc của Các Ngài tương tự với công việc của Đức Manu Hạt Giống, chính Ngài cũng hoạt động qua một bộ bảy như những Đấng lưu giữ các sinh lực thông linh này. |
|
Một lần nữa, đối với những Thực Thể vũ trụ như các Hành Tinh Thượng đế, các giai đoạn tham thiền cũng diễn ra, nhưng chúng liên quan đến Các Ngài trên các cõi vũ trụ, và chỉ các hiệu quả mới được cảm nhận trên cõi này. Các Ngài tham thiền trong bộ não hồng trần của Các Ngài, và vì vậy trong chất liệu như con người, nhưng tiến trình được thực hiện trong bộ não dĩ thái. Điều này cần được suy ngẫm, vì nó giữ huyền nhiệm ẩn kín. Ngoài ra, sự kiện rằng một số Chúa Tể của các Cung này thành thạo trong tham thiền hơn những vị khác, và do đó đạt được những kết quả khác nhau được triển khai trong các hệ hành tinh của Các Ngài, cần được ghi nhớ cẩn thận. |
|
|
(d.) The Future Coming of the Avatar. |
(d.) Sự Giáng Lâm Trong Tương Lai của Đấng Hoá Thân. |
|
THE COMING AVATAR |
ĐẤNG HOÁ THÂN ĐANG ĐẾN |
|
“From the zenith to the nadir, from dawn to fall of night, from the emergence into being of all that is or may be to the passing into peace of all that hath achieved, gleameth the orb of blue and the inner radiant fire. |
“Từ thiên đỉnh đến thiên để, từ bình minh đến lúc đêm xuống, từ sự xuất hiện vào hiện hữu của tất cả những gì đang là hay có thể là đến sự đi vào an bình của tất cả những gì đã thành tựu, khối cầu xanh lam và ngọn lửa rực sáng bên trong lóe lên. |
|
From the gates of gold down to the pit of earth, out from the flaming fire down to the circle of gloom, rideth the secret Avatar, bearing the sword that pierceth. |
Từ những cổng vàng xuống đến vực đất, từ ngọn lửa bừng cháy xuống đến vòng tròn u tối, Đấng Hoá Thân bí mật cưỡi đến, mang theo thanh gươm xuyên thấu. |
|
Naught can arrest His approach, and none may say Him nay. To the darkness of our sphere He rideth alone, and on His approach is seen the uttermost disaster, and the chaos of that which seeketh to withstand. [Page 748] |
Không gì có thể ngăn cản sự tiếp cận của Ngài, và không ai có thể nói không với Ngài. Một mình Ngài cưỡi vào bóng tối của khối cầu chúng ta, và khi Ngài đến gần, người ta thấy tai họa tột cùng, và sự hỗn loạn của cái tìm cách chống lại. [Page 748] |
|
The Asuras veil their faces, and the pit of maya reeleth to the foundation. The stars of the eternal Lhas vibrate to that sound,—the WORD uttered with sevenfold intensity. |
Các Asura che mặt lại, và vực ảo lực chao đảo đến tận nền móng. Các vì sao của các Lha vĩnh cửu rung động trước âm thanh ấy,—LINH TỪ được thốt ra với cường độ thất phân. |
|
Greater the chaos becometh; the major centre with all the seven circulating spheres rock with the echoes of disintegration. The fumes of utter blackness mount upwards in dissipation. The noise discordant of the warring elements greets the oncoming One, and deters Him not. The strife and cries of the fourth great Hierarchy, blending with the softer note of the Builders of the fifth and sixth, meet His approach. Yet He passeth on His way, sweeping the circle of the spheres, and sounding forth the WORD. |
Sự hỗn loạn càng trở nên lớn hơn; trung tâm lớn cùng với tất cả bảy khối cầu tuần hoàn rung chuyển bởi những tiếng vọng của sự tan rã. Những làn khói của bóng đen tuyệt đối bốc lên trên trong sự tiêu tan. Âm thanh chói tai của các nguyên tố đang giao tranh chào đón Đấng Đang Đến, nhưng không ngăn được Ngài. Cuộc xung đột và tiếng kêu của Huyền Giai lớn thứ tư, hòa lẫn với âm điệu dịu hơn của các Đấng Kiến Tạo của huyền giai thứ năm và thứ sáu, gặp sự tiếp cận của Ngài. Tuy vậy Ngài vẫn tiếp tục trên đường của mình, quét qua vòng tròn các khối cầu, và xướng lên LINH TỪ. |
|
* * * * * * * |
* * * * * * * |
|
From the nadir to the zenith, from eve unto the Day be with us, from the circle of manifestation to the centre of pralayic peace, is seen the enveloping blue, lost in the flame of achievement. |
Từ thiên để đến thiên đỉnh, từ chiều tối cho đến Ngày ở cùng chúng ta, từ vòng tròn biểu lộ đến trung tâm của an bình pralaya, người ta thấy màu xanh bao bọc, mất hút trong ngọn lửa của thành tựu. |
|
Up from the pit of maya back to the portals of gold, forth from the gloom and darkness back to the splendour of day, rideth the Manifested One, the Avatar, bearing the shattered Cross. |
Từ vực ảo lực trở lại các cổng vàng, từ u tối và bóng đêm trở lại vẻ huy hoàng của ban ngày, Đấng Biểu Lộ, Đấng Hoá Thân, cưỡi lên, mang theo Thập Giá đã vỡ tan. |
|
Naught can arrest His return, none can impede His Path, for He passeth along the upper way, bearing His people with Him. Cometh the dissolution of pain, cometh the end of strife, cometh the merging of the spheres and the blending of the hierarchies. All then is re-absorbed within the orb, the circle of manifestation. The forms that exist in maya, and the flame that devoureth all, are garnered by the One Who rideth the Heavens and entereth into the timeless AEon.” |
Không gì có thể ngăn cản sự trở lại của Ngài, không ai có thể cản trở Con Đường của Ngài, vì Ngài đi theo thượng đạo, mang dân của Ngài theo cùng. Sự tan biến của đau khổ đến, sự chấm dứt của xung đột đến, sự hòa nhập của các khối cầu và sự dung hợp của các huyền giai đến. Khi đó tất cả đều được tái hấp thu vào trong khối cầu, vòng tròn biểu lộ. Các hình tướng tồn tại trong ảo lực, và ngọn lửa thiêu rụi mọi sự, được thu gom bởi Đấng cưỡi trên các tầng trời và đi vào AEon phi thời gian.” |
|
(FROM THE ARCHIVES OF THE LODGE.) |
(TỪ CÁC LƯU TRỮ CỦA THÁNH ĐOÀN.) |
|
We have touched upon the subject of Avatars and the various classes into which they might be divided. We might now enlarge somewhat more upon the methods. The methods whereby certain cosmic Existences and certain highly evolved Entities appear among men to do a specific work might be very inadequately, and cursorily summarised, as follows: |
Chúng ta đã chạm đến chủ đề về các Đấng Hoá Thân và các loại khác nhau mà các Ngài có thể được phân chia vào. Giờ đây chúng ta có thể khai triển thêm đôi chút về các phương pháp. Những phương pháp mà nhờ đó một số Hiện Hữu vũ trụ và một số Thực Thể tiến hóa cao xuất hiện giữa loài người để thực hiện một công việc đặc thù có thể được tóm lược rất không đầy đủ và sơ lược như sau: |
|
The method of overshadowing. |
Phương pháp phủ bóng. |
|
The method of embodying some principle. [Page 749] |
Phương pháp nhập thể một nguyên khí nào đó. [Page 749] |
|
The method seen in the mystery of the Bodhisattva, or the Christ. |
Phương pháp được thấy trong huyền nhiệm của Đức Bồ Tát, hay Đức Christ. |
|
The method of direct incarnation. |
Phương pháp nhập thể trực tiếp. |
|
The handicap of words is great, and the above phrases but convey a hint as to the true meaning. Therein lies safety for the student, for the real significance would be incomprehensible to him, and would but mislead him and guide him along the path of misunderstanding. Until a man is a pledged initiate, he cannot comprehend the matter. Of these, the most ordinary method is the first. All these methods of manifestation will perhaps be better understood by the student if he interprets them always in terms of force and energy, and if he notes that dim reflections of the same processes, and faint analogies can be traced among the reincarnating jivas. When a man has reached a certain development and can be of service to the world, cases occur when he is overshadowed by a great adept, or—as in the case of H. P. B.—by One greater than an adept. A chela can be a centre through which his master can pour His energy and force for the helping of the world, and in certain important crises men have been overshadowed by more than one of the Great Ones. (250) [Page 750] What occurs on lower planes is but a reflection of higher processes, and in this thought may lie illumination. A man is a force centre, either for his Ego, when sufficiently evolved, or, via his Ego, of his group force; when very highly developed he can consciously be overshadowed by an exponent of a different type of force, which blends with his group, or Ray, force, and produces significant results in his life on earth. |
Sự hạn chế của ngôn từ là rất lớn, và các cụm từ trên chỉ chuyển tải một gợi ý về ý nghĩa chân thực. Chính trong đó có sự an toàn cho đạo sinh, vì ý nghĩa thực sự sẽ không thể hiểu nổi đối với y, và chỉ làm cho y lạc hướng và dẫn y đi trên con đường hiểu lầm. Cho đến khi con người là một điểm đạo đồ đã tuyên thệ, y không thể hiểu được vấn đề này. Trong số các phương pháp ấy, phương pháp thông thường nhất là phương pháp thứ nhất. Có lẽ mọi phương pháp biểu lộ này sẽ được đạo sinh hiểu rõ hơn nếu y luôn diễn giải chúng theo thuật ngữ mãnh lực và năng lượng, và nếu y lưu ý rằng những phản ánh mờ nhạt của cùng các tiến trình ấy, và những sự tương đồng yếu ớt, có thể được truy ra nơi các jiva tái sinh. Khi con người đã đạt đến một mức phát triển nhất định và có thể phụng sự thế gian, sẽ có những trường hợp y được một chân sư vĩ đại phủ bóng, hoặc—như trong trường hợp của H. P. B.—được một Đấng còn cao hơn một chân sư phủ bóng. Một đệ tử có thể là một trung tâm mà qua đó chân sư của y có thể tuôn đổ năng lượng và mãnh lực của Ngài để trợ giúp thế gian, và trong một số khủng hoảng quan trọng, con người đã được hơn một trong Các Đấng Cao Cả phủ bóng. (250) [Page 750] Điều xảy ra trên các cõi thấp chỉ là một phản ánh của các tiến trình cao hơn, và trong tư tưởng này có thể có sự soi sáng. Con người là một trung tâm mãnh lực, hoặc cho chân ngã của mình, khi đã tiến hóa đầy đủ, hoặc, qua chân ngã của mình, cho mãnh lực nhóm của y; khi phát triển rất cao, y có thể được phủ bóng một cách hữu thức bởi một hiện thân của một loại mãnh lực khác, mãnh lực này hòa trộn với mãnh lực nhóm hay mãnh lực cung của y, và tạo ra những kết quả quan trọng trong đời sống của y trên trần thế. |
|
(250) Địa vị đệ tử hay địa vị chela.…Các huyền nhiệm cổ xưa chỉ là một trường học huấn luyện tinh thần và hoàn thiện trong minh triết chân chính; rằng điều kiện sơ bộ là sự thanh lọc trái tim khỏi mọi đam mê nhục dục và mọi định kiến sai lầm; rằng, trong khi bàn tay của Chân sư có thể dẫn dắt người sơ cơ vượt qua những hiểm nguy của giai đoạn mà, như trẻ thơ, y chưa thể tự đi một mình, thì trên các con đường cao hơn, y buộc phải học cách tự hướng dẫn và tự bảo vệ mình, như người trưởng thành phải làm trong đời sống bình thường; rằng mục tiêu tối hậu là sự mở rộng bản ngã vào hiện hữu và các tiềm năng vô hạn; và sau cùng, rằng dù các hình thức và nghi lễ ban đầu có thể khác nhau về bề ngoài thế nào đi nữa, thì một mục tiêu đồng nhất vẫn được nhắm đến.—The Theosophist, Tập IX, tr. 246. |
|
|
The pure heart and clean mind alone permit one to attain salvation. This was his doctrine. So, likewise, is it taught in the Aryan Mahabharata (Sec. CXCIX. Vana Parva) which says: “Those high souled persons that do not commit sins in word, deed, heart and soul, are said to undergo ascetic austerities, and not that they suffer their bodies to be wasted by fasts and penances. He that hath no feeling of kindness for relatives cannot be free from sin, even if his body be pure. That hard-heartedness of his is the enemy of his asceticism. Asceticism, again, is not mere abstinence from the pleasures of the world. He that is always pure and decked with virtues, he that practices kindness all his life, is a Muni, even though he lead a domestic life.”—The Theosophist, Vol. XIII, p. 259. (back) |
Chỉ trái tim thanh khiết và trí tuệ trong sạch mới cho phép con người đạt đến cứu rỗi. Đó là giáo lý của ông. Tương tự như vậy, điều ấy cũng được dạy trong Mahabharata Arya (Mục CXCIX. Vana Parva), nơi nói rằng: “Những người có tâm hồn cao cả không phạm tội bằng lời nói, hành động, trái tim và linh hồn, được nói là thực hành khổ hạnh tu trì, chứ không phải những người để thân thể mình hao mòn vì nhịn ăn và sám hối. Người không có lòng tử tế đối với thân quyến thì không thể thoát khỏi tội lỗi, dù thân thể ông có thanh sạch. Sự cứng lòng ấy là kẻ thù của sự khổ hạnh của ông. Hơn nữa, khổ hạnh không chỉ đơn thuần là kiêng các thú vui của thế gian. Người luôn thanh sạch và được trang sức bằng các đức hạnh, người thực hành lòng tử tế suốt đời mình, là một Muni, dù ông sống đời gia thất.”—The Theosophist, Tập XIII, tr. 259. (back) |
|
Again when an Ego is highly evolved he may choose during any particular incarnation to work paramountly through any one principle among the lower four; when this is the case the man’s life on earth is significantly that of an embodied principle. He seems to strike one note and to sound out one tone. His work is clearly to be seen along one line. He is a fanatic of high degree, but accomplishes big things for his subrace, even though the physical brain may not be consciously aware of the egoic impulse. This process has a curious relation to the obscuration, or fading out, of the personality, for the particular principle embodied works through a corresponding permanent atom, and its spirillae become over-rapidly developed, and hence their term of service wears to a close. This is a fact which is nevertheless taken advantage of when a superman, or great adept, becomes the embodiment (during a rootrace) of a principle; the vestures or sheaths of which the permanent atom is the nucleus (through the innate strength of the developed spirillae) are preserved by the aid of mantric formulas. The vibration is perpetuated for a specific length of time, and for as long as the vesture or sheath may be required. A hint is here conveyed which may be of service. |
Một lần nữa, khi một chân ngã đã tiến hóa cao, y có thể chọn trong bất kỳ lần nhập thể đặc thù nào làm việc chủ yếu qua bất kỳ một nguyên khí nào trong bốn nguyên khí thấp; khi điều này xảy ra, đời sống của con người trên trần thế mang ý nghĩa rõ rệt là đời sống của một nguyên khí nhập thể. Y dường như đánh lên một nốt và xướng ra một âm điệu. Công việc của y được thấy rõ ràng theo một đường lối. Y là một người cuồng tín ở cấp độ cao, nhưng hoàn thành những việc lớn lao cho giống dân phụ của mình, dù bộ não hồng trần có thể không nhận biết một cách hữu thức xung lực chân ngã. Tiến trình này có một mối liên hệ kỳ lạ với sự che mờ, hay phai tắt, của phàm ngã, vì nguyên khí đặc thù được nhập thể hoạt động qua một nguyên tử trường tồn tương ứng, và các loa tuyến của nó phát triển quá nhanh, do đó thời kỳ phụng sự của chúng đi đến chỗ kết thúc. Tuy nhiên, đây là một sự kiện được tận dụng khi một siêu nhân, hay một chân sư vĩ đại, trở thành hiện thân (trong một giống dân gốc) của một nguyên khí; các y phục hay các thể mà nguyên tử trường tồn là hạt nhân của chúng (nhờ sức mạnh bẩm sinh của các loa tuyến đã phát triển) được bảo tồn bằng sự trợ giúp của các công thức mantram. Sự rung động được duy trì trong một khoảng thời gian đặc thù, và lâu chừng nào y phục hay thể ấy còn cần thiết. Ở đây có một gợi ý có thể hữu ích. |
|
Again, when a man has become a disciple he may, if he so wish, remain upon the astral plane and work there, and—at his pleasure, and under the adjustment of karma by [Page 751] his Guru—he may take immediate physical birth. A hint as to the mystery of the Bodhisattva may be found in these two thoughts, provided the student transfers the whole concept to the etheric levels of the cosmic physical plane, and remembers that on these levels the adept works altogether as a part of a group, and not as a separated Identity, as does the ego in the three worlds. Therefore, the energy pouring through Him may be: |
Một lần nữa, khi con người đã trở thành một đệ tử, y có thể, nếu muốn, ở lại trên cõi cảm dục và làm việc tại đó, và—tùy ý mình, và dưới sự điều chỉnh của nghiệp quả bởi [Page 751] Guru của y—y có thể lập tức sinh ra về mặt hồng trần. Một gợi ý về huyền nhiệm của Đức Bồ Tát có thể được tìm thấy trong hai tư tưởng này, miễn là đạo sinh chuyển toàn bộ khái niệm lên các cấp dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, và nhớ rằng trên các cấp này chân sư hoàn toàn hoạt động như một phần của một nhóm, chứ không phải như một Bản Sắc Cô Lập tách biệt, như chân ngã hoạt động trong ba cõi giới. Vì vậy, năng lượng tuôn qua Ngài có thể là: |
|
a. That of a particular centre in the body of the planetary Logos in its total force. |
a. Năng lượng của một trung tâm đặc thù trong thể của Hành Tinh Thượng đế trong toàn bộ mãnh lực của nó. |
|
b. That of a particular set of vibrations within that centre, or a part of its vibratory force. |
b. Năng lượng của một tập hợp rung động đặc thù trong trung tâm ấy, hay một phần của mãnh lực rung động của nó. |
|
c. That of the energy of a particular principle, either one of His own higher principles which He is seeking to bring to bear upon the earth, by taking incarnation for that specific purpose, or the energy of one of the planetary logoic principles, as it pours through Him via a particular spirilla or life current in the permanent atom of the planetary Logos. |
c. Năng lượng của một nguyên khí đặc thù, hoặc là một trong các nguyên khí cao của chính Ngài mà Ngài đang tìm cách đem tác động lên trái đất bằng cách nhập thể vì mục đích đặc thù ấy, hoặc là năng lượng của một trong các nguyên khí logoic hành tinh, khi nó tuôn qua Ngài qua một loa tuyến đặc thù hay dòng sự sống trong nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng đế. |
|
When these types of force are centralised in any particular adept, and He is expressing simply that extraneous force and nothing else, the effect is shown on the physical plane in the appearance of an avatar. An avatar is, but an adept is made, but frequently the force, energy, purpose or will of a cosmic Entity will utilise the vehicles of an adept in order to contact the physical planes. This method whereby cosmic Existences make Their power felt can be seen working out on all the planes of the cosmic physical plane. A striking instance of this can be seen in the case of the Kumaras, Who, under certain planetary forces, and through the formation of a systemic triangle, gave the impulse to the third kingdom which produced the fourth by bringing it into conjunction with the fifth. These Kumaras, Sanat Kumara and [Page 752] His three pupils, having achieved the highest initiation possible in the last great cycle, but having as yet (from Their standpoint) another step to take, offered Themselves to the planetary Logos of Their Ray as “focal points” for His force, so that thereby He might hasten and perfect His plans on Earth within the cycle of manifestation. They have demonstrated three out of the four methods. They are overshadowed by the planetary Logos, and He works directly as the Initiator (in relation to man) through Sanat Kumara, and with the three kingdoms in nature through the three Buddhas of Activity,—Sanat Kumara, being thus concerned directly with the ego on the mental plane, and His three Pupils being concerned with the other three types of consciousness, of which man is the summation. At the moment of initiation (after the second Initiation) Sanat Kumara becomes the direct mouthpiece and agent of the Planetary Logos. That great Entity speaks through Him and for one brief second (if one can use such a term in connection with a plane whereon time, as we understand it, is not) the planetary Logos of a man’s Ray consciously—via His etheric brain—turns His thought upon the Initiate, and “calls him by His Name.” |
Khi các loại mãnh lực này được tập trung trong một chân sư nào đó, và Ngài chỉ đơn thuần biểu lộ mãnh lực ngoại lai ấy mà không biểu lộ gì khác, thì hiệu quả được cho thấy trên cõi hồng trần qua sự xuất hiện của một Đấng Hoá Thân. Một Đấng Hoá Thân là như vậy, còn một chân sư thì được tạo thành, nhưng thường thì mãnh lực, năng lượng, mục đích hay ý chí của một Thực Thể vũ trụ sẽ sử dụng các vận cụ của một chân sư để tiếp xúc với các cõi hồng trần. Phương pháp này, nhờ đó các Đấng Tồn Tại vũ trụ làm cho quyền năng của Các Ngài được cảm nhận, có thể thấy đang vận hành trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ. Một thí dụ nổi bật về điều này có thể thấy trong trường hợp các Kumara, các Ngài, dưới những mãnh lực hành tinh nhất định, và thông qua sự hình thành một tam giác hệ thống, đã tạo ra xung lực cho giới thứ ba, giới này đã sản sinh ra giới thứ tư bằng cách đưa nó vào sự tiếp xúc đồng thời với giới thứ năm. Các Kumara này, Đức Sanat Kumara và [Page 752] ba đệ tử của Ngài, sau khi đã đạt được cuộc điểm đạo cao nhất có thể có trong đại chu kỳ trước, nhưng vẫn còn (theo quan điểm của Các Ngài) một bước nữa phải đi, đã tự hiến mình cho Hành Tinh Thượng đế của cung của Các Ngài như những “tiêu điểm” cho mãnh lực của Ngài, để nhờ đó Ngài có thể xúc tiến và hoàn thiện các kế hoạch của Ngài trên Trái Đất trong chu kỳ biểu hiện. Các Ngài đã minh chứng ba trong bốn phương pháp. Các Ngài được phủ bóng bởi Hành Tinh Thượng đế, và Ngài trực tiếp hoạt động như Đấng Điểm đạo (liên hệ với con người) thông qua Đức Sanat Kumara, và với ba giới trong thiên nhiên thông qua ba Đức Phật Hoạt Động,—Đức Sanat Kumara, do đó, trực tiếp liên hệ với chân ngã trên cõi trí, còn ba Đệ tử của Ngài thì liên hệ với ba loại tâm thức kia, mà con người là tổng hợp của chúng. Vào lúc điểm đạo (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Sanat Kumara trở thành phát ngôn viên và tác nhân trực tiếp của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Thực Thể vĩ đại ấy nói qua Ngài và trong một giây ngắn ngủi (nếu có thể dùng một thuật ngữ như thế liên hệ với một cõi mà thời gian, như chúng ta hiểu, không hiện hữu) Hành Tinh Thượng đế của cung của một người một cách hữu thức—qua bộ não dĩ thái của Ngài—hướng tư tưởng của Ngài vào điểm đạo đồ, và “gọi y bằng Danh của Ngài.” |
|
Again the Kumaras are embodied principles, but in this connection we must remember that this means that the force and energy of one of the principles of the Logos are pouring through Them via that which—to Them—corresponds to the Monad. Through Them, during Their period of incarnation and voluntary sacrifice, the great Prototype of the planetary Logos begins to make His Presence felt, and force from the constellation of the Great Bear faintly vibrates on earth. At initiation, man becomes aware consciously of the Presence of the planetary Logos through self-induced contact with his own divine Spirit. At the fifth Initiation he becomes aware of the full extent of this planetary group influence, and [Page 753] of his part in the great whole. At the sixth and seventh Initiations the influence of the planetary Prototype is sensed, reaching him via the planetary Logos working through the Initiator. |
Một lần nữa, các Kumara là những nguyên khí nhập thể, nhưng trong mối liên hệ này chúng ta phải nhớ rằng điều đó có nghĩa là mãnh lực và năng lượng của một trong các nguyên khí của Thượng đế đang tuôn đổ qua Các Ngài thông qua điều mà—đối với Các Ngài—tương ứng với chân thần. Qua Các Ngài, trong thời kỳ lâm phàm và hi sinh tự nguyện của Các Ngài, Nguyên Mẫu vĩ đại của Hành Tinh Thượng đế bắt đầu làm cho Hiện Diện của Ngài được cảm nhận, và mãnh lực từ chòm sao Đại Hùng Tinh rung động mờ nhạt trên địa cầu. Khi điểm đạo, con người trở nên hữu thức nhận biết Hiện Diện của Hành Tinh Thượng đế qua sự tiếp xúc do chính mình tạo ra với Tinh thần thiêng liêng của mình. Ở lần điểm đạo thứ năm y nhận biết được toàn bộ phạm vi của ảnh hưởng nhóm hành tinh này, và [Page 753] phần của y trong đại toàn thể. Ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, ảnh hưởng của Nguyên Mẫu hành tinh được cảm nhận, đến với y qua Hành Tinh Thượng đế đang hoạt động thông qua Đấng Điểm đạo. |
|
The method of direct incarnation was earlier seen when the Kumaras were in physical form. This only applied to some of Them; Sanat Kumara and His Pupils are in physical form, but have not taken dense physical bodies. They work on the vital etheric levels, and dwell in etheric bodies. Shamballa, where They dexists in physical matter as do the Kumaras, but it is matter of the higher ethers of the physical plane, and only when man has developed etheric vision will the mystery lying beyond the Himalayas be revealed. Therefore, Sanat Kumara is the planetary logos yet He is not. A reflection of this method of direct incarnation can be seen when a disciple steps out of his body and permits his Guru, or a more advanced chela, to use it. |
Phương pháp của sự nhập thể trực tiếp đã được thấy trước đây khi các Kumara ở trong hình tướng hồng trần. Điều này chỉ áp dụng cho một số vị trong Các Ngài; Đức Sanat Kumara và các Đệ tử của Ngài ở trong hình tướng hồng trần, nhưng không mang thể xác đậm đặc. Các Ngài hoạt động trên các cấp dĩ thái sinh lực, và cư ngụ trong các thể dĩ thái. Shamballa, nơi Các Ngài tồn tại trong vật chất hồng trần như các Kumara, nhưng đó là vật chất của các dĩ thái cao của cõi hồng trần, và chỉ khi nào con người đã phát triển linh thị dĩ thái thì huyền nhiệm nằm bên kia dãy Himalaya mới được mặc khải. Vì vậy, Đức Sanat Kumara là Hành Tinh Thượng đế nhưng Ngài lại không phải là như thế. Một phản ánh của phương pháp nhập thể trực tiếp này có thể thấy khi một đệ tử bước ra khỏi thể của mình và cho phép Guru của y, hay một đệ tử tiến bộ hơn, sử dụng nó. |
|
The mystery of the Bodhisattvas (S. D., I, 82, 83.) has been touched upon by H. P. B. and until students have assimilated and studied what she has said, there is no more to add. Apprehension of truth is ever the factor that calls for fresh revelation. |
Huyền nhiệm của các Đức Bồ Tát (S. D., I, 82, 83.) đã được H. P. B. đề cập đến, và cho đến khi các đạo sinh đồng hoá và nghiên cứu điều bà đã nói, thì không còn gì để thêm vào. Sự lĩnh hội chân lý luôn luôn là yếu tố đòi hỏi sự mặc khải mới. |
|
A very interesting period will come about the year 1966 and persist to the end of the century. It is one for which the Great Ones are already making due preparation. It concerns a centennial effort of the Lodge and of the Personages taking part therein. Each century sees a centennial effort of the Lodge along a particular line of force made to forward the ends of evolution, and the effort for the twentieth century will be upon a larger scale than has been the case for a very long time, and will involve a number of Great Ones. In a similar effort during the nineteenth century, H. P. B. was concerned, and a fairly large number of chelas. In the effort immediately ahead, [Page 754] several of the Great Ones are concerned and the Master of the Masters Himself; in Their “forthcoming” for work three out of the various methods of appearing mentioned earlier will be seen in full activity, and it is on these three that we might now touch. |
Một giai đoạn rất lý thú sẽ đến vào khoảng năm 1966 và kéo dài đến cuối thế kỷ. Đó là một giai đoạn mà Các Đấng Cao Cả hiện đã chuẩn bị thích đáng. Nó liên quan đến một nỗ lực bách niên của Thánh đoàn và của các Đấng tham dự trong đó. Mỗi thế kỷ đều chứng kiến một nỗ lực bách niên của Thánh đoàn theo một đường mãnh lực đặc biệt nhằm thúc đẩy các mục tiêu của tiến hoá, và nỗ lực của thế kỷ hai mươi sẽ ở trên một quy mô lớn hơn nhiều so với trường hợp đã xảy ra trong một thời gian rất dài, và sẽ liên quan đến một số Đấng Cao Cả. Trong một nỗ lực tương tự trong thế kỷ mười chín, H. P. B. có tham dự, cùng với một số khá đông các đệ tử. Trong nỗ lực sắp tới ngay trước mắt, [Page 754] một số Đấng Cao Cả có tham dự và chính Chân sư của các Chân sư; trong sự “xuất hiện” của Các Ngài để làm việc, ba trong các phương pháp xuất hiện khác nhau đã được nhắc đến trước đây sẽ được thấy hoạt động trọn vẹn, và giờ đây chúng ta có thể đề cập đến ba phương pháp ấy. |
|
In the appearing of the Bodhisattva Himself, the mystery of the Bodhisattva will be seen in its fullest sense, and it is not for us here to enlarge upon it. Suffice it to say that the vestures of the GREAT ONE will be used, but time will show whether the coming Lord will clothe upon those vestures a physical vehicle at this particular juncture, or whether the astral plane may not be the field of His activity. If the student ponders upon the consequences entailed in the appropriation of this vesture, much light upon probable happenings will be thrown. The vestures act in a dual capacity: |
Trong sự xuất hiện của chính Đức Bồ Tát, huyền nhiệm của Đức Bồ Tát sẽ được thấy theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó, và ở đây chúng ta không nên khai triển thêm. Chỉ cần nói rằng các y bát của ĐẤNG CAO CẢ sẽ được sử dụng, nhưng thời gian sẽ cho thấy liệu Đức Chúa Tể sắp đến có khoác lên các y bát ấy một vận cụ hồng trần vào đúng thời điểm này hay không, hoặc liệu cõi cảm dục có thể là lĩnh vực hoạt động của Ngài hay không. Nếu đạo sinh suy ngẫm về những hệ quả bao hàm trong việc sử dụng y bát này, thì nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào những biến cố có thể xảy ra. Các y bát hoạt động trong một năng lực kép: |
|
a. They are very highly magnetised, and therefore have a profound and far-reaching effect when utilised. |
a. Chúng được từ hóa rất cao, và do đó có một hiệu quả sâu xa và rộng lớn khi được sử dụng. |
|
b. They act as a focal point for the force of the Lord Buddha and link up the coming Lord with Him, enabling Him to increase His Own stupendous resources by drawing upon still higher force centres, via the Lord Buddha. |
b. Chúng hoạt động như một tiêu điểm cho mãnh lực của Đức Phật và nối kết Đức Chúa Tể sắp đến với Ngài, giúp Ngài gia tăng các nguồn lực phi thường của chính Ngài bằng cách rút lấy từ các trung tâm mãnh lực còn cao hơn nữa, qua Đức Phật. |
|
This force will find its expression upon the astral plane, producing vast results of a quieting nature and bringing, by reflex action, peace on earth. The transmutation of desire into aspiration, and the transformation of low desire into high desire, will be some of the effects, while the result of the force flowing through will produce profound reactions of the deva denizens of that plane. Through the vibration thus set up will come the possibility of many (who would otherwise not do so) taking the first initiation. Later, towards the end of the greater cycle, the coming Avatar will again employ the vestures [Page 755] with all that is entailed thereby, and will take a physical body, thus demonstrating on the physical plane the force of the Logos in the administration of the Law. When He comes at the close of this century and makes His power felt, He will come as the Teacher of Love and Unity, and the keynote He will strike will be regeneration through love poured forth on all. As He will work primarily on the astral plane, this will demonstrate on the physical plane in the formation of active groups in every city of any size, and in every country, which will work aggressively for unity, co-operation and brotherhood in every department of life—economic, religious, social and scientific. |
Mãnh lực này sẽ tìm thấy sự biểu lộ của nó trên cõi cảm dục, tạo ra những kết quả to lớn có tính chất làm lắng dịu và mang lại, qua phản ứng dội lại, hòa bình trên địa cầu. Sự chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, và sự chuyển đổi dục vọng thấp thành dục vọng cao, sẽ là một số hiệu quả, trong khi kết quả của mãnh lực đang tuôn chảy qua sẽ tạo ra những phản ứng sâu sắc nơi các thiên thần cư dân của cõi ấy. Qua rung động được thiết lập như vậy sẽ xuất hiện khả năng để nhiều người (nếu không thì đã không làm như vậy) tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất. Về sau, vào gần cuối đại chu kỳ, Đấng Hoá Thân sắp đến sẽ lại sử dụng các y bát [Page 755] cùng với tất cả những gì do đó mà có, và sẽ mang một thể xác, nhờ đó biểu lộ trên cõi hồng trần mãnh lực của Thượng đế trong việc quản trị Định luật. Khi Ngài đến vào lúc cuối thế kỷ này và làm cho quyền năng của Ngài được cảm nhận, Ngài sẽ đến như Huấn sư của Tình thương và Hợp nhất, và chủ âm mà Ngài sẽ gióng lên sẽ là sự tái sinh thông qua tình thương tuôn đổ trên tất cả. Vì Ngài sẽ hoạt động chủ yếu trên cõi cảm dục, điều này sẽ được biểu lộ trên cõi hồng trần trong việc hình thành các nhóm hoạt động ở mọi thành phố có quy mô nào đó, và ở mọi quốc gia, những nhóm sẽ hoạt động mạnh mẽ cho sự hợp nhất, hợp tác và huynh đệ trong mọi lĩnh vực của đời sống—kinh tế, tôn giáo, xã hội và khoa học. |
|
These groups will achieve results now impossible, owing to the retention of buddhic force, but later this force will be set loose on earth via the medium of the Great Lord, operating as an aspect of the Logos, and as a focal point for the consciousness and energy of the Buddha. |
Các nhóm này sẽ đạt được những kết quả hiện nay là bất khả, do sự giữ lại của mãnh lực Bồ đề, nhưng về sau mãnh lực này sẽ được giải phóng trên địa cầu qua trung gian của Đức Chúa Tể Vĩ Đại, hoạt động như một phương diện của Thượng đế, và như một tiêu điểm cho tâm thức và năng lượng của Đức Phật. |
|
It is this impending probability which is held in mind during the century at the annual recurrence of the Wesak festival. Students would do well to further the ends of the occult Hierarchy by a similar concentration at the time of the festival, thus setting up currents of thought which will have a great appeal in the occult sense of that term. |
Chính khả năng sắp xảy ra này được ghi nhớ trong suốt thế kỷ vào dịp tái diễn hằng năm của lễ Wesak. Các đạo sinh nên thúc đẩy các mục tiêu của Thánh đoàn huyền bí bằng một sự tập trung tương tự vào thời điểm lễ hội, nhờ đó thiết lập các dòng tư tưởng sẽ có một sức hấp dẫn lớn theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy. |
|
Indication of the nearing of this event will be seen in the reaction which will be set up during the next twenty-five years against crime, sovietism, and the extreme radicalism which is now being made use of by certain powers to achieve ends contrary to the plans of the Lord. The era of peace will be ushered in by a gathering together on earth of the forces which stand for construction, and development, and by a conscious deliberate banding together of groups in every land who embody the principle (as far as they can vision it) of Brotherhood. Watch [Page 756] the signs of the times, and be not discouraged over the immediate future. The appearance of the Great Lord on the astral plane (whether followed by His physical incarnation or not) will date from a certain Wesak festival at which a mantram (known only to those attaining the seventh Initiation) will be pronounced by the Buddha, thus setting loose force, and enabling His great Brother to fulfil his mission. Hence the gradual recognition of the Wesak festival, and its true significance in the occident is desirable, and opportunity will be offered to all who are willing to place themselves in the line of this force, and thus become vitalised by it, and consequently available for service. The reaction mentioned above, will also become possible through the pressure brought to bear by the present children, many of whom are chelas and some initiates. They have come in to prepare the way for the coming of His Feet. |
Dấu hiệu cho thấy biến cố này đang đến gần sẽ được thấy trong phản ứng sẽ được thiết lập trong hai mươi lăm năm tới chống lại tội phạm, chủ nghĩa Xô viết, và chủ nghĩa cấp tiến cực đoan hiện đang được một số quyền lực sử dụng để đạt những mục tiêu trái với các kế hoạch của Đức Chúa Tể. Kỷ nguyên hòa bình sẽ được mở đầu bằng sự tập hợp trên địa cầu của các lực lượng đứng về phía xây dựng và phát triển, và bằng sự liên kết hữu thức có chủ ý của các nhóm ở mọi xứ sở, những nhóm thể hiện nguyên khí Huynh Đệ (theo mức họ có thể có linh thị về nó). Hãy quan sát [Page 756] các dấu hiệu của thời đại, và đừng nản lòng về tương lai trước mắt. Sự xuất hiện của Đức Chúa Tể Vĩ Đại trên cõi cảm dục (dù có được tiếp theo bởi sự nhập thể hồng trần của Ngài hay không) sẽ được tính từ một lễ Wesak nhất định, tại đó một mantram (chỉ những ai đạt lần điểm đạo thứ bảy mới biết) sẽ được Đức Phật xướng lên, nhờ đó giải phóng mãnh lực, và giúp cho Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài hoàn thành sứ mệnh của mình. Do đó, việc dần dần công nhận lễ Wesak, và thâm nghĩa chân thực của nó ở phương Tây là điều đáng mong muốn, và cơ hội sẽ được trao cho tất cả những ai sẵn lòng đặt mình vào đường đi của mãnh lực này, và nhờ đó được tiếp sinh lực bởi nó, và vì thế sẵn sàng cho việc phụng sự. Phản ứng đã nói ở trên cũng sẽ trở nên khả hữu nhờ áp lực do những trẻ em hiện nay tạo ra, nhiều em trong số đó là đệ tử và một số là điểm đạo đồ. Các em đã đến để chuẩn bị con đường cho sự quang lâm của Bàn Chân Ngài. |
|
When the hour strikes (five years prior to the date of His descent) they will be in the full flower of their service and will have recognised their work, even though they may not be conscious of that which the future holds hid. |
Khi giờ điểm đến (năm năm trước ngày Ngài giáng lâm) các em sẽ ở vào thời kỳ sung mãn của sự phụng sự của mình và sẽ nhận ra công việc của mình, dù các em có thể không hữu thức về điều mà tương lai đang che giấu. |
|
When the hour has come (and already a few cases are to be found), many cases of overshadowing will be seen and will demonstrate in a threefold manner. In all countries, in the orient and the occident, prepared disciples and highly evolved men and women, will be found who will be doing the work along the lines intended, and who will be occupying places of prominence which will make them available for the reaching of the many; their bodies also will be sufficiently pure to permit of the overshadowing. It will only be possible in the case of those who have been consecrated since childhood, who have been servers of the race all their lives, or who, in previous lives, have acquired the right by karma. This threefold overshadowing will manifest as: |
Khi thời điểm đã đến (và hiện nay đã có thể tìm thấy một vài trường hợp), nhiều trường hợp phủ bóng sẽ được thấy và sẽ biểu lộ theo một cách tam phân. Ở mọi quốc gia, ở phương Đông và phương Tây, sẽ tìm thấy những đệ tử đã được chuẩn bị và những người nam và nữ tiến hoá cao, những người sẽ làm việc theo các đường lối đã được dự định, và sẽ chiếm giữ những vị trí nổi bật khiến họ có thể tiếp cận được nhiều người; các thể của họ cũng sẽ đủ thanh khiết để cho phép sự phủ bóng. Điều này chỉ có thể xảy ra trong trường hợp những người đã được thánh hiến từ thời thơ ấu, đã là những người phụng sự nhân loại suốt đời, hoặc trong các kiếp trước đã đạt được quyền ấy nhờ nghiệp quả. Sự phủ bóng tam phân này sẽ biểu lộ như sau: |
|
First. An impression upon the physical brain of the [Page 757] man or woman, of thoughts, plans for work, ideals and intentions which (emanating from the Avatar) will yet be unrecognised by him as being other than his own; he will proceed to put them into action, unconsciously helped by the force flowing in. This is literally a form of higher mental telepathy working out on physical levels. |
Thứ nhất. Một sự in dấu lên bộ não hồng trần của [Page 757] người nam hay người nữ, về những tư tưởng, kế hoạch công việc, lý tưởng và ý định mà (phát ra từ Đấng Hoá Thân) tuy vậy vẫn không được người ấy nhận ra là khác với của chính mình; y sẽ tiến hành đưa chúng vào hành động, một cách vô thức được trợ giúp bởi mãnh lực đang tuôn vào. Đây đúng nghĩa là một hình thức viễn cảm thượng trí đang vận hành trên các cấp hồng trần. |
|
Second. The overshadowing of the chela during his work (such as lecturing, writing, or teaching), and his illumination for service. He will be conscious of this, though perhaps unable to explain it, and will seek more and more to be available for use, rendering himself up in utter selflessness to the inspiration of His Lord. This is effected via the chela’s Ego, the force flowing through his astral permanent atom; and it is only possible when the fifth petal is unfolded. |
Thứ hai. Sự phủ bóng lên đệ tử trong khi y làm việc (như thuyết giảng, viết lách, hay giảng dạy), và sự soi sáng của y cho việc phụng sự. Y sẽ hữu thức về điều này, dù có lẽ không thể giải thích được, và sẽ ngày càng tìm cách trở nên sẵn sàng để được sử dụng, hiến dâng mình trong sự vô ngã hoàn toàn cho cảm hứng của Đức Chúa Tể của y. Điều này được thực hiện qua chân ngã của đệ tử, mãnh lực tuôn qua nguyên tử trường tồn cảm dục của y; và chỉ có thể khi cánh hoa thứ năm đã khai mở. |
|
Third. The conscious co-operation of the chela is necessitated in the third method of overshadowing. In this case he will (with full knowledge of the laws of his being and nature) surrender himself and step out of his physical body, handing it over for the use of the Great Lord or one of His Masters. This is only possible in the case of a chela who has brought all the three lower bodies into alignment, and necessitates the unfolding of the sixth petal. By an act of conscious will he renders up his body, and stands aside for a specific length of time. |
Thứ ba. Sự hợp tác hữu thức của đệ tử là điều cần thiết trong phương pháp phủ bóng thứ ba. Trong trường hợp này y sẽ (với sự hiểu biết đầy đủ về các quy luật của hữu thể và bản chất của mình) hiến dâng chính mình và bước ra khỏi thể xác của mình, trao nó cho Đức Chúa Tể Vĩ Đại hay một trong các Chân sư của Ngài sử dụng. Điều này chỉ có thể trong trường hợp một đệ tử đã đưa cả ba thể thấp vào chỉnh hợp, và đòi hỏi sự khai mở của cánh hoa thứ sáu. Bằng một hành động ý chí hữu thức, y trao thể của mình và đứng sang một bên trong một khoảng thời gian xác định. |
|
These methods of overshadowing will be largely the ones used by the Great Lord and His Masters at the end of the century, and for this reason They are sending into incarnation, in every country, disciples who have the opportunity offered them to respond to the need of humanity. Hence the need of training men and women to recognise the higher psychism, and the true inspiration and mediumship, and to do this scientifically. In fifty years time, the need for true psychics and conscious mediums (such as H. P. B., for instance) will be very great [Page 758] if the Master’s plans are to be carried to fruition, and the movement must be set on foot in preparation for the coming of Him for Whom all nations wait. In this work many have their share, provided they demonstrate the necessary endurance. |
Các phương pháp phủ bóng này phần lớn sẽ là những phương pháp được Đức Chúa Tể Vĩ Đại và các Chân sư của Ngài sử dụng vào cuối thế kỷ, và vì lý do này Các Ngài đang gửi vào lâm phàm, ở mọi quốc gia, những đệ tử có cơ hội được trao cho để đáp ứng nhu cầu của nhân loại. Do đó mới có nhu cầu huấn luyện những người nam và nữ nhận ra thông linh cao hơn, và cảm hứng cùng đồng tử chân chính, và thực hiện điều này một cách khoa học. Trong năm mươi năm nữa, nhu cầu về những người thông linh chân chính và những đồng tử hữu thức (chẳng hạn như H. P. B.) sẽ rất lớn [Page 758] nếu các kế hoạch của Chân sư phải được đưa đến chỗ thành tựu, và phong trào phải được khởi xướng để chuẩn bị cho sự quang lâm của Đấng mà mọi quốc gia đang chờ đợi. Trong công việc này nhiều người có phần của mình, miễn là họ biểu lộ sức bền cần thiết. |
|
Naturally, the first group will be the largest, for it does not necessitate so much knowledge, but more risk is entailed with them than with the others—the risk of a perversion of the plans, and of disaster to the unit involved. The second group will be less numerous, and the last group will involve only a handful, or two or three in certain countries. In this case, it will be verily true that, through sacrifice, the Son of Man will again tread the highways of men, and His physical incarnation be a fact. Very few will be thus available for His use, as the force He carries requires a peculiarly resilient instrument, but due preparation is being made. |
Đương nhiên, nhóm thứ nhất sẽ là nhóm lớn nhất, vì nó không đòi hỏi nhiều tri thức như vậy, nhưng nơi họ có nhiều rủi ro hơn so với các nhóm khác—rủi ro làm sai lệch các kế hoạch, và tai họa cho đơn vị liên hệ. Nhóm thứ hai sẽ ít đông hơn, và nhóm cuối cùng sẽ chỉ gồm một số rất ít, hoặc hai hay ba người ở một số quốc gia. Trong trường hợp này, quả thật sẽ đúng rằng, qua hi sinh, Con của nhân loại sẽ lại bước trên những nẻo đường của loài người, và sự nhập thể hồng trần của Ngài sẽ là một sự kiện. Rất ít người sẽ có thể sẵn sàng như vậy cho việc sử dụng của Ngài, vì mãnh lực Ngài mang theo đòi hỏi một công cụ có sức đàn hồi đặc biệt, nhưng sự chuẩn bị thích đáng đang được tiến hành. |
|
Again the method of direct incarnation will be employed by certain of the Masters and initiates through the process of: |
Một lần nữa, phương pháp nhập thể trực tiếp sẽ được một số Chân sư và điểm đạo đồ sử dụng thông qua tiến trình: |
|
a. Physical birth. |
a. Sinh ra hồng trần. |
|
b. Appropriation of a suitable vehicle, or body. |
b. Tiếp nhận một vận cụ hay thể thích hợp. |
|
c. Direct creation by an act of will. This will be rare. |
c. Sáng tạo trực tiếp bằng một hành động ý chí. Điều này sẽ hiếm. |
|
Phương pháp thứ hai, hay phương pháp ở giữa, sẽ là phương pháp được dùng thường xuyên nhất. Sáu Chân sư, cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được đạo sinh huyền bí trung bình biết đến tên, đã tìm cách nhập thể hồng trần—một vị ở Ấn Độ, một vị khác ở Anh, hai vị ở Bắc Mỹ, và một vị ở Trung Âu, trong khi một vị khác đã thực hiện một hi sinh lớn lao, và mang một thể Nga với mong muốn hoạt động như một trung tâm hòa bình tại xứ sở đang rối loạn ấy. Một số điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba đã mang các thể nữ,—một vị ở Ấn Độ về sau sẽ làm nhiều điều cho sự giải phóng phụ nữ Ấn Độ, trong khi một vị khác có một công việc đặc biệt phải làm liên hệ với giới động vật, giới này cũng đang chờ đợi ngày Ngài xuất hiện. |
|
|
[Page 759] The Master Jesus will take a physical vehicle, and with certain of His chelas effect a re-spiritualisation of the Catholic churches, breaking down the barrier separating the Episcopal and Greek churches from the Roman. This may be looked for, should plans progress as hoped, about the year 1980. The Master Hilarion will also come forth, and become a focal point of buddhic energy in the vast spiritualistic movement, whilst another Master is working with the Christian Science endeavour in an effort to swing it on to sounder lines. It is interesting to note that those movements which have laid the emphasis so strongly on the heart or love aspect, may respond more rapidly to the inflow of force at the Coming than other movements which consider themselves very advanced. The “mind may slay” the recognition of the Real, and hatred between brothers swing the tide of love-force away. The three Masters so closely allied with the theosophical movement are already making Their preparations, and will also move among men, recognised by Their Own and by those who have eyes to see. To those of Their chelas on earth who undergo the necessary discipline, opportunity will be offered to work on the astral plane and, should they so choose, an immediate incarnation, provided they have achieved continuity of consciousness. He Who is known as D. K. is planning to restore—via His students—some of the old and occult methods of healing and to demonstrate: |
[Page 759] Chân sư Jesus sẽ mang một vận cụ hồng trần, và cùng với một số đệ tử của Ngài thực hiện một sự tái-tinh thần-hóa các giáo hội Công giáo, phá bỏ bức tường ngăn cách các giáo hội Episcopal và Hy Lạp với giáo hội La Mã. Điều này có thể được trông đợi, nếu các kế hoạch tiến triển như hy vọng, vào khoảng năm 1980. Chân sư Hilarion cũng sẽ xuất hiện, và trở thành một tiêu điểm của năng lượng Bồ đề trong phong trào thần linh học rộng lớn, trong khi một Chân sư khác đang làm việc với nỗ lực của Christian Science nhằm đưa nó đi theo những đường lối vững chắc hơn. Điều đáng chú ý là những phong trào đã nhấn mạnh rất mạnh vào phương diện tim hay bác ái, có thể đáp ứng nhanh hơn với dòng mãnh lực tuôn vào lúc Quang Lâm so với những phong trào khác vốn tự xem mình là rất tiến bộ. “Trí tuệ có thể giết chết” sự nhận biết cái Thực, và lòng thù hận giữa các huynh đệ có thể làm lệch dòng mãnh lực bác ái đi nơi khác. Ba Chân sư gắn bó mật thiết với phong trào Thông Thiên Học hiện đã chuẩn bị, và cũng sẽ đi lại giữa loài người, được chính những người của Các Ngài nhận ra và bởi những ai có mắt để thấy. Đối với những đệ tử của Các Ngài trên địa cầu, những người trải qua kỷ luật cần thiết, cơ hội sẽ được trao để làm việc trên cõi cảm dục và, nếu họ chọn như vậy, một sự nhập thể tức thời, miễn là họ đã đạt được sự liên tục của tâm thức. Đấng được biết đến như Chân sư DK đang dự định khôi phục—qua các đạo sinh của Ngài—một số phương pháp trị liệu cổ xưa và huyền bí, và chứng minh: |
|
a. The place of the etheric body. |
a. Vị trí của thể dĩ thái. |
|
b. The effect of pranic force. |
b. Hiệu quả của mãnh lực prana. |
|
c. The opening up of etheric vision. |
c. Sự khai mở linh thị dĩ thái. |
|
It is not permissible to say more in connection with the plans of the Great Ones. Their appearing will not be simultaneous in time, for the people could not stand the tremendously increased inflow of force, and recognition of Them and of Their methods will depend upon the intuition, [Page 760] and the training of the inner senses. They come with no herald, and only Their works will proclaim Them. |
Không được phép nói thêm liên hệ với các kế hoạch của Các Đấng Cao Cả. Sự xuất hiện của Các Ngài sẽ không đồng thời về mặt thời gian, vì con người không thể chịu nổi dòng mãnh lực tuôn vào tăng lên vô cùng mạnh mẽ ấy, và sự nhận ra Các Ngài cùng các phương pháp của Các Ngài sẽ tùy thuộc vào trực giác, [Page 760] và sự huấn luyện các giác quan bên trong. Các Ngài đến không có người báo trước, và chỉ các công trình của Các Ngài mới công bố Các Ngài. |
|
(e.) Impulse and Incarnation. Perhaps light upon this very difficult question of the incarnating jivas, of adepts and of avatars may come if the student remembers that: |
(e.) Xung lực và Nhập thể. Có lẽ ánh sáng về vấn đề rất khó này của các jiva nhập thể, của các chân sư và của các Đấng Hoá Thân có thể đến nếu đạo sinh nhớ rằng: |
|
1. An ordinary man demonstrates the third aspect of intelligent activity in his personality life, and is evolving consciously the second aspect, or the egoic manifestation on the physical plane. |
1. Một người bình thường biểu lộ phương diện thứ ba của hoạt động thông tuệ trong đời sống phàm ngã của mình, và đang tiến hoá một cách hữu thức phương diện thứ hai, hay sự biểu lộ chân ngã trên cõi hồng trần. |
|
2. An adept in incarnation is demonstrating fully the second aspect as well as the third, and in his own internal life is in process of evolving the first aspect, or is endeavouring to bring through the monadic life into conscious activity on the buddhic plane. |
2. Một chân sư đang lâm phàm đang biểu lộ trọn vẹn phương diện thứ hai cũng như phương diện thứ ba, và trong đời sống nội tại của mình đang trong tiến trình tiến hoá phương diện thứ nhất, hay đang nỗ lực đưa sự sống chân thần vào hoạt động hữu thức trên cõi Bồ đề. |
|
3. An avatar demonstrates one of two things, according to his peculiar karma: |
3. Một Đấng Hoá Thân biểu lộ một trong hai điều, tùy theo nghiệp quả đặc thù của mình: |
|
a. The pure light of the Monad, brought through by means of the perfected Ego and personality on to the physical plane. The line of force extends straight through from monadic levels to the physical. |
a. Ánh sáng thuần khiết của Chân thần, được đưa xuyên qua chân ngã và phàm ngã đã hoàn thiện xuống cõi hồng trần. Đường mãnh lực kéo dài thẳng từ các cấp chân thần xuống cõi hồng trần. |
|
b. Ánh sáng của chính Thượng đế trong phương diện này hay phương diện khác, ánh sáng này được truyền dẫn một cách hữu thức qua chân thần thẳng xuống cõi hồng trần từ Hành Tinh Thượng đế, hay thậm chí từ chính Thái dương Thượng đế. |
|
|
In the first two cases, desire for sentient existence, or desire for service to humanity, are the factors which produce physical manifestation (one through the force of evolution itself, the other through a conscious act of the will). Desire for sentient existence is but the latent second aspect seeking expression by means of the Not-Self, and in the other case the manifested second aspect consciously utilises form as a means to an end. In the case [Page 761] of all avatars it is the will aspect which is brought into play, and which produces appearance—either the will of the perfected adept, such as the Buddha Himself, or (as in the case of the true Avatar, Who is, and Who has not achieved) the will of the planetary Logos or of the solar Logos, taking form for a specific purpose. It involves a higher display of the creative faculty than that displayed by the Adept in the creation of His body of manifestation, the Mayavirupa. (252) The terms “appropriation of a physical body” and “creation of a physical body” must be extended to include all the planes of the solar system, and not just our physical plane, the seventh subplane of the cosmic physical. |
Trong hai trường hợp đầu, dục vọng đối với sự tồn tại có tri giác, hay dục vọng phụng sự nhân loại, là những yếu tố tạo ra sự biểu hiện hồng trần (một bên qua chính mãnh lực của tiến hoá, bên kia qua một hành động ý chí hữu thức). Dục vọng đối với sự tồn tại có tri giác chỉ là phương diện thứ hai tiềm tàng đang tìm cách biểu lộ qua Phi-Ngã, và trong trường hợp kia phương diện thứ hai đã biểu lộ một cách hữu thức sử dụng hình tướng như một phương tiện để đạt cứu cánh. Trong trường hợp [Page 761] của mọi Đấng Hoá Thân, chính phương diện ý chí được vận dụng, và tạo ra sự xuất hiện—hoặc là ý chí của chân sư đã hoàn thiện, như chính Đức Phật, hoặc (như trong trường hợp của Đấng Hoá Thân chân chính, Đấng hiện hữu, và Đấng chưa đạt được) ý chí của Hành Tinh Thượng đế hay của Thái dương Thượng đế, mang hình tướng vì một mục đích đặc biệt. Điều này bao hàm một sự biểu lộ cao hơn của năng lực sáng tạo so với năng lực được chân sư biểu lộ trong việc tạo ra thể biểu hiện của Ngài, Mayavirupa. (252) Các thuật ngữ “tiếp nhận một thể hồng trần” và “sáng tạo một thể hồng trần” phải được mở rộng để bao gồm mọi cõi của hệ mặt trời, chứ không chỉ cõi hồng trần của chúng ta, tức cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
(252) The Mayavirupa is literally the illusory form; it is the body of temporary manifestation which the Adept creates on occasion through the power of the will and in which He functions in order to make certain contacts on the physical plane and to engage in certain work for the race. (back) |
(252) Mayavirupa theo nghĩa đen là hình tướng ảo huyễn; đó là thể biểu hiện tạm thời mà Chân sư đôi khi tạo ra bằng quyền năng của ý chí và trong đó Ngài hoạt động để thực hiện một số tiếp xúc nhất định trên cõi hồng trần và tham gia vào một số công việc nào đó cho nhân loại. (back) |
|
The causes which combine to produce incarnation, are seen to be three: |
Các nguyên nhân kết hợp để tạo ra sự nhập thể được thấy là ba: |
|
1. Egoic impulse. |
1. Xung lực chân ngã. |
|
2. The activity of the solar and lunar Angels. |
2. Hoạt động của các Thái dương Thiên Thần và các thái âm Thiên Thần. |
|
3. Karma, or the place which antecedent action plays in producing manifestation. |
3. Nghiệp quả, hay vai trò mà hành động đi trước giữ trong việc tạo ra sự biểu hiện. |
|
We can hardly dissociate them in the consideration of our subject owing to the innate constitution of the egoic body itself and the factor the indwelling consciousness plays in producing appearance through an act of will. Let us briefly, therefore, reconsider what we have learned anent the egoic body and its constitution, and then take up the steps followed by the Ego in producing results in the three worlds. |
Chúng ta khó có thể tách rời chúng ra khi xem xét đề tài của mình do cấu tạo bẩm sinh của chính thể chân ngã và yếu tố mà tâm thức ngự bên trong đóng vai trò trong việc tạo ra sắc tướng qua một hành động ý chí. Vì vậy, chúng ta hãy ngắn gọn xét lại điều mình đã học liên quan đến thể chân ngã và cấu tạo của nó, rồi sau đó bàn đến các bước mà Chân ngã theo đó tạo ra kết quả trong ba cõi thấp. |
|
We have seen that on the third level of the mental plane, the egoic lotus is found and the student should picture it to himself as follows: |
Chúng ta đã thấy rằng trên cấp độ thứ ba của cõi trí, Hoa Sen Chân Ngã được tìm thấy và đạo sinh nên hình dung nó như sau: |
|
Concealed at the very centre or heart of the lotus is a brilliant point of electric fire of a blue-white hue (the [Page 762] jewel in the lotus) surrounded, and completely hidden, by three closely folded petals. Around this central nucleus, or inner flame, are arranged the nine petals in circles of three petals each, making three circles in all. These petals are formed out of the substance of the solar angels, as are the central three,—substance which is not only sentient as is the substance of the forms in the three worlds and the lunar bodies, but which has an added quality of “I-ness” or of self-consciousness, enabling the spiritual unity at the centre (by means of it) to acquire knowledge, awareness, and self-realisation. These nine petals are of a predominant orange hue, though the six other colours are found as secondary colours in a varying degree. The inner three petals are of a lovely lemon-yellow hue. At the base of the lotus petals are the three points of light which mark the position of the permanent atoms, and which are the medium of communication between the solar Angels and the lunar Pitris. By means of these permanent atoms the Ego, according to its state of evolution can construct his lunar bodies, acquire knowledge on the lower three planes, and thus buy his experience, and becomes aware. On a higher turn of the spiral, the Monad through the egoic petals, and thus with the aid of the solar Angels, acquires knowledge and equally on more exalted levels becomes aware. |
Ẩn kín ngay tại trung tâm hay trái tim của hoa sen là một điểm rực sáng của Lửa Điện mang sắc xanh-trắng (viên [Page 762] ngọc trong hoa sen) được bao quanh, và hoàn toàn che khuất, bởi ba cánh hoa khép chặt. Chung quanh hạt nhân trung tâm này, hay ngọn lửa bên trong này, là chín cánh hoa được sắp xếp thành các vòng, mỗi vòng ba cánh, tổng cộng thành ba vòng. Các cánh hoa này được tạo thành từ chất liệu của các thái dương thiên thần, cũng như ba cánh trung tâm,—một chất liệu không những có tri giác như chất liệu của các hình tướng trong ba cõi thấp và các thể thái âm, mà còn có thêm phẩm tính “tôi tính” hay ngã thức, giúp cho đơn vị tinh thần ở trung tâm (nhờ phương tiện ấy) đạt được tri thức, sự nhận biết, và sự chứng nghiệm bản ngã. Chín cánh hoa này có sắc cam chiếm ưu thế, dù sáu màu khác cũng hiện diện như những màu phụ ở các mức độ khác nhau. Ba cánh hoa bên trong có sắc vàng chanh rất đẹp. Ở đáy các cánh hoa sen là ba điểm sáng đánh dấu vị trí của các nguyên tử trường tồn, và là môi giới truyền thông giữa các Thái dương Thiên Thần và các thái âm tổ phụ. Nhờ các nguyên tử trường tồn này mà Chân ngã, tùy theo trạng thái tiến hoá của nó, có thể kiến tạo các thể thái âm của mình, đạt được tri thức trên ba cõi thấp, và nhờ đó mua lấy kinh nghiệm của mình, và trở nên nhận biết. Ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, chân thần qua các cánh hoa chân ngã, và nhờ đó với sự trợ giúp của các Thái dương Thiên Thần, đạt được tri thức và cũng trên các cấp độ cao siêu hơn trở nên nhận biết. |
|
Ánh sáng bên trong các nguyên tử trường tồn này có một ánh đỏ mờ, và vì vậy chúng ta có cả ba loại lửa đang biểu lộ trong thể nguyên nhân—Lửa Điện ở trung tâm, Lửa Thái dương bao bọc nó như ngọn lửa bao bọc hạt nhân trung tâm hay tinh chất trong ngọn lửa cây nến, và Lửa ma sát, loại lửa sau này giống như tim đèn đỏ rực nằm ở đáy của ngọn lửa cao hơn. |
|
|
These three types of fire on the mental plane—meeting and unified in the egoic body—produce in time a radiation or warmth which streams out from all sides of the lotus, and forms that spheroidal shape noted by investigators. [Page 763] The more fully developed the Ego may be, and the more the petals are unfolded, the greater the beauty of the surrounding sphere, and the more refined its colouring. |
Ba loại lửa này trên cõi trí—gặp nhau và hợp nhất trong thể chân ngã—sẽ theo thời gian tạo ra một sự bức xạ hay hơi ấm tuôn ra từ mọi phía của hoa sen, và hình thành nên hình cầu mà các nhà khảo cứu đã ghi nhận. [Page 763] Chân ngã càng phát triển đầy đủ, và các cánh hoa càng khai mở, thì khối cầu bao quanh càng đẹp, và màu sắc của nó càng tinh tế. |
|
At the early stages after individualisation, the egoic body has the appearance of a bud. The electric fire at the centre is not apparent, and all the nine petals are closed down upon the inner three; the orange colour has a dead aspect and the three points of light at the base are just points and nothing more; the triangle which is later seen connecting the points is not demonstrated. The surrounding sphere is colourless and is only to be appreciated as undulatory vibrations (like waves in the air or ether) reaching barely beyond the petal outline. |
Ở các giai đoạn đầu sau biệt ngã hóa, thể chân ngã có dáng vẻ của một nụ hoa. Lửa Điện ở trung tâm không hiển lộ, và cả chín cánh hoa đều khép xuống trên ba cánh bên trong; màu cam có vẻ xỉn, và ba điểm sáng ở đáy chỉ là những điểm sáng mà thôi; tam giác về sau được thấy nối liền các điểm ấy chưa biểu lộ. Khối cầu bao quanh không màu và chỉ có thể được cảm nhận như những rung động gợn sóng (như sóng trong không khí hay dĩ thái) chỉ vừa vượt ra ngoài đường viền cánh hoa. |
|
By the time the third Initiation is reached, a wondrous transformation has transpired. The outer sphere is palpitating with every colour in the rainbow, and is of wide radius; the streams of electrical energy circulating in it are so powerful that they are escaping beyond the periphery of the circle, resembling the rays of the sun. The nine petals are fully unfolded, forming a gracious setting for the central jewel, and their orange hue is now of a gorgeous translucence, shot with many colours, that of the egoic ray predominating. The triangle at the base is now quickened and scintillating, and the three points are small blazing fires, showing to the eye of the clairvoyant as sevenfold whorls of light, circulating their light from point to point of a rapidly moving triangle. |
Đến khi đạt lần điểm đạo thứ ba, một sự chuyển đổi kỳ diệu đã xảy ra. Khối cầu bên ngoài rung động với mọi màu sắc của cầu vồng, và có bán kính rộng; các dòng năng lượng điện lưu chuyển trong đó mạnh đến nỗi chúng thoát ra ngoài chu vi của vòng tròn, giống như các tia mặt trời. Chín cánh hoa đã hoàn toàn khai mở, tạo thành một khung cảnh duyên dáng cho viên ngọc trung tâm, và sắc cam của chúng giờ đây có một độ trong suốt huy hoàng, được điểm xuyết bằng nhiều màu, trong đó màu của cung chân ngã chiếm ưu thế. Tam giác ở đáy giờ đây đã được tiếp sinh lực và lấp lánh, và ba điểm là những ngọn lửa nhỏ rực cháy, hiện ra trước mắt nhà thông nhãn như những vòng xoáy ánh sáng thất phân, lưu chuyển ánh sáng của chúng từ điểm này sang điểm khác của một tam giác chuyển động nhanh chóng. |
|
By the time the fourth Initiation is reached, the activity of this triangle is so great that it looks more like a wheel in rapid revolution. It has a fourth dimensional aspect. The three petals at the centre are opening up, revealing the “blazing jewel.” At this initiation, through the action of the Hierophant wielding the electric Rod of Power, the three fires are suddenly stimulated by a downflow of electric, or positive force, from the [Page 764] Monad, and their blazing out in response produces that merging which destroys the entire sphere, dissipates all appearance of form, and produces a moment of equilibrium, or of suspension, in which the “elements are consumed with fervent heat.” The moment of highest radiation is known. Then—through the pronouncement of a certain Word of Power—the great solar Angels gather back into themselves the solar fire, thus producing the final dissipation of the form, and hence the separation of the life from the form; the fire of matter returns to the general reservoir, and the permanent atoms and the causal body are no more. The central electric fire becomes centralised in atma-buddhi. The Thinker or spiritual entity stands free of the three worlds, and functions consciously on the buddhic plane. Between these two stages of quiescent (though self-conscious) inertia and of that radiant activity which produces a balancing of forces, is a long series of lives. |
Đến khi đạt lần điểm đạo thứ tư, hoạt động của tam giác này lớn đến mức nó trông giống như một bánh xe quay rất nhanh. Nó có một phương diện bốn chiều. Ba cánh hoa ở trung tâm đang mở ra, để lộ “viên ngọc rực cháy.” Ở lần điểm đạo này, qua tác động của Đấng Điểm đạo Tối Cao đang vận dụng Thần Trượng Điểm đạo bằng điện, ba loại lửa đột ngột được kích thích bởi một dòng mãnh lực điện, hay dương, tuôn xuống từ [Page 764] chân thần, và sự bùng cháy của chúng để đáp ứng tạo ra sự hòa nhập phá hủy toàn bộ khối cầu, làm tiêu tan mọi sắc tướng của hình tướng, và tạo ra một khoảnh khắc quân bình, hay đình chỉ, trong đó “các nguyên tố bị thiêu hủy bởi sức nóng dữ dội.” Khoảnh khắc bức xạ cao nhất được biết đến. Rồi—qua việc xướng một Quyền năng từ nhất định—các Thái dương Thiên Thần vĩ đại thu hồi Lửa Thái dương trở lại vào chính mình, nhờ đó tạo ra sự tiêu tan cuối cùng của hình tướng, và do đó sự tách rời sự sống khỏi hình tướng; lửa của vật chất trở về kho chứa chung, và các nguyên tử trường tồn cùng thể nguyên nhân không còn nữa. Lửa Điện trung tâm được tập trung vào atma-buddhi. Đấng Tư Tưởng hay thực thể tinh thần đứng tự do khỏi ba cõi thấp, và hoạt động một cách hữu thức trên cõi Bồ đề. Giữa hai giai đoạn này của quán tính tĩnh lặng (dù vẫn có ngã thức) và của hoạt động bức xạ tạo ra sự quân bình các mãnh lực, là một chuỗi dài các kiếp sống. |
|
In our consideration of the subject of the reincarnating jivas, we have touched upon three subjects: |
Trong việc xem xét đề tài các jiva tái sinh, chúng ta đã chạm đến ba chủ đề: |
|
a. Avatars, with the intent of disposing of the confusion in the minds of students as to certain types of appearances. In our present study we shall deal only with the process followed by ordinary men. |
a. Các Đấng Hoá Thân, với mục đích giải tỏa sự lẫn lộn trong tâm trí các đạo sinh về một số loại xuất hiện nhất định. Trong nghiên cứu hiện tại của chúng ta, chúng ta sẽ chỉ bàn đến tiến trình mà những người bình thường đi theo. |
|
b. Các giai kỳ qui nguyên, với mục đích khơi dậy trong tâm trí đạo sinh ý tưởng về những khoảng xen kẽ tĩnh lặng tùy thuộc vào các giai đoạn hoạt động ở giữa. |
|
|
c. The appearance of the body egoic and its general conformation, with the intent of awakening the realisation of the student to the fact that evolution affects that body also, and not only man’s forms in the three worlds. The effects of the process are interdependent, and as the lower self develops, or the personality becomes more active and intelligent, results are produced in the higher body. As these effects are cumulative, and not ephemeral [Page 765] as are the lower results, the egoic body becomes equally more active and its manifestation of energy is increased. Towards the close of the evolutionary period in the three worlds a constant interchange of energy is seen to be taking place; the lower forms become irradiated with light, and reflect the higher radiance; the egoic body is the Sun of the lower system, and its bodies reflect its rays, as the moon reflects the light of the solar sun. Similarly the egoic Sun,—through the interaction—shines with ever greater intensity and glory. On the higher levels a similar interaction takes place for a brief period between the Monad and its reflection the Ego, but only in the coming solar system will this interaction be carried to its logical conclusion. |
c. Sắc tướng của thể chân ngã và cấu hình tổng quát của nó, với mục đích đánh thức sự chứng nghiệm nơi đạo sinh về sự kiện rằng tiến hoá cũng tác động lên thể ấy, chứ không chỉ lên các hình tướng của con người trong ba cõi thấp. Các hiệu quả của tiến trình là tương thuộc lẫn nhau, và khi phàm ngã phát triển, hay phàm ngã trở nên hoạt động và thông tuệ hơn, thì các kết quả được tạo ra trong thể cao hơn. Vì các hiệu quả này có tính tích lũy, chứ không phù du [Page 765] như các kết quả thấp, nên thể chân ngã cũng trở nên hoạt động hơn và sự biểu lộ năng lượng của nó gia tăng. Về cuối thời kỳ tiến hoá trong ba cõi thấp, người ta thấy có một sự trao đổi năng lượng liên tục diễn ra; các hình tướng thấp được chiếu rạng bằng ánh sáng, và phản chiếu bức xạ cao hơn; thể chân ngã là Mặt Trời của hệ thống thấp, và các thể của nó phản chiếu các tia của nó, như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời thái dương. Tương tự như vậy, Mặt Trời chân ngã,—qua sự tương tác—chiếu sáng với cường độ và vinh quang ngày càng lớn hơn. Trên các cấp độ cao hơn, một sự tương tác tương tự diễn ra trong một thời gian ngắn giữa chân thần và phản ánh của nó là Chân ngã, nhưng chỉ trong hệ mặt trời sắp đến sự tương tác này mới được đưa đến kết luận hợp lý của nó. |
|
Having, therefore, very briefly dealt with these three topics, we can now proceed to consider the process followed by the Ego when seeking manifestation in the three worlds. Let us endeavour in our thoughts to interpret all these processes in terms of energy and of force. |
Vì vậy, sau khi đã rất ngắn gọn bàn đến ba chủ đề này, giờ đây chúng ta có thể tiếp tục xem xét tiến trình mà Chân ngã đi theo khi tìm cách biểu hiện trong ba cõi thấp. Chúng ta hãy cố gắng trong tư tưởng của mình diễn giải tất cả các tiến trình này theo các thuật ngữ năng lượng và mãnh lực. |
|
The old Commentary says: |
Cổ Luận nói: |
|
“When the Spark is touched to the four wicks, and when spiritual Fire in its threefold essence meets with that which is combustible, the Flame bursts forth. Faint the flicker at the first appearing, and near to death it seems, but the wicks smoulder and glow, and the heat is retained. This is cycle the first, and is called that of the glowing wheel. |
“Khi Tia Lửa được chạm vào bốn tim đèn, và khi Lửa tinh thần trong tinh chất tam phân của nó gặp cái có thể cháy được, thì Ngọn Lửa bùng lên. Sự chập chờn lúc mới xuất hiện đầu tiên thật mờ nhạt, và dường như gần tắt, nhưng các tim đèn âm ỉ cháy và rực lên, và nhiệt được giữ lại. Đây là chu kỳ thứ nhất, và được gọi là chu kỳ của bánh xe rực hồng. |
|
The flicker grows into a tiny flame and the four wicks burn, but are not consumed, for the heat does not suffice. The light of these three fires is yet so small that the cave is not illumined. Nevertheless, the flame and the essential heat can be felt by the One Who approaches and watches. This is the second cycle, and is called that of the warming wheel. |
Sự chập chờn lớn dần thành một ngọn lửa nhỏ và bốn tim đèn cháy, nhưng không bị thiêu hết, vì nhiệt chưa đủ. Ánh sáng của ba loại lửa này vẫn còn quá nhỏ nên hang động chưa được soi sáng. Tuy nhiên, ngọn lửa và sức nóng cốt yếu có thể được cảm nhận bởi Đấng đang đến gần và quan sát. Đây là chu kỳ thứ hai, và được gọi là chu kỳ của bánh xe làm ấm. |
|
The tiny flame becomes a lighted lamp. The fire flares up, but much smoke is there, for the wicks are burning fast, and the heat suffices for their quick destruction. The lamp, set in the midst of darkness, makes the thick blackness manifest itself; the light and warmth are felt. This, the third cycle, is called that of the lighted wheel. |
Ngọn lửa nhỏ trở thành một ngọn đèn được thắp sáng. Lửa bùng lên, nhưng có nhiều khói, vì các tim đèn đang cháy nhanh, và nhiệt đủ để làm chúng mau chóng bị thiêu hủy. Ngọn đèn, đặt giữa bóng tối, làm cho sự đen đặc hiện rõ; ánh sáng và hơi ấm được cảm nhận. Đây, chu kỳ thứ ba, được gọi là chu kỳ của bánh xe được thắp sáng. |
|
[Page 766] The four wicks and the flame appear as one, and nearly all the smoke is gone, for flame is mostly seen. The cave itself is lighted up, though the lamp is yet apparent. Cycle the fourth is called the hour of the flaming wheel. |
[Page 766] Bốn tim đèn và ngọn lửa hiện ra như một, và gần như mọi khói đã tan, vì phần lớn chỉ còn thấy lửa. Chính hang động được soi sáng, dù ngọn đèn vẫn còn thấy rõ. Chu kỳ thứ tư được gọi là giờ của bánh xe bốc lửa. |
|
The final cycle comes when even the lamp itself is burned, destroyed through the intensity of heat. The One Who watches, seeing the work accomplished, fans the central point of fire and produces a sudden flaming. The wicks are naught—the flame is all. This, so the Sacred Science says, is called the cycle of the wheel consumed.” |
Chu kỳ cuối cùng đến khi ngay cả chính ngọn đèn cũng bị thiêu cháy, bị hủy diệt bởi cường độ của nhiệt. Đấng đang quan sát, thấy công việc đã hoàn tất, quạt điểm lửa trung tâm và tạo ra một sự bùng cháy đột ngột. Các tim đèn không còn gì—ngọn lửa là tất cả. Điều này, theo Khoa Học Thiêng Liêng nói, được gọi là chu kỳ của bánh xe bị thiêu rụi.” |
|
Here in the arcane symbology is hid (in terms of energy and of radiant activity) the whole secret of egoic energy, and of impulse making its presence felt in the substance of the lower planes; the student should interpret the above sentences both macrocosmically and microcosmically. In all manifestation, the originating impulse comes from the first aspect which is hidden at the heart of the egoic lotus, but this hidden Identity works under law, and in the earlier stages (the first three cycles) the process goes on under the Law of Economy, which is the law of substance itself; in the final two cycles this law becomes merged (though not superseded, being still potent) with the Law of Attraction, which is the fundamental law of the divine Self. It is the failure to realise this which has resulted in the confusion existing in the minds of many metaphysicians as to which demonstrated first, desire or will, and as to the distinction between them, between impulse and purpose, and between instinct and intention. In the earlier stages man reincarnates under the Law of Economy, and though the will aspect lies back of the process, yet for a long time it is the pull of sensation and its reflex in consciousness, desire, which produces rebirth. Sensation, being a quality in matter or substance, the Self in the beginning identifies Itself with sensation. Later, when the Self is beginning to identify Itself with Itself, and to recognise the nature of the Not-Self, the Law of Attraction and Repulsion becomes [Page 767] more active, and conscious will and purpose are displayed. Here it should be remembered that a profound difference in time and space exists between the Logos, or Macrocosm, and Man, the Microcosm. Average man comes into incarnation through egoic impulse, based on desire and on the relation of the second aspect to the third aspect or of the Self to the Not-Self. He will eventually bring about (through evolution) the revelation of the first aspect, and then egoic impulse (based on conscious mental apprehension of the purpose in view) will be the dominant factor, and will demonstrate through a definite will to act. In connection with the Logos, the first stage has been left far behind, and logoic manifestation is based on will and purpose and on conscious intelligent activity. The reason for this is that the Logos, and the planetary Logoi likewise, are on the path of cosmic initiation. |
Ở đây trong biểu tượng học huyền môn ẩn giấu (theo các thuật ngữ năng lượng và hoạt động bức xạ) toàn bộ bí mật của năng lượng chân ngã, và của xung lực làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong chất liệu của các cõi thấp; đạo sinh nên diễn giải các câu trên cả theo đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Trong mọi biểu hiện, xung lực khởi nguyên đến từ phương diện thứ nhất vốn ẩn kín tại trái tim của Hoa Sen Chân Ngã, nhưng Bản Sắc ẩn kín này hoạt động theo định luật, và trong các giai đoạn đầu (ba chu kỳ đầu) tiến trình diễn ra dưới Định luật Tiết Kiệm, là định luật của chính chất liệu; trong hai chu kỳ cuối, định luật này hòa nhập (dù không bị thay thế, vì vẫn còn hiệu lực) với Định luật Hấp Dẫn, là định luật căn bản của Thiêng Ngã. Chính sự không nhận ra điều này đã dẫn đến sự lẫn lộn tồn tại trong tâm trí nhiều nhà siêu hình học về việc cái nào biểu lộ trước, dục vọng hay ý chí, và về sự phân biệt giữa chúng, giữa xung lực và mục đích, và giữa bản năng và chủ ý. Trong các giai đoạn đầu, con người tái sinh dưới Định luật Tiết Kiệm, và dù phương diện ý chí nằm phía sau tiến trình, nhưng trong một thời gian dài chính sức kéo của cảm giác và phản xạ của nó trong tâm thức, tức dục vọng, tạo ra tái sinh. Cảm giác, vì là một phẩm tính trong vật chất hay chất liệu, nên Thiêng Ngã lúc đầu đồng hoá chính Nó với cảm giác. Về sau, khi Thiêng Ngã bắt đầu đồng hoá chính Nó với chính Nó, và nhận ra bản chất của Phi-Ngã, thì Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi trở nên [Page 767] hoạt động hơn, và ý chí cùng mục đích hữu thức được biểu lộ. Ở đây cần nhớ rằng có một sự khác biệt sâu xa về thời gian và không gian giữa Thượng đế, hay Đại thiên địa, và Con người, Tiểu thiên địa. Con người trung bình đi vào lâm phàm qua xung lực chân ngã, dựa trên dục vọng và trên mối liên hệ của phương diện thứ hai với phương diện thứ ba hay của Thiêng Ngã với Phi-Ngã. Cuối cùng y sẽ mang lại (qua tiến hoá) sự mặc khải của phương diện thứ nhất, và khi đó xung lực chân ngã (dựa trên sự lĩnh hội trí tuệ hữu thức về mục đích được nhắm đến) sẽ là yếu tố chi phối, và sẽ biểu lộ qua một ý chí hành động rõ rệt. Liên hệ với Thượng đế, giai đoạn thứ nhất đã bị bỏ lại rất xa phía sau, và sự biểu hiện của Thượng đế dựa trên ý chí và mục đích cùng hoạt động hữu thức thông tuệ. Lý do của điều này là Thượng đế, và các Hành Tinh Thượng đế cũng vậy, đang ở trên con đường điểm đạo vũ trụ. |
|
Do đó, tuy xung lực khởi nguyên phát xuất từ điểm trung tâm, lúc đầu nó không biểu lộ rõ rệt. Vào lúc biệt ngã hóa, đường nét mờ nhạt của một hình tướng như đã mô tả trước đây xuất hiện trên các cấp độ trí tuệ, và (đây là một điểm mà các đạo sinh chưa nhận ra) hiển nhiên là đã có một thời kỳ trên các cấp độ trí tuệ trôi qua để chuẩn bị cho biến cố sắp xảy đến. Nhờ hoạt động của các Thái dương Thiên Thần, mười hai cánh hoa dần dần thành hình, khi điểm lửa điện ở trung tâm bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận dù chưa định vị. Rồi ba cánh hoa đầu tiên thành hình, và khép lại quanh điểm rung động, hay “viên ngọc”, dưới uy lực của Định luật Hấp Dẫn. Từng cánh một, chín cánh hoa còn lại thành hình khi các rung động bắt đầu tác động đến chất liệu thái dương, mỗi loại trong ba loại cánh hoa đều ở dưới ảnh hưởng của một trong các Cung chính; đến lượt chúng, lại chịu ảnh hưởng của mãnh lực từ các trung tâm vũ trụ. |
|
|
[Page 768] As earlier said, these petals form a bud, each being closely folded. Only faint vibrations are to be seen pulsating in the bud, just enough to testify to its being a living organism. Shadowy and dim can the ring-pass-not be seen, the encircling limit of the activity of the coming Consciousness. It is an ovoid or sphere, and very small as yet. This process of forming the egoic lotus has gone on silently from the moment that the lower animal man, or the lower four principles, had reached a point where the energy (generated by him) could begin to make itself felt on mental levels. When the fire of the lower prepared sheaths (the threefold fire of substance itself) becomes radioactive, this nebulous appearance on the third subplane of the mental plane begins to be organised, as the result of the downward pull of the higher by the lower, and as the response of the Spirit aspect to the radiations, or attraction, of matter. But individualisation as we understand it is not yet effected. This process of radioactivity on the part of the lower, and of a downflow of energy from the higher, covers a long period wherein the solar Angels are working on Their Own plane and the lower Pitris are also working on theirs; one group is producing the nucleus of the egoic body, and the other the receptacle for the life of God, or the Monad in the three worlds. |
[Page 768] Như đã nói trước đây, các cánh hoa này tạo thành một nụ, mỗi cánh đều khép chặt. Chỉ có thể thấy những rung động mờ nhạt đang đập nhịp trong nụ, vừa đủ để chứng tỏ đó là một cơ thể sống. Vòng-giới-hạn có thể được thấy một cách lờ mờ và mờ tối, là giới hạn bao quanh hoạt động của Tâm thức sắp đến. Nó là một hình trứng hay một khối cầu, và hiện còn rất nhỏ. Tiến trình hình thành Hoa Sen Chân Ngã này đã âm thầm diễn ra từ lúc người thú thấp hơn, hay bốn nguyên khí thấp hơn, đã đạt đến một điểm mà năng lượng (do y tạo ra) có thể bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trên các cấp độ trí tuệ. Khi lửa của các thể thấp đã được chuẩn bị (tam phân lửa của chính chất liệu) trở nên phóng xạ, sắc tướng mơ hồ này trên cõi phụ thứ ba của cõi trí bắt đầu được tổ chức, là kết quả của sức kéo đi xuống của cái cao hơn bởi cái thấp hơn, và là sự đáp ứng của phương diện tinh thần đối với các bức xạ, hay sức hút, của vật chất. Nhưng biệt ngã hóa như chúng ta hiểu thì vẫn chưa được thực hiện. Tiến trình phóng xạ này từ phía cái thấp hơn, và sự tuôn xuống của năng lượng từ cái cao hơn, bao trùm một thời kỳ dài trong đó các Thái dương Thiên Thần đang hoạt động trên cõi riêng của Các Ngài và các thái âm tổ phụ thấp hơn cũng đang hoạt động trên cõi của họ; một nhóm tạo ra hạt nhân của thể chân ngã, còn nhóm kia tạo ra vật chứa cho sự sống của Thượng đế, hay chân thần trong ba cõi thấp. |
|
Then comes a set time in the life of the planetary Logos wherein His centres become active in a particular manner; this is coincident with the incarnation of the Monads, and their descent into the three worlds. A systemic triangle is formed (for ever the three produce the seven), and through this setting loose of threefold energy, the work of the solar and lunar Pitris is co-ordinated, and the three permanent atoms are appropriated by the jiva concerned, and appear at the base of the egoic lotus. Individualisation has taken place and the work of at-one-ment is completed; the fourth kingdom [Page 769] in nature is a “fait accompli;” the Monad has clothed itself in material sheaths, and the self conscious unit appears on the physical plane. If all that H. P. B. has to say anent the first three rounds of our Earth scheme is read as dealing with the period of condensation of the causal body upon the mental level, and as covering the time leading up to the appearance in the fourth round of man as we now have him, some light may be thrown upon this difficult matter. |
Rồi đến một thời điểm định sẵn trong sự sống của Hành Tinh Thượng đế khi các trung tâm của Ngài trở nên hoạt động theo một cách đặc biệt; điều này trùng hợp với sự lâm phàm của các chân thần, và sự giáng xuống của chúng vào ba cõi thấp. Một tam giác hệ thống được hình thành (vì ba luôn tạo ra bảy), và nhờ sự giải phóng năng lượng tam phân này, công việc của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ được phối hợp, và ba Nguyên tử trường tồn được jiva liên hệ tiếp nhận, rồi xuất hiện ở đáy của Hoa Sen Chân Ngã. Biệt ngã hóa đã diễn ra và công việc hợp nhất đã hoàn tất; giới thứ tư [Page 769] trong thiên nhiên là một “sự đã rồi”; chân thần đã khoác lên mình các thể vật chất, và đơn vị ngã thức xuất hiện trên cõi hồng trần. Nếu tất cả những gì H. P. B. nói về ba cuộc tuần hoàn đầu tiên của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta được đọc như nói về thời kỳ ngưng tụ của thể nguyên nhân trên cấp độ trí tuệ, và như bao trùm thời gian dẫn đến sự xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ tư của con người như hiện nay, thì có thể soi sáng phần nào vấn đề khó khăn này. |
|
The egoic lotuses can be seen grouped together, and each of them forms part of a group. These groups in their turn form part of a vaster lotus which embodies the consciousness of a still greater Entity whose “jewel” may be found on the second subplane. All these in their turn may be divided into seven fundamental groups. These seven groups or aggregates of egoic lotuses form the seven types of consciousness of those Entities Who are the seven centres of force for our own planetary Logos. These seven in their turn will be synthesised on higher levels into the three higher centres, till the entire energy and force which they represent is gathered up, and absorbed by the centre corresponding to the highest head centre of the planetary Logos. Each Logos embodies one type of cosmic energy. Each of His centres embodies this type of energy in one of its seven differentiations. Each of these seven in turn manifests through egoic groups, and these again are composed of those points of energy we call Egos. |
Có thể thấy các Hoa Sen Chân Ngã được nhóm lại với nhau, và mỗi hoa tạo thành một phần của một nhóm. Đến lượt mình, các nhóm này lại tạo thành một phần của một Hoa sen rộng lớn hơn, hiện thân cho tâm thức của một Thực Thể còn vĩ đại hơn nữa mà “viên ngọc” của Ngài có thể được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai. Tất cả những cái này, đến lượt chúng, có thể được chia thành bảy nhóm căn bản. Bảy nhóm hay tập hợp Hoa Sen Chân Ngã này tạo thành bảy loại tâm thức của những Thực Thể là bảy trung tâm mãnh lực của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Đến lượt bảy trung tâm này sẽ được tổng hợp trên các cấp độ cao hơn vào ba trung tâm cao hơn, cho đến khi toàn bộ năng lượng và mãnh lực mà chúng biểu hiện được thu gom lại và được hấp thụ bởi trung tâm tương ứng với trung tâm đầu cao nhất của Hành Tinh Thượng đế. Mỗi Thượng đế hiện thân cho một loại năng lượng vũ trụ. Mỗi trung tâm của Ngài hiện thân cho loại năng lượng này trong một trong bảy biến phân của nó. Đến lượt mỗi một trong bảy cái này biểu lộ qua các nhóm chân ngã, và các nhóm này lại được cấu thành bởi những điểm năng lượng mà chúng ta gọi là các chân ngã. |
|
These multitudes of egoic groups form a radiant interlocking whole, though all are diverse and differing, both as to their point of development, and their secondary colouring. Just as the petals in the egoic lotus of the incarnating jivas unfold in differing order and at different periods, so the egoic groups also unfold diversely as to time and sequence. This produces a wonderful appearance. Again just as the Master can (by [Page 770] studying the group or larger lotus of which He is a part), ascertain the condition of the human units who go to its constitution, so the planetary Logos can ascertain through conscious identification (note the term) the condition of the various groups through whom His work must be accomplished. |
Vô số các nhóm chân ngã này tạo thành một toàn thể rực sáng, đan xen vào nhau, dù tất cả đều đa dạng và khác biệt, cả về điểm phát triển lẫn sắc thái thứ yếu của chúng. Cũng như các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã của các jiva đang lâm phàm khai mở theo thứ tự khác nhau và vào những thời kỳ khác nhau, thì các nhóm chân ngã cũng khai mở khác nhau về thời gian và trình tự. Điều này tạo nên một sắc tướng kỳ diệu. Lại nữa, cũng như Chân sư có thể (bằng cách [Page 770] nghiên cứu nhóm hay Hoa sen lớn hơn mà Ngài là một phần của nó) xác định tình trạng của các đơn vị nhân loại cấu thành nó, thì Hành Tinh Thượng đế cũng có thể xác định qua sự đồng hoá với hữu thức (hãy lưu ý thuật ngữ này) tình trạng của các nhóm khác nhau mà qua đó công việc của Ngài phải được hoàn thành. |
|
It will now be apparent to the student that the appearance of the incarnating jivas on the physical plane will be governed by three things: |
Giờ đây, đạo sinh sẽ thấy rõ rằng sự xuất hiện của các jiva đang lâm phàm trên cõi hồng trần sẽ được chi phối bởi ba điều: |
|
First of all, on impulse based on the will-purpose of the Life animating the aggregate of groups on any subray, or one of the seven larger groups. |
Trước hết, bởi một xung lực dựa trên ý chí-mục đích của Sự sống đang linh hoạt tập hợp các nhóm trên bất kỳ cung phụ nào, hay một trong bảy nhóm lớn hơn. |
|
Second, on impulse based on the will, tinged by desire, of the Life animating a man’s egoic group. |
Thứ hai, bởi một xung lực dựa trên ý chí, nhuốm màu dục vọng, của Sự sống đang linh hoạt nhóm chân ngã của một người. |
|
Third, on impulse, based on the desire of the Ego for physical plane manifestation. |
Thứ ba, bởi một xung lực dựa trên dục vọng của chân ngã muốn biểu lộ trên cõi hồng trần. |
|
As identification of a man with his group becomes matured the desire impulse becomes modified until it is eventually superseded by group will. If these facts are pondered upon it will be apparent that Egos come into incarnation therefore not singly but according to group urge, and thus collectively. This is the basis of collective karma, and of family karma. The individual urge, which is, of course, a reaction to group urge, is the result of personal karma. Hence, though we may by these reflections, have thrown some light upon this question of reincarnation, we have nevertheless said much to increase the magnitude of the question, and its complexity. Average man is confined to the use of the physical brain, and is, therefore, unable to think in group terms. |
Khi sự đồng hoá của một người với nhóm của y trở nên chín muồi, xung lực dục vọng sẽ được biến đổi cho đến khi cuối cùng bị thay thế bởi ý chí nhóm. Nếu suy ngẫm về các sự kiện này, sẽ thấy rõ rằng các chân ngã đi vào lâm phàm không phải riêng lẻ mà theo thúc đẩy của nhóm, và do đó một cách tập thể. Đây là nền tảng của nghiệp quả tập thể và nghiệp quả gia đình. Thúc đẩy cá nhân, vốn dĩ là phản ứng đối với thúc đẩy của nhóm, là kết quả của nghiệp quả cá nhân. Vì vậy, tuy qua những suy tư này chúng ta có thể đã soi sáng phần nào vấn đề luân hồi, nhưng đồng thời chúng ta cũng đã nói nhiều điều làm tăng thêm tầm vóc của vấn đề và tính phức tạp của nó. Con người trung bình bị giới hạn trong việc sử dụng bộ não hồng trần, và do đó không thể suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm. |
|
This egoic impulse in any group or any group unit makes itself felt as a pulsation, or access of energy, emanating from the central point. This central activity is produced by the action of the planetary Logos working through the groups in His centres, and according to the [Page 771] centre under stimulation so will the groups concerned be affected. Beyond mentioning this fact, we cannot enlarge, for the subject is stupendous, and beyond a man’s comprehension; it is only necessary for him to appreciate his dependence in this matter upon the planetary Logos. |
Xung lực chân ngã này trong bất kỳ nhóm nào hay đơn vị nhóm nào tự biểu lộ như một nhịp đập, hay một đợt tăng năng lượng, phát ra từ điểm trung tâm. Hoạt động trung tâm này được tạo ra bởi tác động của Hành Tinh Thượng đế đang hoạt động qua các nhóm trong các trung tâm của Ngài, và tùy theo [Page 771] trung tâm nào được kích thích mà các nhóm liên hệ sẽ bị ảnh hưởng tương ứng. Ngoài việc nêu ra sự kiện này, chúng ta không thể nói rộng hơn, vì đề tài này quá bao la và vượt ngoài sự thấu hiểu của con người; điều cần thiết duy nhất là y phải nhận thức được sự lệ thuộc của mình trong vấn đề này vào Hành Tinh Thượng đế. |
|
From the group centre, therefore, emanates an urge to renewed activity, and this spreads throughout the group lotus until the units who respond to that particular ray vibration occultly “awaken.” All this time (as far as the jivas are concerned) this aspect of force has been that of the first aspect, and has passed from the central points to other central points. The positive nuclei in each case are affected by this flashing forth of electric fire, or energy. Each point concerned responds by a primary contraction followed by an outgoing or expansive display of energy. Each Identity concerned proceeds to sound a WORD. This sound expands into a mantram and the solar angels vibrate in response. There is a point of interest to be noted here. |
Do đó, từ trung tâm nhóm phát ra một thúc đẩy hướng đến hoạt động được đổi mới, và điều này lan khắp Hoa sen nhóm cho đến khi các đơn vị đáp ứng với rung động cung đặc thù ấy một cách huyền bí “thức tỉnh”. Trong suốt thời gian này (xét theo các jiva), phương diện mãnh lực này thuộc về phương diện thứ nhất, và đã truyền từ các điểm trung tâm đến các điểm trung tâm khác. Các hạt nhân dương trong mỗi trường hợp đều bị tác động bởi sự lóe ra này của Lửa Điện, hay năng lượng. Mỗi điểm liên hệ đáp ứng bằng một sự co rút sơ khởi, tiếp theo là một sự phô bày năng lượng hướng ngoại hay mở rộng. Mỗi Bản Sắc Cô Lập liên hệ tiến hành xướng một LINH TỪ. Âm thanh này mở rộng thành một mantram và các Thái dương Thiên Thần rung động để đáp ứng. Có một điểm đáng lưu ý ở đây. |
|
a. Phương diện thứ nhất hoạt động qua một Quyền năng từ. |
|
|
b. The second aspect works through mantric combinations. |
b. Phương diện thứ hai hoạt động qua các tổ hợp mantram. |
|
c. The third aspect works through mathematical formulas. |
c. Phương diện thứ ba hoạt động qua các công thức toán học. |
|
Having sounded the Word the first aspect, represented by the electric fire at the centre of the lotus, sinks back into quiescence, and becomes an abstraction as far as the self-conscious unit is concerned. The work has been begun, the necessary vibration has been set up, and the whole process then proceeds under law. The solar angels have begun their activity, and until their work has reached a very high stage, the Spirit aspect must become, in the causal body, an analogy to the Silent Watcher. As the solar Angels continue sounding out the mantram which is the basis of their work, the lunar Pitris respond [Page 772] to certain sounds in that mantram (not to all by any means at first) and gather out of those sounds the formula under which their work must proceed. So the Word is the basis of the mantram, and the mantram is the basis of the formula. |
Sau khi xướng Linh từ, phương diện thứ nhất, được biểu trưng bởi Lửa Điện ở trung tâm Hoa sen, lùi trở lại trạng thái tĩnh lặng, và trở thành một sự trừu xuất đối với đơn vị ngã thức. Công việc đã được khởi sự, rung động cần thiết đã được thiết lập, và toàn bộ tiến trình sau đó diễn ra theo quy luật. Các Thái dương Thiên Thần đã bắt đầu hoạt động của Các Ngài, và cho đến khi công việc của Các Ngài đạt đến một giai đoạn rất cao, phương diện tinh thần phải trở thành, trong thể nguyên nhân, một sự tương đồng với Đấng Quan Sát Thầm Lặng. Khi các Thái dương Thiên Thần tiếp tục xướng lên mantram là nền tảng công việc của Các Ngài, các thái âm tổ phụ đáp ứng [Page 772] với một số âm thanh nhất định trong mantram ấy (thoạt đầu tuyệt nhiên không phải với tất cả) và rút ra từ những âm thanh đó công thức mà theo đó công việc của họ phải tiến hành. Như vậy Linh từ là nền tảng của mantram, và mantram là nền tảng của công thức. |
|
At each incarnation, finer forms are required, and the formulas therefore grow more complicated, and the sounds on which they are based become more numerous. In time, the formulas are completed, and the lunar Pitris respond no more to the sounds or mantrams chanted on the mental plane. This is indicative of the stage of perfection, and shows that the three worlds have no more a downward pull for the jiva concerned. Desire for lower manifestation and experience has no more sway, and only conscious purpose is left. Then, and only then, can the true Mayavirupa be constructed; the Master then sounds the mantram for Himself, and builds without formulas in the three worlds. At the time too that man begins to tread the Probationary Path, the mantrams of the solar Angels begin to die down, and slowly (as the petals of the inner circle open up) the true Word emerges until the three enshrining petals burst open, and the central spark is revealed. Then the Word is fully known, and mantrams and formulas have no further use. Thus is the beauty of the scheme revealed. When the planetary Logos is concerned, the Word sounded on cosmic levels is being resolved into mantrams on the cosmic etheric planes, for He is in a position to create consciously on those levels; He works nevertheless through formulas on the dense physical planes of His scheme, our three worlds of endeavour. |
Trong mỗi lần lâm phàm, các hình tướng tinh tế hơn đều được đòi hỏi, và vì thế các công thức ngày càng phức tạp hơn, còn các âm thanh làm nền tảng cho chúng cũng trở nên nhiều hơn. Theo thời gian, các công thức được hoàn tất, và các thái âm tổ phụ không còn đáp ứng với các âm thanh hay mantram được xướng trên cõi trí nữa. Điều này biểu thị giai đoạn hoàn hảo, và cho thấy ba cõi thấp không còn sức kéo đi xuống đối với jiva liên hệ. Dục vọng đối với biểu lộ và kinh nghiệm thấp hơn không còn chi phối nữa, và chỉ còn lại mục đích hữu thức. Khi ấy, và chỉ khi ấy, chân Mayavirupa mới có thể được kiến tạo; lúc đó Chân sư tự mình xướng mantram, và kiến tạo không cần công thức trong ba cõi thấp. Đồng thời, vào lúc con người bắt đầu bước lên Con Đường Dự Bị, các mantram của các Thái dương Thiên Thần bắt đầu lắng xuống, và chậm rãi (khi các cánh hoa của vòng trong khai mở) Linh từ chân thực xuất hiện cho đến khi ba cánh hoa bao bọc bung mở, và tia lửa trung tâm được hiển lộ. Khi đó Linh từ được biết trọn vẹn, và mantram cùng các công thức không còn công dụng nữa. Như thế vẻ đẹp của hệ thống được mặc khải. Khi liên quan đến Hành Tinh Thượng đế, Linh từ được xướng trên các cấp độ vũ trụ đang được phân giải thành các mantram trên các cõi dĩ thái vũ trụ, vì Ngài ở trong vị thế có thể sáng tạo một cách hữu thức trên các cấp độ ấy; tuy nhiên Ngài vẫn hoạt động qua các công thức trên các cõi hồng trần đậm đặc của hệ hành tinh của Ngài, tức ba cõi nỗ lực của chúng ta. |
|
To return to the reincarnating jivas: When the initiatory impulse has been given, the vibration thrills through the petals, and activity starts in those of them which respond to the note of that Word. The solar Angels direct the vibration, and the mantram for that particular [Page 773] type of Ego is begun. Finally the vibration reaches the mental unit at the base of the lotus bud, and the lunar Pitris are called into activity. They begin to work out their formulas for the particular type of vehicle which is required. |
Trở lại với các jiva tái sinh: Khi xung lực khởi đầu đã được ban ra, rung động run lên xuyên qua các cánh hoa, và hoạt động bắt đầu trong những cánh đáp ứng với âm điệu của Linh từ ấy. Các Thái dương Thiên Thần điều hướng rung động, và mantram dành cho loại [Page 773] chân ngã đặc thù ấy được khởi xướng. Cuối cùng rung động chạm đến đơn vị hạ trí ở đáy nụ Hoa sen, và các thái âm tổ phụ được gọi vào hoạt động. Họ bắt đầu triển khai các công thức của mình cho loại vận cụ đặc thù được cần đến. |
|
(f.) Activity of the Pitris. The joint activity of the solar and the lunar Pitris (253) in the process pursued by the reincarnating Ego is our next subject of consideration. The Ego, driven by desire for physical experience, has made the initial move and a vibration, emanating from the centre of the lotus bud, has reached the lotus petals, and has consequently vibrated in deva substance, or in [Page 774] matter vitalised by the Agnishvattas. As they are galvanised into activity (according to the group affected) the vibration is increased, and a dual sound is emitted. This dual sound is the basis of the mantram upon which the Ego’s cycle of incarnation is founded. The vibration, pulsating through the outer circle of petals (for the two inner circles and the three central petals are not as yet responsive) arrives at the triangle formed by the three permanent atoms, and vivifies the three lower spirillae, causing a slight response in the fourth, and leaving the higher three yet dormant. In each round one of the spirillae has been ‘created,’ and in this fourth round (through the creation of the fourth spirilla) the fourth or human kingdom can come into being. The word ‘creation’ must be occultly understood, and means the appearance in active manifestation of some form of energy. Only in the next round will the fifth spirilla be an active functioning unit in a sense incomprehensible now. |
(f.) Hoạt động của các Pitri. Hoạt động phối hợp của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ (253) trong tiến trình được chân ngã tái sinh theo đuổi là chủ đề kế tiếp để chúng ta xem xét. Chân ngã, bị thúc đẩy bởi dục vọng muốn có kinh nghiệm hồng trần, đã thực hiện chuyển động khởi đầu và một rung động, phát ra từ trung tâm của nụ Hoa sen, đã chạm đến các cánh hoa sen, và do đó đã làm rung động chất liệu thiên thần, hay [Page 774] vật chất được các Agnishvatta tiếp sinh lực. Khi họ được kích hoạt vào hoạt động (tùy theo nhóm bị ảnh hưởng), rung động được gia tăng, và một âm thanh nhị phân được phát ra. Âm thanh nhị phân này là nền tảng của mantram mà trên đó chu kỳ lâm phàm của chân ngã được xây dựng. Rung động, đập nhịp xuyên qua vòng ngoài của các cánh hoa (vì hai vòng trong và ba cánh hoa trung tâm chưa đáp ứng), đi đến tam giác được tạo bởi ba Nguyên tử trường tồn, và làm sinh động ba loa tuyến thấp hơn, gây nên một đáp ứng nhẹ trong loa tuyến thứ tư, đồng thời để ba loa tuyến cao hơn vẫn còn ngủ yên. Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một loa tuyến đã được ‘tạo ra’, và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này (qua việc tạo ra loa tuyến thứ tư), giới thứ tư hay giới nhân loại có thể xuất hiện. Từ ‘sáng tạo’ phải được hiểu theo nghĩa huyền bí, và có nghĩa là sự xuất hiện trong biểu lộ hoạt động của một hình thức năng lượng nào đó. Chỉ trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, loa tuyến thứ năm mới là một đơn vị hoạt động tích cực theo một nghĩa hiện nay không thể hiểu được. |
|
(253) The joint activity of solar and lunar Pitris.—S. D., II, 258. |
(253) Hoạt động phối hợp của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ.—S. D., II, 258. |
|
1. “The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat. |
1. “Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi chỉ Fohat mảnh nhất. |
|
a. The three-tongued flame that never dies…. Triad. |
a. Ngọn lửa ba lưỡi không bao giờ tắt…. Tam nguyên tinh thần. |
|
b. The four wicks…………………… Quaternary. |
b. Bốn tim đèn………………….. Bộ bốn. |
|
c. The thread of Fohat……………….. Thread of Life. |
c. Sợi chỉ Fohat……………….. Sinh Mệnh Tuyến. |
|
2. It journeys through the seven worlds of maya. |
2. Nó du hành qua bảy thế giới của ảo lực. |
|
Macrocosmically…….. the seven planetary schemes. |
Về mặt đại thiên địa…….. bảy hệ hành tinh. |
|
Planetary…………… the seven chains of a scheme. |
Về mặt hành tinh………….. bảy Dãy của một hệ hành tinh. |
|
Microcosmically……… the seven globes of a chain. |
Về mặt tiểu thiên địa……… bảy bầu hành tinh của một Dãy. |
|
Note and meditate upon:— |
Hãy lưu ý và tham thiền về:— |
|
“…the divine Septenary hanging from the triad, thus forming the Decad and its permutations. Seven, five and three.” |
“…thất phân thiêng liêng treo từ tam nguyên tinh thần, do đó tạo thành Thập phân và các hoán vị của nó. Bảy, năm và ba.” |
|
3. It stops in the first, and is a metal and a stone; it passes into the second and behold—a plant; the plant whirls through seven forms and becomes a sacred animal.” |
3. Nó dừng lại ở giới thứ nhất, và là một kim loại và một hòn đá; nó đi vào giới thứ hai và kìa—một cây cỏ; cây cỏ quay cuồng qua bảy hình tướng và trở thành một con vật thiêng liêng.” |
|
Compare S. D., I, 266. |
So sánh S. D., I, 266. |
|
Hãy lưu ý châm ngôn Kabbalah:—”Một hòn đá trở thành cây cỏ; cây cỏ thành thú vật; thú vật thành người; người thành tinh thần; và tinh thần thành Thượng đế.—S. D., I, 267. |
|
|
4. From the combined attributes of these, Manu, the Thinker, is formed.—See S. D., II, 179, 187. |
4. Từ các thuộc tính kết hợp của những cái này, Đức Manu, Đấng Tư Tưởng, được hình thành.—Xem S. D., II, 179, 187. |
|
5. Who forms him? The seven lives and the One Life.—See S. D., II. 268. |
5. Ai tạo thành y? Bảy sự sống và Một Sự sống.—Xem S. D., II. 268. |
|
The seven groups of lives who form the three lower bodies. The lunar Pitris or fathers of the material forms. |
Bảy nhóm sự sống tạo thành ba thể thấp. Các thái âm tổ phụ hay các cha của các hình tướng vật chất. |
|
6. Who completes him? The fivefold Lha. |
6. Ai hoàn thiện y? Lha ngũ phân. |
|
Who unites the higher Spiritual Triad and the lower self? |
Ai hợp nhất Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn và phàm ngã? |
|
a. The fivefold Gods of the intelligence. |
a. Các Thượng đế ngũ phân của trí tuệ. |
|
b. The fifth principle of mind. |
b. Nguyên khí thứ năm của trí tuệ. |
|
7. Who perfects the last body? Fish, sin, and soma. |
7. Ai hoàn thiện thể cuối cùng? Cá, tội lỗi, và soma. |
|
a. Fish, sin and soma collectively compose the three symbols of the immortal being. |
a. Cá, tội lỗi và soma cùng nhau cấu thành ba biểu tượng của hữu thể bất tử. |
|
b. Fish—symbol of the buddhic principle, the manifested life on earth. Note the avatara of Vishnu. The sign of Pisces, the fish. Jesus the fisher of men. |
b. Cá—biểu tượng của nguyên khí Bồ đề, sự sống biểu lộ trên trần gian. Hãy lưu ý Đấng Hoá Thân của Vishnu. Dấu hiệu hoàng đạo Song Ngư, con cá. Đức Jesus, người đánh cá của nhân loại. |
|
c. Sin—The fall of man, involution of Spirit. |
c. Tội lỗi—Sự sa ngã của con người, sự giáng hạ tiến hoá của tinh thần. |
|
d. Soma—Moon. The work of lunar Pitris, providing bodies. Read stanza VII, 6, S. D., I, 285. (back) |
d. Soma—Mặt Trăng. Công việc của các thái âm tổ phụ, cung cấp các thể. Đọc bài kệ VII, 6, S. D., I, 285. (back) |
|
Students should bear in mind that this applies primarily to the humanity individualised on this globe, and was also equally true in the earlier chain; units, however, which come into this fourth or Earth Chain from the earlier ones are much ahead of earth’s humanity, and their fifth spirilla is awakening into organised activity in this round. All in Nature overlaps. |
Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng điều này chủ yếu áp dụng cho nhân loại đã được biệt ngã hóa trên bầu hành tinh này, và cũng đúng như vậy trong Dãy trước đó; tuy nhiên, các đơn vị đi vào Dãy thứ tư này hay Dãy Địa Cầu từ các Dãy trước thì vượt xa nhân loại Địa Cầu, và loa tuyến thứ năm của họ đang thức dậy vào hoạt động có tổ chức trong cuộc tuần hoàn này. Mọi sự trong Thiên nhiên đều chồng lấn lên nhau. |
|
When therefore this vibration from the central Will has arrived at the atomic triangle it is an indication that the entire lotus is turning its force downwards, and for the period of manifestation the flow of egoic energy is towards the lower, and consequently away from the higher. There is at this stage very little turning of egoic energy in the direction of the Monad, for it has not yet generated enough force, and is not as yet radioactive towards the Spirit aspect. Its activities are primarily internal and self-centred for the greater part of the time, or are directed towards arousing the permanent atoms, [Page 775] and not towards the unfolding of the petals. This should be carefully borne in mind. |
Do đó, khi rung động này từ Ý Chí trung tâm đã đến tam giác nguyên tử, đó là dấu hiệu cho thấy toàn bộ Hoa sen đang hướng mãnh lực của nó xuống dưới, và trong thời kỳ biểu lộ, dòng năng lượng chân ngã hướng về cái thấp hơn, và vì thế rời xa cái cao hơn. Ở giai đoạn này có rất ít sự chuyển hướng của năng lượng chân ngã về phía chân thần, vì nó chưa tạo ra đủ mãnh lực, và chưa phóng xạ về phía phương diện tinh thần. Các hoạt động của nó chủ yếu là nội tại và tập trung vào bản thân trong phần lớn thời gian, hoặc hướng đến việc đánh thức các Nguyên tử trường tồn, [Page 775] chứ không hướng đến sự khai mở của các cánh hoa. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận. |
|
The work of the solar Angels is of a triple nature: |
Công việc của các Thái dương Thiên Thần có tính tam phân: |
|
(1.) Directing the vibration towards the atomic triangle. Here a very interesting fact must be borne in mind. The three permanent atoms, or the three points of the triangle, do not always hold the same relative position as regards the centre of the lotus, but according to the stage of development so will be the position of the atoms, and so will be the apprehension of the inflowing force. In the earlier stages, the physical permanent atom is the first to receive the inflow, passing it through its system to the astral permanent atom and the mental unit. This force is circulated four times around the triangle (this being the fourth round) until the mental unit is again contacted and the energy becomes centralised in the fourth spirilla of the mental unit. Then and only then do the lunar Pitris begin their work, and commence the co-ordination of the substance which will form the mental sheath, next working with the astral body and finally with the etheric body. |
(1.) Điều hướng rung động về phía tam giác nguyên tử. Ở đây cần ghi nhớ một sự kiện rất thú vị. Ba Nguyên tử trường tồn, hay ba điểm của tam giác, không phải lúc nào cũng giữ cùng một vị trí tương đối đối với trung tâm Hoa sen, mà tùy theo giai đoạn phát triển thì vị trí của các nguyên tử sẽ như thế, và sự lĩnh hội mãnh lực tuôn vào cũng sẽ như thế. Trong các giai đoạn đầu, nguyên tử trường tồn hồng trần là cái đầu tiên tiếp nhận dòng tuôn vào, truyền nó qua hệ thống của nó đến nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí. Mãnh lực này được lưu chuyển bốn lần quanh tam giác (vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư) cho đến khi đơn vị hạ trí lại được chạm đến và năng lượng được tập trung trong loa tuyến thứ tư của đơn vị hạ trí. Khi ấy và chỉ khi ấy các thái âm tổ phụ mới bắt đầu công việc của họ, và khởi sự phối hợp chất liệu sẽ tạo thành thể trí, rồi kế đó làm việc với thể cảm dục và cuối cùng với thể dĩ thái. |
|
At a later stage in the evolution of man (the stage wherein the average man is now) the astral permanent atom is the first contacted, and the energy circulates through it to the other two. At the stage of advanced intellectual man, the mental unit takes the primary place. In this case there is now the possibility of the alignment of the three bodies which will later be an accomplished fact. The fifth spirilla in the lower two atoms increases its vibration. As we know, there are only four spirillae in the mental unit and the moment that that is in full activity, the co-ordination of the antaskarana becomes a possibility. Changes are now taking place in the egoic lotus, and the petals are unfolding, that unfoldment being partially dependent upon the vibration in the spirillae and their awakening. |
Ở một giai đoạn muộn hơn trong tiến hoá của con người (giai đoạn mà con người trung bình hiện nay đang ở), nguyên tử trường tồn cảm dục là cái được chạm đến đầu tiên, và năng lượng lưu chuyển qua nó đến hai cái kia. Ở giai đoạn của con người trí thức tiến bộ, đơn vị hạ trí giữ vị trí chủ yếu. Trong trường hợp này hiện có khả năng chỉnh hợp của ba thể, điều mà về sau sẽ là một sự kiện hoàn tất. Loa tuyến thứ năm trong hai nguyên tử thấp hơn gia tăng rung động của nó. Như chúng ta biết, chỉ có bốn loa tuyến trong đơn vị hạ trí và ngay khi nó hoạt động trọn vẹn, sự phối hợp của antahkarana trở thành một khả năng. Những thay đổi hiện đang diễn ra trong Hoa Sen Chân Ngã, và các cánh hoa đang khai mở, sự khai mở ấy phần nào tùy thuộc vào rung động trong các loa tuyến và sự thức tỉnh của chúng. |
|
[Page 776] The student should bear in mind the fact that as soon as the mental unit has become the apex of the atomic triangle a condition is brought about wherein force in the future will enter the three atoms simultaneously through the three unfolded petals of the outer circle, and the man has therefore reached a very definite stage in evolution. The direction of force, and its application to the atoms is the work of the solar Pitris. As evolution proceeds, their work in this connection becomes more complex, for the petals are unfolding, and the triangle is revolving more rapidly. |
[Page 776] Đạo sinh nên ghi nhớ sự kiện rằng ngay khi đơn vị hạ trí đã trở thành đỉnh của tam giác nguyên tử, một điều kiện được tạo ra trong đó về sau mãnh lực sẽ đi vào ba nguyên tử đồng thời qua ba cánh hoa đã khai mở của vòng ngoài, và do đó con người đã đạt đến một giai đoạn rất xác định trong tiến hoá. Sự định hướng của mãnh lực, và việc áp dụng nó vào các nguyên tử là công việc của các thái dương tổ phụ. Khi tiến hoá tiếp diễn, công việc của họ trong mối liên hệ này trở nên phức tạp hơn, vì các cánh hoa đang khai mở, và tam giác đang quay nhanh hơn. |
|
(2.) Pronouncing the mantram which will make possible the 777 incarnations. |
(2.) Xướng mantram sẽ làm cho 777 lần lâm phàm trở nên khả hữu. |
|
Each of the figures in this triplicity stands for: |
Mỗi con số trong bộ ba này tượng trưng cho: |
|
a. A cycle of egoic manifestation. |
a. Một chu kỳ biểu lộ chân ngã. |
|
b. A particular sound which will enable the Ego to express some subray of this egoic ray. |
b. Một âm thanh đặc thù sẽ giúp chân ngã biểu lộ một cung phụ nào đó của cung chân ngã này. |
|
c. The three circles of petals which will unfold as the result of incarnation. |
c. Ba vòng cánh hoa sẽ khai mở như là kết quả của lâm phàm. |
|
d. The particular group of manasadevas who form the causal body of the Ego concerned. |
d. Nhóm manasadeva đặc thù tạo thành thể nguyên nhân của chân ngã liên hệ. |
|
The mantric sounds are therefore based on these figures, and through the mantram (which grows in volume, depth and number of sounds involved as time elapses) the force is directed, the petals concerned are stimulated into activity, and the lunar Pitris become aware of the work to be done in preparation for any incarnation. |
Do đó, các âm thanh mantram được đặt nền trên các con số này, và qua mantram (vốn tăng trưởng về âm lượng, chiều sâu và số lượng âm thanh liên hệ khi thời gian trôi qua), mãnh lực được điều hướng, các cánh hoa liên hệ được kích thích vào hoạt động, và các thái âm tổ phụ nhận biết công việc phải làm để chuẩn bị cho bất kỳ lần lâm phàm nào. |
|
(3.) Building into the causal body that which is required for its completion. |
(3.) Xây dựng vào thể nguyên nhân điều cần thiết cho sự hoàn tất của nó. |
|
In the early stages this work is comparatively small but as the third stage of development is reached, and the man is demonstrating character and ability, their work is rapidly increased, and they are kept fully occupied in the work of perfecting the egoic body, in expanding the egoic consciousness, if metaphysical terms are preferred. All [Page 777] this is accomplished by means of the material furnished by the lower self. When that lower Personality becomes gradually radioactive, these radiations are attracted to the positive ego, and are absorbed into its nature through the activity of the solar Angels. |
Trong các giai đoạn đầu, công việc này tương đối nhỏ, nhưng khi giai đoạn phát triển thứ ba đạt đến, và con người biểu lộ Tính cách cùng năng lực, công việc của họ tăng nhanh, và họ hoàn toàn bận rộn trong công việc hoàn thiện thể chân ngã, hay mở rộng tâm thức chân ngã, nếu ưa dùng các thuật ngữ siêu hình học. Tất cả [Page 777] điều này được hoàn thành bằng chất liệu do phàm ngã cung cấp. Khi phàm ngã thấp hơn ấy dần dần trở nên phóng xạ, các bức xạ này bị chân ngã dương thu hút, và được hấp thụ vào bản chất của nó qua hoạt động của các Thái dương Thiên Thần. |
|
Ba hoạt động này là công việc chính của các thái dương tổ phụ khi liên quan đến con người. Khi liên quan đến nhóm, chứ không phải cá nhân, công việc của họ nằm theo đường hướng điều chỉnh các đơn vị chân ngã trong các nhóm của chúng, và làm cho chúng có tâm thức nhóm, nhưng điều này chỉ có thể xảy ra vào các giai đoạn cuối của tiến hoá khi công việc của nhóm Agnishvatta cao nhất được đặt ra. Nhóm trung gian tạo thành chín cánh hoa luôn luôn hoạt động mạnh nhất. Họ làm việc liên hệ với nhóm thấp hơn là những kẻ truyền dẫn trực tiếp năng lượng đến tam giác nguyên tử, tiếp nhận nó từ nhóm trung gian. Không thể trình bày chi tiết hơn về công việc của họ, vì công việc của các Agnishvatta thì bao la và phức tạp, và cũng khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau ở một số chi tiết. Những vị đang hoạt động trong hệ hành tinh Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ làm việc hơi khác với những vị đang hoạt động trong hệ hành tinh Sao Kim, Vulcan, Sao Hỏa, Sao Thủy, Sao Mộc, Trái Đất và hệ hành tinh Sao Thổ ngoại môn, và các Manasadeva của cuộc tuần hoàn bên trong cũng vậy. Chúng ta nên lưu ý ở đây rằng một lần nữa chúng ta lại có một bộ ba nhóm, biểu hiện một bộ ba mãnh lực, và chính trong đó có một gợi ý. Trong danh sách trung tâm của các hệ hành tinh, nhóm Agnishvatta trung gian và thấp hơn hoạt động. Trong các hệ khác, nhóm cao hơn và nhóm trung gian nắm quyền chi phối vì các hành tinh này là những hành tinh huyền bí và thiêng liêng nhất trong biểu lộ, và chỉ liên quan đến các chân ngã đang ở trên Con Đường, và do đó hoạt động theo nhóm. Liên quan đến Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ, điều này có thể được chờ đợi vì chúng là các hệ hành tinh tổng hợp, và chỉ cung cấp những điều kiện thích hợp cho các giai đoạn rất tiến bộ. Chúng là các hành tinh “gặt hái”. |
|
|
[Page 778] Much confusion in connection with Egos exists in the minds of our students on account of their failure to realise that (as H. P. B. has pointed out) (S. D., I, 41, 83.) the Secret Doctrine is primarily concerned with the planetary scheme of our Earth, and has little to impart anent the other schemes, and their methods of evolving self-consciousness. The general procedure on the mental levels is the same, but as each scheme embodies one particular type of force, the peculiarity of that force will colour all its evolution, and the work of the Agnishvattas will correspond. It is not possible to state what is the peculiar colouring of the Ray which is embodied in our scheme, as it is one of the most secret of the mysteries revealed at initiation, but students must bear in mind that in the fundamentals laid down here we are not dealing specifically with our scheme. |
[Page 778] Có nhiều sự lẫn lộn liên quan đến các chân ngã tồn tại trong tâm trí các đạo sinh của chúng ta vì họ không nhận ra rằng (như H. P. B. đã chỉ ra) (S. D., I, 41, 83.) Giáo Lý Bí Nhiệm chủ yếu liên quan đến hệ hành tinh của Trái Đất chúng ta, và ít truyền đạt điều gì về các hệ hành tinh khác, cùng các phương pháp tiến hoá ngã thức của chúng. Tiến trình tổng quát trên các cấp độ trí tuệ là như nhau, nhưng vì mỗi hệ hành tinh hiện thân cho một loại mãnh lực đặc thù, nên tính chất riêng của mãnh lực ấy sẽ nhuốm màu toàn bộ sự tiến hoá của nó, và công việc của các Agnishvatta sẽ tương ứng. Không thể nói loại sắc thái đặc thù của Cung được hiện thân trong hệ hành tinh của chúng ta là gì, vì đó là một trong những huyền nhiệm bí mật nhất được tiết lộ lúc điểm đạo, nhưng các đạo sinh phải ghi nhớ rằng trong những nguyên lý căn bản được nêu ra ở đây, chúng ta không bàn riêng về hệ hành tinh của chúng ta. |
|
A great deal has been said in modern occult literature anent the process followed in the perfecting of those Egos who choose to remain with the Hierarchy of our planet, and their methods of development (through chelaship to adeptship). But nothing practically has been imparted anent the many egos who reach a certain high stage of evolution in our scheme and who are then transferred to one of the three synthesising schemes, passing first to the scheme which is the polar opposite to ours, and from thence to the synthesising scheme. They are numerically more than those who remain within the Earth scheme. Whichever may be the synthesising scheme to which they are attracted, it marks and initiates their start upon one of the three cosmic paths. The work of the Manasadevas is carried on throughout the entire system, and a constant circulation transpires, and a constant transmission of energy, and of force units embodying that energy, goes on throughout the entire system. This transmission becomes possible in any scheme when the [Page 779] fourth or human kingdom becomes radioactive; it really marks the setting in of the period of obscuration. Venus is a case in point. Metaphysically stated, it marks the point when the Logoi begin to dissociate Themselves from Their dense physical bodies, or from the three worlds of human endeavour. |
Rất nhiều điều đã được nói trong văn học huyền bí học hiện đại về tiến trình được theo đuổi trong việc hoàn thiện những chân ngã chọn ở lại với Thánh đoàn của hành tinh chúng ta, và các phương pháp phát triển của họ (qua địa vị đệ tử đến chân sư). Nhưng hầu như không có gì được truyền đạt về nhiều chân ngã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cao nào đó trong hệ hành tinh của chúng ta rồi sau đó được chuyển sang một trong ba hệ hành tinh tổng hợp, trước hết đi đến hệ hành tinh là cực đối nghịch với hệ của chúng ta, rồi từ đó đến hệ hành tinh tổng hợp. Về số lượng, họ nhiều hơn những người ở lại trong hệ hành tinh Địa Cầu. Dù họ bị thu hút đến hệ hành tinh tổng hợp nào đi nữa, điều đó đánh dấu và khởi đầu cho việc họ bước lên một trong ba con đường vũ trụ. Công việc của các Manasadeva được tiến hành khắp toàn bộ hệ thống, và một sự lưu chuyển liên tục diễn ra, cùng một sự truyền dẫn liên tục của năng lượng, và của các đơn vị mãnh lực hiện thân cho năng lượng ấy, diễn ra khắp toàn bộ hệ thống. Sự truyền dẫn này trở nên khả hữu trong bất kỳ hệ hành tinh nào khi [Page 779] giới thứ tư hay giới nhân loại trở nên phóng xạ; điều đó thực sự đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ che mờ. Sao Kim là một trường hợp điển hình. Nói theo siêu hình học, nó đánh dấu điểm mà các Thượng đế bắt đầu tách rời Chính Các Ngài khỏi các thể hồng trần đậm đặc của Các Ngài, hay khỏi ba cõi nỗ lực của nhân loại. |
|
The three groups of Agnishvattas concerned with the evolution of man on the mental level have each a specific function, as we have already seen, and the lowest of the three deal primarily with the transmission of force or energy to the three permanent atoms. In the dual sounding of the egoic mantram by the lowest of the three groups changes are brought about and the lunar Pitris (who concern themselves with the lower three vehicles) enter upon their work, the key being given to them by the solar Angels. |
Ba nhóm Agnishvatta liên quan đến sự tiến hoá của con người trên cấp độ trí tuệ, mỗi nhóm đều có một chức năng đặc thù, như chúng ta đã thấy, và nhóm thấp nhất trong ba nhóm chủ yếu đề cập đến việc truyền dẫn mãnh lực hay năng lượng đến ba Nguyên tử trường tồn. Trong sự xướng nhị phân của mantram chân ngã bởi nhóm thấp nhất trong ba nhóm, những thay đổi được tạo ra và các thái âm tổ phụ (những vị liên quan đến ba vận cụ thấp hơn) bắt đầu công việc của họ, chìa khóa được các Thái dương Thiên Thần trao cho họ. |
|
These lunar Pitris embody the substance of man’s lower bodies, just as the solar Pitris sacrifice themselves to give him his egoic body, and his consciousness. (255, 256, 257) They are substance in its dual aspect, and the Lunar Pitris in their higher grades are the positive energy of atomic substance, and in their lower are the negative [Page 780] aspect of the same substance. They might be considered, in connection with man, as triple in their ranks: |
Các thái âm tổ phụ này hiện thân cho chất liệu của các thể thấp của con người, cũng như các thái dương tổ phụ tự hi sinh để ban cho y thể chân ngã và tâm thức của y. (255, 256, 257) Họ là chất liệu trong phương diện nhị phân của nó, và các thái âm tổ phụ ở các cấp cao hơn của họ là năng lượng dương của chất liệu nguyên tử, còn ở các cấp thấp hơn là phương diện âm của cùng chất liệu ấy. Họ có thể được xem, [Page 780] liên quan đến con người, như có ba cấp bậc: |
|
(255) Chân ngã được mô tả như sau trong Giáo Lý Bí Nhiệm: Mỗi vị là một Trụ Ánh Sáng. Sau khi chọn vận cụ của mình, vị ấy mở rộng ra, bao quanh con người-thú bằng một hào quang akasha, với Nguyên Khí thiêng liêng an định bên trong hình tướng con người.”—S. D., III, 494. |
|
|
They are the Fire Dhyanis, and emanate from the Heart of the Sun.”—S. D., II, 96. |
Họ là các Hỏa Dhyanis, và phát xuất từ Trái Tim của Mặt Trời.”—S. D., II, 96. |
|
Read the words of the Commentary on S. D., II, 96. |
Hãy đọc những lời của Cổ Luận về S. D., II, 96. |
|
They are the Sons of Fire and fashion inner man.—S. D., II, 114. (back) |
Họ là Các Con của Lửa và tạo tác con người bên trong.—S. D., II, 114. (back) |
|
a. The highest group of all receives the energy from the higher levels, and ensouls the spirillae of the three permanent atoms. |
a. Nhóm cao nhất trong tất cả tiếp nhận năng lượng từ các cấp độ cao hơn, và phú linh các loa tuyến của ba Nguyên tử trường tồn. |
|
b. The second group, being the positive energy that attracts, builds and forms the body of man on the three planes. |
b. Nhóm thứ hai, là năng lượng dương có sức hút, xây dựng và tạo thành thể của con người trên ba cõi. |
|
c. The lowest group are the negative aspect of energised substance and the matter of the three sheaths. |
c. Nhóm thấp nhất là phương diện âm của chất liệu được tiếp sinh lực và là vật chất của ba thể. |
|
In connection with the solar system they embody the Brahma aspect, being the product of earlier cycles wherein conscious activity was achieved, but self-consciousness was only arrived at by certain cosmic entities who passed through conscious substance, and gave to it that potentiality which will enable atomic substance—after many kalpas—to develop self-consciousness. In connection with a planet, they are called by a mysterious name which may not be revealed, as it conceals the mystery of the scheme which preceded ours, and of which ours is a reproduction. There are Pitris who work in connection with a planet, and with a solar system as well as those working in connection with the human kingdom. They embody the energy of substance as demonstrated in a system, a scheme and a human cycle. |
Liên quan đến hệ mặt trời, họ hiện thân cho phương diện Brahma, là sản phẩm của các chu kỳ trước kia trong đó hoạt động hữu thức đã đạt được, nhưng ngã thức chỉ được đạt đến bởi một số thực thể vũ trụ đã đi qua chất liệu hữu thức, và ban cho nó tiềm năng sẽ giúp chất liệu nguyên tử—sau nhiều kalpa—phát triển ngã thức. Liên quan đến một hành tinh, họ được gọi bằng một danh xưng huyền bí không thể tiết lộ, vì nó che giấu huyền nhiệm của hệ hành tinh đi trước hệ của chúng ta, và hệ của chúng ta là một sự tái tạo của nó. Có những Pitri hoạt động liên hệ với một hành tinh, và với một hệ mặt trời cũng như những vị hoạt động liên hệ với giới nhân loại. Họ hiện thân cho năng lượng của chất liệu như được biểu lộ trong một hệ thống, một hệ hành tinh và một chu kỳ nhân loại. |
|
There are also in connection with our peculiar Earth scheme, those lunar Pitris who reached their present stage of activity in the moon chain. They are deva groups but (unlike the Agnishvattas) they have not passed through the human stage; for them it has yet to be achieved, and their present experience in connection with the human Hierarchy has that end in view. It should be remembered that it is a fundamental law in occult development that any life can only give out that [Page 781] which it has possessed, and possession of the varying attributes of consciousness from that of the atom up to the consciousness of a solar Logos, is the result of long cycles of acquirement. The solar Pitris, therefore, could give to man his consciousness; the lunar Pitris could give to him the instinctual consciousness of his vehicles. In their aggregate in all the kingdoms of nature, on this planet and elsewhere, they give to the planetary Logos and to the solar Logos the sumtotal of the form consciousness of Their respective bodies. This is the case in every scheme in the system, but in the Earth chain a peculiar condition of affairs was brought about through the planetary failure coincident with the moon chain; this is the cause of the present balancing of forces on this chain. The fourth chain in every scheme sees the work of the solar Pitris in connection with man begun. It sees also the Pitris of his sheaths in activity through the impulse given by the solar Angels. The matter of those sheaths has passed through three chains and three rounds and is vibrant to a note which is tuned to the….To word it otherwise, the third can be clearly sounded, and is followed naturally by the fifth, or the dominant. The simultaneous sounding of the third and the fifth, basing it upon the planetary keynote, produces the effect of a threefold chord, or a fourth tone, a complex sound. I am here dealing with the chord of the human hierarchy as a whole. Within the hierarchy there is again diversity, based upon the hierarchical chord, and this produces the many egoic chords and notes; these produce in their turn objective manifestation. |
Cũng có, liên quan đến hệ hành tinh Địa Cầu đặc thù của chúng ta, những thái âm tổ phụ đã đạt đến giai đoạn hoạt động hiện tại của họ trong Dãy Mặt Trăng. Họ là các nhóm thiên thần nhưng (không giống các Agnishvatta) họ chưa đi qua giai đoạn nhân loại; đối với họ điều đó vẫn còn phải đạt được, và kinh nghiệm hiện tại của họ liên hệ với Thánh đoàn nhân loại nhắm đến mục đích ấy. Cần nhớ rằng đó là một định luật căn bản trong sự phát triển huyền bí học rằng bất kỳ sự sống nào cũng chỉ có thể ban ra điều mà [Page 781] nó đã sở hữu, và việc sở hữu các thuộc tính khác nhau của tâm thức từ tâm thức của nguyên tử cho đến tâm thức của một Thái dương Thượng đế là kết quả của những chu kỳ dài thu đạt. Do đó, các thái dương tổ phụ có thể ban cho con người tâm thức của y; các thái âm tổ phụ có thể ban cho y tâm thức bản năng của các vận cụ của y. Trong tổng thể của họ trong mọi giới của thiên nhiên, trên hành tinh này và ở nơi khác, họ ban cho Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế tổng số tâm thức hình tướng của các thể tương ứng của Các Ngài. Điều này đúng trong mọi hệ hành tinh trong hệ thống, nhưng trong dãy Địa Cầu, một tình trạng đặc thù đã được tạo ra do sự thất bại hành tinh trùng hợp với Dãy Mặt Trăng; đây là nguyên nhân của sự quân bình mãnh lực hiện nay trên Dãy này. Dãy Thứ Tư trong mọi hệ hành tinh chứng kiến công việc của các thái dương tổ phụ liên hệ với con người được bắt đầu. Nó cũng chứng kiến các Pitri của các thể của y hoạt động qua xung lực do các Thái dương Thiên Thần ban ra. Vật chất của các thể ấy đã đi qua ba Dãy và ba cuộc tuần hoàn và đang rung động theo một âm điệu được chỉnh theo….Nói cách khác, âm thứ ba có thể được xướng lên rõ ràng, và tự nhiên được tiếp theo bởi âm thứ năm, hay âm chủ. Sự xướng đồng thời âm thứ ba và âm thứ năm, đặt nền trên chủ âm hành tinh, tạo ra hiệu quả của một hợp âm tam phân, hay một âm thứ tư, một âm thanh phức hợp. Ở đây tôi đang bàn đến hợp âm của toàn thể thánh đoàn nhân loại. Bên trong thánh đoàn lại có sự đa dạng, dựa trên hợp âm thánh đoàn, và điều này tạo ra nhiều hợp âm và âm điệu chân ngã; đến lượt chúng tạo ra biểu lộ khách quan. |
|
We can now trace the progress of egoic energy as it passes down from the abstract levels to the permanent atoms. On each plane the work is threefold, and might be tabulated as follows: |
Giờ đây chúng ta có thể truy theo tiến trình của năng lượng chân ngã khi nó đi xuống từ các cấp độ trừu tượng đến các Nguyên tử trường tồn. Trên mỗi cõi, công việc có tính tam phân, và có thể được lập bảng như sau: |
|
1. The response within the permanent atom to the vibration set up by the solar Pitris; to word it otherwise: [Page 782] the response of the highest group of lunar Pitris to the chord of the Ego. This definitely affects the spirillae of the atom, according to the stage of evolution of the Ego concerned. |
1. Sự đáp ứng bên trong Nguyên tử trường tồn đối với rung động do các thái dương tổ phụ thiết lập; nói cách khác: [Page 782] sự đáp ứng của nhóm thái âm tổ phụ cao nhất đối với hợp âm của chân ngã. Điều này nhất định tác động đến các loa tuyến của nguyên tử, tùy theo giai đoạn tiến hoá của chân ngã liên hệ. |
|
2. The response of the substance to the atomic vibration upon the particular plane involved. This concerns the second group of Pitris, whose function it is to gather together the substance attuned to any particular key, and to aggregate it around the permanent atom. They work under the Law of Magnetic Attraction, and are the attractive energy of the permanent atom. On a tiny scale each permanent atom has (to the substance of a man’s sheaths) a position relative to that which the physical sun holds to the substance of the system. It is the nucleus of attractive force. |
2. Sự đáp ứng của chất liệu đối với rung động nguyên tử trên cõi đặc thù liên hệ. Điều này liên quan đến nhóm Pitri thứ hai, có chức năng tập hợp chất liệu được chỉnh theo bất kỳ âm khóa đặc thù nào, và gom nó quanh Nguyên tử trường tồn. Họ hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn Từ Tính, và là năng lượng hấp dẫn của Nguyên tử trường tồn. Trên một quy mô rất nhỏ, mỗi Nguyên tử trường tồn có (đối với chất liệu của các thể của con người) một vị trí tương đối với vị trí mà mặt trời hồng trần giữ đối với chất liệu của hệ thống. Nó là hạt nhân của mãnh lực hấp dẫn. |
|
3. The response of the negative substance concerned and its moulding into the desired form through the dual energy of the two higher groups of Pitris. Some thought of the unity of this threefold work has been given in the differentiation of the substance of any plane into: |
3. Sự đáp ứng của chất liệu âm liên hệ và việc nắn nó thành hình tướng mong muốn qua năng lượng nhị phân của hai nhóm Pitri cao hơn. Một vài ý niệm về tính nhất thể của công việc tam phân này đã được gợi ra trong sự biến phân của chất liệu của bất kỳ cõi nào thành: |
|
a. Atomic substance. |
a. Chất liệu nguyên tử. |
|
b. Molecular substance. |
b. Chất liệu phân tử. |
|
c. Elemental essence. |
c. Tinh chất hành khí. |
|
This differentiation is not entirely accurate, and a truer idea of the underlying concept might be conveyed if the word “energy” took the place of “substance and essence.” This third group of Pitris is really not correctly termed Pitris at all. The true lunar Pitris are those of the first and highest group, for they embody one aspect of the intelligent will of Brahma, or of God-in-substance. The third group are literally the lesser Builders, and are blind incoherent forces, subject to the energy emanating from the two higher groups. Occultly these three groups are divided into the following: [Page 783] |
Sự biến phân này không hoàn toàn chính xác, và một ý niệm chân thực hơn về khái niệm nền tảng có thể được truyền đạt nếu từ “năng lượng” thay thế cho “chất liệu và tinh chất.” Nhóm Pitris thứ ba này thực ra hoàn toàn không được gọi đúng là Pitris. Các thái âm tổ phụ chân chính là những vị thuộc nhóm thứ nhất và cao nhất, vì các vị ấy thể hiện một phương diện của ý chí thông tuệ của Brahma, hay của Thượng đế-trong-chất liệu. Nhóm thứ ba theo nghĩa đen là các vị tiểu kiến tạo, và là những mãnh lực mù quáng, rời rạc, phục tùng năng lượng phát ra từ hai nhóm cao hơn. Một cách huyền bí, ba nhóm này được phân chia như sau: [Page 783] |
|
a. The Pitris who see, but touch nor handle not. |
a. Các Pitris thấy, nhưng không chạm cũng không cầm nắm. |
|
b. The Pitris who touch but see not. |
b. Các Pitris chạm nhưng không thấy. |
|
c. The Pitris who hear but neither see nor touch. |
c. Các Pitris nghe nhưng không thấy cũng không chạm. |
|
As they all have the gift of occult hearing, they are characterised as the “Pitris with the open ear”; they work entirely under the influence of the egoic mantram. If these differentiations are studied a great deal may become apparent anent a very important group of deva workers. They are a group who only come into manifestation as a co-ordinated triplicity in the fourth round in order to provide vehicles for man; the reason for this lies hid in the karma of the seven Logoi, as They energise the fourth, fifth and sixth Hierarchies. In the earlier round in each scheme these three groups attain a certain stage of necessitated growth, and embody the highest evolution of the substance aspect. Only the highest and most perfected of the atoms of substance find their way into the vehicles of man,—those which have been the integral parts of the higher evolutionary forms. |
Vì tất cả các vị ấy đều có thiên phú về thính giác huyền bí, nên các vị được đặc trưng là “các Pitris với tai mở”; các vị hoạt động hoàn toàn dưới ảnh hưởng của mantram chân ngã. Nếu các sự biến phân này được nghiên cứu, nhiều điều có thể trở nên hiển nhiên liên quan đến một nhóm rất quan trọng các thiên thần hoạt động. Họ là một nhóm chỉ đi vào biểu hiện như một bộ ba phối hợp trong cuộc tuần hoàn thứ tư để cung cấp các vận cụ cho con người; lý do của điều này ẩn kín trong nghiệp quả của bảy Các Thượng đế, khi Các Ngài tiếp sinh lực cho Huyền Giai thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Trong cuộc tuần hoàn trước đó của mỗi hệ hành tinh, ba nhóm này đạt đến một giai đoạn tăng trưởng tất yếu nào đó, và thể hiện sự tiến hoá cao nhất của phương diện chất liệu. Chỉ những nguyên tử chất liệu cao nhất và hoàn thiện nhất mới tìm được đường đi vào các vận cụ của con người,—những nguyên tử đã là các phần cấu thành của các hình tướng tiến hoá cao hơn. |
|
(g.) The Work of Form-building. This work of form-building proceeds under definite laws, which are the laws of substance itself; the effect is the same for human, planetary and solar vehicles. The different stages might be enumerated as follows: 1. The Nebulous. The stage wherein the matter of the coming sheath begins to separate itself gradually from the aggregate of plane substance, and to assume a nebulous or milky aspect. This corresponds to the “fire-mist” stage in the formation of a solar system and of a planet. The Pitris of the Mist are then active as one of the many subsidiary groups of the three major groups. |
(g.) Công việc xây dựng hình tướng. Công việc xây dựng hình tướng này tiến hành theo những định luật xác định, là các định luật của chính chất liệu; hiệu quả là như nhau đối với các vận cụ nhân loại, hành tinh và thái dương. Các giai đoạn khác nhau có thể được liệt kê như sau: 1. Dạng tinh vân. Giai đoạn trong đó vật chất của thể sắp đến bắt đầu dần dần tách ra khỏi tổng thể chất liệu của cõi, và mang lấy một sắc thái tinh vân hay như sữa. Điều này tương ứng với giai đoạn “sương lửa” trong sự hình thành một hệ mặt trời và một hành tinh. Khi ấy các Pitris của Sương Mù hoạt động như một trong nhiều nhóm phụ thuộc của ba nhóm chính. |
|
2. The Inchoate. Condensation has set in but all is as yet inchoate, and the condition is chaotic; there is no definite form. “The Pitris of the Chaos” hold sway, and are characterised by excessive energy, and violent activity, for the greater the condensation prior to co-ordination [Page 784] the more terrific are the effects of activity. This is true of Gods, of men, and of atoms. |
2. Dạng sơ khởi. Sự ngưng tụ đã bắt đầu nhưng mọi sự vẫn còn sơ khởi, và trạng thái thì hỗn loạn; chưa có hình tướng xác định. “Các Pitris của Hỗn Mang” nắm quyền chi phối, và được đặc trưng bởi năng lượng quá mức cùng hoạt động mãnh liệt, vì sự ngưng tụ càng lớn trước khi phối hợp [Page 784] thì các hiệu quả của hoạt động càng khủng khiếp. Điều này đúng với các Thượng đế, với con người, và với các nguyên tử. |
|
3. The Fiery. The internal energy of the rapidly congregating atoms and their effect upon each other produces an increase of heat, and a consequent demonstration of the spheroidal form, so that the vehicle of all entities is seen to be fundamentally a sphere, rolling upon itself and attracting and repulsing other spheres. “Pitris of the Fiery Spheres” add their labours to those of the earlier two and a very definite stage is reached. The lunar Pitris on every scheme, and throughout the system, are literally the active agents in the building of the dense physical body of the Logos; they energise the substance of the three planes in the three worlds, the mental, the astral and the dense physical planes of the system. This needs much pondering upon. |
3. Dạng lửa. Năng lượng bên trong của các nguyên tử đang nhanh chóng tụ lại và tác động của chúng lên nhau tạo ra sự gia tăng nhiệt, và do đó biểu lộ hình cầu, đến nỗi vận cụ của mọi thực thể được thấy là về căn bản một khối cầu, tự lăn trên chính nó và hút đẩy các khối cầu khác. “Các Pitris của những Khối Cầu Lửa” thêm công lao của mình vào công lao của hai nhóm trước và một giai đoạn rất xác định được đạt tới. Các thái âm tổ phụ trong mọi hệ hành tinh, và khắp hệ thống, theo nghĩa đen là các tác nhân hoạt động trong việc xây dựng thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế; các vị ấy tiếp sinh lực cho chất liệu của ba cõi trên ba cõi giới, tức cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống. Điều này cần được suy ngẫm rất nhiều. |
|
4. The Watery. The ball or sphere of gaseous fiery essence becomes still more condensed and liquefied; it begins to solidify on its outer surface and the ring-pass-not of each sheath is more clearly defined. The heat of the sphere becomes increased and is centralised at the core or heart of the sphere where it produces that pulsation at the centre which characterises the sun, the planet, and the various vehicles of all incarnating entities. It is an analogous stage to that of the awakening of life in the foetus during the prenatal stage, and this analogy can be seen working out in the form-building which proceeds on every plane. This stage marks the co-ordination of the work of the two higher groups of lunar Pitris, and the “Pitris of the Dual Heat” are now intelligently co-operating. The heart and brain of the substance of the slowly evolving form are linked. The student will find it interesting to trace the analogy of this, the watery stage, to the place the astral plane holds in the planetary and systemic body, and the alliance between mind and heart which is hidden in the term “kama-manas.” One [Page 785] of the profoundest occult mysteries will be revealed to the consciousness of man when he has solved the secret of the building of his astral vehicle, and the forming of the link which exists between that sheath and the astral light in its totality on the astral plane. |
4. Dạng nước. Khối cầu hay hình cầu của tinh chất khí lửa trở nên ngưng tụ hơn nữa và hoá lỏng; nó bắt đầu đông đặc trên bề mặt ngoài và vòng-giới-hạn của mỗi thể được xác định rõ ràng hơn. Nhiệt của khối cầu gia tăng và được tập trung tại lõi hay tim của khối cầu, nơi nó tạo ra sự rung động ở trung tâm, đặc trưng cho mặt trời, hành tinh, và các vận cụ khác nhau của mọi thực thể đang lâm phàm. Đây là một giai đoạn tương đồng với sự thức tỉnh của sự sống trong bào thai trong thời kỳ trước khi sinh, và sự tương đồng này có thể được thấy đang vận hành trong công việc xây dựng hình tướng diễn ra trên mọi cõi. Giai đoạn này đánh dấu sự phối hợp công việc của hai nhóm thái âm tổ phụ cao hơn, và “các Pitris của Nhiệt Kép” hiện đang hợp tác một cách thông tuệ. Tim và não của chất liệu của hình tướng đang chậm rãi tiến hoá được nối kết. Đạo sinh sẽ thấy thú vị khi truy nguyên sự tương đồng của giai đoạn nước này với vị trí mà cõi cảm dục giữ trong thể hành tinh và thể hệ thống, và với sự liên minh giữa trí tuệ và tim được ẩn giấu trong thuật ngữ “kama-manas.” Một [Page 785] trong những huyền nhiệm huyền bí sâu xa nhất sẽ được mặc khải cho tâm thức con người khi y giải được bí mật của việc xây dựng vận cụ cảm dục của mình, và sự hình thành mối liên kết tồn tại giữa thể ấy với ánh sáng cảm dục trong toàn thể của nó trên cõi cảm dục. |
|
5. The Etheric. The stage is not to be confined to the building of the physical body in its etheric division, for its counterpart is found on all the planes with which man is concerned in the three worlds. The condensation and the solidification of the material has proceeded till now the three groups of Pitris form a unity in work. The rhythm set up has been established and the work synchronised. The lesser builders work systematically and the law of Karma is demonstrating actively, for it should be remembered that it is the inherent karma, colouring, or vibratory response of the substance itself which is the selective reaction to the egoic note. Only that substance which has (through past utilisation) been keyed to a certain note and vibration will respond to the mantram and to the subsequent vibrations issuing from the permanent atom. This stage is one of great importance, for it marks the vital circulation throughout the entire vehicle of a particular type of force. This can be clearly seen in relation to the etheric body which circulates the vital force or prana of the sun. A similar linking up with the force concerned is to be seen on the astral and the mental planes. “The Pitris of the Triple Heat” are now working synthetically, and the brain, the heart and the lower centres are co-ordinated. The lower and the higher are linked, and the channels are unimpeded so that the circulation of the triple energy is possible. This is true of the form building of all entities, macrocosmic and microcosmic. It is marked by the active co-operation of another group of Pitris, termed “The Pitris of Vitality” in connection with the others. Group after group co-operate, [Page 786] for the three main bodies are distributed among many lesser. |
5. Dạng dĩ thái. Giai đoạn này không nên bị giới hạn vào việc xây dựng thể xác trong phân bộ dĩ thái của nó, vì đối phần của nó được tìm thấy trên mọi cõi mà con người có liên hệ trong ba cõi giới. Sự ngưng tụ và đông đặc của vật chất đã tiến triển đến mức giờ đây ba nhóm Pitris tạo thành một hợp nhất trong công việc. Nhịp điệu được thiết lập đã được xác lập và công việc được đồng bộ hoá. Các vị tiểu kiến tạo làm việc có hệ thống và định luật Nghiệp quả đang biểu lộ một cách hoạt động, vì cần nhớ rằng chính nghiệp quả cố hữu, sắc thái, hay đáp ứng rung động của bản thân chất liệu là phản ứng chọn lọc đối với âm điệu chân ngã. Chỉ chất liệu nào đã được điều chỉnh theo một âm điệu và rung động nhất định (qua việc sử dụng trong quá khứ) mới đáp ứng với mantram và với các rung động tiếp theo phát ra từ nguyên tử trường tồn. Giai đoạn này có tầm quan trọng lớn, vì nó đánh dấu sự tuần hoàn sinh lực xuyên suốt toàn bộ vận cụ của một loại mãnh lực đặc thù. Điều này có thể được thấy rõ trong liên hệ với thể dĩ thái, vốn tuần hoàn mãnh lực sinh lực hay prana của mặt trời. Một sự nối kết tương tự với mãnh lực liên hệ cũng có thể được thấy trên cõi cảm dục và cõi trí. “Các Pitris của Tam Nhiệt” hiện đang làm việc một cách tổng hợp, và não, tim cùng các trung tâm thấp được phối hợp. Cái thấp và cái cao được nối kết, và các kênh dẫn không bị cản trở để sự tuần hoàn của năng lượng tam phân trở nên khả hữu. Điều này đúng với việc xây dựng hình tướng của mọi thực thể, đại thiên địa cũng như tiểu thiên địa. Nó được đánh dấu bởi sự hợp tác hoạt động của một nhóm Pitris khác, được gọi là “Các Pitris của Sinh lực” trong liên hệ với các nhóm kia. Hết nhóm này đến nhóm khác cùng hợp tác, [Page 786] vì ba thể chính được phân bố trong nhiều thể nhỏ hơn. |
|
6. The Solid. This marks the final stage in actual form building, and signifies the moment wherein the work is done as regards the aggregating and shaping of substance. The greater part of the work of the lunar Pitris stands now accomplished. The word “solid” refers not solely to the lowest objective manifestation, for a solid form may be ethereal, and only the stage of evolution of the entity involved will reveal its relative significance. |
6. Dạng rắn. Điều này đánh dấu giai đoạn cuối cùng trong việc xây dựng hình tướng thực sự, và biểu thị thời điểm công việc đã hoàn tất xét về sự tập hợp và định hình chất liệu. Phần lớn công việc của các thái âm tổ phụ giờ đây đã hoàn thành. Từ “rắn” không chỉ nói đến biểu hiện khách quan thấp nhất, vì một hình tướng rắn có thể là dĩ thái, và chỉ giai đoạn tiến hoá của thực thể liên hệ mới bộc lộ ý nghĩa tương đối của nó. |
|
All that has been here laid down as to the progressive stages of form construction on every plane is true of all forms in all systems and schemes, and is true of all thought-form building. Man is constructing thoughtforms all the time, and is following unconsciously the same method as his Ego pursues in building his bodies, as the Logos follows in building His system, and as a planetary Logos uses in constructing His scheme. |
Tất cả những gì đã được trình bày ở đây về các giai đoạn tiến triển của việc kiến tạo hình tướng trên mọi cõi đều đúng với mọi hình tướng trong mọi hệ thống và hệ hành tinh, và cũng đúng với mọi sự xây dựng hình tư tưởng. Con người luôn luôn kiến tạo các hình tư tưởng, và đang vô thức đi theo cùng một phương pháp mà Chân ngã của y theo đuổi khi xây dựng các thể của y, cũng như Thượng đế theo đuổi khi xây dựng hệ thống của Ngài, và như một Hành Tinh Thượng đế sử dụng khi kiến tạo hệ hành tinh của Ngài. |
|
A man speaks, and a very diversified mantram is the result. The energy thus generated swings into activity a multitude of little lives which proceed to build a form for his thought; they pursue analogous stages to those just outlined. At this time, man sets up these mantric vibrations unconsciously, and in ignorance of the laws of sound and of their effect. The occult work that he is carrying on is thus unknown to him. Later he will speak less, know more, and construct more accurate forms, which will produce powerful effects on physical levels. Thus eventually in distant cycles will the world be “saved,” and not just a unit here and there. |
Một người nói ra, và kết quả là một mantram rất đa dạng. Năng lượng được tạo ra như thế làm cho vô số sự sống nhỏ bé hoạt động, rồi chúng tiến hành xây dựng một hình tướng cho tư tưởng của y; chúng theo đuổi những giai đoạn tương tự như vừa được phác hoạ. Hiện nay, con người thiết lập các rung động mantram này một cách vô thức, và trong sự không biết các định luật của âm thanh cùng hiệu quả của chúng. Vì vậy công việc huyền bí mà y đang tiến hành là điều y không biết. Về sau y sẽ nói ít hơn, biết nhiều hơn, và kiến tạo những hình tướng chính xác hơn, những hình tướng sẽ tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ trên các cấp độ hồng trần. Như thế cuối cùng trong các chu kỳ xa xôi thế giới sẽ được “cứu rỗi,” chứ không chỉ một đơn vị ở đây hay ở kia. |
|
Liên quan đến việc xây dựng các thể của con người, có một số điểm biểu hiện thú vị xuất hiện mà giờ đây có thể bàn đến, để cho đạo sinh tự tìm ra các tương ứng trong liên hệ với hệ thống và hành tinh, và chỉ đưa ra những chỉ dẫn tổng quát có thể hữu ích cho y trong các kết luận của mình. |
|
|
[Page 787] In all the work of form-building, certain very vital occasions occur which concern the Ego even more than the sheaths themselves, though the reflex action between the lower personal self and the higher is so close as to be well nigh inseparable. |
[Page 787] Trong mọi công việc xây dựng hình tướng, có những thời điểm rất trọng yếu xảy ra, liên quan đến Chân ngã thậm chí còn nhiều hơn đến chính các thể, mặc dù phản ứng ngược giữa bản ngã cá nhân thấp và cái cao thì gần gũi đến mức hầu như không thể tách rời. |
|
The moment wherein the Ego appropriates the sheath. This takes place only after the fourth spirilla is beginning to vibrate, and the period differs according to the power of the ego over the lower self. In connection with the dense physical vehicle, an analogy can be seen when the Ego ceases from his work of overshadowing, and at some period between the fourth and seventh year makes his contact with the physical brain of the child. A similar occurrence takes place in connection with the etheric vehicle, the astral, and the mental. |
Thời điểm Chân ngã chiếm hữu thể. Điều này chỉ diễn ra sau khi loa tuyến thứ tư bắt đầu rung động, và thời kỳ này khác nhau tuỳ theo quyền năng của chân ngã đối với phàm ngã. Liên quan đến vận cụ hồng trần đậm đặc, có thể thấy một sự tương đồng khi Chân ngã ngừng công việc phủ bóng của mình, và vào một thời điểm nào đó giữa năm thứ tư và năm thứ bảy tạo tiếp xúc với bộ não hồng trần của đứa trẻ. Một sự kiện tương tự diễn ra liên quan đến vận cụ dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. |
|
The moment wherein the energy of the Ego is transmitted from one sheath to a lower one. It is often overlooked that the path of incarnation is not a quick one, but that the Ego descends very slowly and takes possession gradually of his vehicles; the less evolved the man, the slower is the process. We are dealing here with the period of time which transpires after the Ego has made the first move towards descent, and not with the time which elapses between two incarnations. This work of passing on to a plane for purposes of incarnation marks a definite crisis, and is characterised by the exertion of the will in sacrifice, the appropriation of the substance in love, and its energising into activity. |
Thời điểm năng lượng của Chân ngã được truyền từ một thể xuống một thể thấp hơn. Người ta thường bỏ qua rằng con đường nhập thể không phải là một con đường nhanh chóng, mà Chân ngã giáng xuống rất chậm và dần dần chiếm hữu các vận cụ của mình; con người càng kém tiến hoá thì tiến trình càng chậm. Ở đây chúng ta đang bàn đến khoảng thời gian trôi qua sau khi Chân ngã đã thực hiện chuyển động đầu tiên hướng xuống, chứ không phải thời gian trôi qua giữa hai lần nhập thể. Công việc đi xuống một cõi vì mục đích nhập thể này đánh dấu một cuộc khủng hoảng xác định, và được đặc trưng bởi sự vận dụng ý chí trong hi sinh, sự chiếm hữu chất liệu trong bác ái, và sự tiếp sinh lực cho nó đi vào hoạt động. |
|
Thời điểm loại mãnh lực đặc thù mà bất kỳ thể nào được tiếp sinh lực bởi nó được chiếm hữu. Điều này đưa thể liên hệ: |
|
|
a. Under the influence of the egoic ray, |
a. Dưới ảnh hưởng của cung chân ngã, |
|
b. Under the influence of a particular subray of the egoic ray, |
b. Dưới ảnh hưởng của một cung phụ đặc thù của cung chân ngã, |
|
c. And through that influence,— [Page 788] |
c. Và qua ảnh hưởng đó,— [Page 788] |
|
Under certain astrological influences, |
Dưới những ảnh hưởng chiêm tinh nhất định, |
|
Under certain planetary radiations, |
Dưới những bức xạ hành tinh nhất định, |
|
Under the influences of certain force currents, emanating from certain constellations. |
Dưới ảnh hưởng của những dòng mãnh lực nhất định, phát ra từ những chòm sao nhất định. |
|
These three events have a very interesting analogy in connection with the work of the Logos in the construction of His physical body, the solar system, and also in certain correspondences which can be seen embodied in facts dealt with at the first three Initiations. |
Ba biến cố này có một sự tương đồng rất thú vị liên quan đến công việc của Thượng đế trong việc kiến tạo thể xác của Ngài, tức hệ mặt trời, và cả trong một số tương ứng có thể được thấy thể hiện trong các sự kiện được bàn đến ở ba lần điểm đạo đầu tiên. |
|
From the standpoint of the lower self, the two most vital moments in the work of the reincarnating Ego, are those in which the mental unit is re-energised into cyclic activity, and in which the etheric body is vitalised. It concerns that which links the centre at the base of the spine with a certain point within the physical brain via the spleen. This is dealing purely with the physiological key. |
Từ quan điểm của phàm ngã, hai thời điểm trọng yếu nhất trong công việc của Chân ngã tái sinh là những thời điểm trong đó đơn vị hạ trí được tiếp sinh lực trở lại vào hoạt động chu kỳ, và trong đó thể dĩ thái được tiếp sinh lực. Điều này liên quan đến cái nối kết trung tâm ở đáy cột sống với một điểm nào đó trong bộ não hồng trần qua luân xa lá lách. Điều này chỉ bàn đến chìa khoá sinh lý học thuần tuý. |
|
We might now touch upon a very interesting point concerning the dense physical body, dealing therefore with that which is not considered a principle either in the macrocosm or the microcosm. As we know, man is essentially mental man, and astral man; then the two take to themselves an etheric sheath for purposes of objective work. That is the true lower man, these two in the etheric body. But later—in order to know even on the lowest plane of all—man takes to himself a coat of skin, as the Bible expresses it, and puts on (over his etheric body) that outer illusory form we know so well. It is his lowest point of objectivity and his direct “imprisoning.” This appropriation of a dense sheath by the Ego is subject to a very peculiar piece of karma connected with the four Kumaras, or Heavenly Men, Who form the logoic Quaternary. In the schemes which concern the logoic Triad (or those of the three major Rays or Heavenly Men) dense physical incarnation is not the appointed [Page 789] lot, and man functions in his lowest manifestation in etheric matter. |
Giờ đây chúng ta có thể đề cập đến một điểm rất thú vị liên quan đến thể xác hồng trần đậm đặc, do đó bàn đến cái không được xem là một nguyên khí trong đại thiên địa hay tiểu thiên địa. Như chúng ta biết, con người về bản chất là con người trí tuệ, và con người cảm dục; rồi cả hai khoác lấy cho mình một thể dĩ thái vì mục đích hoạt động khách quan. Đó là phàm nhân thấp thực sự, hai thể ấy trong thể dĩ thái. Nhưng về sau—để biết ngay cả trên cõi thấp nhất—con người khoác cho mình một áo da, như Kinh Thánh diễn tả, và mặc vào (bên ngoài thể dĩ thái của mình) hình tướng ảo tưởng bên ngoài mà chúng ta quá quen thuộc. Đó là điểm thấp nhất của y về tính khách quan và là sự “giam hãm” trực tiếp của y. Việc Chân ngã chiếm hữu một thể đậm đặc chịu sự chi phối của một phần nghiệp quả rất đặc thù liên hệ với bốn Kumaras, hay các Đấng Thiên Nhân, là những Đấng tạo thành Bộ Tứ của Thượng đế. Trong các hệ hành tinh liên hệ đến Tam nguyên tinh thần của Thượng đế (hay những hệ của ba Cung chính hoặc các Đấng Thiên Nhân), sự nhập thể hồng trần đậm đặc không phải là số phận đã được chỉ định [Page 789], và con người hoạt động trong biểu hiện thấp nhất của mình bằng vật chất dĩ thái. |
|
This appropriation of the lowest body is distinguished in several ways from the approach to the other sheaths. For one thing, there is no permanent atom to be vitalised. The physical plane is a complete reflection of the mental; the lowest three subplanes reflect the abstract subplanes and the four etheric subplanes reflect the four mental concrete planes. The manifestation of the Ego on the mental plane (or the causal body) is not the result of energy emanating from the permanent atoms as a nucleus of force but is the result of different forces, and primarily of group force. It is predominantly marked by an act of an exterior force, and is lost in the mysteries of planetary karma. This is equally true of man’s lowest manifestations. It is the result of reflex action, and is based on the force of the group of etheric centres through which man (as an aggregate of lives) is functioning. The activity of these centres sets up an answering vibration in the three lowest subplanes of the physical plane, and the interaction between the two causes an adherence to, or aggregation around, the etheric body of particles of what we erroneously term “dense substance.” This type of energised substance is swept up in the vortex of force currents issuing from the centres and cannot escape. These units of force, therefore, pile up according to the energy direction around and within the etheric sheath till it is hidden and concealed, yet interpenetrating. An inexorable law, the law of matter itself, brings this about, and only those can escape the effect of the vitality of their own centres who are definitely “Lords of Yoga” and can—through the conscious will of their own being—escape the compelling force of the Law of Attraction working on the lowest cosmic physical subplane. |
Việc chiếm hữu thể thấp nhất này được phân biệt theo nhiều cách với sự tiếp cận các thể khác. Trước hết, không có nguyên tử trường tồn nào để được tiếp sinh lực. Cõi hồng trần là một phản ánh hoàn toàn của cõi trí; ba cõi phụ thấp nhất phản ánh các cõi phụ trừu tượng và bốn cõi phụ dĩ thái phản ánh bốn cõi trí cụ thể. Sự biểu hiện của Chân ngã trên cõi trí (hay thể nguyên nhân) không phải là kết quả của năng lượng phát ra từ các nguyên tử trường tồn như một hạt nhân mãnh lực mà là kết quả của những mãnh lực khác, và chủ yếu là mãnh lực nhóm. Nó nổi bật được đánh dấu bởi một hành động của một mãnh lực bên ngoài, và bị mất hút trong các huyền nhiệm của nghiệp quả hành tinh. Điều này cũng đúng như vậy đối với các biểu hiện thấp nhất của con người. Nó là kết quả của phản ứng ngược, và dựa trên mãnh lực của nhóm các trung tâm dĩ thái mà qua đó con người (như một tổng thể các sự sống) đang hoạt động. Hoạt động của các trung tâm này thiết lập một rung động đáp ứng trong ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần, và sự tương tác giữa hai bên gây ra sự bám dính vào, hay sự tụ tập quanh, thể dĩ thái của các hạt của cái mà chúng ta gọi sai là “chất liệu đậm đặc.” Loại chất liệu được tiếp sinh lực này bị cuốn vào trong xoáy của các dòng mãnh lực phát ra từ các trung tâm và không thể thoát ra. Vì vậy các đơn vị mãnh lực này chất đống lên theo hướng năng lượng quanh và trong thể dĩ thái cho đến khi nó bị che khuất và ẩn kín, tuy vẫn xuyên thấu. Một định luật không thể cưỡng lại, định luật của chính vật chất, tạo ra điều này, và chỉ những ai rõ ràng là “Chúa Tể của Yoga” mới có thể thoát khỏi hiệu quả của sinh lực từ chính các trung tâm của mình, và có thể—qua ý chí hữu thức của chính bản thể mình—thoát khỏi mãnh lực cưỡng bách của Định luật Hấp Dẫn đang hoạt động trên cõi phụ hồng trần vũ trụ thấp nhất. |
|
An interesting analogy (accurate on general lines [Page 790] though in detail not so apparent) exists between the building of the antaskarana on mental levels between the mental unit and the manasic permanent atom (whereby the Path of Liberation is travelled, and man set free) and the opening up of the channel between the centre at the base of the spine and the brain and thence to the head centre. Through this latter channel man escapes out of the dense physical body, and continuity of consciousness (between the astral and the physical planes) is reached. In the one case, through right direction of force, the etheric web no longer forms a barrier; it is destroyed and the man is fully conscious in the physical brain of what transpires on the astral plane. In the other case, the causal body also is eventually destroyed through the right direction of force. We will not here take up the specific work of building upon the scaffolding of the etheric body the dense physical form. It has been sufficiently dealt with in other books. We will only want to touch upon two more points which are of interest in this consideration of the work of the lunar Pitris in building man’s body. |
Có một sự tương đồng thú vị (chính xác trên những nét tổng quát [Page 790] dù trong chi tiết thì không rõ ràng bằng) giữa việc xây dựng antaskarana trên các cấp độ trí tuệ giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas (nhờ đó Con Đường Giải Thoát được đi qua, và con người được giải thoát) và sự khai mở kênh dẫn giữa trung tâm ở đáy cột sống với bộ não rồi từ đó đến trung tâm đầu. Qua kênh sau này con người thoát ra khỏi thể xác hồng trần đậm đặc, và đạt được sự liên tục của tâm thức (giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần). Trong trường hợp thứ nhất, nhờ sự định hướng đúng đắn của mãnh lực, màng lưới dĩ thái không còn tạo thành một rào cản; nó bị phá huỷ và con người hoàn toàn hữu thức trong bộ não hồng trần về những gì diễn ra trên cõi cảm dục. Trong trường hợp kia, thể nguyên nhân cuối cùng cũng bị phá huỷ nhờ sự định hướng đúng đắn của mãnh lực. Ở đây chúng ta sẽ không bàn đến công việc đặc thù là xây dựng trên bộ khung của thể dĩ thái hình tướng hồng trần đậm đặc. Điều đó đã được bàn đủ trong các sách khác. Chúng ta chỉ muốn đề cập đến thêm hai điểm nữa có ý nghĩa trong sự xem xét này về công việc của các thái âm tổ phụ trong việc xây dựng thể của con người. |
|
In connection with the building of the dense body, it should be stated that it appears as a human form, much in the nature of a cross within the ovoid of the other spheres. It is notably of a fivefold nature: |
Liên quan đến việc xây dựng thể đậm đặc, cần nói rằng nó xuất hiện như một hình người, gần như một thập giá bên trong hình trứng của các khối cầu khác. Nó rõ rệt có bản chất ngũ phân: |
|
Head. |
Đầu. |
|
Two Arms. |
Hai cánh tay. |
|
Two Legs. |
Hai chân. |
|
According to the position assumed by the man, he is seen as a symbol of the cross and is then fourfold (the two legs being considered as one lower limb) or, if separated, as fivefold, and has been then considered as the symbol of the five-pointed star. This fivefold nature of the dense physical body is brought about through the fact that only five centres primarily are really active in average man [Page 791] up to the third Initiation; all are there, and all are vitalised, but only five in this fivefold normal evolution are dominant. The force emanating from these five, therefore, sweeps the dense substance into a close aggregation. As two of the centres are not functioning as actively as the other five, an ovoid is not formed as in the case of the etheric, astral and mental sheaths. The fivefold shape of physical man is the result of the fivefold direction of force currents from five centres. |
Tuỳ theo tư thế mà con người đảm nhận, y được thấy như một biểu tượng của thập giá và khi ấy là tứ phân (hai chân được xem như một chi dưới) hoặc, nếu tách ra, là ngũ phân, và khi ấy đã được xem là biểu tượng của ngôi sao năm cánh. Bản chất ngũ phân này của thể xác hồng trần đậm đặc được tạo ra do sự kiện rằng thực ra chỉ có năm trung tâm chủ yếu là hoạt động ở con người trung bình [Page 791] cho đến lần điểm đạo thứ ba; tất cả đều hiện diện, và tất cả đều được tiếp sinh lực, nhưng chỉ có năm trung tâm trong sự tiến hoá bình thường ngũ phân này là trội hơn. Vì vậy mãnh lực phát ra từ năm trung tâm này cuốn chất liệu đậm đặc vào một sự kết tụ chặt chẽ. Vì hai trung tâm không hoạt động mạnh bằng năm trung tâm kia, nên không hình thành một hình trứng như trong trường hợp của các thể dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. Hình dạng ngũ phân của con người hồng trần là kết quả của sự định hướng ngũ phân của các dòng mãnh lực từ năm trung tâm. |
|
It might be interesting also to point out that the interaction of the energy of the solar Pitris and of the lunar Pitris produces a very definite effect upon the lower group of lunar Pitris, and is one of the means whereby they will eventually reach the stage at which the solar Pitris are. This (if fully realised by man) will bring him to a very careful control of his sheaths, and to a close attention to the direction in which his force or energy is turned. He is responsible for the work of aiding in the evolution of substance, being himself a manasaputra. |
Có lẽ cũng thú vị khi chỉ ra rằng sự tương tác giữa năng lượng của các thái dương tổ phụ và các thái âm tổ phụ tạo ra một hiệu quả rất xác định lên nhóm thấp hơn của các thái âm tổ phụ, và là một trong những phương tiện nhờ đó cuối cùng họ sẽ đạt đến giai đoạn mà các thái dương tổ phụ đang ở. Điều này (nếu được con người chứng nghiệm đầy đủ) sẽ đưa y đến sự kiểm soát rất cẩn trọng các thể của mình, và đến sự chú ý chặt chẽ đối với hướng mà mãnh lực hay năng lượng của y được chuyển về. Y chịu trách nhiệm về công việc trợ giúp trong sự tiến hoá của chất liệu, vì chính y là một manasaputra. |
|
(h.) Incarnation and Karma. In resuming our consideration of the process pursued by the reincarnating Ego, it is necessary to point out that the entire subject radically concerns energy, and that according to the place in evolution of the unit of force involved, so will the length of time required for the process be brief, or the reverse. In the early stages, the initiatory impulse is heavy and slow, and the matter required for the sheaths is of a correspondingly “low” grade, that is, it is of low vibratory capacity, and the time elapsing between the first vibration outwards on the mental plane, and the coordination of the dense physical body is a long one. Later on, the vibration becomes more powerful and the effects therefore are more rapidly felt. At the close of evolution, when the human unit is upon the Path and consciously controlling his destiny, and working off [Page 792] karma, the intervals intervening between two incarnations are brief or not as the man may choose in the interests of the work to be done, and according to his intention to achieve liberation from form. It must also be remembered that as the evolutionary process proceeds, the egoic activity calls out response not only from substance in the three worlds, but also from the formless levels of the system. The response will be felt finally on monadic levels. Then, after a moment of equilibrium, the effect of the rhythm is felt entirely on the higher planes, and leaves the lower. |
(h.) Nhập thể và Nghiệp quả. Khi tiếp tục lại việc xem xét tiến trình mà Chân ngã tái sinh theo đuổi, cần phải chỉ ra rằng toàn bộ chủ đề này về căn bản liên quan đến năng lượng, và tuỳ theo vị trí trong tiến hoá của đơn vị mãnh lực liên hệ mà khoảng thời gian cần cho tiến trình sẽ ngắn hay ngược lại. Trong các giai đoạn đầu, xung lực khởi đầu nặng nề và chậm chạp, và vật chất cần cho các thể có phẩm cấp “thấp” tương ứng, nghĩa là có khả năng rung động thấp, và thời gian trôi qua giữa rung động đầu tiên hướng ra ngoài trên cõi trí và sự phối hợp của thể xác hồng trần đậm đặc là một khoảng dài. Về sau, rung động trở nên mạnh hơn và do đó các hiệu quả được cảm nhận nhanh hơn. Vào cuối tiến hoá, khi đơn vị nhân loại ở trên Con Đường và hữu thức kiểm soát số phận của mình, đồng thời đang giải trừ [Page 792] nghiệp quả, thì các khoảng cách xen giữa hai lần nhập thể là ngắn hay không là tuỳ con người có thể chọn theo lợi ích của công việc cần làm, và theo ý định của y nhằm đạt được giải thoát khỏi hình tướng. Cũng phải nhớ rằng khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, hoạt động chân ngã khơi dậy đáp ứng không chỉ từ chất liệu trong ba cõi giới, mà còn từ các cấp độ vô tướng của hệ thống. Cuối cùng đáp ứng sẽ được cảm nhận trên các cấp độ chân thần. Rồi, sau một khoảnh khắc quân bình, hiệu quả của nhịp điệu được cảm nhận hoàn toàn trên các cõi cao hơn, và rời bỏ các cõi thấp. |
|
The word “moment” is used here in its occult significance to specify a period of time, and must be considered as a period relative to a day or year of Brahma. One of the secrets of initiation is concerned with the apprehension of cycles, and with their duration, and the following terms have to be appreciated, their duration recognised, and their antithesis (an intervening pralaya) duly considered before a man is considered a true occultist. |
Từ “khoảnh khắc” được dùng ở đây theo ý nghĩa huyền bí của nó để chỉ một khoảng thời gian, và phải được xem là một khoảng tương đối so với một ngày hay một năm của Brahma. Một trong những bí mật của điểm đạo liên quan đến sự lĩnh hội các chu kỳ, và thời lượng của chúng, và các thuật ngữ sau đây phải được thấu hiểu, thời lượng của chúng phải được nhận biết, và phản đề của chúng (một giai kỳ qui nguyên xen giữa) phải được cân nhắc đúng mức trước khi một người được xem là một nhà huyền bí học chân chính. |
|
a. |
100 years of Brahma |
An occult century. The period of a solar system. |
|
b. |
One year of Brahma |
The period of seven chains, where the seven planetary schemes are concerned. |
|
c. |
One week of Brahma |
The period of seven rounds in one scheme. It has a chain significance. |
|
d. |
One day of Brahma |
The occult period of a round. |
|
e. |
One hour of Brahma |
Concerns interchain affairs. |
|
f. |
One Brahmic minute |
Concerns the planetary centres, and therefore egoic groups. |
|
g. |
One Brahmic moment |
Concerns an egoic group, and its relation to the whole. |
|
These are the greater periods of time, and when their significance is comprehended, much that is now obscure [Page 793] will be revealed. As yet, it is only to initiates that the true figures are given, the figures in the Secret Doctrine, such as the 100 years of Brahma, strike the general average but it must be ever remembered that in considering the figures where a scheme, for instance, is concerned, much latitude has to be allowed for individual planetary karma, and idiosyncrasy. |
Đây là những khoảng thời gian lớn hơn, và khi ý nghĩa của chúng được thấu hiểu, nhiều điều hiện còn mờ tối [Page 793] sẽ được mặc khải. Hiện nay, chỉ các điểm đạo đồ mới được trao cho các con số chân thực; các con số trong Giáo Lý Bí Nhiệm, chẳng hạn như 100 năm của Brahma, chỉ nêu ra mức trung bình tổng quát nhưng phải luôn nhớ rằng khi xem xét các con số ở nơi chẳng hạn một hệ hành tinh có liên hệ, phải dành một biên độ rộng cho nghiệp quả hành tinh cá biệt và đặc tính riêng. |
|
The following points are worthy of consideration when upon this subject, and deal with some interesting factors. |
Những điểm sau đây đáng được xem xét khi bàn về chủ đề này, và liên quan đến một số yếu tố thú vị. |
|
All the planetary Rishis are not equally “long-lived,” in the occult sense of the term, and the seven planetary Logoi of the seven sacred planets are at different stages of evolution; Their vibratory response, therefore, differs, producing varying effects in time. |
Không phải tất cả các Rishis hành tinh đều “trường thọ” như nhau, theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này, và bảy Hành Tinh Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng đang ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau; vì vậy đáp ứng rung động của Các Ngài khác nhau, tạo ra những hiệu quả khác nhau trong thời gian. |
|
The three major planetary schemes (Uranus, Neptune, and Saturn) have not, as yet, received their fullest stimulation, and will not do so until the “energy of the sacred seven” has been transferred to Them. Figures, therefore, as regards their duration and persistence are not in order. |
Ba hệ hành tinh chính (Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ) cho đến nay vẫn chưa nhận được sự kích thích đầy đủ nhất của mình, và sẽ chưa nhận được cho đến khi “năng lượng của bảy hành tinh thiêng liêng” được chuyển dịch sang Các Ngài. Vì vậy các con số liên quan đến thời lượng và sự kéo dài của các hệ ấy là chưa thích hợp. |
|
The figures for the planets concerned with the “inner round” differ as to length of time but not as to space location from those of other planets. |
Các con số dành cho những hành tinh liên hệ đến “cuộc tuần hoàn nội tại” khác nhau về độ dài thời gian nhưng không khác về vị trí không gian so với các hành tinh khác. |
|
The true figures in connection with any planetary scheme and its occult activity are not ascertainable by the man who cannot be trusted with the significance of the other planetary bodies (of great number) within the solar ring-pass-not. The entire solar sphere is full of such bodies, characterised by the same features as are the seven and the ten, and each of them in some degree has an effect upon the whole. Figures, therefore, cannot be considered as final until the effect of the lesser planetary bodies upon their immediate neighbours is known, and the extent of their planetary radiation has been gauged. There are more than 115 of such bodies to be reckoned with, and all are at varying stages of vibratory [Page 794] impulse. They have definite orbits, they turn upon their axis, they draw their “life” and substance from the sun, but owing to their relative insignificance, they have not yet been considered factors of moment. This attitude of mind will change when etheric vision is a fact, and the reality of the existence of an etheric double of all that is in manifestation will be recognised by scientists. This fact will be demonstrated towards the close of the century, and, during the early part of the next century a revolution in astronomical circles will occur which will result in the study of the “etheric planets.” As these bodies are organs of energy, permeating the dense form, the study of the interaction of solar energy, and the occult “give and take” of planetary bodies will assume a new significance. Certain planetary bodies (both greater and lesser) are “absorbers,” others are “radiators,” while some are in the stage of demonstrating a dual activity, and are being “transmuted.” All these circumstances require to be considered by the initiate who is dealing with cycles. |
Các con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào và hoạt động huyền bí của nó không thể được xác định bởi người không thể được tin cậy để nắm giữ ý nghĩa của các thiên thể hành tinh khác (với số lượng lớn) bên trong vòng-giới-hạn thái dương. Toàn bộ khối cầu thái dương đầy những thiên thể như thế, được đặc trưng bởi cùng những nét như bảy và mười thiên thể, và mỗi thiên thể trong một mức độ nào đó đều có ảnh hưởng lên toàn thể. Vì vậy các con số không thể được xem là chung quyết cho đến khi ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn lên các láng giềng gần nhất của chúng được biết đến, và mức độ bức xạ hành tinh của chúng được đo lường. Có hơn 115 thiên thể như thế phải được tính đến, và tất cả đều ở những giai đoạn khác nhau của xung lực rung động [Page 794]. Chúng có những quỹ đạo xác định, chúng quay trên trục của mình, chúng rút “sự sống” và chất liệu của mình từ mặt trời, nhưng do tính không đáng kể tương đối của chúng, chúng chưa được xem là những yếu tố quan trọng. Thái độ tư duy này sẽ thay đổi khi linh thị dĩ thái trở thành một thực tại, và thực tại về sự tồn tại của một bản sao dĩ thái của mọi thứ đang biểu hiện được các nhà khoa học công nhận. Sự kiện này sẽ được chứng minh vào cuối thế kỷ, và trong phần đầu của thế kỷ tiếp theo sẽ xảy ra một cuộc cách mạng trong giới thiên văn học, dẫn đến việc nghiên cứu các “hành tinh dĩ thái.” Vì các thiên thể này là những cơ quan năng lượng, thấm nhập hình tướng đậm đặc, nên việc nghiên cứu sự tương tác của năng lượng thái dương, và sự “cho và nhận” huyền bí của các thiên thể hành tinh sẽ mang một ý nghĩa mới. Một số thiên thể hành tinh (cả lớn lẫn nhỏ) là những “bộ hấp thụ,” những thiên thể khác là những “bộ bức xạ,” trong khi một số đang ở giai đoạn biểu lộ một hoạt động kép, và đang được “chuyển hoá.” Tất cả những hoàn cảnh này cần phải được điểm đạo đồ cân nhắc khi bàn đến các chu kỳ. |
|
Figures also must be computed when the effect upon the planets of what are called “asteroids” is known. This is much greater than exoteric science has so far admitted, but the significance of this must eventually be interpreted in terms of energy and on etheric levels. |
Các con số cũng phải được tính toán khi ảnh hưởng lên các hành tinh của những gì được gọi là “các tiểu hành tinh” được biết đến. Ảnh hưởng này lớn hơn nhiều so với khoa học ngoại môn cho đến nay đã thừa nhận, nhưng ý nghĩa của điều này cuối cùng phải được diễn giải theo các thuật ngữ của năng lượng và trên các cấp độ dĩ thái. |
|
Another factor in computation which must also be considered is the effect of the various moons upon any planetary scheme, and the true meaning of the eighth sphere in connection with dense substance. Every moon is occultly a “point of corruption,” or that which is passing off in noxious gases. The transmutation of the form has been proceeded with in their case to a point where all that represents vital energy has left, all solar life has passed off, no remnants of pranic energy remain, and that which is to be seen is simply the decay of the physical body,—a decay which is proceeding on etheric levels as well as [Page 795] on physical. The decay of a moon has as great an evil effect upon all that contacts it as a decaying body on earth has upon its surroundings. It is occultly “offensive.” This will be more truly apprehended when the etheric double of our moon is studied. As the moon becomes small through the process of disintegration, its effect upon the Earth will be correspondingly lessened, and this stage will be paralleled by a consequent greater freedom from evil impulse of the sons of men. Better conditions among the animals will be another result above all else, and the dying out of that which is noxious in the animal kingdom. By the time the seventh round is reached, the evil effect of the then moon (which will have to all intents and purposes practically disappeared) will be finished. During the fifth round, men will discover how to neutralise any remaining effects through scientific achievement and knowledge of the necessary sounds and mantrams, and thus much evil will be offset. The etheric moon is included in these remarks. The greatest effect of moon conditions is to be seen working out predominantly in the terror, and present distress in the animal kingdom. (Bible. Romans, 8:22.) |
Một yếu tố khác trong việc tính toán cũng phải được cân nhắc là ảnh hưởng của các mặt trăng khác nhau lên bất kỳ hệ hành tinh nào, và ý nghĩa chân thực của khối cầu thứ tám liên hệ với chất liệu đậm đặc. Mọi mặt trăng theo huyền bí học đều là một “điểm hư hoại,” hay cái đang thoát ra trong những khí độc. Sự chuyển hoá của hình tướng trong trường hợp của chúng đã tiến đến một điểm mà mọi thứ đại diện cho năng lượng sinh lực đã rời đi, mọi sự sống thái dương đã tiêu tán, không còn tàn dư năng lượng prana nào, và cái có thể được thấy chỉ đơn giản là sự phân rã của thể xác,—một sự phân rã đang diễn ra trên các cấp độ dĩ thái cũng như [Page 795] trên cấp độ hồng trần. Sự phân rã của một mặt trăng có ảnh hưởng xấu lớn lên mọi thứ tiếp xúc với nó cũng như một xác thể đang phân huỷ trên trái đất có ảnh hưởng lên môi trường xung quanh. Theo huyền bí học, nó là “điều gây ô uế.” Điều này sẽ được lĩnh hội chân thực hơn khi bản sao dĩ thái của mặt trăng chúng ta được nghiên cứu. Khi mặt trăng trở nên nhỏ đi qua tiến trình tan rã, ảnh hưởng của nó lên Trái Đất sẽ giảm đi tương ứng, và giai đoạn này sẽ song hành với một sự giải thoát lớn hơn khỏi xung lực xấu xa nơi những người con của nhân loại. Những điều kiện tốt hơn trong giới động vật sẽ là một kết quả khác trên hết mọi điều, và sự tiêu vong của cái độc hại trong giới động vật. Vào lúc cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt tới, ảnh hưởng xấu của mặt trăng khi ấy (vốn trên thực tế hầu như đã biến mất) sẽ chấm dứt. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, con người sẽ khám phá cách trung hoà mọi ảnh hưởng còn lại qua thành tựu khoa học và tri thức về các âm thanh cùng mantram cần thiết, và như thế nhiều điều ác sẽ được hóa giải. Mặt trăng dĩ thái cũng được bao gồm trong những nhận xét này. Ảnh hưởng lớn nhất của các điều kiện mặt trăng được thấy đang biểu lộ chủ yếu trong nỗi kinh hoàng và khốn khổ hiện nay trong giới động vật. (Kinh Thánh. Rô-ma, 8:22.) |
|
A further factor in cyclic computation lies in the effect of the following stars and constellations upon our system and upon any particular scheme within the system: |
Một yếu tố nữa trong việc tính toán chu kỳ nằm ở ảnh hưởng của các ngôi sao và chòm sao sau đây lên hệ thống chúng ta và lên bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào trong hệ thống: |
|
a. The Great Bear. |
a. Đại Hùng Tinh. |
|
b. The Little Bear. |
b. Tiểu Hùng Tinh. |
|
c. The Pole Star, especially where our planet is concerned. |
c. Sao Bắc Cực, đặc biệt khi liên quan đến hành tinh chúng ta. |
|
d. The Pleiades. |
d. Thất Nữ Tinh. |
|
e. The constellation of Capricorn. |
e. Chòm sao Ma Kết. |
|
f. Draco. |
f. Thiên Long. |
|
g. Sirius. |
g. Sirius. |
|
h. The various constellations and stars of the Zodiac. |
h. Các chòm sao và các ngôi sao khác nhau của Hoàng đạo. |
|
[Page 796] The mystery is hidden in esoteric astrology, and until the subject of energy working through the etheric body, of radioactivity, and of the transmutation of all bodies from a lower state into a higher is better comprehended, the true mystery of the “influence” of these various bodies upon each other will remain at its present stage—an unrevealed secret. If the radiatory effect of a human being or of a group of human beings upon each other is as yet practically an unknown thing from the standpoint of practical science, so the occult effect of these greater forms upon each other remains unknown. Science recognises certain effects, leading and tending to the general coherence of the universe, just as the general laws of the social order among men are theoretically apprehended, but the true scientific realisation of energy-radiations emanating from the etheric bodies of all these suns and groups of suns, and from all these planets and groups of planets is little understood. Their atomic activity is recognised, but that department of their being, which finds its correspondence in “animal magnetism” in man, is little realised, while the even more potent factor of the magnetic radiation of their astral bodies is totally uncalculated, nor is it admitted. All these factors have to be allowed for in any consideration of the factor of time and cycles, and the true esoteric knowledge is not to be gained by the study of figures by the lower mind. It comes as the result of the intuition and is stimulated at initiation. |
[Page 796] Huyền nhiệm được ẩn giấu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, và cho đến khi chủ đề năng lượng hoạt động qua thể dĩ thái, tính phóng xạ, và sự chuyển hoá của mọi thể từ trạng thái thấp lên trạng thái cao được thấu hiểu tốt hơn, thì huyền nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau này lên nhau sẽ vẫn ở giai đoạn hiện nay của nó—một bí mật chưa được mặc khải. Nếu hiệu quả bức xạ của một con người hay của một nhóm người lên nhau cho đến nay vẫn thực tế là điều chưa biết từ quan điểm của khoa học thực nghiệm, thì hiệu quả huyền bí của những hình tướng lớn hơn này lên nhau cũng vẫn chưa được biết. Khoa học công nhận một số hiệu quả nhất định, dẫn đến và hướng đến sự cố kết chung của vũ trụ, cũng như các định luật tổng quát của trật tự xã hội giữa con người được lĩnh hội trên lý thuyết, nhưng sự chứng nghiệm khoa học chân thực về các bức xạ năng lượng phát ra từ các thể dĩ thái của tất cả các mặt trời và các nhóm mặt trời này, và từ tất cả các hành tinh cùng các nhóm hành tinh này thì ít được thấu hiểu. Hoạt động nguyên tử của chúng được công nhận, nhưng bộ phận của bản thể chúng, vốn tìm thấy tương ứng của nó trong “từ điện động vật” nơi con người, thì ít được chứng nghiệm, trong khi yếu tố còn mạnh hơn nữa là bức xạ từ tính của các thể cảm dục của chúng thì hoàn toàn không được tính đến, cũng không được thừa nhận. Tất cả những yếu tố này phải được tính đến trong bất kỳ sự xem xét nào về yếu tố thời gian và các chu kỳ, và tri thức huyền bí chân thực không thể đạt được bằng việc nghiên cứu các con số bằng hạ trí. Nó đến như kết quả của trực giác và được kích thích lúc điểm đạo. |
|
All that has here been pointed out, can be applied equally (though in a very finite sense) to the ego and its cycles, and also equally, considerations other than the purely “personal” will enter into its time periods. The influence of other groups and of other units, the effects of radiation from other rays, and of certain types of force as yet unrevealed, and thus outside our consideration, are concerned with its appearing, with the duration of its [Page 797] manifestation, its subsequent obscuration, and final pralayic interval. As the Ego has time periods corresponding to those of Brahma, and its “100 years” and its “777 incarnations” have a solar analogy, so equally groups of Egos differ as to time, just as the planetary schemes are analogous in evolution but differ where their periods are concerned. The Law of Periodicity is one, but as it is based upon initial impulse, and upon the rhythmic beat of the “central heart” or the “central sun” of any organism (solar system, planetary scheme, planetary chain, egoic group or individual egoic life) the true nature or “family” of any such organism must be ascertained before cyclic pronouncements can be made with any hope of approximate accuracy. This was why H. P. B. sought to emphasise the need of studying the “astral family” and occult heredity of any person, for in the astral is to be found the clue to the “egoic family or group.” With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre. As time elapses, the true study of heredity and esoteric transmission will open up, and the whole fabric of thought built up around such modern expressions as: |
Tất cả những gì đã được chỉ ra ở đây đều có thể được áp dụng tương tự (dù theo một ý nghĩa rất hữu hạn) cho chân ngã và các chu kỳ của nó, và cũng tương tự, những cân nhắc khác ngoài cái thuần “cá nhân” sẽ đi vào các thời kỳ thời gian của nó. Ảnh hưởng của các nhóm khác và các đơn vị khác, các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác, và của một số loại mãnh lực chưa được mặc khải, do đó nằm ngoài sự xem xét của chúng ta, đều liên quan đến sự xuất hiện của nó, đến thời lượng của [Page 797] biểu hiện của nó, sự che mờ tiếp theo, và khoảng giai kỳ qui nguyên cuối cùng. Cũng như Chân ngã có những thời kỳ thời gian tương ứng với những thời kỳ của Brahma, và “100 năm” cùng “777 lần nhập thể” của nó có một sự tương đồng thái dương, thì các nhóm Chân ngã cũng khác nhau về thời gian, cũng như các hệ hành tinh tương đồng trong tiến hoá nhưng khác nhau về các thời kỳ của chúng. Định luật Chu Kỳ là một, nhưng vì nó dựa trên xung lực ban đầu, và trên nhịp đập có tiết tấu của “tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể nào (hệ mặt trời, hệ hành tinh, dãy hành tinh, nhóm chân ngã hay sự sống chân ngã cá biệt), nên bản chất chân thực hay “gia đình” của bất kỳ cơ thể nào như thế phải được xác định trước khi có thể đưa ra những tuyên bố về chu kỳ với chút hy vọng nào về độ chính xác gần đúng. Đó là lý do H. P. B. đã tìm cách nhấn mạnh nhu cầu nghiên cứu “gia đình cảm dục” và di truyền huyền bí của bất kỳ người nào, vì trong cảm dục có thể tìm thấy đầu mối dẫn đến “gia đình hay nhóm chân ngã.” Với đầu mối này, đạo sinh khi ấy có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã, vị trí của nó giữa các nhóm chân ngã khác, và cuối cùng là cung hay trung tâm nhóm của mình. Theo thời gian, việc nghiên cứu chân thực về di truyền và truyền thừa nội môn sẽ được khai mở, và toàn bộ cấu trúc tư tưởng được dựng lên quanh những cách diễn đạt hiện đại như: |
|
a. Consanguinity or blood ties |
a. Huyết thống hay ràng buộc máu mủ |
|
b. Physical heredity |
b. Di truyền hồng trần |
|
c. Atavism |
c. Hiện tượng lại giống tổ tiên |
|
d. Intermarriage |
d. Hôn phối cận huyết |
|
e. Family relationships |
e. Quan hệ gia đình |
|
f. The family unit |
f. Đơn vị gia đình |
|
g. Soul mates |
g. Bạn đời linh hồn |
|
h. Divorce and many other terms |
h. Ly hôn và nhiều thuật ngữ khác |
|
will be shifted to higher planes, and will be recognised and used in connection with soul relationships. They are, as yet, but a faint realisation on the physical plane of [Page 798] certain inner relations, which are seeking outer response. When all aggregates of ideas are interpreted in terms of force and energy, in terms of attraction and repulsion, or the vibratory response of units to each other, and of aggregates of units to other groups, we shall have the clearing up of many problems and a simplification of life. Men will be true to their group affiliations, and the present misgrouping and mismating will gradually, through knowledge, die out. |
sẽ được chuyển lên các cõi cao hơn, và sẽ được công nhận và sử dụng trong liên hệ với các quan hệ linh hồn. Hiện nay, chúng chỉ là một sự chứng nghiệm mờ nhạt trên cõi hồng trần về [Page 798] một số quan hệ bên trong đang tìm kiếm đáp ứng bên ngoài. Khi mọi tập hợp ý tưởng được diễn giải theo các thuật ngữ của mãnh lực và năng lượng, theo các thuật ngữ của hấp dẫn và đẩy lùi, hay của đáp ứng rung động của các đơn vị đối với nhau, và của các tập hợp đơn vị đối với các nhóm khác, chúng ta sẽ có sự làm sáng tỏ nhiều vấn đề và sự đơn giản hoá đời sống. Những người nam và nữ sẽ trung thành với các liên kết nhóm của mình, và sự xếp nhóm sai lầm cùng kết đôi sai lầm hiện nay sẽ dần dần, nhờ tri thức, biến mất. |
|
We can now take up the consideration of karma in its relation to the act of reincarnation. As we are well aware, the law of karma is the most stupendous law of the system and one which it is impossible for the average man in any way to comprehend, for, if traced back along its central root and its many ramifications, one eventually reaches the position where causes antedating the solar system have to be dealt with, and this point of view can only be usefully grasped by a high initiate. |
Giờ đây chúng ta có thể bàn đến nghiệp quả trong liên hệ của nó với hành động tái sinh. Như chúng ta đều biết rõ, định luật nghiệp quả là định luật vĩ đại nhất của hệ thống và là một định luật mà con người trung bình không thể nào thấu hiểu được, vì nếu truy nguyên ngược về căn nguyên trung tâm của nó và vô số nhánh phụ của nó, cuối cùng người ta sẽ đi đến vị trí mà ở đó phải bàn đến những nguyên nhân có trước hệ mặt trời, và quan điểm này chỉ có thể được một điểm đạo đồ cao cấp nắm bắt một cách hữu ích. |
|
This great law really concerns, or is based on causes which are inherent in the constitution of matter itself and on the interaction between atomic units whether we use this expression in connection with an atom of substance, a human being, a planetary atom or a solar atom. |
Định luật vĩ đại này thực sự liên quan đến, hay dựa trên, những nguyên nhân vốn cố hữu trong chính cấu tạo của vật chất và trên sự tương tác giữa các đơn vị nguyên tử, dù chúng ta dùng cách diễn đạt này liên hệ với một nguyên tử chất liệu, một con người, một nguyên tử hành tinh hay một nguyên tử thái dương. |
|
We might express it also in saying that the will aspect or initiatory impulse is primarily that which produces cause, which is cause itself. It should be remembered ever that cause involves the idea of duality, i.e., that which initiates, and that which is produced simultaneously by the initiation. The two ideas are inseparable, yet nevertheless the second idea in its most abstract connotation must not be considered literally as an effect; true effect involves a third idea. Some appreciation of the problem may be gleaned by a consideration of phenomena which ever involves this dual initiatory cause and its objective effect: [Page 799] |
Chúng ta cũng có thể diễn đạt điều đó bằng cách nói rằng phương diện ý chí hay xung lực khởi đầu trước hết là cái tạo ra nguyên nhân, chính là nguyên nhân. Cần luôn nhớ rằng nguyên nhân bao hàm ý niệm về nhị nguyên tính, tức là cái khởi xướng, và cái được tạo ra đồng thời bởi sự khởi xướng. Hai ý niệm này không thể tách rời, tuy nhiên ý niệm thứ hai trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó không được hiểu theo nghĩa đen như một hiệu quả; hiệu quả chân thực bao hàm một ý niệm thứ ba. Có thể thu lượm được một phần nào sự lĩnh hội về vấn đề này bằng cách xem xét các hiện tượng, điều luôn bao hàm nguyên nhân khởi đầu nhị nguyên này và hiệu quả khách quan của nó: [Page 799] |
|
a. Spirit-matter in dual activity produces the objective universe. |
a. Tinh thần-vật chất trong hoạt động nhị nguyên tạo ra vũ trụ khách quan. |
|
b. Lửa Điện và Lửa ma sát khi được đưa vào tiếp xúc sẽ tạo ra Lửa Thái dương; nó bùng phát từ bóng tối, nhưng là một bóng tối sung mãn năng lượng. |
|
|
c. Will-desire is the cause of incarnation; the will-to-be reacting on substance (whose main quality is desire or responsiveness to sensation) produces the forms through which the central Life or Existence seeks expression. |
c. Ý chí-khao khát là nguyên nhân của sự nhập thể; ý chí-hiện hữu tác động lên chất liệu (mà phẩm tính chính là khao khát hay sự đáp ứng với cảm giác) tạo ra những hình tướng qua đó Sự sống trung tâm hay Hiện Hữu tìm cách biểu lộ. |
|
d. Ideas and thought-matter together produce thoughtforms. |
d. Các ý tưởng và vật chất tư tưởng cùng nhau tạo ra các hình tư tưởng. |
|
If the student considers these points, it will become apparent that it is not possible for him to do more than study the effects produced by the juxtaposition of the pairs of opposites; he cannot dissociate them in his mind and deal with Spirit per se, or with matter per se any more than the atom of substance in man’s physical body can dissociate itself from that body, and consider itself independently of form influences. All atoms are always controlled by the following factors, just as a man in the body of a planetary Logos, and a planetary Logos within His greater Whole will be equally controlled by the same basic principles: |
Nếu đạo sinh suy xét những điểm này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng y không thể làm gì hơn ngoài việc nghiên cứu các kết quả do sự kề cận của các cặp đối cực tạo ra; y không thể tách rời chúng trong trí mình và bàn đến Tinh thần chính nó, hay bàn đến vật chất chính nó cũng như nguyên tử chất liệu trong thể xác của con người không thể tự tách mình ra khỏi thể ấy và tự xét mình một cách độc lập với các ảnh hưởng của hình tướng. Mọi nguyên tử luôn luôn bị chi phối bởi các yếu tố sau đây, cũng như một con người trong thể của một Hành Tinh Thượng đế, và một Hành Tinh Thượng đế bên trong Toàn Thể lớn lao hơn của Ngài, đều sẽ bị chi phối như nhau bởi cùng những nguyên lý căn bản ấy: |
|
The influence and quality of the organ or unit in which it finds a place. In the human atom this means his group force or influence. |
Ảnh hưởng và phẩm tính của cơ quan hay đơn vị mà trong đó nó tìm được chỗ đứng. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này có nghĩa là mãnh lực hay ảnh hưởng nhóm của y. |
|
The life influence of the entire physical body of which any atom is a corporate part. In the human atom this means the influence of the particular centre in which his egoic group has a place, and the type of energy which it embodies. |
Ảnh hưởng sự sống của toàn thể thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này có nghĩa là ảnh hưởng của trung tâm đặc thù mà nhóm chân ngã của y có một vị trí trong đó, và loại năng lượng mà trung tâm ấy thể hiện. |
|
The life influence of the desire or astral body, the strongest karmic agency which has to be considered. [Page 800] In the human atom, this involves the influence of the three centres in the body of the Heavenly Man which form any specific “force triangle,” and which have much to do with the liberation of groups of Egos from manifestation. |
Ảnh hưởng sự sống của thể khao khát hay thể cảm dục, tác nhân nghiệp quả mạnh nhất cần phải được xét đến. [Page 800] Đối với nguyên tử nhân loại, điều này bao hàm ảnh hưởng của ba trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân tạo thành bất kỳ “tam giác lực” đặc thù nào, và có liên hệ rất nhiều đến sự giải thoát các nhóm Chân ngã khỏi sự biểu hiện. |
|
Các ảnh hưởng sự sống của thể trí, hay của nguyên khí áp đặt lên nguyên tử phẩm tính hoạt động trong hình tướng, chi phối sự đáp ứng của nguyên tử đối với đời sống nhóm của nó, và làm cho phẩm tính của sự sống nó có thể được biểu lộ. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này liên quan đến những nguyên nhân gắn liền với cung của một người, hay theo nghĩa đen là ảnh hưởng của sự sống của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài hoạt động như một Sự sống tự ý thức trên cõi riêng của Ngài, khi Ngài triển khai các kế hoạch riêng của Ngài, và do đó cuốn các tế bào trong thể Ngài vào hoạt động như những sự việc phụ thuộc đơn thuần xét theo phương diện Ngài (sự sống trung tâm căn bản). |
|
|
The life impulse of the Thinker functioning in the causal body who—though a great abstraction or the Absolute where the cellular life is concerned—is nevertheless a potent and active factor in the imposition of rhythm upon the atom in every body. In the human atom, this brings in the influence of the life of the solar Logos, for that Life imposes rhythm upon every human atom in the system, and does so through the agency of substance and its inherent quality, sensation. |
Xung lực sự sống của Đấng Tư Tưởng hoạt động trong thể nguyên nhân, Đấng—dù là một sự trừu tượng lớn lao hay Tuyệt Đối xét theo sự sống tế bào—dẫu vậy vẫn là một yếu tố mạnh mẽ và năng động trong việc áp đặt nhịp điệu lên nguyên tử trong mọi thể. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này đưa vào ảnh hưởng của sự sống của Thái dương Thượng đế, vì Sự sống ấy áp đặt nhịp điệu lên mọi nguyên tử nhân loại trong hệ thống, và làm như vậy thông qua tác nhân là chất liệu và phẩm tính cố hữu của nó là cảm giác. |
|
In these thoughts, we have but approached the study of karma from a fresh angle, and endeavoured to show the sources of the “influences” which play upon all atomic lives. |
Trong những tư tưởng này, chúng ta chỉ mới tiếp cận việc nghiên cứu nghiệp quả từ một góc độ mới, và cố gắng chỉ ra các nguồn gốc của những “ảnh hưởng” tác động lên mọi sự sống nguyên tử. |
|
The atom likewise is controlled by its own “esse,” or by its own inherent nature or vibration, which was the quality of matter itself before it was aggregated into a solar system, and which was the vibratory activity produced through the rhythmic life of an earlier solar system. [Page 801] This is equally true of all atoms of all grades, but only in connection with the atom of substance, and to some degree with the human atom, is it in any way possible to ascertain the predisposing causes. Until the mystery of the Great Bear is revealed and is known as it is, and until the influence of the Pleiades is comprehended, and the true significance of the cosmic triangle formed by |
Nguyên tử cũng bị chi phối bởi “esse” riêng của nó, hay bởi bản chất hoặc rung động cố hữu của chính nó, vốn là phẩm tính của chính vật chất trước khi nó được kết tập thành một hệ mặt trời, và vốn là hoạt động rung động được tạo ra qua sự sống nhịp điệu của một hệ mặt trời trước đó. [Page 801] Điều này cũng đúng như vậy đối với mọi nguyên tử ở mọi cấp độ, nhưng chỉ liên quan đến nguyên tử chất liệu, và ở một mức độ nào đó với nguyên tử nhân loại, thì mới có thể phần nào xác định được các nguyên nhân khuynh hướng từ trước. Chừng nào huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh còn chưa được mặc khải và được biết đúng như nó là, và chừng nào ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh còn chưa được thấu hiểu, và thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được tạo thành bởi |
|
a. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, |
|
|
b. The seven planetary Logoi of our solar system, |
b. Bảy Hành Tinh Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, |
|
c. The seven Pleiades or Sisters, |
c. Bảy Thất Nữ Tinh hay Bảy Chị Em, |
|
is revealed, the karma of the seven sacred planets will remain unknown. All that we can see is its working out in the solar system. The intricacy of the whole subject will be apparent when it is borne in mind that not only do these three groups form a cosmic triangle, but that within that triangle many lesser triangles have to be studied. Any one of the seven Rishis with one of our planetary Logoi and one of the seven Sisters may form a subsidiary triangle, and all must thus be studied. |
còn chưa được mặc khải, thì nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng vẫn sẽ còn chưa được biết đến. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy là sự vận hành của nó trong hệ mặt trời. Tính phức tạp của toàn bộ chủ đề sẽ trở nên hiển nhiên khi nhớ rằng không những ba nhóm này tạo thành một tam giác vũ trụ, mà bên trong tam giác ấy còn có nhiều tam giác nhỏ hơn cần phải được nghiên cứu. Bất kỳ một trong bảy Rishi nào cùng với một trong các Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và một trong Bảy Chị Em đều có thể tạo thành một tam giác phụ, và tất cả đều phải được nghiên cứu như thế. |
|
In connection with the karma of the solar Logos, the subject is even more abstract and incomprehensible. It lies hidden—not in the seven constellations—but in the three constellations which concern the three bodies of His Personality and which in themselves are but manifestations of a central LIFE past our concept and our recognition. It concerns the manifestation in time and space of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and Whose relationship to the solar Logos finds a faint analogy in that of the planetary Logos to man, the human unit. It profits not to extend the thought any further. |
Liên quan đến nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, chủ đề này còn trừu tượng và bất khả hiểu hơn nữa. Nó ẩn giấu—không phải trong bảy chòm sao—mà trong ba chòm sao liên quan đến ba thể của Phàm ngã của Ngài và bản thân chúng chỉ là những biểu hiện của một SỰ SỐNG trung tâm vượt ngoài quan niệm và sự nhận biết của chúng ta. Nó liên quan đến sự biểu hiện trong thời gian và không gian của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và mối liên hệ của Ngài với Thái dương Thượng đế có một sự tương đồng mờ nhạt với mối liên hệ của Hành Tinh Thượng đế với con người, đơn vị nhân loại. Không ích gì khi mở rộng tư tưởng này thêm nữa. |
|
We are but seeking to emphasise the fact of the interdependence of all atoms and forms, to lay stress upon the reality of the variety of influences which play upon all [Page 802] that is manifesting, and to call attention to the fact of the karma of the past aeons, kalpas and that unknowable period in which the initiatory impulses were set up which are still persisting, and which God, man and atoms are still working out and off. Influences or vibrations, calling forth response, play upon every form and atom in the solar system and all that can be predicated of them is that they tend to develop consciousness of some kind, impose certain rhythms according to that conscious response, and produce aggregations or group activity. |
Chúng ta chỉ đang tìm cách nhấn mạnh sự kiện về tính tương thuộc của mọi nguyên tử và hình tướng, nhấn mạnh thực tại của sự đa dạng các ảnh hưởng tác động lên mọi [Page 802] gì đang biểu hiện, và lưu ý đến sự kiện về nghiệp quả của các đại kiếp, các kalpa trong quá khứ và giai đoạn bất khả tri ấy khi các xung lực điểm đạo được thiết lập mà đến nay vẫn còn tồn tại, và Thượng đế, con người và các nguyên tử vẫn đang triển khai và giải trừ. Những ảnh hưởng hay rung động, gọi ra sự đáp ứng, tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời và tất cả những gì có thể được khẳng định về chúng là chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó, áp đặt những nhịp điệu nhất định tùy theo sự đáp ứng có tâm thức ấy, và tạo ra những sự kết tập hay hoạt động nhóm. |
|
The liberation from karma about which would-be occult students so glibly talk is after all but the freeing of the atom from its own personal problem (the problem of response to unitary sensation), and its conscious acquiescence in group response and work. It marks the dissociation of the human atom from the rhythm imposed upon him by the lower “influences” which find their channel of approach through his vehicles, or lunar bodies, and his consequent willing recognition of the will-impulse of his greater whole, or the life of the egoic group—a centre in the planetary body. It involves atomic control, but involves also conscious subjection to the karma of the Heavenly Man. Man is no longer the slave of the rhythm of matter per se, but controls it in the three worlds of his endeavour; he is still nevertheless controlled by the group karma of the planetary centre, by its influence, life and vibratory impulse. The same can be predicated of a Heavenly Man, and of a solar Logos. |
Sự giải thoát khỏi nghiệp quả mà những đạo sinh huyền bí học muốn trở thành thường nói đến một cách quá dễ dãi, rốt cuộc chỉ là sự giải phóng nguyên tử khỏi vấn đề cá nhân riêng của nó (vấn đề đáp ứng với cảm giác đơn nhất), và sự thuận nhận có ý thức của nó đối với sự đáp ứng và công việc nhóm. Điều đó đánh dấu sự tách rời của nguyên tử nhân loại khỏi nhịp điệu áp đặt lên y bởi các “ảnh hưởng” thấp hơn vốn tìm được kênh tiếp cận qua các vận cụ của y, hay các thể thái âm, và do đó là sự thừa nhận tự nguyện của y đối với xung lực ý chí của toàn thể lớn hơn của mình, hay sự sống của nhóm chân ngã—một trung tâm trong thể hành tinh. Điều này bao hàm sự kiểm soát nguyên tử, nhưng cũng bao hàm sự phục tùng có ý thức đối với nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. Con người không còn là nô lệ của nhịp điệu của vật chất chính nó nữa, mà kiểm soát nó trong ba cõi thấp của nỗ lực mình; tuy nhiên y vẫn còn bị chi phối bởi nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh, bởi ảnh hưởng, sự sống và xung lực rung động của nó. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một Đấng Thiên Nhân, và về một Thái dương Thượng đế. |
|
We might, in closing, express the same thought in terms of fire, remembering that words only limit and confine the thought, and that the main reason for this mode of approach is to bring pictorially before man some aspects of the central idea. |
Để kết thúc, chúng ta có thể diễn đạt cùng một tư tưởng ấy theo thuật ngữ của lửa, nhớ rằng ngôn từ chỉ giới hạn và giam hãm tư tưởng, và lý do chính của lối tiếp cận này là để đưa một vài phương diện của ý tưởng trung tâm ra trước con người bằng hình ảnh. |
|
“Electric fire, or will-impulse” in conjunction with “fire by friction” produces light or “solar fire.” Electric fire is force or energy of some kind, and hence in itself [Page 803] is fundamentally an emanation. “Fire by friction” is substance with the quality of heat as its predominant characteristic; it is latent heat or sensation. Both these ideas, therefore, convey the idea of duality. An emanation must have its originating source, and heat is but the result of friction, and is necessarily dual. Both these concepts involve facts long antedating the solar system, and hidden in the Universal Mind. All that we can scientifically ascertain is the nature of that which is produced by their approximation, and this is solar fire or light. These thoughts may make clear somewhat the significance of the number five, esoterically considered. Electric fire, being an emanation is essentially dual in concept, and so is fire by friction; they together produce solar fire, and thus the esoteric fifth. |
“Lửa Điện, hay xung lực ý chí” kết hợp với “Lửa ma sát” tạo ra ánh sáng hay “Lửa Thái dương.” Lửa Điện là mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại nào đó, và do đó tự thân [Page 803] về căn bản là một phát xạ. “Lửa ma sát” là chất liệu với phẩm tính nhiệt là đặc tính nổi trội của nó; đó là nhiệt tiềm ẩn hay cảm giác. Vì vậy, cả hai ý tưởng này đều chuyển tải ý niệm về nhị nguyên tính. Một phát xạ phải có nguồn phát sinh của nó, và nhiệt chỉ là kết quả của ma sát, nên tất yếu là nhị nguyên. Cả hai khái niệm này đều bao hàm những sự kiện có trước hệ mặt trời từ rất lâu, và ẩn giấu trong Vũ Trụ Trí. Tất cả những gì chúng ta có thể xác định một cách khoa học là bản chất của điều được tạo ra bởi sự xích lại gần nhau của chúng, và đó là Lửa Thái dương hay ánh sáng. Những tư tưởng này có thể phần nào làm sáng tỏ thâm nghĩa của số năm khi được xét một cách huyền bí. Lửa Điện, vì là một phát xạ, về bản chất là nhị nguyên trong khái niệm, và Lửa ma sát cũng vậy; cả hai cùng nhau tạo ra Lửa Thái dương, và như thế tạo ra số năm huyền bí. |
|
It will be apparent that when a man speaks of karma, he is dealing with something much wider than the interplay of effect and cause within the sphere of his own individual routine. He is, in all things, governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group, by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man, by force or purpose circulating through a triangle of centres, and by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself. Finally he is governed by the will of the solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity. Beyond this we need hardly go, but enough has been said to show that every human atom is under the dominance of forces outside his own consciousness, which sweep him and others into situations from which there is no escape, and which are to him incomprehensible. |
Sẽ hiển nhiên rằng khi một người nói về nghiệp quả, y đang đề cập đến một điều gì đó rộng lớn hơn nhiều so với sự tương tác giữa kết quả và nguyên nhân trong phạm vi nếp sinh hoạt cá nhân riêng của mình. Trong mọi sự, y bị chi phối bởi những nguyên nhân phát sinh trong tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân, bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm, và bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng đế. Sau cùng y bị chi phối bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo. Vượt quá điều này chúng ta hầu như không cần đi xa hơn, nhưng như thế cũng đủ để cho thấy rằng mọi nguyên tử nhân loại đều ở dưới sự chi phối của những mãnh lực nằm ngoài tâm thức riêng của y, những mãnh lực cuốn y và những người khác vào những hoàn cảnh không có lối thoát, và đối với y là bất khả hiểu. |
|
This has been at no time better illustrated than in the event of the late war and in present world conditions; these are effects of causes having their origin in the renewed activity of a certain planetary triangle, and in the vibration set up by our planetary Logos on the moon-chain, [Page 804] and which had a faint beginning in an earlier solar system. This vibration impinged primarily upon certain atoms and groups of atoms in His body, principally those composing the human and animal kingdoms, and produced the apparently dire results which we have been witnessing. So great was the effect of His energy, that the vegetable kingdom was somewhat (though not so much) affected, and the mineral kingdom felt the effect in a startling manner, far more than the vegetable kingdom and almost as much as the animal. Here we have a setting of circumstances outside human and even group control, which illustrates the helplessness of man in certain conditions, and which serves to bring in factors apparently apart from the individual vibration of the fourth kingdom. |
Điều này chưa từng được minh họa rõ hơn trong biến cố của cuộc chiến vừa qua và trong các điều kiện thế giới hiện nay; đó là những kết quả của các nguyên nhân bắt nguồn từ hoạt động được đổi mới của một tam giác hành tinh nào đó, và từ rung động được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thiết lập trên dãy mặt trăng, [Page 804] và đã có một khởi đầu mờ nhạt trong một hệ mặt trời trước đó. Rung động này trước hết tác động lên một số nguyên tử và nhóm nguyên tử nào đó trong thể của Ngài, chủ yếu là những nguyên tử cấu thành giới nhân loại và giới động vật, và tạo ra những kết quả có vẻ thảm khốc mà chúng ta đã chứng kiến. Ảnh hưởng năng lượng của Ngài lớn lao đến nỗi giới thực vật cũng bị tác động phần nào (dù không nhiều bằng), và giới kim thạch cảm nhận ảnh hưởng ấy theo một cách đáng kinh ngạc, nhiều hơn giới thực vật rất nhiều và gần như bằng giới động vật. Ở đây chúng ta có một sự an bài hoàn cảnh nằm ngoài sự kiểm soát của con người và ngay cả của nhóm, minh họa sự bất lực của con người trong một số điều kiện nhất định, và đưa vào những yếu tố dường như tách biệt khỏi rung động cá nhân của giới thứ tư. |
|
Nevertheless, within limits, man definitely does “control his destiny,” and can initiate action which produces effects recognisable by him as being dependent upon his activity along a particular line. He does, on a miniature scale, repeat the procedure of the Logos on a vaster scale, and thus is the arbiter of his own destiny, the producer of his own drama, the architect of his own home, and the initiator of his own affairs. Though he may be the meeting place of forces outside his control, yet he can utilize force, circumstance and environment and can turn them, if he so will, to his own ends. |
Tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, con người quả thực “kiểm soát số phận của mình,” và có thể khởi xướng hành động tạo ra những kết quả mà y nhận biết là tùy thuộc vào hoạt động của mình theo một đường lối đặc thù. Ở quy mô thu nhỏ, y lặp lại tiến trình của Thượng đế ở một quy mô lớn hơn, và do đó là người phân xử số phận của chính mình, người tạo ra vở kịch của chính mình, kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình, và là kẻ khởi xướng những công việc của chính mình. Dù y có thể là nơi gặp gỡ của những mãnh lực ngoài sự kiểm soát của mình, y vẫn có thể sử dụng mãnh lực, hoàn cảnh và môi trường, và có thể xoay chuyển chúng, nếu y muốn, theo những mục đích riêng của mình. |
|
The working out of karmic law in a man’s own life might be broadly divided into three divisions, in each of which a different type of energy is demonstrating, producing effects upon the lower and higher bodies of a definite nature. |
Sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống riêng của một người có thể được chia đại thể thành ba phần, trong mỗi phần một loại năng lượng khác nhau đang biểu lộ, tạo ra những kết quả có bản chất xác định trên các thể thấp và cao. |
|
In the very early stages, when man is scarcely more than an animal, the vibratory activity of the atoms of his three sheaths (and of the lowest primarily) governs all actions on his part. He is the victim of the vibratory activity of physical substance, and much that occurs is the [Page 805] consequence of the interaction between the Ego and its lowest manifestation, the physical sheath. The centre of attention is the physical body and only faintly are the two subtler bodies responding. The egoic impulse is slow and heavy, and the vibration is directed to producing response between the egoic consciousness and the atoms of the physical body. The physical permanent atom is more active than the other two. It is the aspect of “fire by friction” which is fanned by the egoic breath, with a triple object in view: |
Trong những giai đoạn rất sớm, khi con người hầu như chưa hơn con vật là mấy, hoạt động rung động của các nguyên tử trong ba thể bọc của y (và chủ yếu là thể thấp nhất) chi phối mọi hành động của y. Y là nạn nhân của hoạt động rung động của chất liệu hồng trần, và nhiều điều xảy ra là [Page 805] hệ quả của sự tương tác giữa Chân ngã và biểu hiện thấp nhất của nó, thể bọc hồng trần. Trung tâm chú ý là thể xác và chỉ rất mờ nhạt hai thể vi tế hơn mới đáp ứng. Xung lực chân ngã chậm chạp và nặng nề, và rung động được hướng đến việc tạo ra sự đáp ứng giữa tâm thức chân ngã và các nguyên tử của thể xác. Nguyên tử trường tồn hồng trần hoạt động mạnh hơn hai nguyên tử kia. Đó là phương diện của “Lửa ma sát” được hơi thở chân ngã quạt lên, với một mục tiêu tam phân: |
|
a. Co-ordinating the physical body. |
a. Phối hợp thể xác. |
|
b. Increasing the resistance of the etheric web, a work which was only carried to the desired point by the middle of the Atlantean root-race. |
b. Gia tăng sức đề kháng của màng lưới dĩ thái, một công việc chỉ được đưa đến điểm mong muốn vào khoảng giữa giống dân gốc Atlantis. |
|
c. Bringing certain of the lower centres to the necessary stage of expression. |
c. Đưa một số trung tâm thấp đến giai đoạn biểu lộ cần thiết. |
|
The heat of the atoms in the bodies is increased during this stage, and their atomic life co-ordinated, while the triangle between the three permanent atoms becomes a demonstrable fact and not a faint indication. |
Nhiệt của các nguyên tử trong các thể được gia tăng trong giai đoạn này, và sự sống nguyên tử của chúng được phối hợp, trong khi tam giác giữa ba nguyên tử trường tồn trở thành một sự kiện có thể chứng minh được chứ không còn là một dấu hiệu mờ nhạt nữa. |
|
During the second stage, the law of karma or karmic influence (through the inevitable reflex action produced by the increased activity of the sheaths) turns its attention to the working out of desire, and its transmutation into the higher aspiration. Through experience, the pairs of opposites are recognised by the Thinker, and he becomes no longer the victim of the vibratory impulses of his physical body; the factor of intelligent choice becomes apparent. The man begins to discriminate between the pairs of opposites, choosing ever in the early stages that which appeals most to his lower nature and that which he believes will bring him pleasure. The centre of the attention of the Ego is the astral body, and it becomes so closely co-ordinated with the physical body that the two form one united expression of desire. The mental body [Page 806] remains comparatively inactive at this stage. The love nature of the Ego is in process of being developed, and this stage is the longest of the three. It deals with the evolution of the petals of the egoic lotus, and with the blending of solar fire and of fire by friction. Reflex action between the lower and the higher during this middle period produces three effects, which will be seen, if carefully studied to convey much information anent the working out of the law of Karma. These three effects are: |
Trong giai đoạn thứ hai, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả (thông qua phản ứng dội lại tất yếu do hoạt động gia tăng của các thể bọc tạo ra) hướng sự chú ý của nó đến việc triển khai khao khát, và sự chuyển hoá nó thành khát vọng cao hơn. Qua kinh nghiệm, các cặp đối cực được Đấng Tư Tưởng nhận biết, và y không còn là nạn nhân của các xung lực rung động của thể xác mình nữa; yếu tố lựa chọn thông minh trở nên hiển nhiên. Con người bắt đầu phân biện giữa các cặp đối cực, trong những giai đoạn đầu luôn chọn điều hấp dẫn nhất đối với bản chất thấp của mình và điều mà y tin sẽ đem lại khoái lạc cho mình. Trung tâm chú ý của Chân ngã là thể cảm dục, và nó trở nên được phối hợp chặt chẽ với thể xác đến nỗi cả hai tạo thành một biểu hiện thống nhất của khao khát. Thể trí [Page 806] vẫn tương đối bất hoạt trong giai đoạn này. Bản chất bác ái của Chân ngã đang trong tiến trình được phát triển, và đây là giai đoạn dài nhất trong ba giai đoạn. Nó liên quan đến sự tiến hoá của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và đến sự hòa trộn của Lửa Thái dương với Lửa ma sát. Phản ứng dội lại giữa cái thấp và cái cao trong thời kỳ trung gian này tạo ra ba kết quả, mà nếu được nghiên cứu cẩn thận sẽ thấy là chuyển tải nhiều thông tin liên quan đến sự vận hành của định luật Nghiệp quả. Ba kết quả này là: |
|
1. The development of the astral permanent atom with a concurrent stimulation of the physical permanent atom, and thus the growth and evolution of the two sheaths concerned. |
1. Sự phát triển của nguyên tử trường tồn cảm dục cùng với sự kích thích đồng thời của nguyên tử trường tồn hồng trần, và như thế là sự tăng trưởng và tiến hoá của hai thể bọc liên hệ. |
|
2. The co-ordination of the threefold man through the innate vitality of the astral body and its effect upon the mental and the physical. This is the kama-manasic period, and as this body is the only complete sphere in the threefold lower man, it is the most powerful body inherently for it embodies (as does the solar system) the heart aspect, or embryonic love nature, which it is the object of macrocosmic and microcosmic evolution to develop. |
2. Sự phối hợp của con người tam phân nhờ sinh lực bẩm sinh của thể cảm dục và ảnh hưởng của nó lên thể trí và thể xác. Đây là thời kỳ trí-cảm, và vì thể này là khối cầu hoàn chỉnh duy nhất trong con người thấp tam phân, nên tự thân nó là thể mạnh nhất vì nó thể hiện (cũng như hệ mặt trời) phương diện tim, hay bản chất bác ái phôi thai, mà mục tiêu của tiến hoá đại thiên địa và tiểu thiên địa là phát triển. |
|
3. Finally the unfoldment of the nine egoic petals in three stages. |
3. Sau cùng là sự khai mở của chín cánh hoa chân ngã trong ba giai đoạn. |
|
In the working out of the law we must therefore note that man is first of all the victim of the impulses of dense substance or of the brahma aspect, and thus repeats rapidly the evolutionary process of the preceding solar system; in the second stage he is the victim of desire, or of his own love nature. |
Vì vậy, trong sự vận hành của định luật, chúng ta phải lưu ý rằng trước hết con người là nạn nhân của các xung lực của chất liệu đậm đặc hay của phương diện Brahma, và do đó lặp lại một cách nhanh chóng tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời trước; trong giai đoạn thứ hai y là nạn nhân của khao khát, hay của chính bản chất bác ái của mình. |
|
In the third stage, the law of karma works through a man’s mental nature, and awakens in him recognition of the law, and an intellectual apprehension of cause and of effect. This is the shortest stage but is also the most powerful; it concerns the evolution of the three inner [Page 807] petals shielding the “jewel,” and their ability to disclose at the right moment that which lies hidden. It covers the period of the evolution of advanced man, and of the man upon the Path. In connection with the human family it covers the first half of the next round, prior to the great separation. Electric fire is beginning to make its radiations felt, and the will or purpose of the Ego is now consciously realised upon the physical plane. The three permanent atoms form a triangle of light, and the petals of the lotus are rapidly unfolding. When the will and purpose of the Ego are realised by man in his waking consciousness in the physical brain, then the law of karma in the three worlds is becoming neutralised, and man is on the verge of liberation. He has exhausted the initial vibration, and there is no response within his sheaths to the threefold vibration of the three worlds; he stands freed from the three kingdoms and the fourth. |
Trong giai đoạn thứ ba, định luật nghiệp quả vận hành qua bản chất trí tuệ của con người, và đánh thức trong y sự nhận biết về định luật, cùng một sự nắm bắt bằng trí năng về nguyên nhân và kết quả. Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng cũng mạnh mẽ nhất; nó liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa bên trong [Page 807] che chở “ngọc châu,” và khả năng của chúng trong việc hé lộ vào đúng lúc điều đang ẩn giấu. Nó bao trùm thời kỳ tiến hoá của con người tiến bộ, và của con người trên Con Đường. Liên quan đến gia đình nhân loại, nó bao trùm nửa đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp, trước cuộc phân ly lớn. Lửa Điện bắt đầu làm cho các bức xạ của nó được cảm nhận, và ý chí hay mục đích của Chân ngã nay được chứng nghiệm một cách có ý thức trên cõi hồng trần. Ba nguyên tử trường tồn tạo thành một tam giác ánh sáng, và các cánh hoa của hoa sen đang nhanh chóng khai mở. Khi ý chí và mục đích của Chân ngã được con người chứng nghiệm trong tâm thức thức tỉnh của mình nơi bộ não hồng trần, thì định luật nghiệp quả trong ba cõi thấp đang được trung hòa, và con người ở trên bờ giải thoát. Y đã làm cạn kiệt rung động khởi đầu, và không còn sự đáp ứng nào trong các thể bọc của y đối với rung động tam phân của ba cõi thấp; y đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư. |
|
d. On the building of the Causal Body. |
d. Về việc xây dựng Thể Nguyên Nhân. |
|
We enter now upon one of the most vitally practical parts of our Treatise on Fire, that which deals with the building of the causal body, or body of manifestation of the Ego. It concerns the work of the solar Angels, or the true self-conscious Identity, man. If the student has in any way apprehended the general trend of the earlier pages, he will now be in a condition of mind which will enable him to interpret all that is said in terms of energy, or of that vibratory activity which is produced by the three major phases of electrical phenomena, the union which produces that divine manifestation called Man, or, when the aggregated units are considered, the human kingdom. |
Giờ đây chúng ta bước vào một trong những phần thực tiễn thiết yếu nhất của Luận về Lửa, phần bàn về việc xây dựng thể nguyên nhân, hay thể biểu hiện của Chân ngã. Nó liên quan đến công việc của các Thái dương Thiên Thần, hay Bản Sắc tự ý thức chân thực, con người. Nếu đạo sinh bằng cách nào đó đã nắm bắt được xu hướng tổng quát của những trang trước, thì giờ đây y sẽ ở trong một trạng thái trí tuệ cho phép y diễn giải mọi điều được nói đến theo thuật ngữ của năng lượng, hay của hoạt động rung động được tạo ra bởi ba pha chính của hiện tượng điện, sự hợp nhất tạo ra biểu hiện thiêng liêng gọi là Con Người, hay, khi xét các đơn vị kết tập, là giới nhân loại. |
|
(a) Introductory remarks. We have studied somewhat the constitution of the Triangles, or Pitris, Who, through self-sacrifice, endow man with self-consciousness, building his egoic vehicle out of Their own essence. We [Page 808] have touched briefly upon the lunar Pitris, who endow man with his lower sheaths and principles through which the energy of the solar Lords may make itself felt, and we shall now proceed to study three things: |
(a) Những nhận xét mở đầu. Chúng ta đã phần nào nghiên cứu cấu tạo của các Tam Giác, hay các Pitri, Đấng mà qua sự hi sinh bản thân, ban cho con người ngã thức, xây dựng vận cụ chân ngã của con người từ chính tinh chất của Các Ngài. Chúng ta [Page 808] đã chạm đến một cách ngắn gọn các thái âm tổ phụ, những Đấng ban cho con người các thể bọc và nguyên khí thấp của y, qua đó năng lượng của các nhật tinh quân có thể được cảm nhận, và giờ đây chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu ba điều: |
|
First, the effect of the higher energy upon the lower bodies, as it gradually makes itself felt during the evolutionary process, and thus simultaneously “redeems” man in an occult sense, and also “elevates” the lunar Pitris. |
Thứ nhất, ảnh hưởng của năng lượng cao lên các thể thấp, khi nó dần dần được cảm nhận trong tiến trình tiến hoá, và như thế đồng thời “cứu chuộc” con người theo nghĩa huyền bí, đồng thời cũng “nâng cao” các thái âm tổ phụ. |
|
Thứ hai, ảnh hưởng của năng lượng này trên cõi trí trong sự phát triển và khai mở của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
|
Third, the awakening to activity of the central Life within the lotus. This activity demonstrates in a twofold manner: |
Thứ ba, sự thức tỉnh vào hoạt động của Sự sống trung tâm bên trong hoa sen. Hoạt động này biểu lộ theo hai cách: |
|
a. As the realisation by the man on the physical plane within the physical brain of his divine nature, resulting in a consequent demonstration of divinity upon earth, prior to liberation. |
a. Như sự chứng nghiệm của con người trên cõi hồng trần trong bộ não hồng trần về bản chất thiêng liêng của mình, đưa đến sự biểu lộ thiên tính trên trần gian trước khi được giải thoát. |
|
b. As the conscious activity of the individual Ego on the mental plane in co-operation with its group or groups. |
b. Như hoạt động có ý thức của Chân ngã cá nhân trên cõi trí trong sự hợp tác với nhóm hay các nhóm của nó. |
|
In the first case, we have the effect of the egoic life upon its sheaths, and their subsequent control, and in the second case we have the self-awakening of the egoic unit on its own plane; in the third case, we have a group realisation, or the entrance by the unit into the consciousness of the Heavenly Man. |
Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có ảnh hưởng của sự sống chân ngã lên các thể bọc của nó, và sự kiểm soát tiếp theo của nó; trong trường hợp thứ hai, chúng ta có sự tự thức tỉnh của đơn vị chân ngã trên cõi riêng của nó; trong trường hợp thứ ba, chúng ta có một sự chứng nghiệm nhóm, hay sự đi vào của đơn vị ấy trong tâm thức của Đấng Thiên Nhân. |
|
It will not be possible to do more than indicate broad general lines of development. The subject of egoic evolution cannot be fully comprehended until after initiation, but it is felt now by the Teachers on the inner side that the main principles had better be given out at once in view of the unexpected development (since the opening of this century) of two great sciences: |
Sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những đường nét phát triển tổng quát. Chủ đề về sự tiến hoá chân ngã không thể được thấu hiểu đầy đủ cho đến sau điểm đạo, nhưng hiện nay các Huấn sư ở phía bên trong cảm thấy rằng tốt hơn nên công bố ngay các nguyên lý chính, xét theo sự phát triển bất ngờ (kể từ đầu thế kỷ này) của hai khoa học lớn: |
|
The Science of Electricity. The investigations of scientists [Page 809] have been greatly stimulated by the discovery of radium, which is an electrical phenomenon of a certain kind, and by the knowledge this discovery brought of the radioactive substances; the development of the many methods of utilising electricity has also greatly aided. This science has brought man to the threshold of a discovery which will revolutionise world thought on these matters, and which will eventually solve a great part of the economic problem, thus leaving many more persons free for mental growth and work. This expansion of knowledge can be looked for before one hundred and fifty years have transpired. |
Khoa Học về Điện. Những cuộc khảo cứu của các nhà khoa học [Page 809] đã được kích thích mạnh mẽ bởi việc khám phá ra radium, vốn là một hiện tượng điện thuộc một loại nào đó, và bởi tri thức mà khám phá này đem lại về các chất phóng xạ; sự phát triển của nhiều phương pháp sử dụng điện cũng đã hỗ trợ rất nhiều. Khoa học này đã đưa con người đến ngưỡng cửa của một khám phá sẽ cách mạng hóa tư tưởng thế giới về những vấn đề này, và rốt cuộc sẽ giải quyết một phần lớn vấn đề kinh tế, nhờ đó để lại cho nhiều người hơn sự tự do cho sự phát triển và công việc trí tuệ. Có thể trông đợi sự mở rộng tri thức này trước khi một trăm năm mươi năm trôi qua. |
|
Khoa Học về Tâm Lý Học. Các lý thuyết phân tâm học, tuy là dấu hiệu của tiến bộ, nhưng vẫn đang có khuynh hướng đi sai hướng, có thể chứng tỏ là tai hại cho sự phát triển cao hơn của nhân loại trừ phi bản chất chân thực của “psyche” được làm sáng tỏ. Khi trí tuệ công chúng nắm bắt được, dù chỉ sơ lược, những sự kiện được phát biểu ngắn gọn sau đây, thì xu hướng của giáo dục đại chúng, mục tiêu của khoa học chính trị, và đích đến của nỗ lực kinh tế và xã hội sẽ đi theo một hướng mới và tốt đẹp hơn. Những sự kiện này có thể được tóm lược trong các định đề sau đây: |
|
|
I. Man is in essence divine. (259) This has ever been enunciated throughout the ages, but remains as yet a beautiful theory or belief, and not a proven scientific fact, nor is it universally held. [Page 810] |
I. Con người về bản chất là thiêng liêng. (259) Điều này đã luôn được tuyên bố qua các thời đại, nhưng cho đến nay vẫn chỉ là một lý thuyết hay niềm tin đẹp đẽ, chứ chưa phải là một sự kiện khoa học đã được chứng minh, và cũng chưa được chấp nhận phổ quát. [Page 810] |
|
(259) Mỗi con người là một sự nhập thể của Thượng đế.—S. D., III, 449. So sánh:—S. D., II, 541; S. D., III, 475, và những lời trong Kinh Thánh: “Ta đã phán, các ngươi là Thượng đế.” “Các ngươi há chẳng biết rằng các ngươi là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao?” |
|
|
No Being can become a God without passing through the human cycles.—S. D., II, 336. |
Không Hữu thể nào có thể trở thành một Thượng đế mà không đi qua các chu kỳ nhân loại.—S. D., II, 336. |
|
Man therefore is like God in that he represents the pairs of opposites, good and evil, light and darkness, male and female, etc. He is a duality. |
Vì vậy con người giống Thượng đế ở chỗ y biểu hiện các cặp đối cực, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, nam và nữ, v.v. Y là một nhị nguyên tính. |
|
He represents also God in that He is a triplicity, being three in one, and one in three.—See S. D., II, 553. |
Y cũng biểu hiện Thượng đế ở chỗ Ngài là một bộ ba, là ba trong một, và một trong ba.—Xem S. D., II, 553. |
|
By man the divine Monad is meant.—S. D., II, 196. (back) |
Bởi con người ở đây muốn nói đến Chân thần thiêng liêng.—S. D., II, 196. (back) |
|
II. Man is in fact a fragment of the Universal Mind, or world soul, (S. D., I, Proem., pp. 42-44.) and as a fragment is thus partaker of the instincts and quality of that soul, as it manifests through the human family. Therefore, unity is only possible upon the plane of mind. This, if true, must lead to the tendency to develop within the physical brain a conscious realisation of group affiliations on the mental plane, a conscious recognition of group relationships, ideals and goal, and a conscious manifestation of that continuity of consciousness which is the object of evolution at this time. It will further produce the transference of the race consciousness from the physical plane to the mental, and a consequent solving through “knowledge, love, and sacrifice” of all present problems. This will bring about emancipation from the present physical plane disorder. It must lead to the education of the public as to the nature of man, and the development of the powers latent within him—powers which will set him free from his present limitations, and which will produce in the human family a collective repudiation of the present conditions. When men everywhere recognise themselves and each other, as divine self-conscious units, functioning primarily in the causal body but utilising the three lower vehicles only as a means of contact with the three lower planes, we will have government, politics, economics and the social order readjusted upon sound, sane and divine lines. |
II. Con người thực ra là một mảnh của Vũ Trụ Trí, hay hồn thế giới, (S. D., I, Proem., pp. 42-44.) và với tư cách là một mảnh, do đó dự phần vào các bản năng và phẩm tính của hồn ấy, khi nó biểu lộ qua gia đình nhân loại. Vì vậy, sự hợp nhất chỉ có thể có trên cõi trí. Nếu điều này là đúng, thì nó phải dẫn đến khuynh hướng phát triển trong bộ não hồng trần một sự chứng nghiệm có ý thức về các liên hệ nhóm trên cõi trí, một sự nhận biết có ý thức về các mối quan hệ nhóm, các lý tưởng và mục tiêu, và một sự biểu lộ có ý thức của sự liên tục tâm thức vốn là mục tiêu của tiến hoá vào lúc này. Hơn nữa, nó sẽ tạo ra sự chuyển dịch tâm thức nhân loại từ cõi hồng trần lên cõi trí, và do đó giải quyết mọi vấn đề hiện nay bằng “tri thức, bác ái và hi sinh.” Điều này sẽ đem lại sự giải phóng khỏi tình trạng hỗn loạn hiện nay trên cõi hồng trần. Nó phải dẫn đến việc giáo dục công chúng về bản chất của con người, và sự phát triển các quyền năng tiềm ẩn bên trong y—những quyền năng sẽ giải phóng y khỏi các giới hạn hiện nay, và sẽ tạo ra trong gia đình nhân loại một sự phủ nhận tập thể đối với các điều kiện hiện tại. Khi những người nam và nữ ở khắp nơi nhận biết chính mình và nhau như những đơn vị tự ý thức thiêng liêng, hoạt động chủ yếu trong thể nguyên nhân nhưng chỉ sử dụng ba vận cụ thấp như phương tiện tiếp xúc với ba cõi thấp, thì chúng ta sẽ có chính quyền, chính trị, kinh tế và trật tự xã hội được điều chỉnh lại theo những đường lối lành mạnh, sáng suốt và thiêng liêng. |
|
III. Man in his lower nature, and in his three vehicles, is an aggregate of lesser lives, dependent upon him for their group nature, for their type of activity, and collective response, and who— [Page 811] through the energy or activity of the solar Lord—will themselves later be raised, and developed to the human stage. |
III. Con người trong bản chất thấp của mình, và trong ba vận cụ của mình, là một tổng thể của những sự sống nhỏ hơn, lệ thuộc vào y về bản chất nhóm của chúng, về loại hoạt động của chúng, và sự đáp ứng tập thể của chúng, và những sự sống ấy— [Page 811] nhờ năng lượng hay hoạt động của nhật tinh quân—về sau chính chúng cũng sẽ được nâng lên và phát triển đến giai đoạn nhân loại. |
|
When these three facts are understood, then and only then will we have a right and just comprehension of the nature of man. |
Khi ba sự kiện này được thấu hiểu, thì khi ấy và chỉ khi ấy chúng ta mới có được một sự hiểu biết đúng đắn và công bằng về bản chất của con người. |
|
Again, this realisation will bring about three changes in the thought of the age: |
Một lần nữa, sự chứng nghiệm này sẽ đem lại ba thay đổi trong tư tưởng của thời đại: |
|
(1) A readjustment of the medical knowledge of man, resulting in a truer understanding of the physical body, of its treatment, and of its protection, and thus producing a juster apprehension of the laws of health. The aim of the physician will then be to find out what it is in a man’s life which is preventing egoic energy from flooding every part of his being; to find out what lines of thought are being indulged in which are causing that inertia of the will aspect which is so conducive to wrongdoing; to ascertain what it is in the emotional body which is affecting the nervous system, and thus obstructing the flow of energy from the love petals of the egoic lotus (via the astral permanent atom) to the astral body, and from thence to the nervous system; to discover what is the hindrance in the etheric body which is preventing the right flow of prana, or of solar vitality to every part of the body. |
(1) Sự điều chỉnh lại tri thức y học về con người, đưa đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về thể xác, về việc điều trị và bảo vệ nó, và như thế tạo ra một sự nắm bắt đúng đắn hơn về các định luật sức khỏe. Khi ấy mục tiêu của thầy thuốc sẽ là tìm ra điều gì trong đời sống của một người đang ngăn cản năng lượng chân ngã tràn ngập mọi phần của hữu thể y; tìm ra những đường lối tư tưởng nào đang được nuông chiều gây ra tính trì trệ của phương diện ý chí vốn rất thuận lợi cho việc làm điều sai quấy; xác định điều gì trong thể cảm dục đang ảnh hưởng đến hệ thần kinh, và do đó cản trở dòng năng lượng từ các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã (qua nguyên tử trường tồn cảm dục) đến thể cảm dục, và từ đó đến hệ thần kinh; khám phá điều gì là chướng ngại trong thể dĩ thái đang ngăn cản dòng chảy đúng đắn của prana, hay sinh lực thái dương đến mọi phần của thể. |
|
It is essential that in days to come medical men should realise that disease in the physical body is incidental to wrong internal conditions. This is already being somewhat considered but the whole question will remain but a beautiful theory (even though an incontrovertible one in view of the achievements of mental scientists and of the various faith healers) until the true nature of the ego, its constitution, its powers, and its field of influence are duly apprehended. |
Điều thiết yếu là trong những ngày sắp tới các y sĩ phải nhận ra rằng bệnh tật trong thể xác là hệ quả của những điều kiện sai lầm bên trong. Điều này đã phần nào đang được xem xét nhưng toàn bộ vấn đề sẽ vẫn chỉ là một lý thuyết đẹp đẽ (dù là một lý thuyết không thể bác bỏ xét theo những thành tựu của các nhà khoa học trí tuệ và của nhiều nhà chữa bệnh bằng đức tin khác nhau) cho đến khi bản chất chân thực của chân ngã, cấu tạo của nó, các quyền năng của nó, và phạm vi ảnh hưởng của nó được nắm bắt đúng mức. |
|
This revelation will come when medical men accept this [Page 812] teaching as a working hypothesis, and then begin to note, for instance, the powers of endurance shown by the great souls of the earth, and their capacity to work at high pressure, and to remain practically immune from disease until (at the close of a long life of usefulness) the Ego deliberately chooses to “die-out” of physical existence. It will come when the medical profession concentrates upon preventative action, substituting sunshine, a vegetarian diet, and the application of the laws of magnetic vibration and vitality for the present regimen of drugs and surgical operations. Then will come the time when finer and better human beings will manifest on earth. When also physicians learn the nature of the etheric body, and the work of the spleen as a focal point for pranic emanations, then sound principles and methods will be introduced which will do away with such diseases as tuberculosis, debility, malnutrition and the diseases of the blood and of the kidneys. When doctors comprehend the effect of the emotions upon the nervous system, they will turn their attention to the amelioration of environal conditions, and will study the effects of the emotional currents upon the fluids of the body, and primarily upon the great nerve centres, and the spinal column. When the connection between the dense physical and the subtler bodies is a fact established in medical circles, then will the right treatment of lunacy, of obsessions, and of wrong mental conditions be better comprehended, and the results more successful; finally, when the nature of egoic force, or of energy is studied, and the function of the physical brain as the transmitter of egoic intent is better comprehended, then the coordination of man’s entire being will be studied, and illness, debility and disease, will be traced to their just cause, and will be treated through the cause and not just through the effect. |
Sự mặc khải này sẽ đến khi các y sĩ chấp nhận giáo huấn này [Page 812] như một giả thuyết làm việc, rồi bắt đầu ghi nhận, chẳng hạn, sức chịu đựng được biểu lộ bởi các đại hồn của thế gian, và khả năng làm việc dưới áp lực cao của họ, cùng việc họ hầu như miễn nhiễm với bệnh tật cho đến khi (vào cuối một đời sống hữu ích lâu dài) Chân ngã cố ý chọn “rút tắt” khỏi sự tồn tại hồng trần. Nó sẽ đến khi giới y khoa tập trung vào hành động phòng ngừa, thay thế chế độ hiện nay gồm thuốc men và phẫu thuật bằng ánh nắng mặt trời, chế độ ăn chay, và việc áp dụng các định luật rung động từ tính và sinh lực. Khi ấy sẽ đến thời kỳ những con người tinh tế và tốt đẹp hơn biểu hiện trên trần gian. Khi các y sĩ cũng học được bản chất của thể dĩ thái, và công việc của lá lách như một tiêu điểm cho các phát xạ prana, thì những nguyên lý và phương pháp lành mạnh sẽ được đưa vào, nhờ đó loại bỏ những bệnh như lao phổi, suy nhược, suy dinh dưỡng và các bệnh về máu và thận. Khi các bác sĩ thấu hiểu ảnh hưởng của cảm xúc lên hệ thần kinh, họ sẽ hướng sự chú ý đến việc cải thiện các điều kiện môi trường, và sẽ nghiên cứu các ảnh hưởng của các dòng cảm xúc lên các lưu chất của thể, và chủ yếu lên các trung tâm thần kinh lớn, cùng cột sống. Khi mối liên hệ giữa thể xác đậm đặc và các thể vi tế hơn trở thành một sự kiện được xác lập trong giới y học, thì việc điều trị đúng đắn chứng điên loạn, sự ám nhập, và các trạng thái trí tuệ sai lệch sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và kết quả sẽ thành công hơn; sau cùng, khi bản chất của mãnh lực chân ngã, hay năng lượng, được nghiên cứu, và chức năng của bộ não hồng trần như bộ truyền đạt ý định chân ngã được thấu hiểu tốt hơn, thì sự phối hợp toàn bộ hữu thể của con người sẽ được nghiên cứu, và bệnh tật, suy nhược và đau ốm sẽ được truy nguyên về đúng nguyên nhân của chúng, và sẽ được điều trị qua nguyên nhân chứ không chỉ qua kết quả. |
|
(2) The entire social world of thought will apply itself to the understanding of the emotional nature of [Page 813] humanity, to the group relationships involved, and to the interaction between individuals and other individuals, between groups and other groups. These relationships will be interpreted wisely and broadly and a man will be taught his responsibility to the lesser lives which he ensouls. This will produce a just direction of individual force, and its utilisation for the stabilisation, the development, and the refining of the substance of the different vehicles. Men will also be taught their definite responsibility under law to their own individual families. This will bring about the protection of the family unit, and its scientific development; it will cause the elimination of marital troubles, and the abolition of abuses of different kinds, so prevalent now in many family circles. |
(2) Toàn bộ thế giới tư tưởng xã hội sẽ chuyên tâm vào việc thấu hiểu bản chất cảm xúc của [Page 813] nhân loại, các mối quan hệ nhóm liên hệ, và sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân khác, giữa nhóm với nhóm khác. Những mối quan hệ này sẽ được diễn giải một cách minh triết và bao quát, và con người sẽ được dạy về trách nhiệm của mình đối với những sự sống nhỏ hơn mà y phú linh. Điều này sẽ tạo ra sự định hướng đúng đắn của mãnh lực cá nhân, và việc sử dụng nó cho sự ổn định, phát triển và tinh luyện chất liệu của các vận cụ khác nhau. Con người cũng sẽ được dạy về trách nhiệm xác định của mình theo định luật đối với chính gia đình cá nhân của mình. Điều này sẽ đem lại sự bảo vệ đơn vị gia đình, và sự phát triển khoa học của nó; nó sẽ khiến các rắc rối hôn nhân bị loại bỏ, và các lạm dụng đủ loại, hiện đang rất phổ biến trong nhiều gia đình, bị bãi bỏ. |
|
Responsibility to the community in which a man is placed will likewise be emphasised. Men will be taught the true esoteric meaning of citizenship—a citizenship based upon egoic group relations, the law of rebirth, and the real meaning of the law of karma. They will be taught national responsibility, and the place of the community within the nation, and of the nation within the comity of nations. Men will finally be taught their responsibility to the animal kingdom. This will be brought about in three ways: |
Trách nhiệm đối với cộng đồng mà một người được đặt vào cũng sẽ được nhấn mạnh. Con người sẽ được dạy ý nghĩa huyền bí chân thực của quyền công dân—một quyền công dân dựa trên các mối quan hệ nhóm chân ngã, định luật tái sinh, và ý nghĩa thực sự của định luật nghiệp quả. Họ sẽ được dạy trách nhiệm quốc gia, và vị trí của cộng đồng trong quốc gia, và của quốc gia trong cộng đồng các quốc gia. Sau cùng con người sẽ được dạy trách nhiệm của mình đối với giới động vật. Điều này sẽ được thực hiện theo ba cách: |
|
1. Man’s truer understanding of his own animal nature. |
1. Sự thấu hiểu chân thực hơn của con người về bản chất động vật của chính mình. |
|
2. A comprehension of the laws of individualisation, and the effect of the influence of the fourth, or human, kingdom upon the third, or animal, kingdom. |
2. Sự hiểu biết về các định luật biệt ngã hóa, và ảnh hưởng của giới thứ tư, hay giới nhân loại, lên giới thứ ba, hay giới động vật. |
|
3. The work of an Avatar of a lesser order Who will come in the beginning of the next century to reveal to man his relationship to the third kingdom. His way is being prepared by the many who in these days are developing public interest through the [Page 814] various societies for the benefit and protection of animals, and through the many stories to be found in books and current periodicals. |
3. Công việc của một Đấng Hoá Thân thuộc trật tự thấp hơn, Đấng sẽ đến vào đầu thế kỷ tới để mặc khải cho con người mối liên hệ của mình với giới thứ ba. Con đường của Ngài đang được chuẩn bị bởi nhiều người hiện nay đang phát triển mối quan tâm của công chúng qua [Page 814] các hội đoàn khác nhau vì lợi ích và sự bảo vệ động vật, và qua nhiều câu chuyện có thể tìm thấy trong sách và các tạp chí đương thời. |
|
We are told by H. P. B. (S. D., III, 580.) that the sense of responsibility is one of the first indications of egoic control, and as more and more of the human family come under egoic influence, conditions will be bettered slowly and steadily in every department of life. |
Chúng ta được H. P. B. cho biết (S. D., III, 580.) rằng ý thức về trách nhiệm là một trong những dấu hiệu đầu tiên của sự kiểm soát chân ngã, và khi ngày càng nhiều thành viên của gia đình nhân loại chịu dưới ảnh hưởng chân ngã, các điều kiện sẽ được cải thiện chậm rãi và vững chắc trong mọi lĩnh vực của đời sống. |
|
(3) In the educational world an apprehension of man’s true nature will bring about a fundamental change in the methods of teaching. The emphasis will be laid upon teaching people the fact of the Ego on its own plane, the nature of the lunar bodies, and the methods of aligning the lower bodies so that the Ego can communicate direct with the physical brain, and thus control the lower nature and work out its purposes. Men will be taught how, through concentration and meditation, they can ascertain knowledge for themselves, can develop the intuition, and thus draw upon the resources of the Ego. Then will men be taught to think, to assume control of the mental body, and thus develop their latent powers. |
(3) Trong thế giới giáo dục sự nắm bắt bản chất chân thực của con người sẽ đem lại một thay đổi căn bản trong các phương pháp giảng dạy. Sự nhấn mạnh sẽ được đặt vào việc dạy con người về sự kiện của Chân ngã trên cõi riêng của nó, bản chất của các thể thái âm, và các phương pháp chỉnh hợp các thể thấp để Chân ngã có thể giao tiếp trực tiếp với bộ não hồng trần, và như thế kiểm soát bản chất thấp và triển khai các mục đích của nó. Con người sẽ được dạy cách, qua tập trung và tham thiền, họ có thể tự mình xác định tri thức, có thể phát triển trực giác, và như thế rút ra từ các nguồn lực của Chân ngã. Khi ấy con người sẽ được dạy tư duy, nắm quyền kiểm soát thể trí, và như thế phát triển các quyền năng tiềm ẩn của mình. |
|
In the above few remarks are indicated very briefly and inadequately the results which may be looked for from a true understanding of the essential nature of man. It has been written in view of the necessity these days of a statement as to the real or inner man, and as to the laws of the kingdom of God. That inner man has ever been known to be there, and the “kingdom within” has ever been proclaimed until H. P. B. came and gave out the same old truths from a new angle, giving an occult turn to mystic thought. Now comes the opportunity for man to realise the laws of his own being, and in that realisation those who stand on the verge of intuitional apprehension of knowledge and those of scientific bent who are willing to accept these truths as a working [Page 815] hypothesis to be utilised as a basis for experiment until proven false, will have the chance to solve the world problems from within. Thus will the Christ principle be manifested upon earth, and thus will the Christ nature be demonstrated to be a fact in nature itself. |
Trong vài nhận xét trên đây, những kết quả có thể được trông đợi từ một sự thấu hiểu chân thực về bản chất cốt yếu của con người đã được chỉ ra rất ngắn gọn và chưa đầy đủ. Điều này đã được viết ra vì nhu cầu hiện nay về một phát biểu liên quan đến con người chân thực hay nội tại, và liên quan đến các định luật của Thiên Giới. Con người nội tại ấy từ lâu vẫn được biết là hiện hữu, và “vương quốc bên trong” từ lâu vẫn được công bố cho đến khi H. P. B. xuất hiện và truyền ra những chân lý xưa cũ ấy từ một góc độ mới, đem đến một khúc ngoặt huyền bí cho tư tưởng thần bí. Giờ đây đến cơ hội để con người chứng nghiệm các định luật của chính hữu thể mình, và trong sự chứng nghiệm ấy, những ai đang đứng trên bờ của sự nắm bắt tri thức bằng trực giác và những ai có khuynh hướng khoa học sẵn lòng chấp nhận các chân lý này như một giả thuyết làm việc [Page 815] để được sử dụng làm cơ sở cho thực nghiệm cho đến khi bị chứng minh là sai, sẽ có cơ hội giải quyết các vấn đề của thế giới từ bên trong. Như thế nguyên lý Christ sẽ được biểu lộ trên trần gian, và như thế bản chất Christ sẽ được chứng minh là một sự kiện trong chính bản chất. |
|
The value to the public thought of a true explanation of the evolution of the Ego, and its gradually developing power on earth is very great. There are two ways in which man may view this matter, both of which provide food for meditation, and well merit serious consideration. Both of them have been somewhat dealt with by thinkers of many schools of thought, and hence do not require any lengthy elucidation. The problem may be regarded as one calling for the elevation of the inner consciousness of the human unit (functioning in the physical body) to the higher levels of the mental plane, and therefore involves a raising or expansion of his waking consciousness till it becomes aware of this higher life. This is the way of mystical approach, and many instances of its successful accomplishment can be studied in the lives of the mystics of all ages. By sheer devotion and strenuous application, and by a severe disciplining of the physical body, the mystic effects his entrance into the heart centre of his little system, and his life becomes irradiated by the beams of his own central sun—the egoic light divine. The problem may again be regarded as one in which the effort of the man is concentrated in an attempt to bring down into the physical brain consciousness, and thus on to the physical plane, the life and power and energy of the inner centre, the Ego. This involves necessarily a scientific apprehension of the laws of being, and a recognition of the dual nature of the Self. It involves a devotion to the work of bringing about a domination of the lunar lords through the radiant control of the solar Lord. This is the occult method. It is the method of studying the constitution of those entities who form the [Page 816] fourfold lower nature, the personality, and a close investigation of those divine Essences Who build the body of the Ego or higher self. To this must be added a severe application of the laws of nature to the individual problem. |
Giá trị đối với tư tưởng công chúng của một sự giải thích chân thực về sự tiến hoá của chân ngã, và về quyền năng đang dần phát triển của nó trên Trái Đất, là rất lớn. Có hai cách mà con người có thể nhìn vấn đề này, cả hai đều cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm trong tham thiền, và rất đáng được xem xét nghiêm túc. Cả hai cách ấy phần nào đã được các nhà tư tưởng thuộc nhiều trường phái tư tưởng bàn đến, và vì thế không đòi hỏi sự làm sáng tỏ dài dòng nào. Vấn đề có thể được xem như một vấn đề đòi hỏi sự nâng cao tâm thức bên trong của đơn vị nhân loại (đang hoạt động trong thể xác) lên các cấp độ cao hơn của cõi trí, và do đó bao hàm việc nâng lên hay mở rộng tâm thức thức tỉnh của y cho đến khi nó nhận biết được sự sống cao hơn này. Đây là con đường tiếp cận của nhà thần bí, và nhiều trường hợp thành công của nó có thể được nghiên cứu trong cuộc đời của các nhà thần bí thuộc mọi thời đại. Bằng lòng sùng tín thuần túy và sự chuyên cần mãnh liệt, cùng bằng sự kỷ luật nghiêm khắc đối với thể xác, nhà thần bí đi vào trung tâm tim của hệ thống nhỏ bé của mình, và đời sống của y trở nên được chiếu rạng bởi các tia của mặt trời trung tâm của chính y—ánh sáng thiêng liêng của chân ngã. Vấn đề cũng có thể lại được xem như một vấn đề trong đó nỗ lực của con người được tập trung vào việc cố gắng đem xuống tâm thức bộ não hồng trần, và như thế xuống cõi hồng trần, sự sống, quyền năng và năng lượng của trung tâm bên trong, tức chân ngã. Điều này tất yếu bao hàm một sự lĩnh hội có tính khoa học về các định luật của bản thể, và một sự nhận biết bản chất nhị nguyên của Bản Ngã. Nó bao hàm sự tận tụy với công việc đem lại sự thống trị các nguyệt tinh quân nhờ sự kiểm soát rạng ngời của nhật tinh quân. Đây là phương pháp huyền bí học. Đó là phương pháp nghiên cứu cấu tạo của những thực thể tạo thành [Page 816] bản chất thấp tứ phân, phàm ngã, và khảo sát kỹ lưỡng những Tinh Chất thiêng liêng xây dựng thể của chân ngã hay bản ngã cao siêu. Vào đó còn phải thêm sự áp dụng nghiêm ngặt các định luật của bản chất vào vấn đề cá nhân. |
|
What is proposed in this Treatise is to follow the latter method, as the aim is to make clear the rationale of the process. |
Điều được đề nghị trong Luận này là theo phương pháp sau, vì mục tiêu là làm sáng tỏ cơ sở hợp lý của tiến trình. |
|
(b) The evolution of the petals. The building of the causal body is the result of dual energy, that of the lower self with its reflex action upon the higher unit, and that of the natural energy of the self as it makes its direct impress upon the substance of the egoic lotus. It should here be remembered that, subtle though the material may be, the egoic lotus is as truly substance of a particular vibration as is the physical body, only (owing to its rarity) physical plane man regards it practically as nonsubstantial. It is in fact, as earlier pointed out, the result of the dual vibration of the fivefold Dhyanis or Gods in conjunction with the fourfold Quaternary, or the Pitris of the lower vehicles. Through a conscious effort of the planetary Logoi, these Dhyanis and lower Pitris are brought into a close relationship. This produces (upon the third subplane of the mental plane) a ninefold vibration or whorl in the gaseous matter of the plane—for this is the cosmic gaseous subplane—which, after a certain period of persistence, assumes the form of a nine-petalled lotus. This lotus is folded over in bud shape upon the central point, or heart of the lotus—that spark of electric fire which by its action or innate vitality working upon the substance of the lotus, attracts to itself sufficient of that substance to form three inner petals, which closely shield the central spark; these are nevertheless of the same substance or essence as the nine other petals. The student must be careful not to materialise his concept too much and it might therefore be wise for him to view |
(b) Sự tiến hoá của các cánh hoa. Việc xây dựng thể nguyên nhân là kết quả của năng lượng nhị nguyên, tức năng lượng của phàm ngã với tác động phản chiếu của nó lên đơn vị cao hơn, và năng lượng tự nhiên của bản ngã khi nó tạo dấu ấn trực tiếp lên chất liệu của hoa sen chân ngã. Ở đây cần nhớ rằng, dù vật chất ấy có vi tế đến đâu, hoa sen chân ngã cũng thật sự là chất liệu của một rung động đặc thù như thể xác vậy, chỉ có điều (do tính tinh tế của nó) con người cõi hồng trần thực tế xem nó như phi vật chất. Thật ra, như đã chỉ ra trước đây, nó là kết quả của rung động nhị nguyên của các Dhyanis hay các Thượng đế ngũ phân kết hợp với Bộ Tứ tứ phân, hay các Pitris của các vận cụ thấp. Nhờ nỗ lực có ý thức của các Hành Tinh Thượng đế, các Dhyanis này và các Pitris thấp được đưa vào một mối liên hệ mật thiết. Điều này tạo ra (trên cõi phụ thứ ba của cõi trí) một rung động hay xoáy lốc cửu phân trong vật chất thể khí của cõi ấy—vì đây là cõi phụ thể khí vũ trụ—rồi sau một thời kỳ tồn tại nhất định, nó mang hình dạng của một hoa sen chín cánh. Hoa sen này khép lại thành hình nụ quanh điểm trung tâm, hay tim của hoa sen—tia lửa lửa điện ấy, do tác động của nó hay sinh lực bẩm sinh của nó hoạt động trên chất liệu của hoa sen, hút về mình đủ chất liệu ấy để tạo thành ba cánh hoa bên trong, che chở sít sao tia lửa trung tâm; tuy nhiên, những cánh này vẫn cùng một chất liệu hay tinh chất như chín cánh hoa kia. Đạo sinh phải cẩn thận đừng hiện hình khái niệm của mình quá mức, và vì thế có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu y nhìn |

|
[Page 818] this manifestation from other angles and employ other terms to express the same idea. For instance, the body of the Ego may be viewed in the following four ways: |
[Page 818] biểu hiện này từ những góc độ khác và dùng những thuật ngữ khác để diễn đạt cùng một ý tưởng. Chẳng hạn, thể của chân ngã có thể được nhìn theo bốn cách sau: |
|
As nine vibrations, emanating from a central point, which, in its pulsation or radiations produces three major vibrations of great force pursuing a circular activity around the centre; the nine vibrations pursue a diagonal path until they reach the periphery of the egoic sphere of influence. At this point they swing around, thus forming the well-known spheroidal form of the causal body. |
Như chín rung động, phát ra từ một điểm trung tâm, điểm này trong sự đập nhịp hay phát xạ của nó tạo ra ba rung động chính có mãnh lực lớn vận hành theo hoạt động tròn quanh trung tâm; chín rung động đi theo một đường chéo cho đến khi chúng chạm tới chu vi của khối cầu ảnh hưởng chân ngã. Tại điểm này chúng xoay vòng, nhờ đó tạo thành hình cầu quen thuộc của thể nguyên nhân. |
|
As nine petals of a lotus, radiating from a common centre, and hiding within themselves three central petals, which conceal a central point of fire. The radiations from the tip of each petal are those which cause the illusion of a spheroidal shape. |
Như chín cánh hoa của một hoa sen, toả ra từ một trung tâm chung, và che giấu trong chính chúng ba cánh hoa trung tâm, những cánh này che kín một điểm lửa trung tâm. Các phát xạ từ đầu mỗi cánh hoa là những gì gây ra ảo tưởng về một hình cầu. |
|
As nine spokes of a wheel, converging towards a central hub, which is in itself threefold, and which hides the central energy or dynamo of force—the generator of all the activity. |
Như chín nan hoa của một bánh xe, hội tụ về một trục trung tâm, bản thân trục này là tam phân, và che giấu năng lượng trung tâm hay máy phát lực—nguồn phát sinh mọi hoạt động. |
|
As nine types of energy which produce definite emanations from a threefold unit, again itself an outgoing from a central unit of force. |
Như chín loại năng lượng tạo ra những phát xạ xác định từ một đơn vị tam phân, mà bản thân nó lại là một sự tuôn ra từ một đơn vị lực trung tâm. |
|
For all purposes, the second definition will be the one of the most use to us in our attempt to picture the constitution, nature, method of development and true evolution of the Ego, functioning in the causal body. |
Vì mọi mục đích, định nghĩa thứ hai sẽ là định nghĩa hữu ích nhất cho chúng ta trong nỗ lực hình dung cấu tạo, bản chất, phương pháp phát triển và sự tiến hoá chân thực của chân ngã đang hoạt động trong thể nguyên nhân. |
|
In terms of fire, the same truths may be expressed as follows, and this should be carefully pondered upon by the student of this Treatise: |
Theo thuật ngữ của lửa, các chân lý ấy có thể được diễn đạt như sau, và đạo sinh của Luận này nên suy ngẫm cẩn thận về điều đó: |
|
1. Electric fire |
Spirit |
Will aspect |
Jewel in the lotus. |
|
2. Solar fire |
Consciousness |
Love aspect |
The nine petals. |
|
3. Fire by friction |
Substance |
Activity aspect |
The three permanent atoms. |
|
[Page 819] In electric fire, the Monad is represented in its threefold nature, and stands for that type of manifestation which will be brought to its highest stage of development in the next solar system. |
[Page 819] Trong Lửa Điện, chân thần được biểu hiện trong bản chất tam phân của nó, và tượng trưng cho loại biểu hiện sẽ được đưa đến giai đoạn phát triển cao nhất trong hệ mặt trời kế tiếp. |
|
In solar fire, these solar Pitris in their ninefold formation represent and make possible the unfolding of the consciousness of the Monad through the medium of the Ego in the three worlds of human evolution. |
Trong Lửa Thái dương, các thái dương tổ phụ này trong cấu trúc cửu phân của các ngài biểu hiện và làm cho có thể sự khai mở tâm thức của chân thần thông qua trung gian của chân ngã trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại. |
|
In fire by friction, the lunar Pitris are represented and constitute the lower self, the personality, or those vehicles by means of which the Ego in turn is to acquire experience on the lower planes. |
Trong Lửa ma sát, các thái âm tổ phụ được biểu hiện và cấu thành phàm ngã, phàm nhân, hay những vận cụ nhờ đó chân ngã lần lượt thu nhận kinh nghiệm trên các cõi thấp. |
|
Yet these three are one in manifestation within the egoic auric egg, and the interchange of energy and vitality proceeds steadily. Spirit uses the Soul, or the Ego, as a vehicle of enlightenment, and the Ego uses the lower Quaternary as its medium of expression. The evolution of Spirit can really therefore be divided into three stages: |
Tuy nhiên, ba điều này là một trong biểu hiện bên trong noãn hào quang chân ngã, và sự trao đổi năng lượng cùng sinh lực diễn ra đều đặn. Tinh thần dùng linh hồn, hay chân ngã, như một vận cụ của sự giác ngộ, và chân ngã dùng Bộ Tứ thấp như phương tiện biểu lộ của nó. Vì vậy, sự tiến hoá của tinh thần thật ra có thể được chia thành ba giai đoạn: |
|
First. The stage in which the lunar Pitris function primarily, and prepare the lower sheaths for occupancy. The lower vibrations control, and “fire by friction” is that which warms and nourishes to the practical exclusion of all else. |
Thứ nhất. Giai đoạn trong đó các thái âm tổ phụ hoạt động chủ yếu, và chuẩn bị các vỏ bọc thấp cho sự cư ngụ. Các rung động thấp kiểm soát, và “Lửa ma sát” là điều sưởi ấm và nuôi dưỡng, thực tế loại trừ mọi thứ khác. |
|
Second. The stage in which the solar Pitris gradually become predominant, in which the egoic consciousness is developed. The sheaths are occupied by the Thinker, are gradually controlled by him, are bent to his will and purpose, and are eventually discarded. The middle vibrations control and solar fire irradiates; it lights up in due course of evolution the lower sheaths; it gradually increases its heat, and eventually aids in the destruction of the forms. |
Thứ hai. Giai đoạn trong đó các thái dương tổ phụ dần dần trở nên trội hơn, trong đó tâm thức chân ngã được phát triển. Các vỏ bọc được Thức Giả cư ngụ, dần dần được y kiểm soát, được uốn theo ý chí và mục đích của y, và cuối cùng bị loại bỏ. Các rung động trung gian kiểm soát và Lửa Thái dương chiếu rạng; đến đúng kỳ tiến hoá nó soi sáng các vỏ bọc thấp; dần dần nó tăng nhiệt, và cuối cùng trợ giúp vào sự huỷ diệt các hình tướng. |
|
Third. The stage in which electric fire is revealed, and through the intensity of its blaze puts out the other fires. The lunar Pitris have fulfilled their work, the solar Pitris [Page 820] have developed the self-conscious unit, man, and the monad (having utilised both) discards both, and withdraws into itself, this time plus the gain of material existence, and plus developed love-wisdom. |
Thứ ba. Giai đoạn trong đó Lửa Điện được mặc khải, và qua cường độ chói sáng của nó dập tắt các lửa khác. Các thái âm tổ phụ đã hoàn tất công việc của mình, các thái dương tổ phụ [Page 820] đã phát triển đơn vị ngã thức, con người, và chân thần (sau khi đã sử dụng cả hai) loại bỏ cả hai, và rút vào chính nó, lần này cộng thêm thành quả của sự tồn tại vật chất, và cộng thêm Bác Ái – Minh Triết đã phát triển. |
|
In terms of the old Commentary, the truth is thus stated: |
Theo Cổ Luận, chân lý được phát biểu như sau: |
|
“The Lord of Life Himself sits at the heart and watches. The Lords of solar fire pursue their task and sacrifice themselves to the lunar Lords of all the lower planes. They die, but resurrect. They pass without, and come again. Yet the Lord of Life sits still. |
“Chúa Tể của Sự sống đích thân ngự tại tim và quan sát. Các chúa tể của lửa thái dương theo đuổi nhiệm vụ của các ngài và hi sinh chính mình cho các chúa tể thái âm của mọi cõi thấp. Các ngài chết, nhưng phục sinh. Các ngài đi ra ngoài, rồi trở lại. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn ngồi yên. |
|
The lunar Lords begin to die; their power begins to wane with each successive cycle. The solar Lords shine forth in triumph and consign the fourfold ones to fire,—the fire which burns and dissipates the form. |
Các chúa tể thái âm bắt đầu chết; quyền năng của họ bắt đầu suy giảm theo mỗi chu kỳ kế tiếp. Các chúa tể thái dương chiếu sáng trong chiến thắng và giao phó những kẻ tứ phân cho lửa,—ngọn lửa thiêu đốt và làm tiêu tan hình tướng. |
|
Many times the work repeats itself; the cycles wax and wane, until the day triumphant when the solar Lord acclaims himself and knows himself the ruler. |
Công việc lặp lại nhiều lần; các chu kỳ tăng rồi giảm, cho đến ngày chiến thắng khi chúa tể thái dương tự xưng mình và biết mình là kẻ cai quản. |
|
The Lord of Life then turns Himself, and arises in His might. He consumes the solar Lords, and they perish as did the lunar Lords. He speaks a Word; the fire descends. The blaze bursts forth. Gone is the lower fire through the flame of solar burning, gone is the middle fire through the intensity of fire from Heaven. |
Khi ấy Chúa Tể của Sự sống xoay mình, và đứng dậy trong uy lực của Ngài. Ngài thiêu huỷ các chúa tể thái dương, và họ tiêu vong như các chúa tể thái âm đã tiêu vong. Ngài phát ra một Linh từ; lửa giáng xuống. Ánh chói bùng lên. Lửa thấp biến mất bởi ngọn lửa thái dương rực cháy, lửa trung gian biến mất bởi cường độ của lửa từ Thiên giới. |
|
Naught remaineth save a threefold flame of violet, indigo and yellow. THAT disappears. Then darkness reigns. Yet the Lord of Life persists, though invisible.” |
Không gì còn lại ngoài một ngọn lửa tam phân màu tím, chàm và vàng. CÁI ĐÓ biến mất. Rồi bóng tối ngự trị. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn tồn tại, dù vô hình.” |
|
As we know, the egoic lotus consists of three circles,—each circle being composed of three petals, and all shielding the inner bud where hides the jewel. It is with the evolution of these petals that we are concerned, with their formation, their vitalisation, their nurturing, and eventual unfoldment. It will be useful for the student at this stage to remember that we are primarily dealing with the development of the second aspect in man, the love-wisdom aspect, and are only secondarily considering the third aspect, that of activity which finds its energising centres in the three permanent atoms. |
Như chúng ta biết, hoa sen chân ngã gồm ba vòng,—mỗi vòng gồm ba cánh hoa, và tất cả đều che chở nụ bên trong nơi viên ngọc ẩn giấu. Điều chúng ta quan tâm là sự tiến hoá của các cánh hoa này, sự hình thành, sự tiếp sinh lực, sự nuôi dưỡng, và sự khai mở cuối cùng của chúng. Ở giai đoạn này, sẽ hữu ích cho đạo sinh nếu nhớ rằng chúng ta chủ yếu đang bàn đến sự phát triển của phương diện thứ hai trong con người, phương diện bác ái – minh triết, và chỉ thứ yếu mới xét đến phương diện thứ ba, tức phương diện hoạt động, phương diện tìm thấy các trung tâm tiếp năng lượng của nó trong ba nguyên tử trường tồn. |
|
[Page 821] These three circles of petals are called in the esoteric terminology: |
[Page 821] Ba vòng cánh hoa này được gọi trong thuật ngữ huyền bí học là: |
|
1. The “outer knowledge” triad, or the lords of active wisdom. |
1. Tam nguyên “tri thức” bên ngoài, hay các chúa tể của minh triết hoạt động. |
|
2. The middle “love” triad, or the lords of active love. |
2. Tam nguyên “bác ái” ở giữa, hay các chúa tể của bác ái hoạt động. |
|
3. The inner “sacrificial” triad, or the lords of active will. |
3. Tam nguyên “hi sinh” bên trong, hay các chúa tể của ý chí hoạt động. |
|
The first is the summation of experience and developed consciousness; the second is the application of that knowledge in love and service, or the expression of the Self and the Not-Self in reciprocal vibration; and the third is the full expression of knowledge and love turned toward the conscious sacrifice of all to the furthering of the plans of the planetary Logos, and to the carrying out of His purposes in group work. Each of these three groups of petals come under the definite guidance of three groups of Agnishvattas, who form them out of their own substance and who in essence are the threefold Ego during its manifestation. Through them flows the force and coherent energy of those mysterious Entities whom (when considering the human family as a whole) we call— |
Vòng thứ nhất là tổng hợp của kinh nghiệm và tâm thức đã phát triển; vòng thứ hai là sự áp dụng tri thức ấy trong bác ái và phụng sự, hay sự biểu lộ của Bản Ngã và Phi-Ngã trong rung động tương hỗ; và vòng thứ ba là sự biểu lộ trọn vẹn của tri thức và bác ái hướng về sự hi sinh có ý thức của mọi sự để thúc đẩy các kế hoạch của Hành Tinh Thượng đế, và để thực hiện các mục đích của Ngài trong công việc nhóm. Mỗi một trong ba nhóm cánh hoa này đều nằm dưới sự hướng dẫn xác định của ba nhóm Agnishvattas, những vị tạo thành chúng từ chính chất liệu của mình và về bản chất là chân ngã tam phân trong thời kỳ biểu hiện của nó. Qua họ tuôn chảy mãnh lực và năng lượng kết hợp của những Thực Thể huyền nhiệm mà (khi xét toàn thể gia đình nhân loại) chúng ta gọi là— |
|
a. The Buddhas or Lords of Activity. |
a. Các Đức Phật hay các Chúa Tể của Hoạt Động. |
|
b. The Buddhas or Lords of Compassionate Love. |
b. Các Đức Phật hay các Chúa Tể của Bác Ái Từ Bi. |
|
c. Buddhas of Sacrifice, of Whom the Lord of the World is, to man, the best known exponent. |
c. Các Đức Phật của Hi Sinh, trong số các Ngài, Đức Chúa Tể Thế Giới là vị biểu hiện được con người biết rõ nhất. |
|
Through these three groups flows that threefold energy which, on the mental plane, finds its medium of expression in connection with the human kingdom, in the three groups of Agnishvattas or solar Pitris above referred to. These groups form the substance of the three circles of petals, and each group has also a special influence upon the particular petal belonging to their especial scale of vibrations. For the sake of clarity, we might tabulate the various petals so that the student may [Page 822] get a clearer comprehension of the conformation of his own causal vehicle, and some idea of the various triangular relationships: |
Qua ba nhóm này tuôn chảy năng lượng tam phân ấy, năng lượng trên cõi trí tìm thấy phương tiện biểu lộ của nó liên hệ với giới nhân loại trong ba nhóm Agnishvattas hay thái dương tổ phụ đã nói ở trên. Các nhóm này tạo thành chất liệu của ba vòng cánh hoa, và mỗi nhóm cũng có một ảnh hưởng đặc biệt lên cánh hoa riêng biệt thuộc thang rung động đặc thù của họ. Để cho rõ ràng, chúng ta có thể lập bảng các cánh hoa khác nhau để đạo sinh có thể [Page 822] có được sự hiểu biết rõ ràng hơn về cấu trúc của vận cụ nguyên nhân của chính mình, và một vài ý niệm về các mối liên hệ tam giác khác nhau: |
|
I. The outer “knowledge” triad: |
I. Tam nguyên “tri thức” bên ngoài: |
|
a. |
Petal 1 |
Knowledge on the physical plane. |
|
Colours: Orange, green and violet. |
||
|
b. |
Petal 2 |
Love on the physical plane. |
|
Colours: Orange, rose and blue. |
||
|
c. |
Petal 3 |
Sacrifice on the physical plane. |
|
Colours: Orange, yellow and indigo. |
|
These three petals are organised and vitalised in the Hall of Ignorance, but remain unopened and only begin to unfold as the second circle is organised. |
Ba cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Vô Minh, nhưng vẫn chưa mở và chỉ bắt đầu khai mở khi vòng thứ hai được tổ chức. |
|
II. The middle “love” triad: |
II. Tam nguyên “bác ái” ở giữa: |
|
a. |
Petal 1 |
Higher Knowledge applied through love on the physical and astral planes. |
|
Colours: Rose, and the original three. |
||
|
b. |
Petal 2 |
Higher intelligent love on the physical and astral planes. |
|
Colours: Rose and the corresponding three. |
||
|
c. |
Petal 3 |
Loving intelligent sacrifice on the physical and astral planes. |
|
Colours: Rose and the same three. |
|
These three petals preserve the fundamental orange but add the colour rose in every petal, so that four colours are now seen. These petals are organised and vitalised in the Hall of Learning, but remain unopened. The outer tier of petals simultaneously unfolds till it is open entirely, revealing the second circle; the third remains shielded. [Page 823] |
Ba cánh hoa này giữ màu cam căn bản nhưng thêm màu hồng vào mỗi cánh hoa, vì thế nay thấy được bốn màu. Các cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Hiểu Biết, nhưng vẫn chưa mở. Đồng thời, tầng cánh hoa bên ngoài khai mở cho đến khi hoàn toàn mở ra, để lộ vòng thứ hai; vòng thứ ba vẫn còn được che chở. [Page 823] |

|
[Page 824] III. The inner “sacrificial” triad: |
[Page 824] III. Tam nguyên “hi sinh” bên trong: |
|
a. |
Petal 1 |
The Will to sacrifice through knowledge on the mental plane, and thus intelligently to dominate the entire threefold lower man. |
|
Colours: Yellow and the four colours, orange, green, violet and rose. |
||
|
b. |
Petal 2 |
The will to sacrifice through love on the mental plane, and thus to serve. |
|
Colours: Yellow and the four colours, orange, violet, rose and blue. |
||
|
c. |
Petal 3 |
The utter sacrifice of all forever. |
|
Colours: Yellow, orange, rose, blue and indigo. |
|
In the mystery of these subsidiary colours and of the gradual shining forth within the lotus of five colours in any one petal at one time, is veiled the mystery of the five Kumaras. (S.D., I, 483.) The student who seeks the significance of the preponderance of orange and of rose is approaching the secret of the two Kumaras Who fell. More it is not possible to say, but the colours hold the esoteric key to this great occurrence. This inner circle of petals is organised and vitalised in the Hall of Wisdom, and simultaneously the middle circle unfolds, so that two rows of petals are duly opened, and only the third remains to be unclosed. This final opening is effected during the period of treading the stages of the Path of Initiation, and in this round it is hastened by the rites of initiation and by the strenuous and abnormal efforts of the man himself, aided by the electrical work of the Initiator, wielding the Rod of Power. |
Trong huyền nhiệm của các màu phụ này và của sự dần dần chiếu sáng bên trong hoa sen của năm màu trong bất kỳ một cánh hoa nào tại một thời điểm, có che giấu huyền nhiệm của năm Kumaras. (S.D., I, 483.) Đạo sinh nào tìm kiếm thâm nghĩa của sự trội hơn của màu cam và màu hồng đang tiến gần đến bí mật của hai Kumaras đã sa ngã. Không thể nói thêm được nữa, nhưng các màu sắc nắm giữ chiếc chìa khóa huyền bí cho biến cố lớn lao này. Vòng cánh hoa bên trong này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Minh triết, và đồng thời vòng giữa khai mở, để hai hàng cánh hoa được mở đúng mức, và chỉ còn vòng thứ ba là chưa mở. Sự mở cuối cùng này được thực hiện trong thời kỳ bước đi qua các giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo, và trong cuộc tuần hoàn này nó được thúc đẩy nhanh bởi các nghi lễ điểm đạo và bởi những nỗ lực mãnh liệt và bất thường của chính con người, được trợ giúp bởi công việc điện lực của Đấng Điểm đạo, Đấng cầm Thần Trượng Điểm đạo. |
|
Though we have thus divided off the different stages of development, we have but dealt with the general average, gathering our facts from the records to which we have access and which are grouped in relation to this subject into the three groups, related to: |
Dù chúng ta đã phân chia các giai đoạn phát triển khác nhau như thế, chúng ta mới chỉ bàn đến mức trung bình tổng quát, thu thập các dữ kiện từ những hồ sơ mà chúng ta có thể tiếp cận và được nhóm lại liên hệ với đề tài này thành ba nhóm, liên hệ đến: |
|
a. The Monads of power. |
a. Các chân thần quyền năng. |
|
b. Các chân thần bác ái. |
|
|
c. The Monads of activity. |
c. Các chân thần hoạt động. |
|
The student must remember that according to these groupings, so will be the tendency of the petals to unfold. For instance, in the case of the majority of men, being [Page 825] Monads of Love, the love petals are more easily awakened, for love is the nature of the present manifestation and the line of love in some direction (low, high, or spiritual) is the line of least resistance for the many. Yet the Monads of activity are numerous and influential and the first petal in each ring is for them the easiest to unfold. For both groups the “knowledge” petal is the first opened, owing to the inherent nature of the Manasadevas themselves, and their basic vibration. For all, sacrifice is the hardest, for it involves ever the two factors of intelligence and love,—intelligent knowledge and a love that goes out to that which must be saved through sacrifice. |
Đạo sinh phải nhớ rằng theo các cách phân nhóm này, xu hướng khai mở của các cánh hoa cũng sẽ như vậy. Chẳng hạn, trong trường hợp đa số người, vì là [Page 825] các chân thần Bác Ái, các cánh hoa bác ái dễ được đánh thức hơn, vì bác ái là bản chất của biểu hiện hiện tại và đường lối bác ái theo một hướng nào đó (thấp, cao, hay tinh thần) là con đường ít trở ngại nhất đối với số đông. Tuy nhiên, các chân thần hoạt động cũng rất đông và có ảnh hưởng, và đối với họ cánh hoa thứ nhất trong mỗi vòng là cánh dễ khai mở nhất. Đối với cả hai nhóm, cánh hoa tri thức là cánh đầu tiên được mở, do bản chất cố hữu của chính các Manasadevas, và rung động căn bản của họ. Đối với tất cả, hi sinh là điều khó nhất, vì nó luôn bao hàm hai yếu tố trí tuệ và bác ái,—tri thức thông minh và một tình thương hướng ra ngoài đến điều phải được cứu vớt qua hi sinh. |
|
In these three circles of petals lies concealed another clue to the mystery of the 777 incarnations. The figures do not convey an exact number of years, but are figurative and symbolical; they are intended to convey the thought of three cycles of varying duration, based upon the septenary nature of the manifesting monad. |
Trong ba vòng cánh hoa này còn ẩn giấu một đầu mối khác cho huyền nhiệm của 777 lần lâm phàm. Các con số không truyền đạt một số năm chính xác, mà có tính hình tượng và biểu tượng; chúng nhằm truyền đạt ý tưởng về ba chu kỳ có thời lượng khác nhau, dựa trên bản chất thất phân của chân thần đang biểu hiện. |
|
First. The 700 incarnations. These concern the unfoldment of the outer circle. This is the longest period. The initial vibration is slow and heavy, and millenia of lives have to elapse before the interchange of energy between the Ego and its reflection, the personal self (the lower threefold man) is such that the consciousness of the man occultly “awakens” in the Hall of Learning. For advanced man at this time these incarnations took place upon the moon chain and in some cases upon certain planets connected with the inner round. This is the circumstance which necessitated his “coming-in” during the Atlantean root-race. Men of this type refused to incarnate earlier, as the bodies were too coarse; this was the cyclic reflection (on the lowest plane) of the refusal of the Monads to incarnate at the dawn of manvantaric opportunity. No real “sin” was committed; it was their privilege to discriminate, and this refusal has its [Page 826] bearing upon conditions upon Earth, being the basis of the great class distinctions which—in every land—have been so fruitful of trouble and the esoteric foundation of the “caste” system, so abused now in India. The problem of labor and capital has its roots in the subjective distinction between “equipped and unequipped” Egos, between those units of the human family on earth who have passed out of the Hall of Ignorance, and those who are yet groping in its dark and gloomy corridors; between those Egos who are only “bud” Egos, and those who have organised the outer circle of petals, and whose petals are ready to open up. |
Thứ nhất. 700 lần lâm phàm. Những lần này liên quan đến sự khai mở của vòng ngoài. Đây là thời kỳ dài nhất. Rung động ban đầu chậm và nặng, và phải trải qua hàng thiên niên kỷ của các kiếp sống trước khi sự trao đổi năng lượng giữa chân ngã và phản chiếu của nó, bản ngã cá nhân (con người tam phân thấp), đạt đến mức mà tâm thức của con người một cách huyền bí “thức tỉnh” trong Phòng Hiểu Biết. Đối với con người tiến bộ vào thời đó, các lần lâm phàm này đã diễn ra trên Dãy Mặt Trăng và trong một số trường hợp trên vài hành tinh liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong. Chính hoàn cảnh này đã khiến y phải “đi vào” trong giống dân gốc Atlantis. Những người thuộc loại này đã từ chối lâm phàm sớm hơn, vì các thể quá thô trược; đây là sự phản chiếu theo chu kỳ (trên cõi thấp nhất) của sự từ chối của các chân thần không chịu lâm phàm vào buổi đầu của cơ hội giai kỳ sinh hóa. Không có “tội lỗi” thực sự nào được phạm; đó là đặc quyền của họ để phân biện, và sự từ chối này có [Page 826] liên hệ đến các điều kiện trên Trái Đất, là cơ sở của những phân biệt giai cấp lớn lao mà—ở mọi xứ sở—đã sinh ra biết bao rắc rối và là nền tảng huyền bí của hệ thống “đẳng cấp”, hiện bị lạm dụng quá mức ở Ấn Độ. Vấn đề lao động và tư bản có gốc rễ trong sự phân biệt chủ quan giữa các chân ngã “được trang bị” và “chưa được trang bị”, giữa những đơn vị của gia đình nhân loại trên Trái Đất đã vượt ra khỏi Phòng Vô Minh, và những đơn vị còn đang mò mẫm trong các hành lang tối tăm ảm đạm của nó; giữa những chân ngã chỉ mới là chân ngã “nụ”, và những chân ngã đã tổ chức vòng cánh hoa bên ngoài, và các cánh hoa của họ đã sẵn sàng mở ra. |
|
The idea of a septenate of centuries must be carefully pondered upon, and as ever in all occult matters, the idea of triplicity must be also borne in mind with a synthesising period, which is a summation of the triple coordination: |
Ý tưởng về một bộ bảy thế kỷ phải được suy ngẫm cẩn thận, và như thường lệ trong mọi vấn đề huyền bí học, ý tưởng về bộ ba cũng phải được ghi nhớ cùng với một thời kỳ tổng hợp, là sự tổng kết của sự phối hợp tam phân: |

|
Each cycle (again figurative cycles) leaves one of the petals more vitalised, and has a definite effect on each. |
Mỗi chu kỳ (lại là các chu kỳ hình tượng) để lại một trong các cánh hoa được tiếp sinh lực nhiều hơn, và có một tác động xác định lên mỗi cánh. |
|
Second. The 70 incarnations. These concern the unfoldment of the middle circle. Much may be learned from a consideration of the occult significance involved in the sending out of their followers by any initiate (such as the Christ) in groups of seventy, going two and two. These seventy incarnations primarily effect the development of love in the personal life, the evolution of the astral nature, based on the recognition of the pairs of opposites, and their equilibrising in love and service. |
Thứ hai. 70 lần lâm phàm. Những lần này liên quan đến sự khai mở của vòng giữa. Có thể học được nhiều điều từ việc xem xét thâm nghĩa huyền bí hàm chứa trong việc bất kỳ điểm đạo đồ nào (như Đức Christ) sai các môn đồ của mình đi theo từng nhóm bảy mươi người, đi từng đôi một. Bảy mươi lần lâm phàm này chủ yếu tạo ra sự phát triển của bác ái trong đời sống cá nhân, sự tiến hoá của bản chất cảm dục, dựa trên sự nhận biết các cặp đối đãi, và sự quân bình chúng trong bác ái và phụng sự. |
|
This cycle covers the period passed by the man in the [Page 827] Hall of Learning and has its correspondence in the Atlantean root-race and its conflict between the Lords of the Dark Face and the Brotherhood of Light. Within the life of each individual, a similar conflict wages during this period, ending with the final kurukshetra or battle-ground which earns for the man the right to tread the Probationary Path, and eventually the privilege to stand before the Portal of Initiation. Again the numerical significance of the numbers must be studied; this time they are hid in the number ten, or three cycles of three lesser periods, each making nine, and one synthesising period, leading up to the consummation of one period within the greater cycle; this is signified by the ten of relative perfection. (S. D., I, 214; II, 393, 445, 446.) (263) The interplay between kamic impulse and manasic energy has produced a realisation within the consciousness of the Ego of that [Page 828] which he has learned within the two Halls; the outer circle of petals is unfolded, and the central ring is ready to open. |
Chu kỳ này bao trùm thời kỳ con người trải qua trong [Page 827] Phòng Hiểu Biết và có sự tương ứng của nó trong giống dân gốc Atlantis cùng cuộc xung đột giữa các Chúa Tể của Khuôn Mặt Tối và Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng. Trong đời sống của mỗi cá nhân, một cuộc xung đột tương tự cũng diễn ra trong thời kỳ này, kết thúc bằng kurukshetra cuối cùng hay chiến trường cuối cùng, nhờ đó con người giành được quyền bước lên Con Đường Dự Bị, và cuối cùng là đặc ân được đứng trước Cổng Điểm Đạo. Một lần nữa, thâm nghĩa số học của các con số phải được nghiên cứu; lần này chúng được ẩn trong số mười, hay ba chu kỳ gồm ba thời kỳ nhỏ hơn, mỗi chu kỳ thành chín, và một thời kỳ tổng hợp, dẫn đến sự hoàn tất của một thời kỳ trong chu kỳ lớn hơn; điều này được biểu thị bằng số mười của sự toàn hảo tương đối. (S. D., I, 214; II, 393, 445, 446.) (263) Sự tương tác giữa xung lực kama và năng lượng manas đã tạo ra một sự chứng nghiệm trong tâm thức của chân ngã về điều mà y đã học được trong hai Phòng; [Page 828] vòng cánh hoa bên ngoài đã khai mở, và vòng trung tâm sẵn sàng mở ra. |
|
(263) Số 10.—Xem S. D., I, 125, 126. |
|
|
1. The three, enclosed within the circle are the sacred Four. |
1. Bộ ba, được bao trong vòng tròn, là Bộ Bốn thiêng liêng. |
|
a. Adi-Sanat, Con Số, Hợp Nhất. Thượng đế, hay Đấng Duy Nhất trong lâm phàm hồng trần. Thượng đế và con người hoạt động như những hợp nhất trên các cõi hồng trần tương ứng của các Ngài. |
|
|
b. The Voice of the Word, the Numbers, for He is one and nine. The second aspect. The embodied Idea. Consciousness. |
b. Tiếng Nói của Linh từ, các Con Số, vì Ngài là một và chín. Phương diện thứ hai. Ý Tưởng nhập thể. Tâm thức. |
|
c. The formless Square, the matter aspect, substance and form. Limitation. |
c. Hình Vuông vô tướng, phương diện vật chất, chất liệu và hình tướng. Sự giới hạn. |
|
Trace these out in connection with:— |
Hãy truy nguyên những điều này liên hệ với:— |
|
a. A solar Logos informing a solar system. |
a. Một Thái dương Thượng đế thấm nhuần một hệ mặt trời. |
|
b. A planetary Logos, informing a planetary scheme. |
b. Một Hành Tinh Thượng đế, thấm nhuần một hệ hành tinh. |
|
c. Man, informing his bodies of manifestation. |
c. Con người, thấm nhuần các thể biểu hiện của mình. |
|
2. The ten are the arupa universe. |
2. Mười là vũ trụ arupa. |
|
The emphasis here is laid upon the subjective Lives, or the Intelligent Consciousness within the forms. |
Ở đây sự nhấn mạnh được đặt trên các Sự Sống chủ quan, hay Tâm thức Thông minh bên trong các hình tướng. |
|
These ten might be called:— |
Mười điều này có thể được gọi là:— |
|
I. The first Logos…. Shiva…. Father…. Will. |
I. Thượng đế thứ nhất…. Shiva…. Cha…. Ý chí. |
|
II. The second Logos…. Vishnu…. Son…. Love-wisdom. |
II. Thượng đế thứ hai…. Vishnu…. Con…. Bác Ái – Minh Triết. |
|
III. The third Logos…. Brahma…. Holy Ghost…. Intelligence overshadowing Matter, Mother. |
III. Thượng đế thứ ba…. Brahma…. Chúa Thánh Thần…. Trí tuệ phủ bóng lên Vật chất, Mẹ. |
|
1. The Lord of Cosmic Will……………. First Ray. |
1. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ……………. Cung một. |
|
2. The Lord of Cosmic Love…………….Second Ray. |
2. Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ…………….Cung hai. |
|
3. The Lord of Cosmic Intelligence………. Third Ray. |
3. Chúa Tể của Trí Tuệ Vũ Trụ………. Cung ba. |
|
4. The Lord of Cosmic Harmony………… Fourth Ray. |
4. Chúa Tể của Hài Hoà Vũ Trụ………… Cung bốn. |
|
5. The Lord of Cosmic Knowledge………..Fifth Ray. |
5. Chúa Tể của Tri Thức Vũ Trụ………..Cung năm. |
|
6. The Lord of Cosmic Devotion………….Sixth Ray. |
6. Chúa Tể của Sùng Tín Vũ Trụ………….Cung sáu. |
|
7. The Lord of Cosmic Ceremonial………..Seventh Ray. |
7. Chúa Tể của Nghi Lễ Vũ Trụ………..Cung bảy. |
|
They are the subjective consciousness, the cause of manifestation. (back) |
Các Ngài là tâm thức chủ quan, nguyên nhân của biểu hiện. (back) |
|
Third. The 7 incarnations. These are those passed upon the Probationary Path. This is an interesting period in which certain things are effected which might be described in the following terms: |
Thứ ba. 7 lần lâm phàm. Đây là những lần trải qua trên Con Đường Dự Bị. Đây là một thời kỳ lý thú trong đó một số điều được thực hiện, có thể được mô tả bằng các thuật ngữ sau: |
|
The two outer rings of petals are stimulated in a new and special sense through the conscious act of the probationary disciple. Much of the work hitherto has been pursued under the ordinary laws of evolution and has been unconscious. Now all that changes as the mental body becomes active, and two of the will petals are co-ordinated, and one “awakes” vitality and unfolds. |
Hai vòng cánh hoa bên ngoài được kích thích theo một ý nghĩa mới và đặc biệt nhờ hành động có ý thức của đệ tử dự bị. Phần lớn công việc cho đến nay đã được tiến hành dưới các định luật tiến hoá thông thường và trong vô thức. Giờ đây mọi sự thay đổi khi thể trí trở nên hoạt động, và hai cánh hoa ý chí được phối hợp, còn một cánh thì “thức tỉnh” sinh lực và khai mở. |
|
Lửa hay năng lượng từ hai vòng này bắt đầu lưu chuyển dọc theo tam giác nguyên tử và khi điều này xảy ra, nó đánh dấu một thời kỳ cực kỳ trọng đại; một công việc nhị nguyên đã được hoàn tất trong đời sống cá nhân thấp và trong đời sống chân ngã: |
|
|
a. The permanent atoms have the four lower spirillae fully active (two groups of two each) and the fifth is in process of arousement into equal activity. The triangle is in circulatory action but has not yet achieved its full brightness nor its rotary or fourth dimensional revolution. |
a. Các nguyên tử trường tồn có bốn loa tuyến thấp hoạt động hoàn toàn (mỗi nhóm hai loa tuyến) và loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình được khơi dậy đến mức hoạt động tương đương. Tam giác đang ở trong hoạt động tuần hoàn nhưng chưa đạt đến độ sáng trọn vẹn cũng như sự quay tròn hay cuộc cách mạng chiều thứ tư của nó. |
|
b. The two circles of petals are “awake,” one being wide open and the other on the verge of opening. |
b. Hai vòng cánh hoa đều “thức tỉnh”, một vòng mở rộng hoàn toàn và vòng kia ở sát ngưỡng mở ra. |
|
Thus in the life of the probationer two aspects of the divine life are making themselves apparent, and though as yet much remains to be done, nevertheless when the inner circle of petals is awakened—through the instrumentality of the curious and abnormal process of initiation—the remaining aspect will be brought into similar prominence, and produce the perfected man in the three [Page 829] worlds. Thus is the work of the Solar Pitris consummated. |
Như thế trong đời sống của người dự bị, hai phương diện của sự sống thiêng liêng đang tự biểu lộ, và dù vẫn còn nhiều việc phải làm, tuy nhiên khi vòng cánh hoa bên trong được đánh thức—nhờ công cụ của tiến trình kỳ lạ và bất thường là điểm đạo—phương diện còn lại sẽ được đưa đến chỗ nổi bật tương tự, và tạo ra con người toàn hảo trong ba [Page 829] cõi thấp. Như vậy công việc của các thái dương tổ phụ được hoàn tất. |
|
The fact of the abnormality of the process of initiation must here be emphasised. |
Ở đây cần nhấn mạnh sự kiện về tính bất thường của tiến trình điểm đạo. |
|
Initiation is in the nature of a great experiment which our planetary Logos is making during this round. In earlier and perhaps in later rounds the whole process will follow natural law. In this round and on this chain, our planetary Logos on His high level is what is esoterically called “sitting for yoga,” and is definitely undergoing certain processes of training in order to stimulate His centres. This fact is being taken advantage of by the Hierarchy on Earth to produce certain results in the races under Their guidance. The whole process is optional, and a man may—if he so choose—follow the normal process, and take aeons of time to effect what some are choosing to do in a briefer period, through a self-chosen forcing process. |
Điểm đạo có bản chất của một cuộc thí nghiệm lớn mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang thực hiện trong cuộc tuần hoàn này. Trong các cuộc tuần hoàn trước và có lẽ trong các cuộc tuần hoàn sau, toàn bộ tiến trình sẽ tuân theo định luật tự nhiên. Trong cuộc tuần hoàn này và trên dãy này, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trên cõi cao của Ngài đang ở trong điều được gọi một cách huyền bí là “ngồi để yoga”, và đang nhất định trải qua một số tiến trình huấn luyện nhằm kích thích các trung tâm của Ngài. Sự kiện này đang được Thánh Đoàn trên Trái Đất tận dụng để tạo ra một số kết quả trong các nhân loại dưới sự hướng dẫn của Các Ngài. Toàn bộ tiến trình là tùy chọn, và con người có thể—nếu y chọn như vậy—đi theo tiến trình bình thường, và mất những đại kiếp thời gian để thực hiện điều mà một số người đang chọn làm trong một thời kỳ ngắn hơn, qua một tiến trình cưỡng bức do chính mình lựa chọn. |
|
At the termination of the 777 incarnations, a man passes through the door of initiation and enters upon a brief synthesising process, or a final period in which he garners the fruits of the experience in the two first halls, and transmutes knowledge into wisdom, transforms the shadow of things seen into the energy of that which is, and achieves the final liberation from all the lower forms which seek to hold him prisoner. This period of initiation itself is divided into seven stages, but only five of these concern the evolution of the Ego, just as the five Kumaras concern primarily the evolution of Humanity in the system and on this planet. Thus again we have the four exoteric Kumaras, of Whom two fell, and the three esoteric, of whom One gathers the life forces of the four exoteric, making with Them the five above mentioned. The student must study this question from the point of view of energy or life force, considering it from the aspect of polarity and of the mystic marriage, from [Page 830] the comprehension of the real meaning of the sex relation, of the meeting and merging of the pairs of opposites, and the work of the one who synthesises where every type of energy is concerned. For instance: |
Khi kết thúc 777 lần lâm phàm, con người đi qua cánh cửa điểm đạo và bước vào một tiến trình tổng hợp ngắn ngủi, hay một thời kỳ cuối cùng trong đó y thu hoạch các thành quả của kinh nghiệm trong hai Phòng đầu tiên, và chuyển hoá tri thức thành minh triết, chuyển đổi cái bóng của những điều được thấy thành năng lượng của cái đang hiện hữu, và đạt được sự giải thoát cuối cùng khỏi mọi hình tướng thấp đang tìm cách giam giữ y làm tù nhân. Chính thời kỳ điểm đạo này được chia thành bảy giai đoạn, nhưng chỉ có năm giai đoạn trong số đó liên quan đến sự tiến hoá của chân ngã, cũng như năm Kumaras chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của Nhân Loại trong hệ thống và trên hành tinh này. Như vậy một lần nữa chúng ta có bốn Kumaras ngoại môn, trong số các Ngài có hai vị sa ngã, và ba vị nội môn, trong số các Ngài có Một vị thu gom các lực sự sống của bốn vị ngoại môn, hợp cùng Các Ngài thành năm vị đã nói ở trên. Đạo sinh phải nghiên cứu vấn đề này từ quan điểm năng lượng hay lực sự sống, xét nó từ phương diện cực tính và hôn phối thần bí, từ [Page 830] sự thấu hiểu ý nghĩa thực sự của quan hệ giới tính, của sự gặp gỡ và dung hợp của các cặp đối đãi, và công việc của đấng tổng hợp ở bất cứ nơi nào có liên quan đến mọi loại năng lượng. Chẳng hạn: |
|
a. The Ego synthesises or gathers in the life forces of the fourfold lower man. |
a. Chân ngã tổng hợp hay thu gom các lực sự sống của con người thấp tứ phân. |
|
b. The Mahachohan’s Ray on Earth synthesises the life forces of the lower four. This Ray is the third subray of our planetary Ray. |
b. Cung của Đức Mahachohan trên Trái Đất tổng hợp các lực sự sống của bốn thấp. Cung này là cung phụ thứ ba của cung hành tinh của chúng ta. |
|
c. The third major Ray of the solar system blends the minor four. |
c. Cung chính thứ ba của hệ mặt trời dung hợp bốn cung nhỏ. |
|
d. The fifth Kumara blends and unites in Himself the work of the lower four. |
d. Kumara thứ năm dung hợp và hợp nhất trong chính Ngài công việc của bốn vị thấp. |
|
Sự phản chiếu của tất cả điều này trong Tiểu thiên địa có thể được nghiên cứu bởi người hiểu được cách thể xác là vận cụ của mọi nguyên khí. |
|
|
By the time the third Initiation is taken, the inner circle of petals is opened and the full-blown lotus in all its beauty can be seen. At the fourth Initiation the inner bud bursts open through the effect of the electrical force of the Rod, which brings in the power of the synthetic ray of the solar system itself; the inner jewel is thus revealed. The work has been accomplished; the energy resident in the permanent atoms, has vitalised all the spirillae whilst the perfected force of the lotus, and the dynamic will of the central spark are brought into full and united activity. This brings about a threefold display of vital force which causes the disintegration of the form and the following results: |
Vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, vòng cánh hoa bên trong được mở ra và hoa sen nở trọn trong toàn bộ vẻ đẹp của nó có thể được nhìn thấy. Ở lần điểm đạo thứ tư, nụ bên trong bung mở dưới tác động của lực điện của Thần Trượng, lực này mang vào quyền năng của cung tổng hợp của chính hệ mặt trời; vì thế viên ngọc bên trong được lộ ra. Công việc đã được hoàn tất; năng lượng cư ngụ trong các nguyên tử trường tồn đã tiếp sinh lực cho mọi loa tuyến trong khi mãnh lực hoàn hảo của hoa sen, và ý chí năng động của tia lửa trung tâm được đưa vào hoạt động đầy đủ và hợp nhất. Điều này tạo ra một sự biểu lộ tam phân của lực sinh động gây nên sự tan rã của hình tướng và các kết quả sau đây: |
|
a. The permanent atoms become radioactive, and their ring-pass-not is therefore no longer a barrier to the lesser units within; the electronic lives in their various groups escape, and return to the eternal reservoir. They form substance of a very high [Page 831] order, and will produce the forms of those existences who, in another cycle, will seek vehicles. |
a. Các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ, và vì thế vòng-giới-hạn của chúng không còn là một rào cản đối với các đơn vị nhỏ hơn bên trong; các sự sống điện tử trong những nhóm khác nhau của chúng thoát ra, và trở về hồ chứa vĩnh cửu. Chúng tạo thành chất liệu của một trật tự rất cao [Page 831], và sẽ tạo ra các hình tướng của những sự tồn tại mà trong một chu kỳ khác sẽ tìm kiếm các vận cụ. |
|
b. The petals are destroyed by the action of fire, and the multiplicity of deva lives which form them and give to them their coherence and quality are gathered back by the solar Pitris of the highest order into the Heart of the Sun; they will be directed outward again in another solar system. |
b. Các cánh hoa bị huỷ diệt bởi tác động của lửa, và vô số sự sống thiên thần tạo thành chúng và ban cho chúng sự kết hợp cùng phẩm tính được các thái dương tổ phụ thuộc cấp cao nhất thu hồi vào Tim Mặt Trời; chúng sẽ lại được hướng ra ngoài trong một hệ mặt trời khác. |
|
The atomic substance will be used for another manvantara, but the solar Pitris will not again be called upon to sacrifice themselves until the next solar system when they will come in as planetary Rays, thus repeating upon monadic levels in the next system what they have done in this. They will then be the planetary Logoi. |
Chất liệu nguyên tử sẽ được dùng cho một giai kỳ sinh hóa khác, nhưng các thái dương tổ phụ sẽ không lại được kêu gọi hi sinh chính mình cho đến hệ mặt trời kế tiếp khi các ngài sẽ đi vào như các cung hành tinh, nhờ đó lặp lại trên các cấp chân thần trong hệ thống kế tiếp điều mà các ngài đã làm trong hệ thống này. Khi ấy các ngài sẽ là các Hành Tinh Thượng đế. |
|
c. Sự sống điện trung tâm trở về nguồn của nó, thoát khỏi ngục tù và hoạt động như một trung tâm năng lượng trên các cõi năng lượng dĩ thái vũ trụ. |
|
|
We have endeavoured above to convey a general idea of the evolutionary process in connection with the Ego, and its progression under karmic and cyclic law. If the student ponders upon these two laws it will become apparent to him that both might be summed up under the generic term of the Law of Rhythm. All manifestation is the result of active energy producing certain results, and expenditure of energy in any one direction will necessitate an equal expenditure in an opposite. This in terms of the Ego and its life experience brings about three stages: |
Ở trên, chúng ta đã cố gắng truyền đạt một ý niệm tổng quát về tiến trình tiến hoá liên hệ với chân ngã, và sự tiến triển của nó dưới định luật nghiệp quả và chu kỳ. Nếu đạo sinh suy ngẫm về hai định luật này, y sẽ thấy rõ rằng cả hai có thể được tóm lại dưới thuật ngữ tổng quát là Định luật Nhịp điệu. Mọi biểu hiện đều là kết quả của năng lượng hoạt động tạo ra những kết quả nhất định, và sự tiêu hao năng lượng theo bất kỳ hướng nào cũng sẽ đòi hỏi một sự tiêu hao tương đương theo hướng đối nghịch. Điều này, xét theo chân ngã và kinh nghiệm sống của nó, tạo ra ba giai đoạn: |
|
First. The stage wherein the energy manifested acts outwardly. The Self becomes identified with its sheaths. This is the strictly personal stage. |
Thứ nhất. Giai đoạn trong đó năng lượng biểu hiện hoạt động ra bên ngoài. Bản Ngã đồng hoá với các vỏ bọc của nó. Đây là giai đoạn hoàn toàn cá nhân. |
|
Second. The stage wherein adjustment under law is being sought, and the Self is neither entirely identified with its sheaths, nor identified entirely with Itself. It is [Page 832] learning to choose between the pairs of opposites. This is the period of the fiercest strife and turmoil, and the battlefield wherein the adjustment has to be made; it is the laboratory period wherein enough transmutative force is generated by the disciple to carry him to the opposite extreme of the earlier stage,—that stage wherein the energy will manifest within and not without. |
Thứ hai. Giai đoạn trong đó sự điều chỉnh theo định luật đang được tìm kiếm, và Bản Ngã không hoàn toàn đồng hoá với các vỏ bọc của nó, cũng không hoàn toàn đồng hoá với chính Nó. Nó đang [Page 832] học cách lựa chọn giữa các cặp đối đãi. Đây là thời kỳ của xung đột và hỗn loạn dữ dội nhất, và là chiến trường nơi sự điều chỉnh phải được thực hiện; đó là thời kỳ phòng thí nghiệm trong đó đủ mãnh lực chuyển hoá được tạo ra bởi đệ tử để đưa y đến cực đối nghịch của giai đoạn trước,—giai đoạn trong đó năng lượng sẽ biểu hiện bên trong chứ không phải bên ngoài. |
|
Third. The stage wherein the energy of the Ego is centred at the heart of the circle, and not in the periphery, being applied from thence through the conscious effort of the Ego in group service. The pull of the lower nature is superseded, and the attraction of that which is higher even than the Ego is felt. The earlier process has then to be repeated on a higher turn of the spiral, and monadic energy begins to work upon the Ego as the egoic worked upon the personality. The Monad, which has been identifying Itself with the Ego (its outer manifestation) begins again to seek its own true centre “within the Heart,” and on the higher levels results affecting distribution and conservation of energy may again be seen. |
Thứ ba. Giai đoạn trong đó năng lượng của chân ngã được tập trung tại tâm điểm của vòng tròn, chứ không ở chu vi, và từ đó được vận dụng qua nỗ lực hữu thức của chân ngã trong công việc phụng sự nhóm. Sức hút của bản chất thấp được vượt qua, và sức hấp dẫn của điều còn cao hơn cả chân ngã được cảm nhận. Khi ấy tiến trình trước đó phải được lặp lại trên một vòng xoắn ốc cao hơn, và năng lượng chân thần bắt đầu tác động lên chân ngã như năng lượng chân ngã đã tác động lên phàm ngã. Chân thần, vốn đã đồng hoá Chính Nó với chân ngã (biểu hiện bên ngoài của nó), lại bắt đầu tìm kiếm trung tâm chân thực của chính mình “bên trong Trái Tim”, và trên các cấp độ cao hơn, lại có thể thấy những kết quả ảnh hưởng đến sự phân phối và bảo tồn năng lượng. |
|
It is necessary to emphasise this procedure because it is important that all occultists should learn to interpret and to think in terms of energy and of force, in contradistinction to the sheaths or instruments employed. The mystic has recognised this “force” factor, but has only worked with the positive force aspect. The occultist must recognise and work with three types of force, or energy, and therein lies the distinction between his work and that of the mystic. He recognises: |
Cần nhấn mạnh thủ tục này vì điều quan trọng là mọi nhà huyền bí học phải học cách diễn giải và suy nghĩ theo thuật ngữ năng lượng và mãnh lực, khác với các thể hay công cụ được sử dụng. Nhà thần bí đã nhận ra yếu tố “mãnh lực” này, nhưng chỉ làm việc với phương diện mãnh lực dương mà thôi. Nhà huyền bí học phải nhận ra và làm việc với ba loại mãnh lực, hay năng lượng, và chính trong đó có sự khác biệt giữa công việc của y và công việc của nhà thần bí. Y nhận ra: |
|
1. |
Positive force |
Or that which energises. |
|
2. |
Negative force |
Or that which is the recipient of energy; that which acts or assumes form under the impact of positive force. |
|
3. |
Light, or harmonic force |
That which is produced by the union of these two. The result is radiant energy, and is the result of the equilibrising of the two others. |
|
[Page 833] These three aspects of energy have been called, as has been often said: |
[Page 833] Ba phương diện năng lượng này đã được gọi, như thường được nói: |
|
a. |
Electric fire |
positive energy |
Father. |
|
b. |
Fire by friction |
negative energy |
Mother. |
|
c. |
Solar fire |
radiant energy |
Sun or Son. |
|
Each of these two last aspects demonstrates within itself in a dual manner, but the effect is a unified whole as regards the great Unity in which they are demonstrating. |
Mỗi một trong hai phương diện cuối này tự biểu lộ bên trong chính nó theo cách nhị phân, nhưng hiệu quả lại là một toàn thể hợp nhất xét theo Đại Hợp Nhất trong đó chúng đang biểu lộ. |
|
The problem of the devas may be somewhat better understood if it is remembered that they in themselves embody the two types of energy. For instance, the solar Pitris are the substance of the egoic bodies and groups, and the medium of expression for the Spirit aspect, for Spirit manifests by means of soul. The lunar Pitris, who form the personal lower self, being the aggregate of the lower sheaths, are energised and used by the solar Lords. These solar Angels again are in many groups and express within their own ranks a dual energy, both positive and negative. There is the positive life of the egoic lotus which co-ordinates, preserves, and actuates the petals, and there is also the energy of the petal substance itself, or the negative aspect which is swept by the positive force of the greater solar Lords into living whorls or wheels which we symbolically call “petals.” There is a close analogy in connection with the planetary Logos, and the solar Logos between prana, the life force which animates the etheric body of man, and by means of that [Page 834] force coheres the dense physical body, and that synthesising life force of the Logos which animates every atom on every plane of the system. If this is meditated upon, and the fact of all our planes being the etheric and dense manifestation of the solar Logos is realised, then the place played by the solar Angels may become somewhat elucidated, and their relation to the planetary Logos and to the solar Logos may become also clearer. |
Vấn đề của các thiên thần có thể được hiểu phần nào rõ hơn nếu nhớ rằng tự bản thân họ thể hiện hai loại năng lượng ấy. Thí dụ, các thái dương tổ phụ là chất liệu của các thể chân ngã và các nhóm, và là phương tiện biểu lộ cho phương diện tinh thần, vì tinh thần biểu lộ qua linh hồn. Các thái âm tổ phụ, những vị tạo thành phàm ngã thấp, là tổng thể của các thể thấp, được các nhật tinh quân tiếp sinh lực và sử dụng. Đến lượt mình, các Thái dương Thiên Thần này lại ở trong nhiều nhóm và biểu lộ trong hàng ngũ của chính họ một năng lượng nhị phân, vừa dương vừa âm. Có sự sống dương của Hoa Sen Chân Ngã điều phối, bảo tồn và làm cho các cánh hoa hoạt động, và cũng có năng lượng của chính chất liệu cánh hoa, hay phương diện âm, được mãnh lực dương của các nhật tinh quân lớn hơn cuốn vào thành những vòng xoáy hay bánh xe sống động mà chúng ta gọi một cách biểu tượng là “các cánh hoa”. Có một sự tương đồng chặt chẽ liên quan đến Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế giữa prana, mãnh lực sự sống làm sinh động thể dĩ thái của con người, và nhờ mãnh lực [Page 834] đó mà thể xác đậm đặc được kết dính, với mãnh lực sự sống tổng hợp của Thượng đế làm sinh động mọi nguyên tử trên mọi cõi của hệ thống. Nếu điều này được tham thiền, và nếu chứng nghiệm được sự kiện rằng mọi cõi của chúng ta đều là biểu hiện dĩ thái và đậm đặc của Thái dương Thượng đế, thì vai trò do các Thái dương Thiên Thần đảm nhiệm có thể trở nên phần nào sáng tỏ hơn, và mối liên hệ của họ với Hành Tinh Thượng đế và với Thái dương Thượng đế cũng có thể trở nên rõ ràng hơn. |
|
We must not only study them in connection with ourselves and with our effort to identify ourselves with the solar Lords of the lunar Pitris, but must recognise also: |
Chúng ta không những phải nghiên cứu họ trong mối liên hệ với chính mình và với nỗ lực của chúng ta nhằm đồng hoá mình với các nhật tinh quân của các thái âm tổ phụ, mà còn phải nhận ra: |
|
a. The solar Angels of a planetary scheme. |
a. Các Thái dương Thiên Thần của một hệ hành tinh. |
|
b. The solar Angels of the solar system. |
b. Các Thái dương Thiên Thần của hệ mặt trời. |
|
c. The lunar lords of the scheme and system. |
c. Các nguyệt tinh quân của hệ hành tinh và của hệ thống. |
|
The word “lunar” is here an anachronism and is technically inaccurate. The moon or moons in any scheme are systemic effects, and are not causes. In certain planetary relationships, they are considered causes, but in connection with our solar system they are not. Yet also, in connection with a system, there exist cosmically certain bodies in space which have as definite an effect upon the system as the moon has upon the earth. This is something as yet unknown and incomprehensible to metaphysicians, scientists and astronomers. War wages cosmically as yet between the systemic “lunar” lords, and those Entities who are analogous to the solar Lords on cosmic levels. Until our students extend their concept to include in their calculations the logoic astral and mental bodies as the Logos seeks to express emotion and mind on the physical plane (through His physical body, a solar system) they will not progress far towards the heart of the solar mystery. Until the force of the cosmic lunar Lords is sought for, the fact of there being entire constellations beyond our solar system in process of disintegration in time and space in a manner similar to [Page 835] the disintegration of the moon will not be known nor the effects of this traced. Eventually our solar system will pass into a similar state. The true mystery of evil (265) lies here, and the true reality of the “War in Heaven” must here be sought. Similarly it must be remembered that planetary schemes pass into obscuration and “die out,” through the withdrawal in all cases of the positive life and energy and of the electric fire which is the animating principle of every system, scheme, globe, kingdom in nature, and human unit. This produces again in every case the dying out of the “solar radiance,” or of the light produced by the commingling of the negative and positive energy. All that is left in every case again is the habitual energy of the substance upon which, and through which, the positive energy has had such a remarkable [Page 836] effect. This negative type of force gradually dissipates, or disperses itself, and seeks the central reservoir of energy. The spheroidal form is thus disintegrated. This can be seen working out now in the case of the moon, and the same rule holds good for all bodies. We might word it otherwise:—The solar Devas (or radiant energy) return to the central Heart or to the source which breathed them out. This leaves the lesser deva substance dependent upon its own internal heat, as it involves the withdrawal of that which built substance into form. This deva substance is of many kinds and perhaps the consequent procedure can be more clearly understood if we say that as the form breaks up the lesser builders and devas return to their group soul. Certain of them, those who form the bodies of the fourth kingdom in nature, and who are therefore the highest kind of substance through which consciousness can manifest in the three worlds, are on the road towards individualisation,—they are nearer the human stage than the substance of the three other kingdoms. They occupy a place in the deva evolution analogous to that which a man holds in the human kingdom (note that I say kingdom, not evolution) who is nearing the Path. The goal for the devas (below the rank of solar Pitris) is individualisation, and their objective is to become men in some future cycle. The goal for a man is initiation, or to become a conscious Dhyan Chohan, and in some distant cycle to do for the humanity of that age what the solar Pitris have done for him, and make their self-conscious expression a possibility. The goal for a solar Pitri is, as said earlier, to become a logoic Ray. (266) |
Từ “thái âm” ở đây là một lối gọi lỗi thời và về mặt kỹ thuật là không chính xác. Mặt trăng hay các mặt trăng trong bất kỳ hệ hành tinh nào đều là những hiệu quả có tính hệ thống, chứ không phải nguyên nhân. Trong một số tương quan hành tinh, chúng được xem là nguyên nhân, nhưng liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta thì không phải vậy. Tuy nhiên, liên hệ với một hệ thống, vẫn có những thiên thể nào đó trong không gian, xét theo vũ trụ, có tác động xác định lên hệ thống cũng như mặt trăng tác động lên Trái Đất. Đây là điều hiện vẫn chưa được các nhà siêu hình học, các nhà khoa học và các nhà thiên văn học biết đến và thấu hiểu. Hiện nay, trên bình diện vũ trụ, chiến tranh vẫn diễn ra giữa các nguyệt tinh quân “có tính hệ thống” và những Thực Thể tương tự với các nhật tinh quân trên các cấp độ vũ trụ. Chừng nào các đạo sinh của chúng ta chưa mở rộng khái niệm của mình để bao gồm trong các tính toán của họ các thể cảm dục và thể trí của Thượng đế, khi Thượng đế tìm cách biểu lộ cảm xúc và trí tuệ trên cõi hồng trần (qua thể xác của Ngài là một hệ mặt trời), thì họ sẽ không tiến xa được đến trung tâm của huyền nhiệm thái dương. Chừng nào mãnh lực của các nguyệt tinh quân vũ trụ chưa được truy tìm, thì sự kiện rằng có những chòm sao trọn vẹn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta đang trong tiến trình tan rã trong thời gian và không gian theo cách tương tự như [Page 835] sự tan rã của mặt trăng sẽ không được biết đến, cũng như các hiệu quả của điều này sẽ không được truy nguyên. Cuối cùng, hệ mặt trời của chúng ta cũng sẽ đi vào một trạng thái tương tự. Huyền nhiệm đích thực của điều ác (265) nằm ở đây, và thực tại đích thực của “Chiến Tranh trên Thiên Đàng” cũng phải được tìm ở đây. Tương tự như vậy, cần nhớ rằng các hệ hành tinh đi vào tình trạng lu mờ và “tắt lịm”, trong mọi trường hợp, do sự rút lui của sự sống và năng lượng dương cùng Lửa Điện là nguyên khí sinh động của mọi hệ thống, hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới trong thiên nhiên và đơn vị nhân loại. Điều này lại tạo ra trong mọi trường hợp sự tắt dần của “ánh huy hoàng thái dương”, hay của ánh sáng được tạo ra bởi sự hòa trộn giữa năng lượng âm và dương. Trong mọi trường hợp, điều còn lại chỉ là năng lượng theo thói quen của chất liệu mà trên đó, và qua đó, năng lượng dương đã tạo ra một hiệu quả [Page 836] đáng kể như thế. Loại mãnh lực âm này dần dần tiêu tan, hay tự phân tán, và tìm về bể chứa năng lượng trung tâm. Do đó hình thể cầu bị tan rã. Điều này hiện có thể thấy đang diễn ra trong trường hợp của mặt trăng, và cùng một quy luật ấy đúng cho mọi thiên thể. Chúng ta có thể diễn đạt theo cách khác:—Các thiên thần thái dương (hay năng lượng rạng ngời) trở về Trái Tim trung tâm hay trở về nguồn đã thở họ ra. Điều này để lại chất liệu thiên thần thấp lệ thuộc vào nhiệt nội tại của chính nó, vì nó bao hàm sự rút lui của cái đã xây dựng chất liệu thành hình tướng. Chất liệu thiên thần này có nhiều loại, và có lẽ tiến trình tiếp theo có thể được hiểu rõ hơn nếu chúng ta nói rằng khi hình tướng tan vỡ, các vị tiểu kiến tạo và các thiên thần trở về hồn nhóm của họ. Một số trong họ, những vị tạo thành các thể của giới thứ tư trong thiên nhiên, và vì vậy là loại chất liệu cao nhất mà qua đó tâm thức có thể biểu lộ trong ba cõi thấp, đang trên đường tiến tới biệt ngã hóa,—họ gần giai đoạn nhân loại hơn chất liệu của ba giới kia. Họ chiếm một vị trí trong tiến hoá thiên thần tương tự như vị trí mà một người giữ trong giới nhân loại (lưu ý rằng tôi nói là giới, không phải tiến hoá) khi người ấy đang tiến gần Con Đường. Mục tiêu của các thiên thần (dưới cấp bậc các thái dương tổ phụ) là biệt ngã hóa, và cứu cánh của họ là trở thành con người trong một chu kỳ tương lai nào đó. Mục tiêu của con người là điểm đạo, hay trở thành một Dhyan Chohan hữu thức, và trong một chu kỳ xa xôi nào đó làm cho nhân loại của thời đại ấy điều mà các thái dương tổ phụ đã làm cho y, và khiến sự biểu lộ ngã thức của họ trở thành khả hữu. Mục tiêu của một thái dương tổ phụ, như đã nói trước đây, là trở thành một cung của Thượng đế. (266) |
|
(265) Vấn đề Điều Ác. |
|
|
The following quotation is from a trance writing, given through Dr. Anna Kingsford; it runs thus: |
Đoạn trích dẫn sau đây lấy từ một bản viết trong trạng thái xuất thần, được truyền qua Tiến sĩ Anna Kingsford; nội dung như sau: |
|
“You have demanded also the origin of evil. This is a great subject and we should have withheld it from you longer, but that it seems to us now that you are in need of it. Understand then that Evil is the result of Creation. For Creation is the result of the projection of Spirit into matter; and with this projection came the first germ of evil. We would have you know that there is no such thing as a purely spiritual evil, but evil is the result of the materialisation of Spirit. If you examine carefully all we have said to you concerning the various forms of evil, you will see that every one is the result of the limitation of the power to perceive that the whole Universe is but the Larger Self….It is, then, true that God created evil; but yet it is true that God is Spirit, and being Spirit is incapable of evil. Evil is then purely and solely the result of the materialisation of God. This is a great mystery. We can but indicate it tonight….God is perception itself. God is universal percipience. God is that which sees and that which is seen. If we could see all, hear all, touch all, and so forth, there would be no evil, for evil comes of the limitation of perception. Such limitation was necessary if God was to produce aught other than God. Aught other than God must be less than God. Without evil, therefore, God would have remained alone. All things are God according to the measure of the Spirit in them.” |
“Bạn cũng đã hỏi về nguồn gốc của điều ác. Đây là một chủ đề lớn và lẽ ra chúng tôi còn phải giữ lại lâu hơn nữa, nếu như hiện nay chúng tôi không thấy rằng bạn cần đến nó. Vậy hãy hiểu rằng Điều Ác là kết quả của Sáng Tạo. Vì Sáng Tạo là kết quả của sự phóng chiếu Tinh thần vào vật chất; và cùng với sự phóng chiếu ấy đã đến mầm mống đầu tiên của điều ác. Chúng tôi muốn bạn biết rằng không có cái gọi là điều ác thuần túy tinh thần, mà điều ác là kết quả của sự hiện hình của Tinh thần. Nếu bạn khảo sát cẩn thận mọi điều chúng tôi đã nói với bạn về các hình thức khác nhau của điều ác, bạn sẽ thấy rằng mỗi một hình thức đều là kết quả của sự giới hạn quyền năng tri giác rằng toàn thể Vũ Trụ chỉ là Bản Ngã Lớn Hơn….Vậy thì đúng là Thượng đế đã tạo ra điều ác; nhưng cũng đúng là Thượng đế là Tinh thần, và vì là Tinh thần nên không thể có điều ác. Vậy điều ác hoàn toàn và duy nhất là kết quả của sự hiện hình của Thượng đế. Đây là một huyền nhiệm lớn. Tối nay chúng tôi chỉ có thể chỉ ra điều đó….Thượng đế chính là tri giác. Thượng đế là năng lực tri giác phổ quát. Thượng đế là cái thấy và cái được thấy. Nếu chúng ta có thể thấy tất cả, nghe tất cả, chạm đến tất cả, v.v., thì sẽ không có điều ác, vì điều ác phát sinh từ sự giới hạn của tri giác. Sự giới hạn ấy là cần thiết nếu Thượng đế muốn tạo ra bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế. Bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế đều phải kém hơn Thượng đế. Vì vậy, nếu không có điều ác, Thượng đế đã vẫn ở một mình. Mọi sự đều là Thượng đế tùy theo mức độ Tinh thần ở trong chúng.” |
|
That is to say, a perfected humanity will be a perfect vehicle of the divine Spirit (see the Mercaba of Ezekiel, 1st Chapter). Great is our indebtedness to the Seers who throw out for us flashes of light on the darkness and mystery of human life, where the struggling Spirit within is so often buried in the depths of this mysterious Chaos, thereby making visible the darkness, so that we are enabled to see a few steps of the Way ahead, thus encouraging us to press forward with renewed assurance that the mists and clouds will be dispelled, and we shall in due time enter the fulness of the divine Presence.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 50. (back) |
Điều đó có nghĩa là một nhân loại được hoàn thiện sẽ là một vận cụ hoàn hảo của Tinh thần thiêng liêng (xem Mercaba của Ezekiel, Chương 1). Thật lớn lao là món nợ biết ơn của chúng ta đối với các nhà thông nhãn, những vị đã ném ra cho chúng ta những tia chớp ánh sáng vào bóng tối và huyền nhiệm của đời sống con người, nơi Tinh thần đang vật lộn bên trong thường bị chôn vùi trong chiều sâu của Cõi Hỗn Mang bí ẩn này, nhờ đó làm cho bóng tối trở nên hữu hình, để chúng ta có thể thấy được vài bước của Con Đường phía trước, và như thế khích lệ chúng ta tiến lên với niềm xác tín được đổi mới rằng sương mù và mây sẽ bị xua tan, và đến đúng lúc chúng ta sẽ đi vào sự viên mãn của Hiện Diện thiêng liêng.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 50. (back) |
|
(266) Mục tiêu của các Pitri: |
|
|
The lunar Pitris are on a level with the lower Principles.—S. D., II, 82. |
Các thái âm tổ phụ ở cùng một cấp độ với các nguyên khí thấp.—S. D., II, 82. |
|
a. They create our lower principles… S. D., II, 92. |
a. Họ tạo ra các nguyên khí thấp của chúng ta… S. D., II, 92. |
|
b. They possess creative fire but not divine fire… S. D., II, 81, 82. |
b. Họ sở hữu lửa sáng tạo nhưng không có lửa thiêng liêng… S. D., II, 81, 82. |
|
c. They evolve the human form… S. D., I, 203. |
c. Họ tiến hoá hình thể con người… S. D., I, 203. |
|
d. They will eventually become men… S. D., I, 203. |
d. Cuối cùng họ sẽ trở thành con người… S. D., I, 203. |
|
Compare S. D., II, 99. |
So sánh S. D., II, 99. |
|
The higher Principles are latent in the animals.—S. D., II, 266, 279 |
Các nguyên khí cao hơn tiềm tàng trong giới động vật.—S. D., II, 266, 279 |
|
a. The solar Pitris embody the fifth principle… S. D., I, 241. |
a. Các thái dương tổ phụ thể hiện nguyên khí thứ năm… S. D., I, 241. |
|
b. They give consciousness to man… S. D., I, 204. |
b. Họ ban tâm thức cho con người… S. D., I, 204. |
|
c. They furnish the vehicle for the incarnating Monad, forming the egoic body… S. D., I, 237. |
c. Họ cung cấp vận cụ cho chân thần đang nhập thể, tạo thành thể chân ngã… S. D., I, 237. |
|
d. They develop the human type… S. D., II, 243. |
d. Họ phát triển loại hình con người… S. D., II, 243. |
|
Compare S. D., II, 96 (back) |
So sánh S. D., II, 96 (back) |
|
[Page 837] To return to the matter which we were considering:—Just as the moon is a deterrent or malefic force where the Earth is concerned, and productive of evil “influences,” so all such disintegrating bodies are equally destructive. Such bodies exist within the solar ring-pass-not, (267) unrecognised as yet, and disintegrating constellations (of which there are many in the universe, unknown and unrecognised by scientists) have an equally malefic effect upon our system, and upon all that passes into their sphere of influence. |
[Page 837] Trở lại vấn đề chúng ta đang xem xét:—Cũng như mặt trăng là một mãnh lực cản trở hay hung hại đối với Trái Đất, và tạo ra những “ảnh hưởng” xấu, thì mọi thiên thể đang tan rã như vậy cũng đều có tính phá hoại tương tự. Những thiên thể như thế tồn tại bên trong vòng-giới-hạn thái dương, (267) hiện vẫn chưa được nhận biết, và các chòm sao đang tan rã (mà có rất nhiều trong vũ trụ, chưa được các nhà khoa học biết đến và nhận ra) cũng có một tác động hung hại tương tự lên hệ thống của chúng ta, và lên mọi thứ đi vào phạm vi ảnh hưởng của chúng. |
|
(267) Các Hành Tinh Vô Hình: “Không phải tất cả các hành tinh nội Sao Thủy, cũng chưa phải tất cả những hành tinh trong quỹ đạo của Sao Hải Vương, đều đã được khám phá, mặc dù chúng bị nghi ngờ mạnh mẽ. Chúng tôi biết rằng những hành tinh như thế tồn tại và chúng tồn tại ở đâu; và rằng có vô số hành tinh ‘đã cháy hết’ như họ nói,—chúng tôi nói là đang trong tình trạng Lu Mờ;—những hành tinh đang hình thành và chưa phát sáng, v.v.”… |
|
|
“When so attached the ‘tasimeter’ will afford the possibility not only to measure the heat of the remotest of visible stars, but to detect by their invisible radiations stars that are unseen and otherwise undetectable, hence planets also. The discoverer, an F. T. S., a good deal protected by M., thinks that if, at any point in a blank space of heavens—a space that appears blank even through a telescope of the highest power—the tasimeter indicates an accession of temperature and does so invariably; this will be a regular proof that the instrument is in range with the stellar body either non-luminous or so distant as to be beyond the reach of telescopic vision. His tasimeter, he says, ‘is affected by a wider range of etheric undulations than the Eye can take cognisance of.’ Science will Hear sounds from certain planets before she Sees them. This is a Prophecy.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 169. (back) |
“Khi được gắn như vậy, ‘tasimeter’ sẽ cho khả năng không những đo được nhiệt của những ngôi sao nhìn thấy xa nhất, mà còn phát hiện qua các bức xạ vô hình của chúng những ngôi sao không thể thấy và không thể phát hiện bằng cách nào khác, do đó cả các hành tinh nữa. Nhà phát minh, một F. T. S., được Chân sư M. bảo hộ khá nhiều, cho rằng nếu, tại bất kỳ điểm nào trong một khoảng trống của bầu trời—một khoảng trống trông có vẻ rỗng ngay cả qua kính thiên văn mạnh nhất—tasimeter cho thấy sự gia tăng nhiệt độ và luôn luôn như vậy; thì đó sẽ là bằng chứng chắc chắn rằng dụng cụ ấy đang nằm trong tầm của một thiên thể hoặc không phát sáng hoặc ở xa đến mức vượt ngoài tầm nhìn của kính thiên văn. Ông nói tasimeter của ông ‘bị tác động bởi một phạm vi rộng hơn của các dao động dĩ thái so với điều mà Mắt có thể nhận biết.’ Khoa học sẽ Nghe được âm thanh từ một số hành tinh trước khi cô ấy Thấy chúng. Đây là một Lời Tiên Tri.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 169. (back) |
|
There is one such constellation, situated between the lesser Dipper and our system, and another, interrelated with the Pleiades and our system which still have a profound effect upon the physical body of the solar Logos. |
Có một chòm sao như thế, nằm giữa Tiểu Hùng Tinh và hệ thống của chúng ta, và một chòm sao khác, có liên hệ với Pleiades và hệ thống của chúng ta, vẫn còn có một ảnh hưởng sâu xa lên thể xác của Thái dương Thượng đế. |
|
The above paragraph is specifically worded thus because the effects are felt in the lowest sheath of all, and are responsible for much that is ignorantly termed “black magic.” These two constellations have run their cycles and are “dissolving.” Some of their life force and energy has been transferred to our solar system, [Page 838] just as the lunar life force was transferred to our earth, and this it is that is the cause of much cyclic evil. The process of decay and the evil emanations induced still have power to influence forms which are responsive to what was for them an earlier vibration. The substance of these forms is magnetically linked with the decaying body, much as the etheric double is connected with its dense sheath, and effects are therefore manifested. Purificatory fire is the only cure for this magnetic corruption, and this is being utilised freely by the planetary Logoi in Their schemes, and by the solar Logos in the system. |
Đoạn trên được diễn đạt một cách đặc biệt như vậy vì các hiệu quả được cảm nhận trong thể thấp nhất của tất cả, và chịu trách nhiệm cho nhiều điều bị gọi một cách thiếu hiểu biết là “hắc thuật”. Hai chòm sao này đã hoàn tất các chu kỳ của chúng và đang “tan rã”. Một phần mãnh lực sự sống và năng lượng của chúng đã được chuyển dịch sang hệ mặt trời của chúng ta, [Page 838] cũng như mãnh lực sự sống thái âm đã được chuyển sang địa cầu của chúng ta, và chính điều này là nguyên nhân của nhiều điều ác có tính chu kỳ. Tiến trình phân rã và các phát xạ xấu do đó gây ra vẫn còn có quyền năng ảnh hưởng đến những hình tướng đáp ứng với điều vốn là một rung động trước kia đối với chúng. Chất liệu của các hình tướng này được nối kết bằng từ tính với thể đang phân rã, cũng như bản sao dĩ thái được nối với thể đậm đặc của nó, và vì vậy các hiệu quả được biểu lộ. Lửa thanh lọc là phương thuốc duy nhất cho sự ô nhiễm từ tính này, và điều đó đang được các Hành Tinh Thượng đế sử dụng rộng rãi trong các hệ hành tinh của Các Ngài, và bởi Thái dương Thượng đế trong hệ thống. |
|
PURIFICATORY FIRE |
LỬA THANH LỌC |
|
“The fire burned low. A dull red glow slumbered within the Heart of Mother. Its warmth was scarcely felt. The first and second of the inner lines throbbed with the burning, but the rest were cold. |
“Ngọn lửa cháy thấp. Một ánh đỏ xỉn ngủ yên trong Trái Tim của Mẹ. Hơi ấm của nó hầu như không cảm thấy được. Tuyến thứ nhất và thứ hai của các tuyến bên trong rung lên vì sức cháy, nhưng phần còn lại thì lạnh. |
|
The Sons of God looked down from the innermost centre. They looked, then turned away Their gaze and thoughts to other spheres. Their hour had not yet come. The elemental fires had not prepared the altar for the Lords. The sacrificial fire waited in its high place and the steady glow beneath increased. |
Các Con của Thượng đế nhìn xuống từ trung tâm thâm nội nhất. Họ nhìn, rồi quay ánh mắt và tư tưởng của Họ sang các khối cầu khác. Giờ của Họ vẫn chưa đến. Các lửa hành khí chưa chuẩn bị bàn thờ cho các Chúa Tể. Ngọn lửa hiến tế chờ đợi ở nơi cao của nó và ánh sáng ổn định bên dưới tăng lên. |
|
The fire burned clearer, and the first and second slowly lighted up. Their glow became a line of brilliant fire yet the five remained untouched. The Sons of God again looked down. For one brief second They thought upon the Mother, and as They thought the third caught fire. Swiftly They looked away for the form as yet relayed to Them no call. The heat was latent and no outer warmth ascended to Their place. |
Ngọn lửa cháy sáng hơn, và tuyến thứ nhất cùng thứ hai từ từ bừng lên. Ánh sáng của chúng trở thành một đường lửa rực rỡ nhưng năm tuyến kia vẫn chưa bị chạm đến. Các Con của Thượng đế lại nhìn xuống. Trong một giây ngắn ngủi Họ nghĩ đến Mẹ, và khi Họ nghĩ thì tuyến thứ ba bắt lửa. Nhanh chóng Họ ngoảnh đi vì hình tướng vẫn chưa chuyển đến cho Họ một lời kêu gọi nào. Nhiệt vẫn còn tiềm ẩn và không có hơi ấm bên ngoài nào bốc lên đến chỗ của Họ. |
|
The aeons passed. The glow increased. The Spheres took form, but dissipated rapidly, lacking coherent force. They passed. They came again. Action incessant, noise and fire and smouldering heat characterised Their cycles. But the Lhas in Their high heaven spurned this elemental work and gazed within Themselves. They meditated. |
Các đại kiếp trôi qua. Ánh sáng tăng lên. Các Khối Cầu thành hình, nhưng tan biến nhanh chóng vì thiếu mãnh lực kết dính. Chúng qua đi. Chúng lại đến. Hoạt động không ngừng, tiếng động và lửa cùng sức nóng âm ỉ đặc trưng cho các chu kỳ của Chúng. Nhưng các Lha ở cõi thượng thiên của Họ khước từ công việc hành khí này và nhìn vào bên trong Chính Họ. Họ tham thiền. |
|
* * * * * * * * * * |
* * * * * * * * * * |
|
The glow became a steady burning and tiny flames were seen. The first, the second, and the third became three lines of fire and one triangle was consummated. Yet the four are seen quiescent [Page 839] and respond not to the heat. Thus do the cycles and the elemental lives pass and repass, and their work continues. |
Ánh sáng trở thành một ngọn cháy ổn định và những ngọn lửa nhỏ được nhìn thấy. Tuyến thứ nhất, thứ hai và thứ ba trở thành ba đường lửa và một tam giác được hoàn tất. Tuy nhiên bốn tuyến vẫn được thấy là tĩnh lặng [Page 839] và không đáp ứng với sức nóng. Cứ thế các chu kỳ và các sự sống hành khí đi qua rồi trở lại, và công việc của chúng tiếp tục. |
|
The forms are set, yet brief their span. They move not, yet they pass. The hour has come for the great awakening. They pass no longer down but mount. |
Các hình tướng được thiết lập, nhưng đời sống của chúng ngắn ngủi. Chúng không chuyển động, nhưng chúng qua đi. Giờ của sự thức tỉnh lớn lao đã đến. Chúng không còn đi xuống nữa mà đi lên. |
|
This is the interlude for which the Lhas in Their high place have waited. They may not enter yet the forms prepared, but feel Their hour approaching. They meditate anew, and for a minute gaze upon the myriad threefold fires until the fourth responds. |
Đây là quãng ngưng mà các Lha ở nơi cao của Họ đã chờ đợi. Họ chưa thể đi vào các hình tướng đã được chuẩn bị, nhưng cảm thấy giờ của Họ đang đến gần. Họ lại tham thiền, và trong một phút nhìn vào vô số các lửa tam phân cho đến khi tuyến thứ tư đáp ứng. |
|
The sixty seconds passed in dynamic concentration produce forms of triple kind, three sets of forms, and myriads in the three. The Heart of Mother contracts, and expands with these sixty fiery breaths. The lines become allied, and cubes are formed, shielding the inner fire. The altar is prepared, and four square stands. The altar glows, red at the centre and warm without. |
Sáu mươi giây trôi qua trong sự tập trung năng động tạo ra các hình tướng tam phân, ba bộ hình tướng, và vô số trong bộ ba ấy. Trái Tim của Mẹ co lại, rồi giãn ra theo sáu mươi hơi thở rực lửa này. Các tuyến trở nên liên kết, và các khối lập phương được hình thành, che chở ngọn lửa bên trong. Bàn thờ được chuẩn bị, và hình vuông bốn cạnh đứng vững. Bàn thờ rực sáng, đỏ ở trung tâm và ấm ở bên ngoài. |
|
* * * * * * * * * * |
|
|
The altar flames. Its heat mounts up, yet it burns not, nor is consumed. Its heat, which has no flame, reaches a higher sphere; the Sons of God for a brief period warm Themselves, yet approach not nearer to it until the passing of another cycle. They await the hour, the hour of sacrifice. |
Bàn thờ bốc lửa. Nhiệt của nó bốc lên, nhưng nó không thiêu đốt, cũng không bị tiêu hao. Nhiệt của nó, không có ngọn lửa, vươn tới một khối cầu cao hơn; các Con của Thượng đế trong một thời gian ngắn sưởi ấm mình, nhưng chưa đến gần nó hơn cho đến khi một chu kỳ khác trôi qua. Họ chờ đợi giờ ấy, giờ của hiến tế. |
|
The solar Lords, taking the Word as sounded by the Sons of God, arise in the fierceness of their solar life and approach the altar. The four lines glow and burn. The sun applies a ray; the solar Lords pass it through Their substance and again approach the altar. The fifth line awakens and becomes a glowing point, and then a dull red line, measuring the distance ‘twixt the altar and the One Who watches. |
Các nhật tinh quân, tiếp nhận Linh từ như được xướng bởi các Con của Thượng đế, trỗi dậy trong sức mãnh liệt của sự sống thái dương của họ và tiến đến bàn thờ. Bốn tuyến rực sáng và cháy lên. Mặt trời áp một tia; các nhật tinh quân truyền nó qua chất liệu của Họ rồi lại tiến đến bàn thờ. Tuyến thứ năm thức tỉnh và trở thành một điểm sáng rực, rồi thành một đường đỏ xỉn, đo khoảng cách giữa bàn thờ và Đấng đang quan sát. |
|
The fivefold fire dynamic begins to flicker and to burn. It lights not yet without; it simply glows. The aeons pass away, the cycles come and go. |
Ngọn lửa ngũ phân năng động bắt đầu chập chờn và cháy lên. Nó chưa chiếu sáng ra bên ngoài; nó chỉ đơn thuần phát sáng. Các đại kiếp trôi qua, các chu kỳ đến rồi đi. |
|
Steadily the solar Lords sacrifice Themselves; They are the fire upon the altar. The fourth provides the fuel. |
Các nhật tinh quân đều đặn hiến tế Chính Họ; Họ là ngọn lửa trên bàn thờ. Tuyến thứ tư cung cấp nhiên liệu. |
|
* * * * * * * * * * |
* * * * * * * * * * |
|
The Sons of God still watch. The work nears its final consummation. The Eternal Lhas in Their high place call each to each, and four take up the cry: “The fire is burning. Does the heat suffice?” [Page 840] |
Các Con của Thượng đế vẫn quan sát. Công việc gần đến sự hoàn tất cuối cùng. Các Lha Vĩnh Cửu ở nơi cao của Họ gọi nhau, và bốn vị cất tiếng: “Lửa đang cháy. Nhiệt đã đủ chưa?” [Page 840] |
|
Two answer to each other: “‘The fire is burning; the altar is well-nigh destroyed. What happens next?’” “Add to the fire with fuel from Heaven. Breathe on the blazing fire and fan its flame to utter fierceness.” |
Hai vị đáp lời nhau: “‘Lửa đang cháy; bàn thờ gần như bị phá hủy. Điều gì xảy ra tiếp theo?’” “Hãy thêm vào lửa nhiên liệu từ Thiên Đàng. Hãy thổi vào ngọn lửa đang bùng cháy và quạt ngọn lửa của nó đến mức mãnh liệt tột cùng.” |
|
Thus the command goes out from One Who watches, silent hitherto, through countless aeons. They send forth breath. Something prevents the passage of the breath. They call for aid. One makes His appearance Who has not yet been seen. |
Thế là mệnh lệnh phát ra từ Đấng đang quan sát, Đấng cho đến nay vẫn im lặng qua vô số đại kiếp. Họ phát ra hơi thở. Có điều gì đó ngăn cản sự đi qua của hơi thở. Họ kêu gọi trợ giúp. Một Đấng xuất hiện mà trước đây chưa từng được thấy. |
|
Ngài nâng tay lên. Một, hai, ba, bốn và năm hòa nhập thành một và hòa lẫn với sáu. Ngọn lửa bốc cao, đáp ứng với hơi thở. Sự biến mất cuối cùng của khối lập phương là điều cần thiết, rồi công việc sẽ hiển lộ.” |
|
|
FROM THE ARCHIVES OF THE LODGE. |
TỪ CÁC VĂN KHỐ CỦA THÁNH ĐOÀN. |
|
(c) The Names of the Egoic Lotuses. We might consider briefly the work of forming the egoic lotus on its own plane; this is as the result of the work of the Agnishvattas, after its segregation in space, and the formation of its ring-pass-not. We have touched upon the remotest and earliest stages. One point we have not yet emphasised but which is of interest to the thoughtful student. This is the fact of the difference existing between the egoic bodies owing to their varying stages of development. For instance, up till the middle of the Atlantean rootrace (S. D., I, 196.) (when the door of individualisation was closed), Egos were to be seen at many differing stages from the newly organised “buds,” representing freshly individualised men, to the highly developed causal bodies of the different disciples and initiates, who were superintending the evolution of the race. Now the egoic bodies might be grouped from the evolutionary standpoint as follows: |
(c) Tên gọi của các Hoa Sen Chân Ngã. Chúng ta có thể xét ngắn gọn công việc hình thành Hoa Sen Chân Ngã trên cõi riêng của nó; đây là kết quả của công việc của các Agnishvatta, sau khi nó được tách biệt trong không gian và hình thành vòng-giới-hạn của nó. Chúng ta đã chạm đến những giai đoạn xa xưa và sớm nhất. Có một điểm chúng ta chưa nhấn mạnh nhưng lại đáng quan tâm đối với đạo sinh biết suy tư. Đó là sự kiện về sự khác biệt tồn tại giữa các thể chân ngã do các giai đoạn phát triển khác nhau của chúng. Thí dụ, cho đến giữa giống dân gốc Atlantis (S. D., I, 196.) (khi cánh cửa biệt ngã hóa được đóng lại), có thể thấy các chân ngã ở nhiều giai đoạn rất khác nhau, từ những “nụ” vừa được tổ chức, tượng trưng cho những người vừa mới biệt ngã hóa, cho đến các thể nguyên nhân phát triển cao của các đệ tử và điểm đạo đồ khác nhau, những người đang giám sát sự tiến hoá của nhân loại. Hiện nay các thể chân ngã có thể được nhóm lại theo quan điểm tiến hoá như sau: |
|
On the third subplane of the mental plane: |
Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí: |
|
Bud egos. Our planetary scheme, being at the midway point in its evolution, there are therefore no unopened “buds” strictly speaking. All the egoic lotuses have at least one petal open. All the lotuses are organised, but there are vast differences among those of small development, [Page 841] showing forth in the brilliancy of the permanent atoms, and in the stage of petal unfoldment. |
Các chân ngã nụ. Hệ hành tinh của chúng ta, vì đang ở điểm ở giữa trong tiến hoá của nó, nên nói cho đúng không có những “nụ” chưa nở. Mọi Hoa Sen Chân Ngã đều có ít nhất một cánh hoa mở. Tất cả các hoa sen đều đã được tổ chức, nhưng có những khác biệt rất lớn giữa những hoa sen ít phát triển, [Page 841] được biểu lộ qua độ rực sáng của các Nguyên tử trường tồn, và qua giai đoạn khai mở của các cánh hoa. |
|
Brahmic lotuses in which the first or knowledge petal is fully unfolded. They are so called as they represent on the physical plane the fully active intelligent unity, the man of small mental development, the lowest type of workers, agriculturists, and peasants on every continent. They are also called “third class creators,” as they express themselves only through the act of physical creation on the physical plane, and their function is largely to provide vehicles for those of their own group. |
Các hoa sen Brahma trong đó cánh hoa thứ nhất hay cánh hoa tri thức đã hoàn toàn khai mở. Chúng được gọi như vậy vì chúng tượng trưng trên cõi hồng trần cho đơn vị thông minh hoạt động trọn vẹn, con người có sự phát triển trí tuệ ít ỏi, loại người hoạt động thấp nhất, nông dân và tá điền trên mọi lục địa. Chúng cũng được gọi là “những đấng sáng tạo hạng ba”, vì chúng chỉ biểu lộ qua hành vi sáng tạo hồng trần trên cõi hồng trần, và chức năng của chúng phần lớn là cung cấp các vận cụ cho những người thuộc nhóm riêng của chúng. |
|
The lotuses of Brahman, in which the second petal is showing signs of opening and the second aspect in its lowest manifestation is showing signs of demonstration. They stand as representing certain groups of Egos from certain planetary schemes, notably Jupiter and Venus, who are a grade higher than the class above, but which have as yet a long way to go. They are called “second class creators,” for though they demonstrate on the physical plane in the act of physical creation, yet they are more swayed by love than by animal instinct as in the first case. They are to be found incarnating at this time in the Orient, particularly in India and in the Latin countries, and just lately in America. |
Các hoa sen của Brahman, trong đó cánh hoa thứ hai đang cho thấy dấu hiệu mở ra và phương diện thứ hai trong biểu hiện thấp nhất của nó đang cho thấy dấu hiệu biểu lộ. Chúng tượng trưng cho một số nhóm chân ngã từ một số hệ hành tinh nào đó, đặc biệt là Sao Mộc và Sao Kim, cao hơn một bậc so với lớp trên, nhưng vẫn còn một chặng đường dài phải đi. Chúng được gọi là “những đấng sáng tạo hạng hai”, vì tuy chúng biểu lộ trên cõi hồng trần trong hành vi sáng tạo hồng trần, nhưng chúng bị tình thương chi phối nhiều hơn là bản năng thú vật như trong trường hợp thứ nhất. Hiện nay có thể thấy chúng đang nhập thể ở phương Đông, đặc biệt là ở Ấn Độ và các nước Latin, và mới đây ở Mỹ. |
|
Primary lotuses. These are a group of special interest brought in under the influence of the Lord of the fifth Ray, and therefore fundamentally allied to the energy which is the special manifestation in this system and the basis of all achievement, that is, manas. They were quiescent during the Atlantean root-race but have come in during the fourth and fifth subraces of this rootrace. They are a group a good deal more advanced than the earlier classes but need much to develop the second petal. With them the first and the third petals in the first circle are opening, but the middle petal is yet shut. The middle tier also shows no signs of vitality. Owing [Page 842] to conditions in their emanating planet, their development has been one-sided, and hence their entering on a wave of energy into this scheme in order to “round” themselves out, as it is called. They may be seen in the purely intellectual selfish scientific type. They are responsible for much of the advanced application of mechanical science to the needs of men, and for the introduction of certain types of machinery; they work largely in connection with the energy of the mineral kingdom. By this it must be inferred that the solar Lords who embody this type are linked with a group of lunar Lords who respond magnetically to the devas of the mineral kingdom. Their work for the race has at present a deleterious effect, but when the second petal is opened, the wonders then to be achieved by them in loving service along their own particular line will be one of the factors which will regenerate the fourth kingdom. They will achieve emancipation in the fifth round, four fifths of them passing on to the Path and one fifth set back for another cycle. |
Các hoa sen sơ cấp. Đây là một nhóm đặc biệt đáng quan tâm, được đưa vào dưới ảnh hưởng của Đấng Chúa Tể Cung năm, và do đó về căn bản liên kết với năng lượng là biểu hiện đặc biệt trong hệ thống này và là nền tảng của mọi thành tựu, tức là manas. Chúng ở trong trạng thái tĩnh trong giống dân gốc Atlantis nhưng đã đi vào trong giống dân phụ thứ tư và thứ năm của giống dân gốc này. Chúng là một nhóm tiến bộ hơn khá nhiều so với các lớp trước nhưng cần phát triển rất nhiều cánh hoa thứ hai. Ở chúng, cánh hoa thứ nhất và thứ ba trong vòng thứ nhất đang mở ra, nhưng cánh hoa giữa vẫn còn khép. Tầng giữa cũng chưa cho thấy dấu hiệu sinh lực. Do [Page 842] các điều kiện trên hành tinh phát xạ của chúng, sự phát triển của chúng đã bị lệch một phía, và vì thế chúng đi vào hệ hành tinh này trên một làn sóng năng lượng để “làm tròn” chính mình, như cách gọi. Có thể thấy chúng nơi loại người khoa học thuần trí tuệ và ích kỷ. Chúng chịu trách nhiệm cho phần lớn việc áp dụng tiên tiến khoa học cơ khí vào các nhu cầu của con người, và cho việc đưa vào một số loại máy móc; chúng làm việc phần lớn liên hệ với năng lượng của giới kim thạch. Từ đó phải suy ra rằng các nhật tinh quân thể hiện loại này được nối kết với một nhóm nguyệt tinh quân đáp ứng bằng từ tính với các thiên thần của giới kim thạch. Công việc của chúng đối với nhân loại hiện nay có một tác động có hại, nhưng khi cánh hoa thứ hai được mở ra, những kỳ công mà khi ấy chúng sẽ đạt được trong sự phụng sự đầy bác ái theo đường lối riêng của chúng sẽ là một trong những yếu tố tái sinh giới thứ tư. Chúng sẽ đạt giải thoát trong cuộc tuần hoàn thứ năm, bốn phần năm trong số chúng bước lên Con Đường và một phần năm bị lùi lại cho một chu kỳ khác. |
|
Lotuses of passion or desire. They are so called because their fundamental nature is embodied love in some one or other form. The bulk of the Monads of Love are among this large group and they are to be seen incarnating in the bulk of the well-to-do, kindly people of the world. They are divided into five groups, of whom three individualised upon this planet, and two were the very latest to individualise upon the moon chain. They have two petals unfolded and the third is for them at this time the object of their attention. Many may succeed in unfolding it before the seventh rootrace of this round but the bulk of them will unfold it in the second rootrace of the next round, and will stand ready before the close of the round to pass on to the probationary path, having unfolded one tier of petals, and organised the second. All these lotuses of the first circle are divided into groups but interplay goes on between them; energy in any centre [Page 843] produces reflex energy in another. It must be remembered that in closing the door in Atlantean times to the animal kingdom, and the consequent temporary cessation of the forming of any more “bud lotuses” the effect was dual, in directions other than the human or the animal. It was the result of the internal decision on the part of the planetary Logos to turn His attention away from the act of creation on the systemic mental plane to the work of progressive evolution. This caused a cessation of certain types of activity, producing a quiescence in certain of His centres, and an increased activity in others. It also had an effect upon the solar Angels, and consequently upon the Heart of the solar system from whence they are drawn. Floods of energy or streams of force from the heart of the sun (the subjective Sun) were arrested and directed elsewhere, while the Pitris already active began to centre their attention upon the work begun, and temporarily new beginnings were out of order. It must not be forgotten here that the work of the solar Pitris from their point of view, is not primarily the evolution of man, but is the process of their own development within the plan of the solar Logos. The evolution of the human race is, for them, but a method. |
Các hoa sen của đam mê hay dục vọng. Chúng được gọi như vậy vì bản chất căn bản của chúng là tình thương được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác. Phần lớn các Chân thần của Tình thương thuộc về nhóm lớn này và có thể thấy chúng đang nhập thể trong phần đông những người khá giả, tử tế trên thế giới. Chúng được chia thành năm nhóm, trong đó ba nhóm đã biệt ngã hóa trên hành tinh này, và hai nhóm là những nhóm biệt ngã hóa muộn nhất trên Dãy Mặt Trăng. Chúng có hai cánh hoa đã khai mở và cánh hoa thứ ba hiện nay là đối tượng chú ý của chúng. Nhiều hoa sen có thể thành công trong việc khai mở cánh hoa ấy trước giống dân gốc thứ bảy của cuộc tuần hoàn này nhưng phần lớn trong số chúng sẽ khai mở nó trong giống dân gốc thứ hai của cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ sẵn sàng trước khi cuộc tuần hoàn kết thúc để bước lên Con Đường Dự Bị, sau khi đã khai mở một tầng cánh hoa và tổ chức tầng thứ hai. Tất cả các hoa sen của vòng thứ nhất này đều được chia thành các nhóm nhưng vẫn có sự tương tác giữa chúng; năng lượng trong bất kỳ trung tâm nào [Page 843] cũng tạo ra năng lượng phản xạ trong một trung tâm khác. Cần nhớ rằng khi đóng cánh cửa vào thời Atlantis đối với giới động vật, và do đó tạm thời chấm dứt việc hình thành thêm bất kỳ “hoa sen nụ” nào nữa, hiệu quả là nhị phân, theo những hướng khác ngoài nhân loại hay động vật. Đó là kết quả của quyết định nội tại từ phía Hành Tinh Thượng đế nhằm chuyển sự chú ý của Ngài khỏi hành vi sáng tạo trên cõi trí có tính hệ thống sang công việc tiến hoá tuần tự. Điều này gây ra sự chấm dứt của một số loại hoạt động, tạo nên trạng thái tĩnh trong một số trung tâm của Ngài, và gia tăng hoạt động trong những trung tâm khác. Nó cũng có ảnh hưởng lên các Thái dương Thiên Thần, và do đó lên Trái Tim của hệ mặt trời từ đó họ được rút ra. Những dòng năng lượng hay những luồng mãnh lực từ trái tim mặt trời (Mặt Trời chủ quan) đã bị chặn lại và chuyển hướng sang nơi khác, trong khi các Pitri đã hoạt động thì bắt đầu tập trung sự chú ý của họ vào công việc đã khởi sự, và tạm thời những khởi đầu mới không còn được đặt ra. Ở đây không được quên rằng công việc của các thái dương tổ phụ theo quan điểm của họ, không chủ yếu là sự tiến hoá của con người, mà là tiến trình phát triển riêng của họ trong Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế. Đối với họ, sự tiến hoá của nhân loại chỉ là một phương pháp. |
|
Perfected men are in the councils of the planetary Logos of their particular ray; the solar Pitris are in the council of the solar Logos. (269) |
Những con người hoàn thiện ở trong các hội đồng của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung riêng của họ; các thái dương tổ phụ ở trong hội đồng của Thái dương Thượng đế. (269) |
|
(269) All these will become solar Logoi of varying grades. (back) |
(269) Tất cả những vị này sẽ trở thành các Thái dương Thượng đế với những cấp bậc khác nhau. (back) |
|
It might be of value here if we temporarily stopped our consideration of the egoic groups and briefly tabulated the evolutions, remembering that in this tabulation, the planes of differentiation alone are concerned; on the plane of the unmanifest or of the subjective, only unity is known. It must again be remembered that the term “unmanifest” is one of relative importance only, and concerns man’s apprehension of all that is. To the solar Logos the planes of the unmanifest are objective. Man has not as yet achieved etheric vision, and the etheric |
Ở đây có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta tạm dừng việc xem xét các nhóm chân ngã và lập bảng ngắn gọn về các tiến hoá, nhớ rằng trong bảng này chỉ liên quan đến các cõi của sự biến phân; trên cõi không biểu hiện hay cõi chủ quan, chỉ có hợp nhất được biết đến. Cần lại nhớ rằng thuật ngữ “không biểu hiện” chỉ có tầm quan trọng tương đối, và liên quan đến sự lĩnh hội của con người đối với tất cả những gì hiện hữu. Đối với Thái dương Thượng đế, các cõi không biểu hiện là khách quan. Con người hiện vẫn chưa đạt được linh thị dĩ thái, và các cõi phụ dĩ thái |
|
[Page 844] TABULATION VI |
[Page 844] BẢNG VI |
|
Lives |
Goal |
|
|
1. |
Planetary Logoi – The major Three. |
Cosmic liberation; the final cosmic Initiations. |
|
2. |
The minor four planetary Logoi |
Cosmic Initiation, or the first four Initiations. |
|
3. |
The informing Lives of a planetary globe |
Manus of a cosmic chain. Not a seed manu, but a periodical manu of lesser degree. This involves an unrevealable mystery, connected with certain Hierarchies of color. |
|
4. |
The informing life of a kingdom in nature |
Transference in one of three directions: |
|
a. To the line of the solar Pitris. |
||
|
b. To Sirius, as a karmic adjuster. |
||
|
c. To the solar system of the next order to work in connection with the planetary Logos of his own line as ruler of a kingdom or life wave in the system, and not just in a scheme. |
||
|
5. |
The solar Pitris. |
The highest three groups will become major planetary Logoi; the lower four groups will become minor planetary Logoi. |
|
6. |
The human evolution. |
To become the solar Pitris of another cycle. To follow any of the paths earlier enumerated. Those who become solar Pitris, being the bulk of humanity, return to Sirius to be breathed out again into activity. |
|
7. |
The lunar Pitris |
To become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation. |
|
8. |
The animal evolution |
Human kingdom. |
|
9. |
The vegetable evolution |
The animal kingdom. |
|
10. |
The mineral evolution |
The vegetable kingdom. |
|
11. |
The four higher grades of lesser Builders on all planes |
They will form the manifested double or form of that mysterious third evolution of the next system; that is, the etheric body of the planetary entity. This mysterious life is as yet an unfathomable mystery and one which will not be revealed till the final one of the triplicity of solar systems of our solar Logos. |
|
12. |
The three lower grades of the lesser Builders |
The physical body in its densest form of the planetary entity. |
|
[Page 845] subplanes are to him as yet unmanifest. The solar Logos has cosmic etheric vision fully developed, and because He is on the cosmic Path all is known and fully revealed to Him within the solar System. |
[Page 845] đối với y hiện vẫn là không biểu hiện. Thái dương Thượng đế đã phát triển đầy đủ linh thị dĩ thái vũ trụ, và vì Ngài đang ở trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu nên mọi sự trong hệ mặt trời đều được biết và được mặc khải trọn vẹn cho Ngài. |
|
It might here be noted that the planetary Entity is the sumtotal of all the elemental lives of the lesser Builders functioning as, or forming, the substance of any particular globe in physical objectivity. The mystery of the whole subject lies hidden in three things: |
Ở đây có thể lưu ý rằng Thực Thể Hành Tinh là tổng số của mọi sự sống hành khí của các vị tiểu kiến tạo đang hoạt động như, hay tạo thành, chất liệu của bất kỳ bầu hành tinh nào trong tính khách quan hồng trần. Huyền nhiệm của toàn bộ chủ đề này ẩn giấu trong ba điều: |
|
First, the fact that our three planes, physical, astral, and mental, form the dense body of the solar Logos, and are therefore not considered as forming principles. |
Thứ nhất, sự kiện rằng ba cõi của chúng ta, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, tạo thành thể đậm đặc của Thái dương Thượng đế, và vì vậy không được xem là tạo thành các nguyên khí. |
|
The second fact is that the lesser “lives” or the elemental essence are the “refuse” of an earlier system, and react to inherent impulses so powerfully that it was only possible to control them through the dynamic will of the Logos, consciously applied. The word “refuse” must be interpreted analogically, and as is understood when it is said that man gathers to himself in each fresh incarnation matter to form his dense physical body which is tinged with the earlier vibrations of preceding incarnations. These “lives” have been gradually drawn in during the entire mahamanvantara as it became safe and possible to control and bend them to the will of the greater Builders. Much of the earlier energy-substance in systemic construction has been passed on into that force-matter which we call that of the lunar Pitris, and its place has gradually been taken by this type of energy, gathered in from the greater sphere in which our Logos has place. The twelve evolutions are after all but the twelve types of energy, manifesting ever in three groups of forces, and again as one group when synthesised during the process of manifestation. They are fourfold in interaction, and have a systemic ebb and flow about which little is known. |
Sự kiện thứ hai là các “sự sống” thấp hơn hay tinh chất hành khí là “phế liệu” của một hệ thống trước, và đáp ứng với những xung lực cố hữu mạnh đến mức chỉ có thể kiểm soát chúng qua ý chí năng động của Thượng đế, được áp dụng một cách hữu thức. Từ “phế liệu” phải được diễn giải theo định luật tương đồng, và như được hiểu khi nói rằng con người thu hút về mình trong mỗi lần nhập thể mới vật chất để tạo thành thể xác đậm đặc của y, thể này nhuốm các rung động trước kia của những lần nhập thể trước. Các “sự sống” này đã dần dần được thu hút vào trong suốt toàn bộ Đại giai kỳ sinh hóa khi việc kiểm soát và uốn chúng theo ý chí của các đấng đại kiến tạo trở nên an toàn và khả thi. Phần lớn chất liệu-năng lượng trước kia trong công trình kiến tạo có tính hệ thống đã được chuyển vào mãnh lực-vật chất mà chúng ta gọi là của các thái âm tổ phụ, và chỗ của nó dần dần được thay thế bởi loại năng lượng này, được thu hút từ khối cầu lớn hơn trong đó Thượng đế của chúng ta có vị trí. Rốt cuộc mười hai tiến hoá chỉ là mười hai loại năng lượng, luôn luôn biểu lộ trong ba nhóm mãnh lực, và rồi lại như một nhóm khi được tổng hợp trong tiến trình biểu hiện. Chúng là tứ phân trong sự tương tác, và có một thủy triều lên xuống có tính hệ thống mà người ta biết rất ít về nó. |
|
Third, the fact of the coming into incarnation of the [Page 846] informing “life” of this low grade substance, who is an entity from a point in the Heavens which may not be mentioned: He embodies influences of a manasic nature, but manas at its very lowest vibration. Perhaps some idea of this may be gathered if it is stated that there is a resemblance between this vibration, or this energising life, and the basic vibration of the solar system preceding this one. We must remember that our basic vibration was the result of the evolutionary process of the entire earlier system. This entity has the same analogous relation to the deva evolution as the mysterious “bridges” which baffle scientists, and which are found between the vegetable and the animal kingdom, and the mineral and the vegetable; they are neither the one nor the other. On a large scale, this “life” or the informing entity of the lower life of the physical plane of the solar system is neither a full exponent of the subconscious life of the earlier system, nor of the elemental life of this; only in the next system will be seen the manifestation of a form of consciousness of a type at present inconceivable to man. Esoterically he is stated to have “neither sight nor hearing”; he is neither deva nor human in essence. He is occultly “blind,” utterly unaware; he is capable only of movement, and resembles the foetus in the womb; that which is coming to the birth only the next greater cycle will reveal. The mystery of the moon (S. D., I, 172, footnote.) or of the “divine lunatic” is connected somewhat with the revelation (through the premature compassion of our planetary Logos) of the life of this nature, informing the dense globe of the moon chain. On His high level, pity awoke in the heart of the planetary Logos for certain involutionary existences within the moon chain, and (like the Buddha on a lesser scale and at a much later date) compassionate zeal brought the karmic results with which we are still concerned. The “beast” must be driven back [Page 847] for his own good to run his cycle, hidden in his den and confined within safe limits until the dawning of a new system brings him conscious opportunity. |
Thứ ba, sự kiện về việc đi vào lâm phàm của [Page 846] “sự sống” phú linh của loại chất liệu cấp thấp này, là một thực thể đến từ một điểm trên Thiên Giới không thể nêu tên: y thể hiện những ảnh hưởng có bản chất manas, nhưng là manas ở rung động thấp nhất của nó. Có lẽ có thể hình dung phần nào về điều này nếu nói rằng có một sự tương tự giữa rung động này, hay sự sống tiếp sinh lực này, với rung động căn bản của hệ mặt trời trước hệ này. Chúng ta phải nhớ rằng rung động căn bản của chúng ta là kết quả của tiến trình tiến hoá của toàn bộ hệ thống trước. Thực thể này có mối liên hệ tương tự với tiến hoá thiên thần như những “cầu nối” bí ẩn làm các nhà khoa học bối rối, và được tìm thấy giữa giới thực vật và giới động vật, và giữa giới kim thạch và giới thực vật; chúng không phải cái này cũng không phải cái kia. Trên quy mô lớn, “sự sống” này hay thực thể phú linh của sự sống thấp của cõi hồng trần của hệ mặt trời không phải là một biểu hiện trọn vẹn của sự sống tiềm thức của hệ thống trước, cũng không phải của sự sống hành khí của hệ này; chỉ trong hệ thống kế tiếp mới thấy được sự biểu lộ của một hình thức tâm thức thuộc loại hiện nay con người không thể hình dung nổi. Theo huyền bí học, y được nói là “không có thị giác cũng không có thính giác”; về bản chất y không phải thiên thần cũng không phải con người. Về mặt huyền bí, y “mù”, hoàn toàn không hay biết; y chỉ có khả năng chuyển động, và giống như bào thai trong tử cung; điều đang đi đến chỗ sinh ra ấy chỉ chu kỳ lớn hơn kế tiếp mới sẽ mặc khải. Huyền nhiệm của mặt trăng (S. D., I, 172, chú thích.) hay của “kẻ điên thiêng liêng” có phần liên hệ với sự mặc khải (qua lòng từ bi quá sớm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta) về sự sống thuộc bản chất này, đang phú linh bầu hành tinh đậm đặc của Dãy Mặt Trăng. Trên cấp độ cao của Ngài, lòng thương xót đã thức dậy trong trái tim của Hành Tinh Thượng đế đối với một số hiện hữu giáng hạ tiến hoá trong Dãy Mặt Trăng, và (giống như Đức Phật ở quy mô nhỏ hơn và vào một thời điểm muộn hơn nhiều) nhiệt tâm từ bi đã mang đến những kết quả nghiệp quả mà chúng ta hiện vẫn còn liên hệ. “Con thú” phải bị đẩy lùi lại [Page 847] vì lợi ích riêng của nó để chạy hết chu kỳ của nó, ẩn trong hang của nó và bị giam trong những giới hạn an toàn cho đến khi bình minh của một hệ thống mới mang đến cho nó cơ hội hữu thức. |
|
More we may not say. It must be remembered that the mysteries of existence are as yet but little cognised by man. In cases where profound mysteries lie, man is often totally unaware of it; and frequently man remains blind and deaf where no mystery is but only revelation for those who have eyes to see and ears to hear. When man has penetrated to those secrets which lie behind the lower kingdoms in nature, when he has solved the problem of the constitution of the interior of the Earth, and has from there worked his way back to knowledge of the working of the involutionary path and the lives which tread that path, then and then only will he begin to realise the strangeness of that which lies beyond his ken. |
Chúng ta không thể nói thêm nữa. Cần nhớ rằng các huyền nhiệm của hiện hữu hiện vẫn còn được con người nhận biết rất ít. Trong những trường hợp có các huyền nhiệm sâu xa ẩn tàng, con người thường hoàn toàn không hay biết điều đó; và thường khi không có huyền nhiệm nào cả mà chỉ có sự mặc khải cho những ai có mắt để thấy và tai để nghe, con người vẫn mù và điếc. Khi con người đã thâm nhập được vào những bí mật nằm sau các giới thấp trong thiên nhiên, khi y đã giải được bài toán về cấu tạo bên trong của Trái Đất, và từ đó lần ngược trở lại để biết được sự vận hành của con đường giáng hạ tiến hoá và những sự sống bước đi trên con đường ấy, thì khi đó và chỉ khi đó y mới bắt đầu chứng nghiệm được tính kỳ lạ của điều nằm ngoài tầm hiểu biết của mình. |
|
One further hint may be given, which will serve to throw a beam of light upon the problem for those who are ready, and will add to the confusion of the non-intuitive:—From the standpoint of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, to Whom our solar system is but a centre (which centre being one of the three truths revealed at the seventh Initiation) |
Có thể đưa ra thêm một gợi ý nữa, gợi ý này sẽ giúp rọi một tia sáng lên vấn đề cho những ai đã sẵn sàng, và sẽ làm tăng thêm sự rối rắm cho những người không có trực giác:—Từ quan điểm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng mà đối với Ngài hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trung tâm (mà trung tâm ấy là một trong ba chân lý được mặc khải ở lần điểm đạo thứ bảy) |
|
a. |
System I |
was characterised by the organisation of a centre, and the mysterious life we have been speaking about was produced by the “lowest vibration of the centre.” |
|
b. |
System II |
is characterised by the activity in three dimensions of this centre, and the evolution of three types of consciousness, deva, human and subhuman, in all their many grades and hierarchies. It is the period of the balancing of the forces in the centre. |
|
c. |
System III |
will be characterised by the fourth dimensional activity of the centre, and the twelve types of evolution will become four types of force. |
|
[Page 848] This is next to impossible for man to understand and will seem inexplicable, but this hint is imparted in order that man may realise the interdependence of the various systems, and the place they hold in a greater scheme; the intent is not to give the student uncorrelated facts of no apparent use to him. Without the premise of our position within a vaster scheme, man’s deductions will remain inaccurate. |
[Page 848] Điều này hầu như con người không thể thấu hiểu và sẽ có vẻ không thể giải thích được, nhưng gợi ý này được truyền đạt để con người có thể chứng nghiệm sự tương thuộc của các hệ khác nhau, và vị trí mà chúng nắm giữ trong một hệ thống lớn lao hơn; mục đích không phải là cung cấp cho đạo sinh những sự kiện rời rạc dường như không có ích lợi gì cho y. Nếu không có tiền đề về vị trí của chúng ta trong một hệ thống bao la hơn, những suy luận của con người sẽ vẫn không chính xác. |
|
We will now proceed with our enumeration of the groups of Egos according to their characteristics, but it might be wise to deal first with a problem which may be in some minds and see if it is not capable of solution. Two problems come before the mind of the thoughtful student; one concerns the position (in connection with any particular planetary scheme) of those vast groups of Egos, which are embodied by Lives, emanating from any one of the seven Rays, and associated with any of the various schemes. The other deals with the effect produced by the “coming-in” of Egos on the mental plane which are not “bud” Egos, but are possibly very fully developed, such as disciples and initiates. |
Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục việc liệt kê các nhóm chân ngã theo các đặc tính của chúng, nhưng có lẽ khôn ngoan hơn nếu trước hết bàn đến một vấn đề có thể đang hiện diện trong tâm trí một số người và xem liệu nó có thể được giải quyết hay không. Có hai vấn đề hiện ra trước trí tuệ của đạo sinh biết suy tư; một vấn đề liên quan đến vị trí (trong liên hệ với bất kỳ hệ hành tinh riêng biệt nào) của những nhóm chân ngã bao la ấy, được nhập thể bởi các Sự Sống, phát xuất từ bất kỳ một trong bảy cung nào, và liên kết với bất kỳ hệ nào trong các hệ khác nhau. Vấn đề kia bàn đến hiệu quả do sự “đi vào” của các chân ngã trên cõi trí tạo ra, những chân ngã không phải là các chân ngã “nụ”, mà có thể đã phát triển rất đầy đủ, như các đệ tử và các điểm đạo đồ. |
|
Những tư tưởng này có thể được làm sáng tỏ nếu đưa ra một số phát biểu liên quan đến cõi trí, và những phát biểu ấy sẽ đóng vai trò như các chỉ dẫn về hướng mà trong đó có thể tìm kiếm lời giải cho các vấn đề này. |
|
|
The mental plane is, as H. P. B. has pointed out, the vastest of all the planes with which we are concerned. It is the key plane of the solar system. It is the pivotal plane upon which the great Wheel turns. It is the meeting place of the three lines of evolution and has been for this reason esoterically termed “the council chamber of the Three Divinities.” On this plane, the three Persons of the logoic Trinity meet in united work. Below two Persons may be seen associated; above another duality functions, but only on this plane do the Three make an at-one-ment. |
Như H. P. B. đã chỉ ra, cõi trí là cõi bao la nhất trong tất cả các cõi mà chúng ta quan tâm đến. Đó là cõi then chốt của hệ mặt trời. Đó là cõi bản lề mà trên đó Bánh Xe lớn xoay chuyển. Đó là nơi gặp gỡ của ba đường tiến hoá và vì lý do này đã được gọi một cách huyền bí là “phòng nghị sự của Ba Đấng Thiêng Liêng.” Trên cõi này, ba Ngôi của Tam Vị logoi gặp nhau trong công việc hợp nhất. Bên dưới có thể thấy hai Ngôi liên kết; bên trên một nhị nguyên tính khác hoạt động, nhưng chỉ trên cõi này Ba Đấng mới tạo nên sự hợp nhất. |
|
[Page 849] All the Logoi of the differing schemes are expressing Themselves upon this plane. There are certain schemes in the system which find their lowest manifestation on this plane, and have no physical body such as the Earth, and the other dense planets. They exist through the medium of gaseous matter, and their spheres of manifestation are simply composed of the four cosmic ethers and the cosmic gaseous. But all the great Lives of the solar system do possess bodies of our systemic mental matter, and therefore on that plane communication between all these Entities becomes a possibility. This fact is the basis of occult realisation, and the true ground for the at-one-ment. Matter of the abstract levels of the mental plane enters into the composition of the vehicles for all these greater Existences and through the medium of this energised substance each can get en rapport with each, no matter what Their individual goal of attainment may be. The units, therefore, in Their bodies can equally get in touch with all other Egos and groups once they have achieved the consciousness of the mental plane (causal consciousness) and know the varying group “keys,” the group tones and colors. |
[Page 849] Tất cả các Thượng đế của những hệ khác nhau đều đang biểu lộ chính Các Ngài trên cõi này. Có một số hệ trong hệ mặt trời tìm thấy biểu hiện thấp nhất của chúng trên cõi này, và không có thể xác như Trái Đất và các hành tinh đậm đặc khác. Chúng tồn tại qua trung gian của vật chất thể khí, và các khối cầu biểu hiện của chúng chỉ đơn giản được cấu tạo bằng bốn dĩ thái vũ trụ và thể khí vũ trụ. Nhưng tất cả các Sự Sống lớn của hệ mặt trời đều sở hữu các thể bằng vật chất trí tuệ của hệ chúng ta, và vì vậy trên cõi ấy sự giao tiếp giữa tất cả các Thực Thể này trở thành một khả năng. Sự kiện này là nền tảng của sự chứng nghiệm huyền bí, và là cơ sở chân chính cho sự hợp nhất.Vật chất của các cấp độ trí trừu tượng của cõi trí đi vào thành phần cấu tạo các vận cụ của tất cả những Hiện Hữu lớn lao này và qua trung gian của chất liệu được tiếp sinh lực này, mỗi vị có thể thiết lập sự tương thông với nhau, bất kể mục tiêu thành tựu riêng biệt của Các Ngài là gì. Vì vậy, các đơn vị trong các thể của Các Ngài cũng có thể tiếp xúc với mọi chân ngã và mọi nhóm khác một khi họ đã đạt được tâm thức của cõi trí (tâm thức nguyên nhân) và biết các “chủ âm” nhóm khác nhau, các âm điệu và màu sắc của nhóm. |
|
It will consequently be apparent to the careful student that in this fact lies the true relationship between the various groups of Egos, no matter what degree of evolution, or what ray and in which scheme they may be. The basic truth here involved may be better grasped if the following occult phrases are studied: |
Do đó, đối với đạo sinh cẩn trọng, sẽ hiển nhiên rằng chính trong sự kiện này có mối liên hệ chân thực giữa các nhóm chân ngã khác nhau, bất kể mức độ tiến hoá nào, hay thuộc cung nào và ở trong hệ nào. Chân lý căn bản được bao hàm ở đây có thể được nắm bắt tốt hơn nếu các cụm từ huyền bí sau đây được nghiên cứu: |
|
“Within the Hall of Ignorance kama-manas rules. The man, weighed down by much misplaced desire, seeks for the object of his heart’s attention within the murky halls of densest maya. He finds it there but dies ere garnering all the longed-for fruit. The serpent stings him, and the joy desired recedes from out his grasp. All seeking thus the selfish fruits of karma must each despise each other; hence strife and greed, ill-will and hatred, death and retribution, karmic invocation and the thunderbolt of vengeance characterise this Hall. [Page 850] |
“Trong Phòng Vô Minh, trí-cảm cai quản. Con người, bị đè nặng bởi quá nhiều ham muốn đặt sai chỗ, tìm kiếm đối tượng mà trái tim y chú ý đến trong những đại sảnh mờ đục của ảo lực đậm đặc nhất. Y tìm thấy nó ở đó nhưng chết trước khi thu hoạch được toàn bộ quả trái hằng mong ước. Con rắn chích y, và niềm vui mong cầu rút khỏi tầm nắm bắt của y. Tất cả những ai tìm kiếm như thế các quả trái ích kỷ của nghiệp quả đều phải khinh miệt lẫn nhau; vì thế xung đột và tham lam, ác ý và thù hận, cái chết và sự báo ứng, sự khẩn cầu nghiệp quả và tia sét báo thù đặc trưng cho Phòng này. [Page 850] |
|
Within the Hall of Learning intellect rules and seeks to guide. Desire of a higher kind, the fruit of manas and its use, supplants the lower kamic urge. Man weighs and balances, and in the twilight Halls of Intellection seeks for the fruit of knowledge. He finds it but to realise that knowledge is not all; he dies upon the open field of knowledge, hearing a cry beat on his dying ears: Know that the knower greater is than knowledge; the One who seeks is greater than the sought. |
Trong Phòng Hiểu Biết trí tuệ cai quản và tìm cách hướng dẫn. Ham muốn thuộc loại cao hơn, là quả trái của manas và việc sử dụng nó, thay thế cho sự thôi thúc cảm dục thấp hơn. Con người cân nhắc và quân bình, và trong những đại sảnh chạng vạng của trí năng tìm kiếm quả trái của tri thức. Y tìm thấy nó chỉ để chứng nghiệm rằng tri thức không phải là tất cả; y chết trên cánh đồng rộng mở của tri thức, nghe một tiếng kêu dội vào đôi tai đang hấp hối của mình: Hãy biết rằng thức giả vĩ đại hơn tri thức; Đấng tìm kiếm vĩ đại hơn điều được tìm kiếm. |
|
Within the Hall of Wisdom the Spirit rules; the One within the lesser ones assumes supreme control. Death is not known within these halls, for its two great gates are passed. Discord and strife both disappear and only harmony is seen. The knowers see themselves as One; they recognise the field wherein knowledge grows as Brahmic dissonance and differentiation. Knowledge they know as method, an instrument of purpose utilised by all and just a germ of eventual recognition. Within this hall union of each with each, blending of one and all, and unity of action, goal and skill marks every high endeavor.” |
Trong Phòng Minh triết tinh thần cai quản; Đấng ở bên trong những kẻ nhỏ hơn nắm quyền kiểm soát tối thượng. Cái chết không được biết đến trong những đại sảnh này, vì hai cánh cổng lớn của nó đã được vượt qua. Bất hòa và xung đột đều biến mất và chỉ còn sự hài hòa được thấy. Các thức giả thấy chính mình là Một; họ nhận ra cánh đồng nơi tri thức tăng trưởng là sự bất hòa và biến phân Brahmic. Họ biết tri thức như một phương pháp, một công cụ của mục đích được mọi người sử dụng và chỉ là một mầm mống của sự nhận biết tối hậu. Trong đại sảnh này, sự hợp nhất của mỗi người với nhau, sự hòa trộn của một và tất cả, và sự nhất quán trong hành động, mục tiêu và kỹ năng đánh dấu mọi nỗ lực cao cả.” |
|
If these words are pondered on, it will be realised that true union exists in the realisation that the greater life ever includes the lesser, and that each expansion of consciousness brings man closer to this realised Oneness. |
Nếu những lời này được suy gẫm, người ta sẽ chứng nghiệm rằng sự hợp nhất chân thực tồn tại trong sự chứng nghiệm rằng sự sống lớn hơn luôn bao gồm sự sống nhỏ hơn, và rằng mỗi lần mở rộng tâm thức đều đưa con người đến gần hơn với Nhất Thể đã được chứng nghiệm này. |
|
Therefore, if one might venture to express an abstraction and a state of consciousness in terms of time and space, and through the limitation of language, it might be stated that on egoic levels, or on the three higher subplanes of the mental plane, there exists a channel of communication, based on similarity of vibration and oneness of endeavour, between every one of the planetary schemes, within the solar ring-pass-not. Here, and here alone (as regards the three worlds and the human kingdom), becomes possible the establishing of egoic relationships and the transmission of thought substance between |
Vì vậy, nếu có thể mạo muội diễn đạt một sự trừu tượng và một trạng thái tâm thức theo các thuật ngữ thời gian và không gian, và qua sự giới hạn của ngôn ngữ, thì có thể nói rằng trên các cấp độ chân ngã, hay trên ba cõi phụ cao hơn của cõi trí, tồn tại một kênh giao tiếp, dựa trên sự tương đồng về rung động và sự nhất quán trong nỗ lực, giữa từng hệ hành tinh bên trong vòng-giới-hạn mặt trời. Chính ở đây, và chỉ ở đây thôi (xét về ba cõi thấp và giới nhân loại), việc thiết lập các mối liên hệ chân ngã và sự truyền đạt chất liệu tư tưởng giữa |
|
a. Units and egoic groups. |
a. Các đơn vị và các nhóm chân ngã. |
|
b. Groups and other groups. [Page 851] |
b. Các nhóm và các nhóm khác. [Page 851] |
|
c. Greater groups with still greater or with lesser ones. |
c. Các nhóm lớn hơn với những nhóm còn lớn hơn hoặc nhỏ hơn. |
|
d. Egos in one planetary scheme with those in another. |
d. Các chân ngã trong một hệ hành tinh với các chân ngã trong một hệ khác. |
|
The Ah-hi, the greater Builders, (271) Who are the Lords working out the will of the solar Logos, mainly use two planes for communication with each other and with Their cohorts: |
Các Ah-hi, các đấng đại kiến tạo, (271) là các Đấng đang thực hiện ý chí của Thái dương Thượng đế, chủ yếu sử dụng hai cõi để giao tiếp với nhau và với các đoàn ngũ của Các Ngài: |
|
(271) From a Sensa word meaning “serpents.” These are the Dragons of Wisdom. See S. D., I, 55, 69, 70. (back) |
(271) Từ một từ Sensa có nghĩa là “những con rắn.” Đây là các Rồng Minh Triết. Xem S. D., I, 55, 69, 70. (back) |
|
First, the second plane, where They communicate by means of a spiritual medium incomprehensible to man at present. |
Thứ nhất, cõi thứ hai, nơi Các Ngài giao tiếp bằng một môi trường tinh thần mà hiện nay con người không thể hiểu được. |
|
Second, the mental plane, where They communicate with all lesser lives by means of a type of mental telepathy. |
Thứ hai, cõi trí, nơi Các Ngài giao tiếp với mọi sự sống thấp hơn bằng một loại viễn cảm trí tuệ. |
|
The “coming-in” of advanced Egos from the inner round, or from other planetary schemes, or from subtler spheres where they have been in pralaya awaiting opportunity is produced in a triple manner and is the result of a triple activity. It is caused by an understanding between the planetary Logos of a scheme, and a brother planetary Logos whereby an exchange is effected. The student must here think in terms of force and energy, of magnetic interaction and the conscious transmission of energy out of the body of the planetary Logos, via centres or a centre, into the body of another planetary Logos. The cause here is the will or purpose, the object is sensation, and the method is force transference. Exactly the same understanding lies back of the coming in of egos from the inner round, only this time the energy is sent forth by certain existences (working in connection with any planetary Logos) who are the “custodians of the inner circle.” This touches upon a mystery and deals with the coming-in of high Egos, of Avatars, of Buddhas, [Page 852] of masters, of initiates, and of disciples, and of all who have to wait for group, and not individual, urge for the fulfillment of cyclic karma on a large scale, and whose “wheels” are controlled by cosmic forces and not by purely systemic forces. |
Sự “đi vào” của các chân ngã tiến hóa cao từ cuộc tuần hoàn bên trong, hoặc từ các hệ hành tinh khác, hoặc từ những khối cầu vi tế hơn nơi họ đã ở trong Giai kỳ qui nguyên để chờ cơ hội, được tạo ra theo cách tam phân và là kết quả của một hoạt động tam phân. Nó được gây ra bởi một sự thấu hiểu giữa Hành Tinh Thượng đế của một hệ và một Hành Tinh Thượng đế huynh đệ, nhờ đó một sự trao đổi được thực hiện. Ở đây đạo sinh phải suy nghĩ theo các thuật ngữ mãnh lực và năng lượng, về sự tương tác từ tính và sự hữu thức truyền năng lượng ra khỏi thể của Hành Tinh Thượng đế, qua các trung tâm hoặc một trung tâm, vào thể của một Hành Tinh Thượng đế khác. Nguyên nhân ở đây là ý chí hay mục đích, đối tượng là cảm giác, và phương pháp là sự chuyển dịch mãnh lực. Chính sự thấu hiểu tương tự cũng nằm phía sau sự đi vào của các chân ngã từ cuộc tuần hoàn bên trong, chỉ khác là lần này năng lượng được phóng ra bởi một số hiện hữu nào đó (hoạt động trong liên hệ với bất kỳ Hành Tinh Thượng đế nào) là những vị “giữ gìn vòng tròn bên trong.” Điều này chạm đến một huyền nhiệm và bàn đến sự đi vào của các chân ngã cao, của các Đấng Hoá Thân, của các Đức Phật, [Page 852] của các chân sư, của các điểm đạo đồ, và của các đệ tử, cùng tất cả những ai phải chờ sự thôi thúc của nhóm chứ không phải của cá nhân để hoàn tất nghiệp quả chu kỳ trên quy mô lớn, và những “bánh xe” của họ được kiểm soát bởi các mãnh lực vũ trụ chứ không phải chỉ bởi các mãnh lực hệ thống. |
|
Another factor might be termed the karmic results of seeds sown in days long past, and hidden in the mysteries of the earlier system, scheme, or chain as the case may be. All these three groups of manifestation follow karmic impulse, and this impulse it is which controls the time period, and method of the appearance in any group of planetary egos, of newly born lotus buds, or of lotuses which are termed “mystically transplanted.” These latter are probably of a high degree of unfoldment. This is possible in individual cases and in the case of entire groups. |
Một yếu tố khác có thể được gọi là các kết quả nghiệp quả của những hạt giống đã được gieo trong những ngày tháng rất xa xưa, và được che giấu trong các huyền nhiệm của hệ mặt trời trước, hệ hành tinh trước, hay dãy trước tùy trường hợp. Cả ba nhóm biểu hiện này đều đi theo xung lực nghiệp quả, và chính xung lực này kiểm soát thời kỳ và phương pháp xuất hiện trong bất kỳ nhóm chân ngã hành tinh nào, của những nụ hoa sen mới sinh, hay của những hoa sen được gọi là “được cấy ghép một cách thần bí.” Những hoa sen sau này có lẽ ở mức độ khai mở cao. Điều này có thể xảy ra trong các trường hợp cá nhân cũng như trong trường hợp của toàn bộ các nhóm. |
|
A third factor has to do with the transference of Egos or lotuses from one sphere of activity to another and this necessarily produces conditions calling for the appearance of similar centres to take their place. Energy transmitted must be supplied from elsewhere, and this is another predisposing factor for the appearance of egoic lotuses in any scheme. The law of the conservation of force holds good on any plane. |
Một yếu tố thứ ba liên quan đến sự chuyển dịch các chân ngã hay các hoa sen từ một khối cầu hoạt động này sang một khối cầu khác và điều này tất yếu tạo ra những điều kiện đòi hỏi sự xuất hiện của các trung tâm tương tự để thay thế chúng. Năng lượng đã được truyền đi phải được cung cấp từ nơi khác, và đây là một yếu tố tiền định khác cho sự xuất hiện của các Hoa Sen Chân Ngã trong bất kỳ hệ nào. Định luật bảo toàn mãnh lực có hiệu lực trên bất kỳ cõi nào. |
|
This whole question of the transference of egoic lotuses from any one scheme to another, or from chain to chain, on the mental plane is one of very real intricacy, and cannot be elucidated to the unpledged disciple. Only these general indications are in any way possible. |
Toàn bộ vấn đề chuyển dịch các Hoa Sen Chân Ngã từ hệ này sang hệ khác, hay từ dãy này sang dãy khác, trên cõi trí là một vấn đề thực sự rất phức tạp, và không thể được làm sáng tỏ cho đệ tử chưa tuyên thệ. Chỉ có thể đưa ra những chỉ dẫn tổng quát này mà thôi. |
|
It must also be remembered in connection with our planet that Egos appear in those groups whose lotuses are not produced as the result of the Law of Attraction working between the animal kingdom of the globe and the higher Triads, but which are Egos who have individualised elsewhere, and who therefore come in with their petals already organised, and perhaps with several [Page 853] petals unfolded. This has necessarily a profound effect both upon the groups in which they appear, and upon the type of man who will make his appearance subsequently in physical plane incarnation. This is touched upon in the Secret Doctrine when the question of the early teachers and divine kings who occupied the ill-favoured bodies of the early humanity, is broached. (See early part of S.D. Vol II.) (273) |
Cũng phải nhớ rằng, liên quan đến hành tinh của chúng ta, các chân ngã xuất hiện trong những nhóm mà các hoa sen của chúng không được tạo ra như kết quả của Định luật Hấp Dẫn hoạt động giữa giới động vật của bầu hành tinh và các Tam nguyên tinh thần cao hơn, mà là những chân ngã đã biệt ngã hóa ở nơi khác, và vì vậy đi vào với các cánh hoa đã được tổ chức sẵn, và có lẽ với một số [Page 853] cánh hoa đã khai mở. Điều này tất yếu có một ảnh hưởng sâu xa cả lên các nhóm mà họ xuất hiện trong đó, lẫn lên loại người sẽ xuất hiện sau đó trong sự nhập thể trên cõi hồng trần. Điều này được đề cập trong Giáo Lý Bí Nhiệm khi vấn đề các huấn sư thời kỳ đầu và các vị vua thiêng liêng đã chiếm giữ những thể xác kém thuận lợi của nhân loại sơ khai được nêu ra. (Xem phần đầu của S.D. Quyển II.) (273) |
|
(273) C. W. Leadbeater had a dim apprehension of this idea when he referred to those boat loads of Egos from the moon chain. He has of course materialised the idea far too much; if the same fundamental idea is expressed in terms of force and of the appearance of force centres within the earth chain, which force centres are the result of energy emanating from an earlier chain and producing whorls in the ether or substance of the mental plane, then the true significance may be more easily grasped. (back) |
(273) C. W. Leadbeater đã có một sự nắm bắt mơ hồ về ý tưởng này khi ông đề cập đến những thuyền chở đầy chân ngã từ Dãy Mặt Trăng. Dĩ nhiên ông đã hiện hình hóa ý tưởng này quá mức; nếu cùng ý tưởng căn bản ấy được diễn đạt theo các thuật ngữ mãnh lực và sự xuất hiện của các trung tâm mãnh lực trong Dãy Địa Cầu, mà các trung tâm mãnh lực này là kết quả của năng lượng phát ra từ một dãy trước đó và tạo ra các xoáy trong dĩ thái hay chất liệu của cõi trí, thì thâm nghĩa chân thực có thể được nắm bắt dễ dàng hơn. (back) |